Chuyện Trên Đường Phố

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

      Chiều về trên bến cảng Hamburg đã bớt ồn ào náo động, nhiều chiếc tàu buôn  đã nằm yên bên kè đá và những chiếc đò dọc chạy dưới dòng sông cũng thưa thớt khách du hành. Một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi bước thong thả từ dưới bến cảng lên con đường lót gạch hướng về đường hầm sông Elbe. Một người đàn bà đứng ở đầu đường hầm, tóc chấm vai,  mặt không phấn,  môi không son,  thân hình tròn trịa, dốc dáng thấp và gọn gàng trong chiếc áo lạnh màu tro, thấy gã đàn ông đi tới,  bà ta ra dáng lắc lư làm chiếc bóp da đeo vai đu đưa qua lại.  Mắt bà mở to nhìn gã từ đầu tới chân, gật gật đầu, miệng mĩm cười.  Gã đàn ông không tỏ vẻ mừng rở cũng không một cử chỉ xã giao,  gã cất tiếng hỏi trỏng: 
–  Khoẻ hông ?
–  Được thôi.  Còn anh ?
–  Vẫn vậy.
Người đàn bà đưa tay lên đầu gã tha tha mái tóc:
–  Vậy gì mà vậy, tóc bạc trắng,  già tới nơi rồi.  
–  Ngót nghét năm mươi rồi,  còn trẻ trung gì nữa. Chờ có lâu lắm hông ?  Người đàn bà chỉ tay thẳng về hướng con lộ:
–   Ba mươi phút mới thấy anh thấp thoáng ở đằng kia.
–   Biết tới sớm tui đi tắc-xi cho lẹ. Bà lắc lắc cái đầu dịu giọng:
–   Không sao, lâu lắm rồi tui không có dịp đợi ai,  hôm nay đứng đợi anh tui thấy cũng  thin thích.
–  Biết vậy tui lên trễ cho cô đợi thoả thích.
–  Lối nói chuyện của anh tới già vẫn vậy.     
 Người đàn bà câu tay gã, hai người sánh vai nhau đi vô thang máy, bấm nút cho thang chạy xuống đường hầm. Trong đường hầm không một bóng người. Họ trò chuyện vừa đủ nghe nhưng âm thanh vẫn vội vô vách đá rền rền.
–  Cuối cùng rồi tui cũng gặp lại cô,  nhưng cô thay đổi nhiều quá,  nếu gặp nhau chỗ khác thì chắc nhìn hổng ra.
–  Anh đen hơn xưa nên trông già dặn chớ không thay đổi gì cho lắm. 
–  Đàn bà dễ thay đổi hơn đàn ông.
–  Nhưng họ nhớ dai lắm,  hơn hai mươi năm qua,  đây là lần thứ hai tui băng ngang đường hầm nầy,  mà cả hai lần đều đi với anh.
–  Nghĩa là cách đây hơn hai mươi năm. Lạ thật,  lần nào tàu ghé Hamburg tui cũng  qua đây ít nhứt một bận. Nhưng mỗi bận đi ngang đây là nhớ tới cô. Cô còn nhớ không, lần đó đi tới giữa đường cô sợ tường bể nước ngoài sông tràn vô chết ngộp cô câu tay tôi cứng ngắt, đi trong hầm mà cô làm như đi ngang mấy chiếc cầu ván long đinh ở quê mình. Người đàn bà nép xác vô người đàn ông như muốn tìm hơi ấm:
–  Bây giờ không sợ chết ngộp nữa, nhưng mà lạnh quá.
–  Mình ở dưới lòng sông mà,  trong nầy chỉ có mùa hè mát mẻ,  còn lại thì lạnh ngắt lạnh tanh.
–  Mà nè, anh nói nhớ tui mà sao hổng ghé nhà thăm? .
–  Sống bên nầy ai cũng bận rộn chuyện sở làm,  còn dư thời giờ lo cho gia đình. Tui thì đến, đi bất thường sợ tới nhà sẽ làm sai lệt thời khóa biểu của gia đình cô.  Hơn nữa còn chồng cô, tui hổng biết tánh tình ông ấy ra sao.
–  Hồi nghe tui nói xuống thăm anh,  ảnh có nhắn,  nếu rộng thời giờ mời anh ghé nhà chơi.
–  Được đức ông chồng như vậy là hết xẩy rồi.
–  Xạo nữa đi.    Vài bóng người xuất hiện phía trước,  ai ai cũng thông thả đi không có vẻ vội vàng. Hai người đi tà tà một lát đã lên tới bên kia bờ. Nắng vàng trãi trên mặt nước, đò dọc chở du khách ngược xuôi giữa dòng,  chim nhàn bay theo sau lái từng bầy. Trên bờ sông người ta bận áo ấm dầy đi dạo rất đông. Hai người dừng lại dưới thềm đá phân vân.  Người đàn bà hỏi:  
–  Đi đâu đây ? 
–  Trước kia cô thích ngắm sông lắm mà.
–  Gió chiều lạnh quá,  hổng ấy lênh Reeperbahn chơi đi. Gã đàn ông chỉ tay qua mấy bực thang bắt lên con đường dẫn vô Reeperbahn, nói:
–  Vậy mình leo lên đường nầy. Họ vừa đi vừa tiếp tục trò chuyện :
–  Nghe Hùng nói,  hồi tết Tây nó thấy anh trong casino.
–  Nhờ gặp Hùng mới có số điện thoại của cô,  hông thôi biết đâu mà tìm.
–  Anh biết đánh bài hồi nào vậy ?
–  Đâu phải ai vô casino cũng để đánh bài.
–  Ăn tết trên nầy vui hông ?
–  Cũng vui .
–  Vui ra sao kể nghe đi.     
 Gã đàn ông khoa tay chỉ dọc theo con đường:
– Trước tới giờ tui cứ nghĩ những ngày Tết  ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng. Chỉ có những người vô gia cư như tui mới lang thang ngoài trới. Nào ngờ ở trên nầy người ta ăn Tết nhộn nhịp vô cùng, ngay giờ giao thừa trên trời pháo bông sáng tua tủa, dưới đất pháo nổ như trận đánh tết Mậu Thân.  Người ta tràn ra đường đông như ong vỡ tổ,  tiếng ca hát vang rân hoà trong khói pháo mịt mù…
–   Vui hén.
–   Nhờ vậy mà mình thấy đỡ lẻ loi trong ngày Tết.
–   Lẻ loi thì vô ngắm Tiên Nữ.
–  Tiên tục gì,  mấy ngày đó họ đóng cửa ăn Tết,  có đâu ngồi cho mình ngắm.
–  Sao nữa kể tiếp đi.
–  Sau khi chen chút đã rồi tui chui vô Casino ngồi vừa uống bia vừa coi người ta đánh bạc, thì gặp Hùng nó đương chơi rulex. Sau khi thua sạch túi nó mới dẫn tui đi ra chỗ người Việt mình tổ chức.
–  Vui hông?
–  Bia,  rượu,  Karaoke,  Disco,  nhảy nhót,  cuối cùng người ta lấy vỏ chai bia, bẻ chưn ghế đập nhau loạn xịa máu chảy lênh láng,  cả hội trường náo loạn.  Tui vội vã từ biệt Hùng rồi ba chưn bốn cẳng chạy ra lộ đón tắc-xi về tàu.
–  Ghê vậy.
–  Còn cô,  cuộc sống có vui vẻ lắm không ?
–  Thì như anh biết đó, một ông chồng và hai đứa con,  ở một nơi lúc nào cũng canh đồng hồ, vô sở làm trông cho mau hết giờ , về nhà sắp xếp giờ giấc cho chồng, con, đi ngủ cũng phải bấm đồng hồ báo thức. Nhứt nhứt chuyện gì cũng phải tính giờ tính giấc,  sống đơn điệu đôi khi buồn cháng lắm.
–  Gia đình,  hạnh phúc chớ ?      
Người đàn bà ậm ờ rồi yên lặng.  Gã đàn ông ái náy nhìn trời. Mặt trời lặng từ hồi nào mà nền trời vẫn còn hưng hửng sáng. Đèn phố hiện lên nhiều màu sắc. Gió đêm lùa hơi lạnh trên đường, khách bộ hành kẻ ngược người xuôi.  Người đàn ông cất tiếng:  
– Tui nhớ trước kia mỗi lần đi ngang đường nầy, cô nhắm mắt lại hoặc cúi mặt ngó thẳng phía trước, bước đi như ma đuổi.  Hôm nay cô rủ tui lên đây ngắm người xem cảnh.
– Còn con gái thì khác, bây giờ già rồi, mặt dầy xà beng đâm hổng lủng, sợ gì. Vã lại lâu lắm rồi tui không có dịp ra đây. Hôm nay anh trở lại, tui muốn đi với anh.
– Ôn kỷ niệm đó hả ?
– Coi là vậy đi.
– Dù sao con đường nầy cũng thanh lịch hơn Amsterdam, những ai chưa quen sinh hoạt khu nầy đi ngang không thấy khó chịu. Nhớ có lần qua thăm cô, mấy người bạn rủ đi DOM chơi,  ai dè chúng nó đem bỏ tui ở đây,  rồi dông mất biệt. Tui phải tự mò đường về,  bị lạc hết mấy bận mới về tới nhà. Sau nầy tui mới biết  DOM nằm ở đầu đường kia,  đi chưa đầy mười phút đã tới. – Anh còn giận mấy người đó hông ?
– Hông,  đôi khi mình nhớ họ cũng như nhớ một kỹ niệm vui,  mấy người đó bây giờ ra sao?
– Cũng cày ngày cày đêm,  nhà mới,  xe mới. Anh còn nhớ Toàn không ?
– Sao quên được, hồi đó nghe anh ta cưới Hồng,  mở nhà hàng. Bây giờ hai người làm ăn ra sao? 
– Toàn bịnh bán thân ngồi xe lăng,  Hồng thì làm trong hảng Phi Líp.
– Tội nghiệp Hồng quá vậy.
– Tội gì,  tụi nó khá lắm,  mới mua đất cất một căn nhà riêng rất lớn. Có anh kìa, hổng lo ở đó lo cho người khác. A,  mà anh có bồ bịt gì chưa?
– Trước kia có nhì nhằng vài nơi nhưng rốt cuộc rồi chẳng ra cơm ra canh gì hết.
– Sao anh hổng dìa bển cưới vợ ?
– Chi vậy ?
– Cho anh hết lẻ loi,  cho cuộc sống có ý nghĩa.
– Ý nghĩa cuộc sống!  Nghe hấp dẫn quá hén,  cô đã sống trong gia đình gần hết cuộc đời rồi,  ý nghĩa ra sao cô kể tui nghe ? Người đàn bà ỡm ờ một lát rồi ngó qua hỏi:
– Ủa, sao tui hỏi anh anh không trả lời mà cứ hỏi vặn hỏi vẹo chi vậy ? Gã đàn ông nhìn mông lung trong đám người đông như kiến:
– Khắp thế giới, nơi nào cũng đông nghẹt đàn bà, nhưng tìm không ra một người vợ thì cũng thuộc loại vở hơi, nhưng hình như trên mặt đất nầy không một người đàn bà nào chịu làm vợ tui hết cô à.
– Tui hiểu anh,  nhưng anh cũng hiểu cho tui chớ,  lúc đó chưn ướt chưn ráo mới sang, anh thì đi biền biệt,  tui sống mình ên, xứ lạ quê người…      
 Giọng người đàn bà nghèn nghẹn.
Gã đàn ông hấp tấp chận ngang:
– Í chết! tui đâu bắt cô phải chịu trách nhiệm về  chuyện tui ở vá đâu mà cô nói vậy. Người đàn bà mở bóp lấy giấy chậm chậm mí mắt:
– Nhưng thấy anh cà nhỏng hoài tui hổng yên tâm.
– Chuyện qua rồi cô nghĩ tới làm gì. Phần tui,  tui đã cố hết sức mình rồ nhưng nó như vậy là như vậy,  coi như trời định đi.  Cô yên tâm,  hiện giờ tui rất hài lòng với cuộc sống lẻ loi của mình.  Gặp lại,  thấy cô khoẻ mạnh ú na ú nầng như vầy là tui vui rồi,  bây giờ mình kiếm chổ nào chơi chớ chẳng lẻ cứ long nhong ngoài phố như vầy.
–  Ừa, phải đó, hổng ấy mình ghé vô DOM dạo một lát,  sau đó anh đưa tui xuống bến xe điện về là vừa.
–  Ừa,  đi chơi bao nhiêu đó cũng đủ rồi.  Đi thêm nửa ông xả ở nhà nôn ruột.
–  Đừng có mỉa mai như vậy, người ta dám để vợ đi chơi với anh thì không phải tầm thường đâu nhé.
– Đàn ông bây giờ ở nhà giữ con cho vợ đi chơi là văn minh chớ đâu phải tầm thường.
–  Anh bỏ lối nói móc nói nghéo ấy được hông vậy. Nghe người đàn bà nói gã giựt mình ái ngái trong lòng,  trong thâm tâm gã thấy có một điều gì đó hổng ổn cho cuộc gặp gở hôm nay.
Gã miễn cưỡng nói:
– Xin lổi,  mình đi chơi vui vẻ đi.       
 DOM tức là hội chợ lớn ở Hamburg, mở cửa mỗi đầu mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bây giờ là đầu mùa xuân.  Từ nãy giờ tự dưng gã đàn ông trầm ngâm len lỏi đi theo người đàn bà trong tiếng nhạc xình xập hoà cùng tiếng ồn ào của rừng người lố nhố. Đi ngang quày bắng súng, người đàn bà hỏi:
–  Anh bắn súng còn giỏi hông?
–  Lâu lắm rồi tui hổng bắn.
–  Thử bắn lại coi.    
Họ vô quày mướn súng.  Gã đàn ông bồng súng lên bắn ba phát trật hết ba. Trả súng lại, gã day qua  cười nói:
–  Hết thời rồi. Người đàn bà gật gật cái đầu và mĩm cười, nắm tay gã trì nhẹ và hai người chen chút vô đám đông. Tới vòng đu quay, người đàn bà chỉ tay lên những chiếc đu:
–  Mình lên vòng quay kia chơi đi.
–  Ừ được đó.     
 Họ lên ngồi trong chiếc lồng cùng với cặp trai gái rất trẻ, hình như cô, cậu mua vé lên đây không phải để ngắm cảnh, hay tìm cảm giác bồng bềnh trên không. Từ khi vòng quay cất lên, bốn cánh tay như trói chặt hai thân hình, hai cái miệng và hai cái lưỡi bấu riết với nhau, chưn cẳng quíu lại, co cúm, đê mê không biết chung quanh còn có trời, trăng, mây, gió và có mặt hai người.      Để tôn trọng giây phút tuyệt vời của tuổi trẻ, họ yên lặng và hướng mặt nhìn ra phía ngoài. Vòng quay bây giờ đã dừng lại ở đỉnh cao nhứt. Không gian bao la, mây trắng,  trăng lưỡi liềm và những vì sao lấp lững ngang nền trời.  Bên dưới lập loè đèn lu, đèn tỏ theo các cao ốc và những khu nhà ở. Những hàng cây trong thành phố chỉ là chiếc bóng mờ. Sinh hoạt trong hội chợ là nhóm đèn nhiều màu sắc, dòng người loi nhoi lóc nhóc. Tiếng nhạc xập xình nghe văng vẳng phía dưới …                                                                          *  
  Dưới bến xe điện ngầm,  tấm bảng báo giờ hiện lên còn bảy phút nữa xe tới.
Họ đứng chung với đám đông chờ xe, người đàn bà hỏi:
–  Có gặp nữa hông ?
–  Hơn hai mươi năm qua nếu muốn gặp nhau thì tui với cô được gặp nhau nhiều lắm. Điều quan trọng mình gặp nhau để làm gì ?  Hổng lẻ mỗi lần gặp nhau cô bỏ chồng, bỏ con ở nhà theo đi tui lang thang trên đường phố như vầy.
–  Nãy giờ nghĩ ra được bao nhiêu đó hả?
–  Bao nhiêu đó cũng đủ thấy mình bất lương lắm rồi ?
–  Anh muốn lương thiện thì lần sau ghé nhà chơi đi.
Gã lắc đầu:
–  Khỏi.
–  Vậy thi đừng gặp nữa.
Gã đưa ngón tay cái lên gặt gặt:
–  Thà vậy còn hơn.
Xe tới,  ngưới đàn bà chồm qua hôn lên má gã đàn ông,  bà nói nhỏ:
–  Thôi đi bình an nha.
–  Giữ gìn sức khoẻ, chúc cô nhiều hạnh phúc.     
Người đàn bà theo dòng người lên xe. Gã nhìn người ta chen chút lên,  xuống giống như bầy chuột đồng bị nước ngập hang.  Khi hành khách lên hết, cánh cửa xe từ từ đóng lại và tiếng còi rích dài âm thanh bén soi thẳng vô lỗ tai người ta.  Liền theo đó tiếng máy rú mạnh và thân xe lao vút vô đường hầm tăm tối. Chiếc thang máy cuốn dòng người trả lên mặt đất.  Bến xe chỉ còn mình ên gã.  Gã mốc túi quần ra gói thuốc xẹp lép.  Lạ thật, hơn hai mươi năm qua  mỗi khi buồn gã đã đốt thuốc liền tay, vậy mà từ lúc gặp người đàn bà ấy tới giờ không hiểu sao gã không nghe thèm hút thuốc. Gã rút điếu thuốc nhăn nheo đưa lên môi, bật quẹt châm lửa,  điếu thuốc rách,  rít thốn lòng ngực vẫn không ra hơi. Gã xâm soi điếu thuốc,  bất chợt gã gộp điếu thuốc rách cùng gói thuốc xẹp liệng vô thùng rác,  chà chà hai bàn tay vô quần. Gã thầm nghĩ, bắt đầu từ hôm nay gã tập bỏ tật hút thuốc mỗi khi buồn, nhớ và quên hết mọi chuyện trong quá khứ cũng được lắm rồi.  

Chiều Cuối Năm Nhớ Mắm

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Phú Tâm còn có tên là Phú Nổ hoặc Vũng Thơm là một xã đất giồng miệt Sóc Trăng trù phú, nơi người Tiều, người Khmer, người Việt đã và đang sống chan hòa với nhau hằng cả trăm năm. Vũng Thơm nổi tiếng với lạp xưởng và mè bán không những chỉ trong nước mà còn bán qua tới tận Hương Cảng.

Độ ấy, đầu tháng Ba, năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, xe đò hãng Phi Long chở đồng bào mình chạy giặc xuống tạm cư tại trường Trung Học xã Phú Tâm, cách ngã ba An Trạch trên quốc lộ 4 chừng 9, 10 cây số.

Cũng tại trại tạm cư nầy, tui được may mắn đứng từ xa nhưng vẫn thấy mặt được một người anh hùng của QLVNCH là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lịnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam mặc đồ trận, dây ba chạc, đội nón sắt, đeo súng Colt 45 được Đại Tá Liêu Quang Nghĩa, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Ba Xuyên tháp tùng, đi ủy lạo đồng bào tỵ nạn CS.

Khi Tướng Nam và Đại Tá Nghĩa rời trại tạm cư lên xe Jeep trở lại Sóc Trăng, tui lại bận túi bụi phụ tiếp các sư sải Khmer phát bánh mì, sữa hộp hiệu Kim Cương cho bà con mình xong thì tới phiên mình đói bụng.

Dẫu chỉ là một giáo làng làng nhàng nhưng tui cũng được ông Trung Úy Trưởng Ban 5 Chi Khu Kế Sách cho dựa hơi đi ăn ké thịt bò nhúng giấm chấm mắm bò hóc do một xì thẩu, thân hào, nhân sĩ ở chợ Phú Tâm thết đãi!

Prahok chow là mắm bò hóc sống làm bằng cá trê trắng, sền sệt màu đất sét với sả, ớt vắt thêm nước chanh để làm nước chấm, được người Khmer dùng đãi khách quý đến nhà. Cầm đũa nhúng miếng thịt bò vào cái nồi nhỏ đựng giấm đang sôi, tui tính đưa ngay vô miệng vì đói bụng quá Trời rồi; thì ông Trung Úy ngăn lại, kêu chấm vô cái nầy đã. Chưa thử lần nào, tui hơi ớn. 

Úy trời đất ơi! Nó ngon thấu trời đi. Ngon đến nỗi gần 48 năm rồi, đêm nay quê người, tui cũng còn thấy nó phau trong miệng!

Do đó có một bậc thức giả vin vào câu nói: “Đến nhà qua chơi, có mắm ăn mắm có muối ăn muối, em đừng ngại!” là một cách nói khiêm cung, chứng tỏ lòng hiếu khách của người dân Lục Tỉnh Nam Kỳ. Giờ thì tui lại hiểu rằng: Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối; một câu có hai vế đối nhau chan chát, tức là có món ngon cũng xin mời cầm đũa; mà chỉ muối hột cũng xin chớ có chối từ! Nghĩa là mời khách ăn mắm là quý lắm đó nhe. Mắm cũng chứng minh được miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ, thiên nhiên giàu có hào phóng cho cá dưới sông hay trên đồng, trong lung, đìa, bào nhiều đến nỗi bà con cô bác mình ăn không hết mới làm mắm phải không nào?

Như vậy xin đừng võ đoán là nghèo mới ăn mắm nhe quý anh!

Úc nầy cũng vậy. Đến nhà ai, thấy nhà to chưa chắc họ đã giàu. Vì có thể nhà chưa trả xong. Chạy Mercedes, chưa chắc họ đã là giàu, vì tiền nợ xe có thể chưa trả hết. Muốn biết giàu hay nghèo chỉ cần mở cửa cái tủ lạnh ra… Nếu nó đầy nhóc; thì chắc chắn chủ nhà giàu rồi hè. Riêng nhà tui là độc nhứt vô nhị, là không giống ai. Tủ lạnh luôn đầy nhóc vì khi siêu thị giảm giá, em yêu ham rẻ, rinh kình kình về, chất đầy một tủ! Tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy mà.

Xin cám ơn em yêu, người phụ nữ Việt Nam quá xá đảm đang; đã ghi thêm tên anh vào danh sách của những người Úc sắp bị bịnh béo phì!

***

Muốn làm mắm, cá phải làm sạch, cho cá thật khô rồi mới muối, đựng trong mái vú hay khạp da bò! Xong gài bằng những tấm vỉ tre và dằn lên những cục đá xanh để ép con cá muối nằm sát lại. Muối từ hai đến ba tháng! Xong rang gạo lức cho chín vàng, xay nhuyễn ra làm thính, rắc vào cho mắm nó thơm. Cuối cùng là chao mắm. Đường chảy thắng kẹo lên, trộn đều vào làm cho vị mắm dịu lại. Sau vài tháng là mắm bắt đầu ăn được. Tùy theo loại cá, ta có mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá rô đồng, mắm cá trèn, mắm cá linh, mắm cá thác lác, mắm cá chốt…

Mắm kho chỉ cần nửa ký lô mắm sặc, cho vô nồi nấu với hai lít nước lã để thịt con mắm rã ra. Lấy cái rây lược bỏ hết xương cá, nêm thêm bột ngọt, muối, đường gốc sả đập hơi giập cột lại thành một nắm. Chờ nồi mắm sôi lên, cà tím cắt khúc dài chừng ba, bốn phân, chẻ đứng, thả vài khứa cá ba sa vào (cá ba sa là nhứt hạng), thêm vài lát thịt ba rọi xắt nhỏ. Nhắc nồi xuống rưới nước mỡ tỏi phi lên mặt. Nồi mắm thơm phức quyết liệt tấn công vào khứu giác ai mà không ứa nước miếng cho được chớ? Mùa gió chướng, sa mưa giông, người ơn ớn lạnh; khỏi cần aspirin, chỉ cần em yêu chơi cho một nồi mắm kho là giải cảm.

Ông bà mình đã dạy: “Đói ăn rau! Đau uống thuốc!”

Món mắm kho là tổng hợp các vị thuốc Trời cho như rau càng cua, rau đắng, cải trời, rau má, rau muống chẻ, rau diệu, rau mát, rau muống, rau ngổ, rau dền, cải trời; lá lốt, lá chùm ruột, lá vông nem, bông bí rợ, bông so đũa, bông lục bình, bông điên điển; đọt bầu, đọt bí rợ, đọt bí đao, đọt mướp, có đầy dẫy trong vườn hay ngoài ruộng. Nhưng có ba loại không thể nào thiếu cho được! Đó là rau ngổ, cọng bông súng và hẹ ruộng. Rau ngổ mọc dưới ao, ruộng, đìa, láng ngập xăm xắp nước ở Miền Tây mới có. Thân rỗng giống rau muống, lá nhỏ và dài giống lá rau răm nhưng có răng cưa xung quanh. Vị đắng nhẫn nhẫn, dai dai giòn giòn. Khi ăn chỉ lấy phần cọng rau, tuốt bỏ hết lá đi.

Ca dao cũng có câu: “Muốn ăn bông súng mắm kho/ Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm!”

Mắm kho không thể nào thiếu cọng bông súng cho được. Cọng bông súng khi tước vỏ rất giòn dễ gãy, dùng dao tước mỏng, rồi chỉ cần bẻ thành từng khúc. Cuối cùng là Hẹ. Hẹ có hai loại: Hẹ rẫy và hẹ ruộng. Hẹ rẫy lá dầy, bề ngang hẹp, màu xanh sẫm ăn với hủ tiếu hoặc mì hay hoành thánh của mấy chú Ba người Quảng. Còn hẹ ruộng lá mỏng, có gân trắng chính giữa mỏng, mềm, xanh nhàn nhạt như lá sả, xốp và giòn.

Mùa nắng ruộng khô ran, nứt nẻ, không có cây cỏ gì sống được. Vậy mà mưa xuống, ruộng đầy nước, không cần gieo, không cần trồng gì hết, như lúa ma trên đồng nước nổi tới đâu nó đua tới đó, thì hẹ ruộng nói có em đây! Lội xuống ruộng, trầm mình dưới nước, thò tay tìm cái gốc hẹ mà lắc lắc vài cái cho đất nhão ra rồi nhổ lên cả bụi lẫn gốc rễ.

Nhổ về, ngâm trong thau nước khoảng một giờ đồng hồ để rửa phèn và sình. Xong xếp ngay ngắn đầu theo đầu, đuôi theo đuôi trong cái rổ lớn cho ráo nước. Lấy kéo cắt bỏ phần rễ đi, cuộn nó lại cỡ ngón chưn cái, chấm với mắm kho, rồi bỏ vô miệng nhai rau ráu, vừa giòn tan, vừa mềm, vừa ngọt, vừa mát lạnh trong cổ họng, thiệt không có thứ rau nào có thể chiếm được ngôi bá chủ võ lâm trong các giống rau dùng ăn lẩu mắm.

Bưng chén đầy rau, gắp thêm miếng cá ba sa chấm muối ớt, ngon nhứt phần ức có mỡ hoặc thịt hai bên má của cái đầu cá, gắp vài miếng thịt ba rọi, miếng cà tím, múc mắm kho chan ngập vào, ớt sừng trâu chín đỏ xắt miếng xéo xéo (cho miếng ớt được lớn) vừa nhai rau ráu vừa húp rồn rột. Ăn no mà không bao giờ sợ cái vòng số hai, tức cái bụng phình lên như cái trống chầu bao giờ. Một cách “diet” hiệu nghiệm của phụ nữ Việt Nam mình. Chính vì vậy từ trẻ tới xồn xồn tới già, dù ăn như xáng xúc mà phụ nữ chúng ta ai cũng đẹp bóng lẫn hình mà không cần đi hút mỡ bụng.

Sau này, món lẩu mắm là mắm kho trong cái cù lao, đỏ rực than hồng! Món mắm kho luôn luôn sôi ục ục đã chễm chệ ngồi vào thực đơn nhà hàng ở cái đất Footscray nầy!
Cá, tôm, mực, nghêu ướp gia vị, gắp nhúng vào mắm nhưng tui lại thấy không ngon. Vì đồ biển nhúng vào mắm cá đồng là trật chìa, là trái bản họng hết trơn; như ca sĩ chuyên xuống xề nhạc muồi mà buộc phải chơi nhịp chỏi của “Rock and Roll”’!

***

Chiều cuối năm, gần Tết tới, lấy hai tuần lễ nghỉ thường niên vì cày suốt năm oải quá. Đi làm quen, ở nhà mà mấy thằng bạn nhậu, hình như tụi nó chết hết rồi sao mà không có ai kêu tui đó; nên cái mặt tui chảy xệ như cái bánh bao chiều; cứ trước sân anh thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về! Em yêu thương quá; bèn chơi cho chàng một cái lẩu mắm để chàng nhậu với rượu đế, trong như mắt mèo của Nga, là rượu Vodka. 

Vậy mà thằng Úc sát bên nhà, hửi hửi mùi mắm thơm nức mũi như vậy lại hỏi xỏ tui là: “Bộ nhà có người chết hả?” “Ờ có! Ông nội mầy!”
Nghe nói vậy, nó bèn ôm mặt khóc hu hu… làm tui cũng hoảng. E mình xài xể nó quá nặng lời làm tan vỡ cái tình chòm xóm, ít khi có trên nước Úc nầy, với nó bấy nay. “Ờ! Anh nhắc, tui mới nhớ ông Nội tui chết trong niềm cô độc! Cả tháng mà hổng ai hay! Hu hu!”

Tui hối hận, bèn an ủi nó rằng: “Ôi cái xã hội bây giờ tệ như vậy đó chú em ơi! Buồn mà chi!” “Anh nghe nói chú em mầy đang rắp ranh, bắn sẻ, ve vãn một em Việt Nam bán cá ở chợ Footscray thì phải?Nhưng chú em mầy chỉ khoái ăn cheese, (hôi mùi xà bông tắm), và cá lăn bột với khoai tây chiên mỗi bữa, lại không ngửi được mùi thơm của nồi mắm kho trên bếp thì anh thành thật khuyên chú em mầy hãy từ bỏ niềm hy vọng bấy nay là chiếm được trái tim em! Vì đó chỉ là ảo vọng mà thôi!”

Thằng Úc nầy là thằng dại gái! Thấy con gái là mặt nó khờ căm thấy thương luôn. Nghe tui hù như vậy nó bèn xuống nước nhỏ: Bắt đầu từ ngày mai nó sẽ ráng tập. Hãy mua giùm nó trước hết là chai nước mắm hiệu ba con cá cơm cái đã. Từ từ nó sẽ ráng bịt lỗ mũi mà mần thêm cái món mắm kho!

Bằng không, em Việt Nam nầy sẽ tuyệt tình ca vì tui không ăn được mắm kho! Tim tan vỡ làm sao sống; chỉ còn cách đâm đầu xuống dòng sông Maribyrnong mà chết! Anh Hai ráng giúp em nhe! Thank you very much!

Chiều cuối năm nhớ mắm!
Happy New Year!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Anh Hùng và bội phản

Monday, April 07, 2008
Huy Phương

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Trung Tá Trần Ngọc Huế Diển Hành tại D.C.

Trước tháng 4 năm 1972, Trung Tá Trần Ngọc Huế và Trung Tá Phạm văn Ðính đều là hai anh hùng của Quân Lực VNCH, cả hai đều đã từng chỉ huy đơn vị tinh nhuệ của SÐ IBB là Ðại Ðội Hắc Báo. Năm 1971, Trung Tá Trần Ngọc Huế là Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 2/2 đánh vào Shépone trong cuộc hành quân Lam Sơn 719.

Vị trí của ông đã bị cộng sản tràn ngập và ông bị bắt làm tù binh và bị đưa ra Bắc và ở trong nhà tù 13 năm. Kẻ bội phản là cựu Trung Tá Phạm Văn Ðính, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 56 (Sư Ðoàn 3BB) tại căn cứ Tân Lâm (Carrol), cuối tháng 4, 1972 đã đầu hàng trước quân đội, không những chỉ đầu hàng mà Trung Tá Ðính đã theo giặc, vì sau đó ông đã lên đài phát thanh Hà Nội kêu gọi các chiến hữu ngày trước của ông buông súng theo “cách mạng” và đeo “quân hàm” trung tá của “Quân Ðội Nhân Dân”.

Ông “được” cộng sản cho làm “quản giáo” tại một trại tù (học tập cải tạo) đang giam giữ những chiến hữu của ông ngày trước.


Sau tháng 4, 1975, ông “Trung Tá” Phạm Văn Ðính vào miền Nam, nhưng sau đó không nghe nói ông nắm đơn vị nào trong quân đội Bắc Việt. Tôi nghĩ dù ngày nay miền Nam đã bị cộng sản thôn tính, dân chúng Huế-Thừa Thiên cũng như người miền Nam đã nhìn ông với đôi mắt ghẻ lạnh, cho đến khi ông qua đời, không biết ông có ngượng ngùng với cái cấp bậc trung tá ông đeo trên cổ áo hay không.

Ðại úy Harry Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc” (Gallantry Cross with Silver Star), sau trận Mậu Thân 1968

Sau năm 1975, tôi nghe những người cộng sản gọi những nhân vật trong hàng ngũ “chiêu hồi” là những kẻ “đầu hàng phản bội”, không biết họ dùng danh từ gì để gọi ông Trung Tá Phạm Văn Ðính.
Andrew Wiest là một giáo sư sử học tại Ðại Học Southern Mississippi, tác giả nhiều cuốn sách về chiến tranh, trong đó đã có hai cuốn viết về Việt Nam như “The Vietnam War, 1956-1975” (2002), “Rolling Thunder in a Gentle Land: The Vietnam War Revisited” (2006). Năm nay (2008), ông vừa xuất bản một cuốn sách nhan đề “Vietnam’s Forgotten Army- Heroisme anh Betrayal in the ARVN” để nói đến hai nhân vật Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính.

Thoạt đầu người ta giới thiệu Trung Tá Phạm Văn Ðính với ông, cuộc đời của một sĩ quan xuất sắc của VNCH trở thành một kẻ bỏ súng chạy theo địch quân là một đề tài khá hấp dẫn để trở thành một cuốn sách hay về chiến tranh Việt Nam. Giáo Sư Andrew Wiest đã mời ông Phạm Văn Ðính sang New Orleans Hoa Kỳ và tổ chức các buổi nói chuyện tại các đại học Hoa Kỳ về đề tài chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên ông đã được sự góp ý của nhiều giới chức Hoa Kỳ hủy bỏ dự định này. Các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ hiện nay đã từng là cố vấn trong các đơn vị mà ông Phạm Văn Ðính phục vụ trước kia, đã giới thiệu đến tác giả Andrew Wiest, Trung Tá Trần Ngọc Huế, đã xuất thân từ những đơn vị tương tự như ông Ðính, nhưng đã xứng đáng hơn với danh vị anh hùng.

Cuốn sách được hoàn tất với cuộc đời của hai Trung Tá Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính với những chiến trận lớn tại Vùng I Chiến Thuật mà cả hai đều đã đổ máu cho miền Nam nhưng về sau quyết định của hai người đã đưa họ về những lối rẽ khác nhau.

Ở trong trại tù tập trung của cộng sản dựng lên đầy dẫy ở hai miền Nam Bắc sau tháng 4 năm 1975, các chiến hữu ngày trước của chúng ta cũng đã có rất nhiều anh hùng nhưng không thiếu kẻ bội phản.

Những anh hùng của chúng ta đã đứng thẳng trước kẻ thù, có người đã chấp nhận gông cùm và đã có người hiên ngang trước cái chết. Trong khi đó có những người gọi là bạn tù của chúng ta đã cam tâm chịu sự sai khiến của bọn cai tù, nhận những chức vụ “tay sai” để hành hạ, đánh đập anh em không thương tiếc, hoặc hèn hạ làm những tên chỉ điểm, mà chúng ta thường gọi chúng là “ăng ten”. Ra hải ngoại, những người cựu tù nhân chính trị cũng đã nhận định rõ, ai là anh hùng mà ai là những kẻ đầu hàng phản bội trong các nhà tù cộng sản trước đây, chỉ tiếc là những những người này cũng cùng đi một chuyến tàu với chúng ta đến đây, lẫn lộn trong cộng đồng này.

Tuy đã tha thứ nhưng thực là chúng ta không bao giờ quên những khuôn mặt này, và hy vọng họ sẽ thức tỉnh và biết thế nào là và sự khinh rẻ của đồng đội hay đồng bào dành cho những hành vị bội phản, nhất là trong bối cảnh của cộng đồng tỵ nạn cộng sản hiện nay đang manh nha những thái độ đầu hàng hay thỏa hiệp đáng khinh miệt.

Đại úy Trần Ngọc Huế, bên trái và Đại úy Thủy quân lục chiến Roger V. Wellbrook xem qua bản đồ trước khi bắt đầu hành quân, ngày 12 tháng 5 năm 1968. Đại úy Trần Ngọc Huế, 26 tuổi, là sĩ quan chỉ huy của Đại đội “Hắc Báo” một đơn vị phản ứng nhanh tinh nhuệ của SĐ1 Bộ binh.

Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương.

Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”

Cựu hắc báo Harry Trần Ngọc Huế đứng cạnh bức hình mà cựu cố vấn David Wiseman đã cầm để đi tìm ông trong một thời gian dài.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline

Vương Mộng Long

Posted on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 26 Aug 2023

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Chủ ý của người kể chuyện…

Khi kể lại chuyện đời một người, nếu đã nhắc tới những nụ cười thì đừng quên những lần nước mắt tuôn rơi.Khi kể lại chuyện trận mạc một thời, nếu thấy tự hào vì những chiến thắng lẫy lừng thì cũng đừng quên những chiến bại đắng cay. Trong chiến tranh Việt-Nam năm xưa, chính những chuyện đời thường của những người tham chiến gom góp lại mới đáng tin đó là chuyện thật, không thêu dệt, không trét phấn, không tô son, không đánh bóng, không khoa trương. Ngoài mặt trận, viên đạn vô tình không phân biệt được ai là ông tướng, ông tá, ông úy, hay ông lính trơn. Vì tổ quốc mà chết, thì sự hy sinh của ông đại tướng và sự hy sinh của ông binh nhì phải được đánh giá ngang nhau.

Lịch sử không là vật sở hữu của chính quyền cũ hay chính quyền mới, lịch sử không thuộc về người Quốc-Gia hay người Cộng-Sản, lịch sử không của riêng ai, mà lịch sử là của tất cả mọi người Việt-Nam.

Những gì còn in đậm trong trí nhớ của người kể chuyện dưới đây cũng chỉ là một chút đóng góp nhỏ cho chiến sử.

Phi trường Cù Hanh Pleiku 1970

o O o

Nhớ Xuân xưa…

Tháng Tư Dương Lịch, Bắc Mỹ chuyển mùa sang Xuân…

Trong khuôn viên trường đại học University of Washington (UW) và trên đường phố North Seattle, những đóa hoa anh đào bắt đầu đua nhau nở.

Tôi đã sinh sống ở thành phố Seattle này ba chục năm rồi. Tôi đã thành người tha phương ba chục năm rồi. Hằng năm, cứ tới thời kỳ anh đào ra hoa, lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn này chỉ man mác, nhẹ nhàng thôi, nhưng lại thấm thía vô cùng, nó chính là nỗi nhớ quê hương… Quê hương Việt-Nam của tôi đẹp lắm, nhất là khi thời tiết bắt đầu vào Xuân. Có điều, quê hương tôi mãi chìm trong khói lửa. Quê hương tôi chưa có ngày nào ngưng cảnh đạn bom rơi. Suốt thuở thiếu thời cho tới khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ thấy hòa bình.

Lớn lên, tôi đã chọn binh nghiệp, rồi thời thế đã biến tôi thành một người của rừng, của núi Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật. Tôi đã yêu Cao Nguyên và đã chọn nơi này làm chốn định cư. Giờ này, gần nửa thế kỷ sau Chiến Tranh Việt-Nam, hình ảnh Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của nước Việt-Nam Cộng – Hòa vẫn chưa mảy may phai mờ trong ký ức của tôi. Vì thế mà, mỗi độ Xuân về, tôi lại nhớ Cao Nguyên…

Hoa đào tháng 4 năm 2023 trong sân trường UW (Seattle)

Mùa Xuân nơi ấy

Nơi này mùa Ðông, nơi ấy là mùa Xuân

Mùa quê hương đi trước mùa tha phương một bước

Xuân Cao Nguyên, làm sao ta quên được?

Một trời hoa, rực rỡ, áo Xuân vàng…

…

Cao Nguyên mùa Xuân nào cũng đầy lửa đỏ

Ðạn pháo ngút trời, nhưng hoa vẫn nở

Những người yêu nhau vẫn tưởng ở bên nhau

Áo trắng sân trường, thương áo trận rừng sâu…

Có một vùng trời

Bao lần ta bay qua, bay lại

Những chuyến bay tuần tra biên giới

Những địa danh kiêu dũng dưới chân ta

Dak Pek, Dak Seang, Ðức Cơ, Pleime…

Ðể bao năm sau ngày mất nước

Ta còn gọi tên nhau trong ký ức…

…

Những con dốc hụt hơi chân bước

Leo từ sáng đến chiều chưa tới ngọn, Chư Pa!

Những cái tên nghe đầy đe dọa:

“Thung Lũng Tử Thần”- “Cơn Sốt Vàng Da”

Từng đoàn quân tiến vào vùng đất chết

Cho quê hương những mùa Xuân bất diệt…

…

Nhớ thuở Bình Tây

Ta đóng quân bên dòng Yaly cuồn cuộn chảy

Chợt thấy Chúa Xuân vươn vai một sớm mai

Cùng tiếng chim ca, tiếng đạn réo lưng trời…

…

Nhớ Xuân Pleime mấy độ yêu người

Một nửa mùa Xuân nằm trong lô cốt

Quên cả rừng mai, quên mây trời bay

Một nửa mùa Xuân chìm trong pháo địch

một nửa mùa Xuân mưu chuyện phá vòng vây

Trong giao thông hào, ta như loài chuột bọ

giữ từng thước rào,

canh từng vuông đất nhỏ

cho ngọn cờ vàng ngạo nghễ bay trong gió

cho Em và Con bình an nơi thành phố…

…

Nhớ Xuân Cao Nguyên

Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã

Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ

Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời

Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội

Ta chỉ biết nói lời, “Xin lỗi!”

Ðã để cho em, “Một mình đi biển mồ côi…”

Ta ôm con vào lòng, “Bé bỏng con tôi!”

Ta chỉ bên Em, bên Con vài giờ ngắn ngủi

Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi

Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường

để lại Bé, để lại Em và thị xã sau lưng…

…

Tuổi trẻ, một thời để yêu

Tuổi trẻ, một thời để chết…

Mùa Xuân ra đi biền biệt

Ngày xanh, tuổi trẻ của ta

Ta đã cho quê hương tất cả…

…

Nơi ấy, Cao Nguyên mùa Xuân

Nơi này, Seattle mùa Ðông

Người Biệt Ðộng nhớ Cao Nguyên vô cùng

Còn Cao Nguyên…có nhớ gì ta không?

Vương Mộng Long – Seattle 1996

Đại úy Vương Mộng Long và phu nhân 1970

o O o

Ở Việt-Nam, tôi đã là cư dân của núi.

Qua Mỹ rồi, tôi cũng là cư dân của núi. Vùng đất mà tôi đang sinh sống hiện thời là nơi có đủ loại thông xanh, thông xanh bạt ngàn. Người Mỹ gọi đất này là “Evergreen State” còn người Việt ở Seattle thì gọi xứ này là “Cao Nguyên Tình Xanh” Những khi rảnh rỗi, tôi thường lái xe qua núi, qua đèo, dừng chân nơi nào đó, ngắm cảnh trời chiều trong thung lũng để nghe tiếng suối reo, tiếng chim kêu, và tiếng gió rít qua khe. Trong những giờ phút ngây người trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, tôi lại có dịp thả hồn mình phiêu du về Cao Nguyên của Vùng 2 Chiến Thuật Việt-Nam Cộng-Hòa…

o O o

Cao Nguyên và tôi…

Thời chiến tranh Việt-Nam trong Thế kỷ 20 đã có rất nhiều người tìm đến Pleiku chỉ với mục đích được sống vài ngày lang thang trên phố núi, ngắm sương mù che ánh đèn đêm, rồi chui vào quán cà phê khuya, ngồi phì phà khói thuốc, cố nặn óc kiếm ý, gieo vần, gắng sức viết cho được một vài bài thơ ca tụng Pleiku, những mong mai này sẽ nổi tiếng với đời. Còn tôi, tháng Mười năm 1966, sau vụ Phật Giáo Miền Trung, mang cái án phạt 90 ngày Trọng Cấm trên vai, tôi tới Pleiku với tâm trạng chán chường của một kẻ bị lưu đày.

Ngày ấy, tôi thấy Pleiku là một thị trấn nhỏ tí teo, chỉ có một con phố chính Hoàng Diệu là nhộn nhịp người qua kẻ lại, vì nơi này có những quán xá chen chúc sát vách nhau trên một đoạn đường dài chưa đầy cây số. Nhà hai bên phố thì toàn lợp tôn, cao, thấp chẳng đều, căn nhô ra, căn thụt vào, chẳng có thứ tự hay hàng lối gì cả! Chỉ qua vài ngày lang thang trong thành phố này, tôi đã nhận ra, người ở đây toàn là dân tứ xứ, đa phần là lính và gia đình của lính. Tóm lại, Pleiku thuở ấy, với tôi chẳng có vẻ gì là nên thơ hay quyến rũ cả.

Thành phố Pleiku là thủ phủ của Cao Nguyên mà còn buồn chán như thế thì nói gì tới những tiền đồn biên giới xa xôi như Dak Pek, Dak Tô, Ðức Cơ, Plei Me…

Ấy vậy mà, ngày tháng đong đưa, tôi đã chôn chân ở xứ này tới mười năm, đã say mê rừng núi Cao Nguyên tự lúc nào, tôi cũng chẳng hay. Trong mười năm dài, tôi đã có dịp góp sức, góp máu cùng hàng ngàn người lính vô danh khác đang ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm đầy muỗi vắt, trước những họng súng sẵn sàng nhả đạn của quân thù, để bảo vệ quê hương. Gót chân tôi đã in trên từng thước đất dọc biên giới Việt, Miên, Lào, từ Khâm Ðức của Vùng 1 Chiến Thuật, tới Bù Gia Mập của Vùng 3 Chiến Thuật.

Gia đình Thiếu tá Vương Mộng Long (1974)

Ròng rã mười năm, tôi đã trải qua những trận đánh ác liệt và đẫm máu nhất của Cao Nguyên Vùng 2, những trận chiến mà cái sống và cái chết của người chỉ huy chỉ cách nhau như một đường tơ, kẽ tóc. Máu tôi đã nhiều lần đổ xuống tưới đẫm đất này.

Hiện thời, năm 2023 của Thế kỷ 21, trên người tôi, kỷ niệm chiến tranh vẫn còn đây, với cái vai trái mất một miếng xương, một cái sẹo bên sườn phải, và trong ngực tôi còn nguyên một đầu đạn AK47 nằm cách trái tim tôi chưa tới một centimet.

Bù đắp lại, tôi đã có những tháng, ngày sống thật vô tư, thảnh thơi, buông thả ở đây. Cũng từ Cao Nguyên, tôi đã xây dựng được một gia đình hạnh phúc tuyệt vời.Tôi đã chứng kiến một thời Cao Nguyên huy hoàng, rực sáng. Rồi tôi đã phải gạt lệ chia tay Cao Nguyên vào những ngày Cao Nguyên hấp hối.Vì thế, Cao Nguyên chính là đời tôi, với đầy đủ buồn, vui, vinh, nhục, hạnh phúc, và đau thương.

o O o

Tôi lớn lên trong chiến tranh, dù cho bao năm đã qua đi, những kỷ niệm gì liên quan tới chiến tranh, cứ còn mãi trong đầu.  Tôi còn nhớ, cuối năm 1953 kế hoạch Navarre của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp ra đời khi tôi vừa qua tuổi lên mười. Kế hoạch Navarre có biểu hiệu là cái nắm đấm. Dấu hiệu này có ý nghĩa là sức mạnh quân sự của Pháp sẽ được tập trung bảo vệ những thành phố lớn vùng Trung Châu Bắc-Việt, những thành phố vùng cao sẽ bị bỏ rơi. Ðầu năm 1954 những bích chương với dấu hiệu cái nắm đấm được dán đầy tường trong phố và trên các gốc cây lớn mọc bên đường. Cùng thời gian này từng đoàn công voa chở quân lính và khí cụ nối đuôi nhau chạy về Hà-Ðông và ngoại ô Hà-Nội. Kết quả là, một năm sau khi kế hoạch Navarre ra đời, nửa nước Việt-Nam rơi vào tay Cộng-Sản. Hai mươi năm sau, cuối 1973 tôi lại nhìn thấy tình trạng Cao Nguyên Việt-Nam Cộng-Hòa cũng không khác gì tình trạng Trung Châu Bắc-Việt trong kế hoạch Navarre năm 1953, quân ta cũng không có cuộc hành quân thế công nào, đâu đâu cũng lo co cụm, phòng thủ thụ động xung quanh những thành phố lớn. Tình hình bi đát tới nỗi, giữa ban ngày mà muốn đi từ Pleiku tới Thanh-An cũng phải mở đường, rà mìn, đóng chốt.

Hào quang chiến thắng của những chiến dịch “Bình Tây 48” – “Bình Tây 3” hay “Lùng và diệt địch” của thời kỳ 1966-1970 ngày xưa đã trở thành kỷ niệm. Chúng tôi mang tiếng là Biệt Ðộng Quân, trên bảng cấp số có ghi rõ ràng là đơn vị trăm phần trăm di động, mà quanh năm cứ đóng đồn, giữ cầu, giữ đường thì “ẹ” quá! Hằng ngày tôi có dịp được tiếp xúc với các giới chức cao cấp của quân đoàn, được tham dự những buổi thuyết trình về tình hình bạn, địch trên toàn Quân Khu 2 nên tôi có thể hình dung ra những gì sẽ diễn ra ở Vùng 2 trong tương lai sắp tới.

Chuyện Tháng Mười Hai

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

 Tôi ngồi trong một căn phòng có hơi sưởi ấm, gõ bàn phím laptop ghi đơn đặt hàng gởi đi cho kịp nhận hàng vào tuần tới. Tháng mười hai tây được đặt thêm phần cho tiệc tùng những ngày cuối năm. So với mấy năm trước thời kinh tế khủng hoảng, tiêu chuẩn ăn uống của tháng mười hai có thêm gà tây, thỏ, tôm, rượu nho và vài ba món nhậu, ngoài ra công ty chuyển hàng gởi tặng ba tê, cá hồi un khói, bánh, kẹo, sô cô la đủ loại và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ… gồm chung đồ ăn, thức uống ê chề ăn tới ra Giêng vẫn chưa hết. Mấy năm sau này kinh tế èo uột, chủ tàu cắt giảm phần ăn gần phân nửa và cuối năm công ty chuyển hàng gởi tặng chỉ có mấy tờ lịch quảng cáo hình ảnh của công ty, ngoài ra không có thứ gì ăn được và cũng chẳng có giọt rượu nào. Gõ xong đơn đặt hàng, tôi đọc lại thấy quá tiêu chuẩn qui định, có lẽ tôi phải bớt vài món nhưng còn phân vân chưa biết phải bỏ những món nào.  Tôi đứng dậy vươn vai và vói tay vẹt tấm màng khung cửa nhỏ, ngoài trời tuyết rơi nhẹ, chưa vào mùa đông mà đã trải qua hai cơn bão tuyết những bông tuyết li ti bám vào cửa kiếng, đọng bên thềm cửa và trải một lớp dầy trên boong sau làm tôi nhớ tới những ruộng muối trắng của miền Trung Việt Nam nước tôi. Nước nhiễu đóng băng tạo những hình thù ngồ ngộ, cái giống trái cà dái dê, cái như bầu rượu treo lòng thòng phía dưới những song sắt rào cản và phần khác giống sáp đèn cầy đun nóng chảy xuống đọng sau thành tàu trong suốt như pha lê. Nhìn cảnh vật và không gian ủ dột cũng đoán biết bên ngoài trời lạnh ghê gớm lắm, lòng tôi chùng theo cái lạnh tê tái của nước trời.  Tháng cuối năm ở Âu Châu là mùa ăn uống, biết tôi đặt hàng, mấy người đề nghị đặt thêm món này món nọ. Tên thợ máy mập như bò, hám ăn như heo, hắn kêu tôi đặt tôm thẻ hạng nhứt và loại thịt bò mềm làm món bít tết, hắn biết rất rõ chuyện hắn muốn không bao giờ xảy ra trong thời buổi kinh tế khó khăn này, tuy nhiên hắn ta vẫn đề nghị để khi nhận thực phẩm không có những thứ hắn yêu cầu thì dựa vào đó hắn ta xỏ xiên chọc ghẹo: “Ông sợ chủ tàu phá sản à!” Hoặc: “Bộ ông trả tiền hay sao mà hà tiện vậy”. Từ lâu tôi tập nhẫn nhịn nhờ gặp phải nhiều gương mặt khó ưa, nghe nhiều câu nói khó chịu lâu ngày tôi bớt đi tánh nóng. Hổng hiểu sao hôm nay tự dưng nó lởn vởn trong đầu mấy câu trêu chọc của tên thợ máy làm tôi suy nghĩ vẩn vơ.  Tôi nhớ tới những em nhỏ bươi rác kiếm ăn ở mấy nước nghèo, những người tàn tật và các em bán vé số ở quê hương tôi bận áo quần rách tả tơi, miệng gượng nở nụ cười mời người mua lấy vận may. Trong khi ở nơi đầy đủ mọi thứ, con người ta đòi hỏi nọ kia. Nghĩ tới lòng dạ tham lam của con người, tôi bực mình day trở lại bàn, khởi động lại laptop, gõ như trút giận lên bàn phím xóa hết những món đặt thêm cho tiệc tùng và những món tên thợ máy đề nghị, chừa lại gà tây, thỏ truyền thống và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ đúng theo qui định. Sửa xong đơn đặt hàng tôi thấy nhẹ người và quyết định từ đây về sau tên thợ máy hay bất cứ tên nào ọ ẹ nọ kia chuyện ăn uống tôi sẽ dạy cho hắn ta một bài học. Đúng vậy, sanh ra là con người một lẽ, có địa vị tốt, chức quyền cao cũng là một lẽ, nhưng sống cho ra con người thì cần phải học. Hôm hai mươi lăm tháng mười hai tàu nằm trên biển Nam và phải vật lộn với sóng, gió cấp bảy, cấp tám. Hai ngày sau mới ghé vào Thuỵ Điển lên hàng, xuống hàng bận rộn tới ngày hai mươi tám tháng Chạp tàu ghé cảng Oslo, thủ đô Na Uy. Chiều hôm ấy thuyền trưởng kêu mọi người tụ lại phòng ăn, bia và nước ngọt để sẵn ra bàn, ai muốn gì thì tự lấy khui uống. Sau khi mọi người yên vị đâu đó thuyền trưởng cho biết tàu đậu lại đây được hai ngày, ông nói: –  Chúng ta ăn Giáng Sinh vào ngày mai. Mọi người chịu quá hô rân và đưa chai lên cụng. Thấy mọi người vui quá, tôi cũng chen vào dí dỏm hỏi viên thuyền trưởng: – Ngày Giáng Sinh qua rồi còn gọi là tiệc Giáng Sinh được sao? – Hỏi rất hay.   Mọi người im lặng còn thuyền trưởng thì nheo nheo đôi mắt và bành cái mặt thịt ra suy nghĩ, trên tàu chỉ có thuyền trưởng, thợ máy và con nhỏ Mieke phụ máy hổng biết mấy người ăn gì mà mập quá cỡ, ba người gộp lại đem cân chắc được non nửa tấn. Cuối cùng thuyền trưởng cũng nghĩ ra, ông nhe răng cười hì và nói: – Gọi là tiệc Merry Christmas and Happy New Year. Mọi người cao hứng đưa bia cụng và hô lên: – Ô…ô… Merry Christmas and Happy New Year !!! Sau đó thuyền trưởng phân công, thủy thủ lau chùi trong tàu và dọn dẹp phòng ăn, thợ máy gắn lại bóng đèn. Ông day qua tôi: – Bếp, ông biết làm sao rồi phải không? – Yes sir.   Thuyền trưởng phân công xong, tôi  về phòng ngủ sớm. Mấy người ngồi lai rai tán dóc tới khuya. Vậy mà sáng hôm sau tất cả vẫn thức đúng giờ, mặt mày người nào cũng tươi rói. Ăn sáng uống cà phê xong liền bắt tay vào việc.   Mấy hôm trước cây thông đã bị sóng vật ngã mấy lần, lá thông rụng gần hết chỉ còn một vài nhúm màu xanh bám vào nhánh khẳng khiu xám xịt, đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn mấy chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy, bóng tắc trông căn phòng ảm đạn thê lương. Khi cơn giông gió qua, lòng người phấn khởi, thủy thủ đứa dựng cây thông, đứa căng hoa giấy. Mieke trải khăn bàn, xếp ly, dọn dĩa, nĩa, dao và xếp giấy lau miệng, thợ máy lui cui gắn dây đèn, nhìn hai đống thịt của Mieke và tên thợ máy án chật phòng ăn thì thấy mấy người In Đô teo lại nhỏ xíu.   Tôi thức từ sáng sớm và làm mấy món cần thiết để sẵn. Trước thời kinh tế khó khăn, đầu bếp chỉ cần nấu những món chánh thôi, những món nhậu chỉ tháo bọc đem ra cắt miếng, sắp vào dĩa, trưng bày cho đẹp rồi dọn ra bàn. Mấy năm sau này đầu bếp phải tự chế biến thêm những món nhậu nên phải sắp sếp thực đơn. Fredy phụ tôi làm bếp, tôi chỉ nó cách xẻ đôi trứng gà, móc lòng đỏ để vô tô và để riêng phân nửa lòng trắng vô một tô khác, sau đó dầm nhuyễn tròng đỏ đem trộn ngò, chanh, tiêu, muối, đường, tỏi, mayonais… làm món trứng nhồi trứng. Tôi lấy chiếc mâm vuông dài một thước, ngang năm tấc, lót giấy nhôm lên, đưa cho Fredy và chỉ qua những món đồ tôi bày sẵn trong góc bếp, dặn:   – Mày lấy muỗng múc tròng đỏ trứng gà trộn trét vô lòng tròng trắng và trét patê lên bánh dòn, dưa chuột chua cuốn thịt nguội, phó mát ghim chung với khóm… xong rồi sắp mọi thứ vào mâm. Giao việc cho nó xong, tôi day qua đút con gà tây vô lò nướng, sau đó lấy mấy trái cà tô mát cắt làm bông hồng, củ cà rốt tỉa hoa và xé lá xà lách để lát nữa trang trí mấy mâm đồ ăn. Có tiếng thợ máy kêu bên phòng ăn: – Bếp! Qua đây coi. Không hiểu sao nghe tiếng cái tên mập này là tôi bực mình, nhưng cũng bước qua coi thử chuyện gì. Trong ánh sáng mờ mờ, căn phòng rực rỡ nhiều màu sắc chớp chớp, nhá nhá, lóng la lóng lánh ánh kim tuyến vô cùng lộng lẫy. Mặt mày người nào cũng tươi rói, sự náo nức làm cho không khí trong phòng vui nhộn. Ngày thường tôi nhìn mặt thợ máy giống như mặt heo, hôm nay trông rất là người, lại là người đẹp nữa, lòng tôi dịu lại reo vui. Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt: – Ồ, đẹp quá. Thợ máy hỏi: – Được rồi phải không? Tôi gật đầu: – Quá được.    Mấy người trang hoàng phòng ăn xong, ai trở về phòng nấy. Trong tàu trở nên yên ắng và nghe rõ tiếng nhạc Giáng Sinh nho nhỏ phát ra từ hai chiếc loa bên phòng ăn. Tôi quay lại phòng bếp tiếp tục công viêc. Fredy thấy tôi bước vô nó khoe: – Xong rồi còn gì nữa hông chú? Tôi nhìn qua thấy nó sắp đồ trên mâm lộn xộn hết. Cười một cái, tôi đi lại bên nó, lấy từng món sắp lại món nào ra món nấy. Sắp xong tôi hỏi: – Mày thấy sao? – Ờ, trông đẹp hơn. Tôi lấy lá sà lách và cái bông hồng đưa cho nó: – Mày cắt cái rìa lá xà lách này viền chung quanh bìa mâm và để cái bông hồng bên góc là được rồi.    Thuyền trưởng đánh số trên mỗi gói quà và ghi số thăm trên miếng giấy trắng A4 cắt làm tư xếp lại bỏ vô lon, để lon thăm lên thùng quà, khệ nệ ôm xuống phòng ăn. Ngang qua phòng bếp thấy tôi với Fredy lục đục bên trong, ông bèn dừng lại, hai tay vịn chặt thùng quà, ưỡn cái bụng to ra kê cho thùng quà chìa vô phòng bếp, cười nói: – Tui xong rồi nè, Bếp xong chưa?   Tôi ngước lên, thấy mặt thuyền trưởng vui như mặt ông địa, cười một cái, tôi nói: – Sắp xong rồi, ông chuẩn bị khui rượu là vừa. Thuyền trưởng vô phòng ăn hổng thấy ai, bèn nhấc điện thoại gọi từng người. Vài phút sau mọi người tụ tập hết vào phòng ăn cũng là lúc Fredy bưng mâm đồ nhắm để ra bàn. Trong lúc tôi lui cui trở và ghim thử con gà tây thì nghe tiếng thuyền trưởng gọi: – Bếp! Ra đây mau. – Ô kê, tôi ra liền.  Thử con gà thấy còn máu, bèn đóng cửa lò lại, đứng lên đi qua bồn rửa rửa tay và lau tay khô tôi mới bước qua phòng ăn. Vừa thấy tôi, thuyền trưởng liền cầm chai Champagne lên bật nút nổ cái bụp, rượu tràn có vòi, mọi người hô to và chìa ly ra hứng. Rót rượu cho mọi người xong, thuyền trưởng nói câu chúc mừng và nâng ly mời tất cả  cùng cạn. Hết đợt champagne tôi và Fredy khui thêm rượu nho trắng và đỏ để ra bàn. Trong khi đó thuyền trưởng đưa lon thăm cho Mieke, nói: – Đàn bà trước.     Mieke lấy một miếng thăm, kế tiếp ông đưa lon thăm cho tôi, tôi bốc một cái, sau đó lon thăm được chuyền tay cho mọi người và người cuối cùng là viên thuyền thưởng. Xong phần bốc thăm, tới lượt nhận quà, cũng bắt đầu từ Mieke, thăm số nào thì quà số nấy. Ai nhận quà thì mở liền ra cho mọi người xem, mỗi khi mở quà tiếng hô đồng loạt rân vang… Nhận quà xong mọi người tiếp tục ăn uống. Cụng ly vài ba đợt mâm đồ nhắm đã giựt hơn một nửa. Không khí vui nhộn, tiếng nói tiếng cười át cả tiếng nhạc phát ra từ hai cái loa bên góc phòng. Bình thường tôi không uống bia rượu, hôm ấy vui quá tôi cũng cụng ly với mọi người. Khi thức ăn trong mâm gần hết, tôi đứng lên đi vào bếp mở lò thăm con gà tây, gà cũng vừa chín tới, vặn tắt lửa và đóng cửa lò nướng lại. Tôi ra phòng ăn lấy chiếc mâm, trong mâm còn vài món đồ ăn, tôi đưa cho mỗi người một cái, mâm đồ ăn đã hết và tôi day ngang kêu Fredy theo tôi. Fredy theo tôi vô bếp, tôi đưa chiếc mâm cho nó và dặn: – Mày thay giấy nhôm và trang trí lá sà lách, tô mát, dưa leo lên xung quanh mâm để lát đựng gà tây.   Fredy cầm chiếc mâm bắt đầu công việc, tôi day qua bật lửa lò hâm nóng lại món khoai tây xào thịt ba chỉ un khói và mở lò lấy gà tây ra chặt, sắp lên mâm. Gà tây đút lò, khoai tây xào ăn chung với xà lách trộn chua cũng không tệ lắm. Sắp xong mọi thứ đâu vô đó trông cũng bắt mắt, tôi với Fredy bưng hết ra để lên bàn và ngồi vào cùng ăn. Tiệc tùng từ lúc hơn mười một giờ sáng tới hơn hai giờ trưa, thức ăn trên bàn đã hết sạch, vậy mà mọi người vẫn tiếp tục cụng ly. Tôi với Fredy đứng lên dọn dẹp dao, nĩa, dĩa dơ bỏ vô máy rửa. Fredy hỏi: – Còn gì nữa không chú. – Cái gì nữa? – Đồ nhậu. – À, cái đó hả, có phó mát, salami, bánh phòng tôm, khoai tây dòn… thiếu gì trong kho. – Mấy năm trước con thấy chú làm thức ăn nhiều lắm. – Chậc, kinh tế khó khăn…. Ờ mà… tao thấy kinh tế khủng hoảng vậy mà hay. – Hay sao chú? – Thì cho con người ta bớt tiêu xài, sống thiêu thiếu một chút mới thấy được giá trị cuộc sống. – À há… – Dù sao giảm bớt phần ăn còn hơn là nấu nướng cả đống ăn hổng hết rồi đem đổ. – Con cũng thấy vậy đó chú. Tôi bước qua ra phòng ăn hỏi mọi người muốn ăn gì thêm không. Mọi người ưỡn cái bụng ra xoa xoa nói. – No rồi. Thợ máy cầm con chuột vi tính đưa qua cho tôi: –  Cho ông đó. Tôi lưỡng lự: – Quà Giáng Sinh của mày mà. – Nhưng tui có rồi, ông chưa có. Thiệt ra thì tôi cũng có con chuột vi tính nhưng vì không thích rườm rà nên không xài đó thôi. Thấy hắn ta nhiệt tình tôi hổng nỡ từ chối, chỉ còn cách đưa tay lấy con chuột, nói: – Cám ơn nhiều. Phần quà thuyền trưởng là cái khăn choàng cổ, ông cũng cho tôi luôn. Nhận thêm hai phần quà, tôi day qua hỏi mọi người lần nữa: – Ăn thêm gì không? Mọi người nói không. Thợ máy xoa xoa cái bụng nước lèo của hắn: – Đi chung với ông tui mập thêm dìa nhà bà xã rầy. Thuyền trưởng nói: – Ông đi nghỉ được rồi phần dọn dẹp để đó. Day qua mấy người ngồi cùng bàn ông nói: – Lát nữa xong mấy ông thanh toán phần còn lại. Tiếng hô vui vẻ của mọi người: – Ô kê… Tôi trở qua phòng bếp, thấy Fredy đứng xớ rớ. Tôi nói với nó: – Mày ra ngồi chơi với mọi người, xong chuyện có mấy người phụ mày dọn dẹp, tao đi nghỉ đây. Nó dợm bước ra ngoài. Tôi kêu lại và đưa hai món quà vừa nhận của thợ máy và thuyền trưởng lên, nói: – Tao để hai cái này trong góc bàn, cho mày đó. – Nhưng. Tôi khoát tay nói như ra lịnh: – Ra ngoài chơi đi, không nhưng gì hết, hai cái này là của mày. – Cám ơn chú. Vô phòng tắm rửa thay quần áo xong, thấy trong người khoẻ khoắn. Tôi lên giường nằm định đánh một giấc, chợt nhiên trong lòng áy náy bồn chồn không ngủ được. Cách đây mấy ngày, tôi còn nghĩ rằng những con người thật sự, từ ngàn xưa cho tới ngày nay, họ xem nhẹ chuyện ăn uống, không bao giờ vì miếng ăn mà nói ra những lời thô tục. Cũng vì lẻ đó mà hôm xuống hàng thấy thợ máy tới dòm dòm, tôi chờ cho hắn cất tiếng soi mói bậy bạ tôi sẽ cho hắn một bài học. Nhưng suốt buổi hổng thấy hắn ta nói gì, tôi bèn gợi chuyện: – Hổng có tôm thẻ và bò bít tết cho mày đâu. Hắn cười: – Tui biết, tui đặt phụ tùng và đồ đạc dưới hầm máy, công ty đưa xuống có đủ đâu, thời buổi kinh tế khó khăn phải chịu thôi. Từ đó về sau tôi nhờ gì hắn làm nấy, lúc nào hắn cũng vô tư nói cười vui vẻ làm cho tôi mất cơ hội dạy đời. Tôi ngồi dậy bước xuống giường đi lại vẹt tấm màn cửa, nhìn ra bên ngoài, từng mảnh tuyết nhỏ như bông gòn nhẹ nhàng rơi, tất cả tự nhiên và yên bình quá. Cũng như cuộc sống, tự nó đã im ả như những bông tuyết nhẹ rơi. Lòng tôi chợt nhiên e thẹn, nhớ tới truyện hai viên gạch nằm xéo trên một bức tường và truyện một chấm mực đen trên tờ giấy trắng, tôi đã đọc qua rất nhiều lần, cả hai truyện rất đơn giản nhưng ý nghĩa bao la, xem ra cho tới ngày nay tôi vẫn chưa học thuộc. Ấy vậy mà lúc nào tôi cũng vạch lá tìm sâu và rình rập muốn lên lớp để dạy đời người khác.     Địa Trung Hải 30-11-2012    
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chuyện ngày cuối năm

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Hải trình chiếc Atlantic bắt đầu từ Houston xuống Nam Mỹ, mỗi chuyến đi dài năm hoặc sáu tuần. Sau đó quay trở lai Houston xuống hàng, lấy thực phẩm và thay người. Ðúng ra tôi được đổi về hôm trước Giáng Sinh. Nhưng vì ba cái vụ khủng bố trên đất Mỹ nên những người mang quốc tịch của mấy nước Hồi giáo tạm thời không được toà đại sứ Mỹ cấp chiếu kháng nhập cảnh. Ông đầu bếp thay tôi người In-đô chờ lo thêm thủ tục có thể ra Giêng mới xong.  Những ngày cuối năm không được về với gia đình tôi cũng có hơi buồn. Tuy nhiên nghe tin tôi ở lại, từ thuyền trưởng tới thủy thủ đoàn trên tàu rất vui mừng. Họ vui chẳng qua vì hai bửa tiệc Giáng Sinh và Tết Tây năm nay họ được thưởng thức những món ăn thuần túy Việt Nam.  Chuyến rồi tàu trở lại Houston, tôi với thuyền trưởng lên siêu thị Việt Nam mua thức ăn chở đầy nhóc chiếc tắc xi. Hôm Giáng Sinh ngoài con gà tây đúc lò ra tôi dọn thực đơn các món nhấm Việt Nam và nấu một nồi phở hai chục lít. Trong bữa tiệc những món ăn Việt Nam được bà con chiếu cố tận tình và nồi phở cũng hết sạch trong ngày hôm ấy. Chả giò, gỏi cuốn, tôm chiên bột sốt chua ngọt… đã loại con gà tây truyền thống Giáng Sinh ra khỏi bàn tiệc! Tôi để con gà Tây qua mấy ngày sau mà chẳng ma nào rớ tới, cuối cùng tôi gói con gà đem cho mấy người bốc dác trên bến cảng. Tàu cặp cảng Paramaribo khuya ba mươi rạng ngày ba mươi mốt tháng chạp.  Sáng sớm, thuyền phó ra thông báo tàu sẽ đậu lại đây qua Tết mới khởi hành.  Sau bữa điểm tâm, thuyền trưởng phân công: thủy thủ lau chùi tàu sạch sẽ, xong sớm nghỉ sớm, thuyền phó mua pháo và cái xiệc-điện (survolteur) cho dàn đèn tự động kết hàng chữ Merry Christmas & Happy New Year đã bị cháy trong đêm Giáng Sinh và đầu bếp đi chợ mua thêm thức ăn tươi, làm sao cho bữa tiệc giao thừa xôm tụ mới được.  Lamat đòi theo phụ xách đồ. Thuyền trưởng nói:  – Được, nhưng mầy phải tháo bảng chữ trên mui tàu xuống,  gỡ chữ Merry Christmas ra, dời chữ Happy New Year vô chính giữa bảng và đóng lại cho đẹp rồi mới được đi.   Tôi ra sau lái đứng nhìn dòng sông uốn khúc chảy ngang thủ đô Paramaribo. Mực nước cạn theo con nước ròng, hai bãi sông lồi ra làm cho dòng nước hẹp lại. Nước bắt đầu chững, những đống cỏ, rác bềnh bồng chờ con nước lớn đẩy ngược về nguồn.   Hôm nay là ngày cuối năm, sinh hoạt trên bến cảng chậm lại. Nếu không có một cuộc cãi vã không cần thiết thì không khí trên tàu sẽ êm ắng vô cùng. Có một gã thanh niên,  áo quần rách rưới khệ nệ rinh hai bao dừa xuống để sau lái tàu. Lamat chạy tới nạt nộ đuổi gã đi. Gã cười cầu tài và chấp tay xá xá, nài nỉ với giọng điệu của người thấp cổ.  – Thưa ngài,  tui chỉ bán dừa thôi chớ đâu có làm gì.  Lamat xua tay hùng hổ:  – Không,  không  ai mua đâu, mày ôm lên khỏi tàu lập tức!  Có lẽ gã cũng đã quen cái cảnh bị đuổi xua nên gã đóng mặt lì, lóng ngóng chờ coi có người nào khác tới để rạ bán hai bao dừa. Lúc đó Fidal đi ra. Gã rạp đầu cúi xuống, chấp tay xá một cái:  – Happy new year, ông mua dừa dùm đi ông, gã cất giọng ai oán,  tui có một vợ ba con, Tết tới rồi, ông giúp dùm, hai bao dừa chỉ có năm đô Mỹ.  Mặc tình thằng nhỏ năn nỉ, chẳng những Fidal không động lòng, trái lại nó còn hùa theo Lamat nạt nộ chửi bới con người ta.  Nãy giờ tôi đứng sau boong thấy cảnh kỳ cục,  tự nhiên hai thằng đi ra gây lộn với thằng nhỏ. Tôi bước tới can:  – Thôi đi, nó chỉ bán có mấy trái dừa, có gì đâu mà tụi mầy làm dữ vậy. – Nó không được xuống tàu. – Nếu nó là con gái thì tụi mầy có đuổi đi không?  Nghe tôi hỏi hai đứa phá lên cười rồi đi qua đứng dựa thành tàu. Gã bán dừa day qua tôi rạp đầu một cái cất giọng ca bài con cá sống vì nước. Thật ra tôi rất thích chất ngọt dịu mát tự nhiên của nước dừa tươi, với lại ở miệt nầy dừa tươi rẻ tiền hơn nước đóng hộp. Chuyến nào xuống Nam Mỹ tôi cũng mua vài chục dừa tươi gọt bỏ vỏ xanh, để dành trong phòng lạnh giải khát. Tôi nhìn gã thấy vết rách trên áo còn mới, nút áo đứt hở ngực. Từ ngực xuống tới hai bắp tay bị sướt và dấu máu trên vết sướt vừa mới khô. Tôi nghĩ tới sự hấp tấp của gã khi ôm thân dừa từ cao tuột xuống, té nhào, không bị dập dái nằm tại chỗ là may lắm rồi. Bao nhiêu chứng cớ cũng đủ biết việc làm của gã không được lương thiện lắm. Tôi đoán chừng trong hai bao dừa bất quá chỉ phân nữa trái nguyên, còn lại là dừa điếc. Tôi chỉ tay xuống hai bao dừa hỏi gã:  – Bao nhiêu?  Gã nói: – Bốn mỹ kim. Mới ra giá năm bây giờ hạ xuống còn bốn. Tôi móc mười mỹ kim chìa ra: – Nè, cầm tiền đi về ăn Tết với vợ con được rồi,  tết nhứt đi ăn trộm bị cảnh sát bắt thì bị xui suốt năm. Gã mừng húm, vội vàng chụp tiền bỏ vô túi rồi đứng nghiêm,  đưa tay lên chào theo lối nhà binh: – Yes sir! Khi gã đi rồi, Lamat gỏ gỏ ngón trỏ lên đầu chế ngạo: – Ông khùng, lần nào xuống đây ông cũng mua nhằm dừa điếc, vậy mà ông còn trả thêm tiền. Tôi nói: – Nhưng ít ra cũng còn phân nữa dừa nguyên, ở bên châu Âu hai mỹ kim mua chỉ được một trái dừa khô.   Công việc trên tàu được thủy thủ đoàn làm xong sớm hơn thường lệ. Tôi với Edy,  Lamat,  Fidal và thuyền phó đổ bộ ra tới cổng. Thuyền phó đòi đi tắc xi.  Tôi muốn đi xe bus, đó là thói quen của tôi. Tôi thích đi xe bus đông người vui vẻ, rẻ tiền và vừa được nhìn thấy cảnh sinh hoạt của dân địa phương. Hơn nữa ở xứ nầy tắc xi đâu đâu có đúng hẹn, họ kêu chờ mười phút nhưng lắm khi đứng cả buổi mà chẳng thấy mặt mũi tắc xi nào. Tôi day qua nói với viên thuyền phó: – Vậy thì mầy vô văn phòng nhờ nhân viên điện thoại gọi tắc xi, còn tao đi ra bến chờ xe bus.    Thấy tôi nằng nặc đòi đi xe bus thuyền phó đành nhượng bộ.  Chúng tôi xuống bến xe trung tâm, thuyền phó đề nghị tìm một quán giải khát nào đó, uống vài ly bia hãy đi mua sắm. Thiệt xẩu mình, hồi nãy đã cãi vã cái vụ xe bus, tắc xi, bây giờ thêm cái chuyện đi đứng nữa. Mới vừa lên tới phố lại đòi vô quán ngồi uống bia. Không muốn lôi thôi mất thời giờ, tôi đề nghị: – Hổng ấy mầy vô quán uống bia chờ mưa tạnh, tao vô chợ trước. – Như vậy cũng được. Lamat và Fidal đi theo thuyền phó, Edy theo tôi.  Tôi quen với Edy ba bốn năm nay, nghe nói ở bên In Ðô nó đã học xong dại học nhưng khi ra trường không có việc làm, thấy tương lai mù mịt quá, bèn xin làm thủy thủ. Hồi mới xuống làm, ỷ nói tiếng Anh trôi chảy nên nó xem thường đồng hương, trái lại đối với người nước khác thì nó nể nang hơn. Tôi may mắn  không phải đồng hương với nó nên được nó kính trọng và kêu bằng chú. Một ngày kia, không biết có chuyện cãi vã ngoài boong sao đó, nó mang bộ mặt hầm hầm đi vô nói với tôi. Dân da trắng đụng chuyện nó binh nhau không cần phân phải trái gì hết. Tôi nói: – Ðây là bài học mà dân Á đông mình cần phải học cho thuộc mới mong khá nổi. – Chú nói vậy nghĩa là sao? Trông bộ mặt thiểu não của thằng nhỏ đến tội nghiệp, tôi bèn nói: – Nghĩa là mầy nên dẹp cái đại học qua một bên và hoà mình sống với đồng hương của mầy hơn là theo nịnh nọt người da trắng. – Chú thấy tui như vậy sao? – Mầy biết hỏi như vậy thì mầy cũng không đến đỗi tệ lắm. Không ngờ câu nói thẳng thừng của tôi làm thay đổi hẳn tánh tình của nó. Từ đó tới nay hễ gặp chuyện khó thì nó tìm tôi trao đổi. Thời gian sau đối với đồng hương nó cũng được nhiều cảm tình. Năm nay nó muốn làm đầu bếp nên mỗi khi rảnh rỗi nó tình nguyện theo tôi để học hỏi kinh nghiệm.  Tôi với Edy chen chúc trong đám người đông như kiến. Nhiều cửa tiệm tạp hoá treo những món đồ gói trong giấy bóng đủ màu sắc và ánh kim tuyến lóng la lóng lánh. Tủ kiếng trong các tiệm được lau chùi bóng láng. Không giống như Âu Châu, bán pháo phải có dịa điểm riêng và chờ tới chiều cuối năm người ta mới được phép bày pháo ra bán. Nhưng ở đây hầu hết tiệm tạp hoá nào cũng bán pháo, pháo bông gói giấy màu,  pháo nổ chất  từng bành để đầy trong tủ và trên kệ,  pháo chưng bày kiểu nầy kiểu nọ trông đẹp mắt, nhưng khó bảo đảm an toàn, chỉ cần một tiệm bốc cháy, bao nhiêu pháo nổ cháy lan cũng đủ tan tành thành phố Paramaribo nầy. Tuy nhiên nhìn những đèn giấy màu treo tòn teng trong các tiệm tạp hoá, bánh mứt gói trong giấy màu đỏ,  chợ đầy hoa, trái và người người tấp nập ngược xuôi, quang cảnh nơi nầy gợi lại trong tôi những ngày cuối năm trên quê hương của một thời xa xôi ấy. Tôi nói với Edy: – Nhìn chợ Tết ở đây tao nhớ Việt Nam tao quá. Nó ngầng mặt lên, nói: – Tôi thì thấy giống Jakarta. – Cũng có thể, vì Surinam ngày trước là thuộc đia của Hoà Lan, dân In Đô của mầy trước kia bị bọn thực dân Hoà Lan bắt bỏ sang đây cũng như dân da đen bị bọn thực dân Anh bắt bỏ qua Guyana thuộc Anh và người Việt Nam tao bị bọn thực dân Pháp bắt bỏ qua Guyana thuộc Pháp. – Chú nói cũng đúng, nhưng sau nầy dân Java sang đây lập nghiệp nhiều lắm. Hồi nãy tui thấy ở gần bến cảng có một cái warung. – Warung là cái gì ? – Quán bán đồ ăn của In đô đó chú. Chiều nay chú đi với tui lên đó nhậu chơi, dù sao đi nữa ngồi nơi có con người và phong cảnh quen thuộc cũng an tâm hơn. Thú thật với chú,  mỗi lần vô những cái bar trong phố uống bia, nhìn thấy nguyên một tấm lưới sắt chận ngang quày bar, tui thấy lạnh gáy quá chừng.  – Tao thì hổng lạnh gì hêt, nhưng nhìn thấy mấy tấm lưới sắt chắn ngang các quày rượu trong mấy quán bar và những đội ngũ giữ trật tư trong các hợp đêm, tao nghĩ tới đám du đãng trong thành phố Paramaribo nầy cũng đứng vào hạng nhứt nhì trong các thành phố có du đãng nổi tiếng thế giới.  Edy mới hải hành vài năm, tình cảm quê hương còn sâu đậm, mỗi khi đổ bộ nó hay để ý tìm người đồng hương. Những năm chập chững sống với đời phiêu bạt, tôi cũng như nó bây giờ, ghé bất cứ bến nào nghe có người Việt, tức thì tôi tìm tới làm quen, lắm khi phải đi tắc xi hàng chục cây số, gặp nhau chẳng phải làm gì, vu vơ vài ba câu chuyện cho vơi bớt nỗi buồn xa xứ.  Làm bạn với gió, sương lâu dần rồi thắm thía.  Ði đó đi đây và mang theo cái thân xác không cũng đã thấy nặng nề lắm rồi,  dan díu thêm chuyện tình cảm, bến bờ làm chi cho sanh thêm phiền phức. “Ta van cát bụi trên đường, dù dơ dù sạch đừng vương gót giày”*. Hai câu thơ trên đã nằm lòng tôi không biết từ bao giờ, nhưng “nó” đã nhắc nhở tôi đừng nên thiết tha với bất cứ một thứ tình cảm nào trên bến lạ. Edy còn trẻ, đường nó đi còn dài, rồi một ngày nào đó, phong sương thắm đầy người, nắng mưa cuộc đời làm tâm hồn chai đá,  lúc đó nó sẽ thấy chuyện tình cảm của con người chỉ là bọt nổi trên biển, bèo trôi trên sông. Tôi không cần nói ý mình cho nó nghe, e nó đâm ra thất vọng. Tôi xuôi theo:  – Vậy thì chiều nay tao đi với mầy.  Dạo hết mấy khu phố, cuối cùng tôi với Edy rẽ vô nhà lồng chợ. Vừa bước vô bên trong nhà lồng thì đã nghe mùi rau cải úng hoà với mùi gia vị hỗn hợp và mùi nước đường mương khăn khẳn. Những sạp trái cây chất chồng bề bộn, hàng rau vừa tươi vừa héo để ngổn ngang.  Đi vòng hết nhà lồng chúng tôi mua được năm chục trứng gà và một mớ rau tươi. Edy phàn nàn: – Chợ bán không có nhiều đồ. – Nhiều chớ,  nhưng vì thức ăn ở đây khác hơn trên tàu nên mình mua hông được đó thôi. Thấy thằng nó có vẻ lo lắng cho bữa tiệc, tôi trấn an: – Không sao, mấy ngày nầy không thằng nào thiết tha tới chuyện ăn uống đâu, tao nghĩ đêm nay thủy thủ đoàn không còn lòng dạ ngồi lại tới mãn tiệc, cùng lắm sau khi đốt pháo là mạnh thằng nào nấy chuồn, hoặc chúng chuồn trước khi khai pháo giao thừa. – Vậy mình phải làm sao ? – Hôm ở Houton tao mua trong siêu thị Việt Nam chả giò, tôm thẻ và nhiều món nhậu Việt Nam khác, cộng với bao nhiêu rau cải tươi đây cũng đủ cho bửa tiệc kéo dài suốt đêm. – Vậy là đủ rồi hả chú? – Dư chớ đủ gì. Tôi dặn Edy: – Mầy đứng đây coi chừng đồ , tao đi gọi tắc xi rồi mình dìa. – Có chờ mấy người kia hông chú? – Khỏi đi, chuyện ai nấy lo, mình tranh thủ thời gian đi nhậu chơi.     Chúng tôi về tới tàu lúc hơn ba giờ trưa. Mấy ông con đã về trước, đương gắn xiệc điện, thử đèn. Không khí tết không lẫn trong không gian và cũng không phải có những cánh én lơi lả trên sông, mà là ba chử Happy New Year  trước mui tàu đương nhấp nhá trong cái nắng hanh hanh của miền trung Nam Mỹ.  Còn sớm chán, tôi sắp xếp công chuyện với Edy: – Bây giờ mầy rửa xà lách, xắt dưa leo, cà tô-mát, đánh xốt cốc-tai, tao thì luộc tôm và trứng gà, chừng xong rồi để sắp hết mọi thứ vô tủ lạnh, khuya nay đem mọi thứ ra xắp vô dĩa cho đẹp vậy là coi như xong bữa tiệc. – Chú còn quên. – Quên gì? – Chú hứa chỉ tui chiên Oliebol. – Ờ, xém chút nữa tao quên cái món quốc hồn, quốc túy của Hoà Lan. Hổng ấy vầy đi, mầy pha bột để đó rồi phụ tao xắt rau và luộc trứng, sau đó mình chiên bánh là vừa. – Nhưng chú phải chỉ tui cách pha bột chớ. – Thì mầy lấy bột mì, bột nổi, sữa, nho khô và trứng gà đem lên đây tao chỉ cho mầy cách pha. Edy vừa pha bột vừa hỏi tôi: – Người Hoà Lan ăn Tết nhiều thứ quá. – Không đâu, ở dưới tàu có đầu bếp lo nên mới bày vẽ đủ thứ, chớ thật ra đêm cuối năm gia đình người Hoà Lan chỉ làm vài món nhậu đơn giản như: phó mát, xúc xích, dưa chuột chua cuốn dâm bông và oliebollen là món ăn truyền thống của họ. Trong lúc ngồi chờ tới giờ đốt pháo họ uống bia, rượu mạnh, ruợu nho… – Nhưng tại sao phải ăn oliebol trong đêm giao thừa? – Họ ăn suốt cả tháng trước tết chớ không chỉ có đêm giao thừa. – Nhưng ý nghĩa gì? – Theo truyền thuyết nhờ những hồn ma người chết đã giúp cho mùa màng Hoà Lan được tươi tốt, dân chúng được no, ấm nên vào dịp Tết dân Hoà Lan đem lễ vật cúng cho những linh hồn. Trong những thứ bánh trái, rượu thịt dâng cúng có oliebollen. Hoà Lan từ đầu tháng mười hai tới Tết mới thấy oliebollen bán khắp nơi và họ ăn oliebollen trong những ngày nầy thôi. Còn những ngày thường chỉ trong hội chợ mới có gian hàng món ăn truyền thống chiên với bột mì của Hoà Lan như bánh chuối, khóm, bôm chiên bột mì và oliebollen…. Ðại khái vậy thôi, chớ nói hết về tập tục thì cả một câu chuyện dài. Bây giờ tao với mầy làm tiếp cho xong chuyện, mình còn đi chơi nữa chớ.   – Yes sir!  Công việc tưởng mau, nhưng lật bật tới chiều tối mới xong. Khi hai đứa tôi lên tới bờ thì phố đã lênh đèn. Trên đường lên quán hai bên cây cỏ rậm rạp, nhà cửa quán xá cất không hàng lối gì hết. Phía phải con đường có một quán bia ôm đèn màu nhấp nha nhấp nháy như mời mọc. Chúng tôi định ghé vào uống vài ly rồi đi tiếp nhưng vừa đi tới cửa rào thì đã thấy Lamat, Fidal và thuyền phó đương đứng cãi vã gì đó với hai tên Surinam, trong đó có tên hồi sáng xuống tàu bán dừa. Khi hỏi ra mới biết, có hai tên cướp cạn đón đường gây sự, xém chúc nữa là ba đứa bị ăn đòn, nhưng hai tên nầy nhào ra đuổi hai tên kia đi. Ðể đền ơn đáp nghĩa ba đứa dẫn hai tên nầy vô quán uống bia, nhưng hai đứa không uống bia chỉ xin tiền ăn tết. Thuyền phó cho mười đô, hai đứa không chịu đòi thêm cho nên mới có chuyện cãi vã. Thấy chúng tôi tới, thuyền phó day ngang phân trần. Tôi nói với nó: – Vậy ba thằng mầy bỏ ra một thằng mười đô cho nó yên chuyện đi chớ rắc rối làm gì. Thuyền phó miễn cưỡng móc túi, nhưng chỉ có hai tờ hai chục. Trong lúc thuyền phó còn đương lưỡng lự, tức thì tên Surinam đưa tay rút hai tờ giấy xanh trên tay thuyền phó rồi hai đứa chuồn đi ra khỏi cửa rào và biến vào trong bóng tối. Thuyền phó chửi thề một cái rồi day ngang rủ tôi với Edy vô quán nhậu. Tôi thấy không còn hứng thú gì ngồi nhậu ở đây, hơn nữa mấy tên nầy còn trẻ uống bia rượu nhiều lắm, chúng xài tiền như nước, ngồi với chúng xót cho cái túi tiền. Tôi từ chối và cùng Edy bước ra con lộ.  Trên con đường đất đá lởm chởm, hai bên những bụi cây rậm lá, đèn đường khúc sáng, khúc tối và rền rĩ tiếng côn trùng. Chúng tôi thả tà tà gần tới xóm nhà, chợt cái gã bán dừa từ đâu trong bóng tối nhào ra chận đường. Theo bản tánh tự nhiên, tôi kéo Edy lùi lại đề phòng chuyện bất trắc có thể xảy ra. Có lẻ gã đoán được ý chúng tôi nên xua tay nói: – Này hai bạn, hai bạn là người tốt, không có vấn đề, tui chỉ muốn giúp hai bạn thôi. Gã đưa ngón tay cái ra gặt gặt vừa cười thân mật vừa nói: – Tôi biết chỗ có gái đẹp hết sẩy. Không cần đâu, Edy móc thuốc ra mời gã, tụi tui tới warung trước đây. – À, chủ warung cũng là bạn tui đó.  Nói đoạn gã đi te te về phía trước như có ý dẫn đường. Gã vô quán trước và kêu chủ quán nói chuyện. Nhưng khi chủ quán thấy chúng tôi bước vô ông liền day ngang chào. Edy giới thiệu là người In Ðô, và hỏi gã chủ quán có nói được tiếng In Ðô không. Tức thì chủ quán mừng rỡ bắt tay và xí xô xí xào bằng tiếng Java và kêu vợ ra chào chúng tôi.  Mấy người nói chuyện với nhau một hồi, chủ quán day qua nói với gã bán dừa gì đó gã mới chịu bỏ đi. Sau đó ông mời chúng tôi vô phòng trong nhà, tôi ngỏ ý xin ngồi bàn ngoài sân cho nó mát. Ông chỉ cho chúng tôi cái bàn ngoài dưới góc cây dừa lùn. Bà chủ hỏi chúng tôi ăn gì bà nấu. Edy day qua hỏi tôi. Tôi hỏi bà có tôm thẻ không. Bà nói có. Tôi nhờ bà luộc cho hai đứa tôi một dĩa. Edy kêu ông chủ đem bia ra và mời ông cùng ngồi. Sau khi uống vài ngụm bia, ông day qua tôi nói: – Tối nay anh với Edy ở lại đốt pháo với gia đình tôi. – Rất tiếc đêm nay tôi còn phải về tàu, có thể Edy ở lại chơi với gia đình ông. – Vậy thì mình uống đi, mười một giờ tôi kêu con trai tôi lái xe đưa hai người xuống tàu. Edy kể cho chủ quán nghe chuyện xảy ra hồi nãy. Nghe xong ông chủ nói: – Bốn  thằng dàn cảnh làm tiền người ta đó nhưng sao trả tiền nhiều vậy? Tôi bưng bia lên hớp và cười một cái: – Một màn kịch nguy hiểm trả bốn chục đô la chia ra  mỗi thằng chỉ được có mười đô. – Như vậy cũng là nhiều. – Theo tui thì hồi xưa ông cha của người Pháp, Anh và Hoà Lan tới đây có lẽ cũng đóng kịch với nhau để chia phần đất Guyana nầy. Bây giờ có cơ hội thì bắt tụi nó trả cũng được thôi. – Ðúng! Đúng lắm. Chủ quán vừa nói vừa bưng bia lên cụng. Lúc đó bà vợ bưng dĩa tôm bốc khói và dĩa nước chấm ra để lên bàn rồi bà kéo ghế ngồi cạnh bên. Bà hỏi thăm Edy bằng tiếng Java. Thường đi chung với bạn bè In-đô tôi chỉ chuyện vãn qua lai lúc ban đầu bằng mớ Anh ngữ thông dụng của mình, sau đó ngồi im để cho họ chuyện trò với nhau bằng tiếng nước họ.   Chúng tôi nhậu rất vui vẻ tới mười giờ. Tôi đứng dậy kêu Edy ở lại chơi cho trọn đêm, dù sao lâu lâu mới được gặp được đồng hương trên xứ người, nói chuyện cho đã. Nhưng nó không chịu, một hai đòi theo tôi về. Edy kêu bà chủ tính tiền, bà không chịu lấy tiền mà còn trở vô trong đem ra một xách đồ ăn nhét vào tay bắt Edy phải cầm lấy.  Chúng tôi vừa lên khỏi cầu thang thì đã thấy viên thuyền trưởng chạy ra đón đầu, hỏi: – Còn mấy đứa kia đâu? Hơi ngạc nhiên nhưng tôi chợt nhớ ra và trả lời: – Hồi chiều tôi thấy tụi nó ở trên quán bia ôm. Viên thuyền trưởng “shit” một tiếng, ông ra lịnh: – Hai người trở lên kêu tụi nó xuống, tàu sắp khởi hành. Tôi hỏi. – Sao ông không gọi mobile cho lẹ? – Gọi rồi nhưng hổng thằng nào bắt máy, thôi nhanh lên, nói với tụi nó mười một giờ rưỡi hoa tiêu xuống sẽ khởi hành qua Aruba.  Mới hơn mười giờ mà đường xá vắng tanh. Edy đi như chạy. Tôi kêu nó đi chậm lại. Nó nói: – Sợ không kip chú? – Tiệc tùng gì đâu mà mầy sợ người ta ăn hết, có trễ thì tàu đậu lại chờ. – Thuyền trưởng chờ ổng chửi thì sao? – Ổng sai mình đi kiếm người cho ổng mà chửi gì. Tôi dặn Edy: – Vô bar giống như mình vô chơi vậy, mình cũng có thể uống một hai chai Bia. Chuyện gì từ từ rồi nói, đừng la hoảng lên làm tụi nó cụt hứng, mất vui.  Trong quán không đông khách lắm. Trước quày chỉ có hai người đàn ông bản xứ. Nhạc mở sập sình, tôi nhìn quanh, ngó quất, trong góc có hai bàn đương bày tiệc, tôi đoán bàn bên kia là của thủy thủ chiếc tàu khác và một bàn của đám thủy thủ tàu tôi. Fidal ở đâu không thấy chỉ thấy thuyền phó và Lamat ngồi chung bàn, mỗi trự ôm một cô gái.  Thấy chúng tôi, thuyền phó đưa tay khoát khoát, Lamat day mặt vô trong nên không thấy chúng tôi vào. Tôi và Edy đi thẳng vô quày mua bia và đứng tại chỗ hớp một hớp. Chúng tôi cầm chai bia từ từ đi lại hỏi thuyền phó Fidal đâu?  Thuyền phó chỉ tay lên lầu, ra dấu nó đương hành lạc trên đó. Thì ra từng dưới là ba, từng trên là động. Tôi nói với viên thuyền phó: – Mầy kêu Fidal xuống sửa soạn về, mười một giờ rưỡi, tàu sẽ khởi hành qua Aruba. Nó tưởng tôi nói giỡn, nên hỏi lại: – Thiệt không Sếp? – Mầy hổng tin thì mở mobile xem, thuyền trưởng gọi mầy mấy lần? Nó móc điện thoại trong túi áo ra, bấm lên xem. Xem xong, nó “shit” một cái rồi nhổm người dậy đi qua góc yên tĩnh, đứng bấm số gọi. Nói vài câu nó cúp điện thoại. Hốt hoảng chạy lại bàn nói với Lamat: – Mình phải về, tàu sắp chạy rồi. Lamat đương xào nắn cô gái, nghe nói tàu sắp chạy, nó buông cô gái ra, “shit” một cái rồi xốc lại áo quần đứng dậy. Hai cô gái ngơ ngác hổng biết chuyện gì cũng đứng dậy theo. Thuyền phó đi lại quày tính tiền và kêu người tiếp viên lên gọi Fidal xuống. Một lát sau Fidal với một cô gái từ trên lầu hối hả đi xuống. Ba cặp đứng giữa quán, mạnh cặp nào nấy ôm chầm lấy nhau nút lưỡi lia lịa. Nhìn mấy đứa lưu luyến không muốn rời nhau. Tôi kéo Edy lại đứng trước quày, tôi giơ bia lên cụng : – Mình uống một cái cạn chai rồi thả tà tà về là vừa. Chúng tôi ngước cổ ực một hơi cạn hết chai  bia, để chai xuống quày, Edy hỏi: – Hổng chờ mấy đứa sao? – Thôi cứ để tụi nó chia tay cho mùi mẫn. Tôi câu vai Edy đi ra khỏi cửa thì ba đứa cũng ùa chạy theo. Fidal than phiền mất tiền mà chưa chơi được gì hết.  Nói dứt câu nó hằn học: – Shit! shit! shit… Tôi nói: – Nãy giờ nghe shit nhiều quá. Edy cười ha ha, nói: – Tới giờ giao thừa, pháo dưới tàu mình đốt kêu shit, shit chớ không nổ bang bang… Nghe Edy nói dứt câu, cả đám cười vang trên con đường vắng vẻ dẫn về bến cảng…     Pháo nổ mỗi lúc một dòn và thỉnh thoảng pháo bông toả màu trên nền trời sáng rực. Tôi nhìn lên ánh trăng no hơn nửa mảnh vừa nhô lên khỏi mái nhà. Lâu lắm rồi tôi không để ý tới âm lịch. Hổng biết đêm nay là mùng mấy? Có lẽ hết con trăng nầy hay hết một con trăng nữa thì tới Tết ta. Vậy là trên quê hương tôi người người cũng chuẩn bị mừng xuân. Bên đó những ngày nầy người ta kiêng kị từng lời ăn tiếng nói. Đêm đón giao thừa rộn ràng, nói chuyện từ tốn, nhỏ nhẹ  và chúc lành cho nhau chớ đâu có nhiều “shit” như ở nơi nầy.    * Thơ của Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Chiến trường khuyết một vầng trăng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Tổng thống Mỹ là Tổng tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ!

Nên ngày 25 tháng Giêng, Bộ trưởng Quốc phòng, Ðại tướng James Mattis, biệt danh ‘Mad Dog Mattis’, đã yêu cầu Tổng tư lệnh Donald Trump triệu tập một cuộc họp về cuộc đột kích, mật danh ‘Yakla raid’.

Tham dự có tướng 4 sao Joseph F. Dunford Jr: Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, tướng 3 sao Michael Flynn: Cố vấn về An ninh Quốc gia, Mike Pompeo: Giám đốc Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ CIA.

Chỉ trong vòng có 25 phút thảo luận, Tổng thống Donald Trump đã chấp thuận cuộc hành quân phức tạp nầy!

Trước kia trong những cuộc hành quân như thế nầy, Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ, CIA, sẽ trình ra một cái bản đồ. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, ngồi quanh một chiếc bàn, suốt cả 2 giờ đồng hồ để cân nhắc từng chi tiết một.

Chỉ huy cuộc hành quân đặc biệt nầy sẽ xem xét cẩn thận kế hoạch và chỉ cho thi hành khi cảm thấy nó có thể thành công.

Mục tiêu là căn nhà bằng đất nung, xung quanh là những bãi mìn phòng thủ, là sào huyệt của một chỉ huy cao cấp của Al-Qaeda tại bán đảo Á Rập là Abdul Rauf al-Dhahab, trên triền đồi vùng sa mạc, trung bộ Yemen.

Ryan Owens – nguồn Miami Herald

Thời điểm tấn công là 1 giờ khuya, đêm Thứ Bảy, 28 tháng Giêng, năm 2017. Ðó là một đêm không trăng, trời rất tối.

Lực lượng đột kích gồm khoảng hai chục ‘Navy Seal’ dưới quyền của Trưởng toán William “Ryan” Owens phối hợp cùng một toán ‘comandos’, biệt kích của nước Emirate.

Ryan Owens – nguồn Miami Herald

Trên đường bay vào mục tiêu toán biệt kích nhận được tin là địch đã được cảnh báo (có lẽ vì tiếng động của phi cơ không người lái).

Mất yếu tố bất ngờ, đáng lẽ cấp chỉ huy hành quân phải ra lệnh hủy bỏ cuộc đột kích, nhưng cuộc hành quân không rõ tại sao vẫn cho tiếp diễn?!

Do đó, ngay khi nhảy ra khỏi trực thăng, nhóm lính biệt kích đã bị địch quân chờ sẵn.

Một chiếc Bell Boeing V-22 Osprey, trị giá 75 triệu đô, bị mất điều khiển trong lúc đáp xuống đổ quân làm 3 chiến sĩ biệt kích bị thương.

Lực lượng biệt kích tấn công đã sử dụng lựu đạn và súng trường để đột nhập vào nhà và bắn hạ Dhahab. Quân khủng bố còn sống sót rút qua một căn nhà kế cận, tung lựu đạn và dùng AK 47 bắn trả quyết liệt, mặc dù còn có phụ nữ và trẻ con vẫn còn trong đó.

Trận đột kích rất căng thẳng, kéo dài từ 1 giờ khuya tới rạng sáng, nhiều nhà cửa trong làng bị xóa sổ.

Quân biệt kích thâu được máy tính, tài liệu, hình ảnh quan trọng. Xong rút lui dưới sự yểm trợ của trực thăng võ trang và phi cơ chiến đấu.

Trưởng toán biệt kích Mỹ, Chief Petty Officer William “Ryan” Owens, 36 tuổi, là người lính Mỹ đầu tiên dưới trào chánh phủ Trump hy sinh tại mặt trận.

Có 3 tay chỉ huy và 11 chiến binh thuộc tổ chức khủng bố Al Qaeda bị giết!

***

Một lính Mỹ chết; ba bị thương nhưng Tổng thống Donald Trump gọi đó là thành công vĩ đại (?!) vì đã tịch thu được những tin tình báo đáng giá, giúp nước Mỹ ngăn chặn được các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào dân Mỹ trong tương lai.

Thượng nghị sĩ, John Mc Cain, thuộc đảng Cộng Hòa, tại tiểu bang Arizona, cựu tù binh trong chiến tranh Việt Nam không đồng ý về cách đánh giá của Donald Trump: “Tôi không cho rằng cuộc đột kích mà binh sĩ Mỹ bị tử trận lại là được coi là thành công!”

Gia nhập quân đội vào tháng Tám, năm 1998, Ryan Owens được thăng ‘chief’ tháng Chạp, 2009; được tưởng thưởng 3 huy chương đồng, 2 trong 3 huy chương này có kèm theo chữ V(combat valor – anh dũng trên chiến trường), đã từng đến Tòa Bạch Ốc để được Tổng thống Mỹ Barack Obama ân thưởng huy chương.

Hôm thứ Tư, mùng Một tháng Hai, năm 2017, Tổng thống Donald Trump đã cùng ái nữ là Ivanka đến căn cứ Không quân Dover, tiểu bang Delaware để đón rước thi hài của ‘Ryan’ Owens.

Thân phụ của Owen là Bill, một cựu quân nhân, một Thanh tra Cảnh sát tại Fort Lauderdale đã về hưu, được viên tuyên úy quân đội thông báo rằng Tổng thống Trump trên đường tới để gặp ông!

Nhưng thân phụ của tử sĩ ‘Ryan’ Owens: “Tôi đã nói với họ rằng tôi không muốn gặp mặt Tổng thống. Tại sao mới nhậm chức Tổng thống có một tuần, mà ông ấy lại chấp thuận cho cuộc hành quân ngu ngốc nầy được khai triển? Tại sao?

Trước đó suốt hai năm trời trên đất Yemen, chỉ có hỏa tiễn và phi cơ không người lái; bởi vì không có mục tiêu nào đáng giá để ta phải hy sinh tánh mạng một người lính Mỹ. Và bây giờ đột nhiên chúng ta lại muốn phô trương?”

“Ðừng núp sau cái chết của con tôi mà ngăn cản một cuộc điều tra. Chánh phủ còn nợ con tôi một cuộc điều tra!”

***

Tổng thống Donald Trump tuyên bố trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ rằng: “Những thách thức mà đất nước chúng ta đang đối diện rất lớn nhưng nhân dân nước ta còn vĩ đại hơn. Không ai vĩ đại và dũng cảm hơn những người Mỹ khoác trên mình bộ quân phục.”

“Chúng ta vinh dự chào đón bà Carryn Owens, vợ của người lính đặc nhiệm Navy Seal, William “Ryan” Owens để cùng cầu nguyện cho sự hy sinh của ông ấy: một chiến binh, một anh hùng đã chiến đấu chống khủng bố để gìn giữ sự yên bình cho đất nước chúng ta.

Di sản của Ryan đã khắc sâu vào bất tử. Như Thánh kinh đã dạy chúng ta rằng: Không có hành động nào vĩ đại hơn là ngã xuống hy sinh tánh mạng cho đồng đội của mình, cho đất nước, cho tự do… Và chúng ta không bao giờ quên lãng ông ấy.”

Tiếng vỗ tay của cử tọa vang lên khích lệ kéo dài hơn 2 phút. Ông Trump nói đây là tràng pháo tay lớn nhất từ trước đến nay mà ông từng nghe! (?!)

Và William “Ryan” Owens trên thiên đường đang nhìn xuống chắc rất vui vì nó đã phá kỷ lục?!
Những nhà báo, vốn có ác cảm, đã kết án Donald Trump lợi dụng người quả phụ của tử sĩ trong một cuộc đột kích thất bại tại Yemen.

Vợ Ryan Owens được mời đến vinh danh tại Quốc Hội – nguồn McClatchy

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Tổng thống là vị Tổng tư lịnh tối cao phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những quyết định mình đã đưa ra.

Tổng thống Mỹ, Harry Truman, nổi tiếng với câu nói, được ghi lên bàn làm việc của ông trong Phòng Bầu Dục: “The Buck Stops Here” Việc đổ tội cho người khác chấm dứt ở đây!

(Chớ không có vụ “Mất mùa là tại thiên tai. Ðược mùa là tại thiên tài đảng ta” bao giờ!)

Tổng thống George W. Bush, năm 2003, đã nhận toàn bộ trách nhiệm trong việc đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Iraq; mặc dù đó là do Cơ quan Tình báo Mỹ CIA đã cung cấp tin tức sai lầm.

Tổng thống Barack Obama, năm 2012, cũng đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về cuộc tấn công của khủng bố vào Tòa lãnh sự Mỹ ở Benghazi làm 4 người Mỹ bị thiệt mạng, trong đó có cả Ðại sứ Mỹ tại Libya.

Tổng thống Donald Trump thì nói các tướng lãnh của chánh quyền Obama tiền nhiệm đã đề ra kế hoạch nầy.

“Ðây là cuộc hành quân đã bắt đầu trước khi tôi nhậm chức. Họ đến gặp tôi, cắt nghĩa những điều họ muốn làm, những viên tướng mà tôi rất thán phục và tôi tin. Kết quả là họ đã làm mất Ryan.”

Dẫu biết là lính, nghĩa là chấp nhận chiến trường da ngựa bọc thây; nhưng những toan tính của các cấp chỉ huy cao nhứt, sau lưng người lính làm chúng ta cũng phải đồng cảm với song thân của tử sĩ khi khước từ gặp mặt vị Tổng tư lịnh của quân đội Mỹ, Donald Trump.

Ðất nước VNCH của chúng ta, đã trải qua một cuộc chiến đấu anh dũng để bảo vệ tự do! Nhiều cha mẹ, vợ, con đã đau đớn biết chừng nào khi hiến dâng người thân yêu nhứt của đời mình cho Tổ quốc.

Thế nên chúng ta không khỏi bùi ngùi khi thấy William Ryan Owens tử trận bỏ lại ba đứa con còn thơ! Và quả phụ Carryn Owens khóc nức nở, mắt ngước lên Trời, khi nghe Tổng thống Donald Trump vinh danh chồng mình trước Quốc hội Mỹ.

Ðau đớn như một lời thơ: “Chiến trường khuất nửa xa sâu/ Mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng!”

Chiếc roi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Má về với ba khi còn rất trẻ. Ba, hai mươi tuổi. Má, mười tám tuổi. Má dứt sữa anh Nhiên không lâu thì có mang tôi. Tôi cách anh Nhiên hai tuổi.
Người khác thường gọi anh mình bằng thứ: chẳng hạn anh hai, anh ba. Riêng tôi, tôi gọi anh mình bằng tên: anh Nhiên.
Anh Nhiên là con đầu lòng, sức khỏe kém, quặt quòa quặt quẹo, nay đau, mai yếu, nay ấm đầu, mai sổ mũi. Bịnh hoạn rề rề làm anh nhỏ con, ốm nhom ốm nhách, nên đi chơi hoặc đi học thường hay bị những thằng, không biết thế nào là phải trái, xúm lại hiếp đáp.
Một tối anh dẫn tôi đi xem truyền hình công cộng trong xóm, có thằng lớn con hơn giành chỗ, lấn tôi té xuống đất. Anh Nhiên tôi binh em, nhào vô ăn thua đủ. Tội nghiệp! anh Nhiên tôi nhỏ con, ốm yếu bị nó bự con, khỏe mạnh, đè gần chết. Tôi nóng mũi, binh anh mình, hốt một bụm cát vụt vô mặt nó. Thằng mắc dịch đó hét lên vì không thấy đường, lo lấy hai tay dụi mắt. Tôi thừa cơ nhảy vô đấm, đá tưng bừng, rồi hai anh em chạy tuốt về nhà.
Bữa sau ba nó đến mắng vốn. Ba nó nói: hai anh em tôi ỷ đông đánh con ổng. Ba tôi chỉ giả lả cho qua chuyện. Sau đó ba tôi hỏi đầu đuôi gốc ngọn.
Anh chỉ nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hổng được.”

Lớn lên, hai anh em cùng học chung trường Petrus Ký. Anh học trước tôi hai lớp. Không biết bao nhiêu lần anh bị buộc phải đánh nhau với mấy thằng bạn học hay ăn hiếp anh, tôi đều nhào vô ăn thua đủ, đến nỗi phải bị gọi lên văn phòng gặp thầy tổng giám thị.
Thầy hỏi: “Sao hai anh em tụi bây quánh nó?”
Tôi trả lời: “Tại nó ăn hiếp anh con”.
Còn anh Nhiên tôi thì lại nói: “Con hổng muốn quánh nhau với nó. Con muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”

Một chiều, tan học, từ trong lớp tôi tà tà ra nhà giữ xe đạp bên hông trường để anh Nhiên chở tôi về. Trận đánh lộn mới vừa tan. Cái thằng học cùng lớp với anh, cái thằng vừa mới đánh anh, đã chạy mất tiêu. Mấy thằng khác chỉ đứng nhìn, không nói, không can ngăn gì hết mà còn hò reo inh ỏi trong khi anh Nhiên tôi bị đánh chảy máu mũi và bị bầm tím một bên mắt.
Tôi tức mình quá, vừa giận vừa thương anh, nên cự nự:
“Sao anh không đợi tui ra rồi hãy quánh”
Anh trả lời: “Tao đâu muốn quánh nhau với nó. Tao chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”
Tôi xé một tờ giấy tập, vò cho nhầu, mềm, chậm máu mũi cho anh.
Tôi giận mình sao lại tà tà ra trể. Tôi giận mấy thằng kia chỉ khoanh tay đứng nhìn, không làm gì hết, mà còn khoái chí đứng xem một đứa hung hăng, mạnh bạo bức hiếp một người yếu đuối, thế cô. Tôi giận luôn cả anh nên suốt đường về, tôi không thèm nói với anh lấy một câu.
Về nhà má tôi nấu nước sôi, pha muối, thấm vảo hai miếng bông gòn, miếng thì lau máu mũi cho anh, miếng thì chậm lên con mắt bị bầm. Anh nằm trên chiếc đi-văng, nhìn lên trần nhà bằng một con mắt, có vẽ suy nghĩ lung lắm, rồi lẩm bẩm:
“Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mà hổng quánh hông được.”
Tôi thì đi tới, đi lui, hậm hực nói: “Lần sau anh đợi tui ra tới rồi hãy quánh. Anh với tui cho nó một trận để cho nó bỏ cái tật cà khịa.” Năm sáu tám, khi anh đang học đệ nhứt, thì Tổng công kích Tết Mậu Thân bùng nổ. Hình ảnh con nít, bà già chết còng queo trong lửa đạn, nhà cửa tan hoang cháy làm anh xúc động.  Anh trầm ngâm, ít nói hẳn đi. Tối ngày chỉ nghe anh lẩm bẩm:
“Mình hổng muốn quánh nhau với nó. Mình chỉ muốn yên thôi mà nó hổng cho yên. Hổng quánh hông được.”

Anh suy nghĩ gì lung lắm – phải làm một cái gì đó -.
Một cái gì đó anh phảỉ làm là: bỏ học giữa chừng năm đệ nhứt, không thi tú tài hai và đăng lính.
Năm năm sau, năm bảy ba, anh Nhiên tôi tử trận ở Quảng Trị. Xác anh được mang về Huế, bỏ vô hòm kẽm, cò chì, đưa lên máy bay chở về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ba má tôi nhận tin báo tử. Chỉ một đêm chờ sáng, lên nhận xác anh Nhiên mà tôi thấy ba, má tôi già háp, gầy sọm hẳn đi.

Anh Nhiên tôi chết trẻ, hai mươi ba tuổi, chưa lập gia đình, chưa vợ, chưa con. Vì không có vợ, con nên không có ai để chít cho anh một vành khăn tang trắng. Ngược lại, theo phong tục mà ông ngoại tôi biểu: trên đầu chiếc quan tài của anh Nhiên tôi có một vành khăn tang trắng dành cho anh để tang ba má. Trước giờ di quan, ông ngoại tôi cầm chiếc roi bằng nhánh cây dâu giá giá lên chiếc quan tài của anh giả bộ làm như đánh, để trị anh tội bất hiếu: chết trước khi ba má qua đời.
Ba tôi đứng kế bên, đột nhiên dằn lấy chiếc roi dâu trong tay ông ngoại, bẻ làm hai quăng xuống đất, rồi nói:
“ Thằng Nhiên, nó chết trận, nó đền nợ nước. Nó có tội gì đâu? mà ba lại đánh nó.”

đoàn xuân thu.
melbourne

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 7 Jan 2020

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Kỳ trước: Cuối cùng thì đơn vị tiếp viện đã tới, ông Tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 45 BB đã vào đến cổng trại để bắt tay với Thiếu Tá Vương Mộng Long, trong khi đó toàn bộ các đơn vị bộ binh, xe tăng, phòng không của địch đã rút sạch sau hơn một tháng ê càng mà không gặm nổi trại Pleime.

Nói đúng hơn, họ không thắng nổi ý chí của những người lính VNCH bằng lòng chiến đấu cho đến chết.

Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị

Kỳ cuối

Tôi làm như quay mặt nhìn hướng khác khi thấy ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cầm cái can chỉ huy gõ nhè nhẹ vài cái lên nón sắt của Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, ra dấu cho ông Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng đừng phát ngôn lung tung nữa.

Ngày 14 tháng 9 một đoàn xe chuyển vận Tiểu Ðoàn 90 của Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân vào trại thay thế cho chúng tôi để trấn giữ trại Pleime.

Toàn bộ quân nhân còn sống sót của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thở dài nhẹ nhõm. Ðoàn xe lăn bánh vượt con dốc vườn rau của trại, để lại sau lưng chúng tôi cái địa ngục trần gian của hơn một tháng trời, ngày đêm đội mưa, đội pháo, ghìm súng chống quân thù.

Theo như ghi chép trên Nhật Ký Hành Quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thì trong thời gian bao vây Pleime, Cộng Quân đã triển khai 20 đợt tấn công biển người nhắm vào hệ thống phòng ngự của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Nhưng theo tổng kết của Trung úy Trần Dân Chủ sĩ quan Ban 3 của đơn vị tôi thì địch đã mở ra gần 30 đợt xung phong trong thời gian vây hãm này.

Chúng tôi vẫy tay giã từ nơi đây mà không biết đó cũng là lần ra đi vĩnh biệt.

Có một xe GMC được trưng dụng chở chiến lợi phẩm. Ðáng lý ra còn nhiều súng ống của địch nằm trong hàng rào, nhưng tôi không cho người bò vào bãi mìn để lấy thêm, vì đã có hai Biệt Ðộng Quân chết oan khi vướng mìn và lựu đạn trong lúc chui vào rào thu nhặt chiến lợi phẩm.

Chúng tôi được lệnh trú quân trong một khu rừng thưa cách ngã ba Quốc lộ 14 nửa cây số để tắm giặt, thay quân phục, chờ hôm sau sẽ về Pleiku làm lễ khao quân.

Sáng 15 tháng 9 khi tôi kéo quân lội bộ ra tới Quốc lộ 14 thì đã có gần hai chục chiếc GMC mười bánh đậu nối đuôi nhau chờ sẵn.

Sau khi trình diện, ông Ðại úy chỉ huy đoàn quân xa, siết chặt tay tôi,

– Kỳ này các ông mà không giữ được Pleime thì chắc Pleiku bị di tản rồi!

Nghe vậy, tôi vội ngắt lời ông ta,

– Có gì đâu! Nhiệm vụ của Biệt Ðộng Quân mà!

Ông Ðại úy cười hóm hỉnh,

– Tôi ở Pleiku từ thời Trung tướng Vĩnh Lộc, tôi biết Thiếu tá từ khi ông còn là một thiếu úy, mỗi khi hành quân về ông đều ghé Quán Kim Liên!

Nghe vậy tôi cười lớn,

– Mình là dân Pleiku, phải bảo vệ Pleiku cũng là lẽ đương nhiên thôi!

Chiếc xe Jeep của tôi vừa leo dốc qua cầu Hội Thương Hội Phú thì đã thấy dân chúng hai bên đường vẫy tay reo hò, “Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!…”

Dân chúng đứng chật ních hai bên đường từ dốc Diệp Kính tới Hội Quán Phượng Hoàng cao tay phất những lá cờ nho nhỏ bằng giấy nền vàng ba sọc đỏ. Trong khi đó thì những cái loa trên một chiếc xe của Ty Thông Tin Pleiku chạy vòng vòng phát đi những điệu hát quân hành, “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về dưới nắng hồng….”

Quân nhân của tiểu đoàn tôi phải xuống xe nơi đầu dốc Diệp Kính, Hoàng Diệu rồi đi bộ hàng một tiến về sân vận động.

Ði đầu đoàn quân, ngợp trong rừng cờ và biển ngữ, tôi tưởng mình bị hoa mắt trông lầm khi thấy trên hai cái băng vải trắng treo trên hàng rào nhà thờ và căng ngang đường phố trước tư dinh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn II có hàng chữ viết bằng sơn đỏ:

“Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu tá Vương Mộng Long và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt động quân”

Nơi sân vận động Pleiku này, tôi đã từng có vài lần đứng chung hàng ngũ những quân nhân được tiếp đón sau hành quân để nhận huy chương. Tôi chưa thấy có lần nào người chỉ huy đơn vị được nêu đích danh tên họ để “Ghi ơn”.

Ðây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử thành phố, một đơn vị nhỏ, cấp tiểu đoàn vinh dự được dân chúng đón tiếp trọng thể như thế. Ngày hôm đó toàn dân thành phố đã đình công, bãi thị. Các trường học thì đóng cửa để ăn mừng chiến thắng.

Dọc đường, người dân tươi cười hớn hở ào ra dúi cho các anh lính chiến những bao thuốc lá. Thuốc lá mà đồng bào đem ra cho các anh lính có khi hút cả tháng sau mà chưa hết! Ngực ông lính nào cũng căng phồng vì áo lót chứa toàn là thuốc lá!

Trong số đàn bà con nít đứng chờ đoàn chiến binh đang từ dưới dốc Diệp Kính đi lên có nhiều người là vợ con lính của tiểu đoàn. Tôi không nỡ ngăn cản những bé con đang hớn hở, tíu tít vui mừng chạy ra giữa đường níu chân bố chúng nó:

“Ba ơi! Ba ơi! Ba về rồi! Con nhớ Ba lắm! Ba ơi!”

Cũng có những đôi mắt đỏ hoe, những giòng lệ tuôn, cùng tiếng khóc nấc trong đám đông, khi ai đó vừa hay tin chồng con của họ sẽ không về.

Vào tới sân vận động tôi thấy ở đây quả là một rừng người.

Trên sân, sau hàng quân của tôi là đội ngũ thầy giáo và học trò, kế đó là đội ngũ dân chúng. Hội đoàn dân chính do ông Ngô Xuân Thu và bà Hồ Thị Thơm đại diện.

Tôi đứng một mình trước đoàn quân đội ngũ chỉnh tề.

Anh em còn lại của đơn vị đứng xếp hàng thành một khối 20 hàng dọc và khoảng trên 20 hàng ngang.

Trên khán đài là hai vị đại tá, Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku, ngồi bên là Ðại tá Phạm Duy Tất Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, cùng nhiều thân hào nhân sĩ của Pleiku.

Dàn nhạc của Quân Ðoàn II bắt đầu bản nhạc “Bài ca chiến thắng” cùng lúc các nữ sinh đại diện các trường trung học tiến lên, trên tay mỗi cô là một vòng hoa tươi nhiều màu sặc sỡ.

Kể cả tôi, có 21 người đại diện đơn vị được choàng hoa.

Cô nữ sinh dẫn đầu đoàn người đẹp đi qua trước mặt tôi sẽ là người choàng hoa cho anh lính thứ 21. Người đi sau cùng mới là người sẽ đứng lại trước mặt tôi.

Trong số nữ sinh đi trong đoàn người ủy lạo đơn vị tôi hôm đó có một người tôi quen, cô ấy là người yêu của cố Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Ðinh Quang Biện.Thiếu úy Biện là người anh lớn nhứt của vợ tôi. Anh Biện đã tử nạn năm 1971.

Ði ngang qua mặt tôi, cô ấy nói,

– Cám ơn Tiểu Ðoàn 82! Cám ơn anh Long! Chị Long và mấy cháu có khỏe không?

Tôi mỉm cười,

– Cám ơn chị, gia đình tôi vẫn bình an.

Thế rồi mấy phút kế đó, sau lưng tôi, cô nữ sinh này đã bật khóc giữa hàng quân, ngay khi vừa choàng xong vòng hoa cho một sĩ quan. Có lẽ người con gái Pleiku ấy vừa nhớ đến hình bóng một người lính Biệt Ðộng Quân đã đi qua đời mình.

Tình đầu không thể ví như một giọt sương đọng trên cánh hoa sớm mai, nắng lên thì hạt sương bay. Tình đầu là những gì chứa đầy chua xót, đắng cay, ngọt ngào, nếu đã đánh mất nó rồi, thì sẽ không bao giờ tìm lại được. Nó cứ mãi sống trong tim người. Vì thế mà một thi sĩ thời tiền chiến đã viết:

“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên?” (Thơ Thế Lữ)

Hôm đó người lính nào đứng trong hàng ngũ Tiểu Ðoàn 82 cũng được các em học sinh và đồng bào trao cho một gói quà, kể cả các anh vừa mới được bổ sung quân số mười ngày trước đây.

Cái hình Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được cô hoa khôi trung học choàng vòng hoa chiến thắng đã chiếm hết một trang đầu của Nhật Báo Tiền Tuyến phát hành vài ngày sau đó.

Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku mở đầu buổi lễ bằng một bài diễn văn dài. Ông Tỉnh Trưởng không tiếc lời ca tụng chiến công mà chúng tôi vừa lập được.

Kế tiếp là một bài phát biểu dài thật là hùng hồn và sống động của ông Ngô Xuân Thu, Dân Biểu đơn vị Pleiku.

Ông Ngô Xuân Thu cho chúng tôi những lời khen khiến chúng tôi cảm thấy mình đang bay lên tới tận mây xanh.

Cứ sau vài câu ca tụng “những chàng trai Việt kiêu hùng” ông dân biểu lại lớn tiếng hô to “Hoan hô!” thấy thế dân chúng trong sân cũng lớn tiếng “Hoan hô!” theo.

Ngay sau khi Dân Biểu Ngô Xuân Thu dứt lời thì cả sân vận động bỗng trở thành một cái chợ với những tiếng gọi nhau “Ơi ới!” của các bà, các cô tranh nhau đem quà phân phát cho chiến sĩ. Phái đoàn ủy lạo của bà Hồ Thị Thơm và các bà trong đội ngũ phụ nữ đã chuẩn bị sẵn 500 ổ bánh mì thịt và hai con heo sống thật bự dành cho những đứa con vừa trở về từ chiến trường.

Con rể của bà Thơm cũng là một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân, nhưng anh Trung sĩ Ðốc làm việc ở văn phòng, nên không có mặt trong hàng quân đang đứng trên sân.

Cuối cùng tôi bị gọi tên lên bục phát biểu cảm tưởng.

Vì không được thông báo trước chuyện này, nên đứng trước máy vi âm tôi không có tờ giấy đánh máy sẵn như ông Ngô Xuân Thu, tôi cứ nghĩ gì thì nói vậy.

Khi tôi dứt câu,

“Thưa đồng bào Pleiku! Chúng tôi là những đứa con của đồng bào! Chúng tôi sẵn sàng hy sinh thân xác mình để canh từng thước đất, giữ từng đoạn giao thông hào chống quân xâm lăng, cũng chỉ vì sự an nguy của đồng bào! Hôm nay những đứa con của đồng bào đã bình an trở về rồi! Ðồng bào có thể yên tâm, không còn lo sợ nữa!”

thì trong đám dân chúng đứng bên trái khán đài có nhiều tiếng khóc sụt sùi.

Mấy chục năm sau, tôi không quên hình ảnh những cụ già vừa lau nước mắt vừa nghẹn ngào,

– Các con vất vả quá! Thương các con quá, các con ơi!

Những phóng viên nhà báo Việt-Nam và ngoại quốc tranh nhau chụp hình quay phim.

Có một phóng viên người Mỹ hỏi tôi,

– Xin anh cho biết vì sao trong tình trạng thiếu thốn và tuyệt vọng như thế mà các anh vẫn kiên trì chiến đấu rồi chiến thắng?

Tôi cười, đáp gọn,

– Chúng tôi chiến đấu tới cùng là vì an nguy của đất nước Việt-Nam!

Người quay phim của Tiểu Ðoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị cũng phỏng vấn tôi một câu tương tự,

– Ðộng cơ nào thúc đẩy Thiếu tá đã liều mình tử thủ Pleime?

Tôi cũng cười,

– Vì đồng bào Pleiku, và vì đồng bào cả nước!

Các ký giả săn tin còn tìm thêm được vài Biệt Ðộng Quân khác để phỏng vấn, trong số những người hùng được lên màn ảnh truyền hình kỳ này có Trung úy Nguyễn Công Minh, Thiếu úy Phạm Văn Thủy, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Trung sĩ viễn thám Nguyễn Chi.

Chiều 15 tháng 9 trên 400 quân nhân của tiểu đoàn được chia thành từng tốp từ 5 tới 8 người để dự tiệc do các cửa tiệm tư nhân, hay hội đoàn tiếp đón.

Tôi cùng Thiếu úy Trần Văn Phước và toán Viễn Thám của Mom Sol được “Nghiệp Ðoàn Tài Xế xe Lamb” và “Hội xưởng cưa” tiếp đãi. Bữa tiệc này có Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tham dự.

Sau này những cửa tiệm như Giò Chả Bắc Hương, Hủ Tiếu Hiệp Thành, Cà Phê Kim Liên, Nước Mắm Nguyễn Quý, Phở Kim Phượng, Cơm Ba Cò, Quán Kim, Quán Nhớ… vân vân, nếu thấy anh lính Biệt Ðộng Quân nào mang trên vai cái huy hiệu đầu cọp có số “82” thì không tính tiền, hoặc tính theo giá rẻ.

Trong nhiều ngày sau đó, hình ảnh buổi lễ khao quân ngày 15 tháng 9 năm 1974 trên sân vận động Pleiku đã trở thành một trong những sự kiện nổi bật trên màn ảnh truyền hình quốc gia.

Thời gian nghỉ dưỡng quân ở Pleiku tôi có dịp gặp và nói lời cám ơn tới những đồng ngũ đã có mặt trong các đoàn quân vào tiếp viện cho tôi, đặc biệt là các bạn ở Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh và các bạn ở Trung Ðoàn 53, Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi nói với họ rằng, nhờ có những đóng góp máu xương của họ mà chúng tôi mới tạo được chiến thắng vẻ vang này.

Anh em trong đơn vị tôi có ba ngày nghỉ tự do, nhưng chỉ được đi loanh quanh trong phố Pleiku thôi, không ai được phép đi sang thành phố khác.

Là con chim đầu đàn, tôi phải nêu gương, giữ gìn quân kỷ. Dù nhớ vợ con vô cùng, tôi cũng không dám bỏ đơn vị để “dù” về Ban Mê Thuột thăm nhà.

Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, Quân-Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa vẫn có thể chu toàn nhiệm vụ bảo quốc an dân.

Với thượng cấp chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó.

Với đồng bào Pleiku, chúng tôi đã xứng đáng là những người con tin yêu của thành phố.

Với cá nhân tôi thì trận đánh 33 ngày đêm này chính là cơ hội để tôi thi thố hết khả năng của một người cầm quân.

Những chiến binh “Tử thủ” Pleime năm 1974 đã vì đất nước mà quên cả mạng sống của chính mình, nên nhiều chục năm sau họ vẫn cảm thấy tự hào:

“Tôi rất hãnh diện đã là một người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”

Theo thời gian, những người từng hiện diện trong chiến dịch Pleime 1974 đã và sẽ theo chân nhau thành người thiên cổ. Nhưng trong quân sử, chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng sẽ mãi mãi được lưu truyền như một huyền thoại của chiến tranh Việt-Nam trong thế kỷ thứ 20.

Gia đình Th/tá Vương M. Long tại Đà Lạt – 10/1974

VML-k20

Seattle tháng 9 năm 2019

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Jan 2020

Post by Sơn râu 25 Aug 2023

Kỳ trước: Các trung đoàn của Sư Đoàn 320A Việt cộng đang dồn toàn lực để san bằng căn cứ Pleime. Các đợt tiền pháo hậu xung tới tấp của địch không làm hao mòn ý chí chiến đấu của người lính TĐ 82 BĐQ, những tay súng đã chấp nhận cái chết.

Trung Đoàn 45 của Sư Đoàn 23 Bộ binh VNCH đang trên đường cứu viện.

Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị

Kỳ 10

Ðể đánh lừa địch, tôi cho đặt một quả mìn chống chiến xa dưới một cục đá mỏng, trên cục đá là một lưỡi xẻng rỉ sét. Máy rà mìn sẽ reo lên khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng và quả mìn. Ðịch thấy cái lưỡi xẻng nhưng không ngờ dưới đó có một cục đá đè trên quả mìn!  Chúng sẽ ơ hờ bỏ qua, rồi tiếp tục đi tới, lại thấy một mảnh kim loại đè trên cục đá, chúng không nghĩ dưới cục đá còn có quả mìn…

Tôi leo lên chòi canh, mắt tôi nhìn không chớp: Một cột khói đen kịt cuồn cuộn dâng lên, cùng lúc những tiếng “Bùng! Bùng! Lách! Cách!…” do đạn cháy nổ trong chiếc xe tank mới cán mìn!

Tôi đứng lặng người lo lắng:

“Vậy là K16 Tank tham chiến! Chắc phen này mình tiêu tùng rồi!”

K16 Tank là tiểu đoàn xe tank T54 trực thuộc Trung Ðoàn E 40 Pháo của Mặt Trận B3.

Trung Ðoàn E 40 Pháo là đơn vị yểm trợ hỏa lực trực tiếp của địch trong các chiến dịch lớn trên toàn lãnh thổ Vùng 2. Thời gian này Trung Ðoàn E 40 Pháo đang trú quân trong thung lũng Ia Drang. Nếu Tiểu Ðoàn K16 Tank này nhập trận thì chúng tôi nguy to.

Tôi có hai Box 1×1 kilomet dự trù sẵn sàng cho pháo binh chiến lược 175 ly đánh bất cứ lúc nào. Hỏa tập thứ nhất nằm cách chân tiền đồn Bắc, hai cây số, phủ trùm cả cái cống mà chiếc tank địch bị vướng mìn hồi chiều. Hỏa tập thứ nhì nằm trên con đường xe be hướng Tây. Nay là lúc tôi dùng tới hai hỏa tập dự trù này.

Lần đầu được nghe đại bác 175 ly yểm trợ, tôi có cảm tưởng như thời kỳ tháng 8 năm 1972, đứng trong giao thông hào ở trại Ðức Cơ chứng kiến pháo đài bay B 52 của Mỹ đánh những Box 1×3 kilomet cách rào trại chỉ hơn ba cây số.

Hai bên cổng Bắc đã có mười mấy cây M72 hờm sẵn; nòng súng đã được kéo thành ống phóng, bấm nút là đạn bay đi.

Khẩu 105 ly cổng Bắc không dùng để bắn những mũi tên sắt nữa, mà thay vào là những viên đạn chống tank với đầu nổ sơn đen.

Tôi có một khẩu súng SKZ 57 ly chống chiến xa, nhưng từ ngày đầu chiến dịch, khẩu súng này đã gãy nòng vì bị pháo kích.

Khuya 29 tháng 8 tôi ra mật lệnh cho một toán viễn thám sẵn sàng ở cổng Nam Pleime. Nếu chiến xa Việt-Cộng đè sập hết hàng rào, vào càn quét trên căn cứ thì toán sẽ mở toang cổng sau, quân ta sẽ vừa đánh vừa lui ra hướng sân bay.

Riêng tôi, chú Minh và chú Phước sẽ cố thủ trong lô cốt chứa thương binh.

Minh và Phước đã hứa sẽ cùng tôi chết bên nhau trên đất Pleime, sẽ không chạy, sẽ không đầu hàng.

Tôi lo lắng từng giờ, chờ những chiếc tank T54 xuất hiện nơi cổng Bắc.

Ðịa thế của Trại Pleime đóng một vai trò rất quan trọng trong công việc phòng thủ.

Doanh trại của đơn vị trú phòng nằm gọn lỏn trong vị thế lõm của cái lòng chảo giữa ngọn đồi có cao độ 403 mét. Các pháo đài chỉ cao hơn mặt đất chừng hai gang tay, thấp hơn chiều cao của cỏ tranh, do đó Việt-Cộng không phân biệt được đâu là pháo đài, đâu là tường đất để dùng đại bác mà trực xạ.

Hai mặt Nam và Ðông của Trại Pleime chưa hứng chịu lần tấn công nào, có lẽ do địa thế không thuận lợi. Mặt Ðông thì đất dốc đứng, không thể xung phong nhanh được, còn mặt Nam lại quá trống trải, bộ binh và tank rất dễ bị bắn hạ trước khi áp sát hàng rào phòng thủ.

Trận Pleime 1974 giai đoạn cuối

Nếu tank địch mà tiến vào từ hướng Nam thì họ sẽ chết chắc! Sân bay Pleime chứa hàng trăm quả mìn, bộ binh dò đường vừa ló dạng đã chết bởi đạn Beehive của Trung úy Như. Tôi còn cầu trời xui khiến cho chúng đưa tank vào hướng Nam để tôi tiễn đưa chúng về trình diện Diêm Vương.

Ðêm xuống, trong máy truyền tin của tôi có tiếng người Miền Bắc chỉ vỏn vẹn một câu chứa đầy sự đe dọa:

“Thằng cứng đầu! Tao sẽ san bằng cái đồn của mày!”

Tôi đã nhận ra giọng nói quen của người phía bên kia, nên từ tốn trả lời,

– Tôi nghĩ rằng, người cầm quân tất nhiên phải cân nhắc thiệt, hơn. Chắc anh đã biết, muốn giết bốn trăm người dưới quyền tôi thì ít ra anh cũng phải chết một hai nghìn người! Lùa hai nghìn người vào chỗ chết để đánh đổi một cái đồn bé tí teo có phải là hành động khôn ngoan không? Chúng ta có ân oán với nhau, nhưng không thể vì thế mà coi rẻ hàng nghìn sinh mạng của những người dưới quyền mình.

Chờ khoảng năm phút sau không thấy người kia nói gì thêm, tôi bèn cúp máy.

Bốn tháng trước tôi và người này đã chửi nhau một lần vào ngày 14 tháng Tư năm 1974. Ngày đó ở Căn cứ 711, Trung Ðoàn 64/320A của ông ta bị tôi đánh tan hoang, còn tôi cũng bị cháy 12 chiếc chiến xa. Tới tối thì ông ta vào máy kêu gọi tôi đầu hàng.

Tôi lớn tiếng réo tổ tiên, ông nội, bà ngoại ông ta ra mà chửi.

Rồi tôi thách thức ông ta có giỏi thì cứ xông lên, lên bao nhiêu người tôi sẽ giết chết bấy nhiêu!

Thế là ông ta dốc toàn lực thành phần còn lại của sư đoàn dưới tay ông để đánh tôi. Ðêm 14 rạng 15 tháng 4 ông ta nướng hết Tiểu Ðoàn D20 Trinh sát; sáng hôm sau ông ta điều động toàn bộ Trung Ðoàn 48/320A vào trận.

Tới khi Trung Ðoàn 48/320A dùng tới thủ pháo chứa hơi độc hóa học thì tôi bị thua. Căn cứ 711 bị tràn ngập. Quân của ông ta đã ôm vật tôi xuống đất định bắt sống thì bị Thiếu úy Trần Văn Phước bắn loạn cào cào, mấy tên bu quanh tôi đều trúng đạn.

Sau đó Trung úy Nguyễn Công Minh kịp thời tiếp cứu, rồi ba thầy trò tôi chạy bán mạng, thoát chết.

Sau trận đó Ðại tá Tất khuyên tôi nếu phải đánh nhau với ông ta lần nữa thì chịu khó nói năng dịu dàng hơn, đừng chọc giận ông ta nữa, ông ta mạnh hơn mình nhiều, tránh voi chẳng xấu mặt nào!

Ông ta là Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng Sản.

Mấy năm sau, khi đang bị giam giữ trong trại tù cải tạo Nam-Hà A ở ngoài Bắc, tôi nghe tin Thiếu tướng Kim Tuấn Tư lệnh Quân Ðoàn 3 của Cộng-Sản đã tử trận trên chiến trường Campuchia.

Chạm trán lần này tôi đã có kinh nghiệm, nên theo cách Ðại tá Tất mách nước, tôi dùng giọng điệu ôn hòa để đáp lại lời hăm dọa của ông ta.

Không biết qua lần đối thoại vừa qua, thái độ của tôi có ảnh hưởng gì tới quyết định rút quân của Ðại tá Kim Tuấn hay không?

Cũng có thể vì quả mìn chống chiến xa của tôi đã làm sập cái cống bắc ngang con suối khiến cho chiếc T54 mở đường cắm đầu xuống nước, nên những chiếc tank khác không tiến được.

Mặt khác, không loại trừ lý do mà Ðại tá Kim Tuấn ngừng tiến công Pleime chỉ vì ông ta e sợ bị sập bẫy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Toàn đang có trong tay một thiết đoàn kỵ binh và một trung đoàn bộ chiến chưa sứt mẻ, dư sức chặn đường lui, và tiêu diệt gọn cái Tiểu Ðoàn K16 Tank của Bắc quân nếu họ bị lún càng vào một trận đánh xáp lá cà với những người tử thủ Pleime.

Hai ngày kế tiếp chúng tôi không thấy pháo cối, và không còn đợt xung phong nào nữa.

Ðêm 31 tháng 8 tôi cho hai toán trinh sát đi vòng quanh rào trại do thám tình hình, một toán xuất phát từ cổng Nam kiểm soát hướng Tây rồi về cổng Bắc. Một toán đi từ cổng Bắc vòng về hướng Ðông rồi vào cổng Nam. Hai toán thám thính vòng đai về báo cáo rằng địch đã rút đi rồi!

Toán trinh sát hướng Ðông báo cáo rằng nơi bờ đất dốc đứng cách hàng rào ngoài chừng hai trăm thước là hàng trăm hầm hàm ếch của địch. Có lẽ đây là nơi trú ẩn của Trung Ðoàn 48/320A?

Trong thời gian một tháng qua, tôi chỉ dùng pháo 106 ly và 81 ly đánh sát hàng rào hướng Tây, chưa từng có viên đạn cối hạng nặng nào rơi sát rào Ðông. Ðạn cối 60 ly của tôi không có đầu nổ xuyên phá (delay) nên những lần đánh cận phòng hướng Ðông của tôi chẳng khác gì bắn “gãi ngứa” cho địch quân trên mục tiêu này.

Tối 1 tháng 9 tôi ra lệnh cho Chuẩn úy Bảo và Thượng sĩ Sơn dẫn đầu một trung đội của Ðại đội 1/82 leo lên Chư Gô tái chiếm cao điểm 509. Trung đội này tới mục tiêu thì địch đã rút đi rồi.

Cùng giờ, một trung đội của Ðại Ðội 4/82 do Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Thượng sĩ Phong cũng lên đường nhắm hướng Chư Hô. Trên Chư Hô, đơn vị phòng không của địch đã di chuyển, còn lại cỡ một tiểu đội đoạn hậu.

Gần 10 giờ đêm trung đội của Chuẩn úy Phước chạm trán với tiểu đội Việt-Cộng này. Hai bên bắn nhau chừng mười phút thì địch bỏ chạy xuống núi. Lá quốc kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa được kéo lên ngọn cột cao giữa đỉnh Chư Hô vào đúng KHÔNG (0) giờ ngày 2 tháng 9 năm 1974.

Từ đỉnh núi Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước gọi cho tôi rồi báo cáo,

– Trình Thái Sơn, vùng hướng Tây dưới chân núi Chư Hô, xe của địch đang chạy thành đoàn, đèn chiếu sáng choang.

Thì ra, cơ giới địch đang rút đi!

Mấy ngày sau tôi đem theo Ðại đội 4/82 và một toán cận vệ vào thám sát khu vực mà chú Phước nói có đèn xe của Việt-Cộng thì phát giác ra nơi ấy là một vị trí đóng quân của cơ giới địch. Tiếc rằng thời gian qua, quân ta quá chú ý tới mặt trận hướng Bắc nên không có cuộc không tập nào trên mục tiêu lộ thiên này.

Vùng này nằm cách Pleime gần 5 cây số về hướng Tây Nam. Chắc chắn trận địa này đã được thiết trí sau ngày tiền đồn Chư Hô của ta rút chạy.

Thoạt nhìn ta có cảm tưởng như đang đứng trước vị trí trú quân dã ngoại của một đơn vị của Hoa-Kỳ thời 1968-1970.

Trên diện tích cỡ một sân bóng tròn, xe ủi đất đã tạo thành những ụ đất dành cho loại súng có bánh xe, có lẽ là phòng không 37 ly hoặc 100 ly. Những chùm đạn 37 ly và 100 ly mà Việt-Cộng bắn lên trời để thị uy trong thời gian vừa qua có thể đã xuất phát từ đây.

Mặt đất in đầy vết xích dấu chữ “V” chứng tỏ rằng bãi đậu xe này đã là nơi tập trung của một đơn vị chiến xa Việt-Cộng.

Nhìn dấu tích địch còn để lại, tôi nghĩ người chỉ huy Bắc Quân đã lên phương án sử dụng Tiểu Ðoàn K16 Tank T54 vào một trận đánh một mất, một còn với chúng tôi.

Nhưng có lẽ họ đã ước tính được sự tổn hại to lớn nếu thi hành phương án này, nên đã rút lui.

Chắc chắn họ đã thấy, với một mặt trận có chiều ngang chưa đầy hai trăm mét, làm sao đủ rộng để cho một tiểu đoàn cơ giới T54 tận dụng hỏa lực, hàng ngang tiến lên?

Ðó là chưa kể đến những trái mìn chống chiến xa nằm lền khên trong rừng trên cái dốc cổng Bắc, và dày đặc trên sân bay cổng Nam.

Tôi đã chuẩn bị sẵn, mỗi người thủ một trái lựu đạn M26 là phương tiện cuối cùng để tự đưa mình sang thế giới bên kia.

Tôi tin chắc rằng nếu phải chết, anh lính mù trong bệnh xá cũng rủ được vài cán binh Bắc Việt chết theo chứ đừng nói chi tới những chiến binh còn lành lặn.

Chỉ vì, “Một thằng liều mạng bằng mười thằng sợ chết!”  nếu phải đánh nhau trận cuối, chúng tôi bị bắt buộc trở thành “những thằng liều mạng” chúng tôi bị đưa vào thế cùng chết với quân thù, thì dù cho đánh nhau với hai chục chiếc T54 của Mặt trận B3 hay hai trăm chiếc T54 chúng tôi cũng coi như pha!

Người chỉ huy Bắc Quân đã không đánh trận cuối cùng thì coi như chiến dịch Pleime 1974 chấm dứt.

Trong chiến dịch này, ban tham mưu của Sư Ðoàn 320A Bắc-Việt đã đánh giá sai khả năng chiến đấu của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Chắc họ tưởng đánh Pleime cũng dễ như chiếm Lệ Minh, nên cứ tiền pháo hậu xung, rồi lừng lững vác cờ tiến vào đồn? Không ngờ họ đã đối diện một cổng đồn đóng kín và những hàng kẽm gai dày đặc, để rồi vừa hô được hai tiếng “Xung phong!” tiền quân của họ đã chết như rạ vì những quả đạn Beehive.

Ðánh nhau kỳ này các đơn vị tiến công của địch đã bị dụ vào một cái bẫy, họ cứ tưởng lầm Pleime chỉ có 6 lớp hàng rào, như trên cái sơ đồ phòng thủ mà họ tịch thu được 4 tháng về trước, cứ cho Bangalore đánh thủng kẽm gai mở đường rồi chạy ào lên là có thể chiếm lĩnh mục tiêu, nhưng thực tế Pleime đã có tới 12 lớp rào, giữa hai hệ thống hàng rào lại là một vạt đất rộng hai chục thước đầy mìn bẫy!

Trận Pleime năm 1974 là một cuộc đấu trí và đọ sức trường kỳ không cân sức.

Nhưng với tinh thần chiến đấu quyết tử vì dân, vì nước của toàn thể chiến sĩ trong đơn vị, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến thắng.

oOo

Đồng bào ơi! Chúng con về đây!

Khoảng 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9 có một ông tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 45 Bộ Binh vào tần số chúc mừng tôi đã bình yên. Tiểu đoàn của ông ta và một chi đoàn của Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh đã tiến tới cách Pleime một cây số nhưng không chạm địch.

Ông ta dẫn theo một tiểu đội theo Tỉnh lộ 6C đi bộ vào thăm tôi.

Sau khi cho tháo gỡ ngòi nổ những quả mìn trên đường, tôi ra cổng Bắc bắt tay cám ơn người bạn đã vào cứu mình.

Ông này là một Ðại úy người Bắc, vì thời gian qua lâu quá rồi, nên tôi chỉ nhớ mang máng tên ông ta là Hiền hay Hiển gì đó. Tôi không biết sau này qua bao biến cố, ông bạn ấy có còn sống hay không?

Trưa 2 tháng 9 năm 1974 chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống Pleime mang theo Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, anh Thanh không quên đem theo một két bia cổ cao và một cây nước đá để tưởng thưởng cho tôi.

Sau đó là một hợp đoàn của Phi Ðoàn 229 mang thực phẩm tiếp tế và vài chục tân binh bổ sung. Hợp đoàn trực thăng này cũng chuyển đi hết số thương binh còn tồn đọng.

Ngày 3 tháng 9 hai vị Ðại tá Biệt Ðộng Quân xuống thăm chúng tôi cùng một phái đoàn chuyên viên tiếp liệu tới kiểm tra thiệt hại vật chất của đơn vị tham chiến.

Tôi chưa cho gỡ những lớp rào dích dắc, nên đoàn người dài ngoằng phải nối đuôi rồng rắn theo nhau từ sân bay vào trại. Ðại tá Từ Vấn đi trước, Ðại tá Phạm Duy Tất đi kế, tôi là người thứ ba.

Không có phóng viên nhật báo nào được tháp tùng phái đoàn của Ðại tá Tất, nhưng có những bức ảnh ghi cảnh hoang tàn đổ nát của Pleime 1974 đã xuất hiện trên báo Sài-Gòn. Một nhân vật nào đó trong toán chuyên viên thanh tra tiếp liệu đã lén chụp và trao cho báo chí những bức hình này.

Ðứng bên khẩu súng đại bác đã xẹp bánh ở cổng Bắc, Ðại tá Vấn cho tôi hay ý định của ông,

– Kỳ này ưu tiên cho thằng Tám Mốt (Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân) đi hấp ở Dục Mỹ. Còn Tám Hai (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) có Thiếu tá Long là chuyên viên huấn luyện tại chỗ thì không cần phải gửi đi Dục Mỹ nữa!

Tôi không có ý kiến gì khi nghe ông liên đoàn trưởng quyết định đưa một đơn vị đánh nhau chưa đầy một ngày đi tái huấn luyện, thay vì cho đơn vị đánh nhau 33 đêm ngày đi Dục Mỹ bồi dưỡng ít lâu.