Chuyến tàu không đợi

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Mỗi sáng, tôi vẫn có mặt dưới đường hầm khoảng 7.30. Tứ thời bát tiết đều vậy, nếu có sai biệt năm bảy phút là lỗi của chuyến buýt mang tôi tới đó, chứ người ngợm tôi đã như con robot chạy đúng lập trình. Battery chưa hỏng hóc yếu kém và hình như vi trùng chưa đến hồi thâm nhập làm rối loạn những mạch điện trở.

Trạm đợi trong đường hầm metro khá dài, có thể muốn làm vui mắt, người ta đã kiếm cách treo dọc những tấm poster quảng cáo đủ mọi thứ có thắp đèn đằng sau và tôi luôn đứng chôn chân đối diện với một cô gái mặc áo tắm hai mảnh. Da dẻ rám nắng, cơ thể săn chắc với hậu cảnh là một bãi biển xanh tiệp màu trời. Cuba hay Mexico thì chẳng rõ nhưng chắc hẳn chốn ấy không có tuyết rơi như chốn này. Nóng toát mồ hôi chứ chẳng cảm mạo ho hen run từ trong xương run ra. Năm bảy lớp áo xống đùm đụp mà ngó qua một kẻ điện nước đầy đủ thiếu đường lột truồng đang trửng giỡn với biển mặn nhằm quảng cáo cho công ty du lịch đường hàng không thì ngẫm cũng oái ăm, nhỉ!
Cũng chỗ này đứng trông sang, cảnh quang bên nọ non tháng là đổi thay. Trước, tôi dòm ra một dãy condo đường bệ tân kỳ, bán hoặc cho thuê. Thoáng cái, tấm bích chương quảng cáo phim “Ngày Tận Thế” 3D rùng rợn trám chỗ. Nhàm con mắt tình này huống nọ mãi thao diễn thì giờ đây là đóng khung một kẻ da thịt phì nhiêu bẹo hình bẹo dạng. Mỗi sáng sớm tôi được rửa mắt và tai tôi chừng như đang nghe có tiếng sóng vỗ rì rào từ bên đó tràn qua. Tôi nhớ biển, nhớ da diết một địa danh và tôi đã bần thần vì chốn đó mang trùng với tên em: Thuận An.

Tới bảy giờ bốn mươi a.m thì em xuất hiện. Mỗi ngày chúng tôi hẹn hò nhau ở trạm này để cùng lên tàu điện chạy đến chỗ làm. Với tôi, đó là thứ điểm tâm cung cấp nhiều năng lượng trước khi lao động. Tàu lao đi, băng qua sáu trạm thì đến chỗ buộc phải không còn đứng bên nhau, Thuận An biết nơi tôi cày bừa xa ngái phải lắc lư thêm bốn trạm nữa mới tới và em nói, như vậy thiệt cho anh quá, phải 9 giờ mới bắt đầu, đi sớm thế anh biết cách gì để đốt thời gian? Anh sẽ vào quán gọi một cốc cà phê, nếu trời ấm anh sẽ bảo “mang đi” rồi cầm ly giấy ra ngoài hàng hiên đứng hút thuốc. Nóng hay lạnh thì quanh quán cà phê ấy luôn có đàn chim không rõ lai lịch vẫn tụ bầy trên giây điện lãnh lót hợp xướng một bài, anh nghĩ là tình ca, nghe sướng đôi tai. Đôi tai mà trước đó nó hứng đọng lời em nhắn gửi: Hút thuốc có hại cho sức khoẻ, chừng nào thì anh nghe lời em để từ bỏ thuốc. Tây đầm chúng thường hôn nhau, chúc nhau một ngày lành trước khi tạm biệt. Anh đứng yên và em quay bước khi cửa tàu mở, chỉ ngần ấy thôi, đôi ta chưa thể làm khác hơn. Qua sông, nếu chẳng có cây cầu bắt ngang thì người muốn quá giang phải luỵ đò. Sức người quá hạn, anh không biết bơi và con sông chắn giữa đôi ta tuyệt chẳng hiện hữu một con đò hoặc hình ảnh cây cầu cho dù là cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi. Chúng ta chui xuống đường hầm, thứ hai tới thứ sáu mỗi sáng, đứng bên nhau khoảng mười lăm phút, nói dăm câu vô thưởng vô phạt về chuyện nắng mưa và tàu dừng, và tàu chạy, và đường ai nấy đi. Và tôi chưa nói trắng cái nguyên cớ vì sao siêng dậy sớm trong lúc phải 9 giờ chuông mới reo trong hãng xưởng, áo mão chỉnh tề để đứng lẻ loi chưa lại thần hồn trong đường hầm u u tiếng gió. Rằng tôi rất muốn nhìn thấy em mỗi ngày, nghe giọng em bâng quơ thường là phê bình hoặc trách cứ tôi. Rằng ít ra thì tôi lỡ phải mang ơn nhà thơ Vũ Hữu Định: “May mà có em đời còn dễ thương”. Sẽ buồn cho tôi khi hôm đó em “nhác chơi” không nhìn thấy tăm dạng, tôi đến chỗ làm và năng suất lao động hao hụt thấy rõ. Khi đồng minh tháo chạy, em nên hiểu là nó gây thương tổn biết dường nào cho đứa nhẹ dạ cả tin. Tan hoang, đổ nát và bể dâu hiện hình. Có một chuyện tôi từng tâm sự với em, tôi nói: Anh mang ơn Thuận An, vì Thuận An đã giúp anh xuôi chèo mát mái. Trước, anh nhờ Nha Trang, anh nhờ Thanh Bình Đà Nẵng thảy đều thất bại đổ bể. Anh bị tù với tội danh phản bội tổ quốc. Anh lì lợm tiếp tục phản bội mà may phước cho anh, Thuận An với sóng bạc đầu gầm thét xua đuổi anh ra hải phận quốc tế để một đêm tối trời anh mang lý lịch mới: Vô tổ quốc. Thuận An ơi, còn gì tủi hổ hơn khi thằng người mãi say sóng ấy chịu thêm nỗi dật dờ: Vô gia đình.

Sáng ấy trời rét hơn thường nhật, tháng hai vẫn có những cơn gió bê nguyên khối giá băng từ Bắc cực tràn về. Cái lạnh nhắc tôi về hình ảnh những nụ mai vàng hé nở chào Xuân, năm hết tết tới phía bên kia bán cầu. Cô gái mặc áo tắm đùa nghịch cùng biển cả đã trốn mất, thế chân là bích chương quảng cáo cuộc triễn lãm tranh sơn dầu của các danh hoạ phái ấn tượng được sự hợp tác quý báu từ viện bảo tàng của Paris giúp sức. Những sắc màu những đường nét sáng tạo ở vào đôi ba thế kỷ xa xưa kia như biết làm cho khoảng đường hầm này vơi hẳn sự nhiệt náo. Hoặc ít ra nó khiến thời gian phải đình trệ trong khoảnh khắc để khi chờ em tới tôi không nghe ra sự bồn chồn. Dẫu sao tôi linh cảm là Thuận An sẽ nghỉ làm bữa nay, những chuyến tàu đã vụt qua và tôi đang ở cuối lằn ranh đợi trông, tôi cần một rời đi trước khi chuông đồng hồ thong thả đổ xuống 9 tiếng. Tôi vẫn biết có nhiều người tự cho phép mình thong dong trong ngày đầu năm nhưng em không thuộc hạng người đó. Giống tôi, đã ngập đầy tháng năm mụ mị, Thuận An chẳng còn biết đến Tết. Chữ ấy được ai đó nhắc tới, thoáng qua tai và nó không gửi lại một thông điệp gì quan trọng. Dần dà nó sẽ chìm quên, sẽ biến mất trong cuốn tự điển của bộ nhớ. Vậy thì Thuận An ở nhà, không đi làm do bởi một lực cản trở bất ngờ, hơn là cái nguyên cớ xằng bậy mồng Một mồng Hai tinh khôi năm mới đón đường.

Thứ Tư thứ Năm và thứ Sáu tôi vẫn đi đúng giờ, vẫn đợi trong lẻ loi và vẫn chui đầu lên mặt đường ngập tuyết ghé mua một ly cà phê mang đi. Tôi chung tình, là khách quen của hàng quán ấy, đánh đổi bằng bộ mặt thân thiện của thằng đứng bán, hắn luôn thay đổi cách xưng hô, khi thì “Chào ngài Đại uý”. Khi thì “Ông sếp có khoẻ không?”. Khi thì “Người bạn lớn”… Điều này không làm sứt mẻ 3 đô, số tiền tôi phải trả cho ly cà phê size trung bình. Cà phê là thứ dung dịch đen đúa mang nhiều chất bổ dưỡng cho cơ thể, mỗi ngày có khoảng tám phần mười dân số trên hành tinh này uống lấy nó. Khi vui cũng ực khi buồn cũng xơi. Hôm nay đặc biệt đàn chim thôi tập trung trên dây điện hót líu lo, tôi đứng với sự câm lặng của tuyết khi chuyên cần rơi xuống mênh mông một khoảng trống vắng. Tôi co thân dưới mái hiên, cà phê và thuốc lá dần dà giúp đầu óc tôi chút minh mẫn: Rằng nhà ngươi phải nên cất công dọ hỏi cho ra lẽ. Điều gì đã xảy đến với Thuận An?

Hôm chủ nhật, khác với ngày trong tuần, tôi mặc bộ áo quần nghĩ là tử tế nhất, chỉ tuyền sắc đen. Tôi nghe tiếng chuông giáo đường đổ từng hồi ở chốn xa, hồi chuông như làm cho bông tuyết thêm vỡ vụn bay quàng xiên giữa khoảng không trắng ngần. Nhà thờ không là nơi tôi ghé tới, tôi sẽ dùng metro đi gấp đôi lộ trình hàng ngày để xuống đúng trạm cuối, nơi mà tôi băng qua hai ngã tư thì đụng mặt với nhà quàng được chưng bày thứ cảnh quang lạnh lẽo từ cổng cho tới tuốt đằng sau những bức tường xám xịt màu béton. Tôi sẽ nhìn thấy Thuận An và con tim tôi như đang thắt lại. Mọi thứ dường như chìm trong câm lặng hoặc đặt để đôi chân vào hành lang trải thảm màu huyết bầm này người ta cố gắng thực thi lời “cảnh buồn người có vui đâu bao giờ”. Vui mới mồm năm miệng mười. Buồn thì anh nên ngậm miệng hến. Anh rón rén, anh ngại ngần và nếu cần anh làm ra vẻ nhăn nhó chực khóc. Có năm bảy người đứng sắp hàng trước cái bục gỗ, cuốn vở lớn đã từng lật giở những tờ giấy trắng đang chận giữ họ để khiến họ nghịch tay vào cây bút, bôi bẩn thứ gì đó, cào xé vào lòng giấy. Tôi nhớ lại một câu chữ đọc trong cuốn sách ngày đầu tôi được định cư chốn này: “Chỉ năm phút sau khi chào đời, người ta khai sinh ra tên bạn, quốc tịch, tôn giáo, màu da… và rồi suốt cả cuộc đời, bạn phải chống chọi với những thứ mà bạn không hề có được sự chọn lựa”. Tôi quen Thuận An và tôi hằng tin đó là sự chọn lựa đúng đắn.

Đứng như loài hoa khiêm nhượng trong góc vườn, Thuận An nhìn thấy tôi và cả hai cứng thây bước chậm thu ngắn dần khoảng cách. Một vòng băng trắng quấn trên đầu và mùi khói nhang, chừng ấy thứ đã làm cho gương mặt em xanh gầy tuồng đã mất sinh khí. Chỉ còn đôi mắt ướt là linh hoạt, nó đang lưu trữ hình dáng một thằng người suốt tuần đã chẳng trông thấy nhau. Mặt đất như chết tiệt sức hút, em xiêu thân và tôi vội ôm lấy em, thổn thức. Sẽ chẳng có ngôn từ nào thích hợp cả, trong lúc này nếu bạn nói ra. Tôi chỉ biết dùng tay vỗ về ở lưng ở vai em. Bình thường chúng tôi chưa từng ôm lấy nhau và đến khi nghe rõ tiếng nhịp đập của trái tim vọng dội qua bao vách ngăn, nước mắt đổ ra và nhắc nhớ tới một niềm đau chẳng gì bù đắp được. Lý do của sự kề cận không gì khác hơn là cái chết. Tôi nhìn tấm ảnh đen trắng đặt trên bàn thờ nằm trước quan tài người vừa xuôi tay. Ba của Thuận An từng là cựu sĩ quan của quân lực miền Nam và ông từng không biểu lộ sự thiện cảm khi tôi đến nhà. Tôi phép tắc chào ông và “kỷ niệm” giữa hai người chỉ xảy ra có đôi lần. Tôi đủ khôn để hiểu một đứa cày sâu cuốc bẩm trên cánh đồng nhiều gió chướng như mình sẽ muôn đời chẳng đủ tư thế để gọi ông là bố. Ông là hình ảnh rập khuôn của ba tôi ngày cũ. Thương con gái mình, không gì khác hơn là mong cho con quen được một thằng người ngó tử tế, cái tử tế tính luôn tới công ăn việc làm.

