Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 5 Nov 2026



Một Mình, Một Ngựa
Thời kỳ làm báo ở Sài Gòn, tôi vẫn thường hằng năm được đi ra nước ngoài một đôi lần. Hoặc là để thăm viếng, hoặc là đi dự hoặc “cover” một hội nghị nào đó. Vào khoảng cuối năm 69, tôi được ông Tùy viên Văn hóa Tòa đại sứ Mỹ, một bữa tới tòa soạn đưa một bức thơ mời ăn sáng của ông Đại sứ Hoa Kỳ. Hôm gặp gỡ, ông già “tủ lạnh Bunker” mới ngỏ ý rằng “Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đang dự định mời một số nhà báo ở các nước khu vực Thái bình dương viếng thăm Hoa Kỳ nhân dịp ông Nixon sắp sửa có sáng kiến mới về Việt Nam. Ở Sài Gòn qua sự giới thiệu của Tòa đại sứ, Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ gửi văn thư chính thức mời 2 nhà báo VN.” Ông Tùy viên Văn hóa sau đó tiếp lời “Chúng tôi dự định mời ông và ông Phạm Kim Vinh, báo Chính Luận, ông nghĩ thế nào? Sau khi được biết thời gian du hành (suốt tháng 11 năm 1969) không có gì trở ngại nên tôi bằng lòng.
… Làm báo trong những năm cuối thập niên 60 và đầu 70, hàng tuần tôi thường được gặp các ông tùy viên văn hóa của nhiều tòa đại sứ hoặc ở tòa soạn, hoặc trong cácdịp lễ tiết. Riêng ông Tùy viên Văn hóa Hoa Kỳ, không biết vì lý do gì ông ta tỏ ra rất gần gũi với tòa soạn chúng tôi. Tuần nào cũng tới, chuyện gần chuyện xa, cà kê dê ngỗng. Ông là tùy viên văn hóa nhưng trong câu chuyện ông thường đề cập lan man sang nhiều vấn đề … Ngoài tòa soạn chúng tôi, tờ báo của Quân đội, ông ta còn lui tới một số tòa soạn khác nữa (trong nghề nghiệp tôi được biết như vậy). Ông tùy viên văn hóa này hết nhiệm kỳ lại có ông ùy viên văn hóa khác, cứ theo nhau lui tới tòa soạn chúng tôi. Dạo ấy (1969) tòa soạn Tiền Tuyến nằm trong khuôn viên của Cục Tâm lý Chiến đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè, Sài Gòn. Nhà cửa ở khu này là doanh trại cũ của Pháp ngày xưa nên xập xệ; Khi Tùy viên Văn hóa tới nơi thấy tòa soạn của chúng tôi cũ nát nên mới đề nghị nhờ hãng nhà thầu RMK dựng cho chúng tôi một tòa nhà mới. Chúng tôi đồng ý ngay và sau chừng hai tháng, chúng tôi đã có nhà in và tòa soạn mới nằm ngay bên cạnh đài Tiếng Nói Quân Đội, trên khu đất trống còn lại của Cục Tâm Lý Chiến. Hôm ông Tùy viên Văn hóa Mỹ đến thăm trong khu nhà mới, ông ta hỏi tôi “Ông bằng lòng với căn nhà này chứ?”. Tòa nhà của hãng RMK là nhà tiền chế, thường dùng làm nhà kho cho nên rộng thì có rộng nhưng khung nhà, sườn nhà bằng sắt nên gặp cái nắng Sài Gòn, nó nóng lắm. Thấy ông Tùy viên Văn hóa hỏi vậy, tôi nhớ là đã có trả lời “Xin hết sức cảm ơn hảo ý của ông nhưng có điều hơi phiền là đây là nhà kho mà chúng tôi tiếc thay không phải là … hàng hóa”. Vừa nghe nói vậy, ông Tùy viên Văn hóa, lúc bấy giờ cũng đang lau mồ hôi trán, liền đứng dậy nói ngay “để tôi lo tiếp chuyện này”. Tuần sau hãng RMK cho người đến lắp ngay hai cái máy lạnh để cho tòa soạn và nhà in tụi tôi đỡ nóng.
***
Một ông Tùy viên Văn hóa có lòng giúp đỡ tòa báo chúng tôi như vậy, bây giờ lại mời sang Mỹ “thăm dân cho biết sự tình” thì mình phải hết sức mà đáp ứng lời mời Hơn nữa, đối với người làm báo được đi xa cũng giống như cái bình ắc-quy được nạp thêm điện, cho nên tôi đồng ý ngay. Nhận giấy mời, lo thủ tục xong cuối tháng 10 năm 1969, tôi đã sẵn sàng hành lý lên đường. Nhưng chỉ còn dăm ba ngày nữa là lên máy bay, ông Tùy viên Văn hóa Mỹ liền cho biết là có lẽ chỉ có một mình tôi đi. Ông Phạn Kim Vinh phút cuối đã từ chối lời mời. Tôi vội vàng phone cho nhà báo Trương Tử Phòng (tức Phạm Kim Vinh) ở báo Chính Luận thì được ông bạn đồng nghiệp trả lời rằng;
“Hoàn cảnh của tôi nó hơi kẹt. Trên nguyên tắc tôi là nhà báo, là luật sư, nhưng trên thực tế tôi kiếm ăn bằng nghề dạy học. Bây giờ không thể bỏ học trò mà đi được. Tìm mãi mà không nhờ được ai dạy thay. Không lẽ đi du hành về rồi là mất việc. Thôi ông đi một mình vậy nhé”. Thì giờ cấp bách, nên tòa Đại sứ Mỹ không thể mời ai thay thế ông Phạm Kim Vinh. Tôi buồn bã trong lòng quá sức. Đành phải đi một mình. Năm 1991, khi ODP sang Úc tôi được tin ông Phạm Kim Vinh ở miền Santa Ana, Nam Cali. Ngoài việc tiếp tục dạy học, ông còn chủ trương một viện nghiên cứu tình hình Đông Dương và viết báo, in sách đều đều. Công việc xem chừng phấn chấn. Dạo 1992, sang Mỹ chơi, tôi rất lấy làm tiếc là thì giờ ít ỏi, bận rộn nên chưa đến thăm ông được, dù trong lòng rất muốn. Ông Phạm Kim Vinh và tôi, ngoài tình đồng nghiệp còn có thêm một cái tình chiến hữu. Chúng tôi cùng xuất thân trường Võ khoa Thủ Đức (tôi khóa 2 – P.K. Vinh khóa 3). Cùng đi hành quân tác chiến bên nhau trong nhiều chiến dịch trước 1954 ngoài chiến trường Bắc Việt. Vào Nam, “trái đất vần xoay” thế nào mà chúng tôi lại gặp nhau ở chốn “trường văn trận bút”. Nếu được gặp ông năm 1992, dù gần hai chục năm mới gặp lại nhau, thế nào tôi cũng phải trách ông bạn một câu. Nặm ấy (1969) ông né hay quá, tài quá, cho nên tôi phải đi Mỹ một mình. “Một mình một ngựa” trong cái vòng vây của bao nhiêu là ác ý, thị phi. Nếu có chiến hữu tôi bên cạnh, tôi đâu có vất vả, bơ vơ đến vậy.
Vị Đắng
… Tôi nhớ là đã lên máy bay đi Mỹ vào ngày 2 tháng 11 năm 1969. Ông Tùy viên Văn hóa Tòa đại sứ Hoa Kỳ ân cần đưa tiễn tại sân bay Tân Sơn Nhất. Một Thủy quân Lục chiến Mỹ đi theo ông Tùy viên Văn hóa đã cẩn thận khoác hai cái “name tag” trên tay xách valise và túi hành lý của tôi; trên name tag có đề “official state guest”. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời ký giả rách ở xứ chậm tiến là tôi được xuất ngoại trên chuyến bay PAN AM hạng nhất. Hạng nhất của hãng hàng không danh tiếng PAN AM tất nhiên là đầy đủ tiện nghi. Chỗ ngồi rộng rãi, thức ăn sang trọng, các phương tiện thính thị sẵn sàng, sách báo đầy đủ … luôn luôn có tiếp viên hàng không ở gần bên để thỏa mãn từng nhu cầu nhỏ nhặt của hành khách. Nhưng chưa có lần xuất ngoại nào tôi cảm thấy bơ vơ, lo lắng như lần này. Trước khi lên đường đọc một số tài liệu, sách báo mới phát hành tôi nhận thấy đây là lúc phong trào chống chiến tranh VN lên cao nhất ở Hoa Kỳ. Ngay sớm mai đây ngày 3 tháng 11.1969, Tổng thống Nixon sẽ đọc một bài diễn văn hết sức quan trọng về đối sách mới của Mỹ về vấn đề VN. Tôi cũng được biết rằng trong tháng 11 này vào khoảng trung tuần sẽ có một cuộc biểu tình vĩ đại ở Hoa thịnh đốn của phong trào phản chiến. Vấn đề VN đang là thời sự nóng bỏng ở Hoa Kỳ. Cuộc chiến VN đang là trung tâm tranh cãi của dư luận Mỹ. Trong phái đoàn báo chí Thái bình dương tới thăm viếng Mỹ lần này, trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy, chỉ có mình tôi là ký giả VN. Tôi sẽ làm ăn ra sao, nói làm sao trong trường hợp vô cùng phức tạp ấy.
