This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mẹ chong đèn đợi canh khuya, Đợi trăng về với bốn bề hư-không
Phần 5
Mẹ tôi, hai lần vĩnh biệt
Chắp tay Mẹ vái mấy vòng Hiển-linh đâu?! Chỉ những dòng lệ sa
Hôm nay là ngày Mẹ, ngày Mother Day, tôi không thể không viết một dòng nào cho Mẹ tôi đang ở Việt Nam nghìn trùng xa cách, dù biết Mẹ tôi không thể đọc những dòng này.
Thành phố Vancouver, Canada bây giờ là giữ mùa xuân Việt Nam, nhưng lại gần cuối mùa Đông Bắc Mỹ, trời bỗng trở lạnh, những cơn gió đêm quét rụng những cánh hoa Anh Đào, rụng tơi tả trắng từng lớp trên lề đường như những bông tuyết cuối Đông. Nhìn qua cửa sổ, một vòm trời xám lạnh phủ chụp không gian, tôi thấy căn phòng trống vắng, cô đơn. Nhìn lên bàn thờ ông cụ, tôi nhớ Mẹ tôi da diết.
Năm 1980, sau những năm tù Việt cộng, tôi thực sự thấy rõ né hơn lần ban đầu khi vô trại tù, là quê hương dưới mầu cờ đỏ là tuyệt lộ, không thể sống như một con người tự do, và tôi phải ra đi. Tôi đã qua hàng chục chuyến đi thất bại; nhà cửa, tài sản, ruộng vườn “không cánh mà bay”, bay hết trơn vào tay đảng, cả nhà vào tù ra khám, xất bất xang bang, kể cả thằng nhóc sinh ra chưa đầy 3 tháng, đứa con đầu lòng của tôi ra khỏi lòng Mẹ mà không coi ngày
Chuyến vượt thoát sau cùng, không vàng không bạc, không còn một xu dính túi, trở thành dân “vô sản mà không chuyên chính” ngay trên quê hương mình, tôi đành phải cùng một số đàn em chơi trò “hải tặc”, mang súng ra biển, chộp một chiếc ghe con thoát ra biển bằng mọi giá, kể cả cái giá vùi thân giữa lòng biển, hay chết vì đấu súng với cộng sản, với cướp biển Thái Lan… Ôi, “một chiếc thuyền con bé tẻo teo” như chiếc của cụ Nguyễn Khuyến câu cá trên cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” khi xưa, đã vượt trùng dương mà không chui vào lòng biển. Trời thương, lần này thì thoát!
Buổi chiều, trước khi “gom quân” ra biển, Mẹ hay tin, Mẹ tất tả tìm con, và bà cụ chỉ khóc, bà biết lần đi này của tôi là lần vĩnh biệt, bà biết nếu tôi không chết giữa biển rộng thì tôi cũng không bao giờ trở lại Việt Nam khi cộng sản còn cai trị đất nước. Tôi đã nói điều đó với Mẹ tôi, lạnh lùng trong nước mắt. Lời tôi như một lời nguyền đến nay tôi vẫn còn giữ nguyên không xê dịch một ly.
Trong bài thơ “Trấn thủ lưu đồn” tôi nhớ hồi còn bé học tiểu học, tôi nhớ có câu “bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”, tôi biết Mẹ tôi không ngủ trong đêm tôi bỏ nước ra đi; còn tôi thì lạ thay, tôi không có một giọt nước mắt khi phóng lên thuyền… Thuyền con là một chiếc F10 không mui, bánh lái chuyển qua lại để điều hướng ghe bằng một cây đòn với 27 người từ lớn đến thằng nhóc nhỏ của tôi.
Tôi nhìn ra biển rộng, nó như có một sức hút lạ lùng, kéo ghe chúng tôi ra biển, càng lúc càng xa bờ. Quay nhìn lại, dãy Trường Sơn lúc càng mờ dần. Khát vọng tự do, sự kinh sợ cộng sản và những chiếc ghe biên phòng của cộng sản đã xóa tan mọi luyến lưu, thương tiếc khi nhìn lại quê hương
Những hình ảnh yêu thương, quen thuộc, máu mũ… tưởng “quằn quại” trong tim tôi, nhưng không, tất cả đều biến mất dưới vòng cung của trái đất, kể cả dáng hình và những giọt nước mắt của Mẹ tôi trên đất liền của quê hương Bình Thuận
Ra đi bất chấp, coi như chết Ta sống may nhờ chút chiêm bao! Vĩnh biệt Mẹ! Vĩnh biệt quê hương! (17/04/1980)
Gần 30 năm, sau những năm tháng dài mòn mõi chờ con trong tuyệt vọng, Bố tôi ra đi ở tuổi 90. Ông vẫn tỉnh táo nhắc đến tôi trước giờ nhắm mắt, ông khóc và ông cụ mang xuống mồ hình bóng thư sinh lúc tôi còn trẻ. Tôi không về, có người bảo tôi bất hiếu, nhưng tôi không về. Tôi giữ lời thề xưa: “Không trở lại Việt Nam dưới mầu cờ đỏ!” Mất Cha, tôi vẫn còn Mẹ. Tôi không thể để Mẹ tôi ra đi theo Ba tôi mà bà cụ không nhìn được mặt con. Tôi quyết định cho người nhà đưa Mẹ tôi qua Bangkok để tôi thăm Mẹ, và Mẹ tôi được thăm đứa con 30 năm không thấy mặt
Tôi đến phi trường Bangkok một giờ trước chuyến bay của Mẹ tôi từ Sài Gòn. Tôi đợi Mẹ nơi chỗ nhận hành lý. Tôi thấy một bà cụ ngồi trên xe lăn và một nhóm nhỏ người nhà. Tôi giả vờ như một người xa lạ. Mẹ tôi, các em tôi chỉ cách tôi vài bước, không ai nhận ra tôi. Do mấy tấm hình Ba Mẹ gửi ra, tôi nhận ra tất cả
Tôi nhìn Mẹ và đoạn ruột. Sau cùng, tôi đứng dậy, đến vịn chiếc xe lăn và khom xuống ôm Mẹ. Bà cụ có vẻ ngạc nhiên tưởng tôi là một ông Tây tử tế nào đó. Vóc dáng, hình hài tôi đâu còn như ngày chia tay Mẹ tôi mấy mươi năm trước. Khi tôi cất tiếng:
– Mẹ nhớ con không?
Từng nghe tiếng tôi qua điện thoại, nghe tiếng tôi, Mẹ tôi nhận ra ngay, và bà bật khóc, chụp lấy tay tôi
– Trời ơi! Con ơi! Gần 30 năm nay Mẹ mới gặp lại con!
Bà nghẹn ngào với hai dòng nước mắt tuôn ra. Lúc đó, mấy đứa em mới nhận ra tôi:
– Trời! Anh Hai!..
Những ngày đoàn tụ, gặp nhau qua thật mau. Mỗi sáng thức dậy, Mẹ kể đủ thứ chuyện từ hàng mấy chục năm trước, nhưng làm sau 30 năm dồn đủ trọn 5 ngày. Trong khách sạn, Mẹ cứ nắm tay tôi như hồi tôi còn nhỏ. Và rồi Mẹ cũng đã phải buông tay tôi ra tại phi trường quốc tế Bangkok ngày 29/02/2008 để lên máy bay về lại Việt Nam
Tôi như kẻ không hồn nhìn theo bóng Mẹ khuất trong dòng người, và Mẹ tôi không hề nghe tiếng nghẹn ngào thì thầm của tôi… “Vĩnh biệt Mẹ! Vĩnh biệt Mẹ!…”
Tôi ngủ qua đêm ngay tại phi trường Bangkok để chờ chuyến bay về lại Canada sáng hôm sau. Mẹ tôi, lưng đã còng, mắt đã mờ, nhưng Mẹ còn đủ tỉnh táo để biết là ngày Mẹ mất Mẹ sẽ không thấy mặt tôi một lần nữa. Mẹ đã gần 90, Mẹ sẽ ra đi bất cứ ngày nào, và tôi cũng sẽ không về, trừ trường hợp đảng cộng sản “qua đời” trước ngày Mẹ tôi nhắm mắt! Mẹ thử sống thêm giùm cho con vài năm nữa được không Mẹ?!!!
Nhân ngày Mẹ (Mother Day) của xứ tạm dung, con viết những dòng này cho Mẹ, dù biết là Mẹ không đọc được bất cứ dòng chữ nào con viết. Mẹ tha thứ cho con, đứa con bất hiếu của Mẹ! Vĩnh biệt Mẹ lần thứ hai!
Trong phòng giam này có hai người rất trầm lặng, không bao giờ nói chuyện với ai. Lúc nào cũng dính chặt vào nhau, họ chỉ nói chuyện riêng với nhau, và nói nhỏ đến nỗi không ai có thể nghe thấy gì được. Một hôm, được Sierra đem cho một bao thuốc lá Mỹ, tôi cho một trong hai người một điếu. Hắn cảm ơn tôi rồi nói: – Francois Sierra là bạn anh phải không? – Phải, đó là người bạn tốt nhất của tôi. – Có lẽ một ngày kia, nếu mọi sự hỏng hết, chúng tôi sẽ nhờ anh ấy chuyển gia tài của chúng tôi cho anh. – Gia tài gì thế? – Tôi và bạn tôi đã quyết định là nếu bị đưa lên máy chém, chúng tôi sẽ chuyển plan của chúng tôi cho anh để anh dùng nó mà vượt ngục lần nữa. – Hai anh nghĩ là sẽ bị xử tử à? – Điều đó gần như chắc chắn, chúng tôi rất ít khả năng thoát khỏi. – Nếu việc xử tử các anh đã chắc đến như vậy, sao họ lại để các anh trong phòng giam chung này? Tôi nghĩ là họ sợ chúng tôi tự tử nếu được giam xà-lim riêng. – à phải, có thể như thế. Thế các anh đã làm gì mà bị xử tử? – Chúng tôi đã cho một đàn kiến ăn thịt một thằng A-rập Việc này tôi nói ra là vì họ có bằng chứng không thể chối cãi được. Chúng tôi đã bị bắt quả tang. – Việc xảy ra ở đâu? – ở Cây số 42, ở trại tử thần cạnh vịnh Sparouine. Bạn anh ta đã đến cạnh chúng tôi, đó là một người Toulouse. Tôi cho anh ta một điếu thuốc lá Mỹ. Anh ta ngồi xuống bên cạnh bạn, trước mặt tôi. – Chúng tôi chưa bao giờ hỏi ý kiến ai cả, – người mới đến nói, – nhưng tôi rất muốn biết anh nghĩ về chúng tôi như thế nào. – Anh bảo làm sao tôi có thể nói được, trong khi tôi chưa biết gì hết, về vấn đề các anh đúng hay sai khi cho kiến ăn một con người đang sống, dù là một người “giữ chìa khóa” A-rập? Muốn có ý kiến, tôi phải biết hết sự việc từ A đến Z. – Để tôi kể cho anh nghe, — người Toulouse nói. Trại Cây số 42, Saint-Laurent bốn mươi hai cây số, là một trại lâm nghiệp. ở đấy tù khổ sai phải đẵn mỗi ngày một mét khối gỗ cứng. Đến chiều anh phải đứng cạnh chỗ gỗ anh đã đẵn và xếp gọn lại. Bọn giám thị, có bọn giữ chìa khóa người A-rập đi theo, vào tận nơi ở trong rừng để kiểm tra xem anh đã đạt chỉ tiêu chưa. Nếu được coi là đạt, mỗi khối gỗ được đánh dấu bằng sơn đỏ, sơn xanh hay vàng, tùy từng ngày. Họ chấp nhận nếu mỗi thanh gỗ đều là gỗ cứng. Để làm việc tốt hơn, hai người lập thành một kíp. Nhiều khi chúng tôi không thể đạt chỉ tiêu được. Những lúc ấy tối về họ nhốt chúng tôi vào xà-lim không cho ăn, và sáng hôm sau, vẫn phải nhịn đói, chúng tôi lại bị đưa đi làm việc: ngày hôm ấy, ngoài chỉ tiêu bình thường ra còn phải làm thêm để bù cho gỗ thiếu hôm qua. Cử cái đà ấy thì chẳng bao lâu mà chết vì kiệt sức. “Với cái tình trạng này, chúng tôi mỗi ngày một yếu đi và càng ít khả năng làm đủ chỉ tiêu. Thêm vào đấy, người ta cắt cho chúng tôi một tên gác riêng không phải là giám thị, mà là một thằng A-rập. Hắn đi với chúng tôi ra công trường, tìm chỗ ngồi thật thoải mái, cái roi cặc bò đặt giữa háng, mồm không ngớt chửi mắng chúng tôi. Khi ăn, hắn nhai chóp chép thật to để cho chúng tôi thèm. Nói tóm lại là một sự hành hạ liên tục. Chúng tôi có hai cái plan mỗi cái đựng ba ngàn frances, để dùng khi vượt ngục. Một hôm chúng tôi quyết định mua gã A-rập. Bấy giờ tình thế càng tệ hơn. Cũng may là từ trước tới nay hắn vẫn tưởng hai chúng tôi chỉ có một plan. Phương sách của hắn rất giản dị: chẳng hạn đưa cho hắn năm mươi francs thì hắn cho chúng tôi đến các khối gỗ đã được duyệt hôm trước, lấy trộm những thanh gỗ không dính sơn để thêm vào khối gỗ của ngày hôm ấy. Cứ như thế, lần thì năm mươi francs, lần thì một trăm, hắn đã bòn được của chúng tôi gần hai ngàn francs. “Thấy chúng tôi đã bắt đầu đạt được chỉ tiêu, họ rút thằng A-rập về. Nghĩ rằng hắn sẽ không tố giác chúng tôi vì đã bòn được của chúng tôi một số tiền lớn như vậy, chúng tôi tiếp tục lấy cắp gỗ ở các khối đã duyệt để thêm vào khối gỗ chỉ tiêu hàng ngày như khi còn thằng A-rập. Một hôm hắn ngấm ngầm theo dõi chúng tôi từng bước, để xem chúng tôi có lấy cắp gỗ không. Rồi hắn bỗng lộ mặt ra: “à! à. Vẫn lấy cắp gỗ mà không chịu trả tiền cho tao? Nếu mày không đưa tao năm trăm francs, tao sẽ tố giác”. Nghĩ rằng hắn chỉ dọa thế thôi, chúng tôi từ chối. Hôm sau hắn lại trở lại: – Trả tiền đi không thì tối nay mày vào xà-lim. Chúng tôi lại từ chối. Đến chiều hắn trở lại có mấy tên lính đi theo. Thật kinh khủng, Papillon ạ! Sau khi lột trần truồng chúng tôi ra, họ dẫn tôi đến những khối gỗ mà chúng tôi đã lấy bớt, rồi bắt chúng tôi chạy về tháo tung các khối mới xếp được rồi lại chạy ra xếp gỗ vào những khối bị lấy bớt, còn chúng nó thì chạy theo sát gót chúng tôi, tên A-rập luôn tay quất roi cặc bò vào người chúng tôi. Cuộc “corrida” này kéo dài hai ngày, chẳng ăn uống gì hết. Mỗi lần chúng tôi ngã xuống, tên A-rập lại đá vào người hay dùng roi cặc bò quất chúng tôi túi bụi.
Cuối cùng chúng tôi nằm ì ra đất, vì không còn sức đâu mà gượng dậy được nữa. Anh có biết nó làm thế nào để bắt chúng đứng dậy không? Nó đã lấy một cái tổ ong lửa, một loại ong vò vẽ hoang ở trong khu rừng này. Nó chặt cái cành có một bầy ong làm tổ và chà cái cành ấy lên người chúng tôi. Đau đến phát điên lên được, không những chúng tôi đứng dậy mà còn chạy như điên. Anh thừa biết ong vò vẽ đốt đau như thế nào. Thế mà mỗi chúng tôi bị đến năm sáu chục con đốt, anh cứ tưởng tượng xem. Ong lửa đốt đau nhức ghê gớm, còn hơn cả ong vò vẽ. Họ giam xà-lim, bắt chúng tôi ăn bánh mì chấm nước lã mười ngày liền, không chữa chạy gì hết. Chúng tôi đã bôi nước đái lên các vết đốt, nhưng vẫn bỏng rát suốt ba ngày liên tục. Tôi mù mất con mắt trái vì nó đến một chục con ong lửa bâu vào đấy. Khi họ cho chúng tôi trở về trại, các phạm nhân khác quyết định giúp chúng tôi. Mỗi người chia cho chúng tôi một thanh gỗ cứng có kích thước thống nhất. Gộp lại cũng được một khối, thành thử cả hai chúng tôi chỉ còn phải cắt một khối nữa thôi. Trong tình trạng của chúng tôi lúc bấy giờ, cắt được một khối cũng hết sức vất vả. Nhưng chúng tôi đã cắt được. Dần dà, chúng tôi cũng đã lấy lại sức. Chúng tôi đã cắt rất nhiều. Rồi cũng do sự tình cờ mà chúng tôi nảy ra cái ý trả thù tên A-rập bằng một đàn kiến. Trong khi đi tìm gỗ cứng, chúng tôi phát hiện một cái tổ kiến ăn thịt rất lớn trong một bụi rậm, đang ăn thịt một con hoẵng to bằng con dê. Thằng A-rập vẫn đi tuần để kiểm tra công việc chặt gỗ. Một hôm chúng tôi dùng cán rìu đánh vào đầu cho hắn ngất đi, rồi kéo lê hắn đến cạnh cái tổ kiến. Chúng tôi lột trần hắn ra và để hắn nằm thành hình cung quanh một góc cây, chân tay trói chặt vào gốc cây bằng những sợi thừng lớn dùng để buộc gỗ. Chúng tôi dùng rìu cưa đứt mấy chỗ trên người hắn. Chúng tôi lại nhét cỏ vào đầy mồm hắn để hắn không thể kêu được, rồi lấy khăn buộc chặt ra ngoài. Xong đâu đấy chúng tôi đứng đợi. Đàn kiến chỉ bắt đầu tấn công khi chúng tôi thọc một cái gậy vào tổ kiến và lay mạnh cho kiến rơi xuống người tên A-rập. Sự việc chẳng kéo dài được bao lâu. Một nửa giờ sau hàng ngàn kiến đã bâu lên tên A-rập. Anh bao giờ trông thấy loài kiến ăn thịt chưa? – Chưa, chưa bao giờ. Tôi có thấy loại kiến đen rất lớn. – Loài kiến này thì nhỏ li ti mà màu đỏ như máu. Chúng giật những mảnh thịt nhỏ xíu và tha về tổ. Nếu chúng tôi đã bị đau vì ong đốt, anh thứ tưởng tượng hắn đã phải đau đớn như thế nào khi bị hàng ngàn con kiến như thế rứt thịt từng tí một trong khi còn sống. Cơn hấp hối của hắn đã kéo dài trọn hai ngày và một buổi sáng. Sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ, hắn không còn mắt nữa. Tôi thừa nhận rằng hai đứa chúng tôi đã tàn nhẫn trong cách trả thù, nhưng phải thấy rõ bản thân hắn đã tàn bạo đối với chúng tôi đến mức nào. Chúng tôi không chết cũng là chuyện thần kỳ. Dĩ nhiên người ta đi tìm tên A-rập khắp nơi, và bọn giữ chìa khóa A-rập khác, cũng như bọn lính gác, đều nghi ngờ rằng chúng tôi không phải không liên quan gì đến việc hắn mất tích. Trong một bụi rậm khác, mỗi ngày chúng tôi đào một ít để có một cái lỗ dùng để chôn xác hắn. Họ vẫn chưa biết gì về tên A-rập, thì một hôm có tên lính gác trông thấy chúng tôi đang đào lỗ. Đến hôm sau, khi đi làm hắn đi theo chúng tôi để xem thử chúng tôi làm gì. Chính vì thế mà chúng tôi bị lộ. Sáng hôm ấy, khi đến nơi làm việc, chúng tôi cởi dây trói thằng A-rập vẫn còn đầy kiến nhưng gần như chỉ còn xương, và trong khi chúng tôi đang lôi nó về phía cái hố (chúng tôi không khiêng nó được vì sợ bị kiến đốt đến trọng thương), chúng tôi bị ba tên A-rập giữ chìa khóa và hai tên giám thị bắt gặp. Họ đã nấp kín đợi một cách kiên nhẫn cho đến khi chúng tôi chôn nó. Thế đấy! Chúng tôi một mực khai rằng đã giết hắn chết rồi mới cho kiến ăn. Lời buộc tội căn cứ vào biên bản của bác sĩ pháp y nói rằng không thấy có một vết thương nào chết người trên mình hắn: người ta khẳng định rằng chúng tôi đã cho kiến ăn hắn trong khi hắn còn sống. Người lính canh được phân làm trạng sư cho chúng tôi theo tập quán xử án ở đây có nói với chúng tôi rằng nếu câu chuyện của chúng tôi được chấp nhận thì chúng tôi có thể thoát chết. Nếu không, có thể nắm chắc án tử hình. Nói thật, chúng tôi rất ít hy vọng. Chính vì thế mà tôi và bạn tôi đã chọn anh làm người thừa hưởng gia tài mà không nói cho anh biết. Ta hãy hy vọng rằng tôi sẽ không thừa hưởng gia tài của các anh, tôi thành tâm cầu mong như vậy. Chúng tôi châm thuốc hút, và tôi thấy họ nhìn tôi có ý chờ đợi tôi nói rõ ý kiến của mình. – Tôi biết hai anh đang đợi tôi nói rõ cách phán xét của tôi về trường hợp của hai anh, với tư cách một con người, như hai anh đã yêu cầu trước khi kể chuyện. Xin hỏi một câu cuối cùng – điều này sẽ không có ảnh đối với kết luận của tôi: số đông trong phòng này nghĩ thế nào, và tại sao hai anh không nói chuyện với ai cả? – Số đông nghĩ rằng chúng tôi phải giết hắn, nhưng không nên để kiến ăn sống hắn. Còn sở dĩ chúng tôi im lặng không nói chuyện với ai là vì trước đây có một cơ hội vượt ngục bằng cách nổi loạn, thế mà họ không chịu làm. – Bây giờ tôi xin nói ý kiến của tôi. Các anh trả lại gấp trăm những gì mà hắn đã làm cho các anh là đúng: cái vụ tổ ong lửa không thể nào tha thứ được. Nếu các anh lên máy chém, đến phút cuối cùng các anh hãy nghĩ thật tập trung về một điều duy nhất: Họ sắp chặt đầu tôi, việc này sẽ kéo dài ba mươi giây kể từ khi trói tay, đẩy vào cái cùm cố cho đến khi lưỡi dao sập xuống. Còn hắn đã hấp hối trong sáu mươi tiếng đồng hồ. Tôi là người thắng cuộc”. Về phần có liên quan đến những người trong phòng này, tôi không biết các anh có đúng không, vì hồi ấy các anh tin rằng một cuộc nổi loạn vào hôm ấy có thể đưa đến cuộc vượt ngục chung, còn những người khác thì có thể không nghĩ như vậy. Mặt khác, trong một cuộc nổi loạn bao giờ người ta cũng có thể bị đặt vào tình thế phải giết người một cách bất đắc dĩ. Thế nhưng trong tất cả những người ở đây chỉ có hai anh và anh em Graville là có nguy cơ bị xử tử. Các bạn ạ, mỗi tình thế cá biệt đều đưa đến những phản ứng khác nhau, nhất định là như thế. Thỏa mãn với buổi nói chuyện, hai con người đáng thương ấy lui về chỗ và lại bắt đầu sống trong sự im lặng mà họ vừa phá vỡ trong chốc lát để nói chuyện với tôi.
