Người Đưa Tin

ongvove.wordpress.com

Từ Thức

Post 21 Dec 2020

Post by Sơn râu 13 Aug 2025

Có tiếng đàn bà cười trong nhà. Tiếng cười thanh và ngọt nước dừa Biên Hoà. Người lính trẻ đưa tay gõ nhẹ cánh cửa.

Người mở cửa là một thiếu phụ với khuôn mặt rất tươi, vừa tắm xong, tóc còn ướt, đen bóng, những giọt nước mát trên cánh tay tròn như tiện, mát mẻ như một miếng dưa hấu đầu mùa.

Chị Toàn?

Dạ

Tôi ở đơn vị anh ấy

Thiếu phụ đưa tay ngang mày che nắng, bàn tay trắng với những ngón tay dài, thanh. Nàng nheo mắt đọc tên người lính trên túi áo.

A chú Điều. Nhà tôi nhắc tới chú hoài (1)

Người lính trẻ nghĩ người đàn bà đẹp hơn trong hình . Nàng mở cửa mời thiếu úy Điều vào. Căn phòng sạch sẽ, giản dị, thanh nhã. Hình Toàn trên tường, cặp môi dầy trễ xuống, cái trán dô, bướng bỉnh như một con dê đực.

Chu, chào chú đi con.

Thằng nhỏ bụ bẫm đứng yên, mở mắt thao láo nhìn khách. Đôi mắt to, cặp môi trễ xuống, cái trán cao, bướng bỉnh cuả một con dê đực con. Đó là Toàn thu nhỏ. Điều nói : “Giống bố như…” nhưng chủ nhà đã biến mất. Y vuốt tóc thằng bé, không biết phải thảo luận gì với một thằng nhóc năm, sáu tuổi.

Y lại gần cửa số hứng chút gió mát. Trời oi nồng, bao nhiêu mỡ trên người tan thành mồ hôi nhớp nháp. Trước nhà, khuôn vườn rộng vừa bằng một mảnh chiếu, rực rỡ màu sắc, với những chậu hoa tím, vàng, những trái ớt nồng nàn, mọng đỏ như môi một người đàn bà lẳng lơ. Buổi trưa lười biếng, uể oải. Nghe cả tiếng ruồi bay và tiếng xe cộ từ con lộ ngoài kia vọng vào.

Con hẻm rộng không đầy hai thước, trải xi măng. Một thằng nhãi đứng trên ban công căn nhà phía trước, thò đầu ra ngoài, chu miệng để một nước miếng chảy thòng xuống. Dòng nước chảy dài, vừa sắp rớt thì thằng nhỏ hút một cái đanh chút vào miệng, rồi lại cho chảy thòng xuống. Thằng nhỏ chơi cái trò kỳ cục áy một cách điêu luyện, nhưng vẫn chưa hài lòng. Nó để dòng nước miếng chảy dài thêm, hút không kịp. Giọt nước rớt đánh tẹt một cái, trúng đầu một con bé đang lúi húi nghịch mấy cái nút chai ở dưới đường. Thằng nhỏ trên lầu thụt đầu vào rất nhanh. Con bé phía dưới sờ đầu, ngửng lên ngơ ngác. Nó đưa tay ngửi, thoáng một vẻ ngạc nhiên, rồi lại lúi húi nghịch mấy cái vỏ chai.

Gã thiếu úy mỉm cười. Y có cảm tưởng đã nhìn thấy cảnh ấy ở đâu đó, như một đoạn phim câm, hình như Y đã sống cái giây phút vừa qua một lần ở nơi nào, một kiếp nào, ở một cuộc đời trước.

Người đàn bà trở lại, tay ôm mấy chai “33” và gói Pall Mall. Răng nàng trắng, đều hạt lựu, với chiếc răng khểnh ở góc trái.

Đúng gu chú chưa?

Chị tài thật.

Anh Toàn cho tôi biết cả. Anh ấy nói về chú suốt ngày. Điều Đỏ thế này, Điều Đỏ thế kia.

Điều Đỏ. Viên thiếu úy mỉm cười, pha một chút cảm động thấy nàng nhắc cái hỗn danh của mình một cách thân mật. Y cảm thấy ấm áp, như sống trong một gia đình, hạnh phúc mà y chưa bao giờ được hưởng.

Anh ấy cũng nói về chị suốt ngày. Nga thế này, Nga thế kia, chắc Nga đang làm cái này, đang làm cái nọ.

Chắc nói xấu dữ lắm.

Trái lại. Chị đánh đàn hay nhất thế giới. Chị làm cá hấp ngon nhất thế giới. Chị ngâm thơ nhất thế giơi. Chị đánh cờ…à không, cái môn đánh cờ tướng, chị chỉ xếp hạng nhì, người đứng đầu thế giới là… ông ấy.

Ông ấy chướng thật.

-Chúng tôi thân nhau mà chị. Ở trên ấy buồn, có cái gì, nói hết

Y tưởng như nghe giọng Toàn bên tai.

Toàn kể những ngày họ yêu nhau, về chiếc hôn đầu làm người con gái khóc, hạnh phúc tràn ngập buồng phổi. Về ngày cưới với Nga tươi mát trong áo dài xanh da trời, tíu tít tiếp mấy bà khách. Toàn đưa cho nàng một mẩu giấy, giữa lúc nàng đang nói chuyện với một bà dì : ” Nhớ em quá, vào trong bếp anh hôn một cái “. Nga nguýt chồng một cái có đuôi, vò vội mảnh giấy trong tay, tiếp tục trò chuyện. Toàn đưa mẩu giấy thứ hai . Nếu em không vào, anh làm ẩu ngay tại chỗ, trước mặt bàn dân thiên hạ. Đây không phải là một đe dọa suông . Nàng vội vàng xin lỗi khách, vào bếp. Toàn đóng cửa, lấy lưng chặn lại, hôn cô dâu, đến nghẹt thở. Nga đẩy Toàn ra, ngộp thở. Khiếp, như con quỉ Lụcifer. Toàn cười cùng cục như gà đẻ.

Nhiều người ghét Toàn vì cái cười gà đẻ. Nga thương nụ cười ấy, không hiểu vì sao.

Toàn kể cho y nghe ngày họ quen nhau trong “couvent ” ở Đà Lạt nơi Nga nội trú. Toàn lái xe vào, với người bạn cùng đơn vị. Nhiệm vụ của Toàn là thuyết phục ban giám đốc cho mượn trường để đơn vị Tòan tổ chức cây Mùa Xuân cho gia đình binh sĩ. Toàn đậu xe giữa sân vừa lúc Nga đi ra. Nga buột miệng hỏi:

Vous désirez, messieurs?

Nga không hiểu tại sao nàng nói tiếng Pháp. Bình thường ngay cả với bạn bè trong couvent, nàng không có thói quen nói tiếng Pháp. Toàn chúa ghét mấy em học trường Tây nói tiếng Tây giọng đầm, cứ làm như đầm thật trong khi ăn xoài chấm mắm ruốc như điên. Hồi còn là sinh viên, y đã từng nhảy lên, nhảy xuống, biểu tình gào thét, đòi đóng cửa ba cái trường Tây ở Sài Gòn . Mặc cảm con nhà nghèo. Toàn hỏi bạn:

Cô ấy nói gì vậy?

Cô ấy hỏi mấy ông muốn gì?

Mày cũng là Tây con, nói với cô ấy là mình muốn gặp xếp cô ấy, mượn cái trường này chơi.

Người bạn dịch lại câu nói bằng tiếng Pháp, mặt tỉnh bơ. Khi buột miệng Nga đã ngượng, suýt nữa xin lỗi, nhưng bản măt hai gã đàn ông làm nàng phát ghét. Nàng trả lời, giọng đầm tối đa.

Ici, y a pas de chef. C’est pas un camp militaire.

Người bạn :

Cô ấy nói ở đây không có ai là xếp. Đây không phải là trại linh.

Nói với cô ấy là mắt cô ấy rất đẹp.

Nàng nói : “merci” lạnh lùng.

Cái miệng cũng rất xinh.

Merci.

Tính nết cô ấy thì có hơi khó chịu. Nghĩa là rất khó chịu.

Nàng nhún vai. Toàn tiếp:

Nhưng nói với cô ấy là tao thích thế. Tao sẽ mời cô ấy tối nay. Tao chờ cô ấy ở nhà Thủy Tạ, bảy giờ. Nếu cô ấy có gan thì tới. Nếu sợ thì thôi. Có những người rất bạo ở trong bếp..

Bảy giờ kém mười lăm, Toàn đến nhà Thủy Tạ và thấy nàng đã ngồi đợi sẵn, áo dài xanh, dịu dàng như một làn mây. Nàng nói, bây giờ bằng tiếng Việt, mắt long lanh:

Tôi đến để cho ông hay chưa ai tán gái vô duyên như ông.. Sợ không ai nói, ông tưởng là ông có duyên lắm. Có hại cho ông sau này.

Toàn cười khùng khục như gà đẻ. Nàng mặc chiếc áo dài mới nguyên. Nàng trang điểm kín đáo, nhưng công phu. Nắng Đà Lạt tô hồng đôi má. Răng nàng trắng men sứ với cái răng khểnh ở góc trái. Từ giây phút đó với Toàn, những người không có răng khểnh không phải là đàn bà. Từ giây phút đó, với Toàn, những người không mang tên Nga không phải là đàn bà.

Hai người đi ăn. Toàn chi hết một nửa tháng lương. Trước khi chia tay, họ hôn nhau bên bờ hồ. Đó là lần đầu tiên Nga nằm trong tay một người đàn ông. Chân tay nàng run rẩy. Má nàng nóng bỏng, bao nhiêu máu dồn cả lên mặt.. Nàng không kiểm soát được tim nữa. Nó cuống cuồng lên, nhẩy lên, nhẩy xuống, rạo rực. Nga thấy người nhẹ tênh, muốn bay bổng. Nàng mềm ra, muốn tan thành nước. Đó là lần đầu tiên nàng trốn khỏi couvent buổi tối. Nga vốn là nữ sinh chăm và ngoan nhất trường, học trò cưng của mấy sơ. Chuyện tình duy nhất mà nàng sống là cuốn phim Vacances Romaines với Audrey Hepburn và Gregory Peck yêu nhau lãng mạn trong thành phố Rome lãng mạn mà nàng coi không biết bao nhiêu lần đến thuộc lòng, mỗi khi xuống phố vào những cuối tuần.

Tuần lễ sau, Toàn vào gặp ban giám đốc, khai là anh ruột Nga, xin phép cho nàng ra vì má đau nặng. Toàn lái xe Jeep, chạy một mạch ra khỏi thành phố. Tới bờ hồ dừng xe.

Mai anh đi trận. Anh muốn em trả lời câu hỏi này: Em có bằng lòng lấy anh không?

Làm sao trả lời. Em phải hỏi ý má.

-Đã đành. Em chỉ cần trả lời trên nguyên tắc. Em cứ suy nghĩ cho chín.. Nhưng phải trả lời trước khi anh chạy hết vòng hồ.

Chưa hết nửa vòng hồ, Nga đã suy nghĩ rất chín. Nàng chấp nhận trên nguyên tắc. Toàn mừng rỡ, rú ga, bấm còi tin tin loạn xạ, làm những người đi đường giật nẩy mình. Toàn khen:

Em sáng suốt và khôn ngoan.. Em xứng đáng là vợ anh

Toàn xem chỉ tay cho Nga, nói số nàng may lắm. Bằng cớ là có 15 triệu người đàn bà đến tuổi tìm chồng mà anh chọn em. Hãy tưởng tượng 15 triệu đàn bà, con gái lúc nhúc, anh đứng trên đài cao gieo cầu như ngày xưa người ta chọn vợ trong chuyện cổ, trái cầu rơi cái bộp trúng đầu em.

Toàn say sưa bàn chuyện tương lai. Rất chân thành, anh không giầu nhưng anh sẽ cho em tất cả những gì anh có. Tất cả những gì của anh bây giờ là của em. Đàn ông tán gái, người ta hứa loạn. Toàn hứa, nhưng giữ lời. Y cho nàng tất cả những gì y có. Những gì y có là mấy bộ quần áo dơ, mấy đôi vớ bốc mùi không giặt mà y cuốn tròn, nhét trong cái tủ lạnh hư.. Và những cuốn sổ nợ ở những quán nhậu y thường la cà với bạn bè.

Nga về couvent nằm thao thức không ngủ được. Hai giờ sáng, nàng đánh thức con bạn thân số một, báo tin sắp lấy chồng. Con nhỏ cằn nhằn : “Mày khùng rồi, Nga ơi. Để tao ngủ, mai tao đưa mày đi bác sĩ thần kinh.” Nga véo đùi nó, nó kêu “ái!” làm cả phòng ngủ nhổm dậy. Ba giờ sáng, nàng đánh thức con bạn thân số hai. Con bé mở tròn mắt : “mais c’est super!” Hai cô chuyện trò tới sáng. Nga kể từng chi tiết, thêm thắt đôi chút, nghiã là rất nhiều, cho nó giống chuyện tình thơ mộng Vacances Romaines. Nga dạy con bạn về tình yêu, về đàn ông, làm con nhỏ phục lăn, uống từng lời của người bạn từng trải. Nga đưa nó lên làm bạn số một. Con bạn bị véo đùi bị đánh tụt xuống hàng thứ hai, không thương tiếc.

XXX

Gã quân nhân trẻ uống một hơi cạn ly bia. Chất bia ngọt, đắng, mát thâm vào từng thớ thịt, sảng khoái, tỉnh táo.

Chắc chú về phép.? Người đàn bà hỏi.

Tôi, tôi…. Gã sĩ quan lúng túng. Vâng, vâng, ba ngày chị ạ.

Nga chợt kêu lên :

Chết, quên hỏi chú ăn cơm chưa. Cứ nói mãi những gì đâu đâu. Để làm cái gì mời chú.

Nàng nghĩ, hàng lông mày hơi nhíu lại. Một người đàn bà có duyên làm cái gì cũng có duyên, gã con trai vừa khám phá ra điều đó.

Hay để tôi làm món cá hấp ngon nhất thế giới mời chú.

Điều Đỏ cười, từ chối. Y không muốn người đàn bà mất công, đề nghị để y ra ăn phở ở đầu ngõ.

Thèm phở quá chị ạ. Chợp mắt là mơ đến phở.

Buổi trưa tiệm phở vắng khách. Những con ruồi nằm ngủ la liệt trên cái bàn rải ni lông dụi mắt thức dậy khi khách đến. Nga không ăn, nàng gọi một ly nươc cam Birreley’s. Gã sĩ quan nhìn những miếng thịt đỏ tươi, những cọng rau xanh rờn, ngửi mùi nước phở ngào ngạt. “Từ hai tháng nay chúng tôi ăn toàn đồ hộp với cơm sấy, trừ hôm nào vồ được một con ếch hay một chú gà rừng ”

Người đàn bà rót nước cam cho con, nhưng thằng nhỏ không uống, đòi la de như chú Điều. Hai tay bưng ly la de của Điều, nó nhắm nháp ngon lành, bọt bia trắng xóa hai bên mép

Anh Toàn anh ấy dạy nó đó. Thằng nhỏ hư cũng vì bố.

Anh Toàn. Anh Toàn. Người đàn ông vắng mặt lúc nào cũng hiện diện. Anh ta như ở đâu đó, bên cạnh. Anh ta ngồi lù lù ở đầu bàn. Cái gì cũng anh Toàn, anh Toàn.

Gã thiếu úy nhớ những đêm y và Toàn nằm trơ trụi trong một bìa rừng heo hút, mưa rơi rả rích bên ngoài. Toàn nói về vợ, mắt sáng lên, tươi cười, giọng y ấm, nồng nàn như một người con trai mới lớn, vừa biết yêu. Nga thế này, Nga thế kia.

Điều nằm nghe, sống vói mối tình đó. Y cảm thấy một cái gì êm đềm, một thứ tình cảm nhẹ, ấm áp đối với một người đàn bà y chưa gặp. Điều Đỏ tưởng tượng ra khuôn mặt Nga, giọng nói, nụ cười. Trong khi Toàn nói, y lơ đãng nghe, buông thả cho óc tưởng tượng bay bổng, mỉm cười một mình. Điều thấy Toàn với mình như có cùng một kỷ niệm về cùng một người đàn bà, như là chính y đã sống những kỷ niệm do Toàn gợi lại. Nhiều lần giữa tiếng súng nổ rên trời, đạn bay cheo chéo, gã thiếu úy đột nhiên lơ đãng nghĩ đến Nga. Những buổi tối nằm gối đầu trên ba lô, hay trên xác đồng đội, y nhìn bâng quơ bầu trời rộng, mơ một mái nhà ấm cúng, một bàn tay đàn bà dịu dàng, một mớ tóc dài, một hơi thở phụ nữ. Y nằm nghe Toàn đọc thư vợ với cái cảm tưởng là những lời yêu đương, những câu giận hờn đó gửi cho mình.

XXX

Gã thiếu úy vào đời sớm, đi lính sớm, không có thì giờ tìm được một người yêu. Kiểm điểm cuộc đời tình ái của mình, y thấy nghèo nàn, tội nghiệp. Không có gì để nhớ , để quên.Chưa một lần biết đến đôi môi con gái con nhà lành. Chưa một lần hò hẹn nào khác hơn là hò hẹn với cái chết. Chưa một lần đụng chạm da thịt đàn bà mà không phải trả tiền.

Kỷ niệm yêu thương duy nhất có lẽ là một lần y gặp người đàn bà trong một rạp hát, cách đây rất lâu. Năm sáu năm gì đó. Y còn là một gã học sinh đệ nhất, trọ học, sống thui thủi một mình, ăn lủi thủi một mình, vui buồn lủi thủi một mình, trong cái thành phố xa lạ dửng dưng.

Người đàn bà ngồi cạnh y trong rạp hát. Mới đầu y thấy có cái gì ngứa nơi cổ. Y quay sang và bắt gặp mái tóc thơm phảng phất mùi nước hoa, quyện với mùi đàn bà. Hàng ghế trươc một khán giả cao lớn lù lù ngồi án ngữ, người đàn bà nghiêng đầu sang phía y. Gã học trò trong bóng tối thấy hai con mắt long lanh, mở thật lớn, ngạc nhiên, buồn rầu, tươi cười theo những hình ảnh của cuốn phim. Y chỉ thấy thoáng con mắt đen ướt như hạt nhãn. Cánh tay người đàn bà dựa trên thành ghế song song với cánh tay gã học trò. Má nàng có lúc áp vào má y khiến gã rạo rực.

Sau một hồi tần ngần, y thu hết can đẩm, đặt bàn tay mình lên tay nàng. Nàng không quay lại, không bày tỏ một thái độ nào. Tim gã con trai đập rầm râm, màng tai rùng bùng. Y đắm mình trong một thứ nôn nao khó tả. Như vậy khá lâu. Y không biết là mấy phút hay mấy năm. Cuối cùng y bóp chặt bàn tay nàng kéo về phía mình. Người đàn bà gỡ nhẹ tay ra, vẫn không nhìn y:

Bỏ ra, tôi có chồng.

Giọng nói sang và ấm, dịu dàng như giọng một người tình, uy quyền như một người chị. Như một cái lệnh. Người đàn bà đứng dậy đi ra. Gã học trò ngồi bần thần. Lúc tỉnh hồn, gã đứng dậy đi theo.. Hơi nắng trưa hè phả vào mặt hừng hực.

Gã con trai đảo mắt tìm kiếm, thấy nhiều con mắt đàn bà, nhưng không sao nhận ra đôi măt hồi nãy. Y cũng không hình dung được khuôn mặt người đàn bà, ngoài đôi mắt đen laý hạt nhãn. Nhiều năm sau gã con trai vẫn nhớ như mới hôm qua, đôi mắt đen và giọng nói vừa ngọt vưà uy quyền. Bỏ ra, tôi có chồng. Nhiều lúc nhìn hình Nga, y có cảm tưởng đôi mắt Nga hình như chính là đôi mắt trong rạp hát, long lanh, đen ướt. Những lần về thành phố hắn thường ghé qua rạp hát, tần ngần đứng ở cửa chờ đợi, bâng quơ.

XXX

Thiếu úy cho mượn lọ tiêu.

Gã lính giật mình, đẩy lọ tiêu sang bàn bên cạnh cho người khách mới vào. Y nói :

Xin lỗi chị. Tôi ăn uống nhồm nhoàm, quên cả chị. Toàn vẫn la tôi về cái tật đó.

Anh Toàn có nhắn gì tôi không chú?

Anh Toàn, anh Toàn…

Gã nhà binh lúng túng. Tay gã cầm cái thìa run run. Anh Toàn…Anh Toàn… Gã tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngạo. Nga tiếp, không để ý :

Tôi cũng mới nhận được thư anh ấy. Anh ấy nói hồi này trên ấy yên, ít phải hành quân. Các anh chỉ có việc dánh bài và câu cá.

Gã con trai mỉm cười, vẫn chưa hết lúng túng.

Vâng, đánh bài suốt ngày

Và chú luôn luôn thắng

Vì vậy tụi hắn gọi tôi là Điều Đỏ. Có lẽ vì tôi lận đận về đường tình ái, chị ạ

Người đàn bà nói:

Cũng sắp yên rồi chú nhỉ. Thấy họ nói sắp ký kết ở Paris. Liệu có hòa bình không chú?

Tụi tôi biết gì, chị. Suốt đời nằm trong rừng. Cũng chỉ mong cho yên thôi.

Thấy báo nói Nixon sắp sang Tàu. Họ gặp nhau chăc mình yên chú nhỉ

Điều không trả lời. Y chưa suy nghĩ Nixon sang Tầu bắt tay Mao cuộc đời y sẽ trôi về đâu. Sinh mạng của hàng triệu ngưòi tùy thuộc cái bắt tay của hai anh ngoại quốc ngàn dặm. Nàng tiếp:

Hết đánh nhau, thích quá chú nhỉ. Mỗi lần có đụng độ ở trên ấy, lo thắt ruột chú ạ. Nhiều khi bặt tin, mất ăn, mất ngủ cả tháng. Lúc nhận được thư , lại khóc dàn dụa. Thằng nhỏ thấy mẹ khóc, cũng khóc theo. Hai mẹ con thi nhau khóc, vui lắm chú ạ.

