‘Con tằm là phải nhả tơ’

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

O. Henry (1862 – 1910), người Mỹ, tác giả nhiều truyện ngắn lừng danh xưa giờ, với những kết cuộc bất ngờ nhưng hợp lý.

Câu chuyện nổi tiếng nhứt của O. Henry về Giáng Sinh có tựa đề là: “The Gift of the Magi”.

Chuyện rằng: Hai vợ chồng còn trẻ; trẻ dĩ nhiên là còn nghèo; nghèo nhưng lại tha thiết yêu nhau.

Mùa Giáng Sinh là phải tặng quà theo phong tục Mỹ. Nàng bán mái tóc xuân xanh, để có tiền mua cho chàng sợi dây đeo đồng hồ. Chàng bán cái đồng hồ, để có tiền mua cho nàng cái lược cài tóc. Tréo ngoe hết trơn!

Dây đồng hồ nhưng đồng hồ không còn nữa. Lược cài tóc mà mái tóc, nàng đã đau lòng cắt ngắn đi, thiếu điều đầu trọc lóc… mà lược giắt trâm cài cái nỗi gì? Mất hết ráo nhưng chỉ còn tình ta là ở lại!

Mới đầu để kiếm sống, O.Henry làm nhiều nghề từ dược tá cho tới nhân viên ngân hàng.

Về Houston năm 1895, để tránh cơn ho dai dẳng, ông viết cho tờ Post được 25 đô một tháng, một ngày chưa tới 1 đô la! (Lương trung bình lúc đó khoảng 300 đô Mỹ một năm!)

Ngoài viết báo, ông còn làm cho ngân hàng. Và như những con người có máu văn nghệ khác, chuyên xài trước trả sau, làm thất thoát tiền của nhà băng; ông trốn qua Honduras (Trung Mỹ)!

Khi nghe tin vợ mình bị bệnh lao hấp hối, ông quay về chăm sóc cho tới khi người vợ qua đời!

Sau đó, ông bị nhốt trong nhà tù Liên bang ở Ohio từ năm 1898 đến năm 1901. Con gái phải vào Viện mồ côi!

Gần Giáng Sinh, ở tù đâu có tiền, mà O.Henry lại muốn mua một món quà cho con gái mình nên ông cầm bút. Và nổi tiếng…

Trong sự nôn nóng của hàng chục ngàn độc giả hằng ái mộ, O. Henry mỗi tuần viết một truyện cho The New York World Sunday Magazine hơn một năm trời.

Tổng cộng, suốt cuộc đời con tằm phải trả nợ tơ, O. Henry viết được 381 truyện ngắn. Mỗi truyện được trả 1000 đô, bằng 3 năm tiền lương trung bình của dân Mỹ lúc đó. Quá đã!

Làm nhiều tiền, xài cũng dữ mà nhậu cũng nhiều! Năm 1910, O.Henry ra đi, chấm dứt bi kịch của đời mình vì bị suy thận, biến chứng của bịnh tiểu đường và bị phì tim!

Dẫu vậy, cuộc đời văn chương tao đàn của O. Henry so với các nhà văn khác trước và sau ông cũng ‘sang chảnh’ hơn nhiều!

Như ở bên Tây, thế kỷ thứ 19, nhà văn Honoré de Balzac (1799-1850) nghèo mạt rệp.

Chuyện rằng một tên trộm lẻn vào nhà của Balzac, lom khom lục tủ kiếm tiền.

Nhà văn nằm nhưng chưa ngủ, nghe tiếng lịch kịch, mở mắt ra cười khè khè, nói: “Bạn hiền ơi! Tội nghiệp bạn đã bỏ công chui vào nhà của Balzac để kiếm tiền trong đêm tối… Mà ngay chính tôi, ban ngày ban mặt, trời sáng trưng hè mà tui kiếm mãi cũng hổng có ra!”

Tuy đa số nghèo rớt mồng tơi nhưng nhà văn, nhà thơ lại giàu tự ái… vặt!

Có giai thoại rằng: Trong một bữa tiệc, có hai chú thanh niên choai choai, hợm hĩnh hỏi Voltaire (1694 –1778), giọng chế giễu: “Thưa nhà văn, nói thế nào cho đúng: Cho chúng tôi uống hay là: Mang thức uống cho chúng tôi!”

Voltaire từ tốn, đốn cho hai chú em nầy một búa, là: “Đối với các bạn, cả hai câu ấy đều không đúng! Các bạn phải nói: “Dẫn chúng tôi ra vũng nước”!” He he! Um bò!

***

Chẳng qua, viết văn, làm văn nghệ là nghèo, mà nghèo hay tự ái vặt hay giận lẫy người dưng lắm đó, nên tui rất lấy làm kính nhi viễn chi, ở xa mà xá, chớ hổng dám lại gần chọc quê, vì sợ nhà văn, nhà thơ quạu, đem chữ ra mà chọi cho tui u đầu sứt trán.

Trong giới văn nghệ Việt Nam mình xưa giờ, ai cũng biết bài thơ: “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ.

“Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An nam khổ như chó!

Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương!

Và nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết… “

 Rồi hồi thời tui còn đi học, thơ Tản Đà đã được đưa vào sách giáo khoa.

Đã từng làm Chủ báo tờ An Nam tạp chí, nhưng Tản Đà không biết quản lý, hứng làm, mệt nghỉ, chi tiêu lung tung, ăn nhậu hết mình!

Năm 1927, Luật sư Diệp Văn Kỳ, chủ tờ Đông Pháp thời báo, và mời Tản Đà từ Hà Nội vào Sài Gòn cộng tác. Bước đầu đã giúp cho Tản Ðà 1,000 đồng lúc mới sơ ngộ, một số tiền quá xá lớn thời đó!

Rồi một chiều cuối năm, xuất bản xong số báo Xuân, phát lương thầy thợ đâu đó rồi, thì thi sĩ Tản Đà, chiều 30 Tết lù lù tới thăm chủ nhiệm để mượn tiền ăn Tết.

Một tháng lương mới lãnh, thêm một tháng lương thưởng và một tháng cho vay trả làm bốn lần, nhà thơ đã làm gì hết sạch bách? Ông Diệp đưa tặng thêm cho thi sĩ 5 đồng bạc.

Tản Đà cầm tiền, đi ra nhà dây thép mua măng-đa 3 đồng gửi ra Hà Nội giúp một bạn văn cũng nghèo xơ xác như mình.

Còn 2 đồng, tiên sinh bao một cỗ xe lô-ca-xông qua Bà Chiểu đón ông bạn thơ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng ra Sài Gòn ăn Tết một cách phong lưu quý phái.

Dẫu được tiếp đãi hào phóng như vậy nhưng khi bị Chủ báo Diệp văn Kỳ thúc bài đi cho kịp in là Tản Đà cự lại: “Ông muốn tôi vào đây viết văn hay bửa củi, nếu bửa củi thì lúc nào bửa cũng được. Bằng viết văn thì phải đợi hứng, không hứng không thể viết”.

Để cuối đời, Tản Đà chua chát viết: “Khi làm chủ bút, lúc viết mướn/ Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng!”

Và rồi Tản Đà qua đời ngày 17 tháng Sáu năm 1939, hưởng dương 51 tuổi, vì bị bệnh sơ gan; chắc do nhậu nhiều quá xá!

***

Ngày nay ở Mỹ, ở Úc, thị trường văn chương viết bằng tiếng Anh rộng lớn! Nhiều bạn đọc sẵn lòng móc xỉa; nên làm nhà văn Tây phẻ hơn nhà văn Ta gấp ngàn lần. Vừa có danh có lợi. Tiền dư sức sống, rồi rủng rỉnh tiền ăn nhậu, nhờ nhuận bút rất sộp và tác quyền rất khẳm khi xuất bản sách! Thấy mà nhễu nước miếng!

So lại, cũng hải ngoại, nhà văn, nhà báo mình viết bằng tiếng Việt, số người sống được bằng nghề lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay!

Cộng tác viên, viết chủ yếu cho vui hoặc cho đỡ cái buồn…rầu; bởi kiếp tằm là phải nhả tơ!

Người Việt mình khi đi mua một món đồ mà người bán phán một câu: Giá văn nghệ mà… thì mình hiểu nó không mắc, không đáng giá bao nhiêu. Nghĩa là nó rẻ mạt hè!

Văn nghệ của nền báo chí hải ngoại mình cũng chung phần số! Thơ là hỏng có cái chuyện trả nhuận bút rồi. Vì bài thơ hay thế mấy, nhưng đâu có bao nhiêu chữ mà trả tiền hè?!

Còn văn thì mỗi bài được chừng 100 đô là hết mức, bằng giá một dĩa mồi nghêu xào XO và một thùng beer VB 24 lon, một mình tác giả nhậu còn chưa đã, chưa say nên mấy nhà văn nhà báo thường hay nhậu beer và ăn chực của quý độc giả ái mộ văn tài mời ngài ra quán!

Còn trong nước, trừ mấy tay Tổng biên tập, làm quan chức chóp bu của tờ báo, thì cái đám bồi bút báo chí quốc doanh sống còn thê thảm hơn nhiều!

Bằng mọi cách để kiếm ăn nuôi vợ, nuôi con là phải theo phe nầy làm bồi bút, văn nô cho anh Ba hoặc cho anh Tư! Lỡ phe mình theo phò, kiếm miếng cơm chén rượu, bị thất thế là mình phải bị đi ở tù.

Còn không theo phe nào, chỉ muốn tống tiền doanh nghiệp làm ăn bê bối, bằng cách gỡ bài phóng sự điều tra xuống… mà xui rủi, nó có ‘piston’ mạnh, nó gài bẫy, kêu CA phục sẵn. Cô em nhà báo mới ló tay ra nhận phong bì, tiền có ghi seri trước, là nghe còng cái cốp, vô tù ngồi gỡ lịch… Hu hu!

***

Để kết luận nhà văn, nhà báo trong, ngoài nước bây giờ so với nhà thơ Lý Bạch bên Tàu, cả ngàn năm trước, thua xa lắc!

Năm 742, Lý Bạch đến Trường An, Đường Minh Hoàng nghe danh đã lâu nên rất ái mộ! Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày, lại bị gièm pha nên vợ vua là Dương Quý Phi cũng phát ghét!

Lý Bạch nhận thấy việc đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng phải đành theo.

Ngày đưa tiễn, vua tặng thêm rất nhiều nén vàng làm lộ phí nhưng thi nhân không nhận!, Cuối cùng vua cho ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào mà ông đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố thanh toán.

Tui khoái vậy đó! Đừng trả nhuận bút! Hỏng bao nhiêu! Mấy ông chủ báo chỉ cần cho tui cái ‘credit card’. Nhậu xong, tui quẹt một cái, là vui… về viết nữa! Hi hi!

Nhưng buồn thay! Chuyện nầy ở thế kỷ 22 mới có!

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Tản Thương Khó Khăn

Càng ngày nhịp độ pháo kích của địch quân càng gia tăng. Nhất là khi có máy bay trực thăng lên xuống. Điều này làm cho việc tản thương, tiếp tế thêm khó khăn. Mỗi lần di tản thường là cả một sự liều mình, là dấn thân vào vùng đất chết. Địch quân dường như đã đặt súng canh sẵn vào những bãi đáp. Mỗi khi thấy máy bay là là định đáp xuống là chúng khai hỏa liền. Chứng bắn đuổi theo trực thăng khiến máy bay đáp không được, phải bay trở về. Như vậy xe Hồng Thập Tự sau nhiều giờ chờ đợi, có khi gần cả một ngày trời dưới nắng, lại phải đưa thương binh về bệnh viện. Thương binh vừa đói vừa khát, về đến nhà thương lắm người lả đi vì mệt.

Hai giờ chiều hôm ấy, Thiếu úy Thu tới kiếm tôi:

– Thưa bác sĩ, bên Tiểu Khu vừa cho mình hay sẽ có chuyến tản thương. Mình phải sẵn sàng tám người. Ưu tiên cho những người nặng. Chừng 20 phút nữa, trực thăng sẽ tới bãi đáp ở sau sân vận động.

– Hay quá, ông cho các anh em biết để sửa soạn xe Hồng Thập Tự. Tôi sẽ chỉ định người được tản thương. Sáu người ở trại Hậu Giải Phẫu này sẽ được đi hết.

Tôi xuống trại Ngoại Khoa kiếm Trung sĩ Lạng:

– Chọn cho tôi hai người nặng nhất để tản thương ngay bây giờ. Không cho thân nhân đi theo.

Lát sau, xe Hồng Thập Tự đã đến và đậu trước cửa Phòng Hậu Giải Phẫu. Cửa xe vừa mở rộng để các y tá khênh những người bệnh nặng ra thì những người bị thương nhẹ đã tranh nhau nhảy tuốt lên xe ngồi. Dù tôi đã cố ý dấu họ, hoàn toàn giữ bí mật về việc tản thương này. Tôi ra lệnh cho y tá một cách kín đáo, sao những người này quá tinh ý, biết là có tản thương ùn ùn kéo ra đầy xe. Kẻ thì chống gậy, kẻ thì nhảy lò cò, những người bị thương ở tay, hai chân còn lành lặn đã lẹ làng nhảy vào trong xe ngồi giữ chỗ trước.

Tôi bực mình, ra ngăn họ lại, quát lớn:

– Các anh em hãy từ từ, nhường chỗ cho những người bị nặng đi trước. Chuyến sau sẽ tới lượt các anh em.

Một vài người nghe lời tôi, trở vào. Một số ngoan cố đã chui tọt vào xe ngồi yên không chịu xuống. Nói nhẹ không nghe, tôi phải dùng biện pháp mạnh, cho người lên kéo, khênh họ xuống. Chúng tôi phải làm gấp rút để tranh thủ thời gian cho xe ra bãi đáp đúng giờ hẹn.

Những lần đi hành quân với Trung Đoàn 43 Bộ Binh đã cho tôi nhiều kinh nghiệm về tản thương bằng trực thăng. Khi được báo 10 phút, là đúng lúc trực thăng sẽ tới. Thương binh phải sẵn sàng tại bãi đáp. Trực thăng không bao giờ chờ đợi. Nếu tới bãi đáp không thấy thương binh, phi công sẽ bay luôn không trở lại nữa. Sau này xin tản thương sẽ rất khó được thỏa mãn.

Ngay cả khi trực thăng tới mà thương binh ùa lên máy bay một cách vô trật tự, gây trở ngại cho việc cất cánh cũng là một điều lỗi của Quân Y. Phi công có thể viện cơ đó để từ chối tản thương. Bởi vậy thà mình tới sớm đợi máy bay còn hơn để lỡ chuyến, làm hư hết mọi chuyện và có ảnh hưởng tai hại tới sinh mạng của thương binh.

Mặc cho những lời van xin, những lời chửi rủa, văng tục. Có kẻ kêu chúng tôi là những người độc ác, tàn nhẫn vô lương tâm, lính bị thương mà không cho tản thương. Tôi giả điếc làm ngơ, cho người khiêng bốn băng-ca và dìu bốn người có thể ngồi được lên xe. Hai y tá đứng hai bên cửa xe. Một người nữa đứng ở phía sau. Sửa soạn xong xuôi, tôi cho xe ra phi trường. Xe đi rồi, chúng tôi thở ra như trút được một gánh nặng.

Nhưng chưa hết đâu, bao giờ xe không người trở về mới chắc. Có tản thương, không những thương binh mà cả chúng tôi cũng được vui vẻ vì bệnh viện lại giải tỏa thêm một số giường để lấy chỗ tiếp nhận thương binh mới. Tuy nhiên, trong tình trạng này, mặc dù xe đi rồi chúng tôi vẫn cứ thấp thỏm. Đã nhiều lần xe đi rồi lại về vì máy bay không đến hay không đáp xuống được.

Xe đi được chừng 15 phút, tôi lắng nghe thấy có tiếng trực thăng ở xa vọng lại, mỗi lúc một gần. Tôi quay sang nói với Thiếu úy Thu:

– Rồi, máy bay sắp tới!

Một lát sau, hai trực thăng bay qua đầu chúng tôi. Một chiếc hạ thấp, một chiếc vẫn bay cao dường như để canh chừng. Tôi nghe thấy ba tiếng nổ ở sân vận động. Thu nói:

– Nó pháo vào bãi đáp rồi.

Tôi lắc đầu chán nản. Tôi thấy chiếc trực thăng vọt lên như một mũi tên. Rồi hai chiếc trước sau bay về hướng Sài Gòn mất dạng. Tôi nghĩ lần này tản thương chắc lại đi không về rồi quá.

Quả nhiên 10 phút sau, xe Hồng Thập Tự trở về vẫn đầy nhóc người.

Tài xế Mệnh nhảy xuống xe nhìn tôi, lắc đầu:

– Suýt chết bác sĩ ạ. Mảnh đạn véo ngang đầu.

Tôi ngắt lời hỏi:

– Nó pháo gần không?

– Ngay boong à bác sĩ. Cách tụi em chừng mươi thước.

Binh nhất Nở xen vô:

– Máy bay vừa nhào xuống, định đáp là tụi nó rót vô. Binh..Binh..Binh. Tụi em bung người xuống, mạnh ai nấy tìm chỗ núp. Em chui đại xuống gầm xe.

Nó vừa nói vừa chỉ cho tôi xem quần áo đầy đầy những đất đỏ cùng với dầu xe. Mệnh chặc lưỡi:

– Nó canh sẵn hay sao mà bắn suya quá, làm trực thăng thấy pháo gần quá nên đi luôn. Em đành phải lái xe về.

Tôi vỗ vai Mệnh:

– Thôi, không ai bị gì là tôi mùng rồi. Đợi chuyến khác.

Tôi quay lại, kêu mấy y tá đang đứng tụm lại hỏi chuyện mấy người từ bãi đáp về:

– Các anh em lo khiêng giùm thương binh xuống xe đi chứ, để trong xe hoài, ngộp chịu sao nổi.

Tôi hỏi thăm mấy thương binh, thấy họ mệt nhưng tỉnh táo:

– Sợ không các anh?

– Dạ, sợ chứ nhưng tụi tôi đành nằm đó, mặc cho số mệnh chứ đâu có thể ngồi dậy chạy đi đâu được.

Câu nói tỉnh bơ như vậy nhưng đối với tôi thực là khủng khiếp. Cái cảnh cá nằm trên thớt, nhìn thấy con dao treo lơ lửng trên đầu mà không thể nhúc nhích được mới khiếp làm sao.

Uy kêu tôi lại, ngỏ ý xin về nhà nằm có hầm hố, có người nhà săn sóc chu đáo hơn. Tôi thấy không có gì trở ngại. Tình trạng của Uy giờ khá rồi. Tôi đồng ý cho Uy về nhà nhưng hẹn ngày mai phải lên sớm để tản thương.

Chiều hôm đó, tôi nhận được điện thoại từ Biên Hòa. Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 73 Quân Y, bác sĩ Lương Khánh Chí gọi lên trấn an chúng tôi và ngỏ lời khen ngợi toàn thể quân nhân các cấp thuộc Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long đã tỏ ra có nhiều thiện chí và bình tĩnh, sáng suốt làm việc trong những điều kiện hiểm nghèo.

Sau đó, chị Phúc và chị Chí nói chuyện bằng điện thoại với bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí. Thì ra các bà nóng ruột đã tìm đường lên tới Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Quân Y để được điện thoại hỏi thăm các ông. Tôi còn độc thân, không vợ không người yêu nên chẳng có ai nói chuyện hỏi thăm cả. Tôi chỉ nhờ bác sĩ Chí nói lại với chị Chí rằng làm ơn tới nhà cho mẹ tôi biết là tôi vẫn bình an, mạnh khỏe đề mẹ tôi khỏi lo.

Chúng tôi đều không ai ngờ rằng đó là lần liên lạc chót bằng điện thoại với Biên Hòa. Vì ngay ngày sau, địch quân đã pháo kích đứt hết dây điện thoại. Ngày 12 tháng 4, Việt Cộng pháo vào Trung Tâm Truyền Tin Cố Định khiến cho bảy người chết, bảy người bị thương. Thành ra những hy vọng sửa chữa cũng như liên lạc bằng điện thoại tan thành mây khói.

Ngay như đối với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu hay các đơn vị quân sự trong tỉnh, bệnh viện cũng không thể liên lạc bằng điện thoại được. Mọi sự liên lạc chỉ có thể cho người đích thân tới. Nhưng trong tình trạng hiện tại, ai dám bỏ chỗ an toàn mà đi ra ngoài, không bị pháo kích cũng bị nghi ngờ là Việt Cộng.

