Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 2 Nov 2025

Phần 4

Ba tôi và tôi

(Viết tại Oregon trưa 24/1/2007 vài giờ sau lúc Ba tôi mất tại Việt Nam)

Ngùi trông con nước xuôi dòng
Thương Cha đoài đoạn cõi lòng, lệ rơi
Chín mươi, Cha tuổi cuối đời
Con vầng mây lạc cuối trời ly tan.

Theo Má tôi kể là Ba tôi theo kháng chiến chống Pháp lúc tôi còn bé, nhưng ba tôi không vô đảng cộng sản, đó là lý do có lần Ba tôi bị cộng sản xử tử hụt vì bất đồng ý kiến “nặng nề” với tổ chức kháng chiến do cộng sản nắm quyền sinh sát trong kế hoạch nông thôn bao vây thành thị, theo đó nhiều cán bộ Việt Minh đã tịch thu gạo, gà đồng bào gánh ra chợ, đem về nhà cho vợ.

Năm 1954, Ba tôi không đi tập kết ra Bắc vì ông không phải là đảng viên cộng sản, ông ở lại với gia đình như một người dân bình thường và cùng Má tôi “sản xuất” một bầy con mà tôi là thằng nhóc đầu đàn.

Khi lớn lên, tôi học dang dở ở bậc Đại Học, chui vô Thủ Đức để trở thành một tên quan nhì. Tôi đổi về Sài Gòn sau khi ở Quân Khu 2 bẩy năm, học tiếp tục lớp chiều ở một đại học, hoàn tất xong chương trình đại học mà tôi đã bỏ dang dở.

Ba tôi nghĩ là ông đã có thằng con với tương lai xán lạn, nhưng ông đã lầm. Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, miền Nam trở thành một thứ thiên đường đen thui, tôi và vô số anh em sĩ quan miền Nam cùng quê bị đẩy lên mật khu Kà Tót giữa rừng, gần biên giới Lâm Đồng – Bình Thuận, nơi đó, chỉ sau vài tuần, anh em tụi tôi phải đặt cho cái tên là “trại tử thần”. Tên cũ của nó là “trại tù tàn binh Kà Tót”, nơi bắt đầu những chuỗi ngày tù ngục “từ người xuống vượn mất ba hôm. . . “

Trong lúc sống như súc vật dưới những mũi AK trên rừng Kà Tót, chúng tôi, những tên tù còn sống, hàng tuần phải khiêng chôn những tên tù bị chết, vì lao động nặng, sốt rét và thiếu ăn. . .Và tôi thấy có lẽ mình không có ngày về. Ba tôi dĩ nhiên là không lường được cuộc đổi đời quái đản ngược ngạo đang diễn ra đang phủ chụp lên đầu tôi và lên đầu cả nước.

Khi tin số tù chết ngã xuống hàng loạt trên rừng Kà Tót, và trại cấm không cho thăm nuôi, những gia đình và thân nhân tù nhân sống với những ngày đêm ác mộng khi nhìn về hướng núi rừng, nhất là sau tin đại úy Trò bị “cách mạng” đập đầu chết trên một đòng suối cạn ở Phú Bình, cách Phan Thiết chừng 8 cây số về phía Tây Bắc, làm cả thành phố co ro run sợ và kinh hoàng. Thân nhân ngủ với những cơn ác mộng khi nghĩ tới những người tù trên rừng Kà Tót trong tay tàn bạo của “cách mạng”.

Tôi không biết Ba tôi có bao nhiêu cơn ác mộng, nhưng sau này, tôi được biết là mỗi đêm ông đều ra ngoài sân, nhìn về hướng Kà Tót với bó nhang khấn vái mười phương, tám hướng cầu cho tôi còn sống, cầu cho tôi có ngày trở về.

Mà cuối cùng tôi về thiệt, tôi trở về, tôi còn sống, nhưng với tấm thân tàn ma dại mang theo một gia tài vĩ đại của của những người gọi là “giải phóng”, gọi là “cách mạng” ban cho. Đó là vô số những trùng sốt rét ác tính nằm vùng hàng triệu con trong máu. Chết ở rừng Kà Tót hay chết ở nhà vì sốt rét cũng là chết, nhưng chết gần cha mẹ đỡ lạnh lẽo đỡ cô đơn hơn chết trong rừng Kà Tót với tấm thân gầy đét bó bằng mấy vạt tre, ném xuống lòng đất lạnh. Tôi vẫn thường nghĩ như vậy.

Đầu năm 1980, tôi bỏ nước ra đi bằng đường biển, và Ba tôi lại cầu trời khẩn Phật. Lần này, tôi đến được Canada chứ không bị nhốt ở Côn Đảo như tin công an báo cho gia đình. Lần này, Ba tôi chỉ mất ngủ có một tháng sau khi nhận tin tôi đã thoát và đến bờ tự do. Ngay khi đến xứ người, tôi lăn vào chuyện viết lách và dần dần cuốn sâu vào những bài viết và mấy quyển sách mà cộng sản xếp vào loại phản động nặng, và cơ hội hay điều kiện dành cho tôi một ngày về thăm lại Ba tôi là chế độ cộng sản phải “đi chỗ khác chơi”, hay phải cáo chung.

Khi Ba tôi còn sống, và còn mòn mỏi đợi con suốt 23 năm, tôi luôn phone hẹn Ba tôi là “thế nào con cũng về, Ba chờ con năm nữa!” Ba tôi tin tôi, và ba tôi chờ tôi, 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm; mỗi năm, thời gian cứ nặng nề trôi qua, ông mòn dần khi qua cái tuổi gần 90. Và cuối cùng, tôi đã thua cuộc hẹn. Ba tôi đã chờ đến hơi thở cuối cùng và ra đi không hẹn ngày trở lại gặp tôi.

Ba tôi đã ra đi vài tiếng đồng hồ sau khi tôi đến Portland, Oregon trong chuyến đi dài Portland, San Diego, Phoenix và quay về Seattle . . .với mấy quyển sách. Qua phone, em tôi cho hay “Ba đã mất lúc 10 giờ sáng ngày 23 tháng 11 tại Phan Thiết.” Tôi bàng hoàng, tôi nước mắt. Tôi biết là sẽ có ngày đau thương này, tôi đã chuẩn bị đón chờ sự mất mát đau lòng này từ lâu, nhưng không thể không đoạn ruột từng khúc với những dòng nước mắt không cầm.

Gia đình thừa biết là tôi không về với Ba tôi trong ngày ông mất, nhưng vợ tôi vẫn yêu cầu tôi bỏ chuyến đi và quay về Vancouver. Mà về để làm gì khi em thay anh bay về thọ tang cho Ba và anh nằm nhà ôm nỗi đau “bất hiếu để khóc một mình. Còn chương trình anh em và bạn bè tổ chức sẽ ra sao nếu người nói chuyện không có mặt? Tôi quyết định tiếp tục chuyến đi khi những dòng nước mắt khóc cha dường như khô.

Chiều nay cùng anh em có mặt trong buổi gây quỹ cho Dân Oan và TPB tại Portland, tôi bỗng chợt nhớ ra một điều kỳ lạ mà tôi đã quên không để ý. Ba tôi đã ra đi đúng vào giờ sinh của tôi, vào ngày sinh của tôi, và vào tháng sinh của tôi. Tôi rời Vancouver gần vào ngày sinh nhật của mình mà tôi có nhớ gì đâu. Điềm gì đây? Có gì bất thường không? Nhưng dù có điều gì đi nữa, con đường trước mặt của tôi vẫn không thay đổi. Tôi vẫn đi với ước mơ về một nước Việt Nam tự do. Ba tôi không thể sống mãi với thời gian, nhưng Tổ Quốc Việt Nam phải trường tồn. Ba tôi hiểu tôi, và Ba tôi không một lần trách tôi.

Câu duy nhất mỗi lần ông mòn mỏi là “liệu con có ngày về cho Ba thấy lại mặt con hay không?”. Lần nào tôi cũng bơm một chút hy vọng cho Ba tôi: “Ba chờ con vài năm nữa! Thế nào con cũng về!” Lần này thì không còn gì nữa! Lần này, tôi lại khổ tâm nhắc lại câu tôi thường trách ông Trời rằng. . . tại sao thời nay lại “nghịch thiên giả tồn, thuận thiên giả vong?”. Ba tôi mất, tôi sẽ tụng câu này cho tới ngày cộng sản Việt Nam không còn mới thôi.

Mới đây, thật là “một sự vô tình linh hiển” khi trong tác phẩm mới nhất tôi phát hành, và còn đang lang thang đi lòng vòng nói chuyện, tập “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”, những dòng cuối của trang 152, tôi lại viết: “Sau cùng, tác giả tạ tội bất hiếu cùng Cha, Mẹ, trong những ngày mòn mỏi cuối đời mà tác giả, người con trưởng trong gia đình, vẫn nhất quyết không về quê hương dưới mầu cờ đỏ cho dù Cha Mẹ có mất trước ngày cộng sản Việt nam sụp đổ!”

Lời nguyền đã hiện thực, bất hạnh thay, lại đúng ngay vào ngày sinh của tác giả! Những dòng này được viết xong vài giờ sau khi Ba mất, con chân thành xin tạ tội bất hiếu với Ba. Ba thương con, và con tin Ba hiểu con và tha thứ cho con.

Chết Tại Buôn Mê Thuột

Đào Như

28/04/2010

Post by Sơn râu 1 Nov 2025

Đào Như

28/04/2010 Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Sau đây là bài thứ hai trong loạt bài góp cho giải thưởng nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tháng Tư 1975.
                                                                 * * *
 Xin ai đó khi đọc tựa đề đừng vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975″ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đầu năm 1997 đến năm 2000.
– Ông ấy và tôi đến Mỹ lâu rồi, thưa bác sĩ, từ năm 1984.
Bà vừa nói, vừa dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người chồng. Bà ốm, cao người, tuy già lớn nhưng còn vẻ thanh tú. Bà nói giọng Quảng nam. Lúc đó, 1997, theo đúng ngày sanh tháng đẻ của bà trên thẻ-thường-trú, bà cắn đúng 65 tuổi!
Ngồi bên cạnh bà, người chồng im lặng, nhỏ con, ốm và thắp hơn bà nhiều, đứng tới mép tai bà là cùng! Ông ta có đôi mắt ti hí quầng thâm đen, mặt toàn xương, có nhiều vết hằn trên trán, chứng tỏ trong quá khứ ông cũng có những đêm thao thức không ngủ được!
– Thưa bác sĩ, bà ấy với tôi đến Mỹ, năm 1984, đúng vậy!

Nói đến đó ông ta nín thinh, hình như ông ta bị cụt hứng vì cái nhìn của bà vợ. Thấy vậy Trọng đỡ lời cho ông:
– Ông bà đến Mỹ theo diện nào” Có phải diện H.O. không”
– Mần ren mà diện H.O. được! Diện H.O đâu có đến Mỹ sớm dữ vậy! Với lại ông ấy đâu phải là sỹ quan…
Bà thở ra nhẹ, bà nói tiếp:
– Ông ấy thượng sĩ già! Chúng tôi đến Mỹ theo diện con lai!
– Khổ lắm Bác sĩ, ông thều thào. Tôi là lính của Sư Đòan 2, từ thuở chí tư, cày từ lính, được gắn lon thượng sĩ giữa 73, đến năm 75, mấy ổng vào, rụi om, mất hết! Ông ôm đầu than vãn nhức đầu, mất ngủ, chán chường, đêm ngủ thấy toàn ác mộng!
Và cuộc đối thọai sau đó hơn 2 tiếng đồng hồ, giữa hai ông bà và Trọng. Sau lần gặp gỡ này, Trọng được biết tên ông là Trần Thống, lúc đó ông 70 tuổi. Hai vợ chồng đều ăn tiền bịnh, và có thẻ khám bịnh số 93, dành cho người bị bịnh, bất lực lao động. Ông là lính của Sư Đoàn 2, ông lập đi, lập lại nhiều lần “tôi là lính của Sư Đòan 2, tôi ăn chịu với Sư Đòan 2, tôi trung thành với cây súng và màu đất đỏ”! Trọng ngạc nhiên, hầu như không hiểu được cách lý luận của ông ta. Theo ông thuật lại, giũa tháng 3 năm 75, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Đòan 2, sau khi nhận được lệnh hãy rút lực lượng theo kế hoạch ít thiệt hại nhất cho Quân Đòan, bảo vệ sinh mạng của chiến sĩ và gia đình họ. Tướng Phú sử dụng Liên Tỉnh Lô 7, nối liền Kontum, Pleiku, Phú bổn, Phú yên để rút lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa từ cao nguyên về các tỉnh duyên hải Miền Trung. Cũng như các chiến sĩ khác, ông cũng đùm túm vợ và 5 năm con theo Sư Đoàn rút về vùng duyên-hải. Trong cuộc triệt thoái này, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu những sự thiệt hại vô cùng to lớn, cũng như gia đình ông gánh chịu những mất mát đau thương: ông thất lạc đứa con trai 15 tuổi mà ông nghĩ “nó bị vùi dập nơi mô rồi”! Ông miêu tả cái chết của vợ ông: “Bà chết chổng mông ngay dưới chân tôi, nơi cái vực sâu 2 thước! Biết làm sao bây giờ, tôi đành chôn bà ngay tại chỗ đó. Tội nghiệp bà, thế chồng con một mình bà chết thê thảm quá! Tôi dựng một tấm bảng bằng tôn đề tên họ, để sau này mình có dịp may ra trở lại bốc mộ! Mà lâu bấy chừ có dịp mô đâu”. Ông mô tả “Cộng quân vô cùng tàn bạo. Lúc ấy Liên Tỉnh Lộ 7, một hỏa ngục kéo dài từ Cao nguyên đến các tỉnh duyên hải..”! Về tới Tuy Hòa, sau hơn 20 năm lính, vốn liếng ông còn lại: 4 đứa con, cái quần xà lỏn, cái áo thun, và một tương lai đói thấy rõ! Cũng như các chiến sĩ khác, lúc đó ông cũng đi đến kết luận: “cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt từ đây”! Nghe oai và buồn! Thật bi hùng!
Còn Bà! Quá khứ của Bà đúng là mẫu mực: “Người Đẹp Thời Loạn- Hồng nhan đa truân”! Mà Bà đa truân thật. Bà trải qua nhiều cuộc tình, cũng như bà có nhiều đời chồng. Bà thường hay tiếc rẻ:
– Hồi đó tôi dỡ thật! Tôi có biết thuốc ngừa thai gì đâu! Thành thử với ông nào tôi cũng có con! Chỉ với ông này là tôi không có, khi tôi gặp ông, ông đã già rồi! Tôi lấy ông ấy như đũa có đôi! Bà nói như bà đã chủ động trong mọi lần bà sống chung với mỗi người đàn ông!
Bà sanh tại Hội an, lấy chồng về Huế. Ở Huế, ngòai Hòang tộc, Tôn thất, còn có nhiều vọng tộc khác như: Nguyển Khoa, Nguyễn Hữu, Trần Thanh…Hình như người chồng Thừa Thiên của bà là một thư sinh xuất thân từ vọng tộc Huế! Bà có hai con. Bà đẹp và sang. Chồng bà là sĩ quan Trung úy! Cấp bậc Trung úy của ông chồng Bà, theo Bà kể là Trung úy bất đắc dĩ, chứ ông ấy tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm. Biến cố Mậu Thân, 1968, tai ương cho Huế và cũng là tai ương giáng xuống gia đình Bà! Chồng Bà bị Cộng sản giết chết và vùi thây trong mồ chôn tập thể! Nhà Bà bị máy bay Mỹ bắn rockets cháy, sụp đổ nát tan, trong cái quyết tâm của họ dành lại thành phố Huế trong tay Cộng sản! May mà hai đứa con Bà và Bà còn sống sót. Cơ cực quá rồi! Thôi thì đành phải “thoái thì về mẹ vậy “! Bà thu xếp, đầu 69, Bà dẫn 2 con về Hội an ở với cha mẹ. Lúc đó cha mẹ Bà cũng đã già, ảnh hưởng chiến tranh gia tài gần như khánh kiệt. Sở dĩ ông cụ bà cụ còn đựơc giây phút nhàn nhã, là nhờ mấy thằng con trai có hiếu, đi lính đi tráng cũng dành dụm gửi tiền về bù đấp cho ông bà! Những năm 67, 68, 69, chánh phủ Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam. Số lượng quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam lên đến con số kỷ lục hơn nửa triệu người! Cách Hội an về phía Nam, không đầy 90 cây số, căn cứ Chu lai của Mỹ được nới rộng.  Làm ăn với lính Mỹ có màu thăng hoa nhanh, giàu có và đỡ mệt nhọc!


Bà nói:
– Tôi gửi các cháu cho ông bà ngoại chăm sóc cho đi học. Tội nghiệp các cháu giống cha, chăm chỉ học hành, sau này thành thân hết!  Tôi lặn lội vào Chu Lai. Đâu có ham vui gì nữa, lúc đó tôi đã hơn nửa đời người! Tôi chỉ cần tiền nuôi các cháu và giúp đỡ cha mẹ. Tội nghiệp hai thằng em tôi, đi lính, đi tráng, lằn tên mủi đạn, khổ sở mà phải dành dụm gửi tiền về nuôi cha mẹ. Thấy vậy tôi không đành. Tôi là chị cả cũng là con gái một…Cuộc sống đưa đẩy tôi đến ngày tôi gặp Bob, 1970, tại một Night Box trong căn cứ Chu lai. Ông ta không phải quân đội, ông ta mặc đồ dân sự. Ông có xe, có tài xế riêng và hình như cũng có bác sĩ riêng nữa! Thật sự tôi không biết ông ta làm gì” Ông ta lúc nào cũng có gương mặt đâm chiêu, suy nghĩ. Có lẽ ông nghĩ về gia đình ông ta tại Mỹ, vợ ông, con ông và cha mẹ ông. Cũng như ông, tôi nghĩ về các con tôi, về Vinh, người chồng xấu số của tôi bị giết chết trong tết Mậu Thân, về cha mẹ tôi… Vì những điểm giống nhau đó, lúc đầu tôi chỉ cần tiền, nhưng sau hiểu nhau, chúng tôi đầu ấp tay gối với nhau thật sự. Ông ta cho tôi tiền nhiều lắm! Có tháng ông cho hơn cả 5, 6 trăm dollars. Ông thường nói đùa, ông cho tôi tiền còn nhiều hơn ông Tướng Kỳ cho bà Mai mỗi tháng! Thế là cuộc sống cứ vô tình đưa đẩy đến lúc mình trở thành…nói đến đây, mắt Bà hấp háy vài cái… ” Mít Saigòn “(Vỡ kịch Ms. Saigon) lúc nào mình cũng không hay! Cuộc tình lớn của bà và Bob được kết thúc bằng hòa ước Paris, ký kết giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào 23 tháng Giêng, 1973! Sau khi rút về nước khoảng tháng 3/73, Bob để lại cho Bà đứa con trai 9 tháng! Vào tháng 5/1973 bà tự biết thời làm ăn với Mỹ đã hết! Một lần nữa bà quyết định Về Với Mẹ. Bà đem tất cả tiền bạc và tài sản dành dụm được và bế đứa con lai về Hội an. Bà gặp sự phản đối dữ dội của hai đứa con bà. Ông cụ bà cụ vẫn giữ thái độ yên lặng. Phần thì thương và hiểu các cháu ngoại, phần thì cũng xót cho con gái của mình! Mà đâu có phải tại cháu hay tại con, như cụ bà thường than vãn:
– Tất cả đều trên trời rơi xuống! Như bom đạn chiến tranh! Như hỏa tiển, tai bay họa gửi!
Thời gian là ông thầy thuốc tài ba nhất! Dần dần thời gian xoa dịu các vết thương tâm: Cứt trâu để lâu hóa bùn; chẳng những thế mà cây có ở chung quanh bãi cứt trâu hóa bùn đâm ra tươi tốt hơn! Bà đem tiền về Hội an, bà xây dựng cơ sở làm ăn. Bà lập một quán cà phê. Mặc dấu ở tuổi 41, 42 bà vẫn còn nhan sắc, nhất là một người đàn bà từng trải như Bà, quán cà phe của bà   ăn nên làm ra! Gần miền, có anh chàng chưa có vợ, trẻ hơn bà đôi ba tuổi gì đó, trước 73 làm nghề thông dich cho Mỹ. Mỹ về nước, thất nghiệp, xin đến giúp Bà một tay!
Bà nói:
 – Xin đến làm không lương đó Bác sĩ! Và một năm sau, trời ơi! Tôi đâu có ngờ ở tuổi 42 mà tôi còn có thể có thai với “hén”. Thôi thì cũng đành thương nhau đậu gạo nấu cơm mà nuôi con! Đến 75 “mấy ổng” vào, quán xá vẫn sinh hoạt bình thường. Mấy tuần lễ đầu tháng Năm, mấy ổng hạch sách tí đỉnh.  Nhưng vấn đề là mình phải biết điều với họ! Cũng phải thôi! Mình là Ngụy mà có con lai nữa! Một cổ hai tròng! Nhiều anh cách mạng bảo nhỏ với tôi là đừng lo, đừng đóng cửa quán, có gì các anh ấy che chở cho!  Nhiều anh tốt bụng quá! Nhưng có một điều là thằng con lai của tôi, thằng Lùi, nó lớn như một thực tế đáng sợ: da trắng, tóc vàng, mắt xanh, trông giống cha nó, thương đứt ruột!
– Tại sao bà đặt tên con bà là Lùi “Bà khiêm tốn quá vậy”
– Bác sĩ dạy quá lời!  Sự thật không phải khiêm tốn gì đâu! Tôi đặt tên cháu là Nguyễn Văn Lu-I để nhớ lại sự tích của cha nó tên là Bob. Khi sanh, nó đâu có giấy khai sanh, mải đến năm 76, sau khi Cách mạng vào, họ đòi hỏi khai sanh để lập hộ khẩu, mới đi làm khai sanh cho nó ở cái xã gần nhà. Ông cán bộ đội nón cối nhìn châm bẩm vào thằng con tôi, rồi ông ta nhìn vào giấy tờ tôi viết đàng hoàng: Nguyễn văn Lu-I, sanh tại Chu Lai ngày 12 /06/1972. Ông ta hất hàm hỏi tôi bằng giọng Bắc kỳ, ông nói đớt:
– Tiếng Việt đâu có tiếng Nu-I!
Ông ta tự ý sửa thành Lui, và cũng chính ông ta thêm cho nó cái dấu huyền cho nó hợp thời và dễ nghe hơn!
 – Bà không phản đối gì sao”
– Thưa Bác sĩ, Lu-I, Nu-I, Lui, Lùi có khác gì đâu! Cái giống gì cũng được! Hơi đâu mà kỳ kèo với “nón cối”!
– Sao lúc đó Bà không khai cháu Lu-I là con nuôi, bà lượm được, có ai hay biết gì đâu!
– Đâu có đành như vậy, Bác sĩ… Bà lấy giọng, nói cao hơn:
– Con của tôi! Tôi phải khai là con của tôi! Tôi mang nặng! Tôi đẻ đau! Trời cho nó cho tôi! Tôi phải đùm bộc nó chớ! Thưa Bác sĩ! Có chết tôi cũng chịu, đâu có lẽ nào mà mình chối bỏ giọt máu của mình!
 Thấy bà có vẻ giận, Trọng vội vàng xin lỗi bà.
 Bà liền đỡ lời:
– Tôi biết Bác sĩ không cố ý nói như thế! Nhưng…thưa Bác sĩ, sống là phải nhìn thấy trước. Năm 1976 vào khỏang tháng 7, bầt ngờ tôi nhận được thư của anh Hoành, anh ruột của anh Vinh. Anh chị Hoành cho tôi biết anh chị đã trở về Huế, và anh chị đang tu bổ lại căn nhà của cha mẹ chồng tôi ở đường Lý Thường Kiệt. Anh chị không có con. Anh chị có ý gặp tôi và hai cháu Hoa và Thăng, con của tôi và anh Vinh. Theo tôi biết, anh Hòanh là cán bộ lớn từ Hà Nội về. Anh ấy là anh ruột của anh Vinh, tập kết ra Bắc 1954. Anh ấy có du học Liên Sô năm hay sáu năm gì đó. Anh đậu Tiến sĩ tại Liên Sô. Nhân cơ hội này tôi nghĩ đem hai cháu gửi cho Anh Chị nuôi, cho tụi nó dễ bề học hành và tiến thân sau này! Các con tôi ở với anh chị như ẩn thân dưới cây dù che cho cái cán! Cả 3 mẹ con tôi đùm túm nhau về thăm Huế! Gặp anh Chị, anh chị mừng! Anh Hoành ôm hai cháu Hoa và Thăng vào lòng! Anh không dám khóc mà mắt cứ rưng rưng. Anh không hề nhắc đến anh Vinh, cái chết của anh Vinh, cũng như cái chết hao mòn của cha mẹ.
Anh ấy nói nghe mà chua xót:
– Cái gì của quá khứ có thể đúng cũng có thể sai, nhưng nó thuộc về quá khứ. Ta nên coi nóvĩnh viễn thuộc về quá khứ. Chúng ta hãy lo xây đắp những cái gì trước mắt chúng ta để có một tương lai hòa hợp và tươi sáng hơn! Vợ chồng tôi thấy cần giúp đỡ thím để chăm nom hai cháu Hoa và Thăng. Xin thím cho hai cháu về ở hẳn với hai vợ chồng tôi. Bây giờ là đúng lúc nhất để tôi lo sắp xếp cho các cháu vào trừơng cấp hai và cấp 3 ở Huế, Trường Quốc Học cũ đó!
Anh ấy vuốt tóc hai con tôi và nói tiếp:
 – Trường mà bác và ba của các con học chung với nhau từ thuở nhỏ.
Thưa bác sĩ, nghe đến đây tôi bùi ngùi nhớ lại anh Vinh. Cuộc chiến tranh của đất nước ta quá lâu, xé toang gia đình ra từng mảnh. Bên này cũng như bên kia, ai cũng không dám nhìn thẳng vào quá khứ đau thương, chẳng khác nào soi mặt mình trong vũng máu của chính mình, của gia đình, của anh em, của đồng bào đất nước! Anh Hoành dẫn hai cháu Vinh và Thăng đi thăm từng phòng trong nhà và anh ấy nói với hai cháu:
 “Bác và hai cháu, đang trở lại ngôi nhà của tổ tiên, của ông nội, bà nội, của cha con… Nơi đây, bà nội đã hạ sinh Bác và Cha con. Và cũng là nơi, cách đây mười mấy năm, mẹ của các con đã hạ sinh các con. Các con hãy ở lại đây, dưới mái nhà này, với hai Bác”!
Lời anh ấy như một khẳng định. Tôi nấn ná ở lại với anh chị và hai cháu thêm vài ngày. Tôi cũng băn khoăn khi thấy anh chị cũng không lấy gì sung túc! Chị ấy cũng con nhà quyền quý xưa của Hà nội, cho nên “đồng thanh tương ứng”, anh chị gặp nhau, yêu nhau. Anh chị kết hôn trong chiến tranh! Anh chị cũng có con trai lên tám, ở phố Khâm Thiên, Hà nội, đi sơ tán không kịp, bị máy bay B52 của Mỹ dội bom chết ngày Giáng sinh 1972! Vết thương nhức nhối đó anh chị chưa hề nói cho ai nghe, kể từ ngày trở về Huế. Trong lúc hai chị em tâm sự với nhau chị ấy mới nói:  “đó là vết thương tâm lúc nào cũng xuất huyết! Nghĩ về cái chết của chú Vinh, cái chết của con chúng tôi, nhà tôi nhiều đêm không ngủ được”.
 Khi còn chừng một ngày nữa tôi phải về Hội an, tôi mới thưa với anh chị Hoành:
“Anh chị nhận hai cháu Hoa và Thăng nuôi như con vĩnh viễn, em rất mừng! Nhưng gia đình anh chị thanh bạch, không lấy gì sung túc lắm, Em xin gửi anh chị 5 cây vàng để tiếp tay anh chị chăm sóc hai cháu về lâu về dài! Sau chuyến này, em nghĩ lâu lắm mới gặp lại hai con”.
 Và tôi khóc!
Anh Hoành bước đến ôm lấy vai tôi, anh ấy nói:
 ” Vâng 5 cây vàng là một vốn lớn đối với đồng lương của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ chế độ của hai vợ chồng tôi hằng tháng, đủ để cho vợ chồng tôi đùm bộc hai cháu, giữ lấy gia phong! Thím hãy đem 5 cây vàng này về Hội an mà đề phòng những bất trắc có thể xảy ra cho thím. Thím biết gia đình thím không hội đủ điều kiện ở lại thị xã Hội an làm ăn. Ngày mai tôi phải đi sớm vì có công tác đột xuất, hai cháu và vợ tôi, Viết Hương, đưa thím ra bến xe. Nếu sau này có bất trắc gì xảy đến, xin thím cho chúng tôi hay để kịp thời giúp đỡ thím.”
Nói xong anh ấy đi vào phòng trong.
Mười giờ sáng hôm sau Chị Viết Hương và hai con tôi đưa tôi ra bến xe đò về Hội an. Không biết nói gì trong lúc chia tay với hai con, tôi nhét vội trong túi áo thằng Hoa 5 cây vàng và bảo nó gìn giữ lấy để mà hộ thân cho nó cũng như cho em nó, coi như gia tài chia cho hai đứa nó. Tôi bảo:
“Con hãy đem gửi cho bác gái, đừng cho bác trai con hay”.
Tôi quay lại nhìn chị Viết Hương thì chị đang nhìn chỗ khác. Mãi đến lúc xe lăn bánh, chị mới quay lại nhìn mẹ con tôi. Hình ảnh của chị là niềm tin yêu sắt đá đối với tôi…
Nói đến đây, bà đứng dậy, đến ôm vai chồng ngồi bên cạnh cửa sổ, môi bà nở nụ cười hòa lẫn với nước mắt! Nhắc lại chuyện xưa, bà xúc động! Từ lầu 7 nhìn xuống, đừơng phố Broadway đang ấp ủ nắng hoàng hôn và bóng mát của khu phố.
Bác sĩ Trọng ôn tồn bảo:
 – Tuy có tuổi tác, nhưng lúc nào ông bà cũng san sẻ và gần gũi nhau. Điều đó làm cho tôi mừng!
Ông Thông, chồng bà, sôi nổi nói:
 – Mụ ấy vẫn vậy, từ trước đến bấy chừ! Thương chồng, thương con! Không nhờ mụ, cha con tôi chết đói từ lâu rồi, và không làm sao mà đến được Mỹ!
Lúc này Bà quay lại Bác sĩ Trọng:
 – Con chúng tôi lớn rồi bác sĩ. Tụi nó làm ăn tại North Carolina. Nghe cộng đồng Việt Nam ở Chicago đông, ông nhà tôi có nhiều bạn ở đây và lại nghe bác sĩ làm việc ở đây, cho nên hai vợ chồng tôi mới dời về đây cho ông ấy hôm sớm với bạn bè, và cũng để bác sĩ điều trị giùm cho hai vợ chồng! Bà than vãn:
 – Sao mà ai ai cũng buồn, đâu đâu cũng buồn! Nhức đầu không sao ngủ được! Ai cũng cô đơn, không gửi vào đâu được! Đêm nào ông nhà tôi ngủ cũng thấy chiến tranh, thấy thịt rơi máu đổ, thấy người giết người, thấy vợ ông chết thê thảm quá! Tội nghiệp ông ấy lúc nào cũng nhớ thương bà. Cuộc đời tôi còn nhiều gian truân lắm. Xin bác sĩ cái hẹn, lần tới để chúng tôi giải bày cặn kẻ hơn!
 Sau đó ông bà thường lui tới găp Trọng, để tư vấn tâm thần, nhất là ông Thống, để sinh hoạt với nhóm điều trị: “Câu Lạc Bộ 309.81”.

