Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 12 Jan 2023
Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Kỳ 1.

Ngày ông Táo về trời năm Mậu Tý, Thế Kỷ 20…

Nơi góc phố Jean De Bouchet, Hải-Dương có một thằng bé sáu tuổi rưỡi ngồi say mê ngắm nghía một món đồ chơi mà nó vừa mua được.

Trên tay nó là một cái xe làm bằng vỏ hộp cá mòi.

Cái vỏ hộp cá mòi của Marốc do ai đó nhặt từ đống rác của Tây, rồi đục bốn cái lỗ bên hông, gắn vào bốn bánh xe bằng nắp khoén, nắp bia đã trở thành món đồ chơi quý báu của lũ trẻ trai sáu, bảy tuổi cư ngụ trong khu Ngã Sáu, Hải-Dương này.

Sáng nay thằng bé đã bỏ ra năm hào để mua lại chiếc xe từ tay thằng bạn nó tên là Hải.

Thằng Hải là con ông chủ Khách sạn Thiên Tuế ở đầu đường.

Thời buổi đó, trong chợ Tây của tỉnh Hải-Dương thì, một bữa trưa hay bữa chiều dành cho người lớn chỉ đáng giá một đồng bạc Ðông Dương. Với một tô cơm trắng, một món canh, một món kho, một ly nước trà, người ta chỉ phải trả một đồng.

Vậy mà mỗi ngày thằng bé có tới hai đồng, làm sao tiêu cho hết?

Hằng ngày, trước khi rời nhà để đi buôn, mẹ nó đều nhét dưới gối, đầu giường cho nó hai đồng. Ngủ dậy, việc đầu tiên của nó là quơ tay dưới gối, lấy tiền bỏ vào túi quần rồi mới đi rửa mặt đánh răng.

Nó nhớ ra hôm nay là ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch cô giáo cho học trò nghỉ.

Mẹ nó cũng hứa sẽ về sớm, mua đồ cúng tiễn đưa ông Táo về trời.

Nó ôm cái xe đồ chơi vào ngực,

– Ông Táo ơi! Tối nay ông Táo đừng thèm cưỡi cá chép, cháu sẽ cho ông mượn chiếc ô tô của cháu để ông cưỡi cho oai.

Từ giờ đó, nó cứ chắc mẩm rằng ông Táo nhà nó sẽ oai hơn ông Táo của những nhà hàng xóm. Nó chắc mẩm rằng, cả thành phố này không có ông Táo nhà nào tới chầu Ngọc Hoàng sớm hơn ông Táo nhà nó; vì ông Táo nhà nó lên trời bằng ô tô, chứ không phải cưỡi lưng cá chép, vượt qua cả nghìn cây số qua thác, qua ghềnh.

Thằng bé và mẹ nó vừa hồi cư từ vùng chiến tranh về Hải-Dương cuối năm 1948. Mẹ con nó ở nhờ trong nhà một người quen tên là Sử.

Mẹ nó bảo nó gọi ông Sử, bà Sử là chú và thím.

Ông Sử cũng là dân mới hồi cư nhưng nhanh chân chiếm cứ được một ngôi nhà rộng có sân tọa lạc ngay giữa phố, cách Ngã Sáu không xa.

Thời gian này phố Jean De Bouchet còn nhiều căn nhà rất đẹp nhưng bị bỏ hoang vì chủ của chúng còn đi lánh nạn chiến tranh, chưa quay về.

Hồi cư đúng vào dịp khai trường, nên thằng bé được nhận thẳng vào lớp 5 tiểu học, mấy chục năm sau người ta đổi lớp 5 thành lớp 1, còn ở Mỹ thì đây là lớp First Grade.

Xế trưa hôm đó bà Sử dẫn về một người đàn ông lạ rồi lớn tiếng gọi,

– Long ơi! Có khách muốn gặp cháu!

Nghe kêu tên, thằng bé vội vàng chạy tới khoanh tay, lễ phép,

– Thưa thím, cháu đây!

Bà Sử nhìn người khách,

– Ðây là thằng bé mà bác muốn gặp!

Người đàn ông tuổi chừng trên dưới ba mươi, dong dỏng cao, có đôi mắt sáng như sao.

Nhìn chằm chặp vào mặt thằng bé một phút rồi người khách kéo tay nó dẫn ra cửa sau,

– Cháu tên là Vương Mộng Long con bà Sen phải không?

– Vâng! Thưa ông! Cháu tên là Vương Mộng Long con của bà Sen.

– Bố cháu là thầy của chú. Mình tìm chỗ nào vắng, chú có việc cần nói cho cháu biết.

Tới bên gốc cây bưởi nơi góc sân sau nhà, người đàn ông cúi xuống ôm chặt thằng bé vào lòng rồi sụt sùi,

– Cháu nhớ nhé! Tên chú là Tường! Cháu cứ gọi chú là chú Tường! Chú là đàn em của bố cháu! Chú gọi bố cháu là đại ca.

– Thưa chú! Cháu sẽ nhớ! Tên chú là Tường, là đàn em của bố cháu. Chú gọi bố cháu là đại ca. Vậy chú có biết bố cháu bây giờ ở đâu không?

Chú Tường dang hai tay ôm chặt thằng bé, nghẹn ngào,

– Cháu ơi! Bố cháu chết rồi!

Thằng bé vội đẩy người đàn ông ra rồi la lên,

– Chú nói cái gì? Vì sao bố cháu chết?

Chú Tường lại dang hai tay ôm nó, giọng chú run run,

– Bố cháu chết rồi! Cháu hãy ngồi im mà nghe chú nói đây! Suốt đời không được quên những gì chú nói với cháu hôm nay!

Thằng bé nắm chặt hai bàn tay thành hai nắm đấm, rồi nhìn vào mắt chú Tường,

– Vâng! Chú nói đi!

Chú Tường đưa tay lên xoa mặt, vuốt ngực một cái rồi dõng dạc từng tiếng,

– Cháu hãy nghe cho rõ: Tụi Việt-Cộng đã giết bố cháu đấy!

Nó vội hỏi,

-Chú có biết Việt-Cộng là ai không? Chú có biết Việt-Cộng ở đâu không?

Chú Tường đưa tay đè hai vai nó xuống, rồi nghiến răng, dằn giọng,

– Mai này lớn lên cháu sẽ biết Việt-Cộng là ai. Nhiệm vụ của chú tìm gặp cháu ngày hôm nay là nói cho cháu biết rằng không được quên mối thù này!

Dứt lời, chú Tường dắt thằng bé vào nhà.

Vào tới nhà, chú Tường bận bịu nói chuyện với vợ chồng ông Sử, không để ý tới thằng bé nữa.

Thì ra chú Tường là anh con cô, con cậu của thím Sử; chú mới quá giang theo chuyến công voa Hà-Nội, Hải-Phòng để về Hải-Dương sáng nay.

Hình như những người bà con này đã không có dịp gặp mặt nhau lâu lắm rồi nên cứ luôn mồm nói từ chuyện này sang chuyện khác mãi không dứt.

Nó muốn hỏi chú Tường thêm nhiều điều, nhưng thấy chú bận bịu quá, nó lại thôi.

Rồi căn nhà chợt ồn ào hẳn lên khi có ba người đàn ông bước vào. Thằng bé đã biết ba vị này là nhóm thanh niên ở trọ trong căn nhà đầu Ngã Sáu trên con đường dẫn vào Lao Xá Hải Dương.

Ba thanh niên cùng chú Sử và chú Tường ngồi quanh cái bàn tròn giữa sân, bàn bạc với nhau chuyện gì đó hình như hệ trọng lắm. Chú Tường có vẻ là người có uy nhất của năm vị này.

Buổi họp mặt bế mạc, chú Tường đứng lên, đảo mắt một vòng rồi dõng dạc,

– Ðại ca đã mất rồi. Từ nay anh em ta sẽ chia tay. Các chú sẽ tự định đoạt tương lai của chính mình.  

Ngừng một giây, chú Tường nhìn về phía thằng bé đang ngồi ủ rũ bên hiên nhà, giọng chú nghẹn ngào,

– Ngày mai anh không còn ở đây nữa. Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Thì ra ba ông thanh niên này, cùng với chú Tường và chú Sử là đàn em của bố nó.

Nó không rõ chú Tường mang họ gì, quê quán ở đâu.

Một ông cũng lớn tuổi như chú Tường tên là Phan Ngọc Yên thì cùng quê Hải Dương với bố. Ba ông còn lại thì trẻ hơn nhiều, đều mang họ Trần và có quê Nam-Ðịnh.

Tên của các ông này là Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế.

Sau đó mấy vị đàn em của bố nó kéo tới vây quanh nó, ôm hôn nó, xoa đầu nó, rồi theo chân nhau đi ra cửa. Bà vợ ông Sử quét nhà xong cũng gánh rau rời nhà lên chợ.

Chỉ còn một mình trong căn nhà vắng, thằng bé thấy mình cô đơn một cách thật lạ kỳ.

Từ lúc nghe tin bố chết, nó thẫn thờ như kẻ mất hồn, hết ngồi vật, ngồi vạ trên cái chõng tre ngoài phòng khách, lại đứng trước cái bàn thờ Phật, nhìn hình Phật trên kia rồi suy nghĩ mung lung.

Nó còn nhớ ngày đó, cách nay hai năm, bố nó đã đưa mẹ con nó ra Ga Hàng Cỏ để lên tàu hỏa về quê.

Trước khi chia tay, bố đã ôm hôn nó, nói với nó rằng,

– Con của bố gắng ngoan! Mai này bố sẽ về, bố sẽ bế con, bố sẽ cõng con đi chơi quanh thành phố Hải-Dương. Bố sẽ mua cho con một hộp bánh khảo và bánh đậu xanh Bảo-Hiên Rồng Vàng thật là to.

Gần tám chục năm sau nó vẫn chưa quên hình ảnh bố nó đứng bên cái xe đạp, dưới ánh đèn đường, giơ tay vẫy vẫy, tiễn chân mẹ con nó lên tàu xuôi Hải-Dương.

Nó không tin những lời chú Tường vừa nói là chuyện thật, nó không tin bố nó đã bị người ta giết. Bố là người tài giỏi nhất trên đời! Bố không thể chết!

Tới chiều thì mẹ thằng bé bước vào cửa cùng lúc với vợ chồng chú Sử và chú Tường.

Rồi mẹ thằng bé cũng ra vườn nói chuyện với chú Tường. Khoảng một giờ đồng hồ sau mẹ nó và chú Tường mới trở vào. Lúc này mắt mẹ nó đã đẫm lệ, đỏ hoe.

Tới tối, nó đang ngồi thút thít khóc bên bàn học, thì chú Tường tới ngồi bên, cầm mấy quyển vở của nó lên xem, rồi cất tiếng khen,

– Cháu ngoan lắm! Cháu gắng học giỏi để mai này nối chí ông thầy của chú!

Chú Tường lần tay ra túi sau, móc bóp lấy ra tờ giấy bạc 20 đồng Ðông Dương mềm như lụa, đưa cho thằng bé,

– Tiền này chú cho cháu để ăn quà hay mua đồ chơi, tùy ý cháu.

Thằng bé ngần ngừ, nhìn mẹ; thấy mẹ nó gật đầu, nó mới giơ tay cầm tờ bạc, miệng lí nhí,

– Cháu cám ơn chú Tường!

Nhớ lời mẹ nó dặn, khi cám ơn ai thì nó phải nhìn thẳng vào mặt người đó.

Thằng bé cám ơn chú Tường, đồng thời nhìn ngay mặt chú, nó nhận ra trên má chú có hai dòng lệ đang chảy xuống. Dưới ánh đèn, nước mắt của chú sáng lấp lánh.

Tối hôm đó mẹ nó không thắp nhang tiễn đưa ông Táo.

Mẹ con nó đã quên không ăn cơm chiều. Mẹ nó lững thững đi ra vườn, nó nối đuôi theo.

Ði ngang phòng khách, nó thấy chú Tường nằm trên cái chõng tre.

Chú Tường đang hút thuốc lá, khói thuốc bay lên trần nhà.

Mẹ nó đi tới gốc bưởi, ngồi rũ xuống và sụt sịt khóc; nó mon men lại gần thì mẹ xua tay, đuổi nó đi.

Nó lê bước vào nhà, vứt cái ô tô làm bằng vỏ hộp cá mòi vào gầm bàn, rồi lăn ra chiếu.

Trong bóng tối, nó trùm chăn kín đầu, nằm khóc một mình.

Trước khi nó thiếp đi, nó nghe ai đó nói nhỏ bên tai,

– Việt-Cộng là kẻ thù đã giết bố cháu! Suốt đời, cháu không được quên mối thù này!

Sớm hôm sau thằng bé tỉnh dậy thì mẹ nó đã đi làm; trên cái chõng tre ngoài phòng khách cũng không thấy chú Tường.

Ngày 24 tháng Chạp Âm Lịch năm Mậu Tý, rơi vào Thứ Bảy, cũng là ngày hội thể thao tất niên của trường, nhưng nó không thèm tới sân vận động để xem, mà chỉ nằm nhà ôm mặt khóc. Suốt ngày Chủ Nhật sau đó, nó cũng chỉ loanh quanh trong vườn chứ không ló đầu ra ngoài phố.

Sáng Thứ Hai, 26 tháng Chạp, nó ôm quyển vở, xách hai chai nước vối rồi bước ra đường.

Tới Ngã Sáu, nó gặp thằng Hải đang đứng chờ.

Thằng Hải thấy hai mắt nó sưng húp thì ngạc nhiên, cất tiếng hỏi thăm,

– Mày bị đau mắt hả? Nhà tao có thuốc nhỏ mắt tốt lắm. Ðể tao chạy về lấy cho mày nhé?

Nó vội xua tay,

– Không cần! Không cần! Ðừng hỏi nữa! Chiều về tao kể cho nghe!  

Nói xong, nó vội vàng phóng nhanh qua đường. Thằng Hải cũng lao theo bén gót.

Hai đứa vào trung tâm thành phố, rồi tới phố Hàng Bạc.

Thằng bé đi thẳng lên hướng Ga để tới Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương.

Còn bạn nó thì rẽ sang tay phải để tới Trường Thánh Giuse.

Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương là trường công, học trò không phải đóng tiền.

Trường Thánh Giuse là trường Tây, trường tư, học trò phải trả tiền.

Học trò Trường Thánh Giuse đa phần là con nhà giàu hay có đạo; thằng Hải là con nhà giàu.

Tới gần rạp hát Kim Phụng thằng bé đã thấy người anh kết nghĩa của nó đứng chờ.  Nó mới quen anh Phụ được vài tuần. Anh Phụ học lớp Ba cùng trường, năm nay anh đã 18 tuổi, và đã có vợ. Thời gian này học trò mới hồi cư được khuyến khích đến trường, không giới hạn tuổi tác.

Nhà anh Phụ ở ngoại ô thành phố phía đằng sau vườn hoa Bảo Ðại. Ngày nào anh Phụ cũng đứng chờ nó nơi hiên rạp Kim Phụng để cùng đi với nó. Chiều chiều tan trường, hai anh em lại cùng về.

Anh Phụ nói năng rất ngọt ngào; anh coi nó thân thiết như đứa em ruột của anh.

Nó là đứa bé không có anh chị; được anh Phụ nhận làm em kết nghĩa nó cảm thấy sung sướng vô cùng.

Trước đây khi mới gặp nhau, anh Phụ thường mang theo bên mình một chai nước mưa để giải khát; nhưng từ khi được nếm mùi vị nước vối của nhà thằng em thì anh Phụ đề nghị nó mang thêm một chai nước vối nữa cho anh.

Nó vui vẻ làm theo yêu cầu của bạn nó ngay. Nó đã không quản công khó mà còn cảm thấy hạnh phúc khi thấy người anh kết nghĩa đã cần tới nó. Trong bếp nhà nó lúc nào cũng có một nồi nước vối đầy, hai chai nước vối nó đem đi học có đáng là bao?

Một hôm đang đi giữa đường, anh Phụ bỗng dừng chân đứng lại ôm bụng nhăn nhó. Nó lo lắng cuống quýt,

– Anh sao thế? Anh bị bệnh gì thế?

Phụ xua tay,

– Anh không sao, ruột anh chỉ bị quặn quặn một lúc thì hết ngay thôi!

Phụ nói đúng, chỉ một phút sau anh đã đi đứng bình thường.

Chiều về, người anh kết nghĩa mới thú thực với thằng em,

– Em có biết không? Sáng nay anh bị đau bụng là vì đói đó! Ðói mà uống nước vối thì bị cồn ruột.

Thằng bé thắc mắc,

– Thế sáng ra anh nhịn đói mà đi học ư?

– Chứ sao? Nhà anh nghèo lắm, làm gì có tiền mà ăn sáng? Anh nhịn tới chiều về tới nhà mới được ăn cơm. Nhà nghèo khổ lắm em ơi!

Thằng bé đúng là thứ ruột ngựa,

– Mỗi ngày mẹ cho em hai đồng, sáng ra em ăn một đĩa xôi lạp xưởng hay một đĩa bánh cuốn cà cuống chỉ hết năm hào. Còn một đồng rưỡi em bỏ ống, chờ tới Tết mới đem ra tiêu. Chẳng bù cho anh bị đói suốt ngày! Tội nghiệp anh tôi! Từ mai, mỗi ngày em sẽ chia cho anh năm hào để ăn sáng.

Nói xong nó dúi vào tay Phụ tờ bạc 5 hào bằng giấy,

– Ðây là tiền cho anh sáng mai.

Mắt Phụ sáng lên, nhưng anh còn làm bộ thoái thác,

– Lấy tiền của em anh ngại quá! Nếu mẹ em mà biết thì anh xấu hổ lắm! Bà dành tiền cho em chứ có phải cho anh đâu?

– Anh đừng lo! Mẹ không biết đâu! Vả lại mẹ cho tiền, em muốn làm gì thì làm, mẹ không bao giờ kiểm soát cả.

Người đẩy qua, kẻ đẩy lại, cuối cùng Phụ đành cất tờ giấy bạc vào túi,

– Nể em lắm anh mới nhận. Bao giờ anh khấm khá, anh sẽ đãi em mỗi ngày.

Thằng bé cười xòa,

– Có thế chứ! Chúng mình là anh em mà!

Từ hôm đó quỹ chi tiêu hằng ngày của thằng bé chỉ còn 1 đồng 5 hào.

Hôm nay vì thời gian còn sớm nên hai anh em nó ngồi tạm nghỉ trên tam cấp của rạp Kim Phụng. Rạp hát này ban ngày đóng cửa. Tới ba giờ chiều người ta mới mở hai cái cửa tò vò để bán vé.

Thằng bé trao cho anh nó chai nước vối cùng 5 hào tiền ăn sáng mai, rồi từ từ tâm sự cho anh nó nghe tất cả những chuyện buồn mà nó đã gặp phải trong mấy ngày qua.

Nó những tưởng người anh kết nghĩa của nó sẽ tỏ lòng thương xót khi thấy nó bỗng chốc trở thành một đứa trẻ mồ côi cha.

Nào ngờ, nó vừa dứt lời, anh Phụ đã trợn mắt,

– Bộ em bịa chuyện hả? Anh không tin trên đời này lại có người chú tốt bụng đến mức dám cho thằng cháu sáu tuổi một tờ giấy hai chục đồng Ðông Dương. Hai chục đồng là cả một gia tài đấy! Em có biết không?

Thằng nhỏ ngẩn mặt, thật thà,

– Em nói thật mà! Chú Tường cho em hai chục thật mà! Chú ấy nói em muốn mua gì thì mua, muốn ăn gì thì ăn mà!

– Anh không tin! Ðâu? Ðồng hai chục đâu? Ðưa cho anh coi, xem là tiền thật hay tiền giả?

Nghe tới hai chữ “tiền giả” thằng bé chột dạ, vội vàng móc túi lấy tờ bạc đưa cho thằng anh,

