Thuở đi bay

hung-viet.org

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

30 Tháng Năm 2025
Pist by Sơn râu 17 Aug 2025

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Lời Tác giả:

Thấy tin tức mấy cô Tiếp Viên Hàng Không của Việt Nam bây giờ đi bay mà mang hàng quốc cấm coi như đời tàn. Nhất là thời buổi văn minh hiện nay đồ đạc đều qua máy kiểm soát họ thấy tất cả mọi thứ rất rõ.

Ngoài ra tất cả các phi trường luôn luôn nhắc nhở hành khách không nên giữ đồ hay mang đồ giùm cho bất cứ người nào mình không quen biết.

Mấy cô Tiếp Viên này đủ thông minh để hiểu.

Cho nên tôi ngẫu hứng viết về Air Việt Nam trước năm 1975 để nhiều người hiểu thêm về công việc của các Tiếp Viên Hàng Không Air Việt Nam [Cộng Hòa] trước kia mà tôi đã từng làm và trong thời gian tôi làm chưa từng thấy Tiếp viên Hàng Không của Air Việt Nam mang đồ quốc cấm.

Trân trọng.

–Minh Thảo Elizabeth Hoàng.

***

Khi còn nhỏ, mỗi lần tôi theo gia đình ra phi trường đón người nhà. Tôi thích  ngắm nhìn các nữ Tiếp Viên hàng không của Air Việt Nam mặc đồng phục với chiếc áo dài màu xanh da trời, đầu đội mũ thêu con rồng, tay đeo bao tay trắng trông đẹp và dễ thương làm sao.

Các cô khi thì đi riêng, khi thì đi từng nhóm với phi hành đoàn.

Tôi ước ao không biết bao giờ tôi cũng được đi bay như họ để được đặt chân tới những nước văn minh trên thế giới để được tận mắt ngắm nhìn những thành phố đồ sộ với những công trình kiến trúc độc đáo, những chiếc cầu vắt chéo chạy ngang dọc hay thăm viếng những di tích lịch sử tôi từng đọc trong sách vở.

Huy hieu AirVietNam trước 1975

Tuy máy bay Air Việt Nam không đi những nước Âu Châu, nhưng mỗi khi đi vacation tiếp viên phi hành đoàn hay đi ngoại quốc vì vé máy bay được giảm giá tới 90% cho các nhân viên phi hành đoàn theo luật lệ hàng không.

Một hôm chị bạn thân của tôi học Đại học Luật khoa trước tôi đang làm việc cho văn phòng hành chánh của Air Việt Nam cho tôi biết Air Việt Nam đang tuyển lựa Tiếp Viên Hàng Không. Chị thúc dục “Thảo ghi tên đi thi đi, người như bạn nên làm nghề này”.

Tôi liền ghi tên dự thi. Điều kiện ưu tiên là phải đẹp, cao từ 1 mét 55 trở lên, nói được hai thứ tiếng Anh và Pháp. Trình độ học thức Tú Tài trở lên.

Trước tiên tôi phải gặp một vị của Air Việt Nam phỏng vấn. Khi được vị này chấp nhận thì tôi mới chính thức qua 8 vị giám khảo khác gồm cả nam lẫn nữ phỏng vấn. Các vị này thay phiên mỗi người đặt một câu hỏi để dò xét sự hiểu biết của tôi.

Thấm thoắt hôm nay đã đến ngày phỏng vấn. Tôi đứng trước tủ áo lưỡng lự không biết chọn chiếc áo nào mặc cho hợp với thời tiết và nước da của tôi.

Ướm thử từng cái áo trên người cuối cùng tôi chọn chiếc áo dài màu vàng anh, quàng chiếc khăn voan trắng ngà quanh cổ. Tôi trang điểm chút phấn hồng trên hai má, đánh son môi màu hồng nhạt, đánh mascara trên hai hàng lông mi. Ngắm nhìn mình trong gương tôi tạm ưng ý và ra khỏi nhà.

Khi vào phòng để gặp các vị giám khảo, tôi hồi hộp thấy họ nhìn tôi chăm chú. Tôi cố gắng bình tĩnh mỉm cười chào ban giám khảo và tập trung trả lời những câu hỏi của họ.

Cuối cùng tôi đã pass cuộc thi và được đưa đi may đồng phục, họ cho mũ giầy bóp đều do hãng Air Việt Nam đài thọ.

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Họ phát cho chúng tôi mỗi người một vali nhỏ sách tay để đựng đồ đạc khi đi bay.

Sau đó chúng tôi phải qua một khóa huấn luyện cứu thương do một y tá chuyên môn dậy và hướng dẫn. Môn học này phần lớn ai cũng pass.

Air Việt Nam cũng huấn luyện chúng tôi cách mở phao và những dụng cụ khẩn cấp khi máy bay lâm nạn.

Kế chúng tôi phải đi bay tập sự trong ba tháng cách bưng đồ ăn, cách đọc thông báo trước khi máy bay cất cánh và trước khi máy bay đáp xuống phi trường dưới sự kiểm soát của mấy chị làm lâu năm trong ngành (Chef–de–cabin).

Sau ba tháng tôi đã pass lúc đó mới chính thức được đi bay và làm lâu năm tôi cũng trở thành Chef–de–cabin khi đi bay cùng với những tiếp viên mới vào nghề. Chương trình sắp xếp đi bay chúng tôi phải bay xen kẽ đường bay quốc nội và quốc ngoại. Khi tôi làm lâu năm được đi bay đường quốc ngoại nhiều hơn.

Tuy nhiên chúng tôi phải pass khóa bơi và lặn do Hàng Không Dân Sự chấm điểm vì đường bay ngoại quốc như Hồng Kông sân bay ngay bờ biển, cũng như để biết ứng phó khi phi cơ khẩn cấp phải đáp xuống biển.

Khi đi thi bơi thật vui. Vì có vài anh biết bơi nhưng không lặn được, người cứ nổi lềnh bềnh trên mặt nước dù rán làm nhiều lần, nước mắt nước mũi chảy ra thật thảm.

Vì vậy mấy ông chấm điểm nói “cứ nhìn sâu dưới đáy hồ thấy tơ lụa, vải vóc thì người sẽ chìm.” Vì khi đó đi đường bay Hồng Kông và Đài Loan mang vải vóc về bán rất có lời.

Tôi đứng trên bờ phì cười nhưng cũng lo không biết mình lặn được nửa hồ bơi theo sự đòi hỏi hay không. Tới phiên tôi, tôi suy nghĩ đánh liều lên đứng trên cầu cao nhảy xuống chắc chắn thân mình sẽ chìm. Tôi nín thở quơ tay lặn qua hẳn bờ hồ phía bên kia lúc nào không hay. Tôi đã pass và chính thức đi bay.

Thời đó Air Việt Nam chỉ có phi cơ Caravel đi ngoại quốc. Sau này bay tới Nhật Air Việt Nam mới có thêm máy bay Boeing mới. Những đường bay quốc ngoại gồm có Nhật, Thái Lan, Singapore, Hồng Kông, Taiwan, Cambodge và Lào. Phần lớn những đường bay ngoại quốc phi hành đoàn phải ngủ qua đêm. Chúng tôi đều có phòng riêng biệt ở Hotel để ở.

Đường bay trong nước là máy bay mướn của Đài Loan, phi công cũng người Đài Loan lái. Máy bay cũ nên hay bị trục trặc, phải sửa nên hay trễ giờ.

Bởi vậy dù ngày phòng hờ (stand by) của tôi nhưng luôn luôn bị gọi đi bay. Nhiều khi tôi muốn nghỉ cũng không được.

Vào thời kỳ tôi làm việc, máy bay Caravel do phi công người Việt Nam lái, Máy bay Boeing do người Mỹ lái và máy bay mướn của Đài Loan do phi công người Đài Loan lái.

Mấy ông Phi công Đài Loan đi bay đường quốc nội, ham ăn hết sức. Mỗi lần tới sân bay họ toàn gọi đồ ăn Tàu mắc tiền để ăn trưa. Tôi nhìn không ăn nổi vì mệt. Nên chỉ ghé quán ở phi trường ăn bún bò hay vài cái nem chua là xong bữa ăn hoặc có khi chẳng ăn gì ngoài uống nước trái cây. Cho nên hồi đó tôi rất eo và mảnh khảnh.

Tất cả những chi phí ăn uống đều được hãng Air Việt Nam đài thọ.

Chúng tôi phi hành đoàn có thể mua hàng hóa ngoại quốc với một mức lượng cho phép. Nếu quá tải sẽ phải đóng thuế hay bị phạt tùy theo loại hàng hóa.

Đường bay Lào, vàng nổi tiếng tốt và rẻ, nhưng chỉ có thể mua đồ trang sức chút đỉnh thôi. Có một tiếp viên hàng không phái nam mới đi bay đã dát vàng mỏng bó vào giầy để che mắt quan thuế đã bị bắt và bị đuổi khỏi hãng. Quan thuế và kiểm nã họ rất tài tình, rất chuyên nghiệp khó có ai qua mặt họ được và họ có đủ dụng cụ để kiểm soát dù bạn cất giữ đồ bất cứ ở đâu.

Về an ninh kiểm soát ở phi trường rất khó khăn. Mọi người phải qua tới 3 cửa ải, trước tiên là quan thuế, thứ hai là kiểm nã và cửa ải cuối cùng ở ngoài sân bay là cảnh sát.

Cho nên khó có ai thoát nếu giấu giếm hay mua đồ quốc cấm.

Vào dịp Noel hay Tết mấy vị này nhờ chúng tôi mua đồ ở ngoại quốc giùm. Chúng tôi không bao giờ tính tiền, chỉ là những món quà nho nhỏ cho vui vẻ.

Thông thường đi những chuyến bay quốc ngoại tôi phải có một người khiêng đồ giúp tôi để mang hành lý ra xe. Những người này làm hãng trả lương để giúp phi hành đoàn. Tôi phải chọn một người vui vẻ, nhanh nhẹn giúp riêng tôi. Dù rơi vào những chuyến bay không đúng giờ cho người này làm nhưng họ vẫn tới phi trường có mặt để giúp tôi. Họ rất vui làm việc cho tôi nhưng tôi luôn luôn không quên cảm ơn họ bằng cách mua những món quà ngoại quốc hay đồ chơi cho con cái họ hoặc đồ dùng cho gia đình họ. Những món quà này thật sự chẳng đáng giá gì nhưng rất quý đối với họ vào thời buổi lúc đó.

Chúng tôi phi hành đoàn không bao giờ kéo vali lớn hay khiêng đồ đạc.

Khi ra khỏi máy bay chúng tôi chỉ đeo trên vai một cái bóp và kéo theo một chiếc vali nhỏ đựng đồ lặt vặt như kiếng, telephone vân vân như quý vị ra phi trường đều thấy tất cả các tiếp viên phi hành đoàn của các công ty ngoại quốc ở phi trường đều làm như vậy. Đồ đạc của phi hành đoàn sẽ do các người khuân vác của Air Việt Nam mướn để giúp chúng tôi mang vào phi trường cho quan thuế kiểm soát rồi mới được mang ra xe.

Một hôm tôi bay trên chuyến DC4 đi Đà Nẵng. Khi đáp xuống phi trường thì thắng không ăn nên đoàn cứu cấp phải quăng những giây cáp dưới bánh xe phi cơ để giữ phi cơ lại đã làm cho một bánh xe phi cơ bị gãy. May mắn phi trưởng nhanh trí đã cho máy bay chạy trên những thảm cỏ và đất bên cạnh phi đạo. Bụng máy bay đã sụt sâu dưới đất nên máy bay mới dừng lại. Xe cứu hỏa, xe cứu thương bóp còi inh ỏi chạy tới giúp hành khách thoát ra khỏi máy bay gấp rút để tránh hỏa hoạn. Tôi và phi hành đoàn vẫn phải bình tĩnh để giúp đỡ hành khách ra khỏi máy bay và chúng tôi ra sau cùng. Cảnh tượng lúc đó không khác gì những cảnh phi cơ lâm nạn chiếu trên màn hình. Tất cả phi hành đoàn và phần lớn hành khách được an toàn, chỉ có mấy người bị thương nhẹ mà thôi.

Tôi cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi thoát khỏi tai nạn này.

Tôi bước ra khỏi máy bay, mũ bóp đều mất, tóc tai bù xù và sau đó đã được máy bay của MỸ giúp đưa chúng tôi về Sài Gòn lại. Tuy nhiên cá nhân tôi chẳng thấy Air Việt Nam gửi chúng tôi đi nhà thương để kiểm tra sức khỏe. Thật thiếu sót.

Tôi thấy nghề làm tiếp viên hàng không cũng rất nguy hiểm. Tôi tự hỏi không biết có nên tiếp tục đi bay nữa hay không. Chưa kịp hoàn hồn thì hai ngày sau lại có giấy báo cần tôi đi bay gấp vì thiếu người. Tôi đi làm trở lại và tự an ủi và nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có số mệnh. Nhất là thực tế mưu sinh cần giúp đỡ cho gia đình và bản thân tôi đã thắng thế. Tôi đi bay trở lại cho tới khi lập gia đình với chồng tôi.

Minh Thảo Elizabeth Hoàng-3

Người yêu của tôi yêu cầu sau khi làm đám cưới anh muốn tôi nghỉ bay vì không muốn vợ đi xa vắng nhà vì những chuyến bay ngoại quốc phải ngủ qua đêm. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh vì tôi thấy gia đình hạnh phúc là quan trọng hơn tất cả. Mặc dù đi bay tôi có đồng lương khá cao.

Theo tôi khi đã yêu, kiếm được người yêu lý tưởng hợp với mình thì phải biết giữ lấy hạnh phúc dù phải hy sinh về vật chất.

Blaise Pascal đã nói “Hạnh phúc duy nhất trên đời là Yêu và được Yêu”

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

*****

THƯ CỦA BÀ Minh Thảo Elizabeth Hoàng QUẢ PHỤ CỐ ĐẠI TÁ HOÀNG NGỌC LUNG *

(In Loving Memory)

Lời Tác giả:

Thưa Quý Vị,

Thưa Quý Vị, Tôi muốn chia sẻ tới quý vị những ai đã biết nhà tôi và chưa biết về anh. Những niềm đau xót vợ mất chồng, con mắt bố của gia đình chúng tôi sẽ được xoa dịu rất nhiều nhờ ân tình của quý vị. Đâu đây vong linh nhà tôi chắc sẽ cảm động vẫn có người tưởng nhớ tới anh một quân nhân hết lòng phục vụ Tổ Quốc bằng Danh Dự và Trách Nhiệm.

Bà Quả Phụ Hoàng Ngọc Lung

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Anh Lung Yêu Quí,

Thấm thoát anh ra đi đã được năm năm, đã để lại biết bao sự thương nhớ của em và các con.

Em biết rằng luật tạo hóa có sinh có tử. Đời sống hôn nhân chẳng thể bền mãi mãi, rồi cũng phải đến lúc vĩnh biệt nhau.

Em rất hãnh diện đã đi được một bước đường dài 50 năm cùng anh. Con đường chúng ta đi không phải lúc nào, chỗ nào cũng đầy hoa thơm cỏ lạ. Anh và em đã trải qua nhiều chỗ gập ghềnh, chông gai. Nhưng chúng ta đã nắm tay nhau bước đi trong niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự hướng dẫn bao dung của Thiên Chúa và niềm tin đó là kim chỉ nam của đoạn đường đã qua của chúng ta.

Mỗi ngày tuổi già như thủy triều dần dần dâng cao trên bãi cát và sức khỏe lão hoá cũng theo thời gian. Anh và em đã nương tựa vào nhau, quấn quýt bên nhau để tiếp tục cho chặng đường tiếp nối cho tới ngày anh lìa xa em và các con. Chúng ta đã cố gắng gìn giữ tình thương yêu nơi các con cái và hãnh diện các con của chúng ta rất hiếu thảo và thành tài trong xã hội.

Em làm sao có thể quên được những ngày chúng ta hạnh phúc bên nhau. Thuở ban đầu đã đưa chúng ta vào một chân trời hoa mộng, với những náo nức của những buổi hẹn hò. Anh đã chờ đợi em nơi cổng trường Gia Long với tà áo trắng, rồi sau đó là nơi góc đường Duy Tân khuôn cửa trường đại học Luật Khoa và cuối cùng là tà áo Thiên Thanh xanh da trời nơi các chuyến bay ở phi trường Tân Sơn Nhất và lãng mạn hơn ở dưới những hàng liễu xanh, bên dòng suối nước.

Thời gian tuyệt đẹp này bỗng nhiên bị giông tố của thời cuộc đã đưa chúng ta đi đến hôn nhân. Anh là một quân nhân với những âu lo về thế sự lúc đó nên anh muốn đi tìm một tia sáng chan hòa tình yêu như một linh dược để cho tinh thần của anh được bình thản hơn và khỏa bớt được những suy tư.

Em mãi mãi nhớ câu nói của anh “Anh đã tìm thấy vũ trụ của anh ở nơi em người anh yêu thương, để từ đó trở đi anh không còn phải đi khắp vũ trụ nữa để tìm kiếm người trong mộng”. Và anh đã ngâm câu thơ “Mắt em là một dòng sông, thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em”. Em thật cảm động khi nghe những lời nói đầy chân tình của anh.

Em và các con rất hãnh diện về anh. Đối với gia đình, anh là một người chồng chung thủy luôn yêu quí săn sóc em. Đối với các con, anh là một người cha gương mẫu mà các con rất kính yêu. Đối với Đất Nước Tổ Quốc, anh đã mang tuổi thanh xuân của mình ra phục vụ quân đội suốt 24 năm trường với nỗ lực siêng năng, kiên trì hoạt động với hết khả năng của mình.

Anh là một cấp chỉ huy tài giỏi, trí thức, đức độ và nhân hậu do các sĩ quan làm việc dưới quyền của anh đã khen tặng. Đó là món quà tinh thần rất quí báu không thể mua được bằng tiền bạc, vật chất.

Anh đã được sự nể phục của các tướng tá Đồng Minh với những văn bằng và thư từ khen tặng. Đặc biệt anh cũng được sự kính trọng quí mến của thuộc cấp toàn ngành tình báo chiến trường Việt Nam.

Dù anh đã xa lìa em nhưng hình bóng anh và những kỷ niệm, những ngày hạnh phúc tràn trề bên nhau mãi mãi ngự trị trong tâm khảm của em.

