Con bò nó thắng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Sep 2026

Cách đây đúng một thế kỷ Vladimir Lenin cầm đầu đám lâu la cướp chính quyền tại thành phố St. Petersburg thành lập chánh quyền CS!

Đó là ngày 25, tháng Mười, năm 1917 theo lịch của Liên Xô nên mới gọi là Cách mạng 10 Nga! Chớ theo dương lịch, đó là ngày mùng 7, Tháng Mười Một)

Hơn 65 triệu người dân vô tội trên toàn thế giới đã chết vì Chủ nghĩa CS nầy!

Mãi đến khi chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới bước vào thế kỷ 21, với sự sụp đổ của Liên Xô, các nước đàn em theo Chủ nghĩa Cộng sản từ từ hô biến!

Ngày nay chỉ còn 5 nước theo chủ nghĩa CS. Cuba nằm thoi loi một mình ngoài biển Caribbean gần tiểu bang Florida, Đông Nam Hoa Kỳ.Ba nước còn lại đều nằm gần đàn anh Trung Cộng. Nếu một mai anh sẽ qua đời thì ba thằng em CS Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Lào chắc chắn sẽ cùng đi tàu suốt.  Ngày đó chắc chắn sẽ tới. Chắc như bắp!

Ngày nầy, hơn 30 năm về trước, đám lãnh tụ già nua của CS Liên Xô ngực đeo hàng đống mề đay, rán đứng cho vững, để vẫy tay chào Hồng quân Liên Xô trang bị hỏa tiển mang đầu đầu đạn hạt nhân diễn hành trên Quảng trường Đỏ ở Moscow để nhát thiên hạ!

Nhưng năm nay, một thế kỷ, đúng ra là phải làm lễ cực kỳ long trọng mới phải. Nhưng Liên Xô đã ngáp ngáp chuyển qua từ trần năm 1991! Nước Nga giờ của Vladimir Putin coi bộ không hào hứng ăn mày quá khứ cho lắm!

Quá khứ tàn ác áp bức nầy có gì đâu mà ăn mày? Nó đã để lại nhiều di chứng đau thương nhưng cùng lúc cũng để lại nhiều chuyện tiếu lâm thời CS.

***

Trước hết là về CS Cuba. Về Fidel Castro, mãi tới năm 90 tuổi, chơi bời gái gú nhiều quá liệt giường mới đi chầu Karl Marx với Lenin cũng tháng Mười Nga năm ngoái, tức tháng Mười Một tây, ngày 25!

Fidel giống như các nhà cách mạng tiền bối CS khác rất khoái để râu. Mà râu của Fidel loại tốt, xum xuê, che luôn cả cái mồm, ngậm điếu xì gà Havana dài và to trông rất là ‘công xúc tu sỉ’.

Chiếm được chánh quyền, Fidel bèn ra tay đàn áp khốc liệt, hành quyết và cầm tù biết bao nhiêu người Cuba bất đồng chánh kiến.

Thế nên dân Cuba đùa vui là: Truyền hình XHCN Cuba giờ theo đuôi chủ nghĩa tư bản, chiếu phim sex. Mà thực ra là băng ghi hình Chủ tịch Fidel Castro râu xồm đang ăn chuối!

Rồi Fidel Castro đi thăm Hugo Chávez!  Nước Venezuela bắn tới 21 phát đại bác mà không trúng phát nào. Dân Cuba chê Hugo trước khi làm Tổng thống là Đại tá Dù nhưng bắn dỡ ẹt!

CIA, Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ nhiều lần hành thích Fidel Castro nhưng đều thất bại cả. Bà con mình kết luận là vì Fidel giống như con rắn và con thỏ trong câu chuyện ngụ ngôn dưới đây mới được chết già như thế!

Chuyện rằng: con thỏ rối rít xin lỗi! “Tôi không cố ý ngáng chân làm ông ngã té! Nhưng vì thiếu vitamin A, mắt quáng gà không thấy đường nên mới va vào anh đấy thôi!”

Con rắn cười hè hè: “Ờ tui cũng không thấy đường như anh vậy! Nhưng nè! Anh là con gì? Nai, Mển hay Cheo?”

“Thiệt tui hỏng biết tui là con gì nữa! Đâu có thấy đường để soi gương mà biết mình là con gì?”

Con rắn bèn đề nghị: Lại gần đây, tui sờ soạng một hồi là tui biết anh là con gì liền hè! Ờ! Lông mềm như nhung, đuôi cụt ngủn, răng nhỏ sắc, lỗ mũi có tí xíu! Đích thị anh là con thỏ”

Biết mình là con thỏ nên mừng quá cám ơn rối rít ” Xin tạ ơn ông! Nhưng ông là loại con gì vậy?”

Con rắn cũng không biết mình là con gì. Nên để cho con thỏ sờ soạng một hồi chắc nó biết!

“À! Ông lạnh lùng vì máu lạnh, cứng ngắt, trơn lùi, chui qua lỗ nào cũng lọt và không có cái mà ai cũng có! Nhứt định ông phải là đảng viên đảng CS!”

***

Trừ Fidel Castro có vẻ khôn lõi nhưng những người đồng chí của ông ở Việt Nam chắc không được như ông.

Bằng cớ là: Chi bộ đảng mới mua về hai con ngựa cho Chi cục Kiễm lâm tuần tra đường rừng để bắt lâm tặc.

Hai tên kiểm lâm cỡi thử hai con ngựa và cả hai đứa rất lấy làm hài lòng.

“Tao lấy một con! Đồng chí lấy một con!” “Nhưng sao biết được con nào của mầy con nào của tao chớ?”

Hai đứa chụm đầu với nhau bàn bạc một hồi lâu và cuối cùng ra nghị quyết: “Những việc cần làm ngay: Là cắt đuôi một con!”

Sáng hôm sau, Chi cục trưởng Kiễm lâm kiêm Bí thư đảng ủy đến kiễm tra hai con ngựa thấy một con cụt hết cái đuôi, giận lắm, la toáng lên: “Tại sao hai đồng chí lại cắt đuôi con ngựa vậy hả?”

“Thưa đồng chí Bí thư! Phải cắt đuôi một con ngựa để phân biệt được con nào là của tui và con nào là của nó!”

“Thiệt hai đồng chí ngu quá xá là ngu! Đâu cần gì phải cắt đuôi con ngựa cho mất công. Bộ hai đồng chí không thấy con ngựa màu trắng cao hơn con ngựa màu đen hay sao chớ?”

Bài học rút ra là cả ba đồng chí đều ngu hết ráo. Ngu nhưng láo, hống hách với dân lành!

Chuyện rằng tay Bí thư Huyện ủy mới đổi về, đến xem xét một trang trại nuôi cọp để nấu cao hổ cốt của một người dân miền núi sở tại.

Ông chủ trang trại nuôi cọp giơ tay ngăn lại: “Ông không được vô!”

Tay Bí thư tức điên lên, thiếu điều hộc máu mồm! Dân mà dám thách thức quyền lực của đảng ta hả? Y bèn sùy cái thẻ đảng viên đảng CS ra, dí dí trước mặt dân, rồi long trọng tự hào tuyên bố: “Với cái thẻ đảng nầy, ta có thể đi bất cứ đâu, kiễm soát, tịch thu bất cứ thứ gì mà không ai được quyền ngăn cản hay chống đối!” Nói xong, y mở cỗng hàng rào bước vào trại nuôi cọp.

Chừng mười phút sau, tay Bí thư hộc tốc chạy như bay trở ra cửa, luống cuống mãi mà không tìm được chốt khóa.Một bầy cọp cha, cọp mẹ và cọp con đang gầm gừ, hò reo tở mở đuổi theo ráo riết. Tay Bí thư chỉ còn nước phóng lên hàng rào mắt cáo, đeo tòn ten, miệng gào lên kêu cứu!

Nghe tiếng kêu la thảm thiết, ông chủ trang trại trong nhà bước ra nói: “Nè đồng chí Bí thư! Móc thẻ đảng của ông ra!”

***

Đó là chuyện mấy tay đảng viên cắc ké của đảng CS Việt Nam. Còn câu chuyện sau đây là của lãnh tụ CS Bắc Triều Tiên Kim Ủn Ỉn mới 33 tuổi, dám xúc phạm gọi Trùm Đế quốc Mỹ, Donald Trump, là ‘cha già khú đế’.

Làm Donald Trump chạm tự ái phân bua: “Tui đâu có ngạo nó lùn và mập ú đâu mà nó lại chọc quê tui?!”

Thôi xin Tổng thống Donald Trump đừng buồn, đừng để bụng làm chi; đừng gọi nó là thằng nhóc con khoái chơi hỏa tiển tầm xa nữa; vì dân Triều Tiên đã đặt ra câu chuyện tiếu lâm như vầy nếu đọc xong, ông sẽ lấy làm hả dạ.

Chuyện rằng: Kim Ủn Ỉn và tài xế lái chuyến xe về sau buổi thử nghiệm hoả tiển tầm xa nhưng không dám dùng đại lộ vì sợ CIA nó làm ấu nên Kim Ủn Ỉn sai tài xế chạy xuyên qua một vùng quê  hoang vắng chiều trời sầm sập tối!

Bỗng có một con heo nái thình lình băng ngang đường. Viên tài xế đạp thắng lết bánh luôn nhưng đã trễ. Kim Ủn Ỉn bèn sai viên tài xế vô nhà người nuôi heo để xin lỗi nhân dân.

Một tiếng đống hồ sau, viên tài xế quay trở lại mặt đỏ như gấc, một tay cầm cái đùi gà, một tay cầm chai rượu sâm banh, miệng còn ngậm một điếu xì gà, đi hơi nghiêng ngã.

Kim Ủn Ỉn ngạc nhiên hết sức, hỏi: “Cái quái quỷ gì đã xảy ra vậy?”

“À! Thưa Chủ tịch kính mến! Ông nông dân đãi tui chè chén say sưa! Vợ ổng cho tui điếu xì gà. Con gái ông còn hun lên má tui một nụ hôn thắm thiết! Còn vết son đỏ choét nè!”

“Vậy ngươi có nói gì với họ hay không!” “Có chớ! Tui nói: Tui là tài xế của lãnh tụ Kim Ủn Ỉn và tui mới vừa cán chết con heo nọc đó rồi!”

***

Nói tận cùng bằng số, CS Viêt Nam và CS Bắc Triều Tiên còn làm cha tới ngày  nay là vì còn đại ca Tàu Cộng chống lưng.

Nếu Tàu cộng sập cái rầm là hai đệ tử dù muốn hay không cũng phải đành theo sư phụ.Con bo no thang 06Mà Tàu cộng còn sống sót tới ngày hôm nay là nhờ công Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ ngũ đoản, cái gì cũng ngắn,  mở cửa dắt cả nước Tàu đi làm cu li cho đế quốc Mỹ!

Mấy năm trước, để thường công đàn áp nhân dân Tàu, Chu xếnh xáng, trùm an ninh Trung Cộng, thời còn hét ra lửa mửa ra khói, được Thường vụ Bộ Chính trị đảng CS Trung quốc cho ra ngoại quốc tham quan cách làm ăn của chủ nghĩa tư bản dẫy chết ra làm sao để về bắt chước theo.

Chu xếnh xáng từ Hoa Kỳ về, ghé ngang nước Tây Ban Nha xem đấu bò tót cho biết!

Bà con mình ai cũng biết: Tay đấu bò mặc trang phục truyền thống với một thanh kiếm sắc và một tấm vải đỏ. Đấu sĩ lịch lãm cầm tấm vải điều, (màu đỏ choét con bò tót thù bất công đái thiên), tự tin sàng sàng qua sàng lại xung quanh một con bò đực đang hung hăng húc vào tấm vải vì điên tiết!

Cuối màn biểu diễn, đấu sĩ đâm một nhát vào tim để giết chết con bò đấu.

Tan về, Chu xếnh xáng đói bụng tạt vô một nhà hàng cực kỳ xa hoa và sang trọng tại thủ đô Madrid để ăn tối.

Chu xếnh xáng để ý thấy bàn kế bên, có có hai viên thịt băm vo tròn lại bằng như hai trái bưỡi năm roi nằm trên chiếc dĩa trẹt!

Lấy làm lạ, Chu kêu đầu bếp nhà hàng ra hỏi! “Thưa đồng chí Trung quốc! Đó không phải là món bò vò viên thường đâu ạ! Đó là món ‘Ngầu pín’ tiềm thuốc Bắc!”

Theo truyền thống ẩm thực của Tàu là ăn gì bổ nấy, Chu bèn gọi món ‘Ngầu pín tiềm thuốc Bắc để tăng cường sinh lực cho mình mà không dùng đến ‘viagra’ của đồ đề quốc!Con bo no thang 07Nhưng nhà hàng xin cáo lỗi: Mỗi ngày chỉ có một trận đấu bò thôi! Nếu con bò thua bị giết chết thì mới có món quý nầy. Xếnh xáng có thể thưởng thức nó vào ngày mai!”

Hôm sau, Chu lại đến! Giữa chiếc đĩa bằng bạc, muỗng nĩa cũng bằng bạc chỉ có hai viên nhỏ xíu như trái tắc?!

“Hôm qua món ngầu pín tiềm thuốc Bắc bự như trái bưỡi năm roi sao bữa nay nó nhỏ xíu như trái tắc vậy hả?”

“Thưa Chu xếnh xáng! Đâu phải ngày đấu bò tót nào, con bò cũng thua đâu ạ! Bữa nay con bò nó thắng!”

Cô ta là một nửa của tôi

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 15 Sep 2026

Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.

 Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.

 Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.

 Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 50 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.

 Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?

Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm len dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế:  Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo. Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.

 Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.

 Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.

– Này anh giai, có thích chơi em không, hở?

– Không.

– Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?

– Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.

– Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.

– Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?

Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.

– Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.

– Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.

– Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…

– Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.

– Tìm đúng nhà có dễ không?

– Em có thể biết lý do?

– Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.

– Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?

 Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.

– Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.

 Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.

Hồ Đình Nghiêm

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 15 Sep 2026

N”David Halberstam chết hôm qua”, tôi thận trọng báo tin này với bà Nhu vào tháng Tư năm 2007. “Đó là một vụ đụng xe”. Tôi không biết chắc bà theo dõi những biến cố thời sự sâu sắc đến mức độ nào. Tôi thậm chí còn ít chắc chắn hơn về việc bà sẽ phản ứng ra sao khi nghe đến tên của phóng viên tờ New York Times và là ngòi bút viết nhiều, người bà từng biết ở Sài Gòn nhiều năm trước đây.

Cáo phó về ông chạy trên tờ báo ra buổi sáng:

Cao, cằm vuông, hấp dẫn với giọng nói gây ấn tượng trầm sâu như thể nó vang lên từ mắt cá chân ông ta. Ồng Halberstam thành công hoàn toàn với tư cách nhà báo trong những năm đầu thập niên 1960 khi viết về cuộc chiến sơ khởi của người Mỹ ở Nam Việt Nam cho tờ New York Times.

Những tường thuật của ông, bên cạnh những tường thuật của đồng nghiệp, gieo ít nhiều hồ nghi rằng chính quyền tham nhũng Nam Việt Nam được hậu thuẫn của Hoa Kỳ không sánh bằng những du kích quân Cộng sản và các đồng minh Bắc Việt của họ. 1

“Hừm, những kẻ giỏi nhất và những kẻ thông minh nhất”, bà nói, khiến tôi ngạc nhiên bằng cách nhắc ngay đến tựa cuốn sách xuất bản năm 1972 của ông ấy. “Không, tôi không biết ông ấy chết. Rất tiếc”.

Bà không có vẻ buồn lắm, nhưng điều đó không có gì lạ. Từ những gì tôi biết về cách đưa tin của Halberstam, ông ấy không thích bà Nhu, và bà ta cũng không ưa gì ông. Ông cho rằng bà “kiêu hãnh và vô dụng” và kết tội bà đã “bới sâu vào chính trị của bọn đàn ông bằng sự ngu dốt rõ rệt và không che giấu được”. Trong cuốn sách năm 1964 của mình, “Tạo ra một vũng lầy”, Halberstam nói về bà Nhu, “Đối với tôi, bà lúc nào cũng giống như một nhân vật của lan Fleming bước vào cuộc sống thực: một phản nữ thần, một người đàn bà độc tài – tính dục xinh đẹp nhưng hiểm ác, điều khiển một số cơ cấu bí mật mà James Bond tìm cách hủy diệt” 2 . Ông đã phê phán kịch liệt sự khao khát quyền lực chính trị của bà Nhu đến mức tin lời đồn bà nói với ai đó vào năm 1963, “Halberstam sẽ bị nướng quay, và tôi sẽ vui sướng cung cấp mỡ và diêm quẹt”.

Có thể bà đã già dặn hơn sau bốn chục năm, hoặc có thể ký ức của bà đã trở nên mềm mại hơn. Nhưng phản ứng của bà Nhu trước cái chết đột ngột của David Halberstam bốn mươi bốn năm sau làm tôi sửng sốt khi bà nhớ đến ông ta sâu sắc làm sao. “Ông ấy thông minh, một trong những người hiếm hoi nói sự thật”.

Quả thật, ông đã làm vậy, cả trong cuốn sách “Những kẻ giỏi nhất và những kẻ thông minh nhất”, mà bà Nhu đã đề cập, lẫn trong lối đưa tin sắc sảo, trực diện đã giúp ông giành giải Pulitzer năm 1964. Những sự thật của Halberstam làm cho chính quyền Mỹ khó chịu và giới chức quân sự điên tiết. Ông từng là người đầu tiên vạch cho thấy rằng chiến tranh ở Việt Nam sẽ không đi đến đâu. Thỉnh thoảng ông lại chỉ cho thấy rằng Hoa Kỳ đang làm hỏng sứ mệnh của nó ở Đông Nam Á. Giới hàn lâm và trí thức trẻ thành đạt trong chính quyền Kennedy ngạo mạn đặt ra những chính sách thách thức lương tri thông thường. Đối với bà Nhu, hẳn cũng đã có ít nhiều minh oan khi thấy những kẻ lật đổ gia đình bà bị lu mờ bởi cách đưa tin của Halberstam.

Nhưng Halberstam cũng lớn tiếng, và lặp đi lặp lại, đổ lỗi cho gia đình họ Ngô về thất bại của Mỹ ở Việt Nam. Tin tức của ông được Washington đọc rất kỹ. Bản thân Tổng thống Kennedy yêu cầu CIA nghiên cứu từng bài báo do nhà báo trẻ này viết, và mỗi một báo cáo của CIA bao gồm nhiều trang phân tích cách dòng đơn. CIA kết luận rằng nhà báo trẻ này có được thông tin về các sự kiện trực tiếp ở Nam Việt Nam chính xác hơn đa số các “cố vấn” quân sự. Anh ta đúng khi nói rằng Cộng quân đang thắng và lại đúng khi tuyên bố rằng các du kích quân Cộng sản được trang bị tốt và “thao túng vùng đồng bằng sông Cửu Long”. 3

CIA đi đến một kết luận quan trọng khác về những tin tức của Halberstam. Những bài báo “lúc nào cũng bi quan” góp phần trực tiếp vào sự khủng hoảng chính trị ở Nam Việt Nam. CIA đòi David Halberstam chịu trách nhiệm về sự rạn nứt của chế độ họ Ngô. Những tin tức của ông, họ nói, góp phần dẫn đến sự suy sụp của nó. Liệu bà Nhu có biết đến chi tiết này? 4

Halberstam và những nhà báo trẻ khác của phân bộ báo chí ở Sài Gòn tin vào sứ mệnh của Mỹ ở Nam Việt Nam. Họ ủng hộ học thuyết domino hết lòng đến mức khi họ nhìn thấy các chính sách từ chính phủ của họ bị bà Nhu và gia đình bà làm cho trầy trật, các nhà báo này dường như quyết định tự mình, với tư cách những người Mỹ tử tế, thay đổi tình hình ở Nam Việt Nam, cũng như đưa thông tin về nó. Mục đích của họ không có gì khác là thay đổi chế độ.

Họ đổ tội cho anh em họ Ngô vì đã để mọi chuyện gần như sai lạc so với nỗ lực hậu thuẫn của Mỹ ở Nam Việt Nam. Chỉ sau khi ông Diệm và ông Nhu chết đi thì chính Halberstam mới kết luận rằng vì tất cả tin tức về những sai lầm của chế độ Ngô Đình Diệm, ông đơn giản đã không đủ bi quan. Vấn đề không chỉ là sự ngạo mạn của ông Diệm quí tộc, chủ nghĩa duy trí trì trệ của ông Nhu, hay những mưu đồ vụ lợi cá nhân của bà Nhu. Những cơ hội thành công ở Việt Nam đã sa vào vũng lầy dày đặc. Nhưng vào lúc đó, đã quá muộn. 5

Bà Nhu hình như chưa bao giờ hiểu được vai trò của báo chí ở Việt Nam. Bà tưởng các phóng viên phải bám chặt vào lập trường chung và kỳ vọng họ lặp lại những gì Dinh Tổng thống nói với họ. Tìm kiếm những nguồn tin bên ngoài là thiếu tôn trọng. Bà, ông Nhu, và ông Diệm đều không nói dối, ít nhất là không cố ý nói dối, với báo chí. Họ tin những điều ngớ ngẩn mà họ đang tuyên truyền – như những thắng lợi vang dội mà quân đội của họ giành được ở nông thôn hay sự trung thành của dân chúng đối với chế độ. Họ cảm thấy các phóng viên không quan tâm đúng mức đến những câu chuyện tích cực. Tại sao không nói về các chương trình y tế và phúc lợi xã hội? Thay vào đó họ tập trung vào những cái tiêu cực. Bà Nhu tìm cách quở mắng họ. “Các bạn làm như thể mình chỉ là những khán giả ở đây, các bạn không hiểu rằng các bạn ở cùng chúng tôi và chúng tôi cần sự hậu thuẫn của các bạn sao?” 6 . Dinh Tổng thống và báo chí không hiểu ý nhau. Các phóng viên châm biếm bà, còn bà thì cứ ra mặt khinh thường họ.

Vì tất cả những điều đó, nên khi nghe tin David Halberstam chết, bà Nhu có vẻ như không muốn nghĩ đến ý định của nhà báo trẻ là muốn cổ vũ cho việc lật đổ chế độ của gia đình bà. Thay vì vậy bà nhớ đến chuyện anh ta tâng bốc bà như thế nào. “Anh ta so sánh quyền lực của tôi với quyền lực của Tổng thống!”. Bà nói điều đó như thể anh ta chỉ khen tặng cái váy đen mà bà biết bà đẹp khi mặc nhưng không muốn thừa nhận điều đó: Ồ, cái này cũ rồi! Như thể gán cho bà quá nhiều quyền lực là ngớ ngẩn, nhưng tâng bốc bà thì cũng vậy.

David Halberstam đúng là đã nhận ra những ưu điểm lớn nhất của bà Nhu: sự nhất quán và quyết tâm của bà. Ông bình luận về niềm tin sắt đá của bà vào chính bản thân và lý tưởng của bà. Nhưng Halberstam cũng nhìn thấy sự xác tín đúng đắn đó, trong khi thể hiện, có thể là khuyết điểm chết người về tính cách như thế nào. Bà Nhu không thể hoặc sẽ không thấy khía cạnh đó. Ngược lại bà chỉ thích cách ông mô tả về bà: “Bà Nhu thực sự thèm khát những lễ nghi dành cho lãnh tụ. Bà là người duy nhất trong gia đình đi đứng theo cách một nhà độc tài – với năng khiếu tự nhiên và niềm vui thích rõ ràng, theo sau là một hàng người phục dịch – từ từ quay người trước hết qua phải, rồi qua trái để cười chào đám đông. Đó luôn luôn là màn trình diễn của bậc thầy”.

Mô tả này hầu như có thể đọc như một lời khen tặng nếu không có dòng cuối cùng: “Đây là phong cách mà Mussolini hẳn đã thể hiện”. 7

“Tôi đã tiếp ông ta”, bà Nhu bảo tôi, như thể bà đã ban vinh dự cho một nhà báo hãnh tiến chỉ mới đến xứ sở này có mấy tháng. Không dễ được ngồi trước mặt Đệ nhất Phu nhân của Việt Nam Cộng hòa. Người nào muốn phỏng vấn bà đều phải trải qua những thủ tục nhiêu khê. Trước hết anh ta phải trịnh trọng đề nghị một cuộc gặp kín và viết một lá thư thân tình gởi cho bà nêu rõ những gì anh ta muốn hỏi. Nếu người được phỏng vấn chấp thuận, chắc chắn như vậy, thì nhà báo sẽ được chờ đón một người cao hơn một mét rưỡi và nặng hơn bốn mươi ký là bà Nhu xuất hiện ấn tượng. Bà thường diện áo dài, cẩn thận vuốt thẳng những nếp gấp lụa, rồi lựa thế nhẹ nhàng ngồi xuống để không làm nhàu chiếc áo. Cái ghế được chạm trổ cầu kỳ gần như cái ngai vàng – nó càng giống như vậy hơn khi bà ấn nhẹ cái chuông trong tay. Đâu đó vang lên một tiếng chuông. Halberstam viết về sự chạm trán của ông với những kỹ thuật phỏng vấn của bà Nhu trong cuốn sách The Making of a Quagmire và mô tả việc được tiếp trà và kẹo bạc hà “bởi những người hầu nam nhỏ bé cúi mình khúm núm trông giống như một thứ tra tấn thời trung cổ nào đó” 8 .

Halberstam đến Sài Gòn đúng vào lúc một đặc phái viên khác rời đi. François Sully, một người Pháp làm việc cho Newsweek, đã làm bà Nhu khó chịu. Ông đã bị trục xuất sau mười lăm năm ở xứ này. Lý do? Một bài viết ngày 20 tháng Tám năm 1962 kèm theo tấm ảnh chụp các người tình của bà Nhu – đội bán quân sự của bà – với chú thích “Nữ dân quân ở Sài Gòn: kẻ thù có thêm động lực và sự hăng hái”. Giới báo chí Hoa Kỳ ở Sài Gòn không buồn khi thấy Sully ra đi. Tin tức của ông đầy u ám trong khi chính sách chính thức vẫn một mực lạc quan. Nhưng Halberstam đã ghi lại những ý kiến đáng chú ý. Sully rời Việt Nam như một người hùng báo chí, có thể nói vậy. Hai cô gái trẻ giữ ông lại trong một cửa hiệu để xin thủ bút của ông. Khi Sully chuẩn bị trả tiền thuế xuất cảnh như thường lệ cho chuyến ra đi của mình, một viên chức địa phương mỉm cười, bắt tay ông, và không nhận tiền. Ông gọi Sully là “người bạn chân chính” của Việt Nam vì đã nói sự thực, dù đau đớn.

Phóng viên hãng tin AP Malcolm Browne chia sẻ giải thưởng Pulitzer năm 1964 với Halberstam vì những tin tức của họ về Việt Nam. Họ còn có chung quan điểm về bà Nhu. “Bà ta là loại người rất tự phụ”, Browne về sau khẳng định như vậy. “Bà luôn vui vẻ trò chuyện với cánh nhà báo chúng tôi, nếu bà có thể yên trí những gì chúng tôi viết là tâng bốc bà”, điều này càng ngày càng không đúng. Browne cũng miễn cưỡng ca ngợi bà Nhu. “Bà là một trong những tài sản lớn nhất của ông Diệm và ông Nhu”, không có nghĩa ông nghĩ rằng đó là điều tốt cho sự ủng hộ của Hoa Kỳ ở Việt Nam. “Bà thường hòa đồng với đám đông, rất nguy hiểm cho bà”, ông nhớ lại. “Bà làm người ta điên tiết, nhưng bà can đảm”.