Khi hai đứa con gái cho nổ máy chiếc xe tay ga, ông Hoán còn dặn với theo:
-Mấy ngày trước thì chậu vừa vừa khoảng ba, bốn trăm, giờ này chắc chỉ một trăm, trăm rưởi thôi con nhé. Nhớ lựa búp có chớm vàng mới kịp.
Tiếng “dạ” thật to của hai cô con gái làm ông Hoán yên tâm, ông kéo cái bàn xa cầu thang thêm một chút, nơi ông định sẽ đặt cây mai chưng mấy ngày tết.
Từ ngày bán cái nhà ở quê, cơ ngơi mà vợ chồng ông tằn tiện dựng gầy hơn nữa đời mới có. Ông vào Sài gòn mua một căn nhà, không to, nó chỉ dài hơn cái phòng ăn ở nhà ông một chút, dược cái là có thêm lửng và lầu, thêm ba phòng ngũ, cũng tạm đủ cho cả gia đình ông ta túc, ông thì cho là chật, nhưng các con ông thì cho là thoải mái vì bấy lâu chúng ở nhà thuê, cứ chung nhau trên cái nệm mỏng. Ba đứa con gái và một thằng con trai. Năm ngoái có thêm thằng rễ rồi đứa cháu ngoại ra đời, lại chuyển nhà, cũng được hai phòng. Gọi là phòng nhưng chỉ đủ cho hai cái nệm thước tư, ở giữa có cái ngăn bằng gỗ.
Tự cho mình là tằn tiện vì khi vợ chồng ông lấy nhau, hai người không có lấy một đôi nhẫn cưới. Gia đình hai bên thì có đó nhưng không còn gì mà cho, Những đứa con ra đời trong thiếu thốn, xoay chạy cũng chỉ sữa “ông Thọ” pha thêm chút đường, đứa nhỏ thì thế, mấy đứa lớn ăn thịt nhưng là thịt “bàng nhạng”. không mỡ mà không nạc, tội chúng nó, nhai mãi mà không nhuyễn được đành phải nuốt chứ nhổ thì uổng! Cũng may là ông bỏ dạy sớm, ra làm nghề chụp ảnh. Lương của vợ ông một tháng không bằng ông chụp một cuộn phim đen – trắng, bù qua sớt lại gọi là đủ ăn, có dư ra đôi chục ngàn chơi cái huê cái hụi, để dành khi ốm đau!
Nhớ cái ngày chia tay bà con láng giềng, ai cũng bịn rịn bởi ông là người hiền lành tử tế, nghèo thì nghèo thiệt, nhưng có chút gì cũng sẻ chia. Mười tám năm trước,ông mua được cái xe máy, cả xóm nhờ chiếc xe. Đi đâu xa chút thì mượn, có trở ngại công chuyên về trể thì ông cứ chiếc xe đạp, đạp đi chụp hình dạo. Đi bệnh viên huyện, tỉnh thì ông chở đi, nhiều lần ông phải bỏ tiền nộp phạt cho Công an giao thông vì chở ba người. “Vậy thôi, người ta đi bệnh viên chưa có tiền thuốc lấy đâu mà nộp phạt!” Ông thường nói với vợ như vậy. Ông san sẻ cái khó cùng mọi người, nhưng với bản thân thì tiện tặn lắm. Ông thường dạy con như cách ông sống: “Mình ăn thì hết chớ người ta ăn thì còn…”
Ông càng mạnh miệng hơn khi cách nay bốn năm, một cơn đột quy đến với ông, tưởng khó qua khỏi, vậy mà đưa vào tới Sài gòn, hai ba người hàng xóm lên xe theo ông, ông trở về yên ổn, ca phẫu thuật đặt cái “ Xì Ten” gọi là thành công. Lúc lên xe, vợ ông lưng lối chỉ chín triệu bạc, cầm cái “lắc” vàng mới mua được nhờ tiền hưu. Khi bệnh viện dòi đóng chín chục triệu cho ca phẫu thuật thì cái chết cầm chắc trong tay, tiên đâu có mà mổ! Hàng xóm, bạn bè… thông báo cho nhau, tin bay tới bên Mỹ, bên Canada… Rồi như có phép lạ, đứa con lên phòng dịch vụ bệnh viên đóng cái rụp! Hai mươi ngày nằm lại, lúc về, con ông nói còn thừa cả chục triệu, sữa và quà không tính! Toàn tiền giúp của bà con, bạn bè, không nợ ai một đồng.
Giờ thì ông đang chuẩn bị đón cái tết nơi cái chốn gọi là đắt đỏ nhì thế giới, sau Hà Nội! Đó là người ta nói vậy chứ ông mới vào chưa tới hai tháng nên cũng chưa biết gì!
Đắt đỏ thì ông tính theo cái chuyện đắt đỏ, mua cây mai chưng tết thì vội gì mà dè mấy ngày gần tết mà mua, cứ chiều ba mươi ê hề mà chọn, không bán rẻ thì chở về miền Tây, Quảng Ngãi, Bình Định à, lỗ tiền xe!
Hai đứa con trở về, khi nó thắng xe trước ngỏ, nụ cười trên môi ông Hoán tắt hẳn. Hai chậu mai chúng mua về làm ông thất vọng, không có một búp nào ra hồn, búp lá cũng chỉ lèo tèo:
-Hết rồi hay sao con mua mai gì kỳ vậy? xấu thế này mà rước tới hai chậu!
Hai cô con cùng trả lời:
-Hết rồi ba, con có mua bông giả về gắn thêm!
-Thì thôi, về mua hoa tươi cắm cũng đẹp mà. Mai thế này thì chưng làm gì! Bao nhiêu vậy?
-Dạ…ba trăm.
Ông Hoán buồn rười rượi, giận nữa, nhưng vì cận tết cận nhất, ông im lăng. Ngồi xuống xoay xoay xem kỷ hết cây mai này tới cây mai kia, Ông tính chuyện ghép cả hai cây làm một chậu!
Từ cái ngày các con ông lớn lên, học ra trường rồi đi làm, gia đình ông cũng qua cái túng thiếu, khỏi nuôi chúng cái ăn cái ở, ông cho chúng tự chi tiêu, nhiều khi ông giật mình vì chúng tiêu pha khá rộng! Có hôm vào thăm, chúng chở ông đi ăn nhà hàng Hàn Quốc, trả một triệu ba cho bữa ăn làm ông choáng váng! Khi chúng hỏi “ngon không ba?”. Ông cười:
-Nhiều tiền quá, cho ba tô phở thì ngon hơn!
-Ba, ăn cho biết thôi mà, mai ăn mì tôm với tụi con ba ạ.
Ông biết con ông rất thương cha thương mẹ. Nhưng từ cái bữa ăn đó, ông hơi lo vì chúng tiêu pha không như ý ông, không như ông muốn! Vợ ông cũng như ông, nhưng thấy ông không vui an ủi:
-Con nó làm được thì cứ cho nó tiêu pha, ngày còn nhỏ tụi nó khổ rồi!
Có một đều an ủi ông, ngày ông vào thăm con nơi xóm trọ, người ta ai cũng chào ông thân tình, ông thấy lạ, hỏi các con:
-Sao họ biết ba mà chào hỏi thế, nghe nói “dân Sài gòn” không ai quan tâm tới ai mà…
Chúng cười:
-Tụi con cũng sống như ba vậy, quan tâm họ thì họ thương mình. “ Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn.”
Chúng lại nhắc cái câu ông thường nói.
Gặn hỏi ông mới biết. Tháng lương đầu tiên của mỗi đứa, chúng mua sữa hết, đem biếu cho người già nghèo khổ trong xóm, rồi sau này thỉnh thoảng chúng mua quà cho họ, ai ốm đau thì cho tiền mua thuốc…
Ông thích lắm, nhưng lâu rồi ông cũng quên.
Giờ nhìn hai chậu mai, ý nghĩ “xem nhẹ đồng tiền” lại lẩn quẩn trong tâm trí ông!
Thường thì khi nào thấy ông buồn hay có đều gi phật ý là các con hoặc vợ ông an ủi, lần này cả mẹ lẫn con im re, có phần vui hơn nên ông càng buồn! “Thôi thì tết nhất, cứ có hoa là đẹp rồi”. Ông cho cả hai gốc vào một chậu rồi đứng ngắm nghía, gắn thêm vài cái bông, lá, búp giả…Chậu mai tươi lên. Đứa gái út đi chơi về lôi trong túi ra một nắm những trái cầu xanh
.đỏa.vàng…Phúc, Lộc, Thọ với tua tua…gắn lên trông cũng rực rỡ tết nhất, tuy có hơi màu mè!
Thấy cả nhà vui ông cũng vơi buồn.
Nhà có lệ thường là sau khi cúng giao thừa, thắp nhang bàn thờ…thì ông lì xì cho các con gọi là tài lộc đầu năm. Năm nay, vợ ông không chuẩn bị gì cả. ông hỏi thì bà nói:
-Mình lớn tuổi rồi, cứ để con cái nó mừng tuổi mình thôi.
Có lẽ dã chuẩn bị sẵn, sau giao thừa chúng kéo nhau trên lầu xuống, đứa nào phong bì đó, đến trước ông và vợ:
– Chúng con mừng tuổi ba mẹ. Ông cảm động lắm, quên hết muộn phiền. Người ta nói: “nước mắt chảy xuống”. Ông chưa hề đòi hỏi gì các con, cũng chưa khi nào chúng đem tiền về cho ông bà, mặc dù chúng làm ra khá tiền…Nhưng mua chiếc xe, cái máy tính, ông nói với bà: “Cứ cho con đi em…”
Xong thủ tục mừng tuổi, đứa con gái lớn nói:
-Ba, hai chậu mai không phải giá ba trăm đâu ba! Ông nhăn mặt hỏi:
-Vậy chớ bao nhiêu?
-Dạ… bảy trăm!
Ông muốn lớn tiếng la con, nhưng:
-Khoan đã ba, nếu là ba, ba cũng mua giá đó mà có khi hơn, nếu trong túi ba có nhiều tiền…Mai thì vô số chậu đẹp, chỉ giá hai, ba trăm, búp nhiều…nhưng có bà già ngồi với hai cây mai này, bên cạnh là đứa cháu đang vốc cơm ăn, Hai bà cháu ở Tây Ninh, hai gốc mai này là mai nhà, nghe người ta kháo nhau đem mai lên Sài Gòn bán được nhiều tiên nên nhờ người bứng hộ, đem lên bán kiếm tiên về mua thuốc cho ba đứa bé bị bệnh. Không biết chăm nên không ra búp ra hoa chi cả, bốn ngày rồi không ai mua! Khi con thấy đứa bé vốc nắm cơm đã khô trong cái hộp xốp, con quyết định mua hai gốc mai, hỏi giá, bà nói:
-Một trăm ngàn củng được, đủ tiền xe cho nội về Tây Ninh thôi! nội lỡ dại nghe người ta nói mà tham…
– Con gởi bà hai trăm cho hai cây mai, lì xì đứa bé năm trăm. Hai đứa con biết là có thể bị lừa, nhưng nếu không thế thì chắc chắn là mấy ngày tết cứ ray rứt không yên!
Ông lặng người, mắt ông đỏ lên rồi bên khóe lăn xuống môt giọt nước mắt, Giọng ông nghèn nghẹn,
-Ba cảm ơn các con, là ba, ba cũng sẽ như thế, có bị lừa cũng được!
Ông hạnh phúc lắm, trong ông như vừa rộ lên một rừng hoa! Những gì ông dạy con cái bấy lâu nay đã đơm hoa và nỡ rộ. Ông nhìn chậu mai, nó như đã nỡ hoa thật, ông lại lẩm bẩm: “Ba…ba cảm ơn các con!”.
(Viết tại Oregon trưa 24/1/2007 vài giờ sau lúc Ba tôi mất tại Việt Nam)
Ngùi trông con nước xuôi dòng Thương Cha đoài đoạn cõi lòng, lệ rơi Chín mươi, Cha tuổi cuối đời Con vầng mây lạc cuối trời ly tan.
HT.
Theo Má tôi kể là Ba tôi theo kháng chiến chống Pháp lúc tôi còn bé, nhưng ba tôi không vô đảng cộng sản, đó là lý do có lần Ba tôi bị cộng sản xử tử hụt vì bất đồng ý kiến “nặng nề” với tổ chức kháng chiến do cộng sản nắm quyền sinh sát trong kế hoạch nông thôn bao vây thành thị, theo đó nhiều cán bộ Việt Minh đã tịch thu gạo, gà đồng bào gánh ra chợ, đem về nhà cho vợ.
Năm 1954, Ba tôi không đi tập kết ra Bắc vì ông không phải là đảng viên cộng sản, ông ở lại với gia đình như một người dân bình thường và cùng Má tôi “sản xuất” một bầy con mà tôi là thằng nhóc đầu đàn.
Khi lớn lên, tôi học dang dở ở bậc Đại Học, chui vô Thủ Đức để trở thành một tên quan nhì. Tôi đổi về Sài Gòn sau khi ở Quân Khu 2 bẩy năm, học tiếp tục lớp chiều ở một đại học, hoàn tất xong chương trình đại học mà tôi đã bỏ dang dở.
Ba tôi nghĩ là ông đã có thằng con với tương lai xán lạn, nhưng ông đã lầm. Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, miền Nam trở thành một thứ thiên đường đen thui, tôi và vô số anh em sĩ quan miền Nam cùng quê bị đẩy lên mật khu Kà Tót giữa rừng, gần biên giới Lâm Đồng – Bình Thuận, nơi đó, chỉ sau vài tuần, anh em tụi tôi phải đặt cho cái tên là “trại tử thần”. Tên cũ của nó là “trại tù tàn binh Kà Tót”, nơi bắt đầu những chuỗi ngày tù ngục “từ người xuống vượn mất ba hôm. . . “
Trong lúc sống như súc vật dưới những mũi AK trên rừng Kà Tót, chúng tôi, những tên tù còn sống, hàng tuần phải khiêng chôn những tên tù bị chết, vì lao động nặng, sốt rét và thiếu ăn. . .Và tôi thấy có lẽ mình không có ngày về. Ba tôi dĩ nhiên là không lường được cuộc đổi đời quái đản ngược ngạo đang diễn ra đang phủ chụp lên đầu tôi và lên đầu cả nước.
Khi tin số tù chết ngã xuống hàng loạt trên rừng Kà Tót, và trại cấm không cho thăm nuôi, những gia đình và thân nhân tù nhân sống với những ngày đêm ác mộng khi nhìn về hướng núi rừng, nhất là sau tin đại úy Trò bị “cách mạng” đập đầu chết trên một đòng suối cạn ở Phú Bình, cách Phan Thiết chừng 8 cây số về phía Tây Bắc, làm cả thành phố co ro run sợ và kinh hoàng. Thân nhân ngủ với những cơn ác mộng khi nghĩ tới những người tù trên rừng Kà Tót trong tay tàn bạo của “cách mạng”.
Tôi không biết Ba tôi có bao nhiêu cơn ác mộng, nhưng sau này, tôi được biết là mỗi đêm ông đều ra ngoài sân, nhìn về hướng Kà Tót với bó nhang khấn vái mười phương, tám hướng cầu cho tôi còn sống, cầu cho tôi có ngày trở về.
Mà cuối cùng tôi về thiệt, tôi trở về, tôi còn sống, nhưng với tấm thân tàn ma dại mang theo một gia tài vĩ đại của của những người gọi là “giải phóng”, gọi là “cách mạng” ban cho. Đó là vô số những trùng sốt rét ác tính nằm vùng hàng triệu con trong máu. Chết ở rừng Kà Tót hay chết ở nhà vì sốt rét cũng là chết, nhưng chết gần cha mẹ đỡ lạnh lẽo đỡ cô đơn hơn chết trong rừng Kà Tót với tấm thân gầy đét bó bằng mấy vạt tre, ném xuống lòng đất lạnh. Tôi vẫn thường nghĩ như vậy.
Đầu năm 1980, tôi bỏ nước ra đi bằng đường biển, và Ba tôi lại cầu trời khẩn Phật. Lần này, tôi đến được Canada chứ không bị nhốt ở Côn Đảo như tin công an báo cho gia đình. Lần này, Ba tôi chỉ mất ngủ có một tháng sau khi nhận tin tôi đã thoát và đến bờ tự do. Ngay khi đến xứ người, tôi lăn vào chuyện viết lách và dần dần cuốn sâu vào những bài viết và mấy quyển sách mà cộng sản xếp vào loại phản động nặng, và cơ hội hay điều kiện dành cho tôi một ngày về thăm lại Ba tôi là chế độ cộng sản phải “đi chỗ khác chơi”, hay phải cáo chung.
Khi Ba tôi còn sống, và còn mòn mỏi đợi con suốt 23 năm, tôi luôn phone hẹn Ba tôi là “thế nào con cũng về, Ba chờ con năm nữa !” Ba tôi tin tôi, và ba tôi chờ tôi, 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm; mỗi năm, thời gian cứ nặng nề trôi qua, ông mòn dần khi qua cái tuổi gần 90. Và cuối cùng, tôi đã thua cuộc hẹn. Ba tôi đã chờ đến hơi thở cuối cùng và ra đi không hẹn ngày trở lại gặp tôi.
Ba tôi đã ra đi vài tiếng đồng hồ sau khi tôi đến Portland, Oregon trong chuyến đi dài Portland, San Diego, Phoenix và quay về Seattle . . .với mấy quyển sách. Qua phone, em tôi cho hay “Ba đã mất lúc 10 giờ sáng ngày 23 tháng 11 tại Phan Thiết.” Tôi bàng hoàng, tôi nước mắt. Tôi biết là sẽ có ngày đau thương này, tôi đã chuẩn bị đón chờ sự mất mát đau lòng này từ lâu, nhưng không thể không đoạn ruột từng khúc với những dòng nước mắt không cầm.
Gia đình thừa biết là tôi không về với Ba tôi trong ngày ông mất, nhưng vợ tôi vẫn yêu cầu tôi bỏ chuyến đi và quay về Vancouver. Mà về để làm gì khi em thay anh bay về thọ tang cho Ba và anh nằm nhà ôm nỗi đau “bất hiếu để khóc một mình. Còn chương trình anh em và bạn bè tổ chức sẽ ra sao nếu người nói chuyện không có mặt? Tôi quyết định tiếp tục chuyến đi khi những dòng nước mắt khóc cha dường như khô .
Chiều nay cùng anh em có mặt trong buổi gây quỹ cho Dân Oan và TPB tại Portland, tôi bỗng chợt nhớ ra một điều kỳ lạ mà tôi đã quên không để ý. Ba tôi đã ra đi đúng vào giờ sinh của tôi, vào ngày sinh của tôi, và vào tháng sinh của tôi. Tôi rời Vancouver gần vào ngày sinh nhật của mình mà tôi có nhớ gì đâu. Điềm gì đây? Có gì bất thường không? Nhưng dù có điều gì đi nữa, con đường trước mặt của tôi vẫn không thay đổi. Tôi vẫn đi với ước mơ về một nước Việt Nam tự do. Ba tôi không thể sống mãi với thời gian, nhưng Tổ Quốc Việt Nam phải trường tồn. Ba tôi hiểu tôi, và Ba tôi không một lần trách tôi.
Câu duy nhất mỗi lần ông mòn mỏi là “liệu con có ngày về cho Ba thấy lại mặt con hay không?”. Lần nào tôi cũng bơm một chút hy vọng cho Ba tôi: “Ba chờ con vài năm nữa !Thế nào con cũng về !” Lần này thì không còn gì nữa ! Lần này, tôi lại khổ tâm nhắc lại câu tôi thường trách ông Trời rằng. . . tại sao thời nay lại “nghịch thiên giả tồn, thuận thiên giả vong?”. Ba tôi mất, tôi sẽ tụng câu này cho tới ngày cộng sản Việt Nam không còn mới thôi.
Mới đây, thật là “một sự vô tình linh hiển” khi trong tác phẩm mới nhất tôi phát hành, và còn đang lang thang đi lòng vòng nói chuyện, tập “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”, những dòng cuối của trang 152, tôi lại viết : “Sau cùng, tác giả tạ tội bất hiếu cùng Cha, Mẹ, trong những ngày mòn mỏi cuối đời mà tác giả, người con trưởng trong gia đình, vẫn nhất quyết không về quê hương dưới mầu cờ đỏ cho dù Cha Mẹ có mất trước ngày cộng sản Việt nam sụp đổ! “
Lời nguyền đã hiện thực, bất hạnh thay, lại đúng ngay vào ngày sinh của tác giả ! Những dòng này được viết xong vài giờ sau khi Ba mất, con chân thành xin tạ tội bất hiếu với Ba. Ba thương con, và con tin Ba hiểu con và tha thứ cho con.
Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, việc vượt biển tìm Tự Do ngay tại Saigon, rất khó thực hiện, vì lúc đó bọn phỉ quyền còn kiểm soát chặt chẽ, công an khu vực luôn luôn “dòm ngó“ nhà dân. Việc “đi bán chính thức” do công an tổ chức cũng không còn rầm rộ như các năm 1978-1979. Kể từ ngày hé lộ chuyện vượt biển bằng ghe ngay tại Thủ Đô Saigon, cho đến bây giờ, cũng không thấy có ghe thứ hai, như vậy, trong lịch sử thuyền nhân, chỉ có duy nhất một chiếc thuyền chở 45 người ra đi, xuất phát ngay trên sông rạch của Thủ Đô Saigon, và bây giờ, người tổ chức chiếc thuyền này kể lại để cống hiến cùng bạn đọc, thân hữu xa gần. Không có ai đi bằng ghe từ Saigon liên lạc với tôi, nhưng có rất nhiều email muốn tôi viết lại việc tổ chức này do hiếu kỳ và tò mò, như vậy trong lịch sử thuyền nhân Boat People chỉ độc nhất một chiếc thuyền do tôi làm, đi từ sông Saigon ra cửa biển Vũng Tàu.
