This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.” Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.” Bàn Tay……..
Con đường Quốc lộ 14, từ Pleiku đi Kontum còn tương đối an ninh cho những chuyến xe đò và nhứt là xe nhà binh chạy ngược xuôi chở quân, đồ tiếp tế nhiên liệu, lương thưc cho những cánh quân, những đơn vị trú đóng vùng Kontum, Tân Cảnh, Benhet vào ban ngày vào những năm 1970-1971. Từ KonTum, nối dài cho đến Tân Cảnh, QL14 vẫn còn là đường tráng nhựa rất tốt, nhưng từ Tân Cảnh đi về hướng Căn Cứ Ben Het chỉ là con đường rải đá gồ ghề, dằng xốc. Đơn vị của tôi nằm ngay trên con đường dằng xốc này, nhưng vì địa thế hiểm trở chật hẹp nên con đường đã xẻ đôi căn cứ ra làm hai, có nghĩa là con đường chạy ngang chính giữa căn cứ. Đây là Căn Cứ Hoả Lực Dakto. Căn cứ Hoả Lực nằm trên đỉnh ngọn đồi thấp, phía dưới chân đồi có con suối và chiếc cầu sắt bắt ngang uốn cong hai vòng trước khi lên đến đỉnh. Đơn vị của tôi từ Qui Nhơn tăng phái lên vùng Dakto-Tân Cảnh, gồm có sáu khẩu đại bác 105 ly, yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 42 Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 22 BB, chịu trách nhiệm lãnh thổ ở đây.
Một đơn vị pháo binh SĐ22BB.
Nhưng bỗng nhiên tình hình chiến cuộc trở nên sôi động, nên mới có một Lữ Đoàn Nhảy Dù tăng viện, và đã xãy ra chuyện “Người ở lại Charlie”, một ngọn núi cao ngất cách xa tôi ngoài tầm đạn 105 ly. Đơn vị này hiện có pháo binh cơ hữu của Nhảy Dù yểm trợ. Buổi chiều trên căn cứ Hoả lực Dakto, tôi đang thư thả ngắm trời mây sông núi trong không khí “không tiếng súng nổ” trong chốc lát, thì từ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 22 đang đặt tại Tân Cảnh, trong đó có Bộ chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn kèm theo, đã ra lệnh cho tôi chuẩn bị “thế lên đường”. Dân Pháo Binh mà nghe lệnh “Thế Lên Đường” là phát chán vì phải dọn tất cả, nặng nhứt là chất hết đạn đại bác lên xe, trung bình chừng hai ngàn quả, khiến lính các khẩu đội vác mệt nghỉ. Trời miền núi vùng Tam Biên (ngã ba biên giới Việt Miên Lào) xuống nhanh và mau tối. Khi tôi báo cáo “Sẵn sàng” về Bộ Tư lênh Sư Đoàn, thì đầu máy bên kia bảo “chờ”. Trời sẫm tối không nhìn thấy gì trước mặt. Than ôi! Giờ này mà còn chờ thì biết chừng nào mới “Thế lên Đường” để đến vị trí mới, chiếm đóng vị trí, rồi tác xạ yểm trợ ngay cho các đơn vị bạn đang chạm địch? Gióng hướng súng ban đêm là nổi cực hình cho Pháo Binh vì hạn chế tối đa tiếng động nhất là ánh đèn pin. Tôi bốc máy thúc dục “Sao cho lệnh đi chưa?” Dĩ nhiên là không nói bạch văn mà phải dùng ám danh đàm thoại cho địch không biết. Bên đầu máy vẫn bảo chờ. Tôi sốt ruột lắm. Cuối cùng vì lý do gì không biết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đã ra lệnh hủy bỏ, vì đã điều động đơn vị 155 ly khác đến thế chỗ tôi sắp chiếm đóng. Thế là khỏe re, nhưng phải cho lệnh Pháo Đội xuống đạn và quân dụng ở lại tại chỗ. Một giờ khuya đêm đó, tôi nhận lệnh yểm trợ tối đa cho căn cứ Phượng Hoàng (căn cứ mà hồi chiều lệnh cho tôi di chuyển đến), vì đơn vị đại bác 155 ly của người bạn Lâm Xuân Thảo bị tràn ngập biển người sau nhiều đợt địch pháo kích liên tục. Đơn vị của tôi đã bắn liên tục từ khuya cho tới tờ mờ sáng thì được tin Pháo đội 155 ly bị “xoá sổ”, một số lính bị bắt sống. Trung Uý Thảo chết tại chỗ nhưng không toàn thây vì trận xáp lá cà của địch. Tôi bàng hoàng xúc động thương tiếc cho người bạn trước tôi một khoá và cũng rùng mình nghĩ rằng Thảo đã chết thế mình. Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút sau cùng thì thay đổi lệnh không cho tôi thay thế, mà là một đơn vị 155 ly, đến đó để yểm trợ cho căn cứ 5 và 6 đang bị áp lực địch vây. Thảo chết không toàn thây nhưng vẫn lấy được xác. Được tin anh ra đi, tôi nghẹn cứng cổ họng, thương cho người bạn cùng đi học một khoá Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị ngày nào. Chúng tôi, cùng ở trong Pháo Binh Sư Đoàn và cùng cấp bậc, được tham dự khoá học này, nên chúng tôi rất thân nhau. Ngày mãn khóa, Trường Chiến Tranh Chính Trị tổ chức buổi lể Sinh Nhật Tập Thể vừa dùng để mãn khóa vừa để cho các khoá sinh biết cách thực hành khi trở về đơn vị của mình. Khi buổi lễ chấn dứt, Thảo đã nghịch phá, cắm nhiều đèn cầy xung quanh chiếc giường của tôi, rồi rải nhiều hoa tươi, và cắm một bình hoa thật to trên đầu giường. Hắn đã cắm một tấm bảng viết vội “Cố Đại Uý Nguyễn Trãi” ngay chính giữa. Ngoài ra, hắn để xắc đựng quân trang dài tròn to bằng thân tôi và chiếc nón sắt của tôi trên đầu. Tất cả được phủ bằng poncho nên trong giống y chang một thây người chết nằm đó. Sau khi thắp sáng tất cả đền cầy, hắn chạy ra hành lang gọi tôi vào phòng. Khi nhìn thấy một thây người trùm kín, ghi tên tôi, với ánh đèn cầy tỏ sáng và hoa tươi, tôi lạnh toát cả người. Tôi liên tưởng tới chuyện không may, như báo trước một điềm xấu sẽ xảy ra cho tôi trong những ngày kế tiếp, khi trở lại mặt trận. Tôi giận lắm, tôi biết ngay là thằng Thảo nó làm trò chơi thật quá đáng này. Tôi vừa hét vừa đá mạnh làm tung toé hết hoa và đèn cầy. Sau đó, tôi đạp văng chiếc nón sắt cùng túi đựng quân trang rơi xuống giường, rồi hầm hầm bỏ ra ngoài. Hành động giận dữ của tôi tưởng đủ để cho nó hiểu rằng tôi ghê sợ không thích trò chơi này, ngỏ hầu nó ân hận việc làm của mình. Khi nguôi giận, tôi trở lại phòng thì lại thấy trò chơi cũ được lập lại. Tôi lại đá và hất tung chiếc giường, trong tiếng cười cuả những người cùng khoá đang chứng kiến. Thực tình tôi rất sợ hình ảnh này vì linh tính báo cho tôi biết sẽ có điều không may xảy ra cho tôi khi trở về đơn vị. Giờ đây tin Thảo đã vĩnh viễn ra đi làm tôi xúc động mạnh. Chuyện này đáng lẽ ứng vào tôi. Sao Thảo lại chết thế tôi?? Hay đây là một điềm gỡ đã ứng nghiệm của một trò chơi “dại dột” trong trường Chiến Tranh Chính Trị? Một năm sau, cũng tại Căn Cứ Hoả Lực Dakto, năm 1972, “Mùa Hè Đỏ Lửa”, trong đêm CSBV ào ạt tấn công Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 42 BB trong đó có Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư Lệnh Sư Đoàn, và Bộ Tư Lệnh Tiền Phương. Pháo đội 105 ly của tôi đã bắn liên tục từ 10 giờ đêm đến rạng sáng hôm sau. Vì khoảng cách gần mút tầm nên tôi cho xử dụng thuốc nạp 7, là thuốc nạp hết cỡ. Vì vậy, nòng súng giật lùi rất mạnh làm cho càng súng một khẩu đã bị gãy. Theo dõi trên hệ thống vô tuyến, tôi biết giờ nào các ông xếp của mình rời hầm chỉ huy, giờ nào mất liên lạc, và giờ nào địch quân tràn ngập căn cứ, qua giọng nói vang lên trong máy của những sĩ quan “Đề Lô”.
Pháo binh Sư đoàn 22 BB yểm trợ quân bạn.
Tôi mất liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp, nên quay sang yểm trợ cho một cánh quân Nhảy Dù thuộc Lữ Đoàn 2, gần Tân Cảnh. Viên sĩ quan”Đề Lô” của Nhảy Dù gọi tôi xin yểm trợ. Khi tôi kiểm soát vị trí mục tiêu, và điểm đứng (toạ độ điểm đứng của sĩ quan này) thì thấy khoảng cách rất gần. Sau khi điều chỉnh nhiều lần để bắn “hiệu quả”, mục tiêu chỉ còn cách đơn vị bạn dưới 50 mét. (Khoảng cách không an toàn và không cho phép tác xạ vì quá gần quân bạn.) Tôi đích thân gặp người Sĩ Quan Đề lô và nói: – “Không thể bắn cho anh được vì quá gần quân bạn.” Người SQ “đề lô” ấy trả lời, rất dõng dạc: – “Anh cứ bắn đi. Bắn cho đến khi nào không còn nghe tiếng của tôi nữa thì coi như tôi đã chết.” Câu nói rất anh hùng và khí tiết của một Sĩ Quan Pháo Binh hy sinh thân mình để cứu đơn vị đã làm tôi sững người, bất động. Tôi nghẹn lời vài giây vì xúc động. Tôi không có sự chọn lựa nào hơn khi nghĩ đến những loạt đạn “Bắn Hiệu Quả” sẽ cứu được đại đơn vị cuả bạn. Tôi cũng đang cầu xin an toàn cho viên sĩ quan “Đề Lô”. Sau đó, tôi gọi danh xưng của người này nhiều lần và không thấy tăm hơi gì hết. Tôi lặng người đi và nghĩ rằng anh ta đã chết. Lúc bấy giờ tôi mất liên lạc hoàn toàn với các cấp chỉ huy của tôi từ phía Trung Đoàn 42 và Pháo Binh Sư Đoàn. Tôi biết tất cả Bộ Tư Lệnh đã di tản ra ngoài và đang ở đâu đó. Từ giờ phút này tôi thực sự cảm thấy bơ vơ, giống như “rắn mất đầu”. Tôi không biết phải làm gì ngoài việc tự phòng thủ căn cứ. Từ trên một ngọn đồi của căn cứ Dakto nhìn về hướng Tân Cảnh, tôi thấy hai chiếc phản lực đang nhào xuống, ngóc đầu lên liên tục, và rồi một cột khói mịt mù bám theo một chiếc. Chắc là bị dính hoả tiển SA7 của địch? Khi Bộ Tư Lênh đã bị tràn ngập thì cũng là lúc bọn VC quay mũi dùi sang căn cứ của tôi bằng đại bác 130 ly. Tôi nghe tiếng depart rất rõ và xác định được hướng bắn từ đâu. Nhưng nó cách tôi 18 cây số lận, còn súng của tôi có phản pháo cũng chỉ gãi ngứa vì chỉ có 11 cây số 100 mét. Thế là cứ chịu trận ăn pháo địch mà không có một phản ứng nào. Tất cả hấm hố, đài tác xạ, hầm đạn đều trúng đạn của địch tan nát. Hệ thống truyến tin bị sập đổ, gãy cần ăng ten không còn liên lạc với ai được. Hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ Pháo Binh cho tôi cũng bị pháo sập. Ông Tiểu Đoàn Trưởng đã bị thương. Tôi chưa biết xoay sở ra sao trong tình cảnh này, trong khi bộ binh địch chưa tiến tới gần căn cứ của tôi. Tất cả lính của pháo đội đều trú ẩn dưới hố cá nhân mà chiều cao bằng với mỗi con người trừ cái đầu nhô lên để chiến đấu cá nhân. Đơn vị Pháo Binh của tôi ai cũng được trang bị thêm một khẩu M72, trong lúc này rất cần thiết để chống xe tăng địch; trên miệng hố cá nhân mỗi người đều có một khẩu M16 và một khẩu M72, chờ chiến xa địch tiến đến. Sư Đoàn Bắc Việt, nhất là đơn vị pháo binh địch đang có một “đề lô” áp sát đơn vị tôi. Bọn này cũng tiết kiệm đạn ra phết, chỉ tác xạ khi nào có người đi trên mặt đất sau khi san bằng căn cứ. Căn cứ vào nhiều đợt pháo kích bằng 130 ly; tôi đoán là “đề lô” của địch rất gần, gần sát nên chúng pháo kích chính xác lắm. Cũng đã xế chiều , người nào cũng mệt mỏi và đói. Khi đạn130 ly không còn nổ trên căn cứ, tôi leo lên khỏi miệng hố đi kiếm soát một vòng xung quanh các hố cá nhân. Tôi gọi lớn Ban Hoả Đầu Vụ đem lương khô cho tôi và cho lính còn đang dưới hố cá nhân. Binh Nhứt Nguyễn Văn An, dáng người lùn, mập không lanh lợi, tay cầm gói gạo sấy đã đổ nước chạy đến miệng tro cho tôi. Lúc này tôi đã đi đến chổ khác. Bọn “đề lô” Việt Công ma mãnh không kém, vừa thấy có người trên mặt căn cứ là gọi pháo tiếp. Một tiếng nổ đạn depart từ một khu núi quen thuộc từ sáng tới giờ phát ra, nên chúng tôi biết ngay là sẽ ăn đạn pháo 130 ly kế tiếp. Không ai bảo ai, Binh Nhứt An tự động nhảy xuống cái hố trống của tôi, còn tôi thì nhảy vào hố khác cách đó chừng 100 mét (hố bỏ trống). Loạt pháo này chỉ chừng trên dưới một chục quả rồi ngưng. Tôi chạy thục mạng về hố của mình, thì hỡi ôi, phía dưới hố chỉ còn lại đôi giày trận của An. Hình hài An nát bấy nhừ y như bầm tiết canh vịt, vì một quả đạn 130 ly rơi đúng xuống hố mà An đang núp. An đã chết thế cho tôi trong giây phút này. Làm sao tin được, một viên đạn bay theo chiều hình cong parabol từ trên cao có thể rớt trúng phóc vô miệng một cái hố cá nhân chỉ vừa vặn đúng cho một thân con người. Viên đạn rớt đúng ngay lúc tôi đã rời chỗ khác, và An đã chết thay thế tôi. Sát miệng hố có chiếc xe GMC 10 bánh đậu từ lâu dùng để phát điện cho hệ thống truyền tin đánh “morse”. Chiếc xe đã hư nát lủng nhiều lỗ đạn và xẹp bánh từ những đợt pháo kích trước, giờ đây thịt da nhão nhoẹt nát bấy và nhỏ như thịt bầm của An một phần được bắn lên và đang bám trên thành cửa xe.
Tôi lặng người đi và tưởng như trong mơ, tôi thực sự xúc động trước cái chết của người lính thuộc cấp chết thế cho mình. Cái số của tôi chưa tới??? Điều gì đã khiến cho tôi rời cái hố? Một sự tình cờ xảy ra hay có sự “sắp xếp của bàn tay vô hình nào đó??” Một cách tránh pháo kích địch hiệu quả nhứt không gì bằng ẩn người trong hố cá nhân. Đạn rớt trước mặt hay sau lưng hố không bao giờ gây thiệt mạng. Chưa bao giờ tôi gặp một trường hợp đạn pháo kích rớt chính xác xuống miệng hố. Điều gì đã khiến tôi rời khỏi cái hố cá nhân của riêng tôi? Tim tôi đập mạnh hơn. Tôi lặng người và TIẾC THƯƠNG CHO AN. Người đi trong cuộc chiến thường hay tin tưởng vào SỐ MẠNG, hay là TRỜI KÊU AI NGƯỜI ẤY DẠ, hoặc ĐẠN TRÁNH MÌNH CHỨ MÌNH KHÔNG THỂ TRÁNH ĐẠN. Tâm tư tôi bị giao động mạnh khi nhìn xuống hố, tôi không có thể nhận ra một thứ gì cái còn lại là của một con người, vì nó nát bấy như băm nhỏ. Một viên đạn đại bác 130 ly làm sao có thể rớt ngay phóc vô một cái hố đường kính chỉ chừng năm mươi centimet. Nếu như lúc đạn đang bay trong không trung, tốc độ gió mạnh hơn, hay gió đổi chiều chỉ một chút cũng làm viên đạn lệch đi; hay người xạ thủ địch quân giật cò chậm hơn 1/50 giây cũng sẽ làm viên đạn lệch qua chỗ khác vì sự quay của trái đất sẽ đổi chỗ viên đạn rơi. Nhiều yếu tố để khiến một viên đại bác rơi trúng đích, nhưng có điều gì đã khiên tôi bồn chồn đói bụng mà phải rời hố, để rồi một binh sĩ thuộc cấp chết thế mình. Tôi nhắm mắt lại và lặng người không dám nhìn vào đáy hố, chỉ còn rõ nhất là đôi giày trận của Binh Nhứt An. Trong nổi hụt hẫng kèm theo lo âu, chưa biết phải làm gì thì Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ chuyển cho tôi một cái lệnh. Hệ thống truyền tin gần và xa của đơn vị tôi coi như hoàn toàn tê liệt; chỉ còn duy nhứt đơn vị bảo vệ căn cứ của tôi là chỗ dựa trong lúc này. Lệnh của Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn, cho tôi “triệt thoái khỏi căn cứ đi về trại BENHET ngay bây giờ”. Thì ra vẫn còn có người nghĩ đến tôi. Thực ra họ nghĩ đến 6 khẩu đại bác thì đúng hơn. Tôi không liên lạc trực tiếp với Quân Đoàn, mà chỉ thi hành lệnh qua trung gian là Biệt Động Quân Quân Khu 2. Đơn vị Pháo Binh của tôi mất tiêu hết đâu rồi, đâu còn xếp lớn xếp nhỏ gì để liên lạc. Tôi trở lại Pháo đội và ra lệnh “cấp tốc di tản khỏi nơi này.” Khi đề lô địch thấy lố nhố người xuất hiện chạy đi chạy lại trên mặt đất thì họ bắt đầu khai hỏa trở lại, làm cho công việc chuẩn bị trở nên phức tạp hơn. Chỉ móc được 5 khẩu đại bác vào những chiếc GMC nào còn chạy được dù là bể bánh xe, hay bể kết nước. Tôi phải bỏ lại một khẩu vì không còn kịp. Nếu cố gắng kéo cho được 6 khẩu và đầy đủ phụ tùng thì tôi e sẽ có quân nhân trúng đạn pháo kích. Do đó, tôi quyết định tự tay tôi rút khối kích hoả của khẩu bỏ lại và ném ra xa, giấu đi, làm vô hiệu không cho địch quân xử dụng khẩu đại bác này khi họ tràn ngập. Tôi cất chiếc nón sắt ra khỏi đầu và cúi xuống hố, nơi có xác bầy nhầy bị băm nhỏ, như chào vĩnh biệt Binh Nhứt Nguyễn Văn An. Đạn pháo kích địch vẫn tiếp tục rơi. Tôi chạy thiệt nhanh lại đoàn xe đang chờ và phóng hết ga về hướng căn cứ BENHET, căn cứ đầu não của Biệt Động Quân Biên Phòng của vùng rừng núi Tam Biên. Đi về hướng BENHET tức là không về hướng đồng bằng mà càng tiến gần với ngả ba biên giới Việt Miên Lào. Khi đến BENHET, tôi gặp người Trung Tá Biệt Động Quân, căn cứ trưởng. Ông ta bảo tự bố trí phòng thủ tạm và chờ sẽ có lệnh sau.. . Khi mặt trời khuất sau rặng núi, tôi quyết định dùng một chiếc GMC và lựa một toán lính gan dạ, lanh lẹ cùng tôi chạy trở lại căn cứ Dakto để lấy khẩu đại bác bị bỏ lại. Vì tôi là người dấu khối kích hỏa, biết chỗ nên tôi phải đi. Vả lại, có tôi cùng đi, binh sĩ sẽ lên tinh thần. Địch quân không ngờ rằng có người trở lại nên không phản ứng kịp và chúng tôi đã hoàn thành công tác lấy được khẩu đại bác trở về. Ở đây pháo đội không gióng hướng súng để tác xạ yểm trợ nữa, mà chỉ bắn trực xạ phòng thủ vị trí, vì đêm nào cũng nghe tiếng xích của xe tăng địch gầm rú xung quanh. Cả pháo đội thức bét con mắt để trông chừng mà trực xạ. Tới ngày thứ tư mới có trực thăng câu đại bác và toàn bộ pháo đội tôi từ Benhet về Kon Tum. Không phải Quân Đoàn thương tiếc đơn vị tôi mà cho trực thăng hai cánh quạt đến bốc, mà vì cả Sư Đoàn vừa bị tan hàng không còn một khẩu đại bác nào để tử thủ KonTum. Khi trực thăng đáp xuống là lúc đạn pháo kích bắt đầu rơi tới tấp. Trực thăng không thể chờ nên cũng liều mạng móc súng, đạn 105 ly, và dụng cụ. Coi như chơi trò ú tim hên xui may rủi, nếu lỡ trúng đạn thì đành chịu. Mỗi lần chỉ đáp được một trực thăng vì xuống một lúc dễ trúng đạn pháo kích. Sau 10 chuyến thì chuyển xong hết đơn vị. Chỉ khi nào trực thăng lên đến độ cao an toàn thì tôi mới biết mình thoát nạn. Thời điểm này là lúc Cộng Quân Bắc Việt đang vây. KonTum chỉ còn có cái lõm. Trực thăng vừa đáp xuống thành Dapla là nhận dàn chào đạn của VC ngay. Bọn nó ở đây sẵn và pháo kích liên tục. Cái số của tôi may mắn nên không làm sao cả. Những ngày gian khổ và nhiều nguy hiểm tại KonTum cũng qua đi khi có các đợn vị Pháo Binh của Sư Đoàn 23 đến được. Nhưng họ không thể mang theo đại bác vì trực thăng không thể câu súng qua đèo ChuPao. Không biết do ông lớn nào thương nghĩ tới, đã truyền lệnh cho tôi từ Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn 23, ra lệnh tôi bàn giao tất cả súng đại bác lại cho nhân viên Pháo Binh Sư Đoàn 23 để chuẩn “trực thăng vận” về Pleiku nhận súng ở đó và tái phối trí. (Tôi là dân Pháo Binh Sư Đoàn 22) Gia đình tôi từ quê cha sanh mẹ đẻ cho tới quê vợ không biết tin tức tôi ra sao trong hai tháng. Ba tôi chạy ngược chạy xuôi hết đi coi bói ông thầy này tới bà nọ để mong tin con. Cả một sư đoàn 22 và cả một Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn của tôi tan nát, còn ai theo dõi số phận của tôi. Do đó, làm sao từ Nha Trang và Sài Gòn biết được. Khi về đến Pleiku, đơn vị đã ổn định, tôi được đi phép đặc biệt về thăm nhà. Tất cả “gia tài” quân ngũ của tôi để lại tại căn cứ Đệ Đức. Khi Bồng Sơn bị tràn ngập, căn cứ mất, tôi cũng mất hết tất cả. Nơi này có hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tiểu đoàn của tôi cũng mất tích và chết sau đó. Tôi không còn đồ đạc gì nên cứ mặc quần áo trận lên xe đò về Nha Trang.
Vừa ngồi lên xe đò nhỏ từ Qui Nhơn đi Nha Trang, một cô ngồi sát bên bảo: – “Anh mặc đồ này khi vô tới Hảo Sơn, Vũng Rô, tụi nó chận và bắt anh đó.” Cô nói tiếp, “Để em đưa cái áo này cho anh mặc đỡ.” Tôi nghĩ bụng, “Về tới đây còn gặp rắc rối.” Thế là tôi cũng phải nghe lời cô ấy. Tôi nhớ đến chuyện Binh Nhứt An đã thế chỗ tôi trong hố cá nhân, để rồi thịt xương bị nổ tung và bằm như tiết canh. Tôi thở ra và nghĩ không ngờ vẫn còn thế giới vô hình đâu đây. Tôi không biết phải làm gì với em gái tôi để gọi rằng đền ơn cứu mạng.(Tôi tin là người em gái của tôi, đã chết khi vừa tròn 3 tháng tuổi, đã luôn phù hộ cho tôi.) Kể từ đó tôi rất tin tưởng CON NGƯỜI TA CHẾT ĐI VẪN CÒN LINH HỒN, cũng như tôi tin CON NGƯỜI TA SỐNG CHẾT ĐỀU CÓ SỐ. Đến năm 1975, vùng Dakto-Tân Cảnh-Ben Hét coi như mất luôn vào tay địch. Ta chỉ còn giữ được KonTum. 1972, Sư Đoàn 22 Bộ Binh cùng với một Liên Đoàn Biệt Động Quân ồ ạt tái chiếm ba Quận Bắc Bình Định là Hoài Ân, Bồng Sơn, Tam Quan. Có lúc quân ta dàn cả 52 khẩu đại bác trong rừng dừa Vạn An để bắn TOT (Time On Target) vào vùng đất địch. Chỉ trong hai giờ tác xạ không ngưng nghỉ, các đồi núi trơ xương chỉ còn đất với đá mà không có cây cối nữa. Pháo đội của tôi chiếm đóng đồi Vạn An. Cứ sáng sáng năm giờ là pháo binh địch bắn vào căn cứ của tôi. Mà hễ bị pháo kích là chúng tôi bắt buộc phải phản pháo. Tôi chạy ra khẩu đội ra lệnh thì lính mới dám ngóc đầu lên vì địch bắn rát quá. Tôi đứng ngay giữa hai càng súng ra lệnh nạp đạn trực xạ vì súng địch chỉ cách chừng 1000 mét. Một quả đạn súng cối 82 ly của địch rớt làm rách áo giáp và xẻ nát thịt bắp đùi người xạ thủ nạp đạn rồi rớt xuống trước mặt tôi mà không nổ. Người lính ngã xuống. May mắn, nếu quả đạn ấy nổ thì tôi cũng banh xác rồi. Vào đầu tháng 3 năm 1975, khi Cộng quân đã chiếm Ban mê Thuột, sau đó cắt đứt quốc lộ 19 từ Pleiku xuống Qui Nhơn, thì pháo đội tôi đóng tại chân đèo Mang Giang gần Lăng Mai Xuân Thưởng. Chúng pháo kích suốt ngày đêm để khống chế đơn vị tôi không cho yểm trợ Trung Đoàn Bộ Binh. Những chuyến xe tiếp tế, có khi lên tới 20 chiếc, dồn dập chở đạn 105 ly tới mỗi ngày. Một lần khi tôi leo lên chiếc GMC đứng trên 200 thùng đạn đại bác để kiểm soát số đạn chở đến bị sai thì những quả 82 ly của địch rót đến tới tấp. Có một quả rơi ngay dưới chân tôi và nằm trên những thùng gỗ đạn 105 mà không nổ. Thật là huyền diệu, và may mắn. Những ngày cuối cùng của Phù Cát Bình Định, tôi bị một quả B40 bắn trúng chiếc xe của tôi trước khi qua cầu. Xe trúng đạn lật làm năm người trong xe bị thương, trong đó tôi, với sáu mảnh đạn B40. (Giờ đây sau 38 năm nó vẫn còn trong cánh tay). Sau chừng 30 phút, một người lính bò lên băng bó vết thương cho tôi thì bị một viên AK, khiến anh ta ngã xuống chết ngay. Phản ứng tự nhiên của tôi là ngóc đầu lên xem từ hướng nào bắn. Tôi liền bị ba viên AK khác bắn từ sau ót xuyên ra phía trước mặt. Cả ba viên đạn đi vô khác nhau, nhưng chỉ có một lỗ nơi ba viên đạn đi ra nên nó phá cái mặt tôi khá lớn. Đây là một điều thần diệu, chỉ cần ba viên đạn ấy nhích ra một chút xiú thì sẽ chạm tới óc và chắc chắn tôi đã chết ngay. Tôi cũng tin rằng đứa em gái tôi đã cứu tôi trong giờ phút đó. Những người lính và sĩ quan đơn vị khiêng tôi trên đoạn đường dài từ cầu Cương vào phi trường Phù Cát. Khi vào bên trong, phi hành đoàn của chiếc trực thăng HU-1B bằng lòng cho tôi đi trong khi phi trường đang khói lửa ngập trời. Ông Trung Uý Pháo Đội Phó của tôi cùng người Trung Sĩ Khẩu Trưởng khiêng tôi bỏ lên trực thăng đã có sẵn 34 người lính bộ binh trên ấy. Chiếc trực thăng cất cánh chừng 10 mét thì rớt xuống và chặt đứt đôi người Trung Uý pháo đội phó và Trung Sĩ Khẩu Trưởng, vì khi khiêng tôi bỏ lên trực thăng thì họ vẫn còn đứng dưới đất. Cánh quạt trực thặng lúc rớt xuống đã chém đứt đôi hai người. Phần trên từ ngực của họ đã bay mất, không thể tìm thấy. Sáng hôm sau tôi bị bắt làm tù binh, nhưng họ thấy tôi bị thương nặng quá nên bỏ tôi nằm tại chỗ trong phi trường. Trong trại tù Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, một ngày chúa nhật nghỉ lao động, có người bạn tù lớn tuổi, cầm tay tôi coi chỉ tay và nói chắc như đinh đóng cột, “Mạng của anh rất lớn, nhiều lần sắp chết mà không chết, vì có một vong linh của kẻ khuất mặt che chở, Nó hiện lên rành rành đây nè.” Tôi không tin điều ấy là có thực, nhưng qua những sự kiện xảy ra, khiến tôi thoát được hiểm nguy như vậy, làm tôi phải tin rằng điều ấy có thực. Anh em bạn tù tối đến, vừa đói, vừa buồn, đau khổ không biết ngày nào trở về nhà, nên thường hay tổ chức kể chuyện cho quên hết đói và ưu phiền. Họ thấy tôi có những vết đạn còn mang trong người, nên hỏi thăm và bảo tôi kể chuyện “Những ngày cuối cùng cuộc chiến của tôi.” Tôi đã kể lại tỉ mỉ câu chuyện bị thương, rớt máy bay. và những ngày gian nan sau đó. Sáng hôm sau Bộ Chỉ Huy Trại Tù cho người gọi tôi lên “làm việc”. Họ khủng bố tinh thần tôi từ 8 giờ sang đến 5 giờ chiều với kết luận, “còn hàm ơn luyến tiếc chế độ cũ.” Từ ngày ra khỏi tù về với gia đình, tôi luôn tự tin rằng số tôi không chết sớm được, và có lẽ “Chỉ có Trời hại mới chết, người hại không chết.”. Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng, “Có thế giới vô hình, và Con Người Ta chết có số.”
