Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 6 Nov 2026

Con đường bè bạn của tôi bắt đầu từ Hóc Môn. Khi tôi được tha về đầu năm 1985, nhà cửa ở Sài Gòn được nhà  nước quản lý, vợ con tôi phải đi kinh tế mới. Sống khôngnổi nên vợ con tôi dạt về ở nhờ ông bà ngoại ở khu vườn nhỏ Hóc Môn. Tôi về cũng xin tạm trú ở đấy luôn … Ngày chủ nhật cuối tuần hoặc một ngày thuận tiện, sau khi xin phép “tạm vắng” nơi Công An phường, khóm, tôi và đứa con gái út, hai bố con lên chiếc xe PC lạch xạch di thăm bè bạn. Từ đây tôi theo đường tỉnh lộ qua Quang Trung, lên Hạnh Thông Tây tới Gò Vấp thăm bạn Tô Thùy Yên. Từ Gò Vấp lại sang Gia Định (Bình Hòa) thăm Thanh Tầm Tuyền. Trong khi chúng tôi rủ rỉ chuyện trò thì con tôi M.T và TR. T con gái áp út Thanh Tâm Tuyền làm cơm dưới bếp. Ăn trưa xong ở nhà bạn … bố con tôi lại vòng sang khu Lăng Cha Cả thăm bác Ninh (Hà Thượng Nhân) hay ngược lên chút nữa tới cổng xe lửa Trương Minh Giảng (cũ) thăm bạn tù già Thượng Tọa Thích Thanh Long trụ trì ở Chùa Giác Ngạn. Thỉnh thoảng bạn bè chán cảnh ồn ào bụi bặm thành phố thì lại lên Hóc Môn, tới thăm khu vườn nhỏ của tôi có cây dừa, cây cau, cây chôm chôm, cây mít. Tôi có căng một tấm bạt dưới tàng cây chôm chôm làm thành một cái lều nhỏ trong vườn. Bạn bè lên đó nằm dài mà trò chuyện, hút thuốc lào (để nhớ những ngày cải tạo) mà không làm phiền ai hết. Đó là cái vòng lẩn quẩn bạn bè trong những năm “nín thở qua sông” ở Sài Gòn. Bạn bè tôi đều là thi sĩ cho nên trong những năm mới về ai cũng bận rộn một công việc: nhớ lại những bài thơ đã làm trong nhà tù và đôi khi sáng tác những bài thơ mới. Tôi nhận ra một điều là khi đi cải tạo, sống một kiếp lưu đày bên bờ vực tử sinh thì người ta lại làm thơ nhiều nhất. Thơ là tiếng nói oan khiên hay thơ là lời cầu nguyện. Thợ là một niềm an ủi hay thơ là kinh cứu rỗi. Không biết nữa, nhưng ai đi tù cải tạo về cũng có một số bài thơ dấu ở trong đầu. Thơ của mình hay thơ của bạn mình. Đi tù là mất tất cả: Tiền tài, sự nghiệp, công danh, tự do, tương lai, quá khứ … ngay cả thân mình cũng không phải là của mình nữa. Nhưng có một điều chắc chắn là những bài thơ kia, những tư tưởng kia thì thật là của riêng, không ai có thể lấy đi, cướp đi của mình cho được. Thơ đối với người tù trở thành một cái gì sâu kín nhất, linh thiêng nhất.

Thanh Tâm Tuyền đã nói đúng. Ở trong một không gian sinh hoạt 0m50 bề rộng, 2m bề dài ăn ngủ ở đó chưa kể chăn màn, quần áo, sách vở, thuốc men, chổi cùn, rế rách … đi làm bở hơi tai suốt ngày, ăn qua quýt vài lưng sắn khô hay khoai hà, ngô hẩm … rồi buổi tối còn bày đặt bút giấy “làm thơ” thì thật là một điều xa xỉ.

