Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Kỳ 5

Thế rồi một hôm, xui xẻo làm sao, anh đã bị cán bộ bắt được khi vừa ôm mấy củ sắn chui trở vào trong vòng rào.

Tên Việt-Cộng hỏi,

– Anh làm cách nào mà có mớ sắn này? Khai ra mau!

Hòa thật thà thú tội,

– Trình cán bộ tôi chui ra vườn ngoài rào đào trộm.

Thằng bộ đội tỏ vẻ nghi ngờ,

– Tôi không tin! Rào tre kín thế thì anh làm cách gì mà chui qua? Ðâu? Anh chui như thế nào thì làm lại cho tôi xem!

Nghe thế, anh pilot Việt-Nam Cộng-Hòa ngây thơ vội nhanh nhẹn dẫn tên cán bộ Việt-Cộng ra vị trí mà anh đã vạch một lỗ xuyên qua hàng rào nứa.

Tiếp đó anh từ từ biểu diễn lại màn “Anh chui qua rào…” cho tên cán bộ xem.

Vào đúng lúc anh ở vị thế đầu ngoài rào, chân trong vườn, thì “Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”  ba viên đạn liên tiếp nổ giòn.

Tiếng súng chưa kịp dội trong vách núi đã có tiếng la thất thanh,

“Ối! Anh em ơi! Cứu tôi với!”

Cũng ngay sau đó là tiếng hô hoán đặc sệt giọng Nghệ -Tĩnh của thằng quản giáo,

“Trốn trại! Báo động! Có tù trốn trại!”

Lập tức, kẻng báo động “Keng! Keng! Keng!” khua vang, vệ binh chạy xuống ào ào. Trại 9 nhốn nháo, om sòm.

Ðêm hôm đó tất cả cải tạo viên trong Trại 9 đều biết tin anh cựu phi công Trần Văn Hoà vượt ngục, nhưng không may, vừa chui chưa khỏi rào đã bị cán bộ tuần tra bắt gặp rồi bắn cho gãy giò.

Trại 9 có cái bệnh xá của Liên Trại 4 nằm sát bên, nên anh Hòa đã được cứu chữa cấp kỳ, vết thương không kịp làm độc.

Y tá Việt Cộng đã cứu anh bằng cách nhanh tay cưa đứt ngoém một chân anh. Cưa sát tới đầu gối, cưa không thuốc tê, cưa không thuốc mê, và cưa bằng cưa thợ mộc!

Sau khi vết thương kéo da non, Hòa được ưu ái cho về đội đan lát làm công việc nhẹ. Tới khi chuyển trại về Nam-Hà A anh Hòa cũng được làm việc nhẹ.

Nghe Hòa kể lại chuyện chui rào, mà tôi thấy sởn da gà và dựng tóc gáy.

Tôi sởn da gà vì không thể tin rằng trên thế gian này lại có thứ người gian manh, quỷ quyệt, và khát máu như tên cán bộ Việt-Cộng kia.

Hình như cái ác, cái gian đã tiềm tàng trong huyết quản của thằng cán bộ này từ ngày nó mới sinh ra?

Thay vì chỉ phạt cùm, phạt nhốt bỏ đói anh Hòa vài ngày, nó đã nghĩ ngay ra phương cách hợp lý để lạnh lùng bắn nát một chân anh.

Tôi dựng tóc gáy vì thấy cung cách cứu thương của Việt-Cộng sao mà dã man và tàn độc quá.

Ngày còn bị giam ở Trại 3 tôi đã nghe anh cựu Ðại úy Trần Mộng Long kể lại rằng, anh ta bị đau ruột dư, được mang lên bệnh xá Liên Trại 4 chữa trị.

Anh được mổ bụng bằng con dao cạo của thợ hớt tóc, mổ không thuốc mê, mổ không thuốc tê.

Thấy thế đã sợ rồi.

Nay so với chuyện cưa xương ống chân của anh Trần Văn Hòa, cũng không thuốc tê, không thuốc mê, mà còn bị cưa bằng cưa của thợ mộc thì chuyện mổ ruột dư của anh Trần Mộng Long chỉ là chuyện tầm thường, không đáng kể.

Cuối năm 1980 Trại Nam-Hà A có một đợt phóng thích. Trong số những người được thả có thân phụ của chú Tạ Văn Quang là cựu Ðại tá Tạ Văn Kiệt.

Buồng 16 cũng có hai người được về nhân dịp này; người thứ nhất là cựu Ðại úy Trần Bá Huệ của Phủ Tổng Thống, anh Huệ được ông Dương Văn Minh bảo lãnh, người thứ nhì là cải tạo viên Lê Văn Tịnh, không biết ai đã bảo lãnh anh ta.

Cũng nhân dịp này, Buồng 16 có nhân viên đánh xe cải tiến đổ thùng mới là anh cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân Nguyễn Văn Thương.

Anh Thương đã tình nguyện thay chân anh Chánh, vì anh Chánh bị bệnh sốt rét, xơ gan phải đi nằm bệnh xá.

Ngày Lê Văn Chánh được đưa xuống bệnh xá, tôi những tưởng rằng sớm muộn gì bạn tôi sẽ qua đời. May thay anh em gom góp được gần chục vỉ thuốc trị sốt rét hiệu Fansidar cho Chánh uống, nên Chánh thoát chết. Vì thế mà từ đó, Lê Văn Chánh có biệt danh là “Chánh Phăng Si Ða”

Bệnh xá nằm ở góc cuối sân, cách Buồng 16 một bức tường cao.

Người cai quản bệnh xá là Bác sĩ Trần Văn Chơn, em ruột Bác sĩ Trần Lữ Y Tổng Trưởng Y Tế Việt-Nam Cộng-Hòa.

Phụ tá cho Bác sĩ Chơn là Bác sĩ Trương Như Quyến, em ruột của Luật sư Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của Chính Phủ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.

Trong thời gian Lê Văn Chánh đi nằm bệnh xá thì có một phái đoàn quan khách ngoại quốc tới thăm trại. Những người không có phận sự như tôi bị tập trung rồi bị dẫn vào trong trại chăn nuôi của hình sự ngồi chờ, khi nào phái đoàn đi khỏi, chúng tôi mới được về. Trại chăn nuôi nằm cách Trại A chừng một cây số về hướng núi. Xế chiều chúng tôi được dẫn về.

Tôi về tới trại thì Lê Văn Chánh đã đứng chờ trước sân.

Chánh đưa cho tôi một lon sữa bò còn hơn nửa,

– Long uống đi! Uống cho khoẻ.

Tôi hỏi,

– Của hiếm này ở đâu ra thế?

Chánh hối thúc,

– Uống đi! Uống hết đi rồi tui kể cho nghe.

Tôi há miệng hút hết nửa lon sữa đặc không pha. Chất ngọt của sữa làm cho tôi muốn cứng họng.

Thì ra hôm đó phái đoàn đã xuống quan sát tại chỗ tình trạng sức khoẻ và đời sống của các cải tạo viên đang nằm bệnh xá.

Họ trầm trồ khen ban chỉ huy trại đã đối xử với tù rất là nhân đạo khi thấy đầu giường mỗi bệnh nhân đều có một hộp bánh ngọt và một hộp sữa đặc có đường.

Trong khi phái đoàn đang nói chuyện với Bác sĩ Trương Như Quyến thì Bác sĩ Trần Văn Chơn ra dấu cho anh em bệnh nhân mở bánh ra ăn, mở sữa ra uống.

Phái đoàn thấy cảnh này thì có vẻ thích thú lắm, vài vị quan khách còn đem máy ảnh ra bấm lia lịa…

Anh Lê Văn Chánh sau khi xơi hết hộp bánh ngọt bèn làm một hơi nửa hộp sữa đặc có đường. Uống được nửa chừng thì Chánh nhớ tới tôi. Chánh để dành cho tôi nửa hộp.

Phái đoàn đi rồi, Bác sĩ Quyến mới giãy nảy lên,

– Anh Chơn! Anh cho tụi nó ăn hết đồ biểu diễn thì anh chịu trách nhiệm đó. Tui coi như không dính dáng gì tới vụ vi phạm này!

Bác sĩ Chơn đóng vai ngây thơ,

– Ủa! Không phải là mấy thứ đó trại đem xuống để bồi dưỡng cho người bịnh ư?

Bác sĩ Quyến trợn mắt,

– Bồi dưỡng cái con khỉ! Chỉ để biểu diễn thôi! Hết thăm viếng mình phải thu lại trả cho trại!

Hôm sau có lệnh của ban chỉ huy trại cho Bác sĩ Trương Như Quyến làm “Bác sĩ Trưởng” còn Bác sĩ Trần Văn Chơn tụt xuống làm nhân viên.

Cũng tự đó về sau, mỗi khi có phái đoàn tới thăm, tất cả bệnh nhân già, trẻ, què quặt, hay liệt chiếu, liệt giường đều bị điệu sang trại chăn nuôi từ sáng sớm.

Thay vào đó là những tù hình sự được nằm vào giường bệnh và được dặn dò cẩn thận rằng không được mở mấy gói bánh ngọt và sữa hộp ra ăn.

Những đồ ăn này chỉ để trang trí lòe mắt phái đoàn.

Phái đoàn đi rồi thì những thứ này phải đem trả lại cho căng tin của trại.

Ðầu năm 1981 có đợt chuyển trại quy mô đầu tiên. Một số tù được di chuyển từ Nam Hà để về Nam, tới các Trại Gia-Trung, Pleiku và Z30C, Z30D, Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Những nhân vật ở Buồng 16 có liên quan trực tiếp tới cái radio và cái quan tài của Trần Hàn là Hồ Văn Hòa, Tạ Văn Quang, Trần Tiến Bích, Vương Mộng Long, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Ninh, đều được di chuyển vào Nam.

Riêng cải tạo viên Lê Văn Chánh vì mang bệnh sốt rét nặng nên còn nằm bệnh xá.

Tới đầu năm 1982 Chánh Phăng Si Ða cũng được chuyển trại.

Sau đợt giảm tù lần này Trại Nam-Hà A bắt đầu bị đưa vào chế độ cai quản khắc nghiệt hơn xưa.

Lò sát sinh Trại Mễ…

Tôi đã bị đưa vào Nam từ đầu năm 1981, những sự việc xảy ra từ 1982 tới 1988 mà tôi ghi lại tiếp theo đây là lời tường thuật của các anh cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, cựu Ðại úy Thủy Quân Lục Chiến Mai Văn Tấn và cựu Ðại úy Ðại Ðức Lê Thái Bình.

Một hôm, ông cựu Trung tá Nguyễn Huề lang thang sang buồng khác thăm bạn bị tên Chèo Lực bắt gặp. Lời qua tiếng lại vài ba câu chưa xong thì tên Chèo Lực đã ra tay đánh ông Huề.

Sáng hôm sau, giờ tập họp đi lao động anh em Ðội 20 đã reo hò “đả đảo!” để phản đối Chèo Lực.

Ða số cải tạo viên Ðội 20 là những người còn rất trẻ, là thành phần phản động và Phục Quốc.

Ðội trưởng Ðội 20 là cựu Trung úy Pháo Binh tên là Nguyễn Văn Hồng.

Hồng nhỏ con, trắng trẻo, mắt lồi, nhưng rất dễ mến.

Hồng là một nhạc sĩ tài tử, anh đã viết được vài bản nhạc mà bạn bè rất ưa thích. Trong đó nổi bật là hai bài “Như Mưa Cam Lồ” và “Ðôi Giày Dũng Sĩ.”

Nguyễn Văn Hồng là một con chiên Công Giáo, nhưng khi thai nghén tác phẩm “Như Mưa Cam Lồ” thì anh đã tham khảo ý kiến của cựu Ðại úy Ðại Ðức Tuyên úy Phật Giáo Lê Thái Bình, do đó lời của bài hát này đã giống như lời tiên tri của sự mất mát, của sự chia ly, và của sự siêu thoát.

Trong khi đó thì lời ca của bài “Ðôi Giày Dũng Sĩ” lại mang tính chất bùng nổ, tàn phá như tiếng súng thần công, tiếng đạn đại bác.

Bài hát mở đầu với câu, “Ðôi giày dũng sĩ đạp nát quân thù!”

Lời ca này đã thể hiện con người thật của Nguyễn Văn Hồng là một sĩ quan Pháo Binh.

Vì trình độ ký âm của Nguyễn Văn Hồng không khá cho lắm, nên mỗi khi viết xong một bài ca, Hồng đều nhờ nhạc sĩ cựu Ðại tá Lê Thọ Trung chỉnh sửa.

Hôm đó Ðội 20 đã châm ngòi một cuộc nổi dậy.

Trong sân trại, tiếng la ó dậy trời lan từ đội này tới đội khác.

“Ðả đảo Chèo Lực! Ðả đảo Cộng Sản!”

Thế là không khí bỗng chốc sục sôi như sắp có bạo loạn.

Ngay lập tức, vệ binh ào xuống đuổi tất cả trại viên về buồng.

Hôm sau Ðội 20 bị áp tải sang phân trại B.

Ðại đức Lê Thái Bình thuộc quân số của Ðội 20 nên bị đem đi đã đành, nhưng “Con nhạn là đà” Mũ Xanh Mai Văn Tấn ở Ðội 27 mà cũng bị còng tay thì thật là oan.

Ngày xảy ra chuyện lộn xộn, Mai Văn Tấn không những đã tích cực to tiếng “Ðả đảo Chèo Lực!” mà còn nhởn nhơ quơ chân, múa tay trước mắt cán bộ, nên cán bộ đã túm cổ, còng tay, tống vào trong hàng ngũ Ðội 20.

Vào Trại B các anh hùng trẻ tuổi của Ðội 20 vẫn tiếp tục các hành động chống đối và phá rối.

Ở đây cũng đã có những nhân vật cứng đầu, bất khuất sẵn sàng chung vai sát cánh với Ðội 20 như cựu Trung tá hoa tiêu Trực thăng Nguyễn Văn Trọng, cựu Ðại úy Ðơn vị 101 Nguyễn Tấn Mới.

Buổi sáng ngày mà Ðội 20 chuẩn bị rời Trại B thì tên trưởng trại cho lệnh tập họp tất cả tù đứng trước sân rồi lớn tiếng hỏi,

– Các anh thấy Ðội 20 phá phách, quấy rối như thế thì đúng hay sai?

Trong hàng ngũ tù có ai đó trả lời thật lớn,

– Ðúng! Ðội 20 phá phách là đúng!

Ngay lập tức, người vừa phát ngôn câu phát biểu trên đã bị tống vào hàng ngũ Ðội 20. Người trẻ tuổi này là một cải tạo viên diện Phục Quốc và phản động. Cậu ấy mới 15 tuổi, có tên là Tài. Anh em gọi cậu bé này là Tài Con.

Rồi Ðội 20 cùng các cảm tình viên của đội này là Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Tấn Mới, Tài Con bị trói tay đưa lên xe chở ra Trại Mễ.

Trại Mễ là tên của một trại tù xây dựng trong ngôi làng có tên là làng Mễ ở Phủ Lý. Nhân chuyến chuyển trại từ Thái Nguyên về Nam Hà đầu năm 1979 tôi đã có dịp ngủ qua một đêm ở trại này. Trại có hai hệ thống nhà giam, một ở dưới hầm và một ở trên mặt đất. Mỗi hầm có sức chứa khoảng bốn chục tù nhân nằm sát nhau. Ngày qua trại này, tôi bị nhốt trong hầm nên không rõ trên mặt đất có hình dáng thế nào.

Từ năm 1982 thì Trại Mễ trở thành một chi nhánh đặc biệt của Trại Nam Hà.

Trại này là nơi tập trung hai dạng tù.

Tù cứng đầu, và tù nhân bị bệnh nặng.

Người ta đặt tên cho Trại Mễ là “Ðoạn Ðầu Ðài” hay “Lò Sát Sinh” vì ai bị đưa tới đây chắc chắn sẽ không sống sót.

Tù cứng đầu bị tra tấn và bỏ đói cho tới chết. Tù bệnh nặng thì không cần chữa trị, cứ để nằm đó chờ bao giờ tắt thở thì đem chôn.

Khẩu phần lương thực của tù nhân ở đây bị cắt giảm 50 phần trăm, nghĩa là chỉ có nửa chén bo bo mỗi bữa, nước thì nửa lon Guizgo để uống, nửa lon Guizgo để làm vệ sinh một ngày.

Tù bình thường sẽ được tắm rửa mỗi tháng một lần, còn tù loại nguy hiểm thì sáu tháng mới được tắm gội một lần.

Ðội 20 tới Mễ không lâu thì một vụ giết người đã sớm xảy ra, kết thúc một mạng sống.

Khi biết tin anh cải tạo viên cựu Thiếu úy Cảnh Sát Vương Khai Quân, trong kỳ thăm nuôi vừa qua đã được người nhà dúi cho một cái nhẫn hai chỉ, thì cán bộ Ðản cai tù đã sai tên Trí, một tù hình sự siết cổ Quân để cướp vàng cho Ðản. Chuyện giết người cướp của vỡ lở, tên Trí bị còng tay đem đi, không rõ đi đâu. Xác của Vương Khai Quân thì ra nghĩa địa.

Ở Trại Mễ bỗng có bệnh kiết lỵ.

Bệnh này lây lan rất nhanh và giết người cũng rất nhanh.

Sau cái chết của Thiếu úy Vương Khai Quân là cái chết của cựu Trung sĩ Không Quân Nguyễn Văn Ðịnh.

Trung sĩ Ðịnh chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng, nghĩa là vừa bị đi cầu ra máu, vừa bị sốt cao.

Nguyễn Văn Ðịnh là người tù cùng buồng với Ðại Ðức Lê Thái Bình. Thấy Ðịnh nằm im không thở, Bình bèn bắc loa tay la lên,

– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!

Cán bộ bước vào vạch mắt Ðịnh ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðịnh đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,

– Chết rồi! Ðem đi!

Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðịnh xuống nhà tẫn liệm.

Tuần sau, cựu Trung tá Nguyễn Văn Trọng được đưa tới giam chung buồng với Lê Thái Bình. Anh Trọng cũng đang bị bệnh.

Trọng than thở rằng anh đói bụng lắm, Bình đã bóp bụng nhường cho bạn một nửa phần ăn, nhưng Trọng vẫn đói.

Sau đó, Nguyễn Văn Trọng được chuyển sang chung phòng với Nguyễn Tấn Mới.

Rồi một buổi tối Trọng được đưa qua bệnh xá chữa bệnh.

Nhưng y tá vừa chích cho Trọng một mũi thuốc thì chỉ vài phút sau Trọng đã tắt thở.

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 20 Mar 2026

Chương 4

Chiều cuối năm phủ sương mờ, nắng hanh vàng đỏ, rét ngọt có hình khối đọng li ti trên đá, châm chích nỗi bồn chồn vô hình nghi ngút bay lên cao. Thuấn châm điếu thuốc thở ra vòng khói khó khăn, nhịp tim nặng nề váng vất. Bàn rượu im lìm thiếu vắng không khí ồn ào khi cơn men bốc lên dưới lớp áo lính. Chiều cuối năm thoi thóp như chút nắng cố váng lên sau lớp sương dày đặc. Uống nữa chứ anh em, ngồi nhìn nhau hoài như thế này sao? Thuấn nắm cổ chai rượu lên rót một chút vào chiếc ly, cợn nước đá màu vàng loãng trên lượng rượu phôi pha. Có những bàn tay hờ hững đun ly vào giữa bàn. Lạc dùng mũi giày di chiếc ly đi ngúc ngắc, hai tay vẫn gối sau gáy, người ngửa trên thành ghế… 
“Trời rét thế này làm tôi nhớ hồi nhỏ”. 
“Nhỏ của ông ra làm sao?” Thuấn hỏi sau hớp rượu, chất cay làm hai lông mày nhíu lại, tia nắng chiếu thẳng lên mắt, đôi mắt loáng nước như sắp khóc. 
“Thì cũng vậy thôi, tôi ở nhà quê, chiều cuối năm mới được dẫn đi chợ huyện mua áo mới, mẹ tôi bảo mua thế để được rẻ hơn, áo vải chúc bâu cứng ngắc, dép da trâu bó vào chân như vòng sắt, các ông ở thành phố không biết được mùi vị Tết thôn quê, nói ra các ông cũng không hiểu được”. 
“Sao không, Tết tôi về quê ngoại nên cũng biết được không khí váng vất thần bí của ngày Tết nhà quê, mỗi lần đi qua cây nêu tôi không dám nhìn thẳng, cứ tưởng như có con ma từ trên ngọn đang theo dõi”. Được đà, Thuấn ngồi thẳng dậy tiếp tục câu chuyện. 
“Quê ngoại ông ở đâu?” Lạc hỏi. 
“Quảng Yên, phải đi tàu từ Hải Phòng về, mỗi lần bước xuống tàu người tôi cứ choáng váng vì mùi ẩm mốc của gạo, tàu đi theo sông ban đêm, bềnh bồng chóng mặt, chẳng biết đường lối ra làm sao. Sáng mai lại phải một phen lội bộ qua cánh đồng nứt nẻ, cây bàng trụi lá và làng ngoại mỗi năm hình như càng nhỏ lại. Mười tuổi, tôi về lần chót. Nhớ được như thế là giỏi rồi”. 
“Tôi thì suốt đời ở nhà quê, lên đến chợ huyện là xa nhất, hôm có ông cậu ở Nam Định về tôi cứ xoay quanh để nhìn, nghĩ người thành phố khác kẻ nông dân. Chỉ có mỗi điếu thuốc lá vấn sẵn cũng đủ làm tôi kinh ngạc”. 
“Ở quê tôi, dưới Mỹ Tho, đến gần Tết thì sòng bạc mở tùm lum. Thiếu uý Nghĩa, Trung đội trưởng của Thuấn góp vào câu chuyện”. 
“Miền Nam không có không khí ray rứt của những ngày gần Tết như thế này, trời nóng bỏ mẹ”. Thuấn quay qua Nghĩa lấy điếu thuốc, câu nói được ngắt nửa chừng để châm lửa. 
“Có chứ Đại uý, buổi sáng cũng lạnh lạnh và sương mù, mỗi khi đi bắc qua Kiến Hoà, bờ bên kia không thấy…” 
“Sương thì có nhưng lạnh thì không, mát là khá lắm rồi, lạnh phải nói Đà Lạt. Nói chuyện Đà Lạt tôi nhớ lúc ở trong trường, buổi sáng mồng Một, thắng bộ đàng hoàng, tám giờ trời mù cách năm thước không thấy mặt, còn sớm xe đò chưa chạy, tôi đi bộ từ trường ra phố sáu cây số đường đồi. Các ông biết đấy, thành phố Đà Lạt vốn dậy muộn, lại buổi sáng mồng Một, ngoài đường không một ai, tôi đi như con ma chết đói. Rồi đến phố chính đứng ở bờ hồ Xuân Hương thấy tủi thân muốn nhảy xuống hồ chết luôn”. 
“Lúc ấy ông cũng ấm ớ nhỉ, nhưng ra phố làm gì sớm thế…” 
“Đâu biết, đổi gác xong lúc sáu giờ. Ngủ tiếp không được, tôi lại vừa mới lớn, trời mù như thúc giục, ngày Tết đắm đuối nhức nhối, vừa được lên năm thứ hai có phần tự do hơn, dù chẳng có gì ngoài phố để đi đến… Đó như là buồn rồi ta đi lang thang”. 
“Đại uý không kéo ông Minh đi cùng?” 
“Lúc đó ông Minh là khoá đàn em. Nghĩ lại cảnh một mình đứng trên bờ hồ buổi sáng mồng Một Tết thấy mình quả thật điên”. 