Browne chụp bức ảnh nhà sư tự thiêu vào tháng Sáu năm 1963. Đó là một bức ảnh kinh hoàng. Khuôn mặt nhà sư nhăn nhúm lại trong đau đớn tột cùng. Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối chế độ họ Ngô, và bà Nhu chỉ có thể nói bà sẽ “vỗ tay cho một vụ nướng nhà sư khác”. Bức ảnh đó, và phản ứng theo kiểu Marie Antoinette của bà, cho người ta hiểu thêm về những gì đang diễn ra ở Nam Việt Nam cũng nhiều như bất kỳ câu chuyện nào của các đặc phái viên nước ngoài. Bức ảnh của Browne để trên bàn làm việc của Tổng thống John F. Kennedy khi ông phái tân đại sứ đến Việt Nam Cộng hòa, Henry Cabot Lodge, người hiểu rằng nhiệm vụ của ông là làm tất cả để vô hiệu hóa bà Nhu. 9

John Mecklin, một cựu nhà báo sau chuyển sang làm công chức, đã đưa tin về sự kết thúc của Đông Dương từ 1953 đến 1955 và trở lại năm 1961 với tư cách là viên chức của Sở Thông tin Hoa Kỳ. Ông công nhận những tác động lịch sử mà các phóng viên đang gây ra và trong hồi ký của mình, Mission in Torment, cho rằng tin tức của những người như Halberstam và Browne góp phần lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Tôi chợt nghĩ trong khi đọc cuốn sách của ông rằng bà Nhu đã đúng. Các ký giả đã về bà Nhu như một người hoang tưởng và điên khùng; đến lượt mình bà nghĩ giới báo chí tìm cách hãm hại bà. Cả hai bên đều đúng.

Tôi chạy xe lên Maryland để thăm Stanley Karnow, người viết cuốn sách hoàn hảo gần tám trăm trang, Vietnam: A History, mà tôi đã mang theo trong chuyến đi đầu tiên đến Việt Nam. Ông mời tôi đến hành lang có kính che nhà ông, ở đó chúng tôi uống cà phê đen, pha sẵn, và Karnow đốt hết điếu thuốc này đến điếu khác khi hồi tưởng lại những ngày ở Sài Gòn.

Bà Nhu, Karnow nói, là đàn bà hơn là nhà nữ quyền, “rất đỏm dáng, luôn phô vẻ gợi tình của mình”. Bà táo tợn, vui nhộn, nhảy nhót, và là “một cơn sóng ngầm – không ai có thể kiểm soát bà”. Người Mỹ, bà Nhu nói, đang sử dụng viện trợ của họ để “tạo ra những tay sai người Việt và dụ dỗ phụ nữ Việt Nam vào con đường suy đồi”. Bà tuyên bố rằng các phóng viên Mỹ đang hoạt động chống lại bà, rằng tờ New York Times đã nhận hối lộ 40.000 đô để đăng bài phỏng vấn một lãnh đạo Việt Cộng, và rằng tờ báo Mỹ uy tín này là một phần của “âm mưu Cộng sản quốc tế” muốn nhấn chìm đất nước bà. Karnov nhớ lại ông Diệm trong thâm tâm đã nao núng trước những gì em dâu ông nói. Bà buộc tội Tòa Đại sứ Mỹ đe dọa và tống tiền, tuyên bố với cả thế giới rằng cần “một cú sốc điẹn để lấy lại các giác quan của mình”, và tố giác đại úy Mỹ John Paul Vann, cố vấn của một viên tướng quân đội Việt Nam Cộng hòa, là “nhà quân phiệt ngoại quốc”, người đã “làm rối các quan chức [Nam Việt Nam] Karnow không nghĩ sự xấc xược của bà Nhu là điểm mạnh. “Mặc dù bà không ngốc nghếch, bà không có sự mẫn cảm đặc biệt. Bà không nhận thức được rằng bà đang đổ dầu vào lửa” của công luận chống lại chế độ.

Như Browne và Halberstam, Stanley Karnow viết về những sai lầm nguy hiểm mà Hoa Kỳ phạm phải khi hậu thuẫn cho chế độ họ Ngô ở Sài Gòn. Nhưng không như những người khác, Karnow dám đi xa đến mức suy đoán rằng, dù họ có thể lạm dụng từ “tự do” xấu xa đến mức nào, thì nếu ông Diệm, ông Nhu, và bà Nhu còn tại vị, họ “sẽ không bao giờ để cho quân đội Hoa Kỳ vào”, hoặc ít nhất là không cho vào với số lượng lớn như vậy. Chiến tranh với tất cả sự kinh hoàng của nó có thể đã không xảy ra.

Tờ báo tiếng Anh ưa thích của bà Nhu là Times of Vietnam, được xuất bản bởi những người bạn thân của bà ở Sài Gòn, Ann và Gene Gregory. Hai vợ chồng Gregory ở Sài Gòn lâu hơn hầu hết người Mỹ, họ đến đây vào năm 1952 như một bộ phận của Sở Thông tin Hoa Kỳ. Sau chuyến trở về Hoa Kỳ ngắn ngủi, họ quay lại khi Gene nhận được học bổng của Quỹ Ford để thực hiện một nghiên cứu về các cấu trúc xã hội – kinh tế đang phát triển của một quốc gia “chỉ mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến”. 10 Vợ chồng Gregory bỏ lại sau lưng công sở và thế giới học thuật khi họ mua được cái lúc bấy giờ là tuần báo tiếng Anh. Trên tờ Newsweek năm 1963 có một tiểu sử sơ lược về vợ chồng Gregory mô tả Gene “mập mạp và có đôi mắt lúc nào cũng chậm chạp như ngái ngủ dễ đánh lừa người khác” nhưng sắc sảo đủ để sớm nhận ra được tiềm năng cho tờ báo của ông nếu ông mở các mục liên quan đến Dinh như một địa chỉ để bày tỏ các quan điểm của nó. Tờ Times rất thành công, và nó sớm trở thành nhật báo. Nói về nó như một cuộc phiêu lưu thành công thì có thể gây lẩm lẫn. Nó phát hành chỉ vài ngàn bản, nhưng ai cần số lượng lớn khi đã có độc giả quan trọng nhất ở quốc gia này? 11

Các đặc phái viên ngoại quốc khác không quan hệ tốt với vợ chồng Gregory ở Sài Gòn. Hai vợ chồng sống trong một biệt thự màu kem tại khu ngoại ô toàn người Việt Nam. Bà Ann có mái tóc vàng và đầy năng lượng như sự hòa nhã của chồng, và Gene béo lùn khiến người ta nghĩ ông hoàn toàn không giống gì với các nhà báo trẻ năng nổ đầy rẫy trong thành phố. Nghề làm báo không phù hợp với tính cách của ông đến mức trong nhiều năm mọi người nghĩ rằng đó chỉ là cái vỏ bề ngoài vụng về cho công việc chính của ông là điệp viên, một kiểu “nhân vật James Bond bèo nhèo” giả vờ thân cận với anh em ông Nhu vì nhiệm vụ của ông là theo sát mọi hành động của họ. Nhưng giả định đó sai bét nhè. Vợ chồng Gregory đã dành quá nhiều trang báo của họ nhằm phá hoại các đồng nghiệp để đạt được bất cứ thứ gì khác hơn những kẻ bợ đỡ trung thành của chế độ. Một trong những tựa báo trang nhất của họ phê phán kịch liệt phóng viên hãng UPI Neil Sheehan viết, “UPI nói láo, nói láo, nói láo”. Khi các biên tập viên của David Halberstam yêu cầu ông viết một bài về tờ báo đó, ông trả lời rằng viết bất cứ chút gì chính xác về những người đó sẽ là bôi nhọ, còn viết bất cứ cái gì không bôi nhọ thì sẽ là quá khoan dung. 12 Học giả về Đông Nam Á Bernard Fall từng biết vợ chồng Gregory khi ông sắp hoàn thành bằng tiến sĩ về khoa học chính trị ở Đại học Cornell. Họ đã bất hòa đến mức tuyệt giao, có vẻ như ông nợ Ann tiền bạc, mà Ann là người giúp ông đánh máy luận án. Khi họ gặp lại nhau, cách Sài Gòn hàng ngàn cây số, cuộc tái ngộ hết sức vui vẻ. Fall viết mấy dòng cho vợ ông, Dorothy, về sự kiện đó: “Anh muốn em biết điều này để em có thể có hành động đúng mực với giới cầm quyền Hoa Kỳ, đề phòng có chuyện gì đó xảy đến với anh ở đây”, ngụ ý rằng Ann và Gene đã lan truyền những tin đồn chê bai về ông và một lời nói xấu từ họ với những kẻ xấu sẽ rất nguy hiểm. 13

Tờ báo Times of Vietnam là vô giá đối với Dinh. Nó trao cho chế độ này một phương tiện để tuyên truyền những quan điểm của mình – bằng tiếng Anh. Nhiều người cho rằng Gene Gregory được xe đưa đón khắp thành phố trong chiếc xe Peugeot đen vì vợ chồng Gregory được gia đình ông Nhu quí mến đến vậy cơ mà. Ann điều hành tờ báo hằng ngày và giúp bà Nhu dịch ra tiếng Anh những tuyên bố của bà về Ngày Liên đới Phụ nữ hoặc lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng. Các diễn văn của bà Nhu lúc nào cũng lê thê và thường chán ngán đến khó tin, và luôn gây khó hiểu.

Khi nghiên cứu về bà Nhu, tôi đã ghi lại đầy đủ các diễn văn của bà để nhận ra tính chất lan man của chúng. Bà dùng thì quá khứ, hiện tại và tương lai, và bà lặp đi lặp lại đến bực mình. Chỉ có một người bạn thân, như Ann Gregory, mới có thể tìm ra đủ chỗ trên tờ báo của bà để đăng chúng hoặc thậm chí chỉ từng phần. Nhưng, báo Times rất hay in lại toàn bộ các diễn văn. Tờ báo sớm được biết tiếng như là cái loa của bà Nhu. Thậm chí bà còn nhận là tác giả của một số bài báo, như bài buộc tội các nhân viên tình báo Mỹ ở Sài Gòn là “những gã thanh niên hoài nghi như Quốc xã” đang âm mưu lật đổ chính quyền. Phong cách của bà Nhu quá đặc trưng để mạo nhận phong cách người nào khác. Có ai khác cứ kết tội mọi người “say rượu”? Phóng viên News York Times Halberstam “say rượu”. Tổng thống Kennedy “say rượu”. Các Phật tử và thậm chí cha mẹ bà – “say rượu”. Tờ Times of Vietnam in bài “chiến dịch giải rượu” của bà Nhu, với câu mở đầu rất lộn xộn: “Một chiến dịch giải rượu phải được mở ra ngay lập tức nhằm giải rượu cho những ai thực sự muốn được giải rượu”.

Về tất cả những rắc rối bà Nhu gây ra khi bà nói các điệp viên CIA “giống như Quốc xã”, cáo buộc của bà cho rằng Hoa Kỳ đang âm mưu lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm đã tỏ ra chính xác vài tuần sau khi bài báo được viết thuê của bà Nhu xuất hiện. Sự suy sụp của gia đình họ Ngô cũng kéo theo sự suy sụp của vợ chồng Gregory. Báo Times bị đốt sạch. Ann Gregory phải chạy trốn và tìm nơi trú ẩn trong Tòa Đại sứ Mỹ. Bà rời Sài Gòn đến Thụy Sĩ ngay sau đó, nơi bà và bà Nhu tiếp tục trò chuyện. Khi tôi hỏi bà Nhu về tình bạn của bà với Ann, bà khúc khích cười và nói hai người đã từng vui vẻ với nhau đến độ thấy như mình trẻ lại.

Bà Nhu cũng có những người biện hộ cho mình trong báo giới chính mạch. Marguerite Higgins làm việc cho tờ New York Herald Tribune với tư cách là đặc phái viên chiến tranh trong hai chục năm trước khi chuyển sang tờ Newsday rồi được phái đến Việt Nam. Bà tỏ ra thông cảm với cảnh ngộ của Rồng Cái.

Higgins đến Việt Nam để phỏng vấn bà Nhu và tìm hiểu sơ qua quốc gia này vào năm 1963. Lần đầu bà nếm mùi xứ sở này là khi bà mới sáu tháng tuổi và bị bệnh sốt rét. Gia đình bà đang sống ở Hông Kông, và bác sĩ ở đó khuyên cha mẹ đứa bé đem nó đến vùng núi đồi Đà Lạt ở Đông Dương thuộc Pháp để nó được thở không khí trong lành. Những cái hồ nhân tạo ở Đà Lạt thay vì trị liệu đã truyền thêm bệnh, nhưng đứa bé đã gặp may – hơn ông ngoại mình, một sĩ quan trong quân đội thực dân Pháp, người đã chết vì một căn bệnh nhiệt đới ở Việt Nam. Higgins lại gặp may khi bà được giao nhiệm vụ đưa tin về thất bại của người Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954. Bà đang đi bên cạnh nhiếp ảnh gia nổi tiếng Robert Capa thì ông ta đạp trúng mìn, chết. Lúc đó bản thân Higgins đã nổi tiếng. Tạp chí Life ca ngợi cô gái có đôi mắt sáng rực mặc quần kaki xắn cao và mang đôi giày tennis như cô gái gan dạ phi thường trong câu lạc bộ các nhà báo ngoại quốc toàn mày râu. Cái chú thích dưới tấm ảnh ghi, “Higgins vẫn cứ làm mọi cách để thu hút”. 14

Cũng như bà Nhu, Higgins nổi tiếng là người tham vọng không che giấu. Cả hai người đàn bà này có thể rất nhẫn tâm và không hề sợ hãi khi đối mặt với kẻ thù. Cuối Thế chiến thứ hai, trong khi đưa tin Dachau được giải phóng, Higgins trưng dụng một chiếc xe Jeep và lái chạy vào lãnh thổ nước Đức. Bản thân bà không trang bị vũ khí và chấp nhận sự đầu hàng của nhiều binh lính phe Trục đang rút lui, chỉ dừng lại khi chiếc xe Jeep không thể chở thêm vũ khí. Bà ở Seoul vào tháng Sáu năm 1950, khi những người Bắc Hàn xâm lăng. Bà bơi vào bờ sau khi tàu của bà bị chìm và phải đi bộ hơn hai chục cây số, nhưng rồi Higgins thoát được và nổi tiếng. Bà là người phụ nữ đầu tiên được giải Pulitzer vì đưa tin quốc tế, và được hãng tin AP (Associated Press) vinh danh là Người Phụ nữ của Năm, năm 1951. 15

Cũng như các đặc phái viên khác ở Sài Gòn năm 1963, Higgins hoàn toàn tin vào học thuyết domino. Nhưng bà phát biểu thẳng thừng lập trường chống cộng của mình hơn hẳn các nhà báo Mỹ khác. Higgins ủng hộ việc sử dụng bom nguyên tử chống lại Trung Cộng và gọi cuộc chiến chống chủ nghĩa Cộng sản là “Thế chiến Thứ ba”. Bà sẵn sàng làm bất cứ cái gì để bảo vệ nước Mỹ – và Higgins muốn rằng những trận đánh như vậy diễn ra “cách xa San Francisco và New York”. Bà thông cảm với tình trạng độc tài hiển nhiên của chế độ Sài Gòn, miễn là nó chuyên chế dưới chiêu bài dân chủ. Sau này Higgins sẽ phủ nhận điều này, nhưng tạp chí Time trích lời bà nói với một phóng viên trong bữa ăn tối ở Sài Gòn rằng các đặc phái viên Mỹ ở Nam Việt Nam “muốn thấy chúng ta thất bại trong cuộc chiến này để chứng tỏ họ đúng”. Đó là một bình luận kích động. 16

Khi Higgins gặp bà Nhu ở Dinh, Đệ nhất Phu nhân mỉm cười và “trông không có chút gì hung dữ”. Higgins mô tả bà một cách ngưỡng mộ: “Cái đầu bới cao từng lọn tóc đen, và mớ tóc lưa thưa trước trán. Cái áo dài lụa trắng của bà, trang phục truyền thống của Việt Nam, ôm sát cái thân hình cần đối làm gợi lên niểm kiêu hãnh phụ nữ. Bà mang đôi giày mềm với gót cao kiểu Pháp. Những cái móng tay dài tiểu thư được chải chuốt bằng nước sơn hồng”. 17

Higgins công khai ca tụng sự dũng cảm cá nhân của bà Nhu, và bà có thể đồng cảm với cung cách mà một phụ nữ có cá tính hung dữ và kiên quyết đối mặt với nguy cơ bị mất danh dự trước công luận.

Higgins từng là chủ đề của nhiều đồn đoán về những cuộc phiêu lưu tình dục của bà. Bà từng được cho là “ngây thơ như rắn hổ mang” và bị chế nhạo có nhiều nam tính chỉ vì bà thành công trong thế giới của đàn ông. Khi có người kể với Homer Bigart của tờ New York Times rằng Higgins mới sinh con đầu lòng, nghe nói ông đáp lại, “Tuyệt vời. Ai là mẹ vậy?” Phản ứng đó càng trở nên độc ác hơn khi đứa bé đó chết năm ngày sau khi bị sinh non.

Higgins đến Sài Gòn vào mùa hè năm 1963 đúng vào lúc bà Nhu diễn tả vụ tự thiêu của một nhà sư là “tiệc nướng ngoài trời”. Thật man rợ khi nói vậy. Nhưng khi Higgins hỏi bà về câu nói tiệc nướng ngoài trời, bà thỏa mãn với câu trả lời của bà Nhu: “Tôi dùng những chữ đó vì chúng có giá trị gây sốc. Cần thiết phải bằng cách nào đó gây sốc cho cả thế giới, để họ thoát khỏi cơn mê mà trong đó họ nhìn vào Việt Nam”. Trong vòng vài phút gặp bà, Higgins thấy quá rõ vấn đề thực mà bà Nhu đối mặt. Làm thế nào Mỹ, một quốc gia theo Higgins là “một xã hội bình thản, bàng quan, vô tâm, đừng lôi tôi vào”, có thể hiểu được “một Valkyrie phương Đông rắc rối hung tợn?” 18

Higgins nhìn thấy bà Nhu như một con người trọn vẹn hơn là con Rồng Cái mà bà chuẩn bị để gặp. Bà không có vấn đề gì với bà Nhu khi sử dụng vẻ đẹp ngoại hình của bà; sự hấp dẫn tính dục cũng là một vũ khí không thể thiếu trong kho của Higgins. Bà Nhu rõ ràng là một người mẹ ần cần: Khi đứa con gái bốn tuổi của bà chạy vào căn phòng nơi cuộc phỏng vấn đang diễn ra, bà Nhu không lên giọng rầy la mà vui vẻ xoa đầu đứa trẻ và cho nó cái ruy-băng để nó chú tâm chơi trong suốt thời gian còn lại của cuộc nói chuyện. Higgins nhìn thấy ở bà Nhu một người vợ đằm thắm và lễ phép mặc dù, như bà Nhu thừa nhận với Higgins trong buổi phỏng vấn, tình yêu bà dành cho chồng “không phải là thứ tình yêu đam mê dữ dội”. Higgins cũng có thể cảm thông với điều này. Trước khi lấy chồng, bà than thở với một người bạn rằng chỉ khi nào đàn ông thú vị như chiến tranh lúc đó bà mới thấy mục đích của việc lập gia đình. Bà không thấy có dấu hiệu gì về lối sống xa hoa hay giàu có của bà Nhu như đồn đãi, và bà không thấy có vấn đề gì với sự khao khát quyền lực của bà. “Quyền lực là tuyệt vời”, bà Nhu nói với bà. Higgins đồng ý.

Vì tất cả những lý do đó và nhiều lý do khác nữa, Higgins quyết định sẽ giúp bà Nhu. Bà hành động như một người bạn, bà nói, và “như một công dân Mỹ chứ không phải như một nhà báo”. Đúng thế, Higgins cho bà những gợi ý về cách diễn đạt mọi thứ, bao gồm toàn bộ những đoạn văn để đưa vào các diễn văn tương lai của bà về các chủ đề chiến tranh, Phật giáo, và kiểm soát báo chí. Bà cũng cho bà Nhu những lời khuyên quan trọng về những gì không nói trước báo chí, cập nhật cho bà biết những từ ngữ có thể gây ấn tượng không tốt và khuyên bà không công khai chỉ trích Tổng thống Kennedy. Bà Nhu nghĩ bà có thể phớt lờ những kẻ gièm pha và đạp lên những lời đồn về đầu cơ chiến tranh, rửa tiền, và các tài khoản ở ngần hàng ngoại quốc. Bà không hiểu được rằng những nhận thức của mọi người, dù không chính xác, vẫn tạo ra một thực tế mà bà cần đối phó. Higgins đã làm được. Bà tìm cách làm cho thanh danh của bà Nhu sáng tỏ, không dính gì đến tham nhũng. Higgins viết cho mẹ của bà Nhu:

Bộ Ngoại giao và Cục Tình báo Trung ương (CIA) nói rằng không có bằng chứng tham nhũng về phía con gái bà hay bất kỳ thành viên nào của gia đình Ngô Đình Nhu. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ thu gom cả đống tiền để sử dụng cá nhân. Điều đó có phù hợp với hiểu biết của bà về hoàn cảnh của bà Nhu không?

Thứ lỗi cho tôi đã đề cập thẳng thắn vấn đẽ này. Nếu bà cảm thấy không muốn trả lời, tôi có thể hiểu phần nào.

Trân trọng,

Marguerite Higgins

Mẹ bà Nhu trả lời bằng một câu, dù cộc lốc, xác nhận ý kiến của Higgins: “Tôi không tin Tổng thống Ngô Đình Diệm và vợ chồng Ngô Đình Nhu tham nhũng”. 19

Chính bà Nhu tìm được sự hậu thuẫn công khai của một người bạn Mỹ có chỗ đứng rất quan trọng: Clare Booth Luce. Luce là cựu phóng viên chiến tranh và một người cải đạo sang Công giáo. Bà cũng có trải nghiệm của một người phụ nữ tài năng, xinh đẹp, giàu có, và gây tranh cãi trong mắt công chúng. Là một nhà viết kịch thành công, bà đi lên từ vị trí thư ký tòa soạn của tờ Vogue và cưới người chủ hai tạp chí đế quốc Time và Life, Henry Luce. Cuộc hôn nhân tốt đẹp không làm bà hoàn toàn thỏa mãn. Luce được bầu vào Hạ nghị viện từ Hạt Fairfìeld, bang Connecticut, và được Tổng thống Dwight Eisenhower bổ nhiệm làm đại sứ Ý năm 1952. Bà biết ít nhiều về tham vọng.

Vợ chồng Luce cùng ủng hộ chính sách của Đảng Cộng hòa, chống Cộng sản. Họ đều là thành viên của Nhóm vận động Hành lang về Trung Hoa từng ủng hộ Tưởng Giới Thạch trước khi Mao lên nắm quyền. Tạp chí Time đã bênh vực chế độ Ngô Đình Diệm ngay từ đầu, chào mừng Tổng thống và gia đình ông như những nhà ái quốc kiên định, mộ đạo. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi Clare Luce đứng về phía bà Nhu. Luce nói rằng những gì đang xảy ra ở Việt Nam “giống một cách đáng ngạc nhiên với Thống chế Tưởng Giới Thạch và bà Tống Mỹ Linh ở Trung Hoa khi Bộ Ngoại giao đột ngột cắt viện trợ cho họ và rồi Mao Trạch Đông giành chính quyền ở Trung Hoa”.

Luce tự mình làm mọi chuyện ngay lúc này và viết một bài đinh cho tờ National Review biện hộ cho bà Nhu. Bà vẽ chân dung Đệ nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa như một người mẹ và người Công giáo tận tâm, một kiểu pha trộn giữa Jacqueline Kennedy và Eleanor Roosevelt. “Trong giây phút, dù ngắn ngủi, của lịch sử, một phần nào uy danh nếu không nói là an ninh của nước Mỹ, dường như nằm trong bàn tay hồng nhạt của cánh tay mảnh dẻ tuyệt đẹp của bà”. Trong một nỗ lực dũng cảm nhưng trễ tràng để dựng lại hình ảnh của bà Nhu vào tháng Mười Một năm 1963, Luce so sánh bà với một người phụ nữ Mỹ tiên phong và gọi bà là người xả thân vô vọng và nhà nữ quyền. 20

Một ngày trước khi bài viết này xuất hiện trên báo, Luce đã nói chuyện qua điện thoại thật lâu với “Dick”, Richard Milhous Nixon, bạn bà, người sẽ trở thành Tổng thống thứ ba mươi bảy của Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, Nixon đang lo chữa lành những vết thương chính trị sâu sắc, khi lần đầu tiên thất bại trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1960 trước Kennedy và sau đó là cuộc chạy đua vào chức Thống đốc bang California năm 1962. Luce và Nixon nói chuyện về tình trạng sụp đổ ở Việt Nam và sự hữu ích của hình tượng bà Nhu đẹp đẽ, bị vây khốn.

Luce không biện hộ cho bà Nhu vì sự thiện hảo trong tâm hồn bà. Với tư cách một thành viên trung thành của Đảng Cộng hòa, bà muốn Kennedy thất bại. Luce tin rằng John F. Kennedy đang để mất Đông Nam Á vào tay Cộng sản, và bà cho rằng cái nhìn của bà Nhu về tình hình Việt Nam là rất chính xác. Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sắp diễn ra, và Luce nghĩ rằng một ai đó giống như Dick bạn thần của bà sẽ đại diện tốt hơn cho những giá trị bảo thủ và chống Cộng của bà trong Nhà Trắng. Luce dùng tất cả sự mê hoặc của mình để thuyết phục ông rằng bà Nhu xứng đáng được bảo vệ công khai, nhưng bà hẳn đã phải nghe ít nhiều hoài nghi từ phía Nixon vì rằng, trước khi kết thúc cuộc nói chuyện điện thoại, Luce tuyên bố, “Tôi ước gì tôi đang tranh cử Tổng thống!” 21

Tại sao nhiều phụ nữ khác không cảm thấy sức lôi cuốn của bà Nhu như Marguerite Higgins và Clare Boothe Luce cảm thấy? Tại sao sự kết hợp của vẻ đẹp rạng ngời và sự nghiêm khắc lại thất bại khốn khổ như vậy nơi bà Nhu khi nó phát huy tốt nơi những phụ nữ khác trong chính trường – chẳng hạn, những người đàn bà dòng họ Kennedy như Jean Smith, Ethel vợ của Robert, và nhất là Jacqueline Kennedy, vợ của Tổng thống và là Đệ nhất Phu nhân của Hoa Kỳ? Có lẽ vì mọi người nhìn thứ chủ nghĩa nữ quyền của họ mang tính lật đổ? Nó khoác chiếc áo vừa vặn. Bà Nhu có nhiều áo dài đẹp, nhưng bà hoặc bị cười nhạo như một người đàn bà bất lực hoặc bị lăng mạ như “người đàn ông đích thực” trong gia đình họ Ngô.

Bà Nhu không phải là người phụ nữ đầu tiên người Mỹ gọi là Rồng Cái. Danh xưng này dường như xuất phát từ nhân vật hư cấu trong truyện tranh Terry and the Pirates những năm 1930. Con Rồng Cái biếm họa đó là người đàn bà quyến rũ ghê gớm. Ả được tạo ra từ những nét mực vẽ phác rất hung tợn làm nổi rõ xương gò má góc cạnh và cặp mắt láo liên. Ả chỉ quan tâm đến tiền bạc và quyền lực. Từ đó, bất kỳ người phụ nữ châu Á nào không phù hợp với hình dung một phụ nữ phương Đông nhu mì, phục tùng mà lại sốt sắng đều bị dán nhãn “rồng cái”. Nữ hoàng cuối cùng của Trung Hoa, Từ Hy, là một, cũng như Tống Mỹ Linh, người sẽ trở thành bà Tưởng Giới Thạch, và bà Mao. Ngôi sao điện ảnh Mỹ gốc châu Á đầu tiên của Hollywood, Anna May Wong, được chọn hoặc vào vai phụ khiêm tốn là một cánh hoa mỏng manh hoặc là con rồng cái quỷ quyệt và đầy mánh khóe trong các phim như The Thief of Bagdad và Old San Francisco.