“Những Con Hổ Rừng Già” Sa Cơ Và Câu Chuyện Của Những Người Lính Hiển Linh Trở Về Báo Mộng Thôn Dương Lâm, những ngày tháng 3/1975 đẫm máu: Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH, một trung đoàn nổi tiếng có những người lính quả cảm, đánh đồn xuất quỉ nhập thần bởi họ được đào tạo bài bản từ kiến thức địa lý, kiến thức quân sự, chính trị, văn chương cho đến võ thuật, phương cách sử dụng vũ khí… Những Chiến Sĩ can trường, quả cảm của Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH này được mệnh danh là “Những con hổ rừng già”…
Ông K., người tham gia trận đánh nhưng thoát chết, trầm ngâm nói:
“Phần lớn những người lính trong Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2BB, có gốc gác miền Nam, do thuyên chuyển, họ về Quảng Nam. Lý do chính để họ có mặt ở đây là vì bọn việt cộng nằm vùng ở Quảng Nam có cơ sở bọn đặc công khủng bố ở đây khá lớn.
Phần đông những Chiến Sĩ QLVNCH này nói giọng Miền Nam, họ là những người trí thức, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự và thường giúp đỡ bà con trong thôn, không như lũ khủng bố cộng phỉ.” Ông K. nhớ lại.
Kể lại trận đánh, ông K. cho biết thêm:
“Bắt đầu từ rạng sáng ngày 20/3/1975, phần lớn các tuyến phòng thủ của Vùng 1 Chiến Thuật đã lung lay, bọn cộng phỉ Bắc Việt xâm lược tràn vào ngày một nhiều. Ngày 21/3/1975, nhiều tuyến phòng thủ Quảng Đà (tên gọi cũ) đã rạn nứt.
Ảnh minh hoạ
“Ngày 22 tháng 3 năm 1975, nhiều binh chủng rút quân từ núi ra biển, thoát lên tàu. Có 1 số đơn vị bị mắc kẹt do có quá nhiều lính bị thương và họ vẫn muốn tiếp tục chiến đấu bảo vệ vòng đai chiến sự của mình. “Trường hợp nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH là một điển hình của tinh thần chiến đấu can trường này. Thay vì rút quân về phía biển, họ tiếp tục trụ lại khu vực thôn Dương Lâm để chiến đấu chống lại lũ giặc cướp xâm lược từ phương bắc.”
Ngày 23/3/1975, có thêm một nhóm chiến sĩ khác thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tiến về thôn Dương Lâm, hợp với nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5.
Cũng trong ngày 23 này, có thêm nhiều nhóm nhỏ chiến sĩ thuộc các đơn vị khác (đã trúng thương) đưa thương binh vào chùa Dương Lâm nương nhờ vào sự bảo vệ của nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5 và nhóm vừa “tăng cường,” để các y tá chăm sóc cho các thương binh.
Ngày 24 tháng 3, bọn giặc cướp cộng phỉ bắc việt xâm lược chiếm đồn 159 trên đỉnh đồi Phú Ninh, nằm phía Tây Nam, cách chùa Dương Lâm chừng 3km. Đồng thời, đồn 162 – Núi Cấm cũng bị chiếm trong ngày này.
Bốn phía là bọn phỉ quân bắc việt xâm lược, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5 và nhiều thương binh của các binh chủng bạn trong chùa Dương Lâm rơi vào thế bị cô lập hoàn toàn.
Phía bọn phỉ quân bắc việt bắt đầu nã đạn vào chùa Dương Lâm. Các chiến sĩ VNCH chưa có phản ứng gì, họ tranh thủ đào hầm, đào hào và canh chừng, chưa vội nổ súng để tiết kiệm đạn dược đang thiếu thốn.
Đến chiều ngày 24 tháng 3 năm 1975, sau một ngày bắc loa kêu gọi đầu hàng nhưng không thấy động tĩnh nào, bọn giặc cướp xâm lược từ bắc việt bắt đầu nã súng vào khu vực khuôn viên chùa Dương Lâm.
Lúc này, có nhiều thương binh của VNCH đã treo áo lên nòng súng làm cờ trắng, ra trước sân chùa đầu hàng. Nhưng khi họ bước ra đến sân chùa thì tiếng súng bắn tỉa của bọn giặc cướp xâm lược từ bắc việt hèn hạ nổ đanh điếng, khiến những người thương binh tội nghiệp trúng đạn gục ngã.
Những người lính trong chùa bắt đầu nã súng phản công dữ dội về phía đối phương, đẩy lùi bọn giặc cướp từ bắc việt xâm lược lên phía núi.
Chừng 3 giờ chiều, một tên đặc công bắc việt mang lựu đạn bò vào chùa, vào đến giếng nước phía Đông sân chùa thì hắn bị phát hiện và bị các chiến sĩ QLVNCH bắn chết tại chỗ.
Phía phỉ quân bắc việt tức tối hạ lệnh bắn xối xả B40, B41 vào chùa Dương Lâm. Trong bắn ra, ngoài bắn vào, trận pháo hai bên kéo dài chừng 3 giờ đồng hồ thì cả hai bên im hơi lặng tiếng.
Những người lính VNCH còn sống sót trong chùa bắt đầu rút ra khỏi chùa, luồn người dọc theo bờ rào trồng hoa râm bụt của chùa.
Lúc này, phía quân cộng sản Bắc Việt xâm lược ngồi trên những đồi cao quan sát và hạ tầm súng xuống ngang mặt đất, nhắm ngay vào bờ rào hoa râm bụt và nổ trực xạ liên tục. Toàn bộ những người lính rút theo hướng bờ rào ngã xuống chết không còn sống sót người nào. Còn một người duy nhất – ông K. (người chúng tôi không tiện nêu tên, đã trải qua lao tù cộng sản, hiện đang sống trong một huyện miền núi hẻo lánh ở Quảng Nam) – còn sống sót được nhờ băng ruộng phía bên hông chùa chạy thẳng ra nhà dân, cải trang thành thường dân và rút về Tam Kỳ.
Lúc này, toàn bộ phủ lỵ Tam Kỳ đã treo cờ của bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược.
Sau trận đánh hơn một tuần, không ai dám đi ngang qua khu vực chùa Dương Lâm bởi mùi máu tanh và tiếng quạ kêu, đêm thì chim cú kêu và tiếng mèo hoang gào rú nghe hết sức thê lương rợn người như những tiếng réo gọi vong hồn những người đã ngã xuống trong cô đơn và uất hận!
Sau đó, người dân thôn Dương Lâm bắt buộc phải kéo nhau lên chùa để thu gom xác người chết đem đi chôn cất. Nói là chôn cất nhưng thật ra, lúc đó không ai dám bày tỏ lòng kính ngưỡng hay thương cảm đối với những người lính đã chết mà vốn trước đây có người còn là ân nhân của thôn vì sợ bọn phỉ quân bắc việt hèn hạ trả thù. Chính vì vậy mà sự chôn cất rất qua quýt, chôn để mà có chôn, tránh tình trạng thú vật ăn mất xác và mùi tử thi bay khắp thôn. Chôn không có vải bọc thi thể như những người lính trên bãi biển An Dương ở Phú Vang, Huế mà chỉ phân nhóm ra, đào một cái hố sâu chừng 1.5 mét, lùa toàn bộ xác người xuống đó và lấp đất lại.
“Vì sao tôi nói hơn 100 xác à? Vì lúc đó, số anh em chúng tôi, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5, nhóm này tuy là thuộc Bộ Binh nhưng bên trong cơ cấu rất nhiều Biệt Động Quân, kể cả tôi, nhằm ứng phó chiến cuộc… còn lại 62 người, cộng thêm với nhóm lính thuộc một đại đội Thủy Quân Lục Chiến cũng ngót nghét 50 người, rồi các thương binh… Ông K nói:
“Tính kiểu gì cũng ra trên 100 hài cốt, nếu không nói là 200, vì phần bị nã B40 chắc chắn là không còn nguyên vẹn hình hài, phần nguyên vẹn nằm ở trên đường rút và sau vạt khoai mì, chừng 100 người.”
Câu chuyện của những người lính VNCH khép lại sau trận chiến một cách buồn thảm và bi tráng. Cái chết của họ cũng không được yên bởi phong trào đào sắt, rà sắt để cải thiện bữa ăncủa nhiều người nghèo trong những năm tháng Việt Nam nghèo đói. Mộ tập thể của họ bị quật lên nhiều lần để lấy thẻ bài, súng đạn, dây nịt…
Mãi cho đến sau này, khi Phật Tử chùa Dương Lâm sinh hoạt thường xuyên hơn, kinh tế của họ cũng khá hơn, họ bắt đầu nghĩ đến những người đã khuất. Họ cùng nhau chung tiền, góp công, góp sức để bốc mộ và di dời những hài cốt lên núi.
Cũng bắt đầu từ lúc này, những câu chuyện về người lính năm xưa trở về linh hiển và bí nhiệm…
“Sống khôn, chết thiêng”:
Đầu tháng 4 năm 2009, sau hơn 30 năm im ngủ trong lòng đất mẹ, những người lính VNCH tưởng đã đi vào quên lãng bỗng dưng sống dậy trong ký ức của nhiều Phật tử chùa Dương Lâm.
Ngày 1 tháng 4 năm 2009, sau lễ chiêu linh, sau những hồi chuông chiêu cảm của chư thầy và các Phật Tử chùa Dương Lâm, những đoạn xương, những bộ hài cốt được đưa lên mặt đất, an quách và đưa đến khu nghĩa trang tập thể của chùa, nằm trên lưng ngọn đồi Phú Ninh, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra lòng hồ nước xanh.
37 ngôi mộ mới (trong đó có 3 mộ đôi) an tọa trên lưng đồi, nơi mà trước đây 30 mấy năm, những người nằm dưới mộ kia, những người được mệnh danh là ‘những con hổ rừng già’. Họ nằm im nghe tiếng gió núi và lời thầm thì của đại ngàn sau cơn binh biến cháy đỏ trời quê hương, sau những tử sinh của kiếp người bất hạnh sinh nhầm thời và ngã xuống trong uất hận và cô đơn.
Vẫn còn nhiều đồng đội của họ nằm sót lại đâu đó gần chùa, trên những nương khoai mì vắng lạnh…
Về báo mộng:
Và, sau lần di dời ấy, nhiều Phật Tử trong nhóm bốc mộ nằm mơ thấy những người lính hiển linh trở về. Câu đầu tiên họ nói là lời cám ơn gửi đến những ân nhân đã đưa họ đến nơi khô ráo, yên tĩnh và thơ mộng.
Sau đó, nhiều lần báo mộng khác, họ cho biết rằng trong số họ, có người thèm ăn ớt xanh với mì quảng, có người thèm khoai lang luộc, có người thèm hút thuốc lá, có người thèm một chai bia, có người nhớ quê mà lâu quá không được về nhà bởi không có tiền mãi lộ… Cũng có người than lạnh quá bởi ngôi mộ mới của họ bị trống chân…
Vậy là các Phật Tử lại họp nhau, mua những thức quà mà họ đã báo mộng rằng họ đang cần, mang lên khu mộ mới để cúng kính, dâng tặng.
Ngạc nhiên nhất là người Phật Tử nằm mộng thấy người lính chỉ ngôi mộ của mình nằm ngoài bìa khuôn viên nghĩa trang mới bị lạnh chân. Khi anh đến cúng thì phát hiện ngôi mộ đó bị lở đất do mưa núi. Anh đắp đất lại thì tối đó về nằm mộng thấy người lính ấy về cám ơn và hứa sẽ tặng một món quà…
Những hài cốt còn nằm lẩn khuất đâu đó trong vùng, chưa được di dời lên khu nghĩa trang vẫn là nỗi canh cánh trong lòng những Phật Tử Dương Lâm.
Qui tập lần 2, những báo mộng mới:
Đầu năm 2011, Đại Đức Thích Pháp Tánh về nhậm trụ trì chùa Dương Lâm. Việc đầu tiên của thầy làm là kêu gọi các Phật Tử cùng thầy góp công sức, tiền của để tiếp tục di dời, cải táng cho những hài cốt còn sót lại trong khuôn viên chùa.
Lời kêu gọi của vị sư trẻ tuổi đã nhanh chóng được hưởng ứng, đợt qui tập mộ lần 2 được thực hiện sau đó không lâu.
Nhưng, điều làm cho vị sư trẻ cùng những Phật Tử buồn nhất lại là những hài cốt đã bị lưu lạc trong lòng đất. Nếu như những ngôi mộ đôi, những hố chôn đôi vẫn còn nguyên vẹn (bởi lúc chôn được phân công theo từng đội hoặc cá nhân, chính vì vậy mà có hố chôn cả mấy chục chiến sĩ, có hố chỉ chôn một hoặc hai người) nhưng những hố cá nhân và tập thể, khi đào lên thì hỡi ôi, không còn đầy đủ hoặc không còn gì cả!
Thầy Pháp Tánh tâm sự: “Có lẽ do trải qua 1 giai đoạn nghèo đói chung của cả nước, người dân có lúc thi nhau đi rà phế liệu, họ đào lên và lấy nhiều thứ, trong đó có những thứ quí giá vô cùng nhưng lại được bán với giá rẻ mạt, mua chưa được 1 ổ bánh mì, đó là tấm thẻ bài. Tính ra, hơn 100 tấm thẻ bài mất đi, chưa tới 100 ổ bánh mì theo thời giá hiện tại nhưng cái mất mát lại là danh tánh của người chết vĩnh viễn không còn!”
Cũng chính vì có những ngôi mộ đôi, khi đào lên, không còn thẻ bài, chỉ còn sắc phục và dây thắt lưng (ra gió chừng 5 phút là tan rã, không còn gì nữa), mà phần đầu và phần mình lại nằm chéo nhau, rất khó để phân biệt mình của ai, đầu của ai nên các phật tử không dám tách thành hai mộ mà vẫn giữ nguyên mộ đôi khi về nơi qui tập mới.
Lại có cả chuyện nhiều hố chôn đơn lẻ, khi đào lên chỉ thấy bộ xương thân hình nhưng không tìm thấy đầu,mọi người lo lắng và hoài nghi… Quàn tạm trong nhà linh ở chùa để đào tiếp thì tối đó, người lính về báo mộng, chỉ vị trí đầu mình nằm cách nơi gần hố chôn chừng vài mét. Sáng mai, ra đào, đúng y như giấc mộng.
Cuộc cầu siêu và những giấc mộng lành:
Sau cuộc qui tập lần 2, nỗi canh cánh vẫn còn đó, chỉ có 27 hài cốt được tìm thấy, như vậy có nghĩa là còn nhiều người vẫn nằm lạnh trong vườn chùa.
Nhưng dẫu sao cũng ít nhiều an lòng người sống và ấm lòng người khuất phần nào. Những giấc mộng vẫn còn quanh quẩn trong nội dung đói, lạnh, thèm ăn, nhớ quê, nhớ người thân, bơ vơ lạc lõng…
Thầy Pháp Tánh họp các Phật Tử một lần nữa, bàn kế hoạch tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế – Cầu siêu bạt độ cho những vong linh chiến sĩ trận vong.
Ngày 27, 28, 29 tháng 7 Âm Lịch 2011 (26, 27, 28 tháng 8 năm 2011), một đại lễ Trai Đàn Chẩn Tế – Cầu Siêu Bạt Độ cho tất cả được tổ chức trong khuôn viên chùa Dương Lâm.
Hiện nay, khu mộ mới đã hoàn thành, tọa lạc trên một sườn đồi thoai thoải bên hồ chứa nước của đập thủy điện Phú Ninh, cách xa chùa Dương Lâm khoảng 5 km.
Dường như từ đó đến nay, thỉnh thoảng, những giấc mộng của các phật tử Dương Lâm được thấy vui hơn, các vị chiến sĩ báo mộng xin thuốc lá để hút chứ không còn lạnh và cô đơn như trước đây.
Thay cho lời kết của bài viết này, xin trích lời một Phật Tử: “Tôi là người nằm mộng thấy họ về nhiều nhất. Bây giờ họ vui vẻ hơn nhiều. Nhưng có một điều, dường như nỗi nhớ nhà, nhớ người thân vẫn là nỗi thao thức lớn nhất của các linh hồn cô đơn. Đã mấy mươi năm họ chưa được gặp lại người thân! Phần lớn họ nói giọng miền Nam, và họ rất muốn về quê!”
Vẫn còn nhiều bộ hài cốt nằm trong khuôn viên chùa Dương Lâm chưa được di dời. Qua thời gian, xê dịch địa tầng, đào sắt và mưa lũ, rất có thể, sự nguyên vẹn là hy hữu. (7/2020)
Theo lời kể của Thầy trụ trì là Đại Đức Thích Pháp Tánh cho biết thì hiện nay, Thầy đã di dời tất cả là 71 ngôi mộ (trong đó có 3 mộ đôi, có 13 ngôi mộ có tên nhưng không có địa chỉ) còn lại là những ngôi mộ vô danh. Thầy đã làm mộ bằng đá cho những Chiến Sĩ Anh Hùng này qua một người thợ làm đá tại đó cho Thầy nợ trả dần, vì chùa cũng rất khó khăn. Tâm nguyện của Thầy rất tốt, vẫn thường xuyên lo cầu siêu, hương khói cho các linh hồn những Chiến Sĩ Anh Hùng đã “Vị Quốc Vong Thân” mà không có thân nhân thăm viếng và hương khói.
Danh tính các chiến sĩ mà chùa Dương Lâm hiện có:
1. Nguyễn Minh – SQ 75- 211355 – Trung Đoàn 5/SĐ2
2. Nguyễn Văn Tôi – SQ 75 – 151704 – Trung Đoàn 5/SĐ2
11. Kết Đoạn cuối cho một quê hương băng hoại, một nền văn hóa suy đồi, một xã hội mục nát.
Tên của hắn là Lâm Châu, độc thân, 30 tuổi, đến Pulau Bidong ngày 28 tháng 4 năm 1980, trên tàu CLA 10385 gồm có 76 người, số thứ tự tàu là 622, có nghĩa là trước con tàu của Lâm Châu, đã có 621 chiếc đến Mã Lai và sau đó được đưa ra đảo Pulau Bidong. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập đảo với Ban tiếp nhận người mới, Lâm Châu được Ban nhà ở cho về tạm trú trong một căn lều thuộc khu A, nơi có 3 thanh niên độc thân đang trú ngụ.
Vào khoảng giữa tháng 4 năm 1980, số người Việt Nam tỵ nạn ở trên đảo Pulau Bidong chỉ còn hơn ba chục ngàn người, so với bốn mươi lăm ngàn vào tháng 4 năm 1979. Với chừng đó người, sống chen chúc trong một khu vực khoảng một cây số vuông, quanh bờ biển phía Nam của đảo, quả là có hơi chật chội. Tất cả nhà cửa cũng như lều trại ở trên đảo, được chia ra làm 7 khu A,B,C,D,E,F và G. Tùy theo quan niệm sống cũng như sở thích riêng của từng gia đình, nhiều người mong được sống trong khu A, vì gần bịnh viện Sick Bay, gần chợ chồm hổm nơi khu C, và gần nơi lãnh thực phẩm do Cao ủy tỵ nạn phân phát. Riêng Lâm Châu, vì độc thân nên ở đâu cũng không có gì là quan trọng đối với hắn. Hắn quan niệm, ở khu nào trên đảo Pulau Bidong cũng đều là thiên đường nơi hạ giới.
Một hôm khi đi tắm biển ở khu F, bất ngờ Lâm Châu gặp lại một người bạn ngày xưa cùng ở chung xóm. Cái tình hàng xóm của một thời mà hai người còn bận quần xà lỏn tắm mưa, bắt dế, đá cá lia thia. Sau đó khi lên bậc trung học, mỗi người một nẻo bặt âm vô tín. Gần hai chục năm sau nơi đất khách quê người tình cờ gặp lại, tha hương ngộ cố tri, cả hai ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, cứ như là Bá Nha gặp Tử Kỳ.
Ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.
-Tới đảo lâu chưa?
-Được khoảng một tuần. Còn mày?
-Tao hả? Ngày mai tao qua trại chuyển tiếp Terengganu, rồi đi Mỹ.
Lâm Châu vỗ vai ông bạn hàng xóm.
-Chúc mừng, chúc mừng.
Mặt mày tươi rói, ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.
-Mày đã gặp phái đoàn nào phỏng vấn chưa?
-Chưa.
-Ngày xưa có lính tráng gì không?
Đưa bàn tay phải cụt mất hai ngón tay trỏ và giữa, Lâm Châu nói.
-Tao được miễn đi lính vì lý do tàn tật.
-Có cha mẹ, anh em gì ở Mỹ không?
-Không.
Ông bạn hàng xóm chắt lưỡi rồi than.
-Hốt rác là cái chắc.
-Mày nói gì?
-Tao nói nếu muốn xin đi Mỹ, mày sẽ bị xếp vào thành phần hốt rác. Hiện tại muốn đi định cư ở Mỹ, phải có một trong ba điều kiện ưu tiên như sau: Ưu tiên một, cha mẹ bảo lãnh cho con cái hay ngược lại, thành phần này sẽ ở đảo khoảng ba đến bốn tháng. Ưu tiên hai, vợ chồng anh em bảo lãnh, thành phần này ở đảo khoảng năm sáu tháng. Ưu tiên ba, là quân nhân, cảnh sát, những người đã từng phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, những người này sẽ ở đảo khoảng chín tháng tới một năm.
Ngừng một chút như chờ cho Lâm Châu hiểu rõ vấn đề, ông bạn hàng xóm nói tiếp.
-Ngoài ba thành phần trên, hầu hết những người còn lại, nếu không chịu đi định cư tại những nước khác như Canada, Úc, Anh, Pháp…thì cứ nằm ở đảo mà chờ. Một, hai năm, phái đoàn Mỹ sẽ mở một cuộc phỏng vấn nhân đạo, họ lượm hết tất cả những người này, gọi là làm một cuộc hốt rác. Chữ dùng nghe không được êm tai cho lắm, nhưng đó là cách mà những người tỵ nạn sống trên đảo nói chuyện với nhau.
Lâm Châu than với bạn.
-Như vậy tao ở đây có tệ lắm cũng hơn một năm, phải không?
-Đúng.
Sau một phút chần chừ, ông bạn hàng xóm nói tiếp.
-Tao có cái này rất hay muốn nói với mày, tụi mình vô quán cà phê đàng kia ngồi đi. Tao sẽ giới thiệu cho mày một việc làm tốt nhất trên đảo này, làm để cho cơ thể được mạnh khỏe lại có chút tiền, chờ ngày đi định cư. Hy vọng mày sẽ không từ chối.
Lâm Châu nói.
-Khoan đã, tao không có tiền uống cà phê đâu.
-Đừng có thắc mắc, nhằm nhò gì ba cái chuyện tiền bạc lẻ tẻ đó, tao cân hết mà.
Từ bồn chứa nước ngọt khổng lồ, cung cấp nước sinh hoạt cho tất cả mọi người trên đảo, cả hai đi dọc theo bãi biển về phía đồi tôn giáo, ước chừng sáu, bảy trăm mét mới đến được quán cà phê. Quán rộng chừng ba chục mét vuông, một nửa mái của quán lợp bằng tôn, nửa còn lại che bằng mấy tấm ny lông xanh được viền, nẹp, bằng cây rất kỹ. Tuy vậy mỗi khi có chút gió biển thổi vào, phần ny lông dư, viền quanh mái đập phần phật như muốn tách ra, bay đi nơi khác. Bàn ghế trong quán được đóng sơ sài bằng những tấm ván, nhặt nhạnh nơi vỏ mấy con tàu cũ. Một quầy tính tiền ở sâu trong quán, hai cái loa dám tới 100 watt treo trên cột đang phát ra một bản nhạc tình, lời ca buồn da diết.
Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa, bọt tràn theo từng làn gió đưa…
Gần 5 năm rồi mới được nghe lại một bản nhạc ngày xưa của thời Việt Nam Cộng Hòa, nghe trong một không gian bao la rộng rãi của bãi biển nơi xứ người, trong bầu không khí tự do tuyệt đối, không có Bác Hồ, không có Đảng Cộng Sản, không công an khu vực, không tổ trưởng, không tổ phó an ninh, không họp tổ dân phố, không xét sổ hộ khẩu, không đánh tư sản mại bản, không kinh tế mới, không đổi tiền, không cơm độn. Nói chung những thứ gì chết bằm, chết tiệt, có liên hệ tới Đảng Cộng Sản đều không có ở đây. Bất ngờ gặp lại cái không khí bãi biển Nha Trang của những ngày xa xưa cũ hiện về trước mắt, khiến Lâm Châu lặng người chết sửng. Bầu không khí tự do mà anh đi tìm đang hiển hiện trước mắt.
Bắt tay với chủ quán, ông hàng xóm của Lâm Châu giới thiệu.
-Đây là Lâm Châu, bạn của tôi, người mà tôi nói sẽ tiếp tục làm công việc kéo nước.
Chủ quán cười vui vẻ.
-Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông, cứ thế mà làm đi. Bây giờ hai ông uống gì, cà phê sữa đá, cà phê đen, coca, pepsi, seven up?
Ông bạn hàng xóm của Lâm Châu nói.
-Cho tôi hai ly cà phê sữa đá.
Chủ quán đi vào trong, một lúc sau vợ của ông ta mang hai ly cà phê đến.
Cầm cái muỗng khuấy đều rồi nâng ly ực một hơi. Ông hàng xóm bắt đầu.
-Chuyện như vầy, cả năm rồi ở trên đảo Pulau Bidong, tao sống hùng sống mạnh bằng cái nghề kéo nước mướn cho tiệm cà phê này. Đồ nghề của tao gồm có tám cái thùng nhựa đựng nước, mỗi thùng có dung tích là hai mươi lăm lít, và hai sợi dây dù cỡ ngón tay mỗi sợi dài bốn mét. Mỗi buổi sáng sau khi điểm tâm bằng hai chén cơm của Cao ủy, nếu sang hơn tao bỏ ra một đồng Mã Lai là có một tô bún cá to bự, với đầy đủ hành hẹ giá sống. Tám giờ sáng tao đến bồn chứa nước ngọt của đảo, nhờ mấy anh bạn trong Ban cấp thủy du di cho tao tám thùng nước đầy. Từ bồn chứa tao xách những thùng nước này xuống mé biển, cách đó chừng hai chục mét, dùng sợi dây dù xỏ qua tay cầm, cột bốn thùng nước lại với nhau. Sau đó choàng đầu dây qua vai, rồi kéo đến quán cà phê này. Một trăm lít nước tương đương với sức nặng là một trăm ký, mới nghe qua tưởng là khó khăn, cực nhọc lắm. Thực ra nó nhẹ hều, bởi vì tao kéo phía trước, đàng sau nhờ có ông Archimede đẩy phụ. Đoạn đường kéo nước dài chừng sáu trăm mét, tao đi mất nửa giờ, sau đó trở lại làm tiếp chuyến thứ hai. Đổ tám thùng nước vào hai cái phuy của quán cà phê xong, tiền trao cháo múc, chủ quán trả cho tao tám đồng Mã Lai, nếu đổi ra đô la Mỹ được bốn đồng. Mỗi buổi sáng tao tập thể dục chừng hai tiếng kéo nước trên biển, lãnh bốn đô la Mỹ ngon ơ. Mày muốn làm không?
Nhìn bàn tay cụt mất hai ngón của mình, Lâm Châu ngần ngừ.
-Nếu tao không làm thì sao?