Bây giờ mỗi khi về nhà thiếu bóng dáng anh, em cảm thấy trống vắng, cô đơn vô cùng và em đã thức trắng nhiều đêm. Em không còn thấy tiếng anh săn sóc hỏi han em mỗi khi em về nhà, em không còn nghe thấy tiếng chân anh nhẹ nhàng ra khỏi phòng ngủ mỗi buổi sáng để tránh em thức giấc. Ôi biết bao kỷ niệm, mỗi lần hồi tưởng lại lòng em dào dạt thương nhớ anh vô cùng.

Dù sao chăng nữa em sẽ cố gắng can đảm sống nốt cuộc đời còn lại để săn sóc các con cháu của chúng ta.

Em xin anh hãy yên tâm thanh thản nơi miền Đất Hứa dưới sự che trở của Thiên Chúa.

Vong linh anh sẽ theo lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà mà yên lòng ra đi vì anh đã phục vụ tổ quốc bằng Danh Dự và Trách Nhiệm của một quân nhân.

Với gia đình, anh đã làm tròn bổn phận của một người chồng và người cha mà em và các con luôn thương yêu, kính phục.

Thương nhớ anh vô vàn,

Vợ anh,

Minh Thảo Elizabeth Hoàng.

* Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, nguyên là Trưởng Phòng II Bô TTM/QLVNCH.

Qua đời ngày 24 tháng 11 năm 2017 tại tiểu bang Fairfax,Virginia – Hoa Kỳ

***

Sau đây là một bài thơ bằng tiếng Anh cho người chồng quá cố của tôi.

“I Thought of You Today

I thought of you with love today,

but that is nothing new.

I thought about you yesterday and days before that too.

I think of you in silence,

I often speak your name.

all I have are memories and your picture in a frame.

Your memory is my keepsake with which I’ll never part.

God has you in His keeping,

I have you in my heart”

Tôi xin đính kèm mấy tấm hình của chúng tôi:

Đám cưới của chúng tôi chụp lúc trao nhẫn cho nhau

Chúng tôi chụp trước khi đưa nhà tôi ra phi trường đi Pháp năm 1968

Chúng tôi chụp tại Pháp khi nhà tôi đi dự Hội Đàm Ba Lê

Nhà tôi chụp tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Chúng tôi chụp tại Mỹ

Độc Hành Tìm Xác Bạn

Lê Thiệp

Post by Sơn râu 17 Aug 2025

Mỹ Voi trang bị đến tận răng. Ngoài chiếc máy quay phim và hai ba chiếc máy ảnh quanh người còn một băng vải dầy với những cục pin và những cuộn phim. Trong đám lính tráng đứng lố nhố chờ trực thăng, Mỹ Voi to vượt hẳn lên. An Lộc vẫn bị cô lập và phương tiện ra vào duy nhất là trực thăng. Bọn nhà báo chúng tôi nếu muốn vào, chỉ có nước cứ chờ và may lắm thì có thể quá giang các phi cơ chở binh sĩ tăng cường hoặc chở đồ tiếp liệu. Ưu tiên hạn chế đó khiến bon chen để quá giang rất khó khăn. An Lộc cần lính, cần đồ tiếp liệu và không có ai rảnh rang để chiều những tên nhà báo. Đôi khi có được một hai chỗ, chúng tôi phải bắt thăm. Khi viên phi công gật đầu thì Mỹ Voi đẩy tôi lên trước và nhanh như cắt nhảy lên theo. Từ bãi trực thăng dã chiến vào An Lộc có lẽ chỉ chưa đến nửa giờ, nhưng viên phi công đã dặn khi vào đến An Lộc máy bay chỉ xà xuống và mọi người phải nhảy ngay để trực thăng sẽ cất cánh trở ra lập tức. Phải như vậy vì đề lô cũng như pháo địch đều nhắm vào trực thăng, một mục tiêu rất hấp dẫn.

Đúng như dự trù, khi chiếc trực thăng xà xuống cách mặt đất chừng hơn một thước và tôi thấy cái biển đề Đồn Điền Xa Cát thì những người lính nhanh như chớp nhảy xuống. Tôi còn dụ dự, Mỹ Voi vừa hét “nhảy đi” vừa đẩy tôi xuống. Đúng lúc hai đứa tôi đang chúi người chạy về phía trước thì một tiếng nổ inh trời. Cho tới sau này, tôi vẫn không biết đó là hỏa tiễn 122 ly hay súng cối. Trong chớp nhoáng chỉ thấy bụi mù và Mỹ Voi lộn vòng vòng trên mặt đất như con quay, máy một nơi người một nẻo. Tôi chồm theo, thấy anh lăn lộn miệng thì lảm nhảm “Kỳ này chết thật.”

Thú thật tôi sợ thấu trời xanh, cố đè anh xuống. Chỉ một thoáng sau, anh như tỉnh, bảo “Đau quá chắc què rồi.” Tôi không có nhiều kinh nghiệm nhưng lanh trí bảo “Nằm im, để xem bị ở đâu đã.” Tôi không thấy vết thương và cũng không thấy máu chảy nên hỏi “Ông đau ở đâu?” Mỹ Voi nhăn nhó, cố quặt tay ra sau sờ vào mông. Tôi bảo “Duỗi chân ra co chân vào thử xem.” Hai đứa nằm dúi ở bên lề dưới cái mương đã khô, pháo của Bắc Việt nã thêm vài ba trái và chiếc trực thăng mất hút trên trời. Mọi sự có vẻ yên, Mỹ Voi cố ngồi dậy được nhưng vẫn nhăn nhó vì đau. Khi đi hẳn vào chỗ an toàn và thấy anh đã đi lại được, tôi mới đủ bình tĩnh để đùa “Chưa bể gáo đâu, ông ơi!” Tôi thấy phía hông chiếc quần của Mỹ Voi thủng một lỗ cỡ đồng xu nên thò tay vào túi quần sau của anh cố lôi chiếc bóp ra. Chiếc bóp khá dày và xem xét thì thấy một mảnh đạn to chỉ cỡ hột ngô xuyên qua lớp lớp đủ thứ thẻ bọc plastic, thẻ quân nhân, thẻ MACV, thẻ nhà báo, thẻ căn cước và dăm ba cái thẻ cùng một sổ dày chi chít số điện thoại. Mảnh pháo kích văng trúng Mỹ Voi nhưng nhờ có chiếc bóp dày cộm đó mà anh thoát.

Khó tưởng tượng một mảnh nhỏ như vậy mà có thể đẩy một người to như Mỹ Voi lộn đi năm bảy vòng. Thật ra, đây không phải lần đầu, tôi chia xẻ cái chết trong đường tơ kẽ tóc với Mỹ Voi. Trước đó mấy ngày, chúng tôi đã cố vào An Lộc và khi biết một chi đoàn thiết giáp đang có mặt gần đó chúng tôi đã mò mẫm tính tháp tùng. Viên đại úy chỉ huy vui vẻ tiếp đón và buổi tối trước hôm hành quân lên đường, đại úy Đức Tài ân cần đãi tụi tôi nhậu đế với đồ nhậu rất dã chiến trong đó có ration C của Mỹ. Khi khởi hành, Đức Tài rủ tụi tôi ngồi trên thiết vận xa M116 chỉ huy. M116 trang bị nhiều máy móc truyền tin và đủ thứ máy móc điện tử khác, nhưng Mỹ Voi nhất định lái chiếc jeep đi theo vì có thể tụi tôi sẽ phải quay về bất cứ lúc nào. Trước khi khởi hành, cả đám tụi tôi năm sáu đứa được đại úy Đức Tài thuyết trình về lộ trình và cảnh cáo tụi tôi phải cẩn thận, vì đoàn xe phải băng qua một quãng trống không có chướng ngại vật che và như vậy rất dễ cho pháo địch. Nghe để mà nghe vậy, nhưng nhìn đoàn những chiến xa hùng hậu với pháo tháp như những khối thép, chả đứa nào trong tụi tôi bận tâm cả. Khi từ quốc lộ vừa băng ngang một cái trảng lớn thì pháo địch bắt đầu nổ tứ tung. Những tiếng réo và sau đó là tiếng nổ nghe đến rợn người khiến Mỹ Voi rúm lại và chiếc xe jeep chúi vào một lùm cây. Cả bọn nhào xuống nằm bẹp dưới đất. Thú thật, tôi không rõ có phải pháo của thiết giáp hoặc pháo yểm trợ từ xa trả đũa hay không nhưng chỉ nghe đạn nổ cùng tiếng rít trên không. Mọi sự diễn ra nhanh quá và không lâu sau đó tất cả bỗng im như tờ.

Tôi nhỏm người đứng lên. Trận An Lộc kéo dài cả tháng rồi và các đám cây bị chặt cụt cháy nham nhở giơ những cành còn lại như những bộ xương khô. Từ phía trước có tiếng la inh ỏi “Đại úy bị rồi”, “Đại úy bị rồi.” Chiếc thiết vận xa chỉ huy của Đức Tài trúng pháo và ông bị thiêu trong lòng xe. Khó mà nghĩ chỉ mới tối qua chúng tôi còn ngồi trong ánh nến lung linh nhậu đế và nói chuyện văn thơ. Đức Tài thuộc nhiều thơ và tôi còn nhớ ông cao hứng đọc thơ Đinh Hùng:

Hôm nay có phải là thu.

Mây năm xưa đã phiêu du trở về.

Cảm từ em bước chân đi.

Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.

Khi thấy chiếc poncho gói xác tạm quàn, chờ đưa ông về hậu cứ, chúng tôi đến nghiêng mình, mắt rớm lệ. Chuyện chết sống trong một nước chiến tranh không làm ai ngạc nhiên nhưng khi đối diện với thần chết là một chuyện khác. Tôi nhớ vào thời kỳ Mùa Hè Đỏ Lửa, chúng tôi bị kẹt tại Kontum nhiều ngày không cách gì thoát được vì phương tiện duy nhất rời khỏi nơi đây là đường hàng không. May mắn, khi máy bay riêng của tướng John Paul Vance ghé trong cuộc thị sát chiến trường có hai chỗ dư cho chúng tôi và khi bốc thăm thì tôi và Nguyễn Thế Tuấn Hải của đài Tiếng Nói Tự Do VOF được quyền vù đi trước. Ông bạn này có bí danh là Hải Lùn nhưng ăn to nói lớn và nhậu như hũ chìm. Phi cơ từ Kontum về Pleiku phải bay qua vùng Chư Pao nơi có một hẻm núi và chính nơi đó Cộng Sản Bắc Việt bố trí một hệ thống phòng không vô cùng dữ dội.

Trước khi leo lên phi cơ, viên phi công dặn dò rất kỹ và chúng tôi đều cài dây an toàn. Hai đứa tôi là người Việt duy nhất trên phi cơ ngồi lọt thỏm giữa những người lính Mỹ dềnh dàng trông còn to hơn với nón sắt, áo giáp và đủ thứ trang bị lỉnh kỉnh khác. Hình như mọi người ngồi trên trực thăng đều căng thẳng vì biết Chư Pao.

Quả nhiên khi bay giữa hai mỏm núi thì phi cơ trúng đạn, dù bay ở cao độ khá cao. Tôi không biết chuyện gì xẩy ra, chỉ thấy đột nhiên trực thăng chao đi, đảo vòng và mọi người nằm rạp xuống. Hải Lùn chúi trước mặt tôi và tôi thì hồn bất phụ thể. Phi cơ cứ thế tiếp tục chao đi chao lại giữa hai mỏm núi. Hải Lùn la chói lói “Thiệp ơi, tao chết rồi.” Phi cơ cứ chúi xuống. Tôi nhìn thấy cây cối xanh rờn dưới đất nghiêng đi, nghiêng đi và cũng nghĩ thế này là đi đứt. Hải Lùn chúi xuống trước mặt tôi, một tay ôm lấy mắt. Nói thì lâu nhưng mọi sự diễn ra nhanh đến độ tôi không định thần được.

Khi phi cơ đã lấy được thăng bằng, Hải Lùn tiếp tục la “Tao mù rồi. Tao mù rồi.” Tôi cố đẩy anh ngồi dựng lại, lôi tay anh ra xem có bị thương không. Một vệt máu chảy ra nơi khóe mắt, tôi đưa tay chùi. Hải Lùn bỗng như tỉnh lại, hỏi “Kính tao đâu.” May quá, tôi vớ ngay được cặp kính cận dầy cộm tròng vào mắt anh. Chuyện lạ nhất tới mãi sau này tôi vẫn tự hỏi là điều gì khiến trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh đó, Hải Lùn vẫn khư khư ôm chiếc máy chụp hình. Ngay khi phi cơ bình phi, viên phi công Mỹ quay xuống hỏi có ai bị thương không. Tôi ngồi xoay lưng về phía người phi công nên không rõ, nhưng Hải Lùn nhanh như chớp đưa máy lên bấm lia lịa. Chiếc trực thăng trúng đạn, kính vỡ văng mảnh tứ tung và viên phi công lãnh đủ, mặt đầy máu. Tấm hình một phi công Mỹ mặt máu me vẫn lái phi cơ an toàn về căn cứ Holloway ở Pleiku hôm sau được đăng tải khắp thế giới. Tôi nhớ là khi trực thăng đáp xuống thì xe cứu thương, xe cứu hỏa túa ra và những người bị thương trong đó có Hải Lùn được băng bó săn sóc chu đáo. Tối hôm đó, hai đứa tôi được anh em lính tráng đãi nhậu ở Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng. Tôi và Hải Lùn nhậu say mờ người và khi bước chân ra ngoài, hai đứa ôm nhau khóc tức tưởi. Tại sao khóc và làm sao có thể khóc được vẫn là một câu hỏi của hai đứa tôi khi ôn lại chuyện mấy chục năm trước.

Trong một hoàn cảnh khác và cũng vào lúc mấp mé tử sinh, Hải Lùn đã chụp một loạt hình nổi tiếng. Khi bốn trực thăng bay vào An Lộc, chiếc đầu có Bình Rỗ, chiếc thứ nhì có Hải Lùn và Dương Phục của Đài Quân Đội, Nguyễn Mạnh Tiến của Đài Sài Gòn. Khi vừa đến không phận đồn điền Xa Cam thì phi cơ Bình Rỗ trúng đạn bốc cháy và phi cơ thứ nhì xà xuống nhưng pháo và AK dữ quá khiến không xuống được phải bốc lên cao trở lại. Chính lúc đó, phi cơ trúng đạn và rơi xuống một bãi cỏ. Ai nấy chạy túa ra nấp vào những bụi cây. Rất may hai gunship có mặt liền tại chỗ bắn bảo vệ và ngay sau đó một trực thăng tới câu mọi người lên. Trong cảnh thập tử nhất sinh đó, Nguyễn Mạnh Tiến vẫn mở máy thu và nói như lạc giọng vào máy ghi âm tường trình sự việc xảy ra trong đó có lời nhắn nhủ “Đây là bản tường trình cuối cùng của đời phóng viên.”

Bản tường trình này may quá không phải là cuối cùng của đời phóng viên của anh nhưng đã được phát thanh với âm thanh thực của súng đạn cùng tiếng phi cơ cũng như tiếng la hét làm nền tạo một xúc động lớn cho thính giả. Tấm hình Hải Lùn chụp chiếc trực thăng câu người giữa chiến địa được tung ra khắp thế giới. Khi thấy tấm hình chạy trên trang nhất tờ Stars and Stripes, tôi hỏi và Hải Lùn cười khà khà bảo “Một xín.” Một xín là một ngàn đô la đủ cho cả nhà Hải Lùn sống vài tháng nhưng cái chua chát là không hề có tên Nguyễn Thế Tuấn Hải chua phía dưới như tác giả của tấm hình mà chỉ thấy mấy chữ UPI.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt và danh từ “leo thang” chỉ là thuật ngữ của báo chí Mỹ không thể phản ánh hết cái khốc liệt đang diễn ra từng giây phút trên mảnh đất này. Tin tức về Việt Nam ngày nào cũng được chạy tít lớn trên báo chí thế giới và những bản tin teletype từng giây từng phút đánh đi đủ thứ tin về Việt Nam. Nhưng tin còn chậm vì phải chờ báo và không ăn khách bằng hình ảnh, nhất là hình ảnh sống động trên truyền hình. Đạo quân săn phim săn hình của ngoại quốc đông như kiến. Rất nhiều người đã nổi tiếng vì tường trình về chiến tranh và cũng có nhiều người bỏ mạng trong lúc săn hình. Đáng nhớ nhất là bốn nhiếp ảnh viên trong đó có hai người nổi tiếng — Larry Burrows của Life và Henri Huet của AP — đã chết khi trực thăng bị bắn rơi trên chuyến bay từ Lào về Việt Nam. Nhưng ký giả cừ khôi nhất phải là Bernard Fall, tác giả hai cuốn sách trứ danh Hell in a Very Small Place và Street Without Joy. Nếu tính theo tỷ lệ thương vong thì số binh sĩ Mỹ chết ở Việt Nam rất thấp so với số ký giả hy sinh trong cuộc chiến. Hai người nữa cũng thường được nhắc tới là Francois Sully tử nạn cùng với tướng Đỗ Cao Trí và con của tài tử Errol Flynn là Sean Flynn bị Khờ Me Đỏ chặt đầu.

Không hẳn những bức hình được truyền bá khắp thế giới là do nhân viên chính thức của các báo hay các hãng thông tấn. Khi một bức hình được công bố bên dưới bao giờ cũng ký tên tác giả, nhưng rất nhiều hình chỉ ghi UPI hay Reuter thì phải hiểu thế nào? Trước hết, bản quyền là của các hãng này và người chụp không là nhân viên chính thức. Cuộc cạnh tranh săn tin, săn hình chiến tranh Việt Nam vô cùng gay go và các cơ quan ngoại quốc sẵn sàng bỏ tiền ra mua bất cứ tin tức, tài liệu hay phim hình nào có giá trị. Riêng về phim ảnh, họ mua của ai, đâu là nguồn cung cấp?

Chúng tôi vẫn đùa với nhau là đạo quân thứ năm hay mỉa mai hơn những “Kẻ Bán Gáo.” Gáo là cái đầu và quả thật lang thang giữa súng đạn thì vỡ đầu bể gáo không có gì đáng ngạc nhiên, nhất là khi không được võ trang hay trang bị mũ sắt áo giáp. Khí giới của họ là máy quay phim, chụp hình.