Đường bộ Saigon-Vũng Tàu dài 120 Km, đường sông tương đương hoặc dài hơn nhưng quanh co vắng lặng, tàu tuần công an lúc nào cũng chạy tới chạy lui để kiểm soát và làm tiền các ghe thuyền chuyên chở hàng hoá, do đó phải cẩn trọng suốt cuộc hải hành. Công an chận xét mà trên ghe đầy người, coi như xong, tất cả vào „nhà đá“, người tổ chức không có ngày về. Tôi dùng chiến thuật như khi đi hành quân diệt Việt Cộng, một xuồng tam bản, chạy máy đuôi tôm, lọai ghe này chạy rất nhanh, không có mui, dùng làm tiền sát chở 2 người, chạy trước khoảng 1 hải lý, gặp tàu tuần, quay lại, bấm đèn pin để làm hiệu báo động, đó là lần thứ 3, đi ban đêm. Khi thấy có đèn hiệu, chiếc thuyền chính chở người phải rẽ ngay vào con rạch gần nhất, trốn trong đó, chờ ghe tiền sát thám thính, thấy an toàn mới cho tiếp tục lên đường.
Tôi cũng chân thành tạ lỗi cùng các bạn bè thân thiết từ ngày gặp nhau trên nước Đức, 37 năm qua, trong lúc “trà dư tửu hậu” chỉ toàn các chiến hữu thiết thân, nhưng tôi cũng không hề nói về câu chuyện vượt biển ngay tại Thủ Đô Saigon, như người “hàng xóm” tại khu Hoà Hưng, là anh Nguyễn Hữu Huấn, người được Cap Anamur vớt trước tôi, đã gặp nhau trên boong tàu vào tháng 5.1980 tại cảng Singapore, cũng không hề nghe tôi nói về con thuyền đi đường sông từ Saigon ra cửa biển Vũng Tàu…Sở dĩ tôi giữ kín “như bưng” là vì “nói ra”, bọn công an cộng sản biết được, sẽ tóm trọn ổ những người đi sau, nếu họ cũng làm như tôi.
Cap Anamur đã cứu vớt thuyền nhân như sau:
Cap Anamur 1 gồm nhiều chuyến, từ tháng 9.1979 đến tháng 05.1982, vớt được 194 ghe, 9507 người.
Cap Anamur 2, từ tháng 03.1986 đến tháng 06.1986, vớt được 18 ghe, 888 người.
Cap Anamur 3, từ tháng 04.1987 đến tháng 06.1987, vớt được 14 ghe, 905 người.
Tổng cộng 3 lần ra khơi, Cap Anamur đã vớt được 226 thuyền, 11.300 người. Ở đây cũng xin nói rõ, tất cả các thuyền nhân dưới 18 tuổi đều được bảo lãnh đoàn tụ gia đình, chính phủ Đức chi trả mọi chi phí cho việc đoàn tụ này. Tôi đem đi 2 đứa cháu, một đứa gọi là chú ruột, một đứa gọi là cô ruột, cả 2 đứa đã bảo lãnh cha mẹ, anh chị em, mỗi gia đình 7 người, chúng tôi không phải trả một chi phí nào cho tiền vé máy bay đoàn tụ, đặt chân đến nước Đức, mọi người được lãnh trợ cấp để sinh sống ngay. Nhiều người thấy nước Đức “cưu mang” và mở rộng lòng nhân, đều nói là những thuyền nhân này đẻ bọc điều mới được hưởng những may mắn như thế, công ơn cứu tử của vị ân nhân, ông Thánh Neudeck sẽ sống mãi trong lòng chúng tôi, những người phải từ bỏ chế độ cộng sản độc tài, khát máu ra đi, chín phần chết, chỉ có một phần sống mong manh. Sau 37 năm (1979-2016), số người đoàn tụ, số người trưởng thành lập gia đình, sinh con đẻ cái, nâng con số lên khoảng 70.000 người, trong đó có rất nhiều gia đình, các con em họ đều thành đạt trên bước đường học vấn, như gia đình anh chị Nguyễn Đức Trụ, cả 5 cháu, 3 trai 2 gái đều đỗ đạt, đứa thì Bác Sĩ, đứa thì Kỹ Sư, đứa thì Dược Sĩ. Gia đình anh chị Lê Thanh Tùng ở Bochum, 4 cháu gái đều xong bậc Đại Học, đi làm, có địa vị ngoài xã hội, mỗi cháu học một ngành nghề khác nhau. Đặc biệt, ghe của tôi có anh Trương Ngọc Thanh, đã tốt nghiệp Kỹ Sư Phú Thọ, khi đến Đức, đi học lại, tốt nghiệp Bác Sĩ, hiện mở phòng mạch tại Tỉnh Minden, Tiểu Bang NRW, Germany. Anh Nguyễn Hữu Hoàng, Kỹ Sư Địa Chất tại VN, qua Đức, học lại, thành Bác Sĩ Y Khoa, đang hành nghề tại một nhà thương ở tỉnh Menden, còn gia đình anh Phạm Văn Hoá, đã bị 3 ghe hải tặc bao vây, sửa soạn tấn công, thì Cap Anamur đến cứu kịp, 2 cháu gái của anh Hoá lúc đó mới 4,5 tuổi, nay đã tốt nghiệp Đại Học, cháu Thanh Trúc, một nữ Luật Sư trẻ, đã làm MC cho buổi khánh thành tượng đài thuyền nhân năm 2009, tại hải cảng Hamburg. Đặc biệt hơn nữa, một thuyền nhân đã trở thành Dược Sĩ Trung Tá trong quân đội Đức, đó là Anh Lê Vĩnh Hiệp, còn nhiều điều kỳ thú mà chúng ta chưa biết được như ĐĐ Thích Hạnh Giới, Trụ Trì chuà Viên Giác, là một Boat People, tốt nghiệp Đại Học Đức, xuống tóc đi tu được Sư Phụ Thích Như Điển cho qua Ấn Độ du học, đậu bằng Tiến Sĩ Phật Học. Tôi chỉ kể ra những trường hợp điển hình, chắc chắn còn rất nhiều các con cháu đã đạt được thành quả rất tốt đẹp trong lãnh vực học vấn, riêng đạo Công Giáo đã có thêm nhiều Linh Mục, những vị này được Cap Anamur vớt ngoài biển Đông, đi tu trở thành các vị lãnh đạo tinh thần trong Giáo Hội Công Giáo, tôi quen biết thân thiết với vài vị Linh Mục, dù tôi không phải là tín hữu.
1.- TÌM ĐƯỜNG RA ĐI.
Thấm thoát sống với loài qủy đỏ đã gần 5 năm, nhất là sau ngày mẹ tôi mất, 08.02.1979, càng thúc đẩy tôi quyết tâm tìm kiếm một lối thoát, 3 đứa con gái của tôi không thể nào học lên được, vì với lý lịch, cha là dân di cư 54, Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, con cái chắc chắn bị “trù dập” trong cái guồng máy “xét lý lịch 3 đời, hồng hơn chuyên”. Cá nhân tôi, được lưu dụng làm việc tại Saigon Thủy Cục, nay đổi tên là Công Ty Cấp Nước, đến tháng 06.1976, bị cưỡng bách cho nghỉ việc để đi kinh tế mới, các hậu quả do chế độ mới giành cho tôi đã từ từ phủ chụp lên cuộc sống gia đình tôi, đây là một sự trả thù hèn hạ mà chế độ phỉ quyền luôn luôn tuyên truyền, là khoan hồng, nhân đạo với người chế độ cũ, tôi bị thương, giải ngũ, trở thành Thương Phế Binh với cấp độ tàn phế 70%, vừa kịp lúc Saigon Thủy Cục, một cơ quan tự trị, lương bổng cao hơn lương Trung Úy Quân Lực VNCH, thi tuyển nhân viên, ngạch kiểm soát viên kiêm thâu ngân viên, tôi nộp hồ sơ, kèm các huy chương để được ưu tiên, thêm điểm. Kết quả tôi đậu đầu trong 5 người và làm việc tại khu Chợ Lớn, sau 3 tháng tôi xin đổi về khu Saigon, gần nhà hơn. Saigon Thủy Cục có 3 khu chính là Saigon, Chợ Lớn , Gia Định và nhà máy nước Thủ Đức. Sau ngày 30.04.1975, bọn “răng đen mã tấu” tiếp thu Saigon Thủy Cục, chúng đổi tên là Công Ty Cấp Nước, vẫn làm việc như cũ, chúng giao cho tôi 2 người mới từ ngoài Bắc vào, để chỉ dẫn cho họ, tôi có chút nghi ngại, nhưng không chỉ bảo cho chúng, thì có thể bị kỷ luật, tôi và các nhân viên được lưu dụng phải “học tập cải tạo” 1 tháng tại cơ quan, mãn khoá được cấp giấy chứng nhận, tôi dùng giấy chứng nhận này, sau khi bị cho nghỉ việc, đi khắp các tỉnh miền Tây, tìm đường vượt biển. Thời buổi nhiễu nhương, sống trong một xã hội lấy “lừa dối” làm kim chỉ nam, rất nhiều người mất vàng mà không đi được, còn bị vào tù, đi đâu cũng nghe, người này người kia vừa bị gạt, dù thế, tôi cũng không nản. Trong gia tộc có một vị thông gia với nhạc phụ của tôi, làm nghề đánh cá tại Vũng Tàu, tôi và người anh đồng hao, đã ra Vũng Tàu, ngủ đêm tại nhà vị thông gia này, để tính chuyện ra đi, nhưng không thành, vị thông gia không dám chứa chấp số người từ Saigon ra đây, chỉ ngủ lại một thời gian rất ngắn, lý do công an khu vực tại xóm chài này như con cú vọ, lúc nào cũng “lùng xục” khắp trong xóm, người lạ xuất hiện là bị xét hỏi ngay. Đường đi từ bãi sau Vũng Tàu không thể nào thực hiện được với người từ nơi khác đến. Trên đường trở về Saigon, chúng tôi ghé chợ Rạch Dừa, Bà Rịa, thăm một người bạn, anh này cho biết những khó khăn mà bọn công an kiểm soát các khu xóm dễ dàng đem ghe thuyền ra biển, nói chung, những thôn xóm gần bờ biển đều được vào sổ “bià đen”, bọn công an khu vực luôn luôn “để mắt” đến. Việc mua “bãi” nếu êm xuôi thì an toàn cho người ra đi, nhưng nhiều khi vì “tranh ăn”, chúng nó “đấm đá” lẫn nhau mà chủ ghe lãnh đủ, người đi mất vàng bạc cũng không dám “tố cáo” hay thưa gởi gì cả. Thằng cháu rể tôi kể về chuyến ra đi của nó năm 1979, đi xe đò ra Vũng Tàu, có người dẫn đường tới khu đánh cá Phước Tỉnh, di chuyển ban ngày, không lén lút, nói chuyện ồn ào như cái chợ, thanh niên mỗi người vác một bao bố lớn kinh sách Phật Giáo, trong số người đi chung có Ni Cô Thích Nữ Diệu Hạnh, nay đang trụ trì một ngôi chuà tại Barntrup, Đức Quốc, số kinh sách và Tượng Phật do số thanh niên của ni cô vác đem theo. Đây là chuyến vượt biển đã được mua “bãi” không sợ bị công an bắt giữ, rất an toàn xuống ghe để ra khơi.
Tôi có anh bạn tên Dương Phục, vợ là Vũ Thanh Thủy, 14 lần mới đi được, bây giờ hai vợ chồng đang làm Đài Phát Thanh tại Houston, Texas, nhờ gia đình bên vợ đi trước, gởi đô la về nên mới có tiền để trả cho 13 lần ra đi không thành, lần thứ 14 mới ra khơi được, thì lại bị tàu hải tặc cướp bóc thật dã man, khủng khiếp. Dương Phục và Vũ Thanh Thủy đã viết hồi ký “TÌNH YÊU NGỤC TÙ & VƯỢT BIỂN” ghi lại tất cả các diễn biến cuộc vượt biển tìm tự do của đời mình.
Tôi bôn ba khắp các tỉnh sát bờ biển thuộc vùng bốn, nhưng vì không có người quen nên việc tổ chức ra đi không thực hiện được, sau bốn tháng, trở lại Saigon để tìm đường khác.
Tôi ghé thăm thúc phụ tại trại Khuông Việt, Ngã Ba Ông Tạ, thím tôi hỏi thăm việc ra đi như thế nào, tôi cho biết tình hình chung rất khó khăn vì việc lừa gạt trong chuyện vượt biển xảy ra quá nhiều, không biết ai thật ai giả, tiền mất tật mang. Thím tôi cho biết, người hàng xóm sát cạnh nhà có người chú, ông ấy có chiếc thuyền chạy từ Saigon ra Vũng Tàu, chặt củi ở rừng đem về bán sinh sống cả nhà, mấy đứa con lái ghe từ sau 30.04.1975 đến bây giờ nên rất rành đường đi trên sông, biết chỗ nào có trạm kiểm soát đế tránh né, giống như đi trên đường bộ vậy. Đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”, nhờ thím tôi giới thiệu với ông Sơn hàng xóm, và xin trực tiếp gặp ông Hoàng Văn Vân, người có chiếc ghe chặt củi, ngày giờ hẹn gặp sẽ cho biết sau, tôi ra về, đúng ngày hẹn, tôi đến, cuộc gặp gỡ thân mật tại nhà ông Sơn, ông Vân và tôi đã thoả thuận, phía tôi bỏ tiền mua ghe, mua máy và mọi chi phí khác, phiá ông Vân được đi cả gia đình, không phải đóng góp gì cả vì nhà quá nghèo, vợ ông Vân đã chết, ông ở vậy nuôi đàn con hơn mười đứa.
2.- GIAI ĐOẠN MUA THUYỀN, MUA MÁY.
Người con trai trưởng của ông Vân là Hoàng Văn Sự đã đưa tôi lên Thủ Đức để mua thuyền, chiếc thuyền dài 11 mét, ngang 3 mét, không có máy móc gì cả, còn tốt, chắc chắn, thuyền này chỉ đi trên sông, mũi bầu, nghe nói thuyền đi biển phải đóng mũi Tháilan mới chẻ sóng được, nếu là mũi đi biển, công an sẽ “hỏi thăm” ngay, tôi quyết định mua chiếc ghe này với giá 5 lượng vàng, chủ thuyền viết giấy tay bán cho tôi, không có thị thực gì cả, tôi phải nhờ chiếc ghe của ông Vân lên kéo về cột đằng sau nhà ông Vân, nằm sát con kinh Nhiêu Lộc, khúc ấp Hoà Bình, gần Ngã Ba Ông Tạ.
Muốn vượt biển phải gắn máy Yamaha một “blok” hoặc lớn hơn, tôi đi thăm dò nhiều người có ghe thuyền chuyên chở từ vùng bốn về Saigon và ngược lại, may mắn có vị giới thiệu tôi với “chú Bảy Chợ quán”, nhà trước Bệnh Viện Chợ Quán, sau nhà là con rạch chạy dài đến cầu chữ Y và cầu Rạch Ông. Tôi trình bày thẳng với chú Bảy, tôi có ý định ra đi và nhờ chú ấy lo chuyện lắp ráp máy, chú Bảy bảo đem chiếc ghe neo ngay sau nhà để chú xem xét, ngày hôm sau tôi trở lại với chiếc thuyền và cột ngay dưới chân cột nhà chú Bảy, sống với Cộng Sản 5 năm, tôi biết lòng người dân Saigon, ai ai cũng chán ghét bọn “răng đen mã tấu” nên không ngần ngại nói thẳng ý định “vượt biển tìm tự do” với người đối diện, cứ lấy cái “tâm thật” để cư xử, chính vì bản tính của tôi lúc nào cũng thủy chung với mọi người, nên kể từ ngày làm tờ Tạp Chí Dân Văn, đã lấy bút hiệu là Lý Trung Tín. Chú Bảy xem xét chiếc ghe, cho biết còn khá tốt, với kích thước này thì chỉ gắn máy Yamaha đầu bạc 1 block thôi, tôi đồng ý với lời cố vấn của chú, hôm sau nữa, tôi giao 5 lượng vàng lá cho chú Bảy, không cần viết giấy biên nhận gì cả, đối xử bằng tấm lòng chân thật giữa 2 bên, những chuyện làm có tính cách “bất hợp pháp” mà đòi hỏi “giấy tờ” thì là đã không tin nhau rồi, bọn phỉ quyền biết được thì cả 2 phiá đều “mắc tội”, chi bằng ta cứ đối đãi thực tâm của những người bị áp chế bởi cường quyền. Thời gian khoảng 1 tuần lễ sẽ ráp máy xong, hàng ngày tôi đều ghé chú Bảy, lần nào ông cũng đãi tôi bữa cơm thật chân tình, càng nói chuyện càng thấy hợp tính nhau, nhất là các nhận xét về cái chế độ này, tôi mở lời mời chú Bảy cùng ra đi với tôi, nhưng chú từ chối chờ chuyến đi của giòng họ chú, và chú chúc tôi gặp được nhiều may mắn khi ra khơi. Đúng 7 ngày sau, việc ráp máy hoàn tất, chú Bảy hẹn ngày giờ cho ghe chạy thử, xong xuôi tôi giao ghe cho cậu em vợ là Trần Văn Vinh giữ và lái, để thực hiện các giai đoạn kế tiếp.
3.- CHỌN NGƯỜI THÂN TÍN – HỌC CĂN BẢN HẢI QUÂN.
Mua ghe, ráp máy xong, phải có người tin cậy, thân tín giữ ghe, mới có thể tiến hành từng bước, tôi phải ở trên “bờ” để “tính toán” mọi chuyện. Tôi có 5 cậu em vợ đều đã trưởng thành, chỉ riêng cậu út Trần Hoàng Minh đang phải đi “nghiã vụ quân sự” đóng bên Cao Miên, 4 cậu kia đang sống tại Saigon và Biên Hòa. Tôi là con trai út, chỉ có một người em thúc bá nhưng chú này còn ham chơi, không thể giao cho những việc hệ trọng, cuối cùng tôi chọn cậu em Trần Văn Vinh, hai anh em đi uống cà phê, tôi rủ Vinh tham gia chuyện vượt biển tìm tự do bằng thuyền ngay tại Saigon, Vinh không do dự cũng không thắc mắc, đồng ý đi với tôi, như vậy, yên tâm một việc, đã có người thân tín “cật ruột để giữ chiếc ghe trong suốt thời gian chờ đợi ngày giờ khởi hành, tôi dặn Vinh đem ghe chạy “đi lại” trên sông Saigon ra đến cửa biển Vũng Tàu, quan sát và nắm vững những địa điểm mà tàu tuần công an chận xét trên sông, một thời gian sau Vinh cho biết đã “thuộc” đường đi trên sông, giống như đi trên bộ, chỗ nào có tàu tuần, chỗ nào hay bị chận xét, cách tránh né chúng như thế nào Vinh đều đã nắm rõ. Cứ khoảng một tuần về lại Saigon, lên bờ mua thực phẩm cho việc ăn uống, rôi xuống thuyền đi ra Vũng Tàu chặt vài bó củi chở về Saigon cho gia đình ông Hoàng Văn Vân. Trên thuyền lúc nào cũng có ít nhất 2 thủy thủ lái ghe, là Hoàng Văn Quỳnh và Trần Văn Vinh, hoặc Hoàng Văn Mục, Trần Văn Vinh, thỉnh thoảng có thêm Lê Quang Đĩnh, em thúc bá, đi theo cho quen “sóng gió”, các người con trai ông Vân đã thay nhau đi cặp và chỉ bảo Trần Văn Vinh điều khiển chiếc thuyền thật nhuần nhuyễn, dù trước đó Vinh chưa hề chèo ghe trên sông rạch. Ê kíp lái thuyền đã đầy đủ, nhưng người chỉ huy phải có sự hiểu biết tối thiểu về biển cả, tôi nghĩ ngay đến chú em Nguyễn Gia Bảo, em ruột người bạn thân cùng khoá Sĩ Quan Thủ Đức với tôi, chú Bảo tốt nghiệp khoá 24 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, chỉ bị đi tù cải tạo hơn một năm thì được thả về, đang sống chung với gia đình có người chị dâu là em kết nghiã của tôi, khi cô em này lên thăm tôi trên trường Sĩ Quan Thủ Đức, tôi đã giới thiệu cho Nguyễn Thiện Tường, người bạn thân, anh ruột Nguyễn Gia Bảo, sau đó nên duyên vợ chồng, lúc mãn khoá Tường chọn Thiết Giáp, tôi lựa Biệt Động Quân. Từ ngày ra trường tháng 1/1968, cách Tết Mậu Thân 18 ngày, Tường và tôi đi hành quân liên miên, đứa ở Quân Đoàn 2, đứa thuộc Quân Đoàn 3, tôi dự trận Mậu Thân ngay tại Chợ Lớn, Tường thì còn đang học khoá căn bản Thiết Giáp, hai đứa không gặp được nhau lần nào cả, rồi ngày 30.04.1975 ập đến, Tường trong trại cải tạo, tôi bị thương trở thành Thương Phế Binh trước Hiệp Định Paris nên không phải đi tù cải tạo, chỉ học tập 1 tháng tại cơ quan đang làm việc là Saigon Thủy Cục. Năm 2010 nhân dịp sang Cali dự Đại Hội kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Biệt Động Quân/Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, tôi đã làm một vòng các Tiểu Bang thăm bạn bè, thân nhân, ở Thành phố Camden, NJ gặp Trần Văn Nam, người anh em đồng hao, bị Việt Cộng đày ra Bắc hơn 8 năm, bây giờ “tối ngày” đi biểu tình chống Cộng Sản tại New York, Washington với chiếc xe lăn và lá cờ vàng ba sọc đỏ, bay qua Orlando, Florida, thăm gia đình Nguyễn Thiện Tường mà từ ngày mãn khoá 25 Sĩ Quan Thủ Đức, tháng 01.1968, đến bây giờ tháng 07.2010 mới gặp lại, hơn 42 năm, vật đổi sao dời, bị đầy đọa bởi bọn người cầm thú, nay có dịp trùng phùng, những kỷ niệm được nhắc đến như một phần ký ức trong cuộc sống, chuyến bay kế tiếp đưa vợ chồng tôi đến Thành Phố Denver, Tiểu Bang Colorado, hội ngộ với Huỳnh Lập Quốc, tôi và Quốc cùng khoá Thủ Đức, chỉ có 2 thằng về Tiểu Đoàn 51 Biệt Động Quân, nên rất thân nhau, tôi bị thương, giải ngũ, Quốc tiếp tục trong quân ngũ đến ngày tan hàng, tôi không hề biết tin Quốc ra sao sau tháng 4 đen, Quốc người Sóc Trăng, tôi ở Saigon, bặt tin nhau từ ngày lũ “răng đen mã tấu” chiếm trọn miền Nam, mới mấy năm nay thôi, nhờ có Tổng Hội Biệt Động Quân, tôi mới liên lạc được với Quốc và rủ nhau cùng về dự Đại Hội tại Cali. Lúc này Tường còn đang bị giam trong trại cải tạo thuộc vùng 2, tôi đến thăm vợ con Tường, gặp Bảo, tôi nhờ Bảo xuống nhà chỉ dẫn các điều căn bản khi đi biển, Bảo sốt sắng mỗi ngày chạy xuống nhà tôi, đóng kín căn phòng và hướng dẫn thật tỉ mỉ về coi sao trên trời, đo tốc độ chiếc ghe, tính độ giạt của sóng, cách xem Hải Đồ, Hải Bàn…sau một tuần, những điều căn bản trên tôi đã nắm vững, dù sao tôi cũng đã tốt nghiệp Sĩ Quan Bộ Binh, việc coi bản đồ, địa bàn không thành vấn đề, khi được Bảo, một Hải Quân Thiếu Úy chỉ dẫn, là hấp thụ được ngay những điều căn bản khi đi biển, kể từ đây tôi vững tin hơn để đem con thuyền bé nhỏ vượt biển tìm tự do, tìm sự sống trong cái chết, khi ra đi mọi người đều biết, thập phần hiểm nguy, 9 phần chết chỉ có 1 phần sống rất mong manh. Tôi biết ơn sự hướng dẫn rất tận tình của Nguyễn Gia Bảo khi Bảo đích thân xuống chiếc ghe tại bến Bạch Đằng để đo tốc độ con thuyền, rồi chạy thử một khoảng rất dài, giải nghiã cặn kẽ các điều tôi hỏi về đi biển với con thuyền nhỏ bé này, dĩ nhiên với Bảo thì tàu sắt mới đúng tiêu chuẩn để ra khơi. Tôi mời Bảo cùng đi với tôi, nhưng mẹ Bảo không muốn vì trong gia đình vừa có chuyện đau buồn, 2 đứa em của vợ Tường vượt biển, chiếc ghe bị sóng đánh vào bãi san hô, cả thuyền chỉ có 2 người còn sống nên mới có tin về nhà, những trường hợp chết hết cả ghe thì rất nhiều, mà chúng ta thấy đăng tin trên báo tìm thân nhân vượt biển, không có tin tức gì về chuyến đi, bởi cả thuyền đã chìm vào lòng biển cả, không còn ai sống sót, chưa có cơ quan, báo chí truyền thông nào của thế giới thống kê tương đối chính xác được số người chết trên biển Đông mà chỉ ước tính, 1 người đến bờ thì 4 người vào “bụng cá”, trong lịch sử mấy ngàn năm của đất nước Việt Nam, chưa có thời kỳ nào mà số người ra đi tìm sự sống trong cái chết ào ạt như thời kỳ này, thà là chết hết chứ không thể sống trong một xã hội do lũ người tàn độc cai trị từ sau 30 tháng 04 năm 1975. Đây là một sự thật của lịch sử mà các nhà viết sử sau này phải ghi vào trang sử của tổ tiên để lưu lại ngàn đời sau. Cá nhân người viết đã bị “trả thù” của lũ “vượn người”, thì đến đời con cháu sau này còn bị trù dập đến tận cùng khổ ải. Nơi nào có tự do thì nơi đó là quê hương của mình, ta hãy “nhủ thầm” và cầu xin như thế.