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Chương 6

“Bây giờ em muốn gì hãy nói thật với anh, anh có đủ bình tĩnh để đợi đến giờ này và nói với em bằng tất cả bình tĩnh, anh đã nổi giận và đau đớn, nhưng anh đã đè được xuống để nói với em. Muốn gì, em hãy nói rõ cho anh biết, chúng ta đủ khôn lớn để quyết định công chuyện”. 
“Em không có ý kiến, em không có gì để bàn cãi cùng anh!” 
“Đừng dối, có, vì em đã nhìn thằng Đại uý bạn thằng Minh với con mắt khác lạ. Chưa bao giờ em nhìn ai như thế, em cũng không nhìn anh một lần nào được như vậy. Em ngủ với nó, em ân ái trần truồng với nó chắc anh không đau đớn bằng lúc chiều trong bữa tiệc khi em nhìn nó, bữa tiệc giới thiệu em với bằng hữu. Em đâm anh nhát dao trong lúc anh không ngờ nhất”. 
“Nếu có một cái nhìn quan trọng như thế kia thì có chuyện gì xảy ra nữa? Em đã có thai với anh, tháng sau Tết đám cưới, sẽ có chuyện gì xảy ra?” 
“Có, vì anh không còn em nữa, chỉ còn cái xác vô tri, thân xác nặng trĩu dục tình để anh hân hoan mang nó đến hết đời”. 
“Em đáng ghê tởm và khinh bỉ đến thế sao?” 
“Nếu anh ghê tởm và khinh bỉ được em thì dễ dàng biết bao, anh đã có em rồi, thân thể tinh khôi của em một tuổi dậy thì xa xưa anh đã đặt chiếc hôn đầu tiên đến bây giờ… Chuyện thể xác thì anh đã quá đủ với em, nhưng không phải thuần tuý như vậy, anh yêu em. Yêu, đúng với nghĩa sống bám vào đấy để cho mình ý nghĩa sống. Ba mươi năm ở thành phố này không chuyển dịch, không mới mẻ, anh từ nhà đến trường qua phố, đá gỗ thấy anh chắc cũng bật cười, anh mang nhiều hoài bão, anh xây nhiều dự định, nhưng anh đã làm được việc gì ngoài một vài bài thơ đăng báo ở Sài Gòn, mấy chứng chỉ triết học, anh làm một tháng được một ngàn sáu trăm đồng, có tiền mua bao thuốc, uống ly cà phê… Đâu phải đời anh chỉ có thế, nhưng anh yếu sức rồi, anh kiệt lực, anh vùng vẫy lấy đẹp, anh chui trong cái tổ tò vò chặt cứng tô nên bởi nước bọt của chính đời mình, và vì thế, bốn năm nay, em cần thiết như một cuộc phiêu lưu mộng tưởng, em là thiên đường mơ ước có kích thước, có hình khối, anh yêu em và trút vào đó hết phần đời cuối cùng của anh. “Anh lý luận tội nghiệp”. Em là giải thích cuối cùng để anh sống. Nhưng trong buổi chiều này khi em nhìn thằng cha ấy anh đã thấy hết, hết thật, và khi anh lại nhà mẹ bảo em chưa về, chưa về có nghĩa là em đi cùng hắn với thằng Minh. Thế thôi, một cuộc đi chơi phiếm, nhưng anh biết kết quả nó vô cùng, anh không quan trọng hoá cuộc đi chơi đó nhưng nó làm sáng tỏ cái nhìn của em lúc buổi chiều. Anh đã nghĩ đúng và bây giờ anh đau đớn nhưng gắng lắng xuống để nói cùng em…” Bằng nói thật đều đặn, hai tay bỏ trong túi, đầu cúi xuống. 
Quỳnh Như ngồi im không trả lời, nàng không có phản ứng gì ngoài nỗi im lặng. Quỳnh Như thấy điều Bằng nói đúng nhưng câu chuyện cũng chỉ có thế. Thuấn sẽ đi và nàng thành người vợ, người vợ bình thường như tất cả mọi người đàn bà đã làm. Giải thích với Bằng thế nào đây? Quả thật nàng đã nhìn Thuấn khác lạ, nàng đã nhìn xúc động, mãnh liệt cao hơn và trắng hơn cả xúc động thể xác trong cơn tình ái. Nhưng hình như cũng chỉ có thế, nàng cũng không có đủ can đảm đẩy sự việc đi xa hơn. Chỉ có thế, chút cỏ may dính ở gấu quần, lượng nắng vàng trên mặt nước, nét bi thương có hình ngang trái. Có thể Quỳnh Như dừng ở chỗ này, nàng khao khát sự mới lạ trong mối tình, nhưng làm sao để nói với Bằng? Làm sao cho Bằng hiểu được nỗi buồn chán âm ỉ sao mỗi lần ân ái nồng nhiệt, sợi tóc mai đẫm vào trán, hơi thở dồn dập, lần mò tìm chiếc quần lót, ngửi mùi đàn ông chán chường từ Bằng bốc ra. Đời sống một người con gái chỉ chừng này? Những ước mơ dậy thì, những rung động ngất ngây cho một mối tình vĩ đại ở đâu? 
Làm sao nói với Bằng nỗi chán chường mê man khi cơn bão dục tình thổi qua còn đọng lại trong thân thể chút nhơm nhớp đàn ông như lớp bùn trên đất khi con nước rút đi. Làm sao phá vỡ thứ keo đặc cứng ướt đẫm dính chặt vào mỗi tế bào đã nguội lạnh, thứ keo do chính Quỳnh Như cùng Bằng cấu tạo. Làm sao nói được với Bằng? 
“Em không nói gì? Không phản đối lời anh nói? Em chấp nhận?” 
“Không phải thế, em van anh, không có chuyện gì xảy ra hết. Em bây giờ là vợ của anh rồi, không có gì xảy ra hết”. 
“Nhưng còn ánh mắt của em khi buổi chiều, cái nhìn như dao cắt, nhìn như đổ thuốc độc vào người anh”. 
“Có thứ tội nào được xác định bằng cái nhìn. Không có gì cả, anh ta người Bắc, mặc đồ rằn ri, em thấy lạ, em hơi tò mò, chỉ có vậy, anh tin?” 
Bằng nói cuối hơi thở. Anh tin, anh cố gắng tin. Chàng lầm lũi đi ra cửa, bước chân nặng nề. 
Quỳnh Như liếc nhìn đồng hồ, 7 giờ 45. Mình xa chàng đã gần hai giờ, không biết đêm nay Thuấn có trở lại? 
“Thôi nghe ông, đi chơi như thế đã đủ rồi, ở nhà để có chuyện gì tôi còn nhờ ông, tình hình có vẻ nghiêm trọng lắm, hai ông Lạc và Minh đi phép, ông đừng đi đâu nữa đấy”. Tiểu đoàn trưởng nhẹ nhàng trách. Thuấn im lặng, chối từ điếu thuốc được mời. 
“Ông giận tôi đấy à! Bố khỉ, tối hôm qua ông say, ngày hôm nay ông đi từ sáng lỡ có hành quân tôi đi một mình sao, vừa thôi, ít nhất ông cho tôi nói cho đỡ tức chứ!” 
“Dạ vâng, Thiếu tá còn dặn gì nữa?” 
“Đ… vào. Viên Thiếu tá nổi sùng. ĐM… Tôi chỉ muốn ông đừng đi nữa thôi. Khi nào hai ông kia về tôi cho ông đi phép”. 
“Vâng”. Thuấn chào thật nhanh bước ra. Viên Thiếu tá lầm bầm chửi thề… “Mẹ, thằng nhỏ không biết điều”. 
Thuấn đi về nơi đóng quân, bực dọc khó chịu, điếu thuốc trên môi cứ mãi rít vào, trời lạnh, sương mù dày đặc, cứ có cảm giác vương vít khó chịu. Đã thế ông vọt đi Huế chơi cho biết mặt. Bản tính ưa chống đối được dịp bùng lên, thêm duyên cớ, Quỳnh Như, khuôn mặt thanh tú, và thân thể đầy đặn dỏng dỏng cao đang chờ đợi, tội gì cứ đeo cứng vào mối tình tuyệt vọng Bích Trân. Bích Trân giờ này ở đâu? Năm năm trời không thấy mặt, chờ đợi phải có hy vọng gặp… Thuấn chờ Bích Trân thêm bao nhiêu năm? Không một dấu vết. Nhưng khi ngồi lên xe trong bóng tối tìm công tắc, Thuấn chợt thấy mệt. Mệt, con đường trước mặt xa xôi nguy biến, sự liều lĩnh vô ích và khối tình xưa chắn lối… “Thuấn ơi! Em mười tám tuổi, yêu và sống hết mình cho một người, nhưng yêu anh để sống trong nỗi chờ đợi hoài hoài ngày anh về, và ám ảnh cái chết cứ mãi mãi trong người làm sao em chịu nổi. Thôi em xa anh trước để để tránh ngày phải mất anh…” Bích Trân đã viết bức thư ngắn ngủi đó trước ngày xa Thuấn… “Em chưa bao giờ khóc trước mặt một người nào, thuở bé bị đánh đau bao nhiêu em cũng cắn răng chịu đựng, em chỉ khóc khi ở một mình, gặp anh sao em muốn khóc hoài, khóc mê mải. Hình như mười tám năm em gánh chịu tan thành nước mắt hạnh phúc trước mặt anh. Tối hôm qua em đã khóc một lần chót, em nhất định như thế, em khóc cho tình ta. Em đi, đừng bao giờ anh tìm kiếm”. Không phải là bức thư, nhưng là lời trăn trối cuối cùng Bích Trân để lại cho Thuấn. Thuấn không phải chỉ nhớ, những nét chữ, màu sắc, mùi giấy đã khắc chặt những nét hằn sâu trên trí não Thuấn sống trong không gian vây bủa bởi mối tình ngắn hạn bi thiết đó. Năm năm, những giây phút ngặt nghèo khi chiếc trực thăng bốc cháy lao xao, tiếng hét của những người xung quanh, ngoài kia trời xanh xoay đảo theo sự cuốn tròn của độ rơi, rừng dừa dưới đất dâng lên ào ào đủ để thấy rõ cái chết, chết cụ thể, chết có thể đếm bằng thời gian, xa bằng khoảng cách, chết sờ được, ngửi được, mê man và sát mặt. Trong những giây phút ngắn hạn thiên thu đó, Thuấn đọc lại hết bức thư, nhìn lại hết nét chữ xiên xiên đều đặn, tờ giấy viết thư cong queo, chữ “em” ốm yếu, Thuấn thấy lại toàn khối tình yêu sáng rực một lần trước khi giáp mặt cái chết. Sống với tình yêu Bích Trân như thế vừa đúng năm năm. Nhưng bây giờ Thuấn đang rồ xe máy, con đường về Huế đen tối xa hun hút, mười bảy cây số và đồng ruộng lặng lẽ, ếch nhái kêu vang động thê lương. Thôi, phải đóng cho đủ vai trò, tìm lại mặt thật của tình yêu và chính mình trong đó. Bích Trân đâu, về đây dự phần anh hoả táng tình em. Thuấn lái xe nôn nóng, cảm giác nôn nóng quen thuộc đã bỏ qua từ lâu. Quỳnh Như, nước da trắng mát, đôi mắt đen, bầu ngực căng tròn quyến rũ, bao năm rồi Thuấn không có được cái thân thể nồng nàn quyến rũ đó, Thuấn chỉ có những ly rượu, rượu mê mải và những cơn ái tình nhơ nhớp thô bạo. 
Thuấn chỉ có những cơn tình ngắn ngủi thô bạo đó, lượng sóng tinh khiết đã kéo ra khơi, còn lại trên bát ngát linh hồn thứ rác rưởi khô héo của một đời gian nan. Thuấn không có thì giờ và cơ hội để nắm được trong tay giọt sương linh thiêng của tình yêu. Chiến tranh và Bích Trân quét một nhát cuồng phong trên đời Thuấn. 
“Sao Đại uý không có bồ có vợ gì cả”. Thằng Thiên đã hỏi như thế. 
“Mày coi có bà già nào chỉ tao tới, lấy liền, còn mục học sinh con nhà lành “tìm bạn bốn phương” tao không ham, lẩm cẩm và nhà quê bỏ mẹ…” Thuấn đã nói với gã lính thân tín như thế. Gã lính cười, nó biết đâu cơn sụp đổ điêu tàn trong lòng Thuấn. Nhấn thêm gaz, chiếc xe chạy như cơn hốt hoảng muốn chạy trốn nỗi tang thương, muốn bắt kịp hình dáng sáng tươi của thanh xuân. Quỳnh Như, thịt da bí ẩn đợi chờ Thuấn trong bóng đêm cùng với nỗi cảm xúc nhiệt thành bất chợt. Thuấn mở lớn hai mắt, máu dồn lên thái dương, hai tay bấu chặt tay lái. Một con người thật quen thuộc nào được hồi sinh. Xác ma trong giây phút âm dương hoà hợp chợt đứng dậy, hối hả sống cùng đời. 
Ánh đèn xe quét vội lên mặt hàng rào nhà Quỳnh Như. Một bóng trắng thấp thoáng. “Anh”. Tiếng nói thảng thốt mừng rỡ cuối cơn nôn nóng, rất cuồng nhiệt. Thuấn thắng mạnh, tắt đèn, nhảy xuống xe, bước về chiếc cổng gỗ đang lay động. “Em”. Trong bóng đêm mờ sương buốt giá, dưới tàn cây xanh, hai người im lặng sít sao chặt chẽ, chỉ có tiếng thở đứt khoảng và nụ hôn sũng ướt. “Anh lái xe lại đàng kia, tắt đèn đợi em lấy áo choàng”. 
Quỳnh Như biến ra khỏi nhà. Trong nhà vang tiếng hỏi: “Tối rồi, đi đâu?” Quỳnh Như không trả lời, nàng khép tà áo chạy nhanh hơn. Đàng kia tình yêu, cuộc phiêu lưu kỳ lạ đang chờ đợi. 
“Anh quẹo phía trái”. 
“Đường gì tối mò vậy?” 
“Đường Âm Hồn, ngã này ít người quen, em không muốn cho họ thấy”. 
“Em sợ?” 
“Cũng không hẳn thế, anh đi về phía tay trái nữa, lái chậm để em chỉ đường…” 
Bây giờ xung quanh là bóng tối, mặt hồ đen thảm hơi bùn non, cá đớp mồi nghe xa xăm. 
“Hồ này là hồ gì? Lạnh và vắng quá…” 
“Hồ Tĩnh Tâm, thuở xưa vua đến đây chơi… Bây giờ mình đang đứng giữa một giả sơn, ban ngày đẹp lắm”. Thuấn kéo Quỳnh Như ngã xuống. “Khoan để em lót chiếc manteau, nền đá dơ lắm”. Thuấn cởi chiếc áo saut cuốn tròn một cục. Gối cho em đấy. Thuấn thấy hàm răng của Quỳnh Như sáng trắng. “Anh có nghĩ em bất thường?” 
“Không”. Thuấn kéo Quỳnh Như sát vào người. 
“Anh với em cùng thấy tương lai cuộc tình ngắn hạn, gắng sống cho đủ”. Quỳnh Như gật đầu trước khi chìm đắm vào nụ hôn. Thuấn hít thật đầy qua lớp áo mỏng, mùi thịt da Quỳnh Như như khối không khí được nén lại nặng trĩu kích thích. 
“Khi em ra với anh, ở nhà biết?” 
“Nhưng em bất kể, em không còn với anh bao lâu nữa”. 
“Người Huế vốn kín đáo”. 
“Nhưng đâu phải không biết liều lĩnh”. 
“Lần đầu tiên anh quen với một người Huế, bề ngoài của em không phản chiếu gì con người bên trong của em hết, lúc về nơi đóng quân, anh còn lấy làm lạ phản ứng của em”. 
“Vì anh là thứ điện làm em bốc cháy, anh là loại người giúp người khác sống hết mình”. 
“Anh chẳng thấy được quý tính ấy, nó như thế nào?” 
“Đừng đùa, em nói thật, anh có cái vẻ người bạn thân từ lâu, gây cho người ta ý muốn được tâm sự”. 
“Anh không biết điều đó, nhưng anh biết được người nào thương hay ghét mình ngay lần gặp đầu tiên”. 
“Anh đã nói điều này khi chiều rồi, anh có đoán được hành động của em không?” 
“Có, nhưng không đến nỗi như thế này, anh nghĩ em chỉ có một thoáng cảm tình, thứ “hồn bướm mơ tiên”. 
“Và anh thụ động?” 
“Em muốn anh làm những gì? Em đã có chồng…” 
“Mới lễ hỏi thôi, chưa đám cưới, nhưng em muốn nói về phần anh, anh không biết liều lĩnh?” 
“Liều lĩnh”. Thuấn cười nhỏ. “Anh biết chứ, nhưng liều đến đâu, mang em đi, thú thật anh không nghĩ đến điều đó, vì anh… mệt, anh mệt thật tình, sống đã khó, mang thêm một tình yêu trắc trở anh làm không nổi”. 
“Anh hối hận về em?” 
“Không, anh hãnh diện và sung sướng được yêu em, em đánh thức anh dậy, anh ngủ mê hơi lâu. Anh muốn được yêu, anh đi tìm điều này”. Rất nhiều thành thật trong giọng nói. Thuấn thấy rõ nỗi thành tâm cay đắng. Hai mươi sáu tuổi, số tuổi vững vàng và đẹp của người thanh niên, nhưng Thuấn đã không sống cùng với nó. Trên chiếc chiếu thanh xuân của đời mình chàng chỉ thấy lúc nhúc hỗn độn những buồn phiền có hình khối, mùi vị, thứ mùi vị lạ lùng của thây người chết bốc lên theo vết thương tím thẫm máu bầm. Hơi chết, hơi thuốc súng hỗn hợp hoà tan thành khối không khí nhạt nhoà xanh tươi, tuổi thanh xuân của Thuấn lên men kinh dị trong môi trường đó. Tuổi hai mươi sáu của Thuấn đầy dẫy tiếng động rên siết của xe nhà binh đi qua cầu hãm lại, chiếc thùng gỗ ném xuống … Bục! Tiếng rơi lạnh tanh đắng cứng như lưỡi dao đi xuống một đường cổ trần trụi. Tuổi trẻ của Thuấn chỉ có niềm vui khi bỏ đá vào ly và lượng rượu màu vàng chảy xuống, đường suối thênh thang đoản mệnh bọt bèo, thuốc độc của thượng du mời uống vào để bay là đà trên mặt trời lận đận…Tuổi trẻ hai mươi sáu của Thuấn giống như lớp tro tàn của ngôi nhà bị cháy, còn trơ lại chiếc cột đen đúa sừng sững giữa một trời mây xuống thấp. 
“Sao anh yên lặng?” 
“Không, anh bàng hoàng với tình yêu của em”. Quỳnh Như nằm hẳn trên người Thuấn, nụ hôn mê mái bằn bặt. 
“Em làm anh thèm muốn!” 
“Không quan hệ, em chìu anh… Em cũng thế…” 
Thuấn lần tay mở hàng nút áo, thịt da xôn xao trống trải, hai cồn ngực của người thiếu nữ vừa trở thành đàn bà cứng ngắc. Thuấn di động hơi thở trên đó, Quỳnh Như run thiêm thiếp dưới nụ hôn. Lâu lắm Thuấn mới lại có cảm giác này, làm chủ được thân thể người khác, thân thể giới hạn nhưng có những rung động mở ra vô cùng. 
“Anh yêu em”. Nhiều thành thật và sung sướng trong tiếng nói thì thào. Quỳnh Như không phải ôm Thuấn bằng hai tay nhưng bởi sức mạnh thèm muốn của một đời mơ ước. Đêm yên lặng, mặt đá cứng, nỗi u tịch rì rầm trong lá nhỏ, dưới mặt hồ cảnh vật thấp thoáng tan vỡ, lung linh. Mối tình này cũng vậy. Chút nước tìm được trong sa mạc bốc cháy uống cho hết, uống mê man. Quỳnh Như cào cấu rên siết trên mối tình đột khởi do nàng vừa xây đắp. 
“Anh, em chết mất, bỏ anh sao được… Anh thân yêu”. 
“Thôi, anh phải về, khuya rồi”. 
“Anh về đâu?” 
“Về ngoài chỗ đóng quân, cây số 17”. 
“Đâu được, bây giờ Việt Cộng đầy đường, anh làm sao về được?!!” 
“Không quan hệ, anh hành quân vùng này suốt mấy tháng, chỉ có du kích, để đèn mắt mèo chạy cái ào sức mấy tụi nó biết…” 
“Không, em van anh, lỡ có chuyện gì em ân hận suốt đời… Hay anh vào nhà em”. 
Thuấn mỉm cười. “Em định tập cho anh thành Casanova tân thời? Phần anh, thì không kể, ngại cho em…” 
“Không cần, em bất chấp tất cả để gần anh, em cũng lạ với chính mình, không hiểu sao em yêu anh đến thế. Buổi chiều khi anh về, em đếm từng phút, bảy phút, hai mươi ba phút, mỗi phút em nhớ anh theo một cách khác, hình như có khối gì thật nặng đè lên trái tim, em thở không nổi… Cơm chiều không ăn nhưng em không đói, nếu tối nay anh không đến chắc em không ngủ được. Không phải là tình yêu thuần tuý, nhưng là cơn điên bất ngờ làm nổ tung niềm ấm ức của đời em. Không phải em bị quyến rũ gì ở anh nhưng anh làm em thấy rõ mình, anh làm em sống hoàn toàn cho mình”. Quỳnh Như ngồi rũ xuống, tóc đen hơn bóng đêm. Từ trong khối đen xôn xao đó Thuấn nghe tiếng nói và nhịp dập của quả tim. Đã từ lâu Thuấn không nghe lời này, những lời của người nói cho người. 
“Được, em vào nhà mở trước cửa sổ đợi, anh chạy vào trong chỗ tiền trạm gởi cái xe xong sẽ đến cùng em…” 
Quỳnh Như gật đầu, nụ hôn không rời trước khi chia tay. Cửa sổ phòng Quỳnh Như đã mở sẵn, bóng người thiếu nữ thẫm hơn nền trời. Thuấn leo vào, cửa sổ đóng chặt lại. Ngoài kia trời cuối năm xứ Huế rét cóng được xua tan. 
“Sao anh đầy mồ hôi thế này?” 
“Anh chạy từ trong tiền trạm ra… Để anh cởi bớt áo, nực quá…” 
“Đừng cởi áo trời lạnh lắm, mười bốn độ, vào nằm sát em…” 
“Em không thẹn với anh? Tiếng cười khúc khích ấm áp…” 
“Chỉ một lần với anh và thôi, đừng nói gì nữa, em muốn nằm im…” 
“Anh cũng thế, năm năm sau này anh chưa nằm trên giường civil một lần, chỉ ngủ võng, về hậu cứ nằm giường sắt nhà binh, anh bắt đầu lạnh rồi. Nằm trong chăn với em ấm thật, buổi sáng gặp em anh đâu nghĩ đến lạc thú này… Quỳnh Như…” 
“Gì anh?” 
“Em có thể bỏ nhà vào Sài Gòn ở với anh?” 
“Em cũng nghĩ thế nhưng chắc không được, không thể được?” 
“Lý do chính?” 
“Rất nhiều lý do nhưng trở ngại chính là anh và em… Hỏi thật lại mình có muốn sống hẳn với nhau hông?” 
Thuấn im lặng, câu nói Quỳnh Như như ánh sáng lóe lên trong căn phòng đồ đạc đã được dọn đi, người chủ trở về tìm kiếm sau thời gian dài vắng mặt. Thuấn cảm thấy khó khăn, chàng khẽ chuyển động cánh tay. Quỳnh Như biết ý, ngửng đầu dậy, cánh tay được rút ra, Thuấn khoanh trước ngực. 
“Anh đừng nghĩ ngợi, mình chỉ có một chút thời gian để sống cho nhau, những quyết định mai sau chưa tính được trong lúc này, một biến cố trọng đại nào sẽ giúp cho mình thấy được ý định có cần chung sống với nhau hay không”. 
“Em quá khôn!” 
“Không phải, nhưng vì là đàn bà em có linh cảm nhạy hơn đàn ông, hơn nữa em khởi đầu tai nạn này…” 
“Tai nạn?” 
“Tai nạn mê đắm…” 
Bốn cánh tay xoắn tròn lấy thân hình chặt hơn nụ hôn không vừa đủ, phải cấu vào thịt, phải ngậm chặt vào xương, phải ép sát, cào cấu rên siết để uống cho hết lượng cảm xúc, hít cho hết hơi khoái lạc. Không đủ, thân thể như thành trì không chinh phục được, có những khoảng sâu xa xôi quyến rũ mê đắm mãi không tìm thấy… Đây rồi, thân thể có những vật dụng riêng, những quý vật thần bí và tuyệt vời. 
Bằng rú gaz, chiếc xe gắn máy chạy nôn nao trên con đường đầy núi và bóng tối. Trời lạnh, sương mù, ánh đèn xe vệt một đường vàng úa trong khối không khí xám đục. Sương quá dầy không thấy gì ngoài một khoảng đường đất đỏ, xe lên dốc xuống dốc rú tiếng lớn, tiếng rú nghe nhức nhối vọng lên trong đêm khuya được gió mang đi xa len lỏi vào trong rừng dương… Tóc Bằng xoã xuống trán, bay ngược đàng sau, người chông chênh nhún nhảy theo đà nẩy của thân xe. Lâu lắm Bằng không có hành động hung bạo này, Bằng đang đi dưới chân Ngự Bình, hai bên sườn núi mồ mả mông mênh dằng dặc. Quá khứ của người Huế đưa nhau ra nằm hai bên sườn núi này. Đây là quê hương của người chết, số đông gấp đôi những người đang sống dưới thành phố. Có những ngôi mộ của năm 1900… Đến nay là 70 năm, bảy mươi năm già của nghĩa địa có bề ngang từ An Cựu qua Nam Giao và dài dài lần theo hướng Nam. Bằng ước tính chiều dài khoảng mười cây số. Ba mươi cây số diện tích đủ chỗ cho bao nhiêu người nằm xuống? Mộ trắng, mộ đen, thánh giá hay hoa sen nằm chen chúc hỗn độn dưới ánh đèn của chiếc xe gắn máy, Bằng tưởng tượng hàng trăm ngàn bộ xương người dưới đất đồng loạt đứng dậy, hàng triệu tiếng la từ khe hở của quan tài theo chân cỏ, cọng hương vang lên the thé giãy giụa. Hồn ma nào chẳng có uất ức? Người Huế có những cái chết đẹp như cụ Hường Phong sáng sớm trước khi chết tự tay pha ấm trà nhỏ, bước chậm rãi ra vườn hái bông hoa lài, một hoa cắm ở bàn Phật, một thả vào lớp nước xanh bốc khói. Cụ Hường tụng một đoạn kinh Thuỷ Sám; tiếng tụng kinh chậm rãi khoan thai rọi sáng căn nhà thờ u ám, tiếng tụng kinh lách qua chân cửa sổ sơn đỏ bay là đà trên lá ổi, lá sầu đông… Cụ Hường Phong điểm tiếng mõ nhẹ nhàng, nhẹ dần, nhẹ dần, giọng kinh chuyển sang chơi vơi mơ hồ như âm thanh rạt rào của tiên tri sóng hư vô vọng từ nơi xa. Cụ Hường chết khi rơi xong tiếng mõ cuối cùng. Nhưng người Huế cũng có những cái chết kinh khiếp, chết như bà Bộ Vĩnh, như cụ Ngáo. Bà Bộ Vĩnh giàu nứt vách đổ ngói, bà Bộ Vĩnh giàu với vàng phải tính bằng ký lô. Lụt năm Thìn rút đi, người ta đói khổ thiếu đường phải chết như năm Thân, năm Dậu, bà đem vàng ra phơi đầy sân đỏ chóe cả trời. 
Nhưng khi bà Bộ Vĩnh chết không có được cái quan tài, thân thể bó trong chiếc chiếu rách buộc chặt bởi sợi dây thừng, con cái đi vắng, hàng xóm lo chạy lụt, xác bà triệu phú giàu nhất Huế nổi lềnh bềnh trong căn nhà rộng thênh thang, lũ chuột đói bò lên trú ẩn, chúng ăn vào cái phao nổi đó trong những ngày mưa gió … Nước rút đi, cái xác chết của người có vàng phơi đầy sân còn lại một đống xương nhơ nhớp. Những người chết sung sướng và tang thương của xứ Huế đều được chôn ở đây. Bằng đi qua quá khứ quê hương với một đầu óc nổ tung phẫn nộ… Bằng nghĩ đến cái nhìn của Quỳnh Như với gã lính Nhảy dù, người chàng lao đao muốn nôn khan. 
Bằng biết Quỳnh Như từ thuở bé, người con gái bề ngoài lặng lẽ đó có một mơ ước kỳ lạ, nàng mơ những điều không thực, nàng ao ước được nguy biến, nàng muốn sống theo nghịch lý hỗn loạn. Sức Quỳnh Như không thực hiện được. Bằng cũng vậy, nên hai người níu kéo dày vò nhau trong không khí đặc quánh chán nản của một xứ Huế khép kín. Họ đưa nhau vào chốn ào ạt dục tình để đánh nhau từng đòn chí tử thê thảm và tuyệt vọng… “Cái quần lót đâu?…” “Lỡ có thai rồi sao?” Những phút giây biến động hạn hẹp trôi qua, phút giây bềnh bồng trong thiên đường có cường độ và kích thước, những phút giây ngắn ngủi bèo bọt đó chấm dứt thật nhanh và họ thấy lại nhau… Thấy thật rõ, loài chim cuốc vụng về lủi vào bụi cây hoang để tưởng đang thong dong trong cảnh rừng thẫm bóng. Bằng biết Quỳnh Như qua bạc nhược của mình. Gã lính xuất hiện đúng lúc. 
Bằng thấy nhức mỏi, rũ rượi, có đổ vỡ toàn diện của chiếc gương soi rõ được thảm thương đời mình. Chiếc xe chạy lồng lộng, núi ban đêm xao động dưới ánh đèn quấy đục sương giăng. 
Đến cổng chùa Từ Nghiêm, Bằng không tắt đèn, bẻ cổ xe để ánh đèn rọi xuống thung lũng trước cổng chùa. Đáy thung lũng tím thẫm, hàng ngàn côn trùng rả rích thê lương. Bỗng chốc tiếng rì rào buồn nản như vụt tắt, vạn vật chìm thấp xuống một vùng đen tối mịt mùng… Tiếng rì rào lạ lại nổi dậy ở một góc núi xa hơn. Bằng bấm còi xe, trong chùa có ánh đuốc, hai bóng nhỏ hiện ra dưới ánh sáng lập lòe của ngọn lửa. 
“Ai đó, làm chi mà khuya khoắt rứa?” 
“Tui, thầy Bằng đây hai điệu, hai điệu vô nói với thầy Trí Không có tui cần gặp, chuyện quan trọng dưới Viện Đại học”. 
“Dạ”. Hai chú điệu tất tả đi vào. 
“Có gì vậy, anh Bằng?” 
“Vâng, rất quan trọng”. Bằng tắt đèn, bóng tối dày đặc, rừng xung quanh đen thẫm. Chuyện quan trọng, thật ra đến mai Bằng nói cũng vừa nhưng biến cố của buổi chiều, cuộc cãi lộn với Quỳnh Như làm Bằng lao đao, một mình đi lên núi trong đêm khuya, Bằng muốn phá vỡ hết nỗi hốt hoảng riêng ta trong lòng. 
“Tôi sẽ nói vắn tắt xin thầy quyết định mau chóng. Hôm nay là hai mươi chín Tết còn một ngày nữa là cuối năm, có những biến động vô cùng quan trọng, lệnh tổng phản công được ấn định rồi, thầy không cần biết điều đó, sau giờ quân đội Cách mạng làm chủ thành phố Huế, chính quyền hiện tại, tôi ở trong Uỷ ban Thanh niên, thế nên hôm nay đến đây mời thầy gia nhập Uỷ ban đó, thầy phụ trách về thanh niên Phật tử”. 
“Tôi?” Đại đức Trí Không khẽ rùng mình: Thanh niên Phật tử những người trẻ tuổi hào hùng, bỗng chốc bùng lên tàn ác. Thanh niên Phật tử, Đại đức Trí Không đã thấy hôm đốt phá Thư viện Mỹ, đám tuổi trẻ quần xanh áo trắng mang dép nhào vào biển lửa, cấu xé, gào thét trên từng trang giấy, trên mỗi mẫu tự, họ say sưa cuồng sát trên đống chữ nghĩa vô tri một cách ma quái. Đại đức sẽ phụ trách dẫn dắt họ, tuổi trẻ phải có mục tiêu, nhưng mục tiêu nào của họ đây? Người Mỹ, thật ra chỉ là tên gọi tổng quát sức mạnh siêu đẳng của văn minh Tây phương. Đất nước này là nơi nôn mửa của các nền văn minh, Tàu, Ấn, Nhật, Pháp và bây giờ là Mỹ… Tất cả sự no nê thừa thãi trong lòng các thứ văn minh kia đã đổ xuống đây. Họ nôn xuống để tiêu tan cơn thặng dư khó chịu gây thành chứng choáng váng tăng máu… Đại đức Trí Không sẽ thống lĩnh đám trẻ tuổi hăng hái, đã trút giận hờn trên những trang sách ngoại ngữ khó đọc, sách mà tuần trước họ đã kính cẩn nghiêm trang xếp hàng đi mượn sách… Đại đức Trí Không sẽ làm lãnh tụ đám trẻ tuổi xôn xao ấy để nói những gì… Người Mỹ bẩn thỉu, Đế quốc mới… Chiến tranh phi nhân, chiến tranh của bọn lính đánh thuê… Cực quá thầy ơi! Trung sĩ Tròn của Tiểu đoàn mười chín Nhảy dù, loại lính tàn ác nhất của lũ Nguỵ, cởi chiếc áo, lạnh quá, hai xương vai nhô lên gầy guộc không căng nổi lớp da nhăn nheo… Tui bốn mươi hai tuổi rồi thầy… Đại đức sẽ đưa tuổi trẻ về đâu? 
“Thế nào, thầy chấp nhận?” 
“Nếu tôi không…” 
“Thì những người chỉ huy quân đội Giải phóng sẽ suy diễn: Chùa đã cho lính Nhảy dù ở, thầy đã có những liên lạc chặt chẽ với đám sĩ quan”. 
“Những điều vô lý, ai cấm được họ vào đây, câu chuyện giữa họ và tôi có liên hệ nào đến chính trị?” 
“Những người chỉ huy kia không nghĩ như thầy, chùa này tồn tại hay không do quyết định của thầy!!” 
“Nhưng tại sao lại chọn tôi?” 
“Thầy là nhà sư trẻ có sinh hoạt gần với thanh niên, không phải tôi chọn thầy, nhưng chính Mặt trận ra lệnh tôi móc nối với thầy vào công tác”. 
“Bao giờ khởi sự?” Nhà sư đè xuống xao động để nói giọng bình thản… 
“Thầy cứ ở chùa, đừng đi đâu, sẽ có người đến đón ngày mai hay mốt, thầy cứ giữ cây súng này”. 
“Tôi không biết bắn súng và để làm gì?” Đại đức Trí Không luồn hai tay vào cánh áo rộng, bàn tay siết chặt vào nhau kìm xuống cơn hỗn loạn. Nhưng không được, giọng nói đã có nét bi phẫn, người tu hành nhìn thấy một giờ phút sắp đến phải nổ viên đạn quái ác vào một người nào đó… Đại đức Trí Không thở hắt ra… “A Di Đà Phật…” Cuộc đấu tranh kinh hoàng đã đến, nhà sư gọi đấng Chí tôn sự trợ lực. 
“Súng này là súng rouleau, bóp cò là nổ, có đạn sẵn trong đó. Mặt trận đã tiên liệu trước vì thầy không biết bắn súng, đáng lẽ người ta phát cho thầy loại K.54”. 
Nhà sư muốn hỏi K.54 là gì, nhưng thôi, một lớp lo âu đã che lên linh hồn yên tĩnh. Khẩu súng lục ở tay, bộ áo quần tu hành không được tiên liệu để mang vũ khí, nhà sư giấu trong vạt áo nâu, hai tay ở ngoài ôm lấy… “Thôi anh Bằng về”. Bóng nhà sư thẳm hơn bóng đen của rừng, đêm gió thổi luồn qua rừng dương dưới thung lũng nghe vật vã. Bằng đưa chân lên đạp máy, chàng thấy mệt mỏi thật sự. 
Bằng cho xe đi chậm, lạnh cuối năm như dao cắt, buốt giá luồn sâu trong thịt xương. Bằng run rẩy đốt điếu thuốc, đóm lửa lòe lên trong đêm trông như ma trơi. Bằng nhìn đồng hồ: 10 giờ 45 phút, thở hơi khói vào sương mù. Muốn tan thành thứ khói vô tri. 
10 giờ 45 phút, Thuấn chồm lên người Quỳnh Như. 
“Sao anh khoẻ thế, lần thứ ba…!!!” 
“Anh nhịn lâu rồi, để anh thoả thuê trên em bù lại…” Tiếng nói đứt khúc vì hai đôi môi đã gắn chặt. 
“Nhẹ anh, mạnh quá đau em, em có cảm giác lên thật chậm nhưng chắc chắn khi anh nhẹ nhàng em mới có cảm giác đó”. Quỳnh Như thì thào, năn nỉ, từng tiếng động một di động khó khăn tạo thành những câu nói đứt khoảng… 
“Anh tu hơn tháng nay…” 
“Và trước tháng nay?” 
“Cũng thế, anh thuộc loại nặng tình dục nhưng không thể ôm một thân thể khác phái nếu không xúc động. Năm năm nay anh không có sinh hoạt thú vị này… Tạm nghỉ, để luận về tình yêu?…” 
“Dạ, em mệt muốn ngủ, khi có đủ em muốn ngủ, những đầu ngón tay căng cứng… Em thiếp đi thật thần diệu… Anh bảo anh năm năm nay?” 
“Ừ, gái điếm chỉ đến khi quá độ chịu đựng, chóng vánh và thuần tuý của động tác cơ học để cái của anh được đụng chạm, khích động thế thôi…” 
“Không qua một cô gái nào với chút tình yêu?” 
“Không, hoàn toàn như thế, tuy anh lông bông nói xạo cả ngày, nhưng anh thấy già, già cằn cỗi, sau trận Đồng xoài, em biết trận Đồng Xoài năm 1965? Đấy, anh tập uống rượu sau trận đó… Rượu làm cho dục tình tăng nhưng lại chặt đứt phần tinh tế của sinh hoạt yêu đương. Rượu đốt cháy thật nhanh những cảm xúc linh diệu của động tác ái ân… Nên anh đã đi qua tuổi trẻ mình không tình yêu. Tình yêu, với số tuổi và cách thế sống lính tráng anh quan niệm hơi thô bạo. Tất cả sinh hoạt phong phú tinh thần phải được thể hiện trên ân ái, anh không đến nỗi tuyên bố được như ông nội nào đó – Chiến trường của tôi là cái giường – Anh không được như vậy, nhưng bảo anh yêu kiểu ái tình cao thượng, tặng cái hoa pensée, hỏi em có thích màu tím không, có thích nhạc Trịnh Công Sơn… Tình yêu là kết hợp của hai cô đơn!!! Những cái đó không có anh, anh là lính Nhảy dù, thực tế và cụ thể. Yêu là sống hết và cho đủ, yêu là sống trong người yêu… Hà hà, hôm nay anh luận về tình yêu kỹ quá, ra vẻ có học lắm rồi… Lấy anh điếu thuốc”. 
“Suỵt, anh nói nhỏ, bà già em nghe được thì khốn”. 
Thuấn nghĩ thầm, nếu có thể anh yêu bà luôn. Thuấn bằng lòng với ý nghĩ mất dạy thoáng qua. 
“Anh bảo năm năm nay anh không yêu nhưng trước kia thì sao?” 
“Trước kia có, có một lần độc nhất, choáng váng, ngất ngư, người nặng như đá, hút chặt vào da như đỉa, một lần rồi kiệt lực luôn. Lúc đó anh mới ra trường, nửa trẻ con, nửa người lớn. Từ bao nhiêu năm trước, lúc mới ra trường, anh đã thấy mệt, mệt rõ ràng, không phải đợi đến năm nay lúc hai mươi sáu tuổi, sáu năm đi như con ma dọc hết nửa nước Việt Nam. Nhưng từ lúc mới hai mươi mốt tuổi đó, còn ham đội mũ đỏ, mặc áo hoa rằn ri, anh đã thấy trước một đời sống phiền muộn và nhọc nhằn. Hơn ai hết anh không sợ khổ, khổ thể xác chỉ là cách tôi luyện bắp thịt. Lúc học Biệt động quân, từ Ninh Hoà tới Dục Mỹ mười bốn cây số anh chạy chỉ khoảng năm mươi phút. Anh hai mươi mốt tuổi, bắp thịt dẻo dai như con ngựa rừng, cơ thể qua khổ cực dễ dàng không chút khó khăn, nhưng lúc đó anh đã thấy đời sống nhà binh khép lại từ từ, như thằng người ngồi trên nóc nhà nhìn nước lụt đang lên từng phân, từng tấc rõ ràng, nước dâng có tiếng động róc rách ngấm thành một lớp loang sẫm trên cây cột màu vàng… Hơn nữa anh không thích làm lớn, chắc chắn như vậy vì em thấy làm lớn ở đất nước này để làm gì, mở hotel cho Mỹ mướn, mở trại heo… Làm Tướng để có đủ bộ ba, phương tiện, lo hộ chuyện đó sao? Anh không ham. Hay làm lớn để đi xe bọc nệm trắng, xua quân ào ạt vào mục tiêu, trên trời có Đại tướng, Tổng thống gọi máy nói liên lạc từ trực thăng xuống để nói chuyện… “Danh dự tất cả quân lực ở trong tay anh…” “Vâng, tôi nghe rõ Mặt trời”, xong anh thúc lính tiến chiếm mục tiêu, tịch thu súng 12 ly 7, súng cối 82 ly, hoả tiễn 122 ly, rồi được gắn Bảo quốc huân chương, được mấy thằng ở đài truyền hình, truyền thanh rà cái máy vào mặt để hỏi. Xin Trung tá cho biết diễn tiến trận đánh… Làm lớn để được chừng đó, anh đâu cần… ĐM, có cái thằng khoá đàn em của anh mới Thiếu uý khi được phỏng vấn hỏi đến tương lai, nó trả lời: “Ít nhất tôi phải được làm Tướng”, bố khỉ, làm Tướng để được hút Craven A mua bằng tiền quỹ hoả thực, có sĩ quan tuỳ viên bật hộp quẹt thì làm chó gì, Tướng vậy là Tướng giấy…” 
“Anh có vẻ cay cú?” 
“Chẳng phải, nhưng anh muốn nói rõ tâm trạng của mình lúc ấy, em thấy anh đã mệt từ cuộc đua khởi đầu… Và lúc đó, đồng thời cái “tai” nạn thiên thu xảy đến…” Thuấn ngừng nói, lặng hút điếu thuốc đang cháy đỏ. 
“Rồi thế nào nữa?” 
“Rồi… hết, chỉ có vậy, anh bị đè cứng, hết nhúc nhích!” Thuấn dí điếu thuốc vào chiếc dĩa dùng làm gạt tàn thuốc, xoay người lại… Thôi, không nói nữa. Luận hoài, mệt… Ôm anh…” 
Quỳnh Như nhích người ra. “Nhưng tại sao anh không nói rõ chi tiết tai nạn gì đấy?” 
“Em không cần biết!” Thuấn lăn vào kéo môi trên phần ngực trắng hồng… Quỳnh Như bất động, nhìn lên trần nhà. 
“Anh vẫn còn muốn giấu em”. 
“Không phải đâu, nhưng chuyện ấy không liên hệ gì đến em, đừng lộn xộn, em muốn đóng vai người tình đau đớn hả?” 
“Bắc kỳ đểu!” 
“Không phải, nhưng anh với em có cả ngàn ngăn cách, mình gặp nhau được bao nhiêu lâu… Từ bốn giờ chiều đến bây giờ hai giờ mười phút, chưa được mười hai tiếng, em biết để làm gì? Trước mười hai giờ này em biết anh là ai?… Ngày mai anh về chỗ đóng quân, mốt chết, em làm gì được, em khóc, đòi ngã xuống huyệt anh, đâu được, em có chồng, người ta lại đưa anh vào nghĩa trang quân đội trong Sài Gòn, em sẽ làm sao? Em lên Phú Bài nhảy tàu bay theo anh?!! Hà… hà, không phải thô bạo nhưng đó là sự thật, em với anh thấy cả khởi đầu lẫn kết cục của tình yêu. Anh yêu em, có, nếu yêu theo nghĩa gần và rõ nhất. Anh yêu em vì muốn sống cho mình thật đầy đủ, ôm em trong tay, thấy hạnh phúc nhưng rồi sẽ được bao lâu? Anh sợ khi có ý nghĩ muốn chiếm giữ em đời đời, đời đời… nghe kinh bỏ mẹ… Anh có giữ đời đời cho anh được không? Em đừng trách anh thô bạo, hãy trách đời sống, đời độc địa kinh khủng vây bọc tấn công và biến đổi anh… Thôi mệt, không nói nữa… Ôm anh, hôn nữa…” Mở trận chiến ái tình mới! Quỳnh Như im lặng, trong nụ hôn nàng thấy mặn ở môi, giọt nước mắt nào đã chảy nàng không ngăn nổi. Thuấn thở dài.