Phóng viên Việt Nam đặc biệt là người thuộc các đơn vị của Tâm Lý Chiến, Chiến Tranh Chính Trị hay các báo quân đội vì công tác và nhiệm vụ là những người phải xông xáo nhất đi xuống sâu nhất. Phải ghi nhận họ là những người vững tay nghề cầm máy không thua bất cứ ông Tây ông Mỹ nào nhưng lương bổng vô cùng hạn hẹp vì đa số là hạ sĩ quan đồng hóa.

Đáng nhớ nhất và đóng góp nhiều nhất phải nói tới những người đã tốt nghiệp khóa Phóng Viên Tiền Tuyến. Tổng cộng có 25 khóa sinh theo học lớp này. Họ được học quay phim, chụp hình với các huấn luyện viên người Mỹ như các ông Carter và Water, được huấn luyện về kỹ thuật săn tin, viết tin với các tên tuổi như Văn Quang Phạm Huấn, Nguyễn Đạt Thịnh là những sĩ quan hoạt động lâu năm trong ngành báo chí. Trong số 25 người trở thành phóng viên quân đội đã có tám người hy sinh. Tỷ lệ cứ ba thì chết một. Xin ghi tên của những anh em này vì thật sự chưa có một nén hương nào cho họ:

– Ngô Minh Dũng tử thương tại Đức Cơ, 1962

– Nguyễn Thanh Liêm, Đông Hà, 1971

– Trần Văn Nghĩa, Mỹ Chánh, 1972

– Vũ Tiêu Giang, Quân Khu 2, 1972

– Trần Văn Hiệt, Thừa Thiên, 1972

– Nguyễn Ngọc Bình, An Lộc, 1972

– Nguyễn Văn Hiếu, An Lộc, 1972

– Lao Quấn, An Lộc, 1972

Danh sách này chưa kể đến hơn chục phóng viên khác bị thương như Nguyễn Cầu bị thương tới sáu lần. Đóng góp của những phóng viên này chưa được ai ghi nhận trong khi bất cứ phóng viên ngoại quốc nào chết hoặc bị thương đều được cả thế giới biết đến. Có cầu thì có cung và đói bụng thì đầu gối phải bò. Khi đi công tác chính thức cho cơ quan thì thủ thêm một máy phụ. Những thứ phụ này đôi khi là nguồn lợi chính để nuôi vợ nuôi con. Khi quay hay chụp được một pha nào, một cảnh nào hấp dẫn, các hãng ngoại quốc sẵn sàng mua ngay và chỉ cần một tấm hình được xử dụng, thù lao có khi bằng cả tháng lương. Đám phóng viên này lặng lẽ ít huênh hoang nên công chúng bên ngoài nghề ít biết đến họ và ngay cả những hình chụp nổi tiếng trên thế giới do chính họ cầm máy cũng không được ký “by line” như tấm hình chụp cảnh binh sĩ đu tòng teng trên trực thăng tải thương khỏi An Lộc hay tấm hình rất sống động của Thái Khắc Chương chụp cảnh một sĩ quan Mỹ dang thẳng cánh đấm vào mặt một ông già Việt Nam khi ông cụ cố leo lên xe GMC để thoát khỏi vòng lửa đạn.

Khi lật những hình ảnh được ghi lại trên sách báo Mỹ, chúng ta thường bị đập vào mắt hình tướng Loan hay hình Nick Út chụp em bé bị bom napaln trần truồng chạy ra khỏi làng. Tìm lại tấm hình của Chương vẫn là một ám ảnh của tôi. Tất nhiên nếu có tìm ra thì cũng không có tên Chương. Mỹ Voi to con nhưng tính hiền khô không hay nói nhưng lại đầy tình cảm và rất thân với Nguyễn Ngọc Bình tự Bình Rỗ. Một lần Mỹ Voi thủ thỉ “Tôi thương thằng Bình vì nó thực thà, không bon chen và tận tụy với nghề. Đối với nó, cơ quan đơn vị là chính còn tiện tay chụp được gì để bán hay không là phụ, nhất là lúc nào nó cũng đắn đo xem hình chụp có nguy hại gì cho phe mình hay không. Nó nghèo lắm lại đông con nữa.”

Bình Rỗ tử nạn trong chuyến bay vào An Lộc. Phải vài hôm sau, tin Bình chết mới được xác nhận nhưng trong báo cáo chính thức chỉ ghi là mất tích vì phóng viên quân đội xem ra khá tự do khi đi công tác không cần qua các thủ tục hành chánh nhiêu khê. Có phải vì vậy mà khi chết, các đơn vị gốc đôi khi chỉ báo cáo mất tích tại trận chăng? Thế thôi. Chiến trận đang càng ngày càng sôi động và chết chóc xẩy ra khắp nơi như cơm bữa không ai có thì giờ để lo chuyện tìm xác một hạ sĩ quan như Bình.

Tôi hiểu điều này, nhưng Mỹ Voi ấm ức lắm, nhất là khi thấy vợ người bạn thân tức tưởi “Anh Bình chết mất xác chẳng ai lo, chẳng ai hỏi han một lời.”

Khi An Lộc đã hoàn toàn giải tỏa, Mỹ Voi âm thầm một mình trở lại chiến trường quanh An Lộc. Giữa các khu rừng cao xu ngả nghiêng bật gốc, những xác xe tăng của cả hai phía, giữa những cái bầu ngập xình hay phủ toàn bèo, Mỹ Voi nhất quyết tìm cho được Bình Rỗ. Bom đạn mìn chưa nổ vẫn nhan nhản và xác ta, xác địch, cả xác thường dân nay không còn phân biệt nữa mà chỉ là những bộ xương khô, thịt đã rã hết.

Suốt ba ngày lủi thủi một mình trên chiến địa đã ngưng tiếng súng, Mỹ Voi đi nhìn từng xác một, cuối cùng cũng tìm ra được bạn nhờ chiếc máy quay phim Bell Howell 35 ly văng ở một gốc cao su. Bình Rỗ nằm dựa vào gốc cây có lẽ khi bị rớt chỉ bị thương cố lết lại đó nhưng cuối cùng kiệt lực và khi lật xác thì nhờ chiếc thẻ bài nên yên tâm không sợ nhầm.

Mỹ Voi gói ghém chút xương tàn của bạn đem về. Bài báo về chuyện Mỹ Voi đi trở lại chiến địa tìm xác Bình gây một chút phản ứng. Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Bình được truy thăng chuẩn úy và hôm đám tang anh có rất nhiều quan chức trong quân đội dự.

Bọn “Bán Gáo” chúng tôi đều nghĩ phải làm một cái gì đó để tương trợ lẫn nhau. Người anh cả lớn tuổi nhất, anh Phạm Huấn đứng ra thành lập Phân Bộ Ký Giả Chiến Trường thuộc nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam những mong thực hiện ước vọng này. Có điều chúng tôi chỉ biết gặp nhau, ăn nhậu và chia xẻ những ngọt ngào cay đắng nghề nghiệp còn chuyện tương trợ hoặc bảo vệ lẫn nhau thì quả thật không đi đến đâu.

Trích từ sách Lững Thững Giữa Đời của Lê Thiệp

Nợ Đời Một Nửa – Một Nửa Nợ Ơn Em

baovecovang2012.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh

Posted on April 24, 2024 by Lê Thy

Post by Sơn râu 17 Aug 2025

 (Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)

Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc dòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu “Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”.

Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì “nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng?  .. ” Nhờ vậy trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng.

Hơn nữa, tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, nên làm gì có chuyện “chết trong mắt em”. Vậy rồi trời xui đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quảng Ðức, Ban Mê Thuột rồi Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà còn tưởng mình đã được trở về với những “hang động tuổi thơ” của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục “hát khúc quân hành “. Ðoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở Dục Mỹ. Nhưng tôi đã “ước tính tình hình” sai bét. Ðoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Ðại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước” thăm dân cho biết sự tình”.

Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa “Trăng Mường Luông “.

Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó :

Hồi nhỏ tôi rất anh hùng
Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông
Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng
Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ

…………………………………………

Lớn lên trở chứng ngu khờ
Mắt em nào phải bến bờ sông sâu?
Cớ sao chưa kịp lộn nhào
Ðành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là..

Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Ðã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi vọng phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.

Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho “người tình bé nhỏ” ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một cố nhân nào đó – mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ – bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.

Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng – ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.

Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý anh vì anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, anh làm tặng tôi hai bài thơ khá dài và hay lắm, viết vào một mẩu giấy rất nhỏ. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả hai bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Tôi thuộc lòng mấy câu viết về nàng:

Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Em vá chồng lên những nỗi niềm.
Từ thuở anh đi nhà tróc nóc
Con thơ đâu còn biết vui cười

…………………………………………

Cô gái Ninh Hòa, thương quá đỗi
Một mình chèo chống giữa phong ba

Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay sở làm sao? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.

Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng tuyết lạnh mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng..

Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn quốc gia nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chỉ còn có tôi, ngưới lính thất trận năm nào đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn giông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.

Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình. Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa, mãnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao cuộc biển dâu.

Phạm Tín An Ninh
August 28, 2008

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2025

5. Cung Giũ Nguyên

Độc giả Việt Nam ở hải ngoại vừa được đọc một bài viết lý thú của nhà văn Cung Giũ Nguyên. Được biết ông năm nay đã 93 tuổi [2004]. Ông nổi tiếng từ nhiều thập niên trước đây, nhưng ít người được đọc tác phẩm của ông. Lý do vì ông thường sáng tác bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Ở Mỹ người ta đang cho tái bản cuốn tiểu thuyết dày 600 trang của ông, cuốn Thái Huyền nguyên tác bằng tiếng Pháp Le Boujoum, do chính ông dịch ra Việt ngữ. Gần đây nhất, độc giả Việt Nam được biết nhiều thêm về Cung Giũ Nguyên qua cuốn tiểu thuyết Kẻ Thừa Tự Của Ông Nam Hải, cũng được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp Le Fils de la Baleine của ông, do nhà xuất bản Văn Học ấn hành.

Theo tư liệu của Nhật Báo Người Việt tại Quận Cam thì bộ thư mục đồ sộ của Cung Giũ Nguyên gồm trên 50 tác phẩm, được viết bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, trong đó có khoảng trên 40 tác phẩm chưa xuất bản.

Ông Cung Giũ Nguyên cho biết sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu từ năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo của ông Diệp Văn Kỳ tại Sài Gòn.

Trong một bài vừa được phổ biến ở hải ngoại, ông Cung Giũ Nguyên viết:

“Cái thích viết [cũng như vẽ] của tôi có từ lúc đang còn ở trường Quốc Học.

Nói cho nhanh và nói theo lối nhà phân tâm, thì việc viết văn của tôi là do nhu cầu nội tâm. Có thể liệt tôi vào loại rất xúc cảm [emotif], nhạy cảm, tình cảm, đa cảm, còn hiếu sắc, hiếu đẹp, hiếu khoái lạc, và phần nào lờ đờ [apathique], biếng nhác và thiếu ý chí. Và vì cũng cho vào hàng hướng nội [introverti], nên có khuynh hướng rút lui về mình, hướng về tư duy hơn là hoạt động, chịu ức chế và áp chế, đến nỗi chấp nhận đau đớn, và tìm khoái lạc cho đau khổ, thật sự hay tưởng tượng, của mình, nhưng vì theo luật thừa trừ hay bù đắp, lại có thôi thúc nghịch, sự tháo gỡ, hay bùng ra, và nếu khi cuốn vào bên trong quá lâu, quá nhiều, quá căng, thì sự bung ra có mãnh lực gia bội.

Có thể nhận thấy sự thô bạo hay hung bạo không diễn ra với những cử chỉ, mà có trong nhiều câu văn thâm độc với bề ngoài ngoan ngoãn hiền lành”. Một nhà văn tự phơi mở tâm hồn mình như vậy cũng là nhiều.

Chúng ta, những độc giả bình thường, đọc một tác phẩm, đôi lúc cũng thắc mắc tự hỏi, không biết tác giả có dựa vào một sự thật, một người nào đó trong đời sống, để viết ra chăng? Tại sao viết và viết để làm gì? Đó là những câu hỏi hầu như các nhà văn thường cũng tự đặt ra với mình. Họ có thể đều là những nhà văn danh tiếng, nhưng các câu trả lời có khi lại ngược hẳn nhau. Người cho rằng viết chính là để tìm hiểu xem tại sao mình viết.

Người nói viết văn như lắp đạn vào súng, phải nhắm mục tiêu rõ ràng để bắn, chứ không phải chỉ để tạo ra một tiếng nổ cho vui tai. Người thì bảo, với tư cách là nhà văn người ta chỉ có chữ, và không có chữ nào có thể làm một đứa trẻ khỏi chết đói. Nói cách khác, văn chương không giải thoát được thảm họa.

Còn nhiều, còn rất nhiều những ý kiến khác nữa. Có lẽ cũng giống như tình yêu, như đời sống, sở dĩ tồn tại được là vì, không bao giờ người ta có thể giải thích được hết ý nghĩa. Cũng vì thế chúng ta còn được đọc mãi những tác phẩm. Riêng ông Cung Giũ Nguyên cho biết lý do vì sao ông viết văn như sau:

“Có thể nói nôm na, là tôi cần đuổi con ‘ma’ ở bên trong ra ngoài, diễn tả thế giới mộng mơ của mình, phá vỡ tình trạng cô đơn của mình, dù lời của mình không có tiếng đáp [danh từ ngôn ngữ có hai phần: nói và đáp], nhưng đó là vì mặc cảm tự ti, hay còn nghi ngờ tự ngã mà nói thế, nhưng trong thực tế, nếu ta có ngôn ngữ, không chỉ là tiếng Tàu, tiếng Tây, mà cả hội họa, âm nhạc, hành vi, hoạt động, cũng là ngôn ngữ nếu ta biết xử dụng đúng quy phạm, thì tất nhiên có tiếng đáp. Kinh nghiệm bản thân cho thấy, những gì tôi muốn nói, dù cho tuế toái, dù cho bí hiểm, vẫn có, nếu không nhiều cũng được một vài tiếng vang. Tôi xem lời chê bai, tức giận hay mắng chửi cũng là một lời đáp”.

Ngoài viết văn, ông Cung Giũ Nguyên còn là một giáo sư sinh ngữ và triết rất được các học sinh, sinh viên ngưỡng mộ. Ông cho biết tình cờ hai công việc dạy học và viết văn của ông đã hỗ trợ cho nhau, không chỉ về mặt tinh thần hay tri thức mà ngay trong thực tế tầm thường. Nhờ dạy học ông mới có thì giờ và tâm trí để viết văn. Và chính việc viết lách đã giúp ông tiến thân trong việc dạy học.

Ông viết:

“Tôi chẳng có bằng tú tài, nhưng dạy những lớp thi tú tài và được cử đi chấm thi tú tài tại Nha Trang, Huế, Sài Gòn. Tôi được miễn xuất trình bằng cử nhân [có đâu mà xuất trình] để được bổ nhiệm làm hiệu trưởng một trường trung học đệ nhị cấp. Không ai hỏi bằng tiến sĩ của tôi để mời tôi dạy ở đại học hay chấm thi [về Pháp văn] cho tiến sĩ đệ tam cấp. Trên những giấy tờ chính thức, khi liệt kê tên tôi, nơi mục bằng cấp, thay vì đề ‘không’ họ có khi viết ‘học giả’ hay ‘văn sĩ’. Như vậy, sách vở của tôi đã giúp tôi thăng tiến trong nghề thầy”.

Bàn về sách vở của mình ông nói thẳng, một nhà văn không phải là người bán hàng hóa, nên chẳng cần rao hàng nịnh khách. Có những người than phiền đọc hai phần ba cuốn sách mà chẳng hiểu gì cả. Ông cho rằng, sự việc cũng giống như khi người ta vặn radio không đúng tần số làm sao nghe được gì?

Ông viết:

” … một quyển sách hay một đoạn văn là công trình của cả người viết và người đọc. Vì thế, từ lớp một cho đến lớp chót người ta đã dạy đọc và hiểu. Một tiếng vỗ tay cần có hai tay. Ta lấy một tay vỗ nơi đùi, nơi bụng, hay nơi khác, không nên nói là ta vỗ tay. Tôi không phải là con nhà mua bán. Tôi không có làm thứ văn ăn liền hay hiểu liền’, cốt có nhiều người mua để có

nhiều tiền. Tôi viết văn để nhắn gửi với ai một đôi điều, có đón nhận hay không tùy ý; nhưng tôi muốn tìm trong sự viết lách một lối giải tỏa tâm hồn hay tâm trí, và có an vui ngay trong khi tôi cầm bút “.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2025

4. Cao Tần

Thơ Cao Tần được xuất bản năm 1987. Cả tập chỉ gồm có hai mươi bài thơ. Nhưng, như lời giới thiệu củanhà văn Võ Phiến, nó đã gây chấn động trong sinh hoạt văn nghệ tha hương. Nhớ lại, trong mấy thập niên sau cùng của thế kỷ vừa qua, theo ước tính của tạp chí Newsweek, chỉ nguyên nhà cầm quyền Xô viết đã tống xuất khỏi nước “gần trọn một thế hệ những văn nghệ sĩ xuất sắc nhất của Nga”. Thế hệ văn nghệ sĩ ấy của Nga lưu lạc khắp mọi nơi trên thế giới. Nhà thơ Alekxandr Galich kêu rằng, ở Paris họ mất ngôn ngữ và tất cả xung quanh đều câm nín. Solzhenitsyn tiếng rằng vẫn tiếp tục viết nhưng không cho in được gì đáng kể. Vladimir Maximov trên một tờ báo của di dân Nga viết: “bây giờ chuyện làm người quan trọng hơn chuyện làm nhà văn”.

Jerzy Kosinski, nhà văn di cư Ba Lan đã học và viết thành công tác phẩm bằng Anh ngữ, mỉa mai các nhà văn Nga rằng: “Thay vì viết lách, họ ngồi trong các quán cà phê Pháp, nói tiếng Nga, bàn chuyện giải phóng cố quốc. Thoát khỏi một ngục tù, họ lại tự giam mình vào một ngục tù khác, cái ngục tù của thứ ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt của họ”. Nói chung, đặc điểm của văn chương thế giới hiện tại chính là nền văn chương di dân.