Thuận An nói, có lẽ là hai đứa tạm vắng xa một thời gian. Đang chịu đại tang, đồng ý, nhưng điều luật nào bắt chúng ta phải tuân thủ cảnh đôi đàng cách chia? Khoan, em chưa nói hết. Ba em muốn rải tro cốt xuống dòng sông Hương và do vậy em phải về Huế để thực thi ước nguyện ấy. Rất tốn kém, rất nhọc sức, rất mệt mỏi nhưng bù lại em sẽ vui vẻ đảm nhận công việc đó. Em đã lấy vé… và như thế…

Và như thế tôi vẫn chuyên cần đi làm từ thứ hai đến thứ sáu mà không màng tới ba ngày Tết bạn nên xuất hành vào giờ nào, đi hướng nào để cả năm được thông suốt. Không còn gặp em, tôi dậy trễ hơn đi làm muộn hơn và vẫn đón nghe thằng bán cà phê xởi lởi: Chào Đại Uý buổi sáng. Tôi phải trả 3 đô 95 xu vì lấy cái ly to khủng. Hết nhìn ra em lóng rày tôi uống nhiều cà phê cũng như siêng đốt khói cho ấm bờ môi. Tôi vẫn đứng bên hiên quán, dưới bầu trời tuyết đổ. Tôi nghĩ tới chuyến tàu cuối cùng sẽ mang tôi đi trong thinh lặng. Có nên nằng nặc đòi hỏi phải mang đống tro tàn nhọc xác về trút xuống cố quận. Tôi đã thành thằng người Gia-nã-đại, nếu được, xin vui lòng cho tôi nằm xuống trên dòng St-Laurent. Và Thuận An ơi, liệu khi ấy em còn giọt nước mắt nào đổ xuống bề mặt một con sông đang đóng băng? Em đi về quê mạnh giỏi, đề phòng cướp giật, coi chừng xe cộ và cẩn tắc chuyện ăn uống. Có như vậy đôi ta mới còn nhìn thấy lại nhau. Ừ, thì hẹn gặp mặt sau đôi ba tháng đằng đẳng, dài bằng cách hoá thân của mùa màng đông xuân thu hạ. Cuộc đời đã không cho ta một chọn lựa nào khác, phải rứa không Thuận An? Muốn an lành phải nên thuận thảo?

Hồ Đình Nghiêm

Cái chết oan khuất của Nhạc sĩ Minh Kỳ

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

August 20, 2008    

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui

…….
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”

Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.

Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, – dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn – biết đến

Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.

Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.

Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.

Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận đuợc tin buồn.

Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.

Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.

Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới đuợc chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).

Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.

Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.

Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.

Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.

Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…

Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.

Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.

Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.

Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang đuợc lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?

Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:

Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:

– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.

Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :

–  Sao chân lạnh quá!

–  Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!

Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.

Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.

Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.

Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.

(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).

Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.

Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.

Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay đuợc biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người ” kách mạng!”.

Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện dược bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ đuợc đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh Mỹ. (Tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ  là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỵ (dấu nặng), nhưng có vài ngưới nhầm lẫn là Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.

Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.

Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.

Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.

Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.

Bắc Âu, một ngày không có mặt trời

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

PHAN NHẬT NAM

Không! Không được chôn vùi quá khứ,

Bởi anh sẽ mất luôn cả đôi mắt!

(Solzhenitsyn)

Vào tuổi sáu-mươi, người dần mất đi những tính cách, biểu hiện năng nổ, mạnh mẽ của thời trai trẻ, và xem đấy như là một điều thường tình, ắt có. Chuyện sẽ đến, tất phải đến vậy. Và trong tình thế “chẳng đặng đừng” nầy, họ rút ra những “kinh nghiệm khôn ngoan”, cách “ứng xử thuận lý” –

Coi như là tính chất, ưu điểm, thành quả có được từ tuổi già – tất cả sinh hoạt, nhu cầu vật chất, tinh thần đồng lần hạn chế, duy trì ở mức độ vừa đủ. Đủ theo nghĩa khắc kỷ. Biết mình, biết ta. Nhưng có một giới người, một tập thể người, tuy không hơn ai trong nấc thang giá trị của xã hội, nếu không nói phần lớn là thua sút qua so sánh với những tầng lớp xã hội khác về tài sản, công danh thâu đạt, sở hữu.. Tập thể nầy với một sinh hoạt đặc thù dường như không hề bị tác động bởi thời gian và điều kiện sống. Càng về già, nỗi nung nấu từ ngày trai trẻ của họ luôn được duy trì. Không những chỉ duy trì tồn tại, nhưng được nuôi dưỡng, phát triển với mức độ cao, sắc sảo, tinh tế, bền bỉ hơn – Nỗi nung nấu muốn được viết nên những chữ về cảnh đời họ chứng kiến, trải qua. Họ cũng nhận ra, không hẳn cần phải mô tả, nói tới những sự nghiệp ngoại hạng, thực hiện bởi những siêu nhân, kinh qua những tình thế “lớn” có tầm vóc lịch sử, thời đại (như tuổi trẻ họ (có thể) đã một lần nghĩ đến, dựng nên qua chữ viết).

Nay, mối nung nấu trong lòng những người xử dụng chữ, nghĩa kia (bản thân anh là một thành viên không lựa chọn, không thể chối từ) là nỗi canh cánh thao thức viết về những cuộc đời thường …Về những con người như bạn, như tôi .. Những người ta có thể bắt gặp nơi đâu trong suốt những năm tháng dài của thập niên 50, 60, 70, 80 … ở Việt Nam, và nay (qua Thế Kỷ 21), do một nghiệp vận kỳ lạ tràn đi khắp thế giới với từng bi kịch riêng rẽ. Phải, mỗi người, mỗi cảnh đời nơi Miền Nam, ở Việt Nam đã là một bi kịch toàn diện và toàn vẹn – Không phân biệt bất kỳ ai, vào thời điểm nào, trong bất cứ hoàn cảnh sống nào. Hơn thế nữa, qua vị thế người lính trong chiến tranh,  người tù sau chiến tranh, chúng tôi mặc nhiên chứng kiến những điều trông thấy, về người, việc vượt cao quá tầm tưởng tượng – cho dẫu trí tưởng tượng phong phú đến thế nào. Không cần nói đủ, viết hết, chỉ kể ra được một phần nhỏ âu cũng là công việc đáng trân trọng, đánh giá cao. Chúng tôi không nói quá lời về một bổn phận, quan trọng hóa một việc làm mà thật ra chỉ là phản ứng “bất bình tắc minh” – quá nặng lòng nên cố gắng viết lên. Bản thân chúng tôi và người bạn, Huy Phương, cùng đi chung đường kể trên từ một thuở rất lâu. Hơn bốn mươi năm, và nay vẫn tiếp tục với cách thắm thiết, kiên trì … Bởi việc sử dụng chữ nghĩa không chỉ do mối thúc giục nồng nhiệt từ tuổi trẻ ngày xưa, mà nay còn chập thêm sức nặng của bổn phận: bổn phận của người được sống sót khi bao nhiêu người ngã chết. Rất nhiều người đã nằm xuống dài theo cuộc lữ hành gian nan hiện tại chưa hề chấm dứt. Chúng tôi phải nói về người, việc của cuộc trường chinh miên viễn bi thương vĩ đại mà mỗi người chúng ta đã dự phần … Cho dù điều gì cũng có thể xẩy đến trong ngày mai với cái chết đang bền bỉ chờ đợi ở cuối đường, không cho phép công việc nầy hoàn tất.

Người Lính như một uất bận … Chẳng phải đợi sau ngày mãn khóa Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, người viết Huy Phương mới hiểu ra nỗi cay nghiệt thương tâm của cuộc sống Người Lính, những người dùng xác thân (chính xác thân mình chứ không gì khác) để xây đắp nên “vinh quang sự nghiệp” của những kẻ gọi là “công hầu, khanh tướng”. Và như một nghịch lý của vô vàn nghịch lý (rất hợp lý) của đời sống hằng ngày luôn diễn ra (đời quân ngũ càng thêm biểu hiện cụ thể), những nhân sự gọi là quân tướng, công khanh kia hoàn toàn không hiểu ra điều đơn giản (cũng là yếu tố độc nhất): “Toàn bộ cái gọi sự nghiệp của họ được dựng xây nên trên thân xác, mối nhọc nhằn, tân toan nguy nan của mỗi người lính.”

Họ không hiểu như thế (hoàn toàn không thấy ra điều đơn giản bi tráng nầy) nên đã xẩy ra một hoạt cảnh bình thường (rất bình thường) như sau đây qua trí nhớ của sinh viên sĩ quan Lê Nghiêm Kính hơn bốn mươi năm trước:

“Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi-tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh. Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại  Đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai buấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường.

Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng Số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến.” (Huy Phương; Tạp Ghi “Huynh Đệ Chi Binh”, Người Việt, CA 2005)

Chưa phải là chiến trận, chỉ mới là quân trường, và đối tượng bị thiệt mạng lại là những sinh viên sĩ quan (nhân sự sẽ trở thành sĩ quan, cấp chỉ huy tướng lãnh của ngày mai), còn bị coi rẻ đến thế .. Hỏi thử sinh mạng người lính cấp hàng binh chết nơi một góc đồn hẻo lánh, giữa trận lửa của những năm 1968, 1972, 1975 … sẽ được đánh giá là bao?! Vậy đừng đòi hỏi Người Lính Miền Nam (có thể) làm gì hơn kể từ ngày 10 tháng Ba (ngày đại quân Miền Bắc cường tập tấn công Ban Mê Thuột, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng cho đến 30 tháng Tư, 1975 tàn cuộc .. khi những “lãnh đạo cao cấp, những tướng lãnh chỉ huy” đã đồng loạt bày ra điều bất nhẫn coi thường sinh mạng người lính và gia đình của họ (cũng toàn thể dân chúng Miền Nam) – thái độ mà họ đã thường hằng hành xử, thực hiện suốt cuộc chiến tranh. Ba mươi năm sau định giá lại để có một lần công bằng cho dẫu có muộn màng.

Người Việt Nam, thêm nối dài tiếng than … Nhưng người lính (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cũng chỉ là một đối tượng riêng biệt (cho dẫu chiếm đa số, thành phần nhân vật trung tâm của hầu hết gia đình người Nam) của chiến tranh, trong chiến tranh. Và khi chiến tranh chấm dứt với ngày 30 tháng Tư, 1975, xã hội Việt Nam nói chung, Miền Nam nói riêng chịu sự tàn phá của cơn lốc “xã hội chủ nghĩa” dậy nên từ những người đồng chủng đến từ Miền Bắc … Cơn bão thù hận sụp xuống với giá trị con người (bị đảo ngược) được quy kết từ “thành phần lý lịch” để toàn bộ thị dân Miền Nam bị xếp hạng nên thành “dân cư loại hai” do tội có “nợ máu với nhân dân” vì những liên hệ với chế độ “Mỹ-Ngụy”.

Vắng mặt người đàn ông trụ cột (do phần đông đã vào trại cải tạo); nhà cửa bị trưng thu; con trẻ bị ném ra khỏi trường học … Tất cả gánh nặng, sự tồn tại của một gia đình đè xuống vai người đàn bà … Và những người vợ, người mẹ của gia đình thị dân Miền Nam bằng một phép mầu có thật (hiện thực cuộc vượt biên vĩ đại qua lớp lớp sóng biển), đưa đơn vị gia đình (đã toàn diện tan nát) hình thành những nhân tố ổn định nơi đất người, tạo nên sức tác động “cứu trợ” ở quê nhà …

Và quê nhà dưới chế độ xã hội chủ nghĩa “thời mở cửa”, đến lúc hứng chịu nghiệp quả “nạn nhân” do sự tàn phá của chính mình gây nên sau ngày 30 tháng Tư của ba mươi năm trước: Xã hội không sản xuất, phát triển qua ngả dịch vụ bàn giấy, cửa quyền; làm hàng gia công; môi trường bị tàn phá; giáo dục xuống cấp … Cuối cùng, con người không còn một cái “vốn” nào khác chính xác thân mình trong một xã hội tiêu thụ với hiện tượng “phồn vinh giả tạo”- nhóm từ ngữ ngày trước Hà Nội dùng để biếm nhẻ xã hội Miền Nam nay đem áp dụng với hiện tại Việt Nam hẳn có phần chính xác hơn”.