Gã con trai thấy nhói tim. Gã tránh nhìn vào mắt người thiếu phụ. và khóe miệng có duyên của nàng. Hắn tránh nhìn thằng nhỏ đang cầm cái thìa đập leng keng vào chai bia. Một cảm giác ớn lạnh lướt trên sống lưng như khi bị cơn sốt rét hành. Y bóp cái ly như muốn bóp vỡ chất thủy tinh trong suốt.

Hòa bình chú tính làm gì?

Cũng chưa biết làm gì, chị ạ. Chưa bao giờ tụi tôi nghĩ đến điều đó. Suốt ngày cứ lúi húi đánh nhau hoài, chưa bao giờ đặt câu hỏi nếu yên thì làm gì. Toàn…

Gã con trai ngưng lại, lúng túng như một con kiến luẩn uẩn tìm cách ra khỏi vòng nước. Nga cười:

Chắc anh Toàn lại rủ chú về chăn nuôi ở Biên Hòa, phải không? Anh ấy mê chăn nuôi lăm. Tụi tôi có một mảnh đất dưới đó. Anh Toàn nói bao giờ yên, rủ chú về làm trại gà, trại heo. Anh ấy nói bao nhiêu vốn bỏ ra làm trại hết, còn chú đi đánh bạc kiếm ăn mỗi ngày

Gã lính trẻ cười khô.

Anh ấy nói làm một cái nhà tranh rộng như một cái đình. Chung quanh trồng cây ăn trái, ổi, soài, sầu riêng. Đằng sau đào ao thả cá. Chủ nhật lôi bạn bè về câu cá, hấp, nhậu chơi

Một ngôi nhà lá. Một cái ao cá. Những ngày cuối tuần với tiếng cười đùa của bạn bè . Hạnh phúc, người lính nghĩ, mẹ kiếp, sao nó đơn giản, như chỉ việc đưa tay ra với.

Người lính không nói gì, thẫn thờ. Con kiến luẩn quẩn, luẩn quẩn trong cái vòng nước.. Y nói :

Để tôi trả tiền, mình về. Nga nói đâu được, tôi mời chú mà.

Con đường lỗ chỗ những ổ gà đầy ắp nước vì cơn mưa chiều hôm trước. Ba người vừa đi vừa né tránh những chiếc Honda phóng bạt ngang, bùn đỏ bắn tung tóe. Tới một vũng nước, Điều xốc ngang thằng nhỏ, đặt qua bên kia. Thằng nhỏ vũng vẫy không chịu “Buông cháu ra. Buông cháu ra”. Khi đặt chân xuống đất, nó mon men trở sang phía bên kia, lấy đà nhảy qua vũng nước, hất hàm nhìn Điều:”Cháu nhảy được mà”

Gã quân nhân cười xoa đầu con dê đực con :

Nhất cháu rồi.

Nga nói, giọng pha một chút hãnh diện:

-Bướng lắm. Tính nết y như bố. Muốn cái gì là phải làm cho bằng được.

Có tiếng sáo diều vi vu từ đâu vọng về. Thằng nhỏ đưa tay che nắng, nhìn lên trời.

-Diều của cháu lớn hơn nhiều. Lớn nhất thế giới

-Kỳ trước anh ấy về- Nga giải thích- hai bố con lúi húi làm diều suốt ngày chủ nhật. Ông bố khoe với con là diều của mình lớn nhất nước. Đem lên Phú Lâm thả, gặp ngay một ông có cái diều lớn gấp hai. Hai bố con lủi thủi về. Ông ấy long trọng hứa với con là kỳ sau về, sẽ làm một cây diều lớn nhất thế giới.

Gã lính đốt điếu thuốc, hút, cay ở môi và đôi mắt. Trước cửa nhà Nga, một chiếc xe Jeep đầy bùn đậu chờ. Một người lính già hom hem ngồi ngủ gà ngủ gật trước tay lái, miệng còn ngậm một điếu thuốc cháy dở. Nga nói : chết, không mời bác đi ăn phở. Người lính già nói tôi cũng phải về thăm gia đình một chút, thưa bà. Cả năm chưa thấy mặt vợ con. Gã thiếu úy mỉm cười, nghĩ tới câu nói hồi sáng của người lính tài xế. Thiếu úy cho phép tôi ghé qua nhà, trả bài. Vợ nó chờ. Y trả lời đồng ý, cái gì chứ bài vở thì phải chu đáo.

Chiếc xe Jeep say rượu chạy ngất ngưởng trên những ổ gà. Người lính già gợi chuyện:

-Bà đại úy đẹp quá hả thiếu úy. Mà sao không thấy bả có vẻ buồn.

-Điều đỏ nói nhỏ, như giáo dân xưng tội:

Tôi chưa báo tin cho bả. Tôi không đủ can đảm.

Người lính già quay nhìn người lính trẻ, thở dài. Điều Đỏ nhìn ra ngoài, không thấy những ngôi nhà, những bụi cây chạy lùi lại hai bên đường. Y nói , không biết nói với người bên cạnh, hay hứa với chính mình: Ngày mai mình trở lại, anh Thìn ạ. Mình còn hai ngày phép.

Từ Thức (Paris, một ngày mùa đông)

(1) Chuyện xẩy ra ở miền Nam, trước 75

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son râu 13 Aug 2025

7. Quỳnh Giao

Trong số các ca sĩ của chúng ta, nổi tiếng ở trong nước từ trước 1975, ra khỏi nước sau 1975, vẫn còn tiếp tục hát, có lẽ Quỳnh Giao là người ít tuổi nhất. Nhưng, trong buổi trình diễn chung mới đây, nhân dịp kỷ niệm 50 năm hát của Mai Hương, trước số khán giả đông nghẹt hội trường của nhật báo Người Việt, Kim Tước đã nói một câu hài hước rằng, ban hợp ca “Tiếng Tơ Đồng” của họ, (gồm Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao), nay có thể gọi là ban “Tiếng Tơ Bạc” được rồi. Điều ấy, cũng có nghĩa là cái người ít tuổi nhất kia giờ cũng không còn trẻ nữa.

Song phải thấy Quỳnh Giao đứng trên sân khấu, nói chuyện, ứng phó với khán giả, với thái độ chững chạc – mới thấy “tuổi tác” có cái đẹp riêng. Chẳng hạn khi xuất hiện trong một tiết mục [sau] – bận một bộ đồ mới, màu vàng điểm hoa hơi sặc sỡ với một chiếc khăn cùng màu “rất điệu” vắt ngang trên tóc, khán giả cười ồ. Quỳnh Giao đã quay xuống hỏi: “Có phải quý vị cười vì Quỳnh Giao thay áo không”. Thay áo? Thật khéo. Câu nói đã lấy được hết cảm tình của khán giả. Tự nhiên người ta quên cả cách ăn mặc chỉ trước đó vài phút có thể người ta cho là hơi “sí soọng”giờ lại thấy nó có vẻ gì đó duyên dáng!

Có những tiếng hát, nghe rồi, khi gặp người hát, người ta có cảm tưởng, giữa người hát và tiếng hát, có một cái gì đó sai lạc. Tiếng hát Quỳnh Giao hợp nhất với khuôn mặt và cả vóc dáng người hát. Nghe và xem Quỳnh Giao hát, người ta có thể thấy ngay rằng, người như thế ắt tiếng hát phải như thế. Mong manh. Trong sáng. Dịu dàng. Có người cho rằng giọng hát Quỳnh Giao hơi mỏng. Đó là điều người ta có thể thích hay không thích. Nhưng cái vẻ sang trọng và kỹ thuật điêu luyện của tiếng hát thì không ai có thể phủ nhận được. Hai CD sau cùng vừa hoàn tất của Quỳnh Giao “Trở Về Thôn Cũ” và “Tình Khúc Phạm Duy” ghi dấu sự đổi thay thật sự của giọng hát Quỳnh Giao. Như trái đã đủ chín, rượu đã đủ nồng.

Không phải chỉ vì ảnh hưởng của thời gian mà còn do những đổi thay, vui buồn của cuộc sống làm nên nữa. Tiếng hát khoan thai hơn, dịu dàng hơn.

Người ta càng thấy rõ cái vẻ mỏng manh của giọng hát Quỳnh Giao vừa là khuyết điểm vừa là ưu điểm. Nó không chuyên chở được những đam mê bốc cháy, nhưng lại làm cho người ta hiểu được cái đẹp, cái mong manh của đời sống.

Buổi trình diễn kỷ niệm 50 năm hát của Mai Hương có sự tham dự của Quỳnh Giao và Kim Tước, người ta ghi nhận hiện tượng này: thính giả của họ là những thính giả đặc biệt, dù đông đảo như thế, nhưng hình như không có một người nào dưới 40 tuổi. Nhiều nhất vẫn là những người ở quanh tuổi với người hát. Thật cảm động khi thấy quanh những hàng ghế khán giả, giữa những mái đầu hoa râm và cả bạc trắng nữa, luôn có những tiếng lẩm nhẩm hát theo ca sĩ. Họ thuộc gần hết các bài ca sĩ hát. Ca sĩ hát sai cho dù chỉ một từ trong phần lời ca chắc chắn đủ gây cho họ sự khó chịu. Họ đến đấy không phải chỉ để nghe hát mà còn muốn chia sẻ với người hát và cả tác giả nữa cái hay, cái đẹp của tác phẩm, những tang thương biến đổi của lịch sử, vì những tác phẩm ấy đã nằm sâu trong lòng họ, nhắc lại với nhau một quá khứ chung đã mất và những ngày còn lại. Họ đến đấy để gặp lại nhau và cả để biệt nhau nữa. Như người xưa tới thăm hoa và biệt hoa vì hiểu rằng “thất thập tam nhân nan tái đáo”, một người đã 73 tuổi khó còn có lần trở lại Người hát, người nghe và một số tác giả, đã cùng tạo ra một thế giới riêng, có thể như thế. Đối với tuổi trẻ, cái thế giới đó đã khô cạn, người đã chết, cảnh đã thay đổi, đã biến mất, tình cảm xa lạ, không có gì hấp dẫn và dính dấp với họ, họ nhập vào đấy để làm gì? Đó là một thực tế. Chấp nhận thực tế ấy là chấp nhận một sự đứt rời với quá khứ. Nhưng nếu các tác phẩm ấy rồi vẫn sẽ còn tồn tại, như nó từng tồn tại, và “người sau” có lúc chợt thắc mắc tự hỏi không biết “người xưa lưu luyến ra sao nhỉ”, họ có thể tìm và nghe lại Quỳnh Giao, để hiểu điều đó, và để biết người đồng thời yêu và trình diễn những tác phẩm ấy thế nào. Vì, Quỳnh Giao là một trong những người đáng tin cậy đấy.

Quỳnh Giao

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 13 Aug 2025

6. Ngọc Lan

Chúng ta mới mất đi một giọng hát quý, hiếm, đó là nữ ca sĩ Ngọc Lan. Ngọc Lan mất ở tuổi 44. Còn quá trẻ.

Nhiều khi chúng ta giật mình vì nhận ra, hình như chúng ta đã sống quá thờ ơ, đối với những việc, những người chung quanh. Chỉ khi một biến cố nào đó xẩy ra, chúng ta mới kịp nhận ra như thế. Nhất là khi cái biến cố, cái sự việc xẩy ra ấy, lại là điều không thể sửa chữa được nữa – cái chết chẳng hạn – chúng ta mới bàng hoàng ý thức về sự vô tình của mình.

Cái chết của nữ ca sĩ Ngọc Lan vừa đây đánh thức trong chúng ta cái tình cảm như vậy. Vâng, đôi khi chúng ta quan niệm tình thân, chỉ coi như

người thân, những ai có liên hệ trực tiếp với mình, nói một cách ngắn gọn, những người trong gia đình, họ hàng, bạn bè. Song quan hệ xã hội không chỉ thu gọn có vậy. Có những người chúng ta không gặp mặt bao giờ, nhưng đã đóng góp rất nhiều vào sự làm cho tâm hồn chúng ta trở nên đẹp hơn, giầu có hơn. chẳng hạn. Gần gũi hơn nữa là những ca sĩ. Rõ rệt nhất là những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ.  Đúng như vậy. Đã có bao nhiêu lần trong đời, chúng ta cảm thấy rung động đến tận đáy lòng vì những tiếng hát, nhờ những tiếng hát. Người ta cũng có thể cảm thấy yêu nhau hơn, nhờ một ca khúc, nhờ một tiếng hát.

Một trong những tiếng hát có cái khả năng màu nhiệm ấy là tiếng hát Ngọc Lan. Chúng tôi gọi tiếng hát Ngọc Lan là quý hiếm vì, trong tiếng hát của cô, có một sự thiết tha, khiến người nghe không thể dửng dưng. Nỗi thiết tha với bài hát, với những điều mình hát và cả sự thiết tha muốn được hát nữa. Có thể ví giọng hát của Ngọc Lan như một dòng nước, một dòng suối, Ngọc Lan thả tiếng hát, thả lời ca, như những bông hoa trôi trên dòng nước ấy. Trong đó có một nỗi buồn, khi mọi sự trôi qua, sẽ không còn gì nữa.

Trong tiếng hát Ngọc Lan, người nghe có thể dễ dàng nhận ra diều này: Ngọc Lan hát một cách thiết tha bất cứ bài nào cô đã chọn để hát vì thế, tự tiếng hát lại toát ra sự thiết tha muốn hát.

Hình như trong tiếng hát của Ngọc Lan có một sự lo sợ, cái lo sợ của những kẻ tình nhân, mà một thi sĩ của chúng ta đã có lần nói tới: ‘Còn ôm nhau trong tay mà đã nhớ nhau ngày sắp tới. Đó là cái lo sợ của những kẻ đam mê. Mau lên chứ vội vàng lên với chứ. Kẻ đam mê nào cũng luôn mang trong lòng nỗi âu lo mình bỏ lỡ đời sống, bỏ lỡ cơ hội sống. Chúng ta không biết rõ đời sống của Ngọc Lan ra sao. Nên chỉ nghe ra trong tiếng hát của Ngọc Lan nỗi khát khao được hát.

Kẻ đam mê nào cũng mang sẵn trong người một nỗi tuyệt vọng. Bởi vì đó là những người lúc nào cũng muốn sống gấp đôi đời mình, một điều không thể thực hiện được. Nhưng cái bất khả ấy, tự nó, lại là một điều quyến rũ.

Ai trong chúng ta lại chẳng có lúc thấy mình cũng nuôi cái ước muốn ấy? Chỉ kín đáo hơn thôi, ngắn hạn hơn thôi. Và tất cả những điều vừa thuận lý vừa nghịch lý ấy, làm thành cái nỗi buồn có sẵn trong đời sống. Dù lòng không sao cả, đôi khi chúng ta vẫn cứ cảm thấy cái buồn len lỏi dọc theo những ngày tháng. Cái buồn ấy người ta cũng nghe thấy trong tiếng hát của Ngọc Lan. Sự thờ ơ trong cách sống của mình, sau cùng, cho chúng ta hiểu rằng, chẳng phải chúng ta thờ ơ với người này hay người khác, mà chúng ta đã thờ ơ đối với chính cuộc sống của mình. Mất đi một bài thơ, mất đi một bản nhạc, mất đi một tiếng hát, đối với chúng ta, có nhiều khi cũng chẳng khác thiếu đi một vì sao trên trời. Đối với những người bình thường như chúng ta, thiếu đi một vì sao trên bầu trời gần như chẳng có nghĩa gì cả.

Nhưng đối với một nhà thiên văn thì đó có thể lại là dấu hiệu đổi thay của cả vũ trụ.

Ngọc Lan

Chuyện gác, chấm thi tú tài trước 75

Posted by seashelloc 2 May 2021 

Lâm Vĩnh Thế

Post by Sơn râu 12 Aug 2025

Lều chõng thời xưa

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Sử Địa, vào năm 1963, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về phục vụ tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre). Thời gian dạy học của tôi tại Trường Kiến Hòa tương đối ngắn ngủi, chỉ có 3 năm (1963-1966), nhưng chính trong thời gian ngắn ngủi này tôi đã có được cơ hội đi làm Giám Thị (coi thi) và Giám Khảo (chấm thi) các kỳ thi Tú Tài (I và II) trong 3 mùa hè của các năm 1964, 1965 và 1966.

Vào thời gian này, tại phía cực Nam lãnh thổ của Viêt Nam Cộng Hòa, tức là vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Giáo Dục chỉ tổ chức các Hội Ðồng Giám Thị coi thi Tú Tài I và II tại Mỹ Tho và Cần Thơ mà thôi. Hội Ðồng Giám Khảo chấm thi thì chỉ tổ chức tại Sài Gòn; tất cả các bài thi từ Mỹ Tho và Cần Thơ đều được mang về chấm tại Sài Gòn. Ðịa điểm của các Hội Ðồng Giám Khảo luôn luôn được đặt tại các trường trung học công lập lớn của Sài Gòn là các trường Petrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương.

Chuyện Gác Thi

Trước ngày thi độ một tuần lễ, anh chị em giáo sư chúng tôi nhận được Sư Vụ Lệnh và Lộ Trình Thư của Nha Trung Học cử đi làm Giám Thị và Giám Khảo tại các hội đồng thi. Việc di chuyển đến các địa điểm của các hội đồng thi hoàn toàn tự túc. Khi đến nơi thì chúng tôi vào trình cho thư ký của Hội Đồng Thi các giấy tờ nói trên để được đóng dấu xác nhận đã trình diện. Vì Mỹ Tho rất gần Sài Gòn, buổi chiều, sau khi coi thi xong, chúng tôi có thể trở về Sài gòn (hay Kiến Hòa) dễ dàng nên chuyện ngủ lại ban đêm tại Mỹ Tho không đặt thành vấn đề. Nhưng Cần Thơ thì xa, và đường đi thì phải qua 2 cái bắc (gốc từ chữ Pháp là “bac = phà”; chữ phà thường chỉ dùng trong ngôn ngữ viết, trong ngôn ngữ nói, người Miền Nam luôn luôn dùng chữ “bắc”) Mỹ Thuận và Cần Thơ nên Hội Đồng Thi thường tổ chức chổ ngủ cho các nam Giám Thị ngay tại Trường Nam Trung Học Phan Thanh Giản, và các nữ Giám Thị tại Trường Nữ Trung Học Ðoàn Thị Ðiểm. Chuyện ăn uống thì các giám thị phải hoàn toàn tự túc. Sau khi kỳ thi kết thúc, trở về trường, anh chị em giáo sư chúng tôi sẽ nộp lại các tờ Sự Vụ Lệnh và Lộ Trình Thư để nhà trường làm thủ tục với Nha Trung Học và, sau một thời gian, chúng tôi sẽ lãnh được tiền trợ cấp cho suốt thời gian coi và chấm thi đó. Nếu tôi nhớ không lầm thì phụ cấp đó được gọi là Phụ Cấp Vãng Phản và số tiền trợ cấp là 250 đồng / một ngày, một số tiền khá lớn, cao hơn chi phí mà anh chị em giáo sư chúng tôi phải chi ra trước khá nhiều, nên có thể coi như là một dạng “bonus.”

Những dịp đi coi thi như vậy đem lại cho chúng tôi nhiều niềm vui. Trước hết là niềm vui được đi viếng thăm Mỹ Tho và nhứt là Cần Thơ vốn nổi tiếng là Tây đô. Trong nữa đầu của thập niên 1960, các kỳ thi Tú Tài luôn luôn gồm 2 phần: phần thi viết và phần thi vấn đáp (phần vấn đáp sẽ bị loại bỏ hẳn từ năm 1968). Phần thi viết chỉ gồm các môn học chánh của từng Ban, còn phần vấn đáp thì gồm tất cả các môn đã học trong suốt niên khóa. Thí dụ: Thi Tú Tài I Ban A, phần thi viết sẽ gồm: 1 bài Luận Văn (cho môn Việt Văn), 1 bài Toán, 1 bài Lý Hóa, và 1 bài Vạn Vật; phần thi vấn đáp thì ngoài 4 môn chánh vừa kể sẽ có thêm các môn Pháp Văn, Anh Văn, và Sử địa. Kỳ thi viết thường được tổ chức trãi dài trong 2 tuần lễ: bắt đầu vào một ngày Thứ Năm trong tuần và kết thúc vào vào một ngày Thứ Ba của tuần lễ kế tiếp. Lý do có thể là để cho thí sinh không bị quá căng thẳng trong 4 ngày thi liên tiếp trong một tuần. Vì vậy anh chị em giáo sư chúng tôi đi coi thi được nghĩ xã hơi trong một cuối tuần trong thời gian thi. Chúng tôi nhân cơ hội đó đi thăm viếng các danh lam thằng cảnh trong thành phố hay các vùng phụ cận. Tôi còn nhớ có một năm đi coi thi ở Cần Thơ, tôi và một vài người bạn đã đi thăm Long Xuyên trong thời gian nghĩ này. Nhờ vậy, tôi được biết thêm 1 bến phà nữa là bắc Vàm Cống.

Nói đến các bến bắc ở Miền Tây thì không thể quên được bắc Mỹ Thuận trong đoạn Quốc Lộ 4 giữa Mỹ Tho và Vĩnh Long. Bến bắc Mỹ Thuận được xây dựng vào khoảng năm 1910, với 2 bờ Bắc và Nam cách nhau khoảng 1 km.[1] Ðây là bến bắc quan trọng nhứt ở Miền Tây với một số lượng xe cộ qua lại hàng ngày rất lớn.

Bắc Mỹ Thuận và các quầy bán trái cây. (thân tri tổng hợp)

Hai bên bờ của bến phà, hàng quán rất nhiều, bán đủ các loại đặc sản của Miền Tây: trái cây (ổi xá lị, xoài voi, mảng cầu…), ốc gạo, chim (ốc cao, vỏ vẻ, chàng nghịt…), chuột đồng, vv. Trong các quán cơm, du khách có thể ăn cơm dĩa (thịt sườn nướng, tôm càng kho tàu, vv.), hay cơm bửa với cá kho tộ, canh chua cá bông lau, vv.

