Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 20th May 2021

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 4

Ðúng như tôi đã dự đoán. Khi quân của tôi vừa chạm đỉnh dốc đầu chữ “S” nơi cái xác của Thượng sĩ Ngon đang bốc mùi, thì hai khẩu phòng không Việt-Cộng đặt trong khu mả của dân Thượng bên trái đường khai hỏa.

Dưới khe bên trái lộ, mìn Claymore bắt đầu nổ. Ba toán Biệt Ðộng Quân ngăn chặn lực lượng bao vây chia cắt đã phát giác địch và cho mìn kích hỏa.

Những chuyên viên chiến thuật bao vây chia cắt của Cộng-Sản Bắc-Việt đang gặp khắc tinh!

Hôm nay các mũi xung kích của địch chưa kịp phóng viên B40 nào thì các xạ thủ đã bị bắn vỡ sọ. Tiếng rên la đau đớn, tiếng quát tháo chửi bới lẫn nhau om sòm dưới khe suối bên trái con lộ. Tiếng Bắc xen Nghệ Tĩnh.

Lúc này đạn M79 của ta bắt đầu tới tấp câu xuống khe.

Tôi đang chỉnh đạn 105 ly của Chi Khu Nhơn-Cơ rơi trên trục nghi ngờ có khẩu phòng không di động của địch thì trong tần số hỏa yểm nghe có tiếng người gọi tôi từ trên trời,

–Thái Sơn cho mục tiêu, tôi phụ một tay! Bắc Bình mới xin tôi lên làm việc với Thiếu tá đây!

Bắc Bình là ông Thiếu tá Trần Văn Bường (K18 VB), Tham mưu phó hành quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Tiếng nói trong máy hỏa yểm là tiếng nói quen thuộc của một hoa tiêu máy bay L19 mà trong nửa năm hành quân ở đây, tôi đã nhiều lần ngồi ghế sau anh ta, bay bao vùng khu vực Nhơn-Cơ, Kiến-Ðức. Tôi và anh phi công này đã nhiều lần đánh phối hợp rất ăn khớp và tương đắc.

Tôi hướng dẫn để anh phi công quan sát cái nghĩa địa Thượng nơi ngã ba đường xe be. Tôi nhờ anh triệt hạ giùm hai khẩu phòng không di động đang trụ ở điểm này.

Tôi sơ lược tình hình bạn địch cho anh ta rõ. Hướng đề nghị cho máy bay oanh tạc ra vào là Nam-Bắc, vì quân tôi tiến theo trục Tây-Ðông.

Chiếc thám thính cơ L 19 đảo sát ngọn cây một vòng. Khẩu phòng không đổi góc bắn lên trời, đuổi theo đuôi chiếc L 19.

– Okay! Tôi thấy rồi! Một cái xe bò cài lá ngụy trang có khẩu phòng không. Tôi chơi ngay!

Một trái khói phụt xuống sát bên khu Mả Thượng.

– Ðược chưa? Thái Sơn!

-Ðược rồi! Cứ từ đó dài về hướng 360 độ là địch, đánh tự do!

Sau câu trả lời “Okay! Do!” chiếc quan sát cơ bay tránh sang hướng Ðông.

Tôi che mắt tìm những chiếc máy bay oanh tạc.

Trời trong xanh. Có hai chiếc A 37 đang lượn rất cao. Hai chiếc tàu lấp lánh trong nắng. Hai chiếc tàu nhỏ tí ti. Có tiếng “rè rè!”  phát đi từ A 37, hay L 19,

– Bom đi! Pass số 1! Chỉnh!

Tôi trả lời,

– Nhận! 

Tôi đã trả lời “Nhận!” nhưng tôi phải che mắt để quan sát xem bom tới từ hướng nào.

Ðời tôi đã có hàng trăm lần được Không quân Mỹ, Việt yểm trợ tiếp cận. Ðây là lần đầu tiên tôi thấy máy bay yểm trợ cho tôi đã thả bom ở tầm cao quá sức là cao! Có lẽ bom được thả từ trên cao độ mười ngàn bộ (feet) có dư!

Mắt tôi thấy một chấm đen từ trên thăm thẳm hướng Ðông đang bay về phía mình. Chấm đen tới gần, nó vẫn giữ hình thù một cái chấm.

Bom tới sát lắm rồi, mà vẫn chỉ là cái chấm!

Thôi bỏ mẹ! Bom bay mà chỉ thấy một cái chấm, không thấy chiều dài của nó tức là nó đang nhắm vào đầu mình rồi! 

Tôi la thất thanh,

– Nằm xuống! Nằm xuống!

Vừa xô thằng Bích xuống cái rãnh khô bên đường, tôi vừa nói với các ông phi công,

– Sáng nay các anh đã giết một Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân rồi đó! Các anh ơi!

Tôi chỉ kịp nằm úp mặt trên đường nhựa thì quả bom đã chạm đất.

“Ầm!”

Bụi, đất, sỏi, đá, cây cối bay tung, phủ trùm một vùng.

Quả bom rơi cách tôi và khẩu đại bác đi đầu chừng chục mét. Nó rơi ngay trên cạnh Bắc của con đường, sát bờ suối, đàng sau một mô đất.

Mô đất cao hơn đầu người và cây cối mọc trên đó đã bị sức công phá của quả bom dọn sạch ngay sau tiếng “Ầm!” vừa rồi.

Chưa rõ tổn thất quân bạn ra sao, chưa rõ chính tôi có bị thương hay không, tôi quơ cái máy truyền tin:

“Check Air! Check Air!”

Tôi nghe anh phi công L19 đang cự nự anh phi công A 37,

– Ð.M! Toa làm ăn như con c…c!

Rồi anh hỏi tôi,

– Sorry! Sorry! Thái Sơn có sao không?

– Cám ơn anh! Thôi! Cho họ về đi! Tôi không cần họ nữa!

Tôi ném cái ống nghe của máy Không Lục xuống đường.

Ðoàn người mình mẩy đầy đất cát lồm cồm đứng dậy. Không kịp phủi bụi trên đầu tóc, họ tiếp tục chuyển đạn, nạp đạn, giựt cò.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!”

Chỉ một khẩu đại bác bên trái đường còn nguyên vẹn. Khẩu súng bên phải đường bị mảnh bom đánh xẹp bánh.

Có một người chết vì quả bom là Binh nhứt Ðức Ðiếc. Ðức Ðiếc bị vỡ sọ. Xác của Ðức Ðiếc được kéo sang lề đường để tạm trên cỏ.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!”

“Tiếp tục!” – “Còn một khẩu, ta chơi theo một khẩu! Tiến lên đi! Anh em ơi! Biệt Ðộng! Sát!” 

Toán viễn thám của Hạ sĩ Mom Sol và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Tuấn được gom lại thành một đội xung kích. Họ vượt suối, băng ngược lộ trình rút lui của ông tiểu đoàn phó ngày hôm qua.

Khi tới điểm hẹn, Hạ sĩ Mom Sol xin tôi ngừng tác xạ pháo binh trên khu Mả Thượng để hai toán viễn thám tiến sát địch.

Thỏa mãn yêu cầu của Mom Sol, tôi cho pháo binh tạm ngừng.

Tới khi Mom Sol đã sẵn sàng tại vị trí, tôi cầm ống liên hợp gọi Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng để xin tiếp tục yểm trợ thì nghe đầu máy bên kia có tiếng một người lạ, người này nói giọng Bắc,

– Anh hãy báo cáo mục tiêu cho tôi một cách thật chi tiết, tôi sẽ cứu xét đơn xin hỏa yểm cho anh!

Quả thực từ ngày đi lính tới giờ này, tôi đã từng gọi máy xin pháo yểm cả trăm lần, chưa lần nào tôi nghe ai đó làm khó dễ như cái giọng nói lạ hoắc kia.

Tôi la lên,

– Tôi đang đụng địch rất nặng, yêu cầu yểm trợ ngay! Tôi không có thì giờ để giải thích dài dòng! Yêu cầu thoả mãn hai chục tràng đạn hỗn tạp trên mục tiêu! Nghe rõ chưa?

Có tiếng lè nhè đáp lại,

– Anh cãi lệnh tôi hả? Nếu anh không báo cáo cho tôi rõ tình hình địch, tôi sẽ cúp pháo binh! Không cho anh một viên đạn nào nữa!

Tôi nổi cơn điên,

– Ð! Mẹ mày! Mày là thằng nào? Mày cứ cúp pháo binh đi! Tao mà thoát chết trận này thì mày sẽ biết tay tao! Tao sẽ bắn nát óc mày!

Ðầu máy bên kia đột ngột tắt tín hiệu. Một giây kế đó là tiếng ông Liên đoàn trưởng,

– Thái Sơn đây Hai Lẻ Bảy! Người vừa nói chuyện với chú là ông phó của anh. Ông ấy mới tới đơn vị, nên chưa biết chú. Thôi! Bỏ qua đi! Pháo binh đã bắt đầu bắn lại rồi đó!

(Hai Lẻ Bảy= 207 là danh hiệu truyền tin của Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân)

Không lâu sau đó thì đạn đại bác từ Nhơn-Cơ lại theo nhau xé gió, rơi trên khu Mả Thượng. Hết hai mươi tràng pháo yểm, tôi ra lệnh,

– 821!825! Ðây Thái Sơn! Lên đi!

Rồi tôi nghe M72 nổ. Tiếp đến là M16. Sau cùng là lựu đạn.

Bẵng đi một lúc, có tiếng Mom Sol reo trong máy,

– Báo cáo Thái Sơn xong rồi! Hai cây phòng không. Một trên xe bò, một trên gò mả. Tụi tui chờ Thái Sơn nơi ngã ba.

Ðoạn giữa cái eo chữ “S” là nơi địch đắp mô. Lá cờ nửa xanh nửa đỏ, sao vàng của Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam đã rách tả tơi nhưng còn bay phần phật bên lộ.

Ðại Ðội 1/82 ào lên. Ðạn của ta réo như mưa bão.

Từ bìa rừng bên phải đường, một tên Việt-Cộng, có lẽ là cấp chỉ huy, nhảy ra giữa đường; tay nó giơ cao khẩu K 54 bắn chỉ thiên:

“Các đồng chí! Giữ vững…”

Hắn chưa hô dứt câu thì, “Cành! Cành! Cành! Ðùng! Ðùng! Ðùng!” thân hình hắn đã gập xuống; khẩu K54 rơi trên mặt đường; đạn ghim kín người hắn.

Từ ven rừng phía Nam con lộ, nhiều cán binh Việt-Cộng phóng nhanh qua đường tìm cách nhào xuống suối.

Súng cứ nổ giòn giã, hiệu lệnh của cuộc hành quân hôm nay là “Giết!”

Bất cứ cái gì nhúc nhích trước mặt đều là mục tiêu!

“Giết!” Hôm nay chúng tôi xuất quân với tất cả lòng căm hờn.

Chúng tôi đã tiến tới cuối đoạn cua chữ “S” hướng Ðông.

Ðại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân trấn giữ ngọn đồi trên tỉnh lộ gần con suối Bắc Nhơn-Cơ thấy hỏa lực của chúng tôi kinh khủng quá, họ sợ chúng tôi ngộ nhận, bắn càn, nên vội vàng bỏ vị trí, rút về bên kia suối.

Tiếng súng tạm yên thì hai cánh quân hai bên đường được lệnh bung sâu vào rừng kiểm soát an ninh hai hông phải và trái chiến địa.

Chúng tôi hoàn tất cuộc nhổ chốt trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ.

Ngay sau khi con đường được khai thông, tôi ra lệnh cho tiểu đội cận vệ trở lại Kiến- Ðức hộ tống số dân Thượng tị nạn và gia đình binh sĩ di chuyển về quận Nhơn-Cơ chờ xe.

Tổng kết trận này, quân bạn có sáu chết, một mất tích, mười ba bị thương vừa nặng, vừa nhẹ.

Con số địch bị giết vào khoảng trên dưới một trăm. Vũ khí chúng tôi tịch thu được hôm đó có lẽ nhiều hơn số địch bị giết.

Ông Ðại úy Trần Dân Chủ. Trưởng Ban 3 Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho Chuẩn úy Lê Văn Phước, Sĩ quan Ban 3 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải gửi gấp cho ông ta một bản tổng kết số nhân mạng địch bị giết và số chiến lợi phẩm tịch thu được.

Sự hứa hẹn khen thưởng vì chiến công không hấp dẫn chúng tôi trong lúc này.

Ban Mê Thuột đã rơi vào tay giặc. Lon lá, huy chương, những lời ủy lạo, những câu nói khích tướng của thượng cấp đâu còn ý nghĩa gì đối với những con người đã mất tất cả như chúng tôi hiện nay?

Tôi nói với chú Phước hãy trả lời phiên phiến cho qua, việc cần yếu hiện thời là yêu cầu liên đoàn mau mau cung cấp phương tiện chuyên chở thương binh cùng với số dân chúng tị nạn và gia đình binh sĩ rời khỏi nơi đây càng nhanh càng tốt.

Tôi vào quận đường Nhơn-Cơ và chỉ gặp Thiếu tá Khánh, Quận trưởng, không thấy ông Thiếu tá Mẫn vì vừa nghe tôi báo cáo khai thông xong con đường, liên đoàn đã cho Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn rút về Gia-Nghĩa.

Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi vào đồn đóng quân chung với Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Khánh và đặt ông Khánh dưới sự chỉ huy của tôi.

Tôi không chịu đóng quân trong quận lỵ. Tôi tin chắc rằng, sau khi hai bãi mìn ở Kiến-Ðức rơi vào tay Cộng Quân thì chỉ cần hai chiếc T54 là địch đủ sức san bằng cái đồn Nhơn-Cơ tí teo.

Ðồn Nhơn-Cơ chỉ có một cổng ra vào hướng tỉnh lộ từ Kiến-Ðức về. Sau lưng đồn, sát hàng rào là một cái đập nước rộng và sâu. Chui vào đồn là chui vào rọ.

Ðại úy Tiểu đoàn phó Ngũ Văn Hoàn, được lệnh gom quân đang giữ Kiến-Ðức, cuốn chiếu qua mặt tôi, rồi leo lên con dốc hướng Ðông của quận đường Nhơn-Cơ.

Tôi giao cho ông Hoàn nhiệm vụ đốt cái đồi Kiến-Ðức trước lúc rút đi.

Chuẩn úy Bảo, một sĩ quan Trung đội trưởng của Ðại Ðội 4/82 là người sau cùng rời Kiến-Ðức.

Những quả mìn cơ động do Bảo gài lại nơi điếm canh hướng Ðông của căn cứ là những cái bẫy sau cùng, đón chờ những cán binh Trung Ðoàn 271/ T10/ CSBV khi họ vào tiếp thu đồi Kiến-Ðức.

Hai đại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã theo tôi từ trước Tết Âm Lịch, giờ này được tôi trả lại Gia-Nghĩa cho Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.

Khẩu đại bác 105 ly bị bể bánh đã được phục hồi. Cả hai khẩu pháo binh biên phòng đều được kéo về nơi dự trù đóng quân của ông Tiểu đoàn phó cùng Ðại Ðội 2/82 và Ðại Ðội 4/82, trên khu chứa gỗ trước xưởng cưa Nhơn-Cơ cách tôi chừng hai cây số về hướng Gia-Nghĩa.

Trưa 21 tháng Ba tôi bố trí Bộ chỉ huy tiểu đoàn và hai Ðại Ðội 1/82 và 3/82 ngay ngã ba đường xe be, nơi đầu khúc cua hướng Ðông của đoạn đường chữ “S”.

Chiều hôm ấy, cách Kiến-Ðức hơn bốn cây số, tôi nghe tiếng đạn cháy nổ “Ùm! Ùm! Lép! Bép!” vọng về. Ngọn khói đen bốc lên cao dần.

Tôi đứng bên con đường nhựa, cạnh những ngôi mộ mới. Bên lề tỉnh lộ này, chúng tôi đã chôn những người bạn vừa chết hôm qua và hôm nay.

Lù lù giữa Tỉnh lộ 344 là một đống vũ khí chiến lợi phẩm tịch thu được của địch.

Bên đường là một rờ-mọt (remorque) súng dư dùng của ta.

Một núi súng ta, súng địch, gom lại, chỉ cần hai quả lựu đạn lân tinh là cháy tiêu hết!

Sương chiều dâng, rừng núi mờ dần, lòng tôi tê dại, dửng dưng…

Sáng sớm 23 tháng Ba năm 1975, tiền đồn hướng Tây báo cáo có tiếng hô “Xung phong!” trên đồi Kiến-Ðức.

Pháo binh đã chuẩn bị yếu tố. Hai chục tràng đạn bay đi để chào mừng những người chủ mới đến tiếp thu ngọn đồi này.

Tiếp đó là một tiếng “Ùm!” từ hướng Tây vọng lại. Như vậy là bãi mìn chống tank đã nổ! Không rõ tank địch đã vô ý cán lên bãi mìn, hay bangalore của Công Binh Cộng- Sản Bắc-Việt đã phá hủy nó?

Và cũng từ ngày này tôi bận tâm suy nghĩ phải làm gì để đương đầu với xe tank địch trong những ngày sắp tới?

Ngày 25 tháng Ba năm 1975, khoảng 9 giờ sáng tôi vào quận để thăm ông Thiếu tá Khánh. Tôi không gặp được ông Khánh. Mấy ông lính Ðịa Phương Quân cho tôi hay, từ mấy ngày trước, ông quận trưởng đã ra Gia-Nghĩa và ở lại ngoài đó không về.

Tôi đi ngang hầm truyền tin thì nghe loa khuếch âm oang oang, tiếng Thiếu tá Khánh ra lệnh cho lực lượng đồn trú:

“Các anh chuẩn bị bỏ đồn, rút về Tiểu Khu. Nhớ vặn nhỏ volume kẻo ông Thiếu tá Biệt Ðộng Quân nghe được thì rầy rà!”

Người chuẩn úy trực Chi Khu thấy tôi đứng trước hầm, anh ta luống cuống phân bua,

– Trình Thiếu tá, không phải lỗi em!

Tôi xua tay,

– Ðừng ngại! Cứ thi hành lệnh đi! Tôi sẽ gặp sếp của anh!

Tới hầm súng cối, tôi tần ngần nhìn khẩu cối 4 chấm 2 (cối 4.2 tức cối 106 ly), đạn còn nhiều quá!

Tôi gọi chiếc GMC của tiểu đoàn vào chở khẩu súng này lên cho ông Ðại úy Hoàn. Thượng sĩ Năng là chuyên viên bắn 106 ly của tôi, khi chúng tôi còn ở Pleime.

Thượng sĩ Năng chắc phải vui lắm khi nhận được khẩu cối này.

Trước khi Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Nhơn-Cơ ra khỏi đồn, tôi nghe trong máy, tiếng Thiếu tá Trần Văn Bường, Tham Mưu Phó của Tiểu Khu Quảng-Ðức ra lệnh cho Sĩ quan Pháo Binh Diện-Ðịa đồn Nhơn-Cơ bắn hết số đạn dự trữ tại ụ súng, sau đó phá hủy tất cả súng đại bác 105 ly của đơn vị này.

Tôi đứng quan sát những pháo thủ Nhơn-Cơ bắn cả ngàn quả đạn về hướng Kiến-Ðức, trong đó có những viên đạn phostpho.

Sau cùng, họ đã thả từng quả lựu đạn màu đỏ vào nòng súng, hủy từng khẩu pháo.

Tôi nhìn cách phá súng của họ và học lóm được cách tháo ống thủy điều cho chất nước đỏ chảy ra, nòng súng thụt xuống không sử dụng được.

Chừng nửa giờ sau thì quận đường Nhơn-Cơ trống trơn.

Tôi cho lệnh đốt quận đường rồi giựt mìn phá hủy cái cống bắc ngang suối Nhơn-Cơ.

Sau đó tôi cho quân rút lên đỉnh dốc giữa đường Nhơn-Cơ, Gia-Nghĩa.

Nửa tiểu đoàn quây quanh khu vườn rộng sau cái miếu Thổ Ðịa nơi đầu dốc. Hai khẩu 105 ly biên phòng hướng về phía Tây sẵn sàng đạn chống tank.

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14th May 2021

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 3

Người dân tộc Jarai gọi Pleiku là Trà-Ku.

Tôi ở Pleiku lâu rồi, tuy không nói được tiếng Jarai nhưng nghe biết nhiều tiếng thường dùng của họ.

Khi nhắc tới Trà-Ku, không ai cố ý khơi chuyện buồn. Nhưng bỗng nhiên thầy trò chúng tôi cùng ngước nhìn nhau, rồi cùng nhìn về phương Bắc, rưng rưng…

Hướng Nhơn-Cơ có chạm súng, vì ở cuối gió nên tôi nghe rõ tiếng đạn đại liên, đạn đại bác, và đạn súng cối nổ đì đùng.

Trên máy truyền tin có giọng Thiếu tá Khánh, Chi khu trưởng Chi khu Nhơn-Cơ và Thiếu tá Mẫn, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân gọi nhau. Thiếu tá Mẫn báo cáo với bộ chỉ huy liên đoàn rằng Cộng Quân đang tấn công vào khu xưởng cưa cách quận đường Nhơn-Cơ hai trăm mét về hướng Ðông.

Hai khẩu đại bác 105 ly Biên phòng của tôi phải trở ngược nòng về hướng Ðông, yểm trợ cho Thiếu tá Mẫn suốt đêm.

Sáng hôm sau có nhiều phi tuần A37 đánh tiếp cận cho quận Nhơn-Cơ.

Cuộc giao tranh có vẻ kéo dài cầm chừng cho tới trưa 19 tháng Ba.

Trong khi đó thì tình hình vùng tôi chịu trách nhiệm cũng có nhiều chỉ dấu đang biến chuyển. Nửa đêm về sáng chúng tôi thấy nhiều đốm lửa di động vùng Nam Kiến-Ðức, có cả tiếng động cơ.

Những toán chống tank đã được gởi đi nằm phục trong rừng.

Ở đây, tôi không ngán tank Việt-Cộng một chút nào, vì tôi đã trấn giữ cái đồn này gần nửa năm.

Tôi đã nghiên cứu, thám sát và nắm chắc địa hình vùng này.

Chỉ có hai hướng xe tank có thể áp sát đồn Kiến-Ðức. Cả hai ngả đều có bãi mìn chống tank của tôi. Mỗi bãi chôn bốn mươi quả mìn đĩa. Mỗi quả mìn đĩa được kèm theo một đầu đạn 105 ly.

Quan trọng nhất là việc bảo vệ bãi mìn. Bãi mìn không người bảo vệ coi như vứt đi, vô dụng.

Kinh nghiệm trong quá khứ, tháng 8 năm 1973 khi nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) vùng Ðông căn cứ Plei Djereng tôi đã thấy xe tank địch chạy phoong phoong trên bãi mìn của Quân Ðoàn II đặt gần Plei De Chi hướng Tây Pleiku mà chẳng nghe mìn nổ. Công Binh của Quân Ðoàn II đã bỏ công sức hàng tháng trời để thiết lập bãi mìn chống tank này. Vậy mà sau đó nó bị bỏ thí, không người canh gác.

Công Binh Việt-Cộng chỉ cần hai hàng bangalore là mở được một hành lang rộng cho tank đi qua.

Ở Kiến-Ðức, mỗi bãi mìn chống tank của tôi, khi hữu sự, được bảo vệ bằng một đại đội Biệt Ðộng Quân. Ðại đội này không có nhiệm vụ đánh tank mà đánh những tên cán binh Cộng-Sản đi dò, dọn đường cho tank.

Sáng 20 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho tôi bứt những cái chốt của Việt-Cộng trên Tỉnh lộ 344 để link-up (bắt tay) với một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng. Ðại đội này đang trấn giữ một ngọn đồi bên cái cống xi măng trên tỉnh lộ.

Tôi thu Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy từ hướng Bắc về hợp lực với một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái để giữ đồn Kiến-Ðức. Ðại Ðội 4/82 giữ đồi Tây, Ðại Ðội của Tiểu Ðoàn 63 phòng thủ ngọn đồi chính và chốt giữ cầu Dak Blao.

Tôi dặn dò Ðại úy Tiểu đoàn phó về sự quan trọng của hai bãi mìn chống tank. Bất cứ giá nào cũng phải giữ. Vì nếu tôi đang đánh nhau ở phía trước, mà bị tank địch tập kích từ đằng sau thì không tài nào trở tay.

Ðại úy Hoàn chần chừ một lúc rồi gãi đầu xin tôi cho đi nhổ chốt,

– Thái Sơn cho tôi đi khai thông con đường có được không?

Quả thực, từ xưa tới nay, từ đại đội tới tiểu đoàn, tôi chưa bao giờ sử dụng người phụ tá của mình làm nỗ lực chính bao giờ.

Nhiệm vụ của những ông phó cho tôi là yểm trợ cho tôi, và sẵn sàng thay thế tôi, nếu tôi nằm xuống.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn đã phục vụ dưới quyền tôi gần nửa năm. Ông chỉ thuần túy làm công việc yểm trợ chứ không bị tôi đưa lên tuyến đầu lần nào.

Thấy tôi ngần ngừ, ông ta nài nỉ,

– Giữ đồn nặng hơn bứt chốt. Thái Sơn cho tôi đi bứt chốt đi!

Nghe ông Hoàn nói có lý, tôi gọi hai đại đội trưởng trách nhiệm nhổ chốt là Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) và Trung úy Ðăng (ÐÐ 2/82) lên dặn dò, chỉ bảo họ đường đi, nước bước, cách đánh nào thích hợp nhứt trong tình huống này.

Bộ chỉ huy nhẹ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Hoàng Long cùng hai đại đội tác chiến lên đường lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Ba. (Hoàng Long là danh hiệu truyền tin của Đại úy Ngũ Văn Hoàn)

Trong khi tôi đang theo dõi diễn tiến hành binh của Ðại úy Hoàn thì tổ báo động hướng Bù-Binh báo cáo có tiếng xe tank địch.

Ðể tiện quan sát, tôi cùng toán hộ tống leo lên đỉnh đồi Tây, nơi Thiếu úy Phạm Văn Thủy (ÐÐT/ÐÐ 4/82) trấn giữ.

Từ đỉnh đồi, tôi có thể quan sát tới khúc quanh nơi cái cống sập cách Kiến-Ðức gần hai cây số về hướng Nam.

Khẩu SKZ 57 ly của tiểu đoàn lúc nào cũng sẵn sàng trên đỉnh đồi Tây. Ống nhắm của khẩu súng đã điều chỉnh chính xác ngay cái cống sập. Nếu SKZ bắn hụt thì tổ chống tank núp sẵn trên triền đồi sẽ làm nhiệm vụ tiếp tay.

Khi thằng Thọ (B2 Thọ nấu cơm) trao ly cà phê cho tôi vừa trở gót xuống đồi thì tiếng 12.7 ly nổ rền hướng Nhơn-Cơ.

Lúc đó là giữa trưa. Máy truyền tin các cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó gọi nhau cuống quýt.

Tôi nghe Delta và An Bình báo cáo đang chạm địch nặng. Delta đang bị đại liên địch dồn xuống khe suối bên trái đường lộ.

Delta yêu cầu An Bình giữ an ninh bên phải giùm anh ta để anh ta rút về con dốc đầu chữ “S”.

