Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 28 May 2026

Một phần Ty Bưu điện còn dùng được, bên kia đã cháy và đổ sụp. Từng hàng người nối đuôi nhau chờ đợi trước ghi sê. Đến ghi sê 15 Graber xuất trình mảnh giấy ghi mấy chữ bằng bút chì.

– Ông có giấy tờ gì không?

Graber lấy sổ quân bạ và giấy nghỉ phép đưa qua lưới sắt. Người công chức xem xét rất lâu.

– Cái gì thế hở ông? Tin tức chứ?

Ông ta không trả lời, đứng dậy đi vào văn phòng phía trong. Graber đứng nhìn giấy tờ của mình để đấy mà không hiểu.

Ông ta trở lại với một gói đồ, so sánh địa chỉ ghi trên với tên trong giấy phép một lần nữa rồi đẩy gói đồ về phía Graber.

– Ông ký vào đây.

Y nhận ra chữ viết của mẹ mình trên gói đồ. Một gói gửi ra mặt trận nhưng được trả lại. Địa chỉ người gởi còn ở đường Haken. Y nhận gói đồ và ký giải nhiệm cho nhân viên bưu điện.

– Tất cả có thế thôi à ông?

Người công chức nheo mắt nhìn lên:

– Còn thì chúng tôi giữ lại làm gì?

– Không phải thế, tôi tưởng rằng ông có địa chỉ của cha mẹ tôi.

– Không phải công việc của chúng tôi, ông lên lầu nhất hỏi phòng thay đổi địa chỉ.

Graber lên lầu. Lầu này chỉ có một phần che mái, nhìn phía trong thấy hở trời, một đám mầy chen nhau với tia nắng. Người nữ thư ký trả lời:

– Chúng tôi không có địa chỉ mới. Nếu không chúng tôi đã không phải gởi đến đường Haken. Ông có thể hỏi người bưu tá quận nhà.

– Ông ta ở đâu?

Cô ta xem đồng hồ.

– Chắc đi phát thư. Chiều nay ông trở lại vào lúc bốn giờ thì gặp. Giờ ấy đang lựa thư.

– Ông ta có thể biết địa chỉ mà ở đây không ai biết chăng?

– Không biết được. Vì chính chúng tôi cho biết địa chỉ. Nhưng nhiều người muốn hỏi cho chắc, họ thích như vậy biết làm sao!

Graber cầm gói đồ đi xuống cầu thang. Y nhìn ngày gởi đi. Cách đây đã ba tuần lễ. Gởi tới mặt trận cũng mất nhiều thời giờ. Trái lại lúc trả về lại rất mau. Y ngồi vào một chỗ, gỡ giấy bọc ngoài. Trong có một bánh ngọt, một đôi bít tất, một gói thuốc và một bức thư của mẹ.

Trong thư không nói gì đến tản cư và bom đạn. Y cất thư vào túi, đợi qua cơn xúc động, rồi đi xuống phố. Tuy vẫn tự nhủ rằng bức thư thứ hai chẳng bao lâu nữa sẽ đến tay với địa chỉ mới của cha mẹ, nhưng y cũng thấy khổ sở hơn bao giờ.

Y định đến nhà Binding xem có tin tức gì không.

***

Binding la lớn:

– Vào đây! Chúng tôi đang cạn một chai thượng hảo hạng. Anh đến đây giúp chúng tôi một tay.

Binding ngồi với một người bạn. Người này ngồi dựa ngửa ra chiếc đi văng kê dưới bức họa của Rubens; nom như bị y đẩy ngã giúi xuống đất và không ngóc dậy được. Mặt anh ta bạc phếch, tóc vàng quá, nom như y không có lông mày lông mi.

– Giới thiệu với anh, anh Heini, người có tài thổi kèn quyến rũ rắn, còn đây là Graber, nghỉ phép từ Nga về.

Binding nói một cách khá lễ phép.

Heini uống đã khá say. Mắt y màu lợt miệng nhỏ.

– Nước Nga à! Tôi đã sang Nga rồi. Bấy giờ còn thời vàng son. Dễ chịu hơn ở đây nhiều.

Graber quay mắt lại hỏi Binding. Binding trả lời:

– Y đã uống mấy hớp rồi. Vả chăng, y buồn vì nhà ông bà già bị trúng bom. Không ai bị nạn, cả nhà ở dưới hầm nhưng căn nhà tiêu tan.

– Nhà bốn phòng mới cất xong, đồ đạc mới sắm cả. Cái dương cầm âm thanh tùyệt! À, lũ lang sói!

– Heini sẽ có cách trả thù cho cái dương cầm – Binding nói – Anh uống một chút cô-nhắc nhé. Vốt-ca cũng có, anh uống gì cũng có.

– Tôi không uống gì. Tôi đi qua đây nên ghé anh hỏi xem có tin tức gì không.

– Chưa có gì anh ạ. Ông bà cụ không còn ở vùng này nữa. Ít ra theo sổ sách chính thức thì thế. Trong những làng lân cận đây cũng không thấy. Như vậy, hoặc là ông bà tự động đi chưa cho biết địa chỉ mới, hoặc là đi với một đoàn tản cư. Hẳn anh hiểu tình trạng này. Họ ném bom khắp cả nước Đức, phải một thời gian nữa mới lập lại được hệ thống bưu điện. À mà anh uống chút gì chứ, uống một ly có sao!

– Cho tôi ly vốt-ca.

Heini lẩm bẩm:

– Vốt-ca. Ở bển, tôi uống cả lít, rồi đem tống vào miệng mấy thằng dân Nga, bật lửa lên đốt. Nom như súng phun lửa bằng xương bằng thịt! Coi chúng nó nhảy lồng lên vì bỏng mà không nhịn cười được, ở bên Nga thú vị thật.

Graber sửng sốt hỏi lại:

– Thế nào?

Heini không trả lời. Mắt anh ta trong vắt nhìn vào chỗ trống không. Anh ta lẩm bẩm một mình: “Xe phun lửa. Nghĩ ra trò này cũng hay!”

Graber hỏi Binding:

– Ảnh nói gì thế?

– Heini đã chứng kiến nhiều chuyện lắm. Ảnh có chân trong ban S.D.

– Bên Nga có S.D à?

– Có. Anh uống đi.

Graber cầm lấy chai vốt-ca, nhìn rượu óng ánh dưới lớp thủy tinh trắng.

– Rượu này bao nhiêu độ?

Binding cười:

– Khá mạnh, ít ra cũng sáu mươi độ. Người Nga ưa thứ rượu cháy giọng. Vì mạnh thế cho nên để cái diêm cháy vào trước miệng là bắt lửa liền.

Binding nhìn Heini y đã biết tiếng tăm mật vụ S.D cho nên lời nói của Heini không phải là bịa đặt khoe khoang. Mật vụ S.D thanh toán tập thể từng loạt lớn lấy cớ dành chỗ sống cho dân tộc Đức. Họ thanh toán bất cứ người nào nghi ngờ, và để việc giết người đỡ nhàm chán họ bày ra nhiều trò chơi ác nghiệt để mua cười. Graber cũng biết một vài trò ấy. Steinbrenner đã kể cho nghe một vài vụ khác, nhưng cái trò xe phun lửa này quả là mới lạ.

– Làm gì mà ngắm mãi chai rượu thế! Nó có cắn anh đâu mà sợ! Làm một ly đi.

Graber đặt chai rượu xuống. Y không muốn đứng dậy đi ra, y chỉ ngồi yên đấy. Đã bao lần y quay mắt đi không muốn biết gì cả. Y và trăm ngàn người khác đã tưởng rằng từ khước được thắc mắc lương tâm một cách dễ dàng. Y đã chán ngán quá rồi, y không nhắm mắt buông xuôi nữa. Mấy ngày nghỉ phép ít ra cũng phải dùng được để làm cái gì.

Binding hỏi:

– Thôi à?

Graber nhìn Heini nằm gáy khò khò.

– Y vẫn ở S.D à?

– Không. Bây giờ y ở đây.

– Ở đâu?

– Trại tập trung.

– Trại tập trung à?

– Vâng. Uống đi. Ít khi gặp nhau. Cứ mất hút anh hoài.

– Không, tôi không đi đâu nữa.

– Ừ anh nói thế nghe được đây. Uống gì, vốt-ca nhé?

– Không cho tôi cô-nhắc chứ đừng vốt-ca.

Heini cựa mình và nói lè nhè:

– Hẳn rồi, đừng xài vốt-ca. Vốt-ca để tụi mình uống! Còn người Nga thì cho họ uống ét-xăng dễ cháy hơn.

***

Heini vào phòng tắm mửa. Binding đợi Graber trước cửa nhà. Trên trời từng lọn mây trắng. Trong bụi cây một con sáo giũ cánh hót vang. Trong cái cục lông đen mỏ vàng này có cả một mùa xuân.

Binding nói :

– Thằng cha thiệt là bảnh.

Nom Binding như đứa trẻ nói với một tướng da đỏ dữ tợn và oai phong. Trong giọng nói của y có vẻ kinh sợ lẫn kính phục.

Graber nói:

– Phải, y bảnh với những người không có phương tiện tự vệ.

– Y bị một cánh tay tê liệt, nên không phải đi lính. Y lãnh của nợ này trong một cuộc choảng nhau với bọn Cộng sản năm 1932. Có lẽ vì thế mà y cay nghiệt. Anh biết chuyện giàn hỏa của y kể không?

Binding kéo một hơi điếu xì gà đã tắt ngấm trong khi Heini ngồi nhớ lại kỷ niệm bên Nga. Y xúc động đến nỗi không nghĩ đến việc châm lửa xì gà:

– Một lớp củi lại một lớp người, cứ thế từ mặt đất lên đến trên cao! Nạn nhân phải tự tay mang khúc gỗ đến trước khi nhận được viên đạn vào gáy. Ghê không?

– Ghê thật.

– Tôi thì tôi không tin. Có lẽ phải nom thấy thì mới tin được. Nhưng tôi không thể làm những việc ác độc như thế được, tôi còn nhiều tình cảm quá.

Heini hiện ra khung cửa, người nhợt nhạt.

– Trời đất ơi! Đến giờ rồi. Trễ giờ rồi! Phải đi gấp! Những thằng khốn nạn sẽ phải đền tội với tao!

Y đi khệnh khạng ra vườn. Đến cổng, y sữa lại mũ, đứng thẳng lên, đi gật gù như cò.

Binding nói:

– Tôi không muổn là phạm nhân bị vào tay hắn tí nào.

Graber ngửng đầu lên, y cũng vừa nghĩ thế.

– Anh thấy như thế có còn gì là công bằng nữa không?

Binding nhún vai

– Những thằng phản quốc. Chúng nó vào trại tập trung không phải là vô cớ.

– Thế còn thầy học cũ anh, ông ta có phản quốc không?

Binding cười:

– Đấy là việc riêng, vả chăng ông ta cũng được ra ngay, không sao cả.

– Nếu ông ta không thoát được thì sao?

– Thì ông ta xui xẻo chứ sao, đành vậy. Bây giờ thiếu gì người xui xẻo. Người bị cháy nhà. Người chết. Nguyên một tỉnh này đã năm ngàn người rồi. Họ đáng kể hơn những người ở trại tập trung. Mấy lại chuyện này có can dự gì đến mình. Không phải lỗi tại tôi hay tại anh.

Một đàn chim sẻ sà xuống chậu thóc dành riêng cho chúng trên bãi cỏ. Một con nhảy vào bồn nước, những con khác làm theo. Binding chú ý đứng xem, y đã quên Heini rồi. Graber nhìn khuôn mặt ngây thơ và thỏa mãn của Binding, người này đã loại bỏ hẳn mọi ý nghĩ về tình thương và trách nhiệm. Ích kỷ, lạnh lùng, sợ sệt ngăn cách họ với đồng bào như một bức tường dày. Y cũng hiểu rằng y cũng không tránh được luật chung ấy, luật chung ấy kiềm tỏa mọi người một cách vô hình trung nhưng chặt chẽ, xa xôi nhưng ghê gớm. Tuy ghê tởm bạn nhưng y cũng thấy mình liên đới với bạn. Y nói từ tốn:

– Vấn đề trách nhiệm không phải là giản dị.

– Graber, anh nói giỡn? Người ta chỉ trách nhiệm về những hành động của người ta mà thôi, mà còn với điều kiện là không đúng lệnh trên.

– Nhưng khi chúng ta bắn những con tin, chúng ta nói rằng họ chịu trách nhiệm hành động của đồng bào họ.

Thình lình Binding chú ý đến câu nói của y và quay lại:

– Anh đã bắn con tin bao giờ chưa?

Graber không trả lời. Binding nói:

– Con tin thì khác. Đó là trường hợp bất khả kháng, ta phải bắn họ.

– Bây giờ chỉ có ngoại lệ và bất khả kháng thôi. Khi chúng ta ném bom một thành phố nào, ta cho là nhu cầu chiến lược. Nhưng khi địch ném bom ta thì hành động của họ là sát nhân hèn nhát.

Binding nhìn Graber một cách ý nhị:

– Anh đã đi đúng đề rồi đó. Đó là lời cuối cùng của nhà chính trị ngày nay. Chính nghĩa là cái gì phục vụ quyền lợi người Đức, như vị Bộ trưởng Tư pháp đã nói. Tôi cho rằng ông ta ở địa vị thuận tiện để biết rõ điều ấy. Chúng ta không có trách nhiệm gì cả. Kìa anh trông con sáo kia nó cũng đến đây để tắm rửa. Lần thứ nhất tôi trông thấy nó đấy! A! Đàn sẻ chạy hết!

***

Thình lình Graber trông thấy Heini trước mặt mình. Phố xá vắng tanh. Một tia lửa vàng ối nằm lười biếng mơ màng giữa hàng rào. Một con bướm vàng lảo đảo trên những lớp cát mỏng phủ vài chỗ thềm đá. Heini biến vào dãy phố quẹo ngang cách đấy độ một trăm thước.

Graber đí trên cát, không nghe tiếng bước chân. “Nếu có ai muốn thanh toán Heini thì lúc nào bằng lúc này. Đường vắng quá”. Phố xá ngủ yên. Cát êm thế này đi đến tận nơi cũng không nghe tiếng. Bóp cổ hay đâm cho một nhát dao có khó gì. Tiếng súng sẽ làm náo động, người ta sẽ bu lại. Heini không có sức là bao, bóp cổ hắn cũng dễ.

Graber nhận thấy mình đi rảo bước không dè. Y nghĩ thầm: “Binding cũng không nghi ngờ gì cả. Ai cũng sẽ cho là một cuộc báo thù. Thiếu gì cớ. Cơ hội này không bao giờ có nữa. Cơ hội diệt trừ một tên sát nhân mà lát nữa nó sẽ hành hình cho đến chết những người không tự vệ”.

Y thấy tay mình vã mồ hôi, ngực khó thở. Y cũng sẽ vào phố ấy, khoảng cách Heini đã bớt đi được ba mươi thước, vẫn vắng tanh. Nếu chạy trên đường có cát thì sẽ đuổi kịp ngay, chỉ một phút là xong cả.

Tim lồng lên trong ngực. Tiếng bước mạnh mẽ mà không nghe tiếng giầy, làm sao hắn biết được? Y nghĩ thầm: “Ủa mình là sao thế, dây vào việc này để làm gì?” Một ý nghĩ thoạt tiên chỉ là một giả thuyết thôi không sao lại trở thành một sự ám ảnh thôi thúc bất thần y cảm thấy như tất cả đều tùy thuộc hành động của y, hành động như vậy y có thể lấy lại quá khứ, lấy lại những cái gì y đã phải buông xuôi, những cái gì y phải cố mà quên, những điều y phải làm hay để cho xảy ra. Hai chữ báo thù nổi lên trong trí. Y chỉ biết người này qua loa ngoài mặt, riêng y không có gì để chê trách người này. Đành là thế, nhưng biết đâu cha Elisabeth và bao nhiêu nạn nhân nữa không chết về tay hắn nay mai? Vả chăng, còn biết bao con tin bị thủ tiêu, họ có lỗi gì không?

Mắt y không rời lưng Heini. Miệng y ráo, cổ y nghẽn. Một con chó sủa trong vườn. Y giật mình nhìn quanh. “Ta uống quá chén rồi phải ngừng lại, phải bình tĩnh, không nên mê sảng điên rồ”. Tuy nhiên y vẫn đi nhanh hơn, thúc đẩy bởi một sức mạnh bất khả kháng, sức mạnh tạo ra vì ý niệm công bình, vì ý nghĩa chuộc tội lỗi giết bao nhiêu người từ trước đến nay.

Y chỉ còn cách Heini có hai mươi thước. Y vẫn chưa biết mình sẽ làm gì thì bỗng thấy một người đàn bà xuất hiện ở đầu phố. Bà ta đeo một tấm vải choàng màu da cam, tay cầm cái rổ không đi lại phía Graber. Y dừng lại. Hình như có cái lò xo trong người y vừa gãy. Y lại đi thong thả. Người đàn bà gặp Heini rồi đi nhanh đến cái rổ tên tay đong đưa. Bà ta có bộ mặt phì nộn rám nắng, ngực đồ sộ, dáng đi bình tĩnh. Nền trời như một màn phông mờ mịt đằng sau mớ tóc đen chải rất kỹ lưỡng. Trong khoảnh khắc Graber chỉ thấy có bà ta là thật giữa khung cảnh mông lung hỗn độn này; bà ta là đời sống, chỉ có bà ta mang gánh nặng đời sống trên vai như cái gì quý giá, còn tất cả chỉ là hoang tàn chết chóc.

Lúc đi qua bà ta nhìn y, mỉm cười:

– Chào ông.

Graber gật đầu đáp lễ, y không nói được lên tiếng. Y nghe tiếng chân đi của bà ta ở đằng sau, rồi lại chỉ thấy một mình đơn độc giữa bãi sa mạc chói chang ánh nắng, xa xa bóng Heini mỗi lúc mỗi nhỏ đi. Đến ngã tư bà ta rẽ sang đường khác.

Y nhìn quanh như người bị lạc. Người đàn bà tiếp tục đi không để ý đến y. “Đáng lẽ mình phải chạy cho nhanh, mình ra tay còn kịp”. Nhưng y biết rằng y chẳng làm gì cả. “Người đàn bà kia đã trông thấy ta rồi, bà ta sẽ nhận ra ngay”. Nhưng nếu không có người đàn bà, liệu y có làm gì không? Hay y lại tìm được cớ khác? Y không thể trả lời được những câu hỏi ấy.

Đến ngã tư không thấy Heini nữa, nhưng đến chỗ quẹo sau lại trông thấy. Y dừng lại giữa đường. Heini nói chuyện với một người SS khác rồi hai người cùng đi. Một anh bưu tá trong vườn ra. Xa xa, hai người đi xe đạp. Thôi chậm quá rồi, Graber có cảm tưởng như mình vừa tỉnh một giấc mơ. Đã xảy ra cái gì thế? Y nghĩ thầm: “Chỉ một chút xíu nữa là mình liều lĩnh dại dột. Mình làm sao vậy?” Y lại tiếp tục đi. “Bây giờ mình phải canh chừng mình lắm mới được. Mình tưởng mình tự chủ lắm. Nhưng kỳ thực mình nóng nảy thảng thốt mà chính mình không dè. Nếu không coi chừng có khi mình hóa điên mất!”.

Y dừng lại mua một tờ nhật trình và đứng đọc. Từ khi về đến đây y chưa đọc tin tức. Y muốn quên hết. Trên mỗi bản đồ in lên báo, y tìm ra chỗ đóng binh của mình. Bản thông cáo chỉ ghi quân khu cho nên không thể định rõ được vị trí tiểu đoàn của mình. Nhưng cũng có thể biết đã rút lui khoảng một trăm cây số!

Y đứng yên một lát. Từ ngày nghỉ phép đến giờ y chưa bao giờ nghĩ đến bạn bè. Kỷ niệm ấy chìm sâu như hòn đá dưới nước, bây giờ mới nổi lên mặt.

Hình như sự cô đơn đen tối từ dưới đất xông lên vây bọc quanh mình. Bản tin cho hay trận chiến đang ác liệt ở chỗ đóng binh của y; nhưng sự cô đơn không hình tướng âm thanh, và tiếng súng cùng lửa đạn đều chết trong sự cô đơn ấy. Những bóng đen nhỏm dậy, nhẹ như bấc, lạnh như băng, múa lộn và nhìn y, cái nhìn chọc thủng người y. Bóng đen rơi xuống lại hòa lẫn với đất đen cầy nát. Vùng trời cao lồng lộng trên đầu cũng phai màu vì ám khói của sự hấp hối vô tận bốc lên từ lòng đất và che lấp cả mặt trời. “Phản bội!” Bất thần ý nghĩ ấy xuất hiện như một mặc khải ghê tởm, “Người ta đã phản bội mình, đã bôi nhọ mình; bất công, dối trá và độc ác đã đầu độc sự hy sinh, sự chiến đấu của binh sĩ. Người ta đã lừa dối binh sĩ, người ta đã lợi dụng đời sống của binh sĩ, lợi dụng cả sự chết của binh sĩ”.

Một người đàn bà xách cái bao va phải y, bà ta la lên:

– Anh không có mắt à?

– Có, có chứ!

Y nói như vậy nhưng không nhúc nhích.

– Ông đứng làm gì giữa hè này?

Graber không trả lời. Bây giờ thì y biết rằng tại sao y đi theo Heini. Vẫn là sức mạnh tối tăm bóp thắt y nhiều lần khi còn ở mặt trận, vẫn câu hỏi mà chưa bao giờ y dám trả lời, vẫn sự thất vọng miên man mà cho đến ngày nay y vẫn nén xuống được. Bây giờ chính y tự tìm ra những sự ám ảnh ấy và y nhất định không nên đi nữa, y muốn sáng suốt nhìn vào tận mắt chúng, không dồn nén đi để chúng tác quái. Y nghĩ đến giáo sư Pohlmann, Fresenburg đã dặn y nên đến thăm. “Mình quên mất, bây giờ mình phải đến thăm thầy, phải nói chuyện này với một người có thể tin được”.

Trước khi đi, người đàn bà còn rủa:

– Đồ chó chết!

***

Một phần công trường Jahn đã bị phá hủy. Những căn nhà khác chỉ bị vỡ hết cửa kính mà thôi. Đời sống hàng ngày vẫn tiếp tục, ở tầng dưới có thể thấy các bà dọn dẹp và làm bếp, còn bên kia phố thì cửa nhà đổ hết, trong nhà đồ đạc lung tung, màn cửa rách mướp phấp phới như lá cờ rách nát sau khi bại trận.