-Mày đừng có lo, cái mối này có thằng chịu chung cho tao ba chục đô, để tao sang lại cho nó dàn đồ nghề và giới thiệu với chủ quán cà phê. Khi gặp mày, tao đổi ý chỉ muốn giao lại cho mày, với chút hy vọng là hơn một năm đợi chờ trên đảo, mày có công ăn việc làm để giải khuây, có chút tiền tiêu vặt và tao cũng được trọn chút tình xưa nghĩa cũ với bạn bè. Mày có biết, tại sao tao nói như vậy không?
Lâm Châu lắc đầu.
-Không biết.
Ông hàng xóm của Lâm Châu cười.
-Tao biết mày quên chuyện này rồi. Hồi đó mày có con dế lửa với râu ria chân cẳng coi ngầu hết sức, đá đâu thắng đó, có đứa đòi mua hai đồng mà mày không bán lại đem cho tao. Lúc đó, thiệt lòng mà nói tao cảm động đến muốn khóc. Khi xa cái xóm nhỏ, thằng bạn mà tao nhớ nhất là mày.
Lâm Châu hoàn toàn không nhớ một chút gì về chuyện con dế ngày xưa, vậy mà ông bạn hàng xóm vẫn còn mang theo trong lòng cho đến hôm nay, hắn nhìn ông bạn mà lòng bồi hồi xúc động.
-Cảm ơn mày đã giúp đỡ tao.
-Không có gì đâu, sau khi uống cà phê xong tao sẽ dẫn mày về lều của tao, mày phải dọn qua khu F này ở luôn cho tiện việc làm ăn. Căn lều tao đang ở chỉ có tao và một thằng nữa, hắn cũng mới tới đảo đâu chừng vài ngày.
Khi ông bạn hàng xóm đã lên đường đi định cư, căn lều còn lại hai người, Lâm Châu và một gã thanh niên. Mỗi người một góc lều, mạnh ai nấy sống.
Hai ngày qua đi trong câm lặng, cuối cùng không chịu được bầu không khí tẻ nhạt, Lâm Châu nói với gã thanh niên.
-Tôi tên là Lâm Châu, còn anh?
-Hỏi làm gì?
-Để khi cần, xưng hô cho dễ.
Gã đàn ông với đôi mắt buồn hiu, lơ đễnh nhìn trời.
-Quân.
Lâm Châu chửi thầm trong bụng, mẹ nó sao mày hà tiện lời nói quá vậy, nghĩ như vậy nhưng hắn vẫn cố nhẫn nại.
-Nếu cần gì xin anh cứ nói, làm được gì giúp anh tôi sẽ làm.
-Cảm ơn.
Nói xong Quân lại cắm cúi ngồi viết, coi như không có Lâm Châu đang có mặt trong lều. Một tháng trôi qua bầu không khí nhàm chán trong căn lều vẫn vậy, không có gì thay đổi. Lâm Châu ngày ngày đi kéo nước mướn, khi trở về lều, hắn thấy Quân vẫn ngồi đó chăm chú viết. Có một điều khá kỳ lạ là tuy Quân chăm chú viết, nhưng hình như hắn không viết được bao nhiêu. Một tháng qua rồi mà cũng chỉ một cây viết với cuốn vở. Nhiều lần khi đi lãnh thực phẩm của Cao ủy ở kho tiếp liệu, gần cầu Jetty, tiện thể Lâm Châu lãnh giùm lương thực cho Quân. Nhờ đó mà Lâm Châu biết là Quân đi tàu chỉ có một người, đến đảo ngày… số thứ tự tàu …
Chừng đó chi tiết giúp cho Lâm Châu đoán được, chắc tàu của Quân gặp dông tố, bão bùng trên biển, và hắn là người sống sót duy nhất, cho nên hắn mới bị trầm cảm như vậy. Giải tỏa được thắc mắc mang nặng trong lòng, Lâm Châu mới thấy thoải mái, không còn bận tâm nhiều về Quân.
Cũng trong thời gian này, một thuyền nhân là kiến trúc sư đang ở trên đảo, cùng với nhiều người trong khối xây cất, đã được phép của chính quyền Mã Lai, họ bắt đầu xây đài tưởng niệm thuyền nhân trên một ngọn đồi, cách nhà thờ và chùa trên đồi tôn giáo không xa mấy. Mọi việc tiến hành tốt đẹp, qua đến tháng bảy, đài tưởng niệm đã hoàn tất. Đài gồm có một cái đế hình tròn được xây bằng đá, đường kính ước chừng sáu, bảy mét, chiều cao hơn một mét. Ngay trung tâm có một cái trống đúc bằng xi măng tượng trưng cho trống đồng Ngọc Lũ của người Việt Nam. Trên chân đế, có năm cánh buồm trắng, to nhỏ, cao thấp, khác nhau. Cánh buồm cao nhất chắc cũng hơn bốn mét, cùng với bốn cánh buồm khác hội tụ tại một điểm là tâm của nơi đặt trống. Năm cánh buồm tượng trưng cho những con thuyền tỵ nạn Việt Nam, cùng hướng về cái trống đồng là hòn đảo Pulau Bidong, hòn đảo của tự do.
Từ ngày có đài tưởng niệm trên đồi tôn giáo, Lâm Châu thấy Quân không còn ngồi lì trong lều. Mãi cho đến sau này hắn mới biết, Quân ngày ngày vẫn thường lên ngồi dưới những cánh buồm nơi đài tưởng niệm, nhiều lần hắn ngồi cho đến gần nửa khuya mới trở về.
Cuộc sống trên đảo êm đềm qua mau, ngày ngày người ta vẫn tiễn người cũ lên đường đi định cư, đón tàu tỵ nạn mới tới đảo. Những đợt sóng tỵ nạn Cộng sản, lớp sau theo lớp trước, ào ào như sóng biển vỗ bờ tưởng không bao giờ dứt. Sau gần một năm chờ đợi, cuối cùng Lâm Châu cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, và chấp thuận cho đi định cư. Để ăn mừng ngày mà cuộc đời bước qua ngã rẽ mới, Lâm Châu chia sẻ với Quân tin vui của mình.
-Anh Quân nè, tôi đã được cho đi Mỹ rồi.
Quân cười, nụ cười mà cả năm rồi Lâm Châu mới thấy.
-Chúc mừng, lên đường bình an.
-Mới được Mỹ nhận thôi, còn phải đợi ít nhất là dăm ba tháng nữa. Trường hợp của anh như thế nào?
Quân thản nhiên nói.
-Tôi thuộc diện ưu tiên ba, năm ngoái phái đoàn Mỹ phỏng vấn và chấp thuận cho đi định cư, nhưng tôi từ chối.
Nghe Quân nói, Lâm Châu tưởng Quân nói giỡn, cho nên hắn không thắc mắc gì rồi nói.
-Cả năm rồi tôi kéo nước mướn cho nên có chút tiền dư. Hôm nay tôi mời anh đi ăn bún cá rồi uống cà phê, mừng ngày tôi được chấp thuận cho đi Mỹ.
Quân gật đầu.
-Đi thì đi.
Sau khi thưởng thức tô bún cá thơm ngon, đậm đà hương vị của biển Bidong, Lâm Châu và Quân kéo nhau đến quán cà phê.
Ngồi xuống chiếc ghế gỗ xập xệ, Quân nói.
-Sở dĩ tôi đi uống cà phê với anh, vì tôi có chuyện muốn nhờ anh giúp đỡ.
-Chuyện gì? Nếu được tôi sẵn sàng làm.
Quân nói.
-Tôi sẽ ở đây làm chúa đảo. Khi nào anh đi định cư, tôi có mấy cuốn vở nhờ anh chuyển cho gia đình của tôi. Được không?
-Tưởng gì khó khăn lắm chớ vài cuốn vở là chuyện nhỏ, anh yên chí đi.
Nghe Lâm Châu đồng ý giúp mình, gương mặt của Quân sáng rực lên vui mừng thấy rõ. Hắn nói.
-Cảm ơn anh rất nhiều.
Liên tiếp luôn mấy tuần sau đó, nhiều đêm Lâm Châu để ý thấy Quân say sưa ngồi viết, hắn viết cho đến sáng rồi gục đầu bên ngọn đèn đã cạn dầu từ bao giờ. Hình như có bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu sinh lực hắn trút hết vào mấy cuốn vở, như sợ rằng không còn đủ thời giờ để viết.
Đúng như những gì Lâm Châu suy đoán, một buổi sáng nọ khi thức dậy, hắn không còn thấy Quân ngồi đó nữa, thay vào đó là một cái bì thơ, với hàng chữ “Kính gởi anh Lâm Châu”.
Tôi và anh sống chung với nhau trong một căn lều cũng đã được gần một năm, cho đến hôm nay, tôi mới có dịp tâm sự cùng anh qua những trang giấy này.
Như anh biết, bãi biển khu F nơi anh và tôi đang sống, nó nằm ở cực Nam của đảo Pulau Bidong. Nếu đứng tại đây, nhìn về hướng Nam, hòn đảo Cá mập chắn ngay trước mắt, quay qua hướng Đông không bao xa, vợ con tôi đang ở đó. Tuy gần như vậy mà hôm nay, đúng một năm rồi tôi mới chịu đi gặp họ. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy vì tôi cần phải viết, phải kể lại cho ba má và người thân của tôi. Kể cho họ biết chuyện gì đã xảy ra cho vợ chồng tôi vào chuyến vượt biên năm ngoái.
Tàu của chúng tôi, sau năm ngày lênh đênh trên biển, bị tàu hải tặc Thái Lan cướp hết vàng bạc, sau đó húc chìm. Tôi lao mình xuống biển tìm vợ con giữa lúc màn đêm vừa buông xuống. Biển đêm sâu hun hút, đen như mực, tôi vừa bơi vừa gọi tên vợ con đến khản cả giọng. Tôi bơi mà không biết bơi về đâu, cho đến khi sức tàn lực kiệt mới nhắm mắt xuôi tay. Cũng cùng lúc ấy một tấm ván chạm vào tay tôi như có ai đó đưa cho mình. Tôi ôm lấy tấm ván rồi thiếp đi, không còn biết gì nữa. Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng xuyên qua giàn lưới cá phơi nơi mũi tàu. Nhìn thấy mấy người đàn ông lực lưỡng, mình trần như hải tặc Thái lan đang kéo lưới, tôi hoảng sợ la lớn rồi cố vùng dậy để chạy. Hoàn toàn bất lực, tay chân của tôi bủn rủn, tê liệt, không cử động được. Một người trong bọn đánh cá đè tôi, để một ngón tay lên miệng như nói hãy im lặng. Sau đó hắn chỉ vào ngực của hắn, rồi nói.
-Malaysian.
Tôi thở phào nhẹ nhõm rồi nhắm mắt mê đi vì quá mệt.
Bốn ngày sau, tôi được chiếc tàu này đưa đến một đồn lính, hình như là đồn biên phòng của Mã Lai, gần biên giới Thái Lan. Ở đồn lính Mã Lai hai ngày, tôi được Cao ủy tỵ nạn đưa về trại chuyển tiếp Terengganu và sau đó là Pulau Bidong.Trên đảo Bidong, nhiều đêm tôi ngồi một mình nơi đài tưởng niệm thuyền nhân trên đồi tôn giáo. Đêm khuya gió biển lành lạnh, bầu trời đầy trăng sao, tôi dõi mắt nhìn về hướng Đông, nơi đó vợ con tôi và người bạn thân đang trầm mình dưới đáy đại dương, dang tay vẫy gọi. Tôi thẫn thờ ngồi đó nghe biển hát, tiếng hát rì rào khi trầm khi bổng như sóng biển vỗ bờ, như tiếng gọi thầm thương nhớ thiết tha của vợ con, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn tràn tưởng như không bao giờ dứt. Cả một quá khứ xa xưa bỗng chốc hiện về ngay trước mắt, năm 1954 hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, gần một triệu người Bắc di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản. Ở Miền Nam người dân được sống trong thanh bình vài năm, sau đó đến cuối năm 1960, Cộng Sản Bắc Việt lập ra Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam rồi đem quân xâm lăng Miền Nam. Chiến tranh mỗi ngày một leo thang khốc liệt, tôi và bạn bè của tôi lên đường tòng quân. Tôi biết, tôi là một người bình thường, đúng hơn là dưới mức bình thường.
Suốt bảy năm trong quân ngũ, tôi không cóđược cái dũng khí của Trung úy Đức bạn tôi, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, đã cùng anh em binh sĩ chân giẫm lên xe tăng T54, đầu đội hàng chục ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng để rồi bị thương phải cưa mất hai chân khi tử thủ An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Tôi cũng không có được tính kiêu hùng, coi cái chết nhẹ tựa mây trời nơi vùng hỏa tuyến của Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Nhân đầu bạc, khi cùng binh sĩ trong đại đội xả thân tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Tôi lại càng không có cái hào hoa lãng mạn nơi thành phố, nhưng vẫn đầy đủ bản chất anh hùng trên chiến trường nơi biên giới của Long công tử. Trong khi bạn bè của tôi ở những đơn vị tác chiến, cầm súng đánh nhau ngày đêm với Việt Cộng để bảo vệ Miền Nam, lớp chết, lớp bị thương, người còn sống mang tấm thân tàn phế thì tôi được ở đơn vị không tác chiến, sống an lành ở hậu phương. Như vậy với hai mươi mốt năm, từ năm 1954 cho đến năm 1975, khi mà dân quân Miền Nam anh dũng chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược, thì riêng cá nhân tôi CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU đậm đà thắm thiết của vợ tôi mới theo tôi cho đến ngày hôm nay, đến cuối cuộc đời.
Thưa anh Lâm Châu.
Tôi là Trung úy Nguyễn trọng Quân, sĩ quan trực Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Một năm trước đây, khi tôi đến được đồn lính biên phòng của Mã Lai, một mình đến được bến bờ tự do, trong khi vợ con thì chìm sâu dưới đáy đại dương, tôi khóc không thành tiếng, dửng dưng đứng nhìn cánh cổng thiên đường Pulau Bidong với ngọn hải đăng đã tắt ngấm, chỉ còn lại cái bóng mờ nơi bờ biển mà không muốn bước chân vào. Tôi tự coi như mình đã chết từ lúc chiếc tàu của tôi, bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Trên tàu gồm có hai mươi ba người kể luôn cả tôi, hai mươi hai người đã chìm vào lòng đại dương sâu thẳm, họ là nhóm người trong số hàng triệu, triệu người Việt Nam dùng thuyền vượt biển, được thế giới gắn cho cái chữ Boat People. Người ta ước lượng rằng, trong số vài triệu người đó, một phần tư đã bỏ mình trên biển Đông. Người dân Việt Nam bỏ nhà bỏ cửa, bỏ mồ mả ông cha, bỏ tất cả, vượt biển tìm tự do, họ thà chịu chết trên biển Đông chứ quyết không sống dưới chế độ độc tài man rợ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau này trong lịch sử, các sử gia chân chính của Việt Nam sẽ nói đến giai đoạn mà Đảng Cộng Sản cai trị Việt Nam, và coi đó như một trang sử ô nhục của đất nước, là thời kỳ đen tối nhất của Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Sáu cuốn vở mà tôi gói trong tấm ny lông này là những gì tôi muốn nói. Nhờ anh chuyển cho ba vợ tôi, tên ông ấy là Nguyễn văn Bảy, ông vua nhà cửa ở Sài Gòn trước năm 1975. Hiện tại ba vợ của tôi đang sống ở Mỹ, tôi chỉ biết được có chừng đó chi tiết về ông. Anh có thể đọc và phổ biến những gì tôi viết trong mấy cuốn vở này, hy vọng ba vợ của tôi khi nghe chuyện, sẽ biết được tin tức con gái của ông cùng thằng rể và đứa cháu ngoại.
Khi anh đọc những hàng chữ này thì tôi đã đi gặp vợ con của tôi. Chúng tôi đã được sum họp vui vầy bên kia thế giới, một thế giới Tự Do không Cộng Sản
Chúc anh lên đường định cư bình an, hạnh phúc.
Cảm ơn anh. Nguyễn trọng Quân.
Lâm Châu đọc xong bức thư mà cả người bần thần, thương cho hoàn cảnh bi đát của người bạn chung lều. Không thể chần chờ hắn vội vã mở tấm giấy ny lông, sáu cuốn vở dày cỡ trăm trang được xếp ngay ngắn, đánh số từ một tới sáu. Bên trong mấy cuốn vở là những trang giấy dày đặc những hàng chữ nhỏ đều đặn, nhiều nơi chữ đã nhạt nhòa, hình như là do nước mắt của người viết. Lâm Châu mở trang đầu tiên của cuốn vở rồi bắt đầu lẩm nhẩm đọc.
“ Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẳm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu….”
Mới đọc được vài trang, Lâm Châu chợt nhớ ra những dòng chữ mà mình đang đọc là của Quân, người bạn ở chung lều với mình suốt một năm qua. Anh bạn này vừa mất tích, hay là đã tự tử từ tối hôm qua rồi. Trên đảo Bidong nếu vì bất cứ lý do gì mà mất đi một người tỵ nạn, Ban chỉ huy trại phải báo cho Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc biết. Không thể đọc tiếp, Lâm Châu vội vàng gói sáu cuốn vở vào trong tấm giấy ny lông cất vào túi xách tay, rồi co giò phóng như bay lên Ban chỉ huy trại để báo cáo về tình trạng của người bạn sống chung lều với mình.
Một tuần lễ, trước ngày rời đảo Pulau Bidong đi định cư, Lâm Châu bất chợt nghe được trong mục tìm người, phát đi từ loa phóng thanh của Ban thông tin trên đảo.
“Tìm chồng. Trung úy Nguyễn trọng Quân 32 tuổi, trước năm 1975 phục vụ tại Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, vượt biển ngày 12 tháng 4 năm 1980, trên con tàu gồm có 23 người, đã bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Anh Quân, nếu anh còn sống hãy liên lạc số điện thoại …hoặc địa chỉ …California, USA. Vợ Nguyễn thị Cúc.”
Khi mà con tàu chở chúng tôi ra khỏi cửa biển Trần Đề được khoảng mươi phút, bất chợt Long công tử nói với tôi.
-Mày nhìn lại phía sau, hình như có một chiếc tàu đang đuổi theo tụi mình.
Tôi ngồi quay người lại, nhướng mắt quan sát. Một chiếc tàu đi biển đang hướng mũi về phía chúng tôi. Nhìn con tàu mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi tôi thấy được có hai người đang đứng trước mũi tàu. Tôi la to.
-Mày nói đúng, có tàu đang chạy theo tụi mình.
Im lặng mím môi, Long công tử cho tàu quẹo về tay phải, mặt trời đang ở mũi tàu từ từ nhích sang phía trái. Chiếc tàu đang đuổi theo cũng lẹ làng đổi hướng quay theo. Long công tử cằn nhằn với chủ tàu.
-Ông nói đã lo lót cho trạm công an nơi cửa biển rồi, tại sao tụi nó lại rượt bắt mình?
Mặt mày của chủ tàu xanh lè, ông ta lắp bắp.
-Má… má nó, cái lũ …man rợ.
Chủ tàu chưa nói dứt lời, một tràng AK đã nổ vang, cùng lúc với tiếng đạn rít qua đầu, nhiều viên đạn trúng ngay mũi tàu kêu lụp bụp, vài mảnh gỗ vụn văng tung tóe xuống sàn tàu. Không hẹn mà cả ba người chúng tôi cùng cúi đầu, nằm sát xuống sàn tàu để tránh đạn. Khi tiếng súng đã im, Long công tử cho tàu chạy chậm lại ngồi chờ. Chủ tàu vội vàng hỏi Long công tử.
-Sao ông không tống hết ga chạy trốn, mà lại đợi cho tụi nó bắt.
Long công tử với gương mặt tỉnh queo.
-Tàu của mình chạy chậm như rùa, cho dù tôi có tăng hết tốc lực cũng chỉ được chục cây số một giờ. Tàu của công an chạy nhanh gấp đôi, gấp ba, chưa kịp chớp mắt nó đã tới bên cạnh mình rồi.
Đúng như Long công tử nói, chỉ mới chừng vài phút sau, chiếc tàu của công an đã cặp sát hông tàu của chúng tôi. Hai người thanh niên mình trần trùng trục, nước da đen xạm vì nắng và gió biển, vai đeo súng AK, họ chỉ mặc độc có cái quần cụt. Một trong hai người hỏi với giọng đầy tính uy hiếp.
-Chủ tàu đâu? Tụi mày vượt biên phải không?
Người thanh niên thứ hai tiếp lời.
-Còn hỏi gì nữa, bắn chết mẹ nó vài đứa, cho tụi nó chừa cái thói ôm chân đế quốc Mỹ đã ăn sâu trong máu, xong rồi kéo tàu về giao cho công an.
Nghe hai gã thanh niên nói chuyện với nhau, chủ tàu vội vàng nói nhỏ với Long công tử.
-Tụi này không phải là công an, bọn nó là du kích hay tự vệ biển gì đó thôi, để tôi thử lo lót với tụi nó.
Nói xong chủ tàu hướng sang hai người thanh niên la to.
-Thưa hai anh cho tôi nói.
Hai gã thanh niên bắn chỉ thiên thêm một tràng AK.
– Má cái bọn phản quốc, mang tội vượt biên như tụi mày, còn muốn nói gì nữa đây.
Ông chủ tàu tay run lập cập, miệng lắp bắp.
-Thưa…thưa hai anh, anh Sáu Tùng, trưởng công an biên phòng nơi cửa biển cho chúng tôi đi, nếu không có phép của ảnh, một con kiến cũng không qua được trạm, nói gì chiếc tàu của tôi. Giờ đây anh bắt chúng tôi lại, giao cho công an, họ sẽ bỏ tù chúng tôi mà mục đích chính là khám xét để lấy vàng bạc và tiền của. Bao nhiêu lợi lộc công an hưởng hết, trong khi các anh khổ công làm việc mà chẳng được gì.
Gã thanh niên hỏi chủ tàu.
-Mày nói sao? Anh Sáu Tùng cho tụi mày đi?
-Dạ phải, tôi xin thề có trời đất quỷ thần làm chứng.
Thấy hai tên thanh niên xì xào to nhỏ với nhau, chủ tàu nói tiếp.
-Tụi tôi có hai mươi ba người, tôi sẽ nói mọi người còn bao nhiêu tiền của, vàng bạc, đô la, gom lại hết đưa cho hai anh. Các anh có chút đỉnh tiền nhậu lai rai, lại còn đỡ tốn công áp giải tụi tôi giao cho công an.
Sau chừng một phút bàn luận, một trong hai gã thanh niên nói to.
-Làm lẹ lẹ lên, tụi tao đợi.
Không cần nghe chủ tàu nói, tôi chụp cái nón đang đội trên đầu, đi đến trước mặt từng người.
-Lẹ lên quý vị, ai có tiền Việt Nam, đồng hồ , vàng bạc, mau lột ra bỏ vô đây nộp cho du kích, họ cho mình đi rồi đó.
Tôi đếm được ba cái đồng hồ đeo tay, bốn năm chiếc nhẫn, tiền Việt Nam thì khá nhiều đựng đầy một cái nón.
Chủ tàu run run đưa cái nón chứa đầy cúng phẩm cho hai người thanh niên. Cả hai tên du kích liếc nhìn sơ qua cái nón, đưa tay sục sạo bên trong rồi lẹ như chớp ôm gọn vào lòng. Hai tên du kích khoát tay ra hiệu cho đi, đồng thời chiếc tàu của chúng cũng rú ga vọt lên phía trước, quay mũi hướng vào bờ.
Thoát khỏi một đại nạn tưởng chừng như vô phương cứu chữa, chủ tàu cười vui vẻ.
-Tới luôn ông bạn.
Long công tử cho tàu nhắm ngay hướng mặt trời mọc, dọt lẹ.
Nhìn những gương mặt hớn hở vui tươi của mọi người trên tàu, tôi nói với Long công tử.
-Hy vọng không còn ai đuổi theo bọn mình nữa.
Long công tử nói.
-Phải đợi đến hải phận quốc tế mới chắc ăn.
Đưa cho tôi cái địa bàn, Long công tử nói.
-Vượt đại dương bằng con thuyền dùng để đi trên sông, không có hải đồ, không có hải bàn, thậm chí còn không có luôn tài công, phải dùng địa bàn của bộ binh, đã vậy còn bắt hai thằng sĩ quan bộ binh lái tàu. Mẹ nó đúng là không có chó bắt mèo…làm thế. Bây giờ mày mở cái địa bàn ra, nhìn qua đỉnh cao nhất của mũi tàu sẽ thấy mặt trời, sau đó kiểm soát lại qua địa bàn có phải là một ngàn sáu trăm ly giác hay không? Nếu đúng, là địa bàn còn tốt, mình có thể dùng được.
Tôi mở địa bàn, đầu mũi tên màu vàng của cây kim xoay qua, trở lại vài lần, rồi ngừng ở hướng Bắc. Tôi ngẩng nhìn về phía mũi tàu, cúi nhìn địa bàn, mặt trời đứng ngay con số 16 màu đen. Tôi nói với Long công tử.
-Đúng rồi.
Long công tử cười với vẻ hài lòng.
-Tao lái tàu, mày giúp tao xác định phương hướng, tụi mình sẽ làm nhiệm vụ của hai thằng khinh binh, dẫn đường cho một trung đội bộ binh tiến chiếm mục tiêu. Từ giờ cho tới sáng ngày mai, mình sẽ cho tàu chạy theo hướng Đông tức là hướng một ngàn sáu trăm ly giác. Vận tốc của tàu ước chừng bảy cây số một giờ, tao nói là ước chừng, còn thật sự là bao nhiêu tao không rõ. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ mình sẽ đi được khoảng trên một trăm sáu chục cây số, sau đó mình sẽ đổi chiều đi về hướng Nam, chừng sau hai ngày hai đêm, mình đổi hướng bốn ngàn ly giác vào Mã Lai. Sở dĩ tao phải chạy theo hình vòng cung như vậy là vì muốn tránh xa Côn Đảo, càng xa càng tốt, lạng quạng để tụi công an biên phòng ở đó nó tóm cổ thì bỏ mẹ.
Tôi cố nhớ lại trong đầu tấm bản đồ vùng Đông Nam Á, in trong cuốn sách địa lý thời Việt Nam Cộng Hòa. Cuốn sách mà mấy tháng qua, tôi coi hoài không chán.
-Mày yên chí đi, tối nay tao sẽ thức suốt đêm điều chỉnh phương hướng cho mày. Mà Long nè, còn có một điều tao muốn hỏi cho rõ.
-Nói đi.
-Tại sao mày không giữ hướng Đông chạy một lèo, chừng sáu bảy ngày sẽ đến Palawan của Phi Luật Tân.
-Đi theo hướng đó thì tốt rồi, nhưng tao sợ trong đêm tối mình vướng phải san hô, đá ngầm ở chung quanh quần đảo Trường Sa, và sợ nhất là lạc qua những hòn đảo do hải quân Việt Cộng đang trú đóng trên đó. Bị Việt Cộng bắt, chẳng thà tao chết dưới tay Đông Hải Long Vương còn sướng hơn.
Tôi nhắc Long công tử.
-Đi theo đường của mày có thể gặp phải hải tặc Thái Lan.
Buông tiếng thở dài, Long công tử nói.
-Mày nói đúng, thôi thì bây giờ mình cứ chạy về hướng Đông một ngày một đêm rồi tính sau. Đồng ý không?
Khi mặt trời bắt đầu lặn ở hướng Tây, tàu của chúng tôi đã đi được 10 tiếng, cách xa bờ biển Việt Nam chắc hơn 70 cây số. Suốt đêm hôm đó, dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn bão, tôi ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng cho Long công tử lái tàu. Cứ năm, mười phút, qua địa bàn tôi chỉnh với Long.
-Lái qua phải chút xíu. Tốt, rồi giữ yên như vậy.
Một lát sau tôi lại nhắc.
-Qua trái một chút. Đúng rồi.
Bầu trời của những ngày cuối tháng hai âm lịch tối thui, biển êm gió nhẹ, đem đến chút mát dịu thoải mái cho cả hai đứa. Một cơn buồn ngủ ở đâu chợt kéo đến, khiến tôi nói với Long công tử.
-Giờ này mà có ly cà phê đen thì tuyệt.
-Mày đòi hỏi hơi nhiều, lo canh giữ phương hướng cho tao. Chừng vài giờ nữa khi bình minh đến, nếu bầu trời trước mũi tàu sáng hơn bầu trời phía sau lưng, chắc chắn là suốt đêm tụi mình đã chạy đúng hướng.
Sau một đêm dài thức trắng tưởng như vô tận, cuối cùng thì bình minh cũng đến, đúng như Long công tử nói, mặt trời đỏ ối như một cái dĩa lửa khổng lồ xuất hiện ngay trước mũi tàu, chiếu ánh sáng rực rỡ như ánh hào quang chiến thắng đến với chúng tôi, với mọi người trên tàu.
Long công tử vươn vai tươi cười.
-Chắc mình đã cách bờ biển Việt Nam khoảng chừng trăm rưởi cây số. Nói cho tao biết mày muốn đi Phi Luật Tân hay Pulau Bidong của Mã Lai.
Khi nghe hai chữ Pulau Bidong, tôi như bị một ma lực đầy hấp dẫn, quyến rủ, không thể nào cưỡng lại được. Bởi vì đối với tôi Pulau Bidong chính là ngọn hải đăng, sẽ dẫn lối đưa đường cho những con tàu của người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam, đến bến bờ tự do. Không một chút do dự tôi nói.