Ngu Như Lợn

hung-viet.org

01 Tháng Ba 2019

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 21 Mar 2026

Lý lịch của Mạnh chuột đọc được trên tờ trích ngang:

  • Họ và tên: Nguyễn Đức Mạnh
  • Cấp chức sau cùng: Y Sĩ Đại Úy, Đại Đội Phó Quân Y
  • Đơn vị sau cùng: Sư Đoàn Nhảy Dù
    Mạnh chuột không loắt choắt như cái biệt danh “chuột” mà anh em cùng trại đã đặt, mà Mạnh chuột to lớn, vẻ to lớn của một võ sĩ hạng trung đã đấu nhiều trận trên võ đài. Không to lớn thì sức mấy mà đi được lính Nhảy Dù.
    Mồm miệng Mạnh chuột cũng không chu ra như cái biệt danh lạ lùng, giống như những đồng nghiệp “lương y” đang làm cán bộ, mà phải công nhận một cách “lô gích” là Mạnh chuột đẹp trai. Không đẹp trai, sáng sủa sức mấy mà học giỏi. Bác sĩ mà. Đã là bác sĩ thì tự động phải đẹp trai. Không tin, cứ hỏi các cô thì biết. Cái khoản học giỏi, anh em trong trại không ai thắc mắc, vì ở đây, chỉ cần sức khỏe chứ không ai cần học thức. Nhưng… cán bộ đồng nghiệp thắc mắc.
    Một hôm, không hiểu vì hay phát biểu linh tinh, hay vì cái vẻ ngoại hình làm ngứa mắt cán bộ đồng nghiệp trong ban y tế trại, Mạnh chuột bị gọi lên chất vấn để bổ túc thêm cho bản lý lịch.
    “Anh học đến đâu?”
    “Bác sĩ.”
    “Chúng tôi biết anh là bác sĩ rồi, nhưng anh học đến đâu?”
    “Bác sĩ y khoa.”
    “Này, tôi không đùa đấy nhé. Anh là bác sĩ thì chúng tôi biết rồi, nhưng anh học đến lớp mấy?”
    Mạnh chuột ngớ ra. Cán bộ y tế vừa để khoe và cũng vừa để giải thích thật cặn kẽ cho tên bác sĩ Ngụy ngu dốt này hiểu câu hỏi:
    “Tôi biết anh là bác sĩ rồi, nhưng anh học đến lớp mấy. Như tôi cũng là bác sĩ, tôi vừa học bổ túc xong lớp sáu.”
    Cái sức học của Mạnh chuột, vì vậy, vẫn còn là một nghi vấn.
    Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu.
    Riêng cái khoản con nhà giàu thì không biết, không ai biết ngoại trừ chính Mạnh chuột. Có lắm kẻ con nhà nghèo vẫn được thăm nuôi soành soạch, và cũng có lắm kẻ con nhà giàu, bỗng dưng trở thành “con bà phước”. Mạnh chuột thuộc loại con bà phước trong trại nên cũng khó mà nói Mạnh chuột là con nhà nghèo hay con nhà giàu. Từ ngày trình diện đến giờ, chuyển qua bao nhiêu trại, có bao giờ Mạnh chuột được thăm nuôi đâu.
    Tóm lại. Đẹp trai thì đúng rồi. Học giỏi, còn đang nghi ngờ. Con nhà giàu, không ai biết. Nhưng, đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu chẳng để làm gì cả. Tất cả chẳng nói lên một tí cái gì cả, chẳng nhờ thế mà được thêm tí sắn, tí khoai nào cả. Nguyễn Đức Mạnh chỉ là một anh Y Sĩ Đại Úy Nhảy Dù bị phạt đang cong đít ra đào giếng. Hết.
    Tóm lại, con người Mạnh “chuột” chẳng có gì đặc biệt cả. Chỉ có một tí đặc biệt về cái biệt danh “chuột”.