4.- TRANG BỊ CHO CHUYẾN RA KHƠI.
Thuyền bè, máy móc đã lắp ráp xong, bây giờ phải tìm mua các vật dụng cần thiết cho việc ra đi, các “món” không thể thiếu:
Hải Bàn, Hải Đồ, Thức Ăn, Nước Uống 300 lít, 3 trái Xi-Nhan, Dầu Chạy Máy khoảng 300 lít, dự trù 100 bịch gạo sấy, 100 ký củ đậu, thêm khẩu K54, 2 băng đạn để thủ thân.
Vì phải giữ kín, các thứ trên do một mình tôi lo liệu, riêng khẩu K54 và 2 băng đạn cùng 3 trái xi-nhan, do người anh họ Hà, gọi mẹ tôi là cô mua dùm, anh này và tôi không biết nhau, vì năm 1954, tôi theo gia đình di cư vào Nam tìm tự do, ngày 02.05.1975, anh Hà Văn Cường, cán bộ Thương Nghiệp được cử vào Saigon công tác, anh Cường đã tìm đến nhà mẹ tôi, tôi được nhắn về chào người anh em, vừa thấy tôi, anh nói ngay, chú mày là Sĩ Quan mà sao không đi, ở lại, “đòn thù” sẽ giáng xuống không lâu đâu, đúng như người anh họ đã nói, chúng “lưu dụng” tôi đến tháng 6.1976, buộc nghỉ việc để đi kinh tế mới.
Tôi đóng một cái hộp để cất khẩu súng trên ghe, và chỉ một mình tôi biết chỗ cất súng. Anh Hà Văn Cường còn giúp tôi nhiều việc khi tôi nhờ đến, anh chẳng sợ hậu quả nếu việc bị đổ bể. Tôi cũng cho anh ấy biết, là tôi đang tổ chức để ra đi, anh hoàn toàn đồng ý với quyết định của tôi, chỉ khuyên tôi thật cẩn thận và tỉnh táo để “qua mặt” bọn công an Phường, Khóm.
Hải đồ mua chỗ quen tại khu quận 5, Hải bàn phải đến xem tại chỗ, loại của Hải Quân VNCH giá 1 lượng vàng lá.
Tôi cho cắt đôi 3 thùng phi 200 lít, hàn bằng mặt và có vòi vặn nước, 3 thùng phi này để vừa khít dưới sàn ghe làm chỗ ngồi, trong chứa nước ngọt và dầu chạy máy.
100 bịch gạo sấy mua tại chợ Kim Biên, 100 ký củ đậu mua ở chợ Cầu Muối.
Tất cả các thứ này được chuyển lên ghe trước chuyến đi 1 ngày, tôi bảo Vinh đem ghe đậu không nhất định một chỗ, thường xuyên neo ở chợ Thị Nghè, chỗ ghe chở hàng lên xuống, bọn công an không kiểm soát được. Nhà ở cạnh bờ sông, rạch, không thể cột thuyền được, bọn công an khu vực sẽ “rờ gáy” ngay, chúng sẽ làm khó dễ để kiếm tiền, dễ dàng bị lộ. Nói chung làm chuyện này, hoàn toàn bất hợp pháp, “chui” từ đầu đến cuối, phải giữ bí mật càng ít người biết càng tốt, chỉ một mình tôi quyết định mọi chuyện, từ ngày mua xong chiếc ghe, tóc tôi bỗng nhiên bạc trắng, vì lúc nào cũng suy nghĩ, tính toán, để qua mặt bọn cú vọ và cậu em Trần Văn Vinh theo lệnh tôi chấp hành, ngay việc bốc người để ra đi, chỉ một mình Vinh biết địa điểm rồi giao cho từng người đem xuồng nhỏ, chạy máy đuôi tôm đến mỗi điểm hẹn, các xuồng này là taxi chở vài ba người đến ghe chính, tôi luôn luôn áp dụng yếu tố bất ngờ mới qua mặt được tụi công an.
5.- RA ĐI RỒI TRỞ VỀ.
Một hôm Vinh lên bờ cho tôi biết, vừa bị tàu tuần bắt giữ, chúng đánh đập tra khảo rất dã man 2 người lái ghe là Vinh và Hoàng Văn Hàn, em Hàn mới 12 tuổi, rất thuộc đường sông vì theo ghe chặt củi từ sau tháng 4 đen, hơn 4 năm đi lại từ Saigon đến Vũng Tàu, “ngõ ngách” nào cũng biết, bọn tàu tuần nghi ngờ chiếc ghe là ghe taxi đưa người đến tàu chính để vượt biên, nhưng Vinh, Hàn một mực khai là nhà nghèo chỉ đi chặt củi về bán để sinh sống, cuối cùng phải cho chúng 2 can dầu, bọn chúng mới thả ra. Được cấp báo các sự việc, như vậy chúng đã nghi ngờ, tôi quyết định “nhổ neo” khẩn cấp, thuyền ra khỏi Vũng Tàu đúng ngày 23 Tết năm 1980, gặp “gió chướng”, tất cả say sóng nằm la liệt, toán lái thuyền “ngất ngư” hết vì các chú em này chưa hề đi lính, chỉ có một mình tôi còn tỉnh táo, tôi đành phải cho ghe quay về, lương thực còn nguyên chưa ăn uống gì cả, đến khúc sông Saigon thì trời đã sáng trưng, lúc đó là khoảng 7 giờ sáng, tôi cho ghe đậu tại bến đò Long Kiểng, quận Tư, Khánh Hội, số người trên ghe lên bờ an toàn, không một ai bị “làm khó dễ”, Vinh đem thuyền đi dấu chỗ khác. Bến đò Long Kiểng là nơi lên xuống hàng hoá, trái cây từ vùng 4 đem về giao cho các bạn hàng ở Saigon, rất đông đúc, nhộn nhịp.
Có 3 địa điểm “lý tưởng” cho việc tổ chức vượt biển bằng ghe thuyền là:
Chợ Thị Nghè, đối diện là chuồng Voi, Sở Thú. Nơi đây lúc nào cũng tấp nập, kẻ lên người xuống, ghe thuyền chở hàng hoá neo chật cả một khúc rạch Nhiêu Lộc, công an khu vực không kiểm soái gắt gao như xóm nhà dân.
Bến đò Long Kiểng, quận 4 Khánh Hội, cũng nhộn nhịp không kém chợ Thị Nghè, công an khu vực đi lại nhưng là để kiếm ăn cò con, bạn hàng “thí” cho vài trái cây, xấp bánh tráng.
Chợ Cầu Muối, nơi này xô bồ, bạn hàng chửi thề inh ỏi, đặc biệt công an khu vực không “léo hánh” vì dân hàng chợ là thứ dữ nhất Saigon. Tôi mua một tạ củ đậu ở đây, đem lên ghe thoải mái.
3 địa điểm này để neo ghe, “lên xuống” các thứ cần thiết cho chuyến đi, bọn công an khó theo dõi, bạn hàng không để ý đến người chung quanh.
Trong thời gian tính toán, sắp xếp cho chuyến “bốc người”, tôi đã “la cà” khắp hang cùng ngõ hẹp để xem chỗ nào, nơi nào thuận tiện, nhất là tránh sự để ý của bọn công an, nghiên cứu, điều nghiên, cuối cùng quyết định các địa điểm mà không có ai để bàn bạc, tham khảo, ngay như vợ tôi cũng không hề được biết những tính toán, những quyết định của tôi. Lúc di chuyển, chạy Honda Dame màu đỏ của vợ tôi, mặc bộ đồ đen, đội nón cối, dắt khẩu K54, khẩu súng này không dám để ở nhà, vì chúng kiểm soát hộ khẩu mà thấy đượcthì “ông bà già” bị liên đới trách nhiệm, giọng nói và các từ xử dụng, hoàn toàn là giọng Bắc Kỳ 75 khi phải nói chuyện với bọn công an Phường Khóm, nhìn bộ dạng ai cũng nghĩ là tôi mới từ ngoài Bắc vào Saigon.
Con cháu thành đạt đúng theo ý mình khi tôi đã “liều chết” mua ghe đem cả gia đình “ra đi” ngay trên sông Saigon, tôi thật sự mãn nguyện, cộng thêm 40 người đi chung, trong khi tôi không có một chút kinh nghiệm gì về “biển cả”, tôi chỉ là một Sĩ Quan Bộ Binh thuần túy, nếu bị bọn vẹm “vồ” thì cũng không có ngày ra khỏi tù, tóc tôi bạc trắng từ lúc quyết định mua ghe để tìm đường sống, lúc nào “đầu óc” cũng phải “tính toán” làm sao qua mặt được tụi công an Phường, Khóm, khoảng thời gian này, đầu năm 1980, bọn chúng còn kiểm soát rất gắt gao, công an khu vực luôn luôn dòm ngó theo dõi nhà dân. Nhiều người đã yêu cầu tôi viết lại câu chuyện vượt biển tìm tự do ngay tại Thủ Đô Saigon, lúc đầu mới đến Đức tôi không nói với bất cứ ai, dù là bạn bè thân thiết, vì viết và kể lại sợ ảnh hưởng đến những người cũng định làm như tôi, phỉ quyền biết được sẽ dễ dàng “tóm” trọn ổ, nay “phong trào” vượt biển không còn nữa, nên hôm nay tôi sẽ kể chi tiết, nhất là cách qua mặt bọn công an cú vọ từ lúc mua chiếc ghe, ráp máy, cho đến lúc rời Saigon, Đặc biệt, như đã nói ở trên, tôi chẳng có một chút “kinh nghiệm” gì về “biển cả” nên đã ra khỏi Vũng Tàu lại phải quay về 2 lần vì “sóng to gió lớn”, lần đầu lược thuật ở trên, vào ngày 23 Tết, lợi dụng dịp đón Tết, bọn Công An bận bịu với gia đình đón Năm mới, lơ là việc tuần tra trên sông, biển, nhưng hỡi ơi mùa Tết âm lịch hay có “gió chướng” mà dân thành phố như tôi không hề biết. Lần thứ 2, cũng ban ngày như lần thứ 1, bốc người công khai trên các điểm đã ấn định, trạm cầu Tân Thuận, công an gác trên cầu, ghe taxi bốc 6 người ngay phiá dưới, chạy đến chỗ ghe chính đang neo trong một con rạch rậm rạp. Đến bây giờ đã 37 năm, tôi nằm chiêm nghiệm, việc tôi đưa được 45 người đến bến bờ tự do là do hồng phúc mà tôi được thừa hưởng từ người mẹ hiền hậu, đạo đức, nhất là có phép lạ trong 2 lần quay về, trời đã sáng trưng khi từ Vũng Tàu chạy về Saigon, 7 giờ sáng, trên ghe còn đầy đủ lương thực vì chưa ăn uống gì cả, khẩu K54 và 2 băng đạn cùng 3 trái Xi-nhan cũng để kín đáo trên ghe, cả 2 lần không một ai bị làm “khó dễ” khi đổ người xuống để chờ đi lần thứ 3, phải có người “che mắt” bọn công an mới không thấy chiếc ghe chở đầy người tắp vào chân cầu Calmet cho người xuống, có lẽ tôi làm chuyện “bất ngờ” nên không ai nghĩ rằng đó là ghe vượt biên quay về. Tôi tin tưởng một sự huyền bí đã xảy ra mà khoa học không thể nào giải thích được, quay về lần thứ 2, ngày 08.02.1980, đúng ngày giỗ đầu Mẹ tôi, trở về lần thứ nhất, tôi đã quyết định “bỏ” căn nhà trong khu cư xá Công Ty Cấp Nước (tên cũ là Saigon Thủy Cục) sợ công an khu vực “để ý”, cả gia đình qua bên mẹ vợ tôi “ở nhờ” vì nhà này nằm ngay mặt đường Xa Lộ Biên Hoà, ít ai “để ý”, lúc quay về lần thứ 2, vì quá mệt mỏi, tôi đã ngủ thiếp đi, rồi như có tiếng gọi bên tai, dậy đi, hôm nay là giỗ đầu Từ Mẫu, tôi choàng tỉnh dậy và lấy Honda chở hết vợ con về bên Hoà Hưng, nhà của Bố tôi, đường Tô Hiến Thành, Quận 10, chỉ cách Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương Quân Lực Việt Nam Công Hòa không tới 100 mét. Tôi cũng nói rõ, trong tâm thức tôi, hoàn toàn không nhớ ngày giỗ của mẹ tôi, mới đây mà đã đúng một năm, người mẹ mà tôi yêu qúy nhất trở về với cát bụi, tôi đã quỳ trước di ảnh của từ mẫu, khấn nguyện mẹ hiền phù hộ cho gia đình nhỏ của tôi đến được bến bờ tự do. Con gái lớn của tôi có một bút ký ghi lại tổng thể cuộc vượt biển tìm tự do của gia đình tôi, vì cháu không biết gì về việc tổ chức ra đi do tôi thực hiện. Quý bạn nào muốn có bút ký này, tôi sẽ gởi đến các bạn tường. Email: lytrungtin.de@gmail.com
6.- QUÁ TAM BA BẬN.
Hai lần trước đi ban ngày, dĩ nhiên bốc người cũng “thanh thiên bạch nhật”, lần thứ 3, quá tam ba bận, đi ban đêm.
Dân thành phố từ nhỏ đến khi trưởng thành, không biết “sông nước” là gì, cho đến khi nhập ngũ, lội suối, lội sông thì cũng có để tảo thanh Việt Cộng, nhưng kinh nghiệm đi biển thì không có tí nào, nên 2 lần đã khuất núi Vũng Tàu mà đành phải quay về, sóng to gió lớn, dựng đứng chiếc ghe giữa biển khơi, toán lái ghe toàn thanh niên, chưa hề dính đến “lính tráng”, say sóng nằm gục hết trơn, chỉ còn mình tôi “tỉnh táo” không bị say sóng, thế thì đi làm sao được nữa, tôi quyết định cho ghe quay về. Vì sóng đánh bung mũi ghe nên phải sửa chữa, cho thuyền lên “ụ” tại cầu Rạch Ông, bọc tôn và bắt bù lon, chi phí hết 2 lạng vàng lá, tôi thấy dân tình ở đây thật “dễ thương”, họ nhìn chiếc ghe là biết vừa “ra biển” trở về nhưng không hề “báo cáo” cho bọn công an khu vực. Một tuần nằm “ụ”, ghe được “hạ thủy”, Vinh lái thẳng về chợ Thị Nghè, sau đó đem ghe về khu cư xá Thanh Đa neo tại đó, nghỉ ngơi một tuần, tôi suy nghĩ và vạch ra kế hoạch đi lần thứ 3.
Trước chuyến đi lần thứ nhất, tôi chia số vàng lá còn lại làm 3 phần, gởi “tứ thân phụ mẫu” giữ dùm, trường hợp chúng tôi đi thoát, thì số vàng này để các vị sống dưỡng già, nếu bị bắt thì dùng số vàng này “chạy” cho tôi ra tù. “Tứ thân phụ mẫu” nay chỉ còn 3 vì mẹ tôi đã an nghỉ ngàn thu.
Giỗ đầu mẹ tôi xong, tôi cho vợ tôi ra Vũng Tàu, gặp vị thông gia làm nghề đánh cá, hỏi xem đi biển vào thời gian nào tốt nhất, vị thông gia cho biết, với cái ghe đi trên sông như vậy, thì chỉ đi vào tháng 3 âm lịch tức tháng 4 dương lịch, các tháng khác sóng gió hãi hùng lắm, quả đúng như vậy. Thời gian biển êm, chắc chắn bọn tàu tuần sẽ kiểm soát gắt gao hơn, nên lại phải “tính toán” làm sao ra được biển an toàn mới hy vọng sống sót được, đường sông Saigon-Vũng Tàu xa vời vợi, hai bên bờ chỉ toàn cây rừng âm u, chúng có 2 chiếc tàu mã lực rất mạnh, thường xuyên chạy trên tuyến sông này để kiểm soát và làm tiền người dân lành sống bằng nghề chuyên chở hàng hoá từ vùng 4 về Thủ Đô, rất nhiều các rạch nhỏ dễ dàng cho ghe vào trốn bọn tàu tuần.
Vợ con tôi và vợ Vinh lên ghe chính tại chợ Thị Nghè, chạy ra neo dưới chân nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, cạnh bến phà Thủ Thiêm, để chờ các xuồng taxi đem người đến. Trong nửa giờ là đủ số người, thuyền nhổ neo khởi hành, trên nhà hàng và cạnh bờ sông, người ta vẫn ăn nhậu, nói cười ồn ào, chắc chắn không ai ngờ có một chiếc ghe chở 45 người xuất phát ngay nơi này để ra biển tìm tự do. Đó là lúc 20 giờ ngày 26.04.1980.
Lần này, tôi áp dụng chiến thuật như khi đi hành quân diệt Việt Cộng, Vinh và Hàn làm “khinh binh tiền sát” chạy trước cách ghe chính khoảng 1 hải lý, bằng xuồng tam bản chạy máy đuôi tôm, loại này chạy rất nhanh, khi thấy tàu tuần lập tức quay về và báo hiệu bằng đèn Pin, 2 dài 1 ngắn là có địch, ghe chính phải rẽ ngay vào con rạch nhỏ gần nhất để trốn chúng, nhiều lần như vậy, ghe chúng tôi mới đến được cửa biển Vũng Tàu, lúc này trời đã hừng đông, không thể ra biển giờ này, phải chạy vào bãi cát vàng ẩn nấp trong đó, “bãi cát vàng” là một địa danh nằm sát chân núi Vũng Tàu, cây cối khá rậm rạp, đợi 2 giờ sáng cùng khởi hành ra biển với các ghe đánh cá, giờ giấc người dân ra khơi, chúng tôi đã “nắm rõ”, cả trăm chiếc thuyền đổ ra biển, ghe chúng tôi lẫn lộn trong đó.