Thấm thóat, mới đó mà sự liên hệ giữa ông bà và Trọng gần đúng 3 năm! Một buổi sáng gần cuối tháng Tư, năm 2000, mùa xuân đang trên đường trở lại Chicago. Những mảng tuyết trắng xóa đang cố bám lấy nóc phố như những cố gắng cuối cùng của mùa Đông đang tàn lụi! Những người Da Đỏ trong những chiếc áo chòang dày cộm làm bằng da thú, mặt đỏ gừ, nồng men rượu, cúi đầu đi lang thang trong khắp phố Uptown, thuộc vùng phụ cận phía Bắc thành phố Chicago như những con gấu mộng du, ngái ngủ! Họ có vẻ lạc lỏng trên vùng đất quê hương mà chính tổ tiên họ đã dày công xây dựng qua mấy nghìn năm lịch sử!…
Cô thư ký phòng ngoài, điện thọai vào cho hay có thân chủ muốn gặp. Trọng vừa đứng dậy để ra đón, thì bà Sương, vợ ông Thống đã đứng trước mặt. Bà Nói:
 – Xin lỗi bác sĩ, đến sớm, mà không có hẹn trước.
 – Thưa bà, không hề gì vì tôi cũng không có hẹn với ai trong giờ này! Xin bà cứ tự nhiên.  Trọng vừa nói, vừa theo dõi những cử chỉ và những thay đổi trên nét mặt của bà.
– Thưa bà, thành phố Chicago, trong mấy tuần lễ qua, bị chôn vùi dưới tuyết lạnh. Tuần này trời ấm lại. Xem chừng như mùa Xuân đang trên đường trở về. Ở Mỹ thời tiết và 4 mùa, thay đổi nhanh thật. 
– Thưa bác sĩ, trong mấy tuần qua, vợ chồng tôi có ý muôn đến gặp bác sĩ, nhưng thời tiết tệ hại quá. Thấy hôm nay trời ấm, tôi vội đến bác sĩ ngay, vì tôi có vài điều cần thưa với bác sĩ hay, là ông nhà tôi nhập viện cách đây năm hôm! Bác sĩ Karnov, tại bịnh viện cho hay là ông nhà tôi có khả năng bị ung thư gan, và ông đang cho làm những xét nghiệm cần thiết. Nói đến đó, bà khóc!
 – Thưa bà, bà cần tôi giúp đỡ cho ông ở nhà những gì” Xin bà cứ nói, tôi sẽ cố gắng tối đa trong khả năng của tôi!
– Thưa bác sĩ ở tuổi ngòai 70, ông nhà tôi còn mắc bịnh ung thư thật oan nghiệt. Tội cho ông!
 – Thưa bà, ung thư là món nợ chúng ta phải trả ở tuổi già! Càng già tỉ lệ mắc bịnh ung thư càng cao! Tuy nhiên nếu quả ông mắc bịnh ung thư thật, thì hẳn nhiên đó là một điều chẳng lành cho bất cứ ai! Nhân loại ngày nay chết vì ung thư chiếm tỉ số cao nhất. Cho nên về phương diện trị liệu cho các bịnh ung thư, nó là điểm xoáy của các phương án điều trị. Do đó phương hướng điều trị ung thư tiến bộ hằng ngày. Có những bịnh ung thư, mới đây coi như không tài nào chữa đựơc thì ngày nay người ta ổn định nó dễ dàng! Tôi hy vọng bịnh viện sẽ tìm ra phương án, tiến bộ nhất, hiện đại nhất để chữa chạy cho ông.
 – Cám ơn bác sĩ! Bác sĩ Karnov cũng nói rồi! Ung thư gan không lâu lắm đâu! Bà khóc.
Trọng, tìm cách chuyển hướng câu chuyện:
 – Tính tới hôm nay ông bà ở đời với nhau được bao nhiêu năm rồi”
Bà Sương, đôi mắt xa vời, vừa nhìn ra cửa sổ, bà vừa nói:
 – Chúng tôi làm Tờ Sống Chung tại Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1982. Mẹ con tôi bị chính quyền Cộng sản chỉ định đi Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1981, sau khi họ hay biết người chồng sau cùng của tôi vượt biển bằng tàu, đụng đá ngầm, tàu đấm và chết tại ngoài khơi Mũi Din Phanrang! Thật là bi đát, bi đát hơn lúc Mậu Thân ở Huế! Mẹ goá con côi, tay bồng tay bế, bị áp đảo đi vùng KTMĐN2, vào mùa hè tháng tư 1981! Mùa hè ở đây nóng và khô cằn, thật nghiệt ngã! Vùng KTMĐN2 nằm phía Tây Đà nẳng, phía Tây Bắc Hội an. Vùng KTMĐN2 nằm sát chân núi Trường Sơn, gần đường mòn Hồ Chí Minh. Dân chúng được đưa về đây, để phá rừng trồng lúa và khoai mì. Nhà ở làm sẵn. Nhà tranh vách đất. Không có điện. Nước chỉ có con suối nhỏ. Chúng tôi san sẻ nước của con suối nhỏ này với trại tù lao cải của các sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, họ ở về phía tây chừng 2 cây số cách chúng tôi, sâu hút trong rừng Trường sơn! Sau này chúng tôi biết đó là trại Khe Hoa, còn gọi là B16. Đến ĐN2, vô tình Cộng sản sắp tôi ở cái chòi chung vách với ông Thống! Hộ khẩu của ông có 3 người làm ăn cực lực, sống kham khổ, khoai sắn không có đủ mà ăn, nước bùn không có đủ để mà uống! Ông Thống là
người ít nói. Ông giúp đỡ mẹ con tôi nhiều hơn là nói! Ông cho hay, 5 cha con đến ĐN2 hồi năm 80. Sau 6 tháng đầu hết phụ cấp lương thực, đói quá, 2 thằng con trai lớn của ông bỏ trốn về Buôn Mê Thuộc! Đứa đạp xích lô, đứa sửa xe đạp đầu đường gốc phố mà sống! Làm ăn gần gũi nhau, thấy ông Thống là người chân chất tôi mới để bụng thương ông! Chúng tôi làm tờ sống chung cuối năm 82.  Giữa năm 83 có tin cho hay là gia đình có con lai được đi Mỹ. Đó là bước đầu để khai thông quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Mỹ! Tội nghiệp ông Thống! Ông vô cùng mừng rỡ! Chúng tôi kết hợp con cái đi Mỹ. Thế là hai vợ chồng và 4 đứa con chúng tôi đến North Carolina giữa năm 1984. Như vậy, tính đến nay chúng tôi sống chung với nhau gần 18 năm!
 Ngồi nghe bà điểm lại quá khứ của bà sống với ông Thống, và nhớ lại cuộc đời của bà, những lúc bà sống với Vinh, với Bob, với người chồng cuối cùng của bà, Trọng thấy những điều u-uẩn bà mang nặng bấy lâu nay, khiến bà chuốc lấy triệu chứng trầm cảm nặng, khiến tâm linh bà mang nhiều sắc thái, lúc siêu thoát, lúc trần gian! Nhưng ở dưới đáy tận cùng của tâm linh bà, đó là tấm lòng chân chất và trung hậu. Tình yêu của bà với mỗi người đàn ông bà đã sống chung, bắt đầu mỗi người một khác, nhưng cuối cùng bà đã yêu thương tất cả những người chung chăn gối với bà với tất cả tấm lòng chân thật và trung hậu. 
 Bà nhìn đồng hồ. Bà đứng dậy xin kiếu Bác sĩ Trọng ra về. Bà cám ơn thì giờ quí báu mà Trọng đã dành cho Bà. Trọng đáp lại lời cám ơn của bà, và tỏ lời:
“Rất tiếc không giúp được gì cho ông ở nhà trong lúc này”! Tuy nhiên tôi muốn đến thăm ông tại bịnh viện”.
Sau khi cho Trọng địa chỉ bịnh viện, số điện thoại, só phòng bà Sương lầm lũi ra về.
Trọng đến thăm ông Thống vào lúc 3 giờ chiều. Ông nằm phẳng phiu trên giường bệnh. Con người của ông vốn đã gầy trơ xương, Trọng cứ nghĩ ông giờ này kiệt sức. Chợt thấy Trọng đến, ông liền đứng dậy bắt tay Trọng và ngỏ lời cám ơn Trọng đã bỏ thì giờ quí báu đến thăm ông. Trọng thật sự xúc động trước những lời lẽ chân thành của ông. Nhìn cái bụng cổ chướng và màu da đất sét của ông, Trọng biết ngay là ông không còn nhiều thì giờ nữa. Ngày tháng và thời khắc của ông đã bắt đầu điểm. Trọng đáp lễ với ông bằng cách nắm bàn tay của ông trong lòng hai bàn tay của Trọng! Ông vốn dĩ là người ít nói, hôm nay ông lại nói rất chậm, đắn đo suy nghĩ. Những điều ông sắp nói cho Trọng sau đây là những điều ông suy nghĩ trong nhiều năm tháng. Lần đầu tiên Trọng nghe ông gọi vợ bằng “bà nhà tôi”, thường thì ông chỉ gọi mụ ấy  mặc dù lúc nào ông cũng hết sức kính trọng yêu thương bà.
Ông Thống nói:
 – Thưa bác sĩ, tôi nghe bà nhà tôi nói mấy hôm rầy bác sĩ sẽ đến thăm tôi, vì thế tôi có ý đợi bác sĩ đến, để thưa bác sĩ vài điều.
Nói đến đây ông ngừng một chập, thật lâu, vừa suy nghĩ vừa nhìn vào mắt Trọng, ông nói tiếp:
 – Bác sĩ Karnov cho tôi hay là tôi bị ung thư gan. Có lẽ không do thuốc độc khai hoang Dioxin, màu vàng cam của Mỹ. Ông đã kiểm nhận qua máu của tôi, không có yếu tố hóa chất nào chứng minh điều đó. Lặn lội trên khắp chiến trường trong suốt hơn 20 năm, giờ ôm bụng chịu chết vì ung thư gan! May mà không phải thuốc khai hoang, Dioxin, màu vàng cam của Mỹ, nếu rủi mà như vậy thì làm sao lịch sử có thể soi rọi bóng tối sâu thẩm nầy! Bác sĩ Karnov cũng ở trong Lục Quân của Mỹ, đã từng tham chiến tại Việt Nam, cho nên ông rất thông cảm với tôi!
Tôi nài nỉ ông ấy nhiều lần cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa” Cuối cùng ông cũng ước đoán không quá 18 tháng. Ông cũng khuyên tôi nên thu dọn càng sớm càng tốt. Tôi cũng làm việc với tất cả các con của chúng tôi và bà nhà tôi. Tất cả đều đồng ý với quyết định của tôi là tôi sẽ về chết chôn tại Buôn-mê-thuộc! Ở quê nhà tôi còn hai thằng con trai lớn. Tất cả đều thành gia thất. Thằng cả đang ở tại nhà của tôi tại Buôn-mê-thuộc, nhà của tôi trước 75. Buôn-mê-thuộc là quê hương của tôi, tôi sanh ra tại đó, lớn lên tại đó! Cuộc đời của tôi chôn chặt dưới màu đất đỏ ấy. Cộng sản có thể chiếm đoạt quê hương tôi!  Cộng sản có thể tước đoạt quyền bảo vệ tổ quốc của tôi! Nhưng Cộng sản không thể nào thủ tiêu được lòng yêu nước của tôi! Tôi hy vọng bác sĩ đồng ý với vợ con tôi, cho tôi trở về non sông đất nước- trả tôi lại cho tổ quốc!
Nói đến đây ông dừng lại một hồi lâu, tuy thế Trọng cũng không dám cướp lời ông. Ông nói tiếp:
 – Thưa bác sĩ tôi còn một ý nguyện nữa: tôi phải về để bốc mộ vợ tôi. Bà nằm ở đó đã 25 năm rồi! Mưa gió tội nghiệp bà! Tôi sẽ đem bà về nằm gần nhà, ở Buôn-mê-thuộc. Sau này con tôi sẽ đặt tôi nằm bên cạnh bà.
– Sao ông lại hỏi tôi như vậy” Trọng hỏi! Đó là quyết định to lớn quan hệ tới vợ con ông, gia đình và tổ quốc! Tuy nhiên tôi cám ơn ông đã cho tôi vinh dự vô cùng to lớn ấy là được tham dự chuyện nhà của ông! Còn chuyện chúng ta quay đầu về tổ quốc là sự lựa chọn vô cùng chính đáng!
Ông Thống quay lại bảo vợ lấy cái phong bì đè dưới gối, trong đó có tờ di chúc ông viết cho vợ con ông. Bà Sương trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ngồi yên nghe chồng bà nói chuyện với Trọng, bà liền đứng dậy đến lấy phong bì đưa cho Trọng. Vì xúc động mắt của Trọng nhoè cả chữ. Trọng đọc thóang qua và chỉ nhớ vài giòng cưối cùng ông viết cho các con riêng của ông:
 “Các con tiếp Ba phụng dưỡng mẹ Sương của các con. Tuy bà không phải là mẹ đẻ của hai con, nhưng điều chắc chắn là nếu không có bà, thì không có cha con ta được như hôm nay! Có thế, Ba mới yên lòng về với tổ quốc, với mẹ đẻ của các con, bà đang chờ đợi Ba”!
 Từ giả ông Thống, ra khỏi bịnh viện lúc 5 giờ chiều, trời Chicago còn lạnh, dừng lại, ngước cổ kéo áo chòang cao hơn, Trọng chợt thấy hàng chữ điện tử trên nóc ngân hàng chỉ đúng hôm nay ngày 30 tháng Tư! Tim anh se lại! Anh cuối xuống, mở cửa bước vào trong xe. Ngồi vào ôm tay lái. Bóng tối vừa phủ xuống thành phố Chicago. Trọng lái xe hướng về nhà nhưng anh có cảm tưởng anh đang đi về một nơi vô định!

Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.
Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.
Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.
Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.
Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.
Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.
Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.
Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…


Đào Như

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 1 Nov 2025

Bài 20

Những chuyến vượt ngục ở Baranquilla

Đến sáu giờ sáng, tám người lính và hai người cảnh binh do một trung úy chỉ huy khóa tay chúng tôi lại và đưa chúng tôi lên một chiếc xe tải nhà binh. Chúng tôi lên đường đi Baranquilla. Xe vượt qua cái khoảng cách một trăm tám mươi cây số trong ba tiếng rưỡi đồng hồ. Đến mười giờ sáng chúng tôi đã đến cái nhà tù được gọi là “80”, calle Medellin ở Baranquilla. Bấy nhiêu cố gắng để đừng đi Baranquilla mà rốt cục vẫn đến đây rồi! Đây là một thành phố lớn. Hải cảng quan trọng nhất của xứ Colombia trên Đại Tây Dương, nhưng đặt ở phía trong cửa sông Rio Magdalena. Nhà tù của nó cũng là một nhà tù lớn: hơn trăm tù nhân và gần một trăm giám thị. Nó được tổ chức như mọi nhà tù ở Châu Âu. Hai bức tường có đường đi tuần tra, cao hơn tám mét.
Bộ chỉ huy của nhà tù, đứng đầu là viên giám đốc Don Gregorio, đón tiếp chúng tôi. Nhà tù có bốn khoảng sân. Hai bên này, hai bên kia. Giữa hai bên là một cái nhà thờ dài trong đó thường làm lễ mi-sa, những cũng dùng làm nơi tiếp khách. Chúng tôi được phân vào cái sân dành cho những tù nhân nguy hiểm nhất. Khi lục soát họ đã phát hiện được số tiền hai mươi ba ngàn pesos và hai mũi tên. Tôi tự thấy có bổn phận phải nói trước cho ông giám đốc biết là mấy mũi tên này có tẩm thuốc độc, và điều đó chẳng có gì làm tăng được mối thiện cảm của họ đối với chúng tôi. 
– Mấy thằng Pháp ấy có cả tên độc nữa đấy?
Bị giam trong cái nhà tù Baranquilla này đối với chúng tôi là thời đoạn nguy nhất trong cuộc phiêu lưu của chúng tôi. Thật vậy, chính đây là nơi mà chúng tôi sẽ bị giao lại cho nhà chức trách Pháp. Phải, Baranquilla đối với chúng tôi chung quy là cái nhà tù khổng lồ của nó, làm thành một điểm mốc. Nhất định phải vượt ngục bằng bất cứ giá nào, dù có phải hy sinh đến đâu cũng bất chấp. Canh bạc này tôi phải đánh xả láng.
Phòng giam của chúng tôi ở chính giữa sân. Vả chăng dấy không phải là một căn phòng mà là một cái chuồng: một cái mái bằng xi-măng đặt trên những dãy chấn song lớn, ở bốn góc có chỗ rửa mặt và đi ngoài. 
Những người tù khác, có khoảng chừng một trăm, được phân vào những căn buồng khoét trong bốn bức tường của khoảng sân rộng hai mươi mét trên bốn mươi, mỗi buồng có một dãy chấn song trông ra sân. Mỗi dãy chấn song có lợp một thứ mái hiên bằng tôn để cho mưa khỏi hắt vào buồng giam. Chỉ có sáu tù nhân người Pháp chúng tôi trong cái chuồng trung tâm để hở bốn bên, đêm ngày đều phô ra trước mắt các tù nhân khác, nhưng nhất là trước mắt bọn lính gác. Suốt ngày chúng tôi có thể ra sân hay vào chuồng tùy ý từ sáu giờ sáng đến sáu giờ tối. ở ngoài sân có thể nói chuyện, đi dạo, thậm chí ăn uống cũng được.
Chúng tôi đến được hai ngày thì họ tập trung cả sáu người trong nhà thờ trước mặt ông giám đốc, mấy viên cảnh sát và bảo toán phóng viên nhiếp ảnh. Các anh là tù vượt ngục từ trại khổ sai Pháp ở Guyane?
– Chúng tôi chưa bao giờ phủ nhận điều đó.
– Mỗi người trong các anh đã phạm những tội gì mà bị xử nghiêm khắc như vậy?
Điều đó không có gì quan trọng. Điều quan trọng là chúng tôi không hề làm điều gì phạm pháp trên đất Colombia, thế mà nước các ông không những khước từ cái quyền của chúng tôi được làm lại cuộc đời, mà còn cam tâm làm kẻ săn người, làm hiến binh cho chính phủ Pháp.
– Nước Colombia nghĩ rằng mình không được chấp nhận các anh vào lãnh thổ.
– Nhưng bản thân tôi và hai người nữa, trước đây cũng như hiện giờ, chúng tôi đều nhất quyết không ở trên đất này. Người ta đã bắt ba chúng tôi giữa biển chứ không phải trong khi đang đổ bộ lên đất này. Ngược lại lúc ấy chúng tôi đang cố hết sức đi thật xa nước các ông.
Phóng viên một tờ báo công giáo nói:
– Người Pháp hầu hết đều là người công giáo, cũng như người Colombia chúng tôi vậy.
– Có thể các người đều được rửa tội theo công giáo, nhưng cách xử sự của các người ít có gì giống với cách xử sự của người thờ Chúa.
– Thế anh trách cứ chúng tôi những gì?
– Các người là những kẻ cộng tác với bọn cai ngục đang săn đuổi chúng tôi. Hơn nữa các người làm chính cái việc của bọn họ. Các người đã tước đoạt chiếc thuyền của chúng tôi với tất cả những đồ đạc thuộc quyền sở hữu của chúng tôi, mà đó lại là quà tặng của những người công giáo trên đảo Curacao được Đức Giám mục Irénée de Bruyne tôn quý đại diện. Chúng tôi không thể chấp nhận rằng các người không chịu để cho chúng tôi tìm cách tự phục hồi, và tệ hơn nữa các người không cho chúng tôi đi tiếp bằng phương tiện của chính chúng tôi để tìm đến một đất nước nào có thể thừa nhận khả năng đó. Điều này thì không ai có thể dung thứ được. 
– Các anh oán trách người Colombia chúng tôi ư?
– Không phải bản thân người Colombia, mà cái hệ thống luật pháp và công an của họ.
– Anh muốn nói gì?
Tôi muốn nói rằng mọi sai lầm đều có thể sửa lại khi người ta muốn. Các người hãy để cho chúng tôi ra đi bằng đường biển đến một nước khác.
– Chúng tôi sẽ cố gắng đòi quyền đó cho các ông.
Khi chúng tôi trở ra sân Maturette nói với tôi:
– Đấy? Anh hiểu rồi chứ? Lần này thì không còn ảo tưởng gì nữa anh ạ! Chúng mình đã nằm trên chảo, và nhảy xuống chẳng dễ gì đâu.
– Các bạn ơi, tôi không biết là nếu hợp quần lại chúng ta có mạnh hơn không, nhưng tôi xin nói với các bạn rằng mỗi người từ nay có quyền muốn làm gì thì làm. Còn tôi, nhất định tôi phải vượt ngục ra khỏi cái nhà tù số “80” trứ danh này.
Hôm thứ năm họ gọi tôi ra phòng tiếp khách trong nhà thờ. Tôi trông thấy một người ăn mặc sang trọng trạc bốn mươi lăm tuổi. Tôi càng nhìn càng thấy giống Louis Dega lạ lùng.
– Anh là Papillon phải không?
– Vâng.
– Tôi là Joseph, em trai của Louis Dega. Tôi có đọc báo, cho nên bây giờ tôi đến thăm anh.
– Cám ơn.
– Anh có gặp anh tôi ở bên ấy không? Anh có quen anh ấy không?
Tôi kể lại cho Joseph nghe câu chuyện của Dega cho đến ngày hai chúng tôi chia tay ở bệnh viện. Anh ta cho tôi biết rằng Louis bây giờ đang ở Quần đảo Salut: anh ta biết tin này nhờ một bức thư gửi từ Marseille. Khách đến thăm tù ở nhà thờ của trại giam là vào ngày thứ năm và ngày chủ nhật. Joseph nói với tôi rằng ở Baranquilla có độ mươi, mười hai người Pháp đem vợ con sang đây để tìm cách làm giàu. Họ đều làm nghề trùm điếm. Trong một khu vực riêng của thành phố có khoảng gần hai mươi gái điếm đang duy trì cái truyền thống cao cả của nước Pháp về nghệ thuật mãi dâm trang nhã và khôn khéo. ở đây cũng vẫn những kiểu người đàn ông và đàn bà đúng hệt như từ Le Caire đến Liban, từ nước Anh đến nước Úc, từ Buenos-Aires đến Caracas, từ Sài Gòn đến Brazzaville, đang truyền bá trên khắp trái đất cái nghề chuyên môn xưa cũ như nhân loại: nghề mãi dâm và cách sử dụng nghề này để sống sung túc. Joseph Dega cho tôi biết một điều thật hay ho: mấy ông trùm điếm người Pháp ở Baranquilla đang lo lắng. Họ sợ rằng chúng tôi đến ở nhà tù của thành phố này sẽ kinh động đến sự yên ổn của họ, làm phương hại đến cái ngành thương mại đang phồn vinh của họ.

Quả nhiên, nếu trong chúng tôi có người vượt ngục, cảnh sát sẽ đến tìm những người đó trong các “casetas” của mấy cô điếm người Pháp, dù người vượt ngục không bao giờ đến nhờ cậy gì các cô hay các ông trùm cả. Hậu quả gián tiếp là công an có thể phát hiện ra khá nhiều điều: giấy tờ giả mạo, giấy phép cư trú quá hạn hay mất hiệu lực. Đi tìm chúng tôi sẽ đưa đến những cuộc kiểm tra căn cước và quyền cư trú. Trong khi đó có những người đàn bà và cả những người dàn ông nữa mà nếu bị lộ thì có thể phiền to.
Như thế là tôi đã được thông báo kỹ tình hình. Joseph Dega nói thêm rằng anh ta sẵn sàng giúp đỡ tôi bất cứ việc gì, thứ năm và chủ nhật nào anh cũng sẽ vào thăm tôi. Tôi cảm ơn con người tốt bụng ấy: về sau anh ta đã cho tôi thấy rõ rằng, theo các báo, nhà chức trách Colombia đã chính thức đồng ý trao trả chúng tôi cho nước Pháp.

Tôi gọi các bạn lại.
– Thưa các Ngài. Tôi có rất nhiều điều cần thưa lại các Ngài.
– Gì thế – Cả năm cùng đồng thanh thốt lên một lượt
– Trước hết là đừng có ảo tưởng. Việc trao trả đã quyết định xong xuôi. Một chiếc tàu đặc biệt của Guyane thuộc Pháp sẽ đến đây chở chúng ta về trại khổ sai. Thứ đến là sự có mặt của chúng ta gây ra nhiều lo âu cho mấy ông trùm đĩ đồng hương với chúng ta đã lập nghiệp trong thành phố này. Không phải cái ông vừa đến thăm tôi đâu. Ông này thì cóc cần. Nhưng các bạn đồng nghiệp của ông ta sợ rằng một người trong chúng ta vượt ngục thì họ sẽ gặp phải nhiều phiền hà. 
Cả bọn cười phá lên. Họ tưởng tôi nói đùa. Clousiot nói:
– Thưa ngài ma-cô Jean Mỗ, xin ngài vui lòng chuẩn y cho tôi vượt ngục, có được không ạ?
– Thôi đừng giỡn nữa. Nếu mấy con đĩ có đến thăm ta, phải báo nó đừng đến nữa. Đồng ý chứ?
– Đồng ý.
Như tôi đã nói, trong sân của chúng tôi có khoảng một trăm tù nhân người Colombia. Họ tuyệt nhiên không phải là những thằng ngốc. Có nhiều tay thứ thiệt: kẻ trộm ưu tú, chuyên gia làm bạc giả, giấy giả, những tên bịp bợm tinh xảo, những tên chuyên cướp của có vũ khí những tên buôn lậu ma túy mà mấy tên sát nhản chuyên nghiệp đã nhờ kinh nghiệm phong phú mà trở thành điêu luyện trong cái nghề này, một nghề rất tầm thường ở Châu Mỹ. ở đây những kẻ giàu có, các chính khách và các phần tử lưu manh đã thành đạt đều thuê những tên sát nhân chuyên nghiệp này làm việc cho họ.
Màu da của họ rất khác nhau. Từ trước da đen nhánh của người Sénégalais đến nước da màu lá trà của người Créoles ở Martinique thuộc Pháp; từ màu gạch của người Anh-điêng thuộc chủng tộc Mongoloid với bộ tóc trơn màu đen có ánh tím đến màu da trắng thuần chủng. Tôi thử bắt liên lạc với họ, tìm hiểu khả năng và ý chí vượt ngục của một vài cá nhân được chọn lọc kỹ càng. Phần đông những người đó đều như tôi: vì bị xử dài hạn hoặc sợ bị xử dài hạn, họ sống trong tư thế luôn sẵn sàng vượt ngục.
Trên chớp bốn bức tường của khoảng sân hình chữ nhật này có một con đường tuần tra ban đêm thắp đèn rất sáng, ở mỗi góc tường đều có một cái chòi canh nhỏ có một tên lính gác đứng ở trong. Như vậy đêm ngày lúc nào cũng có bốn tên lính canh thường trực, cộng thêm một tên nữa đứng trong sân, ở cạnh cửa nhà thờ. Tên này không cầm vũ khí. Thức ăn khá đầy đủ, và có nhiều tù nhân bày bán những món ăn và những món uống như cà phê hay nước ngọt làm bằng các thứ quả vùng này: cam, dứa, đu đủ, v.v… mua từ bên ngoài vào. Thỉnh thoảng mấy gã tiểu thương này lại bị một vụ cướp bằng vũ lực được thực hiện một cách nhanh chóng lạ thường. Chưa kịp thấy có ai đến thì họ đã bị trùm lên một tấm khăn lớn không sao kêu cứu được nữa, kèm theo đấy là một mũi dao gí vào sườn hay vào cổ, chỉ cần nhúc nhích một cái là bị đâm sâu vào thịt. Nạn nhân bị lột hết số tiền thu được trước khi có thì giờ hiểu được việc gì đã xảy ra. Khi tấm khăn được bỏ ra thì đồng thời cũng có một quá đấm nện vào gáy. Không bao giờ có ai hở miệng nói gì sau khi sự việc đã xảy ra. Đôi khi người bán hàng “đóng cửa hiệu” nghĩa là cất hết những thứ hàng đang bán, và dò xem ai đã cướp mình. Nếu hắn dò ra được thì sẽ có một trận huyết chiến, bao giờ cũng dùng dao.
Hai tên kẻ trộm Colombia đến gặp tôi để bàn việc. Tôi lắng nghe họ rất chăm chú. Theo họ thì trong thành phố có những tên cảnh sát đồng lõa với kẻ trộm. Mỗi khi đến phiên tuần phòng của họ trong một khu vực nào đấy, họ báo cho đồng lõa biết để đến hành nghề trong khu vực này.
Hai người khách của tôi biết hết những tên cảnh sát này và nói với tôi rằng nếu trong tuần này không có một trong những tên cảnh sát đó đến gác cửa nhà thờ thì thật là không may. Tôi phải làm sao có được một khẩu súng ngắn, do một người khách vào thăm đưa lén cho. Tên cảnh sát kiêm kẻ trộm kia sẽ dễ dàng nhận lời giả vờ bị chúng tôi bắt phải gõ vào cánh cửa sau của nhà thờ dẫn vào một trạm gác nhỏ gồm có bốn hay sáu tên lính canh. Trong lúc bất ngờ, bị chúng tôi chĩa súng vào mặt, bọn này sẽ phải để cho chúng tôi chạy ra đường. Lúc bấy giờ chỉ còn có việc trà trộn vào những người qua đường đi lại tấp nập ở đoạn này.
Tôi không thấy vừa lòng lắm với kế hoạch này.

Muốn đưa một khẩu súng ngắn vào tù, đó phải là một khẩu súng cỡ rất nhỏ, tối đa là một khẩu 6,35. Một khẩu súng nhỏ như vậy rất có thể không đủ sức làm cho bọn lính gác hoảng sợ. Hoặc giả một trong bọn chúng có thể có một phản ứng bất giờ và chúng tôi sẽ đành phải giết hắn. Tôi từ chối.
Không phải chỉ có tôi đứng ngồi không yên vì khát khao hành động, mà các bạn tôi cũng vậy. Chỉ có chỗ khác nhau là thỉnh thoảng, trong những ngày buồn nản, họ có khi đành lòng chấp nhập rằng chiếc tàu đến chở chúng tôi sẽ gặp được chúng tôi còn ở trong nhà tù. Từ đó đến chỗ chịu thua không xa. Thậm chí họ còn bàn bạc xem thử về đến trại chúng tôi sẽ bị xử lý ra sao, phải chịu những hình phạt gì.
– Tôi không thể nghe nổi những câu chuyện ngu xuẩn của các cậu. Khi nào các cậu muốn nói muốn bàn đến cái thứ tương lai ấy, các cậu chớ để tôi nghe thấy, hãy kéo nhau ra một góc nào đấy mà bàn. Miễn đừng có lôi cái số phận mà các cậu nói tới chỉ có thể chấp nhận được nếu chúng ta đều là những kẻ tàn phế bất lực Các cậu đã tàn phế cả rồi sao? Trong đám các cậu có cậu nào bị thiến? Nếu có thì cho tôi hay. Vì tôi nói cho các cậu biết: khi tôi nghĩ đến vượt ngục, thì đó là vượt ngục cho cả bọn. Tôi nghĩ đến long óc ra để thu xếp cách vượt ngục chỉ vì tôi muốn cả bọn chúng mình cùng vượt ngục. Sáu người cùng vượt ngục không phải là chuyện dễ. Vì nếu chỉ mỗi một mình tôi thì khi thấy cái ngày ấy đã quá gần mà mình chưa làm được gì cả, tôi rất dễ giải quyết: tôi giết một tên cảnh sát Co-lom-bia để kéo dài thời gian. Tôi mà giết một tên cảnh sát thì họ không đời nào lại trao trả tôi cho nhà chức trách Pháp. Lúc bấy giờ tôi sẽ có thì giờ rộng rãi. Và vì trong trường hợp này tôi vượt ngục một mình, cho nên mọi sự sẽ dễ dàng hơn.
Hai người tù Colombia chuẩn bị một kế hoạch khác, cũng khá tinh xảo. Sáng chủ nhật vào giờ xem lễ, nhà thờ bao giờ cũng đầy những tù nhân và những người khách vào thăm. Lúc đầu mọi người cùng xem lễ rồi khi buổi lễ đã xong, trong nhà thờ chỉ còn lại những tù nhân có khách đến thăm. Hai người Colombia yêu cầu tôi chủ nhật tới sẽ vào nhà thờ xem lễ để nắm vững cách diễn biến và thu xếp chương trình hành động cho chủ nhật sau. Họ đề nghị tôi đứng ra làm người cầm đầu cuộc nổi loạn. Nhưng tôi từ chối cái vinh dự ấy: tôi chưa biết được thật kỹ những người sẽ cùng hành động.
Tôi nắm vững được trong tay bốn tù nhân Pháp.
Anh chàng người Bretange và anh chàng “Bàn là” không đồng ý tham gia. Cũng chẳng sao, họ chỉ có việc đừng đến nhà thờ. Đến ngày chủ nhật, chúng tôi, tức bốn người trong cuộc, sẽ đến dự buổi xem lễ. Cái nhà thờ này hình chữ nhật. Trong cùng là bàn thờ; ở khoảng giữa nhà thờ, mỗi bên có một cái cửa mở ra sân. Cửa chính đưa thẳng vào trạm gác. Cửa này có một dãy chấn song, ở bên kia là đội gác, gồm khoảng hai mươi cảnh binh. Cuối cùng, sau lưng họ là cửa ra phố.
Vì trong mỗi buổi lễ, nhà thờ bao giờ cũng đông nghịt, bọn lính gác mở chấn song và xếp hàng sát cạnh nhau đứng chắn cửa trong suốt buổi lễ. Trong số những người khách vào thăm tù nhân sẽ có hai người đồng lõa và mấy người khác giấu vũ khí trong người. Đó là mấy người đàn bà mang những khẩu súng ngắn buộc vào phía trong bắp vế. Khi mọi người đã vào trong nhà thờ, họ sẽ tuồn súng cho hai người đàn ông kia. Đó sẽ là hai khẩu súng cỡ to, 38 hay 45. Người tù đứng đầu cuộc nổi loạn sẽ nhận được một khẩu súng ngắn từ tay một người đàn bà, và người này sẽ lập tức ra khỏi nhà thờ. Hễ cậu bé giúp lễ rung chuông lần thứ hai, cả bọn phải hành động vào cùng một lúc.

Phần việc của tôi là gí một con dao lớn và họng viên giám đốc nhà tù Don Grégorio, nói: “Da la orden de nos dejar, panar, sinh, te mao”. (Hãy ra lệnh bảo họ để cho chúng tôi đi ra, nếu không tôi giết anh).
Một người khác cũng sẽ làm như vậy với ông linh mục. Ba người kia, từ ba gốc khác nhau, sẽ chĩa súng vào mấy tên cảnh sát đứng ở cửa chấn song của lối vò chính. Hễ tên nào không bỏ súng xuống thì phải bắn chết ngay. Những người tham cuộc không có vũ khí sẽ ra trước. Ông linh mục và ông giám đốc sẽ được dùng làm bình phong cho hậu quân. Nếu mọi việc diễn biến một cách bình thường, tốp cảnh sát đều sẽ bỏ súng xuống đất. Những tù nhân có súng ngắn sẽ lùa họ vào nhà thờ. Chúng tôi sẽ ra ngoài, sau đó đóng cửa chấn song trước, rồi đến cánh cửa gỗ. Căn phòng dùng làm trạm canh sẽ bỏ trống vì cả tốp cảnh sát đều phải đứng dự buổi xem lễ. ở bên ngoài, cách đây năm mươi mét, sẽ có một chiếc xe tải đậu sẵn, phía sau có móc một cái thang nhỏ để lên xe thật nhanh. Chiếc xe tải sẽ khởi hành sau khi người đứng đầu cuộc nổi loạn lên xe. Người này sẽ lên xe sau cùng. Sau khi dự một buổi xem lễ, tôi đồng ý với kế hoạch này. Mọi việc đều diễn ra như Fernando đã miêu tả.
Joseph Dega sẽ không vào thăm chúng tôi vào chủ nhật tới. Anh ta biết rõ tại sao. Anh ta sẽ chuẩn bị một chiếc xe tắc-xi giả để cho chúng tôi khỏi phải lên xe tải, và sẽ đưa chúng tôi đến một chỗ trống cũng là do anh ta chuẩn bị. Suốt tuần ấy tôi ở trong một tình trạng kích thích cao độ và rất nóng lòng chờ lúc hành động. Fernando đã tìm cách có được một khẩu súng lục bằng một phương tiện khác. Đó là một khẩu 45 của quân Cảnh vệ Colombia, một vũ khí rất đáng sợ. Đến thứ năm, một cô gái trong nhóm “chị em” của Joseph vào thăm tôi. Cô ta rất hòa nhã ân cần, và cho tôi biết rằng chiếc tắc-xi sẽ đón chúng tôi là một chiếc xe sơn màu vàng, chúng tôi sẽ không thể nhầm lẫn được. O K., cám ơn.
– Chúc các anh may mắn.
Cô ta hôn lên hai má tôi một cách dịu dàng và không khỏi có phần xúc động.
– En tra, en tra (mời vào, mời vào). Hãy vào cho chật ngôi nhà thờ này để lắng nghe tiếng nói của Chúa, ông linh mục nói.
Clousiot đã sẵn sàng từ đầu đến chân. Maturette hai mắt sáng long lanh, còn người kia không rời tôi một tấc. Rất điềm tĩnh, tôi đứng vào chỗ đã định. Don Grégorio, viên giám đốc nhà tù, ngồi trên một chiếc ghế tựa bên cạnh một bà béo. Tôi đứng sát đường. Bên phải tôi là Clousiot, bên trái tôi là hai bạn kia, đều ăn mặc tử tế để đến khi ra đường không bị người ta để ý. Con dao của tôi đã mở sẵn, được áp sát vào cánh tay phải bằng một sợi dây thun và khuất hắn trong ống tay áo sơ-mi ka-ki cài kỹ ở cổ tay. Bây giờ phải chờ đến lúc “nâng mình thánh”, khi mọi người cúi đầu xuống như thể để tìm một cái gì ở dưới đất, và cậu bé giúp lễ sau khi rung chuông rất nhanh, sẽ cho nghe ba hồi chuông tách bạch. Hồi chuông thứ hai là hiệu lệnh của chúng tôi, mỗi người đều biết rõ lúc ấy mình phải làm gì.
Hồi chuông thứ nhất, hồi thứ hai… Tôi lao vào Don Grégorio, con dao dí sát cái cổ to và nhăn nheo của ông ta. Ông linh mục kêu: “Misericordia, no me ma ta (Xin tha cho, đừng giết tôi)” và tuy không nhìn thấy, tôi nghe rõ ba người kia ra lệnh cho bọn lính gác bỏ súng xuống.

