Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

10.Toà lâu đài huyền diệu

Trong nhiều năm – trong thời gian chiến tranh và sau đó – Yakonov ngồi vững với địa vị kỹ sư trưởng Sở Tiếp liệu đặc biệt. Y mang với một vẻ trang trọng đáng kính đôi cầu vai nền bạc viền xanh ở giữa có ba ngôi sao mà sự hiểu biết của y đã đem lại cho y. Chức vụ của y đặc biệt đến nỗi y có thể hoạt động trên một địa bàn rất rộng: đôi khi đọc một báo cáo đầy những danh từ khoa học trước những nhân viên cao cấp trong guồng máy nhà nước, đôi khi thảo luận một cách thông minh với một ngôn ngữ đầy những danh từ chuyên môn với những kỹ sư về những phát minh mới nhất. Nhìn chung, y tự tạo cho y cái uy tín là một nhà chuyên môn nhưng không phải lãnh trách nhiệm về bất cứ một chuyện gì, và mỗi tháng y được lãnh vài ngàn đồng ruble. Yakonov chủ tọa cuộc lễ khai sinh ra tất cả những phòng chuyên môn, những cuộc phát động thực hiện kế hoạch, y biến mất trong giai đoạn khó khăn của kế hoạch để rồi lại xuất hiện trước quan tài của những kẻ thất bại hoặc để choàng vòng hoa chiến thắng lên đầu những kẻ thành công. 
Anton Nikolayevich Yakonov không còn đủ trẻ và đủ tự tin để mơ tưởng đến chuyện có ngày đoạt được huy chương Sao vàng hoặc giải Stalin, hoặc mỗi khi có dịp là vồ lẫy người dự án lớn, quan trọng do Tổng thống hay do chính Thủ lãnh tối cao đưa ra. Y đã có đủ kinh nghiệm và tuổi đời để khôn ngoan lẩn tránh hệ thống rắc rối, phức tạp những xúc động, sợ hãi, âu lo do tham vọng thái quá gây ra. 
Với những quan điểm đó về cuộc đời, y sống an nhàn, đầy đủ, sung sướng cho đến tháng Giêng năm 1948. Trong tháng Giêng ấy có một kẻ nào đó đề nghị với Cha chung của dân tộc Nga La Tư ý kiến chế tạo một dàn máy điện thoại đặc biệt chỉ để dành riêng cho Lãnh Tụ Tối Cao dùng mà thôi. Dàn máy điện thoại đó sẽ được chế tạo sao cho không một kẻ nào có thể hiểu được Lãnh tụ nói gì, dù cho máy có bị cắm lén nghe trộm. Với ngón tay thần thánh, ngón tay vàng vì khói thuốc lá, vị Cha hiền dân tộc chỉ lên tấm bản đồ. Ngón tay đặt đúng lên Mavrino. Lúc ấy Mavrino là một xưởng chế tạo máy truyền thanh xách tay cho cảnh sát dùng. Câu nói lịch sử của Người trong dịp này là “Ta cần những máy truyền thanh này để làm gì? Để bắt kẻ trộm à? Ai thèm để ý đến bọn ăn trộm?” 
Người ra thời hạn: ngày mùng một tháng Giêng 1949. Người suy nghĩ rồi nói: “Thôi được. Cho đến mùng một tháng Năm”. 
Công tác này được đặt vào hàng ưu tiên số một và quan trọng số một. Thời hạn của công tác quá chặt chẽ, quá gấp rút. Ở Bộ An ninh, người ta thảo luận lỹ và người ta lựa Yakonov để trao cho việc đích thân đốc xuất công tác này. Yakonov cố gắng một cách vô ích để trình bày rằng y đã phụ trách quá nhiều việc và y không thể nào làm tròn được hai việc cùng một lúc. Nhưng Foma Guryanovich Oskolupov, giám đốc Nha Kế hoạch Bộ An ninh, thượng cấp trực tiếp của Yakonov, chiếu cặp mắt xanh như mắt mèo nhìn thẳng vào mắt Yakonov – và Yakonov nhớ lại vết đen trên hồ sơ an ninh của y. Chính y cũng đã từng phải ở tù sáu năm. Vì vậy, y ngậm miệng lại không dám nói gì nữa. 
Từ đó – đã gần hai năm trời trôi qua – văn phòng trưởng Phòng Kỹ sư ở Tổng bộ An ninh vẫn để trống không có ai ngồi. Trưởng Phòng Kỹ sư Yakonov sống suốt ngày đêm ở Viện Nghiên cứu Mavrino nằm ở ngoài thành Mạc Tư Khoa, nơi có một tầng tháp hình lục lăng nổi cao trên mái tòa giáo đường xưa cũ. 
Thoạt đầu, việc một mình có toàn quyền quyết định mọi việc là một lạc thú, Yakonov cảm thấy khoái lạc trong việc đóng cánh cửa chiếc xe hơi Pobeda dành riêng cho y di chuyển với cử chỉ mệt mỏi. Y khoan khoái ngồi trong chiếc xe êm đưa y tới Mavrino, đi ngang người binh sĩ chào nghiêm với cây súng trên tay ở vọng gác ngoài cổng để vào tòa nhà chung quanh có dây thép gai. Cuộc sống thật dễ chịu trong mùa xuân, khi cảnh vật đều trẻ trung và tươi mởn, đi bộ dưới những hàng cây để từng sống cả trăm năm bao quanh Mavrino với một đám thiếu tá, đại úy tùy tùng. Trong thời gian đầu, những vị thượng cấp của Yakonov không ai đòi hỏi gì ở Mavrino – Yakonov chỉ có việc đều đặn gửi về Tổng bộ một lô những chương trình kế hoạch, sơ đồ và lời hứa sẽ làm trọn những “bổn phận đối với chế độ”. Và vật dụng đủ thứ được tới tấp đổ xuống Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino: những bộ phận máy radio do Nga Xô chết tạo và những bộ phận do ngoại quốc chế tạo, máy điện, dụng cụ nghiên cứu, bàn ghế, tủ, tủ sắt, một tủ sách gồm ba mươi ngàn quyển sách chuyên khoa kỹ thuật, những tù nhân chuyên viên được lấy ra từ những trại tập trung, những sĩ quan mật vụ ưu tú nhất được phái đến, những viên chức lưu trữ hồ sơ được biệt phái tới làm việc và sau cùng, một đại đội binh sĩ phòng vệ đặc biệt kéo đến. Cũng trong thời gian đầu, Yakonov phải cho sửa lại tòa nhà, làm thêm phòng, chuyển những căn phòng trong nhà y thành phòng thí nghiệm và văn phòng, xây hầm đặt máy điện. Cho đến khi những hàng cây để nở hoa vàng và tỏa ngát hương thơm, tiếng nói buồn rầu của những tù binh Đức được gửi đến làm lao công vang lên trong vườn tòa nhà. 
Những tên Phát xít lười biếng đang sống nằm tù thứ tư sau chiến tranh ấy không muốn làm bất cứ một việc gì. Trước mắt những người Nga, cảnh bọn tù binh Đức chuyển những viên gạch từ trên những chiếc xe vận tải xuống là một cảnh chướng mắt chịu không nổi: chúng xếp hàng một từ xe vào đến chỗ xếp gạch, chúng chuyền tay nhau từng viên gạch chậm chạp, cẩn thận, như đó là những khối vàng nén. Chúng cố tình làm chậm như thế và chúng chỉ chuyển hết số gạch trên một chiếc xe xuống là hết ngày. Trong lúc những công nhân đặt máy thông hơi, máy sưởi ở cửa sổ và lát ván lại những căn phòng trong nhà, bọn tù binh Đức đi lang thang khắp nhà, chúng vào cả những căn phòng tối mật và đứng nhìn những thùng đồ ghi chữ Đức và chữ Anh. Bất cứ một chú học sinh người Đức nào cũng có thể đoán biết phòng thí nghiệm gì được lập lên ở đó. Rubin đã ghi tất cả những chi tiết này trong một bản báo cáo gửi đến đại tá kỹ sư Yakonov, báo cáo này ghi nhận đúng nhưng cũng rất phiền cho hai sĩ quan phụ trách an ninh ở đây – Shikin và Myshkin – (bọn tù nhân gọi hai nhân vật này bằng cái tên chung là Shishkin và Myshkin) – bởi vì lúc đó, người ta chẳng còn sửa chữa gì được nữa. Họ không thể gửi báo cáo đó lên thượng cấp vì sự sơ xuất đó là lỗi của họ. Và đến lúc đó bọn tù binh Đức đã được trở về Đức quốc. Yakonov rùng mình kinh sợ khi nghĩ rằng nếu trong bọn tù binh ấy có tên nào trốn sang Tây Đức, tên đó sẽ có thể kể lại vị trí Viện Nghiên cứu này với bọn gián điệp đế quốc tư bản. Sau đó, những biện pháp bảo vệ bí mật đến tối đa được áp dụng ở Mavrino: tù nhân làm việc ở phòng thí nghiệm này không được đặt chân sang phòng thí nghiệm khác, các tù nhân không được tiết lộ những công tác nghiên cứu với nhau, trừ khi nào được ban giám đốc cho phép. Việc Yakonov được cử đi điều Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino cũng được giữ kín ở Tổng bộ An ninh. Ở trong Bộ, hỏi đến đại tá kỹ sư Yakonov đều được yêu cầu ghi tên, cấp bậc và lý do cần gặp lên giấy và sẽ được trả lời sau. Nếu cần phải gặp những người này, bao giờ Yakonov cũng về Bộ để gặp. Y không tiếp bất cứ ai ở Mavrino. 
Khi bọn tù bình Đức được gửi về nước, họ đưa tới Mavrino đám tù khác để làm lao công. Đám tù này giống hệt những tù nhân làm việc chuyên môn trong việc trừ điểm quần áo của họ dơ dáy hơn, rách rưới hơn và họ không được quyền ăn bánh mì trắng. Đám tù Nga này làm việc khác hẳn bọn tù binh Đức: họ vừa làm việc vừa chửi rủa tục tĩu những viên gạch bay tới tấp từ trên xe vận tải xuống sân và kết quả là gần như không còn viên gạch nào lành lặn hoàn toàn. Với tiếng: “Một… hai… ba…” bọ tù Nga quăng tấm mui xe bằng vải bạt chùm lên xe và chúng chui và đó để đi về nhà giam, trên đường đi chúng đùa giỡn với những nữ tù nhân. Buổi sáng chúng được đưa đến làm việc, buổi chiều đưa trả về nhà giam. 
Và tòa lâu đài huyền diệu đó, nằm riêng rẽ ở một khu ngoài thành phố, một khu tuy không thấy có gì khác lạ nhưng bọn thường dân không dám tới gần, được thay đổi gần như toàn diện: lâu đài có một bồn chứa nước, một hệ thống đốt rác tối tân, một nhà máy điện riêng, những căn phòng cửa sắt được sưởi ấm vào mùa đông và những bồn hoa tươi trong vườn cỏ. 
Cũng trong thời gian đó, Viện Nghiên cứu khoa học được ưu đãi đặc biệt này mỗi ngày một phát triển lớn hơn, đông nhân viên hơn. Viện tiếp nhận cả một Viện Nghiên cứu khác với toàn thể nhân viên của viện này. Đó là Viện Nghiên cứu được trao cho thiếu tá kỹ sư Roitman chỉ huy. Viện này cũng được lập lên để nghiên cứu về điện thoại và truyền tin. Thiếu tá kỹ sư Roitman trở thành vị phụ tá của đại tá kỹ sư Yakonov. Người khai sinh và bảo vệ Viện Nghiên cứu bị sáp nhập này là đại tá Yakov Ivannovich Mamurin, nguyên Trưởng Sở Liên lạc đặc biệt và nguyên là một viên chức cao cấp, quan trọng của chính phủ Xô Viết. Trước đó ít lâu, đại tá Mamurin đã biến mất trong trường hợp bi thảm như sau này. 
Số là có một lần vị lãnh đạo Nguyên liệu tiến bộ nói chuyện bằng điện thoại với một người ở tỉnh Yenan và Lãnh Tụ bất mãn vì đường dây rè rè khó nghe, khó nói quá. Người bèn gọi Beria tới và nói bằng tiếng địa phương Georgian: “Lavrety… Anh để cho thằng ngu nào giữ Sở Liên lạc đặc biệt vậy? Tống cổ nó đi”. 
Và như thế là Mamurin bị tống đi. Bị tống đi có nghĩa là đi tù. Họ giam Mamurin vào nhà tù Lubyanka. Họ tống y đi nhưng họ không biết sau đó phải giải quyết tình trạng của y ra làm sao, phải đối xử với y như thế nào. Họ không có chỉ thị phải làm về vụ Mamurin, không có lệnh phải xử tù Mamurin và nếu xử tù thì cho tù bao nhiêu năm. Nếu Mamurin không phải là anh em đồng chí của họ, họ đã xử y “một phần tư thế kỷ và năm năm khóa mõm”, nghĩa là tù khổ sai hai mươi lăm năm và năm năm mất quyền công dân, và tống y đi Norilsk. Nhưng họ bị ám ảnh bỏi lời nguyền: “Hôm nay tôi, mai đến bạn”, những người bạn đồng nghiệp cũ của Mamurin ngấm ngầm ủng hộ y. Khi họ biết chắc rằng Stalin đã quên Mamurin, họ dàn xếp cho Mamurin đến sống ở Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino. 
Vì vậy, trong một đêm mùa hạ năm 1948, họ đưa một tù nhân mới đến Mavrino. Tất cả mọi sự kiện liên can đến tù nhân này đều khác thường: Y được đưa tới trên một chiếc xe hơi du lịch chứ không phải trên một chiếc xe Maria Đen như tất cả những tù nhân khác. Y được viên quản đốc nhà tù đích thân đi đón về, và y được mời ăn bữa đầu tiên trong nhà tù ở trong văn phòng của viên quản đốc, bàn ăn của y đêm đó có trải khăn trắng đàng hoàng. 
Những tù nhân có trước trong nhà tù này nghe biết – trên nguyên thể, họ không được nghe, thấy biét gì hết nhưng trên thực tế, họ vẫn nghe, vẫn thấy và vẫn biết hết mọi chuyện – tù nhân mới đến này nói rằng y không thích ăn xúc xích và viên quản đốc lễ phép mời y chịu khó ăn nhiều cho khỏe. Một tù nhân bị đau trên đường đi tới phòng khám bệnh nghe lỏm được những lời trao đổi này. Anh trở về kể sự lạ ấy với các bạn và đám tù nhân bán tán xôn xao một lúc về sự lạ ấy. Họ đi đến kết luận là dù sao đi nữa, kẻ mới đến cũng chỉ là một anh tù. Sau đó, họ ngủ. 
Những sử gia của Nhà tù đặc biệt Mavrino không bao giờ xác định được rằng đêm đầu tiên ấy kể mới đến ngủ ở đâu. Sáng sớm hôm sau, ở một khu mà các tù nhân bị cấm không được đặt chân đến, một tù nhân chuyên viên thợ tiện, tình cờ chạm trán với một kẻ mới đến trong đêm qua. 
“Ê bạn…” – người tù thợ tiện hỏi vội với ngón tay thô chọc mạnh vào ngực kẻ mới tới – “Bạn từ đâu đến? Bị vồ ở đâu? Vì sao? Ngồi đây, hút thuốc không?” 
Nhưng kẻ mới đến lùi xa người tù thợ tiện với vẻ kinh hãi khinh mạng hiện rõ trên mặt. Người tù thợ tiện trợn mắt nhìn cái đầu hói và đôi mắt trắng của kẻ mới đến, anh giận dữ nói: 
“Đồ phách chó. Để rồi khi anh vào ở chung với chúng tôi anh có chịu nói chuyện với chúng tôi hay không.” 
Nhưng “Phách chó” không bị nhốt vào phòng ngủ chung với tù nhân. Bên cạnh hành lang đưa tới những phòng thí nghiệm, ở tầng thứ ba, ban quản đốc làm được cho y một căn phòng nhỏ, trước đây phòng này được dùng làm phòng tối rửa hình, họ khiêng vào đó một cái giường, một cái bàn, một cái tủ, một chậu cây cảnh và một cái bếp điện. Họ gỡ những tám ván ra khỏi khung cửa sổ, cửa sổ này không mở ra ngoài trời mà là nhìn ra một cầu thang nhỏ. Vì vậy ngay cả những buổi trưa trời nắng nhất, ánh sáng cũng không lọt được tới khung cửa sổ căn phòng nhỏ này. Cửa sổ còn có chắn song sắt. Những chấn song này có thể gỡ ra được nhưng ban quản đốc nhà thù, sau nhiều do dự, quyết định để nguyên. Những người có quyền ở đây cũng không ai hiểu rõ về tình trạng rắc rối bao quanh tù nhân này và họ cũng không biết phải xử sự làm sao cho đúng. 
Từ đó, tù nhân mới tới được đặt tên là “Người mặt nạ sắt”. Trong một thời gian rất lâu sau đó không ai biết tên y là gì. không ai có thể nói chuyện được với y. Qua khung cửa sổ, những tù nhân đi lại trên cầu thang nhỏ trông thấy y ngồi cúi đầu trong căn phòng cô đơn, hoặc đi vất vưởng như bóng một cô hồn dưới hàng cây đề trong những giờ tù nhân bị cấm ra khỏi phòng giam. Mặt nạ sắt cũng gầy gò, xanh xao như bất cứ một tù nhân nào sau hai năm bị giam cầm nhưng việc y từ chối không chịu ăn xúc xích cho người ta biết rằng không phải y gầy xanh vì thiếu ăn hay vì bị thẩm vấn. 
Lại qua một thời gian rất lâu sau nữa, khi Mặt nạ sắt làm việc với phòng Số bảy, tù nhân được những viên chức tự do cho biết rằng y chính là đại tá Mamurin, người khi còn là giám đốc Sở Liên lạc đặc biệt, đã cấm không cho bất cứ ai đi ngang cửa văn phòng của y được đặt gót giày xuống sàn, nghĩa là tất cả mọi người đi qua cửa văn phòng y đều phải đi kiễng chân, nhón gót để khỏi gây ra tiếng động. Nếu không, y sẽ từ trong phòng hầm hầm chạy ra, quát lớn: “Đồ thô tục. Có biết văn phòng ai đây không? Tên là gì?”. 
Về sau, người ta được biết rằng sự khổ sở của Mamurin thuộc về tinh thần. Thế giới những người tự do hắt hủi, chê bỏ y và y không thể gia nhập thế giới của những người bị tù đày. Thoạt đầu, trong cảnh cô đơn, y đọc sách. Y đọc những tác phẩm bất hủ như quyển Chiến đấu cho hòa bình của Panferov, quyển Chàng kỵ sĩ sao vàng của Babayevsky. Y đọc Sobolev, Nikulin, rồi đọc thơ của Prokofiev và Gribachev. Và trong tâm hồn y một sự chuyển biến kỳ diệu xảy ra: y bắt đầu làm thơ. Người ta biết rằng sự bất hạnh và tình trạng đau khổ về tinh thần thường sản xuất ra những nhà thi sĩ và sự đau khổ của Mamurin sắc nhọn hơn sự đau khổ của nhiều tù nhân khác. Sống trong nhà tù đã hai năm nhưng không bị thẩm vấn cũng không bị đưa ra tòa xử, không có án, y vẫn sống giống hệt như y sống trước khi bị tù, nghĩa là tuân theo đúng những chỉ thị của Đảng, tôn thờ Lãnh tụ Tối cao. Mamurin thú thật với Rubin rằng không phải thức ăn trong nhà tù tồi tàn – (những bữa ăn của y được nấu riêng) – cũng không phải vì tình trạng phải xa những người thân trong gia đình – (mỗi tháng y được bí mật đưa về nhà riêng ủa y, nơi y ngủ lại một đêm) – y khổ sở và cay đắng chính là vì tình trạng Yosif Vissarionovich Stalin không còn tin cẩn y nữa. Y đau đớn vì y không còn là một vị đại tá, vì y bị thất sủng. Chính vì vậy mà những người như Rubin và Mamurin sống khổ sở trong tù hơn là những người tù khác thù hận, chống đối chế độ. 
Cơ quan là một đảng viên Cộng sản. Nhưng sau khi nghe những lời thở than, tâm sự của Mamurin và nhất là sau khi đọc tập thơ của Y. Rubin trở thành lẩn tránh y. Rubin vui vẻ sống với những người chỉ trích anh một cách bất công nhưng chịu chung cảnh ngộ với anh. 
Về phần Mamurin, y bị thôi thúc vì một ý muốn, ý muốn này cũng làm cho y nhức nối, khó chịu như những cơn đau răng da diết: ý muốn chứng tỏ giá trị con người của y qua việc làm. Nhưng than ôi, những hiểu biết chuyên môn của Mamurin về liên lạc và truyền tin, mdà y từng là một viên chức cao cấp trong ngành, chỉ là việc nhấc ống điện thoại lên quay số và nói. Do đó y không sao có thể tự y làm việc được, y chỉ có thể sai khiến người khác làm việc mà thôi. Nhưng việc điều khiển một dự án nào đó do dự án của người khác làm việc ra không bao giờ có thể làm cho y chiếm lại được sự tin cẩn của Người Bạn Thân Nhất của công nhân truyền tin 1, y cần phải nghĩ ra một dự án riêng để đệ trình lên Lãnh tụ. 
Trong thời gian Mamurin phát minh ra được điều này, Viện Nghiên cứu Mavrino đang sửa soạn thực hiện hai dự án đáng kể, hứa hẹn nhiều vinh quang. Đó là dự án chế tạo máy Vocoder, một máy đo tiếng nói, và thiết lập Phòng Nghiên cứu số Bảy. 
Vì những nguyên nhân sâu xa nhưng vô lý nào đó, người ta thường có cảm tình hay ác cảm với nhau, chịu nhau hay không sao chịu nổi nhau, ngay từ giây phút gặp gỡ đầu tiên, từ cái nhìn thấy mặt nhau thứ nhất. Yakonov và Roitman có ác cảm với nhau và không chịu nhau. Thời gian trôi quan, sự ác cảm này càng nặng nề, họ như hai con vật cùng bị một bàn tay mạnh hơn đưa vào kéo chùng một cái gông, họ như hai con ngựa bị ghép chung vào một cái xe, hai con ngựa không sao thoát ra được nhưng kéo đi về hai hướng khác nhau. Khi công tác chế tạo máy điện thoại bí mật được thực hiện ở Mavrino, Roitman quy tụ tất cả những tù nhân chuyên viên xuất sắc mà y có thể quay tụ được vào làm việc trong Phòng Âm thính. Để trả đũa, Yakonov cũng nhặt nhạnh tất cả những chuyên viên tài giỏi trong nhà tù về làm vệic trong Phòng số bảy do y lập ra và điều khiển. Yakonov còn đêm tất cả những dụng cụ khoa học tốt nhất tập trung về Phòng số bảy. Trong trận tranh chấp quyết liệt và tàn nhẫn này, Roitman có vẻ yếu thế hơn. 
Yakonov bắt buộc phải lập lên Phòng Nghiên cứu số bảy vì y không thể để cho Roitman làm hết mọi việc ở ngay thiết bị Viện Nghiên cứu mà y được cử làm giám đốc. Y phải chứng tỏ cho thượng cấp biết là y mẫn cán, y có khả năng. Kể từ ngày đó Yakonov có thể có mặt trong Viện ban đêm hay không tùy ý. Và người tù cô đơn với đôi mắt nhiều tròng trắng hơn tròng đen, viên cựu đại tá từng giữ chức giám đốc Sở Liên lạc đặc biệt, người tù từ chối không chịu ăn uống, tạm đè nén hứng thơ để làm việc như một tên nô lệ cho đến hai giờ sáng trong Phòng số bảy. Chỉ có một mình Mamurin có thể làm việc được nhiều giờ như thế vì ý là tù nhân duy nhất không bị viên chức canh gác trong nhà tù này.