Khi bà Nhu trở thành Đệ nhất Phu nhân của Việt Nam Cộng hòa năm 1954, Mỹ còn là một quốc gia phân biệt chủng tộc. Luật lệ Jim Crow cách ly mọi người theo màu da; luật lệ chống hôn nhân và sinh sản dị chủng có nghĩa là ngôi sao điện ảnh Anna Wong không thể đóng vai chính lãng mạn trong một bộ phim trừ phi cô có bạn diễn vai chính là người châu Á – tại nhiều tiểu bang, sẽ là bất hợp pháp nếu để cô ta hôn một người đàn ông da trắng trên màn ảnh. Trận đánh bom của Nhật xuống Trân Châu Cảng khiến ác thần châu Á trở thành một thứ côn đồ điển hình. Mặc dù chiến thắng của Mỹ trong Thế chiến thứ hai chấm dứt việc giam giữ những người Mỹ gốc Nhật trong các trại tù, thái độ phân biệt chủng tộc vẫn không thay đổi qua một đêm. Học giả người châu Á Sheridan Prasso cho rằng thắng lợi của Mỹ ở Thái Bình Dương củng cố thêm định kiến người châu Á là yếu kém. Bằng việc ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Hoa Kỳ chứng tỏ sự thống trị nam tính của nó. Vào thời kỳ Triều Tiên và Việt Nam, quốc gia này sẵn sàng đứng về phía “các dân tộc phục tùng, nhu nhược lẽ ra chịu thua sự cám dỗ của Chủ nghĩa Cộng sản”. Prasso phát hiện những mô tả của người Mỹ về các lãnh đạo châu Á vốn đặt nặng những phẩm chất nữ tính đó: Mao Trạch Đông có giọng nói the thé, cũng như hai cánh tay dài, nhạy cảm của phụ nữ và cái miệng đàn bà; Hồ Chí Minh nhỏ người và yếu đuối, sốt sắng và tế nhị; Ngô Đình Diệm thì “mỏng manh dễ vỡ như đồ sứ với những nét tính cách tinh tế và nước da màu ngà”. 22

Việt Nam được coi là một nơi lạ lẫm, điêu tàn, phụ nữ ở đó ân cần và khiêm tốn. Vì vậy người Mỹ thấy bà Nhu hoàn toàn khó hiểu. Bà không khớp với những trông đợi của họ về một người phụ nữ phương Đông và cũng không khớp với lý tưởng của người Mỹ: Bà là hình ảnh tương phản chính xác với người phụ nữ tóc vàng mỉm cười trên bìa tờ Saturday Evening Post ra tháng Mười Hai năm 1962. Số báo đó giới thiệu những mảnh ghép làm nên “người phụ nữ Mỹ” và cho thấy những thái độ của cô ta về gia đình, tính dục, tôn giáo, và xã hội. Ông Gallup, vua của các cuộc điều tra dư luận, đã khảo sát cả quốc gia, và kết quả được ghi nhận. Người phụ nữ Mỹ là người nội trợ và người mẹ làm việc tận tụy toàn thời gian. “Mặc dù người đàn bà ly dị, người vợ không con, [và] người mẹ làm lụng” tồn tại, họ không quá tiêu biểu và do đó “cực đoan”, nên các tác giả loại họ ra khỏi cuộc khảo sát này. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không nhiều người được hạnh phúc như bà nội trợ”. Trách nhiệm của người VỢ: “Bạn phải ưu tiên cho chồng bạn”. Và khác với những người đàn ông phải tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc đời, cuộc điều tra kết luận, phụ nữ Mỹ sinh ra đã biết mục đích của họ một cách chính xác: làm một người vợ đảm đang và người mẹ hiển. Nói về việc đòi hỏi, các tác giả kết luận, phụ nữ dễ dàng bằng lòng với thực phẩm, quần áo, và phụ giúp chút ít công việc nhà. “Người đàn bà thực sự không kỳ vọng nhiều từ cuộc đời”.

Một thay đổi lớn đối với phụ nữ Mỹ là sẵn sàng nắm bắt cơ hội làm việc hoặc thăng tiến. Với việc xuất bản cuốn The Feminine Mystique vào đầu năm 1963, Betty Friedan đã cất cao tiếng nói nêu lên “vấn đề không tên”, vị thế thứ hai của phụ nữ trong xã hội, và cuốn sách này đã khởi động phong trào nữ quyền hiện đại ở Hoa Kỳ.

Bà Nhu mà phụ nữ Mỹ đọc trên báo không ngần ngại đòi sự tin cậy khi nào bà nghĩ là xứng đáng – và lớn tiếng đòi hỏi. Bà không biện giải về việc thích quyền lực và đòi hỏi cao. Đa số phụ nữ Mỹ “chê” cái ý tưởng có một phụ nữ làm Tổng thống, và 20 phần trăm phụ nữ nói phụ nữ mà dính líu vào chính trị thường là điều không tốt. Phụ nữ rõ ràng là quá xúc cảm. Công chúng Mỹ vào năm 1963 đã có một số ý tưởng về những gì khả thủ đối với một Đệ nhất Phu nhân. Bà Nhu không phải như vậy.

Jacqueline đóng vai đó tốt hơn nhiều. Bà trông như một ngôi sao điện ảnh, học thức cao, và nói được tiếng Pháp. Nhưng Jacqueline Kennedy cũng bị kẹt trong những qui ước và khuôn mẫu của thời đại.

Trong khi bà Nhu công khai ca ngợi Jacqueline Kennedy, dùng những từ “tao nhã” và “học thức” để mô tả bà, thì Jacqueline không nói về bà Nhu như vậy. Bà Nhu, Jacqueline Kennedy nói, “là tất cả những gì Jack thấy không hấp dẫn”. Đệ nhất Phu nhân của Hoa Kỳ nói rất rành mạch trong cuộc phỏng vấn được ghi âm từ năm 1964. Những người phụ nữ nhiều quyền lực chính trị nói chung rất ghê gớm. Indira Gandhi, Thủ tướng tương lai của Ấn Độ, thực sự là “một phụ nữ õng ẹo, cay cú, huênh hoang, kinh khủng”. Nhưng trong khi phán xét người khác, chính Jackie cũng tỏ ra khó ưa – và giống như một di vật thời xa xưa. 23

Những người biện hộ cho bà có thể nói rằng Jackie Kennedy thừa nhận những câu thúc của thời đại bà, xác nhận chúng để nhẹ nhàng lật đổ chúng, đảo ngược chúng. Có thể. Vào năm 1964, quá rõ ràng bà là một sản phẩm của thời đại và không gian bà sống. Bà khoác lác bằng cái giọng thì thào quen thuộc về cuộc hôn nhân “châu Á” với Jack, đánh đồng sự phụ thuộc với nữ tính. Nói về bà Nhu, một phụ nữ đích thực ngẫu nhiên đến từ châu Á, người không chịu cúi đầu quỵ lụy và khép nép, Jacqueline nghĩ bà chỉ là ghê gớm. Bà Nhu hành động như thể bà bực tức vì nhận được quyền lực từ đàn ông, thay vì biết ơn, và sự bực tức đó làm cho bà trở nên khô khan như đàn ông. “Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu họ là hai người nữ đồng tính”, Jackie thì thầm nói về bà Nhu và Clare Boothe Luce. Những kiểu phụ nũ đó – những phụ nữ tham vọng muốn có cái gì đó để khẳng định mình và không xấu hổ về việc đó – không được chào đón ở nước Mỹ của Kennedy năm 1963.

——————————–

1Clyde Haberman, “David Halberstam, 73, Reporter and Author, Dies” New York Times, 24 tháng 4 năm 2007.
2Halberstam, Quagmire, 27.
3Lawrence Freedman, Kenneảys Wars: Berlin, Cuba, Laos, and Vietnam – Những Cuộc Chiến Của Kennedy: Berlin, Cuba, Lào và Việt Nam (New York: Oxford University Press, 2000), 388.
4Một tổng kết khúc chiết về những căng thẳng giữa báo giới và những mục đích của Hoa Kỳ, xem Jones, Death of a Generation, 208-210.
5Về nghị trình chính trị của báo giới ở Sài Gòn, xem Once upon a Distant War, 354 của Prochnau: “Nó có thể hạ bệ Diệm, và họ sẽ giúp nó hạ bệ Diệm. Họ không lừa dối bản thân vễ những mục tiêu của mình”.
6Bà Nhu được trích dẫn trong The Furtive War: The United States in Vietnam and Laos – Cuộc Chiến Ngầm: Hoa Kỳ ở Việt Nam và Lào của Wilfred Burchett, (New York: International Publications Company, 1963), 17; CIA theo dõi chặt chẽ việc xuất bản quyển sách này vì quan điểm Cộng sản và lập trường ủng hộ Việt Cộng công khai của tác giả.
7Halberstam, Quagmire, 28.
8Halberstam, Quagmire, 27.
9Tổng thống Kennedy gởi Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn làm đại sứ Hoa Kỳ nhằm phản ứng với cuộc khủng hoảng Phật giáo. Về quan niệm của Lodge đối với nhiệm vụ của ông và những trực giác đầu tiên của ông rằng ‘Vợ chồng Nhu phải ra đi” vì đã cố tình chọc giận chính quyền Kennedy, xem Lodge in Vietnam: A Patriot Abroad của Anne Blair, (New Haven, CT: Yale University Press, 1995), 22, 37, 40; và Jones, Death of a Generation, 280, 304.
10Joyce Hollman, On Their Own: Women Journalists and the American Experience in Vietnam (Cambridge, MA: Da Capo Press, 2008), 32.
11“The Gregorys of Saigon”, Newsweek, 23 tháng 9 năm 1963, và “Mlle Readers in Saigon”, Mademoiselle, tháng 3 năm 1957.
12Prochnau, Once upon a Distant War, 257.
13Dorothy Fall, Bernard Fall: Memories of a Soldier-Schoỉar (Washington, D.C: Potomac Books, 2006), 91-92,117.
14Carl Mydans, “Girl War Correspondent”, Life, 2 tháng 10, 1950,51.
15Vận may của Higgins cuối cùng đã hết. Trong nhiệm vụ năm 1965, cô đã mắc phải căn bệnh Leishmaniasis, một căn bệnh nhiệt đới chết người, và mất ở tuổi bốn mươi lăm. Xem thêm “1950: TheKorean War-1950: Cuộc Chiến Triều Tiên” Columbia Journalism School, http://centennial.journalism.columbia. edu/1950-the-korean-war.
16Higgins được trích dẫn bởi Charley Mohr, phóng viên tạp chí Time ở Sài Gòn, trong Prochnau, Once upon a Distant War, 350.
17Về diện mạo của bà Nhu cho đến những móng tay sơn hồng của bà, Higgins, Our Vietnam Nightmare, 62.
18Về bình luận “Valkyrie Phương Đông”, xem Higgins, Our Vietnam Nightmare, 63.
19Thư từ với bà Trần Văn Chương được trích từ những tập hồ sơ của bà Ngô Đình Nhu trong số giấy tờ của Marguerite Higgins, Box 10, Special Collections Research Center, Syracuse University Library.
20Clare Booth Luce, “The Lady Is for Burning: The Seven Deadly Sins of Madame Nhu”, National Review, 5 tháng 11, 1963.
21Box 223, Giấy tờ gia đình và cá nhân, Clare Booth Luce Papers, Manuscript Division, Library of Congress, Washington, D.C.
22Về những chân dung đã được ủy mị hóa của những lãnh tụ Á châu như Mao, Hồ Chí Minh, và Diệm, xem Sheridan Prasso, The Asian Mystique: Dragon Ladies, Geisha Girỉs and Our Fantasies of the Exotỉc Orient (New York: Public Affairs, 2006), 53, 56.
23Michael Beschloss, ed., with a for ward by Caroline Kennedy, Jacqueline Kennedy: Historic Conversationsons on Life with John F. Kennedy, Interviews with Arthur Schlesinger, Jr., 1964 (New York: Hyperion, 2011).

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Trở về Yokosuka, chúng tôi trải qua bốn mươi giờ mệt mỏi và mất ngủ trên xe lửa.  Chúng tôi phải ngừng lại hơn hai mươi lần để đổi hỏa xa. Bên ngoài, các đô thị lúc ấy đang nhận sự trừng phạt nặng nề của oanh tạc cơ địch. Chúng tôi lướt qua những khung cảnh hoang tàn, đổ nát, dọc theo thiết lộ. Hai mươi chuyến hỏa xa dằn xóc trên những băng ghế gỗ làm Hatsuyo mệt lả. Ưu tiên chiến tranh khiến các toa hành khách không còn chút tiện nghi nào và chúng tôi bị nhồi nhét như nêm thuốc đạn. Hatsuyo xanh mướt vì mệt nhưng không một lần than van, nàng luôn mỉm cười trìu mến mỗi một khi tôi đăm chiêu nhìn nàng với đầy âu lo. Bằng giọng nói nhỏ vì kiệt sức, Hatsuyo vẫn giữ sự âu yếm, cố gắng nói với tôi là nàng vẫn khỏe cho tôi an tâm. Nhưng tôi biết nàng mệt lắm. Chúng tôi, những phi công đã trải qua khóa huấn nhục khắc nghiệt ở Tsuchiura, đã trải qua gian khổ ở Lae, Rabaul và Iwo Jima thì đoạn đường thiết lộ dài 820 cây số từ đảo Shikoku, từ Matsuyama-shi, Tùng Sơn Thị về đến Yokosuka xuyên qua Kobé, Osaka, đế đô Kyoto, Nagoya rồi Shizouka thì có thấm gì. Tôi có thể chịu đựng hơn thế nữa như đã chịu đựng cuộc mổ mắt không thuốc tê ở bệnh viện hải quân. Nhưng với Hatsuyo thì khác, nàng được chú thím tôi cưng chiều và đã sống cuộc sống đầy đủ trong yên ấm ít ra ngoài cho đến khi lấy tôi. Hatsuyo ít biết gì khác ngoài những buổi tập dương cầm, đến trường học hay cùng phụ thím tôi nấu ăn và tập luyện cho em Michio may áo. Ngay cả công việc của nàng trong phân xưởng trong nỗ lực chiến tranh của nước Nhựt cũng không quá nặng nhọc, chỉ là may quân phục cho quân nhân. 40 tiếng đồng hồ đối với một thân thể mảnh mai như Hatsuyo, trên một băng gỗ không nệm, cứng còng và thậm chí rất ít không gian để nhúc nhích vì trước mặt, hai bên cạnh chúng tôi là hàng núi người khác, là một thử thách. Sự nhọc nhằn đó hiện lên trên khuôn mặt của nàng, cho dù nàng hết sức che giấu cho tôi không lo lắng. Cũng trên đoạn đường này tôi tự hỏi có phải mình đã làm đúng khi cưới nàng, tôi đem đến cho nàng được gì, ngoài góa bụa? Thần chết vẫn hãy còn trước mặt.

Xe hỏa dừng ở Shiga, rồi Toyota-Aichi. Xuyên qua các đô thị là cảnh tượng hãi hùng của từng dãy chung cư cháy đen. Các khu phố còn những vách tường mang màu úa nếu chưa là những đống gạch vụn phủ ngập tro trong không khí. Nhiều hành khách phải lấy khăn che mũi vì khí quyển trở nên nồng rát. Tôi tự nhủ mùi diêm sinh của Iwo Jima…

Toa tàu lại rục rịch chuyển bánh. Mỗi khi xe lửa rời một ga là như cất đi một sự nặng trĩu nhưng những cảnh quan điêu tàn vừa nãy sẽ lại tái xuất hiện ở ga tiếp theo. Xứ sở chúng tôi bị tàn phá không một chút thương tiếc. Tôi ý thức rất rõ là không cách gì, không một cách chi có thể ngăn sự hủy diệt mỗi ngày một thêm trầm trọng.

Nhưng chúng tôi đã kinh ngạc xiết bao khi nhìn hải cảng to lớn Yokosuka vẫn còn nguyên vẹn. Thật lạ lùng, người Mỹ đã tránh né Yokosuka, trong khi hơn 140 thành phố khác bị họ thiêu rụi sạch và san bằng;  nhiều nơi không có giá trị chiến lược nếu đem so với phố cảng được xem là pháo đài hải quân này.

Có lẽ do Yokosuka không còn một chiến hạm hoặc hàng không mẫu hạm nào để làm mục tiêu cho phi cơ địch dội bom. Tôi chỉ thấy loại thuyền máy nhỏ chạy ngang chạy dọc đang thao dược trong hải cảng vĩ đại. Ðây là những chiếc ca-nô giống như loại phi cơ Kamikaze. Mỗi chiếc đều chất đầy chất nổ với nhiệm vụ đâm đầu vô chiến hạm địch để cùng hủy diệt. Một lần nữa Nhựt Bản phải trả giá đắt về sinh mạng. Nhưng sẽ có bao nhiêu kẻ thù chết vì loại ca-nô nhỏ bé này?

Hải quân cấp cho chúng tôi một căn nhà ba phòng gần phi trường Oppama, ở phía Bắc Yokosuka. Ðời sống của chúng tôi thiếu thốn mọi bề. Hatsuyo đã xoay sở hết cách trên số thực phẩm quân tiếp vụ ít ỏi của chúng tôi. Thức ăn dành cho sĩ quan và binh sĩ không còn khác nhau. Ðã hết tiêu chuẩn. Các kho tồn trữ của Yokosuka trống rỗng vì thiếu cung cấp và vì hàng hóa đã trưng thu cho chiến trường. Tất cả các hợp tác xã và câu lạc bộ cũng đã cạn nhu yếu phẩm từ lâu. Hầu hết các tiệm buôn trong thành phố đều đóng cửa. Mặc dù thoát khỏi các cuộc không tập nghiền nát như đã xảy ra ở các thành phố khác, Yokosuka cũng ảm đạm và thê lương. Lác đác dân chúng suy nhược vì đói ăn, bước nặng nhọc trên đường phố.

Oanh tạc cơ B29 vẫn tiếp tục tấn công với số lượng đông đảo hơn, thả bom nhiều hơn. Những cuộc không tập mà chúng tôi nghĩ khủng khiếp nhứt, ngay hôm sau bị vượt quá mức độ kinh hoàng. Bom lửa, rớt xuống từ không trung hàng triệu quả, gây ra những đám cháy khổng lồ vượt trên thảm kịch của Dresde và Hamburg.

Vào đêm 10 tháng 3-1945 khắp nước Nhựt rúng động bởi cuộc không tập Ðông Kinh. 334 siêu pháo đài bay B29 san phẳng 30 cây số vuông thủ đô. Theo tin tức, có hơn 130,000 người thiệt mạng.

Nguyên thủy, Lục quân lãnh trách nhiệm ngăn chặn các oanh tạc cơ địch trên lĩnh thổ Nhựt, còn Hải quân phụ trách vành đai, nhưng trong thực tế Lục quân không bao giờ hoàn tất nhiệm vụ. Hiện tại, trách nhiệm bảo vệ quê hương nằm hoàn toàn trong tay Hải quân. Mỗi ngày chiến đấu cơ của chúng tôi đều đụng độ với oanh tạc cơ B29, và mỗi ngày hiệu năng mỗi giảm đi. Phi công chúng tôi đã tận lực, nhưng tận lực chưa đủ để chống các siêu pháo đài bay.

Từ Atsugi gần Yokosuka, các chiến đấu cơ Lôi điện Raiden cất cánh thực hiện nhiều phi vụ nghinh chiến pháo đài bay B29 với vài kết quả khả quan trong một giai đoạn ngắn. Sau đó, địch quân tung chiến đấu cơ P-51 Mustang hộ tống đông đảo B29 trong các cuộc không kích vào ban ngày. Chiến đấu cơ Raiden bó tay trước những chiếc Mustang vượt trội nhiều mặt. Hầu như mỗi ngày đều có chiến đấu cơ mới của chúng tôi bị cháy, cánh đứt lìa, phi công thiệt mạng. Trong cuộc tàn sát khủng khiếp này, một phi công sáng chói xuất hiện, một người có khả năng bay siêu quần. Trung úy Teimei Akamatsu, một phi công khác biệt hẳn với các đồng đội, khác biệt có thể nói như đêm với ngày. Một phi công chiến đấu không cần sách vở, một loại anh hùng rơm, ồn ào và luôn luôn vui vẻ. Akamatsu gia nhập hải quân trước tôi gần mười năm, nhưng thăng cấp chậm chạp nếu so với những phi công khác có cùng một thời gian phục vụ. Thật ra, hắn bị giáng cấp nhiều lần, và bị đe doạ cho giải ngũ vì lý do hạnh kiểm

Hắn vẫn không cải hoá, nhưng phải công nhận đó là một thiên tài trên không, và do đó, hải quân phải miễn cưỡng sử dụng hắn.

Hạnh kiểm của Akamatsu đã làm cho các sĩ quan thượng cấp của hắn muốn chết giấc. Trong các phi vụ, thay vì chờ đợi và nghe thuyết trình như những người khác, hắn nằm lì trong nhà điếm với một hệ thống thông báo riêng, và thường chạy như giông như gió ra sân bay trong một chiếc xe hơi cũ kỹ, một tay cầm lái, một tay cầm chai rượu. Trên không trung, hắn cũng làm loạn như ở dưới mặt đất, và đó là phi công duy nhứt đạt chiến thắng khi đụng độ với cả hai loại chiến đấu cơ Mustang và Hellcat. Với chiến đấu cơ Raiden trong tay, Akamatsu đã bắn rơi có hơn 10 chiếc cả hai loại phi cơ địch được coi là tuyệt hảo này, một hiển hách ít ai khác có thể với tới.

Akamatsu chiến đấu liên tục hơn sáu năm ở Trung Hoa, rồi sau đó chiến đấu khắp nơi trong khu vực Thái Bình Dương, và thường thường trở về căn cứ với chiếc phi cơ bị bắn tả tơi, vừa cười vừa la hét vang dội.

Chính Akamatsu cũng không biết hắn đã bắn hạ được bao nhiêu phi cơ tất cả. Khi nhậu say, hắn đấm tay lên bàn và rống lớn rằng mình đã thổi bay xuống đất ít nhứt 350 phi cơ Ðồng Minh. Hắn không bao giờ khoe khoang như thế khi còn tỉnh táo. Nhiều phi công khác từng chiến đấu với hắn và còn sống sót sau cuộc chiến đã điều chỉnh con số này xuống khoảng 50.

Tôi thường thấy Akamatsu đáp xuống Oppama vì thiếu xăng, không bay về tới căn cứ Atsugi. Mọi người trên mặt đất lấy làm phấn khích khi nhìn thấy hắn bước xuống phi cơ, gí mũi của hắn vô mấy lỗ đạn, và luôn luôn nhe răng cười. Thấy tôi hắn thét lên và chĩa nhiều ngón tay lên trời, cho biết con số phi cơ mà hắn đã hạ trong ngày hôm đó.

Ðã hơn một lần Akamatsu cất cánh thực hiện một phi vụ gồm từ năm đến tám chiếc Raiden, và hắn là phi công duy nhứt còn sống sót sau các trận đánh. Các chiến đấu cơ P-51 Mustang là những con mồi mà hắn khoái nhứt, và hắn tỏ ra kính nể các chiếc Mustang thật lòng.

Akamatsu sống sót sau chiến tranh, hiện thời hắn làm chủ một quán ăn nhỏ ở Kochi, thành phố sinh quán của hắn trên đảo Shikoku (lúc này là năm 1956, vài năm sau Akamatsu chết vì bệnh ung thư gan).

Căn cứ không quân Oppama là một phi trường thử phi cơ chánh. Tôi không có cơ hội để chiến đấu trở lại, vì vị chỉ huy trưởng căn cứ cho rằng kinh nghiệm lâu năm của tôi có ích lợi trong việc thử nghiệm các loại phi cơ mới hơn. Tuy nhiên, tôi biết rằng ra tác chiến lại chỉ là vấn đề của thời gian. Bất kỳ ai có thể bay được, bất kỳ phi cơ nào cất cánh được đều sẽ được quăng ra để chống lại hạm đội đổ bộ của địch quân.

Vào tháng Sáu, tôi được thăng chức Hải quân Trung úy và nhận lịnh trình diện căn cứ Nagoya để bay thử một loại chiến đấu cơ mới. Ðó là chiến đấu cơ Mitsubishi A7M Reppu “Liệt Phong”, có tốc lực mau hơn bất kỳ loại phi cơ nào mà tôi đã từng bay thử trước đây. Với một động cơ cực mạnh và nhiều phương diện khác, có thể nói Reppu vượt xa mọi loại phi cơ của Nhựt Bản lẫn Hoa Kỳ, và theo các kỹ sư chế tạo, nó sẽ chiến đấu hữu hiệu dầu ở cao độ 40,000 bộ, tức là 12,000 thước, là cao độ thích hợp để tấn công siêu pháo đài bay B29 vì trần bay của B29 là 10,000 thước.

Tuy nhiên, các cơ xưởng Mitsubishi, sản xuất chiến đấu cơ Reppu, biến thành đống gạch vụn trước khi công việc sản xuất xúc tiến mạnh. Chỉ hoàn tất được đúng 7 chiếc. Sau chiến tranh, còn lại một chiếc, phi công Hoa Kỳ bay thử loại phi cơ Reppu này đã tỏ vẻ kinh ngạc với sự nhanh nhẹn của nó.

Trước khi đi Nagoya, Hatsuyo khăng khăng bắt tôi phải hứa mua cho nàng một lưỡi dao găm nhỏ. Thành phố này nổi tiếng là nhờ có dao găm và kiếm tốt. Chợ Nagoya mài những lưỡi dao nhọn hoắc với bản thép cắt đứt đôi khăn lụa. Vợ tôi muốn tôi mua cho nàng một thanh lam ngắn của những thợ rèn nổi tiếng nhứt. Khi tôi trở về, Hatsuyo lặng lẽ ngắm nghía lưỡi dao mà tôi vừa trao, rờ rẫm bề lưỡi một cách cẩn thận. “Saburo, nó không bén.” Nàng nhìn tôi. “Ngày mai, anh có thể đem con dao đi Oppama mài cho bén hơn không?”

Thái độ trang nghiêm của nàng khiến tôi giựt mình. Tôi hỏi: “Em muốn dùng con dao này để làm gì?”

Nàng nắm lấy tay tôi và nhìn thẳng vô mắt tôi. “Anh là đời sống của em, Saburo”, nàng dịu dàng nói. “Ðối với em, anh là mọi thứ trên quả đất này. Chỉ một việc duy nhứt mà em sẽ làm một khi anh chết…” Nàng không nói thêm nữa, và tôi đã hiểu nàng muốn nói gì.

Giáo điều Samurai cũng như giới luật Bushido không bắt buộc nhưng không hiếm những trường hợp các hiền thê tự đâm cổ sau khi khâm liệm cho chồng đã rạch bụng. Tôi phản đối, nhưng Hatsuyo ngó tôi đăm đăm: “Thất trận đối với em không quan trọng, Saburo, quan trọng là anh lành lặn, nếu…”

Tôi cắt ngang, trách nhiệm là ở những đàn ông Nhựt chúng tôi, không ở những người vợ, người mẹ hoặc em gái. Tôi nói với Hatsuyo điều đó, là không phải bổn phận của nàng nhưng nàng lắc đầu, chưa bao giờ tôi thấy nàng quả quyết bằng, “bại trận sẽ tàn khốc, Saburo. Em chấp nhận miễn sao anh trở về nhưng nếu anh không về nữa, em sẽ cầm lấy nó. Ðừng ngăn em.”

Lần đầu tiên Hatsuyo nói đến thất trận, chúng tôi đều cùng nhìn thấy mỗi ngày nhưng không dám nghĩ đến. Làm sao có thể khi hơi thở còn cuồn cuộn trong lồng phổi mỗi người Nhựt, trái tim chúng tôi còn đập? Khắp nước Nhựt đang chịu đựng nỗi thống khổ còn hơn sự đau đớn của các trận oanh tạc. Toàn quốc đã sơ tán, các đô thị nằm suy nhược, thoi thóp như bị một bàn chân khổng lồ giẫm lên. Ngày cuối cùng sắp xảy ra, không ai hồ nghi điều này, và cuộc chiến đấu sắp di chuyển lên đất nước của chúng tôi. Không thể nào có chuyện đầu hàng. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Các quân nhân sẽ hy sanh tánh mạng để bảo vệ Thiên hoàng. Hatsuyo nắm chặt tay tôi, giọng nàng dịu êm và quyết chí, “Em muốn hai vợ chồng mình chung ý nguyện, Saburo.”