Cao Xuân Huy

Để “cải thiện linh tinh” cho cái bụng, để có một chút protéin cho cái thân hình vạm vỡ lúc nào cũng thiếu “chất tươi” này, Mạnh chuột chuyển khả năng từ một anh chuyên viên chữa người sang một anh chuyên viên chăn nuôi.
Một hôm Mạnh chuột vớ được một ổ chuột con, sau khi “sơi tái” vài con, Mạnh chuột đã “đầu tư” để lại một đực một cái. Mạnh chuột đào một cái hố, có rào ngăn cẩn thận, nuôi cặp chuột “bành tổ” này để làm “kinh tế”. Một thời gian không lâu, nhờ trời, bành tổ sinh “thái tổ”, thái tổ sinh “thái tông”, thái tông sinh thái…
Ôi thôi, không biết đến tam tứ ngũ lục đời con cháu họ hàng nhà chuột. Cái hố không đủ sức chứa, Mạnh chuột bèn phát triển nghề nghiệp, nới rộng thêm hố mới đủ chỗ chứa cho nguồn cung cấp chất thịt này. Bạn bè đồng trại, nếu ai không sợ “thịt” đều được hưởng nhờ. Mà thực ra thì cũng chẳng ai sợ. Từ đó, Mạnh chuột được anh em “thân thương” đặt cho chữ “chuột” đằng sau cái tên đẹp đẽ, rất đàn ông, Mạnh.
Nhưng, đôi lúc, soi mặt vào vũng nước, Mạnh chuột cũng có cảm giác là hai má hơi hóp lại, miệng hình như có dài ra, nhòn nhọn, môi trên như có vẻ lúc nào cũng đang giựt giựt.
Tuy vậy, Mạnh chuột vẫn thường hãnh diện khoe với bạn cùng trại về sự tiến bộ, thức thời của mình:
“Trước 75, người ta đầu tư chất xám thì tao đi học. Bây giờ, người ta không cần chất xám nữa, mà chỉ cần ‘chất tươi’. Tao chăn nuôi để đầu tư chất tươi.”
Ngoại trừ chuyện chăn nuôi, tiêu thụ và phân phối cho anh em cùng đội những con chuột còn đỏ hỏn để làm chất tươi, Mạnh chuột chẳng có gì đặc biệt. Mạnh chuột sống lẫn vào đám đông thầm lặng, đúng như lời cán bộ vẫn mắng là “nín thở qua sông”. Giản dị một điều, Mạnh chuột biết mình là thằng hay bốc đồng, ưa đốp chát, không chui vào đám thầm lặng này thì, một sớm một chiều, chẳng lẽ lại chuyển “võ nghiệp” vừa bị mất cùng miền Nam sang thành “khẩu nghiệp”.
Mạnh chuột đã có lần tạo được một cái cớ để giữ sự im lặng. Một “ông” công an cán bộ tuổi cũng khoảng trên dưới mười tám, đứng khoa chân múa tay dạy dỗ đám “trại viên”, “thằng” trẻ nhất cũng gần ba mươi, “thằng” già thì đâu đó năm, sáu mươi tuổi, về cách giáo dục, nuôi dạy con cái trong nhà. Mạnh chuột điên lên được, nhưng, cũng may, Mạnh chuột tự tìm ra được một lý do là chính mình cũng chưa vợ con, thì làm sao “gây” với “ông” cán bộ này được.
Vậy mà, cái khẩu nghiệp đâu có tha cho Mạnh chuột, đã gọi là “nghiệp” thì làm sao mà thoát. Đã mang lấy “nghiệp” vào thân mà.
Hôm bác Tôn Đức Thắng chết, cả nước để tang, ai oán, sầu não trùm lên mọi cảnh vật, lên mọi người, nhất là các cán bộ. Vậy mà Mạnh chuột lại dám cười. Sau một ngày lao động cật lực “dâng lên bác” để tỏ lòng thương tiếc, để “biến đau thương thành hành động”.
Mạnh chuột đã mặt mũi hớn hở cười cười đố bạn:
“Tao đố chúng mày biết tại sao Tôn Đức Thắng chết?”
“Thì tại già…”
“Thì tại bệnh…”
“Già gì, bệnh gì…”
Mạnh chuột đảo mắt nhìn quanh, điều chỉnh âm thanh chỉ vừa đủ cho đám bạn tù đứng quanh nghe, nhại giọng Nam:
“Thằng nào ‘đứt thắng’ mà ‘hổng chớt’.”
Không hiểu sao, dứt khoát là không có “ăng ten”. Lời đồn thằng này ăng ten, thằng kia ăng tên đều là láo khoét, đều là thất thiệt cả. Nhưng, không hiểu sao, ngay ngày hôm sau Mạnh chuột ta lết thẳng vào nhà biệt giam sau một trận “tự kiểm” toe người. Mặc dù Mạnh chuột nhất định không nhận tội giễu bác Tôn. Không lết sao được khi mà mặt mũi thì tím bầm, sưng húp lên, môi thì tưa máu tươi, người thì mềm như cọng bún.
Rõ ràng Mạnh chuột là một thằng không có học. Vì nếu có học, ai lại dại gì đi mua vui, chỉ được có mỗi một tiếng cười cho mấy thằng tù, để rồi được hưởng sự “khoan hồng” như thế này. Và cái sự “khoan hồng” này không biết còn kéo dài đến bao lâu.
Nhưng, chắc là không lâu, vì…
Mới qua đến ngày thứ ba, đang ngồi ngủ, dĩ nhiên là ngồi vì “nhà” biệt giam không đủ cao để Mạnh chuột đứng, và cũng không đủ dài để Mạnh chuột nằm. Đảng đã tha tội chết, và đảng chỉ tha tội chết thôi, chứ đảng không tha tội sống, đảng phải “chuyên chính” chứ. Biệt giam khơi khơi với cái tội dám mang bác Tôn ra mà cười như vậy là nhẹ lắm rồi.
Mạnh chuột đang ngồi ngủ, thì có tiếng lách cách mở ổ khóa. Giọng của “đảng” vang lên:
“Anh Nguyễn Đức Mạnh.”
Mạnh chuột thều thào qua đôi môi còn đang sưng tấy lên:
“Có.”
“Đi ra.”
“Chân tôi bị cùm, không đi ra được.”
Ánh đèn phin cực mạnh chiếu thẳng vào mặt làm chóa mắt; có những va chạm dưới chân, Mạnh chuột biết là có người mở khóa chốt cái cùm.
“Anh theo tôi lên khung.”
Chết mẹ rồi, tội này đâu phải là nhỏ. Thằng Trung Úy San bên Thủy Quân Lục Chiến chỉ vì cái tội đứng bên này hàng rào kẽm gai, khua chân múa tay cãi nhau với “đảng” ở bên kia hàng rào trước 75, vô tình bị nhận diện sau một buổi xem phim tài liệu để “học tập”. Chỉ vì cái tội đó thôi mà nó còn bị vứt xác ở bìa rừng, huống hồ… Vừa đi theo tên cán bộ, Mạnh chuột vừa hồi hộp. Nửa đêm nửa hôm khuya khoắt thế này mà gọi lên khung thì thế nào cũng có chuyện, hung chắc chắn là nhiều hơn kiết rồi.
Mạnh chuột giả vờ đau chân, mà không giả vờ cũng không được, chân bị cùm ba ngày làm thế nào mà không đau cho đươc. Mạnh chuột đi khập khiễng để kéo dài thời gian, theo dõi những hành động của tên cán bộ. Hung hay kiết sẽ lộ ra trên thái độ của anh chàng cán bộ này. Anh này tại sao hôm nay lại có vẻ hiền từ. Mặt không hầm hầm như mọi ngày, lại còn cả không hối thúc Mạnh chuột phải đi nhanh.
Vừa bước vào khung, cán bộ trực trại đã đợi sẵn, hỏi Mạnh chuột một cách “dịu dàng”:
“Anh là bác sĩ, vậy thì anh có biết đỡ đẻ không?”
Mạnh chuột hoàn hồn. À ra thế. Mẹ kiếp, hóa ra là chúng mày cần đến chuyên môn của ông. Tuy không phải là bác sĩ chuyên về sản khoa, nhưng thời còn là sinh viên đi thực tập, Mạnh chuột cũng đã đỡ nhiều ca rồi. Nhưng mà, ở đây có đàn bà đâu mà đẻ với đái. Vậy thì cái gì đây? Gì thì gì, chắc chắn là không phải đi theo thằng San là tốt rồi.
“Biết chứ cán bộ. Mà ở đây, tôi có thấy phụ nữ nào đâu.”
Tay cán bộ trực trại cười giả lả:
“Không phải là đỡ đẻ cho người, mà chúng tôi gọi anh lên để đỡ đẻ cho lợn.”
Máu tếu Nhảy Dù chảy nhanh trong cơ thể, Mạnh chuột nghĩ ngay đến Lịnh, tay chuyên môn thiến heo trong đội.
“Nếu đỡ đẻ cho lợn thì một mình tôi không đủ đâu, tôi lại đang đau. Cần phải gọi thêm người.”
Cán bộ sốt sắng hỏi:
“Anh cần thêm mấy người? Tôi cho gọi lên.”
“Cán bộ gọi cho tôi anh Lịnh, ở đội tôi. Tôi với Lịnh là đủ rồi.”

***
Hơi ấm từ đống lửa bập bùng trong chuồng lợn tỏa ra, Mạnh chuột và Lịnh “thiến heo” được ngồi sưởi là nhờ ơn mưa móc của con lợn sắp đẻ này.
Lịnh ngày xưa, trước khi đi lính lên đến Hạ Sĩ, chuyên sống bằng nghề thiến heo. Đúng ra, nếu không vì tính mê gái, nếu không vì muốn giựt le với cô em bán nước mía đầu đường Nguyễn Thiện Thuật, và nếu không bị lừa là cách mạng ra thông cáo học tập mười ngày cho sĩ quan cấp úy, nếu không…những tưởng sau mười ngày đi học tập cải tạo, Lịnh “thiến heo” được chính phủ cách mạng chính thức hóa được cấp bậc Thiếu Úy của mình, Lịnh “thiến heo” hăng hái đi trình diện, thì bây giờ đâu có phải là bạn cùng trại với Mạnh chuột.
“Đang ngủ ngon lành, anh lại phá tôi. Tôi có biết gì về vụ đẻ đái của mấy con heo bao giờ.”
Mạnh chuột nheo nheo mắt, cười cười:
“Mày sống bằng nghề thiến heo, tức là có dính dáng đến heo rồi. Cũng như tao là bác sĩ thì tao dính dáng đến đỡ đẻ vậy mà.”
Lịnh vẫn còn hậm hực:
“Vậy bộ anh muốn tôi ‘thiến’ con heo nái này à?”
“Không ai ngu như mày. Đỡ đẻ xong, ngày mai sẽ được nghỉ lao động, và thế nào mà không được bồi dưỡng một ít đường.”
Mạnh chuột được ân xá nhờ đỡ đẻ “đạt tiêu chuẩn”, một lứa tám con, không chết con nào nên được tha về đội, lại còn được nghỉ nguyên ngày hôm sau để bù lại suốt một đêm thức trắng đánh vật với lợn.

***
Đảng tha, nhưng “khẩu nghiệp” thì không tha. Mạnh chuột lại bị vạ miệng vì cái “vô học” của mình.
Thời gian này có “dịch” trốn trại. Đêm hôm trước điểm danh đủ, sáng hôm sau mở mắt ra là thiếu một vài mạng. Đảng tổ chức và lãnh đạo thành công mọi cuộc cách mạng, cho nên đảng không thể thất bại trong việc ngăn chặn chuyện trốn trại. Vận động mọi khả năng sáng tạo của đỉnh cao trí tuệ loài người, đảng nghĩ ra một cách kiểm soát tù không tốn công tốn của là bắt tù gác tù. Sau một ngày “lao động là vinh quang, trồng khoai lang là yêu nước”, tù được phân công thay nhau gác… tù.
Trong một ca “đón giao thừa một phiên gác đêm”, Mạnh chuột đã lỡ “vui xuân quên nhiệm vụ”, gác thì lơ là mà miệng lại còn nghêu ngao hát:
Giờ đây bên sông “mai” rụng tơi bời. Giờ đây em ơi “sao” mọc lên rồi. Lòng anh tan hoang thôi vỡ “đời” ơi…
Đảng còn đang tiến hành cuộc điều tra về gốc gác bài hát, vì đây là một bản nhạc vàng đầy phản động. Tại sao cách mạng thành công, miền Nam đã được hoàn toàn giải phóng, đem lại cơm tuy chưa ngon nhưng mà no, áo tuy chưa đẹp nhưng mà ấm cho nhân dân lao động anh hùng, mà lại dám nói là “thôi vỡ đời ơi”.
“Báo cáo cán bộ, đây là bài thơ cách mạng.”
“Cách mạng nào, anh lại bôi bác cách mạng phải không?”
“Báo cáo cán bộ, đây là bài thơ của cán bộ cách mạng thật mà.”
“Anh chỉ cho tôi xem cán bộ nào lại dám làm bài thơ phản động như thế này?”
“Bài này tên là ‘Hoa rụng bên sông’ của cán bộ Lưu Trọng Lư.”
Trong khi chờ đợi cuộc điều tra ngã ngũ, Mạnh chuột không bị vào nhà biệt giam, vì có dây dưa đến cán bộ Lưu Trọng Lư, dù rằng cán bộ khung chẳng ai biết cán bộ Lưu Trọng Lư là cán bộ nào. Cho nên Mạnh chuột được “tại ngoại hậu tra”, và đang cong đít lên mà đào giếng.
Đây là vùng đất mà chỉ có chó mới sống được một cách no đủ, vì chỉ toàn là đá với sỏi. Mỗi nhát cuốc bổ xuống là mỗi lần lửa tóe lên.
Mạnh chuột đào giếng qua đến ngày thứ hai mà mới sâu xuống được đâu ngang đầu gối. Cán bộ vệ binh luôn luôn mắng nhiếc “Anh giơ cuốc lên thì chim đậu, hạ cuốc xuống thì mối đùn”. Mạnh chuột giận lắm, ở cái xứ khỉ ho cò gáy này, lấy chó đâu ra chim với mối mà đậu với đùn. Có giận thì giận, có gì thì gì, Mạnh chuột vẫn phải cuốc và vẫn phải cắn răng “ngậm miệng mà không… ăn tiền”.
Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, buổi chiều ngày thứ ba, khi Mạnh chuột đang lui cui vét đất dưới hố để hất lên trên, cán bộ vệ binh đến cà khịa:
“Đầu óc anh vẫn còn hướng về bọn đế quốc Mỹ nên mới bảo ‘nà’ cách mạng đã ‘nàm’ cho đời anh tan hoang.”
“Đó là bài thơ của cách mạng mà, cán bộ.”
“Thơ thẩn gì, anh vẫn còn tư tưởng yêu Mỹ, kính Mỹ, thương Mỹ, sợ Mỹ. Tôi ‘nà’ đọc được tư tưởng của anh mà.”
Mạnh chuột im lặng không trả lời.
“Phát biểu thì ‘ninh’ tinh, ‘nao’ động thì trây ‘nười’.”
Mạnh chuột vẫn cắn răng cố nhịn, không nói. Anh cán bộ vệ binh thấy Mạnh chuột không nói, nghĩ ngay là nó đang khinh mình, tức giận quát một câu thật to:
“Anh ngu như ‘nợn’ ấy.”
Máu Nhảy Dù dồn lên mặt, mắt đổ lửa. Sẵn tay cầm cuốc, Mạnh chuột đứng bật dậy, những tưởng phen này thế nào cũng có “máu đổ thịt rơi”. Nhưng, trán Mạnh chuột chạm ngay vào mũi khẩu AK. Hơi lạnh của chất thép lan nhanh sang Mạnh chuột. Mọi động tác của Mạnh chuột như tê cóng, ngừng hẳn lại, chỉ còn ý nghĩ chạy trong đầu:
”Mày ngu như lợn thật, Mạnh chuột ạ.”

Cao Xuân Huy

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Mar 2026

Ông Lâm Ngữ Đường cho rằng Trung Hoa thời thượng cổ đã có ý thức kính trọng tuổi già như lời khuyên của thầy Mạnh Tử: “Người tóc bạc không phải đội nắng ở ngoài đường,” nhưng ông Lâm lại so sánh cái tinh thần đó như tinh thần hào hoa của Tây phương đối với phụ nữ thì tôi cho là không đúng lắm. Đối với việc nhặt gậy cho một cụ già ngoài đường không thể nào so sánh với việc nhường bước hay mở cửa xe cho một phụ nữ. Cùng thuộc lãnh vực văn hóa, nhưng không thể so sánh hai công việc vì bản chất nó không giống nhau. Một bên có tính chất luân lý, một bên là thuộc loại giao tiếp trong xã hội. Bên Tây đàn bà là ưu tiên (lady first),

ở Nhật thì đàn bà đi sau đàn ông ba bước, nhưng có lẽ đối với người già ở đâu người ta cũng coi là đáng kính trọng. Không “hào hoa” đối với phụ nữ, dưới con mắt người phương Tây có thể là thiếu văn minh, nhưng thiếu sự kính trọng đối với người già có thể được xem như là một hành động mọi rợ. Điều gì xẩy ra ở Việt Nam ngày nay để có thể sinh ra lối văn hóa “chửi già” như tôi đã trình bày nhiều lần trước đây cũng như bạn đọc đã xem những lời than phiền trên nhiều trang “mạng.”

Trẻ con cũng như người già là những sinh vật yếu đuối cần phải săn sóc, và che chở. Chúng ta cứ nhìn những vật dụng dùng thường ngày của hai lớp tuổi này thì thấy rõ, từ chiếc xe nôi hay xe lăn, tấm tả lót hay đến những cảnh bồng bế, tắm rửa trong nhà dưỡng lão. Nhưng con trẻ trí não chưa phát triển, không có kinh nghiệm, không biết hồi tưởng, chỉ có phản xạ kêu khóc khi đói ăn, khát uống hay ẩm ướt vì tả lót. Người già cũng với cảm giác ấy nhưng thêm biết buồn, tủi thân, biết hồi tưởng, so sánh, tiếc nuối, nhớ nhung nên phải nói rằng người già đáng cho người đời quan tâm và thương yêu hơn con trẻ. Lúc về già mà thiếu thốn vật chất, đói rét hay quạnh hiu thì không còn cảnh khổ nào bằng, nhưng cái luân lý dạy người ta bổn phận đối với cha mẹ so ra còn quá ít không bằng nghĩa vụ đối với con cái.

Ở các nước phương Tây hay các quốc gia giàu có, có quỹ an sinh xã hội đầy đủ dành cho người già, để qua một thời gian làm lụng, đóng góp cho đất nước, người già có quyền được hưởng quỹ hưu của mình, nếu không thì cũng có trợ cấp xã hội, trợ cấp tài chánh, y tế, thuốc men và bệnh viện, tuy không thong dong như những người giàu có, nhưng cũng đủ bảo đảm cho một đời sống trung bình, khỏi lo thiếu thốn, nhất là được tự lập, khỏi phải nhờ vả đến con cái, thân thuộc khi về già. Nói quá lời, nếu sống ở phương tây, các vị cao niên khi đã đến lúc yếu đuối, bệnh tật, dù có những đứa con bất hiếu, không ngó ngàng gì đến cha mẹ, cũng không đến nỗi phải ra nằm đường hay chết bờ chết bụi. Phải chăng vì vậy, mà ở phương tây người ta ít nói đến chữ hiếu chăng? Trẻ con vị thành niên bụi đời, trộm cắp thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhưng cha mẹ không nhà, không có ông cảnh sát nào đi tìm những đứa con để hỏi tội!

Con cái được cha mẹ yêu thương nâng niu thì ai cũng thấy, Đông cũng như Tây, như thành ngữ “nước mắt chảy xuôi!” cùng với những bài học phải dạy dỗ thương yêu con cái, nhưng ở phương Tây không thấy có bài vở nào nêu lên bổn phận của con cái đối với cha mẹ, nhất là cha mẹ già. “Bánh ít trao đi”: trẻ con trên 18 tuổi có thể ra khỏi nhà, cha mẹ không còn trách nhiệm, nên đã có “bánh quy trao lại”: con cái không có trách nhiệm gì với cha mẹ già! Nước Tàu có đến “Nhị Thập Tứ Hiếu”, mà những chuyện này dịch ra tiếng Anh cho lũ trẻ ngày nay, chắc là chúng sẽ cho đó là những chuyện ngớ ngẩn, điên khùng như chuyện Ngô Mãnh cởi trần cho muỗi hút máu, Mạnh Tông khóc đến nỗi măng phải mọc hay Vương Tường nằm trên băng giá mà chờ cá chép. Thuở nhỏ ở Việt Nam, chỉ nội trong mấy tập Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư mà chúng ta học được biết bao nhiêu bài về bổn phận làm con, yêu mến, tôn kính, biết ơn, phụng dưỡng cha mẹ ….

Ai về già mà không quý trọng và hãnh diện vì tuổi già. Không hãnh diện sao lại có những lễ tiệc ngũ tuần, lục tuần, thất tuần hay thượng thọ. Thọ là phước trời ban, giàu nghèo chưa đáng kể. Hạnh phúc cho gia đình nào có tiếng khóc trẻ thơ, nhưng cũng hạnh phúc cho ai còn có cha mẹ già để phụng dưỡng. Thầy Tử Lộ thuở hàn vi, đội gạo lấy tiền công nuôi cha mẹ mà lấy làm vui, lúc trưởng thành ra làm quan thì song thân đã qua đời, lấy làm buồn vì không còn có dịp mà phụng dưỡng. Đem chuyện này ra kể cho lũ trẻ ngày nay, chắc không phù hợp với nếp suy nghĩ của thời đại mới.

Trời mùa Đông rồi, trời lại mau sụp tối, cha mẹ nào sống với con thì trông con, trông cháu trở về sum họp trong buổi cơm tối. Cha mẹ nào cô đơn trong những căn nhà già thì thêm thấm lạnh nỗi quạnh hiu. Trẻ con vui mừng trước những ngày lễ hội cuối năm với những món quà, nhạc Giáng Sinh hay những phong bì mừng tuổi đầu năm, trong khi người cao niên thấy tháng ngày như vội vã trôi mau và lo sợ cho tuổi già. Chúng ta hạnh phúc được sống trong một nền luân lý xã hội phương Đông và trong sự đùm bọc của an sinh xã hội phương Tây, thiếu một trong hai điều ấy, quả là một điều bất hạnh. Nhưng có tuổi già nào mà không buồn.

Nàng Thu Phù, trong văn học Trung Hoa, vợ của văn nhân Tưởng Thản có câu thơ viết đang lúc mùa Thu, dù là mùa Thu đang đẹp: “Hôm qua vui hơn hôm nay, Năm nay già hơn năm ngoái!” Nếu là đang cuối mùa Đông, năm cùng tháng tận, ý thơ chắc sẽ buồn hơn thế nữa!

Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by7 Sơn râu 21 Mar 2026

Kỳ cuối

Hai tù hình sự có nhiệm vụ khiêng Trọng sang bệnh xá, khi trở về đã kể rằng, Trọng nằm trên cáng, một nữ ý tá tới tiêm cho anh một mũi rồi đi ra cửa đứng chờ, tại đây cán bộ Ðản cũng đang đứng chờ.

Mấy phút sau họ nghe Ðản hỏi cô ý tá,

– Sao lâu thế? Sao nó chưa chết?

Người nữ y tá trả lời,

– Cũng phải chờ cho thuốc ngấm chứ! Mạch của anh ta yếu lắm! Thuốc không thể ngấm nhanh. Phải chờ! Chắc cũng không lâu lắm đâu!