-Mã Lai.
-Như vậy khoảng hai giờ nữa, tụi mình sẽ cho tàu quay mũi về hướng Nam.
Tôi gật đầu rồi nói.
-Có mặt trời hướng dẫn, mày lái tàu một mình đi, tao lo phần việc của tao, phân phát thực phẩm và nước uống cho mọi người.
Nói xong, tôi đi đến chỗ Cúc và mọi người đang ngồi dưới sàn tàu. Vinh máy nổ nằm bên máy tàu ngủ ngon lành, bất chấp tiếng dộng ầm ầm đều đều của máy tàu đang chạy.
Lần đầu tiên gặp mặt Hà, vợ của Long công tử, nhìn sơ qua tôi thấy Hà có cái nét đẹp dịu dàng của một cô gái quê, chơn chất, thật thà. Chẳng trách gì ông bạn hào hoa công tử của tôi, ngày xưa khi mới gặp cô ấy đã bị hớp hồn.
Tôi nói với Hà.
-Thưa chị tôi là Quân, bạn của anh Long.
Hà nói với tôi.
-Em có nghe anh Long nói về anh và chị Cúc, mỗi khi nhắc đến chuyện xưa, chuyện từ hồi anh và anh Long còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức, cho đến lúc cùng bị nhốt trong trại tù cải tạo Sông Mao.
Tôi nói.
-Bây giờ tôi đi lấy gạo, nhờ chị và vợ tôi nấu cơm, sau đó vắt thành nắm để tiện phân phối cho mọi người. Được không?
Hà vội vàng nói.
-Chuyện dễ mà, anh yên chí.
Quay sang Cúc, nhìn gương mặt xanh xao bơ phờ của vợ, tôi hỏi.
-Em và con như thế nào?
-Hôm qua mấy đứa con nít cùng với vài người lớn, nôn thốc mửa tháo, tất cả nằm la liệt khắp sàn tàu, giờ thì mọi chuyện đều tạm ổn rồi. Anh cứ lo chuyện của anh giúp anh Long đi. Mà anh nè, tàu của mình đi tới đâu rồi?
Nghe Cúc hỏi, tôi giật mình vì hoàn toàn không biết con tàu mình đang ở đâu giữa đại dương mênh mông, tất cả chỉ là phỏng đoán, có thể hơn một trăm rưởi cây số cách bờ biển Việt Nam.
Tôi nói với Cúc mà như tự trấn an mình.
-Tàu đang đi đúng hướng đó em.
Tôi có được vài tiếng đồng hồ cùng với vợ và Hà lo chuyện cơm nước cho mọi người trên tàu. Cuối cùng tôi cũng không quên đem theo hai nắm cơm vắt và một chai nước cho Long công tử.
Khi tôi trở lại, Long công tử mới bắt đầu cho tàu quẹo phải, chạy về hướng Nam. Tôi nghĩ thầm, vượt đại dương mênh mông bằng con tàu dùng để đi trên sông, với kiến thức của hai thằng sĩ quan bộ binh, không hải bàn, hải đồ là tấm bản đồ của vùng Đông Nam Á nằm trong trí nhớ, liệu chúng tôi có bao nhiêu phần trăm đến được bến bờ tự do.
Mặt trời đã lên khá cao đứng lững lơ bên tay trái của con tàu, chiếu những tia nắng vàng rực rỡ xuống biển. Màu nước biển ở đây không còn trong xanh mà đã đổi thành màu đen, vài con cá tựa như cá heo, đang thi nhau bơi đua với tàu ở đàng mũi. Vinh máy nổ đi đến bên Long công tử.
-Chắc mình phải cho máy nghỉ một vài giờ, đừng có ép quá, vì cái Yanmar này cũng cũ lắm rồi.
Nói xong Vinh máy nổ nhìn tôi.
-Phải chi mình có được cái máy gần như mới tinh, nơi vườn của ông Quân ở Đà Lạt thì hết sẩy.
Tôi không chú tâm nghe Vinh nói, vì sau lưng hắn ở cuối chân trời một chấm đen xuất hiện, tôi nói với Long công tử.
-Có tàu.
Cả ba đứa cùng nhìn về phía cái chấm đen hình như đang di chuyển ngược chiều với con tàu của chúng tôi. Chấm đen mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi hình dáng con tàu rõ nét. Vinh máy nổ la to.
-Có tàu ngoại quốc bà con ơi.
Mọi người trên tàu vui mừng, la hét, một vài người cầm cái áo trắng đưa lên trời vẫy gọi, miệng hét to.
-Cứu chúng tôi với, vớt chúng tôi đi.
Con tàu khổng lồ không một bóng người trên bong, im lặng, lầm lủi như một con tàu ma, từ từ lướt ngang qua trước mặt chúng tôi, đem theo hy vọng được cứu vớt của mọi người ở trên tàu. Trời êm bể lặng, con tàu của chúng tôi thả trôi trên mặt nước. Lợi dụng lúc tàu tắt máy Long công tử và tôi nằm tại chỗ, ngủ một giấc, tuy chỉ được vài tiếng nhưng nhờ đó mà sức khỏe của chúng tôi được phục hồi phần nào, sau một đêm thức trắng.
Suốt một ngày trôi qua, có hàng chục chiếc tàu sắt to lớn, xuôi ngược ngang qua con tàu của chúng tôi. Không một chiếc nào tỏ dấu hiệu là có ý muốn cứu vớt, cho dù mọi người ở trên tàu của chúng tôi vẫy cao những cái áo trắng với ba chữ S.O.S. Đêm thứ hai, tôi cũng thức sáng đêm ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng đi cho Long công tử. Lần này tôi giữ hướng ba ngàn hai trăm ly giác, cho đến khi mặt trời mọc lên bên phía tay trái của con tàu, lúc bấy giờ Long công tử nhìn tôi với đôi mắt đầy mệt mỏi. Hắn chỉ về phía mặt trời nói.
-Hy vọng mình đi đúng hướng.
Ngày thứ ba, trong lúc tàu của chúng tôi tiếp tục di chuyển về hướng Nam.
Long hỏi tôi.
-Mày thử đoán coi, tụi mình đang ở đâu?
Tôi cười đau khổ.
-Mày tưởng tao là sĩ quan Hải quân chắc?
Mãi cho đến sáng ngày thứ tư, tôi và Long công tử cho tàu đi theo hướng bốn ngàn ly giác, lúc này mặt trời đã ở xeo xéo sau lưng của con tàu. Vào khoảng 5 giờ chiều, tôi nói khoảng vì tất cả đồng hồ của mọi người ở trên tàu đã nộp cho du kích ở Việt Nam rồi. Lúc ấy, tôi chợt thấy một chiếc tàu đang hướng mũi về phía tàu của chúng tôi. Khi đã đến gần, tôi nghi ngờ và đoán rằng, đó là một chiếc tàu của hải tặc Thái Lan, vì hình dáng và màu sơn của nó hoàn toàn khác với những chiếc tàu chở hàng mà chúng tôi đã gặp. Trên tàu non chục tên Thái, thân hình vạm vỡ, nước da sạm đen, đứng thành một hàng dài dọc theo hông tàu, tất cả đều mình trần trùng trục, chỉ mặc quần cụt và quấn khố. Một vài tên quẹt mấy cái sọc đen trên mặt, để làm tăng thêm vẻ dữ dằn, hung tợn. Bọn hải tặc, kẻ thì cầm dao, người thì cầm búa, họ cặp sát vào tàu của chúng tôi, năm thằng hải tặc vội vàng nhảy qua. Chuyện đầu tiên chúng làm là lùa đàn ông về phía đuôi tàu, đẩy đàn bà con nít về mũi tàu. Hai thằng nhảy xuống hầm máy, dùng mỏ lết, kềm, khóa mở bù lon, tháo tung cái máy Yanmar F10 ra, ốc vít quăn đầy sàn tàu, trộn lẫn với cát bụi, nước biển, chỗ nào tháo mở không được, chúng dùng búa đập phá không nương tay. Lúc đầu, tôi tưởng rằng bọn cướp muốn phá hủy máy móc, không cho chúng tôi đi tiếp. Cho đến khi thấy bọn chúng đập tháo cái nắp của hộp chứa dầu bên hông máy, lục lọi tìm kiếm. Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ra là bọn cướp chỉ muốn tìm vàng giấu trong đầu máy Yanmar mà thôi. Không tìm thấy vàng, bọn cướp bắt đầu chuyển qua lục lọi tất cả túi xách, cũng như quần áo của mọi người, chúng cẩn thận mò trong từng cái ve áo, nắn bóp từng cái lai quần, vì kinh nghiệm cho chúng biết người tỵ nạn thường giấu những sợi dây chuyền vàng trong đó.
Sau cả giờ lục soát, không biết kiếm được bao nhiêu vàng bạc và đô la, bọn hải tặc lục đục nhảy về tàu của chúng, rú ga cho tàu chạy mất.
Tôi thở dài nhẹ nhõm, nhìn mọi người với nét mặt vui mừng vì vừa thoát qua một đại nạn. Mừng vì đám hải tặc bỏ đi không hãm hiếp đàn bà, con gái trên tàu của chúng tôi. Hoàng hôn dần đến, màn đêm từ từ phủ kín bầu trời, một chút gió nhẹ thổi đến, mang theo cái mát lạnh của đại dương. Con tàu chết máy, không người lái trôi dật dờ trên biển, trong khi Long công tử và tôi cố gắng mò tìm dưới sàn tàu từng con ốc, con vít, từng bộ phận nhỏ nhặt của máy tàu đưa cho Vinh máy nổ với hy vọng mong manh là anh ta sẽ sửa được máy tàu.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn bão, Vinh máy nổ chỉ vào cái nắp đậy hộp dầu bị bể ra thành mấy mảnh, lắc đầu.
-Giữa biển như thế này, tìm đâu ra bộ phận để thay thế, chịu thua thôi mấy ông ơi.
Không chịu đầu hàng trước số phận nghiệt ngã, Long công tử lấy một cây sào dài chừng ba thước, dựng lên giữa tàu, cột thêm cái poncho dù làm buồm. Tôi hỏi hắn.
-Mày kiếm đâu ra cây sào hay vậy?
-Vợ chồng tao sống trên tàu, cái cây này tụi tao dùng để phơi quần áo.
Nhờ chút gió nhè nhẹ thổi vào cánh buồm dã chiến mới làm được, hình như con tàu có trôi nhanh hơn một chút. Tàu trôi nhưng không biết theo hướng nào, sẽ về đâu, mọi chuyện đã quá tầm tay, chúng tôi đành phó mặc cho số phận đẩy đưa.
Sáng ngày thứ năm, thùng phuy nước sông trên tàu đã cạn gần tới đáy, để lộ ra một lớp phù sa màu nâu đỏ, tôi dùng một cây gỗ nhỏ đâm thẳng xuống đáy thùng rồi nhấc lên, chiều dày của bùn khoảng một tấc. Tôi nhờ Vinh máy nổ nghiêng thùng phuy rồi dùng một cái tô múc tất cả nước đục ngầu trong đó đổ vào một thùng nhựa nhỏ. Hy vọng sau một vài giờ để yên cho phù sa lắng xuống, mọi người sẽ có chút nước uống. Mặt trời đã lên khá cao, đem theo cái nóng mỗi lúc một tăng. Mặt biển lặng yên, chỉ lăn tăn gợn sóng. “Tháng ba bà già đi biển”, câu nói được truyền tụng trong dân gian quả là không sai, tàu đi trên biển mà cứ như là tà tà ở trên sông.
Tôi thầm nghĩ, nếu con tàu của chúng tôi đang ở trong tình trạng chết máy, gặp những tháng biển động với dông tố bão bùng, chắc nó đã chìm sâu dưới lòng đại dương tự bao giờ. Khi mà mặt trời đứng ngay trên đỉnh đầu chiếu ánh sáng nóng như đổ lửa xuống con tàu, không khí oi bức ngột ngạt vì không một chút gió, trong không gian bao la tĩnh mịch của buổi trưa, từ xa một con tàu của hải tặc lại xuất hiện, khi đến gần tàu của chúng tôi, nó chạy chầm chậm đánh một vòng quanh tàu rồi cặp sát bên hông. Mấy tên hải tặc nhảy sang tàu của chúng tôi, chúng đi tới hầm máy nhìn quanh. Khi thấy cái máy Yanmar bị phá hư, bọn hải tặc biết là tàu của chúng tôi đã bị cướp trước đó rồi. Sau một lúc xầm xì bàn tán, cả bọn nhảy ngược về tàu của chúng. Hai thằng hải tặc bưng qua cho chúng tôi một thau cơm đầy, một thau cá luộc, một thằng khác hai tay xách hai thùng nhựa đựng nước. Khác với thùng đựng nước ở Việt Nam mà chúng tôi thường thấy, thùng của Thái Lan to hơn một chút, tôi đọc được con số 25L to thật to in nổi trên thùng nhựa. Đặt cơm, cá, nước uống xuống sàn tàu, không nói một tiếng, sau đó cả bọn hải tặc Thái Lan trở về tàu của chúng, tăng ga dọt mất.
Những gì vừa xảy ra trước mắt, cho tôi biết hải tặc Thái Lan là những ngư dân đang đánh cá trên vùng biển của họ. Gặp tàu tỵ nạn, sẵn dịp họ trở thành cướp, nếu may mắn sẽ được một ít vàng, còn không thì cũng chẳng mất mát gì.
Tôi đem thực phẩm và nước uống phân chia cho mọi người trên tàu, tất cả đều có được một buổi trưa no nê với nước uống đầy đủ.
Buổi trưa trên biển ở gần xích đạo, cái nóng của mặt trời quả thật là kinh khiếp, thêm chuyện bầu trời lặng gió khiến không khí càng thêm oi bức, ngột ngạt, mồ hôi của mọi người ở trên tàu toát ra như tắm. Tôi phát cho mỗi người thêm nửa chén nước với lời dặn là, phải đợi đến chiều tối mới phát nước lại.
Cho đến khi mặt trời ngả về hướng Tây, ánh nắng chừng như đã dịu lại, những cơn gió nhẹ cũng bắt đầu thổi, cùng lúc ấy một chiếc tàu của hải tặc lại xuất hiện. Đây là chiếc tàu hải tặc thứ ba mà chúng tôi gặp. Khi hai chiếc tàu gần kề, cặp song song với nhau, tôi đếm được bảy thằng hải tặc thân hình đen đúa, mặt mũi bặm trợn, trên tay dao búa sáng ngời. Bọn hải tặc hò hét nhảy múa trông giống như là những thổ dân Châu Phi, đang mở hội ăn mừng quanh bếp lửa. Mọi người trên tàu của tôi hầu như chết khiếp trước những tên hải tặc hung hăng dữ tợn. Bốn thằng hải tặc nhảy qua tàu của chúng tôi, thằng dẫn đầu tay cầm dao, tay cầm đuốc nhìn xuống hầm tàu. Khi thấy cảnh máy móc bị đập phá, tháo rời ra làm nhiều mảnh, như biết tàu đã bị cướp nhiều lần, tên hải tặc với gương mặt đầy vẻ giận dữ, hắn dùng cây đuốc chỉ vào từng người đàn ông, lùa sang tàu của chúng. Tất cả bọn đàn ông chúng tôi, bị dồn hết về phía mũi tàu của bọn hải tặc. Trong lúc di chuyển, một người đàn ông trong bọn chúng tôi, vừa đi vừa đưa tay gạt mạnh con dao của tên hải tặc sang một bên. Thấy có người như muốn chống cự, vẻ tức giận hiện rõ trên gương mặt của tên hải tặc, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc, sẵn con dao đang cầm, hắn vung tay đâm mạnh vào lưng của người đàn ông. Lưỡi dao xuyên qua lưng người đàn ông ngọt như cắm vào thân một cây chuối. Chỉ nghe được hai tiếng la “Chết tôi” rồi người đàn ông quỵ một chân xuống đất. Ngay lúc ấy một em thiếu niên chừng 16 tuổi, chạy đến ôm lấy chân người đàn ông, miệng la to “Ba có sao không?” Tên hải tặc Thái Lan rút con dao ra khỏi lưng người đàn ông, một dòng máu đỏ tươi tràn theo miệng vết thương, chảy xuống sàn tàu. Tên hải tặc với nét mặt lạnh như tiền, co chân đạp xác người đàn ông xuống biển. Với gương mặt đầy sát khí, hắn túm tóc em thiếu niên kéo lên cao, đâm một dao vào bụng rồi đẩy xác xuống biển. Trước cảnh giết người một cách man rợ của tên hải tặc Thái Lan, không ai bảo ai, bọn đàn ông chúng tôi chạy dồn về phía mũi tàu. Thấy đã ổn định cánh đàn ông. Bốn tên hải tặc đang ở trên tàu của chúng tôi, bắt đàn bà phải cởi bỏ quần áo, cũng trong lúc đó ba thằng hải tặc bên tàu của chúng giương mắt đứng nhìn, với những tiếng cười man rợ đầy thú tính.
Trước tình trạng tuyệt vọng của cảnh bọn hải tặc Thái Lan sắp sửa hãm hiếp đàn bà, con gái, một sự việc bất ngờ mà tôi biết là ngoài dự đoán của bọn hải tặc và cả tôi nữa. Long công tử tay cầm cây lao đâm cá, mũi lao làm bằng sắt nhọn hoắc sáng ngời, có thêm cái ngạnh nhỏ cong cong ở bên hông. Tôi không biết nó tìm được ở đâu. Hét lên một tiếng thật to, tiếng thét nghe như muốn rách cả màng nhĩ của mọi người, Long công tử lao mình tới gần tên hải tặc đã đâm chết hai người của chúng tôi. Tên hải tặc này đang đứng bên hông tàu Thái Lan, nhìn sang tàu của chúng tôi hai tay đưa lên trời múa may uốn éo. Nghe tiếng hét, tên hải tặc quay người lại, cũng vừa lúc mũi lao cắm phập vào bụng hắn, xuyên qua người, lòi ra sau lưng hơn một gang tay. Tên hải tặc với đôi mắt trợn tròn đầy kinh ngạc, hai tay chỉ kịp ôm lấy cái cán lao đầy máu, loạng choạng thối lui một bước rồi cả thân hình vạm vỡ của hắn ngả nhào xuống biển. Chứng kiến cảnh đồng bọn bị giết, hai tên hải tặc còn lại tay vẫn còn cầm dao búa, bỗng dưng hốt hoảng đi thụt lùi. Long công tử như một con cọp dữ chuẩn bị vồ mồi, hắn gào to, tiếng gào nghe thật ghê rợn rồi bước tới một bước, hai thằng hải tặc lui một bước. Trong lúc hai bên đang còn vờn nhau như vậy, đột nhiên giọng nói của Vinh máy nổ vang lên.
-Ông thầy, giao cái thằng cao cho tôi.
Hai chữ ông thầy vừa thoát ra khỏi miệng của Vinh máy nổ, như một tín hiệu từ thuở xa xưa nào đó, khi mà cả hai còn phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc mà Long công tử là căn cứ phó một trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Thiện Ngôn Tây Ninh, rồi sau đó là Đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân, trong suốt bốn năm trường dài đăng đẳng, đã từng tham dự hàng trăm trận đánh lớn nhỏ với Việt Cộng, coi cái chết nhẹ tựa chiêm bao. Còn Vinh máy nổ ở Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù, với hai câu thơ bất hủ đã đi vào lịch sử.
An Lộc địa sử ghi chiến tích. Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân.
Tiếng la của Vinh máy nổ như một động lực vô hình, một sức mạnh vô địch đẩy Long công tử phóng người về phía trước nhanh như gió. Cái bóng của Vinh máy nổ cũng vội vàng lao theo. Long công tử lúc bấy giờ là một con cọp đang dang rộng hai tay, kéo thằng hải tặc văng ra khỏi tàu mất hút dưới biển. Tiếp theo đó là Vinh máy nổ theo đà phóng, ôm chặt lấy thằng hải tặc còn lại, cả hai cùng lộn nhào trên không một vòng, rồi rơi tòm xuống lòng đại dương đen ngòm.
Tất cả mọi sự việc kinh hoàng chỉ diễn ra trong vòng vài phút, bốn thằng hải tặc đang ở bên tàu của tôi la to bằng tiếng Thái, tiếng la nghe đầy hoảng sợ, rồi cả lũ thi nhau nhảy xuống biển. Ngay lúc ấy, con tàu của bọn hải tặc rú ga phóng về phía trước, tôi nghĩ rằng thằng hải tặc lái tàu sẽ chở bọn đàn ông chúng tôi chạy thoát thân. Không ngờ chiếc tàu quẹo về bên phải, đánh một cái vòng chữ C, rồi nhắm vào bên hông con tàu của chúng tôi đâm vào. Tàu đánh cá của ngư dân Thái Lan thường trang bị động cơ sáu xi lanh, to như một con cá voi với mũi tàu nhọn hoắc vươn lên trời cao. Con tàu của chúng tôi là một con tàu nhỏ cũ kỹ chạy trên sông, nhiều chỗ mục nát muốn rệu rã với cái máy Yanmar F10 nhỏ xíu. Sau một chấn động kinh hoàng, con tàu của bọn hải tặc khựng lại một vài giây, trong khi tàu của chúng tôi đã vỡ làm hai mảnh, mấy cái thùng đựng nước bằng nhựa với vài tấm ván tàu nổi lềnh bềnh trên mặt nước, cùng lúc ấy thân thể của những người đàn bà và con nít đang từ từ chìm vào lòng đại dương sâu thẳm. Tận mắt chứng kiến cảnh đau thương tang tóc, cảnh người thân của mình bị chết thê thảm như vậy, những người đàn ông Việt Nam đang ở trên tàu của bọn hải tặc Thái Lan, kẻ trước người sau nhảy ào xuống biển.
Những tia nắng cuối cùng của một ngày cũng vừa tắt, màn đêm đen tối bao phủ cả bầu trời, biển đêm hoàn toàn im lặng, một sự im lặng đến rợn người, trong tận cùng khổ đau của tuyệt vọng, tôi nhắm mắt lao mình xuống biển, với chút hy vọng là sẽ tìm được vợ con.
Trung Úy Phi công Nguyễn Văn Lộc – Vượt Ngục Long Giao bị bắn chết Chuyện tình thực thời chinh chiến.
Câu chuyện tình bi thảm của 1 thời chinh chiến – Giáo sư Bùi văn Phú bên Oakland nói rằng học sinh Nguyễn Bá Tòng 70 ai cũng biết hoa khôi Ngọc Di – Thầy Mạc Bìa ở San Jose nói rằng anh em không quân ai cũng biết phi công Nguyễn văn Lộc – Ngọc Di quê Nha Trang vào học tại Saigon – Trung úy Lộc quê Đà Lạt về Nha Trang đi lính tàu bay – Ghé chơi nhà bạn chợt thấy tấm hình cô gái có đôi mắt “U uẩn chiều luân lạc” đâu biết rằng anh sẽ mê mệt vì đôi mắt người Nha Trang
Niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi Hoa Kỳ học lái phản lực. – Năm 71-72 cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tốt nghiệp tú tài toàn phần và ghi danh trường luật.
Đám cưới ở Nha Trang ngày 6 tháng 2/1974. – Một năm sau căn cứ không quân Phan Rang di tản. – Chồng đưa vợ có bầu lên máy bay chạy vào Saigon.– Trung úy phi công ở lại lo phi vụ hành quân.– Chia tay nhưng hẹn gặp lại tại Saigon.– Rồi vợ chồng tái ngộ trong niềm hạnh phúc.– Lại chia tay thêm lần nữa ngày 28 tháng 4/1975. –Ngọc Di có bầu 6 tháng lên máy bay đi Mỹ.– Người phi công phản lực ở lại với những phi vụ cuối cùng.– Chia tay nhưng vẫn hẹn găp lại, nhưng lần này là vĩnh biệt.– Người mẹ trẻ sinh con gái trong tỵ nạn ngày 18 tháng 7/1975. –Vợ vẫn không biết tin chồng, con không thấy mặt cha. –Anh phi công của Việt Nam Cộng Hòa nằm trong trại tù Long Giao tính được gần đúng ngày vợ sanh. –Ngày đêm anh sống với đôi mắt người tình Nha Trang. –Việt cộng hẹn 6 tháng học tập rồi sẽ trả tự do. –Sáu tháng trôi qua chưa được thả, anh âm mưu vượt ngục. –Bị bắn chết ngày 25 tháng 3/1976. –Chôn cùng người bạn phi công trốn trại. –Vợ con bên Hoa Kỳ hoàn toàn không có tin tức. –10 năm sau, những người bạn tù qua được Hoa Kỳ lần lượt kể chuyện về chuyến vượt thoát bất thành. –Nhưng không ai biết xác chồng của Ngọc Di ở nơi nào. –Ba mươi ba năm sau, những bạn tù không quân mới tìm lại được xác chiến hữu. –Người quả phụ không quân đem con gái 33 tuổi về nhận di hài của phi công Nguyễn văn Lộc. –Trên chuyến bay hãng EVA đáp xuống phi trường LA ngày 3 tháng 11/2008 cô Ngọc Di ôm bình tro cốt của chồng. –Con gái cô ôm thêm bình tro cốt của người chiến hữu cùng chết bên cạnh anh.– Năm nay 2010 là ba mươi lăm năm nhìn lại con đường. –Tôi xin kể lại ngọn ngành 35 năm cuộc đời của người góa phụ không quân anh dũng muôn đời.
Một thời chinh chiến
Mỗi người trong chúng ta đều có riêng cho mình những kỷ niệm về tháng 4 năm 1975. Chuyện của cô Nguyễn Thị Ngọc Di thường được kể thêm vài hàng bên cạnh câu chuyện của người chồng anh hùng trốn trại và đã hy sinh. Nhưng tôi lưu ý riêng đến hoàn cảnh người vợ nên đã nghe cô Ngọc Di kể lại tâm sự cuộc tình. Cô nói rằng, dù đã đem được di hài anh Lộc về nhưng tâm tình u uẩn chưa nguôi. Con gái của cháu tương đối ổn định, nhưng phần cháu, cuộc chiến vẫn chưa yên. Từ lúc 10 tuổi, hình ảnh mẹ cháu đi nhận xác chồng với di hài và vết máu trên áo trận của ba cháu vẫn theo đuổi cháu trong nhiều năm. Đến thời gian cháu ở Phan Rang có mấy tháng đã chứng kiến cảnh cô vợ trẻ miền Tây, đẹp não nùng đi nhận xác anh không quân tử trận. Phi cơ bị rơi vẫn còn mang bom. Phi công không kịp nhảy dù. Bom mang theo nổ cùng con tàu. Xác chẳng còn gì. Căn cứ lấy 2 cây chuối cho vào quan tài, thêm 1 ít da thịt rồi đóng hòm thực kín. Khi cô vợ ra nhận xác chồng, vật vã xin mở ra nhìn mặt, nhưng còn thấy làm sao được. Cháu chứng kiến mà thấy tê dại cả người. Anh Lộc dìu cháu vào nhà ở khu sĩ quan độc thân. Anh nói rằng, anh cam đoan sẽ không bao giờ bị như thế. Như vậy là làm sao. Phải chăng lời tiên tri cho cả cuộc đời sau này. Lấy nhau từ tháng 2/74, chẳng bao giờ được gần nhau 1 tháng. Anh đi bay khắp mọi nơi. Đầu năm 75, cháu có bầu mới ra sống ở căn cứ Phan Rang. Vì không có nhà bên cư xá gia binh, phải tạm trú ở khu độc thân. Chứng kiến toàn chuyện hy sinh chết chóc. Cháu mới 19 tuổi, bác nghĩ coi làm sao mà sống được. Mới năm trước từ thời học sinh vô tư qua thời sinh viên hết sức thần tiên. Chợt bước chân vào đời vợ lính, lo lắng sợ hãi biết chừng nào.
Một thời để yêu
Chờ cô Ngọc Di bớt cơn xúc động, tôi xin cô kể lại chuyện tình bắt đầu ra sao. Cô bình tĩnh và kể hết, không hề dấu diếm kề cả chuyện bay bướm và ngang tàng của anh Lộc.
Bác biết không, trước khi gặp cháu, anh Lộc đã quen với cô giáo Hương bên Ba Làng cũng tại Nha Trang. Bạn bè đã có người gọi anh là Lộc Ba Làng. Chuyện này về sau cháu mới biết. Ông anh họ không quân của cháu cũng không biết mới dẫn Lộc về nhà coi mắt chị cháu ở Nha Trang. Nhà cháu có đến 9 anh chị em. Nhưng coi bộ anh Lộc với chị Như Khuê của cô không hợp duyên, nên chỉ chuyện trò qua loa. Chợt anh Lộc thấy hình của Ngọc Di còn đang trọ học Saigon. Anh nói là đã mê đôi mắt từ lúc đó.
Qua niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi học bay tại Hoa Ky. Ngọc Di bắt đầu nhận được thư làm quen. Bạn bè của anh ở Mỹ nói rằng mỗi tuần anh đều nhận được thư của 2 cô. Cô giáo bên Ba Làng và cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng. Nhưng xem chừng đôi mắt người Nha Trang đã lấy trọn vẹn tình yêu của anh chàng không quân gốc Đà Lạt. Dù rằng về phần Ngọc Di vẫn chưa thực sự rung động với tình yêu chiến sĩ.