Ngày hôm sau tôi mài lưỡi dao trên một cục đá bùn cho đến khi nó sắc như một lưỡi dao cạo. Ðêm đó, Hatsuyo thử lưỡi dao bằng cách cắt nhè nhẹ trên giấy lụa. “Tốt lắm rồi,” nàng phê bình, rồi giắt dưới dây lưng kimono của nàng. Chúng tôi không bao giờ bàn lại vấn đề này.

Vào ngày 6 tháng Tám, các tin tức về một trái bom vĩ đại và khủng khiếp được thả xuống Hiroshima, sau này chúng tôi mới biết đó là một trái bom nguyên tử, đã khiến cho tất cả các phi công ở Oppama sững sờ. Ý tưởng chỉ một chiếc máy bay với một quả bom có thể san bằng một thành phố quá khó tin để chúng tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chúng tôi chưa kịp phán đoán thì xảy đến quả đấm thứ nhì: Nga-Sô xé hiệp ước bất tương xâm ký kết với Nhựt và tấn công bất ngờ ở Mãn Châu, hầu như liền tiếp ngay sau trái bom nguyên tử. Kế nữa là trái bom nguyên tử thứ hai được thả xuống Nagasaki. Ðầu óc của tôi mờ mịt trước sức tàn phá không tưởng tượng được do người Mỹ gây ra. Tất cả đã vượt quá giới hạn của niềm tin. Tất cả không thể là sự thật, nhưng đó là sự thật.

Lúc 3 giờ trưa ngày 13 tháng Tám, tất cả sĩ quan ở căn cứ Oppama được triệu tập vội vã đến tham dự một buổi họp mật trong văn phòng của Chỉ Huy Trưởng. Vị tư lịnh của chúng tôi có vẻ xanh xao và gần như mất hết sức lực. Ông hầu như không thể đứng được nên phải dựa vào bàn giấy. Ông cất tiếng một cách khó nhọc, giọng nói ngập ngừng.

“Những gì tôi muốn nói với các anh có tầm mức quan trọng tột cùng,” ông bắt đầu, “và tuyệt đối giữ bí mật. Tôi tin cậy vào sự ngay thẳng của các anh, với tư cách là những sĩ quan của Hải quân Hoàng gia, trong việc giữ kín tin tức này một cách nghiêm ngặt.”

“Nhựt Bản,” tới đây giọng ông đầy xúc động, “đã quyết định chấp nhận các điều kiện của kẻ thù. Chúng ta sẽ tuân theo Tuyên ngôn Potsdam.”

Ông nhìn chúng tôi với đôi mắt trống rỗng. “Lịnh đầu hàng có thể được công bố bất cứ lúc nào. Tôi muốn tất cả sĩ quan tận lực hợp tác với tôi. Trật tự phải được duy trì tại căn cứ này. Có thể, những người nóng tánh sẽ từ chối chấp nhận quyết định đầu hàng. Chúng ta không thể nào để cho binh sĩ của chúng ta vi phạm bất cứ tình trạng nào mà quốc gia chúng ta đã chấp nhận. Hãy nhớ, và không bao giờ được quên, rằng mạng lịnh của Thiên hoàng là tối thượng.”

Giống như một trái bom nổ giữa chúng tôi, và không một người nào động đậy. Chúng tôi đứng như trời trồng, không thể tin nổi. Chúng tôi biết ngày cuối cùng sẽ đến, nhưng chúng tôi không ngờ nó sẽ đến như thế này. Nhiều người bước chậm chạp ra khỏi căn phòng, sửng sốt, nhiều người nhìn phía trước hoặc nhìn xuống sàn nhà, ngờ nghệch. Một số la hét, một số khác nguyền rủa. Nhiều người âm thầm khóc.

Tôi không đủ sức suy nghĩ hoặc thốt nên lời. Tôi bước ra ngoài, như đi trong sương mù, băng ngang qua sân bay mà không nhìn thấy chung quanh. Tôi muốn được gần chiếc phi cơ của tôi, chiếc Zéro đã luôn là chỗ tựa của tôi trong suốt cuộc chiến. Tôi đứng dựa vô thân chiếc Zéro với tâm trạng nhòe nát.

Một người bạn thân của tôi, Thiếu úy Jiro Kawachi, bước đến bên tôi. Trong nhiều phút, chúng tôi đứng lặng yên. Tôi nhìn xuống đất.

Thế là hết.

Chúng tôi đã thua.

Nhựt Bản sắp đầu hàng.

“Saburo”. Tôi ngước lên. “Saburo, việc này… việc này đúng là kết thúc rồi,” Kawachi nói. “Chúng ta còn ít thời giờ. Chúng ta nên chiến đấu với nhau một lần nữa. Một cuộc chiến đấu cuối cùng.”

Hắn đưa chân đá phớt lên mặt xi-măng. “Chúng ta không thể nào buông tay như vậy. Chúng ta phải gắng sức, một lần nữa.”

Tôi gật đầu. Hắn nói đúng. Chúng tôi ra lịnh cho nhân viên bảo trì chuyển hai chiếc Reisen (Là phiên bản sau cùng của chiếc Zéro) ra ngoài phi đạo, chuẩn bị cất cánh. Chúng tôi biết các pháo đài bay B29 sẽ đến oanh tạc đêm nay. Thời tiết có vẻ đầy hứa hẹn. Kawachi và tôi giữ kín kế hoạch, không nói cho phi công nào khác biết. Sau khi thanh tra hai chiến đấu cơ, chúng tôi đi vô đài kiểm soát và ngồi chờ. Nhiều giờ trôi qua, chúng tôi không nói một tiếng nào. Chúng tôi cùng nghĩ ngợi, hình ảnh những năm dài dằng dặc ở Trung Hoa lần lượt hiện đến, và giờ là đoạn kết.

Buổi chiều trôi qua, và chúng tôi vẫn ngồi chờ, hầu như xoá nhoà trong bóng tối. Gần nửa đêm, chiếc loa trên đài kiểm soát phát vang: “Báo động! Báo động! Một chiếc B29 hiện đang bay về phía khu vực Yokosuka – Ðông Kinh.”

Chúng tôi nhảy bổ ra, và chạy băng qua phi đạo đến phi cơ. Căn cứ bao trùm trong bóng đêm, không một ánh đèn. Những vì sao lấp lánh trên bầu trời đủ soi đường cho chúng tôi. Chúng tôi bước đến hai chiếc Reisen, nhận thấy không phải chúng tôi là hai phi công duy nhứt thực hiện phi vụ chót cùng. Ít nhứt cũng có tám chiến đấu cơ khác được xếp thành hàng bên cạnh phi đạo, xăng nhớt và võ trang đầy đủ. Ngại với một mắt thui chột sẽ không nhìn rõ trong đêm, tôi yêu cầu Kawachi hướng dẫn tôi rời khỏi mặt đất. Chúng tôi cất cánh lập tức, không nói với nhau một tiếng nào nữa. Chúng tôi biết nếu chần chờ, vị chỉ huy trưởng có thể cản trở chúng tôi. Ngay khi đã lên không, tôi bay sát phi cơ của Kawachi. Tám chiến đấu cơ Reisen khác cũng đã cất cánh, bay thành hai hàng phía sau chúng tôi. Chúng tôi vượt thẳng lên, rồi lượn vòng ở cao độ 10,000 bộ là 3,000 thước trên vịnh Ðông Kinh.

Trong nhiều phút, chúng tôi không nhìn thấy phi cơ nào khác trên bầu trời. Bỗng nhiên, súng đại bác của Kawachi nổ từng hồi, và tôi nhìn ra chiếc oanh tạc cơ to lớn đang bay ở phía Bắc. Tôi vượt lên song song với Kawachi và khai hoả. Mỗi chúng tôi hiện thời có bốn khẩu đại bác nạp 125 viên mỗi khẩu và chúng tôi cần tập trung hỏa lực để chống lại chiếc phi cơ kinh khiếp này. Tôi chưa từng thấy chiếc oanh tạc cơ nào khổng lồ như vậy. Khi vừa xoay vừa bắn đủ một vòng, tôi thấy tám chiếc Reisen khác ồ ạt xông tới chiếc siêu pháo đài bay. Chúng tôi giống như mấy con muỗi bu quanh một con bò mộng. Làm sao chúng tôi có thể hy vọng hạ được một chiếc phi cơ có kích thước quá sức tưởng tượng như vậy?

Tôi lại lướt đến, rồi vừa vượt lên vừa rưới đạn từ dưới hông của chiếc B29. Hoả lực đáp trả thật khủng khiếp. 12 đại liên của chiếc B29 quạt xối xả. Những tia đạn vạch chéo liên tục từ các pháo tháp to lớn trên thân chiếc B29 và tôi cảm thấy chiếc Reisen rùng mình nhiều lần khi các xạ thủ địch nhắm trúng.

Bỗng nhiên chiếc siêu pháo đài bay quay đầu bay về phía Nam. Hiển nhiên, chúng tôi đã gây thương tích cho đối thủ. Hai chúng tôi gia tăng tốc độ khẩn cấp, mở cuộc truy đuổi, bỏ hẳn tám chiếc Reisen khác lại phía sau.

Kawachi hơi chúi xuống, cắt thẳng vào vòng xoay rộng lớn của chiếc B29, với tôi bay phía sau. Lần này mục tiêu đã rõ rệt, cả tôi lẫn Kawachi đều ấn cò súng và nhìn theo những vệt đạn soi thủng vô cửa kiếng dọc theo mũi của chiếc oanh tạc cơ. Kawachi vừa phá hủy một pháo tháp đại liên của địch, giúp tôi có thể áp sát hơn. Trong lúc Kawachi lật nghiêng để tránh va chạm, tôi trút đạn 20 ly vào mục tiêu.

Bỗng nhiên tốc độ của phi cơ địch khựng lại và chúi xuống. Chúng tôi xoay lại và tiếp tục rót đạn đại bác lên chiếc phi cơ què quặt.

Chiếc oanh tạc cơ khổng lồ chúi xuống thật mau nhưng không nhìn thấy khói và lửa bốc ra. Nó không có vẻ gì bị hư hại, giống một võ sĩ quyền Anh hạng nặng không suy suyển trước cú đấm của võ sĩ hạng lông. Nhưng chiếc B29 mất dần cao độ một cách nhanh chóng, mũi hướng xuống mặt biển.

Tôi cứ bay chúi theo sau đối thủ, khai hỏa từng loạt. Ðảo Oshima thình lình xuất hiện trong đêm tối. Chúng tôi đang ở cách phía Nam Yokosuka 50 dặm.

Chúng tôi lấy thăng bằng và vượt lên cao độ 1,500 bộ. Là 450 thước. Một ngọn núi lửa trên hòn đảo nhô khỏi mặt nước, đỉnh núi cao 1,000 bộ. Là 300 thước. Chúng tôi không dám liều lĩnh thêm vì ngại đụng vào núi trong đêm tối, nhưng tôi có thể nhìn thấy chiếc oanh tạc cơ sáng bạc rơi xuống khá rõ ràng. Một cột nước trắng xoá nổi bật trên mặt biển, cách bờ phía Bắc Oshima vài dặm. Không đầy một phút, chiếc B29 chìm xuống và biến mất.

Trở về phi trường, chúng tôi đối diện với cơn thịnh nộ của vị chỉ huy trưởng, ông quát tháo mắng thét: “Các anh là thứ vô kỷ luật, tôi không cho phép bất kỳ phi vụ nào, nếu các anh bất tuân tôi cho Hiến binh tống giam các anh.” nhưng sau đó ông đã dằn xuống. “Tôi không trách các anh được,” ông nói, “nhưng chúng ta không thể để cho những gì xảy ra đêm nay tái diễn nữa. Từ bây giờ về sau, tất cả phi cơ đều phải ở trên mặt đất.”

Ông cho chúng tôi biết ở phi trường Atsugi đang xảy ra những vụ bạo động dữ dội, gần như là một cuộc nổi loạn. Ðó là căn cứ của Phi đoàn Cường kích Raiden, đơn vị của Trung úy Akamatsu. Nhóm phi công ở đây không chấp nhận ý định đầu hàng, và họ muốn đưa tất cả phi cơ của họ lên không. Họ mất trí, bất chấp các sĩ quan, nhứt quyết không đầu hàng và sẽ tử chiến cho đến hơi thở cuối cùng. Lực lượng tăng viện được đưa đến để dập tắt cuộc nổi loạn, và trật tự chỉ được vãn hồi sau khi cuộc đầu hàng được công bố nhiều ngày. Vị chỉ huy của chúng tôi gằn từng tiếng: “Tôi nhắc lại, mạng lịnh của Thiên hoàng là tối thượng.” Chúng tôi chập gót giày, chào và bước ra. Trên sân những chiến đấu cơ của chúng tôi đậu san sát nhưng đã trở nên vật vô dụng.

Sự triệt hạ oanh tạc cơ địch đêm đó được giữ bí mật nhiều năm, và không có hồ sơ nào ghi lại chuyến bay đêm ấy của chúng tôi. Và dĩ nhiên, không có phi công nào tự nhận đã hạ chiếc B29. Ðây là tiết lộ đầu tiên của tôi liên quan đến trận không chiến cuối cùng này. Chúng tôi không mảy may cảm thấy vui mừng lúc hạ được chiếc máy bay ghê gớm đó. Lúc ấy không có việc gì đáng lưu tâm ngoại trừ việc chúng tôi sắp sửa giao nộp xứ sở, dân chúng của chúng tôi cho kẻ thù.

Trong câu lạc bộ nhiều phi công say khướt la hét ồn ào trong tuyệt vọng. Tôi nằm vật ra trên một mặt bàn ăn tìm giấc ngủ sau một đêm thức trắng. Tôi trôi vào vô thức của mộng mị xáo động.

Hai hôm sau tất cả binh sĩ đã lộ vẻ sửng sốt, nếu không nói là bàng hoàng khi buổi bình minh lịch sử của ngày 15 tháng Tám năm 1945 ập đến. Chiến tranh đã kết thúc. Trong mọi văn phòng, các sĩ quan cao cấp thiêu hủy hồ sơ và tài liệu. Binh sĩ đi vòng quanh, thẫn thờ ngồi trên nền nhà hoặc ngồi bệt trên mặt đất phía bên ngoài, ngây dại.

Ðúng trưa hôm đó, chúng tôi nghe Thiên hoàng đích thân ban lịnh đầu hàng xuống các lực lượng võ trang Nhựt Bản. Hai ngàn quân nhân các cấp ở căn cứ Oppama đứng nghiêm chỉnh trên phi đạo lắng nghe chiếu chỉ. Hầu hết chúng tôi chưa bao giờ được nghe tiếng nói của Thiên hoàng. Nhiều người đã òa khóc. Những người khác ràn rụa, nước mắt lăn dài trên gò má.

Bỗng nhiên tôi nhớ tới Hatsuyo! Nàng sẽ nghĩ gì? Nếu nàng nghe được tiếng nói đang truyền thanh của Thiên hoàng, nàng sẽ nghĩ rằng tôi đã chết và…

Tôi không nghe thêm nữa. Tôi hốt hoảng chạy khỏi chỗ đứng. Không có một chiếc xe hơi nào. Tôi cuống cuồng chạy ra khỏi căn cứ. Ðường phố xác xơ, những truyền đơn in Tuyên ngôn Potsdam và lời kêu gọi bình tĩnh giữ kỷ luật bay vương vãi qua những mặt tiền nhà cũ kỹ. Nhiều người chạy thất thần, kêu gào và hoảng loạn, nhiều người quỳ gối vái lạy giữa lòng đường, mặt hướng về biệt phủ của Thiên hoàng tự tát vào mặt và tự đấm vào ngực. Nhiều phụ nữ và trẻ nít khóc nức nở, cả những hiến binh giữ an ninh cũng quỳ gập và gục xuống. Tôi đi ngược chiều với một tốp lính la ó bất mãn, nhiều kẻ đòi đảo chánh, tin rằng Thiên hoàng bị ép buộc đầu hàng. Tôi tránh đám đông, cố đi thực nhanh ra ngã tư, vẫn không có một chiếc xe hơi nào. Khu phố hỗn độn. Tôi ân hận đã đi mua lưỡi dao cho vợ tôi, lúc này nàng đang làm gì? Tại sao tôi lại mài dao cho Hatsuyo? Tôi hối hận đã làm một việc thiếu suy nghĩ. Hatsuyo không thể chết, nàng phải sống. Nàng là tình yêu của tôi, đời sống của tôi. Cạnh cột đèn ai đó vất một chiếc xe đạp. Tôi chụp ngay lấy và đạp như giông như gió về ngôi nhà nhỏ bé của mình. Tôi đạp hết sức lực, vừa đạp vừa gọi tên Hatsuyo. Mỗi vòng bánh xe ngập tràn lo lắng.

Sau nhiều ngôi phố quanh co, tôi về đến nơi.

Tôi nhảy bổ khỏi xe đạp ngay trước khi bánh xe ngừng lại. Tôi bật tung cửa la gọi Hatsuyo. Nàng chạy ra khỏi phòng và nhào vô đôi tay tôi. Chúng tôi ghì chặt nhau trong nhiều phút, không thể thốt nên lời.

Hai vai Hatsuyo run run. Tôi nghe được tiếng nấc nghẹn ngào của nàng. Cuối cùng, nàng ngước đầu lên. “Có phải đúng là anh không, Saburo?” Nàng thì thầm. Tôi gật đầu.

“Saburo!,” nàng kêu lên. “Khi em nghe tin, em đã khóc như một đứa trẻ. Có thật chấm dứt rồi không? Ðánh nhau… những trận bom, tất cả không còn nữa?”

Tôi gật đầu nhè nhẹ.

“Em không biết gì đã xảy ra, Saburo. Em không cần biết! Tất cả không quan trọng nữa, cho dù Nhựt Bản đã bại trận, anh đã thắng tất cả các trận đánh của anh”.

Một ánh sáng bừng lên trong đôi mắt của nàng khi nàng nhìn tôi. “Anh, anh sẽ không bao giờ còn phải chiến đấu nữa!” nàng thì thào. “Hiện thời hiểm nguy đã vượt qua hết rồi. Không bao giờ, không bao giờ nữa!”

Bỗng nhiên nàng lùi lại và rút con dao găm dưới dây lưng.

“Em không còn cần tới thứ này!” Nàng vừa kêu lên vừa liệng con dao xuống nền nhà.

Con dao găm lăn long lóc ngang qua nền phòng và ngừng lại trong một góc.

Cuộc đời của viên phi công đại tài của Nhật Bản trong Thế Chiến Thứ II đã kết thúc một cách bình thãn vào ngày 21 tháng Chín năm 2000, do một cơn đau tim trong một buổi trò chuyện với một sỹ quan cao cấp của Hải Quân Mỹ, ông thọ 84 tuổi. Đám tang của ông được cử hành long trọng ở căn cứ hải quân Atsugi.

9 Hải Quân Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá năm 2024 – Nguyễn Quân

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 12, 2024 by dongsongcu

02/09/2024

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Theo nguồn tin từ trang nhà Bộ chỉ huy nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command) thông báo danh sách Hải quân Thiếu tá* (HQ) được Hội đồng thăng cấp Hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá* cho tài khóa YF-25. Trong số hàng trăm HQ Thiếu tá được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá năm nay có 9 HQ Thiếu tá gốc Việt.

Năm 2023, có 8 HQ Thiếu tá gốc Việt được thăng cấp HQ Trung tá.

Năm nay, 2024, Sĩ quan HQ Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt có 1 HQ Thiếu tá ngành tình báo, yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) và 8 HQ Thiếu tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá.

HQ Thiếu tá Chu Calvin, Sĩ quan ngành tiếp vận Hải quân – Ảnh của linkedin.com

Danh sách 9 HQ Thiếu tá gốc Việt** ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) và ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá:

Chann Nam, ngành tình báo Hải quân.

Chu Calvin Thanh Hoang, ngành tiếp vận Hải quân; Ta Phuong Anh Chau. ngành tiếp vận Hải quân.

Nguyen Alexabdre Deber, Bác Sĩ; Nguyen Lan Anh Thieu, Bác Sĩ; Pham Hy G, Bác Sỉ.

Nguyễn Thien Thong, Bác Sĩ nha khoa; Tran Tuan Ngọc, Bác Sĩ nha khoa.

Do Ester Kam Lan, Chuyên viên y tế (trừ bị).

Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Navy Officer Promotion System), thì sau 3 năm mang cấp Thiếu tá, khoảng 70% Sĩ quan Thiếu tá sẽ được thăng cấp Trung tá, cũng theo tài liệu Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 10487 HQ Thiếu và 6614 HQ Trung tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).

HQ Thiếu tá Hy Phạm, Bác sĩ Quân y Hải quân, chăm sóc sức khoẻ cho Thuỷ thủ – Ảnh của linkedin.com

Cần biết thêm về các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:

Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers) và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn ( Restricted Line Officers).

-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan Hải quân không chiến (Không quân của Hải quân), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các Phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.

-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).

-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh (Công binh Hải quân) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy tôn giáo trực thuộc Bộ hải quân.

Hình minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu HQ Trung tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers) Hải quân Hoa Kỳ

***

Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.gov thì có trên 50 HQ Trung tá gốc Việt đang phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ (Không tính nhiều vị đã hồi hưu).

Chúc 9 tân HQ Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.

Nguyễn Quân

Chú thích: *Ghi theo cấp bậc HQ Thiếu tá (Navy Lieutenant Commander) và HQ Trung tá Hoa Kỳ ( Navy Commander ); **Ghi theo họ và tên 9 HQ Thiếu tá gốc Việt trên các bản danh sách, có một sô HQ Thiếu tá mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Trung tá, nhưng không thể xác định được gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ***Cấp hiệu HQ Trung tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như HQ Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.

Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; military.com/navy/officer-ranks; Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024; en.wikipedia.org; linkedin.com; bienxua-12 Thiếu Tá Hải Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến và Tuần Duyên Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá năm 2023

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Bài này đến tay bạn, có lẽ đúng vào những ngày Tết Nhâm Thìn 2002, cái Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc, hoặc bạn sẽ đọc vào những ngày đầu xuân. Bạn đã nhận quá nhiều lời Chúc Tết qua điện thoại và những tấm bưu thiếp rất đẹp. Nhưng theo phong tục cổ truyền của người Việt chúng ta, tôi cũng xin kính chúc bạn một năm mới Khỏe Mạnh – Vui Vẻ – Nhiều May Mắn.

Lời chúc đầu năm của tôi hết sức chân thành. Bởi có lẽ khi tuổi đã cao mới thấy sức khỏe chính là điều đầu tiên chúng ta cần hơn cả. Sau đó mới đến sự vui vẻ trong một thân tâm an lạc. Là đại tỉ phú hay nghèo mạt rệp mà không yên ổn trong cuộc sống thì cũng chẳng mang lại hạnh phúc thật sự cho mỗi người. Cuối cùng là chúng ta cần đến may mắn trong mọi trường hợp. Trong gian nan nguy hiểm, chính may mắn đã giúp chúng ta vượt qua tất cả. May mắn quyết định số phận con người. Tôi vẫn tin điều đó qua kinh nghiệm sống suốt một đời người. Chính vì thế tôi cầu mong bạn đọc sẽ gặp tất cả những thứ đó. Những thứ không mua được mà tôi chẳng hiểu tại sao nó đến với người này lại không đến với người khác. Người ta gọi là “cái số”. Vâng, tôi cầu chúc các bạn sẽ gặp “cái số may mắn” đó ngay từ đầu mùa xuân Nhâm Thìn.

Tôi viết bài này chỉ còn 2 ngày nữa là Tết. Ở Sài Gòn, nói chung ở Việt Nam, chộn rộn lắm rồi. Những chuyến tàu xuôi ngược, những tất bật vội vàng của người đi sắm Tết, những cửa hàng cửa hiệu đầy hoa đèn, bao lì xì đỏ rực, câu đối vàng chóe, cành mai cành đào thật và giả lẫn lộn… tất cả những thứ đó đẩy cho tâm trạng con người càng thêm xôn xao. Theo tôi, những ngày giáp Tết chính là những ngày vui nhất. Từ nhiều năm nay, một số lớn người Việt có anh em, họ hàng ở nước ngoài thăm hỏi tới tấp, quà gửi tưng bừng và nỗi nhớ nhung càng làm gần thêm tình nghĩa. Đến đêm Giao Thừa, mọi con tim như đều lắng xuống, không khí trở nên trang trọng hơn, những lo toan tạm thời khép lại, để cho Năm Mới tràn vào với những ước nguyện đang thành hình trong từng con tim, từng khuôn mặt. Mọi người nói năng thận trọng, thái độ hòa nhã, lịch thiệp hơn và cuộc sống bắt đầu sang một trang mới. Thế nên trước Tết thường vui vẻ, chộn rộn hơn những ngày Tết.

Tính Quẩn Chuyện Đời

Nhân dịp cuối năm, xin cho tôi “tính quẩn chuyện đời” để đánh dấu một năm lận đận. Tôi “tả oán” vài lời của một anh “làm dâu trăm họ” tức là anh hành nghề viết báo. Có lẽ nó cũng tương tự những bạn đồng nghiệp khác của tôi, chỉ khác chút xíu là tôi “đa mang” quá. Những ông khác chỉ cộng tác với một tờ báo đã tóe khói, còn tôi cộng tác với nhiều báo, dù thật ra chỉ có 1 bài gửi chung cho nhiều báo. Các vị có trang web riêng, có blog cứ “tự nhiên” xài chung, càng vui.

Trong khi cả thành phố tấp nập, nháo nhác và hàng xóm sửa lại nhà, sơn cửa, rủ nhau đi chơi chợ Tết, đi sắm Tết thì các anh viết báo cặm cụi với chiếc computer ngồi lo “chuyện bao đồng”. Riêng với tôi thì càng “lôi thôi” hơn. Bạn bè nhiều, ân tình cũng lắm nên suốt những ngày Tết chẳng bao giờ được nghỉ ngơi. Báo này nghỉ thì báo kia vẫn ra, “ông ra thì bà nghỉ, bà ra thì ông nghỉ” nên chẳng tuần nào rảnh rang. Báo nào tôi cộng tác thường xuyên, cứ gửi bài chậm là các ông ấy kêu toáng lên, e- mail, điện thoại hối thúc như hò đò. Có ông lại nghĩ “chắc có vấn đề rồi đây”. Vấn đề ở đây là các ông ấy lo cho tôi bị “hỏi thăm sức khỏe” như cái cú bị “sờ gáy, nắn gân” hai năm trước. Tôi lại phải lo viết bài sớm để anh em đỡ lo. Không có Mùng Một Tết và cũng chẳng có Mùng Hai. Làm tuốt luốt.

Xin tâm sự thành thật là tôi làm thế không vì mưu sinh mà vì “cái nghiệp” không bỏ được và cũng không bao giờ bỏ được những tờ báo của bạn bè. Phần khác vì không viết thì chẳng biết làm gì. Viết để thấy mình còn sống, và viết những điều cần phải viết để thấy mình không sống thừa. Con đường mình đã chọn thì phải đi cho hết. Buông mặc mọi thủ đoạn hiểm độc, mọi toan tính vu khống, mọi chông gai phía trước.