Nhà giáo sư Pohlmann ở trước thuộc về dãy phố bị phá hủy. Tầng lầu trên sụp đổ xuống bịt kín cả cửa vào. Nom bề ngoài như không còn ai ở đây. Graber quay trở lại thì thấy một lối đi nhỏ ở giữa đống gạch ngói. Y bước vào, đi quanh nhà thì đến một chỗ hỏng. Y gõ cửa. Không có ai trả lời. Đợi một lát thì có tiếng bước đi, một tiếng dây xích kéo rồi cửa mở ra.

– Giáo sư Pohlmann.

Một ông già đi ra:

– Ông hỏi gì?

– Tôi là Graber học trò cũ của thầy.

– Ừ! Thế sao?

– Tôi nghỉ phép về, ghé thăm thầy.

– Tôi không dạy học nữa đâu.

Ông nói rất mau.

– Tôi biết.

– Hẳn anh cũng hiểu tôi bị cấm chức vì phạm kỷ luật. Tôi không nhận học trò nữa, vả chăng cũng không được phép liên lạc với học trò.

– Tôi không còn làm học trò, tôi là quân nhân đi nghỉ phép ở Nga về đây. Fresenburg yêu cầu tôi đến thăm thầy và gởi lời thăm thầy.

Ông già nhìn Graber chăm chú hơn.

– Fresenburg à? Anh ấy còn sống à?

– Cách đây mười ngày, anh ấy còn sống.

Ông già ngập ngừng một chút.

– Thôi anh vào đây.

Ông ta tránh lối cho Graber vào.

Graber đi theo ông. Hai người đi qua một hành lang hẹp, vào một nơi tựa như cái bếp, từ đấy lại có một hành lang khác. Thình lình Pohlmann đi rảo bước và nói to:

– Tôi cứ tưởng anh là cảnh sát.

Graber ngạc nhiên. Rồi y hiểu và nhìn quanh. Pohlmann nói câu ấy chỉ để làm yên lòng người nào ở quanh đấy.

Một chiếc đèn dầu che chao xanh soi sáng căn phòng. Gạch vụn chất đống phía ngoài che lấp hẳn các cửa sổ. Pohlmann dừng lại giữa phòng.

– Bây giờ tôi mới nhận ra anh. Ở ngoài sáng quá. Tôi ít ra ngoài… mất cả thói quen rồi. Anh cũng thấy đấy, chỉ có một cái đèn con mà dầu thì khó kiếm, nhiều lúc phải ngồi tối vậy. Còn đèn điện thì đứt hết dây rồi.

Graber nhận thấy thầy học cũ già hẳn đi. Nhìn quanh mình, y có cảm tưởng như lạc vào vũ trụ khác. Cảm tưởng ấy còn được tạo ra bởi những chồng sách thếp vàng hay bìa nâu xếp kín cả tường, còn là những bức họa treo rải rác khắp nơi, còn là ông già tóc bạc da mồi, mặt vàng ệch làm người ta nghĩ đến một người ở kín trong nhà lâu năm.

Pohlmann nhận biết cảm tưởng của Graber.

– Tôi cũng còn may mắn đem hết được sách trở về đây.

– Đã lâu lắm tôi không hề đọc sách và không trông thấy sách.

– Tôi hiểu. Sách nặng quá không thể bỏ bị mang theo được.

– Cũng nặng quá không thể mang theo trong trí nhớ được, vả chăng điều nói trong sách vở không phù hợp với sự việc xảy ra ngoài đời. Những người chỉ biết theo dòng đời lại không bao giờ đọc sách cả.

Pohlmann nhìn vùng sáng tròn xanh chung quanh ngọn đèn :

– Anh đến thăm tôi hay có việc gì.

– Fresenburg khuyên tôi lại thăm thầy.

– Anh chơi thân với Fresenburg là người tin cẩn. Y khuyên tôi nên hỏi thầy, thầy sẽ nói cho biết sự thực.

– Sự thực? Sự thực về vấn đề nào?

Graber nhìn ông già. Thời kỳ y còn đến trường học đã xa lắm rồi. Tuy nhiên y có cảm tưởng như mình vẫn còn là học trò của ông, ông sẽ hỏi y về ý nghĩa cuộc đời, tương lai của y sẽ đổi ra một hướng mới khi đã đối diện với ông già sống giữa sách vở trong cái hang tối dưới đống gạch vụn này. Đằng sau những cửa sổ che lấp bởi gạch vụn sẽ còn sống sót quá khứ nhân từ, rộng lượng, tha thứ và kiến thức uyên thâm.

Y nói:

– Tôi muốn biết mình có trách nhiệm đến mức nào về những tội ác gây ra trong vòng mười năm nay. Tôi cũng biết bây giờ mình phải làm gì?

Pohlmann nhìn y rất lâu. Rồi ông đi qua lại trong phòng. Ông lấy một cuốn sách mở ra, nhưng lại cất vào chỗ cũ không đọc. Sau cùng ông nói:

– Anh có biết anh vừa hỏi điều gì đó không?

– Dạ có.

– Mỗi ngày có biết bao nhiêu người mất đầu dù chỉ nói những điều không quan trọng bằng thế. Ở ngoài mặt trận thì còn chết chẳng có tội gì cả.

Pohlmann ngồi xuống.

– Khi nói đến tội ác anh muốn nói đến chiến tranh?

– Tôi nói đến tất cả những gì đã gây ra chiến tranh, dối trá, áp bức, bất công, độc ác. Tôi cũng nói chiến tranh mà chúng ta đang tham dự đây, chiến tranh với trại tập trung, với sự giết hại dân lành từng loạt.

Pohlmann ngồi yên lặng. Graber nói tiếp:

– Tôi đã nom thấy nhiều, đã nghe thấy nhiều. Tôi biết rằng chúng ta thua trận. Tôi cũng biết rằng chúng ta tiếp tục chống cự để cho chánh phủ, đảng và những người có trách nhiệm với tổ quốc còn ngồi yên vị được ít lâu nữa, và họ ngồi đấy chỉ để phá hoại thêm.

Pohlmann không rời mắt nhìn Graber.

– Anh biết có những điều ấy à?

– Bây giờ thì tôi biết nhưng trước đây thì không?

– Rồi anh lại trở ra mặt trận?

– Vâng.

– Thật là tồi tệ.

– Tồi tệ hơn nữa, vì lúc trở ra mặt trận tôi phải tự nhủ rằng có lẽ mình cũng có trách nhiệm về tình trạng thê thảm này. Thầy có cho rằng tôi cũng chịu trách nhiệm không?

Pohlmann yên lặng một lát rồi hỏi khẽ:

– Anh hiểu chữ trách nhiệm như thế nào?

– Hẳn thầy hiểu vì thầy dạy chúng tôi về Giáo dục tôn giáo. Tôi chịu trách nhiệm đến mức nào khi biết rằng ta đã thua trận và chiến tranh phải chấm dứt để chấm dứt nô lệ, giết chóc, tập trung, mật vụ, thủ tiêu dân chúng từng loạt. Đã biết như vậy mà tôi vẫn trở lại đơn vị để tiếp tục chiến tranh.

Nét mặt Pohlmann bỗng dưng mất hết sinh khí, chỉ có hai mắt còn chút thần sắc, hai mắt trong xanh lạ lùng. Graber nhớ lại mình đã nhiều lần trông thấy những cặp mắt như thế nhưng không nhớ ra vào dịp nào.

– Anh cần phải đi thật à?

– Tôi có thể không tuân lệnh. Nhưng rồi sẽ bị bắn hay xử giảo.

Graber đợi thầy trả lời; thầy ngập ngừng nói:

– Những tín đồ Thiên Chúa giáo đầu tiên đã không chịu khuất phục, họ có tinh thần vô úy.

– Chúng ta không phải là thánh, nhưng trách nhiệm của chúng ta khởi sự từ lúc nào? Khi nào thì tính anh hùng trở thành tội ác? Khi nào người ta không tin những lý lẽ trước vẫn tin chăng? Không tin lý tưởng mình theo đuổi chăng? Đâu là giới hạn?

Pohlmann nhìn y ra vẻ bối rối:

– Tôi biết nói sao bây giờ? Trường hợp này quan trọng quá. Tôi không thể quyết định thay cho anh được.

– Như vậy thì việc ai người ấy phải quyết định lấy.

– Hình như thế thật.

Graber yên lặng và tự nghĩ: “Sao lại hỏi những câu ấy? Đáng lẽ thủ vai bị cáo bây giờ mình lại làm thẩm phán. Tại sao lại làm rắc rối cho ông già này, bắt ông phải giải thích những điều ông dạy mình ngày trước và cả những điều mình học ngoài đời về sau? Ta có cần một câu trả lời không? Có phải lúc này mình đã trả lời rồi không?” Y nhìn Pohlmann. Y nghĩ đến thầy học mình ngày ngày ẩn náu trong chỗ tối tăm này như một tín đồ Thiên Chúa giáo sống trong hang thuở trước, lo sợ từng giờ từng phút người ta đến bắt mình đi, chỉ biết lấy sách vở làm vui.

Y nói với thầy:

– Thầy có lý. Hỏi người khác cũng chỉ là lùi bước không chịu quyết định. Vả chăng tôi cũng không mong thầy nói thẳng cho biết. Nhưng có những lúc người ta chỉ có thể tự hỏi bằng cách hỏi người khác.

Pohlmạnn lắc đầu.

– Anh có quyền hỏi tôi. Anh nói đến trách nhiệm, vậy anh có biết rõ thế nào là trách nhiệm không? Anh còn trẻ, người ta đã đầu độc anh trước khi anh hiểu được việc đời. Nhưng còn chúng tôi, chúng tôi đã biết rõ cả mà cứ để cho mọi việc xảy ra. Tại sao? Tại lười biếng? Lãnh đạm? Hay tại nghèo nàn tư tưởng, ích kỷ, thất vọng? Nhưng làm sao biết trước được tổ quốc lâm vào thảm họa này? Anh biết đâu rằng nhiều lúc tôi cũng phải tự vấn tâm như vậy!

Thình lình Graber nghĩ đến hai con mắt người Nga bị y bắn chết, hai con mắt Pohlmann làm y nhớ lại kỷ niệm đã làm y bối rối. Y đứng dậy:

– Thôi chào thầy. Tôi phải trở lại mặt trận. Cám ơn thầy đã cho tôi vào đây hầu chuyện thầy.

Y cầm lấy mũ. Pohlmann như tỉnh giấc mơ:

– Anh trở lại mặt trận à?

– Tôi cũng không biết. Tôi còn hai tuần lễ nữa để suy nghĩ. Như thế cũng là nhiều trong khi đã quen sống đếm từng giờ từng phút.

– Anh hãy trở lại đây trước khi đi. Anh hứa với tôi đi.

– Xin hứa với thầy.

– Học trò cũ không có mấy người lại thăm tôi.

Graber trông lên chồng sách, gần cửa sổ bít kín có một tấm ảnh. Ảnh một người thanh niên mặc quân phục trạc tuổi mình. Y nhớ ra Pohlmann cũng có một người con, nhưng y nghĩ rằng lúc này không nên hỏi thầy những chuyện ấy.

– Nếu anh viết thư cho Fresenburg thì nói giùm tôi có lời hỏi thăm.

– Thầy đã nói những chuyện ấy với Fresenburg?

– Có.

– Tôi tiếc rằng không được gặp thầy mấy năm về trước.

– Anh tưởng rằng Fresenburg biết vậy sẽ sung sướng hơn hay sao?

– Trái lại.

Pohlmann gật đầu.

– Tôi không muốn bảo gì anh vì không muốn cho anh lỡ lời gánh lấy hậu quả khi chống lại những kẻ giải thích quanh co để bênh vực chính sách của họ. Thiếu gì kẻ như vậy. Họ tuyên bố những lời cả quyết đanh thép nhưng chỉ thuyết phục được những người hèn nhát.

– Cả những người trong Giáo hội?

Pohlmann lưỡng lự, sau mới nói:

– Trong Giáo hội cũng vậy. Nhưng Giáo hội được may mắn hơn. Bên cạnh giáo điều: “Yêu người khác như yêu mình” hay “Không được giết người” còn có câu này “Trả lại César cái gì của César, trả lại Thượng Đế cái gì của Thượng Đế”. Như vậy họ có chút tự do để hành động.

Graber mỉm cười. Y thấy lại giọng châm biếm của thầy học cũ. Pohlmann hiểu thái độ của y.

– Anh cười à. Tại sao anh không nói lớn lên.

– Tôi có nói lớn cũng chẳng ai nghe.

***

Graber trở lại công trường. Ánh sáng thanh thiên bạch nhật làm y chói mắt. Y thong thả đi qua công trường. Y có cảm tưởng của người vừa được thông báo cho biết quyết định của tòa án sau nhiều phiên xử gay go, nhưng không bận tâm đến án quyết tha bổng hay trừng phạt. Đã chậm quá rồi, y muốn tìm cái gì khi về nghỉ phép thì bây giờ đã tìm thấy, bây giờ y biết rõ cái đó là sự thất vọng và y cũng không tìm cách trốn tránh thất vọng.

Y ngồi một lúc lâu trên chiếc ghế, cạnh một hố bom, người thoải mái và trống không hoàn toàn, y cũng không thể nói được rằng mình có đau khổ vì thế hay không. Suy nghĩ đã chán rồi không còn gì để suy nghĩ nữa. Y ngồi ngửa mặt ra sau nhắm mắt lại để cho nắng chiếu vào mặt nóng rát. Y không cảm thấy gì nữa, không cựa mình nữa, ngồi thở thật lâu và an hưởng nắng ấm vỗ về vô tư không biết đến công bằng hay bất công. Được một lát y mở mắt ra, công trường hiện ra trước mắt y mông mênh và sáng sủa. Một cây bồ đề đứng sững trước một cặn nhà sụp đổ. Cành trơ lá vươn lên trời như ngón tay một bàn tay khổng lồ. Một vài đám mây trắng lửng lơ trên trời xanh ngắt.

Tất cả đều sáng tưng bừng, thứ ánh sáng mới tinh, trong sạch như sau một trận mưa rào. Đó là đời sống, đời sống mãnh liệt và biết tự lượng sức mạnh một cách chắc chắn không cần đặt câu hỏi, không cần buồn bã, không thất vọng. Graber chấp nhận đời sống như một câu trả lời quyết liệt sâu sắc hơn tất cả các câu hỏi, các lời giải thích, hơn câu trả lời y đã nghe thấy khi đi bên cạnh cái chết, khi hy vọng ồ ạt đến xua đuổi hết sợ sệt, chờ đợi và buông trôi, nhận chìm hết mọi lý lẽ, mọi tư tưởng dưới làn sóng tràn đi.

Graber đứng dậy, đi đến cây bồ đề, giữa đống gạch ngói, bất thần y cảm thấy mình đang chờ đợi cái gì. Trong người y cái gì cũng chờ đợi một cái gì. Y đợi tối đến như đợi một cuộc hưu chiến.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 28 May 2026

Hồi hôm nghe tiếng tàu đề máy tôi giựt mình thức giấc, biết tàu khởi hành nhưng giờ đó không phải giờ tôi làm việc, tôi lăn người trở mình làm chiếc mền tuột rớt xuống sàn, tôi cúi xuống kéo mền lên đắp lại rồi ngủ tiếp. Không hiểu sao tôi ngủ mê man tới khi đồng hồ reo mới giựt mình thức dậy. Thường thì tôi thức sau bốn giờ sáng, pha một tách cà phê đen đậm bằng nước lọc, không đường, không sữa rồi đem lên phòng, mở laptop ra vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc, đọc xong rồi gõ bàn phím viết lưu lại những chuyện xảy ra trên tàu, cho tới