Tôi chỉ có vài tờ giấy xấu

Ngọn bút chì rướm máu đau thương …(Hà Thượng Nhân)

Nhưng khi ra Bắc, theo quy định của trại, cán bộ kiểm soát luôn cả bút, giấy, thư từ thì người tù chỉ còn có cách làm thơ lầm thầm trong miệng rồi ghi vào ký ức. Theo luật bù trừ cố hữu, khi người ta mất tất cả bên ngoài thì người ta cố làm cho đầy cái bên trong. Người tù bình thường, không làm thơ làm văn bao giờ mà đi tù bỗng nhiên ra thơ. Ông bạn tù già của tôi Thượng Tọa Thích Thanh Long, cả đời không thấy ông giảng kinh giảng đạo hay là ngâm ngợi thơ ca bao giờ mà trước buổi chia tay đổi đi trại khác, ông lại cầm tay tôi mà dặn:

Nhớ nhau xin nhớ tình dân tộc

Lẳng lặng mà xem đá nở hoa.

Người tù thi sĩ còn làm thơ nhiều hơn nữa. Như một sự thôi thúc không chống cưỡng nỗi, như một sự không nói ra thì không chịu được. Hà Thượng Nhân một buổi nói rằng “làm thơ nhiều lúc như lên đồng ông ạ – Không biết tại sao mà mình lại viết ra, nói ra như thế”. Con đồng khi “thăng” là quên hết. Người thi sĩ làm thơ xong nhiều khi không nhớ nổi thơ mình. Hơn nữa ký ức của người tù lưu niên, đói khát thường xuyên thì cái độ tin cậy của nó cũng thật là xộc xệch, giống như một cái máy ronéo cũ, mực chỗ đậm chỗ nhạt, chữ lúc có lúc không. Cho nên Tô Thùy Yên năm 1995 khi xuất bản tập thơ đầu tiên (và cũng có thể là duy nhất) “Thơ Tuyển” nhà thơ đã ghi trên đầu sách “ … chân thành cảm tạ các bạn hữu xa gần đã sưu tầm, lưu giữ và gửi cho tác phẩm thất lạc lâu ngày của tác giả … “

***

Cuối năm 1982, trại tù Thanh Phong ở chốn rừng sâu, giáp giới Hạ Lào, giải thể. Số lớn anh em trở về Nam. Số còn lại trong đó có tôi chuyển sang trại Tân Kỳ (Hà Tĩnh). Các trại khác cũng như vậy – tù còn lại chuyển về Tân Kỳ ở miền Trung và Hà Nam Ninh ở miền Bắc. Ở trại trung chuyển này tôi được gặp một số anh em từ trại Thanh Chương (Nghệ An) chuyển về. Trại Tân Kỳ trước đây thật lớn, nhưng tù chuyển đi gần hết nên bây giờ khá rộng nhất là khu Tây mà chúng tôi gọi là khu “Tây Đức”. Khu bên kia “Đông Đức”, tù đông, lẫn lộn hình sự nên đời sống hỗn tạp hơn, “chế độ” khắc nghiệt hơn. Ở “Tây Đức” toàn anh em ta (tù chính trị) nên dù sao cũng có phần dễ thở. Ngày chủ nhật … sau khi đặt đường dây canh gác và ám hiệu thông tin … anh em “chơi” văn nghệ bỏ túi. Hát tù ca (những bản nhạc anh em sáng tác), ngâm thơ, đọc thơ và kể chuyện “thời sự”. Đây là dịp các bạn tù gặp nhau, trao đổi “văn hóa” và chuyền cho nhau chút “ánh sáng cuối đường hầm” (ánh sáng thật và ánh sáng không thật) khơi một chút hy vọng nhỏ nhoi mà sống. Anh em Thanh Chương kể rằng ở bên đó Tô Thùy Yên – Hà Thượng Nhân là “đầu trò” trong những cuộc hội họp bỏ túi này. Trại nào cũng có “ăng ten dài – ăng ten ngắn” nên 2 anh “đầu trò” tránh sao khỏi kiên giam. Hà Thượng Nhân kể lại rằng: “Đi tù thì đói thường xuyên. Kiên giam lại càng đói hơn, khổ hơn, khẩu phần bớt, nước uống bớt lại còn cùm chân nữa. Nhưng ở một khía cạnh khác, kiên giam lại khuyến khích mình làm thơ. Ở trong xà lim, đối diện với bóng tối và im lặng như thế không làm thơ thì làm gì bây giờ – 26 bài tâm sự với Bạch Cư Dị là tôi làm trong kiên giam đấy”.