Bạn Gần Không Có, Bạn Xa Chưa Về

Tôi biết năm nào ở Sài Gòn cũng chăng đèn kết hoa ở những con đường trung tâm thành phố. Nhưng với tôi, dường như kiểu tổ chức đó “xưa” rồi. Lại “bình mới rượu cũ” thôi, chẳng còn gì đáng chú ý nữa. Cả tháng nay tôi không ra đến đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ làm gì. Phần khác vì có cái xe gắn máy cho thằng cháu vừa lên đại học, nhưng nhà nghèo quá, không đủ tiền mua xe, dù là một cái xe cũ. Tôi nghe anh tôi kể, thằng cháu cứ để dành được vài trăm ngàn lại đem gửi bà nội để khi lên đại học mua xe. Vậy mà đến lúc lên đại học, nó chỉ có chưa đầy một triệu, trường rất xa, có thể nó sẽ phải bỏ học. Mủi lòng và sợ thằng cháu bỏ học nên tôi “bàn giao” ngay xe và giấy tờ cho nó. Ở Sài Gòn mà không có xe đồng nghĩa với… không có chân. Thế là tôi trở thành “người không chân”. Thêm nữa, vào cái tuổi tôi, phản ứng chắc chắn đã chậm nhiều nên lái xe gắn máy không còn vững vàng như “anh hùng xa lộ” thuở xa xưa. Đi đâu một mình thì giao mạng cho anh xe ôm. Còn cái tật thứ ba là lười. Ở nhà mãi thành quen, chẳng muốn đi đâu cho yên thân. Một điều quan trọng hơn cả là không có bạn, hay đúng hơn là thiếu bạn tâm giao. Ở một nơi như xã hội này, người ta đánh mất niềm tin, khó sống chân thật, nhiều người buộc phải nói dối, phải sống hai mặt. “Ngoài mặt hoan hô, trong lòng đả đảo” thành thói quen. Thế nên lại phải hạn chế tối đa sự giao thiệp. Tâm cảnh “bạn gần không có, bạn xa chưa về” là sự cô đơn, cũng là sự “lưu lạc” ngay trên quê hương mình.

Tôi thường “quan sát” các sự kiện qua đài truyền hình, báo chí và mạng internet, đôi khi qua điện thoại. Còn dư luận thì ra quán cà phê đầu ngõ, đầu chợ Bàn Cờ, tha hồ nghe người dân “bình luận” đủ thứ trên đời, nhất là mấy anh thợ cắt tóc là “trung tâm tin tức” của khu dân cư. Đây là thứ tin tức “thật” nhất, sống động nhất, không sợ bị thổi phồng hay bóp méo. Người ta nói, người ta kể, người ta bàn từ trong tâm, cái “tâm” của người chất phác, không được thua gì trong mọi biến chuyển thời cuộc.

Các “Đẳng Cấp” Chơi Hoa Tết

Tuy nhiên, năm nào cũng vậy, tôi dành một buổi để đi hội hoa xuân vào vài ngày cuối cùng của năm. Ở đây có thể gặp những người đi “mót hoa cuối mùa”, tức là đảo qua các khu chợ hoa vào ngày cuối cùng 29 hoặc 30 Tết. Lúc đó các chủ vựa hoa từ lục tỉnh lên, ế hàng, hoa Tết không bán được chỉ có nước mang về làm củi. Họ bán tống bán tháo để khỏi mất công, mất của chở hoa về. Dĩ nhiên những thứ hoa đó chỉ là loại rẻ tiền. Vậy mà đôi khi cũng chọn được vài cành ưng ý mang về chưng để các con nó mừng, bà vợ không tủi thân.

Có ba loại “chơi hoa Tết”.

Loại thứ nhất là các đại gia, đại công ty, mua tận vườn những loại hoa quý hiếm. Năm nay có loại bonsai lên tới vài chục tỉ đồng cũng có “đại gia” tranh nhau mua. Ngay cả loại trái cây như dưa hấu, trái bưởi cũng được “trồng ép” thành những hình thù lạ mắt. Mấy năm trước đã có dưa hấu vuông, năm nay lại có dưa hấu hình bầu, bưởi hình nậm rượu, năm sau chắc sẽ có dưa hấu hình chiếc xe hơi… Những thứ “hàng độc” này được bán với giá trên trời, không thể nói nó gấp bao nhiêu lần trái cây thường. Có khi một cặp bưởi ở chợ này giá 500 ngàn đồng, ở chợ khác giá gần hai triệu. Vậy mà chỉ vài hôm là thứ “trái cây siêu đẳng” này cũng hết sạch. Loại thứ hai là loại trung lưu nhưng thích “đẳng cấp”, đi chọn hoa ngay từ phiên khai mạc để có loại hoa quả quý hiếm, có giá chừng một, hai triệu, chứ chưa dám “trèo cao” như các “quý sờ tộc” và đại quan, đại gia.

Loại thứ ba là loại đợi “chợ chiều” mua hoa giá “bèo” vào ngày cuối phiên chợ như đã nói ở trên.

Còn dân lao động chân tay lam lũ, loại được coi là “thành phần nồng cốt chính hiệu”, dường như chẳng bao giờ biết đến thú chơi hoa. Thú “chơi cơm” còn chưa đủ lấy gì mà chơi hoa?!

Nhìn vào đó thì đủ biết cái khoảng cách giàu nghèo hiện nay ở VN lớn như thế nào? Và cái khoảng cách ấy sẽ mang lại hậu quả nào trong tương lai?

Chắc bạn đã có thể dự đoán được.

Vài Điều Đặc Biệt Của Hội Hoa Xuân Năm Nay

Hội Hoa Xuân ở vườn Tao Đàn Sài Gòn mới khai mạc hôm 25 tháng Chạp. Hôm sau, tôi rủ Thanh Sài Gòn, một cây bút mới rất tháo vát, đi thăm Hội Hoa Xuân. Ngồi sau chiếc xe gắn máy loại “phổ thông” nhất Sài Gòn, chúng tôi đến Phở Hòa dằn bụng trước khi vào “công tác”. Đây là tiệm phở bò khá nổi tiếng trước và sau 1975. Phải thú nhận với bạn là lâu lắm rồi tôi mới ghé hàng phở này. Giá cả không “mềm” cũng không “sang” như quán Phở Ta của bà Tuyết Mai, nay đã đóng cửa nghỉ khỏe. Thường là tôi ăn sáng với những món “đặc sản chợ Bàn Cờ”. Bánh cuốn, bún ốc, bún riêu, sôi lúa, cơm tấm bì, bún bò, bún mọc, bún thang… không món nào quá hai chục ngàn đồng. Đấy là tính theo thời giá mới sau khi xăng tăng giá. Giá cũ chỉ có 15 ngàn đồng trở lại. Lâu lâu có bạn chở đi mới chịu khó mò đến hàng phở có tiếng và dĩ nhiên giá tiền cũng tham gia vào sự nổi tiếng này. Nó gấp đôi, gấp ba giá bình dân của chợ Bàn Cờ. Cửa hàng lúc nào cũng đầy ắp khách từ nhà dưới đến trên lầu. Muốn ăn sang một tí thì phải chịu đựng một tí. Ngồi giữa chốn ba quân, nghe tiếng ồn ào cũng đủ nhức đầu. Khách vào đây chỉ để ăn rồi nhanh chóng ra đi, không có thì giờ tán gẫu.

Gần 9 giờ, chúng tôi đến vườn Tao Đàn. Trước hết gặp một sự ngạc nhiên lớn là chỗ gửi xe gắn máy chỉ có giá hai ngàn, xe đạp một ngàn đồng. Đó là chỗ lực lượng Thanh Niên tự nguyện tổ chức, làm gương cho những nơi khác. Có những chỗ gửi xe hè phố vào “thời điểm cắt cổ” này, giá trời ơi, có khi lên tới ba bốn chục ngàn là chuyện thường ngày ở huyện.

Con đường dẫn vào khu Hội Hoa Xuân được chào đón bằng hai con rồng uốn khúc, được uốn ghép bằng hoa lá cành chạy dài theo hai bên cổng. Khách đến thăm vẫn còn thưa thớt. Hầu hết là khách du lịch hoặc những bà con ở nước ngoài về thăm gia đình, đến xem hoa, chụp hình kỷ niệm. Hội Hoa Xuân chia làm nhiều khu, trưng bày từng loại hoa riêng biệt, nhưng cũng không khác năm trước bao nhiêu.

Khu hoa lan, khu tiểu cảnh, khu cây khô, khu hoa mai, khu bonsai, khu trang trí, khu trưng bày cá cảnh. Ban tổ chức dành riêng một khu vực để trưng bày những biểu tượng về biển đảo, nổi bật là cột mốc chủ quyền đảo Trường Sa làm bằng hoa chính giữa khu trưng bày.

Được chú ý nhiều nhất của hội hoa là những chậu hoa lan xanh nổi bật giữa rừng hoa vàng, hoa đỏ. Màu sắc rất lạ, hoa lá xum xuê che kín, không nhìn thấy thân và cành. Một điểm đặc biệt nữa của hội hoa năm nay là loại hoa đất sét. Mẫu hoa độc đáo này làm từ… đất sét. Mới du nhập Việt Nam vài năm gần đây nhưng hoa đất Nhật Bản ngày càng chiếm cảm tình của nhiều người vì sự lạ mắt, độc đáo, tươi tắn như hoa thật. Đất sét trắng được nhập từ Nhật Bản, sau đó được pha trộn với các màu khác nhau để tạo nên các loại thân, cành, lá hoa, treo khô lên từ 4 đến 5 tiếng. Tùy từng chất liệu bình được chọn để cắm mà giá có thể từ vài trăm đến vài triệu. Tôi đặc biệt chú ý đến cây chuối nhỏ làm bằng đất sét, màu sắc như thật với những buồng chuối có những nải chuối và hoa chuối nhỏ xíu rất dễ thương, bày trên bàn hay trong tủ kính sẽ rất lạ. Hoa đất có màu sắc sặc sỡ, thậm chí theo nhiều người còn khen đẹp hơn cả hoa thật, lại không cần tưới tắm, chăm sóc công phu. Nếu chăm sóc tốt những bình hoa này có tuổi thọ từ 3 đến 10 năm.

Những Hình Bóng Cũ

Chúng tôi tìm đến khu bày bán đặc sản từ miền Trung miền Bắc. Khu này thường được bày ở bên nhà Văn Hóa Lao Động, cạnh vườn Tao Đàn. Nhưng năm nay không thấy những gian hàng của các “nghệ nhân” từ chùa Non Nước mang vào nữa mà chỉ thu hẹp thành những gian nhỏ phía gần ngoài cổng Hội Hoa Xuân.

Cũng không thấy chị gốm Bát Tràng bày hàng loạt đồ gốm thô đặc biệt của làng quê miền Bắc này. Tôi nhớ bảy tám năm trước, đi cùng Phan Nghị, Vương Đức Lệ đến các khu này. Phan Nghị “tán” vớ vẩn với chị bán hàng gốm Bát Tràng vui như pháo tết. Chị bán một bộ đĩa gốm có ba chữ Phúc – Lộc – Thọ. Nhưng tôi chỉ mua có hai chữ Phúc – Lộc. Chị hỏi tại sao, tôi giải thích gọn là tôi trên 70 rồi, còn mua chữ Thọ làm gì nữa. Trời thương cho sống đến tuổi này đã là may. Chị cười rất duyên và nói “Sao mà bác giống bố cháu thế, ông cũng nói vậy”. Đến nay tôi còn treo hai chữ trên hai cái đĩa Bát Tràng đó giữa nhà.

Tôi nhớ năm sau tôi đi một mình, nhà chị gốm Bát Tràng hỏi thăm “ông vẫn đi với bác đâu”? Tôi nói ông ấy quy tiên từ giữa năm rồi. Chị Bát Tràng ngẩn người rồi thở dài ngậm ngùi: “Đời người ngắn quá bác nhỉ. Bác thắp giùm cháu nén hương cho ông ấy nhá”. Chị không biết tên ông khách và ông khách cũng chẳng biết tên cô bán hàng, chỉ gọi là cô gốm Bát Tràng. Vậy mà họ vẫn nhớ nhau.

Hai ba năm nay tôi không gặp lại “cố nhân” đó nữa. Chẳng biết năm nay cô trôi giạt phương nào. Nhưng tôi vẫn nhớ hàm răng trắng đều và đôi má thoáng đỏ khi nụ cười của cô sáng rỡ. Tôi nhớ Vương Đức Lệ ngày nào hiền lành lặng lẽ đi bên tôi và giục tôi mua bức tượng đất bọc nhung đỏ mang hình thiếu nữ phương Tây, ngực trần, uốn éo đội bầu nước, có thể dùng để cắm hoa. Hơn mười năm rồi, tôi vẫn để bức tượng đó bên chiếc máy truyền hình.

Bây giờ hai ông bạn tôi đã ra người thiên cổ, nhưng ngày nào tôi cũng nhìn thấy hình bóng hai ông qua các kỷ niệm của Hội Hoa Xuân. Thật ra trong nhà tôi chỉ có vài thứ quý nhất, đó là các kỷ niệm rất nhỏ của bạn bè. Một chai rượu, một cái bật lửa, một chiếc ly thủy tinh… đều in dấu một người còn sống hay người đã mất. Họ vẫn ở bên nhau và bên tôi.

Gia tài của tôi chỉ có thế.

Chợ Lớn Năm Nay Có Gì Lạ?

Hơn 10 giờ, Thanh Sài Gòn chở tôi vòng qua đường hoa Nguyễn Huệ. Vào buổi sáng nên khách đến thăm còn rất thưa. Ngắm nhìn toàn cảnh đường hoa năm nay, có nhiều nét khác nhưng tổng thể vẫn như năm cũ. Nếu năm trước là chiếc cầu khỉ thì năm nay là chiếc guồng nước, nếu năm trước là khu hoa lan thì năm nay là khu đồng ruộng thôn dã… Dù sao con đường hoa cũng làm cho Sài Gòn mới hơn, song chỉ mới bề ngoài. Ghé qua khu chợ Huỳnh Thúc Kháng mang tên Chợ Trời vẫn chẳng có gì lạ so với ngày thường.

Chúng tôi phóng xe vào Chợ Lớn xem đồng bào ta và người Việt gốc Hoa ăn Tết ra sao. Ngay đầu đường Trần Hưng Đạo, từ sau siêu thị Nguyễn Kim, không khí vắng ngắt, cứ như không có mùa xuân. Mọi sinh hoạt bình thường lặng lẽ. Suốt chiều dài đó vào tới Chợ Lớn, gặp nhà hàng Đồng Khánh, vẫn thưa thớt. Lác đác trên vỉa hè có mấy hàng treo lủng lẳng mấy chùm hoa giả, phong bao, câu đối nhưng không có khách viếng thăm. Mọi thứ như chỉ có cái Tết uể oải chiếu lệ.

Đi sâu hơn vào dãy phố chính Trần Hưng Đạo, nơi có những nhà hàng lớn cũng chẳng hơn gì. Đường phố ở đây thông thoáng, khác hẳn Sài Gòn tấp nập. Trước năm 1975, nếu muốn đi “ăn tiệm”, hầu hết phải tìm vào Chợ Lớn mới có nhà hàng sang và món ăn ngon đủ kiểu. Phố ăn chơi chính là dãy phố này, nơi có nhà hàng lớn như Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel, Versaille… tôi không thể kể hết. Trước đây nhà hàng ăn Bát Đạt nổi tiếng với những món ngon, khách sạn chỉ là phần phụ. Nay thì khác, Bát Đạt chỉ còn là khách sạn, không có hàng ăn. Arc En Ciel cũng chẳng hơn gì, mặc dầu cái mặt tiền được trang trí “hoành tráng” hơn xưa. Hầu như tất cả những tiệm ăn, tiệm nhảy, nơi chốn ăn chơi đều đã chuyển hết về những khu phố Sài Gòn. Chúng tôi kiếm một quán ăn trưa cũng khó. Cái phồn thịnh năm xưa của Chợ Lớn đã hết thời, chính vì thế nên khách du lịch và người Việt ở nước ngoài về không còn chú ý và nhiều ông còn không bước chân vào Chợ Lớn nữa. Người ta quên phần đất này rồi. Nhưng tôi thì không thể quên, khi đi qua con đường xưa, nhà hàng cũ, những hình bóng của những người bạn thân quen hơn 30 năm xưa lại ùa về, không thiếu một ai.

Tôi đi Hội Hoa Xuân và đi Chợ Trời, nhảy vào Chợ Lớn chỉ là để tìm lại những hình bóng bạn bè từ thuở xa xưa. Mỗi năm một lần đi tìm ngày tháng cũ mang theo vào Năm Mới cho cuộc đời bớt quạnh hiu.

(Sài Gòn, 21-1-2012)

Cơm thố

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 19th, 2023

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Thuộc tỉnh Bình Dương, quận Lái Thiêu có nghề làm đồ gốm. Gốm, sành, sứ làm bằng đất sét tốt rồi đem nung. Gốm Phước Kiến chuyên về đồ dùng để đựng, kích cỡ lớn, nặng nề. Gốm Quảng (Ðông) chuyên trang trí đình, chùa, đồ đặt sân vườn. Gốm Tiều (Triều Châu) đồ dùng nhà bếp, gia dụng, chén sành dùng để ăn cơm. Câu hỏi đặt ra là cái thố là cái gì? Thố thường được dùng để đựng các loại đồ ăn, đặc biệt là cơm. Thố thường được làm từ gốm, sứ, đá, tre hoặc nhựa. Thố sành dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố có nhiều cỡ kiểu, có quai, loại không quai, có nắp, loại không nắp. Hầm bà lằng sắn cấu (tức sấu cắn)!

Còn nhà điền chủ, cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi, họ xài đồ kiểu làm tận bên Tàu.

Bà con mình ai cũng biết cơm nếp nấu bằng nếp. Cơm tấm nấu bằng gạo bể. Cơm tẻ nấu bằng gạo hột dài. Gạo nấu cơm thố là gạo ngon như Sóc Nâu, gạo Nàng hương Chợ Ðào. Cơm chín để nguội có cơm nguội. Ðem chiên có cơm chiên. Ðó là nói về cơm. Còn nói về dụng cụ nấu thì cơm thố hấp trong nồi, có nhiều tầng xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái.

Theo chân người Quảng Ðông từ những năm 30, 40 thế kỷ trước, cơm thố là ‘chung phàn’. Chung là cái thố còn phàn là cơm chưng cách thủy tức là hấp.

Cơm thố được nấu bằng cách cho gạo đã vo sạch để ráo nước, cho vào từng cái thố sành, châm nước vào thố một lần. Xếp thành từng vỉ trong xửng. Ðáy nồi nước sôi nước trong thố rồi cũng sôi. Nước trong thố cạn là cơm chín. Cơm thố không có cơm cháy như nấu cơm bằng nồi đất. Nói dễ hiểu cơm thố là hấp như nồi cơm điện của ‘võ sĩ mù nghe gió kiếm’ (tức Nhựt Bổn) chế ra sau nầy.

Một thố cơm bằng một chén cơm nhỏ luôn luôn nóng nhờ hơi nước như xửng hấp bánh bao, bánh bò vậy.

Như vậy cơm thố không phải chỉ riêng của người Quảng Ðông. Người Việt, nhiều quốc gia và vùng khác nhau trên thế giới, bao gồm cả toàn bộ đất Trung Quốc. Nước nào có lúa nước, người dân biết thổi xôi là có cơm thố hè.

Tui nhớ hồi xưa đi học ở Sài Gòn, Á Xẩm Quảng Ðông A Lìn của tui, từ Mỹ Tho lên thăm, thường rủ tui đi ăn cơm thố Chợ Cũ. Một phần cơm có ba món: canh, mặn, xào. Canh bí đao hầm thịt heo hoặc gà, tàu hũ, nấm, hành tây. Canh tôm hùm với nấm. Canh chua cá hấp với cà chua. Canh măng tây xắt nhỏ, với thịt heo hoặc gà, nấm, hành tây. Canh rau cải, với thịt heo hoặc tôm, tàu hũ, nấm. Món mặn thì: thịt kho tàu với trứng cút luộc. Cá chép chiên xù giòn với sốt chua ngọt. Tôm rim với nước sốt cà chua thêm đậu hũ hoặc trứng. Thịt gà kho với gừng. Mực xào sả ớt và nước mắm. Rau muống xào tỏi. Vào tiệm cơm thố, phổ ky bưng lên, hai đứa ăn bao nhiêu thố tính tiền bấy nhiêu.

Ra tiệm mình được chọn cơm phần hay cơm món, khoái món nào kêu món nấy. Nhưng từ khi cưới em về thì mình hết chửi thề. Vợ nấu gì ăn nấy. Không được quyền mở mồm ra đòi hỏi linh tinh vì em rất bực mình. Bữa nào vợ không giận thì chồng được ăn cơm phần ba món: canh, mặn, xào. Còn bữa nào quạu là chàng cơm dĩa chỉ một món thôi. Còn chiến tranh lạnh, không nóng đến độ dĩa bay nhưng ác liệt; không nói gì nhau, chỉ nhìn nhau bằng con mắt mang hình viên đạn là chàng đành phải ăn mì gói lưu niên. Sáng gói mì, trưa mì gói, tối gói mì. Ăn riết, ăn miết mà hổng biết lúc nào điên? Mà dẫu có điên đi nữa thì từ từ mà điên. Ðừng có cái vụ hạ cẳng tay (tức là đấm) thượng cẳng chân (tức là đá); đấm đá là đời chua như giấm. Quên phứt cái vụ “Không đánh thì bậu luông tuồng. Dang tay đánh bậu cho buồn lòng qua” đi.  Úc chớ không phải Việt Nam thời phong kiến đâu nhe mấy cha?! Coi chừng lính bắt!

Còn mấy em: “Chồng giận thì vợ bớt lời. Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê” Ðừng quen cái thói cư xử với chồng như một đứa con hư mà nên: “Chàng ơi giận thiếp làm chi? Thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng”.  Cầm bằng năn nỉ ỉ ôi hoài mà thằng chả cứ trơ như đá; vững như đồng thì em hãy chổng mông, lấy hơi bắc xuống một câu hò: “Ðốt than nướng cá cho vàng. Ðem tiền mua rượu cho chàng uống chơi!”

Cơm thố Chợ Cũ Sài Gòn – nguồn afamily.vn

Ðó là chuyện hồi xưa kìa. Tuy nhiên giờ chồng lạng quạng, quờ quạng tùm lum là vợ cho nhịn đói. Cho dù em yêu thừa biết: “Trừng phạt cái bao tử của chồng là hành vi cực kỳ dại dột của một người vợ vừa ngu vừa xuẩn”.

Tàn nhẫn (nại) như vậy vì em thừa biết: Nước Úc trai thừa gái thiếu, bị vợ bỏ là một tai ương còn tệ hại hơn bị ‘băng rắp’ (bankrupt) gấp ngàn lần! Bộ mấy anh không thấy bên Úc bị vợ bỏ, mấy anh mình phải tất tả xin nghỉ phép thường niên để bay như điên về ‘xứ Mít’ lãnh một ‘múi Mít’ qua lè lẹ. Mùa Ðông Melbourne lạnh quéo râu bên thềm cửa. Không có cái mền da 37 độ rưỡi là coi chừng chết teo cu!

Nhớ thời thơ ấu, lúc ba tui làm Trưởng ty Bưu Ðiện Rạch Giá dắt bầy con đông như quân Nguyên đi ăn cơm thố, chén đũa khua rổn rảng vui hết biết trong nhà hàng Tàu gần Rạp hát Ðồng Thinh. Nhớ năm16 tuổi, ba má dắt đám con ‘xây lố cố’, đi ăn cơm thố, có món tôm kho tàu ngon bá chấy bù chét ở nhà hàng Nam Sơn gần rạp chớp bóng Ðịnh Tường đường Trưng Trắc dọc bờ kinh Bảo Ðịnh Mỹ Tho.

Mother’s Day, May 14th, tui nhớ cơm thố thời thơ ấu má nấu ở nhà: đầu tôm nấu với ruột bầu, rau muống xào tỏi chấm nước mắm me, cá ba sa kho tộ nước mắm y.

Quê người, đôi khi dắt em yêu đi ăn cơm thố với ‘hầm vĩ’ (cá lù đù muối) chưng hột vịt, rau sống, dưa leo như mình ăn mắm chưng vậy. Món cơm thố hầm vĩ ngày nay chìm trong ký ức đẫm đầy nước mắt vì con còn mãi tha hương và ba má đã mất hết còn đâu?

DXT

Có răng rồi mới rứa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 30/03/2016 

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Tranh họa sĩ Đinh Cường

Sau buổi họp đột xuất, sau nhiều tiếng ong ve, ông nói gà bà nói vịt, cuối cùng cuộc mổ bò chấm dứt lúc 5 giờ chiều. Nắng chưa tắt ngoài cửa nhưng tiếc cái là bia đã hết, đậu phộng rang sạch nhẵn và bốn vỏ bao thuốc lá đã vo viên phơi xác trên bàn nguội lạnh. Cơ quan thống nhất chỉ định ra ba nhân mạng đại diện đi miền Trung để góp chất xám vào cái dự án đình đám nâng cấp chỉnh trang phù hợp với tư duy thời đại.

Ông A trưởng phòng nhân lực và kế toán đến tìm tôi. Cậu chở tớ đi nhậu là vừa, mẹ, nói rát cả cổ. À mà này, không ấy cậu đến đằng Ngọc Nữ ngồi trước bảo nó làm mồi, cái gì cho thật bắt, bia ngoại các thứ, như vậy tiện hơn là chúng ta xuất quân cùng lần. Mẹ, bọn thối mồm thì rất sung chuyện làm rách việc. Tớ đi đái cái đã, lý do mà cậu phải khao tớ thì chốc nữa hẳn biết sau. Mẹ, họp hành đấu tranh rất căng chứ không vừa đâu nhé!

Thủ trưởng nói như sấm, nhân viên như tôi thì làm con vịt đã nhiều lần. Muốn chạy việc thì thi hành trước khiếu nại sau. Mà nói nào ngay hình như trước sau tôi chưa hề khiếu nại điều gì với sếp cả, chỉ tự nhủ lòng: Đừng nghe những gì sếp nói, đừng nhìn những gì sếp làm. Chưa tới giờ tan việc, dù ý thức làm chủ tập thể rất cao, nhưng sếp đã bật đèn xanh thì tôi nên tranh thủ ăn cắp giờ của nhà nước để tìm quán nhậu sương sương lai rai ba sợi.

Tôi chẳng mấy ưa quán Ngọc Nữ bởi thực đơn chốn ấy rất nghèo, “vô ra cũng thằng cha khi nãy”. Không rắn thì ếch, không chim cút thì cánh gà, không lẫu thập cẩm thì canh chua cá lóc. Thằng Út làm bảo vệ nói: Anh Hai biết hôn, có khi em nhậu đẳng, nhai gần hết mới phát hiện đó là con chuột vượt biên dính chấu vô nồi lẫu. Em tính cự nự nhưng nhìn vô hai trái bưởi lộ hàng của em Nữ thì giận hờn tiêu tan, hoá ra thịt chuột cũng lành anh Hai ạ!

Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, tôi vừa chống chân chiếc xe tay ga sản xuất ở Trung Quốc lên thì sếp cũng vừa thắng đứng chiếc xe cồng kềnh nhiều phân khối của chính hãng Nhật Bản. Lạ, hình như từ cơ quan tới chốn này đã có một con đường mòn nào đó mà tôi chưa biết. Chim bay hẳn phải tránh dây điện như mạng nhện bủa vây, phải chao đảo khi bay qua biết bao cơ man là băng rôn biểu ngữ cờ quạt bảng hiệu mắc cửi, phải lòn lách cột đèn nhà cao tầng khách sạn bê tông các thứ, có nghĩa là chim phải bay hình chữ chi mất thời gian tính. Đường mòn thì không, chướng ngại nào cũng thông qua, hố tử thần nào cũng đánh thắng và hệ quả, nó nhanh gấp hai kẻ đi trên lộ nhiều ùn tắc giao thông như tôi. Thiệt là thủ trưởng, có nhiều thứ đàn em cần phải học hỏi đả thông tư tưởng.

Mẹ, cả cơ quan chỉ nhặt ra được ba mống mà cậu là một trong cái kiềng ba chân vững chải ấy. Tớ bảo rằng thì là đồng chí ấy dẫu sao cũng từng là hoạ sĩ có tranh treo ở viện bảo tàng mỹ thuật tận Hà Nội, dự án đầu tư xây cất một vẻ đẹp văn hoá lại cắm dùi trên quê cũ của đồng chí ấy. Một người am hiểu vấn đề nghệ thuật, am tường thổ ngơi văn hoá cảm tính của dân địa phương, thì rõ là đồng chí ấy có nhiều lợi thế hơn ta. Có nghĩa là sao ạ? Có nghĩa là cậu được suất đi dã ngoại, về thăm nhà suốt tuần mà chả tốn tiền vé xe, tiền ăn ở nhà nghỉ các thứ. Một tuần được giải toả ẩn ức tâm sinh lý, được đi mây về gió, mẹ, chơi cha thiên hạ cũng tới cỡ ấy thôi chứ đòi gì hơn?

Nữ đi ra, vẫn bộ dạng chính chuyên con nhà nghèo bị bóc lột, áo quần thiếu vải và đôi chỗ như bị rách bươm. Thời trang kiểu gì ngó cực hai con mắt quá. Thằng bảo vệ nói Nữ gốc Biên Hoà, hèn gì hai trái bưởi làm đứng tròng ông sếp. Một thứ giọng Nam ngọt ngào rất phù hợp với tân cổ giao duyên, Nữ xuống sáu câu đời thường ra khỏi bài bản có trên sân khấu: Xời, nhiêu rồi em mới được thấy lại bóng hình đại ca? Sếp cười tít mắt: Dễ giận không, tuần trước mới ôm eo đó, mới véo mông đó mà nỡ bội bạc quên đi. Ừ, lâu thật đó, lại đây cho thơm cái coi. Tôi chen vô: Bảng hiệu nắn nót hai chữ Ngọc Nữ, Nữ đứng đây vậy Ngọc trốn đâu? Dạ, má em đang bận động dao động thớt ở sau bếp. Chết mẹ mày chưa. Thủ trưởng phán. Rồi cười lớn: Má em chim sa cá lặn cỡ em không? Cái này em hổng biết, nhưng em biết những người trọng tuổi thì ưa nghịch em trong khi những anh ít tuổi lại mết má em hơn. Từ ngữ đương đại gọi là phi công trẻ ưa lái máy bay bà già. Tôi ho khan: Hổng dám đâu! Kính lão đắc thọ. Sếp chửi: Đồ dở hơi, ăn nói cứ linh tinh, mày chả nghe lời các cụ dạy: Gừng càng già càng cay, buộc phải hít hà xuýt xoa thôi con ạ!

Buổi nhậu gọi là trả công sếp làm bay của tôi gần 5 triệu. Tôi nói cám ơn sếp đã lưu tình đề cử tôi đi mần chuyện đại sự mà trong bụng hiện mọc những bất bình không tiện thổ lộ. Thôi thì thiên lôi chỉ đâu đánh đó, cứ vô tư tới bến bởi cách biệt đã bộn tháng ngày nay mới có cơ hội về ngó lại miền đất từng nuôi dưỡng mình lớn lên, dù trước khi bái biệt song thân lòng hoài nghi chuyện một đi không trở lại. Kinh Kha còn biết lận truỷ thủ khi sang sông trong khi tôi lên đàng mà lòng sôi bao phẫn hận chẳng biết giải bày. Con đi xa mần ăn chỉ nhằm cho ba má đỡ chật vật lo toan miếng ăn, lưng dài vai rộng này sợ nói chẳng thành câu có ngày báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục. Bao nhiêu tiền cắc củm dành dụm mãi bị người ta tìm cách moi họng moi hầu. 5 triệu mỗi bữa nhậu thế dầu nhớt bôi trơn chốn đây liệu chốn đó ba má ăn tiêu được bao ngày?

Đoàn chúng tôi lên xe đò chạy suốt ra miền Trung đất cày lên sỏi đá. Theo thông tin của hai đồng chí luôn mang vẻ mặt buồn nhiều hơn vui đi cùng, tôi biết được cơ quan chúng tôi có phần hùn với tập đoàn người nước ngoài vừa đệ trình một dự án làm thay đổi cảnh quang nhằm thu hút khách du lịch. Mọi thứ đã duyệt, trên đà thuận lợi, người nước ngoài họ bảo: Các anh cứ mãi tự hào về quá khứ để bảo tồn di tích chiến tranh, điều đó làm khung cảnh chốn ấy mang vẻ sầu thảm chẳng mỏi mệt. Cái mà du khách cần là họ ưa nhìn ra vẻ tươi mát, một sự thư giãn, một chút đổi thay, quét qua một lớp sơn màu xanh thay vì ngạt thở một màu đỏ. Bản vẽ rất hợp tình hợp lý được thông qua, nhưng muốn thành phố thay da đổi thịt cần có sự đồng thuận cuối cùng của lãnh đạo các ban ngành ngoài đó. Đúc kết mới khởi công xây dựng. Thành phố thuở niên thiếu của tôi luôn bị quở: Quá buồn lặng, hơi bị ảm đạm rêu phong mấy lớp. Tôi về quê cũ với chút bất an, chẳng biết mai này nó có vui thú hân hoan khi được giải phóng dù chỉ một mảng nhỏ diện tích. Những kẻ ưa bảo tồn bảo tàng rất dị ứng với bê tông cốt sắt nằm trong kiến trúc hiện đại, họ bảo làm thế là phá hỏng thứ “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Con sông hiền hoà với cỏ dại mọc lan đôi bờ mà bây chừ nỡ lòng nào đào xới hiện đại hoá một lối đi bộ uốn lượn tuyệt mỹ e làm động long mạch chăng, dù biết việc “phá hoại” kia sẽ giúp thành phố có khối công ăn việc làm, tương lai sẽ hốt bạc nhờ vào tụ điểm văn hoá tân cổ giao duyên, đông tây kết hợp hài hoà.

Trời nóng phỏng da khi xe dừng ở nhà nghỉ được đặt phòng trước bằng máy vi tính ở cơ quan. Có gắn máy lạnh nhưng khi cửa mở để chui vào phòng khách thì ta sẽ được hoán đổi từ lò nướng bánh mì sang canh củi lửa ở nồi nấu bánh tét bánh chưng. Nóng bám đít, mát chút đỉnh và mồ hôi vẫn mãi hồ hởi tuôn ra. Cô nhân viên ngồi sau quầy, sau chậu bông bằng nhựa sum suê có gắn hàng chữ “Nhiệt liệt chào mừng quý khách”, sau chùm dây nhợ, sau cái màn hình Samsung khá lớn. Cô nhiệt liệt chào mừng bằng năm sáu ngón gõ thăm dò trên bàn phím một đỗi và cô nói với quý khách: Mấy chú nói sao a chứ, có thay đổi phương án hoặc trở ngại sự cố gì không chứ máy cho ra kết quả là cơ quan các chú chỉ mướn có một phòng với hai giường. Các chú đi ba người, chà, cái này hơi nghiệt à nghe!

Quen đối đầu với những tình huống nan giải, hai đồng chí chung đoàn tìm ngay ra một đáp án. Họ xây mặt ngó tôi: Quê cậu ở đây mà, giời, tranh thủ về thăm bố mẹ chứ chần chờ gì nữa. Bọn tớ đành khắc phục chịu ở chung một phòng vậy. Cậu nắm vững thông tin giờ giấc sinh hoạt rồi chứ gì. Ngày mai có phiên họp sơ khởi ở nhà hàng Hoa Sen lúc 10 giờ, cố gắng tìm đâu ra bộ đồ lớn để diện thì oách hơn, nhớ?

Trời đổ lửa như muốn lột da, vậy chứ tôi không nề hà để đứng yên bên thềm thắp thuốc hút. Phượng ra hoa nhức nhối, màu hoa chừng như góp phần tăng nhiệt; may phước là ve chưa kêu, cất giọng râm ran thì người nghe thêm bần thần rã rượi. Tôi đứng ngây người, nếu bắt xe ôm, không quá nửa giờ tôi sẽ đặt chân bên hiên nhà cũ. Sao tôi chẳng nghe ra bồn chồn háo hức, liệu ba má có mừng tủi khi “nhiệt liệt đón chào” ngày trở về của đứa con hư. Hút xong điếu thuốc cho lại thần hồn, tôi nghĩ cách hay hơn cả là tìm tới quán Hương Xưa nốc cạn một ly cà phê sữa đá. Hương Xưa chẳng biết có như xưa? Hương đẻ đái ra được mấy đứa con rồi? Hương có lối lập luận chắc nịch: Nghèo, rõ ràng là một cái tội. Ngu cũng là thứ tội danh khác. Hương sẽ không ngu ngốc để ngó lơ đứa có tiền của luôn bỏ công săn đón. Tôi chẳng có sức lực để đối kháng và tôi nghĩ thứ chân lý kia không hẳn là điều đáng nguyền rủa. Tôi thưa với ba má, nhà mình nghèo quá, con thử xuôi Nam xem hậu vận có khả quan và tôi lầm lũi đi bụi từ dạo ấy. Đi như một đứa ưa làm cách mạng tự hành hạ bản thân.

Hương Xưa vũ như cẩn ở bề mặt. Cà phê nhà vườn và ngần ấy cây cối tuồng như chẳng chịu phát triển thêm ra, nhưng dẫu sao cũng chớ nên bóc lột nó quá, nó vẫn chung tình để tạo ra bóng dâm mát và nó biết chế ngự phần nào thứ nhiệt lượng tự cao xanh đổ ập xuống. Mát mẻ, chả cần bắt máy lạnh nhưng hiện tại có bốn cái quạt máy đặt ở bốn góc rù rì chuyên cần tráo trở qua về. Tóc Hương bay chút đỉnh mà tóc tôi cũng làm rối mắt ít nhiều, khó chịu khi ngó trông cái nhân dáng đẫy đà kia. Gái một con trông mòn con mắt, vậy gái ba con thì sao? Chưa nghe ai quỡn để lập ngôn về vấn nạn ấy. Ủa, sao khi không lại hiện tới vậy, cứ tưởng rằng đương sự đã vượt biển đi mất đất rồi chứ! Tôi nghe Hương nói mà chẳng phản ứng, trí óc tôi bận bịu với bao kỷ niệm vây bủa: “Người chi mô là lạ rứa hí, giờ ra chơi cứ ngó miết người ta, và reo lên khi thoáng thấy đi qua, tụi bạn tưởng có răng rồi mới rứa”.

Có răng không? Có, thằng chồng bạc tình dắt bồ nhí lặn một lèo qua sống tận bên Thái Lan. Mặt Hương tỉnh rụi khi báo cáo những tổn thất. Tôi tính hỏi: Lấy chồng giàu có phải là một tội danh? Nhưng kịp thời Hương mang tới ly cà phê sữa đá khuấy tới tan nát bọt bèo. “Bướm vàng đậu ngọn mù u, lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn”. Nói nghe coi, bấy chầy đi tu tập ở hang động nào mà chẳng nghe vọng động, vợ con chi chưa? Tôi cầm ly cà phê lên nốc một hơi làm hụt đi phân nửa. Đã khát quá chừng quá đỗi. Mình chưa có vợ, vì một người con gái có tiền của hẳn sẽ không thèm dòm mình. Hương nói đúng, nghèo là một cái tội. Nay mang thân đi mần ăn xa cũng có chút đồng ra đồng vào nhưng thoát khỏi thứ tội trạng kia không phải là điều dễ. Hai bác ra sao? Mình chưa tạt qua nhà cũ, mình ưa nhìn mặt Hương hơn, chuyện gì cũng còn có đó. Ừ, chuyện gì cũng còn có đó, khi nào thấy chán cảnh cơm hàng cháo chợ một mình thui thủi chốn xa thì về đây liệu cơm gắp mắm cùng Hương. Tôi tính ôm Hương vào lòng nhưng ở nhà sau có tiếng trẻ con khóc thét như ngủ trưa bị ma đè. Tôi làm sạch ly cà phê sữa đá. Đừng trả tiền, thế lời đón mừng ngày gặp gỡ. Cà phê uống đặng không? Hương đích thân pha chế thì buộc phải ngon thôi. Cà phê thì Trung Nguyên nhưng sữa thì của Hương. Đứa bé vẫn gào thét, chắc đang tới giờ để ngậm lấy vú mẹ. Mẹ có dư sữa không mà hào hiệp nặn ra cho chú ấy uống?

Như tợp xong cốc rượu nồng, tôi dật dờ gọi xe ôm về nhà. Mưu sinh chốn lạ nước lạ cái, thằng tôi thường bị điểm mặt có nhiệm vụ đãi đằng sếp đi giao lưu tình cảm với các quan chức tai to mặt lớn ở những ban ngành khác và thằng tôi thỉnh thoảng vẫn nghe các quan lớn bàn chuyện về những món hàng độc, trong đó có cà phê sữa người. Lạc hậu cũng chừng mực nào đó thôi, có ai dè hôm nay trời xui đất khiến rộng lòng đãi kẻ khù khờ. Bây-bi ạ, hiểu ở một nghĩa nào đó chú đây cũng được mẹ con mớm cho đôi chút dinh dưỡng đặng nuôi cái thây trôi sông lạc chợ này.

Ba má tôi già đi trông thấy, nhà cửa tối tăm nhìn rõ, mái tôn vách vôi xác xơ hiện ra mòn một. Họ ngạc nhiên hơn Hương thập phần khi nhìn ra tôi tần ngần đứng ở bậc cửa. Tôi mang gói trà Hương biếu bày ra trên bàn cùng những tờ bạc nhét liền khúc ruột tôi để dành tằn tiện tiêu pha trong suốt những ngày đi công tác. Má tôi kho cá, thứ ngày xưa tôi thích ăn, những con cá cong queo nức nẻ thấm đậm lòng bao dung mà không hẳn ai rành chuyện củi lửa cũng làm được. Căn nhà quạnh quẽ bỗng chốc chộn rộn bao sinh khí. Không thành thân cũng thành nhân, tôi ngồi thu bé người lại trả lời cặn kẽ bao chất vấn từ đấng sinh thành và tôi thú thật, lần này con về e chỉ mong cầu sớm tối vui vầy cùng mẹ cha phòng khi tối lửa tắc đèn gió máy độc hại, giúp được chút chi hay chút đó. Ba tôi nói: Tuỳ ở mi cả, thế việc ở công ty, mi nhắm bỏ ngang có đặng chăng. Mi đã già đầu, ba nói cái gì hợp bụng thì nên lưu tâm, ráng làm người tử tế.

Tôi ngó lên ba tôi, người đàn ông suốt đời cam phận sống trong thanh bần. Lời ông khuyên nhủ làm tôi nhớ tới Nguyễn Tấn Dũng đang gây ì xèo, bao mỉa mai từ phía quần chúng: “Ráng giữ sức khoẻ và làm đảng viên tốt, ráng làm người tử tế.” Tôi tự ý mình thanh thản về hưu. Tôi không là đảng viên và vì vậy tôi tử tế từ hồi bé cắp sách tới trường trau dồi môn công dân giáo dục. Tôi bỏ nhiệm sở, thôi làm công nhân viên sớm tối làm những việc “không phải”. Tôi về đầu quân cho quán bán cà phê Hương Xưa làm đứa phục vụ viên tử tế dâng cà phê rót nước cho khách dừng chân. Hương biết rồi đó, có răng rồi mới rứa cho thứ quyết định kia.

Hồ Đình Nghiêm

Mme Nhu Trần Lệ Xuân – Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 14 Sep 2026

Ngay từ đầu tôi đã rất ấn tượng khi nói chuyện với bà Nhu. Bà quá quyền lực, quá tai tiếng, và quá quyến rũ. Tôi đã mất gần hai năm nói chuyện qua điện thoại mới có can đảm thúc đẩy mình tìm hiểu sâu thêm. Tôi quan tâm đến những chi tiết thường ngày bị bỏ quên sau những ồn ào. Trong tất cả tin tức báo chí nói về người đàn bà quyền lực một thời, không thấy để cập nhiều đến cuộc sống trong Dinh, bà ăn uống gì và ăn mặc ra sao. Tôi hy vọng những chi tiết ấy sẽ cho tôi biết thêm về người đàn bà này đằng sau những bức ảnh hào nhoáng và hình tượng Rồng Cái. Nhưng đối với bà Nhu, đó là những chi tiết khó gợi lại nhất. Chúng đã trôi xa gần nửa thế kỷ và ở xa nửa vòng trái đất. Ký ức là tất cả những gì bà Nhu đã bỏ lại sau lưng, dù chúng mới đang bắt đầu mờ nhạt. Khi tôi thúc giục bà nhớ những chi tiết về cuộc sống trong Dinh Độc Lập, giọng nói bà Nhu mỏng dần trên dây nói, và tôi phải ép ống nghe sát vào tai mới nghe được. Như thể bà ở xa ngàn dặm. “Hình như tôi không thể nhớ được căn phòng nó như thế nào – ý tôi là tôi không nhớ được chính xác…”.

Bà cho tôi biết rằng bà thường thức dậy lúc 7g30 sáng, dùng điểm tâm nhẹ với trà, cơm hay bánh mì, rồi mặc quần áo cho một ngày mới. Bà dành cả buổi sáng sau đó để làm việc. Nếu không thảo những bức thư với thư ký của mình trong phòng làm việc, bà sẽ đi thăm cử tri của bà, nhưng gần như luôn quay về vào buổi trưa. Bữa ăn trưa là bữa ăn chính trong ngày, diễn ra dưới những ngọn đèn treo khổng lổ với vải lanh và đồ sứ tuyệt đẹp. Mặc dù Tổng thống thường dùng những bữa ăn giản dị trong văn phòng của ông, nhưng khi nào có khách, hoặc tự mình mỗi tuần một hai lần, ông đến dự bữa tối trang trọng hơn với em trai và em dâu trong phòng ăn của họ ở tầng hai. Những buổi dạ tiệc bán chính thức cũng được tổ chức tại phòng ăn của vợ chồng ông Nhu; ở đó không gian rộng rãi và lịch sự nhưng thần mật hơn, chứ không phô trương nghi thức như ở phòng ăn chính của Tổng thống ở tầng một. Bà Nhu ước gì năm căn phòng của gia đình trong Dinh có thể rộng hơn một chút. Họ có một sảnh khang trang, hai phòng ngủ mênh mông, và hai phòng khách có ban công, nhưng bà Nhu muốn nhà bếp kề sát hơn nữa. Thường khi thức ăn mang đến phòng ăn từ nhà bếp trên tầng một phía sau Dinh thì đã nguội.

Sau bữa ăn trưa, bà Nhu thường nằm nghỉ trong phòng ngủ của bà. Trời nóng đến mụ mị đầu óc khiến bà không làm được gì khác. Trong ngày, đây là thời điểm bà luyến nhớ nhất về bốn mùa ở Hà Nội. Nhớ những mặt hồ, những đại lộ và nơi đi dạo. Ở Sài Gòn, bà thấy mình như đang nhìn chăm chú cuộc sống trôi qua từ sau những cánh cổng đồ sộ của Dinh. Bà nghĩ mọi thứ sẽ khác nhiều lắm nếu bà chỉ sống một cuộc đời bình thường. Bà sẽ làm gì nếu bà không bị kẹt trong cạm bẫy? Bà Nhu tưởng tượng bà sẽ bằng lòng sống trong một ngôi nhà nhỏ miễn là có một sân vườn lớn cho lũ trẻ chơi đùa; bà sẽ chuẩn bị những bữa ăn thanh đạm cho cả nhà và dành hết thời gian trong ngày viết truyện thiếu nhi.

Đáp lại những mơ mộng của bà, tôi nghĩ rằng tôi hẳn đã chép miệng thông cảm trong điện thoại khi bà đang nói. Nhưng người đàn bà tám mươi ba tuổi này không chờ đợi sự cảm thông. Có thể cuộc sống như một Đệ nhất Phu nhân của bà trong Dinh không phải là cuộc sống do bà chọn lựa, nhưng nó là cuộc sống do Chúa chọn cho bà. Đúng vậy, bà không đòi hỏi sự trắc ẩn mà là sự quyết tâm. “Tôi có thể giải thích sự theo đuổi quyền lực của tôi thế nào nữa đây? Chương trình hành động của tôi nhằm thay đổi đời sống của phụ nữ ư? Tôi, bản thân tôi, lẽ ra đã bằng lòng với một cuộc sống bình yên! Tôi đã nói đi nói lại với cô điều đó rồi mà. Nhưng Chúa đã có những kế hoạch khác cho tôi. Bổn phận của tôi là theo đuổi đến cùng”.

Bà Nhu giao tôi một thử thách khác. “Tôi muốn nhìn lại nó. Nếu có thể, cô tìm giúp tôi những tấm hình chụp các căn phòng của tôi ở trong Dinh, như vậy mới thực là cô được Chúa sai phái đến”. Sứ mệnh hết sức rõ ràng: tìm những tấm hình chụp các căn phòng trong khoảng năm 1961, mang đến cho bà Nhu. Điều đó khiến người đàn bà già nua này hạnh phúc, và đánh thức ký ức của bà. Dễ thôi mà. Trừ phi những căn phòng của bà Nhu hứng chịu trực tiếp trận đánh bom phá hủy Dinh Độc Lập vào năm 1962. Mọi thứ tìm thấy được trong đống đổ nát lại bị thất lạc mười tám tháng sau đó.

“Tôi không bao giờ cho ai thấy phòng ngủ của tôi. Chưa có vị khách nào được phép vào chỗ riêng tư của tôi”. Bà Nhu để lộ một tiếng cười gượng. “Nhưng có một lần, tôi thực lòng muốn gây ấn tượng cho các vị khách của tôi. Một khoảnh khắc tự phát đối với tôi”.

Các vị khách mà bà muốn gây ấn tượng mạnh là một nhóm trong phái đoàn của Phó Tổng thống Mỹ. Lyndon Johnson và đoàn ngoại giao tùy tùng đến Nam Việt Nam vào tháng Năm, 1961.

“Ô, họ rất ngạc nhiên!” Giọng bà Nhu sáng lên khi nhớ lại khoảnh khắc phu nhân Phó Tổng thống Mỹ, bà Bird Johnson, và bà Jean Smith, em Tổng thống Kennedy, đi vô phòng.

“Khi tôi mở cửa phòng, họ có thể nhìn thấy một dãy dài những bộ da cọp [trải trên nền nhà]. Những cái móng sắp thành hàng thẳng. Những cái đầu gắn vào nhau”. Nghe có vẻ kinh khủng với tôi, nhưng bà hít vào một hơi sâu, như thể nhớ lại mùi thơm những trái cam ngày Tết thay vì những mẩu da thú.

Một phút sau thì tôi hiểu, khi bà nói tiếp, “Nếu tôi có những tấm hình ấy, ít nhất thì tôi cũng có được cái gì đó của chồng tôi. Anh ấy đúng là một thợ săn thiện nghệ. Rất cừ. Anh ấy đã bắn hạ những con thú đẹp nhất, và giao cho tôi giữ từng chiến quả của anh”.

Sự mỉa mai về những bộ da cọp bị mất của bà Nhu luôn ở trong tâm trí tôi. Tôi biết rằng trong khi người Mỹ gọi bà là Rồng Cái, những người Việt Nam cả gan công khai chống bà Nhu lại nhắc đến bà với biệt danh Cọp Cái – xuất phát từ sự tôn trọng trong văn hóa dành cho con rồng.

Lúc bấy giờ tôi rất ngạc nhiên thấy mình quan tâm đến bà không dứt. Suy cho cùng, bà đã ngó lơ tôi – theo đúng nghĩa đen, ở nhà thờ, và theo nghĩa bóng. Bà tiếp tục nhử tôi với lời hứa về những đoạn hồi ký của bà trước mặt tôi, nhưng tôi cứ kẹt trong những nghi ngờ rằng chúng không tồn tại ngoài trí tưởng tượng của bà. Bà vẫn hay nhắc đến cái gọi là những đoạn hồi ký này kể từ năm 1963. Bà nói bà viết hàng trăm trang, giấy viết vương vãi khắp phòng, thậm chí dưới trường kỷ. Tại làm sao mà lúc ấy tôi tin rằng, gần năm mươi năm sau, cuối cùng bà cũng sẵn sàng tập hợp chúng vào trong một bản thảo? Khi tôi tìm cách thúc ép bà, bà nạt nộ tôi. Giọng lưỡi sắc bén nhặm lẹ của bà, tôi đã nghe nói đến nhiều. “Cô không nên nói về những gì cô không hiểu”, bà mắng mỏ, riết róng. Nhưng sự thực là, tôi biết rằng nếu tôi không giả vờ đồng ý, tôi sẽ không bao giờ có bất kỳ cái gì để viết ra. Và tôi phải nói rằng, khao khát của bà là muốn thấy lại cái gì đó của chồng mình cứ day dứt trái tim tôi, đúng như bà dự cảm.

Thách thức của bà Nhu hóa ra khá dễ dàng. Sau vài email và vài cuộc điện thoại cho các nhân viên lưu trữ tại thư viện Tổng thống Lyndon B. Johnson ở Austin, Texas, tôi có được những gì tôi tìm kiếm.

Khi tôi mở các tập tin đính kèm từ máy tính của tôi, tôi nghẹt thở. Những tấm hình màu nâu đỏ đem một thế giới đổ nát trở lại với cuộc đời.

Bốn người đàn bà đúng trong một không gian rõ ràng là phòng ngủ, một cái bánh kem bọc xatanh với những tấm màn dài lê thê treo trên cửa sổ và chung quanh cửa ra vào. Những khuôn viền trang trí tường trần và những sàn nhà lót gỗ hoàn tất cái ấn tượng về cung điện này. Vả ở đó có: một hàng dài bộ da những con cọp miệng há to trải hết chiều dài căn phòng đến chân giường, chạm bàn chân trần lên đó thì thế nào nhỉ? Những bộ da cọp này có thô cứng không? Tôi cứ thắc mắc làm sao bà Nhu có thể nhớ để tránh vấp ngã vào những cái tai, con mắt và những hàm răng của chúng khi bà ra khỏi giường mỗi sáng?

Tôi dễ dàng nhận ra ba trong số bốn người đàn bà trong hình, và tôi đoán người thứ tư hẳn là phu nhân của đại sứ hoặc phu nhân của một quan chức cao cấp Mỹ nào đó. Phu nhân Phó Tổng thống, bà Bird Johnson, đứng dựa vào mép giường, đôi giày màu trắng nằm thẳng góc trên sàn, như thể bà cẩn trọng đi quanh những con thú chết thay vì đi ngang qua chúng. Ăn mặc thanh nhã trong bộ váy bó chẽn sát nách và giày cao gót để đi thăm Dinh, bà Bird cười mạnh dạn trước ống kính, nhưng trông bà có vẻ hơi ủ ê vì nóng nực. Găng tay của bà không còn, mũ lệch đi, và những lọn tóc rũ xuống vì độ ẩm. Bà nhìn thẳng vào máy quay, cặp lông mày nhướng lên ngạc nhiên.

Bà Nhu có vẻ thoải mái hơn nhiều. Mặc chiếc áo dài cổ khoét sâu thay vì cổ đứng hẹp, bà mở rộng bàn tay đón tiếp các vị khách vào căn phòng treo rèm. Trong tấm hình kế tiếp, bà đứng thẳng, hông hướng về máy quay, vai ưỡn ra sau. Dường như bà có sự nhạy cảm cơ thể của một diễn viên múa ba-lê. Bà Nhu trông như sẵn sàng mỉm cười – chí ít là cái cằm của bà nâng lên theo hướng máy quay. Sự hiện diện mạnh mẽ của bà làm tôi quên để ý đến vóc dáng bà khi so với những người Mỹ cho mãi đến sau này. Bà nhỏ con. Nếu không có đôi guốc cao gót và kiểu tóc tổ ong bồng bềnh, có thể bà chỉ đứng tới vai bà Bird.