“Rồi sau đó ông làm gì?” Lạc khề khà tra hỏi. 
“Tôi lên đập cửa một khách sạn tìm con đĩ quen. Mày nhớ khách sạn Thanh… gì đó Minh, nơi gần nhà thờ Tin Lành”. 
“Thanh Tùng, chỗ đó dơ bỏ mẹ”. 
“Biết là dơ nhưng chỉ nơi đó mới mở cửa, tôi đã nói cả thành phố vắng hoe. Tông cửa bước vào thằng cha gác chưng hửng. Nó lẩm bẩm mới tám giờ ngày mồng Một đã đi chơi. Đánh tân niên mà ông nội. Tôi vừa nói vừa chạy vào phòng con đĩ, cởi áo quần chui vào nệm một lúc lâu mới hoàn hồn. Các ông biết con đĩ nó làm sao không?” 
“Không”. Bốn cái mồm cùng đáp một lúc. 
“Các ông không tưởng tượng nổi, thấy tôi chạy vào, mặt mày tái xanh vì lạnh, em ngồi dậy pha trà, lấy mứt ra đãi, mở thêm chai rượu”. 
“Xong rồi đánh tân niên?” Lạc hỏi với giọng nôn nóng. 
“Đếch phải, em ôm tôi khóc mùi mẫn”. 
“Khóc?” Mấy cái mồm cùng há một lần vì kinh ngạc. 
“Chứ sao, em tủi thân, đầu xuân không nhà, không gia đình, nằm queo một mình trong chiếc phòng lạnh cóng hoạ là thánh mới chịu nổi. Đĩ cũng là người chớ mấy ông, cái lá của em nó nhão, nhưng em cũng còn một chút người. Lại còn trái tim nữa, người khác chó cái chỗ ấy. Các ông bây giờ bắt phải sống một mình trong khoảng thời gian đó trong căn phòng trọ tối om có chịu nổi không, huống gì nó là con gái đàn bà. Mấy phút đứng trước khi đứng trên bờ hồ bốc khói tôi đã có ý muốn bay xuống cho chết luôn. Người ta tự tử không phải vì buồn chán quá đáng gì, nhưng vì không chịu nổi một khoảnh khắc nào đó thôi. Buổi sáng đó tôi thấy giữa sống và chết không có bao nhiêu khoảng cách”. 
“Kể tiếp chuyện con đĩ, đừng luận về sống chết nữa quan ba”. Minh im lặng từ lâu bây giờ mới lên tiếng. 
“A, con bé tên Thảo Ly”. 
“Con mập mập bồ ông Ái chứ gì”. 
“Ừ, sao ông biết, lúc ấy ông là khoá đàn em thấy tụi tôi là lủi như chồn, làm sao biết vụ ông Ái?” 
“Thì ông Ái chung đại đội tôi, lúc đi chơi bời về các ông kể oang oang trong phòng tắm ai chẳng nghe, ông Ái cứ xem như làm được thành tích lớn. C… Được đĩ mê cũng láo”. 
“Chứ sao mầy, với cái mác sinh viên sĩ quan, tụi mày chỉ tán tỉnh được mấy em nữ sinh vớ vẩn loại hoa pensée tím, alfa đỏ ấm ớ, làm cho một con đĩ dạn dày mê đâu phải dễ”. 
“Không phải dễ hay khó, nhưng tôi thấy kỳ cục”. 
“Kỳ cục mẹ gì, để tôi kể tiếp, em khóc một hồi với tôi xong mới tâm sự, em chẳng phải Thảo Ly, Ly Ly gì hết. Em tên là Nguyễn Thị Lý, khởi nghiệp bán chè đậu dưới Sóc Trăng, Sa Đéc, em bị thằng bồ thợ may xâu kim xong nó de, nhưng em cũng chẳng buồn gì, thế là đi giang hồ luôn. Nhưng em cũng lãng mạn ra phết, đầu tiên em lấy hiệu là Thảo Ly, nghe cũng long lanh phải không các ông. Phiêu bạt giang hồ khắp bốn vùng chiến thuật, nằm ngửa dọc hết nửa nước Việt Nam, từng hành nghề thấu Đà Nẵng, Nha Trang, sự nghiệp giang hồ cái lá của em như thế cũng nặng ký!” 
“Em xui rồi, vác đồ nghề ra Đà Nẵng làm sao sống được. Đà Nẵng là nơi địa linh nhơn kiệt, đĩ ở đó hung hãn hơn ở Sài Gòn”. Anh Trung uý mặt mụn của Đại đội chỉ huy nhận xét một câu. 
“Đúng thế, nên em mới lên Đà Lạt, em tâm sự với tôi là em yêu ông Ái thật tình nhưng là một tình yêu vô vọng. Buổi sáng hôm nay tôi gặp tôi em cảm động và thương tôi vô cùng!” 
“Xong rồi, và em đãi ông buổi điểm tâm đầu năm”. 
“Đâu có phàm tục thế ông”. Thuấn cười với Lạc. “Nói ra các ông bảo xạo, nhưng thật sự lúc đó tôi cũng cảm động lắm!” 
Cả bàn rượu cười ngả nghiêng, những cái tay đập rầm rầm trên mặt bàn gỗ tạp. Uống, cho tôi chút nữa. Uống để nghe chuyện tình của quan ba. Trời đất ơi, ông Thuấn ơi, hết còn ai nên ông yêu em Thảo Ly đã có hai năm nằm ngửa. Thuấn nốc thêm hớp rượu mặt đỏ bừng, hai tai nóng nảy run rẩy, Thuấn thấy lại căn phòng sơn màu lục tanh tanh, khung cửa sổ vàng bẩn, trời mù sương lạnh cóng bên ngoài của buổi sáng mùng Một Tết Đà Lạt. Thuấn đi đứng khó khăn, tiếng khóc nấc, khuôn mặt đầm đìa nước mắt, phấn son loang lổ đã mất đi, cô gái đi đến chiếc lavabo cúi xuống lau sạch mặt. Không còn những nét căng cứng gây gổ của một gái điếm biết mình còn xuân sắc, không còn vẻ nặng nề đẫm ướt dục tình chai đá của một gái chơi sau hai năm lăn lóc trên trăm phòng trên ngàn chiếc giường dưới sức nặng của ngàn kẻ đàn ông để hứng lấy những phút giây dục vọng nhơ nhớp ẩm ướt. Chỉ còn trước mặt Thuấn một tiếng khóc. Tiếng khóc thật của trái tim mười chín tuổi, trái tim ngây thơ với chút nhiệt tình thoi thóp rơi rớt lại sau đoạn đời gió bão, sau hai năm nằm tênh hênh phơi bày phần cơ thể u ám thâm thẫm tội lỗi trước hàng ngàn con mắt bốc men ham muốn. Thuấn mới hai mươi tuổi, mười lăm phút trước khi đứng trên bờ hồ trong sương vắng, điếu thuốc ở môi và toàn thân lạnh cóng. Thuấn đã thấy được trên những ngón tay băng giá một cảm giác gai rét nhức nhối hơn của sự chết. Thuấn đã cảm thấy hình khối của cô đơn lạc lõng. Người lạc ở rừng sâu hay sa mạc nhưng vẫn phấn đấu để sống nếu nghĩ đến một chờ đợi âu lo nào đó đang hướng đến. Ở đây Thuấn bị bao vây bởi khoảng sương đặc cứng và niềm trống vắng bao la trong trí não. Cô đơn không còn là trạng thái cảm thấy nhưng là hoàn cảnh triền miên trong đó con người lơ lửng đau đớn và tuyệt vọng. Mới mười lăm phút trước Thuấn đã sống giây phút ngất ngư tuyệt vọng đó nên giọt nước mắt trên khuôn mặt ngây ngô héo úa này làm Thuấn xúc động. Khóc đi em, khóc hộ cho anh một phần nữa, khóc như đặc ân khốn nạn cuộc đời để dành lại cho em. Thuấn bước tới xòe hai tay đỡ lấy khuôn mặt ủ dột. Tội cho em. Chút thành thật trong hơi men ngây ngất mở rộng hai bàn tay. Thuấn ôm lấy hình hài phiền nhiễu u ám nhưng cũng tội nghiệp vô cùng. “Uống nữa nghe anh”. “Ừ”. Hơi rượu Rhum nội hoá làm Thuấn dật dờ. “Em uống nữa chứ!” “Dạ”. Lượng rượu được chuyển theo nụ hôn sôi nóng giữa hai đôi môi lạnh lùng. “Dạ, em sẽ ở với anh cho đến khi anh vào trường”. Cánh cửa đóng lại, trên chiếc giường vải sa tanh trơn trợt loang lổ những dấu vết của các trận tình bẩn thỉu, phần không khí lạnh buốt bên ngoài, hai năm chuyển động trên vòng xoay ngấu nghiến nặng nề, tất cả được đẩy ra khỏi khung cửa. Đóng thật chặt ổ khoá, sáng mùng Một Tết, Thuấn hai mươi tuổi và người tình thảm thương ngắn hạn ôm ấp siết chặt trăn trở đắm đuối cùng nhau trong ngây ngất của men rượu đắng và dục vọng đau cứng tội nghiệp. “Uống không?” “Uống”. “Thương không?” “Thương”. “Lấy nhau nhé?” “Ừ”. “Hôn cái nữa đi…” “Ha ha, lăn xuống, em nặng quá, mấy…” 
“Sao ngồi thừ vậy ông, nhớ người yêu dĩ vãng hả? Kể tiếp đi, chuyện em Thảo Ly Nguyễn Thị Lý”. 
“Xong rồi, chuyện chỉ có thế”. 
“Đâu được, ông chưa kể có làm ăn hay không”. 
“Chuyện đó thường quá, có chứ, không, hoạ tôi là thánh”. 
“Giết nhau cũng như thường”. 
“Không, em chủ động, em “xay cà phê” tưng bừng”. 
“Đấy, ít ra là thế, rồi ông có trả tiền không?” 
“Không”. 
“Em biếu không làm quà văn nghệ?” 
“Không phải, thằng cha chủ khách sạn vì dị đoan muốn giữ sạch sẽ trong ngày mùng Một để lấy hên nên cấm các em tiếp khách, tôi nằm đến trưa không đi lão cho người đến mách với toán tuần tiễu nhà trường”. 
“Ông bị bắt?” 
“Sức mấy, nghe tiếng xe Jeep của Quân cảnh dưới đường tôi dọt gấp, khách sạn dựa lưng vào đồi, tôi băng ngã sau chạy thoát, áo quần ôm ở tay, buổi trưa trời Đà Lạt vẫn còn lạnh, nằm buổi sáng trong phòng ấm nên khi chạy ra ngoài người muốn gãy luôn, hơn nữa bị em xay kỹ quá, bố tôi cũng không chịu nổi. Tôi chạy một mạch đến Công chánh hay Điền địa gì đấy, đứng lại mặc quần áo nhìn vào cửa sổ thấy thiên hạ tụ tập cười nói bỗng thương tiếc em bé hết sức. 
“Như vậy số ông hên rồi, đầu năm được gái yêu suốt năm ông phát mả ái tình”. 
“Đâu có đẹp như bạn nghĩ, vì khi chạy hoảng quá bỏ cái mũ ở phòng em bé, tụi Quân cảnh lấy được đem về trình Thiếu tá Liên đoàn trưởng”. 
“Kết quả ra sao?” Nhiều giọng nôn nóng hỏi tới tấp. 
Thuấn cười khẩy. Kết quả sơ khởi: tối đó ba lô súng đạn hai lớp đi trình diện dã chiến. Tối mùng Một Tết trời Đà Lạt lạnh 11 độ, tôi bị phạt đến độ mồ hôi tuôn ướt đẫm chiếc áo sũng nước. Tiên sư thằng sinh viên khoá đàn anh nó xem như tôi ngủ với đĩ làm lây bịnh lậu cho cả họ nhà nó, nó quát tháo đay nghiến sau mỗi hình phạt làm tôi nghĩ như vừa đem bán hết cả súng đạn cho Việt cộng. Các ông biết nó mắng tôi làm sao không. Anh là loại sinh viên sĩ quan vô tư cách, anh làm nhục đoàn thể, anh bôi xấu lên danh dự nhà trường và quân đội! 
“C… làm như quân đội là chủng viện giáo hoàng không bằng”. Lạc bĩu môi xì một câu chát chúa. 
“Ấy thế mới nhảm, cái mặt nó tôi còn lạ gì, Chủ nhật nào cũng chui rúc ở mấy cái nhà chứa, được cái tiện vì là khoá đàn anh nên có quyền mặc thường phục, nó làm như mặc đồ lính không có quyền ngửi hơi đàn bà”. 
“Ông có phản kháng gì không?” 
“Phản kháng gì, nó là sinh viên trực Liên đoàn tức là quyền Liên đoàn trưởng. Hơn nữa lỗi mình rành rành ra đó, phản kháng sao được. Tôi nhớ tên nó, cái gì Trân đó, ĐM… mặt chuột kẹp đi giựt giựt như con gà bị dịch… Minh, mày biết thằng chó Trân đó không?” 
“Phan Thanh Trân, hình như đến giờ này nó vẫn còn làm huấn luyện viên trong trường kể từ ngày mãn khoá”. 
“Đúng rồi, hôm nó về duyệt binh Quốc khánh tao đã muốn đánh bỏ mẹ, cỡ ấy tao ho một cái cũng đái trong quần, nhưng hôm đó có ông Quyền ở Tiểu đoàn 11 nên tao không dám”. 
“Sao vậy Đại uý?” Trung uý Nghĩa mở đôi mắt ra hỏi. 
“Ông Quyền là thủ khoa khoá ấy, ra trường đi Nhảy dù, chính vì vậy tụi tôi mới bắt chước… Đấy, người có bản lĩnh thực chẳng bao giờ làm dáng, chỉ có tụi cắc ké, can đảm bằng đầu tàn thuốc mới hay hậm họe… Tối ấy, tôi bị phạt đến nỗi tưởng như núi đè lên người, thở không nổi. Từ đó tôi mặc cảm với những thằng mặt chuột kẹp, nước da tái thẳm, dân thủ dâm thường thường độc ác kinh khiếp, tụi nó có máu bạo ngược trong người, không hiểu có sung sướng gì khi phạt người khác đến ngất ngư”. 
“Tối ông Thuấn bị phạt cả bốn doanh trại đều náo động”. Minh tiếp theo. “Tụi tôi lúc đó còn là khoá em út. Trường có ba khoá, khi nào khoá ông Thuấn bị phạt, chúng tôi không được quyền nhìn nhưng tối đó mọi người dồn ra các cửa sổ trông xuống khu sân cỏ để nhìn xem cảnh ông Thuấn bị phạt. Bốn dãy doanh trại gần hai trăm căn phòng chen chúc đầu người im lặng nhìn ông Thuấn bò từ cổng trường vào đến nhà ăn. Hôm đó sao không ngất thật là hay, tụi tôi phục ông hết mình”. 
“Ngất đâu được, tự nhiên tôi cắn răng tự hứa mình phải tỉnh táo để làm hết hình phạt, nó chỉ cốt làm mình xỉu, ngất là đúng ý nó… Các ông biết, từ cổng trường tôi đến nhà ăn dài gần một cây số, giữa bãi cỏ, hai bên lối đi trải nhựa. Lượt bò ra nó bắt tôi bò trên cỏ, trời lạnh, mưa phùn, cỏ ướt nhẹp sâm sấp bùn, tôi như dính trong đống keo. Lâu lâu thằng Trân lấy chân đè lên chiếc ba lô nếu tôi ngỏng người khỏi mặt đất! ĐM… tôi chưa thấy cảnh nào tàn nhẫn hơn trong suốt hai mươi mấy năm ở đời. Chưa hết, khi trở lại nó bắt tôi bò trên đường nhựa, các ông thấy, áo quần lúc ấy đã bị ướt dính chặt vào người bò len đường nhựa vụn đá nhỏ dính vào, bào lên da đau như bị đinh châm”. 
“Sao nó đối xử với ông tàn tệ như thế, hơn Tây lúc trước đối với tù binh!” Lạc nhíu hai lông mày, người lính già nhìn sĩ quan trẻ tuổi đè cơn giận xuống để kể lại câu chuyện với giọng bình thản. 
“Tôi biết nó ức, chỉ đợi tôi tỏ ý khuất phục, yếu đuối là sẽ tha. Nó muốn hơn tôi, nhưng bất cần, nghe lệnh phạt tôi dửng dưng làm ngay không chút e dè, hai cánh tay và đầu gối, phần da bụng nóng rát rươm rướm máu đỏ. Máu, mồ hôi, nước mưa thấm trên chiếc áo lót có màu hồng… Về phòng nhìn chiếc áo đột nhiên tất cả giận dữ lắng mất, trước đó khi đang bị phạt tôi muốn đứng lên bắn nó một viên… Nhưng nhìn máu mình thấm trên chiếc áo, tự nhiên cảm thấy có chút hân hoan kiêu hãnh. Đúng là chứng bạo ngược tinh thần thấy rõ mình trong đau đớn, ĐM… khoá thằng Minh có đứa lén qua phòng nhìn thân thể tôi và chiếc áo phát khóc, thằng Lô và thằng Mễ xúi tôi đánh thằng Trân đó nhưng tôi không đánh”. 
“Ông Đại uý Lộ và Thiếu tá Mễ ở Tiểu đoàn 5?” 
“Ừ, hai ông ấy đó, tôi nghĩ mình thi hành lệnh phạt để chứng tỏ không ngán sự đau đớn chứ tôi sợ chó gì thằng Trân đó dù khi bò dưới chân nó”. 
“Giá của một buổi sáng với em điếm nặng thật”. Lạc gật gật cái đầu phê bình. 
“Ừ, làm như máu tôi chảy ra rửa sạch hết vi trùng đi từ em bé lên uy tín đoàn thể sinh viên sĩ quan, nhưng chưa hết, sau đó tôi còn ra hội đồng kỷ luật, ở lại một năm xuống học với khoá ông Minh”. 
“Đau thật!” 
“Cũng chẳng đau gì, tôi ở lại, một năm ở nhà tà tà, trốn học đọc sách, cuối năm cũng thành ông Thiếu uý như ai. Đời có cái hên, nếu ra trường khoá trước thì tôi cũng đi Biệt kích. Tôi khoái loại lính này vì vấn đề trách nhiệm với thuộc cấp nhẹ hơn, làm Đại đội trưởng ngại cảnh đụng trận về, vợ con lính tử trận đến khóc ở văn phòng, nghe tiếng khóc đó tôi chịu không nổi”. 
“Làm chỉ huy phải chấp nhận chuyện ấy, không thoát được. Nghe thân nhân lính khóc cứ tưởng như họ đòi nợ mình”. Lạc xác nhận. 
Minh cãi lại: 
“Mấy ông nghĩ quá đáng, đụng trận thì phải mất mát, tôi chỉ thấy khó chịu khi mình mất vô ích như bị mìn bị chông v.v. Nếu thắng lớn thì huề”. 
“Mày học cái điều này ở đâu vậy?” Thuấn không che giấu sự bất bình, đôi mắt sau hơi rượu long lanh nỗi tức giận không giấu. 
“Ở đâu? Lần đầu thì thấy khó chịu, sau hơi quen, tôi không phải cứng rắn gì đến nỗi không xúc động khi lính mình chết, nhưng nhỡ mình chết thì sao, cũng thế thôi. Vì thế đánh cốt thắng, thắng sẽ làm nhẹ đi chuyện mất mát…” 
“ĐM… cãi với mày làm gì, con trai còn Trung uý, con trai cần thắng để lên Đại uý. Đại uý thắng để bắt Tiểu đoàn phó… Thôi, tao chối loại vinh quang này”. 
“Anh bảo tôi giản dị vậy được sao?” 
“Bỏ chữ “anh” đi, đừng quan trọng hoá lời tao, nếu mày nghĩ lời tao không đúng thì thôi, tao chỉ nói thật ý nghĩ, sai thì bỏ có chó gì phải lên giọng kinh thế. Mày thấy lính già này”, Thuấn đưa điếu thuốc chỉ Lạc. “Ông ta cũng tha thiết với cái lon lắm chứ, mười tám năm lính có khá gì được đâu, thế nhưng ông Lạc cũng đồng ý với tao cơ mà”. 
“Ông Lạc đồng ý với anh theo ý khác, ông ta chỉ cần thủ kỹ, giờ này Trung uý hay Trung tướng đối với ông ấy cũng thế thôi”. 
“Thế sao được em”. Lạc ghìm giọng xuống phủ lên đó hơi rượu và nỗi chắc chắn của kinh nghiệm. “Trung tướng khác xa Trung uý, tao ở lính lâu lại càng hiểu rõ giá trị của cấp bậc hơn ai hết. Thuở xưa đóng cái lon cai lên vai sếp thấy mình như trở thành một người mới mẻ, quyền thế. Tao ở lính lâu năm mới hiểu được nỗi ao ước của anh Trung sĩ để thành Thượng sĩ, Chuẩn uý lên Thiếu uý. Giữa những cấp bậc đó có những nấc thang rõ ràng. Chuẩn uý không được vào câu lạc bộ sĩ quan, nhưng Thiếu uý thì khác. Câu lạc bộ sĩ quan đời Tây làm tao thèm thuồng, đi qua đi lại hoài, chỉ tưởng tượng được ngồi vào trong cái ghế da đỏ có thằng bồi sénégallai mang đến một ly pernord tao cũng ngây ngất lạnh dọc xương sống. Tao là Thượng sĩ nổi tiếng, tụi sĩ quan Tây mới ra trường cố xin cho được tao về làm Trung đội phó, nhưng vẫn thấy quá xa cách với một anh sĩ quan mặt mũi non choẹt hiên ngang đi vào câu lạc bộ đá vào cánh cửa bật… Chỉ có cái đá vào cánh cửa đó cũng gây trong tao sự kính nể thực sự nên khi đứng nghiêm trình diện Trung đội cho nó, À vos ordrês mon Lieutenant tao nói thật thành kính, trong khi nếu bỏ cái lon, tao có thể xách tai bợp nó năm ba cái như không… Đấy mày thấy, tao đã nếm rõ cái vụ lon lá hơn ai hết, lên sĩ quan được vào chơi ở bordel dành cho sĩ quan. Mày tưởng tượng tụi nó đang đô hộ Việt Nam, nhưng mình lại nằm sấp trên mình đàn bà nhà nó chi bằng leo lên cái tháp Effeil đái xuống! Egalité ở đâu không thấy chứ tao cảm thấy mấy cặp mắt xanh lè kia dựng lên ngất ngư là khoái chí rồi. Tụi mày thấy Mẽo dẫn điếm Việt Nam đi chơi thì khó chịu, huống gì nếu một em da trắng tóc dài con nhà quý phái, con cựu bộ trưởng, chủ tịch, giám đốc cặp kè với một anh đen như botte de saut thì chúng mày điên tiết là cái chắc. Đằng này cũng vậy, trước mặt mấy anh Jean, Henri, mày đè lên một em đầm da trắng tóc vàng, em tóc vàng như Brigitte Bardot, em tóc vàng cựa quậy ưỡn ẹo oh! oh!… cheri! ha! ha! Anh Việt Nam răng hô mũi tẹt da vàng xì nhún nảy vò cái lá cờ quan tài cũng không còn đau hơn nữa… ĐM… cứ xảy ra đánh nhau ở bordel là vậy. Mấy thằng lính Việt Nam mất dạy nhất định thọi đầm, dù có hôi nách, tàn nhang rụng lông gì cũng được, trái pome thối vẫn lạ hơn trái ổi, beef steak cứng như đá vẫn làm dân Annam khoái hơn thịt bò lúc lắc … ĐM… đi thì em nào cũng chỉ mười em trở lên, thế nên cứ đứa nào cho nó pourboir nhiều là ok. Tiên sư mất năm chục được cởi quần bà đầm Antoinette trước mặt lính Tây còn muốn gì nữa”. 
“Thôi ông ơi! Đang luận về công danh ông xoay qua mục ăn chọi là thế nào”. Minh ngắt lời. 
“Thì như tôi đã nói, chính những cảnh ăn chọi hào hứng như thế mới làm tôi hăng hái đánh giặc giựt giải, đời Tây đeo cấp bậc trên dưới mười năm là chuyện thường, thế mà tôi chỉ trong ba năm từ cai lên đến Thượng sĩ là vô địch, tiếc là lúc Tây về nước mới mon men đến Thượng sĩ nhất. Le plus jêun adjudant de l’armée. ĐM… thằng Thiếu tá Bgiard đã nói với tôi như thế”. 
“Bgiard là thằng nào?” 
“Là Tiểu đoàn trưởng Tème BPC, tức là Tiểu đoàn 6 Thuộc địa, thứ này hách hơn Tiểu đoàn Nhảy dù Việt Nam… Tôi thèm thuồng đến nhức tim, tìm đủ cách để bắt thêm huy chương để đủ điểm lên cấp bậc, hơn ai hết tôi biết điều đó. Đến hôm nay cũng thế, tôi phải lên Đại uý, tôi cần điều đó hơn ông, lên Đại uý chuyển ngành làm sĩ quan tiếp liệu Sư đoàn nhàn hơn, có chút tài lợi. Đại đội trưởng tác chiến ăn cái gì đây, palm tôi có 6 cái, lục quân huân chương có rồi… Tôi muốn gì nữa, không lẽ làm Lữ đoàn trưởng? Đấy, tôi biết tôi phải làm những gì cần thiết. Tôi cần lên Đại uý hơn ông, nhưng tôi cân nhắc so sánh, tôi không tapi ẩu, sức mấy để đại đội bị mẻ vô ích, cái gì tôi cũng làm được nhưng liều thì không. Liều, việc đầu tiên là giết mình trước, mình mà chết thì còn gì để nói nữa”. 
“Đúng! Đúng!” Thuấn hét lên, lính già mở miệng như cóc cắn, nó nói là bằng beefsteak, mù tạt, xì dầu, nước mắm, huy chương đồng, huy chương vàng của mười tám năm un đúc nên, em cãi lại thế nào được. Minh con ơi! Mày mới hai mươi bốn tuổi hai tháng, mày có thông minh tài giỏi thế nào cũng không bằng thằng mười tám năm lính, kinh nghiệm là cái sờ bằng tay, ngửi bằng mũi, kinh nghiệm có chiều cao, chiều dài, và kinh nghiệm nhà binh là nhất, nó như cái nón sắt trên đầu, nó đè đầu mày xuống, nó bóp máu mày lại, nó làm gãy cổ cứng người nhưng không có thì chết, chết nghe con trai… Hà hà, luận tiếp nữa đi Lạc già năm cùng tháng tận, giờ phút thiêng liêng ông bà tổ tiên về đâu đây, nói đi cai Lạc, lời ông tôi chịu hết cỡ, truyền lại kinh nghiệm xương máu cho đàn em. Thuấn đưa ly rượu lên môi, mọi người bắt chước, những cái ly để xuống mặt bàn gồm những thùng lựu đạn xếp vào nhau, sau những tiếng lạch cạch im lặng đè xuống như bóng núi đè xuống phần chân trời. 
“Thế ông đi lính để làm gì?” Minh hỏi qua phía Thuấn. 
“Tôi à, cái mục tiêu của tôi lạ lắm, đôi khi tôi cũng chẳng biết trong lòng muốn điều gì, tôi đặt những mục tiêu và bắt buộc phải đạt cho kỳ được, tạo ra khó khăn để bắt tự thân gánh chịu… Trước kia tôi không rõ, nhưng sau này càng ngày như thấy mình trong suốt. Tôi có cảm giác thấy được ruột gan phèo phổi của chính thân mình. Có những câu nói bình thường nhưng tôi biết xuất phát từ đâu và định hướng vào mục tiêu che giấu kín đáo nào đó, thấy được thế và đồng thời cũng hết thú vị vì không đánh lừa được mình nữa…” 
“Ông nói nghe rắc rối bỏ mẹ”. Lạc gật gật đầu. 
“Tôi không chối, tôi tự mình gây nên chuyện rắc rối và chui đầu vào đó. Hình như trong khốn đốn nghiệt ngã tôi tìm được thú vị… ĐM… ĐM… nói theo kiểu chữ nghĩa đúng là bạo dâm tinh thần”. 
“Ví dụ?” 
“Nhiều lắm, uống cái đã rồi luận tiếp. Này nhé, thuở bé tôi là thằng học dốt, tôi học dốt kinh khủng, chẳng hiểu sao lời giảng tai này chạy sang tai kia, trí óc trơn như thỏi xà phòng chẳng đọng được chút cát bụi mơ hồ nào trên đó. Và nếu hiểu rằng sự học dốt là thiếu thông minh hay không chuyên cần thì thật khoẻ, đằng này, tôi không chịu mình là loại người tầm thường, thiếu cố gắng. Tôi tự cho mình là phi thường, cỡ người có trí thông minh sắc bén, rõ hơn là thiên tài… Thiên tài, tôi chẳng bất tài chỗ nào, nhưng lòng cứ tưởng như thế, thế là tôi đặt ra những mục tiêu, những điều lệ, những tiêu chuẩn để chứng tỏ sự thông minh ngoại khổ của mình. Tôi sửa soạn mài nhọn giác quan để rình rập từng cử chỉ sơ hở của bạn đồng lớp, trẻ con nào chẳng ngờ nghệch ngây thơ thiên bẩm, khi linh hồn chưa phải phấn đấu, thế nên tôi dồn hết năng lực để nói những câu khôi hài lạnh tái người, câu móc họng làm đắng cổ kẻ đối thoại. Tôi che giấu sự kém cỏi học dốt của mình bằng lớp sơn khôi hài phóng khoáng. Lâu ngày thành thói quen, tôi nhạy cảm đến mức bệnh hoạn. Năm mười ba tuổi học đến bài khoa học về khí ammoniac, tôi lấy liền danh từ đó để biến thành một tĩnh từ, chỉ sự xấu xa nhơ nhớp cùng cực. Bằng hết cả khôn ngoan, tôi phổ biến và tập cho lũ bạn chấp thuận ý nghĩ của mới của danh từ. Một cô bạn phải bỏ học vì không chịu nổi sự trêu chọc khi tôi chọn cô ta làm đối tượng đầu tiên cho “tĩnh từ” đó. Khổ một điểm, tụi bạn học cùng lớp đều đồng ý gọi tôi là “thiên tài khôi hài”, chúng nó gọi thật lòng và nồng nhiệt, và vì thế, bao nhiêu suy nghĩ chỉ hướng về sự tìm tòi những chữ mới, những danh hiệu nực cười, tôi rình rập đám đông để kiếm nét khôi hài của họ… Sự mệt nhọc ấy kéo dài cho đến ngày khôn lớn”. 
“Ông kể cái gì rõ nhất và gần đây hơn để thiên hạ hiểu rõ, chứ chuyện đời xưa lâu quá đâu ai biết…” 
“Chuyện thì phải có đầu đuôi, phải kể lúc nhỏ rồi qua tuổi lớn mới có mạch lạc. Để tôi kể tiếp, như vụ bà cụ tôi, phải nói tình mẹ con giữa tôi và bà già vượt khỏi mức tầm thường. Ông cụ tôi ở lại ngoài Hải Phòng, gia đình tôi vì lần lữa mãi nên vào Nam bằng chuyến tàu chót. Tàu lớn ngoài khơi phải đi mảng ra đón mới được, tỷ như cảnh trong hình cái tem di cư. Tàu chúng tôi đến Đà Nẵng, ở trại định cư bằng lều nhà binh trên cát mỗi ngày được 6 đồng và ổ bánh mì. Thiếu thốn, cực khổ, đói và rét, trời dịp đó gần Tết, mưa và gió thổi qua cánh đồng vắng, trại đóng sát bờ biển, chúng tôi ngủ trên đất, gió thổi xông hơi nước mặn chát ở trên da. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, bà cụ làm việc đầu tiên là xin cho tôi vào học trường công thị xã… Các ông thấy đấy, bà cụ già nghèo khổ xin được cho con mình vào học trước khi nhà trường xét đến lớp con của công chức và quân nhân di cư. Tưởng cảnh một bà già áo sũng nước mưa, bụng đói cố vịn từng cây phượng băng qua khu trường học mông mênh để đến văn phòng hiệu trưởng năn nỉ ông này nhận con mình vào học, mẹ tôi gục ngay cổng trường khi nộp đơn xong. Bà ngất đi vì đói và rét. Tôi biết tình thương cao quý đó và tự nhủ rằng phải sống như bà cụ mong ước. Nhưng các ông thấy, tôi làm ra vẻ lạnh nhạt, hằn học với cụ, tôi không chịu học, tôi đi học một cách miễn cưỡng, bỏ bê sách vở, tôi cố nhớ lại trận đòn năm mười tuổi, một buổi chiều giáp Tết, tôi lấy bộ áo quần mới mặc vào, đến trước mặt cụ khoe: “Mẹ xem con mặc quần áo mới có đẹp không?”. Lúc ấy tôi nhớ rõ ràng từng chi tiết, hơi thở, tia nhìn… Bà cụ quay sang gắt: “Sao lại mặc bây giờ, mồng Một lấy gì mặc?”… Giọng bà hơi khó chịu vì đang tiếp chuyện người hàng xóm. Chỉ có thế, nhưng tôi nhớ như in vào mỗi phân tử óc, rồi tôi cứ đeo quanh câu nói bất chợt đó, đi tạo nên thù hận, cau có, nói trái lời và không chịu học. Tôi chống đối với mẹ tôi bằng tất cả khó khăn đau đớn trong lòng vì tôi thương mẹ biết bao nhiêu. Nguy biến hơn, càng ngày tôi càng cứ nghĩ thái độ nguỵ trang đó là thật, cho đến ngày mẹ tôi chết, tôi mới biết mình đã đóng một vai trò nghiệt ngã quá sức. 
“Thế bây giờ đã xong chưa?” 
“Chưa, chắc sẽ có màn kịch mới khác, các ông không biết tôi là đại diễn viên sao? Thuở nhỏ các anh giáo sư và tụi bạn nhất định gọi tôi là “thiên tài” kịch nghệ. Tôi nhớ có ông giáo sư tên Hào trong buổi liên hoan toàn thể học sinh miền Trung đã giới thiệu tôi: “Đây là một thiên tài dành riêng cho sân khấu, niềm hãnh diện của trường chúng tôi, anh Trần Nguyên Thuấn”… ĐM, cứ như thế là tôi tuột đi dài dài… Cái vụ đi lính này cũng vậy, đúng chỉ làm khổ thân. Rót thêm ly rượu nữa, có rượu tôi mới luận tiếp được”. 
“Hết rồi, còn một chút khi kể chuyện Tây say, ông Lạc bắt chước Tây, uống sec mấy cái còn gì đâu”. Minh chậm rãi đứng dậy, cho áo vào quần vuốt vuốt mấy cái. 
“Đi đâu?” Thuấn nhìn vào chiếc ly, xoay xoay mấy vòng trên tay. 
“Về Huế, sếp cho tôi nghỉ hai ngày kể từ 6 giờ chiều nay cho đến chiều mồng Một. Từ ngày ra trường đến giờ tôi mới được về nhà”. 
“Có nhà để về là khá rồi, hôm nay bao nhiêu?” 
“28, năm nay 29 rồi đến mồng Một”. 
“Tháng ngày gì kỳ vậy…” Thuấn đánh cái ly vào răng. Chẳng ai nói với ai. Mấy Trung uý và Chuẩn uý đứng dậy… “Thôi chào Đại uý. Chào Trung uý”. 
“À, mấy ông về coi trung đội”. Thuấn vẫn ngồi trên ghế, đưa tay chào mỗi người, lòng bàn tay xòe phía trước, bàn tay để dọc theo thái dương… Kiểu chào này là của Thiếu tá Bảo đây, khoá 14 Đà Lạt giờ này mới bắt được Tiểu đoàn phó… nhà binh khó thật. Thuấn ngồi nghĩ lang bang. 
Lạc đứng dậy tiếp: “Tôi cũng về Huế luôn”. 
“Ông Bắc kỳ về Huế làm gì nữa đây?” 
“Bà vợ đem hai đứa con ra đây ăn Tết. Tiên sư, mười tám năm lính chỉ ăn Tết ở nhà có ba lần, còn ngoài ra toàn đón xuân trong rừng, đầu đường xó chợ không thôi…” 
“Có gia đình làm gì cho khổ?” 
“Người không có gia đình thì có gì? Ông chỉ nói dóc, dăm ba năm nữa khi mót lấy vợ dám nhặt cả điếm về làm vợ không chừng”. 
“Sức mấy, tôi trẻ tuổi đẹp trai mà ông…” 
“Tôi đi với ông cho vui” “Ừ”. Lạc và Minh đi xuống con đường dưới chân đồi…” 
“Thuấn”. Minh gọi vọng lên. 
“Gì?” 
“Chiều mai xuống nhà, tôi dẫn đi ăn cơm, có cái tiệc của bà chị họ”. 
“Ừ”. Bóng hai người khuất sau rặng tre. Thuấn nhìn vào những chiếc ly lăn lóc trên mặt thùng lựu đạn. 
“Thiên?” 
“Dạ, gì Đại uý?” 
“Lục túi áo tao, xuống dưới kia mua tao mấy chai bia”. 
“Dưới làng không có bia”. 
“Có, phải có, không bia thì mua rượu đế, rượu nếp cẩm gì cũng được, mua cái gì tao đổ vào mồm say được thì thôi… Nghe chưa?” 
Binh nhất Thiên cười lầm lì quay đi không nói. 
“Tiên sư! Thuấn lẩm bẩm chửi thề. Trời lạnh cóng. Nắng vàng ánh lên rộn rã. 
* 