——————————–

1Người Bạn Thân Nhất đây chính là Stalin. Ở Nga dưới thời Stalin ngự trị, tất cả mọi ngành công nhân đều gọi Stalin là Người Bạn Thân Nhất, cả những binh chủng cũng vậy.

Tù Cộng sản… Tù Cộng hòa

baotreonline.com

Trần Vũ

February 5th, 2021

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

Lần đầu tiên bi ký Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam dịch sang tiếng Anh, dưới tựa PEACE AND PRISONERS OF WAR, do đích thân Thượng nghị sĩ James Webb giới thiệu và US Naval Institute xuất bản.

Hiệp định đình chiến Paris ký ngày 27 tháng 1-1973 chưa ráo mực, Phan Nhật Nam là nhà văn quân đội đầu tiên đặt câu hỏi về thân phận tù binh. Tù Cộng sản… Tù Cộng hòa là tựa của chương thứ 7 trong tập bi ký dữ dội nhất văn nghiệp Phan Nhật Nam. Nửa thế kỷ sau đọc lại, vẫn là những dòng chữ viết một mạch với bi phẫn và giận dữ.

Phan Nhật Nam là thần tượng tuổi thơ của tôi những năm 12 tuổi. Tôi khám phá Trung tá Nguyễn Đình Bảo chết trên đồi Charlie qua anh. Tôi khám phá Trung tá Lê Văn Ngôn tử thủ Tống Lệ Chân qua anh. Tôi cực xúc động khi đọc Tù Binh và Hòa Bình vào lúc Phước Long thất thủ tháng 1-1975. Phan Nhật Nam giúp tôi biết, là quốc gia đang vào đường cùng. Những linh mục viết cáo trạng hàng ngày khi ấy, những thượng tọa xuống đường mỗi ngày trong lúc Ban Mê Thuột hấp hối… Ai nhớ đến tù binh?

Tôi biết đến lồng ngực nở nang của tù binh Bắc Việt giam ở Phú Quốc và nỗi sợ hãi tột cùng của người tù miền Nam khi trao trả ở Minh Thạnh, quốc lộ 13, trong những ngày này. Người lính miền Nam tiểu ra quần vì sợ bị giữ lại. “Có chắc trả không Đại úy, tụi em có được trả không Đại úy… Em sợ tụi nó lắm, tụi nó tàn ác không phải như người đối với nhau… Em sợ xin nó đi tiểu rồi nó giữ lại không trả thì chết mất… “ Tôi lên 13, đối thoại 2 câu ngắn in trong tâm trí cho đến giờ. Sau 75 tôi lên 14, vượt biên bị bắt giam ở Phan Thiết, chung với sĩ quan cấp úy cải tạo, tôi đã chứng kiến tận mắt các nữ quân nhân VNCH bị đánh đập trong trại Tuy Phong.

Lần đầu tiên Tù Binh và Hòa Bình dịch sang tiếng Anh, là cơ hội cho các bậc phụ huynh mua sách cho các con không thạo Việt ngữ. Để thế hệ thứ nhì hiểu những gì đã xảy ra. Vì sao cha mẹ phải lìa quê.

Cùng với Tù Binh và Hòa Bình, Mùa Hè Đỏ Lửa cũng được dịch sang Pháp văn dưới tựa UN ÉTÉ EMBRASÉ, bản dịch của Liễu Trương, Nxb L’Harmattan, 2019. Bạn đọc có thể mua sách qua link: Học viện Hải quân Hoa Kỳ hoặc Amazon. [Trần Vũ]

Phan Nhật Nam

Phi đạo nằm theo hướng Nam – Bắc vạch một đường đỏ thẫm giữa lòng rừng cao su xanh lá. Trực thăng hạ xuống theo lối xoắn trôn ốc, mặt phi đạo hiện rõ dần… Bước xuống sân bay Minh Thạnh, cách quốc lộ 13 không đầy mười lăm cây số đường chim bay. Tôi vào đất địch.

Dưới tàn cây xanh im bóng, trong khu rừng tịch mịch, từ tốn hít từng hơi thuốc ấm, nghe tiếng gió vi vu thổi qua hàng lá dày… Tôi tận hưởng hết tất cả bình yên trước một ngày căng thẳng. Ðám cán bộ Cộng sản đến từ Sài Gòn đang “hội ý” với những cán bộ địa phương. Chỉ còn khoảng thời gian “trong sáng” này để sống cho riêng mình. Nửa giờ nữa, một con người thật lạ phải thế chỗ trong tôi. Hôm nay, tôi dự kiến cuộc trao trả về phía Cộng sản bốn trăm người và nhận lại hai trăm. Ðịa điểm này tôi đã xuống một lần, đã biết được thế nào là chiến pháp cư xử của cán bộ Cộng sản miền Nam có cán bộ Cộng sản miền Bắc chỉ huy kiểm soát. Biết, nên giương sẵn mọi cẩn thận đề phòng. Minh Thạnh – Tây Ninh.

Mật khu Ba Thu nằm bên kia biên giới Miên – Việt chỉ cần một ngày một đêm di chuyển. Nhân viên của cục R đã ra mặt hoạt động. Khu rừng cao su mông mênh, những người Mỹ ngồi bên cạnh nhỏ to thì thào, tôi lọt hẳn giữa những bủa vây im lặng mở đầy phong ba.

“…Ðể tránh gây khích động tâm lý nơi những người sắp được trao trả, để biểu lộ lòng yêu chuộng hòa bình đích thực trong tinh thần hòa hợp và hòa giải dân tộc… Chúng tôi yêu cầu Ðại úy Nam chỉ thị cho quân cảnh không được mang vũ khí vào khu vực trao trả, tất cả phải để lại trên máy bay…” — Anh cán bộ Mặt Trận Giải Phóng mở đầu.

Tôi cúi đầu nhìn xuống đất cỏ, phân chia lời nói theo các thứ tự để trả lời… Không được mang vũ khí, lại một khó khăn mới. Việt cộng quả hơn người ở điểm sáng tạo, mỗi ngày phải gây thêm một khó khăn. Những đòi hỏi kế tiếp: Trực thăng không được lượn vòng trên phi đạo (?!); Quân cảnh phải gọi “anh” trước tên mỗi tù binh. Quân cảnh không được điểm danh tù khi trao trả (Dù phía MTGP chưa ký nhận chữ ký cuối cùng ở mỗi danh sách). Những anh Ủy Ban Quốc Tế gật đầu, những anh Bắc Việt gật đầu, những anh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong tổ Liên Hợp cũng gật đầu… Trung tá Tuệ, gã cán bộ tuổi quá ngũ tuần, da xanh bụng ỏng ồ ề giọng nói đầy những âm thanh đặc thù của vùng quê Bắc Việt. Trung tá Tuệ, chỉ huy trưởng phi trường Minh Thạnh, người có kiến thức quân sự phi trường ở câu nói: “Cứ bảo máy bay C-130 đáp xuống đi, cán bộ phi trường của chúng tôi bảo đáp được…!! Cán bộ “kỹ sư phi trường” Minh Thạnh, một anh mắt toét, răng hô hấp him đôi mắt nhìn ra phi đạo ửng nắng gật gật chiếc đầu xác nhận sự đồng tình góp ý với đồng chí chỉ huy phi trường. Ai bảo Chủ nghĩa Xã hội vô giai cấp? Chú Mạ Què quả tình là nhân vật chống Cộng hữu hiệu và đúng cỡ nhất đối với Cộng sản Á Châu.

Máy bay sắp đến, tôi phải chấm dứt màn kịch để bắt đầu công việc. Trung tá “tư lệnh” phi trường Minh Thạnh bệ vệ lên chiếc xe Jeep mang huy hiệu Nhảy Dù… A! Người Cộng sản vẫn biết xỏ xiên láu cá như ai (vì họ thấy tôi mặc đồ rằn ri nên lấy chiếc Jeep bắt được của Nhảy dù ra lái).

Cuộc trao trả bắt đầu với những phiền toái bực mình cố hữu. Những bộ áo quần gượng gạo vứt bỏ khỏi thân thể, những hộp trái cây, hộp thịt e dè ném đi, những cánh tay đưa lên hô khẩu hiệu hững hờ, những ánh mắt lơ láo, những cái siết tay nồng nàn nhạt thếch… Cả một lớp hài kịch bi thảm dằng dặc cũ kỹ được diễn lại trong gượng gạo thảm thương pha lẫn vị khôi hài. Bộ quần áo nâu mới và bọc quần áo (của VNCH cấp phát) được ném đi để nhận lại một tấm khăn rằn mỏng như vải mùng cùng một bộ áo quần xanh mới nhuộm lem luốc đậm nhạt từng khoảng màu loang lổ. Hài kịch “cách mạng” ném áo quần này không hiểu do rỉ tai nào đã xúi giục vì những cuộc trao trả trong những ngày đầu tiên (12, 13 tháng Hai 1973) tại các địa điểm Lộc Ninh, Thạch Hãn không thấy thực hiện, và chắc chắn không phải do tự ý tù binh; vì hơn ai hết, những người này sau khi được trao trả, họ sẽ không còn dịp nào để có những bộ áo lành lặn, tốt đẹp, chắc chắn như thế này. Bộ quần áo nâu có chữ T.B. (tù binh) bắt buộc phải cởi đi nhưng những chiếc quần lót, mùng chăn là những vật dụng không thể nào có được nữa. Chẳng phải là lý luận suông nhưng cứ nhìn y phục của đoàn quân “cách mạng” mới biết thế nào là sự thiếu thốn, tàn tệ của quân đội Cộng sản, Cộng sản Nam cũng như Bắc. Những bộ áo quần sờn mòn (đây là dịp trọng đại mới đem ra mặc) những chiếc dép vẹt đế. Tất cả y phục tội nghiệp nghèo khó đó thật khó hòa hợp với những khuôn mặt kiêu căng đầy vẻ tự mãn trẻ con đến độ buồn cười. Nét kiêu căng của “Nhân dân Cách mạng giác ngộ” hiến thân cho Ðộc Lập, Dân Tộc và Chủ Nghĩa!!! Có một điều gì bất ổn trong cảnh sống của người Cộng sản. Loại người đặt căn bản hành động trên hệ thống luận lý biện chứng duy vật nhưng lại hướng đến những tiêu chuẩn tâm linh nhiều hơn ai hết… “Tự do, Cộng sản, Xã Hội, Cách Mạng” rốt cuộc chỉ là những danh từ trống được bơm vào đó chút say sưa kích thích để xô đẩy cả bao thế hệ vào dòng vận động cuồng tín… Năm 1973, năm của những tiến bộ khoa học tưởng chừng như trong chuyện cổ tích, nhưng người Cộng sản Việt Nam vẫn phải khó khăn đấu tranh với từng mẫu sắn, từng lon gạo, một hai điếu thuốc khô, dăm ba chiếc kẹo ngọt trên bước đường đấu tranh thần thánh thực hiện Chủ nghĩa Xã hội thì quả tình quá tội nghiệp. Cả một đội vận tải trên đường dây “Chủ Nghĩa Xã Hội” (đường mòn Hồ Chí Minh) phải “hội ý” (hội họp) từ năm giờ chiều đến chín giờ tối để đạt “tiêu chuẩn”.. cho “tiếp thu” năm điếu thuốc. Ðội vận tải gồm những kỹ sư, bác sĩ, những cán bộ mang quân hàm trung, thiếu tá phải bình nghị, hội họp suốt bốn tiếng đồng hồ để đạt “tiêu chuẩn” phân chia năm điếu thuốc Ðiện Biên. Thế nên cuộc cách mạng vô sản giải phóng miền Nam phải cần nhìn lại mục đích và phương tiện. Phải chăng cách mạng đã là một việc vô ích và quá phí phạm phương tiện. Nhưng phương tiện “người” trong chế độ Cộng sản phải chăng là yếu tố không hao mòn, yếu tố không cần phải lý hội.

Tôi không nhìn sự “nghèo” của người Cộng sản để dè bỉu, nhưng quan niệm tính chất “nghèo” đó là một ưu điểm cần phải đấu tranh để thực hiện thì không thể nào chấp nhận được với đầu óc bình thường.

Quân Cảnh VNCH trao trả nữ tù binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam năm 1973

Người Cộng sản Việt Nam đã thực hiện được gì trong ba mươi năm đấu tranh trên đại dương mênh mông xác chết, chiếc xe đạp của một cán bộ cao cấp ở Hà Nội, bộ áo quần thô kệch của viên “tư Lệnh phi trường Minh Thạnh”, bữa cơm không có thịt trong suốt mười tám năm của người dân Tuyên Quang miền Bắc, hai điếu thuốc lá được viên kỹ sư máy nổ “tiếp thu” trên đường dây Chủ nghĩa Xã hội như mặt trái của tấm gương phản chiếu những chữ nghĩa rực rỡ, nghe xa xăm như một giấc mộng mơ hồ không bao giờ có thật.