Hồi hương được 3 ngày, Trung úy Lộc bèn vào trường Nguyễn Bá Tòng lừa cha giám học nhận là anh vào thăm cô em cùng họ Nguyễn. Đây là đầu tiên 2 người gặp mặt. Từ trước chỉ biết qua hình ảnh. Anh chị có 2 tuần lễ đi chơi khắp Saigon, bao nhiêu là quà bên Mỹ, anh phi công hào hoa dành hết cho cô hoa khôi trường trung học..
Giáo sư Bùi Văn Phú thời đó học Nguyễn Bá Tòng cùng lớp với Ngọc Di kể lại rằng hình ảnh anh không quân xuất hiện đã làm cho biết bao nam sinh đau lòng.
Một hôm anh Lộc dẫn cô Di về nhà bà chị tại Saigon, chợt gặp cô giáo Ba Làng ra thăm.
Cuộc gặp gỡ bất chợt như trong thoại kịch trên sân khấu. Người yêu cũ chợt thấy bị phản bội, người yêu mới chợt thấy bị lừa dối. Anh không quân đưa Ngọc Di về nhà, nhưng cô cho rằng cuộc tình ngắn ngủi coi như chấm dứt. Cô cũng chưa yêu nên không thấy thực sự bẽ bàng. Sẵn sàng để anh Lộc trở về với người xưa của anh. Nhưng anh không quân đã trở thành Phạm Thái của Tiêu Sơn Tráng sĩ nhất định chết trong cặp mắt của giai nhân Trương Quỳnh Như.
Ngày hôm sau, trung úy phản lực trở lại nói là đã giải quyết xong mục tiêu. Cô gái Ba Làng buồn tủi trở về Nha Trang và anh Lộc quyết 1 lòng đi tới với Ngọc Di.
Cuộc tình duyên trải qua suốt năm tháng dài cho đến ngày đám cưới ở Nha Trang 6 tháng 2-1974.
1974 – Một thời hoạn nạn:
Khi đôi trẻ bắt đầu xây dựng gia đình qua lễ cưới là lúc đất nước bước vào năm tang tóc cuối cùng. Ngọc Di nhắc đi nhắc lại là cháu đâu có được làm vợ lính cho trọn vẹn một đời. Tuy hòa bình đã ký nhưng 2 bên vẫn còn chiến tranh dành dân lấn đất. Cô sinh viên vẫn lấy bài học luật đi về giữa Saigon Nha Trang và người chồng bất chợt lúc gặp ở Nha Trang, lúc thì Saigon. Mấy tháng cuối cùng sống chung ở căn cứ Phan Rang ngày đêm nghe tiếng phi cơ phản lực và những giây phút ngóng đợi chồng về.
Rồi khi tình thế nguy ngập, anh chồng đẩy cô vợ mang bầu lên C.130 với toàn những người xa lạ. Phi cơ cất cánh, nhìn anh còn đứng trên phi trường Phan Rang, nào biết bao giờ gặp lại nhau. Nhưng rồi anh đem phản lực về Saigon yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.
Có tin vợ con phi công chiến đấu vào hết Tân Sơn Nhứt để chờ di tản. Đêm định mệnh cuối cùng Ngọc Di vẫn còn ở nhà với mẹ và thân quyến tại Saigon. Các ông anh cũng có chương trình di tản cả nhà.
Nửa đêm 28 tháng 4/75 chợt có tiếng xe hồng thật tự chớp đèn bấm còi ấm ỹ. Anh Lộc gõ cửa kêu Ngọc Di khẩn cấp lên đường. Bà mẹ nói rằng hay con ở lại để đi với mẹ và anh em, nhưng Lộc kiên quyết kéo vợ đi ngay. Ánh mắt mẹ già buồn bã trông theo. Nhưng sau này cả nhà đều bị kẹt lại. Lên xe hồng thập tự thấy cảnh tượng hãi hùng, Trung úy Giới ngồi bên vợ là cô sản phụ vừa sinh con, ôm con trong khăn còn vết máu.
Thì ra xe bus chở gia đình phi công đã nổ máy chờ trong căn cứ, ông trung úy Giới lấy xe cứu thương của không quân chạy ra nhà thương rước vợ. Anh Lộc nhẩy theo, sau khi đón được vợ con mày, phải ghé nhà cho vợ tao đi. OK.
Xe Hồng thập tự bóp còi chớp đèn chạy như bay trong đêm Saigon. Các gia đình trên xe bus đang nổ máy chờ, thấy 1 bà mới sinh con và 1 bà bầu mặt còn trẻ thơ bước lên xe. Hai ông chồng vất vả đứng trông theo. Ngọc Di nhìn lại anh Lộc qua khung kính. Anh phi công hẹn sẽ gặp lại bên Mỹ. Vợ con đi rồi, còn mấy anh lái phản lực thì xoay sở dễ dàng, Ngọc Di không thể nghĩ rằng đấy là hình ảnh cuối cùng. Đó là ngày 28 tháng 4-1975. Cô đi C.130 qua Côn Son rồi sau đó di tản qua đảo Guam. Hết sức cô đơn, không gia đình, không bà con thân thuộc. Ngay cả gia đình bạn bè trong không quân cô cũng không quen ai. Cô sống 1 cuộc đời tiểu thư từ nhỏ, số mệnh đột nhiên ném vào cuộc đời. Cô bắt dầu cuộc sống trong chờ đợi, đen tối mịt mùng, hoàn toàn tự lập suốt một phần tư thế kỹ.
Một thời định cư
Vẫn tràn đầy hy vọng, cô nằm chờ ở đảo Guam. Các phi công lần lượt đến tìm vợ con và đoàn tụ bay vào lục địa. Anh chị Giới của chuyến xe Hồng thập tự định mệnh cũng đến rồi đi, không có tin gì về anh Lộc và không ai biết là Lộc mất tích, đã chết hay còn lạc loài nơi đâu. Rồi người ta không cho bà bầu ở lại đảo Guam. Cô phải đi vào Mỹ để còn lo sinh đẻ.
Ngọc Di lên đường mắt còn ngó lại biển Đông. Các trại tỵ nạn Cali và Akansas đã tràn ngập người di tản. Người ta đưa cô về Floria. Nơi đây ngày xưa anh Lộc đã từng đến học bay.
Mỗi ngày vẫn còn người đến trại, dù muộn nhưng vẫn còn tìm được hạnh phúc đoàn tụ bên nhau. Nhưng cô vẫn mòn mỏi đợi chờ. Ngày 18 tháng 7/1975 Ngọc Di hạ sanh 1 bé gái. Nỗi truân chuyên và sống trong ray rứt đợi chờ đã hành hạ thêm cô gái trẻ với 16 giờ đồng hồ đau đớn chuyển dạ. Trước sau vẫn chỉ có một mình. Anh Lộc một năm trước đã đặt tên cho con trai tương lai là Phi Hải. Nhưng cô con gái được mẹ đặt tên là Nguyễn Lộc Đan Vi. Nguyễn là họ của cha và mẹ, Lộc là tên cha. Đan Vi là ý kiến của cô học sinh Nguyễn bá Tòng khi nghĩ đến những cây hoa tường vi đan vào nhau ở cổng nhà chồng trên Đà lạt.
Sau khi sanh con, mẹ con cô tỵ nạn Việt Nam được ông bà bảo trợ đón về nông trại. Ngôn ngữ không quen, suốt vùng quê không có 1 người Việt Nam. Những năm đầu vừa buồn về cảnh ngộ vừa buồn vì cảnh vật. Ngọc Di ôm con sống bằng nước mắt. Duy chỉ có điều, bé gái với cặp mắt thần tiên của mẹ là nguồn an ủi cuối cùng.
Một thời để chết
Cùng lúc đó trong trại tù, anh phi công thấy rằng không còn hy vọng được trả tự do. Thời gian ngộ nhận 15 ngày đã qua từ lâu. Thời gian hứa hẹn học tập 6 tháng cũng qua rồi. Cặp mắt người yêu Ngọc Di thôi thúc ngày đêm, anh phi công ngang tàng 1 thuở nhất định trốn trại, tìm tự do. Hai anh phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé cùng vượt trại. Hy vọng tìm đường qua biên giới Cam Bốt rồi Thái Lan. Giữa 1 đêm mưa gió, cả 2 vượt thoát còn đem theo cả lựu đạn phòng thân.
Lính cộng sản đuổi theo. Lộc chạy trước. Bé ném lựu đạn chận hậu nhưng bị thương ngã xuống. Lộc bèn quay lại, đánh lựu đạn cứu bạn. Được biết lính cộng sản cũng bị chết vì lựu đạn. Vì vậy sau khi 2 anh phi công đã gục ngã chúng còn bắn điên cuồng vào 2 xác chết.
Hai anh chết ngày 25 tháng 3-1976. Cộng sản cho kéo xác để giữa sân trại Long Giao để rằn mặt anh em rồi đem chôn xấp 2 ngôi mộ bên nhau, nhưng không có mộ bia. Các bạn tù tìm cách làm dấu nhưng không rõ ràng. Vài năm sau, không còn ai biết rõ di hài của 2 người anh hùng không quân nằm ở đâu.
Một thời định cư
Mẹ con Ngọc Di rời bỏ nông trại tìm đư33 Năm tìm Được Xác Chồngờng về ở với bà con trên Nữu Ước. Cô nữ sinh hoa khôi Nguyễn bá Tòng, sinh viên luật Saigon tiếp tục cuộc sống lủi thủi với đứa con ngày càng rực rỡ với dấu vết người cha Đà Lạt và đôi mắt bà mẹ Nha Trang.
Mấy năm sau, anh em và gia đình không quân họp mặt nên mẹ con cô Di có dịp về Cali găp gỡ mọi người. Sau cùng cô định cư tại quận Cam. Phải bắt đầu từ thập niên 80 trở đi mới có tin tức về cuộc trốn trại hào hùng và chuyện hy sinh của anh Lộc. Mẹ con bắt đầu nghĩ đến chuyện đi tìm dấu vết của người xưa. Tuy nhiên tất cả đều vô vọng. Không ai còn nhớ những ngôi mộ ở đâu, Cuộc sống vẫn bình thản diễn tiến. Anh chị em đoàn tụ. Me già gặp lại con gái. Cháu Đan Vi tốt nghiệp bác sĩ nhãn khoa rồi lập gia đình. Vợ vẫn không thấy xác chồng. Con vẫn chưa thấy xác cha.
Một lần, hết sức vô tình, Ngọc Di gặp người trong gia đình HO. Anh ở Bắc Cali nói rằng trước có ở Long Giao. Cô Di hỏi rằng anh có biết trung úy Lộc không. Anh HO nói ngay rằng cô có phải là Ngọc Di không. Ngạc nhiên đến sững xờ, cô nói tôi là Nguyễn thị Ngọc Di, sao anh biết. Anh bạn trả lời: « Tôi ở gần anh Lộc trong trại. Anh ấy nói về đôi mắt của cô suốt ngày. Khi cô mới bước vào nhà tôi đã cảm thấy. Khi cô hỏi anh Lộc, tôi biết ngay cô là vợ anh. »Và câu chuyện 20 năm xưa tuôn chảy, nhưng sau cùng cũng không biết mộ anh ở đâu.
Một thời ngoại cảm
Câu chuyện đi tìm mộ của anh Lộc đã trải qua 1 thời gian hết sức đặc biệt dựa trên các câu chuyện linh thiêng về lãnh vực ngoại cảm. Sau cùng, người bạn tù, người chiến hữu tận tụy của anh Lộc đã tìm được 2 ngôi mộ của những người phi công trốn trại năm 1976.
Các ngôi mộ được khai quật năm 2008 có cả sự tiếp sức của thầy Mạc Đìa ngồi tại San Jose mà chỉ dẫn qua điện thoại. Mặc Đìa ngày xưa cũng là sĩ quan của không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng cô Ngọc Di đưa con gái là Nguyễn Lộc Đan Vi về nhận xác người thân.
Ngày 3 tháng 11-2008 mẹ con ngồi trên phi cơ Eva ôm mỗi người một bình tro về Hoa Kỳ. Mẹ ôm tro của chồng, con ôm bình tro chiến hữu. Gia đình anh phi công Lê văn Bé nói rằng chiến hữu đã chết bên nhau thì cho đi Mỹ với nhau. Tuy nhiên bình tro của anh Bé chỉ có 1 nửa. Phân nửa gia đình lưu lại quê hương.
Ngày 8 tháng 11-2008 không quân Nam Cali làm lễ truy điệu cho 2 người anh hùng của họ. Có lễ trao cờ lại cho cô Ngọc Di cùng con gái.
Ngọc Di làm vợ lính có hơn 1 năm và làm quả phụ 33 năm mới nhận được xác chồng bằng tro tàn. Bác sĩ Đan Vi không bao giờ thấy được người cha dù ở trên trời hay ở dưới đất.
Khi khai giấy tờ người ta hỏi rằng con đến Mỹ năm nào. Con khai là đi năm 1975. Con đi bằng phương tiện gì. Con nói là con đi trong bụng mẹ. Cha con bây giờ ở đâu. Con không biết. Có thể còn đang bay ở trên trời. Con không có cha làm sao ai nuôi con học thành bác sĩ. Trả lời: Mẹ con.
Đan Vi là loài hoa tường vi đan vào nhau mọc ngoài cổng nhà anh phi công Nguyễn Văn Lộc.
Tuổi của cô là tuổi của cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại năm nay 35 tuổi, cũng là tuổi của Đan Vi, một cô gái khác ngày xưa sinh ra trên tàu Trường Xuân, trên biển Nam Hải, tên cô là Chiêu Anh, cũng 35 tuổi.
Chiều văn nghệ 35 năm nhìn lại tại San Jose vào ngày 23 tháng 5/2010 chúng tôi sẽ mời cả 2 cô lên sân khấu CPA. Một cô đi tàu biển vào Mỹ. Một cô đi tàu bay vào Mỹ. Lúc ra đi cả 2 đều trong bụng mẹ.
Cả 2 cô đều không phải là ca sĩ, nhưng vẫn được mời lên sân khấu trình diễn. Hai cô đều không biết hát, chỉ đứng đó cho khán giả vỗ tay. Bởi vì cuộc đời của các cô chính là những bài ca của nửa thế kỷ trầm luân. Đó là những hài nhi của cộng đồng di tản, những công dân của thế hệ mới trưởng thành sau những đau thương của đất nước.
Các bạn hỏi rằng văn nghệ của chúng tôi sẽ có những danh ca nào trình diễn.
Chúng tôi có các nữ danh ca có tên có tuổi nhưng không biết hát.
Vậy ai là những người biết hát thì xin đến giúp một tay.
Và trời đất sẽ trả công cho quý vị.
Tất cả chỉ cần hát có 1 bài: Bài “Cô Gái Việt” của Nhạc sĩ Hùng Lân.
Hằng năm, cứ vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán thì ai cũng gặp nó, từ trong đơn vị ra tới ngoài đường phố, mặt tiền các công sở, ở vị trí trang trong nhất, dễ thấy nhất, nó có cái tên là: “VUI XUÂN KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ”!
Tôi không biết ai khai sinh ra nó nhưng hình như khẩu hiệu này chỉ xuất hiện sau khi xẩy ra vụ Mậu Thân. VC xóa bỏ lệnh hưu chiến, bất ngờ tấn công vào phần lớn các quận, tỉnh, thành phố vào dịp Tết Mậu Thân 1968, trong khi hầu như các lực lượng canh gác phòng thủ địa phương đều “vui xuân quên nhiệm vụ”.
Có người cho rằng Mỹ biết hết mọi kế hoạch của VC sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng không biết lý do tại sao họ lại im lặng, không thông báo cho VN! Có thể họ muốn áp dụng kiểu chơi “điệu hổ ly sơn” để tóm đủ diệt gọn. Ờ thì cứ cho là như thế đi, Mỹ biết, nhưng tình báo và mạng lưới an ninh của VNCH có biết tí gì không?
Thông thường thời gian trước tết, TĐ2/TQLC chúng tôi đi hành quân lùng và diệt địch liên tục để mong đem lại thanh bình cho đồng bào vào những ngày đầu Xuân, chỉ dừng quân trước giờ hưu chiến đêm Giao Thừa chừng vài tiếng đồng hồ để cho anh em binh sĩ có chút thì giờ kỳ cọ, thay bộ đồ sạch đón Xuân mới. Anh em thường gọi đùa đó là những cuộc “hành quân ăn tết” và đã có nhiều Mũ Xanh chết, chẳng bao giờ được trở về đón Xuân cùng đồng đội!
Trước Tết Mậu Thân 1968, TĐ2/TQLC (Trâu Điên) chúng tôi hành quân vùng quận Cai Lậy, Giáo Đức, Cái Bè, tìm diệt mấy đơn vị VC địa phương, giữ an ninh QL4 để hàng hóa miền Tây dễ dàng về thủ đô. Ngày 31/12/67 TĐ2 đã tiêu diệt 2 Tiểu Đoàn Chủ Lực Miền 261 và 262 tại kinh Cái Thia, quận Cai Lậy, hạ tại chỗ 40 mạng và bắt 10 tên. Tuy nhiên Trâu Điên cũng trầy da tróc vẩy, vài đồng đội đã không trở về, trong đó có đại đội phó của tôi là Trung Úy Nguyễn Quốc Chính, K20/VB.
Ngày giáp Tết, TĐ2 về phòng thủ hai bên bờ sông quận Cai Lậy để anh em tắm giặt nghỉ ngơi tại chỗ, đã có một số bầu đoàn thê tử từ Thủ Đức, Saigon xuống, con đem theo bánh chưng cho cha, vợ mang bánh dầy cho chồng kèm theo mứt me mứt sầu riêng để cùng vui xuân, nhưng niềm vui chưa hưởng thì đã sầu chia ly. Đúng giờ giao thừa, giặc tràn về thôn xóm, lệnh báo động bắt anh ra nằm gối đầu súng bên hố chiến đấu thay vì được gối lên váy người yêu! Sáng mồng một tết! “Mất hết” chẳng còn gì chỉ còn mứt “sầu riêng” để em ở lại một mình nơi tiền tuyến Cai Lậy còn anh trở về hậu phương thủ đô SaiGòn với súng đạn trên vai ca bài: “Anh về hậu phương, còn em nơi tiền tuyến, chúng ta cách xa rồi..!”
*****
Tôi nằm võng đu đưa giữa hai gốc dừa bên bờ sông Cai Lậy để chờ đón Giao Thừa, những điếu Ruby Queen cháy liên tục đỏ môi, qua vòng tròn khói thuốc, tôi dường như trông thấy Nguyễn Quốc Chính cùng các đồng đội vừa tử trận trong cuộc hành quân vừa qua đã không còn quay về để đón Xuân! Tôi nhớ đến những khuôn mặt thân yêu của mẹ già, anh chị em và người tình ờ hậu phương, mắt tôi nhìn lên trời cao đầy sao lấp lánh, thấp thoáng vài ánh sáng hỏa châu từ tiền đồn nào đó bay vút lên thay cho pháo bông, tai lắng nghe những bản nhạc Xuân mà lòng buồn đến tã người:“Đón Giao Thừa một phiên gác đêm..!
Nếu mai không nở thì con đâu biết..!
Ngày Xuân nâng chén ta chúc.., chúc người binh sĩ lên đường..!”.
Lạ nhỉ! Tại sao đúng lúc cô ca sĩ đang hát câu: “Chúc người binh sĩ lên đường” thì nhạc Xxuân lại ngưng, chuyển sang điệu nhạc hùng, chờ nghe thông điệp đầu năm của TT chăng? Nhưng thay vì thông điệp của Tổng Thống chúc Tết quốc dân đồng bào cùng chiến sĩ như hằng năm thì lại là tiếng của Phó TT Nguyễn cao Kỳ:
–“Tình hình rất nghiêm trọng, các đơn vị sẵn sàng ứng chiến và đợi lệnh”
Gì nữa đây? Lại đảo chánh chăng? Chán quá! Không chừng lại bị triệu hồi về thủ đô cứu giá, rồi quân ta đánh quân mình, Mũ Xanh bao vòng ngoài, Mũ Đỏ thủ vòng trong như ngày xưa thì làm sao đây? Nhớ quá khứ, giận hiện tại, toan móc súng bắn nát đám lục bình trôi trên sông thì nhận lệnh báo động, tất cả ra hầm hố sẵn sàng chiến đấu, vì VC vi phạm lệnh hưu chiến, đang tấn công khắp nơi, kể cả Saigon. Không phải đảo chánh là tốt rồi, còn VC ư? Đi tìm cả tuần nay không thấy một mống, nay chúng dẫn xác về thì chờ gì nữa, lúc nào ta cũng sẵn sàng.
Sáng Mồng Một Tết, Tiểu Đoàn 2/TQLC được không vận bằng trực thăng Chinook từ Cai Lậy về Saigòn với quân số 110%. Tại sao lại có con số kỳ lạ thế này? Thưa rằng có một số chị thay quân phục, mang ba-lô leo lên trực thăng theo chàng về tái chiếm Saigòn, còn những bà mẹ khác thì ngơ ngác với những đứa con thơ, bơ vơ giữa đồng trống cô quạnh! Làm cách nào trở lại nhà đây? Số phận người vợ lính thật gian nan.
Trực thăng đổ quân TĐ2/TQL xuống sân cờ Bộ TTM, trước dinh của Đại Tướng TTMT, Đại Tá Ngô Du đón chúng tôi tại đây, ông cho biết tình hình địch và yêu cầu TĐ2 giải tỏa áp lực địch tại trường Tổng Quản Trị, trường Sinh Ngữ, Trung Tâm Ấn Loát, cổng số 2, số 6, v.v… đến chiều tối thì địch tan, tất cả mục tiêu được tái chiếm và TĐ2 phòng thủ đêm trong bộ TTM. Có tiếng kêu trong bụng, hình như từ sáng tới giờ đó chưa có cái gì trong dạ dầy, ngày mồng một Tết mà như vậy thì chắc sẽ bị đói cả năm!
Sáng mồng hai, TĐ2 được lệnh tăng phái cho BTL Cảnh Sát Đô Thành, rồi mỗi Đại Đội được phân tán đi một nơi khác nhau, “nơi nào cần thì Trâu Điên có, nơi nào khó có Trâu Điên”. Đại Đội 2 của Đ/Úy Đinh Xuân Lãm thì đánh từ cầu chữ Y đến cầu Tân Thuận. Đại Đội 3 của Trần Văn Thương thì xuống quận 8, bao vây hãng rượu Bình Tây, còn Đại Đội 4 của Vũ Đoan và ĐĐ1 của tôi thì bao vây khu vực chùa Ấn Quang.
Nhân dịp Xuân lại về, để thay đổi không khí, nghe đánh nhau mãi cũng chán, nghe “nổ” mãi cũng mệt, có nhiều tác giả viết vể các trận đánh rồi nên bài viết này tôi không viết về đánh-đấm nữa mà xin kể những mẩu chuyện vui buồn bên lề cuộc chiến, “người thật việc thật”, gặp đâu kể đó, những chuyện chưa ai viết hoặc viết sai sự thật.
Bắt sống VC trong bộ TTM
Ngày đầu tiên đổ bộ trực thăng xuống sân cờ bộ TTM, vác súng đi khơi khơi trước dinh của Đại Tướng TTMT mà không bị Q.C bắt nhốt cũng thấy vui vui, nhất là đêm đó được ngủ bên ngoài hàng rào của cư xá sĩ quan cao cấp. Cư xá SQ yên lặng quá, tôi không sợ VC từ trong cư xá bò ra mà lo là lính tôi lại bò vào trong lục soát thì tôi bị đi tù là cái chắc, vì gần Mặt Trời nên lo xa vậy thôi chứ anh em tôi ngoan lắm.
Nửa đêm về sáng, Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang Trung Đội14 báo có VC bò vào tuyến phòng thủ, thông thường thì cứ ra lệnh bóp… cò một phát là xong, nhưng nằm ngay trong TTM, cần sự yên lặng để các quan lớn nghỉ ngơi, phần khác, sợ có anh em ta lạc đàn nên tôi ra lệnh cho Quang phải bắt sống.Tên “VC” bị bắt là Vũ Khắc Quý, cấp bậc trung sĩ, nhân viên ban văn thư thuộc phòng TQT hay P1 gì đó của Đại Tá Hồ. Quý chính là con của cô ruột tôi, tôi hỏi hắn:
– Tại sao chú mày lại kẹt trong này, chui ở đâu ra đây?
– Phiên em trực đêm giao thừa, em chui trong ống cống từ đêm qua.
Hú hồn thằng em, coi như tôi đã tặng bà cô một món quà Tết quý giá.
Bắt VC Bẩy Lốp tại Chợ Lớn
Sáng Mồng 2 tết, Đại Đội 4 của Vũ Đoàn Doan và Đại Đội 1 của tôi được “đi lễ” chùa Ấn Quang, tới nơi thì thấy một số anh em Cảnh Sát Dã Chiến ẩn hiện núp sau những cột điện xung quanh chùa, toàn bộ khu vực khói lửa ngập trời, đì đùng súng và pháo nổ khắp nơi, khó phân biệt tiếng pháo cối và lựu đạn bê-ta của VC, đồng bào tràn ra trên các con đường Trần Nhân Tôn, Minh Mạng, Sư Vạn Hạnh, Nguyễn Duy Dương, Bà Hạt, tương tự như cảnh mà chúng ta thấy trên TV bên chiến trường Iraq.
Chính tại khu vực này, TĐ2/TQLC bắt sống tên Bảy Lốp, cán bộ VC mang súng lục K.54 và bản đồ ghi các mục tiêu phải chiếm, hắn bị trung đội của Th/Úy Kiều Công Cự bắt khi hắn chạy từ trong chùa Ấn Quang ra. Chính nó đã gây nên cảnh tang tóc cho đồng bào ngay trước mắt chúng tôi và ông Tư Lệnh Cảnh Sát. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 Ngô Văn Định giải giao hắn cho ông Tướng Cảnh Sát, và chuyện gì xẩy ra sau đó thì độc giả biết rồi, nhưng có tác giả chưa biết nên cứ viết Bảy Lớp bị “ai” bắt ở nơi khác, ở Bàn Cờ!
Chuyện hắn bị bắn chỉ bằng hạt cát so với mấy ngàn người dân bị VC trói tay chôn sống cùng thời điểm đó ở ngoài Huế. Tại trại Phù Đổng Gò Vấp, khi TĐ 4/TQLC tái chiếm thì đã gặp một cảnh vô cùng thương tâm toàn bộ gia đình Tr/Tá T.., CHT/ Thiết Giáp bị chúng chặt đầu. Tụi phản chiến chỉ lợi dụng tấm hình ông Tướng VN cầm ru-lô dí màng tang VC mà làm ồn lên, lơ đi tội ác tày đình của VC.
Tôi được gặp các ông tướng
Người ta gọi ông với cái tên bình dân: “Ông Sáu Lèo”, Ông là gốc KQ, một cấp nhí TQLC như tôi thì làm sao dám lại gần ông Tướng Cảnh Sát, nhưng Đại Đội 1 của tôi bị biệt phái theo Ông nên thường bị Ông chỉ mặt đặt tên. Lúc nào Ông cũng mặc áo giáp để phanh ngực và ít khi đội mũ, phơi cái trán hói trước súng đạn, tác phong chỉ huy rất nhanh nhẹn và bình dân, khi bực mình thì “đ.. cụ”. Ông ngoắc tay rồi nhảy lên xe Jeep dẫn đầu, một toán CSDC theo liền, đi sau là 4 xe GMC chở ĐĐ.1 của tôi, đến mục tiêu là Ông nhẩy xuống trước.
Đoàn xe dừng lại tại góc đường Công Chúa Huyền Trân và Nguyễn Du, Ông vẫy tôi lại, chỉ tay lên tòa nhà nhiều tầng đang xây dở dang rồi ra lệnh:
– Trong đó còn một toán VC, lính tớ không làm được, cậu tính sao?
Ông Tướng mà xưng tớ-tớ cậu-cậu với thuộc cấp, ra lệnh mà lại khéo nói như hỏi ý kiến thì nhiệm vụ dù khó khăn cũng giảm bớt cho anh em tôi được một phần căng thẳng. Toán VC cố thủ trong cái tòa nhà cao tầng, ngó ngay vào dinh Tổng Thống thì nhức tim quá, chúng đã gây khó khăn và tổn thất cho CSDC rồi. Ông hỏi tôi “tính sao” thì để từ từ rồi tôi mới tính được chứ.
Dù sao thì chúng đã chiếm và cố thủ rồi, đang bị ta bao vây, từ từ kiếm cách gỡ, sinh mạng lính là quan trọng, vội vàng chẳng ích gì. Cuối cùng thì với lựu đạn cay, khói màu, mặt nạ chống hơi ngạt, chúng tôi đã tóm gọn 6 tên VC đang đói ăn, ngơ ngáo mất liên lạc với đơn vị. Phải nói thực là với quân số đó, cố thủ trong biu-đinh, nếu chúng còn no ăn và được chỉ huy thì vất vả cho chúng tôi lắm, may mà hoàn thành nhiệm vu.