Cao Tần làm thơ bằng cái ngôn ngữ vừa bị thất lạc vừa trở thành nhà tù giam hãm, trong tình trạng “làm người khó hơn làm nhà văn”và trước sự mỉa mai của những người gần như cùng cảnh ngộ, nhưng lại thành công bằng cách học và viết thứ ngôn ngữ của nơi mới đến, dùng cái ngôn ngữ đó để nói về những nỗi đau của bản thân và xứ sở mình.

Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường

Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ

Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương

Anh sẽ đọc đất trời ta đã thở

Và gửi cho anh một tờ giấy trắng

Thấm nước trời quê mái dột đêm mưa

Để anh đọc: mênh mông đời lạnh vắng

Em tiếc hoài ấm áp gối chăn xưa

Thơ Cao Tần được viết trong cơn choáng váng chưa xong kéo dài từ ngày bị cắt lìa khỏi xứ sở. Có người nói đọc thơ Cao Tần họ cứ nhớ đến một câu của nhà thơ da đen Langston Hughes: “Để ngăn mình khỏi khóc, nên con há miệng cười”. Nghĩ đến cảnh sa cơ lỡ vận, người thơ cười: “Ông thượng đẳng cu li”. Nói đến một phi công thất thế, lại cười: “Đời khốn kiếp đã quăng ông xuống đất”.

Kể chuyện một người trân trọng giữ từng chút kỷ niệm của mẹ, của vợ, của bạn bè trong cái túi nhỏ kè kè mang theo mình, lại cười: đó là chàng “Cù Lần”. Trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt Nam

thường cười trong tận cùng cay đắng, Võ Phiến cũng đã viết về thơ Cao Tần như thế.

Mai mốt anh về, có thằng túm hỏi

Mày qua bên Mỹ học được củ gì?

Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi

Nói mày hay ông thượng đẳng cu li

Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ

Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan

Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió

Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan

Bài học lớn từ khi đến Mỹ

Là ngày đêm thương nước mênh mông

Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí

Hận gấp nghìn lần khi

chúng đánh ông văng

Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa

Ông anh hùng ông cứu được quê hương

Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp

Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm

Bồ bịch hết không đứa nào là Ngụy

Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng

Cái buồn nhất của thơ Cao Tần là, cũng như hầu hết các chuyện liên quan tới đất nước, những gì tốt đẹp dường chỉ có thể có trong mơ ước, trong tưởng tượng. Nước mắt biến các mơ ước, tưởng tượng ấy thành những vết chàm dưới da những ai còn cảm thấy ngày ba mươi tháng tư bẩy mươi nhăm là một ngày bất hạnh.

Cao Tần cũng chính là Lê Tất Điều, một trong những nhà văn danh tiếng ở miền Nam trước 1975, tác giả các truyện dài, truyện ngắn: Khởi Hành, Kẻ Tình Nguyện, Đêm Dài Một Đời, Những Giọt Mực, Quay Trong Gió Lốc …

Lê Tất Điều và Mai Thảo đã làm ngạc nhiên các độc giả của mình vì một loạt những bài thơ họ sáng tác kể từ khi ra khỏi nước.

Sau đây là hai khẩu thơ mới nhất của Cao Tần:

Tối qua quyết chí sẽ để râu

Sáng nay quanh mép đã lởm chởm

Tóc tai xù lên đầy một đầu

Tương lai dung nhan chắc ghê gớm

Thân phận đổi thay coi bộ khó

Thì nuôi râu mọc cho nó ngầu

Râu lâu lâu cạo lâu lâu để

Cho tháng năm hèn tí biển dâu

Thanh Thúy

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

9. Chương 9 – Kết

Có người hỏi, viết lách của cậu bây giờ ra sao rồi? Tôi trả lời viết lách bây giờ là chuyện khó, nhất là đối với các nhà văn nhà báo thuộc chế độ cũ, hòa nhập được là chuyện rất khó, vì không được “đào tạo trưởng thành trong chế độ cách mạng”, nói theo danh từ thời thượng. Vô hình chung họ bị gạt ra ngoài lề. Mặc dầu vẫn nghe lời tuyên truyền xoen xoét “rằng thì là ” cửa ngõ văn nghệ mở rộng như cửa chùa, ai muốn vào thì vào, ai ra thì ra. Ra thì dễ chứ vào thì khó đấy, bao nhiêu cửa ải phải vượt qua, có thể có đến “thập bát La Hán” trấn cửa. Lọt qua được cũng phờ râu tôm, cuối cùng mềm như bột, người ta muốn bóp nặn theo hình dạng nào cũng được. 
Viết và lách, danh từ này không biết có từ đời thuở nào, nhưng cũng đúng ra phết. Có thể có từ thuở nước Đại Việt có trường thi cho các cụ đồ muốn thi cử đậu đạt để được ra làm quan. Làm một bài văn thi cử, phải nghiêm túc, lời lẽ trác tuyệt là lẽ đương nhiên mà còn phải biết kỵ húy, thí sinh phải nhớ tên nhớ tuổi cả dòng họ nội ngoại nhà vua, cả một triều vua đến bao nhiêu đời. Bị phạm húy là sổ toẹt, cho dù văn sách của anh hay đến mấy, anh vẫn bị “dê rô” điểm, ôm lều chõng về quê đuổi gà chăn lợn cho vợ muốn thi cử nữa thì ăn năn hối cải rồi tiếp tục dùi mài kinh sử. Một lời ngông cuồng thôi cũng đáng phạt đòn, nhẹ thì cứ tú đụp tú kép đến mãn đời ông dở ông, thằng dở thằng. 
Bất mãn thì làm thơ, làm câu đối chửi đời cho đỡ vã, như nhà thơ Tú Xương ở thành Nam. Hoặc như Ba Giai, Tú Xuất đẻ ra chuyện tiếu lâm giễu đời chơi ở đất Hà thành: 
Trời sinh ông Tú Cát 
Đất nứt con bọ hung 
Thuở đổ tưởng đã xa xôi rồi, một thế kỷ đã trôi qua. Nay sắp bước sang thế kỷ thứ 21, năm 2000. Thế giới kêu gọi tự do dữ lắm, nhưng đó là chuyện của thế giới. Tự do hay gì gì không phải là con “vi rút” muốn xâm nhập đâu cũng được. Có người ở hành tinh xanh chúng ta đã nói như thế. Nói theo kiểu dân giả thì cứ “phép vua thua lệ làng ” cho tiện. Tôi chịu thôi chẳng nói nữa là hơn. 
Có một vị đầu nậu chuyên nghề in sách ở thành phố Hồ Chí Minh, anh ta giàu bạc tỉ, thấy tôi nghèo khổ lại mất sức lao động, không lài cán bon chen với đời. Bèn tỏ lòng thương hại, đề nghị với tôi: 
– Chú có tay nghề, chú viết đi, cháu in cho, trả tiền nhuận bút chú đàng hoàng. Mình là người viết chuyên nghiệp thì phải biết lách, đừng bỏ phí chất xám mà chú có… 
Cha mẹ nội ngoại nhà tôi ơi! Tôi phải làm sao đây, lách kiểu nào cho lọt? Vị đầu nậu đề nghị tôi viết tiểu thuyết diễm tình, ướt át, chẳng đụng chạm gì suất cả, tránh luôn cả những chuyện gì đụng chạm đến chính trị, phản động. Tôi chịu thua, không làm được chuyện đó. Vì tôi mà viết tiểu thuyết diễm tình thì chỉ thối hoăng lên thôi. Vị đầu nậu lại đề nghị tôi để tên khác, chẳng ai biết mà lại tiện việc sổ sách. Tôi lại thua nữa. 
Vị đầu nậu là người tốt vẫn còn thương hoàn cảnh tôi, bèn đề nghị cho tôi một việc khác, có trả lương. Tôi sáng vác ô đi tối xách ô về, y như một công nhân viên chân chỉ hạt bột ở ngay cơ sở của ngài. 
Tôi cao lm62, xấp bản thảo ngài đầu nậu giao cho tôi đọc cao một thước tám, tròm trèm hai thước. Ngài nói liền không đáy, văn chương đắt giá, chú là người có tay nghề mới giao cho chú đọc. Ngài lệnh cho tôi đọc trong vòng một tháng, được quyền sửa lỗi chính tả, sửa chữa nội dung chút đỉnh, ngài xin giấy phép xuất bản ngay từ bây giờ, tôi đọc và sửa chữa xong là có giấy phép liền. Kho sách hết lại có, không sợ hết việc, những nhà văn tự do của ta làm việc kinh lắm, luôn luôn vượt chỉ tiêu. 
Tôi thất kinh khi dí đôi mắt cận thị vào chồng bản thảo ấy. Từng bộ liệu thuyết kiếm hiệp rõ ràng là của Tầu mà nay nó biến thành truyện võ hiệp của đất Lạc Việt, các hiệp khách Lạc Việc đánh chưởng với các đại võ sư danh trấn giang hồ của Mông Cổ thời nhà Nguyên ở bên Tầu. Mới sáng nay còn nhận lệnh của Đinh Tiên Hoàng đế ở kinh đô thành Đại La, chiều đã phi hành cái rẹc đến sa mạc Gô bi ở Mông Cổ đánh chưởng mù trời với đại sư Tây Tạng, đại sư Tây Tạng tết đuôi sam giống quan quân nhà Mãn Thanh. Ngược lên mạn Bắc cực đấu kiếm với võ sĩ Samurai của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bổn. Cuối cùng bằng một chiêu thức bí truyền của dân tộc, hiệp sĩ Lạc Việt trắng trận ròn rã. Công chúa xứ Tây Vực cảm kích bèn cưới làm phò mã. Kinh thế đấy, sử liệu không biết nhà văn lấy ở đâu ra mà lung tung beng, tôi điên cái đầu.
Lại một truyện khác nữa, bộ này coi có vẻ đường được dù là mang một tên khác nhưng tôi cũng nhận ra bộ Mười hai sứ của Vũ Ngọc Đĩnh, một ông bạn già của tôi. Tội nghiệp anh! Tôi chỉ biết thất kinh và làm đơn xin nghỉ việc vì tôi bất tài mà những tác phẩm vĩ đại như vậy còn quá nhiều. Vị đầu nậu tức cành hông, chửi vào mặt tôi: 
– Muốn thương chú mà thương không nổi, chú thật vô tích sự. Rõ ràng tác giả viết đề cao tinh thần dân tộc như vậy còn đòi gì nữa, mà có phải chú viết đâu mà rộn lên vậy. Chú không làm thì tôi thuê người khác, thiếu gì. Chú làm thiệt hại tôi bạc triệu, giấy phép có rồi mà không có đầu sách ra, bao nhiêu là chầu bia ôm, bao thơ. Biết thế tôi đi làm sách giáo khoa hay kỹ thuật cho xong, làm văn nghệ khổ thế đấy. 
Tôi nhận lỗi và xin lỗi vị đầu nậu, không quên hứa hẹn: 
– Chừng nào anh lại thu mua phế liệu ve chai như hồi ở vương quốc ve chai Tân Phú, tôi sẽ mang bọc ni lông nhặt được bán cho anh. 
Tôi bị mắng một trận vì dám xúc phạm đến một người làm nên vóc dáng văn nghệ dù tôi chỉ vô tình nhắc tới sự thật về tiền thân vị đầu nậu này nguyên là ông chủ thu mua phế liệu ở Tân Phú. 
Tôi thuở còn sức lao động đi nhặt bao ni lông từng bán hàng cho anh, vài ba ký ni-lông hàng hắc quẩy mỗi ngày có là bao. Một ngày kia tôi nghe xúi dại cầm lại bút, nhưng tôi thất bại ê chề. Trong trận văn rừng bút, tôi gặp lại ông chủ vựa ve chai, nay là một ngài đầu nậu văn nghệ kiêm nghề xuất bản theo cách thuê mướn tên nhà xuất bản, gọi là chuyện làm ăn. Tôi được chiêu hiền đãi sĩ, kiểu như thế. 
Nhưng chuyện thuê mướn cái kiểu này không phải chỉ có mình tôi gặp. 
Nhà văn Uyên Thao cũng đã tâm sự với tôi, anh từng được những tay đầu nậu văn nghệ đề nghị thuê mướn để biến một bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung với giá hai chục triệu đồng, rất không may là anh lại từ chối món hời đó. Lý Phật Sơn từng đi viết thuê… ăn khoai luộc gọi là chiêu hiền đãi sĩ”. Rất ít văn nghệ sĩ cũ ở miền Nam có chỗ ngồi coi tạm được. Chuyện này phải gọi là kinh doanh nghề viết hơn là làm văn nghệ hay sáng tác, dù anh có được đưa đi tập huấn ở trại sáng tác, có đi thực tế. Chuyện sáng tác lối tác là chuyện khác, chẳng nên nói đến cho xong. Chuyện cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm thiếu gì. Bây giờ tôi nói sang một chuyện khác, chuyện cải lương, cũng dính dáng đến văn nghệ vậy. 
Gần đây cơ quan tuyên truyền văn hóa thông tin của nhà nước kêu gọi nên phục hồi nền cải lương mà quần chúng mộ điệu dần quên lãng. Nguy cơ cho nền văn nghệ có một thuở vàng son ấy bị chết dấm chết dúi, rạp cải lương thì tiêu điều xuống cấp trầm trọng, dù có hát chùa cũng chẳng ai xem. Các nghệ sĩ nói chung, đào hát kép hát hàng đầu lui dần vào bóng tối. Lớp tài năng trẻ chưa xuất hiện. Hãy đẩy mạnh phong trào lên. Nếu cần thì mở cửa rạp cho quần chúng coi chùa, phục hồi thuở vàng son của sân khấu cải lương. Món ăn tinh thần mà người Nam bộ nào cũng khoái, cũng say mê. Nhưng sao đến nay vẫn chẳng rôm rả tí nào. Chẳng ai làm nổi nền văn nghệ cải lương phục hồi nói chi đến chuyện đi lên. 
Người viết tập hồi ký này vào miền Nam rất sớm, chính xác là sống tại Sài Gòn vào thuở thịnh thời của cải lương. Quần chúng say mê cải lương đến độ đi đến đâu cũng nghe lời ca tiếng hát, khắp hang cùng ngõ hẻm. Người người vẫn có những mơ ước trở thành đào cải lương tài sắc, hoặc “kép độc” cải lương. 
Thuở đó có những đào kép sáng chói trên sân khấu cải lương, những soạn giả vang danh, chỉ cần tên tuổi của anh ghi ngoài “băng đờ rôn” là rạp hát không đủ chỗ chứa khách mộ điệu, dù rằng một ngày có tới mấy xuất diễn. Điều đó đương nhiên nảy sinh ra nạn vé chợ đen, nhưng khán giả chấp nhận. Tiền cát sê của nghệ sĩ, đào kép, soạn giả, đạo diễn cao không ngờ, phải tính bằng kim cương hột xoàn. Kép út Trà ôn chơi bi da bằng kim cương, những ông vua, những bà hoàng cải lương. Nhớ thuở nào đào Bạch Tuyết được coi là “cải lương chi bảo”, rồi Thanh Nga, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường và bao nhiêu tên buổi khác. Những tên tuổi cải lương coi như báu vật, được tôn vinh. Một thuở vàng son không thể nào quên. 
Tuổi nhỏ, tôi ở trong con hẻm sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu) chung xóm với một thằng bạn có tên là Hùng Cường. Hùng Cường là thằng Bắc Kỳ “dồn ” như tôi. Nó có khiếu ca hát, giật giải nhất thi hát ở đài phát thanh Pháp á. Đầu tiên nó thành công trong ca tân nhạc, sau nó xoay sang ca cải lương và rồi nó trở thành một nghệ sĩ lẫy từng lên tuổi. 
Sau năm 1975, tôi gặp nó ở Cà Mâu. Nó mưu đồ vượt biên, bỏ quê hương. Tôi hỏi nó sao vậy? Nó trả lời không sống được bằng nghề nó hằng đeo đuổi, cải lương chết mất. Tôi lại hỏi tại sao? Nó nói cứ nhìn khán giả vào rạp cải lương thì biết, vắng hoe à. Đâu còn những tay chuyên nghiệp đi bán vé chợ đen nữa. Tuồng tích dở quá, ai còn thèm xem nữa. Mấy vở diễn như Đời cô Lựu cũ mèm cũng không vực dậy nổi sân khấu cải lương đang tụt dốc. Bây giờ toàn luồng tuyên truyền thì cần chi đến nghệ sĩ tài danh. Nhiều năm rồi suy nghĩ lại về những lý do ấy tôi thấy có lý. Sự vực dậy, làm sống lại sân khấu cải lương quả là khó khăn. 
Nguyên nhân chẳng cần tìm đâu xa, không thể đổ “tại, bị ” gì được hết. Nguyên nhân là tự nó thôi. Khách mộ điệu miền Nam phải bỏ cải lương, quên dần những thần tượng của họ cũng đau lòng lắm. Ở ven thành phố bây giờ có một viện dưỡng lão cho các nghệ sĩ. Sống được là nhờ tình thương của nhiều người, không thuần là khán giả mộ điệu cải lương, sân khấu. Ở đó có nhiều tên tuổi từ hồi nào đến giờ. Họ là những cụ già neo đơn, ngồi hồi tưởng lại thuở vàng son dưới ánh đèn sân khấu. Thấy sân khấu cả trong giấc mơ già. Gảy lên những tiếng đàn ghi ta phím lõm. Giọng ca mùi rêu thuở nào nay đã run giọng, ít hơi, xuống nổi câu xề muốn đứt hơi luôn. 
Các cụ như những di tích để trong viện bảo làng, cho đời sau con cháu còn “tham quan”. ở thế kỷ đó, tại mảnh đất Nam bộ Việt Nam đã từng sinh ra một nền văn nghệ sân khấu cải lương. Có những tên tuổi đào kép v.v và v.v… Nền cải lương ấy đã chết, lý do có Trời biết.