Tàn tệ như thế, thê thảm như thế, nhưng người tù Cộng sản trước giờ trao trả khi bước ra khỏi lòng máy bay, chân bước xuống mặt đất “giải phóng” phải hành động như một lũ người mê man… Tay vỗ vào nhau, mồm cất giọng khàn đặc… “Ðoàn kết chúng ta là sức mạnh… Thề chết không hề lui. Giết cho hết loài bán nước…” Giết cho hết loài bán nước thì quá sai với “Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” mà những người lính Cộng sản “Nam Việt Nam” xuất phát từ trại Xuân Mai, Hà Ðông, nói giọng Sơn Tây, Thái Bình đang nhắc đi nhắc lại hoài xem như là phương châm chỉ đạo mới! Bài hát phải được xì xào chỉ thị đình chỉ, để bậm tay nâng cao hoan hô: “Hồ Chủ Tịch muôn năm… Tinh thần chống Mỹ cứu nước bất diệt…” Hồ chủ tịch không hề là chủ tịch của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và “tinh thần chống Mỹ” thì quả tình đã được xóa tan từ lâu. Tôi muốn nhắc họ yếu tố nầy. Nhưng như một lũ đồng bóng đã bị cốt nhập, đám tù bắt đầu cởi áo quần, ném tay nải… Chiếc quần lót, vật xa xỉ trong chế độ Cộng sản được ném đi với hối tiếc không giấu được trong ánh mắt để bặm môi, quắc mắt, vung tay hô to khẩu hiệu. Sự hận thù dù cần thiết trong cuộc chiến bi thảm cũng đã là một điều tàn nhẫn, huống gì bây giờ (khi tiếng súng tạm ngừng nổ trên văn bản Hiệp Ðịnh Paris), nên những khích động căm hờn, những xúi giục phẫn nộ này mang một nét bạo ngược tàn ác lỗi thời… Anh cảm hóa ai? Thù hận người nào? Ai là lũ bán nước? Ôi nước rách tan không do sự góp tay tích cực của người Cộng sản sao? Căm thù lũ bán nước, giết lũ tham tàn, mùa thu 1945, mùa đông 1946, cuối thập niên 50, đầu những năm 60, đã được hát bao nhiêu lần, đã được vỗ tay bao nhiêu lần…

Người Pháp, Ông Diệm, chống Mỹ… Bao nhiêu đối tượng đã thay đổi mà nội dung cứ mãi cũ kỹ nhạt nhòa. Thật lạ, có những quy luật sơ đẳng tưởng chỉ như là chuyện đầu môi hóa thành động lực căn bản. Căm thù, thứ gia vị thô thiển độc địa mà người Cộng sản thêm vào bữa tiệc máu người Việt Nam không chán ngấy. Cộng sản sẽ là gì khi không còn kích thích tố mê man đó? Con chó Pavlov không thể nhỏ giọt nước bọt nếu thiếu tiếng chuông khêu gợi. A! Chỉ mỗi tiếng chuông lạnh đó, chỉ mỗi hai chữ ngắn nhức nhối kia mà cả một khối người bị chi phối, những người có đủ trí thức, giác quan nhưng đã mất phần nhân bản, người còn xác nhưng lạc hồn, người không phải sống cho người nhưng cho Cách Mạng, cho Tổ Quốc, Hòa Bình, Tiến Bộ, Xã Hội Chủ Nghĩa… Câu hỏi không phải là phản ứng cực đoan của một tinh thần “chống Cộng” quá độ. Tôi chỉ muốn tự hỏi sao có những con người quá quy tắc, bị kìm kẹp, huấn luyện đến độ cuồng tín như thế này. Vì được trả tự do, phải có nghĩa là nhảy lên khỏi mặt đất chật hẹp, phải vung tay thật cao để hít cho hết lượng gió mát mênh mông của trời cao; nhưng những người tù Cộng sản không được quyền biểu lộ niềm sung sướng đó, họ phải chứng tỏ “kiên gan, duy trì tinh thần quyết chiến, quyết thắng…”; họ phải biểu lộ “lòng căm thù không suy giảm, trí căm hờn không phôi phai…” Họ phải quên những giờ khắc của năm trước, năm kia khi phải đưa tay đầu hàng trước mũi súng của người lính Nam Việt, phải quên những đối xử nhân đạo sau khi đã trao cây súng, phải quên điếu thuốc chân thành được mời hút dù trong vị thế tù binh… Họ phải quên luôn thực tại. Một thân thể chắc cứng khỏe mạnh với lồng ngực nở nang, những bắp thịt ở vai ở lưng cuồn cuộn… Thân thể căng phồng chiếc áo tù binh, hừng hực mùi muối bể và không khí tốt lành của trại giam Phú Quốc, thân thể cường tráng vạm vỡ nổi bật lên dưới ánh nắng, tương phản cực độ với thứ nước da xanh tái, hình vóc còm cõi thiếu hụt của những đồng chí tiếp đón. Người tù cộng sản phải quên hẳn sự thật trên thân thể họ để đứng lên tố cáo: “Chế độ giam giữ hà khắc tàn nhẫn của trại giam Phú Quốc…” Viên trung úy Bắc Việt lóng cóng chiếc máy ghi âm để thâu lời tố cáo… Nhìn thân thể gầy gò của anh ta dưới chiếc áo đại cán lụng thụng bên cạnh lồng ngực trần cường tráng của gã tù binh khi nghe câu tố cáo “Trại giam đã bỏ đói, hành hạ chúng tôi…” Cùng với sự chăm chú ghi nhận của các sĩ quan Ba Lan, Hung Gia Lợi, tôi nghe trong lòng nỗi phẫn nộ bão bùng dấy lên như giông tố… Sự thật được che đậy và lật ngược trong tráo trở tỉnh táo, ngang ngược vô liêm sỉ đến tận cùng!!

Quân cảnh VNCH phát thêm thực phẩm cho tù binh trước khi trao trả.

Vì sự thật không phải chỉ trên thân thể gã tù Cộng sản, sự thật còn ở cuối phi đạo cách nơi trả tù Cộng sản năm trăm thước, góc rừng hai trăm người lính Nam Việt ngồi im lặng với cặp mắt đứng tròng…

“Có chắc trả không Ðại úy, tụi em có được trả không Ðại úy…”

“Chắc mà, chiếc trực thăng bay đi thì có chiếc kia lại liền… Tôi đến đây để lãnh các anh em…”

“Ðại úy, em… có được trả về mình không…”

Cả trăm con người ngồi thì thào to nhỏ, lo sợ từng tiếng nói, lo sợ từng đầu ngón tay lóng cóng đón điếu thuốc do tôi mời, lo sợ ở đôi mắt lạc thần cứ coi chừng mãi “anh cán bộ”… Tôi muốn nói một câu gì thật đủ, tôi muốn làm một việc gì thật mạnh mẽ, muốn ôm lấy hết hai trăm người lính đưa họ ra thẳng trực thăng, bay lên thật nhanh, để tránh khỏi vùng rừng cao su thẫm đặc, những gã cán bộ canh gác lầm lì soi mói, nét độc ác ngấm ngầm tràn đầy trên những sợi gân mắt đỏ rực… Tôi muốn đẩy đám sĩ quan Ba Lan, Hung Gia Lợi, Gia Nã Ðại… đến tận từng người tù để họ thấy lớp da người lở loét ăn sâu xuống phần xương tay, để họ thấy những đôi mắt hủng, chiếc má vàng bủng tưởng như đọng cứng cả một khối vi trùng độc hại dưới lớp da mỏng tanh vàng bệch… Tôi muốn hét to cho cả khu rừng, cho cả thế giới biết đâu là cường bạo, đâu là sự thật, gã tù nhân trại Phú Quốc cách xa đây năm trăm thước với lồng ngực vạm vỡ cùng những lời tố cáo như một cái xiên nung đỏ chọc hẳn vào mắt tôi khi nhìn người tù Việt Nam Cộng Hòa không kêu nổi được tiếng “có mặt” loạng choạng run rẩy từng bước một, đi qua chiếc bàn của nhân viên trao trả… Sự thật ở hai thân thể đối cực này nhưng tại sao cả thế giới, cả hằng triệu người trên thế giới vẫn dành riêng những ý niệm tốt đẹp cho người Cộng sản, cả những người chân tu, những nhà hiền triết hình như đều nghĩ một chiều, hướng một phía, phía Cộng sản. Tôi muốn gọi họ đến đây chỉ vào từng đôi mắt người tù để cả nhân loại ngộ nhận tìm được sự thật… Người tù binh đứng dậy, một đáy quần sũng nước. Trong cơn chờ đợi thảng thốt người lính đã đái ra quần!!!… Không phải vậy, phải nghe lời anh nói: “Em sợ tụi nó lắm, tụi nó tàn ác không phải như người đối với nhau…”, “Em sợ xin nó đi tiểu rồi nó giữ lại không trả thì chết mất…” Tôi muốn chảy nước mắt, tôi muốn khóc giòng phẫn nộ… Gã Ba Lan đâu rồi? Tôi muốn hắn ta nghe lời nói, tiếng kêu của người đã ở trại giam Cộng sản.

Tù binh Bắc Việt chơi túc cầu trong trại giam Phú Quốc.

Hình như mọi người giấu mặt, hình như mọi người đã đánh mất lương tri, chẳng có ai chụp hình vũng nước tiểu đọng trên nền đất phủ đầy lá, chẳng ai chụp hình hai trăm con người ngồi dật dờ như một đám xác chết chưa tẩm liệm, sao không có tên Hung Gia Lợi nào chụp hình người tù Nam Việt ngã quỵ trên phi đạo mồm sủi nước dãi vì thiếu ăn!!

Hung Gia Lợi, Chúng ta đã dành cho dân tộc này biết bao cảm tình trong những ngày Budapest đổ máu cho tự do. Nhưng hình như những người Hung yêu tự do, sống cho sự thật đã không đến nơi này, chỉ có đến đây những cán bộ Cộng sản mang quốc tịch Hung Gia Lợi. Hóa ra người sống cùng người không phải do tương quan của hai chủ thể nhân bản nhưng do chính trị của quốc gia, đảng phái xác định. Người Hung Gia Lợi phải ủng hộ Cộng sản Việt Nam và gây bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ thị đã được học tập, phổ biến thế, nên gã tù Bắc Việt với thân hình lực sĩ lớn tiếng tố cáo chế độ giam giữ hà khắc của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hữu lý hơn hình ảnh người tù Nam Việt ngồi lạc thần, không dám tin vào sự thật sắp được trao trả, kiệt sức để không nói lên được hai chữ “có mặt”…Chỉ thị đã ban bố, gã sĩ quan Hung phải xóa bỏ lương tri, phải tự che mắt để không thấy sự kiện, gã chỉ được chụp hình người tù Bắc Việt đưa tay lên hô đả đảo, bỏ qua bàn tay ghẻ lở thấu xương của người tù Nam Việt Nam. Cách vong thân đi đến mức tuyệt hảo khi quan niệm hành xử như thế là đúng với công lý và chân thật!!! Không phải chỉ mỗi Trung tá Martin thuộc nước Cộng Hòa Nhân Dân Hung Gia Lợi này tin vậy, nhưng hình như toàn thể nhân loại. Những dân tộc tiến bộ và yêu chuộng hòa bình của toàn thể thế giới. Ðều mắc phải chứng bạo ngược tâm lý với dân tộc Việt Nam. Phải có một ngày sự thật nầy hẳn được nhận ra.

Quân cảnh VNCH phát thực phẩm cho tù binh.

PNN, tháng 3-1973

Trích bi ký Tù Binh và Hòa Bình, Nxb Hiện Đại, Sàigòn 1974

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 Feb 2026

13. Đảng, tên đầy tớ phản phúc

Ngày 5 tháng 1, 2012 ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị dồn vào đường cùng, đã chống lại việc cưỡng chế đất đai vô lý, bắn bị thương 4 công an và 2 bộ đội. Để trả thù, chính quyền đã phá sập ngôi nhà của anh dù nằm ngoài khu đất tranh chấp, nhưng Phó chủ tịch thành phố Hải Phòng Đỗ Trung Thoại trong một cuộc họp báo đã tráo trở nói rằng, “Việc phá nhà ông Vươn  là do “nhân dân” bất bình không đồng tình với việclàm của ông Vươn!”

Thật tội nghiệp cho “nhân dân”. Nhân dân là cái bóng ma mà chế độ Cộng Sản luôn luôn nhân danh để  lấy lòng dân đen cả nước, nhưng cũng là một thứ bóngma để đem ra hù dọa mọi người, vì cái gì nhân dân làm, cái đó là chính nghiã. Nhà nước và đảng làm, xong cứ đổ tội cho nhân dân là xong chuyện. Chuyện lớn như Tết Mậu Thân ở Huế thì cũng chính nhân dân nổi dậy mà chôn sống 6.000 người, chuyện nhỏ như phá nhà, hôi của của ông Đoàn Văn Vượn thì cũng do nhân dân”bức xúc” mà làm! Chính quyền, công an, bộ đội luôn luôn công minh, chính đại, có bàn tay sạch sẽ, không hề bẩn mà cũng chẳng bao giờ dính máu.

Một danh từ khác để đổ tội cho “nhân dân”là danh từ “quần chúng tự phát.” Tại giáo xứ Mỹ Lộc nhà cầm quyền bố trí hàng trăm công an, an ninh, dân phòng mặc thường phục tấn công, đánh đập đồng bào ở đây rất dã man, làm mười một người phải vào bệnh viện, nhưng lại đổ cho đó là “quần chúng tự phát,” nghĩa là chính phủ hoàn toàn không chịu trách nhiệm những điều gì do “nhân dân” làm. Gần đây nhà nguyện Con Cuông ở Vinh bị đặt bom, lại có hai người đi xe máy tới nhà thờ lúc 2 giờ sáng, quăng bom tự chế vào nhà thờ. Đó cũng là “quần chúng tự phát!”

“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là khẩu hiệu mà người dân dưới chế độ Cộng Sản đã thuộc nằm lòng. Thậm chí chúng còn giương cao biểu ngữ: “Đảng là người đày tớ của nhân dân!” Và vì dân ngu, được ôm cái bằng khoán cũng như cái bản tuyên dương được làm chủ, nhưng như trong một công ty, ban lãnh đạo quyết định, chỉ đạo hết mọi chuyện, nhà nước là anh thủ kho ôm hết tài sản, còn nhân dân là anh chàng hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng. Nếu công ty thua lỗ, ban lãnh đạo cấu kết với thủ kho chia nhau tẩu tán tài sản đi nữa, thì anh  nhân dân làm chủ cũng chẳng có miếng nào. Dưới chế độ Cộng Sản, đất nước như một nhà máy, đảng là Ban Gíam Đốc, chính phủ là Ban Quản Lý, có tài sản, nhà cao cửa lớn, xe đời mới, còn công nhân là những người  làm thuê với đồng lương rẻ mạt, ở nhà ổ chuột, còng lưng đi xe đạp. Nhân danh nhân dân là nghề của Cộng Sản. Cái gì cũng của nhân dân, từ bộ đội nhân dân, công an nhân dân, bệnh viện nhân dân … chỉ trừ những  nơi có hơi xôi thịt là của nhà nước như ngân hàng, cục dự trữ và ủy ban chứng khoán …

Tản Đà trong bài cảm đề tiểu thuyết “Tờ chúc thư” đã có câu rằng:

“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn

Cho nên quân nó dễ làm quan.”

Dân ngu vì dưới chế độ chẳng ra gì, có khôn ngoan, bị đối xử bất công cũng chẳng biết kiện tụng, cậy nhờ vào ai như câu chuyện của Ngu Công sau đây: Tề Hoàn công đi săn, đuổi theo con hươu. Hươu sợ quá chạy vào một cái hang. Thấy một ông lão gần đấy, bèn hỏi:

-“Hang này tên gọi là gì?”

-“Bẩm, đấy là hang Ngu Công”.

– “Tại sao lại có cái tên lạ thế? Ta xem ngươi đâu phải là kẻ ngu!”

– “Thưa, tại tôi đây mới có cái tên ấy. Nguyên tôi có một con bò cái đẻ được một con bê. Khi bê lớn, tôi đem ra chợ bán và mua một con ngựa con đem về nuôi chung với con bò cái, chờ lớn để kéo xe. Một hôm có tên du côn đến nói: “Vô lý! Bò làm sao đẻ ra ngựa được!” rồi y bắt ngựa của tôi mang đi. Tôi bị ép chế, nhưng sợ họ gây chuyện, đành chịu mất, chớ biết kêu vào ai bây giờ! Từ đó mọi người cho tôi là “ngu” và gọi cái hang gần chỗ tôi ở là hang Ngu Công. Buổi thiết triều hôm sau, Tề Hoàn công thuật lại chuyện này cho quan Tướng quốc là Quản Trọng nghe,

Quản Trọng bèn tâu:

– Nếu được một đấng minh quân như vua Nghiêu, được một tể tướng như Cao Dao thì làm gì mà có kẻ dám ngỗ ngược chiếm đoạt ngang nhiên như thế được. Ngu Công mất ngựa, nhưng biết rõ hình pháp nước ta không ra gì, chẳng ai phân xử cho phân minh, đành chịu cắn răng mà làm kẻ ngu. Xin bệ hạ kịp thời chỉnh đốn các chính sách, hình luật lại.” Bắt chước lời Quản Trọng, chúng ta cũng có thể nói:

Những người như dân oan bị cướp đất cướp nhà, đành  chịu thiệt vì pháp luật bất nghiêm, giềng mối (*) lỏng lẻo, không ai phân xử vì cường quyền bạo ngược, phủ bênh huyện, huyện binh phủ cũng được gọi là dân ngu.

Nông dân bị xã ấp chèn ép, dùng công an, bộ đội khống chế như trường hợp Đoàn Văn Vượn, mà không biết dùng súng đạn chống lại, đành chịu thiệt một bề, thì cũng gọi là dân ngu. Dân càng ngu thì chính phủ càng lộng quyền, áp chế. Dân ngu vì không biết tin cậy vào ai. Chính phủ, tòa án, quốc hội cũng một phường.

Qua cuộc thảo luận tại Quốc hội VN vừa qua về luật biểu tình, dân biểu Hoàng Hữu Phước, khẳng định là “ khi nào trình độ dân trí cao hơn thì mới có thể ban hành luật biểu tình.” Có nghĩa là dân còn ngu, đâu cần đến luật lệ. Có luật còn chẳng làm gì, huống chi không luật, cứ việc tùy tiện mà đối xử với dân ngu là xong.

Mạnh Tử chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.” Cộng Sản Việt Nam lại chủ trương “đảng vi quý, xã tắc thứ chi, dân vi khinh.” Hai vế đầu thì chúng ta đã thấy “thà mất nước còn hơn mất đảng,” vế cuối “dân vi khinh” thì chúng ta đã thấy rõ, cảnh cướp nhà cướp đất làn cho nhân dân cơm đùm gạo bới từ Hậu Giang, miền Trung ra đến Hà Nội gặp “ông chính phủ” để kêu oan với lời gọi thống thiết: “Hỡi ông chính phủ, về cứu lấy nhân dân!” Không khinh dân sao dân bị bợp tai đá đít, bị lôi đi như con chó, bị đạp vào mặt, bị đánh chết vô tội vạ, nói chung là bị tước đoạt hết quyền làm người. Phóng viên RFA đã ghi nhận lời một người trong nước, ông Lê Duy Bắc: “Bây giờ nhà cầm quyền họ thích đâm, thích  chém, thích giết ai thì họ giết. Người dân trong taykhông tấc sắt thì làm gì được.”

Đúng! Đảng là người đày tớ của nhân dân! Nhưng nhân dân hiện nay đang gặp phải tên đày tớ phản phúc!

(*) Trong cuốn “Quản Tử” tương truyền là tác phẩm của Quản Trọng (mất năm 645 BC) có nói đến “quốc hữu tứ duy”(國有四維) nghĩa là nước có bốn giềng mối: lễ -nghĩa- liêm-sỉ; một giềng mối đứt thì nghiêng, hai giềng mối đứt thì nguy, ba giềng mối đứt thì đổ, bốn giềng mối đứt thì mất.

Ngày xưa Yêu anh   

Giao Chỉ – San Jose

Post by Sơn râu 15 Feb 2026

            (Tôi thường không hay chuyển tiếp thơ văn của anh em, ngại làm phiền thân hữu. Nhưng lần này ngoại lệ. Nhìn tấm hình anh không quân cụt 2 chân, bèn gửi đến các bạn bài thơ của Đỗ tiến Đức. Và tổ chức một bữa cơm gia đình mời anh em tham dự. Giao Chỉ-San Jose)

 Di ảnh KQ DƯƠNG THỚI NGHIỆP

 phi đoàn 235 Pleiku, đã qua đời tại chợ An Giang 2005

 Anh không còn đôi chân. Lướt trên sàn khiêu vũ.