khi đồng hồ reo tôi mới ngưng. Sợ mê đọc và viết quên giờ làm việc, nên tôi chỉnh đồng hồ reo đúng sáu giờ sáng, để nó nhắc nhở tôi đã tới giờ tập thể dục trước khi bắt tay làm việc. Nhưng tối hôm qua tôi ngủ say như chết, cho tới khi đồng hồ reo, tôi lật đật ngồi dậy, đi vội xuống bếp chỉ kịp lấy chai nước lọc đổ vô máy pha cà phê, rót cho mình một tách và bưng ra boong. Định uống hết tách cà phê rồi tập thể dục, nhưng thấy cảnh bên ngoài hấp dẫn quá nên tôi đứng ngắm.  Chuyến này tàu nhận chuyển hàng từ Hamburg lên Stockholm, thủ đô của nước Thuỵ Điển, nếu tàu muốn đi tới Stockholm thì phải băng ngang con kinh đào Kiel để vô biển Baltic. Tàu đã vô kinh Kiel hồi sáng sớm và chạy một đoạn cũng khá xa rồi. Bất cứ tàu lớn, tàu nhỏ gì hễ vào kinh chỉ được phép chạy bảy hải lý một giờ. Những chiếc tàu buồm du lịch màu trắng nho nhỏ xếp buồm chạy bằng động cơ dọc bên bìa kinh và ở giữa dòng những chiếc containers trên ngàn tấn nối đuôi chạy thẳng hàng trong sương pha loang loáng, mặt dù nhiều tàu xuôi ngược trong kinh nhưng rất trật tự và không gây tiếng ồn ào nên trông quang cảnh rất là thanh bình. Tôi để tách cà phê lên đầu cột trụ rồi đi vô phòng lấy chiếc điện thoại thông minh trở ra chụp dọc theo dòng kinh, chụp xong mấy bôi, tôi lại đầu cột trụ bưng cà phê hớp một hớp, cà phê nguội ngắt, tôi ngước cổ ực một hơi hết sạch. Tôi bấm điện thoại xem đồng hồ, gần bảy giờ rồi, không còn đủ giờ tập thể dục nữa. Tôi đi vô phòng tắm sửa soạn đánh răng rửa mặt, nhưng khi vặn vòi nước thì thấy màu nước pha sét vàng khè, tôi nghĩ thợ máy đang thay đổi bồn nước hay đang sửa chữa gì đó. Tôi trở ra phòng ngoài lấy chai nước lọc đem vô rửa mặt đánh răng, xong rồi trở ra thay quần áo và bắt đầu công việc cho ngày mới. Tôi đi xuống mở thử vòi nước trong phòng bếp, vẫn đục ngầu, bèn day qua nhấc điện thoại lên gọi xuống hầm máy hỏi về nguyên do nước bị sét, người phụ máy cho biết, ống dẫn của bồn nước bị bể nên nước chảy hết rồi, chờ tàu tới Kiel ghé xưởng sửa chữa xong sẽ lấy nước khác. Định điện thoại lên hỏi thuyền trưởng chuyện nước nôi thì thuyền phó và Edy xuống tới, mặt hai thằng còn ngái ngủ, đã vậy mà thuyền phó vừa nhăn nhó vừa chửi thề nên trông mặt mày nó bèo nhèo như cái nùi giẻ lau sàn tàu. Nó càu nhàu:
– Hổng có nước đánh răng, rửa mặt! Tôi nói:
– Hồi sáng tao đánh răng rửa mặt bằng nước lọc. Thuyền phó hô:
– Oh, ý kiến hay. Edy thì đưa ngón tay lên gặt gặt.
– Tốt, tốt… Nói xong hai đứa liền day lưng đi trở lên tầng trên, tôi đoán chừng tụi nó lên phòng lấy nước lọc để rửa mặt, đánh răng. Tôi day ngang nhấc điện thoại quay gọi thuyền trưởng hỏi ông cho tôi lấy mấy can nước dự phòng khi tàu gặp nạn để xài. Nhưng ông kêu tôi chờ chút để ông gọi thuyền phó lấy nước cho tôi. Vừa để hộp điên thoại xuống thì thấy thằng nhỏ mới đổi xuống thay cho Ama đứng lấp ló ngoài cửa bếp, thấy tôi nó chào:
– Chào chú. Nó chìa tay ra định bắt, tôi cười và đưa cùi chỏ ra, nó rụt tay lại và miễn cưỡng đưa cùi chỏ lên cụng một cái. Xong nó tự giới thiệu:
– Con là Philip, em của Sam, mới đi chuyến đầu.
– Chào mừng xuống tàu. Hồi hôm con xuống tàu lúc mấy giờ?
– Dạ, mười một giờ. Tôi chỉ tay qua máy cà phê, nói:
– Con lấy cà phê uống đi, chắc còn được một tách. Nó lắc đầu nói: – Con hổng uống cà phê. Ngập ngừng một chút, nó rụt rè hỏi:
– Hôm qua con đi cả ngày hổng ăn gì hết, chú có gì ăn không? Tôi chỉ tay qua phòng ăn nói:
– Con vô trong phòng ăn, phó mát, thịt nguội, bánh mì, nước trái cây và sữa chú để trong tủ lạnh, con coi thứ nào ăn được thì lấy ăn.
– Xin lỗi chú, con đạo Hồi, hổng ăn thịt heo. Chú có mì gói không? Không biết người đạo Hồi ở những nước khác như thế nào, chớ người đạo Hồi ở In Đô phần đông mới xuống tàu họ giữ giới rất kĩ, hổng ăn thịt heo, hổng uống bia rượu, ra vẻ ta đây là người đạo đức hoặc là thánh nhân và muốn người khác phải phục vụ cho mình. Đôi khi là người In Đô với nhau cũng khó chịu và còn đố kỵ với nhau, có vài người đạo Thiên Chúa hổng ăn thịt cừu mà ăn thịt heo, ngồi trước mặt mấy người đạo Hồi họ ăn thịt heo ngon lành và cố ý ra vẻ ăn rất bạo, họ ăn để chọc tức mấy người đạo Hồi cho bỏ ghét chớ chớ hổng ăn vì Chúa. Nhưng phải nói là người đạo Hồi thứ thiệt thì sống đời thủy thủ có hơi khó khăn, nói đúng là sống không được. Tôi thấy một vài người đi chưa hết hợp đồng đã cuốn gói về nước, và có nhiều người cố gắng đi hết hợp đồng rồi về luôn không trở qua nữa, nguyên do cũng tại vì tàu của Hoà Lan thịt heo nhiều quá và những thứ thức ăn chế biến của Hoà Lan thường dùng mỡ heo. Phần đông đạo Hồi người In Đô hổng đọc hoặc hiểu kinh Koran, ban đầu mới xuống còn nghiêm túc giữ đạo, đi được một thời gian thì phá giới uống bia, rượu, hổng ăn thịt heo thì cũng ăn được da heo chiên dòn, hễ có dịp đổ bộ thì đi vô khu đèn đỏ tìm đĩ rẻ tiền mà chơi. Trước kia thấy những chuyện như vậy tôi bất bình hay chọc ghẹo nói xiên nói xỏ. Nhưng rồi một ngày tôi nhận ra khắp nơi trên thế giới này, cũng vì ba cái vụ đạo này đạo kia mà con người ta sanh ra đố kị rồi thù oán, cá nhân thì mỉa mai, chửi bới thậm chí đánh nhau lỗ đầu chảy máu. Cùng một giống nòi hổng ưa nhau cũng vì người theo đạo này, người theo đạo nọ, đạo ăn thịt heo, đạo ăn thịt bò không ưa nhau; cùng là con Phật người ăn chay hổng ưa người ăn mặn. Còn tầm cỡ quốc tế thì nước này gây chiến với nước kia, đánh nhau tơi bời hoa lá cũng vì đạo khác nhau mà người ta gọi là thánh chiến. Thiệt ra thì đạo nào cũng truyền bá thông điệp về tình yêu, vậy mà hễ nghịch nhau thì bị khủng bố, hăm he bắn giết, chặt đầu, bâm thây, đốt nhà cướp của. Tôi nhìn thằng nhỏ, mới bước vào cuộc sống hải hồ còn non nớt, bỡ ngỡ, rụt rè nhưng không biết nó giữ giới được bao lâu, hay là lao vào đời sống tranh đua một thời gian sẽ lơi là chuyện đạo cũng giống như những bậc đàn anh, đàn chú đi trước nó. Tôi bưng ấm nước lên, trong ấm không còn chút nước nào hết. Tôi day lại nói với Philip: – Hổng có nước làm sao nấu mì. Thằng nhỏ ra chiều thất vọng định quay đi. Tôi chợt nhớ ra:
– À…à… con chờ chú chút xíu, chú nấu mì cho. Tôi lấy chai nước lọc đổ vô chiếc ấm điện bấm nút nấu, mở gói mì bỏ vô tô và đập thêm một cái trứng, chờ nước sôi tôi chế lên mì rồi lấy cái dĩa làm nắp đậy, tôi bưng tô mì qua phòng ăn để vô lò vi sóng, bấm hai phút. Tôi trở vô bếp mở hộc tủ lấy muỗng nĩa đưa cho Philip và dặn:  
– Khi nghe tiếng chuông, tức là mì đã xong, con tự bưng ra ăn nhé.  
– Dạ, con biết rồi, cám ơn chú. Cùng lúc đó thuyền phó cũng vừa đi xuống, mặt mày tươi tắn, sáng sủa lên, nó đưa chùm chìa khoá ra lắc lắc nghe rột rẹt và nói:
– Tui xuống kho lấy nước cho ông. Nó xuống kho một lát sau hai tay xách lên hai lố nước lọc để lên mặt bàn, tôi ngạc nhiên hỏi:
– Thuyền trưởng kêu mày lấy nước này cho tao nấu ăn hả?
– Ừ.  
– Nhưng hai lố đâu có đủ. Nó lật đật xuống kho hai tay xách lên hai lố nước nữa và nó tháo chìa khoá kho máng lên cái móc trên vách rồi dặn tôi:
– Thuyền trưởng dặn tui để chìa khóa cho ông, khi nào thiếu nước ông cứ xuống kho lấy. Tôi định hỏi sao hổng lấy mấy can nước dự trữ, nhưng nghĩ lại, một lố nước lọc sáu chai, mỗi chai một lít rưỡi giá tiền chưa tới ba euro, nấu nướng một ngày năm bảy chục lít cũng hổng sao, còn phần rửa ráy lặt vặt thì tôi lấy sô chứa nước sét để lóng lại xài cũng được. Coi như chuyện nước nôi đã giải quyết xong và tôi bắt tay làm việc, tôi đổ nước vô máy pha cà phê rồi day ngang mở điện lò và ra phòng ăn dọn cho bữa ăn sáng. Trong lúc tôi dọn bàn thì nghe tiếng chào:
– Chào ông Tấn. Tôi ngó lên thấy Anatoli thợ máy người Estonia. Có hơi ngạc nhiên tôi hỏi:
– Ông xuống hồi nào?
– Hồi khuya.
– Sao tui hổng nghe ai nói hết. Ông nhún vai nói:
– Tui hổng biết. Chuyện thay đổi người hoặc tin tức này nọ trên tàu thường thì thuyền phó nói cho tôi biết, nhưng có lẽ mấy hôm nay bận rộn chuyến hàng nên nó hổng có thời gian để thông báo. Thợ máy hỏi:
– Ông có cà phê không? Tôi chỉ tay vô bếp:
– Có, ông vô bếp lấy đi. Tàu qua kinh Kiel lúc khuya, thủy thủ thức làm việc cho tới khi tàu vô kinh mới ngủ, sáng nay thủy thủ ngủ bù nên tôi không dọn bàn ăn, với lại người In Đô ăn sáng cũng dễ, trên tàu bơ, sữa, dăm bông, phó mát và mứt trái cây để đầy tủ lạnh nhưng ít khi người In Đô rớ tới, họ thường ăn mì gói với cái trứng luộc hoặc cơm nguội với trứng chiên omelet là xong. Tôi dọn bàn xong trở vô bếp, thì thợ máy lấy cà phê rồi đi đâu mất, có lẽ ông ta xuống hầm máy. Tôi lấy nồi đổ mấy chai nước vô hầm xương để nấu súp, chỉ mới pha cà phê và hầm xương bò mà hết bốn chai nước lọc rồi. Hôm nay tôi định làm món hachee, ăn với cơm trắng hoặc khoai tây luộc và bắp cải đỏ hầm táo, hachee là món thịt bò hầm với củ hành tây, món ăn truyền thống của Hoà Lan và hợp khẩu với phần đông người Hoà Lan, chớ người nước khác thì không khoái khẩu lắm, trên tàu chỉ có một thằng nhỏ phụ máy là người Hoà Lan. Thật ra thì trên tàu đầu bếp nấu món gì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, không ai có quyền ọ ẹ, theo luật là như vậy, chớ người nào hổng ăn và cũng hổng ọ ẹ thì hổng lẻ lấy thức ăn nhét vô họng bắt họ ăn. Tôi hổng muốn thức ăn của mình bỏ công ra nấu mà ít có người thưởng thức, bị dư thừa rồi đem đổ bỏ. Tôi quyết định thay món hachee ra món bò hầm cà rốt, khoai tây ăn với cơm trắng, món súp tôi đổi lại món borsch, món này nổi tiếng của nước Đông Âu và Nga, dân nước nào ăn cũng thấy ngon. Tôi day qua lấy thịt bò ra định xắt thì thuyền trưởng điện thoại hỏi chuyện nước nôi và hỏi tôi có bị rắc rối gì nữa không? Tôi nói:
– Tất cả đều tốt nhưng kho nước lọc của ông từ đây tới chiều tốn hao nhiều lắm đó. Thuyền trưởng cười ha hả và nói:
– Không thành vấn đề. Tôi định gác máy, nhưng ông nói tiếp:
– À, Bếp làm thêm hai phần ăn cho buổi trưa và bây giờ thì phiền Bếp làm hai phần ăn cho người lái tàu và hoa tiêu nhé, Edy sẽ xuống bưng lên cho họ.
– Yes sir. Tàu qua ngang kinh Kiel phải dùng hoa tiêu và người lái tàu của địa phương, cho nên mỗi lần qua đây khỏi cần thuyền trưởng nhắc nhở tôi cũng nấu thêm hai ba phần ăn. Trong lúc tôi sắp bánh mì ra dĩa, trét bơ, để lên mấy miếng phó mát và bắt chảo lên lò định chiên trứng thì Edy xuống. Tôi ngạc nhiên nói:
– Oh, sao lẹ vậy ?
– Thuyền trưởng vừa gọi, con xuống liền. Thấy tôi đang đập trứng bỏ vô chảo, nó nói:
– Để con phụ chú, chú chiên trứng đi.
– Ok.  
Chuyện mấy đứa vô bếp phụ tôi làm không phải bắt buộc, tuy nhiên mấy đứa thích phụ tôi lắm, nhưng tôi cho vô bếp chỉ một đứa thôi, trước đây Ama phụ, Ama về rồi Edy xin vô phụ. Edy mở tủ lấy chiếc mâm vuông, lấy giấy lau gói dao, nĩa lại để lên mâm và  lấy tách rót nước trái cây. Edy dọn mâm xong thì tôi cũng vừa chiên trứng để lên bánh mì và tôi để hai phần ăn lên mâm cho Edy bưng lên phòng lái. Edy vừa đi thì thuyền phó cũng vừa tới, nó ló mặt vô bếp hỏi:
– Bếp có thể chiên cho tôi hai cái trứng sunny-side-up (mặt trời chiếu ngược, tức là trứng chiên một mặt) được không? Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, nãy giờ lo chuyện nước nôi làm lố giờ ăn sáng rồi, tôi day qua nói:
– Dĩ nhiên, nhưng mày phải chờ.
– Ok. Tôi chiên trứng dọn ra bàn cho thuyền phó thì thấy thằng nhỏ phụ máy đã ngồi trong bàn ăn hồi nào, tôi hỏi nó:
– Mày ăn trứng không tao chiên luôn. Nó lắc đầu:
– Không, cám ơn Bếp. Tôi trở vô bếp thì thấy Edy đứng khoanh tay trong góc bếp. Tôi hỏi:
– Sao con hổng ngủ?
– Ăn xong con ngủ.
– Oh, vậy con ăn mì gói không chú nấu. Nó dở nắp nồi cơm, thấy còn cơm nguội, nó day ngang lấy dĩa vừa bới cơm vừa hỏi:
– Chú chiên trứng cho con được không?
– Dĩ nhiên. Nó bưng cơm đem bỏ vô lò vi sóng, tôi đánh trứng ra chiên cho nó, thường những người In Đô ít khi ăn trứng chiên nửa sống nửa chín. Một lát sau Edy bưng dĩa cơm đã hâm nóng trở lại và cầm theo cái tô dơ của Philip ăn hồi nãy đưa cho tôi, miệng nó càu nhàu:
– Cái thằng, ăn xong rồi bỏ đó, đi mất tiêu rồi. Tôi nói:
– Nó mới xuống mà, nếu nó hổng biết chuyện gì thì từ từ con chỉ cho nó. Tôi lấy cái sạn xúc trứng bỏ vô dĩa cơm của Edy:
– Phần của con xong rồi nè.
– Cảm ơn chú, con bưng lên phòng ăn nhé chú.
– Ok, ăn ngon. Thuyền phó và phụ máy ăn xong rồi đem dao, nĩa, dĩa dơ vô đưa cho tôi, tôi sắp mọi thứ vô máy, coi như bữa ăn sáng đã xong rồi. Tôi day ngang thấy nồi xương hầm sôi lên bọt sắp trào, tôi vặn bớt lửa và vội lấy dá vớt bọt. Xong tôi định đi lên phòng nghỉ ngơi một chút rồi xuống xắt thịt. Vừa đi tới cầu thang thì chạm mặt thuyền trưởng, ông bưng chiếc mâm của người lái tàu và hoa tiêu đã ăn xong đi xuống. Thấy tôi ông chào:
– Xin chào ông bếp. Tôi ngạc nhiên khi nghe ông chào bằng tiếng Việt và thốt lên:
– Oh! Chào! Tiện tay ông đưa chiếc mâm cho tôi và hỏi tôi:
– Bếp chiên cho tui hai cái trứng sunny-side-up được không?
– Dĩ nhiên.
Tôi bưng mâm trở vô bếp để lên bàn, day ngang bật điện lò và bắt chảo lên. Trong lúc chờ chảo nóng, thuyền trưởng vô đứng bên tôi và đưa máy điện thoại ra khoe:
– Năm rồi tui có đi du lịch bến Ninh Kiều, Cần Thơ, Tây Đô nè. Chắc hôm đi du lịch học được vài ba tiếng Việt, hôm xuống tàu tới nay bận rộn nên quên, hôm nay nhớ lại mới đem ra xài, mấy tên địa danh ông nói dính chùm nhau, nhưng giọng ông rõ ràng tôi nghe là hiểu liền. Làm ra vẻ hiểu biết, ông nói Cần Thơ mà còn kèm theo Tây Đô nữa. Dạo sau này những người Tây tôi biết thường đi du lịch Việt Nam, khi trở về gặp tôi hay khoe. Tôi day qua vui vẻ nói:
– Oh, đã quá vậy? Ông có ý định khoe nên mở điện thoại trước, khi đưa ra cho tôi xem thì trên màn hình đã hiện sẵn những chiếc đò dọc và vỏ lải đuôi tôm chạy trên sông, ông bấm tiếp cho tôi xem chợ nổi Cái Răng, tham quan lò làm hủ tiếu và ngồi ăn cá lóc nướng trui trong một cái quán miệt vườn. Cuối cùng dừng lại tấm hình ông mặc quần đùi, mang ba lô đứng dưới chân tượng ông Hồ Chí Minh trên bến Ninh Kiều. Ông chỉ tay vô tấm hình và hỏi:
– Bếp thích cái này không ? Tôi nhớ có lần tới công trường cách mạng tháng mười ở St. Petersburg tôi có chụp hình đứng trước tượng ông Lenin và tôi có khoe cho thuyền trưởng, lúc đó ông còn là thuyền phó. Hôm đó ông cũng hỏi tôi câu tương tợ như vậy. Tôi cười nhưng không trả lời thẳng:
– Chỉ là pho tượng thôi mà, nước Nga cũng quá trời tượng vinh danh ông kia, bà nọ, hồi đó tui qua St. Petersburg cũng có chụp tượng ông Lenin vậy.
– À, tui nhớ rồi. Chợt tôi nghe mùi khét, tôi ngó qua bếp thấy chiếc chảo đặt trên lò khói bốc lên nghi ngút, tôi vội day ngang nhắc chảo xuống rồi day lại cười nói:
– Nãy giờ tui với ông lo tán chuyện nên chảo bị cháy rồi.
– Oh, xin lỗi.
– Hổng sao, ông ra bàn ngồi uống cà phê chờ tui, trứng chiên một mặt lâu hơn trứng chiên hai mặt.
– Thiệt hả?
– Thiệt mà, tự nhiên tôi cao hứng giải thích, trứng chiên một mặt phải để lửa nhỏ cho trứng chín từ từ và sau khi đập trứng bỏ vô chảo chiên phải cho vài giọt nước để phía dưới không bị khô, chiên sao tròng trắng phải đặc màu sữa, tròng vàng còn nguyên là được. Còn chiên hai mặt thì để lửa cao một chút đập trứng vô chảo rồi lấy sạn lật qua lật lại hai ba phút là xong. – Oh, bây giờ tui mới biết tại sao ai cũng thích trứng chiên của ông, nhứt là trứng chiên với thịt ba chỉ hun khói.
– Ông nói đúng, thường thì sáng nào tôi cũng mất một khoảng thời gian chiên trứng cho thủy thủ đoàn. À mà ông muốn trứng với thịt ba chỉ không?
– Hôm nay thì không. Ông day lưng đi qua phòng ăn. Tôi day lại đem chảo rửa và bắt lên bếp. Chiên trứng xong đem ra cho ông, tôi hỏi:
– Ông đi du lịch tour hay là tự đi?
– Tui đi với người bạn.
– Vui không? Và ăn, uống được không?
– Vui chớ, người Miền Tây rất vui, đi đường gặp người nào cũng cười chào, thức ăn thì món nào tui ăn cũng ngon, trừ cái món lẩu mắm là tôi chịu hổng được.
– Ha ha…Tui là người Miền Tây mà ăn còn hổng vô nữa nói chi ông. Thôi,  ăn trứng sunny side up cho ngon.
– Cảm ơn. Tôi nhìn đồng hồ đã qua chín giờ, mất toi giờ nghỉ giải lao và lố luôn thời gian làm việc. Tôi lật đật đem thịt bò ra xắt, loại thịt bò dai như da dày này hầm hai tiếng trở lên mới ăn được. Những năm gần đây trong đám thủy thủ người Nga tôi quen biết, họ thường mang ba lô đi một mình hoặc đi với bạn bè nên họ khác với người Hoà Lan thường đi tour trọn gói, loại mắc tiền nên đi về họ kể lại những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ngủ trong khách sạn cao cấp và ăn, uống trong nhà hàng hạng sang nên gặp tôi họ khen Việt Nam đẹp, thức ăn ngon, phục vụ tốt. Còn người Nga đi du lịch ba lô nên gần gũi với thiên nhiên và hiểu biết chút ít nhân tình thế thái, về những món ăn bình dân như phở, gỏi cuốn tôm và thịt ba chỉ, thịt kho, cá lóc nướng trui, lẩu mắm. Họ còn biết chuyện kinh tế nước Việt Nam đang phát triển và biết luôn những sự cố rừng núi bị tàn phá, sông Cửu Long bị ô nhiễm, ngập mặn… Trước kia khi nghe họ khen Việt Nam giàu đẹp và là một quốc gia đang phát triển, tôi thích thú và hãnh diện vô cùng. Rồi một ngày tôi ngộ ra những người đi du lịch dù hình thức nào đi nữa, một năm đi một lần thì cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Cho nên tôi nghe và ra vẻ đồng tình xã giao vậy thôi chớ thiệt ra hổng còn cảm xúc vui vẻ khi nghe những chuyện tốt hoặc bức xúc khi nghe những chuyện xấu xa như trước kia nữa. Tôi xắt thịt vừa xong thì thuyền trưởng cũng đã ăn xong, ông đem dao, nĩa, dĩa, tách dơ vô để vào chậu. Rồi day qua nói với tôi:
– Trưa nay tui hổng ăn, chiều ăn luôn.
– Ok. Ngủ ngon.
Trong khi tôi phi tỏi, hành và cho thịt vô xào thì thợ máy từ dưới hầm máy chui lên, ló đầu vô bếp hỏi:
– Ông có cornflakes không?
– Dĩ nhiên, tôi để trong tủ phòng ăn.
– Ông cho tui mượn cái tô và cái muỗng, tôi ăn Cornflakes được rồi. Tôi day qua kệ lấy tô và kéo học tủ lấy muỗng đưa cho ông:
– Ăn ngon.
Tôi biết Anatoli trong những ngày đầu nước Hoà Lan nhận lao động Nga và Đông Âu sang làm việc. Thời gian đó thủy thủ người Hoà Lan và người Nga tranh chấp, kỳ thị nhau căng lắm. Người Hoà Lan bình thường trông rất hiền hoà, bỗng chốc tôi thấy từ thuyền trưởng cho tới những người cấp dưới ông bộc lộ tánh kỳ thị rất nặng, họ tỏ thái độ rất là hung hăng, không chịu ngồi ăn chung với người Nga, tới giờ ăn các ông lấy đồ ăn bưng lên phòng hoặc xuống ăn trước giờ ăn, thợ máy không chịu phụ máy người Nga hoặc phụ máy hổng chịu làm việc chung với thợ máy người Nga, làm việc chung với nhau mà ngày nào cũng nghe nói xấu người Nga và có khi chửi bới người ta om sòm. Tuy quốc gia Estonia đã sát nhập vào Âu Châu nhưng Anatoli cũng bị chung số phận, ông là thợ máy chánh, bận rất nhiều chuyện, cái máy rửa chén bị hư những thợ máy người Hoà Lan không sửa được, thuyền trưởng bắt Anatoli sửa đi sửa lại hoài, máy cũ xì rồi sửa sao được, các người lấy đó làm đề tài nói xấu người ta. Thật tình thì lúc đó tôi cũng hổng ưa tánh tình của những người trong khối cộng sản lắm, họ nhậu nhẹt, quậy phá, giữa đêm khuya muốn ăn thì gõ cửa phòng đầu bếp hỏi đồ ăn, muốn chơi thì lên gõ cửa phòng con nhỏ thuyền phó đòi chơi, ban ngày thì thừa cơ hội rờ mông, bóp chim con người ta… dĩ nhiên chuyện như vậy chỉ có vài tên say xỉn thôi nhưng cũng là đề tài cho người Hoà Lan đem ra châm biếm và bôi bác rồi. Tuy bực mình nhưng thấy Anatoli bị đì tội nghiệp, nhưng tôi không giúp được gì ông ta hết, chỉ biết động viên về mặt tinh thần, thân thiện, vui vẻ với ông. Có lần tôi rủ ông lên hội quán chơi, trong lúc ngồi uống bia ông nói với tôi:
– Mình ở nước nhỏ nên bị mấy người ở nước lớn xem thường. Tôi nói:
– Nước Hoà Lan cũng nhỏ mà.
– Nhưng nó giàu. Tôi nhìn Anatoli và nói:
– Giàu nghèo gì thì ở cũng một cái nhà, ăn cũng đầy một cái bụng, tối ngủ cũng có một cái giường.
– Ông ở Hoà Lan nên ông mới nói vậy. Ông đưa ngón tay trỏ và ngón cái chà chà vào nhau và nói tiếp:
– No money, no honey… Câu thành ngữ tiếng Anh no money, no honey, đại khái là không có tiền thì không vui vẻ, không hạnh phúc, câu này tôi thường nghe những người nói với thái độ đùa vui hoặc của các cô gái trong các hộp đêm. Nên khi nghe Anatoli thốt lên với giọng nghiêm túc, tôi thấy nó sao sao. Tôi ôn tồn và nói ra sự trải nghiệm của thân phận ăn nhờ ở đậu nước người ta:
– Tại ông nghĩ vậy thôi, chớ ít tiền cũng vẫn sống vui vẻ được mà. Thấy ông ngẫm nghĩ tôi nói tiếp:
– Ông biết không, tui chạy trốn khỏi Cộng Sản tới Hoà Lan định cư trong những ngày còn trẻ, cả đời làm lụng vất vả và đóng thuế đầy đủ cho đất nước này, được cái là sống trong thế giới tự do thôi, chớ thiệt ra tui vẫn là người Việt và người Hoà Lan họ cũng đâu có coi tôi là người của họ. – Nhưng ông quốc tịch Hoà Lan thì ông vẫn là người Hoà Lan. Hết ở Hoà Lan rồi tới vẫn là người Hoà Lan! Nãy giờ thấy ông chú ý lắng nghe và trầm ngâm suy nghĩ, tôi tưởng ông cũng lãnh hội được ít nhiều những gì tôi nói, nhưng xem ra những lời nói của tôi hổng thấm tháp gì với ông hết. Lúc đó tôi mới nhận ra cùng một khối Cộng Sản với nhau nhưng khi tan rã ra thì tâm trạng của mỗi người dân của mỗi nước mỗi khác nhau. Người Nga thì có vẻ cao ngạo, tự hào, còn dân những nước nhỏ cạnh nước Nga mà vài người tôi được biết, cũng như Anatoli, họ nhẫn nhịn và âm thầm làm việc, họ sống tách biệt với mọi người. Tôi nhìn thẳng mặt Anatoli, ông cúi xuống cầm ly bia xoay xoay, tôi nghĩ gần một thế kỷ người Estonia bị đảng Cộng Sản Nga cai trị, cho nên dân tộc này gương mặt lúc nào cũng buồn bã, cam chịu, giống như người Nga, trong đầu họ chỉ biết làm sao kiếm được thiệt nhiều tiền, ngoài ra không còn gì khác. Có thể vì vậy những lời tâm sự của tôi đối với ông cũng như nước đổ đầu vịt mà thôi. Muốn thân thiện với Anatoli lắm, nhưng thái độ và cách nói chuyện của ông tôi nghe hơi kì kì, thật tình là tôi nghe hổng lọt lỗ tai.   Sau chuyến đó tôi đổi tàu đi những tuyến đường khác. Hơn năm sau tôi mới trở lại gặp ông. Lúc đó tình hình thay đổi rất nhiều, những người Hoà Lan không chịu làm chung với những người Nga thì nghỉ việc công ty này đi làm cho công ty khác. Những người còn ở lại người nào cũng thay đổi tánh tình, họ thay đổi một trăm tám mươi độ la bàn, sống hoà đồng, nói chuyện vui vẻ và chuyện ngồi hơi ăn, uống chung chạ không còn là vấn đề nữa. Lúc tàu đang hải hành thì giờ cà phê đám officers tự pha cà phê uống trên phòng lái. Trên tàu ngày chủ nhật, tôi làm bánh kem hoặc bánh táo thường thì giờ cà phê phụ thuyền phó, phụ máy hoặc thực tập sinh xuống bưng lên phòng lái. Nhưng hôm đó Anatoli vui vẻ xuống bưng bánh, ông hớn hở khoe với tôi là được ngồi ăn chung với người Hoà Lan và giờ cà phê được lên phòng lái uống chung với họ. Tôi định nói, chuyện đó là quyền lợi của ông, có gì đâu mà ông vui vậy? Nhưng thấy ông vui mừng giống như người được trúng thưởng, sợ ông cụt hứng. Tôi bèn nói:
– Chúc mừng ông nhé. Giờ ăn trưa hôm đó, Edy phụ bưng đồ ăn lên cho tụi hoa tiêu và ăn xong nó phụ tôi dọn dẹp. Trong lúc dọn nó thấy tôi múc riêng ra một phần ăn, bọc giấy nhựa cẩn thận và để trên bàn, nó hỏi:
– Chú dành cho ai vậy? 
Tôi nói với Edy:
– Ông thợ máy.
– Tại sao tới giờ ăn ông hổng vô ăn?
– Có lẽ ông ta bận.
– Tàu đang chạy mà bận gì?
Ngập ngừng một chút, nó nói:
– Ông ta hay làm phiền đầu bếp và coi thường người In Đô lắm, có khi ông ra boong chửi thủy thủ ngoài boong nữa.
– Có chuyện đó sao?
– Con nói thiệt mà.
– Con biết ông ta hả?
– Dạ, mấy năm qua con thường làm chung với ông ta mà, tự cao tự đại lắm, chú coi chừng ông ta đó.
– Oh! Vậy là có vấn đề rồi!
Nghe Edy nói tôi mới nhớ, gặp Anatoli hồi sáng tới giờ hổng thấy ông cười và thái độ của ông hổng còn vồn vã như hồi tôi gặp lần cuối nữa. Trước giờ ăn ông vô bếp dặn tôi dành phần ăn riêng cho ông, hình như ông tránh mặt những người Nga. Trước kia chuyện ăn uống trễ giờ làm tôi bực mình, nhưng sống với người Nga và Đông Âu riết rồi cũng quen, tôi nói với Edy: – Trên tàu có mười một người, đủ cho một đội đá banh mà có tới năm quốc tịch khác nhau, tánh tình mỗi người mỗi khác. Tự cao hay tự thấp gì thì thái độ cũng giống như nhau, mình hổng biết hết được đâu, mặc kệ ông ta đi. Nói thì nói vậy thôi, chớ thiệt ra thì những ý nghĩ ôn hoà, sự bao dung phải có sự từng trải và tập luyện nhiều năm mới có được. Tôi mỉm cười và day nhìn lại Edy, nó cũng nhìn tôi gật gật cái đầu và mỉm cười trông có vẻ đồng tình, nhưng tôi cũng hổng hiểu nó đang nghĩ gì nữa.   Tây Nam Đại Tây Dương 28-2-2021   
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Học sinh gốc Việt ở Mỹ sao học giỏi thế? Chỉ nhìn riêng một tiểu bang tiêu biểu như California năm nay (2010) trường Trung Học Bolsa Grande, trong số các tân khoa của trường năm nay có 15 em Việt Nam có điểm trung bình từ 4.45 trở lên, tốt nghiệp thủ khoa là em Denny Trần, Á Khoa là Hannah Nguyễn; trường Trung Học La Quinta Thủ khoa là Đặng Kim, Á khoa là Nguyễn Terry; trường Trung Học Rancho Alamitos, Thủ khoa là Nguyễn Phương Chi, Á khoa là Sheely Quân; trường Santiago Thủ khoa là Blair Thanh Liễu, Á khoa là Benjamin P. Nguyễn; trường trung học Edison, Thủ khoa là Amy Lê. Nhìn chung trong nước Mỹ, trong số 31 học sinh được xếp hạng xuất sắc toàn quốc, đã có 25 em là Việt Nam.