Đầu niên học nào cũng vậy, tôi xanh xao cả người, chạy lo cho ba đứa con đi ăn học. Ba cháu đều học trường công, tức là trường của nhà nước lập ra cho dân. Nhưng cũng mệt lắm, tốn kém lắm. Có năm tôi phải mang giấy nhà đi cầm để có tiền đóng góp cho con đi học. Mảnh giấy cầm nhà đó tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Từ đầu hè, chờ cho các con được đủ điểm lên lớp hay lưu ban cũng phải “chõm” vào một mối nào đó lo tiền học cho con. Hoặc gia đình ăn mắm mút dòi để dành dụm cho con nhập học. Thôi thì đủ thứ đóng góp cho nhà trường, trong ngày hội cờ rong trống mở ấy, truyền hình quay phim, báo chí đăng, nhất định đó là một ngày trọng đại. Kìa trống trường điểm, đích thân thầy hiệu trưởng đánh trống khai mạc cho niên học mới, diễn văn nêu cao thành tích đạt được trong niên học cũ, năm nay thì phải đạt chỉ tiêu mà trên đã đề ra. 
Quán tính thôi, các vị phụ huynh cứ tự động lo, chẳng có thông cáo nào báo trước hết. May nhờ dại chịu, y như là đánh số đề, may thì trúng không may thì trật. Tôi nói gì mà làm xàm vậy? Tôi xin được giải thích mà tự tin rằng không phải là ngụy biện. rút kinh nghiệm đã nhiều lần, biết bao nhiêu lần trật vuột, mới hiền khô mới dễ ăn dễ bảo như ngày hôm nay, những mong ăn mày được tí chữ thánh hiền” cho con cái. Tôi muốn nói đến chương trình học của học sinh và các loại sách giáo khoa các cấp mà bây giờ in ấn, xuất bản tràn lan, kể cả in lậu. Tôi không hiểu tại sao, lý do gì mà người ta lại giấu chương trình học mỗi năm và các cuốn sách dành cho bầy trẻ như giấu bí mật quốc phòng. Mãi đến lúc nhập học rồi, các cháu mới biết tên các cuốn sách phải mua cho đúng. Ai mua trước may ra thì trúng mà không may ra thì trật, như tôi đã nói. Hàng năm việc phát hành sách giáo khoa là việc của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục. Hai cơ quan này thường xuyên đấu đá nhau vì quyền lợi phát hành sách quá lớn lao. Bao nhiêu triệu học sinh và cần bấy nhiêu triệu cuốn sách trên toàn quốc. Sách gần như thay đổi qua từng niên học, nên sách của con chị đã học qua không thể để lại cho thằng em. Đất nước tiến bộ mà, không phải thuở lỗi thời ôm mãi cuốn Quốc văn Giáo Khoa Thư từ thế hệ này sang thế hệ khác. Rồi đồng phục, giày dép, mũ mãng, quần áo thể thao, mỗi trường một khác. Toàn là những màn trình diễn cho có vẻ văn minh tiến bộ. 
Khổ nhất bao giờ cũng là phụ huynh học sinh. Đóng góp đủ thứ tiền, thu nhập của cha mẹ lại không cao. Như hoàn cảnh tôi, mỗi niên học đều phải cầm thế giấy chủ quyền nhà với lãi xuất cao để đóng góp cho các con ăn học, không có một sự giảm thiểu nào. Nhiều trẻ phải bỏ học, cha mẹ không lo nổi, mặc dầu nhà nước ra rả kêu gọi xóa nạn mù chữ. Nhưng đó là chuyện ai nấy làm. 
Hàng năm nhà nước vẫn có những con số triệu triệu các học sinh tới trường. Không lẽ tôi là người trong cuộc mà lại nói sai, nói láo. Xuân thu nhị kỳ họp phụ huynh học sinh. Đầu niên học họp một thùa kêu gọi phụ huynh đóng hội phí. Cuối niên học họp một thùa nữa tổng kết. Tổng kết cái gì? Chẳng gì cả! 
Những ý kiến đóng góp của phụ huynh học sinh đầu niên học có ghi biên bản, nếu nói một cách tiêu cực thì chẳng giải quyết gì. Đâu vẫn hoàn đấy, kêu gọi và đóng góp, điệp khúc ấy trở nên nhàm chán. Nhiều phụ huynh học sinh chán chẳng còn phát biểu gì nữa, thụ động và chẳng muốn tham gia vào bất cứ một lời kêu gọi nào. Vô tình tôi cũng trở thành một thứ phụ huynh học sinh như vậy. 
Tôi mất sức lao động lại chuyên nghề làm thinh, nên thu nhập không là bao. Bạn bè nhiều người thương mà giúp đỡ. Có ông bạn đầu niên học giúp cho cháu bộ sách giáo khoa, nhưng đến ngày nhập học mới được biết, năm nay cháu không dùng sách của Sở mà dùng sách của Bộ. Lại một thùa chạy tiền mua sách cho con. Cùng một chương trình, nhưng sách này và sách kia chỉ sai khác một dấu chấm, phẩy cũng không được… Đầu năm các cháu ghi chép vào sổ báo bài dài dằng dặc những món tiền đóng góp để các cháu trở thành học sinh: Bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm y tế, giúp học sinh nghèo vùng sâu vùng xa… Bố ai biết được nó như thế nào. Học sinh đi đái đi ỉa cũng phải đóng tiền vệ sinh. Trong trường học không có phòng y tế, cũng chẳng có lấy một lọ dầu cù là bố thí, nhưng vẫn phải đóng liền bảo hiểm tai nạn. Bảo hiểm y tế đóng không nhiều lắm nhưng nếu có được bồi thường chỉ có một số bệnh trạng nào đó do hãng bảo hiểm qui định… Chuyện lấy được tiền bảo hiểm cũng trầy da tróc vẩy. 
Đầu niên học này, tôi nhận được giấy mời đi họp hội phụ huynh học sinh. Tôi chán nản quá, tính chỉ đến nộp sổ liên lạc của con rồi về. Vì tất cả những gì nhà trường cần đến đều đã ghi vào sổ báo bài. Thầy cô giáo mời mãi, nể quá tôi đành vào họp. Chẳng có gì khác như gần mười năm nay tôi từng đi họp. Phần phụ huynh phát biểu, hình như chẳng ai muốn nói gì, cuối cùng có một vị đứng lên. 
Ông ta hết lòng ca tụng nên giáo dục tiên tiến, ca tụng sự kêu gọi đóng góp rất hợp lý của nhà trường, ca tụng thầy cô và nhiều điều muốn ca tụng khác, như kêu gọi phụ huynh nên đóng góp cho bảo hiểm y tế… 
Toàn thể phụ huynh, tôi là 39 người ngơ ngác nhìn nhau. Thật gần mười năm trời nay tôi mới thấy một vị phụ huynh học sinh năng nổ như vậy. Một vị phụ huynh ngồi cạnh, nói với tôi: 
– Lại có một con chim mồi. 
Ông ta hót hay lắm, hay đến đi ra ngoài luồng luôn, chẳng ai buồn nói gì, nhưng món bảo hiểm y tế vẫn ế khứa… Cô giáo thì than trời vì từng bị phụ huynh tới hạch sách về chuyện đóng góp cho nhà trường. Cô chỉ làm theo lệnh… trên. Lương của cô giáo chỉ được hai trăm ngàn đồng một tháng mà thôi, cô dậy học vì yêu nghề. Tôi có ba đứa con theo học mà từ nhiều năm nay tôi chưa từng biết vị hội trưởng và chi hội trưởng. Mãi đến cuối niên học, các vị ấy mới xuất hiện, tặng sách vở cho các cháu nghèo. Cũng nằm trong tiền hội phí của phụ huynh học sinh đóng góp. Tiền liên hoan chia tay thầy trò bạn bè cũng do học sinh nã tiền bố mẹ đóng góp. Ở đây tôi chỉ nói sơ qua về nền giáo dục, tôi không thể nói nhiều được vì có nói gì cũng không lại. 
Tôi mang những chuyện này tâm sự với ông cụ Mạnh. Ông bạn già Mạnh là một vị đức cao vọng trọng. Ông pha một bình trà ngồi uống với tôi lắng nghe tôi nói. Cụ chậm rãi nói: 
– Như thế hệ chúng ta, cho con cái học mong cho ấm thân chúng nó, may mắn thì chúng đỗ đạt ra làm quan. Nhưng nay thì khác, làm quan rồi mới đi học. Anh không thấy bao nhiêu là lớp bổ túc văn hóa cho các quan chức đó sao. Giữ những chức vụ quan trọng về kinh tế mới học về kinh tế tại chức. 
Ông cụ đứng nhìn vườn cây cảnh và hòn giả sơn mà cụ khoe mới đắp. Cụ khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe vì biết tôi có bệnh cao áp huyết. Đời này thiếu gì kẻ múa rối mà tưởng mình vũ ballet.

Hình như đất nước tôi năm nào cũng có bão lụt thiên tai, dân cư khổ trăm bề. Những ngày tháng cuối năm, từ tháng 7 âm lịch trở đi, bão táp thiên tai hơi nhiều, liên tiếp hết cơn bão này đến cơn bão khác. Đầu tiên thì gọi là áp thấp nhiệt đới Những cơn mưa dầm dề tối trời thối đất rồi mới tới những cơn bão, tùy nó đến đâu và đổ bộ vào đâu. 
Sài Gòn mấy ngày nay mưa dầm dề, tôi không thể ra đường hoặc đi đâu được. Tôi đành ngồi nhà. 
Ngồi nhà thì buồn quá, tôi phải giải trí gì cho đỡ buồn. Tôi lục tìm trong đống băng Vidéo, bắt gặp vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Đúng rồi, một vở kịch hay, tôi cũng đã xem, bây giờ xem lại nữa cũng chẳng sao. Vở kịch hay, nếu khen ngợi thì tôi chỉ còn biết nói là hết ý. 
Câu chuyện dựa theo một chuyện cổ Việt Nam, lại biến thành kịch. Tài năng và bút pháp của kịch tác gia xuất thần, một con người đầy kinh nghiệm sống đã làm nên một kịch bản tuyệt vời. Tôi nhớ nội dung của câu chuyện cổ chỉ là chuyện lầm lẫn của Thiên Tào và Bắc Đẩu bắt lầm hồn của ông Trương Ba, sai thì phải sửa sai, bèn cho ông Trương Ba sống lại, mượn xác của một người mới chết, anh hàng thịt. Tâm hồn, đúng của ông Trương Ba, nhưng thể xác lại là anh hàng thịt, một tay đồ tể chuyên nghiệp. Cái rắc rối là ở đó. 
Tác giả đã dẫn dắt người xem từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Giàn diễn viên nhà nghề, tài năng đã đưa vở kịch lên đỉnh cao. Nói được lất cả những gì tác giả muốn nói, những lầm lẫn, những mẩu đời sống thật mà thời nào cũng có, cũng giống nhau đã được thể hiện mạch lạc chặt chẽ, khiến người xem cười ra nước mắt. Tác giả của vở kịch bây giờ không còn nữa, anh đã chết cùng vợ con trong một tai nạn thảm khốc. 
Tôi đã được xem một đoạn phim phóng sự về bà mẹ già của Lưu Quang Vũ nước mắt ngắn, nước mắt dài cắm nhang lên bàn thờ của con, dâu và cháu nội, một người già neo đơn, số phận phải như vậy. Cuối vở kịch, hồn Trương Ba, trong thể xác anh hàng thịt phải gào lên:”Sống như thế này mà là sống à?”. Cuối cùng Trương Ba xin được chết, trả lại cái xác cho anh hàng thịt. 
Có đầu thai nữa hay không cũng cóc cần. Trong nhiều năm nay, tôi ít khi xem được một vở kịch hay như vậy, tôi cũng không hiểu tại sao vở kịch đó lại ra đời được, như một số sách, truyện, phim khác mà nhiều người mến mộ, nhắc đến như nói chuyện bí mật. 
Việt Nam còn nhiều tác phẩm hay lắm. Rất nhiều tài năng còn ở đâu đó, vì vốn sống của Việt Nam khá nhiều và khá phong phú trong một chiều dài lịch sử đất nước bi thương có thừa. Văn nghệ nó sẽ phản ảnh tất cả. 
Hãy chờ xem.

Phải chăng tôi là một anh già hay gây gổ và lắm điều? Thật ra tôi không hẳn như vậy. Có gì đó tôi mới ra lời, nếu không tôi làm thinh cho yên. Tôi muốn yên vì tôi lười, đơn giản thế thôi. Vậy mà có những chuyện chẳng đặng đừng, muốn yên mà không yên được. 
Mới ngày hôm qua đây thôi, tôi lái chiếc xe Vélo Solex của tôi trên đường đông, có một chị trông cũng bảnh lắm lái xe Dream. Lúc qua mặt tôi, chị nhổ một bãi nước bọt, bãi nước bọt có lẽ của người bị ho gà nên có đờm. Bãi nước bọt bay thẳng vào mặt tôi dính nhằng nhằng. Tôi lộn liệt, nhả hết ga đuổi theo, cũng may gặp đèn đỏ ở đầu đường, tất cả xe cộ phải dừng lại. Tôi đuổi kịp chị ta. Tôi nói một câu rất là có văn hóa: 
– Này chị coi, bận sau đi xe trên đường không nên nhổ nước bọt bừa bãi như thế, vừa mất vệ sinh vừa không lịch sự.
Chị ta nhìn thẳng tôi, lầu bầu câu gì đó trong miệng, tôi tưởng sẽ nhận được một lời xin lỗi nhưng không, chị khạc thêm một câu khác vào mặt tôi: 
– Biết là mất vệ sinh sao không chùi đi, lại còn lo bắt lỗi, muốn bắt đền hả, rõ là lắm điều. 
Tôi sững sờ, chưa kịp có phản ứng gì thì đèn xanh bật. xe cộ nối đuôi nhau chạy mất. Tôi dạt vào trong lúc, đứng chùi bãi nước bọt trên mặt. Tôi đã không kịp nổi nóng, như đã mất nhiều dịp nổi nóng, mọi chuyện xảy ra nhanh quá. 
Hồi đầu giải phóng tôi từng bị anh cán bộ cưỡi xe đạp chẹt tôi ngã văng cả kính trắng còn mắng cho một trận vì không chịu nghe tiếng “ếp ếp của anh, sau này dắt xe qua đường suýt nữa bị một ông trẻ mà làm lớn lái ô tô con xồ đến cán phải, còn bị chửi là thằng già chán sống. Đại khái là những việc như thế, tôi chẳng biết phải làm sao. Tôi muốn lắm điều mà không thể lắm điều được tốt hơn hết là làm thinh. 
Tôi dừng thiên hồi ký ở đây. nhưng tôi chưa gác bút. 


Gác Bút 12.1999

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

8. Chương 8

Buổi chiều ngày 12-9-1999 mới chính thức là ngày cuối cùng tôi chia tay với Uyên Thao, người bạn đồng nghiệp viết văn làm báo và là bạn tù với tôi. Tám giờ sáng mai, anh và gia đình lên đường sang Hoa Kỳ định cư. Những lo lắng, những lao đao, những dịch vụ gì đó vô cùng tôi thôi đã khép lại sau lưng gia đình anh. Nhưng anh vẫn nói với tôi, như bao nhiêu người đã nói:”Khi nào máy bay cất cánh mới thật sự an lòng.” 
Đúng vậy, buổi chia tay này vẫn có thể coi là “tạm thời” cho đúng thủ tục mà thôi. Điều chắc chắn là bây giờ tôi và Uyên Thao ngồi với nhau ở đầu chung cư Nguyễn Chiến Thuật, hút với nhau những điếu thuốc Bastos nội hóa. Nói chuyện và những nhắn nhủ lào lao giữa kẻ ở người đi. 
Chúng tôi còn quá ít thời giờ để ăn với nhau một bữa cơm chia tay ở quán cơm Bà Cả Đọi như tôi đã hẹn với Uyên Thao. Từ nay đến sáng mai còn mươi tiếng đồng hồ nữa chứ mấy. 

