This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nói nào ngay những người làm văn nghệ hồi xưa hay chịu ảnh hưởng của nhau. Thấy cái tứ hoặc cái tích nào hay hay là chôm về làm của mình rồi vẽ rắn thêm chân.
Như tuồng cải lương ‘Ðời Cô Lựu’ của soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang, có Hội đồng Thăng thì sau đó cũng có người em song sinh, nhưng khác cha khác mẹ là: ‘Tiếng hò Sông Hậu’ của soạn giả Ðiêu Huyền với Hội đồng Dư. He he!
Hai ông soạn giả nầy đều theo ‘Vi Xi’. Mà trong chế độ độc tài toàn trị của CS, tuồng hát nào đã được đảng bật đèn xanh cho hát, soạn giả không bị đánh cho lên bờ xuống ruộng thì mình cứ ‘nhái’ theo, cứ ‘cóp’ theo đó mà làm cho nó an toàn trên xa lộ đấy thôi!
Bằng tự ên mình sáng tác mà không chịu ‘cọp dê’ ai thì soạn giả vừa viết vừa dòm chừng coi mấy quan văn nghệ như Trường Chinh, Tố Hữu xem xong có mặt mày trợn ngược, sùi bọt mép hay không?
Kinh nghiệm đau đớn của các văn nghệ sĩ từng viết cho Nhân văn Giai phẩm như: Phan Khôi, Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Dần, Phùng Quán…bị đảng lấy roi ra quất túi bụi còn sờ sờ ra đó.
Thử hỏi người sống nhờ vào ngòi bút của mình, ai mà không rét vì sợ bể nồi cơm? Sợ phải đi câu cá trộm ở Hồ Tây để kiếm sống như nhà thơ Phùng Quán. Sợ phải về Thanh Hóa đi thồ đá kiếm cơm như nhà thơ Hữu Loan của ‘Màu tím hoa Sim’…
Trái lại trong chế độ VNCH, dẫu mới tập tễnh trên con đường dân chủ thì cái tự do sáng tác nó ‘phẻ’ hơn nhiều. Ðể chứng mình cho cái nhận xét nầy của tui là cuộc đời của soạn giả Quy Sắc.
Soạn giả Quy Sắc. (1924-2010) tên thật là Nguyễn Phú Quý. Vì là tên Quý, nên khi sáng tác bài ca vọng cổ hay soạn tuồng cải lương, ông có nghệ danh là soạn giả Quy Sắc.
Cái nghệ danh đặt theo kiểu nầy hồi xưa trong giới nghệ sĩ cải lương có rất nhiều. Ngoài Quý là Quy Sắc, chúng ta còn có soạn giả Ðiêu Huyền (1915-1983) vì ông tên thật là Phạm Văn Ðiều.
Còn bên nghệ sĩ trình diễn thì chúng ta cũng có Hương Huyền (Nguyễn Văn Hường, thân phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Hằng bên Úc) và Hương Sắc (Nguyễn Văn Hướng) là hai anh em ruột.
Cái nghệ danh nầy cũng bám sát theo thời thế lắm nhe! Dạo đầu thì nghệ danh thường lấy thứ trong gia đình cộng thêm cái tên do cha mẹ đặt hay tên của quê hương mình. Như: Cô Ba Bến Tre, Cô Ba Trà Vinh, Cô Năm Cần Thơ… Còn nếu già già hơn một chút là Bà Năm Sa Ðéc (vợ của ông Vương Hồng Sển)!
Rồi ông Út Trà Ôn với dàn đệ tử là: Út Nhị, Út Hậu rồi Út Hiền…
Bên nữ thì có Út Bạch Lan, người được soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà xưng tụng là ‘Sầu nữ’.
***
Có bằng Thành Chung, thầy Nguyễn Phú Quý tình cờ dạy kèm cho Juliette Nga, lúc đó 13 tuổi, con gái của bà Bầu Thơ, chủ đoàn hát Thanh Minh. Vài năm sau, Juliette Nga trở thành nữ nghệ sĩ lừng danh Thanh Nga. Còn thầy Nguyễn Phú Quý thành soạn giả Quy Sắc.
Quy Sắc hợp soạn cùng soạn giả Kiên Giang tuồng: ‘Người vợ không bao giờ cưới’ “Ngày mai đám cưới người ta. Tại sao Sơn nữ Phà Ca lại buồn?” (Hai câu thơ lục bát nầy là của nhà thơ kiêm soạn giả cải lương Kiên Giang).
Và cũng chính vở tuồng nầy đã đưa nghệ sĩ Thanh Nga, năm 1958, lúc mới vừa 16 tuổi, lên đài danh vọng do đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm của ông nhà báo Trần Tấn Quốc.
***
Soạn giả Quy Sắc cũng như nghệ sĩ Tấn Tài – hoàng đế dĩa nhựa, vốn là thầy giáo; sau bỏ nghề khỏ đầu trẻ để theo nghiệp cải lương.
Câu hỏi đặt ra là đi dạy học, tiền lương lãnh đều đều mỗi tháng, sống phẻ re như con bò kéo xe! Mà tại sao hai ông Quy Sắc và Tấn Tài bỏ cái rẹt cái nghề ‘khỏ đầu con nít’ để theo kiếp cầm ca bấp bênh hơn rất nhiều?
Theo tui đoán mò, nó có ba lý do: Một là họ có tâm hồn nghệ sĩ. Là nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu, làm kép chánh mỗi khi xuống vọng cổ mấy em rụng rún hết ráo thì khoái ơi là khoái?
Hai là: Ðêm nay tuồng nầy làm áo vũ cơ hàn, quần áo rách tả tơi thì đêm mai lại được làm Vua hô: “Quân bây” là trong hậu trường nó dạ rùm hết ráo thì không khoái lắm ru?
Ba là: má tựa vai kề (quá đã) với cô đào chánh sắc nước hương trời mà không sợ má bầy trẻ làm khán giả đang ngồi coi ở hàng ghế thượng hạng không nổi cơn ghen, lột guốc phang vô mặt mình bất tử!
Ðó là nghề kép chánh! Còn nghề soạn giả dẫu không có cơ hội chường mặt ra sân khấu như kép Thành Ðược, Hùng Cường, Minh Vương, Minh Phụng… để mấy em bán cá ở chợ Cầu Ông Lãnh chết mê chết mệt thì có cái khác nó bù vô. Cái khác đó là soạn giả nào nặn óc ra, sáng tác được tuồng nào ăn khách, hát cả tháng trời mà bà con đêm nào cũng ùn ùn tới coi, là vô mánh.
Tác quyền được chia tới 5% tiền bán vé. Hát nhiều đêm là tiền càng nhiều. Hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, thủ đô Sài Gòn, hết ai đi coi thì đi về các tỉnh. Hát xong mà được các hãng dĩa nhào vô thu thanh, in dĩa ra bán toàn cõi Ðông Dương, tới cả bên Miên, Lào thì lại càng vô mánh.
Tuy nhiên, cũng có những ngày mưa, gánh hát phải trả giàn, nghệ sĩ và soạn giả đành lãnh phân nửa (lương đờ mi) hay một phần tư (lương cà phê)! Nhưng ít khi xui tận mạng như vậy lắm!
Nghề soạn giả buộc phải đọc nhiều sách, học thêm nhiều cái mà nhà trường chưa dạy. Soạn giả học ở trường đời nhiều gấp bội hơn học ở nhà trường!
***
Ðêm nay quê người, Melbourne, tháng Sáu, trời lạnh lắm; vì đã chuyển sang Ðông. Trầm ngâm bên ly rượu đỏ, tui nhớ về nghệ sĩ Thanh Hương (1936-1974) con của nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu).
Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng nghệ sĩ Thanh Hương cũng để lại cho chúng ta một giọng hát bất hủ trong bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” của soạn giả Quy Sắc do hãng dĩa Asia phát hành.
Và cũng nhờ bài vọng cổ nầy mà vào cuối thập niên 1950, trên tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc, nghệ sĩ Thanh Hương được độc giả bầu là: “Ðệ nhất nữ danh ca”.
***
Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang! Ngày 30, tháng Tư, năm 1975, Cộng sản Bắc Việt tràn vô thủ đô Sài Gòn của chúng ta. Ðám Tuyên huấn ngoài Hà Nội chủ trương rằng: “Cải lương miền Nam không khuyến khích”.
Vậy là các hãng dĩa bị tịch thu, các gánh hát bị giải tán, tất cả các tuồng sáng tác trước 1975 bị cấm trình diễn. Các soạn giả cải lương bị cấm hành nghề.
Soạn giả và nghệ sĩ cải lương miền Nam lâm vào cảnh đói khổ cùng chung với cả nước VNCH. Soạn giả Quy Sắc phải bán luôn cả tư trang để sống cầm hơi. Kiếp con tằm là phải nhả tơ. Mà muốn nhả tơ thì ít ra phải có dâu cho tằm ăn chớ?
Rồi suốt 45 năm nay, Cải lương cứ ngắc ngoải, cứ thở hơi ra mà chưa chịu chết. Cải lương chưa chịu đi chầu ông bà ông vải là vì sáu câu vọng cổ là cái hồn dân tộc, cái tâm tình của người dân Lục tỉnh quê mình!.
***
Nhớ chiều xưa, trước ngày vượt biển, bên mâm rượu cùng bằng hữu văn nghệ nghe em ca cái bài: “Cô bán đèn hoa giấy!”
“Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cô đã có chồng hay chưa?”
“Ðèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi.”.
45 năm ngày mất nước, đêm nay, quê người nghe lại bài năm cũ, giọng ca xưa, kỷ niệm tràn về như sóng làm lòng tui thiệt bùi ngùi quá mạng đó bà con ơi!
Rồi sau cùng, hạn kỳ của trông đợi đã điểm, mỗi đứa nắm được trong tay tờ quyết định riêng cho từng số phần. Cuối đường là ngã rẽ hay bức tường án lối? Bạn đi và bạn không có quyền nhìn ra viễn ảnh. Đời sống luôn làm công việc của nó: Xô đẩy con người. Lạnh lùng, nghiêm khắc, chẳng khoan nhượng. Tác động của thứ quy luật kia gây phản ứng: Bạn thi hành, bạn lần khân, hay bạn tránh né? Miếng cơm, manh áo là vật chất. Quan trọng không kém, khi có việc làm, đầu óc bạn nguôi ngoai thứ mặc cảm bị bó tay, nó vỗ về bạn: mình chẳng hề là đứa ăn bám. Hãy ưỡn ngực ra, đi tới. Mình nắm trong tay tờ quyết định, bổ đi làm cán bộ Thông tin Văn hóa ngoài Đông Hà, Quảng Trị. Lương 52 đồng một tháng. Đứa nào lên vùng cao nguyên thì được cọng thêm 4 đồng, không chú thích lý do. Một vài đứa đạp xe ra ngồi cà phê vỉa hè gọi là sum vầy lần cuối. Nắng rát lưng, mặt đăm chiêu, hồ hởi phấn khởi là thứ phương ngữ đầy hoang tưởng. Hãy trao cho chúng tôi sự hoang mang để chúng tôi tự tìm cách chống đỡ. Cà phê rất tệ, thực chất nó không đủ “tư cách” để khoác thân chữ có nguồn gốc từ phương Tây. Một thứ nước giải khát đã bị giải phóng ra khỏi tay bọn địa chủ để dân bần cố nông phát huy sáng tạo với thành phần buồn vui khi pha chế: xác vỏ cau khô, chút bột ngọt, ít giọt nước mắm, quế, va-ni. Vân vân và vân vân. Thuốc lá cũng rứa. Sau khi ngâm tẩm hương liệu, trước khi xắc vụn, ủ những chiếc lá to không rõ nguồn cơn vào cái thùng phuy, thảy vào quả lựu đạn khói, dĩ nhiên là màu vàng, đậy nắp lại, hôm sau sẽ gia công làm nên thuốc thơm sợi vàng. Ngon thì cho nó cái cán, qua quýt thì cứ lấy giấy quyến ra mà vấn. Rõ là thuốc có người lái. Nói đồng hồ không người lái là cả một sự xuyên tạc lộ liễu. Phải có sức người sỏi đá mới thành cơm được. Tin không? Đông Hà Quảng Trị thì mình chẳng lạ gì nhưng hoang mang là thứ tâm lý quen thuộc đang hiện diện. Tựa như hoang là áo mang là quần, và bạn ạ, ra đường bạn không thể đưa mình trần như nhộng được. Khi học năm cuối, mình vẫn hay bị ông giáo viên chính trị gọi lên để lột truồng thân phận. Lý lịch anh rất xấu, gia đình toàn cả thành phần liên hệ sâu đậm với bọn Mỹ Ngụy. Anh phải thấy rõ điều này, do đâu mà anh còn được ngồi yên trên ghế nhà trường, ấy là sự ưu việt của cách mạng. Anh sẽ là con người mới, hãy đấu tranh bản thân và phải biết mang ơn sự khoan hồng của chế độ. Nói sùi bọt mép, cằm bạnh ra, mặt vàng màu nghệ có khi xanh tái. Ông dội sự căm giận một cách hào phóng và mình, cách hứng đỡ duy nhất là ngồi mường tượng ra những chuyện tiếu lâm. Chuyện anh bộ đội thương bạn mình, đã mua sẵn cây cà-rem để dành chiêu đãi, khi bạn tới, mừng vui trao quà: dơ que! Mẹ nó, lếu láo thật, mới sờ sờ ra đấy. Toàn cả bọn lừa phỉnh. Chuyện một du khách bị xe cán phải nhập viện. Khi lai tỉnh, bác sĩ tận tâm giải thích: Bác lạc hậu quá. Đèn xanh thì bác phải đứng lại, hẵn đợi đèn đỏ cái đã. Đỏ là màu cách mạng, là sự đạp đổ, là một xung phong, không phóng tới trước thì xe cán cũng đúng thôi, ca cẩm nỗi gì? Mặt mình xanh, thường trực. Xanh vì sợ hãi, xanh vì thiếu ăn. Món ăn dễ nuốt nhất vào thời điểm nọ là bánh canh. Dễ nuốt và dễ nấu. Kiếm đâu ra vài thanh củi, kê ba cục gạch, lấy cái nón đồng (lại Mỹ Ngụy!) đặt lên, múc nước giếng đổ vào, chút muối chút mì chính, đợi sôi hẵn nhón tay bốc từng nhúm bột mì thả vào, khuấy đều tay, hồi nào thấy nước sền sệt hoặc khi nào que củi cháy rụi bề dài thì xơi được. Ngó sơ sịa vậy đó chứ đôi khi sơn hào hải vị cũng phải chào thua. Chuyện đi ẻ mới căng, vì khan hiếm giấy, nhưng… đến hẹn lại lên thì… cho mình thông qua, không kể chuyện trần tục, mất sướng. Mình láo liên đạp xe đi trong vẻ mặt xuống cấp của thành phố. Người ta đang thay nhau tìm đường vượt biên, người ta thay nhau bị sa lưới vì đổ bể. Người ta tố cáo nhau để giữ vững nồi cơm hộ khẩu. Người ta xuôi Nam để mong cầu có được khoảng không khí, dù nhỏ, để tự hít thở lấy. Thất tán là chữ đúng đắn nhất để dùng mô tả thảm trạng, đi kèm với lạc hồn. Trong lúc này, cụm chữ bình dân “kêu Trời không thấu” thì rất đắt, quá hay, thấm thía. Vì nó bao phủ, trấn áp tất cả những từ mà con người bất hạnh muốn kêu gào, bởi nó nhận ra thực thể, sự hoài công. Hãy cắn răng, hãy mơ đến những thứ siêu hình. Bạn thấy không, những người cộng sản vô thần, hơn ai cả bọn họ luôn mong mỏi được thần linh Chúa Phật độ trì cho chóng phất sự nghiệp. Chiếm nhà này đoạt nhà khác. Xua đuổi người ta đi vùng kinh tế mới. Trấn lột từ cái tủ sách cho đến một mảnh vườn còi cọc quả. Họ tin những hoang đường, những báo mộng, để lần mối tìm thấy tử thi kẻ quen thuộc lỡ chết trong chiến tranh. Họ phán, trí thức không bằng một cục phân. Họ có lý do, vì họ vinh hiển ngày hôm nay không do con đường học vấn mang lại. Lá bùa họ trang bị là máu lạnh và sự thiếu thốn đạo đức của sinh vật hai chân mang tên loài người. Sáng tối cùng những vòng quay, đạp xe từ tả sang hữu ngạn, từ An Cựu lên Kim Long. Từ nhà ga xuôi đổ Vỹ Dạ. Đi như đứa không có chốn dung thân, trôi như một hồn ma chẳng am miếu lưu trú. Mình còn đôi ba hôm để dứt khoát có Bắc tiến không? Mình nhẫm gọi thầm: Đông Hà. Nửa lạ nửa quen. Siêng đi cũng có thể đang nuôi vốn, lỡ mai sau biền biệt còn thu cất ít nhiều ảnh hình cố đô, dẫu sầu muộn. Đang thơ thẩn thì có người phát hiện, một người bạn của ông anh. Anh cầm súng cho Ngụy nên vào rừng học tập, tù vô thời hạn. Bạn ông anh là giáo viên nên còn thong dong thành phố, nhưng là phố không đèn. Chẳng được lưu nhiệm, dứt khoát không cho đứng trên bục giảng. Nhỡ mày nói điều không phải thì học trò chúng nó nghĩ sao? Cẩn tắc vô ưu. Bọn tao dùng người như dụng binh, phải lập ra một đội ngũ áo quần giống nhau ăn uống giống nhau suy nghĩ giống nhau hành sử giống nhau nói năng giống nhau. Mày đừng ví von giống con vẹt con nhồng con cắc kè là chết với ông đấy, cải tạo mút mùa lệ thủy chớ giỡn chơi chi nơi! Đường Lê Lợi lộng gió, những tấm băng-rôn đỏ kẻ khẩu hiệu giăng mắc cửi bay phập phồng những con chữ nói tới một cái gì nghe mơ hồ quá sức. Kéo nhau vào đứng khoảng đất trống trước trường Đồng Khánh đã bị thay tên. Ôn mệ ơi, nhắc tới Huế thì trí óc buộc phải nhớ đến những o con gái đẹp người đẹp nết thướt tha vào ra ngôi trường nớ. Mai sau xướng tên trường Trưng Trắc, trường Hai Bà Trưng thì người nghe mặt nghệch như ngỗng ỉa. Sao không giỏi thì đổi luôn cả cái tên Huế cho khỏe trí? Đồng Khánh, tên lạ, khó đụng hàng, nghe dễ thương, nghe hoài nhớ, dù trước đây bọn nam sinh ngẳng nghịch cợt đùa: Đồng Khánh gánh cứt trâu!
Anh ấy hỏi, mình thành thật: Tạm thời thất nghiệp. Anh nói có tính kế chi chưa? Mình vọt miệng. Vượt biên à? Tiền bạc mô có mấy hột mà nói chuyện đại sự nờ! Anh ấy cười. Mi thày lay, ai đá động chi tới chuyện trời ơi đất hỡi nớ. Rứa áp-phe của anh ra răng, nói nghe chơi. Anh ấy mời thuốc. Thực sự thì mình đãng trí chưa kịp nhớ ra tên anh. Hai anh em cứ ngồi yên trên xe mà ho sặc máu vì thuốc lập lòe khi đỏ khi bùng cháy khi tắt ngúm. Mất sướng, cực chẳng đã! Rứa chừ tau hỏi thiệt, mi ưa hùn vốn tụi mình mở quán bán cà phê không? Ngó điệu bộ thành thật của đương sự, mình mơ màng. Một thằng hầu hạ pha chế cà phê “cơm dâng nước rót” cho khách e không cực thân bằng một ông nội cán bộ thông tin văn hóa ôn hoàn dịch vật. Hắn sẽ vác xác đi vẽ tranh cổ động dựng bên góc chợ, hắn sẽ viết khẩu hiệu dài thậm thượt ca ngợi cuộc chiến tranh thần thánh mang đến thắng lợi vĩ đại. Hắn sẽ lải nhải truyền bá đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa, mình vì mọi người mọi người vì mình. Hắn sẽ oang oang trong ba mặt trận, mặt trận văn hóa tư tưởng là quan trọng nhất. Và sau rốt, hắn sẽ cạp đất mà ăn vì lương 52 đồng một tháng, bèo hơn cả bèo nuôi cá. Nhất trí. Mình dùng ngôn ngữ mới để tỏ bày sự đồng ý. Khẩn trương thật, bởi nghe đề xuất có hơi bị đột xuất. Từ ngữ mới nghe choáng, lậm tới nó có bị xem là chảnh không? Địa điểm ngon lành, anh ấy nói, nằm trên đường Trần Thúc Nhẫn. Tao có hội ý với chị Bích Đào, mà ngay cả anh Uyên, chồng chị cũng cho phép mượn cái phòng khách để bày bàn ghế. Mi biết cô Bích Đào? Không, ai rứa? Già trẻ, đẹp xấu? Anh ấy ngó qua ngôi trường vôi hồng. Cô Bích Đào từng là hiệu trưởng trường Đồng Khánh. Để coi, hẹn mi ngày mai, uống cà phê xong tao dắt mi tới dòm mặt cái quán tương lai, họp sơ bộ với bà Bích Đào để sắp đặt công việc, bàn sâu chi tiết. Vậy là mình nhảy vô liên doanh hành nghề bán nước (nghe phản động), bán nước ngọt, trà đá chanh đường cà phê thuốc lá. Cô Bích Đào thấp người, tóc cắt ngắn, mặt tròn, khi nói hay cười, có duyên, dễ thương (không khó khăn như cô Tiểu Bích hiệu trưởng trường nữ Thành nội thời trước). Chồng là anh Uyên, cũng giáo sư, dáng cao, đạo mạo nhưng không nghiêm nghị, anh cũng biết đùa theo những ước mơ của bọn người chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Vợ chồng anh chị có được hai con, cháu đầu con trai cháu sau là gái, và họ hy sinh co cụm lại, sinh hoạt trong cái phòng ngủ chẳng mấy lớn. Thằng cu Bi siêng học (sách vở ích gì cho buổi ấy!), mình ái ngại vặn nhỏ âm thanh cái máy hát mỗi khi tới quán. Mình vừa đóng tiền hùn vốn, vừa lo pha chế, phục vụ viên trong quán. Cô cựu hiệu trưởng ngôi trường tiếng tăm mặc dù đang còn đứng trên bục giảng, thì khi về nhà lại lo đun nước, rửa ly tách, đi chợ mua đường sữa nước đá linh tinh các thứ. Anh ấy cũng vậy, lu bu mỗi người một công việc. Ngó cả ba loay hoay bày hàng, mình đùa, có khác chi mấy đứa trẻ con đang chơi trò đi chợ nấu ăn, bức lá ngoài vườn thế thịt thà rau quả và xé giấy vở làm ngân phiếu tiền bạc để bán mua. Biết mình vừa tốt nghiệp Mỹ thuật, ai nấy đổ xuống vai mình trách nhiệm thiết kế nội thất, trang trí trình bày sao cho hợp nhãn. Mình xắn tay, thay cái này đổi cái nọ. Chỗ này nhiều nguồn sáng cần án che, chỗ kia cần thắp đỏ một ngọn đèn. Không ngày nào ngồi yên, đồ vật xoành xoạch bị lôi kéo. Vẫn thấy thiếu một thứ gì, trống vắng. Và chợt ngộ ra.
Mình quen họa sĩ Bửu Chỉ, lúc đó anh vừa cưới vợ xong. Anh có vẽ tặng một tấm chân dung bằng bút sắt, xuất thần. Mình rất thích cái ngông của Bửu Chỉ, dáng dấp nghệ sĩ dù trước đây anh học Luật khoa. Người không mấy cao, luôn đội nón béret, phủ chụp những lọn tóc quăn. Quần jeans xanh, chemis đen. Gương mặt có khi thoạt trông như Che, có lẽ một phần vì tóc và chiếc nón nỉ kia. Đôi lúc thoáng nhập nhòa hình ảnh của số 10 thủ quân tuyển Argentine: Maradona. Tóm gọn, có điều gì vướng vào anh tạo nét quyến rũ riêng biệt, khó trùng lẫn nơi người họa sĩ trú thân Vỹ Dạ. Anh nói to tiếng, lấn át đám đông và thường thuyết phục người nghe bằng những chứng cớ chẳng sai trật. Mấy năm trường Luật như để lại chút dấu tích, nhưng tự thẳm sâu, trái tim một nghệ sĩ vẫn không ngớt vùng vẫy, hiện hình. Anh dễ thương hơn mình tưởng. Anh chia sẻ những kinh nghiệm về cuộc đời cũng như riêng lãnh vực sáng tạo. Dư luận vỡ ra scandal “kinh khủng” giữa anh và nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ nhưng anh vẫn trầm lắng sáng chiều đạp xe qua về cầu Tràng Tiền “tội lắm em ơi”. Như thể đã là nghệ sĩ bạn phải đi giữa lối đoạn trường. Không là ngụy biện. Nó đã xảy đến và trước sau mình vẫn quý anh, nể anh hơn. Anh vui lòng cho mình mượn hai tấm tranh sơn dầu khổ lớn để treo vào quán cà phê không tên, chỉ một điều kiện, hãy ngó ngàng tới nó, đừng cho một đứa mang tật ngứa tay sờ soạn vào bề mặt. Anh thường ghé quán thăm mình, ngồi chỗ đặc biệt, ngó say sưa hai đứa con tinh thần nín thở trên vách. Chữ ký Bửu Chỉ bên dưới, vào thời điểm chưa có điều kiện như sau này, đã có kẻ gọi đùa: Hết Chỉ rồi, giờ đây phải bảo là Lượng mới đúng. Hôm mang tranh tới, mình xuống tận nhà chở anh. Mùa hạ sông Hương hao hụt nước, qua Đập Đá có nơi để lộ bùn lầy cạn kiệt với rêu xanh. Hai tấm tranh gập làm một, đâu mặt nhau, ràng buộc bằng những sợi ny-lông xanh đỏ. Anh thích chính tay bế lấy và chính nó đã là vật cản gió làm vất vả hai kẻ đưa đầu trần đi thồ một tài sản nặng nề qua con đường dài ba bốn cây số. Nhọc cho anh quá, phải nặng lòng cho nhau mới cư xử đối đãi kiểu đó. Sự cảm động làm mình yếu đuối, mặt khác nó xúi dục mình phải cố sức đạp xe đi trong an toàn, không được sơ ý cọ quẹt.
Mình quen biết hầu hết những họa sĩ đã thành danh hay còn ẩn thân trong bóng tối của Huế nhiều tài năng, nhưng chẳng hiểu sao khi treo tranh của anh Bửu Chỉ lên vách, mình thôi nghĩ tới những tên tuổi khác. Một phần, nó đã có được riêng cho nó một “khí hậu”. Phần khác, không chắc ai cũng mang tâm hào sảng như Bửu Chỉ. Nhắc tới anh, mình có nhiều kỷ niệm, mà đáng nhớ nhất một sáng giông bão đầy trời. Áo mưa sùm sụp, dựng vội vã chiếc xe đạp bên hiên nhà và anh nói: Moa mang tới cho toa cái mà hôm trước moa có hứa. Mưa lấn chỗ mình đứng, khô ướt thất thường nhưng toàn thân Bửu Chỉ như tượng hình con cháu của Thủy tinh, nghe ngói dù có áo đi mưa. Nước ràn rụa đổ. Anh mò tay trong túi xách nhà binh, thứ dùng đựng mặt nạ chống hơi độc của lính Mỹ trước đây, có bán ở chợ trời. Những ngón móp méo vì bị ngấm nước lâu mang ra được miếng thạch cao kích cỡ nhỏ bằng nửa cuốn vở học trò. Moa tự khắc lấy để tự in những tấm thiệp cưới. Mình ngó hình hai con chim bồ câu dang rộng cánh, quấn quýt nhau để cách điệu nên hình một trái tim nằm giữa. Đường nét giản lược nhưng nghệ thuật vốn sinh ra từ những cái cô đọng, đơn sơ, thanh đạm kia. Toa cất giữ đi, mai sau có mà dùng. Và mình đã dùng, tái sử dụng cái thông điệp loan tin về nỗi hạnh phúc lứa đôi. Hai con chim xoắn lại bởi cuộc đời ngoài kia luôn bủa lưới bằng tất cả những bất hạnh chẳng thể cưỡng chống. Quán đóng cửa sau hai tháng cầm cự với thua lỗ, với cách làm khó của công an, với vạn điều không hiểu được. Khi kinh doanh dù với thứ nghề mọn, chẳng ai trên trái đất này mang sự hồn nhiên làm vốn. Thất bại là mẹ thành công, phương châm kia vốn dành cho đứa đã đưa đám ma hồn nhiên từ khuya, chí ít đó là những đứa sống chai lì với mọi cảm xúc. Mình xuôi tay, hai bàn tay thực sự trắng, thực sự nắm bắt hư không. Vốc một nắm cát thì khác, cát tuôn rơi qua kẽ tay nhưng dấu tích còn lưu lại ít nhiều qua đầy vơi chẳng như ý. Thâm thủng, cạn vốn, nợ nần. Những người có tâm hào sảng ngó mình cười khan trong cổ: Tướng tá như mày mà bày đặt bán buôn, chết tới bị thương là điều dễ hiểu thôi em ạ! Không ưa làm cán bộ công nhân viên nhà nước. Ưa mưu sinh đếm bạc lẻ cũng chẳng xong. Đa mưu lắm kế như Khổng Minh e rồi có lúc phải bó tay. Mỗi người có riêng cho họ một cảnh sống, một hoàn cảnh, một thời đại. Và thời đại này… Mình manh nha một cuộc trốn chạy, đánh hết rác ván bài cuối. Đò qua Bao Vinh, xuôi chèo mát mái gần tới cửa biển, chờ hoài không ngó ra “taxi” để rồi bể ổ. Cả bọn bị trói xâu dài dắt thất thểu mộng du giữa rạng sáng một Huế lạ mặt. Cách ly đàn ông đàn bà riêng biệt khi tới đồn công an, viết bảng kiểm điểm tự khai để nhận án: Phản bội Tổ quốc. Ở sau chấn song thì cuồng chân, con nít lên ba cũng tường mười mươi chuyện nọ, huống chi những kẻ làm nhiệm vụ chăn dắt dân. Họ dẫn bọn người thất cơ lỡ vận qua sân vận động mỗi chiều Chủ nhật lúc 6 giờ. Trận bóng đá đã kết thúc, đã tan hàng và để lại không biết cơ man những rác rưới. Đội hình dàn trải ra, không vai vế hậu vệ trung phong tiền vệ gì sất, cứ làm thủ môn khom lưng đi nhặt đồ phế thải, tổng vệ sinh. Mỗi đứa được phát cho cái túi ny-lông để chứa đựng thành quả. Công sức lao động của bạn được nhìn nhận chí công vô tư qua trọng lượng nặng nhẹ mà cái túi ấy chứa đựng được. Thuốc lá cháy cụt, lá chuối gói bánh, giấy vụn… thượng vàng hạ cám đều không bỏ sót. Hoàng hôn đổ ập xuống vòng chảo sân vận động tối lửa tắt đèn. Bên kia hàng rào kiên cố là quán “cơm Âm phủ” chộn rộn gửi sang mùi thịt nướng khói loãng trong gió hít hà. Chân mây tím mọc thầm kín đôi ba vì sao nhạt nhòa. Trăng ngày ấy thắp sáng nỗi lẻ loi. Bỉ cực. Mình “tạm trú” trong lao được mười ngày. Thời gian đủ dài để mẹ mình chạy đúng đầu mối mà gỡ rối cứu chuộc đứa con bạc phước. Cái đứa ác đức bất nhơn nào đó đã khoắn bà cụ một lượng vàng Kim Thành, moi từ khư khư ruột tượng này sang đút túi quần khác, nhẹ nhành như phủi bụi bám, êm ả như cơn gió thoảng đêm hè. Mình gọi xe thồ khi ra khỏi cổng với ngất ngưỡng những vòng thép gai phô trương “thương hiệu”. Mình không về nhà vội, mình đọc lên một tên gọi của cái quán vắng nằm dựa thân bên dòng sông An Cựu nắng đục mưa trong. Sông cũng như người, biết buồn vui với khí hậu. Tình cảm tỏ bày thường thầm lặng và trong muôn một, có những điều xúc động chẳng thể đạt hiệu quả khi bạn lớn tiếng phân trần. Mình có lớn tiếng không? Xin thưa, hồi tưởng này chỉ là một hơi thở nhẹ gần trùng với một buồng phổi thiếu dưỡng khí. Bạn có từng qua cầu và nhịp cầu gián đoạn sụp gãy? Mình đã băng qua thời tuổi trẻ bằng những bước đi lần khân vướng mắc hoang mang chẳng định hình. Mình ganh tị cho những ai thường ưỡn ngực: Trong tháng ngày, tuổi trẻ là mốc thời gian đẹp đẽ nhất của một đời người. Sự đớn đau thì muôn kiếp sẽ không bao giờ được thăng hoa. Vết thương chẳng bao giờ thành sẹo! Tuổi trẻ mình là bài tình ca khan giọng hát trên trùng dương phủ sóng bạc đầu.
Bà luật sư Nguyễn Thị Hậu – Thị trưởng Đà Lạt (1965 – 1966), nữ thị trưởng duy nhất của VN, gặp gỡ các đồng nghiệp Mỹ
Thị trưởng Đà Lạt thường kiêm luôn tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên (Langbiang) hay Tuyên Đức sau này (1958). Có mấy năm thị trưởng Đà lạt độc lập không kiêm nhiệm tỉnh trưởng Tuyên Đức nữa, đó là thời kỳ bà Nguyễn Thị Hậu – một luật sư làm thị trưởng (1965 – 1966). Bà cũng là nữ thị trưởng đầu tiên và cũng có lẽ là duy nhất cho tới thời điểm này. Khi tình hình chiến sự căng thẳng, chính quyền Sài Gòn đưa các sĩ quan (trung tá hoặc đại tá) làm các tiểu khu trưởng thì bấy giờ tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức kiêm nhiệm luôn thị trưởng Đà lạt…
Cô Nguyễn Thị Hậu – “Người thiếu nữ đầu tiên mặc quần áo lối mới kiểu Lemur”, người sau này sẽ trở thành Luật sư – Thị trưởng Đà Lạt (1966 – 1967), và là nữ thị trưởng duy nhất của Việt Nam.
(30/3/1966) ĐÀ LẠT, NAM VN: Bà Nguyễn Cao Kỳ (phải), phu nhân Thủ tướng Nam VN, đi cùng bà Nguyễn Thị Hậu tới lễ đài trong dịp bà Hậu trở thành nữ Thị trưởng đầu tiên của VN (20/3/1966). Bà Hậu sẽ cai quản thành phố nghỉ mát miền núi Đà Lạt, nơi có người thủ quỹ gần đây bị kết án tử hình vì biển thủ ngân quỹ của thành phố. (UPI PHOTO)
Chuyện một người lính bước ra từ thành phố sương mù
Đà Lạt trước năm 1975 là một thành phố rất lạ.
Buổi sáng, sương còn nằm trên những mái nhà.
Những con đường quanh co giữa rừng thông lạnh buốt. Tiếng xe chạy qua những con dốc nghe nhỏ và xa. Người ta đi học, đi làm, đi chợ, uống cà phê… trong một thành phố tưởng như lúc nào cũng bình yên.
Nhưng chiến tranh ở rất gần.
Và trong thành phố ấy có một người mà nhiều người biết đến với một cái tên đặc biệt:
Hùm Xám Đà Lạt. Tên thật của ông là Lê Xuân Phong.
Ông là người sinh trưởng tại Đà Lạt, sau này trở thành một sĩ quan tác chiến, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát 302. Những người từng biết ông kể rằng ông không phải mẫu người thích khoe chiến công. Trái lại, ông khá kín tiếng và khiêm tốn. Chính ông từng giải thích rằng biệt danh “Hùm Xám” không phải do mình tự đặt; những người Mỹ đã gọi ông như vậy rồi cái tên được truyền đi. (AnyFlip)
Nhưng một khi cái tên đã lọt vào miệng lính tráng, nó rất khó mất đi.
Hùm Xám. Nghe vừa dữ dằn, vừa lạnh. Nó cũng giống như Đà Lạt ngày ấy. Bên ngoài là thành phố hoa. Bên trong là một thành phố của những người lính.
Có những người con trai Đà Lạt lớn lên giữa tiếng chuông nhà thờ con gà, tiếng xe Lambretta chạy trên đường dốc, những buổi chiều lạnh và mùi thông ướt sau cơn mưa.
Rồi chiến tranh gọi họ đi.
Lê Xuân Phong cũng đi theo tiếng gọi ấy.
Đại đội Trinh sát 302 không phải là nơi dành cho những người chỉ biết cầm súng.
Trinh sát phải biết nhìn.
Biết nghe.
Biết đoán.
Biết đi vào nơi người khác không muốn đi.
Và quan trọng nhất:
biết trở về.
Có những cuộc hành quân không ai ngoài người trong cuộc biết được.
Có những đêm nằm giữa rừng, một tiếng động nhỏ cũng có thể quyết định sống chết.
Có những lần người lính phải bước trước cả đơn vị, nhìn con đường phía trước và tự hỏi:
“Có ai đang chờ mình bên kia không?”
Đó là thứ chiến tranh đã dạy những người lính trinh sát.
Không có tiếng kèn.
Không có đám đông.
Không có ánh đèn sân khấu.
Chỉ có rừng.
Có sương.
Có tiếng súng.
Và một người lính.
Điều đặc biệt là Hùm Xám không chỉ là một cái tên của quân đội. Đối với một số người Đà Lạt, đó còn là một phần ký ức của thành phố.
Một người con trai sinh ra từ xứ sở hoa anh đào.
Một người từng đi qua chiến tranh.
Một người mà sau này, khi chiến tranh đã kết thúc, nhìn lại cuộc đời mình vẫn không cho rằng mình có gì đặc biệt.
Có lẽ đó chính là điều làm người ta nhớ.
Bởi những người thật sự từng đi qua chiến tranh thường không cần phải kể quá nhiều.
Họ biết những gì mình đã trải qua.
Và họ biết có những chuyện kể ra cũng chẳng thể làm người nghe hiểu được.
Đà Lạt hôm nay đã khác.
Những con đường cũ thay đổi. Những căn nhà cũ thay đổi. Những người từng sống trong thành phố ấy cũng lần lượt già đi.
Nhưng thỉnh thoảng, giữa một câu chuyện của những người Đà Lạt năm xưa, cái tên ấy vẫn được nhắc lại:
Hùm Xám. Một người lính.
Một người con của Đà Lạt.
Một cái tên bước ra từ thời chiến tranh.
Và cũng là một mảnh ký ức của Đà Lạt trước năm 1975, cái Đà Lạt mà những người từng sống ở đó có lẽ suốt đời không bao giờ quên được.
Bởi có những thành phố người ta chỉ nhớ bằng địa danh.
Nhưng có những thành phố người ta nhớ bằng con người.
Tôi là thính giả hoàn hảo đối với bà Nhu. Tôi háo hức để được bà chấp nhận, tôi tuân thủ những quy tắc của bà, và tôi thường tin vào những gì bà kể với tôi. Bà ấy nói dối để làm gì cơ chứ? Và sự tự đánh giá khắt khe về tính cách thời trẻ của bà khiến cho tất cả mọi điều đâm ra đáng tin hơn.
“Tôi hãy còn trong những ngày tháng ngu ngơ vô ý thức”, bà Nhu trầm ngâm với tôi về người phụ nữ đã từng là bà vào một ngày tháng Mười Hai, 1946. Ở tuổi hai mươi hai, bà đã làm mẹ khi vẫn là một cô dâu rất trẻ. Sau đám cưới ở Hà Nội vào năm 1943, bà Nhu theo chồng về nhà ông ở thành phố Huế. Truyện cổ tích kể rằng thành phố này đã mọc lên từ một hoa sen giữa bùn. Lịch sử thay vì vậy ghi công trạng sáng lập nên kinh đô Việt Nam năm 1802 cho một trong những tổ tiên của bà Nhu, Hoàng đế Gia Long. Cách biển Đông ở miền Trung đất nước bảy trăm cây số về phía tây nam, thành phố là trung tâm của trí tuệ và tinh thần Việt Nam. Ngôi biệt thự hai tầng nhà ông Nhu thuê từ một thành viên khác trong gia đình nằm lừng lững giữa khu hiện đại của Huế. Nó án ngữ một góc của cái từng được mệnh danh là Khu tam giác, một cộng đồng dân cư và kinh doanh sầm uất được gọi tên theo hình thù bất quy cách của nó, giáp con kênh ở một mặt và mặt còn lại là cổng Phát Lát.
Từ những ô cửa sổ nhà mình, bà Nhu có một tầm nhìn hoàn hảo về cố đô. Về phía bắc, khung cảnh buổi sáng tháng Mười Hai lạnh lẽo trông như mọi ngày bất kỳ khác. Ngọn cờ trên tháp bay phất phới. Những bức tường của ngôi cổ thành vẫn đứng lừng lững. Chín khẩu thần công, biểu tượng sự bảo vệ thần kỳ của thành phố Huế, hoàn toàn không chĩa vào đâu cả. Những giọt sương đọng trên lớp thép lạnh của chúng.
Nhưng mặt phía nam của cầu Clémenceau thì yên tĩnh một cách kỳ lạ. Những ngõ nhỏ quanh co vắng lặng. Vào thời điểm này của buổi sáng, lẽ ra đã có một nhịp điệu rộn ràng đều đặn những chiếc xe đẩy và người người qua lại. Không con thuyền nào lênh đênh trên dòng kênh An Cựu, không có tiếng rao của những người bán hàng rong, và không có làn khói từ ngọn lửa nấu nướng bập bùng trên những ngôi nhà gỗ thấp lè tè chạy dài đến hết ranh giới thành phố. Những cánh cửa sổ đóng kín im ỉm – như để chở che tất cả những người ở đằng sau chúng.
Khuya đêm trước, tiếng ầm ầm đằng xa vang vọng khắp thành phố trong nhiều ngày đã biến thành những cơn sóng gầm đinh tai nhức óc làm lung lay dữ dội những ô kính cửa sổ. Bà Nhu khi đó biết rằng họ đã làm ngơ lệnh tản cư của các quan chức thành phố bấy lâu. Nhưng về việc ai đang đánh nhau ngoài những đường phố kia, “On l’ignorait” – không ai biết cả.
Người Việt Nam vẫn đang chao đảo bởi tất cả những cú sốc mà đất nước họ đã trải qua trong năm cuối cùng của Thế chiến thứ hai. Do nhu cầu về lao động không thể thỏa mãn và sự đói khát vô độ các nguồn nguyên liệu thô, người Nhật đã áp đặt chế độ trưng thu lương thực với cường độ gấp hai hoặc ba lần người Pháp, hủy hoại nguồn nhân lực và tài nguyên vùng nông thôn. Những nông dân sắp chết đói ăn cả vốn liếng hạt giống, có nghĩa là họ sẽ gieo trồng ít hạt hơn. Sản lượng lúa sa sút do thời tiết đặc biệt tồi tệ, và một trận đói khủng khiếp đã ập xuống miền Bắc Việt Nam năm 1945. Ở các vùng đô thị, người ta có thẻ phân phối; ở nông thôn, mọi người bị cắt khẩu phần và bỏ mặc cho chết đói. Hàng hàng lớp lớp những thây ma biết đi tràn vào các thành phố. Trước hết là đàn ông; lê lết theo sau họ là những phụ nữ quắt queo, những đứa trẻ bụng to và những người già đôi chân khẳng khiu. Những cánh đồng mà họ đi qua vắng lặng đìu hiu. Ngay cả chim chóc cũng không thể sống sót – nạn đói đã phá hủy chuỗi lương thực ở mọi cấp. Những kẻ chết đói bươi đào bọ và dế để bổ sung chất đạm. Họ ăn cỏ, lá và thậm chí cả vỏ cây cũng không từ. Mỗi ngày, hàng trăm tử thi, những người chết đói nằm bên vệ đường, được gom lại để tiêu hủy. Các sử gia ước tính nạn đói khủng khiếp này đã cướp đi trên hai triệu sinh mạng.
Những người Việt mà ban đầu bị khước từ bởi mối liên hệ mật thiết với Đảng Cộng sản Đông Dương giờ đây đã được Việt Minh lôi kéo. Không có ai khác – dù là người Pháp, chính quyền “độc lập” do Nhật dựng lên, và tất nhiên không phải là người Nhật – làm bất kỳ điều gì để giảm nhẹ nỗi đau đớn và thống khổ ở vùng nông thôn. Bà Nhu hầu như không nhận ra điều đó từ chiếc kén êm ấm của mình. Chính Việt Minh là những người đã ra sức làm khuây khỏa cơn đói khổ. Mạng lưới của họ giúp mọi người tìm kiếm thức ăn, và nhân lực của họ giúp nông dần trồng trọt lại. Họ được người dân vùng nông thôn toàn tầm toàn ý đi theo vì những hành động của mình.
Lòng trung thành của mọi người đã trở nên có ích sau sự bại trận của Nhật Bản vào cuối Thế chiến thứ hai, khi Việt Nam bỗng nhiên thấy mình ở trong một tình trạng trống rỗng chính trị. Người Pháp cho rằng họ có thể quay lại để tái chiếm thuộc địa và rằng họ sẽ được chào đón bằng những vòng tay rộng mở, nhưng họ đã lầm. Nhiều gia đình trước kia dưới sự khống chế của người Pháp, như gia đình ông Chương, đã cộng tác với người Nhật. Họ không muốn thấy người Pháp quay trở lại. Người Nhật đã treo lời hứa tự do trước mặt họ, và không có gì ngạc nhiên là họ không muốn đất nước này biến thành một thuộc địa Pháp. Nhưng những người giàu có như gia đình ông Chương không thích cái phương án thay thế mà Việt Minh đưa ra. Những chủ để đấu tranh giai cấp và phân phối lại tài sản của người Cộng sản đe dọa sự sung túc và an toàn của họ. Lãnh tụ của Việt Minh, cũng là người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, cuối cùng đã bước ra khỏi bóng tối. Vào ngày 2 tháng Chín năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của Việt Nam. Ông đã sẵn sàng chiến đấu với người Pháp vì đất nước, và bỗng nhiên giai đoạn hậu chiến ở Đông Dương đã chuyển biến thành một phen hỗn loạn chính trị. Việc ai là người nắm quyền khu vực nào thay đổi từ ngày này qua ngày khác, tỉnh này qua tỉnh khác. Mối ưu tư thực tế nhất với một người bàng quan như bà Nhu là sống còn.
Vào buổi sáng tháng Mười Hai lạnh lẽo năm 1946 đó, bà Nhu không còn biết ai đánh đấm với ai nữa, nhưng những phụ nữ và trẻ con tụ tập trong phòng khách của bà đã đứng khá xa những cánh cửa sổ để cho an toàn. Họ gồm năm người cả thảy: Bà Nhu với con gái mới sinh, Lệ Thủy, mẹ chồng, em chồng bà, và một cháu gái. Chính là lỗi của em chồng bà, Hoàng, mà họ rốt cuộc còn nấn ná ở đó. Đó là ngôi nhà của cô, mặc dù cô sống, không mấy hạnh phúc, với chồng, ông Ẩm, và gia đình anh ta ở bên kia thành phố. Ngôi nhà là một vật bảo hiểm đối với Hoàng trong trường hợp có những chuyện bất trắc xảy đến cho cuộc hôn nhân của cô. Cô không đành lòng bỏ lại món tài sản duy nhất đó của mình. Để có thêm thu nhập, cô đã cho anh trai và cô dâu mới của anh thuê, và vị thế của bà Nhu trong gia đình, với tư cách người vợ và chị dâu trẻ nhất từ một gia đình quý tộc khá tai tiếng, đã buộc bà chấp nhận mọi sự an bài và giữ mồm giữ miệng.
Bà Nhu tự trách mình đã ngây thơ, điều mà bà gọi là “gần như ngu xuẩn”. Bất chấp sự kiện rằng bà hẳn đã vô cùng khiếp sợ, khi bà kể cho tôi nghe về điều đó qua điện thoại hơn sáu mươi năm sau, bà đã tỏ ra cực kỳ ít khoan dung với bản thân mình. Tôi kinh ngạc bởi sự sắc sảo gay gắt lẫn trong giọng nói bà khi những ký ức ngày xưa trở lại một cách dữ dội.
Thay vì đến trú ẩn chỗ các linh mục Dòng Tên ở phía dưới đường, Hoàng đã thuyết phục người mẹ già nua rằng để cho an toàn thì đừng ra khỏi nhà. Người Pháp có thể trưng dụng nó nếu họ nghĩ nó đã bị bỏ hoang, và thậm chí còn có thể tai hại hơn nếu nó rơi vào tay người Cộng sản. Bà Nhu đã không thể cãi lại mẹ chồng, vì vậy những người phụ nữ đã tranh thủ sự giúp đỡ của người làm vườn để dồn những đồ đạc nặng nhất vào giữa phòng khách và chất đống chăn ga gối nệm lại. Họ trải qua một đêm với những tiếng nổ mỗi lúc mỗi đến gần nơi trú ẩn tạm thời của mình hơn, co rúc vào nhau và cầu xin ơn trên cho được an toàn. Họ vẫn túm tụm vào nhau, tự hỏi nên làm gì với chính mình trong cái tĩnh lặng bất chợt của buổi sáng, khi những người đàn ông xông vào phòng.
Họ là những người lính Việt Minh. Không có biểu hiệu nào phân biệt họ, nhưng những mảnh vải đay chắp vá thành những bộ đồng phục đã tiết lộ về họ. Chân họ không mang gì ngoài những mẩu cao su buộc lại thành hình dáng chiếc xăng đan. Họ mang dao rựa và súng trường, được qua loa trang bị lại từ một cuộc chiến khác. Những người lính thực dân Pháp đã dùng cùng những vũ khí này chống lại những chiến binh cha ông họ để cho người bản xứ thấy ai là kẻ nắm quyền.
Việt Minh còn hơn cả một phong trào dân tộc chủ nghĩa đơn thuần, và bà Nhu biết điều đó. Là lực lượng quân sự của Đảng Cộng sản Đông Dương, các thành viên đã tiến hành những cuộc tổng khởi nghĩa ở khắp mọi nơi trong cả nước. Chồng bà Nhu đã trốn trên lầu nhà bà Hoàng khi họ đến tìm ông. Đích thân bà Nhu ra mở cửa và nói dối một cách bình tĩnh trước mặt những người lính. Sau đó, bản thân bà còn thấy kinh ngạc với khả năng phỉnh phờ một cách lạnh lùng đến vậy, bà đã mời viên thủ lĩnh vào trong đợi chồng bà. Ông Nhu đã chuồn ra ngoài trong bóng tối và trốn tránh trong hầu hết thời gian sau đó. Vào một trong những cuộc viếng thăm vợ hiếm hoi và bí mật của ông Nhu trong năm trước đó, con gái của họ, Lệ Thủy, đã thành hình. Ngoài những khoảnh khắc thân mật vội vã, bà Nhu không hề hay biết chồng đang ở đâu. Vào tháng Mười Hai, 1946, bà thậm chí còn không biết liệu ông còn sống hay đã chết.
Giờ đây bọn họ đã đến tìm bà. Bà Nhu ước giá bà có thể tan biến được. Là con gái được nuông chiều của một chính quyền bù nhìn thời thực dân, là công chúa hoàng tộc và là người vợ mới thích chưng diện trong gia tộc họ Ngô đang ngồi thù lù trong ngôi nhà lớn bên bờ sông An Cựu, bà Nhu biết rằng làm ra vẻ nhún nhường và sợ sệt là cách phòng vệ tốt nhất cho bà. Bà ôm chặt đứa bé hơn và giữ ánh mắt nhìn xuống.
Họ trông như bọn người tiền sử đối với bà Nhu. Bà chỉ vừa vặn hiểu điều họ nói với bà, còn những gì họ nói với nhau bà đành chịu thua. Cái giọng không âm sắc của những người bình dân ở miền Trung đã tiếp tục lẩn tránh bà, mặc dù bà đã từng sống ở Huế ba năm. So với sự lên bổng xuống trầm rõ rệt phân biệt từng từ của những người ở các vùng khác hay so với người miền Bắc có giáo dục, những tiếng oang oang không thăng giáng, ầm ĩ của những người này như thứ ngôn ngữ nơi hoang dã. Con chó của bà Nhu rên ư ử một cách tội nghiệp từ một phòng khác. Quito, một con chó chăn cừu giống Đức, là con vật to lớn và trung thành. Sau khi chồng ra đi để lại bà một mình, con chó đã giữ bà an toàn khỏi đám lính Trung Hoa Quốc dân đảng đóng trong thành phố sau tháng Chín năm 1945. Họ đã bất ngờ ập vào thành phố như một bầy châu chấu. 1 Khi một đám hỗn tạp trong bọn họ quyết định trú chân nơi vườn nhà bà, bà Nhu, đầu bếp, và người quản gia đã cố đuổi họ đi bằng cách tạo ra một cuộc náo động ầm ĩ với nồi niêu chai lọ khua loảng xoảng cùng tiếng la hét. Những gã này chẳng hề nhúc nhích – họ nào phải lũ chuột đồng. Họ thấy rằng bà Nhu đang mang thai, chồng bà ở đâu không ai biết, và bạn đồng hành duy nhất của bà trong ngôi nhà lớn bên bờ sông này chỉ có hai người hầu gái già. Đội quân rách mướp tả tơi, mệt mỏi bởi chiến tranh và đói khát cái ăn, sự ấm áp và những tiện nghi gia đình, bắt đầu nghĩ rằng họ sẽ thoải mái hơn bên trong ngôi nhà. Bà Nhu trông có vẻ khá yếu ớt đang đứng một mình tại khung cửa sổ, đang nắm giữ một cái gì đó đằng sau cái bụng tròn của mình, nhưng bỗng họ thấy đó là cái gì. Bà đang nắm sợi dây buộc lỏng lẻo quanh cổ một con chó. Bộ dạng con chó rất ngầu với hai hàm răng nhe ra và đôi tai cụp rủ xuống đầu. Lời đe dọa có kết quả, sau đó họ đã để bà được yên, một sự may mắn mà bà không thể không cảm ơn con thú yêu dấu, hay gầm gừ của mình.
Sáng nay, nó đã không có một cơ hội nào để bảo vệ chủ của mình. Bà đã nhốt con chó ở một phòng khác suốt đêm. Đó là một sai lầm ngu ngốc.
Đó là một nhạc khí tao nhã mà bà Nhu đã cố đưa ra khỏi nhà, cùng với vài món đồ gia truyền bằng sơn mài và bạc đắt giá mà bà đã nhờ các cha Dòng Tên cất giữ trong tu viện của họ phòng hờ một chuyện như thế này xảy ra. Nhưng cây đàn đã bị kẹt chặt ở cửa ra vào. Những người lính vây quanh nó, miết những bàn tay lên lớp gỗ bóng loáng, nhưng không phải vì một sự ngưỡng mộ đặc biệt nào. Mồ hôi của họ hằn thành một đường lằn nhớp nháp hình cầu vồng, bụi và cáu ghét làm trầy xước lớp sơn phủ, và việc chạm vào những dây đàn, xét đến sự khó khăn để giữ tông cho chúng ở miền nhiệt đới, lại là trong thời chiến, theo lẽ thường là một sự xúc phạm không thể tả xiết. Những ngón tay chai sần đang tìm kiếm một cái gì đó khi chúng dò dẫm dưới thùng đàn và lục lọi vào trong. Những người lính đang tìm kiếm một thiết bị liên lạc giấu kín. Họ dường như nghĩ rằng cây đàn piano, với tất cả những sợi dây đàn, là một loại máy điện báo nào đó.
“Chúng thậm chí không biết một cây grand piano là gì!” Nhưng thật ra bà Nhu không chứng kiến họ nhồi thuốc nổ vào hốc đàn, và có khả năng nó đã nổ tung vì một cái gì đó khác. Bộ khung gang của cây đàn grand piano có thể đã bị tổn thương trong nỗ lực vội vàng để di chuyển nó. Nếu bộ khung đã bị nứt hoặc suy yếu, hàng tấn áp lực giữ căng những sợi dây có thể đã bị giải phóng trong một tiếng nổ ghê gớm. Vụ nổ đã khoét một lỗ lớn xuyên qua mặt chính diện ngôi nhà. Có lẽ những người lính đã biết chính xác cây đàn piano là gì ngay từ đầu, và việc cho nổ tung nó thể hiện sự trả thù của họ cho sự suy đồi tư sản.
Giữa đống đổ nát, bà Nhu thu vén những gì có thể cho em bé Lệ Thủy: chăn mền và tã lót, quần áo thay, và một giỏ lớn để đựng tất cả. Sau đó, trước khi bị ép ra khỏi nhà, bà kịp mặc vào một chiếc áo choàng, một chiếc áo rơđanhgôt len, hơi giống chiếc áo đuôi én vốn thít lại ở chỗ thắt lưng với những chiết ly và nếp gấp. Nó từng là mốt được ưa chuộng ở Âu châu, một sự xa hoa không thể tưởng tượng trong những năm sau cùng của chiến tranh và đói kém. Đó là chiếc áo ấm nhất mà bà có. Khí hậu nhiệt đới bao phủ góc trời này của vùng Đông Nam Á đến mười tháng trong năm, nhưng tháng Mười Hai ở miền Trung Việt Nam được dự báo là ẩm thấp và lạnh lẽo – những điều kiện sẽ chỉ càng thêm tồi tệ khi bà đi xa khỏi nhà.
Bà bị lùa ra khỏi thành phố dưới bầu trời xám ngắt màu nòng súng, hòa vào dòng người lũ lượt đổ xuống đường, hướng đến vùng nội địa xa thành phố Huế. Họ hầu hết là phụ nữ, trẻ em, và người già. Những chiếc giỏ lắc lư như những vật nổi lềnh bềnh trên biển, đung đưa trên vai những phụ nữ dùng đòn gánh truyền thống, chiếc sào dài treo thăng bằng một chiếc giỏ ở mỗi đầu. Hình ảnh gợi sự liên tưởng đến đường nét dài và hẹp của đất nước. Những chiếc giỏ đầy ở mỗi đầu đòn gánh tượng trưng cho những vùng châu thổ phì nhiêu, sông Hồng của Bắc Kỳ ở phía bắc và sông Mê Kông của Nam Kỳ ở phía nam. Khu vực ở giữa, chiếc đòn gánh dài cứng rắn làm xước da lưng người chưa quen việc, là vùng đầy núi non và khá cằn cỗi ở miền Trung đất nước, vùng mà những kẻ lánh nạn giờ đây nặng nhọc lê bước qua.
Những con đường cắt ngang qua những cánh đồng ngập lụt như một vết thương đỏ lói sâu hoắm. Chúng ngập ngụa đất sét và hôi thối mùi phân những con trâu ngụp lặn trong các cánh đồng. Con đường trở nên quá nguy hiểm ngay khi những tháp bê tông hiện ra trong tầm mắt. Quân đội Pháp đã xây dựng các tháp canh này dọc theo những con đường nông thôn để theo dõi động tĩnh của quân Việt Minh, vì vậy tù nhân phải đi băng qua những cánh đồng lúa. Họ dồn thành hàng một trên những con mương hẹp. Để tránh cho đôi giày duy nhất bị lún trong bùn, bà Nhu đã phải dò dẫm từng bước một cách kỹ càng. Một tay bế con gái và tay còn lại xách mớ đồ em bé, đó là công việc hết sức nhọc nhằn. Bà đã cố rảo bước theo cô em chồng và đứa cháu gái; mẹ chồng bà, mỏng manh yếu ớt, được người làm vườn cõng trên lưng và hơi chùn lại phía sau. Xung quanh họ, những cây lúa dập dềnh như những làn sóng. Một đại dương mênh mông màu ngọc lục bảo đã bị chặn đứng bởi những tấm bia đá cẩm thạch màu trắng – những nấm mồ cổ xưa đứng đó như một lời nhắc nhở liên tục về cái chết có thể lẩn lút đâu đó không xa.
Hết ruộng lúa, đoàn người gồm những phụ nữ và những người lính canh đã phải quay trở lại đường lộ. Họ đang tiến về phía cây cầu thì một tiếng nổ chát chúa xé toang không gian. “Nằm xuống!” Những người lính sấp mặt xuống vệ đường, sỏi đá bắn tung tóe khi những người phụ nữ nhanh chân nhất lao xuống một bờ đê. Số khác lao theo, những mái đầu chúi nhủi dưới đất, hai khuỷu tay áp chặt quanh tai, những chiếc giỏ bỏ chỏng chơ bên đường. Con đường dẫn đến chiếc cầu đột ngột trống trơn ngoại trừ bà Nhu và đứa bé bà ôm trong tay.
Bà Nhu biết rằng những thi thể bị phân hủy đã trôi dạt vào những chiếc cọc và trụ đá. Bà đã đến gần những chiếc cầu như thế này một lần trước kia và đã nghe người ta mô tả cảnh tượng này một cách rùng rợn. Từ nơi bà đứng, bà dường như có thể ngửi thấy mùi thối rữa. Bị giết bởi Việt Minh hay chết kẹt giữa hai lằn đạn giao tranh, có gì khác nhau đâu? Những thi thể của những chiến binh đã ngã xuống vốn quá nghèo hoặc quá xa nhà để được chôn cất tử tế. Những tử thi sưng phồng của những kẻ bất hạnh vô danh đang mục nát và rỉ huyết dịch vào chính chỗ nước nông mà người ta đang kêu bà ẩn núp vào.
Bà Nhu chẳng thể nào nhúc nhích. Thật là quá khủng khiếp. Trời đã bắt đầu mưa, nhưng bà đứng chôn chân giữa con đường đất đỏ và ôm đứa bé chặt hơn trong tay. Bà sẽ không ẩn núp giữa những xác chết như những người khác; bà chỉ chịu nằm lại đó giữa họ khi bà chỉ còn là một tử thi mà thôi. Đó là lần đầu tiên bà Nhu chứng kiến trực tiếp cái hiện thực tàn khốc đã phủ vây quê hương bà trong vài năm qua, cùng những năm bà đã sống như một cô dâu mới, một người vợ và người mẹ trẻ, cách biệt những mưu toan chính trị. Bà đã dọn vào ngôi nhà xinh đẹp của Hoàng. Bà có những người hầu, bao gồm một đầu bếp, một người làm vườn, và một vú em cho đứa bé, để chăm lo công việc nội trợ thay bà. Thời gian rảnh rỗi, bà Nhu chơi đàn tranh, một nhạc khí tao nhã tương tự như đàn luýt vậy. Bà cũng tận hưởng thú vui được chở đi quanh thành phố bằng chiếc xích lô mà bà đã mang đến Huế bằng tàu lửa sau ngày cưới. Bà khoe khoang rằng những tiện nghi miền Bắc đáng thèm muốn đến độ mọi người hay dừng lại và nhìn đăm đăm khi hàng ngày bà đi qua dọc hai bên bờ sông An Cựu đến ăn tối với mẹ chồng. Nhưng bà không bao giờ dám chắc liệu cái nhìn chòng chọc đó là vì ngưỡng mộ hay vì một ác ý nào đó. Giờ đây tất cả những sự xa hoa đó đã qua rồi.
Bây giờ thì bà, đang đứng trong mưa, cái chết rập rình tứ phía. Đó là một khung cảnh nhiều màu sắc biến ảo khốc liệt. Nếu bà trụ lại trên đường để băng qua cầu, bà tự hỏi, ai là người sẽ đuổi theo bà? Những người bắt giữ bà hay bất kỳ kẻ nào đó đang bắn vào họ? Bà nghi ngờ việc họ có đủ gan dạ, hay ngu ngốc để mạo hiểm không. Bà Nhu cảm thấy tự do. Bà đã mệt mỏi với việc bám víu vào những kỳ vọng vô nghĩa. Đôi vai bà thật sự nhức nhối vì tất cả những bước đi lom khom để tới gần hơn cái chỗ mà bà nghĩ mình phải tới. Bà đứng thẳng dậy và nhìn vào làn sương mù phía trước.
Chuyện gì sẽ đến tiếp theo bà không biết, nhưng bà sẽ nhìn trực diện vào nó, và bà sẽ mở ra con đường cho mình. Bà Nhu tin rằng trong khoảnh khắc đó, giữa cơn mưa, vây quanh bởi cảnh tàn phá điêu linh nhưng kỳ lạ thay không động chạm gì đến bà, bà bắt đầu hiểu ra nhiều điều. Bà sẽ không giẫm chân vào rác rưởi và mục nát; bà sẽ giữ vững vị trí của mình trên mặt đất cao.
Bà Nhu vén vạt áo choàng lên. Nó đủ dài để che phủ đầu đứa bé, làm thành một tấm chắn bảo vệ khỏi màn mưa đang rơi nặng hạt và lạnh giá. Lệ Thủy nghĩ đó là một cuộc chơi trốn tìm và ló mặt ra ngoài, thích thú cười rúc rích. Khi bà Nhu cố che lại vạt áo, đứa bé chỉ càng cười nhiều hơn nữa. Những tiếng cười vui đã thoát ra từ nếp gấp bằng len của áo khoác bà Nhu. Âm thanh của sự hân hoan vang lên trên chiến địa khi người mẹ và con gái bắt đầu vượt qua những thanh rầm gỗ lung lay của chiếc cầu.
Đó hẳn là một hình ảnh dị thường, song bà Nhu không phải là người đầu tiên băng qua vùng chiến địa với một em bé trong tay. Người Việt Nam có cả một kho tàng huyền sử kể về những người mẹ cao quý và anh hùng. Người ta kể rằng một trong những vị vua huyền thoại của Việt Nam, Lê Lợi, đã được giấu trong vạt áo của mẹ ông và nhờ đó thoát khỏi bàn tay của những kẻ xâm lược nhà Minh. Thần thoại về người mẹ gắn liền với câu chuyện sáng tạo của dân tộc Việt, tình thương và lòng tận tụy của người mẹ đã được công nhận là những nét phẩm hạnh phi thường của các nữ nhân vật Việt Nam. Người Cộng sản ắt hẳn đã rất thành công trong việc đúc kết sự hy sinh của người mẹ và lòng yêu nước vào cuộc tuyên truyền cách mạng của họ, nhưng bà Nhu cũng đã cố gắng, trong suốt những năm trên ghế quyền lực, sử dụng thiên chức làm mẹ như một hình ảnh về sự đạo đức. Vì vậy, tôi phải tự hỏi, phải chăng sự coi trọng hình tượng Quốc Mẫu của người Việt, đã tác động đến cách nhìn của bà Nhu về bản thân mình trong câu chuyện? Dù sao đi nữa, lòng tin vào sự không thể bị đánh bại của bà đã trở thành hiện thực. Việc băng qua cầu một cách táo tợn đã gia tăng niềm tin của bà rằng bà sẽ sống sót qua thử thách này và bất kỳ thử thách nào khác có thể đến.
Bà Nhu gặp lại nhóm người ở bên kia cầu. Đang khi những phụ nữ khác chờ cho khói lửa tan đi, sau đó theo bước những người lính bằng cách lội xuôi dòng ở phía xa hơn để vượt sông, bà Nhu đã có thời giờ nghỉ ngơi trước khi tiếp tục cuộc hành quân. Có lẽ bà đã không nghĩ tới việc chạy trốn vì chẳng có nơi nào để mà đi. Những cánh đồng phù sa ngập nước đã nhường chỗ cho địa hình lổn nhổn đá. Vào khoảng 5 giờ chiều, những người lính ra lệnh cho dòng người gồm những phụ nữ và trẻ em loạng choạng dừng lại. Bóng tối cuối cùng đã bủa vây quá dày đặc để có thể len lỏi qua những lối đi quanh co rậm rạp cây cối. Không có một nơi ẩn náu nào ngoại trừ những cành cây lơ lửng trên đầu. Mỗi người được phát cho một nắm cơm khô nguội ngắt, không hơn một nắm tay. Đó là một ngày dài không thể tưởng tượng. Nếu họ đi theo đường chính, bà Nhu chắc chắn rằng họ đã có thể đến đây trong phân nửa thời gian. Nhưng họ đã đi lạc vào một thế giới mới. Bà Nhu đã bừng tỉnh dậy để chứng kiến sự kết thúc của cái lối sống duy nhất bà từng biết và lê bước nặng nhọc qua bóng tối không cùng chỉ để lạc lõng chơi vơi giữa một nơi xa lạ.
Vậy mà, ngay đêm đó, bà Nhu đã cảm thấy tinh thần phấn chấn trở lại. Những tù nhân được lệnh tự thu xếp thành một hàng ngay ngắn; họ được đếm theo đầu người, và cuối cùng đã được phép nằm xuống. Chiếc áo khoác bà Nhu đang mang là vật duy nhất ngăn cách giữa bà và mặt đất ẩm ướt, lạnh lẽo. Bà đã gắng xoay xở đến mức có thể. Bà có lẽ đã trải ngang nó ra, cuộn tròn cả hai mẹ con vào chiều dài chiếc áo len. Họ cứ thế đi vào một giấc ngủ không yên.
Mọi việc có vẻ tốt lên vào buổi sáng. Ban ngày trời không quá ẩm ướt. Có đôi chút dễ chịu khi biết rằng cuộc hành quân sẽ kết thúc trước khi ngày tàn.
Đoàn hành quân đã đến một ngôi nhà nông dân khiêm tốn vào buổi chiều. Bà Nhu chú ý đến một mảnh đất trồng rau và một khu vườn được chăm sóc chu đáo. Một thủ lĩnh Việt Minh xuất hiện, ăn vận lịch sự, theo phong cách Tây phương, chiếc áo len thể thao quấn quanh vai. Tên ông ta là Bảy, từ tiếng Việt chỉ số bảy. Chuyện không có gì lạ khi những đại gia đình Việt Nam thường hay đặt tên con theo thứ tự chào đời của họ. Một trong những điều đầu tiên ông ta làm là tìm kiếm cô dâu trẻ đến từ Huế giữa những tù nhân mới đến. Chỉ thị này là sự lăng mạ không nhỏ đối với những phụ nữ lớn tuổi hơn đi cùng với bà Nhu: ông ta nên tìm mẹ chồng hoặc em chồng bà trước hết mới phải. Thay vì vậy, bà Nhu nhớ lại, ông ta cúi chào và cam đoan với bà rằng ông sẽ làm mọi điều có thể để họ có một chỗ ở tử tế.
Bà Hoàng, em chồng bà Nhu, đã làm gì với sự vi phạm phép xã giao đó? Phải chăng bà đã nghĩ về những tin đồn bà đã nghe thấy? Những mối quan hệ bất chính của mẹ bà Nhu, vốn được thuật lại một cách quá đỗi rõ ràng trong các bức điện ngoại giao của Pháp, ắt hẳn đã được khoác lên những tình tiết tục tĩu dâm ô trong những chuyện ngồi lê đôi mách bên khay trà hoặc quả cau.
Trong một hồi ký được viết nhiều thập kỷ sau, một người bạn của gia đình đã tiêu khiển độc giả bằng một đoạn đối thoại giữa gia đình họ Ngô để lý giải cho sự xung đột nội bộ liên quan đến việc chọn vợ của ông Nhu.
Vị nữ chúa của gia đình, bà Khả, đã cảnh báo con trai bằng một câu tục ngữ cổ xưa: Mua heo chọn nái, xem gái chọn dòng.
“Telle mere, telle fille” (tiếng Pháp: Mẹ nào, con nấy) – Cẩn, em trai ông, đã nói: “Cô ta rồi sẽ giống như mẹ của mình mà thôi”.
Nếu Hoàng từng chất chứa mối hoài nghi nào về bà Nhu, thì nó đã được chứng thực khi ông Bảy thủ lĩnh Việt Minh đã chào bà ấy trước hết và khi bà Hoàng chứng kiến vẻ duyên dáng phóng túng mà chị dâu bà sử dụng để đem về những khẩu phần hậu hĩnh hơn cho nhóm của họ. Tuy nhiên, mối lo âu của bà Hoàng đã dịu bớt, khi bà nhìn thấy căn phòng được dành cho họ. Có một cái giường lớn cho năm người phụ nữ nằm chung. Bà Nhu ắt sẽ không thể dễ dàng lẩn ra ngoài.
Khi nói chuyện về ông Bảy, bà Nhu dùng từ lóng tiếng Pháp chỉ người Cộng sản, gọi ông là một coco. Từ miệng bà lời đó nghe có vẻ gần như ấm áp, và bà Nhu đã trìu mến nhớ về ông Bảy như một trong số ít những người Cộng sản lịch sự nhất bà từng gặp. Ồng gắng hết sức làm cho những kẻ bị giam cầm – bà Nhu, con gái bà, và những thân quyến bên chồng bà – cảm thấy thoải mái, bằng những phương tiện sơ sài có được. Những người phụ nữ nhận được ba bát cơm mỗi ngày và chút ít quà vặt, không kể những khi ông Bảy chiêu đãi món cá mòi và sữa. Năm người họ lưu lại nông trại, chia sẻ một căn phòng và một chiếc giường, trong gần ba tháng. Khi những quả bom Pháp bắt đầu rơi quá gần nông trại, và ông không còn có thể bảo đảm an toàn cho họ, ông Bảy đã thu xếp việc phóng thích bà Nhu cùng gia quyến khi đích thân ký giấy thông hành cho phép họ di chuyển an toàn đến một nhà tu kín. Và nhiều năm sau, khi ông Bảy đã trở thành nhân vật Cộng sản cao cấp nhất vùng Trung Kỳ, ông vẫn giữ cách nói năng lễ độ và không quên hỏi thăm sức khỏe bà Nhu khi những cuộc đàm phán đưa ông tiếp xúc với bất kỷ ai trong chế độ họ Ngô.
Nỗ lực thuật lại những biến cố của rất nhiều năm về trước đã làm bà Nhu cảm thấy mỏi mệt. Đến cuối câu chuyện, tôi có thể nghe thấy sự gắng sức trong giọng nói của bà, theo cái cách mà những câu cuối vụt qua ống nghe như những thân tre khô khốc. Nhưng tôi chưa hoàn toàn sẵn sàng khép lại cuộc nói chuyện. Tôi muốn giữ lại khoảnh khắc này, và tâm trạng sẵn sàng giãi bày tâm sự, lâu hơn một chút nếu có thể. Tôi đưa ra một vài nhận xét vô vị. Giờ đây tôi không nhớ nó là gì vì lẽ tôi quá bận theo dõi câu chuyện và nguệch ngoạc ghi chép những tình tiết chưa từng có mà bà vừa kể cho tôi.
Tôi đã hy vọng về một cú nhấn crescendo theo phong cách Cuốn Theo Chiều Gió để đặt dấu chấm hết cho câu chuyện – giống như khi Scarlett vầy vò nắm đất đỏ, dứ nắm tay lên trời, và thề sẽ không bao giờ phải chịu đói nữa. Bà Nhu đã nhắc tôi nhớ nhiều về Scarlett O’Hara: Cả hai đã được dạy phải chiều chuộng đàn ông, phải trông duyên dáng, và cư xử dịu ngọt, và cả hai đều có một tinh thần bất khuất. Họ đều nóng nảy và ương ngạnh. Họ đều có một trái tim cứng rắn đằng sau lớp vỏ duyên dáng. Những phụ nữ như thế có thể tùy nghi bật tắt vẻ mê hoặc của mình. Họ đã làm những gì họ cảm thấy phải làm để vượt qua những cơn bĩ cực; họ có thể quỷ quyệt và hấp dẫn tùy thời.
Nhưng thay vì chốt hạ với một tính ngữ hay ho như “Ngày mai là một ngày khác” bà Nhu đã trở lại với phong cách cộc lốc tiêu biểu của bà. Cuối cuộc điện thoại, tôi chỉ có thể âm thầm lắc đầu khi bà chuẩn bị nói lời tạm biệt.
“Bon. Alors. C’est tout”. Tốt. Thôi nào. Tất cả là thế. Và ngay trước khi gác máy, bà Nhu nói, “Tôi không bao giờ mặc một cái áo choàng thắt đáy lưng ong kiểu như thế nữa”.
Sau Thế chiến thứ hai, Hiệp ước Potsdam đã đặt những người lính gìn giữ hòa bình Trung Hoa trên lãnh thổ Việt Nam. Việc không cho phép Pháp tái chiếm Đông Dương là một cách nhượng bộ thế giới quan của Mỹ và chứng tỏ sự thiếu kiên nhẫn của Trung Quốc với chủ nghĩa thực dân. Người Trung Quốc tiếp quản tại vĩ tuyến mười sáu nhưng không ở lại Việt Nam lâu; họ còn bận bịu với cuộc chiến tranh của mình. Vì vậy họ ký một thỏa thuận với Pháp cho phép Pháp quay trở lại cựu thuộc địa, đổi lấy việc Pháp từ bỏ những khu nhượng địa ở Trung Hoa.
Thiếu tá Nathan Nguyen tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp vào tháng 5 năm 2023 (hình của 643rd RSG).
Thiếu tá Nathan Nguyen* giữ chức Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ từ tháng 4 năm 2024, ông được cấp giấy phép an ninh tối mật (Top-Secret – TS) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được quyền truy cập thông tin phân loại Nhạy cảm (Sensitive Compartmented Information – SCI) để lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động mà việc tiết lộ trái phép sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Vai trò này thường liên quan đến việc hỗ trợ trực tiếp cho các Bộ chỉ huy tác chiến, các cơ quan tình báo hoặc các hoạt động chiến lược Liên quân và Quân đội đồng minh. Sĩ quan/Viên chức được cấp giấy phép này đòi hỏi phải qua một cuộc điều tra hồ sơ lý lịch nghiêm ngặt, thường bao gồm cả máy phát hiện nói dối, và yêu cầu phải là công dân Hoa Kỳ, có phẩm chất đạo đức cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an ninh.
Sư đoàn 91 huấn luyện là đại đơn vị cung cấp huấn luyện thực tế, nghiêm ngặt và phù hợp bảo đảm cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị Hoa Kỳ sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng. Bộ chỉ huy khu huấn luyện Lực lượng trừ bị Parks ở California là nơi thuận lợi cho các cuộc tập trận quy mô lớn như các cuộc tập trận huấn luyện yểm trợ chiến đấu (CSTX) ) để nâng cao trình độ và năng lực Sĩ quan chỉ huy đơn vị. Các nhiệm vụ chính bao gồm: Tạo điều kiện huấn luyện tiến hành huấn luyện tập thể cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị, Lực lượng Lục quân thường trực và Vệ binh Quốc gia sẵn sàng hoạt động: Xác nhận khả năng khai triển của các đơn vị thông qua các cuộc mô phỏng và tập trận phức tạp, yểm trợ, cung cấp Huấn luyện viên/Quan sát viên (OC/T) để đánh giá năng lực tác chiến của đơn vị.
Thiếu tá Nathan Nguyen sinh ra ở một làng đánh cá nhỏ gần thị xã Rạch Giá, miền Nam Việt Nam. Gia đình ông nghèo, nhưng ông thấy vui vì được sống với gia đình và bà con lối xóm, nhưng sống dưới chế độ cộng sản hà khắc, không được phép rời khỏi nơi cư ngụ và luôn bị quan sát bởi công an khu vực Khi ông lên 8 tuổi, cha ông đưa ông vượt biên, trốn thoát khỏi Viêt Nam bằng một chiếc ghe đánh cá nhõ đến được trại tỵ nạn Thái Lan và được chuyển tiếp đến trại tỵ nạn Phi Luật Tân, sau đó gia đình ông được Chính phủ Hoa Kỳ cho phép định cư vào mùa hè năm 1987.
Thiếu tá Nathan Nguyen và đồng đội hoàn tất khóa huấn luyện biệt kích Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School) năm 2012 – Hình của Nathan Đạt Nguyễn.
Thiếu tá Nathan Nguyen gia nhập quân đội vì muốn phục vụ đất nước mà ông đã chọn làm quê hương thứ hai. Ông cảm thấy gia đình ông mang ơn rất lớn đối với nước Mỹ vì đã cho phép gia đình ông đến đây để có một cuộc sống tự do tốt đẹp hơn. Ông gánh vác trách nhiệm này và làm điều đó một cách tự nguyện. Ông được chấp nhận vào chương trình Green-to-Gold, và trở thành Thiếu uý Truyền tin Lục quân trừ bị năm 1999, ông đã thụ huân các khoá học chuyên môn quân sư, đặc biệt, ông hoàn thành khóa huấn luyện Biệt kích tại Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School). Ông cũng từng được điều động yểm trợ chiến dịch Tự do Châu Âu (OEF). Một kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với ông là vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, lúc bấy giờ Trung đội Trinh sát của ông đang tham gia một cuộc diễn tập (FTX) thì được lệnh quay trở lại căn cứ. Ông và đồng đội liền mở truyền hình xem thấy cảnh hai tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại Thế giới sụp đổ, sau khi hai phi cơ thương mại bị không tặc đâm vào, khoảnh khắc đó làm ông nhớ mãi.
Thiếu tá Nathan Nguyen hoàn tất Văn bằng Cử nhân nghệ thuât Trường Đại học Tiểu bang California State University-Sacramento. Là Sĩ quan truyền tin Lục quân, Thiếu tá Nathan Nguyen được chỉ định phục vụ nhiều đơn vị khác nhau từ 1999 đến nay, những đơn vị gắn liền với binh nghiệp của ông như: Sĩ quan Phụ tá phòng Truyền tin G-6 thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh tại Hawaii; Sĩ quan Truyền tin Liên đoàn yểm trợ khu vực 643 (643rd RSG) và hiện nay, Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ. Với hơn 25 năm kinh nghiệm phục vụ Lục quân Hoa Kỳ, ông am hiểu sâu sắc về huấn luyện quân sự và các hoạt động quân sự liên hợp. Ông tận dụng kinh nghiệm và kiến thức đóng góp vào việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và năng lực tác chiến của đơn vị.
Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá, ngoài Thiếu tá Nathan Nguyen, còn có hơn 150 vị khác (không tính những vị đã hồi hưu) đang phục vụ các binh chủng và ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhân sau đây: Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Thiếu tá Perry Pham, Sĩ quan Lữ đoàn 3 Thiết giáp; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Họ tên Việt Nguyễn Đạt.
Mời đọc bài kỳ tới: Thiếu tá Dalton Nguyen (gốc Việt), Trưởng Phòng truyền tin Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force).
Chúng tôi đã ở trong vòng bán kính tuần thám của phi cơ địch, và radar trên các chiến hạm Mỹ chắc chắn đã phát hiện ra chúng tôi.
Tám phóng pháo cơ “Kate” chúi mũi xuống, chiến đấu cơ chúng tôi theo sát phía sau. Ở 16,000 bộ, chúng tôi rớt vô một đám mây dày đặc, trở thành kẻ đui mù trong nhiều giây, rồi lướt xuyên qua và tiếp tục chúi xuống.
Xuống đến cao độ 13,000 bộ, một vật gì nhá sáng trên bầu trời, xa về phía trước, và phía trên chúng tôi nhiều ngàn bộ. Hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần. Ðó có thể là do cánh của một chiếc phi cơ phản chiếu ánh sáng mặt trời.
Tôi nhìn thấy chiến đấu cơ địch đầu tiên. Một chiếc Hellcat, với thân và đôi cánh rộng không thể lầm lẫn, lướt xuống, xuyên qua những đám mây. Một chiếc khác, rồi nhiều chiếc nữa. Bao nhiêu chiếc? Ðể xem! Chúng vẫn lướt xuống xuyên qua những đám mây, chiếc này đến chiếc khác, một dọc dài các chiến đấu cơ vẽ ngôi sao trắng như vô tận. Tôi bắn một loạt để báo cho các phi công khác. Phi đội trưởng và Muto lắc cánh đáp nhận. Radar Hoa Kỳ đã xác định vị trí chúng tôi một cách chính xác. Nhóm phi cơ địch chúi ra khỏi các đám mây cách phía trước chúng tôi không đầy một dặm, và cách phía trên chúng tôi chỉ nửa dặm.
Tôi bắt đầu đếm, và chỉ đếm được đến con số mười bảy. Ðối phương đã nhìn thấy chúng tôi! Chiếc phi cơ thứ mười bảy, tức là chiếc mà tôi đang đếm, bất ngờ lăn tròn về phía trái và chúi xuống. Lập tức, những chiếc còn lại vung ra hai bên và lao xuống chúng tôi.
Mệnh lệnh của Ðại tá Miura văng vẳng bên tai tôi: “Không chấp nhận chiến đấu… giữ vững các phi cơ trong đội hình.”
Mệnh lệnh rõ ràng minh bạch. Nhưng làm sao đây? Hãy nhìn những máy bay đang lướt đến. Bóng dáng của những chiếc Hellcat thấp thoáng khắp mọi nơi, nhiều chiếc đã lấy thăng bằng sau khi chúi xuống để từ phía dưới đánh ngược lên phi cơ của chúng tôi. Một nhóm hai mươi chiếc Hellcat thứ nhìn hung hăng vồ ba chiếc Zéro của Muto. Còn nhóm khác nữa, hơn ba mươi chiếc, bổ nhào xuống rồi lấy thăng bằng và vượt lên nhanh chóng, tấn công các phóng ngư lôi “Kate” đang bay phía dưới.
Tôi nín thở khi nhóm Hellcat chĩa mũi vô các phóng pháo cơ. Hai tiếng nổ làm rung chuyển cả không gian phát ra, chiếc Kate thứ nhứt và thứ nhì biến mất. Thủy lôi mang dưới bụng đã xé nát hai chiếc phi cơ làm muôn ngàn mảnh nhỏ li ti.
Bấy giờ những chiếc Hellcat đang nằm trong tầm hoả lực của ba chiếc Zéro do Muto cầm đầu, nhưng cả ba đã tránh né bằng cách lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi đấm tay vô cửa kiếng một cách bất lực. Muto đã có trong tay một tử điểm. Hắn có thể lăn về bên phải và đẩy hai chiến đấu cơ địch rời khỏi không trung mà không cần một cố gắng nào, nhưng hắn không làm.
Một nhóm Hellcat khác lao đến ba chiếc Zéro của tôi. Tôi kéo cần điều khiển lại phía sau, vọt tới và xoáy trôn ốc thật ngặt với hai phi công bên cánh đeo dính sau đuôi tôi. Chúng tôi lấy thăng bằng để nhìn thấy nhiều chiếc Hellcat khác xông tới với các họng súng ở hai bên cánh rực lửa. Ðạn đại liên xé gió vạch từng lằn. Tôi lăn tròn. Thật nhanh. Thêm nhiều chiếc Hellcat xông tới nữa. Lăn tròn nữa. Hai lần. Lăn tròn qua trái. Lấy thăng bằng. Nhiều đối thủ lại xông tới, chúng có tất cả bao nhiêu? Tôi lăn tròn nữa.
“… Không chấp nhận chiến đấu…”
Có thể y lịnh mãi được không? Tôi không thể. Không, ngay bây giờ. Với bầu trời dầy đặc chiến đấu cơ địch, tôi tránh né như vậy đã đủ lắm rồi. Tôi xoay như chớp, chĩa mũi vô một chiếc Hellcat đang chúi xuống. Những viên đạn của tôi đẩy bật nó ra lập tức. Chiếc phi cơ lảo đảo dữ dội rồi đâm xuống biển, kéo theo một vệt khói càng lúc càng mau. Không có thời giờ để nhìn theo nạn nhân, tôi nhấn bàn đạp bẻ lái, kéo cần điều khiển thật mạnh. Ðúng lúc. Một chiếc Hellcat lướt vụt qua chiếc Zéro của tôi, tiếp theo là những chiếc khác và nhiều chiếc khác nữa.
Tôi không có thời giờ để nhả bình xăng phụ dưới bụng. Thế rồi chiếc phi cơ địch cuối cùng lướt qua, sà thấp xuống biển, và bắt đầu lấy thăng bằng để quày lại. Nhóm Hellcat đang quành lại. Chúng vung rộng đội hình tấn công, hai tốp hai bên mạn sườn, một tốp bên trên yểm hộ và một tốp trực chỉ thẳng vào chúng tôi.
Tôi nhả bình xăng phụ và đảo ngược. Hai phi cơ bên cánh vẫn còn dính chặt với tôi. Nhờ trời, họ ngoan ngoãn thi hành đúng các chỉ thị, bám sát hai bên, đua tài xoay trở với tôi. Làm theo bất cứ động tác nào mỗi khi tôi lật ngược, lăn nghiêng, hay dựng đứng, họ đều lập tức xoay chuyển. Ba chúng tôi như một tam giác lướt xoáy. Mình mẩy tôi ướt đẫm. Mồ hôi tôi vã ra như tháo, tôi định đưa tay lau mặt. Không kịp. Cả 16 chiếc Hellcat lại lướt lên cùng một lúc nhảy xổ vô ba chiếc Zéro của tôi. Một lần nữa, tôi lại chúi, lộn, đảo và lăn. Cần điều khiển lên, xuống, giữa, phải, trái. Ðá bàn đạp lái. Loé sáng, những lằn đạn. Trật, và trật nữa. Bọn phi công Mỹ nhắm yếu. Những vạch đạn vút vút nhưng không trúng chỉ tạo ra những vệt khói dài. Tôi liếc nhìn nhóm phóng pháo cơ Nhựt. Ðó là một lò sát sinh? Uể oải, chậm chạp, với những trái thủy lôi dưới bụng, trôi lờ đờ trong không khí, không được chiến đấu cơ Zéro bảo vệ vì chúng tôi đang mắc bận đánh trối chết với lũ Hellcat. Một trái cầu lửa biến mất trong một tia chớp hừng hực. Rồi một cầu lửa khác nổ đàng. Thêm một phóng pháo cơ nữa nổ tung… Không đầy một phút, cả bảy chiếc phóng ngư lôi đều đi đời. Ngay cả một thân máy bay hoặc một cái cánh nguyên vẹn cũng không nhìn thấy.
Tình trạng của mấy chiếc Zéro cũng không khá hơn. Tôi nhìn thấy hai chiếc bao trùm trong lửa đỏ, lăn lộn liên hồi. Không viên phi công nào cố nhảy ra khỏi phi cơ. Họ ở lại và chết cháy. Tôi không nhìn thấy một chiếc Hellcat nào gặp rắc rối, ngoại trừ chiếc bị tôi bắn rơi. Chúng tôi hầu như không thể nào né tránh chiến đấu, bởi đối phương quá đông và bu lấy chúng tôi. Chiến đấu cơ Hellcat nhanh nhẹn hơn chiếc Zéro của chúng tôi, tốc lực cũng mau hơn nhiều. Chỉ nhờ sự thiếu kinh nghiệm của phi công địch đã cứu chúng tôi
Nếu họ kinh nghiệm hơn chút nữa, mỗi chiếc Zéro sẽ bị hạ không đầy một phút. Hiện thời chỉ nhóm của tôi còn hiện diện trên bầu trời. Những chiếc Hellcat đã quét sạch các phi cơ Nhựt khác, bấy giờ bâu đến kết hợp với 16 chiến đấu cơ đang tấn công nhóm của tôi. Những chiếc cánh màu xanh mang huy hiệu ngôi sao màu trắng chiếu lấp lánh với các họng súng đều rực lửa, ở trên và ở dưới, bên phải và bên trái, đâu đâu cũng có bóng dáng Hellcat.
Những chiếc Hellcat này nhắc nhở tôi nhớ hồi ở Lae, lúc 12 chiến đấu cơ của chúng tôi cố hạ một oanh tạc cơ B17 đơn độc. Chúng tôi đã xé nát đội hình để tấn công đối thủ một cách nôn nóng. Hiện thời mấy chiếc Hellcat cũng làm giống y vậy. Chúng trở nên hỗn loạn, cố tránh né hoả lực và đụng chạm với đồng đội hơn là với chúng tôi. Chúng tôi bay chính giữa một nhóm Hellcat đông đảo khủng khiếp, và mặc dù đối phương lâm vào tình cảnh hỗn tạp, chúng tôi cũng không thể nào tìm thấy lối thoát. Chúng tôi đã ở cách Iwo Jima 400 dặm, và vẫn còn cách các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ đâu khoảng 50 dặm. Hạm đội này chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy và không thể nào đảo mắt tìm kiếm. Cho dù chúng tôi có nhìn thấy đi nữa, làm sao lướt qua khỏi 60 chiếc Hellcat, chiếc nào cũng bay mau hơn?
Một cơ may nhỏ xảy đến. Cuộc không chiến di động về phía một đám mây dày đặc treo lơ lững trên mặt biển. Một chiếc Hellcat bỗng tách khỏi vòng vây, bỏ lại một khoảng trống. Tôi lăn tròn và đẩy hết cần điều khiển về phía trước, chúi hết tốc lực vô đám mây. Tôi liếc lại phía sau. Hai phi cơ bên cánh vẫn đeo dính lấy. Trong nhiều phút, tôi không nhìn thấy gì hết. Vẫn luôn luôn là một tâm bão bên trong những đám mây, lùng bùng những tia chớp và bùng nhùng những co giật nhấn nhồi liên hồi. Thế rồi phi cơ chúng tôi lướt ra khỏi đám mây. Tôi nhìn hai chiếc Zéro, xa phía dưới phi cơ của tôi, đang xoay tít dữ dội, nhưng trong một vài giây, chúng tôi lấy lại thăng bằng, và vượt lên.
Bầu trời không còn bóng dáng một chiếc Hellcat nào. Chúng tôi bay trong đội hình chữ V và xoay trở về hướng Nam. Chúng tôi thở phào thoát nạn, nhưng tương lai đen tối đang chờ đợi.
Những đám mây dầy đặc hơn khi chúng tôi tiến gần đến hạm đội địch. Mây trở nên dầy đặc hơn nữa, trôi là là cách mặt biển không đầy 700 bộ.
Một cơn mưa mù mịt đổ xuống, mạnh đến nỗi nhiều lần ba chiếc Zéro lâm hiểm. Mưa quật vô cánh phi cơ như một giòng thác. Nghe được cả tiếng nước trút lên cánh như có những thau nước xối ào ào.
Chúng tôi vẫn phải lướt tới. Mây càng lúc càng sà thấp xuống mặt biển. Chúng tôi xuống thấp dần chỉ còn cách mặt nước 60 bộ, là chưa đầy 20 thước, quét sát cánh lên đầu những con sóng. Bão nổi lên dữ dội hơn. Tiếng gió át cả tiếng động cơ máy bay. Mưa quật mạnh khủng khiếp trên cánh và trên thân.
Chúng tôi không thể bay thấp hơn. Hiện thời chúng tôi trở nên mù hẳn. Tôi chỉ nhìn thấy màn mưa bao quanh. Không nhìn thấy mặt nước, chỉ một đám sa mù xám, nhưng chúng tôi biết rằng chỉ cần xuống thêm chút nữa, tất cả chúng tôi sẽ biến mất trong biển cả. Ba mươi phút trôi qua. Bão vẫn không giảm. Theo bản đồ, tôi phỏng định phi cơ đang hướng thẳng đến lực lượng đặc nhiệm của đối phương. Ðệ Ngũ hạm đội của Ðô đốc Mitscher. Ngay cả một hạm đội đồ sộ như vậy mà chúng tôi cũng không thể nào tìm thấy.
Bầu trời càng lúc càng u tối. Ðã bảy giờ chiều có hơn. Chân trời trở nên ám làm tôi lo lắng. Cho dù chúng tôi lướt khỏi giông bão, bầu trời đang tối nhanh chóng sẽ khiến chúng tôi không thể nhìn thấy hạm đội địch…
Tôi liếc nhìn hai chiến đấu cơ bám sát một bên đuôi. Hai phi công trẻ này sẽ ra sao? Họ ngoan ngoãn theo tôi, sẵn sàng chấp nhận bất cứ những gì mà tôi đã chọn. Nếu tôi chúi xuống biển, họ cũng sẽ chúi theo tôi.
Làm gì đây? Tôi soát lại la bàn và đảo một vòng thật rộng. Hai chiếc Zéro vẫn theo sát phía sau. Tôi không định vị chắc chắn được vị trí của mình, bởi lẽ chúng tôi đã quần thảo với địch quân, chúi vô mây, và sau đó bay thẳng xuyên qua mưa bão. Tôi có thể ở bất cứ một nơi nào đó trên mặt biển… ngay cả đánh vòng 180 độ vừa rồi có thể đưa chúng tôi về hướng Nam thay vì về Iwo Jima. Nhưng tôi phải quay lại mục tiêu, tôi phải cố gắng!
Lời nói cương quyết của đại tá Miura lại vang đến bên tai tôi “… cả nhóm phải chúi xuống các hàng không mẫu hạm địch!”
Tôi hầu như muốn quày phi cơ trở lại để tìm kiếm chiến hạm địch. Tôi vẫn là một sĩ quan Hải quân Hoàng gia, nơi mà mạng lịnh vẫn là cái gì tuyệt đối. Chưa từng nghe nói đến có sĩ quan đặt câu hỏi, đúng hoặc sai, trước những mạng lịnh được ban ra. Cho dù tôi trở về Iwo Jima được, làm sao tôi có thể đối diện với vị chỉ huy trưởng vừa giao nhiệm vụ cho mình?
Tất cả là một sự giằng co trong cùng cực tuyệt vọng. Cho đến nhiều năm sau này tôi mới hiểu hành động khi ấy của mình là một hành động có ý thức. Nhưng ngay lúc đó, qua nhiều năm chịu đựng thứ kỷ luật cứng rắn và tàn nhẫn, sự giằng co của tôi không thể nào tả xiết. Qua những giây phút khủng khiếp trong phòng lái của chiếc Zéro này, tôi đã chiến đấu và đã thành công trong việc phá vỡ hệ thống chỉ huy và truyền thống của Hải quân.
Cho dù cả ba chúng tôi có tìm thấy chiến hạm địch, cho dù chúng tôi vượt khỏi vòng vây nghênh chiến của chiến đấu cơ Hoa Kỳ, cho dù chúng tôi chúi xuống chính xác, chúng tôi sẽ đạt được kết quả gì với ba chiếc phi cơ nhỏ nhoi, không mang bom, chỉ có một số đạn đại bác và đại liên? Hai phi công trẻ tuổi bay theo tôi, đã giao phó tính mạng của họ trong tay tôi, họ đã chứng tỏ tài ba tránh né phi thường của họ trong cuộc đụng độ vừa qua. Họ đã không lùi bước khi bay xuyên qua một cơn mưa bão. Mạng sống của họ phải dành cho một nơi tốt hơn là đâm đầu xuống biển. Họ thuộc về xứ sở Nhựt, họ phải có dịp may để bay và chiến đấu trở lại. Do đó là quyết định của tôi. Phải quay về Iwo Jima. Ðại dương đã biến mất trong màn đêm. Tôi tuyệt đối không còn nhìn thấy một vật gì nữa phía dưới. Tôi chỉ nhìn thấy những vì sao chiếu lấp lánh trên bầu trời. Gần một giờ trôi qua, chúng tôi vẫn lướt tới. Giây phút của định mạng. Nếu tôi bay đúng hướng, bây giờ Iwo Jima sẽ ở phía dưới tôi. Nếu không… tôi chưa bao giờ cảm thấy nỗi lạnh lẽo nào như nỗi lạnh lẽo của đại dương ôm choàng lấy khi chiếc Zéro đâm đầu xuống. Và không chỉ lúc đâm xuống mà là cả một sự lạnh lẽo thê thiết trên đường về. Chúng tôi đơn độc. Sứ mạng thất bại. Mạng lịnh bất tuân và còn đang gian nan tìm sống…
Nhiều phút nữa trôi qua. Thời gian như nhích từng kim giây. Tôi hướng mắt về phía chân trời, hy vọng nhìn thấy một vật gì, một chấm màn đêm nổi bật lên bầu trời đầy sao. Vật gì đó đã thấy kia rồi. Nó đen và to lớn khác thường. Iwo Jima! Chúng tôi đã trở về!
Tôi chúi mũi xuống, Shiga và Shirai tiếp theo sau. Iwo bao trùm trong bóng tối khi chúng tôi đảo phía trên. Thế rồi bốn ánh sáng leo lét xuất hiện. Ðó là những ngọn lửa huyền diệu, kỳ bí khôn cùng đối với tôi. Những ánh đèn hiệu dọc theo hai bên phi đạo chánh. Chúng chớp tắt, báo hiệu cho phi cơ đáp xuống. Những người trên đảo đã nhận ra tiếng động cơ của chúng tôi. Một cảm giác nhẹ nhõm tràn ngập trong tôi. Tôi hầu như mềm lả, sự căng thẳng trong suốt ba giờ bay trở về đã bất thần chùng lại.
Bốn ngọn đèn không soi rõ phi đạo. Thường thường chúng tôi sử dụng 20 ngọn, nhưng 16 ngọn đã bị bom phá hủy. Bốn ngọn hay bốn mươi ngọn đèn, đối với tôi cũng vậy thôi. Sau những gì mà chúng tôi đã bỏ lại sau lưng, tôi cảm thấy có thể đáp xuống trong bóng tối. Thế rồi tôi đáp xuống, lướt trên sân bay với hai chiến đấu cơ liên tiếp theo sau. Ðèn tắt.
Một đám đông phi công và cơ khí viên chạy ùa ra phi cơ của chúng tôi. Khi họ tới, tôi nhìn họ một thoáng. Tôi cảm thấy không được tự nhiên khi đối diện với họ. Tôi nhảy xuống đất và bước đến Bộ Chỉ Huy. Ðám đông không ai cố giữ tôi lại. Mọi người đều biết cảm nghĩ của tôi, họ tránh sang một bên khi tôi bước ngang qua phi đạo với hai phi công bên cánh theo sau.
Trong bóng tối, tôi đụng phải một người. Tôi thụt lùi. “Ai đó?” Tôi hỏi lớn. Không có tiếng trả lời. Tôi bước lại người tôi vừa đụng, hắn ngồi bệt trên mặt đất. Tôi có thể nhận ra bộ đồng phục phi công. Tôi cúi xuống nhìn mặt hắn.
“Muto!”
Viên phi công ngồi cú rũ, đầu gục trên đôi tay.
“Muto, anh bị thương hả?”
Muto ngước nhìn tôi. “Không,” hắn thẫn thờ đáp. “Tôi không bị thương.”
Hắn đứng dậy và nhìn Shiga và Shirai một cách lạ lùng. “Anh … anh mang về cả hai phi công bên cánh của anh!” Hắn thở hổn hển.
Hắn nhìn xuống đất, bật khóc. “Sakai… Hãy chửi rủa vào mặt tôi đi. Hãy phỉ nhổ tôi đi!”
Nước mắt hắn đầm đìa trên mặt. “Tôi bắt buộc phải quay về”, hắn hét lên trong sự đau lòng. “Một mình!”. Tôi nắm vai hắn. “Tôi biết cảm nghĩ của anh, Muto. Nhưng bây giờ không thể làm gì hơn nữa. Quá muộn. Tất cả đã trôi qua. Ðã là quá khứ”.
Tôi lay vai hắn nhè nhẹ, và chỉ Bộ Chỉ Huy: “Muto, chúng ta cùng vô trong đó.”
Hắn gật đầu. Chúng tôi không nhìn nhau. Và rồi có một vật gì chận lấy tim tôi. Cơn thịnh nộ trước những gì xảy ra trong cái ngày khủng khiếp này đã nguội lạnh trong tôi bỗng nhiên nổi dậy. Tôi nghĩ những giọt nước mắt của viên phi công trẻ tuổi đầy hứa hẹn này là những giọt nước mắt lo sợ. Lo sợ sẽ là một tên hèn nhát trước một nhiệm vụ ngu xuẩn.
Tôi thề rằng, bất kể vấn đề gì xảy ra, nếu một tên sĩ quan nào trút giận lên mình viên phi công trẻ này, tôi sẽ hạ gục hắn. Tôi sẽ nhồi hắn thành bột. Tức khắc.
Ðại tá Miura ngồi trơ sau bàn làm việc. Ông lắng nghe chăm chú khi tôi báo cáo, trình bày những gì xảy ra. Ông nhìn tôi chăm chú rồi bình thản nói: “Cảm ơn anh, Sakai!”. Chỉ mấy tiếng vậy thôi.
Tới phiên Muto trình bày. Dĩ nhiên, những gì hắn trình bày đều xác nhận những lời tôi vừa nói, cũng chỉ có bốn tiếng. “Cảm ơn anh, Muto!”
Chúng tôi đập gót giày, chào cáo từ. Ðại tá Miura vẫn ngồi bất động, gương mặt u tối, đôi mắt bi thiết.
Tôi cảm thấy buồn cho ông ta, người đã ra lịnh cho thuộc cấp thi hành một nhiệm vụ thất bại trước khi bắt đầu. Nhưng phải ra lịnh, bởi vì ông ta không còn cách nào khác để chọn, bởi vì đó là cách duy nhất cho xứ sở của ông.
Khi chúng tôi bước ra khỏi Bộ Chỉ Huy, một người chạy theo chúng tôi. Ðó là Trung tá Nakajima. Ông đưa hai tay nắm vồ lấy vai tôi, khuôn mặt rạng rỡ. “Sakai!” ông kêu lên. “Sakai! Tôi hết mong anh trở về!”
Tôi muốn nói, nhưng Nakajima chận lời:
“Anh không cần biện hộ. Anh không có gì phải biện hộ. Tôi biết anh quá nhiều, bạn của tôi ơi… Ai ở trên hòn đảo này cũng biết những gì đã xảy ra hôm nay, do đó, việc duy nhứt của anh phải làm là trở về. Và anh đã trở về. Ðừng nhăn nhó nữa! Chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội, chúng ta vẫn còn có thể đánh nữa mà! Anh về được là hay lắm rồi!”.
Những lời của Trung tá Nakajima làm tan băng giá trong tim tôi. Tôi không còn cô độc. Nhưng những lời tử tế của ông cũng không thể nào đẩy lui hoàn toàn cơn phẫn nộ trong lòng tôi.
Các phi công khác chạy ùa đến với chúng tôi, tay mang lề mề thuốc hút, kẹo bánh và những thức ăn khác. Chúng tôi chỉ nói cám ơn và từ chối. Tôi không sao nuốt nổi một miếng nào vô họng. Một giờ sau, một liên lạc viên chạy vô phòng tôi: “Một công điện vừa nhận được từ phía Nam Iwo,” hắn la lớn. “Một trong những phóng pháo cơ vừa đáp xuống đó. Phi hành đoàn an toàn!”
Viên phi công tuông hết thủy lôi và quày phi cơ chạy về. Hắn biết rằng dẫu hắn có cố gắng một ngàn năm đi nữa cũng không thể nào chui lọt bức tường lửa do những chiếc Hellcat tạo ra.
Tin tức hầu như xoá hết sự căng thẳng. Nó cho thấy rằng không phải chỉ có tôi và Muto đã chặt đứt “sợi dây xích rắn chắc” của truyền thống và mạng lịnh.
Tôi bước vô lều của mình với một ý nghĩ duy nhất. Tôi đã trở về với Hatsuyo.
Rất tình cờ, ngày 2-7-2008 vừa qua, tôi nhận được điện thoại của một anh thương binh báo tin vừa biết địa chỉ của bà vợ tướng Lê Văn Hưng hiện đang ở Sài Gòn. Chuẩn tướng Lê Văn Hưng là một trong 4 vị tướng đã tuẫn tiết vào ngày 30-4-1975.
Thông tin này khiến tôi hơi ngỡ ngàng vì theo tin tức mà tôi biết không được chính xác lắm thì gia đình tướng Hưng đã định cư tại Mỹ. Sau đó anh Đoàn Dự điện thoại cho tôi xác nhận cũng được tin “bà quả phụ Lê Văn Hưng đang sống ở Sài Gòn” và một chi tiết quan trọng hơn là hiện nay gia đình bà đang sống rất cực khổ. Tất nhiên, tôi phải đi xác minh để tìm hiểu sự thật. Tôi liên lạc với anh Phúc
— anh thương binh bị cụt hai chân, một trong số “ba người lính nhảy dù lâm nạn” mà tôi đã có dịp tường trình với bạn đọc. Anh Phúc cố gắng liên lạc với vài anh em thương binh khác để tìm người đưa tin.
Sau một hồi vòng vo, chúng tôi tìm được người đưa tin cũng là một trong số những anh em thương phế binh. Đó là anh Toàn, một thương phế binh thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến mà dịp Tết vừa qua chúng tôi đã có dịp chuyển quà của độc giả đến giúp đỡ gia đình anh.
Buổi sáng ngày Thứ Năm 3-7-2008, Đoàn Dự đón tôi đi tìm nhà anh Phúc. Những căn nhà của anh em phế binh hầu hết đều nằm trong hóc hẻm rất khó tìm. Cũng may anh Phúc được một người nhờ trông coi căn nhà trong cái hẻm nhỏ sát bên rạp hát Quốc Thanh. Gọi là nhà chứ thật ra đây chỉ là một căn phòng nhỏ hẹp bé tẹo nằm sát hông rạp Quốc Thanh (hồi trước năm 1975 được gọi là chung cư Quốc Thanh), do người chủ là bà Tiêu Thị Mai xây dựng để cho thuê. Sau năm 1975 bà buộc phải “hiến” cho nhà nước để hy vọng… chạy cái tội “địa chủ thành thị” bóc lột dân nghèo. Vài năm sau bà chết, ông chồng được “phân” cho ở một căn phòng trên lầu, đói rách tả tơi. Cuối cùng chung cư được bán cho những chủ mới. Anh Phúc được một người chủ thương tình cho ở để trông coi nhà giùm. Được ở giữa trung tâm thành phố là may mắn lắm rồi, nhưng cụt hai giò, đi trên hai chiếc ghế thấp bằng hai tay, bán vé số dạo cũng là một công việc hết sức nặng nhọc.
Khi tôi và Đoàn Dự đến nơi, anh Phúc lại phải điện thoại cho anh Toàn và vài anh em phế binh khác chờ chúng tôi ở một ngã năm dưới Gò Vấp.
Hai chiếc xe gắn máy khởi hành trên những con đường Sài Gòn đầy rẫy “lô cốt”, vào giờ nào đường cũng kẹt. Xe gắn máy lao lên hè phố gập ghềnh, nhào xuống khe, tha hồ thi tài lái khéo, chen lấn từ 1/4 cái bánh xe. Người Sài Gòn học được ở đây tinh thần “lao lên phía trước” bất chấp luât lệ, không biết nhường nhịn ai, lịch sự văn minh là thừa.
Người Vợ Đầu Của Tướng Hưng
Hơn một tiếng sau chúng tôi mới tới được nơi hẹn. Hai anh thương binh ngồi chiếc xe gắn máy ba bánh, kiểu xe dành cho người tàn tật, dẫn đường.
Đi vòng vo mãi gần 5 cây số mới đến đường Dương Quảng Hàm vẫn thuộc địa phận quận Gò Vấp. Chui vào con hẻm đường đất đá lởm chởm, chúng tôi mới tới được căn nhà tôn khép nép bên hai căn nhà đang xây chẳng biết của đại gia nào. Tôi đã quá quen với những căn nhà ở thật hay ở tạm của gia đình những anh em thương phế binh rồi. Căn nhà nào cũng chui vào hóc hẻm như thế này cả.
Một phụ nữ dáng người lam lũ lật đật chạy về.
Anh Toàn giới thiệu đó là con gái lớn tướng Lê Văn Hưng. Chúng tôi cùng vào căn nhà tôn mái thấp lè tè. Trong căn phòng chật chội, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là một bà cụ già nằm ngay đơ trên chiếc giường nhỏ kê sát tường. Bà nằm im, mắt chớp nhẹ, nhưng có lẽ bà cũng không cần nhận ra ai, đến làm gì. Nhìn khuôn mặt bà trắng trẻo, phúc hậu như còn để lại “vang bóng” của một thời son trẻ với nhan sắc chắc là rất mặn mà.
Anh Toàn giới thiệu nhỏ nhẹ:
– Đó là bà Mai, vợ của tướng Lê Văn Hưng.
Tôi vẫn cứ nghĩ trong việc này có điều gì mình chưa biết. Tuy nhiên, tôi cũng cúi đầu chào bà và biết chắc bà không còn đủ minh mẫn để nghe và trả lời nữa. Người con gái của bà mà chúng tôi đã gặp ngoài cửa, đỡ lời:
– Mẹ cháu yếu quá rồi, chẳng còn biết gì đâu.
Sau khi thăm hỏi qua về cuộc sống của gia đình, tôi đi ngay vào công việc một cách thẳng thắn:
– Tôi nghe nói phu nhân của tướng Hưng đã định cư ở Mỹ rồi kia mà?
Người đàn bà ngần ngại gật đầu:
– Vâng, mẹ cháu là vợ trước của ba cháu. Có thể nói, đó là người vợ đầu tiên, kết hôn năm 1951. Hiện cháu còn giấy giá thú. Nhưng sau đó ba mẹ cháu ly dị. Mẹ cháu cũng tái hôn với một người khác. Nhưng cháu ở với bà nội — tức là mẹ của tướng Hưng.
Người đàn bà có vẻ mặt khắc khổ đưa cho chúng tôi xem tờ giấy giá thú được lập từ năm 1951 bằng tiếng Pháp trong đó ghi rõ ngày tháng kết hôn là 30-10-1951 giữa ông Lê Văn Hưng và cô Nguyễn Xuân Mai tại Bình Hòa, Gia Định. Và dòng cuối cùng ghi rõ là vợ chính thức
— Première range.
Nhưng dù có thế thì sau khi đã ly dị, bà Mai đã có gia đình khác. Chỉ còn lại một người con gái là người đàn bà đang ngồi trước mặt chúng tôi.
Người Con Gái Đầu Lòng
Chị cho tôi xem một Thẻ Căn Cước được cấp từ trước 1975 và một tờ khai sinh. Trong đó ghi chị tên Lê Ánh Tuyết, năm sinh 1952, là con của ông Lê Văn Hưng và bà Nguyễn Xuân Mai. Như thế chị Tuyết là con đầu lòng của tướng Hưng.
Chị cho biết:
– Sau khi bố mẹ cháu không còn sống với nhau nữa, cháu về ở với bà nội cho đến khi lớn. Thường mỗi tuần cháu được đón lên ở với bố cháu. Vì thế các anh sĩ quan làm việc với bố cháu biết cháu rất nhiều. Nhất là trung úy Phúc và trung úy Nghĩa là các sĩ quan tùy viên của bố. Cháu ở với bố và bà nội cho đến khi bố cháu tự sát tại Cần Thơ.
Chị Tuyết đưa cho chúng tôi xem tờ Giấy Xác Nhận của trung úy Phúc, trong đó ghi:
“Tôi là Đoàn Ngũ Phúc, sinh năm 1965… Trước ngày “giải phóng” tôi là sĩ quan tùy viên của chuẩn tướng Lê Văn Hưng. Lúc ấy là tư lệnh phó Quân Đoàn IV tại Cần Thơ.
Tôi xác nhận chuẩn tướng Lê Văn Hưng đã tự sát chết lúc 21 giờ tối 30-4-1975 tại tư dinh ở Cần Thơ. Và ngày 01-5-1975 chính tôi cùng gia đình chuẩn tướng đã chôn cất ông tại Cần Thơ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời xác nhận trên. Ngày 6-11-1989”.
Sau đó trung úy Phúc đi định cư tại Mỹ. (Ảnh: Tướng Lê Văn Hưng và trung úy Phúc, sĩ quan tùy viên. Ảnh do gia đình cung cấp).
Từ Savannah, trung úy Phúc có viết thêm một giấy xác nhận khác chi tiết hơn và lời lẽ hùng hồn, khảng khái hơn. Ông cho biết rõ đã làm việc với tướng Hưng từ năm 1972 khi tướng Hưng là đại tá giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ binh. Sau đó ông được cử làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV bên cạnh thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.
Hai vị này tỏ ra rất tâm đầu ý hợp. Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát ngày 1-5-1975, sau tướng Hưng 1 ngày.
Trung úy Phúc cũng nói rõ “con cháu của các vị đó xứng đáng được hưởng sự giúp đỡ thiết thực qua chương trình ODP… Cô Lê Ánh Tuyết là một ưu tiên”.
Mẹ Tướng Hưng Cũng Tự Tử
Nhưng không hiểu tại sao chị Lê Ánh Tuyết không đi được. Có lẽ phần khác vì còn bà mẹ già không ai phụng dưỡng. Chị có gia đình nhưng không có con và người chồng của chị bệnh tật nhiều nên cuộc sống rất khó khăn. Mẹ chị phải ở nhờ người con dâu vợ của người con trai sau này, chị Tuyết vẫn là người hàng ngày trông nom săn sóc mẹ.
Chị kể lại một chi tiết rất xúc động. Khi được các anh trong Quân Đoàn báo tin tướng Lê Văn Hưng tự sát, bà nội của chị — mẹ của tướng Hưng — đã ngất đi và sau khi chôn cất con trai xong, bà âm thầm uống thuốc tự tử. Việc này chị Tuyết biết rất rõ vì chị sống bên cạnh bà nội suốt từ bé đến lớn — 22 năm. Cho đến khi bố và bà nội mất chị mới trở lại sống với mẹ cho đến nay.
Hiện chị Lê Ánh Tuyết ở tại:
Số 25/510 Phường 16, Quận Gò Vấp, TP.HCM. Điện thoại 9846212 — nhờ nhắn giùm chị Tuyết.
Chúng tôi hỏi hiện nay chị sống ra sao. Chị chỉ lắc đầu, buôn thúng bán bưng được đồng nào hay đồng ấy. Chị cũng cho biết hàng năm cứ đến dịp 30-4 chị thường nhận được sự giúp đỡ của Hội Sĩ Quan HO từ Mỹ gửi về. Mỗi năm 500 USD, thường gửi làm hai ba lần và đề tên bà quả phụ Lê Văn Hưng, song thật ra là để giúp đỡ chị. Nhưng năm nay chị Tuyết không nhận được. Tôi đã giúp ngay chị 100 USD, đó là số tiền của các vị nhờ chúng tôi giúp đỡ anh em thương phế binh và người nghèo khổ.
Một hội đoàn giúp hàng năm 500 USD là số tiền không nhỏ. Xin thành thật tri ân những đồng ngũ đã tận tâm giúp đỡ thân nhân những người còn ở lại. Thật ra số người đó rất nhiều, nhất là những anh quân nhân vốn trước đây đã nghèo, bây giờ lại càng nghèo. Họ không thuộc diện “gia đình chính sách”, không thuộc diện được ưu tiên nên đành chỉ trông vào sức lực của chính mình. Còn anh em thương phế binh càng bi đát hơn. Nhưng không thể biết hết và không thể giúp hết. Tuy nhiên biết được người nào giúp người đó vậy.
Thông Tin Về Sự Giúp Đỡ Thương Phế Binh
Nhân đây tôi cũng xin thông tin về một số vị đã nhờ chúng tôi giúp đỡ anh em thương phế binh trong thời gian vừa qua.
Một bạn cùng khóa với tôi, anh Đặng Hữu Thắng gửi
2.000 USD để một nửa giúp anh em thương phế binh, một nửa giúp 1 người nghèo làm nhà tình thương. Chúng tôi đã giúp một gia đình ở Lộc Ninh làm một căn nhà khang trang và mua thêm đồ dùng trong gia đình. Và 1.000 USD giúp anh em thương phế binh ở xa Sài Gòn.
Ông bà Trần Văn Trí ở Montreal, Canada qua ông Đỗ Đức Ngọc gửi giúp 300USD.
Anh chị Hoàng Đình Hoạt ở San Jose gửi 200 USD, giúp gia đình anh TPB Dương Quang Trung ở Huế. Chúng tôi đã gửi cho cháu Dương Thị Hoa và cháu đã nhận. 100 USD còn lại vừa giúp cho chị Lê Ánh Tuyết.
Anh Phạm Thông chủ nhiệm báo Con Ong, Houston chuyển 300 USD của một độc giả báo Con Ong và chính anh Phạm Thông gửi thêm 200 USD để giúp anh em thương phế binh.
Ngoài ra còn một hai vị không tiết lộ danh tính nên chúng tôi xin tôn trọng không nêu tên ở đây.
Tất cả những số tiền đó đã được chuyển đến anh Trưởng Làng Thương Phế Binh và đại diện anh em thương phế binh để chọn ra ưu tiên cho những anh em ở xa Sài Gòn đã và sẽ được giúp đỡ cũng như gặp tình trạng khẩn cấp.
Trong dịp vừa qua chúng tôi đã cử một anh thương phế binh đi Huế và Quảng Trị để xác minh và mang quà đến tận tay từng anh em thương phế binh cần được giúp đỡ. Trong đó có danh sách của chị Trần Mộng Tú gửi cho tôi gồm 17 anh em ở Quảng Trị và 4 anh ở Huế.
Sau đó còn giúp thêm 5 anh em ở Long An và Sài Gòn. Trong thời gian này anh Giáo — Làng Thương Phế Binh Thủ Đức — và Hàm Anh cũng tiếp tục giúp những anh em mới biết hoặc những người gặp hoàn cảnh cấp bách như đi bệnh viện cấp cứu, tử vong…
Chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ những anh em khác mỗi khi cần thiết.
Tổ chức “Ký giả không biên giới”, hôm 26 tháng Tư, công bố bản báo cáo hàng năm cho thấy trong số 180 nước được điều tra, Việt Nam đứng thứ 175, tức gần bét hạng, tức là hoàn toàn không có tự do thông tin gì ráo trọi. Đảng Cộng sản không chấp nhận bất cứ những chỉ trích nào. Nên vẫn có ít nhất khoảng 17 bloggers bị cầm tù ở Việt Nam.
Thế nên những nhà báo trong chế độ CS, bất cứ đâu, đều lòng dặn lòng và khuyên bảo lẫn nhau là: “Đừng có nghĩ. Nếu có nghĩ, thì đừng có nói. Nếu có nghĩ và có nói thì đừng có viết. Nếu có nghĩ, có nói, có viết thì đừng có ký tên.
Còn nếu có nghĩ, có nói, có viết, rồi có ký tên… thì đừng có ngạc nhiên nhe!”
Nên không phải chỉ riêng cánh nhà báo quốc doanh phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, bẻ bút bảy lần trước khi viết … mà các quan Tòa CS được quyền nhốt dân mút chỉ cà tha cũng phải e dè không dám hở môi vì có chuyện như vầy:
Một quan Tòa CS Liên Xô bước ra khỏi phòng xử án cười sằng sặc, khằng khặc và ặc ặc; muốn văng cái đầu ra khỏi cổ vậy.
Một quan Tòa khác bước đến hỏi: “Tại sao đồng chí cười vui như Tết tới vậy?” Quan Tòa này trả lời: “À! Tôi vừa nghe một chuyện cười hay nhứt thế giới đó mà.” “Kể cho tui nghe với đi đồng chí.”
“Đâu được nè! Tôi mới xử nó mười năm về tội kể chuyện ấy đó!”
***
Dẫu biết là báo chí quốc doanh phải được bật đèn xanh mới dám đăng tin về nội bộ đảng, nhứt là ở cấp cao nhứt, tức trong Bộ Chính Trị, nhưng bà con mình cũng khá ngạc nhiên nhe khi đọc tin này nè!
Hôm 27 tháng Tư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật đối với Ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng.
Đinh La Thăng, ngày 5 tháng Hai, năm 2016, từ Bắc nhảy dù vô Nam, đáp trên đầu trên cổ hơn 13 triệu dân Sài Gòn, táp được cục thịt đâu có nhỏ … là Bí thư thành ủy thành Hồ!
Đang rửng mỡ, sởn sơ! Rầy đứa này, nẹt đứa kia trảm tướng này tướng nọ, tư lịnh … vân vân và vân vân (báo chí quốc doanh, theo đóm ăn tàn, hùa theo bốc tới mây xanh) vậy mà tự nhiên chuyển qua … “từ trần” hè?!
Đinh La Thăng đang hát giọng “La thăng”, giọng cao trong dàn nhạc giao hưởng bỗng nhiên rớt nhịp bất tử thành “La giáng” vậy nè Trời?!
Ngày nào cỡi ngựa bắn cung. Giờ thì đi lượm dây thun bắn ruồi!
Thăng đang chức, hét ra lửa, mửa ra khói, 30 tháng Tư năm nay, xin mấy anh ngoài Hà Nội cho bắn pháo bông ăn mừng mình đăng quang, chiếm được thành ủy Sài Gòn mới vừa giáp thôi nôi.
Mấy anh nhứt định không cho! Cứ tưởng mấy anh giận lẫy: sao chú em dám chơi trèo? Ai dè mấy anh giận thiệt, tính chơi em thiệt! Sao không nghĩ tình đồng chí với nhau mà đang tâm bêu xấu, làm quê nhau trước bá quan văn võ; dù em đang đường đường một đống? Thiệt là cạn tàu ráo máng nhe!
Đinh La Thăng khoái âm nhạc là cái chắc rồi! Trong nỗi buồn vô hạn này chắc La Thăng lại nhớ tới bản Thói đời của Nhạc sĩ “homeless” Trúc Phương.
“Đường thương đau đầy ải nhân gian, Ai chưa qua chưa phải là người. Trông thói đời cười ra nước mắt.” (Xưa trắng tay gọi nhau đồng chí……. Giờ quyền cao đòi bắt chí cho nhau….?! Chơi như thế quá đau!)
Báo chí quốc doanh, mới ngày nào còn ca tụng Đinh La Thăng tới tận tầng mây giờ lại hùa nhau đoán già đoán non coi mấy anh ở trên sẽ đét đít Thăng như thế nào, phải chịu mấy roi?
(Ban bí thư đã thống nhất kỷ luật ông Đinh La Thăng với mức độ “cảnh cáo về mặt đảng” vì mức kỷ luật tại Ban chấp hành trung ương thông thường sẽ không thể nhẹ hơn như rút kinh nghiệm chẳng hạn!)
Điều đó đã đủ để Thăng bay chức Bí thư thành ủy TP. HCM. Cầm bằng may mắn, phước ba đời nhà chú em để lại, Thăng sẽ được thí cho một chức vụ chỉ còn chút xíu thịt bầy nhầy bạn nhạn… thì làm sao nuốt?!
Tuy nhiên chuyện tiền tỉ đô thất thoát… đâu có cái vụ hô biến một cái là xong; phải móc họng chú em ra, phải xử chú em nặng hơn, sẽ “cách chức về mặt đảng”, thậm chí khai trừ ra khỏi đảng để mở đường đưa chú ra đứng trước vành móng ngựa! Tức nhốt mới hốt lại được tiền tỉ đô la Mỹ chớ!
Để chú em đừng tưởng dựa vào phe cánh nhảy tót được vào Bộ Chính trị là được an toàn trên xa lộ, không ai dám đụng đến cọng lông chân huống gì là cái bóp đựng tiền của bu nhà em đó!
***
Nguyễn Hà Phan
Quả là trong hệ thống chính trị của CS sau 75, những nhân vật cao cấp nhất, cỡ Ủy viên Bộ Chính trị thì kỷ luật họ là rất hiếm khi xảy ra nhưng lai rai cũng có vài ba đứa.
Mấy lần trước là cự cãi nhau về đường lối! Theo thằng Tàu hay thằng Nga hay đánh đu qua, đánh đu lại?
Bị thương nặng nhứt phải kể là Nguyễn Hà Phan, từng là Phó Chủ tịch Quốc hội và trở thành Ủy viên Bộ Chính trị năm 1993, Thường trực Ban Bí thư, nhân vật số hai trong Đảng.
Vậy mà ngày 17 tháng Tư năm 1996, Trung ương Đảng đuổi Nguyễn Hà Phan ra khỏi Đảng. “Hà Phan” không làm “Hà Bá” đã là may!
Trần Xuân Bách
Đụng trận, bị thương cũng rất nặng, kế Sáu Phan, phải nói là Trần Xuân Bách, vốn là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhưng bị chơi cho cái mũ: “vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu”
Trần Xuân Bách hết còn Xuân; vì bị lột lon lá hết trơn, đuổi về nhà chăn gà cho bu nó!
So với hai tay trùm, đàn chú, đàn anh Phan và Bách thì Đinh La Thăng mới bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành TƯ Đảng xem xét, thi hành kỷ luật vì hút dầu quá xá mà thôi. Nhưng cũng găng lắm vì cái vụ này … là vì tiền! Mà đồng tiền liền khúc ruột. Tiền là ham muốn của nhân gian! Làm bao nhiêu kẻ đảo điên vì tiền! Ông bà xưa mình đã từng dạy như thế!
Tiền tỉ đô la mà chịu bấm bụng nhả ra … chắc hỏng đến nỗi bị vả gãy răng như bên Tàu cộng, Tập Cận Bình đập Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang tơi bời đâu. Hay tàn khốc hơn nữa, bên Bắc Hàn, là Kim Jong Un mần thịt Jang Song-thaek vậy.
Tháng Năm, Trung ương đảng họp, mới xử thì phải bà con mình chỉ biết “wait and see”. Giờ tới đó, chắc Thăng khó vẫy vùng vì đã bị điểm huyệt nhưng cũng còn chút hi vọng hão huyền là mấy anh sẽ giơ cao đánh khẻ vài roi để Thăng bỏ của chạy lấy người theo đàn em mình là Trịnh Xuân Thanh đi Đức (xin Thầy cò đừng trù ẻo bằng sửa chữ “đi Đức” thành “đi Đứt” … Xui lắm nhe!)
Còn trường hợp tệ hại nhứt là Thăng vô hộp thì cũng đừng lo vì dân ngu khu đen đã từng hỏi Tòa báo: “Điều kiện sống trong trại cải tạo thật tuyệt phải không?”
Báo trả lời: “Chắc vậy! Tòa báo chúng tôi đã cử phóng viên đến các trại cải tạo để tìm ra sự thật cách đây 5 năm. Mãi tới giờ chưa thấy ổng trở về. Nên chúng tôi cho rằng chắc đời sống trong đó quá tuyệt nên ổng cự tuyệt trở về làm nghề báo.”
Còn có người kinh nghiệm cùng mình khi được hỏi: “Trong trại cải tạo có vất vả lắm không?”
“Ờ! Mười năm đầu thì quả vậy. Nhưng sau rồi cũng quen đi chớ!”
***
Anh bạn nhà báo của tui trong bữa trà dư tửu hậu: “Ối tụi nó chơi nhau cũng chỉ giành ăn thôi. Thanh trừng, giành chức, giành quyền, giành tiền … Chuyện này xưa rồi Diễm!”
Đứa nào lên thì cũng vậy. Quan “nhớn” thì mập như Nikita Khrushchev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (53-64) vậy thôi!
Ảnh bèn kể cho tui nghe mấy cái chuyện vui như vầy: Krushchev được các trợ lý và cận vệ vây quanh khi đến thăm một cuộc triển lãm tranh.
Krushchev hỏi: “Bức tranh màu có chấm vàng bao quanh bởi màu xanh là gì vậy?”
“Thưa đồng chí! Đó là nông trường tập thể, ruộng vườn xanh mướt của chúng ta!”
“Còn cái vẽ tam giác màu đen với hàng vạch đỏ?”
“ Thưa trang vẽ những công nhân anh hùng trong nhà máy của chúng ta?”
“Còn bức tranh vẽ ai mà tai to, mặt bự, mập như con heo nái vậy?”
“Thưa đồng chí! Đây không phải là bức tranh đâu ạ. Nó là cái gương soi đấy!”
Đảng ta mập là vậy nhưng dân đói meo thì vầy: Mikhail Gorbachev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (85-91) và vợ công du chánh thức Đông Đức rồi lên xe lửa trở về Liên Xô.
Xe lửa chạy ầm ầm một lúc, vợ hỏi: “Tới đâu rồi anh?” Gorbachev thò tay ra cửa sổ xe lửa “Ờ mình vẫn còn trong nước Đông Đức.”
Nhiều tiếng đồng hồ sau: “Mình tới đâu rồi anh?” Gorbachev thò tay ra cửa sổ xe lửa! “Mình đang ở Ba Lan!”
Một khoảng thời gian sau, “Mình tới đâu rồi anh?” Gorbachev lại thò cánh tay ra cửa sổ xe lửa: “Mình về tới Liên Xô rồi em!”
“Hay quá! Sao anh chỉ thò cánh tay ra cửa sổ xe lửa mà biết ngay chóc vậy?”
“Có gì đâu khi anh thò tay ra cửa sổ xe lửa, mà bàn tay anh được hun hít là anh biết ngay còn ở Đông Đức. Còn bàn tay anh được vỗ vào “mu” thân thiện anh biết ngay đó là Ba Lan.
Còn khi anh đưa bàn tay ra khỏi cửa sổ xe lửa rồi bị giựt mất luôn cái đồng hồ là anh biết vợ chồng chúng ta đã về tới quê nhà!”
Thế nên ai lên cũng vậy! Chỉ còn một cách này thôi nhe bà con mình:
Cách của ông thông cống như vầy: Trong xà lim hai tù nhân tán gẫu: “Tội gì? Hình sự hay chánh trị?”
“Tội chánh trị!” “Tội chánh trị mà là tội gì mới được chớ?” “À! Chẳng qua tôi là thợ sửa ống nước. Tỉnh đảng bộ triệu tập tôi đến thông ống cống! Tôi xem xét một hồi rồi phát biểu: “Phải thay toàn bộ cái hệ thống này đi mới được! Vậy là bọn chúng cho tôi 7 năm!”
Như mọi lần, khi chiều tắt nắng, Gia vẫn ra ngồi ở chỗ ấy, bên sông. Như mọi lúc, tôi đi băng qua khoảng sân đất cất dấu nhiều bóng tối, để cuối cùng hình ảnh quen thuộc kia lại hiện ra. Chiếc ghế thấp như bất di bất dịch, sự dời đổi không hề xảy tới. Ngay cả dáng vẻ của Gia cũng thế, tựa hình khối một bức tượng. Cứng ngắt, vô hồn và cũ kỹ. Một sự chung thủy ngó nao lòng. Dòng sông không bao giờ là một tấm gương óng ả. Nếu có, đó là một bề mặt luôn vỡ vụn. Nó không ngừng xao động và nó bẻ gãy cái thoi thóp của ráng chiều đang rãi đều xuống thân nó. Một hai con đò lặng lẽ trôi ngang, bếp lửa đỏ nhóm sau mui như con mắt vừa mở trừng, giây lát, rồi vội đóng kín, khuất lấp. Khói vướng viú trôi lui, một vệt xám cắt ngang tầm mắt, nơi mà đằng sau, phố thị bên sông đang lần lượt thắp sáng đèn. Nước mấp mé bờ, chỗ Gia ngồi, nó thì thầm mãi hoài một đơn điệu. Tẻ nhạt nhưng không nhàm chán. Như vỗ về, như nhắn nhủ. Gia từng kể, có khi thức giấc, sáng mai nhìn ra thấy nó hao mòn xuống thấp. Cũng có đôi khi nó âm thầm leo lên tới tuốt bậc thềm và nếu ta ngồi đây, ta phải chịu ngâm chân tới đầu gối. Gia có vẻ yêu dòng sông này. Cái dòng sông tuôn ra cửa biển và mang đi hết những người thân thuộc trong gia đình rong ruổi tới một bến bờ khác. Sao Gia còn ở lại? Đó là câu hỏi tôi từng nêu và chưa khi nào Gia đưa ra một câu trả lời hợp lý. Tôi thắc mắc bởi lẽ tôi nuôi hy vọng: Tôi chính là nguyên nhân khiến Gia khó giũ áo ra đi.
Chính quyền thì luôn có một bản án dành cho những kẻ trốn chạy kiểu ấy: “Phản bội tổ quốc”. Họ không hay biết đôi khi người ta ở lại chỉ vì những kẻ không may ấy lỡ bị cột trói bởi một thứ tình tầm thường nhỏ bé hơn. Tình yêu giữa tôi với Gia chẳng hạn. Và trong nhãn quang của hai kẻ yêu nhau, tổ quốc là thứ gì xa vời, trừu tượng; nằm ngoài những thao thức của hai kẻ đang bận lòng chia ngọt xẻ bùi. Tẳn mẳn, vụn vặt, nhưng khó có gì so sánh được.
– Bữa ni có chi lạ không?
Gia hỏi. Mỗi khi tôi tới Gia đều mở đầu bằng lời nói đó. Tựa tiếng sóng vỗ, nghe quen tai. Gia như luôn hoài nghi về cuộc sống này, về cái cách biến đổi không ngừng của nó. Dĩ nhiên quá trình của biến đổi sẽ sản sinh ra sau đó những chuyện lạ. Tôi thì không. Tôi thấy thời gian trôi chậm, trì trệ và mọi thứ tuồng như đứng yên. Hiểu ở một nghĩa nào đó thì tất cả đều đã tụt hậu, đã lùi về phiá sau. Nhưng mà cổ tích thì luôn ẩn chứa chuyện lạ. Thêu dệt, đặt điều cho nhiều vào, để lấp đầy khoảng trống.
– Thầy Huy đau nặng. Trong lớp phải sáng tạo ra một buổi lao động ngoài trời để điền thế tiết học.
Tôi nói, đồng thời ngó lên cái trang thờ bắt trên một thân cây. Cây nhiều lá và lá lan tràn như muốn bôi đen cái hộp gỗ vuông vắn kỳ dị ấy, vì thế trông nó tựa một cái chuồng bồ câu mà chim đã bỏ đi hoang. Cả Gia cũng không hay biết gia đình dựng nó lên để thờ phượng ai? Nhưng bao giờ, khi tôi tới, tôi cũng muốn thắp vào đó một vài cây hương. Một trang thờ không lạnh lẽo, điều đó cũng có nghĩa là kẻ ngồi bên dưới nó sẽ cảm nhận ít nhiều nỗi bình an trong tâm hồn. Tôi luôn bất an, tôi linh cảm một điều gì đó xấu xa đang chờ chực. Mơ hồ, không tượng hình, nhưng luôn ám ảnh. Tôi nghĩ tới khuôn mặt của thầy Huy, nét khắc khổ, sự cam chịu tỏa đầy trên con người thầy. Thầy ốm nặng và trong trường, mọi người thầm hiểu, đó là dấu hiệu khởi đầu về một cái chết. Thầy sẽ thực sự vắng mặt, sẽ bỏ đi. Không hôm nay thì hôm sau.
Hương không thơm, khói tỏa ra chẳng xua đuổi được đàn muỗi khát máu.
– Gia thì sao?
– Gia đan gần xong chiếc áo ấm. Chỉ có năm búp len, chắc phải chịu chật một tí.
Mùa hè vẫn còn dùng dằng nán lại. Chưa khi nào tôi mong là thời tiết sẽ chóng lạnh như bây giờ. Hãy bỏ băng qua mùa thu để đông trở về với gió mưa, với rét buốt. Tôi sẽ mặc chiếc áo Gia đan và giã từ nỗi cơ hàn luôn quấy phá hằng năm. Ôi, ấm áp biết chừng nào nếu người ta được mặc chiếc áo do tình nhân đan cho!
Tôi nắm đôi bàn tay Gia với ý nghĩ mười ngón mát lạnh ấy chẳng khác mấy đôi tay của những người nghệ sĩ tạo hình. Lá trong vườn giao động, như những giác quan trong người tôi đồng loạt tỉnh thức. Bồi hồi, xao xuyến. Chúng tôi hôn nhau và môi rời ra khi những con dơi đập cánh ngang qua làm rạn vỡ cái thời khắc cô đọng niềm hạnh phúc. Ba cây hương đã tắt. Trời không có trăng. Chiếc áo trắng Gia mặc cơ hồ như có tráng lân tinh, như cả triệu con đom đóm vừa quây quần tụ lại. Một thứ sắc màu rất hoang đường.
– Răng không thử đề nghị chở Gia đi chơi?
Gia nói. Nhỏ nhẹ, gió thoảng. Khuôn mặt nửa khuất lấp sau tóc phủ rối, nửa bày ra nét đẹp trắng xanh của một nhan sắc mà suốt ngày tôi vọng tưởng không nguôi.
– Đi những đâu?
– Chỗ mô cũng được, bị cấm cung cả ngày rồi!
Tôi tới lấy xe đạp dựng bên cây sầu đông, ý thức rõ rệt về nỗi buồn của một kẻ không tiền. Chưa bao giờ tôi mời Gia ăn một ly chè, uống được một cốc cà phê như bao cặp tình nhân khác thường bày tỏ cho nhau. Thầy Huy có lần mượn câu ngạn ngữ của Tây-ban-nha để nói với tôi: “Ngay cả khi trong túi hết tiền, cái mũ trên đầu anh cũng phải đội cho ngay ngắn”. Câu nói đơn sơ, chẳng rắc rối nhưng lắm lúc tôi không hiểu được. Nó nói tới nhân cách, có phải không? Và nhân cách, đó là điều mà tôi chưa từng thấy một ai có được ở thời điểm này. Người cha đi theo Cách mạng, ngày hòa bình trở về nhà hiếp dâm đứa con gái mười sáu tuổi của mình. Người mẹ vị thành niên chưa điên loạn ấy mang đứa con vừa lọt lòng đặt trước cổng chùa và cô không hề biết chùa chiền đã bị giải tỏa, lạnh vắng tiếng chuông…
Có tiếng chó sủa vu vơ trong bóng đêm. Tôi chở Gia thoát khỏi con đường kiệt hai bên trồng chè tàu như trường thành thẳng tắp. Gia nhẹ tựa một kẻ thiếu ăn, và đứa ăn không mấy no như tôi bao giờ cũng lấy gạo cơm để làm đơn vị so sánh. Thật thấp hèn, khốn khó và đáng nguyền rủa. Mối tình của chúng tôi sẽ thơ mộng biết chừng nào nếu được trưởng thành ở một nơi chốn khác. Tôi chia xẻ cùng Gia cái ý nghĩ ấy.
– Một nơi khác? Nơi đó biết có còn đủ đầy hai đứa không?
– Là sao?
– Là khi mình đạt được điều này cũng có nghĩa là mình sẽ chịu mất đi một điều khác.
– Anh sẽ đánh đổi hết mọi thứ để xin chỉ được có mỗi mình Gia.
– Anh nói như một kẻ tư bản chính hiệu. Anh hiện đang có những gì?
– Ừ, anh vô sản, anh trắng tay, anh tham sân si. Một tấm lòng vàng thì chẳng làm nên cơm cháo gì!
Tôi thở gấp khi đạp xe lên triền dốc. Mệt mỏi, già nua, cực lòng. Tuy vậy tôi muốn chở Gia đi tới một nơi xa xôi, quạnh quẽ. Tôi sẽ rã rời đôi chân, sẽ kiệt quệ sức lực tuổi xanh và rồi tôi sẽ ngã người xuống một bãi cỏ hoang liêu, ngữa mặt nhìn lên trời cao hấp hối ánh sao. Ba tôi kể, đêm Trường sơn bầu trời đẹp lạ lùng. Sao lấp lánh, sáng không đồng đều như số phận của mỗi một con người. “Bố mừng vì con còn đeo đuổi việc học mà không đi lính cầm súng cho Ngụy…” Và sau đó, sau đó là tiếng khóc tức tưởi không nguôi của em tôi. Tôi chẳng rõ bây giờ nó ở đâu? Hôm chia tay nó đóng bộ tịch cứng rắn: Em đi giang hồ, em xuôi Nam. Đừng lo cho em, con gái thời nào cũng lợi thế hơn bọn đàn ông con trai. Em bán bia ôm, em làm thợ mát-xa đấm bóp, em làm vũ nữ thoát y, em làm đĩ, em đi khách cho bọn Việt kiều hồi hộp…
Mặt nó lạnh căm, trân tráo; trong khi tôi không cầm được nước mắt. Chưa bao giờ trong tôi nổi cộm sự hận thù bằng lúc đó. Tôi muốn có được lòng can đảm, tôi muốn hóa thân thành một đứa vô học, nắm con dao trong tay run và chém vung vãi lên người bố tôi. Chiếc xe đò rời bến An cựu, mang em tôi đi trong thinh lặng nhạt nhòa. Tôi đứng chết sững với một niềm tủi hổ dâng lên, vô bờ. Tôi chửi tôi: Địt mẹ mày, thằng khốn nạn! Bố mẹ mày! Thằng không đủ tư cách làm anh…
Người ta gọi đây là đồi Từ hiếu, hay đồi Vọng cảnh? Tôi cũng không nhớ rõ. Hay là đồi Thiên an? Núi Ngự bình? Phương hướng, địa hình địa vật, tôi mù mờ khuấy quên. Sương muối ở đâu tới, dồn tụ trên hàng thông luôn đứng dáng mặc niệm, để phả xuống người chút gai lạnh, ẩm ướt. Chiếc áo Gia mặc lẫn vào dòng sữa đang trôi ấy và nó cho tôi cái ảo giác chúng tôi không hề là của nhau. Hoặc nó ngụy tạo ra, đây là một trò chơi trốn tìm, cố đào xới sự thật đang ẩn khuất. Tôi buông chiếc xe đạp và ngã cùng nó xuống bãi cỏ rậm. Những bụi mắc cở rùng mình đồng loạt khép lại tất cả mọi cánh lá. Nếu em tôi chết đi, kiếp sau em không thể hoá thân thành loài hoa trinh nữ bé dại này. Tội nghiệp em, mà cũng tội nghiệp cho cái ý tưởng của tôi. Tôi mở trừng mắt cố tìm kiếm một vì sao. Đất trời giao thoa liền lạc trong vũng mờ không biên giới, đậm đặc. Một bóng trắng hiện ra, án che, để sau cùng võng mô tôi đóng kín lại. Tôi ngửi mùi tóc Gia, hôn hít. Tôi ôm siết cơ thể Gia đang phủ lấp người tôi. Tôi lặng chìm trong thứ cảm xúc mình được chìu chuộng, được săn sóc, được vuốt ve, được thương yêu. Một dòng nước ấm, trơn nhờn vụt bắn ra khỏi cơ thể. Tôi rên lên, mường tượng tới tấm lưng trần của bố tôi, tới bàn tay thô bạo bịt kín miệng mồm em tôi và sau đó tinh dịch cũng như nước mắt đồng loạt chảy. Cả hai dòng cùng một cội nguồn tuôn lai láng…
Đám tang thầy Huy đơn sơ, lặng lẽ. Trước ngày thầy chết ít hôm, tôi có đến thăm, nhìn mặt lần cuối người đàn ông luôn đặt nặng vấn đề sĩ diện, nhân cách lên trên hết mọi thứ. Thầy hỏi: Bạn coi mình là con người hay thú vật? Tôi cúi đầu, nhìn cái bô mạ kền móp méo trốn dưới chân giường xiêu vẹo. Tôi là chiếc giường tre hay cái bô dơ bẩn kia? Tôi tự hỏi. Nếu tôi thú vật và thầy yếu lòng đánh mất sĩ diện, có thể tôi đã dìu thầy qua được cửa ải của thần chết. Chỉ cần tôi năn nỉ bố tôi, lạy lục cả tơi lẫn nón ông đảng viên thâm niên ấy, họa may ông sẽ khoan hồng giúp thầy Huy nhập viện, diện cán bộ. Mà cũng không chắc, đôi khi cái chết nó giúp người ta nhiều điều, nếu người ta quan niệm sự vắng mặt ở đời sống này là chuyện cần thiết chẳng hạn.
– Khám ở phường họ bảo suy dinh dưỡng, chẳng có gì phải bận tâm.
– Bạn như người trút hết sinh lực vào một chuyện bí ẩn nào đó. Hoặc không thì bạn là kẻ vướng tật thủ dâm… Trầm kha, nhợt nhạt…
Tôi cười:
– Được dạo chơi cùng lần với thầy thì thú biết mấy!
– Đừng đùa. Bạn tin tới thế giới siêu hình không? Bạn có bao giờ biết thắp hương cúi đầu khấn nguyện người khuất mặt? Hay bạn là đứa duy vật?
Buổi nói chuyện cuối cùng đó không diễn ra lâu. Gia đình thầy muốn tái lập sự lặng yên trong gian nhà nhỏ bé ngột ngạt ấy. Tôi đi về, suy nghĩ những điều thầy nói và nghiệm ra đôi khi người ta chẳng nên tạo cho mình cái sĩ diện hảo. Chẳng ích gì. Vì thế tôi làm mặt dày mày dạn, đội mũ không ngay trên đầu, mạnh bạo nện gót đến tìm bố tôi. Tôi đói khổ triền miên và tôi muốn có chút tiền lận lưng, bồi dưỡng cái thân thể nhợt nhạt túng thiếu trầm kha.
Bố không mấy vui khi thấy tôi. Ghẻ lạnh là đằng khác. Bên bờ sông, những đứa con riêng của ông đang câu cá, bọn nó tuồng như có một ngôn ngữ dị biệt để mang ra cợt đùa, những lời nghe lạ tai. Hai ba đứa thảy đều chửi thề không ngượng mồm và những mái đầu xanh ấy chẳng thể hình dung ra đứa ăn mặc rách rưới đứng ngó láo liên kia là anh cùng cha khác mẹ với chúng. Đây là lần đầu tôi đến tìm ông, nhưng sao cảnh vật ở nơi nầy trông quen thuộc quá. Lý ra chỗ kia có đặt để chiếc ghế thấp, lý ra nơi nọ phải có một lùm cây bao phủ cái trang thờ màu đỏ. Sao lại đốn chặt, khai quang tới độ trống trải lạ lùng?
– Mày không nên đến đây với một điệu bộ khẩn trương kiểu quái gỡ như vậy. Cầm chút tiền này và lần sau gặp chuyện hệ trọng nào thì hẳn tìm tao ở cơ quan.
Bố tôi nói. Ông bước sát vào người tôi như ngầm xua đuổi. Có thể ông đã thay tên đổi họ và thú thật tôi không tài nào nhớ nổi cái bí danh của ông ta. Chức tước ông khá lớn, ở ủy ban quân quản thành phố hay bí thư quái quỉ gì đấy tôi chẳng bận tâm. Cầm nắm tiền trong những ngón rịn đổ mồ hôi, tôi hiểu rõ buổi nhờ vã hôm nay là lần duy nhất và sau cùng.
Tôi cúi đầu bước vội khỏi vuông sân như đang mất dần sức hút, trọng lực. Vẫn là hàng rào hai dãy thẳng thớm chạy dài ra đường nhựa. Vẫn là quán bán chè nằm đầu ngõ với đám hoa dâm bụt đang đỏ thắm một cách riêng tư.
– Anh ăn chè hay uống nước chanh?
Đứa con gái chào đón. Nó khoảng tuổi mười hai. Nhỏ nhắn, dễ nhìn, nhanh miệng lẹ mồm. Nó biết phụ giúp gia đình để lao động kiếm ra đồng tiền. Nó hơn đứa lớn sầm đầu này mọi mặt. Tôi ngơ ngáo, bó tay quẫn trí không biết cách kiếm bạc và luôn dật dờ như một kẻ mộng du.
– Cho anh ly nước chanh.
Bóng nắng ghim xuống thân tôi lỗ chỗ những đốm tròn. Mái tôn che chắn phiá trên như từng mang thân ra hứng đạn. Tôi ngồi đếm những tờ giấy nhàu nát, chẳng mấy thơm tho. Có phải là đồng tiền nào cũng đều dơ bẩn? Tôi chẳng biết. Tôi đưa hết cho đứa con gái. Nó kẹp tóc đuôi ngựa, mặt có vẻ già so với vóc vạc nhỏ nhít.
– Mô có nhiều như ri. Chỉ là ly chanh đá thôi mà.
– Em hãy cầm hết đi, để rồi nói cho anh nghe một chuyện.
Đứa con gái ngập ngừng. Nó nhìn tôi như nhìn một cải tạo viên ngày đầu được phóng thích khỏi trại tù vĩ đại. Nửa thương hại, nửa nghi ngờ. Tọc mạch, khó hiểu.
– Anh muốn biết chuyện chi? Chị Hoa của em thì đi lấy chồng đã hơn ba tháng rồi.
Ly nước chanh hà tiện đường làm tôi nhăn mặt. Nó chua chát tới độ đáng ngờ vực vị giác mình.
– Em biết căn nhà mang số 33 ở trong xóm không?
– Có phải là cái nhà đã bị cách mạng chiếm đoạt tịch thu không?
– Đúng là em có biết. Em thử nhớ trước đây, trong căn nhà ấy có một người con gái tên là Công tằng Tôn nữ Hoàng Gia…
– Lạ lùng chi. Họ lần lượt kẻ trước người sau vượt biển hết rồi. Nghe đồn…
– Đồn đãi chuyện chi?
– Chuyến cuối, chiếc ghe chở họ bị đắm chìm…
– Em tin lời đồn nhảm ấy không?
– Tin. Có nhiều đêm mắc đái mà không dám ngồi dậy. Nghe có tiếng ai khóc thút thít thật gần, nghe bụi chè tàu ngoài nớ run lẩy bẩy như có ai lướt chạy ở trên.
Tôi nhìn những ngón tay đè lên tim của đứa con gái. Ngó nét mặt vừa biến đổi của nó để rồi cảm nhận rõ ràng ly chanh đá đã đông cứng trong buồng ngực tôi, như thanh đao lạnh lẽo vừa đâm thốc vào.
– Anh cũng sợ ma phải không?
– Đời nào. Tại vì em kể chuyện có duyên, hơi bất ngờ. Cám ơn em.
Tôi đi bơ vơ giữa trưa, trơ trụi dưới nắng. Không còn ai thân, tôi tìm tới ngôi mộ mới tinh màu sỏi đá ôm choàng lên thân xác thầy Huy. Tôi gục đầu trước tấm bia xi-măng đang rịn ứa mồ hôi. Tôi nhớ hai câu cổ thi Gia từng đọc lên để đố tôi, mà sau đó tôi đã phải cầu cứu tới thầy Huy, nhờ giảng giải:
“Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu”.
Hai câu này của Vương Bột, dịch thoáng ra: “Đế vương giờ ở nơi đâu? Ngoài hiên sông lớn vẫn sầu lặng trôi”.
Tôi chảy nước mắt. Tôi đau buồn cho Gia đã không có được một nấm mồ. Hoàng Gia ơi, Em đang ở đâu? Đời sống này vẫn sầu lặng cuốn chìm lấy anh.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.