Việc kẹt xe ở bến phà Mỹ Thuận xảy ra khá thường. Có một lần tôi tận mắt chứng kiến. Ðó là Hè năm 1965, khi tôi đi coi thi ở Cần Thơ. Còn cách bến phà Mỹ Thuận độ gần 5 km thì cả đoàn xe đã bị kẹt cứng lại. Lý do: một đoàn quân xa mấy trăm chiếc đang được ưu tiên qua phà, tất cả xe cộ đều phải đậu lại chờ. Nghe nói hình như hôm đó cả một trung đoàn của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh được lệnh đi hành quân. Những ngày như vậy bà con hai bên bờ bến phà làm ăn rất khá. Ngày nay với hai cầu Mỹ Thuận và Cần Thơ đã xây xong và đưa vào sử dụng, bến phà không còn nữa, những chuyện này đã thuộc về dĩ vãng.

Ðối với các anh em nam giáo sư trẻ tuổi còn độc thân, đi gác thi Tú Tài còn có một niềm vui khác nữa. Ðó là cơ hội gặp gỡ, làm quen, tìm hiểu một bạn gái và có thể tiến đến chuyện lập gia đình. Cơ hội này có được là do việc sắp xếp tổ chức các Hội Ðồng Giám Thị các kỳ thi Tú Tài ấn định bởi các cơ quan có trách nhiệm của Bộ Giáo Dục. Ban Chỉ Huy của Hội Ðồng bao giờ cũng gồm có ba người: một Chánh Chủ Khảo, một Phó Chủ Khảo và một Thư Ký, tất cả đều là Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp với hai vị Chánh và Phó Chủ Khảo thường là những giáo sư đã có nhiều năm thâm niên công vụ, đã hoặc đang đãm nhận các chức vụ Hiệu Trưởng hay Giám Học tại các trường trung học đệ nhị cấp. Bên dưới Ban Chỉ Huy là các vị Giám Thị sẽ phụ trách các phòng thi. Mỗi phòng thi luôn luôn có hai Giám Thị, một người là Giám Thị 1 là Trưởng Phòng, và một người là Giám Thị 2 phụ tá cho vị Trưởng Phòng. Giám Thị 1 luôn luôn là 1 Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp, và Giám Thị 2 luôn luôn là 1 Giáo Viên Tiểu Học tại địa phương, và thường là một nữ giáo viên. Thật sự đã có một số trường hợp tiến đến hôn nhân hạnh phúc, và bản thân tôi thì biết khá rõ một trường hợp cụ thể của một bạn giáo sư đồng nghiệp cùng phục vụ tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa.

Trong ngày thi, trước giờ thi khoảng một giờ, địa điểm thi (thường là các trường trung hay tiểu học tại địa phương) sẽ mở cửa để các thí sinh vào tìm phòng để ngồi vào bàn theo đúng số báo danh của mình, được viết bằng phấn trắng ngay trên bàn. Việc sắp xếp phòng thi đã được Ban Chỉ Huy của Hội Ðồng Thi thực hiện vào ngày hôm trước. Nếu phòng học chỉ gồm những bàn nhỏ thì mỗi thí sinh ngồi một bàn; nếu phòng gồm các bàn lớn thì có thể xếp hai thí sinh một bàn, mỗi thí sinh ngồi một đầu bàn để họ không thể nhìn bài của nhau. Các Giám Thị phải có mặt tại phòng Hội Ðồng khoảng một giờ trước giờ thi để nghe các chỉ thị của vị Chánh Chủ Khảo về việc coi thi và để biết mình sẽ phụ trách phòng thi nào. Giám Thị 1 của từng phòng thi sẽ phụ trách mang tất cả các giấy tờ liên quan về phòng thi: danh sách thí sinh sắp xếp theo số báo danh, và giấy thi để thí sinh làm bài thi. Các Giám Thị sẽ đi kiểm soát giấy tờ tùy thân và giấy báo danh của từng thí sinh, sau đó họ sẽ ký tên vào giấy thi trước khi phân phát cho các thí sinh. Ðề thi đựng trong phong bì dán kín sẽ được vị Thư Ký của Hội Ðồng Thi mang đến giao tận tay cho vị Giám Thị 1 tại từng phòng thi độ 5 hay 10 phút trước khi giờ thi bắt đầu. Giờ thi sẽ được báo bằng tiếng trống, hay tiếng kẻng, hay chuông điện (tùy địa điểm). Giám Thị 1 sẽ xé phong bì để lấy đề thi ra và hai vị giám thị sẽ chia nhau phát đề thi cho các thí sinh. Kỳ thi thực sự bắt đầu.

Nhiệm vụ chính yếu của các vị giám thị phòng thi là kiểm soát việc làm bài thi của các thí sinh trong phòng mình phụ trách, không để thí sinh “đánh phép.” Nếu theo đúng nguyên tắc của Bộ Giáo Dục đề ra thì khi bắt được thí sinh sử dụng tài liệu trong lúc làm bài thi các Giám Thị phải tịch thu giấy làm bài thi, các tài liệu, và lập biên bản, Chánh Chủ Khảo sẽ ký biên bản và trình về cho Bộ. Thí sinh đương nhiên sẽ bị đánh rớt trong kỳ thi đó, và sẽ bị cấm thi một thời gian sau đó (có thể 1 hoặc 2 năm). Bản thân tôi cũng có một vài kinh nghiệm về việc bắt thí sinh gian lận trong các kỳ thi Tú Tài như sau.

Chuyện thứ nhứt xảy ra vào Hè năm 1964, trong kỳ thi Tú Tài I Ban A, Khóa I, địa điểm thi là Trường Nam Tiểu Học tại Mỹ Tho khi tôi bắt được một nam thí sinh ngồi tại một bàn ở cuối phòng đánh phép. Tôi không lập biên bản, chỉ tịch thu tài liệu, xé bỏ tờ giấy thi đang làm và phát cho thí sinh đó một tờ giấy thi mới. Kỳ thi qua đi và tôi cũng quên đi việc này cho đến khi hết hè, trở về trường trong năm học mới 1964-1965. Một hôm, vào khoảng cuối tháng 10, tôi đi ăn trưa trong chợ Kiến Hòa cùng với mấy người bạn dạy chung trường (lúc đó bà xã tôi đã về Sài Gòn ở bên ba mẹ vợ tôi để chờ sanh đứa con đầu lòng của chúng tôi), tôi mới được biết thí sinh bị tôi bắt đánh phép trong kỳ thi vừa qua chính là một đồng nghiệp của chúng tôi tại trường Kiến Hòa. Ðó là anh C., một Giáo Học Bổ Túc (GHBT) đang cùng dạy tại Trường Kiến Hòa. Xin mở một dấu ngoặc nhỏ ở đây để nói về ngạch Giáo Học Bổ Túc rất đặc biệt này. Những người có bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp của chương trình Việt hay bằng Diplôme, Brevet của chương trình Pháp, đã đậu kỳ thi tuyển vào Trường Quốc Gia Sư Phạm (QGSP), theo học tại trường 3 năm, thi đậu ra trường sẽ được bổ vào ngạch GHBT này. Một số khá đông các anh chị em GHBT, trong thời gian 3 năm theo học tại Trường QGSP, đã cố gắng tự học thêm và thi đậu được bằng Tú Tài I hoặc cả bằng Tú Tài II. Trên nguyên tắc, GHBT là một giáo viên tiểu học nên đương nhiên, khi ra trường, sẽ được bổ vể dạy tại các trường tiểu học. Tuy nhiên, vì tình trạng thiếu giáo sư trầm trọng tại các trường trung học trong giai đoạn đầu thập niên 1960, một số GHBT đã được bổ nhiệm về một số trường trung học và được nhà trường phân công cho dạy các lớp đệ thất hay đệ lục. Sau một thời gian, các anh chị em GHBT có bằng Tú Tài II có thể xin cải ngạch và chuyển sang ngạch Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhứt Cấp. Sau đó, một số các anh chị em này lại cố gắng học thêm và đậu được bằng Cử Nhân, thường là Văn Khoa hay Luật Khoa, và lại xin cải ngạch một lần nữa để trở thành Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp. Xin đóng dấu ngoặc lại tại đây. Cũng như các GHBT được bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiến Hòa, Anh C. cũng được trường phân công cho dạy một số lớp đệ thất hay đệ lục nào đó. Có thể tôi và anh C. đã có gặp nhau trong những lần họp Hội Ðồng Giáo Sư hàng tháng tại trường nhưng tôi không nhớ anh, mà ngược lại, anh thì nhớ tôi. Vì, theo các bạn đồng nghiệp kể lại cho tôi trong bửa ăn trưa đó, chính anh C. đã kể lại cho các bạn tôi nghe về vụ việc không hay này và có ý trách tôi sao không làm ngơ cho anh mà trái lại còn bắt anh, xé bài thi của anh đã làm, khiến cho anh bị rớt kỳ thi Tú Tài I đó. Nghe xong câu chuyện, tôi hơi bàng hoàng, tự nghĩ sao mình không nhận ra anh ấy để xảy ra cái chuyện không vui này, và mong sẽ có dịp nói chuyện với anh C. để giải tỏa chuyện này. Nhưng sau đó anh C. rời bỏ nhiệm sở, đi mất tích luôn. Anh chị em giáo sư trong trường bảo nhau là có người cho biết anh ấy đã vào mật khu theo Mặt Trận Giải Phóng rồi. Tôi đành phải chấp nhận là sẽ không bao giờ còn có dịp gặp lại anh C. nữa. Tôi đã lầm. Khoảng hơn 10 năm sau, hình như là năm 1978, tôi gặp lại Anh C. tại Trường Ðại Học Sư Phạm T/P Hồ Chí Minh (ÐHSPTPHCM) một cách bất ngờ. Năm 1975 tôi kẹt lại và phải tiếp tục làm việc tại trường ÐHSPTPHCM trong cương vị Thư Viện Trưởng. Qua năm sau, ÐHSPTPHCM tiếp thu cơ sở của Ðại Học Vạn Hạnh (ÐHVH) ngay dưới dốc cầu Trương Minh Giảng, và gọi là Cơ Sở 1; địa điểm cũ kế bên Trường Ðại Học Khoa Học Sài Gòn, trên đường Cộng Hòa cũ, được gọi là Cơ Sở 2. Ban Giám Hiệu và các đơn vị trưởng (trong đó có tôi) đều về làm việc ở Cơ Sở 1. Phòng làm việc của tôi nằm ở cuối hành lang trên lầu của Thư Viện ÐHVH. Một buổi sáng vào khoảng tháng 9 hay tháng 10 của năm 1978, tôi đang ngồi trong phòng làm việc thì nhân viên thư viện đưa 2 người khách vào gặp tôi. Một người là anh H.N.C., tốt nghiệp ÐHSP SG Ban Lý Hóa năm 1964, Giáo Sư Lý Hóa Trường Trung Học Công Lập Gò Công, về sau là Nghị Viên Hội Ðồng tỉnh Gò Công, vừa được thả về sau mấy năm học tập cải tạo ở Miền Bắc (hiện nay đang sống tại Hoa Kỳ). Người thứ nhì chính là anh C. trong câu chuyện này. Theo giấy chứng minh của Anh mà nhân viên tôi mang vào trình cho tôi xem, Anh C. lúc đó là Phó Ban Thông Tin Văn Hóa của tỉnh Bến Tre. Như vậy, lời đồn ngày xưa trong giới giáo sư Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa là Anh đã bỏ vào khu theo Mặt Trận Giải Phóng là hoàn toàn đúng sự thật. Về phần Anh C., không biết Anh có suy nghĩ gì khi thấy tôi đảm nhận chức vụ Thư Viện Trường (là 1 cấp Trưởng Phòng) của Trường Ðại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh. Anh vốn nhỏ con, ốm yếu, lần này tôi thấy anh rất xanh xao. Trong lần gặp gỡ này, do anh H.N.C. chủ động, anh đến nhờ tôi giúp tìm lại cho anh chứng chỉ tốt nghiệp ÐHSP SG của Anh và được tôi cho biết không làm được vì toàn bộ hồ sơ cũ của ÐHSP SG đã không còn được lưu giữ nữa. Anh C. chỉ ngồi nghe, hoàn toàn không nhắc gì hết về cái chuyện không hay của ngày trước, và vì thế tôi cũng làm thinh luôn. Mấy tháng sau tình cờ tôi gặp lại anh HNC thì được anh cho biết là Anh C. đã mất vì bị chứng xơ gan.

Chuyện thứ nhì xảy ra hai năm sau, Hè 1966, tạị Hội Ðồng Thi Tú Tài II, Ban A, Khóa I, tại Trường Gia Long ở Sài Gòn. Ngày hôm đó thi môn chánh của Ban A là môn Vạn Vật (môn Vạn Vật lớp Ðệ Nhứt học về cơ thể học con người). Tôi bắt được một thí sinh đánh phép cũng ngồi ở một bàn cuối phòng thi. Tôi nhớ khá rõ vụ này vì có một vài chi tiết đặc biệt về anh thí sinh này: 1) anh là một chủng sinh của một dòng tu Công giáo; 2) hôm đó thi môn chánh của Ban A là môn Vạn Vật; xấp tài liệu mà anh sử dụng bị tôi bắt được và tịch thu, mỗi trang (khổ độ chừng 1/6 tờ giấy tập học trò, có thể bỏ vào túi áo dễ dàng) đều có ghi ở đầu trang một tiêu đề cho nội dung bên dưới, nhưng các tiêu đề này đều theo lối mật mã, sử dụng tên các bài kinh Công Giáo, thí dụ: Kinh Kính Mừng thì bên dưới nội dung là về Hệ Tuần Hoàn; Kinh Lạy Cha thì nội dung bên dưới là Hệ Tiêu Hóa; Kinh Tin Kính thì bên dưới nội dung là Hệ Thần Kinh, vv. Lần này, tôi cũng làm theo đúng chủ trương của tôi: tịch thu tài liệu, xé bỏ tờ giấy thi đang làm, và phát cho anh ấy 1 tờ giấy thi mới. Chỉ sau một vài phút, anh ấy đứng lên, nộp tờ giấy thi còn trắng đó, và rời phòng thi thật nhanh, có vẻ rất xấu hổ. Tôi không bao giờ gặp lại người thí sinh này.

Chuyện thứ ba thì tôi không còn nhớ là năm nào và kỳ thi nào. Chuyện xảy ra như sau. Ðó là một buổi sáng Chúa Nhựt, tôi không nhớ ngày tháng nhưng chắc chắn phải sau năm 1966 vì lúc đó tôi đã thuyên chuyển về dạy học tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức rồi. Hôm đó tôi đi ăn sáng với một người bạn tại tiệm Thanh Bạch, trên đường Lê Lợi, kế bên rạp chớp bóng Vĩnh Lợi. Sau khi đã gọi thức ăn (món bò kho bánh mì rất ngon và nổi tiếng của tiệm ăn này, và cà phê phin sửa đá), và trong khi chờ đợi nhà hàng mang thức ăn ra, tôi nhìn sang bàn bên cạnh thì thấy có mấy sĩ quan Biệt Ðộng Quân trẻ tuổi. Một người, mang lon Chuẩn Úy, đang nhìn tôi khá chăm chú, rồi cười và gật đầu chào tôi. Tôi không nhận ra được là ai, nhưng cũng cười và gật đầu chào lại. Ðột nhiên người đó đứng dậy và bước sang bàn tôi, đứng ngay trước mặt tôi, và chẩm rải nói rất rõ ràng như sau: “Chắc thầy không nhớ em đâu, cách đây hai năm, em thi Tú Tài I ở Trường Trưng Vương, em đánh phép bị thầy bắt được, nên kỳ đó em rớt.” Nghe đến đây, trong bụng tôi bắt đầu “đánh lô tô” rồi, tôi lo không biết câu chuyện này sẽ đi tới đâu, tôi có bị cái anh chàng Chuẩn Úy Biệt Ðộng Quân này “thanh toán” để trả thù hay không đây. Nhưng liền đó tôi yên tâm và cảm thấy rất nhẹ nhỏm vì anh Chuẩn Úy nói tiếp liền: “Em rất cám ơn thầy vì thầy đã không có làm biên bản nên em không bị cấm thi, và em đã đậu ở Khóa II, và sau đó thì em đi Thủ Ðức, và bây giờ em phục vụ ở Tiểu Ðoàn 31 Biệt Ðộng Quân.” Tôi ngỏ lời mừng và cầu chúc cho em có một binh nghiệp thật tốt. Sau lần gặp gở tình cờ và nhiều cảm xúc đó, tôi không bao giờ gặp lại người thí sinh này nữa. Qua câu chuyện nhỏ, hơi “suspense” nhưng có “happy ending” này, tôi chợt nhận ra rằng phương thức xử lý các thí sinh đánh phép trong các kỳ thi Tú Tài của riêng cá nhân tôi tương đối cũng có thể có kết quả tốt.

Trong thời gian diễn ra các kỳ thi Tú Tài cũng đã từng xảy ra nhiều việc không tốt tạo ra một số vết đen trong lịch sử giáo dục tại Miền Nam. Xin kể ra đây một vài vụ nổi cộm và có đăng báo. Vụ thứ nhứt xảy ra tại một phòng thi Tú Tài I tại Sài Gòn. Một thí sinh quân nhân đã mang một quả lựu đạn vào phòng thi và để ngay trên bàn, rõ ràng với ý định đe dọa các vị giám thị của phòng thi để anh ta tự do “đánh phép.” Giám thị đã báo cáo ngay cho Ban Chỉ Huy Hội Ðồng Thi và Ban Chỉ Huy đã báo về Bộ Giáo Dục. Không rõ sau đó việc báo cáo từ Bộ như thế nào nhưng kết quả vô cùng bất ngờ là chính Thiếu Tướng Ðỗ Mậu, Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Văn Hóa và Xã Hội của Chính Phủ Nguyễn Khánh, đã đích thân đến tận phòng thi và ra lệnh cho Quân Cảnh bắt giam thí sinh quân nhân đó ngay lập tức. Do việc này, mấy năm sau đó, Bộ Gíáo Dục đã tổ chức các trung tâm thi Tú Tài riêng cho quân nhân, mỗi trung tâm đều có một đơn vị Quân Cảnh làm việc chung với Ban Chỉ Huy Hội Ðồng Thi. Vụ thứ nhì nghiêm trọng hơn nhiều vì là một vụ hành hung các giám thị gác thi Tú Tài tại Cần Thơ năm 1967. Tôi còn nhớ khá rõ vụ này vì các vị giám thị đó chính là các đồng nghiệp của tôi tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (năm đó tôi đã thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức rồi nên không có tham gia đi gác thi nữa). Một số thanh niên, hình như có cả một vài quân nhân tham gia, đã vây đánh các vị giám thị này ngay tại trung tâm thành phố Cần Thơ, vào một buổi chiều trong thời gian của kỳ thi. Chính quyền địa phương không những không cố gắng giải quyết nội vụ cho êm đẹp mà còn có ý bênh vực cho các hung thủ và phao tin là chính các vị giám thị đã khiêu khích các thanh niên đó. Các vị giám thị vô cùng tức giận nên đã phản đối, họp báo tố cáo việc làm vô trách nhiệm này của chính quyền địa phương, quyết định tẩy chay kỳ thi tại Cần Thơ và kéo hết về Sài Gòn chờ Bộ Giáo Dục phân xử. Không rõ Bộ đã làm việc ra sao nhưng sau đó chính quyền tỉnh Cần Thơ đã họp báo, chính thức xin lỗi các vị giám thị, và xử phạt các hung thủ, và các vị giám thị đã đồng ý trở lại làm việc và kỳ thi được hoàn tất tốt đẹp. Vụ thứ ba còn nghiêm trọng hơn vụ thứ nhì rất nhiều với kết quả đưa đến một án mạng và nạn nhân là một giáo sư đi gác thi. Vụ này xảy ra trong kỳ thi Tú Tài I năm 1965 tại Nha Trang. “Một học sinh thi tú tài ở Nha Trang gian lận thi cử bị giáo sư Trần Vinh Anh bắt được. Mang thù oán. Học sinh trên đã rình trước cửa quán ăn và đâm giáo sư Trần Vinh Anh một nhát chí mạng.” [2] Học sinh này đã bị đưa ra toà và bị xử án tử hình, nhưng sau đó, không rõ vì lý do gì, bản án đã không được thi hành, và về sau mọi người không ai rõ số phận của học sinh này ra sao.

Chuyện Chấm Thi

Về chuyện đi chấm thi Tú Tài thì khi tôi tốt nghiệp ÐHSPSG năm 1963, trở thành một Giáo sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp và hội đủ điều kiện để được đề cử tham gia các Hội Ðồng Giám Khảo các kỳ thi Tú Tài I và II, Bộ Giáo Dục đã và đang tiến hành một số cải tổ rất quan trọng về thi cử.