Vừa chạy được hơn nửa tiếng, thì gặp “dàn đáy”, ngang với phao “số không”, Vinh cho biết phải tránh dàn đáy, coi chừng vướng vào, lưới cá quấn chặt “chân vịt” thì vô phương đi được, đúng lúc này một tầu tuần của Việt Cộng chiếu đèn pha quét ngang ghe chúng tôi, trước đó tôi đã bắt mọi người chui hết vào khoang, không được nói chuyện lớn tiếng, theo sự tính toán và với tốc độ của chiếc ghe, thì khoảng 10 giờ sáng là ra đến “hải phận quốc tế”, tức đường tàu buôn, lúc đó lấy hướng Nam, chạy khoảng một ngày một đêm, bẻ hướng Đông để vào bờ biển Mã Lai Á. Trên tấm Hải Đồ, tôi đã vẽ và viết rõ ràng để các người lái ghe theo đó thi hành, cũng nói thêm ở đây, sau 2 lần trở về, tôi nghĩ là phải có một Sĩ Quan Hải Quân mới có thể đi được nên tôi đã đi tìm người Sĩ Quan này, tôi được một người quen giới thiệu một Sĩ Quan Hải Quân mới đi tù cải tạo về, tôi chỉ cần người lái ghe, việc đi đứng do tôi vẽ “phóng đồ”, sắp xếp và chỉ huy. Không ngờ vị này là Thiếu Úy Hải Quân. tên Trần Duy Bút mà tính một hải lý bằng một cây số nên đã bẻ lái quá sớm, đúng vào cái vùng mà bọn hải tặc đang hoành hành, tôi chỉ nói nhỏ cho vợ tôi biết điều này, sợ cả ghe xôn xao, mất bình tĩnh. Sau này tôi mới biết, anh Trần Duy Bút là Hạ Sĩ Quan được cho đi học khoá Sĩ Quan Đặc biệt nên trình độ hiểu biết có giới hạn, tôi cho Bút đi theo không phải đóng góp tiền bạc gì cả. Hơn 10 giờ sáng, ngày 28.04.1980, gặp ngay một tàu dầu của Panama rất lớn, chạy cách ghe chúng tôi không tới 100 mét, trông rõ “mồn một” những người trên “boong” tàu Panama, giữa “ban ngày ban mặt” như vậy, Trần Duy Bút lấy một trái sáng “thụt” lên trời, tôi giận quá, chỉ nói mấy trái “xi-nhan” dùng cho buổi tối khi cần cấp cứu mới xài, ban ngày thấy rõ ràng như bây giờ đâu cần phải “bắn trái sáng cấp cứu”, Bút có lẽ đã biết cái sai của mình nên im lặng, tôi cũng nguôi ngoai cơn giận, chạy về hướng Nam, giữ và theo đường tàu buôn, cả ngày, chúng tôi gặp thêm 3 chiếc tàu sắt rất lớn, nhưng chúng bỏ chạy luôn, chẳng giúp hay vớt chúng tôi, đến giữa trưa, trời nắng “chang chang”, tôi cho “neo ghe” để tắm biển, tất cả các chú biết lội đều nhảy xuống biển tắm thoải mái, nước và lương thực vẫn còn đủ để đi trong một tuần nữa. Đúng là “tháng ba bà già” đi biển, mặt biển êm như nuớc hồ thu, đi vào tháng 3 âm lịch rất dễ bị “tóm” ngay cửa biển, tàu công an lúc nào cũng có mặt.
Chạy thêm hai ngày, gặp vài chiếc tàu sắt, và một số ghe đánh cá, tất cả đều làm ngơ dù chúng tôi đã làm đủ mọi động tác xin cấp cứu, chỉ duy nhất một ghe đánh cá của Singapore đã cho chúng tôi 2 thùng bánh bích quy và một can nước ngọt. Bỗng lúc 10 giờ 47 phút sáng ngày 01.05.1980, một chiếc trực thăng bay lượn quanh ghe chúng tôi và ra dấu cho ghe chạy về hướng Tây. tôi xem Hải bàn, ra lệnh tắt máy ghe và thả trôi, vì hướng Tây là hướng chạy về lại Việt Nam…chỉ khoảng nửa tiếng sau, một chiếc tầu sắt rất lớn “lù lù” xuất hiện, bên hông sơn hàng chữ tiếng Pháp PORT DE LUMIERE – đảo Ánh Sáng, trên boong tầu, có người Việt bắc loa chiã xuống ghe, bảo tất cả phải bình tĩnh, đây là con tàu CAP ANAMUR sẽ vớt đồng bào, tôi ra lệnh, chia ra hai bên ghe để ngồi tránh nghiêng một bên có thể lật ghe, rồi đàn ông, thanh niên được đưa lên tầu Cap Anamur bằng những thang giây, đàn bà, con nít thì được cần cẩu võng lên, đây là ngày giờ mà cả 45 người sẽ nhớ ơn suốt đời: 10 giờ 47 phút ngày Quốc Tế Lao Động 01.05.1980, chiếc tàu CAP ANAMUR đã cứu sống chúng tôi.
Tàu Cap Anamur chạy dọc theo bờ biển Việt Nam để tìm ghe vượt biển, mỗi ngày vớt được một ghe, 12 ngày vớt được 12 ghe, tổng cộng 474 người. Tôi được đưa đến gặp vị thuyền trưởng Cap Anamur và tặng ông khẩu K54 và 2 băng đạn. Ông cám ơn và chúc tôi gặp may mắn trong cuộc sống mới.
Ngày 12.05.1980, Cap Anamur đem số người được vớt gởi tại Singapore, chúng tôi ở trại tạm cư trên đường Hawkins một tháng 28 ngày, ngày 09.07.1980, được đưa qua sống tại West-Germany bằng máy bay. Cũng xin nói thêm, Cao Ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, phát cho mỗi người 2,50 Đô la Singapore, một tuần phát một lần, tất cả tự túc nấu ăn, vị Trại Trưởng là một Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã cho mời tôi lên Văn Phòng trại làm việc giúp đồng bào, mặc dù “chưa hoàn hồn” nhưng tôi cũng sốt sắng và vui vẻ nhận lời, ông Trại Trưởng giao cho tôi làm Trưởng Ban Nội Vụ, còn Nguyễn Hữu Huấn, một phi công trực thăng Việt Nam Cộng Hoà đang giữ chức Trưởng ban Ngoại vụ vì Huấn rất giỏi tiếng Anh, đã qua Mỹ học lái máy bay, nhà Huấn ở trước rạp hát Thanh Vân, đường Lê Văn Duyệt, rất gần nhà bố tôi, đường Tô Hiến Thành, hồi nhỏ tôi và Huấn đều học trường Tiểu học Chí Hoà. Người Singapore rất giàu và có lòng thương người, hàng tuần họ đã đem đến trại cho rất nhiều quần áo và đồ ăn, mỗi lần cả “bao bố” lạp xưởng, tôi phải điều động một số thanh niên khuân vác các tặng phẩm đem chất vào kho, mỗi ghe nhập trại được tôi phân phát quần áo và thức ăn tồn trữ trong kho, cho đến lúc gia đình tôi đi định cư, hai kho quần áo và thức ăn vẫn còn rất nhiều, có lẽ vì được phát tiền, tự do mua bán nên số người trong trại không “tha thiết” với các vật dụng cho không chăng? Sau này, đọc báo chí mới biết, trại Singapore là trại tị nạn thần tiên số 1, không đâu sánh bằng.
Năm 1981, trên truyền hình số 2 (ZDF) Đức đã chiếu một cuốn phim dài gần 1 giờ, cảnh tàu Cap Anamur vớt người tại Biển Đông, trong đó đã quay thật rõ cái ghe của chúng tôi. Cái cánh quạt của máy phụ đã bị gãy, nên người phóng viên nói là khó có thể đi đến bờ được. Tên cuốn phim phóng sự là: (tiếng Đức, Einen Milimeter über dem Rand der Welt…Tiếng Việt, Một milimét qua bờ kia của thế giới), ý nói là chìm vào lòng biển không đến bến bờ, đặc biệt, 2 lần phóng viên đài Truyền hình đã đến quay cảnh sinh hoạt gia đình chúng tôi, tiêu biểu cho các người Việt Nam tị nạn Cộng Sản được tàu Cap Anamur cứu vớt, đã hội nhập và thành đạt tại nước Đức, đoạn phim này được chiếu trên đài truyền hình Quốc Gia Đức năm 2006 và 2008.
Gia đình nhỏ của tôi, lúc rời Saigon có 5 nhân khẩu, bây giờ, năm 2017, đã thành 15 người, tất cả sống hạnh phúc quây quần bên nhau trong một xã hội tự do, nhân bản tại thành phố Bochum, Germany.
LÊ THANH TÙNG
(ghi lại để tưởng nhớ ơn cứu tử của vị đại ân nhân, Tiến Sĩ Rupert Neudeck)
Ba ngày sau, ngày 30 tháng mười, vào lúc mười một giờ sáng, mười hai viên giám thị của trại khổ sai mặc quân phục trắng, đến nhận chúng tôi. Trước khi khởi hành có một nghi lễ chính thức nho nhỏ: mỗi người trong chúng tôi đều phải được xác định căn cước và nhận dạng. Họ đã đem theo những tờ phiếu ảnh có hình: chụp dấu lăn tay, đầy đủ bộ sậu, của từng người, để làm việc ấy. Sau khi đã xác minh căn cước, viên lãnh sự Pháp đến ký một văn kiện trao cho viên chánh án của quận này là người có nhiệm vụ chính thức trao trả chúng tôi cho nước Pháp. Tất cả những người có mặt tại đấy đều ngạc nhiên vì cái thái độ thân hữu của bọn giám thị đối với chúng tôi. Không có một lời nói nặng, cũng không có lấy một cứ chỉ thù địch. Ba người tù đã ở trại lâu hơn chúng tôi quen với nhiều viên giám thị, họ nói chuyện và đùa cợt với mấy gã này như với những người bạn cũ. Viên chỉ huy đội áp giải là thiếu tá Boural rất quan tâm đến tình trạng của tôi, ông ta nhìn đôi bàn chân của tôi và nói với tôi rằng lên tàu họ sẽ chăm sóc cho tôi, rằng trong đội áp giải có một người y tá rất tốt sẽ cho việc ấy. Chuyến vượt biển dưới căn hầm tàu thủy rất gian khổ vì ở đấy nóng nực khó thở, hai chân chúng tôi lại phải cùm từng hai người một vào những thanh sắt được dùng cho phạm nhân từ thời trại khổ sai Toulon. Trong chuyến đi chỉ xảy ra một việc đáng ghi lại: chiếc tàu phải ghé Trinidad để lấy than. Khi tàu ghé vào cảng, một sĩ quan hải quân Anh yêu cầu phái tháo cùm của chúng tôi ra. Hình như công pháp quốc tế cấm xích hay trói người đang đi trên tàu. Tôi đã lợi dụng cơ hội này để tát tai một sĩ quan thanh tra Anh khác. Tôi làm như vậy là để nhà chức trách Anh bắt tôi và đưa tôi lên bộ. Viên sĩ quan nói với tôi: – Tôi sẽ không bắt anh và sẽ không đưa anh lên bộ vì cái hành động nghiêm trọng mà anh vừa làm. Bị đưa về chỗ ấy là một trừng phạt nặng hơn nhiều đối với anh. Thế là tôi đã phí công vô ích. Quả thật cái số của tôi là phải trở về trại khổ sai. Thật quá rủi ro, mười một tháng vượt ngục, mười một tháng vật vã đấu tranh căng thẳng đã kết thúc một cách thật là thảm hại. Thế nhưng bất chấp tất cả, bất chấp cái hồi âm vang dội của những cuộc phiêu lưu dồn dập, chuyến quay về trại giam với tất cả những hậu quá cay đắng của nó, vẫn không thể xóa nhòa những giờ phút khó quên mà tôi vừa sống qua.
Gần hải cảng Trinidad mà chúng tôi vừa từ giã, chỉ cách đấy mấy cây số là nơi ở của gia đình Bowen nhân hậu tuyệt vời. Tàu cũng đã đi qua khá gần Curagac, nơi trú ngụ của một bậc vĩ nhân làm giám mục xứ này: Irénée de Bruyne. Chắc chắn là tàu chúng tôi cũng đã đi qua gần lãnh thổ của người Anh-điêng Guajiros, nơi mà tôi đã được biết tình yêu đắm say và trong sáng nhất dưới cái hình thức hồn nhiên, nguyên thủy của nó. Tất cả sự trong sáng mà chỉ có trẻ thơ mới có được, cách nhìn sự vật một cách thơ ngây của cái tuổi diễm phúc này, tôi đều đã tìm thấy trong những người con gái Anh-điêng đầy ý chí, có một tâm hồn giàu có về khả năng thông cảm, về tình yêu đơn sơ và trong sạch. Và những người hủi của đảo Bồ câu nữa! Những người tù khổ sai khốn khổ bị mắc cái bệnh ghê tởm này mà vẫn còn đủ sức tìm thấy trong lòng mình bấy nhiêu tình thương cao thượng để giúp đỡ chúng tôi? Cho đến viên lãnh sự Bỉ với lòng nhân hậu hồn nhiên của ông ta, cho đến Joseph Dega, người không hề quen biết tôi mà vẫn vì tôi sẵn sàng làm những việc nguy hiểm cho bản thân như vậy. Tất cả những người mà tôi đã được biết trong chuyến vượt ngục này đều xứng đáng để cho nó được thực hiện. Tuy đổ vỡ tan tành, cuộc vượt ngục của tôi là một chiến thắng, ít nhất là vì nó làm cho tâm hồn tôi phong phú thêm khi được làm quen với những con người hiếm có đó. Không, tôi không hề hối tiếc là đã vượt ngục. Và đây là sông Maroni với dòng nước đục ngầu. Chúng tôi đang đứng trên boong tàu Mana. ánh nắng nhiệt đới đã bắt đấu thiêu đốt dải đất này. Lúc bấy giờ là chín giờ sáng. Tôi thấy lại cái cửa biển rộng mênh mông kia: chúng tôi đang từ từ tiến vào nơi mà tôi đã ra đi với một tốc độ bão tố như vậy. Các bạn tôi im lặng không nói. Mấy người giám thị rất hài lòng là đã về đến nơi. Vừa rồi biển xấu trong suốt chuyến đi, cho nên bây giờ nhiều người trong bọn họ cảm thấy nhẹ nhõm. 16 tháng mười một 1934. Trên bến một đám người rất đông đã tập hợp lại. Có thể cảm thấy họ đang tò mò chờ đợi, nô nức muốn xem mặt những con người gan góc đã dám đi xa như vậy. Vì hôm ấy là ngày Chủ Nhật cho nên đây cũng là một cơ hội giải trí cho cái xã hội nhỏ này, vốn không có nhiều phương tiện giải trí. Họ bảo nhau: Đấy cái người bị thương là Bươm bướm. Còn người kia là Clousiot. Còn anh này là Maturette… – Và cứ thế mãi. Trong trại tù, sáu trăm người được xếp hàng thành từng khối trước mặt các lán. Cứ mỗi khối lại có mấy viên giám thị đứng cạnh. Người đầu tiên tôi nhận ra được là Francois Sierra. Anh ta khóc công khai, không hề giấu giếm. Anh ta đã leo lên một khung cửa sổ của bệnh xá để nhìn thấy tôi. Có thể cảm thấy rõ rằng nỗi đau lòng của anh là thật. Chúng tôi dừng lại ở giữa trại. Viên chỉ huy trại cầm loa lên nói: – Các phạm nhân, các người có thể thấy rõ rằng vượt ngục là vô ích. Dù các người có đến nước nào thì cũng sẽ bị bắt lại và trao trả cho nước Pháp. Không đâu người ta thu nhận các người. Vậy tốt hơn cả là các người nên khuất phục và có hạnh kiểm cho tốt. Cái gì đang chờ đợi năm người kia? Một hình phạt rất nặng mà họ phải chịu ở nhà tù cấm cố trên đảo Saint-Joseph rồi sau đó họ sẽ bị cấm cố chung thân ở quần đảo Salut. Đó, kết quả mà họ đã thu được trong chuyến vượt ngục là như vậy. Tôi hy vọng rằng các người đã hiểu. Giám thị, hãy dẫn mấy người kia vào khu trừng giới. Mấy phút sau, chúng tôi được giam vào một buồng giam riêng ở khu giám sát nghiêm ngặt. Vừa đến một cái là tôi yêu cầu họ chăm sóc đôi bàn chân hãy còn giập nặng và sưng khá to. Clousiot kêu là chỗ bó bột ở chân rất đau. Chúng tôi thử cầu may… Nếu họ cho chúng tôi vào bệnh viện thì hay quá! Francois Sierra đến với viên giám thị của anh ta. Tên lính gác nói: – Y tá đến kìa. – Anh có khỏe không Papi?
– Tôi ốm, tôi muốn đi bệnh viện. – Tôi sẽ cố đưa anh vào bệnh viện, nhưng sau những việc anh đã làm ở đằng ấy, việc này chắc không thể nào thực hiện được. Clousiot cũng thế. Sierra xoa chân cho tôi, xức cho tôi một ít thuốc mỡ, xem lại chỗ bó bột cho Clousiot rồi bỏ đi. Chúng tôi không nói gì với nhau được vì bọn cảnh sát đang đứng đấy, nhưng mắt anh ta nhìn tôi dịu dàng trìu mến đến nỗi tôi xúc động tận đáy lòng. Hôm sau, Sierra nói trong khi xoa bóp cho tôi một lần nữa: – Không có cách gì có thể đưa anh vào bệnh viện được. Anh có muốn tôi chạy cho anh được đưa vào một phòng giam chung không? Ban đêm anh có phải cùm chân không? – Có – Nếu vậy anh về phòng giam chung thì hơn. Anh vẫn bị cùm, nhưng không bị cô độc. Mà lúc này bị cô độc thì rất khổ cho anh. – Đồng ý. Phải, vào lúc này tình trạng bị cô độc còn khó chịu đựng hơn trước kia nữa. Trong tâm trạng của tôi hiện nay, thậm chí chẳng cần nhắm mắt tôi cũng có thể thả hồn đi lang thang trong dĩ vãng cũng như trong hiện tại. Và vì tôi không đi được, cho nên bị giam xà-lim bây giờ sẽ khổ hơn trước nhiều. Thế là tôi đã thực sự trở về “con đường của sự thối nát”. Thế mà trước đây tôi đã thoát ra khỏi con đường ấy rất nhanh, và đã bay trên mặt biển về phía tự do, về phía niềm vui được làm người trở lại, về phía sự phục thù nữa. Món nợ mà bộ ba Polein, cảnh sát và biện lý hãy còn mắc đối với tôi, tôi không được quên. Về phần cái rương, tôi không cần giao nó cho bọn cảnh binh gác ngoài cổng sở Cảnh sát tư pháp. Tôi sẽ mặc giả làm nhân viên của hãng chuyên chở Cook, đầu đội một cái mũ lưỡi trai rất đẹp mang huy hiệu của hãng. Trên rương dán một cái nhãn thật to: ủy viên Quận cảnh sát Benoit, 36 Quai des Orfevres à Paris (Seine). Tôi sẽ thân hành đưa cái rương lên phòng báo cáo, và vì tôi đã tính chính xác cho cái đồng hồ đánh thức khởi động ngòi nổ đúng vào lúc tôi đã ra về, cho nên vụ này không thề thất bại được. Tìm được giải pháp rồi tôi thấy lòng nhẹ hắn đi. Về phần tên công tố viên, tôi có đủ thì giờ nhổ lưỡi hắn. Cách thức chưa được quyết định, nhưng việc này coi như đã giải quyết xong. Tôi sẽ cắt lười hắn từng miếng một, cái lưỡi chuyên làm đĩ ấy. Còn bây giờ thì mục tiêu nhãn tiền trước tiên là phải chữa cho khỏi đôi bàn chân. Tôi phải đi lại được càng nhanh càng tốt. Phải ba tháng nữa tôi mới bị đưa ra tòa xử, mà trong ba tháng thì có khối việc xảy ra. Một tháng để đi, một tháng để thu xếp mọi việc, thế là xin chào các ngài. Mục tiêu: Honduras thuộc Anh, nhưng lần này thì sẽ không có ai bắt được tôi nữa. Hôm qua, ba ngày sau khi chúng tôi trở về trại, người ta đã khiêng tôi vào phòng giam chung. ở đấy có bốn mươi người đang chờ bị đưa ra hội đồng trừng giới. Người thì bị buộc tội ăn trộm, người thì tội ăn cướp, cố ý đốt nhà, giết người, mưu sát, vượt ngục hay tìm cách vượt ngục, và thậm chí cả tội ăn thịt người nữa. Phòng giam chia ra làm hai bên, mỗi bên có hai mươi người nằm trên dãy ván gỗ, chân quay ra phía giữa, và đều bị cùm vào một thanh sắt dài mười lăm mét: cứ đến sáu giờ chiều, chân trái mỗi người đều được mắc vào thanh sắt ấy bằng một cái vòng sắt lớn có thể khóa lại được. Đến sáu giờ sáng người ta tháo mấy cái vòng sắt ấy ra, và suốt ngày chúng tôi có thể ngồi, đi lại đánh cờ, nói chuyện trên cái lối đi rộng hai mét chạy qua suốt phòng. Ban ngày tôi không có thì giờ để buồn chán. Mỗi người đều đến thăm tôi từng tốp nhỏ để nghe tôi kể chuyện vượt ngục. Ai cũng kêu là tôi điên khi nghe tôi nói là đã tự ý rời bỏ cái bộ lạc Guajiros của tôi, bỏ cả Lali và Zoraima. Một người Paris nói:
– Anh còn đi tìm cái gì nữa, hở anh bạn? Xe điện chăng? thang máy? rạp xi-nê? đèn điện và các đồ dùng chạy điện như ghế điện chẳng hạn? hay anh bạn muốn tắm ở cái bể nước trên quảng trường Pigalle? Làm sao thế anh bạn? anh cứ tiếp tục ở đấy thì có được hai cô đào cô nào cũng ngon lành, anh sống trần truồng giữa thiên nhiên với cả một lũ người nudistes* (*Nudisme là một phong trào thịnh hành ở Tây Âu, chủ trương không mặc áo quần để gần thiên nhiên hơn. Họ sinh hoạt trong những khu trại riêng, nội quy ấn định là ai nấy đều phải khỏa thân) rất dễ ưa anh ăn, anh uống, anh săn bắn, anh có biển, có nắng, có cát ấm, cho chí ngọc trai cũng là của anh mà anh chẳng mất công gì cả, thế mà anh lại từ bỏ tất cả những cái đó để đi đâu? Anh nói đi nào? Để phải vượt qua các đường phố vừa đi vừa chạy cho khỏi bị xe cán, để bị bắt buộc phải trả tiền thuê nhà, tiền thợ may, tiền điện và tiền điện thoại, và nếu muốn có xe đi thì phải ăn trộm nếu không chịu làm việc như một thằng mọi cho một ông chủ để kiếm vừa đủ khỏi chết đói? Tôi thật không hiểu nổi anh, anh bạn ạ! Anh đang ở trên thiên đường, thế mà lại tự ý quay xuống địa ngục, nơi mà ngoài những nỗi lo âu của cuộc sống anh còn có thêm một mối lo nữa là phải trốn tránh tất cả những tên cảnh sát của toàn thế giới đang đuổi theo anh. Quả tình anh còn giữ được bầu máu Pháp còn tươi và chưa có đủ thì giờ thấy những năng lực thể chất và tinh thần của mình sa sút. Tôi đây với mười năm khổ sai vừa qua, tôi không còn hiểu được anh nữa. Nhưng thôi, dù sao anh đến đây chúng tôi cũng rất hoan nghênh. Và chắc chắn là anh vẫn giữ ý định làm lại từ đầu: vậy thì anh hãy tin rằng tất cả chúng tôi đều sẵn sàng giúp anh. Phải không các cậu? Các cậu đồng ý chứ? Tất cả những người bị giam trong lán đều tỏ đồng tình, và tôi cảm ơn tất cả bọn họ. Họ đều là những con người rất đáng sợ: điều đó tôi thấy rõ. ở chung chạ thế này thật khó lòng mà dấu họ: thế nào rồi người này hay người khác cũng sẽ nhận thấy tôi có plan. Vì ban đêm mọi người đều bị cùm chân vào thanh sắt chung, cho nên giết một người nào đó một cách an toàn không phải là việc khó. Chỉ cần bí mật gặp tên A-rập giữ chìa khóa vào ban ngày rồi đút cho hắn một số tiền để hắn nhận lời không khóa kỹ cái vòng cùm chân. Đến đêm, sẽ tháo vòng ra, thực hiện ý định và thản nhiên trở về nằm ở chỗ cũ sau khi bóp chặt cái vòng lại. Vì tên A-rập là đồng lõa gián tiếp hắn sẽ câm như hến. Tôi trở về đây đã được ba tuần. Ba tuần ấy đã qua khá nhanh. Tôi bắt đầu đi lại được chút ít bằng cách vịn vào thanh sắt ngăn cách hai dãy ván nằm. Tôi đang tập đi những bước đầu. Tuần trước, trong buổi hỏi cung, tôi đã gặp lại ba tên cảnh sát gác ở bệnh viện đã bị chúng tôi đánh ngất và tước súng. Họ rất hài lòng khi thấy chúng tôi trở về và hy vọng rằng một ngày kia chúng tôi sẽ rơi vào đúng chỗ họ canh gác. Vì sau chuyến vượt ngục của chúng tôi cả ba đều bị phạt nặng: bãi bó sáu tháng nghỉ phép ở châu Âu; cắt phụ cấp lương thuộc địa trong một năm. Thành thử cuộc gặp gỡ giữa hai bên không lấy gì làm thân thiện. Chúng tôi báo cáo rõ những sự uy hiếp này trong buổi hỏi cung đề người ta ghi nhận. Người Ả-rập giữ chìa khóa có một thái độ tốt hơn. Hắn chỉ nói đúng sự thật, không phóng đại và không nhắc đến vai trò của Maturette trong việc này. Viên đại úy kiêm dự thẩm đã hỏi đi hỏi lại rất nhiều xem ai là người đã kiếm thuyền cho chúng tôi. Chúng tôi đã làm cho ông ta ngờ vực vì trót kể những chuyện không thể nào tin được, như là chuyện chúng tôi tự làm lấy bè, v.v…
Vì vụ đánh bọn giám thị, ông ta nói với chúng tôi rằng ông ta sẽ cố hết sức mình để đòi xử cấm cố năm năm cho tôi và Clousiot, ba năm cho Maturette. – Và một khi anh đã mang biệt hiệu Bươm bướm, anh hãy tin tôi, tôi sẽ cắt hết cánh của anh, và anh chẳng dễ gì bay lên được đâu. Tôi rất sợ rằng ông ta nói đúng. Chỉ còn đợi hai tháng nữa là ra tòa. Tôi tự trách mình rất nhiều là đã không bỏ vào plan một hoặc hai mũi tên tẩm thuốc độc. Giá bây giờ tôi còn hai mũi tên đó có lẽ tôi sẽ có thể chơi xả láng trong khu trừng giới. Hiện nay mỗi ngày tôi đều có tiến bộ: tôi đi càng ngày càng khá hơn. Ngày nào cũng vậy, hai lần vào buổi sáng và buổi chiều, Sierra đến xoa bóp cho tôi bằng đầu long não rất đều. Những chuyến đến thăm và xoa bóp này giúp ít cho tôi rất nhiều về thể chất cũng như về tinh thần. Trên đời này có được một người bạn thật quý hóa vô cùng. Tôi đã nhận thấy rằng cuộc vượt ngục mấy ngày vừa qua đã đem lại cho chúng tôi một uy tín không thể chối cãi đối với tất cả các phạm nhân. Tôi tin chắc rằng chúng tôi được an toàn tuyệt đối giữa đám người này. Chúng tôi không có nguy cơ bị giết. Tất cả mọi người, không trừ một ai, đều kính trọng và hơn nữa còn khâm phục chúng tôi. Việc đánh ngất bọn gác đã làm cho chúng tôi được liệt vào loại người sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Được cảm thấy mình an toàn cũng thật thú vị. Mỗi ngày tôi lại đi nhiều thêm một ít, và nhiều khi nhờ cái chai dầu nhỏ mà Sierra để lại cho tôi, có những người tình nguyện xoa bóp cho tôi không những hai bàn chân, mà cả các cơ của bắp chân đã bị teo lại vì lâu ngày không cử động.