(* Lời xác nhận của cựu Đại Tá Trần Minh Công)
Phong cách ra lệnh của cấp chỉ huy quan trọng lắm, nếu ai cũng chỉ biết nạt nộ hối thúc bằng cái lệnh …lạc: “Phải chiếm cho được muc tiêu bằng mọi giá” thì cái giá phải trả chính là sinh mạng người lính! Chiến trường mạng lính rẻ hơn bèo!
Lại phải chạy theo Ông, chúng tôi lúc nào cũng súng đạn, nón sắt, áo giáp ngồi sẵn trên xe GMC, ông Tướng chạy như con thoi khắp các nơi, chỗ nào có VC là Ông đến, ngừng xe bước xuống rồi Ông mới cho lệnh TQLC tôi phải làm gì.
Đoàn xe dừng lại trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn nằm giữa đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản, gần Đài Phát Thanh và Cục An Ninh Quân Đội, Ông vẫy tay, tôi chạy lại nhận lệnh, Ông nói vắn tắt:
– Xóm nhà sàn bên bờ sông còn tụi nó, cậu cho thanh toán.
Nói xong, tay cầm cây M16, Ông xâm xâm đi vào một con hẻm dẫn xuống khu nhà sàn bên bờ sông, dĩ nhiên là có toán CSDC chạy theo trong khi lính TQLC tôi còn đang xuống xe.
Trước đó, đã có lần khi xe dừng lại trên đường Phó Đức Chính, Ông đi vào khuôn viên hội trường Diên Hồng, tôi cho anh em xuống bố trí hai bên đường chưa xong thì Ông đi ra và lên xe jeep phóng đi, tôi theo không kịp nên lạc đường rồi bị nghe ông “đ..cụ” khiến lần đó tôi cũng “nực gà”, tự hậu khi có lệnh mới cho lính xuống xe, nên lần này tôi đang cho lính xuống xe thì nghe “cắc-bù, cắc-bù”.
Vài tiếng “cắc-bù” trong con hẻm nơi Ông mới đi vào là tôi biết có chuyện. Nghe “cắc-bù” là biết tiếng súng VC bắn về phía mình, quả thật, toán CSDC đang khiêng Ổng ra, Ông bị thương nơi chân. Chúng tôi vào lục soát, tụi VC lặn xuống sông mất tiêu, chỉ còn lại một tên bị thương nặng từ mấy ngày trước, đang nằm chờ chết trong một góc nhà sàn.
Lần đầu tiên tôi thấy một vị Tướng bị thương vì đạn bắn thẳng dưới đất, còn đa số chỉ nghe quý vị tử trận cùng với trực thăng. Dù ở trên trời hay dưới đất, tấm gương và tiếng nói của vị chỉ huy cao cấp tại mặt trận là một sức mạnh vô cùng quan trọng.
Sự việc “Ông Sáu Lèo” bị thương vào chân, đơn giản là Ông xung phong vào mặt trận, Ông đi tìm VC tại địa điểm kể trên trước con mắt hằng trăm TQLC và CSDC, vậy mà sau này có nhiều người viết như truyện “phong thần” rằng Mỹ âm mưu giết Ông!
Chả cần phải “nổ” như thế, Ông là vị Tướng bình dân, dẫn quân dẹp giặc rồi bị thương tại mặt trận không đáng quý hay sao mà phải vẽ rồng rắn cho là Mỹ bắn ông, phịa như thế là vô tình cướp đi cái dũng cảm của một vị tướng.
Ông là Tướng Cảnh Sát, tôi là Úy TQLC, chả quen biết gì nhau, tôi bị biệt phái theo Ông, Ông là vị tướng bình thường nhưng đánh giặc đẹp đã khiến tôi kính phục ông, cần gì phong thần giả làm mất đi cái thực đáng quý nơi Ông.
Một vị tướng khác, đứng trước lửa đạn, trực tiếp ra lệnh cho tôi thanh toán mục tiêu “Suối Máu” Biên Hòa, đó là Tướng Đỗ Cao Trí. Thực ra tôi đã được lệnh trực tiếp của Đồ Sơn, Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC Ngô Văn Định rồi, có Ông Tướng hay không thì tôi vẫn thi hành nhiệm vụ, nhưng sự hiện diện của Ông Tướng tại “tiền tuyến” chứng tỏ mức độ quan trọng hơn, cần thanh toán gấp, mục tiêu “Suối Máu” nằm gần trại giam tù VC, quả tình là suối máu thật!
Bạn đọc đừng phiền khi nghe tôi “khoe” gặp Tướng, lính tác chiến mà mỗi khi gặp được Tướng thì chỉ có từ chết tới bị thương, nhất là Tướng cao cấp ở trung ương đến thăm thì càng mệt thêm. Nghe mấy ông thầy nổ khoe rằng “tao quen với ông tướng XYZ” mà phát nản, nhưng hôm nay tôi phải khoe vì sự thật tận mắt nhìn thấy quân đội chúng ta có những vị Tướng đáng kính phục, nhiều vị sao sáng.
Khi được lệnh cấp cứu đồn Cảnh Sát Bà Hòa (hay Hỏa) trong Chợ Lớn, con đường tiến tới mục tiêu bị hỏa lực của địch cản ở mặt trước, tôi ra lệnh cho Trung Đội Trưởng TrĐ 14/TĐ2 là Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang phải chiếm căn biệt thự bên hông gần đó để làm bàn đạp, tấn công bất ngờ từ bên hông. Căn biệt thự cũ kỹ kiểu xưa, trông nghèo nàn nhếch nhác, trong sân, một bà đầm đang tắm cho mấy đứa nhỏ, không phân biệt được bà là đầm Tây hay đầm Mỹ, tôi toan mở miệng để giải thích lý do xin xâm nhập gia cư thì nghe bả hỏi:
– Các chú cần gì?
Thấy bà đầm 100% mà nói tiếng Việt giỏi lại gọi lính là “các chú” khiến tôi ngạc nhiên, bèn giải thích đầu đuôi để xin phép, bả gật gù đồng ý nhưng nói thêm:
– Các chú nên vào trong nhà nói với ông Tướng một tiếng.
Càng ngạc nhiên hơn, tôi hỏi:
– Ông Tướng nào vậy bà?
–Là nhà tôi, Tướng Đức, Dương Văn Đức ấy mà.
Nghe danh Trung Tướng Dương Văn Đức trong cuộc “biểu dương” từ lâu, nay tận mắt thấy Ông ngồi gật gù với chai lọ và tàn thuốc lá! Tự dưng lòng tôi chùng xuống, một vị Tướng mà thế này ư!
Ông nói nhẹ nhàng:
– Tụi nó trốn hết rồi, nhưng các em phải cẩn thận.
Vô cùng cảm động, tôi đứng nghiêm đưa tay chào “tuân lệnh” đúng quân phong quân kỷ. Người ta đồn rằng ông bị “chạm”! Chạm mà biết tình hình bên ngoài và ân cần khuyên lính một câu vàng ngọc như thế ư?
Chúng tôi cảm phục và biết ơn vị Tướng họ Dương.
Khi ĐĐ.1 của tôi bảo vệ đài phát thanh nằm ở cuối đường Phan đình Phùng, lệnh của Giám Đốc đài là Tr/Tá Vũ Đức Vinh, không cho bất cứ ai vào thăm nếu chưa được lệnh của Ông báo trước. Lính tôi y lệnh, cương quyết không cho một nhân vật có xe hộ tống vào thăm đài, nhân viên hộ tống của ổng có vẻ hùng hổ đòi gặp người có thẩm quyền, tôi phải ra tận trạm gác coi đầu đuôi.
Mấy ông bô-đi-ga mang súng ống, đeo kính đen gườm gườm khiến tôi phát rét, còn lính của tôi thì lùi lại hườm sẵn M16, người mặc còm-lê thì nhỏ nhẹ:
– Qua là Trung Tướng Trần Văn Đôn, muốn vào thăm đài phát thanh.
Tôi lễ phép thưa:
–Thưa Trung Tướng, lệnh Trung Tá Giám Đốc không cho bất cứ ai vào nếu không có lệnh của ông, xin Trung Tướng liên lạc với Giám Đốc là Trung Tá Vinh, chúng tôi là lính chỉ biết tuân lệnh.
Liên lạc không gặp ai trong đài có thẩm quyền nên Trung Tướng cám ơn chúng tôi rồi quay đầu xe, nhưng đằng sau những cặp kính đen của các cận vệ, tôi thấy mắt họ nổi gân máu! Rõ là cọp hiền hơn c.. cọp.
Và những ông tá
Sau hơn một tháng giữ an ninh đài phát thanh và bưu diện trung ương, đại đội tôi được đại đội của Đại Úy Đinh Xuân Lãm K17 đến thay thế. Trước khi tôi đi chỗ khác, Trung Tá Giám Đốc tiếp tôi tại văn phòng, ông tặng cho Đại Đội tôi tấm “lắc” bằng đồng khắc những chữ với đại ý cám ơn vì đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”!
Tôi đem tấm lắc treo tại văn phòng Đại Đội, nhưng cứ phân vân mãi, không biết cái “xuất sắc” này có liên quan gì tới việc thi hành lệnh không cho ông Trung Tướng vào thăm đài hay không?
Trung Tá Giám Đốc khá lịch sự và tế nhị, ông hỏi tôi:
– Bạn có thích nghe nhạc không?
Nhạc ai mà chẳng thích nghe, hơn nữa cô bạn gái của tôi mê ca sĩ Thái Thanh nên tôi mạnh dạn:
– Không thích nhưng mà mê, nhất là Thái Thanh.
Ông nháy mắt cười cười đưa tay bắt, tay ông thật ấm, ông nói:
– Tôi sẽ cho thâu một cuốn băng toàn nhạc Thái Thanh để tặng bạn.
Cám ơn Trung Tá Vũ Đức Vinh, Giám Đốc đài phát thanh năm 1968, thật điệu nghệ! Một tác phong hiếm thấy nơi các ông lớn hậu phương đối với lính tiền tuyến. Nhưng vì chúng tôi mải miết đi hành quân khắp 4 vùng nên tôi không nhận được quà của Trung Tá Vinh và tôi cũng không có dịp được gặp lại Ông.
Ông là gốc KQ, tôi phục Ông và mê Không Quân qua tác phong của Ông, của các chàng phi công vì họ được huấn luyện bởi những người “lái phi công” đảm đang, trong đó có chị Năm Vinh:
Khi định cư tại Mỹ sau năm 1990, tôi viết lại kỷ niệm về Tr/Tá Vinh trên Đa Hiệu Võ Bị với tấm lòng kính mến một thượng cấp dù lúc đó tôi không biết Ông ở đâu. Một thời gian sau thì tôi nhận được những CD toàn là nhạc Thái Thanh do Chị Năm Vinh và nha sĩ Vũ Thanh Tùng, con trai anh Năm Vinh gửi tặng! Gói quà sau gần 40 năm mới nhận được làm tôi quá cảm động nhưng cũng thật bối rối, vì khi đó tôi mới biết Anh Năm đã quy tiên! Tôi áy náy vì nhắc lại kỷ niệm xưa khiến Chị Năm Vinh bận tâm, xin chị tha lỗi. Cám ơn chị và cháu Tùng.
Ngoài ra tôi còn nhận được cuốn sách: “Về Một Người Đã Khuất HUY QUANG VŨ ĐỨC VINH” do cháu Tùng biên soạn với bút ký của chị Năm Vinh:
-“Thân tặng Anh Tô Văn Cấp.
Bà quả phụ Vũ Đức Vinh”.
(Hiện nay, 2021, tôi mất liên lạc với nha sĩ Vũ Thanh Tùng).
Nhưng cũng có một tình chiến hữu khác giữa KQ & TQLC chẳng vui tí nào:
Đã hơn một ngày truy kích VC dọc hai bên đường Lê Quang Định Gò Vấp khiến chúng kéo về cố thủ phía sau rạp hát Đông Nhì và chùa Dược Sư, khu này nhà cửa đông đúc san sát nhau, hẻm chằng chịt khiến cho việc điều động đơn vị quá khó khăn, vài Cọp của hai Đại Đội 1 và 4 đã bị thương và tử thương.
Tại Ngã Ba đường Lê Quang Định và Trung Dũng là căn nhà xây 3 tầng với sân rộng và hàng rào bao quanh, có sân thượng, đây là một cao điểm quá tốt để quan sát địch và điều quân, chủ nhà là một ông quan “mặc áo liền quần”, đeo hoa mai có gạch đít, đang cầm ống nhòm đứng lấp ló trên sân thượng coi TQLC đánh nhau vói VC! Tôi xin phép ông cho chúng tôi dùng sân thượng để đặt Ban Chỉ Huy Đại Đội và súng đại liên, ông vui vẻ… từ chối! Lý do ông bảo là vì nếu TQLC đóng ở đâu thì VC đến tấn công chỗ đó, mà nhà ông thì mới xây, không muốn bị vạ lây, ông mới xây xong sau khi đi tu nghiệp ở Mỹ về!
Quân với quân như cá với nước… sôi! Con người có máu lạnh ấy làm tôi sôi máu nóng, nhưng thôi, đành vuốt nước mắt đi kiếm chỗ khác.
Đêm 8/5/68, Đại Đội 2 của Đ/Uý Trần Kim Đệ (K8VK) trên đường Hậu Giang, Quận 6, bị VC tràn ngập. Sáng 9/5, Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn ra lệnh cho Dzoan và tôi về tiếp ứng cho Kim Đệ, nhưng trước khi đi phải gom tất cả xác VC vào sân banh Lê Văn Duyệt, gần Ngũ Hoành Miếu.
Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận, để ngoài sân banh nắng nôi, mưa gió, có nhiều anh đã phì lên và chảy nước rồi, cần chỗ mát và sạch sẽ hơn, tôi thấy không chỗ nào tốt hơn căn nhà lầu của ông quan KQ mang bông mai có gạch đít. Chúng tôi xếp xác VC nằm gọn gàng từ hàng hiên ra khắp sân, gởi gia chủ trông chừng dùm, mai mốt có xe của sở vệ sinh thành phố đến mang đi, hổm rầy họ chưa đến được vì súng nổ nhiều quá. Xác VC nằm trong nhà ông thì yên tâm hơn, không sợ bị VC tấn công vào làm hư cái vi-la.
Đây là một kỷ niệm buồn, chẳng phải buồn vì ông thái tá kia mà tôi đem những xác chết chất vào vi-la của ổng để nó biến thành căn nhà ma, bực cái mình thì đùa giai tí chơi, tôi buồn cho những người trai hai miền Nam-Bắc chết vì súng đạn, chết khi chưa biết yêu, chết mà mẹ già không hay biết, vẫn ngày ngày ngồi tựa cửa móm mém miếng trầu, cầu nguyện ngóng trông:
– “Sao Xuân này con không về?”
– Về sao được Mẹ ơi! Giấy phép con đã cầm trong tay, hứa với mẹ là Xuân này con sẽ về thăm mẹ và nhờ mẹ dắt con đi hỏi vợ, nào ngờ cái đám VC nuốt lời!
Nhìn những xác VC nằm đủ mọi kiểu trong sân vi-la mà tôi chạnh lòng, chúng tôi muốn hòa bình, nhất là ngày Tết linh thiêng của cả dân tộc VN, chúng tôi được lệnh hạn chế sát sanh, tại vì các “anh” vào cướp phá! Cùng là máu đỏ da vàng, chúng tôi nào muốn hại các anh.
– Các “anh bộ đội” sinh Bắc tử Nam ơi, việc các anh trở về với cát bụi là do súng đạn vô tình, còn Mũ Xanh chúng tôi lúc nào cũng mở rộng vòng tay, điển hình là 6 “anh” được cứu sống tại tòa biu-đinh bên hông dinh Độc Lập và 5 “anh” tại rạp hát Đông Nhì Gò Vấp. Th/Úy Quang kể chuyện nương tay với địch quân:
– Chiếm mục tiêu xong, lục soát không có gì, Tr/Sĩ Châu Văn Khánh leo lên cái mô-bi-lét dựng đầu hè đạp cho nổ chơi, máy nổ, hơi xăng và khói bay tùm lum, bất chợt nghe có tiếng ho phía dưới đất, B1 Xuân khui nắp hầm thì bị một tràng AK hất ngược ra sau. Thông thường thì chỉ một trái M.26 bỏ vào hầm là xong, nhưng lệnh anh nói phải bắt sống nên tôi tống luôn một lúc 4 trái lựu đạn… khói, 5 tên VC bị ngộp thở chui lên, trông híp-pi vì toàn thân một màu tím, còn B1 Xuân… em đã nằm im, tắt thở!
Tại Đồng Ông Cộ gần cầu Băng Ky, 150 người “anh em” buông súng đã được TQLC đón tiếp nồng hậu, ăn uống no nê, hút và xách thoải mái lại còn được ông Chiến Đoàn Trưởng đẹp giai đầy lòng nhân ái cho đi thăm thành phố Saigon khiến hai ca sĩ văn công Bùi Thiện và Đoàn Chính ngơ ngác vì lần đầu tiên trong đời được chiêm ngữơng những cái “mông có gân” mà XHCN không có. TQLC nói riêng và QĐVNCH nói chung chơi đẹp với các người anh em quá phải không?
Việt cộng lại tấn công đài phát thanh
“Đêm qua VC lại tấn công đài phát thanh, nhưng bị quân ta đẩy lui, ta tịch thu 1 súng K54, bên ta có 1 TQLC hy sinh”.
Đó là tin trên trang nhất của một số nhật báo tại Sài Gòn.
Trong khi các đại đội khác tiếp tục hành quân lùng địch trong vùng cầu Kinh thì Đại Đội 1 của tôi được Tiểu Đoàn Trưởng cho giữ đài phát thanh Phan Đình Phùng và bưu điện trung ương Sai Gòn, tuy không vất vả nhưng lại có nhiều chuyện vui buồn, chuyện không cho ông Thượng Nghị Sĩ vào thăm đài đã được Giám Đốc đài tặng cho cái “lắc” như đã kể ở trên, chúng tôi còn gặp nhiều chuyện khó khăn khác nữa.
Trong thời gian đầu khi vừa nhận bàn giao từ tay các anh hùng Mũ Đỏ, khói lửa còn nghi ngút dưới tầng hầm (nơi chứa toàn đĩa hát loại 45 hay 78 tua gì đó), mọi sự xuất nhập của nhân viên nam nữ đều phải kiểm soát thật kỹ, kể cả ca sĩ, đó là lệnh của Giám Đốc đài phát thanh.
Với nam nhân viên và ca sĩ thì không có nan đề, nhưng với nữ nhân viên và ca sĩ thì thật nan giải. Lính tôi quanh năm “hành quân vùng xa thiếu bóng đàn bà” mà bây giờ bắt xét bóp, xét ví của phụ nữ thì nguy quá, nếu không xét, lỡ một nàng nào nhét C.4 (một loại thuốc nổ dẻo như plastic) vào người thì biết trả lời sao đây? Sau 2 ngày gồng mình khám xét thì chịu hết nổi, “cẩn tắc vô áy náy”, lính tôi mà lỡ tay xét kỹ quá thì tôi chết chắc nên tôi đành xin anh Năm Vinh giao nhiệm vụ quái ác này lại cho các nữ Cảnh Sát.
Còn việc VC lại tấn công thì sao?
Chuyện lâu quá nửa thế kỷ rồi thì có quyền bật mí:
Nguyên do là thế này, tối đến, mọi ngả đi vào đài đều kéo kẽm gai hai ba lớp, còn gài thêm lựu đạn, con hẻm dẫn ra khu trại gia binh phía sân vận động Hoa Lư tôi giao cho Trung Đội súng nặng của Thượng Sĩ Lâm Khâm phòng thủ. Rồi một đêm chàng lính gác hạ phiên tên Thủy dặn chàng thượng phiên tên Hoàng:
– Tao ra thăm người yêu một chút, lát tao về, mày đừng có bắn ẩu nha.
Tình yêu lâu ngày gặp nhau sao nỡ vội chia tay! Chàng Thủy ngồi bên người yêu quên cả Trời Đất, quá phiên gác của Hoàng mà Hoàng cũng quên bàn giao cho người bạn thượng phiên, gần sáng Thủy lò mò chui rào kẽm gai trở về thì người lính mới thay phiên Hoàng tưởng VC bò vào bèn nhanh nhẩu quạt cho Thủy một băng M16!!!
Hoàn cảnh này, Thủy không hy sinh vì công vụ thì làm sao gia đình có 12 tháng lương? Làm sao giải thích với thượng cấp tai nạn chết người này cho xuôi tai? Tôi bàn với Thượng Sĩ Lâm Khâm cho bắn thêm nhiều loạt đạn hướng mũi súng về phía Cục An Ninh QĐ, (đại đội tôi cũng có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài cho cục ANQĐ của Đại Tá Thăng), tiếng đạn bắn ngược chiều nghe “cắc-bù” đúng là của VC tấn công rồi (!), máy trong Cục gọi ra hỏi tình hình, tôi nói VC đang tấn công, xin ở yên tại chỗ, báo cáo sau.
Ngày hôm sau, biết thế nào Cục An Ninh cũng đến coi tình hình và kèm theo phóng viên báo chí nên sau khi lấy được xác của Thủy vào, Lâm Khâm cho lượm nhiều vỏ đạn AK (VC bỏ lại khi đánh nhau với ND bữa trước) rải quanh chỗ nằm của Thủy. Sáng sớm báo chí đi theo Cục AN ra quan sát “mặt trận” và phỏng vấn, lính tôi thì lầm lỳ ôm súng phòng thủ, cạy miệng cũng không trả lời (dặn trước rồi), ngoại trừ tôi.
Phóng viên lượm vỏ đạn AK lên ngắm nghía gật gù, chụp hình quan sát chỗ VC bị bắn hạ và đã được đồng bọn kéo đi. Phóng viên lật qua lật lại xem cây K.54 của VC còn dính máu đã bỏ lại.
Thực ra cây K.54 này tôi đã tịch thu được trong trận Đêm Hưu Chiến 31/12/67 tại kinh Cái Thia quận Cai Lậy mà trong trận này, thằng em Nguyễn Quốc Chính hy sinh khi vừa mới “dạm vợ” một tuần lễ trước khi đi hành quân. Tôi giữ cây K54 này để làm kỷ niệm cho tình yêu Chính-Lựu gãy gánh nửa đường, nay cũng vì tình yêu mà Thủy tử nạn nên tôi đem cây súng này trình làng như một “chiến lợi phẩm” để làm bằng chứng là VC đã tấn công đài phát thanh.
Chuyện dàn cảnh như thật nên không ai nghi ngờ, vì thế mới có chuyện cho báo chí đăng tin VC lại tấn công đài phát thanh lần thứ hai! Chắc không còn nơi nào có những vụ dàn cảnh như vậy đâu, đây là một kỷ niệm buồn về tình yêu và súng đạn!
Có thể nhiều vị trách tôi nói ra điều này làm giảm giá trị các chiến công thực sự. Nhưng ở vào hoàn cảnh “gặp thời thế thế thời phải thế”, chỉ những ai đã từng đổ máu ngoài chiến trường mới thông cảm với tôi trong hoàn cảnh này.
Súng đạn và tình yêu
Đứng trước sự tàn phá của thiên tai và chiến tranh thì hình như tình người lại gần với nhau hơn? Trận động đất giữa biên giới Ấn-Hồi đã chôn vùi hơn 40 ngàn người khiến hai kẻ thù truyền kiếp bắt tay nhau cùng lo cứu khổ cứu nạn. Bão Katrina tàn phá New Orleans làm cho số hồ sơ đã nạp tại tòa xin ly dị được rút lui đi khá nhiều.
Trước Mậu Thân 1968, dân Saigòn và nhất là các em gái rất thờ ơ với chiến tranh và lính trận, ấy là chưa kể đến những thành phần no cơm ấm cật, dậm giật tối ngày, rửng mỡ nối giáo cho giặc bày đặt phản chiến, thực chất là trốn lính, trốn việc quân đi ở chùa!
Sau Tết Mậu Thân, nhờ khói súng mà tình cảm người dân thân thiện với lính hơn, tử tế hơn với quân, dân chỉ cho lính những chỗ VC ẩn núp và chôn dấu vũ khí mà trước Tết có vẻ như họ “không nghe không thấy”. Trong và sau Mậu Thân, đơn vị nào cũng được đồng bào đón tiếp niềm nở, bánh kẹo dư thừa mà vị ngọt tình yêu cũng không thiếu.
Ở Bưu Điện “một nơi dễ tìm thấy Thiên Đàng” thì anh em ĐĐ1 của tôi họ sống quá đàng hoàng nên được đồng bào quanh vùng và nhất là nhân viên bưu điện cảm phục, tình quân dân thắm thiết thật sự kéo dài cho mãi tới sau này, điển hình là cô Lan, ái nữ của ông Quận Dương Đông (Phú Quốc) là nhân viên BĐ, sau 1975 đã giúp rất nhiều anh em cựu tù nhân TQLC gởi “hồ sơ chui” tới tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok (Thai Lan) để xin được tới LOI, một việc làm hết sức nguy hiểm cho cô vào thời điểm 1982-84.
Gia đình hai cô Tuyết và Hoa gần như nuôi cả Trung Đội 12, đã hơn 35 năm rồi mà hiện nay các em Tuyết, Hoa-Quốc vẫn luôn hỏi thăm và nhắc tên các anh ngày xưa đóng ở BĐ và các em vẫn tự nhận mình thuộc gia đình “Trâu Điên” và tham dự những buổi họp mặt của TQLC. Tôi trân trọng gởi lời thăm hỏi và cám ơn đến các cô và nhất là những chị đã về làm dâu Trâu Điên.
Trong phạm vi đài phát thanh, anh em ĐĐ1 cũng được đồng bào thương, gia đình ông Tỉnh Trưởng, (Đại Tá Huy BĐQ) cho tôi tạm trú riêng một phòng thay vì tôi giăng võng ngủ dưới gốc cây, gia đình Ô.Bà phở 44, gia đình cô Phụng phở Hoàn Kiếm đãi lính ăn sáng vô hạn định, Cô Phụng cũng trở thành dâu của TQLC. Gia đình cô Chín và Jack (người Anh) nuôi cả Tiểu Đội của Trung Sĩ Mạnh, một gia đình Pháp Kiều muốn gả con là cô Alice cho B1 Thông, sau này em Alice mang quà lên Tân Uyên tiếp tế cho Thông đúng vào ngày Thông- người yêu của Alice tử trận (9/68)
Một mối tình khác khá đẹp và lãng mạng là cặp Chu và Ba.
Trước Tết Mậu Thân, mỗi lần đi hành quân về nghỉ tại hậu cứ là Chu rủ tôi đến tiệm cơm tấm của cô Ba Dung ở góc đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân ngồi trồng cây si với ly café đen không đường, nhiều khi tôi chán nó quá bèn bỏ đi lang thang một mình, vài giờ sau trở lại thấy Chu vẫn ngồi lỳ với nhiều gói RuBy Queen trên bàn ra vẻ đăm chiêu qua khói thuốc ngắm cô hàng café.
Chuyện tình của họ chẳng đi đến đâu cho tới tết… Mậu Thân, một ngày kia, sau khi thanh toán tổ VC ở xóm Chùa Tân Định xong, Chu cho lính nghỉ ngơi băng bó vết thương bên lề đường, đồng bào khu vực đường Trần Quang Khải mang bánh kẹo ủy nạo, Chu được một gói RuBy từ tay Dung, bốn mắt nhìn nhau rồi cảm động tay cầm tay.
Từ đó cứ mỗi buổi trưa, Chu đều xin phép tôi chạy vào sở của Dung mãi tận cầu Chữ U trong Chợ Lớn để tâm sự trong lúc Dung nghỉ để ăn trưa. Chu nói với tôi:
– Sau chuyến hành quân này về nhất định em xin mẹ đi coi mắt Dung.
Khi Chu đóng quân dưới chân cầu Phan Thanh Giản thì Dung đến, vẻ lo lắng:
– Em lo quá, Ba em đi đâu từ hôm qua đến sáng nay không thấy về
Xế trưa thì Dương, em trai của Dung đến báo cho Dung biết là ba Dung đã bị tử nạn vì một TQLC chạy xe Honda đụng ông!
Thân phụ qua đời đột ngột mà người gây ra tai nạn thảm khốc này lại là một TQLC, cùng màu áo rằn ri với Chu, khiến Dung đau khổ tột cùng, mẹ Dung cấm cửa và không nhận vòng hoa phúng điếu của Chu! Mọi sự liên lạc giữa hai người bị chấm dứt.
Làm sao biết ai đau buồn hơn ai? Chu trở lên lầm lỳ, liều mạng hơn và rồi trong một trận đánh sau đó trên chiến trường Cao Miên, Chu bị mất tích.
Tôi bị trọng thương trước khi Chu bị mất tích và khi tôi đang nằm bệnh viện TQLC Lê Hữu Xanh, Thị Nghè thì Ba Dung đến thăm tôi và hỏi tin tức về Chu, nhưng khi thấy cô nhắc đến nó rồi khóc nên tôi dấu luôn tin nó bị mất tích và chẳng bao giờ tôi muốn gặp lại cô Ba Dung nữa.
Năm 1985 sau khi đi tù về tôi gặp Dương, em trai Dung, ở trung tâm dịch vụ xuất cảnh Nguyễn Du, cậu ta lo hộ chiếu đi Canada do chị Dung bảo lãnh, tôi không hỏi thêm chi tiết, chỉ nghe đại khái là Dung chưa lập gia đình. Mới đây tôi vô tình đọc tờ Thời Báo xuất bản ở Toronto có bài viết về “Cuộc Tình Dang Dở” với những tình tiết éo le gần như chuyện tình của cặp CHU-DUNG, tác giả ký tên là CHUNG!