Trước kia, trong thời Pháp thuộc và trong một thời gian sau khi đã độc lập, do chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống giáo dục Pháp vốn là một nền giáo dục nhằm đào tạo nhân tài (elite education), rất nhiều kỳ thi được tổ chức trong suốt những năm tiểu và trung học nhằm loại bỏ dần những học sinh kém để chỉ giữ lại những học sinh giỏi mà thôi: thi bằng Sơ Ðẳng Tiểu Học ở cuối Lớp Ba, bằng Tiểu Học ở cuối Lớp Nhứt, bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp ở cuối Lớp Ðệ Tứ, bằng Tú Tài I ở cuối Lớp Ðệ Nhị, và bằng Tú Tài II ở cuối Lớp Ðệ Nhứt. Theo Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm (1933-2016), nguyên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên của VNCH, “…tính trung bình không hơn 10% học sinh vào trung học được tốt nghiệp trung học.” [3] Vì thế, nhằm tiến đến một nền giáo dục đại chúng (mass education), tránh việc phí phạm nhân lực để phát triển đất nước, Bộ Giáo Dục đã loại bỏ dần các kỳ thi đó. Ðầu tiên là các kỳ thi để lấy các văn bằng Sơ Ðẳng Tiểu Học và Tiểu Học vào cuối thập niên 1950. Kế tiếp là kỳ thi bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp chỉ còn thi viết thôi, bỏ phần thi vấn đáp; sau đó sang giữa thập niên 1960 thì bỏ hẳn luôn, chỉ còn giữ lại kỳ thi Trung Học Ðệ Nhứt Cấp dành cho tráng niên (người lớn đã đi làm việc). Ðến năm 1973 thì kỳ thi Tú Tài I cũng bỏ luôn. Năm 1974 chỉ còn kỳ thi Tú Tài theo lối trắc nghiệm (dân chúng thường gọi mỉa mai là Tú Tài IBM, vì bài thi được chấm bằng máy điện toán của hảng IBM — International Business Machines). Ðây là kỳ thi Tú Tài duy nhứt và sau cùng của VNCH, gồm 2 khóa, Khóa 1 thi trong hai ngày 26 và 27 tháng 6, và Khóa 2 thi trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 của năm 1974.[4]

Ngay từ năm 1964, khi tôi đi chấm thi Tú Tài lần đầu tiên, môn Sử Ðịa đã không còn là một bộ môn nằm trong phần thi vấn đáp nữa rồi. Về phần thi viết thì chỉ có Ban C mới có một bài thi về môn Sử Ðịa. Như vậy, trong một thời gian (tương đối ngắn) môn Sử Ðịa hoàn toàn không phải là một môn thi trong các kỳ thi Tú Tài (I và II) của các Ban A (Khoa học Thực nghiệm) và B (Toán). Bộ Giáo Dục nhanh chóng nhận ra khuyết điểm này và điều chỉnh lại, và kể từ các kỳ thi Tú Tài I và II của Hè năm 1966, môn Sử Ðịa, cùng với môn Công Dân, lại trở thành môn thi, nhưng là thi viết và theo lối trắc nghiệm.[5]

Việc chấm thi, khác hẳn với đi việc gác thi (theo như đã trình bày bên trên), hoàn toàn không có gì hấp dẫn, nếu không muốn nói là nhàm chán. Bản thân người viết bài này, vì số lần đi chấm thi tương đối rất giới hạn, chỉ có 3 năm (1964-1966), vì sau khi được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức từ niên khóa 1966-1967, trực thuộc Trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, không còn tham gia vào việc đi gác thi và chấm thi Tú Tài phổ thông nữa, những kỷ niệm về việc chấm thi Tú Tài không có nhiều.

Công việc chấm thi các kỳ thi Tú Tài được tổ chức rất chặt chẻ, bảo mật tuyệt đối, và thật nghiêm túc để bảo vệ tính khách quan và công bằng của kỳ thi. Sau khi kỳ thi viết chấm dứt, toàn bộ bài thi của thí sinh được ban chỉ huy Hội Đồng Thi hộ tống về Sài Gòn và giao nạp cho Nha Khảo Thí. Nha sẽ chuyển giao các bài thi lại cho các Hội Ðồng Giám Khảo. Ban chỉ huy các hội đồng này sẽ chuẩn bị các bài thi để giao cho các tổ chấm thi thuộc từng bộ môn của hội đồng để chấm điểm. Việc chuẩn bị các bài thi sẽ được thực hiện như sau:

  • Đánh mật mã vào bài thi ở cả 2 phần của tờ giấy thi, phần phách (là phần phía bên trên của tờ giấy thi, nơi thi sinh ghi rõ tên họ, ngày tháng năm sinh và số báo danh) và phần làm bài của thí sinh
  • Cắt phần phách ra khỏi tờ giấy thi, cho vào phong bì, và ghi rõ mật mã bên ngoài phong bì, cất riêng ra
  • Phần làm bài của thí sinh cũng được xếp lại thành từng bó, mổi bó độ 30-40 bài, cho vào phong bì lớn và ghi rõ mật mã; phần này sẽ được giao cho các ban giám khảo để chấm điểm

Về phần các vị Giám Khảo, sau khi đến trình diện và nộp Lộ Trình Thư cho Hội Ðồng Thi, sẽ được phân công về các tổ chấm thi theo chuyên môn của mình. Vị Chánh Chủ Khảo Hội Ðồng Thi sẽ chỉ định các Tổ Trưởng cho các tổ chấm thi này; một số các vị Tổ Trưởng này là các vị Phó Chủ Khảo, số còn lại là các vị Giám Khảo có thâm niên công vụ cao.

Trước khi bắt đầu việc chấm điểm các bài thi, các vị Tổ Trưởng sẽ dành ra độ nữa giờ hay 45 phút để thảo luận và thực hiện thang điểm để các vị Giám Khảo dựa vào đó để chấm các bài thi. Nếu vị Tổ Trưởng cũng là một Giáo sư về bộ môn đó thì chính vị Tổ Trưởng sẽ đưa ra một đáp án cho các câu hỏi trong đề thi, và dựa vào đáp án đó các vị Giám Khảo trong tổ sẽ thảo luận để đi đến một đồng thuận về thang điểm. Nếu vị Tổ Trưởng không phải là 1 Giáo sư về bộ môn đó thì vị Tổ Trưởng sẽ chỉ định một Giám Khảo trong Tổ để đề ra đáp án để Tổ thảo luận. Trong trường hợp này, vị Giám Khảo đó sẽ được ghi thêm một số bài thi (tôi không còn nhớ rõ là bao nhiêu bài, hình như khoảng 50 bài; các Giám Khảo được hưởng phụ cấp chấm thi là 5 đồng cho mỗi bài thi mà họ đã chấm điểm) vào phiếu chấm bài thi của vị đó. Sau khi thang điểm đã được mọi người trong Tổ đồng thuận thì việc chấm điểm các bài thi sẽ chính thức bắt đầu. Vị Tổ Trưởng phân phối các xấp bài thi và ghi rõ vào các phiếu chấm bài thi cho từng Giám Khảo. Khi chấm xong một xấp bài thi Giám Khảo sẽ nộp lại cho Tổ Trưởng và ký nhận một xấp bài thi khác. Mọi việc tiến hành đều đặn như thế cho đến khi tất cả các Tổ đã chấm xong tất cả các bài thi. Mỗi buổi chiều, trong suốt thời gian chấm bài, các bài thi đều được đưa về phòng Hội Ðồng Thi và cất vào tủ do chính vị Chánh Chủ Khảo khóa lại và giữ chìa khóa.

Khi tất cả bài thi đã được chấm điểm xong, các tổ chấm thi được giải tán, và các Giám Khảo được nghĩ xã hơi một hay hai ngày. Trong thời gian này, Ban Chỉ Huy Hội Ðồng Thi sẽ lo việc hồi phách trở lại vào trong các bài thi đã được chấm điểm; việc này phải được thực hiện rất cẩn thận, kỹ lưởng, dựa vào mật mã đã ghi trên phách và phần bài thi, và sắp xếp lại theo đúng từng phòng thi. Khi các vị Giám Khảo trở về làm việc thì sẽ được phân phối vào các tổ ghi điểm và cộng điểm. Việc ghi điểm và cộng điểm cũng được tổ chức và kiểm soát rất chặt chẽ để tránh sai sót và gian lận. Vậy mà gian lận vẫn xảy ra như thường.

Trong cuộc đời đi chấm thi Tú Tài quá ngắn ngủi của tôi (chỉ có 3 năm, 1964-1966), tôi được tận mắt chứng kiến một trường hợp gian lận điểm thi như sau. Sự việc xảy ra tại Hội Ðồng Thi Tú Tài I Ban A Khóa 1, tháng 6-1964. Sau khi việc ghi điểm đã hoàn tất, tôi được phân công vào một tổ cộng điểm. Ðến một phiếu điểm của một thí sinh nào đó, tổ phát hiện có một điều bất thường: điểm của môn Lý Hóa được sửa bằng mực đỏ với chữ ký từ 04 thành 16. Phiếu điểm được chuyền cho mỗi người trong Tổ xem và mọi người đều đồng ý là khó có thể chấp nhận được. Anh Tổ Trưởng lập tức đi báo cho ông Chánh Chủ Khảo và Tổ tạm ngưng làm việc. Một lúc sau ông Chánh Chủ Khảo đến, ông xem xét phiếu điểm và quyết định ngay tại chổ là phải xem lại chính bài thi này. Anh Tổ Trưởng lấy phiếu điểm đó để riêng ra, và Tổ lại tiếp tục việc cộng điểm của các thí sinh khác. Ðộ 15, 20 phút sau, ông Chánh Chủ Khảo trở lại với phong bì của xấp bài thi môn Lý Hóa của phòng thi đó. Khi tìm ra bài thi của thí sinh đó thì mọi người đều thấy rõ: bài thi của thí sinh đó chỉ làm được chưa hết cái trang đầu của tờ giấy thi (giấy thi là 1 tờ giấy đôi gồm 4 trang) và vị Giám Khảo chấm cái bài thi đó đã cho có 04 điểm mà thôi. Vậy đây rõ ràng là một trường hợp gian lận, sửa điểm thi, và người sửa điểm thi đó từ 04 thành 16 chính là người Tổ Trưởng cái Tổ đã chấm cái bài thi đó (về sau được biết vị Tổ Trưởng đó chính là một trong các vị Phó Chủ Khảo của Hội Ðồng Thi này, vì chữ ký còn đó). Ông Chánh Chủ Khảo lập tức ra lệnh cho anh Tổ Trưởng lập biên bản về vụ sửa điểm thi này để trình về Bộ Giáo Dục. Tôi thật sự không biết kết quả sau cùng của vụ gian lận này ra sao: vị Phó Chủ Khảo thủ phạm vụ sửa điểm này đã bị kỷ luật ra sao? và thí sinh đó có bị cấm thi sau đó hay không? Tôi chỉ biết chắc chắn một chuyện là thí sinh này đã bị đánh rớt trong kỳ thi Tú Tài lần đó. Qua sự việc này, tôi nhận thấy thủ phạm đã phạm hai sai lầm lớn: một không thể tránh được, và một có thể tránh được. Sai lầm không thể tránh được là đã không sửa điểm trong cái bài thi; việc này không thể tránh được vì không thể nào sửa điểm từ 04 lên thành 16 cho một bài thi chỉ làm chưa hết một trang của tờ giấy thi; vả lại tìm cho ra lại cái bài thi hoàn toàn không thể làm được nếu không có chỉ thị của vị Chánh Chủ Khảo. Sai lầm có thể tránh được là thay vì sửa điểm từ 04 lên thành 16 (một điều quá vô lý, tất nhiên sẽ gây nghi ngờ ngay lập tức cho tổ cộng điểm, một chuyện đã thực sự xảy ra, như đã thấy) thì có thể chỉ sửa điểm từ 04 lên thành 08, 09 thì có thể không bị tổ cộng điểm nghi ngờ. Suy nghĩ thêm, tôi gần như tin chắc rằng thủ phạm nhìn vào phiếu điểm của thí sinh, thấy rõ tất cả điểm của 4 môn thi viết, làm một bài tính nhẩm về tổng số điểm của thí sinh này, và nhận ra rằng phải sửa điểm môn Lý Hóa từ 04 lên thành 16 như vậy thì thí sinh này mới có thể đậu được. Tôi nghĩ và tin rằng chắc chắn còn có nhiều trường hợp sửa điểm thi nữa nhưng đã không bị phát hiện.

Thời gian này, kỳ thi Tú Tài I rất quan trọng đối với học sinh thanh niên. Khi học lớp Ðệ Nhị để chuẩn bị thi bằng Tú Tài I, tuyệt đại đa số học sinh đều đã trên tuổi 18 hết rồi, tức là đã nằm trong tuổi quân dịch, và tất cả đều đã qua thủ tục trưng binh và đã có số quân hết rồi. Nếu thi đậu thì có thể tiếp tục học lên lớp Ðệ Nhứt để chuẩn bị thi bằng Tú Tài II, hoặc có thể được động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Ðức để trở thành sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Nếu thi rớt thì gần như chắc chắn sẽ bị gọi nhập ngũ, nếu đã có bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp, thì sẽ được đưa ra thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Ðồng Ðế ở Nha Trang để trở thành Hạ Sĩ Quan (cấp bậc Trung Sĩ), còn nếu không có bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp, thì sẽ bị đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để được huấn luyện thành một Binh nhì và rất có thể sẽ được ra các đơn vị tác chiến của các sư đoàn bộ binh trên khắp 4 vùng chiến thuật. Với viễn ảnh như thế, các bậc phụ huynh, dĩ nhiên, rất lo lắng và, nếu có điều kiện và phương tiện, sẽ tìm cách giúp cho con em mình đậu được kỳ thi quan trọng này. Các câu chuyện về mua bằng giả, mua đề thi, gian lận trong kỳ thi gần như năm nào cũng có xuất hiện trên các tờ báo của Sài Gòn trong thời gian thập niên 1960 này. Và trên thực tế, cũng đã xảy ra một số trường hợp gian lận, phạm pháp về thi cử có sự tham gia của một số ít giáo sư (như vụ sửa điểm thi đã được trình bày bên trên). Cụ thể là 2 vụ sau đây: “Vụ thứ nhất liên quan đến hai giám khảo … Việc này xảy ra ở Vĩnh Long do có lộ đề thi trước và giám thị đã bắt được và truy ra manh mối từ hai vị giám khảo trên. Hồ sơ nội vụ đã được phúc trình về bộ giáo dục dưới thời bác sĩ Nguyễn Lưu Viên và Nguyễn Danh Đàn. … Vụ này thật ra chỉ là do tình cảm cá nhân như liên hệ bà con họ hàng chứ không phải là làm tiền hay tham nhũng. Ảnh hưởng xấu có giới hạn rõ ràng và có thể giảm khinh được theo cái lối xử sự của người mình. – Vụ thứ hai liên quan đến một giáo sư toán dạy Petrus Trương Vĩnh Ký, …, sau về làm trong nhóm ra đề thi. Gia đình một phụ huynh học sinh đã bỏ một số tiền ra mua đề thi của ông giáo sư này. Đề thi chắc để bảo mật chỉ giao cho thí sinh này trước vài tiếng. Nhưng thí sinh này tham muốn gỡ lại số tiền đã bỏ ra bèn bán đề thi. Chẳng mấy chốc mà đề thi được tiết lộ cho nhiều người. Ông giáo sư này bị điều tra, bị hoàn trả về sở nhân viên và để làm gương cho những người khác, ông bị đưa ra tòa.” [6]

Thay Lời Kết

Các kỳ thi Tú Tàitrước năm 1975 đã là một bộ phận quan trọng của hệ thống lượng giá nền giáo dục trung học của Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa. Tuy đã có xảy ra một số việc phạm pháp liên quan đến các kỳ thi này, để lại một vài vết đen trong lịch sử giáo dục của Miền Nam, nói chung các kỳ thi đã được tổ chức đồng loạt trên toàn quốc một cách rất chặt chẻ và nghiêm minh. Ði gác thi và chấm thi các kỳ thi Tú Tài là một trong những nhiệm vụ của các anh chị em Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp chúng tôi trước năm 1975, góp phần vào hệ thống lượng giá này. Việc đi gác thi và chấm thi Tú Tài, đối với riêng cá nhân tôi thì quá ngắn ngủi, tuy vậy, cũng đã để lại trong tôi một số kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời đi dạy học của tôi.

Ghi Chú:

  1. Bến phà Mỹ Thuận, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_ph%C3%A0_M%E1%BB%B9_Thu%E1%BA%ADn
  2. Nguyễn Văn Lục, Giáo dục ở Miền Nam Việt Nam …: những con số biết nói, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://ongvove.wordpress.com/2009/11/16/giao-d%E1%BB%A5c-%E1%BB%9F-mi%E1%BB%81n-nam-vietnam-nh%E1%BB%AFng-con-s%E1%BB%91-bi%E1%BA%BFt-noi/
  3. Nguyễn Thanh Liêm, Giáo dục ở Miền Nam tự do trước 1975. Santa Ana, Calif.: Lê Văn Duyệt Foundation và Tập San Nghiên Cứu Văn Hóa Ðồng Nai Cửu Long, 2006, tr. 41.
  4. Nguyễn Thanh Liêm, sđd, tr. 42.
  5. Nguyễn Thanh Liêm, sđd, cùng tr. 42.
  6. Nguyễn Văn Lục, Nhìn lại việc thi Tú Tài ở Việt Nam trước 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://ongvove.wordpress.com/2009/11/16/nhin-l%E1%BA%A1i-vi%E1%BB%87c-thi-tu-tai-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975/

(Nguồn: viethocjournal.com)

Chuyện Đùa Như Thật

31 Tháng Tám 20207

Trần Văn Giang

Post by Sơn râu 12 Aug 2025

Peace – Hình minh họa

Lời giới thiệu 

Câu chuyện này vừa được chuyển đến tay tôi từ một người bạn. Nội dung gồm nhiều uẩn khúc có tính giả tưởng (“fictional”) – Có lẽ vì thế mà tác giả đã đặt tên tựa bài là “Chuyện Đùa Như Thật” chứ không phải là “Chuyện Thật Như Đùa.”  Tuy nhiên, tình tiết của câu chuyện, theo tôi, rất ly kỳ có thể làm người đọc đi từ ngạc nhiên đến thích thú (!?)  

Tôi cũng mạn phép chỉnh lại vài lỗi chính tả và văn phạm để bài viết được trong sáng, dễ đọc hơn…   Tóm lại, đây là một bài viết đáng đọc và có thể giúp quý vị giây phút giải trí vào cuối tuần.

Trần Văn Giang 

Mấy ngày đầu mùa thu thời tiết thay đổi, trời đất và tuổi tác làm cho trái tim vốn đã mệt mỏi lại thêm u sầu. Tôi quyết đi chơi xa một chuyến để kích thích sự sống còn sót lại trong cái cơ thể đang lụi tàn của tuổi sáu mươi.

Bắt đầu chuyến đi từ trưa về đến thành phố Ninh Bình thì trời đã tối. Đón tôi là một người học trò cũ, nay làm nghề bốc mả chuyên nghiệp, làm ăn được nên tình cũ nghĩa xưa vẫn không hề phai nhạt. Gọi là học trò nhưng anh ta cũng đã gần bốn mươi, bặm trợn và từng trải… Đặc thù nghề nghiệp còn cho anh ta một vẻ ngoài vừa bí hiểm và tối tăm vừa ám muội và liêu trai… 

Sau bữa ăn đầy rượu thịt kiểu như của các hảo hán thời cổ đại Trung Hoa, gã học trò đưa tôi về nhà. Gọi là nhà nhưng thực chất nó là một căn phòng để cho người quản trang trong bãi tha ma của thành phố. Trời tối, không biết xung quanh ra sao tôi thây kệ không quan tâm mình đang ở đâu, miễn có chỗ ngả lưng là tốt rồi. 

Lạ giường, lạ nhà, tuổi già khó ngủ, thêm nữa ở góc phòng tối om là giường của tay bốc mả, gã nằm im thin thít như không thở, cũng không nói chuyện đưa đẩy gì với tôi. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, tôi phá vỡ sự im lặng chết chóc, bắt chuyện hắn. 

– Này, thức hay ngủ? 

– Dạ em thức. 

– Sao nằm im vậy, tôi làm phiền cậu à? 

– Ôi chết, không ạ. em mắc bệnh nghề nghiệp thầy ạ. Làm nghề này nó vậy.  Xin thầy thông cảm. Thầy xuống đây với em là phúc tổ bẩy mươi đời nhà em đấy thầy ạ. 

Rồi hắn kể: 

– Học xong lớp 12, em đi tu, ba năm sau người ta xây chùa mới to lắm ở Ninh Bình.  Vì khoẻ mạnh và chăm chỉ, em được về ban xây dựng chùa. Đường tu đang sáng ngời, bỗng đâu sét đánh ngang trời, em phải lòng đứa con gái một ông đại gia họ Trần, một trong những người góp vốn xây chùa. Chuyện vỡ lở, em bị đuổi khỏi chùa. Xấu hổ, em xin cô người yêu nói với bố cô ta cho em một ân huệ cuối là được vào nghĩa trang thành phố làm nghề bốc mả. 

Tôi khơi chuyện để anh ta có đà: 

– A Di Đà Phật…! Thế làm cái công việc bốc mộ có gì ghê gớm hay lạ lùng gì mà cậu nói là bị bệnh nghề nghiệp.  Mà làm sao cậu lại dính vào đứa con gái kia? 

– Úi giời ơi… thầy ơi, người ta có số đấy thầy ơi… Nó theo mẹ nó lên chùa cúng dường cho nhà chùa. nhiều lần gặp rồi thành quen thân, nó rủ em ra phố mua đồ chay cho nhà chùa, thế rồi em dính chưởng lúc nào chả biết.  Chưa xây xong chùa, từ ông sư em thành thằng bốc mả, đau quá thầy ạ!…  Còn cái nghề bốc mả này em làm gần hai mươi năm nay rồi.  Thôi để hôm nào rảnh em kể cho thầy nghe. Hôm nay thầy đi xa mệt, thầy nghỉ đi.  Mai em cũng có việc quan trọng phải làm… 

– Mai cậu bận việc gì vậy? Tôi xuống đây chơi cậu không nghỉ chơi với tôi một buổi được sao? 

– Dạ thưa thầy, mai thành phố này có đám ma to lắm, đám ma của chính ông đại gia là bố vợ hụt của em đấy.  Em vốn trước đây làm sư trong chùa, nhà chùa lại là thành phần quan trọng của đám tang ma ngày mai. Biết em có nghề, thạo việc đào bới chôn cất, họ mời… Em tính mai mời thầy tham dự luôn cho vui. 

– Tiên sư anh… Đám ma nhà người ta mà anh lại bảo đi cho vui. 

Tôi mồm chửi nhưng trong bụng lại thấy vui vui thật. Hình như máu hiếu sự và ham sống trong tôi đang cựa quậy.  Tôi mừng thầm là mình đã có cơ hội tham gia một sự kiện quan trọng đáng nhớ. 

Hôm sau chúng tôi dậy sớm đi đám ma. Ông học trò quý của tôi trở dậy và đi khỏi nhà từ sớm lắm, hình như cậu ta mặc áo thầy tu.  Công nhận đám ma to thật.   Có rất nhiều sư tham dự. 

Tôi chụp được một cái ảnh có tới hàng trăm ông sư xếp hàng trong đám tang, trong đó có cả thằng học trò của tôi. Tôi cho lên fb và bảo rằng “Sư chùa Thiếu Lâm còn thua xa sư ở đây…”  Mấy người quen tôi xem xong chẳng hiểu gì, bực mình quá!!!