Tôi hứa với Uyên Thao: 
– Tao tin rằng mấy chục năm nay tao không sống vô ích và cũng sẽ không vô ích vào những ngày còn lại. Tao và mày chẳng dám hứa sẽ còn gặp nhau ngày nào đó, vì tụi mình già cả rồi, biết sao mà hẹn. Hãy ghi nhận lại hình ảnh cuối cùng của nhau chiều hôm nay, uống từng lời nói của nhau. 
Uyên Thao nói: 
– Tao còn một điều ân hận là không lo được cho Đoàn Tường, hắn ta yếu lắm rồi, ngày hôm trước hắn nói như trăn trối với bạn bè như người sắp chết. Tháng cuối cùng ở Việt Nam, tao cố gắng làm việc, vừa dịch vừa gõ máy thuê hy vọng kiếm ra được ba triệu đồng, tao dùng hơn một triệu trả nợ, một triệu kia để lại cho Đoàn Tường chữa bệnh, mà cuối cùng người ta trả cho tao có hơn một triệu. Tao trả nợ không đủ… Mày ở lại đến thăm hắn cho tao. Hắn hiện đang ở trên làng Báo Chí. 
Đoàn Tường lức là nhà văn Lý Hoàng Phong, anh ruột của thi sĩ Quách Thoại, một nhà thơ nổi tiếng thuở nhóm Sáng Tạo ở miền nam Việt Nam. Lý Hoàng Phong, tức Đoàn Tường nay đã 75 tuổi, trước kia từng là chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ, biên lập viên bình luận Đài Phát Thanh Sài Gòn, chủ nhiệm nguyệt san Quê Hương, tuần báo Thế Kỷ 20, Hiện Đại. Tác giả tập truyện ngắn Người giết người, truyện dài Sau cơn Mưa. Anh có danh, nổi tiếng ở khoảng thời gian trước năm 1975. Sau năm 1975 anh im hơi lặng lặng như nhiều anh em văn nghệ chuyên nghiệp miền Nam khác. Có chuyện đau lòng xảy ra cho gia đình anh, chỉ đến ngày anh phải mang vợ con về Làng Báo Chí bên kia cầu Sài Gòn, mà trước đây gọi là cầu Xa Lộ. Nơi trú ẩn cuối cùng của những người có dính dáng đến nghiệp báo chí, văn nghệ nếu căn nhà nào đó của mình ở làng còn. Đoàn Tường vẫn còn chút may mắn. 
Tôi hứa với Uyên Thao: 
– Tao sẽ đến thăm Đoàn Tường, giữa tao và anh ấy cũng có chỗ thân lình và hiểu hoàn cảnh của nhau. 
Buổi sáng hôm sau, ngày Uyên Thao và gia đình lên đường ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng lên đường bằng chiếc xe Vélo Solex ra xa lộ vượt cầu Sài Gòn sang làng Báo Chí thăm Đoàn Tường. 
Làng Báo Chí, quê hương thứ hai của những người hành nghề báo chúng tôi thuở trước, nay thay đổi nhiều. Nhiều nhà cửa, vi-la mọc lên, kiểu cọ lùm lum. Chủ nhân đích thực của những căn nhà trong làng bây giờ chẳng còn bao nhiêu, đếm trên đầu ngón tay, những chủ nhân mới tôi hoàn toàn không biết. Xưa kia tôi cũng có một căn nhà trong làng, rồi vật đổi sao dời… Tôi đành quên, như người khác đã quên nhiều anh chị em làm báo. Nhưng làng đó đến nay vẫn mang tên là làng Báo Chí. Hỏi đến, ai ở vùng đó cũng biết. Tôi đã vào làng và phải hỏi thăm đường, điều đó chứng thực cho lời nói của tôi. 
Căn nhà của Đoàn Tường ở dẫy 1, bên cạnh mấy căn nhà cao tầng, kiểu cọ rất mô đen. Căn nhà đó nguyên trạng như căn nhà Nghiệp Đoàn Báo Chí trao cho anh em ký giả hội viên hồi 40 năm về trước. Mái tôn, gạch lốc xi măng, một khoảng sân nhỏ trước mặt nhà, khoảng tường dệu dạo ngăn cách. 
Tôi đứng trước cổng nhà Đoàn Tường tức Lý Hoàng Phong gọi cửa một lúc lâu. Chó bị nhốt trong nhà xua rộn lên, một lát, đứng ngoài cổng tôi thấy một người lom khom đi ra… Đúng là anh Lý Hoàng Phong. Cánh cửa ra vào được mở, Lý Hoàng Phong gầy rộc, trắng xanh, giọng anh mệt mỏi: 
– Ai đó? 
Tôi xưng lên, tự tay mở cổng vào sân. Anh đưa tôi vào nhà, anh thật sự mệt mỏi, nói nhát gừng: 
– Tôi mệt, mệt lắm, thằng con tôi mới đi chợ mua đồ ăn cho tôi. Bác sĩ nói tôi cứ ăn cơm gạo lức muối mè, đừng ăn chuối nữa. Tôi ăn chuối thay cơm bí cả đường tiểu tiện đại tiện. 
Quái lạ thật, tôi nghe anh nói như thế là lần đầu. Tại sao vậy? Tôi không biết nữa, và cũng không hỏi tới. Tôi biết anh mệt gần như người kiệt sức. Anh cho biết anh ăn riêng. Tôi hỏi anh nấu lấy ăn à? Anh trả lời không, thằng con trai thất nghiệp của anh đi mua cơm gạo lức người ta nấu sẵn bán. 
Tôi đoan chắc một điều là anh hoàn toàn suy dinh dưỡng, có nhiều lần anh nhịn ăn đến kiệt sức. Anh trở nên xa lạ với thịt cá và đồ ăn bổ dưỡng khác. Thực tế anh lấy đâu ra tiền để tự bồi bổ cho mình. Lòng tôi quặn thắt trước tình trạng ấy. Anh như một người bị bỏ quên, và tự an phận trong sự bỏ quên ấy. 
Tôi nhìn quanh căn phòng khách, không có một thứ gì đáng giá. Không có tivi, radio. Chỉ có một tủ sách với những ngăn trống huếch và một tủ thờ bố mẹ anh. 
Anh kể với tôi, giọng vẫn mệt mỏi rằng căn nhà ở làng này sở dĩ còn là do bố mẹ anh về ở đến lúc chết, mấy năm gần đây. Nếu không thì anh cũng chẳng biết về đâu… 
Tôi hiểu hoàn cảnh thật của Đoàn Tường- Lý Hoàng Phong từ sau ngày 30-4-75. Gia đình anh có nhà ở gần cổng xe lửa Trương Minh Giảng (nay là đường Lê văn Sĩ). Mảnh đất ấy của bố mẹ vợ anh. Anh lấy vợ, về ở nhà vợ, cùng vợ xây dựng nên một căn nhà khang trang. Chủ quyền căn nhà vẫn là tên bố mẹ vợ anh. Bố mẹ vợ mất, căn nhà ấy như của con cái, rồi ngày 30-4-75 người chiến thắng vào thành phố, trong đó có người anh ruột thịt của vợ anh từ miền Bắc vào, đoàn tụ gia đình sau nhiều năm xa cách, tìm cách giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội mới có lại cuộc đời, nếu không nói là thuở “quân hồi vô phèng”. 
Người anh, lúc đó là cán bộ, trong khi chờ đợi nhà nước cấp nhà, vào chung hộ khẩu với nhà Đoàn Tường. Chuyện đương nhiên thôi, và ông ta như một lá chắn che cho gia đình Đoàn Tường. 
Gia đình Đoàn Tường được hưởng ít nhiều ân huệ của người chiến thắng. Anh Tường không phải đi tập trung học tập cải tạo như những anh em văn nghệ sĩ, ngụy quân, ngụy quyền. Con trai lớn của anh trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đi chiến đấu làm nghĩa vụ quốc tế ở bên Căm Pu Chia, do bọn Khờ Me đỏ đang làm chuyện diệt chủng man rợ chính dân tộc chúng, là dân tộc anh em với dân tộc ta, môi hở răng lạnh. Gia đình Đoàn Tường tình nghĩa anh em như thể tay chân, vậy cũng được đi. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bông, anh em nào đỡ được cũng mừng cho anh em ấy. Tôi nhớ có lần cách đây hơn hai mươi năm, thuở tôi còn lang thang chợ trời. Tôi và Trần Lê Nguyễn có ngồi uống cà phê với Đoàn Tường, trước một ngân hàng ở mé Chợ Cũ, nơi Đoàn Tường được tiếp tục công tác “. Ai cũng mừng cho anh gặp may mắn. Mặt tiền căn nhà của anh trở thành quán cà phê do vợ và con gái anh đứng bán. 
Khoảng năm 1990, khi Tú Kếu đi tù về, chính tôi đưa Tú Kếu đến thăm anh tại tiệm cà phê trên. Đời sống anh khi ấy cũng bình thường trong kinh tế thị trường. Mặt ngoài thì như thế nhưng bên trong có vẻ gì khúc mắc. Tôi biết tin đứa con trai lớn của anh đi nghĩa vụ quân sự không về nữa, không phải cháu đã bỏ mình vì nghĩa cả, mà cháu thề rằng không bao giờ trở về căn nhà ấy. Chúng tôi không tiện hỏi sâu, cặn kẽ hơn. 
Cho đến những buổi sáng, cách nay chừng mười năm. Tôi thấy Lý Hoàng Phong gần như có mặt thường xuyên mỗi sáng ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Chúng tôi vừa ngồi uống trà vừa đọc báo giải khuây. Vì hầu hết anh em chúng tôi mất sức lao động cả rồi, nên phải nhờ vả vợ con, đôi khi bạn bè ở nơi xa giúp đỡ Thường gọi là cứu đói, cứu thôi chứ không xóa được ở tại nơi đó cũng là chỗ thông tin chd nhau, kẻ còn người mất, kẻ sống ngất ngư như con tầu lướt sóng, kẻ ở người đi hoặc biết với nhau về hoàn cảnh gia đình của nhau. Không biết vì cảnh giác cao hay tất cả anh em chán chuyện thời thế, nên quyết nhiên không ai bảo ai đều lánh xa những tin thời sự có tính cách chính trị nên chẳng bao giờ có chuyện bị đánh giá là phản động”. Có sự theo dõi nào không tôi không biết, cũng chẳng cần biết thì đúng hơn, nhưng nếu có thì chỉ là chuyện vô ích mà thôi. 
Tại địa điểm này, tôi được biết gia đình Đoàn Tường có chuyện chia chác gia tài giữa vợ anh và người anh ruột. Ông anh ruột là cán bộ nhà nước đã được nhà nước cấp nhà ra ở riêng, nhưng chính căn nhà của cha mẹ để lại, ông ta thấy cũng phải được chia phần theo luật thừa kế. 
Thế là căn nhà mà gia đình Đoàn Tường đang ở, đang sinh sống phải bán đi để chia gia tài. Chính vì vậy đứa con trai lớn của Đoàn Tường từ Căm Pu Chia về bất mãn mới nổi khùng lên rồi bỏ nhà ra đi biền biệt với một lời thề không bao giờ quay trở lại. Đứa con gái bị dẹp quán cà phê to tiếng với mẹ rồi bị tâm thần. Đoàn Tường trở thành kẻ đứng ngoài, sáng sáng ngồi ở sạp báo Nguyễn Kinh Châu buồn hiu hắt. ít khi anh nói gì, anh tiêu cực hay chán nản chẳng ai biết, nhưng nỗi đau chắc là có đấy. Có người gặng hỏi, anh chỉ trả lời vắn tắt, tôi chẳng có gì, mặc họ với nhau. 
Một thời gian sau vắng bóng Đoàn Tường ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Anh em nói chuyện chia chác nhà, ra lòa kiện tụng cũng đã xong, anh Tường cùng đứa con gái điên lên làng báo chí ở. Tôi biết về Đoàn Tường – Lý Hoàng Phong có thế thôi. 
Hôm nay ngồi trước mặt anh, tôi chỉ thấy anh suy nhược quá rồi. Căn nhà của anh lặng lẽ, dù rằng anh có vợ và có con cùng chung một mái nhà. nhưng hình như ai cũng sống riêng với mình. Bên cạnh phòng khách có hai phòng nhỏ, cửa đóng kín mít, một lát cánh cửa phòng bên ngoài mở, một cô con gái từ đó đi ra. Anh Tường nói là con gái anh, cô ta lặng lẽ xuống nhà rồi ới lên ngay, lại trở về căn phòng của mình đóng kín. Một lát sau nữa, cánh cửa phòng thứ nhì mở, một người đàn bà đi ra. Đó là chị Đoàn Tường, chị chào hỏi khách hoạt bát, rồi chị lấy xe đạp ra đi. Anh Đoàn Tường hỏi bà đi chợ đấy à, chị không nói. Một lúc sau chị lại trở về, chiếc giỏ xe trống rỗng. Chị vào trong phòng, khóa cửa cẩn thận. Theo như Uyên Thao nói với tôi thì chị cũng man man mất rồi. 
Tôi nhìn căn nhà trống trếnh loang, căn nhà như không có sinh khí… 
Đoàn Tường hỏi tôi Uyên Thao đâu, tôi chỉ tay lên trời. Anh có vẻ ngạc nhiên. Tôi nói rõ hơn: 
– Hắn đang bay trên trời, hắn đi Mỹ. 
– à à tôi có nghe nói. 
Câu chuyện chúng tôi nói với nhau chỉ ấm ớ như thế cho đến lúc trời sắp về trưa, tôi lên đường trở về thành phố. 
Lần sau tôi lên làng báo chí, cũng với mục đích thăm Đoàn Tường, mang quà cứu trợ của anh em ở nơi xa gửi về cho anh. Cũng dáng chậm chạp ấy, hôm nay thì cậu con trai có nhà, gọi là cậu bé nhưng cũng phải trên hai mươi tuổi, bảnh trai ra phết, như Đoàn Tường ngày xưa, thuở tôi mới gặp anh. Anh giới thiệu cháu bây giờ thất nghiệp, ở nhà với anh. Tôi ra vẻ khuyên cháu chịu khó săn sóc bố. Cháu vâng dạ thật lễ phép, hỏi thăm về gia đình tôi, công việc làm ăn của tôi, tôi nói chú “làm thinh”, chú cháu mình đều làm thinh. Tôi thấy Lý Hoàng Phong thoáng mỉm cười. Hình như nụ cười của anh thật hiếm hoi. 
Tôi thấy ngổn ngang trên bàn những cuốn sách. Tôi lật xem, lất cả đều là sách dậy nấu ăn, những món sơn hào hải vị. Anh hoặc cháu đang đọc những cuốn sách ấy, đang tự chế biến những món ăn ngon của ba miền đất nước, những món ăn hàm thụ. 
Quà cáp của anh em đây, anh có thể thực hiện được một vài món ăn cho thạp khẩu vị, anh không cần phải thưởng thức món ngon bằng cách hàm thụ nữa. Tôi chắc chắn những món ăn đó phải ngon lành vì có chất ngọt của tình nghĩa bạn bè. 
Anh viết một mảnh giấy cám ơn anh em, rằng quà cáp mặn nồng đó đã đến tay anh. Tôi ra về cũng thấy lòng thơ thới hân hoan.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

7. Chương 7

Các cụ la thường hẹn với bạn bè chí cối thuở thiếu thời rằng: 
– Khi già thế nào tôi cũng đến thăm bác, dù có phải chống gậy đi thăm, hay phải đi cáng đi đò.
Chuyện đó xưa như trái đất, và cũng là truyền thống của dân tộc, có từ đời thuở nào không biết. Một lời hẹn như đinh đóng cột. Tuổi già gặp lại nhau, có khi đi xa ngàn vạn dặm để ôn lại những kỷ niệm xưa thời trai trẻ, khi còn là anh khóa anh đồ. Nói chung là thuở hàn vi. Đường đời mỗi người một ngả, đi tìm sự nghiệp tương lai, nhưng tình bạn vẫn thấm đượm, vẫn thiêng liêng, có thể gọi là keo sơn gắn bó. Không nghĩ đến bạn nữa là lỗi đạo. Bạn mất trước mình, nhớ thương bạn, thốt nên lời thành thơ như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê: 
Bác Dương thôi đã xa rồi. 
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta 
Bạn đau ốm thăm hỏi bạn. Gặp nhau để hàn huyên đôi điều, đánh một ván cờ, đọc cho nhau nghe một bài thơ, uống với nhau ấm trà ngon, cũng có khi uống với nhau chén rượu, nói phét đôi điều cho đo chán đời. 
Học theo gương người xưa để giữ lấy cái đạo bằng hữu thật đơn giản nhưng cũng thật khó khăn. Tôi 62 tuổi, bạn tôi 63 tuổi, nhà thơ Tú Kếu, một thi sĩ xứ Sơn Tây, nổi danh một thời trước 30-4-75. 
Sau năm 1975 anh ở tù liền tù tì 12 năm trời, thời thượng gọi là “học tập cải tạo”. Vợ trẻ con thơ. Khi Tú Kếu trở về, chị Phượng (vợ Tú Kếu) đã là một người đàn bà đứng tuổi. Chị sinh thêm cho anh hai đứa con nữa, một trai và một gái út. Hai con trai lớn của anh đã trưởng thành nhờ công bên ngoại nuôi dậy. Mức án 18 năm tù của anh được giảm xuống còn 12 năm do anh “học tập tốt được sớm trở về đoàn tụ với gia đình, Người ta nói thế, không biết có thật vậy không. Trại tù mang bí số K3 ở Gia Rai, dưới chân núi Chứa Chan. Tôi đã từng ở đó nên rất biết. Tú Kếu ra khỏi tù, tôi mừng cho anh vì gia đình nhà vợ nay đã khá giả. Anh không phải như tôi tối tăm mặt mũi đi kiếm ăn nuôi vợ con. Buổi sáng tôi thường gặp Tú Kếu đi bộ từ nhà loanh quanh mấy con đường rồi tới sạp báo của Nguyễn Kinh Châu ngồi uống trà, đọc báo. Trước sạp báo của Nguyễn Kinh Châu là chi nhánh liệm trà Tiến Đạt của gia đình Tú Kếu đường Bà Huyện Thanh Quan. 
ở sạp báo này anh gặp lại nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ thời chế độ cũ, cùng thời với anh, trong đó có tôi. Anh em cũ chúng tôi chính thức gặp lại nhau vào ngày giỗ nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm báo Sống, là chủ nhiệm hầu hết anh em chúng tôi. Bữa giỗ được tổ chức ở nhà Đằng Giao-Chu Vị Thủy, con gái và con rể của Chu Tử. Ông Chu Tử tử nạn ngày 30-4-75, xác thủy táng ở cửa biển Cần Giờ, hôm ấy nhằm 19 tháng 3 âm hạch. Sau này Giao và Thủy lấy ngày giỗ âm lịch cho tiện. Ba năm trở lại đây, Tú Kếu vắng mặt trong bữa giỗ ấy. Anh bị căn bệnh quái ác là bệnh quên. Bệnh quên của anh càng ngày càng nặng, nhiều khi trở thành cổ quái. Quên cả mình là ai, đừng nói chi đến người khác. Anh không ở nhà đường Điện Biên Phủ trước bệnh viện Bình Dân nữa mà lên Lâm Đồng dưỡng bệnh. Cũng thời gian này tôi nghe nhiều chuyện về căn bệnh quên của Tú Kếu. Người ta đặt tên cho căn bệnh ấy là Alzheimer, tên của vị bác sĩ khám phá ra căn bệnh. 
Tôi vẫn mong có dịp lên thăm Tú Kếu. 