Anh không còn đôi tay. Kê đầu em giấc ngủ.

 Anh chẳng còn là người. Nhưng chưa thành muông thú.

Môi đã tắt nụ cười. Mắt như vì tinh tú.

 Anh chiến sĩ ngày xưa, Là thiên thần mũ đỏ.

Chân anh mang giầy saut. Tay lái dù trong gió.

 Anh cũng là nghĩa quân. Giữ làng cho dân ngủ.

Hay anh là mũ xanh. Tuyến đầu đang trấn thủ.

Đất mẹ chưa bỏ con. Sao tan hàng cờ rủ.

Tay chân làm phân xanh. Cho bông hoa dại nở.

Xưa súng đạn quân trang. Nay chiếc lon nho nhỏ.

Xưa đánh pháo diệt tăng. Nay cơm thừa nước đổ.

Xưa binh đội diễn hành. Gót giầy vang mặt phố.

Nay xa cách muôn trùng. Một thân, nơi xó chợ.

Những người ba mươi năm. Tan như cơn mộng dở.

Còn lại khúc thân tàn. Vinh danh ngày tháng cũ.

 Đỗ Tiến Đức (LA)

Ca Dao Mới, Về mối Đau không hề cũ

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 15 Feb 2026

#1.

Tháng Ba giặc chiếm Cao Nguyên (1)

Bế con chạy loạn đến triền sông Ba

Đà Rằng sẫm máu, thịt da (2)

Hiện oan hờn hận Dân Chàm ngày xưa

(1) Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy/Chiến Dịch 275 CSBV khởi trận Ban Mê Thuột, 10/3/1975

(2) Sông Ba/Đà Rằng, sông lớn nhất Miền Trung từ Cao Nguyên Trung Phần chảy xuống đồng bằng Tuy Hòa, cắt ngang Tỉnh Lộ 7 – Đường di tản xuống miền duyên hải, 3/1975.  

#2.

Chập chùng mây phủ Hải Vân (1)

Vũng Hàn sâm sấp thây trầm lạnh trôi (2)

(1) Hải Vân: Đèo lớn/Địa giới thiên nhiên Thừa Thiên/Huế- Quảng Nam/Đà Nẵng

(2) Vũng Hàn: Tên cũ Vịnh Đà Nẵng trước 1954-Cảnh tượng ngày 29/3/1975

#3.

Giải phóng Miền Nam! Tiến về Sàigòn!

Chiếm nhà mặt tiền! Cướp chiếc Honda!

#4.

Chim bay trên biển tối trời (1)

Kêu thương thảm chết phận người vượt biên

(1) Chim biển có linh giác giúp người vượt biển (sau 30/4/1975) hướng vào bờ

#5.

Vùi lấp hố huyệt kinh hoàng

Thân em đẫm máu đâm nhàu lưỡi lê

Đường bộ gặp quân Khmer

#6.

Chiều chiều âm vọng tiếng kêu

Hồn oan khóc động rung triều sóng xô

#7.

“Khó khăn khắc phục” căm thù (1)

Chim kêu núi khổ siết cùm tù nhân

Lưu đày trên đất quê hương!

(1) Loài chim vùng Hoàng Liên Sơn, miền núi Tây-Bắc VN có âm tiếng kêu tựa”Bắt cô trói cột”, tù Miền Nam nghe ra “Khó khăn khắc phục!

#8.

Năm mươi năm hơn đi qua

Chiến thắng là gì? Giải phóng những Ai?

#8.

Cận Tết chạm mối thương tâm

Oan hồn chết thảm đêm Xuân tìm về (1)

Tội thay kiếp nạn lê dân   

Nhớ quê bật máu đôi giòng thấm đau

(1) Tổng Công Kích Giao Thừa Mậu Thân, 31/1/1968 khởi động từ Hà Nội qua “Thơ Chúc Tết” của HCM lúc ấy đang ở Bắc Kinh, Trung Cộng.

Nhân ngày ra tù năm 1989,

Nghĩ thân nạn (riêng) trong phận chung Người Việt

Phan Phi Danh

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 15 Feb 2026

9.Hai nhà toán học

Nerzhin đi lên thang lầu lớn, rộng, trải thảm đỏ, dưới những cây đèn bằng đồng và trần nhà bằng thạch cao đắp vòng cung. Vào giờ khuya này, thang lầu vắng tanh. Anh cố gắng trấn tĩnh để bước đi với một vẻ thản nhiên khi anh đi ngang người sĩ quan trực ở phòng gác bên ngoài và tới gõ lên cánh cửa văn phòng của ông giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino: Đại tá kỹ sư Bộ An ninh quốc gia Anton Nikolayevich Yakonov. 
Văn phòng rộng thênh thang, trên sàn có trải thảm, bàn ghế bằng gỗ quí đánh bóng. Ở giữa phòng là một chiếc bàn hội dài trải khăn xanh. Ở trong góc phòng xa tít kia mới là bàn làm việc của Yakonov. Nerzhin từng vài lần đặt chân vào phòng này, nhưng anh chỉ đến đây với nhiều người khác để dự những phiên họp nghe chỉ thị, đây là lần thứ nhất anh một mình tới đây. 
Đại tá kỹ sư Yakonov đã ngoài năm mươi nhưng trông vẫn còn trẻ và tráng kiện. Y cao lớn, khuôn mặt y thoa phớt một làn phấn sau khi y cạo râu. Y không mang kiếng trắng mà chỉ dùng một chiếc pince-nez bằng vàng. Y có cái vẻ vạm vỡ của một vương tử Obolensky hay Dolgorukov. Những cử chỉ kiểu cách, quan dạng làm cho ý nổi bật lên giữa những viên chức khác trong Bộ An ninh. 
“Mời ngồi, Gleb Vikentich…” 
Yakonov nói lớn và thừa thãi. Y ngồi dựa lưng trên chiếc ghế bành da quá lớn sau mặt bàn rộng, một tay mân mê cây viết chỉ đỏ thật lớn trên bàn. 
Việc gọi tên riêng và tên thánh của Nerzhin chứng tỏ sự lễ độ và thiện chí của Yakonov, nhưng thực ra y không cần phải cố gắng chút nào để có thể nhớ được tên riêng của những nhà khoa học bị tù ở đây, bởi vì dưới mặt tấm kiếng trên bàn y có nằm một bản danh sách ghi tên riêng của tất cả những tù nhân. (Những ai không biết y có bản danh sách này để ngạc nhiên về khả năng nhớ được tên riêng cả trăm người của Yakonov) Nerzhin cúi đầu chào lại y và không đứng nghiêm chào, anh lặng lẽ ngồi xuống chiếc bàn nhỏ gần đó, đôi mắt anh chăm chú nhìn Yakonov, chờ đợi ý nói. Giọng nói của Yakonov có những âm thanh trầm bổng như giọng một kép hát sân khấu. Người ta không hiểu sao con người có vẻ quý phái này lại không uốn lưỡi chữ “r” như kiểu nói những nhà quý phái thời xưa. 
Yakonov lên giọng: 
“Gleb Vikentich… Trước đây nửa tiếng đồng hồ, tôi có dịp nói đến anh. Tôi nghĩ đến những nguyên nhân đã đưa anh tới Phòng Âm thính, tới làm việc với Roitman?” 
Yakonov cố tình nói đến tên Roitman với một vẻ khinh mạn không cần che giấu. Y không cần cả gọi Roitman là thiếu tá trước mặt một tù nhân. Tình trạng ác cảm hổ tương giữa viên giám đốc viện và viên phụ tá giám đốc đã đi đến điểm không cần phải che giấu nữa. 
Nerzhin cảm thấy thần kinh mình căng thẳng. Linh tính cho anh biết cuộc hội kiến đêm nay đã mở đầu bất lợi cho anh. Trước đây nhiều ngày, anh đã thấy nét mỉa mai này hiện trên vành môi Yakonov khi y nói với anh rằng mặc dù anh vẫn chăm chỉ làm việc, y biết anh coi thường những kết quả thâu lượm được ở Phòng Nghiên cứu số bảy. Phòng Nghiên cứu này là niềm kiêu hãnh của Yakonov, y đặt tất cả lòng tin của y vào đấy. 
Nhưng sự làm việc ở đó lại không tiến triển như ý muốn của Yakonov. 
“…Tất nhiên là tôi phải nhận rằng kết quả cuộc nghiên cứu của anh về tiếng nói rất có giá trị…” 
Nerzhin nghĩ thầm: “Hắn chế nhạo mình”. 
“… Và tôi rất buồn khi thấy bản báo cáo của anh không được công bố cho cả thế giới khoa học được biết, làm anh mất cơ hội trở thành một George Fetcher của Nga Xô Viết…” 
Nerzhin nghĩ thầm: “Hắn nhạo mình quá sỗ sàng…”. 
“Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ cách làm sao cho anh có cơ hội làm những việc hợp với khả năng của anh hơn, để cho có lợi hơn. Chắc anh biết tôi là người rất kính trọng những khoa học trừu tượng nhưng tôi cũng là một người rất thực tế…” 
Đại tá kỹ sư Yakonov tuy giữ một địa vị cao trong y không quá ở gần Lãnh tụ đến nỗi phải che giấu sự thông minh của y hoặc luyện thành thói quen không có ý kiến riêng. 
“Tôi muốn thành thật hỏi anh… hiện anh đang làm gì ở Phòng Âm thính?” 
Yakonov không thể nào đặt với Nerzhin một câu hỏi tàn nhẫn hơn. Y không thể có thì giờ xét kỹ đến tất cả mọi trường hợp, để ý đến riêng từng tù nhân. Nếu y chịu xét đến tình trạng của Nerzhin. Y đã có trả lời từ lâu. 
“Anh mất thì giờ với việc nghiên cứu vớ vẩn ấy làm chi? Anh là một nhà toán học, một người xuất thân đại học. Quay lại nhìn coi…” 
Nerzhin quay lại nhìn và anh vội đứng dậy. Trong phòng còn một người thứ ba nữa. Một người đàn ông trông có vẻ rất thường bận bộ y phục thường dân màu đen đứng lên từ chiếc ghế dài và đi đến gần Nerzhin. Khung kiếng mắt tròn của ông này sáng lấp lánh. Dưới vầng ánh sáng rọi xuống từ bóng đèn điện trên trần. Nerzhin nhận ra giáo sư Pyotr Trofimovich Verenyov. Trước chiến tranh, giáo sư Verenyov dạy ở trường đại học anh học. Tuy vậy, theo thói quen của cuộc sống trong nhà tù, Nerzhin vẫn đứng yên, không nói, không làm một cử chỉ. Anh đoán rằng giáo sư Verenyov cũng là một tù nhân và anh có thể làm hại ông bằng những câu nói vội vã. Verenyov mỉm cười, nhưng ông cũng có vẻ bối rối. 
Yakonov nói bằng một giọng vừa trấn an vừa khuyến khích: 
“Thật hay… những nhà toán học có khả năng tự chế ngự hơn người thật. Suốt đời tôi, tôi vẫn nghĩ là những nhà toán học đều ở trong một đạo giáo bí mật nào đó và tôi vẫn ân hận vì không có dịp khám phá sự bí mật ấy. Xin nhị vị cứ tự nhiên. Hãy bắt tay nhau và coi đây là một nơi riêng của quý vị. Tôi sẽ vắng mặt ở đây vào khoảng nửa giờ để nhị vị nhắc lại với nhau những kỷ niệm xưa và để giáo sư Verenyov nói với anh Nerzhin về công tác mà cả ba chúng ta cùng phải làm.” 
Yakonov đứng lên từ chiếc ghế da. Cặp cầu vai nền bạc và xanh trên hai vai áo y càng làm cho khổ người vạm vỡ của ý thêm to lớn – Y đi nhanh và nhẹ nhàng ra cửa phòng. Khi Verenyov và Nerzhin đến gần hơn để bắt tay nhau, họ chỉ còn có hai người ở trong phòng. 
Người đàn ông xanh xao này, người mang đôi mắt kiếng trắng phản chiếu ánh đèn sáng lấp lánh, với tù nhân Nerzhin, như một bóng ma trở về từ một thế giới đã bị quên lãng. Giữa thế giới xưa cũ đó với thế giới đêm nay có những khu rừng ở bên hồ Hmen, những ngọn đồi và những thung lũng ở vùng Orel, những trang trại trù mật ở Ba Lan, những mái nhà ngói trong những thị trấn nước Đức. Trong khoảng thời gian chín năm chia đôi hai thế giới ấy có những xà lim nhà tù trơ trọi sáng rực ánh đèn điện đến chói lòa hai mắt, những “thùng gỗ” của khám đường Bolshây Lubyanka, những trại giam tạm trú sặc mùi hôi thối, tanh tưởi, những toa xe chở tù Stolopyn chật ních, có những cơn gió cắt da trên những cánh đồng cỏ bao la. Tất cả những cái đó làm cho Nerzhin không sao có thể trở lại được là anh sinh viên đứng viết một phương trình đại số trên bảng đen. 
Và Nerzhin cảm thấy bối rối nhiều hơn là vui. 
Hai người cùng đốt thuốc lá và cùng ngồi xuống mặt bàn nhỏ ngăn cách họ. 
Đây không phải là lần thứ nhất Verenyov gặp lại một sinh viên cũ của ông từng học ông ở Đại học Mạc Tư Khoa. Nhưng cuộc gặp gỡ đêm nay có những yếu tố đặc biệt làm cho ông cũng cảm thấy bối rối: sự cô lập của Viện Nghiên cứu khoa học nằm ở ngoại ô Mạc Tư Khoa, nơi bí mật bao trùm, nơi có hàng rào dây thép gai bao quanh và người học trò cũ ít nói bật bộ y phục xanh đậm này thay vì bận y phục thường dân. 
Sự bất ngờ xảy ra là Nerzhin, người trẻ nhất trong hai người, người thất bại không có danh vị học giả lại là người đặt những câu hỏi. Những nếp nhăn quanh miệng anh hằn sâu hơn, hiện rõ. Và người đàn ông nhiều tuổi hơn trả lời từng câu hỏi, như ông ngượng ngùng vì cuộc sống vộ sự của một nhà khoa học không có gì xuất sắc lắm: cuộc di tản trong thời chiến, cuộc di tản lần thứ nhất, ba năm làm việc với K., một luận án về toán học trắc đồ. Và Nerzhin trở thành lơ đãng đến độ gần như vô lễ, quên không hỏi rõ hơn về luận án khô khan của môn học cằn cỗi mà ngày xưa anh từng học này. Bỗng nhiên, anh cảm thấy thương hại Verenyov. Vào thế kỷ hai mươi tư may ra luận án của Verenyov có thể có ích cho vài người, còn bây giờ thì vô phương. 
Tôi không còn gì để nói với mặt trời và trái đất 
Tôi chỉ nhìn thấy sự đau khổ của con người. 
Bằng cách nào Verenyov vào tổ chức này? Tại sao ông lại bỏ đại học? Tôi được biệt phái đến đây. Ông có thể từ chối được không? Được, có thể từ chối được nhưng lương bổng ở đây gấp đôi. Ông có con không? Bốn đứa. 
Vì một nguyên nhân nào đó họ kiểm lại danh sách những sinh viên cùng khóa với Nerzhin, những người cũng như Nerzhin, thi ra trường cùng một ngày với ngày chiến tranh bắt đầu. Những người xuất sắc nhất đều đã chết trên mặt trận hoặc bị tiếng đạn, tiếng bom làm cho ngớ ngẩn. Họ là những người luôn luôn đi trước, những người không bao giờ dừng lại để nhìn mình xem mình ra sao. Và những người thời đó không ai thèm để ý, những kẻ thời đó không đáng gì cả nay đã hoàn tất được việc học cao hơn được đã giữ những chân giảng sư quan trọng ở những Viện Khoa học lớn. Còn người làm cho chúng ta sung sướng và kiêu hãnh, anh Dmitri Dmitrich Goryainov-Shakhovsky bây giờ ra sao? 
Goryainov-Shakhovsky! Con người thấp nhỏ, bê bối trong tuổi già, người suốt đời mang vết phấn trắng trên tay áo, người bỏ túi chiếc khăn lau bảng vì tưởng rằng đó là ta khăn mùi soa. Ông là một huyền thoại sống của trường đại học, một huyền thoại được xây dựng bằng không biết bao nhiêu chuyện khôi hài về “nhà thông thái hay đãng trí” điển hình. Ông là linh hồn của đại học đường Warsaw. Một nửa thế kỷ làm việc cho khoa học làm ông nhận được những điện văn ca ngợi gửi đến từ Milwaukee, Captown, Yokohama. Để rồi ông bị thanh trừng trong cuộc phát động gọi là “trẻ trung hóa hàng ngũ”. Ông đi về Mạc Tư Khoa và trở lại với mệnh lệnh của Kalinin: “Đừng động đến ông già này”. Người ta đồn rằng trước đây ông già của Kalinin là tá điền của ông thân sinh ra giáo sư Goryainov-Shakhovsky. 
Và không đúng đến ông thật. Họ để mặc ông muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Ông có thể viết một luận án về khoa học thiên nhiên trong đó ông đưa ra những bằng cứ chứng minh bằng toán học về sự có mặt của Chúa. Hoặc trong những cuộc giảng thuyết của ông về Newton, nhân vật mà ông thích nói đến nhứt, ông có thể sỉ mũi trong chòm râu vàng võ của ông và nói: 
“Có người vừa đưa lên tôi câu hỏi như sau: Marx viết rằng Newton là một nhà duy vật. Sao giáo sư lại nói rằng Newton duy tâm? Tôi trả lời: Marx lầm. Newton tin ở Chúa, như tất cả những nhà khoa học lớn khác.” 
Ghi chép những lời ông nói trong những buổi thuyết giảng ấy là một việc làm khủng khiếp. Cả đến những tốc ký viên cũng phát điên vì không sao ghi chép kịp. Vì hai chân ông yêu nên ông ngồi ngay trước bảng đen, quay lưng vào cử tọa, tay phải ông cầm phấn viết lên bảng trong khi cùng một lúc tay trái ông cầm khăn tay đi. Không ai có thể hiểu được tư tưởng của ông trong khi nghe ông giảng nhưng khi Nerzhin, cộng tác với một số bạn học, thành công trong việc ghi lại được trọn vẹn những lời ông nói và họ đọc, họ nghiền ngẫm những tư tưởng ấy suốt một đêm dài, họ xúc động đến nghẹn ngào khi họ thấy lấp lánh ánh sao của thiên đường. 
Có chuyện gì đã xảy đến với ông? Khi thành phố R. bị oanh tạc nặng, ông già bị tiếng bom làm cho ngớ ngẩn. Ông được di tản đến Kirghizia trong tình trạng chết dở. Sau đó ông đã trở lại nhưng ông không còn dạy đại học nữa, ông dạy ở Viện Sư phạm. Vậy là ông vẫn còn sống ư? Còn sống. Hay thật. Thời gian qua, đã qua, và sẽ qua… 
Vì sao anh lại bị bắt? 
Nerzhin cười nhẹ: 
“Còn vì sao nữa? Vì tư tưởng của tôi. Ở Nhật Bản, họ có một đạo luật cho phép người ta có thể kết tội một người chỉ vì những ý nghĩ chưa từng được nói ra của người này…” 
“Ở Nhật Bản thì nói làm chi? Ở đây chúng ta đâu có luật nào như thế?” 
“Có chứ. Chúng ta có. Đó là Điều 68, Khoản 10.” 
Nerzhin chỉ nghe loáng thoáng những lời giải thích của Verenyov về mục đích của Yakonov khi y cho hai người gặp nhau. Verenyov được đặc phái tới Mavrino để xúc tiến và hệ thống hóa cuộc nghiên cứu ám số ở đây. Họ cần thêm nhiều nhà toán học và Verenyov mừng rỡ khi biết rằng ngay ở đây có sẵn một nhà toán học từng là học trò của ông, người sinh viên mà ngày xưa ông cho là có một tương lai tươi sáng. 
Nerzhin lơ đãng đặt những câu hỏi liên can đến cuộc nghiên cứu và giáo sư Verenyov, hào hứng và hoạt bát khi nói đến những vấn đề toán học, trình bày những việc phải làm và ông nói đến cả những cuộc thí nghiệm nào cần phải làm, những công thức nào phải kiểm soát lại. Nhưng trong lúc ấy Nerzhin nghĩ đến những tờ giấy nhỏ anh viết đầy những dòng li ti, những ý tưởng anh đã ghi lại với sự thanh thản của tâm hồn sau chiếc bàn dàn cảnh của anh, dưới những tia mắt canh gác chan chứa tình ái của Simochka, với những tiếng thì thầm đầy khuyến khích của Rubin. Những tờ giấy nhỏ đó là những ghi chép đầu tiên trong ba mươi lăm năm làm người của anh. 
Tất nhiên anh sẽ vui và dễ chịu nếu anh trước trưởng thành trong địa hạt chuyên môn của anh. Tại sao, người ta có thể hỏi, anh lại tự đưa đầu anh vào hàm răng mở rộng và nhọn hoắt của thời gian xưa cũ khi mà ngay cả những sử gia cũng bỏ trốn đến những nơi an toàn hơn? Sức mạnh gì đã thúc đẩy anh xét đoán hành động và giá trị của Người Khổng Lồ quyền uy ghê gớm đó, chỉ một cái chớp mắt của người đó cũng đủ làm cho đầu Nerzhin lìa khỏi cổ. 
Và anh, anh có nên đầu hàng trước những cánh tay dài như vòi bạch tuộc của Ám số – để làm việc mười bốn giờ một ngày, không một ngày nghỉ, đầu óc đầy nặng những lý thuyết về xác suất, lý thuyết về đại số, lý thuyết về lầm lẫn, một bộ óc chết, một linh hồn khô héo? Anh sẽ còn lại những gì để suy nghĩ? Sẽ còn những gì để anh học hỏi về cuộc đời? 
Vẫn còn Viện Nghiên cứu Mavrino. Đây không hẳn là một nhà tù thuần túy. Ở đây có thịt trong bữa trưa, có bơ trong bữa ắn sáng. Ở đây hai tay không bị rã rời vì mỏi, những ngón tay không đông cứng vì lạnh, không phải nằm ngủ trên những tấm ván, thân thể chết cứng như khúc gỗ. Ở đây anh được nằm trên giường có nệm đàng hoàng, nằm ngủ với cảm giác thoải mái. 
Nhưng tại sao phải sống suốt cả một đời dài? Sống chỉ để mà sống? Sống chỉ là việc giữ cho thân thể khỏi chết? Nếu sống chỉ có thế thôi và không còn gì khác cả, chúng ta cần sống để làm gì? 
Sự khôn ngoan thúc giục: “Chịu đi” nhưng trái tim nói: “Satan, đem những thứ đó đi khỏi mặt ta”. 
“Ông có biết đóng giày không?” 
“Anh nói chi?” 
“Tôi hỏi: Ông có thể dạy tôi thuật đóng giày không?” 
“Xin lỗi, tôi không hiểu.” 
“Ông sống trong một cái vỏ. Còn tôi, sau khi sống hết hạn tù của tôi ở đây, tôi sẽ đi tới những miền rừng núi xa, tôi sẽ sống ẩn dật suốt đời. Tôi không biết cách làm việc bằng hai tay, làm sao tôi có thể sống? Ở những nơi tôi sẽ đến sống đầy loài báo rừng. Ở đây tôi sẽ không cần đến lý thuyết, công chức, đến toán học…” 
“Nerzhin, anh nói gì vậy? Là một chuyên viên ám số, nếu công tác đạt thành quả tốt, anh sẽ được trả tự do trước hạn kỳ, án tích sẽ có thể xóa bỏ trong hồ sơ lý lịch của anh, anh sẽ có một căn nhà ở Mạc Tư Khoa.” 
“Họ sẽ xóa án tích trong hồ sơ lý lịch của tôi?” 
Nerzhin giận dữ kêu lên, đôi mắt anh cau lại: 
“Tại sao ông lại nghĩ rằng tôi mong họ ban cho tôi món quà nhỏ đó? “Vì anh làm việc tốt nên chúng tôi trả lại tự do cho anh, chúng tôi tha tội cho anh.” Không… Không thể như thế được…” 
Những ngón tay Nerzhin gõ mạnh xuống mặt chiếc bàn nhỏ: 
“Ông đi ngược… Họ phải nhận trước rằng họ không đúng, họ không có quyền bắt người khác vào tù chỉ vì người khác vào tù chỉ vì người khác không nghĩ như họ. Đến lúc đó chúng tôi sẽ xét xem chúng tôi có tha thứ cho họ hay không?” 
Cánh cửa mở và viên chức chính quyền vạm vỡ với chiếc prince-nez vàng trên sống mũi bước vào. 
“Sao? Nhị vị toán học gia? Các vị đã đi đến thỏa thuận rồi chứ?” 
Nerzhin không đứng lên, anh nhìn thẳng vào mặt Yakonov khi anh nói: 
“Ông có quyền quyết định. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng công việc tôi đang làm ở Phòng Âm thính hãy còn dở dang.” 
Vài phút sau đó trong phòng chỉ còn có một mình Yakonov đứng sau cái bàn lớn. Chỉ những ai biết rõ Yakonov mới biết rằng lúc đó y đang cáu giận. Y lẩm bẩm: “Đồ ngu. Có dịp tốt để khá hơn mà không biết. Cho mi chết…” 
Cầm cây viết chì đỏ y viết lên quyển sổ trên bàn: 
“Nerzhin sẽ phải đi”.