“Thầy uống với tôi ly rượu?” Thuấn đẩy chiếc ly về phía người tu hành. 
“Cám ơn, dạ không uống được, tôi ngồi chơi với Đại uý được rồi… Những ông kia đâu hết rồi ạ?” 
“Đi rồi, tụi nó bạc lắm, hết rượu là biến, vừa rồi có chai Black and White. Bây giờ tôi uống rượu nếp cẩm, uống đi ông thầy…” 
“Dạ thôi, tôi uống không được”. 
“Thầy uống không được hay thầy không được uống?” 
“Cả hai”. Người tu cười, nụ cười hiền trên gương mặt đôn hậu đỏ hồng ánh nắng. 
“Không uống rượu được thì thầy uống chút bia vậy, buổi chiều cuối năm như thế này buồn quá, thầy ngồi chơi với tôi cho vui”. 
“Dạ, Đại uý cứ để cho tôi tự nhiên”. 
Thuấn đưa chiếc ly nhỏ lên miệng. Ực. Thuấn rót thêm ly nữa. Người đi tu đưa mắt nhìn tỏ vẻ lạ lùng. 
“Rượu nếp, tôi hoà thêm bột dâu Mỹ vào nên có màu tím, ngọt vô cùng, như nước đường vậy, thầy uống thử cho biết”.
“Thôi, tôi uống bia vậy”. Đại đức Trí Không lanh lẹ nắm lấy ly bia. Hơi men làm lớp da người tu hành hồng hào hơn, ánh mắt loáng lên tia nhìn vui thích mới mẻ. 
“Bia ngon hả thầy? Tiếc rằng thầy không ăn mặn được, không thôi tôi lấy cái ché mời thầy. Bia ăn với ché ngon không tả nổi…” 
“Được, Đại uý cứ để tôi. Đại đức nâng ly bia lên lần thứ hai”. 
“Đừng gọi Đại uý nữa thầy ơi, nghe kinh bỏ mẹ. Ấy, tôi lại ăn nói nhảm nữa, anh, à thầy tha lỗi, tôi có cái tật hay nói nhảm, nhà Phật gọi thế là… là gì tôi quên mất, là nghiệt khẩu phải không thầy?” 
Người tu tủm tỉm cười: Nghiệt khẩu là nói những điều ác. Đại uý nói toàn chuyện vui thì đâu có gì. 
“Sao ông biết tôi nói chuyện vui? Ấy tôi lại quên gọi thầy”. 
“Không sao, thầy chỉ là một tiếng gọi, cốt cái tâm của Đại uý là đủ. Giọng người Huế đều đều chậm rãi, không thoáng nhỏ ngúc ngắc”. 
“Không, tôi thích gọi tiếng thầy lắm, nhưng chưa có thói quen, trở lại chuyện nói đùa, thầy không biết chứ tôi nổi tiếng bốn vùng chiến thuật vì cái mồm. Người xưa người ta lập công, lập đức và lập danh, tôi thì lập ngôn, ngôn rồi nó cũng thành danh, danh này quý lắm, danh ba xạo, danh say rượu, danh núi lở trời xoay…” 
Người tu hành vòng hai tay vào áo cà sa ngồi nghe vui thích. Từ bi và phiền não gặp nhau, gặp gỡ để thấy rõ nguồn hạnh phúc cùng nỗi muộn phiền của mỗi bên. Biết để thấy không thể hoà hợp giúp ích gì cho nhau, hai bên nhìn nhau như phần đời xa cách không đạt đến. 
“Tôi vốn tánh ba hoa, nên khi thấy người trầm tĩnh tôi mến lắm. Bắt tôi ngồi một mình giữa chốn tĩnh mịch này khoảng hai ngày chắc tôi điên mất, sống phải cho tôi nói chuyện, chuyện gì cũng được, chuyện trời trăng mưa gió, chuyện đá cá lăn dưa, từ hội hoạ cho đến nghệ thuật chơi bời, tôi luận một mạch không vấp váp. Ấy tôi lại nói với thầy những điều xấu”. 
“Không hề gì, tôi cũng đã lớn và không đến nỗi kinh điển quá để không thể nghe một tiếng tục tằn. Ở chỗ tôi học, các anh sinh viên thường trêu tôi bằng cách gợi những chuyện ái tình hoặc tiểu thuyết không đứng đắn. Nhưng tôi nghĩ không can hệ gì cả”. 
“Hà hà… tôi đâu biết, tôi chỉ tưởng ông kẹt cứng đời dưới cái chuông rồi. Xin lỗi thầy, tôi lấy ví dụ để nói về sự kìm kẹp của đạo giáo, sự kiềm chế tự nguyện. Có cái dòng tu trên Đà Lạt, tôi theo ông linh mục dạy triết vào thăm, cứ mỗi ông một cái buồng, ngồi úp mặt vào tường đọc kinh, chỉ thấy thôi tôi cũng đủ sợ đến khiếp. Có người trẻ cỡ tôi với thầy…” 
“Phật giáo cũng có các thầy Thượng toạ ngồi thiền cả ngày, thầy trụ trì chùa này tám mươi mốt tuổi, ngồi thiền như vậy gần năm mươi năm, đến một lúc nào đó xác thịt không còn là vấn đề”. 
“Tôi biết, như những tỉ dụ bố thí của tiền thân đức Phật, nhưng cái xác mình đây tự nhiên đem ép thành một hình khối vô tri thấy… kinh bỏ mẹ”. Thuấn ngần ngừ trước chữ “bỏ mẹ” một chút, giọng nói tiếp tục tự nhiên. Nhà tu hành mỉm cười ý nhị không nói. 
“Mỗi cảnh đời có một quyến rũ riêng, đời lính tráng cũng hay, khổ cực thể xác làm sáng tỏ linh hồn. Đấy cũng là một lối tu”. 
“Tôi chẳng thấy hay ở đâu hết, nó ép buộc mình trong ti tiện tầm thường, tập con người sống khuôn thước chật chội của bản năng, tôi chỉ thấy càng ngày càng tệ hơn trong cảnh lính tráng này. Nói luôn với thầy cho nó hả, bên đạo Công giáo có xưng tội, thuở nhỏ tôi học trường dòng có điều gì cứ xưng tội là xong. Chúa gánh hết trách nhiệm phần hồn mình, ông ấy tạo nên đàn ông, đàn bà, con rắn nên ông ta chịu trách nhiệm cứu vớt, thế là phải. Đạo Phật rắc rối và mệt quá, phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, sợ rằng không có đuốc mới khốn nạn!” Thuấn cười sung sướng vì tìm ra được câu ví với nhau đúng. “Tôi nói thế này có phật ý không?” 
“Không. Đại uý nó đúng lắm, tôi rất thích”. Giọng nói bình thản, phẳng lì như gợn âm thanh của tiếng chuông tản mát vào hốc núi. Thuấn thấy bị đe doạ và coi thường. 
“Thầy đừng gọi tôi là Đại uý nữa. Ông tiếp tục gọi như thế tôi xưng “con” cho ông choáng váng luôn”. Người tu hành cười im lặng, đưa ly bia lên một lần thật lâu. 
“Vừa rồi thầy bảo đời lính cũng hay, bây giờ người ta bắt thầy đi lính, thầy có đi không?” 
“Có. Câu trả lời không ngần ngại. Cởi chiếc áo này tôi vẫn là người tu đạo, tôi thấy không có sự khác biệt nào dù tôi thay chiếc áo nâu này bằng áo sơ mi rằn ri như của Đại uý. Nếu cần trong hoàn cảnh khó khăn để sống, tôi cũng có thể làm điều luật giới ngăn cấm như ăn mặn…” 
“Thầy giết người được không?” 
“Không. A Di Đà Phật, chữ đó kinh khiếp quá, tôi muốn nói đến những điều phạm cấm kỵ bình thường thôi. Giới sát là giới nặng nhất, nhất là phạm với đồng loại”. Người tu hành nhìn xuống hai bàn tay run run như thể đang có một lớp máu vô hình. 
“Như thế chúng tôi thuộc hạng giết người nhà nghề, đáng kinh tởm lắm sao?” 
“Không phải vậy. Khi đặt vấn đề như thế là lương tâm xao xuyến, là đang khởi đầu một vận động tinh thần hướng về từ bi. Chúng ta không nên khắc nghiệt với chính mình. Cuộc đời mở đầu bằng nỗi triền miên”. 
Có tiếng chuông thu không, hai tiểu bắt đầu tụng kinh chiều, tiếng ê a trầm bổng từ chùa vang ra thênh thang khắc khoải. Im lặng, nỗi im lặng mệt ỏi của con người sau cuộc đua. 
Thuấn mời nhà sư điếu thuốc: “Thầy hút thuốc được?” “Dạ có, ở lớp các anh vẫn mời tôi hút luôn”. Điếu thuốc đưa đến. Đại đức Trí Không đón lấy thành thạo nhẹ nhàng. Điếu thuốc hay dấu vết trần tục, bao nhiêu người đã có hậu ý khi mỗi nhà sư khởi đầu thói quen nhỏ bé này. Họ muốn gây một vết ố mờ nhạt trên tấm vải mênh mông. Đại đức biết điều đó nhưng thường chấp nhận tự nhiên và giản dị. Một phần nhập thế ở trong hơi thuốc xanh xám. Bao nhiêu lần nhà sư đã chơi trò trốn bắt vui thú giấu mặt này? 
“Thầy có vẻ hiểu rõ đời sống trần tục?…” 
Nhà sư cười đưa điếu thuốc trước mặt: “Qua cái này?” Câu hỏi sau khi thở một vòng khói thật kiểu cách. “Có nhiều người đã rủ tôi sinh hoạt các phong trào sinh viên chống chiến tranh và người Mỹ, như trong vụ đòi thành lập Hiến pháp và Quốc hội năm ngoái”. 
“Thầy có theo không?” 
“Không, tôi không thích bạo động, bất kỳ hướng nào đến, tôi không có tinh thần cực đoan dù cho Tổ quốc hay Đạo giáo, tôi chỉ là đang trên đường tu đạo và đi học, chưa phải lúc chọn cho mình một quyết định khác ngoài đời sống này. Đại đức thở thêm vòng khói. Chợt nhớ lại trên đầu có ba lỗ thủng quỳ hương, ba lỗ thủng cháy sâu vào thịt chứng tỏ một bước đường chế ngự thể xác đã đi qua, mùi thịt cháy bốc khói, than cháy đỏ luồn theo mỗi tế bào máu, nhà tu có cảm giác từng đoạn thịt da, xương gân bị nung đỏ chảy xuống một đường rực rỡ tóe lửa… Thế nhưng ngồi vẫn im lặng, hai bàn tay nhẹ nhàng khép chặt vào nhau, đôi mắt nhắm xuống bình thản. Nhà sư qua chặng đường khổ ải bằng nghị lực có cố gắng nặng nhọc… 
“Đã đến giờ thu trai chiều, xin phép Đại uý”. 
Thuấn lảo đảo đứng dậy, định đưa tay bắt hay chào kiểu nhà binh. Tất cả thái độ đều không hợp. Thuấn lúng túng chào…” Vâng, thầy vào”. Nhà tu hành khép hai tay dọc theo thân áo rộng bước từng bước ngắn lên đồi hướng về chùa. Thuấn ngồi xuống nhìn mông mênh. Vừa rồi quên nói với ông thầy chùa về vụ thèm gái. Đi lính, nhét vào trong núi khoảng một tháng người muốn điên lên vì ham muốn. Kỳ thật, càng cực khổ, nguy hiểm càng thèm đàn bà, cứ như khoảng da thịt bí ẩn đó có khả năng chôn hết khốn cùng vào chiều sâu hun hút của nó. Thì “cái ấy” chính là nơi mở đầu sự sống, nên khi nguy cơ, lúc gần chết người ta ao ước rờ rẫm chui sâu vào trong đó! Lại bắt chước ý nghĩ của Henri Miller rồi? Thằng cha loạn tình Tây phương đâu so sánh với mình được. Nó già cằn cỗi, hết lực, nhão nhẹt nhưng trong lòng ngùn ngụt dâm đãng bệnh hoạn, không thoả mãn nổi nó mới nổi loạn, vùng vẫy la hét, lập thuyết trên cái phần thịt đen u thẫm sống động đó… Nó là thằng liệt dương tinh thần nên diễn cơn bạo dâm bằng ngôn ngữ và văn chương. Thằng cha già dịch, thứ tuổi già suy sụp của Âu châu hư hỏng. Mình khác, mình là lính sống gần cái chết nên yêu đời sống, thấy đạn nổ thì nhớ cái l… kỳ cục thật, trông thằng lính chết đầu tiên là mình nhìn vào con c… Chán thật, cái vật bỉ ổi quý giá của kẻ chết co quắp lạnh lùng đến tội nghiệp. Thây ma yên có vẻ bình thản của nó, riêng cái cột chống đời đó nằm như tức tối giẫy giụa… Hừ, mình cũng bệnh tật gì trong đầu đây? Không phải đâu, thằng chết thắt cổ trong giây phút cuối cùng nó chảy ra dầm dề, mấy thằng lính gỡ mìn khi hành sự có thằng són ra ướt đẫm, sinh tâm lý, bộ não bị xúc động nên chảy ra? Nhưng tại sao mình không nghĩ: Nó gần chết nên trút sự sống ra với đời, thứ tinh lực sống trong đó có những siêu tế bào mang nỗ lực sinh tồn, nỗ lực đó giúp cho nó vọt ra đời tìm cách sống? Ấy mình nghĩ thế có thể đúng lắm! Phật cũng phân biệt trong con người có những vô lậu chủng tử kia mà, hai nghìn rưởi năm Phật đã nghĩ các tế bào siêu vi đó có khả năng di truyền và năng lực tồn tại qua luân hồi. Cứ nhìn thằng lính chết mình lại nghĩ đến phút nó ái ân với vợ, cái chết làm rõ giá trị khi được sống và lúc nào nó sống đầy đủ nồng nàn nhất, thì đúng là lúc nó di động miệt mài, rên rỉ, mê mải trên bụng con vợ. Lại có bà vợ nồng nhiệt đè thằng chồng xuống là sự thường! Hay thật, giây phút ngắn ngủi đó chính là phút thiên thu. Khi trút đi lượng chất lỏng mang sự sống là đạt tới một giá trị siêu hình thật chứ chẳng chơi…!! 
Trời xuống tím thẫm, lạnh. Thuấn choàng tay ôm lấy ngực, người cúi thấp xuống, luồn một tay vào quần. Cứng quá thế này? Chắc vì rượu, hai tháng hơn chưa dùng đến nó, lên đến óc rồi… Khó chịu thật. 
“Thiên?” 
“Dạ, Đại uý…” 
Thuấn không nói, liếc nhìn thằng lính thân tín, mặt nó đẫm trong bóng tối không rõ. 
“Gì Đại uý?” 
“Mày có thèm đàn bà không?” Câu hỏi trống rỗng. Thuấn nghe tiếng cười gừ gừ từ cổ thằng Thiên. 
“Mày cho tao say sao? Uống không? Uống thứ rượu nếp cẩm Việt Nam pha với bột nho Mỹ. Uống đi, mày nuốt cả hai nền văn minh siêu đẳng đó. Một thứ kỹ thuật siêu đẳng, một thứ đau khổ siêu đẳng. Tao là loại sĩ quan siêu đẳng mà là thằng lạc đà siêu đẳng, mày với tao là hai thầy trò”. 
“Siêu đẳng!” Thằng Thiên hân hoan vui thú phụ hoạ. 
“C… Khốn nạn. Mày với tao là hai thầy trò khốn nạn. Hôm nay là hai mươi tám Tết rồi đó Thiên…” Giọng Thuấn trở nên mơ màng, nghẹn nghẹn. Thằng Thiên không nghe được hơi rượu nữa, nó nghe thấy tiếng khóc được nén xuống của “ông thầy”. Trời tối, chẳng ai thấy mặt ai, gió núi thổi se sắt rờn rợn như lưỡi dao mỏng lướt qua vành tai. Sương mù đã phủ kín. Thiên nghe tiếng nói tức tưởi trong sương mù đó: “Mày với tao là hai thầy trò khốn nạn, mày nghe chưa Thiên? Chiều hôm nay là hai mươi tám Tết phải không Thiên? Tao nhớ bài hát “Chiều ơi nắng vàng phai màu rồi, chạnh nhớ quê hương bên trời xa…”. Mẹ tao chết nên tao cũng không biết sinh tại chỗ nào, mày biết quê tao không Thiên? Nhưng tao cũng nhớ quê lắm, tao nhớ làng nhỏ tên gì, phải đi qua một khoảng đồng trống nứt nẻ mới đến luỹ tre, cổng làng. Quê ngoại cũng là quê hương được phải không Thiên? Quê mày ở Huế này hở Thiên? Ở chỗ nào mày chỉ tao xem…” 
“Đằng kia”. Giọng nói ướt nhòe sũng nước mắt. 
“Ơ hay, sao mày khóc? Tao không khóc thì thôi, sao lại mày? Ở đây có thấy làng mày không?” 
“Dạ có, ban ngày có, ban đêm không thấy”. 
“Ở đâu vậy? Quê gì kỳ cục, ban đêm nó biến đi đâu?” 
“Buổi tối, không thấy chỗ đó được, nó ở sát bờ biển”. Thiên ngửi thấy trong dòngg nước mắt mặn đắng có pha mùi đại dương của ấu thơ. Trong bóng đêm giọng của ông thầy nó vẫn vang lên phiền muộn… “Mày với tao là hai thầy trò khốn nạn!”