Tôi cảm thấy phức tạp vì từ trong thâm tâm, tôi có những vấn đề mà bản thân chưa hiểu nổi. Người Pháp có một câu thành ngữ mà tôi cho là hết sức đúng: “Cái gì mà mình quan niệm được thì mình nói ra thông suốt” (Ce que l’on concoit bien, s’énonce clairement). Bây giờ trong cuộc chiến VN, có nhiều vấn đề mình không quan niệm được. Người Mỹ đem hơn nửa triệu quân tham chiến ở VN, chi bao nhiêu tỷ đô la, chết hàng mấy chục ngàn quân sĩ … để chỉ thực hiện sách lược “đánh không cần thắng” (no win concept). Sách lược “đánh không cần thắng” đó chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara, ông trùm của Pentagon nói ra các nhà quân sự Mỹ ở VN cứ thế mà thi hành. Theo sự suy luận nhỏ hẹp của tôi, đánh mà không cần thắng thì đánh làm gì? Như vậy thì sự tham chiến của Mỹ ở VN tự thân không phải là một cuộc chiến theo nghĩa thông thường nữa mà nó là một phương tiện, một cơ hội để Mỹ “chơi” một nước cờ nào đó cao hơn, rộng hơn trên bàn cờ quốc tế. Nước cờ ấy là nước cờ gì? Biến diễn ra sao? Năm 1969 tôi chỉ mơ hồ nhận ra như thế mà không khái quát hóa nó được. Tôi có cảm tưởng rằng Mỹ không có ý định đánh thắng Cộng sản Bắc Việt – có khi còn “nuôi” Bắc Việt là đằng khác. Nếu không có CS Bắc Việt, lấy gì cản ngăn bước chân xâm lăng bành trướng của Trung Cộng xuống Đông Nam Á bây giờ đây. Cái đáng lo của Mỹ là Trung Cộng, không phải là CS Bắc Việt. Mỹ cũng biết là Trung Cộng và CS Bắc Việt là đồng chí, là anh em nhưng thực tế đó là anh em thù địch (frères ennemis). Phải làm sao cho tính cách thù địch kia càng ngày càng lớn lên thì Mỹ mới dành được cái thế “ngư ông” trong cảnh trai, cò giằng xé. Trong chiều hướng như vậy thì trên nguyên tắc CS Bắc Việt là đối thủ của Mỹ, nhưng trên thực tế về lâu, về dài CS Bắc Việt là đồng minh của Hoa Kỳ. Còn miền Nam VN, trên nguyên tắc là đồng minh của Hoa Kỳ, nhưng trên thực tế chỉ là một con cờ chiến thuật trong một thời gian, không gian nào đó. “Bỏ con săn sắt, bắt con cá rô” hoặc là hi sinh một yếu tố chiến thuật để đạt một mục tiêu chiến lược đó là điều thường xảy ra trong binh pháp. Ở VN trong những năm quân Mỹ kéo sang, có bao nhiêu sự việc xảy ra trên các địa hạt quân sự, chính trị, xã hội …việc nọ chưa xong lại tiếp diễn việc kia, khiến người miền Nam thấy ngổn ngang trăm mối như lạc vào một khu rừng rậm, “chỉ thấy cây không thấy rừng”. Bình tâm nghĩ lại thấy có những sự việc không làm sao giải thích được. Về phương diện quân sự, ai cũng phải công nhận sự tinh vi nhạy bén của hệ thống tình báo, điệp báo Hoa Kỳ, cũng như dụng cụ do thám của Mỹ cũng được coi là tối tân hiện đại nhất. Tại sao trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, CS Bắc Việt đưa vô hàng bao nhiêu sư đoàn, tập trung bao nhiêu là quân lương vũ khí mà Hoa Kỳ không mảy may hay biết là cớ làm sao? Tình báo quân đội miền Nam yếu kém, điều đó cứ chấp nhận như vậy đi, nhưng hệ thống tin tức của Hoa Kỳ thì nổi danh là cái kim sợ chỉ, con sâu cái kiến cũng khó thoát khỏi mắt thần điện tử thì tại sao lại xảy ra cuộc tấn công đột ngột dường kia? Nhưng kỳ lạ hơn là bắt đầu cuộc tấn công của CS, các thành phố, các thị trấn quân CS đều tràn ngập, nhưng quân đội Mỹ trong những ngày đầu của cuộc tấn công Mậu Thân, đều án binh bất động, coi như không nghe, không biết, không can dự vào cuộc chiến này. May mà quân lực miền Nam sau cơn choáng váng ban đầu, gượng lại được nên mới dần dần nắm vững tình thế, đẩy lui và tiêu diệt VC trên khắp các chiến trường. Cũng nhờ hành động “bỏ phiếu bằng chân” của đa số đồng bào miền Nam, khi chiến sự lan tràn, lũ lượt kéo nhau về vùng đất Quốc gia nên VC không còn chốn nương thân và cũng không tìm ra lương thực. Chỉ sau khi miền Nam đã đứng vững cuộc tấn công của VC đã gần tàn, quân đội Mỹ mới tiếp tay cùng quân lực miền Nam tảo thanh cú chót những cứ điểm còn lại của VC (đặc biệt ở Huế và ở cổ thành Quảng Trị). Cho đến nay, trên khía cạnh quân sự cuộc tấn công Mậu Thân của VC vẫn còn được che phủ bởi bức màn khói của hồ nghi đầy huyền hoặc. Trên phương diện chính trị, người Mỹ, quân đội Mỹ tới miền Nam là để bảo vệ “tiền đồn của Thế giới Tự do”. Nhưng từ khi quân đội Mỹ kéo sang (1964) thì chưa bao giờ nền chính trị miền Nam lại nát đến thế. Miền Nam có tư cách một quốc gia chủ quyền là thời Đệ Nhất Cộng Hòa thời kỳ anh em ông Ngô Đình Diệm nắm quyền. Người Mỹ muốn đem quân vô miền Nam, anh em ông Diệm không đồng ý, chỉ yêu cầu Mỹ giúp vũ khí, giúp trang bị và giúp ngân sách … không muốn nhờ người Mỹ đích thân sang miền Nam đánh hộ. Phó tổng thống Mỹ L. Johnson năm 1961 sang miền Nam yêu cầu làm việc này nhưng anh em ông Diệm quyết giữ vững lập trường, vì nếu quân đội Mỹ hiện diện ở VN, sẽ khó ăn khó nói biết bao nhiêu đối với quốc dân và quốc tế. Nhưng như mọi người đã biết, ít có nước nào, người nào cưỡng được ý muốn của Hoa Kỳ. Người ta thường nói người Mỹ vụng về, người Mỹ ngây thơ nhưng bản thân tôi, tôi lại thấy người Mỹ rất tài tình, rất thực dụng và đặc biệt rất quyết liệt trong việc thực hiện đường đi nước bước của họ. Anh em ông Ngô Đình Diệm ngăn cản ý đồ của Mỹ ở miền Nam thì anh em ông Diệm bị triệt tiêu đi. Anh em ông Diệm mất đi, chủ quyền miền Nam cũng mất theo. Các chính phủ sau Đệ Nhất Cộng Hòa ở niền Nam, ít hay nhiều, rộng hay hẹp, đều nằm trong bàn tay thao túng của Hoa Kỳ, Mỹ đem sang bao nhiêu quân, chính phủ miền Nam không được hỏi ý kiến. Giả thử một mai đây, người Mỹ có rút quân về thì miền Nam cũng không có khả năng gì ngăn cản được. Những ý kiến ấy, những câu hỏi ấy cứ dồn dập hiện ra rong đầu, tôi không biết làm sao giải thích được. Càng nghĩ, càng thấy cái vị thế của người Việt Quốc gia sao nó vô cùng phức tạp. Chúng ta có chính nghĩa, chắc chắn là thế, nhưng chúng ta không có chính danh. Không có chính danh nên chúng ta dễ bị hiểu lầm, cuộc chiến đấu của chúng ta thiếu vắng đồng minh, ít người hỗ trợ. Ây là chưa nói đến những kẻ “thừa nước đục thả câu”, chụp cho chúng ta những chiếc mũ bẩn nhơ, hoặc là gán cho chúng ta những niêm hiệu vô cùng thấp kém. Cổ nhân đã nói “danh bất chính tất ngôn bất thuận” … chúng ta ăn làm sao, nói làm sao bây giờ.