Pháo Binh Sư Đoàn trước đóng ở sân vận động, sau bị pháo dữ quá phải dọn xuống công viên Tao Phùng. Công viên này nằm ngay dưới chân đồi của bệnh viện về hướng Tây. Thành ra bệnh viện ở giữa hai căn cứ quân sự mà địch quân cố tình triệt hạ cho kỳ được, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và Pháo Binh. Thế là bệnh viện bị lãnh đủ. Mới đầu, đạn còn rót ngoài vòng rào, về sau trại nào cũng bị pháo trúng. Nhất là trại Ngoại Khoa của tôi, không phòng nào là không bị một trái.

Ngày 11 tháng 4, địch quân pháo suốt ngày. Mới 8 giờ sáng đã có nhiều trái rơi vào trường Trung Học, nơi tàn quân của Trung Đoàn 52 đóng ở đó ngay trước mặt bệnh viện. Cho tới chiều, khoảng 3 giờ 45 phút, ngớt pháo kích, bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu cho người tới báo sắp có máy bay tản thương. Chúng tôi lại sửa soạn cùng với các anh em thuộc Tiểu Đoàn đem thương binh ra chất đầy ba xe Hồng Thập Tự để chở ra bãi đáp. Lại tranh giành, ồn ào, cãi vã, lại quát tháo giải thích mãi đến 20 phút sau, xe mới chuyển bánh được.

Xe đi đã lâu sao chưa thấy tiếng trực thăng tới. Mọi người đợi chờ trong lo lắng. Ai nấy đều thầm cầu mong trong lòng đừng có pháo kích để máy bay đáp xuống an toàn bốc hết thương binh đi.

Tôi đang mổ sạch một người bị thương nát mông trái, bỗng nghe tiếng xe đậu ngoài sân ngay trước Phòng Mổ. Rồi tiếng người lao xao, ồn ào. Tiếng cười nói huyên thuyên khác thường. Tôi lấy làm lạ, bảo Thượng sĩ Lỹ:

– Ông ra xem cái gì mà ồn quá vậy.

Lát sau, Thượng sĩ Lỹ vào cười nói:

– Thưa bác sĩ, tản thương được hết rồi. Đoàn xe đã trở về.

Tôi vui mừng:

– Vậy thì đỡ quá. Kỳ này mình cho đi được 24 người đó nghen. Không biết có bao nhiêu trực thăng mà đi được nhiều như vậy?

– Thưa nghe nói có Chinook xuống.

– À, thảo nào. Chinook hốt thì lẹ lắm.

– Mấy tài xế nói dân cũng đi được khá nhiều.

Tôi đứng dậy sau khi băng xong vết thương, tháo găng tay, bước ra ngoài kêu Mệnh lại, hỏi:

– Đi được hết rồi phải không?

Mệnh mặt mày tươi rói:

– Dạ hết. Hai Chinook xuống cùng một lúc nên chở được nhiều lắm. Cả dân cũng được đi nữa.

– Chắc họ tranh giành chen nhau ồn ào lắm phải không?

– Dạ thưa, mấy kỳ trước mất trật tự lắm. Rút kinh nghiệm, kỳ này có quân cảnh gác nên cũng đỡ. Họ cho thương binh lên trước rồi mới tới vợ con các sĩ quan, binh lính. Dân chúng lên sau cùng. Máy bay cất cánh rồi Việt Cộng mới pháo. Có lẽ kỳ này tụi nó ngủ gật. À, em thấy cô gì nho nhỏ, người làm ở trại bác sĩ cũng leo lên trực thăng đi luôn.

– À, đó là cô Sum đấy.

Cô Sum là y tá trại Ngoại Khoa, dáng người bé nhỏ. Chồng cô là giáo sư trường Trung Học Bình Long (em trai bác sĩ Trần Tam Lang, cùng lớp với tôi, sau này làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Quân Y) hiện đang kẹt tại Sài Gòn. Mỗi lần nghe tiếng nổ là cô sợ hãi lắm. Cô không còn thân nhân nào tại đây. Cô lại đang mang thai, tình cảnh thật tội nghiệp. Cô ngỏ ý xin phép tôi theo xe tản thương lên máy bay về Sài Gòn. Tôi thực không có quyền gì với nhân viên dân sự cả. Tôi nói:

– Cô lên xin bác sĩ Phúc, Trưởng Ty Y Tế xem sao.

Cô ngại ngùng:

– Tôi sợ bác sĩ Phúc không cho.

Tôi cũng đoán vậy. Trong tình trạng này, bệnh viện đang cần nhân viên, làm sao bác sĩ Trưởng Ty có thể chấp thuận lời cầu xin đó được. Các y tá khác sẽ bắt chước, bệnh viện còn ai mà làm việc.

Tôi nghĩ rằng, một người đã có ý tưởng ra đi dù bắt họ ở lại, họ cũng không còn tinh thần làm việc. Đôi khi sự có mặt của họ lại càng làm bận rộn thêm cho mình. Huống chi tôi biết cô mỗi lần sanh đẻ rất khó khăn, đều phải mổ cả. Nếu giữ cô lại, sau này đi không được vì trận chiến kéo dài hay rủi ro xảy đến cho cô thì tôi sẽ ân hận biết bao. Lỡ tới ngày cô sanh cần phải mổ, với phương tiện càng ngày càng thiếu thốn như ở đây, làm sao tôi có thể bảo đảm được sự an toàn cho hai mẹ con cô. Hơn nữa, nơi đây là bãi chiến trường, ngay như cô là người mạnh khỏe, không mang thai hay bệnh hoạn, chỉ với điều kiện là phái nữ, tôi nghĩ cô cũng không nên ở lại trừ phi cô tình nguyện.

Vì thế tôi nói với cô:

– Tôi thông cảm hoàn cảnh của cô. Cô muốn đi thì đi, tôi không ngăn cản. Nếu có ai thắc mắc, tôi sẽ giải thích giùm cô.

Cô Sum nắm lấy tay tôi, nói lời cám ơn và không quên chúc tôi ở lại được bình an. Tuy vậy như tôi đã nói, việc lên được máy bay không phải là dễ. Cô Sum đã phải mất hai hôm, vất vả và nguy hiểm lắm mới đi được. Tôi cũng mừng cho cô và trong lòng tôi cũng không có điều gì áy náy, ân hận vì đã bao che cho một nhân viên bỏ nhiệm vụ. (Sau này khi về tới Sài Gòn, tôi được biết cô đã phải mổ lần thứ hai và sanh được một đứa con trai nữa. Sau trận chiến, khi được đổi về Sài Gòn, tôi được gặp lại cô lần nữa tại Viện Bài Lao Hồng Bàng nơi cô đang làm việc.)

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Phối Hợp Làm Việc

Ngày 10-4-1972

Sáng hôm sau, ngày 10 tháng 4 năm 1972 để có thể tới họp đúng giờ, tôi đã dậy sớm. Sau khi khám xong các bệnh ngoại khoa cũng gần 10 giờ. Tôi rảo bước tới văn phòng bác sĩ Phúc, đã thấy anh ngồi nơi bàn giấy đang ghi chép trên một cuốn sổ. Tôi chào anh rồi hỏi:

– Chưa có ai tới hả anh?

– Chưa, còn hơi sớm. Anh ngồi chơi đi.

– Hôm nay mình bàn về vấn đề gì anh?

– À, về vấn đề phối hợp với Tiểu Đoàn 5 Quân Y.

Vừa dứt câu trả lời, một tiếng hú của đạn pháo kích bay ngang mái bệnh viện nổ ở bên trường Trung Học. Bác sĩ Phúc phản ứng rất nhanh, phóng mình nằm soài trên mặt đất. Cái mũ sắt để trên bàn rơi xuống nền nhà kêu loỏng coỏng. Mặc dù tôi đã có kinh nghiệm về pháo kích hơn anh cả gần một tuần rồi, tôi vẫn phản ứng chậm hơn nên đành ngồi trơ trên ghế.

Vài phút sau bác sĩ Chí, bác sĩ Tích, bác sĩ Nam Hùng tới. Chúng tôi chia nhau ngồi chung quanh chiếc bàn giữa phòng. Bác sĩ Phúc hỏi:

– Anh Vũ Thế Hùng có được tin họp không anh Tích?

Bác sĩ Tích trả lời:

– Dạ, thưa anh có. Anh Hùng vì bận chút việc bên Sư Đoàn nên đến sau.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng, bác sĩ Tích, bác sĩ Nam Hùng đều là y sĩ thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Bên Bệnh Viện Tiểu Khu thì có bác sĩ Phúc, bác sĩ Chí và tôi. Bác sĩ Phúc nói:

– Thôi được, chúng mình bắt đầu. Theo tôi nghĩ, trận này còn kéo dài và sẽ đánh lớn chứ không nhỏ đâu. Ở đây Quân Y mình có hai đơn vị khá lớn là Tiểu Đoàn 5 Quân Y và Bệnh Viện Tiểu Khu. Để công tác điều trị và tản thương được hữu hiệu, tôi thấy chúng ta cần phải phối hợp lại mới làm việc được. Các anh thấy thế nào xin cho biết ý kiến.

Bác sĩ Tích trả lời:

– Thưa anh nghĩ vậy rất đúng. Bên Bệnh Viện Tiểu Khu có đầy đủ dụng cụ và cơ sở điều trị. Còn bên tụi tôi xin phương tiện tản thương dễ dàng hơn. Nếu mình phối hợp thì sẽ bổ túc cho nhau và công việc đương nhiên sẽ chạy hơn.

Bác sĩ Phúc gật đầu:

– Nếu chúng ta cùng đồng ý về việc phối hợp thì tôi thấy có bốn điểm chính chúng ta cần thảo luận. Thứ nhất: vấn đề quân sự. Thứ nhì: vấn đề điều hành cấp cứu. Thứ ba: vấn đề tản thương. Cuối cùng là vấn đề y dược, về nhân sự, tôi muốn nói y sĩ, y tá. Y sĩ, chúng ta có sáu người. Tôi và bác sĩ Hùng giữ việc chỉ huy và điều hành tổng quát. Như vậy còn lại bốn. Bên các anh, có anh nào rành về giải phẫu cấp cứu không?

Bác sĩ Nam Hùng trả lời:

– Thưa anh không.

– Nếu vậy, chúng ta chỉ có mình anh Quý có khả năng làm đại giải phẫu. Tôi thấy như vậy, anh Quý làm không xuể.

Quay sang tôi, bác sĩ Phúc hỏi:

– Anh thấy có cần thêm y sĩ giúp anh không? Tôi đề nghị anh Nam Hùng vào phụ anh.

Tôi thong thả trả lời:

– Trước mắt, mình có bao nhiêu làm bấy nhiêu. Không thể nào đòi hỏi thêm được. Nếu được thêm một bác sĩ có khả năng mổ lớn vào làm thay phiên với tôi thì tốt nhất, bằng không tôi thấy không cần thêm người nữa. Tôi và các y tá phòng mổ có thể đảm đương được công việc. Tôi đề nghị thế này, vì anh Tích và Nam Hùng không ở trong Bệnh Viện Tiểu Khu nên dụng cụ thuốc men và nhân viên y tá, các anh chưa quen thành ra khó làm việc, nên để các anh giữ phần nhận bệnh, lựa thương cấp cứu. Anh Chí giữ Phòng Tiểu Giải Phẫu. Tôi giữ Phòng Đại Giải Phẫu vì chúng tôi quen người, quen việc hơn.

Bác sĩ Phúc gật đầu nói:

– Vậy cũng được, anh Nam Hùng và anh Tích có ý kiến gì thêm không?

Bác sĩ Tích nói:

– Chúng tôi cũng đồng ý với anh Quý.

Bác sĩ Phúc tiếp lời:

– Anh Quý mới tổ chức xong được một Phòng Mổ mới ở dưới trại Ngoại Khoa. Thành ra bệnh viện hiện giờ có hai Phòng Mổ. Một phòng làm đại giải phẫu và một phòng làm tiểu giải phẫu. Thực ra vì mình thiếu người, nếu không, hai Phòng Mổ này đều có đầy đủ dụng cụ để làm những cuộc mổ lớn được. Anh Tích, anh Nam Hùng coi nhận bệnh lựa thương. Nếu bệnh nặng cần mổ lớn sẽ đưa lên anh Quý. Bệnh nhẹ sẽ đưa xuống cho anh Chí.

Nói đến đây, bác sĩ Vũ Thế Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y tới. Sau khi mời anh ngồi, bác sĩ Phúc tóm tắt cho anh biết mục đích buổi họp và những điều vừa mới thảo luận xong.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng nói:

– Như vậy về phần y sĩ thì xong rồi. Còn về y tá, anh tính sao?

Bác sĩ Phúc trả lời:

– Ở các trại, Bệnh Viện Tiểu Khu lo. Còn ở Phòng Cấp Cứu, tụi tôi sẽ có sáu người, các anh cũng có sáu người nữa là đủ. Thêm một người làm thư ký ghi sổ nhập viện để báo cáo.

Bác sĩ Hùng nhấn mạnh:

– Ở Phòng Cấp Cứu, lựa thương chỉ cần những người giỏi, có thiện chí, lanh lẹ để làm việc. Nếu không thương binh sẽ bị ối đọng và không tài nào giải quyết kịp được.

Bác sĩ Phúc ngắt lời:

– Có, tôi có cho ra ngoài Phòng Cấp Cứu những tay có bằng B1.

Bác sĩ Hùng gạt phắt đi:

– Bằng cấp không cần thiết, chỉ cần thằng y tá quèn cũng được. Miễn là nó chăm chỉ, chích mạch truyền nước biển thật nhanh là được. Bằng B1, B2 làm gì nếu nó chích mạch không được. Chích đi chích lại, lụi mãi kim không trúng mạch thì còn làm ăn gì được, cấp cứu hồi sinh thế nào được.

Tôi thấy anh Hùng nói năng mạnh bạo đúng là tác phong nhà binh, dã chiến. Chúng tôi thuộc đơn vị tĩnh tại lại phối hợp với Dân Y nên có vẻ hiền hòa hơn. Thực ra ý kiến của anh Hùng rất đúng không ai chối cãi điều đó. Nhưng trên thực tế, những người anh Phúc đưa ra đều là những nhân viên giỏi, đã làm quen việc cấp cứu tản thương rồi. Chính tại bệnh viện, họ mới có dịp chích tĩnh mạch truyền nước biển nhiều hơn ở những chỗ khác.

Mọi người đều làm lơ để cuộc họp có kết quả tốt đẹp, để hai bên thêm đoàn kết, loại bỏ những dị biệt nhỏ không đáng kể. Mục đích chung của chúng tôi là làm sao chu toàn công tác cấp cứu tản thương, giảm thiểu hao tổn sinh mạng của đồng đội càng ít càng tốt.

Bác sĩ Chí nói:

– Về vấn đề Phòng Cấp Cứu nhận bệnh. Tôi đề nghị nên dời lên cửa chính vào trại Nội Khoa. Nơi đó vừa rộng vừa tiện cho xe Hồng Thập Tự ra vào mang bệnh tới, lại an ninh hơn Phòng Cấp Cứu hiện thời chỉ có mái tôn.

Mọi người đều tán đồng ý kiến đó. Bác sĩ Hùng nói thêm:

– Tôi thấy ở cạnh đấy có một phòng trống khá rộng nên dùng để làm phòng Dechocage (Phòng Hồi Sinh) trước khi mang bệnh đi mổ. Chỗ nhận bệnh để ở ngoài.

Bác sĩ Phúc quay sang tôi hỏi:

– Ý anh làm sao?

– Theo tôi, phòng đó để kho thuốc, còn cấp cứu hồi sinh làm ngay nơi nhận bệnh.

Bác sĩ Hùng gạt đi:

– Không được, toa làm như vậy trong trường hợp ít bệnh thì được. Trong trường hợp vào cả trăm người làm sao làm được?

Tôi lặng im không nói vì chi tiết đó không quan trọng, để trong hay ngoài cũng vậy thôi. Với kinh nghiệm tôi đã làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi nghĩ trái lại. Vào cả trăm người với điều kiện như bệnh viện này, làm hồi sinh tại chỗ mới đúng vì lúc đó không còn nhúc nhích gì được nữa. Còn chỗ đâu, còn người đâu mà khênh bệnh nhân đi chỗ này, chỗ kia. Làm như vậy vừa mất thì giờ vừa làm bệnh nhân đau và gây kích xúc thêm.

Sau này quả đúng như vậy. Phòng làm hồi sinh chi được ba ngày rồi biến thành kho thuốc và chỗ ở của anh em Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Thương binh về để nằm ngay tại hành lang nơi tiếp nhận và chữa kích xúc ngay tại đó trước khi mang xuống Phòng Mổ.

Bác sĩ Phúc tiếp tục:

– Bây giờ chúng ta bàn về vấn đề tản thương.

Bác sĩ Hùng ngắt lời:

– Tản thương để tụi tôi lo cho. Chúng tôi xin phương tiện trực thăng dễ dàng hơn các anh. Các anh cho tôi biết bệnh viện có mấy xe Hồng Thập Tự. Mỗi lần tản thương phải cần nhiều để chở thương binh tới bãi đáp.

Bác sĩ Phúc trả lời:

– Bên tôi có ba xe, hư một còn hai.

– Vậy được rồi. Tôi còn một Dodge và một Jeep Hồng Thập Tự. Bây giờ kẹt chưa mở đường được, nếu không tôi cho kéo lên từ Lai Khê cả chục chiếc. Bao giờ có tản thương, tôi sẽ báo cho anh biết để anh biệt phái xe cho tôi. Xăng nhớt, tài xế tôi có đủ, anh khỏi lo.

– Vậy thì tiện quá. Còn vấn đề chót là y dược, theo tôi rất giản dị. Thuốc men chúng ta đều dùng chung cả. Bên nào còn thì cho bên hết, rồi đánh công điện xin tiếp tế thêm. Có ai còn thắc mắc hay có ý kiến gì không?

Không ai thắc mắc cả, Các anh Tiểu Đoàn 5 Quân Y đứng dậy ra về. Chưa ra khỏi cửa phòng thì hai, ba tiếng nổ liên tiếp rất gần dội lại ngay sau nhà thương. Mọi người lại rần rần chạy vào.

Bác sĩ Hùng hỏi tôi:

– Hầm đâu? Có hầm không?

Tôi đưa tay chỉ vào phía trong văn phòng ngay phía bên góc trái, nói:

– Có hầm ở phía này.

Mọi người đều theo nhau chui vào hầm. Trong hầm còn để một đống súng Carbine, một đống hồ sơ với mấy khúc gỗ lớn nên hơi chật. Chúng tôi phải khuân bỏ đống súng vói hồ sơ ra ngoài mới ngồi vừa. Trong khi hối hả dọn dẹp, không may một chai Potassium Chloride bị bể làm bay ra mùi hăng của khí Chlor thật khó chịu, càng làm tăng thêm sự ngột ngạt do nhiều hơi người trong hầm.

Ngồi chừng 10 phút thấy không pháo nữa, các anh Tiểu Đoàn 5 Quân Y đều chào chúng tôi ra về.

Ngồi trong hầm, tôi nghe thấy tiếng xe Dodge thắng gấp rút phía Phòng Mổ. Mấy phút sau, tôi nghe thấy tiếng người gọi tên tôi. Rồi tiếng chân người gấp rút chạy vào văn phòng. Một đầu người ghé vào cửa hầm hỏi:

– Có bác sĩ Quý trong này không?

Tôi hỏi ra:

– Có chuyện gì vậy?

– Thưa bác sĩ có nhiều người bị thương.

Tôi chạy vội ra ngoài. Trên chiếc xe Dodge, mấy người lính đang cố gắng khiêng ba, bốn băng-ca xuống. Tôi thấy có ít nhất là bảy, tám người bị thương đang để nằm dài theo hàng hiên Phòng Mổ.

Một người lính mặt mũi đầy cát bụi tới kéo áo tôi lại gần một chiếc cáng. Anh có vẻ xúc động lắm. Nước mắt quanh tròng.

– Bác sĩ cứu giùm Thiếu úy Đại Đội Trưởng của em. Giọng anh có vẻ uất ức – chúng em bị bỏ bom lầm ngay Bộ Chỉ Huy Đại Đội. Tụi nó còn nằm như rạ ngoài kia.

Tôi quỳ xuống bên băng-ca. Một người nằm thiêm thiếp, mặt mũi tái xanh, chắc chắn bị kích xúc rất nặng. Tôi thấy hai cẳng chân (cẳng: từ đầu gối xuống cổ chân) bị thương nát tới đầu gối. Vết thương đầy bùn đất. Cẳng chân trái chỉ còn là một đống thịt, xương vụn nát dính vào đầu gối bằng mấy sợi gân trắng hếu. Nhìn nét mặt người thương binh thấy hơi quen quen. Tôi ngó xuống bảng tên: UY. Tôi ngửng phắt lên, nắm vai anh lính:

– Có phải Thiếu Úy Đại Đội Trưởng 212 không?

– Dạ phải.

Thôi rồi, tôi thấy lạnh buốt trong lòng. Một niềm thương cảm xót xa làm tôi thấy cay ở mắt. Tháng trước gặp và ăn nhậu với Uy lần đầu tiên, Uy nói tôi và Uy có họ với nhau. Uy là em họ tôi. Thực tình tôi không thể biết tôi và Uy có họ hàng gì hay không. Trong bữa tiệc, tôi không tiện hỏi kỹ. Tôi nghĩ bao giờ trở về Sài Gòn sẽ hỏi lại người nhà cho chắc chắn. Tuy nhiên ngay buổi gặp đầu tiên, tôi đã có cảm tình với Uy. Tôi đã nghe tiếng Uy từ lâu là một trong những Đại Đội Trưởng khá nhất của Tiểu Khu. Mặc dù anh có dáng người gầy gò, nhỏ nhắn nhưng lính rất sợ và nể phục vì tính tình anh rất phóng khoáng, gan dạ và chỉ huy rất giỏi.

Với vết thương như vậy, Uy sẽ bị tàn phế suốt đời. Tôi tiếc thương cho Uy. Tuổi đời chưa quá 30, tương lai còn dài mà nay đã trở thành phế nhân. Đau cho Uy và cho cả chúng tôi, cho tỉnh Bình Long này, vì một trong những sĩ quan giỏi của Tiểu Khu đã bị loại ra khỏi trận chiến quá sớm. Uy đã phải hy sinh cặp chân của mình không phải do đạn của kẻ thù mà do đạn của Đồng Minh bắn lầm.

Tôi chích cho một mũi Demerol cho đỡ đau. Tôi sai y tá cho đặt đai chỉ huyết ở hai đùi để cầm máu, đồng thời truyền nước biển rồi cho khênh Uy vào đặt trên bàn mổ. Tôi đang cầm tay Uy bắt mạch thì Đại tá Trần Văn Nhựt tới thăm cùng Trung Tá cố vấn Trưởng Tiểu Khu Colley. Đại tá Nhựt đứng nhìn Uy nằm thiêm thiếp trên bàn mổ, lo lắng hỏi tôi:

– Liệu có cứu được không bác sĩ?

– Thưa Đại tá, nếu có máu thì chắc cứu được.

– À, cái đó để tôi lo. Bác sĩ cần bao nhiêu?

– Thưa càng nhiều càng tốt. Nhưng tối thiểu là ba bịch.

– Được, để tôi bảo lính cho.

Đại tá Nhựt ra về. Tôi cho phân loại máu Uy. Chừng 30 phút sau, tôi nhận được hai bịch máu loại O. Tăng, y tá Phòng Thí Nghiệm hỏi:

– Bác sĩ cần nữa không? Còn ba người tình nguyện cho.

– Cứ lấy đi.

Tôi cho truyền máu gấp rút. Áp mạch lên được 11/8. Tôi nói cô Đào sửa soạn chích Penthotal. Theo kinh nghiệm của tôi, những người bị thương nát hai chân như trường hợp này thường hay chết vì kích xúc nếu không có máu nhiều để làm hồi sinh.

Cô Đào đã cho bệnh nhân ngủ xong. Tôi đeo găng tay khám nghiệm thấy hai cẳng chân bị gãy nát vụn, Mạch máu, dây thần kinh bị đứt hết. Tôi quyết định phải cắt cả hai chân. Tôi phải làm thật nhanh, cố gắng rút ngắn thời gian gây mê vì sợ có ảnh hưởng tai hại làm trầm trọng thêm tình trạng kích xúc. Sau khi cột các mạch máu, tôi lấy Phisohex rửa sạch vết thương. Sau đó rửa lại lần nữa với Hydrogen Peroxide rồi băng lại bằng băng thun và không quên làm skin traction (kéo da).

Tôi cắt một phần ba cẳng chân phải (cẳng: từ đầu gối xuống cổ chân) và cố giữ đầu gối để sau này Uy có thể sử dụng chân giả dễ dàng. Xong việc không tới 20 phút. Bây giờ thân hình Uy chỉ còn một khúc ngắn ngủn. Ai trông thấy cũng mủi lòng.

Tôi giúp y tá đặt Uy lên giường điều chỉnh, đẩy ra Phòng Hậu Giải Phẫu. Bà chị vợ vào thăm. Thấy thân hình Uy như vậy, ôm lấy tay Uy khóc nức nở khiến mấy người lính phải khuyên bà bình tĩnh vì Uy còn thấm thuốc mê mà làm náo động sẽ có hại. Bà nghe lời, chỉ ngồi sụt sịt khóc thầm.

Nhờ mấy bịch máu đó, mặt Uy hồng hào trở lại. Chung quanh giường, hai người lính Đại Đội 212 đứng canh chừng cho Uy. Một người kể lại:

– Ông bị sốt rét mấy ngày nay, vẫn còn được nghỉ phép mà phải ra cầm quân. Xui thật.

Tôi dặn cô ý tá:

– Nếu chút nữa ông ta tỉnh lại kêu đau, cô chích thêm một ống Demerol 50mg nghe cô Mỹ.

Cô Mỹ dạ nhỏ rồi tiếp tục làm việc thay băng cho những bệnh nhân khác. Trưa hôm đó, tôi đói mà ăn cơm không nổi.

Tôi vẫn còn cảm thấy đau trong lòng vì vụ bắn lầm. Hai bên đang dàn trận để quyết tử mà bên mình lại bị hại do chính người của phe mình gây ra. Hỏi ai không đau lòng. Nếu bị Việt Công bắn cũng còn đỡ tức. Nhưng thôi, để cho đời đỡ khổ, tôi lại đổ cho tại số để tự an ủi mà yên tâm tiếp tục làm việc.

Những miếng tồi tàn

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

    Tôi chưa từng thấy trên thế giới nầy có đầu nậu phân phối thực phẩm nào bất lương như đầu nậu ở Algeciras, Tây Ban Nha. Một thùng bôm, một thùng cam họ tráng trên mặt những trái tươi, phần dưới đáy toàn ủng. Thịt bò họ lấy từ thịt của mấy con toros trong trường đấu ra hay sao mà dai nhách, heo thì mỡ nhiều hơn thịt, cá toàn khúc đuôi. Trứng gà dập và ung đến gần phân nửa, còn gà thì da bầm tím,  thịt bủng xì bủng xịt,  phải xát muối,  gia vị nhiều cho bớt mùi hôi rồi đem chiên thiệt vàng mới ăn được.  Theo nguyên tắc đầu bếp phải kiểm hàng trước khi ký nhận. Nhưng ông đầu bếp trước hải hành đã đúng kỳ về mà hãng không cho người xuống thay. Ông nổi khùng đến nỗi bà vợ phải bay từ Hòa Lan qua Gia Nã Đại thăm. Khi bà xuống tàu, ông đâm ra lười biếng, không muốn làm việc. Tới phiên tôi đổi xuống, thì đồ đạc ông vứt ngổn ngang. Nệm, ra dơ không giặt, phòng không lau chùi, thùng rác đầy nhóc vỏ bia. Kho chứa lương thực thì lộn xộn. Đồ khô ông dồn vô phòng đông đá, có vài món cần đông đá ông nhét vô tủ lạnh. Không biết ông đặt hàng làm sao mà chỉ có ba chục ký lô gà, mười lăm ký cá, ba chục ký heo, trong khi thịt bò ông dến cho một trăm năm chục ký. May cái là khoai tây, đồ khô và rau cải đông đá đầy đủ cho một chuyến đi.
– Thằng đầu bếp trước khùng dữ lắm.  Tôi day lại, thấy ông thủy thủ người Tây Ban Nha đứng bên cạnh mặt đầy râu giọng nói nghe khó chịu. Tôi cười: – Dĩ nhiên, ở trên tàu lâu ngày ai mà hổng vậy.
– Tao hải hành có khi cả năm nhưng có sao đâu. Mặt mày ông ở đó mà trăng với sao!  Chót mũi đỏ bóng như trái cà chua chín, miệng mồm tái ngắt giống cái âm hộ bà già nằm ngang giữa chùn râu bùm xùm. Tuổi chưa đầy năm mươi mà đã lẫn, ăn nói lộn tùng phèo, hay bắt nạt những người mới và ưa đâm thọc sau lưng người ta. Tôi định nói xỏ vài câu cho ông thấm thía sự đời, nhưng thấy chuyện hổng đáng nên bỏ qua. 
* 
Tàu rời Algeciras, vượt Đại Tây Dương sang châu Mỹ mất hơn tháng trời. Bây giờ đang trên đường về lại Âu châu.  Lương thực cạn dần, thịt đông lạnh chỉ còn mỗi một thứ là thịt bò. Hôm ghé Baltimore, tôi với viên thuyền trưởng lên chợ mua thêm thức ăn, nhưng thấy ở Mỹ thứ gì cũng bự, ông chê không mua. Cuối cùng mua được hai thùng rau, ba vỉ trứng. Tôi đề nghị ông mua thêm ít thịt heo, thịt gà và dăm bông. Ông không chịu, biểu tôi ghi đơn đặt hàng để ông gởi về công ty. – Bên Âu Châu đồ ăn vừa rẻ vừa chất lương cao, ông nói, bây giờ trên tàu còn thứ gì thì ăn thứ đó, hễ tên nào ọ ẹ thì ông cứ việc cho tôi biết.  Không hiểu sao ông nói vậy, chớ thật ra đồ ăn trong bên Mỹ rẻ hơn bên Châu Âu và chất lượng thức ăn tươi nào thì cũng ngang nhau. Để làm gương cho thủy thủ, mỗi bữa ăn ông ăn rất ít rồi buông dao nĩa và ngồi ngó từng người. Anh nào ăn nhiều quá ông lưu ý bằng cách đếm từng miếng dăm bông,  phó mát và từng lát bánh mì, làm anh đương ăn có muốn ăn thêm cũng phải buông dao, nĩa. Viên thuyền trưởng tuy có hơi quá đáng, nhưng trên một chiếc tàu buôn loại trung, thủy thủ đoàn đâu trên chục mạng đủ đầu, vậy mà lắm khi có tới bốn năm quốc tịch khác nhau. Từ người có bằng cấp đại học cho tới tên đặc cán mai, hễ đụng tới chuyện ăn uống thì tánh bần tiện thằng nào cũng lộ rỏ như nhau. Trình độ khác, văn hoá khác… nếu thuyền trưởng kỷ luật không nghiêm thì khó mà trị nổi cái đám người tạp nhạp.   Công bằng mà nói, thức ăn trên tàu luôn lúc nào cũng dư, ngoài những tuyến đường dài rau cải tươi hết, phải dùng rau hộp, rau đông đá cho nên chất lượng kém. Nhứt là những ngày sóng to gió lớn, người nào không say sóng thì cũng ương ương khó chịu như đàn bà ốm nghén,  vậy mà hễ ló mặt vô bếp là hỏi: – Bếp, hôm nay cho ăn món gì?  Ngày nào đầu bếp cũng nghe câu hỏi y chang. Người hỏi lúc nào cũng chờ câu trả lời đúng như ý mình ưa thích. Tuy nhiên thực đơn của đầu bếp ít không khi nào vừa miệng cho tất cả mọi người. Nấu nướng khó khăn nhứt trong những lúc biển động và hết đồ tươi. Họ cũng thừa biết mấy tuần qua trong tàu chẳng còn cao lương mỹ vị nào, nhưng hỏi để tỏ thái độ bất bình với đầu bếp chơi vậy thôi. Không muốn cãi cọ lôi thôi, tôi tìm cách giả lả với họ:
– Tui cho ăn thịt bò, từ đây về lại Âu châu các anh sẽ mọc sừng. Mùa xuân ở Tây Ban Nha có đấu toros, các anh có thể qua đó thi tài.  Câu khôi hài của tôi cũng có duyên lắm chớ, nhưng không làm ai cười được hết. Trái lại có tên mặt dài ra và còn chưởi tục nữa.  Theo quy định trên tàu, thủy thủ nào có sinh nhựt đầu bếp phải làm cho một cái bánh kem hoặc bánh táo, nếu có thể được thì bửa ăn ngày hôm ấy dọn thêm một vài món đặt biệt. Có tên thèm ăn quá phịa đại ra cái ngày sinh nhựt và đề nghị đầu bếp làm bánh cho hắn. Khi đầu bếp xem lại trong danh sách thủy thủ đoàn, thấy không phải sinh nhựt sinh nhiếc gì của hắn hết bèn kêu hắn mắn cho một chặp. Từ đó về sau hễ gặp mặt đầu bếp thì mặt hắn ta gầm gầm như là gặp kẻ thù. Có tên vừa xuống tàu lập tức đi tìm đầu bếp kể lễ đủ thứ bịnh trong người và những món ăn hắn ta cần phải kiên cử, rồi đưa ra thực đơn những món hắn ta ăn được, nhưng toàn là những món trong nhà hàng ba bốn ngôi sao. Nếu muốn chiều theo khẩu vị của loại người nầy, phải đề nghị công ty mướn một đầu bếp quốc tế và đặt hết thực phẩm trong siêu thị đem xuống họa may mới đủ phục vụ. Ngày nào đầu bếp cũng chứng kiến vài gương mặt bị bịnh thèm ăn riết cũng chán.  Ðể khỏi phiền phức, trong lúc làm việc Bếp cấm cửa không cho tên nào ló vào. Thỉnh thoảng cũng có vài tên vô bếp thăm chừng hỏi nầy hỏi nọ, bị đuổi ra làm hắn ta bực mình:
– Hỏi cũng có vấn đề sao?  
Xin thưa, nếu chỉ hỏi thôi thì đâu có vấn đề gì. Vấn đề là sau cái câu trả lời của đầu bếp, nếu trả lời trúng ý thì hắn cười tươi hai bàn tay chập lại chà chà miệng xuýt xoa khen ngon, bằng không thì hắn ôm bụng như bị bịnh tim la lâu ngày không trị, mặt nhăng như khỉ ăn gừng, miệng phung phèo phèo và chê thức ăn dơ.   Hồi còn phụ bếp, tôi thấy rất nhiều đầu bếp khó tánh, thủy thủ nào lỡ hỗn láo, mấy ông liền nổi tam bành lục tặc, chửi thề ỏm tỏi. Vì kỷ luật trên tàu nên trước mặt họ nhịn ông, nhưng sau lưng thì rình đổ thuốc rửa chén lên đĩa xà lách hoặc đổ muối vô nồi xúp phá chơi cho bõ ghét. Sau nầy tôi trở thành đầu bếp, thấm thía cảnh làm dâu trăm họ và nhận thấy lối cư xử trịch thượng quá thường bị thiệt cho mình. Tôi tập tánh nhẫn nhục và ôn hòa với mọi người, nhưng với một đám người phức tạp, có muốn giữ được sự công bằng trong việc ăn uống cũng không dễ dàng gì. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, làm gà tôi chặt gà từng miếng nhỏ ướp gia vị, chiên vàng sắp vô đĩa cho đẹp, dọn lên bàn cho lịch sự. Nấy tên ăn trước lựa thịt ngon cho vô đĩa mình chừa lại xương, cánh vụn vặt. Mấy người sau không ăn được bèn bưng dĩa xương vụn vô mắng vốn đầu bếp. Về sau thịt nào mặc kệ, trước khi chiên, nấu cứ đếm đầu người chặt chia đều mỗi người một cục cho xong. Ý vậy mà vẫn lắm chuyện, đôi khi sắp đánh lộn với nhau chỉ vì cái trứng hay cái bánh ngọt. Có nhiều đêm bực mình muốn xách dao qua phòng cắt cổ cái tên dám hỗn láo với tôi và đem xác liệng xuống biển làm mồi cho cá.  Có một thủy thủ người In-đô không ăn được bánh mì, mỗi bữa điểm tâm anh thường xin tôi mì gói. Hôm rày mì gói cũng hết, anh ta đến than với tôi :
– Bên In-đô sáng trưa chiều tối đều ăn thức ăn nóng, còn Âu châu ăn đồ nguội ngắt lạnh tanh. Tôi từ tốn giải thích với anh ta như vầy:
– Tui biết,  ở In đô của anh cũng như ở Việt Nam của tôi ăn ngày ba bữa cơm hoặc khoai lang, nhưng cơm phải nấu,  khoai lang phải luộc mới ăn được, cơm nóng ăn đơn giản với cá khô, xì dầu, ketjap cũng xong. Bên Âu châu có nhiều thức ăn tuy nguội nhưng hợp vệ sinh. Sống tập thể, anh phải tập cho quen với mọi người, chuyện gì tui hổng biết chớ chuyện ăn uống những nước nghèo như mình không bì kịp người ta đâu.  Vì ngẫu hứng tôi lên lớp dạy anh ta hồi nào không hay, đợi đến khi nét mặt anh méo mó dài thòng, tôi mới dừng lại thì đã muộn màng rồi. Món ăn cũng là một trong những thứ biểu hiện văn hóa của dân tộc. Có lẽ tôi đã chạm tự ái dân tộc của anh nên từ đó trở đi anh hay xỉa xói, nói mỉa tôi là người Âu chớ không phải là Việt nữa. Ai cũng có một quê hương để tự hào, anh In đô kia cũng vậy, tôi không thể trách anh ta.  Trứng gà cũng sắp hết nên tôi bớt phần trứng mỗi tuần hai lần trong bữa điểm tâm. Nhưng sáng nào cũng như sáng nấy, ông Tây Ban Nha thức trước hơn mọi người, lấy bánh mì trét bơ để lên đĩa rồi xin tôi một trứng. Ông tự tay chiên vàng, xong bưng vô phòng riêng ăn. Lần đầu tôi không nói, ăn quen ông làm lừng, buộc lòng tôi phải lên tiếng lưu ý. Tức thì mặt ông thụng ra một đống, sau đó tới màn kiếm chuyện:
– Vài ngày nữa tàu ghé Santander, mầy lên bờ mua thêm thức ăn ?
Tôi nói :
– Được, nhưng tiền đâu ?
– Thuyền trưởng.  Ông nói chuyện ăn trớt như vậy thử hỏi làm sao tôi im được. Tôi ngó thẳng cái bản mặt râu nhiều hơn thịt của ông và lớn tiếng:
– Tôi đã nói với ông rồi, đơn đặt thực phẩm tui làm xong và đã đưa ông thuyền trưởng gởi về công ty hôm ở Baltimore. Ông chờ vài hôm nữa sẽ có đồ ngon cho ông ăn, còn bây giờ có gì ăn nấy.
– Nhưng mầy là đầu bếp thì phải lo cho đàng hoàng.
– Ông khỏi phải lo, tui hổng để ông chết đói đâu, nhưng yêu cầu ông đừng vô đây làm phiền tui nữa.  Chẳng lẽ mỗi chút mỗi lên tâu với thuyền trưởng, hơn nữa vì lễ nghĩa Á đông dạy tôi kính trọng người tuổi tác, tôi mới chịu khó giải thích dông dài. Ba trợn cỡ như ông và ông thợ máy, gặp phải đầu bếp thiếu tương tâm hoặc hung dữ mà ăn nói lăng nhăng như vậy nó không chửi vô mặt cũng cho ông ăn đàm và nước miếng hoặc lấy nước trong toilet pha trà, cà phê cho uống.  Chuyến nầy đi có hai ông già, thứ già lựu đạn, ăn nói lộn sòng. Ông thợ máy cũng sắp sỉ sáu mươi. Hôm nọ còn hai cái bánh ngọt cuối cùng, tôi lấy cho thuyền phó ăn, ông biết được bèn chạy xuống bếp gặp tôi, la ó om xòm, nói sao không chia cho ông một cái. Rồi từ đó trở đi, hễ tới giờ cà phê là ông nhắc tới hai cái bánh ngọt. Trên bàn ăn của officer, bữa trưa ăn nóng dọn năm món; buổi sáng, buổi chiều bánh mì đen, trắng, phó mát, thịt nguội, mứt trái cây và nước trái cây đủ loại, sửa cà phê, bánh mì đen trắng… Người In đô thì cơm trắng cá hoặc thịt và rau coi như xong bửa. Thật ra người In đô thích ăn thịt rìa có nhiều mỡ, thứ thịt đầu bếp lạng bỏ họ nhưng xin lại và nhờ đầu bếp ướp gia vị theo bếp In Đô, nhờ có nhiều gia vị nên khi chiên, nấu bốc mùi thơm lừng. Mỗi bữa ăn ông thợ máy cứ ngó qua phòng thủy thủ, mũi hít hít lắm khi chịu không được ông nhào qua bốc ăn và khen ngon rồi vô bếp phân bì.  Hôm nhận được điện tín báo sau chuyến nầy ông được nghỉ hưu, ông mừng rỡ cầm bức điện xuống khoe với mọi người. Sau đó ông vô bếp trong lúc tôi đương chiên thịt. Mặt ông hớn hở như trẻ nhỏ được quà, ông khoe :
– Tấn, dìa chuyến nầy tao được nghỉ hưu. Tôi gắp miếng thịt ra khỏi chảo, chưa kịp bắt tay chúc mừng thì ông vội nói tiếp:
–  Tao hải hành đúng bốn mươi hai năm. Nhắc cái chảo để ra khỏi lò, tôi day ngang bắt tay ông:
– Chúc mừng ông, tuổi ông nghỉ ngơi cũng vừa rồi,  nhưng Chủ Nhựt đừng quên dẫn bà và con Kees đi nhà thờ.
– Dĩ nhiên, dĩ nhiên… Chợt nhớ ra, ông nói :
– Nhưng nhà thờ đâu được phép dẫn chó vô.  Có lẽ tôi phải nhắc chuyện con Kees trước khi tiếp tục chuyện của ông . Hơn mười năm về trước. Ông thợ máy cuối độ tứ tuần, tánh tình ông tuy có hơi nhỏ nhặt nhưng chưa quá đáng như bây giờ. Thời gian trôi qua như con nước chảy, ông đã già, còn tôi thì sấp sỉ bốn mươi. Ông cưới vợ Bồ Đào Nha, cư ngụ ở thủ đô Lisboa. Có lần ông tâm sự, vì sợ hao tốn và ngại cực, bà không chịu sanh con, nhưng nuôi một con chó nhỏ xíu đặt tên nó là Kees. Dạo đó tàu đi tuyến đường Lisboa – Angola. Hễ mỗi lần tàu về Lisboa, bà thường dẫn con Kees xuống thăm ông. Một bữa tôi đương dọn dẹp, Kees đi vô ủi mỏ, hít hít dưới chưn, sẵn thức ăn thừa tôi liệng xuống cho. Liệng bao nhiêu nó đớp hết bấy nhiêu… Ăn no bụng, Kees chạy đi đâu tôi cũng không để ý. Đến lúc bà phát hiện con chó nằm ngửa chổng bốn cẳng lên trời, miệng chảy nước, hơi thở đứt đoạn, bà tá hỏa tam tinh chạy vô phòng bếp, hỏi tôi :
– Bếp, bếp, hồi nãy ông cho con Kees ăn gì ?  
Tôi nói :
– Tui cho nó ăn đồ thừa.
– Không được, không được !
– Tại sao không ?
– Con Kees có thức ăn riêng.  Tức thì bà chạy kêu ông ôm con chó lên nhà thương cứu cấp. May mà con Kees được cứu sống, bằng không tôi chắc phải ra tòa, vì đối với ông bà sinh mạng con Kees còn quí hơn mạng người nữa. Mỗi lần đổi xuống gặp ông, tôi hỏi thăm sức khỏe của bà mà không hỏi đến con Kees thì ông cũng tự nói ra. Mới đây ông cho tôi biết sức khỏe của con Kees yếu lắm, mới vừa rụng hết mấy cái răng. Như vậy con Kees sẽ cùng về hưu với ông luôn một thể.Trở lại chuyện với ông, tôi nói :
– Tôi nghe nói ở Âu châu chó chết chủ mướn linh mục đọc kinh trước khi chôn, vậy thì chó cũng biết nghe kinh chớ. Ông giơ tay gạt ngang trán một cái:
– Mấy người đó là mấy người khùng, tao thì không như vậy.  Thấy ông ngây ngô trả lời những câu khôi hài của tôi giống y như thiệt, chợt nhiên tôi nghe buồn buồn trong dạ. Nhìn mặt ông nhăn nheo, da tay sần sùi như rắn lột, hơi thở tỏa ra mùi ống cống làm tôi liên tưởng đến một xác chết. Còn sống chung chạ với nhau, nhỏ nhen, tham lam, ích kỷ.  Đến cuối cuộc đời đầu óc  lẫn lộn, tối tăm nằm chờ xuống lỗ. Giờ đây tôi mới thấy thấm thía câu sanh già bịnh chết của nhà Phật.  Thiệt ra ông và ông già Tây Ban Nha làm ra vẻ mình là quan trọng vậy thôi chớ ăn uống có là bao. Muốn nói chuyện ăn uống nhiều thì hãy nói đến mấy thủy thủ trẻ. Một ngày tôi làm được có ba ổ sandwich, mỗi ổ dài hai tấc tám, bánh dành xắt miếng để ăn điểm tâm và ăn dậm thêm buổi chiều. Mấy ông con thấy đồ ăn còn ít,  sợ chết đói hay sao mà mỗi đêm lấy ăn hơn cả ổ bánh mì, nửa ký phó mát, một đĩa dăm bông. Hết dăm bông, phó mát, mấy ông ăn qua mấy hũ mứt trái cây và đậu phộng nghiền… Tôi biết nhưng làm lơ. Một hôm sơ ý làm sao hổng biết, để cho ông già thợ máy bắt gặp. Sáng hôm sau ông tâu lên thuyền trưởng. Ngay ngày hôm đó, thuyền trưởng đề nghị tôi sau giờ ăn chiều đem tất cả đồ ăn để vô phòng lạnh rồi khóa cửa kho lại. Thức ăn mà đem dấu như mèo dấu cứt, thiệt tình thì cũng khó coi. Nhưng lịnh của thuyền trưởng biết làm sao bây giờ.  Ngồi trong phòng tôi vẫn cảm được cái lạnh mùa xuân trên miền bắc Đại Tây Dương. Gió thổi ào ào, sóng ập thành tàu, nước biển văng lên va vô cửa kiếng xào xạc. Không gian đen thẫm một màu và con tàu vẫn ngả nghiêng theo triền sóng. Có tiếng nắp vung rớt xuống sàn bếp nghe cái xèn. Tôi đứng dậy định đi xuống coi chuyện gì, nhưng kịp sựng lại, vì mũi tôi vừa nghe mùi thơm của mì ăn liền. Khỏi cần xuống bếp, tôi cũng thừa biết có một vài thủy thủ khi biết thức ăn sắp cạn,  xống kho chôm mì gói để dành, chờ mọi người ngủ bèn lén xuống bếp nấu ăn. Để anh bạn nào đó ăn cho ngon miệng, tôi tắt đèn, leo lên giường trùm mền. Trong khi thiêm thiếp, đầu óc tôi cứ chập chờn so đo. Vốn sống và lớn lên một đất nước nghèo và trong thời kỳ chiến tranh. Tôi cứ nghĩ trong cơn loạn lạc đói,  khát mới có chuyện miếng ăn đã làm con người trở nên thấp kém. Chớ tôi đâu có ngờ ở nơi thức ăn  thừa mứa, cũng có loại người chỉ vì miếng ăn mà trở nên bần tiện đâu khác gì. 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Những mảnh đời lưu lạc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