Quả nhiên chỉ hai phút sau Trọng chết thật.

Trên tờ giấy chứng tử, cô y tá ký tên một bên, cán bộ Ðản ký tên một bên công nhận rằng bệnh nhân Nguyễn Văn Trọng đã chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng.

Không ai biết thật sự Trung tá Trọng đã chết vì bệnh kiết lỵ hay đã chết vì một mũi tiêm thuốc độc?

Thời gian sau Thầy Bình được chuyển sang nhốt chung buồng với cựu Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn.

Bình và Ðoàn tiếp tục bị bỏ đói, rồi ít bữa sau thấy Ðoàn nằm bất động, Lê Thái Bình lại bắc loa tay,

– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!

Cán bộ bước vào vạch mắt Ðoàn ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðoàn đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,

– Chết rồi! Ðem đi!

Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðoàn xuống nhà tẫn liệm.

Khác với những lần trước, vừa đặt cái cáng xuống đất thì hai anh hình sự nghe tiếng rên,

– Ðói! Ðói! Ðói!

Một anh hình sự vội cho Ðoàn húp bát cháo, Ðoàn sống lại!

Hóa ra anh tù Bùi Bằng Ðoàn chỉ bị đói quá mà ngất đi.

Sở dĩ có chuyện chết đi, sống lại này chỉ vì khi vào vạch mắt Ðoàn để kiểm tra, cán bộ thấy mắt Ðoàn đứng tròng, y tưởng Ðoàn chết rồi, nên mới cho người vào khiêng anh xuống nhà xác.

Không ngờ, Bùi Bằng Ðoàn bị chột, một mắt thật, một mắt giả, cán bộ đã vạch nhằm con mắt giả, thấy con mắt giả đứng tròng, y tưởng Ðoàn đã chết nên mới cho mang xác đi chôn.

Nếu nó vạch con mắt thật ra coi thì Ðoàn sẽ phải nằm đó chờ, chắc chắn sau đó không lâu sẽ chết thật.

Chính con mắt giả của Bùi Bằng Ðoàn đã cứu mạng anh ta.

Từ đó cứ nghe báo cáo có người chết thì cán bộ khám xét cẩn thận hơn bằng cách vạch cả hai mắt nạn nhân ra mà coi, nếu cả hai con ngươi đều bất động thì nạn nhân mới được khiêng đi, nếu một mắt còn động đậy thì cứ để nằm đó chờ chết.

Trong khi đó thì một trại viên khác chết rất âm thầm, anh ta chết đã hai hay ba ngày sau mới bị cán bộ phát giác vì không có ai chứng kiến, không có ai nhốt chung buồng.

Người chết là cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân tên là Sanh.

Anh Sanh là con trai của chủ nhân nhà hàng “Quán Biên Thùy” ở Nhà Bè.

Thế rồi, một đêm, Nguyễn Văn Hồng đã vĩnh viễn ra đi, tác giả “Ðôi giày dũng sĩ” không còn nữa! Con chim ái quốc ấy đã hoàn toàn kiệt sức, không thể cất nổi tiếng hót sau cùng.

Chỉ vì cuối năm 1978 sau khi bị cùm vì tội vượt ngục lần thứ nhì thất bại, tôi đã gặp lại Ðại Ðức Lê Thái Bình ở Trại Phú Sơn 4, Thầy Bình hỏi tôi bí quyết để sống còn khi bị kiên giam, thì tôi đã giải thích cặn kẽ cho Thầy Bình biết rằng,

“Người bị kiên giam vì đói quá, nên mỗi khi được phát cơm, ngô, khoai, sắn hay bo bo, ai cũng ăn thật nhanh cho hết bữa; còn tôi chỉ ăn nhín nửa phần, tới nửa ngày sau mới ăn phần còn lại. Cách ăn này giúp cho cái dạ dày lúc nào cũng đói, lúc nào cũng no. Nhờ vậy mà không bị chết đói!”

Nhớ tới kinh nghiệm “vượt đói” của tôi, Thầy Bình đã cố gắng đánh lừa dạ dày trong suốt thời gian hơn hai năm bị kiên giam ở Trại Mễ nên mới còn hiện diện trên cõi đời này!

Trong thời điểm đó thì ở Nam Hà A, mỗi khi có chuyện xáo trộn như chuyển trại, hoặc nhận thêm người thì cán bộ lại thi hành một đợt kiểm tra và “biên chế”.

Khi “biên chế” thì tù bị trộn lộn, từ đội này chuyển sang đội khác, từ buồng này dọn qua buồng khác.

Lợi dụng cơ hội này, ít lâu sau khi được chuyển đội, ông Trung tá Nguyễn Văn An bèn vượt ngục lần thứ hai.

Rồi ông An cũng bị bắt lại, lần này cai tù không đá đít ông rồi cho phép ông về lại Buồng 15 nữa.

Ông bị tống cổ vào nhà kỷ luật, chịu đủ loại cực hình, rồi bị đưa ra Trại Mễ.

Ít lâu sau thì ông An chết.

Chuyện Trung tá An vượt ngục, rồi chết, tôi đã nghe cựu Ðại tá Cao Văn Ủy tóm tắt lại như sau:

“Anh An vượt ngục một lần nữa để tìm về quê, nhưng chưa tới nhà đã bị bắt lại. Anh bị giam trong phòng kín, có khóa và có lính canh rất cẩn mật. Mỗi ngày anh đều bị dẫn lên văn phòng của Ban Xuyên tức là viên Trung tá Công An Việt-Cộng tên Xuyên, Trưởng Trại Nam Hà để khai báo và nhận cực hình. Tuần lễ đầu, Ban Xuyên, cho lũ chó bẹc giê cắn gãy hai chân anh. Tuần lễ thứ nhì, y cho chó cắn gãy hai tay anh. Tuần lễ thứ ba, y cho chó cắn nát hạ bộ của anh. Sau khi anh ngất đi, tên Xuyên mới gọi y tá đem anh xuống bệnh xá để băng bó tất cả các vết thương trên người. Ngày tiếp đó, anh An bị áp tải lên xe, chở ra bệnh xá ngoài Trại Mễ. Tại đây, anh tiếp tục bị bỏ đói cho tới chết. Anh Trung tá Biệt Ðộng Quân Nguyễn Văn An đã trút hơi thở sau cùng trên mảnh đất mà anh đã sinh ra là Phủ Lý.”

Xác Trung tá An được chôn ở bãi tha ma Trại Mễ. Nơi đây đã có ba sĩ quan Cảnh-Sát Quốc-Gia yên ngủ từ năm 1979, đó là Trung tá Lê Văn Thảo, Trung tá Ðoàn Ðình Từ và Trung tá Nguyễn Lê Tính. Ba sĩ quan Cảnh Sát này đã chết vì kiệt sức.

Cạnh mộ của Trung tá Nguyễn Văn An là mộ của Trung tá Nguyễn Văn Trọng, hoa tiêu trực thăng Biên-Hòa, kế đó là mộ của Ðại tá Nguyễn Phán, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Ðoàn II.

Ông Trung tá Trọng chết vì bị bỏ đói và bị chích một mũi thuốc độc (?) thay vì thuốc trị bệnh kiết lỵ, còn ông Ðại tá Phán qua đời vì bị điên, bị đói, và kiệt sức.

Nhân số Ðội 20 cứ hao hụt dần theo thời gian.

Lâu lâu cán bộ lại họp nhau bình xét, chấm điểm. Ai được điểm cao sẽ được cho về lại Nam-Hà A.

Tới năm 1984 thì tên Trung tá Xuyên về nghỉ hưu. Người thay thế tên Xuyên là một Trung tá Công An tên là Lưu Văn Hán.

Lưu Văn Hán đã từng nhiều năm phục vụ trong ngành Công An ở Miền Nam.

Y đã chứng kiến những điều hay, đẹp, văn minh, nhân đạo, và tiến bộ của xã hội Miền Nam.

Y đã mở tầm mắt để thấy rằng những con người mà y đang giam giữ kia chính là tinh hoa gạn lọc của cả một chế độ, của cả một Miền Nam tiên tiến, văn minh.

Y đã nhìn ra cái giá trị đích thực ẩn tàng trong những con người khốn khổ mà y đang cầm mạng sống.

Vì thế, ngay sau khi nhận chức ít lâu, Lưu Văn Hán đã cho những người còn sót lại của Ðội 20 được trở về Nam Hà A.

Những người bị biệt giam lâu nhất đã ở Trại Mễ đúng hai năm rưỡi.

Họ ra khỏi trại này mà chỉ còn có da bọc xương. Thượng Ðế đã không chấp thuận cho họ được chết, nên tên Xuyên đã về hưu.

Anh Mai Văn Tấn và anh Lê Thái Bình đã may mắn sống sót và được về Nam Hà A lao động trở lại.

Sau đợt chuyển tù vào Nam năm 1982 thì tất cả tù còn sót lại từ Hà-Tây, Phong-Quang, Tân-Lập, Vĩnh-Phú đều tập trung về Nam-Hà A.

Nhân số của trại vào lúc Mai Văn Tấn và Lê Thái Bình quay lại có khoảng trên dưới 300 người.

Anh Lê Thái Bình thường đi lấy củi trong khu nghĩa trang tù.

Nghĩa trang tù của Trại Nam-Hà A lúc nào cũng vắng lặng vì ít khi có người vãng lai. Ở đây, ngôi mộ của Trần Hàn có lẽ là nơi buồn nhất, vì đó là một nấm đất cô đơn, nằm cách biệt với nghĩa địa gần trăm thước.

Không biết tự bao giờ, ai đó đã trồng ba cây phượng vĩ trên đỉnh đồi này.

Ðầu mùa Thu, chỉ cần một cơn gió nhẹ lướt qua, hoa phượng đã rơi lả tả.

Thật là không còn gì buồn hơn cảnh tượng đường trơn mưa Ngâu tháng Bảy, âm thầm trên mộ hoa rơi.

Lâu lâu Lê Thái Bình lại ghé chốn này, thắp một nén nhang cho Trần Hàn.

Vương Mộng Long và Lê Thái Bình 2016 TX-USA

Xương cốt về Nam…

Tới đầu Xuân 1988 là đợt phóng thích tù chính trị sau cùng, tôi cũng được thả về kỳ này.

Từ nay, trên toàn cõi Việt-Nam chỉ còn hơn một trăm tù nhân gốc Quân, Cán, Chính, Việt-Nam Cộng-Hòa mà thôi.

Số tù còn lại này, trong đó có Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Ðại tá Cao Văn Ủy được tập trung về Trại Z30D là nơi tôi vừa đi qua cổng với cái giấy ra trại.

Dù bận bịu vì sinh kế, nhưng Mai Văn Tấn, Lê Thái Bình và tôi cũng thường có dịp gặp mặt nhau.

Bình kể cho tôi nghe rằng qua sự giới thiệu của anh Phụ là một cựu sĩ quan Cảnh-Sát Ðặc-Biệt, bạn thân của anh Trần Hàn, gia đình anh Trần Hàn biết Ðại đức Lê Thái Bình là người biết rõ mộ phần của Trần Hàn nằm ở chỗ nào trong nghĩa trang, nên đã nhờ anh Lê Thái Bình đi ra Bắc bốc mộ cho anh Hàn.

Theo chương trình dự trù thì Lê Thái Bình sẽ tháp tùng hai người nhà của Trần Hàn lên xe lửa từ Ðà-Nẵng đi Hà-Nội, rồi thuê xe hơi để vào Nam-Hà.

Ðúng hẹn, sáng sớm ngày hôm trước, Lê Thái Bình từ Ðồng Tháp theo xe đò đi Ðà-Nẵng.

Xe vừa đổ Ðèo Cù Mông thì bị đứt thắng, xe lao nhanh xuống dốc.

Ai ngồi trên xe cũng tưởng phen này thế nào cũng chết.

May thay, trong giây phút thập tử nhất sinh ấy, thì phụ tài xế đã giựt được tay lái để xe tông vào vách đá.

Chiếc xe lộn một vòng rồi nằm im. Có hai hay ba người chết, số còn lại đều bị thương. May mắn thay, anh Bình chỉ bị thương nhẹ.

Bình tới Ðà-Nẵng đúng lúc người nhà của Trần Hàn sửa soạn lên xích lô để ra ga. Bình nhập đoàn với họ, mà không kịp có thời giờ rửa tay và băng bó những vết sây sát trên người.

Ở ngoài Bắc, thời gian này Trại Nam-Hà đã hoàn toàn trở thành một trại tù hình sự.

Chỉ có những người đã chết thì vẫn còn nằm ở đây.

Năm này qua tháng nọ, có lẽ linh hồn các bạn đang yên ngủ ở đây vẫn mong chờ thân nhân tới bốc mộ, đem xương cốt họ về Nam?

Bình dẫn con của Trần Hàn tới một ngôi mộ cô đơn nằm cách nghĩa trang gần trăm mét.

Trong khi kiểm tra hàm răng của Trần Hàn, người con trai của anh Hàn đã thấy một cái răng vàng. Thời sinh tiền, hàm trên của Trần Hàn cũng có một chiếc răng vàng.

Vậy là đúng rồi! Chuyến đi hốt cốt này chắc chắn họ đã không đào nhầm mồ người khác.

Khi gom xương anh Hàn từ dưới mộ lên, anh Bình đã phát giác ra, xương cánh tay trái của Trần Hàn không nằm song song với người anh, mà nằm ở sau lưng anh. Chứng tích này có thể lý giải rằng tay trái của anh Hàn đã bị gãy vì tra tấn.

Xong việc cải táng, Lê Thái Bình giã từ gia đình Trần Hàn, giã từ Ðà Nẵng, lên tàu về Sài-Gòn.

Nhưng sau khi lên tàu hỏa được vài phút thì Bình sờ túi sau, cái bóp đã bị kẻ cắp chớp mất rồi! Vậy là Bình đành nhịn đói, chịu khát cho tới ngày về tới nhà tôi.

Thì ra, giờ đây, tay nghề của dân móc túi ga Ðà-Nẵng đã không thua kém gì tay nghề của kẻ cắp chợ Ðồng Xuân ngoài Bắc.

-oOo-

Dư âm xưa còn vang vọng…

Cuối năm 1988 chúng tôi bắt đầu nộp đơn để được xuất cảnh đi Hoa-Kỳ định cư theo chương trình H.O.

Những người có tên trên danh sách HO1, và gia đình của họ đã tới Mỹ từ tháng Giêng năm 1990, vậy mà tới tháng 5 năm 1992 Trại Z30D mới thực sự không còn ai là tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa nữa.

Bốn người tù sau cùng là Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai đã về tới nhà ngày 5 tháng 5 năm 1992.

Vì có thâm niên 13 năm tù, tôi có tên trên danh sách RD2 nên được ưu tiên xuất cảnh tiếp ngay sau cái đuôi của H15.

Tôi tới Mỹ tháng 4 năm 1993, và chưa một lần về thăm lại Việt-Nam.

Sáng nay tôi vừa nói chuyện với anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích, Bích hỏi tôi có nhớ chuyện cái radio ở Nam Hà A hay không, tôi trả lời rằng có nhớ. Thấy tôi chưa quên chuyện này, Bích bèn nói một hơi,

– Ông có nhớ cái đêm Thứ Bảy trời mưa, chiếc máy thu thanh cứ kêu “cà rẹc! cà rẹc!” khó nghe, tôi phải mở hết volume. Không ngờ âm thanh phát ra lớn quá làm cho thằng Tịnh chú ý, nó kiễng chân lên dòm chỗ tôi với ông nằm. Tôi sợ quá, báo cho ông biết. Vì thế sáng hôm sau ông đã chuyển cái radio qua Buồng 15. Nếu mình giữ nó thêm một ngày nữa thì ông và tôi dính cựa rồi!

Ghê quá! Ðến cái thùng chứa vôi bột trong cầu tiêu mà ông thường giấu chiếc radio cũng bị tụi nó lật úp để kiểm tra. Ghê quá!

Bạn Trần Tiến Bích nói đúng đó! Vì theo chu kỳ dự trù thì Buồng 16 sẽ giữ cái radio cho hết ngày Chủ Nhật, tới chiều Thứ Hai thì Tạ Văn Quang sẽ mang nó qua Buồng 15. Nhưng ngay lúc sáng tinh mơ Chủ Nhật, tôi đã mang nó sang Buồng 15 giao cho bạn Trần Tấn Hòa.

Tôi nghĩ rằng nếu tên Tịnh mà báo cáo cho cán bộ biết cái radio đang ở Buồng 16 thì chỉ có tôi và Trần Tiến Bích bị khám xét, không ngờ sáng Thứ Hai toàn trại bị thanh tra.

Nhắc tới Lê Văn Tịnh, tôi bèn hỏi Bích,

– Bích có biết giờ đây Lê Văn Tịnh còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì Tịnh đang ở đâu?

Bích cười,

– Muốn tìm cố nhân thì ông cứ lên Face Book mà nhắn tin.

Tôi biểu đồng tình,

– Ừ há! Ðể mình vào Face Book tìm xem có gặp được cố nhân không?

Bỗng dưng, danh từ “cố nhân” đã khiến Bích và tôi khao khát được nghe lại tiếng đàn của Lê Văn Chánh.

Vào những đêm mưa, Chánh thường ôm cây guitar hát đi, hát lại bài “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy.

“Ðêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai

Duyên kiếp trong cuộc đời

Ðem xuống nơi tuyền đài

Ðể thành ngọc đá mong chờ ai…”

Lạ một điều là những lúc thả hồn theo từng nốt nhạc thì Lê Văn Chánh chỉ lim dim đôi mắt mà không khóc.

Nhưng giữa đêm khuya, tiếng đàn của nó nghe thảm thiết vô cùng.

Tiếng đàn của nó có lẽ còn buồn hơn là tiếng mưa rơi trên mái nhà.

Tiếng đàn đó đã làm cho hai hàng lệ nóng tuôn trào trên những đôi má đã khô cằn của những người tù già như Dương Khắc Ðệ, Nguyễn Hữu Huyến, Nguyễn Khắc Tĩnh.

Thế rồi tôi liên tưởng tới chuyện thăm nuôi, tới cái chết vì đạn lạc của cháu bé từ Nam ra Bắc thăm bố đang bị tù, và nhớ chuyện “Anh chui qua rào…” của người phi công què ở Nam-Hà A, tôi thắc mắc,

– Bích có tin gì về anh bạn Thần Tượng cụt chân ở Trại 9 không?

Bích cười hô hố,

– Nó đi H.O rồi! Ðang ở Texas! Giờ đây nó có chân giả, đi đứng ngon lành, đẹp trai, đắt đào lắm!

Nghe Bích nói thế, tôi cũng cười hô hố,

– Vậy là hắn ta hết còn được phân công làm việc nhẹ! Nếu gặp hắn, Bích cho mình gửi lời thăm.

Hết tâm tình cùng Trần Tiến Bích, tôi chuyển sang gọi Mai Văn Tấn, Tấn đang chơi với cháu, nhưng nghe tiếng tôi thì bỏ cả cháu mà bàn chuyện Trại Mễ, chuyện Trung tá Nguyễn Văn An, chuyện Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn, chuyện bỏ đói, chuyện kiên giam…

Ðiện thoại của Mai Văn Tấn hết điện trì, tôi bèn bấm số Texas tìm Lê Thái Bình.

Thầy Bình đang làm công quả trong một ngôi chùa Việt-Nam ở Arlington.

Vậy là đôi bạn cố tri tranh nhau phát ngôn, nào là chuyện tôi và Bình đi hái trộm bắp của cán bộ cai tù để cứu đói cho bạn đồng cảnh ở Cẩm-Nhân, chuyện sau ngày ra tù hai đứa tôi chèo ghe vào mật khu Cờ Ðỏ, nghe thằng Việt-Cộng già, đảng viên Cộng-Sản thâm niên, chửi cha Cộng-Sản vì bị ngược đãi… vân vân.

Rồi tim tôi bỗng chùng xuống khi nghe thầy Bình nhắc tên những đồng ngũ vừa ra đi trong thời gian gần đây như Lê Minh Ðảo, Lê Văn Chánh, Trần Công Hạnh, Chu Trí Lệ, Tạ Văn Quang…

Thế hệ của chúng tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong khói lửa.

Chúng tôi đã đem hết khả năng và cả xương máu của mình để bảo vệ quê hương. Ðất nước mất, chúng tôi là những người chịu trách nhiệm.

Chúng tôi đã trải qua những tháng ngày dài sống trong cảnh đọa đày.

Bởi vậy, những kỷ niệm đau buồn sẽ mãi mãi đeo đẳng trong đầu, không thể nào quên.

Cho dù nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng dư âm của cuộc chiến Việt-Nam trong thế kỷ 20 vẫn chưa thể chấm dứt.

Người Việt Miền Nam vẫn còn âm ỉ mang trong lòng một nỗi đau.

Gần đây tôi nhận được một tin nhắn trên Face Book của một hậu duệ Việt-Nam Cộng-Hòa, nhờ các chú các bác có tin tức gì về bố của cháu thì cho cháu hay, vì sau ngày Miền Nam sụp đổ năm 1975, bố của cháu đã bị đưa ra Bắc để học tập cải tạo, tới nay, tháng 11 năm 2022 bố cháu vẫn chưa về.

Chiến tranh kết thúc đã 47 năm rồi, trại tù cũng đóng cửa lâu rồi, chắc không có ai ngờ rằng, giờ đây lâu lâu vẫn còn những chuyến tàu xuyên Việt chở theo xương cốt của cựu tù Việt-Nam Cộng-Hòa từ Bắc vào Nam… âm thầm.

Mấy chục năm qua, tôi đã có quá nhiều lần vẫy tay vĩnh biệt.

Mỗi khi bạn hữu hay người quen qua đời, tôi thường phân ưu hay chia buồn.

Nhưng có một ngày, tôi chợt nghĩ ra, đời mình đã quá buồn, quá khổ, nếu gánh thêm cái buồn, cái đau của người khác thì chỗ đâu mà chứa?

Thế là từ ấy, bạn bè hay người quen ra đi, tôi đều gửi cho thân nhân của họ lời nhắn sau đây:

“Chúc (anh, chị, ông, bà, bạn hiền, chiến hữu… vân vân) lên đường vui vẻ!”

Tôi đã nhìn đời với con mắt lạc quan hơn. Ðầu óc tôi cũng thanh thản hơn.

-oOo-

“U! U! Oa! Oa!”

Có tiếng loa vang vang, một con tàu sắp rời bến, nhường chỗ đậu cho một con tàu khác đang vào bờ…

“U! U! Oa! Oa!”

Tiếng loa nghe sao quá não lòng.

Phà cập bến, tôi không quen ai trong số những khách đang bước lên bờ.

Phà rời bờ, tôi cũng chẳng quen ai đang bước xuống phà.

Phà có hai trụ cờ, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía mũi, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía lái. Hai lá cờ bay phần phật trong gió.

Ðứng trên boong tàu có đôi người giơ tay vẫy về hướng bến từ giã.

Tôi cũng giơ tay đáp lại.

Tôi hy vọng rằng, nếu ngày nào đó tôi trở lại thăm chốn này, rồi tình cờ gặp lại người đứng trên boong tàu vẫy tay hôm nay, có lẽ người đó sẽ rất vui, và tôi cũng sẽ rất vui…

Hôm nay là một ngày cận kề lễ Thanksgiving 2022 ở Mỹ.