Em gái Tổng thống Kennedy, Jean Smith, có cằm vuông giống như anh mình. Bà mặc bộ váy dài vải bông kẻ và đeo chuỗi ngọc, và có vẻ như bà không thể rời mắt khỏi những bộ da cọp xếp chung quanh chân bà – thậm chí không ngước nhìn lên để chụp ảnh – như thể bà lo sợ chúng có thể sống lại và tấn công. Hai khuỷu tay bà thu sát vào người, tay này nắm tay kia, như cái đai an toàn, hai đầu gối bà khép chặt vào nhau như thể bà sẽ khuỵu xuống nếu không làm vậy.

Jean Smith là con út trong gia đình Kennedy. Chồng bà, Stephen, là cố vấn chính trị và chủ tịch tài chính của Tổng thống, nhưng Jean cũng đã dành nhiều thời giờ và công sức cho Jack Kennedy. Bà làm việc không mệt mỏi với các chiến dịch, tiếp đãi khách các buổi tiệc trà và gõ cửa nhiều nơi. Sau cuộc bầu cử, Tổng thống Kennedy viết vào một tấm hình gởi cô em gái út, cám ơn bà vì tất cả những nỗ lực của bà. Jean xúc động, vinh dự, bà nói, vì những nỗ lực của bà đã được nhìn nhận – cho đến khi bà nhận ra tất cả các chị và vợ của các anh bà đều nhận được điều tương tự. 1

Bà Nhu, một người châu Á giàu nghị lực tuyệt vời, và bà Jean Smith, người phụ nữ thuần Mỹ, có nhiều điểm tương đồng hơn người ta có thể hình dung từ lúc thoáng nhìn tấm hình chụp hai người đứng cạnh nhau. Cả hai người phụ nữ này đều nhờ những mối ràng buộc mạnh mẽ của gia đình dẫn đưa đến chính trị. Cả hai đều có chồng làm việc cho gia đình; cả hai gia đình đều theo đạo Công giáo và chống cộng và cam kết làm điều “phải”. Cả hai đều duyên dáng và hiểu biết rộng, và cả hai đều tự xưng luôn hết mình vì mục đích. Dường như có một sự thu hút tự nhiên, không chỉ giữa hai người phụ nữ này mà còn giữa chính phủ Kennedy mới được tấn phong và chế độ của ông Diệm ở Sài Gòn.

Hình

TLX

Chính Tổng thống Kennedy đã thông báo về chuyến công du của Johnson đến Đông Nam Á, gọi đó là “sứ mệnh tìm kiếm sự thật”. Có những tường trình mâu thuẫn nhau về những gì đang diễn ra ở Nam Việt Nam. Ở đó, cái quốc gia nhỏ bé này, có gì để xứng với hàng triệu đô la viện trợ mà Hoa Kỳ đã đổ vào từ năm 1954? Anh em họ Ngô này có đang hậu thuẫn cuộc chiến chống chủ nghĩa Cộng sản như họ tuyên bố, hay họ đang cản trở nó? Năm ngoái, chứng kiến sự gia tăng bạo lực và các hoạt động của Cộng sản, có thể là lý do khiến Phó Tổng thống Johnson không muốn đi. “Thưa Tổng thống”, Johnson nói, “Tôi không muốn gây rắc rối cho ngài bằng cách để người ta bắn nát đầu tôi ở Sài Gòn”. 2

Dĩ nhiên, không ai trong đoàn tùy tùng của Johnson bị tổn hại ở Nam Việt Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm lo cho những người Mỹ rất tốt, đón tiếp họ tại nhà khách trong khuôn viên Dinh. Đêm đầu tiên ở Sài Gòn, vợ chồng Johnson, vợ chồng Smith, và tân đại sứ của Kennedy tại Việt Nam Cộng hòa, Frederick Nolting và vợ ông, thưởng thức bữa ăn tối kiểu Pháp ngon lành trong nhà hàng sân thượng khách sạn Caravelle. 3 Những người phụ nữ khả ái nhẹ nhàng bước đi dưới những hàng keo dọc các con đường rộng với hai hàng cây hai bên; những âm thanh vui đùa của trẻ con nơi bãi trống vọng đến tai họ theo làn gió buổi tối êm đềm. Tuy nhiên cũng thấy rõ không khí căng thẳng, cảm nhận được những nguy hiểm sắp diễn ra, của những người Cộng sản lẩn khuất trong bóng tối. Các bản tin tình báo khẳng định rằng nhiều người từng chiến đấu bên cạnh Việt Minh trong chiến tranh chống Pháp đã ở lại miền Nam hiện giờ quyết tâm thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo duy nhất của Hà Nội. Những người Cộng sản đã và đang thành công mặc dù nhiều người không thoải mái thừa nhận sự thực đó.

Người ta nói những người Cộng sản kiểm soát một phần ba vùng nông thôn phía nam. Họ lập căn cứ ở các vùng đồng bằng và trên cao nguyên; những vũ khí từng được dùng để chống người Pháp, giờ được bọc trong bao ni-lông chôn giấu dưới ruộng lúa trong gần mười lăm năm, giờ được lấy lên và cải tiến để sử dụng. Lê Duẩn, lãnh đạo Cộng sản cao nhất ở miền Nam, tổ chức cho những tay súng ngày xưa đứng vào đội ngũ mới. Ông có quá trình tham gia cách mạng khá ấn tượng, từng trải qua bảy năm trong các nhà tù Pháp trước khi gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc thập niên 1940. Vì thế, dù là người Nam, ông hiểu rõ các đồng chí của ông ở Hà Nội. Ông có thể biện hộ cho đồng bào miền Nam của ông: Đồng bào chúng ta đang phải chịu đau khổ dưới chế độ Ngô Đình Diệm và sẵn sàng chiến đấu. Họ phải nổi dậy. Nếu chúng ta không lãnh đạo họ, họ sẽ hình thành phong trào kháng chiến của riêng mình, và chúng ta không còn có vai trò nữa. Bộ Chính trị nhất trí với Lê Duẩn và quyết tâm đấu tranh vũ trang ở miền Nam bên cạnh những nỗ lực chính trị. Năm 1959, một nhiệm vụ bí mật được để ra là vận chuyển vũ khí và hậu cần đi dọc đường Trường Sơn để khởi động chiến tranh. Phương Tây thường gọi con đường rừng núi hiểm trở vốn chạy ngoằn ngoèo phía tây đất nước này là Đường mòn Hồ Chí Minh. 4

Một năm sau, Đại hội Đảng Cộng sản ở Hà Nội nêu quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh vũ trang. Tháng 12 năm 1960, Hà Nội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), danh xưng hợp thức cho nỗ lực tái thống nhất đất nước của Cộng sản ở miền Nam, mặc dù người Mỹ thường gọi họ một cách nôm na là Việt Cộng. Dù tên gọi có là gì đi nữa, sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm là mục tiêu số một của họ. Hà Nội đã ra lệnh cho họ lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa và “quan thầy của ông ta” là Hoa Kỳ, bằng bất cứ phương tiện nào cẩn thiết. Vào thời điểm Johnson đến thăm Sài Gòn, những người Cộng sản đang gây thiệt mạng trung bình mỗi tháng từ năm đến tám trăm binh lính, công chức, và thường dân ở Nam Việt Nam. Những con số này được giữ kín.

Những con số nghiêm trọng xuất phát từ Việt Nam này được xào nấu vì hai lý do, và cả hai đều dính tới chính trị. Về phía Mỹ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Frederick Nolting, và Đại tướng tổng tư lệnh Paul Harkins, lo lắng những đánh giá tiêu cực có thể làm xói mòn quyết tầm của Tổng thống Kennedy muốn tiền bạc viện trợ và các cố vấn của Mỹ tiếp tục đổ vào Việt Nam. Khi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thực hiện chuyến đi khảo sát hai ngày khắp quốc gia này, Nolting và Harkins cấm nhân viên của mình nói với ông bất cứ điều gì có thể mang đến một ấn tượng không tốt. Những kiểu tránh né này là con dốc trượt dẫn đến sự thao túng công khai sẽ diễn ra sau này, như ghi nhận số thương vong của đối phương thiếu căn cứ vững chắc và lột bỏ những miếng dán màu đỏ ra khỏi tấm bản đổ cho thấy nơi Cộng sản đứng chân khi cảm thấy có vẻ chúng “quá nhiều”. Các nhà báo Mỹ, mặc dù không bị kiểm duyệt thẳng thừng, được yêu cầu phải hiểu rõ những hướng dẫn của nước Mỹ liên quan đến việc gởi về tòa soạn “những tường trình không mong muốn”. Phải tránh nói đến những con số cụ thể, cũng như tránh chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu chiến thuật. Bất kỳ ai vi phạm những qui định căn bản này sẽ không được tiếp tục làm nhiệm vụ. 5

Một lý do khác để giữ kín những con số xấu là bởi cá nhân Tổng thống Ngô Đình Diệm sẽ điên tiết. Sau vụ đảo chính hụt năm 1960, ông Diệm đã thông báo miệng đến các chỉ huy quân sự không được tiến hành các cuộc hành quân có thể gây ra thương vong lớn. Vị Tổng thống này kết luận rằng những người lính nhảy dù bất mãn đằng sau cuộc đảo chính hụt rất giận dữ chế độ vì những thương vong mà họ phải chịu trong các chiến dịch tấn công. Ông Diệm không thể, hoặc đã không hiểu rằng chế độ gia đình trị, thiên vị Công giáo, và sự áp bức các quyền tự do mới thực sự là những nguyên nhân gây nên sự oán giận. Ông Diệm không muốn thấy một cuộc đảo chính nữa, cho nên ông không muốn quân đội chịu tổn thất.

Các cố vấn người Mỹ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa cuối cùng sẽ hiểu ra rằng các chỉ thị “không đánh” từ những chỉ huy cấp cao nhất hoàn toàn làm xói mòn những lời khuyên giao chiến với Việt Cộng của họ, nhưng điều đó không ngăn cản họ chuyển những con số thương vong giả về Washington. Tổn thất của Cộng sản bị thổi phồng, thương vong của Nam Việt Nam được xem nhẹ, và không kèm theo bất kỳ lời cảnh báo nào về những con số không chắc chắn. Những con số đó được diễn dịch thành chính sách, và chính sách đó nói rằng cuộc chiến đang diễn tiến tốt. 6

Mục tiêu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – đập tan chế độ miền Nam – là mệnh lệnh tối cao từ Hà Nội phải được thi hành từ dưới lên. Chiến tranh sẽ bắt đầu “ở các làng mạc… lan rộng đến các huyện, rồi các cấp chính quyền tỉnh thành đã rồi cuối cùng sẽ là một cuộc tổng tấn công nhắm vào bản thân chính quyền trung ương”. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ban hành những chỉ thị cụ thể về những mục tiêu cần nhắm tới để tối đa hóa tác động của các cuộc tấn công bất chợt và ngẫu nhiên: các trung tâm thông tin, kho bãi, sân bay, và các cơ quan của Mỹ được “đặc biệt” chỉ rõ.

Những mục tiêu đầu tiên từ các chiến dịch của MTDTGPMNVN là vùng nông thôn các tỉnh Long An, Tây Ninh, Long Xuyên, An Giang. Vào tháng Mười Hai, 1960, bạo lực lan dần đến thành phố khi một khu bếp tại Câu lạc bộ Gôn Sài Gòn bị đánh mìn, làm chết một nhân viên và hai đầu bếp. 7

Các hoạt động quân sự của MTDTGPMNVN rất thành công nhờ họ khéo léo tận dụng các phương tiện thông dụng. Chẳng hạn, quả bom đặt trong chiếc xe máy bình thường là chết chóc, hiệu quả, và gần như không thể phát hiện cho đến khi quá muộn. Toàn bộ khung xe chứa đầy chất nổ; những sợi dây điện mảnh nối với các đầu đựng thuốc nổ bên trong khung xe chạy ngang luồn qua dây thắng, giúp ngụy trang, và nối vào cái bóng đèn trước xe có kèm cái đồng hồ hẹn giờ. Chỉ cần dùng một cái đèn pin nhỏ kích hoạt là chiếc xe nổ tung, gây ra sự hủy hoại khủng khiếp giữa đường phố đông đúc. Việt Cộng gọi cái biến thể hai bánh xe của họ dựa theo con ngựa thành Troy là “ngựa sắt”. Họ tuyển mộ những người trẻ vào làm công việc chết người đó – độ tuổi lý tưởng vào khoảng 18, nhưng các cậu bé 13 hay 14 cũng là “những kẻ phá hoại thành phố”, hay những kẻ ném lựu đạn rất tốt. Các nhà hàng, khách sạn bắt đầu lắp những tấm lưới trước hiên nhà; mọi người sợ ngồi trước hành lang, vào rạp hát, hay thậm chí đi chợ. 8

Ngày 22 tháng Ba năm 1961, chỉ hơn một tháng trước chuyến công du của Johnson đến Sài Gòn, một chiếc xe tải chở hai mươi cô gái phát nổ tanh bành trên một con lộ hoang vắng trong vùng Rừng Sát. Các cô gái đang trên đường từ Sài Gòn về nhà ở tỉnh Phước Tuy; họ mới trải qua buổi chiều đứng nghe bà Nhu, Đệ nhất Phu nhân, đọc bài diễn văn nồng nhiệt ca ngợi phụ nữ Việt Nam nhân ngày lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng. Đó là buổi lễ tưởng nhớ hai chị em Bà Trưng, hai nữ anh hùng Việt Nam đã chiến đấu chống lại nhà Hán. Bà Nhu coi hai bà như gương mẫu cho những người phụ nữ dũng cảm của Việt Nam Cộng hòa hiện đại. Tuy nhiên, đối với các cô gái kia, ngày hôm đó đã kết thúc trong thảm kịch. Trong những khoảnh khắc sau khi chiếc xe trúng phải mìn chôn trên đường, hàng loạt đạn trút xuống như mưa. Người tài xế xoay xở lái chiếc xe ì ạch chạy đến đồn lính gần nhất, nhưng hai cô gái đã chết.

Một tuần sau, bà Nhu đến một bệnh viện ở Chợ Lớn thăm bốn trong số các nạn nhân trẻ của vụ tấn công đang nằm đợi hồi phục. Một người hỏng một con mắt, một người khác cụt chân, và một phụ nữ lom khom vì bị thương cột sống. Bà Nhu cũng đến thăm khu vực xảy ra vụ nổ, nói chuyện với các cô gái sống sót sau trận phục kích. Trong ngôi nhà của cô Nguyễn Thị Bàng, hai mươi ba tuổi ở huyện Cần Giờ, bà Nhu đặt vòng hoa lên ngôi mộ mới xây và chia buồn với mẹ và chị của cô gái bị sát hại.

Một ngày sau khi đến Sài Gòn, Phó Tổng thống Johnson gặp gỡ Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Dinh, nơi họ nói chuyện chi tiết về sự viện trợ từ Hoa Kỳ. Trong khi Johnson trịnh trọng tặng món quà của ông – bộ sách bìa cứng Di sản Mỹ về lịch sử Hoa Kỳ – và trình ủy nhiệm thư, các bà vợ đi một vòng bên trong Dinh với bà Nhu để nhìn những bộ da cọp. Bức ảnh chụp lúc gặp nhau ở cầu thang văn phòng cho thấy Johnson cúi hẳn người xuống để nói chuyện với ông Diệm. Sau buổi gặp gỡ, Phó Tổng thống Mỹ trình bày chương trình tám điểm bao gồm việc cung cấp thêm vũ khí và tiền bạc. Chiều hôm đó, Johnson, vẫn với phong cách phóng khoáng người vùng Texas, đã xuống phố Sài Gòn đi dạo để hòa đồng với dân chúng miền Nam Việt Nam. Phóng viên Stanley Karnow nhận xét rằng Johnson bắt tay mọi người và mỉm cười như thể ông “đang đón chào các quận trưởng cảnh sát trong chiến dịch tranh cử ở Texas”, nhưng theo một nghĩa nào đó, đó là công việc của ông. Ông Johnson được phái đến đây để trấn an người dân miền Nam Việt Nam rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc để cải thiện tình hình xã hội và chiến đấu chống chủ nghĩa Cộng sản. 9

Bà Nhu ngồi ở vị trí danh dự cạnh Phó Tổng thống, bên tay phải ông, tại tiệc khoản đãi chính thức. Họ đã gặp nhau một lúc ngày ông đến. Bà Nhu có mặt ở sân bay, cùng với các vị phu nhân khác, để đón phái đoàn của Phó Tổng thống. Khi bước xuống sân bay, vị Phó Tổng thống rảo bước qua đội danh dự đến gần bà, bắt tay bà. Phong cách của ông gây thích thú cho bà Nhu lần nữa tại bữa tiệc.

Bà không quen với những người đàn ông chờ bà ngồi xuống trước khi họ ngồi vào ghế của họ, cũng như không quen được nói đến trước những người đàn ông như Tổng thống và chồng bà. Nhưng bà Nhu thích cách nịnh đầm của Johnson tuy bà không biết rõ lắm ý nghĩa của nó. Trong buổi tiệc, ông cố nài bà đồng ý đến thăm nông trang của ông ở Texas. Bà khúc khích cười, lấy cái khăn ăn che miệng, nhưng ông cứ khăng khăng nhiều lần khiến bà cuối cùng đồng ý sẽ đến – “khi ông lên làm Tổng thống”, bà hứa. Sau đó, Johnson nắm bàn tay trái của bà Nhu bằng bàn tay to bự của mình và trước mặt vợ ông cùng các nhà ngoại giao ngồi cùng bàn, dẫn bà ra ban công. “Chỉ cho tôi thấy quang cảnh ở đây đi”, ông thì thào. Bà đã phải cố đi thật nhanh để bắt kịp những bước chân của người đàn ông cao lớn vùng Texas, nhưng vị Phó Tổng thống có vẻ không để ý. Ông nhìn bà mỉm cười để mọi người trong tiệc khoản đãi chính thức có thể nhìn thấy.

Tháng Năm năm 1961, bà Nhu vững tin vào chính mình hơn bao giờ hết. Dự án tham vọng của bà muốn tái cấu trúc xã hội đang tiến triển tốt, trong đó phụ nữ là những tác nhân cho sự thay đổi. Dự án này rất đáng hài lòng, bà đã viết vội vàng trong nhật ký của mình tháng Một năm đó. Bà không nhận thấy mình thông minh đến thế! Bà Nhu đã có sáng kiến lập ra Phong trào Liên Đới Phụ nữ mùa hè năm trước. Đó là một hội đoàn công chức dấn mình vào việc giúp đỡ các gia đình quân nhân Việt Nam. Họ có thể mang thức ăn cho ai đó trong bệnh viện hay đem thuốc men cho các gia đình ở nông thôn; họ cũng có thể hiến máu và viết những lá thư khích lệ binh sĩ ngoài mặt trận. Ý tưởng là đem đến cho phụ nữ một mục đích khác bên ngoài gia đình, một phương cách để tham gia vào xã hội tích cực hơn và nhận thức được vai trò quan trọng của họ trong việc xây dựng quốc gia mới này.

Bà Nhu còn lập ra một tổ chức bán quân sự. Con gái bà, Ngô Đình Lệ Thủy, tham gia vào một đơn vị dự bị của tổ chức này. Họ được huấn luyện sử dụng súng, cứu thương và đi diễu binh trong quân phục kiểu cách với cái áo thắt lại ở eo. Bà Nhu gọi các thành viên trong lực lượng nữ binh của bà là “những người yêu bé nhỏ của tôi”.

Nguồn cảm hứng của bà Nhu đối với “những người yêu bé nhỏ” của bà đến từ huyền thoại Hai Bà Trưng, hai người phụ nữ trẻ đã khởi binh chống lại quân Hán xâm lược vào năm 40, gần hai ngàn năm trước. Những người Cộng sản cũng sử dụng huyền thoại này – họ tìm thấy yếu tố giai cấp trong câu chuyện – nhưng với những mục đích của mình, bà Nhu nhấn mạnh đến sức mạnh của phụ nữ và các bà mẹ trong chiến đấu. Tương truyền rằng, bà Trưng Trắc trả thù cho chồng bị quan thái thú nhà Hán giết hại. Em gái bà cùng một đội nữ kỵ binh ưu tú sát cánh bên bà. Một trong những người phụ nữ này đang mang thai và sinh con trong trận tiền nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu với đứa bé sơ sinh buộc chặt sau lưng. Bà Nhu hy vọng rằng câu chuyện lịch sử đó sẽ thúc đẩy những người phụ nữ thời đại bà học tập những kỹ năng bảo vệ gia đình mình. Thậm chí bà còn cho dựng tượng đồng Hai Bà Trưng, đứng chào đón những chiếc tàu cập cảng Sài Gòn. Nhưng khi tượng được dựng lên, khuôn mặt và vóc dáng của Hai Bà Trưng giống bà Nhu quá đến mức thành lời ong tiếng ve. Bà Nhu muốn phụ nữ miền Nam ngưỡng mộ hai vị nữ anh hùng thời xa xưa hay Đệ nhất Phu nhân của họ? Rất có thể bản thân điêu khắc gia đã áp đặt những đường nét tương tự với ý định nịnh bợ Đệ nhất Phu nhân, nhưng diễn giải phổ biến nhất là, một lần nữa, bà đang sử dụng phong trào phụ nữ để phục vụ cho những mục đích riêng của mình.

Hầu hết phụ nữ gia nhập tổ chức Liên Đới là những bà vợ trung lưu ở Sài Gòn. Họ tham gia để cầu cạnh bà Nhu hoặc để đảm bảo cho chỗ làm công chức của chồng mình. Bà Nhu vẫn không biết cách kết nối với đa số phụ nữ Việt Nam. Bà cứ đặt hết niềm tin vào lòng hăng hái của mọi người, coi đó là tất cả. Khi bà Nhu về nông thôn để kiểm tra sự hòa nhập của các tổ chức phụ nữ với làng xóm, bà được tặng hoa và được chào đón nồng nhiệt. Bà kể với Elbridge Durbrow, cựu đại sứ Mỹ ở Việt Nam, khi bà đến thăm, những người phụ nữ trong các ngôi làng đó đã cám ơn bà như thế nào đối với Bộ luật Gia đình cấm đa thê và ly dị. “Bà không nhận ra bà nổi tiếng và được mọi người yêu mến như thế nào”. Bà cũng không biết rằng mọi người nóng lòng muốn nói với Đệ nhất Phu nhân chỉ những điều bà muốn nghe. 10

Chế độ Ngô Đình Diệm bao gồm toàn những thành viên gia đình hoặc những người ngoan ngoãn phục tùng. Hoặc theo họ hoặc chống lại họ. Các bộ trưởng chính phủ hoặc các đại biểu Quốc hội có thể đi chỗ này chỗ nọ lắc đầu và trong thâm tâm thừa nhận mình không hài lòng, nhưng giữa bá quan văn võ thì không ai dám lên tiếng. Sách vở – phi hư cấu, tiểu thuyết, hoặc, tầm thường nhất là thơ – phải chịu kiểm duyệt. Giấy phép của chính quyền vốn có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào nhằm kiểm soát báo chí trong nước, và các nhà báo nước ngoài phải nộp bản thảo để kiểm duyệt. Quản lý thông tin là chiến lược của Cộng sản, nhưng đó là vấn đề: Việt Nam Cộng hòa được cho là quốc gia tự do. Sự oán giận dâng lên, thẩm lặng và gây xói mòn.

Tình báo Mỹ gởi từ Sài Gòn về Washington nhiều tin đồn cho thấy bà Nhu và chồng bà dính dáng tham nhũng, mua bán ảnh hưởng và kết tội họ đưa ra những lời khuyên tồi cho Tổng thống. Như một nhà ngoại giao nhận xét một cách tinh ranh: “Không có chút khác biệt nào nếu không có điều sai trái nào được gán cho bà ta là có thật, vấn đề quan trọng là người ta tin nó”. Các báo cáo nghi ngờ về ảnh hưởng mà các tổ chức phụ nữ của bà Nhu thực sự có thể gây ra đối với quốc gia này. Họ dường như xem chúng là chuyện hão huyền. 11

Bà Nhu không coi ra gì những lời chỉ trích về công việc của bà. Bà sốt ruột với những thứ vụn vặt của những người chung quanh và viết vào nhật ký những điều bực bội: “Sự thông minh nuôi dưỡng lòng tham vọng, nhưng có phải là tệ hại không khi phải cộng tác với lũ ngu để mưu việc lớn? Chắc hẳn Chúa tạo ra lũ ngu dốt này để thử thách ta”. Rõ ràng, những người này không thấy được bức tranh lớn, và bà Nhu đã đi quá nhanh để có thể dừng lại, giải thích cho họ biết.

Vẫn đầy tự tin, bà Nhu trình bày với các đồng nghiệp của bà ở Quốc hội năm 1961 một loạt ý tưởng vĩ đại về phương cách bảo vệ phụ nữ, gia đình, và đất nước. Bà đặt tên cho những ý tưởng này là Những Luật lệ Đạo đức. Bà Nhu cấm nhảy đầm và các cuộc thi sắc đẹp vì sẽ làm sao nhãng một đất nước đang có chiến tranh. Bà cũng đặt các tệ nạn cờ bạc, bói toán, đá gà, và mại dâm ra ngoài vòng pháp luật. Bà coi phá thai là bất hợp pháp – “Dân số chúng ta còn ít”, bà nói – và còn cấm áo ngực có gọng. Đó là thời điểm bà Nhu thuyết phục mọi người phải thực hành tiết kiệm. Đừng bao giờ quan tâm đường nét của cái áo ngực đai lưng rộng phô ra qua làn lụa mỏng chiếc áo dài của bà.

Những Luật lệ Đạo đức không đạt được gì nhiều ngoài việc làm nhiều người giận dữ – những người dù gì cũng cứ nhảy đầm. Chubby Checker và anh em Isley làm cho điệu nhảy “twist” trở nên phổ thông đến độ những kẻ bất chấp lệnh cấm nhảy đầm vẫn đến các hộp đêm được biết với tên gọi “twist easies”. Lệnh cấm không chỉ áp dụng với thể loại “rock and roll” nhập khẩu; các ca khúc trữ tình Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Việc này đặc biệt gây khó chịu cho những người lính Việt Nam, những người thường xuyên hát ngoài mặt trận, vì tình đồng đội hay để được thoải mái ở những nơi bốn bề rùng rợn, họ có thể chạm trán một trận phục kích hoặc rơi vào một bẫy mìn bất cứ lúc nào. “Đêm mưa trên mặt trận” là một bài hát ưa thích như vậy. “Khi bầu trời chuyển sang màu hồng… Người lính trẻ nghĩ về người thân ở quê nhà… Tâm hồn đầy yêu thương”. Mặc dù vậy nó vẫn bị cấm vì chưa chống cộng đủ đô. 12

Các luật lệ đó rất trịch thượng, hàm ý rằng bà Nhu biết rõ hơn mọi người những gì họ nên và không nên làm, mặc, và nghe. Sự phản đối kịch liệt tất yếu về những luật lệ om sòm đó đã che mờ lập trường chung của bà Nhu – và đó là một lập trường khá tốt. Hàng đống đô la đổ vào miền Nam Việt Nam làm cho Sài Gòn có vẻ trở thành một thị trấn tiệc tùng thay vì một thành phố chuẩn bị cho chiến tranh. Nhiều người tin rằng viện trợ Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa đã tạo ra một tầng lớp trung lưu các thương nhân và doanh nhân hậu thuẫn ông Ngô Đình Diệm. Một lối sống thoải mái là cách tự vệ tốt nhất trước tình trạng kích động của Cộng sản. Nhưng các chương trình nhập cảng hàng tiêu dùng lại chỉ tài trợ cho một lối sống tốn kém khác. Hoa Kỳ cho Việt Nam hàng hóa để bán, giúp người Việt ngăn chặn lạm phát, và trả tiền cho một mức sống cao – cộng với hầu hết phí tổn cho quốc gia. Nhưng không chỉ người Việt Nam hưởng lợi. Hòn ngọc Viễn Đông đang biến thành một sân chơi cho 12.000 quân nhân Mỹ ở đây. Số quán rượu trên đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi) tăng vọt. Các tiệm bánh pizza mở ra, và các tài xế taxi tăng lên gấp đôi để phục vụ khách Mỹ. Có các cơ sở kinh doanh mở ra với mục đích tìm các cô gái Việt đi chơi với những chàng lính Mỹ cô đơn.