Khốn nỗi hai mươi năm nay tôi không ra khỏi thành phố. Điều đơn giản vì tôi không có mảnh giấy tùy thân nào trong người. Tôi mới có thẻ Chứng Minh Thư Nhân Dân hôm 15-8- 1999. Hôm 23-8-1999 tôi ra bến xe Miền Đông mua vé xe đò lên đường, sau khi đã điện thoại hỏi rọ đường đi nước bước với chị Phượng, vợ anh  Kếu. Người thân của gia đình Tú Kếu nói: 
– Thôi bác đừng lên, bác hỏi thăm vậy là quí rồi, chúng tôi sợ ông ấy không nhận ra bác đâu dù bác có là bạn thân, đến người ở trong nhà cũng chẳng nhận ra nữa là… 
– Tôi hiểu, nhưng chẳng quan trọng gì, nhìn thấy nhau là quí, dù không đọc cho nhau nghe được một bài thơ. ấy thơ thì ông ấy nhớ đấy. 
Tôi mừng húm. 
Thế là buổi sáng tôi lên đường thăm Tú Kếu, trong túi xách của tôi có mang theo tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, nhà thơ cùng quê hương với Tú Kếu, một nhà thơ mà anh rất ngưỡng mộ, hồi xưa anh từng đọc cho tôi nghe. Anh đọc ánh mắt người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến. ở căn gác thuê đường Bắc Hải, nhìn ra nghĩa địa Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng. Đêm mưa rầm tháng bảy Âm Lịch nằm trên căn gác quạnh hiu nhìn ra mồ mả nhấp nhô, ánh đèn vàng vọt ở nhà xác nghe Tú Kếu ngâm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du cảm giác vừa thú vị vừa rùng rợn. Khi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Tuổi trên hai mươi. Tiệt tháng bảy mưa dầm sùi sụt… Lạnh heo may… 
Dĩ vãng ập vào đầu tôi khi xe leo lên đèo Bảo Lộc, sương mù giăng trắng đục cả đồi núi bên đèo, có căn nhà nào đó mờ nhạt trong sương. 
Gió lạnh đầy ắp không khí cao nguyên. Tôi không thể ngủ gà ngủ vịt như một số người đồng hành mà giương mắt nhìn cảnh bên đèo. Tôi thấy như thuở nào đó, xa xôi lắm rồi ngồi lóc cóc xe ngựa đổ đèo tận miền thượng du Bắc Việt như không khí thơ của Quang Dũng thời dân tộc Việt nam kháng chiến chống Pháp: 
Chợt mưa phùn gió lạnh 
Càng lạnh cành hoa mai 
Càng nhớ xa xôi lắm 
Những con đường chạy dài 
Hoặc hùng tráng như Tây Tiến: 
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống 
Nhà ai Pha luông mưa xa khơi 

Tai tôi ù khi xe leo lên đỉnh đèo rồi đổ dốc. Chưa thấm tháp vào đâu, nhưng tôi cũng bôi vào hai bên thái dương miếng dầu Con ó, mũi hít ngửi mùi bạc hà của ống hít mũi. 
Xe đổ dốc đèo Bảo Lộc, tôi phải trả thêm năm ngàn đồng nữa cho chú lơ xe đò để được đưa tới Lộc An, trước công ty trà Tiến Đạt. Nơi đó chưa tới Điều Linh. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới đi lên vùng cao. Đối với tôi lúc này trở nên lạ lẫm, lạ bắt đầu từ Ngã Ba Dầu Giây, chắc đường lên Đà Lạt còn nhiều điều lạ hơn nữa. Tôi thầm hẹn có lần đi chơi xa hơn lên vùng gió núi mưa ngàn. 
Bước chân vào nhà Tú Kếu, cũng là cửa hàng Trà Tiến Đạt. Người thứ nhì sau cô bán hàng là chị Phượng rồi Tú Kếu. Gặp chị, tôi hỏi: 
– Chị còn nhớ tôi không? 
Chị Phượng cười tươi: 
Gớm, anh làm như tôi cũng bệnh quên như anh Tú Kếu ấy, tôi nhớ chứ, nhớ tất cả bạn bè của anh ấy. Anh ấy thì lúc nhớ lúc quên, có lúc nhắc hoài… 
Tôi nắm bàn tay mảnh dẻ của Tú Kếu, nhìn sâu vào mắt anh: 
– Kếu, mày có nhận ra tao không? 
Đôi mắt ấy thoáng chút ngơ ngác, giọng trở nên lễ phép, từ tốn, lịch sự: 
– Cám ơn bố không quản đường xá xa xôi đến thăm con. 
Đến lượt tôi ngơ ngác: 
– Mày nói thật hay đùa đấy, mày không nhận ra tao thật à? Tao là Long, bạn mày, quen biết nhau từ hồi ở trại học sinh Phú Thọ năm 54. 
– Trại học sinh Phú Thọ?… Phải rồi, dầu sao con cũng nhớ bố lắm, bố không quản đường xá xa xôi… 
Chị Phượng biết chồng lên cơn bệnh quên, bằng cách nào cũng không thể để anh nhớ ra được. Chị pha một ấm trà hoa lài thơm ngát, hai tách cà phê sữa. 
Tôi mời Tú Kếu hút thuốc lá, anh hút ngay, thưởng thức cà phê là, khen ngon. Chị Phượng kể về bệnh trạng của anh. Chị nói thời gian sau này anh thường than nhức đầu, rồi mỗi ngày một quên dần, lẫn lộn lung lung. 
– Đến hai thằng con lớn mà anh ấy cũng không nhận ra, hỏi mãi anh ấy nói là đàn em của anh ấy thôi. Bệnh quên này anh ấy mới phát ra hai ba năm nay thôi, nặng thì từ hồi Tết đến giờ. Mất cả mọi ý niệm, sống như hoang tưởng… Đi ra đường anh ấy quên cả lối về, nên không dám đưa anh ấy về Sài Gòn vì anh ấy đi lạc ngay. Đó anh thấy sức khỏe anh Kếu rất bình thường. Nhưng anh ấy mất hút mọi ý niệm, về chuyện ăn uống một ngày anh ăn nhiều bữa, ăn rồi quên ngay thấy rằng mình chưa ăn gì hết. Nhà đông công nhân, họ ăn cơm theo ca làm việc. Nên khi đũa bát dọn ra, anh Kếu lại thấy rằng mình chưa ăn cơm từ sáng đến giờ… Cứ thế mỗi ngày anh ấy ăn dăm bảy bữa là chuyện thường, ăn sáng cũng tới hai lần, tuy rằng mỗi lần ăn không nhiều… 
– Nhưng ở trong nhà anh ấy cũng nhớ người nào đó chứ? 
Ông anh con chú bác với chị Phượng trả lời thay: 
– Có thứ nhất là Phượng, thứ hai là cháu gái nhỏ, thứ ba là ông bố của Phượng. Còn ngay bà mẹ vợ, anh ấy cũng quên luôn mà chỉ thấy quen quen… 
Tôi an tâm rằng Tú Kếu đã quên tôi rồi, như quên một số bạn bè thân thiết khác, cùng chung lưng đấu cật với nhau trong nghiệp dĩ văn chương. Không thể giận bạn được mà thương bạn bao nhiêu cho đủ. 
Tôi lại hỏi Tú Kếu: 
– Này cậu có nhớ Nguyễn Huy Nhiên là ai không? 
Tú Kếu chỉ ngay ngực mình: 
– Chính là ta đây. 
– Thế còn Hoàng Bình Sơn, Trần Đức Uyển? 
Cũng là ta, Tú Kếu nữa. 
Khi nói chuyện, Tú Kếu nhìn tôi đăm đăm như cố vận dụng trí nhớ, bỗng dưng nói: 
– Này tôi thấy bác này quen quen, giống cậu Cảnh ra phết, không biết có phải cậu Cảnh không? 
Chị Phượng không để tôi ngơ ngác, giải thích ngay: 
– Cậu Cảnh là ông cậu của anh Kếu, ở ngoài Bắc quê Sơn Tây. Anh ấy lẫn lộn đó. Tôi chợt nhớ ra, tôi tặng  Kếu tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng. Anh thuộc thơ của mình và của người khác. Anh đọc thơ Quang Dũng làu làu. Rồi Tú Kếu bỗng đọc một bài thơ khác: 
Ta con ông Công cháu ông Nghè 
Nói chuyện trên trời dưới đất nghe 
Sức khỏe Hạng Vương cho một đấm 
Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe 
Lội phăng xuống biển lôi tàu lại 
Chạy thốc lên non bắt cọp về 
Bữa nọ vào chơi nơi trướng phủ 
Ba ngàn cung nữ chạy ra ve. 

Tôi hỏi thử Tú Kếu: 
– Này ông đọc thơ của ông hay của ai thế 
– Không biết nữa, tự nhiên thôi. 
Quả nhiên Tú Kếu không nhớ thật, thấy giọng thơ huênh hoang của một ông nhà nho hết thời hồi cuối thế kỷ thứ mười chín bước sang đầu thế kỷ hai mươi thì nhập tâm. Cái cao ngạo sẵn có trong máu làm thơ của mình như của nhà nho kia, cũng giống khẩu khí của Tú Kếu. Anh nhập tâm chứ không đạo thơ. Tác giả của Thơ Đen, Thơ Chì, Thơ Xám và hàng ngàn bài thơ chưa ấn hành, làm vào thời gian sau này. Khi anh còn tỉnh táo, tôi đã có dịp được đọc riêng với anh. Những câu thơ thật khốc liệt mà để thất lạc thì uổng phí quá. Tôi tự nguyện phải tìm kiếm và thu thập lại. 
Tú Kếu khoe với tôi: 
– Thơ nhiều lắm, cả mấy tập dày thế này. 
Hồi trước, khi Tú Kếu mới đi tù về, anh có nhờ tôi đi tìm những tập thơ của anh ở hàng sách cũ hoặc nhà người quen, cuối cùng anh nói anh có tìm thấy mấy tập thơ dấu ở dưới chuồng gà nhà anh, anh cũng chẳng biết ai giấu cho anh nữa. Lục trong đống giấy cũ trong nhà tôi, tôi còn tìm thấy một ít bài thơ Tú Kếu làm sau này. Ngồi với nhau, hứng lên, Tú Kếu bèn làm thơ. Khoảng năm 1990, khi Tú Kếu đi tù về. 
Tôi nhớ những buổi sáng, sau một thùa đi bộ, Tú Kếu đến ngã tư Bà Huyện Thanh Quan, dừng chân ngồi uống nước trà ở sạp báo của Nguyễn Kình Châu, sạp báo nhìn sang tiệm trà Tiến Đạt, góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan là bệnh viện Saint Paul. Xưa kia căn nhà kín mít chỉ có hàng cửa chấn song sắt trên cao là nhà xác có lối cửa sau ra đường Tú Xương. Tôi cũng từng đưa tiễn người thân ở nhà xác ấy. Bây giờ bệnh viện Sainl Paul chuyên khoa mắt, không hiểu nhà xác kia còn sử dụng hay không, nhưng lối cửa sau vẫn đóng im ỉm, vẫn giữ nguyên vẻ thâm u bí mật. Buổi tối gái đứng đường rải rác trên hai con đường ấy. Tôi nhớ đến không khí trong thơ của thi sĩ Jacques Préverl. 
Đường phố Sài Gòn trong hai mươi năm nay đổi tên cũng nhiều mà riêng hai con đường ấy vẫn mang tên hai thi sĩ bậc thầy trong văn học sử Việt Nam. 
Một thế kỷ sau ngày Tú Xương mất, ở góc đường mang tên ông lại có một thi sĩ ngồi nhìn trời đất và cuộc đời. Tú Kếu. Đã chán chường tất cả muốn gác bút mà anh không gác được, âu cũng là nghiệp dĩ. 
Những hoạt cảnh, như những thước phim quay chậm cho ta nhìn thấy rõ nhiều cảnh sống sau khi hòa bình về trên quê hương. Chỉ ở một góc đường thôi trong thành phố đã hiện ra đủ cảnh đủ vẻ. Những buổi sáng gặp nhau ở sạp báo góc đường, chúng tôi ngồi với nhau. Nói là chúng tôi, không nhiều nhặn gì, chỉ vài thằng văn nghệ sĩ hết thời: thằng thì nguyên thi sĩ, thằng nguyên nhà văn, thằng nguyên ca sĩ nghiệp dư, thằng nhà báo, chủ nhân sạp báo cũng hết thời luôn. Nhìn cảnh đời diễn ra trước mặt mỗi thằng có một ý nghĩ riêng. 
Chúng tôi không hề có những buổi họp văn nghệ có tổ chức, có thiệp mời để nghe đọc thơ để hát ca trù, để được phái biểu về vấn đề hay đường lối văn nghệ dao lo búa lớn, để nghe những “chùm” thơ của nhà thơ này, những mảng” văn của nhà văn kia. Không có, hoàn toàn không, chúng tôi đến với nhau vì nhớ nhau, cũng chẳng hẹn trước, ai đến thì đến, ai đi thì đi. Cũng ít khi bầy ra cuộc ăn nhậu nào. Nhà thơ Khoa Hữu có bệnh đau bao tử kinh niên, lúc nào trong túi cũng có lọ thuốc, Tú Kếu thiếu máu trầm trọng, áp huyết quá thấp, tôi áp huyết cao, có lần suýt chết vì bị tai biến mạch máu não, nhà văn Lý Hoàng Phong người dệu dà dệu dạo vì bị bệnh gì đó không biết, buồn thỉu buồn thiu vì sắp mất nhà. Duy Trác làm nghề bán “căng tin” trường học con nhà giầu sắp sửa đi nước ngoài theo diện H.O. 
Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại nói năng ngọng líu ngọng lô, thỉnh thoảng đi xích lô đến, nói năng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ tưởng tượng ra anh đang nói chuyện văn nghệ, bộ môn hội họa. Thế là Trần Lê Nguyễn lấy làm mãn nguyện lại lên xe ra về. 
Thỉnh thoảng thi sĩ Bùi Giáng đi qua, ghé vô chơi, đọc thơ lung tung beng rồi lại ra đi, ông sang câu lạc bộ Văn Nghệ ở con đường gần đó uống rượu say la đà. Vì ở đây chẳng thằng nào uống rượu hết. Nói đúng ra còn ham sống, sợ chết nên… kiêng. 
Ngày Duy Trác ra đi nước ngoài, đến góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan từ giã anh em. Tú Kếu có làm bốn câu thơ “tiễn bạn xuất cảnh: 
Này hãy nâng ly cạn chén mời 
Chúng mình sắp sửa lại chia phôi 
Mi sang bên ấy vui đời mới 
Ta ở bên này dạ rối bời 

Những bài thơ của Tú Kếu đến với tôi, hoặc thuộc nó cũng tình cờ thôi. Như bốn câu thơ “viếng Trạng Đớp”, thi sĩ cùng thời làm thơ với Tú Kếu, chết ngày 15-8-1992: 
Tuổi thọ ông về Tiên Phật 
Tôi còn lẽo đẽo trần gian 
Mẹ bố cuộc đời vật chất 
Búa đời muốn đập cho tan 

Những bài thơ của Tú Kếu, thời gian anh ra khỏi tù, anh làm thơ trên bất cứ mảnh giấy nào, không phải những bài thơ anh in trong những tập thơ trang trọng. 
Sự nghiệp làm thơ của Tú Kếu thế này, đã có lần tôi thấy ở một mảnh giấy học trò. Bài Đời Thơ. Cũng có thể coi là lý lịch của Tú Kếu, sự chẳng đặng đừng của kẻ mang nghiệp dĩ 
Năm nay ta đã tuổi năm lăm 
Ba chục năm dư sống kiếp tằm 
Thơ phú chen chân mười sáu tuổi 
Trời cao mắt nhỏ đường xa xăm 
Những đêm thức trắng hồn rong ruổi 
Bay lượn tìm quanh nhất ý thơ 
Gục thiếp trên bàn óc đã mỏi 
Thấy toàn tơ nhện giăng trong mơ 
Quả nhiên điềm mộng báo ta hay 
Cái kiếp yêu thơ kiếp đọa đầy 
Mưa xám nắng xanh đường bút vẽ 
Biển vàng hoa trắng ở trong tay 
Đã nhiều lúc bút cùn toan gác 
Như mối tình thiêng gác từ đây 
Tình riêng cắt được thơ sao cắt- 

Bài thơ còn khá dài nhưng tôi không nhớ hết, nên đành cắt ra một đoạn.
Thập niên 1980 -1990, Sài gòn vì kiếm sống, những kẻ tài hèn đành phải ra nghề kiếm ăn, trong đó có hai nghề chính dễ làm nhất là nghề ve chai (thu mua răng vàng bạc vụn) và nghề kẹo kéo. 
Hai nghề này coi như thứ nghề hạ cấp chốn “chợ trời “. Từng đàn từng lũ thanh niên nam nữ ra nghề, luôn vào khắp hang cùng ngõ hẻm trong thành phố. Chính kẻ viết tập hồi ký này cũng đã ở một trong hai bộ môn “nghệ thuật thương mại” đó. 
Đám kẹo kéo thì “trang bị” khoa học kỹ thuật hơn. Người bán kẹo kéo phần đông là nữ, ăn mặc đầy vẻ mô đen chợ trời, loại quần áo của tàn dư Mỹ- ngụy bầy bán ở chợ trời. Đẩy xe đạp trên có một thỏi kẹo kéo, một cái máy cái sét, hát ngậu xị khắp phố phường, phần nhiều là điệu Lambada hay điệu gì đó rất tếu nhộn. Quà rẻ, trẻ con bu đến mua ăn. Chỉ năm hào thôi có thể mút được một que kẹo ngọt lừ, thơm tho, giòn rum vì có nhân bằng mấy viên đậu phong rang. 
Nhà thơ Tú Kếu đã thấy cảnh đó, anh ghi lại bằng thơ, bài Hai nàng kẹo kéo: 
Khá khen hai gái má hồng 
Tuổi xuân mơn mởn đã chồng hay chưa? 
Tuổi xanh nghị lực có thừa 
Đẩy xe kẹo kéo, nhạc khua phố phường 
Người rằng thương, ta rằng thương 
Gót chân liệu châm cổng trường bao lâu? 
Me cha nay đã bạc đầu?… 
Có chăng vất vả thân trâu kiếp lừa? 
Hay là nặng nhọc sớm trưa 
Bảo nhau khuất bóng, bây giờ mồ côi? 
Này hai cô bé kia ơi! 
Thoáng nghe tiếng nhạc, tim người 
nhói đau 
Đời này vàng lẫn với thau 
Tim càng hãy giữ bền lâu với đời 
Nàng đi kéo kẹo cho đời 
Tơ tầm ta kéo dâng lời thủy chung 

Suốt những năm 1992 tới 95. Nghĩa là thời gian Tú Kếu còn tỉnh táo, anh làm khá nhiều thơ, những hoạt cảnh anh thấy sau khi ra khỏi tù, trên những ngả đường anh từng đi qua. Từ nàng bán kẹo kéo, cô gái đứng đường, đến người ăn mày tật nguyền. Ông lão đứng ngẩn ngơ bên đường, phải chăng là tâm sự của mình: 
ông lão bên đường đứng ngẩn ngơ 
Chờ xe qua hết để sang bờ 
Nhưng xe nườm nượp sao qua hết 
Mãi tới chiều buông vẫn đứng chờ 

Mệt quá đi, suy nghĩ mãi cũng chẳng ích chi, nhìn cảnh đời đổi thay càng thêm chán nản. Tú Kếu không thèm suy nghĩ nữa, nhưng đầu thì đã nhức rồi: 
Lẩn quẩn suy tư nhức cái đầu 
Cái đầu nghĩ mãi lại càng đau 
Quanh co thế sự hồn tơi tả 
ấm ớ dân sinh dạ nát nhàu 

Chỉ ít phút dành cho hồi tường những kỷ niệm với Tú Kếu, để hiểu anh và thương anh hơn. Thời gian dưỡng bệnh của Tú Kếu không biết đến bao giờ, nhưng hiện nay may mắn là anh còn đầy đủ tình nghĩa gia đình, trong yêu thương, thủy chung. 
Khối người đã thiếu thốn cả những điều ấy. Tất cả chúng ta đã già, đầu bạc rồi, kể cả chị Phượng. Tôi nhìn thấy những chân tóc bạc dưới mái tóc nhuộm của chị. Mới ngày nào chồng bị bắt, chị còn trẻ, ôm hai con nhỏ dại ngồi bán thuốc lá lẻ ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan, phía sau ngôi giáo đường đường Tú Xương, hỏi ngày về của anh, chị không biết, như mọi thiếu phụ có chồng đi ở tù khác, có khác nhau chăng là ở ìmh chung thủy. 
Bây giờ chị ngồi bên anh, chị được đền đáp lại bằng một sự nghiệp thơ của anh. Điều đó tôi không tin là điều mơ hồ với riêng chị và cả với những đứa con của anh chị. 
Trời xế chiều, tôi từ giã gia đình Tú Kếu về Sài Gòn. 
Tú Kếu tỏ ra tỉnh táo, tiễn tôi ra tận cửa, chúc tôi thượng lộ bình an. Nhưng thâm tâm tôi thì chắc chắn một điều rằng anh vẫn không nhận ra bạn anh. Như đã không nhận ra nhiều bạn bè khác. Vì chúng nó đã chết hết cả rồi. Anh nói thế. 
Tôi ngồi trên xe đò trở về thành phố, sương mù buổi chiều dâng cao ở đỉnh đèo, ờ, sao tôi thấy ngậm ngùi. 
Tú Kếu vẫn còn sống đó, nhưng ngất ngư…

Bông hồng tạ ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác giả Văn nghệ sỹ Việt Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

3. Cao Đông Khánh

Chúng ta có nhiều nhà văn miền Nam, viết theo phong thái và ngôn ngữ đặc thù của miền Nam như Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Phi Vân rồi Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên tới Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An, Huỳnh Phan Anh, Trần Thị Ngh., Kiệt Tấn v.v …

Nhưng về thơ thì hình như sau Nguyễn Đình Chiểu chỉ có Tô Thùy Yên, Trần Tuấn Kiệt và gần đây nhất là Cao Đông Khánh.