Trước mắt tôi là dòng nước đang trôi ra biển…

Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà qua sông Ðáy năm xưa.

Trên chuyến phà năm 1979 ấy có nhiều cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã qua sông nhưng không còn sống sót để trở về…

VML

Seattle, Thanksgiving Day 2022

Dựa lưng nỗi chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 21 Mar 2026

Chương 5

Lạc bế đứa con nhỏ trên tay, đứa lớn theo sau, người vợ đi bên cạnh mang gói thức ăn và trái cây. 
“Mình đi mua thêm ít hồng khô nữa”. 
“Ở đâu?”
Đứa bé trên tay nặng trĩu, vùng vằng đòi xuống đất. Lạc hỏi, cau mặt đặt con xuống đất: “Đấy, mày muốn đi thì cho đi!” 
Bà vợ rít giữa hai hàm răng: “Bế nó lên đi, người đông thế này làm sao nó đi nổi, chỉ mỗi việc bế con anh cũng làm như khổ cực lắm”. 
Lạc không nói, xốc lại con trên tay, anh lóng cóng móc gói thuốc với bàn tay trái. “Coi chừng hút thuốc trúng tàn vào con”. Lạc thở hơi khói chịu đựng không nói. 
“Anh biết hàng bán hồng ở đâu không?” 
“Làm sao anh biết được”.
Lạc muốn phì cười vì câu hỏi của vợ. 
“Anh chẳng biết gì cả hay sao? Anh hành quân ở đây suốt năm không biết chợ bán hàng gì, ở đâu?!!” 
“Không biết nên làm sao bảo cho em”.
Lạc tính nhẩm, từ mùng Tám Tết năm trước đến hôm nay hai mươi chín ta, biết bao nhiêu ngày? Nhiều quá, một năm rồi đấy, một năm hành quân từ Gio Linh qua Cùa, Khe Sanh, dọc theo con đường số 1 về Mỹ Chánh, Phong Điền, Phú Thứ… Quê ngoài Bắc cũng không hiểu rõ bằng cái vùng đất cát của hai miền Thừa Thiên, Quảng Trị này, vùng núi Đông thông băng qua Cổ Bi, Hiền Sĩ, trực thăng vận vào đến lần thứ tư, khoảng hè có về Sài Gòn được mười bốn ngày rồi lại mò ra đây… Uống nước sông Bồ, sông Thiệu Hoá, sông Hương đến độ mòn lưỡi, đôi giày botte de saut hôm Tết kia mới toanh nay đã vẹt đế thấy được miếng sắt lót ở trong, một năm biết bao nhiêu lần ăn thứ bún đỏ chạch cay xé cổ. Lạc quen với đất này bằng cách biết rõ từng nhà chứa điếm, ổ của con mụ mặt mụn ở cửa Cập nhà trước có bàn thờ, tượng Phật, tượng Quan Công, bát tiên, ông táo chen lẫn nhau, hàng rào chè Tàu uốn khúc thành hình con công con phượng, kín cổng cao tường, nếu không có người dẫn đến chẳng làm sao biết được đây là chỗ chơi bời. Lạc chỉ biết nơi chốn hạ tiện, những điều vô bổ, những người truỵ lạc thảm thương, trong bóng tối, nơi điêu tàn… Lạc di chuyển qua những ngày hè nắng gắt khô khan, qua những ngày mưa dầm ủ dột triền miên. Mưa thối đất thối dai, mưa thảm sầu thê thiết, mưa không dứt hạt, không thấy cảnh, không thấy người. 
Lạc qua những núi cao lẩn vào sương mù, những dòng sôngg phơi đáy, nghe những tiếng nói lạ lùng đầy danh từ đặc dị. Lạc mỉm cười… 
“Anh cười cái gì thế?” 
“Không. Đúng là anh chẳng biết cái gì cần thiết cả, anh chỉ biết, những chuyện vô ích thôi”. 
“Vớ vẩn!”
Người vợ nguýt Lạc một cái. 
Đúng là vớ vẩn, Lạc thấy vợ nói có lý. Lạc chỉ biết nhiều điều tai hại lạ lùng rất dễ dàng lung lay trí não con người như những trái lựu đạn gài chi chít vùng Lại Hà, Đại Lược, những trái mìn chống chiến xa nằm dưới mặt cát phẳng lì, mưa làm biến hết dấu vết tay người chỉ còn lại mặt phẳng mênh mông trơn láng, chấm phá vài cụm lá cây dại, rễ không đủ sâu nên thân chỉ nhoi lên khỏi mặt đất khoảng nửa thước. Đúng là vùng đất chết, hèn gì Tây gọi là “dãy phố buồn thiu”. Nhưng có nơi nào vui trên đất nước này? Sài Gòn? Cũng chỉ là nụ cười gượng gạo trên khuôn mặt thiểu não mất máu của quê hương đang giẫy giụa trong cơn hấp hối. Lạc còn biết thêm nhiều tiếng, nhiều vật, nhiều cảnh lạ… Trầm – trên khoảng cát mênh mông những nơi trũng xuống, nước đọng làm thành. Nhưng không thể gọi là hồ hay ao được, hồ hay ao có vẻ đơn sơ êm đềm, hồ hay ao có hơi người, có sức sống. Những vũng nước đọng mà người Huế gọi là Trầm có vẻ ma quái, lạnh ngắt, không bóng chim, không vết thú, nước cạn khoảng một thước nằm dài dằng dặc trên cây số, rộng trên dưới hai mươi thước, nước đọng giữa cát nên không tăm cá, chẳng có chiều sâu, không chiều rộng để nổi lên gợn sóng, thân cây rên không có đất bùn để bám… Trầm, như u uất lặng lẽ nghèo đói cơ hàn đọng từng vũng, từng vệt trên đất đai của xứ sở tội nghiệp buồn phiền. Trầm, tên gọi nghe thật buồn. Người Huế quả thật nhạy cảm để đặt tên cho nỗi buồn giấu kín. Rừng lựu đạn nằm chen trong luỹ tre, hai bắp chân nhăn nheo của mụ điếm già, vũng nước lặng lẽ giữa hai cồn cát ngột ngạt, trái ớt trong tô bún bò vàng đỏ… Mọi thứ hỗn độn trong óc Lạc, thứ óc não mệt nhoài của mười tám năm lính, vợ bốn con. Còn chỗ nào cho Lạc nhét vào đó căn hàng hồng khô để nói cùng vợ. Một năm Lạc ở Thừa Thiên chỉ đủ biết được nỗi chết cùng sự buồn rầu. 
Lạc cùng vợ và con bước ra khỏi khu chợ, băng qua đường. 
“Ấy hai ông đi đâu đó?” Lạc đặt đứa con xuống đất. Đứa con làm bận bịu ông Trung uý Vũ Văn Lạc khi gặp Minh và Thuấn. Vì gặp hai người, Lạc mới nhớ mình là một Đại đội trưởng Nhảy dù: Đứa con phải đặt xuống để người cha lấy lại vóc dáng. 
“Hai ông đi đâu? Có gì hay không, tôi đi theo với!” 
“Chị ạ! Chị và hai cháu vừa ra?”
Minh và Thuấn hình như không chú ý đến Lạc. Tụi trẻ hay chứng tỏ có khả năng lễ phép và thuần thục. Lạc thấy trống rỗng, cơn vùng lên ngắn hạn xẹp xuống, nhưng Lạc không ngã lòng, gã lính già cố gắng thêm một lần nữa: 
“À bà xã moa vừa mới ra. Hai ông đi đâu, tôi có thể đi theo?…” 
“Thôi mà ông, cả năm ở với chúng tôi rồi, có hai ngày phép bà chị ra, ông lại định đi đâu bây giờ. Vừa phải thôi, chúng tôi cũng chẳng có chuyện gì”.
 
Lạc cười hì hì. Như vậy coi như đủ, câu đi câu lại cũng vừa chấm dứt vở kịch nổi loạn, trả thù sự cáu kỉnh của vợ. Lạc quay sang nhìn vợ, trong ánh mắt mệt mỏi của người đàn bà có vẻ trách móc. Lạc vội vàng: 
“Ấy nói thế chứ đi theo các ông để bà ấy xé tôi ra làm hai à… Hì hì…” Đứa con chạy xoắn vào chân Lạc. 
“Chào các chú đi con, thằng này cũng tên Minh”. 
“Tốt gì cái tên tôi, lại đi lính Nhảy dù chứ khá được chút nào. Tiểu đoàn mình đổi chỗ rồi”. 
“Sao ông biết? Ông cũng đi phép từ chiều hôm qua với tôi cơ mà”. 

Thuấn nói: 
“Tôi vừa nói cho nó biết, mình dời ra cây số 17. Dọn từ sáng hôm nay, chiều qua lúc các ông vừa đi, tôi nhận lệnh. Tôi thì say, hai ông đi phép, quan Tư rên quá cỡ. Tôi cũng chẳng biết ông ta nói gì. Sáng nay khi xe đến cây số 17, tôi không biết đóng ở đâu, cho xe ngừng ở chỗ toà nhà Hội đồng xã, bị ông ấy phang cho mấy câu… Hi, tôi đâu có nghe trong buổi họp ông ấy đã ấn định tôi phải vào ở trong doanh trại của Trung đoàn 2 bộ binh. Say quá cỡ chẳng biết trời trăng gì nữa…” 
“Chiều hôm qua uống có bao nhiêu. Thường Đại đội phó của tôi có họp đấy chớ?” 
“Có, nó cũng lính già mà ông, còn hy vọng “đảo chánh” ông để nắm Đại đội chứ, sức mấy Đại đội phó bê bối nổi, láng cháng cho xuống lại Trung đội trưởng là ăn mày. Tối hôm qua tôi say là vì sau khi các ông đi, tôi uống thêm nữa, uống toàn rượu nếp cẩm… Hì hì, rượu nếp cẩm pha với bột dâu màu tím của Mỹ ngọt như đường phèn, tôi uống đâu khoảng ba bốn xị gì đó, có thêm cả ông thầy chùa uống nữa… Giờ này vẫn
còn choáng váng”. Thuấn lúc lắc đầu. 
“Vui há!” 
“Vui gì đâu, ngồi một mình buồn quá tôi mới mời ông ta đến. Ông ta đi tu đâu nhậu được tôi lại không được nói chuyện tếu thì nhậu có vui gì. Uống là phải nói, nói để rượu bay đi. Uống rượu bắt tôi im lặng chi bằng đổ lửa vào người. Ông thầy chùa cũng chịu chơi, uống hết một chai bia lớn. 
“Chai bia lớn có ra gì, cả két hoạ may”. 
“Thế là nhất rồi ông ơi, tôi có ý muốn làm cho ông ta say, nhưng mặt ông ấy nghiêm trang và hiền quá làm tôi không nỡ, cứ tưởng tượng ông thầy chùa say là vui rồi, tôi khoái ông Lỗ Trí Thâm nhất trong Thuỷ Hử”.
 
“Các ông thật quá, ai lại phá cả nhà sư”. Vợ Lạc khẽ nói, giọng thoáng chút trách móc. 
“Đâu có chị, ông này trẻ lắm, khoảng tuổi tôi, sư đợt sóng mới, đẹp trai học giỏi… Ông ta cũng có vẻ thích tụi tôi. Chị tưởng ông sư già chứ gì… Đâu phải, ông ta với thằng Minh còn nói chuyện trai gái nữa…” 
“Xạo mày, hôm đó tao nói về chuyện Freud cũng chỉ cốt để xem ông ta có tránh né chuyện tình dục hay không…” À, anh Lạc ở đâu? 

“Tôi thuê khách sạn ở đàng kia”. Lạc chỉ tay dọc theo con phố. “Phòng số 14 lầu trên”. 
“Xong, tối giao thừa sẽ mang rượu đến uống với anh, ở đây tôi cũng chẳng còn bạn bè, họ hàng toàn người già, về nhà chỉ để đọc truyện kiếm hiệp. Thôi tụi tôi đi”. 
“Các ông đi đâu?” 
“Qua bên Gia Hội, tôi có bà chị cô cậu mở cái tiệc nhỏ hôm nay. Thằng cha anh rể đó làm tiệc, bà chị mời tụi tôi. Ông đi không được đâu, bà chị giết bây giờ, hơn nữa tiệc người Huế nhiều ớt lắm, ông ăn không được”. 
“Sao không?”
Lạc cười, đưa tay bắt tay Minh và Thuấn. “Tối giao thừa đến nhà chơi, nhớ có gì mang theo…” 
“Chào chị. Chú đi nghe hai cháu…” 
“Vâng, các anh đi. Anh Minh nhớ đến chơi với nhà tôi. Ra đây chúng tôi không quen ai”.
 