Hồi Ký Dang Dỡ

Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 15 Feb 2026

Phần 2

Ngày 29 Tháng Tư:

9 giờ sáng:
Chúng tôi qua phòng họp của Ban Liên Hợp Quân Sự không bị trúng đạn pháo, từ đó mới sử dụng được đường dây điện thoại để báo cáo đi các nơi về thiệt hại vật chất và nhân mạng đêm qua…
Đến 9 giờ sáng thì có một chiếc trực thăng Mỹ (sơn toàn trắng) đáp xuống ngay trước phòng họp để bốc chúng tôi đi. Nhưng không hiểu sao tôi lại không chịu đi. Và tôi cho trực thăng này di tản 6 sĩ quan của toán thanh tra ngừng bắn Nam Dương.
Tôi vẫn còn nhớ ơn đại tá Abbas, Phó trưởng đoàn và trưởng Phòng Tình Báo của phái đoàn Nam Dương này đã 2 lần đích thân kín đáo trao cho tôi bản đồ trận liệt ghi rõ tiến trình xâm nhập vào Miền Nam của đầy đủ 16 sư đoàn chánh quy bộ binh Bắc Việt và các sư đoàn thiết giáp và sư đoàn pháo binh nặng, vừa được cập nhật vào đầu Tháng Giêng năm 1975.
– Lần đầu ngày 3 Tháng Giêng 1975. (tôi đích thân mang tay lên trình cho Tổng Thống Thiệu ngày 4 tháng 1, với lời giải thích miệng rất đầy đủ theo đúng tin tức tình báo mà phái đoàn Nam Dương đã sưu tầm rất chính xác và rất đầy đù, (nhưng sau đó tôi đã không thi hành lệnh của Tổng Thống, chỉ vì ông bảo tôi phải mang sang cho Trung tướng Đặng văn Quang)
– Lần thứ hai ngày 1 Tháng Ba, với chú thích về mục tiêu tiến chiếm dự trù của cộng sản là Ban mê Thuột. Đây là tin tức hết sức chính xác về mục tiêu và thời điểm tấn công của Bắc Việt: tiến chiếm Ban Mê Thuột vào tháng Ba, 1975. Tôi cũng đã mang tay bản đồ và tin tức này đến trình cho Tổng Thống Thiệu, nhưng lần này thì ông bảo tôi mang sang cho đại tướng tổng tham mưu trưởng… Tôi đã y lệnh thi hành. Dĩ nhiên tôi không biết với tư cách tổng tư lệnh quân đội và tổng tham mưu trưởng hai ông đã có quyết định kịp thời về một “đường lối hành động” nào hay không..
10 giờ sáng:
Tôi liên lạc với Đại Tá Nguyệt, Hải Quân, để đưa một số sĩ quan và quân nhân các cấp, khoảng 30 người xuống tàu, di tản theo Hải Quân. Trong số này có các Đại Tá Chuân, Đại Tá Đóa… thuộc Khối Nghị Hội/Ban Liên Hợp. Số anh em sĩ quan và nhân viên còn lại của Ban Liên Hợp, chúng tôi dự trù cũng sẽ xuống luôn bến Bạch Đằng khoảng 12 giờ trưa sau khi thu xếp việc tản thương xong cho một số anh em quân nhân và nữ trợ tá xã hội tử thương và bị thương đêm qua.
11 giờ 30 sáng:
Chúng tôi nghe thấy có tiếng súng liên thanh từ dưới đất bắn lên các phi cơ đang cố gắng cất cánh khỏi phi trường.Anh em cho biết là chiếc xe jeep mui trần có gắn liên thanh 12 ly 7 của đại úy quân cảnh/phi trường đang nằm ngay giữa các phi đạo bắn lên bất cứ loại phi cơ và trực thăng nào muốn cất cánh rời khỏi phi trường. (sau ngày 30 Tháng Tư, đích thân tôi gặp đại úy quân cảnh này, mang súng lục đang đứng gác ngay tòa nhà Quốc Hội ở đường Tự Do. Thì ra đây là một tên cộng sản nằm vùng đã nhận lệnh của cộng sản từ trại Davis trong công tác ngăn chận không cho phi cơ cất cánh từ khuya ngày 29 Tháng Tư.)
Chúng tôi lên xe đi xuống Hải Quân để kịp lên tàu với Đại Tá Nguyệt. Nhưng lúc vừa đi ngang qua Bộ Tổng Tham Mưu (đúng 12 giờ trưa) thì không biết tại sao thình lình tôi lái xe Jeep của tôi rẽ trái đi vào cổng Tổng Tham Mưu. Hai xe jeep và 2 xe 4/4 trong đoàn xe của tôi dĩ nhiên phải vào luôn cổng theo xe của tôi.
Đến ngay Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, chúng tôi ngừng xe lại và tôi vào ngay hội trường của Bộ Chỉ Huy này tìm chỗ nằm xuống đánh một giấc ngon lành không còn biết ất giáp trời trăng gì nữa, có lẽ vì quá mệt mỏi. Tất cả anh em sĩ quan theo tôi từ Tân Sơn Nhất (trong số này có Đại Tá Nguyễn ngọc Nhận, Đại Tá Lộc, pháo binh thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự Cần Thơ, Trung Tá Chữ Nam Anh, Trung Tá Hoàng chánh văn phòng, v.v.) đều theo tôi vào hết trong hội trường vắng trống này. Đến 4 giờ chiều, thình lình tôi thức dậy và đinh ninh mình đang ngủ dưới tàu của Hải Quân nên lên tiếng hỏi:
– Tàu của chúng ta đã chạy đến đâu rồi? Đã ra khỏi sông Lòng Tảo chưa?
– Chạy đến hội trường của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh trong Tổng Tham Mưu rồi! Trung Tá Hoàng vừa cười mai mỉa vừa trả lời.
Tôi bàng hoàng đứng ngay dậy quan sát thì rõ ràng thấy mình đang ở giữa Bộ Tổng Tham Mưu. Bèn ra lệnh:
– Anh em lên xe ngay đi để xuống Bến Bạch Đằng chắc còn kịp vì Đại Tá Nguyệt chắc chắn còn đợi tôi.
– Không kịp nữa rồi ông ơi, Bộ Tổng Tham Mưu đã khóa cổng và có lệnh không cho ai ra vô gì nữa hết, chúng tôi đã thử mấy lần muốn ra rồi mà không được.
– Vậy là chết rồi! anh thử liên lạc với ông Nguyệt thử coi? ở số này nè!
Trung Tá Hoàng cố gọi chừng 15 phút mà không nghe ai trả lời….
Thế là số mạng bắt ta phải ở lại đây rồi! (tôi chán nản nghĩ thầm như vậy khi sực nhớ lại không biết vì lý do gì mà mình tự nhiên lại rẽ vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu lúc 12 giờ trưa nay thay vì cứ phải chạy thẳng xuống Bến Bạch Đằng để xuống tàu. Về sau này tôi mới được biết là đại tá Nguyệt chỉ vì chờ tôi không chịu nhổ neo tách bến nên phải bị anh em binh sĩ Hải Quân khiêng xuống tàu và rời bến lúc 2 giờ trưa.)
7 giờ chiều
Trung Tướng Vĩnh Lộc, quyền tổng tham mưu trưởng, cho người xuống gọi cá nhân tôi và Đại Tá Nhận lên văn phòng của ông để nhận việc. Lúc đó tôi mới biết được là ở Bộ Tổng Tham Mưu hiện giờ không còn tham mưu trưởng, không cón một số trưởng phòng quan trọng nào nữa như P1, P2, P3 và P4. Tất cả đều đã tìm phương tiện di tản hết rồi, chỉ còn sĩ quan xử lý thường vụ mà thôi. Không cần suy nghĩ tôi cũng đã thấy được tình hình chung như thế nào rồi.
Đại Tá Nhận được Trung Tướng Vĩnh Lộc ép nhận chức vụ tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi vẫn không chịu nhận bất cứ một nhiệm vụ nào, ít nhất trong hiện tại, vì đã dự định nội nhật ngày mai là phải rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu để tìm phương tiện di tản.
8 giờ 30 tối:
Các trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ồ ạt đáp xuống D.A.O. (Phòng Tùy viên Quân Lực Mỹ) ở ngay phía sau lưng tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu để bốc người Mỹ theo đúng tiến trình hành quân di tản của Hoa Kỳ. Không có một tiếng súng nhỏ lớn hay hỏa tiễn phòng không nào của Bắc Việt từ dưới đất bắn lên, điều này cho thấy rõ là giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt đã có một mật ước nào đó rồi cho thời gian và lộ trình di tản của Hoa Kỳ.
Có tiếng loa kêu gọi từ các trực thăng lúc họ bay ngang qua không phận Bộ Tổng Tham Mưu: Ai muốn được di tản thì cứ qua bãi đáp trực thăng bên D.A.O. ngay phía sau Bộ TTM. Có một số sĩ quan và nhân viên của Ban Liên Hợp (đang ở đây với tôi) đã nghe rõ tiếng loa kêu gọi từ trực thăng và đã vượt rào kẽm gai của Bộ Tổng Tham Mưu đến bãi bốc trực thăng bên D.A.O. (khoảng 40 thước đường) trong số đó có Đại Tá Lộc, Trung Tá Hoàng và một số sĩ quan cấp úy khác. Riêng tôi thì không thích “chui rào” như họ, (có lẽ vì tự ái cá nhân hay vì số mạng không biết).
Ngày 30 Tháng Tư:
6 giờ sáng:
Do đó, sáng ra kiểm điểm lại thì chỉ còn có tôi với Trung Tá Chữ Nam Anh và một số chừng 10 binh sĩ mà thôi. Những người khác thì đã được trực thăng Mỹ di tản đêm qua rồi. Cúng tôi lên xe sẵn sàng ra cổng Bộ Tổng Tham Mưu.
7 giờ sáng:
Nhân lúc xe của Trung Tướng Vĩnh Lộc và Đại Tá Nhận ra cổng, chúng tôi tháp tùng theo xe này luôn, vì nếu không thì sẽ bị chận lại không ra khỏi đây được nữa theo tiêu lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu.
Ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu là chúng tôi chia tay nhau, tạm gọi là “đường ai nấy đi” vì tới giờ phút này chúng tôi hình như đã linh cảm được số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao rồi!
Tôi lái xe về nhà người em họ ở Cư xá Đô Thành (Bàn Cờ) dự trù sẽ thay quần áo và nghỉ ngơi trước khi tìm được phương tiện di tản. Tình hình quân sự và chánh trị thì đã quá rõ ràng rồi, bây gờ chỉ còn xem con đường nào thuận tiện nhứt để thoát khỏi đây thôi. Phương tiện nào đây? Tàu hay phi cơ? Bằng tàu thì hoặc phải xuống Bến Bạch Đằng và Nhà Bè, hoặc phải ra tận Vũng Tàu hay Gò Công? Bằng phi cơ thì chỉ có ra tòa Đại Sứ Mỹ… Vậy ta phải đi một vòng xem sao rồi mới quyết định được. Đang ngồi suy tính một mình thì thằng em họ kêu cho hay là có lệnh mới rồi.. Lệnh của tổng thống và của tổng tham mưu trưởng…
11 giờ trưa
Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố Miền Nam Việt Nam “đơn phương ngừng bắn vô điều kiện,” một cách chơi chữ để nói lên một sự “đầu hàng Cộng sản Bắc Việt không có điều kiện (nhưng đó mới thực sự là điều kiện của Bắc Việt đã trao cho ông), và ngay sau đó Tướng Nguyễn Hữu Hạnh với tư cách là quyền tổng tham mưu trưởng QLVNCH lên tiếng trên đài truyền hình và đài phát thanh Sài Gòn, ra lệnh đơn phương ngừng bắn cho các đơn vị còn đang chiến đấu và kêu gọi quân nhân các cấp phải buông súng xuống!
Lắng tai nghe đi nghe lại những lời tuyên bố của hai Tướng Minh và Tướng Hạnh tôi vừa đau khổ vừa bùi ngùi nghe theo lời khuyên của em mình, trút bỏ bộ quân phục thân yêu của mình trong suốt gần 25 năm trong quân đội, xong mượn chiếc xe Honda của thằng em vội vàng phóng ra cửa. Tôi nghĩ bụng: Thôi thế là coi như xong hết rồi, không biết cái gì sẽ xảy ra sau chuyện đầu hàng quá nhục nhã này? Thương thuyết chăng? Chánh Phủ Liên Hiệp chăng? Chắc chắn là không rồi. Hàng ngàn chiếc xe xe tăng T.54 từ Bắc Việt vào đây tức là cộng sản Bắc Việt nhất quyết đã chọn giải pháp quân sự rồi thì làm gì còn có giải pháp chánh trị? Và đối với mộng bành trướng bá quyền của Cộng sản thì đâu có chuyện anh MTGPMN nhảy vào ngồi mát ăn bát vàng của họ được? Tôi vừa đi vừa suy nghĩ mông lung.. tự nhiên thấy mình trở lại gần Bộ Tổng Tham Mưu lúc nào không hay. Nhân tiện tôi đi vòng qua hướng Lăng Cha Cả để theo đường Trương Minh Giảng xuống Sài Gòn.
Lúc này đã quá 1 giờ trưa rồi. Đường sá vắng tanh, dân chúng rút hết vô nhà đóng kín cửa. ngoại trừ bọn hôi của còn đang lăng xăng lục lạo và khuân vác từng biệt thự do người Mỹ mướn ở, hay các nhà vô chủ, của những người dân quá sợ cộng sản đã bỏ đi hoặc di tản hay đang tìm đường di tản ra ngoại quốc.
Tuy không còn nghe tiếng đạn pháo hay rốc kết liên tục nhưng vẫn còn lác đác một vài tiếng súng cá nhân hay một vài tràng liên thanh đâu đó từ hướng trại Hoàng Hoa Thám của anh em Dù. Tôi còn nhớ lúc rời khỏi Ban Liên Hợp Quân sự ngày hôm qua, tôi còn chứng kiến được một số hành động anh dũng của anh em “Biệt Kích 81 Dù” đã bắn hạ 13 chiến xa T.54 của Bắc Việt từ Lăng Cha Cả lên hướng Củ Chi khi các đơn vị Bắc Việt tấn công vào trại Hoàng hoa Thám để tìm cách đột nhập ngang hông vào Tân Sơn Nhất. Hôm nay xác những chiếc tăng T.54 vẫn còn ngổn ngang ở vùng này, và tiếng súng cá nhân vẫn còn lẻ tẻ mặc dầu đã có lệnh đơn phương ngừng bắn của QLVNCH từ 11 giờ sáng nay.