Mọi việc đều trôi chảy. Tôi nắm chặt cái cổ áo bộ com-lê rất đẹp của Don Grégorio, nói: Sigua y no tengas miedo, no te ha ré dao. (Theo tôi và đừng sợ, tôi không làm gì ông đâu). Ông linh mục được giữ yên bằng một con dao cạo dí sát họng, gần nhóm chúng tôi. Fernando nói: vamos, Francès, vamos a la salida. (Ta đi thôi, anh bạn Pháp, ra cửa đi).
Lòng khấp khởi vì niềm vui đắc thắng, tôi xua các bạn về phía cửa dẫn ra đường, thì bỗng nhiên có hai tiếng súng nổ cùng một lúc. Fernando gục xuống, và một trong những người có súng cũng ngã lăn ra Tôi vẫn tiến thêm được một thước nữa, nhưng lúc bấy giờ bọn lính gác đã đứng dậy và giơ súng chặn lại. May thay giữa họ với chúng tôi có mấy người đàn bà, nên họ không dám bắn. Lại hai phát súng trường nữa, sau đó là một phát súng lục. Người bạn có súng thứ ba của chúng tôi vừa bị bắn chết sau khi đã kịp bắn một phát hú họa làm bị thương một người con gái. Don Grégorio mặt xanh như tàu lá, nói với tôi:
– Đưa dao đây.
Tôi đưa dao cho ông ta. Tiếp tục đánh nhau chẳng có ích gì. Trong khoảng không đầy nửa phút tình thế đã bị đảo ngược lại.
Hơn một tuần sau tôi được biết rằng cuộc nổi loạn đã thất bại vì một tù nhân thuộc một sân khác lúc bấy giờ đứng ở ngoài nhà thờ để xem mọi người làm lễ. Ngay những giây đầu tiên chúng tôi hành động, hắn đã báo cho bọn lính canh ở trên thành. Những tên này đã nhảy từ trên bức tường cao hơn sáu mét này xuống sân, hai tên nhảy xuống hai bên nhà thờ, rồi qua những chấn song cửa hai cửa ngang, họ bắn vào hai người đang đứng trên một chiếc ghế dài chĩa súng vào tốp cảnh sát. Sau đó vài giây họ lại bắn gục người thứ ba lúc bấy giờ đi qua tầm bắn của họ. Sau đó là một cuộc “corrida”* (*trận đấu bò tót, trong đó những người đấu bò (toreadores) phải giết chết con bò) ngoạn mục. Tôi lúc bấy giờ đang đứng cạnh viên giám đốc bắt ông ta ra lệnh này nọ. Rốt cục mười tù nhân trong đó có bốn chúng tôi bị xích lại và nhốt vào xà lim, chỉ được ăn bánh mì với nước lã.
Don Grégorio đã tiếp Joseph Dega. Ông ta cho gọi tôi lên nói rằng để làm vui lòng Joseph, ông ta sẽ cho tôi trở ra sân cùng với các bạn tôi. Nhờ có Joseph, mười ngày sau cuộc nổi loạn, tất cả chúng tôi đều được trở về khoảng sân cũ và cùng được giam chung trong phòng giam trước kia. Khi về đến phòng giam, tôi yêu cầu các bạn im lặng vài phút để tưởng nhớ đến Fernando và hai người bạn của anh ta đã chết trong khi hành động. Trong một buổi vào thăm Joseph cho tôi biết rằng anh ta đã tổ chức một cuộc quyên tiền, và trong giới trùm điếm anh ta đã thu được năm ngàn pesos để đút cho Don Grégorio. Cử chỉ này làm cho chúng tôi có phần coi trọng bọn trùm điếm hơn trước chút ít. Bây giờ tôi sẽ làm gì? Biết phát minh ra cách gì khác đây? Chẳng lẽ tôi lại chịu thua và đợi chuyến tàu kia mà không hành động gì cả hay sao?
Nằm trong phòng rửa mặt chung, tránh được ánh nắng gay gắt, tôi có thể kín đáo theo dõi cách thức đi lại của bọn lính canh trên con đường tuần tra. Ban đêm cứ mười phút họ lại lần lượt gọi nhau: “Lính canh, hãy coi chừng.” Làm như vậy viên chỉ huy đội canh có thể kiểm tra xem trong bọn tên lính canh có tên nào ngủ không. Nếu có ai không trả lời, người kia gọi lại cho đến khi hắn trả lời mới thôi.
Tôi tưởng đã tìm được một chỗ sơ hở. Số là ở mỗi chòi canh đặt ở bốn góc đường đi tuần đều có treo một cái lon buộc vào một sợi dây. Khi một người lính canh muốn uống cà phê, hắn gọi người cafetero đến rót cho hắn một hay hai chén cà phê vào lon, rồi kéo dây lên mà uống. Cái chòi canh ở cuối sân bên phải hơi nhô ra phía sân một chút. Tôi tự nhủ là nếu tôi có được một cái móc to buộc vào đầu một sợi dây đan, nó sẽ có thể mắc vào cái chòi canh ấy một cách dễ dàng. Chỉ trong mấy giây tôi có thể vượt qua bức tường trông ra đường. Vấn đề duy nhất là làm sao vô hiệu hóa được tên lính canh. Bằng cách nào?
Tôi trông thấy tên lính canh đứng dậy đi mấy bước trên con đường tuần tra. Tôi thấy hình như hắn nóng quá không chịu nổi và đang ra sức chống lại cơn buồn ngủ. Thôi đúng rồi, phải làm thế nào cho hắn ngủ? Trước hết tôi sẽ đan sợi dây, và nếu kiếm được một cái móc chắc chắn, tôi sẽ tìm cách làm cho hắn ngủ và cố thể phen nữa. Trong hai ngày một sợi dây dài gần bảy mét đã được tết bằng tất cả những chiếc áo sơ- mi bằng vải bền mà chúng tôi kiếm được, nhất là những chiếc áo bằng vải ka-ki. Cái móc thì tìm tương đối dễ, đó là thanh sắt đỡ một cái mái hiên lắp ở cửa các phòng giam cho mưa khỏi hắt vào. Joesph Dega đã đem đến cho tôi một chai thuốc ngủ rất mạnh. Theo lời chỉ dẫn thì mỗi lần chỉ được uống mười giọt. Cái chai đựng gần mười thìa xúp lớn. Tôi tìm cách làm cho tên lính canh chịu uống cà phê của tôi biếu và quen dần với việc ấy. Hắn thòng cái lon xuống, tôi rót cho hắn mỗi lần ba cốc cà phê. Vì dân Colombia đều hay rượu, mà thứ thuốc ngủ kia lại có vị giống như rượu hồi, cho nên tôi nhờ kiếm một chai rượu hồi. Tôi nói với tên lính canh:
– Anh muốn uống cà phê pha kiểu Pháp không?
– Nó là thế nào.
– Có cho cả rượu hồi vào đấy.
– Để thử xem, cho tôi nếm đã.
Nhiều tên lính canh đã được nếm mùi cà phê rượu hồi của tôi. Bây giờ mỗi lần tôi mời cà phê họ đều nói: “kiểu Pháp nhé!”.
– Có ngay. – Tôi cứ thế rót rượu hồi vào.
Giờ G đã đến. ấy là vào giữa trưa một ngày thứ bảy. Trời nóng kinh khủng. Các bạn tôi biết không thể nào có thì giờ cho hai người vượt qua tường được, nhưng một người tù Colombia có một cái tên A-rập là Ali nói với tôi là hắn sẽ trèo sau tôi. Tôi đồng ý. Tôi đi với anh này thì các bạn tôi khỏi bị nghi là đồng lõa và khỏi bị phạt về sau. Mặt khác tôi không thể cầm sẵn dây và móc được vì tên lính canh có đủ thì giờ quan sát tôi trong khi tôi chuyển cà phê lên. Theo ý kiến chung của các bạn tôi, nội trong năm phút hắn phải bị đo ván.
Lúc bấy giờ đã đến “kém năm”. Tôi gọi tên lính canh.
– Thế nào?
– Vẫn thế thôi.
– Anh có uống cà phê không?
– Có pha kiểu Pháp ấy, ngon hơn.
– Đợi tí nhé, có ngay đấy.
Tôi đến cafetero: “Hai cà phê”. Trong cái lon của tôi đã rót sẵn cả chai thuốc ngủ. Nếu uống chừng ấy mà sau năm phút hắn không lăn đùng ra thì thật hết chỗ nói! Tôi đến góc tường và hắn trông thấy tôi rót rượu hồi vào lon rõ rành rành.
– Uống tí nhé?
– Ừ!
Tôi rót thêm chút nữa, rồi trút cả sang lon của hắn. Hắn lập tức kéo lên.

Năm phút, mười, mười lăm, hai mươi phút trôi qua! Hắn vẫn chưa ngủ. Tệ hơn nữa, đáng lẽ ngồi xuống thì hắn lại cầm súng đi đi lại lại một lát. Thế mà hắn đã uống hết sạch chứ không phải không. Đến một giờ trưa đã đổi gác rồi.
Như ngồi trên đống than hồng, tôi theo dõi từng cử động của hắn. Không có dấu hiệu gì thấy hắn đã thấm thuốc. à! hắn vừa vấp chân một cái. Hắn ngồi xuống trước chòi canh, khẩu súng trường chống giữa hai chân. Đầu hắn nghiêng sang một bên. Các bạn tôi và hai ba người tù Colombia biết chuyện cũng đang theo dõi những phản ứng của hắn một cách mải mê không kém gì tôi.
– Nào bắt đầu đi, – tôi nói với gã người Colombia.
– Dây đâu!
Anh ta đang sửa soạn ném dây thì tên lính canh đứng dậy, để khẩu súng rơi xuống đất, vươn vai rồi co chân bước mấy bước tại chỗ. Gã người Colombia ngừng lại vừa đúng lúc. Chỉ còn mười tám phút nữa là đến giờ đổi gác. Tôi thầm cầu cứu Chúa: “Lạy Chúa giúp chúng tôi một lần nữa! Tôi van Chúa đừng bỏ rơi tôi!” Nhưng tôi kêu mãi vẫn chẳng thấy gì: cái ông Chúa của người Cơ đốc giáo nhiều khi cũng ít thông cảm với người ta lắm, nhất là đối với tôi, một người vô thần.
Clousiot lại gần tôi nói:
– Thế này thì thật! Đến bây giờ mà thằng kia vẫn chưa ngủ thì là thật!
Tên lính canh định cầm súng lên nhưng lúc cúi xuống nhặt khẩu súng hắn bỗng ngã nhào ra đường tuần tra, như thể bị sét đánh. Gã người Colombia ném cái móc lên, nhưng nó lại trượt xuống. Anh ta ném lần nữa. Lần này thì mắc. Anh ta kéo xuống mấy cái để xem thử đã chắc chưa. Tôi cũng kiểm tra lại một lần nữa và khi tôi đạp chân vào tường và co tay lại để leo lên, Clousiot nói:
– Coi chừng Nó đến đổi gác kia kìa.

Tôi vừa kịp rút lui trước khi bị họ nhìn thấy. Được sự thôi thúc tự nhiên của bản năng tự vệ và bản năng đoàn kết của những người tù, một tốp tù nhân Co-lom-bia, khoảng mươi người, chạy đến vây quanh lấy tôi, tôi liền trà trộn vào bọn họ. Chúng tôi đi dọc bờ tường, để mặc sợi dây lủng lẳng ở phía sau. Một tên cảnh sát trông đội đến đổi gác đã trông thấy cái móc và tên lính canh nằm sấp bên cạnh khẩu súng. Hắn chạy hai ba bước đến ấn vào nút còi bóng động, yên chí rằng vừa xảy ra một cuộc vượt ngục. Người ta đưa cáng đến khiêng tên lính đang ngủ. Bây giờ có đến hơn hai chục tên cảnh sát trên đường tuần tra. Don Grégorio cũng có mặt trong đám ấy. Ông ta ra lệnh kéo sợi dây lên. Cái móc đang nằm trong tay ông ta. Một lát sau bọn cảnh sát đã vây quanh sân, súng chĩa và các tù nhân. Họ bắt đầu gọi tên. Gọi đến tên ai thì người ấy phải trở về buồng giam. Lạ thay! Không thiếu ai cả. Họ liền lấy khóa khóa trái các buồng giam lại.
Lại điểm danh lần thứ hai, và kiểm tra từng buồng. Không, không có ai mất tích cả. Đến ba giờ, họ lại cho chúng tôi ra sân. Chúng tôi được biết rằng tên lính canh kia hiện đang ngáy như sấm, và tất cả các biện pháp được đem ra dùng không sao đánh thức hắn dậy được: người đồng lõa Colombia của tôi cũng thất vọng không kém gì tôi. Vừa qua anh ta tin chắc mười phần thế nào cũng thành công! Anh ta lớn tiếng chửi bới các thứ hàng Mỹ, vì thuốc ngủ vừa rồi là thuốc Mỹ.
– Biết làm thế nào bây giờ?
– Làm lại chứ còn thế nào nữa! – Tôi chỉ biết trả lời có thế.
Anh ta tưởng tôi muốn nói là phải tìm cách đánh thuốc ngủ một tên lính canh một lần nữa. Thật ra tôi đang nghĩ là phải tìm một cách khác.
Anh ta nói:
– Anh tưởng là bọn cảnh sát ấy ngu đến nỗi sẽ có một thằng nữa chịu uống cà phê theo kiểu Pháp à? Mặc dầu không khí lúc bấy giờ thật bi đát, tôi vẫn không sao nhịn cười được.
– Chắc chắn là sẽ có chứ!
Tên lính canh đã ngủ ba ngày và bốn đêm. Đến khi hẳn thức dậy, dĩ nhiên hắn báo cáo là chính tôi đã đánh thuốc ngủ cho hắn khi tôi cho hắn uống cà phê pha theo kiểu Pháp. Don Grégorio cho gọi tôi lên để đối chất với hắn. Viên chỉ huy đội lính canh rút gươm định đánh tôi. Tôi nhảy lùi vào góc phòng và thách thức hắn. Hắn giơ cao gươm lên, Don Grégorio xông vào can liền bị một nhát sống gươm vào vai. Ông ta gục xuống, xương đòn gánh gãy làm đôi. Ông ta kêu to đến nỗi viên sĩ quan kia chỉ còn quan tâm đến ông ta. Hắn đỡ ông ta dậy. Don Grégorio kêu cứu om sòm.
Từ các phòng giấy bên cạnh, tất cả các nhân viên dân sự đều chạy sang. Thế là nổ ra một cuộc ẩu đả giữa viên sĩ quan, hai viên cảnh sát khác và tên lính canh đã bị tôi đánh thuốc ngủ với khoảng một chục viên chức dân sự đang muốn trả thù cho ông giám đốc. Trong cuộc “tangana” này, nhiều người bị thương nhẹ. Người duy nhất bình yên vô sự là tôi. Vấn đề quan trọng bây giờ không còn là trường hợp của tôi nữa mà là vụ xô xát giữa ông giám đốc và viên sĩ quan. Khi ông giám đốc đã được trở vào bệnh viện, người thay thế ông dẫn tôi trở ra sân:
– Việc anh sẽ được xét sau, Francés ạ.
Hôm sau viên giám đốc, vai bó bột, đến yêu cầu tôi viết một bản khai báo tố cáo viên sĩ quan. Tôi khai lại một cách thích thú tất cả những gì người ta muốn tôi khai. Họ đã quên hắn câu chuyện thuốc ngủ. Chuyện này đối với họ không có gì thú vị nữa: càng may cho tôi.
Mấy ngày sau, Joseph Dega tình nguyện tổ chức một cuộc vượt ngục từ bên ngoài. Vì tôi có nói với anh ta rằng vượt ngục ban đêm là không thể được vì đèn thắp quanh đường đi tuần trên thành phố rất sáng, anh ta tìm cách để cắt dòng điện. Nhờ một thợ điện mách bảo anh ta đã tìm ra: cần phải hạ cầu giao ở một cái trạm biến thế ở bên ngoài nhà tù. Về phần tôi, tôi đã mua tên lính canh ở phía đường cũng như ở cửa nhà thờ. Việc đó hóa ra phức tạp hơn là người ta tưởng. Trước hết tôi buộc lòng phải thuyết phục Don Grégorio trả lại cho tôi mười ngàn Pesos lấy cớ là để nhờ Joseph gửi cho gia đình tôi, dĩ nhiên đồng thời tôi cũng “cưỡng bách” ông ta nhận hai ngàn pesos để mua quà tặng vợ ông, rồi sau khi đã xác định được người phân bố các phiên gác và giờ đổi gác, lại phải mua cả người này nữa. Hắn sẽ được ba ngàn pesos, nhưng hắn không chịu can thiệp vào những cuộc thương lượng với hai tên lính canh kia. Một mình tôi phải đi tìm họ và thương lượng với họ. Sau đó tôi sẽ cho anh ta biết tên và anh ta sẽ cắt phiên gác cho họ đúng vào giờ tôi yêu cầu. Công việc chuẩn bị cho cuộc vượt ngục mới này phải mất hơn một tháng.

. Cuối cùng, mọi việc đã được ấn định từng phút một. Vì không phải giữ gìn gì với tên cảnh sát gác ngoài sân, chúng tôi sẽ cưa chấn song bằng một cái cưa kim loại có đủ bộ sậu. Tôi có ba lười cưa. Người tù Colombia ném cái móc hôm trước đã được báo trước. Anh ta sẽ cưa chấn song của mình làm nhiều lần. Vào đêm hành động, một người bạn của anh ta, ít lâu nay đã giả vờ điên, sẽ đánh choang choang lên một miếng tôn kẽm và gân cổ lên hát thật to. Anh bạn tù Colombia biết rằng tên lính canh chỉ thỏa thuận cho hai người Pháp vượt ngục và đã nói trước rằng nếu có thêm một người thứ ba lên thành hắn sẽ bắn. Tuy vậy anh ta vẫn muốn cầu may và nói với tôi rằng nếu cứ theo sát nhau mà trèo thì trong bóng tối tên lính canh không thể trông thấy rõ là có một người hay hai. Clousiot và Maturette đã bốc thăm để quyết định ai sẽ cùng đi với tôi. Clousiot đã thắng.
Cái đêm không trăng mà chúng tôi chờ đợi đã đến. Viên đội và hai viên cảnh sát đã nhận một nửa số tiền mà mỗi người được hưởng. Lần này tôi không phải cắt đôi nữa, vì đã có những tờ giấy bạc được cắt đôi sẵn. Sau này họ sẽ đến lĩnh nửa còn lại ở Barrio Chino, cửa hiệu của vợ Joseph Dega.
Đèn tắt. Chúng tôi cưa chấn song. Không đầy mười phút đã đứt. Mình mặc quần dài và áo sơ-mi sẫm màu, chúng tôi ra khỏi buồng giam. Người tù Colombia ra nhập bọn khi chúng tôi đi ngang. Anh ta chỉ mặc một cái si-líp đen. Tôi leo lên chấn song cửa của một buồng giam xây trong tường, đi vòng qua mái hiên, ném cái móc buộc vào ba thước dây. Chỉ ba phút sau tôi đã đứng trên đường đi tuần, không một tiếng động. Nằm sấp sát đất, tôi đợi Clousiot. Đêm tối như mực. Tôi bỗng trông thấy, hay nói cho đúng hơn cảm thấy một bàn tay giơ ra, tôi cầm lấy và kéo mạnh. Một tiếng động khủng khiếp vang lên. Đó là vì khi người Clousiot trườn qua giữa mái hiên và bức tường, cái khóa thắt lưng của anh đã vướng vào cái mái tôn. Dĩ nhiên khi nghe tiếng động tôi ngừng kéo. Tấm tôn không kêu nữa. Tôi lại kéo Clousiot, tưởng rằng anh ta đã gỡ được, và mặc cho tấm tôn kêu vang dội, tôi kéo thật mạnh làm cho chỗ vướng bị bật ra, rồi lôi anh ta lên trên đường đi tuần.
Có mấy phát súng nổ từ các chòi canh của các khu vực khác nhưng ở khu vực chúng tôi vẫn im lặng. Vì hốt hoảng khi nghe tiếng súng, chúng tôi nhảy xuống một con đường thấp cách bờ tường đến chín mét trong khi đáng lẽ phải đi sang bên phải rồi nhảy xuống một con đường khác chỉ cách có năm mét. Kết quả: Clousiot bị gãy lại chân phải. Tôi cũng không đứng dậy được: tôi bị gãy xương cả hai bàn chân. Về sau tôi sẽ biết rõ đó là hai cái xương gót chân. Người tù Colombia bị sái một bên đầu gối. Mấy phát súng đã làm cho đội gác đêm chạy ra phố. Họ chiếu một ngọn đèn pin lớn vào chúng tôi và chĩa súng bắt chúng tôi đứng im. Tôi bật khóc vì uất ức. Tệ hơn nữa là bọn cảnh sát không chịu tin rằng tôi không đứng dậy được. Tôi phải dùng hai đầu gối bò dưới hàng trăm mũi lưỡi lê thúc vào người mà lê vào phòng giam. Clousiot thì nhảy lò cò một chân, người Colombia cũng vậy. Đầu tôi chảy máu dữ dội vì một phát báng súng.
Mấy phát súng đã đánh thức Don Grégorio đang ngủ trong phòng giấy: may thay, đêm hôm ấy ông ta trực ở nhà tù. Không có ông ta họ đã đánh chết chúng tôi bằng báng súng và lưới lê rồi. Kẻ hăng máu nhất trong khi đánh đập tôi chính là viên đội mà tôi đã đút tiền để cắt phiên gác cho hai tên lính canh đồng lõa.

Don Grégorio chặn đứng ngay trận đánh đập dã man ấy ông đe dọa sẽ đưa họ ra tòa nếu họ đánh chúng tôi trọng thương. Câu thần chú ấy làm cho họ tê liệt ngay. Hôm sau cái chân của Clousiot bó bột ở bệnh viện. Người tù Colombia được một ông thầy lang ở tù nắn lại đầu gối và được mang một cái băng Velpeau. Trong đêm ấy thấy hai chân tôi sưng lên to bằng cả cái đầu, bị bầm giập đến cùng cực, máu me bê bết, ông bác sĩ cho tôi ngâm hai chân vào nước muối ấm, rồi sai y tá cho đỉa hút máu ba lần một ngày. Khi đã hút máu no căng, mấy con đỉa tự rơi ra, người ta bỏ nó vào dấm cho nó nhả máu. Vết thương ở đầu tôi phải khâu sáu mũi. Một nhà báo khát tin cho đăng một bài báo nói về tôi. Hắn kể rằng tôi là người đứng đầu cuộc nổi loạn ở nhà thờ, rằng tôi đã đầu độc một tên lính canh, và cuối cùng tôi đã tổ chức một cuộc vượt ngục tập thể có sự hỗ trợ từ bên ngoài vì có người đã cắt điện ở khu phố bằng cách hạ cầu giao ở trạm biến thế. “Ta hãy hy vọng rằng ở nước Pháp sẽ cho người đến thật sớm để cho chúng ta thoát khỏi tên gangster số 1 của họ. Hắn kết luận. 
Joseph có vào thăm tôi, cùng đi với vợ là Annie. Viên đội và ba viên cảnh sát đã đến đòi lĩnh nửa số tiền còn lại, mỗi người đến vào một lúc khác nhau. Annie đến là để hỏi tôi xem chị ta phải xử sự như thế nào. Tôi nói với chị là phải đưa tiền cho họ, vì họ đã làm đúng lời cam kết. Chúng tôi thất bại không phải tại họ.
Từ một tuần nay các bạn phải chở tôi đi dạo trong sân trên một chiếc xe kít kít bằng sắt vốn cũng là giường nằm của tôi. Tôi nằm trên xe, hai chân gác cao lên một tấm vải căng giữa hai miếng ván lắp thẳng đứng trên hai càng xe. Đó là tư thế duy nhất không làm cho tôi đau quá. Hai chân tôi, đầy ứ những máu đông đặc, sưng to tướng, không thể đặt lên một cái gì hết, dù là ở tư thế nằm. Được gác chân lên thật cao như vậy, tôi đỡ đau được một chút. Gần mười lăm ngày sau, nó đã xẹp đi được một nửa, và người ta cho tôi đi chiếu điện. Hai cái xương gót tôi đều gãy. Suốt đời tôi sẽ có hai bàn chân bẹt.
Tờ nhật báo ra hôm nay đăng tin là cuối tháng chuyến tàu chở đội áp giải của cảnh sát Pháp đến nhận chúng tôi sẽ cặp bến. Chiếc tàu tên là “Mana”, tờ báo viết như vậy. Hôm nay là ngày mười hai tháng mười. Chúng tôi còn mười tám ngày nữa: bây giờ phải đánh con bài cuối cùng. Nhưng đánh con bài gì với hai bàn chân gãy của tôi?.
Joseph tuyệt vọng. Hôm vào thăm, anh ta kể cho tôi nghe rằng tất cả những người Pháp ở đây và tất cả các cô làm ở Barrio Chino đều rất khổ tâm khi thấy tôi đã vật lộn dữ dội bấy nhiêu lâu để dành tự do mà chỉ còn mười mấy ngày nữa đã bị trao trả cho nhà chức trách Pháp. Tình cảnh của tôi làm cho tất cả giới Pháp kiều ở đây xao xuyến. Đó là một trợ lực tinh thần đã an ủi tôi rất nhiều.
Tôi đã từ bỏ ngay cái dự định giết một tên cảnh sát Colombia. Thật vậy, không có lý do gì tôi lại nỡ làm thiệt mạng một người chẳng có thù oán gì với tôi. Tôi nghĩ rằng người ấy có thể có một ông bố, một bà mẹ cần được nuôi dưỡng. Tôi mỉm cười khi nghĩ rằng cần phái tìm một tên cảnh sát thật ác mà lại không có gia đình. Chẳng hạn, tôi có thể hỏi hắn: “Nếu tôi giết anh thì có ai thiệt hại gì không, có ai mất nơi nương tựa không?” Sáng hôm nay ngày 13 tháng mười, tôi rất ủ ê chán chường. Tôi nhìn một mẫu đá acid picric mà nếu ăn vào thì tôi sẽ mắc bệnh hoàng đản. Nếu người ta cho tôi nằm bệnh viện, có lẽ tôi sẽ có thể nhờ Joseph thuê người đánh tháo tôi ra ngoài. Ngày hôm sau da tôi đã vàng như nghệ. Don Grégorio đi ra sau thăm tôi: lúc bấy giờ tôi đang nằm trên chiếc xe cút kít để ở một chỗ có bóng râm, hai chân gác cao lên. Lập tức, không quanh co, không chút thận trọng, tôi tấn công:
– Tôi biếu ông mười ngàn pesos nếu ông cho tôi nhập viện.
– Để tôi thử xem. Không phải vì mười ngàn pesos kia, mà vì tôi rất phiền lòng khi thấy anh vật vã dữ dội như vậy để tìm tự do mãi mà vẫn không được. Chỉ có điều tôi không tin rằng họ sẽ giữ anh lại ở bệnh viện, vì cái bài báo kia đã làm cho họ quá sợ anh. 
Một giờ sau, bác sĩ cho tôi đến bệnh viện. Tôi chưa kịp chạm đất thì đã được đưa ra khỏi bệnh viện ngay.
Được đưa từ trên xe cứu thương xuống trên một cái cáng, tôi được khám rất kỹ, có xét nghiệm nước tiểu, trong khi vẫn nằm trên cáng. Hai giờ sau họ đưa tôi trở về nhà giam. 
Hôm ấy là ngày 19, một ngày thứ năm. Annie, vợ của Joseph, đến trại giam với một cô người Corse. Họ cố đem vào cho tôi một ít thuốc lá và bánh kẹo. Với những lời lẽ ân cần, trìu mến của họ, hai người đàn bà này đã đem lại cho tôi một niềm an úi lớn lao. Đẹp đẽ nhất là sự thể hiện của tình bạn trong trẻo của họ, đã thực sự biến cái ngày cay cực này thành một ngày chan hòa ánh nắng. Tôi sẽ không bao giờ có thể diễn đạt được hết niềm an ủi mà tình đoàn kết của những người cùng giới đã đem lại cho tôi trong thời gian bị giam ở nhà tù “80”. Tôi cũng không sao nói hết được lòng biết ơn của tôi đối với Joseph Dega đã không ngần ngại giúp tôi vượt ngục, mặc dầu làm như vậy anh ta có thể đi đến chỗ mất quyền tự do và mất phương tiện sinh sống.
Nhưng có một câu nói của Annie đã gợi cho tôi một ý hay. Trong khi chuyện trò, cô nói:
– Anh Papillon, anh đã làm tất cả những gì mà sức con người có thể làm được để tìm cách dành lại tự do. Số phận đối với anh thật quá tàn nhẫn. Anh chỉ còn thiếu cách làm nổ tung cái nhà tù “80” này? ừ nhỉ! Sao lại không? Tại sao tôi lại không làm nổ tung cái nhà tù cũ kỹ này đi nhỉ? Đó sẽ là một việc rất có ích cho dân Colombia. Nếu tôi cho nổ cái nhà tù này, may ra họ mới quyết định cho xây một cái nhà tù mới, vệ sinh hơn.
Khi ôm hôn hai người thiếu phụ dễ thương này để vĩnh biệt họ, tôi nói với Annie:
– Chị nói với Joseph chủ nhật vào gặp tôi nhé.
Ngày chủ nhật 22, Joseph đã có mặt.
– Joseph ạ, anh phải làm tất cả những gì có thề làm được để đến thứ năm có ai đưa vào cho tôi một thỏi thuốc nổ dynamite, một cái kíp nổ và một sợi dây ngòi. Về phía tôi, tôi sẽ tìm cách có được một cái khoan để khoan gạch.
– Anh sẽ làm gì vậy?

Tôi sẽ làm nổ bức tường của nhà tù giữa ban ngày. Anh cứ hứa trả năm ngàn pesos cho chiếc xe tắc-xi giả hôm trước. Xe phải có mặt trên con đường phía sau nhà tù từ tám giờ sáng đến sáu giờ chiều, ngày nào cũng vậy. Người lái xe sẽ được năm trăm pesos một ngày nếu không có gì xảy ra, năm ngàn pesos nếu có gì xảy ra. Qua cái lỗ sẽ được mở trên tường khi mìn nổ, một tù nhân Colombia to khỏe sẽ cõng tôi ra xe, và bây giờ đến lượt người lái xe hành động. Nếu anh ta bằng lòng, anh hãy gửi thỏi mìn đến. Nếu không thì thế là hết, không còn hy vọng gì nữa.
– Anh cứ tin vào tôi, – Joseph nói. Đến năm giờ tôi nhờ một bạn cõng tôi vào nhà thờ. Tôi bảo là tôi muốn cầu nguyện một mình. Các bạn cõng tôi vào đấy. Tôi nhắn Don Grégorio vào gặp tôi trong nhà thờ. Ông ta đến.
– Hombre, chỉ còn tám ngày nữa là anh phải ra đi.
– Chính vì thế mà tôi nhắn ông đến đây. Ông còn giữ hộ tôi mười lăm ngàn pesos. Trước khi đi tôi muốn chuyển số tiền ấy cho bạn tôi để anh ta gửi về cho gia đình tôi. Xin ông nhận cho ba ngàn pesos, tôi xin biếu ông số tiền đó với tất cả lòng thành vì ông trước sau vẫn luôn luôn che chở cho tôi đỡ bị hành hạ. Xin ông làm ơn đưa số tiền lại cho tôi với một cuộn băng dính để từ đây đến thứ năm tôi dán nó lại và đưa cho bạn tôi.
– Được!
Ông ta trở lại và giao cho tôi mười hai ngàn pesos vẫn còn bị cắt đôi. Ông giữ lại ba ngàn.
Khi đã trở về nằm trên xe cút kít, tôi gọi người tù Colombia ra một góc vắng vẻ, nói cho anh ta biết dự định của tôi và hỏi xem anh ta liệu có đủ sức cõng tôi đi hai ba mươi mét ra đến xe tắc-xi không. Anh ta cam đoan là sẽ làm được. Vậy phía này có thể coi như xong. Tôi cứ hành động thể đã biết chắc là Joseph sẽ thành công. Sáng ngày thứ hai tôi bảo các bạn đưa tôi ra phòng rửa mặt từ sớm, và bảo Maturette, người mấy hôm nay cùng với Clousiot thay phiên nhau làm “tài xế” đấy xe cút kít cho tôi, liền đi tìm tên đội mà tôi đã cho ba ngàn pesos và đã đánh đập tôi dã man trong vụ vượt ngục vừa rồi.
– Trung sĩ Joseph, tôi cần nói chuyện với anh.
– Anh muốn gì?
– Tôi cần một cái khoan máy rất mạnh có ba tốc độ và sáu cái mũi khoan để khoan gạch, hai cái cỡ nửa phân, hai cái cỡ một phân và hai cái cỡ một phân rưỡi đường kính.
– Tôi không có tiền để mua.
– Năm trăm pesos đây.
Ngày mai thứ ba đến lúc đổi phiên gác một giờ trưa anh sẽ có các thứ đó. Chuẩn bị số tiền hai ngàn pesos kia đi.
Một giờ trưa ngày hôm sau tôi đã có đủ cái thứ đó để trong cái thùng rác rỗng ở ngoài sân – đó là một cái thùng đựng giấy lộn, cứ mỗi lần đổi gác lại đổ một lần. Pablo, người tù Colombia vạm vỡ, ra nhặt các thứ đồ khoan đem cất đi.
Ngày thứ năm 26 mãi không thấy Joseph vào. Đến cuối buổi thăm tù mới có người gọi tôi. Đó là một người Pháp già, nhăn nheo, do Joseph phái đến.
– Trong ổ bánh mì này có thứ anh cần. Đây là hai ngàn pesos cho người lái tắc-xi. Mỗi ngày năm trăm. Người lái tắc-xi là một ông già Peru rất hăng. Về phía ấy anh đừng lo gì cả. Ciao* (*chào – tiếng ý, gần như đã trở thành một cách chào quốc tế).
– Ciao.
Trong một cái túi giấy lớn, để cho họ đừng chú ý đến ổ bánh mì, các bạn tôi đã để mấy bao thuốc lá, mấy bao diêm, một chuỗi xúc xích hun khói, một khúc saucisson, một gói bơ và một lọ dầu ô-liu đen. Trong khi người lính canh lục soát cái túi giấy, tôi cho hắn một bao thuốc lá, vài bao diêm và hai cái xúc xích. 
Hắn nói:
– Anh cho tôi một miếng bánh mì đi. Chỉ còn thiếu có thể nữa thôi!
– Không, bánh mì thì đi mua lấy mà ăn. Năm pesos đây, cầm lấy. Vì từng này bánh mì sao đủ cho sáu người ăn.
ừ. Thật may mà thoát. Ai lại đi nảy ra cái ý cho thằng ấy ăn xúc xích! Cái xe cút kít vội vàng lánh xa tên cảnh sát lắm chuyện kia. Việc tên cảnh sát xin bánh mì đã làm cho tôi phát hoảng đến nỗi bây giờ tôi vẫn còn toát mồ hôi.
– Ngày mai là ta bắn pháo hoa đấy. Mọi thứ đã đâu vào đấy, Pablo ạ. Phải khoan lỗ đúng ở phía dưới chỗ chòi canh nhô ra. Thằng mú ở bên trên không thể trông thấy cậu được.
Nhưng hắn có thể nghe thấy.
– Tôi đã liệu trước việc này. Lúc mười giờ sáng, khoảng sân phía này sẽ có bóng rợp. Phải làm sao cho một người trong cái kíp gò đồng đang làm việc ở nhà lao gõ búa vào một tấm đồng áp vào tường cho thẳng cách chúng ta vài mét, ngay ngoài sân. Có hai người càng tốt. Tôi sẽ cho họ mỗi người năm trăm pesos. Cố tìm hai người ấy đi.
Anh ta đã tìm ra.
– Hai anh bạn của tôi sẽ gõ đồng liên tiếp. Tên lính canh sẽ không nghe được tiếng khoan đâu. Có điều là anh với cái xe cút kít phải ở vào một vi trí xê ra ngoài một chút, xung quanh có mấy anh bạn người Pháp làm như đang bàn bạc việc gì với anh. Để cho tên lính canh ở góc bên kia khó trông thấy tôi.
Trong một tiếng đồng hồ cái lỗ đã khoan xong. Nhờ những tiếng búa đánh lên đồng và nhờ có một người giúp việc rót dầu lên mũi khoan, tên lính canh không thấy gì khả nghi cả. Thỏi mìn được nhét vào lỗ ngòi nổ được lắp vào mìn, thò ra ngoài có hai mươi phân ngòi. Thỏi mìn được chêm bằng đất sét. Chúng tôi lui ra. Nếu mọi việc đều ổn, đến khi mìn nổ trên tường sẽ có một lỗ hổng. Tên lính canh sẽ rơi xuống cùng với cái chòi canh và Pablo sẽ cõng tôi chui qua lỗ hổng ra xe tắc-xi. Mấy người kia sẽ tự lo liệu lấy.
Trên lý thuyết thì Clousiot và Maturette dù có ra sau chúng tôi cũng sẽ đến xe tắc-xi trước chúng tôi. Ngay trước khi châm ngòi Pablo báo cho một nhóm tù người Colombia biết.
– Nếu các anh muốn vượt ngục, chốc nữa sẽ có một lỗ hổng trên tường.
– Như thế cũng tốt vì bọn cảnh sát sẽ vướng chân, và có bắn thì bắn những người chạy ở phía sau. Chúng tôi châm ngòi. Một tiếng nổ khủng khiếp làm cả khu phố rung chuyển. Cái chòi canh rơi xuống với cả tên lính canh. Bức tường nứt nẻ thành những khe hở chạy ra tứ phía, hở rộng đến nỗi có thể nhìn thấy dãy phố bên ngoài, nhưng không có một chỗ hở nào đủ rộng để một người có thể lọt qua. Như vậy là vụ nổ dã không tạo được một đột phá khẩu cho chúng tôi, và mãi đến lúc ấy tôi mới thừa nhận rằng mình đã thất bại. Số tôi đúng là phải trở về trại khổ sai ở Cayenne. Sau tiếng nổ, cả nhà tù nhốn nháo lên một cách không có gì tả xiết. Trong sân có đến hơn năm chục tên cảnh sát. Don Grégorio hiểu rất rõ đầu đuôi câu chuyện. Ông ta nói với tôi:
– Bueno (Tốt), Francés ạ. Lần này là lần cuối cùng, tôi chắc thế.
Viên chỉ huy đội lính gác giận dữ điên cuồng. Hắn không thể ra lệnh đánh đập một người bị thương nằm trên xe cút kít, trong khi tôi, để khỏi liên lụy đến các bạn khác, cứ lớn tiếng tuyên bố rằng chính tôi và chỉ một mình tôi gây ra vụ này. Sáu tên cảnh sát được cắt đứng canh trước cái tường nứt nẻ, sáu tên trong sân nhà tù, sáu tên đứng ngoài đường, sẽ canh gác thường xuyên cho đến khi thợ nề sửa xong bức tường. Tên lính gác ở trên chòi rơi xuống, may thay, không bị thương tích gì cả.









Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 1 Nov 2025

Phần 2 – Bạn già

– Ối trời, mày đi đâu lâu nay?

Đang cặm cụi chăm tỉa cho chậu mai dự định sẽ đem vào chưng trong phòng khách mấy ngày tết, bất chợt Phúc xuất hiện trước mặt, Tấn trợn tròn mắt hỏi, còn Phúc thì nở nụ cười làm sáng lên gương mặt khắc khổ nhăn nheo.

Gần ba mươi năm rồi, từ ngày hắn bỏ nơi này ra đi, nói với Tấn là trở vào trong Sài gòn hay đâu đó, tìm một cuộc sống dễ dàng hơn bởi hắn đã quá chán cái chốn rẫy nương nắng gió này.

Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17. nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc, sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời. không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Đoàn xe chở họ vào đây, trong số đó có hai cậu trai, đi ngang qua nhiều nơi mà chúng chỉ biết đến trong những bài học Địa Lý. Núi đồi khe suối và những bãi biển trải dài ven quốc lộ làm cả hai thích thú sôi nổi chuyện trò. Lúc này hai cậu trai vừa xong lớp chin cấp trung học.

Ba năm ngồi cùng nhau nơi ngôi trường tạm bợ bằng gỗ và tôn được dỡ từ trại lính Mỹ ở Cam ranh, rôi thi tú tài, cả hai cùng hí hững khi kết quả kỳ thi được dán nơi văn phòng trường: Phúc đổ hạng Bình, Tấn kém Phúc, chỉ hạng Thứ. Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán.

Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ỏ lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!

Tấn không còn nhớ là bao lâu rồi, một lần đi buôn vào Sài gòn, nghe người quen nói là Phúc làm gì đó trong nhà Văn Hóa quận Một, anh tìm đến và rồi một trận cải vả xãy ra giữa hai người mà đại để là Phúc trách Tấn đi buôn như thế là tiếp tay vơi gian thương làm lũng đoạn thị trường…Còn Tấn, anh bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra, anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!

Đêm đó Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẻ nhưng không có đếu nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn.

Một hôm, Phúc trở về sau năm sáu năm, nói là từ trại giam về, không biết sao lại lạ đời như thế! Thì ra là hắn nhiệt tình phấn đấu, nhưng lại làm việc theo cảm tính nên giải quyết một việc gì đó sai nguyên tắc phải vào trại giam một năm vì tội thiếu trách nhiệm. Giờ hắn tiếc là đã bỏ không theo cho hết đại học!

Bà mẹ già nua mừng thấy lại con, em gái hắn lấy chồng nhưng cùng ở trong nhà để hôm sớm chăm lo cho mẹ. Đã về chốn này thì phải làm nông, hắn ra sức làm rẫy nhưng thu nhập sau khi nộp cho Hợp Tác Xã còn lại quá ít, không đủ ăn, vừa làm rẫy hắn vừa theo thắng em rễ học nghề thợ mộc cũng chẳng nên cơm cháo gì, chỉ đi rừng khai thác gỗ lậu, tuy cực nhưng cũng còn có đồng vào đồng ra.

Đâu dược mấy năm, hắn lại đi, lần này hắn đi lâu quá nên ai cũng đoán già đoán non là hắn vượt biển hay bị tai nạn, bệnh hoạn, chết chốn nào rồi. Mẹ hắn mất cũng không biết nơi nao mà nhắn tin!

Thế nhưng hôm nay hắn lại về, vào những ngày cuối năm và đang đứng trước mặt Tấn!

Bên bàn rượu, hai mái đầu không còn xanh như ngày cùng nhau ngồi chung ghế nhà trường, hồi cùng nhau vào rừng khai thác gỗ, chung chia khổ cực ở tuổi thành niên. Tóc cả hai giờ đã bạc nhiều!

Tấn ngồi nghe Phúc kể lại những tháng ngày hắn bỏ nơi này ra đi, vào Sài gòn sống cùng những kẻ không nhà. Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giử hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thưòng thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm.

May cho Phúc vì đêm nay có một người khách, thăm thân nhân nằm bệnh viên Chợ Rẫy, giữ anh lại để chở bà ta về sau khi thăm xong. Trở về chung cư, từ xa anh đã biết tin truy quét, anh quay lại đạp về Bình Triệu, nơi đây là nhà ga nên dễ dàng cho ai muốn lẩn tránh những cuộc kiểm tra hộ khẩu.

-Nhà cậu ở đâu?

Tiếng bà cụ bán nước hỏi, ý chừng đã khuya sao không thấy Phúc có ý ra về.

-Dạ con ở trên quận Tám, nhưng đạp xe vùng này, thỉnh thoảng mới về nhà. Mấy hôm ngủ lại bên Thanh Đa nhưng hôm nay kẹt kiểm tra hộ khẩu!

-Gần sáng rồi hay cậu cho xe vào đây, góc này, ngủ đi rồi mai tính. Tôi cũng vào ngủ một chút.

Bà cụ dẹp gọn mấy chiếc chế rồi cúi lưng lòn vào chái nhỏ, trên chiếc giường hẹp, đứa cháu ngoại ngáy say sưa, bà vén mùng nhìn vào rồi đưa tay xoa lên cái bụng bầu đã quá to, thở dài, nhẹ nhàng nắm xuống, trong lòng lo lắng nghỉ đến ngày sinh của nó!

Mười sáu tuổi, đang yên đang lành, hằng ngày bán gánh xôi trong nhà Ga lâu nay, mấy tháng trước, thấy cái nút áo chổ rốn không cài được bà mới tá hỏa, thì ra nó đã mang bầu bốn tháng. Hỏi thì nó khóc bảo là nó thương một thằng buôn gạo ở Tuy Hòa, ngủ với nó hai lần, hắn nói là sẽ đưa bà chị vào xin bà ngoại, đưa cả hai bà cháu ra ngoài ấy làm ăn, nhà hắn rất nhiều ruộng. Từ khi biết con bé có bầu, hắn còn đi buôn theo những chuyến tàu chợ, con bé cũng yên lòng. Nhưng mấy tháng nay rồi không thấy vào ra, đêm nào con bé cũng lang thang tìm ở Ga, trông từng chuyến tàu chợ. Cuối cùng, con bé hỏi đám con buôn Tuy Hòa mới biết là hắn tình nguyện đi nghĩa vu quân sự rồi!

Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc dời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyên dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!

Sau hôm ấy, Phúc ở lại cùng bà già, mái chái của bà vậy mà êm ấm, lại được bà lo cho những bữa ăn tươm tất, bà xem Phúc như con. Quen với những kẻ không nhà cửa, phần nhiều ăn nói tục tằn thô lỗ, thấy Phúc khác xa họ, bà mừng thầm trong lòng, dầu sao cũng có một người đàn ông giúp bà trong lúc này lúc nọ. nhất là ngày trở dạ tới đây của đứa cháu ngoại côi cút!

Phúc sửa lại mấy cái bao đồ đạc linh tinh, nhét gọn vào dưới ghế của chiếc xe đò rồi ngồi xuống bên bà Tư. hai cánh tay bà ôm gọn đứa cháu trai vừa sinh ba tháng nay, nó sẽ gọi bà bằng bà cố! Hình ảnh mẹ nó rên la rồi thét lên, trợn tròn hai mắt, tay chân buông thỏng trong cáí đêm trở dạ kinh hoàng đó làm bà rơi nước mắt. Đứa bé cất tiếng khóc khi vừa lọt ra ngoài cũng là lúc mẹ nó tắt thở.

Khi Phúc đạp cuốc xe cuối trở về thì con bé trở dạ rên rĩ, anh quên mình là đàn ông, chạy ra nơi đám đông người chờ tàu, hét loạn xạ: “Có ai biết đỡ đẻ không vào giúp cho cháu tôi với!”. “Cô ơi, dì ơi làm phúc…”

Một bà khá tuổi ăn mặc sạch sẽ đứng lên, tất tả theo Phúc về cái chái, con bé rên la đau đớn, Phúc chỉ cho người đàn bà vào rồi thấp thòm ở ngoài. Anh chạy vào sau tiếng thét cùng lúc với tiếng khóc. Bà Tư ôm cái xác nóng hổi của cháu ngoại, còn người đàn bà thì lau cho đứa bé nhăn nheo…

Phúc cùng bà Tư chôn con bé nơi một nghĩa địa ở Bình Phước. Bà Tư không còn bán linh tinh, suốt ngày ôm thằng bé đi xin sữa ngoài ga. 

Mấy ngày nay bà Tư buồn hơn, chiều lại, khi ăn cơm, bà vừa nựng đứa bé, nói với giọng nghèn nghẹn:

-Dì tính về dưới đó con ạ, dì già rồi, nó là con trai, ở trên này lớn lên dễ hoang tàng hư hỏng, dưới quê vậy mà không đến nỗi nào, có bà con chòm xóm…cháu cứ ở lại đây cho đến khi nào người ta đuổi…Hừm, băm mấy bốn chục năm về lại, ai còn ai mất mà cậy nhờ đây!

Phúc khó ngủ, lũ muỗi đâu đêm nay như kéo lại nhiều hơn, anh lững thững ra ga, tìm tới cái chiếu bán cà phê gọi một ly, ngồi xếp bằng trên chiếu, đốt thuốc nhìn vu vơ.

Phúc nghĩ tới bà Tư, sáu mươi mấy tuổi rồi, giờ về quê làm gì nuôi đứa cháu? Nó lớn lên với sông rạch miền Tây có khá hơn chốn này không nếu chẳng có ai chỉ bày cho nó, hay rồi cũng bỏ lên Sài Gòn, đi đâu đó lang thang!

Sương xuống lành lạnh nhưng sân ga vẫn bình thường với sinh hoạt ồn ào cố hữu, Phúc trở về, nằm lên chiếc xích lô, vẫn còn nghe tiếng thở dài của bà Tư. Anh thiếp đi với ý nghỉ: Cùng bà Tư về miền Tây, anh sẽ nuôi dạy thằng bé cho dù thể nào!

Lâu rồi, Tấn chỉ uống rượu cầm chừng, nhưng hôm nay anh uống thật tình cùng Phúc. Anh nhìn bạn, gương mặt Phúc ngồ ngộ, nhòe nhòe như qua một lớp gương:

-Mày không nghĩ dến bà già và em gái ngoài này à?

-Mấy năm sống vật vờ tao nhớ lắm, muốn quay về cùng mẹ và em,  nhưng cái đêm nằm nghe tiếng thở dài của dì Tư tao thấy thương cuộc đời cô quạnh của bà và thằng bé mới chào đời. Bà già và em gái thì xa, ngay bên minh đây cũng hai phận người một bà già một trẻ thơ. Thôi thì cũng một kiếp người mà tao phải đi qua, con đường nào cũng là đường, tao chấp nhận cưu mang. Giờ thì ổn rồi. nó cứ đòi về thăm quê nội, ừ thì cho nó về, sang năm nó ra trường, lo cho nó một chỗ làm, rồi vợ, rồi con…Trong cõi vô thường, cao to như cổ thụ, cũng đâu có khác gì đóa phù dung!

Như sực nhớ ra đều gì, Tấn hỏi Phúc:

-À mà sao hồi ấy mày ở tù? 

-Tao bán chiếc xe hơi nằm đống mấy năm trong sân phòng Văn Hóa cho tụi Chợ lớn, mua gạo chia cho anh em ăn tết!

-Mày vẫn thích gì làm đó?

-Ừ cái tính rồi, thấy thích thì làm, ít khi cân nhắc phân vân, không sao thay đổi, mà tao cũng chẳng nghĩ đến chuyện phải thay đổi. Thôi tao về kẻo thằng bé lo.

-Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hổi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!

-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?

-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.

-Ừ, cho mày kẹp.

Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông.

Trạch An Trần Hữu Hội

Sài Gòn, 18 tháng 1 năm 2015.

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 1 Nov 2025

3. Căn nhà tre

Trước hết là cây đèn dầu, nó có mặt đầu tiên trên chiếc bàn gỗ ọp ẹp sau khi tên du kích dọn dẹp phòng họp bỏ về. Ánh đèn chơi vơi, vàng vọt rọi lên mặt khung ảnh có hình bác Hồ cười. Mỗi khi cơn gió đêm lọt vào phòng qua những kẽ vách lá, ánh đèn dầu chập chờn, sáng tối, rọi những tia sáng mù mờ trên tấm ảnh chòng chành, và nó làm hình bác vừa có vẻ vô duyên, vừa có vẻ ma quái trên vách, bên trên lá cờ đỏ; lá cờ đỏ sao vàng như một đạo bùa của ông thầy pháp chuyên nghề bùa chú. Mà thiệt tình, nó ếm yểm rất là linh, những ai thuộc diện gia đình “ngụy” thấy nó và hình Bác đều muốn cấm khẩu, không dám mở lời phát biểu này nọ khi họp hành, nghe điều không lọt lỗ tai…

Ban ngày, mỗi khi cán bộ đảng nói điều gì có vẻ lạng quạng thì cứ điềm nhiên trịnh trọng phịa ra một câu nói mà đám dân nghèo không ai hiểu nổi, và hắn cho đó là lời bác dạy, thì y như rằng câu đó sẽ biến thành câu thần chú “bất khả xâm phạm” có khả năng làm câm họng mọi người.

Bác mà nói thì đố cha thằng nào dám cãi, đố có thằng nào dám nghi ngờ hạch hỏi vặn vẹo cán bộ về tài liệu, gốc tích, sách vở ghi lại lời bác. Cãi lại cán bộ là chống đối cách mạng, chống đối nhà nước, hỏi lại là không tin tưởng, là nghi ngờ; nghi ngờ lời cán bộ là chỉ dấu dẫn tới sự phản động có ý thức, và tiếp theo đó cũng là con đường dẫn vào trại tù như chơi. Chỉ có thằng nào ngu mới hỏi này nọ khi cán bộ lên lớp dạy đời. Bố nó, có lần nói về chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc, một cán bộ trên rừng về không biết đọc sách sử nào mà nó nói trước đám dân quê rằng thì là “Quang Trung tranh giành quyền lực nên đem quân đánh với Nguyễn Huệ, bà Trưng phải từ Thăng Long đem quân vào Phú Xuân can ngăn hòa giải.” mà có ai dám sửa lưng cán bộ đâu.

Cũng chính vì sợ bóng, sợ gió, sợ tai ương trên trời rơi xuống bất ngờ mà hình bác có phủ đầy bụi bậm, hay xiêu lệch gần đứt giây trên vách thì cũng chẳng ai dám đụng tới để lau chùi, sợ nó tới giờ xui, giờ trùng, sợi giây treo hình bác lộng kiếng đứt tuột xuống đất vỡ tan mặt mày bác thì tứ đại gia đinh sẽ thảm thương vì bị nghi ngờ có hành động phá hoại, khinh miệt bác Hồ…

Chiều tối, chỉ mới hơn 6 giờ, mấy con gà vừa lục đục vô chuồng thì đám cóc nhái quanh ruộng cũng đua nhau lên tiếng inh ỏi. Thế nhưng, phòng họp của xã cũng chả có ai, trừ hình bác lủng lẳng trên vách không có ý kiến; cả cái tên bí thư xã cũng kéo cái giờ giây thun cho nó giản dài ra vì bữa nhậu dang dở trong xóm còn nhiều thịt rượu. Hắn lè nhè:

– Kệ mẹ nó! Họp trễ thì bữa sau mình họp dài hơn!

Vì mới vào thời đại tiên tiến, tiến lên xã hội chủ nghĩa văn minh tiến bộ, nên dân trong xã ai cũng theo gương đồng chí bí thư mà chỉnh cái đồng hồ giây thun của mình cho nó co giản tùy theo mưa hay nắng, tùy theo xã có nhiều đám lễ lạc hay nhậu nhẹt. Khi bữa nhậu châm dứt, tên bí thư xã theo bờ ruộng lửng thửng tiến vào phòng họp, hắn chả thấy con ma nào có mặt, chữi thề mấy câu rồi tự tay xắn tay áo, lấy dùi giục kẽng. Mọi người lục đục ra khỏi nhà. Đó là lúc bà con làng xóm chỉnh đồng hồ thun giản theo nhu cầu hay quán tính của mấy ông đội hay xã.

Mấy cái đồng hồ cũ bà con treo tường hay đeo tay chỉ để làm kiểng trên cổ tay cho vui, chứ tiếng kẽng của hợp tác xã mới có ma lực hay hiệu lệnh kéo bà con đến phòng họp. Sau một ngày lao động mệt nhọc ngoài đồng ruộng, sau bữa cơm chiều đạm bạc, đám đông là tập họp những gương mặt mệt mõi, thờ ơ. Khi cán bộ xã thao thao nói về chủ trương của nhà nước thì dưới ánh sáng mờ mờ của cây đèn dầu lửa chỉ đủ sáng để thây gương mặt tên cán bộ, cùng lúc trong bóng tối sát vách lá, cũng có những gương mặt bơ phờ dựa vào vách lá ngủ vùi, và chỉ giật mình vỗ tay cùng đám đông khi phiên họp bế mạc.

Chị Ngọ là những người ngủ say nhất, và khi giật mình thức dậy, chị cũng là người vỗ tay to nhất; chị vỗ tay mà không biết gì hết. Chị về đến nhà thây thằng con vẫn còn ngủ trên võng, bên cạnh bộ ván, anh Ngọ còn nằm trùm chăn. Chị Ngọ sờ tay lên trán chồng, anh Ngọ vẫn còn sốt. Anh trở mình hỏi vợ:

– Bữa nay xã họp nói cái gì vậy?

– Họ nói lẩn quẩn cũng mấy cái chuyện giục mấy người có ruộng vào hợp tác xã, và bà con không ruộng đât thì làm công điểm, tính điểm lao động mà họ phát lúa. Sau đó tui mệt quá, ngủ cho đến lúc tan họp, thức dậy vỗ tay rồi theo bà con ra về. Mệt quá! Mấy ông cán bộ nói chuyện bác Hồ, chuyện chính sách gì đó, tôi biết gì đâu. Họ nói đi nói lại hoài. Chán chết!

Thiệt tình mà nói, những lời vàng ngọc nào mà dính tới cách mạng, tới Bác, tới đảng đều có vẻ thừa thãi, nó qua vành tai chị như cơn gió qua sừng con bò nhà chị, lắc đầu một cái là quên mất tiêu. Có lần, tên du kích xã thấy chị dựa vách ngủ say khi đồng chí xã trưởng đứng thuyết trình nói văng bọt mép, nó thúc báng súng vào đùi chị, chị giật mình thức dậy, dụi mắt rồi nghiêm chỉnh làm thinh nghe chính sách đảng và nhà nước, nhưng đâu cũng vào đó, chị thấy tai chị, ý chị nó không hạp với mấy ông nhà nước, chị có cảm tưởng chị nghe xong rồi nó cũng trốn đi đâu mất tiêu, về nhà, anh Ngọ có hỏi, chị lại cay cú:

– Anh lại hỏi! Đêm nào cũng họp, cũng hành, bực cái mình. Cũng một một điệu, một kiểu. Phải chi chú Ba nó ở Canada gửi về cho cái “cát sét” nhỏ bỏ túi thu lời mây chả nói chuyện một lần thì biết cả năm!

Thật ra, đối với gia đình chị Ngọ, và có lẽ cả cái xã của chị, học tập đường lối, chính sách đảng là thứ chán phèo, nghe qua rồi bỏ. Chỉ có những buổi họp tối ư quan trọng, nghe qua mà không bỏ được, bỏ được là đói cả nhà, đó là những buổi họp chia khoai và lúa công điểm lao động của hợp tác xã cuối mùa.

Tối nay thì cũng như tối nào, cũng những tên du kích đó, đội viên, đội trưởng hợp tác đó, cũng ba dùi kẽng đó, nhưng mọi người trong xã xách đèn ra sân đội với một không khí khác mọi ngày. Kẻ mang thúng, người mang bao, tập trung ở sân lúa đội hợp tác gần như không thiếu một ai, trừ anh Ngọ. Phần vì anh bị sốt rét nó hành yếu như sên, phần vì anh không thích chạm mặt mấy thằng gốc du kích từng chạm súng với đơn vị anh, có khi bỏ xác, có khi bị nạp chạy thục mạng vô rừng. Chúng nhớ thù xưa rất dai, dù anh đã trả nợ cho nhà nước cộng sản gần cả năm trời trong trại tù gọi là trại học tập Xóm Mía.

Dù vậy ban ngày anh vẫn cùng vợ vác cuốc ra đồng làm với anh em để kiếm công điểm kiếm gạo cho gia đinh, đồng thời cũng để tránh cán bộ dòm ngó, chụp mũ là thành phần lười lao động xã hội chủ nghĩa. Tội này đối với chế độ nặng lắm, đôi lúc nó còn bị cho là phản động.

Chị Ngọ thay mặt chồng ghi điểm của anh Ngọ, của chị và nhận sản phẩm theo công điểm cuối mùa mà đội chia cho toàn gia đình. Khi chị Ngọ và mấy người bạn ra đến sân đội thì đống lúa còn lại ban chiều sau khi xe nhà nước đến chở đi một số lúa nghĩa vụ đủ loại, song bây giờ nó có vẻ phồng lên một tí xíu. Bên cạnh đống lúa là đống khoai mì ngút đầu do phòng lương thực huyện cung cấp sau khi xã đã “hoàn thành tốt nhiệm vụ”, vượt chỉ tiêu nộp thuế nghĩa vụ cho nhà nước.

Kéo bạn ra một góc tối, chị Ngọ thì thầm vào tai người bạn thân nhất của chị, và cũng là người đàn bà được coi là “phản động” nhất đám mỗi khi muốn xổ những uất hờn vào chế độ.

– Chị Ngọ có thấy cái gì lạ không?

– Thì đống khoai mì nặng mùi hơn kỳ trước chứ gì!

– Đành vậy, nhưng tôi muốn nói đến đống lúa!

– Sao?

– Đống lúa đội mình có vẻ lớn hơn sau khi đoàn xe chở lúa của mấy thằng bộ đội đi rồi. Tôi thấy mà, lúc đó nó xẹp xuống, đâu có vun lớn như bây giờ!

– Thôi! Tôi biết rồi! Tiên sư cha chúng nó, nó đổ thêm lúa lép vào rồi! Cái mững này trên Thiện Giáo nó làm hoài!

– Tại sao lại có chuyện đó? Và tại sao Thiện Giáo lại nổ ra chuyện này trước?

– Thì có gì đâu! Thiện Giáo là vùng đa số dân có người nhà theo Việt cộng, và dân Thiện Giáo giờ sáng mắt và phản động hết biết! Cái quân lộn giống, nó bắt dân phơi lúa thật khô, giê lúa thật sạch mới giao nộp cho nhà nước gọi là thuế nông nghiệp, thuế nghĩa vụ quốc tế, thuế tình thương gì đó. Nó cắn từng hạt lúa, phải bể cái cụp nó mới nhận, còn không thì phải gánh về phơi và giê lại; nhưng đến khi nó chia lúa công điểm lao động, bà con gánh lúa về nhà coi lại thì ra nó trộn rất nhiều lúa lép. Đồ cái quân khôn nạn!

– Rồi mấy gia đinh cách mạng kinh niên đó phản ứng ra sao?

– Sao nữa! Dân Thiện Giáo có sợ chó gì đâu! Họ là “gia đình cách mạng” mà! Họ theo Việt cộng, họ chiến đấu, họ đổ máu, họ tật nguyền… nên họ không sợ nhà nước như chị và tui! Mùa màng, họ bỏ ruộng hay ra đồng làm tà tà rồi về làm đất nhà mình, tới ngày mùa lúa chín phải gặt, đội trưởng hợp tác đánh kẽng rã dùi, rã tay mà không tập trung đủ xã viên ra đồng gặt lúa. Lúa gặt trễ hay không kịp nên rụng đầy đồng. Tụi nó phải gom du kích và bộ đội gặt phụ, có khi cả cánh đồng lúa không người gặt rụng gần hết vì mưa hay lúa quá chín…

– Vậy các đội viên thuộc gia đinh cách mạng đó đi đâu?

– Làm hộc máu mà còn bị chia lúa trộn lúa lép thì ăn cái giải gì? Dân nó đâu có chịu thua; dựa vào mấy cái bằng liệt sĩ, bằng khen, huy chương kháng chiến, huy chương chống Mỹ… họ bỏ đội hợp tác, lên ga Ma Lâm đi buôn xe lửa để kiếm sống. Cứ lên xe lửa Sài Gòn – Phan Thiết – Nha Trang là gặp đủ mặt, dân có, du kích đó, bộ đội phục viên có. Họ buôn bán đủ thứ, gạo, đậu phọng, mực khô, cá khô… dễ ăn hơn ăn lúa lép. Một chuyến đi Sài Gòn trót lọt là hơn cả cày một mùa lúa công điểm thì tội gì mà không bỏ đội hợp tác đi buôn!

– Ở xã mình, nếu bị chia lúa lép, khoai sùng, khoai sượng thì liệu có ai dám bắt chước bà con Thiện Giáo hay không?

– Chắc là không! Xã mình đa số là dân “ngụy ngập”, tiểu tư sản và ít bằng liệt sĩ nhất nước, đi họp trễ còn bị xỉ vả, bị dọa cho đi cải tạo mút chỉ thì bỏ đội ai mà dám! Bỏ đội, nghe kẽng mà không đi họp là phản động, là chống chính sách nhà nước, là phá hoại nền kinh tế quốc gia, là tay sai “xê i a”, là đủ thứ. Tôi thấy xã mình chẳng ai dám bắt chước bà con Thiện Giáp đâu!

Giữa sân đội là một cái bàn gỗ với bốn ghế, hai ghế giữa dành cho an ninh xã và đội trưởng sản xuất, hai ghế hai bên dành cho thư ký đội và đại diện đội viên. Một cây đèn dầu đặt chính giữa đủ sáng cho tên thư ký đọc mấy con số.

Tiếng ồn ào của đám đông bỗng im bặt khi tên đội trưởng rời kiểu ngồi nước lụt trên ghế đứng lên đứng lên, tuyên bố khai mạc buổi chia lương thực cuối mùa tính theo công điểm lao động. Hắn nguyên là một tên chăn trâu ăn cắp vặt bị chủ đuổi, bỏ nhà theo “cách mạng”, còn sống sót trở về với một chân cà thọt.

Năm Cà Thọt, tức đồng chí đội trưởng có bí danh Chiêu Bình rất ư là con gái, nhưng hắn rất lỗ mãng, hằn học khi gặp anh đội viên Ngọ, vì không bao giờ hắn quên trận đụng độ với đơn vị anh Ngọ mà hậu quả là Chiêu Bình bị một viên đạn vào giò. Hắn thích người ta gọi hắn là đồng chí Chiêu Bình hay đội trưởng Chiêu Bình, ai lỡ gọi hắn là Chú Năm Cà Thọt là nhắc tới nỗi hận đau của hắn, nhắc tới một thời dĩ vãng chăn trâu của hắn, hắn sẽ cho là có ý xỏ hắn, hắn để ý cho vào sổ đen để khi cần thì có “biện pháp xử lý”. Hôm nay họp bình điểm, bị sốt rét hành, lết ra sân đội trễ, anh Ngọ bị Năm Cà Thọt chỉ mặt nói như tát nước:

– Ra đồng cũng trễ, đi họp cũng trễ, tác phong ngụy vẫn còn, lao động không năng nổ, không phấn khởi trong những công tác đột xuất trong địa phương ta là anh Ngọ. Anh Ngọ được trại trả về địa phương ta cả năm nay, nhưng tui không thấy anh tiến bộ chút nào. Anh là tên tiêu cực nhất tại xã ta!

Lời phát biểu của Năm Cà Thọt không chỉ nhắm riêng vào anh Ngọ, mà còn hàm ý nhắm vào một số thành phần khác. Mọi người trong phòng họp im phăng phắc. Anh Ngọ làm thinh, mặt nhìn lên, chạm mặt ông Hồ treo trên vách, anh giật mình, anh có cảm tưởng dường như ông Hồ nhìn anh và cười gằn. Anh không ngại chuyện Năm Cà Thọt dũa anh; anh bất cần, nhưng ngại đôi mắt ông Hồ, nó ám ảnh anh suốt buổi chia điểm nhận lúa.

Ngày hôm sau, các xã viên cũng tập trung trong sân đội như hôm qua. Mọi người đều biết hộ mình sẽ nhận bao nhiêu lúa cuối mùa. Lúc thư ký đội đọc điểm nhận lúa hợp tác của từng người, hộ anh Ngọ gồm điểm của anh và chị Ngọ cộng lại. Công điểm của anh bị trừ bớt do nhận xét bình bầu dưới ảnh hưởng của Năm Cà Thọt và các cán bộ nông nghiệp. Anh Ngọ nghĩ dù anh có lao động hộc máu thì anh cũng không lột bỏ được quá khứ, lý lịch anh. Anh không khiếu nại hay thắc mắc gì, tới đâu hay tới đó. Đất nước tan, đơn vị tan, đời anh cũng coi như tan tác dưới mầu cờ đỏ. Anh thả trôi định mệnh theo dòng đời. Anh như một thiền sư ngộ ra chân lý qua cuộc đời bồng bềnh của anh, và theo từng cơn sốt định kỳ sau thời gian tù trên rừng.

Đống lúa như một mõm núi vàng nằm giữa sân đội. Nó là thành quả, là công lao, mồ hôi nước mắt của bà con nông thôn suốt 6 tháng mùa lúa đầu. Lúa được giê sạch và phơi nắng cho thật khô, được du kích xã canh giữ ban đêm, nhưng thỉnh thoảng lúa vẫn bị mất, không biết do tụi du kích ăn cắp hay do dân đói lén mò móc lúa khi đám du kích ngủ say.

Sau khi bà con nhận phần lúa công điểm, giao con cho chồng ẳm, chị Ngọ nhận phần lúa của hộ chị, khệ nệ lôi hai bao lúa ra sân đội, anh Ngọ ẳm con thu mình trong một góc tối. Tên công an địa phương thấy chị lôi lúa nặng, hắn không tiếp tay giúp chị mà còn đến vỗ nhẹ vai chị, hất hàm hỏi:

– Anh Ngọ đâu?

– Ảnh bịnh, sốt rét hành yếu như sên kéo gì nổi hai bao lúa này!

Tên công an xỏ xiên:

– Bịnh gì bệnh hoài vậy? Sao thời ngụy hành quân đánh phá cách mạng thì khỏe như trâu, giờ này cách mạng thành công thì bịnh lên bịnh xuống?

– Trước khác, giờ khác! Trước có ai bắt ảnh giam tù hay làm lao động trên rừng, trên núi đâu! Ánh dìa mang theo bịnh sốt rét, ảnh bịnh sốt rét thời cách mạng mà! Anh biết không? Ông mà lên cơn sốt như ảnh thì anh có khiêng nổi bao lúa này không?

– Bộ chị tưởng ở xứ này chỉ có một mình chồng chị bị sốt rét hả? Mấy anh bộ đội vượt Trường Sơn hàng ngàn cây số, sốt lên sốt xuống mà còn tiến về Sài Gòn được, còn mấy cái sốt lẻ tẻ của anh Ngọ thì nhằm nhò gì! Tui nè! Hồi thời chống Mỹ, tôi bịnh gâp mấy lần chồng chị song tôi vẫn hoàn tất tốt công tác đảng giao phó. Tôi đâu có cái thứ bịnh kiểu giả đò, lười biếng như chồng chị!

Chị Ngọ nóng mặt, buông bao lúa xuống chân, nhìn thẳng mặt tên công an định phạng lại mấy câu phản động cho đỡ tức, song nghĩ lại hoàn cảnh mình nên chịu nhục. Chị tức, hai hàng nước mắt lăn xuống má. Chị cúi mặt nói lẩy:

– Phải mà! Anh thật anh hùng! Anh hùng đâu có sợ sốt rét! Sốt rét sợ loại anh hùng như anh mà! Mà anh hùng như anh sao cứ theo xỉa xói chồng tui? Chồng tui bệnh hoạn, trạm xá xã ai cũng biết mặt, chồng tui sa cơ thất thế mà!

Tên công an thấy hơi quê trước mặt mọi người, hắn thọc tay vào túi quần dợm bỏ đi thì anh Ngọ bước ra, ốm yếu, xanh như tàu lá. Anh nhìn tên công an khinh bỉ, không nói một lời, giao con cho vợ, anh nói lớn:

– Em giữ con! Anh vác bao lúa về nhà. Em ở lại đây giữ lúa, anh trở ra vác bao còn lại rồi về luôn! Người ta sốt rét vượt Trường Sơn được thì anh cũng vác lúa về nhà được, sốt rét là chuyện nhỏ!

Mọi người nghe anh Ngọ nói, biết anh tức. Anh đã nghe hết lời tên công an nói với vợ anh. Hắn bỏ đi luôn. Người lính cũ khom lưng bốc bao lúa lên vai thẳng lưng vác lúa về nhà rồi quay ra trở lại. Chị Ngọ ngạc nhiên gần như há hốc mồm nhìn chồng, và chính anh cũng ngạc nhiên không biết tại sao hôm nay anh lại khỏe như vậy.