… Chợt có một tiếng nổ nhỏ gọn và khô. Người nữ tiếp viên hàng không tóc vàng xinh đẹp vừa mở một nút chai champagne, đang cúi đầu rót chất rượu vàng óng ánh xuống những chiếc ly pha lê cao cẳng và nói lời chúc tụng “chuyến đi may mắn”. Tôi nâng ly rượu uống nhưng không hiểu sao chỉ thấy vị đắng nơi đầu lưỡi. Chuyến đi này như vậy chắc là không may mắn rồi. Đây mới là chuyến bay đầu. Sẽ còn bao nhiêu khó khăn phức tạp khác chờ đợi mình trong những chuyến bay kế tiếp. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”.
Aloha – Hawaii
Sau chuyến bay thẳng trên 10 tiếng đồng hồ từ Đông sang Tây chiếc PAN AM đáp xuống sân bay Honolulu vẫn là ngày 2 tháng 11.1969. Vẫn còn đây Aloha thân quen. Dòng chữ Aloha uyển chuyển và nhấp nháy khắp nơi như một lời chào mừng thân ái của Hawaii. Chào mừng là Aloha, từ biệt cũng Aloha, tôi yêu anh cũng là Aloha. Hình như cuộc sống gần gũi với thiên nhiên tươi tốt, với sóng biển quanh năm vỗ về, với hàng dừa soi bóng, với những vũ điệu hồn nhiên, với cá tươi dưới biển, chim thú trên rừng đã khiến cho người dân nguyên sơ trên hòn đảo giữa Thái bình dương sống giản đơn, đầy hạnh phúc. Không cần phải nói nhiều. Ngôn ngữ là thừa thãi. Hãy vui đi, ca hát đi, nhảy múa đi – Aloha – Aloha – Aloha … Ở đâu cũng là Aloha. Nó trở thành đặc điểm không thể lẫn của Hawaii.
Ngày tôi còn nhỏ, là một tên học trò ở quê ra tỉnh học, nghe nói Hạ uy di (phiên âm của Hawaii) là một cõi thiên đường hạ giới. Những tiếng đàn Hạ uy di réo rắt bổng trầm như vang âm của một hội vui không dứt. “Yêu nhau đi chiều hôm tối rồi”. Tôi còn nhớ bài hát nổi danh của Hawaii: Adieu Hawaii, Je pars aujourd’hui pour toujours, mais mon âme ravie, te dois les plus beaux jours. (Từ biệt Hạ uy di – Hôm nay tôi ra đi là mãi mãi. Nhưng tâm hồn tôi rạng rỡ vì Hawaii tôi mới có được những ngày vui). Mười năm trước năm 1959, tôi lần đầu tiên đã tới đảo Hawaii này. Ngày ấy tôi là một sĩ quan được đi sang Mỹ học về thông tin báo chí. Đến hòn đảo địa đầu của nước Mỹ trên Thái bình dương, nhìn những thiếu nữ Hawaii nhảy múa với xiêm y rất ngắn, khoác những vòng hoa vừa như một thứ điểm trang, vừa như một thứ y phục thô sơ che hờ hững những khuôn ngực trần rắn rỏi, nhìn hàng đống cá tươi, hàng núi trái cây, tôi đã viết trên bưu thiếp gửi về cho một người bạn ở Sài Gòn, hai câu thơ chợt đến của Đinh Hùng:
Thèm ăn một chút hương man dại
Và ngủ như loài muông thú kia.
Tôi đang là một gã trai 30 tuổi, đang thèm ăn mọi thứ hoa tươi trái ngọt trên đời. Đến Hawaii thấy vô cùng nao nức. Hoa trái thơm ngon quá nhưng đành đứng xa mà ngắm vậy thôi. Phải lượng sức mình. Cái gì ở đây cũng phải chi khá nặng. Hawaii là đất dành cho du khách, loại sĩ quan lem nhem như tụi tôi làm sao đủ khả năng du hí ở đây. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, sĩ quan đi học được đồng minh Huê Kỳ cấp perdiem một ngày 5 đô, nhà nước gửi thêm cho mỗi ngày 1 đô nữa là 6. Mỗi đô đối với sĩ quan đi học là quý như vàng. Phải ăn tiêu cho khéo, nếu không là rách mướp. Do vậy nên đến đất du lịch Hawaii này, trong khi chờ máy bay đi vào nội địa Mỹ, chúng tôi nhịn thèm ở trong BOQ của quân đội Mỹ, ban ngày rủ nhau thuê chung một chiếc taxi đi “sightseeing” loanh quanh trong thành phố. Đến một khu bãi biển rất đẹp, những làn sóng biển nhấp nhô ôm làn cát trắng phẳng lì, những hàng dừa cao lả ngọn, những bungalow kiểu thổ dân nằm thấp thoáng dưới vòm cây … xa xa những biệt thự, những lâu đài nằm lẩn khuất trong một vùng cây lá um tùm đầy hoa thơm cỏ lạ. Anh tài xế taxi chợt ngừng xe. “Tới luôn đi bác tài”, tài xế người Nhật bản (ở Hawaii người gốc Nhật định cư đông lắm) giơ tay “Ngừng thôi, vô nữa là phiền phức. Police nó hay kiểm soát lôi thôi, nó không muốn kinh động đến khu bãi biển đặc biệt này”. – “Đây là đâu?” – “Waikini beach”. À ra đây là bãi biển vang lừng thế giới, đẹp nhất Hawaii và cũng là nơi sang trọng nhất, dành cho loại khách giàu sang vương giả. Loại khách làng nhàng như tụi tôi thì nên tránh cho xa.
Năm nay (1969) sau mười năm xa cách tôi lại đến Hawaii lần nữa. Vừa bước chân xuống phi trường Honolulu đã có một nhân viên ngoại giao sở tại đến tìm và giúp lấy hành lý, làm thủ tục nhập cảnh rất nhanh, rất tiện. Trên một chiếc xe Falcon màu đen tôi đang đi trên con đường tiến đến Waikini beach. Phong cảnh vẫn như xưa, nhưng tâm hồn tôi hoàn toàn khác lạ. Theo sự hướng dẫn của nhân viên ngoại giao, tôi được biết tất cả những nhà báo “khách mời” trong những ngày ở lại Hawaii, sẽ trú ngụ tại Hilton Hotel, một trong những khách sạn hàng đầu của Mỹ, trên bãi biển Waikiki danh tiếng. Mười năm trước tôi mơ ước được đặt chân đến đây, bây giờ tôi sắp sửa tới trung tâm Waikiki, mà trong lòng thấy dửng dưng nguội lạnh. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Lòng tôi đang ngổn ngang trăm mối. Mười năm trước, tôi 30 tuổi: “Lòng người trai 30, vui như trẻ lên 10, yêu như tuổi 17, buồn như sắp 50″. Năm nay tôi vừa qua tuổi 40. Tuổi cổ nhân gọi là bất hoặc “tứ thập nhi bất hoặc”. Bất hoặc là không còn điều gì huyền hoặc nữa. Hay là ở tuổi này điều gì cũng thành huyền hoặc cả. Tôi đang ở trong trường hợp thứ hai. Huyền hoặc vì ngày mai đây 3 tháng 11 năm 1969, ông Nixon sẽ đưa ra đối sách mới nào về cuộc chiến VN? Miền Nam VN, quân đội miền Nam mà tôi là một thành viên rồi sẽ ra sao? Bản thân mình gia đình mình, đã một lần lìa bỏ quê hương miền Bắc, rồi sẽ đi đâu, về đâu?