Lảo Ngô kéo cao cái cùm, len trong đám trúc ngổn ngang, đến chỗ Trần, lấm lét nhìn quanh rồi thì thầm vào tai:
-Chú Trần bị kỷ luật, vào lại biệt giam!
Nói xong, lão ngồi xuống, vừa gom mớ dăm bào trúc, vừa nhéo vào ngón chân út của Trần, Trần cúi xuống nhìn thì thấy lão nhét vào đống Trúc chưa bào của Trần một gói nhỏ, xong, lão ôm một ôm trúc đã bào, khó khăn len qua các tù nhân đang ngồi cắm cúi bào trúc, đến cho vào đống đã bào xong ở cuối sân. Vừa đi, vừa kéo lê chiếc cùm kêu lẻng kẻng.
Trần cúi xuống chân, nắn cái gói nhỏ rồi cho vào túi. Đường tán, chừng mười tán đường. Chắc là lão biết bị kỷ luật đồng nghĩa với cắt thăm nuôi nên giúp Trần. Lão không có thăm nuôi, kiếm đâu ra đường mà cho, Trần thấy thương lão!
Từ hôm chuyển từ trại huyện xuống, Trần bị đưa ngay vào biệt giam, nằm trong đó đúng một năm hai tháng, trận đau bụng đi kiết tháng trước giúp anh được ra ngoài, vào nhà A. Ăn cháo mấy ngày, anh phục hồi dần, rồi được cùng bạn tù cạo trúc. Trại nhận cạo và cưa trúc cho các HTX mành trúc xuất khẩu. Công việc so ra khá nhẹ nhàng. Ngồi trên chiếc đòn thấp, duỗi thẳng chân, kẹp đầu cây trúc vào ngón cái và ngón trỏ chân, một tay nắm phần gốc, một tay cạo. Dao được làm bằng thép, lấy nơi ba lô của lính, phải mài thật bén, càng bén càng tốt. Trần không biết lấy ở đâu ra mà nhiều thép ba lô thế, người nào cũng có hai ba cái dao! Ngày đầu được cùng anh em cạo trúc, một bạn tù cho anh hai cái, hắn ta là một tay anh chị ở ga Tháp Chàm, lãnh án hai mươi năm vì tội cướp phòng tài chính! Thời hắn bị bắt chưa có ngân hàng và kho bạc, mọi tiền nong đều do phòng tài chính nắm giữ.
Tin vào lại biệt giam làm Trần lo lắng băn khoăn, lão Ngô không cho biết kỷ luật vì sao!
Lão Ngô bị án chung thân. Trước khi vào tù, lão là trưởng trạm vật tư.
Can tội âm mưu giết vợ, tham ô và hủ hóa.
Từ ngày có án, một chân lão bị đeo thường xuyên chiếc cùm nhỏ, nặng chừng một ký. Là cán bộ từ miền Bắc vào, tuổi cao và ở trại cũng đã lâu nên được cán bộ trại cho làm tạp vụ, tự do đi lại nơi này nơi kia, có khi được làm các công việc giấy tờ dùm cán bộ, gần gũi cán bộ trại nên tin mà lão cho Trần biết chắc chắn là chính xác.
Lão Ngô từng ở biệt giam với Trần trước khi ra tòa lãnh án chung thân.
Ngày lão chuyển vào phòng ở cùng Trần, các bạn tù trong biệt giam gõ tường bảo với Trần là “cẩn thận, ăng ten”. Trần ngại ngần nên chỉ trò chuyện cầm chừng. Đến bữa cơm, lão như thủ thân thủ phận không có thăm nuôi, bảo Trần:
-Chú chia cơm đi.
Nhìn lão, Trần ước chừng mình chỉ bằng con lão nên lung túng không biết xưng hô thế nào cho phải, anh bèn gọi bằng chú:
-Chú Ngô chia đi, tôi sao cũng được.
Lão lấy muỗng ém ém lên ơ cơm rồi vạch một đường chia ra làm hai rất thành thạo, xúc cẩn thận một bên vào chiếc tô nhựa rồi lấy chén nước muối ngồi ăn. Trần cũng lấy tô của mình xúc đúng bốn muỗng như mọi khi rồi đẩy ơ cơm về phía lão:
-Chú Ngô ăn thêm cơm đi, tôi chỉ ăn chừng này, với lại ăn chung thức ăn với nhau cho vui, còn thì ăn mà hết thì cùng ăn nước muối.
Nói xong, Trần đẩy chén thịt ngâm nước mắm về phía lão. Lão tròn mắt ngạc nhiên:
-Chú ăn ít thế!
Trần chỉ ăn bốn muỗng một bữa, xúc ngang cả độn, Trần tập cho bao tử quen dần bởi anh nghĩ, với tội “phản cách mạng” của mình chí ít cũng mười năm trở lên, lại nữa trại ít tù chính tri, phần nhiều là hình sự. Nếu cỡ đó thì phải chuyển đi trại Bộ.
Trại Bộ là các trại tù do Bộ Nội Vụ quản lý. Trần biết nếu chuyển đi xa thì anh không hy vọng gì mẹ anh đi thăm nuôi được, tập thiếu thốn cho quen!
Buổi sáng, khi tù phục vụ đưa nước sôi đến, Ngô lấy nước vào, Trần lấy hai cái bánh tráng mì bẻ vụn vào chiếc thau nhựa, cho nước sôi vào, lấy cái quạt đậy lại cho bánh nỡ ra rồi mời lão Ngô cùng ăn sáng. Lão lại lần nữa ngạc nhiên:
-Chú Trần ăn đi, tôi không có thăm nuôi nên không ăn sáng quen rồi!
-Mẹ tôi thường thăm một trăm cái bánh tráng mì, ăn hai người cũng đủ tháng mà chú Ngô. Tôi ở trong này với ai cũng vậy, toàn dân “mồ côi” và cùng ăn chung.
Trần múc một chén rồi đẩy cái thau về phía Lão, lão với lấy cái tô nhựa nhưng Trần bảo:
-Tôi thế này là vừa, chú Ngô ăn luôn trong thau cho khỏi rửa thêm cái tô.
-Chú Trần này, không biết chú bao nhiêu tuổi, nhưng cứ gọi tôi bằng anh cho thân mật. Tôi không có con trai, con gái tôi cũng ba mươi rồi, nó có chồng có con ngoài Bắc!
-Tôi còn thua cô ấy hai tuổi mà chú!
-Chậc, chú cứ gọi tôi bằng anh cho tình cảm, tôi thích thế. Từ ngày vào tù, chưa ai cho tôi ăn chung, chưa ai tốt với tôi như chú. Chú có nghe tên thằng Túc chung vụ vượt biên với thằng Bá không?
Vụ vượt biên này rúng động cả tỉnh Thuận Hải. (*) Hai ghe gần một trăm hai chục người, bị bắt ngoài Vạn Giã, Tuy Hòa. Bá là chủ mấy chiếc xe đò, giàu có tiếng ở Vân Sơn, móc nồi với Túc là xã đội trưởng du kích, móc nối thêm hai chủ ghe. Vừa đúng lúc tập kết đủ người, lên ghe xong thì công an biên phòng xuất hiện. Trên ghe có mấy du kích mang theo súng, bắn trả công an biên phòng rồi cho nổ máy chạy bừa ra khơi, không kịp lấy dầu chôn từ trước. Hôm sau thì hết dầu, lênh đênh rôi tấp vào Vạn Giã.
Hôm công an Tuy Hòa di lý vào ban đêm, biệt giam bị náo động, một phòng nhốt thêm hai người, có phòng ba người…Năm người trong căn phòng bốn mét vuông. Chỉ có cách ngồi bó gối mà ngủ!
-Có nghe tên nhưng chưa ở chung với nó, mà sao anh Ngô?
-Nó thăm nuôi cả núi đồ ăn, mỗi lần đồ vào là chật phòng, nhưng nó bần ghê gớm! Dạo đó tôi bị ghẻ đầy người. ở ngoài đang đầy đủ, vào trong này thiếu thốn mọi thứ, tôi thèm, cái gì cũng thèm, nhất là đường. Có hôm nó vừa nhận thăm nuôi, nó ăn như gấu những thức ăn mà gia đình gởi ăn liền: Xôi, thịt gà, bánh mì thịt…Tôi thèm quá, xin nó miếng bánh mì nhưng nó im lặng, ngồi ăn như không nghe thấy gì. Đến lúc soạn đồ để đưa ra ngoài phòng, thấy nó cầm bị đường cát chừng hai ký lô. Tôi chịu hết nổi, nói với nó:
-Tôi thèm đường quá, chú Túc cho tôi xin một muỗng! Nó nhìn tôi rồi mở bị đường, lấy cái muỗng. Tôi mừng lắm, nhưng chú biết sao không? Nó trở cái cán muỗng, múc cho tôi một cái, tôi thèm quá nên dơ cả hai tay, hứng lấy rồi cho tất vào mồm. Trời, ngọt ơi là ngọt!
Ăn cơm trưa xong, một cán bộ trại đến nói gì đó với nhà trưởng, nhà trưởng đến nói với Trần “chuẩn bị đồ đạc”. cả phòng xì xào mặc dù đã quá quen với những lần chuyển phòng, chuyển trại như vây. Đã cuồi tháng nên đồ thăm nuôi chẳng còn gì, mười tán đường lão Ngô cho sáng nay là “tài sản” quý nhất. Anh đang xếp mùng mền, mấy cái chén, cái ca…vào giỏ lác thì Kiệt đi ngang lén thả vào giỏ một gói nhỏ, Trần nhìn qua đoán là thuốc tây, loại vitamin tổng hợp. Kiệt là kỷ sư nông nghiệp trước 1975, được lưu dụng ở trung tâm bông vải, bị tội tham ô cùng nhiều người khác. Kiệt lớn hơn Trần, ít nói chuyện với ai, nhưng lại mến và thường chuyện trò với anh.
Người dẫn anh trở vào biệt giam không phải là cán bộ mà là Hòa, tù phục vụ biệt giam. Trần đã ở biệt giam khá lâu nên thành người quen. Khi đi ngang cột cờ, khuất tầm mắt cán bộ, hắn vừa đi vừa cằn nhằn trong họng:
-Nói tiếng nước ngoài chi vậy?!
-Có nói đâu?!
-Có người báo!
Nội quy trại, điều thứ hai là: Không được nói tiếng Dân Tộc hoặc tiếng Nước Ngoài trong trại. Trần cố nhớ nhưng chưa nhớ ra được. Trước đây ở ngoài đời cũng như khi vào tù, anh không nói tiếng nước ngoài bao giờ bởi ngoại ngữ anh không khá, thế thì…thôi đúng rồi, Kiệt, hôm trước Kiệt vừa ngồi cạo trúc vừa kể cho anh nghe chuyện gia đình mình, khi nói đến ba mẹ anh chia tay nhau, Kiệt đã dùng từ “break up”. Chỉ có thế mà cũng có người nghe, báo cáo!
Cửa phòng đóng lại sau lưng cùng tiếng khóa lách cách.
Chung phòng với Trần là một người trạc tuổi anh, tên Toàn, đội trưởng xây dựng của Trung Tâm Bông Vải, cùng vụ với Kiệt. Tiếng gõ tường liên tục “thăm hỏi”, nhưng hắn ngồi yên không trả lời, thấy hắn dè chừng anh cũng tảng lờ không chú ý.
Khác với Trần, hắn thích nằm trên bệ, anh lau qua rồi trải chiếu ở phần dưới. Anh hỏi Toàn:
-Ai vừa ở với anh Toàn vậy?
-Thằng chó con.
“Chó con” là Cao Gia Kiên, chừng mười ba tuổi, hắn cùng anh ruột mình là Cao Gia Phú mười sáu tuổi. Cả hai chờ lúc mẹ đi vắng, trói ông bà nội vào giường rồi phá khóa tủ“cướp” tiền. Ông nội “chó con” là người Quảng Đông. Chàng thanh niên gốc Hoa này đến Phan Rang làm phu bốc vác, rồi sau thầu vệ sinh chợ. Khi lập gia đình thì đã là triệu phú. Năm 1975, hai đứa con gái di tản theo chồng, con trai út, cha của Kiên và Phú đi cải tạo vì ghiền ma túy ở Sông Lũy, ông mất sạch vì bị đánh tư sản. Cơn đột quy cùng nỗi buồn làm ông suy sụp, đã vây, hai thằng cháu nội còn hành hạ ông.
May còn có con dâu thảo sớm hôm…
“Vụ cướp” xảy ra buổi sáng thì chiều lại hai “tên cướp” bị bắt khi đang ăn bánh căng ở bến xe. Hơn một năm rưởi rồi mà chưa ra tòa lãnh án vì cả hai còn quá nhỏ. Thằng anh được đi lao động tự giác, theo các tù nhân khác đi trồng rau muống, rau dền… “Chó con” trước đây cũng đươc ở ngoài, đi lại thoải mái. Mấy tháng trước, hắn lẻn vào nhà y tá trại, ăn cắp hai ký thịt heo và túi thuốc Đông y, toàn là Xuyên tâm liên, Tăng lực…cho ai cũng không dám lấy, hắn bèn luộc hai kg thịt định rủ anh cùng ăn một trận cho đã thèm, nhưng đang luộc thì bị phát hiện, vào lại biệt giam.
Ở trong tù, ngoài hình phạt tháng, năm, tòa gọi gắn với tội mà tù nhân đã phạm, còn có những hình phạt khác của trại giam như: Cắt thăm nuôi, ăn cháo lỏng, còng hai tay ra sau lưng, cùm một chân và cùm hai chân với loại cùm 4 kg…
Trần đã từng bị ăn cháo lỏng kèm theo cắt thăm nuôi trong thời gian hỏi cung, cháo là nước gạo lấy từ khi cơm mới sôi, hai ngày ăn cháo lỏng là kiệt sức, chỉ nằm mà tơ tưởng tới chén cơm độn!
Hình phạt còng hai tay ra sau lưng thì nhẹ nhàng nhưng khó chịu, bình thường ngứa đâu gãi đó theo phản xạ, ít khi ta để ý, nhưng khi hai tay bị còng, chỗ nào trên cơ thể cũng ngứa, bạn tù gãi cho vài lần, còn thì cứ uốn éo như con sâu, đêm đến không tài ngủ được!
Trần nằm nghe tiếng gõ cạch cạch từ phòng bên trong lúc Toàn đứng dậy móc mùng. Hắn chỉ móc hai mối dây phía bên ngoài, hai mối trong không móc mà buông xuống thành một bức màn che giữa Trần và hắn. Trần thấy lạ nhưng hắn ít nói nên anh không hỏi, anh phe phẩy chiếc quạt, cố đoán ai đã báo cáo mình…
Nửa đêm Trần nghe tiếng Toàn trở mình rồi rón rén ngồi dậy, hắn ngồi thật lâu, Trần nghe tiếng gì như tiếng bóc bị giấy bóng, lát sau nghe tiếng nhai nhóp nhép thật khẽ, anh cố ngủ lại nhưng không tài nào ngủ được, trong đầu anh hiên rõ hình ảnh chiếc miệng Toàn đang nhai, anh đoán là chuối ép ngào đường, miếng chuối vàng lườm, mềm, cùng tiếng nhai rõ hơn, anh cảm thấy được cả vị ngọt của chuối!
Cơn thèm làm nước miếng trong miệng Trần ứa ra. Anh còn nguyên mười tán đường lão Ngô cho lúc sáng, lại còn vitamin tổng hợp chưa dùng, anh định để dành đến khi nào quá kiệt quệ sẽ dùng, Trần nghĩ vẫn vơ để quên đi tiếng nhóp nhép của Toàn nhưng anh bất lực, tiếng nhóp nhép càng nghe rõ hơn!
Anh không nghĩ đến chuyện xin Toàn, chưa bao giờ anh xin một cái gì, của bất cứ ai từ ngày vào tù. Thấy nhiều bạn tù thèm ăn và cái ăn trở thành nỗi nhục nhã, hèn hạ, với cả những tay anh chị lẫy lừng ngoài đời làm anh tự hứa là sẽ không bao giờ xin ai. Cái thèm thuồng và quyết tâm không mở miệng xin Toàn một miếng chuối thì anh khống chế được, nhưng nước miếng trong miệng thì cứ ứa ra, lý trí anh không tài nào ngăn được, nó làm anh phải nuốt liên hồi!
Tự nhiên Trần nghĩ đến lão Ngô và các bạn tù mà thương họ, cảm thương cái thèm bản năng, rất người, ai cũng trải qua khi rơi vào hoàn cảnh này.
Trạch An-Trần Hữu Hội Sài gòn. Tháng 7. 2015.
(*) Thuận Hải: Gồm ba tỉnh ghép lại: Ninh Thuân-Bình Thuận và Hàm thuận.
(Viết tại Oregon trưa 24/1/2007 vài giờ sau lúc Ba tôi mất tại Việt Nam)
Ngùi trông con nước xuôi dòng Thương Cha đoài đoạn cõi lòng, lệ rơi Chín mươi, Cha tuổi cuối đời Con vầng mây lạc cuối trời ly tan.