Có vẻ lạ đấy, đó cũng là lý do tôi ghi lại những kỷ niệm này với ý tưởng rằng Chu mất tích ở Căm-Bốt nhưng chắc không chết và sau 30/4/1975 có lẽ đã lết sang tận Canada, nay nhắc chuyện xưa để tìm người thân nên ghép tên Chu-Dung thành Chung. Nếu đúng thế thì người viết bài này nhắn với Chu và Dung rằng:
– Hai em đang ở cùng chung một xứ Canada, nếu còn độc thân thì tìm nhau và “Yêu Nhau Đi, Chiều Hôm Tối Rồi!”
Chuyện tình yêu và súng đạn Mậu Thân còn dài, xin tạm gác lại để bớt nhàm tai đọc giả, bây giờ nói tiếp những câu chuyện buồn Mậu Thân khác.
Cố vấn Mỹ lãnh thẹo
Khi đại đội tôi từ trong Chợ Lớn tiến về Mũi Tàu Phú Lâm trên đường Hậu Giang, trên đường di chuyển chúng tôi đã thấy xác một phóng viên người Mỹ “ngồi” dựa vào chiếc xe hơi bị nát. Khi đi đến ngã tư Hậu Giang và Phú Định thì chúng tôi bị đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong những cao ốc và hãng pin Con Ó. Chúng tôi sẽ phải vượt qua một bãi đất trống sình lầy mà hỏa lực của VC phía đối diện rất mạnh, đã cả giờ đồng hồ rồi mà quân tôi chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến “bằng mọi giá”!
Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn xin trực thăng cobras và biệt phái xuống cho tôi viên trung úy cố vấn phó Carl White để phối hợp hỏa lực. Sau vài tràng rockets, hết đạn, cobras bay đi, tôi và Carl White leo lên cao quan sát thì nghe “cắc-bù”, White ngã ngửa về phía sau, tôi biết anh ta bị thương, vội gọi y tá đến săn sóc, nhưng y tá tìm mãi không ra vết thương, không thấy máu. Sau giây phút tỉnh hồn, Carl mở mắt chỉ vào trán, một viên đạn xuyên qua nón sắt, cởi nón sắt ra thì thấy trán Carl White nổi một cục tụ máu như viên bi. Quan sát đường đi của thần chết thì ra đạn xuyên qua cuốn băng cá nhân cài trên non sắt, chui vào trong, đụng nón nhựa, sức mạnh đạn đi chỉ còn đủ lú ra chạm vào trán White thay vì xuyên qua đầu.
Carl White lấy máy hình ra, đứng bên cái biển “NHÀ BÁN”, bấm một phát làm kỷ niệm để đời. Nhờ cái hòn bi ở trán mà sau đó Carl White được lên đại úy.
Người phóng viên chiến trường
Địch còn mạnh, tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết* (* bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến). Cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh trung đội đi đầu của Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang K22 chuẩn bị nưong theo M41 để vượt qua khoảng trống mà chiếm mấy cao ốc trước mặt để thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.
Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp, anh phóng viên này đã đi theo tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi, nhưng lúc này thấy anh ta liều mạng ngồi trên pháo tháp M41 như thế thì thật nguy hiểm, giận quá tôi quát:
– Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay.
Ti hét thật lớn, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 khiến anh phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta nghe nhưng “giả điếc” để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên để chụp hình nóng. Một tay anh bám vào thành xe, một tay đưa máy hình lên bấm liên tục. Mỗi khi xe lắc lư muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo tòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ đươc nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường:
– Đường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao.
Không chậm trễ một giây, người hạ sĩ cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất. Trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi, xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.
Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng, xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, hai tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh-Thon, người mang máy truyền tin của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (* Thiếu Úy Quang Khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó), cách đó vài mét, anh phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Đường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, người vừa ra lệnh “lôi” anh ta xuống đất nên anh ta lắc-lắc cái đầu tỏ ý “ghê quá” và đưa ngón tay cái lên trời, ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:
– Về nhà nhớ mua heo cúng, lần sau ráng giữ lấy cái “gáo dừa” nghe không.
Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Đến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, sức nổ đã làm bay đầu anh trưởng xa thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.
Kể từ đó anh phóng viên, tôi và Đường kết thân với nhau như anh em, chụp với nhau vài tấm hình để làm kỷ niệm và anh phóng viên đưa tôi và Đường về nhà trong khu cư xá Phú Lâm để giới thiệu với chị ấy và các con anh. Chị ấy phúc hậu hiền lành còn mấy cô con gái thì xinh sắn nhí nhảnh dễ thương ở độ tuổi lên 10. Thấy bố ngồi nói chuyện với các chú lính, các cô có vẻ tò mò, thập thò bên song cửa nhìn huy hiệu con Trâu Điên trên cánh tay áo trận của Đường rồi cười khúc khích.
Chúng tôi kết thân với nhau chưa được bao lâu thì VC tấn công đợt 2 vào tháng 5/1968, đại đội tôi phải liên tục tham dự các mặt trận khắp Saigon và ngoại ô nên chưa có dịp gặp lại người anh phóng viên.
Tháng 9/1968, sau khi Saigon, Chợ Lớn thanh bình trở lại thì TĐ2 đi hành quân vùng quận Khiêm Hanh Tây Ninh. Ngày 17/9/1968, Tiểu Đoàn Trâu Điên nhẩy trực thăng vào mật khu Bời Lời và đã đụng nặng với một trung đoàn VC, Trung Úy cố vấn Mỹ Joe Bargerstock, bị thương nặng vào vai và bị lạc vào tuyến VC, Đường đựợc tôi giao nhiệm vụ đi cứu Joe và Đường đã cứu được Joe về an toàn. Sau cuộc hành quân đó, Đường được cố vấn Mỹ thưởng huy chương Bronze Star. Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn Sư Đoàn TQLC tặng cho Đường chiếc xe Honda. Đường tỏ ý muốn đi thăm và khoe chiến công với người anh phóng viên. Tuy đang cấm trại nhưng tôi hiểu ý nên cũng cho chú em “nhẩy dù” về thăm người anh, do đó chúng tôi mới biết anh đã tử trận trong Mậu Thân đợt hai rồi! Đường cắn môi rồi nói với tôi
– Cứu đựơc cố vấn Mỹ mà không cứu được anh mình! Buồn quá! Tức quá!
Thảm thay, sau khi về thăm anh, trong chuyến hành quân sau đó thì tôi bị trọng thương và Đường tử trận. Một trong những tấm hình chụp làm kỷ niệm, có một tấm chụp chung 3 anh em, chưa đầy một năm sau thì hai người đã ra đi vĩnh viễn, môt người bị trọng thương. Dù không tin dị đoan hình chụp 3 người, nhưng mỗi khi nghĩ đến, tôi cũng cảm thấy bất an.
Hơn 40 năm sau, ở Little Saigòn, thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, trên tờ KBC Hải Ngoại trong mục thư Tiền Tuyến & Hậu Phương, tôi đọc được lá thư với cái tựa đề: “Người Yêu Trâu Điên”.
Trên các trang báo lính, thường có mục “thư tiền tuyến, thư hậu phưong” mà nhân vật trong các thư chỉ là tưởng tựơng. Đã có một thời Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú, Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến SĐTQLC, giao mục này cho tôi với cái tên là “Kim Chi”, em gái hậu phương Kim Chi đã viết thư cho các anh tiền tuyến, nay trong lá thư này, chính 2 chữ “Trâu Điên” khiến tôi đọc kỹ hơn.
Tác giả Phượng T.. kể lại câu chuyện một anh lính Tiểu Đoàn Trâu Điên về giải tỏa địch ở cư xá Phú Lâm trong dịp tết Mậu Thân 1968, thân phụ Phượng T.. đã chụp được tấm hình người lính này, một tấm hình đẹp và oai hùng nên ông tặng cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục. Cô nữ sinh ép hình người lính trong cuốn nhật ký bé nhỏ. Chuyện đau lòng là sau đó thân phụ Phượng T.. bị VC sát hại khi chúng tấn công vào Saigon đợt hai tết Mậu Thân. Thương nhớ cha, cô giữ mãi tấm hình người lính và rồi tấm hình đó cũng bị thất lạc cùng với cuốn nhật ký bé nhỏ vào ngày 30/4/1975. Cuối lá thư cô Phượng T.. ở Phú Lâm A Chợ Lớn Saigon Mậu Thân 1968 viết:
“Lá thư này em viết mà không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên đang ở nơi nào trên mảnh đất chiến tranh đầy thống khổ của dân tộc Việt Nam mình. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, người bạn trẻ của Ba. Hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Với lòng mong mỏi người anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó sau cơn hồng thủy, biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa ”.
*****
Một sự vô tình trùng hợp hay đây chính là tâm sự thật của con gái ngừơi phóng viên chiến trường ngày xưa ở cư xá Phú Lâm mà tôi đã có dịp nhận làm anh?
Nếu đúng là những cô bé, con anh phóng viên, núp sau rèm cửa, cười khúc-khích khi nhìn thấy cái hình con Trâu Điên trên vai áo trận của Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường thì… Đừơng không còn “sống sót đâu đó” nữa, mà Đường đã tử trận ở chiến trường rồi tác giả Phượng T.. ơi!
“MỞ CỬA THÀNH DỤ ĐỊCH”
Đại đội tôi bị khựng tại đường Phú Định, cobras đến rồi đi, thiết giáp đến rồi bị bắn cháy, địch vẫn cố thủ trong dẫy nhà lầu bên kia bãi sình lầy, TQLC đâu phải mình đồng da sắt mà liều mạng chiếm mục tiêu bằng mọi giá? Vả lại trời đã về chiều rồi tối, tôi được lệnh đóng quân đêm, lấy đường Phú Định làm tuyến phòng thủ án ngữ, bắt tay với tôi là ĐĐ4 của Vũ Doàn Doan.
Một đêm bình yên, nhưng mới vửa hừng Đông là súng nổ tưng bừng sau lưng chúng tôi, trong Chợ Lớn, khu vực Soái Kình Lâm, chính khu vực này hôm trước chúng tôi làm tuyến xuất phát tiến về Mũi Tàu Phú Lâm, làm gì có địch. Tôi gọi máy hỏi Tiểu Đoàn thì mới biết BĐQ (hình như TĐ35/BĐQ) đụng VC.
Tôi cho thám thính tình hình để chuẩn bị tấn công mục tiêu hôm qua thì địch hoàn toàn im lặng, nhưng phát giác khu sình lầy và ruộng rau muống không phòng thủ đêm qua đã bị cày nát vì dép râu, số lựợng địch thoát ra bằng đường này ước chừng vài chục tên chứ không ít.
Tôi biết ngay là địch đã rút khỏi mục tiêu của tôi, nhưng thay vì rút ra về hướng rừng thơm Lý Văn Mạnh thì chúng lại chui đầu vào Chợ Lớn để bị BĐQ thịt. Không lẽ sự lơ là phòng thủ của tôi vô tình “mở cửa” cho địch chui vào rọ của BĐQ. Tôi thấy có cả trực thăng quần trên trời để yểm trợ cho BĐQ. Có lẽ vì không có giao liên dẫn đường nên lũ ngợm về thành phố, lạc đường đâm đầu vào chỗ chết. Điều buồn là một biến cố bất ngờ, trực thăng bắn lầm vào trường Phứoc Đức, nơi BĐQ đặt Bộ Chỉ Huy HQ khiến một số sĩ quan cấp tá bị tử thương và bị thương. Nguyên nhân đạn lạc chưa có lời giải.
*****
Chỉ vì vui Xuân quên nhiệm vụ để VC xâm nhập vào thành phố lúc ban đầu, nhưng chúng không chiếm được bất cứ điểm trọng yếu nào, chúng bị quân ta lùng, bao vây và diệt, không có lối thoát nên chúng đành nằm chịu trận gọi là cố thủ đến tan xác hay ra đầu hàng. Tài liệu đã chứng minh VC đã tồn thất nặng nề, lực lựơng kiệt quệ một thời gian dài sau Mậu Thân, nếu nói cho vui là mở cửa thành dụ địch thì cũng có lý.
One of the countless fishing vessels rescued by Cap Anamur in 1979 and beyond Source: WDR
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn kể lại một cách nhẹ nhàng như thể đang kể về một chuyện phim hay một cuốn sách mà anh đã đọc, về 28 lần đi vượt biên của anh, về số phận một kẻ bị chính quyền mới xoá sổ khỏi xã hội dù vẫn đang sống.
Ðã có một thời những người Việt sống như những linh hồn vất vưởng ngay trên quê hương mình. Ðó không phải là chọn lựa, thói quen hay tính cách, mà là sự bị tước đi quyền hạn và không gian sống của họ.
Sau năm 1975, lịch sử dân tộc Việt chứng kiến dân Việt tan tác chưa bao giờ như bây giờ. Dưới sự lãnh đạo của những cái đầu kinh tế cày cuốc áp đặt lên xã hội tự do, tân tiến và phát triển của Miền Nam đã biến một nửa đất nước và con người phồn thịnh đĩnh đạc quy củ trở nên tan nát. Cả miền Nam phút chốc bi thương. Ngay cả những năm chiến tranh bom đạn người dân Việt cũng đã không bỏ nước hay bỏ xứ ra đi, ngay cả những người sống nơi địa đầu giới tuyến của mảnh đất Quảng Trị.
Tuấn những ngày ở trại tị nạn Source: Supplied
Thế nhưng cái gọi là hoà bình thống nhất lại đẩy những người dân Việt Nam vốn cần cù chăm chỉ và bám chặt vào đất đai bản quán đã phải rứt mình bỏ xứ ra đi, tan tát khắp chân trời góc bể, bất chấp cái chết vô tăm tích trên biển, bất chấp làm mồi cho cá hay rơi vào tay hải tặc còn hơn ở lại quê hương mình. Vì sao vậy?
Tuấn, cậu thanh niên 21 tuổi, cựu sinh viên Văn Khoa – Thủ khoa Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang đã bị khai tử ngay khi còn sống và buộc phải sống như một linh hồn lang thang trên quê hương mình.
Chuyện bắt đầu bằng chuyến đi vượt biên đầu tiên vào năm 1977. Một chuyến đi vượt biên kỳ lạ: chiếc tàu ra đi thành công cùng với cha, em và bạn, nhưng Tuấn thì ở lại.
Từ sau chuyến đi không thành, Tuấn quay lại học. Lúc này Tuấn đã bỏ Văn Khoa và về Nha Trang học Cao Đẳng Sư Phạm.
Ngày tốt nghiệp, ông thầy hiệu trưởng tốt bụng đến nói nhỏ vào tai cậu sinh viên giỏi nhất của trường năm đó “Con sẽ không đuợc nhận bằng Tốt Nghiệp hôm nay vì công an đã tới thu bằng của con rồi.”
Công an có toàn quyền để làm tất cả liên quan đến sinh mệnh của một ai đó và không coi đó là con người. Công an – chứ không phải Bộ Giáo Dục, phân công Tuấn lên miền heo hút. Một hình thức lưu đày như cách người Cộng Sản đã đẩy người dân miền Nam lên vùng kinh tế mới.
Đó là một định mệnh, một món nợ lạ lùng của một con người đối với đất nước nơi mình đã sinh ra không thể trút bỏ được (…). Tôi nghĩ đã lỡ sinh ra làm người Việt Nam như vậy rồi, đã sống một kiếp như vậy, đã biết thế nào là đau khổ thế nào là ngục tù, thì cái nguyện vọng lớn nhất là một đất nước Việt Nam tự do.
Chàng sinh viên Thủ khoa tìm được tới nhiệm sở của mình vào một buổi chiều đìu hiu. Nhìn các thầy cởi trần thổi lửa nấu cơm trong trời chạng vạng giữa tiếng muỗi rừng vo ve Tuấn thấy đời mình xong rồi. Tối đó, xong bữa cơm rau muống với các thầy, Tuấn nằm võng đong đưa và quyết định quảy ba lô, nhảy cửa sổ, lội rừng ra đường tàu đu xe lửa về lại nhà Nha Trang.
Thật nhanh nhạy làm sao vừa về đến nhà chưa kịp định thần thì công an tới tìm.
Họ nói rằng anh không được ở nhà anh vì anh đã không còn hộ khẩu ở nhà.
Họ nói rằng họ đã cắt hộ khẩu của anh chuyển lên trường và anh phải quay lại trường.
Họ nói rằng ngôi nhà anh sống từ nhỏ cùng gia đình ba mẹ không phải là nhà anh vì anh không còn hộ khẩu ở đó và anh không được ở đó.
Họ nói rằng họ cho anh 24 tiếng đồng hồ để quay laị trường nếu không thì anh sẽ bị bắt.
Và từ đó bắt đầu những ngày lang thang của Tuấn. Những ngày về thăm mẹ phải ngủ ngoài ga, ngủ trên mái nhà của nhà mình, và ăn với mẹ chưa xong chén cơm đã bị bắt đi vì không có hộ khẩu ngay trong ngôi nhà mình.
Tuấn hội ngộ với Cha tại Úc sau bao nhiêu năm xa cách Source: Supplied
Cuộc sống vô vọng đến mức vào tù là một cách nghỉ ngơi để bớt phần thất vọng. Ở Tuấn chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Phải đi. Ðó là con đường sống duy nhất nếu muốn tồn tại.
Ði tù cải tạo vì vượt biên không thành và Tuấn gặp ngay phải một viên công an vô lại. Có một sự căm ghét kỳ lạ ở tên quản giáo với Tuấn khi biết Tuấn là sinh viên Văn Khoa, và hắn chỉ muốn tìm cách để kết liễu Tuấn.
Tuấn sống những ngày trong trại với viên quản giáo ti tiện như thế nào và cuộc hội ngộ kỳ lạ giữa anh với hắn ngay trong trại tị nạn khi hắn là thuyền nhân mới đến còn Tuấn là Chủ tịch cộng đồng người Việt ở trại, chuyện gì tiếp theo sau đó?
Tuấn- 1979, những ngày lang thang ở Việt Nam và những chuyến đi không thành Source: Supplied
Kết thúc bốn kỳ đặc biết về Ký ức Tháng Tư, nhắc nhở người Việt vì sao chúng ta tan tác mỗi người một nơi, vì sao hôm nay dân ta quá đỗi bộn bề.
Chuyện của Tuấn, không chỉ là những chuyến đi hay kỷ lục về số lần vượt biên.
Chuyện của Tuấn cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm.
Liệu chuyện gì sẽ xảy ra nếu Tuấn bỏ cuộc?
Chắc chắc cộng đồng người Việt chúng ta không có một nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn; các thế hệ học sinh Úc đã không có một thầy giáo dạy nhạc đầy cảm hứng để truyền tình yêu âm nhạc cho chúng; các văn sĩ bị bức hại đã không có một trang Tiền Vệ đầy uy tín để đăng tải tếng nói của họ; và trên hết chúng ta đã không có được câu chuyện ngày hôm nay để cùng chia sẻ với nhau, để thấy rằng có rât nhiều bài học qua câu chuyện này.
Liệu người Việt có đủ lớn để bước qua hận thù với người Cộng Sản, để không hành xử như Cộng Sản đã làm với người Cộng Hòa một mai sau này?
Liệu cái tự do mà người Việt bỏ mạng để tìm được là đủ để chúng ta bằng lòng và khép mình lại trong thế giới riêng của mình, và nguồn gốc Việt hay tên gọi Việt Nam không gì hơn chỉ là một cái tên.
Liệu người Việt chúng ta có đủ dũng khí, niềm tin, trí tuệ và nhơn hoà để xây dựng lại đất nước mình, một quê hương mà như Tuấn nói ai cũng có thể về thăm lại quê hương mình, đi khắp chiều dài từ Bắc chí Nam, gặp tất cả những bạn bè và có thể nói tất cả những chuyện muốn nói mà không ngại ngần, như đúng những điều chúng ta đang có hiện nay ở Úc, ở Mỹ hay ở đâu khác nhưng không phải là ở bên ngoài Việt Nam mà là ở ngay tại Việt Nam trên quê hương mình.
Đó là một chuyến đi chưa hết. Khi tôi đi như vậy để tôi tìm tự do. Khi tôi tìm thấy tự do rồi thì tôi nhận thấy cái tự do đó chỉ cho riêng mình tôi, mà như vậy thì nó nhỏ bé quá. Cái tự do tôi thực sự tôi muốn là tự do cho cả đất nước chứ không phải cho riêng tôi.
Và đó là con đường duy nhất để chúng ta tồn tại, không phải bây giờ, mà cả đời sau.
Chết để làm gì? Ai nói câu đó? Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Ai nghe được? Trung úy tùy viên Lê Ngọc Danh. Ghi nhận ở đâu? Trong tác phẩm Nguyễn Khoa Nam của gia tộc Nguyễn Khoa.
Người nói như vậy có phải đang hoảng loạn tâm thần hay không? Không hề. Lúc đó tướng quân Nguyễn Khoa Nam hết sức sáng suốt, bình tĩnh và dũng cảm. Nhắc lại ‘Chết để làm gì’ như vậy có phải là sỉ nhục một danh tướng VNCH không? Tầm bậy. Lê ngọc Danh viết lại với tấm lòng tôn kính ông thầy. Dòng họ Nguyễn Khoa in trong sách với niềm hãnh diện chia xẻ với toàn quân. Tôi viết lại nguyên văn vì chợt bắt được linh hồn của chữ nghĩa. Các bạn chê bai là chưa tỏ ngọn ngành. Nhưng cũng nhờ những phê phán loạng quạng tôi có dịp giảng giải nguồn cơn. Thực vậy, các bạn thắc mắc loạn ngôn nhưng tôi phải cảm ơn, chính vì các bạn mà tôi viết lại đầu đuôi câu chuyện này.
Di ngôn tự vấn
Từ nhiều năm trước, tôi đọc hồi ký Lê Ngọc Danh, chợt đến những đoạn nghe đối thoại của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tôi lặng người. Tôi suy tư về tư duy của con người đã nói lên những lời bất hủ đó. Khi tùy viên báo tin tướng Minh đầu hàng. Ông nói: Qua biết rồi. Khi báo cáo các sĩ quan thân cận di tản. Ông nói: Đi làm gì. Khi được thương binh yêu cầu: Thiếu tướng đừng bỏ tụi em. Ông nói: Không! Qua không bỏ tụi em. Khi báo cáo phó tướng tự tử. Ông nói: Chết để làm gì. Những lời ông nói lúc đó không phải dành cho thủ hạ. Không phải dành cho chúng ta. Tướng Nguyễn Khoa Nam nói cho chính ông. Ông tự hỏi và tự đi tìm câu trả lời. Bây giờ 50 năm sau, xin các bạn cùng tôi tìm hiểu. Tôi phải viết lại câu chuyện từ đầu như sau.
Những lời cuối cho miền Nam.
Lịch sử ghi rằng. 1954 Geneve chia đôi đất nước. Đất nước trở thành 2 miền Nam Bắc. Trải qua 21 năm đấu tranh chính trị rồi chiến tranh thực sự. Tháng 4 năm 1975 Bắc quân tràn ngập các quân khu 1,2 và 3. Quân khu 4 của tướng Nguyễn Khoa Nam với 3 sư đoàn, 18 tiểu khu và 200 ngàn quân vẫn còn yên tĩnh. Tổng thống và thủ tướng cùng bàn giao và ra đi. Đại tướng tổng tham mưu trưởng cũng ra đi. Trung tướng quyền tổng tham mưu trưởng điện thoại cho tướng Nam yêu cầu chuẩn bị đón chính phủ và bộ tổng tham mưu tái phối trí về miền Tây. Tướng Nam điện thoại cho tư lệnh sư đoàn 9 đưa trung đoàn Long An chuẩn bị lên đường. Liền sau đó lệnh hủy bỏ. Vị tổng thống dân sự chưa nhậm chức được 1 tuần đã chuẩn bị bàn giao cho vị đại tướng cuối cùng.
Chiều 29 tháng 4- 1975 thiếu tướng Phạm văn Phú quê Hà Đông, 47 tuổi uống thuốc độc tự tử tại nhà, tự nhận trách nhiệm làm mất vùng 2. Chở vào nhà thương Grall cấp cứu. Ông qua đời sáng 30 tháng 4, trước khi có lệnh đầu hàng. Trưa 30 tháng 4 đại tướng Dương văn Minh ra lệnh buông súng trên radio Sài gòn. Tại Cần thơ, trung úy Lê ngọc Danh bước vào phòng tư lệnh quân đoàn 4 báo cáo chưa hết lời, tướng Nguyễn Khoa Nam ngồi coi giấy tờ, ngước lên nói: Qua biết rồi.
Trung tá cảnh sát Nguyễn văn Long sinh trưởng tại Huế, 56 tuổi, nghe tin radio đã tự sát bằng súng lục tại công viên giữa thành phố Sài Gòn. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, quê Sơn Tây, 42 tuổi, bình tĩnh ngồi ăn 3 bát cơm với các sĩ quan rồi rút vào phòng tự tử bằng súng tại bộ tư lệnh Lai Khê.
Từ căn cứ Đồng Tâm nghe tin đầu hàng, chuẩn tướng Trần văn Hai, quê Gò Công, 50 tuổi, tư lệnh sư đoàn 7, điện thoại qua Mỹ Tho từ giã tướng Huỳnh văn Lạc tư lệnh sư đoàn 9 bộ binh. Sau đó ông Hai uống thuốc độc tự tử. Trở lại Cần Thơ, tùy viên lại vào phòng tư lệnh báo cáo các sĩ quan quân đoàn bắt đầu di tản. Tư lệnh Nguyễn Khoa Nam vẫn ngồi ở bàn giấy, nhìn lên nói. Đi để làm gì.
Ông tự hỏi nhưng đã tự tìm thấy câu trả lời. Ông quay sang chỉ thị cho tùy viên chuẩn bị xe. Lúc đó là chiều 30 tháng 4. Sài Gòn đang náo loạn. Những chiếc trực thăng cuối cùng của Hoa Kỳ đã rời tòa đại sứ từ sáng sớm. Bến Bạch Đằng vắng lặng vì toàn thể hạm đội VNCH đã ra khơi đêm qua. Đoàn tầu quân vận của chúng tôi đi sau hải quân nhưng chưa ra khỏi cửa sông đã nghe lệnh đầu hàng. Trong khi đó, tại miền Tây, tướng Nam, tưởng chừng một ngày như mọi ngày, đi thăm thương binh tại quân y viện Phan thanh Giản giữa 1 thị xã Cần thơ vắng lặng. Thương binh ngóc đầu nói với vị tư lệnh: Thiếu tướng đừng bỏ tụi em. Tư lệnh nói: Không, Qua không bỏ tụi em. Bước ra cửa bệnh viện, tùy viên thấy tư lệnh chùi nước mắt. Trở về tư dinh, tư lệnh vẫn mặc quân phục thắp hương lễ Phật.
Hai lần phái đoàn cộng sản vào gặp tư lệnh rồi lại đi ra. Tối 30 tháng 4 tùy viên Lê ngọc Danh qua nhà tướng tư lệnh phó Lê văn Hưng. Nghe tiếng súng nổ. Chuẩn tướng Lê văn Hưng quê Gia Định, 42 tuổi, đã vào phòng riêng tự sát. Trở về báo cáo. Vị tư lệnh quân đoàn nói. Chết để làm gì.
Ông nói với tùy viên, nhưng thực sự là tự hỏi mình. Tùy viên kể lại, ông vẫn mặc quân phục nằm suốt đêm 30 tháng 4. Đèn vẫn sáng trên bàn thờ Phật. Buổi sáng sớm 1 tháng 5-1975 ở Cần thơ. Thành phố vẫn vắng lặng. Ba thầy trò đứng nhìn xuống đường. Tư lệnh đứng giữa, hai tùy viên 2 bên. Tư lệnh chợt bật khóc. Hai anh trung úy trẻ tuổi trẻ cũng khóc theo. Giọt nước mắt của những chiến sĩ khóc cho cả 1 đạo quân. Dường như có máu trong nước mắt đàn ông. Quay vào tư lệnh bình tĩnh giao 2 va ly cho 2 anh sỹ quan. Các anh vừa ra khỏi phòng, ông lấy súng bắn vào đầu tự tử.
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, sinh quán Thừa Thiên, năm đó 48 tuổi. Tiếng chuông thỉnh Phật lần cuối dường như vẫn còn vang vọng trong không gian với khói hương nghi ngút. Tướng Nguyễn Khoa Nam đã sống 1 ngày 30 tháng 4 dài nhất của đời lính.
Ông đã tự tìm thấy các câu trả lời. Đi để làm gì. Ông không đi. Chết để làm gì. Ông biết ông chết để làm gì. Rất sáng suốt và bình tĩnh. Ông chọn cái chết. Ông là mặt trời chói lọi của tháng 4 năm 1975.
Chết để làm gì. Đó chính là di ngôn tự vấn.
Thắp hương.
Suy luận cổ kim.
Sau cùng tướng Nguyễn Khoa Nam đã để lại di ngôn bằng 1 câu hỏi. Ông đưa ra 1 bài toán và ông đưa ra lời giải đáp.