“Vâng, kính chị!” Minh đưa tay nựng cằm đứa nhỏ trên tay Lạc. “Chú đem kẹo tới cho mày nữa nghe Minh”. Thằng bé ngúc ngắc cái đầu. 
Bằng đứng dậy… Đáng lẽ buổi họp mặt hôm nay phải có trước đây một tháng, nhưng hôm đó vì lý do… kỹ thuật. Có những tiếng cười nhỏ làm ra vẻ thông cảm với chủ nhân. Bằng tiếp tục… Nhưng muộn còn hơn không, một cái cớ rất cần thiết để giới thiệu với các bạn sự… Bằng tìm một chữ chính xác và ẩn ngụ những ý nghĩa. Thôi cứ gọi là “sự đám hỏi” cho xong chuyện. Minh thêm câu nói nhát gừng. Có những tiếng người nửa đồng ý nửa gượng gạo. Vâng, để giới thiệu sự lễ hỏi của tôi và Quỳnh Như. Quỳnh Như cúi đầu e thẹn, tưởng đến giờ phút nóng hổi trên chiếc giường trải tấm nệm đỏ… Bằng ơi! Em bị rứa là một tháng, ra Tết mình đám cưới nghe không? Chắc không? Không chắc lắm nhưng tháng ni em chưa có. Chưa có đâu đã chắc gì, để anh hỏi thằng bạn học y khoa xem. Quỳnh Như ngẩng mặt lên, nàng bỗng có cảm giác như vẫn còn là một tình nhân chưa biết thú vui xác thịt ngất ngư đó. Nàng thấy thẹn, thẹn thật sự như cô gái mới lớn bị đám đông trêu ghẹo. Hôm nay Quỳnh Như mặc áo đỏ sậm ngả qua nâu, tóc nàng dài, nước da trắng, đôi mắt to và đen chỉ hơi buồn vì chiếc mũi không được thẳng, hơi cong vào ở chỗ gần hai mí mắt, nhưng không hề gì, nàng đánh phấn đậm ở hai khóe mắt gây cảm giác chiếc mũi được nâng cao. Nhưng toàn thể của nàng rất quyến rũ, đẹp, nói thật đúng và tổng quát. Và đôi môi nữa, Quỳnh Như biết mình có đôi môi rất đẹp, rất lẳng lơ, lẳng lơ giấu kín, chỉ lộ ra khi sắp sửa cho nụ hôn. Một đôi môi đủ tạo thành cảm giác cuống quít vội vã khi chạm phải. Có những tiếng vỗ tay và lời tán tụng. Quỳnh Như như được kéo đứng lên. Qua làn mi xanh nàng liếc một vòng bàn ăn, khoảng mười đến mười hai người, phần đông mặc veston, hoặc áo len, những cái áo len đan sợi lớn theo kiểu mới nặng nề phóng khoáng, những khuôn mặt tuổi trẻ xứ Huế đẹp đẽ, mơ mộng và chút suy tư. Suy tư ở những sợi tóc dài lười biếng vuốt sang bên phải rơi lãng mạn một vòng tròn trước vầng trán, vầng trán bao giờ cũng nhăn lại để vạch rõ những nét phong trần. Có hai khuôn mặt không có những sợi tóc mệt mỏi lãng mạn lười biếng đó, hai khuôn mặt không nghiêm cứng khó khăn không có vẻ suy tư đau đớn, trên đó những vết nhăn tự nhiên của đêm không ngủ, chiếc má hóp vào của những ngày thiếu ăn và trong mắt những sợi gân máu như muốn nứt nẻ, vỡ tan. Đất đỏ, lá thông, bùn non và thuốc súng hiển hiện trong đám tóc đen xám cứng ngắc bị đè bẹp nằm im lặng như dấu vết của một chiếc nón sắt vô hình thường trực. Hai khuôn mặt của Minh, em Quỳnh Như và một anh trẻ tuổi người Bắc, được giới thiệu tên Thuấn. Thuấn ngồi co rút lại dưới ảnh hưởng của cơn lạnh, nhưng thật ra vì không khí người Huế bao quanh.
“Ê, Thuấn. Mày biết tin con Diễm Mi chưa?” “Sao?” “Con đó có bồ rồi, hình như thằng đó học bên Luật, tao thấy tụi nó đưa nhau lên Ngự Bình”. “Có phải thằng cao cao hay mặc quần jean velour không?” “Không, đó là thằng Quyền làm bên toà Hành chánh, thằng ni hình như ở Sài Gòn vừa theo gia đình ra đây, nó có chiếc vespa mang số EH ở Sài Gòn”. Sài Gòn, thành phố có bar dancing, có những chốn ăn chơi để làm mốc cho sự trưởng thành hay sành sỏi, có những ca sĩ được nhìn tận mặt, hỏi chuyện như bạn thân, có những nhà văn để ngồi cùng tán gẫu mày tao như thâm giao… Gã đi xe EH chắc đã có lần gọi Lệ Thu bằng em, uống cà phê với Nguyễn Thuỵ Long. Gã có một thế giới Sài Gòn huy hoàng riêng rẽ. Những người trẻ tuổi xứ Huế không có Sài Gòn đó, họ chỉ có những tờ tuần san Ý Thức, Máu Việt … Họ chỉ có những danh từ “người anh em, máu Việt Nam, niềm đau nhược tiểu mới, vòng tay tuổi trẻ da vàng…”. Họ chỉ có ly cà phê đen thấy trong đó vòng tó cong rơi trên trán, chỉ có Rimbaurd, Quách Thoại mới trong chiến tranh nhọc nhằn. Những điều người trẻ tuổi ở Huế có không hơn được gã con trai đến từ Sài Gòn đi xe Vespa mang số EH… Nhưng giữa họ và gã trai trẻ đó có liên hệ dính dáng, một Diễm My nào đó để so sánh và tìm hiểu cùng nhau. “Tao biết mặt thằng đó rồi, nó có vẻ điếm lắm, thằng Vĩnh học Luật có đến nhà nó chơi, nó mặc quần may ở Chua… Chua, nơi may đắt nhất Sài Gòn, cỡ bộ trưởng … Thằng này con ông biện lý”. Thuấn ngồi im lặng, cũng đến từ Sài Gòn nhưng giữa Thuấn và những người trẻ tuổi chung quanh không có chung trận tuyến. “Anh nghĩ thế nào là người Cộng sản?” Thuấn đốt điếu thuốc, cười. Làm sao trả lời được. Những vận động xã hội, ý thức quốc gia cấp tiến trong nhịp biện chứng cách mạng, sự nổi dậy của thế giới thứ ba… Những điều làm sáng tỏ khả năng và giới hạn của phong trào cộng sản? Cộng sản? Thuấn thấy một tên lính mặc quần cộc, chân mang dép Bình Trị Thiên nằm tênh hênh đầu gối trên bờ ruộng, hai mái tóc ở thái dương hớt cao để lộ vết sẹo tròn ngây ngô. Cộng sản ở ruột tượng gạo bị rách tung tóe những hạt gạo đỏ nằm lẫn lộn trong máu và nước bùn. Cộng sản ở bức hình căn cước, hình một gã thanh niên răng hô áo chemise chật cứng bẻ cổ đằng sau có hàng chữ “nhớ mẹ, xa quê, nhiều công tác”. Thuấn muốn dựng gã lính Bắc Việt đó dậy, đặt trước mặt những người trẻ tuổi xứ Huế này để cho gã nghe được vận động xã hội, sự nổi dậy của thế giới không liên kết… “Đại uý nghĩ sao sự hiện diện của ngoại quốc, nói rõ hơn: người Mỹ?” Người trẻ tuổi xứ Huế cười cởi mở, cố gắng để trình bày một vấn đề quá nhiều tế nhị và phức tạp. Thuấn cười, bật nắp hộp quẹt tanh tách. Người Mỹ, những mưu toan thống trị văn hoá, chiến tranh lạnh, sự xâm nhập và huỷ hoại của lầm lẫn tư bản Wall Street, sự bế tắc lắng chìm trong chiến tranh nhân dân… Những đề tài vuông vắn, sáng sủa linh động như miếng thạch trong suốt được bày ra hàng loạt trước mắt Thuấn. Thuấn gật gật đầu lắng tai nghe. Người Mỹ, những mưu mô thâm độc của CIA, quyết định gian xảo biển lận của Toà Đại sứ. Người Mỹ với thuốc khai quang tàn hại, không khí nhiễm độc chết chóc nhân tạo được rải lên cây, trên lá, chất độc ngấm vào đất, đóng chung quanh bông lúa làm cho quắp khô héo hết sinh lực của tổ quốc. Chúng ta phải tố cáo trước dư luận thế giới âm mưu thâm độc làm kiệt lực tiềm năng dân tộc! Một người trẻ tuổi sau khi nhai xong miếng nem, nuốt xuống vội vã, khó khăn. “Ăn một miếng ngon khi quê hương đang lầm than cũng là một cái tội, nên phải nuốt thật nhanh thứ vật chất tội lỗi đó, nuốt xuống kín đáo và ép buộc, xong để đấm bàn tay vào không khí. Phải tố cáo, phải tố cáo để đánh thức lương tâm con người”. Gã trẻ tuổi nhấn mạnh từng chữ, chữ có góc nhọn và sắc sảo. “Tố cáo theo ngả nào?” Một giọng nói khúc chiết đặt lại vấn đề. Người trẻ tuổi khác đặt đôi đũa xuống, cau vầng trán, nhíu mày hỏi bạn. Những đôi mắt mở to, khắc khoải chờ đợi. Những đôi mắt thiết tha nồng nàn của tuổi trẻ quá suy tư về dân tộc. Yên lặng nhức nhối bao trùm. Bằng lên tiếng: “Phải tạo một phong trào rộng lớn ở quốc nội trong giới sinh viên học sinh với môi trường tôn giáo…” Nhà chùa, Bằng thấy Đại đức Trí Không, khối trí não từ bi như một bàn đạp vừa vặn cho dự định. “Phải, qua lầm lẫn của nhà chùa, hội thanh niên Phật tử chúng ta có được yếu tính bất bạo động để làm lý tưởng cho phong trào. Đúng, ông Bằng nói đúng và mình phải hướng dẫn phong trào qua những mục tiêu cụ thể để tiến tới mục tiêu cuối cùng: người Mỹ phải rút khỏi đất nước này. Người Mỹ, sự hiện diện của văn minh Tây phương bế tắc sa đoạ”. Gã trẻ tuổi đưa tay lên trời đau đớn, anh ta nén tiếng thở dài bi phẫn. Phải tiến đến những mục tiêu như anh nói, đúng thế. Người Mỹ và áp lực vật chất làm huỷ hoại tinh thần Đông phương, tinh thần Đông phương ở điếu thuốc Ruby vàng khói chống với điếu Lucky đang ở trên môi Thuấn, hiện diện Tây phương sa đoạ. Một chút khinh bỉ chán chường kín đáo trong ánh mắt. “Đại uý có đồng ý như vậy không? Xin lỗi cho tôi gọi anh để được thân mật, tụi mình còn trẻ mà”. Bằng ép Thuấn phải mở miệng: “Vâng, gọi thế dễ chịu hơn. Vâng, tôi đồng ý. Vâng, tôi cũng nghĩ như vậy”. Thuấn ăn thêm một miếng chả tôm trên có lớp gạch vàng rực. Thuấn đưa tay hái lấy trái ớt xanh căng cứng, bắt chước Minh cắn một miếng. “Ăn ớt sáng mắt và đỡ buồn nôn, dẹp bớt mùi tanh của thức ăn”. Minh đã nói thế. Người Mỹ, sự hiện diện sa đoạ phải được kèm với trái ớt Huế để nuốt vào. Nhưng Thuấn không ăn ớt được, Thuấn nhổ miếng ớt xanh ra, nhổ luôn thức ăn tanh tưởi, nhổ ra, há rộng cho trôi hết, cạo yết hầu, cạo lưỡi cho trôi hết. Ọc! Ọc! Thuấn nôn không ngờ được… 
Buổi sáng hôm nay ở cầu An Hoà, Thuấn ngồi ở quán ăn bên đường. Người Huế nói xôn xao xung quanh, Thuấn kêu bát bún bò, sợi bún trắng nổi dật dờ khối nước màu đỏ bốc khói trông thật ngon lành. Thuấn cúi đầu xuống bát thức ăn, nghe trong bụng cơn xôn xao vì đói. Thuấn hít mùi thơm trước khi ăn, ngày bắt đầu thật dễ chịu, không hành quân, được ăn sáng với thức ăn nóng, sắp Tết và đầu óc trống trải lạnh lùng. 
Xong bát bún. Thuấn hút điếu thuốc nhìn lơ đãng ra đường. Rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang. Thuấn đang nhìn thiên hạ chờ Tết đến. Thuấn vắng một gác trọ, chỉ có chiếc võng nylon treo giữa hai hàng cột của ngôi đình, nhìn xuống con sông, xanh ngắt, Thuấn thấy lòng xôn xao. Những đứa bé nép vào chân mẹ đợi chuyến xe đò về thành phố trông ấm áp rung động. Nắng hanh vàng và gió lạnh. Thuấn nhớ quê nhà, hàng cây me xanh ngắt rơi từng phiến lá li ti trên mặt đá của cái hồ đựng nước mưa, mặt đá sạch bóng lạnh tanh. Thuấn lăn lộn trên mê mải im lìm đó. Những ngày thơ ấu nhẹ hẫng như thứ gió đầu xuân phe phẩy những chòm lá me xanh biếc. Gần Tết, Thuấn nhớ ngày vào Nam, tàu cập bến Đà Nẵng trong mưa bấc, trại định cư trên bãi hoang cát trắng, cây xương rồng giãy giụa theo cơn gió và Thuấn gối đầu trên chiếc valy mây, nghe pháo nổ bên kia sông, nơi thành phố. Thuấn nghe giao thừa đến bằng tiếng sóng hung hãn đập mê mải vào bờ cát trong đêm khuya. Thuấn gọi chai bia, thật khó khăn để qua buổi sáng trống trải lạnh tanh này. Đốt thêm điếu thuốc nữa, nỗi xôn xao xoay cuộn ở trong lòng. Có đoàn công voa từ Huế đi Quảng Trị ngang qua mặt, đoàn xe đi từ Đà Nẵng chở lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ tăng viện mặt trận Gio Linh, Khe Sanh. Lính Mỹ mang áo giáp, đội nón sắt bao vải nguỵ trang viết những chữ “F.T.A. – Godammed Charlie, Vietnam 1967… Đa Năng holly jump…”. Lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ, bóng hình của vinh quang Okinawa, Saipan, Wake ngồi im lìm trên thành xe, mũi súng chìa sang hai bên đường để chống phục kích. Họ lo lắng vì ngoài kia là Khe Sanh và Gio Linh, các căn cứ A1, A2… nằm trên chiến tuyến Mac Namara, chiến tranh ở đấy rất nặng nề. Quá nặng, vinh quang Okinawa phải khó khăn mới xua đuổi được, nên người Mỹ không quên mang theo lá cờ, lá cờ đã được bay nhiều lần trong chiến thắng. Lá cờ lóng lánh sao, Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã dựng lên nhiều lần, họ phải giữ truyền thống dựng cờ trên chiến thắng. “Chắc Đại uý đã đi hành quân với người Mỹ nhiều hẳn biết những hành động bạo ngược của họ”. “Vâng”, Thuấn đưa điếu thuốc lên môi. “Nhưng họ khéo tuyên truyền dưới hình thức một cường quốc văn minh để giúp đỡ. Đại uý có nghĩ thế không?” “Vâng”, Thuấn ngồi trong buổi sáng, bát bún đã ăn xong, lớp nước váng mỡ còn sót lại nhờn nhợt tanh tanh. Cho tôi ly cà phê đen. Ly cà phê đem ra, Thuấn úp bàn tay lên, lòng bàn tay hun nóng, toàn thân lạnh, trí não lạnh nhưng vô cùng rực rỡ… 
Mười mấy lần ăn Tết một mình, ai đem thứ thời gian cay đắng này đến làm gì. Ngày cuối năm như ngọn lửa khắc nghiệt nóng bỏng đốt chảy quả tim lạnh tanh của người lính. Gió thổi, gió ông bà, Thuấn nghe đâu đó một lần lúc ấu thơ. Trong gió có hồn ma hiện về dương thế tìm quê nhà. Tết, ma còn có nhà để về, mình lai đi lang thang hơn ma hoang. Ngoài đường đoàn xe chưa dứt. Những người quanh gánh đứng ở bến xe làm khán giả bất đắc dĩ nhìn văn minh Hợp chủng quốc đi qua bằng con mắt buồn xám. Lũ trẻ con ngây thơ đưa bàn tay lên! Ê! Ê! Một vài lính Mỹ ngồi trên xe uể oải ngoắt tay lại, lũ trẻ hăng hái hơn, tiếng la được dâng lên hạ xuống đều đặn mỗi khi chiếc xe đến và đi qua. Tiếng la biến thành loạt hoan hô nhịp nhàng khi từ trên xe có những gói kẹo hoặc cam liệng xuống. Và những người lớn, những đàn bà đen cứng âu lo bắt đầu đặt quang gánh xuống. Họ chờ đợi với tiếng “ê” khan đặc phiền phiền. Người Việt Nam được người Mỹ ban hy vọng bằng những trái cam thừa bù lại người Việt Nam trả ơn bằng cách cho người Mỹ niềm bình an đi về cái chết. Niềm bình yên trên đường đi Khe Sanh, Gio Linh. Người Mỹ đã được hoan hô khi vào Paris, đã được hoan hô khi vào Naples, khi vào Manilles, họ đã được hoan hô bởi hàng vạn hàng triệu người đứng hai bên đường, mang cờ Mỹ và mồm hét lớn “Hello, welcome Yankee”, họ được đi dưới bong bóng bay nhiều màu, họ được nhảy chân chim trong giày ngũ sắc, uống bourbon, bia hộp dưới những con mắt hân hoan, những chiếc mồm mở ra để nói những câu “Longlive Américan friendship, welcome GL…”. Người Mỹ đã hưởng thật nhiều vinh quang, vinh quang được điều động xếp đặt để trả ơn cho kết quả của hàng ngàn người chết ở Bastonge, ở quần đảo San Hô, mũi Utah, hay một hẻm xó xỉnh nào đó trên bờ biển Normandie. Nhưng chưa bao giờ người Mỹ được hoan hô trong vinh quang thê thảm và tội nghiệp như buổi sáng nay bởi đám dân chúng nghèo nàn như một loại múa rối tàn tạ, loang lổ hai màu đen trắng quang gánh cồng kềnh đứng trong nắng phủ sương mờ. Mỗi chiếc xe đi qua, đám đàn bà trẻ con đưa tay lên ê! ê! Tiếng ê đứt khúc giãy giụa trong âm thanh mệt nhọc của động cơ xe lên dốc. Lính Mỹ cười ngây ngô, giương đôi mắt xanh nhìn đám dân vàng bệch. Trong đấu trường La Mã trước kia đã có cơn lũ hoan hô để thúc giục kẻ giác đấu, ở Tây Ban Nha cũng có tiếng reo hò thú vật, nặng cứng bạo ngược và dâm dục hối hả khuyến khích cơn say sóng giữa tay đấu bò cùng con thú,. Hai nơi ấy con người có lạc thú nhìn máu chảy. Buổi sáng gần Tết của một ngày xuân lạnh nhóm lính Mỹ và người Việt Nam bất đắc dĩ phải vào trong một đấu trừờng hiu hắt vang dội yếu ớt những tiếng ê khô rối. Thuấn ngồi nghe tiếng ê thảm não đó đặt từng tảng phiền hà dày cứng lên mạch máu. Đoàn xe tiếp tục đi qua, có chiếc xe thật lớn, loại tracteur routier kềnh càng chở các kiện hàng to lớn, sáu lính Mỹ ngồi vắt vẻo trên đống thùng giấy im lìm, nón sắt úp sát mí mắt, xe qua cầu, đám dân chúng bắt đầu đưa hai tay lên trời. “Ê! Ê!…” Lũ trẻ con xao động, chúng nhảy cỡn lên khỏi mặt đất… “Ê! Ê!…” Sáu lính Mỹ đột nhiên đứng dậy. Có tiếng hét giữa khối thân thể no đủ đó… “Down it…” Sáu cái thân cồng kềnh vội cong xuống vây xung quanh chiếc thùng giấy họ đang ngồi… “Godammed it, fuck…! Down! Ok! Ok!” Mười hai cánh tay lực lưỡng Mỹ quốc xoay chiếc thùng, lấy đà. Hey! Chiếc thùng tựa vào cạnh một thùng khác, tựa vào xe, ngúc ngắc và rơi xuống. Sau lính Mỹ đứng thẳng dậy, ngoắt tay đám đông giã từ. Đám đông ngừng bặt tiếng kêu, đàn bà, con nít sau giây phút sững sờ nhào tới. “Thằng Mỹ cho cái thùng!! Thằng Mỹ cho cái thùng!! Thằng Mỹ cho cái thùng!! Đồ ăn đó! Đồ ăn đó! Tao thấy trước”. “Không phải, tao thấy”. Đám dân Việt Nam chạy lại, họ chạy trong tiếng thở, hơi thở gấp rút… “Mau lên mạ ơi, bỏ cái gánh lại chút nữa lấy…” Đám người Việt Nam nhào lại, những cánh tay đưa trước thân hình, những ngón tay khốn khổ sẵn sàng cong lại để bấu xé, giành giựt… “Cái thùng Mỹ thật to!! Mau lên!” Đám đông nhào vào chiếc thùng như vụn sắt bị hút bởi khối nam châm. Những tiếng lao xao im dần từ trong quán Thuấn chỉ nghe những hơi thở dồn dập, những ngón tay cào xé trên lớp giấy cứng, những thân áo bị xé. Hự! Hự! Người đàn bà bị kéo ngã tung trên mặt đường, khối tóc khô cứng ngắc rối tung, nước rãi ứa ra từ hàm răng đen mốc, cặp môi nứt nẻ quết trầu. “Chết tôi!” Thằng bé bị nhấc bổng lên, thân áo trắng rách xoẹt. Nó được ném tiếp theo người đàn bà… Hừng hực, những tiếng thở như khi cơn lụt lên cao nước đập rầm rập vào mái nhà, liếp cửa. Cơn hồng thuỷ hơi thở Việt Nam lấp cứng nhận chìm khối thùng giấy vô tri Mỹ quốc. Đám đông rú lên tiếng lớn giãn dần ra, những bàn tay nhăn, những bàn tay trẻ thơ thả dần xuống từng mảnh giấy vò thùng, những mảnh giấy báo vừa bóc được … Những cái mồm Việt Nam mở lớn, những con mắt đứng tròng… “Chết! Chết! Người chết! Người chết bà con cô bác ơi!” Thuấn đưa mắt nhìn ra: Một đầu tóc đàn bà xổ tung ở miệng thùng. Cơn gió lạnh cuối năm se sắt, những mảnh giấy vụn bị thổi đi xào xạc, khối tóc người thiếu nữ bay khắc khoải trên mặt nhựa đường. 
Xác chết được lính kéo ra, xác chết trần truồng khoảng hai mươi tuổi, da ngăm đen chỉ có hai phần trắng nơi hai chiếc vú và chỗ cái l… Trắng nên thấy được vết bầm của dấu răng, những vết bầm còn ướt máu! Hai đầu vú ướt thẫm, máu hay sữa non khi khoái lạc, hay nước bọt của những tên lính trong cơn tình cuồng nộ? Nhưng thê thảm ghê tởm nhất ở bộ phận giữa hai cái háng, lớp lông cong queo gãy góc dính bết vào nhau bởi chất đàn ông, chất đàn bà và… máu… Túm lông không còn gợi nên sự sống mãnh liệt nhưng là gươm đao địa ngục, vạc dầu khô đặc lởm chởm xương người cuồng sát, ngắc ngoải bết bát mắc kẹt vào nhau… Cửa mình, những cái mép thâm tím trầy trụa bị kéo rút ra ngoài phơi những sợi gân máu đen thâm dưới thứ nắng vàng lạnh ngọt cuối năm. Chết vì bị làm tình quá độ! Viên Bác sĩ Tiểu đoàn gật gù. Thuấn cong người: Thức ăn và toàn thể chất lỏng trong dạ dày vọt ra khỏi mồm. “Đại uý nghĩ sao về sự hiện diện của người Mỹ?” “Down it!” Sáu lính Mỹ như đè trên vai trên cổ, Thuấn khum người xuống… Ọc!! 
“Gì đấy ông?” Minh quay lại hỏi. 
“Không”. Thuấn gượng cười đưa điếu thuốc lên miệng. Khẽ liếc về bên trái, một đôi mắt đen đang mở lớn nhìn. 
“Bây giờ mấy giờ rồi?” Thuấn quay sang hỏi Minh. 
“4 giờ, còn sớm, ông về sao?” 
“Không về thì làm gì. Ông về nhà cô Quỳnh Như có công việc, tôi làm gì nữa ở đây”. Thuấn bỏ bớt ga, xe chạy chậm trong lòng cổng thành mát rười rượi. 
“Cổng này là cổng gì?” 
“Cổng Thượng Tứ đấy ạ!”
Quỳnh Như đáp nhỏ nhẹ. Tiếng “đấy ạ” phát âm theo giọng Huế nghe hay hay. Các ông người Bắc thường khéo nói, sao anh Thuấn nói ít quá? 
“Tôi nghe mấy người kia nói đủ rồi, hơn nữa tôi chỉ biết nói chuyện tiếu lâm”. 
“Như trông anh có vẻ buồn chuyện gì?” 
“Con gái thường quá nhạy cảm nên nhìn quá đáng sự kiện. Tôi khi nào cũng thế”. 
“Ông ấy không buồn gì đâu, hôm nào chị nghe quan ba kể chuyện “Thầy bói đi tắm piscine” thì biết”.
 
“Chuyện gì vậy?” Như tròn mắt hỏi Minh. Minh cười hất hàm phía Thuấn. “Chị hỏi ông Thuấn, sao hỏi em”. 
“Chuyện gì vậy, anh Thuấn kể đi”. 
“Đâu được, chuyện vớ vẩn ở bàn rượu. Đi vào lối nào đây Minh?” 
“Quẹo qua trái, mình vào Đại nội chơi, về nhà làm gì”. 
Quỳnh Như mau mắn gật đầu: Ừ, vào Đại nội đi cho anh Thuấn biết nơi vua ở. 
Thuấn lái xe đi chậm chậm giữa hai hàng cây xanh, chỉ vào hàng sấu. Đây có cây sấu trái ăn ngon lắm, từ lúc di cư vào đến giờ tôi mới thấy lại. 
“Thế thì ông ở đây hái sấu mà ăn, tôi tạt qua nhà một chút”. 
“Làm gì kỳ vậy, nói chơi thôi, hết thời leo cây rồi…” 
“Nhưng ông và bà chị tôi ở lại đây để tôi mượn xe về qua nhà”. 
“Ừ thì ông đi…” 
Thuấn nhìn lên Quỳnh Như khó khăn. “Cô Như đừng hiểu lầm, tôi hay lúng túng khi đứng một mình với người mới quen dù là đàn ông, tôi không quen cung cách này”. 
“Dạ”. Như khẽ liếc về người đàn ông bên cạnh, nơi anh ta có điều gì lạ, vẻ bứt rứt khó khăn cố che giấu dưới nét mặt bình thản. Lòng người con gái bỗng xao xuyến khi nhìn Thuấn ngồi khom mình trên bờ hồ nhìn xuống mặt nước xanh. Hết mùa hè, sen tàn chơ vơ vài cọng khô héo. 
“Ở đây tịch mịch và buồn quá, chỉ hợp cho những người yêu nhau”. Thuấn nói nhỏ nhưng Quỳnh Như đã lắng nghe. Nỗi xao xuyến bùng lên. 
“Anh nói đúng”. 
Im lặng, khó khăn nằm giữa hai người. Thuấn đứng dậy bước đi dọc theo sân chầu, những tảng đá vuông vức mát lạnh im lìm, nét điêu khắc tuy không tinh xảo nhưng thể hiện một lớp quan phong kiến trong thời đại điêu tàn. Thằng cha tạc tượng biết thế nào cũng hết vua nên tượng nào cũng có vẻ buồn. Thuấn thú vị vì khám phá của mình, đi trở lại nơi Quỳnh Như ngồi. Mặt trời rọi bóng Thuấn đổ dài trên sân đá lạnh. Quỳnh Như nhìn Thuấn không e dè. Lễ hỏi, Bằng và toàn thể sinh hoạt của nàng sau hai mươi năm tự nhiên như vỡ nát. Mối tình của ta bi thảm.. Bằng và Quỳnh Như đã nói với nhau như vậy sau mỗi cơn ân ái, khi áo quần đã được mặc lại, ngồi nghiêm trang nhìn chiếc ảnh ở phòng Bằng. Nàng thấy buồn cười. Bi đát? Hình như nàng thèm muốn vị lạ lùng quyến rũ đó, Quỳnh Như nhìn người lính đang đi về phía mình đầu tóc hớt ngắn, vẻ mặt khắc khổ, có được nụ cười trẻ thơ nhưng vội vã che giấu. Tội nghiệp. Quỳnh Như thấy mình dò dẫm được một lối đi giữa khu rừng chằng chịt bủa lưới khó khăn. Thuấn ngồi hai chân buông thòng xuống bờ hồ: 
“Cô Như biết sao mấy cái tượng có vẻ buồn không? Thằng cha đẽo tượng gì cũng tiên đoán hết còn vua nên tượng anh quan nào cũng như người đi đưa đám, cô Như thấy vẻ mặt của các bức tượng Tây phương đấy, mặt nào trông cũng hiên ngang đáng tiền cả, không hiểu muốn tạc tượng quan võ bây giờ người ta phải lấy khuôn mặt như thế nào?”
“Nếu tôi làm người dựng tượng, tôi tạc anh!” 
“Tôi?”
Thuấn nhìn xuống mặt nước. “Không được, tôi mặt ngựa tướng hầu chỉ để làm tài tử đóng vai độc, không làm tượng đẹp được”. Thuấn lúc lắc đầu, cười tiếng lớn khoan khoái. Bình thản được lặp lại tự nhiên… 
“Anh làm Như xúc động”. Cách xưng hô thay đổi mau chóng. Thuấn ngừng cười nhìn Như. Cô gái Huế bình thường ước lệ đã mất, Quỳnh Như nhìn lại Thuấn không ngượng nghịu. 
“Tôi có trực giác rất nhạy, biết người nào thương hay ghét mình trong lần gặp đầu tiên. Chắc lần này cũng không nhầm”. Quỳnh Như gật đầu. Thuấn lần tay tìm bao thuốc trong túi, ngã người trên mặt cỏ, nhìn lên trời, trời trong xanh không mây sáng rực, liếc về phía Quỳnh Như đôi mắt đen vẫn nhìn chàng đăm đăm. Thuấn quay người một vòng, úp mặt vào bàn tay Quỳnh Như đặt trên cỏ. Da tay người thiếu nữ ấm áp mịn màng chạm vào lớp da chai đá nám đen của Thuấn. Bao nhiêu năm rồi, Thuấn không có xúc cảm với nồng độ thế này, tất cả khối tình cảm được giấu kín dưới vẻ mặt lầm lì khinh mạn, những tiếng cười ồn ào nặc hơi rượu. Nhưng sau tất cả ồn ào thô bạo đó, Thuấn thấy rõ mình, người với linh hồn đơn sơ nhạy cảm nhất, loại người tối mờ sương một mình chèo chống con đò cô đơn trong bóng trăng hiu hắt để biết có một khối tình hoá đá trong lòng. Đã một lần như thế và kiệt lực khi tình tan. Kiệt lực, Thuấn sợ hãi trăn trối nghiệt ngã của quả tim sau cuộc tình tan vỡ. Từ đó đến nay là năm năm, năm năm khối tình nép kín vào một góc linh hồn lâu lâu gây thành cơn đau nhói nhức buốt làm liệt hẳn người. Thuấn sợ phút giây đó. Không những sợ, Thuấn cạn vốn tình sau khi đạt đến đỉnh chót của tình yêu. Phím đàn đã chùng dây đồng rung vào độ cao nhất, lòng trống như khẩu súng đã bắn hết đạn. Đi tìm một tình yêu khác, Thuấn không làm được khi lòng còn nhức nhối với vết thương đầu đời. Sáu năm trước, thời gian sau khi ra trường, Thuấn vừa xong một khoá huấn luyện Biệt động, mãn khoá ngày mồng mười Tết, Thuấn gầy gò đen đúa như một tuổi trẻ tàn tạ. Thuấn hai mươi mốt tuổi, má hóp, tóc cạo trọc của ngày nhập học nay mọc lởm chởm khô cứng xấu xí. Trên chuyến xe về Sài Gòn bắt đầu bốn ngày phép, Thuấn gặp Bích Trân. Vẻ mặt lặng lẽ cùng những nét gian nan trên mặt người lính làm người thiếu nữ xúc động. Chú ý quay hộ cái kính gió lên. Thuấn khẽ liếc. Một khuôn mặt xinh đẹp hiền hậu với đôi mắt màu nâu thật lớn long lanh ánh sáng niềm nở, xuống xe ở một góc đường Sài Gòn, Thuấn xoay chuyển khó khăn bên cạnh người thiếu nữ, thế giới lính tráng vây bọc chung quanh đã lâu làm Thuấn lạ lùng bối rối với người con gái. Khuôn mặt xinh tươi có những ý nghĩ gì? Thuấn làm sao biết được. “Vừa rồi trên xe, sao cô gọi tôi là chú, tôi mới hai mươi mốt tuổi”. Môi người thiếu nữ khẽ cười. “Tại vì em thấy anh già quá, như trên dưới ba mươi”. Tiếng em, anh, bất chợt làm Thuấn xôn xao. “Tại vì anh cực quá”. Thuấn không hối hận vì đã thú nhận kể lể. Người thiếu nữ gây cho chàng cảm giác quen thuộc. “Em đi xuống tỉnh B làm gì?” Chữ em nói không khó khăn, chữ thần diệu lần đầu tiên Thuấn nói được. Trong âm thanh ngắn ngủi nhẹ nhàng kia, Thuấn thấy vẻ linh thiêng của một vật sở hữu ngàn đời không biến đổi. “Dạ, để gặp người fiancé, em không muốn lấy người đó”. Thuấn nhìn vào mặt người thiếu nữ, Bích Trân nhìn lại. Năm phút đầu tiên gặp nhau quá ít đối với lượng thời gian từ vô thuỷ nhưng quá đủ qua những câu nói vô nghĩa, những ngón tay bối rối, tia nhìn ngượng ngập. Bỗng chốc họ như khám phá được lối đi trong rừng, họ gõ được cánh cửa trong đêm, gõ tuyệt vọng, nhưng cánh cửa đã mở và thấy được ánh sáng giữa bóng tối. “Anh có bốn ngày phép không biết làm gì, định đi Đà Lạt, em đi cùng, ngày mai anh đến đón?” Bích Trân bước lên xích lô. “Bảy giờ sáng mai em đợi anh ở ngã tư X”. Thuấn gật đầu, di di ngón chân trên mặt đất. Có một điều gì nghiêm trọng vừa xảy ra… Những ngày Đà Lạt trôi êm như lớp sương kỳ ảo trên mặt hồ. Nửa đêm Thuấn thức giấc, chống tay ngồi dậy nhìn sang giường đối diện, Bích Trân ngủ co quắp, mái tóc mềm xoã trên gối, và vầng trán, thứ trán cao rộng thông minh nhăn lại đau đớn. Thuấn muốn ứa nước mắt. Sao khuôn mặt trẻ thơ hồn hậu này có vầng trán khắc khoải đến thế. Thuấn nhẹ chân bước xuống giường, lần từng bước đến quỳ gối bên nàng, đưa năm ngón tay đen bẩn đầy dấu những vạch gai sừng trâu, những ngón tay gian lao đưa dần tới đặt trên khối da thịt tinh anh mang bất hạnh tiềm ẩn… Bích Trân mở mắt, đôi mắt màu nâu thắm thiết tội nghiệp, Thuấn vuốt nhẹ những đường nhăn trên trán. Chỉ có tiếng thở và ngoài căn phòng cửa kín, gió thổi vút đi như cuồng phong. Hai dòng nước mắt của người xa lạ này, nàng thấy hết lượng của một lòng thương yêu … Những giọt nước mắt rơi xuống “Đừng khóc, anh van em đừng khóc”. … Tiếng nói bối rối đứt quãng, ngón tay vẫn vuốt những vết nhăn trên trán người con gái… “Em mười tám tuổi sao trán em quá nhăn? Tội nghiệp, anh thương em…” Bích Trân khép chặt hàng mi lại, vũng nước mắt ứa đầy, màn nước nóng chan hoà trên khuôn mặt ngây thơ bị đe doạ. “Đừng khóc, anh không biết gì hết!” Thuấn thảng thốt cúi xuống, nụ hôn đầu của ba ngày chung sống với nhau. Trong ánh sáng nhạt nhoà lạnh cóng, họ nhìn lại mặt nhau, hai kẻ xa lạ được trói buộc cùng nhau bởi định mạng… Bích Trân xoay người úp mặt trên bàn tay Thuấn, bàn tay đằm thắm đầy tiếng nấc bị nén… 
Thuấn nhìn kẽ tay Quỳnh Như, những cọng cỏ sắc xanh, mặt nước hồ hiu hắt, nhìn lên, hai con mắt đen và những sợi tóc xứ Huế mượt mà. Thuấn bỗng thấy trống trải trong lòng. Ngồi dậy. 
“Như vừa có lễ hỏi, sao có phản ứng này?” 
“Như không biết. Mới gặp anh lần đầu. Như đã thấy có những biến đổi kỳ dị!” 
Thuấn không nói, thở khói xuống mặt hồ. Cảnh vật tịch mịch, lá bàng rơi xào xạc, nắng chiều vàng rực trên sắc cỏ xanh… Thuấn hít thêm hơi thuốc, muốn nuốt hết lớp khói trắng xám vào hồn. Linh hồn trống vắng như mặt phi đạo sau khi phi cơ cất cánh, để lại trong không gian ảo giác ám động… 
“Anh nghĩ gì? Có nghĩ xấu về Như?” 
“Không, không phải thế”.
Thuấn vội vã quay về phía Như, đôi chân khép lại đặt ngược chiều sát vào chân người thiếu nữ. Không phải thế. Thuấn nắm hai bàn tay trắng mát vào giữa lòng tay mình, nhìn xuống hai màu da tương phản, lạ lùng ngăn cách. Có tiếng động từ xa, Minh bóp còi, ý hẳn đã tiên đoán được “tai nạn” giữa Thuấn và Quỳnh Như. 
Xuống xe, Minh cười vang: “Xong rồi, chị đi về, bác đang trông. Ông Thuấn cũng nên về nữa, chiều lắm rồi, Việt Cộng xơi ông thì lãng xẹt”. Khi Minh trở đầu ra, Quỳnh Như nói nhỏ: “Còn một vài giờ hết năm rồi, giờ khắc cuối thiêng liêng như giờ hấp hối. Như có thể nói không ngần ngại, Như yêu anh”. Thuấn hít hơi thở dài như đang vác một sức nặng kinh khiếp.