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Rút Lui, Bỏ Chạy
Nhà báo Thái bình dương (Pacific journalists) tới Mỹ cuối năm 1969 gồm đại diện báo chí khối ASEAN (Thái lan 2, Phi Luật Tân 2, Nam Dương 2, Mãi Lai 1, không thấy đại diện Tân Gia Ba), các quốc gia Bắc Á (Nhật Bản 2, Nam Hàn 2, Đài Loan 1, Hồng Kông 1), của các nước khu vực châu Đại dương (Úc 1, Tân Tây Lan 1, Fiji 1) và đại diện của Đông Dương (Việt Nam 1, Lào 1, không có đại diện của Cam Bốt vì thời gian này ông Sihanouk không “chơi” với Hoa Kỳ). Lúc này mối giao hảo giữa Mỹ và Trung Hoa chưa được nối lại nên chỉ có đại diện Đài loan mà không có đại diện của lục địa Trung Hoa. Chiến tranh Việt Nam đang giữa thời kỳ căng thẳng. Trung Hoa lục địa đang dùng uy thế của mình trong thế giới thứ ba, bây giờ được cải danh thành các nước Phi liên kết (nonaligned countries) ra sức lên án sự can thiệp của Mỹ và các nước đồng minh vào cuộc chiến Việt Nam. Sự thăm viếng Mỹ của các nhà báo Thái bình dương lần này, theo tôi nghĩ cũng là một trong những biện pháp làm giảm nhẹ đi phần nào cái áp lực tuyên truyền của khối Cộng sản và thế giới thứ ba đối với tình hình chiến cuộc Việt Nam lúc đó. Chặng đầu tiên họp mặt của nhà báo Thái bình dương là Hawaii. Từ đây chúng tôi bay vào đất Mỹ và đi thăm 10 tiểu bang tiêu biểu của Hoa Kỳ. Chương trình do Bộ Ngoại giao Mỹ sắp xếp trước và phái đoàn được giám đốc Đông Nam Á vụ của Bộ Ngoại giao hướng dẫn. Niên trưởng của các nhà báo Thái bình dương, Đại tá A. R. của Thái lan được các nhà báo nhất trí cử làm trưởng đoàn. Sau một ngày đến Hawaii, đêm 3 tháng 11.1969 tôi đã chú ý lắng nghe bài diễn văn hết sức quan trọng của Tổng thống Mỹ Nixon về đối sách mới của Mỹ về vấn đề VN. Đây là lần đầu tiên danh từ Việt Nam hóa Chiến tranh (Vietnamisation) được nhắc tới. Đây cũng là lần đầu tiên kế hoạch rút quân cụ thể của Mỹ được đề ra. Như vậy là đòi hỏi của phe phản chiến đã được đáp ứng, yêu cầu rút quân của phe chống đối chiến tranh VN trong và ngoài nước Mỹ đã bước đầu thực hiện. Tổng thống Nixon đã cho thấy ý hướng giải kết của Mỹ rút chân ra khỏi chiến trường VN. Hai bên đang đọ sức, chiến cuộc đang hồi gay cấn bỗng nhiên một bên đơn phương rút quân. Tuy trong bài diễn văn ông Nixon có nói đến vấn đề giám sát quốc tế, đến vấn đề tuyển cử tự do nhưng đó là những chuyện có thể có mà cũng có thể không trong tương lai, còn chuyện rút quân là chuyện hoàn toàn có thực, do vị tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ vừa công khai tuyên bố và sẽ được thi hành răng rắc trong những ngày sắp tới. Sự rút quân này được các nhà chính trị đặt cho một cái tên rất đẹp là “Việt Nam hóa Chiến tranh”, nhưng thực tế nó là rút lui, là bỏ cuộc chứ còn gì nữa. Trước khi là nhà báo, tôi là người lính, người lính di cư bỏ quê hương miền Bắc vào miền Nam sau khi đất nước phân chia năm 1954. Vào đến miền Nam là dựa lưng ra biển rồi, thua nữa thì chạy đi đâu đây. Phú Quốc chăng? Không được. Là một người lính nhưng tôi hiểu rằng chiến tranh nào cũng là một sự nối dài của chính trị (la guerre est une continuation de la politique – Clausewitz). Cuộc chiến này đâu phải là nội chiến mà chính là một cuộc đối đầu giữa hai phe tư bản và cộng sản. Hai anh đầu sỏ Mỹ – Nga tuy có nhiều mâu thuẫn căn bản nhưng đâu dám đụng nhau. Đụng nhau là tận thế, là cùng xuống lỗ. Cho nên để giải quyết tranh chấp, hai phe cần phải có những chỗ “xì hơi”. Việt Nam ta, khốn nạn thay là một chỗ “xì hơi an toàn” (soupape de sécurité) cho thế giới. Việt Nam chiến tranh để cho thế giới an toàn. Hay nói một cách khác, Nam Việt (hay Bắc việt) nhìn cho kỹ, chỉ là một con cờ di động trên bàn cờ quốc tế. Đã gọi là quân cờ thì chúng ta chỉ thụ động di chuyển theo bàn tay đặt để của người chơi. Nước cờ nào đang chờ đợi chúng ta bây giờ đây?
Mười năm trước khi học báo chí ở Hoa Kỳ, trong môn học Đường hướng Hoa Kỳ trong quan hệ thế giới, một giáo sư Mỹ đã lạnh lùng xác định: “Đường hướng chính trị của chúng ta là buôn bán (mercantile policy)”. Đường hướng ấy cộng với tinh thần thực dụng (pragmatism) sẵn có trong dòng máu của những người tha phương cầu thực miền Tân thế giới nên người Mỹ rất quyết liệt trong vấn đề thực hiện chính sách của mình. Hơn nữa ngay từ sau đệ nhị thế chiến, trước hơn ai hết, nước Mỹ đã dẫn đầu thế giới về môn tương lai học (futurism) qua Hudson Institute với bộ óc siêu việt Herman Kalm. Môn học này nghiên cứu xem trong thời gian ngắn hạn (30, 50 năm) xã hội loài người sẽ có khuynh hướng ra sao? Sẽ đi về đâu? Những dữ kiện nghiên cứu về tương lai này là nền tảng cho việc đặt định kế hoạch đối nội cũng như đối ngoại của Hoa Kỳ.
Theo tài liệu mà tôi được đọc đâu đó, thì chính quyền Mỹ nhiều khi cũng chỉ là cơ quan thi hành. Những người đặt ra kế hoạch (policy maker) mà chính quyền Mỹ phải tuân theo luôn luôn nằm trong bóng tối. Người ta cho rằng Ủy ban Tối cao đặt ra kế hoạch nằm đâu ở Wall Street, dinh lũy của giới tài phiệt nắm trọn đầu mối kinh tế Hoa Kỳ. Một trong những bộ óc đặc biệt của Ủy ban Tối cao đặt ra kế hoạch được đưa ra công tác với chính quyền Mỹ hiện thời là H. Kissinger. Bây giờ (1969), H. Kissinger là cố vấn an ninh quốc gia cho Tổng thống Nixon. Trước đó H. Kissinger là cố vấn cho nhà tỉ phú Rockefeller. Như vậy, đường hướng của chính phú Mỹ đưa ra, nhất là dưới tay nhà chính khách lão luyện Nixon, ít khi nào sơ choáng. Nó phải nhắm vào một mục tiêu nào đó. Nhưng với khả năng hạn hẹp của một nhà báo “chậm tiến” tại nột nước nhược tiểu, tôi không tìm thấy lối ra. Tôi chỉ thấy trăm điều thua thiệt, đất nước tôi, quân đội tôi đành phải ngửa tay hứng chịu. Như một điều linh cảm, ngay từ năm 1969, sau khi nghe tin quân đội Mỹ chính thức rút khỏi VN thì cuộc chiến đang gay gắt, tôi thấy rõ Mỹ bỏ cuộc rồi. Nằm trong khách san vào loại sang nhất nước Mỹ, Hilton Hotel, chăn ấm, đệm êm mà nghe xong bài diễn văn của Nixon, tôi thao thức suốt đêm không tài nào ngủ được. Mỹ đem hơn nửa triệu quân sang VN cùng bao nhiêu tơn vị quân đồng minh khác nữa nhưng một số anh em trong quân đội chúng tôi không sao hiểu nổi phương thức hành quân của quân đội Mỹ. Quân đội Mỹ rất mạnh về vũ khí, rất cao về kỹ thuật nhưng Mỹ hình như chỉ biểu diễn, khỉ trưng bày sức mạnh ấy mà không dùng nó để triệt tiêu kẻ địch. Trước khi ném bom xuống Bắc Việt, Mỹ báo trước sẽ oanh tạc từ vĩ tuyến nào. Ở trong Nam, hành quân “tìm và diệt” (search and destroy) thì trước khi xuất quân, đã cho phi cơ thám thính, cho phi pháo bắn tơi bời rồi mới tới. Hlành quân kiểu này giống như đem một chiếc búa tạ đi đập một con ruồi. Mạnh thì rất mạnh nhưng ít khi nào trúng. Hay là như vậy mới thi hành đúng quan niệm đánh không cần thắng chăng? Về phương diện chỉ huy tham mưu, tướng lãnh Quân lực VNCH đã hơn một lần đề nghị cần phải chiếm ngay một vị trí chiến lược là cao nguyên Boloven ở Nam Lào. đúng như tướng De Gaulle đã nói, ở chiến trường Đông Dương kẻ nào nắm giữ cao nguyên Boloven kẻ đó sẽ thắng. Từ cao nguyên này đánh ra phía Đông sẽ cắt VN ra làm hai mảnh. Từ cao nguyên đánh xuống phía Nam và Tây Nam sẽ uy hiếp cả miền Nam VN và Cam bốt. Một vị trí chiến lược hết sức quan trọng cần phải nắm lấy bằng bất cứ giá nào. Nhưng tiếc thay người bạn lớn của chúng ta chỉ “nghe qua rồi bỏ”. Kinh nghiệm bản thân cho thấy là ý kiến của người bạn lớn, mình cách này hay cách khác phải chấp nhận thi hành, còn ý kiến của mình thì bạn có quyền quên đi, không nhắc tới. Một điều đáng lo hơn nữa là quân đội VNCH đi hành quân phối hợp với quân đội Mỹ lâu ngày rồi nhiễm luôn cái lối đánh giặc kiểu “con nhà giàu” trong khi thực tế nước mình kỹ thuật chưa làm được một khẩu súng cho ra hồn, khả năng chưa sản xuất được một viên đạn đồng nhỏ bé. Từ cái to đến cái nhỏ cái gì cũng trông đợi “đàn anh”. Bây giờ “đàn anh” rút lui bỏ chạy thế là khóc ròng cả đám.