Theo Má tôi kể là Ba tôi theo kháng chiến chống Pháp lúc tôi còn bé, nhưng ba tôi không vô đảng cộng sản, đó là lý do có lần Ba tôi bị cộng sản xử tử hụt vì bất đồng ý kiến “nặng nề” với tổ chức kháng chiến do cộng sản nắm quyền sinh sát trong kế hoạch nông thôn bao vây thành thị, theo đó nhiều cán bộ Việt Minh đã tịch thu gạo, gà đồng bào gánh ra chợ, đem về nhà cho vợ.
Năm 1954, Ba tôi không đi tập kết ra Bắc vì ông không phải là đảng viên cộng sản, ông ở lại với gia đình như một người dân bình thường và cùng Má tôi “sản xuất” một bầy con mà tôi là thằng nhóc đầu đàn.
Khi lớn lên, tôi học dang dở ở bậc Đại Học, chui vô Thủ Đức để trở thành một tên quan nhì. Tôi đổi về Sài Gòn sau khi ở Quân Khu 2 bẩy năm, học tiếp tục lớp chiều ở một đại học, hoàn tất xong chương trình đại học mà tôi đã bỏ dang dở.
Ba tôi nghĩ là ông đã có thằng con với tương lai xán lạn, nhưng ông đã lầm. Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, miền Nam trở thành một thứ thiên đường đen thui, tôi và vô số anh em sĩ quan miền Nam cùng quê bị đẩy lên mật khu Kà Tót giữa rừng, gần biên giới Lâm Đồng – Bình Thuận, nơi đó, chỉ sau vài tuần, anh em tụi tôi phải đặt cho cái tên là “trại tử thần”. Tên cũ của nó là “trại tù tàn binh Kà Tót”, nơi bắt đầu những chuỗi ngày tù ngục “từ người xuống vượn mất ba hôm. . . “
Trong lúc sống như súc vật dưới những mũi AK trên rừng Kà Tót, chúng tôi, những tên tù còn sống, hàng tuần phải khiêng chôn những tên tù bị chết, vì lao động nặng, sốt rét và thiếu ăn. . .Và tôi thấy có lẽ mình không có ngày về. Ba tôi dĩ nhiên là không lường được cuộc đổi đời quái đản ngược ngạo đang diễn ra đang phủ chụp lên đầu tôi và lên đầu cả nước.
Khi tin số tù chết ngã xuống hàng loạt trên rừng Kà Tót, và trại cấm không cho thăm nuôi, những gia đình và thân nhân tù nhân sống với những ngày đêm ác mộng khi nhìn về hướng núi rừng, nhất là sau tin đại úy Trò bị “cách mạng” đập đầu chết trên một đòng suối cạn ở Phú Bình, cách Phan Thiết chừng 8 cây số về phía Tây Bắc, làm cả thành phố co ro run sợ và kinh hoàng. Thân nhân ngủ với những cơn ác mộng khi nghĩ tới những người tù trên rừng Kà Tót trong tay tàn bạo của “cách mạng”.
Tôi không biết Ba tôi có bao nhiêu cơn ác mộng, nhưng sau này, tôi được biết là mỗi đêm ông đều ra ngoài sân, nhìn về hướng Kà Tót với bó nhang khấn vái mười phương, tám hướng cầu cho tôi còn sống, cầu cho tôi có ngày trở về.
Mà cuối cùng tôi về thiệt, tôi trở về, tôi còn sống, nhưng với tấm thân tàn ma dại mang theo một gia tài vĩ đại của của những người gọi là “giải phóng”, gọi là “cách mạng” ban cho. Đó là vô số những trùng sốt rét ác tính nằm vùng hàng triệu con trong máu. Chết ở rừng Kà Tót hay chết ở nhà vì sốt rét cũng là chết, nhưng chết gần cha mẹ đỡ lạnh lẽo đỡ cô đơn hơn chết trong rừng Kà Tót với tấm thân gầy đét bó bằng mấy vạt tre, ném xuống lòng đất lạnh. Tôi vẫn thường nghĩ như vậy.
Đầu năm 1980, tôi bỏ nước ra đi bằng đường biển, và Ba tôi lại cầu trời khẩn Phật. Lần này, tôi đến được Canada chứ không bị nhốt ở Côn Đảo như tin công an báo cho gia đình. Lần này, Ba tôi chỉ mất ngủ có một tháng sau khi nhận tin tôi đã thoát và đến bờ tự do. Ngay khi đến xứ người, tôi lăn vào chuyện viết lách và dần dần cuốn sâu vào những bài viết và mấy quyển sách mà cộng sản xếp vào loại phản động nặng, và cơ hội hay điều kiện dành cho tôi một ngày về thăm lại Ba tôi là chế độ cộng sản phải “đi chỗ khác chơi”, hay phải cáo chung.
Khi Ba tôi còn sống, và còn mòn mỏi đợi con suốt 23 năm, tôi luôn phone hẹn Ba tôi là “thế nào con cũng về, Ba chờ con năm nữa!” Ba tôi tin tôi, và ba tôi chờ tôi, 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm; mỗi năm, thời gian cứ nặng nề trôi qua, ông mòn dần khi qua cái tuổi gần 90. Và cuối cùng, tôi đã thua cuộc hẹn. Ba tôi đã chờ đến hơi thở cuối cùng và ra đi không hẹn ngày trở lại gặp tôi.
Ba tôi đã ra đi vài tiếng đồng hồ sau khi tôi đến Portland, Oregon trong chuyến đi dài Portland, San Diego, Phoenix và quay về Seattle . . .với mấy quyển sách. Qua phone, em tôi cho hay “Ba đã mất lúc 10 giờ sáng ngày 23 tháng 11 tại Phan Thiết.” Tôi bàng hoàng, tôi nước mắt. Tôi biết là sẽ có ngày đau thương này, tôi đã chuẩn bị đón chờ sự mất mát đau lòng này từ lâu, nhưng không thể không đoạn ruột từng khúc với những dòng nước mắt không cầm.
Gia đình thừa biết là tôi không về với Ba tôi trong ngày ông mất, nhưng vợ tôi vẫn yêu cầu tôi bỏ chuyến đi và quay về Vancouver. Mà về để làm gì khi em thay anh bay về thọ tang cho Ba và anh nằm nhà ôm nỗi đau “bất hiếu để khóc một mình. Còn chương trình anh em và bạn bè tổ chức sẽ ra sao nếu người nói chuyện không có mặt? Tôi quyết định tiếp tục chuyến đi khi những dòng nước mắt khóc cha dường như khô.
Chiều nay cùng anh em có mặt trong buổi gây quỹ cho Dân Oan và TPB tại Portland, tôi bỗng chợt nhớ ra một điều kỳ lạ mà tôi đã quên không để ý. Ba tôi đã ra đi đúng vào giờ sinh của tôi, vào ngày sinh của tôi, và vào tháng sinh của tôi. Tôi rời Vancouver gần vào ngày sinh nhật của mình mà tôi có nhớ gì đâu. Điềm gì đây? Có gì bất thường không? Nhưng dù có điều gì đi nữa, con đường trước mặt của tôi vẫn không thay đổi. Tôi vẫn đi với ước mơ về một nước Việt Nam tự do. Ba tôi không thể sống mãi với thời gian, nhưng Tổ Quốc Việt Nam phải trường tồn. Ba tôi hiểu tôi, và Ba tôi không một lần trách tôi.
Câu duy nhất mỗi lần ông mòn mỏi là “liệu con có ngày về cho Ba thấy lại mặt con hay không?”. Lần nào tôi cũng bơm một chút hy vọng cho Ba tôi: “Ba chờ con vài năm nữa! Thế nào con cũng về!” Lần này thì không còn gì nữa! Lần này, tôi lại khổ tâm nhắc lại câu tôi thường trách ông Trời rằng. . . tại sao thời nay lại “nghịch thiên giả tồn, thuận thiên giả vong?”. Ba tôi mất, tôi sẽ tụng câu này cho tới ngày cộng sản Việt Nam không còn mới thôi.
Mới đây, thật là “một sự vô tình linh hiển” khi trong tác phẩm mới nhất tôi phát hành, và còn đang lang thang đi lòng vòng nói chuyện, tập “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”, những dòng cuối của trang 152, tôi lại viết: “Sau cùng, tác giả tạ tội bất hiếu cùng Cha, Mẹ, trong những ngày mòn mỏi cuối đời mà tác giả, người con trưởng trong gia đình, vẫn nhất quyết không về quê hương dưới mầu cờ đỏ cho dù Cha Mẹ có mất trước ngày cộng sản Việt nam sụp đổ!”
Lời nguyền đã hiện thực, bất hạnh thay, lại đúng ngay vào ngày sinh của tác giả! Những dòng này được viết xong vài giờ sau khi Ba mất, con chân thành xin tạ tội bất hiếu với Ba. Ba thương con, và con tin Ba hiểu con và tha thứ cho con.
28/04/2010 Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Sau đây là bài thứ hai trong loạt bài góp cho giải thưởng nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tháng Tư 1975. * * * Xin ai đó khi đọc tựa đề đừng vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975″ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đầu năm 1997 đến năm 2000. – Ông ấy và tôi đến Mỹ lâu rồi, thưa bác sĩ, từ năm 1984. Bà vừa nói, vừa dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người chồng. Bà ốm, cao người, tuy già lớn nhưng còn vẻ thanh tú. Bà nói giọng Quảng nam. Lúc đó, 1997, theo đúng ngày sanh tháng đẻ của bà trên thẻ-thường-trú, bà cắn đúng 65 tuổi! Ngồi bên cạnh bà, người chồng im lặng, nhỏ con, ốm và thắp hơn bà nhiều, đứng tới mép tai bà là cùng! Ông ta có đôi mắt ti hí quầng thâm đen, mặt toàn xương, có nhiều vết hằn trên trán, chứng tỏ trong quá khứ ông cũng có những đêm thao thức không ngủ được! – Thưa bác sĩ, bà ấy với tôi đến Mỹ, năm 1984, đúng vậy!
Nói đến đó ông ta nín thinh, hình như ông ta bị cụt hứng vì cái nhìn của bà vợ. Thấy vậy Trọng đỡ lời cho ông: – Ông bà đến Mỹ theo diện nào” Có phải diện H.O. không” – Mần ren mà diện H.O. được! Diện H.O đâu có đến Mỹ sớm dữ vậy! Với lại ông ấy đâu phải là sỹ quan… Bà thở ra nhẹ, bà nói tiếp: – Ông ấy thượng sĩ già! Chúng tôi đến Mỹ theo diện con lai! – Khổ lắm Bác sĩ, ông thều thào. Tôi là lính của Sư Đòan 2, từ thuở chí tư, cày từ lính, được gắn lon thượng sĩ giữa 73, đến năm 75, mấy ổng vào, rụi om, mất hết! Ông ôm đầu than vãn nhức đầu, mất ngủ, chán chường, đêm ngủ thấy toàn ác mộng! Và cuộc đối thọai sau đó hơn 2 tiếng đồng hồ, giữa hai ông bà và Trọng. Sau lần gặp gỡ này, Trọng được biết tên ông là Trần Thống, lúc đó ông 70 tuổi. Hai vợ chồng đều ăn tiền bịnh, và có thẻ khám bịnh số 93, dành cho người bị bịnh, bất lực lao động. Ông là lính của Sư Đoàn 2, ông lập đi, lập lại nhiều lần “tôi là lính của Sư Đòan 2, tôi ăn chịu với Sư Đòan 2, tôi trung thành với cây súng và màu đất đỏ”! Trọng ngạc nhiên, hầu như không hiểu được cách lý luận của ông ta. Theo ông thuật lại, giũa tháng 3 năm 75, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Đòan 2, sau khi nhận được lệnh hãy rút lực lượng theo kế hoạch ít thiệt hại nhất cho Quân Đòan, bảo vệ sinh mạng của chiến sĩ và gia đình họ. Tướng Phú sử dụng Liên Tỉnh Lô 7, nối liền Kontum, Pleiku, Phú bổn, Phú yên để rút lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa từ cao nguyên về các tỉnh duyên hải Miền Trung. Cũng như các chiến sĩ khác, ông cũng đùm túm vợ và 5 năm con theo Sư Đoàn rút về vùng duyên-hải. Trong cuộc triệt thoái này, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu những sự thiệt hại vô cùng to lớn, cũng như gia đình ông gánh chịu những mất mát đau thương: ông thất lạc đứa con trai 15 tuổi mà ông nghĩ “nó bị vùi dập nơi mô rồi”! Ông miêu tả cái chết của vợ ông: “Bà chết chổng mông ngay dưới chân tôi, nơi cái vực sâu 2 thước! Biết làm sao bây giờ, tôi đành chôn bà ngay tại chỗ đó. Tội nghiệp bà, thế chồng con một mình bà chết thê thảm quá! Tôi dựng một tấm bảng bằng tôn đề tên họ, để sau này mình có dịp may ra trở lại bốc mộ! Mà lâu bấy chừ có dịp mô đâu”. Ông mô tả “Cộng quân vô cùng tàn bạo. Lúc ấy Liên Tỉnh Lộ 7, một hỏa ngục kéo dài từ Cao nguyên đến các tỉnh duyên hải..”! Về tới Tuy Hòa, sau hơn 20 năm lính, vốn liếng ông còn lại: 4 đứa con, cái quần xà lỏn, cái áo thun, và một tương lai đói thấy rõ! Cũng như các chiến sĩ khác, lúc đó ông cũng đi đến kết luận: “cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt từ đây”! Nghe oai và buồn! Thật bi hùng! Còn Bà! Quá khứ của Bà đúng là mẫu mực: “Người Đẹp Thời Loạn- Hồng nhan đa truân”! Mà Bà đa truân thật. Bà trải qua nhiều cuộc tình, cũng như bà có nhiều đời chồng. Bà thường hay tiếc rẻ: – Hồi đó tôi dỡ thật! Tôi có biết thuốc ngừa thai gì đâu! Thành thử với ông nào tôi cũng có con! Chỉ với ông này là tôi không có, khi tôi gặp ông, ông đã già rồi! Tôi lấy ông ấy như đũa có đôi! Bà nói như bà đã chủ động trong mọi lần bà sống chung với mỗi người đàn ông! Bà sanh tại Hội an, lấy chồng về Huế. Ở Huế, ngòai Hòang tộc, Tôn thất, còn có nhiều vọng tộc khác như: Nguyển Khoa, Nguyễn Hữu, Trần Thanh…Hình như người chồng Thừa Thiên của bà là một thư sinh xuất thân từ vọng tộc Huế! Bà có hai con. Bà đẹp và sang. Chồng bà là sĩ quan Trung úy! Cấp bậc Trung úy của ông chồng Bà, theo Bà kể là Trung úy bất đắc dĩ, chứ ông ấy tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm. Biến cố Mậu Thân, 1968, tai ương cho Huế và cũng là tai ương giáng xuống gia đình Bà! Chồng Bà bị Cộng sản giết chết và vùi thây trong mồ chôn tập thể! Nhà Bà bị máy bay Mỹ bắn rockets cháy, sụp đổ nát tan, trong cái quyết tâm của họ dành lại thành phố Huế trong tay Cộng sản! May mà hai đứa con Bà và Bà còn sống sót. Cơ cực quá rồi! Thôi thì đành phải “thoái thì về mẹ vậy “! Bà thu xếp, đầu 69, Bà dẫn 2 con về Hội an ở với cha mẹ. Lúc đó cha mẹ Bà cũng đã già, ảnh hưởng chiến tranh gia tài gần như khánh kiệt. Sở dĩ ông cụ bà cụ còn đựơc giây phút nhàn nhã, là nhờ mấy thằng con trai có hiếu, đi lính đi tráng cũng dành dụm gửi tiền về bù đấp cho ông bà! Những năm 67, 68, 69, chánh phủ Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam. Số lượng quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam lên đến con số kỷ lục hơn nửa triệu người! Cách Hội an về phía Nam, không đầy 90 cây số, căn cứ Chu lai của Mỹ được nới rộng. Làm ăn với lính Mỹ có màu thăng hoa nhanh, giàu có và đỡ mệt nhọc!