Ông Hà Thượng Nhân nằm kiên giam mà tưởng rằng mình đang trở về quê nhà sau 30 năm xa cách gặp cô em nhỏ “yếm lụa phong phanh”, tóc “thoảng bay hương bề kết”:

Đầu hè yếm lụa phong phanh

Ô hương bồ kết hiền lành thoảng bay

Em cô gái của ngày trẻ dại

Ba mươi năm trở lại quê nhà …

Ngang trời đàn quạ bay qua

Thoắt thôi chăn chiếu chan hòa trăng non

Em hơi thở thơm ngon mùi nếp

Mỏng như tơ khói bếp Hàn Giang

Lá ngô chưa rụng giếng vàng

Heo may thoắt đã mang mang thổi về …

Tô Thùy Yên 7 tháng liền trong kiên giam tâm sự với đàn muỗi râm ran, con thằn lằn uể oải, lũ gián hôi tanh

con nhện vô tư và bức tường câm nín:

Ta khắc khoải chờ nghe

Những tiếng động của người

Tiếng động nào bất kể

Đột phá những trùng vây điếc đặc muỗi râm ran …

Ta nhìn theo

Mấy con thằn lằn uể oải

Lũ gián lào xào

Con nhện bỏ trống lưới giăng …

Ta nhìn lên những dòng chữ trên tường

Viết bằng gạch, bằng than

và hình như bằng cả máu …

Các bạn tù Thanh Chương đọc thơ Tô Thùy Yên, Hà Thượng Nhân vanh vách. Như vậy là 7, 8 năm nay tôi chưa gặp lại các bạn mà chỉ gặp “tiếng nói” của các bạn. Tôi không có duyên gặp bạn trong tù. Có lúc năm 1979, 1980 ở trại Tân Lập (Vĩnh Phú) tôi ở K1, Thanh Tâm Tuyền ở K2, không gian chỉ cách nhau vài cây số mà không gặp được nhau bao giờ. Có lúc bà cụ thân sinh TTT từ trong Nam lặn lội ra thăm – bạn còn nhờ người đem sang cho tôi ít thuốc lào và một bài thơ tặng PLP. Nhà thơ Tự Do chủ lực của Sáng Tạo, lại làm chuyện lạ cho tôi một bài thất ngôn, bát cú. Tôi giữ bài thơ này như một kỷ niệm riêng. Bạn tôi lúc đó làm ở đội chăn nuôi, hằng ngày phải lên đồi gánh lá sắn về băm ra nuôi cá chắm. Đi làm qua khu ao cá xa xa, tôi có lúc nhớ bạn quá đã hú lên một tiếng để xem may ra có tiếng trả lời – Nhưng tiếng hú của tôi tan vào thinh không; cán bộ quản giáo nhìn tôi trừng mắt … Bạn tôi lúc đó chắc đang bận “bầm nát ân tình đều nhịp dao” (thơ Thanh Tâm Tuyền).