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Chiến thắng sau cùng nở dưới trời xa

Đường máu mười ba Mẹ qua An Lộc

Nước mắt trên vùng đổ nát còn rơi!

Mộ khói còn lơi vành trắng khăn người..

Lộc Ninh hôm nay đổi thay sắc mới

Màu rừng cao su như phai hận cũ

Đất đỏ trông chờ thêm giọt mồ hôi

Sữa trắng cây rừng khơi lại nguồn vui

Đường xưa bao la Nhịp vui phố xá

Rừng nở tràm hoa xanh xanh màu nhú

Lấp hố bom rồi san phẳng vườn xưa

Phất cao ngọn cờ nhìn vào tương lai

Ngọn cờ nêu cao nhìn vào tương lai…

Chiến Ca Màu Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Mẹ bỏ Dakto từ khi giặc tới

Băng rừng sương qua con suối ngậm ngùi,

Cả giang san còng nặng một lưng gùi

Mẹ bỏ lại cái buôn rừng rực lửa,

Gió nghiến rặng tre dài như nỗi nhớ

Thương cái bò, thương cái mác đào măng,

Cái nhà sàn ôm nương lúa ba trăng

Mai còn chi dưới gót thù xâm lược.

Mẹ về miền xuôi phố phường ngơ ngác

Mang tiếng khèn trắc ẩn điệu quê hương,

Mắt kéo mây nhoà nhạt suối trăng hờn …

Con ở lại nếm căm thù cay đắng

Chong mắt cạn những đêm rừng sâu thẳm,

Nghe thú điên rung nhịp pháo đổ hồi

Giấc chiến hào đêm lạt hỏa châu soi,

Đêm thét tửa trên biển người cuồng nộ

Đêm hội máu – đêm bập bùng man rợ

Đêm lửa hờn thắp sáng rực niềm tin:

Chiến thắng sau cùng nở dưới bình minh

Và sông núi ngàn năm không thể mất

Con vươn lớn trong một miền bí mật

Của tình yêu thương giữa mẹ và con

Một thiêng liêng mà giặc đã không còn.

Trả Lại Tiền

Cao Xuân Huy

Posted by seashelloc 

tháng mười một 14, 2017 

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Cơn thèm đàn bà bắt gã đạp xe loanh quanh trong thành phố.

Đường Hồng Thập Tự lác đác chị em ta đứng thập thò dưới các gốc cây. “Xe qua lại nhiều quá, không được.”

Gã đảo một vòng quanh công viên trước cổng Dinh Độc Lập. Tối. Mỗi gốc cây đều thấp thoáng bóng người. Vài tay cũng đạp xe rào rào giống gã. “Được rồi.”

Gã tấp vào một gốc cây.

Một ả ló ra kéo tay gã:

“Dzô sát trong đây.”

“Nhiêu?”

“Hai chục.”

“Không có đủ.”

“Dzậy có nhiêu?”

“‘Thổi’ không thì nhiêu?”

“Mười.”

“Vẫn không đủ.”

“Dzậy chớ muốn nhiêu?”

“Có năm thôi.”

“Hổng được. Đụ má… Chưa mở hàng.”

“Nguyên một ngày lương! Không được há? Thì thôi.”

Gã quay đi. Ả kéo lại:

“Thôi, có nhiêu lấy nhiêu!”

Gã đứng tựa lưng vào gốc cây. Tụt quần.

Ả ngồi xổm xuống. Làm việc.

Ánh đèn pin bất ngờ chiếu thẳng vào khuôn mặt gã đàn ông, kèm theo tiếng quát.

“Đứng yên!”

Gã mở choàng mắt, kéo vội quần lên.

Ả bật dậy, co chân định chạy.

Tiếng lên đạn lách cách. Tiếng quát của tên dân phòng:

“Đưa giấy tờ coi.”

Gã lúng túng moi ra tờ giấy. “Ra Lệnh Tha”, Tội danh: “Can tội sĩ quan ngụy.”

Ánh đèn pin dừng lại trên những hàng chữ, ngập ngừng.

Tiếng gã đàn ông phân bua:

“Tôi mới được thả. Lâu ngày… thèm quá”

Tên dân phòng nhỏ giọng:

“Anh tui cũng bị mấy năm như cha, mà đâu có tầm bậy tầm bạ như dzầy. Phải kiếm chỗ kín kín một chút chớ.”

“Tôi cũng muốn vậy, nhưng tiền đâu mà mướn phòng.”

“Nó lấy cha nhiêu?”

“Năm đồng.”

“Năm đồng?” Tên dân phòng bật tiếng cười.

Quay sang phía ả đàn bà, hắn ra lệnh:

“Trả tiền lại cho người ta!”

Không hiểu, ả hỏi lại:

“Tiền? Trả lại… ”

Hắn quát:

“Trả lại cho người ta rồi đi đi.”

Ả ngập ngừng định lên tiếng, nhưng đành im lặng trả lại tiền.

Gã đàn ông lên xe, đạp đi. Đợi tên dân phòng đi khuất, gã vòng xe lại, đến gần ả.

“Này, tôi trả lại năm đồng.”

Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:

“Thôi giữ lấy xài đi.”

Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Kỳ 4

Giết người xong, cai tù treo cổ anh lên rồi kết tội rằng anh ấy đã tự tử. Tôi nghĩ thầm trong bụng, ở đâu bọn sát nhân này cũng áp dụng một phương cách giết người giống nhau.

Năm 1976 tôi đã chứng kiến vở kịch “tự tử” của nhân vật cựu Thiếu tá Nguyễn Hữu Ðông ở Trại 4 Liên Trại 4 Hoàng Liên Sơn.

Ông Ðông can tội trốn trại, bị cùm chân, còng tay, vậy mà cai tù đã nói rằng ông Ðông chết vì treo cổ tự tử.

Nay nhân vật Trần Hàn của Trại Nam Hà A cũng bị cùm chân, còng tay, cũng chết vì treo cổ tự tử.

Năm 1976, sau khi trốn trại lần thứ nhứt thất bại, tôi đã bị đưa về Trại 4 Hoàng Liên Sơn, bị nhốt trong cái buồng giam mà anh Ðông đã bị nhốt trước đó vài ngày.

Tôi đã bị cùm chân và còng tay, nằm ngay trên cái sàn gỗ mà anh Ðông đã nằm.

Trong phòng giam này, cái xà ngang cao lắm! Muốn treo cổ lên xà phải đứng trên ghế! Tìm đâu ra cái ghế? Tìm đâu ra sợi dây dù để làm thòng lọng?

Ngày được thả ra khỏi phòng kiên giam để về đội lao động ở Trại 4 năm 1976, bạn bè tôi đã kể cho tôi nghe rằng, cái đêm mà Thiếu tá Ðông bị treo cổ thì quạ ở đâu bay về đậu kín mái buồng giam.

Rồi cứ “Quang quác! Quang quác!” lũ quạ tranh nhau kêu om sòm cho tới sáng.

Có phải đêm qua vì anh Hàn bị cai tù giết chết mà giữa khuya tôi đã mơ hồ nghe văng vẳng, xa xa tiếng quạ gọi nhau?

Vụ án Trần Hàn là một vụ án hoàn toàn không có tang chứng, không có vật chứng và không có nhân chứng.

Anh Hàn không bị bắt quả tang khi đang tàng trữ chiếc radio.

Anh Hàn bị bắt với hai tay không; cán bộ đã không tìm thấy cái máy thu thanh nào.

Không có ai làm chứng hành động phạm tội của cải tạo viên Trần Hàn.

Trong Buồng 3 có cả trăm tù nhân bị nhốt chung với anh Hàn, nhưng không có tòng phạm nào bị bắt cả.

Trong khi đó, tên Công An quản giáo Ðội 32 đã tiết lộ nguyên nhân vì sao anh Hàn đã chết là:

“Ðêm qua cán bộ đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt các cải tạo viên khác.”

Như vậy, đây là một vụ giết người có chủ đích của bọn cai tù.

Chuyện Thiếu tá Trần Hàn treo cổ tự tử chỉ là một màn kịch được dàn cảnh để bọn sát nhân hợp thức hóa cái chết của Thiếu tá Trần Hàn mà thôi.

Từ ngày không còn tin tức do nghe radio nữa, quân ta đành truyền tai cho nhau tin tức thế giới đã nghe được qua những lần thăm nuôi của gia đình. Mất hy vọng này, ta nuôi hy vọng khác.

Tin tức từ thân nhân qua thăm nuôi cũng có tin vui, tin buồn, tin thật và tin giả.

Có một tin vui rộ lên rằng, hiện nay trong rừng núi Bạch-Mã ở Miền Trung có một trung đoàn Việt-Nam Cộng-Hòa đang ẩn náu và chiến đấu, người chỉ huy trung đoàn này là Trung tá Hoàng Mão, một anh hùng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Tin vui này vừa qua cổng đã được rỉ tai lan truyền rộng rãi, và đã làm cho một số tù ù ù, cạc cạc vui mừng. Những người biết chuyện nghe tin, lại ôm bụng mà cười.

Người ta cười vì thực ra, thời gian này cựu Trung tá Hoàng Mão cũng là một cải tạo viên đang bị nhốt ở Buồng 15. Hoàng Mão là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.

Vào một ngày trời mưa, ông Hoàng Xuân Tửu vào gọi tôi ra nhà văn hóa để gặp người nữ cán bộ Công An phụ trách thăm nuôi.

Viên nữ cán bộ hỏi tôi,

– Anh có quen ai tên là Bùi Tiến Tỉnh không?

Tôi lắc đầu,

– Không!

– Vậy Bùi Tiến Tỉnh không phải là anh của anh sao?

Tôi khẳng định,

– Không!

Người nữ Công An lườm tôi một cái rồi lắc đầu,

– Mới ăn cơm tù có mấy năm mà anh đã lú đã lẫn rồi! Ðến anh của mình mà cũng nói là không quen!

Tôi nhíu mày,

– Tôi không có anh có chị thì nói là không có anh có chị, chứ lú với lẫn cái gì?

Nghe thế, người nữ Công An lại hỏi,

– Có phải anh là người quê Hải Hưng không? Anh Bùi Tiến Tỉnh ở Hải Hưng tự xưng là anh của anh đấy!

Tới lúc này tôi mới vỡ lẽ, chợt nhớ ra, người có tên là Bùi Tiến Tỉnh chắc là ông anh con cô con cậu của tôi ở Hải-Dương. Ngày xưa, khi tôi di cư vào Nam thì anh ấy còn bé lắm.

Tôi gật gù,

– À! Chắc anh Tỉnh là con bác tôi. Tôi ở trong Nam, anh ấy ở ngoài Bắc chưa thấy nhau bao giờ, nên không nhớ ra, cán bộ cho tôi ra gặp anh ấy đi!

Người nữ Công An nhìn tôi rồi lắc đầu,

– Người ngoài Bắc nhỏ tuổi hơn thì nhớ họ, nhớ hàng, người trong Nam lớn tuổi hơn lại chẳng thèm nhớ ai!

Tôi buột miệng nói cho qua,

– Ðúng rồi! Người trong Nam lớn tuổi hơn nên lẩm cẩm!

Quả thực tôi lớn lên ở trong Nam, đến người cùng quê còn không thấy, huống chi họ hàng thân quyến còn ở ngoài Bắc. Anh Bùi Tiến Tỉnh là con ông Bùi Văn Ðệ, anh ruột mẹ tôi. Người Nam gọi anh của mẹ là cậu, còn ở ngoài Bắc lại gọi là bác. Bác Ðệ có hai vợ, người con gái lớn của bác cùng tuổi với tôi, còn anh Tỉnh là người con thứ nhì. Anh Tỉnh nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Ngày tôi di cư vào Nam thì anh Tỉnh mới lên sáu.

Anh Tỉnh sinh ra và lớn lên trong thành phố Hải Dương nên không bị nói ngọng, nhưng giọng anh vẫn cưng cứng, tôi nghe không quen.

Anh Tỉnh thân hình vạm vỡ và cao hơn tôi một cái đầu.

Anh tôi ôm tôi, rồi khóc như mưa,

– Ngày chú ra đi thì anh còn bé tí đâu biết gì? Nếu đất nước cứ chia đôi thì suốt đời anh em không thấy nhau. Vậy mà giờ đây anh được gặp em. Anh mừng quá sức. Ðúng là ông giời có mắt!

Anh tôi đúng là hiện thân của một công nhân chân chất thật thà.

Cổ nhân có câu “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã!” quả là không sai.

Tôi là người không có anh chị, bố tôi lại mất sớm, nên vòng tay siết chặt của anh Tỉnh đã cho tôi cái cảm giác thật là ấm áp khi lần đầu được một người anh ôm ấp, vỗ về.

Anh tôi kể hết chuyện này sang chuyện nọ, nào là ông nội, bà nội của anh, tức là ông ngoại, bà ngoại của tôi thương nhớ mẹ con tôi ra sao, rồi ông bà tôi chết năm nào. Hết chuyện canh tác ruộng đất, anh nói qua chuyện xây nhà xây cửa, chuyện lụt lội hàng năm, rồi tới chuyện anh cưới vợ sinh con.

Tôi cứ ngồi yên mà nghe anh tôi tâm sự, cho tới lúc anh tôi cầm tay tôi rồi nhỏ giọng,

– Chiến tranh quả là quá tàn khốc! Anh rất muốn em trả lời anh một thắc mắc, em có vui lòng không?

– Anh cứ hỏi.

– Em là người suốt đời đánh trận. Vậy em có bao giờ chôn một bộ đội Miền Bắc xâm nhập tên là Hải không?

Tôi phì cười vì câu hỏi quá ngây thơ,

– Sau một trận đánh thì số người chết có khi cả chục, có khi cả trăm, ai công đâu mà lục xác, tìm tên tuổi từng người. Ủa! Mà Hải là ai vậy anh?

– Em Hải là con dì Muối, Long quên rồi à?

Tôi chỉ nhớ mang máng, bà Muối là vợ hai của bác Ðệ nhưng không biết bà Muối có người con là anh Hải, tôi hỏi anh Tỉnh,

– Vậy anh Hải là em khác mẹ với anh? Anh Hải chết ở trong Nam à?

– Em Hải nhỏ hơn anh hai tuổi. Hải bị gọi đi nghĩa vụ. Nó đi B và đã hi sinh trong trận Pơ lây me năm 1974. Em có biết Pơ lây me ở đâu không?

Tôi chột dạ khi nghe tin một người anh con cô con cậu của tôi đã chết trên chiến trường mà tôi đã tung hoành trong nhiều năm.

Tôi cầm tay anh Tỉnh,

– Biết! Tôi biết Pleime ở Pleiku, Pleiku ở Cao Nguyên Trung Phần Việt-Nam Cộng-Hòa.

Anh tôi chợt ngước mắt lên trời, rồi gật gù,

– Cốt nhục tương tàn! Chắc ngày đó em không biết rằng trong đoàn quân vào Nam để đánh nhau với em lại có người anh con cô con cậu của em! Ðiều đáng buồn là em Hải đã chết. Nhưng điều đáng vui là sau chiến tranh em Long vẫn còn sống.

Tôi chẳng biết phải nói gì khi nghe câu bình luận có vẻ “hòa tiền” của anh tôi.

Cứ thấy người chết thì buồn, cứ thấy người sống thì vui!