Sau buổi cơm chiều, căn nhà tre của vợ chồng anh Ngọ bỗng như ấm cúng hơn, gió đêm vẫn chui qua vách lá, cây đèn dầu phả ánh sáng vàng vọt, lung linh trên vách. Anh ngồi uống ly trà, bảo vợ khóa chốt cửa. Anh tiếp:

– Khi chiều thằng công an xã chọc giận anh. Anh muốn ra sân tống cho nó một đạp, nhưng phải nhịn. Nó nói làm anh tức tràn hông, anh tự nhiên mạnh lên. Chắc nó cũng ngạc nhiên là làm sao anh lại vác nổi bao lúa gần 20 ký. Anh làm cho nó biêt mặt lính Cộng Hoà đâu phải lúc nào cũng chịu nhục! Em tháo giùm hình thằng chả xuống đêm nay cho anh!

– Hình thằng chả nào?

– Hình lão Hồ!

– Trời! Sao anh gan vậy?

– Không gan với mật gì cả! Tối nay anh nằm xuống ngủ, trước khi nhắm hai con mắt khỏi phải thấy gương mặt hắc ám của thằng chả! Đêm nay chắc anh sẽ ngủ ngon. Mai cho thằng chả lên vách trở lại để tụi nó khỏi kiếm chuyện! Phiền!

Chị Ngọ làm theo lời chồng, tháo hình ông Hồ bỏ xuống chân giường. Con Mực ngủ ngoài hiên hè giúp chị an tâm, không ai biết những gì vợ chồng chị thì thầm trong căn nhà tre ọp ẹp của vợ chồng chị. Chị cho con ngủ, tắt đèn nằm xuống cạnh chồng. Chưa bao giờ chị Ngọ cảm thấy căn nhà tre đêm nay lại hạnh phúc, lại êm ấm, lại trở thành “một mái nhà tranh hai quả tim vàng” trong bóng đêm lất phất mưa bay như hôm nay.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 31 Oct 2025

Bài 19

Vượt ngục ở Santa Marta

Mãi hai mươi tám ngày sau, nhờ sự can thiệp của một ông lãnh sự Bỉ ở Santa Marta tên là Klausen, tôi mới được ra khỏi cái hầm khủng khiếp kia. Người tù Da đen, tên là Palacios, đã được ra ba tuần sau khi tôi đến: anh ta đã có cái sáng kiến nhờ bà mẹ (khi bà ấy đến thăm) báo với lãnh sự Bỉ rằng có một người Bỉ bị giam trong hầm. Anh nảy ra cái ý đó vì có một ngày chủ nhật anh trông thấy một tù nhân người Bỉ được ông lãnh sự đến thăm. Vậy là một hôm họ dẫn tôi lên phòng giấy viên chỉ huy. Hắn nói với tôi:
– Anh là người Pháp, tại sao anh lại khiếu nại với lãnh sự Bỉ?
Trong phòng giấy có một ông mặc đồ trắng trạc năm mươi tuổi, mái tóc vàng nhạt gần như trắng ở phía trên một gương mặt tròn trĩnh, hồng hào và tươi tắn, đang ngồi trong chiếc ghế bành, một cái cặp da đặt trên đùi. Tôi hiểu ngay tình thế:
– Chính ông nói tôi là người Pháp chứ không phải tôi. Tôi công nhận là tôi đã vượt ngục từ một nhà tù Pháp, nhưng tôi là người Bỉ.
– À! ông thấy chưa – ông lãnh sự có bộ mặt cha xứ nói.
– Sao anh không nói từ trước?
– Tôi thiết tưởng điều đó không có gì quan trọng đối với các ông, vì thực tình tôi không hề có một hành dộng nào đáng coi là phạm pháp thực sự trên đất của các ông ngoài việc tôi bỏ trốn, một hành động bình thường đối với tất cả mọi tù nhân.
– Bueno, tôi sẽ để anh ở chung với các bạn anh. Nhưng thưa Senor Lãnh sự, tôi xin nói trước rằng hễ có âm mưu vượt ngục là tôi nhốt lại chỗ cũ. Các người đưa anh này ra chỗ cắt tóc rồi đưa vào phòng giam bọn đồng lõa.

– Cám ơn ngài lãnh sự – tôi nói bằng tiếng Pháp, cám ơn ngài rất nhiều đã chịu phiền đến đây vì tôi.
– Trời ơi! Anh đã phải khổ sở biết chừng nào trong những cái chuồng giam khủng khiếp ấy? Thôi anh đi ngay đi. Không thì nhỡ ra hắn lại đổi ý, cái thằng súc sinh ấy. Tôi sẽ trở lại thăm anh. Tạm biệt.
Người cắt tóc không có mặt ở đấy cho nên họ đưa tôi về phòng các bạn. Chắc trông mặt mũi tôi kỳ quặc lắm, vì họ cứ nói không ngớt:
– Có còn là cậu đâu nữa? Vô lý quá! Cái lũ khốn kiếp ấy đã làm gì cậu, đến nỗi cậu bây giờ như thế này? Cậu nói đi, nói với chúng mình một cái gì đi. Cậu có mù không? Mắt cậu làm sao thế? Sao lại mở ra nhắm vào lia lịa thế?
– Đó là vì tôi chưa quen được với thứ ánh sáng này. ở đây sáng quá, mắt tôi quen chỗ tối cho nên bị chói đấy thôi.
Tôi ngồi xuống và nhìn vào phía cuối phòng:
– Nhìn vào đây đỡ hơn.
Cậu sặc mùi đồ thối, không thể tưởng tượng được! Mình mẩy cậu cũng toàn mùi thối! Tôi đã cởi hết áo quần ra, và các bạn xếp nó vào cạnh cửa. Hai tay tôi, lưng tôi, hai ống chân tôi chi chít những vết đốt đo đỏ như vết rệp đốt ở nhà, và những vết cắn của đàn rết tí hon nổi trên mặt nước thủy triều. Tôi trông rất gớm ghiếc, và không cần gương soi, tôi cũng biết như vậy. Năm người tù khổ sai đã chứng kiến biết bao điều khủng khiếp mà lúc này cũng phải nghẹn ngào không nói được. Clousiot gọi một tên cảnh sát đến, nói rằng nếu không có người cắt tóc thì ngoài sân cũng có nước để tắm rửa chứ. Tên kia nói là phải đợi giờ đi dạo.

Tôi trần truồng bước ra sân. Clousiot cầm theo mấy thứ đồ sạch cho tôi thay. Được Maturette giúp một tay, tôi tắm đi tắm lại mấy lần bằng thứ xà bông đen nội địa. Tôi càng kỳ càng ra nhiều ghét. Cuối cùng sau nhiều lần sát xà-bông và dội nước, tôi cảm thấy mình đã sạch. Tôi phơi nắng trong năm phút thì khô, và mặc áo quần vào. Người cắt tóc đã đến. Anh ta định dùng tông-đơ cắt ngắn tóc tôi. Tôi nói:
– Không. Cắt bình thường thôi và cạo râu cho tôi. Tôi sẽ trả tiền.
– Bao nhiêu?
– Một peso.
– Cắt cho cẩn thận vào, – Clousiot, nói, – tôi sẽ cho anh hai pesos.
Khi đã tắm rửa sạch sẽ, tóc tai cắt gọn, râu ria cạo nhẵn, áo quần thơm tho, tôi cảm thấy như người chết đi sống lại. Các bạn tôi cứ hỏi tôi tới tấp:
– Thế nước lên đến đâu? Thế còn chuột cống? Lại còn đàn rết? Bùn thì sao? Lại còn lũ cứt nữa? Với lại cứt ở trong mấy cái xô nổi lên và các xác chết thì sao?
Đó là những người chết tự nhiên hay là những người treo cổ tự sát? Hay là những người bị bọn cảnh sát “tự tử cho chết”?
Những câu hỏi cứ kế tiếp nhau bất tận, và vì nói nhiều, tôi đâm khát nước. Ngoài sân nhà tù có một người bán cà-phê. Trong ba tiếng đồng hồ chúng tôi được đứng ngoài sân, tôi đã uống đến một chục chén cà- phê đặc pha “papelón” (đường vàng chưa lọc). Thứ cà- phê ấy tôi thấy là món uống ngon nhất trần gian. Anh Da đen trước giam ở chuồng đối diện có đến chào tôi. Anh khẽ kể cho tôi câu chuyện mẹ anh khiếu nại với ông lãnh sự Bỉ. Tôi siết chặt tay anh. Anh ta rất hãnh diện vì đã nghĩ ra cách giúp tôi. Anh tạm biệt tôi trong một tâm trạng hết sức vui sướng, nói rằng mai gặp lại sẽ nói chuyện thêm, còn hôm nay thế là đủ.
Tôi có cảm giác phòng giam các bạn tôi là một cung điện. Clousiot có một cái võng thuộc quyền sở hữu của anh, vì anh ta đã bỏ tiền ra mua được. Anh ta bắt tôi phải nằm cái võng ấy. Tôi nằm ngang lên võng. Anh ta rất lấy làm lạ, nhưng tôi giải thích cho anh ta hiểu rằng chỉ có những kẻ không biết nằm võng mới nằm dọc mà thôi
Ăn, uống, ngủ, đánh cờ, đánh bài bằng những con bài Tây Ban Nha, nói tiếng Tây Ban Nha với nhau và với bọn cảnh sát cũng như với các tù nhân Colombia để tập nói cho thạo: tất cả những hoạt động ấy giúp cho chúng tôi qua được ngày và cả một phần đêm nữa. 
Đi nằm từ chín giờ tối là rất khổ. Lúc bấy giờ những chi tiết về cuộc vượt ngục từ bệnh viện Saint-Laurent cho đến Santa Marta thi nhau hiện ra từng mớ, nó diễu qua mắt tôi và đòi một sự tiếp tục. Cuốn phim không thể dừng lại ở đấy, nó phải được chiếu tiếp, nó sẽ còn tiếp anh bạn ạ. Hãy để cho tôi lại sức, rồi anh có thể biết chắc là sẽ còn nhiều diễn biến mới nữa, anh cứ tin tôi! Tôi đã tìm lại được hai mũi tên nhỏ và hai cái lá coca, một đã khô hẳn, một hãy còn hơi xanh. Tôi nhai cái lá xanh. Cả bọn nhìn tôi sửng sốt. Tôi giảng giải cho các bạn biết rằng đó là thứ lá mà người ta dùng để làm thuốc phiện trắng (cocaine).
– Cậu đùa đấy chứ?
– Thử nếm mà xem.
– Ừ, mà thật, nó làm cho lưỡi và môi mất cảm giác.
– Ở đây có bán à?
– Không biết. Clousiot này, cậu làm thế nào mà thỉnh thoảng lại thấy có tiền thế.

-Mình đã đổi tiền ở Rio Hacha, và từ đấy bao giờ mình cũng có tiền để tiêu trước mặt mọi người. Còn tôi, – tôi nói, – tôi có ba mươi sáu đồng tiền vàng ăn một trăm pesos, hiện viên chỉ huy đang giữ, giá trị hiện nay của mỗi đồng là ba trăm pesos. Đến một ngày nào đấy tôi sẽ nêu vấn đề này lên. Bọn chúng nó toàn là bọn chết đói, cậu nên mặc cả với hắn thì hơn.
– Cũng là một ý hay.
Hôm chủ nhật tôi có nói chuyện với ông lãnh sự Bỉ và người tù Bỉ. Người tù này mang tội thất tín đối với một công ty trồng chuối Mỹ. Ông lãnh sự đã chấp nhận yêu cầu của tôi nhờ ông che chở cho cả bọn chúng tôi ông ta đã hợp thức hóa một tờ khai trong đó tôi ghi là ra đời ở Bruxelles trong một gia đình người Bỉ.
Tôi có kể cho ông ta nghe chuyện mấy bà xơ và cái túi ngọc trai. Nhưng ông ta là người theo đạo tin lành, không hề quen các bà xơ và các ông linh mục. Ông chỉ hơi quen đức giám mục một chút mà thôi. Về món tiền vàng thì ông khuyên tôi đừng đòi. Việc đó quá nguy hiểm. Khi được chuyển đến Branquilla, phải cho ông biết trước hai mươi bốn tiếng đồng hồ, và lúc bấy giờ “ông có thể đòi số tiền đó trước mặt tôi, – ông lãnh sự nói như vậy, – vì nếu tôi không hiểu lầm thì có những nhân chứng biết việc này”.
– Vâng.
-Nhưng bây giờ ông đừng đòi gì hết, viên chỉ huy rất có thể lại nhốt ông vào mấy cái chuồng khủng khiếp ấy và có lẽ thậm chí còn có thể sai chúng nó giết ông.
– Mấy chục đồng tiền vàng ấy quả là một gia sản. Giá trị hiện nay của mỗi đồng không phải là ba trăm pesos như ông tưởng đâu, mà là năm trăm năm mươi pesos. Vậy thì đó là một món tiền lớn. Không nên cám dổ quỷ. Còn về mấy hạt ngọc trai thì đó là chuyện khác. Ông cứ để cho tôi có thì giờ suy nghĩ.
Tôi hỏi anh tù Da đen xem thử anh có muốn vượt ngục với tôi không, và theo anh nên hành động như thế nào. Da mặt anh ta xám hắn đi khi nghe nói chuyện vượt ngục.
– Tôi van anh, anh bạn ạ. Anh đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Nếu bại lộ, anh sẽ phải nhận lấy một cái chết dần dà khủng khiếp nhất. Anh đã được nếm qua rồi đấy. Anh phải đợi đến Baranquilla đã. Còn ở đây thì làm như thế chẳng khác nào tự sát. Anh muốn chết lắm à? Nếu không, anh hãy ngồi yên. Trong cả xứ Colombia này không có một nơi nào có thứ chuồng giam như anh đã từng biết đâu. Vậy thì việc gì phải lĩnh ở đây?
– Phải nhưng ở đây tường không cao, chắc tương đối dễ.
– Hombre, facil o no, anh đừng trông mong gì vào tôi Tôi không đi mà cũng không giúp anh đâu. Thậm chí tôi không thể nghe anh nói chuyện này nữa đâu. 
Cuối cùng anh ta bỏ đi, vẻ hết sức sợ hãi, sau khi nói: “Francés, anh không phải là một người bình thường, anh phải là người điên loạn mới có thể nghĩ đến những chuyện như thế ở đây, ở Santa Marta”.
Sáng nào và trưa nào tôi cũng nhìn các tù nhân Colombia bị giam ở đây vì những tội nặng. Họ đều có những bộ mặt sát nhân, nhưng có thể cảm thấy họ đã chịu khuất phục. Nỗi kinh hoàng bị giam xuống những cái chuồng kia đã làm cho họ hoàn toàn tê liệt về mọi phương diện. Cách đây bốn năm hôm chúng tôi đã thấy người ta đưa từ dưới hầm lên một người cao lớn hơn tôi đến một cái đầu, được gọi là “El Caiman” (Cá sấu). Anh ta nổi tiếng là một người hết sức nguy hiểm. Tôi nói chuyện với anh ta, rồi sau ba bốn lần cùng đi dạo, tôi nói:
– Caimán, quieres fugarte con mi go? (Anh có muốn vượt ngục với tôi không?)
Anh ta nhìn tôi như thể nhìn quỷ Sa tan, và nói:
– Để lại bị giam xuống đấy nếu thất bại? Không đâu, xin cảm ơn. Tôi thà giết mẹ tôi còn hơn trở về đấy
Đó là thí nghiệm cuối cùng của tôi. Không bao giờ tôi nói với ai về việc vượt ngục nữa.
Chiều hôm ấy tôi thấy viên chỉ huy nhà tù đi qua.
Hắn dừng lại nhìn tôi rồi nói:
– Thế nào, ổn chứ?
– Ổn, nhưng sẽ còn ổn hơn nếu tôi có mấy đồng tiền vàng của tôi.
– Tại sao?
– Tại vì tôi sẽ có tiền thuê trạng sư.
– Vào đây
Hắn đưa tôi vào phòng giấy. ở đây chỉ có hắn và tôi. Hắn đưa cho tôi một điếu xì gà – tình hình khá đây – châm lửa cho tôi – mỗi lúc một khá hơn.
– Anh có biết tiếng Tây Ban Nha đủ để hiểu và trả lời cho rõ nếu chúng ta nói với nhau rất chậm không?
– Có
– Tốt. Anh vừa nói là anh muốn bán hai mươi sáu đồng tiền vàng của anh.
– Không, ba mươi sáu đồng tiền vàng của tôi.
– À phải, phải? Và dùng để thuê trạng sư phải không? Nhưng chỉ có anh và tôi biết là anh có mấy đồng ấy.
– Không, còn có viên trung sĩ và năm người đi bắt tôi, ngoài ra còn có viên phó chi huy đã nhận món tiền ấy trước khi trao lại cho ông. Rồi lại có ông lãnh sự nước tôi nữa.
– À! à! Bueno. Đã nhiều người biết như thế thì càng tốt, vì như thế ta sẽ hành động một cách quang minh chính đại. Anh có biết không, tôi đã giúp anh một việc rất lớn. Tôi đã ỉm đi, không chuyển phiếu điều tra cho các lực lượng cảnh sát của các nước anh đã đi qua để biết rõ họ có hồ sơ gì về một vụ trộm tiền vàng hay không.
– Lẽ ra ông phải làm việc đó mới đúng.
– Không, không làm thì có lợi cho anh hơn.
– Xin cám ơn ông chỉ huy.
– Anh muốn tôi đem bán hộ anh à?
– Giá bao nhiêu?
– Thì cái giá mà anh nói là người ta đã trả cho anh lần anh bán ba đồng ấy: ba trăm pesos. Anh sẽ cho tôi ăn hoa hồng mỗi đồng một trăm pesos để đền đáp cái công của tôi đã giúp anh. Anh thấy thế nào?
– Không. Anh trả cho tôi từng mười đồng một và tôi sẽ cho anh không phải là một trăm mà là hai trăm pesos mỗi đồng. Việc mà anh đã làm cho tôi đáng được trả công như thế.
– Francés, anh quá tinh ma. Tôi thì chỉ là một anh sĩ quan Colombia hèn mọn, quá tin người và hơi ngốc nghếch, còn anh là người thông minh, và như tôi đã nói, quá tinh ma.
– Vậy anh có đề nghị gì phải chăng hơn không?
– Ngày mai tôi sẽ gọi người mua đến đây, trong phòng giấy này. Hắn sẽ xem mấy đồng tiền vàng, sẽ trả giá, sau đó được bao nhiêu ta chia đều. Một là thế hai là không có gì hết. Tôi gửi anh đi Baranquilla, kèm theo món tiền, hoặc tôi giữ nó lại để điều tra.
– Không, đây là đề nghị cuối cùng của tôi: người ấy sẽ đến đây xem, rồi toàn bộ số dư trên ba trăm năm mươi pesos mỗi đồng tiền vàng sẽ là của anh.
– Esta biên (Được rồi), tu tienes mi palabra (anh có thể tin ở lời hứa của tôi). Nhưng một số tiền lớn như thế, anh cất vào đâu?
-Khi nhận tiền, anh sẽ mời ông lãnh sự Bỉ đến. Tôi sẽ đưa tiền cho ông ta để thuê trạng sư.
– Không, tôi không muốn có nhân chứng.
– Anh không có gì phải lo, tôi sẽ ký giấy xác nhận rằng anh đã trả cho tôi đủ ba mươi sáu đồng tiền vàng. Anh cứ nhận đi, và nếu anh xử sự đứng đắn với tôi, tôi sẽ bàn với anh một việc khác.
– Việc gì?
– Anh cứ tin tôi. Việc này cũng hời như việc kia, và trong việc thứ hai ta sẽ chia đều
– Cual es? (Cái gì đấy?) Anh nói đi.
– Mai anh làm nhanh đi, rồi đến năm giờ chiều, khi tiền của tôi đã được an toàn trong tay ông lãnh sự của tôi, tôi sẽ nói cho anh biết việc kia.
Cuộc thương lượng đã diễn ra khá lâu. Khi tôi hài lòng trở ra sân, các bạn tôi đã về phòng giam.
– Thế nào, ông việc ra sao?
Tôi kể cho họ nghe hết cuộc nói chuyện vừa qua các bạn lăn ra cười, tuy tình cảnh họ chẳng có gì đáng lấy làm vui.
– Cái thằng cha ấy cáo thật! Nhưng cậu đã át giọng hẳn. Cậu có tin là hắn sẽ thực hiện đúng như thế không? Tôi cuộc một trăm pesos lấy hai trăm là hắn chịu rồi. Có ai đám cuộc với tôi không?
– Không, tôi cũng nghĩ là hắn sẽ chịu.
Suốt đêm hôm ấy tôi suy nghĩ. Vụ thứ nhất thì thế là xong. Vụ thứ hai cũng sẽ xong thôi, vì hắn sẽ mừng rơn lên khi được đi lấy túi ngọc trai. Còn lại vụ thứ ba. Vụ thứ ba… là tôi định đút cho hắn tất cả số tiền tôi thu lại được để hắn làm ngơ cho tôi lấy trộm một chiếc thuyền trong cảng. Chiếc thuyền này tôi có thể mua bằng số tiền tôi còn giữ lại trong plan: Để xem hắn có cưỡng nổi sự cám dỗ hay không. Tôi mất gì mà sợ? Sau hai vụ thứ nhất hắn không còn dám trừng phạt tôi nữa. Sau sẽ biết. Đừng bán da gấu, v.v… Việc gì phải đợi khi đến Baranquilla? Thành phố lớn hơn thì nhà tù cũng vừng chắc hơn, được giám sát kỹ hơn và tường cao hơn. Tôi phải quay về sống với Lali và Zoraiam: tôi sẽ vượt ngục thật nhanh, về đấy đợi mấy năm, rồi sẽ đi vào vùng núi với cái bộ lạc nuôi bò, và sẽ bắt mối liên hệ với người Venezuela. Bằng bất cứ giá nào tôi cũng phải thành công trong chuyến vượt ngục này. Suốt đêm tôi nằm suy nghĩ đường đi nước bước để thực hiện vụ thứ ba.
Hôm sau, công việc được tiến hành khá chóng vánh. Vào lúc chín giờ sáng họ đến gọi tôi ra gặp ông khách đang đợi tôi ở phòng giấy viên chỉ huy. Khi tôi đến, tên cảnh sát đã đi gọi tôi đứng ngoài, để một mình tôi vào. Trước mặt tôi là một người đàn ông trạc sáu mươi tuổi mặc đồ màu xám nhạt, thắt ca-vát xám. Trên bàn đặt một chiếc mũ dạ màu xám rộng vành kiểu như mũ cao bồi. Một viên ngọc trai lớn màu xám lẫn màu xanh bạc nổi bật lên trong một thứ khung cài trên ca-vát. Người đàn ông gầy gò và khô đét này không phải không có một vẻ trang nhã nhất định.
– Chào ông.
– Ông có nói được tiếng Pháp không?
– Thưa ông có, tôi vốn là người Liban. Được biết ông có những đồng tiền vàng một trăm pesos, tôi rất quan tâm. Với giá năm trăm pesos mỗi đồng, ông có nhượng lại được không?
Không, sáu trăm năm mươi pesos.
– Như vậy là ông không biết giá rồi? Giá tối đa bây giờ là năm trăm năm mươi pesos. 
– Ông ạ, vì ông lấy hết nên tôi xin nhượng lại với giá sáu trăm.
– Không, năm trăm năm mươi.
Cuối cùng hai bên ngã giá là năm trăm tám mươi pesos. Thế là việc mua bán đã xong xuôi.
– Qué han dicho? (Anh vừa nói gì thế?)
– Chúng tôi đã ngã giá năm trăm tám mươi. Chiều nay sẽ giao hàng.
Ông khách ra về. Viên chỉ huy đứng dậy nói với tôi:
– Rất tốt, thế thì tôi được bao nhiêu?
– Hai trăm năm mươi pesos mỗi đồng. Ông thấy không, tôi cho ông một số tiền gấp hai lần rưỡi cái số mà ông yêu cầu, tức một trăm pesos mỗi đồng.
Hắn mỉm cười rồi nói: “Thế còn việc kia?”
– Trước hết ông lãnh sự chiều nay phải có mặt để tôi trao tiền. Sau khi ông ấy ra về tôi sẽ nói cho anh biết việc thứ hai.
– Thế thì có một việc nữa thật à?
– Anh có thể tin tôi.
– Biên, ojalá (thật đấy nhé).
Đến hai giờ, ông lãnh sự và người đàn ông Liban đã có mặt. Người này đưa cho tôi hai mươi ngàn tám pesos. Tôi trao mười hai ngàn sáu trăm cho ông lãnh sự và năm ngàn hai trăm tám mươi cho viên chỉ huy. Tôi ký cho viên chỉ huy một tờ biên lai nói là đã nhận đủ ba mươi sáu đồng tiền vàng một trăm pesos. Khi chỉ còn lại viên chỉ huy trong phòng giấy, tôi kể cho hắn nghe câu chuyện giữa tôi và bà Mẹ Bề trên.
– Bao nhiêu hạt ngọc?
– Năm sáu trăm gì đấy.
– Cái bà Mẹ Bề trên ấy là một mụ ăn cắp. Lẽ ra mụ ta phải đem trả cho anh lúc anh bị bắt, hay là gửi đến đây cho anh, nếu không thì nộp cho cảnh sát. Tôi sẽ tố giác mụ ta.
– Không, anh sẽ đến gặp bà ta và trao cho bà ta một bức thư, anh sẽ yêu cầu bà ta mời cô nữ tu sĩ người Ái Nhĩ Lan đến.
– Tôi hiểu: cô này sẽ đọc bức thư viết bằng tiếng Pháp của anh và dịch ra cho mụ ấy nghe. Được, tôi đi đây.
– Hãy đợi tôi viết bức thư đã.
– À, ừ nhỉ? José, chuẩn bị xe và hai cảnh sát viên – Hắn gọi qua cánh cửa hé mở.
Tôi ngồi vào bàn giấy viên chỉ huy, và trên một tờ giấy có ăng-tét của nhà tù, tôi viết bức thư sau đây: 
“Kính gởi bà Bề trên của tu viện”, nhờ vị nữ tu sĩ ái Nhĩ Lan tốt bụng và đầy tình nhân ái chuyển giúp.
Khi chúa đã dẫn dắt tôi đến nhà bà, nơi tôi tưởng sẽ nhận được sự giúp đỡ mà theo luật Cơ đốc giáo bất cứ ai đang bị truy nã lùng bắt đều có quyền được hưởng, tôi đã trao gửi bà một túi ngọc trai thuộc quyền sở hữu của tôi để bà có cơ sở để tin rằng tôi sẽ không lén lút ra đi khỏi ngôi nhà mà Chúa đã giao cho bà cai quản. Một kẻ ti tiện nào đó đã nghĩ rằng bổn phận của hắn và tố giác tôi với cảnh sát, và họ đã nhanh chóng đến bắt tôi ngay dưới mái nhà bà. Tôi hy vọng rằng cái linh hồn đê tiện đã có hành động này không phải là linh hồn của một trong những người con gái của Chúa đang tu tại viện của bà. Tôi không thể nói với bà rằng tôi tha thứ cho cái linh hồn thối nát ấy, vì nói như vậy không đúng sự thật. Ngược lại, tôi sẽ thiết tha xin Chúa hoặc một trong các vị thánh của Chúa trừng phạt không thương tiếc kẻ đã phạm một tội lỗi quái đản như vậy. Thưa bà Bề trên, tôi xin bà trao lại cho ông chỉ huy Cesario cái túi ngọc trai mà tôi đã gửi bà giữ hộ. Ông ấy sẽ đưa lại cho tôi một cách trung thực, tôi tin chắc như vậy. Bức thư này có giá trị như một tờ biên lai. Kính xin bà nhận ở đây, v.v…”
Vì tu viện cách Santa Marta có tám cây số, nên chỉ một tiếng rười sau là xe đã trở về. Viên chỉ huy nhà tù cho gọi tôi.
– Xong. Anh đếm thử xem có thiếu không.
Tôi đếm. Không phải để biết là thiếu viên nào không vì tôi không hề biết trong túi có bao nhiêu viên, mà để biết hiện nay có bao nhiêu viên trong tay gã ma-cô này: có cả thảy năm trăm bảy mươi hai viên.
– Đúng cái túi này chứ?
– Đúng.
– No falta? (không thiếu chứ?)
– Không. Bây giờ anh kể đi.
– Khi tôi đến tu viện, bà Mẹ Bề trên đang ở trong sân. Hai viên cảnh sát cùng đi đã đứng nghiêm hai bên, tôi nói: “Thưa bà, vì một việc rất hệ trọng mà chắc bà có thể đoán được, tôi cần nói chuyện với vị nữ tu sĩ người Ái Nhĩ Lan trước mặt bà”.
– Rồi sao nữa?
– Cô nữ tu sĩ run run trong khi đọc bức thư cho bà Bề trên nghe. Bà này không nói gì cả. Chỉ cúi đầu xuống, rồi lên mở ngăn kéo bàn giấy ra lấy túi ngọc và nói với tôi: “Đây, cái túi ngọc trai vẫn y nguyên. Xin chúa tha thứ cho kẻ đã phạm một tội ác như vậy đối với người ấy. Xin ông nói lại với người ấy rằng chúng tôi đang cầu nguyện cho anh ta”. Thế đấy, Hombre – Viên chỉ huy kết thúc, mặt mày rạng rỡ. Bao giờ thì có thể bán chỗ ngọc này?
– Mãnana (mai).
– Tôi sẽ không hỏi anh những viên ngọc này ở đâu ra, tôi biết anh là một matador nguy hiểm, nhưng bây giờ tôi cũng biết anh là một người trung thực và có danh dự. Anh hãy cầm lấy súc giăm- bông, chai rượu này và mấy ổ bánh mì Pháp này nữa, để cùng với các bạn ăn mừng cái ngày đáng ghi nhớ này. 
– Chào anh. 
Thế là tôi đem về trại giam một chai rượu Chianti hai lít, một súc giăm-bông hun khói gần ba ký lô và bốn ổ bánh mì dài của Pháp. Quả là một bữa tiệc ngày hội. Giăm-bông, bánh mì và rượu vơi đi rất nhanh. Ai nấy đều ăn uống hết sức ngon lành.
– Cậu có tin là một ông trạng sư sẽ có thể làm được cho chúng mình một cái gì không?
Tôi bật cười. Tội nghiệp, đến như họ mà cũng tin vào cái chuyện trạng sư này!
– Tôi không biết. Cần phải nghiên cứu và hỏi ý kiến trước khi trả tiền.
– Tốt hơn cả là chỉ trả tiền trong trường hợp có kết quả. – Clousiot nói.
– Đúng đấy, phải tìm một ông luật sư nào chấp nhận điều kiện ấy.
Tôi không nói chuyện này nữa. Tôi hơi xấu hổ. Hôm sau, cái ông người Liban lại đến: “Việc này phức tạp lắm, – ông ta nói. – Trước hết phải phân loại ngọc theo kích thước, rồi theo màu sắc, rồi theo hình dáng, xem thử ngọc tròn hay có hình dáng không đều.
Nói tóm lại, không những việc này phức tạp, mà ngoài ra người Liban còn nói rằng ông ta phải tìm một người mua thông thạo hơn ông. Trong bốn ngày công việc đã xong. Ông ta trả ba mươi ngàn pesos. Vào lúc chót tôi đã lấy ra một viên ngọc màu hồng và hai viên màu đen để tặng bà vợ ông lãnh sự Bỉ. Đúng như những thương gia lành nghề, họ nhân dịp nói với tôi rằng riêng ba viên ngọc ấy đã trị giá năm ngàn pesos rồi. Nhưng tôi vẫn lấy về.
Ông lãnh sự Bỉ làm khó dễ mãi rồi mới chịu nhận ba viên ngọc. Ông sẽ giữ số tiền mươi lăm ngàn pesos. Vậy là bây giờ tôi có cả thảy hai mươi bảy ngàn pesos.
Cần phải hoàn thành tốt đẹp việc thứ ba.
Tôi cần phải làm thế nào để thực hiện việc này đây? ở Colombia một người thợ giỏi được trả công từ tám đến mười pesos mỗi ngày. Vậy hai mươi bảy ngàn pesos là một món tiền lớn. Tôi phải tranh thủ thời cơ. Viên chỉ huy đã lĩnh hai mươi ba ngàn pesos. Thêm hai mươi bảy ngàn nữa hẳn sẽ có được năm mươi ngàn pesos.
– Ông chỉ huy này, nếu làm nghề buôn bán, cần phải có bao nhiêu vốn mới có được một mức sống cao hơn mức sống của ông?
-Muốn buôn bán khá giả thì phải có một số vốn từ bốn mươi lăm đến sáu mươi ngàn pesos.
– Số vốn này đẻ được bao nhiêu lãi? Có được gấp ba lần tiền lương của ông không? Hay bốn lần?
– Nhiều hơn. Phải năm sáu lần số tiền tôi được hưởng.
– Thế tại sao ông không chuyển sang làm nghề buôn bán?
– Vì tôi chỉ có được một nửa số vốn cần thiết.
– Ông chỉ huy ạ, tôi có một việc thứ ba muốn bàn với ông.
– Thôi anh đừng đùa.
– Không, tôi không đùa đâu. Anh có muốn lấy số hai mươi bảy ngàn pesos của tôi không? Nó sẽ là của anh khi nào anh muốn.
– Bằng cách nào?
– Anh để cho tôi đi.
– Francés này, tôi biết anh không tin tôi. Trước đây có lẽ anh có lý. Nhưng bây giờ, khi tôi đã nhờ anh mà thoát khỏi cảnh bần cùng, có thể mua một cái nhà và cho con đi học trường tư, thì anh phải biết rằng tôi là bạn của anh. Tôi không muốn ăn gian của anh mà cũng không muốn người ta giết chết anh: ở đây tôi không thể làm gì cho anh được, dù anh có biếu tôi cả gia tài. Tôi không có cách gì giúp anh vượt ngục với ít nhiều hy vọng thành công đâu.
– Thế nếu tôi chứng minh được cho anh thấy là có cách thì sao?
– Thì ta sẽ xem, nhưng anh phải nghĩ cho kỹ đi đã
– Anh có quen ai làm nghề đánh cá không?

– Có.
– Người đó có thể đưa tôi ra biển và bán thuyền cho tôi không? – Tôi không biết.
– Thuyền của anh ta giá chừng bao nhiêu?
– Hai ngàn pesos.
– Nếu tôi cho người ấy bảy ngàn và cho anh hai mươi ngàn, thì như thế đã được chưa?
– Francés ạ, với tôi thì mười ngàn là đủ, anh phải giữ lấy ít nhiều mà dùng chứ.
– Anh thu xếp mọi việc đi.
– Anh sẽ đi một mình à?
– Không.
– Mấy người?
– Ba người cả thảy.
– Để tôi thử nói chuyện với anh bạn đánh cá đã.
Tôi rất kinh ngạc trước sự thay đổi thái độ của gã này đối với tôi. Với cái mặt sát nhân của hắn, hắn che giấu ở đáy lòng những tình cảm khá tốt đẹp.
Ra sân, tôi đã nói chuyện với Clousiot và Maturette họ nói với tôi rằng tôi thích thế nào thì cứ thế mà làm, họ sẵn sàng theo tôi. Tôi rất xúc động và hài lòng khi thấy họ giao phó tính mạng của họ vào tay tôi như vậy. Tôi sẽ không phụ lòng tin của họ, tôi sẽ thận trọng đến cùng cực, vì tôi đã lĩnh lấy một trách nhiệm lớn lao. Nhưng tôi phải nói cho ba bạn kia biết. Lúc bấy giờ đã gần chín giờ tối. Chúng tôi vừa đánh xong một ván domino. Đây là thì giờ cuối cùng trong ngày mà chúng tôi có được để uống cà~phê. Tôi gọi: “Cafe-tero!” Rồi chúng tôi bắt đầu ngồi uống sáu chén cà-phê nóng. 
– Tôi cần nói chuyện với các bạn. Đây. Tôi nghĩ là bây giờ tôi đã có thể lên đường vượt ngục. Tiếc thay, chỉ đi được ba người thôi. Lẽ tự nhiên là tôi phải đi với Clousiot và Maturette là hai người đã cùng vượt ngục với tôi từ đầu. Nếu một trong các bạn thấy có điều gì chưa thông, bạn đó hãy nói thẳng ra, tôi sẽ lắng nghe.
– Không, – anh chàng người Bretagne nói, – làm như vậy là đúng về mọi phương diện. Trước hết vì các anh đã cùng ra khỏi trại khổ sai với nhau. Thứ đến, sở dĩ các anh lâm vào tình cảnh này chính là tại chúng tôi đã muốn đổ bộ xuống Colombia, Papillon ạ, dù sao cũng cảm ơn anh đã hỏi ý kiến chúng tôi. Nhưng anh hoàn toàn có quyền làm như thế. Chúng tôi cầu mong Chúa giúp các anh thành công, vì nếu các anh bị bắt thì chắc mười phần là phải chết trong những điều kiện hết sức kinh khủng.
– Chúng tôi biết, – Clousiot và Maturette cùng nói một lúc. 
Chiều hôm sau viên chỉ huy nói chuyện với tôi rằng bạn hắn bằng lòng. Hắn hỏi tôi xem chúng tôi cần chở theo những gì trên thuyền.
– Một thùng năm mươi lít nước ngọt, hai mươi kí-lô bột ngô và sáu lít dầu. Chỉ thế thôi.
– Carajo! – Viên chỉ huy kêu lên. – Ra biển mà chỉ đem theo ngần ấy thôi?
– Thế thôi.
– Anh thật cừ khôi, Francés ạ.
Thế là xong cả. Hắn đã quyết tâm làm vụ thứ ba.
Hắn lạnh lùng nói thêm:
– Anh có tin hay không thì tùy, nhưng tôi làm việc này cho các con tôi và sau đó là cho anh. Một người gan gốc như anh xứng đáng được giúp như vậy.

