Đêm Thánh Nữ Lucy

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Những bến cảng lớn ở Âu Châu tổ chức hội quán rất chu đáo và phương tiện di chuyển cho thủy thủ hoàn toàn miễn phí, chỉ cần điện thoại hẹn, thường thì xe tới rước rất đúng giờ. Không hiểu sao hôm nay chúng tôi đứng chờ hơn một tiếng đồng hồ giữa cơn mưa tuyết và trong cái lạnh dưới độ không mà hội quán vẫn chưa cho xe tới. Gọi điện hỏi thì được nhân viên trực cho biết vì hôm nay tàu vô bến nhiều, thủy thủ đổ bộ đông, xe hội quán bận rộn đưa rước nên tới trễ, họ nói sẽ cố gắn tới nhanh và gởi lời xin lỗi. Nhân viên người ta đã cho biết như vậy rồi mà tên thuyền phó đứng hổng yên một chỗ, cứ đi tới đi lui và miệng chửi thề liên tục. Khi xe tới, cả đám vội vàng ùa lên xe, tuy trong xe có máy sưởi nhưng người nào cũng kêu lạnh và cũng cái tên thuyền phó cà chớn, vừa bước lên xe chưa ngồi yên trên ghế hắn liền cằn nhằn anh tài xế tại sao để hắn đứng ngoài trời lâu quá. Anh tài xế từ tốn giải thích:

– Xin lỗi, hôm nay rất đông người nên chúng tôi phải chia nhau phục vụ…

Anh tài xế là người Thuỵ Điển vừa xin lỗi vừa chịu khó giải thích, nếu chuyện này xảy ra ở mấy nước còn lạc hậu, kể cả nước Nga của hắn, ăn nói xấc xượt kiểu đó thì thế nào cũng bị tống cổ ra khỏi xe đứng giữa trời tuyết dưới không độ cho lạnh teo cu và hoá thành người đá. Tôi với sugilar và Ayardy, người In Đô, ngồi im ở băng sau, không biết hai đứa cảm thấy như thế nào, riêng tôi thì hổng thấy khó chịu gì hết, ngược lại tôi rất ngưỡng mộ nhân cách của anh tài xế và cám ơn anh thiệt nhiều.

 Mới hơn sáu giờ chiều mà trời đất Thuỵ Điển như đã về đêm. Xe chạy trên đường vừa ướt vừa trơn, từ bến cảng lên tới hội quán người ta treo dọc hai bên đường những biểu tượng được kết bằng nhiều bóng đèn nhỏ li ti thành hình con thỏ, con nai và ngôi sao… Mỗi khi trở lại Thuỵ Điển, nhứt là nhằm mùa Giáng Sinh, tôi rất thích thú nhìn hoa đèn không màu mè nhưng rất linh động, tuy đất trời lạnh lắm, nhưng trong lòng ấm áp và sự yên ả của xứ sở này cho tôi cảm giác bình an. Xe chạy lên dốc của một ngọn đồi và ghé vô bãi đậu cạnh rừng thông, chỉ có loài thông trong mùa đông vẫn còn xanh lá. Vừa mở cửa xe mọi người ùa nhau chạy vô hội quán trên một đồi thấp. Đúng như anh tài xế nói, hội quán đêm nay chật cứng người. Trong phòng khách mỗi bàn thắp một cây đèn cầy lớn cắm nên dĩa có trưng bày bông tuyết, làm cho căn phòng ấm áp và không gian mờ mờ ảo ảo trông lãng mạn tuyệt vời.

Viên thuyền phó, phụ máy và Jurre đi thẳng vô phòng vi tính.Tôi và hai đứa In Đô đi lại tủ lạnh lấy bia và đem qua quày mua bịt da heo chiêng dòn, Sugilar đạo Hồi không ăn thit heo, tôi mua cho nó gói đậu phộng. Trong lúc tính tiền, tôi thấy một cô gái bận nguyên bộ đồ trắng giống như trang phục cô dâu bưng khay bánh và cà phê đi mời từng bàn. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày:

– Bộ hôn nay có lễ cưới hả?

Cô gái lắc đầu nhè nhẹ:

– Không…không hôm nay là ngày thánh nữ Lucy.

– Ồ!

Tôi khoa tay một vòng và day qua nói với hai đứa In Đô:

– Tụi mình vô trong kia, hôm nay ở đây có nhiều thứ miễn phí.

Chúng tôi cười, cô gái cũng cười và gật đầu nói:

– Dĩ nhiên.

Tính tiền xong chúng tôi bưng bia vô trong tìm chỗ ngồi. Hôm nay là ngày mười ba tháng mười hai, là ngày ngắn nhứt trong năm ở Thụy Điển, nói chung là từ bắc Đức qua tới vùng Scandiavia, nhiều nơi tổ chức lễ  kỷ niệm thánh nữ Lucia, còn gọi là ngày St. Lucy. Luice là người đầu tiên đã chết vì đạo và dược giáo chủ Syracuse phong thánh tại La Mã trong thời đại hoàng đế Diocletian.  Lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia bắt nguồn từ những câu chuyện kể của một nhà truyền giáo đầu tiên đem  đạo Thiên Chúa vào vương quốc Thuy Điển. Tương truyền Lucia là một cô gái trẻ và rất đẹp, cô tình nguyện làm cô dâu trung thành của chúa Kitô, vì không muốn cho bất cứ người đàn ông nào đeo đuổi theo cái vẻ đẹp sắc nước hương trời nên cô tự móc đôi mắt của mình bỏ vào cái chén. Cô cũng là người đã mang thực phẩm cướu giúp các tín đồ Kitô lẩn trốn trong các hầm mộ dưới lòng thành phố La Mã, vì trong hầm mộ tăm tối, cô phải đội vương niệm gắn đèn cầy cho có ánh sáng để hai tay rảnh ran bưng đồ ăn phân phát cho những người này, Lucy cũng có nghĩa là ánh sáng chiếu soi giữa lúc tối tăm.

 Dựa theo truyền thuyết trên, ngày lễ kỷ niệm thánh nữ Lucia được được tổ chức với một cô gái trang phục màu trắng, thắt ngang vòng eo của mình một đay đỏ và trên đầu đội vương miện có kết năm cây đèn cầy. Nhiều năm về trước, thánh nữ hoá trang đội đèn cầy sáp có khi bị cháy đầu hoặc bị sáp nhiểu làm phỏng mặt. Để thánh nữ được  an toàn, ngày nay hoá trang người ta dùng đèn cầy giả và xài pin.

 Chúng tôi ngồi với nhau vừa nhâm nhi bia vừa thưởng thức đêm của Lucia. Một lát sau Ayardi hỏi tôi. Ở Việt Nam có Giáng Sinh không chú.

– Có.

– Tổ chức lớn hông chú?

– Lớn lắm, tao nghĩ, chưa có nước nào mừng Chúa giáng sinh lớn như ở nước Việt Nam.

– Thiệt hả chú?

Ayardi cười cho là tôi nói giỡn và tôi cũng nửa giỡn nửa thiệt:

– Ở nước tao ngày Giáng Sinh người ta ăn uống và tặng quà nhau như núi.

– Chú có đạo không?

– Đạo hả?

Nghe thằng nhỏ hỏi tôi giựt mình, lâu lắm rồi mới có người hỏi tôi về chuyện tín ngưỡng. Ở nước tôi chùa chiền lô nhô, áo vàng đầu trọc lóc nhóc loi nhoi và tượng Phật, tượng nào tượng nấy cao ngất trời mây, Phật ông thì hùng dũng, Phật bà thì đẹp như các cô người mẫu chưn dài, tới đâu cũng thấy ăn chay và nghe niệm Phật om xòn trời đất nhưng hổng thấy Phật đâu hết. Còn Giáng Sinh lễ lạc cho những đại gia nhiều tiền lắm của, ăn chơi xả láng, họ mua quà tặng nhau lên đến hàng tỉ đồng và có những nơi giả làm ông già Nô-en đi rảo ngoài đường để moi tiền bá tánh. Tôi bưng bia lên hớp một cái cạn phần bia trong lon, tôi mới phát hiện ra, ngộ thật, cũng là thủy thủ và cũng là những con người từ bốn phương,  nhưng sao họ tới hội quán bên xứ khác thì ồn ào náo nhiệt như khu chợ trời và ngột ngạt khói thuốc. Còn tới đây lại yên ắng nhỏ nhẹ, trên cả trăm con người ta chen chút trong căn phòng rộng vừa phải mà chỉ nghe tiếng thì thào hoà theo tiếng nhạc nho nhỏ phát ra từ những chiếc loa gắn đâu đó trên trần nhà và người nào ghiền thuốc thì tự động bận áo lạnh đi ra ngoài sân hút, nhờ vậy mà trong hội quán đông người nhưng rất thoáng khí. Đêm nay trong phòng hội quán không xài đèn điện, ngoại trừ chỗ tính tiền và những nơi trưng bày đồ đạc. Đương sống trong sự yên bình, tự dưng đem ba cái chuyện đạo ra nói làm tôi ái náy và cảm thấy không gian trong suốt như bị vẩn đục và thoáng chút nặng nề. Để Ayardi khỏi tiếp tục nói chuyện đạo, sẵn lon bia không trên tay, tôi đưa lên bóp nhẹ một cái và nói:

 – Mày lấy thêm bia đi, đạo bia cũng tốt, tao theo đạo này.

 Ayardi cười ha hả rồi đứng lên định đi lấy thêm bia,  chợt viên thuyền phó bưng một mâm bia lách những chiếc bàn đông người đi tới, Jurre và phụ máy cũng tới kéo ghế lại ngồi chung. Thuyền phó khui bia ra mời mỗi người một lon và Ayardi cầm lon bia ngồi lại chỗ củ. Mọi người vui vẻ hô lên câu chúc lành và ngước cổ nốc một hơi. Khi để bia xuống, thuyền phó phàn nàn:

– Bia ở đây có ba độ rưỡi mà bán mắc quá.

Tôi để lon bia xuống cười một cái, nói:

– Ông nghĩ sao, tôi đưa bàn tay ra lần ngón kể, đưa rước,  Internet, trà, cà phê, bánh ngọt, hồ bơi, tắm hơi tất cả miễm phí.  Nữa lít bia chỉ có hai euro rưỡi mà ông lại chê mắc à. Ông biết hội quán bên St. Petersburg một ly bia giá bao nhiêu không?

Thuyền phó cười sằn sặc và đưa ngón tay cái ra gặt gặt:

– Ồ, mắc lắm… ông nói đúng ha ha…

Chúng tôi vui vẻ ngồi tán dóc với nhau cho tới khi nhân viên hội quán tới báo giờ đóng cửa. Vì đông người nên nhân viên sắp xếp cho tài xế chia nhau chở. Tàu chúng tôi đậu hơi xa nên phải đi trước giờ hội quán đóng cửa mười lăm phút.

 Xe chạy xuống đồi, xuyên qua màn mưa tuyết ta thấy những dãi nhà đóng kín và đường vắng bóng người, đừng tưởng rằng dân Thụy Điển đã ngủ. Trái lại trong những căn phòng sạch bụi, có lò sưởi ấm áp họ sinh hoạt rất linh động, vui vẻ và rất  gần gũi nhau.  Có lần cũng vào mùa đông tôi tới chơi cùng gia đình người bạn Thụy Điển, thưởng thức món cà phê truyền thống và miếng bánh quế thơm, sau đó cùng anh ra những quán nước trong một con hẻm nhỏ lát đá lâu đời uống bia, khu phố cũ kỷ nhưng không tồi tàn, những cô gái và những chàng trai lịch sự bình dị và sống rất văn minh… Chuyện qua lâu lắm rồi nhưng mỗi khi tản bộ hoặc ngồi trên xe ngang qua những khu nhà giữa mùa đông tuyết trắng nó hiện về trong trí tôi mơ mơ màng màng… Sống trong cảnh thiệt mà giống y như là truyện cổ tích vậy.

 Dronten 21 12 2015

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chúa tể rừng Pơ mu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Yên Bái thuộc vùng trung du, nằm dọc đôi bờ sông Hồng, và miền núi phía Tây Bắc Bộ, cách Hà Nội 180 km, từng là nơi quần cư của người Việt cổ gồm có các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Mông…

Yên Bái còn đi vào lịch sử với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học (1902-1930).

Chuyện rằng ông đi thi bằng thành chung (Diplome), đề thi là “Sự nghiệp của Jules Ferry”.

Nguyễn Thái Học viết trả lời vỏn vẹn có một câu: “Người Việt Nam không hề biết tên người này!”

Là một con người nồng nàn yêu nước, sau nhiều lần gởi thơ cho bọn thực dân Pháp yêu cầu cải cách để người dân Việt bớt lầm than mà không được đáp ứng, Nguyễn Thái Học chỉ còn con đường duy nhứt là là vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, để thành lập một nước Việt Nam độc lập với thể chế cộng hòa.

Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10, tháng Hai, năm 1930.

Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp, làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái trong gần hai ngày.

Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, ngày 20, tháng Hai, năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt, Chí Linh, Hải Dương.

Ngày 17, tháng Sáu, năm 1930, Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính, cùng 11 đảng viên VNQDĐ lên đoạn đầu đài tại Yên Bái

“Chết vì tổ quốc, Cái chết vinh quang, Lòng ta sung sướng, Trí ta nhẹ nhàng!”

“Việt Nam muôn năm”

Pháp đã chôn 13 người yêu nước, bỏ mình vì Tổ quốc Việt Nam, trong cùng một ngôi mộ tập thể tại thị xã Yên Bái, cách ga xe lửa độ một cây số.

Hôm sau, ngày 18, tháng Sáu, năm 1930, Cô Giang, người yêu của Nguyễn Thái Học đã tự sát bằng súng ở gốc cây đề làng Thổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên nay là tỉnh Vĩnh Phúc.

“Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, này Lâm Thao, này Yên Bái, này Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!

Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy, mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói…”

Máu của những người yêu nước đã rưới xuống đất nầy cho rừng Pơ Mu thơm mãi tới ngàn sau!

***

Yên Bái có rừng cây Pơ mu, còn gọi là đinh hương, tô hạp hương… Gỗ Pơ mu có một mùi thơm đặc biệt mà không loại gỗ nào có được. Chỉ cần để một miếng gỗ Pơ mu thì trong nhà lúc nào cũng có mùi thơm thoang thoảng rất dễ chịu, điều hòa không khí trong nhà và giúp tâm thần các ‘quan lớn’ luôn ổn định! .

Gỗ Pơ mu từ rừng già nguyên sinh nên chất gỗ rất đanh và cứng, thớ gỗ nhỏ và mịn, rất dai và dẻo, có vân đẹp, nhẹ và bền, không bị mối mọt, trừ được muỗi và côn trùng, dùng để làm sàn nhà, đóng giường tủ không bao giờ bị công vênh, nứt nẻ. Có rất nhiều ngôi nhà làm bằng gỗ Pơ mu có tuổi thọ lên tới 200 – 300 năm hiện vẫn còn nguyên vẹn.

Do gỗ quý vì có tinh dầu có giá trị cao nên cây Pơ mu hiện bị khai thác đến cạn kiệt nên hiện nay chỉ còn gặp rải rác ở một số nơi xa dân hoặc trên đỉnh và sườn núi hiểm trở! Loại cây này sinh trưởng chậm nên số lượng giảm đi nhanh chóng.

Gỗ Pơ mu còn được dùng để đóng quan tài. Và lần nầy cho 3 quan chức cấp cao tỉnh Yên Bái.

Lúc 7 giờ 45 phút, sáng ngày 18, tháng Tám, năm 2016, Chi cục trưởng Kiểm lâm Yên Bái rút súng lục K-59 bắn chết Bí thư Tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy (ngay ngày sinh nhựt của ông nầy tại phòng làm việc).

Nhưng có một chi tiết lý thú là: Trong cái két sắt củaTrưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái, có tới 100.000 đô la Mỹ và 1,5 tỷ đồng cùng một số nhẫn vàng. Đây được nói là “số tiền cá nhân, tích cóp nhiều năm nay” của vợ chồng ấy.

Sau đó, tay Chi cục trưởng Kiểm Lâm bất mãn vì bị lột lon xuống làm Phó đã tự sát với một viên đạn xuyên qua đầu.

Tay Chi cục trưởng Kiểm lâm nầy, vợ cũng làm quan, là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Yên Bái, là con rể nguyên Bí thư tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn.

Cuộc tàn sát này là do mâu thuẫn quyền lực và chia chác quyền lợi! Chứ không phải tự nhiên người ta lại điên rồ gì mà lại đi giết nhau như vậy? Của bỏ lại ai ăn? Uổng!

Thay vì làm đơn tố cáo hay triệt hạ nhau bằng những thủ đoạn chính trị như trước đây. Giờ thì giải quyết ân oán giang hồ với nhau theo kiểu xã hội đen bằng súng! Không còn tình ‘đồng chí’ gì hết ráo he?

Theo VOA tiếng Việt, có 95% ý kiến trên mạng xã hội là từ bàng quan cho đến hả hê nên bị truyền thông nhà nước chỉ trích là ‘vô lương’ vì đã ‘hả hê’ trước cái chết của các quan chức (?!)

***.

‘Thố tử hồ cũng chẳng bi’; vì người chết thì đã chết! Đứa còn sống kế tiếp lên thay. Nhưng cuộc đấu đá tranh giành chức, giành quyền để kiếm tiền ở Yên Bái vẫn chưa kết thúc.

Lần nầy, thay vì dùng súng như lần trước thì dùng báo chí để chơi nhau. Mục tiêu là hai quan lớn khác.

Một là: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, em ruột của bà Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, có xây dựng một biệt phủ trên một khu đất rộng bao la, tới 13 ngàn m2 ngay trong thành phố.

Quan chối leo lẻo hè: “Đấy không phải nhà tôi; mà của vợ tôi! Tôi làm gì có nhiều đất như vậy?”

Dân cả nước, chớ không riêng gì Yên Bái, nhào vô xỏ xiên:

“Chị gái Bí thư, em trai Giám đốc Sở. Gia đình toàn người giỏi. Quá ngưỡng mộ!” He he!

“Quá quy mô, quá hoành tráng, ngôi biệt phủ như thế mới xứng đáng với tầm vóc với Giám đốc Sở chứ!”

“Cơ ngơi này không phải của ổng đâu, mà là đồng tiền “mồ hôi nước mắt ” của vợ con ông ấy tạo ra đó, mọi người đừng có hiểu lầm nhé!”

Rồi còn bày đặt ‘ngây thơ cụ’ hỏi một câu nghe lãng xẹt hè:

“Không biết ông ấy lấy đâu ra lắm tiền mà xây dựng hoành tráng như vậy?…”

Hai là Trùm Công an tỉnh Yên Bái cũng có một xây một biệt phủ nguy nga đồ sộ không kém!

Tòa nhà đang được sơn màu trắng toát trên quả đồi có diện tích khá rộng, vây xung quanh là những hàng cây xanh lâu năm, có tường bao bọc. Bên trong khu đất là cây cảnh, đá quý, đèn điện cao áp rất đẹp mắt và sang trọng, nằm bệ vệ trên đỉnh đồi, giữa núi rừng bạt ngàn, bao la khiến người dân nghèo miền núi ai cũng phải trầm trồ khen ngợi.

Con đường thảm nhựa dẫn lên khu dinh thự được canh gác nghiêm ngặt! Một tay đầu gấu, nét mặt bặm trợn ra chặn đường, xua đuổi quát:

“Đây là nhà của tao, mày lên đây làm gì?” Làm đám phóng viên phải chạy lịch bịch như con vịt ra khỏi công trình.

Rồi bà con cũng nhào vô ‘bình loạn’ vui như Tết tới…“Quan Yên Bái giàu quá! Nhưng tài sản là do bố mẹ và anh chị em của ông ấy đấy. Ông ấy… liêm chính lắm đó!”

Dân ngu khu đen không có tới một phân vàng lận lưng mà cũng bày đặt tài khôn chỉ vẽ: “Tại sao có tiền không mua vàng, đô la cất mà khoe mẽ hoành tráng cho bị sờ gáy không biết nữa?! Như vị lần trước cất 100 ngàn đô có sao đâu?”

Thôi ngây thơ gì? Cái nầy là của nổi. Ai cũng biết của chìm là gấp mấy chục lần của nổi. Nhứt phá sơn lâm mà. Phá rừng là giàu nứt vách hè. Nhứt là rừng toàn gỗ quý Pơ mu!

Và Yên Bái chỉ là 1 trong 63 tỉnh thành trong cả nước mà thôi…

Dĩ nhiên chọc tới ổ kiến lửa là bị kiến lửa cắn rồi hè. Ỷ y có mấy anh chống lưng coi chừng bị gãy lưng bất tử.

Trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam và “tang vật”

Tay trưởng ban Bạn Đọc báo điện tử Giáo dục Việt Nam đang đi vài bài về hai cái biệt phủ… lại ỷ y không chịu thủ!

Nên tại nhà hàng Oanh, nhận 50 triệu của doanh nghiệp thì bị Công an TP Yên Bái ập vào bắt quả tang, lập biên bản và tạm giữ ông 4 tháng để điều tra hành vi lợi dụng hoạt động báo chí để chiếm đoạt tài sản.

“Thôi rồi Lượm ơi! Nó ‘lượm’ ông rồi!”

Còn may là tay Tổng biên tập báo điện tử Giáo dục Việt Nam, không bỏ đệ tử chạy một mình, đứng mũi chịu sào dùm:

“Loạt bài nầy có đầy đủ luận cứ về hai cái biệt phủ! Thế nên dù có nhiều người đến gặp và điện thoại đề nghị gỡ những bài viết này và dừng các hoạt động điều tra. Tuy nhiên, báo không đồng ý và tiếp tục làm, báo sẽ không gỡ bài.”

Người trực tiếp điều tra, viết bài rất nhiều vụ việc về Bí thư và có vụ việc liên quan đến Giám đốc Công an tỉnh mà Công an tỉnh lại trực tiếp bắt giữ, điều tra? Đề nghị chính Bộ Công an điều tra nhằm đảm bảo khách quan. Ai sai đến đâu sẽ phải chịu đến đấy, báo cũng không dung túng bao che!

Chắc rằng tờ báo nầy cũng có ”piston” bự mới dám nắm đuôi “Chúa tể rừng Pơ mu” chớ đâu phải tại hơi ngu? Phải có tay cộm cán nào trong Thường vụ Tỉnh ủy cho tư liệu, cho tiền mới có mà viết chớ!

Xưa giờ viết là phải nghe lời chỉ đạo chớ không nghe lời chỉ đại, xúi dại. Chống tiêu cực cỡ Xã Xệ, Lý Toét thì vô tư! Nhưng chống tùm lum tà la, theo phe nầy chơi lại phe kia là coi chừng… bể nồi cơm!

Hơn 20 năm về trước, nhà báo Trần Quang Thành, rất hăng hái chống tham nhũng, tiêu cực, Hậu quả là: ông, rồi con ông bị mất việc. Ngày mùng 4, tháng Bảy, năm 1991, ông nhà báo nầy bị tạt acid, mất cả môi và mũi, một mắt bị mù và một mắt thị lực còn 1/10, mất tới 81% sức khỏe. Đành phải sang Slovakia mà đoàn tụ gia đình.

Bài học là: Chống tiêu cực một là nguy hiểm, hai là mất thu nhập. Thôi thì đi các địa phương, doanh nghiệp, viết bài ca ngợi, nhậu nhẹt, gái gú tưng bừng còn có phong bao đem về cho bu nó vui!

Còn kết bè kết đảng, chơi nhau dưới chiêu bài chống tiêu cực tới cấp tỉnh là uống thuốc liều, được ăn cả; ngã vô tù…

Ông dám chơi là ông dám chịu! Hỏng có lan can gì tới nhân dân tụi tui hết ráo nhe! Vì đứa nầy không ăn thì cũng đứa khác cũng ăn vậy thôi!

Nhân dân cũng trơ mõ hè!

Chồng người áo gấm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Suốt gần cả năm nay Donald Trump luôn luôn chiếm hàng tít đầu của báo chí trên toàn thế giới. Nhưng có lẽ nói nhiều quá cũng nhàm.

Báo chí sợ ế, bèn kiếm cái tuồng khác, vui, lạ, hay hơn để câu khách…

Lần nầy diễn viên là Ivanka Trump, ái nữ của đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump.

***

Nói nào ngay, vào ngày mùng 4, tháng Mười Một, năm 2015, khi mới đắc cử Thủ tướng thứ 23 của Canada, Justin Trudeau đã nổi tiếng toàn thế giới nhờ vẻ trẻ trung, điển trai và lịch lãm như một tài tử phim Hollywood với chiều cao lý tưởng 1mét 88.

Justin Trudeau năm nay 45 tuổi. (Ðâu có già chát, già khú đế như Donald Trump, 70 tuổi) tức còn rất trẻ, lại tài cao mới ngồi được trên đầu trên cổ hơn 35 triệu người Canada đó chớ!

Ðẹp trai, nói dai (chánh trị gia mà), con nhà giàu, học giỏi; lại vốn dòng quyền quý nên không ngạc nhiên chút nào là chàng có vợ hơi sơm sớm, năm 2005! Và có con cũng hơi nhiều nhiều tới 3 đứa. Giàu thì muốn đẻ bao nhiêu hổng được. Ðông vui đâu sợ hao?!

Chớ tiêu chuẩn Tây thường thấy là sản xuất ra hai đứa thôi… là nghỉ!

Mấy chú em Việt Nam mình cũng ‘cọp dê’ y vậy! Nên con vợ ‘sòn sòn’ mới 2 đứa là mấy chú hoảng kinh kêu tốp tốp! (Tại anh đó… chớ em nào muốn đâu!)

Ðẻ nhiều, tiền ‘child care’, tức tiền gởi nhà trẻ không cũng mạt!)

Thủ tướng Justin Trudeau và Ivanka Trump

Ivanka Trump, 35 tuổi, chân dài tới nách, vì em cao tới 1 mét 80. (Tui đứng giỏi lắm chỉ đứng tới nách của em là cùng) tiểu thư nhà giàu, học giỏi!

Báo chí Mỹ muốn em là ‘Ðệ nhứt Phu nhân’, (The First Lady), của Mỹ hơn là dì ghẻ của em là Melania Trump, cũng đẹp, vì là người mẫu, nhưng tiếng Anh lại không ‘siêu’ lắm?!

Ðẹp gái, con nhà giàu học giỏi thì dễ gì phòng không chiếc bóng! Một chàng Mỹ gốc Do Thái, ắt hẳn là giàu sụ rồi, Jared Kushner, nhanh nhẩu rước em về dinh để nâng khăn sửa túi! Ðền đáp lại, chàng cho nàng nằm ba lửa! Tám năm tình ta… chui ra ba đứa!

***

Hôm thứ Hai, ngày 13 tháng Hai, Thủ tướng Canada, Justin Trudeau, đến Bạch Cung, thủ đô Washington, D.C  Hoa Kỳ  để gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tại đây anh hùng hội ngộ thuyền quyên! (Vì vợ anh đang bận ở nhà trông con và chồng em bận ở nhà cũng trông con, nên không tới… Dịp may ngàn năm có một nhe!)

Nên mấy nhà báo mới có cớ đồn rùm lên chuyện tình ‘Robinet và Toilette’ (Roméo và Juliet) vui như Tết Congo tới!

Trước và trong khi họp, ái nữ nhà họ Trump tỏ vẻ mừng rỡ, dành cho nhà lãnh đạo Canada một cái nhìn đầy ngưỡng mộ.

(Cả hai nói chuyện đẩy đưa rồi đưa đẩy. Chàng đẩy qua, nàng đẩy lại như hai đứa chơi đánh đu kiểu bà Hồ Xuân Hương vậy mà!)

Ivanka Trump dường như bị sét ‘quánh’ giữa trời quang, lang thang hồn phách, đôi mắt biếc lơ mơ, chỉ sơ sơ tập trung vào cuộc thảo luận, mà mắt chỉ về… Thủ tướng Canada!

Báo chí lá cải dám nói: Ivanka’s ‘thirsty’, (nghĩa đen là khát nước nhưng trong ngữ cảnh mình dịch đại là ‘rạo rực’… Trao cho chàng cái ánh mắt bằng vàng ròng 24 cara  (Tây gọi là ‘golden look’, còn nhà thơ của mình gọi là cái nhìn đắm đuối!)

Thiệt là đoán mò! Làm như đi guốc trong bụng của người ta hổng bằng!

Nhìn vậy thì bộ có tình ý với nhau sao cha nội? Bộ đàn bà cười mỉm chi ‘rồ man tít’ (romantic) như vậy hổng được hay sao?

Công nương Kate và Thủ tướng Justin Trudeau

Ðàn ông làm chánh trị, Tổng thống Mỹ Barack Obama hổng những cười ‘mỉm chi cọp’ mà  còn chụp hình chung với mỹ nhân Rania, Hoàng hậu xứ Jordan… làm Ðệ nhứt Phu nhân Michelle Obama mặt quạu đeo như vừa bị ai giật bóp…

Thiệt là mấy tay nhà báo nầy cứ khư khư giữ cái đầu óc kỳ thị giới tính hoài hè!

Rồi cũng theo mấy nhà báo xạo, đưa tin vịt là: Không chỉ mình Ivanka bị Justin Trudeau ‘bỏ bùa’mà nhiều em khác cũng bị ‘thôi miên’!

Trong chuyến theo chồng công du tới Canada vào Tháng Chín, năm 2016,  Công nương Kate của nước Anh có vẻ cũng e thẹn hơn, nhu mì hơn, vén tóc làm duyên khi đối diện với Thủ tướng Justin Trudeau khi ông chồng, Hoàng tử William, đầu hơi ít tóc một chút, chớ không bùm sùm, quăn tít như ảnh, đang đứng chần vần ra đó.

Dẫu em đã kết hôn với Hoàng tử nhưng khi mặt nhìn tận mặt  với Thủ tướng Canada nhà ta là em cũng e lệ, ngất ngây như uống phải một chung rượu men tình!

Thấy màn một, màn hai coi bộ bà con vỗ tay quá, nhằm kiếm thêm chút cháo, nhà báo hát tiếp màn ba!

Tuồng nầy với lời giới thiệu ‘tùng tùng xèn’ là: Ðêm ăn tối lãng mạn giữa hai người!… Ðầu tiên với Ivanka Trump, ái nữ của tân Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, giờ thì tới phiên Thủ tướng Ðức, Angela Merkel, cũng bị hớp hồn?!

Angela Merkel đã gây kinh ngạc cho anh chàng trẻ tuổi, tài cao của đất nước hoa phong đỏ nầy bằng cách trao tặng một tấm hình chụp lúc Justin chỉ mới lên 10 tuổi, tháp tùng thân phụ mình là Pierre Trudeau, Thủ tướng Canada gặp Thủ tướng Ðức Helmut Kohl vào ngày 12 tháng Mười Một năm 1982.

Sau đó, Thủ tướng Ðức Angela Merkel mời Thủ tướng Canada, Justin Trudeau đi ăn tối  dưới ánh nến lung linh mờ ảo tại khách sạn Regent, thủ đô Berlin vào tối 16 tháng Hai.

Mà theo lối sống của Phương Tây, ‘Date night’  chỉ dành cho hai người đang yêu nhau tha thiết hay đang có tình ý với nhau hò hẹn mời nhau đi ăn tối như vậy.

Một người hài hước, đùa cợt là: “Không ai có thể thoát khỏi sức hút nam châm của  Justin Trudeau?!” Già không bỏ nhỏ không tha! (Khen nhau như thế bằng mười ‘xỏ’ nhau!).

Sự thực là ảnh chụp cho thấy tới 4 người trong ánh nến lung linh (nhưng nhà báo nói láo ăn tiền nầy cho 2 người còn lại hô biến).

Gán ghép bà Merkel, năm nay đã 62 tuổi rồi, đang đi giữa mùa mãn dục, mà cặp đôi với một chàng chỉ mới 45 cái xuân xanh, đáng tuổi con mình thì thiệt là chuyện gán ghép khiên cưỡng, ruồi bu kiến đậu!

Ngu sao mà tui lại tin nhà báo chớ? Viết lách nên giữ gìn ý tứ một chút, đừng phá gia cang người ta kẻo mang tội! Vì lỡ bà Thủ tướng Canada nổi máu Hoạn thư thì tội nghiệp cho ‘thần tượng’ của ‘em vợ’ tui.

Mấy chú em mình thì lại có mòi ganh tị với Justin Trudeau, nên thầm ước trong lòng để con vợ thằng chả cho ‘giả’ chết!

Mặt khác cầu khẩn với ông Tơ bà Nguyệt cho mình kiếm được một em yêu lúc nào cũng nhìn mình rạo rực, đắm đuối, cháy bỏng như Ivanka nhìn Justin Trudeau vậy!

Còn đứa có vợ rồi thì báo động đỏ ở mức cao nhứt là:

“Justin Trudeau tới rồi anh em ơi! Hãy lẹ lẹ giấu vợ, giấu con gái của mình, giấu con bồ nhí, giấu luôn cả thú cưng là chó lẫn mèo vì coi chừng ‘giả’ chôm mất đó nhe!”

Nghe rung cây nhát khỉ như thế, tui cũng ra kế hoạch phòng thủ từ xa:

Lúc nào Justin Trudeau đến công du nước Úc, trước sau gì cũng tới mà, tui sẽ dắt em yêu của tui đi giấu trước.

Nhưng em yêu của tui cười nắc nẻ, thề một câu nghe ăn tiền (tui) hết sức: “Chồng em áo rách em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”

Chớ không bao giờ có cái vụ: “Chồng người áo gấm em thương chồng người” đâu mà anh lo!

Vì em thường tâm niệm rằng: “Chưa chồng dòm dọc, liếc ngang. Có chồng em chẳng liếc ngang thằng nào!”

Dẫu cho rằng: “Chồng em tuy nách hơi hôi/ Nhưng vì em ngửi mãi rồi nên quen!”

Nghe xong tui lấy làm khoái chí trước tình em, bèn “Móc thuốc ra đốt liên miên! Hút xong vài điếu (tui) cười hiền vì phê!”

Phê xong, tui thầm nghĩ: “Em yêu của tui tự tin thấy mà ớn nhe! Làm như còn trẻ, còn đẹp lắm như Ivanka, như Kate vậy!”

Mà quên rằng bà Angela Merkel, 62 tuổi, nếu có lỡ gặp em yêu của tui, còn phải kêu bằng bà… Ở đó mà mơ mộng viển vông! Ðúng là ‘đồ Yamaha’! Tức ‘già mà ham’! He he!

Một đời binh nghiệp hai màu mũ

Trương Út (Khoá 22/TVB/QGVN)

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Buổi xế chiều ngày 15 tháng 10 năm 1970 là một buổi chiều chia ly ngậm ngùi với những lời giã từ không thành lời. Bầu trời Nha Trang quang đãng, với sóng biển hiền hòa hết đợt này đến đợt khác, tiếp tục xô vào bờ cát trắng chảy dài từ biệt điện đến Xóm Bóng. Cơn gió nhẹ từ biển khơi phây phất lá cờ VNCH trước sân trại Hải Quân Tây Kết, phía sau là trại Hoàng Diệu, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù – Lực Lượng Đặc Biệt – QL/VNCH.

Chiếc Dương Vận Hạm 505 (thường gọi là tàu há mồm) rúc lên ba hồi còi luì dần ra biển khơi, trên bãi vẫn còn lố nhố người. Trên đường Duy Tân vẫn còn một dọc xe Jeep, Dodge, GMC, và không biết có bao nhiêu bàn tay vẫn còn vây vẩy tiễn đưa.

Trên tàu là ĐĐ 5/TĐ81 BCD và ĐĐ 6/TĐ81 BCD cùng với gia đình cha mẹ vợ con của binh sĩ. Xin giả từ Nha Trang. Xin giã từ quán cơm bình dân Chợ Đầm, Bar số 1, 2, 3, 4, 5, phở Chụt, phở Gà số 1, quán cơm Thanh Phong, nhà hàng Nautique, Hotel Nha Trang, Cafe Thu, quán rượu, Bar Mỹ, Tháp Bà, Hòn Chồng, Cầu Đá. Xin vẫy tay lần cuối Thiếu Tá Nguyễn-văn-Lân (K/17Đà Lạt) Tiểu Ðoàn Phó, người đã lót những viên gạch đầu đời binh nghiệp cho tôi, Đại Úy Bùi-Ngọc-Bích (Khoá11/TĐ) Chỉ Huy Hậu Cứ, người đã tận tình giúp đỡ chăm sóc vợ con tôi, khi Tôi hành quân. Xin vẫy tay lần cuối với tất cả quân nhân của Tiểu Đoàn 81BCD, những người còn ở lại, đang đứng trên bờ cát trắng Nha Trang mang vô vàn kỹ niệm thời chinh chiến. Xin giã từ, không phải giả biệt, vì sau này chúng ta còn hội ngộ trên những chiến trường khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh cận đại. An Lộc, Kontum, Quảng Trị, Thường Đức.

Mới sáng nay, trên sân cờ tiểu đoàn, khi tôi (Đại Ðội Trưởng /ĐĐ5), Đại Úy Nguyễn-Chí-Thanh (K/12TĐ, ĐĐT/ĐĐ6) trao trả Hiệu Kỳ đơn vị cho Thiếu Tá Trần-Phương-Quế (K/10 Đà Lạt TĐT), tôi thoáng thấy nét buồn buồn trên gương mặt và đôi mắt của ông. Nét buồn buồn đó phảng phất một nỗi niềm của một người Cha hay một người Mẹ đang mất hai đứa con trong sáu đứa con mà Ông đã nuôi dưỡng dạy dỗ với tất cả tâm huyết trộn lẫn nước mắt của chính ông, Ông trao lại hai hiệu kỳ cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn-văn-Phú. Ban quân nhạc Bộ Tư Lệnh trổi lên khúc nhạc “ò e rô be đánh đu, tạc zăng nhảy dù …”, tất cả đơn vị trên sân cờ như rơi vào những giây phút lắng đọng nghẹn ngào không thành tiếng. Có giây phút chia ly nào mà không ngậm ngùi? Ngậm ngùi như tiếng kêu thất thanh của con chim Đa Đa sao không lấy chồng gần mà phải đi lấy chồng xa, để lại cha mẹ già biết bao giờ gặp lại.

Trên con tàu há mồm gần 800 nhân mạng, gồm Sĩ quan, Hạ Sĩ quan, binh sĩ và gia đình của hai Đại Ðội 5 và Ðại Ðội 6 của đơn vị 81BCD đang xuôi Nam

Như thường lệ hằng năm, cứ vào khoảng tháng 11 các phái đoàn Quân Binh Chủng của QLVNCH lên truờng Võ B ị QG Ðà Lạt đê thuyết trình về cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự, phương tiện và kỹ thuật hành quân tác chiến cho các SVSQ sắp s ửa tốt nghiệp. Cũng giống như tâm trạng các bạn cùng khóa, tôi chỉ ngồi trong Hội Trường mà đầu óc cứ nghĩ vẫn nghĩ vơ cái gì đâu đó:

– Muốn “Trong lang miếu ra tài lương đống ” thì chọn Công Binh, Quân Nhu, Quân Cảnh, Quân cụ…

– Muốn“Biên thùy rạch mũi can tương ” thì chọn Nhảy Dù, TQLC, BĐQ, Lực Lượng Ðặc Biệt, các Sư Đoàn BB tinh nhuệ…

– Muốn “Hối tàng nơi bồng tất ” thì chọn An Ninh QĐ, Đơn Vị 101, Cảnh Sát Đặc Biệt, Biệt phái ngoại ngạch…

Sao có nhiều cái “muốn” quá vậy?. Một SVSQ Đà Lạt khi nhập trường cho đến khi tốt nghiệp đều “ÔM” một giấc mộng như nhau:

“Làm sao bách thế lưu phương

“Trước là Sĩ sau là Khanh Tướng “

Cho nên khi tốt nghiệp cũng cùng một quan niệm như nhau: “Hoặc xanh cỏ hoặc đỏ ngực“. Chẳng có ai nghĩ rằng cũng chẳng xanh cỏ, cũng chẳng đỏ ngực, mà phút chốc có một ngày nào đó không xa mà rất gần, trở thành què cụt đui mù để trở thành kẻ báo cô cho gia đình và thân nhân. Và cũng chẳng có ai nghĩ rằng, cơn đại họa của Mệnh Nước Vận Nhà đổ ập xuống như cơn thác lũ, phải vất kiếm cung, cởi bỏ chiến bào cùng nhau lũ lượt rũ nhau vào tù, để sống những tháng năm dài bất tận thìên thu trong nỗi uất nghẹn của kẻ bại trận. Và cũng chẳng có ai nghĩ rằng, bỗng một buổi sáng hay một buổi chiều, mình phải lìa bỏ quê cha đất tổ, lìa bỏ cả cha mẹ vợ con gia đình để bắt đầu sống một cuộc sống lưu vong ê chề tủi nhục của một kẻ tha phương cầu thực.

Vào cuối tháng 11 năm 1967. Phái đoàn Lực lượng Ðặc Biệt đến thuyết trình. Cơ cấu tổ chức và nhân sự, sao mà quá nhiêu khê không giống như Nhảy Dù, BĐQ , TQLC , Sư đoàn Bộ Binh v.v. và v..v…Cái gì đâu là A Team, B, C, CIDG, MIKE Force, Delta, 91 Biệt Cách Dù…Xem một đoạn phim chiếu lại trận Pleime đẫm máu thấy toàn hình ảnh các chiến sĩ anh dũng Yra , Yđê , Ysàriêng, Thạch Khương, Thạch Phịch gì đâu không hà .

Nói thì nói vậy, chứ tôi đã mê cái binh chủng này từ lâu rồi.

Khi còn ở Trung Học, tôi nói dối Ba tôi cho tiền mua quyển sách đề thi Toán của giáo sư Nguyễn-văn-Phú và Đàm-Quang-Hưng, để đi xem ba xuất ci-nê cuốn phim ” Les canon des Navaron “.

 Trong phim mô tả lại cuộc xâm nhập của một toán Ranger của Liên Đoàn II Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ (tài tử Geogry Peck đóng vai Thiếu Tá trưởng toán, nhằm phá hủy những cỗ đại pháo cực kỳ tối tân của quân Đức Quốc Xã (Gun Battery) tại Point Du Hoc, chỉ cách nơi đổ bộ trên bờ biển Normandie một cây số bên trong đất liền. Nếu nhiệm vụ của toán này thất bại thì không có một chiếc tàu đổ bộ nào của quân đội Đồng Minh đặt chân lên bãi Omahavà Utah Beach.

   Trung tuần tháng 12 năm 1967, trước ngày chúng tôi mãn khoá 2 tuần lễ, phái đoàn thứ hai của Bộ Tư Lệnh, LLĐB đến trường để chọn tân Thiếu Úy. Chỉ có 27 SVSQ Khoá /22 tham dự, lần lượt tôi cũng được gọi tên phỏng vấn. Đại Úy Bác Sĩ Trần-văn-Út là người trưởng phái đoàn

-Chào Bác Sĩ

-Ngồi xuống đi. Tên Anh là Trương-văn-Út hả?

-Dạ vâng!

-Tại sao anh thích Lực Lượng Đặc Biệt?

-Dạ, tôi không biết.

-Tại sao cha Anh họ Trần mà anh là họ Trương?

-Da, tôi cũng không biết nữa!

Câu hỏi lãng xẹt khiến tôi gần nỗi dóa, định đứng dậy chào rồi đi ra.

Nhưng:

 Bác Sĩ nhìn Em Bác Sĩ cười

Em nhìn Bác Sĩ mộng hoa tươi

Sau này màu Mũ lá xanh đó

Bốn phương tám hướng mặc tung hoành

Ông Thượng Sĩ phòng Tổng Quản Trị đọc tuyên ngôn:

 – Kính quí vị, ai có tên trong danh sách này xin ngồi lại, không có tên xin trở về doanh trại. Cám Ơn

Chỉ có tám (8) người còn ngồi lại, trong đó có tên tôi. Cũng dễ hiểu thôi, vì danh sách này đã có trước từ BTL, truớc khi phái đoàn (select team) đến trường. Anh cột chèo chú bác ruột của tôi là Bác Sĩ Ngô-vi-Dương đang kiêm Y Sĩ Trưởng Bộ Tư Lệnh, LLĐB. 

Tám Tân Thiếu Úy Khoá 22 Võ Bị Ðà Lạt trình diện Phòng Tổng Quản Trị BTL/LLĐB ở Nha Trang, sau 15 ngày nghỉ phép.

– Trần-văn-Ni vác hành trang trình diện BTL/SĐ1BB…vì an ninh lý lịch

– Xường, Chân, Xinh… trình diện BCH C4

– Út, Chẩn, Tiễn… trình diện BCH/TĐ 91 Biệt Cách Dù

– Đặng-văn-Lợi… trình diện Bộ Chỉ Huy TĐ MikeForce

 Ở Nha Trang chỉ còn lại tôi, Chẩn, Tiễn và Lợi hưởng được những ngày cuối năm của Tết Mậu Thân. Tiếng pháo giao thừa trộn lẫn tiếng AK, B40, Beta. Tôi bị thương, nằm bệnh xá Bộ Tư Lệnh ba ngày, đơn vị của Chẩn và Lợi được ném xuống Khe Xanh. Họ không bao giờ trở về với bông mai vàng vẫn còn óng ánh trên vai áo trận giặt ủi hồ thẳng nếp. Có cái đơn vị nào kỳ cục bằng đơn vị này. Thiếu Úy “sữa” vừa ra trường, vừa trình diện Đại Ðội thì có lệnh đi Gác Hòm cho vị ĐĐT của mình (Đại Úy Nghi ĐĐT/ĐĐ3 ) vừa tử trận ở Kontum trước Tết chỉ hai tuần lễ , bây giờ phải đi gác hòm cho cố Trung Tá Lê-Như-Tú (TĐT/TĐ91 BCD) vừa ngã gục trong đêm Giao thừa Tết Mậu Thân trên phố Độc Lập, Nha Trang, với những giòng nước mắt tưởng nhớ hai người bạn cùng Khoá, chỉ cách đây một tuần ngồi uống bia với những con ốc buơu luộc chấm nước mắm gừng ở quán số 5 ven bờ biển.

Số mệnh an bài nghiệt ngã chưa chịu dừng lại ở đây. Hai tháng sau, trên mặt trận Cây Quéo, Cây Thị trong đợt tổng công kích đợt hai, tôi ôm xác Huỳnh Kim Tiễn mà không có thủ cấp. Một trái không giật đã lấy đi gương mặt hiền hòa cùng bộ não thông minh của người bạn cùng khoá còn lại của tôi, cùng TĐ 91 BCD. Tiễn chết không nhắm mắt, bởi còn mắt đâu mà nhắm, nhưng nụ cười hiền hoà như vẫn còn vương đọng trong tôi như một lời nhắn nhủ “Tao đã đền xong nợ nước thù nhà “.

Thời gian trôi qua như một giấc mơ. Chỉ hơn hai năm tôi phục vụ TĐ 91/ BCD (sau này đổi thành TĐ81 BCD vì xui quá chết như rạ) mà đã trải qua sáu (6) vị ĐĐT: Trần-Hoạt-Thành, Nguyễn-đăng-Lâu, Huỳnh-văn-Thanh, Ngô-Tùng-Lam, Nguyễn-văn-Lân, Phạm-Châu-Tài.

Một binh chủng như thế, một đơn vị như thế có xứng đáng để người đời ca tụng:

“Kinh Luân Khởi Tâm Thượng, Binh Giáp Tàng Hung Trung “…..

* *

*

Ngồi trên mũi boong tầu Dương vận hạm 505. Tầu đang xuôi Nam, điểm đến là quân cảng Bạch Đằng. Ngày mai sẽ ra sao? Nào ai biết ra sao?! Bên cạnh tôi là Đại Úy Nguyễn-chí-Thanh (ĐĐT/ ĐĐ 6/TĐ 81 BCND) Trung Úy Hồng-Quang-Bảo (ĐĐP), Trung Úy Nguyễn-văn-Thinh (ĐĐP) của tôi. Bên dưới lòng tàu lô nhô nam phụ lão ấu chen chút nhau với rương hòm, valy, túi xách, lẫn lộn với ba-lô nón sắt súng đạn cùng hai chiếc xe Jeep của hai Đại Ðội.Trong lòng mỗi người, chắc hẳn đều có một suy tư riêng và cũng chắc rằng chẳng có suy tư nào giống suy tư nào. Những quân nhân và gia đình sinh quán ở Nha Trang mang một nỗi buồn mênh mang xa xứ. Những người gốc gác Sài Gòn, Gia Định, miền Đông, miền Tây tự an ủi mình: thôi gần gia đình sẽ có dịp thăm viếng nhiều hơn. Chắc có lẽ, không có ai trong số người đang nằm đang ngồi, hoặc đi tới đi lui dưới lòng tàu kia nghĩ rằng: “Ngày mai hay ngày mốt còn nhìn thấy chiếc mũ Green Beret ngạo nghễ trên vầng trán của mình hay không??? “.  Một binh chủng đi đông về ít, đi ít về không… hoặc đi luôn không thèm về nữa “.

Ngày xưa trước khi Kinh Kha sang sông Dịch, còn được Thái Tử Đan khoản đãi yến tiệc linh đình với cung tần mỹ nữ. Ngày nay chúng tôi sang sông Dịch không kèn không trống, chỉ có chút ít thời gian ôm vợ con hôn từ giã với câu hỏi: 

– Mẹ con mày còn đủ gạo ăn tháng này hay không?

 Hòm gỗ cài hoa đã có Tiểu đoàn Chung Sự lo toan. Còn khăn sô áo tang xe lăn, nạng gỗ, không biết mẹ mày liệu có lo toan được hay không?

Tôi quay sang hỏi Thanh:

– Anh đang nghĩ gì vậy?

Trước khi về TĐ 81 BCD, anh là Trung Úy, Tóan Trưởng Biệt Hải, xâm nhập bờ biển Hải Phòng năm 1966 bằng tàu đánh cá cải trang của Hải Quân QLVNCH. Toán bị ” bể “, được cứu thoát khi cánh tay phải của Anh lặt lìa, cũng may nhờ Quân Y của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ chắp vá cho nên cánh tay phải vẫn hoạt đông bình thường..

Vẫn cái giọng nói, cái giọng cười khàn đục của Anh, với cánh tay thương tật vung vẫy:

-Mẹ! Từ Biệt Hải, tự ái không thèm giải ngũ, lại về Biệt Cách, bây giờ về Trinh Sát Dù. Thôi cũng được, chứ đưa tao về Biệt Ly là tao Biệt Kinh Kỳ ngay.

Trung Úy Thinh hỏi:

-Biệt Ly là cái gì vậy Đại Úy?

-Là ĐĐT Chung Sự Nghĩa Trang Biên Hòa chứ còn con mẹ gì nữa.

Thanh thò tay móc bi đông mở nắp, hớp vài hớp, đưa sang cho tôi. Tôi cũng làm một hớp. Trời đất “Ông già đi bộ ” (Jonhny Walker). Tôi giao bi- đông cho Hồng-Quang-Bảo, rồi cho Thinh.

Bảo tư lự chẳng nói năng gì, nhìn bâng quơ vào khoảng trời xanh vô tận. Chắc anh đang nghĩ đến giòng họ nhà Hồng Quang của Anh đang ở Đài Loan cùng với gia đình nhà họ Tống. Thinh nắm lấy tay tôi:

-Trung Úy! Có Tôi bên cạnh đây!

Rồi thời gian cũng qua mau như là một giấc mơ…

– ĐĐ5/81BCD…cải danh là ĐĐ2 Trinh Sát ND

– ĐĐ6/81BCD…cải danh là ĐĐ3 Trinh Sát ND

Mang cái tên Trinh Sát ND nhưng thịt xương máu huyết là 81 Biệt Cách Dù

Trận Lam Sơn 719 Hạ Lào (1971). Thân xác của Đại Úy Nguyễn-chí-Thanh đã được gởi trọn ở một vùng đất xa lạ nào đó, không phải quê cha đất tổ của Anh. Anh không bị thuyên chuyển về Biệt Ly mà lần này là Biệt Xứ, Biệt Hải, Biệt Cách, Biệt Ly.

   Biệt Xứ hay Biệt Biệt gì chăng nữa cũng là Vĩnh Biệt. Hồng Quang Bảo cũng theo anh. Thân xác dù được đồng đội gói ghém nhiều lần trong poncho rách tả tơi, mà vợ con gia đình không nhìn mặt được lần cuối. Có lẽ giờ đây thân xác các anh đã hòa tan vào những vùng đất phì nhiêu màu mở của núi đồi phía Tây Khe Sanh, Lao Bảo, trên dãy Trường Sơn trùng điệp ngút ngàn Hạ Lào xa lạ.

Charlie – Mùa Hè Đỏ Lửa – (1972). Mặt trận Tây Nguyên, Liên Đoàn 81 BCD, triệt xuất vùng Tam Biên, ĐĐ2 Trinh Sát ND (tiền thân của ĐĐ5-BCD) xâm nhập để đương đầu với SĐ Thép 320 của CS Bắc Việt, cùng với trọng pháo 130 ly, hỏa tiễn 122, xe tăng T-54. Nguyễn-văn-Thinh lúc ấy là ĐĐT/ĐĐ 111 của TĐ 11 ND (Song Kiếm Trấn Ải).

Khi Cộng quân tràn ngập Charlie, Thinh như một Rambo. Giầy saut, quần trận, áo thun ba lỗ, đầu chít khăn Viễn thám, ngực quấn đầy dây đạn, hai tay với khẩu M-60 quạt trái, quạt phải, đứng sừng sững trên giao thông hào, miệng không ngớt:

-ĐM chúng mày lên đây… lên đây!

Rồi thân xác của Thinh cũng rả rời từng mãnh vụn bởi hằng trăm nhát mã tấu thù hận của quân khát máu. Sau này tôi có dịp trở lại Nha Trang. Người mẹ già gầy rọp thân thể của Thinh hỏi tôi, tôi chỉ biết nghẹn ngào trả lời:

-Thinh vẫn còn ở lại Charlie với Trung Tá Nguyễn-đình-Bảo.

Trận Hạ Lào Lam Sơn 719… ĐĐ 3 Trinh Sát ND (ĐĐ6/ 81BCD) xem như xóa sổ!

Kontum kiêu hùng, Quảng Trị vùng lên… ĐĐ2Trinh sát ND (ĐĐ5/81BCD) thân xác còn đó, nhưng thịt xương rã rời, máu huyết tan loãng.

* *

*

Tôi không thể nhớ hết, sao tôi còn có thể nhớ hết được khi thời gian quá ngắn, mà trang sử thì quá dài. Đã có bao nhiêu đồng đội thân thương của mình, cùng chung một chuyến tàu há mồm xuôi Nam, giã biệt trại Hoàng Diệu đã nằm xuống, mà tôi vẫn còn đây. Họ nằm xuống, xanh cỏ…để tôi được Đỏ Ngực. Đỏ Ngực vì Huy Chương đầy ngực hay đỏ ngực vì tim tôi rỉ máu. Bao nhiêu tháng năm qua, mỗi khi nhớ đến Họ.

Thượng Sĩ, Trung Sĩ Nhất, Trung Sĩ, Hạ Sĩ Nhất, Hạ Sĩ… Họ là những quân nhân ưu tú nhất của QLVNCH, Họ là những bậc thầy của Tôi, hướng dẫn, chỉ bảo, trao truyền kinh nghiệm chiến trường cho tôi trong những bước chân đầu đời binh nghiệp. Có một lần đơn vị trực thăng vận vào mục tiêu Asha, Alưới. Chân chạm đất là chạm địch ngay, Hạ Sĩ Nhất tên Minh, mang máy PRC25, nắm cổ áo tôi vật ngã xuống đất và hét:

– ĐM! Thiếu Úy Đà Lạt gì mà ngu thấy mẹ!. Cứ la xung phong, xung phong. Ðưa ngực cho nó phạng, chết mẹ hết ráo còn lấy ai xung phong!!

Họ là những người lính già không bao giờ chết. Họ chỉ nhạt nhòa đâu đó, trong tim Tôi, trong óc Tôi, chung quanh Tôi, mờ mờ nhân ảnh … Anh không chết đâu Anh, Anh chỉ vừa bỏ cuộc hôm qua… Hôm nay còn lại gì? Có còn chăng chỉ còn tình Huynh Đệ mong manh như những hạt mưa bong bong. Dễ kết dễ ly. Dễ hợp dễ tan. Cố gìn giữ được cái gì hay cái đó, ngày nào hay ngày đó. “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy“. Tình Huynh Đệ hôm nay không cần vồn vập sôi nỗi, mà cần lắng kết vào bên trong, thông cảmtha thứ cầu mong điều lành cho nhau, sẵn sàng cứu giúp dù phải phá chấp hy sinh, không ra ngoài mục đích hài hòa những mối tương giao tình tự “Một ngày Lính là một đời Lính” Mũ Đỏ, Mũ Xanh, Mũ Nâu, Mũ Đen, Mũ Vàng, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Dân Vệ, Võ Trang Tuyên Truyền… cũng giống như nhau, cũng cùng phơi thây nơi chiến địa dưới họng súng xâm lăng của quân thù không còn nhân tính. Nhưng tiếc thay hôm nay có những Huynh Huynh Tỷ Tỷ quên lãng đi, hay cố tình quên lãng đi: “Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô”.

Họ quên đi thời thế thế thời đã đổi thay. Họ vẫn xênh xang áo mão hoàng triều, huy chương đầy ngực, lon lá lé l ói xum xoe trong những lễ hội hoa đăng. Nhưng Họ có bao giờ nghĩ rằng bao nhiêu linh hồn uổng tử đang ở bên cạnh Họ và nguyền rủa Họ.

Có những kẻ lúc nào cũng xum xoe khúm núm Đệ Đệ Muội Muội để trở thành “Thời Lai Đồ Điếu ThànhCông Vị “. Dậu đổ bìm leo. Họ leo lên những bậc thang Danh Vị của Họ giống như những Công Công của thời vua chúa quân chủ đời nhà Tống, nhà Minh bên Tàu. Họ đạp thẳng chân, thẳng tay, vào mặt những người đàn anh của Họ, mà đáng lý ra Họ phải tôn kính và nhớ ơn.

Ngày nay, trong một cuộc sống quá xô bồ, hối hả, căng thẳng với gia tốc của nhu cầu vật chất, tôi được quyền có những giây im lặng, trầm tĩnh trong cuộc sống hằng ngày, để tự lắng vào bên trong, để có dịp gặp lại những hình ảnh thân thương của đồng đội, trên chiếc tàu há mồm xuôi Nam để từ mũ Xanh thành mũ Đỏ. Màu gì cũng là màu, nhưng màu Máu của con người không ai thay được.

ĐĐ5/81 BCD và ĐĐ2Trinh Sát ND, chỉ là Một

Trương Út tức Út Bạch Lan

(Khoá 22/TVBQGVB)

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 9 June 2023

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 7

Trong thời gian giải lao giữa giờ họp, tôi kéo áo Trung tá Huấn giựt giựt mấy cái rồi lớn tiếng nói đùa,

– Nếu Việt Cộng mà bao vây Pleime, tôi sẽ kêu ông vào cứu đó nghe!

Ông Huấn nhanh nhảu giơ tay cam kết,

– Ô kê đô! Nếu ông bị đánh, cứ hô một tiếng là tôi đem cả liên đoàn vào cứu ngay!

Thấy thế, anh Nguyễn Ngọc Di đứng gần đó cũng buồn rầu góp lời,

– Còn tôi thì chỉ trông cậy vào sự hên xui của số mạng. Chia tay lần này, không biết mai đây chúng mình có còn nhìn thấy nhau nữa hay không?

Nghe ông bạn vong niên thở than, tôi bỗng chạnh lòng an ủi anh Di,

– Anh là người nhân hậu thật thà, chắc chắn Trời Phật sẽ che chở cho anh. Ðừng lo lắng quá làm gì cho nó khổ cái thân già.

Anh Di người Huế, lớn hơn tôi gần chục tuổi; tôi và anh quen nhau từ năm 1966. Ngày đó anh Di là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 311 còn tôi là một thiếu úy chân ướt, chân ráo mới từ Ðà Nẵng vừa vào Pleiku chưa có chức vụ gì. Anh Di thường cho tôi quá giang trên chiếc Jeep của anh từ Biển Hồ đi Pleiku. Vợ anh Di là chủ một tiệm tạp hóa nằm trên đường Lê Lợi, tôi thường mua thuốc lá ở cửa hàng này. Tôi và anh Di đã trải qua gần chục năm sát cánh, chiến đấu bên nhau.

Tôi đã biết, hiện thời tiền đồn Dak Pek đang nằm heo hút tít mù xa, cách tỉnh lỵ Kon-Tum hơn 80 cây số đường chim bay, yểm trợ thì khó khăn, hạn chế, không thể cứu viện, không đường rút lui, chắc chắn không sớm thì chầy, căn cứ này cũng rơi vào tay Cộng Quân. Ðã có lần, trong một buổi họp với quân đoàn, tôi mạnh miệng đề nghị đóng cửa tiền đồn này, rút Tiểu Ðoàn 88 Biên Phòng về Kon-Tum để tiết kiệm xương máu của quân mình nhưng ý kiến của tôi không được Tư Lệnh Quân Khu chấp thuận.

Tôi móc túi lấy bao Lucky đưa cho anh Di,

– Trước ngày lên đường anh hãy hút một điếu Lucky của tôi để lấy hên!

Bạn tôi rút một điếu thuốc kẹp vào giữa hai ngón tay, rồi nhìn tôi với ánh mắt đượm buồn,

– Lần đầu tiên mình gặp nhau tháng 10 năm 1966 Long mời mình một điếu Lucky không đầu lọc. Vì “gu” của mình là Salem nên mình đã không chịu nhận điếu thuốc Long cho, vì thế mà Long đã giận mình cả tuần lễ sau mới nguôi. Kỳ này thì mình sẽ hút thuốc Long mời, biết đâu có thể đây là lần cuối cùng bạn còn nhìn thấy mình, mời mình hút thuốc.

Tôi xoè bàn tay ra để bịt miệng anh Di,

– Ðừng nói gở! Ðừng nói gở!

Quả thực tôi không biết hôm đó anh Di đã buột miệng “nói gở” hay anh Di vừa linh cảm thấy điều gì đó không tốt đẹp sắp xảy ra?

Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1974, một chiếc trực thăng cất cánh từ Kon-Tum ghé sân Biệt Ðộng Quân Pleiku đón tôi. Trên tàu đã có sẵn hai hành khách, đó là ông Trung tá Chính, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y mới ra trường. Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân ở đồi Ba Chấm trên Kontum, Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đang bận họp hành quân nên nhờ Trung tá Chính đưa tôi vào Pleime. Ngày đầu ở tiền đồn Pleime thật là dở khóc, dở cười. Tôi đã không chịu ký vào ba xấp giấy phụ bản bàn giao chỉ vì: Trên phụ bản quân số thì có 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt khi điểm danh. Trên phụ bản tiếp liệu ghi còn tồn kho 400 bộ đồ hoa nhưng trong kho thì trống rỗng. Anh em trong đơn vị than phiền rằng cả năm nay không có quần áo mới. Khi có phái đoàn thanh tra tới thì những người áo quần rách rưới quá bị dẫn ra suối để tránh mặt. Trên phụ bản ẩm thực ghi rõ món nợ trưng dụng gần nửa triệu đồng chưa chứng minh. Mỗi khi lãnh lương thì tiểu đoàn trưởng phải ký nợ tiền ăn tháng sắp tới, vì tiền ăn tháng đó đã bị Ngân Khố trừ nợ hết rồi. Tôi đòi hỏi phải có ba phụ bản mới, trong đó Trung tá Chính phải ký tên làm chứng. Ba phụ bản đó gồm có: Bản ký nhận quân số tại hàng. Ông cựu tiểu đoàn trưởng phải chịu trách nhiệm báo cáo vắng mặt hay báo cáo tầm nã 92 người vắng mặt ngày hôm đó. Bản danh sách xin bổ sung quân trang khẩn cấp cho tất cả quân nhân tại hàng. Trung tá Chính sẽ đem về trao cho Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân giải quyết. Bản danh sách ứng tiền ăn mới, không liên quan tới những nợ nần đã có trước của đơn vị.

Trong danh sách ứng tiền ăn này, tôi ra lệnh trừ tiền ăn tất cả mọi người, không ai được miễn trừ, kể cả tôi, tiểu đoàn trưởng. Tới kỳ nhận tiếp tế, thực phẩm sẽ được chia đồng đều, phần của ông thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng giống y như phần của anh binh nhì, không khác gì nhau.

Xưa nay, trong đơn vị này, hàng chục quân nhân thân cận tiểu đoàn trưởng và cả ông tiểu đoàn trưởng đã được ông ta cho miễn trừ tiền ăn. Những người này cuối tháng được lãnh toàn số lương, không bị trừ đồng nào, nhưng khi tiếp tế thì họ vẫn được lãnh phần như người khác. Như thế có nghĩa là những người khác đã đóng tiền để nuôi họ. Ðây là một hành động ăn cắp bỉ ổi không thể chấp nhận được. Sau khi đưa tôi đi quanh doanh trại một vòng để quan sát hệ thống bố phòng, lúc trở về, Thiếu tá Bé cho tôi biết tin rằng cái đơn xin thuyên chuyển về phục vụ nơi nguyên quán của ông ta đã được thượng cấp chấp thuận. Do đó, ông Bé xin tôi cho ông ta theo chân Trung tá Chính trên chuyến bay rời Pleime ngay sau khi bàn giao.

Trung tá Chính cũng cho tôi biết người thay chỗ cho Thiếu tá Bé sẽ là một đại úy gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, sĩ quan Võ Bị, khóa đàn em của tôi. Từ ngày thứ nhì, tôi bắt đầu hướng dẫn đơn vị tập cho quen với nếp sinh hoạt mới. Ðiều cấm kỵ nghiêm ngặt thứ nhất là lính gác tuyệt đối không được hút thuốc trong phiên trực, dù là ban ngày, hay ban đêm. Ðiều cấm kỵ thứ hai là không được uống rượu đế, rượu trắng trong doanh trại. Ðiều cấm kỵ thứ ba là không được bài bạc dưới bất cứ hình thức nào.

Trong mười năm chỉ huy, tôi đã thấy những cái chết thảm khốc, mất đồn, mất chốt, chỉ vì quân ta cứ ham mê đỏ đen, tụ tập say sưa, bù khú, lơ là canh gác, nên Ðặc Công mới chui được vào vị trí đóng quân mà đánh phá. Ngay buổi trưa ngày thứ nhì, tôi đã ra lệnh tất cả dụng cụ phục vụ các trò chơi như xóc đĩa, bài cào, tứ sắc, xập xám, và cả những bộ Domino đều bị tịch thu và thiêu hủy. Tôi thẳng thắn tuyên bố rằng, những ai thấy không thể tuân theo những luật lệ trên thì cứ trình diện tôi xin đi đơn vị khác, tôi sẽ cấp sự vụ lệnh cho đi ngay.

Hình như sự có mặt của tôi đã làm đảo lộn nhiều thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của đơn vị này. Những nhân viên làm việc trong bộ chỉ huy tiểu đoàn, trừ ông Thiếu úy Trần Văn Phước và Thượng sĩ Nguyễn Phường của Ban 2 từng làm việc dưới quyền tôi, thì người nào cũng lộ vẻ e dè, giữ kẽ mỗi khi tôi bước vào văn phòng, hay trung tâm hành quân. Trung đội Trinh Sát 82 có khoảng gần hai chục quân nhân do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm làm trung đội trưởng và Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Sơn làm trung đội phó. Ngày tôi nhận tiểu đoàn, đầu tóc ông nào cũng dài thậm thượt, vậy mà thoáng cái, hai hôm sau, tóc ông nào cũng húi cua, ngắn như tóc tân binh. Những ngày kế đó tôi phải đích thân đi tới quan sát ba cái tiền đồn cố định, trên Chư Hô, Chư Gô và đồi Bắc Pleime. Tại đây tôi trực tiếp hướng dẫn từng chuyện phải làm cho ba ông trung đội trưởng chỉ huy tiền đồn cách báo cáo tin tức, cách bố trí canh gác cũng như cách thiết trí con đường rút chạy khi bị địch tấn công quá mạnh.

Tôi đã biết ưu điểm của các đơn vị biên phòng là thám sát và cố thủ. Nhược điểm cần khắc phục là thiếu kinh nghiệm hành quân tấn công. Thay đổi thói quen tác chiến của một đơn vị không phải là công việc dễ dàng. Từ ngày thứ tư, tôi bắt đầu huấn luyện kỹ thuật dàn quân tấn công cho các đại đội. Dự trù thời gian huấn luyện dành cho mỗi đại đội sẽ là mười ngày, mười đêm. Suốt thời gian huấn luyện này, Trung đội Trinh Sát 82 là thành phần trừ bị, sẵn sàng ứng phó với những biến cố xảy ra. Tôi dự tính, sau khi 4 đại đội tác chiến đã được huấn luyện, tôi sẽ giải tán Trung đội Trinh Sát và thay vào đó là 6 toán viễn thám, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Trần Văn Phước.

Cũng trong thời gian này tôi nhận được một thuộc cấp cũ tới tiếp tay đó là Trung úy Trần Dân Chủ. Ông Chủ, khi còn mang lon thiếu úy, đã bị Việt Cộng bắt trong trận Ben-Het tháng 5 năm 1969.

Ông Chủ mới được trao trả tù binh cách nay vài tháng và được đưa về Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân; nghe tin tôi vừa nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 thì ông Chủ xin về làm việc với tôi.

Tôi cho Trung úy Nguyễn Trọng Thọ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn giữ chức Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 thay thế cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt đang nằm bệnh viện Pleiku; còn Trung úy Trần Dân Chủ sẽ thay thế Trung úy Thọ. Phụ tá cho Trung úy Chủ là một hạ sĩ quan tham mưu rất siêng năng và lanh lẹ, đó là Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn. Ðôi khi rảnh rỗi, tôi thường chỉ vẽ cho Trung úy Chủ và Trung sĩ Hoàn những nguyên tắc tham mưu binh đoàn; nhân dịp này mà Trung sĩ Hoàn có cơ hội mở mang kiến văn.

Nửa năm sau tôi đã ký tên chấp thuận cho chú Hoàn theo học Khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt. Tiếc thay, đúng thời điểm Trung sĩ Lưu Ðức Hoàn có mặt ở Tiền cứ Ban Mê Thuột để chờ nhận tờ Sự Vụ Lệnh theo học khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt thì thành phố này bị Việt-Cộng tấn công. Vì lý do đó mà tới ngày chiến tranh chấm dứt, Biệt Ðộng Quân Lưu Ðức Hoàn vẫn còn là một trung sĩ. Rút kinh nghiệm từ các trận Lệ Minh và Bu Prang, địch thường dùng xe tank để uy hiếp tinh thần quân ta, do đó, song song với việc huấn luyện đơn vị tôi phải đích thân đi thám sát những đường tiến sát mà xe tank địch có thể sử dụng để uy hiếp Pleime.

Kế đó, một khóa huấn luyện cấp tốc được tổ chức ngay trong sân cờ. Huấn luyện viên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, học viên là năm sĩ quan Ðại đội trưởng, Trưởng ban 2, Trưởng ban 3, Trung đội trưởng Trinh Sát, và Trung đội trưởng Pháo Binh Biên Phòng.

Tôi đã đích thân hướng dẫn thật chi tiết cho từng người nắm vững thứ tự công việc phải làm và từng động tác phải làm để gài một quả mìn.Tôi nhấn mạnh công tác ngụy trang một quả mìn một cách thật tỉ mỉ, vì đây mới là mục đích sau cùng của bài học. Bí quyết ngụy trang này chỉ là một mẹo vặt rất dễ thi hành, nhưng ít ai nghĩ tới. Có thể Viễn Thám của Phòng 2/Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 là đơn vị độc nhất của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã áp dụng bí quyết đó một cách hiệu quả trong suốt thời gian tôi giữ chức vụ chỉ huy đơn vị này.

Muốn nguỵ trang một hố mìn, ta phải làm đúng theo thứ tự sau: Gắn ngòi nổ xong thì ta phủ một lớp đất mỏng che mặt quả mìn. Ðặt một cục đá dẹp lên trên quả mìn. Kế đó, để một lưỡi xẻng hay một miếng kim loại rỉ sét lên trên cục đá. Lấp một lớp đất mỏng lên trên lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Xóa dấu vết toàn khu vực trước khi rời đi. Máy rà mìn của địch sẽ reo khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Vì thấy dưới miếng kim loại chỉ có cục đá nên chắc chắn chúng sẽ ơ hờ, bỏ qua. Chúng đâu ngờ dưới cục đá còn có quả mìn!…Máy dò của Việt-Cộng đi trước, tank của Việt-Cộng bò theo sau, bánh xích xe tank sẽ cán lên cục đá, thế là … “Ùm!”

Ðể tránh sự nghi ngờ của địch, ta phải đặt mìn với khoảng cách khá xa nhau, và đặt với vị trí dích dắc… Ngay hôm sau ngày huấn luyện, đoạn đường xe be dốc Tây suối Ia Mê, đã có bốn quả mìn chống chiến xa được an bài.

o O o

Cứ Ðiểm 711 tháng 4 năm 1974: Một chống lại mười. Trong địa phận Pleiku thì tôi biết rõ ràng rằng, mục tiêu của địch sẽ là một trong ba trọng điểm: Quận lỵ Thanh-An, Quận lỵ Phú-Nhơn và Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Hiện thời, đại quân của Cộng-Sản đang tập trung trong thung lũng Ia Drang.Vì thế, nếu đánh Thanh-An địch sẽ sử dụng Quốc lộ 19 còn đánh Phú-Nhơn hay Pleime thì chúng phải chuyển quân theo con đường vừa được phát quang. Thời gian này Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã vinh thăng Trung tướng. Một tuần lễ sau khi vào Pleime, tôi bị gọi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh nhận nhiệm vụ đem quân ra Căn Cứ Hỏa Lực 711 để xây dựng một căn cứ hỏa lực mới rộng lớn hơn. Căn Cứ 711 hiện thời sẽ bị phá đi.

Tướng Toàn cho tôi biết trong thời gian sắp tới, địch sẽ tung quân cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian để Trung Ðoàn 470 Vận Tải của chúng có thể dùng cơ giới thi hành một chuyến tiếp tế quân lương cho lực lượng Cộng Sản dưới duyên hải. Nhiệm vụ của tôi là cố gắng phát giác và cầm chân, không cho đoàn xe của địch vượt qua sông Ia Tur. Lệnh của quân đoàn đưa ra thật gấp gáp, tôi chỉ kịp tập họp Trung đội Trinh Sát và hai Ðại đội 2 và 3 rồi chuẩn bị lên đường. Ông tân Tiểu đoàn phó là Ðại úy Quách Cơ Bình mới thấy tên trên công điện thông báo, nhưng chưa đáo nhậm, do đó Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng Pháo Binh Pleime đương nhiên trở thành người chỉ huy phòng thủ căn cứ biên phòng này trong thời gian tôi dẫn quân xuất trại. Ðại đội 4 canh gác trại và giữ ba cái tiền đồn; Ðại đội 1 đóng trụ tại vùng 4 cây số Bắc Pleime.

Tiếp theo đây là diễn tiến trận đánh lịch sử đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku vào tháng 4 năm 1974.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 1 June 2023

Post by Sơn râu 30 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 6

Chiếc C&C đó không chở Trung tá Nguyễn Thành Tiên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân mà lại chở ông Thiếu tá Nguyễn Phán, sĩ quan pháo yểm của liên đoàn cùng một phụ tá của ông là một thiếu úy tiền sát viên.

Hình như chiếc trực thăng này đã bị phòng không bắn, nên quay đi, quay lại, tôi không còn thấy nó nữa.  Sau này tôi nghe tin báo rằng, hôm đó có một trực thăng của Phi Ðoàn 229 bị trúng đạn của Việt-Cộng trong vùng Ðông Kon Sơm Luk rồi bị rơi trên khu vực rừng cây thưa gần Ðồi Ba Chấm hướng Nam Kontum. Không rõ chiếc máy bay này có phải là chiếc C&C đã chở Thiếu tá Phán hay không?

Ðúng nửa giờ sau, pháo địch đột nhiên chấm dứt. Vì bụi dày đặc quá, tôi không nhìn rõ những gì đang xảy ra dưới đất, nhưng trong tần số không lục của phi cơ, tôi nghe quân bạn báo cáo rằng Việt-Cộng đang tiến lên, địch đông như kiến. Trinh sát cơ của ta thông báo rằng, hiện thời lực lượng bôn tập của Việt-Cộng đã tràn qua hai cái tiền đồn và đang ào lên ngọn đồi chỉ huy của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Viên sĩ quan điều không tiền tuyến gọi Liên Ðoàn 22 và đề nghị pháo binh đánh tiếp cận để giải tỏa bớt áp lực của địch cho Tiểu Ðoàn 95 nhưng không ai đáp lại yêu cầu của anh.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân là Thiếu tá Ðỗ Văn Mười sĩ quan khóa 19 Võ Bị. Trước đây, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân. Sau khi thụ huấn khóa học Bộ Binh Cao Cấp, anh Mười đã thuyên chuyển ra Quân Khu 2 và nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ðây không phải là lần đầu anh tới Cao Nguyên, mà khi còn ở Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân, anh đã từng tham dự những trận đánh lớn trên Cao Nguyên vào mùa Hè 1972. Nhưng chiến trường Cao Nguyên 1974 hiện thời, đã khác xưa!

Ðịch đông hơn ta, mạnh hơn ta nhiều lắm! Hầm chỉ huy bị pháo sập, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười và nhiều binh sĩ khác đã bị thương nhưng họ vẫn cố gắng chiến đấu để chờ tiếp viện. Sau hai giờ cầm cự một cách tuyệt vọng, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã yêu cầu máy bay thả bom ngay trên đầu mình để cùng chết với địch quân. Hôm đó sĩ quan điều không tiền tuyến của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh là Thiếu tá Ái, khóa 18 Võ Bị. Anh Ái đã nghẹn ngào trả lời người đàn em khóa 19 của mình:

“Hôm nay mình không có phi tuần nào cả 90 ơi!”

90 là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Ðỗ Văn Mười, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã bị Việt-Cộng trói tay dẫn đi đúng vào ngày kỷ niệm sinh nhật của anh ấy! Cùng chung số phận với Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là Thiếu tá Phan Văn Tranh, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân cũng thành một tù binh.

Tới năm 1982 anh Ðỗ Văn Mười mới được thả ra từ Trại cải tạo Z30A. Hiện thời cựu Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đang định cư ở Florida USA.

Vào thời điểm Tiểu Ðoàn 95 lâm nguy thì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 62 cũng đang bị Việt-Cộng pháo kích; hai đại đội của Tiểu Ðoàn 62 nằm ngay dưới chân đồi đóng quân của Tiểu Ðoàn 95 đã bị mất liên lạc. Không rõ số phận ông Thiếu tá Phước, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân người chỉ huy cánh quân này hiện giờ ra sao. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân phải thu quân về cố thủ nơi ngọn đồi thấp ở gần cầu Kon Hơdram. Chiến trận ngày hôm đó quân ta đã hoàn toàn không có pháo yểm.

Dù nằm cách trận địa chưa tới 5 cây số, nhưng hai khẩu đại bác 155ly của ta hầu như vô dụng chỉ vì vị trí pháo binh này liên tục bị cối 82 ly và 120 ly của Cộng Quân cầm chân. Các pháo thủ của ta lo chuyện phản pháo còn chưa xong thì mong gì có chuyện yểm trợ cho quân bạn? Về phần không yểm cũng thế, hôm đó không có bóng dáng chiếc oanh tạc cơ nào của Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa. Ngày 17 tháng 3 tôi được lệnh thu hồi hai toán viễn thám. Tôi hoàn tất công tác và về tới phi trường Kon Tum thì trời đã tối. Sáng 18 tháng 3 tôi nghe Liên Ðoàn 22 báo tin rằng, từ lúc rạng đông, Tiểu Ðoàn 62 đã bị địch pháo kích và tấn công rất dữ dội. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân đã phải bỏ vị trí rồi dẫn quân lội qua sông Dak Bla chạy bán mạng. Trưa 18 tháng 3 năm 1974 một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 40 Bộ Binh được gửi vào Kon Sơm Luk để tiếp cứu cho Biệt Ðộng Quân, nhưng đơn vị này đã sớm bị đánh tan ngay sau khi đi qua vị trí trú quân của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân chừng hai cây số. Trong trận Kon Sơm Luk tôi nhận thấy một điều lạ là, Trung tá Nguyễn Thành Tiên là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân, mà suốt từ đầu trận tới cuối trận, tôi không nghe tiếng ông ta trên máy. Hầu như mọi lệnh lạc trên tần số đều do Thiếu tá Phú và một chuẩn úy phụ tá ban 3 của liên đoàn phát đi. Vài ngày sau, tại phòng hội của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 ở Pleiku, tôi đã được nghe Phòng 2 Quân Ðoàn II thuyết trình rằng:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 hai Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 62 và 95 đã bị hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo của Sư Ðoàn F10 tấn công trong vùng Kon Sơm Luk. Ta thiệt hại nhẹ. Tổn thất địch không rõ. Ngày 18 tháng 3 năm 1974 một trung đoàn địch đã tập kích Tiểu Ðoàn 1/40 tại vùng Bắc Kon Sơm Luk, ta một số quân nhân thất lạc, địch không rõ.” Mặt khác, diễn tiến trận Kon Sơm Luk đã được ghi lại một cách chi tiết hơn trên những trang quân sử sau này của Quân Ðội Nhân Dân Bắc-Việt:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 Trung Ðoàn 28 Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã tấn công tiêu diệt Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ngày 18 tháng 3 Trung Ðoàn 24 của Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã đánh tan Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân.”

Như vậy thì, tin tức từ cả hai phía ta và địch đều xác nhận rằng Sư Ðoàn F10 Mặt Trận B3 là đơn vị chủ công của trận Kon Sơm Luk tháng 3 năm 1974. Sư Ðoàn F10 là đơn vị mới thành lập, nhưng những trung đoàn bộ binh chủ lực của sư đoàn này lại là những đơn vị sừng sỏ đã có mặt trên Cao Nguyên từ lâu lắm rồi. Các đơn vị nòng cốt được quy tụ để hợp thành Sư Ðoàn F10 gồm có Trung Ðoàn 4 Pháo Binh và ba trung đoàn bộ binh là Trung Ðoàn E66, Trung Ðoàn E28, và Trung Ðoàn E24.

Tôi đã có dịp đọ sức với các đơn vị bộ binh Cộng-Sản này nhiều lần trong thời gian từ năm 1967 tới 1970. Theo tôi thì Trung Ðoàn E66 là đơn vị đáng gờm nhất. Xế trưa 18 tháng 3, tôi nhận được tin từ Pleiku cho tôi hay trong thời gian tôi vắng mặt thì toán viễn thám đang hoạt động trong vùng Plei Djereng có một người lên cơn sốt rét cấp tính cần bốc gấp. Hôm đó tại tư gia Ðại tá Phạm Duy Tất có một vị khách của ông Tất đó là Ðại tá Trần Khắc Kính, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.Ngày xưa, thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Thiếu úy Phạm Duy Tất là đồ đệ của Thiếu tá Trần Khắc Kính. Tới nay thì hai người cùng mang lon đại tá, nhưng tình thầy trò vẫn không thay đổi.

Ông Ðại tá Kính là tay tổ của Lực Lượng Ðặc Biệt thời Cụ Diệm, nên nghe biết một toán viễn thám của tôi đang bị nạn, ông đã tự nguyện dẫn máy bay vào vùng bốc toán thành công. Nhưng tới khi thả toán mới thì xảy ra chuyện chẳng lành. Viễn thám viên thứ nhứt vừa ra khỏi phi cơ thì bị Việt-Cộng bắn. Trực thăng chở Ðại tá Kính và hai anh viễn thám còn lại phải gấp rút bốc lên cao để tránh đạn; sứ mạng gián đoạn; ta thiệt mất một người, không rõ sống chết ra sao.

Thế là chiều 18 tháng 3 tôi phải đem quân về Pleiku ngay để những ngày sau liên tục bay vòng vòng trong vùng tìm ánh chớp từ gương cấp cứu của anh lính mất tích. Tới ngày thứ ba thì anh ta về tới Pleiku tay không vũ khí. Sợ bị quân ta ngộ nhận bắn nhầm, anh viễn thám này đã phải giấu khẩu AK47 dưới một cái cống trên đường Vĩnh-Lộc, nằm về hướng Tây, song song với Quốc Lộ 14. Sau tai nạn này, tôi nghĩ ra cách tung quân xâm nhập bằng đường bộ.

Thời gian này ta có một căn cứ hỏa lực tạm thời có tên là Căn Cứ Hỏa Lực 522 nằm cách phi trường Lệ Minh chỉ trên mười cây số. Viễn thám của tôi có thể vượt qua lộ trình này trong thời gian trên dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi đích thân chở toán tới Căn Cứ 522, rồi ở đó suốt đêm theo dõi toán vào vùng.

Từ đó tôi nhận ra rằng, đi bộ vào vùng khi đêm xuống, an toàn hơn dùng trực thăng rất nhiều, tại sao mình cứ phải nhờ trực thăng? Về Pleiku, tôi đã viết một bản tường trình chi tiết đề nghị rằng từ nay chúng tôi không cần phương tiện trực thăng để duy trì điện đài quanh Lệ Minh nữa. Quân đoàn chấp thuận đề nghị này ngay. Từ ấy, tôi giao việc tung toán, thu toán bằng đường bộ cho Thiếu úy Võ Văn Phương, Sĩ quan phụ tá Phòng 2. Sẵn dịp có ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi vừa mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp trở về, tôi đề nghị với Ðại tá Chỉ Huy Trưởng để ông Phi thay thế tôi. Ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi là một sĩ quan gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, đàn em của Ðại tá Phạm Duy Tất. Ông Trương Hoàng Phi khi còn là đại úy, đã từng đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của C2 Lực Lượng Biệt thời kỳ 1969-1970, nên không ngỡ ngàng gì với công việc này. Vì thế, Ðại tá Phạm Duy Tất đã vui vẻ chấp thuận đề nghị của tôi.

Tôi vào Pleime…

Bàn giao xong, tôi xin Ðại tá Tất cho phép tôi nghỉ vài ngày để thu xếp chuyện gia đình. Mỗi lần nhận đơn vị mới, tôi đều phải đem vợ con về gửi ngoại. Kỳ này tôi vào Pleime nên vợ tôi phải về Ban Mê Thuột nương nhờ dưới mái nhà của bố mẹ vợ tôi. Tội nghiệp vợ tôi, một nách hai đứa con thơ lại đang mang bầu đứa con thứ ba sắp tới ngày sinh. Gia tài của vợ chồng tôi chỉ có hai cái va li áo quần, một thùng sữa bột SMA và một thùng tã lót của con nít.

Lo xong chuyện gia đình, tôi bình thản lên đường ra tiền đồn. Thời gian này nhiều bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi đã tìm cách lui về tá túc trong các quân trường, trung tâm huấn luyện, có người nhanh chân len lách vào được Bộ Tổng Tham Mưu để tránh đạn. Thấy tôi vui vẻ rời bỏ chức vụ Trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ở Pleiku mà ra chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng nơi tiền đồn heo hút thì một người bạn đang đi du hành quan sát sau khi mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp đã can ngăn,

– Giờ này mày chưa sợ chết sao mà còn ra chỉ huy tiểu đoàn?

Tôi không tiện giải thích cho bạn tôi lý do vì sao tôi đã bỏ phố để lên rừng, nên chỉ cười,

-Sống chết có số mày ơi!

Trong buổi họp tham mưu cuối cùng tôi được thông báo rằng hôm đó cũng là ngày ba sĩ quan tham mưu của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 nhận sự vụ lệnh rời đơn vị, đó là Trung tá Bùi Văn Huấn, Tham Mưu Trưởng, Thiếu tá Vương Mộng Long, Trưởng Phòng 2 và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di, Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội. Trung tá Bùi Văn Huấn sẽ tới Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân thay thế cho Trung tá Nguyễn Thành Tiên, người vừa bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II cách chức Liên đoàn trưởng sau khi Kon Sơm Luk thất thủ.

Tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long sẽ vào Pleime thay chỗ cho Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, do chỉ thị của Tư Lệnh Quân Khu 2. Còn Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di thì lên tiền đồn Dak Pek thay thế cho ông Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 88 là Thiếu tá Trương Ðình Quý xin từ nhiệm.

Đêm Cuối Mùa Thu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Hôm nay mặt trời tỏa sáng yếu ớt được một lát rồi trốn đâu mất. Những đám mây xám đã trở thành màu đen đậm che phủ cả bầu trời. Mưa rơi không nhiều nhưng thẳng giọt, những giọt mưa bắn xuống lòng đường rào rạt và làm rãnh nước bên đường nổi bọt. Những chiếc lá màu vàng lưa thưa còn vướng lại trên cành cũng sắp sửa về với cội nguồn. Trời sắp vào đông rồi, tôi với Iwan đạp xe tới khu mua sắm vùng Marghera thuộc thành phố Venezia. Vừa tới nơi Iwan liền đi thẳng vô tiệm bán đồ thể thao mua lưỡi câu. Nó nói:

– Chú chờ tui một lát, mua xong tui ra liền.

Tôi nói:

– Mầy thong thả lựa đồ mua, mình có nhiều thời gian mà, tao đi dạo quanh đây, khi nào mua xong mày gọi điện cho tao.

– Okay, lát gặp.

Tôi đi băng ngang khoảng sân rộng hướng qua trung tâm chợ Panorama. Giữa sân trống, đèn bóng nhỏ giăng từ những trụ cột thấp lên chót cột cao, theo mái nhà viền óng ánh bàng bạc biểu tượng của ngày Chúa ra đời. Giữa tháng Mười Hai, trời lành lạnh, mưa lai rai, không khí Giáng Sinh tràn ngập, không gian hiền từ như chuyển tải tình thương về từ cõi xa xăm.

Trong các cửa tiệm người ta treo đèn, kết hoa và màu sắc vui tươi in rõ trong những phần quà gói gấy kiếng bóng treo lủng lẳng và xếp ngay ngắn trên những dãy kệ dài. Tôi dạo gần khắp siêu thị nhưng không mua gì hết. Nhìn quanh người đẩy xe, người xách giỏ, trong xe, trong giỏ người nào cũng đựng nhiều đồ đạc, chỉ có tôi là tay không. Đi ngang qua quày rượu thấy một chồng bia Heineken xâu lại từng cặp, tức là hai lon một chùm, dung tích một lon 33cl, giá một cặp là €1,90, giá bia Heineken trong các tiệm bình thường là €1,30 một lon, hôm nay siêu thị hạ giá bia Heineken. Không lưỡng lự, tôi chộp liền năm cặp, tính đi xem chơi nên không xách giỏ đựng đồ, tôi bèn ôm mười lon bia vô ngực rồi đi thẳng ra quày tính tiền.

Trả tiền xong, tôi định xin túi nhựa đựng bia. Iwan tới đứng sau lưng hồi nào hông biết, hai tay nó mở miệng sẵn chiếc ba lô chìa ra trước mặt tôi:

– Bỏ vô đây nè chú.

Tôi ngạc nhiên day qua, hỏi:

– Ồ, mày tới hồi nào?

Nó cười hì hì.

– Vừa tới thấy chú đi ra nên tui đứng đây chờ.

Bỏ mười lon bia vô ba lô xong, chúng tôi đi ra phía trước cửa khu chợ. Tôi hỏi:

– Mày còn mua gì nữa hông?

Nó chỉ tay qua tiệm bán thuốc lá nói:

– Tui vô đó mua mấy gói thuốc và thẻ điện thoại.

Tôi chợt nhớ ra:

– À. tao cũng vô đó mua mấy thẻ xe bus.

– Chú định vô Venezia hả?

– Mua bỏ túi phòng khi cần.

Vô tiệm mua đồ xong trở ra thì trời lại mưa. Tôi nói.

– Dạo này trời hay mưa quá, hôm ở Trieste bị mắc mưa, qua Venezia cũng bị mắc mưa, bận áo mưa vẫn bị ướt như chuột lột, hôm nay bị mưa nữa. Iwan đưa tay ra hứng mưa và nói:

– Mưa không nhiều, hổng ướt đâu chú.

Tôi hỏi Iwan.

– Mày tính sao?

Nó nhìn ra ngoài trời và nói:

– Tui phải mua kebab cho ba đứa ở trên tàu, chú đi với tui nhé.

Tôi chỉ tay vô bên trong khu chợ Panorama:

– Trong kia có tiệm pizza cũng có bán kebab.

– Nhưng thịt heo không à, chỗ này của đạo Hồi.

– Đi thì đi.

Chúng tôi kéo áo cho kín ngực và trùm đầu cẩn thận rồi ra chỗ để xe lấy xe đạp. Iwan đạp đi trước, tôi đạp theo sau. Quanh qua quẹo lại hai ba con đường tới một quán bán kebab nó dừng lại trước cửa, chờ tôi dừng xe nó nói:

– Tới rồi chú.

Tôi bước xuống dựng xe, nó rút hai sợi dây cáp khoá xe ra. Tôi hỏi:

– Gần cửa tiệm mà khoá chi nhiều vậy?

Nó kéo hai cỗ xe lòn dây vô hai bánh xe, vừa khoá nó vừa nói:

– Ở Ý mà chú.

Tôi chợt nhớ mấy tuần trước tôi bị mất một chiếc xe đạp vì tôi khoá loại khoá thường, trong khi ở đây ai cũng khoá bánh trước bánh sau bằng lòi tói hoặc dây cáp lớn bằng ngón tay cái. Tôi nhìn vô quán, xuyên qua khung kính, thấy một thanh niên da nâu nhỏ thó quấn khăn hijab hồi giáo có bộ râu giống y chang râu của Osama bin Laden. Tôi hỏi:

– Ồ, người In Đô hả?

– Hổng phải, Bangladesh chú, ở đây có kebab gà rất ngon, lát nữa chú ăn thử.

Khoá xe xong tôi với Iwan đi vô quán. Trong quán trưng bày một búp phê, một lò nướng pizza bằng than, một kẹp nướng kebab bằng điện bên cạnh một xâu thịt bự như cái khạp dựng đứng đương quay bên vỉ lửa điện cháy hồng. Phía trước một tủ lạnh đựng nước ngọt, một cái bàn và bốn ghế cao cẳng, quán nhỏ xíu mà lại vắng teo. Chúng tôi vừa bước vô, gã thanh niên từ trong bước ra mừng rỡ ôm Iwan hôn theo cách chào của đạo Hồi. Xong cái màn xã giao, gã day qua tôi chìa tay bắt. Tôi chưa kịp giới thiệu thì Iwan nói:

– Chú Tấn, trên tàu tụi tui kêu là uncle Tấn.

Gã gật đầu, nắm chắt tay tôi gặt gặt:

– Okay, tui cũng kêu uncle Tấn. Chú tới từ đâu?

– Việt Nam.

– À, Việt Nam, chú theo đạo nào?

– Ồ, đạo hả? Đơn giản lắm, đạo của tui là tử tế và tình thương.

Iwan chen vô:

– Chú Tấn đạo Phật.

Vừa nghe nói đạo Phật gã day ngang hỏi.

– Chú có biết đạo Phật bên Miến Điện hông?

– Có.

– Họ giết người, cướp của, đốt nhà của đạo Hồi.

– Tui biết.

– Chú thấy thế nào?

Tôi nhìn gã cười một cái, bán buôn trước mặt hổng lo mà chuyện bên kia trái đất. Tôi để tay lên vai gã và từ tốn hỏi:

– Này ông bạn, bán buôn có khá lắm hông?

– Ồ, lúc lênh lúc xuống, tùy Allah cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.

Iwan chen vô nói với gã:

– Ông làm cho tui hai kebab ăn tại đây, thêm ba cái gói đem về.

Gã vừa gật đầu với Iwan vừa thụt lui vô trong nhưng mặt vẫn hướng về phía tôi:

– Chú có dọc kinh Koran không?

– Ồ, tui hổng biết tiếng Á Rập.

Gã đi vô lấy thịt và bánh ra làm kebab, vừa làm vừa nói chuyện về Allah, về thiên đường cho chúng tôi nghe. Tôi và Iwan ngồi lên hai chiếc ghế cạnh chiếc bàn cao. Gã làm hai phần kebab bưng ra để lên bàn cho tôi và Iwan. Hình như nói chưa đủ, gã đi vô trong một lát sau đem ra một tablet, không biết mở cái gì mà tôi nghe phát ra tiếng ồn ào. Khi gã đem tablet dựng trước mặt chúng tôi, mới thấy trên màn ảnh một đại hội các tôn giáo tổ chức bên Ấn Độ, phần diễn thuyết của mấy giáo chủ đạo Hồi. Gã tỏ vẻ hài lòng khi thấy chúng tôi không ý kiến, lúc đó mới chịu vô làm tiếp mấy phần kebab. Bỏ kebab vô lò kẹp nướng rồi gã trở ra mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt để trước mặt chúng tôi:

– Cái này tui mời.

Khi gã trở vô, Iwan ái ngại nhìn tôi và nói nhỏ:

– Xin lỗi chú.

– Chuyện gì?

Iwan hất mặt vô chỗ gã đương lui cui trở kebab:

– Hắn nói về đạo nhiều quá.

Tôi vỗ nhẹ nhẹ lên vai Iwan:

– Hổng sao đâu, ai cũng có tín ngưỡng riêng. Mày không thấy sao, ngày nay người ta lồng những lời hay ý đẹp trong nhiều tấm hình châm ngôn của Chúa, của Phật, của Allah… post tràn lan trên mạng, trên Facebook. Những tín đồ của các giáo phái đi rao giảng khắp nơi, họ nói về nước thiên đường, cõi cực lạc nào đó ở ngoài trái đất. Nhưng thiên đường đâu hổng thấy mà ngày nào cũng nghe bom nổ, máu đổ và người chết.

Iwan rùng mình một cái:

– Chú hổng thấy phiền sao?

– Lên thiên đường mà gặp những người râu quai nón, vấn khăn hijab kiểu này chắc phiền lắm đó. Không sao, thong thả ăn uống đi, suy nghĩ nhiều quá cũng là phiền.

Chúng tôi ăn uống xong đứng lên tính tiền. Gã thanh niên tính tiền xong, cầm bọc kebab ra trao tận tay Iwan. Thấy Iwan cầm điếu thuốc định đốt, gã ra vẻ nghiêm khắc, nói.

– Không được hút, phạm giới (haram). Iwan bẽn lẽn day ngang bỏ điếu thuốc vô thùng rác. Gã tỏ vẻ hài lòng giống như người cha hài lòng khi thấy đứa con ngoan. Gã day qua đưa cho tôi một quyển sách cỡ bàn tay bằng tiếng Anh.

– Chú đọc để hiểu biết về đạo Hồi.

Không muốn lôi thôi, tôi cầm quyển sách gật đầu:

– OK, cám ơn.

Tôi và Iwan đi ra, gã đi theo tới cửa và đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt:

– Tốt tốt, tôi bảo đảm, theo đạo Hồi chú sẽ được lên thiên đường tức khắc.

Tôi nhìn qua bên kia đường, thấy trước cửa dãy nhà đối diện, những bóng đèn tí ti chớp nhá trên cây thông hoặc kết thành biểu tượng của mùa Giáng Sinh. Dân Ý theo đạo Thiên Chúa, những năm gần đây nước Ý phải gánh chịu dân tỵ nạn qua từ bắc Phi, bên kia bờ Địa Trung Hải, dân chúng sợ tụi khủng bố trà trộn làm ẩu, vậy mà gã vấn khăn, để râu và truyền giáo đạo Hồi giữa thánh địa của Thiên Chúa, quả thật gã không coi dân Ý ra gì hết.

Trên đường đạp xe về, mưa còn lâm râm, làm những chiếc lá vàng trên đường ướt nhẹp. Dưới ánh sáng lờ mờ của những bóng đèn đường từ xa dọi lại, vài cô gái trẻ bán dâm mang túi xách đứng ỏng ẹo, thấy chúng tôi chạy ngang các cô đưa tay chào mời. Chúng tôi chạy thẳng tới ngã tư dừng lại chờ đèn đỏ. Iwan móc thuốc ra bật quẹt châm hút, phà một hơi khói, ngó mấy con nhỏ với vẻ mặt khát khao, nó nói:

– Đạo hồi chơi gái cũng phạm giới.

Tôi chỉ điếu thuốc trên tay nó và nói:

– Hút thuốc cũng phạm giới vậy.

– Đạo Phật có phạm giới hông chú?

– Phật thì có giới luật, nhưng tao thì không.

– Sao vậy chú?

– Vì tao chưa thành Phật.

Thấy mặt thằng nhỏ có vẻ thèm chơi nhưng còn ngần ngại. Tôi chỉ tay qua mấy cô gái đứng đằng kia, nói:

– Mày thấy không, mấy đứa nhỏ đó đứng dưới mưa, giữa trời lạnh, nếu đứng như vậy suốt đêm, sáng mai bị bịnh cũng hổng chừng. Mày đưa cô ta vô khách sạn, được nằm nệm êm, có lò sưởi ấm áp, được chơi và được tiền. Trước mua vui sau là việc nghĩa, đâu có đạo nào cấm giúp người và cấm người ta không được vui sướng, phải không?

Có lẽ mấy cô gái thấy đèn xanh cho người đi xe đạp và đi bộ bật lên mấy lần mà chúng tôi không băng qua đường, nên có cô tới chào mời. Iwan nhìn tôi dò ý, tôi nói với nó:

– Mày muốn chơi thì chơi, đưa túi đồ cho tao, tao đem xuống tàu trước.

Nó dòm qua cô gái và ngó qua tôi, nói:

– Chú hổng chơi hả?

– Khùng, tao già rồi, lỡ đương chơi bị giựt méo miệng, sôi bọt mép, người ta chụp hình nằm trần truồng đăng lên báo mất công nổi tiếng, kỳ lắm.

– Tại mấy ông đó dùng thuốc nhiều quá.

– Già rồi hông dùng thuốc làm sao chơi.

– Vậy chú chờ tui được hông? Một giờ thôi.

– Mày chơi tới sáng cũng hổng sao.

– Mười hai giờ tới phiên tui trực.

Tôi cúi xuống bấm điện thoại xem giờ xong ngước lên, nói:

– Mới hơn tám giờ, đưa ba lô tao mang, mày thong thả chơi từ từ, khi nào xong phone cho tao.

– Chú xuống tàu hả?

– Thì đưa kebab cho mấy đứa ở dưới ăn cho ngon.

Iwan nói.

– Nhưng tui không muốn mấy đứa biết tui chơi gái.

– Tao thấy tụi nó cũng chơi hà rầm.

– Nhưng chú xuống có một mình, tụi nó hỏi tui.

Tôi chỉ tay qua quán bar bên kia đường.

– Được rồi, mày yên tâm chơi đi tao qua bên đó ngồi chờ mày.

Đèn đường bật lên màu xanh, tôi nhón người định đạp xe băng qua đường. Iwan kêu lại:

– Chú chờ tui một lát.

Iwan day qua hỏi cô gái đi với nó tới khách sạn bằng xe đạp được không. Cô gái lắc đầu đòi đi tắc xi. Iwan day qua tôi:

– Vậy tui để xe đạp chung với xe chú trước quán bar nhé.

Tôi nói:

– Dĩ nhiên.

Iwan day qua kêu cô gái chờ một lát nhưng cô ta đòi đi theo. Định băng qua đường, nhưng đèn đường bật sang màu đỏ, chúng tôi phải đứng lại chờ đèn xanh rồi mới dắt xe băng qua.

Bên trong bar sáng sủa, trên vách treo đèn bóng li ti hình ngôi sao, cây thông và nhiều biểu tượng Thiên Chúa. Những món bánh pizza, bánh ngọt để trong búp phê cũng trang hoàng đẹp đẽ theo phong cách của mùa Giáng Sinh. Rượu nho trắng, rượu nho đỏ và nhiều hiệu rượu xếp thứ tự, ngay hàng trên kệ. Không gian ấm áp, sáng sủa, đâu còn nơi nào thích hợp, lãng mạn cho các buổi hẹn hò hay tụ họp gia đình ấm cúng hơn nơi này. Cô gái đứng trong bar chào tôi, tôi không nghe được tiếng Ý, nhưng cũng đoán được cô hỏi gì. Tôi bước tới đứng trước bar, nói:

– Cô cho tôi ly bia loại nhỏ:

Cô gái rót bia đưa cho tôi, tôi bưng ra chiếc bàn dài, để ba lô xuống và leo lên ngồi. Chợt nghe có tin nhắn qua điện thoại, tôi móc điện thoại ra xem, thì ra hôm kia có cô bạn nhắn hỏi:

– Giáng Sinh tới rồi anh có chương trình gì hông?

Tôi trả lời:

– Giáng Sinh gần kề, thương yêu nhiều và thoang thoáng nhớ nhung… Tới hôm nay cô mới nhắn trả lời:

– Có gia đình để yêu thương, có nơi để nhớ là số một trên đời…

Hớp một hớp bia, tôi bấm máy trả lời.

– Nếu có nơi để nhớ thì gọi điện thoại hỏi vài câu thì hết nhớ liền.

Gởi tin nhắn xong tôi khoá internet, cất điện thoại vào túi. Bưng ly bia lên hớp một hớp, nhìn nhóm người ngồi quanh một chiếc bàn rộng và những đôi tình nhân hay cặp vợ chồng ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn nhỏ. Chợt nhiên tôi thấy mình lẻ loi. Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác cô đơn, một cảm giác nhẹ nhàng và lòng thoang thoáng nhớ nhung một cái gì không rõ rệt.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Trieste 15-12-2016

Chó và Người!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Aug 2023

Nhà văn Hoa Kỳ, John Steinbeck, năm 1937, có viết truyện tựa là: ‘Of Mice and Men’, Chuột và Người. Tui nghi rằng ông thai nghén cuốn tiểu thuyết nầy vào năm Bính Tý, năm con chuột, tới năm Đinh Sửu, 1937, viết mới xong.

cho va nguoi 01Thấy người sang tui hay bằng quàng làm họ. Thấy nhà văn nổi tiếng là tui bắt chước theo hè. Nên năm nay năm Tuất, Mậu Tuất, tui xin viết về ‘Of Dogs and Men’, nghĩa là “Chó và Người” vậy!

Trong 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Chó đứng gần hạng bét, chỉ trên được con Heo, tức Hợi.
Năm rồi, năm 2017, là năm Đinh Dậu, con gà, thì năm nay, năm 2018 là năm Mậu Tuất năm con chó. Cẩu hay khuyển, tiếng Hán Việt, còn tiếng Nôm là con chó.

Đừng viết về con chó lửa là cây súng lục. Tết mình cử! Vì móc chó lửa là móc súng ra sủa đằng mồm; thì anh em mình dẫu đang ngồi nhậu vui như Tết cũng phải bỏ hết mồi ngon, rượu quý , lồm cồm trốn dưới gầm bàn; rồi chạy mất dép mới mong bảo toàn được tính mạng.

***

Hồi thời tạo thiên lập địa, chó sói sống trong rừng. Thấy con chó nó khôn, siêng năng giỏi dắn nên con người bắt về thuần hóa để làm nô lệ cho mình.

Con người chơi cha con chó không hè! Như bắt chó đi săn, đi chăn cừu, kéo xe trượt tuyết. Bắt chó chạy đua để đánh cá ăn tiền gọi là đua chó. Rồi bắt chó đi kiếm tiền bằng cách dạy chó làm xiếc.

Ở Melbourne có mấy thằng Úc làm biếng, khoái chơi xì ke ma túy hoặc ăn nhậu tối ngày nên cần tiền, bắt chó đi ăn xin.

cho va nguoi 02Ngồi trên hè phố, nằm chày bày, con chó cũng nằm chắp tay lạy ông đi qua lạy bà đi lại; kế bên có cái nón lật ngửa đầy những tiền xu, tiền cắc có cả tờ 5, 10 đô Úc nữa. Thu nhập cũng đủ cho hai thầy trò phè phởn sống! Chó và Người, cuối ngày, cười hề hề lượm tiền của thiên hạ.

Người ta thương tình cho tiền; không phải cho cái thằng làm biếng đó mà cho con chó; vì sợ nó đói.

(Chó Úc dạo nầy than phiền chánh phủ Úc dữ lắm vì vật giá gia tăng, thức ăn đóng hộp dành cho chó đã lên giá tới 10% lận đó.)

Ngoài ra, con người còn huấn luyện chó dẫn đường cho người khiếm thị.

Ngoài đường phố Melbourne, ngựa xe như mắc cửi, mỗi lần lái xe đi làm, thỉnh thoảng tui cũng thấy con chó dẫn đường!

Đèn đỏ chó biết dừng, chờ dấu hiệu đèn xanh dành cho người đi bộ kêu lốc cốc nó mới dẫn ông chủ khiếm thị của nó băng qua lộ. Hay hết biết!

Rồi Cảnh sát cũng huấn luyện chó để lùng sục xì ke ma túy hay để cắn mấy thằng tội phạm hung hãn mà mấy Thầy đội cũng ngán không dám nhào vô; bèn suỵt chó cho vô trước, gọi là Cảnh khuyển.

Quân đội cũng huấn luyện chó đánh hơi tìm bom mìn, lùng sục bọn khủng bố đang trốn dưới hầm gọi là Quân khuyển.

Chính vì vậy mà hồi chiến tranh Việt Nam, VC ghét chó lắm. Vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm CS, là chó bị tụi nó bắt mần thịt, rựa mận, chả chìa, dồi chó… ăn nhậu ráo trọi.

Nghĩa là ở đâu có người là ở đó có chó! Chó đối xử với con người rất tốt ngay cả hi sinh thân mình biến thành cầy tơ bảy món, a đây rồi; còn con người chỉ biết lợi dụng lòng tốt của chó mà thôi!

Chó tốt nhứt là lòng trung thành. Ai cũng biết!

Chuyện rằng chú chó Hachiko sáng đều ra nhà ga xe lửa Shibuya tiễn ông chủ Eizaburo, một giáo sư Khoa Nông Nghiệp trường Đại học Tokyo đi làm. Hachiko ngồi đợi tới chiều để đón ông chủ về.

Nhưng ngày 21, tháng Năm, năm 1925, ông chủ không về nữa vì bị đột tử trong lúc làm việc do bị một khối u trong não.

Thiệt là: “Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy/ Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?

Ngập ngừng, lá rụng cành trâm/ Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao!”

Rồi suốt 10 năm sau đó, Hachiko vẫn tiếp tục đến nhà ga vào buổi sáng đợi cho tới buổi chiều, ngay đúng giờ tàu đi và đến để chờ ông chủ mình về trong vô vọng.

Năm 1934, dân Nhật cho đúc một tượng đồng ngay trước cổng nhà ga khi Hachiko vẫn còn sống. Hachiko tuổi già, sức yếu chết một mình, cô đơn trên đường phố gần nhà ga Shibuya vào ngày mùng 8, tháng Ba, năm 1935.

Đây là một câu chuyện cảm động về một nghĩa khuyển tri tình nhưng tiếc thay sau đó chánh quyền quân phiệt Nhựt lại lợi dụng lòng trung thành tuyệt đối vô điều kiện của con chó Hachiko để kích động lòng yêu nước cực đoan, mù quáng trung thành vô lối với Thiên hoàng nhằm xô đẩy nhiều thế hệ thanh niên Nhựt Bản gia nhập vào quân đội Phù Tang, gây biết bao nhiêu tội lỗi cho dân các nước vùng Đông Nam Á trong đó có nước Việt Nam mình vào Thế chiến thứ Hai.

***

Chó Nhựt trung thành là vậy; chó Tàu Thời Tam Quốc cũng chơi ngon, dám hi sinh thân mình để cứu chủ nữa đó.

Chuyện rằng: Lý Tín Thuần nuôi con chó tên là Hắc Phong. Một hôm, Lý ra ngoài thành nhậu xỉn, loạng choạng về nhà không nỗi, bèn nằm phê ngay dưới bãi cỏ.

cho va nguoi 05Xui cái là quan Thái thú đi săn, đốt cỏ để đuổi thú, khiến quần áo Lý bén lửa cháy.

Hắc Phong đến kéo chủ dậy nhưng chủ không động đậy. Chó bèn đến ngòi nước cách đó 35 bước, dầm mình cho ướt chạy về dập lửa cho chủ.

Cứ như vậy, chó chạy đi chạy lại nhiều lần, cuối cùng  mệt quá, kiệt sức, Hắc Phong nằm thè lưỡi chết ngắc.

Khi Lý tỉnh cơn say, thấy chó chết vì cứu mình thì báo cho quan Thái thú biết. Quan Thái thú phán: “Đúng là sự báo ân của loài chó còn hơn sự báo ân của con người. Con người đôi khi không bằng được con chó?”

Bèn cử hành đám tang cho Hắc Long rất long trọng và tôn làm nghĩa khuyển để răn dạy mấy chú ba Tàu khác đừng có manh tâm phản loạn. Hãy trung thành tuyệt đối với chủ mình, trung thành với chế độ phong kiến, với tầng lớp quan lại như là chó trung thành, xả thân vì chủ vậy!

Mấy ngàn năm sau, bà Tôn Nữ Thị Ninh, từng làm Đại sứ VC tại Liên Âu cũng học theo cái chiêu màu mè, ý đồ thâm độc của quan Thái thú Tàu hồi xưa!

Bà Ninh nầy nghe nói cũng có ăn học tiếng Tây, tiếng U rốp rốp như bẻ mía mà không hiểu về dân chủ, tự do, nhân quyền gì hết ráo mà mở miệng ra là tán láo.

Năm 2004, khi bị báo chí phương Tây chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền trong nước thì bà Ninh phán một câu xanh dờn là: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.

Ê! Nói nghe kỳ quá he? Chánh quyền là đầy tớ của dân, phục vụ dân, dân làm chủ.

cho va nguoi 04Chánh quyền đâu phải là cha là mẹ dân mà đóng cửa, bộp tai, đá đít nó rồi hàng xóm nhẩy vô can; còn tru tréo là chuyện nội bộ của tụi tui đừng có chỏ mỏ vào sủa nhe! Nghe sao đặng hè?!

Vì cái cặn bã lợi danh mà muối mặt trung thành với bọn CS cầm quyền cho mình ăn nhậu thì cứ làm. Đừng dạy đời những người bất đồng chánh kiến trong nước là: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”.

Dân ngu khu đen, người làm chủ đất nước thấy chánh quyền tức đầy tớ của mình làm không chịu làm; mà chỉ ăn không, thì họ có quyền rầy đấy chớ!

Con chó trung thành với người chủ vì người chủ yêu thương chăm sóc nó.

Đó là một quan hệ hổ tương và rất công bằng!

Còn chánh quyền gì hở ra là bóc lột, áp bức, đàn áp nhân dân mà mở miệng ra là ra rả kêu gọi lòng trung thành làm sao được?

W.R. Koehler, một bậc sư tổ trong nghề dạy chó, đã từng phán rằng:

“Những con chó thông minh ít khi làm vui lòng những ai mà chúng không tôn trọng” “Intelligent dogs rarely want to please people whom they do not respect.”  –

***

Tui thì yêu chó; nhưng em yêu của tui thì ghét chó! Vì nhém chút nữa con chó đã làm tan vỡ tình mộng với anh yêu tức là tui đây nè!

Chẳng qua hồi xưa cách đây hơn gần nửa thế kỷ tui đeo đuổi, trồng cây si ngay lối đi, trước cửa nhà em mỗi chiều, chờ em tan trường về anh theo Ngọ về!

Tía em thấy vậy, nhà đã kín cổng cao tường mà ổng còn hù tui bằng cách treo trước cổng nhà hình con chó Berger, nhe hai hàm răng nhọn lễu với hàng chữ tiếng Anh là: “Beware of the Dog!”

cho va nguoi 06Tui đâu biết tiếng Anh, tui chỉ biết tiếng em; nên một ngày bạo gan chặn em lại giữa đường để cho anh hỏi tận tường: “Beware of the Dog là gì vậy em Hai?”

Thì em cầm cái vạt áo dài đưa lên miệng cắn, e thẹn cắt nghĩa là: “Coi chừng chó dữ:”

Sau đó, em lại cố vấn cho tui là: “Never mind the Dog, beware of the owner!”

Tui không hiểu gì ráo! Về nhà giở từ điển Lê Bá Kông chổng mông ra tra mới hiểu lỏm bỏm là: “Đừng kể số gì tới con chó mà hãy coi chừng chủ của nó!”

Ối tưởng cái gì! Khi yêu, em là sư tử, tui còn chưa sợ huống hồ gì đem con chó ra hù tui chớ?!

Đẹp trai không bằng nói dai mà! Nói hoài cũng lọt lỗ tai. Em đồng ý ưng tui để hai ta vầy duyên can lệ.

Ngày rước dâu tui xin nhà bên vợ cho tui cái bảng: “Beware of the Dog”, “Coi chừng Chó dữ” về treo trước cửa nhà tui.

Em yêu hỏi nhà mình đâu có chó mà anh cần cái bảng nầy? Tui cười he he trả lời rằng: “Treo để hù thằng khác! Nhứt là thằng cha bưu tá phát thư; vì như em thấy đó con chó lúc nào thấy thằng chả là nó ùa ra sủa. Con chó còn hỏng tin thì mình ngu sao mà tin hé?

Đời mà em! Mình có vợ đẹp là đừng tin ai hết. Treo bảng coi chừng chó dữ cho nó chắc ăn.”

Kết luận: Chó và người! Chó luôn bị con người lợi dụng. Thiên hạ lợi dụng chó cho mưu đồ chánh trị xấu xa. Còn tui lợi dụng chó chỉ để bảo vệ tình ta thôi mà!

Happy New Year!

CHỮ TÍN

Mủ đỏ Trương Văn Út – Út Bạch Lan

“Nhân vô Tín bất Lập”

Tự xa xưa, tiền nhân đã Đông Phương sinh sống, ứng xử với con người trong vạn cảnh cuộc đời… tự thể nghiệm kinh lịch qua bản thân rồi đúc kết thành những “qui luật” tinh thần để áp dụng trong đối nhân xử thế, lấy: Lễ Nghĩa, Liêm Sĩ, Nhẫn Nại, Khắc Kỷ, Bách Chiết, Bất Khuất làm phương châm rèn luyện tư cách bản thân và lấy chữ Tín làm trọng để tương giao và giữ gìn cho sự liên hệ giữa Người với Người được bền chặt tốt đẹp lâu dài…Nên: ” Nhân Vô Tín Bất Lập” là câu nói trách cứ của người xưa bậc Cha Ông đã thành văn vẻ đẹp truyền lại cho hậu thế làm gương soi là một trong những“Khuôn Vàng Thước Ngọc” để là Người , làm Người và “Thành Nhân Chi Mỹ”…

Tôi chỉ có một bà chị dâu duy nhất, chị kết hôn với người Anh thứ Ba của chúng tôi là Trương Văn Nhì tốt nghiệp Khoá 15 Võ Bị Đà Lạt, phục vụ tại Trung Đoàn 12 thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh, nên gọi là chị Ba, tên chị là Trần Sâu Lầy, nghe qua họ tên thì biết ngay chị là người Việt gốc Hoa. chị sinh quán tại thị xã Cây Dừa, Quận Cai Lậy, Mỹ Tho, xuất thân từ Trường Sư Phạm Sài Gòn và làm Cô Giáo ngay tại nơi chị sinh trưởng và với quan niệm của người Hoa từ nhiều đời: “Quân, Sư Phụ” được tôn quí, kính trọng…Nên “Cô Giáo Lầy”, chị dâu của tôi được dân chúng trong Quận Hạt và cộng đồng người Hoa quí mến, cư xử chân tình ! Theo lời kể của chị: “:…gia đình Ông Sở, Ông Sơ… thuộc dòng dõi Minh Hương bên Tàu , chạy tỵ nạn nhà Thanh cùng thời với Mạc Cửu,Mạc Thiên Tứ lập nghiệp định cư ở miệt Cà Mau….Cho đến đời Ông Cố, Ông Nội vẫn còn ôm giấc mộng “Phản Thanh Phục Minh”.. .và đến đời thân phụ thì di chuyển về Cây Dừa, Cai Lậy và chị được sinh ra nơi đây…”.

Năm 1975…! Anh tôi đi tù, chị bị “chính quyền” mới cho nghỉ việc dạy học vì là vợ Ngụy, chị chuyển sang nghề may vá tần tảo nuôi ba đứa con còn nhỏ dại…! Sau khi trốn ra khỏi Trại tù “cải tạo” Long Giao… thỉnh thỏang tôi lén lút ghé thăm chị và các cháu, nhìn chị vì quá kham khổ để lo sinh kế cho toàn thể người thân yêu trong gia đình…nay đã gầy rọp người, lưng còm xuống trông giống như người phụ nữ lão hoá tuổi ngoài năm mươi ! Tuy khổ cực khốn khó như thế…! Nhưng cứ sáu tháng một lần, chị vai gánh hai bao bị thức ăn khô, thuốc men…từ SàiGòn ra đến trại Vĩnh Phú (Bắc Việt) thăm nuôi chồng đang bị tù đày khổ sai …không biết ngày nào được thả ra!

Năm 1987, anh tôi được ra khỏi tù, chị đã chuẩn bị sẵn kế hoạch và phương tiện để cho chồng vượt biên bằng đường biển qua sự giúp đỡ từ những gia đình người Việt gốc Hoa mà chị thân thích. Không may mắn chuyến vượt biên bị bể, Anh lại bị bắt và bị giam tù khổ sai thêm ba năm nữa tại Mõ Cày (Bến Tre)…Được tạm tha, anh trở về gia đình với vòng tay quán xuyến buôn tần bán tảo của chị cho đến ngày cả gia đình được sang Mỹ với diện HO5 .Ngày nay, gia đình anh chị tôi đã ổn định, con cái đều đã thành thân và thành nhân với một đàn cháu nội, ngọai đề huề… Có lần tôi hỏi chị:

-Bí quyết nào giúp cho chị vượt qua tất cả gian nan để có ngày nay?

Chị cười và nói:

– Có gì lạ và là bí quyết chi đâu…chẳng qua chị có 9 đồng chị cố kiếm thêm 1 đồng để đủ 10 đồng rồi chị dấu đi để phòng khi hữu sự, còn tụi em có 9 đồng đi vay thêm một đồng để chén thù chén tạc với bạn bè …tiền vất qua cửa sổ chẳng bao giờ chạy ngược trở vào…!

Đó là “triết lý” sống thực tế “đơn giản” của người chị dâu gốc Hoa của tôi.

Ngược dòng thời gian năm 1979: Sau khi vượt trốn trại tù, tôi sống lang thang không nhà không cửa, ngoài vòng pháp luật…thỉnh thoảng dò xét hoàn cảnh tương đối an toàn xong tôi lén thăm chị và hỏi thăm tin tức người thân quyến thuộc và Anh Ba của tôi đang bị giam tù ở Yên Bái, Bắc Việt…tôi được chị lo “mai mối” và giới thiệu tôi với một gia đình người Hoa trong Chợ Lớn giúp tôi có được một việc làm”chui” là cứ đến lúc 5 giờ mỗi buổi sáng sớm, tôi đạp xe đạp đến chỗ hẹn, nhận 3 cây vải “Sa-teng” trắng chở lên Cầu Tre (Phú Lâm) giao cho một xưởng nhuộm lậu, đến buổi chiều lúc 3 giờ trở lại nhận 3 cây Sa-teng đen đem về giao lại cho chủ, cứ mỗi chuyến “giao hàng” như vậy chủ trả cho tôi 25 đồng tiền mới (tiền “cụ Hồ”) để độ nhật qua ngày…Ông chủ gốc người Hoa trạc 60 tuổi gọi là Chú Quảnh, và người em trai là Chú Xồi… Tôi không biết gia đình họ có bao nhiêu người…? Nhưng hai anh em họ sống chung với nhau trong căn phố ba tầng ở đường Triệu Đà, Chợ Lớn, căn phố cũ kỹ với tuế nguyệt thời gian có lẽ đã lâu lắm không có sửa sang tu bổ và xuề xòa với đời sống thường nhật…không một chút xa hoa hào nhoáng như những căn phố toạ lạc trong khu vực…!

Một hôm như thường lệ làm xong phần việc, Chú Xồi trả tiền công cho tôi 25$, nhận tiền xong tôi vội vả đạp xe giông tuốt để “Quân Tử khốn cùng chi ẩm thực” cho ngày nào hay ngày nấy mà…trên đường “thiên lý” với “lý ngựa ô xe đạp” thênh thang “sông hồ” mà thăm thế sự…tôi ghé “quán”Café ven lề đường định “chơi” một cái “xây chừ” (Café đen đá) cho đã cơn ghiền thói tật xa hoa ngày nay là sinh hoạt thường…thường của “Thời Hoàng Kim” trước 30-41975 và khi mà loài khỉ chưa vào thành “Tràng An” thể hiện thói tật dzăng minh “cái nồi ngồi trên cái cốc” khai phóng “Bình Minh Tiền Sử” với “đỉnh cao trí tuệ” là thói tật hoang dã cấu thành quán tính kinh qua nhiều cuộc “trường chinh kách mệnh” đấm đá giết hại để “đấu tranh giai cấp” ban phát sự nghèo đói mạt hạng cho thị dân đã có đời sống tự do, văn minh, sung túc miền Nam…và “Thượng Đế” từ “Giời” cao đã “gây nên cuộc hý trường” tạo “Nạn Hồng Thuỷ Tháng Tư Đen năm 1975″ để giúp loài “linh trưởng” vừa mới mon men mó chân ra khỏi hang động để tìm thú, săn mồi…phạm tội rồi “gánh tội” thay cho “Sự Lập Trình” quá ư là tàn nhẫn, vô nhân đạo đầy rẫy khiếm khuyết…với cuộc diệt chủng, phá hư hoại nền Văn Hoá mà bao thế hệ con dân Nước Việt đã y cứ làm bản vị, không quản ngại Xã Thân Chiến Đấu để Bảo Quốc, An Dân, Tồn Chủng, Sống Còn, Nối Tiếp, Tiến Hoá…”Thuợng Đế” đã chết ?!…

Tôi móc túi kiểm điểm “ngân khố” đếm tiền vói niềm vui thơi thới vì sao có tới những 50$?!!! …và đếm lại thì đúng 50$ chứ không phải là 25$ tiền công thường nhật…? Ở trong hoàn cảnh hiện tại khốn cùng này, tiền không phải là “vật ngoại thân”, được đồng nào hay đồng nấy…hớp vài ngụm café, tôi bỗng giật mình vì chợt nhớ lại lời chị dâu tôi căn dặn:” Em phải nhớ,…làm ăn với người Tàu thì một cắc là một cắc, một đồng là một đồng, phải cho đàng hoàng thành tín, ăn gian, nói dối thì không bao giờ làm ăn với họ được…họ làm ăn với nhau chỉ đơn giản chỉ với một chữ ...”TÍN”...”. tôi bừng tỉnh, cong lưng đạp xe nước rút một hơi trở lại gặp Chú Xồi và hoàn trả 25$ mà Chú đưa “dư” cho tôi…Chú cười thân thiện nhận lại tiền. tôi không biết chị tôi có nói gì với họ về tôi hay không? Nhưng một hôm sau khi tôi giao hàng xong thì Chú Quảnh vui vẻ nói:

” Nị dzào chong dzửa tay dzồi dza ăn cơm dzới Ngộ há, ..”!

Trong bữa cơm gồm cả hai gia đình, họ xí xô xí xào chuyện trò huyên thuyên, tôi mà hiểu được “chết liền”…!!! Xong “tiệc” tôi chào từ giả ra về, Chú Quảnh đưa tôi ra cửa và hỏi nhỏ:

“Nị là…có fải là Xĩ Quang Nguỵ chzốn học tập không hả…Tzừng sợ? Ngộ piết hếch dzồi …từ từ dzồi mình sẽ tính há …”!

Tôi rời nhà Chú Quảnh với nỗi “cực kỳ”căng thẳng và “cảnh giác”có chút e dè lo sợ bị lộ tẩy và sẽ bị bắt trở lại vào tù, vì bọn Việt Cộng xử tù trốn trại rất ác độc ! Tôi tự hỏi ngày mai có nên trở lại nơi này không? Không, chắc chắn là không. Trên đường đạp xe về bến xe An Đông để tìm chỗ trú ngủ qua đêm, tôi chuyển hướng đạp xe qua bến Phạm Thế Hiển gặp chị tôi để hỏi cho ra lẽ, gặp chị tôi trình bày chuyện vừa qua và lo lắng hỏi xem là chị có nói cho họ biết về thân thế vượt ngục và hoàn cảnh trốn tránh của mình hay không? chị cười hiền hậu trấn an tôi rồi nói với giọng tự tin và bình thản:

” …Em yên tâm, không sao đâu…họ đang giúp Em đó…”.

Hai tuần sau Chú Quảnh đưa cho tôi một giấy khai sanh giả tên họ mới của tôi là Trần Chỉnh sanh năm 1942, người Việt gốc Hoa.

Sau đó tôi được xếp vào danh sách với gia đình Chú Quảnh, Chú Xồi tổng cộng hơn 60 người nam phụ lão ấu lên thuyền ghe đánh cá máy 3 đầu bạc, tách bến rời kinh Miệt Thứ, Rạch Giá ra khơi vượt biên. Thuyền ra khơi an toàn, máy chạy suốt, thuyền lướt sóng phom phom cho đến xế trưa ngày hôm sau thì gặp tai nạn bị gãy bánh lái, cách đảo Phú Quốc chừng 10 cây số về hướng Đông ! Thuyền dừng lại thả neo để sửa chữa thay bánh lái phụ, một chiếc tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc xáp lại gần, tất cả chúng tôi phải ém xuống khoang thuyền, phía trên chỉ năm ba người giả bộ như ngư dân đang đi đánh cá. Tàu đánh cá VC không xáp lại gần, mà chỉ chạy chậm lại ngang ghe chúng tôi vài chục mét, người trên tàu vẩy vẩy tay chào rồi tiếp tục hành trình về hướng Phú Quốc. tôi và Chú Quảnh bò lên phiá sau lái hỏi Anh Lợi, người tài công đã có 10 năm kinh nghiệm đánh cá, Anh nói với chút lo âu:

” …mình phải đi ngay càng nhanh càng tốt, tôi biết thế nào bọn chó đẻ đó cũng gọi báo Công An Biên Phòng…”.

Bánh lái đã được sửa chữa xong sau 15 phút, rồi nhổ neo, nổ máy tiếp tục hành trình vội vả về hướng Nam…Nhưng quá trể! Hai chiếc PCF (duyên tốc đỉnh) Công An Biên Phòng với lá cờ máu phất phới lướt sóng đuổi bắt phía sau thuyền vượt biên chúng tôi, chúng bắn vài tràng đại liên chỉ thiên đe dọa…và thế là chúng tôi bị bắt tất cả, thuyền bị kéo về đồn CABP Cây Gáo, tất cả mọi người bị tống vào trại giam của Ty Công An Hình Sự Cà Mau phía bên kia cầu sắt, bên này là Chợ Cà Mau! Thời điểm này là lúc phong trào vượt biên bán chính thức đang nở rộ công khai. Người Hoa giầu có của cải tiền bạc giao nộp, cống hiến, lo lót cho “giới chức quyền thế Vc” trong Chương Trình Bán Bến Bãi Vượt Biên, Xuất Cảng Người Hoa Vượt Biên… nên họ từ thành phố xuống Cà Mau được ưu đải như khách du lịch có passport chờ xuất ngọai…!!!

Ghe của gia đình Chú Quảnh là ghe vượt biên lậu, nhưng nhờ “thời điểm thuận lợi” này mà cả gia đình trên ghe của Chú Quảnh được đối xử không đến nổi tệ, bọn CA chỉ lo vơ vét vàng…5 cây…10 cây…tùy theo số lượng thu hoạch để giải quyết vấn đề. tôi không biết gia đình Chú Quảnh và Chú Xồi “làm việc” với bọn chúng cái gì vì mỗi lần Chú Quảnh được gọi lên văn phòng “làm việc” khi trở về phòng giam chật nít không có chỗ nằm họ chỉ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tàu…rồi hai ngày sau, đàn bà con nít được CA đưa ra bến xe đò trở về SàiGòn, đám đàn ông bị giữ lại chờ xét xử sau. Trong thời gian chờ “làm việc” Chú Quảnh dặn tôi:

“Nị nhớ khai Nị là em dzợ của Ngộ há…Nị là em dzuột của dzợ Ngộ…nhớ lói dzọng lơ lớ…đừng có lói nhiều hả …”!

Sau một tuần thẩm vấn từng cá nhân một, 18 anh em “người Hoa chúng tôi” được ra ngoài lao động vác lúa mang vào nhà máy xay, sau đó khiêng gạo xuống mấy ghe bầu đậu sẵn dưới sông bên cạnh cầu sắt…Bao nhiêu nỗi lo âu ban đầu dần dần vơi đi…tôi bỏ hẳn ý định trốn thoát trại giam lần nữa vì tin rằng sớm hoặc muộn gì dù không biết bao lâu chúng cũng thả chúng tôi ra, lại thêm vào đó tình cảm của tôi với Anh-Em Chú Quảnh càng ngày càng thân mến khắn khít qua những liên hệ đồng thân phận người tù cùng chung một trại giam có ân tình chia bùi xẻ ngọt thời qua và họ đối đãi với tôi như chính anh em thân tình quyến thuộc của Họ! Sau hơn ba tháng lao động chúng tôi được cấp giấy “tạm tha trở về nguyên quán”. Điều này đối với tôi thật như đang nằm mơ! Vì với tội danh vượt biên thì ít nhất bị đày ba năm khổ sai lao động ở các trại tù cải tạo của miền Tây. Tôi bèn tò mò hỏi Chú Xồi, Chú chỉ trả lời:

-“mấy Bả dzề chước…chạy chọt lót đút lo cho tụi mình…”.

Về đến Xa Cảng Miền Tây chia tay, Chú Quảnh lại dặn dò tôi:

“…Nị nghỉ ngơi dzài ngày dzồi chở lại gặp chúng tôi há …”! Chú nhét vào túi quần tôi 50$.

Trở về nguyên quán? Nguyên quán của tôi ở đâu? …chỉ là nơi chốn đầu đường xó chợ, ga xe lửa, bến xe đò, bãi lầy kinh rạch hôi hám và đen tối như tương lai mờ mịt của mình…! Tâm tình nhớ vợ thương con thì tìm tới nhắn với chị Ánh (vợ Hùng Móm), chị Hồng Tố Yến (Vợ TTC), chị Thu (vợ NTN) rồi lén lút hẹn gặp vợ con vài ba tiếng đồng hồ lang thang trong sở thú…!

Một tuần sau tôi mon men trở ra Chợ Lớn tìm Chú Quảnh, đứa con gái Chú Xồi chỉ tôi ra quán café góc đường Triệu Đà-Hùng Vương nơi đây tôi gặp lại họ, Chú Quảnh thấy tôi Chú mừng lắm…!!! Chú nắm tay tôi kéo đi một khỏang khá xa và nói:

” Nị đi ngay đi …đừng dzào trong đó…Ngày mai lúc 6 giờ chiều tới gặp Ngộ ở nhà hàng Soái Kinh Lâm…Nị piết chớ…”!

Tôi im lặng gật đầu, trở lại lấy xe đạp rồi cứ đạp miết vô ngã hẽm này, ra ngã hẽm khác, len lõi vào giòng xe đạp trên các lộ chính rồi bất ngờ quẹo vào một con hẽm nào đó..Tôi tin gia đình Chú Quảnh và họ là nơi bám víu duy nhất với chút hy vọng mong manh là chỉ có gia đình Chú Quảnh mới có thể giúp tôi thoát khỏi nơi khổ nạn nầy để đến bến bờ Tự Do. Nhưng bây giờ qua sự gặp gỡ vừa rồi tôi hiểu là gia đình của Chú Quảnh đang bị theo dõi gắt gao.

Sau bốn năm giải phóng, nhà hàng Soái Kinh Lâm vẫn sang trọng huy hoàng rực rở như ngày nào. Ttôi bước vào cửa và chạnh lòng ngậm ngùi nhớ lại những tháng ngày của một thời “oanh liệt” xưa cũng tại nơi nầy tôi ăn uống thù tạc với đám bạn hữu cho đến ngất ngưỡng cơn say, đêm khuya giới nghiêm mới lê gót lãng tử come back to sorento:“… về đây khi trong túi không còn su teng, về đây chi hồn gởi lại cave, về đây hỡi mái tole nóng hừng hực và ta phải dối gian với vợ nhà, ôi lãng du không còn ngang tàng”… trở về nhà trong những “ngày nghỉ phép em ơi, những ngày nghỉ phép em ơi thật là ngầu” …ha…ha…ha…thật Hùng Cường –Mai Lệ Huyền…!!!

Tôi ngồi vào chiếc ghế bên cạnh Chú Xồi , đảo mắt nhìn qua một vòng rồi yên tâm vì không thấy có người lạ khả nghi, nhận biết hầu hết là những người cùng tôi vác lúa khổ cực ở trại giam Cà Mau…Chú Xồi ra dấu chỉ một người rồi hỏi tôi:

-Nị còn nhớ Chú Xường ngồi bên kia bàn hay không …?

Tôi nhận ra và trả lời:

-Dạ …tôi nhớ…!!!

Chú Xồi hỏi tiếp:

-Nị nhớ coi ai ngồi bên cạnh

Tôi nhận ra và trả lời:

-Dạ…Chú Chảnh…!!!

Chú Xồi nói tiếp:

-Nị ráng nhớ cho kỹ…một lát nữa Nị qua đó nói chuyện chơi…hễ tụi nó nói bảo làm cái gì thì Nị cứ làm y theo lời của tụi nó…không có hại gì đâu. Mấy cái thằng chó chết VC chúng nó đang đánh “Tư Bản Mại Sản” để vơ vét ăn cướp của người ta…chúng nó ra lệnh đóng cửa ba cái hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, tịch biên tất cả vải vóc của chúng tôi đang có và sẽ tịch thu tài sản, nhà cửa…rồi tống cổ chúng tôi lên vùng “Kinh Tế Mới”…không biết ở đâu nay mai…Chúng tôi không còn còn giúp cho Nị được nữa ! Đây là hộp Trà Sâm của Anh Chảnh biếu cho anh…có vậy thôi! Nhớ giữ hộp Trà nầy bên mình…Bây giờ Nị qua bàn nói chuyện với Anh Xường và Anh Chảnh.

Chú Quảnh từ một bàn khác liếc nhìn tôi mĩm cười…!!! Buổi tiệc hôm nay là Ngày Sinh Nhật thứ 16 con gái Út của Chú Quảnh.

Tôi nắm lấy bàn tay Chú Xồi siết thật chặt và thật lâu trước khi chỉ biết nói hai chữ:”cám ơn”… rôì bước sang bàn Chú Xường. Chú Xường và Chú Chảnh chỉ lớn hơn tôi năm hoặc bảy tuổi, nhưng tôi vẫn gọi bằng Chú theo cách tự nhiên xưng hô thường ngày giao tiếp với cộng đồng người Việt gốc Hoa thân thiện nầy, lại nữa trong thời gian cùng ở chung trong trại tù CA Cà Mau, chúng tôi đồng chung số phận bị nhốt trong cái láng dơ bẩn và ba chúng tôi san xẻ nằm chung một chiếc chiếu rách tả tơi…đêm tối sau cả ngày lao động khổ sai vác lúa, khênh gạo tơi tả …khi ngã lưng xuống chiếu tôi thường hay kể chuyện Tứ Tài Tử Thư lừng danh Trung Quốc như: Thủy Hử, Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Tây Du Ký… cho họ nghe trước khi im thiếp vào giấc ngủ. Trong bàn tiệc đã sắp xếp dành sẵn cho tôi ngồi giữa Chú Xường và Chú Chảnh, chờ cho tôi yên vị xong, Chú Xường đi ngay vào việc:

-Anh có biết nhà hàng Thanh Thế ở chợ Bến Thành không?

Tôi đáp:

-Dạ biết.

Chú Xường nói tiếp:

-Anh nhớ kỹ lời tôi dặn đây, hôm nay là ngày Thứ Bẩy, sáng ngày Thứ Hai tới, anh tới Thanh Thế để gặp tôi và Chảnh, cứ đến đó vào lúc khoảng 10 giờ sáng, nhởn nha uống cà phê, nhớ ăn mặc xuề xòa, râu tóc để nguyên đừng cạo, đừng hớt… Đêm nay nhớ mở Hộp Trà Sâm mà Anh Quảnh biếu cho Anh… nhâm nhi cho đở buồn…”!

Tôi đứng dậy, nhìn một lượt chung quanh rồi nhẹ cuối đầu chào như một sự từ giã không lời…lặng lẽ ra về với bao nỗi buồn vui lẫn lộn bâng khuâng trong lòng cùng với nhiều thắc mắc không thể lý giải… “Họ” là ai: “Tài Phiệt Chợ Lớn” cở như Mã Tuyên hay Mã Sái chăng…? Hay thành viên của Triều Châu Phúc Kiến, hoặc thuộc xã hội đen của Tàu Cộng,, Đài Loan, Hồng Kông…? Sau cùng tôi bỗng mặc kệ phó thác “Họ” là gì đi nữa cũng chẳng sao vì “Họ” đã giúp đỡ cho tôi đang thân phận cá chậu chim lồng có được sinh nhai hiện tại và thật tình cố vượt thoát ra khỏi nước qua chuyến vượt biên bất thành trước đây…suy nghĩ làm chi cho thêm mệt óc, miễn sao mình còn “thong dong” đạp xe đạp tự do trốn tránh, an bình được ngày nào hay ngày đó dưới đường phố mưa sa mà “đéo” thèm thấy cờ đỏ sao vàng trước mắt giăng giăng…! Đêm đó tôi mở hộp Trà Sâm và ngạc nhiên với 10 lượng vàng Kim Thành thứ thiệt nằm trong hộp và chợt nhớ lời Chú Xường dặn:” Thứ hai gặp tôi ở Thanh Thế…”.Tôi ngủ chập chờn trên một căn gác thuê bẩn thỉu đầy chuột và dán ở bến xe An Đông.

Lúc xưa còn tại ngũ, khi đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, tôi thường cùng bạn bè la cà…sáng café có pha chút bơ Bretel ở nhà hàng Thanh Thế toạ lạc phía Tây chợ Bến Thành độ trăm thước, buổi trưa ăn chateaubrilland ở nhà hàng Thanh Bạch rồi Café Brodard rồi đến đêm tối nhẩy nhót lã lướt ở vũ trường Vân Cảnh hay hộp đêm Thanh Thanh ở xa lộ… Trong nhóm thường có Mỹ Hôi, Hùng Móm, Hùng Mập, Dũng Tây Lai, Cao P Minh, Xuân Đờn Cò, Ninh Mắt Trừu…một hoặc hai thằng chia nhau một chầu, chỉ một ngày rong chơi cũng vơi đi gần nữa tháng lương, để khi trở về nhà ngồi vào bàn ăn với vợ con thì ôi thôi“một mái nhà tole hai quả tim vàng…nhà em có cơm rau muống với cà…và có con thơ vợ già…vợ thương anh lắm hỡi mấy em cave ngào ngạt mùi hương nước hoa Chanel 5 thơm hơn như múi mít ơi…”! Nhìn thê nhi bèn ái ngại “anh hùng” mặc cảm tội lỗi “lòng chợt từ bi bất ngờ” …!

Nay theo lời dặn của Chú Xường, tôi đến nhà hành Thanh Thế khỏang 10 giờ sáng, khách khứa chỉ lác đác năm ba người ngồi uống cà phê …Tôi tìm cái bàn trong góc có thể nhìn suốt qua cửa kính để quan sát cả trong lẫn ngoài, gọi và thưởng thức hương vị café pha lẫn bơ Bretel cũ, hút hết điếu Samit thứ hai thì Chú Xường và Chú Chảnh cũng vừa đến. họ vẫn tíu ta tíu tí, xí xô xí xào… như mọi khi…Tôi đứng dậy chào, Chú Xường thân mật vội vàng ấn vai tôi ngồi xuống…ngồi xuống…rồi Chú trình bày chuyện quá dài…(tôi nhớ lại và chỉ viết tóm tắt trong phạm vi bài viết này mà thôi) !Chú Xường mở lời :

-Đêm qua anh uống Trà Sâm có ngon không? tôi gật đầu .

-Anh có mang hộp trà theo anh không?

-Dạ có.

-Anh đưa cho tôi…!

Tôi lẳng lặng làm theo và lần mở cái túi vải “ăn mày” để lấy 10 cây vàng được gói cẩn thận trong cái quần lót dơ bẩn vàng úa đưa cho Chú Chảnh rồi im lặng ngồi nghe…Chú Xường đưa cho tôi một túi giấy trong đó có bốn cái bánh tiêu còn nóng hổi và nói:

-Thời giá hiện nay …một cây là 2850 đồng (tiền “già Hồ”). Chúng tôi lấy lại 10 cây này và trả lại Anh bốn cái bánh tiêu, Anh có puồng không ?

Tôi thực không có “puồng” một chút nào, tâm dững dưng trước 10 cây vàng hiện tại “Anh Hùng bơi trong bỉ vận” gặp ân nhân đương tay trợ giúp thì tham lam chắc đã được gì và lợi lạc được bao lâu? Tôi bình thản trả lời vui buồn không hiện trên ánh mắt:

-Dạ không, Ngộ không có puồng!!!

Chú Xường cười ưng ý và nói tiếp:

-Ở dưới bốn cái bánh tiêu là cái đai vải (nguời Bắc gọi là cái ruột tượng) có 30.000 ngàn tiền mặt trong đó, anh nhớ lúc nào cũng cột thật chặt vào hông của anh …chờ chút nữa sẽ có một người nữa đến gặp anh, Anh ấy là Anh Em chú bác với tụi tui, anh Xế Phò sẽ cho anh biết anh sẽ phải làm gì…còn phần tôi (Chú Xường )… Anh phải nhớ kỹ những diều dặn dò của tôi sau đây: Anh Quảnh bảo chúng tôi gặp anh để cho anh biết những gì anh Quảnh đã sắp đặt cho anh. Anh có biết tại sao không?

-Dạ không, Ngộ không piết…!!!

-Chỉ vì Anh đã trả lại 25 đồng cho anh Xồi, Anh Xồi lo cho chuyến vượt biên kỳ vừa rồi đó, Anh Quảnh rất lo cho anh nếu bị lộ tông tích thì chỉ có chết…! Anh có biết Thương xá Tam Đa cũ hay không?

-Dạ biết.

Chú Xường nói tiếp:

-Bây giờ là Cửa Hàng IMEX bán những mặt hàng ngoại quốc mà chúng nó tịch thu của người Tàu chúng tôi ở Chợ Lớn…Thôi uống cà phê đi…!

Thì cũng vừa lúc Chú Xế Phò bước vào, dáng người dong dỏng cao vẻ ngoài trí thức không giống giới thương buôn Hoa Kiều chút nào…Chú nói thông thạo lưu loát tiếng Quan Thoại, Pháp, Việt Nam như người bản xứ. Khi Chú Xường, Chú Chảnh ra về, còn lại một mình tôi với Chú Xế Phò, Chú bắt đầu chất vấn tìm hiểu về tôi:

-Anh tên Trần Chỉnh hả

-Dạ vâng…!

Chú mĩm cười, cái cười hàm ý đã biết “tỏng” về đối tượng rồi vậy. Chú hỏi tiếp:

-Anh có nói và đọc viết tiếng Anh được không?

-Dạ chút chút…!

-Được tốt lắm! Tôi đang là Trưởng Phòng Quản Trị Công Ty Imex , Thương Xá Tam Đa cũ, theo lời yêu cầu của Anh Quảnh, thứ hai tuần sau anh bắt đầu làm việc dưới quyền của tôi, Anh được cắt đặt làm thủ kho, chỉ có nhiệm vụ mở và khóa cửa kho khi có lệnh xuất nhập hàng của tôi và anh phải ghi lại mặt hàng nào được xuất nhập trong ngày …cứ từ khoảng 10 giờ sáng anh giả bộ ra bên ngoài uống cà phê và giao danh sách đó cho Chú Chảnh, ban đêm anh ngủ lại ở cơ quan cùng với ba nhân viên khác, họ là những công nhân viên từ ngoài Bắc vào, cứ như vậy đi dần…dần quen và biết hết mọi việc tôi sẽ có nhiều việc quan trọng hơn cho anh . .

Trước khi chia tay, Chú Xế Phò đưa cho tôi một Giấy Chứng Nhận họ tên Trần Chỉnh là nhân viên Cửa Hàng Imex có đóng dấu, ký tên của Trưởng Phòng Thương Nghiệp Quận Nhất TP HCM và một giấy nhỏ có ghi tên Lý Kim Anh, Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành.

Rời nhà hàng Thanh Thế, tôi đạp xe chạy loanh quanh với một tâm trạng hoang mang tự hỏi là hung hay kiết, ngạc nhiên lo âu lẫn lộn…?! Nhưng không căng thẳng như khi trước Chú Quảnh hỏi tôi:”Có phải anh là Sĩ Quan Ngụy trốn học tập hay không”? Hiện tại tôi như người đang chới với giữa dòng sông, vớ bám víu được gì cứ giữ lấy để hy vọng thoát cảnh cô nghiệt, phó mặc cho số mệnh an bài mà không cần biết cái đó lành hay dữ vì thân như đã leo lên lưng cọp, đã phóng lao thì phải theo lao, cung tiễn đã giương thì phải bắn thôi …không còn sự chọn lựa nào khác!

Giám Đốc Cửa Hàng Imex là một tên “cán ngố” và luôn cả Ban Quản Trị của hắn cũng “cả thộn” i tờ rít tính toán cộng trừ nhân chia sổ sách lộn tùng phèo ngơ ngáo như “Mán về thành” nhưng bản chất tham lam vô tận, thu vét được cái gì là “ăn” cái đó …! Tôi làm việc với họ chỉ có nhiệm vụ khóa và mở khóa kho chứa hàng hóa theo lệnh Chú Xế Phò, sau đó ra ngoài gặp Chú Chảnh “giao hàng”. Lúc này tôi chỉ có một niềm vui sướng vô ngần là có một việc làm và một chỗ ở an thân không lo sợ bị phát hiện và bị bắt bất cứ lúc nào, cũng trong thời gian này tôi đã áp dụng “Nghệ Thuật Lãnh Đạo Chỉ Huy” để chinh phục những nhân viên từ ngoài Bắc vào một cách dễ dàng… Chú Xế Phò hài lòng và vui lắm !!!Một hôm Chú rủ tôi đi ăn tối, Chú lái chiếc Volwagen màu vàng cũ kỷ chở tôi dạo một vòng chợ Bến Thành rồi trực chỉ Bến Bạch Đằng vào nhà hàng Mỹ Cảnh, Chú đãi tôi một bữa cơm độc nhất vô nhị, không tiền khoáng hậu…!!!Trong nhà hàng đã an toạ sẵn ba người: Tên Nguyễn Tạo là Giám Đốc Imex, với cái mặt chành bạnh cố làm ra vẻ “học thức, quan chức” trịnh trọng nhưng không che dấu được “cốt” ngu si đần độn, tham lam có vết hằn nguyên thuỷ của buổi sơ khai còn leo trèo bẻ cây hái quả không vội vàng hăm hở với đồng loại tiến hoá mà cứ nhỡn nha, nhỡn nhơ từ tốn khoan thai với nhịp điệu Slow …dỡ mình đến làm quen với con trâu cái cày, suốt năm thán glưng trần nhễ nhại mồ hôi lam lũ trên cánh đồng Nông Cống khô hạn …nay hắn làm “quan tham” với cả núi tài vật trong kho mặc sức mà thao túng thu vét…! Người ngồi bên cạnh là tên Trung Úy Lý Kim Anh, Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành, kế đến là tên Đặng Tư, Trưởng Phòng Tài Chánh Imex. Trên bàn chai Remy Martell đã vơi hơn phân nữa.

Tôi khúm núm bước theo sau Chú Xế Phò chấp tay cuối đầu chào họ. Tôi ngồi vào bàn cố giữ thái độ bình thản, chỉ lắng nghe họ bàn luận việc cùng với những suy nghĩ mông lung…và biết là gia đình Chú Quảnh đã giúp tôi quá nhiều, với ơn sâu nghĩa nặng này bao nhiêu kiếp người tôi mới có thể báo đáp được…?! Sau buổi cơm gọi là “tham quan thân mật” đó, tôi có thêm vài việc phải làm theo chỉ thị của Chú Xế Phò. Một buổi sáng như thường lệ khi tôi giao danh sách hàng xuất kho cho Chú Chảnh, hôm nay có thêm Chú Xường và Chú bảo tôi giao lại số tiền mặt mà tôi đang giữ cho Chú, rồi Chú Xường đưa lại cho tôi một danh sách giá cả mua vô, bán ra trong ngày ở thị trường Chợ Lớn. tôi chỉ biết làm theo, không thắc mắc vì tin tưởng thân tình với họ và biết là họ không có mưu sự hãm hại mình và nếu có thắc mắc, nghi vấn cũng chẳng ích lợi gì với niềm tin họ là Ân Nhân đang giúp mình qua cơn hoạn nạn.

Thời gian năm 1979 – 1981…Thân nhân ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình không gửi được trực tiếp như bây giờ mà dưới hình thức là “Phiếu Imex”, hàng hoá chứa trong kho Imex là hàng thứ thiệt bị tịch thu trong chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản như: Xe cộ, thuốc tây, mỹ phẩm, radio cassette, các cơ phận phụ tùng xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, động cơ, máy móc kỹ nghệ, vải vóc và cả trăm mặt hàng khác…đều là hàng nhập cảng từ ngoại quốc có giá trị thương mãi cao. Giới tiêu thụ hầu hết là người đến từ Hà Nội, họ là thân nhân của “quan chức” Bắc Bộ Phủ” khách sộp giai cấp “phú gia” gốc bần nông lớp “người” “thực dân mới” và đám “con buôn” nở rộ sau “chiến thắng” từ “giời” cao” đang chễm chệ, ngự trị trên chóp bu quyền lực và đang giáng xuống những thủ đoạn nham hiểm, trí trá, ác độc hại…bởi căn tính di truyền từ tổ phụ nguyên thuỷ để trừng phạt “Dân Nguỵ” miền Nam đã vượt trội hơn chúng hằng thế kỷ văn minh…! Những mặt hàng đang có trong kho Imex là “quí phẩm” tuy giá cả cao ngất ngư…! Nhưng với những thành quảăn cướp của miền Nam, chúng thủ đắc tràn trề lợi nhuận và tiền bạc nên “giá hàng” Imex chỉ là “của bở” còn “rẽ chán”…! Vì vậy giá thị trường lên xuống theo giờ, ngày bao nhiêu “họ” cũng thu mua…còn những con buôn cò con kiếm lời qua việc bán tem phiếu Imex đều qua tay “Thầu” Chú Xường “làm giá”, Chú Quảnh “cho biết” giá cả mặt hàng trên thị trường và Chú Xế Phò cho lệnh xuất kho, tôi và Chú Chảnh “điều hợp” ra hàng bên ngoài và nếu có “sự cố” gì không “thông thoáng” cần “xử lý” thì đã có tên Trung Uý Lý Kim Anh “giải quyết”…”

Công việc tuy có êm trôi đều và khả quan. Nhưng nỗi lo âu vẫn canh cánh trong tâm mỗi khi rảnh rỗi tự thán: “Không biết bản thân sẽ bị phát hiện và bị bắt khi nào và tương lai rồi sẽ ra sao…”? Cứ vài ba ngày Chú Xường đến gặp và dúi vào túi áo của tôi vài ba ngàn đồng (tương đương 1 cây vàng), Chú nói đó là tiền lời từ 30.000 đồng “hùn vốn” của tôi. tôi liên lạc và nhờ niên trưởng Huỳnh Bá Long (Khoá 21 Đà Lạt) gửi về giúp vợ con và Cha Mẹ, chị em tôi …và cứ thế rồi thời gian cũng qua dù chưa được trở lại đời sống bình thường như mọi người dân khác và không gần gũi được vợ con!.

Một ngày đẹp trời tháng Ba, năm 1982…tôi đang ngồi uống café dọc vĩa hè trước cửa hàng Imex, bổng có một chiếc xe gắn máy Honda chở hai người đàn ông trờ tới, một người xuống xe, vội vả hăm hởđi đến nắm lấy tay tôi và nói:

” Niên Trưởng theo tôi qua Chợ Cũ làm vài chai Henneckein.”

Tôi có một cảm giác lạnh băng chạy từ đốt xương sống cuối cùng lên đến đỉnh đầu, nhưng định thần nhìn rõ thì ra là NguyễnVăn Định (Khoá 24 Đà Lạt, Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù) còn người đang chờ ngoài xe là Trần Văn Hợp (Khoá 23 Đà Lạt), tôi mừng rỡ lên xe Honda chở ba chạy qua Chợ Cũ “làm” đĩa cơm sườn,”chơi” vài chai beer con cọp… Hợp móc trong túi sách một tờ giấy, điền tên Trần Chỉnh rồi chở tôi ra bến Thủ Thiêm “tống tiễn” tôi xuống một chiếc ghe chở gạch cát của Công Ty Dầu Khí Vũng Tàu tách bến hướng ra khơi hải hành, đêm đến nhìn ngắm sao trời định vị trời đất “Thiên Địa khôi khôi du du” huớng tầm mắt về chốn “Hồng Lam” quê hương dần mờ xa …chung quanh chỉ còn tiếng sóng biển vỗ mạn tàu làm đau lòng người viễn xứ không được nói dù một lời thì thầm, hoặc tiếng nấc nghẹn trong câm nín từ biệt vợ con, cha mẹ, ông bà quyến thuộc và ân nhân :Chú Chảnh, Chú Xường, Chú Xồi, Chú XếPhò… Đđêm đại dương đen bao la, lạnh lẽo và dưới mặt nước thâm u kia biển vẫn vô tình…! Một tháng sau…đang chờ rời khói Đảo Pulau Bidong để sang trại chuyển tiếp Galang II, tôi nhận được thư vợ gởi từ Việt Nam sang:

” Anh Thương,

Chị Ba (chị Dâu của tôi) có đến thăm Em, cùng đi với chị có một người đàn ông Việt gốc Hoa tên gọi là Chú Xồi, người này đã trao cho em 10 lượng vàng và nói: “… đây là tiền của Anh Út gửi cho chị…”.

Em

Ký tên ………”

Nhân Vô Tín Bất Lập

Lan Chi ư thâm lâm bất dĩ vô nhân chi bất hương
Quân Tử tu Đạo lập Đức bất khả khốn cùng nhi cải Tiết.

Trong ba tháng bị tù khổ sai vác lúa gạo ở Cà Mau, tình cảm của tôi với gia đình Chú Quảnh càng ngày càng gắn bó, thân thiện đối đãi với nhau như quyến thuộc gia đình, mọi người tuy có bị giam cầm và thân phải vất vả lao động “xã hội chủ nghĩa”…Nhưng ẩm thực thì “tư sản mại bản” rõ nét với những bữa cơm chuyên trị: lòng heo phá lấu, heo quay, vịt quay, xá xíu. lạp xưỡng, hải vị tả pín lù…Đôi khi cao hứng tôi bỗng chợt cười khan thú vị!!! Mấy Chú “Thoòng Dành” “thân thương chi giao” ngạc nhiên hỏi tôi:

-Tự nhiên sao cười

Tôi trả lời:

-Ở tù kiểu nầy sung sướng hơn trở về nhà.

Chú Quảnh tiết lộ là thân nhân của Chú đã:”… chạy chọt đút lót cho “thằng” Trưởng Ty Công An Hình Sự Cà Mau hết 150 cây vàng rồi…chắc nay… mai tụi mình sẽ được thả dzề rồi…”!!! Thời gian trong tù sinh hoạt hằng ngày tôi gần gũi với Chú Xưòng, Chú Chảnh nhiều hơn…hai Chú thân thể nhỏ con ốm yếu lại cùng một tóan lao động với tôi, có lần Chú Xường vác bao gạo bước qua tấm ván gỗ gác từ bờ sông xuống ghe bầu bị trợt chân té nhào xuống sông tôi liền vất bao gạo xuống mũi ghe, nhảy ùm xuống sông vớt Chú ấy lên, ông chủ ghe bầu thông cảm không làm khó dễ mà chỉ nói:

– Không sao…không sao…cứ xem như tôi biếu bao gạo đó cho các Anh…tội nghiệp…thân tù tội…tội tù …!

Từ sau đó Tôi-Xường-Chảnh khắn khít như hình với bóng, tôi thường kể cho họ nghe “Chuyện Tàu” …và họ khoái tỷ nhất là truyện kiếm hiệp Kim Dung kèm theo lời bàn và phân tích của “Lão Ngoan Đồng” tân thời Tôi về những nhân vật “Ma Giáo” và “Chính Giáo”…cũng nhờ vậy mà ba tháng tù trôi qua vơi “thân tù tội” như Tô Đông Pha bị “biếm quan” phát vãng đi bán ” lục tàu xá, chí mè phủ” trong nhà lao vậy thôi…giấc ngủ đêm đêm còn hương vị thịt quay, bánh hỏi, phá lấu và lạp vị…!!!

Khởi Nghiệp Nhà:
(Viết theo lời kể của Chú Xường và Chú Chảnh)

” Ông Cố Nội của chúng tôi lập nghiệp ở Chợ Lớn (vào khỏang năm 1860) với một cái gánh mua bán ve chai lông vịt, thường ngày thì mua được lông vịt nhiều hơn lông gà vì người Tàu ăn vịt quay nhiều hơn gà.. Khi Ông Nội chúng tôi ra đời thì cái gánh ve chai lông vịt đã trở thành cái “vựa” ve chai lông vịt, sau đó trở thành cái “xưởng” làm chổi lông gà, quạt tay và áo che mưa bằng lông vịt, còn ve chai thì cân ký bán sĩ cho một lò rèn làm chai lọ thủy tinh…và cuối cùng là xưởng dệt tơ vải.

Trong khi đó, người em thứ ba của Ông Cố chúng tôi là Ông Cố Ba làm nghề mổ heo, Bà Cố Ba giữ lại lòng heo làm phá lấu kiểu Dương Châu và cho hai người con trai đội mâm đan bằng mây đi bán dạo…sau đó trở thành quán hủ tiếu duy nhất có bán thịt heo quay, thịt vịt quay, lòng heo phá lấu….Đó là tiền thân của Công Ty Nhà Hàng Bát Đạt nổi tiếng sau này..

Khi đến đời Ông Nội chúng tôi (vào khoảng vài thập niên cuối Thế Kỹ 19…1880-1900) thành phố Sài Gòn được hình thành với những dinh thự, công sở, khách sạn nguy nga đồ sộ của mấy Ông Tây-Bà Đầm…vùng Chợ Lớn vẫn còn bùn lầy nước đọng! Đường xá được chính quyền Tây mở rộng ra đến vùng ngoại ô Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè, Phú Lâm…huyết mạch giao thông buôn bán chính là ghe thuyền từ các tỉnh miền tây xuôi ngược lên Sài Gòn tấp nập…do đó mới có thành lập Kinh Chợ Gạo (Mỹ Tho). Cơ sở của Ông Nội chúng tôi phát triển rất nhanh, Bà Nội trông coi cửa hàng buôn bán tơ lụa, có thể nói gia đình chúng tôi lúc đó như là nhà thầu duy nhất cung cấp: gấm, saten, vải lụa…cho các con buôn “Thực Dân Pháp”…trong khi gia đình Ông Cố Ba đang phát triển các tiệm ăn rập khuôn theo kiểu Tàu: Quán ăn và quán trọ Bát Đạt …Gia đình người Hoa Kiều giàu có nhất trong vùng là giòng họ Mã mà lớp hậu duệ sau này là Mã Sái, Mã Tuyên…Đến đời thân phụ mẫu chúng tôi thì gia đình cũng đã khá giả, sáu anh chị em chúng tôi khi lên ba bốn tuổi đã được dạy xử dụng bàn tính của người Tàu một cách rành rọt, chúng tôi học trường Tinh Vỏ, ở nhà nói tiếng Quan Thoại, khi giao tiếp với con buôn thì bằng tiếng Việt hoặc tiếng Tây…Khi Anh Quảnh lấy vợ người Triều Châu thì Ba tôi giao hết chuyện quản trị làm ăn cho anh và Ba tôi trở thành “Ông Trùm” của “Bang Hẹ”…Anh Xồi được giao trách nhiệm sổ sách kế tóan, còn tôi (Xường), Anh Chảnh và cô em út A Cảo làm chủ ba hảng nhuộm vải ở Cầu Tre Phú Lâm…”.

Lời Kết:

Qua những câu chuyện kể trên, tôi không biết có phải vì trả lại 25 đồng mà Chú Xồi đã cố tình đưa dư mà cơ duyên, định số đã đưa đẩy tôi gặp gia đình “Họ” rồi cộng sinh làm ăn buôn bán với “Họ” trong quảng đời gần bốn năm trong hoàn cảnh cá chậu chim lồng, nỗi lo sợ bất trắc luôn rình rập từng giờ, từng ngày …cho đến một ngày đột ngột rời bỏ quê hương với sự che chở, giúp đỡ tận tình của “Họ” những người Hoa sinh trưởng và lớn lên trên đất Việt đã bao đời…Trong tư cách cá nhân của bản thân thọ ơn sâu dầy mà Người Ân Nhân bất cầu báo đáp… tôi viết lên bài bầy như một trãi lòng Thuỷ Chung Tri Ơn đến Gia Đình Minh Hương đã phát huy và xiển dương được một trong nét Văn Hoá Tinh Thần Trung Hoa cổ xưa là chữ Tín mà đương đại ở “Thế Giới Tân Kỳ Huyền Ảo” những “Bậc” Thượng Đại Nhân đang ngự trên Tột Đỉnh Quyền Lực đã có mấy ai và chắc gì đã giữ chữ Tín được vẹn toàn…Có phải chăng Văn Hoá Đông-Tây không bao giờ gặp nhau ? … Đất hạn khát cơn mưa lũ, trời âm u cần ánh sáng của thái dương, của tuy tơ tóc nhưng nghĩa son ngàn trùng…

Trong ngôn ngữ lịch sự của người Việt Nam chúng ta gọi người Việt gốc Hoa là: “Hoa Kiều Chợ Lớn”, bình dân thì thường gọi mấy ông là: “cắt chú” , được phiên âm trệch ra từ chữ”Khách Trú” và theo truyền thuyết xa xưa người Hoa thường “đi” qua các thương cảng của Việt Nam để giao thương bằng tàu, thuyền và phải neo ngoài cửa khẩu, chờ cho quan quân Việt kiểm soát xong,mới cho phép nhập cảng một lượt là 3 tàu, thuyền…dần dà thuận tiện quen miệng dân Việt gọi “Họ” là: “Ba Tàu” và phải chăng từ dó mới có danh từ: Chú…Chú Ba Tàu, Chú Chệt,…và sau nầy khi trào phúng thì gọi là “Ba Tàu Chợ Lớn” …Xứng danh là gì chăng nữa họ vẫn là Họ. Họ vẫn giữ phong tục tập quán của Giống Nòi Hán và Văn Hoá Trung Hoa tốt đẹp từ hằng nghìn năm qua cho đến ngày nay….dù đã trải qua từ những triều đại: Hán-Đường-Tống-Nguyên-Minh-Thanh…đến quốc nạn “Bát Quốc Phân Thây” và phân nhánh Hồng Kông, Macao, Đài Loan, …toàn lục địa bị chìm đắm dưới họng súng bạo quyền “Thời Đại Cộng Sản” thật là đáng tiếc !

Những người Hoa thiện nhân cho dù sinh sống tha phương ở bất cứ nơi đâu cũng lấy gia đình làm đơn vị căn bản để từ đó vươn lên trở thành “Bang”…nhỏ lớn tùy kỳ thời, tùy kỳ thế, . Cha Mẹ, Anh Em, Vợ Chồng, Con Cái đùm bọc che chở cho nhau, để từ một gánh ve chai lông vịt hay một cái mâm mây bán dạo lòng heo phá lấu …rồi phát triển trở thành những Đại Phú Gia. Sinh hoạt thương trường, giao dịch kinh tế, và những khế ước của họ được thực thi giữ đúng bởi một chữ Tín nhất là trong sinh hoạt các Bang, Phái đã có tự xa xưa…Đức tánh tốt của họ là cần cù nhẫn nại, chắt chiu dè sẽn dành dụm, không quản ngại nghề nghiệp lớn nhỏ, sang hèn, không khoe khoang xa hoa phung phí…quí chuộng việc buôn bán làm trọng, thường khởi nghiệp từ việc buôn bán nhỏ từ từ đến buôn bán lớn rồi phát triển trở thành công ty, xí nghiệp, hảng xưởng,…

Nhưng người Hoa sinh sống ở Việt Nam trong suốt Thế Kỷ 20 chưa và không có một dịch vụ hoặc hình thành nào liên quan đến công nghiệp nặng chỉ chú trọng về việc trao đổi buôn bán hàng tiêu dùng gia đình . Họ tích lũy tài sản theo truyền thống cha truyền con nối, cho đến khi sự tích lũy tiệm tiến này trở thành một gia sản khả dĩ có thể trở thành một hội viên trong hệ thống thương mại lớn của các Bang, Phái…Dĩ nhiên trong sự buôn bán làm ăn sẽ có nảy sinh sự cạnh tranh giành giật để được lợi nhuận và ít khi xẩy ra trong cộng đồng của họ. Nhưng nếu có, họ thường giải quyết trong nội bộ, ít khi để đến cửa quyền tranh tụng nhờ luật pháp can thiệp, họ không thích tranh tụng kiện cáo, có những trường hợp liên quan đến pháp luật chính quyền thì Bang của họ thương lượng để mọi việc “trôi qua”, sau đó họ giải quyết nội bộ bằng những biện pháp chế tài, cô lập vì “Bất Tín”, nặng nề lắm mới có vụ thanh toán. Gia đình hay cá nhân nào phạm vào chữ Tín thì chỉ có nước đi ăn mày!

Ngày nay Trung Hoa lục địa (Trung Cộng), Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao…đều có chính quyền riêng, người dân sinh ra, lớn lên học hành thành đạt từng bước… từng bước họ tham gia chính quyền từ hạ đến thượng tầng cơ sở. Nhưng đối với người Hoa Kiều ở hải ngoại (theo sự hiểu biết của tôi) như Việt Nam, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc…họ không muốn tham gia vào chính quyền dù có mãi lực “đồng tiền có thể mua tiên cũng được”. Thí dụ như ở Indonesia, người Hoa Kiều chỉ có khoảng 3% dân số mà nắm giữ 70% tài sãn của đất nước này và tài tình sở trường của họ mà chúng ta phải “khâm phục” là họ xử dụng mãi lực đồng tiền đút lót, mua chuộc làm thân với những giới chức chính quyền sở tại một cánh trơn tru êm thắm và điều phối sinh hoạt cộng đồng Hoa Kiều có tôn ty trật tự cũng nhờở các Bang, Phái và “Luật” của Bang không khác gì xã hội đen Mafia…

Nhưng áp dụng để trừng trị kẻ gian bội Tín rất nghiêm khắc chắc chắn hơn phim ảnh God Father của Ytaly rất nhiều. Nhiều người cho rằng “Ba Tàu” hay bắt chước làm đồ giả, điều đó hẳn nhiên vì thực tế trên thương trường đi sau, tụt hậu, bị các đại cường tân tiến chiếm hữu thị trường béo bở, thế yếu không còn thời gian cạnh tranh nên họáp dụng “tính xấu” là: “Cứu Cánh Biện Minh Cho Phương Tiện”...!!!Âu cũng là phương thức cạnh tranh để được sống còn với Đại Thế Lực Liên Minh Toàn Cầu…!!! Nhưng Made In China ngày nay đã trở thành vấn nạn và là tai hoạ cho những ai ưa chuộng vì tiện lợi và giá thành phẩm rẽ …uy tín China trên thương trường thế giới bị đánh giá thấp, độc hại phải cảnh giác…! Nhân phẩm, tư cách tốt đẹp của người Trung Hoa bị thách thức và đang bị phản tiến hoá trên chiều hướng là Người và Làm Người có Văn Hoá hướng thượng…Đức Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử có sống lại cũng bị con cháu hậu sinh của Ông “mần thịt” hoặc tống cổ vào trại tù hoặc nhốt vào nhà thương đìên, may mắn thì có thể lang thang đầu đường xó chợ rao bán thuốc dán độ nhật qua ngày…Hãy truy tìm tài liệu và thậm thâm suy xét những “người” Trung Hoa tiêu biểu cao thượng, đại gia, đại phú gia địch quốc mà tích sản tiền muôn, bạc tỷ, danh tiếng trên thế giới và được hằng tỷ Người Trung Hoa đương thời ái mộ, đề cao như những người trong gia tộc họ Tống điển hình như Tống Tử Văn sinh sống tại Mỹ,…

Chúng ta sẽ nhận biết là hầu hết những lớp “người ưu tú” thượng lưu của Trung Quốc tương tự, đã và đang sống trên những quốc gia tân tiến Âu-Mỹ được ưu đãi…cũng chỉ để “góp công, góp sức” để tóm thu tài sản của Trung Quốc làm giàu cho xứ người…và trở thành “Đại Hán Gian” trong Đại Âm Mưu Thực Dân Mới “Build Up” và xử dụng người bản xứ thu lợi và thống trị trong “quyền lực mềm” thiện xảo…có mấy ai là người Trung Hoa Trí Tuệ đã “Nhìn” thấu suốt trong “bóng tối” bản chất của sự việc “Nhân Vật Chí” thời qua không ? Hiều biết tất sẽ “thương hại” Trung Quốc vô cùng …!

Suy việc “người” gẫm chuyện “mình” Việt Nam cũng có điều tương tự như vậy và đã từ hơn 300 năm qua…Những “Nhà” ái quốc có tinh thần Quốc Gia không thành công trên phương diện Chính Trị, Lãnh Đạo Đất Nước mà phải bị, chịu thế cô và bọn khuyển mã tay sai của thế lực ngoại bang đè đầu cưỡi cổ, định phận cho mãi đến hôm nay…? Không phải Dân Tộc Việt Nam không có Anh Tài. Nhưng qua “Nan Hành Khổ Hạnh” suy xét cổ kim…nhận chân chẳng qua là Người Việt Quốc Gia không có “Chủng Tử Việt Gian” trong huyết thống giống dòng Chân Chính, khinh bỉ Việt gian, không có tư chất Việt gian, không có “khả năng” để làm Việt gian, không có thể đóng vai Việt gian…nên “cây thẳng chết đứng”…!

Ngày nay với thành quả kinh tế được đánh đổi bằng mồ hôi, máu, nước mắt của người công nhân lao động Trung Hoa trong những nhà máy, khu chế xuất …và là bãi rác công nghệ, đất đai môi trường bị nhiễm độc chất phế thãi, huỷ hoại môi sinh và con người đáng báo động cuộc “Tử-Sinh” Trung Quốc Đương Đại …

Nếu Trung Quốc không biết áp dụng kỹ thuật dụng “Khí Ozone” là thành quả của Công Nghệ Sinh Hoá để làm sạch môi trường thì quốc gia nầy sẽ tệ hại không lường…! Quả thật qui luật cạnh tranh sinh tồn của những “Nhà” lãnh đạo các quốc gia cường thịnh, tân tiến đã thiết kế di dời nhà máy kỷ nghệ, chuyển vùng sản xuất để tận thu lợi nhuận kinh tếnhiều hơn mà thôi…! Trung Cộng với tích kim dồi dào, xây dựng quốc phòng, phát triển quân đội, gây chiến, chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải, đảo quốc của những nước nhược tiểu lân bang…

Trung Cộng đã bị “Chính Trị Lộ Tuyến”, phát hiện âm mưu sẽ xâm lược thế giới, thống trị danh hoàn trong tương lai khi cường thịnh… hiện trở thành “Công Địch” của Thế Giới và với “Hoạ Tiêu Tường” từ bên trong nội bộ Đảng, vấn nạn quyền lợi kinh tế phân bố không đồng đều, khoảng cách giàu nghèo quáư chênh lệch, cán bộ, quan chức tham nhũng tràn lan, quân đội mua quan bán chức, người dân vô cãm với từ thiện, hành hồ chi bản năng, lợi thân chi bần tiện …!

Thế sự vô nan giải
Đáng hiềm vô Đại Nhân.

Nếu Trung Quốc có Đại Nhân với Đại Trí, Đại Hùng, Đại Phương Lược Mưu Sự Phúc Lợi Cho Nhân Sinh Trên Tiến Trình Nhân Chủ…thì hà tất và sá gì vài ba hải đảo nhỏ bé phụ hệ của các quốc gia lân bang nhược tiểu…mà phải bá đạo cưỡng chiếm cho hư Đại Sự…Đại Nhân thì Đại Trí và là Đại Phương Lược, Đại Nhân Ái …”Ta” sẽ không cần thu phục mà cả Á Châu nầy thuộc về “Chúng Ta” và là “Của Ta”…Sức nặng của sợi tóc cũng có thể làm nghiêng lệch cán cân bằng đối trọng là ở Đại Trí mà thôi ! Trung Cộng đã “dụng” hạ sách lược đối với Á Châu là “thiểu trí chi hoạ” …!

“Thực Dân Da Trắng” với những vũ khí tân tiến: súng đạn, phi cơ, tàu chiến…là thành quả của những bộ óc thông minh của giống “Xanh Ngươi” ưu việt …đã vượt đại dương xâm chiếm đất nước, của cải, tài nguyên và giết hại người dân bản xứ Đông Nam Á từ trăm năm…vài trăm năm qua…! Do vậy “nạn nhân Á Châu” đã e dè, cảnh giác và luôn gờm “người khách” oan khiên không mời thời qua…và chắc chắn cho dù giới lãnh đạo của những quốc gia nhược tiểu Á Châu có bị mua chuộc, khuynh loát bởi đại cường Trung Cộng hà chính…thì chính người dân sẽ trường kỳ chiến đấu để giành lại sự vẹn toàn Đất Nước-Dân Tộc (Lịch Sử Việt đã chứng minh từ nhiều ngàn năm qua). Nếu Trung Quốc có Đại Nhân, Đại Trí, Đại Hùng, Đại Phương Lược Mưu Sự Đại Nhân Ái…thì “Người” sẽ qui tụ về với “Ta” và “Tập họp nước nhỏ đánh nước lớn là Vương Đạo, Tập họp nước lớn đánh nước nhỏ là Bá Đạo”. Trung Quốc đã không Học và Thể Nghiệm từ Chân Văn Hoá Trung Hoa đã sẵn có tự bao thời…Đáng tiếc thay !!! Nên: Công tội giã kỳ Xuân Thu chi hồ…!!!

Còn Người Việt Nam mình ???!!!

Trải qua 100 năm dưới sự đô hộ thực dân Pháp, 30 năm với sự hiện diện của Mỹ (1954-1974)…Ngày nay Dân Việt bị trong nước bi bạo quyền Việt Cộng cai trị “hà chính ư mãnh hổ”…! Tại hải ngoại có gần 4 triệu người Việt đang định cư sinh sống và thăng tiến thành công khả quan tốt đẹp…Nhưng trong chúng ta cũng đã có bao nhiêu người trước và sau “Cuộc Đổi Đời” vẫn vì miếng đỉnh chung danh lợi thực-ảo …đã bất nhân, bất nghĩa, bất tín, bất lương và nhiều bất…đang hoạt đầu chính trị, phân hoá Người Việt đến tận cùng của thảm hoạ chia rẽ và có Vĩ Nhân nào có thể xuất thế để Phục Hưng, Phục Hoạt cho Dân Tộc-Đất Nước Việt Nam…?

Hỡi những “vĩ nhân” họ Đỗ tên Thừa đang đăng đàn với cương lĩnh nguỵ biện: Họ đỗ thừa cho Chế Độ Miền Nam Việt Nam có nhiều tham nhũng…!

Họ đỗ thừa cho Xã Hội Tây Phương làm cho Tam Cương Ngũ Thường đảo lộn…! Nhưng Họ không bao giờ dám “đỗ thừa” cho chính mình: Ta là kẻ vong bản, vong thân, vong quốc…!

May quá!… tôi học được thêm những bài học sơ đẳng từ gia đình Chú Quảnh và tự hỏi còn có bao nhiêu “Gia Đình Người Việt Gốc Hoa” như thế trong cộng đồng người Trung Hoa đang sinh sống trên đất nước Việt Nam thân yêu cho dù đang sống dưới chế độ “chó má” Việt gian bán nước …? Đêm đêm chong đèn “diện bích” tự quán xét “Bản Lai Diện Mục” chính mình ôn cố tri tân tìm trong “Cảo Thơm Lần Giở Trước Đèn” học nghiệm qua cảnh ngộ, trường đời ba chìm bẩy nổi “Quân Tử Thức Tự Đa Ưu Hoạn”…nên cố tránh và khước từ tam vong nói trên, mạn bút viết nên đôi dòng đóng góp thêm cho Đời chút “cỏ thơm” chủ quan khiếm khuyết…mong lượng thứ…

Kính thay.

Mũ Đỏ Út Bạch Lan

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 26 May 2023

Post by Sơn râu 29 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Sau khi chiến tranh chấm dứt ông chuẩn úy anh vợ của tôi cũng bị bắt đi cải tạo một thời gian rồi được thả về. Thời gian qua đi, người cựu chiến binh Ðinh Văn Thọ đã biến thành một nông phu chân lấm, tay bùn, ngày ngày tìm vui bên những vườn tiêu, ruộng lúa. Nét phong lưu ngày xưa của anh tôi, có còn chăng chỉ là tiếng đàn guitar classic réo rắt vào những  đêm trời đổ mưa…

Tết Giáp-Dần là một trong những cái Tết vui vẻ và đầm ấm hiếm có của gia đình tôi. Vợ chồng tôi và hai đứa con gái quây quần bên nhau đón Giao-Thừa trong một căn phòng có một nhành mai vàng, một mâm hoa quả, một cặp bánh chưng xanh cùng một khay kẹo mứt. Một ngày sau Tết bỗng nhiên Ðại úy Trương Ðình Hà phát bệnh điên.

Anh Hà ôm súng M16 đi vòng vòng trong sân doanh trại, bắn toang cửa kính văn phòng, bắn lủng mái tôn khu gia binh rồi lên mở cửa văn phòng chỉ huy trưởng để tìm ông đại tá. Tôi đang bận việc trên quân đoàn thì bị gọi về giải quyết chuyện lộn xộn này. Xe của tôi vào cổng đúng lúc Ðại úy Hải, Sĩ Quan Chỉ Huy Hậu Cứ nhảy vào ôm được anh Hà để cho người khác tước súng. Lập tức ông sĩ quan điên bị nhốt vào lô cốt có khóa bên ngoài và có lính canh. Chiều hôm đó Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ Quan Quân Pháp Quân Ðoàn II gọi điện thoại cho tôi.

Anh Ngọc cằn nhằn,

-Thằng Hà là thuộc cấp của Long phải không? Long coi lại! Chiều qua nó sang đây thăm hỏi và chúc Tết mình. Lúc ra về thì xe nó hết xăng, nó mượn xe của mình tới giờ này không chịu trả, mình phải đi nhờ xe của người khác. Long làm ơn nhắc nó trả xe cho mình được không?

Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II cũng là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi và Trương Ðình Hà. Tôi vội thông báo tình trạng hiện thời của Trương Ðình Hà cho Lưu Văn Ngọc hay. Nghe xong, Ngọc ngạc nhiên lắm và không tin đó là chuyện thật.

Suốt hai ngày kế đó Trương Ðình Hà luôn miệng la hét om sòm trong nhà giam, không chịu ăn uống gì cả. Hà không nhận ra ai, kể cả người bạn gái của anh ta. Cuối cùng, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 phải ký lệnh cho quân y áp tải Ðại úy Trương Ðình Hà về Sài-Gòn để vào nhà thương điên chữa trị. Chiều Mùng Ba Tết, Lưu Văn Ngọc báo cho tôi hay chiếc xe Jeep mà Ngọc cho Hà mượn đã bị Hà đem lên ngã ba Quốc Lộ 14 và đường vào Plei M’Rong bắn bể lốp rồi bỏ bên bìa rừng!

Chuyện Ðại úy Trương Ðình Hà phát điên bắn phá lung tung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cũng thành một đề tài cho anh em trong đơn vị bàn tán khá lâu, nhưng tuyệt nhiên không ai biết nguyên nhân vì đâu mà Trương Ðình Hà vướng phải căn bệnh quái ác này.

Cả tháng sau khi Ðại úy Trương Ðình Hà ra đi, tôi mới tìm được người thay thế anh Hà.Người được tôi chọn là Trung úy Ðiệp, một sĩ quan trẻ tuổi và gan dạ. Chỉ ít lâu sau khi nhận việc, Trung úy Ðiệp đã được quân nhân dưới quyền hết lòng tin tưởng và quý mến.

o O o

Chuyện cái điện đài ở Lệ Minh…

Sau Tết 1974 hành quân tái chiếm căn cứ Biên Phòng Lệ Minh (Plei Djereng) do Sư Ðoàn 22 tổ chức đã thành công mỹ mãn. Cuộc đổ bộ bằng trực thăng của một tiểu đoàn bộ binh trên căn cứ Lệ Minh đã không gặp phải sự kháng cự nào. Chiếc trực thăng chở anh lính cao nhất của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã an toàn đáp ngay trên nóc cái lô cốt giữa sân Lệ Minh để cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ khổng lồ. Chỉ một phút sau khi anh lính xuống đất, lá quốc kỳ to bằng hai cái poncho ghép lại đã phần phật tung bay trong gió.

Tối hôm đó tin quân ta tái chiếm Lệ Minh đã được truyền đi rầm rộ trên các đài phát thanh và các kênh truyền hình. Tôi vui mừng vô cùng, vì những tưởng rằng từ nay sẽ được rảnh tay đi nhận đơn vị mới.

Nào ngờ, vừa cắm cờ trên căn cứ Lệ Minh xong thì Trung Ðoàn 41 Bộ Binh lại bỏ Lê Minh ngay rồi rút quân về Pleiku. Hóa ra cuộc hành quân quy mô, tốn kém này chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang cho thế giới thấy rằng quân ta còn rất mạnh, dư khả năng bảo vệ lãnh thổ và đẩy lui quân thù. Cũng từ đó tôi được lệnh lúc nào cũng phải duy trì một toán viễn thám của Biệt Ðộng Quân có mặt trong vòng bán kính 5 cây số cách Lệ Minh.

Trung tá Trịnh Tiếu nói với tôi, không úp mở:

“Cái điện đài của Long hoạt động 24/24 quanh Lệ Minh chỉ là dấu hiệu sự hiện diện của quân bạn ở trong vùng này. Quân đoàn phải duy trì việc này cũng chỉ để che mắt Bộ Tổng Tham Mưu! Chỉ là đánh giặc giả! Chỉ là báo cáo láo với cấp trên! Long đừng lo lắng, bận tâm!”

Nghe ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II nói vậy, tôi cũng biết vậy, nhưng bảo tôi đừng lo, đừng sợ, đừng bận tâm thì tôi không thể. Thật là khổ tâm khi bị ép buộc thi hành những chuyến xâm nhập nguy hiểm chết người như thế này mà chẳng thấy vinh dự gì. Làm công tác này, tôi đã trực tiếp đồng lõa với những thượng cấp ở Pleiku để đánh lừa những thượng cấp lớn hơn ở Sài-Gòn. Tôi là một người ruột ngựa, thẳng băng, nếu làm điều gì mà phải che che, giấu giấu, khuất tất, thì lòng tôi cứ áy náy, không yên.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị thượng cấp giao cho cái nhiệm vụ quái đản như thế này. Một nhiệm vụ thật lạ kỳ: Toán nhảy xuống đất, chui vào rừng, kiếm một nơi an toàn, mở máy ra, gọi đài tiếp vận, trao đổi vài ba câu rồi cứ để máy chạy “È! È! È!” suốt ngày, suốt đêm, hết điện trì, thay điện trì mới. Ðúng một tuần lễ sau lại thay toán khác, cứ như giỡn chơi!

Những viễn thám viên dưới quyền tôi cũng là con người; họ cũng có linh hồn, có cảm giác; họ cũng biết sợ cái chết, biết đói, biết lạnh, và biết đau đớn khi bị thương. Chuyện họ có mặt trong vùng Lệ Minh là chuyện đánh trận giả, nhưng chuyện thần chết chờ họ từng phút, từng giờ là có thật.

Thi hành lệnh này, tôi và các bạn Không Quân của Phi Ðoàn 229 Trực Thăng cứ như có hẹn lại lên, đúng bảy ngày lại nối đuôi nhau, hai Gunships, hai Slicks lừng lững bay vào thả toán mới, bốc toán cũ, bị phòng không bắn lúc nào không ai hay, chết lúc nào không ai biết.

Thượng cấp của tôi không nghĩ rằng, chúng tôi cũng là con người, cũng có thân nhân, gia đình, cũng biết sợ cái chết.

Chúng tôi sẵn sàng chết vì nhiệm vụ bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, bảo vệ tự do.

Nhưng nếu phải chết vì những âm mưu xảo trá, lòe mắt cấp trên, chết vì đánh trận giả thì quả là chết quá oan uổng, chết lãng nhách! Tôi nghĩ, nếu ra tiểu đoàn, có bốn, năm trăm quân dưới tay, trấn thủ một vùng, còn an toàn ngàn lần hơn là cứ cách vài ngày lại phải bay vào vùng địch, bốc toán, thả toán, trong bán kính 5 cây số xung quanh một điểm cố định là một cái tiền đồn đã mất, sớm muộn thế nào cũng bị phòng không Việt-Cộng bắn rơi, phải lên bàn thờ mà ngồi. Trong tình thế này, tôi chỉ còn cách chấm sẵn bãi thả và bãi bốc, yêu cầu các bạn trực thăng bay thật thấp, bay thật nhanh, thả thật nhanh, bốc thật nhanh, cố gắng giảm thiểu thời gian có mặt trên vùng của phi cơ tới mức tối đa.

Tôi ra lệnh cho các toán viên dưới quyền, mỗi khi đạp đất rồi thì họ cứ tìm nơi nào đó thật kín đáo an toàn mà ẩn núp chờ ngày qua, không cần phải đi thám sát dò la tin tức địch như ngày xưa nữa.

Thực tình tôi không rõ, ngoài Thiếu tá Vương Mộng Long, Trung tá Trịnh Tiếu và Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn ra thì có còn ai nữa biết rằng sự hiện diện của cái điện đài ở cách Lệ Minh 5 cây số chỉ nhằm mục đích che mắt thượng cấp? và những cú thả quân, bốc quân quanh Lệ Minh chỉ là đánh trận giả?

Thời gian này lòng tôi rất muộn phiền, nhưng tôi cứ phải ngậm miệng, không dám chia sẻ tâm tư cho bất kỳ ai. Trong chuyện cái điện đài ở Lệ Minh này, Trung tá Trịnh Tiếu là người thấu hiểu nỗi buồn của tôi nhất; ông nói với tôi rằng,

– Chú gắng nhẫn nhịn, chịu đựng ít lâu, rồi mọi khó khăn sẽ qua thôi!

Tôi và Trung tá Trịnh Tiếu đều là dân Hội-An, tôi lại là bạn thân của một người em ruột của ông Tiếu, hơn thế nữa, tôi và ông Tiếu cùng xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt-Nam, vì thế ông Tiếu rất thân thiết với tôi. Ðã có nhiều lần ông Tiếu giới thiệu tôi đi giữ chức vụ quận trưởng những quận lỵ trù phú, thanh bình dưới vùng duyên hải, nhưng tôi thoái thác.

o O o

Trận Kon Sơm Luk 1974…

Tôi đang tiếp tục công việc bốc toán, thả toán thì có tin địch chuẩn bị đánh Kon-Tum, quân đoàn liền ra lệnh cho tôi đem quân lên Kon-Tum yểm trợ cho quân bạn. Vì Ðại Ðội 2 Trinh Sát của Trung úy Ðiệp đang hành quân ở Thanh-An, do đó tôi chỉ đem theo Trung đội Viễn Thám của Phòng 2. Tôi có tổng cộng sáu toán viễn thám. Hiện thời trong vùng Lệ Minh có một toán đang hoạt động. Vì thế tôi phải cho một toán ở lại Pleiku để làm trừ bị cho Lệ Minh.

Trưa 10 tháng 3 năm 1974 tôi cùng bốn toán viễn thám còn lại đã có mặt tại hậu cứ Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân nằm trong thành phố Kon-Tum. Thi hành lệnh của Ðại tá Liều Thọ Cường, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, người đang chỉ huy Mặt Trận Kon-Tum, trưa 11 tháng 3 năm 1974 tôi đã tung hai toán viễn thám vào săn tin vùng 5 cây số Ðông Bắc cầu Kon Sơm Luk trên Liên Tỉnh Lộ 5 B vì có mật báo rằng địch sẽ chuyển quân của Sư Ðoàn 3 Cộng-Sản từ Bình Ðịnh lên để tập kích quân ta.

Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân hiện thời không có sĩ quan Ban 2, không có Trinh Sát và Viễn Thám, nên Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh yêu cầu tôi có mặt bên cạnh Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân để trực tiếp yểm trợ tin tức chiến thuật cho đơn vị này. Vì thế, thả quân xong, tôi đáp xuống vị trí hành quân của Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Chiếc xe Jeep của tôi đã có mặt ở đây từ chiều hôm qua.

Ban chỉ huy viễn thám của tôi chỉ có ba thầy trò, là tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Hạ sĩ Nguyễn Ba và anh Binh nhất tài xế Lê Văn Tới. Thầy trò tôi tạm trú trong một căn lều trung đội, nơi cửa lều có cây ăng ten 292, trong lều có cái bàn gỗ, trên đó là ba cái máy PRC 25. Trong khi ông Ba và ông Tới lo trực máy và thổi cơm thì tôi vào phòng thuyết trình của liên đoàn để thăm ông trung tá liên đoàn trưởng.

Ðây là lần đầu tôi giáp mặt ông Trung tá Nguyễn Thành Tiên. Ông Trung tá Tiên mới từ trong Nam ra, nhận chức vụ chỉ huy liên đoàn này không lâu.