Bà nói: – Tôi gửi các cháu cho ông bà ngoại chăm sóc cho đi học. Tội nghiệp các cháu giống cha, chăm chỉ học hành, sau này thành thân hết! Tôi lặn lội vào Chu Lai. Đâu có ham vui gì nữa, lúc đó tôi đã hơn nửa đời người! Tôi chỉ cần tiền nuôi các cháu và giúp đỡ cha mẹ. Tội nghiệp hai thằng em tôi, đi lính, đi tráng, lằn tên mủi đạn, khổ sở mà phải dành dụm gửi tiền về nuôi cha mẹ. Thấy vậy tôi không đành. Tôi là chị cả cũng là con gái một…Cuộc sống đưa đẩy tôi đến ngày tôi gặp Bob, 1970, tại một Night Box trong căn cứ Chu lai. Ông ta không phải quân đội, ông ta mặc đồ dân sự. Ông có xe, có tài xế riêng và hình như cũng có bác sĩ riêng nữa! Thật sự tôi không biết ông ta làm gì” Ông ta lúc nào cũng có gương mặt đâm chiêu, suy nghĩ. Có lẽ ông nghĩ về gia đình ông ta tại Mỹ, vợ ông, con ông và cha mẹ ông. Cũng như ông, tôi nghĩ về các con tôi, về Vinh, người chồng xấu số của tôi bị giết chết trong tết Mậu Thân, về cha mẹ tôi… Vì những điểm giống nhau đó, lúc đầu tôi chỉ cần tiền, nhưng sau hiểu nhau, chúng tôi đầu ấp tay gối với nhau thật sự. Ông ta cho tôi tiền nhiều lắm! Có tháng ông cho hơn cả 5, 6 trăm dollars. Ông thường nói đùa, ông cho tôi tiền còn nhiều hơn ông Tướng Kỳ cho bà Mai mỗi tháng! Thế là cuộc sống cứ vô tình đưa đẩy đến lúc mình trở thành…nói đến đây, mắt Bà hấp háy vài cái… ” Mít Saigòn “(Vỡ kịch Ms. Saigon) lúc nào mình cũng không hay! Cuộc tình lớn của bà và Bob được kết thúc bằng hòa ước Paris, ký kết giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào 23 tháng Giêng, 1973! Sau khi rút về nước khoảng tháng 3/73, Bob để lại cho Bà đứa con trai 9 tháng! Vào tháng 5/1973 bà tự biết thời làm ăn với Mỹ đã hết! Một lần nữa bà quyết định Về Với Mẹ. Bà đem tất cả tiền bạc và tài sản dành dụm được và bế đứa con lai về Hội an. Bà gặp sự phản đối dữ dội của hai đứa con bà. Ông cụ bà cụ vẫn giữ thái độ yên lặng. Phần thì thương và hiểu các cháu ngoại, phần thì cũng xót cho con gái của mình! Mà đâu có phải tại cháu hay tại con, như cụ bà thường than vãn: – Tất cả đều trên trời rơi xuống! Như bom đạn chiến tranh! Như hỏa tiển, tai bay họa gửi! Thời gian là ông thầy thuốc tài ba nhất! Dần dần thời gian xoa dịu các vết thương tâm: Cứt trâu để lâu hóa bùn; chẳng những thế mà cây có ở chung quanh bãi cứt trâu hóa bùn đâm ra tươi tốt hơn! Bà đem tiền về Hội an, bà xây dựng cơ sở làm ăn. Bà lập một quán cà phê. Mặc dấu ở tuổi 41, 42 bà vẫn còn nhan sắc, nhất là một người đàn bà từng trải như Bà, quán cà phe của bà ăn nên làm ra! Gần miền, có anh chàng chưa có vợ, trẻ hơn bà đôi ba tuổi gì đó, trước 73 làm nghề thông dich cho Mỹ. Mỹ về nước, thất nghiệp, xin đến giúp Bà một tay! Bà nói: – Xin đến làm không lương đó Bác sĩ! Và một năm sau, trời ơi! Tôi đâu có ngờ ở tuổi 42 mà tôi còn có thể có thai với “hén”. Thôi thì cũng đành thương nhau đậu gạo nấu cơm mà nuôi con! Đến 75 “mấy ổng” vào, quán xá vẫn sinh hoạt bình thường. Mấy tuần lễ đầu tháng Năm, mấy ổng hạch sách tí đỉnh. Nhưng vấn đề là mình phải biết điều với họ! Cũng phải thôi! Mình là Ngụy mà có con lai nữa! Một cổ hai tròng! Nhiều anh cách mạng bảo nhỏ với tôi là đừng lo, đừng đóng cửa quán, có gì các anh ấy che chở cho! Nhiều anh tốt bụng quá! Nhưng có một điều là thằng con lai của tôi, thằng Lùi, nó lớn như một thực tế đáng sợ: da trắng, tóc vàng, mắt xanh, trông giống cha nó, thương đứt ruột! – Tại sao bà đặt tên con bà là Lùi “Bà khiêm tốn quá vậy” – Bác sĩ dạy quá lời! Sự thật không phải khiêm tốn gì đâu! Tôi đặt tên cháu là Nguyễn Văn Lu-I để nhớ lại sự tích của cha nó tên là Bob. Khi sanh, nó đâu có giấy khai sanh, mải đến năm 76, sau khi Cách mạng vào, họ đòi hỏi khai sanh để lập hộ khẩu, mới đi làm khai sanh cho nó ở cái xã gần nhà. Ông cán bộ đội nón cối nhìn châm bẩm vào thằng con tôi, rồi ông ta nhìn vào giấy tờ tôi viết đàng hoàng: Nguyễn văn Lu-I, sanh tại Chu Lai ngày 12 /06/1972. Ông ta hất hàm hỏi tôi bằng giọng Bắc kỳ, ông nói đớt: – Tiếng Việt đâu có tiếng Nu-I! Ông ta tự ý sửa thành Lui, và cũng chính ông ta thêm cho nó cái dấu huyền cho nó hợp thời và dễ nghe hơn! – Bà không phản đối gì sao” – Thưa Bác sĩ, Lu-I, Nu-I, Lui, Lùi có khác gì đâu! Cái giống gì cũng được! Hơi đâu mà kỳ kèo với “nón cối”! – Sao lúc đó Bà không khai cháu Lu-I là con nuôi, bà lượm được, có ai hay biết gì đâu! – Đâu có đành như vậy, Bác sĩ… Bà lấy giọng, nói cao hơn: – Con của tôi! Tôi phải khai là con của tôi! Tôi mang nặng! Tôi đẻ đau! Trời cho nó cho tôi! Tôi phải đùm bộc nó chớ! Thưa Bác sĩ! Có chết tôi cũng chịu, đâu có lẽ nào mà mình chối bỏ giọt máu của mình! Thấy bà có vẻ giận, Trọng vội vàng xin lỗi bà. Bà liền đỡ lời: – Tôi biết Bác sĩ không cố ý nói như thế! Nhưng…thưa Bác sĩ, sống là phải nhìn thấy trước. Năm 1976 vào khỏang tháng 7, bầt ngờ tôi nhận được thư của anh Hoành, anh ruột của anh Vinh. Anh chị Hoành cho tôi biết anh chị đã trở về Huế, và anh chị đang tu bổ lại căn nhà của cha mẹ chồng tôi ở đường Lý Thường Kiệt. Anh chị không có con. Anh chị có ý gặp tôi và hai cháu Hoa và Thăng, con của tôi và anh Vinh. Theo tôi biết, anh Hòanh là cán bộ lớn từ Hà Nội về. Anh ấy là anh ruột của anh Vinh, tập kết ra Bắc 1954. Anh ấy có du học Liên Sô năm hay sáu năm gì đó. Anh đậu Tiến sĩ tại Liên Sô. Nhân cơ hội này tôi nghĩ đem hai cháu gửi cho Anh Chị nuôi, cho tụi nó dễ bề học hành và tiến thân sau này! Các con tôi ở với anh chị như ẩn thân dưới cây dù che cho cái cán! Cả 3 mẹ con tôi đùm túm nhau về thăm Huế! Gặp anh Chị, anh chị mừng! Anh Hoành ôm hai cháu Hoa và Thăng vào lòng! Anh không dám khóc mà mắt cứ rưng rưng. Anh không hề nhắc đến anh Vinh, cái chết của anh Vinh, cũng như cái chết hao mòn của cha mẹ. Anh ấy nói nghe mà chua xót: – Cái gì của quá khứ có thể đúng cũng có thể sai, nhưng nó thuộc về quá khứ. Ta nên coi nóvĩnh viễn thuộc về quá khứ. Chúng ta hãy lo xây đắp những cái gì trước mắt chúng ta để có một tương lai hòa hợp và tươi sáng hơn! Vợ chồng tôi thấy cần giúp đỡ thím để chăm nom hai cháu Hoa và Thăng. Xin thím cho hai cháu về ở hẳn với hai vợ chồng tôi. Bây giờ là đúng lúc nhất để tôi lo sắp xếp cho các cháu vào trừơng cấp hai và cấp 3 ở Huế, Trường Quốc Học cũ đó! Anh ấy vuốt tóc hai con tôi và nói tiếp: – Trường mà bác và ba của các con học chung với nhau từ thuở nhỏ. Thưa bác sĩ, nghe đến đây tôi bùi ngùi nhớ lại anh Vinh. Cuộc chiến tranh của đất nước ta quá lâu, xé toang gia đình ra từng mảnh. Bên này cũng như bên kia, ai cũng không dám nhìn thẳng vào quá khứ đau thương, chẳng khác nào soi mặt mình trong vũng máu của chính mình, của gia đình, của anh em, của đồng bào đất nước! Anh Hoành dẫn hai cháu Vinh và Thăng đi thăm từng phòng trong nhà và anh ấy nói với hai cháu: “Bác và hai cháu, đang trở lại ngôi nhà của tổ tiên, của ông nội, bà nội, của cha con… Nơi đây, bà nội đã hạ sinh Bác và Cha con. Và cũng là nơi, cách đây mười mấy năm, mẹ của các con đã hạ sinh các con. Các con hãy ở lại đây, dưới mái nhà này, với hai Bác”! Lời anh ấy như một khẳng định. Tôi nấn ná ở lại với anh chị và hai cháu thêm vài ngày. Tôi cũng băn khoăn khi thấy anh chị cũng không lấy gì sung túc! Chị ấy cũng con nhà quyền quý xưa của Hà nội, cho nên “đồng thanh tương ứng”, anh chị gặp nhau, yêu nhau. Anh chị kết hôn trong chiến tranh! Anh chị cũng có con trai lên tám, ở phố Khâm Thiên, Hà nội, đi sơ tán không kịp, bị máy bay B52 của Mỹ dội bom chết ngày Giáng sinh 1972! Vết thương nhức nhối đó anh chị chưa hề nói cho ai nghe, kể từ ngày trở về Huế. Trong lúc hai chị em tâm sự với nhau chị ấy mới nói: “đó là vết thương tâm lúc nào cũng xuất huyết! Nghĩ về cái chết của chú Vinh, cái chết của con chúng tôi, nhà tôi nhiều đêm không ngủ được”. Khi còn chừng một ngày nữa tôi phải về Hội an, tôi mới thưa với anh chị Hoành: “Anh chị nhận hai cháu Hoa và Thăng nuôi như con vĩnh viễn, em rất mừng! Nhưng gia đình anh chị thanh bạch, không lấy gì sung túc lắm, Em xin gửi anh chị 5 cây vàng để tiếp tay anh chị chăm sóc hai cháu về lâu về dài! Sau chuyến này, em nghĩ lâu lắm mới gặp lại hai con”. Và tôi khóc! Anh Hoành bước đến ôm lấy vai tôi, anh ấy nói: ” Vâng 5 cây vàng là một vốn lớn đối với đồng lương của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ chế độ của hai vợ chồng tôi hằng tháng, đủ để cho vợ chồng tôi đùm bộc hai cháu, giữ lấy gia phong! Thím hãy đem 5 cây vàng này về Hội an mà đề phòng những bất trắc có thể xảy ra cho thím. Thím biết gia đình thím không hội đủ điều kiện ở lại thị xã Hội an làm ăn. Ngày mai tôi phải đi sớm vì có công tác đột xuất, hai cháu và vợ tôi, Viết Hương, đưa thím ra bến xe. Nếu sau này có bất trắc gì xảy đến, xin thím cho chúng tôi hay để kịp thời giúp đỡ thím.” Nói xong anh ấy đi vào phòng trong. Mười giờ sáng hôm sau Chị Viết Hương và hai con tôi đưa tôi ra bến xe đò về Hội an. Không biết nói gì trong lúc chia tay với hai con, tôi nhét vội trong túi áo thằng Hoa 5 cây vàng và bảo nó gìn giữ lấy để mà hộ thân cho nó cũng như cho em nó, coi như gia tài chia cho hai đứa nó. Tôi bảo: “Con hãy đem gửi cho bác gái, đừng cho bác trai con hay”. Tôi quay lại nhìn chị Viết Hương thì chị đang nhìn chỗ khác. Mãi đến lúc xe lăn bánh, chị mới quay lại nhìn mẹ con tôi. Hình ảnh của chị là niềm tin yêu sắt đá đối với tôi… Nói đến đây, bà đứng dậy, đến ôm vai chồng ngồi bên cạnh cửa sổ, môi bà nở nụ cười hòa lẫn với nước mắt! Nhắc lại chuyện xưa, bà xúc động! Từ lầu 7 nhìn xuống, đừơng phố Broadway đang ấp ủ nắng hoàng hôn và bóng mát của khu phố. Bác sĩ Trọng ôn tồn bảo: – Tuy có tuổi tác, nhưng lúc nào ông bà cũng san sẻ và gần gũi nhau. Điều đó làm cho tôi mừng! Ông Thông, chồng bà, sôi nổi nói: – Mụ ấy vẫn vậy, từ trước đến bấy chừ! Thương chồng, thương con! Không nhờ mụ, cha con tôi chết đói từ lâu rồi, và không làm sao mà đến được Mỹ! Lúc này Bà quay lại Bác sĩ Trọng: – Con chúng tôi lớn rồi bác sĩ. Tụi nó làm ăn tại North Carolina. Nghe cộng đồng Việt Nam ở Chicago đông, ông nhà tôi có nhiều bạn ở đây và lại nghe bác sĩ làm việc ở đây, cho nên hai vợ chồng tôi mới dời về đây cho ông ấy hôm sớm với bạn bè, và cũng để bác sĩ điều trị giùm cho hai vợ chồng! Bà than vãn: – Sao mà ai ai cũng buồn, đâu đâu cũng buồn! Nhức đầu không sao ngủ được! Ai cũng cô đơn, không gửi vào đâu được! Đêm nào ông nhà tôi ngủ cũng thấy chiến tranh, thấy thịt rơi máu đổ, thấy người giết người, thấy vợ ông chết thê thảm quá! Tội nghiệp ông ấy lúc nào cũng nhớ thương bà. Cuộc đời tôi còn nhiều gian truân lắm. Xin bác sĩ cái hẹn, lần tới để chúng tôi giải bày cặn kẻ hơn! Sau đó ông bà thường lui tới găp Trọng, để tư vấn tâm thần, nhất là ông Thống, để sinh hoạt với nhóm điều trị: “Câu Lạc Bộ 309.81”.
Thấm thóat, mới đó mà sự liên hệ giữa ông bà và Trọng gần đúng 3 năm! Một buổi sáng gần cuối tháng Tư, năm 2000, mùa xuân đang trên đường trở lại Chicago. Những mảng tuyết trắng xóa đang cố bám lấy nóc phố như những cố gắng cuối cùng của mùa Đông đang tàn lụi! Những người Da Đỏ trong những chiếc áo chòang dày cộm làm bằng da thú, mặt đỏ gừ, nồng men rượu, cúi đầu đi lang thang trong khắp phố Uptown, thuộc vùng phụ cận phía Bắc thành phố Chicago như những con gấu mộng du, ngái ngủ! Họ có vẻ lạc lỏng trên vùng đất quê hương mà chính tổ tiên họ đã dày công xây dựng qua mấy nghìn năm lịch sử!… Cô thư ký phòng ngoài, điện thọai vào cho hay có thân chủ muốn gặp. Trọng vừa đứng dậy để ra đón, thì bà Sương, vợ ông Thống đã đứng trước mặt. Bà Nói: – Xin lỗi bác sĩ, đến sớm, mà không có hẹn trước. – Thưa bà, không hề gì vì tôi cũng không có hẹn với ai trong giờ này! Xin bà cứ tự nhiên. Trọng vừa nói, vừa theo dõi những cử chỉ và những thay đổi trên nét mặt của bà. – Thưa bà, thành phố Chicago, trong mấy tuần lễ qua, bị chôn vùi dưới tuyết lạnh. Tuần này trời ấm lại. Xem chừng như mùa Xuân đang trên đường trở về. Ở Mỹ thời tiết và 4 mùa, thay đổi nhanh thật. – Thưa bác sĩ, trong mấy tuần qua, vợ chồng tôi có ý muôn đến gặp bác sĩ, nhưng thời tiết tệ hại quá. Thấy hôm nay trời ấm, tôi vội đến bác sĩ ngay, vì tôi có vài điều cần thưa với bác sĩ hay, là ông nhà tôi nhập viện cách đây năm hôm! Bác sĩ Karnov, tại bịnh viện cho hay là ông nhà tôi có khả năng bị ung thư gan, và ông đang cho làm những xét nghiệm cần thiết. Nói đến đó, bà khóc! – Thưa bà, bà cần tôi giúp đỡ cho ông ở nhà những gì” Xin bà cứ nói, tôi sẽ cố gắng tối đa trong khả năng của tôi! – Thưa bác sĩ ở tuổi ngòai 70, ông nhà tôi còn mắc bịnh ung thư thật oan nghiệt. Tội cho ông! – Thưa bà, ung thư là món nợ chúng ta phải trả ở tuổi già! Càng già tỉ lệ mắc bịnh ung thư càng cao! Tuy nhiên nếu quả ông mắc bịnh ung thư thật, thì hẳn nhiên đó là một điều chẳng lành cho bất cứ ai! Nhân loại ngày nay chết vì ung thư chiếm tỉ số cao nhất. Cho nên về phương diện trị liệu cho các bịnh ung thư, nó là điểm xoáy của các phương án điều trị. Do đó phương hướng điều trị ung thư tiến bộ hằng ngày. Có những bịnh ung thư, mới đây coi như không tài nào chữa đựơc thì ngày nay người ta ổn định nó dễ dàng! Tôi hy vọng bịnh viện sẽ tìm ra phương án, tiến bộ nhất, hiện đại nhất để chữa chạy cho ông. – Cám ơn bác sĩ! Bác sĩ Karnov cũng nói rồi! Ung thư gan không lâu lắm đâu! Bà khóc. Trọng, tìm cách chuyển hướng câu chuyện: – Tính tới hôm nay ông bà ở đời với nhau được bao nhiêu năm rồi” Bà Sương, đôi mắt xa vời, vừa nhìn ra cửa sổ, bà vừa nói: – Chúng tôi làm Tờ Sống Chung tại Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1982. Mẹ con tôi bị chính quyền Cộng sản chỉ định đi Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1981, sau khi họ hay biết người chồng sau cùng của tôi vượt biển bằng tàu, đụng đá ngầm, tàu đấm và chết tại ngoài khơi Mũi Din Phanrang! Thật là bi đát, bi đát hơn lúc Mậu Thân ở Huế! Mẹ goá con côi, tay bồng tay bế, bị áp đảo đi vùng KTMĐN2, vào mùa hè tháng tư 1981! Mùa hè ở đây nóng và khô cằn, thật nghiệt ngã! Vùng KTMĐN2 nằm phía Tây Đà nẳng, phía Tây Bắc Hội an. Vùng KTMĐN2 nằm sát chân núi Trường Sơn, gần đường mòn Hồ Chí Minh. Dân chúng được đưa về đây, để phá rừng trồng lúa và khoai mì. Nhà ở làm sẵn. Nhà tranh vách đất. Không có điện. Nước chỉ có con suối nhỏ. Chúng tôi san sẻ nước của con suối nhỏ này với trại tù lao cải của các sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, họ ở về phía tây chừng 2 cây số cách chúng tôi, sâu hút trong rừng Trường sơn! Sau này chúng tôi biết đó là trại Khe Hoa, còn gọi là B16. Đến ĐN2, vô tình Cộng sản sắp tôi ở cái chòi chung vách với ông Thống! Hộ khẩu của ông có 3 người làm ăn cực lực, sống kham khổ, khoai sắn không có đủ mà ăn, nước bùn không có đủ để mà uống! Ông Thống là người ít nói. Ông giúp đỡ mẹ con tôi nhiều hơn là nói! Ông cho hay, 5 cha con đến ĐN2 hồi năm 80. Sau 6 tháng đầu hết phụ cấp lương thực, đói quá, 2 thằng con trai lớn của ông bỏ trốn về Buôn Mê Thuộc! Đứa đạp xích lô, đứa sửa xe đạp đầu đường gốc phố mà sống! Làm ăn gần gũi nhau, thấy ông Thống là người chân chất tôi mới để bụng thương ông! Chúng tôi làm tờ sống chung cuối năm 82. Giữa năm 83 có tin cho hay là gia đình có con lai được đi Mỹ. Đó là bước đầu để khai thông quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Mỹ! Tội nghiệp ông Thống! Ông vô cùng mừng rỡ! Chúng tôi kết hợp con cái đi Mỹ. Thế là hai vợ chồng và 4 đứa con chúng tôi đến North Carolina giữa năm 1984. Như vậy, tính đến nay chúng tôi sống chung với nhau gần 18 năm! Ngồi nghe bà điểm lại quá khứ của bà sống với ông Thống, và nhớ lại cuộc đời của bà, những lúc bà sống với Vinh, với Bob, với người chồng cuối cùng của bà, Trọng thấy những điều u-uẩn bà mang nặng bấy lâu nay, khiến bà chuốc lấy triệu chứng trầm cảm nặng, khiến tâm linh bà mang nhiều sắc thái, lúc siêu thoát, lúc trần gian! Nhưng ở dưới đáy tận cùng của tâm linh bà, đó là tấm lòng chân chất và trung hậu. Tình yêu của bà với mỗi người đàn ông bà đã sống chung, bắt đầu mỗi người một khác, nhưng cuối cùng bà đã yêu thương tất cả những người chung chăn gối với bà với tất cả tấm lòng chân thật và trung hậu. Bà nhìn đồng hồ. Bà đứng dậy xin kiếu Bác sĩ Trọng ra về. Bà cám ơn thì giờ quí báu mà Trọng đã dành cho Bà. Trọng đáp lại lời cám ơn của bà, và tỏ lời: “Rất tiếc không giúp được gì cho ông ở nhà trong lúc này”! Tuy nhiên tôi muốn đến thăm ông tại bịnh viện”. Sau khi cho Trọng địa chỉ bịnh viện, số điện thoại, só phòng bà Sương lầm lũi ra về. Trọng đến thăm ông Thống vào lúc 3 giờ chiều. Ông nằm phẳng phiu trên giường bệnh. Con người của ông vốn đã gầy trơ xương, Trọng cứ nghĩ ông giờ này kiệt sức. Chợt thấy Trọng đến, ông liền đứng dậy bắt tay Trọng và ngỏ lời cám ơn Trọng đã bỏ thì giờ quí báu đến thăm ông. Trọng thật sự xúc động trước những lời lẽ chân thành của ông. Nhìn cái bụng cổ chướng và màu da đất sét của ông, Trọng biết ngay là ông không còn nhiều thì giờ nữa. Ngày tháng và thời khắc của ông đã bắt đầu điểm. Trọng đáp lễ với ông bằng cách nắm bàn tay của ông trong lòng hai bàn tay của Trọng! Ông vốn dĩ là người ít nói, hôm nay ông lại nói rất chậm, đắn đo suy nghĩ. Những điều ông sắp nói cho Trọng sau đây là những điều ông suy nghĩ trong nhiều năm tháng. Lần đầu tiên Trọng nghe ông gọi vợ bằng “bà nhà tôi”, thường thì ông chỉ gọi mụ ấy mặc dù lúc nào ông cũng hết sức kính trọng yêu thương bà. Ông Thống nói: – Thưa bác sĩ, tôi nghe bà nhà tôi nói mấy hôm rầy bác sĩ sẽ đến thăm tôi, vì thế tôi có ý đợi bác sĩ đến, để thưa bác sĩ vài điều. Nói đến đây ông ngừng một chập, thật lâu, vừa suy nghĩ vừa nhìn vào mắt Trọng, ông nói tiếp: – Bác sĩ Karnov cho tôi hay là tôi bị ung thư gan. Có lẽ không do thuốc độc khai hoang Dioxin, màu vàng cam của Mỹ. Ông đã kiểm nhận qua máu của tôi, không có yếu tố hóa chất nào chứng minh điều đó. Lặn lội trên khắp chiến trường trong suốt hơn 20 năm, giờ ôm bụng chịu chết vì ung thư gan! May mà không phải thuốc khai hoang, Dioxin, màu vàng cam của Mỹ, nếu rủi mà như vậy thì làm sao lịch sử có thể soi rọi bóng tối sâu thẩm nầy! Bác sĩ Karnov cũng ở trong Lục Quân của Mỹ, đã từng tham chiến tại Việt Nam, cho nên ông rất thông cảm với tôi! Tôi nài nỉ ông ấy nhiều lần cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa” Cuối cùng ông cũng ước đoán không quá 18 tháng. Ông cũng khuyên tôi nên thu dọn càng sớm càng tốt. Tôi cũng làm việc với tất cả các con của chúng tôi và bà nhà tôi. Tất cả đều đồng ý với quyết định của tôi là tôi sẽ về chết chôn tại Buôn-mê-thuộc! Ở quê nhà tôi còn hai thằng con trai lớn. Tất cả đều thành gia thất. Thằng cả đang ở tại nhà của tôi tại Buôn-mê-thuộc, nhà của tôi trước 75. Buôn-mê-thuộc là quê hương của tôi, tôi sanh ra tại đó, lớn lên tại đó! Cuộc đời của tôi chôn chặt dưới màu đất đỏ ấy. Cộng sản có thể chiếm đoạt quê hương tôi! Cộng sản có thể tước đoạt quyền bảo vệ tổ quốc của tôi! Nhưng Cộng sản không thể nào thủ tiêu được lòng yêu nước của tôi! Tôi hy vọng bác sĩ đồng ý với vợ con tôi, cho tôi trở về non sông đất nước- trả tôi lại cho tổ quốc! Nói đến đây ông dừng lại một hồi lâu, tuy thế Trọng cũng không dám cướp lời ông. Ông nói tiếp: – Thưa bác sĩ tôi còn một ý nguyện nữa: tôi phải về để bốc mộ vợ tôi. Bà nằm ở đó đã 25 năm rồi! Mưa gió tội nghiệp bà! Tôi sẽ đem bà về nằm gần nhà, ở Buôn-mê-thuộc. Sau này con tôi sẽ đặt tôi nằm bên cạnh bà. – Sao ông lại hỏi tôi như vậy” Trọng hỏi! Đó là quyết định to lớn quan hệ tới vợ con ông, gia đình và tổ quốc! Tuy nhiên tôi cám ơn ông đã cho tôi vinh dự vô cùng to lớn ấy là được tham dự chuyện nhà của ông! Còn chuyện chúng ta quay đầu về tổ quốc là sự lựa chọn vô cùng chính đáng! Ông Thống quay lại bảo vợ lấy cái phong bì đè dưới gối, trong đó có tờ di chúc ông viết cho vợ con ông. Bà Sương trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ngồi yên nghe chồng bà nói chuyện với Trọng, bà liền đứng dậy đến lấy phong bì đưa cho Trọng. Vì xúc động mắt của Trọng nhoè cả chữ. Trọng đọc thóang qua và chỉ nhớ vài giòng cưối cùng ông viết cho các con riêng của ông: “Các con tiếp Ba phụng dưỡng mẹ Sương của các con. Tuy bà không phải là mẹ đẻ của hai con, nhưng điều chắc chắn là nếu không có bà, thì không có cha con ta được như hôm nay! Có thế, Ba mới yên lòng về với tổ quốc, với mẹ đẻ của các con, bà đang chờ đợi Ba”! Từ giả ông Thống, ra khỏi bịnh viện lúc 5 giờ chiều, trời Chicago còn lạnh, dừng lại, ngước cổ kéo áo chòang cao hơn, Trọng chợt thấy hàng chữ điện tử trên nóc ngân hàng chỉ đúng hôm nay ngày 30 tháng Tư! Tim anh se lại! Anh cuối xuống, mở cửa bước vào trong xe. Ngồi vào ôm tay lái. Bóng tối vừa phủ xuống thành phố Chicago. Trọng lái xe hướng về nhà nhưng anh có cảm tưởng anh đang đi về một nơi vô định!
Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng. Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường. Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt. Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”. Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên. Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ. Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại. Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.