Tôi biết rằng hắn nói thật. Tôi cảm ơn hắn.
– Anh sẽ làm thế nào để người ta đừng thấy rõ quá là tôi đồng lòng để cho anh trốn?
Anh sẽ không bị liên lụy đâu. Tôi sẽ đi vào ban đêm, lúc đã sang phiên gác của viên phó chỉ huy.
– Kế hoạch của anh như thế nào?.
Ngày mai anh bắt đầu bớt một viên cảnh sát trong đội gác đêm. Ba ngày sau anh bớt thêm một đứa nữa. Khi chỉ còn một đứa gác, anh cho dựng một cái chòi canh đối diện với cửa phòng giam. Đến đêm mưa đầu tiên, tên lính gác sẽ vào trú mưa trong chòi canh và tôi sẽ nhảy ra cái cửa sổ phía sau. Về hệ thống đèn xung quanh tường, anh phải tìm cách tự mình làm cháy cầu chì. Đó là việc duy nhất tôi yêu cầu anh phải tự làm. Anh có thể làm cháy cầu chì bằng cách ném một sợi dây đồng dài một mét, hai đầu buộc hai hòn đá, quăng lên hai sợi dây điện đi từ cột điện đến dãy đèn mắc ở phía trên bức tường. Về phần anh bạn đánh cá thì cái thuyền phải được buộc vào bờ bằng một sợi xích có khóa, nhưng anh ta phải phá hỏng cái khóa đi để tôi khỏi mất thì giờ mở bằng chìa, mấy lá buồm phải xếp thế nào cho chúng tôi có thể kéo ngay lên được, và đặt sẵn ba cái chèo lớn để rời bờ trước khi hứng được gió.
– Nhưng thuyền đã có một động cơ nhỏ, – viên chỉ huy nói.
– À! Thế thì càng tốt: anh ta phải để máy nổ ở số không như thể để sưởi máy, trong khi anh ta ghé vào quán cà phê gần nhất để uống chén rượu. Khi thấy chúng tôi đến, anh ta phải đứng cạnh thuyền, mặc áo tráng nhựa đen.
– Thế còn tiền thì sao?
– Tôi sẽ cắt đôi xấp tiền hai mươi ngàn pesos của anh làm hai nửa. Cái món bảy ngàn pesos tôi sẽ trả trước cho anh bạn đánh cá. Tôi sẽ đưa trước cho anh một nửa xấp bạc đã cắt đôi, nửa kia thì một trong mấy người khác ở lại sẽ đưa cho anh sau. Người đó là người nào thì tôi sẽ nói cho anh biết.
– Anh vẫn không tin tôi à? Tệ quá.
– Không, không phải là tôi không tin anh, nhưng anh có thể thất bại thế nào đấy trong khi làm cháy cầu chì và lúc bấy giờ tôi sẽ không trả tiền, vì không cháy cầu chì thì tôi không thể đi được. 
– Đồng ý.
Mọi thứ đã sẵn sàng. Thông qua viên chỉ huy, tôi đã trả bảy ngàn pesos cho người đánh cá. Đã năm ngày nay chỉ có một tên cảnh sát gác đêm trong mỗi phiên. Cái chòi canh đã dựng xong. Chỉ còn đợi trời mưa đêm, nhưng vẫn chưa có đêm nào mưa cả. Chấn song đã được cưa bằng những lưỡi cưa do viên chỉ huy cấp, vết cưa đã được ngụy trang rất kín, ngoài ra lại còn được che khuất bằng một cái lồng chim trong đó có nuôi một con vẹt đã bắt đầu biết chửi “merde” (cứt) bằng tiếng Pháp. Chúng tôi đều như đang ngồi trên đống than hồng. Viên chỉ huy đã nhận được một nửa xấp giấy bạc cắt đôi. Đêm nào chúng tôi cũng đợi. Trời vẫn không mưa.
Theo kế hoạch, hễ mưa được một tiếng đồng hồ là viên chỉ huy phải làm cháy cầu chì từ bên ngoài dãy tường. Vẫn không mưa. Mùa này mà như vậy thật hết sức vô lý. Từ sớm, hễ thấy một đám mây nho nhỏ ở bên kia chấn song là lòng chúng tôi lại tràn trề hy vọng. Nhưng cuối cùng vẫn chẳng thấy mưa đâu. Có thể phát cuồng lên được. Mọi thứ đã được chuẩn bị xong xuôi từ mười sáu ngày nay: mười sáu đêm thao thức đợi chờ, quả tim thót lên tận họng. Một sáng chủ nhật, viên chỉ huy thân hành ra sân tìm tôi và đưa tôi vào phòng giấy.
Hắn trả cho tôi xấp bạc cắt đôi và ba ngàn pesos nguyên.
– Có chuyện gì thế?
– Bạn ơi, bạn chỉ còn một đêm nay nữa mà thôi. Ngày mai đến sáu giờ sáng là các bạn bị đưa đi Baranquilla. Tôi chỉ giao cho anh ba ngàn pesos của anh bạn đánh cá, vì phần còn lại anh ta đã tiêu hết cho các anh rồi. Nếu Chúa cho trời mưa đêm nay, anh bạn sẽ đợi anh và khi nhận thuyền anh sẽ trả số tiền này cho anh ta. Tôi tin anh, tôi biết là tôi không có gì phải lo sợ cả.
Đêm ấy trời không mưa.





Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 31 Oct 2025

Phần 1 – Số Mạng

– Chú Trứ có tin con người ta sống hay chết đều do số mạng không?

Tiếng gió rít từng hối trên ngọn dương liễu bên ngoài cùng với cơn mưa rã rich giữa khuya, trong biệt giam tối và lạnh làm cho câu hỏi của Tưởng như có gì huyển hoặc xa vời.

Tưởng lớn hơn Trứ chừng sáu tuổi, bị tội buôn, trộm và mổ bò lậu, lãnh án ba năm, ở trong Trại giam Phan Thiết hai năm nay rồi. Gần đây, bắt được một vụ trộm bò ở Ninh Thuận, khai ra có lên can với Tưởng trong những vụ trước. Anh lại bị đưa về Ninh Thuận để làm việc.

Tưởng không hề trộm bò, anh chỉ chuyên mổ bò và là bò của Hợp Tác Xã. Trong căn phòng nhỏ cỡ bốn mét vuông, một đêm anh có thể mổ sáu con, các mối chở  xương và thịt đi, sáng ra là đã được dọn sạch phi tang. Tưởng ở chung phòng biết giam với Trứ cả tháng nay.

-Ý anh là sao?

-Nghĩa là khi cái số mình chưa tận, thì cho dù có bỏ trong lu, lấy búa tạ mà đập thì cũng không chết!

Trứ cười, anh cũng thường nghe nói đến số mệnh, không riêng gì chuyện sống, chết, mà giàu nghèo, sang hèn, sướng khổ…đều có số định sẵn. Nghe thì nghe thế nhưng do tuổi tác còn trẻ, anh ít quan tâm. Giờ đột nhiên nghe hỏi, chẳng biết sao mà trả lời:

-Tôi có nghe nói nhiều nhưng vu vơ, mơ mơ hồ hồ, bản thân thì mới hai sáu tuổi đầu chưa có gì gọi là kinh nghiệm về chuyện này nên nói không tin thì không phải, mà tin một cách chắc chắn cũng không!

-Tôi thì tôi tin vì ngay chính bản thân tôi, mấy lần tưởng tiêu đời rồi nhưng cuối cùng vẫn cứ sống nhăn!

-Có ai đó bỏ anh vô lu mà đập bằng búa tạ à?!

-Hà hà, bỏ vô lu thì chưa, nhưng bắn và bỏ cho chết đói thì có rồi!

-Anh Tưởng kể đi.

-Ừ, thì kể.

-Chừng hai mươi ngày sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi mới hai mươi hai tuổi. Hồi tới tuổi lính, tôi vào Địa Phương Quân, binh nhì, bốn năm lính, tôi trình diện ủy ban quân quản với cấp bậc hạ sĩ. Không biết chọn lựa theo công tội thế nào mà có  một sồ cho học tập tại nhà, một số phải đi tới trại.

Hôm tập trung trình diện, cán bộ quân quản thông báo đi cải tạo, học tập chính sách và đi ngay, ai cũng hoảng là lo. Cán bộ nói là trại gần, thân nhân sẽ đem đồ dùng đến sau. Hai bộ đội chính quy cùng hai thằng du kích, người trong xã, dẩn đám ngụy quân, ngụy quyền chúng tôi chừng ba mươi lăm người lên trại, cách nhà chừng mười cây số, đi hàng một. Lính gồm những thằng tre trẻ như tôi, một vài người hơi lớn chừng bốn mươi, bồn lăm. Các bác được gọi là ngụy quyền thì lớn hơn, già không hà, gồm trưởng thôn, mấy ông trong ban đại diện xã… Đi được chừng năm cây số thì bác trưởng thôn quay lại xin nước uống. Anh lính đi sau bác không có, tôi may có cái bình hai lít mẹ tôi đưa cho hồi sáng, tôi đưa cho anh lính chuyền cho bác. Uống thì phải dừng lại, bác ấy đang dốc cái bình lên miệng thì thằng du kích, nó cũng là người trong xã nhưng thoát ly đâu từ lâu nên lạ, tống một báng súng ngay bụng làm bác ấy gập người xuống, cái bình rơi ra xa, tôi bước tới cúi xuống đinh nhặt thì bị nó cho một đá ngay mông chúi người tới trước. Tuy là lính Địa Phương Quân, một binh chủng thuộc loại hiền nhưng tôi ba gai cũng chẳng thua ai. Máu bốc lên đầu, định chụp cây súng của nó nhưng Bác trưởng thôn và mấy anh em ôm tôi lại…Tụi tôi đi tiếp nhưng nó cứ hầm hè, còn tôi thì chẳng ngán, lườm lại nó. Một bộ đội chính quy đi lên ngang nó rồi bảo nó đi lùi ra sau, anh ta đi vào vị trí của nó. Chiều thì đến trại. Rất đông người đến trước đã dựng lều lán lúc nào rồi, vùng này mất an ninh từ lâu, thỉnh thoảng đơn vị tôi có vào hành quân và choảng nhau nơi này.

Chúng tôi được chia ra, chiều tối, khi các tổ đến trước đi lao động về, sắp hàng điểm danh rồi chúng tôi cùng theo họ vào lán trại, tôi và hai người nữa, vào một tổ mới mà tổ trưởng là một người cao to, da đen, có vẻ là sĩ quan chế độ cũ. Mấy người mới chúng tôi được nằm gần nhau, Bác thôn trưởng cũng được chia ở cùng tôi. Lán vẫn còn rộng rinh, chắc là còn nhiều người sẽ đến.

Sáng ra, tôi cùng những người mới đi làm việc với những anh em đến trước. Chiều về, lúc sắp hàng điểm danh trước khi vào lán, tôi thấy thằng du kích hôm trước đi nhìn từng người, hắn thấy tôi và bác trưởng thôn đúng gần nhau, mắt hắn trường trừng nhìn tôi rồi lặng lẽ đi về cuối trại.

Tối lại, nằm bên tôi, bác thôn trưởng, lúc này tôi đã biết tên bác vì khi điểm danh nghe hô Trương Quang Cần. nghiêng qua thì thầm:

-Cháu nên tách xa bác ra, bác sợ cháu bị liên lụy!

-Sao vậy bác?

-Thằng du kích đó, nó thù bác, sẽ kiếm cách trả thù.

-Vì sao nó thù bác?

-Nó là cháu bên vợ bác, cha nó chết sớm, lêu lỏng ăn chơi chẳng chịu học hành làm ăn gì. Cách nay chừng hai năm, cảnh sát bắt nó vì tội đánh lộn, phá phách trong quán bida. Mẹ nó đến khóc lóc nhờ bác, bác đến cuộc cảnh sát khuyên lơn nó, cũng hăm he cho nó sợ rối bảo lãnh cho nó về. Mấy ngày sau, nó cùng hai thằng bạn giữa đêm vào nhà đánh bạc rồi phá phách lung tung. Bác chưa làm gì thì cả ba thằng biến mất. Nó nghỉ là bác đã cho cảnh sát bắt nó!

Cuộc cảnh sát cho biết là chúng vào rừng theo Việt Cộng.

Tính tôi ngang, đã vậy tôi cũng không ngán, cứ ở gần bác Cần. Gia đình thăm nuôi có gì chúng tôi gom lại ăn chung. Bác nhắc lại hoài chuyện tách xa bác nhưng tôi gạt ngang:

-Ngán gì bác, chẳng lẽ nó bắn chết mình!

Tưởng đâu chừng một tháng hay tháng rưỡi chi là được về, ai dè hơn hai tháng vẫn chưa nghe động tỉnh gì. Vài ngày lại có một số lên xe đi đâu đó, phần nhiều là sĩ quan, công chức cấp cao. Bác Cần nghe nói là những người đó bị đưa ra Bắc.

Một hôm đi lao động về, bác Cần ham hái rau sam nên tụt lại sau, tôi ngờ ngợ có chuyện nên quay lại tìm, đúng lúc thằng du kích chận bác lại, nó ngó trước ngó sau rồi thoi vào bụng bác làm bác gập người xuống, mớ rau văng tung tóe. Tôi chạy nhanh đến, không thấy nó cầm súng nên lao vào đạp nó một đạp từ sau lưng, nó ngã chúi lên người bác Cần, thì ra nó bỏ cây súng xuống gần đó để đánh bác Cần bằng tay, nó lăn qua chụp cây súng nhưng bác Cần kịp ôm chân nó hét:

-Chạy lên ban chỉ huy trại đi.

Tôi chạy nhưng nó vùng dậy được, vừa bắn nó vừa hô:

-Trốn trại, trốn trại…

Chỉ cách không đầy mười lăm mét, nó vừa chạy vừa nhắm thẳng vào tôi mà bắn, tôi cắm đầu chạy về phía trại chỉ huy. Cả tràng đạn AK đi đâu mất tiêu, tôi chẳng bị gì cả. Trong lán chỉ huy chạy ra mấy bộ đội chính quy, gọi là cán bộ quản giáo, người có súng, người tay không. Tôi đưa hai tay lên trời, dừng lại trước họ. Bác Cần cũng vừa chạy đến, bác cũng đưa hai tay lên đầu. Thằng Du kích chạy đến chỉ vào tôi

-Báo cáo thằng này trốn trại.

Trại trưởng, một bộ đội lớn tuổi, lệnh đưa hai chúng tôi và cả thằng du kích vào trại chỉ huy.Mấy bản tường thuật, kiểm điểm của tôi và bác Cần giống nhau. Chúng tôi được cho về trại. Nhưng ba ngày sau, tôi được gọi lên rồi bị dẫn ra ruộng dưa. ở đó có một cái chòi trơ trọi. Tôi hơi lo, không biết họ định làm gì!

Một thằng du kích và một bộ đội, cả hai đều có súng, không có thằng du kích thù tôi nên cũng hơi yên tâm.

Chờ một lúc lâu, có hai thằng du kích nữa, vác đến một cái gì bằng gỗ, lần này thì có thằng du kích đó. Tôi được đưa vào lều, bên trong tối om. Một tên du kích bảo tôi nằm xuống, tôi nằm sấp úp mặt xuống thì nghe bảo nằm ngửa ra. Tôi nằm ngửa ra, một thằng kéo khúc gỗ tới bỏ hai chân tôi vào hai lỗ hai bên, thằng kia bỏ một khúc gỗ khác chồng lên hai chân tôi khít vào hai lỗ, một thanh sắt thọc ngang bên trên rồi khóa lại bằng ổ khóa to. Tôi đoán đây là cái mà các anh em ở trại thường gọi là cùm.

Trước khi đi, tên bộ đội nói:

-Anh bị kỷ luật, bỏ ý định trốn trại đi, cứ chấp hành cho tốt sẽ được tha.

Tôi hoang mang, băn khoăn, lo đủ điều. Tôi không mang theo được gì kể cả tấm chăn!

Tôi thử uốn người ngồi dậy nhưng hai lỗ cùm cao quá, hổng hai chân lên nên chỉ gồng người được một lát là phải nằm lại. Sau này tôi biết là cái cùm, mới được toán thợ mộc làm và tôi là người đầu tiên bị cùm!

Trưa hôm đó, không có ai cho tôi cơm nước gì, chiều tối, có người đem một túm cơm gói trong bịch nilon, miếng cá khô và một chai đựng nước đến. Tôi đói, ăn hết túm cơm mà vẫn còn đói. Ngày sau, khoảng trưa thì người đó mang cơm đến, anh ta bỏ túi nilon cơm và một can chừng hai lít nước xuống sát bên hông tôi rồi nói:

-Ông Cần chuyển trại đi nơi khác rồi!

-Đi đâu?

-Không biết!

Vốc cơm ăn, lòng băn khoăn không biết bác Cần chuyển đi đâu, có bị như mình không?!

Ngày sau, không có ai đem cơm đến cho tôi và những ngày sau nữa, tôi đói lả người. mắt tôi hoa lên, chập chờn nhiều ý nghĩ và hình ảnh trong đầu. Tôi thấy mẹ tôi, chị tôi vừa chạy vừa la “ Tưởng ơi Tưởng, con đâu rồi, con đâu rồi!!!”.

Thỉnh thoảng tôi tỉnh lại, với lấy cái chai nước dốc vào miệng, cái chai không còn giọt nào, cái can nhựa còn một ít, tôi uống cầm chừng, không nhớ được là mấy ngày như thế. Đến khi cái can cũng hết nước, tôi đái vào can rồi uống từng ngụm nhỏ, không hề thấy khai, cứ ngậm cho thấm từ từ…

Tôi không còn phân biệt được ngày hay đêm và không ăn mấy ngày rồi. Có lần tôi tỉnh dậy vì như có ai cào vào chân tôi, ngay giữa háng. Nằm một lát tôi nghe tiếng gà gáy rồi tục tác. Trong đầu tôi thoáng qua ý nghĩ là con gà hoang nào vào đẻ?!.

Con gà bươi một hồi rồi nằm im, đúng là con gà đẻ, ngay giũa háng tôi. Khi nó bay đi rồi, tôi sờ xuống, một cái trứng mềm còn nóng. Muốn lấy ăn ngay nhưng tôi nhớ lại, người ta nói là con gà khi vào đẻ lại, thấy trong ổ không có trứng thì đi tìm ổ khác hoặc không đẻ nữa. Người nuôi gà khi nào cũng chừa một hoặc hai cái trong ổ, tôi cố nhịn không dám ăn, rồi mê đi…

Con gà lại vào đẻ, khi sờ xuống thấy hai cái trứng tôi biết mình mê đi một ngày. Tôi thò tay lấy một cái trứng đưa lên miệng, gỏ vào răng rồi hút, cả cái trứng tót vào họng, chỉ còn chút nhầy nhầy tanh tanh ở lưỡi!

Con gà đều đặn đẻ như thế, tôi không đếm được là bao nhiêu ngày.

Cho đến một hôm, tôi mơ hồ nghe tiếng người xôn xao, hình như nhiều người, đỡ tôi dậy, tháo cùm rồi khiêng tôi đi…Tôi phải vào trạm xá vì lưng tôi đã bị lầy, da tróc từng đám!

Tưởng kể đến đây thì ngồi dậy, anh lấy cái ráy tai tự chế mà trong tù ai cũng có, xoáy tai mình kêu rồn rột. Trứ hỏi:

-Anh có biết vì sao họ bỏ đói anh không?

-Họ không bỏ đói mà là họ quên !

-Tôi bị kỷ luật, phần cơm của tôi vẫn chia về toán, bác Cần lấy cơm rồi nhờ người đưa đến cho tôi, khi bác chuyển đi, không còn ai nhớ đến tôi! Lúc mẹ và chị tôi lên thăm, trại mới nhớ lại. Nếu mẹ và chị tôi không lên thăm hoặc thăm trể đi vài ngày, chắc là tôi tiêu rồi vì con gà đã ngưng đẻ hai ba ngày trước! Sau này mới biết tôi không ăn cơm mười một ngày, trong thời gian đó, con gà cho tôi tám cái trứng!

Tôi tin vào số mạng là vậy, nếu con gà không vào đẻ, hay đẻ xa tôi chừng mét rưỡi thì tôi không sống nổi tới ngày mẹ tôi vào thăm. Số tôi chưa tận!

Ngoài biệt giam vẫn mưa, gió vẫn thổi, thỉnh thoảng lùa vào phòng từ ô cửa trên cao, Trứ nằm im ngẩm nghỉ về sự trùng hợp lạ kỳ của chuyện con gà đẻ.

Hồi lâu, anh Tưởng lên tiếng hỏi:

-Chú ngủ rồi à?

-Chưa!

Sài Gòn, tháng 9 năm 2015. Trạch An – Trần Hữu Hội

Phu nhân một vị Tướng

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

May 24th, 2024

Post by Sơn râu 31 Oct 2025

Phần kết

Lưu vong và trở về Đất Mẹ

Từ đảo Guam, gia đình cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng được đưa sang Mỹ như những người di tản khác. Đến trại Fort Chaffee, sau đôi tháng, gia đình ông được Trung tướng John Cushman, Chỉ huy trưởng trường huấn luyện sĩ quan tham mưu Fort Leavenworth tại Kansas, từng là cố vấn cho tướng Trưởng tại Việt Nam, bảo trợ về nhà.

Trước khi bắt đầu cuộc sống của gia đình tướng Trưởng trên xứ người, hãy bắt đầu bằng câu chuyện khá thú vị về đời sống các vị tướng Mỹ đương nhiệm.

Theo bà Nguyễn Tường Nhung kể lại, dù được ông bà tướng Cushman đối xử tử tế và thân tình, nhưng các bữa ăn thường khá đạm bạc như bất cứ gia đình bình dân nào, chỉ cereal với sữa buổi sáng, trưa ăn hot dog hay pizza và tối ăn dăm món ăn đơn giản, có thứ bà chưa quen nên nhịn đói và khá tủi thân. Đến khi Đại tướng Richard Stilwell, cấp phó của tướng Westmoreland trong chiến tranh Việt Nam ghé thăm vì cũng quen biết ông bà bên Việt Nam thì ông bà Trung tướng Cushman cũng dọn dĩa cà-ri gà với dĩa salad nhỏ cùng bánh mì sandwich, bà Nhung mới hiểu đời sống các vị tướng Mỹ thanh bạch và đơn giản như vậy.

Chính vì vậy mà các vị tướng cũng không giao du nhiều với thế giới dân sự để có thể tìm việc thích hợp hay gởi gắm tướng Trưởng. Cuối cùng tướng Cushman cũng tìm được việc cho cha con tướng Trưởng: tới nông trại học và làm nghề nông. Từ một Trung tướng tư lệnh điều binh khiển tướng cả vạn binh sĩ, tướng Trưởng ngày ngày ra ruộng làm việc và tối về nhà lấm lem, mỏi mệt. Liệu có ai có thể nghĩ mình đã vất vả và kém may mắn hơn thế trong những ngày đầu tiên trên xứ người?

Bà Nhung viết riêng cả một tùy bút với tựa đề “Cái ấm đun nước bằng điện” để kể về những tháng ngày đầu tiên như trên tại Mỹ. Lý do cái ấm điện còn trong ký ức của bà gần nửa thế kỷ là, nhờ vợ của một đại tá Mỹ là người Việt Nam cho cái ấm nước điện tí xíu và chưa tân kỳ như hiện nay, mỗi lần chỉ đủ nấu một gói mì, mà cả nhà bà được bữa ăn “Việt” ngon và nhớ suốt đời.

Từ trái: Trung tướng Ngô Quang Trưởng – Tư lệnh Quân đoàn 1, Đại tá Ngô Văn Định Lữ đoàn trưởng LĐ 258 – Lữ đoàn Bắc Bình Vương và Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư đoàn TQLC QLVNCH – nguồn flickr

May mắn cho ông bà là sau một thời gian, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã mời ông tham gia viết về kinh nghiệm của quân đội VNCH cho trung tâm quân sử tại Virginia. Đây cũng là tiểu bang mà tướng Trưởng đã sống cho đến cuối đời và bà Nguyễn Tường Nhung hiện vẫn đang an hưởng tuổi già cùng con gái và các cháu tại đây.

Đến Mỹ tay trắng nên khi gia đình tướng Trưởng dọn sang Virginia nhận việc, các tướng tá Mỹ quen biết đã gom góp tặng cho ông bà được năm ngàn đô để làm chi phí bước đầu.

Về Virginia mướn chung cư, ông đi làm với mức lương một ngàn mỗi tháng, tức khoảng gần sáu ngàn đô la theo thời giá hiện nay và mỗi tối vào đại học cộng đồng để học thêm. Còn bà đi học tóc theo những người quen đã sang Virginia trước gợi ý, vì trong số đó cũng có vợ của các cấp tướng, tá VNCH cùng đi học. Học đủ hai ngàn giờ, bà Nhung trở thành một thợ cắt tóc với mức bao lương $75 một tuần.

Làm vài năm có đủ kinh nghiệm, bà nghe lời khuyên vài người bạn và gom góp vay mượn, sang một tiệm tóc nho nhỏ có hai thợ. Làm mấy năm vẫn không khá lại bận rộn suốt tuần, bà sang tiệm rồi lại đi làm thợ cho người khác. Cũng gặp khách khó tính hay có chuyện đụng chạm, thợ tranh giành khách. Tưởng tượng phu nhân một vị tướng cấp cao một thời và xuất thân từ một gia thế tiếng tăm, từng được Tổng thống Park Chung Hee của Nam Hàn thết đãi quốc yến khi bà theo tướng Trưởng dẫn đầu phái đoàn tướng tá VNCH công du sang Hán Thành vào năm 1974, rồi phải trải qua cuộc đổi đời dâu bể, buộc phải mưu sinh như bất cứ người tị nạn nào. Những vị tướng tá tác chiến làm gì có và mang theo cả va-ly tiền vàng như dăm người nghĩ.

Về phần tướng Trưởng cũng chẳng khá hơn. Việc làm ở trung tâm quân sử Hoa Kỳ cũng không kéo dài, viết xong kinh nghiệm chiến trường là hết việc. Vậy là tướng Trưởng phải tìm việc làm mới. Kiếm việc thì trung tâm việc làm giới thiệu làm công việc đếm xe tại ngã ba đường. Cũng chỉ được thời gian ngắn. Rồi qua lời giới thiệu của một vị tướng Mỹ khác, ông đi làm vườn, chăm sóc, cắt tỉa cây cảnh. Nhưng rốt lại chủ vườn bảo ông cũng không thích hợp với công việc vì phải cần khuân vác nặng nề.

Di ảnh Trung Tướng Ngô Quang Trưởng – nguồn wikipedia

Cuối cùng ông đi học nghề, học về điện toán ngắn hạn được trả lương qua chương trình giúp đỡ cho người tị nạn. Học xong, ông tìm được việc làm với hãng đường sắt chính phủ trong Washington DC. Ngày ngày ông đón xe bus đi làm, làm một công chức bình thường cho đến tuổi nghỉ hưu.

Chắc những đồng nghiệp người Mỹ của ông không biết rằng người nhân viên Á Đông nhỏ con này từng là một vị tư lệnh lừng lẫy, là tác giả 3 cuốn sách về chiến tranh được Bộ Quốc Phòng lưu trữ và hiện có bán trên Amazon là “The Easter Offensive of 1972 (1983), “The Territorial Forces (1984) và “RVNAF and US Operational Cooperation and Coordination” (1984) về trận chiến tái chiếm cổ thành Quảng Trị năm 1972, về các lực lượng quân sự hay việc phối hợp tác chiến giữa quân đội VNCH và lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Về hưu, con cái đã lớn, ăn học xong, ông bà bắt đầu thảnh thơi hơn, có dịp cùng nhau đi du lịch đó đây như đời sống người hưu trí bình thường khác. Bà sang Pháp, Anh rồi vài nước Châu Âu. Bà kể khi sang Anh, ông bà có gặp cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, lúc Tổng thống Thiệu còn sống tại London, được ông mời và chở ra phố Tàu ăn tối.

Nhưng. Chữ “nhưng” bất toàn và vô lường có thể đến với bất cứ ai và lúc nào.

Tướng Trưởng bị chẩn đoán ung thư phổi. Bác sĩ bảo bệnh đã ở giai đoạn 3 và ông chỉ còn 6 tháng cuối cùng. Ông bình thản đón nhận hung tin và từ chối chữa trị. Vậy mà sự chăm sóc và yêu thương của bà Nguyễn Tường Nhung cùng người thân gia đình đã giúp ông sống thêm được 2 năm, trước khi qua đời vào đầu năm 2007 ở tuổi 77.

Quốc Kỳ VNCH được Cựu Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp trang trọng trao lại cho Bà Quả Phụ Ngô Quang Trưởng trong Tang Lễ- nguồn Người Việt

Ông để lại di huấn cho các con không báo tin và không làm tang lễ sau khi mất. Dù sau đó các đồng đội xưa và gia đình có tổ chức tang lễ cho ông vì không thể để ông ra đi quá lặng lẽ, như ông đã chọn suốt những năm tháng trên xứ người. “Bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng”, bại tướng không thể nói mình là dũng. Có lẽ đó là lý do cho chọn lựa đầy tự trọng của ông.

Tro cốt của ông mang về rải trên đèo Hải Vân, vùng đất mà biết bao người lính, kể cả những người lính Mỹ, những đồng đội của ông đã ngã xuống trong cuộc chiến tương tàn mà một thời ông đã sống và chiến đấu cho lý tưởng của mình. Và mang theo nỗi lòng, có thể cả sự dằn vặt đã không bảo vệ được quê hương. Nhưng có là tướng, cuối cùng thì ông cũng chỉ là một quân nhân đã cống hiến cho quốc gia bằng danh dự và trách nhiệm, đâu có quyền quyết định về một cuộc chiến đã có sự dàn xếp chung cuộc.

Gấp lại cuốn hồi ức “Tháng Ngày Qua” của bà Nguyễn Tường Nhung mà tôi đã giở tìm đọc lại dăm trang không ít lần, mỗi đoạn mang cho tôi những suy nghĩ và cảm xúc khác nhau. Cuộc đời mỗi người ai chẳng có những thăng trầm, thách đố nhưng sự thay đổi quá cách biệt và quá nghiệt ngã ở một số người, như gia đình cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng kham được và đủ nghị lực vượt lên số phận cũng giúp tôi chiêm nghiệm hơn về đời sống.

Tôi vẫn thích đọc những đoạn bà kể về hoa, về tường vi, bằng lăng tím hay những mùa sim tím miền Trung, về những mùa ve sầu gọi tình trên xứ người, những ngày sinh nhật hay mùa lễ Tạ Ơn đáng nhớ của bà, trong đó ghi lại kỷ niệm lúc thiếu thời hay với ông. Tôi nghĩ lòng phải thật bình yên sau những đổi thay đầy khắc nghiệt đó mới cảm nhận và hồi tưởng lại những điều nho nhỏ hiện hữu giữa thiên nhiên đất trời như vậy. Có lẽ vậy mà phần viết cuối cùng của bà là “Lòng chợt bình yên”, viết về những tháng ngày bình yên hiện nay.

Còn cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tro cốt ông được quy về cố quận và rải xuống biển từ một con dốc nào đó trên đỉnh đèo Hải Vân chập chùng mây nước. Người con kiêu hùng của quê hương cuối cùng đã về với đất Mẹ. Về để nghe tiếng gió lộng giữa đèo cao hay bềnh bồng trong tiếng sóng biển vỗ bờ.

“Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng, núi cây rừng…”. Tiếng gió rừng lao xao những tàn lá. Chiều đã buông. Một cánh chim xoải cánh bay vào màn đêm. Không còn để lại vệt gì.

Dallas 5/2024

ĐYT

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 31 Oct 2025

2. Phần 2

Người nữ tù sàn cát giữa mùa Xuân đen

Trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết trong những ngày đầu mùa Xuân 1975 thê lương, tang tóc; mầu nắng dường như vàng úa, bệnh hoạn giăng giăng khắp nước… Khi mặt trời mọc lên, ngày không còn là “một ngày như mọi ngày”, nó có cái gì thảng thốt, bàng hoàng, âu lo trên những gương mặt học trò, cái thay đổi đột ngột, ngỡ ngàng, cùng lúc lại thấy xuất hiện những mầu đen trên các tấm áo học trò, cả đến các cô giáo trẻ. Những tà áo dài trắng không còn bay trong gió sớm trước sân trường. Giép râu và mầu đen của những chiếc áo bà ba đồng loạt “hồ hởi phấn khởi lên ngôi” dưới bóng cờ đỏ. Cột cờ giữa sân trường ép mình trong hàng cây xanh, lạnh lùng khi mầu cờ bị “thay bậc đổi ngôi.”

Cũng tà áo dài trắng dịu dàng Bình vẫn mặc đến trường hàng ngày như trước đây, song hôm nay nó lại có vẻ khác thường; nó trở nên đài các, nó trở nên tuyệt vời; nó có vẻ vừa dễ thương, vừa thách thức giữa rừng áo bà ba đen trong trường. Các cậu con trai cùng lớp, khác lớp, nhìn cô thích thú, nhưng các thầy cô đến từ miền Bắc của chế độ mới lại nhìn cô với đôi mắt bực mình, khó chịu. Bình, cô nữ sinh Phan Bội Châu, bỗng xuất hiện như một nàng tiên ngủ quên trong cuộc đổi đời oan nghiệt, và bỗng giật mình thức dậy giữa rừng người trần tục, nhỏ nhen như những người xa lạ từ một quê hương nào đó mà cô chưa từng sống. Cô bước vào lớp với tà áo trắng thướt tha trong nắng sớm.