Ông H. Kissinger
Năm 1969, khi phái đoàn Báo chí Thái bình dương tới Washington DC (vào khoảng trung tuần tháng 11) ông H. Kissinger đang làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Nixon. Chức vụ này trên nguyên tắc không lớn, nhưng trên thực tế ảnh hưởng và quyền uy rất rộng vì đó là một trong những thành viên chính thức của Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao (gồm Tổng thống, Phó tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn Hội đồng An Ninh Quốc gia), ông được coi là quân sư cỡ lớn cho Tổng thống Nixon. Trên phương diện ngoại giao, ông là người đặt ra kế hoạch và ngồi bên Tổng thống để điều hướng và phối hợp mọi công tác đối ngoại công khai hoặc bí mật, nổi cũng như chìm … Người ta nói rằng chính ông H. Kissinger mới thực sự là người đứng đầu kế hoạch đối ngoại của Hoa Kỳ, không phải Ngoại trưởng Shultz.
Chặng dừng chân thăm viếng đáng nhớ của phái đoàn Báo chí Thái bình dương là thủ đô nước Mỹ, Washington DC. Chúng tôi tới tối thứ bảy, vừa kịp hôm sau Chủ nhật không còn nhớ rõ được ngày) chứng kiến cuộc biểu tình trên 200 ngàn người chống chiến tranh VN lớn nhất xảy ra ở Washington DC. Đây là thời kỳ cao điểm của phong trào phản chiến. Trong thời gian gần 3 tuần lễ ở Mỹ, đi qua một thành phố Hoa Kỳ, tôi nhận thấy phe Tân Tả (New Left) trong giới truyền thông như hãng truyền hình CBS, như tuần báo Newsweeek, như nhật báo Washington Post đang ra sức tuyên truyền chống phá sự tham chiến của Mỹ tại VN. Đây là những cái loa phản chiến được phát đi với âm thanh khuếch đại, là những cái miệng ồn ào nhất trong việc chống đối chiến tranh VN. Các khẩu hiệu, bích chương thường thấy; “Không nhân đạo”. “Rút chân ra khỏi cuộc chiến tranh nhơ bẩn VN”, v.v … Thời kỳ này ông Nixon có đưa ra cụm từ “đa số thầm lặng” (the silent majority) ra cái ý rằng phần lớn người Mỹ không muốn nói ra ý kiến của mình, trong khi đó thiểu số ồn ào (the noisy minority) lại muốn độc chiếm diễn đàn ngôn luận. Ở Mỹ bấy giờ trên phương diện truyền thông “báo nói”, có một nghề mới rất ăn khách. Nghề làm bình luận viên thời cuộc (commentator). Nhà bình luận nổi tiếng nhất lúc đó là Walter Kronkrite của hãng CBS. Đây là một tay “đấm bóp thời cuộc” thượng thừa. Nghe nói ý kiến của W.Kronkrite có đến 40 triệu người Mỹ nghe theo và đồng ý. Ở một xã hội tiêu thụ, cuộc sống trôi rất nhanh, người ta ít có thì giờ để suy nghĩ, để sống riêng tư. Mọi thứ thực phẩm vật chất cũng như tinh thần đều được tiêu chuẩn hóa (standardised) và đều được làm sẵn (ready-made). Khi cần là cứ việc lấy ra mà ăn, mà dùng. Về tư tưởng cũng vậy. Có điều gì cần suy nghĩ cứ nhấc phone gọi commentator. Bình luận viên trên truyền hình giải quyết hàng loạt những suy tư, những ý kiến của thính giả gởi đến. Tiện lợi quá, văn minh quá. Nhưng ở một khía cạnh khác, tôi bỗng nhớ tới H. Marcuse, triết gia đầu tiên đã nhắc tới hiện tượng “vong thân” trong xã hội tiêu thụ. Người trong xã hội tiêu thụ rất giống nhau – ăn, ở, suy nghĩ, làm tình … y hệt như nhau – như một đàn cừu Panurge. (Và mới đây ở Việt Nam người ta cũng nói đến vấn đề bao cấp tư tưởng. Mọi người không phải suy nghĩ gì nữa, đã có các đỉnh cao trí tuệ “tư duy” hộ. Xét ra. W. Kronkrite cũng là một thứ đỉnh cao trí tuệ của Hoa Kỳ).
***
Phe Tân Tả (New Left) không những gần gũi nhau về lập trường, về đường lối hành động mà còn rất gần nhau về tổ chức. Người ta nói rằng CBS, Newsweek, Washington Post đều do một nguồn “tư bản” mà ra. Nguồn tư bản rất lớn, rất mạnh ở Wall Street, nắm đầu truyền thông do một số đại tài phiệt người Do Thái cầm đầu. Cộng đồng người Do Thái ở Mỹ không đông lắm nhưng thế lực không biết đến đâu là cùng. Người Do Thái thường đứng đầu giới tài phiệt, đứng đầu giới học chính, và đứng đầu giới truyền thông. Vừa có tiền nhiều nhất (tài phiệt), vừa có trí khôn tốt nhất (học chính), vừa có tiếng nói to nhất (truyền thông) người Do Thái “nắn bóp thời cuộc” theo mô hình nào mà chẳng được. Thời gian ấy, (1969) nước Do Thái nhỏ bé, bị vây quanh bởi bao nhiêu nước Ả Rập ở Trung Đông, đang phải gồng mình tự bảo vệ. Đã có mấy cuộc “thánh chiến” xảy ra. Trong tương lai, hàng trăm triệu người Á Rập xung quanh có thể bất thần xua quân dìm luôn 3 triệu người Do Thái xuống biển. Vì vậy nên người Do Thái không muốn cho đồng minh chí cốt của họ là Mỹ lâm vào cảnh “nến cháy hai đầu”, vừa chi viện cho Do Thái vừa tham chiến ở Việt Nam. Phải nên quên Việt Nam đi, để dành sức lo cho Do Thái. Đó là cái cớ tiềm ẩn nhưng hết sức mạnh mẽ khiến cho phe truyền thông Tân Tả ở Hoa Kỳ ra sức phỉ báng và chống đối cuộc chiến Việt Nam. Điển hình cho tinh hoa Do Thái ở Hoa Kỳ là ông H. Kissinger. Ông là người Mỹ, gốc Đức nhưng đích truyền Do Thái. Ông là tiến sĩ xuất thân tại trường Đại học danh tiếng nhất Hoa Kỳ Harvard. Ông trước đây là cố vấn cho tỉ phú Rockefeller. Bây giờ ông “xuất chính” làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Nixon. Như đã nói ông là người đặt ra kế hoạch đối ngoại Hoa Kỳ và trong tương lai không xa, theo những nguồn tin xác đáng, không phải ai khác, H. Kissinger sẽ đảm nhiệm chính chức vụ Ngoại trưởng Hoa Kỳ.
Đối với một Policy-maker như vậy, tôi không lấy làm ngạc nhiên lắm trước phong trào phản đối chiến tranh VN tại Mỹ. Đó là những sự dàn cảnh cần thiết cho sự giải kết, rút quân của Mỹ ở VN. Một tài liệu còn cho biết trước khi làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Nixon, ông H. Kissinger khi còn làm cố vấn không chính thức cho Tổng thống L. Johnson, đã bí mật liên lạc với Hà Nội qua hai người Pháp Hervert Marcovich và Raymond Aubrac để giải quyết cuộc chiến VN theo chính sách “một khoảng thời gian coi được” (a decent interval). Có nghĩa là VNCH sẽ thua, phải thua trong một thời gian coi được, để Hoa Kỳ kịp rút quân, bỏ chạy … mặc cho VNCH xoay xở lấy một mình. Đó là tiền đề cho vụ bức tử miền Nam những năm sau.
Tới Thăm Nhà Trắng
Ngay hôm sau ngày Chủ nhật trung tuần tháng 11.1969, ngày có cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam trên 200 ngàn người tham dự, lớn nhất ở Washington DC, phái đoàn báo chí Thái bình dương, theo chương trình đã được bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ấn định trước, tới thăm Nhà Trắng. Người đầu tiên tiếp đoàn chúng tôi là phát ngôn viên Nhà Trắng: Ronald Ziegler. Ông này còn trẻ, như một sinh viên vừa ra trường trông rất là clean-cut. Ông đưa nhà báo Thái bình dương đi thăm một số nơi như phòng bầu dục, thư viện, gallery trưng bày chân dung các tổng thống tiền nhiệm Hoa Kỳ, v.v … Ông R. Ziegler trông rất trẻ nhưng thật ra ông là một phát ngôn viên nhà nghề. Đi đến đâu ông cũng trình bày, giải thích. Ông “nói rất nhiều, song ý nghĩa chẳng bao nhiêu”. Nếu ở Việt Nam, có lẽ phải tôn vinh ông R. Ziegler là “xướng ngôn viên” – Vì ông nói nghe rất sướng tai nhưng xét ra không có điều gì mới lạ. Đối với anh làm báo mà lời nói ra không khai thác được gì thì coi như “huề cả làng”. Người chính thức tiếp đón nhà báo Thái bình dương tại một căn phòng trang trọng gần thư viện là ông Tổng giám đốc USIA (United States Information Agency). Nước Mỹ, trên phương diện tổ chức, không có Bộ trưởng Thông tin trong chính phủ. Chỉ có Tổng giám đốc Thông tin trực thuộc Nhà Trắng, nhân vật cao cấp nhất về phương diện thông tin, tuyên truyền. Ông này, người cao lớn, (có lẽ trên 1,90m), có một giọng nói rất trầm và một tên họ rất dễ nhớ: Shakespeare, (không biết ông có là hậu duệ hay dây mơ rễ má gì với kịch tác gia Anh cát lợi lừng lẫy năm châu bốn biển từ mấy thế kỷ trước hay không?)
Ông Shakespeare từ tốn nói chuyện với các nhà báo đến từ phía Đông. Ông cho rằng nước Mỹ cũng là một nước Thái bình dương nên rất muốn lắng nghe tiếng nói của các nhà báo miền này. “Quý vị đã từng đến thăm một số các tiểu bang, các thành phố Hoa Kỳ, đặc biệt ngày hôm qua ở đây Washington DC, quý vị đã chứng kiến cuộc biểu tình lớn lao của trên 200 ngàn nhân dân nước tôi đối với cuộc chiến VN. Xin quý vị vui lòng cho biết ý kiến”. Ông Shakespeare tạm dứt lời. Cả căn phòng trở nên yên lặng. Một vài người nhìn về phía tôi, ký giả và là người Việt Nam duy nhất. Họ có ý nhường lời cho tôi phát biểu đầu tiên. Tôi chợt thấy cô đơn kỳ lạ. Giả thử lúc này có đồng nghiệp Phạm Kim Vinh, nhà nghiên cứu, nhà báo nổi tiếng Trương Tử Phòng, với những bài tham luận đa dạng và sâu sắc về cuộc chiến VN. Tại sao giờ phút cuối bạn lại từ chối không đi? Tôi cảm thấy bơ vơ trong suốt cuộc hành trình, nhất là trong lúc này đây. Nhưng thôi, mình biết đến đâu thì thưa đến đó. Tôi nhớ tôi đã nói trong xúc động, có phần bối rối vì việc phát biểu ý kiến này là một sự bất ngờ, không được báo trước, không được sửa soạn. Không được sửa soạn nên sự thực thế nào thì nói ra thế ấy mà thôi.
“Thưa quý vị, trước khi là nhà báo tôi là người lính mà lính di cư, từ Bắc vào Nam sau cuộc phân chia đất nước VN năm 1954. Tôi phải rời bỏ quê hương tôi, mồ mả cha mẹ tôi vì chỉ có một ước mong được sống tự do. Bây giờ đã gần 15 năm trôi qua, ngoài tự do của bản thân tôi, còn có tự do của gia đình tôi, của dân tộc tôi cần phải bảo vệ. Cái chỗ đứng của chúng tôi, cho tới bây giờ, tôi vẫn nghĩ vẫn là chính đáng. Nhưng có một điều đáng buồn là lý do chiến đấu của chúng tôi không được mọi người chia sẻ, ngay cả với một số đồng bào của chúng tôi nữa, nên cuộc chiến đấu ấy lâm vào tình trạng khó khăn. Chúng tôi tin chắc một điều là cuộc chiến ở VN hiện thời không phải như người ta lên án là một cuộc nội chiến, không phải như vậy, nó đích thực là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Đau buồn thay, cuộc chiến tranh ý thức hệ ấy lại diễn ra trên đất nước tôi. Từ đệ nhị thế chiến cho tới nay, thế giới hòa bình, riêng đất nước tôi chiến tranh không dứt. Dân tộc tôi, như mọi dân tộc khác đều muốn sống hòa bình, không ai muốn chiến tranh, chia ly, chết chóc. Nhưng chúng tôi phải chấp nhận cuộc chiến tranh ý thức hệ này ở ngoài ý muốn của chúng tôi. Chúng tôi không có chọn lựa nào khác. Chúng tôi cảm ơn nước Mỹ, dân tộc Mỹ cũng như các nước đồng minh bè bạn khác đã hào phỏng giúp đỡ chủng tôi trong cuộc chiến này. Nhưng có một điều tôi chưa hiểu nổi là trong đệ nhị thế chiến chống phát xít, quân Mỹ có mặt ở Âu châu, đổ bộ Normandie … trong cuộc chiến tranh Triều tiên quân Mỹ cũng có mặt tức thời chống quân đội cộng sản Bắc Hàn, ở đâu sự hiện diện của Mỹ cũng được thế giới hoan nghênh tán thưởng. Tại sao trong cuộc chiến ý thức hệ bây giờ, người ta lại phê bình, chỉ trích sự có mặt của quân đội Mỹ tại VN?”
Sau đó tôi không nhớ rõ anh em đồng nghiệp trong phái đoàn báo chí Thái bình dương đã đóng góp ý kiến những gì với ông Shakespeare. Tôi vẫn còn xúc động, vẫn còn bối rối. Chỗ đứng của người Quốc gia sao mà phiền toái, lý do chiến đấu của người Quốc gia sao mà khó hiểu. Chỉ “nằm trong chăn mới biết chăn có rận mà thôi”, người ngoài không hiểu được. Một điều đáng lo hơn nữa là đồng minh lớn Hoa Kỳ trong giai đoạn này đang đứng trước một khúc quanh quyết định. Đàn anh sẽ rẽ vào nẻo nào đây? Cái khó cho người quốc gia là không được biết ý định thật sự của đàn anh Mỹ như thế nào? Đánh không cần thắng, leo thang rồi tụt thang chiến tranh. Bây giờ Việt Nam hóa Chiến tranh và giải kết. Tương lai một nước nhược tiểu đánh bạn với Hoa Kỳ sao mà vất vả, không biết đi về đâu? Tôi nhớ đâu đó một lời nhận định “làm kẻ thù của Huê Kỳ thì “khá”, còn làm bạn với Huê Kỳ thì khốn nạn”.
***
Sau vụ trao đổi ý kiến với ông Shakespeare, tôi nhớ ông Tổng giám đốc USIA có xuống bắt tay tôi. Tôi cũng hiểu tính cách ngoại giao của cái bắt tay này, và cũng không dám hy vọng gì nhiều. Nhưng có một cái bắt tay khác đã làm cho tôi ấm lên một chút trong cái lạnh đầu mùa đông của Washington DC. Đó là cái bắt tay rất mạnh, kèm theo một cái vỗ vai thông cảm của nhà báo Úc Beaudino …
Bạn Bè, Đồng Nghiệp
Khi phải đoàn báo chí Thái bình dương sắp sửa dời phòng hội để sang dự một bữa lỡ (brunch – vừa ăn sáng vừa ăn trưa) tại căng tin riêng của nhân viên Nhà Trắng, ông Tổng giám đốc USIA Shakespeare mới hỏi xem các thành viên trong phái đoàn có đề nghị nào không? Tôi có nói trước với trưởng đoàn, Đại tá R. (Giám đốc truyền thanh và truyền hình Thái lan) là tại sao không mời ông H. Kissinger đến dùng bữa lỡ với phái đoàn. Ông R. Ziegler liền bốc phone liên lạc. Sau đó phát ngôn viên Nhà Trắng cho hay ông cố vấn H. Kissinger hôm nay nghị trình rất bận, không có đủ thì giờ nên không đến được. Có thể ông sẽ tạt qua ít phút, nếu tình hình cho phép. Khi vừa mới tập họp tại Hawaii, tiểu bang hải đảo giữa Thái bình dương của Mỹ, trước khi bay vào lục địa Hoa Kỳ các thành viên trong phái đoàn báo chí còn lạ nước lạ cái, còn bỡ ngỡ với nhau. Bây giờ sau 3 tuần cùng đi, cùng ở, cùng thăm viếng, các nhà báo Thái bình dương đã gần gũi nhau nhiều. Từ những cái bắt tay kiểu cách ban đầu, từ những xưng hô trịnh trọng, bây giờ gặp nhau buổi sáng là “hi” cùng với một nụ cười hay cái vẫy tay thân mật. Để đến được tình trạng này, đối với tôi đã có không ít khó khăn cần phải vượt qua. Trước khi phải đối phó với báo chí Hoa Kỳ, ngay trong số thành viên trong phái đoàn đã có một số anh em quay tôi như “dế”. Đó là các nhà báo Nhật bản, Mã lai, Fiji, Úc, Phi luật tân, V.V …
Họ hỏi tôi về Mặt trận Giải phóng về chính phủ lâm thời miền Nam, về Tổng tấn công năm Mậu Thân, về sự hiềm khích giữa tướng Thiệu tướng Kỳ, về buôn lậu và tham nhũng, về sự giống nhau và khác nhau giữa chính sách Người cày có ruộng với chính sách công hữu tư liệu sản xuất của người Cộng sản, v.v … Họ bị ám ảnh bởi những “cliché” đã in sẵn về miền Nam của bộ máy tinh vi và khổng lồ của tuyên truyền sách động xã hội chủ nghĩa và mới đây họ bị huyễn hoặc bởi những cái loa phản chiến mở hết cỡ ở Hoa Kỳ và thế giới. Trong những buổi hội, trong những chuyến bay, trong những bữa ăn … có dịp là họ hỏi tôi hết chuyện này đến chuyện khác. Mệt cầm canh. Ở một xứ sở chiến tranh lại đang học bài học vỡ lòng dân chủ, miền Nam có bao nhiêu điều đáng nói. Tôi không giấu họ (mà giấu cũng không được) về những tệ đoan của một xã hội thời chiến, đặc biệt những sự xuống cấp của một nền văn hóa cổ truyền phương Đông khi đụng độ với văn hóa “OK Salem”. Tôi cũng trình bày với họ, trong khả năng hạn hẹp của tôi về những khó khăn, hạn chế của những người chiến đấu cô đơn cho tự do và nhân phẩm. Trong số đồng nghiệp Thái bình dương, có hai nhà báo kỵ VNCH thấy rõ, gần như công khai ủng hộ cho đệ tam quốc tế. Đó là hai nhà báo Phi luật tân, đặc biệt ký giả A.D. của tờ Manila Times. Tôi đã đụng ông này một lần rồi năm 1966 khi sang cover hội nghị Summit Conference ở thủ đô Phi luật tân. Ông ác cảm với miền Nam VN là có lý do. Đầu thập niên 60, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông bị trục xuất khỏi miền Nam vì chủ trương thiên cộng, khi ông đang đại diện cho một số tờ báo nước ngoài ở Sài Gòn và làm trong Vietnam Press ấn bản tiếng Anh. Tại cuộc họp các nhà báo Manila năm 1966, ông công kích tơi bời miền Nam VN và là tiếng nói phản kháng mãnh liệt sự tham dự của Phi vào cuộc chiến VN. Bây giờ đã 7, 8 năm trôi qua, ác cảm của ông đối với miền Nam không suy giảm, có khi còn tăng thêm cường độ khi phong trào phản chiến ở Mỹ dâng cao. Nhưng trong phái đoàn cũng có đồng nghiệp ủng hộ miền Nam kịch liệt. Đó là Nam hàn, nhà báo Đài loan … nhà báo ở những quốc gia đã nếm mùi Cộng sản.
Nhưng người giúp đỡ tôi hết mình lại là Trưởng phái đoàn Đại tá R. (Thái Lan) vì ông này là classmate của tôi 10 năm trước, cùng trong một khóa báo chí ở Hoa Kỳ; phần khác vì ông ta là “nhà banh” nên ông dễ dàng thông cảm tôi.
Nhưng người thân với tôi nhất lại là người lần đầu mới gặp: nhà báo Lào Samvail. Thật ra Samvail không phải là nhà báo đúng nghĩa. Ông ta là Giám đốc báo chí của bộ Ngoại giao Lào. Đi sang Mỹ, nhưng ông nhà báo Lào lại “chơi khó”, không nói tiếng Anh chỉ nói tiếng Pháp – (vì Samvail học Sciences PO ở Pháp và có vợ đầm). Phong thái của Samvail rất là phiêu hốt. Tôi nhớ bữa đầu tiên chúng tôi gặp nhau ở Hawaii, ngồi bên nhau trong một cuộc trình diễn của thổ dân sở tại xem nhảy Hula, xem thổ dân trèo dừa thoăn thoắt, chuyền nhanh như vượn từ cây dừa này sang cây dừa khác, lấy những quày dừa tươi tốt xuống cho du khách uống trộn với Coca Cola, ăn thịt nướng … Samvail vừa xem, vừa lạnh lùng buông một lời nhận định: “Une commercialisation de l’exotisme” (một sự thương mại hóa những cái dị kỳ). Tôi thấy ông bạn người Lào này có nét khác người. Để bắt đầu làm quen, tôi mới mời ông bạn Lào một điếu thuốc lá và bật quẹt. Cầm bao thuốc Salem, vừa hít một hơi thuốc dài, ông bạn vừa quen liền chỉ vào từng chữ nhan đề bao thuốc và khẽ nói với tôi “Sao anh làm em mệt” (1). Tôi vừa ngạc nhiên, vừa thích thú vỗ vai ông ta mà hỏi “Sao hay vậy?” Samvail nheo mắt trả lời “Biết chớ”. Chúng tôi thân nhau từ đấy.
Sự lừng khừng không nói tiếng Anh chỉ nói tiếng Pháp tiếng Lào (và tiếng Việt riêng với tôi) của Samvail vô hình trung đã giúp tôi đắc lực. Là một ký giả VN duy nhất trong phái đoàn nên vừa tới một tiểu bang, một thành phố nào bên Mỹ là nhà báo, nhà truyền thanh truyền hình đổ xô nhau đi phỏng vấn tên nhà báo VN. Bạn R., trưởng phái đoàn đã giúp tôi bằng cách không chấp nhận những cuộc phỏng vấn tức thời, tại chỗ. Chỉ khi nào có họp báo mới có cuộc tiếp xúc với báo chí địa phương mà thôi. Dù vậy ở nhiều nơi nhà báo Mỹ vẫn săn đuổi, làm tình làm tội nhà báo VN nhược tiểu. Một bữa, đến Florida nhân có việc sắp phóng phi thuyền Apollo 13, một số đông nhà báo Mỹ liền đi săn phái đoàn báo chí Thái bình dương. Vì tôi hay đi bên cạnh Samvail nên một nhà báo Mỹ liền đưa micro vào mặt Samvail và hỏi “Có phải ông là nhà báo VN?” Samvail liền phang ngay một tràng tiếng Pháp, tiếp theu một tràng tiếng Lào. Nhà báo Mỹ nghe vậy, ngẩn mặt ra rồi rút lui một nước …
Từ đó, để tống khứ những anh nhà báo Mỹ không mời mà đến, tối đã biết làm cách nào vừa tiện lợi vừa nhanh chóng nhất …
Tiếp Xúc Bất Ngờ
Phái đoàn báo chí Thái bình dương chúng tôi ăn bữa brunch ở căng tin Nhà Trắng sắp xong, đang nhâm nhi cà phê bánh ngọt thì cánh cửa đàng sau căng tin bật mở. Ông Tổng giám đốc USIA lật đật đứng lên tiếp một vị khách lớn – Ông Cố vấn H. Kissinger vừa mới tới. Mọi người đứng lên. Phát ngôn viên Nhà Trắng R. Ziegler tươi cười và long trọng giới thiệu: “Ông Cố vấn H. Kissinger, như lời hẹn sáng nay, tới thăm quý vị báo chí Thái bình dương trong một cuộc tiếp xúc thân mật và ngắn hạn … ” Ông H. Kissinger bắt tay Trưởng phái đoàn Đại tá R. (Thái Lan) và tiếp tục đi thăm hỏi từng người. Một cuộc viếng thăm kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”.