Tổng kết lại, người Việt chỉ còn lại phần “vốn” thương tâm, tội nghiệp hơn tất cả, chính là thân xác con người

trong một xã hội không lối thoát. Với chữ nghĩa trầm lắng, nhân hậu, Huy Phương viết nên hành trình “không đường trở lại” của những người nữ Việt Nam trong một dịch vụ buôn bán (đúng ra là buôn thân) gọi là “kết hôn với người nước ngoài”: “…Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “Mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”

Nhưng hôm nay … Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, bay là vì tấm lòng cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa” phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy .. Ngày nay đã là chuyện đương nhiên, nếu việc (gả người con gái ấy) đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn.

Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa là nghèo đói làm không ra đủ ăn, không đủ tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình.

Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ Mc Govern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa! (Huy Phương – “Đi Lấy Chồng Xa”), Người Việt CA 2005)

Nhưng sự việc không hẳn là một chiều – chiều cụ thể của kinh tế, vật chất … Nếu ở trong nước những giá trị tinh thần dần bị vất bỏ, đảo lộn: Mối tương quan cha mẹ-con cái; thầy-trò; nhà cầm quyền-người dân … đồng đặt trên trị giá của những tờ bạc đô-la Mỹ (mà đất nước không hề là một đơn vị sản xuất với định giá “một trong mười nước nghèo nhất thế giới”) thì ở bên ngoài, những người Việt đã một lần kề cận tử sinh lại rơi vào một tình trạng “bất hợp lý”: “ … Trong đời sống hằng ngày, câu thăm hỏi nhau phản ánh đầy đủ tâm trạng và suy nghĩ của con người trong xã hội. Sau tháng 4 – 1975, ở miền Nam, lúc khốn đốn người ta hỏi nhau “Bây giờ sinh sống ra sao, anh đi cải tạo về chưa?” Sau đó năm mười năm thì như một phong trào, câu hỏi đầu

môi mỗi người khi gặp nhau là “Nhà có cháu nào vượt biên không?” hay “Gia đình có ai ở ngoại quốc không?” Nhưng có một điều mâu thuẫn, là cũng những con người đó, sau khi đã vượt biên, tìm đủ mọi cách để ra đi, bây giờ gặp nhau ở ngoại quốc, lại vồn vã chào hỏi nhau “Về Việt Nam lần nào chưa?” Chúng ta nhớ lại, lúc ra đi, ai cũng muốn đi, bây giờ chuyện về Việt Nam lại rộ lên như một phong trào. Đi đâu người ta cũng hỏi nhau về chuyện đã về chưa, về bao nhiêu lần? (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cầy Gậy Trúc”, Người Việt, CA 2005)

Tuy nhiên, một số người Việt không hoàn toàn như thế, họ vẫn giữ nguyên dấu ấn của buổi khổ nạn … Họ giữ lại vết tích của nỗi đau – không để gây chứng cớ thù hận, nhưng tập họp những điều bi thảm trên đoạn đường vượt biên để cho hậu thế và con cháu chúng ta biết thế nào là nỗi gian nguy của thế hệ đã bỏ nước ra đi.

“ … Chúng ta, những người Việt Nam có vụ tàn sát Mậu Thân tại Huế, có tấn thảm kịch trên biển Đông, có những trại tập trung cải tạo, mà tất cả nhân chứng giờ này hãy còn sống ở đây. Những người sống sót được tới bến bờ tự do sau bao nhiêu ngày hãi hùng trên biển cả, những suy nghĩ trong những giờ phút ấy và bây giờ tưởng như đã xa xôi, cách biệt, chẳng muốn nhìn lại con đường đã đi qua …Chúng ta không dạy con cháu hận thù, nhưng những bài học lịch sử cần phải để lại cho đời sau một cách nguyên vẹn, đúng đắn. Chúng ta có thể nào quên được quá khứ và chúng ta sẽ nói điều gì với những thế hệ tiếp nối sau này, nếu thực sự chúng ta không muốn lịch sử sẽ tái diễn và không muốn những nỗi thống khổ của con người trên trái đất vẫn còn tồn tại!

Tục ngữ cổ Trung Hoa có câu “Điều trước thanh trúc can, vọng khứ khiếu nhai thời”, tạm dịch bậy là “Vừa mới quẳng cây gây trúc, đã quên ngay thuở ăn mày” (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cây Gậy Trúc”, Người Việt CA 2005)

Chúng ta không giữ chiếc gậy để xử dụng làm vũ khí tấn công (những kẻ đã đẩy ta vào đường cùng khốn).

Nhưng giữ chiếc gậy cơ khổ để hằng nhắc nhở … Tránh gây nên nỗi đau cho con người. Đừng bao giờ.

PHAN NHẬT NAM

Cali, Cuối Năm Ất Dậu, 2005

Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Từ giã Không đoàn Ðài Nam thuyên chuyển về thủ đô, với tôi là trút gánh nặng tập huấn cho những khóa sinh quá ít kinh nghiệm nhưng phải sớm ra mặt trận. Ngay sau khi đến Yokosuka, tôi xin nghỉ phép và lập tức đáp xe lửa đến Ðông Kinh, chỉ mất chín mươi phút. Gia đình chú thím tôi đã chào đón tôi như một đứa con xa nhà trở về. Tôi báo trước cho Hatsuyo bằng thơ nên cô em họ của tôi chưng diện bộ kimono mới nhất, vừa cắt may hãy còn thơm mùi vải. Gương mặt Hatsuyo rạng rỡ cố kềm vui sướng. Hatsuyo viết thơ cho tôi mỗi tuần kể lể những gì xảy ra chung quanh nàng; từ xưởng nhồi thuốc đạn cho đến trường học của em Michio đã cắt giờ học thay bằng việc may túi vải cho binh sĩ; hay giá một tô mì sưki đã tăng gấp đôi. Mỗi lá thơ tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe những gì xảy ra trong công tác của mình. Tôi huấn luyện các khóa sinh tập định vị trí máy bay giữa trời ra sao. Cả những tiệc chia tay sau mãn khóa tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe. Chúng tôi chung tiền trả cho các ca kỹ để nghe hát và không có gì đáng trách, vì không có gì khác, nhưng tiếng đàn của các geisha làm tôi buồn bã và tôi không muốn tham dự nữa. Trong thơ hồi âm, Hatsuyo nói hy vọng tôi sẽ không muộn phiền khi nghe nàng đàn. Hatsuyo theo học nhạc từ bé, những ngày còn ở nhà chú thím tôi vẫn thường nghe Hatsuyo tập đàn, tuy tiếng đàn khi ấy còn non nớt.

Chú thím tôi mừng vui ôm lấy tôi khi tôi bước vào nhà. Em Michio không ngớt trêu trọc tôi là ra dáng sĩ quan, duy chỉ có Hatsuyo có phần bẽn lẽn. Thím tôi với các em đã chuẩn bị mọi thứ, ngoài thịt heo bọc bột mì chiên vàng ruộm còn có súp củ mài với rau củ, nấm, rong biển và cá ngừ.

Ðêm đó, sau bữa ăn, Hatsuyo bắt đầu trách cứ về việc chậm lập gia đình của tôi. Giọng nàng nghiêm trang một cách đáng buồn cười. Tôi trả đũa ngay. “Tại sao em vẫn một mình, em của anh? Chưa có anh chàng nào đủ điều kiện phải không?”

Chú thím tôi ngừng nói chuyện, quay lại cười chúng tôi. “Anh em bây ồn ào quá!”. Chú tôi chế giễu.

Tôi cười: “Con không hiểu tại sao Hatsuyo không kiếm ra một ông chồng. Coi cô ta kìa. Ðẹp như một minh tinh màn bạc, và có bao nhiêu cô tự phụ đánh đàn giỏi hơn?” Tôi vừa nói với chú thím vừa nhìn Hatsuyo. “Con tin rằng chú có thể lựa cho em Hatsuyo một tấm chồng xứng đáng.”

“Nó khó tánh lắm.” Chú lắc đầu.

Cả chú thím tôi đều cười, nhưng Hatsuyo xụ mặt. Nàng liếc tôi rồi nhìn đi nơi khác. Ánh mắt của nàng xa xôi và trách móc một chuyện gì đó. Chú thím tôi đứng lên nói chúng tôi hãy cứ trò chuyện, còn chú thím vào nhà trong nghỉ sớm. Em Michio cũng về phòng. Trong nhà chỉ còn lại hai chiếc bóng của Hatsuyo với tôi lung linh trên vách. Hatsuyo lặng lẽ thu dọn chén bát rồi vặn nhỏ tim đèn trước khi trở lại quỳ gối đối diện tôi. Búi tóc nàng được búi kỹ lưỡng với trâm cài. Tôi thấy phải phá tan yên lặng.

“Vừa nãy anh nói không phải sao, Hatsuyo?”

Nàng không lý gì đến tôi. Không trả lời. Hatsuyo ngoảnh mặt đi nơi khác. Tôi giựt mình, nàng giận rồi. Tôi chuyển vấn đề ngay.

“Hatsuyo, dạo dương cầm cho anh nghe đi! Từ khi nghe em dạo đàn đến giờ đã lâu lắm rồi.”

Nàng nhìn tôi đầy nghi vấn. “Có thật anh muốn nghe em đàn không? Em chỉ đàn khi anh thật muốn nghe. Có thật là anh muốn nghe không Saburo?”

Giọng nàng rất nghiêm nghị. Tôi nói nhanh, “Em có nhớ lần phép đầu tiên của anh không Hatsuyo? Em dạo nhạc của…, để anh nhớ coi… phải rồi của Mozart. Em có thể dạo lại bản nhạc đó cho anh nghe không?”

Thay cho câu đáp, Hatsuyo bước đến chiếc dương cầm và ngồi xuống. Những ngón tay nhẹ bấc của nàng lướt trên phím ngà, ai có thể ngờ là chiến tranh đang diễn ra khốc liệt trên Thái Bình Dương lúc này? Tôi nhắm mắt và nhìn thấy lại những cuồng lửa xanh đốt cháy đêm, những chiến đấu cơ với oanh tạc cơ cất cánh hàng loạt trên phi đạo trước khi nhấc mình lên không trung và biến mất trong mây để rồi rất nhiều những đồng ngũ không bao giờ quay về. Còn tôi đang ngồi đây giữa một buồng khách bài trí thanh nhã ở Ðông Kinh, trong ấm áp sau một bữa cơm tối đầy đủ, trong thương yêu vây quanh của những người thân trong một gia đình xem tôi như con. Trong lúc các đồng đội đang chết trận. Một thế giới tương phản.

Tiếng nhạc dứt. Ngôi nhà rơi vào trầm lặng. Hatsuyo ngồi yên hồi lâu, rồi quay lại nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng. Ðôi mắt mở lớn và dò hỏi ấy… Rồi nàng dịu dàng nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, đặc biệt cho anh. Hãy lắng nghe. Khúc nhạc ấy sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Nàng có vẻ lạ lùng làm sao! Má nàng phơn phớt hồng e thẹn và nàng lảng nhanh đôi mắt sau khi nhìn tôi chăm chăm. Chưa bao giờ tôi thấy Hatsuyo trong trạng thái ấy.

Nàng dạo khúc nhạc một chập nữa. Tiếng nhạc trầm bổng. Tôi nhìn cô gái này. Chưa bao giờ tôi thấy nàng như vậy. Ý nghĩa gì khi nàng nói: “Khúc nhạc sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Tiếng đàn của Hatsuyo tiếp tục vang lên, càng lúc càng mạnh mẽ. Các thanh âm đuổi bắt nhau cuồng nhiệt. Bỗng nhiên tôi hiểu, tôi đang nhìn Hatsuyo, không nhìn như một cô gái nhỏ, không như một người em họ chung huyết thống với tôi, nhưng tôi đang nhìn nàng như một thiếu nữ! Lần đầu tiên, tôi thật sự “nhìn thấy” nàng, chăm chú trên phím đàn, mười ngón tay nhảy múa, khuôn mặt say mê, như rót hết tâm hồn nàng vào tiếng nhạc. Hai cườm tay Hatsuyo nhấc lên thoăn thoắt, có lúc đan chéo và búng mười ngón tay trên phím.

Hatsuyo? Và tôi..? Ý nghĩ làm tôi chấn động. Nhưng, nàng không còn là một cô bé nữa. Hãy thức tỉnh, Sakai, anh thật ngu muội. Nàng là một thiếu nữ. Nàng đang nói với anh, trong giây phút này, rằng nàng yêu anh! Hãy nói yêu em là tiếng đàn của nàng. Bây giờ tôi hiểu những gì mà nàng muốn bày tỏ. Trong lúc bồng bột, tôi muốn đáp trả. Không thể được, tôi nhủ thầm. Nhưng đó là sự thật. Tôi nhớ lại lúc còn trong bịnh viện, khi nàng choàng tay qua tôi, kéo tôi vào nàng và thổn thức nói rằng nàng tin chắc tôi sẽ được bay trở lại. Mỗi tối nàng sẽ khấn nguyện cho tôi bình phục… Nàng đã yêu tôi lâu hơn tôi tưởng. Vào lúc ấy, trong sâu thẳm của lòng tôi, tôi cũng yêu nàng.

