Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 17th Jun 2021

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ cuối

Vài ngày trước, tôi đã chứng kiến cảnh Biệt Ðộng Quân hoan hô người đàn bà can đảm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân trên bãi trực thăng, vì thế tôi không ngạc nhiên khi thấy chị ta cũng có mặt trong đoàn người mặt mày hí hửng đang từ dưới chân đồi hì hục leo lên.

Tôi không cho lệnh đốt khu doanh trại, vì ngại khói đen bốc cao có thể thu hút sự chú ý của các đơn vị Việt-Cộng ở xa. Tôi không muốn đụng đầu với quân cứu viện của chúng lúc này.

Khi rút lui, Trung úy Phước đã sơ ý không phá hủy cái kim hỏa của khẩu súng cối. Vài giờ sau khi chúng tôi rút đi thì đạn cối 82 ly bắt đầu câu theo đít quân ta.

Chúng tôi nhanh chân vượt qua hai ngọn đồi, rồi chui vào sâu trong rừng lau sậy.

Trời vừa tối. Tôi cho lệnh dừng quân căng lều. Rừng bao la, đạn cối của Việt- Cộng “ùm! ùm!” rơi bâng quơ trong núi.

Ngày 1 tháng Tư năm 1975, lên đường!

Sáng nay mọi người đều no bụng. Ðoàn quân tìm lại được cái vẻ oai phong, khí thế ngày nào!

Ðội hình một hàng dọc! Thứ tự như cũ! Cứ theo hướng mặt trời mọc mà đi! Cứ men theo bờ Ða Dung mà tìm đường về quận lỵ Di Linh.

Binh nhì viễn thám viên Triệu Tân mở đường. Người thứ nhì là Thiếu úy Ðặng Thành Học. Người thứ ba là tôi. Sau tôi là thằng Y Don Nier. Sau thằng Don…  là đoàn rồng rắn lên mây, cả liên đoàn hàng dọc.

Ðường độc đạo, hai bên là lau sậy và gai mắc cỡ. Nếu cứ tính lộ không trung bình mỗi người cách nhau 3 mét, thì toán đi đầu của tôi cách toán đi chót của Thiếu tá Ðàng phải trên 2 cây số.

Tới chiều thì chúng tôi bắt đầu đi lên một cái dốc khá cao. Tình hình vẫn yên tĩnh! Trời đẹp quá! Trên không mây trắng vài sợi bay lờ lững. Gió nhẹ như ru. Thông ngàn reo vi vu. Chim chóc hót vang lừng. Nếu là thuở thanh bình thì cảnh này thật lý tưởng cho các thi nhân lang thang đi tìm ý thơ…

“Choác!” thằng Tân té ngửa!

Tôi và Thiếu úy Học khựng lại. Một giây sau, tôi và chú Học mới bóp được cò hai khẩu M16 theo phản xạ, nhắm về hướng bụi cây um tùm bên phải dốc.

Ðạn trúng tảng đá trong bụi rậm. Ðạn văng ngược ra đường xoáy trong không khí, kêu “Tăng! Tăng!… Tằng! Tằng!”  rồi… “Xèo!” chui xuống cỏ.

Toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn phóng nhanh lên dốc, vừa chạy vừa bắn.

Toán viễn thám chiếm được đỉnh dốc, nhưng tên bắn tỉa đã cao bay.

Viên đạn súng trường Nga trúng ngay giữa trán Triệu Tân. Cái nón sắt vỡ. Cái vỏ đạn bằng đồng đỏ còn nóng hổi, nằm trên mặt đất sau tảng đá.

Chỉ với một viên đạn, Thượng Cộng đã loại ra ngoài vòng chiến một viễn thám viên lợi hại của đơn vị tôi.

Khi đại đội của Thiếu úy Học đã bố trí an ninh xong, chúng tôi tạm dừng để an táng Biệt Ðộng Quân Triệu Tân.

Cặp thẻ bài đeo trên cổ Triệu Tân bị chia đôi, một chôn theo người chết, một bị cất trong ba lô của Ðại úy Hoàn, Tiểu đoàn phó.

Tôi cho liên đoàn chiếm lĩnh ngọn đồi để nghỉ qua đêm.

Ðêm đó toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn âm thầm lên đường. Ðiểm tới là triền dốc cuối ngọn đồi, cách chỗ chúng tôi dừng quân gần hai cây số.

Mờ sáng hôm sau một quả Claymore nổ. Tên Thượng Cộng đang nửa đường lên dốc lãnh nguyên trái mìn cơ động, khẩu súng trường bá đỏ văng trên bãi cỏ bên đường: Có vay có trả! 

Sáng ngày 2 tháng Tư năm 1975, vừa xuống tới chân dốc, tôi báo cho hai tiểu đoàn đi sau chuẩn bị đánh lạc hướng địch.

Mười năm phục vụ ở Vùng 2, tôi đã hướng dẫn nhiều quân nhân dưới quyền thành thạo nghệ thuật xoá dấu vết khi di chuyển trong rừng.

Hôm nay liên đoàn bị một phen vất vả. Ðoàn quân đang đi hàng dọc thì được lệnh dừng lại, chuyển thành hàng ngang, đâm thẳng xuống suối. Tới suối lại được lệnh lội hàng dọc trong lòng suối. Lội được khoảng nửa cây số lại có lệnh chuyển hàng ngang leo lên đỉnh. Khi lên tới đỉnh, đoàn quân lại chuyển thành hàng dọc.

Phải ma mãnh như thế mới đánh lạc được sự theo dõi của Thượng Cộng.

Vì di chuyển vòng vo tránh vùng địch hiện diện, nên chúng tôi dạt về hướng Tây hơi xa.

Buổi trưa, tôi thấy đồn Tân-Rai sừng sững bên phải trục tiến quân của mình.  Như vậy chúng tôi còn cách thành phố Blao trên chục cây số.

Nhưng khi nhìn thấy đồn Tân-Rai đã bị bỏ trống, trên cột, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn bay, thì chúng tôi chỉ đứng xa mà ngó, chứ không dám leo lên. Mìn bẫy ai mà lường cho được!

Tôi cho quân chuyển hướng về Nam. Xế chiều, chúng tôi đã ở trên một đỉnh đồi nằm về hướng Tây Bắc của phi trường Con Hinh Ða.

Thành phố Blao nằm dưới kia, ngay trước mặt!

Từ trong phố, vẳng lại tiếng trống múa lân “thùng! thùng!”

Trước cửa vài ngôi nhà lác đác cờ bay, cờ nửa xanh, nửa đỏ, sao vàng. Blao đã rơi vào tay giặc!

Chúng tôi đành quay sang hướng Ðông, tìm đường lên Ðức-Trọng, Liên-Khương. Không biết tình hình Ðà-Lạt ra sao? Thôi thì, nước còn, ta cứ tát! Hy vọng, có còn hơn không! Bụng tuy đói cồn cào, nhưng chân chúng tôi vẫn cố gắng bước lên.

Ðêm 2 tháng Tư năm 1975, trong khi dò tìm tần số đài phát thanh Sài-Gòn, chiếc radio cầm tay của tôi bắt được một bản tin phát đi từ Lộc-Ninh qua Ðài Tiếng Nói Của Mặt Trận Dân Tộc Giải-Phóng Miền Nam.

Chương trình tối nay của đài cứ lặp đi, lặp lại lời kêu gọi của một thiếu úy trực thuộc Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân vừa ra đầu hàng quân Giải Phóng.

Anh thiếu úy này hết lời ca ngợi Quân Ðội Giải Phóng đã đối xử vô cùng nhân đạo với anh ta và hai người dưới quyền đã theo anh ta ra đầu hàng.

Anh ta còn lớn tiếng thiết tha kêu gọi những Biệt Ðộng Quân còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hãy noi gương anh ta, mau mau ra đầu thú để khỏi bị chết đói ở trong rừng.

Trưa ngày 3 tháng Tư năm 1975, cánh quân đầu của tôi tới sát Liên tỉnh lộ 8 B. Nơi này cách quận lỵ Di-Linh chừng năm cây số. Bên kia lộ là vườn trà. Trà bạt ngàn.

Hướng Tây Nam con lộ là rừng tre. Chúng tôi núp trong rừng tre.

Ngoài đường cơ giới địch chạy ầm ầm.

Chờ tới gần tối, tôi đem theo Thiếu úy Học và một toán cận vệ xuống thám sát con đường.

Khi chúng tôi đang kẹt giữa đường thì một chiếc xe tải đi tới.

Toán cận vệ Biệt Ðộng Quân bắn đại vào đầu xe. Chiếc xe bể máy, xẹp lốp ngừng ngay giữa đường. Hai tên Việt-Cộng ngồi ghế trước chết ngay tại chỗ.

Chúng tôi chưa kịp kiểm soát trên xe chứa gì thì nghe tiếng đàn bà và trẻ con khóc ré lên trong xe; xe chở toàn đàn bà và con nít!

Tôi không biết vì sao trong chiếc xe Zin của Việt Cộng lại đầy con nít, đàn bà?

Tôi gọi anh em rút êm về hướng cũ. Chúng tôi nhanh chân lui lại hướng Tây chừng một cây số, ngủ trong rừng trà.

Từ radio, đài BBC loan tin thành phố Ðà-Lạt mất!

Bây giờ chúng tôi chỉ còn cách bỏ núi, tìm đường ra biển.

Ngày 4 tháng Tư năm 1975, chúng tôi di chuyển thật chậm trong rừng thông và rừng cỏ hôi. Vùng này nằm giữa Di-Linh và Bảo-Lộc. Hướng tiến bây giờ là Ðông Nam. Tôi hy vọng tìm được đường tới Liên-Ðầm. Rồi từ Liên-Ðầm lủi trong rừng tre chuồn về Gia-Bắc, xuống Thiện-Giáo, Phan-Thiết.

Trưa đó toán đi đầu của tôi mới ló đầu ra một trảng trống thì nghe tiếng súng trường Nga bắn “tắc! bụp!”  Có người đi săn gần đây!

Vừa quẹo qua một cái cua đường mòn, Binh nhất Yang đi đầu chạm trán một cán binh Việt-Cộng ngồi câu cá trên một cái cầu ván bắc ngang con rạch nhỏ.

Tên Việt-Cộng không ngờ trong rừng còn có quân lính Việt-Nam Cộng-Hoà! Y há hốc mồm nhìn sững cái phù hiệu đầu cọp nhe nanh trên mũ sắt của Binh nhất Yang. “Ðoàng!” thằng Việt-Cộng rớt xuống rạch. Nước trong rạch không sâu lắm, cỡ đầu người.

Chúng tôi núp trong lùm tre nhìn về hướng đồn điền trà trước mặt.

Trời! Việt-Cộng đâu mà nhiều thế! Lều bạt, xe cộ, phòng không, đại bác, xe tank, xe xích kéo pháo và tải đạn, đậu sát rạt nhau theo các đường phân lô trà. Bóng người qua lại lố nhố.

Ðơn vị Cộng Sản Bắc Việt này cũng cỡ một E pháo (trung đoàn pháo).

Như vậy gần đây cũng phải có ít nhất là một E bộ binh yểm trợ cho cái E pháo nặng trước mắt tôi!

Trên cái đồn điền trà bát ngát đó, chỗ nào cũng có bộ đội. Chúng nói chuyện ồn ào huyên náo tự nhiên như đang ở giữa Hà-Nội.

Chẳng đứa nào để ý tới tiếng súng của Binh nhất Yang. Chắc chúng tưởng đó là tiếng súng bắn chim trời, gà rừng của đồng bọn?

Trong tình cảnh đó, tôi thấy chỉ có cách áp dụng chước thứ ba mươi sáu trong tam thập lục kế là tốt nhất. Tôi ra dấu cho mọi người đánh bài tẩu mã.

Anh Thiếu tá Ðàng đi đoạn hậu, còn ở tít đằng sau xa, chẳng hiểu ất giáp gì. Thấy tôi hối hả ra lệnh “chém vè” càng nhanh càng tốt, anh cũng cho đàn em vắt giò lên cổ chạy theo tụi tôi. (Chém vè: Danh từ Việt-Cộng, có nghĩa là rút chạy.)

Sau đó, nương theo rừng thông, chúng tôi từ từ di chuyển ngược về Tây Nam, băng qua các vườn trà Bắc Blao và Bắc Tân Bùi.

Dự trù, qua khỏi Tân Bùi, tôi sẽ lấy Quốc lộ 20 làm chuẩn. Nếu thuận tiện, chúng tôi đổ dốc xuống Thiện-Giáo.  Nếu có trở ngại, chúng tôi sẽ cặp quốc lộ để về Gia-Kiệm.

Ðoàn quân tiếp tục đi suốt đêm.

Mờ sáng ngày 5 tháng 4 chúng tôi đang nghỉ chân trên một khu đồi thông thì nghe hướng chân đồi, trên con đường xe be có tiếng người nói chuyện. Tôi cho lệnh Thiếu úy Ðặng Thành Học dẫn theo một trung đội theo dõi đoàn người này.

Mấy phút sau có tiếng súng bắn “Cành! Cành!”  và tiếng hét “Sát! Sát!” âm vang trong núi…

Thiếu úy Học không đem theo máy truyền tin, nên tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra.

Chừng mười lăm phút kế đó, mười mấy ông Biệt Ðộng Quân vừa thở, vừa leo lên đồi.

Học gạt mồ hôi trên trán, báo cáo với tôi,

– Trình Thái Sơn, tôi xuống tới đường thì đoàn người dưới đó đã đi tới khúc quanh. Chắc tụi nó là dân công Việt-Cộng, có cả phụ nữ đội nón lá. Tui cho lệnh bắn chỉ thiên để ra lệnh cho bọn họ dừng lại thì họ quăng hết đồ đạc, rồi chạy luôn! Tôi kiểm soát chiến lợi phẩm, chỉ thấy mấy cái đầu máy may, mấy cái radio, mấy cái đồng hồ treo tường, mấy cái nón lá, mấy cái áo tơi… Chẳng có thứ gì ăn được cả! Chúng tôi đói quá, chạy một hơi là mệt, đành bỏ cuộc!

Tôi an ủi Học,

– Xui quá! Phải chi đám dân công này mà đang làm công tác vận tải lương thực thì hay biết mấy!

Tôi thấy, cứ như những gì mà chú Học vừa nói thì bọn Việt-Cộng đi dưới đường chắc chắn mới trở về từ thị xã Bảo Lộc. Thành phố Bảo Lộc đã bỏ ngỏ nên trở thành mục tiêu cho bọn thổ phỉ cướp phá.

Tôi đoan chắc rằng, sau khi chúng tôi đi khỏi đây, thế nào chúng cũng mon men quay lại để tìm kiếm những gì mà chúng vừa vứt bỏ.

Hướng Tây Nam của chúng tôi là những rặng đồi cuối cùng của Cao Nguyên Bảo-Lộc.

Tôi biết chắc chắn rằng bên trái những rặng đồi xanh đó là Ðèo Chuối. Rừng chuối, rừng tre vùng này thì, eo ơi! Vắt nhiều không đâu bằng!

Trưa ngày 5 tháng Tư năm 1975, tôi đang suy tính làm cách nào an toàn đưa liên đoàn băng qua Quốc lộ 20 thì trong tần số 47.70 có người gọi Thái Sơn.

Tần số 47.70 là tần số đặc biệt của tôi, chỉ có tôi và Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân biết mà thôi.

Tần số này chỉ dùng trong trường hợp nguy biến hay bị thất lạc.

Tôi mừng rỡ vô cùng khi nhìn thấy bóng dáng một chiếc máy bay L19 đang bay lững lờ trên vùng trời hướng Ðông. Chiếc thám sát cơ L19 này trực thuộc Quân Ðoàn III.

Sau này tôi được biết, trên đường theo đoàn người di tản từ Ðà Lạt về Nha-Trang, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đã tới trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Khu 3 đang đi thị sát mặt trận. Trung tá Thanh đã báo cáo cho Tướng Toàn hay rằng, Thiếu tá Vương Mộng Long đang chỉ huy 3 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân còn phiêu bạt ở trong rừng. Ông Thanh đã xin ông Toàn cho máy bay đi tìm cứu chúng tôi.

Trung tá Thanh đã cung cấp đặc điểm nhận ra tôi là: “Thái Sơn nói tiếng Bắc 54” trên tần số truyền tin cố định FM 47.70.

Từ 31 tháng 3 năm 1975, mỗi chiều dừng quân, tôi đều bắt thằng Y Don Nier gắn cây ăng ten 7 đoạn vào đầu một cành cây cao rồi phát đi trong thời gian dài đúng một tiếng đồng hồ cái điệp khúc:

“ Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Thế rồi, một hôm, đài kiểm thính của ta đã bắt được lời kêu cứu ấy:

“ Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Tin tức này được trình cho Trung tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Ngay sau đó, Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được ủy thác nhiệm vụ tìm cứu đơn vị này.

Trung tá Nguyễn Khoa Lộc, khóa 18 Võ Bị, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân đã được chỉ định bay trên trinh sát cơ L19 từ sáng cho tới tối mỗi ngày để tìm kiếm chúng tôi.

Suốt thời gian này Trung tá Lộc trú ngụ trong tư dinh của Ðại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng Tỉnh Long Khánh.

Vì Ðịnh-Quán, Phương-Lâm, Blao, Di-Linh, Ðà-Lạt, đã rơi vào tay Cộng Quân, nên tất cả những phi cơ dám mạo hiểm bay trên Quốc Lộ 20, vùng giáp ranh Lâm-Ðồng và Long-Khánh đều có thể bị phòng không bắn rơi bất cứ lúc nào.

Vậy mà ròng rã 3 ngày, Trung tá Nguyễn Khoa Lộc đã gồng mình liệng tới liệng lui trên trời, cố tìm dấu tích bạn.

Sau khi bắt được liên lạc với anh Lộc, sợ địch phát giác ra vị trí bãi đáp, tôi phải dẫn theo một toán viễn thám tiến ra giữa một bãi tranh để chiếu gương cho máy bay, thay vì dùng lựu đạn khói.

Thấy chắc ăn rằng dưới đất là quân ta, anh Nguyễn Khoa Lộc mới chịu bay đi, hẹn ngày hôm sau sẽ gặp lại.

Tôi loan báo tin vui này cho anh Ðàng và anh Tài. Cả liên đoàn như hồi sinh.

Sau đó, tôi cho quân tấp vào bìa rừng nghỉ qua đêm chờ mai ra bãi bốc.

Ðêm đó là lần đầu, tôi, anh Tài, và anh Ðàng đóng quân chung. Ðó cũng là lần đầu chúng tôi có thời giờ kiểm điểm lại quân số một cách kỹ càng sau gần nửa tháng vất vả, gian nan.

Tôi cám ơn Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng đã phụ giúp tôi một cách rất đắc lực trong vai trò đoạn hậu vô cùng khó khăn. Với những đức tính can đảm, kiên nhẫn, chịu đựng, và khiêm nhường, Thiếu tá Ðàng là tấm gương tốt cho những người khác nhìn vào, cảm phục và noi theo.

Quân số Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân còn duy trì gần như toàn vẹn, phần lớn nhờ vào công lao của Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng, Khóa 15 Võ-Bị.

Trưa ngày 6 tháng Tư năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Phi Ðoàn 237 trực thăng Chinook của Quân Ðoàn III bốc ra phi trường Phan-Thiết. Ðổ xăng xong, trực thăng lại chở thẳng chúng tôi về Xuân-Lộc tăng phái Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.

Hôm sau, những quân nhân của hai tiểu đoàn còn lại cũng được trực thăng bốc về Phan Thiết.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi đặt chân xuống phi trường Long-Khánh.

Một cuộc lui binh nghiệt ngã đã đưa tôi tới chốn này. Quanh đây, tôi chỉ thấy một dải bình nguyên ngút ngàn đồng cỏ. Tìm đâu những rặng Chư-Prong, Chư-Gô suốt mùa sương phủ, mây che? Tôi đã thực sự lìa rừng, xa núi. Từ nay vĩnh biệt Pleime!

Tôi hiểu rằng chiến trận không dừng ở đây. Vì tôi biết một tướng hàng đầu Cộng-Sản đã tuyên bố:

“Muốn giải phóng Miền Nam, trước hết phải đặt bàn chân phải lên Tây-Nguyên, sau đó đặt bàn chân trái lên Duyên-Hải” (Võ nguyên Giáp)

Chúng tôi đã bình thản đợi chờ những trận đánh mới.

Tháng Tư 1975, những người lính của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gốc Kinh, Thượng Rhadé, Jarai, Bana của căn cứ Biên Phòng Pleime đã chiến đấu một cách tuyệt vọng, nhưng với một phong cách thật tuyệt vời.

Chúng tôi đã không bỏ nhau. Theo chân nhau, chúng tôi đã ngã xuống, từng ngày. Máu chúng tôi đã tưới đẫm từng ngọn đồi, từng đoạn đường, từng khu phố để ngăn bước giặc tràn vào Xuân-Lộc, Ðồng-Nai, Sài-Gòn.

VML- K20

Seattle, ngày 21 tháng Tư năm 2006

(Nhuận sắc tháng Ba năm 2021)

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11th Jun 2021

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 7

Còn Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân lại là sĩ quan thâm niên hơn tôi nhiều. Anh Trần Ðình Ðàng xuất thân Khóa 15 Võ Bị và phục vụ trong binh chủng Biệt Ðộng Quân từ những năm binh chủng mới được khai sinh. So với Thiếu tá Ðàng tôi là đàn em rất xa, về cả hai xuất xứ, Biệt Ðộng Quân cũng như Võ-Bị, vì tôi xuất thân từ Khóa 20 Võ-Bị.

Tôi xin ý kiến của người Niên Trưởng dễ mến này về việc tôi được chỉ định chỉ huy liên đoàn. Tôi hỏi anh có trở ngại gì khi anh phải nằm dưới sự chỉ huy của tôi không, thì anh Ðàng trả lời một cách khẳng khái,

– Chú chỉ huy là phải rồi! Chú thông thuộc địa thế Vùng 2. Chú được cấp trên, cấp dưới tín nhiệm. Anh sẽ nghe theo lệnh của chú. Yên chí đi!

Tôi siết tay anh Ðàng thật chặt,

– Cám ơn Niên Trưởng! 

Trong cơn nguy khốn, chúng tôi thấy thương nhau hơn. Trong hoạn nạn, chúng tôi thấy gần nhau hơn.

Sau khi nhận lệnh chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, tôi đích thân kiểm điểm lại quân số các ban, ngành của bộ chỉ huy liên đoàn thì phát giác ra, chỉ có Ban Truyền Tin là hiện diện khá đầy đủ, cái máy viễn liên PRC 74 còn đủ điện trì và vận hành tốt.

Ban Quân Y chỉ còn một hạ sĩ quan cùng hai binh sĩ. Ông Trung úy Nguyễn Ðăng Tri, Y sĩ trưởng của liên đoàn đã vắng mặt từ trước ngày di tản.

Ðại Ðội Trinh Sát của liên đoàn cũng không còn người nào, không biết ông Ðại đội trưởng là Ðại úy Nguyễn Văn Song và đại đội này đang ở đâu.

Tôi tập họp tất cả quân nhân còn lại của bộ chỉ huy liên đoàn thành một trung đội, rồi cho trung đội này đi theo cánh quân đoạn hậu của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.

Cũng từ đêm 28 tháng Ba năm 1975, tôi không còn liên lạc được bất cứ đơn vị nào của Quân Ðoàn II.

Thì ra, thời gian này Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II cùng các đơn vị khác đang bị Việt-Cộng truy kích đánh đuổi tơi bời, phải chạy từ tỉnh này tới tỉnh khác. Tình hình chỉ tạm yên sau khi lãnh thổ Vùng 2 Duyên Hải đã được sáp nhập vào Quân Khu 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Sáng 29 tháng Ba trong khi đánh răng rửa mặt, tôi bất chợt nhìn thấy một cái đầu hói nằm chung với mấy anh lính cận vệ của tôi trên một cái poncho.

Tôi hỏi Binh nhứt Bích, người lính nấu cơm cho tôi,

– Thằng đầu hói nằm kia là ai vậy Bích?

– Dạ! Trình Thái Sơn, người đó là Thiếu tá Tài. Tối qua ông Tài tới poncho của tụi em, xin vào ngủ chung, ổng nói đã xin phép Thái Sơn rồi!

Tôi ra lệnh,

– Kêu ông ta dậy! Nói với ông ta lên gặp tao!

Năm phút sau, Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài chân còn chưa mang giày, tới đứng nghiêm trước mặt tôi, miệng run lập cập,

– Ðêm qua tui lên xin gặp Thái Sơn để trình một việc quan trọng thì Thái Sơn đã ngủ rồi, tui phải chui vào nằm với tụi cận vệ của Thái Sơn chờ sáng nay gặp mặt Thái Sơn.

Tiếp đó ông Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nói một hơi,

– Trình Thái Sơn! Tinh thần binh sĩ của tiểu đoàn tôi xuống thấp lắm rồi! Một thằng đại đội trưởng của tôi đã dẫn hai thằng lính dưới quyền nó trốn đi mất tiêu! Thái Sơn gắng liên lạc với thượng cấp xin tiếp tế lương thực cho anh em. Anh em tụi tôi đói quá! Thái Sơn ơi!

Nghe xong, tôi chỉ biết khích lệ tinh thần ông Tài bằng vài lời,

– Giữa rừng già thế này khó tìm lương thực lắm. Ông nói với anh em, chịu khó ăn rau tàu bay cầm hơi. Chắc cũng không còn xa làng xóm lắm đâu, gắng sức lên! Ðiều quan trọng nhất là cố giữ vững tinh thần, đừng vì quá đói mà thối chí, nản lòng, đào ngũ. 

Những ngày tiếp theo, dưới quyền chỉ huy của tôi, liên đoàn tiếp tục cuộc hành trình đã dự trù. Theo hướng Ðông Nam, chúng tôi băng rừng lội suối nhắm về quận lỵ Di Linh và thị trấn Blao, cứ cặp theo Liên tỉnh lộ 8B thì sẽ không sợ lạc. Trên đường chúng tôi đi qua chỉ có tre, mây và lau sậy; trên đường chỉ có dấu chân voi.

Ðịa thế ở đây tôi quen lắm. Thời 1968 tôi đã lặn lội, lùng sục không sót một ngọn đồi nào trong vùng này. Ðã bao lần, tôi qua lại trên dải đất từ bờ Ðông sông Ða-Dung qua Quốc lộ 20 tới Cao nguyên Gia-Bắc giáp giới quận Thiện-Giáo, Bình-Thuận.

Ngày đó, Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đã biệt phái Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân của Ðại úy Hồ Khắc Ðàm (K16VB) cho Task Force South của Tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi lúc đó là Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh Ðàm.

Chúng tôi được trực thăng Hoa-Kỳ tải vào rừng. Tìm mục tiêu, diệt địch. Leo hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác.

Mười ngày sau chui ra bãi trống nhận tiếp tế gạo, mắm. Rồi lại leo lên trực thăng, đổ xuống bãi khác.

Lại tìm mục tiêu. Lại leo hết đồi này tới đồi khác. Lại tiếp tế…

Cứ thế, mỗi đợt cả tháng trường, chúng tôi lần mò trong núi. Chỉ những anh bị thương hay sốt rét là có dịp nhìn thấy phố…

Bảy năm sau, tôi lại lội trên những con đường mòn ngày xưa tôi đã dẫn quân đi qua.

Bảy năm sau, tôi vẫn nhớ đường nào lên Ðại-Nga, hướng nào về Tân-Bùi, ngả nào qua Tân-Rai.

Lương thực của chúng tôi đã gần cạn. Giầy vớ, áo quần bắt đầu te tua.

Ngày 30 tháng Ba năm 1975, mặt trời vừa lên, trong máy nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã có tiếng người trên trực thăng hối thúc:

“Yêu cầu Thái Sơn kiếm bãi đáp nhận chỉ thị gấp!”

Lúc đó chúng tôi đang ở gần một bãi ngô cũ. Chiếc trực thăng sà xuống. Người phi công quơ tay ngoắc tôi lia lịa. Tôi bước lên càng máy bay để nghe anh ta nói,

– Tôi được lệnh quân đoàn lên đón Thiếu tá về Ðà-Lạt.Thiếu tá lên tàu mau đi!

– Thế còn liên đoàn thì sao?

– Chúng tôi chỉ “rescue” một mình Thiếu tá thôi! Những người khác, bỏ! (Rescue: Cứu)

Tôi xua tay,

– Thôi! Nếu thế thì tôi không đi đâu! Tôi đang chỉ huy cả ngàn người. Tôi không mặt mũi nào bỏ đi một mình. Anh về báo với quân đoàn cố gắng bốc tất cả liên đoàn giùm tôi!

Nói xong câu đó, tôi bước xuống đất định quay đi thì người phi công cởi dây đai, mở cửa phi cơ. Anh nhảy xuống đất đứng nghiêm trước mặt tôi. Giơ tay chào tôi, anh nói lớn,

– Tôi không ngờ giờ này quân đội ta còn một vị chỉ huy đáng nể như Thiếu tá! Thiếu tá cho phép tôi chào kính phục ông và nói lời vĩnh biệt ông.

Người phi công nắm tay tôi lắc lắc mấy cái rồi anh buông tay tôi ra, leo lên buồng lái. Cả phi hành đoàn giơ tay vẫy vẫy giã từ. Tôi cũng giơ cái bản đồ vẫy lại. Chiếc trực thăng cuối cùng của Vùng 2 khuất dần ở chân mây.

Binh nhất Y Don Near mang máy truyền tin nội bộ của tôi lúc nào cũng đi sát bên tôi. Don đã nghe tất cả những lời tôi và viên phi công đối đáp với nhau. Chắc nó đã kể lại chuyện này cho bạn bè.

Trưa hôm đó, lúc dừng quân nghỉ chân, vài anh lính Rhadé, Jarai đã đến xúm quanh người chỉ huy của họ,

–  Ông Thiếu tá ơi! Ðừng bỏ tụi em, tội nghiệp!

–  Ừ! Thiếu tá không bỏ các em đâu! Thiếu tá lúc nào cũng ở bên các em. Chúng mình sống chết có nhau!

Nhìn những giọt nước mắt theo nhau lăn trên những gò má đen đủi của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình ấm lại.

Chúng tôi đã cạn hết lương thực. Trên đường đi, chúng tôi phải tấp vào những nương rẫy cũ kiếm rau tàu bay, củ chuối, nấu ăn cho đỡ đói. Răng người nào cũng đen thui vì nhựa chuối rừng.

Ðiều khổ nhất phải chịu đựng là, sau khi ăn hoa chuối, cây chuối hay củ chuối thì chất xơ của chuối làm cho chúng tôi mắc bệnh táo bón. Mỗi khi đi tiêu, chúng tôi phải ngồi ngâm hậu môn xuống nước, lấy cây cạy phân ra. Hậu môn đau rát lắm. Ði tiêu xong người nào cũng bước cà-náng, hai hàng.

Buổi trưa, tôi đang ngồi bên đường chờ bát canh rau tàu bay của chú Bích thì Thiếu úy Ðặng Thành Học rón rén tới gần. Học thì thầm,

–  Có con gấu to lắm, trên cây. Thái Sơn cho phép bắn làm thịt nghe?

Tôi sáng mắt lên,

–  Ừ! Bắn đi!

Học vui vẻ phóng về hướng rừng. Lát sau chú quay lại, mặt tiu nghỉu,

–  Thấy con gấu trên cây trong bụi lau, thằng lính gác muốn bắn, nhưng lại sợ Thái Sơn la. Ðợi khi em xin phép xong thì con gấu đã chạy mất tiêu rồi!

Tôi thì buồn vui lẫn lộn. Buồn vì mất ăn một bữa thịt gấu. Vui vì tới giờ phút này, tinh thần kỷ luật của đơn vị tôi vẫn chưa bị lung lay.

Chúng tôi đang ở bên bờ một con suối lớn. Dưới nước, những con cá đuổi nhau có ngời. Tôi chợt nghĩ ra một ý lạ: Ðốt cá!

Tôi gọi Thiếu tá Tài và Thiếu tá Ðàng sẵn sàng. Tôi ra lệnh cho 3 tiểu đoàn tản xa theo dòng nước.

Mỗi tiểu đoàn trấn giữ một khúc suối. Nơi đầu nguồn của mỗi đơn vị chỉ cần đốt 3 quả lựu đạn M26 là liên đoàn có một bữa cá no nê.

Tôi học được cách “đốt cá” từ khi còn ở Ðại Ðội Trinh-Sát của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Muốn đốt cá thì làm như sau:

Vặn phần đầu của quả lựu đạn ra, vứt đi.

Bẻ đầu một viên đạn M16 lấy thuốc súng đổ vào lỗ kích hỏa của trái lựu đạn.

Ðốt thuốc súng cho lửa xanh phụt lên.

Quơ qua, quơ lại quả lựu đạn cháy trong lòng nước. Hơi cay làm cho thủy tộc bị đui. Cá đen, cá trắng, lươn, cua, rùa, rắn, ếch, nhái, vân vân, con gì trong nước cũng nổ con ngươi nổi lên mặt nước.

Buổi chiều chúng tôi mỗi người được chia một lon Guigoz cá tươi. Sáng mai chúng tôi lại có sức để lên đường.

Ngày 31 tháng Ba năm 1975, chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi cách Bảo Lộc trên dưới hai chục cây số. Từ trên đỉnh, chúng tôi nhìn thấy thung lũng dưới chân đồi là một mật khu trù phú.

Kế hoạch đặt ra như sau: Ðại Ðội 3/82 sẽ tiến sát, rồi bất thần đột kích khu doanh trại chính; mỗi tiểu đoàn sẽ cắt hai chục người tải lương thực về.

Kế hoạch đã được thi hành như dự liệu và không có gì trục trặc xảy ra.

Ðại Ðội 3/82 thanh toán mục tiêu rất nhanh.

Một cán bộ Việt-Cộng quần áo bảnh bao đang ngồi bên bàn, chờ ly cà phê phin nhỏ giọt thì bị một viên M16 ghim vào ngực.

Hai cán bộ đang cho lợn ăn trưa cũng bị mỗi tên một viên M16 vào ngực.

Mấy anh cán binh đang tưới cây trong vườn cũng bị mỗi anh một viên M16 vào ngực. Cái mật khu dưới kia là một trung tâm huấn luyện của Tỉnh Ðội Lâm- Ðồng Việt-Cộng.

Trung tâm có khoảng trên ba trăm khẩu súng gỗ và cả chục khẩu súng thật.

Có một khẩu cối 82 ly với một kho đạn.

Tên Việt-Cộng đang chờ uống cà phê có vẻ là cấp chỉ huy. Những tên khác có lẽ là bọn lo công tác hậu cần. Bọn bộ đội bảo vệ trung tâm đã xuất trại vắng.

Quân ta làm chủ tình hình một cách lẹ làng.

Có một tai nạn lúc xung phong: Hạ sĩ Nguyễn Ba trong toán tà-lọt của tôi đã lủi đầu vào một bụi tre. Một cọng tre khô xuyên vào mắt trái của hạ sĩ. Ðói quá, quên đau, hạ sĩ xung phong bắt được một con gà và một gốc sắn rồi mới chịu lấy khăn tay bịt một mắt rút lui lên đồi. Ăn xong bữa thịt gà, hạ sĩ mới nhận ra con mắt bị thương đang hành hạ anh ta. Cái cọng tre còn lòi ra khỏi hốc mắt Hạ sĩ Ba cả tấc. Quân Y liên đoàn không dám rút cọng tre khỏi mắt Ba vì không đủ phương tiện cứu chữa. Họ chỉ dùng kìm cắt cọng tre ngắn đi cho đỡ vướng.

Vốn là một tay viễn thám gan lỳ, người tà-lọt của tôi cắn răng chịu đau, không rên, không khóc. Những ngày sau đó, hạ sĩ đành quàng súng lên vai, hai tay luân phiên che mắt đi theo đoàn tùy tùng của Ðại úy Hoàn.

Tôi cũng quên dặn dò các cánh quân coi chừng bắn gà, bắn heo có thể gây đạn lạc trúng quân ta. Kết quả, đạn của Ðại Ðội 3/82 đã sượt qua cổ một anh lính của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, thay vì trúng đầu một con gà. Người trúng đạn bị thương nhẹ.

Toán tải lương thực sau cùng của liên đoàn đã rút lui an toàn.

Bốn Biển Là Nhà

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 21 Aug 2023

Từ ngoài khơi biển Baltic muốn vào thủ đô Thụy Điển tàu phải qua ngang quần đảo Stockohlm. Dọc theo triền đảo những chòm nhà cất trên thềm đá, vách ván sơn trắng hoặc màu huyết dụ viền trắng, mái lợp ngói màu đỏ, màu đen nép mình dưới những tàn cây xanh lá vào mùa hè. Dưới bến nước, những chiếc thuyền con buộc chặt vào ghền đá nhấp nhô theo con sóng nhẹ vỗ bờ. Xa khơi những cánh buồm trắng lấp la lấp lánh dưới ánh mặt trời và nhiều tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi, ngang dọc trên làng nước xanh. Hoa tiêu hướng dẫn con tàu lòn lách để tránh đá ngầm, mất hơn ba tiếng đồng hồ tàu mới cặp cảng Stockholm.  Tôi đã từng đi khắp nhiều nơi và qua nhiều thành phố lớn, có những thành phố đi dạo một vài lần là tôi thấy sợ, lần sau tới không dám đi một mình. Nhưng mỗi khi tới Stockholm tôi rất an tâm dành hết những giờ nghỉ, mình ên tôi có thể thả bộ hết khu phố nầy qua khu rừng nọ, đi hoài mà không thấy chán.  Trưa hôm ấy tôi bỏ mấy chai nước lọc vô ba lô, mang theo dành uống dọc đường. Vừa ra khỏi cửa tàu thì gặp Jannet, một nữ sinh viên theo tàu thực tập, con nhỏ mập thù lù, còn vận bộ đồ thể thao bó sát người trông như con voi con. Mỗi lần nhìn nó là tôi muốn cười và nhớ ngày nó mới xuống tàu, tình cờ nó đọc truyện của tôi viết về một người đàn bà mập hơn một trăm ký…  Đọc xong nó tìm tôi, mặt ra vẻ khẩn trương căn dặn:
– Khi nào ông viết về tui thì phải đem cho tui đọc trước. Tôi lấy làm lạ mới hỏi nó:
– Tại sao? Tại sao tao phải viết về mầy?
 – Ông viết về người đàn bà mập hơn trăm ký, uống rượu, hút thuốc, làm đĩ và bị đàn ông chê…
– Có vấn đề với mầy sao? Nó dang hai cánh tay ra gạt gạt hai bên mông, nói:
– Tui cũng mập và cũng ghiền thuốc.
– Mầy bao nhiêu ký?
– Chín mươi bảy ký.
– Tao không viết về mầy đâu, mầy khỏi lo.
– Sao vậy?
– Vì mầy chưa hơn một trăm ký, răng mầy chưa vàng khói thuốc, không ghiền rượu và mầy  không làm đĩ.  Tôi nói như vậy mà Jannet cũng tưởng thiệt. Nó cười híp con mắt lại rồi nói với tôi, ở nhà nó thường chạy bộ cho xuống ký nhưng trên tàu không có chỗ chạy, còn tôi thì nấu ăn ngon quá làm nó nhịn không được, xuống tàu mới có mấy tuần mà nó lên ba ký lô. Tôi chỉ cho nó một khu rừng ngoài cổng rào bến cảng có con đường vắng người, vắng xe, bây giờ là mùa hè chạy bộ ngon lắm. Hôm nay nó đón đầu tôi lại khoe rằng một lát nữa nó sẽ lên khu rừng mà tôi chỉ cho nó hôm trước để chạy bộ. Tôi nói một câu khích lệ:
– Tốt lắm, chạy tới khi nào mệt mầy có thể ngồi nghỉ chưn trên một tảng đá hay chiếc băng bên đường mòn nghe chim hót cũng khoẻ khoắn tâm hồn.  Tôi day lưng bước tới giữa cầu thang thì thằng Ivan từ ngoài boong tàu chạy tới hỏi tôi đi đâu. Tôi khoa tay một vòng vui vẻ, khôi hài nói:  
– Tao đi dạo phố, dạo rừng và dạo loanh quanh…
 – Ông đợi tôi thay đồ xong tôi đi với.
– Mầy không làm việc? Nó cười:
 – Tôi bây giờ là hành khách rồi chớ không còn phụ máy nữa.
– Ủa! Tuy nó không nói thêm nhưng tôi cũng đoán được chuyện gì đã xảy ra cho nó, tôi nói tiếp:
– Vậy thì khỏi làm việc một buổi mà được ăn lương cũng sướng.
– Không đâu, kỳ nầy tui bị Sếp cho về thiệt rồi.
– Tao thì không nghĩ vậy, nhưng thôi, mầy lên thay đồ lẹ đi, xuống đi dạo chơi một lát, chuyện tới đâu tính tới đó.   Ivan thở ra một cái rồi quay lưng đi lên phòng thay đồ. Ivan với Viktor  là người Ukrainian đổi xuống vừa được hai tuần thì viên thuyền thưởng thu hồi master key (loại chìa khoá mở được hết các cửa phòng trên tàu) của hai người. Đã vậy còn xuống lưu ý đầu bếp hễ thấy thằng nào ăn uống không dọn dẹp, sống vô kỷ luật thì lên nói với ông. Sợ hai người tối xuống kho lấy cắp đồ ăn, ông dặn sau khi xong việc nhớ khoá kho lương thực cẩn thận.   Mấy năm nay tôi hải hành chung với người Ukrainia cũng nhiều. Thiệt tình mà nói, phần đông họ sống rất kỷ luật, ăn xong dọn dẹp đàng hoàng, tuy có ăn nhiều hơn người Hoà Lan nhưng họ chỉ ăn những món ăn nào đầu bếp dọn ra bàn hoặc những thức ăn thừa thay vì đổ bỏ tôi dành lại cho họ ăn vào buổi chiều và phiên trực đêm, tôi chưa bao giờ thấy họ léo hánh xuống kho thực phẩm. Chỉ có người Hoà Lan ít có thằng biết dọn dẹp, phần đông ăn xong, chùi miệng, phủi đít đứng dậy đi. Trên tàu tuy ăn, uống miễn phí nhưng cũng có mức quy định, không ai được đòi hỏi và không được khen chê, kể cả thuyền trưởng. Theo nguyên tắc là vậy, nhưng phần đông người nào cũng muốn ăn giống như thực đơn trong nhà hàng và ban đêm tự tiện xuống kho lấy đồ ăn, nhứt là là các cô gái hay lấy sữa tươi và trái cây đem lên phòng dự trữ. Thấy hao quá đầu bếp khoá kho lại thì thuyền trưởng biểu cứ để mấy cô ăn thoải mái. Ăn thì đòi hỏi nầy nọ còn khi có chuyện kêu làm thì thoái thác, đường ống thoát nước trong bếp bị nghẹt và cái máy rửa bị hư, nếu thợ máy người Ukrainia thì thuyền trưởng bắt phải sửa liền, còn thợ máy Hoà Lan cứ hẹn nay hẹn mai cả mấy tuần rồi mà có ma nào rớ tới đâu.  Ivan và Viktor mới vừa xuống tàu đã bị thuyền trưởng dằn mặt, làm cho mấy tên thủy thủ mạt rệp ngoài boong cũng ăn theo rồi coi thường và nói xấu con người ta, chỉ có Jannet và thuyền phó hai đứa có hơi cà tửng nhưng còn biết điều và sống rất hoà đồng với mọi người. Bị cả đám ‘khủng bố’ nên vào bàn ăn Ivan và Viktor rụt rè không dám ăn no và mỗi khi tàu ghé bến hai đứa phải thay phiên đổ bộ mua thêm thức ăn đem xuống tàu dự trữ phòng khi đói bụng.   Hôm Ivan xuống tàu cho tới nay, ngày nào tôi cũng nghe thợ máy lớn tiếng chửi bới con người ta, gặp ai hắn cũng chê thằng Ivan lười biếng và không biết làm gì hết. Hồi sáng nầy tôi cũng nghe hắn chưởi Ivan một chập và đuổi không cho vô phòng máy. Tại vì hắn ganh tỵ với Ivan rồi kiếm chuyện chưởi chơi cho bỏ ghét, chớ thật ra với bằng cấp và kinh nghiệm cỡ như Ivan nếu ở bên Ukrainia thì nó đã lên thợ chánh lâu rồi.     Tôi biết viên thợ máy hồi hắn còn là sinh viên thực tập, lúc đó hắn rất thô lỗ, hống hách và sống không hoà đồng với ai hết. Tôi nhớ lần đầu tiên xuống tàu, hắn xông vào bếp kêu tôi phải nấu nầy nấu nọ cho hắn ăn. Tôi tưởng hắn mới xuống chưa quen luật lệ trên tàu nên mới từ tốn giải thích cho biết. Nhưng hắn hằn học lớn tiếng chửi bới om xòm. Tức mình, tôi chụp lấy cái giá múc canh nằm cạnh bên đưa lên doạ đuổi hắn đi chỗ khác, bằng không tôi đâp vô mặt cho phù mỏ. Hắn sợ tôi đập thiệt bèn chạy lên mét thuyền trưởng, thuyền trưởng xuống hỏi tôi chuyện gì. Tôi kể lại đầu đuôi cho ông nghe và nói cho ông biết, nếu hắn không xin lỗi tôi thì từ ngày hôn nay cho tới ngày về tôi sẽ không dọn phần ăn cho hắn nữa. Thuyền trưởng nghe xong liền bắt hắn tới xin lỗi và  doạ cho hắn về bờ nếu còn sống vô kỷ luật. Có hôm hắn la cà vô bếp hỏi tôi, có bao nhiêu người Việt sanh sống tại Hoà Lan. Tôi vô tư trả lời:
 – Khoảng chừng đâu mười lăm mười sáu ngàn gì đó. Tự nhiên hắn gắt: – Như vậy là quá nhiều, quá nhiều. Tôi day lại:  
– Ê, mầy biết dân Hoà Lan của mầy hiện nay sống ở nước ngoài bao nhiêu không? –Tôi không biết.
– Vậy thì về tìm hiểu cho biết,  khi nào biết rồi trở lại đây nói tiếp, tao không thích nói với những người nói ra mà không biết mình nói gì. Thấy tôi bắt đầu khó chịu hắn liền dịu giọng.
– Nhưng Hoà Lan đất hẹp người đông,  mà người ngoại quốc ở rất nhiều, như trên tàu nầy, ông thấy đó toàn là người nước ngoài không thôi.
– Chuyện đương nhiên, dân Hoà Lan mầy nói nhiều hơn làm hoặc làm thì tà tà, thích chỉ tay năm ngón, ăn thì muốn ăn ngon và đòi hỏi quyền lợi quá cao nên chủ người ta không mướn nữa.  Tao cho mầy biết, không có những người ngoại quốc tới Hoà Lan làm những chuyện lặt vặt, dơ dáy thì hãng, xưởng ở Hoà Lan đóng cửa và ngành hàng hải Hoà Lan sập tiệm từ lâu rồi, chớ còn có tàu bè đâu để cho mầy đi thực tập.   Phần đông người Hoà Lan được cái là khi nói chuyện biết mình đuối lý thì xuống nước xin lỗi hoặc bỏ đi chớ không cãi chầy cãi chối như nhiều dân khác.    Thời gian sau khi hắn ra trường làm phụ máy rồi lên thợ máy chánh. Chẳng bao lâu ai cũng biết tiếng hắn ta là một thợ máy khó chịu nhứt trong đám thợ máy của công ty. Những năm đầu hắn lên làm thợ máy chánh tôi chưa đi chung với hắn. Thỉnh thoảng lên hội quán gặp bạn đồng nghiệp hay than phiền rằng ngày nào hắn cũng xuống phòng bếp đòi nầy đòi nọ và còn dở giọng du côn mắng chưởi mỗi khi dọn ra những món không hợp khẩu vị của hắn. Đó là gặp những đầu bếp có lương tâm chỉ phàn nàn đôi chút rồi thôi, chớ còn gặp những đầu bếp tâm tánh không bình thường mà chọc giận thì Bếp sẽ trút cơn giận bằng cách trộn đồ dơ vô thức ăn rồi dọn ra cho ăn. Có một đầu bếp mà trong công ty ai cũng khen ông có bàn tay vàng, vì ông pha chế thức ăn rất ngon. Trước mặt đám officers lúc nào ông cũng vui vẻ, thưa thưa dạ dạ… nhưng người nào xúc phạm tới ông thì trước sau gì cũng bi ông cho ăn đồ bậy bạ. Tánh tình ông rất trào phúng, mỗi khi lên hội quán ông hãnh diện kể lại cho đồng hương của ông chuyện ông cho những thằng officers nào hống hách ăn những món cực kỳ dơ dáy do ông tự nghĩ ra. Hôm cuối năm, trong lúc ông bận rộn lo cho bữa tiệc, tên thợ máy vô bếp đòi nầy đòi nọ và nặng lời với ông làm ông tức giận, ông bèn lấy tinh trùng của ông trộn vào sốt whisky dọn ra trong bữa tiệc Giáng Sinh. Những đầu bếp khác mỗi khi bực mình chỉ nghĩ ra những cách thông thường hạ cấp như khạc nhổ vào thức ăn dọn ra cho ăn hoặc múc nước trong bồn cầu pha cà phê, pha trà đem ra cho uống. Còn ông thì cao cấp hơn, pha chế chỉ có món sốt whisky phải tốn hao bao nhiêu năng lượng. Nhìn mái tóc bạc phơ, thân thể ốm nhôm ốm nhách, tôi đâm nghi ngờ cho cái tâm thần và ái ngại cho cái sức khoẻ của ông, bảy tám tháng trời xa nhà, xa vợ, hễ mỗi lần tức giận là mỗi lần ông trút hết năng lượng vô món ăn để phục vụ cho người khác, cứ như vậy tiếp tục cho tới ngày về thì còn sức lực đâu nữa để phụ vụ cho bà nhà.   Đó là những chuyện tôi nghe về tên thợ máy trước đây. Dĩ nhiên lúc đó tôi cũng như nhiều đồng nghiệp có ấn tượng không tốt về hắn. Mấy năm gần đây hắn đổi qua đi chung tàu tôi. Tôi lấy làm lạ khi thấy hắn sống rất kỷ luật, ăn uống xong hắn dọn dẹp đàng hoàng và sau khi ra khỏi phòng ăn luôn lúc nào cũng cám ơn đầu bếp. Những cái ý nghĩ lúc hắn còn là sinh viên trước kia và những tiếng đồn xấu về hắn sau nầy trong tôi đều tiêu tan hết. Nhiều lần gặp bạn đồng nghiệp, nhắc tới thói hư tật xấu của hắn ta tôi bèn lên tiếng đính chánh và kể cho họ nghe những tánh tốt mà tôi đã chứng kiến trong những ngày tháng hải hành chung với hắn. Tức thì bạn đồng nghiệp của tôi nhau nhau phản đối, họ nói tại vì tôi là người Hoà Lan nên hắn không đụng tới đó thôi.   Mấy ông bạn của tôi nói cũng đúng một phần. Riêng tôi thì còn nhiều nguyên do khác nữa, tôi đã có quốc tịch Hoà Lan hơn hai mươi năm rồi, nhưng tôi chưa thấy người bản xứ nào xem tôi là đồng hương của họ hết, họ có thể coi trọng tôi vì tôi là đầu bếp lâu năm và cách cư xử của tôi khác hơn các bạn đồng nghiệp. Có hôm thợ máy hỏi ba bốn cái trứng chiên, nếu gặp những đầu bếp khó khăn thì cự nự hoặc đầu bếp cắc cớ bỏ đồ bậy bạ vô trứng trộn lên đem chiên rồi dọn ra cho hắn ăn. Tôi thì không làm như các bạn, ngoại trừ những tên sống vô kỷ luật, xấc xược tôi mới dùng biện pháp mạnh để dằn mặt cho hắn biết, không thì bất cứ người nào có con mắt to hơn cái bụng tôi ép ăn thêm, mấy tuần trước trong giờ điểm tâm thợ máy hỏi xin sáu cái trứng chiên với thịt ba rọi ung khói, ăn chưa chưa hết hắn đã ợn lên ợn xuống rồi đứng dậy chạy vô toilet mửa thốc mửa tháo ra hết sạch. Tới nay nghe tôi nhắc tới trứng chiên thì hắn khoát tay lia lịa và lè lưỡi ọe ra… * Stockholm tên thủ đô vương quốc Thuỵ Điển được chiết ra từ địa danh archipelago Stockholm (quần đảo Stockholm). Thủ đô Stockholm, được nối kết năm mươi bảy chiếc cầu qua mười bốn hòn đảo trọng yếu. Thành phố với những đền đài tráng lệ nằm trong những chòm cây xanh và nhiều cao ốc với lối kiến trúc vừa hiện đại vừa cổ kính đứng hiên ngang trên ngọn đồi hướng ra làn nước như thể ngóng nhìn tàu bè qua lại. Đi trong phố có thể thấy dấu vết nghệ thuật ở khắp nơi, không kể tới những bức tượng đồng khiêu gợi giữa mấy hồ nước và nhiều vòi nước phun tua tủa trong Millesgården của nhà điêu khắc lừng danh Carl Milles và vợ ông là một nữ hoạ sĩ danh tiếng Olga Milles trên hòn đảo Lidingö ra, ta còn thấy những tranh ảnh của nhiều hoạ sĩ và nhiếp ảnh gia được trưng bày bên góc phố và tranh vẽ dọc theo hai bức tường dưới đường hầm xe điện dài hơn trăm cây số đã tạo cho thành phố Stockholm hoành tráng nhứt so với các thành phố lớn trong vùng biển Baltic.   Tôi với Ivan đi dọc theo bực thạch của bờ nước thẳng ra trung tâm thành phố, qua ngang một chiếc cầu và loanh quanh công viên xem hoa lá cành… Đường xá tuy đâm qua xuyên lại, lúc lên cao, khi xuống thấp nhưng khang trang sạch sẽ. Đi trong phố tôi vẫn cảm nhận được mùa hè mát mẻ len lỏi cùng những du khách vui tươi và dân bản xứ hiền hoà thân thiện. Tôi có thể yên tâm đi khắp thành phố mà không sợ cướp giựt giữa ban ngày ban mặt như mấy thành phố lớn bên nước Nga. Cuối cùng chúng tôi dừng lại xem tranh, ảnh nghệ thuật được dán lên những bước tường nhỏ dựng trong một khu đất hẹp ngay góc phố cạnh trạm xe bus và bến tàu đò. Sau khi rảo xem hết mấy bộ tranh, ảnh dán tường Ivan ngỏ ý muốn tìm internetcafe. Cái thằng, nãy giờ đi với tôi mà đầu óc nó để đâu đâu, tôi hỏi:
– Mầy muốn lướt mạng?
– Không tôi muốn gọi về nói chuyện với phòng lao động. Thì ra nó bức xúc về chuyện đã xảy ra trên tàu:
– Mầy không có di động à?
– Có nhưng không có thẻ của Thuỵ Điển. Tôi móc điện thoại đưa qua Ivan:
– Mầy có thể dùng máy nầy.
– Tui nói chuyện với nhân viên phòng lao động lâu lắm, vô internetcafe dùng Voipcheap cho rẻ tiền.
– Sao mầy không vô hội quán dùng internet miễn phí.
– Ở đây có hội quán sao?
– Có chớ, hội quán truyền giáo, nó nằm ở phía ngoài phố, cách tàu mình đậu đâu chừng mười phút đi bộ.   Chúng tôi đi ngược trở ra ngoại ô hướng về bến cảng. Đi được một đoạn khá xa, không hiểu sao Ivan cất tiếng hỏi tôi:
– Sao trước kia ông không chọn định cư ở Đức.
– Chỗ nào cũng vậy, miễn sao yên ổn là sống được rồi.
– Nhưng người Hoà Lan coi rẻ người ngoại quốc.
– Chuyện kỳ thị chủng tộc và  kỳ thị vùng, miền thì dân tộc nào cũng có. Hơn hai chục năm qua nấu ăn cho nhiều dân tộc khác nhau, tao đã chứng kiến nhiều xung đột giữa dân xứ nầy với dân xứ khác. Theo tao thì từ những người có địa vị cao cho tới những phần tử hạ cấp có thể chưởi bới thậm chí đánh nhau chỉ vì miếng ăn tầm thường, huống hồ chi đụng chạm nghề nghiệp. Không riêng gì dân Hoà Lan hay dân Việt Nam hoặc dân nào khác… dân Ukrainia của mầy cũng vậy thôi. Thử hỏi nếu dân nước nào sang Ukrainia dành lấy những việc làm béo bở, có khác nào giựt lấy túi khoai tây của dân mầy, như vậy mầy có vui vẻ với họ không.
– Ông nghĩ vậy sao?
– Tao chắc là vậy, tuy nhiên có người chống đối ra mặt, có người thì kín đáo không ra mặt. Chuyện của mầy tuy có hơi quá đáng, tại vì mầy xui xẻo xuống chiếc tàu gặp nhằm viên thuyền trưởng ba trợn, thợ máy lố lăng nên mầy nghĩ người Hoà Lan kỳ thị, thật ra thì phần đông dân Hoà Lan rất tử tế và sống hoà đồng hơn dân Đức nhiều. – Tui chưa thấy đầu bếp nào như ông.   Câu nói nầy tôi nghe cũng rất nhiều và hiểu ý nó ám chỉ về chuyện gì rồi, nhưng tôi không muốn tiếp tục bới sâu vào ba cái chuyện trí thức, trí ngủ mà nghe riết đến độ mất cảm giác. Tôi khôi hài nói trớ sang chuyện khác: – Có lẽ tại vì tao là một đầu bếp nấu ăn hấp dẫn nhứt, tánh tình tốt nhứt và là người Việt Nam duy nhứt trong công ty… thì dĩ nhiên tao không giống đầu bếp khác ha ha… Ivan nghe tôi dí dỏm nó cũng cười ra tiếng. Tình cờ lúc đó chúng tôi đi ngang một quán ăn nằm bên góc đường. Tôi liền chỉ tay qua tấm bảng hiệu màu đỏ đề hàng chữ màu vàng to tướng “Vietnammese’s Wok”:
– Kìa! Mầy thấy không, nhờ thức ăn Việt Nam quá hấp dẫn nên mới có mặt khắp nơi trên thế giới, cho đến người Thái Lan cũng phải mượn tên Việt Nam gắn lên nhà hàng của mình.  
– Nhà hàng đó của Thái Lan? – Đúng rồi, lần đầu tao tưởng nhà hàng nầy của người Việt, tao bèn hiên ngang mở cửa bước vô, gặp ngay một người đàn bà, tao hỏi trực tiếp bằng tiếng Việt, tức thì được bà ta xổ một tràng tiếng Thái làm tao trơ mặt chẳng hiểu bà nói gì hết ráo.
– Nhưng tại sao họ không lấy tên Thai’s Wok?
– Nếu đề Thai’s Wok thì không có khách vô ăn, nhà hàng mà không có khách thì mầy cũng biết kết quả thế nào rồi. Chúng tôi đi ra khỏi thành phố dọc trên con đường xuyên ngang tán rừng nhỏ,  tới một ngã ba, tôi chỉ qua con đường bên phải: – Hội quán nằm trên một khoảng đất rộng, cạnh bìa rừng mầy đi chồm qua một chút thì mầy sẽ thấy bên lề phía tay trái hàng chữ Seamen’s misstion màu đỏ trên tấm bảng chỉ đường hình mũi tên, cứ theo đó đi chừng vài phút sẽ tới.
– Ông không vô sao?
– Không, vô lo chuyện của mầy đi, tao đi dạo một lát rồi còn phải xuống tàu lo cho bữa ăn chiều.   Tôi khoát tay chào Ivan rồi day lưng đi theo lối mòn vô khu rừng nhỏ trên con đồi thấp. Đi trong rừng cây mát mẻ, tôi cảm thấy lòng mình êm ả như mặt biển của vùng Baltic phẳng lặng vào những ngày hè. Khi chưn mỏi tôi ngồi xuống một chiếc băng bằng ván bên con đường vắng bóng người và không nghe cả tiếng xe. Tôi ngồi xuôi chưn ngay ngắn, hít thở đều đều… Tiếng gió nhẹ khua động lá cây và chim chóc kêu rời rạc làm đầu óc tôi buồn buồn, mắt tôi lim dim… Trong lúc mơ mơ màng màng, chợt một cơn gió lành lạnh phớt mặt làm tôi mở mắt ra, tôi day người lại phía bên phải con đường, thấy một ông già cao lêu nghêu, ông bước êm ru không tiếng động nhưng thoáng cái đã qua ngang chỗ tôi ngồi, tôi có cảm giác như chiếc bóng nhưng rõ ràng là một thân người, tôi đưa tay lên dụi mắt mấy cái, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ giữa rừng cây vắng vẻ làm tôi rùng mình đứng phắt dậy bước theo hướng ông đi và nhìn thẳng con đường phía trước, nhưng không thấy ông đâu hết, ngó quanh ngó quất hy vọng ông đứng tiểu tiện ở một gốc cây nào đó… cũng không thấy. Tôi nghe sờ sợ dợm quay lưng định đi ra khỏi khu rừng, chợt con Jannet xuất hiện từ phía trước, tay cầm gói thuốc với hộp quẹt, bước những bước nặng nề đi tới. Tôi liền hỏi nó:
– Mầy có thấy một ông già mới đi ngang đây không? Nó ngơ ngác ngó quanh:
– Không, tui có thấy ai đâu.
– Lạ thật!   Tôi quay trở lại chiếc băng và ngồi xuống,  Jannet cũng theo tôi ngồi xuống cạnh bên.  Một lát sau cơn hoang mang lắng dịu, tôi nhìn qua con nhỏ. Thấy nó vô tư không để ý gì tới thái độ mất thần của tôi và mặt mày nó tỉnh bơ không có vẻ gì là người chạy bộ hết. Tôi hỏi:
– Nãy giờ mầy chạy bộ hả? Nó lắc đầu cười và nói như chữa thẹn:
– Đường ở đây dốc lên, dốc xuống nhiều quá nên tui đi bộ.   Tôi nhìn thân hình đồ sộ của người con gái mới hai mươi tuổi mà thấy lo, không biết một vài năm nữa thịt trên người của nó thừa ra cỡ nào. Jannet rút ra một đếu thuốc cầm trên tay nhưng chưa đốt, nó day qua nói:
– Hồi nãy ông thợ máy tìm Ivan.
– Nó đuổi người ta rồi còn tìm làm chi. 
– Không biết, nhưng tôi mới thấy Ivan đi vô hội quán.
– Ừa, tao nghĩ nó gọi điện về báo cáo với phòng lao động chuyện xảy ra hồi sáng.
–  Dĩ nhiên, nếu tui là Ivan thì tui về liền, ông biết không, tại vì bằng cấp của Ivan cao và có kinh nghiệm hơn thợ máy nên hắn ganh tỵ rồi làm khó người ta.
– Bộ mầy không ganh tỵ sao? Jannet cười sằng sặc:
– Thời đại toàn cầu hoá mà, người Hoà Lan cũng qua bên Ukrainia làm việc vậy.
– Thì chuyện ganh tị nhau về nghề nghiệp, tranh giành quyền lợi cũng là một khía cạnh toàn cầu hoá. Mầy không thấy sao, chỉ có chuyện ô nhiễm môi trường, trái đất nóng nhanh mà những tai to mặt bự trên trên thế giới người đề nghị nầy, người đề nghị kia, không ai chịu ai, hợp hành tới lui tìm cách phòng chống cả mấy năm trời, trái đất thì sắp cháy thành than rồi, mà chẳng ra cơm ra cháo gì hết. Huống chi thủy thủ tàu bè, toàn là một đám dân hạ tiện tối ngày ganh tỵ ba cái nhỏ mọn chưởi bới với nhau chỉ là chuyện bình thường.
– Còn ông, bộ ông biết không ganh tỵ sao?
– Tao có khỉ gì đâu mà ganh tỵ, có mầy kìa, mầy không về lo tụ tập biểu tình chống người nước ngoài sang Hoà Lan làm việc, thì tương lai người nước ngoài tràn qua chiếm lấy các việc làm, lúc đó dân Hoà Lan mầy thất nghiệp hết cho mà coi.
– Đối với tui không có vấn đề gì hết, bạn trai tui là người Ukrainia mà.
– À thì ra là vậy.   Jennet vừa ừ hữ vừa cầm hộp quẹt lên định bật lửa châm thuốc, thường lên bờ chơi tôi không muốn nghĩ tới ba cái chuyện lộn xộn trên tàu,  sẵn cớ nó định đốt thuốc tôi liền bắt quàng câu chuyện:
– Không gian nơi đây đẹp và sạch mầy hút thuốc làm ô nhiễm môi trường. Nó tắt quẹt dòm lên chu mỏ nói:
– Hút một điếu chắc không sao. Tôi ra vẻ trịnh trọng:
– Chỉ cần mầy hút một điếu thuốc thôi thì khói thuốc sẽ bay lên không góp phần làm cho chỗ hổng của tầng ozone rộng ra, sức nóng mặt trời tỏa xuống nhiều làm cho nhiệt độ trái đất tăng mau, con người ta sẽ bị chất phóng xạ của mặt trời làm ung thư da rồi sanh ra lở loét cùng mình…  Nếu tôi nói câu nầy với mấy tên ghiền thuốc khác thì thế nào cũng bị họ mắng và cho tôi là một tên khùng. Nhưng Jannet làm như thiệt, nó nhét điếu thuốc trở vô bao, cười cười nói:
– Nghe ông nói tui hết muốn hút thuốc luôn.
– Tốt, vậy mầy dám bỏ hút thuốc luôn không?
Con nhỏ cười quả quyết:
– Dám chớ.
– Tốt, vậy mầy dám liệng bỏ gói thuốc hông?
– Tui sẽ liệng.
– Tốt, mầy dám hứa với tao không?
Nó chìa tay ra bắt tay tôi:
– Ô kê, tui hứa. Nó day ngang và ra bộ như người xưng tội trước ông cha nhà thờ nói:
– Từ  đây trở đi nếu ông thấy tui hút thuốc thì tui sẽ trả ông 20 euro. Tôi đưa tay tha tha lên đầu nó rồi đứng dây móc hai chai nước lọc trong ba lô đưa cho nó một chai và phần tôi một chai. Tôi với nó mở nước ra ngước cổ uống hột hơi, tôi nói với nó:
–  Tới giờ tao phải xuống tàu, mầy ở lại đây hay về?
– Tui về. Tôi dợm bước nhưng chợt thấy gói thuốc còn nằm trên chiếc băng, tôi hỏi: – Sao mầy để thuốc ở đó.
– Để đây coi có ai hút lấy hút.
– Mầy sợ ô nhiễm môi trường, quyết tâm bỏ thuốc mà còn để như vậy khác nào xúi người ta làm ô nhiễm dùm mầy.
– Vậy, tui phải làm sao?
– Tao thấy mấy đứa mập ít có đứa thông minh. Tôi chỉ tay qua cái thùng rác nằm bên đường:
– Cái thùng rác sờ sờ kia kìa.
– Ô kê, ô kê… Jannet cầm gói thuốc lên vò bèo nhèo trước khi bỏ vô thùng rồi câu tay tôi đi…  Tôi rất thích không gian rộng, mát và sạch sẽ nơi đây. Thường thì tôi hay đi một mình và đi tà tà vô phố cũng như tới những nơi vắng vẻ, tôi không muốn đầu óc mình phải bận rộn về chuyện con tàu và những chuyện phức tạp thường ngày. Hôm nay có Ivan đi theo rồi tình cờ gặp ma (?) và gặp con Jannet, nói chuyện trên trời dưới biển gì đâu, làm cho lòng tôi có hơi xao động. 
Trên con đường mòn chật chội lại kè thêm chín mươi bảy ký lô thịt một bên, nặng như tảng đá, tôi đi nhanh thì bị nó trì lại, hễ đi chậm thì bị nó lôi theo. Tuy cuộc đi dạo không được như ý, nhưng tôi không lấy làm phiền, vì vô tình tôi khoác lác mấy câu, vậy mà cũng thuyết phục được Jannet bỏ hút thuốc… À, đây cũng là một trong những chuyện toàn cầu hoá, phải không.  The archipelago Stockholm  2008-06-29
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Buổi họp mặt của Cựu Sinh viên trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Footscray!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Aug 2023

Thưa đời không như là mơ! Vì mơ là một chuyện; thực tế trần truồng là một chuyện khác.

Khoa hoc Saigon 02Mơ học báo chí thì những năm 70 chỉ Viện Ðại học Ðà Lạt mới có. Nghèo sặc gạch như người viết, ghi danh đi học chứng chỉ Toán lý Ðại cương (MGP) Ðại học Khoa học Sài Gòn mà má, ba còn lo không xuể thì cách chi mà lên Ðà Lạt để ‘mùa xuân sang có hoa anh đào’! Thôi đành: ‘Em ơi! Nếu mộng không thành thì thôi.’

Mãi đến khi phiêu bạt quê người mới có dịp làm báo… ‘’đời”. Mà làm báo coi như móc bọc, nghèo; nhưng nghèo mà sướng lắm nhe: Ðược độc giả rủ rê đi nhậu hoài hè… làm con vợ tui nó rầy tui quá xá.

Chẳng qua bạn hiền Lê Trung Thụy, Ðại học Khoa học Sài Gòn năm 1967, nhà anh chỉ cách nhà em cái giậu mồng tơi xanh rờn, 2 căn… cực kỳ ái mộ mấy đứa làm báo hay nói láo, nên ‘hú u’.

“Ai kêu tui đó?” Nghèo mà ham vui. Vui thì phải nhậu. Mà nhậu thì cần rượu. Ngặt cái hổng có tiền mua!

Anh Thụy nói: “Tưởng chuyện gì? Rượu đỏ là chuyện nhỏ! Chỉ cần một điều kiện là nhậu xong, chú em phải viết một bài tường trình về Lễ Sinh Nhựt một thập niên của Cựu Sinh viên Trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Melbourne. OK?”

Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Chữ mình một bụng, nhưng bán chẳng ai mua. Thôi thì  chữ ‘ế’ đem đi đổi rượu cũng được.

***

Người Việt mình, Bắc, Trung, Nam kể cả người Việt gốc Hoa, giống nhau ở chỗ:”Không ăn đậu không phải là Mễ; không đi trễ không phải Việt Nam!”

Ba giờ chiều ngày 6, tháng Tám, năm 2017, đồng hồ khỏ bon bon, mà chỉ có vài đứa đến đúng giờ để đặt bàn, bày ghế, trang trí cái phòng khách rộng minh mông, cắm điện cái đàn organ, để ban nhạc (một người), tò le tí le cho xôm tụ.

Còn mấy huynh trưởng khác không muốn đến sớm, chắc ngại sợ thiên hạ nói mình ham ăn, nên bạn mình cứ phè cánh nhạn, tới lai rai.

Ông thì nhà xa, bà thì bận lo cho cháu. Vì ba má sắp nhỏ mắc bận đi nhảy đầm nên gởi cho ông bà nội ngoại làm ‘child care!’ Chủ Nhựt mà.

Chuyện đâu còn có đó,việc gì mà gấp chớ! Chúng ta ra đi mang theo nền văn minh lúa nước rất đáng yêu (và cũng rất đáng quạu).

***

Mùa Ðông xứ Úc ngày dài đêm vắn, mới 5 giờ thôi mà trời đã sụp tối.

(Bà con biết mà: Cái gì nóng là nó nở ra hè! Mùa Hè nước Úc cũng vậy, gặp nóng là ngày nó nở rộng kinh luôn, mà không cần tới ‘viagra’. Ngày dài… dài  ra.

Mùa Ðông nước Úc cũng vậy, gặp lạnh, là ngày nó thun lại. Ngày vắn… vắn lại.

Thôi tối hù rồi mình khai mạc đi! Ðói bụng rồi nhe!

Người viết có cái ngạc nhiên là qua đây có rất nhiều hội cựu học sinh các trường Trung học. Nhưng trường Ðại học lại hơi bị… ít.

Thế nên nhóm cựu sinh viên trường ÐHKH Sài Gòn chơi với nhau đã 10 năm, một thập niên dài đăng đẳng mà cho tới nay tui mới biết. (Thiệt là hụt ăn ‘chực’ tới 9 lần nên tiếc hùi hụi hè!)

***

Ôi nhớ xưa: Con trai sau khi đậu tú tài hai, đứa nào theo Ban B là tới trường Ðại học Khoa học mà ghi danh vô chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương) tính làm Albert Einstein, hay chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa) để làm kỹ sư đào mỏ.

Còn con gái, vua gạo bài, đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, học ra làm bác sĩ để chích ‘đít’ anh chơi!

Mấy chú MGP và MPC nầy học không lo mà con mắt cứ liếc đưa tình với mấy em SPCN thôi, đẹp não nùng như cô đầm Brigitte Bardot vậy. Hậu quả là sau hai kỳ thi cuối năm, rớt hết ráo. Ðậu chỉ có từ 5 tới 10% là hết mức! Cả 3, 4 ngàn đứa, còn trụ lại được trong cơn sóng gió ba đào, giỏi lắm chỉ còn được 1, 2 trăm!

Mấy đứa rớt: Con gái thì lên xe bông, đi lấy chồng; con trai thì tan mùa thi là anh đi lính, theo tiếng gọi của núi sông, ‘dông’ vô trường Bộ Binh Thủ Ðức.

Giờ già nhớ lại, đúng là cái thời tập tễnh từ học sinh ở với Tía Má rồi phải chuyển qua đời sinh viên xa nhà lại là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người.

Ði chơi ‘líp ba ga’ mà không sợ Tía má rầy la hay cho ăn cái chổi chà.

Tui nhớ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn năm ấy, 1970, nằm trên Ðại lộ Cộng Hòa vốn là ở ké đất của trường Trung học Petrus Ký do Giáo sư Nguyễn Chung Tú làm Khoa trưởng.

Trong sân trường có mấy cây điệp Tây. Cuối mùa Hạ, sơ thu, trường đã tựu, vẫn còn bông vàng lác đác. Nhớ đám sâu đo, nhỏ như sâu gạo, từ cành lá thả tơ, buông mình sâu xuống đất để nhát mấy em học SPCN.

(Anh bạn nhậu của tui, cưới vợ rồi chỉ ước mình được làm con sâu để vợ ảnh mới sợ mà thôi!)

***

Người dẫn chương trình là anh Trương Như Tuấn (nk 1973) đã bỏ nhiều công sức ra tổ chức Lễ Sinh Nhựt 10 năm cho nhóm Cựu Sinh viên ÐHKH Sài Gòn ở Melbourne, nên được anh em mình tấn phong là ông Cả, theo kiểu miền Nam, dẫu anh là dân Huế của mình ơi, vốn dòng Tôn Thất…

Cũng nhờ nhiệt tình của nhạc sĩ Lê Nguyên Trúc (nk 1968) và nhất là Nguyễn Chiếu (nk 1971), điệp viên không không thấy, vì ảnh vừa đeo kiếng đen vừa bận rộn chụp… hình kỷ niệm.

Cũng xin cám ơn quý chị đã trổ tài làm bếp! Toàn là những món ngon, vật lạ Nam, Trung, Bắc lẫn của người Việt gốc Hoa.

Từ bánh khọt, miến xào kiểu Singapore cho tới bánh củ cải Triều Châu…

Ngon quá! Mà tui khờ thôi hết biết, mãi lo tán dóc, quay qua quay lại hết sạch bon (chứng tỏ nó ngon) Hu hu!

Lần sau tui sẽ không dám khờ như vậy nữa!

***

Vô bàn, đặt mâm, ngồi kế bên người viết là Quách Vũ Uối, Hội trưởng TQLC Úc Châu,  một bạn hiền ‘tu’, cữ rượu, uống ít, nhưng ảnh nói còn cái vụ ‘kia’ thì từ từ sẽ cữ!

Quý anh mình xuất thân Cử nhân từ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn vượt biên qua đây, định bằng lại rồi tiếp tục học lên Tiến sĩ, làm Giáo sư trường Ðại học Monash của Úc. Hãnh diện nhe!

Bằng hữu Lê Bình, chủ chợ Little Sài Gòn, nói: “Mừng cho mấy anh có bằng Ph. D; còn tui có bằng Ph. O!”

Hỏi cái bằng gì nghe lạ quá hè? “Ph.O là Phở …vì Bình qua đây chuyên bán Phở!”

Hèn chi giọng hát của Lê Bình rất ngọt ngào như nước lèo của phở tái nạm gầu bỏ thêm chút hành trần và có chan thêm nước béo.

Lê Bình mời: “Tui có chai Penfold 1993 đây; rót cho ông một ly!” Lại vô mánh! Luật sư nói là có tiền, còn mình nhà báo nói là có rượu.

Lê Bình là người chịu chơi, thích sưu tầm các loại nhạc khí, nhạc cụ và rất nhiều các loại đàn…từ đàn đá… tới cả…đàn…bà!

Rượu được vài tuần, Lê Bình chiếm đài phát thanh, cầm ‘mi-cà-rô’, hát bản Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc của Anh Bằng, để thương mến trao về anh Lê Trung Thụy, chủ nhà, đã có nhã ý cho anh chị em mình họp mặt đêm nay.

(Tuấn Ngọc mà nghe Lê Bình hát thì chỉ còn có nước ‘mộng du’ chớ không phải  ‘thụy du’ (Ngủ mà mớ… vẫn nhớ hoài chim bói cá.)

Tui e rằng anh Thụy, khoe được bà xã, chị Diệp Gò Công, tặng quà Sinh Nhựt là một vỉ viagra; nhưng lần nầy tui e bắp đùi của anh Thụy tối nay, sẽ bị bầm tím vì ‘Khúc Thụy Du’ cho mà coi!

Vì đây là bài hát khóc cho một mối tình tan vỡ với ai kia: ‘Em là chim bói cá’. He he!

Rồi tắt bớt đèn, trong cái mờ mờ ảo ảo, chương trình dạ vũ bắt đầu. Slow với lại Rumba cộng với ‘Lam ba da’. Ôi thiệt là: ‘Cha cha cha’!

Việt Nam, chồng hay ‘quánh’ vợ nên gọi là vũ phu. Qua đây, đất của Nữ Hoàng, vợ ‘quánh’ chồng gọi là ‘vũ nữ’. Khi hai vợ chồng ‘quánh’ nhau thì ta gọi là vũ ‘sexy’! Là ‘luân vũ’! Tức là em sẽ ‘nhảy’ với anh!

Ðêm vui nào cũng phải tàn. Thôi gặp nhau đây rồi chia tay!

Về tới nhà, mới bước vô là thấy em yêu của tui đang cầm cái chổi chà, núp sau cánh cửa.

“Em ơi! Anh đây mà!”  Nhém chút nữa, là Má tui hổng nhìn ra tui rồi! Hi hi!

Gươm lạc giữa rừng Hoa!

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3rd Jun2021

Post by Sơn râu 21 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 6

Trung úy Trần Văn Phước, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82 và cả chục Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh đang quây quần bên một vò rượu cần, vò rượu chiến lợi phẩm. Trự nào cũng xiêu vẹo bước tới, bước lui. Trự nào cũng lè nhè, la hét ồn ào. Tiếng họ cười nói oang oang giữa rừng khuya.

Với tôi, thì uống rượu không là một cái lỗi; nhưng say rượu thì tôi không tha; dù người đó thân cận như chú Phước.

Tôi rút súng bắn tan vò rượu. Những ma men tỉnh rượu ngay lập tức.

“Cuốn lều! Ðại Ðội 3 cuốn lều! Hướng hai ngàn bốn trăm dzu lu! Làm ngay!”

Trung úy Phước và “tòng phạm” riu ríu thi hành lệnh.

Mười phút sau một khoảng rộng lớn trên tuyến phòng thủ của tiểu đoàn bị bỏ trống. Ðại Ðội 3/82 bị phạt phải dạ hành mở đường. Mãi nửa giờ sau tôi mới bớt giận. Tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 3/82 dừng lại tấp vào rừng ngủ.

Trong tiểu đoàn này Trung úy Trần Văn Phước là người thân cận nhất của tôi. Tháng 11/1972 khi tôi còn giữ chức Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 thì Chuẩn úy Trần Văn Phước về trình diện.

Vì Chuẩn úy Trần Văn Phước có bằng Tình Báo Căn Bản từ Trường Cây Mai, nên đầu năm 1973 tôi đã cho Phước vào Plei M’rong làm Sĩ quan Ban 2 của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân. Nhưng chỉ được ít lâu, Thiếu tá Phạm Duy Ánh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã chịu không thấu cái tật rượu vào là rút súng của ông chuẩn úy nên vội hoàn trả chú Phước về cho tôi. Chỉ có mình tôi là biết cách kiềm chế con ngựa chứng này. Chú Phước đã theo tôi từ đó cho tới ngày tàn cuộc chiến.

Tới cuối năm 1973, sau khi Phước lên thiếu úy thì thầy trò tôi vào Pleime.

Chú Trần Văn Phước và chú Nguyễn Công Minh, sĩ quan truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, là hai sĩ quan sau cùng còn ở lại bên tôi, rồi bảo vệ tôi thoát hiểm trong kẽ tóc đường tơ, khi vị trí của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bị địch tràn ngập trưa 15 tháng Tư năm 1974.

Rồi cũng chính Thiếu úy Trần Văn Phước là người đầu tiên cùng tôi đặt chân trên Căn cứ 711 sau khi chúng tôi vất vả hai ngày phản công tái chiếm căn cứ này. Trận đó tiểu đoàn của chúng tôi bị 6 tiểu đoàn của Sư Ðoàn 320A/ Ðiện Biên xa luân chiến.

Trong hai năm sau cùng của cuộc chiến, không có trận đánh nào mà không có mặt Phước bên cạnh tôi.

Sau trận Pleime, Thiếu úy Trần Văn Phước được đặc thăng trung úy. Lên trung úy, chú Phước bỏ nghề Quân Báo, trở lại đời tác chiến làm đại đội trưởng.

Ðây là lần đầu, tôi nặng tay với Phước. Tôi vào máy gọi cho Phước,

– An Bình đây Thái Sơn! Stop được rồi! Nghe rõ chưa?

Ðầu máy bên kia, tôi nghe tiếng người đàn em sụt sịt,

– Em xin lỗi Thái Sơn! Em xin lỗi anh Hai!

Tôi cũng thấy mủi lòng, xốn xang,

– Thôi! Ngủ đi! Chờ mai anh lên với chú!  

Tôi lấy điếu Lucky ra hút. Tiếng muỗi đêm vo ve bên tai. Tiếng suối reo rì rào trong khe. Tiếng gió lùa ù ù sau đồi. Trên poncho, lá cây rơi lộp độp. Quanh tôi đủ loại tiếng rừng. Chưa lần nào tôi cảm thấy rừng đêm buồn như thế!

Ðêm 27 tháng Ba năm 1975, trăng sáng như ban ngày.

Gần chín giờ khuya, Trung tá Liên đoàn phó cho người tới lều mời tôi lên gặp riêng.

Tôi nghĩ ông Liên đoàn phó sẽ rầy la tôi về vụ ồn ào của Ðại Ðội 3/82.

Tôi đã chuẩn bị tâm tư nhận lỗi với ông chỉ huy mới của liên đoàn về sự vô kỷ luật của đàn em. Nhưng tôi không ngờ ông Trung tá Liên đoàn phó muốn gặp tôi lại vì mục đích khác chứ không vì chuyện lính tráng say sưa.

Cho tới giờ này tôi mới nhìn thấy dung nhan ông Trung tá Liên đoàn phó, tên ông ấy là Ðào Ðức Châu.

Thì ra trong quá khứ, hơn một năm về trước, tôi và ông ta, đã giáp mặt nhau một lần, chỉ vài phút, ở Bồng-Sơn, Tam- Quan, Bình- Ðịnh, ngày đó ông Châu còn mang lon thiếu tá, giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân.

Hôm đó, nhân dịp lễ Giáng – Sinh năm 1973 tôi có lệnh tháp tùng Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng/ Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa bay trực thăng tới Bắc Bình-Ðịnh để ủy lạo các đơn vị Biệt Ðộng Quân đang tham chiến ở vùng này.

Tại phi trường Bồng Sơn, Ðại tá Nguyễn Kim Tây, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân đã nài nỉ tôi hoán đổi vị trí cho Thiếu tá Ðào Ðức Châu để ông Châu lên Vùng 2, còn tôi sẽ thay ông Châu giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân.

Tôi dư điều kiện để xin đổi vùng, vì tôi đã ở Pleiku, Vùng 2 trong thời gian gần mười năm rồi. Nghe Ðại tá Nguyễn Kim Tây đề nghị, tôi vui vẻ đồng ý ngay.

Ðại tá Nguyễn Kim Tây và tôi quen biết đã lâu. Hơn thế nữa, đầu năm 1972 tôi là người đã bay liên tục cả giờ đồng hồ trên trời Pleiku để sẵn sàng xuống cứu một phi công lâm nạn theo lời yêu cầu của ông Tây.

Hôm đó có một chiếc oanh tạc cơ Skyraider đã bị Việt-Cộng bắn trúng càng trong một phi vụ yểm trợ hành quân ở Kontum mới bay về. Tôi cũng vừa thả xong một toán viễn thám và đang chuẩn bị đáp trước bộ chỉ huy, nhưng Trung tá Nguyễn Kim Tây lại có mặt ở đây và đã yêu cầu tôi bay cover cho chiếc Skyraider bị nạn.

Lý do ông Tây quan tâm tới chuyện này chỉ vì viên phi công lái chiếc Skyraider là một người em ruột của ông Tây.

Dự trù khi máy bay cạn nhiên liệu, phi công sẽ nhảy dù xuống vùng Tây Pleiku và bỏ cho tàu rơi tự do trong rừng, trực thăng của tôi sẽ xuống cứu ông ta.

Nhưng bay tới khi hết xăng, người phi công đã không nhảy dù, bỏ tàu, mà cố gắng đáp bằng bụng. Cú đáp đã thành công ngoài dự liệu của mọi người.

Sau này, năm 1973, ông Nguyễn Kim Tây trở thành Ðại tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân nên ông muốn tôi về làm việc với ông.

Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai không phản đối chuyện hoán chuyển này, nhưng Ðại tá Phạm Duy Tất thì có vẻ không vui.

Nhìn tôi, ông Tất nói,

– Anh có làm gì phật lòng Long không mà Long bỏ anh?

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi đã mềm lòng, xin hủy bỏ chuyện đổi vùng.

Tôi đã phụ lòng Ðại tá Nguyễn Kim Tây. Tôi đã ở lại với Ðại tá Phạm Duy Tất, với Vùng 2, và tôi đã làm được nhiều điều mà những thiếu tá khác không làm được. Vậy mà qua bao trận đánh, qua bao chiến công, tôi vẫn là thiếu tá.

Tôi hơi ngỡ ngàng, khi nhận ra ông Trung tá Liên đoàn phó của tôi lại chính là ông Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân ngày nào.

Ông Châu mới tới Liên Ðoàn 24 một thời gian rất ngắn. Ông ta chưa hề đi thăm các đơn vị tiền tiêu, do đó tôi chưa từng gặp mặt ông ta.

Chính vì chưa giáp mặt, chưa quen cách điều binh khiển tướng của Trung tá Châu mà tôi đã thề sẽ bắn nát óc ông ta nếu ông ta cắt đứt pháo yểm của tôi cách đây vài ngày.

Ông Trung tá Châu thuộc lớp sĩ quan sống lâu lên lão làng, nên cách chỉ huy của ông ta cũng khác xa cung cách chỉ huy của lớp sĩ quan trẻ chúng tôi.

Ông Liên đoàn phó thân thiện mời tôi vào lều; ông trung tá ngồi trên võng, còn tôi thì ngồi trên khúc gỗ đối diện với ông.

Ông nói với tôi rằng cuộc họp “bí mật” này ông chỉ muốn có mặt mình tôi thôi; ông không cho hai vị chỉ huy tiểu đoàn còn lại là Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài biết chuyện ông sẽ bàn tính với tôi.

Ông tự giới thiệu, ông là dân Bắc Di Cư, tốt nghiệp Khóa 12 Võ Bị Quốc Gia. Ông ta vừa học xong khóa tu nghiệp gì đó sau khi lên cấp trung tá thì được lệnh về giữ chức Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Ông Châu mở ba lô lấy bao thuốc lá Salem đầu lọc, mời tôi,

– Long hút thuốc đi! Hút một điếu cho ấm!

Tôi xua tay,

– Cám ơn Niên Trưởng! Tôi không hút thuốc đầu lọc!

Ông Châu im lặng một phút, rồi với một giọng đầy thảm não, ông bắt đầu tâm sự,

– Long ơi! Anh sinh ra để làm chính trị. Chỗ của anh là Thượng Viện, Hạ Viện chứ đâu phải chỗ này? Anh có muốn làm nhà binh đâu? Anh sinh ra không phải để làm lính! Quyết định đi lính của anh là một quyết định sai lầm! Giờ này anh không còn chút hứng thú nào ở quân đội nữa!

Tôi sốt ruột, phang ngang,

– Bây giờ Trung tá có lệnh gì cho tôi thì nói ngay đi! Nếu không, tôi phải về ngủ để mai còn sức mở đường! Liên đoàn đang lui binh, tôi không rảnh ngồi nghe chuyện cổ tích.

Thấy tôi có vẻ không muốn cà kê, dài dòng, ông Châu vội khẩn khoản,

– Long có uy tín với quân đoàn, mai Long xin trực thăng tải thương cho anh về Ðà Lạt được không?  Anh…

Tôi ngạc nhiên, trợn mắt, ngắt lời ông Châu,

– Trung tá đừng đùa lúc này!

Ánh sáng từ cái bóng đèn nhỏ mắc vào cục pin PRC 25 cho tôi thấy đôi mắt ráo hoảnh của vị sĩ quan khóa đàn anh,

– Anh nói thật chứ có đùa đâu?

Bây giờ thì tôi biết ông trung tá nói thật, không đùa. Tôi cứ ngồi ớ ra mà không biết phản ứng ra sao. Thấy thế, ông Châu năn nỉ tiếp,

– Long à! Thương anh thì ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây, anh sợ chiến trận rồi!

Tôi nhấp nhỏm đứng dậy thì ông Châu vội cầm tay tôi,

– Anh đâu có tình nguyện lên Vùng 2 (?) Anh đâu có quen địa thế ở đây(?) Anh có ở lại cũng chẳng giúp gì cho anh em. Long ở Vùng 2 lâu rồi, quen biết nhiều, ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây đi! Mình là anh em cùng trường. Long cố gắng giúp anh! Anh cám ơn Long nhiều lắm!

Thế là hết chuyện! Bộ mặt bỉ ổi của một kẻ tham sống sợ chết đã lộ ra quá nhanh và quá trơ trẽn. Tôi thẫn thờ đứng lên, bước ra khỏi căn lều của tên vô loại.

Ðêm đó tôi ngồi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác mà lòng thì buồn vô cùng, cứ nhớ về Trường Mẹ Ðà-Lạt không nguôi…

Mờ sáng 28 tháng Ba năm 1975, một công điện khẩn được gởi cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân, xin trực thăng tản thương.

Trước khi máy bay tới, Ðại úy Trần Dân Chủ, Ban 3 Liên đoàn đến xin tôi cho phép anh ta theo chân Trung tá Liên đoàn phó rời vùng.

Tôi trả lời anh ta rằng,

– Trực thăng chưa tới thì ông Trung tá Châu còn là người chỉ huy liên đoàn. Anh phải trình diện ông ta, xin ông ta cho phép anh rời nơi đây.

Tôi nói thêm,

– Nếu tôi là người chỉ huy liên đoàn, tôi sẽ không cho bất cứ sĩ quan nào rời vùng. Trong những tình thế hiểm nghèo, người lính trông nhờ vào sĩ quan. Chỉ có sĩ quan mới có khả năng dắt dìu những người lính dốt nát thoát khỏi cơn khốn đốn. Sĩ quan biết sử dụng bản đồ, địa bàn, biết phương hướng. Ði trong núi, trong rừng mới cần sĩ quan dẫn dắt binh lính. Trong thành phố không ai cần các anh dẫn dắt! 

Ông Ðại úy Ban 3 dạ dạ, vâng vâng. Nhưng khi máy bay tải thương tới, thì Ðại úy Chủ đã nhanh chân theo bén gót Trung tá Châu lên tàu. Có hai hạ sĩ quan khai bệnh sốt rét tới xin đi, tôi cho đi luôn.

Hóa ra chuyến đi này của Trung tá Ðào Ðức Châu cũng là chuyến bay giã từ quân ngũ của ông ta. Ông ta vắng mặt từ đó, rồi trở thành một trong những người đầu tiên di tản khỏi Việt-Nam ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Trưa ngày 28 tháng Ba năm 1975, khi hai sĩ quan và hai hạ sĩ quan vừa yên chỗ trên sàn trực thăng thì dưới bãi bốc xảy ra cảnh lộn xộn, ồn ào.

Có một người đàn bà nhất định không chịu lên máy bay. Chị ta vừa khóc thút thít vừa co rụt người lại khi mấy anh lính an ninh bãi đáp tìm cách đẩy chị ta lên cửa trực thăng. “Em không về đâu! Em không nỡ bỏ anh ấy giữa rừng!”

Người đàn bà này đã theo đoàn quân của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân từ ngày đầu di tản. Chị không chịu bỏ người thân. Tay chân chị giãy giụa, miệng chị la bài hải:

“Em không sợ chết đâu! Cho em ở lại đi! Các anh ơi!” 

Cuối cùng, toán giữ trật tự bãi đáp đành chịu thua người đàn bà.

Chợt không ai bảo ai, tất cả Biệt Ðộng Quân có mặt trên bãi bốc ngày hôm ấy đã đồng loạt vỗ tay hoan hô người phụ nữ can đảm.

Chờ một lúc không thấy ai lên máy bay nữa, tôi ra dấu cho chiếc trực thăng cất cánh.

Chiều đó, khi dừng quân, tôi nhận được một công điện từ Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân chỉ định Thiếu tá Hiện Dịch Vương Mộng Long, Khóa 20 Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tạm thời giữ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi mời Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài lên gặp tôi để phân nhiệm. Theo đó, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ mở đường, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đi giữa, Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân có nhiệm vụ đoạn hậu.

Ðối với Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài, tôi không gặp trở ngại gì về vấn đề chỉ huy, vì anh Tài là Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi trước khi thuyên chuyển qua Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân làm Tiểu đoàn phó cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 27th May 2021
post by Sơn râu 21 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Đôi bờ Đa Dung năm 2021. Nguồn: PGĐ 2021

Kỳ 5

Tôi lái xe ngược chiều về xưởng cưa thăm vị trí của ông Hoàn.

Bỗng tai tôi nghe có tiếng động cơ từ hướng Kiến-Ðức vọng về.

Sợ xe tank của địch sẽ tiến tới tấn công, tôi quyết định cho cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó rút qua mặt Bộ chỉ huy tiểu đoàn rồi ngủ đêm bên bờ con sông hướng Bắc trục lộ, cách tôi độ nửa cây số, hướng Gia-Nghĩa.

Tôi xuống xe đi bộ cùng với ông Hoàn.

Khi đi ngang xóm nhà của Khu Dinh Ðiền Nhơn-Cơ, nơi Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và địch đã giao chiến suốt đêm 18 và sáng 19 tháng Ba, chúng tôi nghe mấy người lính đi bên trái báo có một thương binh bạn nằm bên lề đường.

Một Biệt Ðộng Quân mang phù hiệu Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nằm trên bờ cỏ sát suối. Ruột gan anh đổ trên mặt cát. Ðầu mặt, tay chân anh máu đã khô. Kiến lửa và ruồi nhặng lúc nhúc bu trên người anh.

Người chiến sĩ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chỉ còn thoi thóp nhẹ.

Tôi lần tay vào cò khẩu súng Colt 45. Tôi nghĩ tới viên đạn giải thoát cho bạn mình.

Tay tôi run run. Tôi không đủ can đảm làm việc này!

Tôi chợt nghĩ, anh chiến sĩ đã hôn mê; chắc anh ta không còn biết đau đớn là gì nữa cả. Chắc anh không cần đến viên đạn giải thoát của tôi.

Tôi và Ðại úy Hoàn lấy một cái poncho phủ lên người anh. Hai chúng tôi đứng nghiêm chào vĩnh biệt người bạn trẻ cùng binh chủng.

Cách chỗ anh Biệt Ðộng Quân nằm chừng năm chục mét trên dốc là hai cái xác Việt-Cộng đã sình. Hai cái xác trương to như hai con bò, áo quần căng cứng.

Nắng hầm hập. Một vùng ngập chìm trong tử khí.

Trưa 25 tháng Ba năm 1975, đứng trên đồi cao, tôi nhìn thấy khói đen bốc lên hướng thị xã Gia-Nghĩa. Trung tá Liên đoàn trưởng báo cho tôi biết tin Tiểu Khu Quảng- Ðức đang bắt đầu rút về Blao.

Trung tá Thanh còn cho tôi hay, người chỉ huy cuộc hành quân triệt thoái khỏi Quảng-Ðức không phải là Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng-Ðức, mà là ông Trung tá Phạm Ðức Dư, Tham mưu trưởng Tiểu khu.

Trung tá Dư xuất thân là một sĩ quan tài chánh, từng làm Tham mưu trưởng Tiểu Khu Lâm Ðồng từ khi còn là đại úy cho đến khi chuyển qua làm Tham mưu trưởng Tiểu khu Quảng Ðức mới được gần một tháng. Ông Trung tá Phạm Ðức Dư chưa từng có dịp ra trận, chưa cầm súng bắn một viên đạn thật lần nào, nên đành phải giao cho Thiếu tá Trần Văn Bường, Tham mưu phó hành quân Tiểu khu Quảng-Ðức đảm đương nhiệm vụ điều quân.

Vì thế, Trung tá Hoàng Kim Thanh ra lệnh cho Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 và hai Tiểu Ðoàn 63 & 81 Biệt Ðộng Quân án binh tại chỗ, chờ tôi về rồi mới tính sau.

Tôi lên xe chạy về Gia-Nghĩa. Trên đường, tôi phải ngừng xe nhiều lần để dẹp những khúc gỗ súc lớn mà các bạn Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Quảng-Ðức đã trải đầy mặt lộ. Ðó là những chướng ngại vật chống tank cấp thời của các đơn vị bạn còn để lại.

Nơi đầu tỉnh, gặp mặt Trung tá Thanh, tôi cùng ông duyệt lại tình hình Quảng-Ðức.

Chúng tôi thấy những ngày trước đó, quân ta chưa có gì sứt mẻ. Tinh thần còn vững vàng. Tiếp liệu còn đầy kho. Chỉ có Kiến-Ðức, Nhơn-Cơ là nóng bỏng. Hai Tiểu Ðoàn 81& 82 Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân của quận Nhơn-Cơ còn đứng vững, chưa cần tới tiếp viện.

Tôi không hiểu vì sao ông tỉnh trưởng bắt chúng tôi lui binh từ từ, bỏ hết điểm này tới điểm nọ.

Bây giờ ông ta lại bỏ cả tỉnh lỵ khi địch chưa tỏ ý định đánh chiếm nó.

Kho tàng đã bị đốt hết. Chúng tôi có tử thủ cũng chỉ vài ngày là hết đạn, hết cơm. Chúng tôi không rút cũng không được.

Tôi vội kêu Trung úy Ðăng giao Ðại Ðội 2/82 lại cho Chuẩn úy Gấm rồi dùng chiếc xe GMC của tiểu đoàn chạy về liên đoàn gặp tôi.

Tôi giao cho Trung úy Ðăng hai trăm ngàn tiền ăn và dặn dò anh dùng xe GMC đi theo đoàn xe của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng-Ðức. Tới Blao, anh chuẩn bị lương thực tiếp tế sẵn cho đơn vị.

Ra khỏi liên đoàn, tôi ghé chợ Gia-Nghĩa. Chợ quán thưa vắng.

Tôi vào khu bán chạp phô. Tôi mua hai ký tép khô. Giá ba trăm đồng một ký. Tôi đưa cho chị bán hàng tờ giấy một nghìn, không nhận tiền thối lại. Tôi hỏi những người bán hàng,

– Sao bà con còn nấn ná ở đây? Người ta đi hết rồi! 

Chị bán tép sụt sịt,

– Biết đi đâu bây giờ Thiếu tá ơi! Con thì nhỏ, đường thì xa. Em sợ tên bay đạn lạc. Thôi ở lại đây có chết cũng đành!

Tôi buồn bã nói với bà con đôi lời từ giã.

Lúc đó có tiếng ồn ào nơi khu phố đối diện, cạnh Phòng Ngủ Gia-Nghĩa, nơi có hai tiệm vàng. Cửa hàng bên phải có tiếng khóc than. Cửa hàng bên trái có bóng đi ra, đi vô của một bộ quần áo rằn ri.

Tôi hỏi chị bán tép chuyện gì huyên náo, chị nói,

– Cướp, có hai anh lính Biệt Ðộng Quân ăn cướp! Họ ném lựu đạn vào tiệm bên phải, cướp vàng. Họ đang khảo tra chủ tiệm bên trái.

Tôi ra xe phất tay cho Trung sĩ Nguyễn Chi và Hạ sĩ Mom Sol sẵn sàng. Hai người này và anh tài xế đã rõ câu chuyện ăn cướp. Họ thủ thế chờ lệnh.

Tôi đứng trước đầu xe hét to:

“Ê! Hai anh kia đi ra không tôi bắn!”

Một tên tóc tai dài lượt thượt ló đầu ra cửa. Hắn giơ tay lên nhứ nhứ quả M 26.

Tôi ra lệnh:

“Bắn!”

Hai viên M16 trúng đầu thằng ăn cướp.

Nó nằm giãy tê tê trước bục cửa ra vào của tiệm kim hoàn. Quả lựu đạn chưa mở chốt văng trước thềm. Thằng thứ nhì cũng mặc quân phục Biệt Ðộng Quân từ trong nhà chạy ra, trên tay cũng có hai trái M 26.

Tôi hét lớn,

– Ném hai quả lựu đạn ra vườn!

Tên cướp ném hai trái M26 ra sân cỏ sau nhà. Chỉ một trái đã bị rút chốt an toàn.

Một tiếng “Ùm!” làm bay tấm tôle trên mái.

Tôi ra lệnh tiếp,

– Nằm úp mặt xuống đất, hai tay dang ra!

Hắn riu ríu làm theo lệnh. Tôi lại la lớn,

– Còn ai trong nhà nữa không? Ra hết đi!

Một cặp vợ chồng già run lập cập nắm áo nhau chạy ra sân chợ.

Ba thầy trò tôi tiến lên chỗ tên cướp đang run như cầy sấy.

– Mày ở đơn vị nào?

– Dạ em là Lao Công Ðào Binh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh chạy lạc về đây!

Tôi hỏi vặn,

– Quần áo Biệt Ðộng Quân tụi mày lấy ở đâu ra?

– Dạ nhiều lắm! Trong tiệm giặt ủi đàng kia!

Tôi co chân đá vào mặt thằng ăn cướp một cái. Miệng nó phun máu. Tôi ra hiệu cho chú Chi lục túi nó và túi thằng đã chết, gom tang vật lại rồi gọi nạn nhân ra trao cho họ.

Gia chủ căn nhà bên phải chạy ra nhận lại số vàng. Họ vừa khóc vừa cám ơn.

Tôi đá liên tiếp vào mặt thằng ăn cướp mấy cái nữa, nó ôm mặt lăn lộn trên mặt đường khóc lóc xin tha mạng.

Tôi quát,

– Cút đi!

Nó lồm cồm bò dậy, chạy một mạch xuống triền đồi khuất dạng.

Tôi phân trần với dân phố đang bu quanh,

– Tụi này là lính giả. Chúng nó là quân phạm chứ không phải Biệt Ðộng Quân. Biệt Ðộng Quân không có những hạng người đốn mạt như tụi này!

Nói xong câu đó, tôi nghĩ tới ngày mai, chúng tôi không còn hiện diện ở nơi đây nữa. Ai sẽ thanh minh cho chúng tôi những sự mạo nhận như thế?

Tôi buồn bã lên xe hướng về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng- Ðức.

Tòa Hành Chánh bị đốt hư hại nhẹ. Khói từ các cửa sổ ăn loang lổ tường vôi.

Khu Trung-Tâm Yểm-Trợ Tiếp-Vận chỉ có kho xăng đã cháy, vài căn nhà chứa lương thực và đạn dược bị đốt lam nham. Những chỗ khác vẫn còn nguyên vẹn.

Trên mặt đất, quân trang, quân dụng, lương thực vương vãi khắp nơi.

Tôi quay xe xuống đồi. Tôi hẹn với Trung tá Liên đoàn trưởng, sáng mai tôi sẽ rút quân thẳng về bờ sông Kinh-Ðà chờ bộ chỉ huy và hai tiểu đoàn. Ðiểm vượt sông tôi sẽ định sau.

Sáng ngày 26 tháng Ba năm 1975, tôi ra lệnh phá hủy hai khẩu 105 ly ngay trên sân miếu thổ thần sau khi bắn hết gần một ngàn viên đạn về hướng Kiến-Ðức.

Khẩu 106 ly được ném xuống dòng sông bên đường, đạn của khẩu súng này cũng đã được gởi (bắn) hết qua bờ Nam đập nước.

Mười giờ sáng, đại đội đi đầu ra tới bờ sông. Trước khi tới bờ sông, tôi gặp một trạm gác của Nghĩa Quân Khiêm-Ðức.

Tôi thấy một Nghĩa Quân ngồi trên chòi gác giặc. Anh lính đang chăm chú quan sát khu rừng rậm dưới dốc.

Tôi hỏi anh Nghĩa Quân,

– Sao em còn ngồi đây? Người ta đi hết rồi!

Anh lính ngơ ngác,

– Ủa! Chứ người ta đi đâu Thiếu tá?

– Người ta rút về Blao hết rồi! Em đi đi!

Anh Nghĩa Quân nhìn tôi bán tín bán nghi. Ðến lúc thấy quân lính theo tôi đông ngời ngời, anh phát hoảng, co giò chạy về hướng thị xã.

Ðể tránh sự quan sát của địch, tôi cho tiểu đoàn đi song song với bờ sông Ða-Dung xuôi về hướng Tây. Càng tránh xa những con lộ chính hay đường xe be, càng đỡ lo chuyện rủi ro trên bờ đối diện.

Tới một khúc quanh, dòng chảy đổi thành Bắc Nam.

Cuối nguồn một ngọn thác thì mặt sông Da Dung phình ra, vận tốc nước trôi không còn nhanh lắm. Tôi quyết định vượt sông

Tôi chọn hai anh lính gốc dân chài cùng tôi bơi qua sông làm đầu cầu.

Ba khẩu M16, ba băng đạn, ba cuộn dây nylon, ba thầy trò tôi bu theo ba cái phao poncho độn bằng cành lá.

Chỉ có tôi và một anh lính tới bờ bình yên. Người lính bơi trên thượng nguồn bên trái tôi chìm nghỉm giữa dòng, sau một tiếng “Ối!” thất thanh. Ða-Dung nổi tiếng là sông nhiều cá sấu!

Qua tới bờ Ðông, tôi thủ thế khẩu M16 gác giặc để anh Biệt Ðộng Quân bạn yên tâm cột dây cho các toán viễn thám của tiểu đoàn theo chân nhau qua sông. Sau đó các đại đội được lệnh chặt tre làm mảng.

Ai biết bơi thì chỉ cần ôm một khúc tre lồ ô là có thể nương theo dòng chảy, tới bờ đối diện không khó khăn lắm.

Lúc này cả một khúc sông ồn ào như cái chợ. Nếu có con cá sấu nào bơi gần đó chắc cũng thất kinh hồn vía lo tìm đường tẩu thoát.

Tiểu đoàn tôi hoàn tất cuộc vượt sông với một thời gian rất ngắn. Khi Bộ chỉ huy Liên đoàn bắt đầu xuống mảng thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng bắt đầu di chuyển. Tôi cho đơn vị đi ngược về Ðông Bắc, hướng tới một ngọn đồi xanh khá cao.

Cách bãi vượt sông chưa tới hai trăm mét là một bãi sình rộng. Cả chục con cá sấu lớn nhỏ đang nằm phơi mình dưới nắng. Thấy đoàn người đi tới gần, chúng hoảng sợ lao mình xuống nước, lội ngược dòng về thượng nguồn.

Ngọn đồi xanh mà chúng tôi đang chiếm lĩnh là một rừng tre. Tôi cho quân vượt cái yên ngựa, bố trí trên đỉnh Ðông Bắc của yên ngựa, nhường cái đuôi yên ngựa cho những đơn vị lên sau.

Dưới bờ sông có tiếng lựu đạn nổ. Truyền tin báo cho tôi hay, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng, Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền tin Liên đoàn và ba người khác bị thương.

Ơ hờ khi sưởi ấm đã gây ra tai nạn lựu đạn nổ. Lựu đạn nổ vì sợi dây thun cột mỏ vịt lựu đạn bị cháy trong lúc kíp an toàn đã bị tháo mất rồi. Trung tá Liên đoàn trưởng bị mảnh lựu đạn văng trúng ngực và trán.

Sau khi băng bó, Trung tá Thanh và những người bị thương được cáng lên chỗ tôi đóng quân.

Sáng ngày 27 tháng Ba năm 1975, trực thăng từ Ðà-Lạt tới bốc những quân nhân bị thương. Cùng đi trên chuyến tải thương này còn có Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân. Ông Mẫn bị sốt rét cấp tính.

Như vậy là chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi rời Quảng-Ðức, hai vị sĩ quan chỉ huy của liên đoàn đã ra khỏi vùng.

Sau khi Trung tá Hoàng Kim Thanh được tải thương thì ông Trung tá Liên đoàn phó trở thành sĩ quan Xử Lý Thường Vụ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi ở tiền quân, cách xa bộ chỉ huy liên đoàn gần nửa cây số nên không biết ông liên đoàn phó đang đi với tiểu đoàn nào.

Tôi thấy mới ra quân mà đã bỏ phí hai ngày đường, nên sau khi tải thương xong, tôi cho lệnh đơn vị gấp rút đổ dốc tiến về hướng Ðông Nam.

Chiều đó đang đi trên một lối mòn, chúng tôi nghe tiếng gà nhà gáy trong rừng. Vậy là có mật khu Việt-Cộng gần đâu đây?

Tôi báo cáo tình hình cho liên đoàn, đề nghị những cánh quân theo sau tôi dừng lại để tôi tập kích cái mật khu trước mặt.

Cái khu sản xuất của Thượng Cộng nhỏ tí, với hai chú du kích Thượng đang ngồi ngậm ống vố, không đáng cho một cú xung phong của một đại đội Biệt Ðộng Quân.

Hai tên du kích chưa kịp đứng dậy cầm súng đã bị bắn vỡ óc, nằm thẳng cẳng bên lò lửa than nghi ngút khói dưới chân một cái nhà sàn.

Tối đó chúng tôi dừng quân ngay trong mật khu địch. Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bố trí một vòng cung hướng về Ðông, các tiểu đoàn bạn hạ trại bao quanh bộ chỉ huy liên đoàn, chịu trách nhiệm phòng thủ hướng Tây.

Cả liên đoàn không còn cái xẻng cá nhân nào, chúng tôi ngủ lộ thiên trên poncho. Tôi có cảm tưởng như mình là một Hướng Ðạo Sinh thời còn đi học, đang tham gia một đêm cắm trại mùa Hè.

Khoảng bảy giờ đêm, tôi nghe tiếng người cười đùa huyên náo trong rừng, khu Ðại Ðội 3/82. Tôi và Binh nhì Phan Thọ lần bước về chỗ tiếng cười nói ồn ào.

Bão ngoài trời bão trong lòng

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Trước khi lên hội quán anh có bỏ ít tiền vô bao thư định lát nữa gặp Nonie nhờ nó gởi giúp những người bị bão ở bên Phi Luật Tân. Nhưng nãy giờ anh ngồi trước hội quán uống hết hai chai bia rồi mà không thấy mặt mũi nó đâu hết. Chợt thấy Gel bận áo sơ mi trắng, khoát áo lạnh màu vàng, vai mang túi da cũng màu vàng và bận quần jeans trông không có vẻ gì là nhân viên đương làm việc  hết, từ trong hội quán cô đi thẳng ra chỗ anh ngồi. Anh chỉ mới hello chào, chưa kịp hỏi gì thì cô liền khoe: – Tui từ Manila mới qua. Anh nhìn cô ta cười: – Thấy cô vàng khè tui tưởng cô mang hết cả mùa thu lên người. Cô trừng anh một cái: – Ông này! Gel tháo túi xách để lên chiếc ghế bên cạnh và kéo ghế khác ra ngồi đối diện. – Tui nghe Nonie nói cô dìa thăm gia đình. Nghe bên đó bão lớn lắm, nhà cô có sao không? Gel lắc đầu: – Hông sao, hông sao, ở Manila hổng sao, cô đưa ngón tay trỏ chà chà vô ngón tay cái nói tiếp, nhưng tốn khá nhiều tiền.  Gel nhìn ra khoảng không gian rộng, phía trước có hàng cây lưa thưa lá vàng và sau hàng cây là một tòa nhà chọc trời, cô nói: – Mấy hôm trước nơi đây cũng có bão nhưng nhà cửa ở Đức kiên cố nên ít thiệt hại hơn ở Phi Luật Tân.  Anh cười pha chút khôi hài, nói: – Ờ há, chỉ tội cho cây cối bị gió quật ngả nghiêng và tơi bời lá hoa rụng. Mặt Gel tỏ vẻ buồn và nghiêm nghị nói: – Cái ông này! Chuyện buồn mà… Anh chồm người qua nhìn thẳng mặt Gel cười cười: – Mỗi năm nước Phi chịu hàng trăm trận bão, hổng lẽ cô đau buồn suốt năm. Cô coi, bão chạy qua tàn phá miền Trung Việt Nam làm nhà sập, người chết mà tui có buồn đâu. Gel ngẩng đầu lên, nói: – Ờ, hồi còn ở bển tui nghe nói người Việt cũng gởi tiền, gởi người qua giúp dân Phi. – Thì hồi trước dân Phi giúp dân Việt, bây giờ họ giúp lại. Nhưng có thấm thía gì đâu, cả thế giới giúp dân Phi đó mà. Gel đưa ngón tay cái ra gặt gặt: – Nhưng người Việt Nam tốt. Anh dí dỏm: – Cầu trời cho Phi Luật Tân bị bão hoài hoài để người Việt có cơ hội chứng tỏ lòng tốt với dân Phi. Gel đưa tay vừa xỉ lên giữa trán anh vừa nói: – Ông này, lúc nào cũng khôi hài được, gần chục ngàn người chết chớ hổng phải chơi! – Nhưng ngồi đây mình làm được gì? À, làm được, làm được, cái này ai cũng làm được và làm rất dễ. – Cái gì? – Cầu nguyện, cô cầu nguyện với tui, tui bảo đảm hổng tốn xu nào. Anh liền ngồi ngay ngắn, chắp hai tay, cúi đầu nhép nhép miệng… Gel cười thành tiếng: – Ha ha… ông còn làm được cái này nữa, cũng hổng khó. Anh ngước lên: – Cái gì? –  Mời tui ly bia. Anh làm mặt nghiêm: – Còn đòi uống bia… gần chục ngàn người chết chớ đâu phải chơi! Gel ngẩn người dựa lưng ra sau ghế trố mắt nhìn anh, có lẽ cô phân vân không biết anh nói thiệt hay chơi… Sợ cô mất hứng anh liền đứng dậy cười hì hì:  – Uống rượu, uống rượu đi, rượu ngon hơn bia. Vỡ lẽ ra Gel bật cười và cả hai cùng cười ha hả. Anh đứng lên đi vô bar mua chai rượu nho trắng ướp lạnh, loại rượu mà Gel thích, mượn hai cái ly và cái mâm, mua bịch da heo chiên dòn, xin chén dấm ớt, da heo chiên dòn chấm dấm ớt nhậu bia lạnh hoặc rượu lạnh rất bắt. Tính tiền xong, anh sắp mọi thứ lên mâm bưng ra để lên bàn. Gel cười cười, hỏi: – Tiệc mừng hả? Anh gật gật đầu: – Ừa, mừng chớ, mừng cô còn sống sót trở về. Nét mặt Gel trở nên nghiêm nghị: – Lần này tuy bão lớn, thiệt hại rất nhiều nhưng tui thấy buồn nhưng hông đau khổ hơn lần trước. – Tại cô hổng phải là nạn nhân. Anh tháo bịch da heo ra trút vô dĩa, rót rượu ra hai ly và ngước lên hỏi: – Ủa, trận bão trước kia! Cô có bị bão sao? – Trước kia vùng quê tui bị bão cho nên gia đình tui tản cư lên Manila. Lúc đó đâu còn tiền, tui mới làm trong quán bar, tình cờ gặp anh chàng người Đức, đưa tôi qua đây làm trong phòng đèn đỏ, sau đó tui bị bịnh không làm được nữa mới bị cho ra đứng đường. Rồi hôm trời mưa giông, tôi lại gặp ông trong quán ở Bremerhaven. Ông cho tui một trăm hai mươi lăm Mark, ông hổng nhớ sao? Chuyện này anh nghe cô nhắc đi nhắc lại mỗi khi có chuyện buồn nên anh cũng không để ý chuyện bão bùng. Anh không muốn cô nàng nói tiếp câu chuyện, anh nói: – Nhớ rồi, cái chuyện xa lắc đâu hồi Âu Châu chưa xài euro. Chuyện buồn mà cô nhớ hoài làm chi. Tuy nhiên trước khi kể tiếp có lẽ phải bắt đầu từ cái năm nào không nhớ, nhưng anh chỉ còn nhớ cái thời tiền euro chưa ra đời. Đêm hôm đó anh lên bờ chơi tới gần khuya, chợt giông gió nổi lên, tắc xi không chạy được, anh bèn ngồi lại quán bar chờ cho cơn gió dịu. Chợt một cô gái người Phi thân thể cao ráo, đi tới bên anh khép nép chào và xin ngồi trên chiếc ghế trống cạnh bên, cô không phải người ốm nhưng trông tiều tụy trong chiếc áo lông màu đỏ, da vẻ nâu nâu nhưng không dấu được nét xanh xao bịnh hoạn. Trong quán cả đống đàn ông tới đây ăn nhậu và tìm gái mua vui. Nếu không thì cũng như anh, ngồi uống bia ngắm nghía cho đỡ thèm, vậy mà không ai để ý tới cô hết. Động lòng trắc ẩn anh mời cô ly bia, cô từ chối uống bia và xin ly nước lọc, anh mua cho cô chai nước lọc. Nét mặt dàu dàu mệt mỏi, nhưng cô vẫn tươi cười vui vẻ và hỏi xin anh năm chục mark, đổi lại cô sẽ dùng miệng cho anh thỏa mãn… Anh nhìn qua cô gái, tuy mùi dầu thơm từ thân thể cô xông lên nồng nặc nhưng không át được cái mùi hôi từ miệng cô phả ra ngây ngấy. Anh dùng mình một cái: – Ý, đâu được, cái miệng của cô mà ngậm vô, cây kèn của tôi bị nghẹt sao! Cô gái thở dài ra chiều thất vọng làm anh ái ngại. Chỉ vì chút tánh bỡn cợt bẩm sinh, lỡ miệng nói ra làm xúc phạm tới cô gái. Trong cuộc sống nghiệt ngã này đã dạy anh không được phép khinh thường bất cứ ai, và bất cứ vật nào có mặt trên trần gian này. Anh ân hận choàng tay qua vai cô ả xoa xoa bóp bóp, dịu giọng: – Xin lỗi, tui giỡn chơi thôi. Cô xua tay lia lịa: – Hổng sao, hổng sao… Nhìn cô gái anh có cảm giác cô đương gặp chuyện khó khăn, cần giúp đỡ. Anh hỏi:   – Cô cần năm chục mark chi vậy? – Mua vé xe đi Hamburg tìm người quen nhờ họ giúp trị bịnh. – Cô bịnh? Cô gái gật đầu, mắt long lanh buồn buồn… Thấy vậy anh móc bóp lấy hết xấp tiền giấy đưa cho cô và nói: – Tui còn có bao nhiêu thôi, cô cầm đi. Cô nàng cầm tiền, cảm động nói: – Đủ quá rồi, cám ơn ông nhiều lắm. Anh day ngang uống bia tiếp. Cô ta thấy anh không nói gì bèn kề miệng gần tai anh nhắc: – Bên trên có căn phòng, ông lên đó với tui. Anh day qua, nghiêm nghị nói: –  Trông cô mệt lắm rồi, tìm chỗ nghỉ ngơi, sáng mai còn đi Hamburg. Cô gái từ từ đứng lên, gài nút áo lạnh, choàng lại khăn cổ, cúi xuống hôn anh một cái và nói lời cám ơn rồi bước ra cửa. Nhìn theo cô gái, anh chậc lưỡi thở dài thầm nói: – Chậc, thêm một mảnh đời tơi tả. Ngoài trời mưa giông đã dịu từ lúc nào. Anh ngó lên chiếc đồng hồ tường thì đã hơn ba giờ sáng, định kêu tắc xi nhưng trong bóp chỉ còn có mấy đồng tiền cắc, đành kéo áo lạnh lên cho kín và cuốc bộ về tàu. Bẵng đi một thời gian khá lâu, anh đã quên mất chuyện mưa giông đêm ấy. Vào  một ngày hè, anh lên hội quán, chợt gặp lại Gel. Chuyện đời cũng ngộ, có người quen nhau rất lâu và xa nhau thời gian ngắn gặp lại ngờ ngợ, còn anh với cô gái gặp nhau có một lần trong đêm và sau khi chia tay ra đi anh đã quên bẵng, nhưng không hiểu sao vừa gặp lại, cả hai liền nhận ra ngay. Cô nàng mừng rỡ ôm chầm lấy anh hôn hai ba cái lên má, làm như lâu ngày mới găp người yêu. Nhìn bảng hiệu trên ngực anh mới biết cô tên Gel và là nhân viên trong hội quán. Chào hỏi xong Gel nói: – Ông ở đây được bao lâu? – Tàu mới ghé, mai khởi hành. – Tui phải làm việc tới mười giờ… Ngẫm nghĩ một chút Gel nói: – Ờ, hay là lát nữa nghỉ giải lao tui lại nói chuyện với ông. Anh gật đầu chỉ tay ra chiếc bàn trống cạnh sân bóng rổ giữa những tàn cây: – Ô kê, tui ngồi đằng kia chờ cô. Anh đi vô bar mua bia rồi bưng ra ngồi bên chiếc bàn trống trên sân cỏ. Mùa hè nơi đây màu sắc đẹp tuyệt vời. Xanh, đỏ, vàng và màu nâu. Sương mù ban sáng, nắng ban trưa thỉnh thoảng cơn mưa dịu cho cây lá xanh tươi và không khí mát mẻ. Anh ngồi xem hai đội banh đấu nhau bình bịch nghe vui tai và trông cũng vui mắt. Một lát sau tay cầm chai bia, tay chai nước ngọt, Gel đi ra ngồi đối diện anh. Gel mời anh chai bia, còn cô thì uống nước ngọt. Anh hỏi thăm sức khoẻ. Cô khoe: – Tui đã hết bịnh rồi. Bây giờ anh mới nhìn rõ mặt Gel. Cô không xài son phấn, nhờ vui vẻ yêu đời cô tươi thắm hồn nhiên và nhờ khoẻ mạnh, không dùng dầu thơm cũng thoang thoảng mùi hương quyến rũ. Gel cười: – Làm gì nhìn tui vậy? – Trông cô đẹp lắm, không đợi Gel phản ứng anh hỏi luôn, cô có chồng con gì chưa? Cô cười cười: – Tui mà chồng con gì. – Sao vậy? Trông cô còn hấp dẫn lắm mà. –  Tui bịnh không có chồng được. – Cô mới nói đã hết bịnh rồi mà. – Thì sức khoẻ tốt, bình thường… Cô chỉ chỉ ngón tay trỏ vô phía dưới bụng nói:  – Chỗ này có vấn đề… – Ô kê, nhưng đừng nói là cô đã chuyển giới tính à nhe. Gel khoát tay lia lịa. – No… no… no… Cũng từ đó tới nay hễ mỗi lần về Hamburg, đêm nào không vô phố thì anh lên hội quán, khi nào Gel bận việc thì hỏi qua vài câu, không thì ngồi với nhau uống bia hoặc uống rượu nói chuyện đời sống, chuyện tình người. Thỉnh thoảng Nonie cũng ngồi chung góp chuyện. Anh đưa ly rượu qua mời: – Thôi, uống đi cho quên chuyện cũ. Gel cầm ly lên cụng, hớp một hớp, để ly xuống, lấy giấy lau miệng, nói: – Từ đêm gặp ông tui mới biết trên đời này còn có nhiều người tốt. – Đi nhiều và gặp khó khăn mới biết được lòng người, sống êm ả một nơi thì thấy ai cũng như ai. – Có nhiều chuyện muốn quên nhưng khó vô cùng. – Không quên hết được thì quên một nửa thôi. Gel cười:  – Cái ông này lúc nào cũng rắc rối. Quên mà quên một nửa nghĩa là sao? – Cô hổng thông minh chút nào hết. Thí dụ như đêm hôm đó cô chỉ cần nhớ từ lúc đi Hamburg gặp người bạn giúp cô trị bịnh và tới khi gặp Nonie giới thiệu việc làm cho cô, tức là cô chỉ nhớ một nửa, cái phân nửa này đủ để cho cô bớt khổ tâm rồi. Gel gật gật đầu miệng lẩm bẩm: – A ha… Có lý, có lý… Nhưng làm được như ông nói hổng dễ đâu. Anh chỉ tay ra hàng cây phía ngoài, nói: – Cô thấy không, bão ngoài trời đã qua từ lâu và cây cối vẫn đứng yên sừng sững. – Con người phải giống như cây cối thì sướng biết bao.   –  Con người biết suy nghỉ, cô thấy rồi đó, trong cuộc sống ai cũng có những lúc khó khăn, trải qua biết bao nhiêu sóng gió trong đời mà chúng ta vẫn sống cho tới ngày hôm nay, thì dù sao đi nữa mình cũng là người may mắn. Nếu cô có bất an về chuyện gì thì cô nên ngồi lại bình tĩnh xem mình có thể làm được gì xoa dịu không, được thì làm, hổng được thì cứ để mặc cho nó tự nhiên qua đi. Gel đưa tay lên bóp trán: – Mỗi lần có chuyện buồn và tâm bất an, ngồi nói chuyện với ông một lát tui cảm thấy vui và an tâm. Anh bưng rượu lên cụng, hớp một hớp cạn ly. Anh định rót thêm nhưng chai rượu đã gần hết, anh rót cho Gel phân nửa và anh phân nửa. Anh khoa tay ngang lên mặt bàn nói tiếp: –  Đúng ra cô vui vẻ và an tâm là nhờ cái mớ này đây. Nãy giờ hai người lai rai hết chai rượu nho và gần hết bịch da heo chiên dòn: – Cô uống nữa hông? Gel lắc đầu. – Thôi đủ rồi. Anh ngó quanh một vòng rồi day qua hỏi: – Hôm nay Nonie hổng làm việc sao? – Không, ảnh nghỉ vài hôm lo chuyện giúp người. – Vậy thì mình uống hết cái này. Hai người cụng ly nốc cạn phần rượu. Để ly xuống, anh gom vỏ chai, bọc, dĩa để hết vô mâm. – Ông để tui. Gel hai tay bưng chiếc mâm đứng dậy và hỏi: – Ông muốn xuống tàu bằng xe của hội quán không? – Khỏi, tui cuốc bộ quen rồi, hơn nữa tàu đậu cảng gần đây. Gel đem đồ vô trong lát sau trở ra lấy chiếc túi xách mang lên vai. – Tui vô trong có chút chuyện, lát nữa gặp lại: – Tui phải xuống tàu rồi. Gel chìa tay ra bắt: – Vậy lần sau gặp lại. Chờ Gel đi rồi anh mới day lưng cất bước. Theo thói quen, đi bộ anh hay thọt tay túi quần, chợt đụng cái bao thư, anh bèn day lại, thấy Gel đi gần tới cửa hội quán. Anh vừa chạy vô vừa gọi lớn: – Gel, Gel… Gel ngoái lại. Anh tới trước mặt, chìa bao thư cho Gel: – Cô đưa cái này cho Nonie dùm. Gel à một cái và cầm lấy bao thư nhét vô túi xách: – Tui biết rồi, cám ơn ông nhiều. – Cái này hổng phải cho cô đâu. – Cái ông này.    Stockholm mùa thu 2015 

Bưởi bòng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Bưởi cùng dòng họ với chanh. Nhỏ thì xanh, lớn thì vàng. Bưởi, nếm nó ngọt. Bòng, em của bưởi, nhỏ hơn, nếm nó chua!

Ðó là về thực vật học, còn về văn học, nếu nói em có hai trái bưởi (nếu lớn), hoặc hai trái chanh (nếu nhỏ), và hai trái bòng (nếu vừa vừa)… là quý anh mình biết ngay là tác giả muốn ‘đặc tả’ cái gì rồi!

Do đó nghĩa của một từ, không phải là nằm trong từ điển, mà phải nằm trong ngữ cảnh như từ ‘chim’ (lại không phải là chim) trong câu chuyện dưới đây.

Ba Giai đến Cửa Bắc, Chợ Ðồng Xuân Hà Nội để mua chim.

“Chim này còn non, múp lắm, xin mời anh!” “Chim à? Non à? Múp à? Bắt đưa đây một con.”

Em bắt ra một con. Ba Giai sờ con chim. Cứ sờ mó con chim mãi. “Cầm thêm cho con chim này nữa.” Rồi lại sờ, lại bóp.

“Mua hay không thì trả giá mở hàng?! Cứ nắn với bóp, hư cả ‘chim’ của người ta! Muốn bóp thì về nhà mà bóp!”

Nghe giọng đanh đá, Ba Giai đưa hai bàn tay vào ngực em bán chim mà bóp. Hai tay mắc giữ hai con chim, buông ra chim bay mất. Thôi kệ cho nó bóp. Mà cũng ‘tê tê giựt giựt’ đó chớ!

Mặt đỏ rần và để chữa thẹn: “Bà không tiếc hai con chim, thì bà sẽ bóp lại ‘chim’ của mầy!”

***

Còn đây là chuyện bưởi mà không hẳn đã là bưởi.

“Em mới về với anh. Ðêm động phòng hoa chúc, đuốc hoa còn đó mặc chàng nằm trơ. Em đi tắm. Bước ra choàng cái khăn lông quanh mình.

“Em ‘sô hàng họ’ hết rồi,  thì việc gì mà che chắn nữa chớ!” “Em chưa quen ở truồng trước mắt ai hết hè!”

“Ðể anh chụp hình kỷ niệm rồi em hãy thay đổi xiêm y.” “Chụp chi vậy? Em đâu phải là người mẫu Ngọc Trinh.”“Chụp để anh lộng bóp; lúc đi làm có nhớ hai trái bưởi của anh mới tậu về, anh giở ra coi cho bớt thèm vậy thôi!

Rồi vài chục năm nữa, hai trái bưởi sẽ biến thành hai trái mướp hương; anh sẽ  giữ hình ảnh nầy… để tiếc thương ngày tháng cũ đó ái thê!”
Chính vì sợ thời gian làm nhan sắc tàn phai, nên bên Tàu giờ đây, có phong trào mấy ‘á xẩm’ khi lấy chồng, đi chụp hình khỏa thân giữ làm kỷ niệm trước khi trao thân cho người khác. (Thân hình em cũng như chiếc xe thôi, xài rồi ắt hẳn là xuống cấp!)

Ai dè thằng chụp hình là cái thằng láu cá. Thấy hình em khoái quá… nên đòi em chiều một tí. Bằng không sẽ gởi cái hình ‘em ơi chiều nay một trăm phần trăm’ cho thằng chồng sắp cưới của em.

Bị nó gài thế, chiều cũng kẹt; thôi chung chi nó một mớ để nó xóa cái hình ‘nhạy cảm’ nầy đi. Ai dè chú Ba nầy đểu, không chịu tiền mà đòi phải cái kia. Em bèn lấy tiền mướn sát thủ xã hội đen cho mầy đi xuống địa ngục để con gái Diêm Vương nó chiều.

***

Bài học rút ra là mấy em đừng có ‘sô’ hàng bậy bạ, gặp ai cũng hé cho coi là không có đặng. Lời khuyên nầy chỉ dành cho các nước còn chịu ảnh hưởng phong kiến, tam tòng tứ đức, khuê môn bất xuất như nước mình, kín từ đầu tới chân, che luôn cái lỗ mũi chỉ còn chừa hai con mắt như con gái Trung Ðông.

Nếu không sợ đi đường đạp nhầm bánh tráng hổng có tiền đền thì con mắt biếc đó chồng em bắt phải che luôn để em không dòm liếc một thằng nào khác!

Còn đối với Úc thì vô phương. Bởi chữ có câu “Xấu che; tốt khoe”. Của mình đâu có xấu mà cứ che. Cứ thoải mái khoe cho mấy anh mình người nhìn một chút.

Hồi mới qua Úc, tui rất khoái mùa hè nóng, nóng chừng nào khoái chừng nấy để ra biển mà dòm. Nhưng thằng bạn Úc nó dạy tui rằng vừa dòm vừa nhểu nước miếng như vậy là không có văn minh. Nên nhớ “Look! Don’t touch” “Nhìn! Ðừng có rờ!” Rờ tới là lôi thôi lớn!

Nhưng nhìn, cũng có văn hóa ‘nhìn’. Ðừng có nhìn chằm chằm, ‘địa’ vào một chỗ. Tốt hơn hết là bỏ tiền ra mua cái kính râm, đeo vào, nhìn ở trên cũng được; nhìn ở dưới cũng xong; không bị em nào càm ràm là sách nhiễu tình dục. Vì chứng cớ đâu?

Hai là lỡ có nhểu nước miếng thì mua cây cà rem, vừa đi, vừa mút.

Chính vì vậy mà kính râm và cà rem, mùa hè nước Úc nầy, nó bán chạy còn hơn tôm tươi.

Mấy em Úc nầy đây mặc dầu mệnh danh là phái ‘yếu’ nhưng hoàn toàn biết thế ‘mạnh’ của mình. Thế mạnh nằm ở số đo ba vòng của thân thể.

Kể từ trên xuống dưới, ngang qua trái tim là vòng một. Ngang qua cái rún, để xức dầu cù là ‘Mac Phsu’ là vòng hai. Ngang qua cái vừa đi vừa lắc là vòng ba.

Yêu người con gái Việt Nam da vàng như yêu cái bản đồ của đất nước ta. Miền Bắc vòng một, nở! Miền Trung vòng hai, eo thon, dựa vào dãy Trường Sơn và Miền Nam, vòng ba phì nhiêu! Cả ba vòng làm nên cái thể hình Việt Nam mình rất đẹp.

Ăn đứt mấy em Úc nầy đây, như cái bản đồ của Úc! Ðầu nhỏ, Darwin! Bụng to, rún là Alice Spring. Mông nhỏ xíu như cái đảo Tasmania.

Nhưng em yêu của tui cho dù là ‘vu khống’ (xin đừng nói lái) tui vẫn mãi mãi yêu em. Vì ngoài em ra đâu có đứa nào chịu yêu tui đâu nè?

So với em Kim Kardashian, 37 tuổi, ba đứa con, ba đời chồng, cao chỉ 1m59, có 3 vòng là 96.5-67-104 cm thì em yêu của tui chỉ kém có chút đỉnh mà thôi!

Tuy nhiên không phải lúc nào bự cũng thắng. Bự đôi khi thua nữa đó.

Jenna Todd

Chuyện rằng bên Anh, có em Jenna Todd, khi mới dậy thì, vòng một đã phổng phao hơn mấy em khác, tụi nó mang hai trái bòng mà em lại mang hai trái bưởi. Cà nanh, tụi nó cho em cái biệt danh “Con ma Vú dài”.

Bị chọc quê nên em rầu quá mạng. Phần đi mua nịt ngực không có cái nào vừa; mặc chật, siết quá, nó đau.

Vậy mà bác sĩ không ông nào chịu hủy hoại món quà của tạo hóa đã ban cho em. Còn kêu em đi khám bịnh ‘tửng từng tưng’. Vì trên đời nầy biết bao em thèm được như vậy mà không có.

Thiệt là: “Cuộc đời thật lắm bất công! Người hai ‘trái bưởi’, người không có gì!”

Thôi du lịch qua Việt Nam một chuyến. Vừa đi chơi vừa phẫu thuật thẩm mỹ. Rẻ! Chất lượng.

Nếu có tai biến, sốc thuốc mê, thuốc tê gì gì đó thì bác sĩ sẽ đem ra cầu Chương Dương Hà Nội vụt xuống sông cho lội.

Cầm bằng may mắn, phước ba đời để lại, lội được về bên Anh, là bác sĩ chắc chắn sẽ nhận điều trị tiếp vì vết mổ nhiễm trùng.

Cam đoan với em là tới mức đó thì không bác sĩ nào dám từ chối. Chiêu đó trong tiếng Việt gọi là: “Ðặt cày trước trâu”.

***

Người ta nói mỗi người Việt là một nhà thơ. Rồi cũng nói: Lượng nhiều thì phẩm dở ẹc. Nói vậy là không đúng. Bằng cớ là tui tình cờ đọc được một bài thơ tác giả khuyết danh trong cõi nhân gian, ông chỉ nói chuyện của đời thường, về hai trái bưởi mà tuyệt nhiên trong bài thơ không có từ bưởi nào hết mới hay!

Bài thơ năn nỉ, nỉ non gởi thằng con chưa biết đọc vì nó còn bú tí như thế nầy nè: “Bố mày vất vả gian nan/ Xin ông bà ngoại để mang mẹ về/ …Bây giờ mày đã chen ngang/ Bố, mày chia sẻ… mỏ vàng xài chung/ Ưu tiên số một mày dùng/ Còn bố thỉnh thoảng tiệc tùng tí thôi!

Giời ơi! Bố dặn dùng môi/ Sao mày cắn chặt mà lôi thế này/ Nhiều khi quá chén đang say/ Bố chỉ mơn trớn nhẹ tay cơ mà.

…Bố van mày đấy nhả ra/ Ðể cho nguyên vẹn cả nhà dùng chung!”

Thiệt là một tuyệt tác về thơ. Chỉ một bài thơ thôi cũng đủ đoạt được Nobel Văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển.

(Chỉ tiếc một cái là giải Nobel Văn chương năm nay Thụy Ðiển nó ‘xù’ vì có một tay giám khảo bị tới 18 em tố là thằng cha dê hỗn. Mất cơ hội bằng vàng… Thiệt là uổng ghê!)

đoàn xuân thu

Melbourne

Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 19 Jan 2023

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Kỳ 2

Ðây! Anh coi xem thật hay giả?

Phụ giơ tay giật mạnh, tờ giấy 20 đồng đẹp như tranh vẽ đã nằm trong tay.

Sau đó y đặt chai nước vối xuống đất, dùng hai tay căng đồng bạc ra, rồi đưa ngang mắt, soi qua ánh mặt trời.

Kiểm tra tờ bạc xong, Phụ tắc lưỡi, gật gù,

– Ðúng rồi! Không phải là bạc giả. Nhưng để anh cất cho. Lúc nào em cần mua gì thì đi với anh, anh trả tiền người ta mới tin, em là trẻ con, người ta sẽ lường gạt mất.

Thằng bé lắc đầu,

– Tiền mẹ cho hằng ngày em còn tiêu chưa hết. Em cần gì phải dùng tới tờ hai chục này. Ðây là tiền chú Tường cho em thì em phải cất. Em không đưa cho anh giữ đâu.

Anh Phụ bỏ tờ bạc vào túi quần rồi ra lệnh,

– Tao là anh, mày là em, anh nói thì em phải nghe! Mày mà cãi lời tao, tao đánh đòn đó!

Hăm he xong anh Phụ xách cặp đứng lên.

Thằng bé cũng đứng lên theo thằng anh.

Bất ngờ, Phụ giựt chai nước trên tay thằng em, tu một hơi cạn đáy rồi thẳng tay quật cái vỏ chai xuống thềm xi măng.

“Choảng!” cái chai vỡ tan! Mảnh thuỷ tinh văng tung tóe.

Thắng bé sợ quá, hai tay nó nắm chặt cái song sắt của cửa rạp hát.

Tuy vậy, nó vẫn nói cứng,

– Em nói rồi! Anh phải trả lại hai chục cho em! Nếu anh giữ nó, mẹ hỏi, em làm sao mà trả lời mẹ?

“Bốp!” một cái tát toé lửa xáng ngay trên mặt làm cho thằng bé tối tăm mặt mũi, chúi đầu xuống nền xi măng. Anh nó hét lên,

– Thì mày cứ nói mày tiêu hết rồi! Chú Tường cho phép mày muốn tiêu gì, mua gì cũng được mà!

Nó đưa tay quệt máu từ vết rách trên khóe miệng, rồi cố gắng ngồi dậy, nhưng nhìn thấy cặp mắt đỏ ngầu của ông anh cùng với hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt thì nó sợ quá, run lên như cầy sấy.

Chợt trong óc nó loé lên một ý nghĩ, nó giả đò thật thà, lắp bắp,

– Vậy thì… nếu mẹ hỏi, em nói… em còn bé quá, giữ nhiều tiền trong túi thì … nguy hiểm nên em… nhờ anh Phụ giữ hộ. Như thế… có được không?

Thấy dáng điệu khiếp sợ cùng với câu nói có vẻ an phận, buông xuôi của thằng em, Phụ liền dịu cơn thịnh nộ. Lập tức, miệng anh đã trở lại ngọt ngào ngay,

– Ðúng rồi! Làm anh thì phải thương yêu em, bảo vệ em. Làm em thì phải nghe lời anh. Vừa rồi em làm anh giận lắm đó! Bây giờ thì anh hết giận rồi. Chuyện cũ mình xí xóa! Chúng mình đi học thôi!  

Nói xong, anh Phụ ân cần nắm cánh tay nó, dắt nó xuống tam cấp. Hai anh em sóng vai bên nhau đi về hướng trường.

Chiều hôm đó, trước lúc chia tay ở cạnh rạp Kim Phụng, anh Phụ còn nhắc nhở nó,

– Tốt nhất là ở nhà, em đừng đả động tới chuyện đồng bạc hai chục, chắc mấy bữa sau mẹ em cũng quên đi thôi.

Nó gật đầu, biểu đồng tình,

– Mẹ bận lắm, chắc không có thì giờ mà hỏi gì đâu.

Tuy miệng nó nói thế, nhưng suốt dọc đường về, nó cứ thấy ngực nặng như đeo chì. Nó tức đến nỗi thở không được.

Nó chợt nhớ tới lời chú Tường nói rằng bố nó là “Ðại ca” của chú. Nó đã chứng kiến chú Tường dõng dạc nói với bốn người đàn em của bố,

– Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Về tới Ngã Sáu, nó ghé vào căn phố đầu đường dẫn vào Lao Xá, dự định sẽ kể chuyện nó bị thằng anh kết nghĩa ức hiếp cho mấy ông đàn em của bố nó nghe. Chắc chắn mấy ông này sẽ ra tay nghĩa hiệp diệt bạo, trừ gian, mà giúp đỡ nó đòi lại tờ giấy bạc hai chục đồng.

Nó chỉ gặp được một người ở nhà chiều hôm đó là ông Trần Phương Quế.

Ở Nam Ðịnh thì gia đình bà chị Cả của bà Sen là hàng xóm của gia đình ông Quế; ông Quế nhận bà Cả là chị nuôi.

Vì bà Sen lớn hơn ông Quế bảy tuổi, nên ông Quế cũng gọi bà Sen là chị.

Do đó, thằng con của bà Sen mới gọi ông Trần Phương Quế là cậu Quế.

Nhưng từ hôm biết tin bố nó bị người ta giết thì ông Quế bắt nó đổi cách xưng hô, gọi ông là chú, cũng giống như chú Yên, chú Lâm, chú Sử, chú Tường.

Nó chưa mở miệng thì chú Quế đã vồn vã,

-Cháu mới đi học về ghé thăm chú phải không? Con nhà tông, không giống lông cũng phải giống cánh. Cháu là con của đại ca, sau này lớn lên chắc chắn cháu sẽ trở thành một nhân tài.

Nghe ông Quế nói nó là con của một đại ca, sau này nó sẽ trở thành một nhân tài thì nó liền bỏ ngay ý nghĩ nhờ vả người khác giải quyết chuyện riêng.

Nó sẽ không nhờ vả ai. Nó thề rằng sẽ tự mình đòi lại tờ giấy hai chục mà tên côn đồ đã trắng trợn cướp trên tay nó. Thế là nó vui vẻ trả lời ông Quế,

– Hôm nay cháu được về sớm. Cháu ghé thăm sức khỏe của chú. Thôi! Cháu xin phép chú! Cháu về ăn cơm.

Ra khỏi nhà chú Quế, thằng bé chạy thẳng một mạch xuống chợ Tây.

Khu chợ rau, chợ cá đã dọn hàng, đóng nắp sạp. Nhưng dãy nhà bán tạp hóa còn mở tới 8 giờ tối.

Nó vào hiệu tạp hóa mua một cái kéo bằng Inox của thợ hớt tóc, đáng giá hai đồng rồi hí hửng ra về.

Thường ngày thì về tới nhà nó thay cái quần soọc xanh ra, mặc cái quần đùi vào cho gọn. Tối nay nó vẫn để nguyên cái quần soọc trên người. Cái quần này có túi.

Cái kéo nằm gọn trong túi quần, nó bước ra sân sau.

Trong suốt ba giờ đồng hồ, nó tập thật nhuần nhuyễn ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát địch thủ.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông kẻ thù.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … cho tới khi thằng ăn cướp móc túi trả lại tờ giấy bạc hai chục đồng Ðông Dương thì nó mới dừng tay.

Sáng hôm sau, 27 tháng Chạp Âm Lịch, thay vì đem theo hai chai nước vối, nó pha một chai nước chanh đường.

Tới rạp Kim Phụng, nó vừa cười hì hì vừa nịnh bợ người anh kết nghĩa.

– Em chưa kịp mua thêm một cái chai để đựng nước vối. Hôm nay em chỉ đem theo một chai nước chanh cho anh thôi. Em không khát.

Anh Phụ đỡ chai nước chanh giọng cảm động,

– Thằng em của tôi tốt bụng quá!

Vì nó đã dùng kìm để siết cái nắp chai, nên anh Phụ phải vận sức cả hai tay để mở chai. Nhân cơ hội này nó đã thực hành thật nhanh ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát ông anh kết nghĩa.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông thằng ăn cướp.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … miệng nó liên tiếp la:

“Trả lại tờ bạc hai chục cho tao! Trả lại tờ bạc hai chục cho tao!”

Cái kéo hớt tóc bằng Inox vừa sắc lại vừa cứng. Cú đâm nào cũng lút tới xương. Cái chai nước chanh rớt xuống lăn long lóc theo bực tam cấp nhưng không vỡ.

Thằng anh kết nghĩa lớn tiếng kêu,

– Bà con ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!

Thằng em kết nghĩa bình tĩnh, lớn tiếng đáp lại,

– Nó là thằng ăn cướp! Nó cướp tiền của tôi! Bà con gọi Cảnh Sát bắt nó! Bắt nó!

Chợt tên Phụ quỵ xuống rồi thều thào,

– Anh sẽ trả lại tiền cho em! Ðừng đâm nữa! Ðừng đâm nữa!

Nó đứng chưa tới ngực tên Phụ nên chỉ có thể đâm vào đùi, vào hông của Phụ.

Giờ này thấy Phụ quỵ xuống, nó bèn ghim mũi kéo ngay yết hầu của Phụ.

Chỉ cần một cái hất tay, một linh hồn sẽ bay lên trời.

Phụ run rẩy móc túi lấy cái phong bì có chứa tờ giấy bạc đưa lên trước mặt,

– Tiền của Long đây! Anh lạy em! Tha cho anh!

Tay của Phụ đầy máu, cái bì thư cũng đẫm máu.

Thằng bé cúi xuống cầm cái bì thư rồi nhìn một vòng xung quanh phân bua với đám người đang đứng vây,

– Ðây là tiền của tôi! Nó là thằng ăn cướp! Bà con đã thấy chưa?

Nó tính mở cái bì thư lấy tiền ra thì nghe ai đó trong đám đông la to,

– Thằng ăn cướp bỏ chạy! Bắt nó! Bắt nó bà con ơi!

Phải nói rằng tên Phụ này rất khoẻ, bị đâm cả chục nhát kéo vào đùi, máu tuôn ra ào ào mà vừa nhỏm dậy nó đã biến mất sau hàng hiên dãy phố bên kia.

Thằng bé vội phóng theo tên tội phạm, nhưng qua đường nó cũng quẹo trái, len lỏi vào mấy con hẻm quen dẫn về phố Jean De Bouchet rồi thót vào nhà.

Không có ai ở nhà, nó chạy tới bên giếng, múc nước tắm cả quần, cả áo.

Máu kẻ thù còn tươi, chỉ cần chục gầu nước xối qua, là hết dấu vết.

Ðêm hôm đó nó cứ suy nghĩ mông lung, rồi cảm thấy hối hận vì đã lỡ lời thổ lộ chuyện nhà cho anh Phụ, khiến cho tình nghĩa anh em tổn thương, đang là bạn bỗng chốc hóa ra thù.

Nó tự trách mình đã quá nặng tay. Chắc giờ này anh Phụ đang đau đớn lắm? Chắc giờ này anh ấy oán hận nó lắm?

Càng nghĩ lại chuyện xảy ra sáng nay, nó càng thấy thương hại anh Phụ, nó càng thấy mình có lỗi với bạn.

Ðêm đã khuya mà mắt vẫn còn mở thao láo, nó bèn đưa hai bàn tay lên xoa mặt tìm giấc ngủ.

Nó giật mình vì thấy mặt nó đau ê ẩm khi bị bàn tay chạm vào. Ðồng thời đầu lưỡi của nó cảm thấy mùi vị của máu tươi vừa tuôn ra từ những vết thương trên môi, trên mép chưa lành. Mùi máu tanh tanh, vị máu mằn mặn, xót xa, xót xa…

Nhắm mắt lại vài giây, rồi mở mắt ra, nó lại đưa tay lên mặt lần nữa.

Nó tiếp tục xoa nhè nhẹ, nhè nhẹ. Hiện giờ má trái của nó đã sưng u lên như cái bánh bao! Hai môi nó cũng phồng lên như hai miếng bánh dầy.

Trước mắt nó chợt hiện ra đôi mắt đổ lửa của thằng anh.

Trước mắt nó chợt hiện ra hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt.

Ngay lập tức, lòng nó bỗng trở thành lạnh tanh.

Suốt đêm 27 tháng Chạp Âm Lịch, nó miên man suy nghĩ về chuyện bố nó bị người ta giết, chuyện tờ giấy bạc hai chục chú Tường cho, chuyện vô cớ bị thằng bạn cướp tiền, rồi còn bị tát sưng cả mặt mày…

Cuối cùng nó thở phào nhẹ nhõm, vì trong đầu nó vừa hiện ra con đường tương lai mà nó sẽ phải đi theo.

Thế là, chỉ sau một đêm, thằng bé sáu tuổi rưỡi đã biến thành một người trưởng thành.

Ngày 28 Âm Lịch là ngày ăn tiệc tất niên, nó không dám bỏ lớp, nên đánh liều ra khỏi nhà với cái kéo trong túi quần.

Theo đường Thống Nhất, nó đi thẳng tới Tòa Hành Chánh, vòng lên Ga, rồi mới đi xuống Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương. Nó tránh xa rạp hát Kim Phụng, vì sợ anh Phụ mai phục đâu đó đón đường.

Tới trường, nó đứng núp sau lưng tụi bạn cùng lớp rồi len lén quan sát xem bên lớp Ba có bóng dáng cao lớn của người anh kết nghĩa không.

Nó thở ra khoan khoái khi không thấy anh học trò khổng lồ 18 tuổi thường đi đoạn hậu của lớp này.

Sau tiệc tất niên, học trò được nghỉ.

Mùng Mười Tết, quay lại trường, nó vẫn không thấy anh Phụ.

Nó hỏi dò thằng bạn tên là Ðoàn Ðình Ngữ ngồi bên cạnh là người hàng xóm của anh Phụ,

– Mày có biết vì sao anh Phụ nghỉ học không?

Thằng Ngữ nhanh nhảu đáp lời,

– Anh Phụ bị ngã gãy chân, đi cà nhót, cà nhót, chỉ quanh quẩn trong sân cả chục ngày rồi.

Rồi cả tháng sau thấy anh Phụ vẫn vắng bóng, nó lại hỏi thằng Ngữ,

– Lâu rồi mà chân của anh Phụ vẫn chưa lành sao?

Ngữ vỗ đùi,

–  Ông ấy tình nguyện đi lính pa đờ suýt rồi! Bố tao nói học lớp Ba mà vào lính thì chỉ lên tới ca pô ran là cùng. Tao sẽ học tới đíp lôm rồi mới đi lính. Tao sẽ đi lính sĩ quan. Làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran.

(Chú thích: Pa đờ suýt là lính Nhảy Dù của Tây- Ca pô ran là hạ sĩ lính Tây- Ðíp lôm là bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp của Tây)

Sau này thằng Ðoàn Ðình Ngữ học tới tú tài và tốt nghiệp Khóa 19 Sĩ Quan Ðà-Lạt.

Nghe thằng Ngữ nói làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran, thằng bé cũng muốn khi lớn lên nó sẽ đi làm sĩ quan. Nó mà làm sĩ quan thì anh ca pô ran tên là Phụ sẽ không dám bắt nạt nó nữa.

Tuổi thần tiên của một đời người là thời gian vừa biết nói cho tới ngày vào lớp Năm, lớp Tư. Tuổi Mẫu Giáo và lớp Năm, em bé được nghe những truyện thần tiên do cha mẹ, ông bà kể.

Tuổi lớp Tư, em bé được đọc truyện thần tiên trên sách báo Thiếu Nhi.

Trong đầu em bé suốt ngày, suốt đêm, chứa chất đầy mộng đẹp.

Tới lớp Ba thì coi như tuổi thần tiên đã đi qua, vì em bé bắt đầu đọc những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư để trở thành một người công dân tốt sau này.

Thằng con bà Sen thực sự chưa từng được biết thế nào là tuổi thần tiên.

Không rõ trên thế gian này có một tuổi thơ nào giống như tuổi thơ của thằng bé sáu tuổi rưỡi này không?

Ba tuổi, 1945 nó sống sót sau nạn đói Ất Dậu.

Bốn tuổi, 1946 nó theo mẹ trốn chạy chiến tranh Việt Pháp, rồi trải qua những cơn sốt rét thập tử nhất sinh trên vùng rừng núi Ðông Triều đầy sơn lam chướng khí.

Sáu tuổi, 1948 nó hồi cư; nửa năm sau nó nghe tin bố chết; bỗng chốc, đứa học trò lớp Năm mang trên vai một mối đại thù.

Sau Tết ít lâu, chủ nhà hồi cư, đòi lại nhà, vợ chồng chú Sử và mẹ con nó phải dọn về số 24 Jean De Bouchet ở chung với gia đình anh ruột của mẹ nó và bà ngoại nó.

Giữa năm lớp Tư, nhà nó lại dọn nhà lần nữa, tới số 17 phố Hàng Lọng.

Ðầu năm 1952, vừa làm quen với những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì gia đình nó di chuyển lên làng Vẽ, tức là làng Ðông-Ngạc huyện Quảng-Bá, ngoại ô Hà-Nội.

Ngày 17 tháng 7 năm 1954 gia đình nó di chuyển vào Ðà-Nẵng.

Ba ngày sau, 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve được ký kết, nước Việt-Nam bị cắt làm hai.

Chú Tường lưu lạc nơi nào không ai hay. Chú Phan Ngọc Yên ở lại Miền Bắc. Các chú Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế đều theo học lớp sĩ quan Ðà-Lạt.

Chú Trần Văn Sử sau khi thuyên chuyển về Vùng 4 không biết còn sống hay đã chết.

Năm 1968 nó nghe tin chú Lâm đã là đại úy, giữ chức vụ gì đó trong khu Quang-Trung của Trường Võ Bị, gia đình chú thì cư ngụ trong trại gia binh ở gần hồ Saint Bénoit.

Nó đã bỏ công lái xe vòng vòng hai tiếng đồng hồ trong khu Mê Linh để tìm thăm chú.

Nhưng hai mươi năm sau, chú Lâm đã quên họ, quên tên người “Ðại ca” của chú ấy mất rồi!

Nó thấy người đàn em của bố nó có vẻ như không muốn nhắc lại cái thời dĩ vãng xa xôi ngày xưa. Vì thế, nó chỉ ghé thăm ông ấy một lần rồi không bao giờ quay lại.

Riêng chú Trần Phương Quế sau một thời gian gián đoạn đã liên lạc được gia đình nó. Chú Quế sau này trở thành một đại tá của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa.

Ðại tá Trần Phương Quế là vị Trung Ðoàn Trưởng sau cùng của Trung Ðoàn 9/ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.

Lẫn trong dòng đời, thằng bé đã lớn lên, trông già hơn những đứa bạn cùng trang lứa, cô đơn hơn những đứa bạn cùng trang lứa; kiến thức của nó khác hẳn kiến thức của những đứa học cùng lớp, và ước vọng của nó cũng khác hẳn ước vọng của những người cùng thời.

Ðể trả thù nhà, thằng bé đã chọn binh nghiệp.

Mười năm vào sinh ra tử, nó đã vươn lên như một cây thông, thẳng đứng, lừng lững giữa trời, không vịn vào ai, không dựa vào ai.

Thế rồi chiến tranh tàn, người thua trận cứ mãi mang trong lòng một nỗi buồn khôn nguôi vì nợ nước thù nhà không trả nổi.

Thời gian qua như tên bay, thằng bé ngày xưa đã thành một ông già…

VML

Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 12 Jan 2023

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Kỳ 1.

Ngày ông Táo về trời năm Mậu Tý, Thế Kỷ 20…

Nơi góc phố Jean De Bouchet, Hải-Dương có một thằng bé sáu tuổi rưỡi ngồi say mê ngắm nghía một món đồ chơi mà nó vừa mua được.

Trên tay nó là một cái xe làm bằng vỏ hộp cá mòi.

Cái vỏ hộp cá mòi của Marốc do ai đó nhặt từ đống rác của Tây, rồi đục bốn cái lỗ bên hông, gắn vào bốn bánh xe bằng nắp khoén, nắp bia đã trở thành món đồ chơi quý báu của lũ trẻ trai sáu, bảy tuổi cư ngụ trong khu Ngã Sáu, Hải-Dương này.

Sáng nay thằng bé đã bỏ ra năm hào để mua lại chiếc xe từ tay thằng bạn nó tên là Hải.

Thằng Hải là con ông chủ Khách sạn Thiên Tuế ở đầu đường.

Thời buổi đó, trong chợ Tây của tỉnh Hải-Dương thì, một bữa trưa hay bữa chiều dành cho người lớn chỉ đáng giá một đồng bạc Ðông Dương. Với một tô cơm trắng, một món canh, một món kho, một ly nước trà, người ta chỉ phải trả một đồng.

Vậy mà mỗi ngày thằng bé có tới hai đồng, làm sao tiêu cho hết?

Hằng ngày, trước khi rời nhà để đi buôn, mẹ nó đều nhét dưới gối, đầu giường cho nó hai đồng. Ngủ dậy, việc đầu tiên của nó là quơ tay dưới gối, lấy tiền bỏ vào túi quần rồi mới đi rửa mặt đánh răng.

Nó nhớ ra hôm nay là ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch cô giáo cho học trò nghỉ.

Mẹ nó cũng hứa sẽ về sớm, mua đồ cúng tiễn đưa ông Táo về trời.

Nó ôm cái xe đồ chơi vào ngực,

– Ông Táo ơi! Tối nay ông Táo đừng thèm cưỡi cá chép, cháu sẽ cho ông mượn chiếc ô tô của cháu để ông cưỡi cho oai.

Từ giờ đó, nó cứ chắc mẩm rằng ông Táo nhà nó sẽ oai hơn ông Táo của những nhà hàng xóm. Nó chắc mẩm rằng, cả thành phố này không có ông Táo nhà nào tới chầu Ngọc Hoàng sớm hơn ông Táo nhà nó; vì ông Táo nhà nó lên trời bằng ô tô, chứ không phải cưỡi lưng cá chép, vượt qua cả nghìn cây số qua thác, qua ghềnh.

Thằng bé và mẹ nó vừa hồi cư từ vùng chiến tranh về Hải-Dương cuối năm 1948. Mẹ con nó ở nhờ trong nhà một người quen tên là Sử.

Mẹ nó bảo nó gọi ông Sử, bà Sử là chú và thím.

Ông Sử cũng là dân mới hồi cư nhưng nhanh chân chiếm cứ được một ngôi nhà rộng có sân tọa lạc ngay giữa phố, cách Ngã Sáu không xa.

Thời gian này phố Jean De Bouchet còn nhiều căn nhà rất đẹp nhưng bị bỏ hoang vì chủ của chúng còn đi lánh nạn chiến tranh, chưa quay về.

Hồi cư đúng vào dịp khai trường, nên thằng bé được nhận thẳng vào lớp 5 tiểu học, mấy chục năm sau người ta đổi lớp 5 thành lớp 1, còn ở Mỹ thì đây là lớp First Grade.

Xế trưa hôm đó bà Sử dẫn về một người đàn ông lạ rồi lớn tiếng gọi,

– Long ơi! Có khách muốn gặp cháu!

Nghe kêu tên, thằng bé vội vàng chạy tới khoanh tay, lễ phép,

– Thưa thím, cháu đây!

Bà Sử nhìn người khách,

– Ðây là thằng bé mà bác muốn gặp!

Người đàn ông tuổi chừng trên dưới ba mươi, dong dỏng cao, có đôi mắt sáng như sao.

Nhìn chằm chặp vào mặt thằng bé một phút rồi người khách kéo tay nó dẫn ra cửa sau,

– Cháu tên là Vương Mộng Long con bà Sen phải không?

– Vâng! Thưa ông! Cháu tên là Vương Mộng Long con của bà Sen.

– Bố cháu là thầy của chú. Mình tìm chỗ nào vắng, chú có việc cần nói cho cháu biết.

Tới bên gốc cây bưởi nơi góc sân sau nhà, người đàn ông cúi xuống ôm chặt thằng bé vào lòng rồi sụt sùi,

– Cháu nhớ nhé! Tên chú là Tường! Cháu cứ gọi chú là chú Tường! Chú là đàn em của bố cháu! Chú gọi bố cháu là đại ca.

– Thưa chú! Cháu sẽ nhớ! Tên chú là Tường, là đàn em của bố cháu. Chú gọi bố cháu là đại ca. Vậy chú có biết bố cháu bây giờ ở đâu không?

Chú Tường dang hai tay ôm chặt thằng bé, nghẹn ngào,

– Cháu ơi! Bố cháu chết rồi!

Thằng bé vội đẩy người đàn ông ra rồi la lên,

– Chú nói cái gì? Vì sao bố cháu chết?

Chú Tường lại dang hai tay ôm nó, giọng chú run run,

– Bố cháu chết rồi! Cháu hãy ngồi im mà nghe chú nói đây! Suốt đời không được quên những gì chú nói với cháu hôm nay!

Thằng bé nắm chặt hai bàn tay thành hai nắm đấm, rồi nhìn vào mắt chú Tường,

– Vâng! Chú nói đi!

Chú Tường đưa tay lên xoa mặt, vuốt ngực một cái rồi dõng dạc từng tiếng,

– Cháu hãy nghe cho rõ: Tụi Việt-Cộng đã giết bố cháu đấy!

Nó vội hỏi,

-Chú có biết Việt-Cộng là ai không? Chú có biết Việt-Cộng ở đâu không?

Chú Tường đưa tay đè hai vai nó xuống, rồi nghiến răng, dằn giọng,

– Mai này lớn lên cháu sẽ biết Việt-Cộng là ai. Nhiệm vụ của chú tìm gặp cháu ngày hôm nay là nói cho cháu biết rằng không được quên mối thù này!

Dứt lời, chú Tường dắt thằng bé vào nhà.

Vào tới nhà, chú Tường bận bịu nói chuyện với vợ chồng ông Sử, không để ý tới thằng bé nữa.

Thì ra chú Tường là anh con cô, con cậu của thím Sử; chú mới quá giang theo chuyến công voa Hà-Nội, Hải-Phòng để về Hải-Dương sáng nay.

Hình như những người bà con này đã không có dịp gặp mặt nhau lâu lắm rồi nên cứ luôn mồm nói từ chuyện này sang chuyện khác mãi không dứt.

Nó muốn hỏi chú Tường thêm nhiều điều, nhưng thấy chú bận bịu quá, nó lại thôi.

Rồi căn nhà chợt ồn ào hẳn lên khi có ba người đàn ông bước vào. Thằng bé đã biết ba vị này là nhóm thanh niên ở trọ trong căn nhà đầu Ngã Sáu trên con đường dẫn vào Lao Xá Hải Dương.

Ba thanh niên cùng chú Sử và chú Tường ngồi quanh cái bàn tròn giữa sân, bàn bạc với nhau chuyện gì đó hình như hệ trọng lắm. Chú Tường có vẻ là người có uy nhất của năm vị này.

Buổi họp mặt bế mạc, chú Tường đứng lên, đảo mắt một vòng rồi dõng dạc,

– Ðại ca đã mất rồi. Từ nay anh em ta sẽ chia tay. Các chú sẽ tự định đoạt tương lai của chính mình.  

Ngừng một giây, chú Tường nhìn về phía thằng bé đang ngồi ủ rũ bên hiên nhà, giọng chú nghẹn ngào,

– Ngày mai anh không còn ở đây nữa. Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Thì ra ba ông thanh niên này, cùng với chú Tường và chú Sử là đàn em của bố nó.

Nó không rõ chú Tường mang họ gì, quê quán ở đâu.

Một ông cũng lớn tuổi như chú Tường tên là Phan Ngọc Yên thì cùng quê Hải Dương với bố. Ba ông còn lại thì trẻ hơn nhiều, đều mang họ Trần và có quê Nam-Ðịnh.

Tên của các ông này là Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế.

Sau đó mấy vị đàn em của bố nó kéo tới vây quanh nó, ôm hôn nó, xoa đầu nó, rồi theo chân nhau đi ra cửa. Bà vợ ông Sử quét nhà xong cũng gánh rau rời nhà lên chợ.

Chỉ còn một mình trong căn nhà vắng, thằng bé thấy mình cô đơn một cách thật lạ kỳ.

Từ lúc nghe tin bố chết, nó thẫn thờ như kẻ mất hồn, hết ngồi vật, ngồi vạ trên cái chõng tre ngoài phòng khách, lại đứng trước cái bàn thờ Phật, nhìn hình Phật trên kia rồi suy nghĩ mung lung.

Nó còn nhớ ngày đó, cách nay hai năm, bố nó đã đưa mẹ con nó ra Ga Hàng Cỏ để lên tàu hỏa về quê.

Trước khi chia tay, bố đã ôm hôn nó, nói với nó rằng,

– Con của bố gắng ngoan! Mai này bố sẽ về, bố sẽ bế con, bố sẽ cõng con đi chơi quanh thành phố Hải-Dương. Bố sẽ mua cho con một hộp bánh khảo và bánh đậu xanh Bảo-Hiên Rồng Vàng thật là to.

Gần tám chục năm sau nó vẫn chưa quên hình ảnh bố nó đứng bên cái xe đạp, dưới ánh đèn đường, giơ tay vẫy vẫy, tiễn chân mẹ con nó lên tàu xuôi Hải-Dương.

Nó không tin những lời chú Tường vừa nói là chuyện thật, nó không tin bố nó đã bị người ta giết. Bố là người tài giỏi nhất trên đời! Bố không thể chết!

Tới chiều thì mẹ thằng bé bước vào cửa cùng lúc với vợ chồng chú Sử và chú Tường.

Rồi mẹ thằng bé cũng ra vườn nói chuyện với chú Tường. Khoảng một giờ đồng hồ sau mẹ nó và chú Tường mới trở vào. Lúc này mắt mẹ nó đã đẫm lệ, đỏ hoe.

Tới tối, nó đang ngồi thút thít khóc bên bàn học, thì chú Tường tới ngồi bên, cầm mấy quyển vở của nó lên xem, rồi cất tiếng khen,

– Cháu ngoan lắm! Cháu gắng học giỏi để mai này nối chí ông thầy của chú!

Chú Tường lần tay ra túi sau, móc bóp lấy ra tờ giấy bạc 20 đồng Ðông Dương mềm như lụa, đưa cho thằng bé,

– Tiền này chú cho cháu để ăn quà hay mua đồ chơi, tùy ý cháu.

Thằng bé ngần ngừ, nhìn mẹ; thấy mẹ nó gật đầu, nó mới giơ tay cầm tờ bạc, miệng lí nhí,

– Cháu cám ơn chú Tường!

Nhớ lời mẹ nó dặn, khi cám ơn ai thì nó phải nhìn thẳng vào mặt người đó.

Thằng bé cám ơn chú Tường, đồng thời nhìn ngay mặt chú, nó nhận ra trên má chú có hai dòng lệ đang chảy xuống. Dưới ánh đèn, nước mắt của chú sáng lấp lánh.

Tối hôm đó mẹ nó không thắp nhang tiễn đưa ông Táo.

Mẹ con nó đã quên không ăn cơm chiều. Mẹ nó lững thững đi ra vườn, nó nối đuôi theo.

Ði ngang phòng khách, nó thấy chú Tường nằm trên cái chõng tre.

Chú Tường đang hút thuốc lá, khói thuốc bay lên trần nhà.

Mẹ nó đi tới gốc bưởi, ngồi rũ xuống và sụt sịt khóc; nó mon men lại gần thì mẹ xua tay, đuổi nó đi.

Nó lê bước vào nhà, vứt cái ô tô làm bằng vỏ hộp cá mòi vào gầm bàn, rồi lăn ra chiếu.

Trong bóng tối, nó trùm chăn kín đầu, nằm khóc một mình.

Trước khi nó thiếp đi, nó nghe ai đó nói nhỏ bên tai,

– Việt-Cộng là kẻ thù đã giết bố cháu! Suốt đời, cháu không được quên mối thù này!

Sớm hôm sau thằng bé tỉnh dậy thì mẹ nó đã đi làm; trên cái chõng tre ngoài phòng khách cũng không thấy chú Tường.

Ngày 24 tháng Chạp Âm Lịch năm Mậu Tý, rơi vào Thứ Bảy, cũng là ngày hội thể thao tất niên của trường, nhưng nó không thèm tới sân vận động để xem, mà chỉ nằm nhà ôm mặt khóc. Suốt ngày Chủ Nhật sau đó, nó cũng chỉ loanh quanh trong vườn chứ không ló đầu ra ngoài phố.

Sáng Thứ Hai, 26 tháng Chạp, nó ôm quyển vở, xách hai chai nước vối rồi bước ra đường.

Tới Ngã Sáu, nó gặp thằng Hải đang đứng chờ.

Thằng Hải thấy hai mắt nó sưng húp thì ngạc nhiên, cất tiếng hỏi thăm,

– Mày bị đau mắt hả? Nhà tao có thuốc nhỏ mắt tốt lắm. Ðể tao chạy về lấy cho mày nhé?

Nó vội xua tay,

– Không cần! Không cần! Ðừng hỏi nữa! Chiều về tao kể cho nghe!  

Nói xong, nó vội vàng phóng nhanh qua đường. Thằng Hải cũng lao theo bén gót.

Hai đứa vào trung tâm thành phố, rồi tới phố Hàng Bạc.

Thằng bé đi thẳng lên hướng Ga để tới Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương.

Còn bạn nó thì rẽ sang tay phải để tới Trường Thánh Giuse.

Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương là trường công, học trò không phải đóng tiền.

Trường Thánh Giuse là trường Tây, trường tư, học trò phải trả tiền.

Học trò Trường Thánh Giuse đa phần là con nhà giàu hay có đạo; thằng Hải là con nhà giàu.

Tới gần rạp hát Kim Phụng thằng bé đã thấy người anh kết nghĩa của nó đứng chờ.  Nó mới quen anh Phụ được vài tuần. Anh Phụ học lớp Ba cùng trường, năm nay anh đã 18 tuổi, và đã có vợ. Thời gian này học trò mới hồi cư được khuyến khích đến trường, không giới hạn tuổi tác.

Nhà anh Phụ ở ngoại ô thành phố phía đằng sau vườn hoa Bảo Ðại. Ngày nào anh Phụ cũng đứng chờ nó nơi hiên rạp Kim Phụng để cùng đi với nó. Chiều chiều tan trường, hai anh em lại cùng về.

Anh Phụ nói năng rất ngọt ngào; anh coi nó thân thiết như đứa em ruột của anh.

Nó là đứa bé không có anh chị; được anh Phụ nhận làm em kết nghĩa nó cảm thấy sung sướng vô cùng.

Trước đây khi mới gặp nhau, anh Phụ thường mang theo bên mình một chai nước mưa để giải khát; nhưng từ khi được nếm mùi vị nước vối của nhà thằng em thì anh Phụ đề nghị nó mang thêm một chai nước vối nữa cho anh.

Nó vui vẻ làm theo yêu cầu của bạn nó ngay. Nó đã không quản công khó mà còn cảm thấy hạnh phúc khi thấy người anh kết nghĩa đã cần tới nó. Trong bếp nhà nó lúc nào cũng có một nồi nước vối đầy, hai chai nước vối nó đem đi học có đáng là bao?

Một hôm đang đi giữa đường, anh Phụ bỗng dừng chân đứng lại ôm bụng nhăn nhó. Nó lo lắng cuống quýt,

– Anh sao thế? Anh bị bệnh gì thế?

Phụ xua tay,

– Anh không sao, ruột anh chỉ bị quặn quặn một lúc thì hết ngay thôi!

Phụ nói đúng, chỉ một phút sau anh đã đi đứng bình thường.

Chiều về, người anh kết nghĩa mới thú thực với thằng em,

– Em có biết không? Sáng nay anh bị đau bụng là vì đói đó! Ðói mà uống nước vối thì bị cồn ruột.

Thằng bé thắc mắc,

– Thế sáng ra anh nhịn đói mà đi học ư?

– Chứ sao? Nhà anh nghèo lắm, làm gì có tiền mà ăn sáng? Anh nhịn tới chiều về tới nhà mới được ăn cơm. Nhà nghèo khổ lắm em ơi!

Thằng bé đúng là thứ ruột ngựa,

– Mỗi ngày mẹ cho em hai đồng, sáng ra em ăn một đĩa xôi lạp xưởng hay một đĩa bánh cuốn cà cuống chỉ hết năm hào. Còn một đồng rưỡi em bỏ ống, chờ tới Tết mới đem ra tiêu. Chẳng bù cho anh bị đói suốt ngày! Tội nghiệp anh tôi! Từ mai, mỗi ngày em sẽ chia cho anh năm hào để ăn sáng.

Nói xong nó dúi vào tay Phụ tờ bạc 5 hào bằng giấy,

– Ðây là tiền cho anh sáng mai.

Mắt Phụ sáng lên, nhưng anh còn làm bộ thoái thác,

– Lấy tiền của em anh ngại quá! Nếu mẹ em mà biết thì anh xấu hổ lắm! Bà dành tiền cho em chứ có phải cho anh đâu?

– Anh đừng lo! Mẹ không biết đâu! Vả lại mẹ cho tiền, em muốn làm gì thì làm, mẹ không bao giờ kiểm soát cả.

Người đẩy qua, kẻ đẩy lại, cuối cùng Phụ đành cất tờ giấy bạc vào túi,

– Nể em lắm anh mới nhận. Bao giờ anh khấm khá, anh sẽ đãi em mỗi ngày.

Thằng bé cười xòa,

– Có thế chứ! Chúng mình là anh em mà!

Từ hôm đó quỹ chi tiêu hằng ngày của thằng bé chỉ còn 1 đồng 5 hào.

Hôm nay vì thời gian còn sớm nên hai anh em nó ngồi tạm nghỉ trên tam cấp của rạp Kim Phụng. Rạp hát này ban ngày đóng cửa. Tới ba giờ chiều người ta mới mở hai cái cửa tò vò để bán vé.

Thằng bé trao cho anh nó chai nước vối cùng 5 hào tiền ăn sáng mai, rồi từ từ tâm sự cho anh nó nghe tất cả những chuyện buồn mà nó đã gặp phải trong mấy ngày qua.

Nó những tưởng người anh kết nghĩa của nó sẽ tỏ lòng thương xót khi thấy nó bỗng chốc trở thành một đứa trẻ mồ côi cha.

Nào ngờ, nó vừa dứt lời, anh Phụ đã trợn mắt,

– Bộ em bịa chuyện hả? Anh không tin trên đời này lại có người chú tốt bụng đến mức dám cho thằng cháu sáu tuổi một tờ giấy hai chục đồng Ðông Dương. Hai chục đồng là cả một gia tài đấy! Em có biết không?

Thằng nhỏ ngẩn mặt, thật thà,

– Em nói thật mà! Chú Tường cho em hai chục thật mà! Chú ấy nói em muốn mua gì thì mua, muốn ăn gì thì ăn mà!

– Anh không tin! Ðâu? Ðồng hai chục đâu? Ðưa cho anh coi, xem là tiền thật hay tiền giả?

Nghe tới hai chữ “tiền giả” thằng bé chột dạ, vội vàng móc túi lấy tờ bạc đưa cho thằng anh