Năm 2009 Học Khu Garden Grove có 8 thủ khoa, thì đã 5 là người Việt Nam. Cũng không phải tất cả các em xuất sắc đều sống ở Mỹ lâu và cha mẹ giỏi tiếng Anh. Tại Suffok, Virginia, nơi dân Á Châu chỉ có 1%, hai em Linh Đoàn và Hạnh Đoàn mới sang Mỹ chỉ có ba năm, lúc Linh đã 17 tuổi và Hạnh đã 16. Ngày mới sang không biết tiếng Anh, mỗi khi cần nói với giáo viên, hai em phải viết xuống giấy, nay hai em đều tốt nghiệp trung học Nansemond River với hạng danh dự. Báo chí trong nước, than phiền nền giáo dục xuống cấp tệ hại. Học sinh lớp 12 viết Việt Ngữ còn sai, không biết gì về lịch sử, chạy theo thị hiếu thấp hèn, đua đòi ăn diện, ăn chơi. Đến kỳ thi thì mua đề  thi, ký cóp, gian lận đủ kiểu để đạt mục đích, nhiều vì văn bằng được mua bán, trao đổi. Nhà trường người đỗ đạt bằng cấp nhưng thực chất không có gì, mang bệnh thành tích của chế độ không đủ điểm vẫn có bằng, nâng cao tỷ lệ đạt kết quả để có kết quả thi đua.

Cũng giống quýt đó, trồng ở Giang Nam thì ngọt, trồng ở Giang Bắc thì chua. Đó chính là nhờ phân, nước, khí hậu mỗi nơi cho những thứ trái có phẩm chất khác nhau. Điều gì, môi trường nào đã làm cho những hạt giống Việt trên mảnh đất người, nẩy mầm tốt đẹp, hứa hẹn cho những vụ được mùa cây trái trong tương lai như thế? Ở Mỹ, cần học giỏi có điểm cao mới vào được trường đại học tốt, tốt nghiệp có điểm cao và từ những đại học tốt mới dễ kiếm việc làm và có đồng lương cao. Nhiều sinh viên xuất sắc chưa lãnh bằng tốt nghiệp đã được các công ty trải thảm đỏ đón mời. Ở Việt Nam, không cần học hay học giỏi, không cần điểm cao cũng vào được đại học. Không cần tốt nghiệp đại học, dốt hay điểm thấp cũng có việc làm, lại việc làm tốt, lương cao và lại có nhiều quyền lực. Thật ra người Việt ở trong và ngoài nước có thừa thông minh, cần cù và hiếu học, năng lực cũng như nhau, có khác là ngày nay sách vở chuyên khoa hầu hết bằng Anh Ngữ, sinh viên trong nước có khuyết điểm không có nhiều cơ hội học hỏi nhiều. Nhưng giỏi giang, xuất sắc để làm gì, nếu tài năng đó không được dùng đúng chỗ và trả công xứng đáng. Ở ngoại quốc, chính phủ cũng như các công ty tư nhân chọn người có bằng cấp chuyên môn, có khả năng điều hành công việc, trái lại ở Việt Nam chính phủ chọn người có lý lịch, quen biết và con cái những người có thế lực trong đảng và chính quyền. Người không có thế lực, học giỏi, có bằng cấp cao, dù là ở ngoại quốc về, mang tấm bằng của các trường đại học nổi danh cũng phải xếp xó hay đứng hàng thứ yếu nếu không có thế, có lực trong bộ máy điều hành của đảng và chính quyền. Trước đây chúng ta đã nghe câu chuyện một nữ sinh viên tốt nghiệp ở Nga, mang mảnh bằng về Hà Nội, nhưng đi đến cơ quan nào cũng bị tiếp đón lạnh nhạt, dè bĩu là “bằng chạy”, “lo lót để được du học”, “sang Nga để buôn lậu” (vì mẫu số chung là như thế), cô sinh viên cảm thấy lạc lõng trên quê hương “khốn nạn” này và cuối cùng đành giã từ đất nước ấy ra đi, trở lại Nga dù không biết sẽ làm gì, tương lai ra sao! Học sinh không cần giỏi, chỉ cần biết sống theo hoàn cảnh Việt Nam. Bản tin báo điện tử VNExpress ngày 26 Tháng Ba 2004: Theo Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo, luận văn đạt điểm xuất sắc của một số cơ sở đào tạo đang chiếm gần 90%, học viên hầu hết đạt điểm tối đa. Phó Giám Đốc Học Viện Quân Y – Nguyễn Xuân Nguyên, còn ví tình trạng chấm luận văn điểm cao hiện nay như một “bệnh dịch”. Tình trạng cho điểm “dễ dãi” bất chấp phẩm chất luận án tốt nghiệp đã xẩy ra chỉ nhờ học trò “tiếp cận” tới nhà riêng của giáo sư.

Ngay đến tình trạng học sinh tiểu học muốn có điểm cao, lên lớp không cần phải có khả năng nhưng phải đóng tiền học cho cô giáo dạy kèm thêm, nên giờ ở lớp, cô giáo lãnh lương chính phủ không quan trọng bằng giờ dạy kèm tại nhà riêng, cô thầy giáo nhận tiền từ phụ huynh học sinh. Ai có can đảm không cho con mình theo học những lớp dạy kèm này. Điều đáng xấu hổ là hiện này ở Việt Nam, học sinh mẫu giáo cũng phải đi học thêm ở lớp dạy kèm của cô giáo để có đủ điểm vào bậc tiểu học. Từ đó, ngoài tiền học thêm, gia đình còn phải lo quà cáp Lễ, Tết, cho thầy, cô giáo. Dân lo chạy gạo từng ngày, bây giờ việc cho con đến trường là một gánh nặng lớn không thể không lo. Thầy cô giáo từ đó, không cần phải dạy giỏi, cũng trở thành giáo viên ưu tú nhờ biết điều với ban giám hiệu cũng như cấp lãnh đạo giáo dục. Nền giáo dục trong nước bây giờ là một thứ chợ trời, ở đó người ta mua vào bán ra nhiều thứ, không thiếu một món nào.

Người ta tuỳ tiện bổ nhiệm người vào các chức vụ theo ý thích, xong rồi “cơ quan sẽ tạo điều kiện cho anh đi lấy bằng cấp” để hợp thức hóa bằng cách cho đi học “đại học tại chức” tức là học đại, vì cán bộ có trình độ lớp ba làm sao nuốt nổi bài vở đại học. Tổng giám đốc đi học bằng xe con, có cận vệ, có cả túi tiền, bố thằng nào dám không cho chúng tốt nghiệp. Không theo đại học tại chức thì bây giờ có phong trào mua bằng, đủ loại Tiến Sĩ, Thạc Sĩ cho Giám Đốc hay cỡ Tú Tài cho trưởng phòng, nhân viên, công an. Hiện nay Đại Học Quốc Gia Hà Nội đang liên kết với một loại trường Đại Học ở Mỹ chuyên cấp bằng tiến sĩ loại mua bằng với giá từ $17,000 đô la. Do đó chúng ta có một Giám Đốc Sở Văn Hoá, Thể Thao & Du Lịch tận Phú Thọ là Nguyễn Ngọc Ân có tới bằng tiến sĩ “kinh tế quản trị kinh doanh”. Ông này cho biết ông đã “học” tiến sĩ này tại Mỹ hai lần cách nhau hai năm, mỗi lần một tuần, nghe giảng bằng tiếng Anh được phiên dịch ra tiếng Việt và cả khi bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông. Nghe nói bằng tiến sĩ của ông giám đốc này có cả chữ ký của Tổng Thống Bill Clinton nữa mới kinh!

Trong một cơ quan, người chuyên viên giỏi thường bị ganh ghét, dèm pha nếu không nằm trong hệ thống phe đảng, con ông cháu cha. Cơ quan nào cũng kéo bè lập đảng, người ngoài khó lọt vào và cuối cùng cơ quan nào cũng đạt những thành tích. Bệnh thành tích là một bệnh kinh niên trong chế độ Cộng Sản “làm láo, báo cáo hay”. Học sinh có thành tích học giỏi, giáo viên có thành tích dạy giỏi, hãng xưởng sản xuất vượt chỉ tiêu, đại hội đảng nào cũng thành công rực rỡ, cá nhân nào cũng là xuất sắc nhờ làm việc đích thực, “theo gương bác Hồ”, mà không cần phải có tài năng Bây giờ hầu hết giống quýt đều muốn được trồng ở Giang Nam, chứ không muốn mọc ở Giang Bắc. Sinh viên Việt Nam muốn ở lại Mỹ, dù làm việc vất vả, nhưng nhân phẩm được tôn trọng, tài năng được xử dụng, và công lao được bù đắp xứng đáng. Nhưng con cháu của cán bộ cao cấp thì lại muốn mau mau trở về, vì chức vụ đã dành sẵn, bỗng lộc đang chờ đợi từ những ông bố tận lực “củng cố đời con” trong khẩu hiệu mới: “còn đảng, còn mình. Điều khó cho một xã hội mai sau khi chế độ Cộng Sản không còn tồn tại trên đất nước chúng ta, không phải là chuyện làm giàu cho đất nước, mà chuyện khó lòng cải tạo được một nếp sống đã hoá thạch và làm sao cho mỗi công dân được sống cho ra con người.

Hiện nay con cái chúng ta ở Mỹ cố gắng học hành, tin vào sức mình thì học sinh Việt Nam đến kỳ thi lo học tủ, chạy đề thi hay rủ nhau đi sờ “đầu rùa” trong Văn Miếu để lấy hên, làm sao đất Giang Bắc ấy không sinh ra giống quýt chua được?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Báo The Courier-Mail của nước Úc hôm 28/7 ghi nhận chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 2013, dã có 759 người Việt dùng thuyền ty nạn đến Úc, trong khi Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay tự hào cơm no áo ấm, xã hội tiên tiến, độc lập, tự do, hạnh phúc. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chúng ta là những người vượt biển tìm tụ do, hẳn đã biết thế nào là nỗi thống khố, bỏ quê hương, làng mạc để ra đi, chịu đói khát, bị hải tặc cướp bóc, hiếp dâm hay chặt đầu, xô xuống biển, nên hết sức thông cảm với hoản cảnh những người đã vượt biển này. Ty nạn, dù là chính trị hay kinh tế cũng là điều đáng thương. Những quốc gia độc tài, hà khắc buộc những người dân phải ra đi tị nạn, hay những chính phủ không lo đủ cơm áo cho nhân dân, để dân phải bỏ nuớc đi tìm miếng cơm ở xứ người cũng phải được lên án như nhau. Dân Mễ Tây Cơ từ năm 1985 vượt biên sang Mỹ mỗi năm chết vì hơi nóng sa mạc, mất nước khoảng 200 người, nhưng từ năm 1995 trở về sau, số người chết này tăng gắp đôi, như vậy cộng với những người đi thoát dến Mỹ, đây là một quốc gia có người bỏ nước vì miếng ăn cao nhất.

Hiện nay, những người tị nạn Việt nam đến Úc không có cơ may được nước Úc cứu xét cho định cư tại nước này và nếu có đủ tiêu chuẩn của một người tị nạn họ sẽ dược đưa sang Papua New Guinca. Tệ hại hơn nữa là chính quyền Úc đã thỏa thuận cho phép công an từ Việt Nam, nơi mà người tị nạn đã bỏ ra đi, vào tận các trại giam người tị nạn để “làm việc,” có nghĩa là sẽ truy cặp tên tuổi và chi tiết của thân nhân họ hiện ở Việt Nam. Hành động này của chính quyền Úc, theo quy ước của người tị nạn là sai trái. Thật sự, nếu công an thẩm vấn người tị nạn để tìm ra những đường giây buôn người thì được nhưng không thể dùng căn cước của những người tị nạn để trả thù thân nhân họ như thói quen và đường lối trả thù của các nước cộng sản. Nhưng câu hỏi dược giới truyền thông Úc đặt ra là những người gọi là “tị nạn” nảy muốn gì khi đặt chân đến Úc? Đa số không phải là người tị nạn thực sự. Nhiều người khai là vô gia đình, nhưng hồ sơ cho thấy một số trước đây đã du lịch đến Úc. Có người, sau khi du lịch đến Úc, họ hủy visa và xin ở lại đoản tụ với gia đình vì bị đàn áp.

Courier Mail hôm 28/7 nói làn sóng thuyền nhân Việt Nam gia tăng, với 759 người đến Úc năm nay, nguyên nhân có tổ chức đưa người Việt lên thuyền sang Úc làm gái bán dâm hoặc buôn ma túy. Ở Darwin, chính quyền cũng đã phát hiện một ổ mại dâm của người Việt ngay bên trong trung tâm giam giữ người xin tị nạn! Quả thật xấu hổ! Những người tị nạn đến Úc trước đây, giờ đã ổn định cuộc sống, thì lại muốn “trả ơn” cho đất nước dã cưu mang mình bằng cách trở về Việt Nam và đem bạch phiến trở lại Úc để đầu độc cho thanh niên nước này. Nhật báo The Age ngày 27/7/09 cho biết cảnh sát Úc đã xác dịnh được hơn 10 người Việt ở Melbourne chuyên tải bạch phiến từ Việt Nam vào Úc cho 7 tổ chức tội phạm lớn ở thành phố này.

Cảnh sát cho biết những người mang bạch phiến xuống phi trường Melbourne hàng tuần và đã đi nhiều chuyến như thế. Trong tháng 2 năm 2009. Chỉ trên một chuyến bay mà cảnh sảt đã bắt được bốn người mang bạch phiến vào Úc. Theo ước lượng của cảnh sát thì mỗi tồ chức buôn lậu này kiếm được khoảng S2 triệu Úc Kim mỗi tháng. Một phụ nữ tải” bạch phiến tử Việt Nam đến Úc, bị cảnh sát theo dõi cho biết chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2008, bà này đã “đốt” khoảng $3,7 triệu tại sòng bạc Casino Crown, và đặt $50,000 cho mỗi ván bài …

Theo tin Việt Nam, đã có 25 người Úc gốc Việt bị tống giam ở Việt Nam vì buôn lậu bạch phiến. 6 người trong số này dang chờ ngày xét xử trong khi 19 người đã bị kết tội và bị lãnh án khác nhau. Kể cả tử hình, 20 năm tù hoặc chung thân, 8 người trong số này là cư dân Việt hiện ở tại Victoria. Từ năm 2003 đến nay, ở Việt Nam đã có 7 người Úc gốc Việt bị tuyên án tử hình nhưng đã được giảm xuống án chung thân vì có sự can thiệp của chính phủ Úc! Phải chăng vi luật pháp nuớc Úc quá dễ dãi và vì nước Úc đã bỏ án tử hình từ 1973?

Chúng ta chưa quên bản án từ hình Singapore đã dảnh cho một người “tị nạn” được định cư tại Úc là Nguyễn Tường Vân vào năm 2004. Nếu nói về danh nghĩa “tị nạn” không ai hơn được con người này vì chính Nguyễn Tường Vân và người em song sinh là Nguyễn Đăng Khoa, đã chào dời tại trại tị nạn Songkhla ở Nam Thái Lan ngày 17 tháng 8-1980, sau khi gia đình đã bỏ nước ra đi và sau đó, đã được nước Úc giang vòng tay nhân ái đón nhận cho vào định cư.

Tháng 11-2002. trên đường từ Saigon qua Singapore về Úc, Nguyễn Tường Vân dã bị cảnh sát tại phi trường Changi bắt vì đã mang theo trong mình 396,2-gram bạch phiến, nhiều gấp 25 lần số lượng phải chịu án tử hình theo luật lệ của Singapore. Y khai với cảnh sát là cần kiếm tiền để trả nợ và lo án phí cho em là Nguyễn Đăng Khoa bị ra toà vi tội xử dụng ma tuý và ấu đả. Vào ngày 20 tháng 3 năm 2004, phiên tòa Thượng Thẩm kết án tử hình Nguyễn TườngVân và ảan án đã được thi hành vào ngày 2 tháng 12- 2005, sau khi mọi can thiệp từ Thủ Tướng Úc John Howard, các cựu thủ tướng Gough Whitlam, Bob Hawke, cựu Tổng Toàn Quyền Sir Dean William. các Bộ Trường Ngoại Giao, Tư Pháp, dân biểu nghị sĩ Úc và cả Giáo hội Công Giáo … đến Thủ Tướng Singapore 1ý Hiển Long đều vô hiệu. Thậm chí, Bộ Trưởng Tư pháp Úc Philip Ruddock.