Điều mà Bình nhận thấy nhưng phớt tỉnh là hôm nay, thày cô cũ của trường đã bắt đầu theo mốt bộ đội Trường Sơn của những thầy cô Miền Bắc mới đổi vào Nam và nắm quyền điều khiển nhà trường trường. Guốc gỗ, giép râu thay giầy cao gót, áo bà ba đen đã thay thế những tà áo dài, và vài cô còn có chiếc mũ tai bèo đội trên đầu như mấy cô du kích mới về thành từ rừng núi. Những chiếc nón lá bài thơ cũng sợ “cách mạng” nên từ từ biến mất. Các thầy miền Nam cũng âm thầm cho các chiếc cà vạt, bộ áo vest chui vào tủ áo cho hợp trào lưu, cho khỏi bị nhà nước mới nghi ngờ lòng thủy chung với “cách mạng” để giữ thân, giữ việc làm nuôi sống gia đình với một tương lai đen trước mặt: “tôi đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ” . . . ( Trần Dần)

Riêng đám học sinh thì việc thay đổi áo quần khi đến trường hàng ngày lại vô cùng chậm. Dường như chúng có một cái gì khinh miệt, đề kháng trước những hình thức xuống cấp của những thầy cô sau ngày miền Nam sụp đổ. Đứa bạn trai của Bình đến gần, nói nhỏ:

– Cách mạng vào đáng lẽ đời phải lên hương, nhưng sao lại cái gì cũng có vẻ xuống dốc và xuống cấp, kể cả việc ăn mặc. Bình tiếp tục mặc áo dài thì thầy hiệu trưởng mới sẽ để ý nhưng bọn tôi lại thích thú ! Kệ mẹ nó! Bình là biểu tượng anh hùng của trường đó. Không mặc áo bà ba đen xem họ có đuổi Bình hay không!

– Anh cẩn thận, đừng nói lớn? Bình mặc áo bà ba đi học không quen, Bình mặc áo dài đi học từ hồi Đệ Thất, thay đổi khó lắm!

– Mà Bình có biết chiếc áo dài trắng Bình còn đang mặc lúc này là hình bóng nổi bật, ngạo nghễ và dễ thương nhất trong sân trường lúc này hay không?

– Bình đâu biết! Tại thinh không cả trường lột xác đổi màu, chừa lại một mình Bình. Bình thích mặc áo dài là Bình cứ mặc áo dài, chừng nào trường ra lệnh cấm mặc áo dài thì Bình tính sau. Lúc đó, có thể Bình mượn áo bà ba của má để mặc đi học nếu không còn quyền tự do mặc áo dài trong trường!

– Vậy là Bình số một, nhất trường!

Gần hai tuần sau, khi tà áo dài trắng nữ sinh của Bình còn ẩn hiện trong sân trường, làm xốn mắt thầy “đồng chí ” hiệu trưởng, Bình bị gọi lên văn phòng.

– Thưa thầy ạ!

– Cô ngồi xuống! Cô có biết nay cả nước đang đổi thay theo cách mạng, đã bắt đầu thực hiện nếp sống mới, tiến bộ, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa. Tất cả thầy cô và bè bạn cô đều ý thức được điều đó, tại sao chỉ một mình cô là còn mặc chiếc áo dài tiểu tư sản phi lao động, phi sản xuất thời “Ngụy” như thế này?

– Thưa thầy? Em mặc áo dài từ hồi lớp Đệ Thất. Em vẫn chăm học, em vẫn là một học sinh tốt, em thấy không có gì sai khi mặc áo dài đến trường!

– Vậy thì cô không muốn hòa mình với cách mạng? Bố cô là ngụy quân hay ngụy quyền? Trường sẽ xem xét trường hợp của cô. Tùy cô! Cho cô trở về lớp!

Trở về lớp, bạn bè Bình lo cho Bình ra mặt. Tan trường, Bình ra về, nét tiểu thư, nhí nhảnh, dễ thương của Bình biến mất, dường như nó nổi sóng trong đôi mắt đen láy của Bình. Bình không còn nụ cười hồn nhiên như mọi hôm. Ngôi trường thân yêu ngày nào chợt trở nên u ám, lạnh nhạt, từ gốc tre trồng từ thời Thầy Hiệu trưởng Lê Tá, từ gốc cây bóng mát trong sân trường, từ trụ cờ phất phơ mầu cờ đỏ, cho đến cả cổng trường đầy kỷ niệm mà Bình thường chùm nhum chụp hình cùng bạn bè mỗi khi mùa Hè đến. Phố phường cũng mang dáng lạ trong mắt Bình.

Tà áo trắng vẫn lượn vô tình theo chân Bình trên đường về nhà, song lòng cô ngổn ngang trăm mối. Ông hiệu trường gốc Bắc đã hỏi đến lý lịch ông già, và nếu chỉ vì một tà áo dài của Bình mà ông bị nhà nước, công an dòm ngó, việc học của Bình dang dở thì Bình sẽ đau khổ vô cùng.

Chúa Nhật, Bình ở nhà, bài vở xong, Bình giặt ủi mấy bộ áo dài, xếp cẩn thận và đặt sâu vào trong hốc tủ như cất dấu cả một trời thơ ấu vừa vỡ vụn đột ngột, không ngờ.. Bình bỗng bật khóc, hai hàng nước mắt lăn tròn lên má , lớp này khô, lớp khác ứa tuôn. Không biết Bình khóc cho những kỷ niệm thơ ấu ẩn kín, tàn lưu trong những vạt áo bay khi đến trường mỗi buổi sáng, hay Bình khóc vì uất ức ông hiệu trường soi mói hồ sơ, lý lịch Bình, uất ức với những thứ đổi đời ngang ngược, trắng đen trong đời sống, trong lớp học, trong sân trường . . . Bình hối tiếc . . . “Phải chi kỳ di tản ở Sài gòn em vô được với anh Ba, em lên tàu anh, đi luôn qua Mỹ với anh thì ngày nay em đâu bị cảnh oan trái như thế này!”.

… Bình thức tới nửa đêm, ngồi viết cho người anh ruột ở Mỹ mấy dòng thư tâm sự:

Phan Thiết ngày 20 tháng 02 năm 1979

Kính gửi anh Ba thương nhớ!

Anh Ba ơi! Anh là một người may mắn, vì anh đã thoát khỏi Việt Nam. Ba má và em là những người bất hạnh, vì là người ở lại đất nước này. Em đã ân hận, tiếc nuối vì khi chạy được vào Sài Gòn thì anh đã theo tàu hải quân rời bến Bạch Đằng ra biển. Cả gia đình bị kẹt dọc đường vì những trận đánh ở Long Khánh. Ba má buồn và nhớ anh. Không biết cuộc sống anh bên đó ra sao, nhưng dù sao thì anh cũng được tự do, ra đường không bị công an áo vàng soi mói từ đầu hẽm đến góc xóm. Thấy mặt bọn này là ghét, là bực, là sợ. Tiếp tục sống như thế này chắc có ngày em chết mất.

Cách đây mấy hôm, em bị khó khăn trong trường vì em tiếp tục mặc áo dài trắng đi học, họ muốn thầy, cô, học trò phải hòa mình theo “cách mạng”, nghĩa là phải mặc áo bà ba đen, mang giép, dẹp áo dài. Ông hiệu trưởng mới kết tội em là mặc áo quần kiểu tư sản, và còn đề cập đến lý lịch của em. . . Ông ta còn hỏi em Ba là “ngụy quân” hay “ngụy quyền”. Chi vậy. Bộ chỉ vì cái áo dài của em mà Ba bị công an để ý hay sao? Chế độ gì mà bần tiện một cách phi lý như vậy? Chắc em không sống nổi trong cái không khí như vậy anh Ba ơi!

Ba má giờ khổ lắm! Ba phải lên Bình Tú trồng khoai lang, Má bán lặt vặt trên cái sạp ngoài chợ Phường để kiếm sống qua ngày. Nếu không có ít quà anh gởi về phụ gia đình, có lẽ em đã bỏ học. Mà cái kiểu em phải mượn áo bà ba của Má để đến lớp thì em tức không chịu được. Tương lai của Ba Má và của chính em sẽ vô cùng đen tối trong những ngày sắp tới. Em thương Ba nên tuần sau em sẽ đến trường trong cái áo bà ba đen vá lưng của má . Em không thèm may áo mới. Em gởi lời thăm sức khỏe anh Ba. Nếu anh thong thả, tháng sau gởi về cho nhà chút đỉnh quà. Chúc anh Ba khỏe mạnh.

Em.

Nguyễn Thị Giáng Bình

Bức thư Bình gửi từ Bưu Điện Phan Thiết, thư chạy vô Sài Gòn, từ Sài Gòn bò ra Hà Nội để nhà nước kiểm soát trước khi gởi đi ra nước ngoài. Từ Hà Nội, hệ thống kiểm duyệt của chế độ đã đọc được những lời Bình viết trong thư. Thư được chuyển ngược về Nam để điều tra ai là người viết, vì địa chỉ và tên người viết Bình cẩn thận không ghi thật trên phong thư, nhưng nhà nước cộng sản biết tác giả lá thư là một cô học trò của trường trung học Phan Bội Châu. Căn cứ vào thủ bút và tên họ, công an đã phăng ra Bình, và chộp Bình ngay trong lớp học. Cô bé bị còng áp tải ra khỏi lớp trước những đôi mắt ngạc nhiên, kinh hoàng của cô giáo, bè bạn. Đôi mắt đen láy trên gương mặt dễ thương của Bình nhìn lại lớp và bè bạn lần cuối, lặng lẽ theo toán công an. Cả lớp kinh ngạc, bàng hoàng, thương xót khi Bình rời lớp.

Trước khi bước lên xe, tên công an chìa thư Bình và hỏi:

– Thư này của cô?

– Thưa đúng! Chính tôi là Giáng Bình! Chính tôi đã viết lá thư đó cho anh tôi ở Mỹ. Tôi viết sự thật những gì tôi cho là sự thật! Đúng! Đó là cái thư riêng của tôi! Sự thất vọng và đau đớn duy nhất của tôi bây giờ là thư tôi đã bị mấy ông kiểm duyệt và nó không đến được tay anh tôi!

Thành phố Phan Thiết có một trại tù rất chật hẹp, trên giấy tờ, nhà nước gọi là “Trại tạm giam thuộc công an thị”, tức trại thuộc quyền quản trị của công an thị xã, nằm cạnh bệnh viện Phan Thiết trên đường nối liên tỉnh lộ 8 lên Ma Lâm, Thiện Giáo. Trại đó, bà con quen gọi là “trại thẩm vấn Phan Thiết” mà trước 1975, chính quyền VNCH dùng giam và thẩm vấn tù, hàng binh cộng sản. Sau 1975, trại đó trở thành một trong những trại giam tàn độc nhất ở miền Nam giam giữ những tù nhân chống, chê hay trốn chạy cộng sản. Bất cứ ai từ Sài Gòn muốn ra Phan Thiết vượt biên, khi nghe nhắc đến “Trại Thẩm Vấn” đều thấy xương sống như có một luồng điện chạy! Bị kết tội “bôi bác và nói xấu cách mạng“, Bình bị tống giam vào cái trại “địa ngục trần gian” này.

Sau 7 tháng biệt giam, một buổi sáng, tôi được cho ra khỏi phòng ngang người đông nghẹt, hôm sau được cử theo toán lao động để lên Hầm Đá lấy cát về xây thêm phòng giam. Thân thể gầy còm, da trắng nhạt như tờ giấy, nhưng các cơ thịt tong teo còn lại cũng còn đủ sức giúp tôi trèo lên chiếc GMC cùng các bạn tù. Chúng tôi bị dồn về phần trước của thùng xe, phía sau là hai công an tay cầm AK, đạn nằm sẵn trong nòng súng hồi nào không biết, mũi súng chĩa tầm ngang vào đám tù để sẵn sàng nổ súng khi có chuyện bất trắc Một tên công an cảnh cáo:

– Chúng tôi báo trước! Được cách mạng cho đi lao động là may mắn lắm đấy! Từ đây đến chỗ lấy cát, các anh phải tôn trọng kỷ luật, không được có những hành động linh tinh, anh nào trốn bỏ chạy khi lao động là chúng tôi bắn bỏ tại chỗ đấy! Các anh nghe rõ không?

Bọn tù chúng tôi nghe rõ, và hiểu là tên công an không dọa suông, mạng sống người tù như con vật trong tay cộng sản, thì việc bị bắn khi bỏ chạy là điều chắc chắn. Không thằng nào ngu mà chạy khi thân mình ốm như con ma đói, cẳng chân tong teo, nhất là chạy giữa đồng trống, chạy chỉ một nửa đám ruộng là vọp bẻ trong tầm bắn, làm mồi cho mấy viên đạn đồng AK! Cái mà bọn tù sợ gần như xanh mặt là hai họng súng AK chĩa vào đám tù lúc nhúc, lắc qua lắc lại mỗi khi xe qua mấy cái ổ gà, ổ voi trên đường.

Khi hai cái đầu ruồi AK chuyển qua lại tầm ngang hông tù bọn tù cứ chăm chăm vào hai ngón tay hai tên công an móc tròn tên cò súng; nó mà cướp cò, dù là tai nạn ngoài ý muốn, tràng đạn AK cũng cho ít nhất là vài tên tù theo ông bà . . . Rồi ai làm gì ai? Cha mẹ, gia đình chỉ có nước đem con về chôn!

Tù được được chở đi lấy cát trên những dòng suối cạn phía trên Hầm Đá, gần Ma Lâm, đến chiều, xe chở tù và cát về trại. Những đống cát trước sân trại lớn dần theo số lượng người vượt biển bị bắt ngày càng nhiều. Nghe đồn Thuận Hải hai năm liền đoạt cờ luân lưu của chủ tịch Tôn Đức Thắng về thành tích bắt và tù đày những người bỏ nước ra đi không thoát vào những năm 1976, 1977. Niềm tự hào đen của những người cộng sản cứ từ đó nẩy nở, lớn dần trên nỗi khốn cùng, tuyệt vọng của muôn dân.

Hôm sau bị điều ra bửa củi trước sân trại, tôi thấy Bình và hai bà già ngồi sàn cát gần đống củi. Sau những tháng tù đày Bình vẫn dễ thương, tiểu thơ, lộng lẫy dưới nắng hồng. Vẻ hồn nhiên, chịu đựng những bất hạnh trước cuộc đời của Bình, đối với tôi, dường như nó có ý nghĩa của một cái gì như thách thức và khinh bỉ chế độ.

Nắng đã nghiêng sang một góc, bóng cây chuối che được một mảng trời nho nhỏ gần nơi những người nữ tù sàn cát. Tôi bửa đống củi gần xong, nghỉ tay ngồi xuống bóng mát. Nhân lúc đám cán bộ và công an ngồi vào bàn ăn trưa, không chú ý đến đám tù, tôi hỏi Bình:

– Nhà có bỏ bao cho Bình vào dịp Tết rồi không?

– Dạ có ! Cô Lương và bé Nguyên ở cùng phòng em! Tội nghiệp thằng bé mới có 3 tháng, nó vào tù, nó biết gì!!

Tôi không trả lời Bình, song lại hỏi em:

– Em biết họ bắt em sàn cát để làm gì không?

Giọng Bình buồn buồn:

– Em biết chớ! Bộ anh không thấy họ đúc gạch xây thêm phòng giam sao? Em nghe nói có mấy anh học sinh Phan Bội Châu vừa bị bắt vì rãi truyền đơn, không chừng cát em sàn sẽ dùng xây phòng giam các bạn em!

– Định mệnh oan nghiệt phủ lên cả nước, đâu chỉ đổ lên đầu em và gia đình anh! Chúng ta cùng đường, mọi người cùng đường, cả nước cùng đường. Cắn răng mà chịu thôi!

Hai tay Bình vẫn tiếp tục sàn cát, nói nhỏ cho tôi đủ nghe:

– Anh vừa cải tạo về, lại vô tù trở lại vì tội vượt biên, chắc lần này anh lãnh đủ!

Tôi thở dài, buông một lời tuyệt vọng ngắn ngủi:

– Định mệnh!

Và tôi hỏi tiếp:

– Trong hoàn cảnh em, em có dự liệu hay hy vọng gì không? Anh muốn nói chuyện lá thư của em?

– Em không biết! Tới đâu hay tại đó! Phó mặc . . . Nhưng đôi lúc em muốn một trái bom nguyên tử. . .!

– Cái gì? Một trái bom nguyên tử?!

– Em muốn một trái bom nguyên từ nổ trên đầu thành phố này! Đó là cách duy nhất để được tự do viên miễn, cho em và cho cả mọi người!

Tôi nghe giọng Bình vỡ ra từng mảnh nhỏ cùng những giọt nước mắt lăn trên má dưới nắng trưa. Trên chòi canh trước cổng trại, người công an gác trại ngủ gục trong gió xuân hiu hiu thổi . . .

Tiếng chén đũa, tiếng ghế khua trong phòng ăn tập thể của trại cho tôi đoán bữa cơm của công an trại sắp xong, tôi ngửa cổ tụm một ngụm nước, chưa kịp đứng dậy bửa những khúc củi còn lại, tên công an Mười Đầu Bò nói vọng từ giếng nước khi hắn ra giếng rửa miệng:

– Ai cho phép anh nghỉ tay liên hệ nói chuyện với mấy người sàn cát? Bàn chuyện vượt trại hả? Trốn lên trời! Trở lại làm việc đi!

Tôi bật dậy như cái lò xo, chụp búa bửa củi trở lại. Bình nghe rõ mồn một từng lời nhiếc mắng của tên công an nhắm vào tôi. Bình nhìn tôi thương xót. Tôi bỗng như nghe lại tiếng nói với tôi khi nãy của Bình: “Một trái bom nguyên tử nổ trên đầu. . .”. Cả nước bị dồn vào tuyệt lộ, đói khổ, áp bức và tuyệt vọng. Chết là giải thoát!

Tôi viết lại những dòng này giữa trời Đông bắc Mỹ. Hình ảnh Bình, người nữ tù sàn cát vẫn còn nguyên trong ký ức tôi như chỉ mới hôm qua. Không có một quả bom nguyên tử nào nổ trên trời xuân Việt Nam như mơ ước của Bình trong cơn tuyệt vọng.

Mùa xuân còn đó, vẫn đến với nước Việt Nam theo chu kỳ của trời đất, song đó vẫn chỉ là những mùa xuân đen hận khổ, ly chia và bất hạnh dưới mầu cờ đỏ . . .

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 30 Oct 2025

Bài 18

Trở về thế giới văn minh-Nhà tù Santa Marta Ra khỏi lãnh thổ của vùng Guajira thuộc người Anh-điêng không có gì khó, chúng tôi vượt qua các đồn biên phòng Lavela bình yên vô sự. Tất cả đoạn đường dài mà tôi và Antonio phải chạy mất bấy nhiêu ngày mới đi hết, thì bây giờ đi ngựa mất có hai ngày. Nhưng không phải chỉ có các đồn biên phòng kia là nguy hiểm: ngoài ra còn có một dải đất hơn một trăm hai mươi cây số kéo dài đến Rio Haeha, cái làng mà tôi đã bỏ trốn.
Có Zorillo bên cạnh, tôi đã làm cuộc thí nghiệm đầu tiên về cách dùng tiếng Tây Ban Nha trong khi nói chuyện trong một thứ quán có bán thức uống và thức ăn, với một người thường dân Colombia. Kết quả không đến nỗi tồi, và như Zorillo đã nói cho tôi hiểu, tật nói lắp nặng có tác dụng rất nhiều khi người ta muốn dấu giọng điệu và cách nói của người ngoại quốc. Chúng tôi lại lên đường đi Santa Marta. Theo dự kiến, Zorillo sẽ chia tay với tôi ở giữa đường và quay trở lại đúng sáng hôm nay.
Zorillo đã chia tay với tôi. Chúng tôi đã quyết định là anh ta sẽ đưa con ngựa của tôi về. Vì có một con ngựa tức là có nơi ăn chốn ở, là định cư trong một làng nhất định và do đó rất có thể rơi vào cái tình thế phải trả lời những câu hỏi phiền phức: “Anh ở lại X, vậy có biết ông Mỗ không? ông lý trưởng làng anh tên là gì? Bà Y hiện nay ra sao? Hiện nay ai làm ở trạm?”.
Không, tốt hơn là tôi đi bộ, rồi đi xe buýt hay xe tải và đến Santa Marta thì có thể đi xe lửa. Đối với mọi người tôi sẽ là một người “forastero” (một người ở nơi khác đến), đang đi kiếm việc nơi này nơi nọ, ở đâu có việc thì làm và làm bất cứ việc gì.
Zorillo đã đổi cho tôi ba đồng tiền vàng, mỗi đồng ăn một trăm pesos. Anh ta lại cho tôi một ngàn pesos. Một người thợ giỏi kiếm được từ tám đến mười pesos mỗi ngày, vậy với số tiền kia tôi có thể sống được khá lâu.
Tôi đã lên một chiếc xe vận tải đang đi đến một nơi rất gần Santa Marta, một hải cảng khá lớn, cách nơi Zorillo chia tay với tôi quãng một trăm hai mươi cây số. Chiếc xe này đến đấy để chở dê hay sơn dương gì đấy tôi cũng không rõ. Cứ cách sáu hay mười cây số lại có một cái quán là nơi nào cũng vậy. Anh lái xe cứ trông thấy quán xuống xe và mời tôi vào. Anh ta thì mời còn tôi thì trả tiền. Và mỗi lần như thế anh ta lại uống năm sáu cốc rượu rất mạnh. Tôi thì chỉ giả vờ uống một cốc. Xe đi được dăm chục cây số anh ta đã say khướt. Anh ta say đến nỗi đi lạc, lái xe vào một đoạn đường bùn lầy: xe bị sa lầy không ra được nữa. Thế mà anh lái xe người Colombia kia không hề nao núng: anh ta leo lên thùng xe nằm và bảo tôi lên ca- bin mà ngủ. Tôi chẳng còn biết làm thế nào nữa. Còn đến bốn mươi cây số mới đến Santa Marta. Có anh ta thì tôi đỡ phải trả lời những câu hỏi của những người tình cờ gặp giữa đường, và tuy xe hay dừng lại như vậy, đi xe vẫn cứ nhanh hơn đi bộ.
Khoảng gần sáng tôi quyết định ngủ một giấc. Khi tôi thức dậy đã gần bảy giờ sáng. Một chiếc xe chở đồ có hai con ngựa kéo đi đến. Chiếc xe tải đỗ giữa đường làm cho nó không đi qua được. Họ đánh thức tôi dậy, tưởng tôi là người lái xe vì tôi nằm trong ca-bin. Tôi nói cà lăm, giả bộ làm người ngủ say mới giật thót thức dậy chẳng biết mình đang ở đâu nữa.
Anh lái xe cũng thức dậy và bàn cãi với người đánh xe ngựa. Loay hoay mãi vẫn không sao đưa chiếc xe tải ra khỏi đoạn đường lầy. Bùn ngập đến tận trục bánh xe, chẳng còn biết làm thế nào được. Trên chiếc xe ngựa kéo kia có hai nữ tu sĩ mặc đồ đen, đầu đội mũ xơ, và ba đứa con gái nhỏ. Sau nhiều lần bàn cãi, hai người đàn ông thỏa thuận được với nhau là sẽ phát quang những bụi rậm ở bên đường để cho chiếc xe kia qua được chỗ mắc nghẽn dài khoảng hai mươi mét.
Mỗi người cầm một chiếc “machete” (một con dao phát thường dùng để chặt mía, đi đường ai cũng cầm một cái) họ chặt tất cả những gì có thể làm vướng xe, còn tôi thì cố hướng dẫn cái xe đi hướng nào cho đỡ lăn bánh vào những chỗ còn rậm và những chỗ có thể lún xuống bùn. Khoáng hai giờ sau, chiếc xe ngựa kéo đã có thể đi tiếp. Chính vào lúc ấy hai bà xơ, sau khi cám ơn tôi, hỏi xem tôi đi đâu. Tôi nói: “Santa Marta” 
– Thế thì sao lại đi đến đường này, phải quay trở lại với chúng tôi. Chúng tôi sẽ đưa ông về gần đến Santa Marta, chỉ cách tám cây số nữa thôi.
Tôi không thể từ chối được, vì làm như thế sẽ có vẻ không bình thường. Mặt khác tôi cũng định nói rằng tôi muốn ở lại với người lái xe tải để giúp anh ta, nhưng muốn thế phải nói rất dài, cho nên tôi đành nói:
“Gracias, gracias (cám ơn, cám ơn)”.
Thế là tôi ngồi ở phía sau cái xe có hai con ngựa kéo cùng với ba con bé; hai cô tu sĩ thì ngồi trên chiếc ghế dài bên cạnh người đánh xe.
Chiếc xe lên đường, và chúng tôi đã đi đủ nhanh để vượt qua cái khoảng năm sáu cây số bùn lầy mà chiếc xe tải đã đi nhầm vào. Ra đến đường cái, xe bắt đầu chạy khá nhanh và đến khoảng giữa trưa chúng tôi dừng lại cạnh một cái quán để ăn trưa. Ba đứa bé và người đánh xe ngồi ở một bàn, còn hai cô nữ tu sĩ và tôi ngồi ở bàn bên cạnh. Hai cô đều còn trẻ, từ hai mươi lăm đến ba mươi tuổi là cùng. Da họ rất trắng.
Một cô người Tây Ban Nha còn cô kia người ái Nhĩ Lan. Cô nữ tu ái Nhĩ Lan hỏi khẽ tôi.
– Ông không phải là người ở đây, phải không?
– Có chứ, tôi là người ở Baranquilla.
– Không, ông không phải là người Colombia, tóc ông vàng thế… còn nước da ông thẫm màu chẳng qua vì rám nắng. Ông từ đâu đến?
– Từ Rio Hacha.
– Ở đấy ông làm gì?
– Thợ điện.
– À! Tôi có một người bạn ở Công ty điện lực, tên là Perez, người Tây Ban Nha. Ông có quen ông ta không?
– Thế thì thích quá.
Ăn xong, hai nữ tu sĩ đứng dậy đi rửa tay, rồi cô người ái Nhĩ Lan trở lại một mình. Cô nhìn tôi rồi nói bằng tiếng Pháp:
– Tôi không tố giác ông đâu, nhưng chị bạn của tôi nói là chị ấy đã trông thấy ảnh của ông trên báo. Ông là người tù Pháp đã vượt ngục khỏi nhà tù Hacha phải không? 
Tôi mà chối thì tình hình sẽ còn nghiêm trọng hơn.
– Phải, ma soeur ạ. Tôi van ma soeur đừng tố giác tôi. Tôi không phải là người xấu như người ta đăng trên báo đâu. Tôi là người vốn kính yêu Chúa.
Cô nữ tu người Tây Ban Nha trở ra, cô kia liền nói “đúng”. Cô người Tây Ban Nha trả lời một câu gì rất nhanh tôi không hiểu. Hai cô có vẻ như đang suy nghĩ điều gì. Họ đứng dậy rồi lại vào phòng rửa tay. Trong khoảng năm phút họ vắng mặt, tôi phản ứng rất nhanh. Phải bỏ đi trước khi họ trở lại, hay cứ ngồi đây? Nếu họ định tố giác tôi thì cũng thế thôi, vì nếu tôi bỏ đi thì người ta sẽ tìm ra tôi khá nhanh. Vùng này không có một Selva (rừng) rậm, và những lối đi ra các con đường cái đưa về thành phố sẽ được kiểm soát ngay. Tôi quyết định là sẽ phó thác cho số phận: cho đến ngày hôm nay, tôi chưa đến nỗi quá rủi ro.
Hai cô nữ tu đã trở lại, cả hai đều tươi cười. Cô người ái Nhĩ Lan hỏi tên tôi.
– Enrique.
– Thế thì ông Enrique ạ, ông sẽ cùng đi với chúng tôi về tu viện, cách Santa Marta tám cây số. Ngồi cùng xe với chúng tôi, dọc đường ông không phải sợ gì cả. Ông đừng nói, mọi người sẽ tường ông là người làm công trong tu viện.
Hai cô nữ tu sĩ trả tiền ăn cho cả nhóm. Tôi mua một tút thuốc lá mười hai bao và một cái bật lửa. Chúng tôi lại lên đường. Suốt dọc đường hai cô nữ tu không nói gì với tôi nữa, và tôi rất biết ơn họ về sự tế nhị đó Làm như vậy người đánh xe sẽ không nhận thấy tôi nói tiếng Tây Ban Nha không sõi. Cuối buổi trưa xe dừng lại cạnh một cái quán lớn, ở đấy có một chiếc xe buýt đỗ, trên xe thấy đề: “Rio Hacha – Santa Marta”.
Tôi thấy muốn lên xe này. Tôi liền nói với cô nữ tu người ái Nhĩ Lan là tôi có ý định dùng chiếc xe buýt này.
Nguy hiểm lắm, – cô nói, – vì trước khi đến Santa Marta có ít nhất hai trạm cảnh sát kiểm tra giấy “cedula” (căn cước) của người đi đường, nhưng ngồi xe của chúng tôi thì không bị hỏi đâu.
Tôi cảm ơn cô một cách nhiệt thành, và nỗi lo âu của tôi từ khi bị họ phát hiện đã hoàn toàn tan biến. Tôi gặp được hai cô nữ tu tốt bụng này thật là cực kỳ may mắn. Quả nhiên chập tối chúng tôi đi ngang một đồn cảnh sát (“alcabale”). Một chiếc xe buýt đi từ Santa Marta đến Rio Hacha đang bị cảnh sát kiểm tra. Tôi nằm ngửa trên chiếc xe ngựa, cái mũ rơm úp lên mặt, giả vờ ngủ. Một trong ba đứa bé, tuổi chừng lên tám, đang gối đầu vào vai tôi ngủ thật sự. Khi chiếc xe đi ngang, người đánh xe ghìm ngựa lại đúng vào giữa chiếc xe buýt và đồn cảnh sát.
– Como estan por qui? (ở đây khỏe cả chứ?) – cô nữ tu người Tây Ban Nha nói.
– Muy biến, Hermana (Khỏe lắm ma soeur ạ).
– Me alegro, vamonos, muchanos (Tôi rất mừng, chúng mình đi thôi).
Thế là chúng tôi điềm nhiên đi tiếp.
Đến mười giờ tối lại gặp một đồn cảnh sát nữa, thắp đèn sáng trưng: Hai bên đường có hai dãy xe đang đứng đợi, đủ các thứ xe, thứ gì cũng có. Một dãy từ bên phải, dãy của chúng tôi từ bên trái. Cảnh sát đang mở các thùng xe nhìn vào phía trong. Tôi trông thấy họ bắt một người đàn bà xuống xe, bà ta đang lục tìm giấy tờ trong túi xách. Rốt cục bà ta bị đưa vào đồn, chắc vì không có cedula. Trong trường hợp đó thì chẳng còn biết làm thế nào. Các cỗ xe lần lượt đi qua. Vì có hai dãy xe cho nên không thể vượt hàng được. Chúng tôi đành đợi. Tôi thấy mình nguy mất rồi. Phía trước chúng tôi là một cái xe buýt rất nhỏ chật ních hành khách. Trên mui xe có nhiều va-li và bó lớn, ở phía sau cũng có một thứ lưới to đựng đầy những bó đồ đạc. Bốn viên cảnh sát xua hành khách xuống. Xe chỉ có một cửa ra ở phía trước. Đàn ông và đàn bà lần lượt xuống xe. Có mấy bà bế con. Rồi họ lại lên xe từng người một. 
– Cedulai Cedula?
Mỗi hành khách đều rút ra một tấm thẻ có dán ảnh đưa cho cảnh sát xem. Chưa có lần nào Zorillo nói với tôi về việc này. Giá tôi biết trước, có lẽ tôi có thể tìm cách kiếm một tấm thẻ căn cước giả. Tôi nghĩ rằng nếu chuyến này mà qua được, tôi sẽ trả với bất cứ giá nào để kiếm lấy một cedula trước khi đi từ Santa Marta đến Baranqailla, một thành phố rất lớn trên bờ Đại Tây Dương: hai trăm năm mươi ngàn dân, – cuốn từ điển có ghi như vậy.
– Trời ơi, sao họ kiểm soát chiếc xe buýt kia lâu đến thế! Cô nữ tu người ái Nhĩ Lan ngoảnh lại nói với tôi: “Cứ yên tâm, Enrique ạ”. Tôi lập tức thấy oán giận câu nói bất cẩn này, chắc chắn là người đánh xe đã nghe thấy.
Đã đến lượt xe của chúng tôi tiến vào khu vực đèn chiếu sáng trưng kia. Tôi đã quyết định ngồi dậy. Tôi thấy nằm có thể gây ấn tưởng là tôi có ý trốn tránh. Tôi ngồi tựa lưng vào máy tấm ván tháo ra tháo vào được ở sau xe và nhìn về phía lưng hai nữ tu sĩ. Người ta chỉ có thể nhìn nghiêng vào mặt tôi, tôi lại đội mũ trùm thụp trên đầu, nhưng đã chú ý đừng kéo vành mũ xuống quá thấp.
– Como estan todos por qui? (ở đây các ông khỏe cả chứ?) – cô nữ tu người Tây Ban Nha lại hỏi.
– May bien, Hermans. Y como viajan tan tarde? (Thưa các xơ rất khỏe~ Sao các soeur đi đường muộn thế?).
– Por una urgencia, por eso no me dentengo. Osmos mấy apuradas (Có việc rất gấp, thành thử xin các ông đừng làm chúng tôi muộn thêm. Chúng tôi đang vội lắm).
– Vayanse con Dios, Hermanas (Xin các xơ lên đường có Chúa phù hộ). 
– Gracias, hijos. Que Dios les protège (Cám ơn anh em. Xin Chúa phù hộ tất cả). 
– Amen – mấy người cảnh sát nói.
Thế là chúng tôi điềm nhiên đi qua, chẳng bị ai xét hỏi gì cả. Những phút hồi hộp vừa qua hình như đã gây chứng đau bụng cho hai cô nữ tu nhân hậu, vì đi được một trăm thước thì hai cô bảo cho xe dừng lại rồi xuống xe đi khuất vào trong rừng một lát. 
Chúng tôi lại lên đường. Tôi lấy thuốc ra hút. Tôi xúc động đến nỗi khi cô người ái Nhĩ Lan lên xe, tôi nói: “Cám ơn ma soeur”. 
Cô nói với tôi: “Không có chi, nhưng vừa rồi chúng tôi sợ đến nỗi trong bụng rối loạn cả lên”. 
Vào khoảng nửa đêm chúng tôi về đến tu viện. Tường cao, cổng lớn, Người đánh xe dắt ngựa về cho ăn, còn cái xe cùng với ba đứa con gái được đưa vào phía trong tu viện. Trên bậc thềm, một cuộc tranh luận rất hăng nổ ra giữa bà nữ tu gác cửa và hai cô nữ tu của tôi. Cô người ái Nhĩ Lan nói với tôi rằng cô không thể đánh thức bà Mẹ Bề Trên để xin phép cho tôi ngủ lại trong tu viện. Đến đây tôi phân vân không biết quyết định như thế nào. Lẽ ra tôi phải nhanh chóng lợi dụng tình hình này dể rút lui và đi bộ đến Santa Marta, vì tôi biết chỉ còn có tám cây số. 
Về sau, sai lầm này tôi đã phải đền bằng bảy năm khổ sai. 
Cuối cùng, khi đã đánh thức được bà Mẹ Bề Trên, người ta cắt cho tôi một căn buồng ở tầng thứ ba. Nhìn ra cửa sổ tôi có thể trông thấy ánh đèn của thành phố. Tôi phân biệt được cả ngọn hải đăng và những chiếc đèn hiệu của tàu thủy đậu ở cảng. Một chiếc tàu rất lớn đang rời cảng.
Tôi ngủ thiếp đi, và khi người ta đến đập cửa buồng thì mặt trời đã mọc. Đêm vừa qua tôi mơ thấy một giấc chiêm bao khủng khiếp. Lali mổ bụng ra trước mặt tôi và đứa con của chúng tôi rơi ra từng mảng một. Tôi cạo râu rửa mặt thật nhanh, rồi mặc áo quần xuống nhà dưới. ở chân cầu thang, cô nữ tu người ái Nhĩ Lan đón tôi, trên môi thoáng một nụ cười:
– Chào ông Henri. Ông ngủ có ngon không?
– Thưa ma soeur rất ngon.
– Xin mời ông đến văn phòng Mẹ Bề Trên. Mẹ muốn gặp ông. 
Chúng tôi bước vào văn phòng. Một người đàn bà đang ngồi sau bàn giấy. Một gương mặt hết sức nghiêm khắc của một người trạc năm mươi tuổi hay hơn nữa, đang nhìn tôi bằng đôi mắt đen không có chút gì thân thiện.
– Senor, sa ba usted hablar espanol? (ông có biết nói tiếng Tây Ban Nha không?)
– Muy po co (rất ít).
– Bueno, la Hermana va servir de interprete (được, nữ tu sĩ đây sẽ làm thông ngôn).
– Nghe nói ông là người Pháp?
– Thưa Mẹ vâng.
– Ông đã vượt ngục ra khỏi nhà tù Rio Hacha?
– Thưa mẹ vâng.
– Khoảng bảy tháng.
– Trong thời gian ấy anh làm cái gì?
– Tôi ở với người Anh-điêng.
– Cái gì? ông mà ở với người Guajiros? Không thể tin được, nhưng con người mọi rợ ấy chưa bao giờ cho ai ở trên lãnh thổ của họ. Chưa có một nhà truyền giáo nào lọt vào nổi, ông có thể tưởng tượng được không. Tôi không chấp nhận câu trả lời của ông. Vừa qua ông ở đâu? ông nói thật đi.
– Thưa Mẹ, tôi ở với người Anh-điêng, và tôi có bằng chứng về việc này.