Tuy vậy, về phương diện thuần chất miền Nam thì thơ Tô Thùy Yên cũng như Trần Tuấn Kiệt không còn thuần chất lắm, nó đã chín phần mười nhập vào cái thăng hoa của ngôn ngữ Việt nói chung.

Thơ Cao Đông Khánh giữ được nhiều bản sắc miền Nam hơn:

sàigòn, chợ lớn mưa như chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về xóm chiếu

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm dấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông

sài gòn khánh hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư quốc tế đứng sàng xê

gánh nước nặng hơn vác thánh giá

má đỏ hình như rượu mới hồng

Có thể Cao Đông Khánh làm thơ đã từ lâu. Nhưng chỉ từ khi ra hải ngoại sau biến cố 75 thơ ông mới được phổ biến và được nhiều người biết đến.

Theo nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh trên báo Phố Văn thì:

“Thơ Cao Đông Khánh xuất hiện khi làn sóng thuyền  nhân lên cao độ những năm 80-81, khi lương tâm nhân loại phải đương đầu với thảm kịch thuyền nhân Việt Nam, khinhững tuyên truyền khuynh tả và chủ nghĩa bạo tàn đã để rơi mặt nạ. Thủ phạm đã rõ nhưng nạn nhân cũng đã quá nhiều,

hàng trăm ngàn người trong số hơn hai triệu thuyền nhân rời bỏ quê hương đã không bao giờ đến bến. Họ, những thảm kịch mà công luận quốc tế cuối cùng đã biết đến, đã nhìn thấy, họ đã bỏ mình nơi biển cả, trong rừng sâu, vì bạo lực, vì bất nhẫn của người đối với người … Cao Đông Khánh là thuyền nhân, ông đã sống cái bi trạng đó và ông đã dùng thơ để lên tiếng”.

Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn là một tuyển tập những bài thơ Cao Đông Khánh đã sáng tác trong hai thập niên từ 1976 đến 1996, gồm đủ mọi thể loại từ lục bát đến thơ xuôi. Và bài nào của ông hình như cũng có dấu vết máu và nước mắt các cuộc biến đổi tang thương trên đất nước.

“Nơi em ở đó lâm li tình ái, mà, em nỡ bỏ đi, không ai có thể hiểu nổi. Cái trái ô môi đậm đà hơn đường mật, cái thơm cái khóm ngọt ửng màu phèn, cái xe thổ mộ rềnh rang lục lạc, cái con nhỏ hồi xưa tóc cài hoa thiên lý, mà, lí em về dọn dẹp hồi xưa, dọn anh ra khỏi quốc gia, dọn Việt Nam ra hải phận quốc tế.

Anh mang khối tình còn e lệ đi chu du. Trên núi mây ngũ sắc, ngoài biển gió mưa hòa thuận anh gầy lại miếng đất thân sinh, lập trang trại gia bảo. Anh chọn con ngựa trong mười hai con giáp, anh tra khớp bạc, anh thắng kiệu vàng, anh phi nước kiệu đưa nàng đi thăm cổ tích, có chiếc lá rơi biến thành chim vành khuyên đậu trên vai người hóa đá”.

Thật hụt hơi. Ta tưởng chừng như đang nghe một bài vọng cổ, được ca bằng một giọng tài tử nhưng có thừa ngọt ngào, vừa oán trách vừa thiết tha. Kể lể với đời, kể lể với tình. Ai kể? Ai nghe? Cuộc tan vỡ mỗi người mang một ít trong máu, nghe nói thì hiểu ngay, chẳng cần biết đó là chuyện của ai. Bài vọng cổ không phải đời sống, nhưng có bao nhiêu đời sống mất đi mới thành bài vọng cổ, hát lên và nghe hát là có thể khóc, không phải khóc những gì ở ngay trong bài vọng cổ, mà khóc cái xa hơn, khóc người đã trở thành bóng, khóc Xóm Củi, khóc cái bến tắm ngựa, khóc chuyến xe buýt đậu trước cửa chợ Bà Chiểu, em mặc áo dài đen bước xuống … rồi biển lấp đi tất cả …

như vậy đó, biển hàng ngày tăng trưởng

biển mọc trong đầu biển khắp tay chân

biển xót xa em từ cái răng cái tóc

con mỹ nhân ngư này

tên gọi thuyền nhân

em nói chồng em chết tù cải tạo

những đứa con ngọc ngà

chết ở biển đông

còn đứa trẻ khôi ngô này

sinh ở trại tị nạn

cha nó đang làm hải tặc Thái Lan

Có chỗ nào cho thơ trong những chuyện đớn đau như thế? Cao Đông Khánh viện dẫn đến cả những lời nói thông thường của các người bán hàng rong, các tay anh chị, cả những chữ líu lưỡi của dân nhậu không chừng:

Để anh nhắc ngày anh ra biển

chặt một chân để lại làm tin

hãy xẻ khô cất làm lương thực

em ráng sống dùm anh nghe em

nghe đó em người làm nhân chứng

tình yêu này như hỏa diệm sơn

Để anh kể cho em tưởng tượng

một đêm, gió khô hết hơi thở

người chết dưới biển lên đảo viếng thăm

Nguyễn Vy Khanh đã nói đúng: “Thơ Cao Đông Khánh không phải là văn chương mà trước hết là ngôn ngữ và tiếng nói.

Thật vậy, người đọc thường phải đương đầu với một ngôn ngữ quá đà, thô tục, một ngôn ngữ tuyệt vọng nẩy sinh tiếng cười khinh mạn, châm biếm, những thành ngữ bẻ cong bẻ ngược như tiếng lóng trao đổi ở đầu đường vô nghĩa. Thơ Cao Đông Khánh phải đọc lớn tiếng và nếu được, trước người khác, hình như mới hay, vì với Cao Đông Khánh, ý của ngôn ngữ chính là ở ý của lời nói: Bài thơ bỗng rưng rưng, lời mặc khải viết xuống thành chữ, chữ hiện hình xinh đẹp”.

Khánh Ly

Nhớ anh Đinh Cường, đọc thơ Bùi Giáng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 14/04/2016 

Post by Sơn râu 16 Aug 2025

Bùi Giáng by
dinhcuong

Mỗi năm, đôi ba lần, anh Đinh Cường vẫn thường gửi qua bưu điện cho tôi nhiều tặng phẩm. Tranh, ảnh, sách, báo, tạp chí đa phần phát hành ở trong nước. Anh mất đi, tôi như Cuba bị Mỹ cấm vận, thôi hưởng được nguồn tiếp tế. Nghèo đói và nhớ mong. Cách trở hơn cả biển rộng sông dài.

Trong những bưu phẩm “par avion” gửi hạng nhất có cuốn nặng ký: “Bùi Giáng. Đười Ươi Chân Kinh” do Nhã Nam xuất bản. Đã hơn ba năm chưa thời xong món ăn tinh thần nọ, hôm nay Montréal trở chứng, tháng Tư rồi mà “sầu bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”. Tuyết nhỏ thôi, lưa thưa và vu vơ, chưa chạm đất đã tan biến vào chốn vô cùng. Và nhìn ngó cái ướt át kia cũng nghe sầu dâng nhỏ giọt. Nguyễn Bính nói “gió mưa là bệnh của trời”. Vậy tuyết? E trời đổ đau, trọng bệnh cỡ ung thư? Nhắc tới bệnh tình, tưởng tới sầu đau tôi buồn tay lôi xuống từ kệ sách oằn thân cuốn Chân Kinh nọ. Chữ đề tặng còn đây, chưa phôi pha mà người gửi cho thì… “ngoảnh mặt tha hồ mây trắng bay”!
Thơ Bùi Giáng với tôi, như một cánh rừng bạt ngàn những ý tứ lạ, xao động đẩy đưa ảnh hình thường là dễ thương:

“Em đi đứng cũng như nằm
ngồi đây trò chuyện trăng rằm chút thôi”.

Hai câu ngắn mà chứa tới 5 động từ: Đi, đứng, nằm, ngồi, trò chuyện. Và em là chủ từ “chỉ một chút thôi”. Không dài lời bởi trăng rằm, tự thân là một hào quang. EM, từ vô lượng kiếp, trước sau vẫn là đề tài mà thi nhân chẳng mỏi mệt để tâm, làm đối tượng. Và chúng ta hiểu do đâu có chữ Nàng Thơ. Nếu sai thì thi ca cất giữ vẻ mong manh rung động lụa là gói đầy nữ tính? Đọc một bài thơ tranh đấu hào hùng ngỗn ngang gươm đao súng đạn, liệu có nên nhắc tới “nàng thơ”? Nàng e lệ không xung kích trước trận tiền. Nàng ở địa phận khác, hậu phương êm đềm chẳng hạn. “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, vận sự ấy hẳn hạ hồi phân giải. Bất khả kháng hay bất khả thi (ca)? Mọi thứ chỉ là khái niệm. Không nên ôm đồm quá, chẳng nên được voi đòi hai bà Trưng!

Trăng cũng vậy, từ khi nguyệt là trăng, vẻ đẹp dễ hư hao khuất lấp mơ hồ kia e chỉ dùng ví von định vị riêng tới nhan sắc của một nữ nhân.

“nửa vời trăng rộng mông lung
đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”.

Đi theo ni cô thì lòng dẹp yên ba đào thôi bị trăng rù quến? Trăng và nữ nhi thường là cặp bài trùng, là người bạn đồng minh không hề tháo chạy? Đặng Dung mài gươm từ tóc xanh cho tới đầu bạc dưới bao mùa trăng thì trăng ấy có khi là hình ảnh đối cực nhằm soi rõ tấc lòng vằng vặc của kẻ sinh bất phùng thời vậy! Chỉ riêng trăng chứng giám cho tâm can này. “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc, gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày!”

Thi nhân ít khi mang trăng ra để so sánh xướng tụng về một người nữ thập phần cao cả: MẸ. Thiếu sót chăng? Hay trăng rằm xem chừng chưa đủ nội lực để soi rọi tới tình mẫu tử ngời sáng? “Mẹ là người duy nhất bảo bọc bạn 9 tháng trong bụng, 3 năm ôm ấp trong vòng tay và ảnh hình bạn mãi mãi nằm sâu trong trái tim của bà”. Vô đối. (Anh Đinh Cường có làm bốn năm bài thơ tròn trịa ca ngợi Mẹ đầy xúc động, đằm thắm của tấm lòng người con phương xa, trước và sau khi Mẹ mất).

Bùi Giáng có đôi bài nhắc tới mẹ nhưng lộ rõ chất bông đùa cố hữu bởi mẹ ấy chính là mẫu thân Phùng Khánh, là Marilyn Monroe, là Brigitte Bardot… Nhưng dẫu là mẹ nào lời thơ vẫn nghe vuông tròn chút lòng thành đầy nhân ái.

Mẹ về ngủ giấc bình yên
con đi suốt xứ còn điên như thường
nay mai con chết giữa đường
mẹ xin kế tục bồi thường cho con
…
Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung
ngày đêm mẹ khóc vô cùng vì con
chiêm bao mẹ bảo trời tròn
đường mưa xuống nấm mộ con lạnh lùng
con về mộng mị nấu nung
trùng sinh bất chợt vô cùng lại ca
bây giờ con mới chép ra
một dòng thơ cũ chan hoà bấy lâu
…
đường vui con bước hao mòn
trăng thân mẫu rộng bóng tròn xuống vai
…
Mẹ về đứng giữa đầu sân
cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi
…
Con về trong cõi người ta
nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu.

Rất thành thật, Bùi Giáng thổ lộ điều chẳng lấy gì làm mới:

Mẹ cha thì nhớ thương mình
mình đi thương nhớ người tình xa xôi.

Người tình, chung quy vẫn là bài toán khó hiểu mà người làm thơ suốt đời buộc phải làm rõ vấn nạn nhọc nhằn kia. Là thứ phương trình có nhiều ẩn số và có cả ngàn lẻ một cách giải. Nếu không vậy, thi ca đâu còn chỗ đứng để mang vẻ đẹp huyền ảo đến cho cuộc đời. Một vẻ đẹp chưa bao giờ già nua, một bản giao hưởng, một bài trường ca tôn vinh EM chẳng mỏi mệt. Giận lẫy có, nói bóng nói gió có, làm đày làm láo có, và thậm xưng rối rắm:

Em ở bên trời
Trẫm ở đây
Trẫm sầu hôm sớm
tới hôm mai
làm thơ gửi tặng cho em vậy
Em đáp vài dòng
cho Trẫm hay

Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
cũng rối ren).

Bùi Giáng luôn để lộ chất thi sĩ đáng yêu. Hơn hẳn một vị vua triều Nguyễn đóng đô ở Huế: “Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương Trẫm nhớ Trẫm liều Trẫm đi”. Ôi mỹ nhân! Sao chơi khó Trẫm đến mức đó! Trẫm dại gái rất mực, sao mình rồng chẳng mang quyền uy mà sai thủ hạ mang kiệu lên Kim Long bắt nàng về cho ta. Nói vậy hoá ra là chơi trò bạo lực cửa quyền mất. Hừ, thơ phú ích gì cho buổi ấy!

Phải dịu dàng, phải tôn vinh, phải thở than, phải ngợi ca. Và nhún nhường: Thú thật là anh cũng có cái quyền trời phú riêng anh, có thể hô phong hoán vũ, có thể biến đổi khí hậu vui buồn bất chợt vẽ trắng tô đen, nhưng em ạ anh muốn ve em bằng cái sở trường của anh, ấy là tán em anh nên bỏ chút ít quỵ luỵ thất điên bát đảo vào lời đường mật đặng quyến dụ bướm ong.

Thưa em từ bữa lạc đàng
đầu hai thứ tóc gió ngành thổi tung
nhớ em miệng đỏ vô cùng
hai môi khép mở một vùng cỏ hoa
nhớ ngang ngửa dưới trăng ngà
lối sương tố vọng canh gà sơ nguyên
nhớ em anh rất có quyền
ngồi trên bãi rộng quàng xiên vẽ hình
bốn bên đổ quán xiêu đình
ba bề đờ đẫn một mình anh đi.

Đặc biệt trong sưu tập “Đười Ươi Chân Kinh” tôi nhặt ra hai bài thơ có vẻ như muốn minh hoạ một thảm trạng lộ hình toàn tập sau thời điểm 1975. Ám tối, đau thương, thất tán qua lời thơ mất đi hẳn tính lạc quan bông lơn thường nhật của thi sĩ. Người ở lại cố quận, kẻ giấn liều đi xa không hẳn sẽ viết ra được chất giọng khôi hài đen, đắng chát như Bùi tiên sinh.

Bài Một

Giã từ cõi mộng điêu linh
tôi về buôn bán với mình phôi pha
– Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
Bây giờ xuôi ngược đôi nơi
thôi mình ở lại tôi rời chân đi
Thưa rằng: -Ở cái quái gì
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng.

Bài Hai

Dậy nhìn bốn phía nhà hoang
Ve trời đất cũ lạc đàng không qua
Từ khi gió phượng hiên tà
Trút bông đỏ xuống hoàng sa lệ kiều
Chim chuyền đổ giọng hoang liêu
Gái nào thiên cổ đã liều dấn thân.


Hồ Đình Nghiêm
by dinhcuong

Trước sau, từ thuở tóc xanh cho tới giờ, tôi vẫn yêu thơ Bùi Giáng. Hoạ sĩ Đinh Cường biết vậy nên đã gửi tặng cho cuốn sách quý. Đọc lại Bùi Giáng, là chạm trán những kỷ niệm ngỗn ngang, trong yếu lòng chẳng cầm giữ để hoán đổi thơ ông thành ra:

“Tôi về trong cõi người ta
buồn dâng nơi nọ anh đà đi xa”.

Tôi chẳng đủ nội lực để tán hươu tán vượn về một cõi thơ vốn chất ngất những từ kỳ ảo tựa một trang bí kíp viết bằng cổ tự. Xin chép lại bài thơ sau đây của Bùi Giáng thế lời tạ từ. Bài thơ như một tuyên ngôn, như một triết lý mà tôi cần học hỏi:

Có lẽ

Người nằm ngủ thấy gì
Thấy rất nhiều nắng lạ
Những chùm bông rất xanh
Có lẽ bông là lá

Người nằm ngủ thấy gì
Chẳng thấy gì hết cả
Ngài thử nằm ngủ đi
Đừng hỏi gì hết cả.

Hồ Đình Nghiêm