Đường Trương Minh Giảng vắng tanh không một bóng người, không một chiếc xe nào chỉ thấy có một vài xác chết rải rác ngoài đường, gần cầu, hình như của bọn đặc công Bắc Việt.
Khắp các nẻo đường mà tôi đi qua, trong thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và cả Gia Định, tôi quá đau lòng mà thấy cảnh không biết bao nhiêu là súng ống đạn dược đủ loại, quân phục đủ màu đủ sắc của mọi binh chủng được vứt bỏ ngổn ngang từng đống hay bừa bãi rải rác khắp các vỉa hè, các thùng rác, cống rãnh… có lẽ đây là một cách vừa thi hành vừa phản đối lệnh buông súng đầu hàng của Tướng Minh và Tướng Hạnh… còn đang ra rả kêu gọi liên tục trên đài phát thanh. Càng đau lòng hơn khi thỉnh thoảng tôi bắt gặp một số người chạy lông nhông ngoài đường, hầu hết chỉ có một quần cụt trên người, có khi trần truồng như nhộng, chắc chắn họ là quân nhân, vì họ luôn miệng chửi thề tục tĩu vang trời, chửi cả bọn chiến thắng Bắc Việt lẫn người chủ bại đang tâm khóa tay quân đội để đầu hàng cộng sản!
Bến Bạch Đằng và Nhà Bè vắng tàu nhưng không vắng người vì còn một số quá đông đang còn lóng nhóng chờ… tàu từ Tân Cảng xuống. Nhưng tôi nghĩ chắc chắn không còn chiếc nào.
Tôi vào Bình Đông (Chợ Lớn) để thử tìm đường bộ xuống Gò Công. Nhưng cảnh sát dã chiến ở chốt đầu cầu đã được lệnh khóa cổng từ 6 giờ sáng nay không cho một ai qua khỏi cầu. Trở về Phú Lâm, tôi cũng bị chốt cảnh sát đã chiến ngăn chận, như thế có nghĩa là từ 6 giờ sáng nay đã có lệnh khóa hết mọi con đường ra khỏi Đô thành, khó mà dùng đường bộ được, và cũng có nghĩa là bọn cộng sản Bắc Việt đã bao vây chặt thủ đô này rồi.
Như thế là coi như tôi không còn khả năng và phương tiện nào thoát ra khỏi thủ đô Sài Gòn nữa bằng cả 3 đường bộ, đường thủy và đường bay. Thôi thì đành phải ngồi yên để chờ xem diễn tiến sắp tới tức là ngồi chờ xem Cộng sản Bắc Việt tiến vào thủ đô mà thôi!! Nghĩ thế tôi quay xe trở về Bàn Cờ.
Trên đường về, đột nhiên tôi nghe mấy tràng đại liên ròn rã ở hướng nhà thờ Sài Gòn. Quá tò mò tôi muốn đến xem nhưng gần đến nhà thờ thì nghe tiếng chiến xa chạy rầm rập ở hướng đại lộ Thống Nhất. Tôi biết là chuyên gì đã xảy ra rồi, nhưng quá đau lòng đến độ không thể nào dám chạy đến đó để xem, tôi vội chạy về Bàn Cờ ngay.
6 giờ chiều:
Tôi có ý định lên Hạnh Thông Tây, vào thăm Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp của mình. Nhưng khi vừa qua khỏi sân Golf ở phía sau Tổng Tham mưu thì một cảnh tượng quá đau lòng làm tôi phải ngừng xe lại ngay. Từng nhóm thương bệnh binh dìu nhau đi bộ từ cổng Tổng Y Viện Cộng Hòa. Hỏi ra tôi mới biết là từ 5 giờ chiều nay, một toán quân Bắc Việt đã vào tiếp thu Quân Y Viện mà họ liệt vào hàng “chiến lợi phẩm chiến tranh.” Người sĩ quan tiếp thu ra lệnh cho tất cả đều phải ra khỏi bệnh viện, và “ngay tức khắc” không được chậm trễ, không được mang theo bất cứ thứ gì kể cả xe cộ đủ loại, vì tất cả đều là của Mỹ Ngụy, không do cá nhân mua sắm, ngoại trừ quần áo đang mặc trên mình.
Tất cả mọi người, từ các bác sĩ quân y, các nam nữ y tá, trợ tá xã hội, lao công dân chính v.v. cho đến thương bịnh binh đủ loại, không cần biết tình trạng bệnh lý, đã được chữa trị hay chưa, vết thương đã mổ hay chưa? lành hay chưa lành? v.v. Thật quá khủng khiếp cho những anh em thương binh vừa được chuyển từ mặt trận về, vừa được lên bàn mổ hay vừa được mổ mà chưa khâu xong vết mổ, còn đang nửa mê nửa tỉnh.. đều phải ôm vết thương lang thang xuất viện mà không biết phải đi về đâu? nhà ở đâu mà về? Gia đình có đâu mà về? đơn vị ở đâu mà về? Vì họ được tản thương về đây từ mặt trận.
Đây là một câu chuyện thê thảm nhất trong lịch sử chiến tranh Quốc Cộng, giữa Nam Bắc Việt Nam, giữa người Việt Nam với nhau. Ngay như trong cả 2 thế chiến, người ta cũng không có lối cư xử quá tàn bạo và nhẫn tâm vô nhân đạo như thế, huống là giữa những người Việt Nam cùng một dòng máu Lạc Hồng?
Để giúp cho những người khốn khổ này, chúng tôi và một số dân chúng quanh chùa Vạn Hạnh (Phú Nhuận) kêu gọi được một số xe tư nhân, xe tắc xi, xích lô máy, xích lô đạp.. đưa giùm một số thương bịnh binh nặng, đang trong tình trạng giải phẫu dở dang.. đến các bệnh viện Đô Thành, Nguyễn văn Học, Chợ Rẫy, Grall và một số bệnh viện tư của người Hoa ở Chợ Lớn, kể cả 2 bệnh viện tư nhỏ của hai bác sĩ Nguyễn văn Tạo, Nguyễn duy Tài ở đường Pasteur… để nhờ tạm chữa trị tiếp, chờ ngày cho họ về với gia đình…
Giờ này thật tình thời gian đã trôi qua quá lâu rồi, gần 30 năm rồi, thử hỏi dân chúng Miền Nam cũng như người Việt Nam ở hải ngoại này còn có mấy ai biết đến và nhớ đến một buổi chiều thê thảm nhất của anh em quân nhân chúng tôi, nhất là những anh em thương bịnh binh thuộc QLVNCH đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa đã bị xua đuổi thẳng tay một cách vô nhân đạo ra khỏi bàn mổ hay khỏi giường bịnh, do sự tiếp thu của Cục Quân Y của Quân Đội Nhân Dân BV? vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 mà cộng sản gọi là ngày chiến thắng của họ trong chiến dịch xâm lăng Miền Nam Việt Nam có tên gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh!!!!!
Đêm nay về Bàn Cờ nghỉ tạm, tôi không có một chút hứng thú nào khi ngồi trước một bữa cơm ngon của gia đình, tôi cũng trằn trọc suốt đêm không ngủ được chỉ mong cho trời mau sáng để được xem tận mắt cảnh “đổi đời”! Ước gì cảnh đó phải hoàn toàn khác hẳn cảnh mà tôi đã đích thân chứng kiến chiều hôm qua ở Gò Vấp!
Ngày mồng 3 Tháng Năm, 1975
Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ thư viện Quốc Gia… Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là bài trừ “Văn Hóa đồi trụy”:
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một ủy ban gọi là “ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”), tại Sài Gòn Chợ Lớn thì mỗi quận một tiểu ban, ở các tỉnh thì mỗi tỉnh một tiểu ban.
“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30 Tháng Tư, 1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga).
Mục tiêu mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư Viện Quốc Gia (national library) ở đường Gia Long. tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và Encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành Công Pháp quốc tế, Khoa Học Kỹ Thuật, Hàng Không và cả khoa học Không Gian,v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của Đất Nước, trong phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết!
Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ Encyclopedia lên xem mà ứa nước mắt… nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp 3O” khoảng 16 tuổi tới đuổi:
“Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ này nữa!!”
Tội nghiệp! Thật là tội nghiệp!!!
(Về sau mãi cho đến 1992 lúc chúng tôi sắp rời khỏi VN, thì Thư Viện Quốc Gia này vẫn còn được cộng sản dùng làm “mặt bằng” cho mướn làm tiệc cưới và tiệc “liên hoan” của cán bộ công nhân viên các cấp).
Mục tiêu kế tiếp của bọn “cọp 30” là Thư Viện Bộ Giáo Dục, các nhà sách ở khu chợ Bến Thành và dài dài vô đến Chợ Lớn… sau đó tiểu ban đi xét từng nhà khắp đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định, ai sợ thì cứ tự mình đốt, bỏ… nếu xét gặp thì chắc chắn phải gặp khó khăn với mấy “ông cọp 30 trẻ” này.
Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai,” cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại (Bà thiếu tá cách mạng đào hát Kim Cương phụ trách phần này).
Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng tích của Mỹ Ngụy từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng, không cần biết có hợp với dân tộc Việt Nam hay không và cũng không cần lượng xét hậu quả sẽ như thế nào (có nghĩa là thay vì đẩy Miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của Miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi Miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau… nhằm đưa đất nước Việt Nam vào con đường xã hội chủ nghĩa đúng theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung Cộng…
Mãi cho đến cuối thập niên 80, lúc tôi ra khỏi trại tù cải tạo, lãnh đạo đảng Nguyễn văn Linh nhờ chạy theo phong trào “đổi mới” của Liên Xô, mới chịu mở mắt ra và chừng đó mới thấy được là đảng cộng sản đã kéo cả đất nước và dân tộc Việt Nam đi lùi vào thời kỳ đồ đá… từ sau ngày cướp được chánh quyền mùa thu năm 1945 và nhất là để mất đi một cơ hội và một thời gian quá dài từ sau ngày nhuộm đỏ Miền Nam Việt Nam 30 Tháng Tư, 1975.)
Ngày 4 Tháng Năm
Tôi đến nhà của Ngô Công Đức vì nghe tin anh ta mới từ bên Pháp trở về Sài Gòn qua ngả Lào, Hà Nội (mang theo chiếc xe đạp). Đến nhà anh mới được biết là người vợ của anh đã sang ngang không biết vì lý do gì, (có thể vì hành động phản chiến của anh.) Đến đây tôi may mắn được gặp lại một người bạn thân, trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rể của Ngô công Đức) may mắn có mặt tại Dinh Độc Lập từ sáng ngày 30 Tháng Tư, nhờ vậy tôi mới được biết thêm một vài chi tiết liên quan đến chuyện bộ đội Bắc Việt vào tiếp thu Dinh Độc Lập trưa ngày 30 Tháng Tư. Tôi phải ghi lại gần như nguyên văn lời của ông bạn Nguyễn Văn Binh của tôi như sau:
“Sau khi chiến xa T.54 ủi sập một bên cổng chính của Dinh Độc Lập, (theo suy đoán của anh Binh thì đây là một hành động tượng trưng cho chiến thắng quân sự cuối cùng và quyết định của cộng sản Bắc Việt) một số bộ đội tràn vào sân thượng hạ cờ VNCH xuống và treo cờ MTGPMN lên (chưa phải là cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt), một sĩ quan Bắc Việt có bộ đội hộ tống ập vào đại sảnh, nơi mà Tổng Thống Dương văn Minh đang có mặt cùng với những người cộng sự viên thân tín nhứt trong Chánh Phủ của ông. Thấy vị sĩ quan này đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội nhân dân Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp.
– Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.
Sĩ quan này dùng danh từ “mầy tao” xẵng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
– Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!
Mặt Tướng Minh co dúm lại. Ông chợt hiểu là ông không gặp được những người của MTGPMN mà là những người cộng sản Bắc Việt, dù họ treo cờ Việt Cộng trên xe. Không phải là những người Miền Nam đã vào chiếm Dinh Tổng Thống, mà đang đứng trước mặt ông là những chiếc xe tăng, những sĩ quan và bộ đội Bắc Việt và họ đã đối đãi với ông không như bạn hay đồng bào, mà như một kẻ thù thất trận!

Tổng Thống Dương Văn Minh (2) ngày 30-4-1975 ở Dinh Độc Lập. Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu (1) và nhà báo Bùi Tín (3). File photo