Cách suy nghĩ cũng như cách giải thích của anh tôi sao mà giản dị quá vậy?

Quà mà anh Tỉnh mang lên thăm nuôi tôi là một bao cát chứa 10 ký lô gạo ruộng mới xay cùng cái bao giấy xi măng bọc kỹ 20 con cá mối phơi khô.

Tôi lấy làm lạ khi thấy những người tù được thăm nuôi và thân nhân của họ còn đang quây quần bên nhau chuyện trò, ăn uống, thì anh Tỉnh đã ôm tôi rồi nói câu từ biệt,

– Thôi! Anh phải về. Sợ nhỡ chuyến tàu hỏa Phủ- Lý, Hà- Nội tối nay. Lại còn phải lo chuyện đi nhờ xe vận tải xuôi Hải-Dương nữa chứ!

Trước lúc bước đi, anh lại cầm tay tôi lần nữa,

– Của ít, lòng nhiều. Trong khả năng của anh, anh chỉ có chút quà này đem cho em, mong em đừng chê.

Trong màn mưa mỏng giữa trưa, hình bóng anh tôi mờ dần, mờ dần, rồi biến mất sau con dốc dẫn xuống phân trại C.

Thì ra, để có thời gian chừng nửa giờ để thăm đứa em con bà cô đang bị giam giữ ở Nam-Hà A, người công nhân Bùi Tiến Tỉnh đã phải rời Ngã Sáu Hải Dương từ nửa đêm qua. Sau khi quá giang theo một chiếc xe vận tải để tới Hà Nội, anh liền nhảy tàu hỏa nhưng không mua vé để về Ga Phủ-Lý. Ở bến đò Phủ-Lý, anh năn nỉ người kiểm soát vé phà để được miễn trả tiền qua Hát Giang.

Rồi vác 10 ký lô gạo trên vai, tay xách 20 con cá khô, anh cuốc bộ một hơi từ bến phà sông Ðáy tới Nam Hà.

Thăm em chưa được nửa giờ anh đã phải về. Trên con đường ngược chiều ấy, anh sẽ cuốc bộ, sẽ qua phà, sẽ nhảy tàu, sẽ quá giang xe tải xuôi về quê tôi, Hải-Dương.

Con đường trở về của anh có lẽ không còn vất vả như lúc anh đi. Trên vai anh nhẹ tênh, không còn gạo, không còn cá.

Tôi nghĩ rằng, chắc chắn trên đời này hiếm có người anh con cô con cậu nào tốt bụng như ông anh của tôi. Tội nghiệp anh tôi!

Nhìn màn mưa đang giăng trên những đỉnh núi đá vôi, rồi mường tượng ra đoạn đường gập ghềnh lầy lội từ đây ra Phủ-Lý, tôi bỗng thấy thương anh tôi quá.

Tới chiều, tù được thăm nuôi xếp hàng đi về trại.

Ai cũng gánh nặng, gánh nhẹ, riêng tôi chỉ cần một tay xách, một tay ôm.

Không biết các bạn được thăm nuôi cùng ngày với tôi có được thân nhân thông báo cho chút tin tức quốc nội, quốc ngoại gì không, chứ tôi thì chẳng có chuyện gì vui lạ để mà kể lại cả.

Lần thăm nuôi trước cách nay hơn nửa năm, mẹ tôi và vợ tôi từ Nam ra, tôi đã chia sẻ đồ ăn cho một số bạn thân.

Kỳ này vì “Của ít, lòng nhiều” nên tôi chỉ mời một người bạn là Lê Văn Chánh. Từ ngày đi tù tới giờ này, chưa có ai ra thăm Chánh.

Hoàng Trai, Lê Văn Chánh, Vương Mộng Long – USA 2007

Nghe tôi mô tả chặng đường mà bao gạo 10 ký lô đã đi để tới Nam Hà, bạn tôi đã đưa tay chùi nước mắt,

– Tội nghiệp ông anh của Long!

Lê Văn Chánh là một nghệ sĩ, nó mau nước mắt lắm!

Nghe một câu chuyện thương tâm là nó khóc, thấy một chuyện thương tâm là nó khóc.

Bưng bát cơm, nghe kể nguồn cơn đường đi, nước bước của bát cơm, nó cũng khóc.

Rồi nó tiếp tục vừa khóc tỉ tê, vừa kể cho tôi nghe một chuyện thăm nuôi, cũng rất buồn ở phân trại B.

Nó nghe được chuyện này khi đi đổ thùng sáng nay.

Mới cách đây hai hôm, có một bà vợ ông cựu đại úy dẫn một đứa con gái từ trong Nam ra thăm chồng. Cháu bé mừng vui vô cùng vì sau bao tháng ngày nhung nhớ, cháu đã được gặp mặt bố cháu. Trên đường về, cháu vui, cháu nhảy chân chim…

Đại úy Trần Đức Lợi, Đại úy Đỗ Dũng, Đại úy Nguyễn Phương Đức, Đại úy Trần Tiến Bích – Houston USA (nguồn Đỗ Dũng)

Nhưng ông cựu đại úy vừa về tới buồng giam thì đã có tin con gái ông mới bị bắn chết!

Cháu chết ở chân dốc Ba Sao, nơi đây Trại Nam Hà C và Trại Tâm Thần ở sát nhau.

Ðã xảy ra ẩu đả giữa nhân viên giữ tù tâm thần và cai tù Trại C.

Sau khi đánh nhau bằng tay, chúng nó đã bắn nhau bằng súng.

Một viên đạn lạc đã cướp đi sinh mạng đứa bé gái vừa vượt cả ngàn cây số đường dài từ Nam ra Bắc để thăm bố.

Cháu bé đã được chôn bên cạnh mộ những người bạn tù của bố nó trong nghĩa địa tù Trại C.

Hai ngày sau khi tôi được thăm thì anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích nằm sát bên tôi cũng được thăm. Khách mời của Bích chiều hôm đó là một thương binh cụt một chân tên là Trần Văn Hòa.

Cựu Ðại úy Trần Văn Hòa là phi công của Phi Ðoàn 215 Thần Tượng, đồn trú ở Nha Trang. Thời 1968 tôi thường được phi cơ của đơn vị này chuyển vận trong các cuộc hành quân ở Cao Nguyên Vùng 2.

Thấy anh Hòa bị què một chân, tôi thắc mắc,

– Ủa! Anh là thương binh mà cũng bị bắt đi cải tạo ư?

Anh Hòa lắc đầu,

– Tôi không phải là thương phế binh. Tôi mới bị cưa chân đó!

Rồi Hòa từ từ tường thuật cho tôi nghe nguyên do vì sao anh đã bị què…

Thời gian mà tôi còn bị giam ở Trại 4 Liên Trại 4 thì Hòa bị giam ở Trại 9.

Ðói quá, nên hàng đêm Hòa thường chui rào ra vườn sắn moi mấy củ sắn vào nấu, nướng để ăn cho đỡ lòng.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Một ngày nữa lại trôi qua, mặc dù sự lo âu của Innokenty không giảm, vẫn không có gì khả nghi là việc làm của chàng bị bại lộ xảy ra hết. Tuy vậy, Innokenty biết rằng đêm xuống, chàng sẽ lo sợ nhiều hơn, bởi vậy chàng quyết định sẽ đi coi hát cùng với Dotty, vợ chàng. Chàng sẽ trốn trong rạp hát để khỏi phải giật mình mỗi khi có tiếng chuông cửa. 
Bỗng tiếng chuông điện thoại reo vang. Đây là lúc vợ chồng Innokenty sửa soạn đi coi hát. Dotty, tươi trẻ và quyến rũ trong bộ áo tắm mặc sơ trên người, vừa đi ra khỏi phòng tắm.
Innokenty đứng đó, chàng mệt mỏi nhìn xuống máy điện thoại: 
“Dotty” – chàng bảo vợ – “em trả lời cho anh. Có ai hỏi anh em trả lời anh không có nhà, không biết đến bao giờ anh về. Họ có thể làm hỏng đêm nay của vợ chồng mình”. 
Một tay nắm ngực áo. Dotty nhấc ống nói: 
“Alô? Nhà tôi không có nhà… Ai? Ai đó?” 
Bỗng dưng giọng nói và vẻ mặt của nàng đổi thành thân thiện: 
“Alô… Kính chào Đồng chí Đại tướng… Dạ… dạ…để tôi hỏi lại xem… Xin chờ…” 
Nàng che ống nói và đôi mắt sáng lên, nhìn chồng: 
“Đại tướng muốn nói chuyện với anh. Ông ấy có vẻ vui lắm…” 
Nghi ngờ nổi lên trong Innokenty. Việc ông Đại tướng đích thân gọi tới nhà một nhân viên dưới quyền ban đêm, và ông lại tỏ ra vui vẻ nữa, là một việc ít có. 
Dotty ghi nhận sự do dự của chồng, nàng linh động nói vào máy: 
“Có người mở cửa. Chắc là nhà tôi về… Dạ, đúng là nhà tôi. May quá…. Ini… lại đây mau… Đại tướng gọi anh…” 
Mặc dù Dotnara chưa từng bao giờ học về diễn xuất, nàng cũng chưa bao giờ lên sân khấu đóng kịch nhưng giọng nói của nàng làm cho kẻ đa nghi nhất ở đầu dây nói bên kia cũng phải nhìn thấy cảnh Innokenty vừa mở cửa vào nhà, giơ tay định cởi áo ngoài và trước tiếng gọi của vợ, đi tới chỗ đặt máy điện thoại. 
Giọng nói của ông Tướng đúng là giọng nói vui vẻ như Dotty đã nhận thấy. Ông hiền hòa báo cho Innokenty biết rằng sự ủy nhiệm của chàng đã được cấp tối cao chấp thuận: sáng thứ Tư, chàng sẽ ngồi phi cơ bay đi Paris, ngày mai chàng sẽ bàn giao chức vụ ở Bộ và ngay bây giờ, chàng phải tới sở để nhận những chỉ thị mật cuối cùng. Chàng sẽ mất chừng nửa tiếng đồng hồ. Một chiếc công xa đã được Bộ Ngoại giao cho tới nhà chàng để đón chàng. 
Innokenty đặt máy xuống. Chàng thở ra một hơi dài, hài lòng, nhẹ người. Cùng với hơi thở này, chàng trút hết cơn sợ hãi và nghi ngờ dồn ép ở trong ngực chàng kể từ phút chàng gọi điện thoại đến nhà Giáo sư Dobroumov. 
“Dotty… anh sẽ bay đi Paris vào sáng thứ Tư. Ngay bây giờ anh phải tới sở…” 
Vợ chàng đã ghé tai vào ống nghe và nàng cũng đã nghe rõ tất cả, nàng nghiêng đầu, duyên dáng hỏi chồng: 
“Chỉ thị mật là những chỉ thị gì? Có chỉ thị nào liên can đến em không?” 
“Có thể”. 
“Anh sẽ nói gì với họ về em? Không có em, làm sao anh đến Paris được? Anh cứ nói là không có em, anh không thể làm việc được. Em muốn đi Paris với anh”. 
“Tất nhiên là em cũng đi chứ, nhưng không đi ngay thôi. Anh phải đến Paris trước, làm quen với mọi việc, mọi người…” 
“Nhưng em muốn đi Paris ngay kia”. 
Innokenty mỉm cười, chàng hôn nhẹ lên má vợ: 
“Để anh gắng xem, cũng có thể là em cùng đi ngay với anh, có thể là em phải đi sau. Chưa thấy họ quyết định gì cả. Bây giờ anh tới Bộ. Họ cho xe đón anh, em cứ sửa soạn, nhưng từ từ thôi. Đừng vội. Chúng mình sẽ bỏ màn đầu. Đêm còn dài. Trước khi về, anh sẽ gọi điện thoại từ Bộ cho em biết”. 
Chàng vừa bận xong bộ sắc phục ngoại giao thì có tiếng chuông cửa, người tài xế của Bộ đem xe đến đón. Người tài xế này không phải là Victor, người vẫn thường đến đón chàng mọi ngày. Hắn hơi gầy, cử chỉ nhanh nhẹn, nét mặt vui và có vẻ có học. Hắn đi sát sau Innokenty trên đường xuống thang lầu, tay hắn quay quay dây chìa khóa xe. 
“Tôi không nhớ mặt anh…” Innokenty vừa gài nút áo ngoài vừa nói. 
“Tôi có được đến đón ông hai lần…” 
Gã tài xế nhanh nhẩu đáp. Nụ cười của hắn vừa ngây thơ vừa tinh quái. Innokenty nghĩ rằng hắn thuộc tài xế khôn lanh rất được việc và làm được nhiều việc khác ngoài việc lái xe. 
Họ vào chiếc xe đen đậu trước cửa và xe mở máy chạy đi. Innokenty ngồi ở băng sau. Hai lần, gã tài xế gợi chuyện nói với chàng nhưng chàng không nghe. Bỗng chiếc xe quẹo gấp vào vỉa hè và dừng lại. Innokenty nhìn thấy một người đàn ông hãy còn trẻ đứng ở bên hè với ngón tay giơ lên: 
“Ông này là Ủy viên Kiểm soát Công xa…” – gã tài xế giải thích – “chúng tôi bắt buộc phải cho ổng đi nhờ…” 
“Được. Được. Không sao…” 
Gã tài xế nhoài người ra mở cánh cửa băng trên, nhưng khóa cửa bị kẹt, hắn tắc lưỡi rồi ngoảnh lại nói: 
“Đồng chí Cố vấn… xin phép đồng chí cho ông ấy được ngồi băng sau… Tôi bị bắt buộc…” 
“Được. Được. Không sao”. 
Innokenty nhắc lại. Chàng đang ở trong trạng thái tâm hồn phơi phới, chàng như đang nhìn thấy chàng nhận sổ thông hành, chiếu khán, đi theo đoàn hành khách vô tư lên phi cơ, bay vút lên trời, bỏ hết mọi nguy hiểm, âu lo lại sau lưng. 
Gã Ủy viên Kiểm soát Công xa, một điếu thuốc dài gắn trên vành môi, cúi mình vào xe. Gã nói: “Xin lỗi” và buông mình ngồi phịch xuống. 
Chiếc xe chồm trên mặt đường. 
Trong khoảnh khắc, Innokenty cảm thấy cái cảm giác ghê tởm phải ngồi ăn với một gã đàn ông lạ mà chàng nghi là không được sạch sẽ lắm. Chỉ trong nửa phút xe chạy, gã đàn ông lạ đó đã làm không khí trong xe tràn đầy khói thuốc lá. 
Innokenty nói, giọng hơi gay gắt: 
“Hạ cửa xe cho khói ra chứ”. 
Nhưng gã đàn ông lạ như không nghe rõ chàng nói gì. Gã không hạ cửa kiếng xe, thay vì làm thế, gã nghiêng người móc trong túi ra một tờ giấy, mở rộng, đưa cho Innokenty: 
“Này, đồng chí, đọc giùm tôi cái này, để tôi chiếu đèn cho sáng”. 
Xe chạy vào một con đường tối, có thể là đường Pushecnhaya. Gã đàn ông lạ móc túi lấy ra cây đèn bấm làm theo kiểu cây viết. Gã chiếu vòng ánh sáng vàng lên mặt giấy xanh. Innokenty nhún vai, chàng đỡ lấy tờ giấy với cảm giác ghê tởm và bắt đầu lơ đãng đọc: 
“Tôi, Chưởng lý Công tố viện Liên bang Xô Viết ra lệnh…” Vừa đọc chàng vừa nghĩ đến chuyện tại sao gã lạ mặt này lại đưa cho chàng đọc tờ giấy này, bộ gã không biết chữ hay sao, hay là gã say rượu? – “bắt giam” – chàng đọc nhưng vẫn chưa hiểu là chàng đang đọc gì – “tên Volodin, Innokenty Aratemyevich, sinh năm 1919…” 
Chỉ đến lúc đó, khi thấy tên mình hiện lên trên tờ trát tống giam, Innokenty mới thấy chàng bị đâm suốt từ đầu đến chân, bằng một mũi kim dài và nhọn hoắt. Chàng mở lớn miệng, nhưng không một âm thanh nào thoát ra được. Bàn tay, vẫn cầm tờ giấy, rơi xuống đùi chàng và gã đàn ông lạ mặt, đưa tay trái lên nắm cổ áo chàng, chiếu đèn bấm vào mặt chàng, gằn giọng: 
“Ngồi im. Ngồi im. Đừng làm bậy. Chết ngay lập tức…” 
Gã làm Innokenty hoa mắt vì ánh đèn và thở khói thuốc mù mịt mặt chàng. 
Mặc dù Innokenty vừa đọc lệnh bắt giam chàng, và mặc dù chàng hiểu rằng đời chàng đến đây là hết, ngay lúc đó, điều làm chàng không sao chịu nổi là những ngón tay cứng như sắt của kẻ lạ túm lấy cổ áo chàng, và ánh đèn, khói thuốc phà vào mặt chàng: 
“Buông ra…” 
Chàng đưa những ngón tay run rẩy lên gỡ bàn tay nắm cổ chàng, tuy chàng biết hơn ai hết rằng trát bắt giam không phải là trát giả mạo, chàng bị bắt thực sự nhưng chàng vẫn còn tin rằng nếu chàng tới được Bộ Ngoại giao, gặp được những thượng cấp quen biết của chàng, lệnh này sẽ được hủy bỏ. Chàng run rẩy mở cửa xe, nhưng khóa cửa không mở. 
“Tài xế…” – chàng giận dữ kêu lên – “thế này là nghĩa lý gì? Các người định làm gì tôi?” 
Gã tài xế thay đổi hẳn thái độ, vừa gia tăng tốc lực cho xe chạy mau hơn, gã vừa hung hãn trả lời: 
“Tôi phục vụ Liên bang Xô Viết…” 
Xe chạy qua công trường Lubyanka sáng trưng ánh đèn như cố ý để cho Innokenty nhìn thấy lần cuối cùng không những là thế giới mà chàng sắp rời bỏ mà còn cho chàng thấy cả hai tòa nhà Lubyanka Cũ và Mới, một trong hai tòa nhà đó, năm tầng cao, là nơi kết liễu cuộc sống của chàng. 
Nhiều dãy xe hơi dừng lại khi đèn đỏ và từ từ chuyển bánh khi đèn đổi màu xanh. Những chiếc xe buýt chở đầy người. Hai bên vỉa hè, người ta chen vai nhau đi. Không ai biết gì đến nạn nhân đang bị bắt đi đến chỗ chết thê thảm ngay ở trước mắt họ. 
Chiếc xe chạy tới ngang mặt tòa nhà nổi tiếng khắp thế giới và quẹo vào đường Lubyanka Bolshaya. Những cánh cổng sắt đen mở ra khi xe vừa tới và đóng ngay lại khi xe vừa đi qua. 
Khi xe chạy qua cổng sắt, nắm tay trên cổ áo Innokenty mới nới lỏng, khi xe vào đến sân, gã lạ mặt mới hoàn toàn buông chàng. Gã nhanh nhẹn mở cửa xe bên phía gã và bước ra: 
“Đi ra…” 
Gã tài xế cũng xuống xe. Gã mở cánh cửa xe phía Innokenty. Rõ ràng là ở trong xe mở không được cửa nhưng ở ngoài thì mở được. 
“Đi ra. Tay để ra đằng sau”. 
Gã cũng nói bằng giọng ra lệnh. Lúc này, gã không còn giống chút nào với gã tài xế tươi tỉnh, vui vẻ khi Innokenty mới nhìn thấy gã. 
Innokenty ra khỏi xe. Chàng đứng thẳng người lên và làm theo lời ra lệnh, mặc dù chàng không biết tại sao chàng lại làm theo, chàng đặt hai tay ra đằng sau. 
Bọn đi bắt chàng đã đối xử với chàng một cách thô bạo nhưng dù sao, việc bị bắt, đối với chàng, cũng không đến nỗi ghê khiếp quá như chàng tưởng tượng trong thời gian chờ đợi bị bắt. Chàng có cái cảm giác gần như là dễ chịu. Như vậy là chàng không có cái gì phải sợ nữa, không còn gì để phải chiến đấu, phải giả vờ. Chàng có cảm giác tê dại như người lính khi bị thương. 
Chàng nhìn quanh mặt sân nhỏ, tăm tối. Mặt sân này là đáy một cái giếng sâu, thành giếng là những tòa nhà cao bao quanh. 
“Không được nhìn” – gã tài xế đẩy chàng – “Đi”. 
Họ đi thành hàng một, Innokenty đi giữa, qua những nhân viên mật vụ bận đồng phục MGB thản nhiên, qua một cổng đá thấp, xuống vài bậc đá, vào một mặt sân nhỏ khác – sân này có mái che nên u tối hơn – rồi rẽ trái. Gã tài xế mở một cánh cửa, cánh cửa này trông sang và đẹp như cửa phòng mạch bác sĩ nhà giàu. 
Cửa mở vào một hành lang nhỏ, sạch, sáng đèn. Gã tài xế đi đầu bắt đầu tắc lưỡi như để gọi chó mặc dù không thấy bóng một con chó nào hết. 
Hành lang ngừng trước một cánh cửa khác. Nửa trên của cánh cửa này là kiếng nhưng có màn nhung che bên trong. Trên tường có tấm bảng đồng khắc hàng chữ: PHÒNG TIẾP NHẬN NGƯỜI BỊ BẮT. 
Gã tài xế nhấn chuông cửa. Tấm màn bên trong được vạch ra và bộ mặt dài như mặt ngựa của người gác, bận đồng phục mang cấp bậc Trung sĩ, thản nhiên nhìn ra. Rồi y mở cửa và gã tài xế một mình bước vào phòng. Cánh cửa đóng lại sau lưng chúng. 
Innokenty và gã mặt lạ đứng im lặng trước khung cửa. 
Tấm bảng PHÒNG TIẾP NHẬN NGƯỜI BỊ BẮT là thứ bảng giống như bảng NHÀ XÁC hoặc PHÒNG TIẾP NHẬN XÁC CHẾT – và nghĩa của nó cũng như thế. Innokenty không còn có cả ý lực để tỏ thái độ bất bình với gã đàn ông lạ mặt đã đóng kịch để bắt chàng, gã đàn ông đầy hỗn xược. Chàng nên phản đối, la hét, đòi hỏi pháp luật và công lý, nhưng lúc này, chàng quên mất cả việc chàng vẫn giữ hai tay sau lưng. Tâm trí chàng đã ngừng hoạt động và chàng nhìn ngây, như bị thôi miên, lên tấm bảng PHÒNG TIẾP NHẬN NGƯỜI BỊ BẮT. 
Cánh cửa lại mở và gã nhân viên mặt dài ra hiệu cho họ bước vào. Gã đi trước họ, lưỡi tặc tặc như gọi chó. 
Trong phòng này cũng không có chó. 
Phòng có đèn sáng và sạch như phòng bệnh viện. 
Trong phòng có hai cửa sơn xanh, gã nhân viên mở một cánh cửa và nói: 
“Vào đây”. 
Innokenty bước vào. Chàng vừa vặn kịp nhìn quanh để biết rằng phòng này không có cửa sổ và đồ đạc trong phòng chỉ là một cái bàn gỗ dài và hai cái ghế đẩu, hai tên mật vụ đi bắt chàng đã tới sau lưng chàng. Một tên khóa hai tay chàng ra sau lưng, tên kia lục soát các túi chàng. 
“Các người ăn cướp à?” – Innokenty kêu lên, nhưng tiếng kêu của chàng đã yếu “…Ai cho các anh có quyền khám tôi…?” 
Chàng yếu đuối chống cự, nhưng tự biết rõ rằng đây không phải là bọn cướp bóc và hai gã mật vụ này chỉ làm công việc được giao phó cho chúng làm sức lực của chàng tiêu tan và giọng nói của chàng thiếu những thanh âm quyết liệt.
Họ lấy chiếc đồng hồ vàng ra khỏi túi chàng cùng hai cuốn sổ tay, một cây bút bằng vàng, và một chiếc khăn tay. Chàng nhìn thấy trong tay chúng cái phù hiệu đeo ở vai áo của nhân viên ngành ngoại giao nhưng ngay lúc đó chàng không biết đó chính là phù hiệu của chúng lột ra ở vai áo của chính chàng. Cuộc giằng co tiếp tục. Gã mật vụ đóng vai Ủy viên Kiểm soát đưa trả chàng cái mùi-soa. 
“Cầm lấy”. 
“Bàn tay bẩn thỉu của các anh đã cầm nó…” 
Innokenty rít lên và lùi lại, như chàng bị bắt cầm một vật gì ghê tởm. 
Chiếc khăn rơi xuống sàn. 
“Người ta sẽ cho anh một tờ biên nhận những vật này…” 
Gã mật vụ lái xe nói, sau đó cả hai đi vội ra khỏi phòng. 
Gã Trung sĩ mặt dài, trái lại, đủng đỉnh không chút vội vàng. Nhìn chiếc khăn tay nằm dưới sàn, gã khuyên: 
“Nên nhặt lên là hơn”. 
Nhưng Innokenty vẫn không chịu cúi xuống. 
“Chúng nó lột phù hiệu của tôi…” 
Chàng điên lên vì giận. Đến lúc này chàng mới biết là cặp phù hiệu trên vai áo của chàng đã bị hai tên mật vụ lột mất. 
“Hai tay sau lưng” – gã Trung sĩ nói bằng một giọng máy móc – “Đi”. 
Và gã tắc lưỡi. 
Hành lang đi vòng và mở vào một hành lang khác, hai bên có những ô cửa nhỏ sơn màu xanh ô-liu. Mỗi ô cửa có một bảng số ghi hình bầu dục. Trong lúc Innokenty và gã Trung sĩ đi qua hành lang, một cô nữ nhân viên mật vụ đã có tuổi, cũng bận đồng phục MGB, cũng mang cấp bậc Trung sĩ, đang đứng nhìn qua lỗ nhòm đục trên cánh cửa vào một văn phòng. Mụ thản nhiên buông miếng gỗ che lỗ nhòm xuống và quay lại nhìn Innokenty như chàng từng đi qua đi lại trước mặt mụ cả trăm lần trong ngày và không hề có gì lạ đáng để ý trong việc chàng đi trước mặt mụ một lần nữa. Mụ tra một chìa khóa dài vào ổ khóa thép của ô cửa ghi số 8, đẩy cánh cửa và ra hiệu cho chàng: 
“Vào đi”. 
Innokenty bước qua cánh cửa vào phòng. Trước khi chàng kịp quay lại để hỏi, cánh cửa đã đóng lại. 
Như vậy đây là nơi chàng phải sống? Một ngày? Một tháng? Một năm? Nhiều năm? Không thể gọi đây là một căn phòng, cũng không thể gọi đây là một xà lim, bởi vì, qua những gì ta biết nhờ sách vở, một căn phòng ít nhất cũng phải có một cửa sổ, và có chỗ để có thể đi đi lại lại, dù rất nhỏ, rất hẹp. Ở đây Innokenty không thể bước đi, cũng không thể nằm xuống được, chàng chỉ có thể ngồi. Một cái bàn gỗ và một cái ghế đẩu chiếm hết chỗ. Ngồi lên ghế, chàng không duỗi thẳng chân ra được. 
Không còn gì nữa trong cái ô nhỏ này. Tường và trần sơn trắng được chiếu sáng rực bởi một bóng điện 200 nến nằm trong cái giỏ dây thép trên trần. 
Innokenty ngồi xuống. Hai mươi phút trước chàng còn đang tưởng tượng ra cảnh chàng đến Paris nhận chức vụ mới. Hai mươi phút trước cuộc đời chàng là một dòng sự kiện êm đẹp, trôi chảy nhịp nhàng, những sự kiện ăn khớp với nhau, soi sáng cho nhau và mỗi sự kiện đánh dấu một thành công. Nhưng hai mươi phút đã qua, giờ đây trong cái bẫy nhỏ hẹp này, cuộc đời cũ đối với chàng chỉ là một xâu những lỗi lầm, những thất bại. 
Không có tiếng động nào vang từ ngoài hành lang vào, trừ đôi khi có tiếng mở cửa đâu đó. Chừng hai phút một lần, một số gỗ che lỗ nhìn được nhấc lên và một con mắt nhìn qua làn kiếng vào chỗ chàng. Ở trong nơi nhỏ hẹp này, người tù không thể có chỗ tránh được mắt nhìn soi mói của người canh. 
Innokenty bắt đầu cảm thấy nghẹt thở và nóng bức. Chàng cởi chiếc áo ngoài và buồn rầu nhìn vai áo bị lột mất cầu vai. Không có đinh treo áo trên tường, chàng phải để áo và mũ lên bàn. 
Một chuyện kỳ lạ nữa xảy ra, giờ đây cuộc đời chàng đã bị sét đánh trúng, Innokenty vẫn không thấy trí óc mình tê liệt vì sợ hãi. Thực ra, trí óc chàng lại bắt đầu làm việc, nó tập trung vào những lầm lỗi chàng đã phạm. Tại sao chàng không đọc kỹ, đọc hết trát bắt giam? Tờ trát ấy có hoàn toàn hợp pháp không? Có con dấu của nhà nước trên đó không? Có chữ ký của ông Biện lý không? Có. Chàng nhớ rằng chữ ký ở ngay trên đầu tờ giấy. Nhưng chàng không nhớ trát được ký vào ngày nào. Và chàng bị kết tội gì? Không biết ông Đại tướng có biết vụ này hay không khi ông gọi điện thoại cho chàng? Chắc chắn là ông phải biết. Như vậy nghĩa là cuộc điện đàm đó cũng chỉ là một phần trong màn kịch bắt chàng. Tại sao họ phải bày ra hai tên tài xế và Ủy viên Kiểm soát? 
Chàng cảm thấy có vật gì nhỏ và cứng nằm trong một túi áo. Móc ra xem, chàng thấy đó là cây viết chì nhỏ rơi ra từ một quyển sổ tay của chàng. Innokenty mừng rỡ khi tìm thấy cây bút. Nó có thể hữu dụng với chàng. Bọn này thật tồi. Ngay cả trong khám đường Lubyanka bọn mật vụ cũng không thực hiện được một cuộc khám xét chu đáo. Sau khi lựa chỗ tốt nhất để giấu cây bút, Innokenty bẻ bút làm hai, đặt mảnh bút vào trong giày, chỗ giữa lòng bàn chân. 
Ồ, chàng đã quá vội vã. Lẽ ra, chàng phải đọc hết trát lệnh bắt giam để xem họ bắt chàng vì tội gì. Rất có thể chàng bị bắt không phải vì tội chàng gọi điện thoại đến báo tin cho Giáo sư Dobroumov. Rất có thể là họ bắt lầm, cũng có thể là sự tình cờ. Chàng phải có thái độ gì bây giờ? 
Chỉ có một thời gian ngắn trôi qua, nhưng chàng đã nhiều lần nghe thấy có tiếng kêu của một thứ động cơ nào đó sau bức vách đối diện với cánh cửa. Giàn máy nào đó nổi lên, chạy đều chừng hai phút, rồi ngừng bặt. Innokenty bị ám ảnh với việc tìm hiểu cái máy đó là máy gì? Đây là một khám đường, đây không phải là một xưởng máy. Với một người đàn ông bắt đầu lớn lên trong những năm 40, từng nghe nhiều chuyện đồn đại về những giàn máy giết người, ý nghĩ về cơ khí lập tức gợi cho người nghĩ một cái gì ghê gớm. Ý nghĩ đến trong óc Innokenty – chàng biết nghĩ vậy là vô lý nhưng cùng một lúc, chàng vẫn nhận là rất có thể như thế – rằng giàn máy mà chàng nghe tiếng đó là giàn máy nghiền nát bộ xương của những người tù bị giết chết. Chàng bắt đầu kinh sợ. 
Cùng một lúc, một ý nghĩ khác đến như mũi kim nhọn đâm sâu vào trái tim Innokenty: chàng đã phạm một lỗi lầm sơ hở quá nặng, một lỗi lầm ghê rợn, không những là chàng chỉ không đọc trát bắt giam từ đầu đến cuối mà thôi, tệ hơn nữa là chàng đã quên không phản đối mà là trình bày, là kêu la – rằng chàng vô tội. Chàng chịu đựng cuộc bắt bớ này với thái độ quá mềm yếu làm cho họ có lý để tin rằng chàng có tội. Tại sao chàng lại có thể quá mềm yếu như thế được? Sao chàng lại có thể để cho họ bắt chàng mà không kêu lớn là chàng oan? Thái độ của chàng cho họ có lý khi nghĩ rằng chàng đã chờ đợi để bị bắt, chàng đã chuẩn bị để bị bắt! 
Chàng điếng người vì sự sơ hở oan nghiệt này. Ý nghĩ đầu tiên của chàng là phải chồm ngay lên, đập cửa, đá mạnh vào cánh cửa, hả họng la lớn là chàng vô tội, đòi hỏi phải mở cửa… Nhưng ngay sau đó một ý nghĩ khác tới trong óc chàng, ý nghĩ thứ hai này sáng suốt hơn: dù chàng có làm như vậy ở đây cũng sẽ chẳng có ai ngạc nhiên, chắc chắn là đã có nhiều người trước chàng từng đập cửa, từng kêu oan, và sự im lặng của chàng từ nãy đến giờ đã làm hư hỏng tất cả. 
Ồ… Tại sao chàng có thể tự để cho chàng rơi vào tay họ một cách quá dễ dàng như thế? Không một cử chỉ chống cự, không cả một lời phản đối, một nhân viên ngoại giao cao cấp đã để cho mình bị thiên hạ đến tận nhà riêng bắt đi, bị tóm cổ trên đường phố Mạc Tư Khoa đưa tới nhốt trong phòng giam nhỏ xíu này. 
Tới đây chàng không còn lối thoát. Từ đây chàng hết lối thoát. 
Rất có thể, những vị thượng cấp của chàng vẫn chờ chàng đến ở Bộ Ngoại giao? Bằng cách nào chàng có thể tới được đó bây giờ? Dù là tới đó với sự áp giải của nhân viên mật vụ? 
Giàn máy bí mật ở bên kia bức tường lại chuyển động, gừ lên rồi lại ngừng. 
Hai mắt Innokenty mỏi và đau nhức vì ánh đèn điện quá sáng trong phòng giam quá hẹp, dừng lại ở một khung đen trên trần – đây là khung đen Chúa nhật trong phòng giam này – đó là một ô vuông nhỏ có lưới sắt, có vẻ là ống thông hơi. 
Đột nhiên, chàng nghĩ rằng đó không phải là ống thông hơi, ô vuông đó là lỗ người ta xì hơi độc vào phòng này, và giàn máy chàng nghe thấy chuyển động đó là máy thổi hơi độc, và hơi độc đã được xì vào phòng này ngay từ lúc cánh cửa đóng lại sau lưng chàng, gian phòng nhỏ xíu, kín mít, với cánh cửa đóng khít chặt này chỉ có thể là một phòng dùng để giết người bằng hơi độc. 
Chính vì vậy mà họ luôn luôn nhìn vào phòng này qua ô kiếng trên cánh cửa: họ nhìn để xem chàng còn tỉnh hay đã chết. 
Vì hơi độc mà trí óc chàng không còn được minh mẫn. Chàng sắp bị mê man. Vì hơi độc mà chàng khó thở. Vì hơi độc mà đầu chàng nhức như búa bổ. 
Hơi độc đang tràn vào – không màu, không mùi. 
Kinh sợ, niềm kinh sợ hoàn toàn thú vật, niềm kinh sợ từng làm cho những con thú dữ săn mồi và những con mồi cùng cuống cuồng chạy trốn lửa rừng, ào đến chụp lấy Innokenty. Không còn suy nghĩ, tính toán gì nữa, chàng đấm loạn lên cánh cửa, đá rầm rầm lên cửa và miệng chàng kêu lớn: 
“Mở cửa… Mở cửa… Tôi ngạt…” 
Đề phòng tù nhân đập cửa, người ta đã đặt mặt kiếng của lỗ nhìn nằm sâu trong lòng gỗ, nắm tay của tù nhân không thể chạm được vào mặt kiếng để có thể làm vỡ kiếng. 
Một con mắt man rợ, quái đản, một con mắt mở không chớp, hiện ra ở mặt kiếng bên ngoài, con mắt đó nhìn cơn hoảng loạn của Innokenty với vẻ thú vị tinh quái. 
Đó là một sự xuất hiện đáng sợ: một con mắt rời khỏi mặt người, một con mắt đứng riêng rẽ, một con mắt có tinh thần riêng nhìn ngắm cảnh người sắp chết. 
Không còn lối thoát. 
Innokenty gục xuống ghế. 
Hơi độc làm cho chàng ngạt thở.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Biến cố 30 tháng 4-1975 đã đưa một số người Việt Nam rời khỏi đất nước ra đi. Trong hoàn cảnh “bỏ của chạy lấy người,” khi ra nước ngoài họ phải hết sức vất vả để gầy dựng lại cuộc đời. Có những gia đình đi bình an, nguyên vẹn từ những ngày Saigon chưa thất thủ, mang theo được một số tài sản họ đã gầy dựng vất vả trong nhiều năm, một số khác là công chức, quân nhân cao cấp thủ lợi nhờ chiến tranh, sang Mỹ có vốn đầu tư địa ốc hay làm thương mãi có đời sống an nhàn, sung túc, còn thì hầu hết những người ty nạn vượt biển đến

Mỹ, hay theo chương trình nhân đạo sau một thời gian tù đày, đều phải làm lại cuộc đời bằng sự khó khăn, từ hai bàn tay trắng, cần cù, vất vả, đôi khi người ngoại cuộc khó có thể hình dung ra được. Người ta nói, muốn là được, muốn đi đến mục đích phải phấn đấu hết mình, nhưng phấn đấu đến cỡ nào, để ngày nay có được một đời sống ổn định, con cái học thành tài và một tương lai tốt đẹp?

Bây giờ ngồi trong một phòng khách sang trọng, đủ tiện nghi, với một bữa ăn thịnh soạn, nhấm nháp ly  rượu trong một ngày lễ lớn, giữa đám con cháu thànhcông trong học vấn hoặc trên thương trường, chính những người trong cuộc cũng khó lòng tưởng tượng nỗi những đoạn đường nhọc nhằn mà mình, những người Việt tị nạn đã trải qua. 

Suốt mười năm ròng rã, vợ chồng ông em họ tôi đi theo diện tù nhân chính trị, định cư tại một tiểu bang miền Đông mỗi ngày thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, nhất là về mùa Đông phải cào tuyết tìm lối ra để đi làm. Những năm đầu khi chưa mua được xe, họ phải đổi hai tuyến đường xe bus, có khi ra trạm đã trễ giờ, phải chờ xe dưới trời tuyết lạnh, về đến nhà thì trời đã tối. Hồi ở Phila tôi cũng đã chia xẻ mỗi khổ cực của anh em H.O. đi làm hãng giấy, mỗi giờ chỉ có $4.00, giấy còn sắc hơn lưỡi dao cạo cứa nát mấy ngón tay. Buổi trưa, anh em bới theo lon cơm, (chỉ có khá hơn thời còn ở tù) ngồi núp sau mấy đống rác giấy lớn, vội vàng cho xong bữa. Sau nửa tháng, tôi bỏ cuộc, trở lại Cali, nhưng có người đã đeo đuổi công việc này hơn mười năm hay hơn thế nữa.

Ở chợ cá tại thủ đô Washington DC, có một cái nghề chịu lạnh là nghề đứng “bảo vệ an ninh” cho mấy hàng cá. Anh em H.O. mới sang, không tiếng Anh, không nghề chuyên môn thì đây là việc làm tốt, chỉ phải đứng dưới trời lạnh, có khi dưới O độ, với những cơn gió buốt như cắt vào da thịt. Nhìn anh em đội mũ trùm đầu, mặt mày đỏ ửng vì lạnh, đứng dưới trời tuyết, đếm giờ để có mấy đồng thù lao, thấy quá thương! Nhiều bạn bè theo đuổi nghề may, nghề này vất vả nhưng không kiếm được tiền nhiều, có đêm, đồ chưa giao kịp, đạp máy đến hai ba giờ khuya, ngủ gục trên bàn may. Tôi cũng biết nhiều gia đình chỉ làm nem chả, thức ăn Huế mà nên sự nghiệp. Nhưng trong khi vợ làm, ông chồng hết đi chợ, rồi còng lưng giã giò, lau lá đến một hai giờ khuya chưa được ngả lưng. Làm sao rủ được những người như ông bạn này ra đầu đường uống một ly cà phê!

Vợ chồng người bạn tôi làm nghề bỏ báo, buổi sáng tinh mơ, 4 giờ đã thức dậy đến tòa báo xếp báo rồi mang ra xe. Trong khi chồng lái thì vợ ngồi bên liệng báo. Không có đứa con nào chịu nỗi nghề giao báo, trong khi xe đang chạy, vì phải cúi xuống ngẩng đầu lên, xây xẩm mặt mày cho chúng buồn nôn, phải bỏ cuộc. Bảy giờ sáng, hai vợ chồng về nhà ăn sáng rồi chuẩn bị đi làm, vợ vào shop may, chồng vô hãng.

Các bạn đã vào hàng cá trong những ngôi chợ Việt ở Mỹ chưa? Bạn có thích công việc của người làm cá chịu máu me, tanh tưởi và tất bật suốt ngày không? Bỏ qua chuyện cực nhọc, nhiều người còn vì sỉ diện, thà làm một việc gì đó vất vả mà bạn bè, bà con không ai biết. Vậy mà có những người đã chịu khó, không những chỉ một hai năm mà công việc kéo dài hai mươi năm, để nuôi con ăn học, gầy dựng lại cuộc đời trên xứ lạ.

Có đôi vợ chồng đến Mỹ trong lúc con còn mới hai tuổi, không có tiền gửi con, họ phải xin việc cùng hãng, làm hai ca. Mỗi ngày họ “giao ban” ở bãi đậu xe, vợ ở nhà mang con tới, giao cho chồng vừa tan ca đem con về nhà. Hai mươi năm nay, đứa trẻ trong “car-seat” ngày xưa, sắp tốt nghiệp đại học. Vợ một người bạn có chữ nghĩa phải nhận chân “cashier” trong chợ Việt trong nhiều năm, để có thể “tranh thủ” bỏ giờ ăn trưa đi đón ba đứa con còn nhỏ ở trường về. Ngày nay cả ba con đều đã tốt nghiệp đại học, một bác sĩ y khoa và hai kỹ sư, cũng chẳng là cái gì ghê gớm lắm, nhưng phải nói rõ như thế để biết nghĩa mẹ lai láng dường nào!

Ở Mỹ có nhiều nghề cho những người làm việc tay chân, nuôi sống một thời “chân ướt, chân ráo” cho những anh em đến Mỹ muộn màng theo diện “cựu tù.” Kansas nổi tiếng với nghề làm thịt bò, công nhân phải chịu lạnh ở mức 40 độ F suốt ngày để ra thịt. Ở Philadelphia có nghề hái trái cây, vừa lạnh vừa phải còng lưng. Ở Louisana có nghề hải sản như “bóc đầu tôm,” “đập càng ghẹ” vừa lạnh vừa tanh tưởi. Nghề bỏ báo, nghề lau nhà cửa, nghề bỏ bao ở chợ, nghề assembly … ở đâu cũng có, nhưng không phải dễ kiếm, có nghề đòi hỏi chút tiếng Anh, có nghề không nhận người lớn tuổi. Những ngày mới định cư, ai cũng lo lắng, nản chí, thấy khó khăn nhưng với lòng chịu đựng, sự hy sinh, bây giờ gia đình nào cũng ổn định, ai cũng có nhà cửa, no đủ, con cái được học hành.

Xa hơn những ngày cực nhọc đến đây là những ngày bị đày đi vùng “kinh tế mới”, không nước, không điện, mẹ con ôm nhau khóc. Xa hơn những ngày lạ lẫm đến đây là sóng gió, hãi hùng, khổ nhục trên biển cả, gia đình kẻ mất người còn. Xa hơn những ngày vất vả khi mới đến định cư nơi xứ lạ, là những ngày ra tù, có những người cha làm nghề đạp xe ôm, bán bánh mì, bong bóng, ngồi bên nồi xôi hay quầy bán thuốc lá lẻ.

Xa hơn nữa, đó là thời gian cha tù đày, mẹ tần tảo buôn thúng bán bưng hay lăn lóc chợ trời, nuôi con, bới xách cho chồng.

Một bác sĩ sang Mỹ từ năm 1975 có vài người con tốt nghiệp bác sĩ, một luật sư sống ở Mỹ đã 37 năm, có con là luật sư thì đâu có gì là lạ để vinh danh, ca tụng nhau! Lạ chăng là từ gian khổ, nhọc nhằn cả một thế hệ cha ông chịu thiệt thòi, bỏ quên, khởi đi từ hai bàn tay trắng, bàn tay đã bươn chải gầy dựng lại cuộc đời cho mình và cho con cái ngày nay được ngẩng mặt nhìn đời! Bây giờ là tháng mấy? Nào là ngày Lễ Mẹ, Lễ Cha, tiệc tùng sum họp.  Bây giờ là tháng mấy? Là ngày tốt nghiệp tưng bừng mũ áo, vòng hoa, chan hòa niềm hạnh phúc.  Mấy ai đã dừng chân ngoái đầu trở lại một lần.Mấy ai đã đến gần bên mẹ nói với mẹ lời biết ơn hay ôm lấy bờ vai cha một lần!