Ông Kissinger người cao lớn, to ngang, chiếc kính cận thị gọng đồi mồi đeo hơi trễ xuống một cái mũi lớn, luôn cười nửa miệng, một cái cười vừa bông lơn, vừa trịch thượng. Dáng vẻ bên ngoài của ông trông như một người Đức uống nhiều la de, bụng bự, mặt đỏ, ít giống người Do Thái bán buôn thường gặp ở 42th Street ở Nữu Ước với dáng người thanh mảnh, làn da trắng xanh và râu quai nón mờ mờ. Ông lần lượt bắt tay từng người mỗi người trao đổi một vài câu “làm quà”.
Ông Kissinger vừa tới bắt tay tôi. “Ông từ VN qua?”
Tôi cúi đầu và hỏi lại: “Thưa ông Cổ vấn bao giờ ông thay đổi địa chỉ?” (Lúc bấy giờ đang có tin đồn ông Kissinger sắp sang bộ Ngoại giao. Ông Kissinger nghe vậy liền nói với ông Trưởng phái đoàn, Đại tá R. đứng bên: “Bạn đồng nghiệp của ông đúng là nhà báo, ông luôn luôn nêu giả thuyết”. Thấy ông dợm đi sang nơi khác, tôi hỏi tiếp: “Thưa ông, ông tiên liệu về Việt Nam hóa chiến tranh thế nào?” Ông nhìn lại tôi, mắt lóe lên một ánh sáng tinh nghịch rồi trả lời: “Tôi định hỏi ông ý kiến về vấn đề này đấy”. Xong rồi là ông quay lưng đi luôn. Tôi còn gặp lại ông H. Kissinger một lần nữa vào khoảng 3 năm sau, năm 1972 khi ông sang Sài Gòn với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, thương lượng trước với dinh Độc Lập về dự thảo hiệp định Paris. Nghe nói có những bất đồng sâu xa giữa Washington và Sài Gòn về bản dự thảo này. Bất đồng lớn nhất nằm ở chỗ trong cuộc ngừng bắn “da beo” quân đội Mỹ sẽ rút hết còn quân Bắc Việt xâm nhập có quyền ở lại. Ông Kissinger sang đây để trực tiếp làm áp lực Sài Gòn. Nhân dịp này, ông Đại sứ Mỹ mới mở một cuộc tiếp tân tại tư dinh của ông đường Mạc Đĩnh Chi. Giới chính trị và báo chí Sài Gòn đều được mời tham dự. Ông Kissinger năm nay mập hơn năm trước, bụng to thấy rõ. Gặp lại ông trong buổi tiếp tân này tôi nhắc lại:
“Năm trước ở Washington ông nói là tôi hay nêu giả thuyết. Nhưng bây giờ thưa ông giả thuyết của tôi đúng. Ông đang là ông chủ lớn (big boss) của nền ngoại giao Hoa Kỳ”.
Ông Kissinger nghe vậy liền vỗ tay vào cái bụng to của mình mà nói: “Ông nói đúng, dạo này tôi mập ra”. Xong rồi là ông cũng bỏ đi một nước. Ông Kissinger nổi tiếng xưa nay về sự ứng biến tài tình và trí khôn siêu đẳng. Ông đem sự hiểu biết và trí thông minh tuyệt vời ra đùa giỡn mọi người. Nó hợp với nụ cười nửa miệng khinh đời và trịch thượng của ông. Ông Kissinger là một khuôn mặt lớn của Hoa Kỳ và của hậu bán thế kỷ 20. Ông là một trong những policy maker chính yếu của Wall Street, người ấn định đường đi nước bước của chính trị đối ngoại Hoa Kỳ, người điều hướng một trật tự thế giới mới trong đó vấn đề Việt Nam thập niên 70 chỉ là một con cờ chiến thuật. Nhà xã hội học lớn của thời đại chúng ta Raymond Aron đã viết hẳn một chương về ông Kissinger trong cuốn hồi ký “50 Suy tưởng Chính trị” của ông (50 Ans de Reflexion Politique). Ông ghi lại cảm tưởng khi tiếp xúc với ông Kissinger “Ông ta lúc thì đùa giỡn, lúc thì tàn nhẫn” (tour a tour cajoleur et brutal) (1). Đùa giỡn thì thấy rồi. Ông luôn luôn hài hước hóa, lố bịch hóa người đối thoại với ông. Còn tàn nhẫn. Ông Kissinger đã tàn nhẫn biết bao khi áp đặt một hiệp định Paris hoàn toàn bất lợi cho miền Nam VN. Sự tiêu trầm của xã hội miền Nam mấy chục triệu người, sự bại vong của cả một chính phủ và quân đội, điều đó không làm bận tâm nhà chính trị hàng đầu thế giới. “Bất độc bất anh hùng”, bỗng nhiên tôi nhớ đến những nhà chính khách bá đạo lừng danh trong lịch sử.
Trong những ngày phái đoàn báo chí Thái bình dương ở lại Washington DC, tôi có bổn phận phải đến chào ông Đại sứ Việt Nam sở tại: Ông Bùi Diễm. Ông Bùi trước khi làm đại sứ, là một nhà hoạt động văn hóa. Ông làm phim, làm báo. Ông là chủ nhiệm tờ Saigon Post hiện đang phát hành tại Sài Gòn. Do vậy tôi cũng được hân hạnh quen biết ông từ trước. Tòa đại sứ VN lúc tôi tới còn mang dấu tích tàn phá của đám biểu tình chống chiến tranh vừa qua. Cửa kính bị đập vỡ, những mảnh kính còn vương vãi, một số sách vở, tài liệu, báo chí bị đốt, bàn ghế, đồ đạc bị gãy nát. Đã có thu dọn lại nhưng khung cảnh vẫn còn tan hoang. Khung cảnh thì tan hoang nhưng ngược lại ông Đại sứ lại tỏ ra hết sức bình tĩnh. Ông có hỏi tôi về phái đoàn báo chí Thái bình dương. Tôi cũng thưa thực với ông, có những người ủng hộ, có những người chống đối cuộc chiến VN, nhưng tựu trung, đó là những nhà báo được Bộ Ngoại giao Mỹ chọn lựa đại diện cho từng đất nước.
– Hay là ta mời phái đoàn báo chí đến ăn một bữa cơm Việt Nam tại đây, ông thấy thế nào?
– Nếu ông Đại sứ thấy thuận tiện. Cuộc chiến VN bây giờ đang là trung tâm theo dõi của mọi người. Tôi nghĩ là họ rất muốn được tiếp xúc với ông Đại sứ. Sau đó ông Đại sứ Bùi Diễm làm một cử chỉ đẹp là đạt giấy mời thành viên của phái đoàn báo chí Thái bình dương tới dự một bữa cơm thân mật. Người mời không phải là ộng đại sứ VNCH mà là hai nhà báo VN, nhà báo Bùi Diễm và kẻ viết bài này. Trong cuộc tiếp xúc thân tình sau đó, “một cuộc họp mặt giữa đồng nghiệp với nhau” (chữ của ông Bùi) có thể một số nhà báo Thái bình dương chưa hẳn đã đồng ý với lập trường của ông, nhưng hầu như tất cả đều bị cuốn hút vì sự chân tình cởi mở, đặc biệt sự bình tĩnh khác người của ông Bùi.
Khi ra về, đồng nghiệp A.D. của Phi nói với tôi: “Ông Đại sứ của bạn được lắm”. Đây là lời nói “dễ nghe” đầu tiên tôi nhận được từ tay ký giả phản chiến Phi Luật Tân.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.