Tướng Minh cố gắng tự kềm chế và dịu dàng hơn ông nói tiếp:
– Chúng tôi đã có dự trù sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua…
Vị trung tá Bắc Việt ngăn ông lại và xẵng giọng:
– Bọn bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ cái bếp tư sản của mầy lại đi. Chúng tao đã có cơm dã chiến của chúng tao, một nắm cơm nắm và một hộp thịt kho mặn.
Sau đó sĩ quan này ra lệnh nhốt tất cả các tổng trưởng hiện diện vào một gian phòng, sau khi đã cho lệnh khám xét rất cẩn thận và không khoan nhượng trước sự hiện diện các nhà báo ngoại quốc đang làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh lia lịa cảnh tượng lịch sử này.
Sau đó ông Minh bị “bộ đội” bao quanh chĩa súng vào người ông, và vị sĩ quan cao cấp vung khẩu súng lục to đẩy ông lên một chiếc xe Jeep và phóng đi dưới hàng loạt ánh đèn chớp của máy ảnh và máy quay phim của báo chí. Ông được đưa đến đài phát thanh để ông phải lên tiếng kêu gọi lần chót với các binh sĩ còn đang tiếp tục chiến đấu. Vì chiến trận vẫn còn tiếp diễn gần như khắp nơi, ở ngoại ô, ở Chợ Lớn, chung quanh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, ở khu vực gần Tân Cảng, trước trung tâm truyền tin Phú Lâm,…
Đến 13 giờ, Tướng Minh được đưa trở về Dinh Tổng Thống và bị nhốt dưới tầng hầm.
Cũng vẫn theo lời của anh bạn tôi:
– Ông Nguyễn Văn Hảo đương kim tổng trưởng Tài Chánh đã có mặt tại dinh Độc Lập ngày 30 Tháng Tư, 1975 với Tướng Dương văn Minh, cùng với nội các của ông Vũ văn Mẫu và một số nhân sự phản chiến tự xưng là thành phần thứ ba (như Dương văn Ba, Hồ ngọc Cứ, Võ long Triều, v.v…). Khi ông Minh được đưa trở về đến Dinh Độc Lập thì ông Hảo lên tiếng, nói một câu “bất hủ” với sĩ quan chỉ huy Bắc Việt rằng:
– Tôi còn ở đây chờ quí vị, để trao cho quí vị một món quà, đó là trên 20 tấn vàng.
Vị sĩ quan đó đáp ngay tức khắc:
– Đó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!
Và ông Hảo đã dẫn người này đến Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ngay chiều ngày 30 Tháng Tư, 1975, trao 3 chìa khóa hầm vàng cho đại diện Bắc Việt, để chỉ dẫn họ cách thức lấy 20 tấn vàng dằn kho của VNCH ở ngân hàng này. Sau đó ông Hảo vẫn bị đưa về nhốt chung với các vị tổng trưởng khác.”
Ở nhà của Ngô Công Đức, tôi được chứng kiến một cảnh “ngu dốt” của một toán bộ đội Bắc Việt, nói lên tình trạng quá lạc hậu đáng thương hại của người dân Miền Bắc nói chung:
Trong lúc tôi và anh Binh anh Đức ngồi ở phòng khách trò chuyện thì có một toán chừng 6 anh “bộ đội” ập vào nhà “khám xét.”
Người chỉ huy cầm trong tay cái điện thoại và hách dịch hỏi anh Đức:
– Cái “đài” này là của anh?
– Phải, của tôi
– Anh làm “chức vụ” gì lớn lắm của Mỹ Ngụy mà có cái “đài” này? anh dùng cái đài này để liên lạc với Mỹ Ngụy và với CIA phải không? Tôi phải bắt anh ngay về cơ quan để “làm việc,” mặc áo vô đi rồi theo tôi ngay. (vì lúc đó anh Đức ở trần)
– Xin lỗi anh tôi không đi đâu hết, cái này là cái điện thoại chớ không phải cái đài.
– Đồ ngoan cố, cái này là cái điện đài, tôi được lệnh bắt anh, vì trong nhà anh có một cái điện đài mà không chịu đi khai báo…
Tôi rời khỏi nhà anh Đức trưa hôm đó, lòng suy nghĩ miên man… Thật tội nghiệp cho cái anh chàng phản chiến Ngô Công Đức này, giờ này chạm mặt với thực tế có lẽ anh mới sáng mắt thấy rõ trình độ của người dân Miền Bắc và mức độ giáo dục và ảnh hưởng tuyên truyền nhồi nhét của cộng sản là thế nào đối với dân chúng…! Tội nghiệp cho cái anh bộ đội quá ngu dốt này, và cũng thật quá tội nghiệp cho người dân Miền Nam của mình trong những năm tháng sắp tới… có lẽ phải chịu sống đau khổ triền miên vì cái tình trạng ngu dốt của kẻ xăm lăng thống trị từ Miền Bắc…
Ngày 5 Tháng Năm, 1975
Tôi quyết định đến nhà anh chị Bác Sĩ Nguyễn Văn Tạo ở đường Pasteur để tạm trú và tạm lánh mặt chờ ngày 15 Tháng Sáu là ngày trình diện đi “học tập.” Ở đây có lẽ yên hơn là về Sadec (gia đình tôi) hay Cai Lậy (gia đình bên vợ tôi), dù sao ở ngay Sài Gòn chắc không bị những màn trả thù rùng rợn như ở tỉnh, như một số tin tức mà tôi được biết cho tới ngày hôm nay… (như ở ngay tĩnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn Văn Thêm đều bị họ kết án là “có tội với nhân dân” mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu… Riêng anh Trung úy Dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chở Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.)
Sáng nay tôi phải lên thăm một thiếu tá tuyên úy Phật Giáo, đang là trụ trì tại một ngôi chùa ở Hạnh Thông Tây, và là người có trách nhiệm lo mọi công tác hậu sự cho quân nhân các cấp không may bị tử thương, và hằng ngày lo chăm nom săn sóc nơi an nghĩ cuối cùng của anh em quân nhân chúng tôi là “nghĩa trang quân đội Hạnh Thông Tây” nằm ở đối diện không xa với chùa này.
Đưa tôi vào chánh điện lạy Phật xong ông dẫn tôi lên phòng riêng và khi chỉ còn có hai chúng tôi thì ông nín không nỗi nữa, bật lên khóc sướt mướt, ấp úng nói không thành lời. Sau một lúc khá lâu bình tâm trở lại ông mới nói rõ cho tôi nghe là không phải ông khóc vì chuyện “mất nước,” nhưng khóc vì động lòng từ bi trước cảnh mồ mả trong nghĩa trang quân đội mà ông có trách nhiệm săn sóc đã bị cộng sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày mồng 3 Tháng Năm vừa qua.
Mặc cho sự van xin cầu khẩn của ông (trong bộ áo nâu sồng của một thượng tọa) họ vẫn san bằng hết từ nhà xác, nhà liệm xác, nhà nguyện cho đến ngôi mộ cuối cùng… Ông vừa nói vừa tức tưởi khóc:
– Không hiểu sao họ quá tàn nhẫn như vậy? Họ nói là để lấy đất mà trồng trọt để nuôi nhân dân đang đói nghèo. Đất rộng như vầy, màu mỡ như vầy mà làm nghĩa địa thì phí của trời quá. độc ác với nhân dân quá!
Thật tội nghiệp cho vị tuyên úy Phật Giáo này. Ông quá thật tình, nhìn sự việc qua lòng từ bi của một tu sĩ, nên không hiểu là hành động này phải xuất phát từ chủ trương và chánh sách của người cộng sản mà nhất là cộng sản Miền Bắc, đội quân tiền phong của Quốc tế Cộng sản Đệ Tam Nga Tầu! Dù họ là người Việt Nam nhưng tư tưởng, hành động và nhất là lương tâm của họ ngày hôm nay không còn thuộc về họ nữa. Họ phải theo đúng giáo điều Mác Lê, theo đúng lệnh của Staline, của Mao Trạch Đông là những quan thầy trực tiếp điều khiển họ trong cuộc chiên tranh bành trướng về phương Nam này.
Ông bạn tuyên úy của tôi cũng chất phác như người dân Miền Nam đã từng cho những lời “tố cộng” của chánh quyền hay của Phòng Chiến Tranh Chánh Trị là những chuyện “đặt điều” cốt để tuyên truyền tác động tinh thần của quân cán chính Miền Nam. Bây giờ chỉ mới giáp mặt với một vài hành động của họ thôi, rồi đây có lẻ từ từ rồi họ sẽ thấy được bộ mặt thật của con người cộng sản này. Nhưng từ hôm nay cho đến đó người dân Miền Nam chúng ta chắc còn sẽ phải chịu nhiều cảnh thương đau cùng cực nữa… trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của họ.
Tôi mời ông thiếu tá tuyên úy bạn tôi cùng lên nghĩa trang Biên Hòa để xem thử là họ đã ủi nghĩa trang quân đội ở đây chưa? Theo tin ông đã nhận được thì hình như họ cũng đã thực hiện công tác này rồi, cũng vào ngày 3 Tháng Năm.
Có đi đến nơi chúng tôi mới thấy rõ được hiện trạng. Thật là thê thảm! Trước hết là tượng hình của một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến qua tượng đài “Thương Tiếc,” một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật rất có giá trị đặt bên vệ đường ở mặt tiền của nghĩa trang quân đội đã bị cộng sản phá nát bằng cốt mìn, và ủi sạch không còn một chút dấu vết.. Cả nghĩa trang rộng lớn cũng đã biến thành bình địa!
Trên đường về Hạnh Thông Tây cả hai chúng tôi yên lặng không trao đổi một lời nào, tôi tin chắc là cảm nghĩ của một người tu sĩ đương nhiên phải khác hẳn với cảm nghĩ của một chiến binh như tôi. Dù sao khi về đến chùa, trước khi giã từ, tôi cũng nói rõ cho Thầy tuyên úy bạn tôi thấy được cảm nghĩ của tôi:
– Hành động quá ư tàn nhẫn đến dã man này thật không đúng là hành động của bất cứ người Việt nào nhất là ở Miền Nam Việt Nam. Từ ngàn xưa đúng theo đạo lý và truyền thống của dân tộc Việt, người Việt Nam chúng ta ai cũng biết là “nghĩa tử là nghĩa tận” hay “chết là hết.” Dù giữa cá nhân anh và tôi có thù hằn nhau cách mấy nhưng khi anh hay tôi có người đã nằm xuống rồi thì coi như mối thù đó được xóa bỏ vĩnh viễn, không ai còn muốn nhắc đến nữa. Vậy ủi hết mồ mả của quân nhân các cấp thuộc QLVNCH có nghĩa là gì đây? nếu không muốn nói trước hết là nhằm “trả thù cho quân đội và nhân dân Miền Bắc”? sau đó lại “xóa sạch được vết tích của QLVNCH, người đã chết xóa trước, người còn sống xóa sau? trong chủ trương sửa lại toàn bộ lịch sử trong tương lai đối với các thế hệ trẻ sau 1975? một trang sử đấu tranh dai dẳng của Quân Dân Cán Chính Miền Nam đã hy sinh làm tiền đồn ngăn chận làn sóng xăm lăng cộng sản, trong suốt gần 30 năm từ 1945 mà họ cần phải xóa bỏ?? Tôi nghĩ chỉ có như vậy họ mới đang tâm có những hành động phi nhân đạo này. Và chắc chắn trên toàn bộ Miền Nam Việt Nam các nghĩa trang quân đội đều phải chịu chung một số phận. Dĩ nhiên rồi cũng phải đến số phận của chúng tôi… những chiến binh còn sống sót.
Nhưng ngày nào còn có một chiến binh QLVNCH còn sống sót như cá nhân tôi thì ngày đó cộng sản Bắc Việt đừng hòng sửa được một trang sử nào!…
Chúng tôi xin tạm chấm dứt mấy trang “Hồi ký dang dở” ở đây, và xin thành tâm cầu nguyện cho nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam chúng ta sớm được thoát khỏi vĩnh viễn ách độc tài đảng trị của bọn cộng sản vô thần khát máu và tàn bạo này.

Washington, những ngày cuối năm Quý Mùi
Dương Hiếu Nghĩa

Nữ Đại Tá gốc Việt Danielle J. Ngô, Sĩ Quan điều hành Phòng tổng thanh tra Lục Quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on September 6, 2019 by dongsongcu

Post by Sơn râu 14 Feb 2026

Đại tá Danielle J. Ngô (Ảnh của 130th Engineer Brigade)

Đại tá Danielle J. Ngô gia nhập lục quân Hoa Kỳ năm 1990, và trở thành một binh sĩ thuộc binh chủng công binh. Sau đó, cô theo thụ huấn một khóa sĩ quan và tốt nghiệp mangcấp bậc thiếu úy vào năm 1994. Cô được thuyên chuyển lần lượt phục vụ tại các đơn vị công binh như: Trung đội trưởng kiêm đại đội phó tiểu đoàn 62 công binh; Sĩ quan phụ tá ban 4, lữ đoàn 20 công binh nhảy dù; Sĩ quan ban 1 kiêm ban 3, tiểu đoàn 37 công binh nhảy dù; Phân đội trưởng, phân đội công binh 610; Đại đội trưởng, đại đội chỉ huy, tiểu đoàn 299 công binh chiến đấu; Phó ban 4, lữ đoàn 1, sư đoàn 4 bộ binh tham dự cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom I, Iraq; Sĩ quan bộ tham mưu liên quân (Joint Chiefs of Staff Intern) tại Washington D.C; Sĩ quan phụ tá phòng 5, sư đoàn 1 bộ binh; Phó phòng 5, bộ tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại A Phú Hãn (Operation Enduring Freedom Afganistan); Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 52 công binh; Sĩ quan Phụ tá quân sự cho Chủ tịch ủy ban quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc; Lữ đoàn trưởng, lữ đoàn 130 công binh; Sĩ quan điều hành quản lý kế hoạch chuyên môn cho Tư lệnh lục quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Từ tháng 7 năm 2019, đại tá Danielle J. Ngô được bổ nhiệm làm sĩ quan điều hành phòng tổng thanh tra lục quân Hoa Kỳ.

Đại tá Danielle Ngô tốt nghiệp cử nhân ngành tài chánh tại đại học Massachusetts. Cô cũng đã hoàn tất 2 văn bằng cao hoc tại trường chỉ huy và tham mưu (Command and General Staff College) và đại học Georgetowns. Ngoài ra, cô cũng đã thụ huấn các khóa học quân sự như: khóa căn bản và cao cấp sĩ quan công binh; khóa CAS3 tại trường chỉ huy tham mưu và trường cao cấp quân sự (School for Advanced Military Studied).

Đại tá Danielle J. Ngô và Đại tướng Mark A. Milley, Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, hình chụp vào tháng 10 năm 2016 (Ảnh của army.mil).

Cần biết thêm về những thành tích nỗi bật của đại tá Danielle Ngô đã được cấp chỉ huy ngành công binh lục quân khen ngợi: Trong suốt thời gian hơn hai năm làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 52 công binh, trung tá Danielle Ngô đã chỉ huy tiểu đoàn góp phần đáng kể cứu nạn cháy rừng, chận đứng giòng lửa khắc nghiệt tại Waldo Canyon và thực hiện phương pháp đề phòng cháy rừng tại đây; yểm trợ xây cất lại căn cứ Không quân Cheyenne Mountain sau cơn lũ lụt. Trong buổi lễ bàn giao Tiểu đoàn lại cho Trung tá Ralph W Radka, trung tá Danielle Ngô phát biểu: “Tôi đoán các bạn có thể gọi chúng tôi là tiểu đoàn thiên tai. Thật là tuyệt vời vì chúng tôi đã sống sót qua hai trận cháy rừng xảy ra tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử tiểu bang Colorado, và một cơn lũ lụt tàn bạo nhất đã làm bị thương 12 binh sĩ của chúng tôi, giờ đây họ đã bình phục. Các thiên tai duy nhất mà chúng tôi đã không được tham dự là các cơn sóng thần và động đất”. Đại tá Heath Roscoe, lữ đoàn trưởng, lữ đoàn 36 công binh tại Fort Hood, đã hết lời khen ngợi trung tá Danielle Ngô, ông nói: “Trung tá Danielle Ngô đã đi thêm những dặm đường. Cô ấy luôn lo lắng và giúp đỡ cho gia đình các binh sĩ trong đơn vị”. Dưới sự chỉ huy của trung tá Danielle Ngô, tiểu đoàn 52 công binh cũng đã từng hoạt động tại các chiến trường Bahrain, Afghanistan và Kuwait.

Đến tháng 2 năm 2014, trung tá Danielle Ngô bàn giao tiểu đoàn 52 công binh lại cho trung tá Ralph W Radka, để nhận nhiệm vụ trong vai trò Sĩ quan phụ tá quân sự cho Chủ tịch ủy ban quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc. Vài tháng sau, cô có tên trong danh sách 234 trung tá lục quân được chọn thăng cấp đại tá. Và được chính thức thăng cấp đại tá trong năm 2015.

Tháng 7 năm 2016, tại căn cứ quân sự Hamilton Field, đại tá Danielle J. Ngô đã chính thức nhậm chức lữ đoàn trưởng, lữ đoàn 130 công binh lục quân. Trong suốt nhiệm kỳ 2 năm, nữ đại tá gốc Việt họ Ngô đã đưa lữ đoàn 130 công binh lục quân hoàn thành nhiệm vụ giao phó. Tháng 7 năm 2018, đại tá Danielle J. Ngô bàn giao lữ đoàn 130 công binh lục quân cho đại tá Geoffrey Van Epps để nhận nhiệm vụ mới trong phương vị sĩ quan điều hành quản lý kế hoạch chuyên môn cho Tư Lệnh Lục Quân Thái Bình Dương. Đến tháng 7 năm 2019, đại tá Danielle J. Ngô được bổ nhiệm về phòng tổng thanh tra lục quân tại Ngũ Giác Đài, trong phương vị sĩ quan cao cấp điều hành cho đến nay.

Tuy không phải là người phụ nữ Việt nam đầu tiên mang cấp đại tá trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng đại tá Danielle Ngô là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên mang cấp đại tá trong binh chủng công binh lục quân Hoa Kỳ. Ngoài đại tá Danielle J Ngô, trong quân đội Hoa Kỳ còn có trên 100 nam, nữ đại tá gốc Việt phục vụ trong lục quân, hải quân, không quân, thủy quân lục chiến và đoàn y tế công cộng (USPHS). Hiện nay có khoảng 100 vị đương nhiệm, 11 vị đã hồi hưu và 1 vị đã qua đời.

Đại tá Danielle J. Ngô trao hiệu kỳ lữ đoàn 130 công binh lục quân cho đại tá Geoffrey Van Epps, tân lữ đoàn trưởng, hình chụp vào tháng 7 năm 2018 (Ảnh của army.mil)

Hơn 29 năm phục vụ trong lục quân Hoa Kỳ, đại tá Danielle Ngô được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý như: Legion of Merit, Bronze Star Medal (2), Defense Meritorious Service Medal, Meritorious Service Medal, Joint Service Commendation Medal, Army Commendation Medal (3), Joint Service Achievement Medal (3), Army Achievement Medal (5), Joint Meritorious Unit Award (2), Valorous Unit Award, Army Superior Unit Award (3), Army Reserve Component Achievement Medal, National Defense Service Medal (2)… và một số huy chương cao quý khác.

Tính theo thâm niên cấp bậc và năng lực chỉ huy, đại tá Danielle Ngô là một trong những đại tá xuất sắc của lục quân Hoa Kỳ, cô cũng có thể được hội đồng thăng cấp sĩ quan cấp tướng lục quân tuyển chọn đề cử để trở thành chuẩn tướng trong thời gian sắp tới ! Cầu chúc cho đường binh nghiệp của cô sẽ thăng tiến như thiếu tướng Lương Xuân Việt, tân thiếu tướng Lapthe C. Flora, chuẩn tướng William H, Seely III và tân phó đề đốc Nguyễn Từ Huấn.

Thật hãnh diện cho cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại có Danielle Ngô, một phụ nữ Việt Nam, có năng lực lãnh đạo chỉ huy, đã từng là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 52 công binh, sĩ quan phụ tá quân sự cho Chủ tịch ủy ban quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc, lữ đoàn trưởng, lữ đoàn 130 công binh, sĩ quan điều hành quản lý kế hoạch chuyên môn cho Tư Lệnh Lục Quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ, và hiện đang đảm nhiệm chức vụ sĩ quan điều hành phòng tổng thanh tra lục quân Hoa Kỳ.

Nguồn tài liệu: Congress.gov; army.mil; linkedin.com; bids farewell to 52nd Engineer Battalion; Engineers change leadership, welcomes new command team;130th Engineer Brigade changes command; bienxua-Nữ Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Danielle J Ngô/Đại tá Danielle J. Ngô, nhậm chức Lữ đoàn trưởng, lữ đoàn 130 công binh lục quân Hoa Kỳ.

Cuối năm, cuối cuộc..

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 14 Feb 2026

#1.

Ánh trăng gờn gợn tàn canh

Bóng người rọi chạm vách tường lạnh tanh

Thầm nghe từ cõi vô thanh

Tiếng đời cô tịch, nghiệp trần khốc âm

#2.

Viết nên khốc liệt lời thơ

Như bơi biển nỗi sấm rền bão giông 

Phận người khốn khổ long đong

Nuốt xuống cho hết mỗi phần Mối Đau!

#3.

Cuối ngày, tàn cuộc, hết năm…

Nhạt màu ảm đạm một lần trần gian

Gầm lên vô vọng oán than

Hóa ra gió thoảng bên ngoài hành lang      

 #4.

Vô tình lãng đãng nghĩ chơi

Cuộc chơi nặng nhọc căn phần gian nan

Con người thật đủ khả năng

Nhận thương tâm khiến hậu nhiên bật cười…

#5.

Cuối năm ra khỏi nhà tù

Ngỡ ngàng đi chậm qua rừng cao su

Nhìn lên trời ngày âm u…

Có không phận nghiệp con người trầm luân?! 

Sắp hết năm ta,

Nhớ ngày ra tù Tết 1989!

Phan Phi Danh

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 14 Feb 2026

Phần 3 – Phân đoạn 5

Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh

(Trích đoạn Hồi Ký của Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh)

Thiếu Úy Trần Quang Trân (góc trái) và bà quả phụ Thiếu Úy

Trần Quang Trân (góc phải)

Dẫn nhập

Lần xử tử Thiếu úy Trần Quang Trân ở trại Tiên Lãnh, Quảng Nam là một điển hình của  cách giết người không cần nguyên cớ của chính sách giam giữ và thủ tiêu người đối lập của chế độ cộng sản – Bất cứ chế độ cộng sản nào – Thủ đoạn giết người đã từng được thực hiện với Khái Hưng, Nhượng Tống. … những người quốc gia, trí thức yêu nước từ thập niên 40 của thế kỷ trước lúc tập đoàn Việt Minh mới khởi sự giành quyền thống trị xã hội. Có khác chăng sau 30 tháng 4, 1975 thì công khai, lộ liễu hơn. Chúng tôi xin mời quý độc giả theo dõi câu chuyện với Bác sĩ Phùng Văn Hạnh, hiện ở Gia Nã Đại, người bạn tù với Trần Quang Trân ở Tiên Lãnh.

PNN

Tôi muốn nói lên những đau khổ chất ngất của anh em tù chính trị và quân đội trong  ngục tù Tiên Lãnh. Làm y tế trại, tôi được gọilên phòng kiên giam để xác nhận cái chết của Nguyễn Công Vĩnh. Trước kia anh to con, nhưng bây giờ xác anh teo táp, co rúm, da bọc xương, gò má lồi cao, hai mắt mở trừng trừng. Anh ta chết vì đói. Bọn cai tù có lệnh không cho anh ăn uống. Bọn trật tự kể lại là những ngày cuối, trong mê sảng, anh bốc những con giòi bò trong đường cống lên ăn, chắc anh tưởng là hạt cơm. Đường cống là một cái rãnh dọc theo bờ tường phòng kiên giam, dùng cho tù phạm tiêu, tiểu tiện vào đấy. Chắc có nhiều hồi ký trại giam cộng sản đã tả cái dã man, tinh vi của cái cùm sắt dài xuyên từ bờ tường này đến bờ tường kia. Cảnh cô độc, đói khát, mơ tưởng những món ăn thời tự do, những tiểu xảo để giết thì giờ thiên thu và để kéo dài chịu đựng, nói lên cái tàn bạo chưa từng có của kiên giam. Chuồng cọp Côn Đảo là thiên đường sánh với kiên giam. Vụ án Trần Quang Trân là một biến cố đặc biệt  của trại Tiên Lãnh, nói lên tinh thần bất khuất của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đây là một tổ chức có mục đích, hệ thống. Một hoạt động dũng cảm, nhiệt tình, có tính cách quy mô rộng lớn, bao gồm trên 100 sĩ quan và tù chính trị. Bởi thế, khi vỡ lỡ, công an điều tra mất vài tháng trước khi đưa nội vụ ra tòa với hai lần xử: phúc thẩm và chung thẩm. Bản án chung thẩm là: Tuyên truyền chống phá cách mạng, tổ chức cướp súng, cướp trại, âm mưu lật đổ chính quyền.