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 19 Mar 2026

Chương 3

Đại đức Trí Không đưa tay vẫy giã từ, người người lính trên xe vẫy tay lại. “Đi nghe thầy, hết hành quân chúng tôi về đây lại…” “A Di Đà Phật”. Đại đức Trí Không chấp tay trước ngực, mồm lẩm bẩm tụng câu kinh ngắn. Người cửa Phật rưng rưng trong lòng, niềm xúc động thâm trầm. “A Di Đà Phật, cứu khổ cứu nạn đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Đại đức thầm kêu gọi sự độ trì của Bồ Tát cho đoàn người gươm đao bắt đầu khuất sau lưng đồi, bụi đỏ tung mù trong rừng dương xanh ngắt, tiếng động của đoàn xe mất hút, cõi phàm trần còn lại trên rác rưởi ngổn ngang góc sân chùa, chút bụi đỏ bám trên phiến lá. Đám lính đi, trả lại sự yên tĩnh cho nhà chùa. Đại đức nghe được tiếng gió luồn qua khe lá dương liễu, và bóng núi lung linh sau ánh nắng hanh vàng của ngày đông chí. Trời rét hanh nồng nồng như dư âm ồn ào của đoàn người để lại. Đại đức Trí Không cầm cái chổi, nhìn qua khu sân rộng mênh mông một lần, hơi cúi mặt xuống đất, chiếc lưng vẫn giữ nguyên chiều thẳng cây chổi tre xiết mạnh trên nền đất nghe êm ả nhẹ nhàng. Bụi mỏng bay lên, bóng người tu hành bềnh bồng như pha sương. 
Chùa Từ Tôn nằm dựa lưng sườn núi, khoảng sân rộng mênh mông viền một vòng đai xanh ngắt bởi thông và dương liễu, chìm khuất trong tịch mịch của vòm cây, bực đá tam cấp màu trắng vạch một đường ngăn đôi giữa khoảng sân màu vàng đất núi cùng với khối kiến trúc u trầm nâu sẫm. Đại đức Trí Không ngồi trên bực tam cấp nhìn ra khoảng sân phủ lớp bụi mỏng mờ nhạt, dấu chổi vạch lên mặt đất từng đường xoắn ốc đều đều. Mấy người lính chắc giờ này đã tới phi trường. Mai người ta đi bằng trực thăng vào nơi đánh nhau, tội nghiệp trong đám người tươi trẻ ồn ào kia, thế nào ngày mai cũng có người chết. Thượng toạ trụ trì đã bao nhiêu lần nhắc nhở: “Người tu hành tốt nhất luôn phải giữ cái tâm cho tĩnh, cái tâm cũng giống như cái trục bánh xe, bánh xe là đời ảo giác hư không bên ngoài, tâm người tu chứng phải bỏ vọng ý, trước sau như nhất, phải tĩnh mịch tuyệt đối như cái trục…” Thấy đã nhắc nhở hằng bao lần như thế để giúp Đại đức gạt bỏ những giờ phút khó khăn như bây giờ. Lòng của người đi tu trẻ nổi lên những phong ba âm thầm, không phải đau xót, êm ả để từ đó hướng lòng vào nơi giải thoát, nhưng là những đớn đau có so sánh, đối nghịch đầy tiếng động của nỗi phản kháng bị nén lại. Tội nghiệp, thế nào ngày mai cũng có người chết. Những người lính Nhảy dù dễ thương nói tiếng Bắc, tiếng Nam, một số ít nói tiếng Huế. Có người lính già thật tội từ nước da đen nắng, đen vì nắng đã luồn qua da đốt cháy phần thịt, nhiễm sâu vào máu, chắc hẳn lượng máu trong người cũng bốc khói, cũng pha sương, lấm bùn. Ông thầy ơi, tôi đi 20 năm lính rồi đó. Hai mươi năm lính! Người tu hành thấy nhói lên trong lòng cơn xúc động. Đâu cần phải có cái nhìn của người đi tu mới biết được nỗi khổ của đời sống. Hai mươi năm đeo hoài một gánh nặng cồng kềnh trên lưng, gánh nặng có mùi thức ăn của nước mắm, củ cải héo úa, áo quần thấm bùn ẩm ướt, hai mươi năm ngả mình bất kỳ nơi nào có đủ chỗ cho một chiếc lưng, cành cây, bờ cỏ, gộp đá. Tội biết mấy hở trời. Chiếc lưng gầy gò, nhô lên hai xương vai, lớp da mỏng mốc đen u ám… “Tôi ngủ đâu cũng được, thầy cho tôi mượn ít rơm lót nằm, hôm nào đi tôi trả lại thầy…” A Di Đà Phật, chùa không nhiều nhưng ai nỡ từ chối cho người lính chút rơm để ngả xuống cái lưng lầm than mang từ một tỉnh ở ngoài Bắc xa xôi, tấm lưng đã dựng đứng theo chiều dài của đất nước này trong hai mươi năm. Ở chánh điện có tấm hình chiếc cầu địa ngục dưới chân cầu lúc nhúc một đám nhân loại đang kêu van, đất nước này giống như chiếc cầu đó, có điểm khác là chân cầu gồm những chiếc lưng trần không lời rên rỉ… Hai mươi năm, thời gian hút hình khối, mò mẫm được trên tay nỗi khổ triền miên mà, Phật đã một lần suy nghiệm qua những cửa thành lầm than. 
Các ngươi là Phật sẽ thành. Nghiệm được về sự khổ là thành Phật! Người lính hai mươi năm đau đớn kia đã xoá tan sự chứng nghiệm, họ đồng hoá sự khổ cùng đời sống một cách tích cực, chấp nhận không phản đối, họ mang nỗi khổ trên lưng không than van, như kẻ gù bẩm sinh giữa một thế giới đồng loại gù… Họ là gì ở trong thái độ can đảm cao ngất đó? 
Có tiếng chuông bắt đầu buổi tụng kinh chiều, giọng hai chú tiểu buồn nản khê nồng từ chánh điện theo khe hở vang vọng ra khoảng sân. Đi tu là diệt hết thất tình, ra ngoài sự buồn vui… Nhưng ngồi trong buổi chiều ráng nắng đỏ, trước cổng chùa thung lũng im lặng bốc sương lam, rừng cây xanh vật vờ sương trắng như linh hồn xa xứ nương theo giờ phút giao thừa của âm dương phân khắc cố kết thành hình khối đi về trần thế, sau lưng vang tiếng chuông thê thiết, tiếng trống ngậm ngùi xen lẫn với độ cao đau đớn của chiếc khánh, nghe khánh reo trong buổi chiều sẫm bóng núi mới biết được lòng không bao giờ có được bình yên. Khánh báo hiệu niềm hoan lạc. Khánh là vui sướng hân hoan… Nhưng trong bóng chiều thẫm, âm thanh từ chiếc khánh đá vang động như lời than của núi ngàn năm kết tụ. Lời than lạnh buốt níu kéo lăn lóc trong hư không như lưỡi dao gõ xuống một đỉnh đầu ngơ ngác… Nhịp nhàng trong thế giới âm thanh nhức buốt, giọng hai đứa trẻ ngúc ngắc giẫy giụa theo câu kinh tiếng Phạn thăm thẳm bí ẩn và thống thiết. Trong tiếng tụng kinh của thầy trụ trì, người ta nghe được âm thanh lắng đọng của tâm hồn tĩnh mịch, hồn hết băn khoăn, xoá tan phiền muộn, âm thanh của người đã đi hết quãng đời xao xuyến, tiếng tụng kinh êm đềm như hơi thở nhẹ của người chết hân hoan đón đợi chuyến đi dài. Nhưng giọng của Đại đức thì khác, đây là những âm thanh chưa tròn, những tiếng nói còn mang nỗi ao ước, niềm xúc động, đây là những âm thanh của những người trên con đường vừa khởi cuộc với rất nhiều ham mê nhưng đồng thời thấy trước mặt một chuỗi buồn phiền. Tiếng Đại đức đau đớn như lòng yêu đời bị chặt đứt trong giây phút ngất cao thiết tha. Đại đức Trí Không muốn dứt ra khỏi điều phiền muộn, nhưng tiếng chuông mang nỗi buồn người tu hành tản mát đi xa. Cái buồn đã có đời sống riêng của nó, y lực của Đạo giáo không kìm nỗi cánh tay phóng lãng. Tiếng chuông chấm dứt, đến giờ ăn cơm chiều, nhà sư đi về phía bếp, bóng lênh khênh đổ dài giống như hình ông tiên qua biển. Đại đức cũng đi qua một bể buồn phiền. 
Mâm cơm dọn trên bộ ngựa gỗ, thớ gỗ đen sỉn có mùi mốc. Hơn sáu mươi năm rồi đó, từ lúc có chùa này, từ lúc tui bằng thằng tiểu Tâm. Thầy trụ trì đã nói như vậy. Bây giờ thầy đã già, bảy mươi chín tuổi, da nhăn lốm đốm chấm đồi mồi, thầy ăn mỗi ngày một lần, hai mươi năm không tắm. Hình như cơ thể đó đã hết hoạt động, chỉ còn một chút trí não thoi thóp sau vầng trán cao lừng lững đè xuống đôi mắt nhắm kín triền miên… Thầy trụ trì không còn biết đến đời sống, nhưng tấm ván của bộ ngựa gỗ vẫn phải chứng kiến đời sống, phải mang hai mâm cơm trong ngày, phải đỡ chỗ ngồi của hai chú tiểu Tâm, Tú, Đại đức Trí Không phải nghe những câu chuyện: “Thầy ơi, lính Nhảy dù họ cho tiểu Tú hộp thịt”. 
“Không phải, hộp kẹo nha, không phải hộp thịt, họ có cho tui hộp thịt nữa nhưng tui không lấy”. 
“Ừ, đừng lấy của người ta, họ cũng cực lắm”. Đại đức Trí Không nói hững hờ. 
Hai chú tiểu cãi nhau vang căn phòng: “Cái xe to là xe GMC, cái xe nhỏ là xe “rép”, mi không biết chi hết, hôm tui đi xuống Nam Giao họ có cho đi nhờ, xe hắn chạy mau chi lạ… chạy mau như bay rứa đó”. 
“Thầy ơi, tiểu Tâm hay tới chỗ ông Trung sĩ người Bắc để nghe ra-đi-ô, hắn hay nghe mấy bài hát có yêu yêu chi đó”. 
“Bậy hí. Đi tu ai lại nghe hát có yêu”. Đại đức Trí Không bật cười nhỏ. “Ê, răng thầy cười”. 
“Thầy cười vì tụi mi bá láp… nhỏ mà rắc rối”. 
Thầy cũng có nghe những bài hát đó, những bài hát trong đêm, lúc nửa đêm về sáng. Những bài hát nói về nỗi điêu linh của đất nước, một cái chết tình cờ phi lý, chết như mơ, chết không có lời, dù đã chấp thuận một chút thoả hiệp tạm bợ. Nhưng Đại đức nhớ rõ nhất là những bài ca do một giọng hát cao vút xao xuyến nói về tình yêu và nỗi yên nghỉ cho con người … “Suối mơ bên rừng thu vắng… Đàn ai đùa trong tiếng lá vàng tươi…” Trong yên tĩnh trầm mặc, phảng phất không khí lãng đãng của tình yêu. Nỗi yên ổn căn bản để người trở về yên nghỉ cuối đời chông chênh. Người tu đang ở trong vùng không khí yên tĩnh, nhưng trong lòng vẫn linh cảm nỗi ngắn hạn của phút giây trầm mặc này, thấy rõ những hạt nổ bứt rứt âm thầm đang chồng chất lên cao. Chỉ là bình yên trước cơn địa chấn… Có tiếng động nổi lên dưới tấm ngựa… 
“Hư, nằm im không bị đánh…” Tiếng động giảm đi. 
“Con Hư bị mấy người lính cho ăn đồ mặn, nên lúc này nó xấu lắm”. 
“Thật không?” 
“Dạ thưa thầy, con la hắn không chịu nghe, hắn cứ theo mấy người lính nấu ăn cho ông Thiếu tá, nơi chỗ đó có nhiều đồ ăn nhất…” 