Nghe thơ các bạn, tôi vừa buồn vừa vui. Buồn là không có bạn tâm tình ở bên. Vui là chưa gặp, nhưng thơ như thế chắc các bạn tôi còn khỏe ít ra về mặt tinh thần. Vui hơn nữa là nghiệp làm thơ của các bạn ở trong tình trạng “luyện ngục” như vậy mà thơ vẫn được tôn vinh. Thơ làm ra là để đọc, để cảm thông, để chuyển tải … Thơ không ai đọc, không ai nghe, không ai hiểu … thì chẳng bao lâu nó sẽ “chết trong lòng mộ tối”. Cho đến lúc ấy (1983) theo tôi 2 bạn Tô Thùy Yên, Hà Thượng Nhân làm thơ bao nhiêu năm nay, thơ bao nhiêu người thuộc … mà các bạn chưa từng xuất bản một tập thơ nào. Như vậy là các bạn không in thơ lên giấy trắng, mực đen mà in vào tâm hồn mọi người. Không phải người làm thơ nào cũng được “tuyên dương” như thế.

Hôm ấy có bài “Mùa Hạn” của Tô Thùy Yên làm rung động toàn thể anh em. Bài thơ như một bản “đại cáo” của lưu đày tù tội. Mùa hạn không riêng cho nông dân – mà mùa hạn của kiếp người. Nơi đây khô hạn thực phẩm, khô hạn tình thương. “Lịch sử lên cơn dữ lạ thường” khiến cho “máu bung từ mỗi lỗ chân lông, cái chết tru rân giờ nguyệt tận”. Thiên nhiên cũng úa vàng khắc khổ – cây đa già râu tóc, trụi lá trơ cành cây cỏ lụi tàn, bậc hiền nhân quyên sinh ngoài động đá. Ngày tận thế đã điểm rồi chăng? Nhưng không – theo cái lẽ biến dịch thông thường – hay là theo cái vòng chu chuyển “nước đi ra biển lại mưa về nguồn” nên một ngày kia có cơn mưa tái tạo. Mưa rơi như một sự hồi sinh, mưa gột rửa đau thương, mưa làm mọc lên những nhành non lá mới, mưa là nguồn suối yêu thương chảy từ đầu non tới biển:

Mưa ôm choàng đất khóc thương mong

Mưa báo tin vui chạy khắp đồng

Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở

Mưa mừng trẩy hội nước trăm sông …

Ông lão mù lòa ra trước hiên

Nghe mưa cũng ngước mắt nhìn lên

Má nhăn bỗng sáng hai hàng lệ

Ông hiểu ra rồi lẽ biến thiên

Người làm thơ lưu đày được lịch sử tha, một sớm trở về quê cũ. Đây là giấc mơ của người tù biệt xứ hay là câu chuyện sẽ phải xảy ra. Chưa biết được nhưng ít khi đọc xong một bài thơ mà tâm hồn con người được an ủi vỗ về như thế, nhuần thấm một sự yêu thương đậm đà như thế:

Nhóm lên bếp lửa đêm trừ tịch

Hát với nhau vài điệu hát vui

Nâng chén uống mừng ta sống sót

Chợt nghe nồng lệ tự đâu rơi

Lòng ta nay vẫn lòng ta trước

Vẫn chảy về con nước thuở nào

Sợi tóc mai kia dù có rụng

Ba sinh còn để nhớ cho nhau

Đất trời không có chi còn mất

Ta bước ra thân đón tuổi già

Trước mắt ta còn trăm thứ việc

Sửa nhà, chăm sóc lại vườn hoa

Những ai hôm trước từng gây tội

Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình

Tự tại, thời gian chôn chính nó

Đời lên lại mãi tựa bình minh

Sẽ lo chẳng những cho người sống

Lo cả cho người khuất mặt kia

Quen lạ bạn thù chung giấc ngủ

Chung lời thương tiếc khóc trên bia …

Người tù trở về, sau khi đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự tàn bạo của con người, đã nhận ra rằng, dòng chảy chính của cuộc đời, sự cứu rỗi của con người chính là sự yêu thương, không phải là thù hận. Bình minh của cuộc sống là ở đó. Tìm ra được điều này, không phải chỉ nhờ vào tài năng của Tô Thùy Yên mà chính nhờ vào tâm hồn lớn lao (grandeur d’âme) của tác giả. Đây là bản hùng văn của một cuộc đổi đời.