Những người tị nạn Việt Nam đến Úc, như thanh niên Nguyễn Tường Vân, dã “trả ơn” quốc gia này bằng cách đem bạch phiến vào để đầu độc thanh niên Úc, không phải là ít, hai người khác cũng đã bị án tử hình trong số hàng trăm. bạo nhất là Nguyễn Văn Chính với 1kg và Mai Công Thành tới 1.7 kg bạch phiến, số lượng gấp bốn lần cùa tử tội Nguyễn Tường Vân, cung cấp đủ 10,000 liều cho con ghiền.

Cánh cửa nhân ái tiếp đón những người tị nạn phải lìa hò quê hương đã đóng lại hay chính những người tị nạn đã làm cho những đất nước giang cánh tay dón họ thất vọng. Trên con thuyền mỏng manh giữa biển cả mịt mùng, chúng ta cầu nguyện gì, ước ao gì, hứa hẹn gì, tất cả là chỉ mong được đặt chân đến đất liền. Mới ngày nào dến trại tị nạn chúng ta luôn luôn kêu gào chứng tỏ mình là kẻ bị áp bức, kỳ thị, đẩy di, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, đủ cơm ăn, dư áo mặc, da trắng tóc dài … thì lại nghe chuyện trở về nơi mà mình đã nêu đủ lý do để ra đi, với những lý do xây mộ, thăm người nhà, dự tiệc cưới, về quê ăn Tết, du lịch hay hưởng thụ rong chơi. Ngày nào người tị nạn kêu khổ, rầm rộ đổ vào nước Úc, nhận lãnh bao nhiêu thứ trợ cấp, ưu dãi, nhưng bây giờ vào ngày giáp Tết Ẩm Lịch Việt Nam, khu phố Cabramata ở Sydney, các cửa hiệu, hàng quán vắng vẽ vì thiên hạ bận về quê ăn Tếi. Ở các nuớc sau ngày Saigon thất thủ đã nhận cho vào bao nhiêu người tị nạn, nay có bao nhiêu người mỗi năm về Việt Nam, nơi mà chúng ta dã dùng nó như một lý do để xin tị nạn. Chúng ta có thể nhìn thấy hằng trăm cách “trả ơn” nước Mỹ, nước Úc. nước Pháp, nước Anh, nước Gia Nã Đại … Mỗi người tị nạn “trả ơn” quốc gia họ đến một cách khác nhau. Người trồng cần sa ở Anh và tổ chức buôn người vào cho dịch vụ này chính là những người tị nạn. 1984, 9 năm sau khi bỏ nước ra đi, một số bác sĩ người Việt tị nạn vào Mỹ, được ưu tiên nâng đỡ cho học ngắn ngày để có thể trở lại nghề cũ, đã trả ơn bằng cách đục khoét, gian lận quỹ y tế để thủ lợi riêng. Những thanh niên người Việt được nước Mỹ cho học hành, dùng kiến thức ăn cắp ID của người khác làm thẻ tín dụng để tiêu xài. Bằng tấm lòng chân thật, chúng ta có thể thấy nhiều sự “trả ơn” của người Việt tị nạn cho quốc gia họ dang sinh sống. Nguyễn Tường Vân dã đền tội cho sự vô ơn của mình với bản án tử hình, nhưng cũng có nhiều kẻ khác đang sống yên ổn giàu có bằng lối xử sự phản phúc với quốc gia đã cho mình tái định cư. Chúng ta cũng không nên trách cách xử sự của chính quyền Úc đối với 759 người Việt dùng thuyền đến Úc “tị nạn” trong năm nay. Ngày 2 tháng 12-2005, vào giờ Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ 0 Singapore, thánh đường Saint Ignatius Richmond ở Melbourne, nước Úc đã đổ 25 hồi chuông thương tiếc, tượng trưng cho 25 năm của cuộc dời người tử tội này, nhưng nước Úc chưa bao giờ có những hồi chuông cầu nguyện cho quốc gia này không còn những kẻ tị nạn vong ân như thế nữa.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Bottcher tuyên bố:

– Thế đấy! Tao thú thật là tao ngủ với con bé chiêu đãi. Không thì ta biết làm gì? Nghỉ phép để làm gì? Không lẽ cứ thế rồi trở ra mặt trận!

Anh ta ngồi ở đầu giường Feldmann, tay cầm cái vung ga-men đựng cà phê, chân ngâm trong chậu nước lạnh. Từ khi không có xe đạp, anh ta cuốc bộ đến phỏng da chân. Anh ta hỏi Graber:

– Còn anh. Từ ngày ấy đến giờ anh làm gì? Có thấy gì không?

– Không.

– Không à?

Feldmann giải thích:

– Hắn nằm ngáy đến tận trưa, gọi dậy không được. Lần thứ nhất hắn tỏ ra biết điều.

Bottcher nhấc chân ra xem, da chân phỏng lên từng cục trắng.

– Này các bạn coi! Tôi khỏe nhưbò mộng nhưng chân này chỉ là chân trẻ sơ sinh. Xưa nay vẫn thế, không chịu nổi nữa rồi, thôi đành tính chuyện ra đi vậy.

– Sao vậy? Bây giờ anh có thể nghỉ ngơi một chút, anh có cô chiêu đãi rồi.

– Cô chiêu đãi à! Thiếu gì cô chiêu đãi. Nhưng tôi làm hỏng bét cả rồi. Đang nằm bù khú tôi buột miệng gọi tên vợ làm nó nổi tam bành.

– Cũng đáng kiếp cho anh: ngoại tình, lừa dối vợ.

– Sao lại gọi là lừa dối được? Vợ tao có đây đâu. Đây là trường hợp bất khả kháng.

Reuter hỏi Graber:

– Tối hôm qua chai rượu đắc lực chứ?

– Không có chuyện gì cả.

Feldmann hỏi:

– Không chuyện gì à? Không chuyện gì mà ngủ như chết đến tận trưa?

– Không có gì thật. Không biết sao tự dưng tôi mệt thế. Bây giờ nằm xuống lại ngủ nữa được ngay. Tôi có cảm tưởng như cả tuần nay chưa hề nhắm mắt.

– Thế thì cứ ngủ.

– Thế là khôn đấy; làm như thằng Feldmann, ngủ lì suốt ngày thế mà hay.

– Thằng Feldmann ngu như lợn. Làm phí cả ngày nghỉ phép. Rốt cục, lại ra mặt trận mà chẳng hưởng được gì cả. Ở mặt trận thì dầu sao cũng có thể ngủ mê thấy nghỉ phép.

Feldmann bỗng nhỏm dậy mà rằng:

– Tôi thấy ngược lại, nằm đây mà cứ ngủ mê thấy mình ở mặt trận.

– Thật ra anh ở đâu?

– Dĩ nhiên tôi ở đây.

– Có chắc không?

Anh sọ dài cười gằn:

– Chính tôi cũng tự hỏi thế. Nhưng đã ngủ suốt ngày thì muốn ở đâu cũng được, không cần. Cha này không biết thế cho.

Feldmann bực mình trả lời:

– Lúc nào thức thì tôi biết, chỉ có lúc ấy là đáng kể.

Nói đoạn anh ta lại nằm xuống ngủ.

Reuter quay lại với Graber.

– Còn anh? Ngày hôm nay anh định làm gì để cứu rỗi linh hồn?

– Bảo giùm tôi đến đâu ăn ngon!

– Một mình à?

– Không.

– Thế thì đến hiệu Germania. Chỉ có đấy là hơn cả. Nhưng có lẽ họ không cho anh vào. Mặc đồ lính không được. Quán sĩ quan mà. Nom thấy đồng phục với ba lô của anh họ cũng nể đấy nhưng…

Graber ngắm nhìn binh phục của mình, vết hoen ố, vá chằng chịt

– Anh cho mượn cái áo ngoài được không?

– Sẵn lòng, nhưng anh nhẹ hơn tôi đến mười lăm ký lô, người ta biết ngay mất. Để tôi kiếm cho anh bộ đồ hạ sĩ quan. Ở đây cứ đội mũ lính vào thì chẳng ai để ý đâu. Mà sao anh cứ là binh nhì mãi thế? Đáng ra phải thiếu úy từ lâu rồi.

– Trước tôi đã là hạ sĩ quan. Nhưng trót đánh vỡ mặt một trung úy nên bị giáng trật. Không bị ra hội đồng kỷ luật là may, nhưng không mong gì lên lon nữa.

– À như vậy thì về phương diện tinh thần anh có quyền mặc quân phục hạ sĩ quan. Khi đưa vào đến hiệu Germania, anh đòi hỏi cho rượu Forster Jesuitengarten 1934 hầm Buerklin Wolf. Rượu này có thể làm cho người chết bừng tỉnh dậy được.

– Cám ơn anh. Tôi phải uống thử mới được.

***

Trời âm u. Graber đứng đợi trên cầu. Dưới sông dòng nước đen cuồn cuộn chảy, cuốn theo cột nhà cháy đen, rác rưới. Trường học vươn những bóng đen lên trên làn mây trắng, Graber đã đi qua sông, y bước vào một ngỏ hẻm đưa đến sân trường. Cửa sắt lớn ướt dầm sương mở rộng. Sân trường vắng hoe. Y đi qua sân đến ven sông. Hàng cây hạt dẻ in những bóng đen như mực Tầu lên nền trời trắng. Dưới gốc ấy, còn mấy chiếc ghế ẩm ướt, xưa kia y vẫn ra đó ngồi rất khuya. Biết bao ước vọng thuở ấy ngày nay chưa hề thực hiện. Ở trường ra chiến tranh đã đẩy y vào đời quân ngũ.

Y đứng nhìn dòng nước trôi một lúc. Một cái giường gãy quăng ở bờ sông, gối ướt sũng nước căng phồng như những miếng bọt bể lớn. Y rùng mình. Trở về trường học, y định mở một cái cửa. Cửa không khóa, tôi ngập ngừng bước vào, dừng lại trong phòng nhìn quanh. Y thấy lại hương vị bứt rứt những giờ học. Một cầu thang tối om đưa đến phòng học và phòng ngủ của học sinh nội trú. Y không có cảm tưởng gì cả. Không một chút khinh bỉ hay ngạo nghễ. Y nghĩ đến giáo sư Wellmannn, đến lời ông nói: không nên trở lại quá khứ. Ông ta nói có lý. Ngẫm lại đời mình, y thấy trống rỗng. Tất cả kinh nghiệm học được ở nhà trường đều mâu thuẫn với những điều học được ở ngoài đời. Không còn là gì của trường học nữa. Những năm thơ ấu đã hoàn toàn sụp đổ.

Y quay gót trở ra. Hai tấm bia đá ở hai bên cửa vào ghi tên những học trò cũ chết vì tổ quốc. Y còn nhớ bia bên phải dành cho những học sinh chết hồi đệ nhất Thế chiến. Mỗi ngày lễ quốc khánh người ta lại đặt trên bia một cành thông và một ít lá sên. Vị hiệu trưởng đọc những bài diễn văn nảy lửa về nước Đức đại cường quốc, về sự trả thù, về danh dự tổ quốc. Graber lại trông thấy cái bụng phệ nhũn nhèo của ông mà mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt ông. Bia bên trái dành cho tử sĩ trận đệ nhị Thế chiến hãy còn mới. Y đọc những tên khác trên bia; danh sách đã dài, nhưng không thiếu chỗ cho anh hùng tử sĩ ngày mai.

Y gặp một viên quản trị.

– Anh tìm gì?

– Không.

Y định đi ra nhưng bỗng nhớ ra một điều gì, vội hỏi:

– Ông chỉ giùm chỗ ở của giáo sư Pohmann.

– Ông ta không dạy ở đây nữa.

– Tôi cũng biết. Bây giờ giáo sư ở đâu?

Ông ta đưa mắt nhìn quanh cẩn thận. Graber nói:

– Không có ai đâu, giáo sư ở đâu?

– Ông ấy ở công trường Jahn số 6. Anh là cựu học sinh ở đây?

– Vâng. Bây giờ hiệu trưởng vẫn là ông Schimmel?

– Vẫn ông ấy. Làm sao ông ấy lại có thể đổi đi nơi khác được?

– Tôi cũng nghĩ thế, làm sao ông ấy lại đổi đi nơi khác được.

***

Graber ra khỏi trường học. Mười lăm phút sau y nhận thấy không biết mình ở đâu nữa. Sương mù dày đặc, giữa những đống gạch vụn y không thể định hướng được nữa. Đống nào cũng như đống nào, phố nào nom cũng y như nhau.

Y có một cảm tưởng kỳ dị.

Phải một lúc lâu mới tìm ra đường Haken. Rồi gió nổi lên sương mù bay tung như cát biển ảo huyền.

Y trở về chỗ ở của cha mẹ. Không có tin tức gì. Y vừa quay lại thì nghe thấy một tiếng kêu trong trẻo rất kỳ dị, nghe như tiếng cầm. Y đưa mắt nhìn xem tiếng đàn kỳ lạ ở đâu ra. Phố xá vắng tanh đến tận xa. Tiếng đàn vẫn nổi lên những điệu than vãn, như một tiếng báo hiệu cấp cứu giữa một biển khơi mung lung. Tiếng đàn lúc bổng lúc trầm loạn xạ nhưng đều đặn, như có người chơi trên nóc nhà nào đó.

Graber lắng tai nghe để tìm chỗ phát ra tiếng đàn độc tấu bí hiểm. Nhưng hình như nó ở khắp mọi nơi vọng đến từng tiếng mau sầm sập câu thành một điệu buồn man mác.

Y nghĩ đến người trưởng xóm điên. Chỉ có thể hắn. Y đến gần căn nhà chỉ còn có cái mặt tiền đứng sừng sững rồi bít thân mợ cửa ra. Một bóng người trên chiếc ghế để trước thềm đứng phắt dậy. Graber nhận ra chiếc ghế bành bọc nhung hôm đầu tiên đã trông thấy tại nhà mình.

Lão trưởng xóm vừa tức vừa sợ hỏi:

– Cái gì thế?

Y nhận thấy không phải lão đánh đàn, vả chăng tiếng đàn vẫn vang lên.

– Tiếng gì mà kỳ dị vậy? Ở đâu thế ông?

Lão trưởng xóm đưa cái mặt nhếch nhác lại gần mặt Graber.

– À! Ra ông lính trận! Ông lính bảo vệ tổ quốc! Ông không biết cái gì à? Bài điếu tang những người bị chôn sống đấy! Ông làm sao thì làm, cứu họ ra! Chấm dứt những sự giết chóc này đi.

– Vô lý!

Graber đưa mắt nhìn sương mù đang tỏa. Y nhận ra một cái sợi dây cáp đong đưa trước gió. Mỗi lần dây đưa ra sau tiếng đàn lại vang lên. Y nhớ lại cái dương cầm bể trước đây mấy ngày đã trông thấy mắc ở cột nhà tầng gác thứ ba. Hẳn là sợi dây cáp đong đưa chạm vào dây đàn.

– Cái dương cầm đấy.

Lão trưởng xóm nhăn mặt:

– Cái dương cầm! Cái dương cầm! Ông thì biết gì, ông chỉ là quân giết người! Đó là gió đánh chuông đưa người chết. Trời khóc cho khổ nhục điêu tàn ở trái đất này! Ông biết thế nào là cái chết không, ông giết người mà được tiền công! Kẻ giết người không biết thế nào là cái chết. Đâu đâu cũng có người chết, họ nằm dưới đống gạch vụn này, nhưng rồi họ sẽ trỗi dậy để đuổi các ông đi!

Graber khó chịu quá phải lùi ra ngoài. Lão vẫn theo sau:

– Họ sẽ đuổi các ông đi. Họ sẽ kiện các ông tới Diêm Vương, tới Tam tòa.

Graber đi nhanh, không quay lại. Tiếng lão trưởng xóm vẫn lảm nhảm trong sương đêm.

***

Graber bấm chuông. Cửa mở ngay như có người đứng rình sẵn ở phía sau. Mụ Lieser kinh ngạc kêu lên :

– À! Ra ông!

– Thì tôi đây.

Elisabeth chạy ra. Lần này mụ trở về phòng, không kiếm chuyện gì cả. Y theo Elisabeth vào phòng.

– Áo đi ăn tiệc của em đấy à? Em quên rằng chúng mình đi chơi.

Y nói vậy vì thấy Elisabeth vẫn mặc cái áo xăng đay và cái váy đen hôm trước.

– Anh nói thật hay bỡn?

– Thật chứ. Em trông quần áo anh này. Áo lễ của một anh hạ sĩ quan anh quen. Mình mặc thế này để vào được lữ quán Germania. Không chắc họ có cho hạ sĩ quan vào hay không, cái đó còn tùy thuộc cách phục sức của em. Em không có cái áo nào sang hơn à?

– Có, nhưng mà…

Graber chợt trông thấy chai vốt-ca của Binding trên bàn:

– Anh biết em buồn rầu. Nhưng phải quên đi mới được. Quên mụ Lieser và láng giềng đi. Em không làm hại ai, đó là điều duy nhất đáng kể. Em phải đi ra ngoài cho khuây khỏa. Ở mãi trong nhà này thì hóa điên mất.

Y rót đầy ly vốt-ca đưa cho nàng uống cạn.

– Được rồi. Anh đợi một lát nhé. Em cũng sẵn sàng rồi, chỉ ngại anh quên thôi. Nhưng anh nên đi ra ngoài trước đợi em. Em không muốn cho mụ ta mượn cớ vu cho em làm điếm.

– Lần này mụ có giở trò gì cũng không được! Việc này đối với lính, thì được xem là một hành vi ái quốc. Nhưng anh cũng ra ngoài phố đợi chứ không nên đứng trong hành lang.

Y ra ngoài. Sương mù đã bớt, nhưng phố xá còn bốc hơi như phòng tắm. Bỗng cửa sổ mở, Elisabeth mặc áo hở vai hiện ra giữa khung cửa sổ sáng. Mỗi tay nàng cầm một cái áo. Một chiếc nâu vàng, cái kia màu đậm, không rõ màu gì. Áo bay phấp phới trước gió như lá cờ.

Nàng quay ra hỏi:

– Cái nào?

Y chỉ cái thứ nhất. Nàng gật đầu rồi biến mất. Không ai biết nàng vừa phạm kỷ luật thắp đèn sáng trưng. Y lững thững đi bách bộ chờ đợi. Bất thần đêm tối có vẻ dày hơn. Suốt ngày hôm nay y chỉ nằm dài khiến cho người bần thần, đêm nay trời lại ảm đạm trong lúc y quyết định dẹp quá khứ sang một bên, tất cả những sự kiện ấy làm cho y cảm thấy như một thứ sung sướng trong lúc đợi ai, sự sung sướng chẳng bao lâu biến thành nóng lòng sốt ruột.

Elisabeth hiện ra khung cửa, bước xuống đường. Nàng bước những bước mau và uyển chuyển nom vóc dáng nàng mảnh mai hơn trước trong bộ áo dài hoàng yến óng ánh kim tuyến. Khuôn mặt nàng cũng khác đi, đầu như nhỏ lại, mặt như thanh nhã hơn. Một lúc lâu y mới nhận ra nom nàng khác vì mặc áo hở vai làm lộ cái cổ cao.

– Mụ Lieser có trông thấy em không?

– Có, trông thấy em, mụ như nghẹn hơi. Mụ muốn cho em suốt ngày lam lũ và hối hận. Em cũng có lúc hối hận.

– Hối hận gì, kẻ nào làm xấu mới đáng hối hận.

– Không những hối hận, em còn thấy sờ sợ. Anh thử tưởng tượng…

– Anh không muốn tưởng tượng gì cả. Đừng nên tưởng tượng gì hết, cố gắng quên sợ đi. Ráng sức mà vui vẻ, không nghĩ đến cái gì nữa.

***

Lữ quán Germania còn nguyên vẹn, hai căn nhà hai bên đều tan nát, nom như một ngựời giàu có ở giữa đám bà con nghèo đói. Gạch ngói vụn đã thu dọn sạch sẽ để thành đống hai bên, như vậy cũng làm cho hai căn nhà kia đỡ có vẻ tang tóc thảm thê. Sự nghèo khổ ra vẻ tề chỉnh rồi, gần như trưởng giả hóa rồi.

Người canh cửa nhìn y phục của Graber ra bộ khinh thường một cách kín đáo. Graber đĩnh đạc hỏi ngay, không để cho anh ta kịp mở miệng:

– Phòng ăn đâu?

– Ông đi phía tay trái hành lang. Xin ông hỏi quản lý.

Hai người đi qua phòng lớn. Họ gặp một đại tá và hai trung tá. Graber chào.

– Có cả đống trung tá ở đây. Nhiều bàn hội họp quân sự đặt ở lầu nhất.

Elisabeth dừng lại:

– Mình làm thế này có liều lĩnh không? Nếu họ biết anh không phải hạ sĩ quan thì sao?

Một sĩ quan kỵ binh xuất hiện, đinh thúc ngựa kêu lích kích, đi với một người đàn bà gầy nhom. Hai người đi qua không để ý đến Graber.

– Nếu họ biết thì làm sao?

– Không quan trọng lắm!

– Có thể mang xử bắn không?

Graber cười:

– Họ chẳng bắn đâu, họ đang cần mình ngoài mặt trận.

– Thế thì họ phạt thế nào?

– Chắc là họ giam trong vài tuần lễ, như vậy mình cũng được lời mấy ngày đó, cũng gần như nghỉ phép. Người ta không thể phạt nặng một người sắp sửa trở ra tiền tuyến.

Người trưởng tiếp tân bỗng từ cái cửa bên phải hiện ra. Graber lẳng lặng đặt một tờ giấy bạc vào tay. Hắn nhận tiền không nề hà gì cả rồi đi trước hai người với dáng điệu nghiêm chỉnh.

– Ông có hai chỗ, vâng, mời ông theo tôi.

Hắn để hai người ngồi ở bàn nhỏ lấp sau cái cột lớn rồi đi ngay ngắn trở ra.

Graber nhìn quanh phòng.

– Đúng như tôi vẫn mơ ước. Đợi một lúc cho quen đã.

Y nhìn Elisabeth mà ngạc nhiên:

– Em thì có lẽ không cần, em có vẻ như hàng ngày đến đây hai lần.

Một anh bồi bàn đã có tuổi nom giống như con vạc, đưa thực đơn. Graber cầm lấy, đặt tấm giấy bạc vào kẹp lại rồi đưa trả.

– Cho tôi cái gì không ghi trong thực đơn. Ông có cái gì đặc biệt không?

Bồi bàn nhìn y thản nhiên, không để lộ gì ra nét mặt.

– Nhà hàng chỉ có những món ghi trong thực đơn.

– Được rồi, cho tôi một chai Forster Jesuitengarten 1934 hầm Buerklin Wolf.

– Lần vô thùng cuối cùng.

– Đừng. Thứ đó còn hơi nho, mà ngọt quá nếu mình dùng bữa.

Mắt anh bồi bàn sáng lên và anh ta bỗng dưng rất lễ phép :

– Vâng để tôi kiếm.

Rồi y ghé vào tai Graber:

– Đặc biệt hôm nay có cá lờn bơn Bỉ còn tươi, có thể dùng với xà lách Bỉ và khoai chiên kiểu Anh Cát Lợi.

– Tốt lắm. Thế còn khai vị? Dĩ nhiên không nên ăn ca-vi-a.

Bồi bàn càng thêm nhanh nhẩu :

– Vâng, không nên thật. Nhưng chúng tôi có ba-tê gan dùng với nấm hương.

Graber gật đầu.

– Cuối cùng tôi giới thiệu với ông thứ phó mát Hòa Lan để tăng thêm vị rượu nho.

– Thế thì tuyệt.

Anh bồi bàn đi vào ra vẻ khoái trí. Mới đầu có lẽ anh ta cho Graber là một quân nhân lạc ra ngoài trại lính. Bây giờ anh la cho là một người ăn chơi lão luyện nhất thời nhập ngũ.

Elisabeth ngồi nghe hết sức kinh ngạc:

– Anh Ernst à, sao anh thạo quá xá vậy?

– Ấy, thằng Reuter mới mớm cho sáng nay đấy. Y thạo quá đến nỗi liệt giường vì tê thấp. Cũng may, y càng khỏi phải ra trận. Phạm tội vẫn hay được tưởng thưởng.

– Thế còn chuyện đấm mõm và gọi món ăn?

– Cũng cha Reuter làm quân sư. Y biết hết. Y cũng bảo cách làm ra dáng chán chường buồn thiu để có vẻ phong lưu lịch lãm.

Elisabeth phá ra cười, cái cười thành thực và nồng ấm của cuộc sống hạnh phúc.

– Trời hỡi trời! Em không được biết anh dưới phong độ ấy.

– Anh cũng vậy, lúc gặp em, em không như bây giờ.

Y nhìn nàng như mới gặp nàng lần thứ nhất. Nàng đã biến đổi hẳn vì cái cười. Nàng như căn nhà tối tăm bỗng dưng mở toang cửa.

– Áo của em đẹp lắm.

Y nói hơi ngượng ngập.

– Áo của má em đấy. Tối hôm qua em phải ngồi may lại cho vừa người. Nàng lại cười. Anh thấy không, em không đến nổi thiếu chuẩn bị như đã làm ra thế lúc anh mới đến.

– Em biết may à. Trông em hình như không phải thế.

– Ngày trước thì không biết cầm mũi kim thế nào, nhưng cần đến thì cũng phải học. Bây giờ em khâu áo lính mỗi ngày tám giờ đồng hồ.

– Thật ư? Có phải em bị người ta bắt buộc phải đi làm?

– Không đi cũng không được. Mấy lại cũng không mong gì hơn. Đi làm thì có thể giúp đỡ được ba má ít nhiều.

Graber lắc đầu, nhìn nàng:

– Thực ra nghề ấy không hợp với em, với tên em. Sao em lại tên là Elisabeth?

– Má em đặt. Má người miền nam nước Áo, trồng giống người Ý. Má vẫn muốn em tóc vàng mắt xanh. Tuy em không tóc vàng mắt xanh làm mọi người thất vọng nhưng vẫn đặt tên là Elisabeth.

Bồi bàn đến. Hắn mang chai rượu Jesuitengarten ra, trịnh trọng như một bảo vật.

– Tôi lựa cho ông thứ cốc pha lê mỏng, nom càng rõ rượu đỏ như lửa. Nếu ông thích thì tôi đổi lấy cốc bắc-ca-ra.

Graber từ chối cốc bắc-ca-ra. Bồi bàn hoa tay rót rượu, rồi đưa ra một cái mâm bạc, gan cặp nấm bày thành cánh hoa giữa một vòng xốt đông rung rinh.

Anh ta lấy làm hãnh diện mà rằng:

– Đồ này đưa thẳng từ xứ Alsace đến.

Elisabeth cười:

– Sang trọng quá.

– Sang trọng thật!

Y nâng cốc:

– Sang trọng. Em nói đúng. Chúng ta nâng ly mừng cho cái sang trọng. Đã hai năm nay ăn bằng cái nắp gamen méo miệng, không bao giờ chắc là xong bữa. Ta ngồi ăn bây giờ còn có cái gì hơn cả sang trọng. Còn có yên ổn, an ninh, sung sướng, khác hẳn ngoài mặt trận.

Y uống hớp rượu, một cảm giác ấm nồng tỏa ra khắp người: Y nhìn Elisabeth, nàng đã góp phần vào niềm hân hoan tràn ngập người y. Đó là phương diện bất ngờ của đời sống, cái gì bất thần vươn lên trên giới hạn sự thiết dụng, cái hương vị của tuổi trẻ, cái phần say sưa của vui chơi và mơ mộng. Sau những năm luôn luôn đụng chạm với cái chết, rượũ nho không phải chỉ là rượu nho, mâm vàng đĩa bạc không phải chỉ là mâm vàng đĩa bạc, bản nhạc êm không phải là nhạc đã nghe hàng ngay, cũng như Elisabeth tối nay không phải là Elisabeth mọi ngày. Mỗi vật mỗi người đều có giá trị biểu tượng, biểu tượng cho một đời sống khác hẳn, không có tàn phá giết chóc, biểu tượng cho đời sống ấy bây giờ như chỉ là một huyền ảnh xa xôi, một ước mơ không mong gì thực hiện.

– Có khi người ta quên hẳn rằng người ta sống. Ngày hôm nay, anh nhận thấy điều ấy nhưmột mặc khải bất thần.

Elisabeth cười:

– Em thì chưa bao giờ em quên được ý nghĩ ấy, nhưng chưa bao giờ nó giúp mình được cái gì cả.

Bồi bàn lại gần:

– Ông thấy rượu thế nào?

– Hẳn là siêu tuyệt rồi, vì tôi nghĩ đến những điều lâu nay đã quên hẳn đi.

– Mặt trời đó. Mặt trời thu đã làm chín nho này và bây giờ rượu nho hoàn lại dương khí. Ở vùng xứ Rhénanie người ta gọi thứ rượu này là thánh thể quan giá. Thật vậy nó đỏ như vàng son và khí mạnh như mặt trời.

– Quả vậy.

– Uống một cốc là đủ biết. Thật là mặt trời đóng chai.

– Uống hớp thứ nhất là đủ thấy nó không xuống bao tử mà nó bốc lên tai mắt, nó làm mình nhìn đời khác hẳn.

– Ông sành rượu lắm!

Anh ta thì thầm vào tai Graber:

– Ở bàn bên tay phải, tôi cũng mang ra thứ rượu này, nhưng họ uống như uống nước lã. Những hạng như họ thì uống rượu nho thường cũng xong.

Anh ta đưa cặp mắt khinh bỉ nhìn khách ở bàn bên phải khi đi vào.

– Ngày hôm nay hình như thuận lợi cho những người đi xem cọp. Sao, em uống rượu thấy thế nào? Thưởng thức thứ thánh thể quan giá này thấy thế nào?

Elisabeth ngửa mình ra sau đưa mắt lên:

– Em có cảm tưởng như mới ở tù ra và nơm nớp lo rằng phải trở lại ở tù vì ăn cắp hạnh phúc.

Graber cười thú vị.

– Chúng ta ai cũng vậy cả! Chúng ta sợ tâm tình của chúng ta, chúng ta cho rằng mình đắc tội nếu hưởng một chút hạnh phúc cỏn con.

Bồi bàn mang cá lờn bơn và rau xà lách ra. Graber nhìn anh ta cắt cá. Y thoải mái lắm nhưng vẫn có cảm tưởng như mình phiêu lưu đi trên mặt hồ chỉ có lớp băng mỏng có thể sụm xuống bất cứ lúc nào. May mà tạm thời băng vẫn còn nguyên, cái đó cần thiết hơn cả.

“Khi người ta bì bõm tháng ngày trong bùn lầy, người ta cũng có cái lợi là thấy cái chẳng là bao cũng cho là tuyệt diệu”.

Bồi bàn rót đầy ly. Anh ta săn sóc hai người như mẹ chăm nom cho con.

– Thường thường ăn cá chúng tôi hay rót rượu Moselle. Nhưng cá lờn bơn khác, thịt trắng gần như thịt gà. Dùng nó với rượu Plalzer thì tuyệt. Ông có đồng ý không?

– Thì hẳn rồi.

Bồi bàn gật đầu tán thưởng đi vào.

Elisabeth nói:

– Anh Ernst, liệu mình có tiền trả không? Hẳn là đắt như vàng.

– Đừng lo. Anh có tiền hai năm đi trận, giữ mãi cũng vô ích.

Y cười:

– Chỉ có đủ thời giờ sống một cuộc đời ngắn ngủi. Hai tuần lễ thôi.

***

Khi bước ra cửa lữ quán Germania thì trời đã yên gió nhưng rất âm u.

– Bao giờ thì anh đi? Hai tuần nữa à?

– Gần được hai tuần.

– Ít ỏi quá.

– Ít ỏi mà cũng nhiều. Tùy từng lúc. Thời gian bây giờ không như thời bình. Chắc em cũng biết như thế, sống ở đây không khác ngoài mặt trận bao nhiêu!

– Không, đâu có như nhau.

– Như nhau chứ. Ngày hôm nay mới là ngày đầu nghỉ phép của anh. Cám ơn anh bồi bàn, thằng Reuter, chiếc áo hoàng yến của em và chai rượu thánh thể quan giá!

– Chúng ta cần những thứ ấy.

Nàng đứng thẳng người trước mặt Graber. Ánh đèn rọi xuống tóc, xuống áo; khuôn mặt nàng tươi tắn như trái cây lóng lánh sương mai.

Thình lình họ cảm thấy khó mà quên được những phút này, khó mà dứt đoạn những đường tơ vấn vít cõi lòng đã mở ra với trìu mến và rung cảm, với lặng lẽ quên mình, khó lòng mà trở về trại hôi hám nghe giễu cợt thô lậu để đợi một ngày mai bất tường.

Một giọng nói ráo rức làm tan phút thần tiên:

– Này anh hạ sĩ quan, anh không thấy gì cả à?

Một đại úy mập mạp vừa ló mặt ra, hẳn là ông ta đi gót nhẹ như bấc. Graber nhận ra là một sĩ quan trừ bị kiểu “ra phết người trên”. Y những muốn tống cho hắn chúi mũi xuống quay đi mấy vòng như con thò lò, nhưng nghĩ lại không nên sinh sự. Y bèn xử sự như người lính đầy kinh nghiệm: đứng nghiêm chào mà không nói gì cả.

Ông ta rọi đèn bấm vào giữa mặt.

– Mặc đồ đi chơi! Hẳn là anh đã trốn tránh nhiệm vụ mới thảnh thơi như thế! Một quân nhân đi dép trong nhà, mặc đồ đi chơi! Chà! Nhàn rỗi quá nhỉ! Tại sao anh không ở mặt trận?

Graber không trả lời. Y quên không đeo huy chương vào bộ áo mượn.

– Ăn chơi cho đã! Anh chỉ biết có thế thôi phỏng?

Elisabeth không dằn được lòng tức xuống nữa. Cái đèn bấm rọi thẳng vào mặt nàng, nàng tiến một bước tới gần viên sĩ quan. Ông ta ho một tiếng lấy nước, cau mặt nhìn nàng rồi từ từ đi.

– Em chịu hết nổi rồi.

Graber nhún vai.

– Tụi háo danh ấy đã thành tật rồi. Họ chỉ nghênh nghênh đi ngoài phố đợi người ta chào, suốt đời họ chỉ có thế. Tạo hóa phải mất mấy triệu năm mới nặn ra được loại người ấy chứ bỡn hẳn!

Elisabeth cười.

– Sao anh không ở mặt trận? Lỗi chỉ tại bộ quân phục này. Thôi từ ngày mai ta mặc đồ dân sự. Anh có thể kiếm được quần áo dần sự. Đi đâu cũng chào, chán ngấy rồi. Mặc thường dân thì có thể yên ổn trở lại lữ quán Germania.

– Anh có thể trở lại à?

– Có chứ. Có trở ra mặt trận thì nhớ những phút ấy chứ nhớ làm gì đống gạch vụn với mấy người háo danh. Ngày mai, tám giờ anh trở lại với em nếu anh rảnh. Bây giờ thì phải về ngay kẻo thằng cha ấy có thể trở lại hỏi sổ quân bạ.

Graber ôm lấy nàng, nàng không chống cự. Y ghì chặt nàng như sợ mất và hôn nàng nồng nàn. Y cảm thấy mình không muốn rời nàng ra nữa.

Trở về đường Haken, y dừng lại trước nhà cha mẹ. Chị Hằng vén mây hé mặt ra. Y cúi xuống nhặt lấy bức thư của mình để dưới đất. Có một miếng giấy ghim vào bên lề. Y soi đèn bầm đọc mấy chữ lớn viết bằng bút chì:

“Mời ông đến Ty Bưu điện chính, ghi sê 15”

Như một cái máy, y xem đồng hồ tay. Dĩ nhiên là trễ quá rồi, ban đêm ở Bưu điện đóng cửa, không thể biết gì được trước tám giờ sáng mai. Y gập mảnh giấy cho vào túi áo, rồi đi qua thành phố chết trở về trại. Y có cảm tưởng như mình nhẹ lâng lâng đi trên không trung vậy.

Vĩnh biệt tướng Carey

baotreonline.com

Ian Bùi

May 30th, 2025

Post by Sơn râu 27 May 2026

Ngày 10 tháng 5 vừa qua, tang lễ cho cố Trung Tướng Richard Carey đã diễn ra thật long trọng tại một nhà thờ Baptist ở Plano, Texas. Đầu tháng Tư 1975, ông Carey, khi ấy còn là thiếu tướng, được giao nhiệm vụ lập kế hoạch và chỉ huy cuộc di tản khỏi Nam Vang và Sài Gòn. Tại đám tang ông, ngoài số đông là cựu quân nhân Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ và gia đình, còn có sự hiện diện của một số người Việt, trong đó chắc chắn có người đã nhờ ông mà đến được nước Mỹ.

(IANBUI/TRẺ)       

50 năm sau cuộc di tản bằng trực thăng lớn nhất lịch sử, Trung Tướng Richard E. Carey qua đời ở tuổi 98. Những người quen ông đều nói về ông với lòng ngưỡng mộ và kính trọng thật sự. Không chỉ là một nhà quân sự tài ba, ông còn được biết đến như một con người nhân bản, nhân văn song cũng cực kỳ cứng rắn khi cần thiết. Trong cuộc di tản tháng Tư, khi nghe tin đô đốc Hải Quân Whitmire ra lệnh cho phi công ngưng bốc người vì họ đã “bay quá giờ,” Tướng Carey đến gặp Whitmire và nạt, “TQLC chúng tôi không bao giờ biết mệt khi cần đến!”

(IANBUI/TRẺ)

Trong quyển tiểu sử về ông – “The Flying Grunt” viết bởi Alan Mesches, có kể câu chuyện khi Đại sứ Martin nhất định không chịu rời Sài Gòn vào ngày cuối, tướng Carey đã ra lệnh cho binh sĩ “khiêng ông đại sứ lên trực thăng nếu ổng kháng cự.” Rất may nhà đại sứ đã tự leo lên lúc 5:00 sáng ngày 30/4. Chương sách nói về cuộc di tản vẽ lại hình ảnh một vị tướng nhiều kinh nghiệm, quyền biến, mưu lược, và trên hết là biết uyển chuyển trong một tình huống nhiều rủi ro và bất trắc ngoài sự tiên liệu.

(IANBUI/TRẺ)’

Thiếu tướng James Livingston (trái) chào linh cữu tướng Carey. Tháng Tư 1975, Đại uý Livingston là phụ tá dưới quyền tướng Carey. Ông chịu trách nhiệm liên lạc và phối hợp giữa 6000 quân binh chủng đủ loại tham gia vào cuộc di tản phức tạp ấy. Livingston rời Việt Nam trên chiếc trực thăng cuối cùng từ trụ sở MACV gần Tân Sơn Nhứt. Ông nói lúc ấy trời đã tối, ông kêu mọi người đậu xe thành vòng tròn rồi mở đèn lên cho phi công thấy chỗ đáp. Chiếc 53-A chở ba bốn chục người “bị quá tải thiếu điều cất cánh không nổi, phải lạng qua lạng lại,” ông vừa kể vừa cười.

(IANBUI/TRẺ)

Trong những năm cuối đời, tuy đi đứng khó khăn nhưng tướng Carey luôn cố gắng tham dự các sự kiện liên quan đến binh chủng TQLC cũng như đến Việt Nam. Bức ảnh này được chụp tại buổi khai mạc sự kiện Bức Tường lưu động đến Frisco (TX) hồi tháng 5, 2024. Bên trái ông là tác giả Alan Mesches, bên phải là vợ chồng tướng Lương Xuân Việt. Một tháng trước đó chúng tôi có mời ông dự chương trình nhạc “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” tại Allen, ông hứa sẽ đi coi nếu sức khoẻ cho phép nhưng rất tiếc ông đã không đến được.

(IANBUI/TRẺ)

Sau hơn 200 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam, tướng Carey nói không có gì làm ông hãnh diện bằng công tác chỉ huy cuộc di tản tháng Tư mặc dù ông chỉ cứu được 100,000 người thay vì 1 triệu theo kế hoạch ban đầu. Đám tang ông diễn ra trong một ngày mưa tầm tã, sấm chớp ầm ì. Nhưng có lẽ nhờ vậy không khí càng tăng phần ảm đạm, nghiêm trang. Sau 14 phát đại bác và 7 phát súng, tiếng kèn trổi lên với bản Taps chiêu hồn tử sĩ vô cùng thê lương. Mọi người im phăng phắc khi lá cờ phủ trên quan tài được hai binh sĩ gấp lại cẩn thận và trao cho gia đình.

Tướng Carey được chôn cất tại Nghĩa Trang Quốc Gia DFW ở Dallas, nơi đã có gần 80,000 ngôi mộ tử sĩ. Mặc dù ông có thể được chôn tại NTQG ở Arlington (Virginia), nhưng tướng Carey từ chối vinh dự ấy và nói với gia đình rằng ông muốn được nằm gần binh sĩ của mình. Nơi đây có một đài tưởng niệm trận Chosin Reservoir năm 1950 trong cuộc chiến tranh Hàn Quốc. Đó là trận đánh lớn đầu tiên trong đời binh nghiệp của ông Carey. Tại đám tang ông còn có sự hiện diện của một vị sĩ quan từng tham chiến trận Chosin – họ là những người được truy tặng danh hiệu “The Chosin Few”.

(IANBUI/TRẺ)

Thiếu tướng James E. Livingston, phụ tá đắc lực cho tướng Carey trong cuộc di tản mang bí danh Operation Frequent Wind, chụp hình lưu niệm với 3 người Việt đến được Mỹ vào tháng Tư 1975. Thiếu tướng Lương Xuân Việt (bìa trái) rời Việt Nam năm 9 tuổi. Hai người bên phải, doanh nhân DT Nguyễn và Ian Bùi lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Mike McCollum, một cựu sĩ quan TQLC hiện đang hành nghề luật sư tại Dallas và từng làm việc nhiều năm với tướng Carey, nói đối với ông đây là bức ảnh có ý nghĩa nhất trong tang lễ, 50 năm sau ngày “Fall of Saigon”.

Nguồn ảnh: Mike McCollum

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 May 2026

Tàu rời bến Rotterdam từ trưa hôm kia, sáng nay đã tới vàm sông Elbe. Gần hai tháng qua tàu đậu bến chờ hàng, tuy thủy thủ đoàn sống không giống như cảnh tù tội, nhưng ở một nơi làm việc tà tà, ăn và nhậu riết rồi tinh thần mệt mỏi, nhàm chán nên sanh ra bốc đồng và thường hay cãi vã nhau. Khi tàu hải hành lại thì mọi người phấn khởi, vui mừng vì được thoát cái cảnh lẩn quẩn trên một con tàu.

Sáng nay mấy thủy thủ người In Đô thức sớm hơn mọi hôm, xuống phòng ăn sáng xong ra boong làm việc hết, trông người nào cũng vui tươi và đầy sức sống. Buổi sáng của đầu bếp cũng đã xong, tôi rót ly cà phê định bưng lên phòng vừa nhâm nhi cà phê vừa lên mạng rà đọc một cái gì đó như thường ngày, nhưng hôm nay tàu vô sông Elbe nên tôi bưng tách cà phê ra sau boong đứng. Tôi có thói quen hễ mỗi khi tàu chạy trên một dòng sông, vào những ngày nắng ấm cũng như những ngày đông giá lạnh, tôi hay ra boong đứng nhìn bầy chim nhàn bay trên khoảng không phía sau lái. Bây giờ là mùa xuân nắng hanh, gió nhẹ, khí trời man mác và bầy chim nhàn thảnh thơi bay theo lái tàu, thỉnh thoảng một con nhàn thấy cá ngay lặp tức lao xuống sớt liền. Nước dưới dòng sông còn ròng nên màu vàng lợt và dòng sông không minh mông như những ngày nước lớn. Nhìn nước dưới lái tàu bị chân vịt quậy cuồn cuộn màu phù sa và nhìn hai bờ sông lớn rộng thênh thang làm lòng tôi bồn chồn xôn xao. Từ vàm sông Elbe vô cảng Hamburg khoảng chừng vài chục hải lý, nhưng tôi cũng thấy lòng dạ bồn chồn trông cho mau tới hải cảng. Trong tôi Hamburg còn có những thâm tình và nhiều kỷ niệm ngây ngô của thời trai trẻ. Ngoài ra tôi cũng ngưỡng mộ một hải cảng sống động nhờ những chiếc tàu buôn quốc tế ra vào với những chiếc đò chở đầy du khách bốn phương thưởng ngoạn trên sông và một thành phố đa văn hóa cũng nhờ con sông Elbe hùng vĩ, nhộn nhịp tàu bè ra, vô từ khắp nơi trên thế giới. Nếu không gì trở ngại thì chiều nay tôi sẽ hẹn vài người bạn ra hội quán nhậu lai rai, sau đó lên Reeperbahn xem trong mùa đại dịch này nó có thay đổi gì không.

Thuyền phó từ trên phòng lái đi xuống, nó dừng lại bên tôi hớn hở báo tin:

– Chiều nay thuyền trưởng già về.

Vừa ngắm sông vừa vu vơ suy nghĩ. Chợt nghe tiếng thuyền phó, tôi day lại và nói:

– Oh, vậy hả?

– Oleg xuống thay. Ông còn nhớ Oleg không?

– Nhớ chớ, Oleg Bugrov?

– Đúng rồi.

–  Oleg nghe có ông ở đây, ông ấy gởi lời chào.

– Oh, cám ơn.

Nó cười hì hì rồi đi tới chỗ Edy và Nando đang lui cui rút dây lái ra sắp gọn để chuẩn bị cho tàu ghé bến, nó căn dặn hai đứa cái gì đó rồi day lại tôi, nó nói:

– Tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được không?

– Sorry, trứng hết rồi, trưa vô Hamburg mới lấy thêm thực phẩm, còn bánh mì, thịt nguội, phó mát tao để ở trên bàn, mày vô lấy ăn đi.

Tàu sắp vô bến người nào việc đó, bận rộn lu bù. Tôi là đầu bếp trên tàu, ngoài những lần thực tập cứu hộ hoặc phòng cháy, chữa cháy ra tôi không phải bận tâm với công việc ngoài boong, vì vậy trong những ngày không thực tập tôi không biết tới mũi tàu và khoang tàu ra sao hết. Tôi cũng không cần phải bận tâm tới chuyện người này nói người kia, nhưng tôi chỉ để ý tánh tình mỗi người và mỗi sắc dân. Có lẽ chung chạ với nhiều giống người và tiếp xúc nhiều văn hoá khác nhau, nên nói chuyện một vài lần với một người nào đó, tôi có thể biết được tánh tình của họ, biết để mà cư xử sao cho hợp thôi chớ hổng phải để so đo với ai hết. Bởi vì thức ăn của tôi nấu cho tất cả mọi người ăn đều có hương vị và chất lượng ngon hoặc dở giống như nhau, miễn sao nấu ngày nào họ ăn hết ngày nấy, thức ăn ít thừa mứa đem đổ bỏ là tôi yên tâm.

Có điều là chung sống với nhiều giống người trong nhiều chế độ và tín ngưỡng khác nhau, tôi nhận thấy những người trong khối Cộng Sản Đông Âu trước kia, kể cả người Nga khi mới qua Hoà Lan làm việc, phần đông họ nghĩ các nước bên Tây Âu giàu lắm, trên tàu cái gì cũng có và ăn uống được tự do, nên khi xuống tàu cần thứ gì thì họ xuống kho lấy thứ đó, ngang nhiên vô bếp lục lạo và gây khó khăn cho đầu bếp. Thật tình thì lúc đầu tôi cũng không ưa những loại người này lắm, chửi lộn hoài, nhất là với người Nga. Nhưng khi nhớ lại, hồi mới tới Hoà Lan tôi cũng có ý nghĩ như họ, nhưng tôi là người tị nạn Cộng Sản và may mắn được định cư trong một xứ sở tự do, giàu, đẹp và nhân văn, sau một thời gian dài tôi mới thấm nhuần tự do và nhân bản. Dần dà tôi cũng hiểu ra, con người lúc nào cũng hướng về những điều tốt đẹp, ngoài những người Nga già cả, đầu óc còn bảo thủ, sống ích kỷ ra, phần đông đám trẻ học hỏi rất mau, vui vẻ hoà đồng với mọi người và sống cũng rất là văn minh, giống như cái cây đương trồng một nơi thiếu ánh mặt trời, mặt trăng và đất đai cằn cỗi, còi cọc, héo úa, nay được thay đất thêm phân giữa bầu trời tinh khiết nó tự do nhảy ra nhiều nhánh trông tươi tắn hẳn lên.  Khi ngộ ra điều đó tôi liền thay đổi cách nhìn về con người, không phân biệt, biết cảm thông và chia sẻ, thử hỏi nếu ngày xưa tôi kẹt lại trong chế độ Cộng Sản thì tôi sẽ ra sao, biết đâu còn tệ hơn họ nữa, cho nên khi nói chuyện với họ tôi tránh những lời lẽ phân biệt để khỏi mích lòng. Tôi có thể nhường nhịn mọi người, chịu thiệt thòi đôi chút, ngoại trừ người nào có thói quen vô kỷ luật, không tôn trọng giờ giấc ăn uống, hống hách, ỷ có chút địa vị rồi lên mặt, coi thường người khác thì tôi phải dùng ngôn ngữ chợ búa ra đối xử với họ.

Hồi mới qua Hoà Lan làm việc, có lẽ Oleg nghĩ làm thuyền phó rồi muốn ăn gì thì ăn, cho nên nó xuống kho lấy nguyên một hộp bánh ngọt và cả một lít kem đem về phòng dự trữ. Một tháng đặt hàng được mười lăm lít kem, tám hộp bánh ngọt, đầu bếp phải phân ra mỗi tuần chỉ được ăn kem một lần vào ngày chủ nhật và một hộp bánh ngọt cho officers, một cho thủy thủ. Theo luật lệ trên tàu thì không ai được phép xuống kho tự lấy thức ăn, tuy nhiên tôi biết cũng có nhiều người lén xuống kho lấy ăn, nhưng chút đỉnh tôi làm lơ, nhưng Oleg nó lấy nhiều quá nên tôi mới lưu ý nó. Thường thì những người Nga lớn tuổi còn máu cộng sản trong người hay ỷ quyền và xem đầu bếp như người phục vụ, nên hay sai đầu bếp làm này làm kia, khi bị tôi lưu ý và nhắc nhở thì họ cự nự có khi làm dữ nữa, nên tôi phải dùng lời lẽ nặng nề chửi cho một trận họ mới chịu yên. Oleg thì không, nghe tôi cảnh cáo nó liền đem bánh đem kem trả lại và xin lỗi, cũng từ đó mỗi khi lên bờ nó mua kem và bánh ngọt đủ loại, kem nó nhét trong học tủ đông trong phòng của nó hổng hết, phần còn lại đem xuống gởi tôi cất trong phòng đông lạnh, thỉnh thoảng nó cũng lấy kem, lấy bánh mời tôi ăn.

Thường thì thủy thủ làm việc không nhất định trên một chiếc tàu, cho nên những gương mặt thủy thủ đoàn mà tôi không thường tiếp xúc qua lại ít khi tôi nhớ. Oleg là một trong những người Nga để lại trong tôi ấn tượng. Tôi còn nhớ lần đầu tôi trò chuyện với nó, nó hỏi:

– Ông là nhà văn?

– Không, tao là nhà bếp.

– Nghe nói ông viết văn mà.

 – Oh, hobby thôi.

– Ông là người Việt mà tôi tưởng là người In Đô.

– Câu này tao cũng nghe nhiều người nói.

– Thấy ông thân thiện với người In Đô hơn.

– Tao đã sống chung với họ cả đời rồi. À, bộ mày hổng nghe tao nói chuyện với họ bằng tiếng gì sao?

Oleg ngẩng người ra ừ hử. Tôi nhìn thẳng mặt nó, hơi bị ngượng nó niễng mặt qua một bên. Cái thằng trông cũng đẹp trai, thông minh và có vẻ dễ gần gủi hơn những người Nga lớn tuổi. Tôi bắt chuyện:

– Bộ tao hổng thân với mày sao?

– Có, nhưng ít thấy ông cười.

Tôi cười lớn và nói:

– Oh! Chuyện cười à? Mày phải nói người Nga của mày mới đúng.

Nó chưa hiểu ý tôi nên hỏi:

– Ông nói người Nga sao?

– Theo tao thấy thì người Nga của mày mới là người có gương mặt buồn bã và ít cười nhứt thế giới.

Nghe tôi nói vậy nó phá lên cười ha hả và nói:

– Tui là người Nga và cũng biết cười mà.

Tôi cười và nhìn nó nói giọng khôi hài:

– Lần đầu tiên tao thấy một người Nga biết cười và còn biết dí dỏm nữa.

Lúc vui vẻ lắng xuống, nó nói với giọng nghiêm túc:

– Thật ra thì những người lớn tuổi ít tiếp xúc thế giới bên ngoài nên họ ngại cười.

– Sống trong chánh quyền sao thì con người ra vậy.

Nó nhìn tôi cũng vẫn chưa hiểu ý tôi nói gì, nó hỏi:

– Ông nói sao?

Thật ra thì từ ngày biết nước Nga qua thành phố Leningrad và vài ba hải cảng trong vịnh Phần Lan, tôi thường hay thắc mắc những học giả, nhà văn và nhà báo và cả các nhà cách mạng của miền Bắc nước Việt Nam thời đó, mấy ông mấy bà qua Nga học hỏi nghiên cứu cái giống gì hổng biết mà một xã hội có những con người với bộ dạng mệt mỏi, ban ngày giống như những cái xác không hồn, về đêm thì đi như những bóng ma giữa một thành phố đẹp lộng lẫy và văn minh, nhưng bị chế độ Cộng Sản tàn phá tanh bành té bẹ. Xe cộ cũ xì, đường xá ổ gà, ổ voi; xe bus, xe điện chạy xụp xuống một cái thì sét rớt lộp độp, khớp xe nghiến nhau nghe ken két và khua rổn rảng. Vậy mà mấy ông, mấy bà viết ra thành cái thiên đường rồi trở về nước đem in thành sách, phổ biến, tuyên truyền ca ngợi ầm ỹ cho dân chúng cả ba miền đất nước Việt Nam về cái chủ nghĩa xã hội liên xô giàu đẹp. Cho mãi tới ngày hôm nay, chiến tranh đã qua nửa thế kỷ rồi, những sự thật đã sáng tỏ, vậy mà vẫn còn những nhà báo hay nhà văn Việt Nam, cũng cách viết giả tưởng đó, đem ra phân tích nụ cười của người Nga. Theo những người này thì: “Trong nhận thức giao tiếp của người Nga, có một quy tắc: nụ cười phải thực sự phản ánh tâm trạng tốt và mối quan hệ tốt. Đó là lý do vì sao các nụ cười Nga là điều hiếm hoi và chỉ xuất hiện trong những trường hợp được coi là thích hợp, thể hiện một cảm xúc hạnh phúc thực sự…” Cười mà cũng phải có quy tắc?! Nhưng dù gì đi nữa thì chuyện đã qua nửa thế kỷ rồi. Oleg nó có biết gì đâu và tôi cũng đã thấy những người Nga lớn tuổi dần dần biến mất, nhường lại đám trẻ đầu óc còn trong trắng học hỏi được văn minh trong những quốc gia tiên tiến, sống biết vui vẻ và hoà đồng với mọi người.

Tôi nói với Oleg:

– Mày thấy những lãnh tụ các nước Cộng Sản có ông, bà nào cười được tươi đâu.

Nó định nói gì nhưng nghĩ sao đó, nó hỏi:

– Ông có tới Nga lần nào chưa?

– Có, tao tới thành phố St. Petersburg hồi còn mang tên Leningrad.

– Ông có ấn tượng gì không?

Thật ra thì ấn tượng tôi có rất nhiều về St. Petersburg và tôi cũng đã ghi chép lại những gì tai nghe mắt thấy từ khi thành phố St. Petersburg còn nghèo nàn, tan hoang cho tới khi phát triển tốt đẹp như ngày hôm nay. Không muốn dài dòng nên tôi cũng chỉ nói ngắn gọn:

– St. Petersburg hồi còn là Leningrad trông nó giống như một cô hoa hậu thế giới bị bọn côn đồ hãm hiếp đến thân tàn ma dại. Nhưng từ ngày lấy lại tên St. Petersburg nó tràn trề sức sống và phát triển rất mau, tốt lắm, đẹp lắm…

Oleg cười ha hả rồi nói:

– Ông nói chuyện nghe vui quá.

Về Oleg tôi nhớ được bao nhiêu và cũng từ sau chuyến đó tôi không còn có dịp đi chung với nó nữa. Nghĩ tới đây thì chợt thấy dưới nước sau lái tàu, một bầy cá con đang nhảy lưng tưng trên mặt nước đục ngầu. Oh! tàu vừa cán lên một bầy cá nhỏ, thấy chúng rộn ràng trông cũng vui mắt. Chợt chạnh lòng khi thấy trên không bầy chim nhàn xôn xao như xông trận, chúng tăng tốc, nhấp cánh lia lịa rồi lấy trớn lao như tên bắn xuống đớp những con cá con tội nghiệp. Chậc! Giá mà tàu không cán lên bầy cá thì giữa cá và chim sống trong hai thế giới, dưới nước và trên không thanh bình biết bao nhiêu.

Edy và Nando sắp xếp xong dây chạc, hai đứa đứng lên, đi tới trước mặt tôi, Edy hỏi:

– Chú biết thuyền trưởng Oleg hả?

– Ờ, chú biết lúc ông ta còn là thuyền phó.

Nó đưa ngón tay lên gật gật:

– Oleg là thuyền trưởng tốt?

Tôi vỗ vỗ lên vai Edy:

– Con siêng năng làm việc là được rồi. Để ý tới thuyền trưởng tốt hay xấu làm gì.

– Ờ ờ… chú nói đúng.

Edy day ngang nói tiếng In Đô với Nando gì đó, rồi hai đứa chào tôi đi ra phía trước.

Sau buổi ăn trưa tàu ghé cảng Hamburg. Khi tàu đã yên vị và máy tàu đã tắt thì người giao hàng cũng vừa xuống đưa tôi danh sách thực phẩm để kiểm tra. Nghĩ cũng buồn cười, đầu bếp đặt hàng, thuyền trưởng kiểm tra xong gởi về công ty, công ty kiểm tra lại một lần nữa rồi mới gởi đặt mua. Đầu nậu giao hàng thứ gì phải nhận thứ đó, đầu bếp không được trả lại những thứ không vừa ý, vậy mà cũng đưa danh sách kêu đầu bếp kiểm tra. Trong lúc chờ đợi hàng chuyển xuống, tôi nhớ lại hồi mới làm đầu bếp, tôi làm dưới quyền một vị thuyền trưởng hiền hậu, ông chỉ dạy tôi rất nhiều điều hay, tôi nhớ hoài câu chuyện ông đã dạy trong lúc tôi đang nêm nồi xúp nấm. Ông vô bếp lấy một cái trứng đưa lên ông hỏi tôi:

– Làm sao một cái trứng mà chia đều cho cả tàu ăn?

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:

– Hổng biết.

Ông liền đập cái trứng bỏ vô chén và đánh cho tròng trứng hoà nhau, sau đó tay trái cầm cái dá múc canh, tay phải bưng chén trứng trúc vô nồi rồi ông quậy cho trứng quệnh vào xúp. Xong ông day qua hỏi tôi:

– Hiểu rồi phải không?

Vỡ lẽ ra tôi hô:

– Yes sir!

Khi ông đi rồi tôi cảm thấy mắc cỡ, vì lúc đó tôi lo ăn uống cho đám officers nhiều hơn đám thủy thủ ngoài boong. Từ sau bài học đó tôi đã hiểu như thế nào là bình đẳng và mỗi khi thấy chuyên bất công thì tôi nhớ tới bài học cái trứng và nồi xúp nấm mà thuyền trưởng đã dạy tôi cách đây hơn ba chục năm. Thật ra thường những thuyền trưởng tư cách rất cao, ngoài việc điều hành trên tàu ra, ông còn lo sức khoẻ cho thủy thủ đoàn, nếu thuyền trưởng lớn tuổi thì coi thủy thủ như con, thuyền trưởng trẻ thì xem thủy thủ như anh em. Từ ngày có người Nga qua làm việc mới xuất hiện vài thuyền trưởng có đầu óc kỳ thị, trước khi đổi về biết thuyền trưởng người Nga xuống thay thì ông đặt thực phẩm bớt lại chơi cho bỏ ghét. Những món tôi đặt đều không thiếu, nhưng số lượng thì món nào cũng bớt một hai phần, có món bớt phân nửa. Biết trước như vậy nên tôi chỉ xem những món tôi cần có đủ không, nếu thấy món nào thiếu thì tôi ghi lại, sau đó tôi đưa cho thuyền trưởng mới để ông ta giải quyết, còn chất lượng của thực phẩm thì khỏi cần xem tôi cũng biết toàn là những thứ rẻ tiền.

Trong lúc mọi người đang chuyển hàng xuống kho. Thuyền trưởng già áo quần tươm tất, mang khẩu trang xệ dưới càm. Đi tới hỏi tôi:

– Tất cả đều tốt?

Tôi nhún vai:

– Tốt xấu gì ông cũng biết mà.

Ông cũng nhún vai, nói:

– Xe bus chờ trên bến tao về đây.

– Ok, ông đi bình an.

Đoạn ông day qua mấy thủy thủ, đưa tay chào từ biệt rồi ông đi lên bến. Khi ông ra khỏi cửa, Nando đưa hai tay lên trời mừng rỡ hô to:

– Oh yéé…vậy là hổng còn BBQ cuối tuần nữa.

Mọi người cười rộ. Tôi lắc đầu cười nói với tụi nhỏ:

– Chậc, được ăn nhiều cũng phàn nàn, nếu gặp những viên thuyền trưởng keo kiệt, tụi con có thèm BBQ cũng hổng có để mà ăn.

Nhận hàng xong tôi lo cho buổi ăn chiều, đương lui cui múc thức ăn ra dĩa thì Oleg đi vô vồn vã bắt tay, không theo luật đề phòng dịch gì hết, sau khi hỏi thăm sức khoẻ, nó đưa tôi gói kẹo:

– Cho ông nè.

Tôi cầm lấy gói kẹo và chỉ tay qua phòng ăn nói:

– Cảm ơn, thuyền trưởng vô ăn luôn đi.

Oleg chào tôi rồi đi qua phòng ăn, lúc đó Ama đi vô, nó phụ tôi lấy thức ăn cho thủy thủ. Tôi hỏi nó:

– Chừng nào con có chuyến bay?

– Chiều mai, vì hổng có chuyến bay Hamburg qua Frankfurt nên sáng mai con phải đi chuyến xe lửa sớm tới Frankfurt.

– Corona, phiền phức quá.

Sau bữa ăn chiều Ama vô phụ tôi dọn dẹp, xong nó day ngang bắt tay tôi và nói:

– Sáng con đi sớm, chắc không gặp chú.

Tôi đưa tay vỗ vỗ vào vai nó:

– Ok, thăm gia đình con, đi đường bình an.

Hải cảng Hamburg là một trong những hải cảng quốc tế lớn đứng thứ nhì Âu Châu. Mùa hè là thời điểm thích hợp để du khách khám phá thành phố cảng. Du khách có thể đi tours để khám phá lịch sử của hải cảng quan trọng này, những chuyến đò hiện đại đưa du khách qua các kinh đào, qua những cây cầu kiến trúc lâu đời… Nói chung dòng sông Elbe, trước mùa dịch, lúc nào cũng nhộn nhịp tàu bè vô ra. Cũng vì đại dịch mà làm cho tàu bè thưa thớt trên dòng và những chuyến đò hiếm hoi, vắng vẻ bóng du khách đến từ bốn phương.

Hồi sáng tôi còn nôn nao chờ tàu ghé bến, dự định trước tiên tôi sẽ lên Seaman’Club Duckdalben, điểm dừng chân tuyệt vời cho thủy thủ bốn phương, sau đó lên dạo phố Hamburg. Nhưng khi biết quán bar của hội quán đóng cửa, chỉ có cửa hàng mở bán những món thủy thủ cần dùng. Xe bus hội quán rước mỗi chuyến được hai người, những người lên xe phải mang khẩu trang và ngồi giữ khoảng cách đúng tiêu chuẩn phòng dịch. Chiều nay đứng nhìn dòng sông Elbe vắng vẻ và kè đá của bến cảng còn nhiều khoảng trống, chỉ có vài chiếc tàu buôn đậu rời rạc. Bên kia bến đợi, những chiếc tàu du lịch tầm cở quốc tế có lớn, có nhỏ đang đậu lại im lìm, trông trống vắng lạnh lùng. Nghĩ tới những thủ tục rườm rà khi lên bến thì sự nôn nao, háo hức lúc ban sáng biến đâu mất. Lòng nghe buồn bã nên tôi hổng muốn đi đâu nữa hết.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 May 2026

Tôi, người Thừa Thiên và bạn quê ở Khánh Hoà, dù “cùng lận đận bên trời một lứa”, từ Việt Nam chạy sang đây không thể xem nhau là đồng hương, vì tôi với bạn không phải là người cùng làng (hương đản). Theo tục người Tàu, thì người cùng một tỉnh cũng gọi là đồng hương vì cùng đi thi hương ở một tỉnh, do đó ở hải ngoại chúng ta có nhiều hội đồng hương như Hội Đồng Hương Bắc Ninh hay Quảng Nam- Đà Nẵng, đặt tên như vậy là đúng. Trái lại, tôi và người bạn quê Khánh Hoà nói ở trên không thể ở chung trong một hội đồng hương được, nói theo cách nói sai bây giờ, tất cả người Việt gọi nhau là đồng hương, không lẽ có một hội đồng hương mang tên “Hội Đồng Hương Việt Nam”. Cũng như tôi và ông bạn nói trên có thể “liên lạc” với nhau, nhưng không thể nào “liên hệ” với nhau vì không phải là bà con, máu mủ, theo lối nói trong nước mà rất nhiều người bắt chước hiện nay. Nếu có một tiếng lâu nay chúng ta dùng sai, mà chúng ta biết là sai thì liệu chúng ta có sửa lại cho đúng không?