“Hư, Hư”. Đại đức Trí Không búng hai tay vào nhau. Con lợn từ dưới hầm chui ra, phe phẩy hai tai tiến gần bàn chân Đại đức. 
“Mi hư nghe không, tao cho tiểu Tâm kéo ra sau vườn ngủ bây giờ, không cho mi ngủ trong nhà nữa…” Con vật hình như hiểu được tiếng người, nằm phục xuống xếp hai tai vào đầu… Con vật cũng có lòng ham muốn dù đã gần mười năm nghe tiếng chuông và không ngửi hơi mặn, nhưng trong lòng, qua lớp tế bào tinh vi, nơi bắt đầu những hạt nhân phân tử vẫn có xôn xao những thèm thuồng. Con vật mà, làm sao thoát nổi tánh di truyền siêu vi, di truyền cột trụ để tồn tại… Người tu hành chợt thấy lòng chùng xuống. Trong đêm khuya, giữa miền đồi núi, nước sông Hương trăn trở chuyển động nơi xa… 
“Tôi có thể lên ở trên chùa trong mấy ngày Tết được không thầy?” 
“Anh lên lúc nào cũng được, nhưng chùa bây giờ đang có lính đóng sợ anh không vừa ý”. 
“Lính đóng trong chùa?” 
“Lính Nhảy dù ở Sài Gòn ra, trước đóng dưới Nam Giao, vừa dời lên chùa từ tháng trước, họ ở mấy ngọn đồi chung quanh, trong chùa chỉ có bộ phận chỉ huy khoảng mấy trăm người”. 
“Chắc chùa ồn lắm?” 
“Không đâu, mấy người lính truyền tin với ông Thiếu tá chỉ huy nằm trước mái hiên nhà trai, còn tất cả ở chung quanh, với lại họ rất kỷ luật”. 
“Nhưng dù sao lính tráng cũng ồn ào. Tôi không thích đám đông, đoàn thể, sống gần người lạ tôi thấy khó chịu thế nào. Thầy thấy đó, chỉ đến đây ghi cour, chứng chỉ Văn minh đâu có bao nhiêu người, thế mà vừa bước vào phòng tôi đã khó chịu”. 
“Anh có vẻ khó tánh”. Nhà sư nhìn Bằng qua ý phê bình kín đáo. 
Bằng không nói, rút thuốc lá xòe diêm hít hơi khói dài. „À, mời thầy, tôi quên”. Bằng chìa bao thuốc đến Đại đức Trí Không. 
“Dạ, cám ơn, trời lạnh quá, tôi cũng nên hút một điếu cho ấm”. 
Cả hai người im lặng đứng tì vào cửa sổ nhìn xuống đường. Mưa phùn loang ướt mặt nhựa sông Hương mờ hơi sương, người trên cầu Tràng Tiền co ro bước vội vã… 
“Trời mưa này thầy đi từ trên chùa xuống đây chắc cực lắm”. 
“Không bao nhiêu, chỉ phiền ống quần bị ướt, tội nghiệp mấy người lính, thấy họ đi hành quân về ướt như dội nước, lại phải ngủ ngoài núi gió thổi lạnh như dao cắt…” 
“Thầy có vẻ chú ý đến mấy người lính?” 
“Không phải, thì họ ở chung với tôi cả tháng nay đâm ra quen biết nên nói đến”. Người tu hành nói bằng giọng lơ đãng vì thấy trong câu hỏi và ánh mắt Bằng có điều không vừa ý. Đại đức Trí Không đoán biết. Nhưng vì tối hôm qua khi đám lính vừa đi hành quân về, gió thổi kéo qua đồi, rừng thông nghe rờn rờn thê thiết, gió thổi mạnh đễn nỗi Đại đức không nghe được tiếng máy xe nổ trước cổng chùa, mãi đến khi có bước chân người và tiếng gõ cửa. Ông Trung sĩ thường vụ Tiểu đoàn chức tước nghe thật rườm rà hiện ra trong vùng ánh sáng vàng đỏ. 
“Thầy”. 
“Dạ, bác Trung sĩ…” 
“Toán lính Nhảy dù có ông Chuẩn uý vừa chết mới ra trường được hai mươi ngày”. 
Bằng im lặng hút thêm hơi thuốc. “Lạnh quá, vào phòng thôi”. 
“Dạ”. Đại đức cúi đầu đi theo sau Bằng. Hai người trẻ tuổi cách nhau không đầy mười tuổi nhưng sao họ xa lạ với nhau thế? Đại đức Trí Không nhớ đến khuôn mặt tròn, đầu tóc hơi ngắn của Chuẩn uý Ánh và chiếc gáy phủ đầy tóc của Bằng, trước mặt Sài Gòn – Huế, chỉ ngàn cây số. Hai người đó không chút lãng quên; họ chỉ có chung một tên gọi người Việt Nam. Mẹ Việt Nam, các sinh viên ở đây thường nhắc nhở cái danh từ hàm xúc nhiều ngây ngất đó trong các buổi sinh hoạt. Chuẩn uý Ánh, Trung sĩ Tròn có biết đến Mẹ Việt Nam không? Đứa con nào chính gốc để hưởng phần gia tài tang thương, nếu có? 
Khi ngồi nghe bài giảng, Đại đức Trí Không đột nhiên nghĩ đến hình ảnh: chiếc thúng bao la hỗn độn một vài cái trống đồng Đông Sơn, cục đá mài hình lưỡi dao, bộ kinh Thuỷ xám, chiếc khánh, đầu tóc bù xù của Bằng trên có chặn lại bởi một thây người chết – Chuẩn uý Ánh. Bà mẹ Việt Nam đặt chiếc thúng đó đi lang thang trên quãng đường vắng ngắt, gió thổi cát bụi bay mù. 
Bằng đi ra cửa trước khi bài giảng chấm dứt muốn tránh cảnh phải bắt tay, hỏi han những người cùng lớp, và rõ hơn là Đại đức Trí Không. Suốt giờ vừa qua Bằng thấy lảng vảng trong đầu câu chuyện của viên Chuẩn uý trẻ tuổi mới chết, trong giọng nói bình thản từ tốn của người tu hành, Bằng thấy nỗi bi phẫn nén xuống. Bằng không thích được giãi bày với mối tình cảm ác liệt đó. Bằng muốn ở ngoài… Vì chàng có một thế giới tối tăm níu kéo đang đợi ở bên kia hai chiếc cầu. 
Bằng đi qua cầu Trường Tiền, trời mưa, nước sông đục gợn sóng nhỏ xôn xao, vẻ xôn xao của con lươn giẫy giụa trước khi chết. Bằng đã đi qua chiếc cầu này bao nhiêu lần? Bằng chín tuổi, chín tuổi mù mịt câm nín của thành phố Huế sau thời chiến tranh, đèn đường không có, nhịp cầu gãy, đường Trần Hưng Đạo vắng hoe, bà già còng lưng mang túi bột mì bán giò chả đi từ phía Thượng tứ xuống. “Giò chả… không…” Tiếng rao kéo dài lê thê dật dờ những âm thanh ngúc ngắc nghẹt cứng. Bằng đã đi qua cầu trong những năm mười ba, mười bốn tuổi, đầu đội nón cối trắng, chân mang dép ba ta cao su, cúi khuôn mặt hồng hào trẻ thơ trên lan can của cây cầu nhìn đàn cá đuối lội trong rêu, những thân rêu xanh ngắt chuyển động nhịp nhàng ve vẩy. Bằng tưởng như ngửi được mùi rêu bí ẩn bốc lên từ mỗi hạt nước, nước trong vắt chảy từ nguồn về. Nguồn, một nhánh nhỏ khuất xa chảy từ trong “rú”, từ phía lăng Gia Long, qua Bảng Lảng, Giả Viên đổ về đây… Bằng thấy trong dòng nướcc vẻ êm đềm man dại của một nơi sơn lâm thẫm bóng. Chốn xa tít, mà tuổi mười ba đã mong ước sẽ được một lần ngược con sông đi đến. Bằng sẽ đi bằng chiếc thuyền con chỉ vừa một người ngồi, bơi hai tay chèo nhỏ, chuyển động phe phẩy nhịp nhàng như hai vi cá. Bằng sẽ đến nguồn, đến “rú”, úp mặt xuống một khe nước trong, nghe được trong đó chuyển động ầm ì của rừng cây hay tiếng hú của loài voi dưới bóng trăng dẫy dụa xanh ngắt. Nhưng Bằng chẳng bao giờ đi được chuyến đi mong ước đó, rặng núi xanh đầu con sông xa khuất như một nơi không cùng. Bằng chẳng đến được đầu con sông, để hằng ngày, hằng ngày của một năm ba mươi tuổi đi trên dòng nướcc cuối con sông, nước đã nóng, đục và dơ vì chảy qua thành phố, chảy qua căn cứ Mỹ ở Bạch Hổ, Kim Long, Văn Thánh. Văn Thánh mất vẻ trong vắt mát mẻ của ghè đã thẫm rêu u tịch như tiếng chuông Linh Mụ lúc thu không bay là đà trên sóng nhỏ. Chỉ còn lại bây giờ, Bằng ba mươi tuổi và dòng sôngg đục ngầu đất đỏ của núi vùng Bảng Lảng bị phá vỡ cuốn trôi theo, Bằng đi trên phần nước phủ mưa bay lạnh kín. 
Bằng đi qua cầu Gia Hội, cầu ngắn, chỉ cần bước một trăm bước, xuống chiếc dốc, đi vào con đường hẻm ngang hai mươi thước và đến nhà. Đường đi về một địa ngục lặng lẽ. Mở cửa buồng, bước vào đặt chồng sách lên bàn, ngồi xuống, đôi vớ ẩm ướt có lỗ thủng, nước theo kẽ hở của đế giày thấm vào. Đôi giày cũ, vớ cũ màu đen có chạy một đường chỉ đỏ, màu đỏ máu? Đỏ của chiến thắng và bạo lực? Bằng nhìn chiếc giường nhỏ có gọng đồng, giường của ông nội hồi xưa làm lý trưởng, dấu hiệu sung túc còn lại. Ông nội hồi xưa chiều chiều mặc áo lụa, đầu cắm cánh hoa bưởi, tóc bạc trắng, da hồng, ông nội quyền thế nhất làng Phú Cát, nhà được tính không phải từng gian nhưng tính theo từng dãy. Dãy 12 gian, dãy 10 gian… Ông nội có một khoảng sông riêng, “bến ông Giáp” để phơi lụa, trồng đậu phộng, bắp, đến mùa, bắp và đậu phụng chất đầy mấy gian nhà lớn. Bây giờ những gian nhà xưa không còn, chỉ còn mỗi căn nhà nhỏ này, căn buồng riêng và chiếc giường gọng đồng vàng xỉn. Bằng nhìn xuống chiếc nệm bọc một lớp vải hoa đỏ rẻ tiền, màu đỏ lâu năm trở nên nhợt nhạt lốm đốm. Trên chiếc giường này, quá khứ vinh quang có mùi ẩm mốc, vẽ với lớp đồng đỏ úa, đỏ chua chát cơ cực. Trên di tích tổ tiên ngang một thước hai, dài hai thước, trên tấm nệm cũ gần hai mươi năm, lớp rơm bên trong đã mất hết bềnh bồng, ép sát lại co rút thành một độ dầy chỉ bằng ba chiếc chiếu, tấm nệm không êm, nằm lên có cảm giác cứng ngắc, chiếc nệm ông nội đã nằm, ông lý trưởng quyền thế đã nằm, bố đã nằm, cậu Ấm con ông Lý hàm lục bộ, nghiện ngập nhăn nhó, cay độc với chính mỗi sợi tóc bạc bị rụng xuống. Chiếc nệm được mẹ sửa lại bằng mười ngón tay già nua chịu đựng bọc thêm lớp vải đỏ – Thêm một chút dũng mãnh, thêm niềm mới lạ để Bằng nằm lên với tình yêu, người con gái tên Quỳnh Như, đậu tú tài một, học sư phạm cấp tốc. Quỳnh Như nghiêng vành nón, Quỳnh Như, lá thư dài gần mười trang giấy pelure được xếp theo chiều dọc với mở đầu: “Thư gởi về anh, mối tình đầu của Như”. Thư hứa hẹn, thư hờn dỗi, trách móc nũng nịu, thư ghen tuông với một phản bội vô hình… “Như đâu phải người đầu tiên của anh, Như là kẻ đến sau”. Như, kẻ tình phụ tưởng tượng, Như đau đớn nhẹ nhàng, Như bi đát ngay khi tình mới nở, nỗi đau không bờ, quả tim trống vắng… “Như biết nói gì đây? Hỡi mối tình khốn khổ và bi đát của tôi!”. Như đau đớn qua một chút của Mai Thảo. Như mượn một ít chán chường của Nhã Ca. Đúng là của Nhã Ca, vì Nhã Ca người Huế, Nhã Ca học trường Đồng Khánh. Nhã Ca, biểu tượng của con gái Huế sâu sắc chút bùng nổ phũ phàng trên câu văn, một hơi chán chường ở dấu phết… Như lăn lóc, vật vã, chảy máu mắt, bậm chặt môi nén tiếng đau đớn suốt mười trang giấy mông mênh. Giấy có hạn và đau đớn của Như không bờ. Nhưng nỗi đau đớn bi thảm không bờ đó, tình yêu nặng bốn mươi lăm ký, tình yêu tóc dài Đồng Khánh, tình yêu của Tôn Nữ Quỳnh Như thê thiết đã được đặt lên chiếc giường này, đã bị đè xuống, cuống quít, mê đắm và sôi nổi. Trên chiếc giường này đã có Quỳnh Như, không phải đang che nửa mặt hoa, không phải đang cắn răng vào tóc, không giọt nước mắt đớn đau cho nỗi bi thảm của cuộc tình, nhưng một Quỳnh Như vội vã, hai chiếc chân dài vùng vẫy giẫy giụa xong rồi khép thật sít sao, có những ngón tay lùa cứng vào tóc, có những hổn hển vồ vập ngất ngư trong tiếng thở… “Anh! Anh! Đừng bỏ em…” Và sau đó Quỳnh Như mặt úp gối, người co rút thì thào nức nở … “Chết cha rồi anh ơi, lỡ có mang thì làm răng? Lỡ có mang thì làm răng?” Trong khi Bằng quơ chân tìm cái quần, lột ngược lại để bề mặt ra ngoài… “Cái quần lót của em đâu?” Mò mẫm, lúng túng, nó xoắn tít, co quắp ở sàn nhà… “Anh xoay mặt đi nơi khác, trời ơi mắc cỡ quá, lỡ có mang thì làm răng!” Bằng đứng dậy tìm điếu thuốc lẻ ở hộc bàn. Sagan nổi tiếng có lý thật, Sagan đã tạo được những động tác thời thượng nhỏ nhặt cần thiết và đúng lúc. Bằng đốt điếu thuốc Ruby, lắng tai nghe tiếng động của nhà ngoài… Bà già về thì vỡ nợ. Và bây giờ sau khi Quỳnh Như nhiều lần nằm xuống trên di tích của ông Lý trưởng họ Thân, không còn tiếng khóc tức tưởi cùng lời thì thầm “lỡ có mang thì làm răng…” Bây giờ chỉ có hối thúc cấp bách, đay nghiến nóng nảy nhão nhoẹt… “Anh phải cưới Như mới được, phải cưới gấp, Quỳnh Như bị “rứa” là một tháng rồi. Quỳnh Như bị rứa là một tháng rồi, nhưng cũng không thiếu dồn dập nồng nhiệt như trong lần gặp nhau cuối cách đây hai tuần… Anh nhớ lo gấp vụ đó nghe”. Quỳnh Như ngậm chiếc áo dài ở miệng che xuống phần hạ thể sau khi nói, chiếc quần được rũ mấy cái trước khi mặt vào. 
Bằng nhìn lên bức ảnh trước mặt, hình người đàn bà khoả thân cắt từ một tạp chí. Người đàn bà cằm nhọn, mắt xanh, cổ dài, khuôn mặt bình thản tội nghiệp, cất giấu niềm đau đớn qua dáng ngồi im lìm, người đàn bà ám ảnh của thứ tài hoa mệnh bạc. Bằng có tài hoa không? Chỉ biết Bằng có một khuôn mặt xương và cái nhìn u uẩn kiểu Moggiliani, u uẩn, hay một chút mù mờ vì ba mươi năm trải dài trên chiếu chăn của vinh quang tàn tạ. Bằng cũng một đôi lần cầm cây cọ, nhưng sơn dầu quá đắt, ừ thôi thì vẽ than chì, với một đường nét cố tình bạc nhược đơn sơ, dựng nên phiền não ở những chân dung u ám, Bằng tìm cách xích dần một chút đến thiên tài… “Bằng ơi, em thấy bị ám ảnh bởi bức tranh đàn bà buồn thảm của anh!” Quỳnh Như đã có một lần kêu lên tiếng kêu lo sợ đó. Mắt Quỳnh Như mở lớn, tóc rẽ hai bên kêu đưa một vừng trán cố cau lại những nét tang thương! “Thế sao em?” Bằng thấy mình đột nhiên gần Modi hơn chút nữa. Bằng xòe hai tay nâng lấy khuôn mặt của người tình, động tác kiểu cách tổng quát ở đâu đó đã có… Nhưng thôi, hãy thổi cơn giông bão thu nhỏ đã có… Nhưng thôi, hãy thổi cơn giông bão thu nhỏ đầy ầm ầm trong linh hồn để nhìn vào đôi mắt Quỳnh Như. Nàng khép mắt lại, những rèm mi cánh bướm chập chờn… Bằng muốn thở hắt ra để xoá tan vở kịch. Nhưng không thể được, Bằng không có can đảm. Ngoài cuộc khiêu vũ hoá trang ngượng cứng kia. Bằng còn được gì? Thêm một khối nhỏ phiền muộn nào đè xuống đỉnh đầu Bằng cúi xuống khuôn mặt Quỳnh Như đang nặng nề chờ đợi nụ hôn. Thôi, vở kịch đời gắng đóng cho hết, Bằng nhé, nhớ lo vụ đám cưới, em về… 
“Bằng ơi, ra ăn cơm”. Tiếng bà mẹ gọi từ căn phòng gần bếp. Bằng xỏ chân vào đôi guốc gỗ bước ra. Tiếng guốc gỗ gõ xuống nền gạch nghe bực dọc. Người Huế vẫn còn duy trì thói quen ngồi ăn trên phản, ngồi xếp bằng chung quanh mâm bằng đồng, sau bao năm đánh bóng hoá nên vàng xanh mỏng dính, chữ thọ nổi ở giữa đã bị mòn nhẵn. Lối ăn cơm như níu kéo muốn giữ không khí của thứ dĩ vãng đã phai màu. “Gần Tết rồi con có dạy thêm giờ nào ở trường không?” “Dạ không”. Bằng trả lời từ tốn với bà mẹ. Huế là nơi của học thức, người ta chú trọng đến bằng cấp nhiều hơn số tiền, chiếc xe có được. Nhưng gần đến Tết người ta cũng quên chuyện học hành, để bày một vườn bông nhỏ trước cửa chợ Đông Ba, gần Tết để những gã học sinh có cơ hội mang bộ veston đầu đời. Huế sắp Tết với loại mưa bắt đầu nhẹ hạt để các cô con gái có thể mặc chiếc manteau mua từ Sài Gòn trong dịp hè… Người Huế chờ đợi cái Tết để thay đổi không khí đã sũng ướt qua một mùa mưa ủ dột nên chẳng có loại hy sinh nào tha thiết với chương sử ký nhà Tiền Lê, nhà Tiền Lê thật quá xa với mái tóc bắt đầu để dài xuống gáy, đôi giày mũi vuông lấy kiểu từ tạp chí Sears, Playboy, tạp chí có hình tổng thống Whashington qua sông Delawrue trong y phục hippie. Cả hai lịch sử đều được đồng lòng bỏ qua… Thầy giáo Thân Trọng Bằng cũng được quên đi trong tiết trời lạnh cóng, màn mưa nhẹ hạt, Tết gần đến. 
“Không mẹ, trường đã cho học trò đến trường chỉ bàn chuyện liên hoan”. 
“Rứa khi mô lãnh lương Tết?” 
“Con lãnh trước một nửa rồi, chẳng còn lại được bao nhiêu, đâu chỉ khoảng bốn ngàn…” 
“Răng lại ít rứa, dạy đến ho lao mà tháng Tết chỉ được chừng nớ thì làm răng chi dụng cho đủ… Công lao ăn học”. Bằng cúi xuống chén cơm bỏ đôi đũa, chỉ hai chén cơm nhỏ nhưng Bằng thấy quá đủ. Công lao ăn học mở đầu bài luận thuyết về giá trị bù lại sau hai mươi năm cúi đầu trên sách. Từ những ngày ngây thơ, lớp học thơm mùi mực và phấn bảng, mực tím ngấm qua thớ gỗ áp khuôn mặt trẻ thơ trên mặt bàn hít được vị cay nồng của mùi mực bốc lên qua thớ gỗ, tưởng đến chất nước lỏng sóng sánh thẫm dần theo độ tan của viên mực. Những ngày chờ đợi vào vấn đáp sau lần thi viết được xướng lên, sân trường chen chúc đầu xanh, áo trắng, tên được xướng lên bay vang xa loang trên mặt sông, bên kia bờ sông Hương bức trường thành dội lại. Hai mươi năm ăn học để lại âm thanh mờ mịt của tiền nhân vọng qua núi đồi Hồng Lĩnh. Và những ngày hôm nay, Thân Trọng Bằng ba mươi tuổi, mỗi tuần hai mươi giờ đứng trước bảng đen làm sống lại nét hào hùng của nhà Trần, cho Hưng Đạo Vương đánh giặc trên tấm bảng đen cao thước rưỡi dài bốn thước. Hưng Đạo Vương sống lại ốm yếu khó khăn, trận Vạn Kiếp của tiền nhân dưới viên phấn trắng được vẽ bằng hai mũi tên cong ngược, trong đám học trò có tiếng động thì thào … “ĐM sử địa ăn thua mẹ gì”. Thầy giáo Thân Trọng Bằng thương thân và tổ tiên đến nhức nhối. 
Bằng qua cây cầu, lên đường Trần Hưng Đạo, nhưng khi bước chân vào quán cà phê, Bằng đổi ý. Quán đông người, ẩm ướt, mùi cà phê thơm, nhưng cảnh ngồi ở chiếc ghế cao lênh khênh, nhìn mặt cô bán hàng mặt lấm tấm rỗ hoa Bằng thấy nản. Chàng bước thẳng về hướng cửa Thượng Tứ, phía nhà của Quỳnh Như. Qua cổng thành, Bằng khum tay lên mồm hú một tiếng nhỏ. Tiếng hú chạm vào vòm đá vang lại yếu ớt lạnh lùng. Ngày xưa mình hú thật lớn chẳng sợ ai. Bằng thấy thấp thoáng trong màn mưa một chú nhỏ mười tuổi há mồm hét thật lớn để nghe vòm đá vọng lại âm thanh chính mình. Tường đá hôm nay vẫn giữ nguyên độ cứng, chỉ có mình trở nên già, hét to không được. Qua khỏi cổng thành Bằng thấy dễ chịu. Quỳnh Như cùng mẹ và chú em đang bàn cãi sôi nổi: 
“Như rứa là vô lý, người ta hoãn quân dịch cả trăm cả ngàn, tại răng con không được, ngày mai mẹ lên thấu trên tỉnh cho mà xem…” 
“Nhưng mẹ phải để con đi trình diện, đi lính cứ phải chết liền đâu”. 
“Sao lại không chết, mẹ đọc báo thấy ngày nào người ta cũng có phân ưu. Toàn là thứ chết trẻ cả, mẹ nuôi con hai mươi mấy năm đâu phải để thành ông Chuẩn uý rồi chết bờ chết bụi đâu trong Nam ngoài Bắc”. Tiếng nói của bà mẹ sũng ướt nước mắt. Qua lớp nước mắt đầm đìa, bà tưởng thấy người con trai của bà nằm chết ngơ ngác ở một góc rừng sâu. 
Bằng bước vào, bà mẹ quay sang vội vã: 
“Đấy anh Bằng thấy đó, nhà chỉ có một mẹ một con, rứa mà người ta đòi gọi thằng Tuấn. Tôi không giàu sang nứt ngói đổ vách chi nhưng cũng dư nuôi nó ăn học đến nơi đến chốn, người ta con đàn con đống lỡ mất một đứa không sao, tui chỉ có mình nó… Rồi hắn còn cản tui, hắn định đi trình diện. Nói thật cho biết, tui làm thẳng tay, pháp luật chi chi cũng kệ”. 
“Nhưng mẹ để con đi trình diện xem họ quyết định sao”. 
“Quyết định chi nữa, người ta sẽ túm đầu con nhét vô Thủ Đức, khi đó chỉ còn kêu ông trời, tao đi, tao lên tỉnh tao kêu”. 
“Mẹ đi đâu, trời mưa, sắp hết giờ làm việc, mẹ kêu với ai… Nhưng trình diện hay không cũng phải sau Tết mới đi, mẹ làm như con sắp chết đến nơi, cả ngàn người nhập ngũ một lần chớ đâu phải một mình con”. 
“Mày khác người ta, con người ta đông người ta không kể, tao đứt ruột đẻ ra mày, trầy vi tróc vảy nuôi mày, cả đời mày chưa xa tao một ngày, tao không cho mi đi mô hết, không trình diện không nhập ngũ, mi ở nhà có chi tao chịu…” 
Người con trai ra đứng ở ngưỡng cửa, móc túi lấy bao thuốc, bao thuốc Winston nhưng điếu thuốc khác hiệu Capstan hay Cotab. Gã con trai làm ra vẻ bình tĩnh, chán nản, mệt mỏi, hít từng hơi thuốc miễn cưỡng. 
“Đó, mi lại bày đặt hút thuốc, hút vào cho ho lao”. 
Gã con trai không nói, bước vào nhà trong. 
“Anh Bằng thấy đó, thằng Tuấn nó đâu có nghe tôi, con với cái cứ cãi lời, cứ đi nhập ngũ rồi chết nhăn răng ra… Cậu có bị gọi không?” 
“Dạ, không, cháu được hoãn vì lý do nghề nghiệp”. 
“Phải đấy, cái thứ lính tráng đi làm chi cho cực thân”. 
Bằng chợt nhớ lại câu chuyện của Đại đức Trí Không: Anh Chuẩn uý chết sau ngày mãn khoá hai mươi ngày. 
“Dạ, bác nói thật phải, con thấy cái chết thật phi lý, chẳng giúp được một ai”. 
“Chứ răng nữa, bỗng nhiên đi mang cây súng bắn người ta, bị người ta bắn lại chết, thiệt vô lý”. 
“Dạ, vô lý kỳ cục lắm, hơn nữa chiến tranh cũng sắp hết, thêm một em Tuấn vào tình hình cũng vậy thôi”. 
“Đó anh nói thế mới phải, nó chỉ quý đối với cha mẹ thôi, còn như chính phủ thì biết thương ai. Nó không hiểu ý tôi cứ nhất định trả lời, trứng mà đòi khôn hơn chi sao được…” 
“Dạ”. Bằng dạ khó khăn từng tiếng một. Bằng cũng là kẻ khôn ngoan, khôn ngoan chạy một giấy hoãn dịch để ngày ngày đứng trước lớp học, kể lại đoạn sử đầy chấn động của tiếng sóng Bạch Đằng trên phiến não phẳng phiu trơn trợt của năm mươi khuôn mặt trai gái. Sau cái nhìn không cảm giác của năm mươi khuôn mặt học trò này, bằng cảm được cái phán xét cay nghiệt… “Thầy mới lãnh lương hôm nay”. Câu hỏi nham nhở đầy âm thanh khô cứng làm Bằng choáng váng. Người học trò đã hỏi Bằng trong cái nhìn lạnh tanh. 
Quỳnh Như mặc áo dài màu tím ngoài khoác áo len trắng trông thật dịu hiền. Con gái Huế có hai màu tổng quát, màu trắng khi trời nắng và màu tím lúc trời ủ dột. Hình như người học trò phái nữ nào cũng một lần yêu thích hai màu đó, vì chẳng có người con gái nào mà không muốn mang những dấu hiệu ước lệ về con gái xứ Huế. Nữ sinh Đồng Khánh tóc thề, thích ăn vặt, bánh bèo Tây Thượng, Ngự Bình, suối Trà Am, bánh xe đạp lăn tròn hướng về phía chùa Thuyền Tôn phủ bóng tre xanh. Sinh hoạt đó làm thành cá tính người con gái xứ Huế. Quỳnh Như, một người Huế từ tên tuổi đến dòng họ, nàng lại càng đóng góp tích cực hơn trong định nghĩa chân dung người con gái xứ Huế. Với chiếc áo tím, Quỳnh Như đẹp đẽ âm thầm như con đò buông chèo nằm dưới bóng dâm của rặng cây. Con đò có nỗi xôn xao cuốn hút của nó. Quỳnh Như cũng thế, nỗi cuốn hút riêng nàng biết được. Tay nắm tay, nàng đi với Bằng về phố chính, hướng phòng triển lãm của một hoạ sĩ vừa tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế, và sau đó chắc sẽ về nhà Bằng, nơi có chiếc giường xôn xao của một đại tộc đầy vinh quang. Nỗi mê đắm nàng đã biết qua, đang đợi nàng ở đấy. Nỗi mê đắm cùng lạc thú nàng đã nắm được khi hai hàm răng nghiến chặt trên tấm nệm hoa đỏ dài hai thước. Lạc thú ở sợi tóc rối, mái tóc thề xứ Huế rối rắm cuống quít mịt mờ và cái nhìn mất sắc. Quỳnh Như hai mươi ba tuổi, đã có lễ hỏi, cuối năm thi ra trường Sư phạm, nàng có đủ điều kiện để cho cuốn theo cơn lốc nóng hổi cảm giác trong mịt mù ẩm ướt của xứ Huế. Nhưng cảm giác nóng hổi đó phải được xếp lại, nàng đang đi vào phòng triển lãm phải giữ đúng cung cách của người học trò mang áo tím, để tóc thề, nữ sinh Đồng Khánh phải làm thế trước khi nẩy chiếc mông đầy sức nặng êm đềm của gã thanh niên. 
Người hoạ sĩ dù mới ra trường nhưng anh cũng chứng tỏ sự trưởng thành qua các giai đoạn do anh phân định. Giai đoạn của nét vẽ chân phương với màu sắc bềnh bồng trên các tĩnh vật, cảnh núi đồi hay các người mẫu bình thường nhưng thể hiện được tính chất vũ bão của đời sống, người ta dễ nhận thấy vóc dáng đôi guốc của Vangogh, những trái cây của Cézane, mặc dù những bức hoạ ở đây đã được hoạ sĩ chú thích bằng những đề tài Việt Nam cổ kính, cổ kính hơn những tranh mộc bản hái dừa. Người ta cũng nhận thấy có một cố gắng muốn hiểu đủ, muốn tổng hợp vượt ra khỏi kích thước của trường vẽ, trong cố gắng này rất dễ nhận được đôi cánh thiên thần của bức tranh Đêm Giao Thừa đậm đà phảng phất chiếc cánh của Chagall. Tuy vậy anh hoạ sĩ cũng thành công, không phải ở nét dao phóng đãng mang niềm kiêu hãnh của người làm nghệ thuật, nhưng ở bộ áo quần lệch lạc một cách cố ý, chiếc áo len cao cổ màu đỏ sậm có đường đen vạch ngang, lấm chấm những vết sơn, dấu tích của thời khắc mê mải theo kiếm tìm nghệ thuật. Nhưng quan trọng và đầy đủ đọng trên bộ râu quai nón màu vàng và chiếc píp chạm trổ hình đầu người. Người ta thấy vóc dáng của những đại hoạ sĩ cỡ Vangogh, Buffet ở đâu đây. 
“Anh quen với Ngu Cương (biệt hiệu lạ lùng của người hoạ sĩ)”. Bằng nói nhỏ vào tai Quỳnh Như. 
“Thế hả?” Giọng nói khép nép thảng thốt như vừa khám phá được điều quý giá bí ẩn. Quỳnh Như nép vào sau Bằng, bàn tay khép tà áo lại. Người con gái Huế phải e thẹn, nhất là trước những kẻ phóng đãng nghệ sĩ. Bằng bắt tay Ngu Cương. “A, Lý (tên thật của người hoạ sĩ) tranh mày khá lắm, các “matière” thật vững và linh động”. 
Đúng là ngôn ngữ sành sỏi của người am hiểu nghệ thuật. Quỳnh Như nép vào lưng Bằng chặt chẽ và kính phục hơn. Đứng sau lưng của một người chồng tương lai thấu triệt hội hoạ là một hành động chứa nhiều tính chất nghệ thuật… 
“Thế hả? Cám ơn toa. Toa thích cái nào nhất?” Người nghệ sĩ nói thật nhỏ, ống píp vẫn ngậm chặt giữa hai kẻ răng. Tay người nghệ sĩ đưa lên vuốt hàm râu, cử chỉ khoan thai phảng phất chút đam mê cô đơn! 
“Moa thích bức khoả thân số 2, nó mang vẻ bất hạnh âm thầm của thân phận đàn bà, các “gam” xám của toa làm moa nhớ đến Modi!” 
Người nghệ sĩ gật đầu, xòe diêm châm ống píp đã tắt lửa. “Xin lỗi moa phải tiếp ông Giám đốc”. Người nghệ sĩ dùng cây quẹt chỉ về cửa, một người đàn ông mặc đồ lớn vừa đi vào. Hoạ sĩ đưa tay úp lên che miệng píp bập bập hơi khói, gật đầu chào Quỳnh Như trước khi bước đi. Tôn Nữ Quỳnh Như ríu rít đáp lại, tiếc thầm sao người hoạ sĩ không ngỏ lời mời nàng làm người mẫu. Quỳnh Như là khuôn mặt đàn bà ám ảnh suốt linh hồn anh. Bằng đã nói thế, người hôn phu có cảm quan nghệ thuật sắc bén đã nói thế, tại sao người nghệ sĩ không chú ý đến nàng? Đôi mắt người nghệ sĩ có vẻ lạ riêng? Quỳnh Như nghĩ đôi mắt đục mà đồng thau của người nghệ sĩ, hình như có một vẻ ngơ ngác hụt hơi! 
Hai người rời phòng triển lãm, họ bước đi im lặng. Bằng nghĩ đến câu chuyện nhà sư Trí Không, nửa tháng lương Tết sắp lãnh, tiền đám cưới Quỳnh Như, bức tranh người đàn bà cởi truồng nằm sấp trên nệm. Quỳnh Như nghĩ đến chiếc giường trong căn phòng đầy bóng tối và nỗi mê đắm làm nóng vành tai, chảy giọt mồ hôi ở sợi tóc mai… Bằng ơi. Quỳnh Như liếc qua người hôn phu, sau khuôn mặt bình yên này có ngọn lửa sẽ đốt nàng đi chốc nữa trên giường có tấm nệm đỏ. Trời cuối năm ẩm ướt như cơn mê đắm của Tôn Nữ Quỳnh Như…

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Mẹ u sầu qua cầu Ái Tử

Trăm thương ngàn nhớ gởi lại bên sông

Bên sông máu thắm dôi giòng,

Bên sông giặc về hiện hình muông thú.

Con trai mẹ lao mình trong đạn bủa

Máu thép, tim gang ngăn chiến xa thù,

Mắt ngời say lửa dũng ngàn xưa

Bàn tay lõm trên sắt che nòng súng

Cắn máu môi uống lời thề kiêu dũng,

Lời thề chém đá – lời thề xé mây:

– Bằng hơi thở Trị Thiên

Quyết giữ bến sông này!

Mẹ theo mớc non, theo dân tộc xuôi Nam

Chiếu căm căm giòng Thạch Hãn ngậm hờn,

Mẹ giã từ bờ tre, giếng xóm

Bỏ trâu, bỏ cày, bỏ vườn, bỏ ruộng

Cơ nghiệp chắt chiu phút bỗng tan hoang,

Tiễn mẹ đi bom đạn réo kinh hoàng

Rưng mắt lệ vời quê hương ngụt khỏi,

Về Cố Đô nặng nề từng bước mỏi

Lời dặn dò lạc lõng vỡ trong sương:

– Ở lại nghe con,

Sống chết với quê hương!