Ngày xưa ở trong Nam năm 1867 tại Cần thơ, cụ Phan thanh Giản không giữ được 3 tỉnh miền Tây cũng đã tự tử. Ngài cũng biết chết để làm gì. Ngoài Bắc, Nguyễn Tri Phương 1873 rồi đến Hoàng Diệu 1882 cũng không giữ được thành Hà Nội nên đã tự tử. Các ngài đã biết là chết để làm gì.
Con người ta thường hỏi là chết rồi sẽ đi đâu. Không ai hỏi là chết để làm gì. Chỉ có những người tự quyết định tính mạng của mình mới có thể đặt câu hỏi chết để làm gì.
Trong đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam, người chiến binh thường không có cơ hội lựa chọn. Cộng sản ào đến biển người hô lớn. Hàng sống, chống chết. Sự lựa chọn không có suy nghĩ. Giơ tay lên sống, không giơ tay lên bị bắn. Đại tá Hồ ngọc Cẩn là công giáo nên không tự sát. Ông không giơ tay đầu hàng nên bị xử bắn sau khi bị hành hạ suốt 4 tháng dài. Ông không đầu hàng có nghĩa là đã chọn con đường chết. Ông tự sát trong phiên tòa cộng sản. Ông tự sát bằng những viên đạn thù xử bắn. Trên bảng vinh danh anh hùng tuẫn tiết, chúng tôi ghi nhận 7 người chiến sĩ. Sự lựa chọn không trong tầm tay anh chị em xây dựng dự án. Toàn thể hải ngoại đã công nhận trong 38 năm qua. Có tên tuổi, hình ảnh, có tiểu sử và chiến tích. Có nhân chứng cho tới giờ phút cuối cùng. Sau cùng tất cả đều là lính Việt Nam Cộng Hòa. Khi nhập ngũ họ đều là lính. Cấp bậc chỉ là hình thức trong binh đoàn. Họ đã sống như người lính và tuẫn tiết như những người lính có trách nhiệm.
Bây giờ nói đến chuyện trả lời câu hỏi Đi để làm gì. Trong anh em chúng ta dù ở lại hay ra đi, nếu có cơ hội lựa chọn lấy quyết định cũng là 1 thái độ mà phê phán suốt cả cuộc đời chưa hết chuyện. Bây giờ ở hải ngoại này dường như ai cũng đã ra đi. Kẻ trước người sau.
Tất cả đều phải trả lời cho tướng Nam câu hỏi. Đi để làm gì?
Nếu ngày xưa 30 tháng 4-1975 ông Nam đưa ra câu hỏi: Chết để làm gì? thì ngày 2 tháng 1-1961 khi Kennedy lên làm tổng thống, ông cũng đã có câu trả lời cho vấn nạn sống để làm gì.
Đừng hỏi đất nước này đã làm gì cho anh, hãy tự hỏi anh đã làm gì cho đất nước. Câu nói đó của Kennedy đã được khắc trên bia đá tại nhiều nơi trên nước Mỹ. Cũng theo danh ngôn này, người ta đã dùng để tu thân suốt cả cuộc đời. Xin đừng đòi hỏi người khác phải làm cái này, cái nọ; hãy tự hỏi mình xem đã làm được gì cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cho đất nước tạm dung và cho quê hương bỏ lại. Lịch sử luôn luôn ở bên những người hành động. Lịch sử không có chỗ cho các bạn ngồi phê phán. Có ý kiến hay, xin bạn đứng lên làm lịch sử.
Bài diễn văn lịch sử:
Nhân nói đến chuyện khắc các di ngôn trên bia đá. Xin kể các bạn câu chuyện dành cho phần kết.
Năm 1863, trận chiến kinh hoàng nhất của chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ xảy ra tại vùng Gettysburg thuộc Pennsylvania giữa binh đoàn Potomac Liên bang Union và binh đoàn Bắc VA của phe Liên hiệp Confederate. Đây là trận quyết định với chiến thắng về phe liên bang. Chiến trường đẫm máu với 51,000 thương vong, trong số này có 7,500 binh sĩ cả hai bên chết vì gươm giáo còn để xác tại chỗ. Trải qua nhiều ngày, các xác chết 2 bên đã bốc mùi nên dân ở thị xã nhỏ bé Gettysburg có vài ngàn người phải ngày đêm lo chôn cất. Một nghĩa trang 17 mẫu được thành lập. Ban tổ chức làm lễ tưởng niệm vào ngày 19 tháng 11 năm 1893. Diễn giả chính là 1 nhân vật danh tiếng từng là thượng nghị sĩ, thống đốc và viện trưởng Harvard. Khách mời có tổng thống Lincoln dự trù sẽ nói vài lời trước khi chấm dứt.
Sau khi ông diễn giả chính nói chuyện 2 giờ đồng hồ, tổng thống Lincoln đọc bài phụ diễn chưa đến 3 phút gồm có 272 chữ trong 10 câu. Bắt đầu bằng câu:
81 năm trước, ông cha ta đã tạo dựng trên lục địa này 1 quốc gia mới, thai nghén trong tự do.
Câu cuối cùng là: Một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ không thể tàn lụi trên trái đất này.
15 ngàn người gồm các thống đốc và chính khách có mặt. Tất cả đã sững sờ nghe trực tiếp bài diễn văn bất hủ. Đây là những lời nói khuôn vàng thước ngọc và trở thành bài diễn văn nổi tiếng kim cổ trên toàn cầu. Đặc biệt bài diễn văn này tuyệt đối không đề cập đến chiến thắng hay chiến bại. Không nói đến bạn hay thù. Tổng thống nói: Những người nằm xuống ở đây đều đã chết cho tổ quốc.
Người ta khắc bài diễn văn trên đá tại các thư viện, tại các trường đại học và tại nhà mồ của ông Lincoln ở Springfield, Illinois.
Đó là lý do chúng tôi muốn có cơ hội khắc trên bia đá những lời của tướng Nguyễn Khoa Nam. Những lời nói ngắn ngủi của ông phản ảnh triết lý sống và chết của con người. Ra đi hay ở lại. Câu hỏi của cả nhân loại trên con đường tìm đất sống, tìm tự do. Con đường mưu cầu hạnh phúc. Sống để làm gì, và chết để làm gì.
Lời Chúa và lời Phật nói ra cũng phải có người chiêm nghiệm và giải thích. Phải viết thành Kinh Thánh hay Kinh Phật để truyền bá và học hỏi.
Đi hay ở. Tại sao. Đi để làm gì.
Sống hay chết. Sống để làm gì và chết để làm gì.
Tôi không biết rằng có thuyết phục được ban tượng đài khắc lời của tướng Nguyễn Khoa Nam thành câu chuyện Anh Việt ở phía sau bức tường hay không. Nhưng câu chuyện và lời nói của ông đã khắc sâu trong tim tôi. Mãi mãi, chẳng bao giờ ai lấy ra được. Đi để làm gì, tôi đã có câu trả lời bằng nửa cuộc đời. Chết để làm gì. Tôi chưa biết.
Mười một giờ ngày 12 tháng 4 năm 1980, gia đình Vinh máy nổ gồm có bốn người và gia đình tôi có ba người, bắt đầu chuyến vượt biển. Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, đoạn đường chỉ chừng 170 cây số, mà chúng tôi phải mất hơn 6 giờ mới đến nơi. Vừa xuống xe đang còn ê ẩm cả người sau mấy giờ ngồi bó gối một chỗ, tôi đã thấy một người đàn ông với gương mặt hiền lành chơn chất, nước da ngăm đen, áo sơ mi xám ngắn tay, ông ta đến bên tôi.
-Xe đạp ôm cậu Hai.
Tôi trả lời.
-Tôi đợi xe lôi.
Nhận ra mật khẩu, người đàn ông dẫn tôi ra khỏi đám đông rồi nói.
-Tôi tên là Ba Râu, được ông Dậu phân công đi đón mấy người.
Khi biết được người dẫn đường do Long công tử sắp đặt, tự nhiên tôi cảm thấy an tâm vô cùng.
Ông Ba Râu nói mà như là ra lịnh.
-Tất cả hãy đi theo tôi, nhớ chia làm hai toán riêng biệt, đừng có đi chung.
Nói xong ông ta dẫn chúng tôi đi dọc theo một con đường nhỏ, qua một khúc cua, ông chỉ vào một căn nhà khá rộng.
-Trước mặt là cái quán cơm bình dân, mọi người vào đó cứ yên tâm mà ăn uống, chủ quán là vợ của một người lính Ngụy. Nhớ ăn cho no vì phải đến gần trưa mai mới được ăn lại. Không có gì gấp, cứ từ từ mà ăn, bao lâu cũng được.
Ông Ba Râu ngưng nói, nhìn chúng tôi như chờ đợi có ai hỏi gì không, khi thấy mọi người đều im lặng, ông nói thêm.
-Phía sau quán có nước rửa mặt, có cầu tiêu, khi ăn xong qua bên kia đường, tôi đợi ở đó.
Tôi kêu hai dĩa cơm trắng, một miếng cá kho, Cúc và con gái của tôi ăn chung một dĩa. Tuy cả nước đang sống trong hoàn cảnh đói ăn, thiếu mặc, nhưng cái hào sảng của người dân ở đây vẫn còn hiện rõ trong dĩa cơm đầy ắp, cao như ngọn núi. Tôi đang ở tại một thành phố mà người ta gọi là Tây Đô, là trung tâm của vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, cho nên những hạt gạo trong dĩa cơm coi bộ cũng trắng trẻo, tròn trịa, và hình như cũng thơm hơn những hạt gạo ở các tỉnh khác. Gác bỏ ngoài tai những lo âu của một chuyến vượt biên đầy hiểm nguy đang chờ đón, tôi có được bữa ăn tối no bụng và ngon miệng. Cách đó hai cái bàn, Vinh máy nổ và vợ con của anh ta cũng đang tận tình thưởng thức bữa cơm. Thời gian qua mau, bên ngoài mặt trời đã lặn từ lâu, hai ngọn đèn Neon trong quán chiếu ánh sáng trắng mờ xuống căn phòng, Vinh máy nổ trả tiền xong, dẫn vợ con đi về phía nhà sau. Chờ cho đến khi gia đình Vinh máy nổ trở lại, rồi dẫn nhau đi qua bên kia đường, lúc bấy giờ tôi mới thanh toán tiền cơm, cùng vợ con đi ra nhà vệ sinh.
Khi chúng tôi qua đến bên kia đường, đã thấy Vinh máy nổ và vợ con của anh ta đi được một khoảng khá xa phía trước.
Ông Ba Râu nói với tôi.
-Mấy người cứ đi theo sau tôi, cách vài chục thước là được rồi, đường đi cũng khá xa đó, mấy cây số chứ không ít đâu.
Sau cả giờ lội bộ, chúng tôi đến được một bãi đất rộng cỡ chừng cái sân quần vợt. Một chiếc xe chở hàng đậu ở góc sân, sát với lề đường. Chỉ vào những lùm cây bên đường, ông Ba Râu nói.
-Vào trong đó nằm nghỉ, tôi đi lo công chuyện lát nữa sẽ trở lại đón.
Tôi nhìn quanh, không thấy gia đình Vinh máy nổ ở đâu, trong lòng có hơi lo lo, tuy nhiên tôi vẫn kéo tay Cúc và con đi vào một bụi cây gần đó. Chúng tôi nằm nghỉ ngơi, sau một ngày di chuyển đầy mệt nhọc. Tưởng chỉ đợi chờ chút xíu, ai ngờ hơn cả giờ sau ông Ba Râu mới trở lại, đưa tay chỉ chiếc xe, ông ta nói.
-Bên tay phải của chiếc xe là bờ sông, hai người đi tới đó rồi theo bờ dốc mà đi xuống, sẽ thấy chiếc ghe đậu sẵn nơi đó. Nhớ chờ tôi đi xa rồi hãy đi.
Khi cái bóng của ông Ba Râu đã khuất trong màn đêm, tôi dẫn vợ con lần theo vệ đường đến gần chiếc xe, quả thật sau đó là triền dốc thoai thoải. Phía dưới sông một chiếc ghe khá lớn, với hai ngọn đèn bão thắp sáng nơi mũi ghe. Khoảng năm người, vừa đàn ông, vừa đàn bà, đang hì hục chuyền tay nhau những trái thơm từ ghe lên bờ. Tất cả đều im lặng, chú tâm làm việc. Tôi nghĩ thầm, tổ chức đưa đón người vượt biên như thế này quả thật là tuyệt vời, hàng hóa thì cứ từ ghe chuyển lên bờ, người thì cứ từ bờ mà xuống ghe. Vì nghĩ như vậy nên tôi tà tà bồng con gái của tôi đưa xuống ghe. Người đàn bà đang chuyển thơm dừng tay, bà ta nhìn tôi với vẻ mặt đầy ngạc nhiên sửng sốt. Cũng cùng lúc ấy, có có người đập nhẹ lên vai của tôi rồi nói nhỏ.
-Lộn rồi ông nội ơi, ghe của mình ở bên kia chứ không phải ở đây đâu.
Tôi nghe giọng ông Ba Râu nói mà giựt mình toát mồ hôi, vội vàng ôm con quay người đi theo ông ấy gấp. Đi mà không kịp nhìn phản ứng của những người trên ghe chở thơm như thế nào.
Khi gia đình của tôi lên được chiếc ghe tam bản, chun vô cái mui lợp bằng tre ở giữa ghe, tôi đã thấy gia đình Vinh máy nổ ở trong đó rồi. Chiếc ghe nhỏ xíu chỉ chở được bốn người lớn và ba đứa con nít, mà đã chật ních. Ba Râu đứng sau đuôi đẩy nhẹ mái chèo, chiếc ghe từ từ rời bến.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm nay là 27 hay 28 âm lịch rồi, chỉ còn một, hai ngày nữa là qua tháng ba, tháng của bà già đi biển. Những ngày cuối tháng của âm lịch, không trăng không sao, bầu trời tối đen như mực, giữa không gian bao la tĩnh mịch, tôi ngồi lặng yên mắt nhìn vào khoảng tối mênh mông, tai nghe tiếng mái chèo khua nước đều đặn. Càng về khuya âm thanh của nó nghe càng lúc càng rõ hơn, thỉnh thoảng lại có tiếng cá quẫy nước trước mũi ghe, làm tăng thêm cái im vắng của đêm dài. Trong bóng đêm dày đặc, tôi bò chầm chậm về phía đuôi ghe, nơi ông Ba đang đứng chèo.
-Ông Ba nè, còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn.
Giọng nói của ông Ba, nghe như là hơi thở của gió sông.
-Còn lâu lắm, ít ra phải chiều mai mới tới.
-Xa dữ vậy sao ông?
-Xa chớ, tính ra phải chèo ròng rã gần một ngày một đêm đó cậu.
Tôi nêu thắc mắc với ông Ba.
-Bộ hổng có cách nào khác, mau hơn hay sao?
-Có chớ, nhưng mà ông Dậu muốn tuyệt đối an toàn nên chọn cách này.
-Như vậy khi lên được tàu lớn, mình bỏ chiếc ghe này phải không?
Vẫn với giọng trầm trầm.
-Tôi đâu có đi, nhiệm vụ của tôi là chở người đến chỗ hẹn, Khi mấy người lên tàu lớn xong xuôi, ông Dậu sẽ trả tiền công cho tôi.
-Như vậy, ông Ba phải chèo ghe thêm một ngày một đêm nữa để trở về.
-Đúng như vậy.
Tôi chắt lưỡi.
-Chèo đi và về suốt mấy ngày đêm như vậy, ông được trả bao nhiêu tiền?
-Hai chỉ.
-Tai sao ông không leo lên tàu lớn đi vượt biên luôn.
Có tiếng thở dài của ông Ba trong đêm vắng.
-Tôi còn có bổn phận lo phụng dưỡng mẹ già. Mẹ của tôi đau yếu quanh năm, nếu tôi bỏ đi, ai lo cho bà. Hai chỉ vàng cho chuyến đưa khách này là một số tiền lớn, đủ cho tôi sửa lại cái mái nhà đã mục nát, còn dư chút đỉnh dùng để lo thuốc thang cho mẹ.
Tôi ngã lưng xuống sàn ghe, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ mà trong lòng vẫn còn vướng bận chút ưu phiền. Tôi ngủ một giấc ngon lành, cho đến khi trời mờ sáng mới giật mình thức dậy, ông Ba vẫn đứng đó, hai tay đều đặn đưa đẩy mái chèo. Tôi biết ông Ba đã thức nguyên đêm, chèo ghe không nghỉ, vậy mà gương mặt của ông trông vẫn bình thường, không một chút gì gọi là mệt mỏi. Lúc này thì mọi người trong ghe đã bắt đầu thức giấc, Vinh máy nổ múc một thau nhỏ nước sông, cho mọi người rửa mặt.
Ông Ba Râu vừa chèo ghe vừa lên tiếng căn dặn mọi người.
-Khúc sông này còn nhiều ghe xuồng qua lại, mấy người thay phiên nhau mà rửa mặt đừng có bò ra khỏi mui ghe, lát nữa khi đến chỗ nghỉ ngơi, lúc đó ai muốn làm gì thì làm.
Tuy nói vậy mà phải mấy tiếng đồng hồ sau, ghe mới tấp vào một doi đất cây cối um tùm. Ông Ba Râu lấy trong bị ny lông, phát cho mỗi người hai nắm cơm vắt.
-Ở đây rất là an toàn, ít ghe tàu qua lại, mọi người có thể chun ra khỏi mui, ngồi trên ghe ăn cơm. Tôi phải nghỉ một chút cho lại sức, khoảng một giờ nữa mình sẽ tiếp tục đi.
Nói như vậy nhưng mãi cho đến khi mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, ông Ba mới bắt đầu cho ghe di chuyển. Tôi nhìn quanh, dòng sông rộng mênh mông từ bên này bờ qua bờ bên kia có thể hơn một cây số. Đó là do sự ước đoán của tôi mà thôi, còn trên thực tế, sông rộng bao nhiêu tôi không rõ. Ghe đi khá xa bờ, trên sông tàu bè ngược xuôi không nhiều lắm. Khi mà mặt trời bắt đầu lặn ở cuối chân trời, ông Ba chỉ vào một cái cồn to thật to ở giữa sông.
-Mình đã đến điểm hẹn, tối nay khoảng tám giờ tàu lớn sẽ đến. Bây giờ tôi sẽ cho ghe tấp vô cái cù lao đó để nghỉ ngơi, chờ tàu đến rước.
Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, êm đẹp. Mới gần tám giờ, giữa đêm tối mịt mù có tiếng động cơ của máy Yanmar nổ giòn mỗi lúc một gần hơn. Ngày xưa lúc được phóng thích khỏi Tổng trại 8 tù binh, trở về Đà Lạt tôi làm vườn ở Đa Thiện, ngày ngày tưới nước bằng cái máy Yanmar F10 cho nên tôi rất quen thuộc, nghe tiếng nổ của máy là tôi nhận ra ngay.
Giữa đêm đen, tôi thấy ánh đèn pin chớp tắt ba lần. Ông Ba cũng vội bấm đèn ba lần. Vài phút sau, ghe của tôi và tàu đã đến gần nhau. Giọng của Long công tử từ bên tàu hỏi vọng sang.
-Quân với Vinh phải không?
Cả hai đứa tôi đều nói.
-Đúng.
Chiếc tàu do Long công tử lái chạy chậm chậm như ngừng lại, ông Ba chèo ghe cặp sát hông tàu. Con gái của tôi và Cúc được đưa lên trước, sau đó là gia đình của Vinh máy nổ, tôi là người cuối cùng leo lên tàu.
Trên tàu hoàn toàn trống vắng, chỉ có vợ con của Long công tử, tôi đoán vậy vì tôi chưa gặp mặt vợ hắn bao giờ. Sau một lúc chuyện trò, trao đổi tiền bạc với ông Ba, Long công tử cho tàu tách khỏi ghe của ông Ba rồi dọt mau về phía trước.
Tôi đi đến bên Long.
-Sao không thấy ai hết vậy?
Long trả lời tôi.
-Chạy khoảng một giờ nữa, tụi mình sẽ đón thêm hai gia đình, già trẻ lớn bé khoảng mười người, sau đó sẽ là gia đình chủ tàu và tài công gồm có tám người, tổng cộng có tất cả là hai mươi tám người trên chiếc tàu này.
Quá chín giờ, tàu nhận thêm hai gia đình mà chỉ có tám người, gần một giờ sau thêm gia đình ông Hòa chủ tàu.
Vừa gặp mặt Long công tử, chủ tàu đã vội vàng nói.
-Mẹ nó thằng tài công biến đâu mất, tôi đợi nó cả buổi chiều mà không thấy. Giọng của chủ tàu đột nhiên như than thở.
-Khổ một điều là cái hải bàn lại do nó giữ, mới mệt cho mình.
Vinh máy nổ hỏi chủ tàu.
-Không có tài công, không có hải bàn, mình phải làm gì bây giờ?
Ông chủ tàu với nét mặt đầy bối rối.
-Tôi đang muốn điên cái đầu, không biết phải giải quyết như thế nào. Mất cả hai năm tính toán, sắp xếp, chuẩn bị, cuối cùng không đi được chỉ vì một sai lầm nhỏ tý xíu hay sao.
Nhìn Long công tử, chủ tàu nói.
-Đây là cơ hội ngàn năm mới có một, không thể bỏ qua, tụi mình phải đi thôi.
Vinh máy nổ hỏi vặn chủ tàu.
-Ông định làm tài công phải không?
Lắc đầu lia lịa, chủ tàu chỉ Long công tử.
-Ông Dậu lái chứ tôi mà lái cái nổi gì.
Vinh máy nổ nói.
-Nè ông Hòa ơi, ông có nằm mơ hay không? Bắt ông Dậu lái tàu ra khơi vượt đại dương, khác nào ở trên đất liền, có một chiếc xe chở hành khách với ba chục chỗ ngồi, đổ đèo mà không có tài xế. Ông biểu lơ xe phải cầm tay lái, đã vậy ông còn bịt mắt anh lơ xe. Nếu xe xuống hết đèo, mà tai nạn không xảy ra, thì đó phải là một phép lạ.
Chủ tàu phân bua với Vinh máy nổ.
-Trong một chuyến vượt biên chui, công việc quan trọng nhất là đón khách, tám mươi phần trăm thất bại là ở chỗ này. Tối nay công tác đón khách do ông Dậu làm, đã hoàn thành tốt đẹp. Kế tiếp là chuyện, từ đây ra tới biển còn có hai trạm công an, một cái cách cửa biển gần ba mươi cây số, tôi đã cúng cho nó ba cây. Còn trạm công an gần cửa biển, bọn cô hồn sống này đòi bảy cây nữa mới chịu nhắm mắt làm ngơ. Chính bản thân tôi sẽ đứng trước mũi tàu vẫy tay như một ám hiệu, khi tàu của mình đi qua hai trạm công an đó. Vàng thì họ đã lấy rồi, nhưng chuyện cho mình đi hay bắn mình chết, còn tùy vào mệnh trời. Đêm nay nếu tàu của mình không qua cửa ải, anh Vinh có trả lại cho tôi mười lượng vàng, mà tôi đã chi cho công an hay không?
Lúc này Long công tử mới lên tiếng.
-Cãi nhau cho đến sáng cũng không giải quyết được vấn đề, mình phải quyết định ngay lập tức, có đi hay không?
Chủ tàu sau một lúc do dự, ông ta bèn đẩy trách nhiệm cho Long công tử.
-Tất cả mọi việc đều do ông Dậu quyết định.
Long công tử vừa lái tàu vừa nói với giọng ôn tồn.
-Ông Hòa à, trước năm bảy lăm, tôi là trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phan văn Dậu là tên giả.
Tháng ba năm sáu chín, tôi tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức, tình nguyện đi Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm bảy mươi, binh chủng này giải tán, tôi về binh chủng Biệt Động Quân. Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của tôi là, Trung úy đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân. Sở dĩ tôi phải giải thích đầu đuôi rõ ràng như vậy, vì với chức vụ đại đội trưởng, tôi phải chịu trách nhiệm trực tiếp đến mạng sống của hàng trăm binh sĩ dưới quyền. Đại đội của tôi đụng trận với Việt Cộng không biết bao nhiêu lần, trong cảnh bom rơi đạn nổ, cận kề với tử thần, tôi chưa một lần nao núng, chưa một lần cảm thấy lẻ loi đơn độc, vì biết rằng có hàng trăm binh sĩ đang cầm súng chiến đấu bên tôi.
Long công tử bất chợt chỉ vào đám hành khách, rồi mới nói tiếp.
-Hôm nay, trên con tàu này, với khoảng hơn hai chục người, có được mấy người… sống chết với tôi. Tôi thật sự phân vân lưỡng lự. Nhưng mà xét cho cùng, tự do thì phải trả bằng mạng sống của mình mới có được, từ sau năm bảy mươi lăm, đã có hàng triệu người dân Việt Nam, họ thà chết trên biển cả để đổi lấy tự do. Thì tại sao một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như tôi, lại không dám làm. Tôi sẽ lái tàu vượt biển, còn chuyện có đến được bến bờ tự do hay không, còn tùy vào mệnh trời như ông Hòa đã nói.
Vinh máy nổ bắt tay Long công tử.
-Yên chí đi, tôi đứng sau lưng của ông, Tám mươi mốt Biệt Kích Dù cũng từ Lực Lượng Đặc Biệt mà ra. Mình phải đánh một trận cuối cùng cho oai hùng trước khi đầu hàng số mệnh. Nhất định không để phải cúi đầu nhục nhã như tháng tư năm bảy lăm.
Nhìn thẳng vào mắt Long công tử, Vinh máy nổ với nụ cười đầy bí mật.
-Tôi có một món quà đặc biệt tặng ông.
Nói xong, Vinh máy nổ lục trong túi lấy ra một cái địa bàn của lính bộ binh Việt Nam Cộng Hòa.
-Cái địa bàn này nó theo tôi từ khi tôi về Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Sau bảy lăm, tôi giữ nó làm kỷ niệm, giấu kỹ cho đến bây giờ.
Vinh máy nổ và Long công tử nhìn vào cái địa bàn, rồi cả hai cùng cười to. Giữa đêm khuya vắng lặng, tiếng cười đầy sảng khoái của họ vang vang trên dòng sông, nghe như cả một thời chinh chiến kiêu hùng của ngày xa xưa cũ vẫn còn hiện diện đâu đây.
Dứt tiếng cười Long công tử nói.
-Anh Vinh lo phần máy móc, nhắc nhở tôi phải làm gì, chạy như thế nào. Tôi biết cái máy Yanmar F10 này quá yếu, quá cũ, cho một chuyến vượt biên dài ngày trên biển.
Quay sang tôi.
-Quân, mày lo phần kiểm soát và phân phối thực phẩm, quan trọng nhất là nước uống, mình chỉ có một phuy nước sông và một thùng nhựa chứa hai mươi lít nước mà thôi. Chừng đó nước ngọt cho hơn hai chục người, chính xác là hai mươi ba người, phải không? Tất cả đều do mày định liệu.
Trong đêm khuya tĩnh mịch tiếng máy tàu nổ đều đặn, đưa con tàu hướng ra cửa biển.
Khi mà ông Hòa đứng trước mũi tàu, vẫy tay lần thứ hai, trời cũng bắt đầu sáng, mặt trời ló dạng ở phương đông, chiếu những tia nắng màu hồng rực rỡ cả một góc trời, tôi biết tàu đang qua cửa biển. Đột nhiên tôi nhớ đến câu ca dao được truyền tụng trong dân gian.
Lênh đênh qua cửa Thần Phù. Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Ở đây tôi chỉ muốn nói đến nghĩa đen của câu ca dao mà thôi, Thần Phù là cửa biển thuộc tỉnh Ninh Bình, Miền Bắc Việt Nam. Ngày xưa hàng chục thế kỷ trước, từ đồng bằng sông Hồng vượt biển vào Nam, khi qua đây, người ta sợ hãi những đợt sóng to gió lớn nơi cửa biển sẽ làm chìm tàu. Hôm nay chúng tôi vượt biển trên một con tàu nhỏ, ngoài chuyện dông tố bão bùng còn phải đối diện với nạn bắt bớ, giam cầm, tù đày của công an Cộng Sản Việt Nam, rồi nạn cướp của, hiếp dâm phụ nữ của hải tặc Thái Lan, cả hai đều tàn bạo man rợ như nhau. Nếu so ra, ở vào thế kỷ thứ hai mươi này vượt biển lánh nạn Cộng Sản, còn thập phần nguy hiểm hơn sóng gió nơi cửa biển Thần Phù cổ xưa.
Kiến thức về địa bàn và phương hướng trong Trường Bộ binh Thủ Đức, kinh nghiệm nơi Trường Võ Bị Đà Lạt, cho tôi hiểu rõ về phương hướng và tọa độ. Mặt trời đứng ngay trước mũi của con tàu, tôi biết chúng tôi đang đi đúng hướng
Tôi ngoảnh nhìn hai bên bờ sông, mù khơi xa tít là đất liền, cửa biển rộng mênh mông ước chừng vài cây số. Rời bỏ quê cha đất tổ, ngậm ngùi nói câu giã từ Việt Nam, giã từ nơi đã cưu mang tôi hơn 30 năm, vui buồn khổ đau lẩn lộn. Và cũng vui mừng hớn hở nói lên mấy chữ “Vĩnh biệt nhà tù hình chữ S”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.