Bị Gạt

Trương Văn Út (Mũ đỏ-Út Bạch Lan)

Post by Sơn râu 28 Aug 2023

Chúng ta đã sinh ra lầm thế kỷ
Nước mắt, nụ cười gian
 dối gạt lừa nhau.
Và hạt cát cũng
 căng đầy thù hận
Tri kỷ gì thứ tình nghĩa
 đã chia ly…?!

“Văn Chương Miệt Vườn” thành danh, thành điển tích như Cụ Đồ Chiểu đã hoa gấm đi vào Văn Học Sử thênh thang rất đáng kính cẩn và trân trọng… còn thứ “văn tri chướng; cà chớn hạng” của tôi đọc “dễ hiểu” chỉ để tiêu khiển “một vài trống canh”, lại có đôi chút “gút mắc” với một số “nhân vật chí” hiện thân, hiện thời đang sinh hoạt chìm nổi tại xứ người tự do, hành sự khuất tất phía sau hậu trường “cung đình Đỏ” rối như mớ bòng bong… quả thật là không đơn thuần giản dị chút nào, là thật sự “khó tiêu” và đáng tiếc vô song! Vì “cánh màng nhung” của vở bi hài kịch có vô số thân xác, máu xương, da thịt người Việt làm “phân bón” cho loài “cây” gian độc rúc rỉa sinh sống, đơm hoa kết trái vật chất, tiền tài, tích sản là thành quả của trí “khôn” gian trá vô lượng đã “biết” thức thời vụ với “đại âm mưu” là “đại biện chứng” mà thành “gian nhân hiệp đảng” mặc tình lấy cường bạo thịnh thời vung tay bẩn mà che cao xanh, lấy vải ác độc mà bịt nhân đức… hỏi được bao lâu “con rắn hồng lột xác” vẫn chưa xong và chưa chung cuộc hý trường… như tôi viết ở khoảng không du du bỉ phương và thiên võng khôi khôi sơ nhi bất thất… giữa hai hàng chữ không giản dị chút nào và đáng tiếc …?! Mong quí Độc Giả độ lượng tha thứ.

“Bên thắng cuộc” hay thực sự bị thua cuộc? Thắng trận hay thua trận, nay đã trở thành một “mặt trận” văn chương chữ nghĩa trong cộng đồng người Việt Tự Do tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại và cũng tự tranh biện, bênh và chống mà “cái” hay, tốt đẹp của Hoa Tự Do được đơm hoa, kết trái ở trú xứ Tự Do đưọc thể hiện và minh chứng với tiến trình lịch sử loài người tiến hoá không ngừng cho đến nay… và mai hậu làn gió Tự Do – Dân Chủ sẽ thổi vào Việt Nam thành bão lửa là qui luật chính trị: “nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”… và thứ “văn hoá theo lề phải” là thứ đứng lại, nghịch triều lưu sẽ bị nhận chìm và chết tiệt! Tôi đọc riết rồi bị động não, mang tâm bịnh nhớ dai, càng nhớ dai càng thêm khổ lụy cho bản thân mình…! Nghĩ cho cùng “kẻ thiệt” chính là “ta” cưu mang thành nặng gánh u hoài!

Thôi hãy gấp lại những bài vở mang mang và những trang sách đã rách “giữ lấy lề” nệ cổ của Thư Cưu thời quá vãng … đành viết chuyện “Tôi Bị Gạt “góp “mặt” với làng Văn có lẽ bằng hữu và độc giả đọc không vui cũng lượng thứ?

Bị Gạt:

Ngày 30-4-75 là ngày đã ngã ngũ thắng hay thua? Một lằn ranh của kẻ thắng trận và Người bại trận đã được chế độ mới vạch ra rõ ràng bằng mực đỏ! Kẻ thắng trận tiểu nhân đắc chí hoạch định sách lược cường quyền “xử lý”: bắt bớ, giam cầm, đày đoạ, trả thù, nô lệ hoá toàn thể Quân Dân miền Nam là Người bại trận…. trong những Người bại trận đó có tôi và đương nhiên với “mệnh Nước vận Nhà” đành câm nín, âm thầm nhẫn chịu, ta thán có ích gì …! Nhưng có điều chua xót đớn đau phải ghi tâm khắc cốt… Đó là tôi bị gạt để đời, môn học mà trường lớp thời niên thiếu với Thầy, Cô lòng son và phấn bảng không dạy bao giờ. “nó” chỉ có ở trường đời biển lận mà thôi!

Bị Gạt Lần Thứ Nhất:

Sau 30- 04-1975, tan hàng…! Phút chốc công danh sự nghiệp trở thành mây khói, nhà cửa “tài sản” chỉ còn lại vài bộ áo quần dân sự… thắng về nội thối về ngoại, Tôi dắt díu vợ con tá túc nhà ngoại, tâm trạng như kẻ mất hồn, chạy đầu này tìm người này, chạy đầu nọ tìm người kia… họ cũng như tôi tâm trạng rối bởi chẳng khác gì nhau! Nghe tin tức trên đài phát thanh: “Tất cả sĩ quan cấp Úy trở lên trình diện học tập cải tạo… nhớ mang theo tiền ăn cho 10 ngày…”. Tưởng bở, tôi từ giã vợ con với lời nhắn nhủ: “Em gắng chờ Anh về… mình sẽ về Mỹ Tho xin Ông Nội vài sào đất, cất một cái chòi, trồng trọt nuôi con ăn học nhé…”!

Sau 10 ngày ở trại “giam” Hốc Môn (Thành Ông Năm) với các bữa ăn do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn như: Đồng Khánh, Bát Đạt, Soái Kinh Lâm…cung cấp và chờ đợi rồi dần sau đó cũng bắt đầu với những bữa ăn “thanh đạm” với rau muống, rau lang luộc cùng đậu hủ trắng… cho đến tháng thứ ba, quản giáo xuống “khối” của tôi gọi tên ba người và ra lệnh: “Các Anh chuẩn bị đồ đạc để về với gia đình… Đại Úy Bác Sĩ Trương Thìn, Thiếu Tá Bác Sĩ Trần Đông A, Đại Úy Bác Sĩ Trần Văn Thành”… và còn nhiều nữa… Cả trại xôn xao trong nỗi mừng vui khôn xiết vì tưởng rằng rồi nay mai cũng sẽ tới phiên mình…!!! Nhưng tất cả đều bị gạt. Những người được “tha” về, đều nằm trong danh sách đặc biệt của “bên thắng trận”. Rồi thời gian bị giam cầm chầm chậm trôi qua trong chờ đợi mòn mõi của tù nhân…! Những chứng bịnh như: phù thủng, đau ruột, đau gan, đau bao tử… xuất hiện, không thuốc thang chữa trị …! Tôi bắt đầu bẫy chuột, chuột gì cũng bắt hết ráo trọi, chuột chù, chuột cống, chuột nhắt … dưới bàn tay “tài hoa ngự thiện phòng” chế biến món ăn của tôi đã trở thành “cao lương mỹ vị”, và tôi còn thu lượm những cọng rau muống già đã được nhà bếp vất đi, chẻ ra từng sợi nhỏ rồi chế biến thành “thượng phẩm”, giúp cho những người thiếu chất đạm đang bị phù thủng ăn cho có chất dinh dưỡng. Ban đầu họ lợm giọng không dám ăn! Nhưng rồi vì muốn được khoẻ mạnh đành phải ăn để sống, sau dần dà họ cám ơn những tên tù bất kham như tôi đã “khổ” công thức đêm rình mò bẫy chuột, cung cấp cho họ món ăn “thuốc” thịt chuột “nguồn” bổ dưỡng cứu sống mạng người đang vật vã vì bệnh tật trong trại giam… Nên đêm đêm nằm kế bên nhau, họ ngâm khe khẻ cho Tôi nghe bài thơ “Hổ Nhớ Rừng – Thế Lữ” nghe qua sao lòng quặn thắt đớn đau như thọc mũi dao nhọn vào nách con chuột, moi cục hạch hôi ra và thân đau tê tái “Hổ” nhớ rừng gặm nhấm mối hờn trong cũi sắt, rồi nhớ thuở tung hoành hiên ngang tang bồng hồ thỉ trong khắp Bốn Vùng Chiến Thuật với tay súng dài XM18, súng ngắn Colt 45 dẫn quân lên Slick trực thăng ầm ĩ tiếng cánh quạt phành phạch xé gió của những hoa tiêu “Bảo Quốc Trấn Không” không bỏ anh em, không bỏ bạn bè bay xông vào trận mạc với hai hàng Gunship hùng hổ hộ tống sẵn sàng khạc từng tràng đạn và phóng nện rocket như thiên lôi giáng vào đầu quân địch… Nhưng nay thân đành thúc thủ, bị giam cầm, bẫy chuột, nhặt rau thừa độ nhật cho qua ngày đoạn tháng kéo lê lết một năm tù… cho đến khoảnh khắc quyết định sinh tử: “tự do hay chết”? Chứ ở tù như hiện tại không biết đến ngày nào được thả ra và “cái” chết đều đồng nghĩa như nhau! Tôi đã đánh cuộc với định mệnh lấy cái chết của mình để tìm tự do, Tôi vượt ngục đào thoát được khỏi nhà tù nhỏ và bây giờ bị sống trong nhà tù lớn VC bủa vây…! Tôi đi về đâu? Về thành chăng? “Hổ” phải về rừng cớ sao lại phải về thành và về thành rồi sẽ không chóng thì chầy cũng bị bầy lang sói khát máu tươi đang chực chờ cấu xé phanh thây Người chiến bại từng ngày, từng giờ, từng giây phút…thiên la, địa võng thần chết quỉ đỏ bủa vây, phủ chụp xuống thân phận Quân – Dân hiền hoà miền Nam trong tuyệt vọng thế cô…! Kinh qua những “quốc sách” bọn quỉ đỏ Việt Cộng (VC) đã “xử lý” người dân Việt tại miền Bắc trước 1954 và Quân – Dân miền Nam Việt Nam sau 30-04-1975 đã nói lên tính chất khác biệt với toàn thể Dân Việt có nền tảng Văn Hiến giàu lòng Nhân Ái ở mọi mặt, luôn cả đối xử tử tế độ lượng với giặc thù ngã ngựa thua trận bị khuất phục trong lịch sử thời qua, và ngay cả trong cuộc chiến Quốc – Cộng 21 năm dài, chúng ta luôn đối xử Nhân Đạo với cán binh VC bị thương hay bắt giữ tại chiến trường, có luật lệ và toà án xét xử nghiêm túc… và với Quốc Sách Chiêu Hồi ban hành để cải thiện, giúp người cán binh VC có cơ hội sinh sống bình đẳng mưu cầu hạnh phúc trong thể chế tự do miền Nam. Những ai là Quân – Dân miền Nam lạm sát tù binh VC hoặc thân nhân của họ sẽ bị pháp luật trừng trị rõ ràng nghiêm chỉnh… Tôi quyết định về rừng và bị gạt lần thứ hai.

Bị Gạt Lần Thứ Hai:

Thoát được nhà tù nhỏ, Tôi đang bương chảy sống trong nhà tù lớn. Ở nhà tù lớn cái gì cũng: “Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân”… mà “dân” chỉ là tầng lớp nô lệ bị “Bắc Bộ Phủ” đô hộ cai trị còn khắc nghiệt hơn bọn rợ nhà Chu (Zhou Ye) tàn sát và cai trị nhà Thương (Shang Yin) 1040 BC, triều đại Tần Thuỷ Hoàng (259 BC) đốt sách chôn học trò, Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162) rợ Mông Cổ với: “Vó ngựa của Đại Hãn đi tới đâu nơi đó không còn cỏ mọc”… có tàn bạo như thế nào đi nữa cũng chỉ là đối xử với người khác chủng tộc và ở thời đại con người chưa được mấy văn minh… và “từ vượn lên người phải mấy triệu năm”? Ngày nay đương thời đồ đểu VC ác độc ngự trị “từ Người xuống vượn chỉ cần một vài năm” thôi …! Bọn cán bộ có quyền thế trong tay đang tiến nhanh, tiến mạnh chụp giật, vơ vét chiến lợi phẩm không chỉ là của cải, tài sản, xe cộ, vàng ngọc, đôla (dollar), bất động sản mà còn là thân thể phụ nữ xinh đẹp là vợ con của tù nhân Quân – Dân miền Nam… mà cả đời mơ ước của tên cán cuội bần nông quanh năm, suốt tháng phải trốn chui, trốn nhủi lẩn tránh trong xó rừng âm u cây lá thiếu ánh sáng mặt trời triền miên, đói cơm, sốt rét ngã nước thiếu thuốc và thèm khát hơi hám đàn bà lâu năm mà thành chứng bệnh “cà hước” di căn mang về thành trả thù trên thân thể phụ nữ đã chiếm đoạt…!!! Thành trì Ngũ Luân đạo lý của dân miền Nam đang bị thách đố và có cơ huỷ hoại! Người dân hiền hoà miền Nam bị bao vây kinh tế, cuộc mưu sinh khốn khó để sống còn tất tả như vật vã bơi lội trong cơn hồng thuỷ … nên giả dối, tráo trở, gạt lừa đã có “mặt” trong gia đình, xã hội, học đường và khắp cùng mọi lãnh vực đời sống là thể hiện “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản”… từ đám quyền bính chóp bu “Bắc Bộ Phủ” chí cho đến bọn “cán ngố lý trưởng” quê một cục tha hồ lập mưu gian “qui định” để giết người cướp của là Cộng tài Sản của dân lành miền Nam vào kho của cải thủ đắc của chúng… Trong bối cảnh này, tôi phải luôn cảnh giác, không dám tiếp xúc với bất cứ ai ngay cả vợ con mình, sống lang thang không cửa không nhà, không một hào dính túi…! “Hổ” sút móng lang thang đầu đường xó chợ, chạnh thân nhớ nhà, thèm bữa cơm no lòng đầm ấm đoàn viên…! Phố xá quanh đây mà ta sao trơ trọi, hiểm nguy rình rập không lường, rừng đâu mà nhớ…?! Tôi đánh bạo tìm cách liên lạc với Cha Mẹ đang sinh sống trên mảnh vườn cằn cỗi ở ngã ba Trung Lương, Mỹ Tho xin tiếp tế. Cha Mẹ tôi có năm đứa con “đi quân đội đã lâu rồi” … Sau ngày 30-4-1975, Bà như chết đi nửa đời người còn lại, khóc cạn nước mắt rồi kham nhẫn chịu đựng đau khổ cầu Trời, khấn Phật xin gia hộ cho tất cả năm đứa con đang thân bị giam cầm tù tội được bình yên… Nghe tin tôi vượt ngục Bà hối thúc Cha tôi phải tìm gặp “thằng Út” cho bằng được, và thế là tôi được dấu diếm tá túc ở nhà, dưới sự che chở của Cha Mẹ. Tôi đào một cái hầm dưới đáy tủ quần áo, phòng khi công an hay du kích xã Đạo Thạnh khám xét nhà thì tôi tức khắc chui vào tủ, rúc xuống hầm ẩn trốn. Trước kia ở thời Việt Nam Cộng Hoà thì bọn VC chui rúc xuống hầm hố nguỵ trang trốn tránh. Nay thời của quỉ đỏ thì tôi lại là kẻ trốn tránh… ôi thôi thế sự thật bồng bềnh khéo trêu người!

Vài ngày sau đó, người Cậu thứ Tư tên Trương Văn Thân nguyên trước đây là Trưởng Ty Nông Nghiệp Tỉnh Định Tường ghé nhà thăm qua sự sắp xếp của Cha tôi, Ông nói:

  • Con yên tâm tịnh dưỡng sức khoẻ, mọi việc đã có Cậu và Cậu Năm (Trương Văn Phước) lo liệu… Đây là quyết định của cấp trên, Cậu giao lại cho con…?

Quyết Định của cấp trên là một tờ giấy đánh máy, bổ nhiệm cho tôi giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn II Sư Đoàn Tiền Giang với ám danh UBL45, ấn ký của Trung Tướng Ngô Quang Truởng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà… Trời hỡi?!!! Cậu Tư của tôi chỉ là một công chức hành chánh mà nay là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Tiền Giang, Cậu Năm của tôi vốn là một Y Tá đỡ đẻ nay đang là Quận Trưởng Quận Châu Thành, Mỹ Tho…?!!! Chết rồi, tôi không biết Cha mình đang giữ chức vụ gì đây, Mẹ tôi là giao liên cấp độ nào trong cái “Tổ Chức Kháng Cộng” này… không khéo là chết hết cả nhà…? Tôi rơi vào tình trạng tiến thối lưỡng nan, làm thinh chịu trận…! Trung Đoàn Trưởng mà chẳng có thằng lính nào trong tay, lại phải móc nối tìm kiếm ba “ông” Tiểu Đoàn Trưởng còn đang trốn chui trốn nhũi như Việt Cộng khi xưa nghe lính Cộng Hòa hành quân bố ráp. Bố khỉ!!!

Rồi chuyện gì tới phải tới… Vào một đêm tối trời vào khoảng 5 giờ sáng, tất cả đều bị Công An Chấp Pháp Mỹ Tho vây bắt không sót một móng nào, chỉ có mình tôi nhờ cái hầm dưới đáy tủ quần áo mà thoát nạn. Cậu Tư bị án xử tử hình, Cậu chết trong thời gian bị VC tra tấn cực hình để khai thác thêm những người liên hệ. Cậu Năm bị tù 20 năm khổ sai, Cha Mẹ tôi già cả yếu đuối, cũng may vì không nhận chức vụ gì nên bị thẩm vấn liên tục rồi bị xử quản thúc tại gia, còn hằng trăm người khác trong “tổ chức” bị bắt số phận của họ như thế nào dưới chế độ VC “thà giết lầm hơn bỏ xót” chúng ta đã có nghe và biết qua rồi…! Riêng tên Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang là một cựu Trung Sĩ Nhất của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù, nhận chỉ thị từ quan thầy Ty Công An Chấp Pháp Mỹ Tho, bủa một mẻ lưới gom tất cả trọn cả bầy cá ngát ngây thơ muốn vượt “Vũ Môn” bất thành để rồi bị xử bắn thân xác vùi dập bụi bờ hoang dại đâu đó hay đã thả trôi theo dòng chảy của nhánh Tiền Giang cuồng nộ xuôi về biển Đông và dưới dòng nước phù sa trộn mầu đỏ thắm có lẫn máu tươi của Đồng Bào sinh trưởng và lớn theo con sông Tiền, sông Hậu… nghe buồn não nuột! (Đây là chuyện thật, người thật, việc thật. Nếu quí Độc Giả muốn biết rõ tường tận chi tiết xin hỏi cựu Dân Biểu Lê Tấn Trạng đang sống ở San Diego, California USA và người con trai của Cậu Tư của tôi).

Hò… lơ… Sông Cửu Long xuôi dòng rẽ nhánh

Thành sông Tiền, sông Hậu có trước có sau

Mặc cho thuỷ triều lên xuống, gợn sóng lao xao

Tình người Mỹ Tho sâu thẩm như đáy sông…ơ… hò

Hò… lơ… Em mua lúa Hồng Đào bán ra chợ Gạo

Ven sông tần tảo nuôi bậu học hành

Bậu mần quan mần Trạng

Rạng danh thành “Dân Biểu Bến Tranh”…ơ…hò

Hò…lơ… ai ngờ vận nước tanh bành…!

Trạng manh tâm đưa bạn lên đàng chết oan …ơ …hò

Con chim Uyên Ương lẽ bạn

Con chim Nhạn lạc bầy đàn

Ai bày, ai vẽ nên Sư Đoàn Tiền Giang …ơ…hò?

Hò…lơ… nước phù sa Tiền Giang đỏ thắm!

Vì có máu người Trung Lương pha lẫn nước sông

Dòng Tiền Giang cuồng nộ, làm sạt lỡ đôi bờ…

Chứa bao nhiêu xương trắng sông Tiền lạnh không…ơ …hò!

(Câu Hò Tiền Giang)

Như vậy là tôi đã bị gạt lần thứ hai sau ngày “bên thắng cuộc” cai trị đất nước Việt Nam, và không phải chỉ có riêng tôi, mà còn bao nhiêu oan hồn uổng tử cùng với gia đình họ chịu trăm ngàn đắng cay bên phía “người thua cuộc” bị lừa gạt để tróc nã, đào tận gốc bốc tận rễ và giết hại…! Không biết phải dùng ngôn từ gì để diễn tả “quốc sách” phi dân tộc như thế…! Bao nhiêu giấy mực để phải viết ra đây phân trần, than thân trách phận ư …? Hay nung nấu một nỗi căm hờn nghiến cả hai hàm răng để khỏi bật ra tiếng khóc ai oán tang thương…!

Bị Gạt Lần Thứ Ba:

Bị gạt lần thứ hai, thoát được thân cũng do số trời định đoạt, nào tôi có muốn như vậy đâu? Vì kháng chiến chống chế độ VC đương quyền là một trò đùa với tử thần, biết như vậy, nhưng lúc đó tôi chẳng có một sự chọn lựa nào khác, cứ mặc kệ đời trôi nổi tới đâu hay tới đó… Cũng may hôm đó chúng không xét nhà, chỉ bắt và dẫn Cha Mẹ cùng đứa em trai của tôi về chấp pháp. Tôi chờ mãi đến tối ngày hôm sau, chị Tư của tôi nhòm trước, ngó sau canh chừng động tĩnh an toàn cho tôi rời khỏi nhà, ra đến quốc lộ 4 đón xe về Sài Gòn, với một ít tiền độ đường mà chị tôi vừa khóc vừa dúi vào túi áo! “Hổ” lại trở về thành. Thành phố Sài Gòn rực một màu đỏ, trên dưới xa gần, nhà cửa, phố xá, xe cộ, cột điện… đều màu đỏ của máu tươi! Xuống bến xe cảng miền tây, nhảy đại lên một chiếc xe lam sắp rời bến không biết điểm đến nơi nao, xe ngừng ở ngã ba Trần Quốc Toản và Nguyễn Thiện Thuật, tôi nhảy vội xuống xe, đi lang thang với những bước chân vô định, cứ đi, muốn đi thẳng thì đi, muốn quẹo trái, quẹo phải thì quẹo, muốn tới đâu thì tới… tới sân đá banh Cộng Hòa gần nhà một người bạn rất thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt (Trong truyện ngắn này,tôi không thể viết chi tiết và danh tánh vì có liên hệ đến rất nhiều bằng hữu còn đang sống tại Việt Nam và Mỹ! Nhưng Họ mãi là nhân chứng sống cho câu chuyện “Bị Gạt” của tôi). Kéo cái mũ xùm xụp xuống gần mí mắt, tôi gỏ cửa nhà, “bà Chị” (vợ của người bạn thân cùng khóa) mở cửa, sau phút định thần, với đôi mắt gần như trợn trừng ngạc nhiên Chị thảng thốt: “Ôi…Trời ơi!… Anh… Anh… hả “?!!!

Chị không dám gọi tên tôi vì đã biết mọi chuyện. Chồng chị đã hy sinh trong mặt trận Quảng Trị, chị ở vậy với một đứa con gái nuôi vài ba tuổi và có một người anh họ trước 1975, làm thư ký trong tòa Đại Sứ Mỹ, Ông không muốn đi Mỹ, dù có tên trong danh sách di tản sang Mỹ. Chờ khóa cửa xong, chị hỏi thăm năm ba điều rồi dặn dò: “Ngày mai, đúng 9 giờ sáng, anh tới quán cà phê vỉa hè đối diện với nhà thờ Huyện Sĩ, tôi có nhiều chuyện cần nói với anh”! Lại tiếp tục lang thang, đêm đó tôi ngủ trên chiếc chiếu thuê ở bến xe An Đông.

Đến 8 giờ sáng hôm sau, tôi tìm chỗ khuất sau cây dù của quầy pha cà phê vỉa hè đối diện nhà thờ Huyện Sĩ, chờ đến 9 giờ cũng chưa thấy chị, tới 9 giờ 45, một người đàn ông xa lạ bước đến kéo cái ghế thấp ngồi kế bên tôi và kêu một ly cà phê sữa nóng xong gật đầu chào xã giao và hỏi:

– Anh Út hả?

Một cơn chấn động ớn lạnh dữ dội chạy khắp thân thể gần như không còn giữ được bình tỉnh, hai bàn tay nắm chặt vào nhau và để lên bàn, không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta, tôi nói:

 – Vâng thưa anh! Nếu anh là công an theo dõi tôi…thì tay tôi đây, anh cứ còng…!

Ông ta dáng người nhỏ tầm thước, gương mặt bình thản không có một chút sát khí nào, móc túi lấy bao thuốc Samit, châm lửa rồi đưa sang cho tôi xong ông nói một cách chậm rãi:

 – Tôi tên H là anh của bà A. Tôi đến đây để giúp anh và anh phải đi ngay…! Anh sẽ đến một nơi tôi nghĩ sẽ thích hợp và an toàn cho anh hơn, tin hay không tùy anh.