Tôi nhận thức đã nghĩ đến nàng thường xuyên và tôi đã viết thơ cho Hatsuyo nhiều hơn viết cho Fujiko. Suốt ba năm chiến trận tôi gần như chỉ tâm sự với một mình nàng và nàng chăm chỉ hồi âm cho tôi từng lá thơ một. Những tháng nằm bịnh viện không tuần nào nàng không vào thăm, không tháng nào mà nàng không gửi cho tôi những thùng quà nhỏ, tuy không có chi mắc tiền nhưng là những chiếc bánh ngọt, lọ mứt do chính tay nàng làm lấy. Bao giờ cũng có những dòng chữ trìu mến, “Saburo, anh hãy ăn nhiều, hết rồi em sẽ làm thêm. Nói cho em biết là anh thích gì…” Làm sao tôi đã ngu ngốc không nhận ra. Từ tấm bé Hatsuyo đã lẽo đẽo theo tôi, chúng tôi như hai con lăng quăng. Khi bay giữa trời nhiều lần tôi nghe tiếng nàng cười khúc khích trên mây. Và tôi hay nhoẻn cười một mình mỗi khi nghĩ đến nàng. Nhưng tôi có thể làm gì được? Tôi đã từ chối tình yêu của Fujiko bởi lẽ tôi đui mù một nửa, bởi lẽ tôi không muốn Fujiko phải lấy một tấm chồng thương phế binh. Tôi có thể làm khác hơn với tình yêu thầm kín của Hatsuyo không? Không.

Khi tiếng dương cầm chấm dứt, tôi cố giữ bình tĩnh, không hề để lộ vẻ gì cho nàng thấy là tôi đã cảm thông nỗi lòng của nàng. Tôi nán lại một lúc cho phải phép rồi kiếu từ đi nghỉ. Chúng tôi nói chuyện nhát gừng pha im lặng đầy vụng về. Hatsuyo cúi gập lưng khi tôi đứng lên, nàng không ngước lên chào lúc tôi về phòng mà nhìn xuống sàn gỗ trong dáng quỳ kính cẩn. Trải qua nhiều giờ, tôi không sao chợp mắt được. Ánh mắt đăm chiêu lo lắng của Hatsuyo sau bản đàn, cử chỉ lúng túng của nàng bám lấy tôi suốt đêm.

Buổi sáng tôi ra đi thật sớm để tránh đối diện với Hatsuyo nhưng nàng đã dọn sẵn điểm tâm và đợi tôi ở phòng ăn. Nàng đã phải thức rất khuya vì hai mắt nàng quầng thâm trên da xanh xao. “Saburo, em đã cầu nguyện cho anh tối qua được lành lặn và bình an như em vẫn khấn hàng đêm cho anh.” Nàng nói. “Em biết có lỗi đã bắt anh thức khuya với em đêm qua, em xin anh thứ lỗi, em sẽ biết ý tứ hơn.” Nàng nói chậm rãi, nghiêm trang. “Hatsuyo, em không có lỗi gì cả, chính anh…” Tôi không nói được hết câu. Khi ấy chú thím tôi bước ra. Tôi chào chú thím mình với Hatsuyo rồi ra đi.

Thiếu tá Christopher Huynh (gốc Việt), Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on September 3, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Thiếu tá Christopher Huynh được trao tặng giải thưởng xuất sắc dành cho Sĩ quan Trưởng Phòng dữ liệu không gian (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Christopher Huynh được bổ nhiệm chức Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Washington D.C từ tháng 5 năm 2025. Ông là Sĩ quan chuyên viên trí tuệ nhân tạo và dữ liệu hỗ trợ bộ phận kỹ thuật số (S6D) của Bộ Tư lệnh Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (HQ USSF). Văn phòng này chịu trách nhiệm thiết lập các chính sách, khuôn khổ và tiêu chuẩn toàn diện cho việc thu thập, lưu trữ, giải quyết và bảo mật dữ liệu, bảo đảm tuân thủ các yêu cầu pháp lý, quy định và nhiệm vụ quan trọng để ra quyết định và hiệu quả hoạt động trên toàn Lực lượng Không gian Hoa Kỳ.

Thiếu tá Christopher Huynh từng là Nghiên cứu sinh Quốc phòng tại Trung tâm an ninh và công nghệ mới (CSET) của Trường Đại học Georgetown. Ông chỉ huy điều hành các nhóm tại Western Range hỗ trợ các hoạt động phóng Phi thuyền vũ trụ và thử nghiệm hoả tiễn, cũng như tại Văn phòng tình báo Quốc gia (NRO), nơi ông điều chỉnh hỗ trợ tình báo cho các Chiến binh và Nhà hoạch định chính sách. Sau đó, ông giữ chức Trưởng phòng học thuật của Guardian Education, nơi ông đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một chương trình giáo dục quân sự chuyên nghiệp độc lập cho các Chiến binh không gian. Gần đây nhất, ông là Sĩ quan điều hành cho các hoạt động tương lai tại Phòng tình báo Quốc gia, dẫn đầu các nỗ lực đa cơ quan nhằm bảo vệ và phòng thủ năng lực của Bộ quốc phòng và Cộng đồng tình báo không gian.

Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF) là Quân chủng tác chiến không gian trong sáu Lực lượng quân sự của Quân đội Hoa Kỳ, và là một trong tám Lực lượng đồng phục của Quốc Gia này. Được thành lập lần đầu vào ngày 1 tháng 9 năm 1982 với danh xưng là Bộ tư lệnh vũ trụ Không quân. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Lực lượng Không gian được tách ra thành một Quân chủng độc lập với việc ký kết đạo luật Không gian Hoa Kỳ, một phần của đạo luật ủy quyền Quốc phòng Quốc gia năm 2020. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ được tổ chức thành một Quân chủng trong Bộ Không quân, một trong ba Bộ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Không quân là người đứng đầu Lực lượng Không gian do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện xác nhận, và tường trình trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đây là lực lượng quân sự có quân số ít nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Lực lượng Không gian hiện nay do Đại tướng B. Chance Saltzman làm Tư lệnh, ông xuất thân là Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Christopher Huynh “giữa” và các nhân viên Phòng dữ liệu không gian trong buổi lễ nhận giải thưởng xuất sắc (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Christopher Huynh thụ huấn và tốt nghiệp Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAFA) với Văn bằng Cử nhân khoa học-tín hiệu quân sự/tình báo không gian địa lý, năm 2013. Sau khi ra trường, Thiếu tá Christopher Huynh được chỉ định lần lượt phục vụ tại các đơn vị từ tháng 4 năm 2014 đến nay được ghi nhân: Sĩ quan kiểm soát dàn phóng, vận hành hệ thống Phi thuyền vũ trụ, kiểm soát tầm bắn và các ứng dụng an toàn tại căn cứ Không quân Vandenberg; Giảng viên kiêm Sĩ quan điều hành Trường phóng phi thuyền và hoả tiễn tại căn cứ Không quân Vandenberg; Trưởng phòng điều hành huấn luyện tại căn cứ Không quân Vandenberg; Trưởng Phi hành đoàn yểm trợ hoạt động tại Santa Barbara, California; Sĩ quan Phụ tá Giám đốc điều hành tại Santa Barbara, California; Sĩ quan chỉ huy nhóm 10 nhân viên hỗ trợ hệ thống hợp tác Liên hợp, cung cấp hỗ trợ khẩn cấp 24/7 cho các khách hàng Quốc gia, chiến lược và chiến thuật bằng cách vận hành các quy trình của NGA và NRO, phối hợp với các chuyên gia về lĩnh vực liên quan tại Washington D.C; Chỉ huy trưởng Phi hành đoàn yểm trợ hoạt động không gian tại Washington D.C; Sĩ quan Trưởng phòng học vụ, Guardian Education; Sĩ quan điều hành, Phi đoàn Không gian Delta 13, Bộ Tư lệnh huấn luyện và sẵn sàng Không gian tại Montgomery, Alabama; Giám đốc Điều hành, Space Delta 21, văn phòng tình báo Quốc gia (NRO), tại Washington D.C; Nghiên cứu sinh Quốc phòng Trung tâm an ninh và công nghệ mới (CSET) tại Washington D.C; và hiện nay, Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Washington D.C.

Thiếu tá Christopher Huynh tốt nghiệp các Văn băng: Văn bằng Nghiên cứu sinh Quốc phòng, Trường Đại học Georgetown, Bộ Không quân Hoa Kỳ, năm 2025; Văn bằng Cao học kỹ thuật hệ thống ứng dụng, Viện Công nghệ Không quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force Institute of Technologynăm) năm 2020; Văn bằng Cử nhân khoa học – tín hiệu quân sự/tình báo không gian địa lý, Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAFA), năm 2013.

Sĩ quan gốc Việt mang cấp Thiếu tá phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ ngoài Thiếu tá Christopher Huynh còn có khoảng 30 vị khác đang phục vụ các ngành trong Lực lượng không gian, một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Jesse Nguyen, Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian; Thiếu tá Ronald Nguyen, Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian; Thiếu tá Simon Duong, Sĩ quan quản lý chương trình, Lực lượng Không gian; Thiếu tá Tan Van, Chỉ huy phó Hệ thống Delta 88, Lực lượng Không gian và các Thiếu tá Hai Hoang Duong, Tung T H Ngo, Tuan U Tran, Thomas V Truong, Brandon D Nguyen, Thomas V Truong, Minh Cao Pham, Duc M Bui, Dan T Nguyen, Quang N Tran và Maichi M Tran. Một số Thiếu tá Không quân gốc Việt chuyển sang phục vụ Lực lượng không gian.

Kỳ tới: Trung tá Tan Van (gốc Việt), Chỉ huy phó Hệ thống Delta 88, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ.

Nguồn: cset.georgetown.edu; linkedin.com; bienxua-Thiếu tá Jesse Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian Hoa Kỳ.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Ðây là bài thứ nhất tôi viết về Thanh Nam, một người bạn thân trong số vài người bạn thân của tôi từ xưa tới nay. Khi Thanh Nam mất ở Mỹ, tôi hoàn toàn không biết và dù có biết cũng chưa thể “nói gì” với nhau được khi Việt Nam còn “mù internet” và hoàn cảnh của tôi cũng chẳng dễ chịu chút nào. Thấm thoát thế mà đã hơn hai mươi năm. Ngày giỗ Thanh Nam lại đến. Tôi chỉ còn nhớ có một người bạn nào đó gửi cho tôi một bài và vài tấm hình về những ngày tháng cuối cùng của Thanh Nam, có các cháu Mai Hương, Quỳnh Giao… đến bên giường bệnh hát cho chú nghe lần cuối. Những chi tiết làm tôi cảm động. Bùi ngùi nhớ lại khoảng thời gian dài chúng tôi sống và làm việc cùng nhau từ tòa soạn báo Ðiện Ảnh của anh Nguyễn Ngọc Linh rồi đến Kịch Ảnh của Ông Quốc Phong đến tòa báo Chiến sĩ Cộng Hòa của Quân Ðội.

Nhưng nhiều kỷ niệm nhất vẫn là những ngày tháng Thanh Nam chưa lập gia đình. Hầu như mỗi buổi tối chúng tôi thường ngồi với nhau hoặc ở một quán cà phê, hoặc ở một quán ăn, hoặc ở một “dancing” nào đó, mà thường là Tự Do, Mỹ Phụng giữa Sài Gòn.

Có Thanh Nam là có Mai Thảo, Hoài Bắc, đôi khi có cả các anh Vũ Khắc Khoan, Mặc Ðỗ. Các ông này uống rượu tì tì, tôi thì không dám uống vì bịnh bao tử, nên chỉ ngồi ăn giỗ mồi. Có khi các ông ấy say khướt, người tỉnh nhất là tôi nên phải lái xe đưa các ông về từng nhà. Có lúc hứng, tan tầm ở tiệm nhảy Baccara đã là 3-4 giờ sáng, các ông ấy đòi đi Vũng Tàu – Ðà Lạt cùng với mấy em ca-nhe nổi máu điên bất tử, tôi cũng lại là người lái xe. Ðúng là những anh tỉnh táo thường bị thiệt.