  Năm 1993. Giữa lúc thế sự nước Nga thay đổi, ở Saint Petersburg ngày nào cũng nghe tin trộm cắp, hãm hiếp, giết người cướp của. Vậy mà Jopy coi như pha, hết giờ làm việc anh lập tức thay quần áo, bỏ bữa ăn chiều, khoác áo lạnh đi lên phố. Suốt đêm theo gái, sáng sớm mới lót tót xuống tàu. Jopy là thủy thủ người In-đô, đã hơn bốn mươi tuổi rồi mà anh vẫn không vợ con, không nhà cửa, dường như cuộc sống của anh chỉ biết có ăn nhậu và chơi đĩ. Mấy hôm trước lên hội quán giành gái sao hổng biết, anh lấy vỏ chai vodka đập lên đầu một thủy thủ Ba-lan phung máu. Người anh nhỏ thó và ốm nhom như con khô hố. Gặp phải mấy tay Ba-lan to như Kinh-công, hè nhau đập anh một trận rồi khiêng anh liệng xuống kinh, trong lúc dưới dòng băng còn tráng mỏng trên mặt nước. May nhờ nhân viên hội quán kịp thời thả dây xuống kéo anh lên, lấy quần áo khô cho anh mặc. Chờ anh tỉnh táo tôi mới gọi tắc xi đưa anh về. Bị một trận đòn nhừ tử vậy mà anh vẫn tỉnh bơ, hỏi tôi:
– Mầy thấy thế nào? Tôi nói:
– Trong lúc người ta cởi áo quần anh ra thay,  tui thấy con cu anh teo lại còn một thẻo da nhỏ xíu.
-…  Hồi hôm thức thâu đêm hành lạc hay sao mà sáng xuống tàu người anh phờ phạc, uể oải, tóc tai rối bù, mắt đỏ ngầu. Bước vô tàu chưa kịp cởi áo khoát anh vội đi thẳng qua phòng bếp. Trong lúc tôi đương xắt thịt dâm bông, anh hỏi xin một tách cà phê. Tôi ngừng tay day qua rót cà phê cho anh. Một tay anh đón lấy tách cà phê, một tay anh móc túi quần lấy ra  miếng giấy chìa cho tôi, miệng cười chúm chím ra chiều đắc ý lắm.
– Mầy đọc đi. Tôi mở mảnh giấy ra xem, một địa chỉ viết bằng chữ Nga tên người là Le Thi Trinh. Tôi đoán chừng nếu người viết đổi tên họ cho giống Tây thì đọc là Trịnh thị Lệ hoặc nhà quê một chút là Lê bằng không cũng có thể là Lê Thị Trinh. Tôi trả miếng giấy lại cho anh: – Một đàn bà Việt Nam. Tôi day ngang xắt thịt tiếp. Thấy tôi thản nhiên trước sự khám phá mà anh cho là độc đáo và có lẻ anh nghĩ tôi bị chạm tự ái dân tộc. Anh liền đổi thái độ, cười giả lả:
– Chắc cô ta là người Bắc Hàn. Tôi xắt xong miếng thịt, sắp vô dĩa rồi ngước lên, hất hàm và cười một cái:
– Ê, bộ đàn bà Việt Nam hổng biết làm đĩ sao. Nhưng anh gặp ả nầy ở đâu?
– Ở trên phố. Trước khi dợm bước anh còn  nói một câu:
– Người Việt ở Saint Petersburg đông lắm.  Khỏi đợi Jopy nói tôi cũng biết, mấy năm nay nhà nước Việt Nam đưa hàng trăm ngàn công nhân sang nước ngoài lao động, nhiều nhứt là ở Nga và khối Ðông Âu và qua Á-Rập tôi cũng gặp người Việt lao động bên đó.  Mấy ngày sau, chiều nào Jopy cũng này nỉ tôi đi theo anh để gặp mặt cô gái đồng hương nào đó. Trên bước đường luân lạc tôi đã nhiều lần chạm mặt với những cô gái Việt làm tiền ở nhiều quốc gia khác nhau chớ không riêng gì trên nước Nga nầy. Gặp nhau như gặp người tình trong hoàng cảnh éo le, lấm la lấm lét, ngượng nghịu nói vài câu rồi cô ta viện cớ nầy cớ nọ vong mất. Ước lượng cuộc gặp gở không mấy bình thường, tôi dứt khoát không đi theo Jopy và cũng không muốn anh nhắc tới chuyện cô Le Thi Trinh nào đó trước mặt tôi nữa.  
*
Cuối tháng ba, những mảnh băng bể trôi tản mạn trên dòng sông Neva.  Dọc trên lộ tuyết tan thành nước pha bùn đọng vũng theo những ổ gà. Chiếc xe bus chạy rù rù trên đường đá lổm chổm, thỉnh thoảng xụp ổ gà kêu cái rầm, bánh xe dẫm bùn văng tứ tung và thân xe rung rinh nhún lên nhún xuống kêu ken két.  Mau thật, mới đó mà tôi đã đi lại nơi đây hơn bốn tháng trời. Bây giờ tôi đã biết dùng xe công cộng, mấy anh tắc xi không còn cơ hội chặt tôi với giá trên trời dưới biển nữa. Hôm mới tới tôi đổi một trăm Mỹ-kim ra một ngàn rúp, tiền rúp tôi dành mua vé xe hoặc mua bia hơi rót bán trong trong những chiếc keo theo mấy sạp bên lề đường. Những món hàng rong ở đây rẻ như bèo, vì vậy hơn bốn tháng qua tôi xài chưa hết một ngàn rúp.  Xe dừng lại rước khách. Một người đàn ông cao ráo có bộ râu quay nón tỉa đều, gọn gàn trong bộ đồ Jean đã bạc màu, vai mang ba lô, tay ôm tây-ban-cầm bước lên. Trên xe còn nhiều ghế trống nhưng không ngồi, ông đứng ở khoảng giữa, một tay vịn thành ghế một tay chỏi lên cán đờn. Nhìn ông tôi nghĩ ngay tới một nghệ sĩ giang hồ rày đây mai đó. Có lẻ thấy tôi nhìn ông với vẻ thân thiện nên ông cười một cái và hỏi tôi bằng tiếng Anh:
– Du lịch?
Tôi nói bừa:
– Dà. Bất chợt ông đưa tay khoa một vòng bên ngoài:
– Hồi trước không như vầy đâu. Tôi ngó theo hướng tay ông ta, hai bên đường kẻ mua người bán tấp nập, nếu không có đống rác tổ bố nằm bên góc đường thì khu chợ trời cũng sạch sẽ khang trang như những chợ trời ở các quốc gia tân tiến khác. Tôi không biết ông muốn phê phán về những đống rác nằm bên đường hay cảnh bán buôn xô bồ xô bộn mà trước đây nhà nước xã hội chủ nghĩa không cho phép. Nhiều năm lăn lộn đó đây, cuộc sống đã dạy cho tôi nên tỏ lòng thân thiện với mọi người nhưng không nên đẩy đưa câu chuyện quá đà, nhứt là với những người chưa quen biết. Tôi đáp lời ông bằng nụ cười và những cái gật đầu. Xe dừng trước nhà hát trên đường Nevskiy Prospekt, tôi khoát tay từ giả ông nghệ sĩ và cùng vài hành khách bước xuống xe.  Hôm nay trời đẹp lắm, đi dưới nắng vàng rực rở tôi mới hay mùa đông đã đi qua, trên cành cây lá non vừa nhú và những loài hoa nở sớm bắt đầu khoe sắc. Trên các ghế đá công viên, nhiều người ngồi đọc sách và những đôi trai gái dắt dìu nhau dạo cảnh. Trông ai cũng vui tươi, gần gũi với thiên nhiên, không còn lẫn trốn tiết trời như mấy tháng mùa đông.  Trong nhiều cửa tiệm lớn vắng người và ít hàng hoá, trái lại ngoài đường phố người bán buôn chen chúc trong đám khách bộ hành và bày biện hàng hoá chiếm gần hết lối đi. Có rất nhiều người Việt, đứng nhiều nơi trong những khu phố đông người rao bán các món hàng như quần áo, vải vóc, nón kết, túi xách và nhiều món linh tinh khác sản xuất tại Việt Nam. Tôi rất muốn hỏi chuyện với những người đồng hương, nhưng còn ngần ngại. Chợt nghe giọng Bắc kỳ thanh thanh rành rọt của người con gái ở phía sau: – Sang, bên nầy nắng chói quá, mình qua bên kia đường đứng đi.  Tôi ngoái lại thấy một người con trai vắt áo quần trên cánh tay đứng xề qua xề lại mời khách qua đường mua, người con gái lui cui thu dọn đồ đạc để trên tấm vải trải trên mặt lộ bỏ vô chiếc túi xách lớn. Cạnh bên một em bé ngồi bẹp dưới nền gạch mân mê những món đồ chơi, chợt em bé thảy trái banh lăn ra lộ. Tôi liền rượt theo lượm trái banh trả lại cho em bé. Thấy người lạ em khóc ré lên.
– Hương Giang nín!
– Cô gái nạt đứa bé xong, ngoái lại nhìn tôi và nói lời cám ơn bằng tiếng Nga. Tôi cười và nói lại bằng tiếng Việt
– Tên của cháu nghe rất là thơ mộng. Người con gái trố mắt nhìn tôi từ đầu tới chưn như nhìn con quái vật, một hồi sau cô ta hỏi tôi:
– Anh là người Việt?
– Cô nghĩ tui là người gì?
– Trông anh giống Nhật đấy. Anh sang đây du lịch à?
– Không, tui đi làm ăn. Cô gái cúi xuống lẹ làng lượm những món đồ còn lại nhét hết vô giỏ rồi xốc bé Hương Giang lên nách, day qua tôi cô nói:
– Thế thì anh về nhà em chơi nhé. Sự hấp tấp của cô làm tôi lúng túng:
– Cô, cô còn bán đồ mà, để khi khác cũng được.
– Không có chi, bán buôn thì tụi em bán suốt năm, lâu lâu gặp người mình một lần, nghỉ một buổi có sao đâu. Nói xong cô day qua người con trai còn đứng ngoài đường kèo nài giá cả với một bà già.
Cô gọi:
– Sang! Anh Sang đi về. Không đợi anh kia đáp lời và cũng không hỏi coi tôi có chịu theo cô ta về nhà không. Cô day ngang nói với tôi như ra lịnh:
– Đi, mình đi anh. Tay bồng đứa bé, tay xách giỏ đồ, cô đi te te một nước. Trước sự vồn vã của cô gái lạ làm tôi lính quýnh. Không biết làm sao tôi bèn chạy theo hỏi: – Mà nè cô tên gì?
– Yến.
– Nhà cô xa đây hông?
Cô ta chỉ tay về phía con đường trước mặt:
– Phía sau đuờng kia kìa. Nghe nói người Việt ở Nga sống khá phức tạp, cộng thêm sự đường đột của cô gái làm tôi hơi lo. Tôi kiểm lại tiền bạc, trong túi còn năm chục Mỹ kim và số tiền rúp không đáng kể. Tay không đeo cà rá, đồng hồ lỡ gặp xui xẻo cũng chẳng hề gì, thôi đành nhắm mắt đưa chưn bước theo cô ả.  Đi một đỗi tới một chung cư. Yến đẩy cửa bước vô, tôi cũng bức theo sau. Từ ngoài sáng bước vào chưa quen mắt nên tôi không thấy gì hết, tôi đẩy hé cánh cửa bên ngoài, ánh sáng lọt vô lờ mờ. Tôi thấy Yến đã tới cửa thang máy bấm nút đứng chờ, tôi vừa bước tới thì cửa thang vừa mở ra. Chúng tôi bước vào thang, bên trong cũng không có đèn, tối  thui. Mùi xú uế nực nồng của một người say rượu ói mữa và tiểu tiện ngay dưới sàng, làm dẫm lên trơn nhớt dưới gót dày, tôi rùng mình một cái và nghe cổ họng ơn ớn.  Thang dừng lại tần thứ sáu. Yến dẫn tôi vô một căn phòng hẹp và mời tôi ngồi trên bộ sa lông đặt giữa phòng bằng vải đã thâm kim, bên cạnh chiếc bàn nhỏ để một cái nôi, xung quanh đồ chơi con nít vứt ngổn ngang, sự bề bộn làm cho căn phòng đã nhỏ lại thêm chật chội. Mới vô tôi tưởng đây là phòng khách. Nhưng không phải, một tấm ván vuông đóng ép vô tường, tới bửa ăn hạ tấm ván xuống làm mặt bàn ăn, tối kéo chiếc sa-lông ra thành chiếc giường ngủ cho hai vợ chồng và đứa con.
Tôi hỏi:
– Ăn ở như vầy cô không thấy chật chội lắm sao?
Yến nói:
– Không anh, chúng em ở như vầy là tốt hơn nhiều người đấy. Sang khệ nệ ôm gói đồ từ ngoài bước vô, tôi nhìn qua Sang, chưa kịp chào thì Yến vội giới thiệu:
– Anh Sang, là anh nuôi của em.
Tôi tò mò hỏi:
– Còn ông xã cô đâu? 
– Đi làm chưa về.
– Ảnh mần gì?
– Anh ấy lái xe điện, cũng sắp về rồi đấy. Yến đứng ôm bé Hương Giang. Sáng bước vô ngồi đối diện và gót trà mời tôi. Sau hồi nói chuyện tôi mới biết anh Sang qua Nga du học từ năm 1988, đã đậu bằng kỹ sư canh nông và ở lại làm việc cho một cơ quan nhà nước. Vừa qua tình hình chánh trị nước Nga thay đổi và làm cuộc sống anh cũng theo đó mà đổi thay. Anh nghỉ làm cho nhà nước, ra ngoài cạy cục xin được vài mẫu đất canh tác; nuôi gà, nuôi thỏ và cuốc đất trồng khoai tây. Những ngày rảnh rổi anh theo Yến bán chợ trời. – Ở nước mình đất đai phì nhiêu, màu mỡ và thời tiết thuận lợi suốt năm. Còn bên nầy mần được mấy tháng mùa hè, còn lại gió lạnh và tuyết đóng băng. Anh muốn mần ruộng thì về bên mình mần dễ hơn bên nầy chớ.   Có lẻ những lời bọc trực của tôi làm anh tự ái, nên mặt anh đanh lại và im lặng không nói thêm gì. Bất chợt tôi nhận thấy mình quá hồ đồ, dù sao tôi với anh mới gặp lần đầu, nói năng cũng phải giữ phép lịch sự, có đâu xối xả như tát nưóc vô mặt người ta. Tôi bèn lảng sang chuyện khác để che dấu sự ngượng ngùng. Chỉ tay qua những túi đồ, tôi hỏi:
– Hàng nầy sản xuất tại Việt Nam hả anh?
– Vâng.
– Bên nhà gởi qua cho anh hay lấy hàng của người khác? Sáng chưa kịp trả lời thì Yến chen vào:
– Không anh, bọn em lấy trên Sứ đấy.
– Sứ?
Thấy tôi ngớ ngẩn, Yến giải thích:
– Sứ là sứ quán của Việt Nam đấy anh. Từ trước tới nay tôi đã đi qua rất nhiều sứ quán. Tôi thấy trong toà sứ nước ngoài có nhân viên làm việc và một người đại diện cho quốc gia được gọi là ông đại xứ. Theo lời Yến, tôi có thể hình dung ra toà đại sứ Việt Nam ở Moscow lúc đó giống y như một cửa hàng buôn bán sỉ và lẻ mà ông đại sứ là chủ tiệm. Yến đưa bé Hương Giang cho Sang bồng, rồi cô lấy ấm nấu thêm nước. Tôi với Sang nói chuyện trời trăng mây gió một hồi thì Yến bước vô, đi theo Yến một gã đàn ông Nga cao lêu nghêu, tay ôm cặp táp. Yến chỉ tôi và nói gì đó bằng tiếng Nga, chợt nhiên cô day qua tôi, hỏi: – Anh tên gì vậy? Suốt cả buổi trò chuyện vậy mà cô không biết tên tôi là gì, nếu không hỏi tôi cũng quên tuốc luốc. Tôi nói: – Tôi tên Tấn. Tức thì cô ta day ngang tiếp tục giới thiệu. Sau đó gã đàn ông đi tới chìa tay ra bắt tay tôi. Yến day qua tôi: – Đây là Stax, chồng em. Stax bước qua tủ lấy chai Vodka ra rót mời tôi và Sáng uống. Từ đó trở đi mỗi lần về Rotterdam trở qua tôi thường nghé thăm gia đình Yến và cho Hương Giang bánh kẹo. Lần lần chúng tôi trở nên thân thiết.   Trong thời gian nầy ở Saint Petersburg còn nhiều chuyện phức tạp. Như ai muốn điện ra nước ngoài thì phải đặt và trả tiền trước hai ngày – theo quy định mỗi lần đặt được gọi tối đa là ba mươi phút – tới ngày hẹn trở lại ngồi ở phòng chờ đợi, đợi loa kêu tên và chỉ số phòng cho vô gọi, người nào trễ hẹn coi như mất tiền. Nhân viên bưu điện nói tiếng Nga, vì vậy mỗi lần muốn điện thoại về gia đình tôi phải nhờ Yến đặt dùm và luôn cả việc theo tôi làm thông dịch. Tôi rất ái ngáy trong lòng khi thấy vợ chồng ngồi chờ hàng giờ đồng hồ. Hỏi hai người có khó chịu không. Yến vui vẻ trả lời, chuyện chờ đợi ở nước Nga là chuyện thường thôi.  
Chuyến nầy bị mưa dầm, hàng hoá không lên được, tàu đậu chờ hơn hai tuần lễ rồi. Sợ người nhà nóng lòng muốn biết tin, nên hai hôm trước tôi nhờ Yến đặt điện thoại dùm. Nhân tiện cuối tuần nầy Stax được nghỉ, Yến giao cho Sang bán chợ trời, hai người mời tôi đi phố và thăm vài cảnh đẹp của Saint Petersburg.  Nhưng hôm ấy mưa nhiều quá, tôi đội mưa từ trạm xe bus vô tới nhà Yến thì đầu cổ ướt mem. Vừa bấm chuông Stax liền ra mở cửa. Như chờ sẵn, chưa kịp mời tôi ngồi anh đã giải thích chuyện gì mà nói bô lô ba la, tay chỉ trỏ tứ lung tung. Tôi chẳng hiểu gì hết, chỉ hơi ngạc nhiên vì không thấy Yến ở trong phòng, thay vào đó là một cô gái lạ ngồi chơi với Hương Giang. Thấy tôi lớ ngớ, cô ả bèn đứng dậy chào. Cô lấy khăn cho tôi lau nước, và mời tôi ngồi xuống. Stax lại mở tủ lấy ra một tờ giấy xếp làm tư đưa cho tôi. Tôi cầm lấy rồi mở ra, đó là thư của Yến. “Anh Tấn, Em có việc đột xuất phải đi Mockba, không gặp được anh em rất buồn và rất tiếc. Em đã đặt điện thoại cho anh vào lúc bảy giờ chiều, anh tới nghe điện thoại, có chị Xuân theo làm thông dịch và dẫn anh đi chơi. Thôi nhé em vội quá, mười một giờ rưỡi tối tàu chạy rồi, hẹn anh vào ngày Chúa Nhật. Chúc hai người đi chơi vui vẻ…em đi đây. Yến!    Tôi ngó qua người con gái, cô ta nở nụ cười tươi như sẵn sàng chờ nghe tôi nói.
Tôi hỏi:
– Yến nhờ cô giúp tui hả cô Xuân?
– Vâng. Tôi nhìn kỹ người con gái hơn, mặt xương, răng hô, thân hình ốm, ngực lép xẹp. Xuân vẫn giữ nụ cười tươi, nhưng tôi vẫn không tìm ra nét duyên dáng nào hết. Stax pha trà để lên bàn rồi bồng bé Hương Giang cho Xuân rảnh tay tiếp chuyện. Tôi nhìn ra ngoài cửa kiếng, vẫn còn mưa rầu mưa rỉ, biết đi đâu bây giờ. Tôi day qua Xuân:
– Mưa nhiều quá, đi chơi hổng được đâu, nếu cô có việc thì cứ đi mần, tui trở xuống tàu, chiều tui lên nhờ cô giúp tôi đi bưu điện. Xuân nói với vẻ thân mật:
– Không, hôm nay em nghỉ, nếu anh không có chuyện gì thì mời anh qua ốp chơi.
– Ốp! Ốp là gì vậy?
– Là chỗ ở của bọn Xuân đấy. Hôm nay tôi nghỉ buổi chiều, trở xuống tàu cũng không làm gì, thôi thì theo cô ả chơi, luôn tiện biết thêm cuộc sống của người Việt ở ốp ra sao.
– Từ đây qua chỗ cô ở có xa lắm hông?
– Khoảng mười phút xe điện thôi anh.
– Vậy thì mình đi. Tôi và Xuân từ giã Stax đi ra, trời vẫn còn mưa tần tả, chúng tôi đội mưa đi ra trạm xe điện.   Ốp là chung cư dành cho những người Việt sang đây lao động. Chiều dài của mỗi căn phòng khoảng tám chín thước, bề ngang chừng hơn ba thước. Theo lời Xuân thì trước đây cả ngàn dân lao động ở chung cư nầy, mỗi phòng chứa ba bốn người. Vừa qua nhiều người hết hợp đồng về nước. Còn lại khoảng hai trăm người, nên mới được ở rộng rãi như vầy, tức là một phòng chứa hai người. Đây là phòng ngủ và phòng ăn chung. Còn phòng tắm, cầu tiêu, nhà bếp thì xài tập thể.   Xuân mời tôi ngồi chơi, cô xách ấm ra bếp nấu nước. Căn phòng lành lạnh, cảnh vật lờ mờ và mùi mốc meo thoang thoảng. Bất chợt tôi nghe nhiều tiếng động rột rẹt trong góc phòng, tôi ngó qua những thùng giấy vuông đóng kín bằng băng keo, được chất ngăn nắp chiếm một phần tư căn phòng và cao đụng la-phông. Tiếng động mỗi lúc một nhiều và có cả tiếng chuột kêu. Tiếp theo từ thành giường một chú chuột bằng nữa cườm tay bò ra, rồi hai trự ở góc phòng bò tới, ba bốn con ở dưới gầm giường….cuối cùng xuất hiện một bầy chuột giữa nhà, chúng lượm cơm đổ. Bộ lũ chuột không biết tôi là người hay sao mà cứ ngang nhiên trước mặt giành ăn và còn cắn nhau nữa. Tôi ngồi bất động nhìn bầy chuột cho tới khi Xuân mở cửa phòng, tiếng động của cánh cửa làm bầy chuột giựt mình ùa nhau chạy một lượt rồi biến mất vô chồng thùng giấy. Xuân xách ấm nước nóng bước tới bàn mở bình trà, vừa châm vừa hỏi:
– Làm gì mà ngồi trần tư vậy?
– Nhìn bầy chuột diễn binh chớ đâu có trầm tư.
– Ối giời, gì chớ chuột ở đây thiếu gì, có đêm ngủ nó bò lên cắn chân đấy. Tôi không muốn nói tiếp chuyện chuột, bèn lảng sang hỏi chuyện người:
– Hôm nay cuối tuần mà sao trong nầy vắng teo ? Xuân rót nước đưa qua tôi:
– Những người làm ca vẫn còn làm chứ anh, còn những người được nghỉ thì họ đi ra bán chợ trời.
– Người ở chung với Xuân làm ca hay đi buôn bán?
– Chị Lan ở chung với em, chị ấy sung sướng lắm, cuối tuần đi chơi với người yêu.   Xuân rót thêm trà và không hiểu sao cô đem chuyện của chị Lan nào đó kể cho tôi nghe. Theo Xuân thì ở bên nhà chị Lan có chồng, sang đây cặp bồ với một anh buôn bán mánh mung, anh ta chạy hàng từ Nga qua Ba Lan, từ Ba Lan mua hàng đem về Nga. Hèn chi chỗ ở của chị Lan trang trí đồ đạc trông đẹp mắt và sang trong hơn chỗ của Xuân. Trên vách phía trong chiếc giường treo tấm poster khổ lớn của Sylvester Stallone ở trần, tay mang găng chuẩn bị đánh võ đài, cạnh bên một học băng nhạc của các ca sĩ Việt Nam ở nưóc ngoài và có cả một giàn máy hát để trên đầu giường. Tôi chỉ qua chồng thùng giấy hỏi Xuân:
– Thùng đựng gì mà nhiều vậy?
– Hàng của người yêu chi Lan đấy anh.
– Chi Lan ăn nên làm ra nhờ có người yêu, sao cô không tìm một anh để cùng nhau làm ăn cho lên với người ta.
– Có người yêu phiền phức lắm.
– Thiệt phiền hông đó?
– Thật chớ anh, phiền nhứt là mỗi khi chị Lan dẫn người yêu về ngủ lại đêm. Tôi nhấp một miếng trà thấm giọng:
– Ừa hén, phòng ngủ trống trơn như vầy cũng bất tiện lắm.
Xuân nói rất tự nhiên:
– Lúc đầu hai người làm em khó ngủ, nhưng lâu dần rồi thấy bình thường nhưng… Cô ta không nói nữa. Tôi cũng không muốn cô kể tiếp câu chuyện:
– Mọi chuyện trở nên bình thường, như vậy là tốt lắm rồi.
– Sống tập thể mình phải thông cảm với nhau chứ anh.   Mắt Xuân mơ màng và đưa lưỡi liếm vành môi. Tôi nhìn ra ngoài khung cửa để tránh cái nhìn nóng bỏng của cô. Mưa đã tạnh nhưng gió vẫn còn mạnh đủ sức xô đẩy la liệt những cành cây. Nước mưa còn đọng trên cành lá bị gió vũ văng tạc vô vách ván rao rào. Bên ngoài sống động lạnh lùng. Trong phòng yên lặng đến đỗi nghe rõ tiếng chuột kêu. Bây giờ tôi chợt thấy bất tiện khi ngồi đây nói chuyện với Xuân.
Tôi đề nghị:
– Xuân nè, hổng ấy cô dẫn tui đi một vòng rồi mình kiếm cái gì ăn.
– Anh đói hả, để em nấu cơm anh ăn.
Tôi lắc đầu:
– Không, tui muốn cô dẫn tui đi giới thiệu một vài món ăn Nga đó thôi.
– Đi nhà hàng tốn tiền lắm.
– Không sao, ra phố ăn cho gần bưu điện. Không muốn Xuân nói thêm nữa, tôi hớp hết nước trà và bưng tách đứng dậy hỏi chỗ nào rửa tách được. Xuân chồm lên dằng tay tôi xuống.
– Anh cứ để đó và ngồi chờ em thay đồ. Không biết vì sống tập thể riết rồi quen, hay gì một nguyên do nào khác. Xuân mở tủ lấy áo, quần rồi tự nhiên dạy mặt vô vách cởi đồ ra thay. Nhìn thân thể gầy gò, cặp giò thiếu thịt, mông dẹp lép mỗi khi cúi xuống lòi cả bộ xương xường. Trông dáng vẻ của cô tôi tưởng tượng ra một đất nước Việt Nam ốm đói đương hiện diện trên xứ lạ quê người. Xuân bận quần áo xong, tới đứng trước mặt tôi, cô ta hỏi:
– Chị ở nhà đẹp lắm anh nhỉ? Tôi không muốn mất thời giờ nên vừa đứng lên vừa nói:
– Có chị nào đâu mà đẹp với xấu.   Nói xong tôi bước ra mở cửa. Chúng tôi đi dọc theo hành lang, có lẻ thấy tôi lạ nên vài người đưa mắt nhìn. Nổi bật nhứt là trước cánh cửa của một căn phòng, hai bên giăng giấy hoa đủ màu, trên mặt cửa dán chử Tân Hôn bằng giấy bóng màu đỏ. Chứng tỏ có một đôi tình nhân vừa mới được tập thể cấp giấy sống chung.  

*

Mới ngày hôm qua nhiệt độ mười hai, mười ba trời còn ui ui, lành lạnh, bỗng nhiên hôm nay tăng lên tới hai mươi lăm độ. Mặt trời chói chang, gay gắt khó chịu như bị xát muối ngoài da. Mùa xuân vội vã đi qua, mùa hè chợt tới. Tôi trở lại Saint Petersburg chuyến nầy cũng là chuyến chót. Trong những ngày ở đây, tôi tranh thủ thời gian lên thăm và từ giã những người quen. Trước khi lên gặp các bạn, tôi ngỡ câu chuyện sẽ ngưng lại và chấm dứt. Cuộc sống đã tập tôi thành thói quen, đếm một bến lạ vui chơi vui vẻ, tự nhiên, khi rời đi lòng khỏi vấn vương. Nhưng không ngờ khi tôi ngỏ lời từ giã. Yến rưng rưng buồn:
– Anh đi rồi chắc tụi em không còn gặp lại anh nữa đâu. Tôi cười và nói một câu xưa như đồ cổ:
– Trái đất tròn mà lo gì.
– Phải chi anh ở đây tới Đêm Trắng chúng em dẫn anh đi chơi, vui lắm.
– Đêm trắng là đêm gì?
– Người Nga có tục lệ, hàng năm tới ngày đầu của mặt trời không lặng, họ đổ hết ra đường, uống rượu, ca hát suốt đêm và chiếc cầu bắt ngang sông Neva được quay lên trông đẹp lắm… 
Theo tôi biết thì không phải riêng vì nước Nga, phần đông những động vật sống về phía bắc bán cầu, chịu những tháng dài sống trong cảnh mờ tối. Vì thiếu mặt trời, nên khi ánh sáng trở lại thì lá hoa khoe sắc, chim hót ríu ra ríu rít trên cành; hưu, nai, khỉ đột đùa giỡn trong rừng sâu và con người ta mở tiệc nhậu nhẹt vui tươi chan hoà với thiên nhiên tươi sáng.  Không ở lại tới Đêm Trắng thì Yến mời tôi lên nhà chơi vào trưa chủ nhựt. Tôi sắp xếp lên đúng hẹn. Khi tới nơi tôi thấy bạn bè tụ tập đầy đủ trong phòng.  Stax xin nghỉ một bửa, anh làm hướng dẫn viên. Yến bồng bé Hương gian, còn Xuân đi theo làm thông dịch. Sang từ nông trại ra có đem theo gà và thỏ, anh tình nguyện ở nhà nấu bếp, chờ chúng tôi về thưởng thức tài nghệ nấu nướng của anh.  Stax đưa ra một vài nơi thắng cảnh trong thành phố cho tôi lựa chọn. Bảo tàng viện Hermitage nằm bên bờ sông Neva thì tôi đã đi hết một ngày mà chỉ xem được khu mỹ thuật với cung điện chạm trổ tinh vi bằng vàng, tranh ảnh thu thập khắp nơi trên thế giới và một xác ướp của mấy ngàn năm về trước. Tôi có nghe người hướng dẫn nói, nếu muốn xem hết bảo tàng viện thì phải mất ít nhứt là hai năm. Trong nửa buổi chúng tôi không thể đi xem hết viện bảo tàng được. Sau khi cân nhắc, chon lựa, tôi đề nghị đi ra công viên Mùa Hè chơi là tiện nhứt.  Hôm ấy trời nóng lắm nên ai nấy mặc áo quần màu mè và mát mẻ. Chúng tôi lấy xe điện ra công viên Mùa Hè nằm cạnh bờ sông Neva. Giữa dòng sông những chiếc đò chở đầy nhóc khách du lịch chạy ngược, chạy xuôi.  Chúng tôi nhập vào đám đông du khách đi thẳng vào vườn hoa. Dưới tàn cây xanh bóng mát, nhiều đôi tình nhân thảnh thơi vừa dạo cảnh vừa chuyện trò. Trên những chiếc ghế đá, người lớn ngồi đọc báo, trẻ em ngồi ăn kem. Trên cành cây chim chóc tụ về nhảy nhót và hót líu lo. Các bạn kêu tôi dừng lại xem những tượng vôi trắng tạc  hình người quái lạ. Theo lời Stax thì những tượng nầy do một điêu khắc gia người Ý tạc lên hồi thế kỷ trước tượng trưng cho thần gió, thần mưa, thần ánh sáng, thần đêm tối… nói chung khu nầy mỗi bức tượng là ý nghĩa của một sự sống. Sau khi đi dạo hết công viên, chúng tôi đi tham quan đài chiến sĩ.  Đài được bao bằng bức tường chắn gió, cạnh bên chưn tường được đặt một băng đá dài, trước mặt bàn bằn xi măng láng bóng, chính giữa đài một mẻ lửa bập bùng cháy. Stax nói, đây là đài tưởng niệm những chiến sĩ trắng và đen đã bỏ mình cách đây hơn trăm năm trước…Hình như tiếng Nga của Xuân và Yến chưa đủ để làm thông thông dịch, đôi khi tôi hỏi một câu cần phải giải thích dài dòng, nhưng hai cô dịch lại một câu gọn lỏn làm tôi tưởng chừng như bị lạc đề. Tuy nhiên nhìn nhiều người ôm những bó hoa đủ màu, trân trọng đặt lên phiến đá, rồi đi thẳng vô ngồi lên băng cũng bằng đá, mặt nghiêm trang ngó bếp lửa lập loè, làm lòng tôi dâng lên niềm tôn kính và cảm tưởng như những linh hồn của những chiến sĩ còn phảng phất đâu đây.  Đã hơn sáu giờ rồi, nhưng bầu trời không dấu hiệu hoàng hôn. Cuộc du ngoạn chúng tôi đưọc chấm dứt sau khi đi ra bến chờ xe điện về nhà.
Trên xe Stax nhờ Xuân thông dịch, hỏi tôi:
– Anh thấy thành phố Saint Petersburg như thế nào?
Tôi trả lời: 
– Rất đẹp, nhiều thắng cảnh đáng được xem, nhưng có lẽ gần một thế kỷ qua không được sửa sang, tân trang gì hết. Cho nên Saint Petersburg giống như một thiếu nữ duyên dáng bị bọn côn đồ hãm hiếp tả tơi… Xuân dịch lại…Stax nghe qua cười nghiêng cười ngữa và cười chảy nước mắt. 
*
Chúng tôi về tới nhà thì anh Sang đã nấu nướng xong. Gà chặt miếng nhỏ chiêng vàng, thỏ hầm rượu chát.  Ăn với bánh mì kèm sà lách trộn dầu dấm và uống rượu vodka. Ngoài những người bạn thường gặp có thêm Tuyền, bạn gái của Sang, và Phương là bạn của Tuyền. Hai cô nầy tôi gặp vài lần ở nhà Yến và nhiều lần ở chợ trời. Không hiểu sao gặp hai cô đứng bán ngoài chợ, tôi hỏi chuyện hai cô lạnh lùng như không muốn tiếp. Nhưng hôm nay chợt nhiên hai cô đến chơi, vừa thấy tôi Tuyền vồn vã:
– Nghe tin anh sắp rời khỏi nơi nầy, bọn chúng em bỏ chợ về liền đấy.
Tôi khôi hài:
– Chớ hổng phải nghe tôi rời khỏi nơi đây, hai cô mừng quá nên về tống khứ đi cho rảnh mắt.
– Anh nầy…
– Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn hai cô.  Nhớ lại  mỗi lần tôi tới đây, nếu không nhờ vả chuyện nầy chuyện kia thì cũng quấy rầy chuyện nọ. Chẳng những các bạn không lấy làm phiền mà còn sẵn sàng bỏ công việc dành thời gian giúp tôi. Yến thay mặt mọi người nâng ly nói lời đưa tiễn, tiếp theo Sang mời mọi người cầm đũa thưởng thức tài nấu bếp của anh. Trong lúc mọi người ăn uống. Stax đi lại góc phòng lấy cây đờn máng trên vách, trở lại ngồi chỗ cũ vừa đờn vừa hát một bản bằng tiếng Nga. Anh hát vừa hết bài, cử toạ cho một tràng pháo tay và bắt đầu nổi hứng.  Sang mượn đờn vừa rảy vừa ngâm bài Tống Biệt Hành, giọng Bắc Kỳ ngâm thơ hào khí gất trời…. 
“Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ. Chí lớn không về bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại! Ba năm, mẹ già cũng đừng mong…”. 
Thiệt tình mà nói, bài thơ anh ngâm tặng tôi nhưng tôi không cảm thấy xúc động chút nào hết. Không hiểu tại sao đàn ông Việt Nam khi ra nước ngoài, hễ ngồi nhậu với nhau thì ngâm Hồ Trường, còn chia tay thì ngâm thơ tống biệt. Người nào cũng chí lớn ngất trời, nhưng phần đông chỉ làm được những chuyện tầm thường, nho nhỏ. Sang ngâm xong bài thơ cũng được một tràng pháo tay. Tiếp theo Xuân mở cặp ra lấy một tập thơ chép tay, cô lật từng trang rồi dừng lại một bài. Xuân giới thiệu, bài thơ nầy của một người bạn làm trong lúc tiễn người thân về nước. Bây giờ cô đọc tặng cho tôi.
(*) Dẫu sao cũng đất nước người Thôi em đừng đứng giữa trời mà kêu Có ai thương những kẻ nghèo Tấm thân tiều tụy đến điều chưa xong Hàng em bị cướp nhiều không? Áo quần nhàu nát mặt bầm vết đau Tưởng rằng qua kiếp ngựa trâu Nào ngờ lại thấy trên đầu…dùi cui Đỏ xanh cũng một chân trời Đi đâu cũng một kiếp người làm thuê Thôi em đừng hóc làm chi Đã qua cửa khám thì về cho xong… 

Nghe qua tôi hiểu ý của bài thơ là có một cô đi buôn bán chợ trời, xui gặp bọn cướp giựt hết hàng hoá còn bị công an lấy dùi cui đập và bắt đem nhốt nữa. Nhưng khi được Xuân giải thích tôi mới biết có một nữ công nhân hết hợp đồng được về nước. Nhưng khi ra tới phi trường chẳng may bị bọn côn đồ giựt hết đồ đạc. Câu “Đã qua cửa khám…”  Tức là chỗ khám hành lý chớ không phải cửa tù.
Tôi hỏi:
– Những người giựt đồ là người Việt hay người Nga. Xuân tỏ vẻ khó chịu làm như chính cô là nạn nhân bị cướp, cô hằn học nói một hơi:
– Người Việt mình đấy anh, thế nên bây giờ ra phi trường đưa đón người thân, công an bắt phải đứng riêng ở ngoài chứ không cho vô phòng đợi. Hồi văn nghệ ngưng ngang, thay vào những câu chuyện của người Việt lao động bên Nga… Bây giờ tôi mới hiểu rõ cuộc sống phức tạp của người Việt sống bên Nga thế nào. Lòng rười rượi buồn, thương cho những kẻ bơ vơ xứ lạ quê người, khi sa cơ lỡ vận, các cô may mắn còn có “cái” bán được để độ thân. Còn các cậu thì đâu có gì ngoài sức lực của mình. Một khi tài sức không dùng được ở những nơi lương thiện, thì đem thi thố những chỗ bất lương để dành sự sống chớ biết phải làm sao.  Gần mười giờ đêm trời vẫn còn sáng bưng. Dù sao tiệc cũng đã tàn, tôi xin phép được chia tay các bạn. Vợ chồng Yến ẵm cháu Hương Giang lên xe bus theo tôi ra bến cảng. Tôi vào cổng đi được một đỗi xa, ngoái lại thấy hai người vẫn còn đứng vẫy tay chào.  
 (*) Sau nầy tình cờ tôi đọc bài thơ trên đăng trong phụ trang của báo Đất Nước, nhưng tôi không nhớ tên người sáng tác. Thành thật xin lỗi tác giả và mong được biết tin để sau nầy ghi lại  cho được rõ ràng. 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Còn quý hơn vàng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Muốn tới mỏ Beta Hunt của Công ty khoáng sản RNC Minerals, Canada, là theo quốc lộ số 94, mất gần 7 giờ, trên chặng đường dài 636 cây số đi về hướng Đông, nằm trên bờ hồ ‘Lake Lefroy’; còn đi từ Melbourne theo quốc lộ A1 mất gần 30 tiếng đồng hồ, trên chặng đường dài tới 2822 cây số, là tới thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc.

Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng,

Xưa giờ, công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11,5 triệu đô Mỹ.

Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô.  Khối thứ hai khoảng 1.600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la.

Quá đã.

Tin đào được vàng khủng, công ty la rùm lên vậy là giá cổ phiếu của công ty đã tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một nghe ham quá hè.

Chánh phủ Úc đang nợ như Chúa Chổm, nợ đầy đầu, cũng bớt rầu chút chút; vì được chia 2,5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.

(Hèn chi mấy năm trước bị Úc chê là dã man khi xử tử dân Úc tội buôn má túy cò con, lỡ quá cảnh phi trường Changi bị bắt; chánh phủ Singapore nổi quạu, dù Úc phê bình vầy là đúng rồi; bỉu môi khi dể Úc chẳng biết làm ăn gì; chỉ tối ngày đào đất lên mà bán. Mà thực ra nền kinh tế của Singapore cũng hổng có hay ho gì; chỉ là một bến cảng, tàu thuyền đi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, đường xá xa xôi diệu vợi phải ghé cho thủy thủ lên bờ xả hơi kẻo bị cuồng cẳng. Cha con nhà Lý Quang Diệu sống nhờ mấy cái cảng phí nầy mà cũng đánh trống thổi kèn rùm! Chớ đất chút tẻo, nguyên là một cái làng chài, nào có quặng mỏ gì đâu mà đào lên bán để ăn… nên cà nanh với Úc vậy thôi.)

Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt mình, giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80 cm, nghĩa là chưa tới một tấc, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3,23kg lẫn trong đất sét. Đem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2,11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.

Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới; tui kiếm được một cục vàng, xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, dấu biệt chỗ nầy, ‘giả’ nói: Đó là bí mật kinh tế! Ngu sao mà chỉ?

***

Tuy nhiên theo thiển ý vàng mình còn có thể hên mà đào được chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều.

Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy!

May mắn thay, tui đã tìm được một đứa, tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.

Xưa bên Tàu, Tử Kỳ đàn nghĩ đến sông, thì Bá Nha nghe tiếng nước sông trôi. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió.

Còn bây giờ, tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với cái hãng rượu whiskey, tiểu bang Tennessee bên Mỹ) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó tán dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui tán dóc.

Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!

Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.

Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.

Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng hè. Cái tánh Úc rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng Jack chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Vợ kêu cực chẳng đã, sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm trường?”

Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được lục đục suốt đêm, mệt chết, nên vả lả: “Bồ làm ơn thông cảm dùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”

Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con bú tí. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào, hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)

Tui bèn nhát nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống; thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”

“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee tức Lý Tiểu Long?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”

 “À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”

Nói nào ngay trước khi dời về cái đất Footscray nầy, tui ở trên St Albans cách đây tới 30 cây số về hướng Tây. Chỗ ở cũng được, nhưng vắng như chùa Bà Đanh; ngặt cái ăn trộm hơi bị nhiều. Vì người Việt mình mới qua, khoái xài tiền mặt, Úc nó biết tỏng như vậy nên cũng thừa cơ lẻn vào lục lọi để mà kiếm chác.

Anh Ba Tèo, bạn nhậu thân thiết của tui bị ăn trộm rồi, kể là: Đêm một thằng Úc mập ú nu như cái lu, lẻn vào nhà tui ăn trộm. Lúc đó đâu có ‘camera’ an ninh hay chuông báo động gì đâu. Phần làm vài ly nên tui mê man tàng tịch, trời sập còn chưa hay. Nó tự nhiên như người Hà Nội đội cái ti vi mới mua của vợ chồng tui ra cửa. Sơ ý, cái cạnh cái ti vi chạm vào cửa một tiếng rõ to làm tui đang nằm ngáy pho pho chợt giựt mình tỉnh giấc. Chưa kịp chùi ke trên khóe miệng; tui bèn phóng ra khỏi cửa, rượt theo nó.

Sau gần hai tiếng chạy vòng vòng, cuối cùng thằng Úc đội cái ti vi nặng quá đành thua cuộc, quỳ xuống: “Xin ông làm ơn làm phước tha dùm, đừng gọi cảnh sát vì tui ở tù mới ra! Thank you so much!”

Anh Ba Tèo bèn trả lời: “No worries mate!”(Đừng có bận tâm nhe bồ!)

 Tao rượt theo là muốn đưa cho chú mầy cái ‘remote control’, cái điều khiển từ xa, cho đủ bộ đó mà!”

Hổng biết anh Ba Tèo nầy kể chuyện thiệt hay chơi nhưng tui tin là anh nói thiệt. Vì ảnh từng giảng đạo cho tui nghe là: “Mình đến nước của người ta, Úc nó làm biếng, nghèo không có tiền mua được cả cái ti vi để coi nên mới đi ăn trộm của mình. Coi ti vi nằm dài trên sa lon mà cứ phải đứng dậy bấm đổi đài hoài cũng tội nghiệp nó chớ!”

Phần ông bà mình có dạy: “Cái gì cho đi là còn lại… Ăn hiền ở lành là Trời không phụ mình đâu!”

Nói nào ngay xa lối xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng, hy vọng là tui ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, gặp thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.

Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó.

Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.”

Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Đó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Đúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”

Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui, đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.

“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?”
“Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”

Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”

Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà nó sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim, ngỏm củ từ, khi tuổi chưa quá tuổi 70.

Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Đêm ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.

Jack tâm sự: Tối qua tui lại thấy thằng Bill hiện về. Tui hỏi “Trên thiên đàng có vui hôn?” Nó nói: “Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy!”

 “Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”

Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết; chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!

đoàn xuân thu.

melbourne

Còn mãi nụ cười duyên!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Ronald Wilson Reagan chào đời tại thành phố Tampico, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ vào ngày mùng 6, tháng Hai, năm 1911.

Ông tốt nghiệp Cử nhân về Kinh tế và Xã hội học tại Ðại học Eureka.

Năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles, khởi nghiệp bằng tường thuật lại những trận đấu bóng bầu dục do các điện tín từ khắp nơi trên nước Mỹ gởi về  đài phát thanh.

Nhờ có giọng nói khúc chiết, rành mạch và truyền cảm, rất thu hút thính giả nên được trả công 10 đô la cho một trận.

Chỉ là những bản tin ngắn mà ông vẽ ra trong đầu cả một trận đấu hấp dẫn, nên sau nầy cũng dựa vào một câu nói của người khác, qua đầu óc hài hước thiên phú, một cách đầy nghệ thuật, ông nâng câu nói đó lên một tầm cao mới.

Chẳng hạn khi một viên đạn do một kẻ tâm thần bắn ra va vào thành xe limousine đổi hướng ghim vào phổi của ông, khi được đưa vào bệnh viện để trấn an Nancy, vợ mình, ông nói: “Em yêu! Hồi nãy, anh quên thụp xuống, né!”

Lần mò qua lãnh vực phim ảnh, Reagan dự kỳ tuyển tài tử và được công ty điện ảnh Warner Brothers ký hợp đồng 7 năm.

Tuy nhiên những phim có ông tham gia, ngân sách làm phim rất ít. Sau nầy, ông nói đùa là: “Ðạo diễn không cần làm phim hay mà chỉ muốn quay sao cho kịp vào ngày Thứ Năm mà thôi!” (Ðể kịp chiếu vào tối Thứ Sáu, cuối tuần).

Tuy nhiên, sự nghiệp diễn xuất cũng đành phải bỏ ngang vì Thế chiến Thứ hai sắp bùng nổ, Reagan gia nhập Không lực của Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc binh nhì. Vì bị cận thị, nên ông chỉ phục vụ trong nước.

Ðến tháng Chạp năm 1945, chấm dứt Ðệ nhị Thế chiến, ông được giải ngũ với cấp bậc Ðại úy.

Tham vọng làm chánh trị đã khiến cuộc sống hôn nhân đầu tiên của ông bị trắc trở. Sau nhiều lần tranh cãi, vợ ông đâm đơn ra tòa đòi ly dị.

Bị vợ bỏ, tưởng rằng xui, nhưng ông lại may mắn tìm được tình yêu thứ hai đích thực với Nancy cũng là một tài tử điện ảnh theo ông đến cuối đời.

Có lẽ cũng vì vậy sau nầy làm Tổng thống, ông đã ký một dự luật cho phép ly dị mà không cần chứng minh là phải một bên có lỗi.

Ðây là một sắc luật rất tiến bộ. Còn yêu còn ở. Hết yêu hết ở. Quyền tự do của cá nhân!

Năm 1967, Ronald Reagan được dân chúng tiểu bang California Hoa Kỳ bầu làm Thống đốc thứ 33. Say men chiến thắng, năm 1968, ông bèn ra tranh chức ứng cử viên Tổng thống Mỹ, đại diện đảng Cộng Hòa, nhưng thất bại.

Mãi tới năm 1980, Ronald Reagan, đã 69 tuổi, mới được đảng Cộng Hòa chọn ra tranh cử Tổng thống Mỹ.

Trong chiến dịch tranh cử, óc hài hước thiên phú đã được Ronald Reagan sử dụng như là một tuyệt chiêu vô đối để lên gối, chọc quê đối thủ chánh trị của mình.

Chẳng hạn như ông nói: “Suy trầm kinh tế là khi người láng giềng của bạn bị mất việc; khủng hoảng kinh tế khi chính bạn bị mất việc. Và hồi phục kinh tế chỉ bắt đầu khi Jimmy Carter bị mất việc!”

Quả nhiên Jimmy Carter bị mất việc, Tổng thống Mỹ chỉ một nhiệm kỳ, để Ronald Reagan lập kỷ lục là Tổng thống tân cử già nhứt lịch sử Mỹ. (Kỷ lục Tổng thống già đã bị Donald Trump, 70 tuổi, vượt qua năm rồi)

Khi bị giới truyền thông dè bỉu là già quá thì ông viện dẫn lời của vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ rằng: “Thomas Jefferson có lần đã nói với tôi là “Chúng ta không nên phán đoán Tổng thống mà căn vào tuổi tác; chỉ nên căn vào việc ông ấy làm mà thôi.” Từ khi nghe ông nói như vậy tôi không thèm lo lắng nữa!”

Rồi trong cuộc tranh luận với Walter Mondale, đảng Dân Chủ, sanh năm 1928, trẻ hơn ông tới 17 tuổi, vào năm 1984, Ronald Reagan cũng đùa là: “Tôi muốn ông biết một điều rằng: Tôi sẽ không đem vấn đề tuổi tác ra để tìm lợi thế trong chiến dịch tranh cử. Tôi sẽ loại trừ cái ích lợi về chánh trị khi coi tuổi trẻ của đối thủ tôi là thiếu kinh nghiệm!”

Cử tọa cười hí hí vỗ tay! Ngạc nhiên thay, Walter Mondale cười he he và cũng vỗ tay.

Vì câu nói châm biếm nầy hay quá xá! Biến cái điểm yếu về tuổi tác già nua của mình bằng cách nhấn mạnh vào kinh nghiệm, khi so với cái trẻ trung, một ưu điểm rõ ràng của đối thủ chánh trị!

Dù nói đùa, nhưng không rẻ tiền như diễn xuất giả gái, ngạo người tàn tật hay người đồng tính, hoặc nhăn mày, nhíu mặt, cà lăm, làm mắt lé để thọc léc thiên hạ. So với những ‘comedians’ nổi tiếng khác, phải công nhận Ronald Reagan võ công thâm hậu, bậc thượng thừa.

Reagan từng nói: “Tôi giành được biệt danh nhà truyền đạt vĩ đại. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghĩ rằng phong cách của tôi đã tạo nên sự khác biệt mà chính là phần nội dung; tôi đã truyền đạt những điều vĩ đại.”

Tuổi tác và giọng nói nhẹ nhàng, nụ cười mỉm của Ronald Reagan đã tạo được một hình ảnh nồng ấm, giống như một vị cha già đối với người dân Mỹ.

Khi bàn về cái nghề chánh trị mà mình đang đeo đuổi mê say để đến nỗi bị vợ tẩy chay, vợ bỏ, ông cho rằng: “Làm chánh trị không phải là một nghề lúc nào cũng tệ hại hết đâu! Nếu thành công sẽ có nhiều phần thưởng; còn nếu thất bại, bị công chúng ruồng bỏ thì mình cũng còn có thể viết sách được mà!”

Rồi khi nghe tin Clint Eastwood, một tài tử cũng tham gia vào chánh trường bằng cách ra tranh cử chức thị trưởng, giống như con đường mình đã kinh qua, Reagan tự hỏi: “Cái gì đã xui khiến ông ấy, một tài tử đóng phim ở tuổi trung niên, người từng có kinh nghiệm chơi đùa với những ‘con khỉ dã nhân’, lại nghĩ mình có kinh nghiệm để thành công trong nghề làm chánh trị?!”

Con khỉ dã nhân ở đây Ronald Reagan ám chỉ những đối thủ chánh trị của ông. Lỡ họ có nghe, tức ói máu nhưng chỉ biết cười hè hè chớ chẳng làm được gì nhau!

Rồi ông chọc quê các chánh trị gia là: “Tôi vừa mới học được một điều luật quan trọng nhứt trong nghề làm chánh trị là phải có tư thế đĩnh đạc, đàng hoàng; nghĩa là hãy làm mình trông giống như một con cú mèo (nghĩa là rất khôn ngoan) sau khi đã hành xử như một con lừa (nghĩa là ngu hết biết).” Ðối với Mỹ, con lừa (donkey) thường coi là ngu. Nhưng con lừa cũng tượng trưng cho đảng Dân Chủ Mỹ, đối thủ đảng Cộng Hòa.

Khi bị thiên hạ chơi xỏ đem con lừa đến tặng, Ronald Reagan đã nhã nhặn: “Tôi từ chối nhận vì không thể sử dụng được con lừa theo ý của mình. Vì tôi đã có hàng trăm con lừa trên Capitol Hill.” (Capitol Hill, Quốc Hội Hoa Kỳ)

Cái hay, cái duyên ngầm của Ronald Reagan là qua những lời châm biếm đối thủ thâm trầm nhưng không làm họ bẽ mặt. Ronald Reagan tự trào, đem mình ra làm trò cười, nhưng người nghe biết ông cười thiên hạ.

Chẳng hạn để phê phán mấy đứa học hành chẳng ra làm sao, dở ẹc, thì ông nói rằng: “Rất có lợi khi được dân bầu làm Tổng thống Mỹ. Một ngày sau khi tôi được dân bầu, thì học bạ thời trung học của tôi được xếp vào tài liệu tối mật.” “Làm việc một cách siêng năng cần mẫn không giết chết một ai. Nhưng tui cũng phát hiện ra rằng: Tại sao mình lại liều lĩnh thử coi có phải đúng vậy hay không!”

Mrs. Reagan touches the coffin of her husband during his state funeral on Capitol Hill on June 9, 2004. Ronald Reagan died after a long struggle with Alzheimer’s disease.

Hay: “Trưa tôi không bao giờ uống cà phê; vì nó sẽ làm tôi mất ngủ suốt cả buổi chiều. Tôi đã ra lịnh cho cố vấn đừng đánh thức tôi dậy, ngay cả lúc đang họp nội các; chỉ trừ trường hợp đất nước chúng ta đang lâm vào tình trạng khẩn cấp mà thôi!”

Ronald Reagan biết người dân Mỹ yêu mình. Khi bịnh lú lẫn, tế bào não bị hủy hoại, ông không còn nhớ một ai, trừ Nancy, người vợ yêu dấu của ông.

con mai nu cuoi duyen 08Ông tránh xuất hiện trước công chúng, để người dân Mỹ vẫn còn giữ hình ảnh đẹp về ông.

Ông từ giã quốc dân đồng bào bằng những lời lẽ cảm động: “Tôi đang đi vào hoàng hôn của cuộc đời. Nhưng nước Mỹ đang đi về phía bình minh.”

Ronald Reagan qua đời ngày mùng 5, tháng Sáu năm 2004, vì bị sưng phổi, thọ 93 tuổi. Nhưng Ronald Reagan vẫn còn sống mãi trong lòng dân Mỹ với những nụ cười ‘duyên’.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Bác Sĩ Phúc Trở Về

Ngày 9-4-1972

Sáng ngày 9-4, mới 8 giờ 25 phút, tiếng bom do máy bay B52 thả xuống đã nổ rền ba đợt, khá gần làm rung rinh cả vách tường. Cửa sổ và cửa ra vào phòng tôi đập ầm ầm theo nhịp bom. Tôi cài cửa bằng một thanh sắt dài 20 phân, được uốn cong thành hình chữ U nhét qua hai khoen sắt. Vậy mà nhiều đêm đang ngủ, B52 thả bom, cửa rung mạnh quá làm rơi cả thanh sắt đó, khiến tôi phải lồm cồm bò dậy, gài lại.

Sau cuộc dội bom, suốt sáng đó không thấy địch quân pháo kích nữa. Chừng một giờ sau, tôi nghe thấy tiếng trực thăng Chinook bay ngang qua bệnh viện. Khoảng 20 phút sau, khi tôi từ Phòng Hậu Giải Phẫu bước ra hè, tôi thấy bác sĩ Nguyễn Phúc, Trưởng Ty Y Tế vừa rời chiếc xe Mobylette do một người đàn ông chở tới. Thấy anh, tôi mừng quá, vội rảo bước xuống sân tới đón anh. Có nhiều nhân viên khác cũng chạy tới chào anh. Khuôn mặt mọi người đều mừng rỡ khi thấy anh trở về. Tâm lý chung, những lúc nguy khốn ai cũng trông mong ở vị chỉ huy của mình.

Anh chỉ gật đầu chào mọi người vì còn mải quay lại cám ơn người đã cho anh quá giang. Anh dơ tay bắt tay tôi, miệng hơi mỉm cười. Tôi thấy anh có vẻ mệt. Nước da ngăm đen của anh hơi sạm lại hơn những ngày thường. Tôi chỉ nhìn thấy cặp mắt trắng của anh mà thôi. Tôi hỏi anh:

– Anh mới về, chắc mệt lắm?

Bác sĩ Phúc gật đầu:

– Tôi đi bằng Chinook mới đáp xuống đó.

– Trực thăng xuống chỗ sân vận động hả anh?

– Đúng. Tôi không thấy xe đón, phải đi bộ về. May gặp ông Chuyển cho quá giang xe.

Tôi liền đáp lời anh:

– Tụi tôi không được tin anh về. Mà sao anh cũng còn nhớ mang được áo giáp, nón sắt lên thế.

– Đâu có, tôi mới lấy ở bên nhà. Đợi mãi không có máy bay, tôi đành theo chuyến Chinook lên, đổ bộ cùng vói Biệt Động Quân. Họ trang bị vũ khí đầy người. Mình tôi đi người không, lọt vô đó trông không giống ai cả. Khi đi chỉ sợ máy bay đáp xuống một cánh rừng nào đó để Biệt Động Quân đánh bọc hậu Việt Cộng thì mệt. Vì như vậy, mình bắt buộc phải theo họ cho tới cùng. Lúc tới nơi thấy binh lính ùa xuống, chạy tìm chỗ nấp, bố trí sẵn sàng coi như sắp đánh nhau. Mình thấy ớn quá.

Thì ra từ bãi đáp, anh đã ghé qua nhà nên trông quần áo có vẻ tươm tất, sạch sẽ. Có lẽ ông Chuyển, người cho anh quá giang, trong lúc đi đường đã báo cáo sơ qua tình hình ở đây nên anh đã biết hiện thời không còn như những ngày trước nữa nên đã mang theo áo giáp, nón sắt để phòng thân.

Tôi tiếp tục nói:

– Cũng may trước khi máy bay đáp, B52 đã dội bom rồi thành ra không có pháo kích. Nếu không, cũng vất vả lắm.

Bác sĩ Phúc gật đầu, nói:

– Đi đường tôi thấy nhiều hố đạn pháo kích quá.

Tôi ngắt lời hỏi:

– Anh đi ngang cổng, có thấy hố hỏa tiễn 107 ly không?

– Tôi không để ý.

– Trái đó nổ sát rào bệnh viện, đã giết chết ồng Long.

– Thế à, mấy ngày nay chắc anh bận lắm nhỉ?

– Dạ, cũng kha khá.

– Chắc chỉ làm mấy cái nhỏ thôi, chứ mổ lớn như bụng biếc đâu có mổ được phải không?

Tôi trợn mắt lên:

– Mổ chứ anh. Kể từ ngày 5 tháng 4 đến giờ, tôi đã mổ được 36 trường hợp, trong đó có 10 cái mổ bụng. Binh lính đều được tản thương còn dân vẫn nằm tại đây.

Bác sĩ Phúc gật đầu hài lòng, nói tiếp:

– Vậy thì suya quá rồi.

Vừa nói chuyện chúng tôi vừa bước dần về văn phòng bác sĩ Phúc. Tôi nói sơ qua tình hình trong tỉnh và trong bệnh viện cùng những biện pháp tôi đã làm. Tôi nói thêm trước khi kết thúc câu chuyện:

– Anh về an toàn, tôi mừng lắm. Di chuyển bằng máy bay bây giờ rất nguy hiểm. Súng phòng không của địch bố trí quanh đây rất nhiều. Có anh chỉ huy đơn vị, tôi được rảnh tay lo mổ xẻ. Những ngày sắp tới chắc chắn sẽ gian nan, vất vả vô cùng.

– Ở Sài Gòn, tôi không tưởng tượng nổi tình hình lại bi thảm đến thế. Tôi cứ nghĩ như mấy lần trước, Việt Cộng dọa đánh, pháo kích lai rai vài quả, cùng lắm là chiếm mấy cái sóc, cái ấp xa xa. Chứ đâu có ngờ mình bị bao vây cô lập. À mấy thứ thuốc anh cần, tôi đã xin Liên Đoàn rồi. Họ đã gửi lên Lai Khê, chừng hai ngày nữa, có phương tiện họ sẽ gửi lên. Thôi cám ơn anh, để tôi gặp ông quản lý bàn mấy chuyện về Ty Y Tế một chút.

Tôi chào anh rồi đi về trại Ngoại Khoa tiếp tục làm việc. Một lát sau, tôi nhận được giấy mời họp vào 10 giờ sáng ngày mai. Tức 10-4-1972.

Buổi trưa hôm ấy, tôi mặc áo giáp lần đầu tiên. Đầu đội nón sắt, đi bộ về nhà ăn cơm. Chiếc áo này rất vừa với tôi, size Medium. Tôi cảm thấy hơi nặng nặng. Mới đi được mấy chục bước, tôi đã thấy mồ hôi sau lưng rịn ra chảy ướt cái áo ba lỗ phòng mổ tôi thường mặc. Nhưng không sao, có nó tôi cảm thấy an tâm khi đi ra ngoài. Dọc đường, tôi thấy hố pháo kích nhiều hơn trước. Con đường thay đổi bộ mặt mỗi ngày.

Anh Châu chờ tôi ở sau nhà. Anh than:

– Nước sắp hết rồi bác sĩ ơi! Còn chừng nửa phuy, dùng ngày nữa là hết.

Tôi cũng hơi lo. Bây giờ không thể cho xe vô Quản Lợi lấy nước như cũ được vì nơi đó đã bị chiếm rồi và những vùng quanh đây thì không được an ninh. Tôi nghĩ anh Châu có tài xoay sở, thế nào cũng tìm ra được nước cho mình. Tôi nói:

– Kẹt nhỉ, trời mà mưa được thì đỡ quá, cũng gần tới mùa mưa rồi. À, còn gạo thì sao.

– Cái đó bác sĩ khỏi lo. Gạo nhà mình còn hơn một tạ, ăn cầu ba tháng cũng chưa hết. Còn thêm hai thùng gạo sấy nữa và vài chục đồ hộp.

– Anh kiếm đâu mà hay vậy?

Anh Châu được tôi khen khoái chí, phập phồng hai cánh mũi, nhướng con mắt độc nhãn của anh, nhìn tôi mỉm cười:

– Lo xa mà bác sĩ. Gạo sấy xin bên bà Chín, đồ hộp mua ở Quân Tiếp Vụ.

Anh Châu vừa nói vừa sắp cơm cho tôi ăn ngay trên chiếc bàn gỗ sau nhà, dưới bóng mát của cây đa.

Tôi ăn hối hả vì đói và vì hai ngày chưa được ăn cơm. Vừa hết một bát thì một trái đạn pháo kích rớt ngay sân trường Trung Học, trước mặt tôi và cách chừng 30 thước. Đất đá nâu đen bắn tung lên rồi rơi lộp độp trên mái nhà. Tôi lom khom người thu vội chén bát nói:

– Dọn vô hầm ăn, anh Châu.

Tôi đi vô nhà, xuống hầm trước. Anh Châu mang thức ăn theo sau. Tôi ngồi ngay xuống đất, tiếp tục ăn nữa. Bên ngoài, đạn pháo kích vẫn nổ ầm ầm. Đất cát, mảnh đạn tiếp tục văng lên mái ngói. Anh Châu ngó qua cửa sổ hầm kêu:

– Chết cha, một trái trúng trại Gia Binh Quân Y rồi.

Tôi nhón người nhìn ra, thấy đất cát bay mù mịt ở trại Gia Binh, cách chỗ tôi chừng 100 thước.

Có tiếng xe Jeep đậu ở ngoài sân, rồi tiếng chân người gấp rút chạy vào nhà. Qua cửa hầm, tôi thấy chú Út và một người lính đang hốt hoảng tông cửa vào núp. Tôi gọi:

– Vào đây Út.

Út là tài xế của Thiếu tá Diệm, Út lách mình xuống hầm, ngồi phệt ngay xuống đất, mặt mũi thất sắc, hơi thở dồn dập và nói:

– Em suýt chết bác sĩ ạ. Một trái nổ ngay trước xe. Mảnh văng làm bể kiếng chắn gió, nếu em không cúi đầu xuống kịp là tiêu rồi.

Quay sang người bạn, Út nói có vẻ trách móc:

– Anh cứ bảo chạy nhanh nữa đi. Mình chỉ vọt lên chút xíu nữa là lãnh đủ.

Người bạn chỉ biết ngồi, cười trừ. Tôi hỏi:

– Anh về lấy cơm cho Thiếu tá phải không?

– Vâng. À, thằng Xuân chết rồi. Bác sĩ biết chưa?

– Trời! Xuân chết rồi à. Nó hiền lành dễ thương. Tội nghiệp, nó lại mới cưới vợ được mấy tháng.

Xuân là lính của ông Diệm, rành về nghề mộc. Ông Diệm đã cho Xuân tới giúp tôi đóng vách ngăn phòng tại phòng mạch mới của tôi, vài ngày trước khi xảy ra những vụ pháo kích này. Út tiếp tục kể:

– Nó bị thương chết ngay, không kịp mang đến bệnh viện.

Tôi hỏi thăm Út để lấy thêm vài tin tức mới:

– Ở Tiểu Khu có dễ chịu không?

– Cực lắm bác sĩ ơi. Ngày nào cũng phải làm bao cát. Canh gác ngày đêm, đâu có được ở không.

– Trong đó có đủ nước uống không?

– Dạ, có một cái giếng. Nước bơm lên có giờ. Mỗi lần lấy nước, tranh nhau cực lắm, khó khăn lắm. Nước này chỉ để uống, nấu ăn thôi, cấm không được tắm, giặt.

Nghe như vậy, tôi thấy hy vọng nhờ Thiếu tá Diệm kiếm nước cho tôi tan thành mây khói. Tôi hỏi tiếp:

– Có nghe thấy tin tức gì không?

– Em nghe nói viện quân Dù sắp lên.

– Nhà có hầm tốt không?

– Dạ, sơ sài lắm. – Út nhìn quanh, ngó lên trần hầm.

Tôi nói:

– Hầm này tốt lắm, hay Út mang vợ con sang đây ở an toàn hơn. Ở nhà Út gần trại Cải Huấn, nguy hiểm lắm. Quân mình phía đó ít.

Anh Châu cười, xen vô:

– Nhà này vững lắm, có Thần Cây Đa che chở. Bác sĩ thấy lúc nãy, nó pháo chỉ rớt chung quanh đây chứ có trái nào trúng nhà đâu. Dù có trúng, đạn chạm vào cành Đa cũng nổ rồi. Mình ở trong hầm đâu có việc gì.

Anh Châu chỉ có lý trong tháng đầu. Tháng sau, có lẽ bom đạn nổ nhiều quá làm kinh động tới Thần Cây Đa nên Thần phải di cư đi chỗ khác, hết linh. Thành ra nhà và hầm đó đều bị pháo trúng năm, sáu trái sập luôn. Một gia đình tị nạn ở trong đó, hai người bị thương đứt chân. Hiện cái chân gẫy vẫn còn để trong hầm. Ngay cái miễu thờ gốc cây Đa của Trung sĩ Hùng cũng bị pháo tan tành.

Anh Châu đã sắp sẵn xong cơm, đưa cho Út. Út đứng dậy nói:

– Em đi đây, bác sĩ.

Tôi vội nói:

– Cho tôi quá giang vào bệnh viện luôn. Anh Châu ở nhà cẩn thận nhé. Cứ nằm trong hầm cho chắc ăn.

Chúng tôi lên xe. Ngoài đường vắng ngắt, không một bóng người, Út dừng xe trước trại Ngoại Khoa. Tôi cảm ơn Út xong, bước xuống đi về phòng. Tôi ngả người nằm xuống mặt đệm mát lạnh. Bác sĩ Phúc đã trở về, thế là nhẹ được phần trách nhiệm. Tôi an tâm làm công việc của tôi hơn.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 9 Sep 2023

Kho Thuốc Vượt Biên

Mới sau có bốn ngày sơ khởi làm việc, khu Ngoại Khoa đã tiêu thụ một số lớn bông băng và nước biển. Tổng cộng cả mổ lớn lẫn mổ nhỏ chỉ mới chừng 30 người, vậy mà cấp số y cụ và vải băng trong tháng đã tiêu đi gần hết. Công bằng mà nói, tổng số bệnh nhân trong bốn ngày đó cũng bằng cả một tháng hoạt động của bệnh viện trong thời bình.

Tôi nhận thấy, nếu cứ sử dụng như thế này thì chả mấy chốc sẽ cạn hết nguồn tiếp liệu. Tôi thông báo cho tất cả các trại bệnh phải bắt đầu một chương trình tiết kiệm. Không được phóng tâm dùng bừa bãi. Khi xuống kho thuốc lớn, tôi thấy bông còn rất nhiều nhưng băng còn ít thôi. Tôi ra lệnh chỉ dùng băng đã khử trùng rồi cho Phòng Mổ để băng bó cho những bệnh mới giải phẫu xong. Đối với những vết thương cũ, tôi cho dùng gòn hấp hay băng cá nhân dã chiến, như vậy cũng tiết kiệm được một số.

Tôi biết chắc rằng tỉnh Bình Long đã bị bao vây, cô lập nên việc xin tiếp tế sẽ rất chậm chạp, khó khăn. Nếu không biết lo xa thì sẽ không còn gì để làm việc nữa.

Bệnh viện có ba kho thuốc: Kho Chẵn, Kho Lẻ và Kho Vượt Biên. Khi tôi về đây thì mọi sự đã được sẵn sàng như vậy nên tôi cứ thế mà làm. Tôi nghĩ rằng chia ra Kho Chẵn và Kho Lẻ để dễ kiểm soát. Ngày chẵn thì lãnh thuốc men y cụ ở Kho Chẵn. Ngày lẻ thì lãnh ở Kho Lẻ.

Kho thuốc Vượt Biên được thành lập từ hơn một năm nay, từ khi có cuộc hành quân vượt biên sang Cambodge và Lào.

Trong kho có đầy đủ mọi thứ nước biển, bông băng và thuốc cấp cứu đủ dùng cho một Bệnh Viện Tiểu Khu trong một tháng. Kho thuốc này được đặt trong một phòng thuộc trại Ngoại Khoa, xéo của phòng tôi. Những đồ tiếp liệu trong kho này chỉ để dành riêng cho những trường hợp bất ngờ khi bệnh viện phải tiếp nhận một số lớn thương binh mang về từ những cuộc hành quân vượt biên. Sáng kiến thành lập một kho thuốc như vậy tại mấy tỉnh gần biên giới thực đáng đề cao.

Chính nhờ kho thuốc này, tôi có đủ thuốc men dùng được gần một tháng là thời kỳ tiếp tế thuốc rất khó khăn vì tỉnh đã bị hoàn toàn cô lập.

Kho thuốc Chẵn hay kho thuốc chính của bệnh viện, nằm ngay sau nhà Bảo Sanh. Khu vực này là nơi lãnh nhiều đạn pháo kích nhất trong bệnh viện. Ngay những ngày đầu, kho thuốc đã bị sáu trái 82 ly và 61 ly, làm sập một phần mái nhà nhưng may mắn không cháy. Do đó không bị thiệt hại nặng nề cho lắm.

Tôi thấy cứ để thuốc men trong đó sẽ có ngày bị pháo cháy tiêu. Nhưng dời đi chỗ khác thì không được vì bệnh viện đã chật không còn chỗ trống. Vả lại, cũng không còn chỗ nào an toàn cả, chỉ còn cách duy nhất là phân tán mỏng.

Tôi mời dược sĩ Tân, bác sĩ Chí,Trung sĩ Thành thủ kho Y Dược xuống kho kiểm điểm thuốc men. Đồng thời tôi huy động thêm bốn người ở Phòng Mổ tới khuân vác y cụ lên chia cho mỗi phòng một ít để dễ dàng cất chứa. Tôi thấy còn nhiều băng cá nhân, ống chích, kim chích và các thứ thuốc sát trùng để rửa vết thương. Dưới con mắt của một y sĩ giải phẫu thì lúc bấy giờ, những thứ đó đối với tôi là vàng. Tôi không quên mang lên Phòng Mổ các ống thông phổi, băng thun, găng tay cùng nhiều thuốc trụ sinh các loại.

Có nhiều thứ ngày thường tôi tưởng hết, nay lục lọi ra mới thấy đầy dẫy như băng thun giãn rất tốt để băng các mấu chỉ sau khi thiết đoạn, như băng lớn dùng để băng vết thương sau khi mổ bụng, Phisohex hàng mấy chục thùng v.v…

Với số thuốc men sẵn có tạm thời tôi không lo thiếu thuốc. Nhưng chỉ cần một trăm thương binh nhập viện một ngày thì không đầy một tuần, các đồ tiếp liệu sẽ vơi đi một cách đáng kể. Nên tôi nghĩ tốt hơn hết, cứ xin sẵn thuốc men cần thiết để dự phòng. Tôi vừa gọi điện thoại vừa đánh công điện về Liên Đoàn để xin tiếp liệu. Chỉ vài ngày sau, tôi đã nhận được một phần danh sách tôi yêu cầu, trong đó có 30 bịch máu O.

Có đầy đủ phương tiện để làm, nhất là có máu truyền cho thương binh, tôi phấn khởi vô cùng. Có ngày tôi mổ tới bảy trường họp, liên tiếp ba ca bụng liền làm mấy y tá mệt đừ. Cô Đào không kịp ăn cơm, mặt mũi nhợt nhạt. Cô Bích than đứng lâu, chân muốn sụm. Thượng sĩ Lỹ,Trung sĩ Xòm, Binh nhất Thiện cũng phờ phạc cả người. Tôi nói đùa:

– Mọi sự xảy ra đều tại cô Mỹ cả, mọi người cố chịu khó một chút.

Cô Mỹ là Nữ Điều Dưỡng mới đổi lên đây được hai ngày, trước khi Việt Cộng mở cuộc pháo kích vào An Lộc. Nghe tôi nói vậy, cô Mỹ đang lúi húi bên bàn giải phẫu dọn dẹp mấy tấm khăn mổ, ngẩng lên ngơ ngác nhìn tôi nói:

– Ủa em có làm gì đâu.

Tôi thản nhiên trả lời, mặt tỉnh bơ:

– Ai bảo cô xin đổi lên đây làm gì để Việt Cộng nó đánh Bình Long. Cô quên Việt Cộng nói “chống Mỹ cứu nước” à.

Vỡ lẽ, cô biết tôi nói đùa, mỉm cười tiếp tục làm việc. Mặc dù mới tới được mấy ngày, cô đã thạo công việc và tỏ ra rất chăm chỉ, tận tâm. Sau cuộc tấn công đợt nhất của Việt Cộng vào An Lộc, đa số nhân viên dân sự đều nghỉ việc. Một số nhỏ nhanh chân theo các chuyến máy bay tản thương về Lai Khê rồi Sài Gòn. Một số về nhà ở với gia đình. Bệnh viện chỉ còn lại cô Mỹ, cô Bông, cô Bích, cô Đào, Thìn, Thêm, Tuy và Ngọc. Cô Mỹ ở lại tới ngày 18 tháng 4 thì có người anh tới chở cô xuống ấp Phú Đức tỵ nạn.

Phòng Hậu Giải Phẫu giờ đầy bệnh nhân. Có sáu giường mà nằm tới bảy người, đều là những bệnh bị mổ bụng cả. Một đứa nhỏ mới có 3 tuổi, người Việt gốc Miên tên Thạch Ngọc, bị thương ở ruột già. Tôi làm hậu môn nhân tạo, phải để nó nằm trên nóc tủ đựng đồ linh tinh của Phòng Mổ. Từ xưa tới giờ, nhà thương này chưa hề có nhiều trường hợp mổ bụng nằm la liệt như thế. Hai máy hút bao tử liên tục làm việc suốt ngày, luân phiên đi từng giường bệnh.

Những người bị gãy xương, sau khi bó bột hoặc những người cắt tay chân đều phải chuyển ngay xuống trại, không được nằm tại Phòng Hậu Giải Phẫu nữa.

Những người mổ bụng thì từ 3 tới 5 ngày sau mới thay băng. Một khi đã mở băng rồi, tùy theo vết thương sạch hay làm độc sẽ được thay băng cách ngày hay hàng ngày. Những vết thương khác cũng vậy, bình thường cứ hai ngày thay băng một lần. Chúng tôi phải làm như vậy mới có đủ thi giờ mổ bệnh nhân mới, săn sóc bệnh nhân cũ đồng thời cũng tiết kiệm được một số bông băng.

Ngày nghinh Ông bên vàm sông Ông Đốc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 8 Sep 2023

Sông Ông Ðốc vàm, giữa tháng hai âm lịch, trên con đường dẫn ra lăng ông Nam Hải, nhiều người ăn bận chỉnh tề, nách bưng, tay xách, đầu đội những mâm bánh, mâm xôi, mâm trà, mâm trái cây có phủ giấy kiếng màu đỏ, mâm đầu heo bọc mỡ sa. Có người xách tòn ten cặp gà, cặp vịt, nách kẹp chai rượu đế còn đầy. Thấy cảnh nầy cũng đủ biết năm vừa qua mùa biển trúng, vậy ngày nghinh ông chắc chắn sẽ linh đình.  Ngoài những lễ vật dân trong xóm đem ra cúng, trong lăng còn vật thêm đôi heo trăm ký, hàng trăm con gà vịt cũng bị cắt cổ nhổ lông.  “Theo truyền thuyết, tục thờ cá ông của ngư dân nước ta có đâu từ đời xửa đời xưa lận , hồi trước thời Gia Long, cá ông chưa có chức tước, lúc đó ngư phủ còn gọi là thần Nam Hải. Mỗi khi ra khơi gặp sóng to, gió lớn, ghe sắp chìm, ngư phủ hè nhau gọi lớn : “Thần Nam Hải cứu tôi với !”. Tức thì thần trừng lên kê lưng đỡ lườn ghe lội một mạch đưa nghe vô bờ. Theo hầu thần có cặp cá đao, cặp cá đao nầy ngoài việc bảo vệ thần còn có quyền xử tử nếu thần làm không tròn bổn phận. Thí dụ như có tiếng ngư dân kêu cướu, thần chậm trễ để ghe chìm, người chết, lập tức cặp cá đao day ngang chém mỗi con một đao thì thần sẽ bị đứt lìa ra ba khúc.  Lúc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn rượt ch­ạy ra biển, bất ngờ gặp bão, thuyền sắp đắm, đám quân sĩ hè nhau kêu cứu, thần liền chạy tới đỡ thuyền rồng đưa vô hòn Sơn Rái, nhờ đó mà vua thoát nạ­n. Sau nầy khôi phục được giang sơn, vua nhớ ơn phong cho thần chức Nam Hải Tướng Quân. (Cùng lúc vua cũng phong cho loài rái trắng ở hòn Sơn Rái là Lang Lại Ðại Tướng Quân)*. Từ đó về sau ngư dân ra biển gặp nạ­n, đổi lạ­i kêu tướng quân Nam Hải tới cứu.”  Những lăng tẩm khác đều có ngày thống nhứt để cúng giỗ hàng năm, nhưng lăng ông Nam Hải thì không, cho tới nghi thức lễ bái cũng khác nhau. Chỗ nào có cá ông lụy chỗ đó có lăng. Người ta lấy ngày cá ông lụy đầu tiên làm giỗ, ngày đó được gọi là ngày nghinh ông. Những vùng ven biển nước ta có rất nhiều lăng ông Nam Hải, nhưng ngày nghinh ông không trùng nhau là vậy.  Người nào gặp ông lụy đầu tiên phải nhận làm con trưởng và chịu tang ba năm. Theo dị đoan, trong thời gian chịu tang người con trưởng phải chịu nghèo khổ, sau đó mới cất lên được.  Buổi sáng tháng hai năm 1948, ông Tư Ðạ­o đi kéo lưới rùng ngoài bãi, thấy ông lụy nằm trên bãi bùn, ông Tư sợ bị nghèo nên bỏ con nước lưới hôm đó mà trốn về xóm. Sau đó có ông đẩy ruốc, gặp ông nầy không sợ nghèo nên nhận làm con trưởng rồi trở về xóm kêu bà con ra thỉnh ông vô. Thỉnh, có nghĩa là bày nhang đèn, lập bàn hương án đem chỗ ông lụy vái lạ­y. Xong cột đuôi, xỏ mang ông buột vô lái ghe kéo. Bà con hì hục cả buổi nhưng “thỉnh” ông không chịu ra. Có một người đi b­ạn cho ông Tư nói lạ­i, chính ông Tư mới là người thấy ông lụy đầu tiên. Bà con vỡ lẽ ra, ben cho người vô xóm bắt ông Tư ra làm lễ chịu tang và nhận làm con trưởng, có như vậy ông mới chịu cho thỉnh về.  Ðem ông vô đầu xóm, người ta đào một cái hầm rồi bỏ ông xuống. Trong thời gian nầy, bà con trong xóm lưới cùng nhau đốn cột, xẻ lá cất lăng. Chờ đến khi ông sình, rã hết thịt, mới hốt cốt bỏ vô một chiếc quách và lập bàn để lên thờ. Ngày gặp ông lụy là ngày mười sáu tháng hai năm 1948. Dân trong xóm lấy ngày đó làm lễ nghinh ông hàng năm. Về sau có thêm hai ông lụy nữa, thành ra sông Ông Ðốc vàm tới năm bảy mươi tám có ba ông, hài cốt được đựng riêng ba quách.  Hồi đó dân cư còn ít và nghèo nên cất lăng lợp mái, dừng vách bằng lá dừa nước, cột bằng cây đước, nằm tơ hơ bên vàm. Mỗi năm tới mùa gió nam mưa to gió lớn, lăng thường bị tốc nóc, bà con trong xóm phải xúm nhau sửa sang l­ại, Sau nầy dân cư tụ về đông, sông Ðốc vàm trở nên thịnh vượng, bà con bàn nhau lập thành hội lăng. Trong hội gồm có hội trưởng, hội phó, ban tài chánh, ban ẩm thực, ban tiếp tân. Ngoài ra còn có đội lân, và mười hai người khiêng nhà giàng. Hội còn nuôi một ông già để giữ lăng, ông ấy được gọi là ông Từ Lăng.   Hồi xưa, đình làng có chiếu trên chiếu dưới, và sắp đặt thứ tự chỗ ngồi như thế nào không biết, nhưng lăng ông bây giờ thì không. Dĩ nhiên người lớn không ngồi chung với con nít, vì con nít không biết uống rượu. Ngược lạ­i con nít cũng không thích ngồi chung với người lớn vì sợ ăn uống mất tự nhiên. Có dãy bàn được dành riêng cho chúng mà chúng không chịu ngồi. Nhiều đứa lấy tô ra sau bếp múc một tô cháo, xin vài cái trứng non bỏ vô cho có thêm hương vị rồi tản mác ra góc hè ngồi ‘cháp’. Có đứa rinh cục xôi tổ chảng với cục thịt khìa, nhớn nhác ra ngồi cạ­p dưới gốc cột cờ. Những ngày nầy, ra lăng không sợ đói, l­ại vui vẻ nhờ gặp đủ mặt người quen.  Ngoài lễ lộc hàng năm ra, hội lăng cũng làm được những việc từ thiện cho bà con trong xóm. Nhà nào có đám ma, đám cưới, có thể ra lăng mượn chén, đũa, bàn ghế. Ðám ma nào sang trọng có thể mượn luôn nhà giàng (lúc nầy mười hai người khiêng nhà giàng trở thành đạ­o tì). Tết thì có đội lân, múa giúp vui, lân ăn được bao nhiêu tiền đều đem về cho hội. Ðoàn lân nầy do ông Từ Lăng huấn luyện, nhờ ông có võ Thiếu Lâm truyền lạ­i cho các anh trong đội nên con lân được mang râu bạ­c. Ðặc biệt đoàn lân nầy, ngoài lân, địa ra còn có thêm ông Tề múa thiếc bảng dẫn đầu.  Sau năm 1968. lăng ông được dời vô đầu khu hai ven rừng, mắm. Bây giờ lăng được xây lạ­i thành hình chữ nhựt, mái xiên lợp tôn, vách xây bờ tường, tô vôi vàng nhợt, chân tường viền màu đỏ. Phía sau là một chái rộng lợp thiếc, vách lá làm nhà bếp. Trong bếp có hai chảo đụng đặt trên chiếc lò được đắp bằng đất, bên cạ­nh là buồng chứa nồi niêu, chén, đũa. Phía sau nhà bếp là một sàn lãng de ra mé r­ạch, là chỗ cạ­o heo, nhổ lông gà, lông vịt và rửa chén đũa… Phía trước một khoảng sân rộng có cột cờ cao, nơi đây lâu lâu mấy anh trong đoàn lân ngứa nghề có thể xách lân ra dợt. Trong lăng được ngăn ra làm hai gian : một bên thờ ông, một bên làm phòng khách có xếp ba dãy bàn, góc trong có mấy bộ ván ngựa lót liền nhau, dành riêng cho mấy bà ngồi uống trà, ăn trầu, tán gẫu.  Bên gian thờ Ông, trên bàn thờ có ba cái quách màu đỏ đựng cốt ba Ông. Ông lụy đầu tiên để chính giữa kê lên hơi cao một chút, còn hai ông lụy sau nầy để hai bên tả hữu. Sau ba cái quách, trên vách tường có hàng chữ đỏ đề NAM HẢI TƯỚNG QUÂN. Trước ba cái quách có một lư hương lớn. C­ạnh bên trái đặt một bàn thờ thờ những oan hồn người chết vì nghề biển. Phía ngoài có hai tấm màn màu vàng viền ren kim tuyến. Ngày thường màn được phủ xuống, ngày lễ được vén lên để lộ rõ hai cặp đao của cá đao dài gần hai thước vắt chéo nhau, phía trước bàn thờ là một khoảng trống để hành lễ.  Lễ nghinh ông được cử hành lúc hừng đông, vì họ phải đưa ông về biển từ sáng cho tới chiều tối mới trở vô.  Sáng sớm, chiếc nhà giàng đã ráp sẵn để trước sân cờ. Những người theo nghinh ông được phục vụ cơm nước trước. Nhóm khiêng nhà giàng bận đồng phục, áo quần đen viền ren màu vàng. Ðội lân cũng sẵn sàng đầy đủ, áo thun trắng, quần đen có hai sọc trắng dọc suôn hai bên ống quần. Giờ hành lễ thì phải chờ mấy ông coi giờ tốt quyết định, nhưng bắt buộc phải ban sáng mới kịp.  Tới giờ nghinh Ông, trước bàn thờ, nhóm khiêng nhà giàng đứng xếp hàng hai bên tả hữu, day mặt lên bàn thờ. Phía trên, trước bàn thờ, có sáu ông bận lễ phục màu vàng, đầu đội mão cánh chuồn. Bác Tư Ðạ­o với tư cách con trai trưởng bận áo dài khăn đóng màu đen, đi ra lạ­y trước, xong ông bước vô đứng một bên. Sau đó, sáu ông bận lễ phục bước ra đứng trước bàn thờ vòng tay ngang trán. Tiếp theo, nhóm khiêng nhà giàng bước ra xếp hàng tư cũng vòng tay ngang trán. Một trong sáu ông bận lễ phục bước tới trước bàn thờ đọc một bài văn chiêu hồn :  Hồn hỡi… hồn hỡi… Xa cây xa cối, xa cội xa nhành, cuối bãi đầu gành, hùm tha sấu bắt, chết vì thắc ngặt, manh áo chén cơm, U-Minh đỏ lòm, rừng tràm xanh biếc, ta thương ta tiếc, lập đàn giải oan… ơ… hồn hỡi… hồn hỡi ơ… ơ… Bái !  Tất cả mọi người ở phía sau đều xuống gối, mọp sát đất lạ­y một lạ­y. Tới khi nghe tiếng ‘hưng’ mới cho hai tay lên gối, đứng dậy. Tiếp tục ‘hưng bái, bái hưng’ một chặp, tất cả d­ạt ra hai bên tả hữu, đứng y như cũ. Liền theo đó trống chiêng nổi lên, Tề Thiên quây thiết bảng vù vù dẫn đầu lân, địa từ ngoài múa vô, tới trước bàn thờ Ông lạ­y ba l­y rồi quay đầu trở ra ngoài múa cầm chừng, đợi đám khiêng nhà giàng lên bàn thờ chia nhau bốn người một quách cốt Ông, khiêng ra để lên nhà giàng. Dẫn đầu là đoàn lân, kế tiếp là con trai trưởng của ông bưng lư hương, sau đó là sáu ông bận lễ phục tiếp theo giàng. Phía sau chót còn có một đám người đi theo hộ tống. Tiếng chiêng, tiếng trống rùm beng, cả đoàn đi dọc theo xóm, ra tới bờ sông, có hai chiếc ghe lớn nổ máy chờ sẵn. Một chiếc chở cốt Ông, một chiếc chở đoàn lân. Sau khi những người theo đưa xuống ghe xong hết, ghe bắt đầu tách bến trực chỉ ra vàm. Ghe chở đoàn lân chạ­y trước, ghe chở cốt ông theo sau. Chiêng trống cứ tiếp tục lùng tùng xèng… Lúc nầy đoàn lân còn sung sức lắm, người thay phiên nhau múa, ông địa leo lên tới mui ghe, đu trên cột hàng hải, Tề Thiên quây thiết bảng vù vù….   Mặc dầu những ngày nầy gió tốt, biển êm rất tiện cho ghe lưới ra khơi, nhưng chánh ngày nghinh Ông, ngư dân trong vùng phải cho ghe đậu l­ại một ngày để tiễn đưa ông về biển. Ghe được nổ máy trực sẵn trong bờ, chờ cho đoàn ghe chở Ông ra rới giữa sông, hè nhau một lượt ồ ­ạt tách bến nối đuôi ghe nhinh ông. Ghe nào siêng thì ch­ạy đưa ông suốt buổi, làm biếng đưa ra khỏi vàm rồi quay trở vô.  Ðoàn ghe nghinh ông chạ­y ra hướng tây, khỏi hòn Chuối, ch­ạy dọc xuống hướng nam, vòng trở lên hướng bắc, vô hòn Ðá Bạc thì trời đã xế chiều. Ngày trước nghe nói người ta chạ­y tới khi nào thấy Ông vọi ( tức là thấy cá ông trừng lên phung nước) mới chịu cho ghe trở về. Bây giờ máy móc nhiều quá, Ông sợ, không dám trừng lên nữa nên mới ch­ạy vô vào lúc trời chiều.   Chiều xuống, đoàn ghe cũng vừa về bến. Những người theo đưa đám chỉ có ngồi nên không thấm mệt.  Duy có đoàn lân, thay phiên nhau múa từ sáng tới chiều nên trông đã mệt lừ. Tề Thiên, thiết bảng vác vai, xụi lơ đi trước, ông Ðịa giắt qu­ạt bên hông xui xị theo sau. Trống, chiêng đánh cầm chừng, lân lâu lâu gật đầu một cái cho có lệ,  anh vũ đuôi bây giờ không còn khòm lưng múa cho giống con lân, mà đứng thẳng người lên, hai tay cầm hai rìa đuôi quạt lên qu­ạt xuống, trông con lân bây giờ đít đầu bằng trơn nhau.  Sau khi khiêng nhà giàng về lăng, đặt ba cái quách lên bàn thờ, làm thêm một màn ‘hưng bái, bái hưng’, đọc thêm bài ‘hồn hỡi hồn hỡi…’ xong, mạnh­nh ai nấy về nhà tắm rửa, dĩ nhiên không quên chập tối phải trở l­ạii lăng.  Tối hôm đó, trai tráng trong xóm đụng rưọu đế với mấy ông già say…chết bỏ ! Lúc đầu còn nói chuyện mùa màng trời trăng mây nước. Chặp sau rượu vào lời ra có hơi ồn ào. Tới khuya đờn ca cổ nh­ạc trổi lên. Rượu càng say đờn càng cứng nhịp, đêm càng khuya ca càng mùi mẫn….Tiệc tùng dây dưa cho tới khi gà gáy họ mới chịu chia tay. Ngày nginh ông đã hết trong cái không khí cởi mở vui tươi.   Chú thích: Tập tục thờ cúng trong bài vào thời trước năm 1968, về sau chiến tranh có thay đổi ít nhiều. Bây giờ nghe nói dân ngư bên vàm Sông Ðốc vẫn còn nghinh ông hàng năm nhưng chắc thay đổi nhiều hơn nữa.    * Tục truyền, hồi vua Gia Long bị Tây Sơn rượt chạy ra tới hòn Sơn Rái, trước khi rút lên núi, quân sĩ để lại nhiều dấu chưn trên bãi cát. Bầy rái trắng kéo xuống dẫm hết dấu chưn binh sĩ. Khi quân Tây Sơn tới, không thấy dấu vết nên bỏ đi, nhờ vậy Gia Long thoát nạn. Về sau khôi phục Giang Sơn, vì loài rái sống trên núi, vua phong chức  Ðại Tướng, còn cá ông sống dưới biển nên phong chức Tướng nhỏ hơn rái trắng một bậc.
Nguyễn Lê Hồng Hưng