Tôi không nghe tiếng Hoàng Long trên máy.

Tôi vào máy hỏi Delta và An Bình sao không nghe Hoàng Long, thì hai anh đều không rõ ông Ðại úy Tiểu đoàn phó ở chỗ nào.

Tình hình có vẻ nghiêm trọng. Tôi giao cho Thiếu úy Thủy lo vụ chống tank rồi tụt xuống đồi.

Nhảy lên chiếc xe Jeep, tôi phóng nhanh tới cái nút chặn hướng Ðông của Ðại Ðội 1/82. Từ đây tôi và toán cận vệ chạy bộ lên chỗ Ðại Ðội 3/82 và Ðại Ðội 2/82 đang chạm địch.

Quân của Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) đang nằm trong rừng, bên phải lộ. Phước chiếm được ngọn đồi cao, nằm dài theo hướng Ðông Tây.

Còn Trung úy Ðăng ở bên trái con đường. Ðại liên Việt-Cộng từ hai hướng Nam Bắc con lộ đang bắn tới tấp vào bên trái dốc chữ “S” nơi đơn vị của Trung úy Ðăng bị sa lầy.

Ðại đội của Trung úy Ðăng đang kẹt trong rừng khọt (cây dầu rái) lơ lửng giữa con suối và con đường.

Tôi cho pháo binh và cối 81 ly bắn cản trước mặt đại đội của Trung úy Ðăng để đơn vị của anh bò từ từ lên cao, bắt tay với Ðại Ðội 3/82.

Khi Ðại Ðội 2/82 bắt tay được Ðại Ðội 3/82, tôi ra lệnh cho hai đại đội quây tròn trên đỉnh đồi bên phải tỉnh lộ.

Tôi sử dụng pháo từ Kiến-Ðức bắn ngay mặt lộ để ngăn địch truy kích. Nhưng tiếng súng của địch đã êm. Như thế là chúng không chủ tâm giao chiến, hoặc chúng chưa có lệnh giao chiến với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Chỉ nhìn thoáng qua trận địa, tôi đã hiểu ngay chủ đích của địch là nhử quân ta tiến sát khu chữ “S” rồi chúng dùng hai khẩu 12.7 ly kềm chân quân ta. Sau đó bộ binh địch bao vây chia cắt hậu quân của ta.

Bao vây chia cắt là chiến thuật cổ điển, nhưng rất hữu hiệu khi chặn đánh một đoàn quân đang khai lộ.

Trung úy Ðăng báo cáo với tôi rằng khi đơn vị anh còn cách cái xác của Thượng sĩ Ngon chừng một trăm thước thì đại liên địch khai hoả. Ðại úy Tiểu đoàn phó hăng hái xông lên với trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82.

Ông Hoàn nói với Ðăng,

– Kỳ này mình lấy cây 12.7 ly về cho Thái Sơn giải buồn!

Nhưng chỉ năm phút sau, từ con suối bên trái trục tiến quân, địch vừa bắn vừa ào ạt xung phong lên cắt đơn vị anh thành ba phần. Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức và trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82 bị mất liên lạc; ông tiểu đoàn phó đã đi theo đoàn quân của ông chuẩn úy này.

Xế trưa, tôi cho quân cuốn chiếu, rút lui từ từ về hướng Kiến-Ðức.

Chiều đó chúng tôi bắt tay được tiếp điểm Ðông của Ðại Ðội 1/82.

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày tôi nghe tiếng Hoàng Long trong tần số nội bộ của Delta. Ông tiểu đoàn phó nói rất nhỏ, có lẽ ông ta đang bị địch bám sát.

– Tôi đi với đứa con đầu của thằng Delta. Tôi bị đánh bọc hậu mất liên lạc với đằng sau. Hiện tôi ở trên triền một ngọn đồi hướng Bắc con đường, nhưng không xác định được tọa độ. Chúng nó (Việt-Cộng) đang đuổi theo tôi.

– Rồi! Bình tĩnh! Anh còn bao nhiêu người cho tôi biết đi?

–  Tôi còn sáu chục người!

– Sáu chục thì đủ mạnh để đánh mở đường về với tôi rồi. Cứ hướng bốn nghìn tám trăm mà phóng đi! Càng nhanh càng tốt! Giữ liên lạc với tôi!

Có tiếng bấm ống nghe “xẹt! xẹt!” rồi tiếng Hoàng Long thì thào,

– Thái Sơn ơi! Tôi còn có sáu người thôi! Tôi ngụy thoại thành sáu chục đó (!) Tôi với năm thằng lính của Delta là sáu. Tụi tôi bị chúng nó (Việt-Cộng) cắt ngang từ phút đầu. Cái máy truyền tin này là của trung đội đầu của thằng 2!

Thực là dở khóc, dở cười. Tuy vậy tôi cũng an tâm là ông Hoàn vẫn còn sống. Tôi ôn tồn,

– Thôi được rồi! Bây giờ làm theo tôi chỉ. Ði thẳng hướng sáu nghìn tư cho tới con suối hướng Bắc ngọn đồi anh đang đứng. Sau đó quẹo trái, ngược dòng con suối, đi riết về hướng Tây. Hết suối là về tới chỗ tôi. Làm ngay đi!

– Tôi nghe 5! Thái Sơn nhớ báo cho tụi thằng Hồng Hà (Thiếu úy Học) tránh ngộ nhận tôi đó nhe!

– Ừ! Thôi! Lẹ lên!

Từ đồn Kiến-Ðức, Thiếu úy Thủy báo cáo rằng, nơi cái cống sập, chiếc tank từ hướng Bù-Binh bò lên đã hiện nguyên hình là cái máy cày cài cành lá ngụy trang. Ba tên cán binh Việt-Cộng trên xe, đã vứt xe, nhảy xuống đường định chạy thoát thân khi trái hỏa tiễn XM202 xé nát đầu chiếc máy cày.

Hai băng M16 đốn ngã 3 tên giặc. Ba khẩu AK 47 và một khẩu phòng không 12.7 ly cháy theo chiếc xe tank dỏm.

Chiếc xe máy cày bị bắn cháy đã trở thành chướng ngại vật cản trở xe tank nằm giữa đường Bù-Binh, Kiến-Ðức.

Gần tối hôm đó Ðại úy Tiểu đoàn phó và năm người lính theo ông về tới tiền đồn Bắc của Ðại Ðội 1/82.

Trước đó vài phút, trung đội của Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức chui ra khỏi rừng hướng Nam con lộ và liên lạc được toán tiếp đón của Ðại Ðội 1/82.

Người mang máy PRC 25 cho Ðại úy Hoàn có mặt trong trung đội của Chuẩn úy Ðức. Cái máy truyền tin của ông tiểu đoàn phó đã bị bắn bể từ phút đầu tiên.

Tính tới 5 giờ chiều, Ðại Ðội 2/82 còn thiếu 14 người.

Ðêm xuống, sương mù dày đặc, trăng thượng tuần có cũng như không. Các tiền đồn không dám gài mìn bẫy vì sợ quân bạn thất lạc trở về vướng bẫy.

Gần sáng, Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi bỏ Kiến-Ðức, tìm mọi cách rút về Nhơn-Cơ.

Sáng 21 tháng Ba năm 1975, tôi chuẩn bị đánh một trận nhổ chốt thần tốc.

Tôi xin pháo binh của tiểu khu một hỏa tập thu gọn trong ô vuông mỗi chiều một cây số từ đầu tới cuối khúc đường chữ “S”.

Pháo 105 ly Nhơn-Cơ bắn không ngừng từ khi tôi xuất quân, và chỉ được phép chấm dứt khi tôi yêu cầu.

Về phần Trung Ðội Pháo Binh Biên Phòng Biệt Ðộng Quân ở Kiến-Ðức thì 500 quả đạn nổ 105 ly được chất lên xe. Hai khẩu đại bác được hai toán Biệt Ðộng Quân đẩy bằng tay di chuyển trên hai bên bìa đường.

Tôi cho đại bác trực xạ ngay sát mép rừng hướng trước mặt. Quả đạn sau nổ chỉ cách quả đạn trước hai chục thước.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” ra khỏi nòng một, hai giây là đạn nổ.

Khẩu súng bên trái bắn vào rừng bên phải; khẩu bên phải bắn vào rừng bên trái.

Sở dĩ phải bắn như thế vì bắn mục tiêu ở bên lề đường đối diện dễ hơn bắn mục tiêu cùng phía với súng.

Cứ thế, “Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” hai họng đại bác thay nhau tiến lên, bắn liên tục.

Ðàng sau lưng tôi là khẩu 81 ly của tiểu đoàn và bốn khẩu 60 ly của các đại đội.

Tôi cho cối 81 ly bắn đạn thời nổ chậm (delay) trong khi cối 60 ly bắn đạn chạm nổ.

Tầm bắn di động từ gần ra xa dần theo hướng tiến quân. Sau mỗi đợt pháo, tầm xa lại hạ xuống một vòng tay quay.

Vòng tay quay nằm bên phải nòng súng, dùng để điều chỉnh tầm xa của điểm đạn sẽ rơi. Tầm đạn rơi gần nhất là khi nòng súng được đặt ở độ dốc 90 độ so với mặt đất, và được bắn không có thuốc bồi, còn gọi là thuốc bồi KHÔNG.

Ðặt nòng súng với góc 45 độ so với mặt đất, và đuôi đạn được gắn 4 vỉ thuốc bồi thì đạn sẽ rơi trên mục tiêu xa nhất.

Tiếng cối depart “kinh! kinh!” –”kinh! kinh!” liên hồi kỳ trận, âm vang dội trong khe núi.

Ðạn cối nổ “ùm! ùm!” –”ùm! ùm!” Cây cành gãy răng rắc.

Mưa đạn cối đang rơi hai bên đoạn đường ngắn ngủi hơn một cây số rừng rậm.

Thêm vào đấy là tiếng đại liên, trung liên, M79, lựu đạn, và tiếng quân ta reo hò, la hét. Khói và bụi cuồn cuộn trước mặt.

Biệt Ðộng Quân hàng ngang trong rừng, song song với hai khẩu đại bác ngoài đường.

Những người lính miệng hô “Biệt Ðộng! Sát!” vừa bước tới, vừa bóp cò.

Quân đằng trước vừa hết đạn thì dừng lại, thay băng đạn mới; quân đằng sau lên thay, tiếp tục vừa bắn vừa tiến.

Người thì thay phiên nhau bắn, nhưng đạn không ngừng nổ rền trời.

Theo thế sâu đo, Biệt Ðộng Quân tiến ào ào, khí thế như nước vỡ bờ.

Ðây là một trận đánh chớp nhoáng nhưng lại rất thảnh thơi, thoải mái, lớp lang.

Mỗi cánh quân hai bên đường có sáu toán an ninh cạnh sườn. Sáu toán trang bị mìn Claymore và M79 bắn đạn chài, đạn nổ, làm nhiệm vụ chống bao vây chia cắt. Gặp đường mòn, triền dốc, những toán này dừng lại gài mìn bố trí chờ.

Ra quân lần này tôi đã tận dụng tất cả hỏa lực có trong tay đánh phủ đầu không cho địch kịp ngóc lên thở. Khẩu 12.7 ly của Việt-Cộng bên hướng Nam con lộ chỉ bắn được vài viên là câm họng.

Ngày ta bỏ núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6th May 2021

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Lời giới thiệu:

Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 2

Nhớ lại lần đầu, 6 năm trước, tôi và người bạn cùng đơn vị đi đón em gái anh ta lúc học sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột tan trường. Sau đó mẹ tôi từ Hội-An vào gặp bố mẹ cô ta; mẹ tôi xin cô ta về làm dâu họ Vương. Bây giờ nàng đang bị kẹt trong vùng đạn lửa, một nách ba đứa con thơ, lại thêm bụng mang dạ chửa. Tôi ngồi thừ người trước cửa hầm trú ẩn của tiểu đoàn trưởng. Tôi không cảm thấy cái lạnh của sương đêm. Trời sáng lúc nào tôi không hay.

Vừng dương bắt đầu le lói. Lại thêm một ngày.

Bên tôi là những cây hoa móng tay.

Mấy ngày rồi không ai tưới, hoa lá đã vàng vọt úa màu.

Bên những cây hoa này, hai đứa con gái tôi đã đứng chụp hình. Con tôi cũng chỉ xấp xỉ cao cỡ những cây hoa đó.

Sau Noẽl 1974 tôi đã đón vợ tôi và hai đứa con gái lớn lên tiền đồn này chơi vài ngày. Hai đứa bé suốt ngày chỉ quanh quẩn bên những cây hoa móng tay.

Chợt những bông hoa móng tay trước mắt tôi như mờ dần đi. Một giọt nước mắt nóng rơi trên mu bàn tay. Ðầu óc tôi phừng phừng.

Hai bàn tay tôi xoắn vào nhau, giày vò lẫn nhau. Tôi muốn đập phá, la hét, kêu gào để trút bỏ niềm đau đớn, phẫn uất đang nung nấu tâm can.

Nước mắt cứ tiếp tục lăn trên má, qua môi, xuống miệng.

Tôi oán trách ông Trời; tôi oán trách Ðại tá Tất; tôi oán trách Tướng Tường; tôi oán trách Trung tá Dậu; tôi tự oán trách tôi.

Chuẩn úy Lê Văn Phước (Ban 3) len lén đến bên tôi. Phước đưa cho tôi cái khăn bông ướt,

– Bình tĩnh lại Thiếu tá! Ðài BBC nói Ban Mê Thuột thất thủ rồi!  Ðánh nhau nhanh như vậy chắc là ít người chết. Nhà hai bác ở xa khu quân sự, hy vọng chị và các cháu không hề hấn gì.

Cái khăn ướt làm mặt tôi bớt nóng. Tôi đứng lên bước hững hờ xuống khu pháo binh cũ, hướng Bắc của bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Từ đây tôi có thể nhìn thấy một vùng rừng rậm xanh rì trải dài về hướng chân trời.

Xa lắm, nơi chân mây hướng Ðông Bắc là Ban Mê Thuột, nơi đó có gia đình tôi, gia đình của những người lính Kinh, Thượng, Jarai, Rhadé, Bana dưới quyền tôi.

Hai ngày dài buồn thảm nối tiếp trôi qua, tôi không nghe được tin tức gì của Ban Mê Thuột.

Chiều 15 tháng Ba dân chúng từ buôn Bù-Binh hướng Nam, nối đuôi nhau đi về Ngã Ba Kiến-Ðức. Gùi sau lưng, con trước ngực, họ từng đoàn lếch thếch qua mặt đồn tôi đóng, để về Nhơn-Cơ.

Không rõ vì lý do gì, gần tối đoàn người dội ngược trở lại. Tôi cho đám dân tị nạn này tạm nghỉ qua đêm trong cái nhà tranh Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn, sát chân đồi, bên lề đường.

Sáng sớm 16 tháng Ba, trung đội tuần đường của Ðại Ðội 1/82 vừa tới đầu khúc cua chữ “S” cách Kiến-Ðức hơn ba cây số thì đại liên 12.7 ly “choang choác!”  nổ giòn.

Ông Thượng sĩ Y Ngon Near bị phòng không bắn chết nơi đầu dốc. Trung đội tuần đường tháo chạy ngược về hướng Kiến- Ðức.

Từ giờ này Tỉnh Lộ 344 đoạn Kiến-Ðức, Nhơn-Cơ bị cắt.

Xác ông tiểu đội trưởng Y Ngon Near bị bỏ rơi nằm chình ình giữa lộ.

Ngay lúc đó, pháo địch từ hướng Tây Bắc nã khoảng gần 100 viên đại bác 105 ly trên đồi Kiến-Ðức.

Lúc đạn địch rơi, tôi đang thăm khu dân tị nạn để hỏi han họ lý do tại sao họ không về Nhơn-Cơ chiều hôm trước.

Bây giờ thì rõ ràng rồi: địch chặn đường!

Lúc này, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân báo cáo rằng chiến xa địch đang từ hướng Phước-Long tiến về Bù-Binh, nơi ông đang đóng quân. Liên đoàn cho lệnh ông Mẫn rút về với tôi.

Tối đó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân được tôi chia cho phần nhiệm vụ phòng thủ mặt Ðông của Ngã Ba Kiến-Ðức, án ngữ hướng về Nhơn-Cơ.

Ðêm 16 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho Thiếu tá Mẫn nỗ lực vượt qua nút chặn của Cộng Quân để về phòng thủ quận Nhơn-Cơ.

Suốt ngày 17 tháng Ba năm 1975, đạn 12.7 ly nổ rền trời nơi khúc quanh có xác Thượng sĩ Ngon. Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân không tiến được bước nào.

Ðêm xuống, con cáo già Khóa 2 Ðồng-Ðế là Hoàng Ðình Mẫn cho đơn vị chui lòn trong rừng, đánh một vòng rộng về hướng Nam, xa hẳn vùng Việt-Cộng đóng chốt để tìm đường vào phi trường Nhơn-Cơ.

Ông Mẫn đã khôn khéo tránh né đụng độ, và đã hoàn thành nhiệm vụ bắt tay được Thiếu tá Khánh, Quận trưởng Kiến-Ðức ở Căn Cứ Nhơn-Cơ buổi sáng ngày hôm sau.

Mờ sáng 18 tháng Ba năm 1975, súng cối 82 ly của địch từ hướng Tây lại tái pháo kích vào Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Từ tuần lễ nay, đồi Bù-Row bỏ ngỏ. Ðịch đã quay lại chiếm lĩnh cao điểm này. Từ đây, DKZ 75 của chúng liên tục đánh phá khu trung tâm đồi chỉ huy của tiểu đoàn. Thêm vào đó, đạn đại bác 105 ly từ đằng xa phía Bắc, nã không ngừng trên nửa ngọn đồi hướng Bắc, nơi những ụ súng pháo binh đã bỏ hoang từ khi pháo đội 105 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh rút đi.

“Oành! Oành! Oành!”

Ðạn 75 ly theo nhau tóe lửa trên lô cốt Ðông và khu vực quanh cái cây khô cao nghệu giữa đỉnh đồi.

Cây cổ thụ này cao lắm, đứng xa cả cây số mà người ta còn nhìn thấy nó. Nó tồn tại từ khi cơ ngơi của Chi Khu Kiến-Ðức mới được xây dựng lên. Chiến trận nổ ra thì nó trở thành cái mốc cho địch quân điều chỉnh pháo.

Ngày mới tới đây tôi đã có ý định hạ nó xuống, nhưng bận rộn hết việc này tới việc khác, tôi đã quên đi.

Hầm chỉ huy của tôi có hai mái bằng bao cát, lớp trên đã bị bắn sập, đất cát đang tuôn ào ào vào các lỗ châu mai.

Tôi quyết định tụt xuống ngã ba Quốc lộ 14, tạm trú trong cái hầm nhỏ khoét sâu vào vách núi bên Tỉnh lộ 344.

Vừa phóng nhanh ra cửa, tôi vừa ngoắc tay ra dấu cho hai người lính đang ngồi gác đôi,

– Xuống đường!

Như cái máy, Binh nhì Ðức Xì Ke ào lên án ngữ cái cầu thang, còn Binh nhì Ba Rỗ thì kè sát sau lưng tôi, rồi lấy cái thân to lớn của nó che chở cho tôi rời khu chỉ huy sở của tiểu đoàn.

Xuống tới đường, tôi lập tức hạ lệnh cho toán đầu bếp của Câu Lạc Bộ,

– Kéo cổng Ðông! Gài Claymore!

Hiện thời địch đã chiếm lĩnh vùng đồi thấp giữa Nhơn Cơ và Kiến Ðức. Hướng Ðông lại là khu vực tôi dàn quân mỏng nhất. Cấp thời chỉ có cách gài thêm mìn và huy động nhân viên Câu Lạc Bộ tăng cường phòng thủ với tiểu đội cận vệ.

“Xèo! Oành!”- “Xèo! Oành!”

Nghe tiếng rít của đạn bay, tôi lấy làm lạ, vội giơ tay bịt lỗ tai rồi buột miệng,

– Ủa! 122 ly?

Kinh nghiệm cho tôi biết, xưa nay địch chưa bao giờ dùng hỏa tiễn 122 ly hay 107 ly để đánh phá các mục tiêu có diện tích hẹp như các tiền đồn hay căn cứ hỏa lực.

Vậy mà giờ này, trước mắt tôi đúng là 122ly! Không sai!

Trái hỏa tiễn thứ nhất và thứ nhì đã bay ngang qua đầu tôi, rồi rơi trong rừng cây hướng Nam.

“Xèo! Oành!”

Trái thứ ba rơi ngắn hơn, nên cắm trên mặt Tỉnh lộ 344, tóe lửa, khiến cho đất, đá bay rào rào!

Một mảnh hỏa tiễn chém đứt lìa cái cột chính của Câu Lạc Bộ, làm cho mái tranh sụm xuống.

Kế đó, cách tôi chừng hai thước, Binh nhì Ðức Xì Ke đang ôm ngực, đầu chúi về phía trước rồi nằm giãy đành đạch trên mặt lộ.

– Thiếu tá ơi! Thiếu tá ơi… 

Tôi chưa nghe trọn tiếng kêu từ miệng thằng em thì nó đã chết rồi!

Binh nhì Ðức Xì Ke là một tân binh vừa hết bệnh nghiền sau một tuần nằm trong chuồng cọp. Hết bệnh chích choác, Ðức Xì Ke được tôi cho về tiểu đội cận vệ trám chỗ của thằng Thon chết trận Ðạo Trung. Vậy mà chưa được bao lâu, thằng Ðức Xì Ke đã sớm đi theo thằng Thon…

Lúc này từ khu gia binh bỗng có nhiều tiếng trẻ con đua nhau khóc ré lên thật thảm thiết. Tôi vội chạy lại coi có gì xảy ra không thì một chị vợ lính chui ra đường nắm áo tôi khiếu nại,

– Thiếu tá ơi! Hầm trú của tụi em bị mấy người Thượng chiếm chỗ rồi! Tụi em và mấy cháu không biết chạy đi đâu mà núp pháo kích!

Tôi hỏi,

– Có ai bị thương không?

– Dạ không!

Tôi thở ra, rồi la lớn,

– Thôi! Nếu hầm trú ẩn đã bị dân chúng chiếm, thì tất cả mọi người chỉ còn cách nằm úp mặt xuống sát đất tránh pháo. Chắc cũng không lâu nữa thì yên! Ráng chịu đựng đêm nay, mai tôi sẽ xin trực thăng chở gia đình các chị và các cháu ra Gia- Nghĩa.

Lúc này pháo của địch vẫn tiếp tục rơi trên đồi chỉ huy, nhưng không thấy thêm trái 122 ly nào cả.

Sáng nay tôi không cho lệnh phản pháo tức thời như vẫn làm thường lệ khi bị địch pháo kích. Tôi cùng toán hộ tống chạy thẳng lên đỉnh ngọn đồi hướng Tây do Ðại Ðội 2/82 trấn giữ. Từ đây tôi có thể chấm chính xác 3 vị trí cối 82 ly và nơi phụt khói 75 ly của địch. Tôi cho trung đội Pháo Binh Biên-Phòng đang ở với tôi và Pháo Binh Diện Ðịa Nhơn- Cơ mười phút để lột vỏ 400 quả đạn và chuẩn bị yếu tố tác xạ trên bốn vị trí tôi đã chấm.

Ðại Ðội 2/82 được lệnh di chuyển tiến đánh hai khẩu cối 82 ly đặt gần, ngay sau lưng một ngọn đồi trọc hướng Tây.

Ðại Ðội 2/82 đang thiếu đại đội trưởng. Trước Tết Dương Lịch, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 là Trung úy Võ Hữu Danh, khóa 25 Võ Bị, khai bệnh sốt rét, phải đi nằm nhà thương, nên Ðại Ðội 2/82 tạm thời do Chuẩn úy Gấm cầm đầu.

Trung úy Trần Văn Ðăng, Sĩ quan Tiếp liệu của tiểu đoàn xin tôi cho anh chỉ huy Ðại Ðội 2/82 trong lần ra quân này.

Tôi ái ngại,

– Chú nghĩ sao mà xin đi đánh cú này?

Ðăng nghẹn ngào,

– Vợ con em ở hậu cứ. Hậu cứ mất rồi. Em còn gì đâu? Thiếu tá cho em trở lại đại đội cho quên chuyện gia đình.

Tôi tần ngần,

– Ừ! Cậu đã muốn thế thì tôi cũng okay! Thôi đi đi!

Tôi đứng trên đồi nhìn theo bóng dáng cao gầy của Ðăng đang lẫn vào rặng cây xanh.

Hồi 1969-1970, khi tôi còn làm Ban 2 và Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân thì Chuẩn úy Trần Văn Ðăng là Trung đội trưởng ở Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân dưới quyền một anh bạn cùng khóa của tôi.

Khi tôi nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì Ðăng đang là Trung úy Ðại đội trưởng của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Ngày đó anh có gặp và xin tôi nhận anh về làm việc với tôi, tôi từ chối vì đơn vị tôi đã đủ sĩ quan đại đội trưởng.

Sau đó Trung úy Ðăng bị thương, đứt một khúc ruột, chờ ra Hội đồng Y khoa để chuyển sang bộ binh, làm Thương Binh Loại 2 Yểm trợ.

Ðăng lại gặp tôi và tình nguyện làm sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn cho tôi để anh còn được tiếp tục ở lại phục vụ binh chủng Biệt Ðộng Quân. Lần này tôi chấp thuận.

Ðăng xin xuất viện về làm việc dưới quyền tôi đã được gần một năm.

Khi cánh quân của Ðại Ðội 2/82 báo cáo còn cách mục tiêu gần hai trăm mét thì tôi cho lệnh pháo binh khai hỏa. Ðạn đi! Mỗi mục tiêu một trăm quả hỗn tạp.

Và chỉ năm phút sau khi đạn rơi, tiếng M16 nổ rộ như pháo ran, chêm vào là những tiếng M 79. Khói súng và bụi che mờ một nửa ngọn đồi.

Thoáng chốc, hai khẩu cối 82 ly đã đổi chủ, từ Trung Ðoàn E271/ T10 của Quân Khu 6/ Cộng-Sản Bắc Việt sang Ðại Ðội 2/Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Tôi chợt nghe AK và đại liên nổ rền trong thung lũng.

Tôi hỏi Ðăng,

– Ê! Delta! ngoài tiếng AK còn tiếng đại liên. Ðại liên của cậu hay của địch vậy?

(Danh hiệu truyền tin của Trung úy Ðăng là Delta.)

– Của tụi nó đó Thái Sơn! Em đâu có đem theo M 60!

Tôi cho lệnh Ðại Ðội 2/82 rút lui,

–  Delta đây Thái Sơn! Cuốn gói! Ðừng về đường cũ! Hãy theo hướng ba ngàn hai trăm! Tôi với thằng An Bình đón cậu trên đường. Tôi lặp lại! Ba ngàn hai trăm! Nghe rõ chưa?

– Ba ngàn hai! Nhận 5!

Nếu trở về đường cũ thì Ðại Ðội 2/82 sẽ phải qua một cái thung lũng, và hai khẩu đại liên địch không để cho họ dễ dàng rút về an toàn trên đoạn đường gần 2 cây số rừng lau.

Ðại liên địch cứ nổ giòn, đạn lửa đan chéo nhau trong thung lũng. Tôi nghĩ địch bắn hoảng, bắn tiều, chứ chúng chẳng rõ Biệt Ðộng Quân đang ở chỗ nào!

Tôi chấm vị trí hai khẩu đại liên địch và giao cho Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu đoàn phó. Ông Hoàn và Thượng sĩ Năng, trưởng khẩu 81 ly sẽ rót cối vào đầu chúng!

Từ hướng Bắc, đạn đại bác 105 ly địch lại rơi tới tấp trên đồi chỉ huy của tiểu đoàn.

Với đại bác 105 ly thì vô phương! 105 ly của khối Cộng đã bắn dài hơn 105 ly của ta, mà súng của ta lại đặt sau hậu quân. Hai khẩu đại bác 155 ly của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tăng cường cho tôi đã bị Tiểu Khu Quảng-Ðức đòi lại từ hai tuần lễ trước.

Hiện thời, không súng nào của tôi với tới được vị trí súng của chúng.

Thôi! Cứ để cho nó tác oai tác quái, chưa hề hấn gì!

Nửa giờ sau tôi và An Bình (An Bình là danh xưng của Trung úy Trần Văn Phước) cùng một trung đội thuộc Ðại Ðội 3/82 tiếp xúc được cánh quân đầu của Trung úy Ðăng. Ðại Ðội 2 đã hoàn tất nhiệm vụ mà không bị tổn thất nào. Thẩm quyền Delta là một trong những người đi đoạn hậu của Ðại Ðội 2/82.

Tôi thấy Trung úy Ðăng vừa thở, vừa cười hì hì khi leo lên mặt Quốc lộ 14.

Vừa gặp mặt tôi Ðăng đã oang oang,

– Có ngay hai khẩu 82 ly cho Thái Sơn đây!

Sau lưng Trung úy Ðăng là hai anh lính Thượng đang hì hục vác 2 cái nòng súng cối 82 ly. Hai ông lính Jarai hớn hở khoe,

– Cái ông Thiếu tá ơi! Tụi Việt-Cộng này đánh nhau dở lắm! Chưa chi đã bỏ súng mà chạy! Dở hơn mấy thằng đánh nhau với mình ở Trà-Ku nhiều!

Tôi cười,– Mấy hôm nữa tụi mình lại về Trà-Ku. Mấy chú có nhớ Trà-Ku không?

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Apr 2021

Post by Sơn râu 20 Aug 2023

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 1

Giữa tháng 2 năm 1975, tôi lái xe từ đồn Kiến-Ðức, Quảng-Ðức lên thăm Ðại tá Biệt Ðộng Quân Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum tại căn cứ Non Nước, khoảng 10 cây số Bắc Kontum.

Ðêm đó thầy trò tôi nằm bên nhau, hàn huyên tới khuya.

Tôi được Ðại tá Tất cho đọc bản cung từ của một hồi chánh viên Việt-Cộng.

Bản cung từ này do Ðại úy Vũ Quang Dũng của Trung Tâm Thẩm-Vấn/ Phòng 2/ Quân Ðoàn II thiết lập.

Người hồi chánh là một Thượng sĩ Trưởng mũi thám sát của Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt.

Anh ta khai rằng, hai tháng nữa sẽ có một cuộc tấn công đại quy mô của Cộng Quân nhằm giải phóng thị xã Ban Mê Thuột. Anh ta còn kê khai ra những tổn thất của Sư Ðoàn 320A Cộng- Sản Bắc Việt trong trận đánh 33 ngày đêm vây hãm Pleime tháng 7&8 năm 1974. Trận này Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A chủ công đã bị thiệt hại rất nặng, mỗi đại đội chỉ còn khoảng 17, 18 cán binh. Ðơn vị này phải về hậu cứ gần biên giới Việt Miên để bổ sung quân số rồi chuyển vùng hoạt động.

Ðêm đó tôi có nói với Ðại tá Tất rằng,

– Thằng 48 đã bị tôi đánh xiểng liểng hai lần. Kỳ này Tư Lệnh cho tôi về phòng thủ Ban Mê Thuột, tôi sẽ có dịp “cưa” với nó một lần nữa. Ðại tá yên chí! Nếu tôi chưa chết thì Ban Mê Thuột chưa lung lay. Tôi cam đoan với Ðại tá như vậy!

Tôi thực lòng mong muốn được về giữ thành phố này. Vì cha mẹ, vợ con, anh em tôi, và gia đình binh sĩ đơn vị tôi sinh sống ở đây.

Ông Tất cười cười trả lời,

– Cậu đừng lo! Ông Phú đã giao cho ông Tường vụ này rồi!

(Ghi chú: Ông Phú = Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Ông Tường = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh)

Tôi cũng được ông Tất cho biết rằng Sư Ðoàn 23 Bộ Binh sẽ án ngữ tại Buôn Blech, có thể dễ dàng di động giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.

Tiếp đó Ðại tá Tư Lệnh “bật mí” cho tôi một tin vui: Vài tháng nữa Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi sẽ được tăng cường để có quân số trên 800 người, với một hệ thống ngang 16 máy truyền tin, gồm đủ Trinh Sát, Viễn Thám cùng một đại đội chỉ huy và bốn đại đội tác chiến. Tiểu đoàn tôi sẽ xuất phái khỏi Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân để làm lực lượng xung kích dưới quyền Tư Lệnh Mặt Trận Kontum.

Hôm sau, trước khi từ giã Ðại tá Tất, tôi có đi quanh một vòng thăm Trung tá Lê Tất Biên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân và vài người bạn đang tham gia phòng thủ vùng Bắc Kontum.

Thiếu tá Thi, liên đoàn phó Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân hướng dẫn tôi đi quan sát vị trí bố quân của liên đoàn.

Tôi thấy mặt trận ở đây có vẻ còn yên tĩnh hơn vùng Ngã Ba Tam-Biên-Nam (Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ) mà tôi đang trấn giữ.

Trên đường về Quảng-Ðức, tôi ghé Ban Mê Thuột thăm tiền cứ của tiểu đoàn, rồi về nhà nghỉ với vợ con tôi một đêm.

Buổi sáng ngày kế đó, tôi vào tiệm Phở Tây-Hiên, ăn điểm tâm trước khi lên đường. Lúc tôi sắp lên xe thì người lính già mới giải ngũ Dương Ðức Mai (cựu Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân) xuất hiện giữa phố, giơ tay vẫy,

– Chào người hùng Pleime! Ghé tệ xá cho tôi hỏi thăm đôi lời đi ông Quan Tư!

Tôi và bác Mai là chỗ rất thân tình. Chúng tôi đã nhiều năm làm việc chung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2.

Tôi theo chân bác, vào thăm nhà bác. Nhà bác Mai ở kế hàng rào Sân Vận Ðộng Ban Mê Thuột.

Vào tới sân, cựu Trung tá Dương Ðức Mai, thật nghiêm nghị, hỏi tôi,

– Theo ý cậu, tụi Việt-Cộng có dám đánh Ban Mê Thuột hay không?

Vừa nâng niu những giò lan rực rỡ trên giàn, tôi vừa hùng hồn cam đoan với người chỉ huy cũ.

– Bác cứ yên chí lớn! Ông Tường sẽ bảo vệ Ban Mê Thuột, ông Tất nói vậy, bác đừng lo!

Bác Mai nhìn tôi, dọ dẫm,

– Thế ông gia, bà gia và vợ con cậu không di chuyển đi đâu sao?

Tôi cầm tay bác, trấn an bác,

– Có thể địch sẽ tấn công, nhưng chắc chúng không làm nên sự việc gì đâu. Gia đình tôi còn ở đây, đủ hết, cha mẹ, anh em, vợ con tôi, vợ con binh sĩ tiểu đoàn tôi.

Tới đây thì bác Mai có vẻ yên tâm.

Tối trước, khi thấy bố vợ tôi âu lo vì những tin đồn địch sẽ tấn công, tôi nói với ông cụ rằng, một cặp chỉ huy dày dạn chiến trường Tường & Luật đủ bảo đảm cho sự đứng vững của thành phố nhỏ bé này rồi.

(Ghi chú: Tường&Luật = Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh & Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng Darlac).

Nghe tôi mạnh miệng, bố vợ tôi mới hết lo lắng.

Bố vợ tôi cũng là một cựu Trung tá của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh vừa giải ngũ được hơn một năm.  Ông cụ và bác Dương Ðức Mai là bạn khá thân.

Sau khi chuyện trò một lúc, tôi bắt tay từ giã người cựu Liên đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Dương Ðức Mai, rồi lên đường.

Vài ngày sau, ở Kiến- Ðức, tôi chợt nhớ ra rằng, bản cung hồi chánh đã cũ, và nếu đúng theo diễn tiến mà anh Thượng sĩ của Trung Ðoàn 48/SÐ 320 A/ Ðiện-Biên đã khai, thì giữa tháng Ba tới, địch sẽ triển khai chiến dịch tấn công Ban Mê Thuột.

Tôi lại nghe tin A 2 phổ biến từ Phòng Nhì/ Quân Ðoàn II thông báo những chỉ dấu chuyển quân của Việt-Cộng từ biên giới Việt Miên về vùng ven căn cứ biên phòng Bản-Don.

Tôi biết rất rõ về Trung Ðoàn 48/ Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản Bắc Việt, đơn vị chủ công sẽ đánh Ban-Mê-Thuột.

Tôi tin tưởng rằng đơn vị tôi đủ sức đương đầu với chúng. Trong quá khứ, đơn vị tôi đã hai lần chạm trán với trung đoàn Cộng Sản này ở căn cứ 711 Pleiku (tháng Tư 1974) và ở căn cứ biên phòng Pleime (tháng 7&8 năm 1974).

Mối quan tâm của tôi là, gia đình tôi và đa số gia đình binh sĩ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đều ở Ban Mê Thuột. Tôi vội thảo gấp một cái công điện gởi thẳng cho hai nơi, một cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Biệt Ðộng Quân/ Quân- Khu 2 đang ở Kontum, một cho Bộ Tư Lệnh /Quân Ðoàn II ở Pleiku. Tôi xin thượng cấp cho phép Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được rời Kiến-Ðức, Quảng-Ðức để về phòng thủ Ban Mê Thuột.

Vì đây là điện văn riêng, nên tôi không gởi theo hệ thống dọc qua Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và qua Bộ chỉ huy Tiểu Khu Quảng-Ðức mà chúng tôi đang tăng phái. Nhưng Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân rõ chuyện này, vì tôi có tâm sự với ông, ông rất thông cảm hoàn cảnh của tôi.

Tôi chờ đợi từng ngày. Không ai trả lời bức điện thỉnh cầu của tôi vì nó là một điện văn gửi vượt hệ thống quân giai, hoàn toàn sái nguyên tắc.

Những khi hành quân xa, tôi thường đặt đài tiếp vận để tiện liên lạc với hậu cứ. Những tiểu đoàn bạn, đôi khi cả bộ chỉ huy liên đoàn cũng vào tần số đài này nhờ chuyển tin.

Sáng ngày 9 tháng Ba năm 1975, đài tiếp vận “Tam Quái 82” của tôi đặt trên căn cứ hoả lực Núi Lửa, Ðức-Lập báo cáo rằng địch đang pháo kích vào Chi Khu Ðức-Lập. Tới gần trưa thì chính căn cứ Núi Lửa cũng bị địch pháo kích và tấn công bằng bộ binh.

Xế chiều, tôi nghe anh binh nhì trưởng toán tiếp vận báo cáo bằng bạch văn lời cuối,

– Thiếu tá ơi! Tam Quái chắc tiêu ma đợt này rồi Thiếu tá ơi!”

Sau đó tôi không còn nghe được gì nữa.

Tôi thường gọi mấy anh Biệt Ðộng Quân của Tiểu Ðoàn 82 giữ máy tiếp vận trên đỉnh Núi Lửa là “Tam Quái”. Chỉ vì toán này gồm ba anh lính có tật, một anh cà thọt, một anh điếc, và một anh thong manh. Anh điếc nấu cơm, hai anh kia trực máy truyền tin.

Những năm sau này, quân số thiếu hụt, những người có tật cũng bị bắt đi quân dịch, mà Biệt Ðộng Quân lại thiếu người, nên rất dễ dãi vấn đề tuyển quân. Biệt Ðộng Quân nhận tất cả quân nhân bổ sung từ bất cứ nguồn nhân lực nào.

Chúng tôi được bổ sung quân số từ Trung Tâm Nhập Ngũ Số 3 chuyển qua Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, từ Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, từ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, và từ Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương, Nha-Trang với những người lính vừa mãn án tù, kể cả Lao Công Phục Hồi.

Tôi không chê bất cứ ai trình sự vụ lệnh về phục vụ đơn vị mình. Thong manh, cà thọt, mẻ sứt, kể cả ma túy, xì-ke tôi nhận tuốt! Những quái nhân này ở tiểu đoàn tôi chỉ ít lâu sau đã thành những con người mới. Người nào có việc nấy, tôi cứ áp dụng lời khuyên của người chỉ huy cũ, Trung tá Bùi Văn Sâm:

“Viên đạn nào cũng bắn vào đầu địch. Chỉ cần người lính chịu bóp cò là được rồi. Xấu trai mà dám bóp cò, còn hơn đẹp trai mà ra trận chưa nghe súng nổ, mắt đã láo liên. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn!”  

Vì thế mà quân số tiểu đoàn tôi lúc nào cũng đông hơn tiểu đoàn khác.

Lính cà thọt không chạy nhanh được, cho họ làm tiền đồn. Cà thọt đóng chốt thì khỏi lo mất chốt.

Lính thong manh, không canh gác được thì cho trực truyền tin, nấu cơm.

Lính điếc thì cho tải đạn cối 81 ly, cối 60 ly, SKZ 57 ly. Lính điếc mà bắn cối hay SKZ thì nhất! Ðiếc đâu cần bịt lỗ tai!

Xì-ke nghiện ngập cũng dễ chữa thôi! Tôi lúc nào cũng dùng lời khuyến dụ êm ngọt trước, dùng võ lực sau. Anh nào không nghe lời nhỏ nhẹ bỏ nghề chích choác thì tôi mời vào connex nằm chơi. Ngày này qua ngày khác, chỉ có món nước đường do Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Ðại đội trưởng đại đội công vụ tiếp tế. Những ngày đầu thiếu thuốc, dân choác khổ sở, vật vã vô cùng. Dăm ba ngày sau quen dần, quen dần… Người nghiện nặng cách mấy cũng chỉ một tuần là phải từ giã ống chích, kim tiêm, khỏi bịnh!

Theo lời dạy của cổ nhân, “Dụng nhân như dụng mộc”, tôi sắp xếp người của tôi vào công việc phù hợp với họ; trên dưới đề huề, thương nhau.

Những năm sau cùng, không khí sinh hoạt trong đơn vị tôi (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) là thế đấy!

Tin Tam Quái trên Núi Lửa bị mất liên lạc làm cả ban tham mưu tiểu đoàn buồn rầu.

Sáng 10 tháng Ba năm 1975, bộ chỉ huy liên đoàn báo cho tôi biết tin địch đang pháo kích vào tiền cứ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ở Ban Mê Thuột. Tiền cứ này nằm sát trại Thiết-Giáp trên đường đi Bản-Ðôn. Người chỉ huy tiền cứ của liên đoàn là Thiếu tá Lê Ðình Hồng đã bị thương nặng.

Hậu trạm của tiểu đoàn tôi ở Ban Mê Thuột cũng có mặt sáu người là, Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng, Chuẩn úy Lê Hữu Ðức, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Lao công Phan Thành Hoàng, và ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ. Không rõ tình trạng của các ông này ra sao?

Tới trưa thì có tin chiến xa Việt-Cộng nối đuôi nhau chạy rầm rầm giữa trung tâm thị xã. Mọi cuộc đàm thoại vô tuyến bị đứt đoạn vì không có đài tiếp vận.

Liên lạc giữa Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân từ Gia-Nghĩa với tiền cứ Ban Mê Thuột bằng các hệ thống máy tầm xa như VRC 67 và PRC 74 cũng đột nhiên chấm dứt.

Ðêm đó đài BBC loan tin Ban Mê Thuột thất thủ. Tôi và cả ban tham mưu tiểu đoàn bàng hoàng, vì tiền cứ của tiểu đoàn tôi cũng như gia đình binh sĩ đều ở thành phố này.

Ngày 11 tháng Ba năm 1975, tôi nghe được tiếng Ðại tá Phạm Duy Tất trên tần số. Ông Tất đang bay trên trời Ban Mê Thuột và gọi tôi.

Tôi hỏi ông về địch tình, về phản ứng của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.

Ðại tá Tất buồn rầu trả lời:

“Ông Tường không đủ sức ngăn chúng nó toa ơi! Bây giờ chỉ còn hy vọng thằng Dậu cố gắng cứu vãn tình thế. Không biết có được hay không?”

(Ghi chú: Thằng Dậu= Trung tá Lê Quý Dậu)

Trung tá Lê Quý Dậu là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân.

Ông Dậu mới lên chỉ huy liên đoàn được hai, ba tháng, thay thế cho Trung tá Nguyễn Lang (Lang Trọc) vừa giải ngũ.

Tôi cố nài nỉ ông chỉ huy trưởng,

– Trường An cho phương tiện bốc tôi về Ban Mê Thuột đi! Trường An ơi! Vợ con tôi ở đó! Vợ con lính của tôi ở đó!

Trường An là danh hiệu truyền tin của Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Lúc đó tôi nghẹn lời. Bên tôi, người Sĩ quan Tiếp liệu tiểu đoàn, Trung úy Trần Văn Ðăng mắt cũng đỏ hoe.

Tôi tỉnh người khi nghe ông Tất hứa hẹn,

– Rồi! Ta sẽ nói lại với Số 1 (Thiếu tướng Phạm Văn Phú) để bốc Thái-Sơn về!

Thái-Sơn là tên riêng của tôi, tôi mang tên này từ khi còn phục vụ ở Tiểu Ðoàn 11/ Biệt Ðộng Quân, Pleiku, thời 1967-69.

Ðược lời như cởi tấm lòng. Tôi quyết định rút trung đội tiền đồn của Ðại Ðội 4/82 trên đồi Bù-Row cách 3 cây số hướng Bắc về.

Tôi cũng gọi sĩ quan đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đang tăng cường cho tôi lên gặp tôi.

Tôi dặn dò anh kỹ càng những điều phải làm để phòng thủ Ngã Ba Kiến-Ðức thay cho Ðại Ðội 1/82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu úy Ðặng Thành Học, nếu chúng tôi có trực thăng bốc đi.

Tiếp đó tôi cho tiểu đoàn chuẩn bị hai ngày cơm vắt, vũ khí, đạn dược sẵn sàng.

Sau khi lệnh chuẩn bị hành quân của tôi được thông báo tới mọi cấp trong đơn vị, tôi nghe tiếng bàn tán xôn xao trong các túp lều và bên giao thông hào.

Niềm háo hức hân hoan lộ rõ trên những khuôn mặt sạm nắng.

Những người lính gốc Rhadé, Jarai dưới quyền tôi đã lâu, nên qua nụ cười, ánh mắt của họ, tôi hiểu rằng lúc đó họ đang vui sướng vô cùng.

Suốt ngày 12/3/75 tôi không nghe tiếng Ðại tá Tất trên máy, nhưng tôi liên lạc được một phi công đang quan sát trên trời Ban Mê Thuột.

Tôi nhờ anh ghi nhận và chuyển cho tôi những gì anh nhìn thấy dưới chân anh.

Tôi mô tả con đường Hàm Nghi cạnh nhà thờ Vinh-Sơn, là nơi gia đình tôi cư ngụ và khu tiền trạm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Sau hồi lâu quan sát, anh cho tôi biết rằng cả hai nơi đều nằm trong màn khói đen mù mịt. Buồn quá, tôi ngồi trước cửa hầm, ôm cây đàn guitar. Tay tôi chỉ bấm một cung Mi Thứ; tôi lần mò một bài tình ca buồn.

Damber_Vùng đất lạ chôn vùi thân bách chiến

Đoàn Phương Hải

Posted by KiwiTeTua  October 29, 2019

Mũ Đỏ, Mũ Đen…..
Post by Sơn râu 19 Aug 2023

Tưởng nhớ anh Năm Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Đức Dũng, và những anh hùng Mũ đỏ, mũ đen đã vị quốc vong thân tại Damber.
Gửi N/T Bùi văn Lộc – Lê Văn Mễ, Phạm Đức Hùng, Phan Cảnh Cho, và những chiến hữu Mũ đỏ, Mũ đen, Công binh… đã tham chiến tại Damber để nhớ những ngày ngút ngàn máu lửa.

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (phải), Tiểu đoàn Trưởng cùng tác giả, Đại Uý Đoàn Phương Hải (trái), Sĩ quan Hành Quân, thuộc Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tại Damber, Campuchia 1971

Với sự yểm trợ, tiếp tay không giới hạn của khối Cộng Sản Nga, Tầu, Cộng Sản Việt Nam xua hàng chục Sư đoàn bộ binh cùng hàng ngàn xe tăng đại pháo quyết tâm xâm chiếm nhuộm đỏ miền Nam.

Hàng chục ngàn dân lành vô tội đã chết tức tưởi, oan khiên trong dịp Tết Mậu Thân, trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, trên phố trên nhà, trên ruộng trên nương vì bom đạn. Quê hương dân tộc quặn mình trong bão lửa chiến tranh. Để ngăn cản giặc thù, Quân Lực miền Nam đã anh dũng chống trả giặc thù trên khắp 4 vùng Chiến Thuật. Không một địa danh nào có bóng Cộng quân mà không có gót giầy của người lính miền Nam tìm tới truy lùng tiêu diệt.
Nhằm phá vỡ hậu cần, an toàn khu của địch trên lãnh thổ Kampuchia. Giữa năm 1970 quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã liên tiếp truy kích, tiêu diệt địch trên lãnh thổ của xứ Chùa Tháp. Đầu năm 1971 các lưc lượng thiện chiến đã vượt biên đánh sang Hạ Lào, phá vỡ, tiêu diệt toàn bộ kho tiếp liệu, hậu cần, đại bản doanh, an toàn khu của Cộng sản Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng hành quân, vừa từ Hạ Lào trở về, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo K14 Võ Bị, mang theo hơn chục năm kinh nghiệm chiến trường từ Lữ đoàn I Nhảy Dù được lệnh về chỉ huy Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù.
Sau thời gian ngắn chỉnh trang đơn vị, để ra mắt khai quân, 11 Dù đã trực thăng vận tiêu diệt gọn 2 Tiểu đoàn Cộng quân bao vây căn cứ Hưng Đạo trên quốc lộ 22 chạy dài từ tỉnh lỵ Tây Ninh đến biên giới Việt Miên. “Song Kiếm Trấn Ải” 11 Dù tiến quân vào căn cứ trong tiếng reo hò, mừng tủi của anh em binh sĩ và gia đình sau hơn 2 tháng bị Cộng quân tấn công, bao vây và pháo kích đêm ngày.

Ban Tham Mưu/Hành Quân chiến trường Damber 08/1971

Chiến thắng ngoạn mục đầu tay của quan Năm Nguyễn Đình Bảo làm nức lòng binh sỹ, mang khí thế mới về cho đơn vị. Thừa thắng xông lên 2 Tiểu đoàn 11 và 5 Dù tiếp tục hành quân tiêu diệt địch quanh trại Lực Lương Đặc Biệt Thiện Ngôn, Lò Gò, Xóm Dứa, Xa Cát và Xa Cam. Cuối tháng 10/1971, đang hành quân quanh căn cứ hoả lực Pace ngay sát biên giới Việt Miên thì 11 Dù được lệnh tùng thiết với Thiết đoàn 18 Kỵ binh vượt biên tiến chiếm mật khu Damber trên đất Kampuchia. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, đất bụi đỏ ngầu, thì trên pháo tháp chiến xa, bên dàn máy truyền tin tua tủa “ăng ten” ngắn, dài, một người lính tầm thước với khẩu Colt 9 vắt ngang chiếc áo thung xám ngay trước ngực, đang sang sảng ra lệnh, chỉ huy. Đột nhiên ông giơ tay chào rồi nhảy xuống xe khi thấy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn Trưởng TĐ11/ND đứng dưới gốc cây đang giơ cao tấm bản đồ. Hai người lính phong trần siết chặt tay, nhìn nhau rồi cùng phá ra cười.
– Niên trưởng “Đại Lộc”, lâu lắm anh em mình mới làm ăn chung, kỳ này vào Damber, chắc gay lắm phải không?
– Damber thì lúc nào chả gay, khúc xương khó nuốt, an toàn khu, bản doanh đầu não của Công trường 7 và 9 địch quân. Năm ngoái Thiết đoàn tôi và Mũ nâu Biệt động quần thảo suốt mấy ngày đêm với Trung đoàn Cộng quân tại “Miếu ông Sành”. Kỳ này mình phải nghiền nát Damber ra mới được!
Quan Năm mũ đỏ vung tay tự tin, rồi quay sang giới thiệu Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh, Thiếu Tá Bùi Văn Lộc Khóa 13 Võ Bị với Mễ, tôi, các Đại đội Trưởng và ông Lang Tây Tô Phạm Liệu.
Xếp Mũ đen với biệt danh “Tầy Quầy”, lừng danh trận mạc trong binh chủng, người đẫy đà, da đen sạm vì phong trần, sương gió, cất tiếng cười sang sảng, quay sang bắt tay chúng tôi.
Tình tự Võ Bị từ ngày nhập trường ăn cơm lính, cho nên dù xếp Mũ đỏ, khóa 14, lon tuy cao hơn, nhưng vẫn một điều “Niên trưởng, hai điều Niên trưởng”, xưng hô với xếp Mũ Đen.
Đang đấu hót tưng bừng thì ông đàn anh Khóa 6 Võ Bị, Đại Tá Trần Quang Khôi, Chỉ huy Trưởng Thiết Giáp Vùng III Chiến Thuật đáp trực thăng xuống ngay trận địa.
Trải rộng tấm bản đồ hành quân với chi chít tình hình, trục tiến quân xanh đỏ của ta và địch, Đại Tá Khôi bàn luận kế hoạch hành quân, vạch rõ mục tiêu là phá hủy hậu cần, tìm và tiêu diệt cho được Bộ Chỉ Huy Công trường 7 Cộng quân đang có mặt tại Damber. Thung lũng Damber dài gần hai chục cây số bên liên tỉnh lộ 75 và quốc lộ 7 trên đất Miên, nằm lọt trong những cánh rừng trùng điệp cây cao rậm rạp bao quanh. Tuy nhiên địa thế Damber lại tương đối trống với rất nhiều gò mồi, cây cối lúp súp, phủ đầy cây leo rậm rạp nhưng không cao quá đầu người. Băng ngang thung lũng là một con suối khá lớn, mùa này nước đã cạn nhưng đất rất dễ bị lún, gây khó khăn cho chiến xa di chuyển.

Trên Quốc Lộ 7, nhiều toán Công Binh Chiến Đấu, xe ủi đất của ông đàn anh Lâm Hồng Sơn mới gặp khi đi họp hành quân, đang vất vả phá hủy mìn bẫy, sửa chữa cây cầu chiến lược trên trục tiến quân.
Đoàn cua sắt trải rộng đội hình ào ào băng ngang những cánh đồng cỏ non. Làng mạc thôn xóm thanh bình, hiền hòa sau lũy tre, bên những hàng thốt nốt hoa trắng như hoa cau, cao thẳng, ngả nghiêng theo gió nổi bật trên nền trời.
Lính Dù không phải lội bộ nên thích thú cười đùa trên chiến xa, đang tiến quân như chẻ tre, càn quét qua các mục tiêu. Sau khi lục soát quanh căn cứ hỏa lực Hồng Hà ngay Ngã Ba Liên Tỉnh Lộ 75 và Quốc Lộ 7, thì lực lượng xung kích Dù và Thiết Kỵ chia làm 2 cánh. “Mê Linh” Lê văn Mễ , Thiếu Tá Tiểu đoàn Phó TĐ11ND và Đại Đội 114 của Trung úy Phan Cảnh Cho, phối hợp với Thiết vận xa M 113 giải tỏa, thanh toán áp lực địch đang ngày đêm pháo kích, bao vây tấn công căn cứ hỏa lực Hồng Hà. Sẵn sàng tiếp ứng cho mũi xung kích của Trung Tá Bảo và Thiếu tá Lộc đánh thẳng vào mật khu Damber. Xếp Mũ Đen có vẻ thắc mắc, ngạc nhiên khi thấy chúng tôi lúc nào cũng “Anh Năm, Anh Năm” xưng hô với xếp Mũ Đỏ, mà không gọi bằng cấp bậc.

– Mấy chú em trong đơn vị ít khi kêu tôi là Trung Tá, lúc nào cũng xưng hô là Anh Năm, Anh Năm! Nghe mãi thành quen, thân mật, gần gũi như anh em trong nhà.
Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Ngọc Hùng, Phạm Đức Hùng, Ba Đại úy Đại Đội Trưởng lừng danh Mũ Đỏ, dầy dạn chiến trường, cùng xuất thân Khóa 22 Võ Bị, đang phối hợp với 2 Chi Đoàn Trưởng Mũ Đen lừng danh trận mạc là “Bắc Đẩu” và “Phi Điểu” ào ào tiến quân trực chỉ Damber.
Địa thế vùng hành quân bắt đầu thay đổi khi một số chiến xa M 41 bẵng qua cây cầu lớn trên Liên Tỉnh Lộ 75 vừa được Công Binh sửa chữa. Ngay dưới cầu là một con suối khô, chạy từ Đông sang Tây ngang qua thung lũng Damber. Địa thế trở ngại cho chiến xa khi phải băng qua khu vực thấp và lún dưới lòng suối cạn, nhưng với thiết vận xa M113 thì không có gì trở ngại.

Với cái nhìn sắc bén, tinh nhậy của nhiều năm xông pha trận mạc, đàn anh mũ đỏ, mũ đen nhận ra ngay đây là tử điểm quyết định chiến trừơng, nên quyết định lựa một Trung đội Nhảy Dù gồm toàn những tay súng gan dạ, kinh nghiệm cùng mình, và Sĩ quan liên lạc Pháo Binh nằm lại để nghe ngóng tin tức địch quân.

– Địch sẽ phục kích tại đây khi Chiến đoàn kéo quân trở ra! Mình sẽ dùng không quân, trận địa pháo và hỏa lực hùng hậu của Thiết Giáp nghiền nát chúng tại đây!

Vài hình ảnh về Anh Năm mũ Đỏ Nguyễn Đình Bảo, Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tại Damber, Campuchia, 08/1971

Anh Năm gật gù cười, khoái trá nói với chúng tôi, giống như khi anh nheo mắt mó trúng con nhất vạn, ngửa bài ù toàn hàng trong canh Mạt Chược trên đồi Mũ Đỏ, hay những lần đóng quân trong vườn Tao Đàn đầy cây cao bóng mát, nườm nượp “khách giang hồ” lui tới ghé thăm. Sau cả ngày tiến quân, tiêu diệt vài toán trinh sát nhỏ của địch. Chiến đoàn đóng quân quanh ngôi chùa cổ.

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (đeo kính) chỉ huy cuộc hành quân tiến chiếm Damber Campuchia tháng 8 1971

Đại Tá Trương Vĩnh Phước Cùng Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại Damber
“Tubip” Liệu, anh Năm và tôi, ngồi trên M113, nhìn nắng chiều trải những giải mây ngũ sắc giăng ngang lũy tre, vắt ngang mái chùa cong, nhuộm hồng khu nhà sàn trong xóm. Xa xa, trên bờ đê, lũ trẻ mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu bên mấy nhà sư áo vàng nổi bật trên cánh đồng nhuộm ánh tà dương đang lững thững về làng, trông thật thanh bình, êm ả. Nếu không có chiến xa gầm thét, không có xích sắt quần nát ruộng nương, không có vỏ đạn đồng rải sáng bờ đê, xác người cong queo trên ruộng vườn kinh lạch, thì những người dân quê hiền lành kia nào ai biết đến chiến tranh!
Qua khỏi Miếu Ông Sành, (Thiếu Tá Phan Văn Sành K17 Đà Lạt, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 30 BĐQ tử thương khi đụng địch gần ngay miếu. Anh em Mũ nâu tiếc thương đặt tên Anh cho ngôi miếu cổ) là hàng chục xác chiến xa cháy đen nằm rải rác trên cánh đồng. Mũ sắt, giầy trận, nón cối, dép râu vương vãi trên chiến điạ. Thiếu Tá Lộc cho biết hồi đầu năm, hai Trung đoàn chủ lực của địch đã phục kích chiến xa và lực lượng hành quân ngay tại đây, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên.
Lại thêm một ngày bình yên trôi qua, tình hình yên tĩnh một cách đáng ngại. Chưa có chỉ dấu nào là 2 Trung đoàn của Công trường 7 có mặt trong vùng hành quân, theo như không ảnh và tin tức tình báo cấp cao của Quân đoàn ghi nhận.
– Anh Năm, địch cố tình tránh né không muốn đụng?
– Thì chúng cố tình dụ mình vào thật sâu rồi mới dốc toàn bộ lực lượng phục kích khi mình kéo quân ra. Hình như địch đã biết trước kế hoạch hành quân. Liên lạc toán Trinh Sát coi có nghe ngóng động tĩnh gì không? Nhớ ghi kỹ tọa độ, sẵn sàng Pháo Binh yểm trợ cho tụi nhỏ.
Đêm ngột ngạt yên tĩnh trong tiếng kinh, tíếng mõ văng vẳng từ ngôi chùa gần khu đóng quân.
– “Khều”! Năm ngoái, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù đụng ở khu nào vậy?
– TĐ7ND cùng Thiết đoàn 5 của Trung Tá Thoàn là mũi xung kích cho Chiến đoàn 333 đánh qua Soài Riêng, vào Damber đụng lớn ngay trong khu này và thắng một trận lớn ở Phum Longieng.
Có đêm mới 2, 3 giờ sáng, Đại Tướng Đỗ Cao Trí đã đáp trực thăng ngay trận địa, bất ngờ ra lệnh cho Dù và Thiết Kỵ ào ào đánh vào Damber tạo nhiều chiến thắng lớn.
Sau khi góp ý, bàn thảo thêm kinh nghiệm, mọi người im lặng tìm giấc ngủ với những suy nghĩ vẩn vơ.
Tiếng gầm thét của chiến xa, phá tan buổi sáng mờ sương khi ánh dương chưa lên khỏi hàng cây thốt nốt bên lũy tre làng. Tới gần trưa thì lực lượng hành quân đã càn quét hết các mục tiêu chỉ định tại Damber mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể của địch!
Dù và Thiết Kỵ dừng quân quanh ngôi chùa cổ. Vừa bước chân vào sân chùa thì đã thấy sư cụ chủ trì cùng đám dân quê cả trăm người gồm ông già bà cả, đàn bà con nít khóc như ri, đang run rẩy sợ sệt qùy lạy như tế sao.
Chúng tôi ngỡ ngàng vội đỡ tay hòa thượng đứng lên và chắp tay xá lại. Trên khuôn mặt gầy gò, đen sạm già nua, đôi mắt sâu ẩn dưới cặp chân mày bạc trắng nhuốm lên nét chịu đựng đau buồn.
Mặc dù mấy anh lính Miên trong đơn vị đã giải thích cho nhà sư và dân chúng biết mục tiêu của cuộc hành quân là tìm diệt Việt Cộng nhưng họ vẫn vừa lạy vừa khóc!
Hình ảnh ngôi đình, đứa bé đội chiếc mũ nồi đen, nắm chặt tay mẹ bên đám dân làng run rẩy, sợ sệt quỳ lạy đám lính Tây Lê Dương ở nhà quê miền Bắc mấy chục năm trước hồi tôi còn bé chợt thoáng hiện về!
Lịch sử đang vô tình tái diễn. Ngày xưa tôi là một đứa bé ngơ ngác run rẩy, vái lạy đám lính Lê Dưong. Ngày nay tôi đang là một người lính Nhảy Dù đứng nhìn bầy trẻ đói gầy, đen đúa xá lạy chúng tôi trên một quê hương xa lạ!

Tuổi thơ Việt Nam trong thời loạn lạc, sợ xe tăng thiết giáp, vết giầy đinh trên bờ đê, khóc thất thanh khi thấy lửa cuồng bạo đốt cháy xóm làng. Ngày nay, những đứa bé, những người dân Miên khổ nạn kia cũng đang run sợ khi bom đạn đốt hừng hực đốt cháy quê hương!
Thấy dân làng và bầy trẻ nhỏ run sợ, thiếu đói, nghèo nàn bên dăm ba củ khoai, một ít cơm độn bắp với những vết thương máu mủ tanh hôi đang làm độc trên thân thể.
Anh Năm, “Đại Lộc”, ra lệnh cho tiền trạm xin trực thăng chở gạo sấy, đồ hộp, thuốc men vào vùng hành quân.
Xế trưa hôm đó những người lính mũ đỏ, mũ đen, gom dân lại để cấp phát lương thực. Băng bó, chữa trị những vết thương mưng mủ đang làm độc trên mình những người dân khốn khó và những đứa bé đen đúa gầy gò, khổ nạn của chiến tranh.
Nhìn những đôi mắt ngây thơ trẻ dại, rạng rỡ hân hoan nhai kẹo cao su, thè lươĩ liếm môi cho hết chút đường cát trắng, chậm chậm cắn miếng thịt heo. Mắt long lanh, đứng ngẩn người để cảm thấy vị ngọt, mùi thơm đang từ từ tan tận kẽ răng, ngấm sâu vào từng thớ thịt với những nụ cười hồn nhiên ánh mắt vui sướng, trông mới sót sa tội nghiệp làm sao!
Chắc đã lâu lắm chúng mới có một ngày no đủ. Vài đứa bạo dạn lại gần chiến xa, sờ sờ mó mó, khiến tôi nhớ lại hình ảnh tuổi thơ với chiếc quần đùi nâu đứng bên đường số 6, nghếch mũi ngửi cái mùi ngái ngái thơm thơm của dầu săng khi lại gần chiếc xe nhà binh.
Đêm im vắng, trời trong cao, lóng lánh muôn ngàn tinh tú. Văng vẳng tiếng tụng kinh ê a hòa với tiếng mõ khoan thai đều đều của sư cụ và mấy chủ tiểu trên chùa.
Gối đầu lên ba lô, ngả lưng trên nền gạch dưới mái hiên chùa, chúng tôi kể cho nhau nghe những ngày Tây về làng, theo bố, mẹ chạy loạn, tản cư, từ Cống thần, Chợ đại về tới Phủ Lý, Hà Nam….
Quê hương tôi sao quá đọa đầy! Ngàn năm đô hộ chống Tầu, trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi chống đánh Nhật, chống Tây. Năm 1954, đất nước chia đôi, yên ổn vài năm rồi lâm cảnh nồi da sáo thịt, huynh đệ tương tàn vì chủ nghĩa Cộng sản, vì mộng nhuộm đỏ giang san của người anh em miền Bắc!
Nghe tiếng đạn bom từ thuở lọt lòng, tham dự chiến tranh cầm súng bóp cò khi tuổi đời vừa đủ lớn đủ khôn!
Nếu vương quốc Cao Miên không cho phép Cộng quân lập an toàn khu trên lãnh thổ để tiến đánh miền Nam, thì chắc chắn xe tăng, đại pháo và những người linh miền Nam sẽ không có mặt trên xứ sở xa lạ nghèo nàn này!

Nhấm nháp ly cà phê nóng đầu ngày, khi những vệt nắng ban mai nhảy múa lung linh trên pông sô, bên tiếng hót trong cao của bầy chim chích chòe trên mái tam quan. Lòng thanh thản vì vừa qua một đêm yên tĩnh, không có tiếng súng, tiếng bom. Tôi lẩm nhẩm cầu xin may mắn cho đơn vị khi bứơc vào chùa giã biệt vị sư già. Chiến xa lăn xích hướng về lại căn cứ hoả lực Hồng Hà để trở về quê mẹ. Hình ảnh dân làng và bầy trẻ đang giơ tay vẫy thấp thoáng bên lũy tre.

Nắng đã lên quá đỉnh đầu, không khí oi bức nhột nhạt khó chịu. Sau mấy tiếng đồng hồ quần nát vùng hành quân, chiến đoàn phân tán quân quanh bìa rừng để chờ tiếp tế lương thực, đạn dược và săng nhớt. Trực thăng võ trang bay lượn bao vùng cho mấy chiếc Chinnok đáp xuống tiếp tế. Hai ba chuyến thả hàng xong xuôi, chuyến cuối cùng đang là là trên mặt đất thì đột nhiên phòng không, cối 82 và hỏa tiễn của địch từ nhiều hướng khác nhau nhả đạn như mưa. Một Chinook trúng đạn sau đuôi, bốc cháy như một cây đuốc khổng lồ.
Trực thăng võ trang bao vùng nhào lên nhào xuống bắn phá vị trí pháo của địch.
May là rớt gần mặt đất nên phi hành đoàn Mỹ từ trong trực thăng chạy kịp ra khỏi thân tầu, trước khi trực thăng phát nổ. Lính mũ đen ào tới xịt bình chữa lửa lên mình mấy anh phi công Hoa Kỳ rồi kéo họ nhào xuống hệ thống phòng thủ. Vì địa thế bằng phẳng toàn bụi rậm và rừng cây thấp nên phi cơ quan sát nhận ra vị trí súng của địch, chỉ điểm cho khu trục tới tấp nhào xạ kích, đánh bom trong màn lưới phòng không địch từ nhiều vị trí.
Mấy thiết xa M48 chất đầy săng nhớt mới tiếp tế may mắn không bị cháy, đang chạy ngang chạy dọc bơm săng, bơm dầu cho chiến xa. Phi hành đoàn chiếc Chinook trúng đạn đang liên lạc qua hệ thống Mỹ để chờ trực thăng bốc ra. Trời đã về chiều, đoàn quân di chuyển qua vị trí khác tìm địa thế đóng quân đêm.
“Tubip” Liệu đang chữa trị cho mấy quân nhân bị thương nhỏ to với ông bạn Bác sỹ quân y bên Thiết giáp.
– Bắt đầu vất vả rồi đó, đi chung với mấy ông mệt bỏ mẹ, lúc nào cũng ầm ĩ đầy mùi săng nhớt, phun khói đầy trời, nằm phơi bụng, phơi lưng lên cho chúng pháo. Chỉ được cái khỏe là đỡ phải lội bộ, hỏa lực ăn trùm thiên hạ và nhất là đầy đủ mấy ông Bud, ông 33 (bia Budwiser và bia 33)!
– Nhưng cũng dễ thành than lắm ông ơi! Mới chưa đầy một năm về đơn vị mà thiết đoàn đã đụng lớn cả chục lần, “rang muối” gần chục xe rồi đấy ông ơi!
Ngoài tuyến phòng thủ lính tráng đang đào hầm hố, dựng lưới chống B40 ngay trước đầu xe.
Quá nửa đêm khi mọi người đang say ngủ thì bỗng choàng mình tỉnh giậy, lăn xuống hố vì những tiếng nổ kinh hoàng cày tung đất đá ngay sát bên tai.
Tiếng nổ của hỏa tiễn, của cối 82 nghe ngắn, tê lạnh, buốt sắt đến hãi hùng. Cái âm thanh quen thuộc giống như tiếng mở nút chai nghe rõ mồn một từ góc rừng, kèm theo là những tiếng rít, tiếng hú rợn người của hỏa tiễn 122 đang quơ lưỡi hái tử thần sé gío bay đến vị trí đóng quân.
Mặc dầu đã qúa quen thuộc với những cơn mưa pháo khủng khiếp ở Hạ Lào, ở vùng hỏa tuyến. Thế nhưng cái giây phút cực kỳ ngắn ngủi, căng thẳng thần kinh trong lúc đạn đang bay tới mục tiêu vẫn làm cho thần kinh căng thẳng, tức ngực và khó thở! Vừa nghe đạn nổ đằng trứớc, đằng sau, bên trái, bên phải, thì lại hồi hộp, miệng đắng lưỡi khô khi nghe tiếng rít của đợt pháo tiếp theo. Cứ như thế mà chờ mà đợi, phó thác cho số mệnh!
Đột nhiên một tiếng nổ chát chúa kinh hoàng làm rung chuyển cả xe. Tai tôi ù đi, tối tăm mặt mày khi toàn thân văng lên đập vào thành xe. May là có thói quen khi nghe tiếng pháo là chụp chiếc mũ sắt lên đầu, nên không hề hấn gì cả. Ngay bên canh Trung Tá Bảo cũng đang ôm ngực chống tay, dựa vào thành xe.
Lệnh lạc, báo cáo vang lên trong máy, “Bảo Ngọc” chụp ống liên hợp liên lạc với “Đại Lộc” và các đại đội ngoài phòng tuyến.
Bỗng có tiếng báo cáo của toán tiền đồn cho biết là Việt cộng tập trung rất đông, đang dàn quân, đào hầm hố, bố trí theo bờ suối, sát đường. Vì sợ bị lộ vị trí nên toán tiền đồn sau khi đã quan sát, theo dõi và cho tọa độ vị trí địch, xin rút ra điểm hẹn trước khi trời sáng.
Mặc cho Pháo vẫn tiếp tục rơi, thân thể còn đang ê ẩm. Anh Năm và tôi như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh, quên cả đau, dán mắt vào vị trí địch quân trên bản đồ để phác họa trận địa pháo trút lên đầu địch.
– Đúng ngay chóc là thế nào chúng cũng phục kích mình tại đây. Tao sẽ dùng chiêu “Gậy ông đập lưng ông, tiền pháo hậu xung” mà địch vẫn thường dùng, để mưa pháo và bom lên đầu chúng. Hỏa lực sẽ thiêu đốt sạn đạo Damber. Công trường 7 Cộng quân sẽ tan nát, thảm bại trong trận thư hùng quyết tử này!
Anh Năm vừa nói, vừa khoanh tròn, di tới di lui cây viết chì mỡ trên tấm bản đồ, ngay vị trí địch một cách đầy tin tưởng. Có tiếng C 47 Hỏa Long vào vùng thả hỏa châu, đại liên 6 nòng như bò rống xả đạn vào vị trí địch, nhờ thế mà pháo địch im tiếng.
Vừa chui ra khỏi xe tôi đã điếng hồn vì trái hỏa tiễn 122 ly nổ ngay cạnh đào một hố sâu bên thành xe. Mảnh pháo chém đứt xích thiết xa, cây đại liên 50 trúng mảnh cong vòng văng xuống đất.
– Anh Năm, mình hên thật, chút xíu nữa là đi đứt. Kỳ này hành quân về Anh phải cúng heo và rời cột cờ đi chỗ khác!
– Mấy thằng tụi mày sao lúc nào cũng lèm bèm, tối ngày tìm đọc ba cái trò bói toán, tử vi, luận bàn cứ như thánh sống làm tao điên cái đầu!
Tubip Liệu mới từ xe bên cạnh chui ra phán thêm một câu.
– Đệ nhất phong thủy miền Nam, “Diễn tiên sinh”, khi được xếp lớn đón lên coi doanh trại đã lắc đầu nói là bộ chỉ huy nằm trên thế đất sát chủ. Đã thế sân cờ lại còn đối diện với Nghĩa trang quân đội. Nếu không dời ngay xuống phía Nam trông ra bờ sông thì lành ít dữ nhiều, chắc anh còn nhớ chứ anh Năm!
– Nghe nói Phủ đầu rồng, Dinh Thừa tướng, Bộ Tổng tham mưu, một số đại quan văn võ trong triều muốn thăng quan tiến chức, hưởng đủ bổng lộc trời ban, đều phải năm lần bảy lượt xin yết kiến “Diễn tiên sinh”, đó anh Năm!
– Ông Cần, Ông Tĩnh lựa Bộ chỉ huy và sân cờ, tao mới về có lựa chọn gì đâu! Nhưng chẳng biết đó là điềm vui hay điềm buồn, điềm lành hay điềm xấu cho quốc gia, mà Phủ đầu rồng, dinh Thừa tướng lại tin vào bói toán tử vi. Nay con rùa đặt chỗ này, mốt hồ nước, giả sơn đặt chỗ kia. Mình là dân quanh năm đánh đấm, trước khi xuất quân lại tin phong thủy, gieo cầu, cúng bái cầu xin thì còn đánh đấm giặc giã gì nữa!
Tôi ngước lên cao, trời trong ngập ánh trăng, cần ăng ten, đại bác, bóng người quanh pháo tháp lung linh di chuyển ngã dài theo ánh hỏa châu. Đại liên 6 nòng từ máy bay vẫn như bò rống vạch ngang vạch dọc từng giây đạn lửa đỏ rực trong đêm, xen kẽ với tiếng phòng không từ nhiều vị trí địch khác nhau bắn lên máy bay, đạn lửa đuổi nhau giữa bầu trời đầy sao vẽ thành bức họa chiến tranh lạ mắt.
Để chắc ăn cho cuộc tấn công vào sáng ngày mai, chúng tôi xin mấy “thảm” B52, nhưng Bộ chỉ huy cho biết là không có, và sẽ dành ưu tiên pháo binh, không quân cho trận điạ.
– Sáng rồi, mình “thượng đài” nhập trận đi anh Năm!
– Báo cho Mê Linh đón tụi nhỏ tiền đồn và sẵn sàng trong đánh ra, ngoài đánh vào, kẹp địch ngay chính giữa.
-Tụi nhỏ đã gặp phe ta rồi, hôm qua Mê linh làm ăn lớn, tiêu diệt nguyên một đại đội đặc công đánh vào căn cứ, tịch thu nhiều vũ khí và tài liệu của địch.
Trời sáng dần, ngồi trên pháo tháp chiến xa tôi nhấc ống nhòm nhìn về khoảng rừng trước mặt. Dọc theo tỉnh lộ, khu rừng lau đầy hoa trắng ngả nghiêng uốn mình theo gío, cảnh vật im vắng trong làn sương mỏng ban mai.
Sau những gò mối, lùm cây, bên bờ suối, giờ này chắc địch quân đang ẩn mình dưới giao thông hào. Chắc chúng cũng đang hướng ống nhòm, căn góc độ, dựng biểu xích, mở khóa an tòan của đủ loại vũ khí chờ Thiết giáp và Nhảy Dù tiến vào mục tiêu.
Tôi chợt nghĩ đến gia đình, một thoáng Saigon, mái ấm gia đình mờ mịt cuối chân mây.
Sau khi đã bàn thảo với “Đại Lôc” xếp Mũ Đen, lệnh lạc rõ ràng cho các cánh quân. Trung Tá Bảo vỗ mạnh vai tôi, xiết chặt hai tay vào nhau, ý như bóp nát địch quân. Ngay lúc đó là hàng ngàn tiếng rít sé gió của 3 pháo đội pháo binh Nhảy Dù của ông “Lước Hốc Môn” từ nhiều vị trí khác nhau “T.O.T” chụp đạn xuống mục tiêu. Rừng cây đất đá, bụi lửa tung lên cao khi đạn pháo xoáy vào lòng đất. Lẫn trong tiếng nổ hẳn có những đôi mắt trợn trừng lẫn với tiếng gào thét đớn đau. Máu thịt, cốt xương sẽ tan từng mảnh tung lên cao, vướng trên cành cây ngọn cỏ, hay vùi sâu trong lòng đất.
Hàng ngàn đạn Pháo, hết đợt này đến khác vẫn đang xé gió cày tung vị trí Bắc quân.
Pháo vừa ngưng thì phi cơ quan sát L19 từ trên cao nhào xuống mục tiêu hướng dẫn khu trục oanh kích trận địa.
Từng đoàn khu trục, âm thanh rít bên tai, lao từ trên cao thả hàng chuỗi bom chụp trên trận địa rồi kéo cánh lên cao, trông rõ bộ đồ bay màu cam và chiếc nón bay của các phi công bạn.
Rừng cây bùng lên trong biển lửa khi bom “Napalm” chạm mặt đất hừng hực thiêu đốt cây rừng.
Phòng không địch bắn lên phi cơ, vẽ những bông hoa khói, xám đen, nổ như pháo bông dầy đặc quanh thân tầu. Đúng là địa ngục rực lửa, lửa từ lưng trời rót xuống, lửa từ mặt đất bốc lên, lửa vàng chói hừng hực, cuồng bạo đốt cháy cỏ cây, thiêu hủy thân xác con người. Tất cả chỗ nào cũng chỉ nghe tiếng đạn tiếng đạn bom, chỗ nào cũng chỉ toàn lửa và lửa.

Phi cơ lắc cánh chào quân bạn bay khỏi vùng. Chiến trường còn đang bốc khói là Thiết Giáp và Nhảy Dù xả đủ loại hảo lực ào ào xung phong vào trận địa. Mặc dù bị nhồi giập vì Pháo Binh, bị đốt ngập trong biển lửa, nhưng đủ loại hỏa lực đại liên, B40, B41, đại bác không giật của địch vẫn nhả đạn như mưa vào đoàn cua sắt đang ào ạt tấn công.
Bị dồn vào tử lộ không lối thoát thân nên địch liều chết tử chiến tới cùng. Xạ thủ phòng không bị xích chân vào đại liên 37 ly nhả đạn như mưa chống trả.
Phối hợp nhịp nhàng nhị thức Bộ Binh, Thiết Giáp, kể cả chiếc xe ủi đất lớn của Công Binh cũng đang giơ nghiêng lưỡi cày bằng sắt dầy ngăn đạn cho lính Dù nhào lên thanh toán mục tiêu. Đây là lần đầu tiên trong bao nhiêu trận chiến lính Dù mới thấy cảnh lạ lùng khi anh tài xế can đảm, gan dạ, say khói súng cùng Mũ Đen, Mũ Đỏ lái xe ủi đất xông trận.
Ác chiến kéo dài từ sáng tới chiều. Mùi thuốc súng, mùi da thịt khét lẹt từ hàng trăm xác địch cháy đen. Xương thịt máu me nhầy nhụa đỏ lòm trong mắt xích chiến xa văng lên pháo tháp làm tôi muốn ói trước cảnh tượng khủng khiếp và ghê rợn. “Tubib” Liệu và toán Y tá quần áo đầy máu sau mấy gò mối lớn đang cấp cứu cho các thương binh.
Khi những tia nắng chiều vàng đỏ cuối ngày, lướt thướt kéo ngang rừng cây, nhuốm đỏ thành cầu, thì trận chiến cũng vừa tàn.Bùn lầy, cỏ tranh, khu rừng hoa lau trắng đỏ ngầu màu máu, xác địch ngổn ngang, co quắp cháy đen. Dăm ba chiếc nón sắt rằn ri móp méo lủng sâu vết đạn nằm bên những chiếc nón cối ngụy trang đầy lá cây rừng bên bờ lau sậy xào xạc gío chiều.
Trận chiến nào cũng có mất mát thương vong. Đại úy Nguyễn Đức Dũng Đại Đội Trưởng/ Đại đội 111/ TĐ11ND cùng gần 30 Mũ Đỏ, Mũ Đen đã hy sinh, và khoảng 10 thiết xa bị bắn cháy.
Tựa bên pháo tháp chiến xa nhìn về phía rừng cây, tôi như đang thấy những cánh rừng thông bạt ngàn xanh ngắt trên Đà lạt. Như thấy Dũng trong bộ đại lễ trắng đang quỳ xuống, đứng lên trong ngày lễ mãn khoá trên Vũ đình trường. Xa xa Lâm Viên đỉnh hùng vĩ giữa trời xanh… Tiếng gió, tiếng kèn, quyện với giọng ngâm buồn u uẩn bên ngọn lửa thiêng bập bùng trong đêm Truy điệu…
“Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến.
Máu anh hùng nhuộm thắm lá cờ Nam!”

Sau khi tham dự hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào trở về. Vì nhu cầu công vụ, nên Dũng đang là một Sĩ quan sáng giá của Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù được lệnh thuyên chuyển về làm Đại Đội Trưởng cho TĐ11ND. Cả đơn vị không ai là không nhớ dáng dấp thư sinh, đẹp trai, hay mắc cỡ, mặt đỏ bừng như con gái của Dũng. Chính vì hiền lành dễ thương, lúc nào cũng cười, nên Dũng nổi tiếng đào hoa trong đám bạn bè, và thường bị các cô trêu chọc.
Đất lạ Damber đã cướp mất người anh hùng tuổi trẻ – Nguyễn Đức Dũng, khóa 22 Võ Bị. Người “Thích mặc quân phục từ nhỏ, và đội Nón Đỏ khi ra trường”. Người sỉ quan Dù can đảm, tháo vát trẻ trung, chưa thỏa chí tang bồng thì đã bỏ đồng đội bỏ anh em!!!
Ngủ yên đi Dũng! Và nhớ kéo dù theo gió bay về quê cũ Bắc Ninh, nơi chốn bình yên, nơi dòng sông tuổi nhỏ, phụ lưu sông Đáy, sông Hồng cuồn cuộn phù sa. Nơi có giọng hò Quan Họ, hội Lim, nơi cất tiếng khóc chào đời, nơi không binh đao thù hận.
Trên đồi Mũ Đỏ Long Bình, dưới giàn hoa dưa tím phất phơ bay trước căn phòng nhìn xuống Ngã Ba sông Đồng Nai mênh mông uốn khúc bên làng Cao Thái đầy cỏ nội hoa rừng, thoảng mùi thơm khuynh diệp sẽ mãi mãi vắng thiếu bóng anh!
Đêm đó Chiến đoàn dừng quân ngay trên trận địa, người sống và người chết ngủ vùi cạnh bên nhau. Nằm yên trên võng, tôi lơ đãng nhìn những ngôi sao đổi ngôi sẹt ngang bầu trời, để nghe hơi thở, khói súng chiến trường lắng đọng trong tim.
Ngoài kia tiếng rên la đau đớn của thương binh ta và địch, đang gọi tên người thân, chống chọi từng giây từng phút với tử thần, còn có tiếng rên la, trăn trối của một sĩ quan thương binh miền Bắc nghe rất lạ tai!
Chữ nghĩa, ngôn từ đã hoàn toàn đổi thay từ khi chúng tôi xa đất Bắc di cư vào Nam năm 1954. Đêm nay, người thương binh địch, quê quán Hà đông, cùng tuổi, cùng quê với tôi. Biết đâu thuở nhỏ lại chẳng biết nhau bên gốc đa đầu làng, chơi với nhau trước sân đình, bên giếng nước, khi mới dăm bảy tuổi. Anh thương binh đang thều thào gọi tên vợ con khi biết mình khó lòng sống sót với viên đạn xuyên ngang lồng ngực. Tấm hình đen trắng mộc mạc của cô gái quê với hàng chữ thương yêu gửi tặng chồng khi vượt Trường Sơn. Tấm ảnh vấy máu, đang nằm trong đôi tay khô héo, khi Tubip Liệu lấy ra từ trong túi đặt lên tay anh.
Dù Mũ Đỏ, Mũ Đen, dù nón cối dép râu, hay Bắc, Trung, Nam, khi nhắm mắt xuôi tay thì xác thân đều sẽ rã mục hình hài làm xanh tươi cây lá. Gió núi mưa rừng sẽ gột sạch máu xương. Chim chóc, muông thú sẽ kéo về. đời sống sẽ trở lại, thôn ấp xóm nhà, lũy tre, ruộng đồng, cây trái, sẽ xoá mờ đi vết tích chiến tranh
Tôi nằm đong đưa trên võng chập chờn nghĩ tới vợ con, để biết mình vừa sống còn qua trận chiến.
Với mấy trăm xác địch nằm ngổn ngang khắp nơi trên chiến địa. Đại liên phòng không, cối 82, B40, B41, đại bác không giật và hàng trăm cây AK sắp đầy như củi trên 4 chiếc M548. Trung đoàn địch trấn giữ Damber kể như bị xóa tên trên bản đồ trận liệt.
Dưới ánh nắng gay gắt, chói chang hầm hập nung người của xứ chùa Tháp, mùi hôi của xương thịt người chết mặc kẹt trong xích xe bắt đầu xông lên khó chịu.
– Hôi quá! Cả ngày ăn ngủ trên xe, sao mấy anh chịu nổi!
– Thì cũng quen đi thôi!
Nói xong người lính Mũ Đen rít hơi thuốc thơm Quân Tiếp Vụ, từ từ nhả khói giọng nặng chĩu u buồn.
– Chiến tranh mà! Mới đó mà tôi đã qua 8 năm chiến trận. Không biết còn đánh nhau cho tới bao giờ! “Đi đêm mãi chắc cũng có ngày gặp ma”!
Tiếng máy Truyền Tin oang oang chuyển lệnh cho đòan quân rời vùng, tiếp tục hành quân giải tỏa Liên Tỉnh Lộ7.
Mấy con qụa đen cất tiếng kêu quang quác, đang đứng rỉa lông trên nòng cây đại bác cong queo, cạnh vòng hoa kẽm gai trên mấy chiếc chiến xa cháy đen ngoài cánh đồng.
Đã hơn hai tháng miệt mài trong lửa đạn. Tôi đang nhớ Sàigòn, nhớ vợ con. Nhớ dàn hoa giấy đỏ trước nhà, và những con chim gi, chim chích chòe mỏ đỏ, cánh đen bay chuyền trong buổi trưa hè. Tự nhiên tôi thèm tô phở, ly cà phê, hơi thuốc. Nơi cuối trời, bếp lửa gia đình mờ mịt cuối phưong Nam…
Chiến tranh càng ngày càng nghiệt ngã. Quê hương, sông núi quặn chìm trong bom đạn. Tuổi trẻ miền Nam hết lớp này đến lớp khác gục ngã, hy sinh trên núi trên rừng, trên ruộng trên nương…. lấy xương trắng máu đào để bảo vệ miền Nam.
Sau chiến thắng Damber, hơn nửa năm sau, một số bạn bè, đệ huynh trong trận chiến này đã lần lượt hy sinh trong Mùa Hè Bão Lửa 1972.
Tháng 12/4/1972 Trung Tá Nguyễn Đình Bảo vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh Charlie vùng Ba Biên Giới Quân Khu II, sau một tuần lễ tử chiến đẫm máu với 2 Trung đoàn 64 và 48 của Sư đoàn 320 Cộng quân.
Đai úy Hoàng Ngọc Hùng ĐĐTT112/TĐ11ND hy sinh ngay trước sân nhà, nơi anh cất tiếng khóc chào đời, sống những ngày ấu thơ êm đềm ngoài Quảng Trị. trong trận chiến tái chiếm Cổ Thành 6/1972.
Chi Đoàn Trưởng Thiết Kỵ “Phi Điểu” hy sinh trong trận ác chiến tại đồn điền Krek, Kampuchia.
Chi Đoàn Trường Chiến xa Bắc Đẩu chiến đấu tới hơi thở cuối cùng tại Hải Lăng!
Hình ảnh các anh như đang sống lại trong tôi khi cùng nhau xông pha trận mạc.
Xin thắp nén hưong lòng để tuỏng nhớ các Anh.
Trận chiến đã nằm sâu, phai nhạt dần theo tuổi đời, năm tháng, thời gian từ hơn môt phần tư thế kỷ. Nhưng vì “Nhớ bạn bè, nhớ anh em”, nên người viết cố ghi lại hình ảnh đệ huynh của một thời chiến trường xưa cũ. Xin lượng tình tha thứ nếu như có điều gì sơ sót.

MĐ Đoàn Phương Hải
Memorial Day, Bắc Cali

Anh cũng sẽ về

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 19 Aug 2023

Tuấn và Thanh đứng bên một ngọn đồi thấp, nơi đây hai người ngắm được bãi cát dài và biển của Nha Trang. Xa xa hòn đảo chập chùng và những ghe đánh cá thấp thoáng giữa trời nước mênh mông. Gió biển lồng lộng mang theo không khí trong lành, mát rượi. Hằng thế kỷ qua nơi nầy đã làm rung động biết bao tâm hồn nghệ sĩ và được người dân ưu ái tặng cho cái tên rất là thơ – Miền Thùy Dương Cát Trắng.

Tuấn nói:

– Cát Nha Trang trắng quá, nước biển trong và xanh hơn vùng Ðịa Trung Hải.

Thanh hỏi Tuấn:

– Anh có muốn về đây sống luôn không?

Tuấn trả lời:

– Nơi nào đất lành thì chim sẽ đậu. Em biết không, những năm lưu lạc xứ người anh không nghĩ rằng mình có thể trụ lại bất cứ nơi nào, nếu không có chị em và mấy cháu ở Châu Âu thì anh cũng không về đó làm gì.

– Em nghe chị Hai nói, chỉ sẽ không về đây nữa.

– Ðó là cơn giận nhứt thời, chớ là người thì ai quên được nơi chôn nhau cắt rún.

– Chị còn giận ba, má?

– Giận thì giận thương thì thương.

Thanh khúc khích cười:

– Việt Kiều mà cũng biết hát quan họ à.

– Có nghe chớ không có hát, nhưng đó cũng là tâm trạng của chị Hai em, nếu không thương ba má và các em thì làm sao chị Hai em chịu cực chịu khổ, mùa đông tuyết lạnh cũng như mùa hè nắng nóng, mỗi ngày đạp xe hàng chục cây số đi làm dành dụm tiền gởi về nuôi cả gia đình ngót hơn chục năm qua.

– Em biết, nhưng sau chuyến về lần đó chị có than phiền chuyện gia đình với anh không?

– Than phiền thì lúc nào cũng có, nhưng cần nên lập lại không?

– Em thấy cần và em muốn hiểu vì sao hơn mười năm qua chị không về đây nữa, trong khi đó chị nói với em chị đi du ngoạn hết nước nầy sang nước kia.

Tuấn nhớ cách đây hơn mười năm Thu nghe tin ba bịnh hấp hối, cô tức tốc xin nghỉ việc, ôm hai đứa nhỏ từ Âu Châu bay về cho kịp chịu tang. Nhưng khi về tới nhà thì Thu chưn hửng, không thấy ba bịnh hoạn gì hết. Hỏi, thì ông cười xoà và nói tỉnh bơ:

– Ba nhớ con và hai đứa cháu ngoại của ba nên nói như vậy để con về.

– Trời đất! Bộ ba tưởng từ Âu Châu về đây giống như từ trung tâm Nha Trang về xóm Bóng vậy sao.

Tuy có hơi bực mình nhưng Thu nghĩ, vì thương nhớ con, cháu ba mới làm chuyện thiếu suy nghĩ như vậy. Thôi thì coi như một chuyến về thăm quê cũng được.

Niềm vui trở lại quê nhà chỉ được mấy ngày đầu. Những ngày sau đó Thu cảm thấy bị tù túng, đi đâu cũng có người kèm theo, không có thời gian nào rảnh hết. Má thì kêu lại than thở, không có vàng đeo để đi đám tiệc cho nở mày nở mặt với người ta, buộc lòng Thu phải lấy sợi dây chuyền của mình đưa cho má đeo. Ba thì than chiếc xe  mua cho năm năm trước đã cũ chạy không còn êm nữa, thấy vậy Thu cũng móc tiền ra cho ba đổi xe mới. Em út, cháu chít đứa vài chục, đứa một trăm. Ăn ở nhà cha mẹ mà ngày nào cô cũng phải bỏ tiền túi đi chợ, về mới tuần đầu đã hết hai ngàn đô. Ở Âu châu cả gia đình đi nghỉ hè ngủ khách sạn, ăn nhà hàng hai tuần lễ cũng chưa hết chừng đó tiền. Cho nên chuyện tiền bạc Thu phải dè dặt trước mặt mọi người, mỗi lần cô xem lại tiền của mình mà cô phải len lén như sợ kẻ gian ngoài chợ rình móc túi. Bực mình nhưng biết nói làm sao. Có lần cô lưu ý ba không nên đi đá gà và phung phí tiền bạc, thì ông gắt lên:

– Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.

Công ơn cha mẹ là trời biển ai lại không biết, cô cũng đã có hai đứa con rồi, và cô cũng biết làm mẹ là trời biển như thế nào. Tại sao ba, má không nghĩ lại coi, người làm cha mẹ có xứng đáng hay không? Từ ngày gả Thu theo chồng ba má tưởng té xuống hầm vàng hay sao mà không chịu theo nghề đánh cá nữa và cũng không chịu làm ăn gì hết để cho tinh thần lẫn thể xác bịnh hoạn đến đổi khô khan tình cảm con người. Ngày trước gia đình nghèo cha mẹ nuôi con cho ăn gì thì con ăn nấy, mặc áo quần vá chùm vá đụp con cũng không dám phàn nàn.

 Tới tuổi dậy thì không có áo nịt ngực, ra đường bị con trai đi theo dòm mắc cở tê người cũng không dám than, mơ ước có chiếc áo dài nhưng biết nhà nghèo cô cũng không dám hỏi. Gia tài riêng của Thu chỉ có hai bộ quần áo mới. Bây giờ nhà cửa khang trang, xe hai ba chiếc, nhưng vẫn còn than thiếu thốn, nếu Thu không cung cấp cho xài thì hâm he bán đồ bán đạc trong nhà. Lần nào về quê tiền túi hết sạch, nữ trang mất đi vài món. Khi trở ra cô có cảm tưởng như bị kẻ gian trấn lột.

 Biết vậy, nhưng giờ đây trong hoàn cảnh này Tuấn không muốn nói chuyện dài dòng, nhứt là những chuyện như vầy nó đã tràn lan trong xã hội chớ đâu riêng gì gia đình Thu. Anh nói ngắn gọn:

– Chị Hai em không về quê là muốn giữ hình ảnh đẹp của ba má hồi lúc nhà còn nghèo. Nhưng thôi, chuyện không vui nói làm gì?

– Em muốn biết anh có ý kiến gì về chuyện nầy không?

– Theo anh thì thời gian có đi chớ không có lại. Chuyện qua thì qua rồi, chuyện tới thì chưa biết. Còn ý kiến, thì nói gì đây? Anh đã đi khắp năm châu và đã chứng kiến con người ở những nước nghèo nàn lạc hậu, từ người giàu có tới người nghèo rớt mồng tơi, ai cũng tham lam, lọc lừa giống như nhau. Có điều anh chỉ hơi buồn cho cái thời buổi gì mà kỳ cục, từ trong nhà ra ngoài đường, riết rồi không biết phải tin ai.

– Cuộc sống càng ngày càng vô nghĩa phải không anh?

– Không nên bi quan như vậy, mình cũng có thể cho nó một ý nghĩa để sống chớ?

– Em chưa hiểu ý anh.

– Nghĩa là chúng ta vẫn đi, đứng, nằm, ngồi và hít thở…

– Ðơn giản quá hả anh?

– Nhưng rắc rối lắm, thôi bỏ qua chuyện nầy, mình đi vô phố chơi một lát, em còn phải về cho kịp lo cơm cho thằng Hùng. Còn anh, anh cũng phải ra dịch vụ gọi điện về cho chị Hai em, sau đó anh về nhà ba má, hình như ba muốn nói với anh chuyện gì đó.

Mặt Thanh u buồn:

– Nhưng…

Tuấn chận:

– Không nhưn nhuỵ gì hết, đi chơi không nói chuyện nhà nữa.

Tuấn chỉ tay dọc theo bãi biển trước mặt:

– Em thấy không, quê vợ anh đẹp đâu thua gì những thành phố biển bên Châu Âu.

 Tuấn và Thanh men vào khu hàng quán ven biển. Xa xa ngoài dãi nước xanh những chiếc mô-tô-nước và vài chiếc ca-nô phả sóng vẽ lên mặt nước những đường bọt trắng ngoằn ngoèo. Trong bãi cạn lưa thưa người bơi lội, phần đông người da trắng bận đồ tắm nằm trên những chiếc ghế màu trong những chòi lá.

Thanh nói:

– Em nghe chị Hai nói, bãi biển Salau bên Tây Ban Nha rất giống Nha Trang.

– Xa quê lâu năm, chị em tưởng tượng ra mà nói vậy chớ Salau làm sao sánh bằng nơi đây.

– Thiệt vậy hả anh?

– Thiêt mà, Nha Trang sang trọng hơn Salau nhiều. Theo anh nghĩ cũng vì Nha Trang Tây quá Tây nên không hấp dẫn cho du khách Âu Mỹ.

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là những khách du lịch sành điệu của tây phương đi du lịch thắng cảnh để tìm những nét đặc thù của xứ xở mình đặt chưn tới. Thức ăn trong khách sạn nơi đây cũng thịt bò bít tết, tôm hùm, phó mát dâm bông…, những món nầy không cần bay từ Âu Châu qua đây tìm ăn. Tuy Nha Trang có vài món đặc sản như gỏi sứa, yến sào…, nhưng không thể nào thu hút được khách du lịch có tánh hiếu kỳ.

– Anh nói làm em hết tự hào Nha Trang của mình rồi.

– Em phải tự hào chớ, ít ra nó cũng thu hút được khách du lịch trong nước, em không thấy sao, du khách từ Sài Gòn mỗi ngày đổ ra nườm nượp và người Việt ở nước ngoài về cũng ra thăm Nha Trang. Anh thích buổi chiều nơi đây, người trong phố đổ xô xuống tắm biển đông nghẹt. Nếu ông tây bà đầm nào tới một lần không thích thì họ có thể đi một khu du lịch khác ngoài Khánh Hòa hoặc lân cận Nha Trang, nơi đó cũng có rất nhiều cảnh thiên nhiên.

– Anh quảng cáo du lịch?

– Anh muốn nói về vùng đất mình yêu thích vậy thôi.

– Vậy anh nói thử nghe, anh thích chỗ nào.

– Lần đầu anh ra Nha Trang, chị Hai em và các bạn có dẫn anh đi những con suối trên lưng chừng núi ngoài Vạn Thắng, cho nên mỗi khi nhớ về quê vợ thì anh nhớ tới những thác nước thiên nhiên tươi mát. Nhứt là dãi núi Phước Hà đứng mỗi góc thấy hình dáng thay đổi khác nhau rất là ngoạn mục. Có lần anh ra Ninh Hoà nhìn dãi núi Phước Sơn thấy mây choàng đỉnh núi anh có thể hình dung ra “Mây Hòn Hèo” và cũng có theo chị Hai em ra Tu Bông, nhờ hứng gió mùa hè mà anh biết gió Lào nóng như thế nào và anh hiểu được tại sao có danh từ Tụ Phong và câu vè “Gió Tu Hoa”.

Thanh cười thành tiếng:

– Một bài vè có sáu câu(*) chỉ đặc tính cho sáu địa danh, anh biết mới có hai nhưng sai một.

– Vậy sao, sai chỗ nào?

– Hòn Hèo không có mây bay hay mây choàng đỉnh núi, đây là một loại cây, cây mây. Mây ở đây lâu năm nên cọng bự và cứng, người ta lấy về làm cây hèo rất tốt nên có câu vè “Mây Hòn Hèo”.

– Vậy sao?

– Còn bốn nơi kia anh muốn biết không?

– Có thời gian anh sẽ đi cho biết, nhưng chắc không tới Ðồng Lớn vì tánh anh rất sợ ma.

– Cọp không sợ, anh lại sợ ma.

Tuấn cười khôi hài:

– Sợ bẩm sinh mà, tuy nhiên anh đọc đâu đó có viết, nơi Ðồng Lớn ngày xưa là một bãi chiến trường, có nhiều người chết oan, những hồn oan không đầu thai được hoá ra ma, vất vơ vất vưởng, quấy phá những người qua lại  trong vùng.

– Anh là khách phương xa mà biết như vậy cũng là nhiều.Vậy thì cuối tuần nầy em đưa anh đi suối.

Tuấn nói:

– Hôm nay thứ ba rồi, vậy thì tính như vầy đi, chiều nay anh về nhà ba má ở đó chơi một ngày, ngày mốt anh ra thăm cậu, mợ và mấy cháu ở Vạn Giả và đi xem vịnh Vân Phong. Sau đó ghé nhà em rồi mình lên suối chơi.

  Tuấn và Thanh đứng bên một ngọn đồi thấp, nơi đây hai người ngắm được bãi cát dài và biển của Nha Trang. Xa xa hòn đảo chập chùng và những ghe đánh cá thấp thoáng giữa trời nước mênh mông. Gió biển lồng lộng mang theo không khí trong lành, mát rượi. Hằng thế kỷ qua nơi nầy đã làm rung động biết bao tâm hồn nghệ sĩ và được người dân ưu ái tặng cho cái tên rất là thơ
– Miền Thùy Dương Cát Trắng.
Tuấn nói:
– Cát Nha Trang trắng quá, nước biển trong và xanh hơn vùng Ðịa Trung Hải. Thanh hỏi Tuấn:
– Anh có muốn về đây sống luôn không? Tuấn trả lời:
– Nơi nào đất lành thì chim sẽ đậu. Em biết không, những năm lưu lạc xứ người anh không nghĩ rằng mình có thể trụ lại bất cứ nơi nào, nếu không có chị em và mấy cháu ở Châu Âu thì anh cũng không về đó làm gì.
– Em nghe chị Hai nói, chỉ sẽ không về đây nữa.
– Ðó là cơn giận nhứt thời, chớ là người thì ai quên được nơi chôn nhau cắt rún.
– Chị còn giận ba, má?
– Giận thì giận thương thì thương. Thanh khúc khích cười:
– Việt Kiều mà cũng biết hát quan họ à.
– Có nghe chớ không có hát, nhưng đó cũng là tâm trạng của chị Hai em, nếu không thương ba má và các em thì làm sao chị Hai em chịu cực chịu khổ, mùa đông tuyết lạnh cũng như mùa hè nắng nóng, mỗi ngày đạp xe hàng chục cây số đi làm dành dụm tiền gởi về nuôi cả gia đình ngót hơn chục năm qua.
– Em biết, nhưng sau chuyến về lần đó chị có than phiền chuyện gia đình với anh không?
– Than phiền thì lúc nào cũng có, nhưng cần nên lập lại không?
– Em thấy cần và em muốn hiểu vì sao hơn mười năm qua chị không về đây nữa, trong khi đó chị nói với em chị đi du ngoạn hết nước nầy sang nước kia.   Tuấn nhớ cách đây hơn mười năm Thu nghe tin ba bịnh hấp hối, cô tức tốc xin nghỉ việc, ôm hai đứa nhỏ từ Âu Châu bay về cho kịp chịu tang. Nhưng khi về tới nhà thì Thu chưn hửng, không thấy ba bịnh hoạn gì hết. Hỏi, thì ông cười xoà và nói tỉnh bơ:
– Ba nhớ con và hai đứa cháu ngoại của ba nên nói như vậy để con về.
– Trời đất! Bộ ba tưởng từ Âu Châu về đây giống như từ trung tâm Nha Trang về xóm Bóng vậy sao. Tuy có hơi bực mình nhưng Thu nghĩ, vì thương nhớ con, cháu ba mới làm chuyện thiếu suy nghĩ như vậy. Thôi thì coi như một chuyến về thăm quê cũng được. Niềm vui trở lại quê nhà chỉ được mấy ngày đầu. Những ngày sau đó Thu cảm thấy bị tù túng, đi đâu cũng có người kèm theo, không có thời gian nào rảnh hết. Má thì kêu lại than thở, không có vàng đeo để đi đám tiệc cho nở mày nở mặt với người ta, buộc lòng Thu phải lấy sợi dây chuyền của mình đưa cho má đeo. Ba thì than chiếc xe  mua cho năm năm trước đã cũ chạy không còn êm nữa, thấy vậy Thu cũng móc tiền ra cho ba đổi xe mới. Em út, cháu chít đứa vài chục, đứa một trăm. Ăn ở nhà cha mẹ mà ngày nào cô cũng phải bỏ tiền túi đi chợ, về mới tuần đầu đã hết hai ngàn đô. Ở Âu châu cả gia đình đi nghỉ hè ngủ khách sạn, ăn nhà hàng hai tuần lễ cũng chưa hết chừng đó tiền. Cho nên chuyện tiền bạc Thu phải dè dặt trước mặt mọi người, mỗi lần cô xem lại tiền của mình mà cô phải len lén như sợ kẻ gian ngoài chợ rình móc túi. Bực mình nhưng biết nói làm sao. Có lần cô lưu ý ba không nên đi đá gà và phung phí tiền bạc, thì ông gắt lên: – Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. Công ơn cha mẹ là trời biển ai lại không biết, cô cũng đã có hai đứa con rồi, và cô cũng biết làm mẹ là trời biển như thế nào. Tại sao ba, má không nghĩ lại coi, người làm cha mẹ có xứng đáng hay không? Từ ngày gả Thu theo chồng ba má tưởng té xuống hầm vàng hay sao mà không chịu theo nghề đánh cá nữa và cũng không chịu làm ăn gì hết để cho tinh thần lẫn thể xác bịnh hoạn đến đổi khô khan tình cảm con người. Ngày trước gia đình nghèo cha mẹ nuôi con cho ăn gì thì con ăn nấy, mặc áo quần vá chùm vá đụp con cũng không dám phàn nàn.  Tới tuổi dậy thì không có áo nịt ngực, ra đường bị con trai đi theo dòm mắc cở tê người cũng không dám than, mơ ước có chiếc áo dài nhưng biết nhà nghèo cô cũng không dám hỏi. Gia tài riêng của Thu chỉ có hai bộ quần áo mới. Bây giờ nhà cửa khang trang, xe hai ba chiếc, nhưng vẫn còn than thiếu thốn, nếu Thu không cung cấp cho xài thì hâm he bán đồ bán đạc trong nhà. Lần nào về quê tiền túi hết sạch, nữ trang mất đi vài món. Khi trở ra cô có cảm tưởng như bị kẻ gian trấn lột.  Biết vậy, nhưng giờ đây trong hoàn cảnh này Tuấn không muốn nói chuyện dài dòng, nhứt là những chuyện như vầy nó đã tràn lan trong xã hội chớ đâu riêng gì gia đình Thu. Anh nói ngắn gọn:
– Chị Hai em không về quê là muốn giữ hình ảnh đẹp của ba má hồi lúc nhà còn nghèo. Nhưng thôi, chuyện không vui nói làm gì?
– Em muốn biết anh có ý kiến gì về chuyện nầy không?
– Theo anh thì thời gian có đi chớ không có lại. Chuyện qua thì qua rồi, chuyện tới thì chưa biết. Còn ý kiến, thì nói gì đây? Anh đã đi khắp năm châu và đã chứng kiến con người ở những nước nghèo nàn lạc hậu, từ người giàu có tới người nghèo rớt mồng tơi, ai cũng tham lam, lọc lừa giống như nhau. Có điều anh chỉ hơi buồn cho cái thời buổi gì mà kỳ cục, từ trong nhà ra ngoài đường, riết rồi không biết phải tin ai.
– Cuộc sống càng ngày càng vô nghĩa phải không anh?
– Không nên bi quan như vậy, mình cũng có thể cho nó một ý nghĩa để sống chớ?
– Em chưa hiểu ý anh.
– Nghĩa là chúng ta vẫn đi, đứng, nằm, ngồi và hít thở…
– Ðơn giản quá hả anh?
– Nhưng rắc rối lắm, thôi bỏ qua chuyện nầy, mình đi vô phố chơi một lát, em còn phải về cho kịp lo cơm cho thằng Hùng. Còn anh, anh cũng phải ra dịch vụ gọi điện về cho chị Hai em, sau đó anh về nhà ba má, hình như ba muốn nói với anh chuyện gì đó. Mặt Thanh u buồn:
– Nhưng…
Tuấn chận:
– Không nhưn nhuỵ gì hết, đi chơi không nói chuyện nhà nữa. Tuấn chỉ tay dọc theo bãi biển trước mặt:
– Em thấy không, quê vợ anh đẹp đâu thua gì những thành phố biển bên Châu Âu.  Tuấn và Thanh men vào khu hàng quán ven biển. Xa xa ngoài dãi nước xanh những chiếc mô-tô-nước và vài chiếc ca-nô phả sóng vẽ lên mặt nước những đường bọt trắng ngoằn ngoèo. Trong bãi cạn lưa thưa người bơi lội, phần đông người da trắng bận đồ tắm nằm trên những chiếc ghế màu trong những chòi lá.
Thanh nói:
– Em nghe chị Hai nói, bãi biển Salau bên Tây Ban Nha rất giống Nha Trang.
– Xa quê lâu năm, chị em tưởng tượng ra mà nói vậy chớ Salau làm sao sánh bằng nơi đây.
– Thiệt vậy hả anh?
– Thiêt mà, Nha Trang sang trọng hơn Salau nhiều. Theo anh nghĩ cũng vì Nha Trang Tây quá Tây nên không hấp dẫn cho du khách Âu Mỹ.
– Nghĩa là sao?
– Nghĩa là những khách du lịch sành điệu của tây phương đi du lịch thắng cảnh để tìm những nét đặc thù của xứ xở mình đặt chưn tới. Thức ăn trong khách sạn nơi đây cũng thịt bò bít tết, tôm hùm, phó mát dâm bông…, những món nầy không cần bay từ Âu Châu qua đây tìm ăn. Tuy Nha Trang có vài món đặc sản như gỏi sứa, yến sào…, nhưng không thể nào thu hút được khách du lịch có tánh hiếu kỳ. – Anh nói làm em hết tự hào Nha Trang của mình rồi.
– Em phải tự hào chớ, ít ra nó cũng thu hút được khách du lịch trong nước, em không thấy sao, du khách từ Sài Gòn mỗi ngày đổ ra nườm nượp và người Việt ở nước ngoài về cũng ra thăm Nha Trang. Anh thích buổi chiều nơi đây, người trong phố đổ xô xuống tắm biển đông nghẹt. Nếu ông tây bà đầm nào tới một lần không thích thì họ có thể đi một khu du lịch khác ngoài Khánh Hòa hoặc lân cận Nha Trang, nơi đó cũng có rất nhiều cảnh thiên nhiên.
– Anh quảng cáo du lịch?
– Anh muốn nói về vùng đất mình yêu thích vậy thôi.
– Vậy anh nói thử nghe, anh thích chỗ nào.
– Lần đầu anh ra Nha Trang, chị Hai em và các bạn có dẫn anh đi những con suối trên lưng chừng núi ngoài Vạn Thắng, cho nên mỗi khi nhớ về quê vợ thì anh nhớ tới những thác nước thiên nhiên tươi mát. Nhứt là dãi núi Phước Hà đứng mỗi góc thấy hình dáng thay đổi khác nhau rất là ngoạn mục. Có lần anh ra Ninh Hoà nhìn dãi núi Phước Sơn thấy mây choàng đỉnh núi anh có thể hình dung ra “Mây Hòn Hèo” và cũng có theo chị Hai em ra Tu Bông, nhờ hứng gió mùa hè mà anh biết gió Lào nóng như thế nào và anh hiểu được tại sao có danh từ Tụ Phong và câu vè “Gió Tu Hoa”. Thanh cười thành tiếng:
– Một bài vè có sáu câu(*) chỉ đặc tính cho sáu địa danh, anh biết mới có hai nhưng sai một.
– Vậy sao, sai chỗ nào?
– Hòn Hèo không có mây bay hay mây choàng đỉnh núi, đây là một loại cây, cây mây. Mây ở đây lâu năm nên cọng bự và cứng, người ta lấy về làm cây hèo rất tốt nên có câu vè “Mây Hòn Hèo”.
– Vậy sao? – Còn bốn nơi kia anh muốn biết không?
– Có thời gian anh sẽ đi cho biết, nhưng chắc không tới Ðồng Lớn vì tánh anh rất sợ ma.
– Cọp không sợ, anh lại sợ ma. Tuấn cười khôi hài:
– Sợ bẩm sinh mà, tuy nhiên anh đọc đâu đó có viết, nơi Ðồng Lớn ngày xưa là một bãi chiến trường, có nhiều người chết oan, những hồn oan không đầu thai được hoá ra ma, vất vơ vất vưởng, quấy phá những người qua lại  trong vùng.
– Anh là khách phương xa mà biết như vậy cũng là nhiều.Vậy thì cuối tuần nầy em đưa anh đi suối. Tuấn nói: – Hôm nay thứ ba rồi, vậy thì tính như vầy đi, chiều nay anh về nhà ba má ở đó chơi một ngày, ngày mốt anh ra thăm cậu, mợ và mấy cháu ở Vạn Giả và đi xem vịnh Vân Phong. Sau đó ghé nhà em rồi mình lên suối chơi. * Nhà Thanh nằm trên bờ ruộng không xa đường xe lửa, nhìn ra thấy quốc lộ một, nhìn vào thấy đoạn cuối của dãi Trường Sơn. Chồng Thanh đã bỏ cô lúc thằng Hùng còn lẫm chẫm đi, từ đó tới giờ vợ chồng Tuấn phải cưu mang luôn hai mẹ con. Trong gia đình chỉ còn có Thanh là người hiểu biết. Cô không bao giờ hỏi xin tiền vợ chồng Tuấn, nhà nghèo cô tần tảo bán buôn nuôi con. Năm nay Hùng được mười bốn tuổi và đã lên trung học. Về đây Tuấn thích ở lại với hai mẹ con Thanh hơn. Nhà cửa đơn sơ nhưng sạch sẽ gọn gàng, ăn uống rau cải, dưa cà, tuy đạm bạc nhưng thức ăn, nhẹ nhàng, tinh khiết và nói chuyện với Thanh thoải mái vì cô rất thành thật và hiểu biết nhiều.  Hồi trưa Tuấn và Thanh đi chơi trên suối. Hai anh em leo lên phía trên nguồn, tìm đoạn suối sạch sẽ, ít người. Họ dừng lại một bụi cây mà trước đây đã có nhiều người tới ngồi, nên được dọn trống như một cái nhà chòi của mấy đứa trẻ chơi. Sau khi để đồ đạc vô ‘chòi’, để giữ cho nước ngọt khỏi bị nóng, Tuấn đem mấy lon nước bỏ vô một khe nhỏ bên bờ suối nơi nước có đủ độ mát. Sau đó hai người đi xuống suối ngồi ngâm mình bên một tảng đá. Tuấn nói:
– Từ dưới leo lên tới đây nóng đổ mồ hôi, được ngâm mình xuống nước mát, thật tuyệt vời. Thanh nói:
– Người Tây thích phơi nắng còn người mình thì sợ nắng ăn, da đen nên tìm những nơi mát mẻ.
– Buổi trưa người ta tụ lại hết trên nầy, hèn nào bãi biển vắng hoe.
– Có nhiều người cũng bắt chước Tây ra bãi biển nằm phơi vài lần, bị lột da hoặc bị đen thui, sợ quá không dám phơi nữa.
– Người Tây ở nơi ít ánh nắng mặt trời, thiếu vitamine D nên họ mới tìm ánh nắng, vì trong ánh nắng có vitamine D bồi bổ cho da, ngoài ra họ cũng thích nước da ngâm ngâm cho dáng người thêm mạnh mẽ và cho mọi người biết mình đã từng đi du lịch đó đây, nhưng khi phơi nắng họ thoa kem chống nắng cho da không bị cháy. Còn người Việt thấy Tây làm gì thì làm theo chớ không chịu tìm hiểu chuyện làm có thích hợp với mình  hay không. Cũng như tắm bùn vậy, thấy người Nhựt tắm người mình cũng bắt chước nhưng không chịu tìm hiểu nguyên nhân tại sao người Nhựt tắm bùn. Nơi nào cũng có tánh điạ phương riêng, ngay trong nước Nhựt có nhiều nơi người ta đâu chịu tắm bùn.
– Theo anh những người lên đây là hợp lý?
– Nếu không thì họ lên đây làm gì?
– Anh với em cũng hợp lý?
– Đương nhiên rồi.
– Anh thấy ở đây con người ta sống với thiên nhiên nhiều hơn người Tây Phương.   Lúc đó phía dưới nguồn có một đám con gái bận đồ tắm đùa giỡn tạt nước nhau tung toé trông đẹp mắt vô cùng. Tuấn đi vô chòi lấy máy chụp hình ra chụp. Chụp xong mấy cô gái anh định cất máy, chợt thấy Thanh ngồi cao lên chiếc áo mỏng ôm sát thân hình dựa lưng vô tảng đá. Trên bờ suối cây rừng san sát nhau, không một bóng người, thân hình Thanh hài hoà với thiên nhiên trông rất là hoang dã. Anh quay máy nhắm ngay cảnh trước mặt nhá nhai ba cái. Bất ngờ làm Thanh giựt mình hụp người xuống nước.  Anh đi tới kêu cô leo lên tảng đá đứng, ngồi làm kiểu cho anh chụp thêm vài bôi nữa. Sau đó anh lại khe suối lấy hai lon Cocacola đem lại đưa cho Thanh một lon, hai người ngồi bên nhau vừa uống vừa bấm hình lại xem. Máy điện tử chụp hình rõ quá, Thanh phát hiện ra cô không bận nịt ngực nên chiếc áo mỏng dán sát vô người trông rõ cặp ngực tròn như trái bầu treo phía trước và lộ rõ hai núm vú thâm đen. Cô chỉ vô máy nói:
– Cái nầy kỳ quá, anh bấm bỏ đi.
– Đâu, đẹp đó chớ, quả là gái một con trông mòn con mắt.
– Mòn còn đỡ, anh móc mắt liệng đi.
– Tại em có ý tà nên mới kêu anh móc mắt. Thanh chỉ tay lên giữa trán Tuấn:
– Anh cũng biết Kinh Thánh? Không đợi Tuấn trả lời, cô nói tiếp:
– Chị Hai nói hồi trước về anh chụp hình mấy chị bạn của chị cũng sexy như vầy.
– Ban đầu chị Hai em cũng thấy kỳ, đòi anh bỏ hết mấy bức hình chụp mấy cô bạn trên suối nhưng bây giờ chị thích lắm và định rửa thêm gởi cho mấy cô bạn.
– Còn trẻ, đẹp nên chụp hình dành về già xem lại cho vui, chớ chờ già khú rồi chụp cho ma coi. Thanh cười rất tự nhiên và nhìn xuống ngực mình:
– Em cũng già rồi đẹp gì nữa.
– Em đẹp đâu thua gì các sơn nữ trẻ, bên Âu Mỹ mùa hè nhiều bà già vú móm nhăn nheo giống như vú con bò già hết sữa, vậy mà cũng xuống nằm phơi trên bãi cát. Thanh không nói thêm, cô đứng lên đi về chòi lấy chiếc khăn choàng lên vai và đi lại ngồi cạnh bên Tuấn.
– Em lạnh?
– Không anh, em sợ ngồi một lát nắng đốt cháy da.
– Anh có chai kem chống nắng để anh lấy thoa cho em. Tuấn qua chòi mở giỏ lấy chai kem đi lại, kêu Thanh day qua cho anh thoa kem lên lưng. Vừa thoa kem cho Thanh anh vừa nói:
– Hình như người Việt Nam mình ít dùng kem chống nắng.
– Có chớ anh nhưng người giàu mới xài, anh nghĩ coi mua gánh bán bưng như em, hoặc những người làm cỏ, gặt mướn thì làm sao dám xài một chai kem giá mấy chục ngàn đồng.
– Vậy mà anh tưởng người mình không quen xài kem.
– Anh nói người Việt mình ưa học theo Tây mà, mấy chuyện nầy sao bỏ qua được, thoa kem không bổ da cũng cho người ta biết mình giàu và sang giống Tây.
– Vậy anh thoa cho em rồi đó trông em có giống Tây chút nào không. Tuấn đưa chai kem qua cho Thanh:
– Em tự thoa đi. Thanh day lại ngã mình nằm ngửa ra tảng đá:
– Sẵn thoa thì anh thoa luôn cho em.
– Anh thấy em giống Tây rồi đó, nhưng hồi nãy chỉ nhìn vô hình thôi em đòi móc mắt anh liệng bỏ, bây giờ đụng vào chắc phải chặt luôn cánh tay quá. Thanh ngồi bật dậy nhéo lên vai Tuấn một cái thiệt mạnh rồi giựt lấy chai kem vén áo vừa thoa lên ngực, lên bụng vừa nói:
– Tới ngày Chúa phán xét những người trên thế gian tay, chưn, mắt, môi, mũi, lưỡi sẽ bị thẻo trụi lủi hết.
– Bỏ tất cả vô cối quết nhuyễn nhừ như tương còn chưa thấy gì nói chi tới tay, chưn, mắt, môi, mũi, lưỡi.
– Thà một lần như vậy còn hơn sống chẳng được gi.
– Em còn ngon như vậy mà thằng Phong không biết thưởng thức, thiệt là thằng ngu. Chợt nhiên Thanh day qua trừng mắt nhìn Tuấn:
– Anh… Cô định nói gì đó nhưng ngưng lại, rồi kéo khăn trải lên tảng đá và nằm xuống. Tuấn cũng nằm xuống cạnh bên, nói:
– Nằm phơi một lát rồi thu xếp đồ đạc, mình còn đi đón thằng Hùng là vừa.   Từ lúc trên suối về không hiểu sao, thái độ Thanh thay đổi hẳn. Cô trầm ngâm như suy nghĩ chuyện gì lung lắm. Về nhà tắm rửa thay áo quần màu trắng, cô đốt nhang bàn thờ. Không biết cô thờ ai mà không thấy hình, tượng gì hết. Chỉ thấy vài cuốn kinh Phật để cạnh bên bình bông và lư hương đầy chưn nhang. Sau khi đốt nhang cắm lên bàn thờ, cô quỳ xuống, hai gót chưn kê hai mông, hai tay để lên hai bắp đùi đầu cúi xuống, tóc xoã dài xuống lưng. Thấy cảnh tôn nghiêm quá, Tuấn bèn đi ra ngồi lên chiếc võng mắc hai đầu trên thân hai cây dừa phía sau nhà. Tuấn ngồi đu đưa trên võng nhìn hoàng hôn êm đềm trùm lên đồi núi. Chợt thằng Hùng đi ra nhờ anh chỉ nó nói vài câu chào hỏi bằng tiếng Anh. Thấy vậy anh mới hỏi nó:
– Con có muốn học tiếng Anh không?
Mắt nó sáng ngời:
– Con thích lắm nhưng không có tiền đóng học phí.
– Dượng sẽ cho con. Nhìn thằng nhỏ như cánh chim non chập chững tập bay và thèm biết cảnh trời cao đất rộng. Tuấn nhớ bữa trước anh ghé nhà cậu ba, cậu ấy đãi anh một tiệc  linh đình, sau đó cậu nói, nếu có khoảng hai chục ngàn đô cậu ấy sẽ làm giàu bằng cách nuôi tôm hùm. Và hỏi Tuấn có thể giúp cẩu không.
– Dĩ nhiên là không, Tuấn nói, cộng hết tài sản nhà tui lại cũng chưa có tới chừng đó tiền, thì lấy đâu ra mà giúp cho cậu. Bữa tiệc linh đình nhưng có lẽ vì câu nói này nên kết cuộc không được vui vẻ cho lắm. Tuấn vuốt đầu thằng Hùng, chỉ có mấy đứa nhỏ tâm hồn còn trong trắng, anh sẽ bàn với Thanh cố gắng vun trồng cho nó nên một người đàng hoàng. Anh nói với Hùng:
– Chuyện học hành của con, một lát nữa dượng sẽ bàn với má con, học sinh ngữ phải tới trường lớp đàng hoàng chớ học như vầy ra đường nói bậy nói bạ người ta cười. Hùng dạ nhỏ một tiếng và mặt nó rạng rở một niềm vui.  Ðêm xuống ánh trăng mỏng manh như chiếc đèn cong hình lưỡi liềm hoà cùng những vì sao toả ánh sáng yếu ớt trùm lên những mái nhà lá trên bờ ruộng. Thanh tay xách chiếc đôn từ trong nhà đi ra, cô đặt chiếc đôn và ngồi xuống trước mặt hai dượng cháu. Cô nói với thằng Hùng:
– Con vô nhà học bài, xong rồi đi ngủ, để má với dượng nói chuyện. Thằng nhỏ ngoan ngoãn, đứng dậy khoanh tay chào Tuấn rồi đi vô nhà.  
– Lâu lắm nhà không có hơi đàn ông, có anh nhà ấm lại.
– Vậy sao em không bước thêm bước nữa?
– Em thương cho thằng Hùng và tội nghiệp anh Phong.
– Thằng Hùng thương thì phải rồi. Còn thằng Phong bỏ em chớ đâu phải em bỏ nó đâu mà tội nghiệp.
– Anh không hiểu anh Phong đâu, cũng tại ba má mà ảnh bỏ đi.
– Ba má làm gì nó?
– Anh coi, trong thời buổi kinh tế khó khăn, ảnh làm không ra tiền, nghèo khổ chúng em cũng cắn răng chớ không dám hỏi nhờ ai hết. Ba má không giúp tụi em gì thì thôi còn nói nầy nói nọ, mỗi lần anh chị gởi tiền về cho tụi em, em ra lấy thì ba má cứ so sánh giữa anh Phong và anh để nói hành nói tỏi riết rồi sau nầy tụi em nghe anh chị gởi tiền về cho, tụi em cũng không dám ra nhà ba má lấy nữa. Nói tới đây Thanh gục mặt xuống hai đầu gối khóc. Tuấn chờ cho cô dịu xuống, anh mới nói:
– Ba, má vô lý thật.
– Nhớ lại nhiều chuyện làm em khóc hoài. Trước khi gả chị Hai cho anh tuy nhà nghèo, nhưng ba má  thương tụi em lắm, trên thuận dưới hoà, gia đình lúc nào cũng rộn rã tiếng cười rất là vui vẻ. Một trái xoài xẻ ra cũng chia đều cho mỗi đứa, có khi ba má phải nhịn phần mình cho con cái ăn. Khi mưa dông kéo về, nhà bị dột, chị em trong nhà đứa xách thau hứng chỗ nầy, đứa xách thùng hứng chỗ kia, rồi ngồi co ro trong góc nhà chờ mưa tạnh.
– Nhưng chẳng lẽ vì chuyện nầy mà Phong lại bỏ em?
– Hồi sanh thằng Hùng ảnh không làm ra tiền, buộc lòng ảnh ra hỏi mượn má, má nói sao anh biết không?
– Sao?
– Má nói, hồi đó biết mầy tệ như vầy tao gả con Thanh ra nước ngoài cho nó sướng thân. Tánh anh Phong cực khổ sao cũng được, nhưng ảnh không thể chịu được sự sỉ nhục của gia đình. Anh buồn quá trở về nhà bán miếng đất của ba ảnh để lại cho ảnh, lấy tiền giao hết cho em rồi trong đêm đó ảnh bỏ ảnh đi.
– Nhưng Phong nó đi đâu?
– Ảnh đi biệt cả năm sau mới gởi thư về cho em. Trong thư ảnh nói, ảnh tu trong một ngôi chùa ở Huế nhưng ảnh không cho em biết là chùa nào. – Cũng tại anh cưới chị Hai em mà gia đình em đổ vỡ, nhưng em có dự định gì tương lai cho mẹ con em không? – Nếu em tái giá chắc anh Phong buồn lắm và  tội cho thằng Hùng sống với dượng ghẻ biết có được sung sướng không. – Theo anh nghĩ, nếu Phong đi tu thiệt thì nó sẽ vui khi hay tin em lấy chồng.
– Anh Phong khuyên em nên noi theo gương công nương Yasodhara.
– Qui y như nó luôn hả? Cái thằng kỳ cục, xuầt gia rồi mà còn lo lắng nhiều quá thì bao giờ mới thành chánh quả. Nhưng công nương Yasodhara ngày xưa sống trong hoàng cung, có người hầu kẻ hạ. Còn em với thằng Hùng sống nơi đồng không mông quạnh như vầy, ngoại trừ em biến nơi đây thành một cái am và em là một ni cô thật sự, chớ sống tiên không ra tiên tục không ra tục thì cũng khó cho em.
– Theo anh nói thì trong hai cách sống em nên chọn một? – Dỉ nhiên, em chọn ra đường rồi thì em mới có hướng đi.
– Trước kia anh thấy chuyện gia đình làm chị Hai em khổ sở mặt mày lúc nào cũng cau có, đôi khi cọc cằn với anh vô cớ, hai đứa cháu em còn nhỏ xíu mà bị nó la chửi hoài, có lúc bị chị em đánh đòn. Gia đình cứ xào xáo hoài, cũng chỉ vì ba cái tiền bạc gởi nhiều gởi ít. Anh chán quá, đôi lần anh định bỏ đi, nhưng nghĩ lại anh đi rồi và ở bên nhà ba má có thay đổi được gì và gánh nặng lại trút lên mình chị Hai thêm và còn hai đứa nhỏ nữa, không có anh tụi nó lớn lên sẽ ra sao. Thay vì bỏ đi, anh ở lại nhà tìm cách dìu dắt chị em vượt qua  trong lúc khó khăng. Bây giờ mọi chuyện coi như tạm ổn rồi anh cũng thấy yên tâm.
– Phải chi anh Phong nghĩ như anh thì ảnh đâu có bỏ em.
– Mỗi người có cách nghĩ khác nhau, Phong đi tu mấy năm rồi.
– Lúc thằng Hùng lên bốn tuổi. Mười năm trôi qua, có lẽ Phong đã lên hàng đại đức.
– Nếu một đại đức hoàn tục trở về sống với em thì em nghĩ sao?
Thanh ngẩng người:
– Chuyện nầy trước tới giờ em chưa nghĩ tới.
– Vậy thì nghĩ thử coi.  
– Anh Phong khuyên nên em nên tĩnh tâm, giữ năm giới của đạo Phật, nhưng nhiều lúc ngồi một mình trong căn nhà giữa đồng không mông quạnh như vầy em thấy buồn khủng khiếp.
– Nếu em chịu không được sự cô đơn thì coi ai thương mình thật lòng thì làm đám cưới với họ. Em đâu cần phải đi tu, sống ngoài đời em vẫn giữ được những giới cấm của nhà Phật.
Thấy không khí có vẻ nghiêm trang Tuấn khôi hài:
– Còn nước còn cái như em mà vô chùa thì sẽ làm mấy ông sư điên đảo hết tâm thần.
– Cái anh nầy.
– Nhưng yêu đương là chuyện riêng tư của em thì em tự tính lấy. Phần anh, anh định nhận thằng Hùng làm con nuôi, anh chị sẽ lo cho nó ăn học. Em nghĩ thế nào? – Dượng, dì thì cũng như cha, mẹ anh tính như vậy cũng được, nhưng anh chị lo cho ba, má, còn lo cho mẹ em nữa có gánh nặng lắm không?
– Không sao, mấy người lớn vô dụng cho họ ăn để chờ chết, từ đây trở đi anh dồn tâm trí lo cho những đứa nhỏ, thằng Hùng cũng như con anh, hai chị nó bên bển có gì thì ở đây nó có nấy, chúng nó cần được săn sóc dạy dỗ thành một một người sống có tình có nghĩa, đừng để chúng dẩm  theo cách sống của những con người đầu óc tối tăm mà tánh tình thì tham lam và bịp bợm không ai bằng.  Một hồi còi xe lửa vang dội núi rừng làm hai người im lặng hồi lâu.
Tuấn nói:
– Kèn xe lửa lúc nào nghe cũng buồn.
Thanh nói: – Chuyến tàu từ Hà Nội vào Thành Phố. Ngày xưa nghe hai tiếng Hà Nội anh tưởng chừng xa thăm thẳm, bây giờ anh thấy gần xịt.
– Lần sau anh đưa chị em ra Hà Nội chơi.
– Lần sau là bao lâu?
– Tùy hoàn cảnh thôi.
– Anh có định về đây ở không?
– Đất lành thì chim đậu.
_ Đất ở đây rất lành nhưng nhiều thợ săn quá sợ không giữ nổi cánh chim bạt ngàn như anh. – Đúng hay sai gì thì cũng là quê hương.
– Chớ không phải nơi nào có tự do nơi đó mới là quê hương sao?
– Anh nghĩ, người nào nói ra câu đó thì người đó sẽ không bao giờ có được một quê hương thật sự. Cơn gió thoáng ngang Tuấn nghe người thấm lạnh, anh nói:
– Khuya rồi, em vô lấy chiếc nóp anh để bên góc buồng đem ra cho anh rồi em vô ngủ đi.
– Anh vô nhà ngủ, em đã giăng mùng cho anh ở phía trước, càng về khuya sương xuống càng nhiều, nằm ngoài nầy ướt hết.
– Không sao đâu, chiếc nóp của anh có thể ngủ được ngoài mưa, huống hồ chi mấy thuở mới ngủ được ngủ giữa núi đồi đồng ruộng, thêm chút sương ướt cho thắm đượm tình quê.  Thanh đứng lên đi vô nhà lấy chiếc nóp cuốn tròn trong chiếc túi nylong đem ra đưa cho Tuấn, cô nói:
– Anh không nghe em, anh ngủ ở đây sáng bịnh thì hết về thành phố.
– Hết về thì ở lại chơi với mẹ con em thêm một ngày nửa, lo gì. Thanh vừa trở vô nhà vừa càu nhàu:
– Nghệ sĩ mười người hết chín đầu óc luôn lúc nào cũng có vấn đề.   Bao nhiêu năm sống căng thẳng trên các thành phố Tây Phương, lắm khi những tiếng động của công xưởng, xe cộ làm anh mất ngủ, nay trở về được nằm giữa đồng ruộng, núi đồi của quê hương đất nước, lòng anh êm ả vô cùng, anh bắt đầu đều hoà hơi thở theo tiếng kêu rỉ rả của côn trùng và đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng không mộng mị…  

Chú Thích:
* Khánh Hòa có sáu câu vè nói lên đặc tính sáu nơi :
 Mây Hòn Hèo.
 Heo Đất Đỏ.
 Mưa Đồng Cọ.
Gió Tu Hoa.
Cọp ổ Gà.
Ma Đồng Lớn.

Bức thơ mùa Giáng Sinh!

Đoàn Xuân Thu – Melbourne
chuyển ngữ

Có môt ông làm ở Sở Bưu Điện. Nhiệm vụ của ông là: tìm cách giải quyết những bức thơ mà địa chỉ người nhận do người gởi đi ghi, viết tháu… rất khó đọc!

Một ngày, có một bức thơ viết tay, với hàng chữ run rẩy, gởi cho Đức Chúa Trời. Ông nghĩ: mình nên mở nó ra, xem bức thơ nói cái gì?

Bức thơ viết rằng:

Kính thưa Đức Chúa Trời!

Con là góa phụ, 83 tuổi, và sống nhờ tiền trợ cấp an sinh xã hội rất là còm cõi. Hôm qua người ta đã ăn cắp mất cái ví tiền của con rồi! Trong ví, chỉ vỏn vẹn 100 đô la, là số tiền còn lại của con từ nay cho đến kỳ trợ cấp an sinh lần tới!

Thứ Ba tuần tới là ngày Chúa Giáng Sinh, và con đã mời hai người bạn thân đến ăn tối! Không tiền, con không làm cách chi mua được thực phẩm. Mà con không còn ai là thân bằng quyến thuộc để mà nhờ vả được, và Ngài là niềm hy vọng duy nhứt còn lại của con!

Xin Đức Chúa Trời hãy giúp con với!

Thành kính.

Edna.

Người nhân viên Bưu Điện rất xúc động. Ông đưa bức thơ cho những người đồng nghiệp khác xem. Mỗi người vét bóp, tìm được vài đô la, và khi góp hết một vòng, số tiền quyên góp lên được 96 đô!

Ông bèn bỏ số tiền đó vào một phong bì và gởi lại cho bà cụ rất đáng thương kia!

Suốt ngày hôm đó, những người nhân viên Sở Bưu Điện cảm thấy lòng mình ấm áp khi nghĩ tới Edna, nghĩ tới nghĩa cử của mình đã giúp Edna chia sẻ bữa ăn tối Giáng Sinh cùng hai người bạn của bà!

Giáng Sinh đến rồi đi!

Vài ngày sau, một bức thơ cũng do Edna viết, gởi Đức Chúa Trời.

Tất cả các nhân viên Sở Bưu Điện, đã tham gia vào cuộc quyên góp, tụ tập lại và bức thơ được mở ra, đọc lớn lên cho ai nấy đều nghe.

Kính thưa Đức Chúa Trời!

Không thể nào diễn tả hết lòng biết ơn của con trước hành động ban phước của Ngài.

Với món quà tặng đầy lòng yêu thương của Ngài, con đã đãi cho hai người bạn của con, một bữa ăn tối Giáng Sinh thiệt là thịnh soạn. Chúng con đã trải qua một ngày rất hạnh phúc và con đã nói với hai bạn con rằng: đây là một món quà Giáng Sinh tuyệt vời từ tay Thiên Chúa đã ban tặng cho con.

Tiện đây, con cũng xin báo với Ngài rằng: Con bị mất hết 4 đô la!

Con nghi chắc là do bàn tay “nhám nhúa” của mấy “thằng” làm ở Sở Bưu Điện “chôm chỉa” của con  mất rồi!

Đoàn Xuân Thu – melbourne
chuyển ngữ

LONG TÂN DAY: Ngày Cựu Chiến Binh Việt Nam 18.8 của binh sĩ Úc chiến đấu chống cộng sản Bắc Việt xâm lăng

Posted on August 18, 2023 by dongsongcu

TVTS

Post by Sơn râu 19 Aug 2023

Đại diện Hội Cựu Quân nhân QLVNCH đặt vòng hoa tại Đài Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong ở Melbourne nhân ngày Long Tan Day 18.8.2022. Hình: Anne Nguyen

Hôm nay, một ngày trước ngày Long Tan Day 18.8.2023, Cựu Phó thủ tướng Barnaby Joyce đã tôn vinh những nam nữ quân nhân Úc được vinh danh vào ngày 18 tháng 8, và nói rằng Việt Nam không phải là một cuộc chiến vô nghĩa, không có mục đích.

Dân biểu Joyce của đảng Quốc gia nói với người dẫn chương trình Sky News, ông Andrew Bolt: “Việt Nam là nơi họ chiến đấu và cũng là nơi họ dừng lại. Nếu chúng ta không làm cạn kiệt nguồn lực của cộng sản thì họ đã tiếp tục tiến tới.”

Bài sau đây trích từ tuần-san điện tử etvts.com.au phát hành ngày 16.8.2023.

* * *

Mỗi năm  vào ngày 18 tháng 8, nước Úc  của chúng ta tưởng niệm Ngày Cựu chiến binh Việt Nam, nhân kỷ niệm Trận chiến Long Tân xảy ra năm 1966 tại Việt Nam. Đây là dịp để tưởng nhớ sự hy sinh của những người đã chết và nói lời cảm ơn đến gần 60,000 người Úc đã phục vụ trong 10 năm Úc tham dự vào Việt Nam Chiến tranh.

Riêng đối với người Việt Nam tị nạn đang sống ở Úc, đây là dịp để biết ơn và tỏ lòng tưởng nhớ đến các binh sĩ Úc đã hy sinh trong trận Long Tân và 521 binh sĩ đã hy sinh tại chiến trường miền nam để bảo vệ sự tự do dân chủ cho người dân nước Việt Nam Cộng Hòa.

Trận Long Tân

Trận Long Tân là một thời điểm quan trọng trong cuộc chiến của Úc tại Việt Nam. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1966, tại một đồn điền cao su gần làng Long Tân, những người lính Úc đã đánh một trong những trận ác liệt nhất của cuộc chiến. Những người của Đại đội Delta, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn Hoàng gia Uc, phải đối mặt với một lực lượng khoảng 2000 quân Bắc Việt và Việt Cộng. Trận chiến diễn ra trong điều kiện ẩm ướt và lầy lội trong một trận mưa lớn nhiệt đới.

Các binh sĩ Úc thuộc đại đội D6 RAR tạm ngưng thu lượm vũ khí trên chiến trường ngày sau trận Long Tân. Nguồn hình: AWM FOR/66/0669/VN

Đến cuối ngày, 17 người Úc đã thiệt mạng và 25 người bị thương, một trong số họ đã chết vài ngày sau đó. Đây là con số thương vong lớn nhất trong một cuộc hành quân kể từ khi Lực lượng Đặc nhiệm Úc thiết lập căn cứ tại Núi Đất gần đó vào tháng 4 trước đó.

Khi binh sĩ Úc quay trở lại vào sáng hôm sau để thực hiện nhiệm vụ khủng khiếp là ‘dọn dẹp chiến trường’, họ tìm thấy 245 xác địch, mỗi xác phải được lục soát cho mục đích tình báo trước khi chôn cất.

Vào ngày này, chúng ta kỷ niệm tất cả các trận chiến của người Úc tại Việt Nam, từ các cuộc hành quân quy mô lớn đến các cuộc chạm trán cấp trung đội và khu vực. Chúng ta tưởng nhớ các thủy thủ của Hải quân Hoàng gia Úc đã hỗ trợ các hoạt động trên bộ và các thành viên của Lực lượng Không quân Hoàng gia Úc đã phục vụ trong vai trò chiến đấu và vận chuyển.

–Một ngày để nói ‘cảm ơn’

Vào Ngày Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans’ Day), chúng ta hãy dừng lại và suy ngẫm về lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội và sức chịu đựng mà người Úc đã thể hiện trong suốt cuộc chiến.

Chúng ta vinh danh những cựu chiến binh đã: hy sinh trong trận chiến; trở về nhà bị thương, bị bệnh hoặc bị thương, chết trong những năm kể từ khi họ trở về; vẫn mang những vết sẹo về thể chất và tinh thần trong quá trình phục vụ của họ.

Chúng ta cũng tạm dừng để suy nghĩ về tác động của nghĩa vụ đối với gia đình của các cựu chiến binh.

Thủ hiến Daniel Andrews của TB Victoria với khăn quàng cổ có hình cờ Việt Nam Cộng Hòa phát biểu trong ngày Long Tan Day 18.8.2023 tại Đài Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong ở Melbourne. Hình: Anne Nguyen

–Tưởng niệm các cựu chiến binh Việt Nam

Một số cựu chiến binh cảm thấy họ đã không được vinh danh vì đã phục vụ đất nước của họ tại Việt Nam. Năm 1987, các cựu chiến binh đã nhận được một cuộc diễn hành chào mừng họ trở về nhà mà một số người cảm thấy họ đã bị từ chối khi họ trở về nhà sau chiến tranh. Khoảng 22,000 cựu chiến binh Việt Nam đã diễu hành qua thành phố Sydney, trước đám đông khoảng 100.000 người Úc. Cuốn Homecomings kể lại những trải nghiệm đó.

Đài Tưởng niệm Quốc gia Lực lượng Việt Nam (Vietnam Forces National Memorial) trên đường Anzac Parade ở thủ đô Canberra được chính thức khánh thành vào ngày 3 tháng 10 năm 1992.  Đài tưởng niệm nay tưởng nhớ  tất cả quân đội Úc,  gồm Lục quân, Hải quân Hoàng gia Úc và  Không quân Hoàng gia Úc và các nhân viên liên quan đã phục vụ tại Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam.

(Tham khảo tài liệu Bộ Cựu Chiến binh Úc)

Nguồn: https://tvtsonline.com.au/tin-tuc/tin-nuoc-uc/long-tan-day-ngay-cuu-chien-binh-viet-nam-18-thang-8/

26 Aug 1969, Long Thanh, Vietnam — Long Thanh, Vietnam: Australian “diggers,” who fought in the 1966 Battle of Long Thanh, stand at attention as a cross is dedicated to the men who died in the bloody clash. A chopper was used to transport the cross from Nui Dat to the site of the battle. August 26, 1969. — Image by © Bettmann/CORBIS

Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 19 Aug 2023

Kỳ cuối

Hai tù hình sự có nhiệm vụ khiêng Trọng sang bệnh xá, khi trở về đã kể rằng, Trọng nằm trên cáng, một nữ ý tá tới tiêm cho anh một mũi rồi đi ra cửa đứng chờ, tại đây cán bộ Ðản cũng đang đứng chờ.

Mấy phút sau họ nghe Ðản hỏi cô ý tá,

– Sao lâu thế? Sao nó chưa chết?

Người nữ y tá trả lời,

– Cũng phải chờ cho thuốc ngấm chứ! Mạch của anh ta yếu lắm! Thuốc không thể ngấm nhanh. Phải chờ! Chắc cũng không lâu lắm đâu!

Quả nhiên chỉ hai phút sau Trọng chết thật.

Trên tờ giấy chứng tử, cô y tá ký tên một bên, cán bộ Ðản ký tên một bên công nhận rằng bệnh nhân Nguyễn Văn Trọng đã chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng.

Không ai biết thật sự Trung tá Trọng đã chết vì bệnh kiết lỵ hay đã chết vì một mũi tiêm thuốc độc?

Thời gian sau Thầy Bình được chuyển sang nhốt chung buồng với cựu Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn.

Bình và Ðoàn tiếp tục bị bỏ đói, rồi ít bữa sau thấy Ðoàn nằm bất động, Lê Thái Bình lại bắc loa tay,

– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!

Cán bộ bước vào vạch mắt Ðoàn ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðoàn đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,

– Chết rồi! Ðem đi!

Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðoàn xuống nhà tẫn liệm.

Khác với những lần trước, vừa đặt cái cáng xuống đất thì hai anh hình sự nghe tiếng rên,

– Ðói! Ðói! Ðói!

Một anh hình sự vội cho Ðoàn húp bát cháo, Ðoàn sống lại!

Hóa ra anh tù Bùi Bằng Ðoàn chỉ bị đói quá mà ngất đi.

Sở dĩ có chuyện chết đi, sống lại này chỉ vì khi vào vạch mắt Ðoàn để kiểm tra, cán bộ thấy mắt Ðoàn đứng tròng, y tưởng Ðoàn chết rồi, nên mới cho người vào khiêng anh xuống nhà xác.

Không ngờ, Bùi Bằng Ðoàn bị chột, một mắt thật, một mắt giả, cán bộ đã vạch nhằm con mắt giả, thấy con mắt giả đứng tròng, y tưởng Ðoàn đã chết nên mới cho mang xác đi chôn.

Nếu nó vạch con mắt thật ra coi thì Ðoàn sẽ phải nằm đó chờ, chắc chắn sau đó không lâu sẽ chết thật.

Chính con mắt giả của Bùi Bằng Ðoàn đã cứu mạng anh ta.

Từ đó cứ nghe báo cáo có người chết thì cán bộ khám xét cẩn thận hơn bằng cách vạch cả hai mắt nạn nhân ra mà coi, nếu cả hai con ngươi đều bất động thì nạn nhân mới được khiêng đi, nếu một mắt còn động đậy thì cứ để nằm đó chờ chết.

Trong khi đó thì một trại viên khác chết rất âm thầm, anh ta chết đã hai hay ba ngày sau mới bị cán bộ phát giác vì không có ai chứng kiến, không có ai nhốt chung buồng.

Người chết là cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân tên là Sanh.

Anh Sanh là con trai của chủ nhân nhà hàng “Quán Biên Thùy” ở Nhà Bè.

Thế rồi, một đêm, Nguyễn Văn Hồng đã vĩnh viễn ra đi, tác giả “Ðôi giày dũng sĩ” không còn nữa! Con chim ái quốc ấy đã hoàn toàn kiệt sức, không thể cất nổi tiếng hót sau cùng.

Chỉ vì cuối năm 1978 sau khi bị cùm vì tội vượt ngục lần thứ nhì thất bại, tôi đã gặp lại Ðại Ðức Lê Thái Bình ở Trại Phú Sơn 4, Thầy Bình hỏi tôi bí quyết để sống còn khi bị kiên giam, thì tôi đã giải thích cặn kẽ cho Thầy Bình biết rằng,

“Người bị kiên giam vì đói quá, nên mỗi khi được phát cơm, ngô, khoai, sắn hay bo bo, ai cũng ăn thật nhanh cho hết bữa; còn tôi chỉ ăn nhín nửa phần, tới nửa ngày sau mới ăn phần còn lại. Cách ăn này giúp cho cái dạ dày lúc nào cũng đói, lúc nào cũng no. Nhờ vậy mà không bị chết đói!”

Nhớ tới kinh nghiệm “vượt đói” của tôi, Thầy Bình đã cố gắng đánh lừa dạ dày trong suốt thời gian hơn hai năm bị kiên giam ở Trại Mễ nên mới còn hiện diện trên cõi đời này!

Trong thời điểm đó thì ở Nam Hà A, mỗi khi có chuyện xáo trộn như chuyển trại, hoặc nhận thêm người thì cán bộ lại thi hành một đợt kiểm tra và “biên chế”.

Khi “biên chế” thì tù bị trộn lộn, từ đội này chuyển sang đội khác, từ buồng này dọn qua buồng khác.

Lợi dụng cơ hội này, ít lâu sau khi được chuyển đội, ông Trung tá Nguyễn Văn An bèn vượt ngục lần thứ hai.

Rồi ông An cũng bị bắt lại, lần này cai tù không đá đít ông rồi cho phép ông về lại Buồng 15 nữa.

Ông bị tống cổ vào nhà kỷ luật, chịu đủ loại cực hình, rồi bị đưa ra Trại Mễ.

Ít lâu sau thì ông An chết.

Chuyện Trung tá An vượt ngục, rồi chết, tôi đã nghe cựu Ðại tá Cao Văn Ủy tóm tắt lại như sau:

“Anh An vượt ngục một lần nữa để tìm về quê, nhưng chưa tới nhà đã bị bắt lại. Anh bị giam trong phòng kín, có khóa và có lính canh rất cẩn mật. Mỗi ngày anh đều bị dẫn lên văn phòng của Ban Xuyên tức là viên Trung tá Công An Việt-Cộng tên Xuyên, Trưởng Trại Nam Hà để khai báo và nhận cực hình. Tuần lễ đầu, Ban Xuyên, cho lũ chó bẹc giê cắn gãy hai chân anh. Tuần lễ thứ nhì, y cho chó cắn gãy hai tay anh. Tuần lễ thứ ba, y cho chó cắn nát hạ bộ của anh. Sau khi anh ngất đi, tên Xuyên mới gọi y tá đem anh xuống bệnh xá để băng bó tất cả các vết thương trên người. Ngày tiếp đó, anh An bị áp tải lên xe, chở ra bệnh xá ngoài Trại Mễ. Tại đây, anh tiếp tục bị bỏ đói cho tới chết. Anh Trung tá Biệt Ðộng Quân Nguyễn Văn An đã trút hơi thở sau cùng trên mảnh đất mà anh đã sinh ra là Phủ Lý.”

Xác Trung tá An được chôn ở bãi tha ma Trại Mễ. Nơi đây đã có ba sĩ quan Cảnh-Sát Quốc-Gia yên ngủ từ năm 1979, đó là Trung tá Lê Văn Thảo, Trung tá Ðoàn Ðình Từ và Trung tá Nguyễn Lê Tính. Ba sĩ quan Cảnh Sát này đã chết vì kiệt sức.

Cạnh mộ của Trung tá Nguyễn Văn An là mộ của Trung tá Nguyễn Văn Trọng, hoa tiêu trực thăng Biên-Hòa, kế đó là mộ của Ðại tá Nguyễn Phán, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Ðoàn II.

Ông Trung tá Trọng chết vì bị bỏ đói và bị chích một mũi thuốc độc (?) thay vì thuốc trị bệnh kiết lỵ, còn ông Ðại tá Phán qua đời vì bị điên, bị đói, và kiệt sức.

Nhân số Ðội 20 cứ hao hụt dần theo thời gian.

Lâu lâu cán bộ lại họp nhau bình xét, chấm điểm. Ai được điểm cao sẽ được cho về lại Nam-Hà A.

Tới năm 1984 thì tên Trung tá Xuyên về nghỉ hưu. Người thay thế tên Xuyên là một Trung tá Công An tên là Lưu Văn Hán.

Lưu Văn Hán đã từng nhiều năm phục vụ trong ngành Công An ở Miền Nam.

Y đã chứng kiến những điều hay, đẹp, văn minh, nhân đạo, và tiến bộ của xã hội Miền Nam.

Y đã mở tầm mắt để thấy rằng những con người mà y đang giam giữ kia chính là tinh hoa gạn lọc của cả một chế độ, của cả một Miền Nam tiên tiến, văn minh.

Y đã nhìn ra cái giá trị đích thực ẩn tàng trong những con người khốn khổ mà y đang cầm mạng sống.

Vì thế, ngay sau khi nhận chức ít lâu, Lưu Văn Hán đã cho những người còn sót lại của Ðội 20 được trở về Nam Hà A.

Những người bị biệt giam lâu nhất đã ở Trại Mễ đúng hai năm rưỡi.

Họ ra khỏi trại này mà chỉ còn có da bọc xương. Thượng Ðế đã không chấp thuận cho họ được chết, nên tên Xuyên đã về hưu.

Anh Mai Văn Tấn và anh Lê Thái Bình đã may mắn sống sót và được về Nam Hà A lao động trở lại.

Sau đợt chuyển tù vào Nam năm 1982 thì tất cả tù còn sót lại từ Hà-Tây, Phong-Quang, Tân-Lập, Vĩnh-Phú đều tập trung về Nam-Hà A.

Nhân số của trại vào lúc Mai Văn Tấn và Lê Thái Bình quay lại có khoảng trên dưới 300 người.

Anh Lê Thái Bình thường đi lấy củi trong khu nghĩa trang tù.

Nghĩa trang tù của Trại Nam-Hà A lúc nào cũng vắng lặng vì ít khi có người vãng lai. Ở đây, ngôi mộ của Trần Hàn có lẽ là nơi buồn nhất, vì đó là một nấm đất cô đơn, nằm cách biệt với nghĩa địa gần trăm thước.

Không biết tự bao giờ, ai đó đã trồng ba cây phượng vĩ trên đỉnh đồi này.

Ðầu mùa Thu, chỉ cần một cơn gió nhẹ lướt qua, hoa phượng đã rơi lả tả.

Thật là không còn gì buồn hơn cảnh tượng đường trơn mưa Ngâu tháng Bảy, âm thầm trên mộ hoa rơi.

Lâu lâu Lê Thái Bình lại ghé chốn này, thắp một nén nhang cho Trần Hàn.

-oOo-

Xương cốt về Nam…

Tới đầu Xuân 1988 là đợt phóng thích tù chính trị sau cùng, tôi cũng được thả về kỳ này.

Từ nay, trên toàn cõi Việt-Nam chỉ còn hơn một trăm tù nhân gốc Quân, Cán, Chính, Việt-Nam Cộng-Hòa mà thôi.

Số tù còn lại này, trong đó có Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Ðại tá Cao Văn Ủy được tập trung về Trại Z30D là nơi tôi vừa đi qua cổng với cái giấy ra trại.

Dù bận bịu vì sinh kế, nhưng Mai Văn Tấn, Lê Thái Bình và tôi cũng thường có dịp gặp mặt nhau.

Bình kể cho tôi nghe rằng qua sự giới thiệu của anh Phụ là một cựu sĩ quan Cảnh-Sát Ðặc-Biệt, bạn thân của anh Trần Hàn, gia đình anh Trần Hàn biết Ðại đức Lê Thái Bình là người biết rõ mộ phần của Trần Hàn nằm ở chỗ nào trong nghĩa trang, nên đã nhờ anh Lê Thái Bình đi ra Bắc bốc mộ cho anh Hàn.

Theo chương trình dự trù thì Lê Thái Bình sẽ tháp tùng hai người nhà của Trần Hàn lên xe lửa từ Ðà-Nẵng đi Hà-Nội, rồi thuê xe hơi để vào Nam-Hà.

Ðúng hẹn, sáng sớm ngày hôm trước, Lê Thái Bình từ Ðồng Tháp theo xe đò đi Ðà-Nẵng.

Xe vừa đổ Ðèo Cù Mông thì bị đứt thắng, xe lao nhanh xuống dốc.

Ai ngồi trên xe cũng tưởng phen này thế nào cũng chết.

May thay, trong giây phút thập tử nhất sinh ấy, thì phụ tài xế đã giựt được tay lái để xe tông vào vách đá.

Chiếc xe lộn một vòng rồi nằm im. Có hai hay ba người chết, số còn lại đều bị thương. May mắn thay, anh Bình chỉ bị thương nhẹ.

Bình tới Ðà-Nẵng đúng lúc người nhà của Trần Hàn sửa soạn lên xích lô để ra ga. Bình nhập đoàn với họ, mà không kịp có thời giờ rửa tay, và băng bó những vết sây sát trên người.

Ở ngoài Bắc, thời gian này Trại Nam-Hà đã hoàn toàn trở thành một trại tù hình sự.

Chỉ có những người đã chết thì vẫn còn nằm ở đây.

Năm này qua tháng nọ, có lẽ linh hồn các bạn đang yên ngủ ở đây vẫn mong chờ thân nhân tới bốc mộ, đem xương cốt họ về Nam?

Bình dẫn con của Trần Hàn tới một ngôi mộ cô đơn nằm cách nghĩa trang gần trăm mét.

Trong khi kiểm tra hàm răng của Trần Hàn, người con trai của anh Hàn đã thấy một cái răng vàng. Thời sinh tiền, hàm trên của Trần Hàn cũng có một chiếc răng vàng.

Vậy là đúng rồi! Chuyến đi hốt cốt này chắc chắn họ đã không đào nhầm mồ người khác.

Khi gom xương anh Hàn từ dưới mộ lên, anh Bình đã phát giác ra, xương cánh tay trái của Trần Hàn không nằm song song với người anh, mà nằm ở sau lưng anh. Chứng tích này có thể lý giải rằng tay trái của anh Hàn đã bị gãy vì tra tấn.

Xong việc cải táng, Lê Thái Bình giã từ gia đình Trần Hàn, giã từ Ðà Nẵng, lên tàu về Sài-Gòn.

Nhưng sau khi lên tàu hỏa được vài phút thì Bình sờ túi sau, cái bóp đã bị kẻ cắp chớp mất rồi! Vậy là Bình đành nhịn đói, chịu khát cho tới ngày về tới nhà tôi.

Thì ra, giờ đây, tay nghề của dân móc túi ga Ðà-Nẵng đã không thua kém gì tay nghề của kẻ cắp chợ Ðồng Xuân ngoài Bắc.

-oOo-

Dư âm xưa còn vang vọng…

Cuối năm 1988 chúng tôi bắt đầu nộp đơn để được xuất cảnh đi Hoa-Kỳ định cư theo chương trình H.O.

Những người có tên trên danh sách HO1, và gia đình của họ đã tới Mỹ từ tháng Giêng năm 1990, vậy mà tới tháng 5 năm 1992 Trại Z30D mới thực sự không còn ai là tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa nữa.

Bốn người tù sau cùng là Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Ðảo và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai đã về tới nhà ngày 5 tháng 5 năm 1992.

Vì có thâm niên 13 năm tù, tôi có tên trên danh sách RD2 nên được ưu tiên xuất cảnh tiếp ngay sau cái đuôi của H15.

Tôi tới Mỹ tháng 4 năm 1993, và chưa một lần về thăm lại Việt-Nam.

Sáng nay tôi vừa nói chuyện với anh bạn cựu phi công Trần Tiến Bích, Bích hỏi tôi có nhớ chuyện cái radio ở Nam Hà A hay không, tôi trả lời rằng có nhớ. Thấy tôi chưa quên chuyện này, Bích bèn nói một hơi,

– Ông có nhớ cái đêm Thứ Bảy trời mưa, chiếc máy thu thanh cứ kêu “cà rẹc! cà rẹc!” khó nghe, tôi phải mở hết volume. Không ngờ âm thanh phát ra lớn quá làm cho thằng Tịnh chú ý, nó kiễng chân lên dòm chỗ tôi với ông nằm. Tôi sợ quá, báo cho ông biết. Vì thế sáng hôm sau ông đã chuyển cái radio qua Buồng 15. Nếu mình giữ nó thêm một ngày nữa thì ông và tôi dính cựa rồi!

Ghê quá! Ðến cái thùng chứa vôi bột trong cầu tiêu mà ông thường giấu chiếc radio cũng bị tụi nó lật úp để kiểm tra. Ghê quá!

Bạn Trần Tiến Bích nói đúng đó! Vì theo chu kỳ dự trù thì Buồng 16 sẽ giữ cái radio cho hết ngày Chủ Nhật, tới chiều Thứ Hai thì Tạ Văn Quang sẽ mang nó qua Buồng 15. Nhưng ngay lúc sáng tinh mơ Chủ Nhật, tôi đã mang nó sang Buồng 15 giao cho bạn Trần Tấn Hòa.

Tôi nghĩ rằng nếu tên Tịnh mà báo cáo cho cán bộ biết cái radio đang ở Buồng 16 thì chỉ có tôi và Trần Tiến Bích bị khám xét, không ngờ sáng Thứ Hai toàn trại bị thanh tra.

Nhắc tới Lê Văn Tịnh, tôi bèn hỏi Bích,

– Bích có biết giờ đây Lê Văn Tịnh còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì Tịnh đang ở đâu?

Bích cười,

– Muốn tìm cố nhân thì ông cứ lên Face Book mà nhắn tin.

Tôi biểu đồng tình,

– Ừ há! Ðể mình vào Face Book tìm xem có gặp được cố nhân không?

Bỗng dưng, danh từ “cố nhân” đã khiến Bích và tôi khao khát được nghe lại tiếng đàn của Lê Văn Chánh.

Vào những đêm mưa, Chánh thường ôm cây guitar hát đi, hát lại bài “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy.

“Ðêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai

Duyên kiếp trong cuộc đời

Ðem xuống nơi tuyền đài

Ðể thành ngọc đá mong chờ ai…”

Lạ một điều là những lúc thả hồn theo từng nốt nhạc thì Lê Văn Chánh chỉ lim dim đôi mắt mà không khóc.

Nhưng giữa đêm khuya, tiếng đàn của nó nghe thảm thiết vô cùng.

Tiếng đàn của nó có lẽ còn buồn hơn là tiếng mưa rơi trên mái nhà.

Tiếng đàn đó đã làm cho hai hàng lệ nóng tuôn trào trên những đôi má đã khô cằn của những người tù già như Dương Khắc Ðệ, Nguyễn Hữu Huyến, Nguyễn Khắc Tĩnh.

Thế rồi tôi liên tưởng tới chuyện thăm nuôi, tới cái chết vì đạn lạc của cháu bé từ Nam ra Bắc thăm bố đang bị tù, và nhớ chuyện “Anh chui qua rào…” của người phi công què ở Nam-Hà A, tôi thắc mắc,

– Bích có tin gì về anh bạn Thần Tượng cụt chân ở Trại 9 không?

Bích cười hô hố,

– Nó đi H.O rồi! Ðang ở Texas! Giờ đây nó có chân giả, đi đứng ngon lành, đẹp trai, đắt đào lắm!

Nghe Bích nói thế, tôi cũng cười hô hố,

– Vậy là hắn ta hết còn được phân công làm việc nhẹ! Nếu gặp hắn, Bích cho mình gửi lời thăm.

Hết tâm tình cùng Trần Tiến Bích, tôi chuyển sang gọi Mai Văn Tấn, Tấn đang chơi với cháu, nhưng nghe tiếng tôi thì bỏ cả cháu mà bàn chuyện Trại Mễ, chuyện Trung tá Nguyễn Văn An, chuyện Binh nhì Bùi Bằng Ðoàn, chuyện bỏ đói, chuyện kiên giam…

Ðiện thoại của Mai Văn Tấn hết điện trì, tôi bèn bấm số Texas tìm Lê Thái Bình.

Thầy Bình đang làm công quả trong một ngôi chùa Việt-Nam ở Arlington.

Vậy là đôi bạn cố tri tranh nhau phát ngôn, nào là chuyện tôi và Bình đi hái trộm bắp của cán bộ cai tù để cứu đói cho bạn đồng cảnh ở Cẩm-Nhân, chuyện sau ngày ra tù hai đứa tôi chèo ghe vào mật khu Cờ Ðỏ, nghe thằng Việt-Cộng già, đảng viên Cộng-Sản thâm niên, chửi cha Cộng-Sản vì bị ngược đãi… vân vân.

Rồi tim tôi bỗng chùng xuống khi nghe thầy Bình nhắc tên những đồng ngũ vừa ra đi trong thời gian gần đây như Lê Minh Ðảo, Lê Văn Chánh, Trần Công Hạnh, Chu Trí Lệ, Tạ Văn Quang…

Thế hệ của chúng tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong khói lửa.

Chúng tôi đã đem hết khả năng và cả xương máu của mình để bảo vệ quê hương. Ðất nước mất, chúng tôi là những người chịu trách nhiệm.

Chúng tôi đã trải qua những tháng ngày dài sống trong cảnh đọa đày.

Bởi vậy, những kỷ niệm đau buồn sẽ mãi mãi đeo đẳng trong đầu, không thể nào quên.

Cho dù nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng dư âm của cuộc chiến Việt-Nam trong thế kỷ 20 vẫn chưa thể chấm dứt.

Người Việt Miền Nam vẫn còn âm ỉ mang trong lòng một nỗi đau.

Gần đây tôi nhận được một tin nhắn trên Face Book của một hậu duệ Việt-Nam Cộng-Hòa, nhờ các chú các bác có tin tức gì về bố của cháu thì cho cháu hay, vì sau ngày Miền Nam sụp đổ năm 1975, bố của cháu đã bị đưa ra Bắc để học tập cải tạo, tới nay, tháng 11 năm 2022 bố cháu vẫn chưa về.

Chiến tranh kết thúc đã 47 năm rồi, trại tù cũng đóng cửa lâu rồi, chắc không có ai ngờ rằng, giờ đây lâu lâu vẫn còn những chuyến tàu xuyên Việt chở theo xương cốt của cựu tù Việt-Nam Cộng-Hòa từ Bắc vào Nam… âm thầm.

Mấy chục năm qua, tôi đã có quá nhiều lần vẫy tay vĩnh biệt.

Mỗi khi bạn hữu hay người quen qua đời, tôi thường phân ưu hay chia buồn.

Nhưng có một ngày, tôi chợt nghĩ ra, đời mình đã quá buồn, quá khổ, nếu gánh thêm cái buồn, cái đau của người khác thì chỗ đâu mà chứa?

Thế là từ ấy, bạn bè hay người quen ra đi, tôi đều gửi cho thân nhân của họ lời nhắn sau đây:

“Chúc (anh, chị, ông, bà, bạn hiền, chiến hữu… vân vân) lên đường vui vẻ!”

Tôi đã nhìn đời với con mắt lạc quan hơn. Ðầu óc tôi cũng thanh thản hơn.

-oOo-

“U! U! Oa! Oa!”

Có tiếng loa vang vang, một con tàu sắp rời bến, nhường chỗ đậu cho một con tàu khác đang vào bờ…

“U! U! Oa! Oa!”

Tiếng loa nghe sao quá não lòng.

Phà cập bến, tôi không quen ai trong số những khách đang bước lên bờ.

Phà rời bờ, tôi cũng chẳng quen ai đang bước xuống phà.

Phà có hai trụ cờ, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía mũi, một lá cờ Hoa-Kỳ ở phía lái. Hai lá cờ bay phần phật trong gió.

Ðứng trên boong tàu có đôi người giơ tay vẫy về hướng bến từ giã.

Tôi cũng giơ tay đáp lại.

Tôi hy vọng rằng, nếu ngày nào đó tôi trở lại thăm chốn này, rồi tình cờ gặp lại người đứng trên boong tàu vẫy tay hôm nay, có lẽ người đó sẽ rất vui, và tôi cũng sẽ rất vui…

Hôm nay là một ngày cận kề lễ Thanksgiving 2022 ở Mỹ.

Trước mắt tôi là dòng nước đang trôi ra biển…

Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà qua sông Ðáy năm xưa.

Trên chuyến phà năm 1979 ấy có nhiều cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã qua sông nhưng không còn sống sót để trở về…

VML

Seattle, Thanksgiving Day 2022

Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 19 Aug 2023

Thế rồi một hôm, xui xẻo làm sao, anh đã bị cán bộ bắt được khi vừa ôm mấy củ sắn chui trở vào trong vòng rào.

Tên Việt-Cộng hỏi,

– Anh làm cách nào mà có mớ sắn này? Khai ra mau!

Hòa thật thà thú tội,

– Trình cán bộ tôi chui ra vườn ngoài rào đào trộm.

Thằng bộ đội tỏ vẻ nghi ngờ,

– Tôi không tin! Rào tre kín thế thì anh làm cách gì mà chui qua? Ðâu? Anh chui như thế nào thì làm lại cho tôi xem!

Nghe thế, anh pilot Việt-Nam Cộng-Hòa ngây thơ vội nhanh nhẹn dẫn tên cán bộ Việt-Cộng ra vị trí mà anh đã vạch một lỗ xuyên qua hàng rào nứa.

Tiếp đó anh từ từ biểu diễn lại màn “Anh chui qua rào…” cho tên cán bộ xem.

Vào đúng lúc anh ở vị thế đầu ngoài rào, chân trong vườn, thì “Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”  ba viên đạn liên tiếp nổ giòn.

Tiếng súng chưa kịp dội trong vách núi đã có tiếng la thất thanh,

“Ối! Anh em ơi! Cứu tôi với!”

Cũng ngay sau đó là tiếng hô hoán đặc sệt giọng Nghệ -Tĩnh của thằng quản giáo,

“Trốn trại! Báo động! Có tù trốn trại!”

Lập tức, kẻng báo động “Keng! Keng! Keng!” khua vang, vệ binh chạy xuống ào ào. Trại 9 nhốn nháo, om sòm.

Ðêm hôm đó tất cả cải tạo viên trong Trại 9 đều biết tin anh cựu phi công Trần Văn Hoà vượt ngục, nhưng không may, vừa chui chưa khỏi rào đã bị cán bộ tuần tra bắt gặp rồi bắn cho gãy giò.

Trại 9 có cái bệnh xá của Liên Trại 4 nằm sát bên, nên anh Hòa đã được cứu chữa cấp kỳ, vết thương không kịp làm độc.

Y tá Việt Cộng đã cứu anh bằng cách nhanh tay cưa đứt ngoém một chân anh. Cưa sát tới đầu gối, cưa không thuốc tê, cưa không thuốc mê, và cưa bằng cưa thợ mộc!

Sau khi vết thương kéo da non, Hòa được ưu ái cho về đội đan lát làm công việc nhẹ. Tới khi chuyển trại về Nam-Hà A anh Hòa cũng được làm việc nhẹ.

Nghe Hòa kể lại chuyện chui rào, mà tôi thấy sởn da gà và dựng tóc gáy.

Tôi sởn da gà vì không thể tin rằng trên thế gian này lại có thứ người gian manh, quỷ quyệt, và khát máu như tên cán bộ Việt-Cộng kia.

Hình như cái ác, cái gian đã tiềm tàng trong huyết quản của thằng cán bộ này từ ngày nó mới sinh ra?

Thay vì chỉ phạt cùm, phạt nhốt bỏ đói anh Hòa vài ngày, nó đã nghĩ ngay ra phương cách hợp lý để lạnh lùng bắn nát một chân anh.

Tôi dựng tóc gáy vì thấy cung cách cứu thương của Việt-Cộng sao mà dã man và tàn độc quá.

Ngày còn bị giam ở Trại 3 tôi đã nghe anh cựu Ðại úy Trần Mộng Long kể lại rằng, anh ta bị đau ruột dư, được mang lên bệnh xá Liên Trại 4 chữa trị.

Anh được mổ bụng bằng con dao cạo của thợ hớt tóc, mổ không thuốc mê, mổ không thuốc tê.

Thấy thế đã sợ rồi.

Nay so với chuyện cưa xương ống chân của anh Trần Văn Hòa, cũng không thuốc tê, không thuốc mê, mà còn bị cưa bằng cưa của thợ mộc thì chuyện mổ ruột dư của anh Trần Mộng Long chỉ là chuyện tầm thường, không đáng kể.

Cuối năm 1980 Trại Nam-Hà A có một đợt phóng thích. Trong số những người được thả có thân phụ của chú Tạ Văn Quang là cựu Ðại tá Tạ Văn Kiệt.

Buồng 16 cũng có hai người được về nhân dịp này; người thứ nhất là cựu Ðại úy Trần Bá Huệ của Phủ Tổng Thống, anh Huệ được ông Dương Văn Minh bảo lãnh, người thứ nhì là cải tạo viên Lê Văn Tịnh, không biết ai đã bảo lãnh anh ta.

Cũng nhân dịp này, Buồng 16 có nhân viên đánh xe cải tiến đổ thùng mới là anh cựu Ðại úy Ðịa Phương Quân Nguyễn Văn Thương.

Anh Thương đã tình nguyện thay chân anh Chánh, vì anh Chánh bị bệnh sốt rét, xơ gan phải đi nằm bệnh xá.

Ngày Lê Văn Chánh được đưa xuống bệnh xá, tôi những tưởng rằng sớm muộn gì bạn tôi sẽ qua đời. May thay anh em gom góp được gần chục vỉ thuốc trị sốt rét hiệu Fansidar cho Chánh uống, nên Chánh thoát chết. Vì thế mà từ đó, Lê Văn Chánh có biệt danh là “Chánh Phăng Si Ða”

Bệnh xá nằm ở góc cuối sân, cách Buồng 16 một bức tường cao.

Người cai quản bệnh xá là Bác sĩ Trần Văn Chơn, em ruột Bác sĩ Trần Lữ Y Tổng Trưởng Y Tế Việt-Nam Cộng-Hòa.

Phụ tá cho Bác sĩ Chơn là Bác sĩ Trương Như Quyến, em ruột của Luật sư Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của Chính Phủ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.

Trong thời gian Lê Văn Chánh đi nằm bệnh xá thì có một phái đoàn quan khách ngoại quốc tới thăm trại. Những người không có phận sự như tôi bị tập trung rồi bị dẫn vào trong trại chăn nuôi của hình sự ngồi chờ, khi nào phái đoàn đi khỏi, chúng tôi mới được về. Trại chăn nuôi nằm cách Trại A chừng một cây số về hướng núi. Xế chiều chúng tôi được dẫn về.

Tôi về tới trại thì Lê Văn Chánh đã đứng chờ trước sân.

Chánh đưa cho tôi một lon sữa bò còn hơn nửa,

– Long uống đi! Uống cho khoẻ.

Tôi hỏi,

– Của hiếm này ở đâu ra thế?

Chánh hối thúc,

– Uống đi! Uống hết đi rồi tui kể cho nghe.

Tôi há miệng hút hết nửa lon sữa đặc không pha. Chất ngọt của sữa làm cho tôi muốn cứng họng.

Thì ra hôm đó phái đoàn đã xuống quan sát tại chỗ tình trạng sức khoẻ và đời sống của các cải tạo viên đang nằm bệnh xá.

Họ trầm trồ khen ban chỉ huy trại đã đối xử với tù rất là nhân đạo khi thấy đầu giường mỗi bệnh nhân đều có một hộp bánh ngọt và một hộp sữa đặc có đường.

Trong khi phái đoàn đang nói chuyện với Bác sĩ Trương Như Quyến thì Bác sĩ Trần Văn Chơn ra dấu cho anh em bệnh nhân mở bánh ra ăn, mở sữa ra uống.

Phái đoàn thấy cảnh này thì có vẻ thích thú lắm, vài vị quan khách còn đem máy ảnh ra bấm lia lịa…

Anh Lê Văn Chánh sau khi xơi hết hộp bánh ngọt bèn làm một hơi nửa hộp sữa đặc có đường. Uống được nửa chừng thì Chánh nhớ tới tôi. Chánh để dành cho tôi nửa hộp.

Phái đoàn đi rồi, Bác sĩ Quyến mới giãy nảy lên,

– Anh Chơn! Anh cho tụi nó ăn hết đồ biểu diễn thì anh chịu trách nhiệm đó. Tui coi như không dính dáng gì tới vụ vi phạm này!

Bác sĩ Chơn đóng vai ngây thơ,

– Ủa! Không phải là mấy thứ đó trại đem xuống để bồi dưỡng cho người bịnh ư?

Bác sĩ Quyến trợn mắt,

– Bồi dưỡng cái con khỉ! Chỉ để biểu diễn thôi! Hết thăm viếng mình phải thu lại trả cho trại!

Hôm sau có lệnh của ban chỉ huy trại cho Bác sĩ Trương Như Quyến làm “Bác sĩ Trưởng” còn Bác sĩ Trần Văn Chơn tụt xuống làm nhân viên.

Cũng tự đó về sau, mỗi khi có phái đoàn tới thăm, tất cả bệnh nhân già, trẻ, què quặt, hay liệt chiếu, liệt giường đều bị điệu sang trại chăn nuôi từ sáng sớm.

Thay vào đó là những tù hình sự được nằm vào giường bệnh và được dặn dò cẩn thận rằng không được mở mấy gói bánh ngọt và sữa hộp ra ăn.

Những đồ ăn này chỉ để trang trí lòe mắt phái đoàn.

Phái đoàn đi rồi thì những thứ này phải đem trả lại cho căng tin của trại.

Ðầu năm 1981 có đợt chuyển trại quy mô đầu tiên. Một số tù được di chuyển từ Nam Hà để về Nam, tới các Trại Gia-Trung, Pleiku và Z30C, Z30D, Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Những nhân vật ở Buồng 16 có liên quan trực tiếp tới cái radio và cái quan tài của Trần Hàn là Hồ Văn Hòa, Tạ Văn Quang, Trần Tiến Bích, Vương Mộng Long, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Ninh, đều được di chuyển vào Nam.

Riêng cải tạo viên Lê Văn Chánh vì mang bệnh sốt rét nặng nên còn nằm bệnh xá.

Tới đầu năm 1982 Chánh Phăng Si Ða cũng được chuyển trại.

Sau đợt giảm tù lần này Trại Nam-Hà A bắt đầu bị đưa vào chế độ cai quản khắc nghiệt hơn xưa.

Lò sát sinh Trại Mễ…

Tôi đã bị đưa vào Nam từ đầu năm 1981, những sự việc xảy ra từ 1982 tới 1988 mà tôi ghi lại tiếp theo đây là lời tường thuật của các anh cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, cựu Ðại úy Thủy Quân Lục Chiến Mai Văn Tấn và cựu Ðại úy Ðại Ðức Lê Thái Bình.

Một hôm, ông cựu Trung tá Nguyễn Huề lang thang sang buồng khác thăm bạn bị tên Chèo Lực bắt gặp. Lời qua tiếng lại vài ba câu chưa xong thì tên Chèo Lực đã ra tay đánh ông Huề.

Sáng hôm sau, giờ tập họp đi lao động anh em Ðội 20 đã reo hò “đả đảo!” để phản đối Chèo Lực.

Ða số cải tạo viên Ðội 20 là những người còn rất trẻ, là thành phần phản động và Phục Quốc.

Ðội trưởng Ðội 20 là cựu Trung úy Pháo Binh tên là Nguyễn Văn Hồng.

Hồng nhỏ con, trắng trẻo, mắt lồi, nhưng rất dễ mến.

Hồng là một nhạc sĩ tài tử, anh đã viết được vài bản nhạc mà bạn bè rất ưa thích. Trong đó nổi bật là hai bài “Như Mưa Cam Lồ” và “Ðôi Giày Dũng Sĩ.”

Nguyễn Văn Hồng là một con chiên Công Giáo, nhưng khi thai nghén tác phẩm “Như Mưa Cam Lồ” thì anh đã tham khảo ý kiến của cựu Ðại úy Ðại Ðức Tuyên úy Phật Giáo Lê Thái Bình, do đó lời của bài hát này đã giống như lời tiên tri của sự mất mát, của sự chia ly, và của sự siêu thoát.

Trong khi đó thì lời ca của bài “Ðôi Giày Dũng Sĩ” lại mang tính chất bùng nổ, tàn phá như tiếng súng thần công, tiếng đạn đại bác.

Bài hát mở đầu với câu, “Ðôi giày dũng sĩ đạp nát quân thù!”

Lời ca này đã thể hiện con người thật của Nguyễn Văn Hồng là một sĩ quan Pháo Binh.

Vì trình độ ký âm của Nguyễn Văn Hồng không khá cho lắm, nên mỗi khi viết xong một bài ca, Hồng đều nhờ nhạc sĩ cựu Ðại tá Lê Thọ Trung chỉnh sửa.

Hôm đó Ðội 20 đã châm ngòi một cuộc nổi dậy.

Trong sân trại, tiếng la ó dậy trời lan từ đội này tới đội khác.

“Ðả đảo Chèo Lực! Ðả đảo Cộng Sản!”

Thế là không khí bỗng chốc sục sôi như sắp có bạo loạn.

Ngay lập tức, vệ binh ào xuống đuổi tất cả trại viên về buồng.

Hôm sau Ðội 20 bị áp tải sang phân trại B.

Ðại đức Lê Thái Bình thuộc quân số của Ðội 20 nên bị đem đi đã đành, nhưng “Con nhạn là đà” Mũ Xanh Mai Văn Tấn ở Ðội 27 mà cũng bị còng tay thì thật là oan.

Ngày xảy ra chuyện lộn xộn, Mai Văn Tấn không những đã tích cực to tiếng “Ðả đảo Chèo Lực!” mà còn nhởn nhơ quơ chân, múa tay trước mắt cán bộ, nên cán bộ đã túm cổ, còng tay, tống vào trong hàng ngũ Ðội 20.

Vào Trại B các anh hùng trẻ tuổi của Ðội 20 vẫn tiếp tục các hành động chống đối và phá rối.

Ở đây cũng đã có những nhân vật cứng đầu, bất khuất sẵn sàng chung vai sát cánh với Ðội 20 như cựu Trung tá hoa tiêu Trực thăng Nguyễn Văn Trọng, cựu Ðại úy Ðơn vị 101 Nguyễn Tấn Mới.

Buổi sáng ngày mà Ðội 20 chuẩn bị rời Trại B thì tên trưởng trại cho lệnh tập họp tất cả tù đứng trước sân rồi lớn tiếng hỏi,

– Các anh thấy Ðội 20 phá phách, quấy rối như thế thì đúng hay sai?

Trong hàng ngũ tù có ai đó trả lời thật lớn,

– Ðúng! Ðội 20 phá phách là đúng!

Ngay lập tức, người vừa phát ngôn câu phát biểu trên đã bị tống vào hàng ngũ Ðội 20. Người trẻ tuổi này là một cải tạo viên diện Phục Quốc và phản động. Cậu ấy mới 15 tuổi, có tên là Tài. Anh em gọi cậu bé này là Tài Con.

Rồi Ðội 20 cùng các cảm tình viên của đội này là Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Tấn Mới, Tài Con bị trói tay đưa lên xe chở ra Trại Mễ.

Trại Mễ là tên của một trại tù xây dựng trong ngôi làng có tên là làng Mễ ở Phủ Lý. Nhân chuyến chuyển trại từ Thái Nguyên về Nam Hà đầu năm 1979 tôi đã có dịp ngủ qua một đêm ở trại này. Trại có hai hệ thống nhà giam, một ở dưới hầm và một ở trên mặt đất. Mỗi hầm có sức chứa khoảng bốn chục tù nhân nằm sát nhau. Ngày qua trại này, tôi bị nhốt trong hầm nên không rõ trên mặt đất có hình dáng thế nào.

Từ năm 1982 thì Trại Mễ trở thành một chi nhánh đặc biệt của Trại Nam Hà.

Trại này là nơi tập trung hai dạng tù.

Tù cứng đầu, và tù nhân bị bệnh nặng.

Người ta đặt tên cho Trại Mễ là “Ðoạn Ðầu Ðài” hay “Lò Sát Sinh” vì ai bị đưa tới đây chắc chắn sẽ không sống sót.

Tù cứng đầu bị tra tấn và bỏ đói cho tới chết. Tù bệnh nặng thì không cần chữa trị, cứ để nằm đó chờ bao giờ tắt thở thì đem chôn.

Khẩu phần lương thực của tù nhân ở đây bị cắt giảm 50 phần trăm, nghĩa là chỉ có nửa chén bo bo mỗi bữa, nước thì nửa lon Guizgo để uống, nửa lon Guizgo để làm vệ sinh một ngày.

Tù bình thường sẽ được tắm rửa mỗi tháng một lần, còn tù loại nguy hiểm thì sáu tháng mới được tắm gội một lần.

Ðội 20 tới Mễ không lâu thì một vụ giết người đã sớm xảy ra, kết thúc một mạng sống.

Khi biết tin anh cải tạo viên cựu Thiếu úy Cảnh Sát Vương Khai Quân, trong kỳ thăm nuôi vừa qua đã được người nhà dúi cho một cái nhẫn hai chỉ, thì cán bộ Ðản cai tù đã sai tên Trí, một tù hình sự siết cổ Quân để cướp vàng cho Ðản. Chuyện giết người cướp của vỡ lở, tên Trí bị còng tay đem đi, không rõ đi đâu. Xác của Vương Khai Quân thì ra nghĩa địa.

Ở Trại Mễ bỗng có bệnh kiết lỵ.

Bệnh này lây lan rất nhanh và giết người cũng rất nhanh.

Sau cái chết của Thiếu úy Vương Khai Quân là cái chết của cựu Trung sĩ Không Quân Nguyễn Văn Ðịnh.

Trung sĩ Ðịnh chết vì mắc bệnh kiết lỵ biến chứng, nghĩa là vừa bị đi cầu ra máu, vừa bị sốt cao.

Nguyễn Văn Ðịnh là người tù cùng buồng với Ðại Ðức Lê Thái Bình. Thấy Ðịnh nằm im không thở, Bình bèn bắc loa tay la lên,

– Báo cáo cán bộ! Buồng tôi có người chết!

Cán bộ bước vào vạch mắt Ðịnh ra kiểm tra, thấy con mắt của Ðịnh đã đứng tròng. Mắt đứng tròng là mắt người đã chết, vì thế, cán bộ phán,

– Chết rồi! Ðem đi!

Lập tức hai tù hình sự bước vào khiêng Ðịnh xuống nhà tẫn liệm.

Tuần sau, cựu Trung tá Nguyễn Văn Trọng được đưa tới giam chung buồng với Lê Thái Bình. Anh Trọng cũng đang bị bệnh.

Trọng than thở rằng anh đói bụng lắm, Bình đã bóp bụng nhường cho bạn một nửa phần ăn, nhưng Trọng vẫn đói.

Sau đó, Nguyễn Văn Trọng được chuyển sang chung phòng với Nguyễn Tấn Mới.

Rồi một buổi tối Trọng được đưa qua bệnh xá chữa bệnh.

Nhưng y tá vừa chích cho Trọng một mũi thuốc thì chỉ vài phút sau Trọng đã tắt thở.