Tin hay không? Chỉ có Thượng Đế mới có thể giúp cho tôi lúc này để trả lời tin hay không! Không tin thì tôi phải làm gì và nói gì trong lúc này? Tin thì tôi phải đến nơi nào do ông ta quyết định? Sao định mệnh cứ mãi đưa đẩy thân tôi vào những canh bạc thắng thua bằng chính mạng sống của mình?! …và rồi đến 2 giờ chiều cùng ngày tôi được thu xếp lên chuyến xe đò đi Long Khánh với lời căn dặn:” cho đến khi nào anh lơ xe vỗ vai ra dấu thì anh xuống xe…”. Xe chuyển bánh lên đường chạy bình yên cho đến khi đậu lại ven đường, anh lơ xe la lớn: “Bà con cô bác ai muốn đi tiểu tiện hay mua cà phê nước uống thì xuống xe, chúng ta sẽ nghĩ 10 phút…”! … cùng với cái vỗ nhẹ vào vai tôi. Tôi xuống xe và nơi đây là Ấp Bảo Bình, Xã Bảo Liệt, Huyện Thống Nhất, Tỉnh Long Khánh. Cái quán bên vệ đường là một trạm “giao liên” của tổ chức “kháng chiến” mà họ đưa tôi lên đây. Tôi chỉ biết theo lời hướng dẫn của họ. Người chủ quán pha cho tôi một ly cà phê đá và nói nhỏ: “chờ xe chạy có người nói chuyện với anh sau…”. “người” Z20 là ám danh của một cựu Trung Sĩ Pháo Binh thuộc Tiểu Khu Phước Tuy, mà cũng là chỉ huy trưởng đơn vị kháng chiến hiện tại mang tên: “Trung Đoàn Cơ Động Tỉnh Long Khánh”. Tôi được bổ nhiệm làm Trung Đoàn Phó cho anh ta (thằng đang giăng câu). Mẹ kiếp…! Thôi cũng đành nhắm mắt đưa chân, tôi cố ngậm miệng để không bật ra tiếng chửi thề. Suốt đêm đó di hành gần 15 cây số vào tới mật khu Mây Tào của VC trước kia, xa xa nữa là núi Chứa Chan… Khi trời vừa hừng sáng, Z20 ra “lệnh” cho tôi nghỉ ngơi, chờ đến 2 giờ trưa sẽ giới thiệu đơn vị. Thôi thì cũng một chút niềm vui len lén vào hồn, kháng chiến hay khiến chán cũng là một nơi tạm dung thân ít ra “Hổ” cũng được về rừng…! Buổi trưa, Z20 giới thiệu với tất cả “kháng chiến quân” hiện diện, hắn chỉ định tôi là Z21 Chỉ Huy Phó của Trung Đoàn (?), sau đó giới thiệu vài người thân cận sẽ làm việc bên cạnh tôi, rồi nói sơ qua cho biết:” Hiện nay Đại Tướng Ngô Quang Trưởng đang là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Giải Phóng Việt Nam (TTLQĐGPVN), Trung Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đang ở núi Chứa Chan, Đại Tá Lê Văn Mễ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù (TLLĐND) ở núi Bà Rá… Anh ta nói liên miên không ngượng miệng, không có bản đồ, cũng chẳng có một chứng từ gì để trao lại cho Trung Đoàn Phó của anh ta tức là tôi ( sic )…!!! Nghe tới đây tôi rởn tóc gáy, chợt nghĩ đến chỉ trong một đêm cả Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang bị VC hốt trọn ổ…?! Chỉ có thế, rồi anh ta rời “mật khu kháng chiến” vội vã trở ra cái quán bên vệ đường Quốc Lộ 1 với lý do đi liên lạc với cấp trên để cho tôi toàn quyền quyết định mọi việc…!!! Quyết định cái gì? “Trung Đoàn” chỉ có 67 “nhơn” mạng: 63 nam, 4 nữ, hầu hết không quá 30 tuổi và một số là dân phạm pháp trốn vào “bưng”, vũ khí chỉ có 7 súng M16, mỗi khẩu có một băng đạn không tới 20 viên đạn, không bản đồ, không máy truyền tin, tình hình “địch” và “bạn” chung quanh vài cây số cũng mù tịt, không có thuốc men khi bệnh hoạn hay ngộ độc thì sẽ làm sao cứu chữa…? Ẩm thực mỗi ngày, mỗi người chỉ ăn được hai bữa vài ba chén cháo với cá khô…! Kháng chiến kiểu này là tự sát theo thời gian! Tôi đâm ra khiến chán, và những mối nghi ngờ càng ngày càng tích lũy âm thầm trong lòng càng gia tăng. Bài học mới đây với Sư Đoàn Tiền Giang, Sư Đoàn Rạch Giá, vụ án nhà thờ Vinh Sơn chưa ráo mực, chắc chắn rồi mình lại bị gạt rõ ràng như hai cộng với hai là bốn. Cố giữ bình thản dấu đi ánh mắt và những lời nói vô tình làm lộ ý nghĩ trong đầu. Ba ngày trôi qua không có mặt của tên đầu sỏ Z20, đêm đến tôi không ngủ chỗ của mình mà ôm tấm chăn chui vào bụi rậm gần đó, nửa thức, nửa ngủ chờ sáng… đến ngày thứ tư, tôi ra lệnh cho Tập và Quang (hai người này đang sinh sống tại Mỹ) theo tôi thám sát chung quanh vùng, nhưng thật sự là để dò tìm con đường an toàn trở ra QL1. Ngày hôm sau tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ. Tôi vẫn ngậm ngùi nghĩ tới họ, nhất là bốn cô gái chỉ vừa tuổi đôi mươi, những “chiến hữu” bất đắc dĩ nầy không biết rõ vì hoàn cảnh nào đưa đẩy họ vào đây…? Nhưng chắc chắn là họ không thể sống bình thường với gia đình nơi sinh ra và lớn lên, và chắc chắn hơn nữa họ không có một khái niệm sơ đẳng nào về việc họ đang làm rất nguy hiểm sẽ đưa đến cái chết oan uổng khi bị VC bắt và xử bắn. Thật tội nghiệp cho họ! Nhưng biết làm sao hơn, vì ngay cả bản thân của tôi cũng đã và đang lâm nguy như cá nằm trong rọ chờ giờ bị tóm cổ! Tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ trên đường trốn chạy tử thần, trong khi họ tin tưởng và hy vọng ở nơi tôi, một cựu Đại Úy Nhẩy Dù tác chiến thứ thiệt, và chắc chắn là chỉ huy kháng chiến “thứ thiệt” vì do cấp trên bổ nhiệm. Tôi bây giờ như con cua bị bẻ hết càng, thân bất độ, độ chi tha nhân, chắc gì cứu lấy được mình, nào dám hé môi nửa lời cứu lấy thân họ, lại nữa biết ai giả ai thật, trí trá vàng thau lẫn lộn, tai vách mạch rừng … đành để họ buông theo số mệnh an bày cho những người “Bạn” trẻ ngây thơ như nai tơ trước đàn sài lang hung dữ, ác độc thèm máu tươi và “năng nổ” lập công, thành tích để trồi đạp lên nhau mà tiến thân rồi mặc sức tha hồ giết người cướp của, thời điểm hưng thịnh bạo ngược là “bình minh cộng sản” (không viết Hoa)…! Rồi từ đó về sau tôi không biết tin tức gì của họ nữa, mãi đến năm 1987 tức 11 năm sau chị A từ Boston gọi điện thoại cho tôi biết anh H vừa sang Mỹ định cư ở Richmond, Virginia. Tôi tức tốc đến thăm gia đình anh, rồi được anh kể lại cho tôi nghe với những giọt nước mắt lưng tròng:

– Sau khi anh Út đi khỏi “chiến khu” rồi, chỉ vài tuần sau đó VC kéo cả một Tiểu Đoàn Bộ Đội và Thiết Giáp càn quét vào đó, tất cả những người đang ở trong “chiến khu” bị giết hoặc bị bắt đi, chỉ có vài ba người trốn thoát được vì đang ở Bảo Bình chờ nhận tiếp tế…! Tôi đã bị VC gạt và kéo anh vào cuộc bị gạt luôn với 60 sinh mạng bị bắn giết ở tuổi ngây thơ chưa biết gì về sự tàn ác của VC…!

Đêm đó tôi thức suốt đêm với anh H, uống hết chai beer này đến chai beer khác, beer trộn lẫn với nước mắt nuốt vào cổ họng nghẹn ngào bi thương… làm sao quên được những đôi mắt ngây thơ tin yêu có chút lãng mạn chuyện đội đá vá trời của những “kháng chiến quân” trong mật khu Mây Tàu bị “gài độ” và giờ đây thân xác của họ bị vùi lấp đâu đó nơi xó rừng hoang vu lạnh lẽo… nào ai biết, nào ai hay để thắp vài nén hương sưởi ấm oan hồn…! Đêm đã gần sáng mà những câu chuyện bị gạt bi thương, đau đớn gần như bất tận…!

Bị Gạt Lần Thứ Tư:

Nay “Hổ” trốn chui trở lại về “thành Hồ” và đã bị sức móng, như mèo bị cắt tai hoặc thành “cái” con chi chi cũng mặc…gặp ai nói, ai bảo gì cũng đành phải dạ thưa để tìm chỗ dung thân…! Ấy vậy mà vẫn còn bị gạt dài… dài…! Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” tự hứa từ đây sẽ chôn xuống gốc cây bụi cỏ nào đó cùng với lý lịch “oan khiên” Út Bạch Lan (danh hiệu truyền tin gần như huyền thoại mà cấp Chỉ Huy và bạn bè thân thương “ban” tặng như pháo, càng nổ to tiếng thì tan tành xác pháo thôi) rồi bắt đầu chuyển hướng tìm phương cách vượt biên. “Vượt Biên” là ngôn ngữ thời thượng trong khoảng thời gian từ năm 1977 – 1980, nhà nhà vượt biên, người người vượt biên… các hũ vàng chôn dưới nền nhà, chôn dưới cây khế sau nhà, dưới nền chuồng heo, chuồng gà lần lượt được moi móc lên để dâng cúng cho những tay trùm quỷ đỏ qua trung gian của không biết bao nhiêu kẻ chạy cò, móc nối gian manh lường gạt ngay cả thân nhân ruột thịt của mình…! Gia đình tôi là một trong những gia đình nạn nhân trong “quốc sách” bán bãi thu vàng, dollar, tịch thu tài sản của người vượt biên đó! Cả gia đình người Cô ruột của tôi gồm 16 nhân mạng đã chìm sâu dưới giòng sông Cát Lái sau khi đã gom góp tất cả tài sản để đánh đổi với hai chữ “Tự Do”, mà chính họ cùng lơ mơ không hiểu “Tự Do” là gì khi chiếc xà lang nổ tung dìm thân xác họ xuống lòng sông là chứng nhân vô tình, nước vẫn chảy xuôi dòng, cát vẫn trôi lăn vô định… còn lại bao tiếc thương của những thân nhân họ hàng rơi lệ dầm bâu rồi lại lăn săn lục lạo tìm đường vượt biên…! Năm 1979, một chiếc xà lang chứa cả hơn ngàn nhân mạng được tàu VC kéo ra khơi vượt biên, sau đó trôi dạt vào Pulau Bidong chỉ còn vài chục xác chết! Không biết những giây phút cuối cùng cận tử có ai không trong số đồng bào vượt biên phát giác âm mưu gian trá của quỉ đỏ giết người cướp của mà gào thét: “bọn quỉ đỏ đã lừa gạt đồng bào” … và còn nhớ đã chung bao nhiêu cây vàng cho đám công an tổ chức…?

Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” nay mồ đã xanh cỏ, giấc mơ vượt biên như ở đâu đó còn xa xăm ngoài tầm tay với. Đường bộ ngã Châu Đốc qua Campuchia cũng phải chung vàng, bán chính thức giá mỗi đầu người bốn cây, đi chui thì tệ lắm cũng hai cây. Mở miệng ra nói tới chuyện vượt biên là cây với cây…! Với ba lần bị gạt như kính cung chi điểu, con chim bị tên thấy cành cây cong đã hoảng sợ, bây giờ nghe nói đến cây cây là còn lo sợ hơn…! Bài tính tích phân với ba bốn con ngỗng của Thầy Nguyễn Khắc Thuận (VBDL) cứ nhẩy múa trong đầu và tìm đâu ra đáp số. Cha Mẹ ơi, Thầy ơi! Đang trong khi vợ con còn ăn uống chưa no bụng, thì làm sao mà có vàng để vượt biên? Một buổi trưa đang lang thang ở chợ trời Tân Định, tôi bị một cái vỗ vai thật mạnh gần chúi nhũi, ngó lại thì là chị Mai vợ của anh Nguyễn Văn Chộ (F21). Anh Chộ tướng đô con, trắng trẻo, đẹp trai, ra trường vào Không Quân, chị Mai là Tiếp Viên Hàng Không của Air Việt Nam, nổi tiếng đẹp nhất trong số các “Phu Nhân” của Võ Bị Đà Lạt. Chị gọi tôi:

– Anh Út, lại đây… lại đây!

Chị kéo tôi đến cái sạp bán quần áo cũ của chị. Nét đẹp diễm kiều và quí phái không thay đổi nhiều nhưng phảng phất có đôi chút phong trần.

– Anh uống cà phê không, cà phê cứt chồn ngon lắm?

Không đợi tôi trả lời, chị nhờ cô bé chạy hàng rong gọi hai ly cà phê sữa đá thêm chút bơ. Chị nói huyên thiên chuyện gia đình, chuyện anh Chộ và cuối cùng:

– Tôi nghe bà xã của anh kể lại chuyện về anh… Thật không ngờ gặp được anh ở đây. Thôi tóm tắt như thế nầy…

Nghe qua, tôi được biết người tình hờ của chị là một người Hoa có hai lò đường ở Củ Chi, đang tổ chức một chuyến vượt biên ở Sa Đéc, có tay trong là tên tài công từ ngoài Bắc vô, đang là thuyền trưởng một trong những tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc… Chị nói tiếp: “Tên tài công này đồng ý đưa mình đi, nhưng hắn muốn có một ít tiền để lại cho gia đình ở Ninh Bình, điều kiện là hai cây đầu người… nếu anh kiếm được 10 người thì anh sẽ được đi không tốn tiền.”. Nghe qua hấp dẫn vô cùng và tự khoái chí: “ờ há chỉ có con đường này may ra…”!!! Sau này biết mình bị gạt, tôi tự đấm vào đầu và tự nhủ: “Sao mầy có thể ngu đần như vậy, không nghĩ “thằng” tổ chức là ai, “nó” chính là “đầu não” quyết định “thằng tài công từ ngoài Bắc” vào… và cũng chỉ vì giấc mộng vượt biên mà u mê đến độ không suy nghĩ đắn đo phân hư thật cứ lao đầu vào sự lường gạt…”! Sau vài lần tiếp xúc, tôi dần dần tin tưởng ở chị Mai, mỗi lần gặp chị bảo tôi ngồi ở phía sau cái sạp bán quần áo cũ của chị nhìn ông đi qua bà đi lại, lắm khi chị giao sạp cho tôi trông coi, còn chị chạy vòng vòng đâu đó mua bán trao đổi quấn áo cũ, khi trở về chị mua cho tôi đĩa cơm tấm sườn. Sự tin tưởng nơi chị gia tăng tới mức tôi nhờ chị liên lạc với gia đình. Một ngày, người đàn ông lạ mặt xuất hiện, chị giới thiệu là anh Chín, ông chủ lò đường ở Củ Chi, không nói tôi cũng biết là người tình hờ của chị, nhưng nào phải chuyện của mình thắc mắc làm gì, họ trao đổi gì với nhau tôi cũng làm ngơ, nhưng thoang thoáng cũng biết được chuyện tiền nong cho chuyến vượt biên sắp tới. Chờ cho người đàn ông đi rồi, chập sau chị mới nói với tôi:

– Anh Út à! Tôi phải năn nỉ hết lời ông ấy mới thuận, tôi nói với ổng anh là anh em cột chèo với anh Chộ, nên ổng đồng ý cho anh đi, nhưng cũng phải đưa trước hai cây.

“Phải năn nỉ hết lời” mà phải đưa trước hai cây?!… Sao lúc đó tôi ngu ngơ khờ khạo đến nỗi không nghĩ ra cái mâu thuẫn hắc bạch phân minh này?!… Ngu nên bị gạt là đáng kiếp! Trông cậy và nhờ vả vào ai đây để đào ra hai cây vàng giao cho họ, cũng đồng nghĩa giao tính mạng mình cho họ? Nếu là một người dân bình thường có hộ khẩu, có gia đình, đi lại bình thường may ra còn có thể xoay sở được, nếu thoát được thì nói gì, còn nếu bị “dính cựa” thì cũng còn mái ấm gia đình mong ngày trở về… Còn tôi chỉ có đường đi tới, không trở lui được là thế bối thủy. Như một kẻ đã bị dồn vào chân tường, giống như ngày còn cầm quân nơi trận địa rơi vào hoàn cảnh chống cũng chết mà hàng cũng chết…! Lại nữa tôi tin ở chị Mai cũng như tôi tin ở chị A vì chỗ thân quen, ân tình nghĩa lụy với nhau trong những tháng năm còn tại ngũ. Tôi nghĩ đến Mẹ tôi. Người Mẹ chỉ biết chắt chiu dành dụm từng đồng và ăn chay trường từ ngày sinh người con thứ tám. Hy vọng mong manh may ra thoát được cái thiên la địa võng cô nghiệt này. Tôi viết một bức thư kín đáo cho Mẹ tôi và không quên dặn dò cách thức gặp gỡ. Đúng ngày, đúng giờ, đúng địa điểm chị Tư của tôi dẫn hai đứa con lang thang trong sở thú Sài Gòn, tôi nhìn theo dõi ở xa… xa… chưa dám tiếp xúc, rồi sau cùng nhận thấy khá an toàn tôi giả vờ như người chăm sóc cây kiểng đến gần gặp chị. Chị lo âu vội vã nói: “Trong cái túi giấy có ổ bánh mì, cá nục kho của Má làm cho em sáng nay, một cái bọc vải và cái thư của Má… Thôi chị đi…”. Chị vội vàng quay đi với hai đứa cháu và gương mặt đầm đìa nước mắt…! Tôi tìm chỗ kín đáo mở “quà” và đọc thơ của Mẹ tôi viết: “Con của Má, Má có bao nhiêu gom hết cho con, có phần phụ thêm của chị Hai và chị Tư… Con nên bảo trọng lấy thân, Ba Má vẫn đọc kinh cầu nguyện Phật Trời phù hộ cho con và anh em của con hằng đêm…”! Trong bọc vải có một sợi giây chuyền, ba chiếc nhẫn, một tấm lắc đeo tay, một cái kiềng đeo tay, một đôi bông tai, một vòng cẩm thạch màu tím thẫm, tất cả đều là vàng y. Tôi nào biết định giá nó là bao nhiêu, tương đương với mấy cây cũng không biết…! Với niềm hy vọng và tin tưởng không một chút thắc mắc nào, tôi giao hết cho chị Mai ngay buổi chiều ngày hôm đó. Tôi đã giao cho chị Mai tất cả huyết lệ của Mẹ và chị tôi, đã cần kiệm để dành chút vốn của cải cất dấu cả đời người tần tảo nay đem cho hết những mong tôi sẽ được vựợt biên bình an suông sẻ! Cứ mỗi ngày theo lời dặn của chị Mai, tôi ghé gánh cơm “xích lô phu khuân vác” xeo xéo sạp quần áo của chị để chờ tin. Thời gian và đợi chờ là hai khắc tinh “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, ngày qua tháng lại chỉ chờ… chờ… chờ cho đến một hôm kinh hoàng như bị thiên lôi giáng một búa xuống đầu mình, miệng há hốc mà không thốt ra được một lời, thân chết đứng … khi nghe chị Mai thông báo:

  • Tôi đã giao hết cái của anh cho anh Chín lò đường, cả mấy tuần nay tôi nhắn hoài mà không thấy anh ấy liên lạc, mới vừa nghe tin anh ấy đã cùng gia đình vượt biên rồi… Bây giờ mình chỉ còn nước đi thưa với công an mà thôi …”!

“Thưa Công An”? Tôi đã rơi vào bẫy sập với cái giá mồ hôi và nước mắt của Mẹ và chị tôi. Nỗi uất nghẹn từ trong tim trào dâng, ngăn giòng lệ không ứa tuôn ra ngoài mà phải ém để chảy ngược vào bên trong tâm tan nát…! Tôi lầm lũi bước đi với những bước chân vô hồn, bên tai vẫn còn nghe tiếng bà Ba gánh cơm xích lô: “bữa nay có thịt kho tàu với dưa chua, dưa giá…” và dư âm lời của chị Mai: “…mình chỉ còn nước đi thưa Công An mà thôi”! Tôi tự hỏi chị Mai hay thằng Ba Tàu chủ lò đường kiêm người tình “30 tháng tư” của chị manh tâm gạt tôi?! Những ngày sau, tôi lén trở lại sạp vải thấy tên Chín lò đường vẫn ngồi với chị Mai sau cái sập bán quần áo cũ… và họ hiên ngang chờ tôi đến để “đi thưa Công An”… Tôi âm thầm gạt lệ, có nỗi xót xa đau đớn nào hơn hoàn cảnh này hỡi Trời…?!

  Bị Gạt Lần Thứ Năm:

Trời cao không phụ lòng người, sau cùng tôi vượt biên thành công. Một tháng rưỡi ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, sáu tháng ở GaLang II chờ học ESL rồi cuối cùng cũng được đặt chân lên đất nước Mỹ tháng 12 năm 1982, Tôi phải đối diện với cuộc sống mới, làm lại từ khởi đầu với hai bàn tay trắng và mớ vốn kiến thức nửa nạc nửa mỡ, nửa thầy nửa thợ, bỏ lại sau lưng những nhục nhằn của cái thiên đường xạo hết chỗ nói (xã hội chủ nghĩa) chỉ có mánh mung và lường gạt! Khi còn ở trại tỵ nạn, vài nhân viên người nước ngoài trong phái đoàn phỏng vấn hỏi tôi:

–  Anh có dự tính sang Mỹ sẽ làm gì hay không?

Tôi trả lời ngay không do dự:

 – Lái taxi.

Khi sang đến Mỹ, bạn bè khuyến khích tôi nên đi học trở lại trong khi đang hưởng trợ cấp xã hội. Tôi cười:

 – Trời đất… bao năm chinh chiến chỉ biết cắc bùm, nhiều năm trốn chui trốn nhũi, sách vở văn chương chữ nghĩa đã trả lại cho Thầy, lại nữa tiếng Anh tiếng U nói bằng tay múa bằng chân thì học cái gì…?

Họ trấn an:

 – Tụi tao học được thì mày cũng học được, học không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang…

Thế là tôi cũng phải đi học mong kiếm tờ giấy “bằng cấp” lộn lận lưng để đi xin việc làm.


30-4-1983: “Ngày Đại Hội Chính Nghĩa của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh tại Thủ Đô Washington:

Người Bạn thân của tôi là Cựu Đại Úy Quân Y Nhẩy Dù Trần Công Hoàng (Florida) đang là Xứ Bộ Trưởng X202 của Mặt Trận vùng Đông Bắc Mỹ, Cựu Trung Tá Bác Sĩ Quân Y Sư Đoàn Nhẩy Dù Trần Đức Tường (France) đang là Đại Diện cho Khu Bộ Âu Châu của Mặt Trận… giới thiệu tôi với Đề Đốc Hoàng Cơ Minh (HCM) qua thành tích trốn trại và tham gia “kháng chiến” ở VN trước khi qua Mỹ. Trong căn phòng nhỏ hẹp vùng Maryland, bên ngoài được canh phòng an ninh chặt chẽ, BS Trần Đức Tườngnghiêm chỉnh trình diện Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh rồi dõng dạc giới thiệu:

– Xin trân trọng giới thiệu với Đề Đốc… đây là Đại Úy Trương Văn Út tự là Út Bạch Lan… mà tôi đã trình bày với Đề Đốc cùng Đại Tá (PVL) hai ngày hôm trước.

BS Tường bước ra ngoài. đóng cửa, trong phòng riêng thì chỉ còn có ba người với ánh sáng lờ mờ chỉ có ánh đèn bật sáng trên một bản đồ khá lớn đang trải rộng trên bàn. Ông Hoàng Cơ Minh cũng biết tôi vừa từ VN đến Mỹ vài tháng qua nên ân cần:

– Anh Út, …tốt lắm! Tôi và Đại Tá Liễu được BS Tường kể hết thành tích (?) của anh… Sẵn đây, anh có thể cho chúng tôi biết khái quát về tình hình ở VN qua phóng đồ hành quân này và cho chúng tôi biết nhận định của anh.

Trên bản đồ, những chấm xanh đánh dấu vị trí các đơn vị của “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh, chấm đỏ là các đơn vị trú phòng của QĐNDVC… Liếc qua vùng IV của mình ngày xưa, rồi vùng bắc, đông bắc Saigon với chấm xanh chấm đỏ chen lẫn chằng chịt… khiến tôi chóng mặt…?! Tất cả lực lượng của Mặt Trận đang dưới quyền “Tư Lệnh” Trung Tá Lê Hồng (truớc 1975 là Lữ Đoàn Phó LĐIND) nay đang mang cấp bậc Thiếu Tướng là “Thiếu Tướng Đặng Quốc Hiền”…!!! Cả hai “Ông” đều im lặng trong khi tôi quan sát trên bản đồ và cũng im lặng… Chợt nhớ tới những lời của tên Z20 ở Long Khánh trước đây… và tôi cố giữ bình tĩnh để tiếng “xạo” không thoát ra cửa miệng. Một lúc lâu ông Hoàng Cơ Minh hỏi thúc:

– Anh thấy sao? Tôi thực tình trả lời:

– Thưa Đề Đốc, tôi chỉ biết vào khoảng năm 1976 ở Mỹ Tho có Sư Đoàn Tiền Giang nhưng không có quân…! Ở Long Khánh có một nhóm khoảng trên dưới 60 người lại không có cấp chỉ huy! Tôi chỉ biết có thế.

– Thôi được, bây giờ anh đang làm gì?

– Dạ, tôi đang đi học.

– Tôi có bàn với anh Bẩy (TVL) là kết nạp anh ngay và sẽ đưa anh sang Thái Lan để giúp cho anh Chính “Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang” (TT/ĐQH tức TrT/ LH) hoặc ở lại đây vừa đi học vừa giúp chúng tôi thành lập Biệt Đội Công Tác Đặc Biệt (tiền thân của K9 sau này) … Anh nghĩ sao cho chúng tôi biết ngay bây giờ?

Tôi rơi ngay vào tâm trạng bối rối vì những cái chấm xanh chấm đỏ trên bản đồ. Thật xạo hết chỗ nói (XHCN) lại bị gạt nữa hay sao? Ba lần bốn lượt bị gạt còn chưa tởn hay sao mà nay lại còn ngần ngừ muốn bị gạt nữa chăng? Không gật đầu cũng không lắc đầu tôi từ tốn lịch sự trả lời:

– Thưa ĐĐ và ĐT… Tôi đã ghi danh đi học, thời gian chưa biết bao lâu, xin cho tôi thời gian suy nghĩ, khi nghe và nói được tiếng Anh lưu loát hơn tôi sẽ trả lời sau. Dù thế nào việc trở về VN lật đổ CSVN vẫn là giấc mơ chẳng phải của riêng tôi mà là của hầu hết mọi người Việt trong và ngoài nước.

– Vậy cũng được… anh Bảy sẽ chỉ thị trực tiếp cho X202 (TCH) giúp đỡ cho anh trong thời gian đi học, liên lạc thường xuyên với X202, cần gì thì nói với X202 và báo cáo thẳng cho tôi hoặc anh Bảy. Trong thời gian này nếu có thể được, anh liên lạc với GS Cao Thế Dung nhận một ít tài liệu về đọc và nghiên cứu để hiểu biết thêm tình hình chính trị hiện nay…

Tịnh Hô (cận vệ của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan trước 1975) lái xe đưa tôi trở về nhà “anh Đại” Trung Tá Phán (TQLC). Nơi đây đã “tập họp” trên 20 người ăn nhậu và đấu khẩu ỏm tỏi… Hình như họ đã biết chuyện tôi gặp gỡ HCM chiều nay cho nên khi bước vào nhà, Tịnh Hô la lớn tiếng:

– Út Bạch Lan về tới…  sau khi được phong chức Công Công!!!

Mọi người cười ồ…!!! Họ là những Sĩ Quan cấp Tá, đàn anh của tôi trong giới “giang hồ” ăn chơi ở SaiGon trước 1975. Họ tụ tập về đây tham dự “Đại Hội Chính Nghĩa” của Hoàng Cơ Minh. Họ không phải là cán bộ hay thành viên, đoàn viên của Mặt Trận mà chỉ vì tò mò về đây để “xem sự thể như thế nào” thế thôi!!!

Tôi mới đặt chân lên đất Mỹ vài ba tháng (1983) trong khi họ đã đến đây từ 1975. Sự am tường hiểu biết của tôi so với họ chỉ là con số không và họ đã được ông Hoàng Cơ Minh chiếu cố vận dụng, chiêu mộ trước tôi xa lắc xa lơ… Ba người trong số của Họ là cựu TrT/ TQLC Nguyễn Văn Phán, cựu TrT/ HQ Trần Đức Cử, cựu TrT/BĐQ Nguyễn Thừa Dzu nói với tôi:

– Mầy mới qua nên lo đi học rồi kiếm việc làm, ba cái chuyện này để mấy thằng anh mày lo, bao nhiêu cạm bẫy trùng trùng lớp lớp trước mặt, lỡ bước sang ngang con đò lật úp thì không ai cứu mày được…. ĐHCN của HCM hôm nay là dấu hiệu kết thúc đó, tụi tao không cần giải thích nhiều! Nên nghe lời “Qua” đi em!

Ngay sau đó, với sự vận động của “anh Đại” Phán, mọi người đóng góp tại chỗ được 3800 dollars để cho tôi mua chiếc xe Nissan Sentra 1983 hai cửa mới toanh để đi học, và sau này cũng chính Anh Phán là người tìm việc làm cho tôi…!!!. Đứng giữa hai sự chọn lựa, một là “danh vọng, địa vị” với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, hai là tấm thạnh tình của những đàn Anh chí tình chân thật…? Lần nầy bởi nhìn được thấu đáo sự thật và nhiệt tình giúp đỡ của quí Anh trưởng thượng… tôi né tránh được bị gạt lần thứ năm. Tôi từ chối những tấm check vài ba trăm hằng tháng của X202 nói rằng từ trung ương gửi cho tôi. Tôi biện giải khéo vì đã có Wellfare và Foodstamp đủ để đi học rồi và dứt khoát bỏ ngoài tai những mật ngọt vẫn tiếp tục gọi hằng ngày cùng những lời tâng bốc của các bạn cùng trường. Họ là những đoàn viên trung kiên của Mặt Trận trong đó có rất nhiều cựu SVSQVB với bộ đồng phục quần xám, áo nâu hoạt động quên cả ăn học…! Tội Nghiệp! Tôi vẫn âm thầm tiếp tục việc học và cũng may, nếu vì “nổ” và hám danh, háo vị… thì thân xác tôi giờ đây đã rã mục oan uổng đâu đó trong vùng thâm lâm Thái Lào cùng với Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh hoặc bị vùi dập dưới gốc tre bụi chuối nào đó bênh cạnh “Trại Kháng Chiến Quân” cùng “Thiếu Tướng Tư Lệnh Đặng Quốc Hiền”, hay như GS Cao Thế Dung phải sống trong lo âu sợ hãi khi ly khai và lột mặt nạ gia đình đầu nậu “kháng chiến Phở Bò” họ Hoàng…?!

Lần bị gạt này sở dĩ mà“né”được là nhờ kinh nghiệm những lần bị gạt trước kia và sự nhiệt tình cảnh báo của một đa số “đàn Anh” đến Mỹ năm 1975… Trong khi đó không biết bao nhiêu bạn bè thân thiết của tôi thân bại danh liệt, tán gia bại sản vì cái danh vị và quyền lợi nhất thời này… lẽ nhiên tôi không dám nói tới những “Anh Hùng” thực sự có hùng tâm với đất nước nhưng thiểu trí đã thực sự tin tưởng và dấn thân trong “Mặt Trận Kháng Chiến” Hoàng Cơ Minh, những mong quang phục nước nhà … Tôi thành kính phân ưu! Xét cho cùng ai gạt ai và ai bị gạt…? Hạ hồi phân giải.

Lần Thứ Mấy Rồi Hỡi Em?

Rồi chuyện bút nghiên nhắm mắt qua cầu cũng xong cùng lúc với Phạm Quảng Thành và Dương Hiển Tòng. Đúng như lời Dương Hiển Tòng đã nói: “Học không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang”. Ra trường có việc làm như ai, lai rai kiếm tiền bắt đầu gửi trả báo đền những ân tình với ân nhân ngày trước. Thời gian cuối 1984 đầu 1985 là thời gian “an cư lạc nghiệp” của tôi: đi làm chỉ mong cuối tuần để gặp Nguyễn Như Lâm, Lạc Minh Châu, Nguyễn Hữu Cầu, Mai Vĩnh Phu, Đỗ Đức Thắng… không Washington DC thì Maryland, không Philadelphia thì NewYork… Mong đầu tháng hay giữa tháng lãnh cái check chạy vội ra tiệm vải của người VN mua một thùng trị giá 200 dollars cho vợ con, một thùng 200 dollars cho Cha Mẹ, chỉ biết trả tiền hàng hoá do tiệm đóng thùng gởi về VN với hoá đơn đàng hoàng, trên đường lái xe về nhà lòng thơi thới hân hoan vui sướng vì nghĩ Cha Mẹ, vợ con sẽ mừng rỡ khui thùng hàng nhận được quà là những xấp vải, mấy cái quần Jean Levis thứ thiệt, mấy hũ thuốc trị bịnh phổi cho Cha, chỉ thiếu trầu cau cho Mẹ nữa thôi…!!! Tôi biết Mẹ chỉ cần tin tôi đã thật sự thoát ra khỏi địa ngục VC và đang sống trên thiên đàng tự do Mỹ quốc là Bà mừng vui không có niềm vui nào hơn thế nữa…!!! Một hôm tôi nhận được thư vợ: “Anh à, em nói anh đừng nổi nóng nghe! Anh xem lại, anh nói thùng quà trị giá $200USD mà thật ra chỉ trị giá khoảng $50 mà thôi… vì hàng “dzõm” không hà! Ba Má nhờ em thanh toán dùm, có bao nhiêu em giao lại cho Ba Má bấy nhiêu, bây giờ em lại mang tiếng là: “con dâu ăn chận”…”!

Tôi chưỡi thề: “mẹ kiếp lại bị gạt”…!!! Cái này thì ai gạt ai đây? Thằng chủ tiệm vải hay vợ tôi trong vụ mánh mung này? Tôi mang mấy chục cái hóa đơn ra hỏi thằng chủ tiệm vải thì nó chứng minh rành mạch rõ ràng: “…theo đơn đặt hàng… 100$ là như thế này, 200$ là như thế này và 500$ là như thế này… giá cả ở Mỹ là thế này, còn cái giá ở VN làm sao tôi biết được”? Tôi quíu lưỡi! Đi thưa kiện nó à? Con kiến đi kiện củ khoai đành ngậm bồ hòn lủi thủi về nhà lòng buồn rười rượi…! Cũng may bên cạnh còn có Trần Thị Thanh Hà người vợ chưa bao giờ cưới mới vừa “ký giao kèo” sống chung, sống vui, sống không càm ràm với tôi khoảng một năm nay… gọi cho chị Mai vợ Nguyễn Như Lâm tâm sự “khúc nôi” được chị cho biết: “Trời ơi,… Tôi biết thằng khốn nạn đó mà, nhiều người bị nó gạt 1001 kiểu, không kiểu nào giống kiểu nào…? Ông Út bị nó gạt là phải rồi, nói với ông Út đừng gửi theo kiểu thùng quà nữa mà gửi xe Honda Cup chắc ăn và có lời hơn…”.

Xe Cup hay Cub gì đó, ông cố nội tôi cũng không biết là cái giống gì, giá cả $1225USD? Khi người nhận ở VN chiếc xe này trị giá khoảng từ 5 đến 7 cây vàng… lời chán. Tôi bỏ cái vụ thùng quà, gom góp tiền dành dụm được ba tháng đem “nộp mạng” (?) cho một văn phòng đại diện hãng Honda Nhật Bản vùng Maryland, giấy tờ ký xong xuôi tổng cộng hóa đơn là $1287USD. Trong vòng một tháng hàng sẽ chuyển từ Nhật về đến VN, như vậy gia đình tôi sẽ có ít nhất là 5 cây. “Vợ nhỏ” đánh điện tín cho “vợ lớn” báo tin và nhắn: “ Chị nhớ lời anh Út dặn: khi nhận được xe trao đổi có tiền phải đi tìm mua ngay cái kiềng vàng cho Má, đó là cái kiềng vàng đính hôn của Má, mà Má đã cho Anh Út để đóng tiền vượt biên…”.

Chờ một rồi hai ba tháng chẳng thấy tin từc gì, “vợ lớn” ở Sài Gòn đi vay nợ sống lất lây qua ngày tháng để chờ cái chiếc xe mắc dịch này tới bến và chắc có lẽ cái tàu chở chiếc xe Cub của tôi bị chìm mẹ nó ở biển khơi hay bị hải tặc cướp mất rồi…! Lại mất toi hơn ngàn bạc bằng mồ hôi nước mắt của mình đem giao cho bọn gian thương lường gạt. Tôi đến văn phòng đại diện của hãng Honda hỏi sự tình và được biết “Văn Phòng” đã đóng cửa, không ai biết “nó” đã đi về đâu?! Thật là thiệt thòi mà! Không có cái ngu nào giống cái ngu nào! Tôi “bị” ngu đủ kiểu biết trách ai bây giờ…?! Cho nên tương lai còn bị gạt dài dài…! Mình ngu và đần thì cứ nhận là ngu như …như vậy! Lần ngu và bị gạt này gây tai hại tinh thần cho gia đình tôi còn nặng nề hơn gắp trăm lần cái ngu và bị gạt mấy lần trước…! Sự ngờ vực và nghi kỵ lẫn nhau trong thân tộc nội ngoại ở VN cũng chỉ vì đồng dollar của “khúc ruột ngàn dặm” mà tan vỡ thành từng mãnh vụn…! Bao nhiêu giấy mực để có thể phát họa một bức tranh cho con cháu mình hiểu được sự băng hoại của một xã hội không còn nhân luân cương thường chỉ vì đồng tiền mà nên nông nỗi: Cha Mẹ chồng nhìn con dâu với bao nỗi ngờ vực, chị em dâu vay qua mượn lại không sòng phẳng để anh em cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, có gặp nhau cũng ơ thờ nhạt như bát nước ốc…! Cha Mẹ mong đợi tin tức của tôi, cả nhà reo vui như chợ tết mỗi khi nhận được điện tín của thằng Sáu, nhưng bên cạnh lại có những giọt lệ tủi thân âm thầm vì kẻ có người không, kẻ nhiều người ít cũng chỉ vì cái “xe Cup” không bao giờ cập bến để người nhận chờ hoài đi vay tiền trả lãi xài trước, rồi mang nợ …Vậy thì ai gạt ai đây? Gạt có hệ thống, gạt giây chuyền hàng dọc, hàng ngang, nhưng khổ nỗi vì thống khổ biết bị gạt mà lau những giọt lệ chấp nhận bị gạt như hằng vạn cô gái thanh xuân từ những thôn vườn rời bỏ Mẹ Cha, Anh Em làng xóm hân hoan lên máy bay chấp nhận kiếp sống của “nàng Kiều” trước mắt là một khoảng trời vô định, hạnh phúc ở tận chân mây…!

Vào cuối năm 1984… Một hôm cánh tay trái của tôi bỗng đau buốt tê rần, vài ngày đầu cứ tưởng trái gió trở trời nên vậy, uống thuốc Advil không bớt nên phải đi bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ là một người bạn không thân nhưng quen biết rất nhiều, anh ta là một BS/TQLC (PNV) vừa mới tốt nghiệp và mở phòng mạch tư ở FairFax, VA. Chồng làm BS, vợ tính tiền, không hiểu sao hễ cái gì nói đến tiền là dính ngay đến cái vụ gạt! Check in… bà ta hỏi tôi:

  • Anh có bảo hiểm sức khỏe không?
  • Dạ có,… hai cái lận, một là American Express hai là Blue Cross – Blue Shield…
  • Tốt… tốt lắm!

Bước vào phòng khám bệnh, chờ khoảng 10 phút thì hắn bước vào bắt tay hỏi lia chia chuyện bá vơ rồi bắt đầu hỏi bệnh. Nắn bóp tay chân trái, rồi gắn mấy cái cục cao su vào ngực tôi với giây nhợ lòng thòng (EKG) trông có vẻ là một phòng khám bệnh “hại điện” rồi hắn bắt đầu mở máy “nổ” giải thích bệnh trạng của tôi với nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh với âm điệu Khờme nghe điếc con rái…!!! Và với một hũ thuốc Tylenon về nhà, tay vẫn còn y nguyên đau nhức dữ dội! Tôi phải xin nghỉ việc vài hôm rồi gắng đi làm trở lại, vì gắng quá sức nên một hôm tôi phải vào bệnh viện cấp cứu vì cánh tay trái không còn cử động được nữa! Vào bệnh viện FairFax. được Bác Sĩ Mỹ chẩn bệnh xong, Ông ký rẹt rẹt năm ba tờ giấy gì đó, hai tiếng đồng hồ sau y tá đẩy giường bệnh của tôi đi làm Scan Xray đốt xương sống C7. Tôi vào phòng mổ sáng ngày hôm sau. Cuối cùng mọi sự an toàn và tôi trở lại làm việc bình thường một tuần sau đó.

Một tháng sau nhận được cái bill $3897 USD từ Blue Cross Blue Sield đã thanh toán cho văn phòng thằng “bác sĩ” PNV miệt vườn ăn lường nói gạt, (không phải của Bệnh Viện Mỹ) lại thêm một cái bill tôi phải trả riêng cho “nó” thêm $450USD. Tức cành hông, tôi ngây thơ gọi điện thoại gọi cho văn phòng “bác sĩ” PNV khiếu nại và được vợ “nó” trả lời: “Vâng thưa Ông,… Đúng đó là chi phí cho lần khám bệnh của Ông vừa rồi”. Mẹ kiếp “nó” chỉ có rờ tay rờ chân, làm cái test EKG mà gần 5000 dollars mất không tới 15 phút, Tôi tức giận gọi điện thoại cho văn phòng Bác Sĩ Louis check lại và được trả lời:

– Vâng thưa Ông,… ca mổ của Ông đã được thanh toán tốt đẹp. Không có gì Ông phải quan tâm.

Bác Sĩ Việt Nam như tên PNV trị bệnh, tiền mất tật vẫn mang!

Bác Sĩ Mỹ… Tiền chưa mất đã hết bệnh …!!!

Trong văn hóa Việt Nam, Cụ Trương Vĩnh Ký có viết: “Người Việt Nam ta cái gì cũng cười…”!!! Nếu bây giờ Cụ sống lại chắc có lẽ Cụ phải sửa lại là: “Người Việt Nam ta ngày nay cái gì cũng gạt cũng lừa…”! Từ một tên tiểu thương bán vải quần áo, đến một “đại gia” với những công ty liên hành tinh, đến một “bác sĩ” cũng gạt người…! Vậy thì: Luật Sư, Trí Thức, Khoa Bảng, Công Hầu KhanhTướng, Đảng Phái, Đảng Bè, Chính Khách, Chính Phủ: Đào Minh Quân, Nguyễn Hữu Chánh, Lê Minh Đảo, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Bích, hai ba cái Cộng Đồng NVQG vũ trụ… liệu có gạt người hay lại bị gạt hay không? Cho nên tôi bị gạt cũng chỉ là lẽ bình thường và rất thường…!!! Mỗi lầm lỡ là thêm lần đau khổ! Biết vậy làm sao và làm thế nào khi trí khôn của “người” có giới hạn… Ngoài thế giới rộng lớn kia có biết bao nhiêu “Đại Nhân” với “Đại Trí” là “Yếu Nhân Đối Trọng” vẫn bị tang thương bi thảm vì bị gạt đến nước mất nhà tan…! Khi cần chống và ngăn chận khối Cộng Sản phát động cuộc cách mạng như làn sóng đỏ đang bành trướng trên thế giới… “Người Mỹ” đã “chọn” Việt Nam làm chiến trường để “Gạt” và phân hoá Nga – Tàu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nhân tuyển được “Thế” của Mỹ đưa về Việt Nam rồi tạo “Lực” thành lập Chính Phủ nền Đệ Nhất Cộng Hoà để thi hành kế sách đã được hoạch định. Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát! TT Nguyễn Văn Thiệu với nền Đệ Nhị Cộng Hoà là giai đoạn tiếp nối. Hồ Chí Minh với Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Bắc Việt đã “năng nổ” tận sức lực xua hằng triệu thanh niên “sinh Bắc tử Nam” đã “Giúp” cho “Uncle Sam” mau chóng thu hoạch thành quả trước thời gian qui định và cuộc “Bàn Giao” miền Nam cho “Khối Cộng Sản” qua tay Bắc Việt đã thực hiện đúng theo qui trình bài bản và cuộc tháo chạy có dự mưu thành công mỹ mãn, “trang sử Việt Nam đã được giở qua”, Kissinger lẻo mép: “nước Mỹ còn nợ Việt Nam một cơ hội thịnh vượng” và “sao chúng không chết ngay cho rồi” …! Hollywood Part 2: Thắng thế, được đà… Con “gấu Nga” được “Nữ Thần Tự Do” tiếp móng vuốt sắc bén hung hăng cắn xé từng mảng từ Nam Mỹ Châu đến Trung Á chí cho đến Phi Châu… và sau những thực tế phũ phàng giấc mộng “Đại Nga” đã tan tành theo mây khói, Soviet Union đã rã ra từng mảnh co lại như miếng da lừa! Thế giới Tây Phương bị gạt, Thiên Triều Roma bị gạt…! Nay con “sư tử Hán” cũng được “nhà đen” sau lưng “Nhà Trắng” gắn móng vuốt sắc bén nên “hùng cường” hồ bởi cúc cung vắt kiệt sức lao động rẻ tiền của con dân với nền “kỹ nghệ gia dụng” biến thành mật thành hoa, thành chỉ tệ, thành dollar… cống hiến cho “Nữ Thần” quơ đuốc chỉ nhà Bank “hảo lớ… hảo lớ” ký thác và đi hia bẩy dậm đưa “thuyền buồm” lấn chiếm biển Đông… Những diễn tiến chính trị có khác chi luật tắc và hệ nhân quả ở trường thiên thời gian và trớ trêu thay bánh xe sau đi vào vết xe trước… là định mệnh do “Nữ Thần Quơ Đuốc” chỉ đường chăng? Phúc và Hoạ thật không lường! Trên đỉnh cao của Kim Tự Tháp là điểm hội tụ của Trí Tuệ có thể phóng viễn kiến vào vũ trụ để tìm kiếm gì khi nhân loại tưởng là thật văn minh mà vẫn còn “ăn thịt” nhau, tân kỳ nhưng man rợ… các đấng giáo chủ đã “trăn trối” nhiều lời “chân lý” mà sao con người hôm nay như đang “mùa” khủng hoảng đức tin, mọi giá trị tốt đẹp xây dựng con người đang phải xét lại và bị thách đố trước phù hoa vật chất… còn phải có bao nhiêu cuộc cách mạng nữa để con Người sống hạnh phúc hài hoà với nhau…? Như vậy, cả thế giới nầy bị gạt… Thì xá gì tôi bị gạt, nhỏ quá nhầm nhò gì ba cái lẻ tẻ mà hèn mọn một đời người, thế giới nầy có lắm người đại trí, còn riêng tôi phải biết nói năng gì:

Chúng ta từ đâu đến cuộc đời nầy?

Như côn trùng hoang thiếu cánh…!

Bưới móc kiếm ăn trong niềm vinh, nỗi nhục!

Tìm được gì năm tháng rớt quanh đây?

Buổi chiều nhìn nắng vàng qua cửa

Phút thanh xuân thoáng đã tà huy.

(TGĐ)

Tôi tự nhủ thầm: “Kệ mẹ, ai nói chi thì nói, mình cứ để cho bị gạt… chỉ mong được nhảy ra khỏi đáy giếng không còn là con ếch nữa mà trở thành con gì cũng được, miễn sao không là “ếch ngồi đáy giếng là được”… Cái “ngu” triệt để của tôi là ở chỗ đó có khác người không? Đáng tiếc!

Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út bạch Lan)

Đặc Sản U Minh Hạ Quê Tôi

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 28 Aug 2023

Quê hương của Trúc Thanh nằm nép mình cuối dãy Trường Sơn. Nơi đó có núi, rừng, ruộng, rẫy và biển xanh. Thanh chưa bao giờ đặt chưn xuống miệt đồng bằng. Từ ngày về chung sống với tôi, Thanh chỉ biết quê chồng qua những câu chuyện kể hoặc đọc qua sách báo và xem phim ảnh chớ chưa một lần nhìn tận mắt. Thanh ao ước:

– Ngày nào về nước em sẽ về quê anh, em rất thích sóng nước miệt đồng bằng sông Cửu Long.

– Em ở miền núi nên em thích đồng bằng cũng như anh ở miệt đồng bằng thì thích về miền núi – tôi tự hào khoe với vợ – quê hương anh được cái là thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều món ăn dân dã, anh cam đoan với em, từ Trung ra tới ngoài Bắc không đâu có được miền trù phú như U Minh.

– Nói cho cố đi ông!

– Em dìa rồi em sẽ biết.

Tôi không nói quá lắm đâu. Quê tôi vùng ven thuộc về U Minh Hạ, ra biển thì tôm cá biển, vô sông thì cá tôm sông, lên ruộng thì cá đồng, rùa, rắn… Trên trời chim chóc rất nhiều loại như: diều hâu, diệc, cò đen, cò trắng, le le, chằn bè, vịt nước…. Những vườn cò, sân chim mỗi nơi rộng hàng chục công đất vuông. Nhứt là vào những buổi chiều chim, cò bay về rợp bóng mát và kêu ríu ra ríu rít vang động cả góc rừng. Cò mần ổ trên những bụi chà là có nhiều gai nhọn. Đầu mùa mưa, cò đẻ trứng, người ta chuẩn bị áo, quần và may bao tay dầy đề phòng gai chà là quẹt rách da, chảy máu. Họ mang gùi, vác móc vô rừng móc một buổi đầy hết gùi nầy sang qua gùi khác, họ ăn cho tới khi trứng lộn mới ngưng lại. Đợi tới khi trứng nở con, chờ cò con bể bọng, mọc lông non, đủ thịt thì họ lại xách gùi vô một đợt nữa móc lấy cò con đem về bán cho quán nhậu hoặc tự làm đồ nhậu.

Nghe tới đây Thanh chận:

– Cò con ăn được sao?

– Được chớ, cò con thịt thơm, xương mềm, đem nướng, khìa nước dừa hay rô ti thì ăn rất ngon và nhậu rất bắt.

– Ngày về nước em sẽ xuống miệt U Minh ăn những món ăn dân dã cho biết.

U Minh Hạ rộng thênh thang. Nếu đi đường biển từ vịnh Rạch Giá trải dài xuống tới vịnh Gò Công, cạnh mũi Cà Mau, thì sẽ thấy rừng mắm xanh rì tiếp liền với mặt biển. Mỗi năm bãi biển nơi đây được phù sa bồi ra năm sáu chục thước, trái mắm trôi tắp vào bãi bám rễ mọc lên cây con. Ven bãi cây mắm còn non, chiều cao không quá ba thước, nước lớn ngập khuất gốc, nước ròng lòi lên đất bùn. Ngoài những râu mắm (rễ gió) chi chít từ mặt đất chĩa lên trời ra không có cỏ cây nào khác mọc. Càng lấn vào trong đất sét càng dẻo, cây mắm càng già tàn cây càng xum xuê lá, gốc cây mắm lớn vừa lỏn trong vòng ôm của một cánh tay. Cây mắm dễ đốn và tiện lợi cho những dân nghèo che chòi ở tạm, lót vạc nằm. Cây mắm đốt lên gây nhiều khói làm khó chịu cho mấy bà nội trợ mỗi khi đun bếp nấu cơm, nhưng nó rất công hiệu nhúm bếp un xua đàn muỗi đói. Những cây cối khác do chim nhả hột hoặc cây và trái giống trôi trên sông rạch tắp vào lần lượt mọc rải rác trên những vùng đất cao như cây bần, cây chà là, rau muống biển, ô rô, ráng và dây choại mọc chằng chịt đan nhau. Dây choại U Minh Hạ số lượng không nhiều nên khi cần người ta chặt về dành trói cua, xâu cá chớ không đủ thu hoạch hàng tấn mỗi năm như choại ở miệt U Minh Thượng.

Đặc sản U Minh Hạ có tôm, cá, cua, ốc len, vọp, sò, ba khía… Cái gì hổng biết chớ ba khía muối là trúng tủ Thanh rồi. Thanh rất thích ăn ba khía muối, vậy mà cô chưa từng biết hình dạng con ba khía còn sống ra sao và cách muối ba khía như thế nào. Trước khi về sống với tôi, cô tưởng tượng ba khía là con cua biển con. Tôi phải một phen giải thích, ba khía tám cẳng hai càng, cũng giòng họ nhà cua nhưng không phải là cua biển, thân hình không lớn hơn cái chén ăn cơm, vỏ nó nham nhám, màu tim tím, trên mu khuyết ba rạch nên người ta đặt tên là ba khía. Ba khía còn tươi đem luộc thịt khô khốc, bời rời không mùi vị gì hết. Nhưng sau một tuần hoặc mười ngày ngâm trong nước muối tách vỏ rút thịt ra, thịt dẻo và mùi thơm rất là đặc biệt, ta có thể pha thêm chanh, đường, tỏi, ớt vào để vài giờ thì ba khía có thêm hương vị đậm đà, vô cùng hấp dẫn.

Có một lần Thanh qua tận Paris, cô xục xạo đâu đó trong mấy tiệm bán thực phẩm Việt Nam được bốn con ba khía muối và cô mua thêm vài trái xoài xanh. Đem về hí hửng khoe với tôi. Thật tình từ ngày sang định cư xứ người cho tới nay, các loại mắm thì ăn ngon hết chỗ chê rồi, nhưng ăn một lần ba ngày sau trong nhà vẫn còn hôi. Nhứt là ăn ba khía phải dùng tay tách vỏ, một lát thì hai bàn tay hôi rình. Tuy nhiên thấy vợ vui tôi cũng hùa theo cho vợ khỏi bị cụt hứng, hơn nữa lâu lâu ăn một bữa ba khía muối chắc cũng ngon, nhà có bị hôi một tuần lễ cũng chẳng hề gì. Đứng nhìn Thanh lui cui gọt xoài, bâm nhuyễn để trộn ba khía, tôi cao hứng đọc bài dân ca.

Tháng bảy nước nhảy Cà Mau

Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi mần

Năm Căn, Rạch Gốc, Rạch Bần…

Muỗi kêu mặc muỗi tao mê ba khía hồi

Thanh thắc mắc:

– Nước chảy chớ làm sao nước nhảy được và ba khía hồi là ba khía gì?

– Nghe dân ca hay ca dao em phải hiểu ý người ta nói gì chớ. Miệt dưới anh vào mùa mưa mực nước dưới sông dâng lên tràn bờ người ta gọi là nước nhảy, tháng bảy mực nước lên cao nhứt nên có câu: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ.” chớ nước chảy thì chảy quanh năm hổng có gì đặc biệt hết nói làm gì. Còn ba khía hội đọc trại ra cho đúng vần thành ba khía hồi.

– Sao không nói mê ba khía rồi cho đúng vần.

– Vậy mà em cũng nói được, em ỷ có chút chữ rồi muốn sửa thơ ca người ta sao thì sửa à. Người ta nói ba khía hội thấy mà mê, chớ con ba khía xấu òm ai mê cho được.

Tới đây Thanh mới chịu nhưng cô còn ráng bướng:

– Cũng được, nghe giống thơ của Bút Tre lắm.

– À, cái nầy em phải nói là thơ Bút Tre giống dân ca mới đúng vì cái dạng dân ca có vần điệu na ná như thơ Bút Tre từ xưa miệt đồng bằng sông Cửu Long trai gái ông già bà lão đã dùng để hò hát và nói vè. Chỗ anh ở có câu vè như vầy: “Kinh Ngang có bác ba Phì cái gì hổng biết chớ… dóc thì một cây.” Nhiều người nghe hiểu lầm là bác ba Phì tức là bác ba Mập nhưng thật ra là vì kị huý người ta hổng kêu thẳng tên bác ba Phi nên mới đọc trại ra thành bác ba Phì. Một là đúng vần hai là khỏi lo con cháu bác ba Phi nghe được rồi nổi xung xách dao phay rượt chém.

Trộn xong tô ba khía Thanh vừa bưng để lên bàn vừa cười mỉm:

– Em nghe anh nhắc tới bác ba Phi làm em muốn cười đây, nhưng xong rồi mình dọn chén ăn cơm đi.

Thật ra ba khía muối từ Việt Nam bay qua Pháp, rồi từ Pháp vượt trên năm trăm cây số qua tới Hòa Lan thì thịt rã tan ra nước hết, còn bốn cái vỏ bọng không, nước ba khía đã đổi màu đen đen và có hơi nặng mùi nhưng có lẽ nhờ tôi đọc và cắt nghĩa bài dân ca hay quá và trộn trái xoài xanh bầm nhuyễn còn pha thêm tỏi, đường, chanh, ớt cộng thêm tình nghĩa vợ chồng làm cho mùi vị ba khía dịu lại. Chiều hôm ấy hai vợ chồng ăn xoài chua trộn nước muối ba khía và mút hết bốn cái vỏ ba khía bọng. Tuy thực phẩm không mấy an toàn nhưng được cái là vợ chồng tôi có bữa ăn rất vui và cái bao tử của chúng tôi cũng khá tốt nên đêm đó không phải tốn thêm nước dội bồn cầu.

Có lẽ tôi phải kể tiếp chuyện ba khía hội và những biến cố sau nầy làm cho ba khía không còn hội, nếu không kể bây giờ thì sau nầy ba khía tiệt giống thì hổng còn ai biết nó rõ ràng hơn. Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện vào giữa những năm sáu mươi tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Lúc tuổi của tôi vừa nhận thức được ít, nhiều về cuộc sống, tôi đã theo ba, má lang thang xuống tận cùng miền đất nước. Ai đã từng tha phương cầu thực khắp miệt U Minh Hạ nếu không sống bằng nghề bắt ba khía thì cũng một lần biết qua mùa ba khía hội. Nhứt là vào những đêm trăng già tháng Mười, dưới dòng những con rạch xuyên vô khu rừng mắm hoặc rừng đước thì sẽ thấy trên những chiếc xuồng tam bảng, người ta chuẩn bị sẵn những chiếc đèn lồng hay những bó đuốc mù u hoặc đuốc tẩm dầu. Xuồng nhỏ thì chở vài ba chiếc khạp da bò, xuồng lớn thì chở những chiếc lu to tướng. Trong khạp, trong lu đựng lưng lửng nước muối pha sẵn (Độ mặn của nước muối rất là quan trọng cho việc muối ba khía; lạt quá thì ba khía trở mùi khai khai, mặn quá thì ba khía rụng ngoe, rụng càng, trong lúc ủ sơ ý để nước lã lọt vô thì ba khía bị bủng thịt và nước ba khía đen thui, hôi rình). Thời đó chưa có ống thủy đo độ, người ta pha nước muối dùng hột cơm và phối hợp với lưỡi để đo, sau khi đổ muối vô nước quậy đều người pha nếm thử nhắm chừng vừa mặn, muốn chắc ăn họ bỏ một hột cơm vào nước muối, nếu thấy hột cơm nổi lên mặt tức là vừa đủ độ để muối ba khía. Ba khía muối đúng độ để bảy tám tháng vẫn ăn được. Đêm trên rừng, trong ánh đèn lồng lờ mờ dưới ánh trăng già hơn nửa mảnh, ta thấy ba khía hội đen thui rạp trên một dãi ráng hoặc trên những dãi ô rô. Lúc đó người ta mang bao tay vào từ từ hốt bỏ vô bao rồi đem xuống xuồng đổ vào những chiếc khạp và những cái lu nước muối. Có đêm ba khía hội nhiều đến đỗi người ta hốt đầy lu, đầy khạp và khẳm xuồng mà ba khía vẫn còn loi nhoi, lúc nhúc quện nhau một khối đen ngòm.

Khoảng cuối năm sáu mươi trở về sau thì ba khía hội xa xóm nhà, xa kinh rạch hơn. Cho nên dân bắt ba khía phải cơm ghe bè bạn đi sâu vô rừng. Đêm về trải những chiếc nóp đệm đan bằng lát trên xuồng rồi chui vô ngủ chờ trăng lên mới đi lùng ba khía hội. Tuy cực khổ hơn trước kia nhưng cuộc sống dân mần ba khía vẫn còn thoải mái. Cho tới sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Năm đó dân ở thành thị thất nghiệp đổ về miệt U Minh và dân Hà Nam Ninh từ miền Bắc tràn vô ước chừng nhiều hơn ba khía hội nữa. Mỗi chiều lên, dọc theo những dòng rạch, đoàn xuồng nối nhau vào rừng, họ chuẩn bị đèn soi có, đuốc có và có cả đèn pin. Xuồng bắt ba khía nhẹ hững, mỗi chiếc chở vài ba người (bây giờ không còn dùng khạp, hay lu đựng ba khía như xưa nữa) mỗi người mang theo đèn và một thùng thiếc có nắp đậy để đựng ba khía. Bất kể ngày tháng, trừ những ngày ba khía lột, ban đêm họ thắp đèn soi sáng khu rừng giống y như ngày hội. Có người sót sa chỉ tay vào rừng: “Nhìn coi kìa, người hội chớ ba khía còn đâu nữa mà hội.” Thật vậy, cả một đoàn người lùng bắt làm anh chị ba khía hoảng hốt chui tuốt dưới hang. Tuy không chuyên nghiệp như những người mần ba khía trước kia nhưng cách bắt của họ phải nói là siêu đẳng, anh chị ba khía chui tuốt dưới hang sâu, họ để nguyên tay áo, thọt cánh tay tận nách quyết chí lôi ra từng con một. Cách bắt ba khía của họ tuy dã man thật, nhưng ta cũng nên cảm thông, vì nghèo đói họ phải tranh thủ thức suốt đêm trong rừng, lội bùn tới háng, chịu cho muỗi và bù mắt hút máu để kiếm từng con ba khía về đổi gạo. Sáng xuống xuồng rửa mặt, móc trong lỗ mũi một cục khói đèn, khói đuốc đen thui. Nhưng nhiều nhỏ gì đâu, người nào giỏi thì bắt được đầy một thùng thiếc cũng là trúng lắm rồi.

*

Cách đây hai năm tôi đưa Trúc Thanh về thăm quê tôi tận vàm sông Ông Đốc. Từ Cà Mau đi đò tốc hành về sông Ông Đốc Vàm mất hơn ba giờ đồng hồ cho sáu chục cây số đường sông.

Chúng tôi về nhằm lúc cúm gia cầm và chim chóc chết dịch, chết gió cũng nhiều. Xa cách hơn hai chục năm trời trở về thấy cảnh vật quê hương hoàn toàn thay đổi, duy tánh hiếu khách và hài hước của bà con quen biết thì không mấy đổi thay. Thấy vợ chồng tôi tới thăm, nhà nào cũng mần gà, mần vịt đãi đằng. Khi nghe tôi hỏi chuyện cúm gia cầm và chim chóc bịnh thì nghe họ cao giọng:

– Ối, đó là gà công nghiệp, chớ gà, vịt ở nhà nuôi thì mạnh như thần, tui bảo đảm gà, vịt nhà tui không con nào bị bịnh hết, ăn đi, cứ ăn thoải mái. Còn chim hả? Mấy sân chim miệt Đầm Dơi bị chết nằm la liệt, có đợt bầy chim đương bay trên trời tự dưng rớt xuống lộp độp… dẫy đành đạch, chết hết ráo, chẳng còn một con. Tốt hơn hết đừng ăn chim chóc miệt nầy, nguy hiểm lắm.

Tôi không nhịn được cười, quả là không hổ danh con cháu bác ba Phi. Gà thì con phân biệt được gà công nghiệp hay gà nhà nuôi, còn chim chóc thì làm sao phân biệt được chim miệt nầy miệt kia. Định hỏi nhưng thôi, dù sao anh nầy cũng là truyền nhân của bác Ba, tôi cần phải kính trọng. Vả lại, dầu tôi có hỏi cách nào chăng nữa thì ảnh cũng trả lời qua tuốt luốt…

Về với quê hương mà tôi cứ ngỡ mình tới một nơi nào xa lạ và mới thấy lời hứa với Trúc Thanh quả là khó thực hiện. Những dự tính của vợ chồng tôi hình như không phù hợp với người ở bên nhà. Chuyện mùa màng tiêu tang, cá mắm hết sạch, rừng cây bị tàn phá… không nóng bỏng bằng chuyện ông cán bộ nầy cất nhà lầu, bà Việt Kiều kia về mua đất… Những miếng đất ngày trước là rừng, bây giờ bán cũng được giá lắm. Họ chờ đợi vợ chồng tôi một chuyện gì khác hơn, còn chuyện của chúng tôi thì đối với họ giống như chuyện của một hành tinh nào ở ngoài trái đât. Nhưng hổng lẽ tôi lại đi mua một miếng đất để làm chỗ cho chim, cò đậu và cho ba khía làm hang? Mà nói cho cùng bán hết tài sản nhà tôi cũng chưa chắc gì đã mua mổi một thẻo đất ở đây. Ở chơi cả tuần lễ mà tôi cũng chưa biết cách nào đưa Thanh đi và cũng hổng biết nói làm sao cho cô thoả mãn tánh tò mò. Hỏi chỗ đi chơi thì nơi nào cũng đương quy hoạch. Sông Đốc Vàm bây giờ là thị trấn và đã đổi thay quá sức tưởng tượng. Nhà lầu cao lợp ngói, lợp tôn. Ngoài đường xe gắn máy hai bánh chạy ào ào, người ta ở đâu đổ về đông như kiến cỏ. Ngày trước bên kia sông nhà cửa lưa thưa chen theo rừng rậm, bây giờ rừng bị phá sạch, nhà cửa mọc lên như nấm mọc mùa mưa. Động vật thì hiếm hoi. Muốn ăn con cua, con vọp phải đặt mua một hai ngày. Còn ba khía muối có pha đèn tìm đỏ con mắt cũng chẳng ra nói chi là đốt đuốc. Cá, tôm biển không còn nhiều. Ghe câu mực, đánh cá phải ra tuốt hải phận quốc tế, tận ranh giới Thái Lan hay Mã Lai câu và đánh mới có.

Một chiều kia tôi đứng phía sau nhà nhìn con nước lớn lấp lững, có một con ba khía cái chống cẳng đứng dưới gốc cây mắm lùn còi cọc mọc lẻ loi giữa bàu nước cạnh hông nhà. Tôi quay vô nhà kêu Thanh ra xem cho biết con ba khía sống, chắc cô vui thích lắm. Thanh hớn hở đi ra đứng quan sát con ba khía một hồi cô day qua hỏi tôi:

– Tại sao càng của con ba khía chiếc lớn, chiếc nhỏ mà có vẻ không được bình thường?

Tôi nhìn kỹ con ba khía hơn, chẳng những cặp càng của nó trông có vẻ bịnh hoạn mà còn rụng thêm hai ngoe nữa. Tôi nói theo kinh nghiệm của mình:

– Có lẽ trước kia nó bị tai nạn làm sao đó, phải dùng tới đôi càng chống đỡ để thoát thân, cuối cùng thua cuộc bị gãy hai cái ngoe và phải bỏ lại hai chiếc càng mạnh và cứng; phải qua một hai mùa trăng, lột vỏ một vài lần, đôi càng mới mọc lại được, dĩ nhiên đôi càng sau thì không đẹp và mạnh bằng đôi càng trước.

Nhìn chị ba khía đứng lẻ loi đưới gốc cây mắm non trơ cành còi cọc, giọng Thanh xót xa:

– Tội nghiệp quá, gà bịnh, chim chóc cũng bịnh cho tới ba khía ở dưới hang cũng bị tật nguyền.

Nghĩ tới những khu rừng bị phá hoang và những động vật từ rừng ra tới biển, từ lớn cho tới nhỏ đã bị tàn sát thảm thương. Tôi nói:

– Con người ăn những thứ nầy bị bịnh cũng phải lắm.

– Nghĩa là sao anh?

– Em không thấy sao, từ ngày về tới giờ vợ chồng mình hỏi chuyện ai cũng cười xoà nói cho qua. Hình như họ chờ đợi mình một cái gì khác hơn là chuyện rừng cây bị phá, gà vịt, chim chóc bị bịnh chết và nếu bây giờ mình đem chuyện con ba khía tật nguyền nầy ra nói thì chắc họ cho là mình điên.

– Nếu thật vậy thì vợ chồng mình bịnh chớ đâu phải họ bịnh.

Quê hương tôi bây giờ trông giàu đẹp lắm, nhưng sao tôi vẫn thấy nó nghèo nàn, lạc hậu hơn thời xa xôi ấy. Tôi không muốn nói thêm, bèn lảng sang câu chuyện:

– Anh mới vừa kêu mấy cháu đặt mua mấy ký lô vọp cho em ăn thử.

Có lẽ Thanh cũng đã cảm nhận được sự mất mát của quê hương nầy, cô buồn bã nói như thể cho một mình mình nghe:

– Tới nước nầy rồi còn lòng dạ nào ăn với uống.

Khi chúng tôi nhìn lại thì nước dưới bàu đã ngập lên tới chỗ chị ba khía đứng, chị ta bèn leo lên thân cây mắm còi để tránh mực nước dâng. Tôi khều Thanh và chỉ chị ba khía:

– Em coi kìa, chị ba khía leo lên cây tránh nước lụt, nhìn chị ta mà anh nghĩ tới con người khi thất thế sa cơ thì chạy nạn, khi đường cùng thì đấu tranh giành giựt đến đỗi từ thể chất đến tinh thần cũng tàn tạ đâu khác gì chị ba khía gãy càng rụng ngoe kia.

 Thanh thở dài một cái rồi kéo tôi, vừa đi vô nhà cô vừa tuyên bố:

– Bắt đầu từ ngày mai cho tới ngày về bển, vợ chồng mình sẽ ăn chay!

– ….

Baltic zee 2007-06-20

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chim và bướm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Auig 2023

Câu chuyện đùa của Úc thường có phảng phất mùi phân biệt chủng tộc, kỳ thị về văn hóa nên bà con mình có định kiến cho rằng Úc trắng kỳ thị Úc đen.

Nhưng Úc đen cũng bị dân da vàng mũi tẹt, mắt hí, nhứt là mấy chú thiếm ba Tàu kỳ thị cũng không thua gì bị Úc trắng.

Mới năm rồi nè! Một công ty Trung quốc đã đưa ra lời xin lỗi về một đoạn quảng cáo bột giặt.

Trong đoạn quảng cáo đó, một á xẩm ném một chú da đen, đen như cột nhà cháy, tóc quăn tít hè, quần áo dính đầy sơn vào máy giặt.

Máy quay ro ro rồi ‘xì tốp’, tay da đen này chui ra, sạch sẽ tinh tươm, màu da vàng nhạt y như một chú Ba ở Bắc Kinh vậy. Bột giặt tốt hết biết!

Chim va buom 03Sợ các nước khác chê là giờ đã khá giàu mà Tàu lại kém văn minh, nên cũng có bà con Ba Tàu khác cự nự, đòi tẩy chay cái hãng bột giặt lếu láo này.

Sợ sập tiệm, chú Ba chủ hãng phải đành xin lỗi là: “Từ rày về sau ngộ không dám quảng cáo ngu như vậy nữa!”

Mấy ngàn năm nay Trung Hoa cứ tự xưng mình là thiên triều, nằm ngay chóc chính giữa, còn các nước chung quanh đều là man di  mọi rợ hết ráo hè.

Cái máu kỳ thị, coi thường dân tộc khác hình như lậm cũng hơi lâu và hơi sâu rồi đó!

Trong gia đình thì trọng nam khinh nữ: Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô.

Hồi Mao Trạch Ðông cấm đẻ nhiều, chỉ cho một đứa. Thì chú Ba và ngay cả thiếm Ba đều muốn có con trai để nối dõi tông đường, cúng giỗ hàng năm, hồn mới có cái mà ăn, chớ ở địa ngục a tỳ bị quỷ sứ bỏ đói dài dài hè!

Hậu quả là ngày nay, chim nhiều bướm ít thì đại loạn trong và ngoài nước để giành gái thì chiến tranh tất yếu sẽ xảy ra, đe dọa đến cái tồn vong của chế độ CS Tàu cho mà coi.

Mà khi nói chuyện chim và bướm, tui xin kể bà con nghe câu chuyện này nè:

Tại phòng mạch của một bác sĩ tâm lý nổi tiếng, có ba bà mẹ dắt theo ba đứa con ngồi chờ.

“Chào bác sĩ! Ðây là con gái tôi tên Hồng.”

Bác sĩ tâm lý: “Ồ! nếu tôi đoán không lầm thì bà là một con người tình tứ. Yêu màu hồng, thích bông hồng, thích mân mê bông hồng cho đã,  rồi đem ép vào trang giấy!

”Ôi! “Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”

Chim va buom 02Người mẹ thứ nhì: “Thưa bác sĩ, và đây là con gái tôi, tên Phượng!”

“Ồ! Nếu tôi đoán không lầm thì bà đây chắc hẳn bà yêu hoa phượng lắm. Khi còn là tuổi học trò trong trắng, chắc chắn bà đã mân mê hoa phượng cho đã rồi đem ép vào trang giấy!

“Ôi! Ðúng là bác sĩ tâm lý mà! Quả có vậy!”

Tới phiên người đàn bà thứ ba sắp được tiếp chuyện cùng bác sĩ tâm lý, bỗng bà hớt hải đứng dậy và nói cùng đứa con trai của bà: “Thôi! Ði, đi về….Cu, mau lên Cu, mình đi về!”

Bài học rút ra từ câu chuyện này là anh nào hân hạnh được Má đặt tên Cu thì đừng có buồn duyên tủi phận, khóc hu hu sao cái tên của mình ‘đen’ quá?

Nó ngang hàng với tên Hồng, tên Phượng là tên các loài hoa vương giả đó nha!

Tuy vậy cũng đừng có quá tự cao tự đại, ỷ mình là nam nhi chi chí, là đấng trượng phu đường đường một đống, coi thường bọn nữ nhi tay yếu chân mềm, không có ‘con’ đó chỉ có cái (họng) là rộng, vì hở cái là khóc hè!

Em giận quá về nhà khóc hu hu méc má! Không biết Má em nói cái gì mà hôm sau vào lớp em trả đũa rằng: “Anh có ‘con’ mà em không có, còn em có ‘cái’ mà anh lại không có. Em đã có ‘cái’ thì em muốn có mấy ‘con’ cũng được hết á!”

***

Thưa tiếng Pháp là một ngôn ngữ kỳ quái vì nó bị cái giới tính ám ảnh, phải giống cái (féminin) hoặc giống đực (masculin).

Vật vô tri vô giác như cái bàn, cái ghế mà cũng đem đực cái vô đây chi hỡi ‘Mông xừ Victor Hugo’?

Việt Nam mình xui cái là thuộc địa của thằng Tây tới cả trăm năm nên dù muốn ít nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng nền văn hóa của nó, chớ chạy đi đâu cho khỏi?

Nghe nói: Tây nó sợ vợ, nó ‘’galant’’ lắm, tức là nịnh đầm lắm. Hỏi không sợ thì việc gì phải nịnh chớ? Ngay cả mấy ông Cử nhà mình hồi trào Tây cũng nịnh nữa là.

Thế nên nhà thơ Trần Tế Xương mới có hai câu thơ đối nhau chan chát là: “Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân, ông Cử ngẩng đầu rồng”

Tui tâm đắc, thán phục nhà thơ sát đất khi đối ‘’ngoi đít vịt’’ và ‘’ngẩng đầu rồng’’ với nhau. He he!

Kết luận: Tây là một dân tộc đầy mâu thuẫn. Vừa sợ đàn bà, mà vừa phân biệt giới tính.

Thì cũng như xã hội Việt Nam mình hồi tui còn mặc quần thủng đáy vậy thôi!

Chim va buom 04Chắc do mình chịu ảnh hưởng xấu từ hai nền văn hóa phong kiến và thực dân nó trộn lẫn với nhau. Chịu ảnh hưởng của Tàu là nam nữ thọ thọ bất thân. (Chơi vậy thì làm sao có con nít hè?)

Rồi cổng tam quan của đình chùa, miếu mạo nào cũng chia làm hai rạch ròi bên Thiện nam bên Tín nữ.

Ði ăn giỗ quảy, đám tiệc gì đó là phải ngồi riêng. Bàn thượng hạng là dành cho mấy ông. Còn bàn gần bếp dành cho mấy bà, để tiện việc chạy lên chạy xuống tiếp đồ nhậu cho chàng đang cầm ly, ngồi nói dóc.

Xa quê, tưởng rằng cái hủ tục trong nam khinh nữ đó đã bị bỏ lại quê nhà rồi chớ. Qua đây tui tắm gội bằng xà bông Dove để gội sạch cái văn hóa trọng nam khinh nữ. Giờ là sạch bong rồi.

Tui với em yêu là: “Em ơi em à!” Cần là năn nỉ gãy lưỡi chớ đâu có ngang tàng hống hách như xưa: ‘’Lợi đây cho tui biểu chút coi!’’

Nhưng những sắc tộc di dân khác, nhứt là từ Phi Châu tới, hình như không chịu đổi.

Dân Phi Châu theo Hồi giáo ở đây đi đám cưới là riêng lẻ hết. Ðàn bà là đàn bà, đàn ông là đàn ông. Chỗ đàn bà ngồi nhiều chuyện là không có đàn ông, chỗ đàn ông ngồi lo chuyện trên trời dưới đất là không có đàn bà.

Ðàn ông thuộc về đẳng cấp cao hơn, cho dù lùn hơn con vợ mình cả tấc chăng đi nữa!

Chuyện rằng: Bay đi Afghanistan để nghiên cứu về văn hóa của đất nước đang chiến tranh ly loạn này, một nữ phóng viên phương Tây kinh ngạc khi thấy đàn bà ra đường bao giờ cũng phải đi sau đức ông chồng của mình 10 bước chân.

Hỏi lý do tại sao thì hướng dẫn viên trả lời: Phụ nữ đi sau đàn ông vì giai tầng trong xã hội vợ phải thấp hơn chồng.

Chim va buom 05Cô phóng viên chiến trường về, viết bài phê phán dữ dội sự bất bình đẳng về giới tính nam nữ ở Afghanistan. Bài viết được trang trọng đi trên trang nhứt và gây tiếng vang toàn thế giới nên em rất lấy làm khoái chí.

Một năm sau, em quay trở lại đất nước đầy bạo lực này để làm phóng sự thì ngạc nhiên thay khi thấy người vợ giờ ra đường lại đi trước đức ông chồng của mình tới 10 bước.

Nhưng không phải do bài báo phê phán của em mà xã hội Afghanistan thay đổi đâu mà vội mừng.

Phụ nữ Afghanistan giờ đi trước đàn ông? Tại sao ư? Tại vì đàn ông sợ trúng mìn bẫy!

***

Thưa bà con huyền thoại cho rằng: Từ cát bụi, Thượng Ðế nắn ra một người đàn ông đặt tên là Adam! Cu ky một mình trong vườn Ðịa đàng, không có ai bầu bạn, để cãi lộn cho vui.”Ðời tui cô đơn, thân tui… quá cô đơn.”

Chim va buom 06Thượng đế nghe vậy cũng tỏ lòng thương cảm: Muốn là chìu. Nên thừa lúc Adam ngủ say, Thượng Ðế bèn lấy xương sườn của Adam và tạo ra một người nữ, đặt tên là Eva, đưa đến bầu bạn với Adam.

Adam khoái quá xá, dõng dạc tuyên bố là: “Xương của Eva là xương của tui, thịt của Eva là thịt của tui. Cả thân xác đó đều từ tui mà ra… nên tui sẽ làm cha!” Ha ha!

Ðây chỉ là một truyền thuyết thôi nhưng mấy ông anh mình hay vịn vào cái này để mà ăn hiếp vợ nhà. Bậy bạ quá! Tui là hổng có cái vụ đó rồi vì tui không dám. Em yêu ăn hiếp tui thì có.

Lời khuyên của tui dành cho ông anh nào ủng hộ cái bất bình đẳng về giới tính, chỗ của đàn bà là trong bếp, thì phải luôn luôn dòm chừng phía sau lưng của mình. Vì trong bếp còn có chứa mấy con dao. Dao phay, dao chặt thịt… Cái nào cũng bén ngót hè…

Thôi xếp bướm trên chim đi cho nó phẻ nhe mấy anh!

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 19 May, 2023

Post by Sơn râu 28 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Ông thiếu tướng ra lệnh thật là đại khái, ông trung tá cũng ra lệnh đại khái không kém, có điều chủ ý rõ ràng của các vị này là bắt tôi phải chặn đứng mọi mưu toan tiến về hướng Ðông của các đơn vị địch hiện có mặt trong vùng Ia Drang. Ðịa thế Cao Nguyên Vùng 2 thì tôi rất rành, còn trận liệt địch vùng này tôi cũng thuộc nằm lòng. Do đó tôi cũng không bận tâm thắc mắc.

Tôi đã biết, trong một năm vừa qua, sau hưu chiến, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh từ Cam Bốt đã chuyển sang Ðông Trường Sơn vào địa phận Ðức-Cơ. Những ống dẫn dầu của Việt-Cộng từ chân núi Phượng-Hoàng, Ðức-Cơ đã kéo dài tới Tiêu Atar, và đang trên đường xuôi Nam.

Tin tức kỹ thuật cho biết Trung Ðoàn 470 Vận Tải của Mặt Trận B3 Cộng-Sản đang được bổ sung quân số và cơ giới để nâng cấp thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải. Ðơn vị này đã hoàn tất công tác phát quang một con đường rẽ từ làng Gà (Plei Bon Ga) trong thung lũng Ia Drang, đi thẳng về hướng chính Ðông để tiếp tế cho mặt trận duyên hải. Ðể xác nhận tin tức trên, vài tuần lễ trước đây, tôi đã tung toán viễn thám của Trung sĩ Thìn vào vùng để tận mắt kiểm chứng con đường này.

Quả thật con đường chiến thuật này rất là lợi hại, nó có thể cho phép địch quân dùng cơ giới để chuyển binh cắt đứt Quốc Lộ 14, băng qua Liên Tỉnh Lộ 7B rồi đánh thốc lên hướng Bắc chiếm giữ đèo Mang-Yang khiến cho Pleiku trở thành một ốc đảo. Trên đường chuyển quân này chỉ có một cái đồn Plei Do Lim bé tí teo do một trung đội Ðịa Phương Quân trấn giữ. Ðại quân của địch không cần đánh đồn, mà chỉ cần bao vây ba ngày là đơn vị đồn trú sẽ không còn nước uống, phải bỏ đồn mà chạy.

Ðúng ra thì, sau khi trình diện Tướng Tư Lệnh Vùng thì tôi phải vào Pleime ngay, nhưng hiện thời chưa có người thay tôi đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nên tôi phải để ông Tiểu đoàn phó là Thiếu tá Nguyễn Tự Bé chỉ huy căn cứ, đợi khi có người thay thế thì tôi mới chính thức nhận việc.

Lý do tôi phải nấn ná ở Phòng 2 cũng vì tôi đang bận công tác thả toán viễn thám cung cấp tin tức địch vùng Plei Djereng cho Sư Ðoàn 22 Bộ Binh để đơn vị này tổ chức một cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ Minh theo lệnh của Tổng Thống.

Những ngày cuối năm 1973 tôi phải vào Lệ-Chí để chỉ huy một cuộc hành quân xâm nhập vùng 20 cây số Ðông Bắc Pleiku, quân số tham dự gồm có Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân, Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cùng với lực lượng trừ bị là một nửa Tiểu Ðoàn 81 do ông Ðại úy Phát, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy.

Kết quả cuộc hành quân thám sát ngắn ngày này đã xác nhận rằng tin tức địch đang thiết lập một con đường chiến thuật nối liền Ngã Ba Dak Doa tới Bắc Ðèo Mang-Yang là có thật.

Trong tương lai, nếu chiến sự xảy ra thì con đường này và con đường mới phát quang vùng Bắc Pleime sẽ trở thành cái thòng lọng chiến thuật siết cổ Pleiku.

Giáng Sinh 1973 

và Tết Giáp Dần…

Thời kỳ 1966-1970 còn sự hiện diện của quân đội Ðồng Minh thì Ngã Ba Diệp Kính Pleiku đã trở thành một khu buôn bán lộ thiên rất sầm uất. Người ta quen gọi nơi đó với cái tên “Chợ Trời”. Chợ Trời ngày xưa chỉ bày bán hàng tuồn ra từ PX của các doanh trại Mỹ.

Từ 1972 thì Chợ Trời bắt đầu xuất hiện đủ loại mặt hàng “hằm bà làng” như quần áo cũ, giầy Saut, áo trận, chăn chiếu, mùng mền, ba lô, nón sắt, lương khô, xẻng cuốc…vân vân. Ðã có hôm tôi giật mình khi thấy trên mặt tấm poncho của chị đàn bà vợ lính có bày bán mấy bộ quần áo tác chiến và một dây đeo gồm một quả mìn Claymore với đủ bộ ngòi nổ, dây điện cùng con cóc điện để bóp cò!

Tôi ngồi xuống bỏ ra 500 đồng mua ngay bộ mìn Claymore này, rồi hỏi chị bán hàng,

– Từ đâu mà chị có thứ này?

Chị ta đã trả lời rằng chị có chồng là Nghĩa Quân trong Lệ Chí. Chồng chị vừa chết trận nên chị mới đem bán những đồ vật mà anh còn để lại.

Tôi chỉ biết lắc đầu mà nói với chị rằng từ nay đừng sờ tới những vật dụng nguy hiểm đó nữa. Nếu thấy nó còn trong nhà thì phải gọi Cảnh Sát hay Quân Ðội tới lấy nó đi. Sau đó tôi tới Quân Trấn Pleiku giao quả mìn cho ông đồn trưởng, rồi lưu ý ông ta nhớ cho nhân viên tuần tra kiểm soát khu Chợ Trời một cách kỹ lưỡng hơn. Vợ tôi và hai đứa con gái tôi rất thích bánh Pound Cake trong các hộp lương khô C Rations của Mỹ. Cuối năm 1973 thì Mỹ rút đi đã lâu rồi, nhưng bánh Pound Cake trong hộp thiếc vẫn còn thấy bày bán trong Chợ Trời. Thời gian này vợ tôi đang mang bầu em bé thứ ba, không tiện len lách trong chợ, đành phải ngồi trong xe cùng với hai đứa con để chờ tôi đi tìm mua Pound Cake. Trong lúc đó thì chú tài xế Phạm Công Cường cứ loanh quanh bên chiếc xe Jeep, không dám dời xa nửa bước.

Một ngày trước Noel 1973 tôi đang lui cui nhặt mấy hộp bánh bỏ vào bao thì nghe bước chân ai đó tiến sát sau lưng, rồi có tiếng người hỏi nhau,

– Bộ mày quen thằng chuẩn úy Biệt Ðộng Quân này ư?

Lập tức có người trả lời,

– Ðây là chồng một đứa em gái của tao! Thiếu tá đó! Không phải chuẩn úy đâu!

Tiếng nói của người này tôi nghe rất quen. Ngay sau đó, là tiếng cười vang của người kia,

– Mày cứ đùa! Chuẩn úy lon đen chứ thiếu tá gì đâu!

Có lẽ cái lon thiếu tá của tôi thêu bằng chỉ đen, lại bị bàn ủi đè xẹp lép, nên nhìn cứ như cái lon chuẩn úy, thêm vào đó, mặt tôi cũng trắng trẻo, có chút thư sinh, khiến cho người khác nhìn mà lầm.

Tới lúc này thì tôi đã quay lại. Tôi nhận ra ngay, trước mặt mình là ông anh trai thứ ba của vợ tôi.

Anh ấy mặc quân phục bộ binh, bên cạnh anh ấy cũng là một sĩ quan bộ binh.

Hai ông chuẩn úy trẻ mới ra trường với hai cặp lon vàng còn sáng chói trên cổ áo đã tự động đứng nghiêm trước mặt một thiếu tá.

Tôi la lên,

– Anh Thọ! Anh ra trường rồi hả? Sao không tình nguyện về Biệt Ðộng Quân mà lại đi Bộ Binh?

Anh Thọ lí nhí,

– Hồi đó chú có gửi gắm tôi cho ông Trung Tá Liên Ðoàn Trưởng Sinh Viên Sĩ Quan để ưu tiên có tên đi Biệt Ðộng Quân, nhưng ngày mãn khóa nghe mấy thằng bạn rủ rê, tôi đã chọn Sư Ðoàn 22.

Nghe ông anh vợ nói, tôi mới nhớ cái thư của Trung tá Ðoàn Thi đã gửi cho tôi cách nay khá lâu.

Trung tá Ðoàn Thi là cựu Liên Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân, sau đó về Trường Bộ Binh đảm nhận chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị. Anh Ðinh Văn Thọ lúc đó là một khóa sinh dưới quyền Trung tá Ðoàn Thi. Tôi đã nhờ Trung tá Ðoàn Thi để ý giúp đỡ anh Thọ nếu cần.

Trước khi rời chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Ðức để đi chỉ huy một Liên Ðoàn Ðịa Phương Quân, Trung tá Ðoàn Thi đã báo cho tôi hay rằng, vì nể lời gửi gắm của tôi, ông đã ghi tên anh Ðinh Văn Thọ ưu tiên đi Biệt Ðộng Quân sau khi tốt nghiệp.

Nhưng khóa Sĩ Quan Trừ Bị đó chấm dứt khá lâu mà tôi chờ hoài không thấy anh Thọ trình diện.

Thì ra anh Thọ không thích làm lính Biệt Ðộng Quân.

Ông chuẩn úy bạn của anh Thọ lúc này mới nhìn tôi với ánh mắt đầy thiện cảm,

– Mới nhìn thấy ông trẻ quá, tui không tin ông là thiếu tá. Thiếu tá tốt nghiệp Ðà-Lạt hay Thủ-Ðức vậy?

Tôi bắt tay anh bạn bộ binh,

– Khóa 20 Võ Bị.

Mắt ông chuẩn úy sáng lên,

– Vậy là sĩ quan đàn anh ông sếp của tụi tôi.

– Sếp của anh tên là gì?

– Dạ! Ðại úy Thành, Phan Ðình Thành.

– Thành sau tôi hai khóa.

– Vậy mà trông ông Thành già dặn hơn Thiếu tá nhiều lắm.

Sau đó, tôi đưa ông anh vợ tới gặp vợ tôi và hai cháu của anh ấy.

Rồi vợ chồng tôi đưa anh về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thăm nhà tôi.

Nhân dịp này anh Thọ đã cùng vợ chồng tôi và hai cháu bé chụp chung vài cái ảnh để kỷ niệm.

Anh Thọ cho tôi hay anh đang giữ chức vụ trung đội phó một trung đội tác chiến của Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Bộ Binh. Trung đội này có 8 ông lính, 1 ông trung sĩ và 2 ông chuẩn úy. Trung đội trưởng của anh là một chuẩn úy ra trường trước anh một khóa. Từ ấy, anh Thọ vẫn đóng quân ở Hàm Rồng, nhưng không ghé thăm nhà tôi lần nào nữa.

Tôi không hề có ý định gửi gắm anh Thọ cho những người tôi quen ở Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì sợ nợ nần nhau thì rất khó làm việc. Nhưng có đôi khi nghĩ lại, tôi cũng thấy tiếc rằng anh Thọ đã chọn Sư Ðoàn 22 thay vì Biệt Ðộng Quân. Nếu anh ấy chọn Biệt Ðộng Quân thì chắc chắn tôi sẽ xin cho anh ấy về làm việc với tôi. Người anh cả của vợ tôi và Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là Thiếu úy Ðinh Quang Biện đã từng là bạn cùng đơn vị với tôi từ đầu năm 1968, khi mới mãn khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị.

Tôi với anh Biện thương nhau như anh em ruột. Chúng tôi đã cùng nhau đồng cam, cộng khổ trong suốt những năm tháng còn ở Tiểu Ðoàn 11 và Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Nhờ tình bạn thân thiết giữa tôi và Thiếu úy Ðinh Quang Biện mà cuối năm 1970 tôi đã trở thành em rể của anh Biện. Năm 1971 Thiếu úy Ðinh Quang Biện bị tử nạn. Trước Tết Giáp Dần tôi vào Hàm Rồng để họp hành quân thì được biết anh Thọ đã được thăng chức trung đội trưởng. Từ đó tôi bận việc liên miên nên không có dịp gặp anh ấy nữa.

Cho tới tháng 8 năm sau thì Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ có dịp dẫn trung đội dưới quyền mình vào Pleime để tiếp cứu thằng em rể là tôi, đang bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản bao vây. Trong trận này, khi nghe tin Tiểu Ðoàn 3/41 chạm địch, tôi đã liên lạc được người chỉ huy đơn vị này để hỏi thăm tin tức của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ. Lúc này chú Phan Ðình Thành, người Sĩ Quan Võ Bị Khóa 22 A, đàn em của tôi đã mang cấp bậc thiếu tá. Thiếu tá Phan Ðình Thành, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 cho tôi hay trung đội của Chuẩn úy Thọ giữ vai trò tiên phong, đi đầu, chạm nặng, và đã bị thất lạc.

Tới lúc đó tôi mới thấy hối lỗi vì đã không gửi gắm anh Thọ cho hai người mà tôi quen là Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 và Ðại tá Vũ Ðình Chung, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 22. Hai ông anh lớn của vợ tôi đã chết rồi, nay ông anh thứ ba lại bị mất tích. Nếu biết tin này chắc gia đình vợ tôi sẽ đau buồn lắm.

May thay, ba ngày sau, từ Căn Cứ Hỏa Lực 711, Trung úy Hạp, Sĩ Quan Ban 3 của Liên Ðoàn 24 gọi máy báo cho Tiểu Ðoàn 82 hay rằng Biệt Ðộng Quân vừa tiếp nhận một trung đội bộ binh bị thất lạc về trình diện. Tôi vội nhờ Trung úy Hạp hỏi xem anh chuẩn úy trung đội trưởng bộ binh tên là gì thì ông Hạp nói người chuẩn úy trung đội trưởng đó có tên là Ðinh Văn Thọ.

Thì ra Trung Ðội 1 Ðại Ðội 4 Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ đã đụng độ với một tiểu đoàn Việt-Cộng, nhưng vì yếu thế, nên đơn vị này phải rút lui trong đêm tối. Cũng nhân dịp này, mà chú Phan Ðình Thành mới biết Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là anh vợ của tôi. Tiếc thay, hai người vừa quen biết nhau thì Thiếu tá Phan Ðình Thành đã sớm tử trận ngay sau khi Trung Ðoàn 41 rút quân về Bình Ðịnh.

Đêm bảo Tuyết

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Dạo đó tôi định cư Hoà Lan chưa đầy một năm. Bộ cảnh sát ngoại kiều cấp một cuốn thông hành đầy đủ hình ảnh, tên, họ, ngày, tháng, năm và nơi sanh nhưng phần quốc tịch được thay vào một gạch màu đen đậm. Tôi hải hành khắp đó đây với quyển thông hành không quốc tịch ấy. Lần đầu tôi đến Leningrad. Có lẽ thấy tôi là người vô gia cư, vô tổ quốc và mới tỵ nạn sang nước tự do, nên khi tàu vô tới vịnh Phần Lan, ông thuyền trưởng xuống hỏi tôi có sợ không. Tôi chưa kịp trả lời thì ông nói tiếp:

 – Đừng sợ, bây giờ mầy là người Hòa Lan rồi.

 Tôi là người Hòa Lan! Nghe thiệt chướng tai nhưng không biết nói làm sao, vì ngoại ngữ của tôi mới vừa học bập bẹ, mà câu chuyện muốn giải thích lại quá dài dòng, nên tôi chỉ biết cười trừ.

 Thiệt ra thì tôi không sợ ai hết. Chỉ khi tàu tiến lần vô hải phận Liên Xô tôi có cảm tưởng như mình từ vùng ánh sáng đi vào một cõi âm u nào! Khi tàu cặp bến, hầu hết thủy thủ đoàn đều khó chịu,  họ tỏ vẻ khinh khi cười chế ngạo những người bận đồng phục, đeo quân hàm màu đỏ và ái ngại nói chuyện với người bản xứ. Bực mình nhứt là mấy ông hải quan, mấy cha kéo xuống cả trung đội chia nhau vô từng phòng, rọi đèn pin lục lạo, moi móc trong kẹt tủ,  dưới gầm giường, xuống kho dự trữ thức ăn,lấy sắt nhọn đâm lủng mấy bao gạo, bao bột mì. Tên công an trưởng thì mặt lạnh như đồng, bắt thủy thủ đứng xếp hàng cho ông điểm mặt từng người rồi mới chịu đóng dấu cho nhập cảnh.

 Theo luật lệ ở đây, thời gian nầy, thủy thủ được lên bờ chơi theo những nơi chỉ định. Nếu chịu trả năm Mỹ kim cho mỗi đầu người thì trên Hội Quán sẽ cho xe bus xuống bến rước đưa đi thắng cảnh ngày cuối tuần. Họ chở lên xem bảo tàng viện nước Nga nằm trên bờ sông Neva, vườn hoa Mùa Hạ, đài Chiến Sĩ Trận Vong và tòa nhà Cách Mạng Tháng Mười phía trước có dựng tượng ông Lê Nin đứng chỉ tay về khoảng trống bao la phía trước. Cuối cùng qua ngọn hải đăng bên kia cầu bắt ngang sông Neva mặc sức chụp hình. Chiều về ghé vô Hội Quán có sẵn bia, rượu và gái trẻ cho thủy thủ mặc sức  nhảy nhót vui chơi, nhưng trước mười hai giờ thủy thủ đoàn phải xuống tàu chớ không được lang thang trên phố.

 Những ngày ở đây tôi làm quen với bà ngồi ở cửa hàng. Gian hàng nầy bán rượu mạnh, bia, thuốc lá… nhập từ thế giới tự do, vì vậy phải tính bằng Mỹ kim hoặc Đức mác,  đồng rúp ở đây không xài. Từ đó mỗi khi tàu về Bỉ trở qua, tôi mua đậu phộng đóng hộp và thuốc thơm gói vào gấy màu đem lên tặng cho bà. Sao đó mời con gái bà uống một chai Champagne và kéo cô ta ra sàn nhảy nhảy Disco. Những lúc ngồi không tôi thích  hỏi và nghe bà nói chuyện. Như chuyện trước khi được vô ngồi trong cửa hàng bà phải lo lót tiền cho viên giám đốc. Suốt hơn năm năm bà ngồi một chỗ bán hàng không được nghỉ một ngày. Chồng bà làm không đủ tiền lo cho gia đình nên bỏ đi đâu mất, bà sống vậy với hai đứa con gái trong một chung cư, đứa  tám tuổi đứa mười bảy tuổi.

 Trước ngày tàu đổi tuyến đường, tôi có đem cho con gái bà một quần Jean và một chiếc áo thun trước ngực có in một đóa hồng và năm chục Mỹ kim. Bà nhã ý mời tôi về nhà bà ăn cơm nếu cần có thể ngủ lại với con gái bà. Dĩ nhiên đối với xã hội chủ nghĩa như vậy là phạm pháp, nhưng tôi thấy có rất nhiều thủy thủ theo gái về nhà ở lại đêm. Sáng xuống lo lót cho anh gác cổng môt chai rượu mạnh vài gói thuốc thơm là ổn thỏa mọi đàng. Nếu tôi chưa từng mục kích những cuộc bắt bớ vô cớ thì tôi cũng không ngần ngại làm tên điếc không biết sợ súng là gì. Lúc nầy Leningrad chưa đổi tên và cả liên bang Xô-viết còn treo cờ đỏ búa liềm. Ai biết được trong đêm sẽ xảy ra chuyện gì.

*

Mùa đông năm 1991. Sông Neva ngập đầy tuyết trắng, nước dưới dòng đông đá dầy trên cả thước tây,  nếu không có những chiếc hạm phá nát mặt băng cho tàu bè thuận tiện lưu thông thì người ta có thể mang giày ống đi bộ qua lại trên nặt sông một cách dễ dàng. Leingrad đã đổi lại tên  Saint. Petersburg và cờ tam sắc thay cờ đỏ búa liềm treo khắp nơi trong thành phố.

 Đương lúc thế sự đổi thay, đời sống dân chúng gặp khó khăn.  Cộng đồng Âu châu gởi tặng một số lượng lớn thực phẩm như  áo,  quần và thuốc men. Công ty tàu ký hợp đồng chở số hàng ấy từ cảng Rotterdam và Antwerpen qua cảng Saint. Petersburg. Vì chuyến đi có tính nhân đạo, lòng dạ con người ta cũng được mở rộng hơn. Một thủy thủ có tánh khinh đời,  keo kiệt,  vậy mà xin được cái huy hiệu mười hai ngôi sao màu vàng đánh vòng tròn trên nền xanh dương đậm, tượng trưng Âu châu thống nhứt, hảnh diện cày lên ngực áo và sẵn sàng cho người nghèo một chiếc áo mới còn nguyên trong bọc.

 Dân địa phương dạo nầy nói chuyện vui vẻ,  cởi mở hơn,  họ hỏi xin đồ tự nhiên chớ không còn rụt rè như trước kia nữa. Tuy nhiên những công an làm việc vẫn máy móc, mặt lạnh như đồng, nhứt là những ông già cấp bực cao mặt ngầu như chúa quỷ. Hy vọng trong tương lai,  thời gian dần dà đào thải những tối tăm trong cuộc sống, cho đời thắm tươi hơn và những gương mặt gian ác trên thế gian nầy mỗi ngày một trở nên thánh thiện.

 Từ đó đến nay, dòng sông Neva đã trải qua bao lần tuyết đổ. Vậy mà bà giữ cửa hàng trên Hội quán vẫn còn ngồi y chỗ cũ. Thân thể bà mập ra, mặt bà tô nhiều phấn vẫn không lấp được nét nhăn của thời gian in đậm. Ông nhạc sĩ già vẫn còn ngồi bên chiếc dương cầm. Bây giờ ông đờn những bảng nhạc mới tình tứ,  yêu đời hơn thuở trước. Các cô chiêu đãi mới mẻ, trẻ trung, mơn mởn, duyên dáng, áo quần đủ màu đủ kiểu chào mời rất lịch sự.

 Tôi muốn đến gian hàng xưng danh tánh và gợi vài kỷ niệm xưa hy vọng bà ngồi bán hàng nhớ lại tôi. Nhưng nghĩ tới những năm dài lênh đênh trên những tuyến đường có khi nào tôi nhớ tới bà đâu. Huống hồ chi bà ngồi một chỗ, ngày nào cũng thấy hàng trăm thủy thủ đến vội vã rồi hấp tấp ra đi. Dù sao tôi cũng chỉ là một trong những thủy thủ đã lướt qua mặt bà như chiếc bóng,  thì mắc mớ gì bà phải nhớ đến tôi.

 Tôi nghĩ ra một cách để gợi lại trí nhớ của bà. Hôm sau tôi gói một hộp đậu phộng và một gói thuốc thơm đem lên trao tặng cho bà.  Bà cầm lấy ngạc nhiên ngước mắt nhìn tôi. Tôi cười một cái chào bà rồi đi nhanh vô phía trong leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quày và kêu một ly bia. Không ngờ trò chơi lại hiệu quả.  Tôi uống chưa hết ly bia, bà đi đã tới bắt tay, cười chào và ôm hôn rối rít. Bà kể cho tôi nghe, cô gái lớn của bà đã có chồng người Ba Lan hiện làm thủy thủ cho tàu du lịch. Bà chỉ tay về phía một người con gái bận bộ đồ màu đen có nạm kim tuyến. Bà nói tên cô ấy là Lu-Ba. Cô nàng đương bấu một gã đàn ông râu quai nón xồm xoàm và bước theo điệu nhạc chậm. Trong ánh đèn màu lờ mờ tôi không rõ mặt Lu-Ba, tuy nhiên vóc dáng và mái tóc xõa bờ vai làm tôi nhớ lại hình ảnh chị của cô nàng cách đây tám chín năm về trước.

 Càng về tối người đến càng đông, ngoài sàn nhảy đã chật nít người. Đúng mười giờ rưỡi nhạc Disco ngưng, sàn nhảy được nhường lại cho đoàn vũ. Bảy tám vũ nữ rất trẻ, thân hình đầy đặn, ngực bốc lửa, mỗi cô khoác trên người một miếng vải mỏng màu hồng,  từ trong đi ra múa chầm chậm theo một điệu nhạc êm. Khán giả vỗ tay rân lên một loạt. Các vũ nữ tiếp tục múa, hễ mỗi lần các cô gỡ một mảnh vải trên người liệng ra thì tiếng hò hét hòa cùng tiếng vỗ tay và huỳt sáo. Đến đoạn gần chót, khán giả ngồi trước nghiêm nghị, khán giả giữa ngồi thẳng lưng,  khán giả ngồi phía sau đứng dậy nhón giò, tất cả hướng mặt về phía các người đẹp khỏa thân uốn éo trong ánh đèn màu hồng.  Trong không khí nực nồng mùi bia, rượu và thuốc lá. Nhạc sang điệu dồn dập,  các vũ nữ tháo quần xì-líp liệng tung về phía khán giả, tức thì tiếng la ó cùng tiếng vỗ tay vang dội tưởng chừng hội quán sắp vỡ tung!

Tôi đứng dậy bắt tay người đàn bà:

– Thưa bà, tui phải xuống tàu.

Bà ta giơ tay lên và chỉ vô chiếc đồng hồ, nói:

– Còn mười lăm phút nữa mới hết.

– Tôi biết.

Tôi day lưng bước ra quầy lấy áo, rút chiếc khăn choàng quấn vào cổ và khoác chiếc áo da lên người. Bà già đi tới hỏi tôi:

– Ngày cậu mai còn ở đây không?

– Thưa bà còn, tôi đi lại nơi đây ít ra cũng sáu tháng.

– Chiều mai cậu có lên đây nữa không?

– Không biết, nhưng có lẽ tui sẽ thường xuyên lên thăm bà.

– Chừng nào cậu lên tôi kêu Lu-Ba đến tiếp cậu.

– Vậy thì vui rồi. A, xin lỗi,  bà tên gì?

– Vera, còn cậu.

– Tôi tên Tấn, gặp lần sau đừng quên nhé.

– Không bao giờ.

Tôi bắt tay từ giã, bà tiễn tôi ra cửa. Bên ngoài tuyết ngập lên khỏi mắt cá chưn, xuyên qua ánh đèn đường  tuyết vẫn còn rơi mù mịt. Tôi dẫm trên tuyết, lần theo bờ kinh rồi men vô phố và rẽ qua con đường hướng về bến cảng. Tôi lụi hụi cắm cúi bước những bước thiệt dài, nhưng hơn nửa tiếng sau tôi chưa tìm ra đường về bến cảng. Trước mặt bây giờ trắng giã mù mịt, chiếc khăn choàng cổ tôi kéo quấn ngang mũi, hơi tôi thở ra vướng lại đóng đá nơi vành khăn, tóc sững lên cứng ngắc và da đầu tôi ê ẩm, chiếc áo da không ngăn nổi cái lạnh bên ngoài làm quay hàm tôi tê cứng, không đánh bò cạp được nữa. Ngó quanh ngó quất, phố xá vắng tanh, thỉnh thoảng vài chiếc xe điện rổn rẻn lạnh lùng lướt qua trên con đường sắt, bụng tôi bắt đầu lo và không dám đi tiếp về phía trước. Tôi bèn quay lại nhắm hướng có nhiều đèn trong phố bước cầu may, hy vọng tìm gặp được một quán cà phê hay một khách sạn chui vô sưởi ấm rồi nhờ họ gọi dùm chiếc tắc xi. Thời may đi được một đỗi, tôi thấy đèn xe hơi từ phía trước mặt lần lần chạy tới. Như gặp cứu tinh, tôi chạy ra giữa lộ và huơ cả hai tay. Người tài xế ngừng xe lại mở cửa. Không chào hỏi, tôi nhào đại lên xe. Anh hỏi tôi một câu bằng tiếng Nga, tôi không hiểu gì hết, lập cập tới lập cập lui bằng tiếng Anh: “Đi… đi xuống bến tàu… xuống bến tàu…”.  Anh ta đưa hai tay lên, lắc đầu làm dấu không hiểu tôi nói gì ! Tôi bèn móc túi áo, mò túi quần một hồi mới tìm ra địa chỉ giơ cho anh. Anh xem địa chỉ xong rồi gật đầu, vô số cho xe chạy.

Xe mệt nhọc chạy trên đường trơn, anh tài xế thỉnh thoảng lách tay lái làm chiếc xe chao chao trợt xuống lề đường, vậy mà anh vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn đưa tôi xuống bến. Tới nơi tôi móc hết số tiền trong túi đền công, nhưng anh không nhận, mặt vẫn tươi cười chào tôi và nói một câu tiếng Nga gì đó rồi anh quay xe chạy thẳng.

Khi xuống tàu ngồi trong phòng có lò sưởi ấm áp. Tôi nhớ tới vị ân nhân tốt bụng vừa rồi, biết đâu không có anh tôi đã bị chết cóng giữa thành phố lạnh băng, chỉ có tuyết và tuyết chớ không một bóng người! Và không biết sau khi hội quán đóng cửa, có người đưa mẹ con bà Vera về nhà hay không? Vì trên bước đường lưu lạc, tôi thấy con người ta thường hay lòn cúi hoặc giúp đỡ người ngoại quốc rất tận tình. Còn đối với đồng hương họ hay quay lưng ngoảnh mặt, thậm chí họ chà đạp lẫn nhau… 

Cuối Năm Trên Biển Bắc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

https://1.bp.blogspot.com/-Fe2Yq0VFLMg/XB_ScUuTpFI/AAAAAAAA8D8/z30jXlbJQcIRLjUt8mxpKo-ZnedYD7WRgCLcBGAs/s640/Borscht-soup-Beet-Soup.jpgNgười xưa có nói: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.”. Trước kia tôi cũng nghĩ vậy, nên có thành kiến với những người hay có tánh xấu trong bữa ăn hoặc mỗi khi ăn hay đòi thêm này thêm nọ. Nhứt là những năm sau này, thủy thủ đến từ nhiều nước, có khi trên tàu chỉ có hơn chục người mà tới năm, sáu quốc tịch khác nhau. Đi chung chuyến tàu của Hoà Lan, dĩ nhiên phải ăn uống theo thực đơn của Hoà Lan. Theo luật trên tàu thì đầu bếp nấu món nào thì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, hổng được ọ ẹ phàn nàn, nhưng nếu đầu bếp không sáng tạo và chỉ nấu hoài một loại thức ăn thì sẽ làm nhiều người ăn hổng được, thức ăn dư ra đổ bỏ uổng lắm. Nghĩ vậy nên tôi tìm học vài món ngon tiêu biểu của những vùng, miền nào mà nhiều người biết tiếng. Ban đầu tôi sợ lãng phí thức ăn nên cố công học hỏi những thực đơn cho nhiều người ăn được, cũng nhờ vậy tôi khám phá ra, ngoài chuyện ăn ngon miệng, món ăn có thể gây phiền phức cho người ham ăn, nhưng cũng có thể hoá giải được những xích mích và làm cho người với người gần gũi nhau hơn. 

Không biết tôi có thói quen từ hồi nào, cứ mỗi năm vào tháng Mười Hai dương lịch là tôi thích nấu những món ăn đặc biệt của vùng miền nào mà tàu chúng tôi đang đi ngang. Tôi chọn món ăn sao cho hợp với thời tiết và khẩu vị của nhiều người. Hôm nay là trung tuần tháng Mười Hai, tàu tôi hiện hải hành vùng Bắc Đại Tây Dương, mùa này nơi đây trời lạnh lắm, nên tôi chọn nấu món súp khá thịnh hành của vùng Baltic. Tôi đang đứng xắt rau, củ để ra dĩa, chợt nghe sau lưng có tiếng hô với giọng vui mừng: 

– Oh, borsch!

Tôi ngước lên thấy Liubomir đứng cạnh bên, nó xoa hai bàn tay vào nhau và hỏi:

– Ông cũng biết nấu soup borsch? 

Tôi ngước nhìn nó cười, hất mặt ra vẻ kiêu hãnh và hỏi lại: 

– Sao không? 

– Món này đặc biệt của nước Nga. 

Chuyện của con người, dù là người Á Châu hay người Âu Châu gì cũng vậy. Từ lãnh thổ, thiên nhiên, cây cối, lá hoa, con người cho tới thức ăn, thứ gì có vẻ đặc biệt, nổi tiếng mà ở cạnh bên thì dành cho là của mình. Như cái món rendang, người In Đô thì nói xuất xứ từ In Đô, người Mã Lai nói của Mã Lai rồi tranh cải om xòm trên báo. Món soup borsch cũng vậy. Tôi sắp phần củ dền tím vừa xắt xong để vô chiếc dĩa bầu dục cùng với những loại rau khác, trắng, xanh, cam, vàng, tím trông cũng bắt mắt. Tôi bưng dĩa rau lên, day qua đưa trước mặt Liubomir, cười nói:

– Đẹp hông? 

– Oh, đẹp tuyệt. 

Tôi nói:

– Chẳng những tao biết nấu borsch mà tao còn biết lai lịch của borsch nữa. Mày người Nga thì nói borsch của Nga, nếu là người Ukraine thì nói borsch của Ukraine. Tao là người Việt Nam thì tao nói Borsch là một món súp rau, củ bắt nguồn từ các bộ lạc xa xưa nằm về miền bắc Phần Lan và Nga. Nhưng ngày nay borsch rất thịnh hành trong vùng Baltic, nhứt là trong các nước lân cận Đông Bắc Âu Châu.

Liubomir gật gật đầu, nói: 

– Ông nói đúng. 

Nó lân la đứng lại khoe cái kiến thức nấu ăn của nó: 

– Có những nơi thích nước súp loãng, trong và màu tím lợt, có những nơi thích nước súp màu tím đậm đặc hơn. Nhưng quan trọng là nước dùng. 

Trước khi tiếp câu chuyện, tôi xin kể lại cái nguyên nhân tôi quen với Liubomir. Cách đây cũng hơn hai năm rồi, lần đầu tôi đi chung với nó trên chiếc Tina. Trưa hôm đó tôi làm món khoai tây chiên bột có tên là derung. Mọi người ăn xong và ra khỏi phòng ăn hết rồi, nó vô trễ nhưng tôi cũng có chừa phần cho nó, tôi sắp khoai thịt và rau vô dĩa đưa ra. Nó lấy dĩa thức ăn để lên bàn mà chưa chịu ăn, hổng biết mắc chứng gì mà mặt mày nó nhăn nhó giống như giẻ rách, nó nhào vô bếp lục tủ lạnh. Thấy chướng mắt, tôi hỏi: 

– Mày tìm cái gì? 

Nó day qua hỏi: 

– Ông có kem chua hông? 

– Hông.

– Sao ông hổng đặt. 

Tôi bực mình chỉ tay ra cửa, ý kêu nó đi ra ngoài:

– Hổng có là hổng có, mày ra ăn với mayonaise, hổng ăn thì thôi. 

Với giọng kẻ bề trên, nó nói:

– Tui cũng là đầu bếp, tui có nhà hàng, nếu có gì hổng biết thì ông hỏi, tui dạy cho. 

Bình thường chắc tôi cho qua, nhưng nó dùng câu “I teach you.” làm tôi hơi khó chịu. Tôi hất mặt hỏi lại:

– Dạy cái gì? 

– Thì… nấu…

Tôi đổi sắc mặt, nhìn nó cười khẩy và nói:

– Oh. Tưởng chuyện chế thuốc độc hoặc bôm hạt nhân, bôm nguyên tử, xe tăng, súng, đạn… những thứ giết chết người của nước Nga mày thì tao hổng biết, chớ còn thực đơn để nuôi sống con người thì nước Nga của mày có con c. gì mà dạy tao. 

Có lẽ thấy mặt mày và giọng nói khó chịu của tôi nên nó ngán, nó hầm hầm cái bản mặt thịt và miệng sịt một cái rồi bỏ ra bàn ăn.

Trước buổi ăn chiều hôm đó, thuyền trưởng người Hoà Lan, xuống hỏi tôi: 

– Ông nói gì mà thuyền phó nói ông châm biếm nó vậy? 

Có chút chuyện mà nó cũng lên mét thuyền trưởng. Tôi biết thuyền trưởng người Hoà Lan cũng không ưa gì người Nga. Nhưng tôi hổng có tánh a dua, dựa vào đó mà nói xấu thuyền phó. Nhưng nó đã mét với thuyền trưởng rồi thì tôi cũng phải phân trần cho ông rõ. Tôi nói: 

– Thiệt ra vì tánh cao ngạo của thuyền phó, cũng như cách sống của nhiều người Nga khác, tự nó đã là châm biếm rồi. Tui chỉ nói sự thật cho nó biết thôi. 

– Nhưng chuyện gì?

Tôi kể với thuyền trưởng chuyện xảy ra hồi sáng xong và tôi nói: 

– Có món Hamburger mà Nga cũng làm hổng được, dân Nga phải chờ gần một thế kỷ mới được ăn. Vậy mà nó đòi dạy tui nấu ăn. 

– Thiệt hả? 

– Thiệt, ngày đầu McDonald’skhai trương ở St. Petersburg dân Nga đứng sắp hàng dài cả cây số chờ mua ăn.

Thuyền trưởng cười ha hả rồi bỏ đi. Ông lên nói gì với nó hổng biết mà sáng hôm sau nó xuống mặt mày vui vẻ đứng trước phòng bếp ló đầu vô, nói: 

– Ông là người Hoà Lan. 

Tôi đáp: 

– Không, tao là người Việt. 

– Tui tưởng ông người In Đô. 

– In Đô thì đã sao? 

Nó đưa ngón tay lên giữa miệng làm giấu bí mật và nói. 

– Người In Đô ngu lắm, bếp In Đô nấu ăn hổng được. 

Trơ trẽn như vậy là cùng, tôi có hơi khó chịu, nhưng muốn lên lớp cho nó biết chút ít về chuyện làm người, nên tôi dịu giọng, nói: 

– Mày lầm rồi, mầy đừng tưởng là mầy thuyền phó và người Nga là thông minh. Thật tình thì bếp In Đô nào cũng có bằng cấp nấu ăn hết, tại mày hổng quen ăn thức ăn In Đô thôi, còn thủy thủ In Đô nhiều người có bằng đại học, nhưng vì ở bên nước nó hổng có việc làm thích hợp và lương bổng hổng bao nhiêu nên mới qua đây làm thủy thủ. 

Hình như nó dè dặt trước những gì tôi nói, nên nó mới đổi sang chuyện khác: 

– Ông viết sách hả? 

– Hobby của tao. Có vấn đề sao?

– Ông viết về chuyện gì? 

– Thì chuyện của tao với mày đương nói nè. 

– Oh. Có lẽ nó ngại trò chuyện với một tên già dặn và có tánh móc lò như tôi nên nó chào tôi và bỏ đi ra ngoài. Đúng là tư cách của người Cộng Sản, trước khi muốn cư sử với người nào phải tra lý lịch người đó. Nhưng đỡ cái là từ đó trở đi, thái độ hống hách tự cao tự đại của nó không còn và hổng dám léo hánh vô bếp hỏi này hỏi nọ nữa. 

Sau chuyến đó, cũng hơn hai năm rồi, tôi không gặp lại nó. Chuyến này gặp lại tôi, nó bắt tay mừng rỡ, làm như là bạn bè thân nhau lâu lắm vậy. Nó khoe với tôi, nó đi du lịch Việt Nam mới về, đi tour và có ăn phở. Tôi nói: 

– Phở là món rẻ tiền, bộ tụi Nga mày hổng có tiền ăn món nào đắt giá hơn sao mà thằng nào đi du lịch qua đó trở về tao cũng nghe ăn chỉ có phở. 

Nó cười hì hì:

– Phở ngon mà. 

Kỳ này trên tàu thuyền trưởng và phụ máy là người Ukraine, chỉ có phụ thuyền phó là người Hoà Lan và tôi người Hoà Lan gốc Việt. 

Tôi trở lại câu chuyện. Day qua nói với Liubomir: 

– Dĩ nhiên nước dùng là nền tảng của các loại súp, nhưng sự kết hợp củ dền tím, bắp cải trắng, cà rốt, cọng cần và khoai tây nấu chung với nước dùng xương bò làm cho súp ngọt và thanh, hương vị và màu sắc củ dền làm cho borsch có màu tím và mùi thơm đặc biệt. 

– Người Nga và người Ukraine thường trang trí nguyên cọng thìa là, kem chua hoặc maiyones và ăn với loại bánh nướng bột gạo nhân thịt, tiếng Nga gọi là pirozhki. 

– Nhưng trên tàu chỉ có maiyones và bánh mì thôi. 

– Ờ, trời lạnh ăn Borsch rất ngon.

Tôi nói: 

– Soup borscht nấu đặc thích hợp cho mùa lạnh, mùa nóng nấu loãng một chút, mùa nào ăn soup borsch cũng được và ăn nóng hay nguội gì cũng ngon. Nhưng theo tao biết thì cách ăn borsch cũng khá quan trọng. 

– Oh, vậy sao? 

Tôi cười dí dỏm:

– Theo truyền thống cổ xưa, ăn soup borscht với cái tô bằng đất nung và muỗng gỗ. Thực khách phải trần truồng, ngoài tấm khăn che phía dưới ra, đàn ông, đàn bà, con nít hổng bận áo, quần gì hết. 

– Thiệt hả? 

– Thiệt, mày hổng tin thì tìm hiểu lịch sử borsch biết liền.

– Nhưng borsch cũng là một trong những món ăn truyền thống Giáng Sinh của nước Nga. 

– Ờ, đúng rồi. Theo lịch chính thống của nước Nga, lễ Giáng Sinh ở Nga vào ngày bảy tháng Giêng. 

– Nhiều người Nga vào những ngày đầu tháng Giêng, trước Giáng sinh đã tổ chức ăn uống rồi. Nhưng hổng phải người Nga nào cũng tổ chức Giáng Sinh vào ngày đầu tháng Giêng. 

– Vậy hả? 

– Nhiều người tổ chức Giáng Sinh bắt đầu ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai. Trong thời gian này, tất cả cây cối trồng những nơi công cộng cũng trang trí đèn màu, giống như cây thông Noel, đó cũng là biểu tượng cho năm mới.

– Vậy là nước Nga có hai ông Jêsu. 

– Ha ha. 

– Cười gì, hổng lẽ hai ngày sanh mà chỉ có một Jêsu? Nhưng… 

– Gì? 

Tôi cười, nói:

– Hai chúa Jêsu dùng một Thánh Kinh nên xã hội nước Nga lộn xộn thấy mẹ. 

Liubomir lại cười ha hả: 

– Vậy đạo Phật có mấy ông Phật? 

Tôi hô:

– Oh, a lot op Budha’s ! (vô số Phật). 

– Vậy nước Việt Nam có lộn xộn hông? 

– Có chớ, đạo Phật ở nước tao lộn xộn quá xá luôn.

– Ông đạo Phật mà. 

– Cũng vì tao theo đạo Phật nên mới thấy nước Việt Nam tao nhiều Phật và lộn xộn giống như một đống phế thải. Mày đi khắp nước Việt Nam, nếu để ý thì thấy chỗ nào cũng có Phật và lủ khủ thầy chùa. 

– Đúng rồi, tui tới Bình Định thấy tượng Phật trên núi lớn lắm. 

– Tao biết, tượng Phật ở Bình Định lớn nhứt Đông Nam Á. Tuy đạo Phật nước tao có lộn xộn nhưng dù sao cũng đỡ hơn nước Nga mày. 

– Sao vậy? 

– Bên Nga có hai ông Jêsu mà chơi hổng lại ông Lenin, để ông ta biến nước Nga thành một quốc gia vô thần, hổng tôn giáo gì hết. Trong thế kỷ hai mươi, Người Nga hổng được mừng Giáng Sinh công khai, thời gian đó cũng có nhiều người Nga tự nhận mình là con cháu của bác Lenin, hổng thần, hổng Phật, hổng Chúa, hay Allah gì ráo. Chuyện tín ngưỡng bị dẹp qua, nhiều người cũng chẳng biết Giáng Sinh là gì, chỉ ăn mừng ngày Giáng Sinh của ông Lenin thôi. 

– Nhưng bây giờ hết rồi. 

– Từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, người Nga mới được phục hồi tín ngưỡng, chủ yếu là tôn giáo chính thống của Nga. Cả nước Nga, nhứt là tần lớp trung lưu trở lên, nô nức ăn mừng Giáng Sinh, tiệc tùng rất long trọng. Cũng có một số người theo Kitô giáo chính thống, bắt chước những truyền thống Giáng sinh ở các nước Đông Âu. Ví dụ, biểu tượng khăn trải bàn màu trắng và rải cỏ khô lên mặt bàn để nhắc nhớ đêm chúa Giáng sinh nằm trong máng cỏ. Ngày hai mươi bốn tháng mười hai, họ chuẩn bị một bữa ăn hổng có thịt và cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời, chờ cho tới khi nào thấy ngôi sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời, lúc đó mới ôm nhau chúc mừng và sau đó mới vào bàn nhập tiệc. 

– Ha ha… Ông nói chuyện mắc cười quá. 

– Bộ hổng đúng sao? 

– Đúng, nhưng làm gì có chuyện cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời. 

– Nếu hổng ra sân nhìn cho kỹ thì làm sao biết được ngôi sao nào mọc trước. 

– Tui cũng hổng biết, nước Nga hổng có phong tục này, hình như đó là phong tục của Ukraine. 

– Ô kê. Phong tục nước Ukraine. Tao có nghe nói đên Giáng Sinh những nhà thờ chính thống Nga hành lễ rất long trọng và Tổng thống Nga cũng tham dự lễ này trong nhà thờ lớn ở Moscow. 

Nó ngước mặt hãnh diện: 

– Dĩ nhiên, nhưng Svyatki và Christmastide của Nga, sau những lễ lạc tiệc tùng Giáng sinh người Nga vẫn còn ăn nhậu cho đến ngày mười chín tháng Giêng. 

Như chợt nhớ ra nó nói luôn:

– À, vậy là hai ông Jêsu thắng rồi. 

– Đúng đúng, chuyện này mày đúng, cái tốt luôn lúc nào cũng thắng cái xấu, nhưng…

– Gì nữa ông? 

– Mất hết một thế kỷ, cũng hơi lâu. 

Tôi tiếp luôn:

– Nhưng lâu còn hơn không?

Chúng tôi cùng nhau cười thành tiếng. Liubomir là thuyền phó, khi tàu hải hành, nó trực lái từ bốn giờ tới tám giờ sáng, nên nó ăn sáng trễ hơn thủy thủ đoàn. 

Hổng muốn lôi thôi mất thì giờ nữa, tôi nói: 

– Mày ra ăn đi. 

Bây giờ Liubomir mới chợt nhớ ra là giờ ăn của nó:

– À, ông luộc cho tôi hai trứng được hông? 

– Dĩ nhiên, mày muốn luộc chín hay nửa chín nửa sống? 

– Ông luộc chín phân nửa được rồi:

– Ok, chờ tao năm phút. 

Luộc trứng cho Ivan xong, tôi sắp xếp lại mọi thứ và bắt đầu nấu soup borsch. 

Tới bữa ăn trưa, mọi người trầm trồ vui vẻ với cái món soup borsch tuyệt vời do tôi nấu. Liubomir kể với mọi người chuyện hồi sáng, cả bàn cười rộ lên. Rồi nó day qua tôi nói: 

– Ông nghe đó, tui kêu mọi người trước khi ăn soup borsch phải cởi áo quần rồi lấy giấy lau miệng che phía dưới lại nhưng hổng ai chịu hết. Cả bàn cười rộ lên. Tui cũng cười theo và nói: 

– Nhưng phải có muỗng gỗ và tô đất nung nữa mới được. Dĩa sành, muỗng i-nốc thì bận đồ ăn cũng ngon…

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Bắc Đại Tây Dương 25 -11- 2018

“Chiều nhớ đi nhậu nhe anh!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Thưa các chiến hữu thích cầm chai! Trước khi vào bài, tui xin có đôi lời phi lộ! Dà hỏng dám hổng múa rìu qua mắt thợ! Kinh nghiệm chinh chiến trên bàn nhậu của tui so với quý anh mình, tui chỉ là thằng nhải ranh lại dám lanh chanh nói dóc.

Quý anh mình chỉ nếm rượu là biết giá tiền, biết năm sản xuất, biết của nước nào. Rồi sành sõi, biết luôn rượu nầy phải đi với món ăn nào mới hợp ‘rơ’; mới đúng ‘gu’ thượng lưu ăn và nhậu!

So với công phu cực kỳ thâm hậu như vậy, tui quả là một đứa lính mới tò te trên chiến trường bàn nhậu.

Tuy nhiên, ông bà mình đã từng dạy: “Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe!” Bên Úc nầy đây, nhà không có cột thì tui biết dựa vào đâu mà nghe?

Phần đất nước tự do ngôn luận mà! Thôi thì biết ít thưa thốt ít; biết nhiều thưa thốt nhiều.

Nhac mau va hien te 02Tại sao quý anh mình lại chìm trong men rượu đắng? Dà! Có nhiều nguyên nhân khác nhau lắm; nhưng tựu trung cũng bởi vì buồn đời đó thôi! Mà buồn đời cũng có nhiều loại buồn. Dưới đây là một trong những loại đó!

Có một ông vào quán rượu gọi một lượt tới 10 ly whiskey đầy ăm ắp.

Người hầu rượu ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì vậy hỡi bạn hiền?”

“À! Tui mới vừa khám phá ra là thằng em trai của tui là người đồng tính và nó vừa làm lễ cưới với thằng bạn thân nhất của tui.”

Ngày hôm sau, ông khách nầy quay lại, gọi tới 12 ly whiskey đầy ăm ắp!

“Người hầu rượu lại hỏi: “Lần nầy thì lại có chuyện gì nữa hỡi bạn hiền?”

“À! Tui vừa phát hiện ra thằng con trai của tui cũng là người đồng tính!”

Ngày kế cũng ông khách nầy quay lại; và gọi tới 15 ly whiskey đầy ăm ắp.

Người hầu rượu hỏi: “Bộ trong nhà của anh bạn không có người nào ‘thích’ phụ nữ hết hay sao?”

Ông thần nầy mắt đẫm lệ, ngước nhìn lên nói: “Có chớ! Con vợ của tui! Hu hu!” 

***

Kế tiếp, tui xin thưa về kinh nghiệm chiến trường trên bàn nhậu nếu có gì không phải xin các chiến hữu đàn anh bỏ ‘quá’ cho nha!

Nên nhậu với ai? Hay bạn nhậu! Anh là ai? Đó là một câu hỏi tưởng chừng dễ như thiệt ra là rất khó trả lời! Cái cốt lõi là nhớ đừng nhậu ‘lang chạ’! Nghĩa là đừng gặp ai cũng nhậu hết ráo! Rất không nên! Chơi ‘lang chạ’ là bị ‘si đa’; nhậu ‘lang chạ’ là bị ‘xi cà que’ có ngày!

Vì nhậu với người mới quen lần đầu là khó khăn nhứt. Mình đâu biết tính ý thằng chả ra làm sao? Có phải hắn, dân chơi cầu ba cẳng, nhậu đã rồi về nằm thẳng cẳng, gáy ò ó o?! Chớ không về nhà dằn mâm xáng chén, đánh đập em yêu… đến nỗi bị cảnh sát Úc đến còng đầu về tội bạo hành gia đình.

Nhậu với mấy tay có máu yên hùng nầy mang tiếng lắm. Nên một cũng lánh xa, hai cũng nên xa lánh trước… Cho nó lành!

Hai là nhậu với đứa có máu dân ‘Cầu Ông Lãnh’. Bất đồng ý kiến nhỏ như con thỏ trong bàn nhậu một chút là cà khịa: “Ê! Cởi áo đi! Ra ngoài đường giải quyết!”

Rượu là lễ mà! Nhậu với đứa không biết thế nào là lễ; có bữa mình sẽ bị bể đầu vì cái thói côn đồ của nó!

(Trong nước, giờ nghe nói: tiệc nhậu chưa tàn mà các hạ đã móc dao ra lụi tại hạ để làm thêm món tiết canh cho hả dạ?)

Tui vốn là thằng ăn tục nói phét; làm vài ly là quen mồm xài cả đống giấy năm trăm! Nên xui rủi lỡ gặp một tay nào ‘vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa’, hồi đó giờ chưa biết ‘đù’ lần nào; mình không ‘thủ cẳng’, cứ chửi thề bốp trời thiên là nó sẽ ưu tiên biến mình thành một kẻ thù vô duyên cớ!

Ba là nhậu với những con dê nhà họ ‘Sảng’. Tức là nhậu với mấy thằng có máu 35, dê thầy chạy; nhứt là hay dê sảng!

Chieu nho di nhau 02Chữ rằng: tửu sắc. Nhậu là khoái gái hè! Ai cũng vậy vì do ảnh hưởng của ‘ethanol’ lên não bộ; chỉ cần sương sương chừng vài cối là tối con mắt, nhìn em nào cũng đẹp nhứt đêm nay.

Xỉn rồi thì em nào cũng trở thành hoa hậu miệt vườn hấp dẫn; dù ngày thường chàng đã bỉu môi chê: “Cho tao còn hỏng thèm! Xấu như ma lem! He he!”

hang vo ngu co 02Khoái ăn bưởi hàng xóm hơn là chanh ở nhà cho dù hai thứ đều chua lè hết ráo.

Mạnh dạn liếc mắt đưa tình dẫu em là hoa đà có chủ!

Sáng dậy, tỉnh rượu mới hoảng hồn: “Ối giời ơi! Ta đã làm gì đời ta vào tối hôm qua?!”

Thế nên anh bạn nhậu đã từng khẩn thiết khuyên tui là có dắt bạn về nhà nhậu là tụi bây hãy chui ra đằng sau garage ngoài hè mà nhậu.

Chắc ăn hơn hết là nhậu lúc vợ vắng nhà! Kẻo nhậu cửng cửng, nó tửng lên, thò tay khòe móc, vỗ bậy, vỗ bạ… làm mất tình chiến hữu bấy lâu nay.

Bà con có lẽ cho rằng tui nói quá! Nhậu say chớ có bị điên đâu mà bốc hốt tùm lum vậy cà? Bởi câu rằng: cái gì cúng là cúng; cái gì ăn là ăn. Đâu thể nào đồ cúng mà đòi ăn cho được hè?

Nếu bà con không tin, tui xin kể cho nghe câu chuyện đã từng xảy ra cho thằng Johnny, bạn Úc của tui, xảy ra cách đây không lâu.

Chẳng qua hôm Tết Tây, Johnny dắt con Melissa, là bồ của nó, đi ra ‘pub’ nhậu. Nhậu tới khuya luôn.

Thì thằng bạn nó kề vô lỗ tai, bỏ nhỏ: “Tao thấy thằng Peter và con bồ của mầy làm cái gì ‘rọt rẹt, ọt ẹt’ ở băng sau chiếc xe mầy trong bãi kia kìa!”

Johnny nghe vậy bèn lảo đảo bước ra ngoài làm một cuộc điều tra. Một lúc sau bước trở vô quán rượu, cười hè hè, nói: “Thằng Peter bữa nay say quá! Say đến nỗi nó tưởng nó là tao!” He he.

Thế nên theo lời khuyên chí lý của anh bạn hiền từng trải: “Nhậu nên ra quán!” Quán mà người phục vụ là nam càng tốt. Cầm bằng hám gái, lựa quán nào có mấy em gốc Ý, đẹp cỡ Sophia Loren, phục vụ là coi chừng lỡ hôm nào hứng sảng, con lợn lòng nổi dậy làm bậy là nó lôi đầu mình ra Tòa về tội sách nhiễu tình dục thì phiền phức lắm!

Bài học của Harvey Weinstein, trùm điện ảnh Hollywood còn nóng hổi, còn sờ sờ ra đấy. Liệu mà giữ cái thân tàn ma dại!

***

Chieu nho di nhau 03Tết Tây qua rồi! Tết Việt mình đang lù lù tới! Tết là dịp may hiếm có, năm chỉ một lần, cho băng tầng nhậu chúng ta say sưa chè chén bí tỉ mà ít bị vợ rầy!

(Vì con vợ tin dị đoan đầu năm gây lộn với chồng là gây toàn thời, là gây suốt cả năm!)

Tuy nhiên, xin quý chiến hữu thương mến thương đừng nên lợi dụng thời cơ nầy mà say sưa quá chén nhé! Bởi chữ có câu: “thái quá bất cập”! Ngay cơm mình ăn mỗi ngày; nếu ăn quá no là bể bụng mà chết! Huống gì là rượu!

Hãy quên cái vụ chừng chục chai là đòi làm anh hùng rơm, trên đầu nào biết có ai, để tuyên bố vung vít với em yêu là: “Ðừng chờ, hôm nay anh hổng dìa! Anh dìa sẽ bị chúng nó chê anh là râu quặp, là thờ bà, là sợ vợ… Nhục lắm!”

Đừng có tự nhủ là: “Uống thêm thật say để về dễ ngủ, không phải nghe vợ càm ràm, nói xiên nói xỏ, nói móc họng hay chửi chó mắng mèo!”

Đừng uống say đến nỗi quán nó trục xuất mà chưa chịu về như câu chuyện dưới đây!

Một tay bợm nhậu đi lảo đảo vào quầy rượu! “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!”

Một lát sau, cũng ông thần nầy từ ‘toilet’ bước ra. “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá xá rồi!”

Chừng 5 phút sau, cũng ông thần nầy từ cửa sau bước vào!“Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Tui nói lần chót là: Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!”
Nghe vậy, ông thần nẩy gải cái đầu đã rồi gải cả hai cái lỗ tai! “Ờ! Chắc mình say quá thiệt rồi! Hai cái quán rượu trước cũng đều nói với mình y như thế!”

Hoặc: “Tối qua tui uống nhiều rượu đến nỗi khi đi ngang qua sàn sân khấu của nhà hàng, sau khi cạn ly đầy để tìm thêm một đầy ly cạn whiskey nữa; thì tui đã đoạt giải nhứt người ‘khiêu vũ’ đẹp nhứt trong đêm!”

Như vậy thế nào là uống rượu có chừng có mực? Nó như vầy nè: Johnny bước vào quán rượu kêu một ly whiskey, cạn xong, móc cái mobile phone, hiệu Samsung Thiên hà 8, ra chăm chú nhìn miết vào cái màn hình! Xong kêu ly nữa. Và cứ thế…cứ thế!

Anh hầu rượu ngạc nhiên hỏi: “Uống rượu mà coi màn hình điện thoại di động chi vậy cha nội?” “À! Hình của con vợ tui! Chừng nào thấy em đẹp nhứt đêm nay là tui biết mình đã đủ ‘đô’ rồi… là tui về. “

***

Nói thiệt nào ngay, tui cũng có ba thằng bạn nhậu chí cốt! Vắng một tuần là nó réo rồi hè! “Sao tui nhớ cái mồm lải nhải của ông nhà báo quá ta?!”

Chẳng qua anh bạn nầy cách đây đã ba năm, mới gặp lần đầu, nhậu với nhau, xét tư pháp lý lịch, là tui biết ảnh là người vốn sanh đẻ ở ‘Trảng Bom’.

Thằng tui cũng là người khoái nổ. Nhưng nghe ‘giả’ nổ riết, lùng bùng điếc cả lỗ tai nên tui đành chịu thua, xin phép kiếu từ về trước! Đang hứng, mà bị bỏ ngang xương; ảnh hỏi tui sao về sớm vậy?

Tui bèn từ tốn trả lời: “Bữa nay được hân hạnh lần đầu đối ẩm với anh nhưng tiếc thay lúc đi vội quá nên tui bỏ quên ở nhà cái áo giáp chống văng miểng ở nhà rồi!”

Từ đó biết ý, anh bạn hiền nầy lâu lâu ngứa miệng, chỉ nổ ‘cắc cù’ như carbine M1 chớ không chơi ‘ra-phan’ một tràng như M16 hay đại liên M60 như trước nữa.

Ba năm làm bạn nhậu, một khoảng thời gian quá dài như ba thế kỷ! Nhậu với nhau, chọc cho vui nhưng chưa cự cãi lần nào quả là hiếm có trong giới giang hồ nhậu nhẹt đó nhe!

Tui đang lọ mọ viết cho xong bài nầy, kẻo ông Chủ bút hối quá Trời, thì chuông điện thoại lại reo inh ỏi:” Ra nhà hàng Hạ Long; đúng 6 giờ chiều nay nhe cha nội!”

bua-yeu-4Ra chớ! Nhân tiện, tui từ giã băng tầng nhậu Footscray mình để di dân qua xứ Ái Nhĩ Lan, làng Ringaskiddy, nơi sản xuất thuốc Viagra của hãng Pfizer.

Đi nhậu về ngang, chỉ cần ‘hít’ khói từ các xưởng Viagra cũng đủ… ‘sung’ suốt cả quanh năm.

Nhậu ở Footscray nầy em yêu rầy dữ lắm! Dọn qua bên ấy, chắc như đinh đóng cột là chiều nào em yêu cũng nhắc: “Chiều nhớ đi nhậu nhe anh!”

Chiều giáp Tết ở Adelaide!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Thưa quý độc giả thân mến!

Cuối năm, lấy phép thường niên được năm tuần, người viết cũng bắt chước Úc mà: đi cho biết đó biết đây; ở nhà với vợ có ngày ‘tửng’ luôn! Hai thằng con thương người viết, già cúp bình thiếc rồi, mà vẫn cần mẫn đi cày; bèn lên web, rình hãng máy bay giá rẻ, khuyến mãi đại hạ giá.“Tía ơi! Melbourne bay đi Adelaide khoảng 655 cây số, chỉ có 25 đô hà. Ờ! mua lẹ lên, mua ngay cho tía nghe con! Đỡ đồng nào cho má bây ‘xào’ đồng nấy!”

Chuyến đi chơi nầy tốn ít… mà còn lời nhiều! Sơ sơ là lời được bài viết nầy cho số báo Xuân để gỡ vốn, kiếm chút tiền nhuận bút uống cà phê chơi. Chứ thủ phủ Adelaide của tiểu bang Nam Úc buồn ơi là buồn, buồn như dế kêu. Thành phố trầm mặc với những giáo đường! Thành phố chỉ hai mươi phút đã về chốn cũ! Chỗ nổi tiếng nhứt là bức tường thầm thì, than khóc, nơi người ta đến, nói câu gì, tâm sự câu gì như: ‘Đừng đá anh, em yêu…ơi! Hu Hu! He he!’ thì ngay sau đó phía bên kia bức tường, xa tới 100 m! tiếng vọng lại y chang. Như nó chọc quê, ‘nhái’ mình vậy!

Cả mấy năm nay mới gặp thằng em, mừng…nhưng hai đứa hổng biết làm gì cho vui, thôi thì… bày ra cuộc nhậu. Vì Adelaide là thủ đô rượu của Úc Châu.  Mâm đặt vừa xong, thằng em ‘hú…u!’ một tiếng, thì cũng có tiếng ‘hú…u!’ như ở bức tường thầm thì đáp lại, chừng 10 phút sau, một quái kiệt giang hồ, râu tóc bờm xờm, chưn mày dựng ngược, hiện ra trước cửa. Mời bằng hữu vào, trước lạ sau quen, làm một ly ‘ông già chống gậy’ cho nó thông cái cần cổ!

Tiệc nhậu nào cũng vậy! E dè lúc đầu nếu khách khứa chưa có quen thân nhưng chừng vài tuần rượu là chuyện nổ như bắp rang. Mà thường là chuyện tiếu lâm hơi ‘mẳn mẳn’ một chút.

Anh bạn giới thiệu mình tên Theo, (đọc là Thí – Ô), tên Tây đàng hoàng nha, đi tiên phuông như vậy: chuyện nầy hơi xưa xưa rồi, xảy ra hơn mươi năm về trước, ông bà thủ tướng trong chuyện, dân đã cho về nhà đuổi gà hết ráo!

Helen Kiwi, tướng quốc Tân Tây Lan, phao ‘hung tin’ là nhà máy sản xuất bao cao su của nước mình bị cháy rụi.  Giả bộ quýnh lên, Helen gọi cho John Aussie, tướng quốc Úc, cầu cứu, cầu cứu! Xin anh gởi ngay vài tấn bao cao su cho dân của em xài trong mùa đông lạnh lẽo nầy. Sự thực là nhà máy không có cháy. Chẳng qua là Helen muốn giựt ‘hộp’ Johnny thôi; nên trong đơn đặt hàng ghi kích cỡ dài 10 inches (2 tấc 54), ngang 8 inches (2 tấc 03) nhằm gây ấn tượng với chàng, vốn dĩ hai nước Úc và Tân Tây Lan là bà con có cùng đầu ông cố tổ với nhau. Johnny bèn gởi cho Helen một thùng, đúng ngay bon kích cỡ. Ngoài bao bì có đề là: Làm tại Úc Đại Lợi. Cỡ nhỏ! MADE IN AUSTRALIA – SIZE: SMALL

Và trước khi kể tiếp về bữa nhậu chiều cuối năm ở Adelaide nầy, cũng xin mạn phép giới thiệu vài dòng, trình quý độc giả thân mến, về tay quái kiệt giang hồ nầy. Hôm đó dù là khách như ‘tui’ nhưng lại đường đột giành làm chủ xị,  dạo đầu đã nổ lốp bốp tên Tây là Theo; thực sự tên ảnh là Tèo, một chàng Việt Nam rặt  ri, từ Chắc Cà Đao, tị nạn cộng sản, vượt biên tới đảo Pulau Bidong, Mã Lai, hồi năm 81.

Khi đến đảo, trong bụng Tèo là muốn chạy theo ‘thằng’ Mỹ; nên khi phái đoàn Mỹ phỏng vấn Tèo hồi hộp lắm, vì sợ rớt.  Khi hỏi tên tuổi, quê quán, Tèo nghe nói tiếng Mỹ không bỏ dấu gì hết nên Tèo khai là tên Teo; vậy mà Mỹ lại ghi là Theo, chắc Mỹ nhớ cái tên Theodore Roosevelt, Tổng Thống thứ 26 của Huê Kỳ. Tèo cãi lại là: T. E. O. (ti, i, ô). Hổng có chữ ‘hờ’ à nha. Mỹ có vẻ không hiểu Tèo nói cái giống gì?! Tới phần quê quán, Tèo khai: Chắc Cà Đao! Mỹ nghe ba xí ba tú sao đó rồi ghi là Chucker Down. Lại cãi. Thiệt hổng muốn cãi làm chi; vì mới học được vài chữ lõm bõm; phần nói tiếng Mỹ sao mà mỏi miệng quá! Tuy nhiên cái gì trật mà cứ để vậy hoài, hổng sửa lưng, tụi nó lừng. Lần sau, ông Mỹ khác chứ hổng phải ông Mỹ trước. Ông nầy cũng mắt xanh mũi lõ nhưng tiếng Việt thì ‘giả’ rành sáu câu, dám biết ‘húp’ nước mắm lắm đa. Ổng biết tên Tèo liền; dù viết không bỏ dấu, nó thành ‘Teo’ mới chết chớ. Ổng cũng biết xứ Chắc Cà Đao, tên cái chợ và con rạch gần Long Xuyên chớ đâu! Bỏ quê đi, nghe người dưng nước lã nhắc đến quê mình sao bùi ngùi tấc dạ, Tèo nhớ đến câu ru em: “Anh xa xứ Chắc Cà Đao! Bỏ em ở lại như dao cắt lòng!”. Tèo cắt nghĩa cho ổng học thêm chớ hổng phải là Mỹ thì cái gì cũng biết hết trơn đâu nha? Quê tui, tui biết nhiều hơn ông là cái chắc. Tèo cắt nghĩa rằng địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khmer, chắp kdam (bắt cua) mà ra; vì vùng nầy xưa kia có rất nhiều cua. Ông Mỹ gục gặc nghe, có vẻ khoái chí, kết thúc cuộc phỏng vấn… nhưng chờ hoài hổng thấy kêu réo gì ráo; chắc ổng làm lơ, bỏ Tèo mà chạy cũng giống ‘hịt’ như hồi năm 75 vậy thôi! Còn tình, còn nghĩa đồng minh! Hết tình, hết nghĩa… lặng thinh dông rồi!

Cuối cùng, may quá, phái đoàn Úc đến, hỏi đi Úc hông? Đi chớ! Dù hồi nhỏ tới lớn, Tèo có biết mặt mày nước Úc lớn bé ra sao? Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân. Mà xem con tạo xoay vần tới đâu; vì hổng lẽ ở lại cho mục đảo hay sao?

Tèo được Úc đưa về Adelaide sống, đi cà nhỏng, rồi vô quốc tịch từ đây Tèo thành Úc rồi nha. Gặp bà con người Việt thì vẫn tên Tèo thân thương của mấy chục năm tình cũ. Còn với Úc, Teo trở thành Thí-ô (Theo), tên tiếng Úc, cho nó oai! He he!

Sống bụi đời ở Adelaide mới đầu Tèo hổng hiểu ai nói; và Tèo nói cũng không ai hiểu! Nhưng phần tánh nông dân cũng dạn, mắc cỡ làm gì! Tiếng Úc có phải là tiếng mẹ đẻ của mình đâu, mà tiếng mẹ đẻ đôi khi còn trật lên trật xuống huống hồ là tiếng nước ngoài nên Tèo cũng ‘phang’ tưới xượi hột sen. Vậy mà hay! Vài năm sau, Tèo đã ‘phang’ tiếng Úc như gió. Hổng nhìn mặt mà chỉ nghe Tèo nói, bà con cứ tưởng là thằng cha thổ dân nào đó chớ?!

Vì giỏi tiếng Úc, nên Tèo trúng mánh. Tèo kể: Một hôm, Tèo đến tiệm thuốc tây muốn nói chuyện với một nam dược sĩ. Phải nam dược sĩ mới được vì Tèo đang có vấn đề tế nhị, nhạy cảm lắm. Rủi thay tiệm thuốc nầy chỉ có hai chị em dược sĩ Úc rặt, tóc vàng sợi nhỏ, mỏ đỏ mắt xanh, hùn vốn với nhau mở tiệm không có nhân viên nào ‘đực’ cả!

Tèo than thở: Nói chuyện nầy với cô em thiệt là khó cho tui lắm! Cô nữ dược sĩ thuyết phục Tèo: “Tui là dược sĩ chuyên nghiệp mà! Ông đừng lo! Ông nói chuyện gì cũng được, tui sẽ tận tâm làm hết chức nghiệp của mình!” Lúc đó Tèo mới chịu thổ lộ là: “Hổng biết ăn trúng cái gì mà ‘sung’ quá, cứ cái ‘mửng’ nầy tui sợ tổn thọ, thiệt tình tui không biết cô dược sĩ có cách gì để giúp tui được hông?”

Thổ lộ tâm sự khó nói của mình xong, mặt Tèo đỏ như gấc vì ngượng. Em dược sĩ nầy nghe như vậy, mắt chớp chớp, rồi sáng rực lên như hai cái đèn pha. “Anh chờ em một lát thôi để em vô trong, thảo luận vấn đề nầy với em gái của em đã!”

Khi trở lại, em dược sĩ thỏ thẻ với Tèo rằng: “Anh sẽ được làm chủ 1/3 hiệu thuốc nầy. Cấp cho anh một chiếc xe ‘xịn’ của công ty. Một tuần có 5 bữa ăn tối do chính tay em nấu. Và 5 ngàn đô tiền túi, cho anh xài vặt! Chịu hông?”

“Ngu sao mà hổng chịu!” Tèo nói.

Thưa quý độc giả thân mến! Nghe chuyện nầy, kể từ rày về sau nếu có ai chê, nói nước Úc mình không phải là ‘lucky country’ thì xin đừng có tin nha? Muốn biết ‘hên’ cỡ nào cứ hỏi Tèo Adelaide là biết rõ trắng đen liền hà! Đừng có nghe tin đồn thất thiệt.

Nghe Tèo Adelaide ‘đía’, người viết biết mình hên quá đã gặp được sư phụ rồi. Đi một đàng, gặp một sàng ‘xạo’!  Tèo kể chuyện có duyên hết biết, mặc dù mình cũng dóc tổ, hổng thua ai, nhưng bữa nhậu đó cũng phải kính cẩn cúi đầu; để Tèo chiếm đài phát thanh, muốn phát gì thì phát!

Cao hứng, Tèo Adelaide kể tiếp: Cũng giống như các nước khác trên thế giới, nước Úc nầy do Thượng Đế tạo ra trong 7 ngày. Ngày đầu tiên, Người chế ra môn bóng cà na, chế ra bãi biển, chế ra món thịt nướng, đêm thì Người chế ra món đi câu tôm, ngủ, thức dậy rồi nướng tôm ăn! Ngày thứ hai, Người chế ra môn trượt sóng và bơi lội. Ngày thứ ba, Người chế ra đất để trồng thuốc lá, chế ra beer, chế ra củi cho lò nướng thịt. Ngày thứ tư, Người chế ra trừu, bò, kangaroo để có thịt làm sườn nướng, làm xúc xích, làm bít tết. Ngày thứ năm, Người chế ra Tony Aussie, người Úc đầu tiên, để nó chơi bóng cà na, dạo bãi biển, uống bia và ăn thịt nướng. Ngày thứ sáu, Người thấy Tony chơi một mình, buồn lẻ loi… Người bèn chế ra thêm một lũ đông như ruồi để Tony có bạn mà chơi bóng cà na, trượt sóng, uống bia, tụ tập quanh lò nướng thịt mà tán dóc. Ngày thứ bảy, Người thấy Tony và lũ bạn nầy uống nhiều bia, ăn nhiều thịt, chơi nhiều quá, bộn bề, dơ dáy mà không ai dọn dẹp cả, nên Người chế ra một em tên Daisy Kiwi, làm vợ Tony…để ‘ẻn’ nấu cơm, rửa chén, quét nhà, bồng con và quan trọng nhứt là phải rửa sạch sẽ cái lò barbecue cho lần ăn nhậu tới!

chieu-giap-tet-o-adelaide-2Vâng! Thượng đế đã tạo ra nước Úc của tụi mình như thế đấy!

Thưa quý độc giả thân mến! Nghe Tèo Adelaide kể chuyện Tề Thiên; người viết vô cùng bội phục bèn chắp tay lại mà cảm thán như vầy: Tui ‘đía’ cũng có hạng trên chốn giang hồ nhưng thiệt tài hổng bằng huynh! Ôi trời sanh Du sao còn sanh Lượng?

Tèo chỉ khiêm cung, đáp lại rằng: Xin các hạ đừng quá lời khen, đừng cho Tèo là người trí tuệ, mới tán dóc thượng thừa đến thế! Chớ thực ra Tèo chỉ là một trong những người Úc bình thường mà thôi! Theo sách vở: chỉ số thông minh của một con người bình thường là từ 85 đến 114. Phải cần chỉ số thông minh là 60 mới biết cột dây giày và chính vì lý do đó mà có hằng hà sa số người Úc mang dép trong đó có Tèo đây! He he!

Thưa quý độc giả thân mến! Một năm rồi trôi qua, trên mặt báo nầy, người viết từ Melbourne, Úc Châu, đôi lần xuất hiện, ‘dà’… thưa hổng có ước vọng cao sang gì hết! Chỉ ước là bài viết của mình làm quý độc giả ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ là vui mừng vui quá vui rồi.

Trước thềm năm mới, xin kính chúc quý độc giả thân mến của bổn báo ‘An Khang Thịnh Vượng!’ Nhớ cho tiền ‘lì xì’ nhe! He he!

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11 May, 2023

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Trung tâm hành quân báo cho tôi hay Không Quân cũng không liên lạc được Lệ Minh nên họ cứ nhắm vào những vị trí có khói depart của pháo địch ở bên ngoài rào trại mà thả bom. Lúc này đồi Lệ Minh chìm trong màn khói của pháo địch, sân bay Plei Djereng và làng Plei Doch cũng chìm trong bụi đỏ và khói bom của ta. Khoảng gần 3 giờ chiều ngày 22 tháng 9 có một đoàn trực thăng chuyển viện binh nhắm hướng Lệ Minh. Người chỉ huy hợp đoàn này Trung tá Lương Văn Hơi. Ông Hơi thông báo cho tôi hay ông sẽ thả một đại đội xuống làm đầu cầu để tiếp nhận quân tiếp viện cho Lệ Minh.

Ông Hơi nói, nếu tôi liên lạc được với Ðại úy Quang hay Ðại úy Hội thì thông báo cho hai vị này biết để tránh ngộ nhận. Ðể tránh những lằn đạn phòng không của địch, tôi phải bay trong vùng cách xa phi trường Plei Djereng khoảng hai cây số. Quân tiếp viện được thả xuống một cánh đồng cỏ tranh cách đuôi phi đạo chừng hơn một cây số về hướng Ðông Nam. Chiếc trực thăng đổ quân cuối cùng vừa rời vùng thì khói bụi đã ngùn ngụt bốc lên từ bãi thả. Hàng trăm trái pháo của Việt-Cộng theo đuôi nhau dồn dập trải đều trên bề mặt ngọn đồi cỏ tranh.Tôi nghĩ bụng, chắc chắn địch đã dự trù các yếu tố tác xạ nhắm vào bãi đáp này từ trước, nên quân ta vừa có mặt đã bị địch tưới đạn lên đầu ngay.

Tôi chưa biết phải làm gì thì nghe ai đó hớt hải la làng trong máy,

– Ð.M! Bộ các cha muốn giết tụi tui hay sao mà thả tụi tui ngay trên trận địa pháo? Bây giờ tui phải làm gì đây hả các cha?

Chờ một phút, không thấy tiếng Trung tá Hơi, tôi vội cầm máy,

-Ai đó? Ðây là Thái Sơn! Nghe được thì trả lời!

Ðầu máy bên kia là một giọng nói Quảng-Nam ồm ồm,

– Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà! Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà!

Cẩm Hà là danh hiệu truyền tin của Ðại úy Trương Ðình Hà.

Trương Ðình Hà là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi, tôi đã đem anh Hà từ Liên Ðoàn 2 về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 đảm nhận chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 Trinh Sát để trám chỗ cho Trung úy Thuận vừa tử trận.

Trung Úy Vương Mộng Long 1969

Trương Ðình Hà là dân Quảng-Nam nên anh đã lấy địa danh một xã ngoại ô Hội An là Cẩm-Hà để làm danh hiệu truyền tin.

– Cẩm Hà! Thái Sơn nghe!

– Ð.M! Ông già Hơi thả tau xong thì bay đi mất. Chẳng có lệnh lạc con mẹ gì cả. Tau vừa đạp đất đã bị pháo phủ đầu, không ngóc cổ lên được. Mày mau mau tìm cách cứu tau với! Long ơi!

Cùng lúc này tôi thấy năm hay sáu chiếc xe tank địch xuất hiện, dàn hàng ngang trên sân bay, rồi liên tục đua nhau nã pháo vào sân trại.

Tôi lại nhìn thấy từ hướng Nam phi trường Plei Djereng đột nhiên xuất hiện sáu, bảy chiếc tank T54 vừa bắn, vừa lao về hướng bãi thả quân tiếp viện. Tôi liền ra lệnh cho Ðại úy Hà,

– Hướng 1600 ly giác! Chạy! Chạy tới khi nào qua hết một con suối sâu thì ngừng lại gọi tao!

Có thể nói, Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân là một đơn vị rất tinh nhuệ và thiện chiến của Biệt Ðộng Quân Vùng 2. Ðơn vị này có nguồn gốc từ Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, nhưng nằm ngoài bảng cấp số.

Cuối năm 1969, thi hành lệnh của Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng, tôi đã đứng ra thành lập Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.  Quân số của Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 đều được tăng phái từ các Tiểu Ðoàn 11, 22 và 23 trực thuộc liên đoàn.

Ít năm sau, đơn vị này được cải danh thành Ðại Ðội Trinh Sát Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 trực tiếp điều động. Dù là một đơn vị thiện chiến và tinh nhuệ, nhưng chắc chắn đại đội này không thể đánh nhau tay đôi với một đoàn chiến xa T54 trên đồng cỏ mênh mông, nên nghe được lệnh “Chém vè” của tôi, ông đại đội trưởng đã mừng rỡ la lên,

– Cám ơn mày! Hướng 1600 ly giác! Tau thi hành lệnh ngay!

Năm phút sau, tôi đánh một vòng tròn về hướng Nam, thì thấy những chiếc tank T54 đang trườn qua con thông thủy phía Ðông của phi trường, nhưng trên bãi thả quân không còn ai cả. Tôi thở ra, may quá! Lệnh rút quân của tôi đã kịp thời tránh cho cánh quân của Ðại úy Hà một tổn hại nặng nề trước mắt. Tình hình lúc này coi như tuyệt vọng. Ngọn đồi Lệ Minh chỉ là một cột khói đen ngùn ngụt.

Khoảng mười phút sau tôi phải rời vùng, về Pleiku đổ xăng. Lúc tôi quay trở lại cách Lệ Minh chừng hai cây số thì nghe trong tần số có tiếng Hoàng Nghĩa Hội,

– Thái Sơn đây Hoàng Hoa gọi!

– Thái Sơn nghe!

– Thái Sơn ơi! Chúng nó vào tới sân cờ rồi! Thằng Quang đã bị chúng nó trói dẫn đi. Hội bị thương nặng lắm! Hội đang nằm trong cái lô cốt gần cổng chính.

– Có cách nào chui ra đầu sân bay? Anh sẽ nhào xuống cứu chú!

– Ðừng! Ðừng liều mạng! Xe tank của tụi nó đang nằm sát hàng rào! Ðừng tới gần! Ðừng xuống!

Sau đó trong máy chỉ còn tiếng “È! È!” tôi không còn nghe Hội nói nữa. Tới 4 giờ 30 chiều ngày 22 tháng 9 năm 1973 thì tiền đồn Lệ Minh hoàn toàn thất thủ. Phi cơ của ta tiếp tục đánh bom trên vùng bán kính 5 cây số quanh Lệ Minh cho tới gần tối mới ngưng. Ðêm 22 tháng 9 tôi và Trung úy Lập thay phiên nhau bay trên Hỏa Long để liên lạc với Ðại úy Quang và Ðại úy Hội, nhưng không nghe tiếng ai trả lời. Cánh quân của Ðại úy Hà cũng im hơi, không biết đã phiêu bạt nơi nao?

Sáu giờ sáng ngày 23 tháng 9 đài tiếp vận của tôi đặt trên đỉnh Hàm Rồng nhận được tin của Ðại úy Trương Ðình Hà báo cáo rằng Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân đã về tới tiền đồn Plei Blang 3. Ðơn vị này có hai quân nhân mất tích, không có ai bị thương, vũ khí bảo toàn. Một tuần sau ngày đó có một anh binh nhì của Tiểu Ðoàn 80 trốn khỏi khu giam giữ tù binh của Việt-Cộng rồi về trình diện. Anh lính này khai rằng sau hai giờ pháo kích, Việt-Cộng đã xung phong vào chiếm cứ bộ chỉ huy và cắm cờ trên đỉnh cái lô cốt giữa sân.

Những quân nhân bị kẹt trong vòng rào trại đều bị địch bắt sống, kể cả hai ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó của Tiểu Ðoàn 80 cùng với ông sĩ quan trưởng toán Lôi Hổ của Chiến Ðoàn 2 Xung Kích. Trong số gần ba chục người bị thương thì tình trạng của Ðại úy Hội là nguy kịch nhất. Ðại úy Hoàng Nghĩa Hội đã chết khi đoàn tù bị áp giải qua sông Sa-Thầy. Anh lính này không biết Chuẩn úy Dao là ai.

Nghe tin Lệ Minh thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho các cơ quan và công sở trên toàn quốc phải treo cờ lửng để tang cho Lệ Minh. Tổng thống cũng lên đài truyền hình khắt khe lên án quân Cộng Sản trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris bằng hành động đánh chiếm Lệ Minh là một tiền đồn của Việt-Nam Cộng Hòa. Phái đoàn của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã can thiệp, nhưng phía Việt-Cộng nại cớ rằng không có địa danh nào tên là Lệ Minh trên bản đồ Pleiku.

Khi phe ta đưa hình ảnh và tọa độ trại Lệ Minh ra khiếu nại, thì phái đoàn Cộng-Sản nói đó là Chư Nghé của họ. Vùng này nằm sâu trong lãnh thổ Cộng-Sản kiểm soát vì nó ở xa Pleiku tới hơn 40 cây số. Tiền đồn xa nhất của ta thời bấy giờ là làng Plei Blang 3 cũng chỉ nằm cách Pleiku 7 cây số là cùng.

Cãi nhau nhùng nhằng qua lại chỉ phí lời, vì phe ta tuy tình ngay mà lý thì không vững, nên không thuyết phục được Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến. Có lẽ vì sự cãi chày, cãi cối của Việt-Cộng mà ít lâu sau những tên trại bằng danh từ Việt do Tướng Ngô Du đặt cho từ năm 1970 liền bị bỏ đi. Từ tháng 10 năm 1973, các trại biên phòng của Vùng 2 quay trở về với những địa danh cũ: Trại Ðức Phong lại là Dak Pek, trại Lệ Mỹ lại là Pleime, trại An Tân lại là Tiêu Atar, trại Trang Phục lại là Ban Don và trại Bạch Phong lại là Bu Prang.

Lực lượng Bạn và Địch trận Bu Prang (New) tháng 11 năm 1973

Trận Bu Prang 1973…

Năm 1967 Trại Bu Prang cũ được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng và trấn giữ. Trại này nằm trên ngọn đồi thấp và bằng phẳng cách làng Bu Prang một con suối. Nơi đây thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng-Ðức và chỉ cách biên giới Việt Miên vài cây số. Cuối năm 1969 Bu Prang cũ bị một sư đoàn Cộng Quân từ biên giới Cao-Miên tràn qua bao vây và tấn công. Tôi đã có mặt trong đoàn quân của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nhảy vào tiếp viện cho căn cứ này.

Ngày Giáng-Sinh năm 1969 sau khi hoàn tất nhiệm vụ giải vây cho Bu Prang, tôi đã có dịp đứng trước Camp Bu Prang để chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Ảnh này còn được lưu giữ tới hôm nay. Cuối năm 1970, căn cứ Bu Prang được di chuyển về làng Bù Bông nằm trên Quốc lộ 14 giữa Tuy Ðức và Kiến Ðức. Căn cứ mới có tên là Trại Bạch Phong. Sau đó lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu của trại Bạch Phong được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Mùa Hè năm 1972 Tiểu Ðoàn 89 trở thành đơn vị lưu động nên căn cứ Bạch Phong được giao cho Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức đồn trú. Tới đầu tháng 10 năm 1973 trại Bạch Phong đổi lại tên cũ là Bu Prang.

Ngày 4 tháng 11 năm 1973 Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Quân Khu 6 Cộng-Sản đã huy động Trung Ðoàn 205 Bộ Binh cùng Trung Ðoàn E 429 Ðặc Công và một đại đội xe tank T54 bất ngờ tấn công căn cứ này. Lực lượng trú phòng ở Bu Prang thời gian đó gồm có Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu Khánh-Hòa do Trung tá Võ Khâm chỉ huy cùng với một liên đoàn Ðịa Phương Quân. Sáng 5 tháng 11 năm 1973 Bu Prang thất thủ, Trung tá Võ Khâm mất tích. Trận Bu Prang 1973 diễn ra chưa đầy một ngày, kết quả là một tiền đồn của ta bị địch chiếm giữ, một chiến đoàn của ta bị đánh tan.

Tôi không thấy Tổng Thống lên đài kết tội Cộng-Sản, không có lệnh để tang Bu Prang. Tôi cũng không biết chuyện Việt-Cộng vi phạm đình chiến kỳ này có còn là đề tài để ta và địch tranh cãi phải nhờ Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến giải quyết hay không. Mất Bu Prang, giao thông giữa Ðức-Lập và Kiến-Ðức phải đi vòng theo Liên Tỉnh Lộ 8B vì đoạn Quốc Lộ 14 từ ngã ba Tuy-Ðức tới đồi Bù Row hướng Bắc đồn Kiến-Ðức đã nằm trong tay Cộng Quân. Tháng 12 năm 1973 địch mở thêm một trận đánh nữa nhắm vào Chi Khu Kiến-Ðức, tỉnh Quảng-Ðức nhưng không gây được tiếng vang.

o O o

Con đường từ Ia Drang tới Mang Yang…

Hai ngày sau Lễ Giáng-Sinh năm 1973 Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gọi tôi vào văn phòng rồi nói:

“Ông Toàn ra lệnh cho tui, bắt cậu vào Pleime thay cho thằng Lân gấp! Tui có nói với ổng rằng, chờ tui xin Trung Ương cho người thay cậu, rồi sẽ cho cậu đi.”

(Ông Toàn: là Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Thằng Lân: là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Trung Ương: là Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa)

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi thấy ngạc nhiên quá. Ở Vùng 2 này, ông Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 bổ nhậm ai làm liên đoàn trưởng còn chưa cần xin ý kiến của tư lệnh quân đoàn, huống hồ gì chuyện bổ nhậm tiểu đoàn trưởng? Thay thế một tiểu đoàn trưởng mà phải có chỉ thị của tư lệnh quân khu thì quả là chuyện khó tin.

Tôi nghĩ, chuyện này chắc có nguyên ủy cắc cớ gì đây, nên ông tư lệnh quân đoàn mới ra mặt, nhúng tay. Sau đó tôi bị gọi lên trình diện Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2. Bước qua cửa văn phòng, tôi vừa vào thế đứng nghiêm, chưa kịp giơ tay chào, thì ông Toàn đã lớn tiếng,

– Tau cho mi một tuần lễ chuẩn bị rồi vào giữ Pleime! Nghe rõ chưa?

Tôi gật đầu,

– Tôi nghe rõ!

– Vậy thì mi xuống gặp ông Tiếu để biết nhiệm vụ!

Tiếp đó ông Toàn giơ tay phẩy một cái về hướng cửa,

– Thôi! Khỏi chào! Ði đi! Cố gắng lên!

Từ lâu, đã quen cái cung cách ban lệnh và cư xử với cấp dưới của ông Tướng Vùng này rồi, nên tôi lẳng lặng xuống lầu mà không có ý kiến gì. Trước tấm bản đồ chi chít dấu ghi bằng bút chì màu, Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 vừa nhìn tôi vừa đưa ngón tay trỏ di động trên một đoạn đường vẽ bằng bút đỏ, vùng Tây Nam Pleiku,

– Chắc chú rành vùng này hơn anh. Chú đã biết con lộ vừa được khai thông của Việt-Cộng? Ông Toàn muốn chú vào trong đó rồi tùy nghi hành động. Làm cách nào vô hiệu hóa được con đường này thì làm.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 4 May, 2023

Post by Sơn râu 27 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Là một sĩ quan cấp nhỏ, nhưng vì có cái tật bao sân, bao đồng, nên tôi lo lắng băn khoăn, không biết tương lai của Cao Nguyên sẽ ra sao. Tôi thấy, chỉ vài tháng sau Ngày Ðình Chiến 27 Tháng 1 Năm 1973 do Hiệp Ðịnh Paris được ký kết, trên lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã bắt đầu có những vụ chạm súng nhỏ do lấn đất giành dân.Rồi địch mỗi ngày mỗi đông hơn, mạnh hơn, chiến tranh từ từ leo thang trở lại. Trong các cuộc giao chiến, quân số và hỏa lực yểm trợ của địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Cứ mười đánh một, trận nào địch cũng chiếm thế thượng phong. Một đơn vị cấp tiểu đoàn của ta bị tan tành chỉ sau vài tiếng đồng hồ giao tranh không còn là chuyện hy hữu nữa. Vì lý do đó, chuyện mất tiền đồn đã xảy ra hàng tháng, hàng tuần. Tôi là người đã tận mắt chứng kiến những trận đánh bất cân bằng lực lượng ở Cao Nguyên diễn ra như thế nào, và tôi cũng là người đã từng chiến đấu trong tình trạng một chống mười như thế nào. Chiến tranh qua lâu rồi, giờ đây nhìn lại, bỏ chút thời giờ nghiên cứu và phân tách tình hình, chúng ta sẽ nhận ra ngay lý do vì sao an ninh Cao Nguyên thời gian đó lại suy sụp như vậy.

Chỉ vì, sau đình chiến, viện trợ bị cắt giảm, yểm trợ của Không Lực Ðồng-Minh cũng chấm dứt, do đó, quân ta hoàn toàn ngưng các cuộc hành quân tấn công quy mô tốn kém. Các đại đơn vị thì bị chia nhỏ để phòng thủ thành phố, quận lỵ, hay chốt giữ trục lộ, cầu đường. Quân ta tối ngày cứ phải lo chuyện tiếp tế lương thực, đạn dược, xăng dầu. Trong khi đó thì địch cứ thảnh thơi dưỡng quân, tự do canh tác hoa màu. Ðường tiếp vận của địch không còn bị oanh tạc, đánh phá, nên lương thực, đạn dược thừa mứa khỏi lo. Thêm vào đó, Việt-Cộng còn được Liên-Xô và Trung-Cộng tranh nhau viện trợ để giành ảnh hưởng, nên ta có yếu thế hơn địch cũng là lẽ đương nhiên. Vì không phải phòng thủ, không phải chia quân giữ đất, nên địch có thể tập trung tối đa lực lượng mỗi khi cần. Ðịch ở vào thế hoàn toàn chủ động nên những khi quyết định khai triển một chiến dịch, chúng đều cho trinh sát điều nghiên mục tiêu thật kỹ càng, rồi mới tổ chức lực lượng, phân nhiệm.

Ðợi khi các đơn vị tham chiến đã thực tập thật nhuần nhuyễn, chúng mới định ngày ra quân; ra quân là chắc thắng. Trong hai năm 1973-1974, trước ngày xảy ra cuộc rút lui tự sát của Quân Ðoàn II trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 thì trên chiến trường Cao Nguyên chỉ có duy nhất một lần Việt-Cộng bị thua, đó là trận Pleime 33 ngày đêm diễn ra từ cuối tháng 7 tới đầu tháng 9 năm 1974. Trước Pleime 1974, không có trận nào quân ta trụ được quá một ngày. Nhưng trên thực tế, dù là trận chiến nửa ngày hay trận chiến một ngày thì những trận chiến này cũng là một phần của lịch sử chiến tranh Việt-Nam.

o O o

Trận Lệ Minh 1973…

Lệ Minh là một Căn Cứ Biên Phòng nằm cách thành phố Pleiku hơn 40 cây số về hướng chính Tây. Tên nguyên thủy của căn cứ này là Camp Plei Djereng. Thời kỳ còn sự hiện diện của Quân Ðội Ðồng-Minh thì Camp Plei Djereng được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng lên và giao cho một đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu trấn giữ. Năm 1970, đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu này được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng; Camp Plei Djereng cũng đổi tên thành Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh. Cuối năm 1970 tôi đã từng vào căn cứ này giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biên Phòng, nhưng vì lý do riêng, tôi đã sớm rời khỏi nơi đây. Người kế nhiệm tôi là Ðại úy Khánh.

Sau khi tôi ra đi ít lâu, ông Khánh đã chết trong một vụ pháo kích. Tiếp đó, một vài vị sĩ quan theo chân nhau nhận nhiệm vụ chỉ huy Lệ Minh. Người ở lâu nhất là Thiếu tá Nguyễn Công Thông, với thời gian trên, dưới một năm. Ít lâu sau Hòa Ðàm Paris 1973, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 giao quyền chỉ huy Tiểu Ðoàn 80 và Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh cho Ðại úy Lê Văn Chương, khóa 19 Võ Bị. Thời gian Lệ Minh nằm dưới quyền của Ðại úy Chương thì quân ta và quân địch không hề có cuộc giao tranh nào xảy ra.

Cơ quan An-Ninh Quân-Ðội của ta được mật báo rằng, sở dĩ tình hình vùng này yên tĩnh là vì hai bên có hiệp ước bất tương xâm, Việt-Cộng sẽ không bắn phá hay pháo kích vào căn cứ, nếu chúng không bị đánh trước. Ðáp lại, nếu ta vi phạm tấn công trước thì ta sẽ bị địch đáp trả gấp 10 lần. Do tin tức này mà một phái đoàn thanh tra đã được gửi vào Lệ Minh để tìm hiểu sự tình.

Biết tin sẽ có thanh tra, Ðại úy Chương đã nhiều lần báo cho Ðại tá Tất biết rằng tình hình Lệ Minh rất nguy hiểm. Nếu phái đoàn bất chấp khuyến cáo của ông Chương thì ông ta sẽ không chịu trách nhiệm đối với những bất trắc sẽ xảy ra. Theo chương trình vạch sẵn, một ngày tháng 8 năm 1973 phái đoàn thanh tra của Quân Ðoàn II có mặt tại sân trực thăng Biệt Ðộng Quân. Trung tá Lương Văn Hơi, sĩ quan phụ tá của chỉ huy trưởng sẽ là người hướng dẫn đoàn thanh tra này. Sáng hôm đó Trung tá Hơi bị bệnh bất ngờ, tôi được lệnh bay theo phái đoàn thay thế ông Hơi.  Khi trực thăng sắp cất cánh tôi lại được lệnh lên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đi bay thám sát vùng Tây Nam Pleime cùng ông sĩ quan chỉ huy Biệt Ðội Tác Chiến Ðiện Tử của Quân Ðoàn II, do đó Trung úy Lập, Sĩ quan Không Trợ Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 sẽ thay thế tôi đi bay.

Ngay giờ phút chiếc trực thăng chở phái đoàn thanh tra quân đoàn hạ cánh trên sân bay Lệ Minh thì hai khẩu đại bác 105 ly Biên Phòng đồng loạt khai hỏa cho bốn viên đạn bay vào trong núi. Vì không có ai đón tiếp nên các vị thanh tra đành tụ họp trước cổng trại Lê Minh để đợi chờ. Nào ngờ, bị 105 ly của quân ta pháo kích, Việt-Cộng bèn đáp lại bằng cối 120 ly. Từ hướng Tây, bốn khẩu cối của địch cứ nhẩn nha gởi đạn đi. Trong thời gian năm phút đồng hồ, 40 viên đạn 120 ly đã nối đuôi nhau xé gió rớt trên căn cứ và trên sân bay. Ðịch quân đã giữ đúng giao ước là bị bắn 1 viên, sẽ đáp trả đúng 10 viên! Kết quả vụ đọ súng hôm đó đã khiến cho vài vị sĩ quan thanh tra quân đoàn đền nợ nước, vài vị khác bị thương, anh Trung úy Lập thoát chết vì kịp thời nhảy xuống núp dưới cái mương thoát nước. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi thấy số tôi và số ông Trung tá Lương Văn Hơi quả là rất may mắn! Ngày hôm sau Ðại úy Lê Văn Chương bị triệu hồi về Pleiku để nhận cái giấy phạt 40 Trọng Cấm cùng tờ sự vụ lệnh lên đường xuôi Nam đáo nhậm đơn vị mới.

Tôi hỏi anh Chương rằng cấp trên đã nại lý do gì để phạt anh, thì anh cho tôi hay, trên giấy phạt ghi chú là: “Tắc trách trong công tác bảo vệ an ninh cho phái đoàn thanh tra.” Ðại úy Chương cũng than phiền với tôi và vài bạn khác rằng anh ấy bị phạt oan, sở dĩ anh cho bắn bốn phát đại bác vào núi là để chào mừng phái đoàn thanh tra, chứ không phải để khiêu khích Việt-Cộng. Tôi nghĩ rằng không ai tin lời anh Chương cả.

Sau khi vào Nam, anh Lê Văn Chương được giao cho giữ chức vụ Trưởng ban 3 Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân, và tiếp tục ở vị trí này với cái lon đại úy cho tới ngày chiến tranh chấm dứt. Người thay thế Ðại úy Lê Văn Chương để chỉ huy Lệ Minh là Ðại úy Nguyễn Ngọc Quang, biệt danh là “Quang Con”. Ông đại úy này xuất thân khóa 15 Thủ-Ðức.

Một tuần lễ trước ngày Lê Minh bị tấn công, tôi đã gặp Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II và được Trung tá Tiếu cho hay rằng, theo tin A2 thì trong tương lai gần, địch sẽ tấn công Lệ Minh. Lực lượng địch tham chiến sẽ gồm Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A và một trung đoàn pháo hỗn hợp. Thêm vào đó còn có sự trợ lực của một đơn vị xe tank và Tiểu Ðoàn 631 Pháo của Tỉnh Ðội Gia-Lai Việt-Cộng.

Ông Tiếu dặn dò tôi phải khuyến cáo ông tiểu đoàn trưởng hãy lưu tâm chuẩn bị hầm hào để chống lại một cuộc tấn kích của Tiểu Ðoàn 631 Pháo. Tuyệt nhiên tôi không được hé răng nhắc tới tên Trung Ðoàn E48 và các đơn vị yểm trợ khác của Việt-Cộng như Tiểu Ðoàn D14 súng cối và Tiểu Ðoàn D16 xe tank trang bị súng cao xạ. Sở dĩ có chuyện che giấu này chỉ vì Trung tá Trịnh Tiếu e ngại rằng, nếu biết địch quá đông, quá mạnh, ông tiểu đoàn trưởng sẽ mất tinh thần không dám chiến đấu, sẽ dẫn quân bỏ đồn mà chạy trước khi có tiếp viện.

Thời gian này có một đại úy từ trong Nam thuyên chuyển ra. Ðây là một sĩ quan đàn em của tôi, anh ta tên là Hoàng Nghĩa Hội, dân Bắc Di Cư 1954, tốt nghiệp khóa 21 Võ Bị. Năm 1964 tôi là người huấn luyện anh Hội những ngày đầu quân ngũ. Tôi có ý giới thiệu Hội về Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân giữ chức Tiểu đoàn phó cho Ðại úy Nguyễn Lạn khóa 20 Võ Bị, nhưng Hội lại muốn vào Lệ Minh làm phó cho ông Quang Con vì Hội và Quang là bạn thân ở trong Nam. Dịp này tôi nhận được một chuẩn úy vừa thụ huấn xong lớp Tình Báo Cây Mai. Ông chuẩn úy này tên là Dao, cũng là dân Bắc Di Cư nhưng tuổi còn rất trẻ. Tiểu Ðoàn 80 hiện thời không có sĩ quan Quân Báo nên Chuẩn úy Dao được chỉ định bổ sung làm sĩ quan Ban 2 cho đơn vị này. Ngày 19 tháng 9 tôi đã đích thân đưa Ðại úy Hội và Chuẩn úy Dao vào Lệ Minh.

Vì đã được lệnh giấu kín tin tức địch và tình hình nguy kịch mà Lệ Minh sẽ hứng chịu trong tương lai, nên tôi chỉ còn cách trao cho hai ông Hội và Dao tần số riêng của tôi với lời dặn dò:

“Danh hiệu của tôi là Thái Sơn, nếu có gì thì gọi tôi trên số nhà này.”

Trước khi nhảy xuống phi đạo Lệ Minh, chú Hội bóp chặt bàn tay tôi,

– Danh hiệu của Hội là Hoàng Hoa. Niên trưởng nhớ đấy nhé!

Thế rồi, chuyện gì phải đến, đã đến… địch tấn công Lệ Minh.

Trưa 22 tháng 9 năm 1973 sĩ quan trực Trung Tâm Hành Quân hớt hải tìm gặp tôi,

– Thái Sơn vào máy, có ông phó của Lệ Minh xin gặp.

Tôi xuống hầm cầm ống nghe, qua máy 74, chúng tôi có thể nói chuyện bằng bạch văn,

– Hoàng Hoa có gì thì nói đi! Thái Sơn nghe!

Ðầu máy bên kia, tiếng của Hoàng Nghĩa Hội rất nhỏ, có vẻ như chú ấy đang lo lắng lắm,

– Niên trưởng ơi! Tôi mới nghe tụi lính nói rằng, từ ngày niên trưởng Chương về làm tiểu đoàn trưởng ở đây thì Biệt Ðộng Quân và Việt Cộng vẫn tắm chung một con suối nhưng không bắn nhau. Hôm nay tụi Việt Cộng không xuống suối tắm mà lại bảo mấy thằng lính của mình mau chạy về đồn, chui xuống hầm mà trốn, sắp đánh nhau rồi!

– Ông Quang đâu? Ông Quang có phản ứng ra sao?

– Quang đang cho báo động.

Rời trung tâm hành quân, tôi lên văn phòng chỉ huy trưởng, gặp Ðại tá Tất. Nghe tôi kể chuyện Ðại úy Hội vừa báo cáo, Ðại tá Tất nói,

– Cậu lấy C&C lên vùng, tui sẽ nói chuyện với ông Toàn xin yểm trợ và tăng viện.

Chỉ mười phút sau tôi và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba đã có mặt trên sân trực thăng.

Ðúng 1 giờ 30 trưa, máy bay của tôi cất cánh.

Trời trong xanh, mây quang nên còn cách Lệ Minh cả chục cây số tôi đã thấy những cột khói đen, khói trắng cao ngút bốc lên từ căn cứ này. Lệ Minh đang bị địch pháo kích! Tôi vào tần số gọi Lệ Minh nhưng chỉ nghe được tiếng trái phá, tiếng lựu đạn và tiếng súng tay nổ giòn, người đầu máy bên kia nói gì tôi không nghe rõ. Cứ nhìn những tia lửa cầu vồng theo đuôi nhau bay vào ngọn đồi chỉ huy của Lệ Minh tôi đã thấy hoa cả mắt. Tôi và Hạ sĩ Ba, trưởng toán viễn thám thay nhau gọi hết hơi mà không nghe được tiếng người dưới đất trả lời. Tôi bay vòng vòng hướng Ðông của Lệ Minh một thời gian chừng nửa tiếng đồng hồ thì thấy máy bay trinh sát của ta xuất hiện.