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Xin một lúc mặc niệm

Xin một lúc mặc niệm

Cho triệu người đã chết

Chết trong lòng cuộc chiến

Xin một phút bồi hồi

Xin một phút bồi hồi

Cho những người tinh khôn

Cho những đứa dại khờ!

Xin cúi đầu thật thấp!

Xin âm thầm được khóc

Những oan hồn bè bạn

Những oan hồn kẻ thù

Cùng đi thăm mộ tối

Từng làn hương mờ khói

Xin cho phủ cờ

Rối nguyện khấn chung một lời:

https://youtu.be/Db729g4_KTI?si=KC06I5UCHytTM8Ms  by Elvis Phương

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Giặc từ Kampuchea tràn qua biên giới

Mẹ dời Lộc Ninh rừng cao su ngụt khói

Máu đỏ thêm màu đất đỏ quê hương.

Trời Bình Long sôi tiếng thét căm hờn

Tiếng thét âm u … bùng bùng đêm hội pháo,

Thành phố dọc ngang kẽm gai địa đạo

Thành phố hoang tàn quằn quại thương đou

Thành phố chuyển mình sừng sững vươn cao.

.

Con nghiến răng nhìn xác nóng đồng bào

Trừng mắt đỏ: chiến xa thù bốc lửa,

Răng nghiến bầm môi, hờn căm nghẹn thở

Máu cuộn sôi chìm tiếng giặc xung phong.

Con ở lại đây với bè bạn anh hùng

Đem tuời trẻ dựng trường thành bất khuất,

Quyết rửa thù hai-mươi năm u uất

Bằng máu kiêu hùng của chính mẹ ban

Bằng máu ông cha hào kiệt, hiên ngang!

Vải Bao Cát

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Toàn mơ màng, suy nghĩ. Đã nhiều lần anh chàng tự nhủ, ừ, tại sao lại không, tại sao lại không nghĩ nhỉ. Không có gì quý hơn độc lập tự do, thì tại sao lại không tận hưởng cái quyền độc lập và tự do không giới hạn này, nghĩ. Nghĩ thế, Toàn cứ một mình tiếp tục ung dung suy nghĩ, đố đứa nào báo cáo, chúng mày có giỏi thì kiểm thảo xem. Nghĩ, miên man hết chuyện này sang chuyện khác. Chuyện giày cao gót, chuyện giày saut, chuyện dép râu, rồi thì chuyện củ sắn củ khoai… Kể cả chuyện một mai anh trở về dang dở đời em…

Ấy thế mà, cái phần gia tài duy nhất ấy rồi cũng cạn dần theo năm tháng. Toàn bây giờ như phiến đá, như cây rừng. Thôi ngủ yên đi con, ngủ cho qua cơn mộng dữ này. Đừng vui, đừng buồn, đừng hy vọng thì lấy gì mà tuyệt vọng.

“Toàn, mày tiếc bữa ăn sáng phải không?”            

Lại cái thằng Phương lý tài, Toàn dấm dẳn:

“Tiếc cái con củ cải tao ấy, càng đỡ phải nhịn đi cầu.”

“Không tiếc thì tại sao lại cứ thừ người ra như vậy?”

“Thừ với thiếc cái mẹ gì. Có bốn cái khoái trên đời…”

“Áp-phe thì phải vậy chứ. Muốn được cái nọ thì phải bỏ cái kia. Bỏ cái khoái thứ nhất đổi lấy cái thứ ba, lời thêm được cái thứ tư, cái đỡ phải nhịn… còn than gì nữa?”

“Cái khoản thứ ba ấy à, cái khoản này, mẹ, ’nhìn’ còn không có, có chi ‘chi’. Tao với cái khoản ấy đã ly tán từ cơn gió bụi này rồi.”

“’Ly tán’? Sắp ‘tha hương ngộ cố tri’ chứ.”

“Ừ thì ‘ngộ cố tri’.”

Không muốn nói chuyện thêm với Phương, Toàn quay đi. Nhưng cái vụ “ngộ cố tri” cứ lẩn quẩn trong đầu.

Đã bao năm rồi không thấy nó,

Mà ta vẫn sống, có lạ không?

Toàn lắc đầu, vậy mà cũng đòi làm thơ, lạ mẹ gì, thi sĩ mà không có óc tưởng tượng, hoặc kiếm được gì gợi hứng cho sự tưởng tượng, anh mới than thân như vậy. Chứ còn như ta đây:

Ta “sờ râu” ta cho đỡ nhớ

Không thanh tâm tuyền,

Không Thanh Tâm Tuyền!

Toàn bật cười, vừa ngâm nga một cách thú vị, vừa đưa tay xoa xoa, sờ sờ cái cằm lởm chởm râu. Bộ râu chẳng phải vật “tư hữu” của Toàn là gì. Vậy mà, có mỗi bộ râu để “sờ”, anh chàng cũng phải để một cách lén lút. Mà râu thì ở ngay trên mặt, ở ngay trên cằm chứ có kín đáo gì cho cam, để lén thế quái nào được, làm sao mà để “chui” cho được, hơi lởm chởm thế này cũng đã là một kỳ công rồi. Thành thử ra…

Ta sờ râu ta cho đỡ nhớ…

Râu thì cũng lại đành là, có đủ đâu để mà sờ, nhưng chút nữa đây, một chút nữa thôi, cái “cố tri”, cái mà Toàn phải sờ râu “cho đỡ nhớ” sẽ hiện ra, ngay trước mặt, bằng “xương”, bằng thịt.

Mắt Toàn sáng lên khi thấy toán tải thương thấp thoáng ngoài cổng trạm xá. Ta đợi em từ ba mươi năm. Cuối cùng thì Toàn cũng sẽ được nhìn, có thể còn được cả chạm tay vào cái “em”, cái mà lâu nay anh chàng chỉ được nhìn ngắm, chiêm nghiệm qua trí nhớ, mà mấy năm nay anh chàng chỉ được sờ, được mân mó qua chính cái… cằm của mình. “Cái ấy” đang đến gần, đang tình cờ đến gần và lọt thỏm vào tầm tay Toàn.

Toàn đã phải năn nỉ, ỉ ôi, đã phải nộp nguyên phần ăn sáng ngày hôm sau cho cái thằng Phương nhất định giành “công tác” cầm đèn với mình. Đói thì đã đói rồi, nhịn thêm một bữa ăn sáng cũng vẫn là đói, chứ có thằng Tây nào chết đâu. Nhịn phần ăn sáng để đổi lấy việc cầm đèn.

Cầm đèn!

Ừ, cầm đèn.

Chỉ cần nghĩ đến cảnh một chút nữa đây, tay trái cầm đèn soi thật rõ để tay phải lần cởi cái cúc áo, nhẹ nhàng cởi cái dải rút… Trời ơi, Phương ơi, dù có phải nộp mười phần ăn sáng cho mày tao cũng ừ, chứ đừng nói là có mỗi một phần. Thiên hạ cứ hay nói “ăn cái dải gì” một cách ngon lành, mà chắc gì đã hiểu được cái giá trị “kinh tế vĩ đại” này. Thế hóa ra cái “dải rút”, trong một vài trường hợp cũng “ăn” được đấy chứ, Phương nhỉ.

Toán tải thương dùng võng cáng vào phòng mổ một người con gái bị trúng mảnh đạn M-79 khi cô nàng đang cuốc đất. Nhìn con mồi mơn mởn nằm trên võng, mắt nhắm nghiền, mặt tái xanh, Toàn mỉm cười. Qua kinh nghiệm, rõ ràng là cô nàng thiếp đi vì sợ, chứ vết thương tuy nhiều, máu ra cũng khá, nhưng, ối giào, một loại kiến cắn, cao lắm cũng chỉ ngang với gà mổ là cùng, đâu nguy hiểm đến nỗi mà phải ngất đi như thế kia.

Bác sĩ Thông, buông dao đang băm dây lang nấu cháo heo xuống, rửa vội tay trong thau nước, quẹt quẹt hai tay vào hai bên hông, rồi chạy thẳng vào phòng mổ. Thiên chức thầy thuốc khiến bác sĩ Thông nhà ta đành phải buông dao nuôi heo chuyển sang cầm dao cứu người.

Phòng mổ, một gian nhà tranh, vách trét đất, bên trong kê một cái bàn bằng gỗ tạp để dao kéo.

Giường mổ, một cái chõng tre, có giăng mùng để che ruồi.

Toàn mặt mũi hớn hở đứng sẵn trong mùng, tay cầm đèn quơ qua quơ lại trên thân thể cô gái lúc đó vẫn chưa tỉnh, miệng không ngớt réo Phương đang ngồi hì hục quay máy phát điện bên ngoài:

“Mạnh tay lên chút coi. Đèn mờ quá.”

“Mờ cái gì? Có câm mồm đi không?”

“Mẹ kiếp, một bữa ăn sáng, nhớ nghe con.”

Bác sĩ Thông cười cười:

“Cũng mua bán được à?”

“Mua chứ! Ba bốn năm nay mới có một thuở mà, ông ơi. Vợ con thì đã chẳng…”

“Còn thằng Phương?”

“Nó dân địa phương ông ơi, vợ nó ở ngay đây, lâu lâu vẫn ‘mang’ vào cho nó. Ít nhất thì dù lén lút, ‘xuân thu’ nó cũng còn được ‘nhị kỳ’.”

“Thôi đủ rồi cha nội, làm việc đi. Mà cởi từ từ thôi nghe. Chỗ mấy vết thương, nhẹ tay nghe cha.”

“Yên tâm đi bác sĩ. Chỗ nào cũng nhẹ tay hết. Mọi chỗ, mọi chỗ đều nhẹ tay, nhẹ tay…”

Dù hai hàm răng đang trong thời kỳ giống như miền Nam vào những ngày cuối tháng Tư, Toàn vẫn dùng răng ngậm đèn để rảnh tay cởi quần áo cô gái. Cố gắng dùng thật ít ngón tay để cởi cúc áo, mấy ngón còn lại Toàn cố tình vi phạm hiệp định, lấn đất giành… da!

Người con gái vẫn nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền.

Bác sĩ Thông nhìn Toàn, khó chịu, hơi gắt:

“Nhanh tay lên! Cái ngữ anh, chỉ cần làm y tá một buổi là tôi tống cổ ra tác chiến rồi.”

Hai hàm răng Toàn vẫn cắn lấy cái đèn:

“Thế ông mới là bác sĩ. Chứ tôi có phải là bác sĩ đâu mà ông không cho tôi động lòng… lương y như từ mẫu.”

Toàn vừa banh áo cô gái ra, vừa lẩm bẩm một mình:

“Cha mẹ ơi, gái quê, suốt ngày ngoài nắng mà sao da thịt trắng đến thế này!”

“Ông đang ‘khấn tiên sư’ gì đấy?”

“’Con khô mực’ này đâu có banh ra được, phải cởi ra chứ?”

“Làm lẹ đi cha nội!”

“Ông cầm hộ tôi cái đèn.”

Toàn vòng hai tay ra sau lưng cô gái, mũi dí sát vào một bên cổ cô nàng hít hít. Mùi khét nắng từ tóc, mùi hơi thở từ miệng, mùi da thịt giống cái từ dưới vành tai thốc thẳng vào mũi Toàn. Mê mẩn, lúc này, mùi gì từ trong thân thể cô gái toát ra mà chẳng làm anh chàng mê mẩn. Không biết vì lâu ngày không “nhớ chỗ” hay vì cố tình lính quýnh, mà anh chàng cứ như thằng hậu đậu, loay hoay mãi mới tháo được cái móc.

Ôi chao trắng quá nhìn không “da”.

Toàn liếm môi, Bộ ngực bi thương “co… ó…” rợn tình. Hai cái núm như hai “nốt ruồi son” đỏ hồng, con gái nguyên si? “Vú em chum chủm chũm cau; Cho anh bóp tí, nhỡ đau anh đền”. Trời ơi. Thế này thì có chết người ta không cơ chứ. Chết chứ, chết thật chứ chẳng chơi. Đền, nhất định là anh đền, dù đền bằng gì anh cũng vẫn cứ đền. Vẫn là cứ đền…

Những vết thương loang máu trên bụng, trên ngực làm cho nước da càng như trắng thêm. Da trắng thế này mà bì bạch thì phải biết! Anh chàng ngẩn ra, bị hai “nốt ruồi son” thôi miên mất rồi.

“Cởi nốt cái quần, rồi xê ra cho tôi làm việc.”

Tiếng bác sĩ Thông khiến Toàn chợt tỉnh. Bây giờ mới bắt đầu vào cao điểm của “chiến dịch tiến chiếm mục tiêu”.

“Cố tri” ơi, ta sắp “ngộ” nhau rồi!

Hai mắt Toàn hau háu.

Hai tay Toàn lính quýnh.

Toàn từ từ kéo quần cô gái xuống.

Hồi hộp.

Đợi chờ.

Trời ơi, bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày; Hôm nay tao mới gặp mày, “cố tri” ơi. Không còn phải tưởng tượng nữa, không còn phải sờ râu nữa. Tao sẽ nhìn mày tận mắt, tao sẽ bắt mày tận tay, tao sẽ day mày tận…

Toàn háo hức đắm chìm theo những tưởng tượng…

Bất chợt, hai mắt đang hau háu chợt dịu lại.

Lúng túng.

Hai tay đang tụt quần cô gái chợt khựng lại.

Ngập ngừng.

“Làm gì mà đứng nghệt ra vậy?”

Toàn như không nghe tiếng bác sĩ Thông, vẫn đứng trơ ra, mắt như dán vào mảnh vải che phần dưới thân thể cô gái.

Đờ đẫn.

Thẫn thờ.

Mắt Toàn như dại đi.

Trong đầu, chập chờn toàn những hình ảnh. Giao thông hào, lô cốt, hầm chữ A, hầm chữ T. Tiếng bom, tiếng mìn, tiếng lựu đạn, không giật, sơn pháo. Những đợt tấn công, phản công. Những xác người, xác ta, xác địch, xác bạn, xác dân. Bữa ăn vội vã bên bìa rừng, một viên đạn bắn sẻ, thằng đệ tử ruột ngã ngửa, bát cơm biến thành bát máu. Đôi dép râu với cặp chân xanh mét vắt ngang giao thông hào. Và, bao cát, những bao cát đẫm máu một người dân, người thiếu nữ chết banh thây trên nóc một hầm trú ẩn, thịt da dính bầy nhầy trên những bao cát, óc trắng, tóc đen hòa với máu đỏ trộn lẫn với đất từ những bao cát… Cái chết bi thảm, cái hình ảnh tang thương của người thiếu nữ xuân thì ấy đã in đậm trong tâm trí Toàn, trở thành nỗi ám ảnh triền miên. Và, bao cát, phương tiện thô sơ tận cùng, có mặt khắp mọi ngõ ngách của chiến tranh, bảo vệ người sống, chôn vùi người chết, đẫm máu người banh thây, mà lại còn có mặt như thế này sao? Phải thôi chứ, phải hết rồi chứ. Bao cát, sao lại bao cát, chiến tranh đã hết rồi mà, đã hết lâu rồi mà.

Chém giết đâu còn nữa mà trong đầu Toàn chập chờn toàn những hình ảnh cố quên. Đạn bom đâu còn nữa, mà trong tai Toàn vang dội những âm thanh đã cũ. Chỉ vì miếng vải thô nhám này sao?

Toàn dụi mắt, quẹt mồ hôi trán, cố trấn tĩnh nhìn lại thêm một lần nữa miếng vải duy nhất còn lại trên thân thể cô gái. Và bỗng dưng, thấy tràn ngập trong lòng một niềm cảm động, xót thương. Bằng tất cả gượng nhẹ, với tất cả ân cần, Toàn cúi xuống gỡ nốt phần vải thô nhám loang những vết máu khô. Chàng lẩm bẩm nói với cô, như thầm nói với người thiếu nữ thịt da bầy nhầy dính vào những bao cát trên nóc hầm trú ẩn ngày nào:

“Khốn khổ cho cô, và cũng khốn khổ cả cho tôi, đã đành. Khốn khổ cho đất nước tang thương này. Nhưng chiến tranh đã qua rồi, chiến tranh đã qua lâu rồi mà, mọi chuyện rồi sẽ phải qua đi. Yên tâm đi cô bé, vết thương cô sẽ lành. Mọi vết thương đều sẽ phải lành. Ngủ yên đi cô. Thôi nhé, hãy ngủ yên và đừng sợ hãi. Sẽ không có ai làm gì cô đâu.

Một ngày nào đó, chúng ta sẽ không còn phải dùng bao cát để làm gì nữa. Không dùng bao cát để làm hầm trú ẩn, không bao cát để đắp giao thông hào. Và, như những phụ nữ may mắn được sống trong những nước không bị tan nát bởi chiến tranh như đất nước chúng ta, cô sẽ có lụa là mềm mại để mặc lên thân mình con gái, chứ không còn phải dùng bao cát để làm vải che thân nữa!

Chiến tranh đã hết rồi mà…”

Cao Xuân Huy

Người viết xin mạn phép mượn thơ của các thi nhạc sĩ Linh Phương, Trịnh Công Sơn, Thị Lộ, Nguyễn Bính, Tuấn Huy, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Chương, Bút Tre, Hàn Mặc Tử, Đinh Toàn, Đoàn Thị Điểm.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Vào khoảng đầu những năm 1950, nhà viết kịch Trọng Lang có viết một vở kịch mang tên “Ly Nước Lọc”. Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Đã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào! Bạn cứ thử tưởng tượng ra khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm nói xấu bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn.

Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không? Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét. Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy. Ông Ha Yusoo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Đây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ “phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn. Ban tổ chức khóa học, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Điều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân. Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽ ôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩ đến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người  trước khi chết thử đã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và đối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thư đang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

Đó chỉ mới là chuyện “chết thử!” Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờ đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo? Không, cũng như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Đó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi.

Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dù đã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế. Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Độ Đương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230.000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Đó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế. Đến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!