Sau đây là tên họ những người lãnh án phạt và thời gian ở tù thật sự:

– Thiếu úy Trần Quang Trân, án tử hình, xử tử ngày 19/06/1982.

– Thiếu úy Trần Lân, án chung thân, ở tù 20 năm.

– Trung úy Ngô Văn Thạnh, án 20 năm, ở tù 19 năm.

– Đại úy Nguyễn Văn Hưng, án 18 năm, ở tù 19 năm.

– Đại úy Đỗ Ngọc Nuôi, án 12 năm, ở tù 16 năm.

– Xã trưởng Võ Kinh, án 13 năm, ở tù 15 năm.

-Trung úy Đỗ Văn Sĩ, án 13 năm, ở tù 16 năm.

– Đại úy Đinh Văn An, án 10 năm (chết trong tù Hàm Tân năm 1990).

– Trung sĩ Lê Cao Phúc, án 10 năm, ở tù 14 năm.

– Bác sĩ Tôn Thất Sang, án 10 năm, ở tù 15 năm.

– Lê Phò, án 10 năm, ở tù 10 năm.

– Đại úy Nguyễn Minh, án 5 năm, ở tù 12 năm.

– Thiếu úy Huỳnh Tiến, án 3 năm, ở tù 11 năm.

Ngoài ra có một số bị kiên giam, song không bị án. Trong số những người kiên cường này, phải kể Nguyễn Văn Ngật, Nguyễn Văn Điểu, Lê Quang, Lê Xuân Mai, Phạm Lộc, Trần Thao, Châu Văn Mầu, Nguyễn Ngọc Trai, Trương Quang Đông …

Tóm lại có chừng 75 người xử theo biện pháp hành chánh, nghĩa là tập trung cải tạo vô thời hạn, không biết ngày nào về, trung bình ở tù 10 năm. Trừ hai người ra đi vĩnh viễn là anh Trân và An, số còn lại lãnh 9 thế kỷ tù tội. Chín thế kỷ đau thương triền miên ray rứt. Điểm đặc biệt của vụ án là lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. Những người có án nặng là Thiếu úy và Trung úy. Người được anh em mến phục nhất là anh Trần Quang Trân và Đinh Văn An. Trân, người thon nhỏ, mặt trắng thư sinh. Tính tình bặt thiệp, ưa đùa cợt, làm thơ hay. Rất tiếc là thơ anh không ai ghi chép lại, vì thơ làm trong kiên giam không giấy bút. Song anh hơn Nguyễn Chí Thiện ở chỗ là anh đọc thơ cho bọn cộng sản giam giữ anh nghe. Làm thơ xong, anh đọc sang sảng, rất to, cốt cho trại viên nghe, song cán bộ vội xua đuổi trại viên đi, không cho nghe những lời ca yêu nước, hạch tội bọn cộng sản vong bản, nô dịch chủ thuyết ngoại lai, gieo rắc khổ đau cho nhân  dân Việt Nam.

Trong đêm Giao thừa đầu năm 1982, trong kiên giam lạnh lẽo, chờ ngày xử chung thẩm, anh ngâm nga:

Đón giao thừa giữa bốn bức tường vôi

Xuân lạnh lùng quá mẹ Việt Nam ơi!

Bao giờ dẹp tan loài quỷ đỏ

Mẹ con mình no ấm, rộn niềm vui.

(Chưa chắc đã đúng trong nguyên tác, chỉ vì nghe từ đàng xa và lại thời gian xói mòn trí nhớ).

Anh Trân thông minh hiếu học. Nếu đến được bến bờ tự do, anh sẽ là một chuyên viên điện tử có hạng. Trong tù, anh không ngừng trau dồi kiến thức, học thêm ngoại ngữ. Ở Kỳ Sơn, anh được điều động lên cơ quan của Tổng trại 2 để sửa chữa máy truyền tin và lắp ráp điện đài. Anh đã sửa chữa một máy dò tìm vàng nhãn hiệu Trung cộng, mà nhiều kỹ sư đào tạo ở miền Bắc bó tay. Anh là một chuyên viên điện tử tu nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Với phương tiện nghèo nàn, anh tái tạo các linh kiện điện tử trong công việc sửa chữa hàng ngày cho cơ quan và lắp ráp những đài thu thanh nhỏ cầm tay, phân phát cho các trại. Để che mắt bọn cán bộ, linh kiện được lắp vào các máy đo điện đã hư. Muốn máy phát động, chỉ cần lắp vào một dây dẫn điện ngắn và có thế nghe nhiều đài phát thanh ngoại quốc như VOA, BBC … Nhờ thế, tin tức về cuộc tấn công của Trung Quốc vào miền Bắc, chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ đều được phổ biến bí mật cho trại viên để nuôi dưỡng ý chí quật cường.

Trại Kỳ Sơn, với quy chế tù binh, chế độ ăn uống, lao động không khắc nghiệt như trại Tiên Lãnh. Tôi nghĩ rằng quân đội miền Bắc Xã hội chủ nghĩa cũng tự hào về thành tích của họ, song không biết họ có thấy xấu hổ khi đem đồng loại khác chính kiến ra hành hạ, đem bắn lén nhiều sĩ quan như vụ bắn Đại tá Võ Vàng, bề hội đồng Thiếu úy Huỳnh Tiết, một sĩ quan trẻ miền Nam giỏi võ. Hận thù giai cấp đã làm họ tối mắt, không biết gì đến tinh thần thượng võ và tình thương đồng loại. Chiến thắng lẫy lừng, cuối cùng là để nhốt đồng loại vào trại tập trung hành hạ, còn Mỹ thì cao chạy xa bay rồi. Cuối năm 1978, sĩ quan trại Kỳ Sơn chuyển qua Tiên Lãnh. Công an là chuyên viên cai quản tù trong Xã hội chủ nghĩa. Những phương thức đàn áp như lao động cưỡng bách, hạn chế dinh dưỡng, nội quy  sắt máu, trừng trị tàn bạo tối đa là truyền thống quycủ trong quần đảo Goulag, nhà tù Trung cộng và một loạt nhà tù miền Bắc mà nghe tên ai cũng giật mình. Tất cả những phương thức ấy đều được áp dụng ở trại Tiên Lãnh.

Vài tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng. Vài người quá tuyệt vọng đã tự tử chết. Trung tá Bình, Đại úy Quy trốn trại không thoát. Đã có lệnh từ trên là bắn chết một người để làm khiếp hãi trại viên. Trên đường áp giải hai người trốn trại, bọn công an đã bắn lén từ

phía sau, giết Trung tá Bình và tri hô lên là vì tù nhân chạy trốn. Tôi có khám tử thi và thấy vết thương có lỗ vào phía sau lưng, đen thuốc súng, chứng tỏ nạn nhân bị bắn rất gần. Thật là một thời kỳ u ám. Nhiều sĩ quan cấp tá bị kiên giam rồi chuyển đi trại Đồng Mộ. Số người sợ hãi bị chiêu dụ làm ăng-ten tăng lên đáng kể. Soát phòng liên miên. Trại đông người lại có nhiều trại lẻ ở xa, ban giám thị cần một hệ thống liên lạc hữu hiệu, nên anh Trân lại được kêu ra để thiết lập một tổng đài điện thoại, đài liên lạc vô tuyến với Ty công an.

Anh và Trần Lân được ở một căn nhà nhỏ riêng biệt dùng làm xưởng sửa chữa máy móc điện tử. Các cán bộ trong trại cũng nhờ sửa những máy thu thanh cá nhân. Vì là việc làm không công, họ thường bồi dưỡng anh thịt, trứng … Nhưng anh Trân không vì những ưu đãi ấy mà quên anh em. Anh lặp lại việc đã làm tại trại Kỳ Sơn là lắp một máy thu thanh để nghe lén các đài ngoại quốc. Anh đã thành công ở Kỳ Sơn vì không bị phát hiện, nhưng lần này không may.

Trong vụ án xử anh và bạn hữu, chỉ có độc nhất một tang chứng là cái máy đo điện trở, trong đó anh có lắp linh kiện điện tử để nghe đài phát thanh. Các người bị kêu án là những người có ký vào bản nhận tội khi công an tra tấn hoặc đe dọa. Có nhiều người giữ nhiệm vụ quan trọng, song một mực chối hết, nên chỉ bị trừng trị bằng biện pháp hành chánh. Có bằng cớ gì đâu, chắng qua là nói miệng với nhau, chứ đâu có hội họp biên bản gì. Song cuối cùng biện pháp hành chánh cũng giam giữ rất lâu, ít nhất là trên mười năm. Nhiều khi hơn nữa. Xử án chỉ là bày trò hình thức.

· Phân tích vụ án ta thấy hai phần rõ rệt: Phần loan truyền tin tức ngoại quốc đem lại hưng phấn cho trại viên, ví dụ như cuộc nổi dậy của nhóm Fulro, cuộc bao vây kinh tế Việt Nam của Tổng thống Mỹ Reagan.

Vì oán hận lối đối xử dã man tàn bạo của bọn cộng sản, ai cũng vui mừng khi nghe những tin bất lợi cho chúng. Chẳng thấy viễn ảnh ngày về, những tin ấy mang lại chút hy vọng mong manh. Ví dụ trường hợp Bác sĩ Tôn Thất Sang làm y tế cho trại Na sơn. Sang vào tù vì tội vượt biên. Anh có nói một câu đơn giản mà bị án 10 năm. Nhân Lê Phò, từ trại Na Sơn về trại chính, anh nhắn với Trân là có tin tức gì hay nói cho “mệ” biết với (con cháu vua thường tự xưng là mệ). Sang không có tham gia gì vào tổ chức. Chỉ nghe câu ấy mà không báo cáo với cán bộ, Phò cũng lãnh án 10 năm. Thật là một chuyện không thể tưởng tượng nổi, mà các nhà luật học khi nghe phải sững sờ. Những thiệt hại mà anh Sang phải chịu trong tù đày, cùng những hậu quả dai dẳng trong cuộc sống định cư ở Mỹ, ai sẽ chịu trách nhiệm đây? Các nhà luật học phải có biện pháp đưa bọn cộng sản Việt Nam ra tòa án Quốc tế để trả lời những tội ác đối với hàng triệu người vô tội.

Phần thứ hai của vụ án là tổ chức cướp súng, cướp trại, đánh quận Tiên Phước, liên lạc với cuộc nổi dậy Fulro lập chiến khu … là những tiết lộ của Đại úy Nguyễn Văn Hưng. Anh nói: “Hệ thống nầy suốt trong thời gian ở tù và sau này khi còn ở Việt Nam, tôi không hề tiết lộ cho ai. Nhưng nay (anh đã định cư tại Mỹ) theo yêu cầu của một số anh em, chúng tôi xin ghi lại chi tiết”. Anh cho biết anh điều khiển tổ chức trong nhiệm vụ là Tổng thư ký. Trân chỉ là Trưởng ban liên lạc ngoại vụ. Trần Lân lo liên lạc với Fulro. Đinh Văn An (chết trong tù) Đại đội Trưởng đội xung kích, lo chiếm kho súng của trại. Thiếu tá Lê Quang là Trung đoàn Trưởng Trung đoàn Giải phóng Quảng Nam Đà Nang. Anh còn tiết lộ nhiều ủy viên khác. Nói chung, anh em đã có ý chí quật cường, có can đảm chấp nhận hiểm nguy. Tiếp xúc với Fulro là có thật; nhân đi lao động ở Trà Nóc, lúc còn ở trại Kỳ Sơn. Nghiên cứu về khả năng cướp súng là có thật. Ngoài ra những điều khác chỉ nằm trong mơ ước. Phiên tòa dựng lên gọi là “Tòa án Nhân dân tối cao”, có cán bộ ở Hà Nội vào dự, chỉ là xử cái ước mơ đó, chứ không có một hành động phá hoại nào cụ thể. Trị từ trong tư tưởng. Cái dã man, phi lý và luật rừng là ở đó. Phiên tòa đúng là một trò hề. Xử trong trại vì sợ dư luận dân chúng. Không có luật sư biện hộ. Chánh án, phụ thẩm ăn bận lôi thôi. Bà phụ thẩm có tên là Chát, mặc áo cụt, ăn trầu, ngồi chồm hổm trên ghế, ăn nói thiếu văn hóa. Chỉ có lính công an là mặc đại lễ. Bị can cũng bị bịt mắt dẫn vào, vành móng ngựa là một hàng ghế dài. Trại viên được nghỉ lao động để dự phiên tòa, một biện pháp răn đe. Nói là cho bị can tự biện hộ, song ai nói ra lời nào thì bị chận lại ngay. Phiên tòa chỉ có chánh án, phụ thẩm nói. Phán quyết thì đem ra hỏi trại viên:

– Tên A có phải là phản động không? (Trại viên được các ăng-ten mớm lời).

– Phải.

– Có đáng tử hình không?

– Rất đáng.

Đúng là một tòa án nhân dân trong cải cách ruộng đất. Phần lớn trại viên trả lời lí nhí. Một số khác im lặng.

Phải nói anh Trân là một người trẻ tuổi nhưng rất chững chạc, đầy lòng vị tha và suy nghĩ. Anh thấy ý định của bọn cộng sản là phải có một án tử hình trong vụ này, anh đứng ra lãnh cái chết cho anh em. Anh chịu nhận tội và thay mặt anh em, tỏ ra cái khí phách của một sĩ quan có lý tưởng Quốc gia. Trước phiên tòa, anh không nói “Thưa quan tòa” như ấn định. Anh gọi họ là “các ông” làm chánh án tức giận đập bàn nhắc lại. Song anh không đổi cách xưng hô.

Khi chánh án hỏi anh:

– Các anh đã được chính phủ khoan hồng cho vàođây để học tập cải tạo. Các anh không thành tâm hối lỗi, mà tổ chức chống đối. Động cơ nào thúc đẩy các anh làm việc ấy?

– Các ông không có quyền xử tôi, vì các ông không có Tổ quốc, mà chỉ là tay sai Đế quốc cộng sản. Các ông không xứng đáng để tôi đối đáp. Lịch sử, dân tộc Việt Nam sẽ xử các ông. Chế độ các ông là một chế độ phi nhân, tàn khốc. Nhà tù mọc lên khắp nơi. Dân chúng đói khổ lầm than, còn các ông sống phè phỡn.

Nhà tù của các ông là địa ngục sống trên trần gian. Chánh án lại đập bàn bảo anh im, song anh cứ nói cho hết ý. Một công an phải chồm tới, bịt miệng anh lại. Thật là hài hước, chốn công đường mà không có tự do ngôn luận. Khi tòa tuyên bố bản án tử hình và cho anh nói lời cuối cùng:

– Tôi biết chắc là chế độ phi nhân, tàn ác chưa từng có trong lịch sử loài người của các ông gần đến ngày cáo chung. Chỉ tiếc là tôi không còn sống để  phục vụ đất nước.

(Nội dung những lời đối đáp trên đây rất trungthực. Tuy nhiên, đây không phải là những lời ghi chép tại chỗ, người nghe chỉ ghi lại theo trí nhớ). Thái độ hiên ngang bình tĩnh, giọng nói chắc nịch không chút run rẩy của anh làm cho cả hội trường bàng hoàng. Bọn công an, tổ xử án sạm mặt trước khí thế hùng dũng của anh.

Sau khi xử án, chúng cho anh một thời gian suy nghĩ lại và xin ân xá. Song anh không viết đơn xin ân xá, vì anh biết đó chỉ là một đòn tâm lý để làm giảm nhuệ khí của anh. Thế nào bọn chúng cũng đem anh ra bắn. Xin xỏ chỉ thêm nhục. Bởi thế, trong thời gian  chờ đợi, anh làm thơ và đọc to lên, mạt sát chế độ tàn ác của cộng sản. Sợ gương anh ảnh hưởng đếntrại viên khác và làm mất mặt chế độ, chúng đem anh ra bắn trước thời gian dự định. Ngày 19/06/1982, lúc 12 giờ, chúng bịt mắt anh đẩy anh lên xe đưa ra pháp trường. Toàn thể trại viên bị lùa vào phòng, đóng cửa nhốt lại. Ra đến cổng trại, anh Trân la to:

– Xin vĩnh biệt anh em. Bọn Cộng sản đưa tôi đi bắn đây. “Đả đảo Hồ Chí Minh!” “Đả đảo Cộng sản!”,

“Dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng Cộng sản!”.

Anh còn muốn hô nhiều khẩu hiệu nữa, song bọn công an đè anh xuống, nhét chanh vào miệng. Sang bên cơ quan, anh ký tên vào bản án, chấp nhận tử hình. Chúng dọn ra trước mặt anh một mâm cơm thịnh soạn. Anh từ chối không ăn và dặn mang vào phòng giam cho bạn bè đang đói. Ra pháp trường anh không chịu trói và bịt mắt. Anh té nghiêng xuống sau loạt súng đầu. Một tên công an đến bắn phát ân huệ vào thái dương. Trong tù tôi có lần nói chuyện với Trân. Anh ta cho rằng chừng cuối thế kỷ, chế độ cộng sản sẽ cáo chung. Anh chết đi và không ngờ là thành trì của Xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu tiêu tan 10 năm trước lời tiên đoán. Song chế độ Hà Nội vẫn còn tồn tại mặc dầu biến chất đi nhiều. Lạc quan nay ở trong trận tuyến của ta. Ta chỉ đi lên, bọn chúng chỉ đi xuống. Trang sử đau buồn, đầy phản phúc, nham hiểm, tàn bạo từ 1945 đến nay sắp cáo chung. Cơ hội cho những người muốn đóng góp để xây dựng cho một nước Việt Nam thật sự tiến bộ và dân chủ, một xã hội công bằng và thịnh vượng sắp thành hình. Chỉ tiếc là thiếu mặt anh Trân, như lời nói cuối cùng của anh trước tòa án. Anh Trân là người anh hùng bất đắc dĩ. Hoàn cảnh đã xô đẩy anh đứng trước một chọn lựa. Anh đã có chọn lựa đầy suy nghĩ và trách nhiệm. Việc phải làm, không đùn lại cho ai, tự mình gánh lấy. Anh chết đi để lại người vợ trẻ và hai con gái. Anh là người có thiện tâm, người tốt nhất trong chúng ta như lời Tổng thống Kennedy: “Những người tốt nhất trong chúng ta đã chết”.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh.