Chiều Lên Hội Quán

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Mặt trời đã khuất sau hàng cây rậm lá, nắng chiều xô ngã bóng tàn trải lên mặt lộ đen láng, phẳng phiêu. Bên đường dành cho khách bộ hành, một dãi cỏ màu xanh, hoa vàng, đỏ, tím chen nhau khoe sắc. Ở ngã ba đường khi đèn giao thông bật màu xanh, xe ào ạt chạy tung cát bụi mịch mùng. Đoàn xe lướt qua, con lộ trở nên trống trải, tiếng động cơ hút xa rồi ngưng bặt. Sự yên lặng đến đổi nghe rỏ tiếng gió lướt qua đầu cây ngọn cỏ, tiếng chim chóc rút rích trên cành. Và tôi là khách bộ hành đương đi trên con đường vắng.

Ði hết một đoạn đường, quẹo phải tới cổng hội quán. Mùa hè nắng ấm, trên sân cỏ xanh mượt đám thủy thủ chia phe đá banh; đội áo xanh, đội áo đỏ rất hào hứng chen lấn nhau tranh banh la hét rân trời. Tôi không khoái đá banh nên bước thẳng vô hội quán. Trong phòng thể thao, nhóm thủy thủ Ba Lan chia phe chơi bóng rổ, họ đương hì hục dọng banh bình bịch, ngoài bàn bi da hai anh Phi luật tân đương so cơ lốp cốp. Trước hai phòng diện thoại, người ta đứng sắp hai hàng dài.  Giờ nầy mạnh ai nấy lo giải quyết chuyện riêng, hơn nữa còn sớm, ít người uống bia nên trong bar chỉ lèo tèo vài ba người đứng.  Hàng ghế cao cẳng trước quày rượu trống trơn. Tôi bèn leo lên chiếc ghế trong góc, mua một ly bia nhâm nhi, ngồi đây tôi nhìn được mọi sinh hoạt chung quanh.

Trước đây hơn mười năm. Những ngày cuối tuần, khi tàu còn lênh đênh trên biển, tối đến thủy thủ đoàn rút vô phòng cặm cụi viết thư. Chờ tàu gần vô cảng mỗi anh cầm một sắp thư giầy cộm, đem lên đưa thuyền trưởng nhờ chuyển đi. Khi tàu ghé bến, cả đám lóng ngóng chờ nhân viên mang thư xuống như chờ người tình. Từ ngày những công ty truyền thông phát hành thẻ điện thoại loại rẻ tiền dành cho thủy thủ, chuyện viết thư và nhận thư giảm bớt. Bù lại, mấy phòng điện thoại trên hội quán, lúc nào thủy thủ cũng sắp hàng dọc đứng chờ. Ở Việt nam tôi nghe nói ăn, ngủ, làm tình, đi cầu là bốn cái sướng nhứt trên đời. Nhìn cảnh nầy tôi mới nghiệm ra, nói chuyện cũng là cái sướng nữa. Nếu không thì tại sao người ta gắn điện thoại trong nhà, ty bưu điện đựng điện thoại công cộng khắp nơi vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu, còn phải còn chế thêm điện thoại mobile và phát minh ra internet; lên lưới trò chuyện, đi rong ngoài phố điện thoại cầm tay áp lên má chuyện trò. Chưa đã, hễ có dịp bà con ta còn hẹn hò nhau để… nói chuyện.

Hồi sớm nầy tôi đâu có định lên hội quán. Tôi đương đứng ngoài boong, nhìn tàu bè xuôi ngược trên dòng sông Rijn và những chiếc tàu đã yên vị bên kè đá. Đương phân biệt màu cờ để biết quốc tịch gốc của những con tàu và đoán chừng nó đến từ đâu. Chợt Ebet, thủy thủ người In-đô, cháu của ông Johannes Besla, đi lại nói với tôi:

– Uncle Tấn, hồi trưa tôi gặp uncle Johannes, chú ấy hẹn nhắn chú chiều nay lên hội quán nói chuyện chơi.

Không do dự, tôi nói:

– Được, chiều tao lên. Mày có theo tao không?

– Không được chú, chiều nay tôi trực.

Nhìn thằng nhỏ trong bộ đồ bảo hộ, đầu đội nón an toàn, lững thững đi ra boong. Tôi mĩm cười, những năm gần đây lớp thủy thủ trẻ thay cho lớp già về hưu cũng bộn. Mấy đứa nhỏ mới tập sự hải hành kêu tôi bằng uncle. Nhẩm tính lại tuổi đời vừa đúng bốn mươi,  lên chức chú cũng phải lắm rồi. Uncle Tấn, tên gọi nghe cũng hay hay.

Tôi quen với Johannes Besla từ khi tóc ông còn đen và tuổi tôi còn trẻ, chúng tôi thường sống chung nhau cả năm trên một chuyến tàu. Ông có nhà lầu ở Jakata, nhà có kẻ ăn người ở hẳn hoi, nói chung cuộc sống gia đình rất sung túc. Bổng dưng vợ ông bị chứng ung thư, cơn bịnh kéo dài gần hai năm bà qua đời. Tài sản gom góp hơn hai mươi năm trời, vợ bịnh một trận, tiền ra như nước chảy. Khi chôn cất bà xong, ông cũng phủi tay.             

    Cách đây hơn hai năm, tôi đi chung với ông trên chiếc Tina. Tinh thần ông dạo đó xuống thê thảm. Có bửa ngồi sau lái lai rai uống bia, ông tâm sự:

– Tao đương lo thủ tục xin định cư Hòa Lan.

Tôi hỏi:

– Chừng nào xong ?

– Một vài năm.

– Sao ông không cưới vợ?

– Đâu dễ dàng như mầy nói.

– Sao lại không, tôi thấy nhiều ngưới In-đô bỏ vợ già,  cướì vợ trẻ hoặc hai ba vợ là thường. Tuổi ông chưa đầy năm mươi, về bển cưới gái mười bảy cũng còn được mà.

     Ông nín lặng nhìn tôi như thể đánh giá trong câu nói của tôi có sự dễu cợt nào không. Lát sau ông từ tốn, nói:

– Đó là những người theo đạo Hồi. Hơn nữa cưới vợ để ăn đời ở kiếp

với nhau cần có sự thương yêu và lòng chung thủy. Còn kiếm bàn bà, con gái để làm tình cho sướng thì ở nước tao bỏ tiền ra mua gái vừa trẻ vừa đẹp bao nhiêu cũng có.   

Tôi nhìn mái tóc trắng phơ của ông mà ái ngại. Phải chi ông còn trẻ, tôi khuyến khích, nếu có cơ hội tôi sẽ giúp đở ông. Đàng nầy, tuổi của ông đã ngót nghét năm mươi. Sống chung với nhau đã lâu, tình tự quê hương của ông ít nhiều tôi cũng biết. Muốn hợp khẩu vị cho bửa ăn, ông bỏ cả buổi đi tắc xi tốn cả trăm đồng, tìm mua cho được một vài món rau cải và gia vị In-đô đem về. Lịch cuối năm người ta tặng đủ cảnh, đủ màu, nhưng ông không treo,  đi mua lịch Tàu chụp cảnh hải đão, núi non về treo trong phòng. Ông nói vì nó giống cảnh quê hương ông. Có lần ông nói, ngày trước con gái ở nước ông lấy chồng ngoại quốc là điều sĩ nhục cho gia đình, dòng họ. Còn ngày nay con gái lấy chồng bất cứ nước nào, không kể thành phần, miễn làm sao ra khỏi cái đất nước nghèo đói là điều hảnh diện cho gia đình rồi.

– Việt nam tôi cũng vậy thôi ông à.

Tôi định kể cho ông nghe, ở nước tôi ngày xưa có một cô Kiều, trước đêm bán mình, cả gia đình viên ngoại khóc lóc như một đám ma. Ngày nay con gái lớn lên cha mẹ đem bán ra nước ngoài để kiếm chút đô la mua xe, sắm sửa nhà, ăn nhậu phè phởn, ra đường cũng hảnh diện quá trời. Nhưng nhớ tới câu đèn nhà ai nấy sáng, quán nhà ai nấy biết, dại gì vạch áo cho người xem lưng. Tôi ngắn gọn:

 –  Lở sanh ra trên đất nước ghèo và chậm tiến mình phải đành chịu chớ biết làm sao. Nhưng ông qua Hà lan làm sao ông tìm được người vợ thủy chung như ông mong muốn.

     Ông dứt khoát:

– Tao không cưới vợ nữa.

– Tuổi già ở Hà lan buồn lắm ông ơi.

– Nhưng không lo đói, bịnh hoạn có thuốc men, già vô trại dưỡng lão có y tá săn sóc.      

Tôi uống hết mấy ly bia, mà ông Johannes vẫn chưa tới. Hai đội banh ngoài sân đã phân thắng bại, các cầu thủ tục tục kéo vô phòng thay quần áo. Một lát sau trở ra họ xúm nhau khiêng hai chiếc bàn đâu lại mới đủ chỗ ngồi cho hai nhóm. Hai đội bóng rổ cũng kéo ra ngồi dãi bàn cạnh bên. Ba người đàn bà đứng trước ba cái vòi bôm bia không ngớt tay. Một ông lăng săn khui nước ngọt, đổi tiền không kịp thở. Hội quán trở nên ồn ào, mùi khói thuốc bốc lên nực nồng, khét lẹt. Họ nói chuyện vài ba thứ tiếng khác nhau. Trong đám rộng ràng nhứt là mấy anh Phi luật tân, uống bia, rượu, ăn to nói lớn. Còn đám Ấn Ðộ, đầu vấn khăn cổ truyền, uống cô-ca-cô-la, ăn nói nhỏ nhẹ, nghiêm trang, tôi đoán họ là những người theo đạo nhưng không biết họ đạo gì. Ngoài nhóm thủy thủ Ba Lan ngồi riêng một bàn, những người da trắng khác ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày ba, hoặc ngồi xen kẽ trong đám da màu.   

Hội quán ở Hòa Lan sinh hoạt có vẻ hơi lành mạnh, không có các cô gái làm tiền vãng lai bắt khách. Tuy nhiên thủy thủ nào cua được gái thì cứ dẩn vô hội quán ngồi chơi không ai phàn nàn gì hết. Thỉnh thoảng cũng có mấy em tiếp thị tới từ mấy hộp đêm khác, đưa giấy quảng cáo mời qua đó chơi có xe đưa, rước miễn phí.

Một cái vỗ vai hơi mạnh, tôi giựt mình day lại. Ông Johannes vẫn để tay lên vai tôi, nhìn thẳng mặt, thân mật nói:

– Bạn hiền, khỏe không?   

Tôi câu vai ông, vừa mừng vừa đáp: 

– Khỏe, khỏe. Còn ông?

– Khỏe luôn.

– Lâu quá mình mới gặp lại.

– Từ lúc chung nhau trên chiếc Tina tính tới nay đã hơn hai năm rồi.

Tôi giơ tay lên gọi thêm hai ly bia. Trong quày không còn ghế trống, tôi với ông bưng bia ra ngoài sân ngồi nơi chiếc bàn dưới bóng đèn điện sáng chưng. Ông đưa tôi chiếc bọc nylon.

– Hôm thằng Ebet điện thoại, nói đi chung với mầy, tao kêu vợ tao tìm mua tặng mầy cái nầy, quà kỹ niệm Java đó.   

Vừa đở lấy chiếc bọc, vừa ngạc nhiên, tôi hỏi:

Ông cưới vợ rồi sao?

– Hơn một năm rồi.  

Tôi giơ ly bia ngang mày:

– Chúc mừng ông.  

Để ly xuống, tôi mở bọc xem quà, một chiếc xà rong, sọc màu nâu mới toan. Tôi ngước lên:

– Đẹp quá, có điện thoại về thăm nhà, cho tôi nhắn lời cám ơn bà.  

Tuy tóc trắng đầu nhưng nhờ vui vẻ, yêu đời nên thấy ông trẻ ra. Tôi hỏi:

– Hạnh phúc nhiều chớ ?   

Ông gật gật cái đầu, giơ tay lên lắc lắc, trề cái môi, nghiêng cái mặt như định giá cái hạnh phúc hơn một năm qua.

– Tốt, tốt lắm.   

Đoạn ông móc bóp, moi ra tấm hình gia đình mới của ông giơ tôi coi. Ông chụp chung với người đàn bà tròn trịa, da ngâm và một đứa con trai đứng bên cạnh ú na ú nầng. Ông kể, chồng bà chết hơn ba năm rồi, con trai bà được mười một tuổi, đã dời về sống vời ông ở Jakarta.   

Tôi hỏi:

– Chuyện di cư qua Hà lan thì sao ?   

Ông cười:

– Cách đây hơn hai năm, sau chuyến đi chung với mầy lần đó,  tao ở lại Hà Lan trọ nhà ông bạn gần thành phố Rotterdam. Ðịnh tìm một việc nào đó trên đất liền làm nhưng kiếm hoài không có việc. Tao với ông bạn ban ngày nếu không cà nhông ngoài đường thì ngồi nhà ôm cái truyền hình hoặc bày đồ chơi con nít ra chơi, tối lại rủ nhau ra bar ngồi uống bia. Những lúc đó, tao nhớ tới câu mầy nói, ở bên nầy tuổi già buồn chết sớm.  Mày nói đúng, sống cảnh đó một năm cũng đủ chết nói chi tới già.  Tao ở được một tháng, cháng quá tao bay về In-đô và bỏ ý định làm thủ tục di cư.

Tôi tiếp một câu:

– Và quyết định lấy vợ?

Chúng tôi cười ha hả, và bưng bia lên uống:

– Mừng cho ông tìm được hạnh phúc.

Để chia vui cùng ông, tôi đứng lên đi vô mua thêm bia và một gói đậu phộng. Trở ra bày mọi thứ lên bàn. Sau đó chúng tôi đổi sang câu chuyện.

– Nghe nói ông đổi xuống chiếc Elsa phải không?

– Phải.

– Cảng nào?

– Houston. Chừng nào bay?

– Sáng mai.

Hồi chưa lập gia đình, tôi thường đi những tuyến đường xa. Tôi thích vùng Nam Mỹ nắng ấm, nhiều hải đão, núi non và cảnhh đẹp tuyệt vời. Nhứt là đàn bà, con gái ở đó rất hấp dẫn và rất chịu chơi. Từ ngày cưới vợ tới nay tính ra hơn mười năm, để được gần vợ gần con, tôi hải hành vùng Âu châu và đi ngắn hạng. Mỗi khi gặp đồng nghiệp đi tuyến đường xa thì lòng tôi nôn nao pha chút ganh tị.

– Kỳ nầy ông sướng rồi nhé.

– Sướng gì?

– Thì chiếc Elsa chạy Nam Mỹ, sướng chớ sao.

Ông chỉ tay lên đầu, cười nói:

– Tao đã già, tóc bạc hết rồi còn bướm hoa gì nữa.

Ông bưng ly mời tôi cụng một cái. Lúc đó trong ba lắc chuông báo, chỉ còn rót bán rượu, bia thêm một vòng cuối. Johannes đứng dậy đi vô trong mua thêm bia. Ngồi một mình, nhìn món quà Java, tôi không biết bao giờ mới bận tới chiếc xà rong nầy, tuy nhiên nó gợi trong tôi hình ảnh người đàn bà ở bên kia địa cầu, chồng lên đường làm ăn vợ khuyến khích, sửa soạn đồ đạc, sắp xếp quần áo vô vali ngăn nắp, quyến luyến dặn dò, tiễn chồng ra đi, tuy có buồn nhưng trong lòng chứa chan hy vọng. Vợ thương chồng chung thủy đợi chờ, chồng tin tưởng vợ an tâm cất bước.

Johannes khệ nệ bưng hai ly bia ra để lên bàn. Ông ngồi xuống, nâng ly lên, nói:

– Bạn hiền, uống hết ly nầy mình chia tay.

 Tôi đưa tay lên nhìn đồng hồ, hơn mười giờ đêm, cũng gần tới giờ hội quán đóng cửa. Chúng tôi cụng ly, bưng lên nốc cạn. Đứng dậy rời hội quán, đi thẳng ra bến xe bus.   

 Tiễn ông bạn già lên xe chợt nghe lòng buâng khuâng, nghĩ ngợi. Nếu ông sống bên Châu Âu thì tuổi nầy đã lo chuyện nghỉ ngơi và tranh thủ từng ngày để hưởng thụ cái  hạnh phúc gia đình mà ông mới vừa tạo dựng. Có đâu phải làm lại từ đầu, khoát lên mình một trách nhiệm mới, tiếp tục lên đường lo chuyện tương lai, chưa có dấu hiệu nào dừng bước.

Tuy nhiên nói đi thì phải nói lại. Tôi mới vừa bốn mươi tuổi, sống một nơi yên ổn, khỏi phải lo chuyện áo cơm, bịnh hoạn không lo tiền thầy, tiền thuốc, nhưng trong lòng lúc nào cũng bất an. Nhứt là mỗi khi sửa soạn lên đường, con cái đứa câu tay, đứa ôm cổ, mặt mày vợ buồn xo, nước mắt lưng tròng, tiễn chồng đi làm ăn mà giống y như đưa người sang sông không trở lại. Nhưng dù sao đêm cũng đã khuya rồi. Tôi quay gót thả tà tà trở về bến cảng. Đêm nay trăng tròn, sao thưa, trời không mây nên bầu trời rực sáng. Dưới bến cảng, cần trục mốc những containers vuông vức chất khẳm con tàu. Giữa đêm nay chiếc Gera sẽ khởi hành sang Ái Nhĩ Lan, tuần sau sẽ trở lại. Mang tiếng là thủy thủ tàu viễn dương, vậy mà bao năm qua tôi cứ lẩn quẩn trên một tuyến đường, không xa được thành phố Rotterdam nhiều khói máy và sông Rijn tàu bè ra vào nườm nượp trên dòng nước ô nhiễm đục ngầu.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

CHẢ GIÒ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Dân Việt Nam mình ai cũng biết món chả giò. Miền Bắc gọi là nem rán; miền Trung gọi là ram.

Giống như những người đẹp miền sông nước Lục tỉnh Nam kỳ, em yêu của tui cũng biết làm món chả giò cho tui ăn và uống với bia lon.

Nhứt là vừa mới có lương, ra máy rút tiền tự động, tui mang về hàng chục tờ 50 đô Úc mới cứng, còn thơm phức mùi mực, để cống nạp cho em yêu đút vào túi áo khỉ.

***

Làm chả giò cũng dễ, tui bèn tự học để lâu lâu em yêu có giận hờn mà hỏng chịu cơm nước gì ráo; tui tự đi chợ Footscray mua đồ về, tự làm, rồi tự ăn mình ên cho em yêu hết dám làm eo, làm xách, đình công nấu nướng cho anh đói rã ruột chơi vì dám hỗn; hổng nghe lời em yêu dạy bảo! He he!

Cha gio 02Muốn ăn chả giò, trước hết phải làm nước mắm chấm! Lý do chiên chả giò xong, lui cui pha nước mắm, chả giò nó nguội ngắt hết; chỉ còn nước đem đi cho hàng xóm; chớ ăn đâu có ngon lành gì nữa?!

Cứ một muỗng canh nước mắm là một muỗng cà phê đường, một muỗng cà phê chanh hoặc giấm và tới 5 muỗng canh nước lọc.

Đâm tỏi cho nhuyễn, ớt sừng trâu băm nhỏ; hòa tan với chanh hoặc giấm trước; rồi mới chan nước mắm vào để ớt bầm nó nổi váng lên, trên trông mới hấp dẫn.

Chén nước mắm có vị ngọt thanh của đường, vị chua của chanh và vị mặn của nước mắm.

Bên ni tiền bạc hơi thư thả nên chả giò nó trăm hoa đua nở nhiều loại; nhưng chỉ khác nhau chỗ cái nhưn.

Tui thì khoái nhưn thịt heo xay nhuyễn, tôm rồi mộc nhĩ, hành khô, cà rốt, củ sắn, khoai môn. Cho tất cả vào trong một cái tô rắc tiêu, muối đường trộn đều.

Cắt miếng bánh tráng ra làm hai, nhúng nước ướt vừa thôi, (ướt quá lúc cuốn nó bị lòi cuốn, cuốn vừa tay như điếu xì gà của Fidel Castro, rồi phết bia lên khi chiên nó mới giòn.

Bắt chảo lên, đổ một lít dầu ăn vào. Dầu hơi nóng, tuần tự bỏ từng cuốn chả giò vô, chờ nó vừa vàng đều, lấy đũa gắp ra, đặt lên cái dĩa có lót một lớp giấy để hút bớt dầu.

Cuốn chả giò còn nóng dòn rụm, lại cuốn với rau sống xà lách, chấm nước mắm, đút vô mồm nhai rau ráu; xong chiêu theo một ngụm bia rồi chết cũng đành.

Cha gio 03Mấy anh bạn nhậu của tui ơi! Chịu khó bớt làm biếng mà học cách làm chả giò như tui vừa mách bảo nói trên để phòng thân. Hổng phải tui thày lay làm thầy đời đâu; mà đời đã cho ta biết bao lần kinh nghiệm.

Hồi mới qua Úc nè! Tiền an sinh xã hội nhà nước cấp cho đâu đủ sống!

Vợ dại con thơ, hai vai hai gánh, em yêu bèn chiên sẵn cho tui chừng chục ký chả giò, ủ nóng trong cái thùng mốp để tui đi bán dạo ở chợ trời Laverton đó.

Đắt hết biết! Chỉ một tháng mà tui đã đủ tiền mua được chiếc Holden đời tám hoảnh, giá tới 500 đô, để chở con vợ tui đi chơi cho biết đó cái thú đi xe hơi (chớ xưa giờ vợ chồng tui đi xe bò không hà!)

Em yêu của tui là người phụ nữ miền Nam giỏi giắn, chịu thương, chịu khó.

Thiếp chàng chung một chuyến đò. Kiếm cơm dễ ợt bán chả giò là xong (ngay)!

Sở dĩ em biết vượt qua cảnh chân ướt chân ráo đất lạ quê người vì em cũng học sách của bà ngoại (người ta) đấy thôi.

Cần Thơ đi dễ! Khó về!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Aug 20234

Chữ rằng: “Cần Thơ đi dễ khó về! Trai đi có vợ; gái về có con!”

Đó đó! Đúng y hịt đời tui vậy đó bà con ơi!

Như ai nấy nếu để ý đều biết bất cứ thị trấn, thị xã nào của Lục tỉnh Nam Kỳ, quê mình, đều kề cận một dòng sông.

Vì cũng có câu rằng: “Sông Cửu Long chín cửa hai dòng! Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em!”

Rồi thòng thêm câu hỏi nữa: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ. Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Thì em yêu, dân Cần Thơ, tóc em dài em cài hoa thiên lý, nghe anh hỏi mi mí… là em biết tỏng cái tim đen, bèn trả lời móc họng anh, như vầy: “Biết rồi mà bày đặt hỏi lôi thôi!”

Có nghĩa là: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương vội mẫu từ ‘quánh’ em!”

Ha ha! Mẫu từ, mẹ hiền, mà roi vọt bất tử quá vậy ta? Nhưng có nhằm nhè gì! Quánh em; chớ có dám quánh thằng ‘rể đu đủ’ tương lai trời đánh nầy sao mà mình sợ chớ?! Nên tới luôn bác tài…Vì em đã chịu đèn rồi!

Chẳng qua là tới tuổi quân dịch, tui vào lính; nhưng bị bịnh mộng du! Bác sĩ quân y thuộc Hội đồng giám định y khoa khám, cho tui về hoãn dịch vì lý do sức khỏe!

Vì tối nào tui cũng ngủ mớ, tuột cái rột, ra khỏi giường, đi vòng vòng doanh trại, dạo mát trăng thanh; nhưng không có ý thức gì ráo!

Mật khẩu không biết, đêm cà lơ phất phơ… lính canh nó phơ ẩu là bỏ mạng sa tràng…

Thôi lính chê thì mình về đi học nữa vậy!

***

Năm 1970, tui theo thằng bạn thân, sau Tết, mùng Bốn, đi Cần Thơ cho biết đó biết đây; ở nhà với Má biết ngày nào khôn?

Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, trên Quốc lộ 4, qua Bắc, leo lên xe Lam, chạy một hơi thôi, khoảng 1300 mét, là tới Ngã ba Lộ tẻ.

Rẽ trái vào trung tâm thành phố Cần Thơ! Rẽ phải vào liên tỉnh lộ dẫn đến Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và Hà Tiên.

Tại Ngã ba Lộ tẻ, có Bến xe mới xe lên Sàigòn; hoặc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chạy thẳng tắp từ đây tới tận quận Cái Răng; mà không phải đi qua trung tâm thành phố.
Vào trung tâm Cần Thơ phải qua cây Cầu đôi bằng sắt, kiểu Eiffel, bắc ngang qua rạch Cái Khế.

Bên kia cầu là một ngôi biệt thự kiểu Pháp, xưa dành cho mấy ông Tây; sau nầy là Dinh của Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa .

Đi tới là dinh Tỉnh Trưởng! Trước mặt là một bùng binh khá rộng, nơi hội tụ của nhiều con đường chạy vòng vòng để khỏi đụng nhau.

Đường Phan Đình Phùng xuất phát từ đây, coi như là cái xương sống của thành phố, chạy ngang qua Ty Bưu điện, Tòa án, Tòa Thị Chánh, Ty Cảnh Sát, Trường Tư thục Nam Hưng, v.v… xuống tận khu Cầu Xéo.

Một đường khác cũng từ dinh Tỉnh Trưởng hướng về Cầu Tham Tướng, là Đại lộ Hòa Bình. Nhưng dân quen gọi là đường Hàng Xoài, vì dọc theo đường có trồng xoài.

Đại lộ Hòa Bình, lớn nhưng ngắn ngủn, chấm dứt khi tới Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa (Nơi em yêu của tui làm đó nhe!). Đường Lý Thái Tổ, bắt đầu từ đây, chạy dài tới cầu đúc Tham Tướng.

Qua cầu, là đường Mạc Tử Sanh, phía bên trái là chợ chồm hổm, chỉ nhóm vào buổi sáng, nhưng tấp nập quanh năm vào buổi chiều tối vì có xề bánh cống, quầy hủ tiếu, gánh cháo gà cho dân nhậu bình dân.

(Tham Tướng là Mạc Tử Sanh, con của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên), làm cận vệ cho chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần.

Năm 1777, quân Tây Sơn ồ ạt tấn công xuống miệt Trấn Giang (Cần Thơ)! Mạc Tử Sanh bị vây, chết trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ! Sau nầy dân chúng đặt tên là rạch Tham Tướng!)

Rạch Tham Tướng chạy vòng vòng phía trong, cắt ngang đường Tạ Thu Thâu, chui qua cái cầu sắt nhỏ, cầu Rạch Bần, vốn là đường thoát nước mưa tự nhiên cho Cần Thơ! Sau nầy nghe nói đã bị lấp! Nên bây giờ mưa lớn một chút là Cần Thơ ngập thấy thảm… thương luôn?! Tội nghiệp mấy em mắc mưa, ướt luôn cái quần lãnh Mỹ A hết ráo!

Cầu Tham Tướng đã biến mất, đường Mạc Tử Sanh đi về hướng Cái Răng cũng bị mất tên luôn, thành đường 30 tháng 4.

Ngã ba Tham Tướng xưa có doanh trại của đại đội Quân vận 411, dưới hàng cây bã đậu. Sau nầy là quán cà phê và quán nhậu bình dân.

Ôi những ngày đói rách, lang thang sau khi mất nước, tui không biết làm gì; chỉ biết long nhong như ở không lắm vậy! Và từng đóng đô thường trực ở đó.

Ngồi tréo ngoảy, trước mặt ly rượu thuốc ngâm ô môi, có màu cho dễ ực; vì màu trắng mắt mèo, e nó có nhúng một đầu tăm thuốc trừ sâu cho rượu trong veo… Thấy ớn quá hà!

Xa em, người đã cả gan bán chịu cho tui ngày cũ (mà không sợ bị giựt)! Biết giờ em giờ phiêu bạt tận phương nào, để tui gởi về em một, hai trăm đô Úc, bồi đáp cái ‘bát cơm phiếu mẫu’ ngày xưa?!

Phần để cho em có tiền mua trầu nhai bỏm bẻm, chống tay lên cằm mà nghĩ tui vẫn còn thương tưởng tới em?!

Nhưng nếu bà con mình ở tỉnh khác tới chơi; người ta khoái cái bến Ninh Kiều hơn là chợ Tham Tướng!

Bến Ninh Kiều, nơi nghĩa quân Lam Sơn đã đánh quân Minh xâm lược một trận tơi bời; nên nằm trên đường Lê Lợi.

Thế mới biết ông cha mình đặt tên đường, tên bến nước là đầy trí tuệ, có hậu ý; chớ không phải như sau nầy muốn đổi tên đường sao cũng được; tùy bữa say nhiều hay xỉn ít đâu nha mấy cha?!

Nhạc sĩ Lam Phương, năm 75, theo tàu Trường Xuân, ông chạy sớm hơn ai hết thảy. Xa quê, tuốt bên trời hải ngoại, ông vẫn còn nhớ tới bến Ninh Kiều để: “Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về / Thăm quê xưa với vườn cau thề / Bàn tay anh đan dìu em bước trên cỏ khô/ Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô!”

Đó là ông ước, ông mơ, ông nhớ về ngày tháng cũ: “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều/ Sao anh không thấy về Ninh Kiều? Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen/ Đen như manh áo buồn chưa quen!”

Rồi ông nhớ cái thuở học trò! “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường/ Nay nghe sao khác từ tên đường/ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương/ Tây Đô sẽ sống lại yêu thương!”

Cái trường, ông Lam Phương, (xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường), là trường Phan Thanh Giản, trường công lập lớn nhất miền Tây, được thành lập vào đầu thế kỷ 20.

Học sinh ở các tỉnh lân cận, như nhà văn Sơn Nam, miệt Rạch Giá, vẫn phải khăn gói đến trường Phan Thanh Giản để học tiếp bậc “Đút rơm trâu ăn mê” (Diplôme) tức Trung học Đệ nhất cấp!

Tới năm 1964, trường Phan Thanh Giản lại được tách ra để thành lập Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm.  (Em yêu của tui đã từng đi học ở đó!)

Sau 75, Trung học Phan Thanh Giản bị thay bằng Châu Văn Liêm.

Mà không phải chỉ cái trường học bị đổi tên đâu mà những con đường chu vi trường cũng chịu cùng chung số phận.

Cổng trường nằm trên đường Phan Thanh Giản bị đổi thành đường Xô Viết Nghệ Tỉnh. Đường Pasteur, giữa trường Phan Thanh Giản và trường Đoàn Thị Điểm, bị đổi tên là Võ Thị Sáu.

Ông Pasteur, dù là Tây; nhưng có công lớn là đã chế ra thuốc chủng ngừa, cứu mạng hàng triệu người, không phân biệt màu da sắc tộc, khỏi bệnh tật!

Công lớn với nhân loại khó có ai sánh bằng vậy mà cũng bị đuổi đi… để thay bằng chị Sáu… ‘mùa lê kim ma’ nở?

Nhưng tui buồn nhứt có lẽ là đường Võ Tánh, dọc bên hông trường, từ đường Phan Thanh Giản tới đường Ngô Quyền; đã đổi thành đường Trương Định.

Không phải tui (dám) ghét bỏ ông Trương Định, một anh hùng kháng Pháp, gì đâu. Mà chẳng qua con đường Võ Tánh, dẫu ngắn, có một khúc tẻo tèo teo thôi; nhưng nó lại mang quá nhiều kỷ niệm…

Phía sau lưng đường Võ Tánh nầy là xóm Cả Đài (theo tên Hương cả Phạm Thành Đài), bắt đầu từ cái chợ nhỏ cũng gọi là chợ Cả Đài kéo dài dài đến chùa Cây Bàng; nơi tui từng ở trọ gần trường để tiện đường… đi gõ đầu trẻ hồi năm nẳm.

Tui nhớ quán Ngọc Lan, chuyên bán cơm tháng cho quân nhân và công chức. Năm 1973, nếu mua vé cả tháng, sáng ăn đưa một vé, chiều ăn đưa một vé!

Bữa nào hỏng ăn, lại đi ăn cháo, gỏi đầu cá lóc (bự ế kinh), ngon hết biết, với em yêu ở đường Nguyễn Trường Tộ thì khỏi đưa vé…

Ăn hết xấp vé đó mua xấp vé khác, tốn 4 ngàn đồng bạc, dằn túi; không sợ đói bất tử vì đôi khi hứng xài ẩu… (Hồi thanh niên, đứa nào hỏng vậy cà?)

Từ quán cơm Ngọc Lan, có ông chủ lúc nào cũng mang mặc áo bỏ vô thùng bảnh tỏn, đi vài căn nữa thì tới tiệm chụp hình Phúc Vinh, nơi em yêu làm duyên, chụp tấm hình cho anh lộng bóp; để lúc nào cũng phải nhớ tới em!

Và nếu vắng em, có con ‘quỷ hó’ nào dám lục bóp anh, thì nó thấy tấm hình bà La Sát nầy là nó sẽ bỏ chạy sút dép luôn!

Sau 75, người ta đói xanh râu, đói đến lòi hai cái lỗ tai; nên tiệm Phúc Vinh không còn chụp hình nghệ thuật nữa mà quay sang bán cháo, gỏi gà… để kiếm cơm!

Tui đã từng theo Giáo M. nhà ở hẻm 5, đường Phan Thanh Giản tới đây nhậu.

(Giáo M. có người em gái trắng như bông bưởi! Tắm xong, em hay ra hàng hiên ngồi hong tóc; mà tui tình cờ trông thấy… phải há hốc cái mồm!)

Thưa bà con! Dù Cần Thơ không phải là nơi chôn nhau cắt rún của tui nhưng là quê hương yêu dấu ngậm ngùi của em yêu.

Cần Thơ là quê vợ, là người tui rất sợ; nên tui còn yêu Cần Thơ hơn cả quê tui nữa đó!

Vì nơi đó có em… và còn có mấy em khác (tui thầm thương trộm nhớ) nhưng vì đã có vợ rồi nên tui đành phải giữ mối tình câm…Nên riết rồi… tui bị ‘hâm hâm!”

Tui xa Cần Thơ… Đi và đi luôn tới mấy chục năm!

Người xưa bên ấy, mới đây, gởi cho tui câu ca dao nầy, tui lén vợ, tui học thuộc lòng, kẻo quên:

“Con chim buồn, chim bay về cội/ Con cá buồn, cá lội trong sông/ Em buồn em đứng em trông/ Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!”

Thôi xin tạ lỗi cùng em hẻm 5, đường Phan Thanh Giản!

Thân anh giờ như: “Chim vào lồng; như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gở; chim vào lồng biết thuở nào ra!”

Thôi đành: “Hẹn nhau kiếp sau ta tìm thấy nhau!”

 đoàn xuân thu _ Melbourne

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 16 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ trước: Những cuộc tấn công bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung đã diễn ra khốc liệt vào căn cứ Pleime, một áp lực mà Tư lịnh Vùng hứa là chỉ cần giữ được 3 ngày thôi coi như cấp chỉ huy mặt trận là Thiếu tá Vương Mộng Long đã hoàn tất nhiệm vụ và có quyền rút bỏ vị trí.

Kỳ 4

Cái thời vàng son, khi Ðồng Minh còn hiện diện, xăng nhớt như nước, bom đạn như mưa đã qua rồi!

Cái thời nằm xoài trên bãi, miệng rít xì gà chờ B 52 trải thảm rồi bay vào vùng lượm súng đã qua rồi! Bây giờ là lúc đánh nhau với cung cách “thắt lưng buộc bụng”

Bây giờ cũng là lúc, muốn sinh tồn, người cầm quân phải vận dụng đầu óc nhiều hơn, dùng mưu trí nhiều hơn. Chỉ ơ hờ một chút là mất mạng, hay biến thành tù binh.

Nhận lệnh xong, rời quân đoàn, tôi phải bay thẳng một lèo về Pleime, không được ghé bất cứ nơi nào.

Ngày 23 tháng 7 tôi chuẩn bị 6 toán, mỗi toán 3 người, dưới quyền Thượng sĩ Năng đào hai đường hào dùng để rút quân. Một đường xuất phát từ kho đạn pháo binh, đường thứ nhì bắt đầu từ bể nước dự trữ. Hai đường hào này gặp nhau nơi cổng Nam. Trường hợp bị tràn ngập chúng tôi có thể vừa đánh vừa lui theo hai đoạn đường giao thông hào này.

Ngày 24 tháng 7 tôi dẫn theo Thiếu úy Trần Văn Phước cùng một toán viễn thám leo lên đỉnh Chư Gô để cất giấu hai chục khẩu phần lương khô, hai thùng nước uống và một máy truyền tin PRC 25 với 4 cục điện trì, dự trù nếu phải di tản còn có một điểm tiếp liệu.

Trưa hôm đó Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh nhì Lê Văn Bích đang nóng lòng trông đợi tôi về ăn cơm. Thấy tôi bước vào cổng trại, đầu tóc, mặt mũi đẫm mồ hôi, chú Ba vội chạy tới vừa giơ tay gỡ cái dây ba chạc khỏi vai tôi, vừa nói,

– Ông thầy đi đâu mà không cho tụi tôi biết, tụi tôi lo quá!

Binh nhì Bích cũng đon đả,

-Thiếu tá ăn cơm nhé?

Hạ sĩ Ba vừa châm cho tôi một điếu Lucky vừa bùi ngùi,

– Sáng mai em phải vào vùng thay cho toán của thằng Yang rồi, không biết em có còn sống để về gặp ông thầy hay không?

Kể từ cuối năm 1972, dưới quyền tôi, chú Ba đã là lính nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) của Phòng 2. Tới khi tôi vào Pleime thì chú Ba tình nguyện đem toán đi theo tôi.  

Trong lúc tôi ngồi ăn cơm, chú Ba và chú Bích cứ lăng xăng xung quanh, chờ tôi sai vặt. Nhìn bộ dạng của hai thằng em, tôi nghiệm ra rằng nhất cử, nhất động của mình đều có ảnh hưởng tâm lý tới mọi người dưới quyền. Bao lâu nay, tôi đã là niềm tin, là chỗ dựa của họ. Tôi chỉ đi vắng có vài giờ mà thuộc cấp đã lo lắng như vậy, nếu như tôi không có mặt, chắc họ sẽ còn lo lắng gấp nhiều lần hơn.

o O o

Pleime bão lửa ngợp trời…

Ngày 25 tháng 7 chúng tôi được lệnh chuẩn bị mở đường Tỉnh lộ 6C để nhận tiếp tế thường kỳ.

Trong đêm 26 tháng 7 tôi cho hai Ðại đội 2/82 và 3/82 di chuyển tới vị trí tập kết, thiết lập vị trí phòng ngự để đối phó với một trận bôn tập có thể xảy ra.

Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt là cánh quân xa nhứt, chỉ cách ranh giới của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chừng hơn một cây số. Kế đó là Ðại đội 2/82 của Trung úy Nguyễn Hữu Anh chốt chặn cách Pleime 4 cây số về hướng chính Bắc.

Ðại đội 4/82 giữ nhiệm vụ nghênh cản vùng Tây Bắc nên hiện thời trong đồn còn lại Ðại đội chỉ huy cùng với Ðại đội 1/82 trừ (-) vì thiếu hai trung đội đóng tiền đồn cố định trên Chư Hô và trên cao điểm 509.

Sáng 27 tháng 7 năm 1974, Căn cứ Pleime hoàn toàn yên tĩnh, nhưng toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba và Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy đều báo cơ giới địch bắt đầu chuyển quân bằng xe từ Chư Prong nhắm về hướng Ðông.

Ðại đội nghênh cản 4/82 của Thiếu úy Thủy không dám ra mặt đương cự với đoàn xe chở quân của địch chỉ vì hỏa lực rất mạnh của bốn khẩu 12.7 ly đặt trên hai chiếc xe be đi đầu khạc đạn như mưa trên từng thước đất dọc đường đi.

Ðịch đã dùng hỏa lực, thay vì nhân lực để mở đường. Ðại đội 4/82 chỉ còn nước nằm bẹp sát đất tránh đạn, rồi rút xuống suối ẩn núp chờ địch đi qua.

Tới khi thấy bộ binh địch từng đoàn chạy bộ theo con đường xe be tiến lên thì Ðại đội 4/82 đồng loạt nổ súng.

Quân của Ðại đội 4/82 đã chặn đánh địch trên hai vị trí định sẵn trong khoảng thời gian chừng một giờ thì phải rút, vì sợ viện binh địch bao vây, sẽ mất đường về.

Còn toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba sau khi bắn cháy được một xe chở đạn của địch thì bị lộ, bèn cắm đầu chạy. Tối hôm đó toán này mới về tới cổng Nam của trại.

Ðúng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 7 địch mở màn một cơn mưa pháo dọc hai bên Tỉnh lộ 6C từ chân núi lửa Chư Mréa tới cổng trại Pleime.

Pháo binh Việt-Cộng bắn như trống chầu. Ước tính trong thời gian chừng nửa giờ đồng hồ, địch đã bắn phủ vùng 10 cây số của tỉnh lộ với hàng ngàn viên đạn đủ loại gồm đại bác 130 ly, đại bác 105 ly, đại bác 122 nòng dài, cối 120 ly, cối 82 ly.

Tỉnh lộ 6C chỉ còn là một con rồng bụi đỏ khổng lồ uốn khúc, vừa dài, vừa cao ngút tới mây.

Sau khi tận dụng pháo binh, bộ binh địch bắt đầu reo hò xung phong chiếm lĩnh mặt Tỉnh lộ 6C vùng hướng Bắc ngã ba làng Plei Xome.

Ðiều đáng ngạc nhiên là trận đánh đã diễn ra trước khi đoàn quân xa tiếp tế cho Pleime và Căn cứ 711 vào vùng.

Trên hệ thống vô tuyến của liên đoàn, tôi nghe Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân báo cáo rằng hai đại đội dưới quyền ông đang bị một lực lượng rất đông của Việt-Cộng chặn đánh. Cánh quân cực Nam của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị mất liên lạc, đại đội đi tiên phong này do Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy. Quân của ông Ngọc nằm cách tiền quân của tiểu đoàn tôi chừng hơn một cây số.

Pleime ngày 27 tháng 7 năm 1974.

Hai đại đội của Tiểu Ðoàn 82 đều thủ trong bìa rừng hướng Ðông của tỉnh lộ, dưới hố cá nhân và giao thông hào, nên không bị pháo binh địch gây tổn hại.

Ði mở đường, tôi không cho quân trải dài theo lộ như nhiều đơn vị khác.

Vì với nhiều năm kinh nghiệm, tôi thấy quân đội ta khi giữ đường, thường có thói quen cứ cách nhau vài chục thước lại cho một anh lính đứng gác; người đi trên xe nhìn thấy lính gác đường thì cảm thấy yên tâm. Nhưng chỉ cần một trung đội Việt-Cộng tập trung hỏa lực, vừa bắn vừa tiến, những người lính đứng đơn độc sẽ bị tiêu diệt ngay.

Cứ như thế, một đại đội Việt-Cộng có thể đánh tan một tiểu đoàn khai lộ của ta không khó khăn.

Khi hành quân khai lộ, tôi chỉ bố quân một bên đường, phía đường bên kia được hai khinh binh đi rà soát liên tục. Một người đi trong rừng, một người đi ngoài trống, nếu phát hiện địch thì hai khinh binh này nổ súng báo động rồi thoát chạy ngay.

Sáng nay pháo binh địch bất ngờ tới tấp nổ trùm mặt lộ, khiến cho bốn anh lính rà đường của hai Ðại đội 2/82 và 3/82 phải chạy bán sống, bán chết về trại.

Giờ phút đó, trên đỉnh đồi 407, cách Pleime 4 cây số, tôi đang ngồi với Trung úy Nguyễn Hữu Anh đại đội trưởng 2/82.

Vừa nghe tiếng “Ùm!” từ đằng xa, tôi vội đứng dậy, gọi cho Trung úy Chủ báo cho quân trú phòng trong trại đóng chặt cổng rào.

Trong lúc lộn xộn, chân tôi đạp nhằm cẳng một anh lính truyền tin của Ðại đội 2/82, anh này vừa xoa chân vừa chu chéo, “Ui cha ui! Thiếu tá đạp gãy chân em rồi!”

Nhìn bộ dạng anh lính, tôi phải phì cười,

– Không xuống hố, cứ nằm đó mà la đi! Việt-Cộng nó pháo đứt đầu bây giờ!

Nghe tôi hù, thằng em sợ quá vội ôm chiếc ba lô có cái máy PRC 25 nhảy xuống hố.

Về phần trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì trận đánh đã diễn ra hoàn toàn như tôi đã dự đoán. Vì bị Ðại đội 4/82 cầm chân nên cánh quân bộ binh này của Việt-Cộng đã tới mục tiêu rất trễ.

Ðịch đang ngơ ngác trên mặt lộ trống trơn thì quân ta bắt đầu nổ súng. Hầu như toàn bộ đơn vị tiền phong Việt-Cộng hiện diện trên mặt đường đều bị tiêu diệt.

Tuy vậy, trong lúc giao tranh, Ðại đội 3/82 cũng đã có một người chết và ba bị thương. Thấy địch càng lúc càng đông, Thiếu úy Việt đành cho quân bám đất và xin tôi cứu viện.

Cùng lúc đó, từ Căn cứ Hỏa lực 711, Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho tôi phải bằng mọi giá tiến lên cứu Thiếu tá Ngọc.

Tuy Ðại đội 3/82 đang ở cách Thiếu tá Ngọc một đoạn đường hơn một cây số, nhưng tôi không thể cho lệnh Ðại đội 3/82 bỏ hầm hố để tiếp tay cho quân bạn, vì nếu địch chiếm được khu hầm hào đó thì Ðại đội 3/82 không còn đường lui, mà quân từ hướng Nam tiến lên cũng bị chặn đứng.

Tôi chỉ còn cách ra lệnh cho phần còn lại của Ðại đội 1/82 ra trám chỗ cho Ðại đội 2/82 giữ lưng cho tôi và Ðại đội 2/82 tiến lên.

Như thế là tôi đã đem gần hết quân trú phòng ra trận, trong đồn chỉ còn đại đội chỉ huy công vụ cùng với trung đội pháo binh và hai khẩu đội súng cối 106 ly, 81 ly.

Khi tôi và Ðại đội 2/82 bắt tay được Ðại đội 3/82 cũng là lúc quân tăng viện của địch từ vạt rừng hướng Tây ào ào tiến sang. Chúng dàn thành đội hình hàng ngang, xung phong từng đợt, mỗi đợt cách nhau chừng mười phút.

Bốn tháng trước, tôi đã biết cách đánh này là thói quen của Trung Ðoàn 48/320A.  Chiến binh của E 48/320A có nhiều người thuộc sắc tộc Tày, Nùng rất gan dạ.

Ðơn vị này có sở trường là khi tấn công thì họ cứ miệng thét “Xung phong! Xung Phong!” từng đợt ào lên mục tiêu, bắn giết rồi vượt qua luôn, hết đợt này tới đợt khác, không ngừng lại kiểm soát trận địa hay thu nhặt chiến lợi phẩm.

Kỳ này chúng tôi có lợi thế là ẩn trong rừng hướng Ðông của Tỉnh lộ. Ðịch phải xung phong qua hai vạt rừng đã khai quang và một mặt lộ trống trải rồi mới tới tuyến phòng ngự của Biệt Ðộng Quân. Vì vậy địch tiến lên đợt nào, chết hết đợt ấy.

Cũng may mắn là vào lúc hai khẩu M60 của Ðại Ðội 3/82 vừa bắn hết đạn thì tiếng súng của địch cũng lơi đi. Hình như địch rút về hướng Bắc, khu ranh giới của hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân.

Sau khi Miền Nam thất thủ, tôi đã có dịp gặp mặt người chỉ huy Trung Ðoàn 48/320A này, và biết thêm rằng ông ta cũng là người bị tôi phục kích giết hụt hồi tháng 6 năm 1974 nơi ngã ba làng Plei Xome. Ông ta thổ lộ rằng trận Pleime 1974 đơn vị dưới quyền ông đã bị thiệt hại rất nặng, phải rút về Ia Drang tái bổ sung và trang bị.

Ðịch rút đi, tôi dẫn quân tiến lên còn cách ngã ba làng Plei Xome chưa đầy nửa cây số thì tạm ngừng để hỏi Ðại tá Từ Vấn cánh quân hướng Nam của Tiểu Ðoàn 81 nằm chỗ nào, Ðại tá Vấn trả lời không biết.

Tôi lại vừa đánh vừa tiến. Bên kia ngã ba là vùng trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân.

Lại có tiếng xe chuyển quân của địch từ hướng Tây. Sau đó, quân tăng viện của Việt-Cộng ào ào tiến ra đường theo con lộ mà chúng đã phát quang từ hơn một năm về trước. Ngay lập tức cánh quân này đã bị chúng tôi đánh tan.

Khi tôi tiến tới vị trí cách làng Plei Xome chừng hai trăm mét thì chạm một bức tường hỏa lực phòng không của địch.

Có ít nhất ba khẩu đại liên 12.7 ly bắn liên tục để cản đoàn quân của tôi. Tôi phải cho quân dạt xuống triền Ðông của con lộ để tránh đạn.

Ðại đội 3/82 có thêm bốn người chết và năm, sáu người khác bị thương. Toán viễn thám Mom Sol cận vệ của tôi có một người bị thương, một cái máy PRC 25 bị bắn bể.

Trên tần số liên đoàn, Ðại tá Vấn liên tục gọi Thiếu tá Lân nhưng không có tiếng trả lời. Trong lúc đó trên trời có một trinh sát cơ O2 đang bao vùng.

Tôi nói với Ðại tá Vấn,

– Mụ “Ðầm già” bay trên kia có phải của Hai Lẻ Chín không? Nếu niên trưởng không dùng thì giao nó cho tôi!

– Ừ! Lấy đi!

(Ðầm già = Tên xưa của quan sát cơ. Hai Lẻ Chín = Ðại tá Vấn)

Tôi vào tần số không lục,

– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!

Người trên tàu đáp lại,

– Bắc Ðẩu nghe! Một phi tuần A 37 sẵn sàng! Thái Sơn cần chỗ nào tôi thỏa mãn ngay!

– Okay! Bắc Ðẩu có thấy trên tọa độ ZA… có ba bốn khẩu 12.7 ly không? Tôi ở chỗ khói vàng. Mục tiêu cách tôi 200 mét hướng 4800 ly giác! Yêu cầu cứ đánh giùm tôi từ đó kéo dài về hướng Tây!

– Tôi thấy lâu rồi! Chỉ chờ bộ binh yêu cầu là tụi này ra tay ngay!

Tôi cho lệnh đánh dấu ba trái khói vàng, rồi ngồi chờ.

Chỉ ít phút sau, hai phi xuất A 37 đã theo nhau thét gào, nhào lộn trên ngã ba làng Plei Xome.

Tiếng bom vừa dứt, thì tôi ngỡ tai mình nghe lầm,

– Thái Sơn! Ðây là Hai Lẻ Chín! Tôi ra lệnh cho Thái Sơn! Bất cứ giá nào cũng phải lên cứu cho được thằng Lê Lai!

(Lê Lai là Thiếu tá Lân)

Tôi nói,

– Tôi không biết các cánh quân của thằng chín nút (81) nằm chỗ nào, tôi không thể liên lạc được với họ thì làm sao mà cứu họ?

Nghe tôi nói vậy, thì Ðại tá Vấn lớn tiếng dọa,

– Lệnh là lệnh! Nếu anh không lên, tôi truy tố anh ra tòa!

Tôi nghĩ người chỉ huy trực tiếp của tôi đang bấn loạn tinh thần nên nói năng chẳng còn cân nhắc. Ông Vấn gọi ông Lân như gọi đò cả tiếng đồng hồ rồi mà chẳng có ai đáp máy. Có khi giờ này toàn bộ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị địch đánh tan rồi.

Tôi trì hoãn,

– Ðể tôi chiếm cái ngã ba rồi tính tiếp.

Lúc đó, trên máy của thằng Y Don Nier, Trung úy Trần Dân Chủ từ trung tâm hành quân của tiểu đoàn báo cáo rằng, pháo địch bắt đầu nổ trên nóc trại Pleime. Ông Chủ cũng cho tôi biết tin Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Thủy đã về tới căn cứ và chỉ có năm quân nhân bị thương nhẹ.

Tôi thấy tình hình sắp nguy khốn, vì nếu địch mở một mũi tiến công mới, nhắm ngay cổng trại thì tôi hết đường về. Tôi sẽ bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Nếu tôi không về kịp thì chắc chắn sẽ mất đồn.

Tôi cũng chợt nhớ ra, nhiệm vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn giao cho tôi là giữ đồn Pleime, không phải là bỏ đồn đem quân đi cứu người khác. Nếu tôi bị cầm chân ở đây mà để mất đồn thì tôi là người gánh trách nhiệm chứ không phải Ðại tá Vấn.

Tôi nói với Ðại tá Từ Vấn,

– Chúng nó bắt đầu đánh vào Pleime! Báo cho Hai Lẻ Chín biết giờ này tôi rút quân!

Không chờ phản ứng của ông liên đoàn trưởng, tôi ra lệnh cho quân mình dừng lại, bố trí theo bờ suối hướng Ðông của Tỉnh lộ, chuẩn bị đội hình.

Ngay lúc đó có tiếng Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, Sĩ quan Tùy viên của Ðại tá Tất,

-Trường An ra lệnh cho Thái Sơn quay về giữ đồn!

Thì ra Ðại tá Tất đang bay trên trời. Ông Tất có tần số nội bộ của tôi. Chắc ông Tất đã hay biết toàn bộ diễn tiến xảy ra dưới đất, nên đã trực tiếp can thiệp.

Chạm địch, tôi ít khi cầm máy liên đoàn, tôi thường có mặt trên tần số nội bộ không giây phút nào rời. Vì thế, mỗi khi bay giám sát trận địa, Ðại tá Phạm Duy Tất và Tướng Nguyễn Văn Toàn đều vào tần số này, vừa tiện theo dõi tình hình, vừa dễ ra lệnh trực tiếp cho tôi.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 9 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ 3

Muốn không bị đánh úp thì phải biết động tĩnh của địch. Muốn biết động tĩnh của địch thì phải tận dụng viễn thám và trinh sát. Chuyện này đối với tôi không phải là điều khó giải quyết vì chỉ huy viễn thám và trinh sát vốn là nghề của tôi. Tôi có 6 toán viễn thám rất tinh nhuệ, trong đó 2 toán là do tôi đem theo từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ngày tôi đáo nhậm đơn vị này.

Vấn đề kế tiếp là: làm sao trì hoãn chiến?

Muốn trì hoãn chiến cần thực hiện hai điều:

Một là, nếu ở trong đồn thì phải phòng thủ thật chắc. 

Hai là, nếu phải đánh nhau dã ngoại thì phải cố sức bám địch, cầm chân địch bằng mọi giá.

Trong đồn thì tôi không lo, vì với mạng lưới kẽm gai chằng chịt và hệ thống giao thông hào đặc biệt mà tôi mới thiết trí có thể giúp cho người lính vững tâm hơn khi chiến đấu.

Nhưng nếu phải đánh nhau dã ngoại thì điều quan trọng nhất lại là tình hình địch.

Phải biết địch cỡ nào thì ta đánh, địch cỡ nào thì ta phải tránh.

Cho dù thời tiết đã sang mùa mưa, mưa tầm tã hết ngày này qua ngày khác, sáu toán viễn thám vẫn phải liên tục thay nhau xâm nhập vào Ia Drang để canh chừng mọi chỉ dấu mới của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.

Làm trái độn cho viễn thám là một lực lượng tiếp cứu nằm cách Pleime 6 cây số về hướng Tây Bắc. Nơi đây là vị trí trú quân của một đại đội ưu tiên nghênh cản. Nhiệm vụ của đại đội nghênh cản là cố gắng đánh cầm chân quân địch nếu trận chiến xảy ra.

Các đại đội trực thuộc tiểu đoàn phải thay phiên nhau giữ vai trò nghênh cản. Ðại đội này sẽ không đem theo nồi niêu, trên lưng mỗi người chỉ có ba ngày cơm vắt cùng hai cấp số đạn. Sau phiên trực kéo dài ba ngày, ba đêm thì có người thay.

Ðầu tháng 7 tôi được bổ sung một sĩ quan tiểu đoàn phó là Ðại úy Nguyễn Hữu Tài khóa 10 Thủ Ðức. Ðại úy Tài là một đệ tử của Ðại tá Tất hồi ông Tất còn ở trong Vùng 4.

Tuần sau, để cho Ðại úy Tài quen với địa thế vùng rừng núi, tôi cho ông ta điều khiển một cuộc đổi quân của hai đại đội nghênh cản.

Theo đúng chương trình thì Ðại úy tiểu đoàn phó sẽ dẫn đơn vị thượng phiên tới vùng 6 cây số Tây Bắc Pleime, kiểm soát hệ thống phòng ngự của đơn vị, chấm các tọa độ pháo binh dự phòng trên các đường nghi ngờ địch sẽ xâm nhập. Ngày hôm sau ông ta sẽ theo đơn vị hạ phiên trở về trại, giao nộp phóng đồ hỏa yểm dự trù cho tôi.

Nhưng vừa ra khỏi cổng, Ðại úy Tài đã cùng vài người lính tùy tùng, leo lên tiền đồn Bắc nằm chờ hai đơn vị dưới quyền tự làm công tác hoán chuyển nhiệm vụ. Hôm sau đại đội hạ phiên về tới căn cứ cả giờ rồi, thầy trò Ðại úy tiểu đoàn phó mới lò dò xuống đồi.

Tôi đã nghiêm khắc nhắc nhở Ðại úy Tài rằng, từ nay về sau không được làm việc tắc trách như vậy nữa. Ông Tài đã tỏ ra hối lỗi, và hứa sẽ không tái phạm.

Nào ngờ, vài hôm sau, tôi lệnh cho Ðại úy Tài cùng Ðại đội 1/82 đi thám sát vùng 5 cây số Tây Nam Pleime thì ông ta lại phạm lỗi lần nữa.

Chiều ngày ra quân, Ðại úy Tài báo cáo với tôi rằng đơn vị của ông ta đã lục soát xong khu vực trách nhiệm.

Tới đêm, Thiếu úy Lê Ðình Khay, đại đội trưởng 1/82 lại cho tôi biết anh ta cùng với hai trung đội sẽ ngủ qua đêm trên mục tiêu, còn ông Ðại úy tiểu đoàn phó thì vừa ra khỏi trại đã cùng một trung đội chui vào đóng quân trong khu rừng thưa cuối phi đạo Pleime!

Từ đó, tôi không dám cho ông Tài chỉ huy các cánh quân hoạt động dã ngoại nữa.

Vì biết rõ khả năng và tính nết của người phụ tá của mình rồi, nên tôi chỉ giao cho ông Tài những công việc lặt vặt như mai táng, tải thương và rào giậu.

Tôi phải đích thân điều hành những công việc liên quan tới tác chiến, phòng thủ và yểm trợ.

Tôi có một Chuẩn úy pháo binh tiền sát viên rất trẻ, chú này tên là Khánh. Hình như chú Khánh là dân Chợ Lớn, danh hiệu của chú ấy là Sầm Mi. Có lần tôi thắc mắc với Khánh,

– Có phải Sầm Mi là cô sẩm mà chú đang thương yêu chăng? (xẩm=sẩm= cô gái Trung Hoa)

Trả lời câu hỏi của tôi, chú Khánh chỉ đỏ mặt nhoẻn miệng cười.

Giữa sân bộ chỉ huy có cái chòi cao bằng tre, với mái rơm. Hàng ngày Sầm Mi ngồi thu mình trên chòi từ mờ sáng tới chiều tối. Bất cứ tiếng “depart” pháo cối nào của địch vừa dội tới, trung tâm hành quân của tôi đã có ngay hai yếu tố được Sầm Mi báo cáo thật gọn gàng:

“Hướng X ly giác, tầm xa Y mét…”

Cho đến một hôm, địch bắn tới tấp hàng trăm trái, với đủ loại đạn và từ chục hướng khác nhau, Sầm Mi phải tụt xuống đất chui vào hầm hàm ếch dưới giao thông hào.

Từ ngày đó, tôi cho Sầm Mi cùng với người lính nấu cơm của chú ấy vào làm việc với Ban 3 tiểu đoàn nơi hầm trú của trung tâm hành quân.

Yểm trợ gần cho Pleime hoàn toàn phụ thuộc vào hai khẩu 105 ly cơ hữu.

Yểm trợ xa chỉ có hai trung đội 155 ly đặt ngoài Chi khu Phú Nhơn và Căn cứ 711.

Bốn khẩu pháo binh này bắn mút tầm cũng còn cách Trại Pleime gần 5 cây số.

Khi pháo binh bắn mút tầm thì rất dễ gây ra tai nạn tản đạn. Do đó, tôi lưu ý Chuẩn úy Khánh và Trung úy Chủ mỗi khi chạm trận cần đánh những mục tiêu hướng Ðông và Tây, ta phải gọi Căn cứ 711, nếu cần đánh những mục tiêu hướng Bắc và Nam, thì phải nhờ Chi khu Phú Nhơn.

Cứ theo đó, trên tường của trung tâm hành quân đã có một bảng ghi đầy đủ tên từng hỏa tập, kèm với danh hiệu truyền tin của đơn vị yểm trợ.

Từ giữa tháng Bảy, hầu như ngày nào địch cũng bắn vào trại Pleime từ 10 tới 15 viên trái phá mỗi loại. Có lẽ chúng đang điều chỉnh để lấy yếu tố tác xạ tiên liệu, khi cần sẽ bắn tập trung. Như thế là hai bên đều trong thời kỳ chuẩn bị, kỳ này “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!” 

Trong số gần hai chục quả 130 ly đại bác nòng dài của Việt-Cộng nhắm vào Pleime thì chỉ có một viên rơi trong rào, số còn lại đều bay qua đầu, xuống suối.

Trái 130 ly nổ chậm (delay) rơi sát vị trí hai khẩu 105 ly, đào một hố sâu cỡ đầu người với đường kính chừng sáu thước. Chỉ cần hai viên 130 ly rơi đúng mục tiêu thì toàn bộ trung đội pháo binh biên phòng này sẽ bị tiêu diệt!

Từ khi lập trại, vị trí hai khẩu 105 ly chỉ trực xạ cận phòng được nửa vòng tròn từ Ðông, tới Nam qua Tây. Còn các hướng Bắc, Ðông Bắc, Tây Bắc đều nằm trong tử giác, không trực xạ được.

Trường hợp bị địch tấn công từ hướng chính Bắc, Ðông Bắc, và Tây Bắc thì hướng bắn của hai khẩu súng này bị nhà cửa, pháo đài và thành lũy che khuất, đành thúc thủ.

Rút kinh nghiệm mà tôi đã tận mắt chứng kiến ngày Căn cứ Biên phòng Lệ Minh bị tràn ngập. Hôm đó tôi bay trên trời, tôi thấy cái cổng trại mở toang, pháo địch nổ rền, toàn doanh trại bao trùm một màn bụi khói.

Khói súng chưa tan, Cộng Quân đã ào ào chạy vào cổng, chia nhau chiếm giữ các lô cốt, theo sau là lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam xanh, đỏ, sao vàng.

Từ trên trực thăng nhìn xuống, thấy cảnh xảy ra cứ như đang xem phim!

Tôi nghĩ, nếu tấn công Pleime, chắc Việt Cộng cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo, hậu xung như thế.

Muốn chống lại chiến thuật này việc ưu tiên phải làm là đóng chặt cổng ngoài, rồi cố gắng cầm chân địch từ xa bằng những hàng rào kẽm gai concertina cách nhau vài chục thước. Sau đó dùng hỏa lực đốn ngã toán quân xung phong đầu tiên của địch. Vũ khí chống biển người hữu hiệu nhứt là những viên đạn pháo binh bắn tên sắt. Tôi ra lệnh cho Trung úy Như tách ra một khẩu 105 ly đem lên cổng Bắc.

Chuyện tách rời 2 khẩu 105 ly là điều hoàn toàn sái nguyên tắc; nhưng trong tình huống này thì sự tồn vong của Pleime là ưu tiên hàng đầu, Trung úy Như đã vui vẻ thi hành lệnh mà không tỏ vẻ muộn phiền gì.

Trong ụ súng cổng Bắc, tôi chuẩn bị gần hai chục đạn Beehive chống biển người, mỗi viên Beehive khi ra khỏi nòng súng sẽ phóng đi 8000 mũi tên sắt. Chỉ cần 2 trái Beehive bắn đúng lúc địch xung phong, chúng sẽ chết như rạ!

Ngày phát lương tháng Bảy, trời nắng ráo, Trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó theo trực thăng chở phát hướng viên xuống thăm Pleime.

Anh Thanh báo cho tôi biết, từ hôm đó, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân được quân đoàn chỉ định thay thế Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn để chỉ huy Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân ít ra cũng trong thời gian của chiến dịch này, vì so với ông Mẫn thì ông Lân thông thuộc địa thế Pleime hơn ông Mẫn.

Anh Thanh không quên mang tặng tôi một két bia cổ cao. Rồi năm anh em, Hoàng Kim Thanh, Vương Mộng Long, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Công Minh, và Trần Văn Phước quây quần quanh chiếc bàn tròn.

Kịp khi năm chai bia mới mở nắp, ba con khô mực nướng vừa xong thì bất ngờ:

“Oành! Oành! Oành!” ba viên không giựt 57 ly theo nhau xé gió bay tới, nổ tung giữa sân cờ!

Tôi quơ vội chiếc PRC 25 nhảy xuống giao thông hào.

Tay bóp ống liên hợp, tôi la lớn,

– 821! Ra chận đường lấy cho được khẩu 57 ly!

Thay vì ra lệnh cho pháo binh phản pháo, tôi lại gọi toán viễn thám 821 của Hạ sĩ Mom Sol.

Toán của Mom Sol đã ra đi từ mờ sáng, ém trong rừng, cách Pleime hơn ba cây số.

Mom Sol sẽ kéo ra con đường mòn chặn đánh khi địch rút lui.

Chưa tới mười phút sau, có ba tràng M16 bắn ngược chiều, rồi tiếng Mom Sol reo vui,

-Trình Thái Sơn! Em lấy được khẩu 57 ly rồi!

Tôi đã đoán chắc thế nào địch cũng xâm nhập bằng đường rừng, pháo tới tấp hết số đạn mang theo, rồi chạy thục mạng theo con đường mòn dẫn về Tây. Quân ta cứ chặn đường chúng rút là có ăn ngay.

Trong quá khứ, đã có hai lần địch áp dụng ngón đòn đánh trộm rồi chạy.

Phối trí lực lượng Ta và Địch tháng 7 năm 1974

Với một khẩu đội chừng ba hay bốn tên, vác theo cái nòng 57 ly cùng vài viên đạn, chúng xâm nhập bằng đường rừng. Khi tới vạt đất trống, cách hàng rào trại vài trăm mét thì chúng chui ra, vội vàng nạp đạn, bóp cò. Chưa đầy vài phút, sau khi hết đạn, chúng liền phóng ra con đường xe be cũ chạy một mạch về hướng Tây.

Tới khi người trong đồn phát giác ra vị trí đặt súng, lấy xong yếu tố tác xạ để phản pháo thì chúng đã cách xa Pleime cả cây số rồi!

Ði đêm lâu ngày thế nào cũng gặp ma! Bọn bắn trộm ăn quen, rồi cũng có ngày chết mất mạng, mất súng.

Hôm ấy đúng như tôi dự liệu, tính từ lúc trái đạn đầu tiên phát nổ, chưa tới hai mươi phút sau Hạ sĩ Mom Sol đã bước vào cổng Nam Pleime với khẩu 57 ly chiến lợi phẩm trên vai.

Ba chai bia cổ cao được trao tận tay ba anh viễn thám, còn khẩu 57 ly được bay theo Trung tá Hoàng Kim Thanh về Pleiku.

Ngày 22 tháng 7 có chiếc trực thăng bay vào Pleime bốc tôi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 để nhận một chỉ thị đặc biệt.

Tôi được Quân Cảnh đưa lên lầu thì đã có ba vị chỉ huy chờ sẵn, đó là Trung tướng Toàn, Chuẩn tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Cuộc gặp mặt chỉ kéo dài chừng mười phút.

Tướng Toàn xua tay cho tôi miễn trình diện, rồi chỉ cho tôi ngồi xuống cái ghế dựa đặt trước mặt ông, hai bên tôi là Tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Ông Tướng vào đề ngay,

– Chắc chắn vài ngày nữa tụi nó sẽ đánh lấy cho được Pleime.Ta ra giá cho mi cố giữ đồn được ba ngày là ta cho mi lên trung tá. Sau đó cứ làm theo kế hoạch mà ông Tiếu sẽ bàn với mi. Nghe rõ chưa?

Tôi băn khoăn chưa biết kế hoạch của thượng cấp đề ra như thế nào thì Tư Lệnh đã tiếp,

– Chuyện này đứa khác làm không được, nhưng ta tin chắc mi sẽ làm được! Thôi mi nói chuyện với ông Tiếu, ta mắc bận phải đi!

Dứt lời, Tướng Toàn khoát tay ra dấu cho Tướng Niệm, hai người sánh vai đứng lên.

Tới cửa, tôi thấy Tướng Niệm quay đầu lại, chỉ tay về hướng tôi, rồi nói nhỏ với Tướng Toàn,

–Từ ngày đi lính tới giờ, tôi thấy đây là sĩ quan mà tôi cho là ưu tú nhất. Hy vọng ngày nào đó tôi sẽ có người sĩ quan này!

Ông Toàn quay mặt lại, hơi lớn tiếng, chắc là cố ý cho tôi nghe,

– Ðù mạ! Phải cố gắng lên chứ! Quân đội gì mà cứ đánh là thua, cứ đánh là chạy, làm sao mà ăn nói với Mỹ, mà chìa tay ra xin người ta chi viện trợ cho được? 

Trong phòng còn lại tôi và Trung tá Tiếu. Ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II cho tôi biết chi tiết kế hoạch của Quân Ðoàn là:

Nếu Sư Ðoàn 320 A Cộng-Sản động binh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải tận lực giữ đồn không bị tràn ngập trong vòng ba ngày. Sau đó tôi được quyền chui ra khỏi rào, leo lên chỏm núi nào đó, tiếp tục báo cáo với đài tiếp vận Hàm Rồng rằng quân trú phòng đang đánh nhau giành giật với địch quân từng phần đất của Pleime. Cứ thế, cho tới một tuần lễ sau thì hô hoán lên rằng Pleime đã mất. Rồi tôi được quyền chọn một trong hai hướng thoát thân, muốn về trình diện Quận Phú Nhơn hay Quận Thuần Mẫn là tùy ý tôi.

Tôi nghĩ rằng, chưa đánh nhau mà Tướng Tư Lệnh Vùng đã hứa chỉ cần tôi giữ Pleime được ba ngày thôi, sau đó thì có quyền bỏ đồn, rút chạy mà không sợ bị mất lon thì chắc chắn trận này sẽ lớn lắm.

Tướng Nguyễn Văn Toàn là một người thô lỗ, cộc cằn, mở miệng ra là văng tục, chửi thề, nhưng cũng rất thẳng thắn. Chuyện gì ông ta cũng nói huỵch toẹt, không che đậy.

Sở dĩ Tướng Toàn đòi hỏi tôi nếu không giữ được Pleime mà vẫn phải “đánh trận giả” chỉ vì sợ quốc tế nhìn vào, thấy Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa yếu đuối quá, không đủ sức cản chân Cộng Quân, cứ đánh nhau là thua, lại thua nhanh quá, không xứng đáng nhận thêm viện trợ nữa.

Như vậy, chiến công của chúng tôi, nếu có được, sẽ trở thành món hàng quý giá của lòng tin, để chính quyền ta trả giá với đồng minh Hoa-Kỳ xin quân viện.

Tôi thấy mình vừa khoác lên vai một trách nhiệm rất nặng nề. Trận này thắng hay bại có ảnh hưởng rất quan trọng tới ngân sách của quốc gia, tức là liên quan tới sự tồn vong của đất nước.

Tôi tự hứa với lòng mình rằng sẽ cố gắng hoàn thành cái sứ mạng cam go này.

Qua những lần tiếp xúc với các giới chức có thẩm quyền mà tôi thấy được, đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ khan hiếm xăng dầu và đạn dược do ngân sách bị cắt giảm. Vì lý do đó, ở cấp tiểu đoàn, xăng nhớt chỉ được cấp phát cho hai xe Jeep và một xe GMC mười bánh. Tôi cũng nghe nói, chỉ một giờ bay của trực thăng đã làm hao tốn tới 200 đô la viện trợ! Mỗi khẩu pháo chỉ được quyền bắn tối đa là 4 viên mỗi ngày. Nếu ở mặt trận này mà pháo binh bắn lố hơn cấp số 4 viên một ngày thì để bù đắp lại, khẩu súng ở mặt trận khác sẽ bị khóa nòng, không sử dụng.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 2 Nov 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2023

Kỳ 2.

Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.

Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.

Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!

Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước.

Giữa tháng Tư năm 1974, một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”

Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!

o O o

Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.

Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.

Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.

Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.

Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.

Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.

Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.

Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.

Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.

Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.

Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.

Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)

Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.

Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.

Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.

Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.

Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.

Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.

Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.

Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.

Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.

Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.

Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.

Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!

Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.

Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.

Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.

Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.

Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,

– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?

Tôi nói,

– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?

“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,

– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!

Sơ đồ phòng thủ trại Pleime tháng 7 năm 1974

Tôi chợt nhớ ra, có một hôm anh đại úy này gặp tôi trong sân bộ chỉ huy, anh ta năn nỉ tôi ghi tên cho anh ta giữ chức đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ trên giấy tờ thôi, còn bản thân thì anh ta vẫn làm việc ở Pleiku. Chỉ khi nào có thanh tra của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Trung Ương hay Bộ Tổng Tham Mưu thì anh ta sẽ có mặt ở đơn vị.

Tôi không đồng ý giúp anh ta diễn cái trò ma mãnh này nhằm hợp thức hóa tình trạng chỉ huy tác chiến của anh ta; tôi khuyên anh ta hãy đi tìm người khác mà nhờ vả.

Thật là hú hồn! Nếu ngày đó anh ta không đòi hỏi được ở Pleiku mà vui vẻ tình nguyện vào chỉ huy đại đội thì có khi tôi đã mất đồn vào tay anh ta rồi!

Ai mà ngờ? Cả năm trước ngày Pleiku di tản, người cung cấp những đặc lệnh truyền tin và mật mã hàng tháng của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cho địch lại là ông đại úy đại đội trưởng Ðại đội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2!

Vào những năm sau Hòa Ðàm Paris, Việt-Cộng đã đẩy mạnh công tác xâm nhập từ chiến lược tới chiến thuật.

Ở cấp trung ương, đã có những gián điệp cấp cao của địch nằm trong Tổng Thống Phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu.

Vì thế ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 Pleiku có một tên nội tuyến cấp đại úy thì cũng không phải là chuyện lạ.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm dưới quyền giám sát hành quân của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 22 đồn trú trong Căn Cứ Bình Tây 3 ở Hàm Rồng. Căn cứ Bình Tây 3 vốn dĩ là Camp Enari cũ, nơi từng là bản doanh của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Hầu như cứ cách hai, hoặc ba ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại ghé Pleime thăm đơn vị tôi. Ông tướng này đã chịu khó bỏ ra hàng giờ để tỉ mỉ quan sát công việc thiết trí công sự phòng thủ, và điều quân trinh sát của tôi trong thời gian chuẩn bị cho một trận chiến chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Ông lấy làm lạ là tại sao giao thông hào của tôi lại đào sâu gần hai thước, cao quá một đầu, một với của người thường? Tại sao dưới giao thông hào tôi lại cho moi rất nhiều hàm ếch? Tại sao mặt đất lại rào thép gai chằng chịt khiến cho việc di chuyển từ lô cốt này, tới lô cốt kia cứ phải đi dích dắc tới chóng mặt?

Tôi đã phải từ tốn giải thích với ông Tướng rằng:

“Thưa Chuẩn tướng, sở dĩ giao thông hào phải đào sâu là để sự di chuyển được an toàn khi giao tranh. Hào sâu thì người ngồi trong hào khi bị pháo kích nghe tiếng nổ của đạn sẽ thấy nhỏ hơn, sẽ bớt sợ hãi hơn. Hàm ếch giúp cho lính an toàn vì có che chở. Nếu rủi có quả đạn delay (nổ chậm) rơi trúng hầm thì chỉ chết một người, không chết chùm như trường hợp tác chiến lộ thiên. Còn hệ thống kẽm gai chằng chịt là để chống Ðặc Công, lệnh của tôi là ban đêm nếu có tiếng súng nổ thì ai ở yên vị trí đó, người nào đi trên mặt đất sẽ bị bắn chết. Thói thường thì Ðặc Công sau khi xâm nhập sẽ chạy vòng vòng khắp nơi, ném bộc phá vào các lô cốt và nhà cửa. Gặp thứ hàng rào chóng mặt của tôi thì Ðặc Công chỉ có nước khóc ròng, làm sao mà chạy vòng vòng để ném bộc phá được nữa!”

Tướng Tư Lệnh nghe xong thì thấm ý, gật gù. Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh để đảm trách nhiệm vụ phòng thủ vùng. Tiểu đoàn bộ binh này do Ðại úy Nguyễn Hữu Chấn chỉ huy, Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Võ Bị, là khóa đàn em của tôi.

Tôi và Chấn cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Tôi là một trong những đàn anh Khóa 20 đã huấn luyện chú Chấn, vì thế anh em tôi rất thân thiết, thương yêu nhau.

Tôi giao cho chú Chấn giữ an ninh vùng Bắc Pleime, còn tôi chịu trách nhiệm vùng Tây và Nam của căn cứ này.

Người chỉ huy trực tiếp của tôi và chú Chấn là Ðại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 Bộ Binh, Ðại tá Thông xuất thân từ Khóa 16 Võ Bị.

Mỗi lần vào thăm Pleime bằng đường bộ, niên trưởng Thông đều than phiền,

– Chu choa! Ði qua cái hàng rào “Bát Quái Trận Ðồ” của Long anh cứ chóng mặt muốn té!

Thấy thế tôi không khỏi bật cười,

– Ngày nào tôi cũng đi ra, đi vào cái trận đồ này mà vẫn còn bị chóng mặt, huống hồ gì niên trưởng là người lâu lâu mới tới thăm Pleime một lần.

o O o

Tri kỷ tri bỉ

(biết ta, biết địch)

Thế rồi, vào một ngày cuối tháng 6 năm 1974, toàn bộ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh đột nhiên rút khỏi vùng Bắc Pleime, thay thế là Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân trú đóng tại Căn cứ Hỏa lực 711.

Thời gian này nếu tính cả hai khẩu 155 ly đặt trong chi khu Phú Nhơn, thì khả năng yểm trợ của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân chỉ mạnh bằng một nửa, so với hỏa lực cơ hữu của một trung đoàn bộ binh.

Ðây cũng là thời gian tôi bận rộn suốt ngày. Cả tháng trời tôi không dám bỏ đồn về Pleiku thăm hậu cứ lần nào.

Về phần an ninh khu vực trách nhiệm, lúc nào tôi cũng phải cảnh giác đề phòng một cuộc tấn công với quy mô lớn của đối phương có thể xảy ra bất thình lình.

Ðối diện với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là cả một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn vận tải, một trung đoàn pháo, và một tiểu đoàn xe tank của địch.

Lực lượng hùng hậu và đáng sợ này của Cộng Quân ngang nhiên trú đóng trong vùng núi Chư Prong và thung lũng Ia Drang, chỉ cách Pleime hơn mười cây số đường chim bay.

Tôi ước tính, chỉ cần chưa tới hai giờ đồng hồ vận chuyển bộ, Cộng Quân đã có thể cắt đứt Tỉnh lộ 6C và bắt đầu vây hãm Pleime rồi.

Nếu so sánh tương quan lực lượng khi phải giao tranh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ phải đương cự với một địch thủ có quân số đông hơn mình cả chục lần về nhân lực, chưa kể tới cơ giới và pháo binh.

Nhiều đêm, với điếu thuốc Lucky trên môi, một mình ngồi hàng giờ trên nóc lô cốt, tôi tự hỏi:

“Nếu địch tấn công Pleime thì mình sẽ đối phó cách nào đây?”

Sau nhiều đêm vắt óc suy nghĩ và cân nhắc, tôi mới tìm ra giải đáp:

“Muốn sống còn, tôi phải tránh bị đánh úp bất ngờ, phải biết khi nào địch bắt đầu triển khai chiến dịch để xin thượng cấp dự trù quân tăng viện. Phải cố gắng giữ đồn và trì hoãn chiến để chờ viện binh”.

Cháo Chuột

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Thuở nhỏ tôi sống giữa ranh giới của hai miệt U Minh, đồng ruộng giáp với rừng cây và sông, rạch. Tuy tôi không được chăn trâu như mấy đứa bạn cùng xóm, nhưng thường những buổi trưa nắng gắt, tôi hay nhập bọn với chúng chia phe chọi lộn và đánh nhau la ó vang cả cánhđồng. Tôi rất thích thả diều và làm diều rất ăn gió. Khi lớn lên tôi không còn thích trò chơi trẻ con ấy nữa. Thay vào đó tôi thường ra ruộng đặt lờ, cắm câu hoặc lội sông mò tôm, chận cá hay vô rừng bắt cua, bắt vọp và bẫy chim, bắt chuột… 

Nếu nói tới chuột thì phải nói về miệt U Minh. Nhứt là ra Giêng ruộng đồng khô ráo, bờ ruộng nào cũng có chuột mần hang. Chuột khôn lanh vô cùng, chúng biết sự nguy hiểm đương rình rập chung quanh nhưchồn, cáo, rắn, trăn… và còn có con người nữa. Nhưng thâm độc nhứt vẫn là con người. Cộng đồng nhà chuột làm hang sâu đưới lòng đất, một bọng hang rộng đủ chứa hàng trăm con và hang có rất nhiều ngõ ngách phòng thoát thân khi gặp nguy hiểm. Vậy mà người ta lấp đất chận kín hết các miệng hang ngách, chỉ chừa lại hai miệng hang chính, một miệng chận lưới hoặc gắn nguyên cái lờ đặt cá tổ chảng, còn miệng kia thì dồn rơm, châm lửa rồi quạt cho khói lòn vô hang… Những con chuột bị ngộp khói chạy ra cửa hang duy nhứt, liền bị dính lưới hoặc chui vô lờ, con nào chạy thoát ra ngoài nếu không bị chó chụp thì cũng bị người ta cầm cây đập chết ngay tại chỗ.

Trên đây là một trong những cách bắt chuột đồng. Trước khi nói chuyện bắt chuột rừng thì tôi xin kể một cách ăn chuột rừng cũng khá hấp dẫn. Thời đó U Minh Hạ đất rừng nhiều vô số, người ta muốn khai hoang lấy đất trồng trọt thường dùng cách đốt rừng. Cách nầy rất có lợi, ngoài việc lấy được đất làm ruộng hoặc làm rẫy người ta còn chận bắt sống được rùa và đập được rắn. Trong lúc lửa đương cháy, chuột chạy loạn xạ nhưng không ai để ý bắt làm gì. Chờ lửa tắt hết người ta mới xách giỏ đi vô đám tro tàn tìm rùa, rắn và chuột bị cháy lượm đem về chòi bày ra nhậu với rượu đế tại chỗ.  Rùa và rắn bị thui có trứng ăn mới ngon chớ thịt thì ăn thua xa thịt chuột. Nhứt là khi gạt bỏ hết lớp da chuột bị cháy, xé hai cái đùi phía sau chấm múi tiêu ăn kèm với bần chua và uống rượu đế thì khô lân chả phụng cũng không sánh bằng. 

Bắt chuột rừng không phải rườm rà như bắt chuột đồng, chỉ cần một cái roi vừa tầm và con chó khôn ngoan, trung thành với chủ là được rồi. Vào những ngày mùa mưa, người ta cầm roi, mang bao và dắt theo con chó, đi vô rừng tìm những cây rậm lá, nơi có nhiều chuột núp tránh mưa. Thoạt tiên người chủ leo lên đập roi đuổi dồn chuột ra một nhánh rồi tay nắm cành cây rung và tay kia vung roi đập mạnh vô thân cây. Bọn chuột thấy cành cây rung và nghe tiếng đập xành xạch, chúng hoảng hồn nhảy càn rớt xuống đất, phía dưới chó hườm sẵn chụp cắn chết từng con chuột rồi tha gom lại để chung một chỗ. Vừa rung vừa đập cho tới khi hạ được con chuột cuối cùng người chủ mới ngưng tay rồi leo xuống đất, lượm hết số chuột bỏ vô bao, sau đó chủ và chó đi tìm lựa cây khác có nhiều chuột tiếp tục bắt… Chuột ở rừng ăn trái cây rừng và lá rừng nên thịt ít mỡ, ngoài chế biến những thức ăn bình thường, người ta còn làm chuột muối, chuột khô. Chuột đồng nhờ ăn được lúa nên mập và thịt có nhiều mỡ, cho nên nấu những món ăn liền rất ngon, chớ đem muối và làm khô thì không ngon bằng chuột rừng.

Làm thịt chuột mỗi người mỗi cách, nhưng thông thường có ba cách. Một là nấu nước sôi trụng chuột rồi lột da, moi bỏ ruột chừa lại lá gan, hai là đốt rơm thui chuột xong lột da, moi bỏ ruột lấy gan, ba là không cần trụng nước sôi, cứ cắt đầu chuột rồi lột da, làm ruột sạch. Nhưng tốt nhứt là sau khi bắt chuột về, trước khi đem chế biến món ăn, người ta đem ngâm nước lạnh rồi trụng nước sôi, làm sạch ruột và bỏ vô thau ngâm nước lạnh một lần nữa cho thịt chuột trắng và không có mùi hôi.

Những món nhậu có chuột ướp ngũ vị hương áp chảo hoặc nướng và chuột khìa nước dừa, chuột cà ri… Tuy nhiên ngon nhứt vẫn là món thịt chuột nướng ngũ vị hương, xì dầu và ăn với rau sống, dưa leo, khế, chuối chát, chấm nước tương ớt, tỏi bâm. Còn món ăn cơm thì có chuột kho sả ớt, chuột nấu canh chua, chuột xào lá rau muôi hoặc lá cách. Thịt chuột tuy chưa sánh được với cao lương mỹ vị trong thực đơn các nhà hàng sang trọng, nhưng dân quê sánh ngang với thịt gà qua câu đồng dao:

Thịt gà đương luộc

Thịt chuột đương xào

Thầy đứng ngoài rào

Thầy hô béo béo…

*

Lần về quê vừa rồi tôi có ghé chơi nhà  anh bạn, anh ấy dẫn tôi tới một quán ăn đặc sản của miệt đồng bằng sông Cửu Long. Quán được trang trí với những căn nhà nho nhỏ nép mình bên hàng tre, trúc… Khung cảnh đồng quê mộc mạc tạo cho thực khách có cảm giác rất thoải mái, nhẹ nhàng. Thực đơn toàn các loại chim, chuột, rắn, rùa, trăn…, con nào cũng còn sống. Anh bạn giới thiệu cho tôi món chuột nướng lu và khen món nầy ngon nhứt so với các món trong thực đơn. Đối với tôi món nướng thì bất cứ thịt nào cũng ngon chớ không riêng thịt chuột. Tuy nhiên món chuột nướng lu tôi có nghe nói khi còn ở nước ngoài chớ chưa thấy cách nướng ra sao. Tôi đem thắc mắc của mình nói với anh bạn, anh bạn liền hỏi chủ quán cho tôi vào bếp xem chỗ nướng chuột. Chủ quán không chút ngần ngại, vui vẻ dẫn tôi vô bếp. À, thì ra đây là một cái oven làm bằng chiếc lu sành đựng nước, người ta đốt lửa bên ngoài cho nóng để nướng những con chuột đã lột da trần trụi và ướp gia vị móc treo tòn teng ở trong lu..

Thịt chuột nướng lu ăn kèm cóc xanh bầm nhỏ và chấm với muối tiêu chanh… Các thực khách ngồi những bàn chung quanh ăn uống rất tự nhiên. Và anh bạn tôi vừa ăn vừa khen ngon… bá chấy! Riêng tôi thì cứ ái ngại trong lòng. Trong chúng ta ai cũng biết, trên đất nước Việt Nam mình đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Nhứt là từ thượng nguồn sông Mê Kông, phía bên Trung Quốc người ta thả rác rến, đồ dơ xuống và những xưởng máy dọc theo ven sông họ xả nước độc vào dòng sông, thấm vào trong đất đai xứ sở nầy mỗi ngày một nhiều… Chim chóc trên trời, thú vật trong rừng, động vật dưới lòng đất và cá dưới dòng sông… loài nào cũng có thể bi nhiễm độc được hết. Chuột là một loại động vật chui rúc bất cứ hẽm hóc nào thì làm sao tránh khỏi. Dù cho không bị nhiễm bởi môi trường thì chính người chế biến thức ăn đã pha chế biết bao nhiêu thứ phụ gia sao cho món ăn trông được mắt và ngon lành bất kể là chất đó có độc hay không. Những ngày lưu lại quê hương, tôi vô bất cứ hàng quán nào, trông thấy món ăn được trưng bày đẹp và mùi vị thơm tho, quá hấp dẫn thì tôi đâm ra nghi ngờ. Hổng ăn thì sợ bạn bè trách mình phụ lòng, ráng ăn vài miếng và  giả bộ khen ngon, nhưng khi nuốt miếng thịt khỏi cổ họng thì muốn ọi ra, làm tôi phải rót rượu uống liền liền. Rượu gạo nhẹ quá không đủ độ dằn mấy miếng thịt chuột, tôi cảm tưởng như có mấy con chuột lởn vởn trong cổ họng muốn trực…bò ra.

Không biết tại thịt chuột nướng lu hay tại tôi uống quá nhiều rượu gạo mà đêm hôm đó về nhà tôi mửa thấu mật xanh, làm hai vợ chồng anh bạn lo lắng đến hốt hoảng đè tôi ra người cạo gió, người thoa dầu một chập mới yên… Sáng ra, tôi cảm thấy trong người rất nhẹ nhàng nhưng mình mẩy thì ê ẩm và bầm tím. Tôi ra nhà tắm đánh răng rửa mặt. Khi tôi trở vô thì vợ anh bạn đã dọn sẵn bữa điểm tâm và mời tôi vào bàn. Chị múc đưa tôi tô cháo thịt bầm rắc tiêu hành thơm phức. Chị khuyến khích: “Cháo thịt chuột bổ lắm đó, chú ăn đi cho khoẻ!” – !!!

Chăn Trâu khổ Lắm

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Trong đời tôi có một khoảng tuổi thơ được sống trong cảnh thanh bình, mà tôi còn nhớ rõ ràng nhứt là thời gian ba, má tôi ở quận Thới Bình. Lúc đó nhà tôi ở trong ấp chiến lược, ấp nằm trong một bờ thành đất sét đắp cao khỏi đầu người lớn, mặt ngoài thành có cắm chông tre nhọn chi chít và trên mặt thành là một hàng rào tre bện khít khao, chó chui không lọt. Đứng trên bờ thành nhìn ra xa là một cánh đồng cò bay thẳng cánh.

 Nhứt là mùa xuân đồng ruộng khô ráo, thường những buổi chiều chúng tôi ra bờ thành xem người ta thả những con diều to lớn, gắn đuôi thiệt dài và bay thiệt cao dưới bầu trời xanh ngát, có con phát ra ra âm thanh vi vu như tiếng sáo thổi. Anh em chúng tôi cũng tự vót trúc, uốn sườn, dán giấy nhựt trình tạo thành những con diều nho nhỏ, rồi đem ra bờ thành thả chơi suốt ngày.

 Đầu mùa mưa ong bầu thường làm ổ trong bọng những cây tre cắm rào trên bờ thành chiến lược, chúng tôi để miệng chai ngoài miệng lỗ, chỗ ra vào của ong, lấy cây gõ gõ bên ngoài thân tre lừa cho ong chui lọt vô chai, rồi đem về nhà, lật úp chiếc thùng thiết xuống, để ong bầu lên đít thùng, phủ miếng vải lại và lấy cái dĩa dằn lên lưng ong cho nó phát ra tiếng tè tèèè… nghe rất vui tai, chúng tôi gọi đó là máy hát.

 Tuy nhiên những trò chơi nhẹ nhàng ấy làm tôi mau chán. Tôi rất thích cỡi trâu, vì vậy tôi thường ra đồng tìm chơi với nấy đứa chăn trâu. Mấy đứa chăn trâu khôn lắm, chúng biết ý tôi muốn gì cũng như chúng biết ý bầy trâu để chúng ra lịnh điều khiển trâu làm theo ý muốn của chúng. Trong đời sống dĩ nhiên cái gì cũng có giá phải trả, tôi muốn cỡi trâu thì phải trả tiền hoặc một gói xôi hay cái bánh ú, bánh lá dừa chẳng hạn. Vì vậy bao nhiêu tiền và quà bánh của má tôi cho ăn đi học tôi đem trả tụi chăn trâu hết, để đổi lấy mấy buổi cỡi trâu. Một hôm không tiền, không bánh, tôi xin chúng cho tôi cỡi trâu thiếu chịu. Bọn chúng không đồng ý, chúng đề nghị tôi vô vườn hái ô môi cho đem ra cho chúng ăn rồi chúng cho tôi cởi trâu. Ghiền cỡi trâu quá nên tôi làm theo, tôi trèo vô vườn người ta, không quen ăn trộm nên đứng sớ rớ, chưa hái được trái nào thì đã bị chủ vườn bắt gặp. Ông ta bèn dẫn tôi về nhà mắng vốn. Má tôi giận quá, bà đánh tôi một chập và cấm không cho tôi ra đồng chơi với đám chăn trâu đó nữa.

 Năm ấy tôi được mười một tuổi, Thới Bình chưa có trường học, tôi học trong một nhà thờ, cô giáo là một bà Sơ hơi lớn tuổi. Đám học trò tuổi tác lộn xộn, đứa nhỏ thì bảy tám, đứa lớn thì mười mấy. Lớp học chia ra làm hai nhóm, nhóm nào chưa biết viết, biết đọc cô dạy tập viết, tập đánh vần, nhóm nào biết viết biết đọc rồi thì cô dạy làm toán, học công dân, đức dục và cho bài học thuộc lòng đem về nhà đọc. Tôi thuộc nhóm biết đọc biết viết, có bài thuộc lòng tôi còn nhớ cho tới ngày hôm nay:

 “Các em là búp măng non, là đàn chim nhỏ dưới vòm trời cao, là hoa xuân thắm nắng đào, là hy vọng của đồng bào Việt Nam, giờ em chăm học chăm làm, thì mai sau sẽ giỏi giang giúp đời, nước nhà trông cậy em ơi, làm trai ta phải luyện rèn sức trai.”

 Trong lớp tôi có quen với chị bé Hai, chị lớn hơn tôi hai ba tuổi gì đó, nhà chị có một cặp trâu, thường thì anh Bần, em kế của chị chăn, còn những ngày nghỉ học thì chị chăn phụ. Tôi thích chơi với chị hơn là chơi với đám chăn trâu, chị cho tôi cỡi trâu bất cứ lúc nào tôi muốn, không phải trả tiền, trả bánh gì hết và còn được chơi nhiều trò chơi thú vị. Nhứt là những buổi trưa chị thường tụ tập bạn bè trang lứa hoặc nhỏ cỡ tuổi tôi ra vườn. Ngoài vườn có một cái bụi mà chị và mấy đứa bạn đã dọn trống, bên trong bụi ngồi được năm sáu đứa, nhờ phía ngoài được che kín bằng lá dừa nước nên trời mưa chúng tôi có thể ngồi chơi bên trong mà không sợ ướt. Không biết ai nắn dùm chị cà ràng, nồi, tô, dĩa, chén bằng đất sét nung đỏ rất khéo, mấy chị có thể nấu cơm kho cá trong những món đồ chơi đó. Thường bữa trưa, chúng tôi tụ tập trong lùm bày trò chơi đám cưới. Trong nhóm chị bé Hai là nhiều sáng kiến nhứt, chị bày chúng tôi chặt lá đu đủ làm lọng, lấy tấm ván nhỏ làm mâm trầu cau, lễ vật là trái dừa hoặc nải chuối… Trong nhóm mình ên tôi là con trai nên lúc nào cũng được chọn làm chú rể, hôm nay làm chồng với chị nầy, mai với chị kia… Đám cưới cũng đầy đủ nghi thức, lạy bàn thờ, ăn trầu cau và rước dâu đi vòng quanh khu vườn, khi trở về chòi bày đồ ra ăn nhậu, dĩ nhiên là ăn giả bộ, sau khi ăn uống xong, mấy ngưòi khách đi về cho cô dâu chú rễ động phòng hoa chúc, cũng giả bộ ôm nhau ngủ đó thôi.  

 Một buổi trưa chị bé Hai rủ tôi ra lùm cây, chỗ mà chúng tôi hay tựu tập, kéo tay tôi vô lùm, kêu tôi ngồi xuống coi chị đốt lửa cà ràng, sau đó chị đổ dấm vô lon sữa bò và bắt lên lửa hâm tới khi dấm ấm ấm. Chị bắt dấm xuống rồi cởi nút áo, vạch ngực ra, ngực của chị một bên u lên như núm cau và một bên xẹp lép, chị kêu tôi thoa dấm lên ngực và nhờ tôi bóp dùm phía bên xẹp cho chị, chị nói làm vài lần thì bên nầy sẽ bự bằng bên kia, lúc đó tôi còn nhỏ đâu biết khỉ gì, chị kêu tôi làm sao thì tôi làm vậy. Quả thật, vài lần sau đó ngực bên lép đã sưng lên, tuy mấy lần sau tôi đụng vô chị đau lắm nhưng vì muốn có bộ ngực cân đối chị phải cắn răng chịu đựng. Mặc dầu lúc đó tuổi tôi còn non trẻ, nhưng tôi mơ hồ có một niềm thích thú mà tôi không sao tả được. Một buổi trưa như thường lệ tôi và chị bé Hai chuẩn bị đồ nghề để “nâng cấp” ngực lép của chị, không biết đứa nào mách lẻo, mà má tôi với má chị đột nhiên xuất hiện, mặt mày người nào người nấy đằng đằng sát khí, mỗi người lôi một đứa về nhà. Tôi không biết má chị đánh chị cỡ nào, chớ má tôi thì nổi tam bành lục tặc, sắc mặt dữ dằn, chưa bao giờ tôi thấy bà ghê sợ như lần đó, mấy lần lầm lỗi trước kia bà bắt tôi nằm sắp lên giường, trước khi đánh bà kể những sai lầm tôi đã gây ra và cho biết số roi tôi phải chịu, nhưng lần nầy bà xả roi túi bụi… Sau khi bà trút hết cơn giận thì mình mẫy tôi có lằn tím và mông sưng như dề cơm cháy. Từ đó bà cấm tôi không được đi chơi với mấy đứa con nít “quỷ” đó nữa…

 Cho tới hôm nay, đầu đã hai thứ tóc rồi, vậy mà mỗi khi nhớ tới những ngày êm ả hồn nhiên ở Thới Bình, tôi nhớ nhứt là trò chơi đám cưới và chuyện giữa tôi với chị bé Hai, mặc dầu mục đích chính của tôi lúc đó là muốn được cỡi trâu hơn là cùng mấy chị chơi những trò chơi cấm kỵ.

 Những năm sống nơi xứ lạ quê người hình ảnh con trâu Việt Nam đã phai mờ trong tâm trí. Rồi một hôm đứa con gái lớn của chúng tôi đem về một cuốn sách có minh hoạ hình, bằng tiếng Hoà Lan, tựa đề là Een jongen in Vietnam (Một Em Trai Ở Việt Nam). Bìa sách có in hình một em trai, độ chín mười tuổi, bận áo sơ mi sọc màu xanh mới toan, tay cầm sợ dây mũi của con trâu, thân hình con trâu to tổ chảng đương đứng trên con đường làng, cạnh một căn nhà tường vôi rữa, xi măng trốc lòi gạch trông cũ kỹ làm sao. Con gái tôi thích lắm, nó đọc hết cuốn sách trong một buổi, sau đó nó sơ lược cho vợ chồng tôi nghe về câu chuyện trong sách. Đại khái là em bé Việt Nam vừa đi học, vừa chăn trâu, về nhà lo phụ giúp gia đình… Vậy mà ở trường em còn là học sinh giỏi và ước mơ tương lai em trở thành phi công hoặc tài xế máy cày…

 Thật ra từ ngày Trúc Thanh, vợ tôi, mang thai đứa con gái đầu lòng thì chúng tôi lúc nào cũng bâng khuâng lo lắng, sống nơi xứ người, không biết làm cách nào để dạy con cho thành người Việt. Cuối cùng vợ tôi đề nghị, cứ theo lời của những bậc trí thức ngoài nầy, mình nên tìm về nguồn cội, may ra… Vậy là tôi phải một phen lục lọi tìm tòi sách Việt Nam viết về văn hoá, phong tục, ca dao, tục ngữ, hát ru con, vọng cổ; đọc báo, lướt mạng để tìm về… nguồn cội. Hay lắm, tôi nói với vợ, mình có thể ru con bằng ca dao, tới tuổi nó hiểu biết thì mình kể chuyện cổ tích Việt Nam cho nó nghe, khi lớn lên tức khắc nó trở thành người Việt chánh hiệu con rồng vàng.

 Giờ đây ít nhiều gì vợ chồng tôi cũng hài lòng khi nhìn thấy con gái lưu tâm tới văn hoá Việt. Nhưng khi thấy cái hình của em bé chăn trâu ngoài bìa sách không giống một em bé chăn trâu thứ thiệt mà tôi đã biết qua và câu chuyện có vẻ lý tưởng quá cho một em bé chăn trâu. Nhưng hề gì, qua ca dao, tục ngữ và truyền thuyết, lịch sử tôi thấy người xưa đã từng lý tưởng hoá hình ảnh mục đồng lúc thì nhàn nhã như tiên, khi thì anh hùng tái thế làm tới đế vương… Tuy nghĩ là nghĩ vậy, nhưng khi dạy con tôi chọn lọc, bỏ bớt những câu lý tưởng có hơi quá trớn như: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…”  Tôi giải thích cho hai con tôi biết rằng, chăn trâu cực khổ lắm, sáng dắt trâu ra đồng cho ăn cỏ suốt ngày, những ngày mưa thả trâu ra đồng không được phải lội ra đồng tìm cỏ non cắt bó từng bó đem về cho trâu ăn, trâu ỉa trong chuồn phải hốt cứt đem đổ, chiều phải tắm trâu, tối giăng mùng cho trâu ngủ….. Chừng đó công việc đã chiếm hết thời gian thì còn thời giờ đâu nữa mà học với hành. Đó là chăn trâu của nhà, nếu chăn trâu do chủ mướn mà lỡ để trâu đạp lúa hoặc ăn lúa ruộng người ta thì bị trừ lương. Thời địa chủ em chăn trâu nào lỡ để trâu đi mất thì bị chủ đánh đòn tàn bạo, có khi bị đánh và bỏ đói cho tới chết. Nói trắng ra chăn trâu chẳng có chút vui sướng nào như mấy em gái ở Hoà Lan “chăn” con ngựa của mình cỡi.

 Tuy nhiên ngoài những cực khổ của em bé chăn trâu ra, tôi cũng kể cho hai đứa con gái tôi nghe những hình ảnh đẹp giữa trâu và người. Từ ngàn xưa nhà nông biết cách dùng trâu để cày, bừa ruộng hoặc cho trâu kéo cộ, kéo xe… Lúc nào trâu và người nông dân cũng hợp tác với nhau chặt chẽ, họ xem trâu như là một người bạn đời thân thiết. Vì vậy mới có những câu gắn bó người và trâu như:

 Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

 Mình cũng có thể tưởng tượng ra, sau những giờ người và trâu cày, bừa mệt nhọc. Bác nông phu với trâu ngồi dưới một gốc cây nghỉ mát, bác uống trà, còn trâu nằm cạnh bên nhơi cỏ và bác vuốt đầu trâu tâm sự:

 Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công

Chừng nào cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn… 

 Nhờ tìm cách dạy con mà tôi học thêm rất nhiều về chuyện con trâu với những tập tục chọi trâu của từng vùng và lễ đâm trâu của người dân tộc. Trong những chuyện tôi thích nhứt là tranh chăn trâu của nhà thiền, nhưng cái nầy thì chưa giải thích cho hai con tôi nghe được.

 Có một bức tranh con trâu ăn cỏ trên cánh đồng xanh và em bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, Trúc Thanh và hai đứa con thích lắm, nên kêu tôi đem đóng khung treo lên tường. Thanh cũng góp chuyện kể cho hai đứa con gái nghe quê ngoại của chúng ở tận miền Trung nước Việt Nam, người ta vẫn còn dùng trâu cày ruộng, mai mốt về bển sẽ cho hai đứa tha hồ cỡi trâu. Nghe má nó hứa làm tụi nó nao nức ngày về Việt Nam xem con trâu thiệt và sẽ cỡi trâu cho biết. Hai đứa con gái tôi năm nay đứa nhỏ lên chín, đứa lớn trên mười. Chợt nhớ lại chuyện xưa, hồi ở tuổi chúng nó tôi cũng rất thích cỡi trâu.

 Mùa hè năm nay vợ chồng tôi đưa hai cháu về thăm quê ngoại ở ngoài Nha Trang. Xe chạy trên quốc lộ một, tới khúc nào có ruộng thì hai con tôi cứ để ý tìm xem trâu, nhưng không thấy trâu, hai đứa thắc mắc tại sao tôi nói với chúng rằng Việt Nam nhà nông cày ruộng bằng trâu nhưng sao thấy toàn là máy cày. Nghe chúng càu nhàu má nó lên tiếng:

 – Ở đây ruộng lớn nên người ta dùng máy cày cày cho lẹ, quê  ngoại có những thửa ruộng nho nhỏ nên nhà nông sợ tốn nhiên liệu nên mới dùng trâu kéo cày, về tới nhà ngoại rồi con sẽ thấy trâu đi thành bầy giống như trong phim Mùa Len Trâu mà con đã xem hồi ở bển.  

 Xe chạy qua khỏi đèo Rù Rì chợt hai con tôi reo mừng hô lớn:

 – Trâu kìa, trâu kìa…

 Tôi dòm lại thấy mấy con bò đương ăn cỏ bên lề đường, tôi nói:

 – Không phải trâu đâu , con nhìn kỹ coi, con bò đó.

 Đứa con gái nhỏ thắc mắc:

 – Sao bò màu vàng mà hổng có bông và ốm nhom ốm nhách, lòi be xường, không giống như bò ở Hoà Lan chút nào hết.

 Con chị làm tài khôn giải thích:

 – Bò Việt Nam nghèo hơn bò Hoà Lan, ăn uống thiếu dinh dưỡng nên mới ốm nhom ốm nhách và nắng nóng quá làm da bò đổi ra màu vàng.  

 Nghe con gái tôi so sánh làm những người trong xe cười rộ.

 Phong cảnh Vạn Giả sạch và mát, dưới là biển trên là rừng, núi. Nghe kể ngày xưa nơi đây được mệnh danh là rừng vàng bạc biển. Đất nước tôi từ Nam ra Trung, nơi nào cũng rừng vàng bạc biển, vậy mà mà dân đen cúi mặt xuống đất, bán lưng cho trời, quần quật như trâu nhưng vẫn kiếm không đủ cơm ăn…

 Những ngày lưu lại quê vợ, sáng sáng tôi hay ra quán cà phê, ngồi nghe dân quê nói… tục và chưởi thề. Hồi ở nhà mỗi lần “chat” với người quen, tôi thường nghe tiếng chưởi thề của đám nhỏ văng vẳng trong microphone. Hôm nay về đây mới nghe tận tai, nhìn tận mắt. Đám con nít bận đồng phục, quàng khăn đỏ ngồi chơi game la ó chưởi thề ỏm tỏi. Tôi mơ hồ một nỗi xót xa, một niềm thất vọng nào đó mà tôi chưa xác định rõ ràng. Vợ tôi vô tư, về quê chỉ chú ý tới chuyện thăm bà con, bạn bè, ăn uống, sửa sắc đẹp rồi rủ nhau cắm trại và đi hát karaoke…

 Hổm rày lo dẫn hai con đi chơi đây đó nên chúng nó không có dịp coi trâu. Chiều nay trên đường về nhà tình cờ tới đầu xóm thấy người ta dẫn một bầy trâu đi ào ạt, tung bụi mịt mù, Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa xua đám chăn trâu ra trận mạc chắc bụi cát bay cũng cỡ như vầy. Thấy trâu hai đứa con gái tôi mừng quá, không chờ trâu tới, a tầm phù chạy về phía trước để coi. Nhưng khi chúng gần tới bầy trâu thì tự dưng sựng lai và nép qua đường, lúc bầy trâu đi ngang đứa con gái nhỏ sợ quá đi thụt lùi, không để ý nên đạp lên bãi cứt trâu làm nó hoảng hồn khóc om xòm trời đất. Trong khi tôi đi tới bồng con nhỏ lên, thì con chị bịt mũi vừa chạy vừa hô to.

– Thúi quá, thúi quá, mấy con trâu thúi quá…

 Về nhà tắm rửa xong thì đã tới giờ cơm. Cậu tư nói với hai đứa nếu muốn thì ngày mai cậu dẫn đi qua nhà ông Tám cho cỡi trâu, bên bển có bốn con trâu. Chợt hai đứa buông đũa rưng rưng khóc, hai đứa con tôi có tánh đương ăn cơm hễ ai nói chuyện dơ dáy thì chúng ăn không được. Thấy hai đứa khóc dì ba cũng buông đũa dỗ ngọt và dụ dẫn hai đứa đi ăn bánh bèo, món duy nhứt của quê ngoại mà hai đứa ưa chuộng.

 Kỷ niệm những ngày về quê vợ chỉ có bấy nhiêu. Khi ra ngoài nầy, hai con tôi đã trở lại trường học, vợ tôi thì vô xưởng làm, còn tôi vẫn tiếp tục cộng việc của mình và cũng không để ý tới chuyện trâu, bò gì nữa hết.

  Cũng như mọi năm, trước Tết, gia đình chúng tôi thường đi chợ Việt Nam mua sắm, tiện dịp xin lịch mới của Việt Nam đem về nhà treo. Vợ tôi xin được mấy tấm lịch còn nguyên trong bọc nylon. Đem về nhà hí ha hí hửng khoe với hai đứa con gái và đưa cho mỗi đứa một cuốn, biểu chúng đem treo trong phòng ngủ. Chúng cầm lịch rồi đi lại bàn ngồi xuống mở ra xem, chợt hai đứa đồng thanh hô lên một lượt:

– Eeewww… (Tiếng hô mỗi khi gặp chuyện ghê gớm.)

Rồi bỏ hai tờ lịch lại bàn, chúng chạy tuốc lên phòng. Chúng tôi không hiểu chuyện gì hết, vợ tôi bèn đi lại bàn xem. Tới phiên cô vợ chỉ tay xuống tờ lịch:

– Anh anh, lại đây coi nè.

Tôi đi lại thấy ngoài bìa tấm lịch in hình đầu một con trâu tổ bố. Vợ tôi nói tiếp:

– Hai đứa con mình chắc mất gốc hết rồi anh.

– Em nói gì kỳ vậy, sợ trâu đâu có ăn nhằm gì tới chuyện gốc gác.

– Sao hồi trước anh nói là dạy con cho thành người Việt chánh hiệu con rồng vàng mà.

Tôi ra bộ nghiêm trang, gật gù:

– Bây giờ anh không hiểu nổi cái mẫu người Việt đàng hoàng nó ra làm sao nữa, xin thưa thiệt với em, hồi hè vợ chồng dắt con về bên bển anh thấy từ già cho tới trẻ ăn với nói, nghe mà phát khiếp làm anh sợ con mình bị nhiễm quá chừng, mẫu người nầy không được đâu, thôi thì tụi nó thành người Tây, người Mỹ, người Tàu, người Nhựt… cũng chẵng hề gì, miễn sao nó lớn lên sống cho ra một con Người là tốt lắm rồi.

 Trúc Thanh không nói thêm gì, cô bậm môi, mắt đăm đăm nhìn vô tấm lịch, hồi sau cô ngước lên nói:

– Năm tới là năm con Trâu,  rõ ra năm tới là năm Kỷ Sửu.

Dronten 11 12 08

Cái nghề đụng chạm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Người Việt mình rất hiếu học và trọng bằng cấp! Thầy giáo dù nghèo sặc gạch cũng được bà con mình trọng vọng; được mấy em đem lòng thầm thương trộm nhớ.

“Chẳng ham ruộng cả ao liền. Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ!” Để mai sau “ngựa anh đi trước; võng nàng theo sau!”

Chắc bà con mình còn nhớ chuyện Trần Minh khố chuối và Quỳnh Nga con quan huyện mà!

Rồi Tây qua! Ảnh hưởng văn hóa của thực dân, bà con mình dần dần thay đổi!

Giờ ai là nghề gì có chữ ‘sĩ’ là ngon hè! Như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ… (Chỉ trừ ông hạ sĩ).

Bịnh vô nhà thương gặp bác sĩ bà con mình co rúm sợ hãi dù phải móc xỉa trả tiền chữa bệnh.

Ngoài ‘sĩ’ ra còn ‘sư’ nữa. Như kỹ sư hoặc luật sư. Nên có câu vè: “Nhứt y, nhì dược; tạm được bách khoa!”

Rồi xưa giờ hay bà con mình cũng hay nghĩ là vô phước đáo tụng đình. Rất ngại lôi thôi cò bót hay ra Tòa thưa gởi tới lui. Thấy ai làm tới luật sư là nể, kính nhi viễn chi, đứng xa xa mà dòm chớ không dám lại gần.

Nhưng nước Úc nầy thì quan niệm hơi khác. Bất cứ ngành nghề gì mà nhận tiền của thân chủ thì: “Khách hàng là Thượng đế” nên chất lượng dịch vụ được cung cấp là phải đặt lên hàng đầu, là công bằng và sòng phẳng với số tiền mà thân chủ đã bỏ ra.

Úc khoái công bằng, ghét áp bức bất công. Nó ăn hiếp mình thì mình đi thưa nó. Chuyện nhỏ như con thỏ cũng đi thưa! Vì  “Mình không sai thì chẳng phải sợ gì ai!”

Chớ người Việt mình thì chín bỏ làm mười, tự an ủi là: “Nó ăn hiếp mình cũng như nó ăn hiếp thằng cha của nó vậy mà!”

***

Johnny, người  Úc, là ‘ní’, bạn thiết của tui! Vì cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút xách, tứ đổ tường nhốt tui chung với nó. Nhưng mà con vợ nó lại quá khó, kêu nó cuốn nóp ra khỏi nhà!

Dĩ nhiên tiền bạc suốt cả đời tom góp là của chung! Bắt mình trần đi ra đâu có được nè. Thế là nó mướn luật sư chuyên về luật gia đình ra Tòa cãi!

Kết quả cuối cùng là thua trắng! Luật sư gì mà cãi như hạch chỉ giỏi tính tiền không hè!.

Chiều cuối tuần rồi, đang ngồi nhậu, đấu láo um sùm thì nó ra dấu im lặng vô tuyến, đừng đứa nào hó hé gì hết ráo để nó gọi cho công ty luật của nó.

“Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi.”  Bên kia đầy dây, tiếng một em thư ký ỏn ẻn báo tin rằng: “Dạ rất tiếc! Ông ấy đã ngỏm củ tỏi hồi tuần rồi!”

Johnny lại quay lại nhậu tiếp. Chừng 15 phút sau, bổn cũ soạn lại “Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi!”

Em thư ký hơi bực mình rồi nhe, dắm dẳn: “Tôi đã nói là luật sư của ông đã chết hồi tuần rồi. Tại sao ông cứ gọi hỏi hoài vậy hả?”

Johnny cười khè khè đáp lại: “Tại vì nghe cái tin nầy, cứ lập đi lập lại, nó đã cái lỗ tai của tui biết là bao. He he!”

Johnny phân bua rằng:“Không phải mình tui ghét luật sư của tui đâu mà dân Úc, thằng nào bị vợ bỏ, cũng rứa.”

Ra Tòa chia con chia của, có mướn luật sư đại diện đàng hoàng mà quan Tòa xử xong là mình mạt.

Mất hết! Căn nhà của mình, phân nửa về em (không còn yêu nữa); còn phân nửa về tay luật sư của mình.

Johnny lên lớp tui rằng: “Nè trong 30 ngành nghề trong xã hội, dân Úc tin tưởng nhứt hạng là y tá. Hạng bét, tức hạng 30, Úc cho rằng là những tay bán xe hơi cũ chuyên môn nói dóc để bán được xe.
Còn luật sư, dân Úc không tin lắm nên xếp đứng chính giữa, tức thứ 15 đó. Nhưng qua kinh nghiệm đau đớn ly dị vợ vừa rồi, tui cho tay luật sư của tui đứng hạng bét.”

Tui vẫn giữ quan điểm của người Việt mình là kính trọng người học giỏi, thông thái với cái đầu tóc giả và áo chùng thâm xuất hiện cãi sùi bọt mép tại Tòa.

Tui không chia sẻ quan điểm với thằng Johhny, vẫn cho nó giữ bản quyền mấy câu chuyện châm chọc về nghề luật sư dưới đây để bớt tức tối, kẻo tăng xông nó lên là chết không kịp trối.

Johhnny giận luật sư về gia đình thì cũng còn hiểu được. Nhưng nó còn giận luôn với mấy ông luật sư lo về di chúc, phân chia tài sản của người quá cố để lại. Vì cũng là con mà kẻ nhiều người ít…Tất phải gấu ó với nhau hè.

Càm ràm với ông (hay bà) đã đi bán muối rồi đâu có được; nên bao ấm ức tấm tức đem dội hết lên đầu ông luật sư có bổn phận phân chia tài sản theo di chúc.

Thiệt là oan ơi ông Địa!

Nên có chuyện xỏ xiên rằng: “Tú bà của một động yêu hoa ở Melbourne vừa mở cửa thì thấy một khách hàng ăn mặc rất lịch sự đúng mốt, cử chỉ lịch lãm dù tóc đã muối tiêu.

Ông khách yêu cầu: “Tôi muốn em Natalie!” Tú bà trả lời: “Natalie là em tính tiền cao nhứt ở đây đó thưa ông. Hay là gọi em khác rẻ hơn nhiều cho ông anh nhé?!” “Không! Tôi chỉ muốn gặp Natalie mà thôi!”

Lúc đó em Natalie xuất hiện cho giá: “Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”

Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.

Cả hai sóng bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lặng lẽ rời đi.

Đêm sau, ông anh lại đến và lại muốn gặp Natalie. Em ỏn ẻn: “Đâu có ai đến liền tù tì hai đêm liền đâu. Dẫu vậy cũng không có chăm chước, giảm giá gì hết ráo. Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”

Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.

Cả hai song bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lại lặng lẽ rời đi.

Đêm thứ ba người lại đến. Xong xuôi hết ráo, Natalie mới hỏi ông anh mình rằng: “Chưa có ai sử dụng dịch vụ của em ba đêm liền như anh vậy! Xin cho hỏi anh là người từ đâu đến?”

“À Tôi từ Sydney tới!” “Vậy hả? Em cũng có người thân ở Sydney đó!”

“Tôi biết! Ba của em vừa mới qua đời, tôi là luật sư của chị em. Bà ấy nhờ tôi trao 3000 đô nầy lại cho em đó!”

***

Rồi cũng lo về di chúc, ông luật sư nầy lại hên quá xá là hên, trúng mối sộp vô cùng!

Chuyện rằng: Một cụ bà gọi đến văn phòng một luật sư để làm di chúc.

“Suốt cả đời sống thui thủi một mình, tôi hiếm khi đi gặp bất cứ một ai; nên xin cô thư ký thu xếp cho ông luật sư đến nhà tôi được không?”

Công ty Luật độ rày ế quá nên viên luật sư bằng lòng chạy sô.

“Xin bà cho biết tài sản gồm bất động sản như nhà cửa, xe cộ, tàu bè, và tiền mặt bà có bao nhiêu? Và dự định sẽ cho ai?”

“Ngoài vật dụng như bàn ghế, tủ, chén trong nhà, tôi còn có 400 ngàn đô trong tài khoản ngân hàng Commonweath Bank!”

“Dà! Bà tính chia 400 ngàn đô nầy như thế nào ạ?” “À như đã nói, vì sống suốt một đời lặng lẽ, không ai thèm để ý đến tôi cả; nên lúc chết đi, tôi muốn làm đám tang của chính mình cho thật lớn, có ban nhạc rock, có cả vũ sexy. Nên tôi dự chi 350 ngàn đô cho lễ an táng của mình.”

“Chu choa! 350 ngàn đô một số tiền quá lớn! Đám ma của bà chắc hẳn rất là hoành tráng, thiên hạ sẽ lé mắt hết trơn. Trả thù đời như vậy cũng đáng đồng tiền bát gạo!” 

“Dà còn lại 50 ngàn đô, bà tính ra làm sao?” “Như luật sư biết, cả đời sống cu ky một thân một mình, tui chưa biết mùi đời là gì hết. Trước khi chết đi, tôi cũng muốn nếm thử coi nó ra làm sao? Xin luật sư sắp xếp cho tôi một người rồi trả công cho anh ấy 50 ngàn đô còn lại nhé!”

Về nhà, viên luật sư kể cho vợ nghe câu chuyện hơi lạ lùng nầy thì em yêu sáng mắt lên như mắt cú vọ: “50 ngàn đô một số tiền quá lớn! Thôi đừng mướn ai hết! Anh làm đi, em cho phép đó!”

“Sáng mai, em sẽ chở anh yêu đến đấy, em sẽ đợi ngoài xe cho đến khi anh xong việc.”

Sáng hôm sau, em yêu ngồi đợi ngoài xe. Một tiếng đồng hồ trôi qua, nóng ruột, em bóp kèn xe kêu inh ỏi.

Thì cửa sổ phòng ngủ trên lầu mở ra, anh luật sư ló đầu ra, la to: “Mai trở lại đón anh đi! Bà ấy đã quyết định để ‘cáo sồ’ lo việc an táng khi bả chết!”

***

Chính vì làm luật sư ắt phải thông minh học giỏi, nên đôi khi trong từ điển cuộc đời bôi luôn từ khiêm tốn. Hở ra cứ hù thiên hạ không hè nên phải ngậm đắng nuốt cay như câu chuyện dưới đây.

Một luật sư lần đầu tiên đi săn vịt trời ở tiểu bang Queensland. Ông nổ súng và một con vịt bị bắn hạ rơi vào một nông trại có hàng rào ngăn cách.

Viên luật sư định leo rào vào thì ông chủ nông trại lái chiếc máy cày ngang qua hỏi: “Ê! Làm gì đó cha nội?”

“À tôi bắn một con vịt trời, nó rớt xuống cái ruộng nầy, tui leo vào để lượm mà!” “Đây là điền sản của tôi; ông không được quyền leo vào!”

Viên luật sư hù: “Nghe nè ông già! Tui là luật sư giỏi nhứt nước Úc đây. Cãi vụ nào cũng thắng. Nếu ông không cho tôi leo vào lượm con vịt; tôi sẽ đưa ông ra Tòa, sẽ làm ông tán gia bại sản! Đừng giỡn mặt với luật sư số một nước Úc nhe!”

“Ôi! Ngài luật sư không biết cách giải quyết những bất đồng ý kiến của dân Queensland chúng tôi rồi!”

“Ở đây chúng tôi xử theo tập tục là: Đá ba cú!”

“Nghĩa là sao?” “Nghĩa là trước tiên tôi đá ông ba cú. Sau đó ông đá lại tui ba cú.

Cứ đá qua đá lại tới chừng nào một bên chịu không nổi phải thua!”

Vốn là người thông minh, nhanh trí, nghĩ mình còn trẻ khỏe, lực lưỡng vì đi ‘gym’ mỗi ngày; còn đối thủ một ông già lụm khụm rồi mình ăn chắc.

“OK! Tui với ông giải quyết bất đồng theo dân luật của Queensland đi. Ông già rồi! Tui cho đá tui trước!”

Ông lão nông co cẳng đá một cú trúng cái đầu gối, đau quá khiến viên luật sư muốn khụy xuống. Cú thứ hai trúng ngay cái cột thu lôi, chỗ hiểm, làm viên luật sư mặt xanh chành vì tức thở! Cái thứ ba dính vào cái bụng nghe cái hự! Chu choa đau quá! “Rồi! Tới phiên tui!”

Thì ông già cười hè hè nói: “Thôi! Tui chịu thua! Ông luật sư được quyền leo vào, lượm con vịt về nhà nấu cháo ăn đi!”

Hi hi!

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Posted 17 Jan 2020

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 22 Aug 2023

Kỳ 1

Qua hai chiến dịch trường kỳ và đẫm máu của những năm 1965 và 1974, địa danh Pleime đã trở thành huyền thoại. Tôi không có mặt trong trận Pleime năm 1965. Nhưng năm 1974 thì chính tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng là người đã cầm vận mệnh Pleime trong suốt 33 ngày đêm sinh tử.

Giờ đây tôi sẽ kể lại toàn bộ diễn tiến chiến dịch này để lớp trẻ hậu sinh biết ngày ấy những chiến binh của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến đấu như thế nào, và vì sao tên Pleime đã có thêm một lần được ghi vào chiến sử.

oOo

Pleime lên tiếng gọi…

Vào một đêm cuối tháng 11 năm 1965 nơi Vũ Ðình Trường Lê Lợi của Trường Võ Bị Quốc-Gia Việt-Nam trên Ðà-Lạt, lần đầu tôi nghe biết cái tên “Pleime”

Hôm đó chúng tôi đang tập quỳ gối gắn lon thiếu úy hiện dịch để chuẩn bị lên đường ra chiến trường.

Bỗng từ xa, bên kia núi, có tiếng âm vang của bom đạn dội về. Thiếu tá Nguyễn Bá Thịnh, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ quan lớn tiếng giải thích:

-Pleime đang đánh lớn. Tiếng ì ầm vừa rồi là tiếng B-52 đang “trải thảm” trên thung lũng Ia Drang đó!

Dù sau này đã dạn dày chinh chiến, đã biết rằng nếu đứng trên đồi 1515 Ðà-Lạt, dù có đôi tai thiên lý nhĩ, chúng tôi cũng không thể nào nghe được tiếng bom nổ trong thung lũng Ia Drang, Pleiku; nhưng từ đó, địa danh “Pleime” đã ghim sâu trong tâm trí tôi.

Cuối năm 1966 tôi từ Vùng 1 Chiến Thuật thuyên chuyển vào Pleiku.

Sau đó tôi gắn bó với Cao Nguyên mưa bùn, nắng bụi gần mười năm trời, tôi đã thành một trong những Thổ Ðịa của vùng này.

Cao Nguyên Trung Phần là nơi có nhiều sắc dân thiểu số sinh sống. Mỗi sắc dân gọi nơi cư trú của họ với âm khác nhau; vì vậy làng của người Lào là “Bản”, làng của người Rhadé là “Buôn”; làng của người Jharai lại là “Plei” hay “Trà”.

Tên Pleime mà người ta thường gọi, chính thực là một danh từ ghép với hai chữ “Plei” và “Mé” theo tiếng Thượng Jharai. Vì vậy, “Pleime” hay “Plei Me” cũng chỉ là một. Pleime nằm cách Pleiku hơn 30 cây số về hướng Tây Nam.

Nhân một chuyến quá giang tàu bay chở thư của Mỹ, tôi đặt chân tới Trại Pleime lần đầu khi căn cứ này vừa được di chuyển từ chân núi Chư Hô về Ðồi 403 trên Tỉnh lộ 6C. Trại Pleime mới có hình lục giác với hệ thống tường đất cao hai thước bao quanh chỉ huy sở. Còn Trại Pleime cũ thời 1965 có hình tam giác; trại đó đã bị phá đi rồi.

Từ Noel năm 1973 tôi đã được lệnh vào Pleime thay thế Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, vậy mà cứ nhùng nhằng mãi, hai tháng sau tôi mới chính thức nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng dưới sự chứng kiến của Trung tá Chính, Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi trở thành người chỉ huy chính thức thứ bảy, và cũng là tiểu đoàn trưởng sau cùng của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.

Tôi đã biết, theo lịch trình “Việt-Nam Hóa” thì cuối năm 1970 những chiến binh Dân Sự Chiến Ðấu của trại Pleime đã được cải tuyển thành quân nhân chính quy trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Vậy mà hơn ba năm qua, với sáu lần thay đổi tiểu đoàn trưởng mà đơn vị này vẫn chưa thoát ra khỏi cái cốt CIDG của nó (Civilian Irregular Defense Group = Phòng Vệ Dân Sự = Dân Sự Chiến Ðấu)

Vị trí Trại Pleime 1974 trên bản đồ Tây Nam Pleiku

Chỉ nhìn vào hình thức thôi, nó chẳng có vẻ gì là một đơn vị chính quy, chứ đừng nói tới đó là một đơn vị trực thuộc lực lượng nòng cốt của Vùng 2.

Không biết quân trang quân dụng của tiểu đoàn này đã bị thất thoát đi đâu mà đội ngũ Biệt Ðộng Quân trước mắt tôi và Trung tá Chính lại ăn mặc như một đoàn người ô hợp. Trừ ra những sĩ quan có quần áo rằn ri, các quân nhân khác thì mang đủ thứ trang phục của Bộ Binh, Cảnh Sát Dã Chiến, Thủy Quân Lục Chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, áo 4 túi lẫn với áo 2 túi, có người còn mặc cả đồ kaki vàng, chân mang dép Nhựt!

Ngay sau ngày ký biên bản bàn giao, tôi bắt Thiếu úy Nghị, sĩ quan tiếp liệu của đơn vị làm một phúc trình xin ứng trước quân trang bổ sung vì lý do hành quân.

Ông Nghị là người rất giỏi ngoại giao, ông ta quen nhiều vị có quyền uy trong Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5 dưới Qui Nhơn, nên chỉ một tuần lễ sau, bộ mã của tiểu đoàn tôi đã đổi khác ngay.

Khi kiểm tra quân số bàn giao hiện diện, tôi mới té ngửa: Theo giấy tờ thì ngày đó quân số thực hiện của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là trên 400 người, nhưng tới khi điểm danh đếm số thì lòi ra 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt!

Phải một tuần lễ sau tôi mới truy cứu ra, trong số 92 ông lính vắng mặt thì một nửa là lính kiểng, nửa kia là lính ma, có người đào ngũ đã nửa năm nhưng chưa ngưng lương, chưa có báo thị tầm nã; có người biệt phái tới tận Sài-Gòn để làm thợ mộc mà vẫn hưởng hàng tháng bốn nghìn đồng phụ cấp hành quân.

Từ ngày mới ra trường, nhận chức trung đội trưởng cho tới khi chỉ huy tiểu đoàn, tôi chưa từng đem một người lính nào về làm công việc trong nhà tôi.

Tôi quan niệm rằng, đem lính về làm việc nhà là một hành động ăn cắp công quỹ, lạm dụng chức quyền.

Tôi từ chối thẳng thừng mọi yêu cầu của thượng cấp khi các vị này muốn tôi cung ứng cho họ một vài người giúp việc trong nhà dù chỉ là trong thời gian một hay hai ngày thôi.

Tôi nhất định không ký chứng nhận hành quân cho những anh lính kiểng, nên chỉ một kỳ lãnh lương đi qua, không nhận được 4000 đồng phụ trội, những người này tự động quay về trình diện.

Những anh lính kiểng nào không về trình diện đều nhận được giấy báo cáo vắng mặt bất hợp pháp; sau đó họ sẽ bị báo cáo đào ngũ. Ông quan to nào còn lưu giữ những anh lính này sẽ đương nhiên can tội “tán trợ đào binh”

Một tháng sau khi tôi vào Pleime thì những vị quan nào đang giữ người của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân để giúp việc trong nhà đều phải ngậm đắng nuốt cay mà trả lại lính cho tôi.

Thế rồi, những anh “Biệt Dạng Quân” dần dần lộ diện, theo nhau trở về rừng, tiếp tục kiếp sống ngang tàng của Cọp, coi cái chết tựa lông hồng.

Tôi đã không tiếc công sức, không nản lòng để chấn chỉnh đơn vị này. Cuối cùng tôi đã thành công; chưa tới hai tháng sau, tất cả đã vào khuôn, vào phép.

Sau này, từ một đơn vị vô danh tiểu tốt, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã ngoi lên, nhanh chóng trở thành một tiểu đoàn lừng danh của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Cũng phải kể đến sự đóng góp công khó của các bạn trẻ, sĩ quan và hạ sĩ quan đầy nhiệt huyết của tiểu đoàn đã tiếp tay tôi xây dựng đơn vị mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn. Nếu không có họ, tôi cũng đành thúc thủ.

Mỗi khi nhắc tới Pleime 1974, thì trong lòng tôi lại dấy lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào, cùng những hình ảnh thân yêu theo nhau hiện về trong trí nhớ: Phạm Ðại Việt, Nguyễn Công Minh, Phạm Văn Thủy, Nguyễn Văn Trâm, Trần Văn Phước, Nguyễn Hữu Phước, Huỳnh Kim Hoàng, Lý Ngọc Châu, Trần Dân Chủ, Trương Trọng Tài, Lê Ðình Khay, Phan Quốc Thiều, Lưu Ðức Hoàn, Phạm Hoa, Nguyễn Văn Năng, Nông Văn Út, vân vân.

Ðóng đồn tức là chấp nhận đối đầu với địch quân bất cứ lúc nào. Xung quanh đồn là rừng, xung quanh ta là địch. Tốt nhất là lúc nào ta cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng.

Với kinh nghiệm của một người cầm quân đã nhiều năm, tôi biết chắc chắn rằng:

“Tay nghề của người lính tiên phong mà không chuyên, thì sự thất bại của một đơn vị tác chiến coi như cầm chắc mỗi khi đối đầu với địch.”

Nói ra thì nhiều người sẽ không tin, nhưng thực tế, tôi đã chứng kiến cái cảnh xảy ra thường xuyên là, những tân binh mới ra trận lần đầu, nghe súng nổ, thường nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, nhắm mắt bóp cò, đạn nối đuôi nhau, chẳng biết bay về đâu. Có người khi đối diện địch quân thì đứng chết trân không phản ứng được gì cả. Có người thấy địch thì quýnh quáng quá, bắn cả vào chân của mình.

Muốn nâng cao tay nghề của những người lính dưới quyền mình thì người chỉ huy phải thường xuyên rèn luyện quân sự cho đàn em.

Những quân nhân dưới quyền tôi hầu như đã quen với cái thông lệ tự huấn luyện sau khi hành quân, nên không có ai than van hay phiền muộn vì chuyện này.

Ngay khi nắm quyền chỉ huy Pleime, tôi liền cấp tốc lập chương trình huấn luyện tại chỗ cho các đại đội.

Trong kho của tiểu đoàn, đạn thặng dư không có giấy tờ kiểm kê do Mỹ để lại còn cả đống. Số đạn tồn kho này đã cũ, nên thay vì đem ra thiêu hủy thì tôi lại sử dụng cho công tác huấn luyện.

Tôi đã đích thân dẫn từng trung đội ra bãi tập, rồi đứng giảng giải cho từng người lính biết cách “bóp cò” khẩu súng của anh ta làm sao vừa nhanh, vừa hiệu quả khi chạm trận; tôi bắt họ mở mắt cho to, nhìn về phía địch, rồi cầm tay họ, chỉ cho họ kỹ thuật ghìm súng để cho viên đạn bay cao tối đa là từ ngang cỡ đầu gối một người đứng thẳng.

Bằng cách đặt hai khẩu đại liên 30 trên giàn cao quá đầu người, quay nòng về hướng núi bóp cò; rồi cho quân lính luân phiên nhau tập bò, tập chạy, tập đi, tập nằm trước họng súng bắn ngược chiều. Ngày nào cũng nghe tiếng đạn thật bắn ngược như đang đánh nhau, thét rồi lính hết nhát, hết sợ.