Những tờ quảng cáo hứa hẹn đẹp, quyến rũ, và đẳng cấp. Một người lính Mỹ phải tốn hai đô rưỡi để được nhìn ảnh các cô gái của cô Lee và thêm hai đô rưỡi nếu anh ta thực sự muốn trực tiếp gặp một cô tại hãng. Một cái hẹn sẽ được thu xếp với giá gần bốn đô, cộng thêm phí tổn khi đưa cô gái đi chơi. Tất cả tiến trình Tây hóa đó cung cấp chất liệu cho cỗ máy tuyên truyền của Cộng sản. Nếu người miến Nam đổi những cô gái trẻ của họ để lấy vũ khí của người Mỹ, thì dễ dàng tin rằng quốc gia này cũng đang bán linh hồn của mình.

Bà Nhu bảo vệ những luật lệ nghiêm khắc của mình. “Ai cũng biết, để đánh bại Cộng sản, bạn phải có đường lối và bám chặt vào nó”. Bà nói đúng. Ý niệm phổ biến cho rằng người Mỹ “mua” miền Nam Việt Nam sẽ là công cụ tuyển quân tuyệt vời đối với Cộng sản, và bà Nhu đủ sắc sảo để sớm nhận ra vấn đề. Nhưng bà đã sử dụng cái vòi rồng chữa lửa để dập tắt một que diêm. Người ta ghét bà vì phong cách độc đoán. Những năm thuộc địa và chiến tranh đã làm chai sạn đồng bào của bà! Bà Nhu thích nói mình đại diện cho đồng bào, nhưng bà hầu như không biết họ. Thay vì vậy, những luật lệ và qui định của bà là sự bành trướng những nguyên tắc đạo đức của riêng bà và những lời nhắc nhở thường xuyên về quyền lực của bà. Lối sống của bà trong Dinh sặc mùi xa xỉ và phung phí khi mà hầu hết người Việt Nam vẫn phải sống ở nông thôn và vật lộn để tồn tại. Bà không có quyền gì không cho họ có được chút ít niềm vui.

Chồng bà Nhu không được dân chúng yêu thích bằng bà. Vị trí của ông trong chính quyền Ngô Đình Diệm được xác định một cách lỏng lẻo là cố vấn của Tổng thống, nhưng nhiều người tin rằng ông điều khiển cuộc chơi. Để minh họa quyền lực to lớn của ông Nhu, đặc phái viên David Halberstam cố gắng đặt ông vào bối cảnh nước Mỹ cho bạn đọc của tờ New York Times: “Hãy hình dung Ngô Đình Diệm là Tổng thống Hoa Kỳ; trong hoàn cảnh đó Ngô Đình Nhu sẽ kiểm soát tất cả báo chí trong nước, đứng đầu CIA, FBI và Quốc hội, làm Bộ trưởng Tư pháp và Bộ trưởng Ngoại giao, và viết tất cả tường trình mà Tổng thống nhìn thấy. Những gì ông Diệm biết về thế giới bên ngoài là những gì ông Nhu muốn ông ta biết; những gì ông ta thấy là thấy qua cặp mắt của ông Nhu; những người ông gặp chỉ là những người đã được ông Nhu chấp thuận”.

Ông Nhu lập ra các tổ chức khác nhau để thực hiện các chiến lược chính trị mà ông đề ra. Có tổ chức Thanh niên Cộng hòa, những người trẻ mặc đồng phục xanh dương được coi là đại diện cho tiếng nói của thanh niên miền Nam Việt Nam. Thay vì bày tỏ chính kiến của mình, đa số họ nhai đi nhai lại những câu nói của người sáng lập và lãnh đạo của họ là Ngô Đình Nhu. Thanh niên Cộng hòa có 1.386.757 thành viên vào cuối năm 1962, giảm gần 300.000 so với hai năm trước đó. Lực lượng này đã được thanh lọc kỹ, không có khả năng trở thành những người Cộng sản phá hoại; 21.061 thanh niên có vũ khí, và họ tuyên bố đã giết được 234 Cộng sản. Về phía mình, họ cũng mất gần 500 người trong những vụ ám sát của Cộng sản và 2.413 người khác trong các vụ bắt cóc. Những con số thống kê này dường như không làm giảm bớt lòng hăng hái của họ đối với lãnh tụ của mình. Trong buổi lễ tái bổ nhiệm – ông vừa được chọn làm Chủ tịch toàn quốc của Thanh niên Cộng hòa – Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa và các thành viên Quốc hội đứng dậy khi ông Nhu đón tiếp các đại biểu của các đơn vị thanh niên. Mặc dù trời mưa tầm tã, ông Nhu vẫn đứng, cả người ướt nhẹp trong bộ đồng phục của tổ chức, trong khi từng người một, các bạn thanh niên quì xuống tuyên thệ thực hiện những mệnh lệnh của lãnh tụ và ủng hộ điêu lệ của Thanh niên Cộng hòa, tìm mọi cách huy động toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam tham gia vào cuộc đấu tranh chống Cộng sản. 13

Một trong những dự án mà ông Nhu quan tâm nhất là Chương trình Ấp Chiến lược. Người Anh đã làm điều tương tự tại Malaya để chống lại quân nổi dậy Cộng sản. Những người nông dân chuyển đến các khu vực được củng cố vững chắc và được quân đội bào vệ, được bao bọc bởi các lớp dây thép gai, đạn dược, và súng ống. Ông Nhu cố gắng sao chép chiến lược của người Anh; về lý thuyết, ấp chiến lược ngăn chặn Cộng sản tiếp cận với nguồn tiếp tế và nhân lực. Ồng Nhu rất thích kế hoạch này bởi vì, một lần nữa, nó mang cuộc cách mạng chính trị ra khỏi Sài Gòn để đến với các vùng nông thôn. Không chỉ là một chiến lược quân sự nhằm đánh bại Cộng sản, nó còn là thành quả hợp lý của cuộc cách mạng kinh tế – xã hội của ông, và là cơ hội để xây dựng một nền móng chính trị mới, cho ông Ngô Đình Diệm, ở nông thôn. Nhưng vì tính nóng giận và thiên vị của ông Nhu, các quan chức địa phương báo cáo sai sự thật về ấp chiến lược khi chúng không thực sự tồn tại. Chúng không hoàn toàn là những khung cảnh yên ấm. Những ngôi làng được bao bọc bởi những bụi tre đặt bẫy treo, và hai cái tháp canh hướng về phía rừng hoặc đồng ruộng. Giữa hai lớp dây thép gai là những hàng chông, mũi chông trét đầy phân người để gây thương tích cho bất kỳ kẻ xâm nhập nào. Nhưng làm hàng rào thép gai rất tốn thời giờ, và bản thân thép cũng là loại vật liệu đắt tiẽn. Thay vì mười bốn tấn dây thép gai dành riêng cho việc xây dựng một ấp chiến lược, mười tấn thép gai được kéo giãn ra để xây dựng 163 ấp chiến lược, không an toàn chút nào. Người dân địa phương thường không được bồi thường vì mất đất, và những người bị dí lưỡi lê buộc phải rời bỏ nhà cửa để đi cư trú chỗ khác mà không được báo trước bởi vì chiến lược của ông Nhu là ập tới những vùng có nhiều Cộng sản mà không thông báo, không chuẩn bị, hay không có sự bằng lòng trước. Ông không tính đến thời gian cần thiết để đưa các dịch vụ khác vào hoạt động để thuyết phục dân chúng, như an sinh, y tế, và trường học. Thay cho mô hình những ngôi làng an toàn, ông Nhu đã lập ra một cái gì đó giống như một vùng quê rải rác các trại tập trung nhỏ.

Đáng sợ nhất trong tất cả là Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội của Phủ Tổng thống do ông Nhu lập ra, về cơ bản nó là một tổ chức của những người chỉ điểm hoạt động như một nhân viên CIA. người Việt. Người Mỹ đã hào phóng cung cấp tiền bạc để giúp cho tổ chức này phát triển. Dù vậy nó đã sớm mang tiếng hung hiểm. Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội còn hơn là một tổ chức thu thập thông tin tình báo. Nó thực thi công lý thông qua các đơn vị cảnh sát đặc biệt với những biện pháp thô bạo. Bởi vì khó mà phân biệt những người làm cách mạng kiên định với những người hợp tác chỉ vì yêu nước, cả hai nhóm người này đều bị xử lý như nhau. Những người bị Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội ruồng bố có thể bị đánh đập hoặc tra điện vào bộ phận sinh dục, nhưng hầu hết họ bị bỏ mặc trong ốm yếu tiều tụy với tư cách là những tù nhân chính trị, vốn chiếm một phần ba trong tổng số 30.000 người bị giam cầm trong năm chục nhà lao trên cả nước. 14

Ông Nhu luôn bảo đảm chiều theo ý của anh mình, Tổng thống, giữa công chúng, nhưng mọi người ngày càng tin rằng ông Nhu đang nắm quyền. Điều đó biến ông thành mục tiêu. Trong một chuyến đi săn bắn ở Đà Lạt, Việt Cộng tấn công đoàn xe của ông, và người chỉ huy cận vệ của ông bị bắn chết trong cuộc phục kích. Chính quyền tìm cách ém nhẹm, cho đó đơn giản chỉ là một tai nạn xe cộ trên con lộ nông thôn tối trời. Họ không bao giờ giải thích tại sao chiếc xe lỗ chỗ những vết đạn.

Trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên Marguerite Higgins, ông Nhu thành thật cho biết dân chúng không thích ông đến độ nào, “tôi bị ghét, và vợ tôi cũng vậy”, nhưng ông sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm của mình, “chính quyền nào cũng có tay cứng rắn, người làm những việc dơ bẩn và khó ưa. Ngay cả Eisenhower cũng phải có một Sherman Adams [cước chú của Higgins: ông Nhu lấy làm tự hào khi theo dõi sát những việc làm kín đáo của chính phủ Hoa Kỳ]… Ở Việt Nam, nơi bạo lực và hiểm độc có ở khắp mọi nơi, tôi là người nhận những công việc không dễ chịu. Tôi chính là kẻ bị lăng mạ, nhờ đó mà người khác có thể được dung thứ”. 15

Sự bất mãn của dân chúng đối với ông Nhu và người vợ khả ái của ông được nhiều người Mỹ nghe thấy ngay cả trước chuyến công du của Johnson. Vậy thì tại sao Phó Tổng thống đưa ra tất cả những hứa hẹn tươi sáng về sự cam kết của Mỹ đối với chế độ này? Như Johnson giải thích trong một cuộc chất vấn chính thức về chuyến công du, không phải chỉ mình ông Diệm và gia đình ông chịu đối xử như vậy. Ông Diệm phức tạp, xa cách, và chung quanh ông là những người “không xứng đáng và kém năng lực”. Nhưng sự thật vẫn là không có người nào khác để Mỹ sử dụng nhằm giữ vững lập trường chống chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á. Khi ở Sài Gòn, trong một khoảnh khắc phấn khởi và vui sướng, Johnson hào hứng tuyên bố Ngô Đình Diệm là Winston Churchill của châu Á.

“Ông có thực sự muốn nói vậy?”, nhà báo Stanley Karnow hỏi.

“Cứt”, Johnson lè nhè trả lời, “Diệm chỉ là cậu bé duy nhất chúng ta tìm được ở đây”.

Karnow không thể viết điều đó lên báo Saturday Evening Post, như phóng viên tờ New York Times Homer Bigart đã sáng chế ra cụm từ nói về tình thế khó khăn của Mỹ ở Việt Nam: “Chìm hoặc bơi cùng với Ngô Đình Diệm”. Nó là dòng đầu của một ca khúc mà Bigart đã phịa ra để hát với bạn bè trong giới báo chí Sài Gòn theo giai điệu bài I’m an Old Old Cowhand”:

Chúng ta phải

Chìm hoặc bơi

Cùng với Ngô Đình Diệm

Chúng ta sẽ

Không nghe nói

Về bà Nhu

À, ố,

Ồ, ye

Vân vân. 16

Sáng ngày 27 tháng Hai năm 1962, hai phi công bất đồng chính kiến lái máy bay bổ nhào xuống Dinh rồi ném bom. Mục tiêu của họ là cánh phải của Dinh, nơi gia đình ông Nhu đang ở. Bà vú nuôi người Tàu của đứa bé nhỏ nhất bị trúng một mảnh bom, chết. Cô con gái lớn của vợ chồng ông Nhu, Lệ Thủy, vẫn giữ được bình tĩnh trong cơn hỗn loạn. Cô gái mười sáu tuổi bò lê lết để cứu hai đứa em nhỏ, một đứa hai tuổi và một đứa chưa tới mười tuổi, khi cầu thang chính đổ sập trong đống lửa.

Toàn bộ trần nhà của phòng ngủ đổ sập xuống khi bà Nhu chạy vào nhà tắm để lấy áo choàng mặc phủ lên áo ngủ. Bà thoát khỏi chỗ đó nhưng lộn nhào từ tầng hai xuống một đống sắt, gỗ, sỏi rồi ngã vào một đống tro than âm ỉ cháy. Bà phát hiện mình bị ba vết bỏng nặng độ ba và những vết cắt sâu trên cánh tay, nhưng lạ một điều là bà không cảm thấy đau đớn gì cả. Bà không có bất cứ cảm giác gì ngoại trừ thấy khó cử động, khó xua đẩy những thứ đè lên người mình để chui ra khỏi đống hỗn độn. Nhưng bà biết bà phải chui ra. Một thung lũng ánh sáng đang vẫy gọi; một làn gió thoảng qua xua tan đám khói khỏi người bà. Bà chưa bao giờ thấy rõ ràng đến thế. Bà nhìn vượt qua đống tàn tích. Vượt qua những cái bóng dài gãy đổ của Dinh, một nguồn sáng rực rỡ đang dâng lên. Phúc lành và thương xót. Loạng choạng đến gần bà là một bóng hình đi trong lửa cháy. Đó là chồng bà đang đi tìm bà, kêu lên mừng rỡ khi thấy bà vì ông nghĩ bà đã chết. Những phiền toái hôn nhân của họ được dẹp qua một bên, họ lại là một bên nhau – ít nhất là trong giây phút đó. Bà Nhu ngất lịm vào vòng tay chồng.

Bà Nhu mất gần như tất cả của cải trong đám cháy. Một vài bộ quần áo nằm ở tiệm may còn nguyên vẹn, và, như sau này tôi biết, một cuốn nhật ký. Những chiến lợi phẩm của bà, những bộ da cọp quí giá, chỉ còn là một mớ da cháy khét. Chỉ còn những ký ức ở lại với bà. Nhưng bà ngạc nhiên thấy mình không buồn nản. Một cái gì mới mẻ mở ra trong tâm hồn bà, đúng như nó đã mở ra khi bà rảo bước qua một cây cầu ở miền Trung Việt Nam khi còn là một phụ nữ hăm mốt tuổi với đứa con nhỏ trên tay. Bà sẽ không bao giờ quan tâm đến những cái vụn vặt như quần áo hay của cải vật chất nữa.

Những tấm ảnh chụp những người phụ nữ giữa những bộ da cọp trong phòng ngủ Dinh của bà Nhu càng thêm phần xúc động bởi thảm họa ập đến đã biến Dinh thành một cảnh tượng tan tành vỡ vụn.

Tôi cẩn thận dán từng tấm ảnh vào cuốn album, mỗi tấm một trang và mỗi trang được bảo vệ bằng một miếng giấy da mịn. Cuốn album tôi đã chọn có màu đỏ, để được may mắn, tất nhiên. Tôi gởi đi sau khi đã chèn đóng xốp viên đậu bằng thư tín ưu tiên. Đáp lại, bà hết lời ca tụng tôi. Việc tôi hoàn thành thách thức của bà chắc chắn là một dấu hiệu thiêng liêng. Nhưng bà chưa hoàn toàn sẵn sàng, bà nói, thực hiện lời hứa chuyển giao cuốn hồi ký. Tôi nên kiên nhẫn, bà quở trách.

Dĩ nhiên, tôi sẽ biết rõ hơn.

——————————–

1Martha T. Moore, “Phỏng vấn Jean Smith”, USA Today, 26 tháng 9 năm 2010.
2Lời trích dẫn của LBJ trong President Kennedy: Profile of Power của Richard Reeves (New York: Simon and Shuster, 1994), 118.
3Ghi chép về hành trình ở Sài Gòn của Johnsons, xem Death of a Generation: How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War – Cái Chết Của Một Thế Hệ: Những vụ ám sát Diệm và JFK đã kéo dài chiến tranh Việt Nam như thế nào của Howard Jones (Oxford: Oxford University Press, 2004), 61-65.
4Về việc Lê Duẩn và Việt Cộng đã lật đổ Diệm và các quan thầy thực dân, xem Langguth, Our Vietnam, 113-114.
5Langguth, Our Vietnam, 389, 393, 399; “Điện tín từ Bộ Ngoại giao gởi đến Đại sứ quán ở Việt Nam”, FRUS, 1961-1963, 2:159-160.
6Về những chỉ thị miệng và những con số thương vong bị làm sai lệch, xem A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam của Neil Sheehan, (New York: Vintage, 1989), 123- 125.
7Thông tin về những sách lược của Việt Cộng đối với sứ mệnh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, “A Study: Viet Cong Use of Terror”, Tháng 5, 1966, USAID, http://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PNADX570. pdf.
8Malcolm w. Browne, The New Face ofWar – Diện Mạo Mới Của Chiết^Tranh (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1968), 27-28.
9Những chi tiết về hành trình ở Sài Gòn của LBJ và lời trích dẫn của Karnow trong Jones, Death of a Generation, 61.
10Xem ghi chép về cuộc trò chuyện giữa Elbridge Durbrow và bà Nhu, Foreign Service Dispatch № 28, 8 tháng 7 năm 1960.
11Về thái độ hoài nghi, xem Elbridge Durbrow, Foreign Service Dispatch, 15 tháng 7 năm 1960. Về nhận định của nhà ngoại giao rằng nếu lời đồn đại là thật thì cũng chẳng có gì khác biệt, xem Rene George Inagaki, w. Fishel Papers, Michigan State University, Archives and Historical Collections, box 1223, folder 40.
12Halberstam, Quagmire, 101.
13Xem Airgram A217 từ Sài Gòn, 1 tháng 11, 1962, dẫn những số liệu đăng trên Thời Báo Vietnamese news vào 24 tháng 10 năm 1962. Scigliano, South Vietnam, 173.
14Shaplen, Lost Revolution, 157.
15Higgins, Our Vietnam Nỉghtmare, 195.
16Về lời bình “shit” của LBJ, xem Stanley Karnow, Vietnam: A History (New York: Penguin Books, 1997), 230. Về bài hát của Bigart, xem William Prochnau, Once upon a Distant War: Young War Correspondents in the Early Vietnam Battles (New York: Random House, 1995), 48-49.

Hải quân Thiếu tá Kevin Hoang (gốc Việt) Y sĩ nhãn khoa Quân y Hải quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Trung tá

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 12, 2026 by dongsongcu

12/09/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 13 Sep 2026

HQ Đại úy Kris Bonar, Bác sĩ thuộc đơn vị huấn luyện và sẵn sàng Quân y Hải quân Yuma (NMRTU), trao tặng quà cho HQ Thiếu tá Kevin Hoang trong buổi lễ chuyển giao quyền chỉ huy từ HQ Thiếu tá Kevin Hoang sang HQ Trung tá Raben B Talvo tại nhà nguyện căn cứ Không quân Thủy quân lục chiến Yuma ngày 25 tháng 6 năm 2026 (hình của Hạ sĩ Alexandria Serrano, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ/dvidshub.net).

Hải quân Thiếu tá Kevin Hoang* là Y sĩ nhãn khoa Quân y Hải quân Hoa Kỳ vứa được Hội đồng thăng cấp Hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá cho tài khóa YF-27, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil ngày 21 tháng 8 năm 2026. Ông là người Mỹ gốc Việt thế hệ đầu tiên, sinh ra tại Santa Ana, California, và lớn lên ở Saint Louis, Missouri. Ông hoàn tất Văn bằng Cử nhân khoa học sinh học và Văn bằng Tiến sĩ nhãn khoa từ Đại học Missouri ở Saint Louis. Trong quá trình thực tập lâm sàng đã đưa ông đến các bệnh viện, bao gồm một bệnh viện lớn ở trung tâm thành phố, các bệnh viện thuộc Cơ quan Y tế người Mỹ bản địa ở Oklahoma và Alaska, và một phòng khám của Quân y Không quân, dẫn đến sự quan tâm của ông đến ngành Quân y Hoa Kỳ.

HQ Thiếu tá Kevin Hoang được tuyển chọn trực tiếp gia nhập Quân y Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Navy Medical Corps) vào tháng 3 năm 2013 và được mang cấp HQ Đại uý Quân y Hải quân, ông giữ chức Sĩ quan Hành chánh của lớp tại Trường phát triển Sĩ quan ở Newport, Rhode Island vào tháng 9 năm 2013. Sau đó, ông được chỉ định làm Chuyên viên nhãn khoa phụ trách chương trình thực tập lâm sàng.tại Phòng khám Quân y Hải quân Corpus Christi.

Tháng 3 năm 2015, HQ Đại úy Kevin Hoang được điều động tham gia chiến dịch “Continuing Promise” trên Bệnh viện hạm USNS COMFORT (T-AH 20) trong vai trò Phụ tá Y sĩ Trưởng nhãn khoa. Trong suốt sáu tháng, ông đã trực tiếp chăm sóc gần 7.000 bệnh nhân tại 23 cơ sở y tế của 11 Quốc gia khác nhau, đồng thời giám sát gần 20% tổng số bệnh nhân được phục vụ trong suốt nhiệm vụ.

HQ Thiếu tá Kevin Hoang, Y sĩ nhãn khoa khám mắt cho một bệnh nhân địa phương trong Chương trình Pacific Partnership 2025 lần thứ 21 tại Chuuk, Liên bang Micronesia, ngày 21 tháng 8 năm 2025. Chương trình Pacific Partnership hỗ trợ nhân đạo và sẵn sàng ứng phó thảm họa đa Quốc gia tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (hình của Thủy thủ Alexander Bussman, Quân y Hải quân Hoa Kỳ, Navy Medicine flickr).

Sau nhiệm kỳ phục vụ Bệnh viện hạm USNS COMFORT (T-AH 20), HQ Đại úy Kevin Hoang được điều về Phòng khám Quân y Hải quân ở Corpus Christi vào tháng 10 năm 2015, ông tiếp tục đảm nhậm các nhiệm vụ của mình, lúc này với vị trí Y sĩ Trưởng nhãn khoa, đồng thời là Sĩ quan nhãn khoa duy nhất cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt tại Phòng khám Quân y chi nhánh Kingsville và căn cứ liên hợp dự bị Fort Worth. Ông cũng phối hợp với ngành nhãn khoa Quân y Lục quân tại Fort Sam Houston và Phòng thí nghiệm nghiên cứu ba Quân chủng, tăng cường các cơ hội đào tạo chuyên môn nhãn khoa cho nhân viên của mình.

tháng 11 năm 2016, HQ Đại úy Kevin Hoang được bổ nhiệm giữ chức Y sĩ Trưởng nhãn khoa và Sĩ quan pháp lý tại phòng khám Quân y Hải quân Hawaii . Ngoài ra, ông còn dẫn đầu các sáng kiến cấp chứng chỉ cho các Y sĩ nhãn khoa tại các cơ sở y tế khác nhau nhằm tăng cường khả năng tương tác giữa các đơn vị. Ông cũng là Sĩ quan liên lạc Y tế cho Trung tâm điều hành khẩn cấp tại căn cứ Thủy quân lục chiến Hawaii để ứng phó với đại dịch COVID-19.

Tháng 7 năm 2020, HQ Thiếu tá Kevin Hoang theo học tại Trường Đại học chỉ huy và tham mưu Hải quân (College of Naval Command and Staff), lấy bằng Cao học nghệ thuật – nghiên cứu Quốc phòng và chiến lược, với các khóa học tập trung vào khu vực hoạt động của Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (INDOPACOM) và hỗ trợ nhân đạo/cứu trợ thảm họa.

Tháng 6 năm 2021, HQ Thiếu tá Kevin Hoang được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Y tế viễn chinh kiêm Trưởng phòng phục vụ hỗ trợ lâm sàng, giám sát 75 nhân viên thuộc các lãnh vực Nhãn khoa, Dược khoa, Xét nghiệm, X quang, Vật lý trị liệu, Dịch vụ chỉnh hình, sẵn sàng và phát triển Lực lượng Đơn vị huấn luyện và sẵn sàng Quân y Hải quân Groton.

HQ Thiếu tá Kevin Hoang được HQ Đại tá Jenny Burkett, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy huấn luyện và sẵn sàng Y tế Hải quân Camp Pendleton trao tặng giải thưởng vinh danh Y sĩ nhãn khoa năm 2023 (hình của instagram.com).

Tháng 11 năm 2022, HQ Thiếu tá Hoang được chọn vào một vị trí quan trọng, đảm nhận vai trò Sĩ quan phụ trách đơn vị huấn luyện và sẵn sàng Quân y Hải quân Yuma vào tháng 6 năm 2023, ông giám sát hơn 130 nhân viên trong việc thực hiện ngân sách hoạt động 2 triệu đô la, đồng thời giám sát việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các Quân nhân tại căn cứ bận rộn nhất của không quân Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, trải rộng trên hơn 10.000 dặm vuông không phận và mặt đất.

Trong suốt thời gian phục vụ Quân y Hải quân, HQ Thiếu tá Kevin Hoang được trao tặng các loại huy chương và giải thưởng bao gồm: 2 Huy chương tuyên dương Hải quân và Thủy quân lục chiến (Navy and Marine Corps Commendation Medal); 2 Huy chương thành tích Hải quân và Thủy quân lục chiến (Navy and Marine Corps Achievement Medal); Giải thưởng Y sĩ nhãn khoa trẻ xuất sắc năm 2021 của Hiệp hội nhãn khoa Lực lượng vũ trang; Giải thưởng Sĩ quan Y sĩ nhãn khoa trẻ xuất sắc năm 2022 và Giải thưởng Sĩ quan Y sĩ nhãn khoa xuất sắc năm 2023 của Quân y Hải quân. HQ Thiếu tá Kevin Hoang là Thành viên của Học viện nhãn khoa Hoa Kỳ và là Giáo sư thỉnh giảng về nhãn khoa cho năm trường Đại học nhãn khoa.

Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc Trung tá, ngoài tân HQ Trung tá Kevin Hoàng còn có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt khác đang phục vụ các ngành trong Hải quân, không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Đại tá, trong số đó có nhiều nữ HQ Trung tá gốc Việt, theo tài liệu lưu trữ trên các trang Navy Personnel Command và Congress.gov. Một số vị được ghi nhận bao gồm: HQ Trung tá Long Tran, Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản; HQ Trung tá Nhan “Dex” V. Nguyen, Chỉ huy phó Căn cứ yểm trợ tiếp vận NSA Charleston; HQ Trung tá Quan Đoan, Tham mưu trưởng kiêm Quyền Chỉ huy phó Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải. Hải quân Hoa Kỳ (MESG-1); HQ Trung tá Tony Le, Sĩ quan ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ; HQ Trung tá Henry Tran, Chỉ huy trưởng Chương trình trừ bị Liên đoàn 9 tàu ngầm hạt nhân (COMSUBGRU NINE) Hải Quân Hoa Kỳ và 15 tân HQ Trung tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2026, ngoài còn nhiều vị Trung tá gốc Việt khác chưa cập nhật hết được.

Chú thích: *Họ và tên Việt, Hoàng Quốc Khôi.

Chúc tân HQ Trung tá Kevin Hoang thăng tiến binh nghiệp.

Nguồn: afos2020.org; med.navy.mi; linkedin.com; bienxua-15 Hải Quân Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2026