***

Chiều hôm ấy, tôi về phòng nghỉ trước, cậu học trò của tôi còn ở lại về sau vì khúc vĩ thanh việc chôn cất là phận sự của anh ta. 

Một mình.  Chiều trong nghĩa trang thật buồn. 

Dạo bước trên những lối nhỏ quanh co bên mấy hàng bia mộ cũ, nhìn những chiếc lá rơi xoay xoay trong gió. Tự nhiên lòng tôi cảm thấy lạnh, trống rỗng và cô đơn vô tận. Tự nhiên tôi thấy thương cho kiếp người: Sống, Chết, Vinh quang và Điếm nhục… Ôi cõi người! 

…Tối mịt hắn mới về.tôi lặng lẽ nhìn hắn – Cậu học trò của tôi. Tôi khoái chí vì chợt nhận ra ở thằng này có nhiều cái thú vị mà bây giờ mình mới biết. Hôm qua, lúc nó đón tôi, với bộ quần áo tàng tàng chắc chắn xuất xứ từ những thùng hàng “si đa,” đặc biệt là cái đầu trọc, đôi mắt ốc nhồi thao láo thấp thoáng những tia máu nhỏ ở lòng trắng, mồm phà phà hơi rượu… Trông hắn đúng là một thằng bốc mả chuyên nghiệp. Vậy mà hôm nay, vẫn con người ấy, vẫn cái đầu trọc ấy, chỉ khác mỗi cái áo hôm nay nó mặc là cái áo của ông thầy chùa.  Trời ạ!  Nhìn hắn đúng là một nhà sư đường bệ uy nghi. 

Tắm rửa, thay quần áo, cậu ta mời tôi đi ăn. Suốt cả bữa ăn nó chẳng nói chẳng rằng. Nửa con gà luộc, một cái chân giò luộc một đĩa thịt bò xào, một chai “vốt ka” Hà Nội loại to, cơm, canh… Bữa ăn dành cho hai người sạch nhẵn.  Kinh thật! 

Về tới nhà, lên giường nó lại nằm im lìm như hôm qua.  Tôi nghĩ ngày nó làm việc căng thẳng nên nó mệt. Vậy mà không đúng như tôi nghĩ. Sau nửa tiếng nằm im như không thở, nó chủ động khơi chuyện với tôi. 

– Thầy đã ngủ chưa? 

– Chưa. 

– Thầy có mệt không? 

– Không.  Tôi có làm gì đâu mà mệt, chỉ sợ anh làm việc căng thẳng mệt mỏi nên tôi không muốn làm phiền đấy thôi.  Anh cứ nghỉ đi. 

– Ấy chết, em lại quên mất, lại sống với thầy bằng cái bệnh nghề nghiệp rồi hỉ hì. Thầy trò mình nói chuyện nhé. 

Anh ta lồm cồm trở dậy đun nước pha trà, cẩn thận mời tôi ra bàn ngồi. 

Tôi chủ động hỏi: 

– Hôm nay ở lai có việc gì không?  Vất vả không? 

Rít một hơi thuốc thật sâu, đầu điếu thuốc đỏ loè, không nói không rằng, tợm một ngụm nước trà, súc miệng òng ọc… Hắn lặng lẽ đứng lên, đi về phía giường ngủ của hắn. Lúi húi lục lọi một lúc, hắn mang ra bàn nước một cái túi vải bẩn bẩn, đổ ra bàn. Oa! tôi không tin vào mắt mình, toàn vàng…  Mấy miếng vàng cây của Sacombank, Oceanbank… lẫn trong đấy là nhiều vàng cục nhỏ, vàng trơn loại một hai chỉ…, lại còn có cả những hạt đá quý lóng lánh long lanh… Tôi tròn mắt nhìn hắn chờ một câu giải thích. 

Hắn thủng thẳng nói: 

– Em nhặt được đấy thầy ạ. Lúc làm lễ tang, người ta chỉ xếp vòng hoa lên mộ thôi, chưa lấp đất lên quan tài đâu, xong lễ, mọi người về hết mới là công việc của bọn em. Đất cho vào huyệt được một đoàn xe tải mới cứng chở đến. Đất lấp huyệt trộn lẫn nhiều vàng và cả đá quý, chỉ có xe trên cùng là đất không thôi. Bốn xung quanh xa vài chục mét, người gác cẩn thận giăng hàng ngang. Chỉ có mình em và một thằng thầy chùa nữa làm cái việc lấp đất. chắc người ta nghĩ là sư thì không để ý đến việc vàng thật hay giả, mà cũng chẳng ăn cắp để làm gì… Em mặc áo thầy chùa ở ngoài, bên trong lại có cái áo ba túi; túi lại to mới sướng chứ trời ạ!  Em nhặt như điên, sướng quá thầy ạ.

Tôi lặng lẽ nhìn đống vàng và đá quý của cậu học trò. tự nhiên dở hơi lại thấy vui vui… Đúng là giàu có số thật. 

Tôi hỏi: 

– Được nhiều vàng thế, sao từ lúc về cậu lại có vẻ không vui lắm nhỉ? 

– Dạ thưa, em cũng không tham đâu thầy ạ.  Được số vàng này em đang nghĩ xem hay là nhờ thầy, thầy làm cách nào từ thiện đến được với mấy người nghèo khổ giúp em. 

Ái chà!  Vụ này nghe có vẻ phức tạp rồi đây. Tôi đã mệt mỏi với cuộc sống lắm rồi; nhưng nghĩ lại, có cơ hội làm việc tốt thì cũng nên… 

Hai thầy trò cất dọn đồ rồi lên giường đi ngủ. nằm được một lúc, thấy tôi cựa quậy, hắn vọng sang hỏi: 

– Thầy ngủ chưa? 

– Chưa. 

– Thầy có biết nhiều về đàn bà không? 

– Mày điên à, sao lại hỏi thầy như vậy? 

Im lặng một lúc, hắn nói: 

– Đàn bà lạ lắm thầy ạ. Đàn bà thường có hai loại: một là thiên thần, hai là ác quỷ. Thường thì thiên thần nhiều hơn ác quỷ, vậy mà…. (Ngập ngừng một lúc) Trưa nay trong đám tang em thấy những người đàn bà có mặt lúc ấy, thiên thần thì ít mà ác quỷ thì nhiều thầy ạ. 

Tiên sư khỉ (Tôi chửi thầm trong bụng).  Cái thằng học trò ranh con, cái thằng sư sổng chuồng này, mày lại dám triết lý về đàn bà với thầy mày mới ghê chứ. À chắc hôm nay, ở đám tang kia, chàng gặp lại cô nàng ngày xưa chăng? Vô lý nếu thế thì nó đã kể… 

– Thế tại sao anh lại nói với thầy như vậy hử?  Về đàn bà nghe có vẻ anh hiểu hơn thầy đấy? 

– Thầy ơi, em làm nghề bốc mả em biết, ông sư phụ truyền nghề cho em dạy em là ngày xưa ấy, đàn bà lúc chết chôn ba năm cải táng, lúc đem cái xương cùng rửa sạch, nếu có một cái chấm đen ở cái xương cùng ấy, bài vị của người đàn bà đó mới được đem thờ chung với các tiền nhân trong dòng họ, còn nếu có từ hai chấm trở lên là vứt thầy ạ… 

– Sao vậy, mà sao cậu lại nói với tôi những chuyện này? 

– He he… (Hắn cười một cách khoái chí) Đúng thầy kém về đàn bà thật.

(…Tiên sư thằng này láo quá, rõ ràng là nó dám coi thường cả thầy nó cơ chứ!) 

– Thầy biết không, đàn bà mỗi lần ngủ với một người đàn ông mới, xương cùng sẽ in một cái chấm đen. Hai người là hai chấm. Vậy đấy. 

– Thế bây giờ anh đi làm có thấy đúng vậy không? 

– Úi trời ơi… Đúng chứ thầy, chỉ có điều bây giờ ít người xương cùng có một chấm lắm thầy ạ.  Thậm chí có người còn đen sì chả đếm hết… ặc ặc… (hắn cười…) 

– Kinh nhể!  Thế nhưng nó liên quan đếch gì đến cánh đàn bà trong đám tang hôm nay? 

– Vấn đề là thế đấy thầy ơi…  Em còn có cái võ là nhìn mặt thôi cũng biết những người đàn bà kia ngủ với bao nhiêu thằng cơ.  Cũng khổ, vì thế mà em khinh bọn họ lắm, cứ nhìn mặt thôi là đã thấy ghét rồi. 

– A Di Đà Phật… Thiện tai! Thiện tai!  Thôi ngủ đi ông tướng ơi, mai tôi về sớm đấy nhé. 

– Ối chết thầy ơi.  Thầy đừng về, thầy ở đây với em. Em sẽ kể chuyện bốc mả cho thầy nghe… 

Tôi nhắm mắt, im lặng, không trả lời. tôi ngủ và tôi mơ. Trong giấc mơ tôi thấy mình như một ông vua… Còn thằng học trò bốc mả thì như nàng công chúa Seherazat trong truyện “Một nghìn lẻ một đêm.” Đêm nào nó cũng ngồi ở cái giường góc nhà quản trang tối om. Nó kể cho tôi nghe chuyện đời bốc mả của nó. mỗi đêm một câu chuyện.

***

– Thầy ngủ chưa? 

– Chưa… 

… Thế là chẳng dự tính gì, tôi cũng đã ở chơi với cậu học trò cũ của mình được năm ngày rồi. Sống mà có hứng thú một chút thì thời gian nó trôi qua cũng nhanh và nhẹ nhàng. Nhớ lại mấy hôm trước còn ở nhà, thời gian trôi chậm như cái kim ngắn của đồng hồ. Chán chết. 

Suốt ba hôm vừa rồi, tôi đi chơi lang thang như một thanh niên. Cứ sáng ngày ra, cậu chủ nhà đi làm là tôi cũng lên đường. Thầy trò chỉ gặp nhau từ bữa ăn tối. Thế cho nó tiện.  Cần gì tôi sẽ gọi điện thoại cho cậu – Tôi bảo với cậu ta thế – Cậu ta nhìn tôi có vẻ ngại ngại, chắc là sợ tôi già, hoặc như thế sẽ không chu đáo với thầy. Tôi phẩy tay cương quyết: 

– Tính tôi thế, anh yên tâm! Thế là tôi tự do suốt ngày. Đúng như lời cậu ta hứa với tôi, tối nào cũng vậy, trước khi ngủ cậu ta bao giờ cũng tìm cách dẫn dắt để kể cho tôi nghe những câu chuyện liên quan tới cái nghề bốc mả gớm chết của cậu ta. Thật lòng, tôi là người rất thích hóng chuyện, đã thế những câu chuyện của cậu ta cũng rất lạ.  Tối nào tôi cũng hồi hộp nằm đợi cậu ta hỏi câu hỏi quen thuộc. 

– … Thầy ngủ chưa? 

Sau đó cậu ta bắt đầu vào vai nàng Seherazat… Và đây là câu chuyện của đêm nay. 

– Thầy có biết gì về phong thuỷ không? 

– Có biết chút chút, nhưng tôi không thích lắm nên cũng chẳng để ý làm gì. 

– Úi trời!  Em tưởng thầy thế nào…

 Hắn im lặng một chút như để cho tôi thấm thía sự thương hại của nó dành cho sự “kém hiểu biết” của tôi. 

Rồi nó thủng thẳng: 

– Từ thời cụ Cao Biền, cụ Tả Ao người ta đã tinh thông thuật phong thuỷ lắm rồi thầy ạ. Hồi còn đi tu em củng được sư phụ truyền dạy một số kiến thức về thuật phong thuỷ. 

Tôi hỏi cắt ngang, không giấu sự mỉa mai: 

– Trình độ của cậu chắc cao lắm nhỉ!

 Giọng của cậu ta hơi nhỏ lại, vẫn tự tin nhưng có vẻ cảnh giác:

– Dạ cũng tàm tạm thầy ạ. 

– Bây giờ tôi chôn mười cái nhẫn vàng của cậu, ra mười cái mộ bất kỳ ngoài kia; cậu dùng mắt nhìn phong thuỷ của cậu, có chỉ ra được ngôi mộ nào có chôn vàng không? 

Thằng học trò bốc mả la lên ngạc nhiên thích thú: 

– Ái chà! Thầy cũng biết tới thứ công phu này của thuật phong thuỷ cơ ạ, Vậy chắc thầy cũng là bậc cao thủ?! 

Tôi hỏi lại với giọng khiêu khích và cũng không hề giấu sự thích thú khi thấy ông học trò láo toét không dám coi thường mình nữa (mặc dù tôi có dốt thật) … 

– Anh có tìm được không? 

– Tìm được chứ thầy (Đến lượt tôi giật mình).  Thầy không nhớ hôm trước em nhặt được nhiều vàng và đá quý thế là vì sao à. Hì hì… Người thường bới bới tìm tìm còn lâu mới được một nắm, em nhìn thấu được dưới lớp đất kia chỗ nào có cục to cục nhỏ, vì thế mới bốc được nhiều thế chứ. 

Ừ có lý. Tôi biết là đã đến lúc nên nằm yên để mà nghe. May mà nó không tự ái vì thái độ của tôi, khi tự ái dễ mất hứng, câu chuyện sẽ mất hay, cái lẽ thường ở đời là vậy. 

– Thầy có biết, cái vùng đất này có gì đặc biệt không?

 – Không. 

– Mấy ngày đi chơi thầy có ăn bữa thịt dê nào chưa? 

– Rồi. 

– Ngon không? 

– Ngon. 

– Thầy có thấy cái lâu đài nào không? 

– À, cái đấy thì có.  Tôi thấy ba bốn cái ở ngay hai bên đường đi, to và đep lắm. 

– Đúng rồi. Quanh vùng này thôi cũng có dễ tới gần chục cái cơ đấy thầy ạ! Cái độc đáo của vùng đất này là vậy đấy. Trên cả đất nước Việt Nam của mình, đây là nơi duy nhất có nhiều những cái lâu đài to đẹp tới mức tầm cỡ thế giới đấy. 

– Đùa hay thật đấy ông tướng? 

– Em nói “có hoá đơn” đấy thầy ạ. 

– Ái chà! Kể cũng gớm đấy chứ nhỉ.  Đúng là chuyện lạ thật chứ chả đùa tí tẹo nào. Ừ thì cứ cho là thật đi, nhưng nó liên quan gì tới cái chuyện phong thuỷ của cậu? 

– Đất này toàn núi đá với dê đấy thầy ạ. Đất này có thể nói là cố đô cổ nhất và đẹp nhất Việt Nam. Thầy có tin là nhờ có núi đá và thịt dê mà vùng này có những toà lâu đài đẹp nhường ấy không. 

– Tôi tưởng ở đâu, cái gì cũng vậy, do con người chứ.

 – Thầy muốn hiểu sao cũng được. Em thấy người ta đào đá đem bán, đem thịt dê bán… Vậy em nghĩ thế đấy. Hai phần ba số lâu đài kia là do em xem hướng, định ngày, xem giờ, thượng điền, hạ thuỷ, khai môn, trấn trạch cho đấy thầy ạ. Nói thật, em không định kể những chuyện này đâu, làm nghề này, những người non tay thì hay bốc phét, khoe khoang, để tiếp thị bản thân. Riêng như em, trình độ khắp cả nước này, xem ra chỉ có vài người, Em phải giấu nghề thầy ạ. Ít người được em cho biết và giúp phong thuỷ cho họ lắm. Do có nghề cao tay, được họ nhờ vả, em biết nhiều chuyện thâm cung bí sử ở đằng sau những toà lâu đài nguy nga tráng lệ kia lắm thầy ạ….

 Kinh nhỉ! Tôi nghĩ thầm. Mình cứ tưởng ông tướng này chỉ biết mỗi một môn bốc mả; giờ này nó lại còn biết cả “bách ban võ nghệ” thế này thì kinh thật. Tôi chen ngang: 

– Thôi mấy cái lâu đài của cậu để lúc khác đi.  Cậu có biết xem long mạch, xem huyệt đất để đặt mộ cho người ta khi chết không? 

– Trời!  Đúng ngành dọc luôn thầy ơi.  Nghề tay phải của em đấy thầy à. Khu sinh phần của mấy ông có máu mặt vùng này toàn một tay em chỉ cho đấy. Nhưng với thầy em chẳng dám giấu, em nói thật, nghề xem phong thuỷ là nghề giúp người, giúp đúng người, hợp lẽ đạo trời đất thì còn có phúc có phần, giúp không đúng người, nhằm phải những loại chả ra gì, nó làm rối loạn đạo trời đất là mình bị tội oan đấy thầy ạ. 

– Ý cậu là gì? 

– Thầy hỏi em xin khai thật.  Đa số những huyệt đất em được thuê tìm, đều của bọn làm giầu bất lương.  Chỉ có chúng nó mới có tiền.  Người dân bình thường, chỉ mong có mảnh đất chôn sạch sẽ là được.  Ai đâu có điều kiện mà xem phong thuỷ với phong thiếc… Khi đi cắm đất cho bọn giàu có bất lương ấy, em cứ lựa theo lẽ trời, em chỉ cho bọn nó chôn vào những thế đất, kiểu gì thì kiểu, cuối cùng cũng rơi vào cái thế “Bật ván thiên, chìm ván địa” nghĩa là, sớm muộn gì chúng nó cũng bị người đời đào cây đánh rễ nhà chúng nó lên thầy ạ. 

– Thế cái đám hôm nọ cậu có đặt mộ huyệt cho nhà người ta không? 

– Chả em thì còn ai vào đấy nữa thầy ơi.  Em xem cho nhà nó từ hơn năm nay rồi.  Mới hôm qua cũng có người gọi nhờ em ra Hà Nội làm một đám. Nghe đâu cũng một người làm to lắm đấy thầy ạ.  Bấm độn xem, thấy người này chết phạm vào giờ xấu, chắc kiếp trước ăn ở cũng chẳng ra gì. Em chả thèm đi trực tiếp, chỉ gọi điện thoại chỉ đạo thôi… 

… Tôi nhìn sang chỗ giường nằm của thằng bốc mả ở góc phòng…Tối om và lặng lẽ im lìm… 

Nó nằm im lặng.  Nó nằm và thở đều đều trên cái giường của nó, ở cái góc phòng tối đen của ngôi nhà giành cho người quản trang, ở giữa cái nghĩa trang rộng và nhiều gió…  Một lúc sau tiếng thở của nó chuyển thành tiếng ngáy khàn khan.  Sau mỗi âm phát ra có tiếng rung rung nhẹ nhẹ, như một thứ âm thanh rên rỉ, mệt nhọc, buồn bã, như tiếng vọng về từ đâu đó rất xa.  Tự nhiên tôi thấy thương sự đa đoan vất vả của nó, tôi thương cả cái thân tôi, tôi thương cả cái cuộc đời láo nháo và hỗn độn này…  Buồn.

***

Mấy hôm rồi trời chuyển gió mùa đông bắc, tôi và gã học trò quý của mình chẳng hẹn mà cùng nhau lăn ra ốm. Người trẻ với người già ốm cũng chẳng giống nhau, tôi thì ho sù sụ, người ngợm đau mỏi khật khừ, ăn chẳng thiết ăn, ngủ không ra ngủ. Ông tướng bốc mả thì mặt đỏ phừng phừng vì sốt, mũi dãi chảy lòng thòng như trẻ con. Lạ là hắn vẫn làm việc và ăn uống như bình thường, thậm chí còn khoẻ hơn trước.  May quá, sáng nay hắn bảo với tôi là hắn khỏi ốm rồi. 

Gió mùa đông bắc vẫn thổi vi vu ở trên những ngọn cây trong nghĩa trang.  Ở trong nghĩa trang hình như gió lạnh và khô hơn ở ngoài phố đằng xa kia. 

Chiều nay gã học trò bốc mả của tôi về sớm hơn mọi ngày. Y xách về một đùm to thịt dê và can rượu thơm phức. Vừa sắp xếp đồ ăn ra một mâm đầy ụ, hắn vừa giải thích: 

– Trời lạnh thầy ạ.  Chẳng đi ra quán làm gì… Từ nay thầy trò mình ăn ở nhà cho tiện.  Cái món thịt dê này tốt cho sức khoẻ lắm thầy ạ… Hi hi. 

– Nhà anh làm cái việc liên quan đến thế giới tâm linh mà ăn phàm uống tục như bọn Tây đen ấy. Kinh bỏ mẹ. Có lúc tôi thấy anh còn mặc áo nhà chùa, vậy mà anh ăn uống phàm tục như thế không sợ phải tội à? 

– Úi trời ơi!  Em tưởng thầy cấp tiến lắm cơ chứ… Mà thầy mắng em cũng phải, thầy già rồi… Thầy ơi, thời buổi bây giờ… Mà thôi, em mời thầy ra ăn đi thôi… Hi hi. 

Hắn bỏ lửng câu “thời buổi bây giờ...” đầy ẩn ý. 

Tôi miễn cưỡng tham gia bữa ăn tối cùng với thằng học trò trời đánh. Lạ là nó ăn uống kinh người thật: dê nướng tảng, dê tái chanh, dê quấn sả bọc mỡ chài, chân dê hầm thuốc bắc, nầm dê hấp lá tía tô, cơm cháy sốt dê… Trời ạ!  Cả mâm thức ăn đầy, cả can rượu to vật, vậy mà không hiểu sao lại hết được. Tôi có ăn cùng hắn thật, nhưng tôi cam đoan là không ăn nhiều lắm… 

– Thầy ngủ chưa ạ? 

– Chưa. 

– Thưa thầy. Theo ý thầy… Ở thời buổi bây giờ…  Phúc hoạ người ta từ đâu mà đến ạ? 

– À, ờ…Theo tôi nghĩ… là do tài năng, do học vấn, có khi cũng còn do may mắn, do cả sự ưu ái của ông trời… 

– Đấy…!  Hắn vỗ đùi đánh đét một cái (Thằng này lại chuẩn bị láo đây…!) Em biết ngay mà… không phải thế đâu thầy ơi. (Láo thật rồi! nó lại chuẩn bị coi thường ông thầy già của nó đây… Tôi tức lắm nhưng cố nằm im để hóng chuyện). 

… Và thế là bằng một cái kiểu diễn đạt như rao giảng, chẳng giống ai, Hắn vào chuyện: 

Khoảng những năm thịnh trị nhất của thời nhà Lê, ở vùng Thanh Nghệ có một nho sinh tên là Lê Học Sĩ. Sĩ là người thông minh sáng láng, tinh thông kinh sách, trí tuệ hơn người… Ông nội của Sĩ là Lê Thiện, một người giàu có, hay giúp đỡ những người nghèo khổ. Lê Thiện được dân quanh vùng gọi một cách kính trọng là “Thiện lão lão.” Từ thuở còn hàn vi cha con Thiện lão lão thường cày ruộng trồng lúa. Ở ruộng nhà họ có một ngôi mộ vô chủ, mỗi lần cày tới đó, Thiện lão đều bảo con chừa ra một khoảng, tránh làm tổn hại tới ngôi mộ. Một ngày kia có người khách phương xa tới xin được mang phần mộ ấy về quê, hỏi ra mới biết đấy là phần mộ của một nho sinh, trên đường đi vào kinh thành dự thi, bị ốm mà chết. Từ ấy nhà Thiện lão lão làm ăn phát đạt lắm, chỉ mấy năm sau trở thành gia đình khá giả trong vùng. 

Năm Lê Học Sĩ mười chín tuổi kinh thành mở khoa thi. Sĩ dắt theo thư đồng vào kinh dự thi. Ngày lên kinh, cả họ, cả làng tiễn chàng đi, họ đều cầu mong cho chàng sẽ công thành danh toại, vinh quy bái tổ. 

Trên đường vào kinh, Sĩ cùng thư đồng tá túc trong một ngôi chùa có tên Pháp Vân Tự. Buổi tối hôm ấy, Sĩ trằn trọc không sao ngủ được, bỗng nghe tiếng đàn vẳng lại từ ngoài cửa sổ. Khoác áo bước ra ngoài, dưới ánh trăng, Sĩ thấy một thư sinh, tay ôm đàn ngọc, thần thái phiêu diêu tựa như tiên nhân. Vốn tinh thông âm luật, nghe tiếng đàn lúc khoan lúc nhặt réo rắt thật là tuyệt diệu, Sĩ bước tới gần lễ phép chào hỏi: 

“Thật hay quá, giống như âm nhạc nơi cõi trời vậy. Dám xin hỏi danh tính huynh đài là gì?” 

Chàng trai trẻ ngưng đàn, ngẩng đầu nhìn Sĩ rồi đáp: 

“Tại hạ là Điền nhất Sinh, quê ở Thành Nam, nay trên đường tới kinh thành dự khoa thi, đêm nay nghỉ lại nơi này, chợt lòng hứng khởi, gảy khúc tiêu dao, huynh đài nếu không cười chê xin mời qua đây cùng đàm luận.” 

Sĩ bước tới ngồi xuống cùng Điền Sinh trò chuyện như thân thiết tự bao giờ. Hai người cùng trao đổi về sở học văn tài. Sĩ vô cùng thán phục tài học của Điền Sinh, chàng cảm thấy so với Điền Sinh chàng còn thua xa một trời một vực. Vốn lần này đi thi chàng ôm mộng trạng nguyên, nay không thể không giật mình ta thán “Núi cao còn có núi cao hơn… Người tài còn có người tài hơn ta…” 

Suốt chặng đường còn lại vào kinh thành, Sĩ ra sức trau dồi những kiến thức mà Điền Sinh trao đổi, học vấn của chàng tiến bộ không ngừng. Đến ngày khai hội, Điền Sinh đột ngột chia tay Lê Học Sĩ để về quê chịu tang mẹ. Ngày chia tay ngậm ngùi nuối tiếc, dặm hồng bụi cuốn, người về kẻ ở như hư như thực… Buồn ơi là buồn. 

Hội thi năm ấy, đề bài vừa phát tới tay, Lê Học Sĩ đọc sơ một lượt, cảm thấy vô cùng phấn chấn vì đề bài vừa hợp vói khả năng, chàng hạ bút thành chương, lời văn bay bổng như gấm như hoa thật là đắc ý. Câu cuối cùng của đề bài là một câu đối, Vế trước của câu đối là: 

“Than đen, lửa hồng, tro như tuyết.” 

Lê học Sĩ đọc xong không khỏi giật mình. Đây là vế đối khó, bảy chữ này chỉ một sự vật, sự vật ở đây có ba màu sắc, thật là câu đối hiểm hóc. Sĩ vắt óc nghĩ mãi chẳng ra, mướt cả mồ hôi. Sĩ bỗng cảm thấy rùng mình như bị trúng gió, chàng ta gục xuống bàn ngủ thiếp đi, Trong mơ, Sĩ thấy có người đến vỗ vai chàng, một giọng nói, nghe quen quen, nhỏ nhẹ nhưng rất rõ bên tai, “chàng trai trẻ, bài văn của cậu còn mấy chỗ chưa ổn lắm… ” Rồi giọng nói ấy lại chỉ…thế ấy, thế ấy, thế ấy… 

Sĩ thấy những chỉ bảo của người vô hình kia thật là uyên bác, chàng vội thưa luôn: 

“Thưa tiên sinh vế đối năm nay khó quá, tiểu sinh nghĩ mãi chưa ra….” 

Giọng nói vô hình hỏi lại: 

“Nhà ông cha ngươi có cày ruộng bao giờ không?” 

“Có ạ.” 

“Cày ruộng làm gì?” 

“Trồng lúa ạ.” 

Giọng nói như cười khe khẽ và bảo: 

“Như vậy ngươi chưa hiểu được sao?  Lúa màu gì, còn trấu, cám, gạo xay ra thì sao?” 

Sĩ từ trong mộng như choàng tỉnh chỉ thấy mình vẫn đang ngồi làm bài thi. Những tình tiết trong mơ như vẫn còn trước mắt. Chàng chợt hiểu, liền cầm bút viết ngay câu đối: 

“Lúa vàng cám đỏ gạo tựa sương.” 

Kế đó chàng nhanh chóng sửa bài cho hoàn hảo như gợi ý của người vô hình trong giấc mộng.

Khoa thi năm ấy Lê Học sĩ đỗ trạng nguyên, áo gấm vinh quy về quê. Sau đó Sĩ được bổ làm quan to trong triều, ông quan này để lại một sự nghiệp sáng chói trong thời đại của ông và cả nhiều thời sau. Ông ta chết đã lâu nhưng cho tới nay và còn sau nữa, người đời vẫn ca ngợi, khâm phục và biết ơn những gì ông để lại. Thế đấy…!  Hừm hừm… 

– Thầy ngủ chưa? Thầy có hiểu ý nghĩa câu chuyện em vừa kể không? 

Tôi vẫn thức, tôi hiểu câu chuyện nói gì, tôi thích cái cách thằng bốc mả này quan niệm và nghĩ về cuộc đời. Nhưng thật khó chịu về cái kiểu đắc chí của nó, nhất là cái cách nó hỏi tôi.  Mẹ kiếp, tiên sư cái thằng này láo quá cơ. Tôi giả vờ đã ngủ rồi, giả vờ không nghe nó hỏi. 

Im lặng… 

Nó tưởng tôi ngủ thật, tức quá thở phì phì rồi một lát sau nó ngáy đều đều. 

Nó đã ngủ rồi. Còn các bạn, các bạn có hiểu ý nghĩa của câu chuyện nó vừa kể không? 

Ai mà nói được đúng ý nghĩa câu chuyện này, tôi hứa sẽ nói với thằng học trò của tôi khuyến mại cho bạn dịch vụ của nó… He he… Đùa thôi. Tôi sẽ mời bạn cà phê và sẽ cúi đầu khâm phục đấy.

***

 Tôi thức giấc sớm hơn mọi khi. Câu chuyện tối hôm qua của cậu học trò mang đến cho tuổi già của tôi một cảm giác như là thiếu tự tin. Tôi thấy cái cách tôi hiểu biết về cuộc sống, cái cách tôi nhìn nhận mọi chuyện, cả ở những chuyện đơn giản, tôi cứ nghĩ là đã thấu đáo đầy đủ…  Hoá ra cũng chưa hẳn thế. 

Trong ánh sáng lờ mờ của một ngày mới, nhìn vào cái góc phòng tối om, cậu học trò của tôi vẫn nằm im, tiếng thở vẫn đều đều, chắc vẫn ngủ…  Hệ luỵ của can rượu và đống thịt dê hôm qua đây.  Tôi cười thầm và nghĩ xa xôi đến cái chuyện nó nói với tôi về việc người dân ở đây đào đá núi và xẻ thịt dê bán để xây lâu đài… 

… Buổi sớm cuối thu, đầu đông trời lạnh lạnh, sau mấy ngày ốm, cảm giác khoẻ khoắn đã trở lại, đi dạo trên những con đường nhỏ quanh co bên những hàng bia mộ, tự nhiên tôi thấy giữa hai thế giới, thế giới của những người đang tồn tại và thế giới của những người đã chết nằm dưới kia thật hoà hợp, gần gũi và bình yên. 

Hôm nay là chủ nhật, tôi chợt nhớ là mình còn có ý định, nhân tiện lần xuống chơi ở đây, tôi sẽ đi thăm người một người bạn già, ông là một linh mục ở bên Kim Sơn, nơi có nhà thờ đá nổi tiếng của xứ Bùi Chu Phát Diệm ngày xưa. Là bạn bè từ thuở còn trai trẻ, vậy mà chỉ thi thoảng, những khi buồn vui bất chợt, chúng tôi viết thư, gọi điện thoại cho nhau. Thời còn trẻ khi ông linh mục mới về giáo phận này, chúng tôi thường hay gặp gỡ.  Vậy mà thấm thoắt cũng nhiều chục năm rồi chưa gặp lại… 

… Đi dạo về, thằng học trò quý của tôi đã ngủ dậy từ lâu. không biết có việc gì mà hôm nay nó lại mặc áo của nhà chùa. Anh ta lại đường bệ uy nghi như một vị hoà thượng chân tu. Nhìn ông sư trước mặt tôi, đố ai dám tưởng tượng, vừa mới tối qua ông sư này đã xơi hết vài cân thịt dê cùng cả can rượu gần ba lít… A Di Đà Phật!…. Biết tôi đi chơi với ông bạn linh mục, nó gọi xe “taxi,” chuẩn bị chu đáo cho tôi lên đường, tiễn ra tận xe nó còn ân cần nói: 

– Thầy đi chơi vui vẻ ạ… 

… Đón tôi tận ngoài đường cái, ông bạn dẫn tôi thẳng về nhà thờ, đường làng quanh co, hàng quán phục vụ cho đám khách du lịch nhà thờ đá san sát như phố thị. Sau cái bắt tay và gật đầu cười lúc đón khách xuống xe, bạn tôi thong thả đi trước, trên suốt quãng đường dài từ đường cái về đến nhà thờ, chỉ thi thoảng ông linh mục gật đầu đáp lễ khi có người chào ông.  Tôi thấy thật thú vị khi phát hiện ra cái phong thái nghiêm trang cao quý như đang làm lễ trong nhà thờ của người bạn Công giáo. Bước rảo lên ngang với ông, tôi như muốn bắt chuyện, như để tỏ sự vui mừng khi lâu ngày bè bạn gặp nhau, ông bạn già chỉ như hơi nhoẻn miệng cười, ông khẽ nắm tay tôi và vẫn thư thả đi về trước… Đi ngang qua cái sân thật rộng của nhà thờ, tôi cảm giác lạ lạ như đang đi từ thế giới này sang một thế giới khác. Chỉ khi đẩy cánh cửa to và nặng nề của nhà thờ, bước vào bên trong giáo đường rộng ngợp, người bạn già của tôi mới như trở lại con người tôi biết từ trước. Vui vẻ, khẽ ôm vai tôi, đẩy nhẹ tôi ngồi vào cái ghế ở hàng trên cùng của giáo đường. Nơi ông và tôi thường thích ngồi với nhau trò chuyện mỗi khi có dịp… 

– Uống chút nhé… Bạn uống gì nhỉ?  Hì hì…Sao hôm nay chúa lại mở cửa thiên đàng cho bạn về thăm tôi vậy… Vui quá đi hì hì… 

Phì cười và cảm động trước sự vui vẻ, vồ vập của người bạn, tôi cũng vui vẻ gật đầu và hứng thú chỉ tay về góc giáo đường trên tầng hai, nơi có cây đàn Piano mấy trăm tuổi… 

– Ha ha vẫn còn nhớ hả, rồi, OK… 

… Với tay lấy cái gậy nhỏ như cái dùi trống của trẻ con, gõ khẽ vào cái chuông ở góc bàn.  Cánh cửa nhỏ nơi góc lễ đường mở ra. Một người nữ tu trẻ và đẹp như các “Ma sơ” trong phim ảnh phương tây xuất hiện, nàng mang theo một cái xô nhỏ có chai rượu vang đã mở nút, ngâm trong đá, hai cái ly pha lê viền vàng lấp lánh…  Người nữ tu khẽ cúi chào và khéo léo rót rượu mời khách…Tôi và ông bạn cụng ly, tiếng ly kêu lanh canh trong trẻo, ngân nga trong vòm nhà nguyện như lời tụng ca tình bạn hữu của chúng tôi… Tôi thấy vui, lòng nhẹ nhõm như quên đi những ưu phiền của cuộc sống. 

Sau ly rượu, người bạn già thư thả đi lên tầng hai của lễ đường, Và rồi âm thanh của tiếng đàn piano tràn ngập giáo đường… Ave Maria… 

Tôi rất thích nghe tiếng đàn Piano trong nhà thờ. Tôi không phải là người công giáo. Nhà thờ công giáo thờ chúa và những ngôi chùa thờ phật, với tôi chỉ đơn giản là nơi thiêng liêng, nơi để người ta tôn thờ, xưng tụng và ngợi ca những giá trị tốt đẹp của Đạo đức Con người… Tôi chỉ thích nghe nhạc, nghe tiếng đàn Piano trong nhà thờ, thế thôi. 

… Rượu vang và âm nhạc trong giáo đường nhà thờ làm tâm hồn tôi như ngất ngây. Tôi đi dạo quanh nhà thờ đá. Tôi chợt phát hiện ra một điều kỳ thú, những viên đá xếp bên nhau từ đã rất lâu, cùng với thăng trầm thời gian, đá ở đây như có linh hồn. Những viên đá như đang lặng lẽ kể chuyện. Như những số phận con người ở quanh đâu đây. Đá mang gương mặt người, thấp thoáng ẩn hiện… Tôi ngồi xuống tựa vào đá và ngủ thiếp đi, tôi mơ… Trong giấc mơ tôi, đá kể cho tôi nghe những câu chuyện của đá, có chuyện vui, có cả chuyện buồn. Tôi như nghe ai đang hát  … “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...” 

Tỉnh giấc, tôi thấy người bạn già ngồi bên từ bao giờ… Ánh mắt hướng xa xăm về nóc tháp chuông nhà thờ, không biết bạn tôi nhìn thấy gì ở đó. Tôi biết ở tháp chuông đó có một quả chuông rất to, tiếng của nó vang xa khắp cả xứ đạo này… 

Chúng tôi cứ ngồi yên lặng bên nhau như thế, lâu lắm…  Người bạn già phá vỡ sự im lặng làm tôi giật mình: 

– Có chuyện gì hả ông? 

– Không… Có gì đâu, mà sao ông lại hỏi tôi vậy? 

Lại im lặng. 

– Ông có nhớ thằng bé hồi trước tôi định gửi ông trông nom hộ không? 

– Nhớ chứ, nhưng mà sao? Có chuyện gì về nó à? 

– À… ờ… không… À mà cũng có chuyện muốn kể với ông về nó, chuyện vui vui thôi nhưng… 

Thế là tôi và người bạn già ngồi bên nhau ôn lại câu chuyện về Nó. 

…  Ngày xưa, lâu lắm rồi, hồi tôi mới học xong trường sư phạm, tôi đi dạy học trên miền núi. Cái thời ấy cả cái đất nước này đều khó khăn, thiếu đói. Trên những chuyến xe khách tôi đi mỗi ngày cuối tháng, khi được nghỉ về thăm nhà, tôi thường nghe người ta nói về nghề dạy học của chúng tôi bằng giọng thương hại lẫn cả coi thường.  Lần ấy, về nghỉ tết cuối năm, tôi gặp một thằng bé, cậu bé người miền núi, nói tiếng kinh chưa sõi. Bị gã phụ xe trợn mắt ra sức quát đuổi xuống xe không cho về xuôi, không hiểu sao thằng bé cứ bám vào tay tôi như cầu cứu, và chả hiểu trời xui đất khiến thế nào, tôi nhận mua vé cho nó đi cùng…  Tết, nó ăn tết ở nhà tôi.  Hết tết, nó theo tôi trở lại ngôi trường mà tôi dạy học. Nó không có nhà cửa, cũng chẳng có ai thân thích.  Nghe mấy người trong cái bản gần nơi tôi bắt xe về tết hôm ấy nói, nó là con của một cô giáo dưới xuôi lên đây dạy học, nghe đâu nhà cô dưới ấy cũng chẳng còn ai, cô có con với một anh lái xe đường dài.  Sợ tai tiếng, sợ nhà trường phạt kỷ luật…  cô đẻ giấu đẻ diếm rồi gửi vào bản nhờ người nuôi. 

Lúc đầu, mỗi tháng cô đều gửi gạo gửi tiền vào nuôi con. Được hơn một năm sau, cô giáo kia bị lũ cuốn, mất xác… Người nuôi thằng bé nghèo quá, nay nhờ người này, mai nhờ người khác cho nó ăn, bữa đói bữa no… Thằng bé trở thành con chung của cả cái bản nghèo cho đến ngày tôi gặp nó. Nghiễm nhiên thằng bé ở với tôi ở trường, tôi làm giấy khai sinh cho nó, tên bố là tên tôi, tên mẹ là tên bà vợ anh hiệu trưởng cho nó hợp pháp thôi; và ai cũng nghĩ như vậy là phải. Tôi dạy nó nói tiếng kinh, dạy nó học, tôi chia sẻ cuộc sống khó khăn của tôi với nó.  Lạ là nó không bao giờ coi tôi là bố nuôi, nó chỉ gọi tôi là thầy xưng em.  Tôi cũng chưa muốn làm bố nên chẳng ý kiến gì. 

Hai năm sau tôi chuyển công tác về xuôi, thằng bé theo tôi về. Nó ở với tôi tới năm nó học lớp mười một.  Tôi muốn lấy vợ nhưng người ta cứ dị nghị nó là con tôi. Mấy lần đi hỏi vợ toàn bị từ chối khéo, đau thật. Tôi nói chuyện ấy với nó, nó cười cười. Tôi bảo, thầy gửi mày vào trung tâm giáo dục thường xuyên của bạn thầy nhé, ở đó cũng được học chữ và còn học cả nghề nữa. “Không. ” Nó trả lời lạnh tanh, nó không cười nữa. tôi không hiểu lúc ấy nó nghĩ gì… 

– … A, chính hồi ấy vì thế ông mang nó xuống gửi tôi ở đây phải không? Thì tôi đã tìm được gia đình cho nó rồi đấy thôi. mà tôi nghĩ nó cũng ổn đấy chứ… Sao lại?… 

– Ừ, hồi ấy cuộc sống khó khăn quá.  Tôi nghĩ mãi mới dám nhờ ông. Cũng mừng là sau này ông lại dò hỏi, tìm được tung tích người lái xe năm nào mà trả cháu nó về với gia đình. 

– Cũng may cho nó, nếu không tìm được gia đình nó, bây giờ nó đi học làm linh mục, theo đạo công giáo như tôi thì… hà hà… cũng hay đấy nhỉ. 

– Nó không làm linh mục ông ơi…  Nó làm thầy chùa.  Giờ nó lại đi trông coi nghĩa trang trong thành phố kia kìa ông ơi… 

– Giê su ma! Lạy chúa tôi… Ông vừa nói gì vậy? 

Tôi kể cho ông bạn già nghe phần tiếp theo cuộc đời của nó. 

– Tìm được gia đình nó cũng vui. Như ông biết rồi đấy, quê nội nó hoá ra là ở Ninh Bình, nhà cũng tương đối, gã lái xe ngày xưa khi biết nó là con, xin với bà vợ cả cho nhận mang về nhà đoàn tụ ngay. Chuyện coi như xong xuôi.  Chia tay nó, tôi cũng hơi bùi ngùi, nó thì chỉ im lặng. Tôi cũng không hiểu nó nghĩ gì. Thời gian trôi nhanh quá.  Bẵng đi một thoáng mà đã mấy chục năm… Nó bảo với tôi khi gặp lại, học xong lớp mười hai, nó đi tu, rồi bị đuổi khỏi chùa, nó bây giờ làm đủ nghề, trông nghĩa trang, xem phong thuỷ đất cát, bốc mả, cúng bái… Tóm lại là nó bây giờ lạ lắm, tôi đang ở chơi với nó đây ông ạ. 

– Vậy thì cũng tốt chứ sao ông lại…? 

– Thì tôi có bảo không tốt đâu.  Tôi kể chuyện là một phần cũng để ông mừng cho nó.  Mà này, ông ơi, ông có tin vào số phận không?  Ông có tin vào chuyện con người ta, ngay từ khi mới sinh ra đã phải gánh vác một thiên chức gì đó mà chúa hay ông trời giao phó cho không? 

– Ha…ha…ha… Bạn tôi ơi, già rồi, lẩm cẩm đến nơi rồi. Tôi là linh mục đây, tôi nói thật nhé, có Chúa đấy, có ông Trời đấy bạn ạ. Có điều, Chúa, ông Trời, ông Phật… là ở trong lòng người mà ra cả thôi ông ơi… Số phận, thiên chức, gì gì đấy, đều do con người mình tạo ra mà thôi. 

– Thì tôi vẫn nghĩ thế; nhưng lạ là bây giờ già, cứ hay nghĩ lẩn thẩn, chán thật. 

… Câu chuyện của chúng tôi bỏ ở đó. Tôi chưa hết băn khoăn, nhưng mà thôi. 