Chúng ta là người Việt ở trên đất Mỹ này chỉ có thể xem nhau là đồng bào, một danh từ mà trước đây người ta hay dùng theo nghĩa bóng là con dân chung  một tổ quốc, như anh em cùng một bào thai sinh ra.Nhiều người ngại không dùng tiếng “đồng bào” vì sợ xem thường người khác, vì ngày xưa các nhân vật lãnh đạo quốc gia hay mở đầu diễn văn bằng những tiếng “quốc dân”, “đồng bào”. Nhưng không lẽ chúng ta gọi những người Việt trong nước là “đồng bào” và những người Việt cùng chúng ta tỵ nạn sang đây là “đồng hương”? Trên báo chí vẫn thường thấy những tin “cứu trợ đồng bào bão lụt tại miền Trung” nhưng lại viết “đồng hương tham gia biểu tình đông đảo”! Điều đáng nói là hai tiếng “đồng hương” đã được lợi dụng triệt để để ca tụng tình thân ái, yêu thương, đùm bọc như “tình đồng hương”, “giá đồng hương”, giảm giá cho đồng hương, “đặc biệt cho đồng hương” nhưng nghĩa của nó là “lường gạt”, “xem thường”, “khinh bỉ”. Tôi không nói ngoa. Bạn thử vào một ngôi chợ Mỹ, rồi vào một ngôi chợ Việt để xem các cô bán hàng ở hai ngôi chợ này đối với khách khác biệt nhau ra sao? Bạn thử mua một món hàng ở tiệm đồng hương về nhà, không vừa ý, đem đổi lại, thái độ của ông chủ tiệm sẽ ra sao? Bạn thử vào một bãi đậu xe khu phố Việt để thấy lối hành xử của đồng hương chen lấn, vứt xe đi chợ giữa đường hay để sau đít xe người khác ra sao? Bạn thử vào một tiệm ăn đồng hương có nhiều người ngoại quốc đến ăn để xem người ta tiếp đãi khách da vàng, da trắng khác nhau ra sao?

Những chuyện giao tiếp giữa đồng hương với nhau, trên các tờ báo địa phương, người ta đã nói đi nói lại nhiều lần, nhưng chúng ta vẫn gặp những chuyện bực mình nghìn lần như một. Hôm qua chúng tôi từ một nhà hàng ăn trên đường Bolsa, lái xe ra trước một dòng xe nối đuôi nhau chạy liên tục. Biết thân, tôi đã chờ đợi khoảng thời gian khá lâu, những người đi qua toàn là đồng hương thân yêu, nhưng chẳng có ai đưa ra một dấu chỉ thân thiện. May quá, cuối cùng có một người ra dấu nhường xe cho tôi ra, vẫy tay chào lại thay một tiếng cám ơn, tôi thất vọng vì nhận ra người lái xe kia là một người Mỹ tốt bụng chứ không phải chủng loại da vàng mũi tẹt như tôi ..Sống trên mảnh đất có nhiều “đồng hương” nhất ở nước Mỹ này gần hai mươi năm, đã nhường lối xe ra hằng trăm lần cho tất cả mọi người lái xe, không phân biệt vàng, đen, trắng, đỏ, tôi ít khi thấy “đồng hương” mình vẫy một bàn tay để tỏ một cử chỉ thân thiện, mà chỉ thấy những khuôn mặt khó đăm đăm, ra chiều quan trọng, phớt lờ, trái ngược với nụ cười, lối xã giao của những người dân địa phương ở đây. Một lần khác trên con đường ra từ một khu chợ, một “đồng hương” còn trẻ, trong khi chờ xe đậu lấn qua phần đường ra, khiến chiếc xe của tôi phải mắc cạn không tiến được. Tôi xuống cửa xe nói với “đồng hương” xin nhích lên một tí, cho tôi đi lên, kẻo sau tôi còn nhiều xe đợi. Y có vẻ phật ý, lắc đầu. Tôi biết y coi thường người đồng hương, cũng như cái xe đời cũ của tôi. Nếu gặp một người Mỹ trắng sang trọng với cái xe đời mới, chắc y đã vui vẻ nhường đường. Cái này, ông cha ta thời xưa nói là kiểu “khôn nhà dại chợ”, đối với người nhà thì khinh bạc, lấn áp, nhưng đối với người ngoài thì sợhãi kiêng nể.

Tôi cũng đã từng đỡ cửa cho hằng trăm “đồng hương” ở các cửa hàng trong khu người Việt, điển hình là tại thương xá Phước Lộc Thọ, người ta nghĩ tôi là một ông già điếc đặc nên đã không hề mở miệng cám ơn, đôi khi lại không buồn đưa bàn tay ra đỡ giùm cánh cửa, khiến tôi phải khép nép đứng lại một bên, ôm cánh cửa chờ đồng hương bước qua, sợ buông tay, lỡ cánh cửa đập vào mặt người ta. Chẳng phải mới chút đỉnh “thi ân” đã đòi “cầu báo”,mà sợ dân địa phương cho mình là người kém văn minh.

Nhưng sự thực tôi đã lầm, vì nếu gặp một ông tây, bà đầm đỡ giúp cánh cửa thì “đồng hương” đã nở một nụ cười rất khả ái và không quên lịch sự cám ơn rối rít. Vậy câu nói “đồng hương khinh bỉ đồng hương” hẳn không sai. Câu chuyện này đã được ông Bá Dương bên Tàu và nhiều trang báo bên Mỹ nói chuyện nhiều lần, nhưng chẳng ăn thua gì, chỉ sợ người ta lại nhớ đến câu: “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!”

Bạn bè cứ cho tôi là hận đồng hương nên mới “Khổ lắm! Nói mãi!” Quả thật là tôi có bị một anh “nhóc con đồng hương” lừa trong bệnh viện, rồi lại bị một “từ mẫu đồng hương” gửi cho cái bill $3,500 về một dịch vụ “ảo” không hề có thực khiến cơ quan medi-care phải è lưng ra trả. Tôi cũng biết tôi có khuyết điểm là nhớ dai và chưa xoá bỏ được hận thù. Tôi biết nhiều người, nhất là giới cao niên, vì ngôn ngữ hạn chế nên phải bám riết vào đồng hương, không bị lường gạt kiểu này, cũng bị lường gạt kiểu khác, nhưng nghĩ “tình đồng hương”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hoà vi quý”, nên bị chúng coi thường, lại càng làm tới. Nhiều người than phiền bị những “công ty đồng hương” nhận tiền cọc, tiền mua vật dụng cho những dịch vụ sửa nhà, ghép phòng, xong rồi cao bay xa chạy. Rất nhiều gia đình khá giả đã bị “đồng hương” đem xe truck đến dọn sạch nhà. Ai hiểu rõ “đường đi nước bước” và chuyện tiền bạc của đồng hương hơn đồng hương, và dọn nhà đồng hương cũng dễ hơn vào dọn nhà Mỹ. Quả thật đồng hương là một tập thể rất dễ tin nên dễ bị lừa, từ chuyện chính trị cho đến chuyện nhỏ nhặt như viên thuốc, gói trà. Một nữ độc giả báo Viễn Đông vừa than phiền chuyện đi mua “cơm chỉ’ của đồng hương, về nhà thấy một con gián trong miếng canh mướp đắng, đem lại tiệm khiếu nại thì bị nhân viên không cho gặp chủ, lại còn bị mắng mỏ: “mướp có gián thì ra chợ mà khiếu nại!” Một người khách khác than phiền mua phải chè thiu, bản thân người viết bài này cũng đã có dịp mua về nhà món tôm càng kho đã bị chua, đành phải mang ra gửi lại cho chủ tiệm thức ăn “to go”, được trả tiền lại, không bị sừng sộ, là may mắn, đằm thắm tình nghĩa đồng hương lắm rồi. Trong khi thức ăn “to go” của các nhà hàng Mỹ, trong ngày nếu bán không hết phải đổ thùng rác, không để qua đêm vì vấn đề vệ sinh và điều quan trọng là biết tôn trọng khách hàng, tiệm “to go” bán thức ăn ở Little Saigon này để nhiều ngày, siu thối, nếu không gọi “xem thường, khinh bỉ đồng hương” thì chúng ta gọi bằng chữ gì? Phải chăng đó là ý nghiã của khẩu hiệu đẹp đẽ “đồng hương phục vụ đồng hương”!

Trước con mắt quan sát của thiên hạ đối với đồng hương chúng ta, nếu có ai đó có nhã ý giới thiệu nét văn hoá của đồng hương thì nên tránh xa các khu chợ đầy rác, tàn thuốc lá và cũng đừng nên giới thiệu nét “khả ái” của những cô cashier đồng hương, nó cũng không khác gì mấy các cô “Duyên Dáng Việt Nam Air Lines” đâu!

Người ta nói ở nước Úc, Pháp, Canada hay ở các tiểu bang miền Đông nước Mỹ, đồng hương đối với nhau tử tế hơn nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, cái gì ít mới quý. Một người Việt ở trong cộng đồng sắc dân khác rất dễ thương, nhưng cũng người này về với đám đông đồng hương thì sinh dễ ghét. Tôi biết nhiều ông bà ở tận miền đông buốt giá, ít người Việt, trong hoàn cảnh chưa gần đồng bào được, nên rất muốn về gần đồng hương. Gần đồng hương rồi mới gặp trăm thứ bực mình, nhưng chẳng thà bực mình với đồng hương còn hơn khốn khổ với trăm thứ “đồng bào” giai cấp mới hiện nay ở bên nhà. Tôi cũng vậy. Nhưng khổ tâm lắm mới phải nói ra! Nói mãi! Biết rồi! Khổ lắm!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 May 2026

Mới mấy tháng trước đây thôi, vào lúc nửa dêm, tại một tiệm bánh Pizza Papa John’s o thành phố Helena, Montana, một người đàn ông bịt mặt vào tiệm, tiến đến quầy thu ngân, đưa ra một mảnh giấy đòi nộp tiền. Công nhân của cửa tiệm vội vàng mở hộc, hốt hết tiền đưa cho “kẻ cướp,” nhưng không, người đàn ông bịt mặt, ngần ngừ rồi bổng bật khóc và nói rằng, ông ta chỉ cần ít thức ăn cho các con ông ở nhà đang đói. chứ ông không phải là tên ắn cuớp chuyên nghiệp. Người đàn ông, sau đó rời khỏi tiệm với một hộp pizza và một ít cánh gà, cho gia đinh của ông, đang không có gì ăn tối nay. Chù tiệm đã báo cảnh sát ngay sau đó, nhưng chắc là không có ai nỡ bỏ tù một người khốn khổ như vậy.

Người ta thường lên án nạn cướp bóc, trấn lột, nhưng nghĩ sao trong trưởng hợp này, liệu nhân viên cửa tiệm có thể rộng lượng cho đi một ít thức ăn, nếu có một người đàn ông đói khát bất ngờ, thay vì bỏ tiền ra mua thức ăn, lại ngữa tay xin một vài cái cánh gà, hay một miếng bánh cho gia đỉnh và chính ông ta không?

Trong tám tiếng đồng hồ chạy theo công việc, tám tiếng đồng hồ sống với gia đình và tám tiếng nghỉ ngơi hay đắm mình vào giấc ngủ, có thời gian nào chúng ta nghĩ đến những đồng loại bất hạnh đang ở gần với chúng ta đây thôi, trong nước Mỹ giàu có, hạnh phúc và cả ở trên quê hương khốn khổ đã xa bên kia của mình.

Chúng ta lên án người khác thì dễ nhưng mở lòng bao dung thì khó! Ở gần chổ đèn xanh, đèn đỏ đầu đường phố, chúng ta thường miệt thị những kẻ không nhà đang đứng hàng giờ để ngữa bàn tay xin lòng đoái thương của kẻ qua đường. Chúng lả kẻ chây lười, hút xách, nghiện ngập, lười biếng, bỏ tù chúng đi là vừa, chúng chỉ làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Trưng bảng xin tiền ra giữa đường là phạm luật, làm tiền là thương mại, phải có giấy phép của chính quyền địa phương, nhưng rồi cảnh sát cũng phải làm ngơ.

Ngoài phố Bolsa, trong những ông sư cùng mặc áo vàng đứng “khất thực” nơi đây, ai giả, ai thật. vậy tốt hơn là tôi ngoảnh mặt làm ngơ đi cho đỡ suy nghĩ. Trước một ngôi chợ ở khu Việt, vào những ngày giáp Tết, giữa dòng người tấp nập, vội vàng, tôi trông thấy một người đàn ông cầm một cái hộp quyên tiền có ghi dòng chữ: “Giúp trẻ em khuyết tật và mồ côi.” Người ta thấy ông nhưng không ai nhìn ông. Với sự nghi ngờ cố hữu, có lẽ mọi người đều có câu hỏi, “ông này thuộc cơ quan, tổ chức nào, quyên góp cho ai” hơn là đặt vào tay ông một đồng bạc lẻ. Ai cũng cho rằng cách đây vài chục năm, ở Mỹ chúng ta có thể dừng xe lại để cho một người xin quá giang, hạy là khi chúng ta gặp hoạn nạn, có thể ra dấu chặn một chiếc xe dang chạy trên đường để xin giúp đỡ, Nhưng ngày nay thì không! Thà làm ngơ đi, lương tâm nếu có cắn rứt đôi chút cũng chẳng sao, trái lại những việc qua đường có khi mang đến tai hoa cho bản thân mình, mà còn bị mang tiếng là dại dột. Bây giờ trên dất Mỹ, nơi vùng đất có nhiều sắc dân cư ngụ, thường xảy ra cướp bóc, ít khi bạn có thể hỏi một người Mỹ qua dường, chổ ty buu điện gần đây nhất hoặc đi dến dường Boach còn bao xa. Thường thì chúng ta được nhận một cái khoát tay hay một cái lắc đầu. Ở thời buổi này, thà làm người bất lịch sự còn hơn phải dây dưa vào những chuyện qua dường rắc rối!

Năm 1955, từ Huế vào Saigon, cậu thanh niên tình lẻ mới lớn, là tôi, đang đi với một người bạn học trên đường Bonard, thì một người dàn ông, ăn mặc khá tươm tất, tiến lại phia tôi, – mà không phải là bạn tôi -, mở lời:

– “Tôi đói quá! Cậu cho tôi xin một đồng để mua một nắm xôi!

Tội không chút ngần ngại, móc túi trao cho ông kia một đồng. Có lẽ thấy kiểm một đồng bạc đầu tiên không khó khăn gì, người đản ông chưa cất tiền vào túi vội, nài nĩ, nói thêm:

– “Cậu cho tôi xin thêm một đồng để mua tờ bảo, tôi lận lưng ngủ qua đêm!”

Tôi lại cho lay lên túi áo, nhưng lần này thi thằng bạn Saigon, vội giật cánh tay tôi kéo đi và chửi thẳng vào mặt tôi là “đồ ngu!” Tôi quả là ngu, vì quá tin người, giữa một Saigon hổn tạp, tập trung đủ hạng người tứ xứ.

Ở các thành phố. thình thoáng chúng ta nhẹ dạ giúp đỡ, khi gặp một người than thở, là mới ở bệnh viện ra không có tiền xe về Cần Thơ. Nhưng cũng hôm sau, ở một địa điểm khác, chúng ta lại gặp người này, “mới ở bệnh viện ra,” không có tiền xe về Rạch Giá! Vậy thi chắc chắn chúng ta không bao giờ bị mắc lừa nữa,  nhưng những người thật sự “mới ở bệnh viện ra, không có tiền xe” cần sự giúp đỡ của người khác, sẽ phải chịu thiệt thòi. Thế giới động lòng, giang tay đón tiếp những người vượt biển tị nạn vào những năm 80, nhưng sau dó, ngày càng đông người ra đi. phương tiện cứu giúp có hạn, nhất là sau khi biết “nhà nước cộng sản” chủ trương đóng tàu bán vé, lấy vàng, thì chủ trương cứu vớt của nhiều quốc gia cũng phải xét lại. Cho dến hôm nay, “độc lập-tự do-hạnh phúc” đã 38 năm, người Việt vẫn còn đóng tàu để trực chỉ nước Le. họ nghĩ là nơi dây. lòng trắc ẩn của người địa phương vẫn còn cao. Liệu chúng ta có sẵn lòng cứu vớt, giúp đỡ những người như thế hôm nay không?

Phải chăng, gian trá, bạo lựe đã tàn phá hết tình nhân ái trơng lòng chúng ta, tình thương người hầu như đã nguội lạnh qua thời gian và hình như xã hội càng văn minh chừng nào, lòng người càng trở nên chai đá chừng ấy. Liệu hôm nay, lỡ đường, như trong những tích truyện xa xưa, chúng ta có thể gõ cừa một ngôi chùa hay một nhà thờ đế xin tá lúc qua một đêm giá lạnh hay không. Chúng ta đã nghe câu chuyện cách đây hai mươi năm, một thi sĩ lang thang không nhà đã chết trong chiếc xe của ông đậu trước cửa chủa, phái chi cánh cửa chùa dêm ấy rộng mở!

Phải chăng đến lúc, lòng người đã nguội lạnh, con người đậ chai đá, con tim đã trở thành vô cảm, không còn nước mắt để khóc thương cho những mảnh đời khổ, hòan cảnh éo le của từng mỗi cá nhân hay cả mệnh nước khốn cùng nữa.

Tôi nghĩ rằng không!

Mỗi đêm trên đất Mỹ này, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam, già có, trẻ có, đã sụt sùi khóc cho những số phận bất hạnh của những nhân vật trong những cuốn phim bộ Đại Hàn, Có điều nước mắt ấy chảy ra không đúng chỗ, đúng lúc thôi! Bỏ cái tin hằng trăm phụ nữ, đồng bào ruột thịt của mình sang Nam Dương làm nghề “khui bia,” vụ 15 phụ nữ bị lửa sang Nga đi bán quán, để sau đó buộc phải bán dâm, một cô gái 14 tuổi bị bắt làm nghề mãi dâm khi đang có thai bốn tháng, hay người dân thứ tư bị công an cộng sản đánh chết trong mấy tháng đầu năm nay, không đáng cho chúng ta nhỏ dược một giot nước mắt hay sao?

Người cộng sán chỉ biết tập trung khóc tập thể ở ngoài công trường khi lãnh tụ qua đời đề biểu diễn” lòng trung thành của họ, nhưng hình như không còn chút mảy may xót xa, động lòng với những gì khốn khổ đang xẩy ra chung quanh mình, ngay trong cuộc sống mỗi ngày bởi áp bức, bất công!

***

Hải quân Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74), Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 26, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 May 2026

HQ Thiếu tá Van Huynh (hình của linkedin.com).

Hải quân Thiếu tá Van Huynh được bổ nhiệm vị trí Sĩ quan huấn luyện trên Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74) tại Newport News, Virginia, từ tháng 7 năm 2024. Nhiệm kỳ trước, ông là Sĩ quan Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC), Phân đội Norfolk. Ông đã tiến hành phân tích nhiều công việc trong quá khứ để xác định nhu cầu nhân lực tại các đơn vị trên bờ thuộc Tư lệnh Lực lượng Hạm đội Hoa Kỳ (USFFC), BSO 60 và Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ(COMPACFLT), BSO 70, từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 2 năm 2024.

HQ Thiếu tá Van Huynh tốt nghiệp Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (NROTC), Trường Đại học Oklahoma năm 2014. Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của một Sĩ quan trẻ, HQ Thiếu uý Van Huynh được chỉ định làm Sĩ quan cơ khí trên Khu trục hạm USS Mitscher (DDG-57), ông giám sát 25 Thủy thủ ngành cơ khí, hệ thống động lực Turbine (GSM) và Kỹ thuật viên hệ thống Turbine điện khí (GSE), bảo trì 4 động cơ General Electric LM 2500 series, từ năm 2014 đến năm 2016.

Nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung uý Van Huynh được thuyên chuyển phục vụ trên Tuần dương hạm USS Leyte Gulf (CG-55), ông được chỉ định làm Sĩ quan chống khủng bố và Sĩ quan an toàn, giám sát các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ Thuỷ thủ đoàn trên Chiến hạm. Ông trực tiếp huấn luyện cho hơn 300 thủy thủ về các thiết bị và chiến thuật mới nhất bảo vệ lực lượng, quản lý hơn 15 chương trình an toàn của Hải quân từ năm.2016 đến năm 2018.

HQ Thiếu tá Van Huynh “bên phải”, Sĩ quan huấn luyện HKMH USS John C. Stennis (CVN 74) và HQ Đại tá Matthew Kiser, Hạm trưởng. thực hiện động tác thể dục, sau buổi lễ khai trương phòng tập thể dục trên HKMH tại Newport News, Virginia, ngày 31 tháng 3 năm 2026 (Hình của Hải quân Hoa Kỳ do Thủy thủ Oliver McCain Vieira chụp).

Từ năm 2018 đến năm 2019, HQ Đại uý Van Huynh được chỉ định giữ chức Sĩ quan điều phối chương trình tuyển mộ, Khu tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Miami. tuyển chọn những nam nữ xuất sắc để họ gia nhập trở thành những sĩ quan tương lai của Hải quân Hoa Kỳ. Ông giám sát một Phân đội gồm 25 thủy thủ và thân nhân của họ về phúc lợi, tinh thần.

Tù tháng 10 năm 2019 đến tháng 2 năm 2022, HQ Đại uý Van Huynh được bổ nhiệm phục vụ tại Trung tâm tuyển mộ và hội nhập nhân tài Khu vực Columbus, Ohio, ông là Sĩ quan xử lý thường vụ một Phân đội của Phòng tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio chịu trách nhiệm về công tác tuyển mộ thuỷ thủ và sĩ quan tại các khu vực Columbus, Dayton và Beckley, Tây Virginia. Ông tường trình cho Chỉ huy trưởng Phòng tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio River Valley Ohio, chịu trách nhiệm về tinh thần và phúc lợi của đội ngũ tuyển mộ gồm 70 thủy thủ, 2 nhân viên liên lạc Hải quân tại trạm nhập ngũ và 5 nhân viên dân sự.

Tháng 2 năm 2022, HQ Thiếu tá Van Huynh được chỉ định làm Sĩ quan Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC), Phân đội Norfolk. Ông đã tiến hành phân tích nhiều công việc trong quá khứ để xác định nhu cầu nhân lực tại các đơn vị trên bờ thuộc Tư lệnh Lực lượng Hạm đội Hoa Kỳ (USFFC), BSO 60 và Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ (COMPACFLT), BSO 70, từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 2 năm 2024.

HQ Thiếu tá hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân khoa học (BS), kỹ thuật công nghiệp, Trường kỹ thuật Gallogly, Đại học Oklahoma Gallogly (College of Engineering, University of Oklahoma); Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh (MBA), chuyên ngành lãnh đạo tổ chức, Đại học Tiểu bang Youngstown (Youngstown State); Văn bằng chương trình giáo dục quân sự chuyên nghiệp liên hợp – Giai đoạn I, khóa học chỉ huy và tham mưu Hải quân, Trường Cao đẳng chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College Naval).

HQ Đại úy Van Huynh giới thiệu chương trình gia nhập Hải quân cho một học sinh trung học ( Hình của Chief Mass Communication Specialist Brian Dietrick/Release năm 2020).

HQ Thiếu tá Van Huynh là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Van Huynh/Loi Van Huynh, họ và tên Việt, Huỳnh Văn Lợi.

Nguồn: mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; nara.getarchive.net; bienxua-28 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2022