Từ ngày Thanh Nam lập gia đình với chị Túy Hồng, chàng có vẻ ngoan hơn và tôi cũng ít có dịp đi chơi với Thanh Nam. Chúng tôi vẫn cứ nói lén là chỉ có cô gái Huế mới làm chàng lãng tử dừng bước chân giang hồ. Một điều dễ nhận ra là Thanh Nam đã từng quen biết khá thân thiết với với ít nhất 3 người đẹp, toàn là danh ca, kể cả tân nhạc và cải lương, nổi tiếng ở Sài Gòn thời đó mà không một người nào giữ chân Thanh Nam được. Chỉ có Túy Hồng mới làm được việc này.

Tuy nhiên, trước khi kể về những ngày tháng đó, tôi phải xin lỗi chị Túy Hồng vì kỷ niệm nào “thời son trẻ” cũng không… qua ải mỹ nhân. Chính vì điều này nên tôi cứ ngần ngại mãi, định dành cho một dịp khác. Nhưng chị Lai Hồng và chị Lê Thị Huệ chủ biên website Gió-O cứ khuyến khích mãi, kể rằng chị Túy Hồng biết hết các chuyện đó rồi, chính chị ấy cũng viết về những “người đẹp” mà Thanh Nam đã từng quen biết. Cứ viết đi, không sao đâu. Vậy nếu chị Túy Hồng có buồn thì nhớ buồn luôn cả những người đã “xúi” tôi nhé. Thật tình tôi cũng mong có một lần được “sống lại” cùng một người bạn trên những dòng chữ này. Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ xin nhắc lại vài kỷ niệm nhỏ đủ để “góp giỗ” cùng bạn bè.

Thời Thanh Nam Mới Ra Lò

Tôi quen biết Thanh Nam từ năm 1951 hay 1952 gì đó khi tôi từ Hải Phòng đi với Cuồng Phong lên Hà Nội. Tôi gặp Thanh Nam, Huy Quang, Phan Nghị, Nguyễn Minh Lang trong một khu Hội Chợ bên Hồ Gươm. Lúc đó các ông này là một tổ phụ trách việc phát thanh trong hội chợ. Toàn những anh mới lớn mà được giao một nhiệm vụ khá quan trọng. Bởi dù sao những anh “nhóc mới lớn” này, đều đã từng có tiểu thuyết xuất bản hẳn hoi. Người lớn tuổi và nổi tiếng nhất thời đó là Nguyễn Minh Lang với những cuốn tiểu thuyết đầy vẻ “lãng đãng” như Cuộc Ðời Một Thiếu Nữ. Nguyễn Minh Lang như cái đầu tàu. Sau đó là Thanh Nam, hai người như lá bài trùng, chỉ khác là Nguyễn Minh Lang đã có vợ con và còn có cả một người yêu mà anh thường tự phụ là “đệ nhất danh ca Bắc Hà”. Sau này Nguyễn Minh Lang cũng điêu đứng vì niềm tự hào ấy. Chỉ Thanh Nam là vẫn nhởn nhơ ngoài vòng cương tỏa. Bẵng đi một thời gian, tôi được động viên vào Thủ Ðức, ra trường tôi ở Trường Commandos Nha Trang rồi sau đó về làm ở Ban Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến, tôi mới có dịp gặp Thanh Nam nhiều hơn.

Những Nơi Thanh Nam Sống Và Làm Việc

Khi đó Thanh Nam làm ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội với Vũ Quang Ninh và Huy Quang Vũ Ðức Vinh, cùng một lô các nghệ sĩ nổi tiếng như Ðan Thọ, Anh Ngọc, Vũ Huyến, Nhật Bằng, Ngọc Bích, Xuân Tiên, Xuân Lôi… Công việc của anh là biên tập viên, có lẽ anh phải làm đầu bếp, “nấu nướng” đủ các món hầm bà làng từ tin tức đến bình luận, phóng sự và hợp tác trong những chương trình ca nhạc đặc biệt. Ngoài ra chương trình phát thanh Tao Ðàn trên đài phát thanh Sài Gòn, do thi sĩ Ðinh Hùng phụ trách cũng có Thanh Nam.

Hồi đó ba chàng nghệ sĩ Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư thường thuê nhà ở chung vì cả ba người đều không có gia đình cùng vào miền Nam. Từ ngõ Phan Văn Trị, đến con hẻm bên rạp Quốc Thanh và cuối cùng là Building Cửu Long nằm trên Ðường Hai Bà Trưng. Cả ba ông nghệ sĩ nổi tiếng này chỉ có một căn phòng hẹp téo, chiều ngang chừng 2 mét, vừa đủ kê một chiếc giường cá nhân và một lối đi. Thường là các ông ấy chia phiên nhau, một anh nằm trên giường, hai anh nằm dưới sàn nhà. Mãi sau này Thanh Nam mới sắm được một cái tủ lạnh, trong chứa la-de nhiều hơn đồ ăn.

Cuộc Đời Quân Ngũ Dính Liền Với Nghiệp Phóng Viên

Thanh Nam vào quân đội theo diện “đồng hóa” tức không phải lính động viên mà là lính do nhu cầu chuyên môn, được nhập ngũ theo khả năng phục vụ. Những văn nghệ sĩ có tiếng thường được nhập ngũ vào những phòng “tác động tinh thần” hay Phòng 5, sau này là Chiến Tranh Tâm Lý. Cũng như các anh Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Côn… Phục vụ một thời gian nhất định rồi giải ngũ.

Sau thời gian phục vụ ở Ðài Quân Ðội, Thanh Nam được giải ngũ. Anh quay về với nghề làm báo. Cái số của tôi và Thanh Nam hay đi liền với nhau ở các tờ báo dân sự. Từ Truyện Phim, Kịch Ảnh, Tiếng Vang, Thời Thế đến các tờ báo của những ông chủ báo miền Nam như Tiếng Chuông, Phụ Nữ Diễn Ðàn… đều có mặt. Thời kỳ này, Thanh Nam vẫn ở Building Cửu Long, nơi có khá nhiều nghệ sĩ, nhà quay phim, phóng viên thuê phòng ở trọ bên cạnh phòng năm ba em ca-ve ở Sài Gòn. Ðã ở chung thường coi nhau như “người nhà” chứ không có những chuyện lộn xộn khác.

Buổi tối chúng tôi thường ngồi ở Phòng Trà Hòa Bình của anh Ngọc Bích. Hầu hết ca sĩ trẻ hạng A, đều “chạy xô” qua đây. Từ Bạch Quyên, Minh Hiếu, Bích Chiêu, Băng Tâm, Thùy Nhiên, Thanh Thúy, Ngân Hà, Trúc Mai… đến ca sĩ hạng B mới ra lò nhiều triển vọng cũng được các ông bầu gửi đến cho tập tành “xuống núi.” Chúng tôi viết cho vài tờ báo chuyên về sân khấu kịch trường nên quen biết khá nhiều và cũng có khối chuyện lơ mơ… cho vui cuộc đời. Thanh Nam là một chàng rất dễ thương, nhưng có “tật” thích những cô đào hạng nhất của các sân khấu, nhất là sân khấu cải lương.

Tôi nói là thích chứ không phải yêu. Rất nhiều lần, sau khi ngà ngà say, Thanh Nam rủ tôi và Mai Thảo đến phía sau sân khấu đoàn Thanh Nga… xem đào cải lương trang điểm và… rung đùi ngồi sau cánh gà xem diễn.

Tài Đạo Diễn

Hôm nào có tuồng tích mới, bà bầu Thơ gửi vé mời, chúng tôi có ghế hàng đầu ngồi, như những VIP chính hiệu. Tôi nhớ có một lần ngồi ở hàng ghế đầu xem vở diễn mới, khán giả chật ních. Mai Thảo xem được một lát bèn dựa đầu vào thành ghế ngủ ngon lành, ngáy o o.

Cuối đêm diễn, bà bầu Thơ mời đi ăn đêm ở nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bên Sông Sài Gòn, tất nhiên là có cả cô con gái cưng và là “đào nhất” Thanh Nga. Bà bầu Thơ chỉ nói “chắc là vở diễn hôm nay không hay nên các anh không chú ý”. Thanh Nam hiểu ý nên càu nhàu với Mai Thảo: “Mày hại tao rồi”. Chắc bạn hiểu vì sao.

Mai Thảo vốn chiều bạn nên chỉ cười xòa.

Bức ảnh đẹp nhất của nữ nghệ sĩ Bích Sơn mà anh Cao Lĩnh chụp là do Thanh Nam đạo diễn. Khi lên phòng Thanh Nam, tôi thấy bức ảnh đó, Thanh Nam kể: “Bích Sơn có mái tóc dài rất đẹp, chưa ai khai thác thành công bằng tao. Mày biết không, trên tấm drap trắng giường tao kìa, Bích Sơn nằm nghiêng, trải mái tóc ra, uốn nắn một tí, xoay ngang tấm ảnh lại, giống hệt gió đang bay “mái tóc thiên thần” chứ có phải chụp ở ngoài trời đâu”.

Tôi lại biết Thanh Nam có thêm tài đạo diễn nữa.

Nhưng tất cả những chuyện tạm gọi là các mối tình “lửng lơ” như thế chấm dứt lúc nào không biết. Bởi anh chàng nhà văn này lúc bình thường, không uống rượu thì rất đàng hoàng và với tôi đó là một anh rất “nhát gái”. Cứ ngồi nói chuyện như một cuộc phỏng vấn chứ không dám tỏ thái độ “thân thiện” nào. Nhưng khi uống rượu rồi thì chân tay quờ quạng như chiếc xe vọt hết tốc độ. Những người đẹp đâm hoảng. Thật ra chỉ vài ly la-de là đã đủ “vật ngã” anh chàng hiền lành đó rồi. Vì thế ngoài cái biệt danh “người rung đùi”, anh còn một biệt danh nữa là “ba băm ba”, tức chỉ ba ly bia 33 đã say. Bình thường Thanh Nam rất chiều bạn, nhưng đến lúc đó thì hầu như tất cả bạn bè đều chiều anh.

Ðáng Lẽ Của Thanh Nam Lại Là Cái Tội Của Tôi!

Tôi với Thanh Nam còn một chuyện khá “khôi hài” nữa. Sau khi Thanh Nam tái ngũ, anh về làm báo Chiến Sĩ Cộng Hòa với tôi suốt thời gian tại ngũ lần thứ hai.

Dịp Tiểu đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị tổ chức tuyển chọn ca sĩ vào phục vụ, tôi và Nhật Bằng được cử làm đại diện Phòng Báo Chí và Ðài Phát Thanh Quân Ðội, kéo theo Thanh Nam sang làm giám khảo.

Có một cô rất xinh, khỏe mạnh và hát cũng rất khá, được ban giám khảo chấm điểm cao. Tôi và Nhật Bằng đều đã có gia đình nên bàn nhau giới thiệu cho Thanh Nam. Vài hôm sau, khi đi ăn tối với nhau xong, tôi đề nghị Thanh Nam đưa cô bé đi xem phim. Nhưng cô bé níu tay tôi nói “anh Thanh Nam say rồi, em đi với anh được không?”. Thế là Thanh Nam lại cho tôi thêm một cái tội nữa. Cũng may cho tôi, cuộc tình chỉ kéo dài vài tháng rồi chia tay… trong êm đềm.

Tất cả các cuộc tình của Thanh Nam đều nhẹ nhàng, dường như chẳng có chuyện nào làm anh mất ăn mất ngủ, kể cả khi người đẹp sang ngang. Chỉ có một cuộc tình, theo tôi, là “đáng kể” nhất.

Thanh Nam được giải ngũ, vài năm sau vì nhu cầu quân lực mở rộng, lại được lệnh tái ngũ. Trung Tâm nhập ngũ Quang Trung, gần Sài Gòn, đông quá nên một số quân nhân được gửi ra Trung Tâm nhập ngũ Ðà Nẵng học tập. Vào các dịp Tết Nguyên Ðán, tôi thường đi làm phóng sự Tết Ðơn Vị. Lần đó, tôi xin sự vụ lệnh đi miền Trung, tất nhiên đã tính tới chuyện ghé qua Ðà Nẵng “lôi” Thanh Nam ra khỏi Trung Tâm Huấn Luyện đi giang hồ.

Ngày 28 Tết đi xe lửa ra đến Ðà Nẵng, tôi đến thẳng tư dinh của tướng Ðỗ Cao Trí thăm ông vì đã có thời gian tôi làm việc với ông ở Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 ở Pleiku. Nói là thăm nhưng mục đích là xin ông cho Thanh Nam đi cùng tôi làm phóng sự trong quân đoàn của ông từ đây cho đến Bến Hải.

Ðêm Trên Đèo Hải Vân

Tướng Ðỗ Cao Trí rất “hắc búa” nhưng cũng rất “chịu chơi”. Ông điện thoại ngay cho Trung Tâm yêu cầu cho thượng sĩ Trần Ðại Việt — tên thật của Thanh Nam — trình diện Tư Lệnh Quân Đoàn.

Hôm đó là ngày Trung Tâm được nghỉ, cả bộ chỉ huy chạy tán loạn, bủa đi tìm Trần Ðại Việt khắp thành phố Ðà Nẵng. Họ đâu có biết tôi và Thanh Nam đã gặp nhau ở nhà một người bạn. Tôi phải điện thoại cảm ơn tướng Trí đã tìm thấy rồi. Tết đó, tôi và Thanh Nam trên chiếc xe “jeep” đi khá nhiều đơn vị. Một đơn vị đáng nhớ nhất là đồn Bảo An đóng trên đỉnh đèo Hải Vân, cao chót vót. Chúng tôi ăn một cái Tết trên đỉnh đèo với sương mù dăng ngang túi quần. Nhưng trước khi tôi đi Ðà Nẵng, một nữ ca sĩ mà tôi coi như cháu gái đã cẩn thận gửi theo một túi quà cho “chàng”. Tất nhiên không thể thiếu một “cánh thư hồng”, chở đầy nước mắt nhớ thương.

Thú thật lúc đó tôi mới biết chắc mối tình này của Thanh Nam là “nặng” và là “thật”. Lâu nay tôi cứ ngỡ, đó chỉ là chuyện “nhẹ nhàng” giữa “chú cháu” rồi lại như “ngàn năm mây bay”, như những chuyện trước đây tôi đã chứng kiến. Anh chàng quân nhân ngoài… tiền tuyến đó suốt cuộc hành trình ôm gói quà bên mình. Anh lấy ra một chiếc khăn, không phải là khăn thêu mà là một chiếc khăn len quàng cổ, có vẻ người tình mới mua ở chợ Bến Thành. Anh đứng giữa ba quân dõng dạc tuyên bố đây là quà của người yêu tôi gửi từ Sài Gòn ra, tôi sẽ làm giải thưởng cho bạn nào kể chuyện tình hay nhất.

Cuộc thi kể chuyện tình đó vào đêm 29 Tết trên đỉnh đèo Hải Vân, một anh lính láu cá chiếm được giải thưởng hí hửng lắm. Chẳng biết anh giữ được đến bao giờ hay cũng mang tặng cho người yêu của mình? Ðúng ngày 1 Tết, chúng tôi ra đến Bến Hải vào các đơn vị Pháo Binh, Bộ Binh, rồi sau đó nghỉ lại nhà ông Ninh Con và bà Phượng vài ngày, lúc đó đang ở Huế.

Cuối cùng rồi những cuộc tình cũng đã qua, chỉ còn lại một. Cuộc đời cũng đã qua, chỉ còn những kỷ niệm.

Kỷ niệm thì quá nhiều, nói làm sao cho hết.

Tôi viết những hàng này như một nén hương cho bạn tôi vào đúng ngày giỗ Thanh Nam 2-6-2007.

(Sài Gòn, 2-6-2007)

Chồng người áo gấm

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Suốt gần cả năm nay Donald Trump luôn luôn chiếm hàng tít đầu của báo chí trên toàn thế giới. Nhưng có lẽ nói nhiều quá cũng nhàm.

Báo chí sợ ế, bèn kiếm cái tuồng khác, vui, lạ, hay hơn để câu khách…

Lần nầy diễn viên là Ivanka Trump, ái nữ của đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump.

***

Nói nào ngay, vào ngày mùng 4, tháng Mười Một, năm 2015, khi mới đắc cử Thủ tướng thứ 23 của Canada, Justin Trudeau đã nổi tiếng toàn thế giới nhờ vẻ trẻ trung, điển trai và lịch lãm như một tài tử phim Hollywood với chiều cao lý tưởng 1mét 88.

Justin Trudeau năm nay 45 tuổi. (Ðâu có già chát, già khú đế như Donald Trump, 70 tuổi) tức còn rất trẻ, lại tài cao mới ngồi được trên đầu trên cổ hơn 35 triệu người Canada đó chớ!

Ðẹp trai, nói dai (chánh trị gia mà), con nhà giàu, học giỏi; lại vốn dòng quyền quý nên không ngạc nhiên chút nào là chàng có vợ hơi sơm sớm, năm 2005! Và có con cũng hơi nhiều nhiều tới 3 đứa. Giàu thì muốn đẻ bao nhiêu hổng được. Ðông vui đâu sợ hao?!

Chớ tiêu chuẩn Tây thường thấy là sản xuất ra hai đứa thôi… là nghỉ!

Mấy chú em Việt Nam mình cũng ‘cọp dê’ y vậy! Nên con vợ ‘sòn sòn’ mới 2 đứa là mấy chú hoảng kinh kêu tốp tốp! (Tại anh đó… chớ em nào muốn đâu!)

Ðẻ nhiều, tiền ‘child care’, tức tiền gởi nhà trẻ không cũng mạt!)

Ivanka Trump, 35 tuổi, chân dài tới nách, vì em cao tới 1 mét 80. (Tui đứng giỏi lắm chỉ đứng tới nách của em là cùng) tiểu thư nhà giàu, học giỏi!

Thủ tướng Justin Trudeau và Ivanka Trump

Báo chí Mỹ muốn em là ‘Ðệ nhứt Phu nhân’, (The First Lady), của Mỹ hơn là dì ghẻ của em là Melania Trump, cũng đẹp, vì là người mẫu, nhưng tiếng Anh lại không ‘siêu’ lắm?!

Ðẹp gái, con nhà giàu học giỏi thì dễ gì phòng không chiếc bóng! Một chàng Mỹ gốc Do Thái, ắt hẳn là giàu sụ rồi, Jared Kushner, nhanh nhẩu rước em về dinh để nâng khăn sửa túi! Ðền đáp lại, chàng cho nàng nằm ba lửa! Tám năm tình ta… chui ra ba đứa!

***

Hôm thứ Hai, ngày 13 tháng Hai, Thủ tướng Canada, Justin Trudeau, đến Bạch Cung, thủ đô Washington, D.C  Hoa Kỳ  để gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tại đây anh hùng hội ngộ thuyền quyên! (Vì vợ anh đang bận ở nhà trông con và chồng em bận ở nhà cũng trông con, nên không tới… Dịp may ngàn năm có một nhe!)

Nên mấy nhà báo mới có cớ đồn rùm lên chuyện tình ‘Robinet và Toilette’ (Roméo và Juliet) vui như Tết Congo tới!

Trước và trong khi họp, ái nữ nhà họ Trump tỏ vẻ mừng rỡ, dành cho nhà lãnh đạo Canada một cái nhìn đầy ngưỡng mộ.

(Cả hai nói chuyện đẩy đưa rồi đưa đẩy. Chàng đẩy qua, nàng đẩy lại như hai đứa chơi đánh đu kiểu bà Hồ Xuân Hương vậy mà!)

Ivanka Trump dường như bị sét ‘quánh’ giữa trời quang, lang thang hồn phách, đôi mắt biếc lơ mơ, chỉ sơ sơ tập trung vào cuộc thảo luận, mà mắt chỉ về… Thủ tướng Canada!

Báo chí lá cải dám nói: Ivanka’s ‘thirsty’, (nghĩa đen là khát nước nhưng trong ngữ cảnh mình dịch đại là ‘rạo rực’… Trao cho chàng cái ánh mắt bằng vàng ròng 24 cara  (Tây gọi là ‘golden look’, còn nhà thơ của mình gọi là cái nhìn đắm đuối!)

Thiệt là đoán mò! Làm như đi guốc trong bụng của người ta hổng bằng!

Nhìn vậy thì bộ có tình ý với nhau sao cha nội? Bộ đàn bà cười mỉm chi ‘rồ man tít’ (romantic) như vậy hổng được hay sao?

chong-nguoi-ao-gam-02Ðàn ông làm chánh trị, Tổng thống Mỹ Barack Obama hổng những cười ‘mỉm chi cọp’ mà  còn chụp hình chung với mỹ nhân Rania, Hoàng hậu xứ Jordan… làm Ðệ nhứt Phu nhân Michelle Obama mặt quạu đeo như vừa bị ai giật bóp…

Thiệt là mấy tay nhà báo nầy cứ khư khư giữ cái đầu óc kỳ thị giới tính hoài hè!

Rồi cũng theo mấy nhà báo xạo, đưa tin vịt là: Không chỉ mình Ivanka bị Justin Trudeau ‘bỏ bùa’mà nhiều em khác cũng bị ‘thôi miên’!

Trong chuyến theo chồng công du tới Canada vào Tháng Chín, năm 2016,  Công nương Kate của nước Anh có vẻ cũng e thẹn hơn, nhu mì hơn, vén tóc làm duyên khi đối diện với Thủ tướng Justin Trudeau khi ông chồng, Hoàng tử William, đầu hơi ít tóc một chút, chớ không bùm sùm, quăn tít như ảnh, đang đứng chần vần ra đó.

Công nương Kate và Thủ tướng Justin Trudeau

Dẫu em đã kết hôn với Hoàng tử nhưng khi mặt nhìn tận mặt  với Thủ tướng Canada nhà ta là em cũng e lệ, ngất ngây như uống phải một chung rượu men tình!

Thấy màn một, màn hai coi bộ bà con vỗ tay quá, nhằm kiếm thêm chút cháo, nhà báo hát tiếp màn ba!

Tuồng nầy với lời giới thiệu ‘tùng tùng xèn’ là: Ðêm ăn tối lãng mạn giữa hai người!… Ðầu tiên với Ivanka Trump, ái nữ của tân Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, giờ thì tới phiên Thủ tướng Ðức, Angela Merkel, cũng bị hớp hồn?!

Angela Merkel đã gây kinh ngạc cho anh chàng trẻ tuổi, tài cao của đất nước hoa phong đỏ nầy bằng cách trao tặng một tấm hình chụp lúc Justin chỉ mới lên 10 tuổi, tháp tùng thân phụ mình là Pierre Trudeau, Thủ tướng Canada gặp Thủ tướng Ðức Helmut Kohl vào ngày 12 tháng Mười Một năm 1982.

Sau đó, Thủ tướng Ðức Angela Merkel mời Thủ tướng Canada, Justin Trudeau đi ăn tối  dưới ánh nến lung linh mờ ảo tại khách sạn Regent, thủ đô Berlin vào tối 16 tháng Hai.

Mà theo lối sống của Phương Tây, ‘Date night’  chỉ dành cho hai người đang yêu nhau tha thiết hay đang có tình ý với nhau hò hẹn mời nhau đi ăn tối như vậy.

Một người hài hước, đùa cợt là: “Không ai có thể thoát khỏi sức hút nam châm của  Justin Trudeau?!” Già không bỏ nhỏ không tha! (Khen nhau như thế bằng mười ‘xỏ’ nhau!).

chong-nguoi-ao-gam-03Sự thực là ảnh chụp cho thấy tới 4 người trong ánh nến lung linh (nhưng nhà báo nói láo ăn tiền nầy cho 2 người còn lại hô biến).

Gán ghép bà Merkel, năm nay đã 62 tuổi rồi, đang đi giữa mùa mãn dục, mà cặp đôi với một chàng chỉ mới 45 cái xuân xanh, đáng tuổi con mình thì thiệt là chuyện gán ghép khiên cưỡng, ruồi bu kiến đậu!

Ngu sao mà tui lại tin nhà báo chớ? Viết lách nên giữ gìn ý tứ một chút, đừng phá gia cang người ta kẻo mang tội! Vì lỡ bà Thủ tướng Canada nổi máu Hoạn thư thì tội nghiệp cho ‘thần tượng’ của ‘em vợ’ tui.

Mấy chú em mình thì lại có mòi ganh tị với Justin Trudeau, nên thầm ước trong lòng để con vợ thằng chả cho ‘giả’ chết!

Mặt khác cầu khẩn với ông Tơ bà Nguyệt cho mình kiếm được một em yêu lúc nào cũng nhìn mình rạo rực, đắm đuối, cháy bỏng như Ivanka nhìn Justin Trudeau vậy!

Còn đứa có vợ rồi thì báo động đỏ ở mức cao nhứt là:

“Justin Trudeau tới rồi anh em ơi! Hãy lẹ lẹ giấu vợ, giấu con gái của mình, giấu con bồ nhí, giấu luôn cả thú cưng là chó lẫn mèo vì coi chừng ‘giả’ chôm mất đó nhe!”

Nghe rung cây nhát khỉ như thế, tui cũng ra kế hoạch phòng thủ từ xa:

Lúc nào Justin Trudeau đến công du nước Úc, trước sau gì cũng tới mà, tui sẽ dắt em yêu của tui đi giấu trước.

Nhưng em yêu của tui cười nắc nẻ, thề một câu nghe ăn tiền (tui) hết sức: “Chồng em áo rách em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”

Chớ không bao giờ có cái vụ: “Chồng người áo gấm em thương chồng người” đâu mà anh lo!

Vì em thường tâm niệm rằng: “Chưa chồng dòm dọc, liếc ngang. Có chồng em chẳng liếc ngang thằng nào!”

Dẫu cho rằng: “Chồng em tuy nách hơi hôi/ Nhưng vì em ngửi mãi rồi nên quen!”

Nghe xong tui lấy làm khoái chí trước tình em, bèn “Móc thuốc ra đốt liên miên! Hút xong vài điếu (tui) cười hiền vì phê!”

Phê xong, tui thầm nghĩ: “Em yêu của tui tự tin thấy mà ớn nhe! Làm như còn trẻ, còn đẹp lắm như Ivanka, như Kate vậy!”

Mà quên rằng bà Angela Merkel, 62 tuổi, nếu có lỡ gặp em yêu của tui, còn phải kêu bằng bà… Ở đó mà mơ mộng viển vông! Ðúng là ‘đồ Yamaha’! Tức ‘già mà ham’! He he!

DXT

Chuyện ở đặc khu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/06/2018 

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Hôm qua mưa gió tơi bời, giữa tháng 6 mà có khi lạnh tái tê như đầu tháng giêng. Qua một đêm sầu thảm, nói như người đọc tin tức dự báo thời tiết ở trong nước: “Ngày mai trời có khả năng ấm áp đột xuất”.

Lôi thôi nhỉ? Gì mà phải “khả năng” mí lị “đột xuất”? Đương đại ra phết! Đơn giản chẳng ưa, cứ thích làm cho sự việc rối rắm hẳn lên. Chúng nó quên lời bác dạy: Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Và bản thân bác từng viết: Kách Mệnh. Hậu duệ trung thành của bác nói: Ma-dzê in Việt Nam. Cộng đồng đảng viên mặt tỉnh như ruồi, không một ai “bức xúc” cho “sự cố”, thảy dựa cột mà nghe.
Nếu có nhân tai thì bàn qua chuyện mưa nắng ắt không “lạc hậu”, đã có một “bộ phận không nhỏ chủ trương ăn chơi không sợ mưa rơi”. Trong mấy món “ăn chơi” món bóng đá là chất gây nghiện gần ngang với xì-ke ma tuý. Tuyệt đại các lời bình phẩm sáng suốt đều xem nó là vua trong các bộ môn thể thao. Huống hồ là World Cup 2018 vừa khai diễn ở Nga. Mua được bản quyền để trình chiếu trực tiếp thì ắt chúng sẽ quên đi chuyện biểu tình, biển đảo hoặc đặc khu hoặc an ninh mạng xem ra chẳng gây sôi máu bằng khi trái bóng lăn trên sân cỏ có hai mươi đứa chạy theo dành giật và hai đứa đứng trong khung thành cố truy cản bóng lăn vào “đặc khu”.

Sáng nắng, chiều mưa? Suy ra ông bà Trời có hơi cực đoan, nhỉ? Tính khí anh chị ấy quả thất thường. Mới hăm bốn giờ trước sụt sùi ngấn lệ chưa khô mà bi chừ đã dàng trời màu nắng chan hoà mọi ngõ ngách. Và nóng rát. Và mùa hè “có khả năng” giải phóng sạch những lạnh lùng mưa xuyên thâu ướt dầm lá hẹ, anh sợ ông kẹ nên chẳng dám thăm dù em bảo kệ mẹ, làm thân trai mà đi thè thẹ, cái lông hồng nó vốn nhẹ, sang em cho ăn ghẹ. Đù, dụ khị bắt mỏi miệng! Trời nắng đẹp, thật quá tiện. Qua mình bàn công chiện.

Đối đáp nọ là thuở còn sung, mùi mẫn chuyện gái trai. Lịch sử sang trang và sách đời giở lật theo làm cả anh lẫn em, chúng ta đều dẫm chân vào vùng cấm địa của nhi nhĩ thuận với cổ lai hy. Dâu bể từng nếm trải nên bi chừ hạt lệ như sương, mọi con đường đều dẫn về La Mã, cái gì của César thì hãy trả lại cho César, nên thuận lòng phiên dịch chữ thành Rome ra nhà dưỡng lão. Đã bảo, ấy là đặc khu mà chúng ta sẽ thuê. Hôm qua anh ngại vì đường xa ướt mưa, hôm nay trời nắng đẹp cỏ cây hớn hở xanh um nên anh sẽ đeo răng giả, nốc hai viên Viagra, đi xe buýt miễn phí sang thăm em chốn ngoại ô đèn mờ.

Tự thuở nào giờ em vẫn mặn chuyện thơ văn. Em lên án con mẹ đã bỏ chồng vì lý do thằng chả tối ngày cứ ham làm thơ. Làm nhiều đến nỗi có nhà phê bình kêu rằng: Hén lồm thơ cứ y như đi đái! Và một vị tai to mặt lớn ngôn: Trong phây bút toàn cả thơ rác. Đó là chuyện nội địa, ở biển ngoài em có cảm tình với một ông ở bang Texas: Vì chuyện đặc khu, từ nay tôi không làm thơ kiểu tán gái nữa. Em kết luận: Em ưa đi bộ dưới hàng cây, ưa mặc bộ bà ba màu trắng và em cũng yêu anh. Dù anh có làm thơ rác nhưng thơ ấy còn bày tỏ chút chia ngọt sẻ bùi với người thấp cổ bé miệng cách một đại dương. Anh tuy già khú đế nhưng anh chưa mất đi sự vô cảm, thấy người ta khổ thì mình buồn, đó là thứ tuy nhỏ nhoi nhưng em vẫn cảm ơn anh. Mông lung siêu thực cách tân hậu hiện đại đương đại lắm khi chẳng sánh bằng thơ rác. Rác cũng tuỳ vào mỗi dạng loại. Ý tưởng ấy em vay của nhà thơ Tô Thuỳ Yên, bởi vì “lịch sử qua đường đã cải trang”:

ta về dẫu phải đi chân đất
khắp thế gian này để gặp em
đau khổ riêng gì nơi gió cát
thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Em làm anh nhớ nhà thơ Trần Vấn Lệ:

em nói… bây giờ em tuổi lớn
chân tê, tay mỏi, khớp xương đau
em cầm cái lược, em buông xuống
tóc biếc còn mô! đã bạc đầu!

Em dẫn anh đi “tham quan” đặc khu em vừa ký gửi chương cuối phận người. Ôi, sao nó “hoành tráng” quá. Cao ốc gồm 17 tầng lầu và cao chót vót là nơi dùng làm chỗ thù tiếp thức ăn ngày ba bữa, sạch như lau ly. Tôn trọng người đứng tuổi nên cửa thang máy chốn này cũng đặc biệt đóng mở thật từ tốn, chậm lụt cho khớp với cách di chuyển khoan thai dục tốc bất đạt của quý vị cao niên. Anh đưa cảm tưởng cho em nghe, rằng anh quá an tâm khi vào bấm nút, dãy con số tuyệt không có 13. Em nói anh chúa dị đoan, kiểu như ghét số 70 với số 99 mà bọn chúng áp đặt vào thời hạn vay mướn đặc khu.

Một ông già mắt hom hem lịch sự chào bằng tiếng Pháp: Buổi sáng an lành, thưa bà Chen. Em trả lễ: Chào ông Jacque. Tôi là Rose, đừng trông gà hoá cuốc, tôi nào phải bà người Tàu ở cạnh phòng ông. Jacque mang thêm chứng lãng tai thành thử nụ cười móm mém của đương sự vẫn chưa chịu tắt đi. Kệ đi mà, kính lão đắc thọ, đừng dội nước lạnh vào thành ý của người cùng ở đặc khu, cứ để ông ta ngộ nhận về một bóng hồng lân cận đầy tình hữu hảo.

Lên xuống lòng vòng cho biết sự tình, thực ra thì em ngấp nghé “định vị” sẵn cho anh một nơi an lành đặng mai này gửi thân làm chòm xóm láng giềng với em cho qua cơn hạn cuối đời. Em là thềm nhà mà anh là bụi chuối thức thâu đêm. Cả hai hổ tương vào một hình ảnh coi hợp tình hợp cảnh hơn là bụi trúc với mái đình. Còn đâu nữa “em xinh em đứng một mình cũng xinh”! Bây giờ chữ xinh nọ đã truyền ngôi cho con em. Cô gái hơn cả “ba đảm đang” đã bỏ công đứng ra lo cho mẹ hiền một nơi trú thân “trên cả tuyệt vời”. Bất hạnh cho những ai không có truyền nhân nai lưng đứng ra cán đáng mọi chuyện sinh tử hoặc có mà chúng lại đi khiếp sợ ngoại nhân, khốn nạn như phải bị đẻ ra chục hột vịt lộn.

Đặc khu là chữ anh khôi hài chứ thật ra chốn này nào khác gì một khách sạn 5 sao. Xuất, nhập khá nghiêm ngặt, phải thông qua hai bà ngồi trực ở phòng information, để nhỡ có vị nào xa quê hương nhớ mẹ hiền buồn chân đi lạc ra đứng ngõ sau thì họ còn biết đường mà lần, huy động người đi cứu hộ. Oh, mon Dieu! Cảnh quang tiêu điều là thế mà sao cụ lại vác mặt ra ngó mông. Kíp trở vào cho yên thân cụ. Giời ạ, nói mãi mà không chịu cảnh tỉnh. Bụi môn cũng không, bụi chuối cũng chẳng có, há lẽ lại ưa ngó cây xương rồng đầy gai nhọn. Cơ khổ!

Anh đã mỏi gối chồn chân chưa? Trở lên phòng em pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cho mà giải lao thông cuống họng. Bột starbucks đàng hoàng chớ không phải cà phê Ban Mê pha than pin con ó đâu nghen. Uống đặc sản nọ thì không đủ sức để dọ dẫm vô nhà dưỡng lão đâu, hưởng dương là cái chắc! Ừ, mình trở về đi em, lên lại chỗ điện nước đầy đủ. Coi thử trí nhớ anh còn tốt không nè. Mở cửa thì phía tay mặt có phòng tắm cùng nhà vệ sinh, lấn sâu chút nữa thì góc bếp nhỏ sạch bong vì không ai dụng công nấu nướng. Phía tay trái là phòng ngủ coi bộ mênh mông chi xứ mà em đặt lưng ngủ ngáy, xong tới phòng khách ngó xuống dòng sông mùa này con nước chảy êm qua. Gió bờ sông rù quến thổi mơn man ngoài cửa lầu 14, những chùm lá cây bên dưới xao động từng bóng tròn diệp lục tố đan xen.

Anh quên tả những bức ảnh Phật em lộng kiếng. Rồi cái ti vi. Ờ giờ này có thể chúng nó đã mang giày ra sân. Mình có thể xem trực tiếp đội Nga chủ nhà gặp đội tuyển Saudi Arabia. Anh biết không, cả hai đội đều nằm ở mức thấp nhất trong bảng xếp hạng của FIFA. Nga đứng vị trí 70 trong khi Saudi Arabia xếp thứ 67. Vì lẽ đó một phần mà huấn luyện viên Juan Antonio Pizzi tin rằng đội banh của ông sẽ làm khó đội tuyển Nga. Phía Nga thì cựu danh thủ Andrei Kanchelskis đưa cảm nghĩ: Đây là một đội tuyển tồi tệ nhất mà tôi từng biết đến. Ngày xưa, bộ môn túc cầu của Liên Xô được tổ chức tốt hơn. Sau khi Liên Xô tan rã thì bóng đá Nga cũng theo đó mà tuột dốc thê thảm. Giờ này, cầu thủ chơi được đã già, số tuổi trung bình là 38 tuổi và toàn bộ họ đều không được tham gia thi đấu ở các câu lạc bộ nước ngoài, tầm nhìn của họ bị giới hạn, một vài người có tài năng thì không thích khoác áo đội tuyển quốc gia vì bất đồng với huấn luyện viên.

Sao em giỏi việc nắm bắt thông tin toàn cầu đến thế. Cà phê được rồi nè. Trước khi khai diễn trận mở màn, tháng trước em xem tin cảnh báo từ hai cơ quan hàng đầu về an ninh mạng của Mỹ và Anh. Họ bảo là nguy cơ smartphone bị hack tại world cup 2018 là rất lớn. Nếu bạn dự định dùng điện thoại di động, máy tính xách tay hoặc các thiết bị điện tử khác, hãy cẩn thận khi đến Nga xem world cup, bởi tất cả những dữ liệu chứa trong các thiết bị đó cũng có thể bị truy cập bởi chính phủ Nga hoặc các tội phạm mạng. Cách tốt nhất là dùng một chiếc hoàn toàn mới và tháo pin lúc không sử dụng khi đến Nga xem đá banh.

Nghe em kể làm anh nghĩ tới luật an ninh mạng của xứ Việt tiêu điều. Lạ thật, cái gì dính líu tới bọn cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đều liên hệ tới trộm cắp hoặc dòm ngó hoặc quấy rối khủng bố tinh thần người ta. Anh cũng đồ rằng có sự “đi đêm” lương lẹo của Putin khi đội tuyển Nga được lọt vào bảng A, là bảng dễ thở nhất so với 7 bảng tranh đua gay cấn còn lại.

Đặc khu này luôn chìm trong tĩnh lặng. Một nỗi yên hàn rất già nua. Còn chút lửa lòng thì hãy cố mang ra, tìm đến nhau hàn huyên tâm sự trong quạnh quẽ. Cả anh lẫn em, chúng ta hầu như chưa có ai trở lại cố quận từ dạo dấy lên ngọn sóng đỏ tuôn tràn. Dạo đó, mình cứ tiếc nuối là chẳng được rộng cẳng đi thăm thú đó đây trên địa bàn an lành của 9 tỉnh miền Trung, 6 tỉnh miền Cao nguyên, 4 tỉnh miền Tây, 6 tỉnh miền Đông. Sông Bến Hải cầu Hiền Lương trở vào tận Cà Mau gồm 25 tỉnh mà chúng mình nào biết qua mặt dọc mặt ngang. Thật là một thiệt thòi đáng ân hận! Một lần, nó đã bị người ta giải phóng; rồi mai này biết đâu người ở đó đều nói thứ ngôn ngữ khác mình.

Anh đang ngậm đắng nuốt cay đó hở. Chiều nay con em sẽ tới thăm, biết có bác Hồ không râu lại chơi với mẹ nên nó có nhã ý xắn tay áo vào bếp chiên xào nấu nướng cho đôi bạn già thưởng thức món quốc hồn quốc tuý. Mà lỡ có quá chén, mẹ biểu bác ấy ở lại đắp chung chăn xem thử đêm về có bị rệp cắn không. Cho anh làm đội tuyển Nga đó, thử so giày một trận xem sao. 90 phút đã đủ bở hơi tai chưa, hở con bồ câu đi lạc.

Hồ Đình Nghiêm

Những vì sao của một thời tuổi thơ

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh   

July 21, 2014   

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh (Phan Thanh Vân) và người em họ (Đỗ-Bê)[*] thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, ba anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà

Ai dè binh địa nổi phong ba.

Xót người vị quốc liều thân ngọc,

Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.

Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,

Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.

Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,

Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này. Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu – Nha Trang).

Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh.  Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.

Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông Cái, chảy lượn lờ uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch.  Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất.  Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân thích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.

Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.

(SVSQ Phan Ái Minh)

Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.

Đúng vào một ngày Giáng Sinh,  đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh:  Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv.  Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã.  Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.

Một ngày cuối năm, khi chúng tôi đang tham dự cuộc hành quân thực tập cuối khóa bên bờ sông Đồng Nai thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh.  Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.

Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì  Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân,  là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).

Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!

Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.

Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.

Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi cũng không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.

Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi . Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.

Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.

Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum mùa Hè năm 1974, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1973 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.

Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, từng giữ các chức vụ Trung đoàn trương, Trung đoàn phó BB như các anh Trung tá Hoàng Mão, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Huỳnh Bá An – Liên đoàn Phó BĐQ: các anh Trung tá Lại Thế Thiết, Nguyễn Văn Măng, – Quận trưởng: Trung tá Đoàn Minh Phương, các anh Thiếu tá Huỳnh Túy Viên, Thái Lê Trương, – Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc thuộc các đơn vị Tổng Trừ Bị như các Thiếu tá ND Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa, Nguyễn Văn Nghiêm, các anh Thiếu tá TQLC Phạm Cang, Phạm Văn Tiền, Nguyễn Văn Sử, các anh Thiếu tá BĐQ Vương Mộng Long, Quách Thưởng, Nguyễn Hữu Mạnh, Nguyễn Văn Nam vv…,tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và xót xa nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.

Phạm Tín An Ninh

(nhân ngày giỗ thứ 40 của Phan Ái Minh)

Ghi chú:

[*] Đỗ-Bê là bạn học cùng lớp (đệ Ngũ và đệ Tứ) với tôi khi chúng tôi còn học ở trường Trung học Văn Hóa (Nha Trang). Bê vào Khóa 19 Thủ Đức, được phục vụ ở TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ), nhưng đến giữa năm 1973, theo lệnh Bộ TTM, phải hoán chuyển ra đơn vị tác chiến, Đỗ-Bê về đơn vị tôi (Trung Đoàn 44BB) giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó TĐ 1/44. Tháng 8/1974, Đỗ-Bê  được lên giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng, thay cho Cố Th.Tá Dương Đình Chính (cùng Khóa 20 VB với Phan Ái Minh) tử trận tại Tiền Đồn 5 Kontum. Nhưng chỉ sau 3 tháng (11/1974) Đỗ Bê cũng đã hy sinh bên ngoài căn cứ 801 Pleiku (cách Hàm Rồng khoảng 15 cây số)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

để tưởng nhớ thi sĩ Huy Cận.

Tôi ở Quận Cam, California đã hơn mười năm. Ở đây ra biển không xa mà bóng núi cũng gần, nhưng sao tôi cảm thấy từ lâu nay mảnh đất này hình như thiếu một điều gì.

Có những đêm, thức giấc nghe như có tiếng mưa trên lá và trên cây cỏ, tiếng mưa rào rào như nhắc tôi nhớ lại những đêm mưa thuở nhỏ ở quê nhà, nhưng một lúc sau tỉnh táo, hụt hẫng, tôi bỗng nhớ lại đây là tiếng nước tự động tưới cây trong vườn hàng đêm. Đã lâu lắm, Cali lại có những cơn mưa. Mấy tuần này mưa lại dồn dập ngày này qua ngày nọ, mưa ngày lại mưa đêm. Trời mưa, dù đang nằm nhà hay lái xe trên xa lộ tôi vẫn thấy lòng mình như lắng lại, tiếng mưa như giội sạch, kéo đi những rác rưởi muộn phiền, sau đó, trời đất dịu mát, đường sá sạch sẽ, bầu trời quang đãng và có lẽ người ta có được cái cảm giác bước tới một ngày mới mẻ. Những đêm như đêm nay, tiếng xe cộ đã yên tĩnh, khi lòng không lo nghĩ, thức giấc nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà, trong vườn cây,“ trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe” lại nhớ thời niên thiếu, yêu những câu thơ mưa của Huy Cận, yêu đến thuộc nằm lòng:

“Đêm mưa làm nhớ không gian,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương giọt nước mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong bồn,

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi

Rơi rơi dìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ …

Tương tư hướng lạc phương mờ

Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe

Gió về, lòng rộng không che

Hơi may hiu bắt bốn bề tâm tư … “

(Buồn Đêm Mưa – Huy Cận)

hay như trong một bài mưa, thơ bảy chữ khác, ít phổ biến hơn:

“Mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi

Lạnh của không gian thấm xuống người

Rơi rớt về đây muôn hướng gió

Lòng sầu vạn dặm gió mưa phơi”

(Mưa)

Thế mà giữa hai tuần mưa tầm tã ở quê người, lại nghe tin nhà thơ Huy Cận ra đi. Cái tên Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Tế Hanh … nói đến như soi rọi lại một quãng đời niên thiếu như vùng vẫy, lặn hụp trong giòng sông dịu mát của những vần thơ của các thi sĩ, gọi là tiền chiến, được trịnh trọng chép tay trên những trang giấy mỏng xanh, đóng thành tập hay chuyền tay nhau trong lớp học.

Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng là nỗi buồn của những chàng trai mới lớn, bâng quơ, nhen nhúm chút tình yêu trai gái nhẹ nhàng, hư ảo, không để lại bằng mắt bằng môi, mà bằng một tà áo thoáng qua, chút tơ trời vương vấn hay chút mây trắng trôi qua khung cửa lớp học:

“Gió thổi sân trường chiều chủ nhật;

Ôi! Thời thơ bé tuổi mười lăm … “

Nắng hoe rải nhạt hoa trên đất

Đời dịu vừa như nguyệt trước rằm.”

(Học Sinh)

“Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong

Hôm xưa em đến mắt như lòng .. “

… “Em lùa gió biếc vào trong tóc

Thổi lại lòng anh những núi non”

(Áo Trắng)

hay:”

Một hôm gió thổi tình yêu lại

Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ”

(Học Sinh)

Nhớ tới Huy Cận là nhớ tới “Tràng Giang” có một thời đã là một bài học thuộc lòng ở bậc trung học:

“Sóng gơn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy giòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên, sầu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu … “

(Tràng Giang)

Một bài thơ của Huy Cận được phổ nhạc, rất phổ biến tại miền Nam trước năm 1975 là bài “Ngậm Ngùi”, nhưng một đôi khi người phổ nhạc quên đề tên tác giả, mà người hát thì chẳng buồn nhớ tới người thơ. Các bạn hãy cùng tôi một chút “ngậm ngùi” nhớ lại:

“Nắng chia nửa bãi chiều rồi …

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.

Sợi buồn con nhện giăng mau;

Em ơi! Hãy ngủ … anh hầu quạt đây.

Lòng anh mở với quạt này

Trăm con chim mộng về bay đầu giường

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ

Cây dài bóng xế ngẩn ngơ …

Hồn em đã chín mấy mùa thương đau.

Tay anh em hãy tựa đầu

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.”

Thế giới thơ của Huy Cận dịu dàng, mờ nhạt như những bức tranh thủy mặc:

“Đi rồi, khuất ngựa sau non

Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch liêu.

Trơ vơ buồn lọt quán chiều

Mái nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người”.

(Đẹp Xưa)

Sau 1945, chúng ta ít được đọc thơ Huy Cận vì ranh giới chính trị và sau 1954 là ranh giới Bắc Nam. Trong thời gian này, Huy Cận lên Việt Bắc rồi theo Cộng Sản về nắm chính quyền, tham chính tới chức Thứ Trưởng Văn Hóa. Cũng như các văn thi sĩ, dưới chế độ Cộng Sản, nhất là đối với những người đã được chút ân sủng của Đảng, họ bắt đầu chối bỏ tất cả tác phẩm của mình “trước cách mạng” và bắt đầu đi theo con đường cúc cung tận tụy hết lòng với Bác và Đảng. Có lẽ những bài thơ ca tụng Bác của Huy Cận không nồng nàn, tận tụy như của Tố Hữu, nên chức vụ của Huy Cận cũng là một chức vụ không có mấy thực quyền, trong một chính phủ thường có rất nhiều loại “thứ … “. Mấy câu thơ Huy Cận làm trong thời gian ở Việt Bắc (1948) sau đây thấy không có gì là thơ, mà cũng chẳng có gì là “huy cận”:

“Về đây ở với đồng bào

Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn”

(Quanh Nơi Làm Việc)

hay một bài thơ khác ca tụng đất Nghệ Tĩnh:

“Đất này đất Xô Viết

Đảng mở hội cờ hồng

Tự tuổi vàng đá biết

Mặn nồng tình công nông”

(Gởi Người Bạn Nghệ Tĩnh)

hay loại thơ “chống Mỹ”:

“Giặc Mỹ! Mày hung ác quá chừng!

Bom gieo sạt phố, đổ xiêu tường

Nhưng bao người viết thư tường ấy

Sẽ tống xô mày xuống đại dương.

(Những Lá Thư Trên Tường Hải Phòng)

Nhưng có lẽ rồi trong cuối cuộc đời, Huy Cận, người thơ lãng mạn của thập niên 40 đã làm xao xuyến bao nhiêu con tim “thơ bé tuổi mười lăm”, đã tìm thấy đâu là vĩnh cửu, đâu là giai đoạn. Người ta kể rằng, món “chiến lợi phẩm” quí giá nhất mà Huy Cận đã mang về từ Saigon sau tháng 5-1975 là một cuốn băng sưu tập bài thơ “Ngậm Ngùi” phổ nhạc, một trong những bài thơ “tiểu tư sản, ủy my, thiếu chiến đấu tính” đã vứt đi, qua 8 giọng hát khác nhau của các ca sĩ miền Nam.

Huy Cận đã ra đi, thân xác ông, một người đã từng tham chính trong chế độ, sẽ về nằm vĩnh viễn ở nghĩa trang Mai Dịch chẳng hạn, nhưng có lẽ những giòng thơ “tiền chiến” của ông, những vần thơ của một người làm thơ còn trung thực, chưa biết căm thù hay dối trá, sẽ còn nằm lại trong trí nhớ của chúng tôi, một chút “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài … “

Tháng 2- 2005