Hai chúng tôi khoác vai nhau đi về giáo đường… Rượu vang… Tiếng đàn Piano quý phái tràn ngập không gian… Thấp thoáng sau cánh cửa nhỏ có ánh mắt dịu dàng, bí hiểm của những thiên thần choàng khăn màu tối… 

… Chia tay ông bạn già. Tối mịt hôm ấy tôi mới quay về với căn phòng trong khu nghĩa trang thành phố. Thằng bốc mả vẫn ngồi đợi tôi về ăn tối. Nó vẫn mang trên người tấm áo của nhà sư. Mâm cơm hôm nay cũng lạ lạ, không nhiều khủng khiếp như mọi khi, lại còn có nửa mâm là đồ chay. Thấy tôi nhìn, nó hiểu ý nói ngay 

– Em mời thầy xơi cơm đi. Hôm nay nhà chùa cho mời em vào, sư trụ trì bảo là hội Phật giáo đã quyết định cho em trở lại chùa thầy ạ. 

– Thật vậy hả… vậy là… 

– Dạ vâng, từ mai em lại là thầy chùa rồi thầy ạ. Nhưng em xin với thầy cả, cho em vẫn ở đây, em vừa tu, vừa tiện coi sóc công viêc tang lễ cũng tốt cho mọi người. 

Tôi không nói gì nữa. Tôi lặng lẽ ăn. Hôm nay tôi ăn mặn, Cậu học trò của tôi ăn chay. 

Bạn có hiểu tôi đang kể chuyện gì không? 

Hồi còn trẻ, tôi có đọc ở đâu đó, một câu, tôi cứ nghĩ là đúng: “Cái áo không làm nên ông thầy tu….” Bây giờ sao tôi thấy hoang mang quá. Tôi già thật rồi. 

Bạn tôi bảo: 

– Chúa và thiên đàng có tồn tại không? Chúa và thiên đường chỉ có trong niềm tin của mỗi chúng ta. 

Học trò của tôi thì nói rằng: 

– Phật và cõi niết bàn có tồn tại không? Phật chỉ có trong tâm của mỗi người. 

Tôi thì nghĩ lẩn thẩn: 

– Phải chăng, hành trình suốt cuộc đời nhọc nhằn, láo nháo, và hỗn độn này, chúng ta chỉ có thể dựa vào chính mình? 

Vậy còn các bạn, các bạn nghĩ sao…???

***

… Hắn mặc áo nhà chùa, ngồi dãi thẻ trên giường cẩn thận sắp xếp, đếm đếm.

Chiều cuối thu đi dạo, thiên nhiên thật êm đềm dễ chịu. Vừa bước chân vào đến cửa tôi nhìn hắn ngạc nhiên hỏi: 

– Cậu làm gì vậy? 

– Dạ thưa thầy, em sửa soạn, sắp xếp lại cuộc đời… Hì hì… Quyết tâm làm lại thầy ạ.  Thầy giúp em một tay với ạ… 

– Ừm… Tôi thì giúp được gì nào? 

– Đây ạ, chỗ này là tiền mặt đây ạ… Hơn bốn tỷ ạ…  Gói này là vàng và đá quý, có cả mấy hạt kim cương đấy thầy ạ. 

– Trời!  Cậu làm gì lắm của vậy… mà sao lại giở ra… 

– Hì hì… (vờ như không chú ý tới thái độ và câu hỏi của tôi) hắn chỉ vào đống sách vở… Nhiều phết thầy ạ…  À, Thầy thử đọc mấy bài này của em xem được không… Em định bỏ đi nhưng lại tiếc… 

Hắn đẩy về phía tôi một chồng giấy khổ “a4” gói ghém cẩn thận. Tôi chưa hết kinh hãi về số tài sản khủng của hắn. Tay bê chồng giấy, vừa đi lùi về giường của tôi, vừa nhìn hắn như cách người ta nhìn một thằng ăn cướp. 

– Thầy đọc thử đi nhé, một phần đời của em đấy. Em nhặt nhạnh gom góp lại, những bài thơ, những câu chuyện, cả chuyện riêng của em, cả những câu chuyện em nhặt được trong đời…, Biết đâu có khi thầy đọc xong lại thấy hay, lại thấy đỡ buồn, hì hì…  Đừng cười em đấy nhé. 

Mồm hắn nói và tay xếp mấy quyển sách; nó vẫn làm như không biết gì đến thái độ của tôi. 

Tôi chợt thoáng trong đầu ý nghĩ sẽ về Hà Đông vào chuyến xe sáng ngày mai…

 … Hờ hững tôi rút một tờ giấy đầy chữ, một bài thơ được viết bằng bút mực, chữ rất đẹp, đúng là chữ của nó: 

“….
Đơn giản là tôi muốn
Muốn chạm tay vào người con gái xinh đẹp
Thứ ham muốn đã sinh thành minh triết
Và từ đó đức phật khai sinh
Đơn giản như biết bao lần tôi bị đánh lừa
Khi nỗi buồn em đem giấu kín trong chiếc khăn màu ngũ sắc
Và khi em yêu
Sự làm dáng có hào quang bảy sắc cầu vồng
Chia tay em ở cuối mùa xuân
Em thắp vội vàng lên nắng mùa hạ
Và bây giờ ở cuối mùa thu
Tôi ngơ ngẩn chờ lời hẹn của mùa đông
Mọi thứ kiến thức chỉ đủ cho tôi nói một lời ngu si
Giục em lấy chồng….
Chiều đã cạn rồi
Lòng chẳng muốn vào đêm
Trở lại hồng hoang muốn làm tù trưởng người Cơ Tu
Đi săn máu giữa rừng chỉ trông bắt được em
.” 

Ui da… Một bài thơ tình, thơ của một người mặc áo nhà chùa đây sao?  Chắc là bài thơ này anh ta có được qua cuộc tình với cô con gái nhà họ Trần đây. Vốn dị ứng với thứ thơ rẻ tiền nhan nhản quanh tôi từ đã lâu, tôi đọc lướt bài thơ nhưng vẫn lờ mờ nhận thấy có cái gì đó lạ lạ.  Nó giống như một nỗi đau, nỗi đau được nói bằng thứ ngôn từ kiêu hãnh, xót xa mà chân tình lắm… Mà hình như, đằng sau những câu chữ kia, còn chứa chất điều gì đó vượt ra ngoài câu chuyện tình yêu trai gái? 

Tờ thứ hai, cũng vẫn là một bài thơ, không phải chữ của nó… chữ của con gái, chắc là của cô gái họ Trần nào đó…: 

“…

Những lời này cho anh
Ta bỏ ta chưa nửa cuộc tình
Khi đam mê thể xác căng đầy
Hương lửa chưa đầy sao lòng nghe đắng cay
Những lời này cho anh
Ta hận ta khi đối mặt đời
Đêm đơn côi chợt thấy đêm dài
Tay bỏ tay rồi nên lạc lõng đôi ta
Từ đó đôi mình buông xuôi tất cả
Như hai kẻ lạ
Anh gặp em ngoảnh mặt, em gặp anh gục đầu
Thoáng dài buồn hun hút đoạn buồn một lần qua
Những lời này cho anh
Ta đợi ta khắc khoải nửa đời
Ôi đam mê thể xác rã rời
Trên giữa đọa đày khi tàn mộng đôi ta..
.” 

Hay.  Thơ hay quá!  Tôi nhớ lại câu chuyện tình của ông thầy chùa trẻ người non dạ, với cô gái con nhà một ông đại gia mà tôi được nghe kể hôm nào…Trời ạ… Tôi nhìn chồng giấy “a4” đen đặc chữ, tôi biết mình đang có trước mặt, bản thảo những câu chuyện thú vị, về cuộc đời kỳ lạ của gã học trò làm nghề bốc mả kiêm thầy chùa này. 

Nấn ná mãi rồi tôi cũng phải trở về nhà mình.  Bà vợ già và mấy đứa con dù biết tình tôi xưa nay vốn ưa tự do tự tại nhưng cũng đã hết kiên nhẫn với những cuộc điện thoại triệu hồi liên tục réo rắt. 

Hắn thấy tôi nghe điện thoại xong, hắn nhìn tôi lo lắng, dò hỏi có vẻ tuyệt vọng: 

– Thầy quyết về thật à? 

– Ừ… ự… Tôi cũng thấy muốn về rồi. Già rồi… Ở với anh tôi thấy cũng thú vị lắm, nhưng có tuổi rồi, cũng không nên để cho vợ con họ lo lắng cho mình nhiều quá anh ạ… 

Giọng hắn nhỏ lại, xúc động: 

– Thầy ở luôn đây với em, em chăm sóc thầy được mà… Em muốn được báo đáp, phụng dưỡng thầy… 

Tự nhiên tôi cũng xúc động. Tôi hiểu cậu học trò của mình đang nghĩ gì. 

Chúng tôi ngồi lặng lẽ với nhau rất lâu, những kỷ niệm ngày xưa hình như cũng lặng lẽ trở về. Hai người đàn ông tự nhiên ngồi như hai khúc gỗ. Tôi thấy hình như có một trong hai người chảy nước mắt… 

… Nó đứng lên, nó nói với tôi là đi chuẩn bị đồ cho tôi.  Hôm trước tôi xuống đây chỉ có mấy bộ quần áo, mấy thứ đồ dùng cá nhân lặt vặt, tất cả chỉ cho vào một cái túi vải nhỏ; bây giờ, cậu ta sắm cho tôi một cái túi du lịch.  Thấy lạ lạ, tôi hỏi thì hắn nói: 

– Có mấy gói thuốc Nam để thầy ngâm rượu.  Số tiền em tích lũy được, số vàng, cả số đá quý lần trước may mắn nhặt được… em gom lại, em nhờ thầy quản lý hộ.  Thầy có thể tuỳ ý chi dùng, phần để thầy chi dùng cho cuộc sống hàng ngày của thầy, còn ra, để thầy giúp cho những người nghèo khó mà thầy biết… 

– Ấy chết!  Thế còn cậu, cậu để mà dùng chứ… Tôi có gia đình… 

– Thầy ơi.  Em từ nay trở đi không còn là em của ngày hôm qua nữa đâu. Thầy còn ở với em, em mới cần đi làm thêm để phụng dưỡng, báo đáp ơn thầy.  Thầy về, em chỉ còn mỗi một việc là hoằng dương chánh pháp giúp bá tánh và chăm chỉ tu hành thôi. Ăn chay, niệm Phật có nhà chùa lo thầy ạ. 

Tôi hỏi giọng không hề giấu diếm sự băn khoăn: 

– … Tiền ở đâu ra mà nhiều thế? 

– Dạ thưa thầy, tiền em tích góp được đấy ạ, công sức bao nhiêu năm làm nghề bốc mả, xem đất cát, phong thuỷ, rồi lễ lạt… cho người ta đấy thầy ạ. 

– Sao nhiều vậy? 

– Tất cả đều là mồ hôi, công sức chính đáng của em đấy thầy ạ. Thầy ơi, so với công thầy ngày xưa cứu vớt cưu mang em chưa thấm gì… 

Tôi nhìn ánh mắt cậu học trò lúc ấy, nó tha thiết, khẩn khoản và quyết liệt lắm… Tự nhiên nó gợi cho tôi về cái ánh mắt cậu bé năm nào ở cái vùng miền rừng nghèo đói ngày xưa…. Biết có nói đi nói lại cũng không khác được nên tôi im lặng… 

– … À mà thưa thầy… có việc quan trọng nữa… 

Tôi hỏi: 

– Gì vậy? 

– Dạ thưa thầy, em muốn toàn tâm toàn ý cho nghiệp tu, bởi vậy tất cả số sách vở, giấy tờ, cả những gì liên quan đến đời sống trần tục của em, em có được suốt từ những năm tháng qua, em xin gửi thầy giữ cho em, em không biết nói sao, nó là một quãng đời em.  Xin thầy coi như em tặng thầy làm kỷ niệm. 

Tôi lặng lẽ gật đầu… Tôi không nói gì, nhưng lòng tôi xúc động lắm. Tôi biết gã học trò trước mặt tôi đang nói những lời từ gan ruột nó.  Phải chăng nó đang nói những lời từ biệt tôi để rồi chúng tôi sẽ xa nhau, xa như ngày nào tôi dứt tình với nó để nó về với ông bố đẻ là gã lái xe… 

Tôi không biết gã thầy chùa trước mặt tôi có thành chính quả trên con đường tu nghiệp hay không.  Tôi ngồi lặng im.  Xa lắm có tiếng còi tàu trôi vào trong gió. Tàu xuôi về hướng nam. 

Đặng Hưng

Trần Văn Giang (ghi lại)

Câu chuyện về một thiên tình sử.

saimonthidan.com

Nguyễn Hoài

Post on 8 Dec 2023

Post by Sơn râu 12 Aug 2025

Câu chuyện về tình yêu đẹp như mơ của cặp vợ chồng này với bao biến cố thăng trầm, bao gian truân bão táp mà họ đã trải qua đã minh chứng cho tình yêu đẹp tựa như một huyền thoại mà người đời phải ngưỡng mộ.
Cuộc đời thật là một diễm phúc như một món quà vô giá mà ông trời đã ban tặng cho đôi lứa.” Nàng Tiên” trong câu chuyện này không chỉ sống mãi trong trái tim yêu thương của người bạn đời mà còn sống mãi với những giá trị trường tồn theo thời gian. 
“Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi sáu đứa em còn nhỏ dại.
Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước.
Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm.
Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.
Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.
Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.
Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà:
Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng
Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về
Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ
Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.

Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng
Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà
Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian
Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời.
Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều
Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương
Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai
Gom mây hồng làm xe đưa tiên về
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu.
Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay
Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về
Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu
(Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)
Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.
Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.
Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.
Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…
Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng
Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu.
Nhớ những chiều em qua phố vắng
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau
Mân mê vạt áo, em e lệ
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.
Nhớ lúc mình đan tay đếm bước
Em run run hỏi: – Sẽ ra sao?
Anh cười, anh nói như đinh đóng:
– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!

Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này. Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em…
Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này…
Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.
Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên).
Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ chặt đầu, xác thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.
Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”.
Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn.
Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.
Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình.
Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần.
Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.
Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA.
Khi xác nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”.
Ông Lon Nol nghe muốn té đái. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.
Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.
Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xã giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.
Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.
Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!”
Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.
Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong.
Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.
Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.
Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.
Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.
Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”….
Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của một người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.
Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.
Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.
Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền.
Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.
Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”.
Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó.
Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục.
Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.
Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.
Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.
Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng.
Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết.
Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho hai công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.
Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà.
Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.
Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.
Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được hai chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.
Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn một tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao một tháng được hai giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài.
Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.
Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ.
Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.
Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần ba năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xay lúa, có lúc làm tạp nhạp.
Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong một tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. Ba tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc.
Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa?
Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).
Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.
Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui.
Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.
Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.
Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.
Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em.
Một chiều lãng đãng ánh tà dương
Em kể anh nghe chuyện mộng thường
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá
Như sao lấp lánh một trời thương.

Từ đó đời mình hết lẻ loi
Đan tay qua phố bước chung đôi
Em cười rạng rỡ như tiên nữ
Tiên nữ của anh – cũng được rồi.

Từ đó đời mình ươm ước mơ
Từng đêm anh cắn bút làm thơ
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ
Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.

Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi
Mai này, mình có hai con thôi
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa
Em nó, cô Ba – có rượu mời.

Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau
Anh giành chọn áo cưới cô dâu
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó
Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!

Từ lúc về làm vợ của anh
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.

Nhiều đêm nằm gác tay lên trán
Anh cám ơn Trời, cám ơn em
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán
Vì em có anh, anh có em.

Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úc kim.
Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.
Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ.
Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.
Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo.
Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.
Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.
Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.”

Câu chuyện kể có thật của Buu Nguyen
@levanquy(st)
Nguồn từ facebook Nguyen Hoai


Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 12 Aug 2025

5. Mai Hương

Mai Hương là một trong những giọng hát hiếm hoi của chúng ta, đã giữ được phong độ lâu dài nhất. Đối với những người đã sống ở Sài Gòn trước 75, tiếng hát Mai Hương không còn xa lạ gì. Từ những chương trình thiếu nhi, học sinh, sinh viên, cho đến các ban nhạc chuyên nghiệp của các đài phát thanh rồi truyền hình, có thể nói, tiếng hát Mai Hương lớn lên và trưởng thành cùng một lúc với cả nền âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ. Mặc dầu Mai Hương không phải là ngôi sao, nhưng cô vẫn được coi là một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi ấy. Và, từ đó đến nay, giọng hát, cách hát của Mai Hương không có gì thay đổi, nếu không muốn nói là điêu luyện hơn, chắc chắn hơn. Nói tiếng hát Mai Hương trưởng thành cùng một lúc với nền âm nhạc Việt Nam một thời vì, trong suốt mấy chục năm ca hát của mình, có lẽ không còn một bài hát nào tồn tại đến nay, lại không đã có ít nhất một lần, người ta nghe qua tiếng hát Mai Hương.

Mai Hương hát thoải mái, đĩnh đạc, mỗi chữ trong phần lời ca bao giờ cũng được phát âm một cách rõ ràng. Những tình cảm chứa đựng trong bài hát, người ta nhận được, qua tiếng hát Mai Hương rất gần với tình cảm có thật trong bài hát, Mai Hương chỉ cố làm cho rõ hơn, màu sắc hơn, theo cách hiểu của mình, chứ không thêm thắt, bịa đặt. Mai Hương cũng hoàn tất bài hát như tác phẩm của riêng mình. Một nhạc sĩ có nói rằng, nỗi đau trong tình khúc của mình là một vết thương thực sự. Nhưng hình như nó đã thành sẹo. Vậy mà nhiều khi nghe các ca sĩ hát, ông tưởng chừng như nó còn đang ở trên bàn giải phẫu, đang chẩy máu. Sai lầm đó không có ở Mai Hương. Một tác phẩm văn nghệ giống như một bông hoa, phải trải qua những thời kỳ đâm chồi, nẩy lộc, thay cành, nứt kẽ, đau đớn dĩ nhiên. Nhưng nó xuất hiện trước mắt mọi người là một bông hoa với hương sắc và hình dạng của riêng mình.

Một bông hồng, một đóa glaieul, hay một nhánh hoa bèo, cũng đều phải trải qua ngần ấy hành trạng, giai đoạn. Quý giá bao nhiêu, tùy thuộc vào sự ưa chuộng của mỗi người. Hát một ca khúc là trình bầy một tác phẩm đã hoàn thành chứ không phải một tác phẩm đang hoàn thành.

Nếu ví giọng hát Mai Hương như một đóa hoa thì đóa hoa ấy đã đạt đến độ mãn khai. Nếu ví giọng hát ấy như một thứ trái, trái ấy đã chin mùi, hương vị có thể hiến dâng đã trọn vẹn. Một ca sĩ suốt đời ca hát, hẳn buồn vui cũng nhiều. Chúng tôi cứ nhớ tới mấy câu thơ của Xuân Diệu:

Hót vô ích thế mà chim vỡ cổ

Héo xuân xanh cho hết độ tài tình

Xin cám ơn Mai Hương đã hát cho chúng ta nghe.

Mai Hương

Mai Hương

Mai Hương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 12 Aug 2025

4. Lưu Hồng

Lưu Hồng có lẽ là ca sĩ ít xuất  hiện nhất trong các buổi trình diễnở những nơi công cộng. Rất nhiều người chỉ biết Lưu Hồng qua các tấm hình in trên bìa các CD. Nhưng có thể nói, Lưu Hồng có một số thính giả riêng. Họ là những người cũng chỉ thích nghe nhạc ở nhà, một mình. Đối với những người này, cái thích thú thực sự khi nghe nhạc là phải nghe ở nhà, một mình, thị giác không bị chia sẻ hay huyễn hoặc bởi màu sắc, ánh sáng, cử chỉ, dáng điệu của người hát, khán giả chung quanh … Vả lại, âm thanh nghe được trong một phòng trình diễn khó đạt được độ hoàn hảo. Phần khác, ca sĩ chỉ cần làm một động tác diễn tả không được mềm mại, một cái vung tay, nhăn mặt không đúng lúc, đúng chỗ, đủ làm giảm hứng thú, nếu không muốn nói còn có thể gây khó chịu đối với họ.

Vì thế, có người cho rằng, ca sĩ hát trên đài phát thanh mới thực sự là ca sĩ.

Nghe nói. Cựu Tổng Thống Pháp De Gaulle, khi cần phổ biến những diễn văn quan trọng, đã dùng đài  phát thanh chứ không chọn đài truyền hình. Ông tin rằng, như thế, người dân nghe và hiểu rõ những điều ông muốn nói hơn. Hát trên đài phát thanh, ngoài giọng hát, ca sĩ không còn trông cậy vào bất cứ thứ gì khác, như son phấn, áo quần, nhan sắc, điệu bộ chẳng hạn.

Lưu Hồng là giọng ca hiếm hoi, không thuộc lớp ca sĩ trước 75, hát các ca khúc được gọi chung là nhạc tiền chiến, nhiều người cho rằng, còn giữ được cái chất tiền chiến trong giọng hát của mình.

Cái gọi là chất tiền chiến ấy khó giải thích, nhưng những người có chung một quá khứ với các ca khúc đó sẽ nhận ra ngay. Đối với các ca sĩ cũng vậy, không đắm chìm trong cái không khí ấy, không thể hiện nó trong giọng hát được. Lê Dung [đã mất] là một trong những ca sĩ nổi tiếng ở trong nước, có trình độ kỹ thuật cao, trưởng thành tại miền Bắc, nhưng khi hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương [một người vẫn còn ở Hà Nội], người nghe nghe ra một Hà Nội khác, không phải cái Hà Nội trong bài hát của Hoàng Dương.

Cụ thể là trong bài hát của Hoàng Dương có một câu, trong câu có một chữ Lê Dung hát sai. Hoàng Dương viết: “Thanh bình tiếng guốc reo vui”.

Lê Dung hát thành: “Thanh bình tiếng hát reo vui”. Tiếng guốc, tiếng gió may, tiếng rao quà đêm Nguyễn Đình Lạp từng nói đến trong cuốn Ngoại Ô là những thứ tiếng động đặc thù, làm nên một phần Hà Nội. Nếu người hát biết như thế thì không thể có sự lầm lẫn được. Đây không phải là ưu hay khuyết điểm. Nó chỉ là điều giải thích vì sao Lê Dung không hát ra được cái không khí Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương thôi.

Cũng như nhiều ca sĩ của chúng ta ở hải ngoại hiện nay, hát Em Ơi Hà Nội Phố không thể nào so với Lê Dung hay Mỹ Linh được. Như vậy, những người không biết Hà Nội vào cái thời Hướng Về Hà Nội được viết ra,  không nên hát bài đó sao? Không phải vậy. Người ta vẫn có thể tiếp tục hát bài hát ấy, tạo ra một thực tại khác và rồi tự nó sẽ tạo ra một quá khứ khác, khi những người biết cái quá khứ cũ không còn ai nữa. Đặc điểm khác của Lưu Hồng Ià, hình như, khi cô hát, tiếng rung [vibration] có cả trong từng mỗi lời ca, chứ không phải chỉ có trong tiếng ngân.

Và điều này cho người nghe cảm giác, giọng hát, tự nó đã có sẵn âm nhạc. Đó là những đặc điểm của giọng hát Lưu Hồng. Gọi đó là những ưu điểm của cô cũng được. Nhưng những người thích giọng ca của Lưu Hồng, vào

một tiệm sách hay một tiệm bán băng/đĩa nhạc, mua một lượt vài ba cái CD của cô về nghe, không khỏi cảm thấy buồn.

Trước nhất, quá hai phần ba những bài được thâu thanh là nhạc ngoại quốc [được viết lời Việt!]. Có nhiều bài lại không thích hợp lắm với giọng Lưu Hồng. Người ta không biết tự cô chọn lấy bài để hát hay nhà sản xuất chọn cho cô? Thứ đến, nhạc lại được thâu với mục đích để khiêu vũ chứ không phải để nghe [hát], nên có nhiều khi nguyên một đĩa hát chỉ dùng những bài ca chung một nhịp Tango chẳng hạn, nghe dễ nản. Thật ra, nếu nghe tách riêng từng bài, người ta vẫn thấy giọng hát Lưu Hồng là một giọng hát quý, hiếm. Và điều đáng kể nhất trong giọng hát Lưu Hồng chính là sự thành

thật người ta có thể cảm nhận được ngay. Hát nhiều nhạc ngoại quốc quá, bằng cái giọng rất Việt Nam của mình, đôi khi người nghe có cảm tưởng tiếng hát Lưu Hồng bị lạc.

Nhưng lạc khỏi cái gì đây? Ai trong chúng ta chẳng có lúc cảm thấy mình không làm đúng được điều mình muốn? Và, không được làm điều mình muốn? Cái vẻ lạc lõng người ta cảm nhận trong giọng hát Lưu Hồng, có ý nghĩa tương tự chăng? Nghe nói Lưu Hồng không tiếp tục hát nữa. Nếu đó là sự thật thì quả là một điều đáng tiếc. Nhưng tiếp tục làm gì khi mình không còn thích nữa? Không biết Lưu Hồng bắt đầu hát từ bao giờ. Người viết bài này chỉ được nghe Lưu Hồng từ sau 75. Cũng không nhớ bằng cách nào đã có được trong tay một cái CD hay một cuộn băng nhỏ ghi âm tiếng hát Lưu Hồng. Đó là những ngày buồn bã.

Buồn đến độ người ta có cảm tưởng như không khí Sài Gòn đặc lại và người ta luôn ở trong tình trạng ngộp thở. Người viết đã nghe Lưu Hồng trong những ngày ấy. Bài viết này như một lời tạ ơn xin gửi tới Lưu Hồng.

Lưu Hồng

Tháng Tư, chết và sống!

hung-viet.org

Huy Phương

22 Tháng Tư 2013

Post by Sơn râu 11 Aug 2025

Chết không phải là đã tắt hơi thở

Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

(Chúc Thư)

Thẻ bài tử sĩ tìm thấy trên bãi biển An Dương. (Hình: Huy Phương)

Trong một cuộc phỏng vấn với một sĩ quan VNCH đã trải qua những giờ phút kinh hoàng trên bãi biển An Dương vào ngày 26 Tháng Ba, 1975, khi một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị kẹt lại trên bờ biển, trước mặt là biển cả chỉ có một chiếc tàu nhỏ hải quân vào đón thương binh, sau lưng là quân thù và đạn pháo, phần lớn những người lính thất trận đã bị “chết cạn” trên bờ biển tại đây hay bị bắt làm tù binh, tôi đã đặt câu hỏi với người lính còn sống sót đến hôm nay, là điều gì khiến cho ông suy nghĩ nhất, sau ba mươi tám năm dài trôi qua?

Điều ông nói có thể khi mới nghe qua, chúng ta ngạc nhiên, nhưng nghĩ lại nghe thật giản dị, nhưng không khỏi xót xa:

“Điều ân hận của tôi là đã không được chết!”

Tôi nghĩ rằng câu nói của ông, người lính già, trong giờ phút nhắc lại chuyện cả một quân đội tan rã, bao nhiêu người đã nằm lại trên những con đường lui binh, trên những bờ biển tuyệt vọng của miền Nam, là một câu nói phát xuất từ đáy lòng, không khoa trương hay đại ngôn chút nào, bởi sự sống có trăm nghìn lần khó khăn hơn sự chết!

Bản năng sinh tồn của mọi loài là cố bám lấy sự sống. Chúng ta cũng không trách ai những ngày hỗn loạn, tìm được một chỗ trên trực thăng hay ra đi với toàn bộ gia đình an toàn trên một chiến hạm ra khơi trong khi xe tăng của địch quân đã vào đến Sài Gòn. Khi những con tàu rời bến Khánh Hội, khi những chiếc trực thăng đã bốc lên cao giữa một thủ đô đang hứng chịu những quả đạn pháo kích cùng với cảnh hỗn loạn của một giờ thất thủ, ở những nơi nào đó, có những người lính đang tuân thủ lệnh chỉ huy giữ đất một phút không rời, hay thất vọng đành quàng vai ôm nhau, chia chung cái chết.

Ba mươi tám năm sau, những người còn sống sót, bằng cách này hay cách khác, lần lượt ra khỏi đất nước, đã thật sự còn sống không hay cũng như đã chết. Có những vị tướng đã chết lẫm liệt, cho những ông tướng khác sống cuộc đời tầm thường trên đất khách, ngày hai buổi sáng chiều và chết quạnh quẽ, hay thậm chí còn quay về bợ đỡ kẻ thù.

Có những người lính đã chết trong những giờ cuối cùng để cho chiến hữu họ được sống, qua ngày đoạn tháng, trở về trên những con đường tắm máu ngày xưa, nhưng đầu óc trống rỗng, ngu ngơ như những người mất trí nhớ. Có những người còn thân thể còn lành lặn nhưng tâm thần tê liệt, trở lại rong chơi giữa số phận nghiệt ngã của đồng đội què cụt quanh mình.

Trở lại câu trả lời của người lính già, ông nói ngày xưa, nếu nằm lại với anh em trên bãi biển, cái chết đến một cách thật dễ dàng, nhưng cái sống bao nhiêu năm nay quả là khó, vì không biết sống thế nào cho đáng sống, cho khỏi hổ thẹn với chính mình, nhất là khi nghĩ đến những người đã chết ngay trước mặt mình, đã chết ngay sau lưng khi mình đã may mắn được ra đi.

Sống phải chăng không dễ, vì sự sống còn mang nặng nghĩa vụ với những người đã chết. Chúng tôi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Ngày 21 Tháng Sáu, 1945, khi quân đội Nhật không giữ được Okinawa, tại bộ tư lệnh của đơn vị tại Mabumi, Tướng Mitsuri Ushijima đã viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo, trước khi tiến hành việc mổ bụng tự sát, ông đã nói với Đại Tá Hiromichi Yahara:

“Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng đây là lệnh từ cấp chỉ huy của ông!”

Yahara do đó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.” Như vậy, sống còn phải chăng cũng là một nghĩa vụ?

Bia mộ 132 tử sĩ. (Hình: Tố Thuận)

Lòng dũng cảm không chỉ dành cho những vị anh hùng đã tự sát. Sống cũng cần lòng dũng cảm. Từ ba mươi tám năm nay có những người sống trong sợ hãi, tê cứng tứ chi và đầu óc. Họ sợ khi trở về Việt Nam bị công an làm khó dễ, họ sợ con cái của họ còn ở bên kia sẽ bị liên lụy, họ sợ sẽ không được trở về để thăm viếng người thân, nếu ở bên này họ có một cử chỉ hay lời nói nào chống lại hay gây bất lợi cho chế độ trong nước. Toàn là những cái sợ cho lợi lộc của bản thân. Chúng tôi cũng xin nói thêm đây không phải là một người dân bình thường, tình cờ một đêm nọ, có mặt trên bãi biển, là điểm hẹn của những người vượt biển, nên bị lùa xuống ghe, bất đắc dĩ phải bỏ nước ra đi, mà họ là những người quyết định chọn cái chết để tìm con đường sống, hay đã đánh đổi bằng những năm tháng tù đày khốn khổ nơi chốn rừng thiêng nước độc. Họ cũng không phải là những người lính vô danh, những người này có hoạt động trong các hội đoàn, có tên tuổi, có chức vị.

Một lần tôi có hẹn phỏng vấn với một cán bộ xây dựng nông thôn trên một chương trình truyền hình về quá trình hoạt động của đơn vị ông trước năm 1975. Trước giờ thu hình, tôi gọi điện thoại cho ông, ở đầu dây bên kia, vợ ông trả lời “ông không có nhà.” Tôi ngỡ rằng ông đang trên đường đến đài truyền hình, nhưng khi tôi xưng danh tánh, bà vợ cho tôi biết “ông đã đi xa – out of town!” Trời đất! Mới hôm qua đây, ông “ừ è” với tôi, mà chỉ trong thời gian, chưa đến 24 tiếng đồng hồ, ông đã trốn chạy một buổi phỏng vấn, cũng là trốn chạy cái dĩ vãng mà ông thường tự cho là hào hùng ngày xưa, chỉ vì một nỗi sợ hãi nào đó, mà bản thân ông không đủ can đảm nói thật với tôi là ông sợ.

Một người nữa đang sống, bề ngoài có vẻ hào hùng nhưng còn sợ hãi. Đây là một cựu sĩ quan có chức vụ trong một hội đoàn cựu quân nhân, và vào dịp Tháng Tư năm nay, tôi muốn mời ông lên một chương trình nói về những ngày “lui binh.” Đến giờ thu hình, không thấy ông đến, sốt ruột, tôi gọi cho ông. Ông trả lời vắn tắt, trong khi đèn đuốc, sân quay, chuyên viên và cả tôi đang chờ ông: “Tôi bận, không đến được!”

Ông biết truyền thông đi xa, có khi về tận bên kia, cẩn thận ẩn mình đi là tốt. Có điều tôi không hiểu sao ông lại dấn thân đi làm việc cộng đồng, trong khi lòng ông đầy sự sợ hãi. Ông muốn về Việt Nam chăng, hay là ông còn mẹ, còn em mà ông lấy cớ muốn bảo vệ họ, sự sợ hãi lớn lao đến dường ấy hay sao? Bây giờ mà cái bóng ma cộng sản còn lởn vởn bao trùm lên đời sống của ông, một người đã cao bay xa chạy, trong khi tuổi trẻ ở trong nước, những người dân bị phản bội, sống giữa kìm kẹp tù đày, vẫn không hề biết sợ hãi là gì!

Tướng McArthur nói: “Old soldiers never die; they just fade away – Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi.” Chết đã đành, sống mà phai nhạt, mờ dần trong quên lãng như cỏ cây, thì còn gì buồn hơn nữa!

Chết và sống, điều gì khó hơn?

Huy Phương

Sự sợ hãi

hung-viet.org

22 Tháng Hai 2011

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Aug 2025

Trong lần giới thiệu tác phẩm mới xuất bản vừa qua, tôi xin cám ơn nhiều người bạn đã có lòng bước qua sự sợ hãi để đến với chúng tôi, nhưng cũng có nhiều bằng hữu chinh chiến một thời, những người đã nhảy vào An Lộc, vượt tuyến sang Hạ Lào, thường xem nhẹ cái chết, đạp lên đầu địch, lại chùn bước trước một vài tiếng hô đả đảo của những người cùng giới tuyến, dù chỉ nhắm vào địa điểm mà chúng tôi đã chọn để gặp gỡ các bạn.

 Chỉ vì địa điểm tổ chức giới thiệu sách, những người biểu tình đã thóa mạ nặng lời đối với tác giả cũng như những người tham dự một buổi sinh hoạt có tính cách văn học. Tôi nghĩ sự kiện này không đáng cho chúng ta phải sợ hãi. Không lẽ ngày nay chúng ta lại cảm thấy sợ hãi cả bạn lẫn thù.

Bao nhiêu năm qua, Cộng Sản phương Đông hay phương Tây cũng đều cai trị dân chúng bằng tạo ra sự sợ hãi. Chúng nói rằng tai mắt nhân dân (nói đúng là tai mắt công an và bọn mật báo viên rình mò), như những mắt trong mỗi trái thơm. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí và tinh thần đối kháng. Ra đường thì sợ người theo dõi, nói lớn thì sợ người nghe, nói thì thầm thì sợ người nghi có âm mưu, đến nỗi chồng sợ cả vợ, cha mẹ sợ cả con cái, sợ cả tiếng chó sủa, sợ cả tiếng lá xào xạc trong vườn. Não trạng sợ hãi của người dân khiến các chế độ độc tài càng ngày càng củng cố thêm sức mạnh. Tự do dân chủ như các quốc gia Pháp, Mỹ thì chính quyền lại sợ dân. Hiện nay trong nước người dân đã bắt đầu không biết sợ, như việc biểu tình, bao vây phủ chủ tịch, kéo nhau đi khiếu kiện, giăng biểu ngữ, viết báo, làm blog phê phán chính quyền… thì những người may mắn đã đến đất tự do như nước Mỹ vẫn con mang tâm trạng… sợ hãi.

Vài năm trước đây, trong khi thực hiện loạt bài về các tù nhân chính trị, tôi có tìm cách phỏng vấn một vị cựu đại tá đã ở trong nhà tù Cộng Sản nhiều năm. Sau khi tra hỏi nhiệm vụ và gốc gác tôi, ông vào đề:

– “Tôi sợ anh là người của Việt Cộng gài vô để hỏi tôi”.

Tôi thưa với ông, có lẽ cũng khá vô lễ:

– “Thưa anh, anh đã ở tù Cộng Sản 13 năm, anh đã làm ‘lý lịch trích ngang’, bản tự khai hằng trăm lần, xin lỗi anh, lý lịch anh đã rách teng beng, có gì để Việt Cộng khai thác thêm nữa mà phải giấu!”

Một cựu cán bộ XDNT có gởi cho tôi một cái CD có mấy bản nhạc thu trong buổi trình diễn ở trại huấn luyện Vũng Tàu giữa năm 1969. Vì không gặp mặt trực tiếp, người này gởi CD cho tôi ở “front desk” khách sạn và nhắn cho tôi qua điện thoại:

– “Anh đến lấy gấp, đừng để cái CD này vào tay Cộng Sản thì phiền lắm!”

Gần đây, tôi có buổi hẹn thu hình cho một cán bộ để nói về những hoạt động tại nông thôn để tranh thủ quần chúng trước năm 1975, nhưng cuối cùng buổi phỏng vấn phải dẹp bỏ, vì lý do cán bộ này thay đổi ý kiến vì sợ lên truyền hình, Việt Cộng thấy mặt. Còn sợ Việt Cộng trả thù, không cho visa về nước, hay làm khó dễ sao đó, vị này không nói rõ. Cũng đã nhiều lần, tôi có hẹn với một vài vị cựu tù nhân hay cựu quân nhân để thăm hỏi và đưa ra những trường hợp điển hình cũng như những gương hy sinh đặc biệt của người lính miền Nam, hy vọng để lại một tấm gương cho con em. Nhưng phút chót (khi nào cũng phút chót) tôi nhận được một vài lời nhắn gởi:

– “Thôi anh thông cảm, tôi còn hai đứa con gái ở Việt Nam, tôi không muốn chúng nó phải gặp phiền phức”, hay:

– “Tôi thì không về đâu, nhưng vợ tôi thường đi Việt Nam lắm, xin hẹn anh dịp khác!”

Tôi biết sẽ không bao giờ có dịp khác, vì mỗi năm ông bạn này càng già, càng gần với cái chết, đáng lý ra bớt sợ hơn, ông lại càng ngày càng sợ. Nhưng trước khi chết ông lại trăn trối muốn được phủ cờ!

Nhiều người không đi biểu tình chống Cộng vì sợ Cộng Sản quay phim chụp hình. Nhiều người không dám tham gia hội đoàn hải ngoại vì mỗi năm còn phải đi Việt Nam một lần. Thật tình tôi chưa nghe ai bị làm khó dễ vì đi biểu tình hay chỉ xuất hiện trên đài truyền hình để nói lại vài câu chuyện cũ. Hơn ba mươi năm qua, ngay cả những hồ sơ mật của CIA, Bộ Quốc Phòng Mỹ cũng đã được giải mã, trong các trại tù “cải tạo” các bạn tù đã khai báo hằng trăm lần, còn các “tội” như “sĩ quan, nhân viên chế độ cũ”, “đảng viên phản động” thì chúng ta đã phải trả giá bằng nhiều năm trong nhà tù khổ sai của Cộng Sản rồi. Có lẽ vì sợ, cho nên hiện nay tại những vùng đất nhiều người Việt tỵ nạn Cộng Sản nhất, đã có báo, đài CS hiện diện lẫn lộn trong chúng ta và cả báo CS từ trong nước đã bày bán công khai trên các sạp báo hải ngoại. Nếu tiếp tục sợ, một ngày nọ cờ đỏ sao vàng sẽ hiện diện ngay tại đất Bolsa.

Ngay đối diện với kẻ thù, trong các trại tù tập trung, cũng có người cởi áo, phanh ngực nói với bọn cai tù:

– “Mày bắn tao đi!” hay phát biểu sau giờ “học tập”: “Tôi xác định không bao giờ tôi tin tưởng vào đường lối khoan hồng, nhân đạo gì của các ông!”

Bao nhiêu người đã bị nhốt vào cũi sắt, xà lim, bỏ đói hay bị đem ra bắn vẫn hiên ngang trước mặt kẻ thù, ngay trong cảnh “chim lồng cá chậu” và chắc chắn sẽ nhận lãnh việc trả thù tức khắc của Cộng Sản.

Thật ra người ở lại, nhất là anh em cựu chiến binh và thương binh, trong hoàn cảnh nghèo đói và áp bức, họ cũng hy vọng vào những người anh em chiến hữu đã có cơ hội may mắn ra đi làm được một điều gì, nói được một điều gì cho đồng bào trong nước. Nhưng cuối cùng họ chỉ thấy những “Việt kiều áo gấm về làng” vung vít, đãi đằng, khoe khoang, hợm hĩnh về những điều may mắn mà có của mình. Không những sợ hãi mà một số người còn tiếp tay tuyên truyền cho chính quyền Cộng Sản bằng những cái nhìn và nhận xét hời hợt về cảnh tượng nhà cao cửa rộng, nhà hàng khách sạn, “thú ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay”. Họ lên án những người đi biểu tình ở hải ngoại, họ không bằng lòng với những người còn chống Cộng, họ sợ sự bất an, không đi Việt Nam được, mất quyền lợi làm ăn hay lo chuyện con cái ở Việt Nam.

Nhiều nghệ sĩ, tiêu biểu là một số lớn ca sĩ, bỏ chế độ CS chạy sang đây, “trắng da, dài tóc”, “ăn ngon, mặc đẹp”, nhưng ngày nay không đám đứng dưới lá cờ Việt Nam, không dám dành một suất hát cho các thương phế binh VNCH đói khổ ở quê nhà, vì sợ bị làm khó dễ, không được về Việt Nam kiếm ăn.

Hiện nay tại hải ngoại, có nhiều hội đoàn, lại là những hội đoàn cựu quân nhân VNCH, với những người đã mang màu cờ, sắc áo năm xưa, tập họp lại với nhau mà lại tuyên bố chủ trương “không làm chính trị”, phải chăng vì sợ hãi, không muốn nói đến chuyện Quốc, Cộng. Lúc bỏ nước ra đi, nếu không vì lý do chính trị, không ai chấp nhận cho chúng ta vào đây. Chúng ta có thể không làm chính trị đảng phái, chủ trương giành quyền lực chính trị, nhưng chúng ta cần phải có thái độ chính trị, hiểu theo nghĩa tối thiểu là thái độ của một công dân đối với chính quyền hiện nay đang cai trị đất nước của chúng ta. Bỏ nước ra đi, mặc lại bộ quân phục, chào quốc kỳ, hát quốc ca mà tuyên bố là không làm chính trị!

Ngay đối với tôn giáo, mà chúng ta thường nghe câu nói “tôn giáo không làm chính trị” ngay Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ trong “Tổng huấn về Ơn Gọi và Sứ Mệnh của Người Giáo Dân Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế” đã nói rằng: “…Các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào ‘chính trị’, nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế”. Vậy mà một vài hội ái hữu cựu quân nhân trước 1975, bỏ nước ra đi vì chạy trốn chế độ chính trị trong nước, lẽ nào cho mình là “phi chính trị?”

Có những người không biết sợ hãi nên lịch sử mới có Budapest, mới có Cộng Sản Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, mới có việc dẹp bức tường Bá Linh. Có những người không biết sợ hãi nên mới có Thiên An Môn.

Chỉ nói những chuyện gần đây thôi, nếu sợ hãi thì đất nước không thể nào có những người trẻ tuổi như LS Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân hay nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Còn sợ hãi thì mãi chúng ta sẽ còn mãi đứng trước những tên công an xấc láo, lạnh lùng, kẹp tờ giấy 5 đô la vào passport, cười giả lả, “giả dại qua ải” cho xong một kiếp người.

Chúng ta có những người tranh đấu vì quê hương, đất nước, thì cũng có những người sợ hãi, cầu mong chút yên thân để có thể ra vào Việt Nam, hưởng chút lạc thú cuối đời, còn chuyện quê hương, đất nước thì “sống chết mặc bây”.

 Huy Phương