– Bằng chứng gì?
– Một số ngọc trai do họ vớt được.
Tôi tháo cái túi cài vào giữa lưng áo vét của tôi và đưa cho bà Mẹ Bề Trên. Bà ta mở túi, thò tay vào bốc ra một nắm hạt trai.
– Có bao nhiêu viên?
– Tôi không biết ạ, có lẽ khoảng năm sáu trăm gì đấy
– Đây không phải là một bằng.. chứng. Có thể là ông đã lấy trộm của một nơi khác.
– Thưa Mẹ, để cho lương tâm của Mẹ được thanh thản, nếu Mẹ vui lòng tôi sẽ xin ở lại đây trong một thời hạn để Mẹ có thể xác minh xem có một vụ mất trộm ngọc trai nào mới xảy ra hay không. Tôi có tiền. Tôi có thể trả tiền ăn ở. Tôi xin hứa là tôi sẽ không đi đâu ra khỏi buồng cho đến ngày Mẹ quyết định cho tôi đi.
Bà tu sĩ nhìn tôi trừng trừng. Tôi nghĩ ngay, chắc bà ta tự nhủ: “Thế nếu anh trốn đi thì sao? Anh đã từng vượt ngục, mà ở đây thì dễ trốn hơn nhiều”
– Tôi xin để lại túi ngọc trai nhờ Mẹ giữ dùm. Đây là tất cả tài sản của tôi. Tôi biết rằng nó nằm trong những bàn tay đáng tin cậy.
– Thôi được, cứ như thế. Không, ông không cần phải tự giam hãm trong buồng. Buổi sáng và buổi chiều ông có thể xuống vườn trong khi các nữ tu sĩ đang ở nhà thờ. Ông sẽ ăn dưới nhà bếp cùng với mấy người làm công.
Qua cuộc tiếp kiến này, tôi yên tâm được một nửa. Khi tôi sắp trở lên buồng, cô nữ tu sĩ người ái Nhĩ Lan dẫn tôi xuống nhà bếp. Một chén cà phê sữa lớn, một khoanh bánh mì đen rất tươi và một ít bơ. Cô nữ tu chứng kiến bữa ăn sáng của tôi không nói một lời, và cứ đứng trước mặt tôi, không ngồi xuống. Cô có chiều lo lắng.
Tôi nói:
– Cám ơn ma soeur vì tất cả những gì mà ma soeur đã làm cho tôi.
-Lẽ ra tôi muốn làm nhiều hơn thế, nhưng từ bây giờ trở đi tôi không còn làm gì được nữa, anh bạn Henri!
Nói đoạn cô ra khỏi nhà bếp.
Ngồi bên cửa sổ, tôi nhìn ra phía thành phố, hải cảng, lại nhìn ra biển. Những cánh đồng ở xung quanh được chăm bón rất tốt. Tôi không sao thoát ra khỏi cái cảm giác là mình đang lâm nguy. Cảm giác đó mạnh đến nỗi tôi quyết định ngay đêm nay sẽ trốn đi. Thôi không cần đến mấy viên ngọc trai kia nữa, bà ta cứ việc giữ lấy cho tu viện hay cho cá nhân bà ta cũng được, cái bà Mẹ Bề trên ấy. Bà ta không tin tôi. Vả lại chắc tôi không nhầm, vì làm sao bà lại không nói được tiếng Pháp trong khi bà là người Catalonge, lại là Mẹ Bề trên của một tu viện, tức là người rất có học: thật hiếm có. Kết luận: tối nay tôi sẽ bỏ đi.
Phải, chiều nay tôi sẽ xuống sân dể xem có thể trèo qua tường ở chỗ nào. Khoảng một giờ trưa, có tiếng gõ cửa:
– Ông Henri, mời ông xuống ăn.

– Cám ơn, tôi xuống ngay.
Ngồi xuống bàn ăn trong nhà bếp, tôi vừa mới động đến món thịt trộn với khoai tây luộc thì cánh cửa mở toang, bốn viên cảnh sát mặc đồ trắng, tay cầm súng trường, và một viên hạ sĩ quan tay cầm súng lục hiện ra.
– No tè mueve, o te mao! (Ngồi im không thì chết ngay!)
Viên hạ sĩ quan khóa tay tôi lại. Cô nữ tu sĩ người ái Nhĩ Lan thét lên một tiếng rất lớn và ngất đi. Hai bà nữ tu đang ở trong bếp vội vực cô ta lên.
– Vamos (Đi)?, hắn nói, rồi cùng tôi đi lên buồng.
Cái tay nải của tôi bị mở ra lục soát. Họ tìm thấy ngay ba mươi sáu đồng tiền vàng ăn một trăm peso, nhưng lại bỏ qua cái túi da đựng hai mũi tên độc. Chắc họ tưởng đó là hai cây bút chì. Với một vẻ đắc chí không hề giấu giếm, viên hạ sĩ quan bỏ cả mấy đồng tiền vàng vào túi. Họ giải tôi đi.
Năm tên cảnh sát đưa tôi lên một chiếc xe cũ kỹ. Người lái xe mặc đồ cảnh sát, da đen như than. Chiếc xe phóng hết tốc lực. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng, chẳng còn buồn kháng cự, chỉ cố giữ một thái độ tự trọng. Không việc gì phải tìm cách để cho họ nương nhẹ hay thương xót. Hãy là một trượng phu, và phải nhớ rằng không bao giờ được mất hy vọng. Những ý nghĩ ấy lướt qua rất nhanh trong trí tôi. Và khi tôi xuống xe, ý chí làm kẻ trượng phu và nhất thiết không để cho mình trông như một mớ giẻ rách nó mạnh mẽ đến nỗi câu nói đầu tiên của viên sĩ quan ra đón tôi là: “Cái gã người Pháp này ghê gớm thật, lọt vào tay chúng ta mà nó chẳng có vẻ sợ sệt một tý nào”. Tôi được đưa vào phòng giấy của viên sĩ quan. Tôi bỏ mũ và, không đợi cho người ta bảo, tôi ngồi xuống ghế, cái tay nải đặt giữa hai chân.

– Tu sabes hablar espanol? (Anh có biết nói tiếng Tây Ban Nha không).
– Không.
– Llame el zapatero (Gọi thằng thợ giày ra đây).
Một lát sau một người thấp bé mặc tạp dề xanh vào phòng, tay cầm một cái búa thợ giày.
– Anh là người tù Pháp đã vượt ngục ở Rio Hacha cách đây một năm?
– Không.
– Anh nói dối.
– Tôi không nói dối. Tôi không phải là người tù Pháp đã vượt ngục ở Rio Hacha cách đây một năm.
– Cởi khóa tay cho hắn. Còn anh cởi áo vét và áo sơ-mi ra. (Hắn lấy một tờ giấy rồi xem xét người tôi. Tất cả các hình xăm đều được hắn ghi nhận).
– Tay trái của anh không có ngón cái. Đúng. Chính anh.
– Không phải là tôi, vì tôi ra đi không phải cách đây một năm. Tôi ra đi bảy tháng.
– Thì cũng thế.
– Đối với anh thì cũng thế, nhưng đối với tôi thì không.
– Rõ: anh là kẻ giết người chuyên nghiệp điển hình. Dù là người Pháp hay là người Colombia, tất cả những kẻ giết người chuyên nghiệp (matadores) đều như nhau: không sao khuất phục nổi. Tôi chỉ là phó chỉ huy của nhà tù này. Tôi không biết người ta sẽ giải quyết với anh như thế nào. Hiện giờ thì tôi sẽ cho anh ở chung với các bạn cũ của anh.
– Bạn cũ nào?
– Mấy người Pháp mà anh đã đưa vào Colombia.
Tôi đi theo mấy viên cảnh sát, họ dẫn tôi vào một phòng gian có hàng song sắt trông ra sân. Tôi gặp lại cả năm bạn tôi. Chúng tôi ôm nhau hôn. “Thế mà chúng mình cứ tưởng cậu đã thoát hẳn được rồi”, Clousiot nói. Maturette khóc như một thằng con nít (vả lại nó cũng chỉ là thằng con nít thôi). Ba người kia cũng rầu rĩ.
Được gặp lại họ, tôi lại thấy mình có thêm sức.
– Cậu kể đi, – họ nói.
– Sau hẵng. Các cậu thì sao?
– Chúng mình thì ở đây đã được ba tháng.
– Họ đối xử ra sao?
– Chẳng khá mà cũng chẳng tồi. Chúng mình đang đợi chuyển sang Baranquilla, và đến đấy hình như người ta sẽ trao chúng mình lại cho các nhà chức trách Pháp.
– Thật là một lũ khốn kiếp! Có cách gì vượt ngục không?
– Vừa mới đến một cái đã nghĩ đến vượt ngục à?
– Nhiều khi cũng thật quá tệ! Cậu tưởng tôi tự dưng bỏ cuộc sao? Chúng canh phòng có ngặt lắm không?
– Ban ngày thì thường thôi, nhưng ban đêm có một đội canh riêng chúng mình.
– Mấy đứa?
– Ba tên giám thị.
– Còn cái chân cậu thế nào rồi?
– Ổn rồi, thậm chí đi cũng không cà nhắc nữa.
– Bị nhốt suốt ngày à?
– Không, ngày nào cũng đi dạo trong sân để phơi nắng, buổi sáng Hai tiếng đồng hồ, buổi chiều ba tiếng.
– Bọn tù người Colombia ra sao?
– Có những tay rất nguy hiểm thì phải, kẻ trộm và giết người có cả.
Quá trưa hôm ấy, vào giờ đi dạo trong sân, tôi đang nói chuyện riêng với Clousiot thì họ gọi. Ở đấy tôi gặp viên chỉ huy nhà tù, bên cạnh có viên phó chỉ huy ban sáng. Chiếc ghế danh dự được dành cho một người nước da rất đậm, gần như đen. Màu da giống một người Châu Phi đen hơn là một người Anh-điêng. Mái tóc ngắn và quăn đúng là mái tóc của người Châu Phi. Hắn gần xấp xỉ năm mươi tuổi, hai mắt đen và độc ác. Một bộ ria cắt rất sát trên một đôi môi dày, một cái miệng hằn học. áo sơ-mi của hắn để phanh ngực, không có ca-vát. ở ngực áo bên trái có gắn một cái dải nửa trắng nửa xanh, cuống của một thứ huy chương nào đấy. Anh thợ giày cũng có mặt ở đấy. 
– Anh người Pháp kia, anh đã bị bắt lại sau bảy tháng vượt ngục. Trong thời gian ấy anh đã làm gì?
– Tôi ở với người Guajiros.
– Đừng có giỡn mặt tao, không tao cho một trận bây giờ.
– Tôi nói sự thật.
– Chưa từng có ai ở với người Anh-điêng được cả. Chỉ trong một năm nay thôi đã có hai mươi lăm lính canh phòng bờ biển bị họ giết.
– Không phải đâu, những người lính canh bờ biển ấy bị bọn buôn lậu giết chết.
– Sao anh biết?
– Tôi đã ở đấy bảy tháng. Người Guajiros không bao giờ ra khỏi lãnh thổ của họ.
– Thôi được, cũng có thể đúng. Anh đã lấy trộm ba mươi sáu đồng vàng ăn một trăm pesos ở đâu?
– Đó là tiền của tôi. Thủ lĩnh của bộ lạc vùng núi tên là Công Bằng đã cho tôi số tiền ấy.
– Làm sao một thằng Anh-điêng lại có thể có được một gia sản như vậy để mà cho anh?
– Thế thì thưa xếp, trước đây có xảy ra vụ trộm tiền vàng nào không?
– Đúng là không có. Trong các hồ sơ chưa bao giờ thấy. Tuy vậy vẫn phải điều tra thêm.
– Xin ông điều tra đi, việc đó có lợi cho tôi.
– Anh đã phạm một tội nặng khi vượt ngục Rio Hacha, và còn phạm một tội nặng hơn nữa khi giúp Antonio vượt ngục: hắn sắp bị xử bắn vì giết nhiều lính canh phòng bờ biển. Bây giờ người ta đã biết rằng chính anh đang bị nhà chức trách Pháp truy nã, Anh là tù chung thân. Anh là một tên giết người chuyên nghiệp nguy hiểm. Vì vậy ta sẽ không mạo hiểm để cho anh có dịp vượt ngục lần nữa bằng cách giam chung anh với mấy người Pháp khác. Anh sẽ bị nhốt xà-lim cho đến khi chuyển đi Baranquilla. Mấy đồng tiền vàng sẽ được trả cho anh khi đã xác minh được là không có vụ trộm tiền vàng nào xảy ra.
Tôi ra ngoài và họ lôi tôi đến cầu thang dẫn xuống dưới đất. Sau khi xuống hơn hai mươi lăm bậc thì đến một dãy hành lang tối mờ mờ hai bên có những cái chuồng chật. Họ mở một chuồng ra và đẩy tôi vào. Khi cánh cửa sắt mở ra hành lang được đóng lại, mùi thối bốc lên từ nền đất nhớp nháp. Có tiếng gọi tôi từ bốn phía. Mỗi cái chuồng có song sắt đều giam một hay ba tù nhân.
– Francés, Francés: Que a hecho? Por que esta a qui? (Anh người Pháp kia Anh phạm tội gì thế? Tại sao anh lại ở đây?). Anh có biết rằng những chuồng giam này là những chuồng giam của tử thần không?
– Im cả đi! Để cho anh ta nói – Có tiếng quát.
Phải, tôi là người Pháp. Tôi bị giam ở đây vì tôi đã vượt ngục ở Rio Hacha.
Cái tiếng Tây Ban Nha giả cầy của tôi được họ hiểu ngay.
– Anh cần biết mấy điều này, anh nghe kỹ đây: ở cuối chuồng giam có một tấm ván để nằm. Bên phải có một cái hộp đựng nước. Phải uống dè dè, vì mỗi sáng chỉ được một ít, mà xin thêm thì không được đâu. Bên trái có một cái xô đề đi ngoài. Anh lấy cái áo vét mà bịt lại. ở đây không cần áo ngoài vì quá nóng, cứ lấy áo mà bịt xô cho đỡ thối. Chúng tôi đều bịt xô bằng áo quần cả.
Tôi đứng sát vào song sắt để cố nhìn mặt các bạn tù. Chỉ thấy rõ được hai người ở trước mặt đang ngồi sát song sắt, hai chân thò ra ngoài. Một trong hai người đó có những nét mặt của loại người Anh-điêng lai Tây Ban Nha, kiểu như mấy tên cảnh sát đầu tiên đã bắt tôi ở Rio Hacha; người kia là một người da đen có nước da rất sáng, trẻ và đẹp trai. Anh ta cho tôi biết rằng đến giờ thủy triều lên, nước ngập vào các xà lim. Tôi không nên sợ vì không bao giờ nó lên quá bụng. Chuột có leo lên người thì đừng bắt, mà phải đánh. Bắt thì nó căn.
Tôi hỏi:
– Anh bị nhốt ở đây được bao lâu rồi?
– Hai tháng.
– Còn mấy người kia.
– Không bao giờ quá ba tháng. Ai đã qua ba tháng mà không được chuyển ra, thì tức là phải chết ở đây.
– Người ở đây lâu nhất đã được bao lâu rồi?
– Tám tháng, nhưng chẳng còn sống được mấy đỗi nữa đâu. Đã gần một tháng nay anh ta chỉ quỳ chứ không đứng lên được. Đến ngày nào có thủy triều lớn, anh ta sẽ chết đuối thôi.
– Nhưng thế thì nước các anh là một xứ sở man rợ sao?
– Tôi có bao giờ nói là xứ tôi văn minh đâu. Còn nước anh thì cũng chẳng văn minh gì hơn, vì anh bị xử chung thân đấy thôi. Ở xứ Colombia này thì hoặc hai mươi năm, hoặc xử tử. Nhưng không bao giờ có chuyện chung thân.
– Thôi đi, đâu cũng thế thôi.
– Anh giết nhiều người lắm à?
– Không, chỉ có một thôi.
– Vô lý! Giết có một người mà bị lâu thế à?
– Tôi cam đoan là đúng như thế.
– Thế thì rõ là nước anh cũng mọi rợ như nước tôi.
– Thôi đừng cãi nhau về chuyện nước anh nước tôi nữa. Anh nói đúng. Cảnh sát thì ở đâu cũng là cứt cả.
– Còn anh anh có tội gì?
-Tôi đã giết hai vợ chồng và cả thằng con.
– Tại sao?
– Chúng nó đã đem thằng em tôi cho lợn ăn.
– Chẳng lẽ! Chuyện gì mà gớm ghiếc thế
– Thằng em tôi lên năm, ngày nào nó cũng ném đá thằng con nhà ấy, mấy lần trúng đầu.
– Đó không phải là một lý do.
– Khi tôi biết chuyện tôi cũng nói thế.
– Làm sao anh biết chuyện?
– Thằng em tôi đi đâu mất từ ba hôm, tôi đi tìm mãi mới thấy một chiếc dép của nó trong đóng phân.
-Chỗ phân này xúc ra từ chuồng lợn nhà nó. Tôi bới phân lợn lên thì thấy một chiếc tất đầy máu. Tôi đã hiểu. Mụ vợ đã thú nhận trước khi tôi giết cả nhà chúng nó.
-Tôi đã cho chúng nó cầu kinh trước khi bắn. Phát thứ nhất tôi bắn gãy chân thằng bố.
– Anh giết họ là phải. Anh sẽ bị xử ra sao?
– Hai mươi năm là cùng.
– Tại sao anh bị giam xà-lim?
-Tôi đã đánh một tên cảnh sát có họ với vợ chồng bà kia. Hắn làm ở nhà tù này. Bây giờ hắn đã được đưa đi nơi khác. Không có hắn tôi mới được yên.
Cửa hành lang được mở ra. Một tên gác ngục đi vào với hai tù nhân khiêng một cái thùng bằng gỗ. Có thể đoán biết được rằng phía sau họ còn có hai tên gác cầm súng nữa. Hai người tù vào từng chuồng một bưng mấy cái xô đựng phân ra đổ vào cái thúng. Mùi nước đái và mùi phân xông lên nồng nặc, tường đến chết ngạt. Không ai nói gì. Khi họ đến chuồng tôi, người tù vào lấy xô đánh rơi một cái gói nho nhỏ xuống đất. Tôi vội lấy chân hất vào phía trong. Khi họ đã ra tôi thấy trong gói có hai bao thuốc lá, một cái bật lửa và một mảnh giấy có viết mấy dòng chữ Pháp. Trước hết tôi châm hai điếu thuốc lá ném cho hai người ở trước mặt tôi. Rồi tôi gọi người tù kế bên bảo hắn thò tay ra bắt lấy một bao thuốc lá để chuyền cho những người tù khác. Phân phát xong tôi châm điếu thuốc của tôi lên và đưa bức thư ra sát hành lang để đọc. Nhưng ánh sáng ở ngoài hành lang không đủ. Tôi bèn lấy tờ giấy gói, cuốn lại rồi bật lửa đốt lên. Tôi đọc vội:
“Cam đảm lên Papi nhé, cứ tin tường vào chúng mình. Hãy coi chừng. Mai chúng mình sẽ gửi giấy và bút chì để cậu viết cho chúng mình. Chúng mình ở bên cạnh cậu cho đến chết”.
Mảnh giấy ấy làm cho tôi thấy ấm lòng. Nó đã đem lại cho tôi bao nhiêu sức lực! Tôi không cô độc, tôi có thể trông cậy vào bạn bè.
Không có ai nói. Ai nấy đều mải hút thuốc. Cuộc phân phát thuốc lá cho tôi biết rằng có cả thảy mười chín người trong mấy cái chuồng giam của tử thần này. Thế là lần này tôi lại bị đưa vào con đường của sự thối nát, và bây giờ sự thối nát ấy đã ngập lên đến cổ! Mấy bà xơ tự gọi là những người “Em Gái của Chúa lòng lành” ấy chính là những đứa em gái của Quỷ. Nhưng có điều hoàn toàn chắc chắn là kẻ đã tố giác tôi không phải là cô nữ tu người Ái Nhĩ Lan hay cô người Tây Ban Nha. Ôi! Tôi ngu biết chừng nào khi tin vào các nữ tu sĩ ấy? Không phải họ đâu. Có lẽ là người đánh xe chăng? Đã hai ba lần tôi và cô nữ tu kia trót nói tiếng Pháp: thật là sơ xuất. Có thể anh ta đã nghe thấy chăng? Thôi, điều ấy có quan trọng gì! Lần này thì sa lưới hẳn hoi rồi, lần này chỉ có đi tong. Nữ tu sĩ người đánh xe hay là Mẹ Bề trên, chung quy kết quả vẫn là một.
Thế là tôi đành đi đời trong cái chuồng ghê tởm cứ mỗi ngày lại hai lần ngập nước này. Trong chuồng nóng nực và khó thở đến nỗi tôi phải cởi sơ-mi, rồi cởi nốt cả cái quần. Tôi tháo giày và đem móc hết các thứ lên cửa song sắt.
Thử tưởng tượng là tôi đã vượt hai ngàn năm trăm cây số để cuối cùng đến nông nỗi này? Kết quả thật là mỹ mãn! Lạy Chúa! Chúa đã từng hào phóng, đại lượng đối với tôi như vậy, mà bây giờ lại bỏ rơi tôi sao? Có lẽ Chúa giận tôi chăng, vì dù sao Chúa đã cho tôi tự do, sự tự do chắc chắn nhất, đẹp đẽ nhất. Chúa đã cho tôi một cộng đồng, và cộng đồng ấy đã thâu nạp tôi hoàn toàn. Chúa đã cho tôi không phải là một một mà những hai người vợ tuyệt vời. Và cả ánh nắng, cả biển khơi. Lại cả một nếp nhà tranh trong đó tôi là người chủ tuyệt đối. Với cuộc sống giữa thiên nhiên, cuộc sống nguyên thủy, hoang dã nhưng êm đềm và thanh thản biết bao nhiêu. Đó thật là một món quà có một không hai mà Chúa đã tặng tôi: được hoàn toàn tự do, không có cảnh sát, không có quan tòa, không có những kẻ ganh tỵ và những kẻ độc ác xung quanh tôi! Thế mà tôi đã không biết giá trị vô song của nó. Vùng biển ấy nước xanh đến nỗi trông như đen huyền, những buổi mặt trời mọc và mặt trời lặn đầy một hương vị dịu ngọt và thanh thản, cái nếp sống không hề cần đến tiền bạc, trong đó tôi không phải thiếu một thứ gì cần thiết cho sự sống của một con người: tất cả những cái đó tôi đã chà đạp lên, đã khinh miệt nó. Tôi đã từ bỏ những cái đó để đi đâu? Để trở về với những xã hội không thèm nhìn nhận đến tôi. Với những con người thậm chí cũng chẳng buồn bỏ công tìm hiểu xem thử trong tôi có gì còn vớt vát được không. Về với một thế giới đang hắt hủi tôi, đang đẩy tôi ra xa mọi niềm hy vọng. Với những tập thể chỉ nghĩ đến mỗi một việc: tiêu diệt tôi bằng bất cứ phương tiện nào.
Khi được tin tôi bị bắt, chúng nó sẽ mừng lắm đấy: mười hai miếng pho-mát trong hội đồng bồi thẩm, thằng Polein thối tha, mấy tên cảnh sát và tên biện lý. Vì thế nào cũng sẽ có một nhà báo nào đấy chuyển cái tin này về Pháp.
Lại còn những người thân của tôi nữa. Khi bọn cảnh sát đến nhà để báo cho họ biết tôi đã vượt ngục, họ đã mừng rỡ biết bao nhiêu khi được biết rằng con họ hay anh họ đã thoát ra khỏi bàn tay của bọn đao phủ này! Bây giờ được tin tôi bị bắt lại, họ lại phải đau khổ một lần thứ hai.
Tôi đã sai vô cùng khi từ bỏ bộ lạc của tôi. Phải, tôi có thể nói “bộ lạc của tôi” như vậy, vì mọi người trong bộ lạc ấy đều đã chấp nhận tôi như một thành viên của bộ lạc. Tôi đã sai và tôi xứng đáng phải chịu những gì đã xảy đến với tôi. ấy thế nhưng… Tôi vượt ngục đâu phải để làm tăng dân số người Anh-điêng ở Nam Mỹ? Lạy Chúa, Chúa phải hiểu rằng tôi cần phải sống lại trong một xã hội văn minh bình thường và chứng minh cho mọi người thấy rằng tôi có thể làm một thành viên của xã hội đó mà không gây thành một hiểm họa cho nó. Đó là số mệnh đích thực của tôi – có sự tham dự của Người hay không có sự phù hộ của người cũng vậy. Tôi phải chứng minh cho bằng được rằng tôi có thể, rằng tôi đang và sẽ là một con người bình thường nếu không phải là tốt hơn những thành viên khác của bất kỳ tập thể nào của bất kỳ đất nước nào.
Tôi hút thuốc. Nước bắt đầu lên. Bây giờ đã ngang mắt cá tôi. Tôi gọi:
– Anh Da Đen, nước vào chuồng giam bao nhiêu lâu thì rút hết?
– Còn tùy thủy triều mạnh hay nhẹ. Một giờ, hai giờ là cùng.
Tôi nghe thấy mấy người tù kêu: Esta llegando (Nó đến).
Nước lên từ từ, rất chậm. Người lai và người Da đen bám lên song sắt. Chân họ buông thõng ra ngoài hành lang, tay họ ôm lấy mấy cái chấn song. Có tiếng động dưới nước: đó là một con chuột cống to bằng con mèo đang bơi lõm bõm. Nó đang tìm cách leo lên chấn song. Tôi cầm lấy một chiếc giày và khi nó bơi đến gần tôi đánh một cái thật mạnh lên đầu nó. Nó vừa bơi ra hành lang vừa kêu chí chóe. Anh tù Da đen nói với tôi;
– Francés, anh nổi máu đi săn rồi đấy. Không sao giết hết được chúng nó đâu. Leo lên chấn song đi, bám chặt vào và ngồi yên đấy.
Tôi làm theo lời anh ta, nhưng mấy cái chấn song hằn vào đùi rất đau, cứ cái tư thế này thì tôi chẳng chịu đựng được bao lâu. Tôi lấy cái áo vét bịt xô đựng phân buộc lên chấn song và cưỡi lên đấy. Nó làm thành một thứ ghế để cho tôi có thể chịu đựng được cái tư thế không lấy gì làm thoải mái kia, vì vậy giờ tôi gần như được ngồi.
Cuộc xâm lăng này của nước thủy triều, của chuột cống, của các loài rết và của các vật nhỏ li ti được nước lùa tới là cái điều kinh tởm nhất, có sức làm mất tinh thần nhất mà một con người có thể chịu đựng. Một giờ sau, khi nước đã rút hết, trong chuồng còn lại một lớp bùn lầy lụa dày hơn một phân. Tôi đi giày vào để khỏi phải lội trong lớp bùn này. Anh Da đen ném cho tôi một mảnh ván dài mười phân, bảo tôi dùng để gạt bùn ra ngoài hành lang, bắt đầu từ chỗ đặt tấm ván dùng làm giường ngủ, rồi từ cuối chuồng cho đến chỗ ra vào. Công việc choán hết cả nửa giờ và buộc tôi phải nghĩ đến mỗi một việc ấy thôi. Như thế cũng đã có được một chút gì ích lợi. Từ bây giờ đến đợt thủy triều sau, Tôi sẽ không bị ngập nước: như thế có nghĩa là trong mười một tiếng đồng hồ, vì sau cùng là giờ nước tràn vào. Phải tính đủ sáu giờ nước biển rút xuống và năm giờ nước biển dâng lên. Tôi tự nhủ một cách hơi lố bịch: Bươm bướm, số mày là phải chịu ảnh hưởng của thủy triều. Dù mày muốn hay không, mặt trăng cũng có một tầm quan trọng lớn lao đối với mày và đời mày. Chính nhờ thủy triều lên xuống mà mày đã ra khỏi sông Maroni một cách dễ dàng khi trốn khỏi trại khổ sai. Khi mày ra đi từ Trinidad và từ Curacao, mày cũng đã phải tính đến ngày giờ thủy triều lên xuống. Sở dĩ mày bị bắt ở Rio Hacha chính là vì thủy triều xuống không đủ mạnh để mày rời bờ biển thật nhanh và cho đến bây giờ mày lại thường xuyên phải chịu đựng nước thủy triều.
Trong số những người sẽ đọc mấy trang này, nếu một ngày nào nó sẽ được xuất bản, có lẽ cũng sẽ có những người thương hại tôi ít nhiều khi biết những nỗi cơ cực mà tôi phải chịu đựng trong chuồng giam của người xứ Colombia. Đó là những người tốt. Còn những người khác, họ hàng thân thuộc của mười hai miếng pho-mát đã xử tội tôi, hoặc là có bà con với viên biện lý thì sẽ nói: “Đáng đời cho nó, ai bảo nó vượt ngục? Nếu nó chịu ở yên trong trại khổ sai thì đâu đến nỗi!” Thế thì tôi xin nói với các người một điều, nói với những người tốt cũng như những miếng pho-mát kia.
Tôi không tuyệt vọng, không tuyệt vọng một chút nào, và tôi còn nói hơn thế nữa: tôi thà bị nhất trong những chuồng giam của cái pháo đài cũ do bọn giáo hình Tây Ban Nha xây lên ở Colombia còn hơn bị giam ở Quần đảo Salut là nơi mà lẽ ra tôi phải có mặt vào giờ này. ở đây tôi còn phải làm rất nhiều mới hòng có cơ vượt ngục, và dù nằm trong cái hầm thối tha này, tôi cũng tự hào là đã cách xa trại tù đến hai ngàn năm trăm cây số. Chúng nó sẽ phải thi hành rất nhiều biện pháp đề phòng mới có thể bắt tôi đi ngược chiều đoạn đường hai ngàn năm trăm cây số ấy. Tôi chỉ tiếc có một điều: bộ lạc Guajiros của tôi, Lali và Zoraima, và cuộc sống tự do trong thiên nhiên, không có những tiện nghi của người văn minh, nhưng cũng không có cảnh sát, không có nhà tù và càng không có những chuồng nhốt người như thế này. Tôi nghĩ rằng những người bạn hoang dã của tôi, họ không bao giờ lại có thể nảy ra cái ý bắt một kẻ thù của họ phải chịu một cực hình như thế này, và lại càng không bao giờ nảy ra cái ý dùng một cực hình như thế với tôi, một người không hề làm phương hại gì đến người dân Colombia.
Tôi nằm xuống tấm ván và hút hai ba điếu thuốc lá ở tận trong cùng xà-lim để những người khác đừng nhìn thấy. Khi trả tấm ván nhỏ lại cho người da đen, tôi đã ném cho anh ta một điếu thuốc lá châm sẵn, và anh ta cũng làm như tôi vì hổ ngươi với các bạn tù.
Những chi tiết này tưởng chừng như không có gì đáng kể, nhưng đối với tôi nó rất có giá trị. Nó chứng tỏ rằng chúng tôi còn giữ lại được chút lịch sự và hổ ngươi tế nhị.
Ở đây không phải như ở nhà lao Conciergerie, tôi có thể mơ mộng và thả hồn đi lang thang trong không gian mà không cần phải bịt mắt bằng một chiếc khăn mùi soa cho đỡ chói.
Ai đã báo cho cảnh sát biết là tôi đang ở trong tu viện? Ôi, nếu một ngày kia tôi biết được, thì tội này sẽ phải đền. Rồi tôi lại tự nhủ: thôi đừng nói nhảm nữa Bươm bướm! ở Pháp mày còn bao nhiêu việc phải làm để trả thù, còn cái xứ sở heo hút này thì thôi đi mày đến đây không phải để làm điều ác! Người ấy nhất định sẽ bị chính cuộc sống trừng phạt, và nếu một ngày kia mày phải trở lại đây, thì đó không phải để trả thù, mà để đem lại hạnh phúc cho Lali và Zoraima, cho cả mấy đứa con của mày nữa. Nếu mày sẽ trở về xứ này, thì đó sẽ là vì họ và vì tất cả những người Guajiros đã ban cho mày cái vinh dự được chấp nhận trong bộ lạc của họ như một người đồng chủng. Tôi hãy còn ở trên con đường của sự thối nát, nhưng tuy bị nhốt trong một cái chuồng thấp hơn mực nước, dù người ta có muốn hay không thì vẫn đang vượt ngục, vẫn đang bước trên con đường đi tới tự do. Điều đó không thể nào phủ nhận được”.
Tôi đã nhận được một ít giấy, một cây bút chì, hai bao thuốc lá. Tôi ở đây đã được ba ngày. Nói là ba đêm mới đúng. Vì ở đây bao giờ cũng tối. Trong khi tôi châm một điếu Piel Roja, tôi phải lấy làm khâm phục lòng tận tụy của các tù nhân đối với nhau. Anh tù người Colombia chuyển cho tôi gói đồ kia là làm một việc rất liều. Nếu bị chúng bắt được, chắc chắn anh ta sẽ phải nếm mùi chuồng giam dưới đất. Không phải anh ta không biết điều đó, cho nên nhận lời giúp tôi trong cuộc đầy ải này không phải chỉ là can đảm mà còn là làm một nghĩa cử cao thượng phi thường. Vẫn dùng cách đốt cuộn giây, tôi đọc:
“Papiìlon ơi, chúng mình biết cậu chịu đựng được. Cừ lắm! Cho chúng mình biết tin nhé. Chúng mình vẫn thế. Một nữ tu sĩ biết nói tiếng Pháp có đến thăm cậu người ta không cho cô ấy nói chuyện với chúng mình, nhưng một người tù Colombia cho chúng mình biết rằng anh ta đã kịp nói cho nữ tu sĩ biết là anh tù người Pháp đang bị nhốt vào chuồng tử thần. Cô ấy nói: Tôi sẽ trở lại. Chỉ có thể thôi. Các bạn cậu hôn cậu.
Trả lời không phải là việc dễ, nhưng tôi vẫn tìm cách viết được mấy chữ: “Cám ơn các cậu về mọi thứ: ở đây ổn cả, tôi chịu đựng được. Các cậu hãy viết đơn gửi ông lãnh sự Pháp, may ra thì được. Lúc nào cũng cử một cậu thôi, để khi có chuyện gì thì chỉ một cậu bị phạt. Đừng chạm tay vào hai mũi tên. Vượt ngục muôn năm!”