Nhưng trong cuộc đọc thơ hôm ấy, nhiều người trong đó có tôi không được hoàn toàn thỏa mãn. Bài thơ quá dài, quá hay mà anh em Thanh Chương không ai thuộc được hết. Người nhớ đoạn này, người nhớ đoạn kia. Bài thơ đó đi theo tôi hoài như một tấu khúc còn dang dở (Symphonie inachevée).

Dạo đầu năm 85 được về, trên con đường bè bạn tôi có lúc đã định rẽ vô thăm nhà bạn Tô Thùy Yên. Từ Hóc Môn lên, qua chợ Gò Vấp tới một cái cầu có ống dẫn nước lớn đen to nằm dài trên đó giống như một con rồng đất rồi tới một ngã ba có những viên sỏi đỏ sậm của đá ong khô, đó là lối vào nhà Tô Thùy Yên. Từ thập niên 60 tôi đã nhiều lần đến đây bù khú với bạn. Nhưng bây giờ về, đến thăm cảnh cũ người xưa, thấy lạ. Những bụi cúc tần xanh tốt dẫn lối hai bên đường, đôi khi có những sợi tơ hồng vàng óng, vương vất bên trên … không còn nữa. Nhà cũ của Tô Thùy Yên có cây vú sữa lớn. Khu gia viên nằm trong vùng cây lá thâm u … bây giờ không thấy cây vú sữa đâu. Bất giác tôi nhớ Nguyễn Gia Thiều “Phong trần đến cả sơn khê, Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”. Tôi ngần ngại trước sự đổi thay nên đã tới nhà mà không vào. Tôi biết bạn tôi chưa được về. Mình vô nhà hỏi thăm, có khi lạ làm cho gia đình bạn thêm nghĩ ngợi lo lắng cho người vắng mặt. Nhưng đến hồi cuối năm 85, người làm thơ biệt xứ Tô Thùy Yên được về – Lúc ấy trời đã sang thu thì phải. Bố con tôi đã phải mặc áo ấm trên con đường tỉnh lộ xào xạc heo may. Khi tôi đi cải tạo con gái út tôi mới có 5 tuổi. Khi tôi về nó đã 15 tuổi bắt đầu thiếu nữ. Các anh chị nó “vượt biên” hết cả chỉ còn nó ở lại với “mẹ cháu” đợi tôi. Khi tôi  về, nó theo tôi đi chơi tha thẩn. Ở Hóc Môn nó không có bao nhiêu bạn. Nó theo tôi lên Sài Gòn chơi với Tr.T con gái Thanh Tâm Tuyền, hay “đi chợ” với chị Ch. con gái bác Hà Thượng Nhân. Thôi thì bố chơi với bố, con chơi với con cũng là phải đạo. Chưa được gặp nhưng con tôi nó muốn gần chị G. con gái đầu của Tô Thùy Yên, học thật giỏi. Trong một xã hội Xã hội Chủ nghĩa (không có giai cấp) nhưng khi thi vào Đại Học có 15 thứ hạng. Ưu tiên hạng 1, 2, 3 thuộc gia đình cách mạng hay “chính sách” thì thi 3 bài từ 7 điểm trở lên đã được “chiếu cố” vô Đại Học rồi. Con cái “ngụy quân” như con chúng tôi đứng hạng thứ 14 áp chót (hạng chót là gia đình phản động, phản cách mạng). Khi bố đi tù cải tạo về rồi thì lại lên được một hạng, hạng 13. Con cái ngụy quân muốn vô Đại Học phải đạt 21 điểm, gấp 3 số điểm gia đình chính sách thì mới vô Đại Học được. G. con gái đầu ông bà Tô Thùy Yên thừa điểm vào Y Khoa. MT con tôi, Tr.T con Thanh Tâm Tuyền và H. con trai Tô Thùy Yên chúng nó cùng học lớp 10. Mấy đứa nhỏ chắc đều suy nghĩ: ở đây nếu muốn sống cho ra sống thì chỉ còn có cách làm như chị G. Hơn 10 năm gặp lại bạn … thấy bạn già đi (tất nhiên rồi) mà chắc bạn thấy tôi cũng vậy. Hình như bạn có khuyết một vài cái răng thì phải, cái cười hơi trống vắng. Nhưng khóe mắt vẫn còn nồng ấm và bắt tay thật chặt. Tôi nói “đây là khách cũ … đến xem bạn làm được bao nhiêu việc rồi?” (Trước mắt ta còn trăm thứ việc, sửa nhà chăm sóc lại vườn hoa). Tô Thùy Yên cười cười mà nói “Hãy cứ từ từ nhưng mà bây giờ thì phải làm ngay việc này”. Anh chỉ tay vào một cuốn sách dày trước mặt. Tưởng bạn dịch sách (nhớ ngày xưa bạn có dịch thật kỹ cuốn “Phận Người” (“La condition humaine” của André Malraux) nhưng khi tôi cầm sách lên xem thì đó lại là một cuốn sách Y khoa bằng tiếng Pháp. Anh nói “mình về vừa đúng lúc. Phải giúp con nhỏ G … cho nó kịp học hỏi và nghiên cứu”.

Tôi có nói với bạn về bài thơ “Mùa Hạn” mà tôi không có đủ. Nhưng anh nói rằng bản thân anh cũng không nhớ hết. Con đồng đã thăng rồi đâu còn nhớ những gì mình đã nói ra. Nhưng bữa ấy Tô Thùy Yên đưa tôi đọc bài “Ta Về” – bài thơ vừa mới làm xong khi thi sĩ lưu đày vừa trở về nguyên quán:

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời

Cám ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này …

Thật ra tôi đọc thơ Tô Thùy Yên đã lâu. Giữa thập niên 50 khi Sáng Tạo bộ cũ ra đời với những bài Cánh Đồng, Con Ngựa, Chuyến Tàu hay Thân Phận của Thi Sĩ. Lúc ấy ảnh hưởng của văn học Pháp đối với miền Nam còn nồng đậm. Đây là thời buổi của “Buồn Nôn” (La nausée – J.P.Sarte) của “Kẻ Lạ (l’Etranger -. Camus) hay “Phận Người” (La condition humaine – André Malraux). Sự hiểu biết của tôi về văn học Pháp rất là hạn chế nhưng tôi có cảm tưởng rằng thời kỳ thập niên 50, 60 là thời kỳ xâm lăng của triết học vào văn học. Những đặc trưng thườngthấy của thơ, của tiểu thuyết, của truyện ngắn đã bị xóa nhòa đi. Thay vào đó là những vấn nạn triết học hay những thắc mắc siêu hình. Để làm gì? đi đến đâu? tự do hay không tự do – phi lý hay hữu lý? Sống và nghĩ như thế nào cho phải? Người ta không đi tìm những nguyên nhân gần gũi mà đi tìm những căn do đầu tiên và cuối cùng của sự vật. Tô Thùy Yên là một người đọc sách chuyên cần. Cái ý thức trong sáng (esprit cartésien) của phương pháp luận nhị nguyên đã phóng ra những cái nhìn chinh phục. Con ngựa (trong Cánh Đồng, Con Ngựa, Chuyến Tàu) phải chăng là một cố gắng nhằm đo đạc ngoại giới.

Có đọc được thánh thư

Linh hồn tôi vẫn vậy

Tôi vẫn không thể lạy

Dù đứng trước hư vô

Đầu tôi cứng và trơn

Thượng Đế làm sao ngự

Tôi đành trốn chủ nợ

Định mệnh đòi linh hồn

Thượng Đế điềm nhiên lạ

Tôi đánh liều cười khan.

(Thân phận thi sĩ – Tô Thùy Yên)

Bài thơ mang giọng thách thức của Nietzhe – đăng quang cho một cái ta kiêu hãnh. Đây là thời kỳ Tô Thùy Yên muốn trở nên một thứ “Vương tôn miền trí tuệ”. Tôi đã cảm phục, đôi khi sợ hãi những bài thơ ấy – nhưng thành thật mà nói tôi không yêu chúng. Sự cảm nghiệm một bài thơ, theo tôi, nó tùy thuộc vào tâm cảnh của từng người. Tôi là một anh học trò nhà quê ra tỉnh, tâm hồn còn vương vấn với lũy tre xanh, đình chùa, miếu mạo, căn nhà tổ, họ hàng làng nước, bờ mương, ao cá … Dù đã cố gắng lắm tôi vẫn không làm sao hiểu được “Tha nhân là hỏa ngục” của J.P. Sartre. Tôi rất sợ mình là “khách lạ” – và điều tôi ao ước là được đến gần, được làm thân, chia sẻ với mọi người. Cái “hội u minh” thời ấy là một phong trào. Hoàng tử bi thương hay nhà thơ bị trù ếm (poète maudit) Đinh Hùng muốn đi khỏi cuộc đời này về miền nguyên thủy: “Thèm ăn một chút hương man dại – và ngủ như loài muông thú kia”. Vũ Hoàng Chương, bậc thi bá của làng thơ tiền chiến cũng bỏ thơ Say, thơ Mây, nêu lên một băn khoăn triết học:

Ta còn để lại gì không

Kìa non đá lở này sông cát bồi

Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước xa xôi dặm về …

Tô Thùy Yên ngay từ thuở ban đầu đã nghiêng về những điều thầm lặng lớn, mưu đồ đo đạc cả vô biên “ta về tắm lại dòng sông cũ, truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên – Tô Thùy Yên đã rất già khi còn trẻ. Già ở đây là già về tư tưởng nên trong thơ của anh, người ta thấy thiếu vắng sự lãng mạn, không có những nỉ non kể lể về một cuộc tình. Không có Kim Trọng, Thúy Kiều, cũng không có Paul và Virginie. Vào khoảng giữa thập niên 60 có một việc, nhỏ thô nhưng đã làm thay đổi Tô Thùy Yên. Anh bắt đầu đọc Đường Thi. Yên là một người ưa thích sự toàn hảo (gout du par fait). Anh không bằng lòng với những bản dịch. Yên muối đọc thơ Đường bằng nguyên tác và Tô Thùy Yên học chí Nho. “Học cho vui, chơi chơi vậy mà”. Xuống Gò Vấp thấy Tô Thùy Yên viết chữ Nho rất đẹp. Và đột nhiên tô được đọc một số bài thơ mang phong cách nhất nguyên của Đông Phương. Đọc thơ trước đây của Yên người ta thấy phảng phất St J. Perse – hoặc Valéry – bây giờ thấy Tô Thùy Yên “Quy khứ lai từ” như Đào Tiềm quay về nơi bản trạch. Bài thơ không còn vẻ kiêu hãnh của một ý thức chinh phục mà mang vẻ ngậm ngùi chấp nhận:

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui

Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn

Càng nhẹ tênh hênh cõi ngậm ngùi

Tại sao lại có con còng ở đây? Con còng làm liên tưởng đến con dã tràng ngoài bờ biển. “Dã tràng xe cát biển Đông – nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì?”. Phải chăng đã đến lúc Tô Thùy Yên nhận ra sự hạn chế của kiếp người, có những miền “bất khả tri” mà trí lực con người chưa với tới được. Về nơi bản trạch đối với Tô Thùy Yên có nhiều ý nghĩa. Cái nhà của Yên ở Gò Vấp là nhà từ đường bao nhiêu đời ở đấy? Cái nhà không đơn thuần là một “dụng cụ” để ở, mà nó là một phần đời ta, là chính ta. “Cái nhà là nhà của ta – ông cố ông sơ làm ra” nên cái nhà cũng như cái vườn, cái ngõ đều là sự tích yêu thương, là những liên hệ máu thịt mà ta không làm sao dứt bỏ được. Về nơi bản trạch về nơi quê nhà (phải chăng le Royaume trong “L’Exil et le Royaume” mà Camus mơ tưởng cũng nằm trong nghĩa đó) đã dạy ta một điều: cái mà ta tưởng nó là cái không ta (le non moi) lại chính là ta. “Mình với ta tuy hai mà một – Ta với mình tuy một mà hai”. Cái nhìn nhất nguyên nơi Tô Thùy Yên đã làm cho thơ anh từ đó về sau yêu thương hơn, thấm đượm hơn nhiều.

Nhưng có lẽ những năm tù cải tạo giúp chúng ta nhìn rõ cuộc đời hơn. “Ví thử cuộc đời bằng phẳng cả” chúng ta chưa chắc nhận ra chuyện ấy. Những chuyện nhỏ nhặt nhưng có giá trị rất cao. Không đi tù, không thường xuyên đói khát, chúng ta làm sao biết được hạt cơm nó quý như thế – không xa vắng cửa nhà 10 năm biệt xứ, chúng ta làm sao hiểu được cái thắm thiết trong vòng tay vợ, cái âu yếm trong cái hôn con. Người tù lưu đày, ngày trở về cảm ơn trời đất, cảm ơn vợ con, cảm ơn hoa, cảm ơn lá cỏ.

Ta nhìn lá cỏ lòng mê mẩn

Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân …

Tôi đi về nhà có mang theo “Ta Về”. Tôi đọc thơ bạn cho nhà tôi nghe:

Ta về như tiếng kêu đồng vọng

Rau mác lên bờ đã trổ bông

Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng

Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa

Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu

Ta nghe như máu ân tình chảy

Từ kiếp nào xưa tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất

Khắp thế gian này để gặp em

Đau khổ riêng gì nơi gió cát

Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm

Đọc đến đoạn này, nhìn lên thấy nhà tôi đã nhạt nhòa nước mắt.

***

Cuối năm 1990, ngày thứ sáu 13 tháng 10. Ngày xấu “đi chơi cũng thiệt lọ là đi buôn”. Tôi quanh quẩn ở trong nhà. Chợt có tiếng xe Honda thắng xiết trước chiếc cầu nhỏ, bắc qua con lạch vào căn nhà Hóc Môn của tôi. Nhìn ra thấy H. con trai Tô Thùy Yên đang hấp tấp dắt xe vào. Tôi chạy ra, thấy vẻ hốt hoảng của H. nên vội hỏi “Có chuyện gì vậy cháu?” – “Bố cháu vừa bị bắt rồi”, H. thảng thốt nói tiếp: “Trước khi lên xe Công An, bố cháu nói nhỏ: đi báo các bác, nên cháu vội chạy lên đây”. Nhà tôi bảo H. ở lại ăn cơm cái đã nhưng H. nhất định ra về “Để cháu phải đi ngay cho kịp vài nơi nữa … ”

Như vậy là “Mùa Hạn”, “Ta Về” thơ Tô Thùy Yên – “Tâm Sự Với Bạch Cư Dị” thơ Hà Thượng Nhân – “Bài hát Tự Do”, “Trăng Tù” – thơ Thanh Tâm Tuyền, một bài từ của bạn già người viết sử Lam Giang cùng với một số bài viết của tôi đã được “phần thư” ngay chiều hôm đó. Lúc này Thanh Tâm Tuyền cũng như Hà Thượng Nhân đã HO đi Mỹ. Bạn bè thân thiết gần đây chỉ còn Tô Thùy Yên. Bây giờ bạn ta bị bắt rồi. Bao giờ bao giờ gặp bạn ta trở lại?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply