Cốt nhục tương tàn!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

“Nhựt Bản và Nam Hàn đang trong tình trạng báo động cao sau khi Bắc Hàn đã phóng thành công một hỏa tiễn tầm xa. Cả hai nước nầy đều ngạc nhiên khi Bắc Hàn thành công… nhưng rõ ràng rằng chính Bắc Hàn còn ngạc nhiên nhiều hơn nữa”

Những show truyền hình hài hước của Hoa Kỳ thường hay đem các lãnh tụ độc tài của nhà nước Cộng sản Bắc Hàn ra mà giễu cợt!

Chẳng hạn như: “Bắc Hàn đang đe dọa chiến tranh tổng lực chống lại nước Mỹ. Họ đã leo thang chiến tranh bằng cách chụp thêm mười tấm ảnh nữa cho thấy Kim Jong-un đang nhìn qua những cái ống nhòm.”

Nghĩa là Bắc Hàn chỉ quen thói rung cây nhát khỉ để hù dọa nước Mỹ mà thôi! Tối ngày cứ lo thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa cũng để ‘nhát’ kẻ thù hoang tưởng; nhưng nhiều lần thất bại nên mấy chú Sam cười hô hố mà rằng:

Rồi: “Hôm qua, Bắc Hàn đã phóng một hỏa tiễn tầm xa. Hành động nầy nhắm hù dọa mọi người. Tuy nhiên nó đã nổ tung khi mới rời giàn phóng được một phút. Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-un tức điên lên! Về nhà, Kim Jong-un giơ cẳng ra đá một con chó chết ngắc; xong ăn thịt luôn con chó!”

Mấy Chú Sam nầy võ đoán là kỹ thuật phóng hỏa tiễn của Bắc Hàn đã dở ẹt mà dân Bắc Hàn còn đói quá không đủ ăn và lại rất thích ăn thịt cầy 7 món nữa đó.

Chú Sam nầy khinh thường, coi lãnh tụ Kim Jong-un của Bắc Hàn chỉ là đồ con nít, chuyên chọc phá và gây rắc rối cho các nước cựu thù bằng cách đề nghị rất đểu là:

“Tại sao chúng ta không giải quyết những rắc rối do Kim Jong-un gây ra bằng cách gởi tặng ông ta một tấm vé đi xem Disneyland?”

Tuy nhiên, mới đây Bắc Hàn đã phóng thành công hỏa tiễn tầm trung, bay xa tới năm trăm cây số. Và cuộc ám sát Kim Jong-nam tại Mã Lai tuần rồi chắc cũng khiến mấy Chú Sam nầy đâm ra lo ngại mà bớt chọc quê rồi cười hô hố đi chăng?!

***

Thói thường ai sanh ra trong một gia đình đang ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen thì thiên hạ cho là may mắn, sanh ra với cái muỗng bạc ngậm trong mồm. Đời sẽ sướng ơi là sướng!

Nhưng không phải luôn luôn là vậy! Nếu lỡ là con của các lãnh tụ độc tài Cộng sản. Hí kịch (kịch vui) đã biến thành bi kịch (kịch buồn).

Cuộc đời của Kim Jong-nam quả là một bi kịch vậy!

Kim Jong-nam, trưởng nam của cố lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-il và ái thiếp là diễn viên Song Hye-rim, phải sống những năm tháng ấu thơ trong bí mật, tách biệt với thế giới bên ngoài.

Lý do là bà Song Hye-rim lớn hơn ông Kim Jong-il 4 đến 5 tuổi và đã có chồng rồi, rồi mới quan hệ với ông Kim Jong-il.

Vì thế, Kim Jong-il đã giấu cha mình, là cố chủ tịch Triều Tiên Kim Il-sung chuyện ông có con với bà Song Hye-rim.

Vì Kim Jong-il đang là ứng viên hàng đầu kế nhiệm Kim Il-sung. Nếu mối quan hệ với bà Song bị bại lộ, con đường chính trị ông đang đi chắc chắn sẽ lâm vào ngõ cụt.

Thế nên, ngay từ bé, Kim Jong-nam đã bị đưa đến sống tại một địa điểm bí mật ở trung tâm Bình Nhưỡng, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Chú Sam Jay Leno, chủ xị một Show truyền hình Mỹ phát lúc 10 giờ tối mỗi đêm trên đài NBC, chọc quê Kim Jong-il nhân tiện đá xoáy luôn các vị dân cử của Quốc Hội Hoa Kỳ như vầy:

“Theo tiểu sử của Kim Jong-il cho biết ông ta là một con người bất lương hay say xỉn và rất hám gái. Thế nên nếu ông ấy là công dân Mỹ, hắn ta có thể đã đắc cử vào Quốc Hội Huê Kỳ!”

Kim Jong-nam sanh ngày 10 tháng năm 1971. Khi lên 9 tuổi, Kim Jong-nam được gửi đi học Geneva, Thụy Sĩ và sau đó là Moscow cùng mẹ suốt 10 năm.

Bà Song Hye-rim qua đời ở Moscow năm 2002, sau một thời gian chống chọi với bệnh trầm cảm.

Sau khi du học xong, Kim Jong-nam trở về Bình Nhưỡng vào cuối những năm 1980, sau đó cưới vợ, giữ một số vị trí cao cấp trong chính quyền của cha trong Cơ quan Mật vụ.

Kim Jong-nam được cho là thông minh; vì có thể nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Anh, chuyên gia về máy tính nhưng lại không thực sự hứng thú lắm với chính trị.

Năm 2001, Kim Jong-nam bị bắt tại một sân bay ở Tokyo cùng hai phụ nữ và một trẻ em trong lúc đang cố gắng nhập cảnh vào Nhật Bản với tấm thông hành Cộng hòa Dominica giả để tới thăm công viên Disneyland.

Hành động bốc đồng nầy làm thân phụ ông là Kim Jong-il mất mặt và bất mãn. Kim Jong-nam bị thất sủng, bị tước quyền nối ngôi, vốn dành cho trưởng nam.

Vì sớm tiếp xúc với thế giới bên ngoài và không hài lòng trước cuộc sống bị phong tỏa, cô lập ở Bình Nhưỡng và chứng kiến hàng nghìn người dân Bắc Hàn chết vì nạn đói. Kim Jong-nam nhanh chóng thể hiện thái độ hoài nghi về hệ thống chính trị, kinh tế Bắc Hàn, muốn cải cách kinh tế theo kiểu Trung Quốc.

Còn Kim Jong-un là con trai út của Kim Jong-il và ái thiếp Ko Yong-hui.

Hai người cùng mẹ mà khác cha; nhưng chưa thực sự gặp nhau bao giờ vì tập quán của chế độ độc tài Bắc Hàn nuôi dưỡng những lãnh tụ có thể lên kế nhiệm phải riêng biệt nhau.

Kim Jong-nam cũng không tin em trai Kim Jong-un có đủ khả năng dẫn dắt Bắc Triều Tiên. Do vậy hai anh em bất hòa!

Từ năm 2000 trở đi, Kim Jong-nam thầm lặng chơi bời ở Macau, Trung Quốc! Cũng không được dự đám tang của cha mình vào năm 2011; điều đó đưa ra những tin đồn rằng ông đã bị trục xuất khỏi Bắc Hàn.

Kim Jong-nam là một tay chơi (play boy), khoái ăn nhậu , nên bụng bự, khoái đánh bài trên máy, sống tương đối xa hoa với các cặp kính thời trang và các bộ vest hàng hiệu, đắt tiền.

Kim Jong- un lên nắm quyền cai trị Bắc Hàn lúc mới lên 28 tuổi, đã sử dụng bàn tay sắt, không hề ngần ngại trong việc hành quyết các quan chức dù cấp cao nhất, thân cận nhất, nhưng bị coi là mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực của mình!

Ngày 8, tháng 12, năm 2013, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Lao Động Triều Tiên đang họp thì quân cảnh đã tràn vào, lôi Jang Song-thaek, người dượng, chồng của cô ruột Kim Kyong-hui và là cố vấn cấp cao đem đi hành hình.

Cáo buộc Jang Song-thaek cùng bè đảng đã phản đảng, phản cách mạng, phá hoại sự thống nhất và đoàn kết trong đảng.

Ngoài ra, còn phạm tội tham nhũng, đồi trụy, chơi ma túy, gái gú và đánh bài bạc tại nước ngoài (ám chỉ tại Ma Cau, Trung Quốc nơi Kim Jong-nam đang sống lưu vong).

Thi hành án tử với dượng; giờ thì tới phiên anh cùng cha khác mẹ với mình!

Cách đây 5 năm, khi nắm được quyền lực tối thượng, Kim Jong-un đã ra lịnh cho thuộc hạ phải ám sát cho bằng được Kim Jong-nam để diệt trừ hậu họa.

Tháng Mười, năm 2012, một gián điệp Bắc Hàn bị bắt, thú nhận đã có một âm mưu dàn cảnh đụng xe ở Trung Quốc hồi năm 2010, nhắm giết chết Kim Jong-nam nhưng bất thành.

Kim Jong-nam rét quá… nên xuống nước nhỏ, gởi một bức thơ cầu khẩn đến em mình: “Xin hãy tha chết cho anh và gia đình!”

Chú Sam David Letterman, Late Night Show trên đài CBS, đã từng chọc quê Kim Jong-un; nhưng lại như một lời tiên tri ngay chóc về chuyện thanh trừng sẽ xảy ra trong nội bộ của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn:

“Như bạn đã biết thiên hạ không thấy Kim Jong-un, nhà độc tài ác quỷ của Bắc Hàn, xuất hiện trong 6 tuần lễ lại đây. Có lẽ ông ta đang bận rộn hành quyết gia đình mình!”

Quả nhiên y như kinh, sáng thứ Hai, ngày 13, tháng Hai, Ga hàng không quốc tế số 2, phi trường quốc tế Kuala Lumpur tấp nập hành khách chờ làm thủ tục lên máy bay.

Kim Jong-nam, sau một tuần ở Malaysia chuẩn bị bay về lại Macau, với thông hành mang tên Kim Chol, sanh tại Bình Nhưỡng, vào ngày 10 tháng Sáu năm 1970

Một phụ nữ đã xịt vào mặt Kim Jong-nam một độc chất, mạnh hơn chất cyanide rất nhiều; và một phụ nữ khác từ phía sau dùng một miếng vải ép chặt vào mặt nạn nhân khoảng 10 giây đồng hồ.

Kim Jong-nam cảm thấy choáng váng, hoa mắt, không thấy đường, loạng choạng tới một quầy tiếp tân kêu cứu.

Trong phòng y tế của phi trường, ông bắt đầu lên cơn co giật. Xe cứu thương đến, nhưng Kim Jong-nam đã chết trên đường đi tới bệnh viện, bỏ lại vợ và 6 đứa con còn ở tại Ma Cau.

Bọn thủ ác theo cầu thang cuốn ra ngoài ga hàng không! Hai nữ sát thủ và bốn người đàn ông đồng bọn tách thành hai nhóm, bắt taxi về Khách sạn Empire Salak Tinggi, huyện Sepang, bang Selangor, cách thủ đô Kuala Lumpur 55 km, khoảng 40 phút xe.

Cảnh sát Malaysia, theo màn hình an ninh của phi trường ghi lại, sau đó bắt giữ được một phụ nữ mang thông hành Việt Nam tên là Đoàn Thị Hương, sinh ngày 31, tháng Năm, năm 1988 tại Nam Định, lúc 08 giờ 20 phút, giờ địa phương, thứ Tư, ngày 15, tháng Hai khi sát thủ chuẩn bị lên máy bay rời Malaysia.

Nữ sát thủ còn lại mang thông hành của Indonesia cũng bị bắt. Cuộc điều tra và truy tầm những tên sát nhân còn lại vẫn còn đang tiếp tục.

Giám đốc Cơ quan tình báo Nam Hàn cho rằng: “Việc hành thích nầy do lịnh trực tiếp từ Bình Nhưỡng!”

Quyền Tổng thống Nam Hàn Hwang Kyo-ahn, nói rằng nếu Bắc Hàn thực sự đứng sau vụ giết Kim Jong-nam, điều đó cho thấy “bản chất tàn bạo và vô nhân đạo” của chế độ Bình Nhưỡng.

Vụ Kim Jong-nam bị giết có thể là dấu hiệu hệ thống quyền lực ở Bình Nhưỡng đang gặp nguy cơ. Diệt trừ hậu hoạ: diệt mối lo về sau, mối hoạ sau này.

Tuy nhiên, đám cận thần đang có quyền lực ở Bình Nhưỡng có thể sẽ quay ra chống lại Kim Jong-un vì nay thì không ai còn cảm thấy an toàn được nữa.

Cốt nhục tương tàn, không chút xót thương. Giết anh bằng bàn tay của một nữ sát thủ mặc áo có hàng chữ LOL (Laugh Out Loud – Hãy cười lớn lên đi!).

Rồi bắn pháo bông suốt 20 phút, long trọng mừng Lễ mừng Sinh nhựt Kim Jong-il, vốn là thân phụ của cả hai người.

Thiệt là một trớ trêu của trò đời tranh bá đồ vương cực kỳ kinh tởm!

đoàn xuân thu

melbourne

Công tử Quờn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Đất nước mình bây giờ do CS cai trị, vừa ăn vừa phá; nợ đã ngập đầu. Nợ ngập đầu của nước ngoài, đâu thể nào giựt chạy, quỵt tiền; mai mốt ai cho mượn nữa, bèn học thói của thằng Tây thực dân: sưu cao thuế nặng; tàn nhẫn chụp lên đầu dân ngu khu đen, đang đói lòi cả hai cái lỗ tai, để bọn chúng giật gấu vá vai… mà tiếp tục xài tiền chùa bá tánh thập phương.

Có một quan lớn CS dạy dỗ đàn em: “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”. Thằng cha nội nầy hỗn… dám so sánh dân với ‘vịt’ chớ.

Thôi vặt cho sạch lông vịt đi, rồi bắt nồi nấu cháo lên, bỏ con vịt vô làm món vịt chấm nước mắm gừng để Tía con bây nhậu một trận tưng bừng cho rồi.

Nhưng vặt gần hết lông vịt mà vẫn chưa có đủ tiền trả nợ thì còn một chiêu tàn độc cuối cùng là bán đất nước cho thằng Tàu lạ; mặc kệ cho ‘bầy vịt’ nó thảm thiết kêu la.

***

Trước khi bán là phải quảng cáo! “Nước ta có nhiều cảnh đẹp, được ví như người con gái đẹp ngủ trong rừng chưa ai đánh thức”,

(Nhà thơ CS Nguyễn Duy khoái quá la rùm vì vì bài ‘Đánh thức tiềm lực’ (viết đã lâu có cái tứ na ná như vậy; được hết đứa nầy tới đứa kia ‘chôm chỉa’)

Nhưng mấy nhà thơ khác, (nhưng cùng phe), cho rằng: “Một đoạn thơ quá dở trong một bài thơ xoàng, chỉ hô khẩu hiệu; khô khan, không có tính nghệ thuật. Thế mà không hiểu tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại chọn, ra đề thi Văn cho các em lớp 12 một cách phản cảm, phản giáo dục như vậy?!”

Vậy cũng đở hơn rồi! Vì xưa giờ, đề thi môn văn thường là của thằng cha nào đã chết mấy mươi đời vương; xác đã sình chương… sau khi dùng cái ‘đỉnh cao trí tuệ’ của mình tàn phá đất nước như thợ thơ Tố Hữu.

Rồi có thằng ‘cu’ nghe con gái đẹp ngủ trong rừng nầy, tả tình giựt cả mình, bèn phụ họa theo nịnh bợ!

“Việt Nam là cô gái đẹp, tất cả cơ thể này chỗ nào cũng đẹp. Chúng ta phải lựa chọn những bàn tay tinh túy nhất, chứ không phải là ai cũng cho vào. Cho nên lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải có tầm vóc. Nhà đầu tư khi bước vào thì phải đem đến điều gì đó đặc biệt, tạo động lực mạnh mẽ cho đặc khu phát triển.”

“Ê! Sao mà giống như thuyết minh phim ‘sex’ vậy cha nội?”

Kinh nghiệm chua xót mới ràng ràng đây nè! Bọn Formosa và nhiều bọn khác vô làm ô nhiễm môi trường, làm cá ngoài biển, cá dân nuôi bè hè nhau chết hết ráo mà bọn chúng láo, dám bảo: “400 tấn cá chết là do bị sặc nước”.

He he! Hồi nhỏ tới lớn, tui chỉ nghe con cá nó sống vì nước; giờ mới nghe nó sặc nước mà chết hết đó nhe!

Thế nên bà con mình cho rằng: Luật Đặc Khu, là bán đất của tổ tiên của toàn dân để toàn đảng mình xơi. Đúng là một bọn Trời ơi! Vì đất đai là sở hữu của toàn dân; do nhà nước quản lý. Quản lý mà lại ăn cắp đem đất của chủ đi bán… thì tao cũng lạy tụi mầy?

Thế nên đồng bào Phan Thiết mình quạu quá; hè nhau rượt tụi nó chạy có cờ! Quá đã!

***

Té ra đảng viên chóp bu CS giờ, cũng khoái ví von, khoái chơi chữ lắm làm tui lại nhớ tới chuyện hồi xưa!

Cách đây hơn nửa thế kỷ, tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn, tui học lớp Đệ Thất, rồi cứ đếm ngược theo ‘số thứ tự’ lên là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhứt!

Mãi tới năm 1969, Bộ Giáo Dục mới đổi tên lớp lại theo ‘số đếm’. Đệ Thất là lớp 6, leo dần 7, 8, 9, 10, 11, 12.

Sau đó bỏ kỳ thi Tú tài Một, cuối năm lớp 11 chỉ còn thi Tú tài Hai cuối cấp mà thôi. Sở dĩ cắt nghĩa vòng vo tam quốc dài dòng như vậy sợ em cháu mình sau nầy nó không biết.

Mặc dầu lớp Đệ Thất nhỏ nhứt nhưng quý thầy cô lại già nhứt, có kinh nghiệm giảng dạy nhứt mới được phân dạy cấp lớp nầy đó nhe! Nhứt là trong cái trường trung học nổi tiếng nhứt của nước VNCH là trường Petrus Ký. (Thiệt là quá nhiều cái nhứt!)

Ba năm đầu, môn Quốc văn, tuần học tới 6 giờ, vì là môn quan trọng nhứt! Và có một chuyện ngẫu nhiên lý thú là: quý giáo sư dạy tui môn Quốc Văn đều tên Dung. Dung là tên phái nữ; nhưng thầy dạy Đệ Thất của tui cũng tên Dung; thầy Võ văn Dung.

Nghe tui kể vanh vách như vậy, mấy thằng bạn học cùng lớp năm xưa ngày cũ nó ngán tui quá xá! “Ê già háp mà thằng ‘Tèo’, đã từng một thuở ‘lù coi’ nầy, nó chưa có lẫn!”

***

Thầy tui hồi xưa rất yêu nghề. Vì nghề giáo hồi đó sống khỏe chớ đâu như bây giờ làm giáo chức là dứt cháo, sống bù lăn bù lóc… một đời móc bọc!

Yêu nghề nên tận tâm với nghề; thầy soạn bài kỹ lắm. Nhưng khổ nỗi là thầy chọn những đề tài mà thầy thích rồi dạy, hỏng cần biết sắp nhỏ có đủ khôn để hiểu hay không?

(Mãi tới hơn 50 chục năm, tui mới ‘ngộ’ là nó hay quá xá là hay… Hơn nửa thế kỷ bớt ngu còn đỡ hơn là mình ngu tới chết!)

Thầy tui rất lấy làm ái mộ nhà văn Bình Nguyên Lộc, tác giả quyển tiểu thuyết ‘Đò Dọc’, đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1960, nên chọn một đoạn trích giảng vầy nè:

 “Quờn là một công tử nhà quê, hạng người mẫu. Vì ở gần thành phố quá, mặc dầu thành phố ấy chỉ là một quận lỵ, công tử Quờn lại mang thêm một cố tật dĩ nhiên là muốn thành người thành thị.

Thành không được, Quờn lai căn một cách dị hợm với những bộ bi-da-ma màu hường, màu xanh lá cây mà cậu mặc mãi từ sáng đến tối, từ trong buồng ra đến quận lỵ. (…)

Từ ngày xóm tiếp nhận nữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợ Lớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đỏ đỏ trên miệng túi bi-da-ma.

Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không khảy vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu. (…)

Trong cái lần đầu ấy, thấy Quờn liếc lén mấy chị em, Hoa tấn công ngay: “Chào cậu hai. Đi dạo mát với chị em tôi chơi, cậu!” (…)

Quờn đứng chết sững và ngậm câm, còn hai cô Hoa và Quá thì rũ ra cười; cô Quá cười no rồi nói: “Hay là cậu mặc áo hường rồi chê áo đen của chị em tôi mà không muốn đi chăng?” (..).

Một bữa khác, được nói chuyện với mấy chị em Hoa, Quờn sẽ để lộ cái “dốt”

Quờn mặc bi-da-ma bằng vải ú màu xanh lá cây, đầu chải brillantine Chợ Lớn sực nức mùi chanh, cổ đeo giây chuyền vàng khè, tay nặng trịu nào lắc vàng, cà rá vàng và đồng hồ cũng bằng vàng. (…)

“Độ rày cậu làm gì, cậu hai?” Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì, à tôi có tự túc một bầy gà Huê-kỳ, coi bộ tương lai quá khứ?”

Cả bốn chị em đều ngạc nhiên, không hiểu cậu ta nói cái gì mà lại tự túc và có tương lai quá khứ? “Tự túc là gì cậu?’” Hương hỏi thật tình. “Tự túc là nuôi, chớ là gì.” “Vậy hà, còn tương lai quá khứ?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là quá sá. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói phạm vi. Thù vặt họ nói cá nhân, nghe hay quá khứ.

Hoa và Quả núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt. (…) .

Chuyện đã lâu, công tử Quờn ngày xưa chắc đã xuống âm phủ mà đờn… Dè đâu cái thời buổi ‘đồ đểu’ nầy trong nước bây giờ không phải là một công tử Quờn mà hàng trăm, hằng ngàn công tử Quờn đội mồ sống dậy; nói tiếng Việt mà hỏng biết mình đang nói cái giống gì?

Mặt vênh vênh, váo vào, cái cằm nọng bố lếu bố láo, tay kia chém gió, đăng đàn diễn thuyết toàn là những chuyện tào lao bắc đế làm bà con mình khi dễ như bốn chị em của Hoa đối với công tử Quờn ngày xưa đó mà thôi.

Chẳng hạn như: “Sinh đẻ là vì mình, đất nước, vì thành phố, chứ không là chuyện riêng. Rất nhiều nước coi việc sinh đẻ là tự do của cá nhân, nhưng tự do mà sinh ít quá thì đất nước bị thiệt hại”.

Chuyện con nhiều, con ít… là quyền tự quyết của chị em mình. Xin ông đừng có dại mà bắt chước ‘ngày xưa đại tướng cầm quân; ngày nay đại tướng cầm quần chị em’

Bên Úc nầy, chừng hơn chục năm trước, ‘mông xừ’ Peter Costello, Bộ trưởng Ngân khố cũng chổng mông kêu gào là: “Mỗi chị em Úc trắng, vàng, đen, đỏ nên sản xuất ra ba đứa nhỏ! Một đứa cho má, một đứa cho tía, một đứa cho chánh phủ. Chớ nín kiểu nầy vài chục năm nữa nước Úc toàn là ông bà già hết xí quách không hè, đâu còn có ai đủ xí quách, đi làm đóng thuế thì đất nước tất diệt vong. Đẻ thêm đi chính phủ sẽ cho tiền lì xì. Năm ngàn đô mỗi đứa!”

“Tiền thì khoái nhưng tính tới tính lui, vui phút giây thôi mà chín tháng mang nặng đẻ đau, ba năm bú mớm! Nuôi một đứa từ thuở lọt lòng đến năm 18 tuổi ‘bái bai’ Tía má con đi theo tiếng gọi của lòng con đây nhe… là hai vợ chồng lè cả lưỡi! Tốn chừng nửa triệu đô Úc chớ có ít ỏi gì đâu. “Thôi em chả! Ông về biểu bà nhà làm gương trước đi nhe!”

Tiền nuôi con là một vấn đề nhức đầu rồi; mà vấn nạn lớn lên nó thành công tử Quờn hay chơi chữ…Cứ mở miệng ra là dân nó chửi ngu thì thêm nhục tổ tông dòng họ nhà mình!

***

Để chữa cháy, do mấy đồng chí gái nhát như cáy mà nín đẻ, tất tuyệt tự không có con nối dõi tông đường, thì của cải ăn cắp do ngày làm thanh tra tỉnh, tối về chạy xe ôm thâu đêm. Rồi vợ còn phải nuôi heo, nuôi gà cóp nhặt từng đồng mới sắm được cái biệt phủ nầy đây! (Ai vô đây mà hưởng?)

“Nó nói dóc ‘trần trắng trợn’ như vậy làm sao mà dân không chửi chớ?” Để đối pháp, Quốc hội CS vừa thông qua luật An ninh mạng, nhằm hăm he mấy thằng lạng quạng, bọn liều mạng, cán bộ mở miệng ra là nó chửi té tát, chửi như hát.

“Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai, dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Nghĩa là sao, quan sai thì xin lỗi; (rồi huề tiền); còn dân sai thì nhốt!

Khóa miệng dân rồi, đảng ta sẽ lo “xây công viên nghĩa trang để giúp tỉnh phát triển bền vững” và giúp các đồng chí ‘mồ yên mả đẹp’ lúc từ giã cõi đời ô trọc nầy!

Chắc cũng hỏng lâu đâu… lo bây giờ là vừa rồi!

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Di Chuyển Chỗ Ở

Từ giã cô Bông xong, tôi đi xuống trại, ngang qua văn phòng Ty Y Tế, tôi bèn tạt vào. Thấy cửa đóng kín mít. Tôi đẩy nhẹ, cửa hé ra được một chút,vướng thành bàn chặn bên trong. Tôi nghe tiếng bác sĩ Phúc hỏi vọng ra:

– Ai đấy?

Tôi trả lời:

-Tôi đây anh.

– Anh Quý đó phải không? Sơn ơi ra mở cửa cho bác sĩ Quý vào.

Có tiếng chân bước ra cửa rồi tiếng kéo lê cái bàn. Tôi mở rộng cửa lách mình vào. Hơi nóng hầm hập bên trong hất vào mặt tôi. Cái đèn dầu Hoa Kỳ nhỏ để trên bàn giữa phòng leo lét cháy càng làm căn phòng thêm âm u huyền ảo. Trên sàn nhà, năm mẹ con bà Nghi, vợ một nhân viên Y Tế đang nằm ngổn ngang. Đứa bé gái nhỏ thỉnh thoảng lại giãy giụa ú ớ khóc, khiến mẹ nó phải dơ tay quạt liền liền. Không khí tù túng ngột ngạt như đặc sệt lại. Mùi hôi của mấy cái xác ngay sau bức tường, chỗ nhà để xe càng làm khó thở hơn.

Tôi tiến sâu về phía cuối phòng. Nơi đây có một hầm nổi khá kiên cố. Tôi cúi đầu chui vào hầm. Bên trong hầm còn bí hơi ngộp thở hơn nữa. Ở đây cũng có một ngọn đèn Hoa Kỳ để ở góc hầm trên khúc gỗ vuông.

Tôi phải mất mấy giây mới nhận ra bác sĩ Phúc đang nằm dài trên một chiếc nệm. Anh cởi trần, mặc quần đùi cho bớt nóng. Thấy tôi anh hỏi ngay:

– Chưa đi ngủ sao anh?

– Dạ chưa, hãy còn sớm. Tôi mới ở Phòng Cấp Cứu về.

– Có nhiều thương binh không anh?

– Nhiều, ngày hôm nay nhập viện 195 người. Họ nằm đầy ở dưới đất. Rác rưởi nhiều quá anh ạ. Mấy khiêng cáng viên trốn đâu mất, không chịu làm việc, khiêng chuyển bệnh xuống trại để có chỗ tiếp nhận bệnh mới. Ngoài đó xác chết với người bị thương nằm lẫn lộn, thấy khiếp quá. Có lẽ mình phải tổ chức làm vệ sinh cho sạch mới được.

Bác sĩ Phúc thở dài:

– Tụi nó mệt mỏi và mất tinh thần rồi. Để sáng mai tôi bảo Trung úy Quý ra lệnh cho tụi nó làm. À thuốc men anh thấy còn đủ không?

– Có thể cầm cự được chừng một tuần nữa thôi. Nước biển dưới kho lớn hết rồi, nhưng kho Vượt Biên mình còn. Compress mình hết nhưng các trại đã nhận được một số băng cá nhân và bông dùng tạm cũng được.

Bác sĩ Phúc trầm ngâm một chút rồi chợt nói:

– Anh ở dưới đó không có hầm nguy hiểm lắm, anh lên trên này ngủ. Anh mời cả anh Chí nữa. Hầm này còn rộng chỗ mà.

– Vâng tôi xuống phòng một chút rồi lên. Còn anh Chí tôi có nói rồi, nhưng anh ấy bảo ở đâu cũng vậy thôi.

Tôi chào bác sĩ Phúc rồi đi về phòng. Vào trại Ngoại Khoa, tôi đi ngang căn phòng bị dù đè sập mấy ngày trước. Qua lỗ trống ở nóc nhà, ánh sáng hỏa châu vàng vọt bệnh hoạn soi rõ hai cái giường bẹp dúm cùng gạch ngói ngổn ngang vẫn còn để nguyên chưa có ai buồn dọn dẹp. Hơi người trong các phòng thoát ra nóng hầm hập. Phải khó khăn lắm tôi mới lách chân tới cửa phòng tôi vì thương binh nằm đầy ở hành lang. Tôi gõ nhẹ cửa. Vợ Châu ra mở cửa. Tôi lẹ làng bước vào, ngồi trên giường. Vợ con Châu đã thu xếp sạch sẽ một góc phòng để làm chỗ ngủ. Không thấy Châu đâu tôi hỏi:

– Anh Châu đâu chị?

Vợ Châu vừa quạt vừa nói:

– Ông ra đầu trại cho mát. Bác sĩ ăn cơm chưa?

– Chưa, nhưng chỉ thấy mệt chứ không thấy đói.

Vợ Châu nhanh nhẩu nói:

– Còn cơm để phần bác sĩ đó. Bác sĩ ăn chớ không đêm đói.

Tôi ra bàn cố ăn một bát để giữ sức. Trong phòng bịt bùng, oi bức quá. Vừa uống xong ngụm nước thì Châu về. Châu nói:

– Chợ Bình Long cháy dữ quá bác sĩ.

Nghe vậy tôi bèn xách máy hình theo Châu đi ra ngoài. Chiếc máy hình Asahi Pentax tôi mới nhờ em Tuệ tôi ở Sài Gòn mua được một tháng. Tính mang lên đây để chụp những trường hợp bệnh lý đặc biệt làm tài liệu. Chưa chụp được nhiều thì xảy ra cuộc chiến này.

Tôi đi dọc hành lang phía cuối trại Ngoại Khoa, bước xuống mặt đường. Gió đêm mát lạnh. Nơi đây hơi xa chỗ các xác chết nên không khí dễ thở hơn một chút. Tôi nhìn xuống khu chợ mới. Nơi đó sáng rực. Tất cả đều chìm trong biển lửa. Ánh sáng của đám cháy làm lu mờ những đốm hỏa châu ở phía xa. Từng cột khói phản chiếu ánh lửa thành trắng đục, bốc thẳng lên trời, tan biến trong không gian đen thẫm ở trên. Thỉnh thoảng ngọn lửa lại bùng lên cao, che lấp cái khung sườn sắt của chợ Bình Long. Khắp phía Bắc thành phố chỗ nào cũng có đám cháy cả. Tôi đã thấy ánh lửa nhen nhúm từ hồi chiều ở ngay chính giữa chợ, bây giờ mới bộc phát dữ dội.

Càng lâu ngọn lửa càng lớn. Tôi có cảm tưởng cả thị xã An Lộc đều bị chìm trong biển lửa. Trông cảnh tượng đó thật bi hùng, dễ gây xúc động. Tôi muốn ghi lại hình ảnh này để làm tài liệu.

Tôi vội mở máy ảnh chụp cầu may trong đêm tối. Tôi mở hết ống kính, để tốc độ một giây. Tôi chụp liền hai cái. Tôi không tin tưởng lắm là bức hình sẽ rõ. Tôi lại vặn sang nấc B để điều khiển đóng mở ống kính bằng tay cho chắc ăn và chụp thêm hai tấm nữa. (Không ngờ mặc dù phim đã quá hạn, lại để trong túi áo giáp hơn hai tháng trời mới gửi đi rửa mà những tấm hình đó nét rất rõ và đẹp.)

Chụp xong tôi còn đứng nán lại ngắm nhìn cảnh cháy hùng vĩ có một không hai này cùng với mấy chục người dân tỵ nạn. Người nào người nấy đều đứng ngẩn người chăm chú nhìn như bị thu hút bởi thần lửa dưới chân đồi. Ánh lửa rực rỡ, man rợ xa cả nửa cây số vẫn còn soi sáng một vùng rộng lớn trong đêm không trăng, soi rõ những nét mặt thẫn thờ của những người dân tỵ nạn. Họ đang nghĩ tới những của cải không kịp mang đi, những ngôi nhà thân yêu đang làm mồi cho ngọn lửa. Những công trình mà suốt cuộc đời hẩm hiu của họ đã phải làm việc tối ngày mới tạo ra được.

Tôi ngó quanh không thấy anh Châu đâu, bèn đi kiếm anh. Tôi thấy anh đang ngồi ở bậc thềm hành lang hút thuốc lá, bình thản coi như không có gì xảy ra.

Tôi hỏi anh:

– Anh có bà con hay ai quen ở chợ không?

– Dạ không, bác sĩ.

– Vậy cũng đỡ, tôi nghĩ chắc có người đốt chợ quá. Nếu không làm gì cháy dữ như vậy. Không biết đến bao giờ mới yên bình trở lại. Mệt mỏi quá rồi. Thôi mình về phòng đi anh Châu.

Châu đứng dậy đi theo tôi. Tôi nói tiếp:

– Đêm nay tôi lên phòng ông Phúc ngủ. Anh cứ nằm giường tôi cho khoẻ.

Châu nhìn tôi không nói gì cả. Tôi vào phòng kiếm cây đèn pin, đem theo mũ sắt, áo giáp đi lên văn phòng Ty Y Tế. Tôi cúi đầu lách qua cửa hầm. Tiếng Bác sĩ Phúc hỏi vọng ra:

– Anh Quý đó hả?

– Vâng.

– Ứ. Anh lên ngủ với tôi cho vui. Đây anh nằm tấm nệm này.

Thấy trong hầm chỉ có độc nhất một tấm nệm, tôi vội nói:

– Anh nằm nệm đi, tôi trải tạm vải nằm nằm sàn gạch cũng được.

Bác sĩ Phúc gạt đi:

– Tôi có tấm chiếu nylon đây rồi. Nằm nệm nóng tôi chịu không được.

Tôi không quen khách sáo. Cung kính bất như tuân lệnh. Tôi vui vẻ nằm lên tấm nệm duỗi dài chân cho đỡ mỏi. Hai chúng tôi nằm song song với nhau dọc theo chiều dài của căn hầm. Cu Sơn cháu Bác sĩ Phúc nằm phía dưới theo chiều ngang của hầm. Tôi để nón sắt ở góc hầm ngay trên đầu, áo giáp được gấp lại để làm gối. Thoáng thấy chiếc radio lớn của Bác sĩ Phúc để ở bên cạnh, tôi vội hỏi:

– May quá, anh còn giữ được chiếc radio này. Có tin tức gì không anh?

– Có, tôi có nghe đài BBC. Họ nói nghe nản quá.

– Họ nói sao anh?

– Họ bảo chỉ có phép lạ mới cứu được An Lộc!

Tôi thở dài:

– Thế là chúng mình tiêu tùng à? Vô lý. Tôi nghe nói Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đã lên tới Tân Khai mấy ngày nay rồi. Từ đây tới đó cỡ gần chục cây số chứ mấy mà sao vẫn chưa bắt tay nhau được nhỉ?

– Khó lắm, công đồn đả viện là nghề của tụi Việt Cộng. Tụi nó quyết ăn thua đủ nên đã đem 3 sư đoàn đánh Bình Long. Thế nào nó chả chia quân ngăn chặn viện quân mình. Quân Dù lên chậm, chắc cũng vì thế. Từ khi nghe tin Lữ Đoàn Dù lên tiếp viện, không chỉ riêng tôi mà mọi người trong bệnh viện và tất cả mọi người trong thành phố An Lộc này đều hy vọng. Ai cũng yên chí khi quân Dù lên tới nơi chỉ trong vài ngày là An Lộc sẽ được giải tỏa và trận chiến sẽ chấm dứt. Mọi người đều đặt hết tin tưởng vào binh chủng bách chiến bách thắng này. Nhưng chúng tôi đã trông đợi mấy ngày nay mà không thấy gì xảy ra cả. Tất cả chỉ là tin đồn. Nay đồn Dù lên tới Tân Khai, mai đồn Dù lên tới ấp Chà Là. Chúng tôi mong ngóng quân Dù như đứa trẻ mong mẹ về chợ. Vì đó là niềm hy vọng cuối cùng của những người bị vây hãm tại đây.

Tôi chợt nói với Bác sĩ Phúc:

– Tôi không ngán pháo kích. Tôi chỉ sợ bị bỏ bom lầm và nhất là bị bỏ rơi.

Tôi nói ra điều này làm cả hai cùng đâm lo. Trong trường hợp phải rút lui chiến thuật, đó là một bí mật quân sự, chúng tôi lại không có một phương tiện liên lạc nào với các Bộ Chỉ Huy Quân Sự ở đây. Ai báo tin cho chúng tôi biết? Một khi các nhân vật quan trọng đi rồi, Việt Cộng tràn vào, B52 dội bom xuống là cuộc đời chúng tôi chấm dứt. Ý nghĩ này ám ảnh tôi hoài, và đó cũng là mối lo thường xuyên của tôi. Tuy nhiên để tự an ủi tôi nghĩ rằng sự việc sẽ chẳng đến nỗi tệ như vậy. Chung quanh tôi còn biết bao nhiêu là người. Nếu có chuyện gì thay đổi thì chắc tôi sẽ được báo tin không đến nỗi trễ tàu.

Bác sĩ Phúc chợt lên tiếng:

– Đài Sài Gòn cho hay là Đại tá Tỉnh Trưởng cùng Đại tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 đích thân dùng M72 bắn cháy mỗi người một xe tăng T54 của VC.

– Quanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn mình có thấy chiếc xe tăng nào đâu. Chắc họ nói thế cho lính lên tinh thần đấy mà. Bao giờ có dịp tôi hỏi Đại tá Nhựt xem sao.

Anh Phúc với tay bật nút radio tìm đài Việt Cộng. Một giọng nói the thé đanh đá chua như dấm cất lên:

– Quân đội nhân dân chúng ta đang làm chủ tình hình tại thành phố An Lộc. Cờ của chúng ta đang bay phất phới trên nóc dinh tên Tỉnh Trưởng Ngụy. Thành phố An Lộc đã hoàn toàn được giải phóng.

Anh Phúc vội tắt. Chúng tôi không muốn nghe nữa. Họ nói hoàn toàn không đúng sự thật. Chúng tôi còn đây. Dưới khu chợ mới còn đầy lính mình. Hàng chục xe tăng bị hạ ngay trước mặt chúng tôi mà họ dám dở giọng điệu tuyên truyên giả dối. Ai mà tin được.

Tôi quay trở lại vấn đề thực tế trong bệnh viện. Hiện số thương binh quá nhiều. Mà trận chiến thì có thể còn kéo dài chưa biết tới lúc nào mới chấm dứt. Nếu không tản thương kịp số thương binh hiện tại thì sẽ không còn chỗ để chứa những người sắp tới. Và như vậy số tử vong sẽ cao. Sẽ có nhiều người chết oan uổng vì tản thương chậm trễ.

Đã mấy ngày nay không có một chuyến tản thương nào. Mọi người đều nóng ruột, nhất là tôi, trong lòng thực không yên. Công trình tôi săn sóc các thương binh ngay những giây phút đầu chỉ có thể có hiệu quả khi những thương binh này được tiếp tục săn sóc hậu giải phẫu. Nghĩa là phải có đủ điều kiện thay băng mỗi ngày, thuốc trụ sinh đầy đủ, ăn uống đúng cách. Nếu không các vết thương sẽ làm độc, sẽ lâu lành, tạo thành những kết quả xấu.

Tản thương chậm trễ sẽ có những hậu quả không hay, nghĩa là sẽ phải mất đi những tay súng đáng lẽ không phải mất. Phải bỏ ra 20, 30 năm mới gây dựng, đào tạo nên một con người, mà nay chỉ vì thiếu phương tiện mà phải hy sinh một cách vô lý như vậy thì thực đáng tiếc quá.

Tôi nói với anh Phúc là ngày mai chúng tôi sẽ bàn với anh Vũ Thế Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y xin gặp Đại tá Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 để trình bày sự việc và đốc thúc việc tản thương càng sớm càng tốt. Chúng tôi nói chuyện được một lúc, ai nấy đều mệt mỏi, nằm im ngủ. Nhưng trong hầm nóng bức, tôi trằn trọc mãi, cố dỗ giấc ngủ mà không được. Thỉnh thoảng lại còn bị muỗi đốt. Tôi chà cẳng chân trên mặt nệm cho bớt ngứa. Ngoảnh sang bên cạnh, tôi thấy Bác sĩ Phúc đã ngủ từ bao giờ. Anh nằm bình thản thở đều đều. Tôi thấy phục anh quá. Anh nằm trong hầm suốt ngày như không, sức chịu đựng của anh thật đáng kể.

Mùi hôi thối của mấy trăm cái xác nằm bên ngoài đưa vào làm tôi khó thở quá. Hầm này xây trong nhà, mà bên ngoài lại đóng kín mít các cửa, rất là bí hơi. Tôi cố nằm được một lúc, sau cùng chịu không nổi không khí tù hãm đó, thật như ai bịt lấy mũi mình, tôi vùng trở dậy đi ra ngoài hầm.

Chúng tôi không dám để ngỏ cửa vì sợ đêm khuya đặc công VC lẻn vào ám sát, thành ra dù có bí hơi cũng phải đóng cửa cho an toàn.

Đặc công Việt Cộng đã thực sự có mặt tại bệnh viện. Trung úy quản lý Bệnh Viện Tiểu Khu Phạm Ngọc Quý suýt nữa bị tên đặc công bắn trúng. Ngay ngày hôm qua, lúc chạng vạng tối Trung úy Quý hớt hải tới báo cáo với tôi là ông ta bị bắn rách áo giáp ngay ngang sườn. May quá không trúng vào người. Khi kể chuyện ông ta mặt mũi vẫn còn xanh rờn thất sắc. Tôi hỏi đầu đuôi câu chuyện, Trung úy Quý kể:

– Tôi thấy bệnh viện chật ních những người, sợ có Việt Cộng trà trộn vào nên ra lệnh cho mấy nhân viên dưới quyền chia nhau đi các trại, các phòng để âm thầm xem xét có gì khả nghi không. Riêng tôi đi vòng bên ngoài các trại.

Lúc tới sau trại Sản Khoa, tôi thấy một bóng người đang ngồi sau cái cột hí hoáy ghi chép. Tôi hơi nghi, rón rén lại gần thì thấy nó đang ghi mấy chữ số với một cái bút gắn vào một cái đèn pin nhỏ. Tôi hỏi: Anh ghi cái gì vậy. Tên này giật mình. Vừa trông thấy tôi là nó bắn liền, bằng một cái súng đặc biệt như một cây bút. Bắn ra được có một phát đạn rồi nó vùng chạy. Khi tôi rút được khẩu súng Colt ra thì nó đã lẩn vào đám đông mất tiêu. Trời đã tối nên khó mà tìm được nó. Tôi nghi nó ghi tọa độ để báo cho pháo binh địch bắn mình.

– Đúng nó là tiền sát viên của địch rồi. Cũng may là ông không bị trúng đạn. Lần sau đi tuần nên đi hai người để có thể hỗ trợ cho nhau. Ngày mai chúng ta nên kiểm tra toàn bộ những người trong bệnh viện. Lính đào ngũ thì giao cho An Ninh Tỉnh. Còn dân, khuyên họ đi chỗ khác không cho ở trong bệnh viện nữa để tránh đặc công địch lẻn vào.

Sau vụ bắn hụt Trung úy Quý, chúng tôi đã kiểm soát chặt chẽ mọi người trong bệnh viện như đã dự tính. Trong số những người lính rút lui từ Lộc Ninh về có cả con trai bà Khánh. Bà y công của bệnh viện mà cả gia đình bị pháo trúng, giờ chỉ còn sót lại người con trai này. Cậu này tôi có biết vì đã tới thăm mẹ tại bệnh viện mấy lần. Cậu ta nhìn tôi như cầu cứu, ngụ ý không muốn để giải lên An Ninh Tỉnh. Tôi không muốn can thiệp vì biết rằng cậu này là Địa Phương Quân, nên có giải lên An Ninh Tỉnh cũng không sao. Sau khi điều tra xong, Tiểu Khu lại có thêm một tay súng nữa, cũng tốt thôi.

Tôi nhìn đồng hồ thấy đã hơn 12 giờ rưỡi khuya. Tôi cẩn thận nhẹ nhàng đẩy cái bàn chặn, mở hé cánh cửa thò đầu nhìn ra ngoài. Không khí ban đêm mát lạnh ùa vào mặt khiến tôi cảm thấy dễ chịu hẳn. Tôi nhìn quanh sân bệnh viện, vắng ngắt không một bóng người. Tất cả đều yên lặng. Ánh sáng hỏa châu vàng vọt như ánh trăng úa, chiếu trên mấy trăm thây ma nằm sắp lớp ở ngoài nhà để xe. Tôi cảm thấy lạnh mình, rợn tóc gáy. Những bóng nhà, bóng cây di chuyển từ từ theo ánh hỏa châu. Màn đêm ập xuống khi một trái tắt lịm, rồi lại bừng sáng lên theo sau một tiếng nổ kêu bốp một cái của trái kế tiếp. Ánh sáng lại được ném xuống vùng đất phía dưới, cứ như vậy suốt đêm.

Tôi nhìn lên trời, lẫn trong những vị sao lấp lánh, ánh đèn nhỏ nhấp nháy của một phi cơ soi sáng, đang di chuyển âm thầm như một oan hồn cô độc lạc lõng giữa không gian mênh mông. Tiếng động cơ nghe khi xa khi gần rất là buồn nản. Ở phía xa hơn nữa, tôi nghe thấy tiếng máy bay bắn một loạt súng gì nghe như tiếng đánh trống: Cắc, cắc, cắc, tùng, tùng, tùng. Cắc, cắe, cắc, từng, tùng, tùng, suốt đêm. Lần đầu tiên tôi mới nghe thấy tiếng súng lạ kỳ này.

Những ngày sau đó, cứ đêm đến là tôi lại được nghe tiếng súng trên. Trong bệnh viện không có ai biết đây là loại súng gì. Mãi sau có người nói cho tôi biết đó là loại súng đại bác đặc biệt bắn đạn phosphore điều khiển bằng radar rất chính xác, bắn trúng xe tăng dễ dàng.

Tôi tính trở về phòng tôi ngủ ở dưới trại Ngoại Khoa, thoải mái hơn. Nhưng tôi ngại về giờ này sẽ phá giấc ngủ của anh Châu, tôi lại thôi. Đứng được một lúc tôi đành quay trở về hầm cố chịu đựng nóng bức ngột ngạt để nằm ngủ lấy sức. Và tôi chỉ giật mình tỉnh giấc vào lúc 5 giờ sáng vì những trái đạn pháo kích của Việt Cộng bắt đầu rót vào.

Có hầm trú ẩn tốt, tôi không thấy lo lắng gì khi nghe những trái đạn nổ gần hoặc tiếng đạn xé không khí bay ngang qua đầu để nổ ở phía xa. Khác với những đêm một mình nằm trong phòng của tôi, sợ hãi đến lạnh cả mình. Nay tôi lại có Bác sĩ Phúc ở trong hầm, có cả cu Sơn nữa. Tức là có người ở bên cạnh không còn đơn độc một mình, nên tôi cảm thấy yên tâm. Nhưng dù sao để chắc ăn hơn, tôi trở dậy lấy mũ sắt úp lên đầu, mặc áo giáp vào rồi lại tiếp tục nằm co trên nệm. Tôi hồi hộp lắng nghe những tiếng nổ khi xa khi gần cùng những mảnh đất đá văng lên mái tôn nghe rào rào như mưa.

Một tiếng nổ rất gần, dường như ở ngay vòng rào sau bệnh viện. Nghĩa là chỉ cách hầm chúng tôi chừng 10 thước. Nóc hầm rung nhẹ, chứng tỏ hầm này khá vững. Tôi và Bác sĩ Phúc không ngủ được nữa, cả hai chúng tôi đều ngồi dậy dựa vào vách hầm. Ngồi lên sẽ thu nhỏ thân hình lại, khó bị trúng mảnh đạn hơn. Tôi nhẩm đếm những trái nổ rất gần để đoán xem có bao nhiêu trái đã rớt trong khu bệnh viện. Tôi phá tan sự im lặng, nói với Bác sĩ Phúc:

– Nó pháo kỳ này kỹ quá, dễ chừng có 10 trái đã rơi vào bệnh viện. Không biết nhân viên mình có may mắn thoát khỏi kỳ pháo này không?

Bác sĩ Phúc gật đầu:

– Tôi cũng đang theo dõi như anh. Những trái lọt vào bệnh viện chắc là lạc hướng, tôi nghĩ tụi nó nhắm vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn hơn là vào bệnh viện. Tôi cũng lo cho nhân viên mình. Nhưng thôi phó mặc cho trời. Tôi thấy họ làm từng hầm nhỏ dọc theo tường sau trại Nhi Khoa. Trừ phi pháo rơi trúng, còn không thì chắc cũng không sao.

Tôi coi đồng hồ. Mới 15 phút, mà tôi thấy dài như cả giờ. Cường độ pháo bây giờ hơi giảm xuống không còn hung hãn như lúc mới khởi đầu. Tôi nhìn anh Phúc nói:

– Không biết có tiền pháo hậu xung không đây?

Bác sĩ Phúc trầm ngâm trả lời:

– Có thì lát nữa mình sẽ biết liền. Nếu không nghe thấy nhiều tiếng súng nhỏ thì mình yên chí có thể ngủ tiếp. Chuyện gì rồi sẽ tính sau.

Nói xong anh từ từ ngả lưng xuống. Tôi cũng theo anh cố ngủ để lấy sức làm việc vào buổi sáng mà chắc chắn sẽ rất bận.

Rồi trận pháo kích đêm nay cũng tới hồi chấm dứt. Tôi và Bác sĩ Phúc nằm ngủ mê mệt vì thức khuya. Tôi chỉ bừng mắt dậy khi nghe có những tiếng gọi tên tôi từ ngoài cửa vọng vào, có vẻ rất lo lắng:

– Bác sĩ Quý có ở trong này không?

Tôi dụi mắt tỉnh hẳn, nhìn vào đồng hồ đã thấy 7 giờ sáng. Tôi vội khoác áo giáp, đội nón sắt bước ra cửa.

Tôi thấy ba bốn người y tá đang đứng trước cửa phòng Ty Y Tế, trong đó có Binh nhất Mệnh. Mọi người trông thấy tôi đều lộ vẻ mừng rỡ:

– A, Bác sĩ Quý đây rồi. Tụi em tìm bác sĩ mãi. Phòng bác sĩ bị pháo trúng một trái, tanh bành ra hết. Tụi em tưởng bác sĩ tiêu rồi. Tụi em vào phòng thấy tấm nệm giường bị cháy đen lật tung xuống dưới sàn, lại tưởng là bác sĩ. Run quá. Coi lại thì không phải. Nhìn quanh phòng cũng không thấy dấu vết bác sĩ đâu, nên túa ra đi tìm. Nay thấy bác sĩ tụi em mừng quá.

Tôi cũng mừng nữa. Một sự may mắn hay một thế lực thần bí cao siêu nào đó đã run rủi đưa tôi đi chỗ khác tránh được trái pháo đó nếu không thì đã tiêu diêu miền cực lạc rồi. Nhưng tôi vẫn còn một thắc mắc muốn biết ngay nên vừa theo mấy anh quân y tá xuống phòng tôi vừa hỏi:

– Ngoài ra các anh không thấy những gì khác sao?

– Dạ không, chỉ có đồ đạc của bác sĩ thôi chẳng có gì khác.

Ý tôi muốn hỏi về gia đình anh Châu, mà tôi nghĩ là họ đã ở trong phòng tôi đêm qua. Không biết họ đã đi đâu. Tôi đoán là anh Châu, vì một linh tính nào đó, thấy phòng tôi không được an toàn bảo đảm lắm khi bị pháo nên sau khi thấy tôi lên phòng Bác sĩ Phúc ngủ, anh đã đem vợ con trở về lại nhà ở dưới gốc cây Đa. Dù sao ở đó cũng an toàn hơn vì có hầm đàng hoàng.

Tôi bước vào trong phòng tôi. Cửa phòng đã bị bật tung ra do trái 61 ly rơi vào xuyên qua nóc nhà, trần nhà, qua bức tường chắn ngoài hành lang trúng đầu giường nơi tôi thường nằm. Ngước nhìn lỗ pháo chui xuyên qua mấy bức tường chặn thông lên tới khoảng trời xanh phía trên. Tôi nghĩ rằng người nào đó đã nói với tôi pháo 61 ly chạm nóc là nổ liền, không đúng sự thật. Dù sao chăng nữa tôi cũng thầm cám ơn Trời Phật đã che chở cho tôi thoát chết trong đêm qua.

Tôi đi kiểm soát lại đồ đạc xem cái nào còn dùng được cái nào hư thì vứt đi. Đôi giầy nhà binh Mỹ mới toanh của tôi bây giờ đã bị một mảnh đạn cắt ngang miếng da đằng trước dài đến 5, 6 cm. Tuy vậy cũng còn tạm dùng được vì đế nó không bị hư. Chiếc đàn guitar của tôi để trong tủ sách bị sức ép của trái phá hơi bị bong phía đáy một chút nhưng cũng không sao. Cái máy chụp hình cũng may mắn không hề hấn gì. Đó là những thứ mà tôi ngại bị pháo hư mất. Còn sách vở, thức ăn và mấy chai nước cũng không sao cả. Thành ra chỉ có mỗi tấm nệm là bị cháy thôi. Tổng kết ra, tôi còn may mắn lắm không bị thiệt hại gì nhiều. Tôi gom mấy thứ đó lại rồi nhờ mấy anh Quân Y mang lên giùm để ở văn phòng Ty Y Tế. Tôi đi qua phòng kế bên, nơi người nam tù binh Việt Cộng vẫn bị còng vào giường còn nằm ở đó. Điều lạ lùng là mấy người ở cùng phòng này, sát bên với phòng tôi mà không ai bị hề hấn gì cả. Tôi đến bên giường anh ta hỏi:

– Anh có cần gì không?

Anh ta nhìn tôi năn nỉ:

– Xin bác sĩ kiếm cho tôi một cái cưa sắt để tôi cưa đứt cái còng này.

– Bây giờ thì làm gì có cưa sắt. Ý tôi muốn nói là anh có cần thức ăn hay nước uống để tôi cho người đi kiếm giùm anh.

Anh ta nói:

– Những thứ đó mấy người cùng phòng đã giúp tôi rồi. Tôi chỉ cần một cái cưa sắt thôi.

Tôi không có cưa sắt mà nếu có tôi cũng không thể nào đưa cho anh ta được. Biết đâu khi đã được tự do rồi anh ta sẽ trở thành một đặc công, lúc đó chắc anh ta cũng không tha tôi đâu. Tôi nghĩ trong bụng, cứ để anh nằm yên đây, đợi một vài ngày nữa tình hình tạm yên rồi tôi sẽ liên lạc với An Ninh tỉnh để họ giải anh ta đi chỗ khác, tốt hơn. Còn nếu đồng chí anh có pháo trúng anh thì chắc không phải lỗi tại tôi.

Tôi đi trở ra hành lang trại, vì mải lo phòng tôi bị pháo nên khi vào trại tôi không để ý. Bây giờ đứng ở hành lang giữa trại tôi mới thấy ngạc nhiên là hồi hôm ở đây đông nghịt những người nằm ngồi không có chỗ lọt chân mà sao nay hành lang thưa người quá. Chỉ còn chùng chục người nằm thôi. Tôi chợt nhớ tới Đại úy Nghĩa bị thương ở cổ họng mới được Bác sĩ Chí đặt ống khí quản hôm qua, đặt nằm đối diện với phòng tôi mà sao giờ đây cũng không thấy đâu cả. Tôi đưa mắt kiếm chung quanh, thấy anh cận vệ của Đại úy Nghĩa mà hôm qua tôi căn dặn phải cố gắng săn sóc cho ông thầy của anh ta đang ngồi buồn hiu ở gần cửa một phòng bệnh. Tôi vội chạy lại hỏi:

– Đại úy đâu?

– Ông chết rồi!

– Vô lý, vết thương ông đâu có nặng mà có thể chết được.

– Ông bị người ta chạy đạp nhằm, chết tối hôm qua, lúc Việt Cộng pháo kích vào bệnh viện. Người ta chạy ùn ùn vào hành lang. Đêm tối không có đèn, họ dẫm bừa lên ông nên ông tắt thở luôn.

– Thế lúc đó anh ở đâu?

– Dạ thưa bác sĩ em nằm ngay bên ông. Em cũng bị đạp nhằm luôn. Nhanh lắm không tài nào can thiệp kịp. Lại thêm pháo nổ liên hồi, đêm tối đen thui, chẳng ai còn phân biệt được gì nữa. Sáng ra em thấy ông đã chết từ bao giờ. Cái ống thông khí quản bị đạp quẹo về một bên. Ông đã bị đạp nhằm ngay cổ không thở được. Em đã khênh xác ông để ở ngoài nhà xe rồi.

Tôi buồn quá, chết lãng nhách. Tôi thầm tiếc trong lòng. Một sĩ quan trẻ tuổi tài ba dễ mến như Nghĩa mà lại có cái kết cục đáng buồn như vậy. Nếu bị đạn chết ngay tại trận còn có thể hiểu được. Chết bị người của mình đạp nhầm vào thì nản quá. Tôi hơi hối tiếc, nếu tôi thu xếp để Nghĩa vào một phòng nào đó thì tai nạn có lẽ không xẩy ra. Thực ra tôi đã nghĩ tới việc này. Tôi đã tính cho anh tù binh Việt Cộng đi chỗ khác để dành giường cho Nghĩa nằm. Nhưng không thể liên lạc được với An Ninh Tỉnh mở còng ra được, nên đành bỏ qua. Còn việc dời những thương binh khác để lấy giường cho một sĩ quan tôi thấy không được công bằng lắm. Tôi chỉ nghĩ là nằm tạm một hai ngày rồi sẽ có giường trống hoặc có chuyến tản thương thì sẽ ưu tiên cho Nghĩa đi trước. Thật tôi không thể nào lường trước được sự việc đã có thể xẩy ra như thế. Tôi đã nghĩ tới việc cho Nghĩa vào nằm phòng tôi nhưng không may cho anh là vợ chồng anh Châu lại đến. Nhưng nếu nằm phòng tôi cũng không chắc sống nổi. Tôi đổ cho số mạng để được yên tâm không suy nghĩ nữa.

Với tâm tư nặng trĩu trong lòng, thương tiếc một người bạn vừa mới ra đi, tôi uể oải bước về văn phòng Ty Y Tế. Bác sĩ Phúc đã đợi tôi ở ngoài cửa phòng. Chúng tôi bước vào trong cho an toàn, căn phòng mờ mờ sáng vì các cửa sổ vẫn bị đóng kín mít. Anh nói:

– Chúng ta sửa soạn sang gặp Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn để xin ưu tiên tản thương gấp. Tôi đã liên lạc với anh Vũ Thế Hùng, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y để xin được gặp Đại tá Tư Lệnh và được anh xác nhận là đúng 10 giờ sáng nay tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn. Đại tá Hưng sẽ tiếp chúng ta.

– Như vậy hay quá. Hy vọng thương binh sẽ được bốc đi càng sớm càng tốt. Chứ để đây chỉ chết dần mòn mà thôi. Chẳng có hầm hố, chẳng có gì an toàn cho họ cả. Nhưng phái đoàn gồm có những ai hở anh?

Bác sĩ Phúc chậm rãi trả lời:

– Thì có tụi mình. Anh, anh Chí và tôi. Bên Tiểu Đoàn 5 Quân Y có các anh Hùng, anh Tích và anh Nam Hùng.

Tôi lên phòng bác sĩ Chí báo tin để anh sửa soạn cùng đi sang bên Bộ Tư Lệnh. Anh bác sĩ Tích và bác sĩ Nam Hùng cũng đã sửa soạn xong. Chúng tôi đều lội bộ đi ra phía cổng bệnh viện.

Mặt đường rải rác những hố pháo kích. Đặc biệt càng gần Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn càng thấy nhiều. Chúng tôi không ai bảo ai đều rảo bước thật nhanh vì biết đây là vùng nguy hiểm. Đạn pháo kích có thể bay tới bất cứ lúc nào.

Con đường bên ngoài Bộ Tư Lệnh, tôi thấy một chùm hỏa tiễn chống chiến xa. Bốn cái được bố trí ở giữa đường, nhắm thẳng xuống cái dốc từ phía chợ đi lên. Chúng tôi vượt qua tiền đồn gác ngoài được canh giữ bởi hai người lính canh hai bên cổng. Họ nhận biết anh Tích và anh Nam Hùng vì cùng là dân Sư Đoàn 5 cả nên cho chúng tôi đi qua không cần phải hỏi han gì. Chúng tôi đi rất lẹ, đi tuốt vào bên trong, vì nơi này rất dễ bị ăn pháo. Vào hẳn bên trong rồi, đứng dưới những tấm PSP bằng sắt, trên được phủ mấy lớp bao cát, chung quang tường cũng có nhiều lớp bao cát rất dày, tôi mới hơi yên tâm.

Nơi tôi đang đứng có lẽ là nơi để hội họp vì tôi thấy có một bàn và mấy ghế ngồi. Chúng tôi ngồi chừng 5 phút, bác sĩ Hùng đi ra. Chào hỏi mọi người xong anh vội vào trong để báo cho Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn biết. Tôi chưa bao giờ được gặp Đại tá Lê Văn Hưng cả. Tôi không thể hình dung được dáng người ông ra sao. Chúng tôi chỉ biết ngồi chờ đợi. Có lẽ chúng tôi chờ cũng hơi lâu. Vì tôi cảm thấy hơi sốt ruột. Trong trí óc của tôi là lúc nào cũng phải đúng giờ. Tôi không chấp nhận giờ cao su. Nhất là trong giới nhà binh. Và nhất là ngồi ngay nơi bị pháo nhiều nhất ở mặt trận này. Tôi thấy không an tâm chút nào cả. Tôi tự hỏi tại sao ông Tư Lệnh này để tụi tôi chờ lâu vậy. Ông có bận gì không? Ông thức hay còn ngủ, hay đang tắm rửa, hay đang ăn sáng. Cả chục câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu tôi. Vì tôi muốn họp cho mau xong để rời khỏi chỗ này càng sớm càng tốt.

Chúng tôi ngồi đợi cỡ chừng 20 phút, mà tôi cảm thấy lâu cỡ cả giờ. Rồi Đại tá Tư Lệnh cũng xuất hiện. Từ cửa ngách sau phòng họp ông bước tới, theo sau là Y Sĩ Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Quân Y, bác sĩ Vũ thế Hùng, người bạn cùng lớp với tôi. Tôi còn đang miên man suy nghĩ thì thấy anh bác sĩ Nam Hùng và bác sĩ Tích đã đứng bật dậy, nghiêm chỉnh chào đúng cung cách nhà binh. Tôi cũng đứng bật dậy cùng Bác sĩ Phúc dơ tay chào. Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn dáng người gầy cao cỡ tôi, mặc một chiếc áo lót màu cháo lòng, quần dài nhà binh, nhàu nát, dáng người mệt mỏi, da mặt hơi xanh, chắc vì đã lâu không có dịp ra nắng. Ông đưa mắt nhìn một lượt tụi tôi xong, gương mặt vô cảm giác, không nói một lời nào. Từ từ ông Tư Lệnh quay người đi vào nhà sau.

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Chẳng hiểu chúng tôi đã phạm vào lỗi lầm gì mà không được tiếp chuyện với ông Tư Lệnh. Chúng tôi chưa kịp mở miệng nói ra được một câu nào, chưa trình bầy được một ý kiến gì thì vị chỉ huy mặt trận này đã lui vào trong.

Lát sau anh Vũ Thế Hùng đi ra nói:

– Thôi như vậy là xong rồi các anh cứ đi về đi. Mọi việc tôi đã trình lên Đại tá rồi. Nếu có chuyện tản thương tôi sẽ cho các anh biết sau.

Tôi nghĩ thầm vậy thì cũng tốt thôi. Chúng tôi lại lủi thủi đi về. Mỗi người một ý nghĩ. Đến bệnh viện ai về chỗ người nấy, tiếp tục làm công việc như đã phân công. Tôi đang tính chia tay cùng các anh Nam Hùng và anh Tích thì anh Tích kéo nhẹ tay tôi nói:

– Này, anh Quý, tôi cho anh xem cái này hay lắm.

Tôi mỉm cười, tò mò theo anh Tích về chỗ Phòng Cấp Cứu mới lập tạm thời ở trại Nội Khoa. Nay lại biến ra nơi trú ngụ của anh Tích, anh Nam Hùng, cùng để chứa các bông băng và y cụ. Một số các anh em Quân Y Sư Đoàn 5 khác được dành cho một phòng ở đầu trại Nhi Khoa.

Anh Nam Hùng kéo tôi đi vào trong, chỉ cho tôi xem một trái 105 ly rơi xuống từ trên mái nhà, xuyên qua mấy lần mái, trần, tường, chui từ nền nhà bên ngoài. Qua bức tường giữa phòng và hành lang trại, trồi lên khỏi mặt đất, nhô cái mũi nhọn vàng bằng đồng rồi kẹt ở đó không nổ.

Tôi nói với các anh:

– Thật là phước đức, may mắn quá, nếu không thì mọi người trong phòng này không ai sống sót.

Anh Tích gật đầu:

– Đúng là con người có số. Hai vợ chồng tôi nằm ngay chỗ đó, viên đạn này chui lên ngay chính giữa chúng tôi.

Tôi đứng ngắm viên đại bác không nổ sau khi đã rơi xuyên qua bao nhiêu chướng ngại vật, giờ nằm hiền lành như con mèo con ngay dưới chân tường phòng các anh bác sĩ Sư Đoàn 5. Tôi chỉ còn biết nói đi nói lại là các anh ấy chắc nhờ phước đức cả mấy đời để lại mới được như vậy.

Đó là một trong những chuyện hy hữu tại chiến trường An Lộc này.

Nói chuyện được vài phút với hai anh Tích và Nam Hùng, tôi xin phép từ giã để đi về hầm anh Phúc.

Phòng tôi giờ đây đã tan nát rồi, như vậy là bắt đầu từ đây tôi sẽ ở thường trực cùng với bác sĩ Phúc. Có hầm tốt tôi cũng yên trí đỡ thấp thỏm sợ hãi. Tôi vào hầm, ngồi xuống, bỏ mũ sắt và áo giáp ra cho bớt nóng và bàn chuyện với bác sĩ Phúc:

– Anh thấy mình có hy vọng được tản thương hôm nay không?

– Chắc có thể được. Không còn có cách nào khác. Họ không thể nào để thương binh sống vất vưởng thế này được. Chỉ cần Tư Lệnh Chiến Trường ra lệnh là mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa ngay.

Tôi gật đầu đáp:

– Tôi cũng mong như vậy, chỉ cần ba chuyến Chinook là xong ngay. Mình lúc nào cũng phải sẵn sàng anh ạ. Kinh nghiệm của tôi là trực thăng sẽ không bao giờ đợi mình đâu. Hiện giờ mình lại thiếu xe Hồng Thập Tự. Trước đây còn hai cái. Đêm qua nó pháo hư một, nay mình chỉ còn một mà thôi. Đâu có đủ để cho thương binh hết được. Có lẽ mình phải báo cho bên Sư Đoàn và bên Tiểu Khu để họ huy động trưng dụng hết các xe còn chạy được để tản thương. Nếu không sẽ hỏng việc mất.

– Anh nói đúng, để tôi kêu Trung úy Quý lo vụ báo tin này cho các nơi liên hệ biết, về phần mình, anh nói Thiếu úy Thu sửa soạn xe Hồng Thập Tự cùng cắt đặt các khiêng cáng viên từng tổ một sẵn sàng đợi lệnh.

Chỉ một giờ sau mọi sự đã được sửa soạn đâu vào đấy. Chúng tôi thấp thỏm đợi chờ bên Sư Đoàn bật đèn xanh. Nhưng suốt buổi sáng hôm đó chẳng có gì xẩy ra. Chúng tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ nhưng trong thâm tâm không tin tưởng lắm là sẽ có tản thương hôm nay. Ba giờ chiều chúng tôi được tin sửa soạn 4 giờ sẽ có tản thương. Ai nấy đều mừng rỡ. Bỗng những tiếng bom nổ ầm ầm liên hồi từ đằng xa. Tôi hiểu ngay B52 đang trải thảm để sửa soạn cho trực thăng tải thương. Ngay lúc đó chúng tôi được lệnh cho thương binh lên xe chuyển ra bãi đáp. Ba chiếc xe Hồng Thập Tự của Sư Đoàn và hai xe chở hàng dân sự không hiểu họ tìm được ở đâu mấy phút sau đã tới bệnh viện.

Vì đã có kinh nghiệm tản thương của mấy ngày qua, hơn nữa kỳ này ai cũng được chuyển đi hết nên công việc bốc thương binh đi không có gì trở ngại. Nhưng cũng phải mất gần một giờ mọi việc mới xong xuôi và đoàn xe bắt đầu chuyển bánh ra bãi đáp. B52 vẫn tiếp tục trải thảm không ngừng.

Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Quả nhiên chừng 10 phút sau tiếng trực thăng Chinook ầm ầm bay qua bệnh viện tất cả ba chiếc. Chúng tôi nhìn nhau sung sướng. Kỳ này chắc chắn sẽ tản thương được. Thương binh đỡ khổ và chúng tôi cũng rảnh tay để đón nhận những người mới. Tôi đi xuống trại Ngoại Khoa kiểm soát lại xem còn phòng nào dùng được nữa không.

Trại bây giờ hoang vắng điêu tàn. Tổng số 16 phòng chỉ còn nguyên vẹn có 4 phòng thôi. Ngay cả Phòng Mổ Tiểu Giải Phẫu cũng bị hư hại tuy không nặng lắm nhưng cũng không dùng được. Những phòng khác hoặc bị trúng pháo hoặc bị tróc nóc không ở được. Trong trại cũng vẫn còn hơn chục người dân ở. Họ không bị thương hay bệnh hoạn gì cả nhưng chạy vào bệnh viện để tị nạn. Chắc họ nghĩ rằng không ai đang tâm pháo vào nơi không chiến đấu. Họ đã lầm. Chiến tranh không có từ một cái gì. Ngay sát phòng cũ của tôi là phòng anh thương binh Việt Cộng nằm có hai người dân tôi đã biết mặt vẫn còn nằm đó. Nhờ vậy mà anh thương binh Việt Cộng này mới có người kiếm dùm thức ăn nước uống sống qua ngày.

Tôi đi lên trại Nhi Khoa thấy ở nơi này khá hơn, số phòng dùng được khoảng một nửa. Đến giữa trại nơi phòng cô Bích ở. Tôi gõ cửa:

– Cô Bích ơi cô có đó không?

Cô Bích mở cửa thò đầu ra. Tôi nói:

– Tôi tới thăm cô đây, tôi vào được không?

Vẫn giọng tinh nghịch như những ngày nào cô nói:

– Mời quan đốc vô.

Tôi bước vào phòng nhìn quanh. Căn phòng đã biến dạng một cách không ngờ nổi. Một chiếc giường sắt kê sát tường cạnh cửa vào, giữa phòng là một cái hầm đủ để cho hai người ngồi hoặc một người nằm khi có pháo kích. Chung quanh và phía trên được phủ sơ sài một lớp bao cát. Chiếc bàn con kê gần cửa sổ trông xuống sân bệnh viện để ngổn ngang những chai nước, thức ăn, mì gói, gạo sấy, đồ hộp. Tôi ngồi xuống bên mép giường nói:

– Cô ở đây có vẻ tiện nghi nhỉ? Ai đào hầm cho đấy?

– Tôi chứ ai. Nói giỡn chơi với bác sĩ đó, tôi nhờ mấy anh Quân Y đào dùm. Tôi chỉ phụ làm bao cát thôi.

Tôi gật gù nói:

– Tay nào đào được nền nhà này cũng khá đấy. Tôi đã thử ở phòng tôi rồi. Dùng cuốc chim dơ thẳng cánh quật xuống ba cái mà nền gạch vẫn trơ trơ. Tay mình bị dội lại đau tê rần rần. Tôi đành chịu thua không đào hầm nữa mà chỉ chui xuống gầm giường khi pháo thôi.

– Nghe nói phòng bác sĩ bị trúng một trái tối qua sao bác sĩ không hề hấn gì vậy?

– Tôi chưa tới số, ông Phúc mời tôi lên phòng ông ấy ở. Thấy phòng rộng tốt, tôi nhận lời liền. Thực ra nếu ông không mời tôi cũng hỏi vì mấy lúc sau này tôi cảm thấy không an tâm chút nào nếu cứ ở phòng tôi. Có lẽ linh tính xui khiến như vậy nên mới sống sót được. Cô ở phòng này tương đối an toàn đấy. Trừ khi nó pháo trúng hầm còn không thì ngay cả nó nổ ở phòng bên cạnh cô cũng chả việc gì đâu. Thôi, thăm dân cho biết sự tình, tôi thấy cô tương đối an toàn tôi cũng mừng cho cô, tôi đi đây.

– Cám ơn bác sĩ.

Tôi thấy rằng trong những nhân viên phụ mổ, cô Bích là người có kinh nghiệm nhất, làm việc rất ăn ý với tôi. Nhưng cô là nhân viên dân sự, nếu cô không muốn làm việc, tôi chẳng có thể nào ra lệnh cho cô được. Nhất là trong tình trạng như hiện nay. Trong tương lai, một khi bệnh viện được di chuyển tới một nơi khác, có an ninh hơn và có đủ phương tiện hơn, chắc chắn sẽ phải cần tới cô thì công việc mới chạy được. Do đó tôi mới dùng tới tâm lý chiến tới thăm cô để khi cần, cô có thể giúp tôi một tay. Nếu không có cô, những Quân Y Tá vẫn có thể làm được nhưng hơi chậm một chút. Trong điều kiện như hiện nay tôi cần có một đội giải phẫu làm việc sao cho ăn khớp với nhau và như vậy mới nhanh được. Tôi về tới văn phòng Ty Y Tế. Vừa trông thấy tôi, Bác sĩ Phúc nói:

– À, anh Quý đây rồi, có con bé nào nó mang cơm cho anh còn đợi ở kia.

Tôi nhìn theo anh Phúc chỉ, mới thấy Phương, đứa con gái của vợ anh

Châu mới có 7 tuổi, đang đứng ở góc phòng, tay còn cầm chiếc gà mên đựng đồ ăn. Thấy nó tôi biết vợ chồng con cái gia đình anh Châu đều an toàn sau cuộc pháo kích vừa qua. Tôi mừng thầm trong lòng. Anh Châu thật chu đáo. Lo cho tôi từng miếng ăn trong thời buổi như thế này thì nhất anh rồi. Tôi tiến tới xoa đầu bé Phương rồi hỏi:

– Cháu đợi lâu chưa?

Bé Phương nhanh nhẩu trả lời:

– Cháu cũng mới tới thôi. Má cháu nấu cơm xong, biết bác sĩ ở bên này không ai nấu cơm cho bác sĩ nên sai cháu mang cơm sang.

– Cám ơn cháu, cháu giỏi quá, cháu mang đồ như vậy có nặng không?

– Dạ không.

– Cháu đi như vậy không sợ pháo kích sao?

– Cháu không sợ. Pháo thì cháu nằm xuống thôi. Mẹ cháu đã dặn rồi.

Tôi thấy bé Phương lanh lợi mà cũng can đảm thực. Mấy đứa nhỏ khác chắc không dám ra ngoài đường một mình đâu. Nhưng tôi thấy hơi bất nhẫn một chút. Con đường từ nhà chúng tôi, chỗ anh Châu đang ở, tới bệnh viện tuy không xa nhưng rất nguy hiểm vì phải đi ngang qua Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 5, mục tiêu chính cần triệt hạ nên bị pháo kích đều đều. Nếu bé Phương là con của tôi, tôi sẽ không cho đi như vậy. Tôi sẽ ân hận biết bao nếu chỉ vì mang cơm cho tôi, mà bé Phương bị xẩy ra chuyện gì không hay.

Tôi nói với bé Phương:

– Cháu về nói với ba má cháu, bác sĩ cám ơn ba má cháu đã cho cháu mang cơm đến cho bác. Nhưng làm như vậy nguy hiểm cho cháu lắm. Cháu nói với ba cháu là không cần mang cơm cho bác nữa. Ở đây bác có thể tự kiếm thức ăn được rồi. Lần này là lần chót nghe không. Cháu đừng mang cơm tới nữa. Nguy hiểm lắm.

Tôi dặn đi dặn lại bé Phương để cho nó thực sự hiểu ý tôi rồi mới mở thức ăn ra. Tôi mời Bác sĩ Phúc, nhưng anh bảo tôi cứ tự nhiên ông đã ăn rồi do thằng Sơn cháu anh làm. Bé Phương nói:

– Má cháu dặn, đợi Bác sĩ ăn xong, đem gà-mên về cho má cháu rửa để lần sau có đồ mang nữa.

– Được rồi, cháu đợi bác một chút. Nhưng cháu nhớ đừng có mang cơm tới nữa vì dọc đường dễ bị pháo kích lắm. Cháu nhớ không?

– Cháu nhớ. – Phương gật đầu chứng tỏ nó hiểu ý tôi.

Tôi ngồi xuống mở nắp gà-mên ra. Một mùi thơm của cơm vừa mới chín, vẫn còn ấm nóng bay lên mũi tôi. Rồi phần gà mên phía dưới đụng gà rang mặn, cuối cùng là một ít canh nấu với mấy củ khoai tây, chắc với nước luộc gà. Chỉ nhìn thấy cũng đủ ngon rồi. Phần vì đang đói, phần vì phải ăn cho nhanh để bé Phương khỏi phải chờ lâu nên tôi ăn vội vàng cho xong bữa rồi đưa gà-mên cho bé Phương mang về nhà. Nhìn con bé nhỏ nhắn da đen vì phơi nắng nhiều, thoăn thoắt đi một cách hồn nhiên, chẳng có vẻ gì sợ hãi cả, tôi cũng thấy phục nó.

Trong ánh mắt của nó, tôi thấy một niềm hãnh diện vì đã làm được một việc như người lớn và cho người lớn. Tôi thầm cầu xin mọi sự an lành cho nó. Chiều nay có vẻ yên tĩnh. Tôi không nghe thấy tiếng pháo nào cả. Nên tôi chắc nó về đến nhà an toàn. Như vậy tôi đỡ áy náy trong lòng.

Tuy đã dặn đi dặn lại bé Phương không nên mang cơm cho tôi nữa, vậy mà nó cũng mang thêm cho tôi hai ngày rồi mới thôi. Tôi đoán gia đình anh Châu đã dọn đi nơi khác, có thể đã đi về phía Tây Bắc thành phố giữa Quản Lợi và An Lộc, nơi tôi nghe nói còn tương đối an toàn không bị pháo kích. Đa số những người dân ở thành phố này đều chạy về phía đó tạm cư.

Dù sao tôi cũng mừng là gia đình anh Châu đã rời khỏi vùng nguy hiểm vì chỗ chúng tôi ở sát ngay những căn cứ quân sự. Tôi thấy thoát được người nào là mừng cho người đó. Còn tôi cũng như bao nhiêu quân nhân khác, vì nhiệm vụ phải ở lại thì sống chết đều phó cho số mạng mà thôi. Đến đâu hay đến đấy. Dù biết nguy hiểm, tôi cũng như những quân y tá trong bệnh viện đã không hèn nhát bỏ trốn đi tìm chỗ an toàn. Thật ra trong suốt trận đánh này không bao giờ những ý tưởng đào ngũ, bỏ trốn trước địch quân, nổi lên trong lòng tôi cả.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Địa Ngục Trần Gian

Tôi đã cắt mấy cẳng chân bị thương nát bấy. Xương vỡ ra nhiều mảnh vụn. Thit da tơi tả trông như miếng giẻ rách, bầy nhầy lẫn lộn đất cát và mấy sợi gân trắng hếu. Tôi thấy không tài nào giữ được những cẳng chân ấy. Chiếc cưa dây Gigly tôi dùng đi dùng lại nhiều lần, giờ đây không chịu nổi nữa. Tôi kéo cưa được mấy cái là đứt tung ra văng cả máu lên mặt. Trong tủ y cụ tôi chỉ còn có hai sợi chót. Sau khi thay, tôi chỉ còn một sợi độc nhất để dành. Sợi dây cưa Gigly rất dễ sử dụng. Cưa mau lại đỡ mệt hơn cưa tay thường. Tôi phục người nào đó đã sáng chế ra sợi dây cưa này. Tiện lợi vô cùng, vì nó chỉ là những sợi dây thép gồ ghề xoắn lại với nhau nên luồn lách dễ chỗ nào cũng được.

Trong tình trạng hiện tại, tôi quý sợi dây cưa này lắm. Nó giúp tôi làm việc mau lẹ để còn dành thì giờ mổ những người khác. Thiếu nó thì những trường họp thiết đoạn tứ chi tôi đành bó tay. Tôi cố gắng làm việc cho thật nhanh để thương binh khỏi phải chờ đợi và nhất là tránh phơi mình lâu ở những chỗ không an toàn.

Mọi nghi thức trong phòng mổ đều được giản dị hóa tới mức tối thiểu. Chúng tôi chỉ cần một đôi găng tay. Mọi người trong toán mổ đều mặc áo giáp, đầu đội nón sắt để thay thế áo choàng mổ. Có như vậy chúng tôi mới yên lòng làm việc vì bên ngoài Việt Cộng vẫn pháo tới đều đều.

Máy phát điện đã bị pháo kích hư từ đêm hôm qua. Tôi phải mở rộng cửa sổ để có đủ ánh sáng làm việc. Chiếc bàn mổ luôn xoay ngang xoay dọc lộn đầu lộn đuôi tùy thuộc nơi mổ là ngực, bụng, đầu hay chân tay để có đủ ánh sáng mặt trời rọi vào chỗ mổ. Phòng Hấp ngưng hoạt động vì không còn điện nữa. Các dụng cụ giải phẫu đều được khử trùng bằng cách đốt bằng rượu cồn hay ngâm rửa trong nước xà bông gọi là surgical soap.

Mặc áo giáp mổ vừa nặng vừa nóng. Trong phòng mổ kín mít, không máy lạnh, chỉ có một cái cửa sổ thông hơi nên đứng một lúc là mồ hôi vã ra như tắm. Tôi bị mất nước nhiều quá thành ra mau mệt. Nước bây giờ quý hơn vàng, khó kiếm ra. Phòng Mổ bây giờ không còn một giọt nước. Những khăn mổ đã dùng rồi, dính máu không có nước giặt được chị Huyên đem gom lại vứt thành đống sau phòng trực y tá. Ngay đến nước rửa vết thương còn không có lấy nước đâu mà giặt đồ.

Ngay trong những ngày đầu của cuộc chiến, tôi đã tiên liệu tình trạng này. Nhưng tôi thực không ngờ trận đánh kéo dài mãi không dứt và hình như hiện giờ mới chỉ là khỏi đầu. Tuần trước, tôi đã ra lệnh cho Thượng sĩ Lỹ chỉ huy các nhân viên phòng mổ thu gom tất cả các chai nước biển đã dùng rồi, đổ đầy nước vào, đem đi hấp để dự trữ hàng dãy dài mấy trăm chai dọc theo tường phòng mổ.

Một mặt dù chúng tôi dùng rất dè sẻn, chỉ để rửa các vết thương, số nước đó cũng chỉ được một tuần sau là hết. Cũng may tôi xuống dưới kho lớn đã đổ nát tìm được sáu gallon Phisohex và hai thùng Hydrogen Peroxide. Không có nước pha, tôi đành rửa các vết thương bằng Phisohex nguyên chất.

Phòng Mổ bây giờ thật xơ xác hoang tàn, nền nhà dơ bẩn vì không nước lau đã lâu. Dưới chân bàn mổ từng vũng máu đông đen xì hôi hám. Không khí ngột ngạt khó thở, không thể nào tiếp tục làm việc được nữa. Bệnh viện đã bị cô lập. Muốn liên lạc với các giới chức có thẩm quyền để xin trợ giúp chỉ còn một cách đích thân đi bộ tới tận các Bộ Chỉ Huy. Nhưng trong tình trạng này tôi không tin là họ có thể giúp cho bệnh viện một chút gì. Tôi tự nghĩ, có sao làm vậy, đến đâu hay đến đó, hết sức mình thì thôi.

Khoảng năm giờ chiều, bác sĩ Nam Hùng ở Phòng Cấp Cứu xuống cho tôi hay, có năm người bị thương bụng cần mổ gấp. Tôi nghe vậy muốn xỉu luôn.

Dù ở trong thời bình với đầy đủ phương tiện, tôi có thể làm suốt đêm đến sáng, chưa chắc một mình tôi có thể giải quyết xong số thương binh đó. Huống chi, trong tình trạng hiện nay, với một số nhân viên cố định, đã làm việc suốt ngày không nghỉ. Tôi nghĩ không tài nào làm hết nổi. Không biết trận chiến còn kéo dài đến bao giờ. Tôi phải giữ gìn giữ sức khỏe cho nhân viên và cho tôi để có thể tiếp tục làm việc trong những ngày sắp tới. Nếu phung phí sức khỏe làm việc trong một ngày để rồi sau đó kiệt sức nằm bẹp một chỗ thì thật là người bất trí.

Lại còn vấn đề cá nhân nữa, không ai lo cơm nước cho chúng tôi. Chúng tôi phải tự túc lấy. Sau vài ca mổ, trong giờ xả hơi tôi tạt qua phòng nhấp vội một hai nắp bi-đông nước cho đỡ khát. Ăn vội mấy thìa cơm sấy với thịt hộp cho qua cơn đói. Các nhân viên phòng mổ chắc cũng được bạn bè giúp đỡ nên họ cũng chưa đến nỗi kiệt sức lắm.

Tuy nhiên trong tình trạng hiện tại, không điện nước, không đèn đuốc thì dù có tinh thần cao cách mấy cũng không thể nào làm được. Lại thêm Việt Cộng vẫn tiếp tục pháo kích suốt ngày. Đạn pháo rơi bên trường Trung Học trước bệnh viện, bên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5, bên Ty Công Chánh sau bệnh viện rồi rơi ngay cả vào bệnh viện khiến cho chúng tôi đứng mổ không yên. Mọi người đều cố làm thật nhanh để còn đi tìm chỗ núp.

Những vội vã trong lòng không biểu lộ ra nét mặt. Ai nấy đều có cái vẻ bề ngoài điềm tĩnh để làm việc. Có thể nói sợ quá hóa lỳ. Vì thực ra đâu còn cách nào khác. Tuy nhiên mỗi lần nghe tiếng rít của đạn bay qua đầu hay tiếng hú của hỏa tiễn thì những dấu hiệu kinh sợ mới thấy hiện ra trong ánh mắt mệt mỏi của mọi người. Riêng tôi, mỗi lần như vậy thì cảm giác sợ hãi làm co thắt các bắp thịt đến buốt nhói ở tim. Khi nghe thấy trái đạn nổ rồi, thấy mình không hề hấn gì mới yên tâm làm việc tiếp.

Càng ngày Việt Cộng càng pháo nhiều. Tinh thần mọi người ở đây thật căng thẳng, sống tính từng giờ, chết không biết lúc nào. Chúng tôi như những con chim đã bị tên, thấy cây cong là sợ. Một tiếng chép miệng, một tiếng thắng xe, tiếng xao động của mái tôn cũng làm cho chúng tôi giật thót mình. Bao giờ tôi cũng có cảm tưởng là có một trái đạn treo trên đầu mình sẵn sàng nổ bất cứ lúc nào.

Tôi nhận thấy không tài nào làm hết những vết thương bụng đó được. Tôi chọn xem người nào nhẹ nhất tôi làm trước. Những người nặng và những người mất máu nhiều không có hy vọng sống sót sau khi mổ, tôi chỉ cho truyền nước pha với trụ sinh rồi giao cho số mệnh.

Trong số những người bị thương bụng không mổ, chỉ có hai người sống sót. Một cô gái và một người lính cao lớn tên Ba. Tiếc thay anh Ba sống được hai tuần thì một đêm kia, Phòng Hậu Giải Phẫu bị trúng một trái 61 ly. Người đàn bà nằm ngay chỗ trái đạn nổ cùng với đứa con không việc gì. Trái lại anh Ba bị một mảnh nơi cẳng chân trái. Một tuần sau anh chết vì bị phong đòn gánh.

Trong ánh sáng lờ mờ của buổi chiều, trong không khí ngột ngạt oi bức tanh mùi máu của Phòng Mổ, tôi cùng Thiện, Xòm cố sức làm việc. Tôi cố khâu những vết thủng ruột non. Tôi thấy khó thở quá, mồ hôi chảy ròng ròng trong thân làm tôi thấy ngứa ngáy khó chịu. Thỉnh thoảng tôi lại phải nghiêng đầu dơ vai lên quẹt mồ hôi ở mặt từ trán chảy xuống.

Bây giờ không còn như mấy ngày trước nữa mà mong có người đứng bên lau mồ hôi cho mình. Trong hoàn cảnh khó khăn, tôi đã hình thành một triết lý sinh tồn là cố hết sức chú ý vào công việc mình làm, không cần để ý tới thời gian và những phiền toái chung quanh. Bởi vậy cuộc mổ chiều đó tuy cực nhọc khó khăn rốt cuộc rồi cũng xong.

Tôi mệt lả người. Trong lúc Thiện, Xòm đẩy bệnh nhân ra Phòng Hậu Giải Phẫu. Tôi bước ra ngoài cho dễ chịu một chút. Tôi không dám hít mạnh vì không khí bệnh viện hiện giờ chẳng trong lành, thơm tho gì. Cho tới nay gần 300 xác người nằm sấp lớp dưới nhà xe và sân sau của bệnh viện. Những xác chết đó có từ ngày đầu cuộc chiến, đến nay gần mười ngày mà chưa được đem đi chôn. Buổi chiều mùa hạ nóng bức cùng với mùi tử khí của những xác người bắt đầu chương phình làm cho không khí đặc quánh, thật khó thở.

Bệnh viện có một nhà xác chứa được hai xác. Khi tôi tới làm việc ở tỉnh này được chừng ba tháng, dự án nới rộng nhà xác của tỉnh đã được thông qua và bắt đầu. Một ông Thượng sĩ an ninh của tỉnh thì thầm với tôi:

– Bác sĩ đừng chê tôi dị đoan, nới rộng nhà xác là điều tối kỵ vì chắc chắn sẽ có nhiều người chết lắm. Để rồi bác sĩ coi tôi nói có đúng không. Trước tôi làm ở tỉnh Chương Thiện cũng vậy. Chi vài tháng sau khi nới rộng nhà xác là vô số người chết tới.

Lúc đó tôi gật đầu cho ông ta vừa lòng, nhưng trong bụng bán tín bán nghi. Nay thấy ông Thượng sĩ già này có lý.

Thoạt đầu những người tử nạn đều được tẩm liệm vô hòm đàng hoàng, có cả quốc kỳ phủ quan tài cùng hương đèn đốt cháy suốt ngày đêm. Trung Đội Chung Sự không đem đi chôn được vì pháo kích và khu nghĩa địa không được an ninh vì ở xa, ngoài vòng kiểm soát của quân mình nên xác chết cứ để lại tại bệnh viện.

Khuya, sau khi mổ xong, đi xuống phòng ngủ, tôi không dám nhìn ra phía nhà quàn với hàng quan tài có những ánh nến leo lét cháy. Cứ trông thấy là tôi lạnh người dựng tóc gáy rảo bước cho mau.

Dần dần người chết quá nhiều, bất cứ nơi nào có xác chết là họ thu về đem thẩy vào nhà xác bệnh viện. Mới đầu giới hạn ở nhà quàn, sau lan ra nhà xe, tới sân sau rồi tới ngang hông văn phòng Ty Y Tế ngay trước trại Ngoại Khoa. Các xác quấn poncho, có phiếu chứng tử đính kèm, nhiều xác để trần mặc áo giáp, xác nằm sấp, nằm nghiêng, co chân co tay, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Có xác nằm bình thản như người ngủ. Có xác chương phình, bụng căng cứng, bóng như bụng ễnh ương, chảy nước vàng, rữa nát vì để quá lâu, phơi nắng suốt ngày đã biến thành màu đen xạm như chì. Xác của người lớn, của trẻ con, của quan, của lính, của dân nằm lẫn lộn, xông lên mùi hôi thối suốt nửa tháng trời. Ruồi nhặng bu đầy trên mặt mũi, trên những vũng nước rỉ ra từ những thân thể sắp rữa nát.

Để ngăn ngừa ruồi muỗi sinh sản, có người đem rắc bột DDT lên những xác chết. Hành động này về phương diện vệ sinh, trên lý thuyết thì rất đúng. Nhưng đúng ở một nơi nào khác kia, ở một thời điểm nào kia, chứ thực tình tôi vẫn phân vân tự hỏi tại đây có tốt không? Trong nhất thời tôi cho là tai hại quá. Ruồi nhặng bị xua đuổi khỏi chỗ ở của nó liền quay vào tấn công bệnh viện. Khắp chỗ nào cũng có mồi nhặng. Chúng lì lợm đậu lên đầu lên mặt tôi, lên mặt những thương binh mệt mỏi nằm ngủ quên. Tôi đưa tay vuốt mặt ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết, kinh tởm đến lợm giọng. Tệ hơn nữa, hiện giờ chẳng kiếm được nước đâu mà tắm rửa. Tôi lấy một cục bông gòn thấm alcool lau qua cho đỡ bẩn. Mùi hăng nồng của alcool quả thực đã làm tôi thấy sạch sẽ hơn, dễ chịu hơn được môt chút.

Lại nữa, mùi DDT trộn với mùi của xác chết sình thối hợp thành một mùi khủng khiếp không tài nào ngửi được. Có những xác ruồi bu đen suốt từ đầu đến chân, tôi trông thấy mà nôn nao trong ruột muốn ói.

Mấy ngày sau, anh Châu kiếm đâu được ít thịt heo, đem kho tàu và mang đến cho tôi nhưng tôi không thể ăn được. Cứ đưa miếng thịt lên miệng lại nghĩ tới đống thịt rữa nát chỉ cách đó không xa, đành phải bỏ xuống. Ấn tượng đó cho đến cả tháng sau, lúc dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu mới hết.

Sau không thể chịu được những xác chết đó nữa, chúng tôi trình sự việc lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Một vị Đại tá được chỉ thị lo việc này. Đó là Đại tá Điềm, Nguyên Tỉnh Trưởng Long Khánh, hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 10 Bộ Binh đóng tại ngay tỉnh này. Không hiểu sao tôi lại gặp ông ở đây. Đích thân ông dẫn một tốp lính cùng 10 lao công đào binh để hốt xác đem lên xe cam nhông đưa đi chôn. Nhưng khi Đại tá Điềm ra lệnh xong, vừa quay về là lính, lao công đào binh cũng trốn luôn. Ai cũng ghê tởm không dám làm công việc khênh hàng trăm xác rữa nát, hôi thối lên xe.

Ở sân trường Trung Học, ngay phía trước cửa bệnh viện, môt chiếc xe ủi đất của Ty Công Chánh đang đào những hố thiệt lớn. Tiếng máy nổ khác thường làm mọi người chú ý. Ai cũng thắc mắc không hiểu họ đang làm gì. Mới đầu tôi tưởng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cho làm thêm công sự chiến đấu, sau mới biết là hố chôn tập thể. Xe phải đào tới gần một ngày mới xong.

Buổi chiều chừng 5 giờ, một xe GMC dẫn 10 lao công đào binh cùng năm người lính sang bệnh viện. Xe de quay vào đám xác. Lần này có lệnh của Đại tá Điềm là ai trốn chạy sẽ bị bắn tại chỗ. Chính nhờ nghiêm lệnh này công việc đã được tiến hành tương đối chu đáo và có hiệu quả. Một Trung sĩ to con, mặt sát khí đằng đằng cầm súng M16 đứng chỉ huy.

Mấy người lao công đào binh đi kiếm bao nylon gạo sấy để làm bao tay, hì hục khênh từng xác vất lên xe.

Nước vàng hôi thối từ những xác người chảy ròng ròng. Bắt họ làm công việc này thật tội nghiệp. Nhưng nếu không bắt buộc thì không làm sao giải quyết nổi gần 300 cái xác đó. Sau khi chất lên được gần một xe, nhìn lại thấy số xác người gần như không suy suyển một chút nào, mấy anh lao công đào binh đã bắt đầu nản, xuống tinh thần. Phần vì mệt mỏi, phần vì tiếp cận ngay những cái xác đang rữa nát hôi thối đó, họ đều xin dừng tay nghỉ mệt và một anh đề nghị lấy xe ủi đất, ủi tất cả các xác đó vào một đống sau bệnh viện rồi đổ xăng đem đốt. Nhưng giải pháp này không được chấp thuận vì mùi khét lẹt của gần 300 cái xác đó xông lên thì chắc không ai chịu đựng nổi.

Bỗng một người lính la lên:

– Có thằng trốn.

Hai người lính liền đi lục soát tìm kiếm. Lợi dụng mọi người không chú ý, ba người nữa chạy vội ra, tính leo rào trốn khỏi bệnh viện. Một cuộc rượt bắt diễn ra.

Anh Trung sĩ phải bắn mấy phát chỉ thiên mới bắt lại được ba người, còn một người trốn mất luôn. Bắt được anh cho mỗi người một báng súng vô ngực, buộc phải quay lại làm tiếp. Anh hăm dọa:

– Tụi bay mà bỏ chạy nữa, tao bắn bỏ nghe.

Một người lao công đào binh, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo ka-ki bạc màu, nhăn nhó qua hàng nước mắt:

– Hôi thối quá làm sao tụi em làm được.

Anh Trung sĩ nạt lại:

– Bộ tao đứng canh tụi bay ở đây không ngửi thấy mùi sao? Cố làm cho xong rồi về.

– Khênh người sống còn đỡ, khênh người chết sình nặng quá, muốn hụt hơi luôn. Trung sĩ cho tụi em nghỉ một lát để thở.

– Được, cho tụi bay nghỉ 5 phút.

Mấy lao công đào binh ngồi ngay xuống thềm xi-măng văn phòng Ty Y Tế nghỉ xả hơi. Mặt người nào, người nấy phờ phạc có lẽ vì phải hít thở mãi những mùi xú uế từ những tử thi để lâu ngày. Một người trồng hãy còn trẻ, chừng 20 mươi tuổi, mặt mũi có vẻ thông minh, ngồi dựa vào tường than thở:

-Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa bao giờ tao phải làm một việc cực khổ, khốn nạn như thế này. Cực đéo chịu được, thà chết sướng hơn.

Tôi cho người đi kiếm mấy cặp găng tay đã dùng rồi, đưa cho họ mang để họ làm việc dễ dàng hơn là dùng những bao nylon gạo sấy.

Hết 5 phút xả hơi, họ lại được lệnh tiếp tục khênh xác lên xe. Đầy xe rồi tài xế liền lái ra hố chôn tập thể. Họ lại khênh xác vứt xuống hố. Tới 8 giờ tối mới xong được hai xe. Họ làm liên tục như thế trong hai ngày mới thanh toán hết số xác trong bệnh viện. Chiếc xe ủi đất phải đào thêm hố nữa, dài theo sân của trường trung học mới đủ chỗ chôn. Ngoài ngã ba Xa Cam dọc theo vườn cao su, Trung Đội Chung Sự Tiểu Khu còn đào thêm một hố chôn tập thể khác khá lớn. Tôi nghe nói hố đó chứa chừng gần 1000 xác.

Giờ đây, mồ mả mọc lên như nấm rải rác khắp thành phố. Những tấm bia bằng gỗ pháo binh, bằng giấy carton được mấy người bạn đồng đội viết nguệch ngoạc tên họ người chết và cắm vội vã. Họ phải làm thật lẹ vì rất nguy hiểm khi phơi mình quá lâu trên mặt đất vì đạn pháo kích có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Trước cửa nhà Tiểu Khu Phó, hai người đang đào hố chôn bạn, gần xong thì bị ngay một trái 105 ly. Chẳng một ai sống sót. Sẵn hố đã đào, người ta liền vùi tất cả vào một hố. Thành ra những người lính ấy đã tự tay đào hố chôn mình. Mấy anh lao công đào binh cũng bị tử nạn đang khi vất xác xuống hố. Thi thể họ cũng được vùi chung với những xác mà họ vừa mới khênh xuống.

Người ta kể chuyện, vì có những vụ như vậy nên mỗi lần đào hố chôn, họ lại đào rộng ra một chút để nếu có bất hạnh xảy ra thì có sẵn hố tự chôn mình luôn. Thật là bi thảm nếu quả thực là như vậy. Không biết chuyện đó có thật hay không.

Từ khi giải quyết xong mấy trăm xác chết đó, bệnh viện thấy dễ thở hơn được một chút. Tuy nhiên hàng ngày, trung bình có từ ba tới năm xác do các nơi đem tới Trung Đội Chung Sự. Vì vậy cứ cách ngày lại phải tới bệnh viện gom xác lại đem đi chôn. Công việc cứ tiến hành đều đều như vậy nên không còn sự ối đọng cả mấy trăm xác chết như trước nữa.

Ở đây không phải chỉ chết một lần mà hai lần, có trường hợp tới ba lần. Pháo trúng mồ, thân xác bị cầy nát lên. Được chôn lại, bị pháo trúng nữa, thịt xương nát văng tứ tung. Hôi thối khủng khiếp. Đó là trường họp của một nữ y tá thuộc Phòng Y Tế Công Cộng chẳng may bị tử thương, được bạn bè đem chôn tại bờ tường phía sau bệnh viện, đã bị chôn hai lần như vừa kể ở trên. Và đó cũng là trường hợp của bốn Quân Y Tá mà tôi là người nói chuyện với họ lần cuối cùng dưới tàn cây trứng cá trước cửa văn phòng Milphap.

Khi tôi từ Phòng Mổ đi xuống trại Ngoại Khoa, nửa đường gặp một nhóm Quân Y Tá đang đứng nói chuyện với nhau. Trông thấy tôi, Binh nhất Út tươi cười chào hỏi:

– Bác sĩ làm việc mệt không?

Tôi đứng lại, nhập bọn với họ và trả lời:

– Mệt lắm, nhưng cũng phải cố gắng, còn nước còn tát. Thế các anh em có chỗ núp an toàn không, ăn uống cơm nước ra sao?

– Thưa bác sĩ, nhờ có gạo sấy do thả dù tiếp tế nên cũng không bị đói. Chúng em cứ hai người chung một hố cá nhân đào dọc tường sau của trại Nhi Khoa, cho đến bây giờ, thì may mắn chưa có ai bị hề hấn gì cả.

– Thế thì tốt lắm, nhưng không nên đứng khơi khơi giữa trời như thế này làm gì, nguy hiểm lắm.

Nói xong, tôi liền tiếp tục đi xuống trại Ngoại Khoa. Mở khóa vào trong phòng, ngả lưng định nằm vài phút để lấy lại sức. Vừa nằm chưa ấm chỗ, tôi chợt nghe một tiếng nổ rất gần ngay trong bệnh viện, không to lắm. Mảnh đạn, đất đá văng lên mái nhà nghe rào rào. Tôi đoán là là đạn súng cối 61 ly. Vì đã có kinh nghiệm và quá quen với pháo kích rồi nên nghe tiếng nổ là tôi có thể đoán trúng được đó là loại đạn gì. Tôi nghĩ thầm loại này thì nhằm nhò gì, chỉ như gãi ghẻ mà thôi. Thôi chẳng thèm để ý, định bụng nằm trên giường như thường, chẳng cần phải chui xuống gầm giường như mọi khi nữa.

Đang suy nghĩ miên man, có tiếng gõ cửa gấp rút rồi tiếng Trung sĩ Lạng, Trưởng Trại Ngoại Khoa nói vọng vào:

– Xin mời bác sĩ ra ngay cho. Có bốn y tá của mình bị thương nặng!

Tôi vội ngồi bật dậy, đi ra ngoài, khóa cửa lại cùng Trung sĩ Lạng chạy ra phía đầu trại Ngoại Khoa. Ra tới sân trước văn phòng Milphap, tôi thấy một nhóm đông đang xúm xít săn sóc bốn người bị thương nằm dưới đất.

Tôi khám thật nhanh, thấy ba người đã chết vì vết thương quá nặng ở đầu và bụng. Còn có Binh nhất Út, thấy có vẻ tỉnh táo nhưng mặt mày xanh mét vì mất máu, vì đau. Tôi ra lệnh cho y tá khênh Út vào văn phòng Milphap, đặt anh ta trên chiếc bàn rồi bắt đầu khám lại kỹ càng hơn. Tôi thấy một vết thương do mảnh đạn xuyên vào phổi phải. Không có tiếng thở phế bào. Chắc máu ra nhiều trong phổi. Tim đập rất yếu. Chắc chắn bệnh nhân cần phải được thông phổi ngay. Nhưng những dụng cụ thông phổi nay đã hết. Nên tôi đành phải dùng valve Heimlitz là một hình thức thông phổi mà không cần bình nước vì valve chỉ cho phép đi một chiều. Tức là máu ra được nhưng không khí không vào được do hai lá cao su khi thở ra thì nó mở ra, khi hít vô thì nó tự động đóng lại theo sức ép của không khí.

Tôi biết vết thương này không đơn giản. Chắc chắn nó đã gây hư hại nhiều cho những cơ quan bên trong. Tôi chắc Út khó có thể qua khỏi được nếu không được di tản kịp thời. Nhưng với tình trạng hiện nay, tản thương là điều không thể có được. Tôi nghĩ đến nước này chỉ đành phó mặc cho Trời mà thôi. Sau khi truyền nước biển xong, tôi dặn mấy người bạn Út canh chừng trong đêm nay. Ngày mai nếu may mắn có chuyến tản thương sẽ cho Út ưu tiên đi trước.

Tôi đi vòng qua đống rác lớn ở cuối trai Nội Khoa, ra Phòng Cấp Cứu. Qua hành lang giữa trại, tôi thấy thương binh nhiều quá, nằm bừa ra cả lối đi. Tôi phải len chân lần từng bước. Ra tới cửa chính giữa, nơi được dùng làm Phòng Cấp Cứu. Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Chừng 30 thương binh nằm đầy ra ở dưới đất. Một vài người có băng-ca, còn phần đông nằm ngay trên sàn gạch dơ dáy, đầy bông băng vấy máu. Một bàn kê sát vách tường, trên đó để đầy các thứ thuốc sát trùng, các thứ thuốc chính, cạnh đấy là những thùng băng đã được khui sẵn. Sáu y tá luôn tay làm việc băng bó. Bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích đi khám vết thương từng người rồi ra chỉ thị cho ý tá, cái nào rửa sạch băng lại cái nào cần giải phẫu thì chuyển xuống phòng mổ. Tôi đến gần bác sĩ Tích, anh nhìn lên lắc đầu thở ra. Tôi hiểu ý và nói:

– Nhiều quá phải không anh Tích?

Bác sĩ Tích gật đầu, mệt mỏi đáp:

– Tôi với anh Hùng làm từ sáng tới giờ mà vẫn không hết. Nghe nói họ còn mang tới nữa.

-Trời! lấy chỗ đâu cho thương binh nằm. Ở đây đầy rồi. Dưới trại cũng hết chỗ chứa.

Bác sĩ Tích ngao ngán, lắc đầu:

– Mấy thằng khiêng cáng viên dông hết rồi. Tụi nó mất tinh thần, tên nào tên nấy lờ quờ không muốn làm gì cả.

– Mình bận làm việc không hở tay đâu để ý được tụi nó. Giá có thêm người đứng ra chỉ huy tụi nó sợ, làm việc, thì đâu có ối đọng khổ sở như thế này.

Tôi đi thăm một lượt, may mắn không có ai cần phải mổ lớn cả. Phần lớn đều bị thương ở tay chân. Có nhiều người bị gãy xương, được các bạn đồng đội băng bó giữ yên tạm khúc xương bị gãy bằng những cành củi khô hoặc bất cứ vật gì mà họ kiếm được.

Một điều tôi lấy làm lạ là bị thương đau đớn như thế mà không có ai kêu la. Khi các y tá xức thuốc rửa những vết thương trầy trụa, họ chỉ xuýt xoa, nhăn mặt cắn răng chịu đựng chứ không như những ngày thường.

Trong số những người bị thương có mấy người dân, vừa đàn bà vừa trẻ con. Một đứa trẻ cụt cả 2 chân lên tới đầu gối, nằm gối đầu trên một chiếc hộp đựng băng, dơ đôi mắt lờ đờ nhìn tôi, miệng mấp máy một cách yếu ớt:

– Nước, nước…cho con hóp nước.

Sắc mặt nó vì bị mất máu nên xanh mét. Da môi khô. Cánh tay trái bị băng gần hết. Một sợi dây vòng qua cổ treo cánh tay trước ngực thành một góc 90 độ. Tay kia cũng được giữ im để truyền nước biển. Thân hình nó thành ra ngắn ngủn một cách thảm hại. Vệt nước mắt khô còn in trên má. Mắt nó ráo hoảnh, nó không còn nước mắt để mà khóc. Nó nhìn để mà nhìn. Đôi mắt dường như vô cảm giác. Tôi nghĩ nó đã quá mệt, tê dại không còn biết đau đớn là gì nữa. Nó bây giờ chỉ là một sinh vật, sinh vật “vô tri”. Cạnh đấy, một người đàn bà bị thương ở má phải. Tóc bê bết máu, nằm gục đầu trên đống băng vấy máu. Vết thương của bà ta đã được băng bằng một băng cá nhân nhà binh khá lớn che gần hết khuôn mặt, chỉ để hở một con mắt tím bầm, sung vù. Thỉnh thoảng bà cố nhướng lên mà không được. Bà ta nằm rên nho nhỏ.

Phía góc phòng, một người lính bị thương ở đầu, bị quấn băng kín mít, chốc chốc lại la lên:

-Trời ơi, khát nước quá. Ai cho tôi miếng nước.

Kêu xong, anh ta lại nằm yên như không có gì xảy ra cả. Mọi người đều bận rộn, không ai lấy nước cho anh vì thực ra, cũng khó kiếm được nước trong lúc này. Tôi yên chí không lo cho anh bị chết khát vì chai nước biển treo bên cạnh vẫn nhỏ đều đều từng giọt thẳng vào mạch máu.

Tôi nhìn những người y tá làm việc băng bó như máy. Không hiểu họ có nghĩ gì không. Suốt 20 năm chiến tranh, chết chóc, bị thương xảy ra quá thường như cơm bữa khiến người ta dường như không còn xúc động trước những cái chết của đồng loại. Tôi đã nhận ra được điều này ngay từ hồi tôi còn là sinh viên Y Khoa, thực tập tại khu Ngoại Khoa ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Hôm ấy, người ta khênh vào hai mẹ con bị thương. Tôi săn sóc, khâu vá vết thương của người mẹ. Tôi hỏi:

– Vì sao chị bị thương vậy?

Người đàn bà đáp:

– Bị máy bay bắn lầm trong khi cả nhà tôi đang ăn cơm. Hiện giờ, chồng tôi và đứa con Út bị chết, vẫn còn để nằm ở nhà.

Điều làm tôi kinh ngạc nhất là giọng nói thản nhiên, gần như vô cảm giác. Không một chút xúc động. Không một giọt nước mắt. Dường như bà ta đang nói về cái chết của người chồng, người con nào đó, không phải của bà ta. Tôi cứ tưởng bà ta phải gào thét, khóc nức nở hay tỏ ra đau đớn lắm khi nhắc tới cái chết của chồng con. Nhưng thực sự đã trái lại và điều này làm tôi chợt hiểu là chiến tranh đã làm chai đá lòng người.

Tuy nhiên cũng còn may, chiến tranh chưa hủy diệt hết tất cả tình cảm của con người vì sau này, trong những lần hành quân đụng địch tôi đã bắt gặp được những tiếng khóc thổn thức, những tiếng kêu thảng thốt của những binh sĩ khi nghe tin một người bạn đã ngã gục ở tuyến đầu. Thành ra, về một phương diện nào đó, đau khổ quá mức làm cho tê dại đi cũng là một phản ứng tốt để người ta có thể sống còn được.

Tôi tiến dần ra phía ngoài cửa. Nơi đây quả là một địa ngục trần gian. Người sống, người chết nằm lẫn lộn với nhau. Một người lính nằm dựa vào chân cột hành lang, mắt nhắm nghiền. Một bên má có một vết thương còn rỉ máu. Cánh tay trái băng kín treo trước ngực. Khắp người anh chỗ nào cũng có đầy những vết thương nhỏ.

Anh nằm gác chân lên cái xác mà anh tưởng là một người bạn. Thỉnh thoảng anh đập chân thì thào:

– Lấy tao hớp nước, mày.

Có lẽ anh ta mê loạn rồi chăng? Gần đấy, một ngưòi bị thương ở chân, nằm gối đầu lên đùi một người bị thương ở đầu, dường như đang ngủ mê mệt. Tôi tới gần xem. Người bị thương ở đầu đã chết từ bao giờ. Tôi, bỗng nghe tiếng gọi yếu ớt.

Tôi quay đầu lại, đưa mắt tìm kiếm xem tiếng nói từ đâu. Một cánh tay gầy khô như khúc xương, mệt mỏi vẫy tôi. Tôi nhận ra ngay Điểu Thoul, môt lính Địa Phương Quân, người Thượng đang nằm sát chân tường, gần cửa phòng bác sĩ Chí. Tôi tới gần, cúi nhìn vào hố mắt sâu hoắm của anh ta. Điểu Thoul giờ chỉ còn là bộ xương. Hắn quá yếu, không còn nhúc nhích gì được. Điểu Thoul bị thương ở bụng, thủng ruột già. Tôi đã mổ và làm hậu môn nhân tạo cho anh ta. Mấy ngày trước, tôi đã cho tản thương, khênh ra khênh vào mấy lượt nhưng rốt cuộc không đi được rồi chắc bị bỏ nằm ở đó.

Tôi ngồi xuống bên anh ta, một mùi hôi thối xông lên. Chung quanh chỗ nằm, chảy đầy bê bét toàn là phân. Cái túi nylon đựng phân buộc ở chỗ hậu môn nhân tạo, mấy ngày nay không được thay, phân tràn đầy ra ngoài. Những con bọ nhỏ bò lổn ngổn trông thấy mà nổi gai ốc. Tôi nói:

– Để tôi gọi người thay túi nylon cho anh, chịu không?

Điểu Thoul không nói gì, hai giọt nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Thường ngày cũng vậy, Điểu Thoul ít khi nói lắm. Bị đau nhức hay khó chịu trong mình chỉ biết ứa nước mắt khóc mà thôi. Tôi hỏi:

– Đói không, tôi cho người chuyển xuống trại nhé?

Điểu Thoul gật nhẹ đầu. Sau đó tôi nhờ anh Xòm, Thượng sĩ Lỹ làm sạch vết thương rồi khênh hắn xuống trại Hậu Giải Phẫu.

Trước cửa phòng bác sĩ Chí, ba xác nằm bình thản ngay lối đi. Xa hơn nữa, trước cửa Phòng Nha Khoa, hai xác nằm sóng đôi, được đậy bằng một tấm tôn cong queo, thủng lỗ chỗ vì bị mảnh đạn, chừa cặp chân tím ngắt sưng bọng nước. Những thây đó bắt đầu hôi, mùi tử khí làm cho mọi người ngột ngạt, khó thở.

Tôi thấy cô Bông, Điều Dưỡng Trưởng của bệnh viện, đang loay hoay băng bó một cách khó khăn cho một người lính bị thương ở đùi, cẳng chân bị ngắn lại vẹo về một bên. Tôi hấp tấp bước lại:

– Khoan hãy băng, người này bị gãy xương đùi, làm bậy bạ bị kích xúc, dễ chết lắm. Cô chờ tôi một chút, tôi đi lấy nẹp Thomas. Trong khi chờ đợi, cô cho truyền một chai Ringer và chích một syrette Morphin cho bớt đau.

Nói xong tôi rảo bước về Phòng Mổ, ào vô kho lục được một chiếc nẹp mang ra. Tôi hỏi người lính:

– Anh đã thấy bớt đau chưa?

Anh ta gật đầu nhè nhẹ. Tôi vẫy Trung sĩ Trọng:

– Lại đây giúp tôi một tay, anh bợ nhẹ chân này lên để cô Bông đặt nẹp vào.

Tôi nắm lấy cổ chân người lính, hơi kéo nhẹ nhàng vừa nâng lên cao. Người lính nhăn mặt kêu đau. Tôi vừa giữ chân vừa vỗ về anh:

– Chịu khó một chút, sắp xong rồi.

Năm phút sau, chúng tôi băng bó và giữ im xong. Trên trán người lính còn lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Anh đã can đảm cắn răng chịu đau khiến chúng tôi làm việc được mau chóng và dễ dàng. Tôi thấy cô Bông có vẻ mệt. Bây giờ là 8 giờ tối. Tôi biết cô và Trọng làm việc không ngừng suốt từ sáng tới giờ. Đầu tóc cô bơ phờ. Chiếc áo bà ba bằng lụa xanh màu lá chuối non và chiếc quần đen đều vấy máu.

Chúng tôi làm việc dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đèn biến chế bằng một chai thủy tinh đựng dầu lửa. Nút chai được đục thủng một lỗ để bấc đèn chui qua. Ngọn lửa có nhiều khói khét lẹt. Tôi nói với hai người:

– Chắc hết bệnh rồi, mình có thể đi nghỉ được.

Cô Bông đưa tay quệt mấy giọt mồ hôi trên trán, nói:

– Bác sĩ đi nghỉ trước đi. Tôi đi kiếm chút nước cho thằng bé nằm kia uống.

Tôi vội dặn cô:

– Coi chừng đấy, mấy người khác thấy được, ho nhao nhao lên đòi, cô không có nước đâu mà cho.

Cô Bông mỉm cười hiểu ý, nói:

– Tôi biết mà, bác sĩ yên chí đi nghỉ đi.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Tiếp Tế Từ Trên Không

Cùng với nhịp độ pháo kích gia tăng, số nạn thương chiến cuộc càng ngày càng nhiều. Phòng Cấp Cứu, Phòng Tiểu Giải Phẫu làm việc không nghỉ tay. Chúng tôi vừa làm vừa phập phồng lo sợ đủ mọi thứ chuyện: lo pháo, lo bỏ bom lầm, lo bị dù đè.

Từ ngày phi trường bị pháo hư và mất an ninh, máy bay cánh quạt không thể đáp xuống được. Mọi sự tiếp tế đều trông chờ vào trực thăng, nhất là thả dù. Những cánh dù lơ lửng in trên nền trời xanh trông thật đẹp. Đẹp hơn nữa khi nó mang lại gạo sấy, thịt hộp, trái cây hộp, đạn dược thuốc men cho những người lính đang sống thiếu thốn, mệt mỏi vì đã bị vây hãm lâu ngày.

Cũng như những trái đạn pháo kích, những cánh dù tiếp tế đầu tiên đã rơi xuống tại bệnh viện. Một cái rơi gần cổng vào, một cái rơi xuống trại Ngoại Khoa của tôi, sát phòng trực của y tá, làm sụp mái ngói, đè chết một thương binh người Việt gốc Miên bị thương ở ngực tôi chữa đã gần khỏi. Chiếc giường nằm bị bẹp dúm một cách thảm hại. May thay ba người nằm cùng phòng không bị thương gì cả. Nhưng họ cũng bị một mẻ sợ điếng hồn. Các anh em Quân Y đang thiếu gạo và thực phẩm, hy vọng cái tai họa bất ngờ này may ra cũng bù lại bằng một dù gạo sấy hoặc các lương khô khác. Nên mọi người hăm hở xúm vào giúp nhau gỡ dù, nhanh nhẹn mở thùng tiếp tế ra mới biết toàn đạn đại liên với lựu đạn.

Dù mang lại nguồn vui nhưng cũng mang tới tai họa. Có lần mải chụp hình chiếc dù trước mặt, tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu:

– Coi chừng dù rớt bác sĩ!

Tôi giật mình ngoảnh lại nhìn lên phía sau, thấy một cái dù lừng lững rơi xuống phía tôi đứng. Hoảng hồn, tôi rảo chân chạy, vừa chạy vừa quay đầu lại nhìn dể thăm chừng, thấy lúc nào nó cũng như ở trên đầu mình. Tôi liền nhẩy vào núp dưới hàng hiên bê-tông cốt sắt trước trại Nội Khoa. Hai giây sau, tôi nghe tiếng ngói vỡ vụn và một tiếng động mạnh làm rung rinh cả nhà. Chiếc dù đã rớt xuống phía mái bên kia trại Nội Khoa, thừng đồ còn mắc kẹt trên mái. May nó vướng vào cây cột bê-tông nếu không lại có vài mạng nữa chết oan.

Đang ở trong phòng mà nghe tiếng máy bay Cl19 thả dù mọi người đều bung cửa chạy ra sân nhìn xem dù rớt về hướng nào. Sau khi dù rớt xong rồi mới yên chí trở vào làm việc lại.

Đang khi mổ cũng vậy, tôi phải cắt một y tá ra xem chừng khi nào thấy dù có vẻ như rơi xuống phòng mổ phải báo động cho mọi người biết để có đủ thì giờ chạy.

Sau này cơ quan tiếp tế thả dù dùng một loại dù lỗ để thả cho chính xác. Mấy người lính gọi đó là dù phản lực. Vì dù nhỏ, có hở lỗ, sức cản không khí ít nên nó rơi xuống rất nhanh tạo nên một tiếng hú rít nghe rợn người. Dù này thường được thả thật cao, nhìn lên trời không thấy gì hết. Rồi bỗng nhiên từ trong những đám mây chúng hiện ra như những quái điểu khổng lồ lao vút xuống đất với tốc độ nhanh gấp mấy lần những chiếc dù bình thường. Khi thấy nó ở trên đầu rồi may mắn lắm mới tránh bị đè bẹp. Theo chỗ tôi được biết, số người bị chết vì bị dù đè ở mặt trận An Lộc lên tới ít nhất bẩy người.

Ngày 12 tháng 4, địch quân pháo kích bừa bãi nhiều hơn trước. Tôi vừa mổ xong một người bị vết thương ở bụng, mới bước ra khỏi Phòng Giải Phẫu gặp cha Minh, cha xứ Bình Long hớt hải chạy vào. Mặt cha thất sắc, chiếc áo dòng màu đen lấm cát và vấy máu. Tôi hốt hoảng hỏi:

– Cha bị thương sao cha?

Cha Minh lắc đầu, giọng nói gấp rút:

– Không, bác sĩ, Việt Cộng pháo kích vô nhà thờ, dân bị thương, chết nhiều lắm. Tôi cho khênh lên đây mấy người nặng nhờ bác sĩ cứu giùm.

Cha Minh vừa nói vừa chỉ cho tôi coi hai người thiếu niên cụt mất cả hai cẳng chân đang nằm thoi thóp thở. Cha Minh dẫn tôi lại gần một người đàn bà bị thương cùng mình, mặt mũi bị những mảnh đạn, đất cát bắn vào làm lỗ chỗ không tài nào nhận ra. Tựu chung chi còn lại hai con mắt lờ đờ nhìn mọi người. Ngực bụng tứ chi không chỗ nào là không chi chít những vết thương nhỏ xíu. Cha Minh nói với tôi:

– Bà này tôi coi như người nhà. Xin bác sĩ hết lòng cứu giúp cho.

– Dạ, cha cứ yên trí. Tôi xin hết lòng cố gắng.

Tuy nói vậy cho cha yên lòng, theo kinh nghiệm của tôi, ba người đó khó lòng cứu được, nhất là trong tình trạng thiếu thốn như bây giờ. Cha Minh dặn dò tôi xong lại tất tả đi về nhà thờ lo cho những người còn lại.

Tôi cho đặt đai chỉ huyết ở đùi hai người bị cụt chân. Cho truyền nước biển cả ba người vì họ bị kích xúc rất nặng. Máu ở nhà thương lại vừa mới hết. Còn một bịch máu O của người lính cho Thiếu úy Uy giữ lại, tôi liền sang cho người bệnh nặng nhất và cho lên bàn mổ ngay. Tôi cho chích Pentothal để ngủ. Tôi cắt khớp hai gối. Tôi làm việc thật nhanh để tranh thủ thời gian sợ bệnh nhân tỉnh dậy bất ngờ. Cô Bích, anh Xòm giúp tôi rửa sạch những vết thương và băng các mấu chỉ. Mỗi khớp tôi chỉ cần từ ba đến năm phút để cắt và cột mạch máu.

Khi tôi vừa làm xong người thứ hai, cô Mỹ vào cho hay người đàn bà đã trút hơi thở cuối cùng. Hai giờ sau người thanh niên thứ nhất cũng ra đi. Chúng tôi không còn thì giờ để thương tiếc. Người này mổ xong là có người khác vào. Liên tiếp như vậy khiến đồ hấp không kịp. Các bộ đồ giải phẫu ở trong ngày ấy đều bị sử dụng hết. Tôi đành khử trùng một cách dã chiến bằng cách đốt những dụng cụ giải phẫu với Alcohol. Tuy nhiên những bộ đồ giải phẫu bụng vẫn được khử trùng bằng máy hấp đúng tiêu chuẩn.

Sau vụ nhà thờ, tôi còn nhận thêm 7 người bị thương nữa do Việt Cộng pháo kích vô Trung Tâm Truyền Tin Cố Định. Chưa hết, địch quân pháo vào đồi Đồng Long, chúng tôi lại nhận được thêm 9 người bị thương nữa. Có tin một trực thăng Chinook bị bắn cháy ngoài phi trường. Lợi dụng lúc mới mổ xong, nhân viên còn đang dọn dẹp phòng mổ, tôi chạy vội ra phía cuối trại Ngoại Khoa nhìn về phía phi trường, cách bệnh viện chừng hơn một cây số. Tôi thấy một cột khói đen kịt bốc thẳng lên trời cao tới mấy trăm thước, cho thấy hôm đó trời không có gió.

Tôi thầm mong sao cho phi hành đoàn và mọi người ở trên máy bay đều được bình yên. Cháy lớn như vậy tôi sợ có người chết cháy hay bị phỏng nặng. Khi tôi quay trở vào , Thiếu úy Thu tươi cười giới thiệu tôi một người lính:

– Đây người hùng đây, bác sĩ. Hạ sĩ nhất Lê Văn Tèo ở kho Y Dược 731 đi theo chiếc Chinook để tải thuốc lên tiếp tế cho bọn mình đó.

Tôi trợn mắt lên:

– Chiếc Chinook đang bị cháy đấy hả?

– Dạ phải!

Tôi lo lắng hỏi:

– Có ai bị thương không?

– Dạ thưa không. Chỉ có tôi bị phỏng nhẹ ở tai trái và ở cánh tay trái thôi.

Vừa nói Hạ sĩ Tèo vừa chỉ cho tôi xem bên tay trái bị băng mà lúc đầu vì mải nghe, tôi không để ý. Thiếu úy Thu xen vào nói:

– Hạ sĩ Tèo mang được đầy đủ thuốc về. Ngon không bác sĩ. Tèo còn chê phi hành đoàn không chịu chữa lửa, mới đầu cháy có chút xíu. Nếu không, máy bay đâu có tiêu ra tro.

Tôi mỉm cười nói:

– Lo gì chuyện đó, mọi người bình an cả là mừng rồi. Cảm ơn anh Tèo nhiều lắm. Một mình anh lo mang được cả một đống thuốc men như vậy thì quả như lời Thiếu úy Thu nói, đúng là anh hùng rồi, phải tuyên dương công trạng anh mới được.

Tôi quay sang Thu nói tiếp:

– Nhưng trước hết ông cho anh Tèo vào trình diện bác sĩ Phúc, rồi lo nơi ăn chốn ở cho anh ấy được chu đáo. Khi nào có chuyến tản thương sẽ ưu tiên cho anh Tèo tháp tùng thương binh về Lai Khê càng sớm càng tốt.

Thu và Tèo chào tôi đi lên văn phòng bác sĩ giám đốc. Tôi lại quay vào Phòng Giải Phẫu mổ tiếp. Chúng tôi tiếp tục làm việc cho đến 6 giờ chiều. Ai nấy đều hốc hác, vậy mà vẫn còn 5 người bị thương nữa. Tôi nói với các nhân viên y tá:

– Thôi nghỉ đi, mọi người đi kiếm cái gì ăn cho chắc bụng, mình phải để dành sức tối mổ tiếp.

Tôi bước ra khỏi Phòng Mổ, gặp bác sĩ Chí tiến vào. Chí hất hàm hỏi tôi:

– Hết chưa?

Tôi lấy cánh tay quẹt mồ hôi đang rịn ra trên trán, lắc đầu nói:

– Còn 5 người nữa, nhưng nhẹ thôi, mấy vết thương ngoài da ở tay chân đã được săn sóc chích ngừa phong đòn gánh và cho trụ sinh cả rồi, để tối nay làm tiếp.

Chí gật đầu:

-Tối nay tao lên làm chung với mày nói chuyện cho vui. Làm một mình ở dưới kia buồn muốn chết. Thấy nó lạnh lẽo làm sao ấy.

– Mày nói đúng, tao cũng cảm thấy như vậy. Làm hai người vui và đỡ chán hơn. Xe mày đâu?

– Để ở đằng trước.

– Rồi, lái xe đi ăn phở.

Chúng tôi đi vòng ra phía trước bệnh viện. Chí lái xe xuống đại lộ Hoàng Hôn. Đi ngang qua Căn Cứ Pháo Binh tôi vội nhắc Chí:

– Chỗ này nguy hiểm, Việt Cộng khoái pháo vào đây lắm. Vọt lẹ đi.

Vừa nói dứt lời, một khẩu 105 ly của pháo binh bắn đi, tiếng nổ làm chúng tôi cùng giật thót mình. Cả hai cùng nhìn nhau cười hô hố khiến mấy người lính Pháo Binh bên đường ngơ ngác không hiểu gì cả.

Chúng tôi như những con chim đã bị tên, giờ đây nghe tới tiếng nổ là sợ. Ngoài đường không một bóng người. Thính thoảng một anh lính Địa Phương Quân cưỡi xe gắn máy cắm cổ phóng vụt qua như gió rồi mất dạng ở cuối phố.

Chí chỗ đậu xe ngay trước tiệm phở Thành Mỹ. Tiệm này nổi tiếng nấu phở ngon nhất Bình Long. Trong tiệm vắng vẻ, chỉ còn hai vợ chồng người cảnh sát mới ăn xong đang sửa soạn ra về. Thấy bà chủ đi ra tôi vội hỏi:

– Bà còn phở không?

Người đàn bà tươi cười nói:

– Dạ, thưa còn.

– Bà cho chúng tôi hai tô đi. Dạo này chắc vắng khách phải không bà?

– Thưa vâng, mọi lần không đủ bàn để ngồi. Nay lộn xộn thành ra chẳng ai dám đi ra ngoài cả. Lắm hôm phải ăn phở trừ cơm.

Người đàn bà ra quầy hàng làm hai tô phở. Tôi đá chân Chí hỏi:

– La-de không?

Chí gật đầu mỉm cười:

– Uống chớ. Nhưng mày đừng có say, chút nữa để quên dao kéo trong bụng người ta.

Tôi mỉm cười:

– Một chai ăn nhằm gì.

Tô phở nóng bốc hơi thơm mùi mỡ bò. Vì đói chúng tôi ăn rất ngon lành.

Tôi nói với Chí:

– Mày nhớ không, nghe tin đánh Quảng Trị, tụi mình khoái chí bảo mấy thằng bạn mình ở Bệnh Viện Tiểu Khu Quảng Trị sẽ làm việc hốc hác. Không ngờ ngày nay mình lại còn hốc hác hon bọn họ nữa.

Chí uống một ngụm bia xong rồi cười nói:

– Thành ra số tụi mình là số ăn mày.

Mặt Chí chợt đăm chiêu:

– Mình bị vây đến nay là tám ngày rồi. Sao chưa thấy rục rịch phản công gì cả?

– Tao cũng tự hỏi như vậy, nhưng có lẽ cũng sắp rồi. Tao nghe nói viện quân Dù đã lên tới Tân Khai. Chắc chỉ nay mai là giải tỏa xong quốc lộ 13.

Chỉ chợt hỏi:

– Lúc pháo kích mày núp ở đâu?

– Dưới gầm giường.

Chí cười:

– Vậy là chí lớn gặp nhau rồi. Tao cũng vậy. Nhưng chỗ tao ồn ào và hơi chật, vì có thêm nha sĩ Tài, đốc-tờ Hùng, đốc-tờ Thùy nữa. Vả lại ở ngay phòng nhận bệnh, thương binh đêm đêm kêu rên không tài nào ngủ được.

– Ở phòng đốc-tờ Phúc có hầm tốt tắm sao mày không lên đấy mà ngủ?

Chí cười hỏi lại tôi:

– Thế sao mày không lên?

– À, ở phòng tao được thoải mái tự nhiên hơn. Hay mày xuống chỗ tao?

Chí ngần ngừ trả lời:

– Thôi ở đâu quen đó, chỗ nào cũng vậy thôi. Nếu nó pháo quá chắc tao cũng phải lên hầm đốc-tờ Phúc cho chắc ăn. Nằm một mình trong phòng nghe pháo nổ chung quanh, tao thấy lạnh lẽo cô đơn quá, lại càng sợ nữa. Có một vài người ở bên cạnh mình sẽ thấy yên tâm hơn.Tao thấy mày làm việc nhiều quá, lỡ mày đau tụi tao khổ.

Tôi lắc đầu:

– Đau thì không sợ, chỉ sợ bị thương thôi. Sao bây giờ xin tản thương khó khăn quá, lại nguy hiểm nữa. Mình chữa trị cho người thì được. Lúc mình bị thì ai mổ cho mình đây?

Chí gật đầu nhẹ, chậm rãi nói:

– Kẹt nhỉ, ở đây chỉ có mình mày là y sĩ giải phẫu mới đau chứ.

Chí xua tay:

– Thôi đừng nghĩ tầm bậy, mình ăn cho xong rồi về tiếp tục làm tiếp.

Chúng tôi mỗi người đều ăn hết hai tô phở. Không ai nghĩ rằng đó là những tô phở cuối cùng ăn tại Bình Long. Và không ai nghĩ rằng ngày mai, 13 tháng 4 Việt Cộng dốc toàn lực tấn công An Lộc khiến cho chúng tôi phải sống một cuộc đời tử thủ khổ cực trong nhiều tháng.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Người Tù Binh

Trước cuộc pháo kích một tuần, nghĩa là cách nay được hai tuần, ban An Ninh Tỉnh có giải tới bệnh viện hai tù binh bị thương. Một đàn bà, một đàn ông. Cả hai người còn trẻ tuổi. Người con gái chừng 23 tuổi, dáng người cao gầy, cỡ chừng 1 thước 60, da ngăm đen bị thương ở bụng. Người con trai cỡ 21 tuổi, bị thương gãy xương đùi phải. Trái với người con gái, anh này có da có thịt, da trắng xanh, trông mặt mũi cũng khá sáng sủa. Tôi đã mổ cho hai người này, săn sóc họ cũng giống như những người dân khác, không phân biệt thù hay bạn. Sau khi mổ xong, chuyển họ qua Phòng Hậu Giải Phẫu. Nhân viên an ninh đến ngay canh chừng, dùng còng số 8 khoá tay họ vào thành giường.

Tôi biết bị khóa như vậy thì khổ sở lắm. Tay sẽ mỏi, tê buốt vì ở trong một vị thế lâu hàng giờ. Cũng may, tay họ bị khóa dọc theo thành giường chứ không vắt lên trên khung sắt cong đầu giường. Nếu như vậy sẽ càng mỏi, tê ghê gớm hơn. Tôi được biết điều này vì từ khi hồi còn là sinh viên Y Khoa, tôi truyền nước biển cho một người bệnh uống thuốc ngủ tự tử. Vì bệnh nhân dãy dụa nằm không yên nên y tá phải cột cánh tay cô ta vào một cái nẹp gỗ để cánh tay không co lại được, tránh cho tĩnh mạch khỏi bị kim đâm xuyên qua. Khi truyền xong, cô ta tỉnh dậy và than chỗ khủy tay bị cứng lại, co vào thấy đau, tê lắm. Nay, những tù binh này bị còng vào thành giường cả ngày, không biết sẽ tê nhức đến thế nào.

Lúc đầu, hai người rất ít nói, rất dè dặt. Ai hỏi gì chỉ trả lời tiếng một, mặt tỉnh bơ vô cảm giác. Nhưng sau vài ngày, thấy chúng tôi đối xử với họ như những bệnh nhân khác, trong ánh mắt của họ đã mất đi vẻ nghi kỵ lạnh lùng.

Sau hai ngày ở Phòng Hậu Giải Phẫu, tôi cho chuyển họ xuống trại Ngoại Khoa, vết thương bụng của người con gái lành khá nhanh theo như dự đoán, không có biến chứng gì cả. Nhân viên Phòng Nhì của tỉnh vẫn canh chừng nhưng hơi lơi là một chút. Thay vì ở đó suốt ngày, nay họ chỉ tới thăm chừng một ngày hai lần. Họ không sợ tù binh đào thoát vì tay tù binh vẫn bị khóa vào thành giường như cũ.

Người con gái đã có thể ngồi dậy ăn uống. Nếu có nhu cầu vệ sinh, cô ta có thể gọi y tá tới giúp. Vì nhu cầu sinh tồn, cô ta đã làm quen được những người bệnh cùng phòng và họ sẵn sàng giúp đỡ cô ta khi cần.

Sự hiện diện của một tù binh bên địch ở trong trại Ngoại Khoa chẳng làm cho mọi người để ý hoặc xử sự gì khác lạ. Một vài bệnh nhân vì tò mò, có lần tới xem mặt người tù binh nhưng không có thái độ căm thù hay oán ghét gì cô

Tôi nhận thấy đó là một điều khác thường. Trên chiến trường thì ăn thua đủ, sẵn sàng nhả đạn tiêu diệt kẻ thù nhưng khi bị thương vào bệnh viện, mọi người chỉ là bệnh nhân thôi. Cùng là người Việt cả. Có thể cùng nói một thứ tiếng, cùng một phong tục tập quán nên dễ thông cảm nhau chằng. Cũng có thể là cuộc chiến tương tàn giữa những người Việt với nhau không phải do họ hay những thường dân vô tội, mà do một nhóm người lãnh đạo đầy tham vọng quyền lực đã áp đặt, đưa đẩy họ vào. Tôi chắc chắn rằng họ cũng như tôi, chỉ mong có một cuộc sống bình an, không có tiếng súng, không chết chóc, hận thù. Cho nên chúng tôi, y sĩ và y tá đều cố gắng chữa lành những vết thương cho mọi người, không phân biệt ta hay địch trên phương diện y khoa. Tuy nhiên, vì chúng tôi đang ở trên hai chiến tuyến khác nhau nên tôi vẫn phải đề cao cảnh giác, vẫn để ý canh chừng.

Chúng tôi đối xử họ với tinh thần nhân đạo, nhưng làm sao biết được trong lòng họ nghĩ gì. Bởi vậy tôi căn dặn Trung sĩ Lạng, Y Tá Trưởng trại không nên phóng tâm ỷ y. Mặc dù canh giữ tù nhân là trách nhiệm của An Ninh Tỉnh nhưng mình cũng có một phần trách nhiệm nếu có điều gì xảy ra ở trại của mình.

Sau 10 ngày, vết thương bụng của cô gái đã lành hẳn. Tôi tháo băng cắt chỉ và sẵn sàng trả cô lại cho Ty An Ninh Tỉnh. Những ngày cuối cùng ở bệnh viện, cô ta có vẻ cởi mở hơn nhiều so với những ngày trước. Tôi đã thấy được nụ cười trên môi cô và những câu trả lời cũng đỡ khô khan cộc lốc. Các nhân viên An Ninh càng ngày càng ít tới canh chừng tù binh, có khi hai hay ba ngày họ mới tới một lần.

Những hôm bị pháo kích, tôi đi ngang qua phòng cô ta thấy cô ta mặt mũi xanh dờn vì sợ. Cô chui xuống gầm giường bệnh, một cánh tay vẫn bị khóa chặt vào thành giường khiến cho mọi cử động của cô ta rất khó khăn. Tôi nghĩ bụng, thì ra cô cũng sợ pháo kích của các đồng chí của cô.

Có một lần, cô ta nói với tôi:

– Xin bác sĩ cho mở cái còng cho tôi giùm. Tôi hứa sẽ không trốn đâu.

Tôi lắc đầu:

– Tôi không có chìa khóa.

Dù có chìa khóa, tôi cũng không dám mở tuy tôi thông cảm nỗi khổ của cô. Ngày hôm qua, sau khi tản thương xong, tôi xuống trại Ngoại Khoa khám bệnh, vừa thấy tôi, Trung sĩ Lạng báo cáo liền:

– Thưa bác sĩ, còng tay cô gái tù bị sút ra rồi.

Tôi cau mày ngạc nhiên, hỏi:

– Sao vậy?

– Thưa bác sĩ, lúc nghe pháo cô ấy nhảy mạnh xuống sàn, không ngờ còng tuột khỏi bàn tay.

Tôi suy nghĩ, có lẽ trong thời gian dưỡng bệnh sau khi mổ, cô ta gầy đi. Bàn tay có thể nhỏ lại nên mới tuột ra khỏi còng. Tôi nhìn Trung sĩ Lạng, anh hiểu ý, vội nói:

– Tôi đã cho người canh chùng và đã báo ngay cho An Ninh Tỉnh biết, được nửa tiếng rồi mà sao đến giờ này vẫn chưa có ai tới.

Tôi vội đi tới phòng của cô gái tù binh. Tôi thấy cô ta đang ngồi trên giường nói chuyện với cô y tá Huệ một cách vui vẻ. Tôi bước vào phòng, cô ta ngẩng lên thấy tôi hơi mỉm cười, gật đầu chào. Tôi cũng gật đầu chào lại cô ta rồi hỏi:

– Tay cô có đau không?

Cô gái lắc đầu, trả lời:

– Dạ thưa không. Chỉ hơi trầy da một chút xíu thôi. Được thoát khỏi còng tôi thấy khỏe lắm.

Tôi hỏi tiếp:

– Thế vết thương ở bụng cô còn đau lắm không?

– Dạ thưa, bớt nhiều lắm rồi. Cám ơn bác sĩ đã cứu sống tôi.

Đây là tiếng nói “cám ơn” đầu tiên của người nữ tù binh tôi nhận được từ khi cô ta nằm bệnh viện. Thật khác hẳn thái độ nghi kỵ và đề phòng lúc ban đầu. Tôi nhờ cô ý tá Huệ mở băng bụng cho tôi khám lại vết thương, vết mổ đã lành. Tôi nói với người nữ tù nhân:

– Vết thương lành hẳn rồi. Cô có thể ăn uống như thường. Chút nữa An Ninh Tỉnh tới, tôi sẽ cho cô xuất viện để họ mang cô về bên Ty An Ninh. Bổn phận của chúng tôi tới đây là xong. Chỉ cần một tuần nữa, cô hoàn toàn bình phục, muốn làm gì cũng được.

Cô cúi đầu xuống, lộ vẻ lo âu khi nghe thấy tôi chuyển cô lại Ty An Ninh Tỉnh. Tôi vội trấn an cô:

– Cô đừng lo, cô mới lành bệnh xong, sang đó họ sẽ không làm gì cô đâu. Họ chi hỏi cung là cùng. Chắc chắn không có tra tấn gì đâu.

Nói đến đây, hai nhân viên An Ninh Tỉnh tới. Sau khi các thủ tục giấy tờ đã ký xong, cô gái bị còng hai tay lại rồi theo nhân viên an ninh ra xe đi về Ty An Ninh Tỉnh. Sau này, khi tôi được lệnh dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để tổ chức một Phòng Mổ cấp Cứu ở đó, tôi lại có dịp gặp cô gái tù binh. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô này chẳng bị còng tay gì cả mà lại đi đứng tự do như mọi người. Cô trông có vẻ khỏe mạnh, nước da trắng hơn trước, nét mặt vui hơn và có vẻ yêu đời hơn. Cô trông thấy tôi, mỉm cười gật đâu chào tôi. Tôi cũng gật đầu chào lại, không trao đổi câu nào. Trong lòng tôi hơi thắc mắc sao người tù nhân bên địch lại được tự do sống ngay trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu như vậy.

Có thể cô ta đã hồi chánh rồi chăng?

Còn người nam tù binh, từ khi xuống trại Ngoại Khoa, những ngày đầu, tôi thấy anh ta không nói gì. Tôi cũng không hỏi, chỉ khám bệnh và săn sóc vết thương cho anh ta như những bệnh nhân khác. Anh ta được đặt sát ngay phòng tôi. Xương đùi bị gãy nên tôi phải kéo xương đùi bằng cách dùng một hệ thống ròng rọc và tạ nặng 10 ký.

Mấy ngày đầu, bệnh nhân sẽ thấy rất đau, nhưng rồi sẽ quen đi. Sau 10 ngày, tôi cho chụp lại hình xương đùi thấy chỗ gãy đã thẳng hàng với nhau. Tôi liền bó bột để giữ xương ở vị trí và tránh lệch lạc. Cổ tay trái của anh ta vẫn bị còng vào khung giường.

Có một lần, anh ta năn nỉ tôi đi kiếm cho anh một cái cưa sắt để anh cưa đứt còng cho thoải mái. Anh ta lấy lý do chân bị gãy, anh ta không thể trốn đi đâu được. Cũng như đối với cô tù binh kể trên, tôi trả lời anh ta là tôi không có cưa sắt và nếu có, tôi cũng không dám đưa. Tôi nói với anh ta rằng tôi sẽ cho An Ninh Tỉnh biết để chuyển anh đi nơi khác vì tình trạng sức khỏe của anh ta hiện giờ đã ổn định, không cần nằm bệnh viện nữa.

Nhưng điện thoại đã bị cắt. Bệnh viện đã bị cô lập, tôi không thể liên lạc với An Ninh Tỉnh được, thành ra anh ta vẫn phải nằm tại bệnh viện. Anh ta đã thoát chết mấy lần pháo.

(Sau khi tôi được lệnh di chuyển sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, trong lúc bận rộn thu xếp đồ đạc dụng cụ y khoa mang đi để thiết lập một Phòng Mổ cấp Cứu, tôi cũng không quên dặn dò Trung sĩ Lạng nhớ săn sóc cho người tù binh, kiếm thức ăn cho anh ta ăn, sau đó tôi mới yên chí ra đi.)

Ba Cụm

Chim Việt

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Sau năm đình chiến năm 1954 hiệp định Geneve, tình hình an ninh lập lại, nhân dân miền Nam được hưởng lại cảnh hoà bình. Tình cờ tôi gặp lại người bạn đồng hương anh Bảy Lâu, người bạn học trò khi còn ngồi lớp đồng ấu (Enfantaire) cho tới cùng nhau thi đậu bẳng cấp Tiểu học lớp Sơ Đẳng (Elementaire).

Anh Bảy Lâu là đứa con út trong một gia đình có tới 5 chị gái, nên khi sanh tới anh là trai ba má anh cho anh xấu háy? nên trên đầu anh có chừa ba vá, đặc biệt là sau ót anh, vì để vá nên có cái đuôi rùa dài xuống sau lưng. Thời kỳ lên tới lớp Dự Bị (Preparatoire) tuổi học trò cỡ đó lớn hơn lớp nhỏ Đồng Ấu, nhưng lại nhỏ hơn lớp Sơ Đẳng. Đầu hớt trọc (Carre) áo thung quần xà lỏn lớp mà người ta cho là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

Cách phía sau công sở Thới Thuận một cái sân rộng lớn, chung quanh có trồng cây cao bóng mát, trường học trên một nền cao gần bìa rừng. Lúc chạy dỡn trước sân trường khi cao hứng đồng ca bài Mạnh Lệ Quân, bắt chước trong dĩa hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho dĩa Pathe, Phono nghe chơi…Buổi sớm mơi con ra kinh thành dạo chơi…Con mới tới nơi, ông liền đánh con…Nhờ con chạy mới còn đây mẹ…Ca xong câu này thì cùng nhau rượt bắt Lý Đạo Tông (anh Bảy lâu) khi bắt được Lý Đạo Tông rồi, thì hai đứa ôm chặt hai tay, rồi mỗi đứa trong bọn vuốt sau đuôi rùa anh cái nhẹ … rồi cười…anh củng cười theo…

Trong truyện Thuyết Đường có ông Lý Đạo Tông đi dạo ngoài thành, có đám con cháu dòng họ Tiết, đè ông xuống đứa nhổ râu, đứa nhổ tóc, sau đám này bị bắt về tội toàn gia chu lục. Nhưng khi tới tôi vuốt đám tóc đuôi rùa đó, tôi không nói vuốt tóc Lý Đạo Tông mà tôi nói giựt chóp mao con Hồ Lôi Báo (củng trong truyện Thuyết Đường, có ông tướng Thượng Sư Đồ có con ngựa thần trên đầu có chòm lông, khi giữa trận tiền gặp nguy Thượng Sư Đồ nắm chóp mao con Hồ Lôi Báo giựt mạnh tức thời nó hét lên một tiếng tất cả con ngựa bên địch đều quỵ xuống. Nhưng đời của con ngựa này chỉ hét có 3 lần. Cho nên anh Bảy Lâu thấy tôi vuốt đuôi rùa của anh mà nói Hồ Lôi Báo thì anh không hét lên như ngựa thần mà anh về thưa thầy. Cho nên thay vì đám ngựa bị cóng giò thì đám học trò bị quỳ mỏi gối…

Những truyện vui thưở học trò tụi tôi còn nhiều thứ nửa. Khi cùng thi đậu bằng Tiểu học, anh có đủ phương tiện lên học trường Mỹ Tho, còn tôi không đủ phương tiện đi học xa nhà nên ở nhà làm công tử!

Đám học trò đó lớn lên kẻ ngược xuôi, người ngang dọc lập thân. Hôm nay tình cờ gặp lại tiệm cà phê Nam Sơn một tiệc này không đủ cho đôi bạn đồng hương bấy lâu xa cách hàn huyên cho phỉ dạ. Bảy Lâu nhất định mời tôi lên nhà anh ở chơi vài ngày. Nhà anh trên vùng Xoài Hột, không biết anh định cư lập nghiệp đây hồi nào, nhà 3 căn lợp ngói trong một khu vườn đầy cây ăn trái nằm cạnh con rạch Xoài Hột. Trong nhà đầy đủ tiện nghi, tủ cẩn, salon, đi văng gõ, dưới nhà cầu mé rạch có hai chiếc ghe chở trái cây đi bán.

Anh kêu vợ con ra giới thiệu tôi là bạn đồng hương, dân tài tử, giờ là thợ may đồ Tây, trước kia là dân công tử tại làng. Hôm nay nhà anh Bảy Lâu dưới bếp lăng xăng phụ nữ nấu ăn, trên nhà thì trai tráng lo dọn dẹp bàn ghế mượn.

_Bữa nay nhà anh có đám cúng gì mà lối xóm lại phụ giúp đông đảo vậy?

_Nay là ngày lễ Thanh Minh, củng là tới phiên tôi tổ chức.Mỗi năm tại đây đều luân phiên tổ chức lễ cúng Thanh Minh tập thể. Ban khánh tiết vùng này mỗi năm có tổ chức lễ Thanh Minh, năm nay tới phiên tôi được tổ chức, nên gặp anh là một dịp may, mời anh lên chung vui quen biết được một lễ Thanh Minh duy nhất tại vùng này.

Khi con heo quay về tới nhà tất cả lối xóm ăn mặc chỉnh tề đồng đi ra ngoài mé song Cửu Long ca5mh đường lội xe đi Rạch Gầm.Khi đoàn đi tới một nghĩa trang nằm phía ngoài bờ song Cửu Long tất cả đều vô đó… và tiệc cúng bằng con heo quay, che xôi, hoa quả, bày ra giữa đám mả trong nghĩa trang, nơi đây được dọn dẹp sạch sẽ cỏ cây, đường xá ngay thẳng từng hàng. Khi khởi sự cúng anh Bảy Lâu đưa cho tôi một bó nhang đã đốt anh nhờ tôi là người khách lạ mới tới dự lễ này, mỗi cái mả cắm một cây nhang. Mỗi cái mả đều có làm dấu một cây thánh giá sơn trắng. Nhưng có một điều làm tôi ngạc nhiên tại sao cả mấy chục cái mả mà tôi đi cắm nhang, trên cây thánh giá lại không ghi tên người nằm dưới mộ? sau đám cúng Thanh Minh, về nhà anh Bảy Lâu bày ra làm tiệc chung cùng nhau ăn uống chuyện trò than mật.Giờ đây tôi mới biệt được cái tiểu sử nghĩa trang mới làm lễ cúng Thanh Minh, nó được mang nhiều cái duy nhất.

*Một nghĩa trang duy nhất tại xứ Nam kỳ

*Duy nhất… có cắm bia mà không có tên người nằm dưới mộ

*Duy nhất…không có thân nhân tảo mộ hằng năm.

*Duy nhất, già trẻ, trai gái, giàu nghèo đều cùng chết một đêm.

*Duy nhất được dân vùng Xoài Hột luân phiên cúng Thanh Minh tập thể.

Cái nghĩa trang mang nhiều duy nhất đó là nạn nhân của chiếc tàu đò đưa khách trên con đường Sài Gòn-Trà Vinh chiếc tàu đò đưa khách đó có tên là Đồng Sanh! Mỉa may thay nó mang tên Đồng Sanh .. mà lại là Đồng Tử? Chiếc tàu đò này nó bị chìm khi từ trên Vàm Kỳ Hôn chạy xuống gần tới Vàm Giao Hoà nhằm con nước lớn có nhiều ngọn sóng thần từ cửa Tiểu và cửa Đại tạo nên giới thương hồ gọi là ngã ba Tam Điền.

Trước đó không lâu củng có chiếc tàu hiệu Quay Lợi (Hoai Lợi) củng chạy con đường này nhưng chiếc tàu này khi bị song đánh gần chìm nhờ tài công tỉnh trí, cho tàu chạy đại vô bờ vì vậy mà không bị thiệt hại về nhân mạng bao nhiêu. Tối lại khi lối xóm dọn dẹp xong ra về, anh Bảy Lâu cùng tôi ra sau phía vườn có cất cái nhà để chứa trái cây mới hái từ chung quanh vườn đem vô đây mới lựa tuyển thứ tốt vô bội chở đi. Hơn mười mấy năm hai đứa trong ban tài tử bỏ túi Thới Thuận mới gặp lại đàn ca, anh cây Guitar, tôi cây Kìm, cố ôn lại những bài bản trước kia rồi thâu lượm nhưng bài bản ngày nay.

Giờ phút này tôi vẫn còn bị cái nghĩa địa Đồng Sanh ám ảnh, sau khi chiếc tàu đò chạy đường Sài Gòn – Trà Vinh chìm. Thời gian sau vùng cù lao An Hoà, có một bài ca vọng cổ Tàu Đồng Sanh chìm vào Giao Hoà. Bài ca này tôi không có học vì nó buồn quá. Nhưng có nhiều người họ ca nên tôi củng thuộc được nửa bài vọng cổ đó. Bảy Lâu đờn, tôi ca:

_Ôi cuộc đời thật là tang thương biến đổi.

_Kiếp nhân sinh dường như trong giấc mộng hoàng lương.

_Từ Sài Gòn ra Kỳ Hơn tới Giao Hoà tôi vẫn vui cười có ngờ đâu là

_Tới sông Cửu Long giang chổ người ta gọi là Tam Điền

_Thình lình phong ba dội thổi, phần bọn học trò chạy qua lại, làm cho tàu nọ phải nghiêng.

_Than ôi ngọn sóng thần nó vừa chụp qua ngọn thứ nhì

_Lần lần tàu kia riễu hạ tiếng cha khóc con kêu bên tai nghe thảm thiết bi ai.

_May sao tôi tỉnh mới cởi giày lột áo phóng đại ra ngoài

_Tôi ôm được cái phao mà phú cho ngọn song thuỷ triều

_Khi tỉnh lại thấy chung quanh mình tôi lao nhau lố nhố kẻ lo hơ lửa người lại cho uống nước gừng. Theo như nạn nhân còn sống sót nạn tàu chìm này. Nguyên vì cuối năm học trò các nơi như Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh về nghỉ Tết Nguyên Đán. Những chuyến tàu gần Tết củng nhận chở hàng hoá về bán Tết cho nhiều cùng với đám học trò mất bình tĩnh khi thấy ngọn sóng thần đánh vô thân tàu rồi sợ nên chạy qua chạy lại vì tàu chở hàng hoá quá khẳm nên chìm luôn.

Giữa đêm khuya sóng lớn mênh mông, không biết bên nào là bờ cho nên trọn đám hành khách tàu Đồng Sanh chết chìm gần hết. Nhà cầm quyền thời đó mới vớt những thây ma trên song Cửu Long từ Vàm Giao Hoà tới Thị xã Mỹ Tho đem lên chôn chung trên Vàm Xoài Hột rồi xác tàu Đồng Sanh củng kéo bỏ gần Vàm Xoài Hột. Thân nhân nạn nhân đâu biết tin tức gì về vụ tàu chìm, vì thời đó hệ thống thông tin không đủ, như báo chí và đài phát thanh trong dân chúng hằng ngày như ngày nay. Khi thấy đã tết mà không thấy họ về tới nhà mới biệt đã bị tai nạn đó. Sự cố gắng của chính quyền thời đó nội lo chôn cất gần cả trăm thây ma là cả vấn đề khó khăn rồi. Nhưng lý lịch nạn nhân nếu có thì củng bị ngâm nước mấy ngày, giấy mực thời đó mà bị mấy ngày ngâm nước củng không sao coi được cho rõ ràng. Cho nên những nấm mộ vô danh tại nghĩa trang Đồng Sanh đó, không có tên họ là gì hết, chỉ chôn riêng một bên nam, một bên nữ.

Cho tới ngày nay ghe thương hồ đi dưới sông củng thấy mà trên đường lộ đá khỏi cầu sắt Xoài Hột đi ngang qua củng thấy, một nghĩa trang duy nhất của xứ Nam kỳ. Trong khi đó trên Sài Gòn trước kia kêu đất thánh Tây hay đất thánh Mayer vì nó toạ lạc ở góc đường Paul-Blanchy-Mayer, sau này kêu là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có lẽ nghĩa trang đó có hơn cả trăm năm nay. Nay thì nó không còn, nó bị bọn VC sang bằng làm vườn trẻ!!

 Đêm khuya giữa khu vườn thanh tịnh, tôi nghe tiếng đờn Guitar của anh Bảy Lâu thật điêu luyện còn tiếng đờn của tôi thì từ hôi nào cho tới giờ vẫn vậy. Tôi mới biết, từ khi lập gia đình mà anh Bảy Lâu vẫn có thời giờ vô chợ Vĩnh Kim học thêm nhiều bài bản cổ nhạc với các danh sư trong đó. Giờ thì nghỉ đờn, để hai đứa bắt đầu tâm sự cuộc đời mấy năm qua. Tôi mới tâm sự đời của tôi trước cho anh nghe:

Sau khi thi đậu với anh, anh thì lên đây học thêm, còn tôi thì ở lại cùng nếp sống lêu lỏng vui chơi như ngày nào. Nhưng biến cố lớn là tôi đã nặng lời nguyền với một thôn nữ, cái cô đi học mà có mang theo gói cơm, tan học mấy cô cùng chung lại ăn cơm phía sau nhà công sở đó, nhưng cô ấy chỉ học tới lớp dự bị thì thôi. Gia đình cô và gia đình tôi cùng chung một nghề: buôn bán tôm khô. Khi đi tới hôn nhân thì bị trở ngại là không hợp tuổi, kẻ Dần, người Hợi. Rồi bị cái vụ đờn ca tài tử này, ông Mười Thao điền chủ ở quận An Hoá là bà con với gia đình tôi, nhân dịp con gái ông thi đậu bằng cấp gì đó nên ông ăn mừng, tổ chức tiệc vui, có tổ chức đàn ca tài tử trên làng Song Phước xuống, ban tài tử dưới Thới Thuận lên.

Đó là tiệc mừng chị V. thi đậu mà sau đó ông Mười sẽ cho đi Pháp học (Sau này là nữ luật sư Nguyễn Thị V. con ông Mười An Hoá). Đám tài tử trên Song Phước là nơi quê hương nghệ sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Thu Trung. Trong đêm hoà đờn giao nghĩa hai làng chung một quận An Hoá, củng là đêm tôi bị gia đình bí mật giới thiệu với gia đình một thiếu nữ ở làng Song Phước. Thiếu nữ đó biết mặt tôi, mà tôi không biết cô đó, mà lại là người vợ tương lai. Cho tới khi bên gái theo lời mời của gia đình tôi xuống Thới Thuận thăm xã giao đặng chot ôi biết mặt vì tôi không chịu đi coi vợ! Công chuyện nhà tôi, tôi không biết gì hết vậy mà nàng lại biết. Rồi một đêm dài hò hẹn nhau lần chót để giã từ ai đi đường nấy. Chớ chi đêm đó nàng khóc lóc thở than cho duyên nợ thì không đến nổi. Đằng này nàng lại an ủi khuyên tôi nên nghe theo gia đình mà kết duyên với người từ trên Song Phước, mặt hoa da phấn mới xứng đôi với tôi. Nàng chấp nhận hy sinh mối tình đầu, kể như có một đời chồng rồi. Lại còn tặng tôi một kỷ vật nếu cần thì bán xài vì biết tôi là thuộc hạng tiền phát gạo đong! Tôi gây tội lỗi với nàng quá đỗi nàng chưa về làm dâu mà tôi đã làm rễ, củng vì bên trong cạnh tranh thương mại, một áp lực đầy quyền lực, chúng tôi đành ân hận mà chia tay nhau. Sẳn có chất nghệ sĩ lãng mạn trong tâm hồn, tôi sống trong hạnh phúc với duyên mới, mà thấy nàng đau khổ vì tôi, tuổi trẻ bồng bột rồi một đêm tôi trốn gia đình đi tìm người dì có tiệm masy tận trong tỉnh Sóc Trăng và ở đó hoc thi công thành thợ may ngày nay như anh biết.

Giờ tới phiên anh Bảy Lâu tâm sự, sau khi thi đậu cùng khoá với anh tôi được người cô bà con vùng này nuôi cho ăn đi học, hoc tiếp bằng sơ học. Cô tôi là bà Hương Sư Tồn, cô có hai người con gái có chồng trong Thục Nhiêu và Nhị Quý. Ông Hương Sư chết, cô tôi mươn cặp vợ chồng nông dân ở năm, chồng làm vườn, vợ lo cơm nước cho cô tôi, phía cuối vườn cất cái nhà cho cặp vợ chồng này ở, đặng ban đêm canh chừng những kẻ phá phách vô phá cây trái.

Từ khi ông Hương Sư Tồn chết, cô tôi tu tại gia, mỗi đêm có tụng một thời kinh tới khuya. Bổn phận tôi thì lo nấu nước pha trà khi có khách, khi cô buồn tôi đọc thơ, đọc chuyện cho cô nghe. Mỗi sáng đi học tôi xách theo một gà mên cơm, khi xuống đến chợ thì tôi gởi xe đạp và cơm cho hãng cà rem cây, tôi lãnh một thùng cà rem cây đem vô trường chờ giờ ra chơi đặng bán, tan học lại hãng cà rem cây ăn cơm và tới giờ củng đem theo một thùng cà rem cây vô trường bán buổi chiều.

Ngày thứ Năm và Chủ Nhật, tôi lãnh sổ sách đàng công sở đem về làm phụ với ông Biện làng. Tôi kiếm được một chút tiền nhờ hai công việc này, vì ngồi ở lớp Court Superieu, tôi cần một số tiền để mua sách và sắm quần áo đồng phục theo nhà trường. Gia đình cô tôi khá giả, nhưng cô nuôi tôi là một điều quý, gia đình tôi đâu có khả năng cho tôi lên Mỹ tho học thêm, lấy bằng cấp Sơ Học đặng làm thầy?

Anh có nhớ năm mình đi thi có mười bốn trò, có bốn trò gái mà chỉ rớt hai trò trai, vậy mà trong tám trò đậu bằng Tiểu Học mà chỉ có mình tôi được lên Mỹ Tho vô học trường College, còn lại có lẽ lo cưới vợ rồi làm Làng. Trong trường tới giờ moral, thầy thường đem tôi ra làm đề tài để khuyến khích các bạn đồng lớp và thường ví với Trần Minh khố chuối. Vì vậy trong lớp tôi tuy là một đứa học trò nghèo nhưng vẫn được các bạn trai gái con nhà giàu kết bạn, có những cuộc lễ họ mời tôi về nhà chơi.

Rồi với một vốn liếng có sẳn về cổ nhạc trước ở dưới mình, nay lên đây mỗi khi có đám tiệc, có hoạ đờn ca cổ nhạc họ mời tôi tới dự. Trong Tứ Hữu: Cầm, Kỳ, Thi Hoạ không có môn nào xã giao bén nhậy bằng Cầm và Kỳ…Một chiều mưa gió có hai nhà sư ghé nhà bà Hương Sư xin nghỉ một đêm vì lỡ đường đi xuống chùa Vình Tràng, lúc đó chỉ đi xe ngựa, mà ngựa khi chiều cho ăn, thì có bao xe bao nhiêu chủ xe củng không đi được vì sợ bị đứt ruột.

Bà Hương Sư vội vã dọn cơm chay đãi khách lỡ đường mà lại là Sư. Tối lại, như thường lệ tôi nấu nước pha trà cho bà cô tôi tụng kinh. Một điều tôi thấy lạ.. Tại sao nhà sư lại nhà một tín nữ có tu, đáng lẽ khi tín nữ chủ gia tụng kinh thì hai nhà sư đó củng phải ra quỳ ngay bàn thờ Phật, hay là cùng chủ nhà thay phiên tụng kinh?

Sự tò mò tôi mới lần tới kẻ vách dòm lén vô phòng riêng, thấy hai ông sư không nằm nghỉ mà hình như đang bàn tán, rầm rì bí mật. Tới khi họ soạn gói đồ ra, tôi thấy không phải là kinh sách gì trong đó. Tôi mới bắt đầu đau bụng tôi la lớn lên, vợ chồng người làm vườn nghe tôi la mới chạy lên phụ với cô tôi cạo gió thoa dầu, nhưng khi đụng tới mình tôi thì tôi la làng… tôi lăn lộn như người gần chết tới, lối xóm nghe nhà bà Hương Sư có tiếng ồn ào, họ thắp đuốc lại củng không ai dám đụng tới mình tôi… tôi vẫn la làng…

Nghe thấy động tỉnh ông Chánh Hương Quản mới đem tuần lại nhà bà cô tôi , tới khi thầy được mặt ông Hương Quản M. Ông lại gần hỏi thăm , tôi mới ôm ông kéo xuống sát mặt tôi, nói nhỏ… ông vô trong phòng khách … bắt mấy ông thầy chùa…

Thiên hạ lối xóm tới đông nghẹt như vậy mà hai ông sư vẫn ở trong phòng , khi ông Hương Quản M. xô cửa bước vô cùng đám tuần bắt khoá tay…chừng đó tôi mới chạy vô biểu dân tuần xét gói hành lý của hai ông thầy chùa, thì thấy có con dao găm và một xâu chìa khoá đủ thứ để mở tủ sắt… Hai tên đầu trộm đôi cướp liền bị giải xuống Mỹ Tho. Kể từ ngày đó về sau, địa vị tôi đối với gia đình cô tôi đổi khác và củng đổi khác với làng này, chưa có đứa nào cỡ tuổi tôi mà khôn như người lớn? Nhưng tôi củng không tiếp tục học đặng thi bằng Sơ Học, vì một phần phải lo công chuyện nhà cho cô tôi, và một phần lớn là tôi chỉ thích đi học đờn ca tài tử mà thôi! Rồi cô tôi lo vợ cho, gia đình bên vợ là hai anh em song sinh, ông già vợ tôi là vai em lại là dân cờ bạc, chuyên về đá gà nòi. Anh củng biết là bộ sách tướng về gà nòi của ông Lê Văn Duyệt là phát xuất ở đây, vì vùng này là quê hương ông.

Còn người bác vợ thì mê về võ nghệ, bắn cung. Thừa hưởng phụ ân không biết được bao nhiêu, nhưng người bác vợ đi làm ăn xa đem về cho ông già vợ tôi một số tiền lớn tạo thêm gia sản có ba mẫu vườn. Nhưng ông già vợ tôi lập tại đây một trường gà thật lớn, tới mùa các nơi quy tụ về đây kêu là trường gà Xoài Hột. Sau khi uỷ quyền cho người em, ông bác vợ lên đường phiêu lưu với một người con gái có hai giòng máu, mà người ta thường kêu là Xẩm Lai. Khi lập trường đá gà nòi tại đây, ba vợ anh ta đã bán hết hai mẫu vườn, nay chỉ còn lại một mẫu mà vợ chồng anh hưởng phần hương hoả. Năm độc lập 1945 ba vợ anh bị việt Minh xử tử về tội cờ bạc, má vợ anh rầu buồn củng chết theo chồng. Nay tuy là thừa hưởng của này của người bác vợ mà anh chưa từng thấy mặt người hào hiệp đó lần nào!.

**

Từ khi chiếc tàu Đồng Sanh chìm, một thời gian sau có một người triệu phú tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Kiệu mở lại chạy con đường này bằng loại tàu chạy bằng dầu Mazout, tàu lớn máy vững vàng không như loại tàu chạy bằng củi trước kia, chiếc khởi hành từ Sài Gòn, chiếc khởi hành từ Trà Vinh. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu nằm ngoài sông Sài Gòn, ngoài cột cờ Thủ Ngữ. Ông Nguyễn Văn Kiệu là anh ông Nguyễn Văn Hảo (rạp Nguyễn Văn Hảo). Tại bến Sài Gòn khởi hành vào lối 7 giờ tối, hồi đó vào giờ này ra bến tàu khi súp lê 3, tàu mở đõi, trên cầu người đua tiển người đi… dưới tàu vẫy tay, vẫy khăn, kẻ ở lại châu thành, người về lục tỉnh.

Tàu Nguyễn Văn Kiệu chạy xuống chun qua cầu Tân Thuận, chạy vô bến đò Long Kiên, chạy ngang qua sở rác đô thành. Khi tàu chạy qua đây hành khách bị một nùi khó thở, vì ngoài mé sông có mấy cái bồn lớn chứa toàn là phân người trong đô thành đem đổ vô đây, rồi từ đây họ đem qua khỏi cầu Rạch Ông mới đổ ra nền xi măng phơi từng miếng cho thật khô gói kín để bán cho nhà vườn.

Tâm Bịnh

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Tôi lên căn-tin uống cà phê chớ không có ý gọi điện thoại nhưng vì thấy hộp điện thoại treo bên vách được lau chùi bóng loáng, mới toan bèn gắn thẻ vô quay về nhà nói chuyện với vợ, con chơi. Nhưng Thanh không có ở nhà, sẵn tay bấm số thăm gia đình người bạn. Bên kia đầu dây, vợ anh bạn bắt điện thoại, nghe tiếng tôi, chị reo lên:
– Tấn hả, chừng nào dìa?
– Tuần sau chị. Không đợi tôi hỏi thăm sức khoẻ gia đình, như nguồn thác đổ, chị sổ một tràng:
– Anh dìa lần nầy ở nhà luôn đi, tội nghiệp con Thanh, hôm trước mẹ con chở nhau lên tui nè, qua hồi nói chuyện, tui thấy hình như nó bị stress hơi nặng, anh mà đi hoài có ngày nó bị điên mất.
– Ừa, muốn làm gì thì cũng từ từ chớ chị.
– Từ từ gì, tại anh hổng biết tánh nó, hơn nữa anh đi hoài đâu thấy được nỗi cơ cực khi đàn bà có con nhỏ. Như tui đây nè, mới có một đứa vậy mà vợ chồng thay phiên nhau lo còn hổng xuể huống hồ chi con Thanh,  mình ên nó mà ôm tới hai đứa.  Trong lúc chị ngưng lấy hơi, tôi lái câu chuyện bằng cách hỏi thăm sức khoẻ gia đình chị. Như con tàu xuôi dòng gặp chướng ngại vật, chị trả lời qua loa ngắn gọn rồi lái lại câu chuyện. Một hai chị thuyết phục tôi phải bỏ việc làm về nhà sống với vợ con. Theo chị thì ra nước ngoài rồi không mần cũng có ăn, đi tàu làm chi xa nhà xa cửa bỏ vợ bỏ con. Chị nói tràng giang đại hải, tôi hổng muốn nghe cũng không được. Cúp máy ngang sợ mất lịch sự, đành phải cầm chặt ống nghe nghe chị dạy bảo, tới khi điện thoại báo thẻ sắp hết, chị còn ráng thòng thêm một câu:
– Về bờ sống tiện tặn cũng được mà, anh coi trong nghĩa địa có ai vì bị thất nghiệp đói chết đâu.  Điện thoại cúp, hết sạch tấm thẻ mười đồng, gát ống nghe, tôi ngơ ngẩn nhìn ra ngoài. Hải cảng Delta Rotterdam mới khánh thành vài năm gần đây. Kè đá, cần trục, xe vận tải tất cả đều mới toan, trên sân bến không một cọng rác và trong giờ làm việc mà lưa thưa bóng người. Giàn cần trục di chuyển đều đều câu từng container để lên chiếc xe không người lái cũng không gây một tiếng động. Những chiếc xe giống như những con bọ khổng lồ cõng trên lưng vừa vặn một container nặng ba ngàn ký, lần lượt bò ngay hàng thẳng lối lên sân rộng và dừng lại cho cần cẩu móc xếp ngay ngắn vô các ô đã vạch sẵn trên một khoảng sân. Tôi đương ở trong thế giới máy móc mới mẻ mà trước đây chỉ thấy trong những phim khoa học giả tưởng. Cho nên khi nghe giọng điệu của chị ‘nó’ gợi lại trong tôi nỗi nhớ nhung về những chốn xa xôi nào ấy. Ngay bây giờ, trên đất nước tôi, biết bao nhiêu người đàn ông đi làm ăn xa, bỏ vợ lại nhà ôm con chờ đợi, mau thì hàng tháng, lâu thì hàng năm, bảy năm. Mỗi bận chồng ra đi vợ ở nhà vừa hy vọng vừa nơm nớp âu lo. Hy vọng ngày anh về sẽ được vinh hoa phú quí. Lo ngày trở về anh chỉ còn hai bàn tay trắng và anh có phải là chồng mình nữa hay không. Cực khổ biết bao nhưng vẫn ôm con kiên tâm chờ đợi.  Chị đuơng sống trên một quốc gia giàu có, thừa mứa thức ăn nêm chị không biết nhiều nơi trên trái đất nầy cũng có hàng vạn người thất nghiệp, đói chết nằm phơi xương trắng rừng. Ở Việt Nam cũng có năm bị thiếu ăn người chết nằm la liệt trên đường, chết đói làm gì được chôn trong nghĩa địa, chị cũng khéo nói thiệt. Phải xa lạ gì cho cam, hơn hai mươi năm trước tôi với gia đình chị vượt biển trên một chiêc nghe nhỏ xíu, sau mấy ngày đêm vất vã với  tụi hải tặc, tôi chứng kiến chị nằm phơi trên bãi biển với thân thể bèo nhèo, áo quần rách nát gần như trần trụi, lúc đó không có những người từ tâm trên thế giới góp phần giúp đỡ chắc chắn chị cũng bỏ thây bên hải đảo hoang vu. Người ta cho chị qua đây định cư vì lòng nhân đạo chớ có phải mời chị qua tiệc tùng gì đâu mà ngồi không ăn khơi khơi còn nói ra những lời bất nhân bất nghĩa. Sống trên một đất nước tuy giàu có nhưng người đông việc làm ít, nạn thất nghiệp nhà nước coi như trận giặc, có một việc làm đàng hoàng để khỏi sanh “giặc” là lương thiện lắm rồi, tôi đâu dám đòi hỏi gì hơn.  
Ba tháng trên tàu, tuần nào tôi cũng điện thoại đôi ba lần về thăm vợ thăm con. Thỉnh thoảng tàu về Rotterdam Thanh cũng có chở con xuống thăm. Mới hôm kia điện thoại về mẹ con cười, nói vui vẻ và bàn tính năm nay sẽ qua Tây Ban Nha nghỉ hè. Tôi có nghe thấy triệu chứng tâm thần nào đâu. Chẳng lẽ đương không nổi khùng bất tử. Hơn nữa Thanh gặp chuyện rắc rối hoặc tinh thần bất ổn thì điện thoại nói với tôi, có đâu chạy xe cả giờ đồng hồ lên nhà chị than thở. Nhà ở cách nhau cả trăm cây số, xuân, thu nhị kỳ mới gặp nhau, ăn một bữa, nói chuyện vài câu. Hiểu được gì mà chị dám quả quyết hiểu vợ tôi còn hơn tôi nữa.  Muốn bấm số gọi về nhà nhưng thẻ không còn. Hôm nay nắng đẹp, mới hơn mười giờ sáng, có lẽ Thanh vừa dẫn con đi chơi đâu đó. Tôi lững thững bước ra khỏi căn tin trong không khí đầu mùa hè ấm áp.
– Papa kìa.. papa kìa.. papa kìa…. Tôi day lại, ngạc nhiên thấy đứa con gái đầu lòng giọng đớt đát vừa kêu Papa vừa a tầm phù chạy tới, con nhỏ mới hơn năm tuổi mà lanh quá chừng, miệng mồm tía lia. Tôi cúi xuống đưa tay đón bồng nó lên. Thanh tay bồng đứa nhỏ, tay xách giỏ đồ đi tới, miệng toe toét vừa cười vừa nói:
– Anh thấy em tìm đường giỏi không ?
– Ai chớ vợ anh là số một rồi. Đứa con gái thứ hai thấy tôi nó chồm qua đòi papa, tôi vói tay ẵm nó luôn và cùng Thanh đi xuống tàu. Mấy thủy thủ thấy gia đình tôi lục đục kéo xuống, có người chồm ra boong vẫy tay chào và hô lớn:
– Mày là thằng không tốt, vợ xuống thăm mà không cho biết.
Tôi nói:
– Tình cờ ông à. Risal thủy thủ người In đô chạy lên đón lấy giỏ đồ bắt tay chào và hỏi thăm sức khoẻ.
Thanh nói với nó:
– Hồi nãy tao có ghé tiệm Tàu mua cho tụi bây bịch ớt và mớ rau muống, định mua thêm mì gói nhưng tao xách hổng hết.
– Cám ơn chị, bao nhiêu đó cũng đủ tụi tui ăn tiệc lớn rồi.  Ban đêm trên tàu chỉ có tiếng rè rè của máy phát điện. Hai đứa con tôi nằm cạnh bên, bắt tôi gãi lưng cho chúng. Sau một hồi rờ mặt, móc mũi, móc mắt tôi đã rồi hai đứa mới chịu ngủ. Tôi nhìn hai đứa nhỏ ngủ ngon, con nít hồn nhiên, vô tư lúc nào cũng hiện trên gương mặt. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, tôi sống trong một xóm lưới nghèo ven biển lúc đó tôi cũng rất vô tư,  lòng dạ thẳng như ruột ngựa. Ngôn ngữ của dân đánh cá dùng trao đổi, tâm tình hoặc khuyên bảo thậm chí họ chửi bới nhau cũng rất hồn nhiên chớ đâu đến đổi khó nghe. Ra nước ngoài sống trong xã hội văn minh lòng dạ con người ta sanh ra phức tạp và giọng nói trở nên cay cú khó nghe hơn. Vì vậy tôi không muốn sống trên đất liền, chung chạ với đồng hương phiền phức lắm. Tôi kê gối, đắp mền cho hai đứa con, day qua hỏi vợ:
– Vừa rồi em có lên nhà chị ba Lắm phải hông?
– Đâu có.
– Ủa.
– Sao anh ?
– Vậy ai bị stress ?
– Anh nói ai stress gì ?  Không muốn khui ra ba cái chuyện tào lao làm cho tổ ấm chúng tôi chộn rộn. Tôi bèn nói lảng sang chuyện khác.
– Anh nói với em tuần tới anh dìa, sao em còn chạy lên làm chi cho mất công.
– Mấy bữa nay con Lệ nói nhớ anh, hôm nay thấy trời nắng đẹp, biết tàu anh vô nhưng hổng biết giờ tàu chạy, em mới điện lên công ty hỏi. Họ nói tàu anh đậu lại đây mai mới chạy, em xin họ số bến cảng rồi sửa soạn đem con xuống cho nó chơi với anh. Người ta nhớ xuống thăm mà cũng cằn nhằn.
– Anh sợ em cực chớ cằn nhằn em đâu.
– Hồi nhỏ em theo má thăm ba cải tạo lên xe, xuống đò, đi ngày đi đêm nhịn đói, nhịn khát cực khổ trăm bề. Ở đây lên xe hơi nỗ máy chạy có hơn giờ đồng hồ gặp anh sướng thấy mồ, cực khổ gì đâu. Tôi lòn tay qua ôm và áp mặt vợ sát vô ngực mình. Cả hai yên lặng nằm nghe hơi thở của hai đứa con. Tội nghiệp, tôi làm ăn xa nhà, để một mình vợ ôm con xoay sở giữa cuộc đời đầy náo động. Mỗi khi gặp đồng hương Thanh phải chịu trận lắng nghe những lời dạy bảo, thậm chí có người khuyên Thanh nên bỏ tôi đi cho rảnh cái nợ đời. May mắn cho chúng tôi, đã sống với nhau ngót mười lăm năm cơm lành canh ngọt, bơ sữa chan hoà. Được như vậy đúng ra tôi phải tin tưởng vợ con lắm chớ, nhưng không hiểu sao ôm cái hạnh phúc trong tay mà lòng tôi cứ ngai ngái lo cho những ngày sắp tới.
– Anh, anh.
– Gì em?
– Em thấy anh kỳ kỳ sao ấy? Nghe giọng Thanh lo lắng, tôi giựt mình hối hận cho những suy tư vớ vẩn. Tôi xoa xoa lưng vợ và nói lời tâm sự: – Anh đương nghĩ trong một xả hội quá an bình làm con người ta sanh ra nhiều chứng tâm thần, riết rồi anh cũng hổng biết ai bịnh ai không. Giọng Thanh hờn trách:
– Em dẫn con xuống thăm anh, anh hổng lo mà anh lo chuyện đâu đâu không à, suy nghĩ bậy bạ có ngày anh bịnh chớ ai. Tôi giựt mình vỗ tay nhè nhẹ lên lưng vợ:
– Em nói đúng, vợ anh lúc nào cũng đúng.
– Xạo nữa đi.
– Ý chết ! Chút nữa anh quên mất.
– Quên gì anh?
– Lo chuyện hiện tại, lo cho em… – !!!
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Sáng nắng chiều mưa

Nguyễn Lê Hồng Hưng

  Nghe tiếng chào buổi sáng phía sau lưng, tôi day qua thấy viên thuyền trưởng và ông thợ máy già đứng trước phòng bếp, ông thợ máy chào lại viên thuyền trưởng, cùng lúc ông ngó ra ngoài thấy trời nắng chói chang bèn thốt lời khen:
– Trời hôm nay đẹp quá. Viên thuyền trưởng không khen, không chê nhưng cao giọng nói:
– Con người ta ngày nào cũng nói về thời tiết nhưng không ai làm gì được nó hết. Thợ máy đưa ngón tay cái ra gặt gặt, và hất hất cái mặt khen câu nói thuyền trưởng rất chí lý. Có lẽ viên thuyền trưởng cũng đắc ý với câu mà ông cho là tuyệt vời của một ngày mới bắt đầu. Ông cười một cái day qua tôi:
– Tôi nói có đúng không đầu bếp? Tôi nhớ ngờ ngợ ý nghĩa trong câu nói nầy của một danh nhân nào đó mà tôi đã đọc lâu lắm rồi và có rất nhiều người cũng đồng ý cho rằng không ai làm gì được với thời tiết hết. Riêng tôi thì thấy nó hoàn toàn vô lý, phải nói là quá xá hồ đồ, mặc dầu câu nói ấy của một danh nhân.  Người ta cần biết thời tiết để làm nhiều chuyện lắm chớ. Nè nhé, những người bình thường nếu biết trước trời sẽ mưa thì ra đường phải mang theo dù, trời lạnh thì bận áo ấm, nóng quá thì đi ra bãi biển; nhà nông, nhà vườn cần biết trước thời tiết ra sao để gieo trồng, ngư phủ biết khi gió lặng biển im thì cho ghe ra khơi đánh cá, gió giông mạnh thì cho ghe vô bờ hoặc tìm nơi an toàn bỏ neo tránh sóng. Hiện nay thời tiết toàn cầu thay đổi làm nhiệt độ trái đất tăng nhanh, gió bão bất thường… làm cả thế giới báo động, Liên Hiệp Quốc phải hợp các lãnh tụ của nhiều nước lại bàn thảo và tìm cách phòng chống. Nói chi xa, ngay trên tàu nầy, mỗi ca trực chính viên thuyền trưởng mở đài nghe tin tức khí tượng từng giờ để hướng dẫn con tàu, vậy mà ông quả quyết không ai làm gì được thời tiết hết. Thấy tôi lơ là trước câu hỏi, ông tưởng tôi không nghe nên lặp lại:
– Tôi nói có đúng không?
– Ông là thuyền trưởng nói ra cái gì thì có nhiều người cho là đúng cái đó, nếu tui có nói ông nói sai cũng chẳng sao mà. Không để ông kịp phát hiện ra câu trả lời ba phải của tôi, tôi bèn hỏi tiếp một câu cho khoả lấp:
– Ông ăn trứng chiên hay trứng luộc. Viên thuyền trưởng chợt nhớ ra giờ nầy là giờ ăn sáng:
– À, ông chiên cho tôi hai cái trứng với thịt ba chỉ.
– Ô kê.   Hồi nãy tôi hỏi trong bàn có người nào ăn trứng chiên không, ai cũng dãy nẩy, ọ oẹ, lè lưỡi chê trứng chiên thịt ba rọi có nhiều mỡ sợ mập nên không ai dám ăn. Bây giờ thấy tôi dọn ra cho thuyền trưởng tức thì con nhỏ theo thực tập và con nhỏ phụ thợ máy, hai đứa mập thù lù, cũng đòi ăn trứng chiên giống như viên thuyền trưởng.   Thói thường của con người ta ưa ăn theo, từ việc làm cho tới cách suy nghĩ, hễ nghe cấp trên nói ra cái gì là những người dưới phải làm và nghe theo cái đó. Trên tàu cũng vậy, phần đông thuyền viên thấy thuyền trưởng ăn món nào thì  hùa theo ăn món đó, thuyền trưởng khen món gì ngon thì cả đám khen theo. Thỉnh thoảng gặp thuyền trưởng sống vô kỷ luật thì y như rằng cả đám thuyền viên cũng sống theo y chang. Có một lần tôi dọn khoai tây trộn với cải xoăn(kale), thuyền trưởng mắt nhắm mắt mở ba chớp ba nhoáng, miệng mồm bị sao đó ăn cải xoăn mà ông nói là mồng tơi đất(spinach). Vậy là cả đám tuỳ tùng hùa theo cười chọc ghẹo làm như tôi là một tên đần độn không biết phân biệt giữa mồng tơi và cải xoăn là gì. Bực mình tôi xuống kho lấy bọc cải còn nguyên nhãn hiệu đem lên liệng lên bàn ăn, chỉ mặt mắng từng thằng và day qua to tiếng với viên thuyền trưởng. Ít ra nhờ cái quốc tịch Hoà Lan đỡ cho tôi lúc nầy, nếu tôi là người In Đô hay Phi Luật Tân chắc sẽ bị mất việc về cái tội phạm thượng.   Vừa dọn dẹp xong bữa ăn sáng thì xe hàng chở xuống giao mấy kiện thực phẩm, tôi phải nhận hàng và sắp xếp mọi thứ vào kho. Hôm nay còn có hai người Ukrainia xuống thay cho con nhỏ phụ máy, con nhỏ phụ thuyền phó và một thợ máy trẻ thay ông thợ máy già. Ba bốn người ở công ty kéo xuống mần gì hổng biết mà bắt tôi phải nấu thêm thức ăn. Sau khi lo xong cho gần hai chục miệng ăn, tới phiên cái máy rửa mắc ôn mắc dịch gì mà không chịu chạy làm tôi phải moi hết dĩa, dao, muỗng, nĩa ra rửa bằng tay. Bận rộn suốt ngày, bỏ luôn giấc ngủ trưa, khi xong việc thì đã quá buổi chiều. Tôi lên phòng tắm, tắm xong định nghỉ ngơi nhưng chợt nhớ hồi sáng tàu vào đập Brunsbutel tình cờ gặp tàu Hùng nằm chung một đập và cùng về Hamburg. Chúng tôi hẹn tối nay gặp nhau trên hội quán. Bây giờ tôi phải lên phòng thuyền trưởng lấy giấy tờ cá nhân để còn sửa soạn lên bờ.   Viên thuyền trưởng ngồi trước vi tính, nghe tiếng tôi bước vô ông ngoái lại khoát tay biểu tôi chờ một lát rồi ông day vô tiếp tục gõ vô bàn phím. Xong việc ông đứng dậy hỏi tôi:
– Ông muốn lên bờ hả?
– Dà, ông đưa tui seamen’s book. Thuyền trưởng khoát tay:
– Khỏi cần, tôi mới gởi e mail cho mấy người gác cổng nói họ không được làm khó ông nữa.
– Hổng lẽ mỗi lần ghé cảng là mỗi lần ông e mail cho mấy người gác cổng về chuyện đi đứng của tui sao. Thuyền trưởng quả quyết:
– Từ đây trở đi không ai làm khó ông nữa đâu, ông là người Hoà Lan mà. À nè, ông mua dùm tôi cây dao cạo râu được không?
– Dĩ nhiên. Viên thuyền trưởng lấy tiền ra định đưa cho tôi nhưng ngẫm nghĩ sao đó, ông cất tiền lại rồi day qua:
– Thôi, ông đi đi một lát tôi lên mua cũng được.   Tuy nghe ông nói vậy, nhưng lòng tôi không yên chút nào. Hơn hai mươi năm qua sống đời thủy thủ, đi khắp bốn phương trời, tôi gặp không ít phiền phức về cái quốc tịch thứ hai của mình. Nhứt là những năm gần đây nạn khủng bố khắp nơi, quốc gia nào cũng tăng cường đề phòng rất nghiêm nhặt. Để cho an toàn tánh mạng của các thủy thủ và kiểm soát buôn bán hàng hoá lậu hoặc khủng bố… Người nào đi ra khỏi vòng rào bến cảng phải gọi shuttle bus xuống đón, chớ không được đi bộ. Nhứt là ở những quốc gia đương phát triển, đội ngũ bảo vệ chạy xe tuần vòng bến cảng suốt ngày đêm, vậy còn chưa đủ, họ đặt  máy thu hình ở cổng rào để kiểm soát xe cộ mỗi bận ra vào.   Mặc dù Âu Châu đã thống nhứt người dân các nước trong cộng đồng có quyền tự do qua lại ranh giới, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng như vậy. Tôi tuy có quốc tịch Hoà Lan đã lâu năm nhưng mỗi khi đi đường để cái passport nằm trong túi chớ đâu có dán trên mặt. Bảo vệ còn phải thi hành nhiệm vụ của người ta nữa chớ, thấy người nào khả nghi thì họ có quyền chận lại coi mặt trước, sau đó mới hỏi passport và lục soát. Tôi là người da vàng luôn sống xê dịch trên những đất nước không phải của mình, gặp người không cùng màu da, bị họ nghi ngờ cũng là lẽ phải.   Thấy tôi lưỡng lự, viên thuyền trưởng gằn giọng: – Ông cứ đi đi nếu có thằng nào làm khó dễ gì thì ông cứ điện cho tôi.   Thuyền trưởng trên tàu là cha mẹ mà, đã ra lịnh thì thủy thủ phải nghe theo. Ngặt cái là khi ra khỏi tàu lên bến cảng thì thuộc quyền của nhóm an ninh, rừng nào cọp nấy. Tôi định nói ý mình cho ông nghe nhưng sợ cãi qua cãi lại một hồi làm ông tự ái vì bị xúc phạm tới cái uy quyền thuyền trưởng của ông. Sống lâu với đời hàng hải, tôi cũng có chút kinh nghiệm đi đường, những nhân viên trên bến chỉ cần giấy xác nhận tên thủy thủ trên chiếc tàu nào thì người ta cho qua thôi. Tôi xuống văn phòng copy cái danh sách thủy thủ đoàn bỏ túi, cái nầy tuy rườm rà nhưng kèm với passport làm bằng chứng đi đường cũng được.
  Tôi định đi bộ nhưng từ xế chiều tới giờ trời đổ mưa tầm tã, nên tôi điện thoại gọi xe hội quán xuống cổng bến cảng rước tôi. Vừa điện xong thì Gibson đi xuống, mặt mày nó nhăn nhó như bị mắc tim la lâu ngày, nó hỏi tôi:
– Chú chờ tui được không ?
– Sao vậy?
– Tui chờ cảnh sát đóng dấu nhập cảnh. Gibson là thủy thủ người In đô, cũng như những thủy thủ người ngoài Âu Châu, khi tàu ghé bến nó phải chờ cảnh sát xuống đóng giấy thông hành, sau đó nó mới được lên bờ. Hôm trước tôi có hứa hôm nay lên hội quán mở dùm nó một e mail và chỉ cho nó cách lên mạng. Tôi day lại nói:
– Tao có hẹn với thằng bạn, có lẽ nó đương chờ tao ở trên hội quán.
– Vậy một lát tôi lên hội quán gặp chú nghe.
– Tốt, một lát gặp.   Hội quán thủy thủ lúc nào cũng đông người đờn hát, nhậu nhẹt náo nhiệt vô cùng. Bàn nào cũng đầy nhóc bia rượu và vỏ chai chất chồng, họ giơ ly lên cao cụng và ngước cổ nốc ừng ực… rồi sau đó lần lượt đi ra phòng toilet đứng sắp hàng. Không biết trên thế giới nầy mỗi ngày con người ta uống hết bao nhiêu lít bia, rượu và tiểu tiện đầy bao nhiêu chiếc xe bồn. Tôi đi rảo hết các phòng, phần đông thủy thủ tới từ các nước Đông Âu. Không thấy Hùng đâu hết, định gọi điện thoại hỏi nó nhưng nhìn lên đồng hồ treo tường thấy còn sớm tôi mới đi lại quày mua chai bia đứng nhâm nhi.   Uống chưa hết chai bia thì Gibson lù lù bước vô, cái mặt nó rỗ chằng rỗ chịt, da thâm đen, đã vậy còn nhăn nhó trông nặng nề làm sao:
– Mầy sao vậy?
– Cảnh sát làm việc lâu quá. Tôi hỏi một đàng nó trả lời một nẻo. Tôi day vô ba mua thêm một chai bia day ra đưa cho nó và nhắc lại ý mình:
– Tao muốn hỏi ai đã làm gì mầy mà suốt ngày nay tao thấy mặt mày mầy nhăn nhó giống như cái âm hộ vừa mới làm tình. Nó bưng bia lên hớp một hớp để chai xuống mặt đăm chiêu:
– Chắc tui phải về quá chú.
– Chuyện gì nữa?
– Chú coi ngày nào cũng bị tụi nó chơi xỏ hết.
– À, thì ra cái vụ thằng Toto lấy quần sì líp của con nhỏ sinh viên thực tập liệng vô phòng mầy đó hả?
– Đúng rồi, hồi trưa xém chút nữa tui đập nó một trận rồi ra sao cũng được.   Trước kia tôi còn thấy tội nghiệp những người mới xuống bị mấy người làm lâu năm ăn hiếp, nên tôi thường tìm cách giúp đỡ và binh vực, nhưng lâu dần tôi khám phá ra thủy thủ người In Đô phần đông mới xuống làm thì hiền như cục bột, nhưng khi quen nước quen cái rồi thì lên mặt hống hách, hà hiếp đồng hương và hay thường xuyên nói dối. Những chuyện tương tợ cứ lập đi lập lại hoài riết rồi nhàm, làm cho tôi xem thường, dân tộc tính mà. Tôi nhìn nó mỉm cười: – Mầy tối ngày cứ đánh thằng nầy đập thằng kia, nói cái miệng không chớ tao thấy mầy có đụng tới cọng lông của thằng nào đâu, nhưng không lẽ chỉ vì mấy thằng đồng hương của mầy chơi xỏ chút ít làm mầy bỏ việc. Với lại mầy mà trở về In Đô thì vợ, con mầy đói chớ tụi nó có đói đâu.   
Chợt điện thoại reo, tôi lận túi lấy điện thoại ra bấm nghe. Hùng gọi lên nói tàu nó sẽ dời bến và đêm nay nó đổi ca trực với thuyền phó nên nó không lên hội quán được.
Tôi nói với nó:
– Thôi được rồi, hẹn khi khác vậy.
– Vâng, khi khác chú cháu mình gặp nhau.  
Tôi cất điện thoại, day qua nói với Gibson:
– Thằng bạn tao nó không lên được. Mà nè, có chuyện gì cần  thì mầy nói tao nghe coi có giúp được gì cho mầy, còn nếu không thì bỏ qua ba cái chuyện lặt vặt dưới tàu đi, làm thủy thủ chung chạ với nhiều dân tộc, mầy sẽ gặp nhiều chuyện phiền phức hơn nữa, phải tập sống cho quen với những chuyện phi lý thường tình, cố gắng học hỏi và làm việc cho ngon lành, chừng một năm sau mầy thành ma cũ rồi mặt sức bắt nạt lại mấy tên ma mới.
– Tui đâu có hèn hạ như tụi nó chú.
– Ô kê, nếu mầy cao thượng thì quên mấy chuyện thấp hèn đó đi.
– A ha… chú nói chuyện hay quá.
– Nói thiệt thôi, hay ho gì.
– Chú có hứa mở dùm tui e mail mà.
– À, vậy thì đứng đây làm gì. Mình vô phòng internet, mở e mail rồi mầy tâm sự với vợ con cho đã và mai mốt có chuyện phiền hà trên tàu thì lên méc với vợ, khỏi phải mỗi chút mỗi lên nói với tao. Chúng tôi vô phòng internet thấy không máy vi tính nào còn trống và chỗ hàng ghế đợi có hơn cả chục mạng ngồi chờ.
– Tao nghĩ bây giờ khó mà rớ tới cái vi tính.
– Sao vậy chú?
– Cái thằng, bộ mầy hổng thấy người ta chật nứt hết sao.
Nó cười:
– Chỗ nào miễn phí là chỗ đó đông người.
– Mình cũng vậy, quyền lợi mà, thôi đi ra ngoài kiếm chỗ ngồi nhậu chơi. Thời buổi nầy chỗ nào cũng có internet, đêm nay không mở được thì nay mai qua Thụy Điển mình mở cũng được.  
Uống hai chai bia mà mí mắt tôi muống xụp xuống rồi. Tôi nói với Gibson:
– Mầy ở lại chơi, tao phải về ngủ, suốt ngày nay tao làm không được nghỉ ngơi chút nào hết.
_ Chú về thì tui ở đây làm chi.
– Vậy thì uống hết cái nầy mình đi.   Hai đứa tôi bước ra ngoài, nhưng vừa ra tới hàng hiên thấy trời vẫn còn mưa lâm râm, tuy mưa không lớn nhưng đi từ đây xuống bến chắc cũng ướt hết mình mẩy. Hai đứa đành phải trở vô nhờ xe hội quán chở xuống tàu.   Xe hội quán đưa hai đứa tôi tới cổng bến cảng. Chúng tôi xuống xe, đội mưa đi vô trạm canh trình giấy. Tên gác cổng xem giấy Gibson xong cho qua còn tôi thì cũng như thường lệ, hắn lật tới lật lui passport một hồi rồi hỏi tại sao tôi không đem theo seamen’s book.
nói:
– Thưa, hồi tui đi ra thuyền trưởng tàu tôi còn ngủ nên không lấy seamen’s book được, nhưng tôi có danh sách thủy thủ đoàn đây. Tên gác cổng xem xong và hỏi tôi cho hắn giữ lại cái danh sách thủ thủ đoàn:
– Ô kê, Ngài không giữ tui lại là tốt lắm rồi.
– Không có vấn đề gì hết, ông ra bến chờ khoảng chừng năm mười phút shuttle bus tới. Chúng tôi ra bến chờ xe.
Gibson hỏi tôi:
– Sao tụi nó hay làm khó chú quá vậy?
– Vì passport của tao là đồ giả nên thường bị rắc rối. Mầy nhờ cái gì cũng thiệt hết nên không sao.
– Chú quốc tịch Hoà Lan mà.
– Mầy nên nhớ vịt là vịt ngan là ngan. Mặt mày tóc tai, giấy tờ của mầy cái gì cũng nguyên xi In Đô nên đi qua chỗ nào cũng trót lọt. Còn tao, tuy mang quốc tịch Hoà Lan nhưng da vàng, tóc đen, mũi tẹt, tức là Việt Nam chánh hiệu, nên mỗi lần đi qua cửa phi trường hay ranh giới hoặc vô ra cổng bến cảng, tụi nhân viên nghi ngờ tao là dân khủng bố hay bán ma túy, xì ke và xài giấy tờ giả nên mới chận lại lục soát, săm soi, còn cầm passport lật tới, lật lui, day qua ngó mặt thẳng, mặt nghiêng một hồi rồi nhìn vô hình trong passport hỏi han đủ thứ. Nhứt là qua ngang mấy phi trường bên Mỹ, tụi an ninh bắt tao phải lột hết quần áo ra cho nó soát từng kẽ lông, thấy trong người tao không có rận tụi nó mới chịu cho qua.
– Chú nói quá.
– Nói như vậy mà nhằm nhoà gì mậy, bộ mầy hổng nghe lâu lâu tụi quan thuế phi trường nó moi móc chỗ kín của mấy bà lấy ra hột xoàn và vạch hậu môn của mấy ông lấy ra cocaine hoặc heroin đó sao.
Gibson cười lớn:
– Ha ha…chú bôi bác quá xá…
– Tao thấy rất nhiều người cũng giống như mầy vậy, tao nói chuyện sờ sờ trước mắt thì bị hoài nghi rồi cho là tao bôi bác, còn những tên có chút quyền hành “nó” bôi bác lên cả cuộc sống của thiên hạ thì cũng có khối thằng hùa theo cho là đúng.
– …    Chúng tôi đi gần tới bến xe bus chợt từ đâu không biết, viên thuyền trưởng lù lù đi tới, tay ông xách một bọc nylon, tôi đoán chừng trong bọc kẹo, xô cô la, bánh và có ít nhứt một cái dao cạo râu. Ông nói với chúng tôi rằng nhân viên gát cổng đòi seamen´s book nhưng ông không đem theo nên họ không cho ông vô, nãy giờ ông gọi điện xuống tàu nhưng không ai bắt máy hết. Ông hỏi chúng tôi có bị tụi gác cổng làm khó không. Lúc đó shuttle bus cũng vừa trờ tới.
Tôi day qua nói với ông:
– Không có vấn đề gì hết, tôi có đưa cho người gác cổng danh sách thủy thủ đoàn tàu mình, ông trở vô trình passport cho họ đối chiếu thì họ cho ông vô chớ gì.   Mưa thêm ào ạt… Viên thuyền trưởng day người đi nhanh vô trạm canh. Tôi với Gibson vội vàng leo lên xe và kêu tài xế đậu lại một lát chờ viên thuyền trưởng. Khi viên thuyền trưởng trở ra, leo lên xe, đầu tóc ông đã ướt mẹp. Ông vừa phủi nước trên đầu, trên vai vừa chửi thề. Cũng cái tật hay triết lý theo sách vở, ông đọc câu tục ngữ tiếng Hoà Lan:“ April doet wat hij wil”. Nghĩa là thời tiết của tháng Tư muốn ra sao thì ra. Tôi bèn tiếp lời ông:
– Sáng nắng chiều mưa, thời tiết bất thường có tháng, có mùa, còn con người ta bất thường không mùa không tháng ha ha…  

Trên dòng kinh Kil nước Đức  27 – 5 – 2008
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Còn quý hơn vàng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Sep 2023

Muốn tới mỏ Beta Hunt của Công ty khoáng sản RNC Minerals, Canada, là theo quốc lộ số 94, mất gần 7 giờ, trên chặng đường dài 636 cây số đi về hướng Đông, nằm trên bờ hồ ‘Lake Lefroy’; còn đi từ Melbourne theo quốc lộ A1 mất gần 30 tiếng đồng hồ, trên chặng đường dài tới 2822 cây số, là tới thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc.

Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng,

Xưa giờ, công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11,5 triệu đô Mỹ.

Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô.  Khối thứ hai khoảng 1.600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la.

Quá đã.

Tin đào được vàng khủng, công ty la rùm lên vậy là giá cổ phiếu của công ty đã tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một nghe ham quá hè.

Chánh phủ Úc đang nợ như Chúa Chổm, nợ đầy đầu, cũng bớt rầu chút chút; vì được chia 2,5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.

(Hèn chi mấy năm trước bị Úc chê là dã man khi xử tử dân Úc tội buôn má túy cò con, lỡ quá cảnh phi trường Changi bị bắt; chánh phủ Singapore nổi quạu, dù Úc phê bình vầy là đúng rồi; bỉu môi khi dể Úc chẳng biết làm ăn gì; chỉ tối ngày đào đất lên mà bán. Mà thực ra nền kinh tế của Singapore cũng hổng có hay ho gì; chỉ là một bến cảng, tàu thuyền đi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, đường xá xa xôi diệu vợi phải ghé cho thủy thủ lên bờ xả hơi kẻo bị cuồng cẳng. Cha con nhà Lý Quang Diệu sống nhờ mấy cái cảng phí nầy mà cũng đánh trống thổi kèn rùm! Chớ đất chút tẻo, nguyên là một cái làng chài, nào có quặng mỏ gì đâu mà đào lên bán để ăn… nên cà nanh với Úc vậy thôi.)

Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt mình, giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80 cm, nghĩa là chưa tới một tấc, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3,23kg lẫn trong đất sét. Đem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2,11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.

Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới; tui kiếm được một cục vàng, xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, dấu biệt chỗ nầy, ‘giả’ nói: Đó là bí mật kinh tế! Ngu sao mà chỉ?

***

Tuy nhiên theo thiển ý vàng mình còn có thể hên mà đào được chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều.

Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy!

May mắn thay, tui đã tìm được một đứa, tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.

Xưa bên Tàu, Tử Kỳ đàn nghĩ đến sông, thì Bá Nha nghe tiếng nước sông trôi. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió.

Còn bây giờ, tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với cái hãng rượu whiskey, tiểu bang Tennessee bên Mỹ) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó tán dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui tán dóc.

Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!

Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.

Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.

Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng hè. Cái tánh Úc rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng Jack chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Vợ kêu cực chẳng đã, sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm trường?”

Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được lục đục suốt đêm, mệt chết, nên vả lả: “Bồ làm ơn thông cảm dùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”

Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con bú tí. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào, hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)

Tui bèn nhát nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống; thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”

“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee tức Lý Tiểu Long?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”

 “À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”

Nói nào ngay trước khi dời về cái đất Footscray nầy, tui ở trên St Albans cách đây tới 30 cây số về hướng Tây. Chỗ ở cũng được, nhưng vắng như chùa Bà Đanh; ngặt cái ăn trộm hơi bị nhiều. Vì người Việt mình mới qua, khoái xài tiền mặt, Úc nó biết tỏng như vậy nên cũng thừa cơ lẻn vào lục lọi để mà kiếm chác.

Anh Ba Tèo, bạn nhậu thân thiết của tui bị ăn trộm rồi, kể là: Đêm một thằng Úc mập ú nu như cái lu, lẻn vào nhà tui ăn trộm. Lúc đó đâu có ‘camera’ an ninh hay chuông báo động gì đâu. Phần làm vài ly nên tui mê man tàng tịch, trời sập còn chưa hay. Nó tự nhiên như người Hà Nội đội cái ti vi mới mua của vợ chồng tui ra cửa. Sơ ý, cái cạnh cái ti vi chạm vào cửa một tiếng rõ to làm tui đang nằm ngáy pho pho chợt giựt mình tỉnh giấc. Chưa kịp chùi ke trên khóe miệng; tui bèn phóng ra khỏi cửa, rượt theo nó.

Sau gần hai tiếng chạy vòng vòng, cuối cùng thằng Úc đội cái ti vi nặng quá đành thua cuộc, quỳ xuống: “Xin ông làm ơn làm phước tha dùm, đừng gọi cảnh sát vì tui ở tù mới ra! Thank you so much!”

Anh Ba Tèo bèn trả lời: “No worries mate!”(Đừng có bận tâm nhe bồ!)

 Tao rượt theo là muốn đưa cho chú mầy cái ‘remote control’, cái điều khiển từ xa, cho đủ bộ đó mà!”

Hổng biết anh Ba Tèo nầy kể chuyện thiệt hay chơi nhưng tui tin là anh nói thiệt. Vì ảnh từng giảng đạo cho tui nghe là: “Mình đến nước của người ta, Úc nó làm biếng, nghèo không có tiền mua được cả cái ti vi để coi nên mới đi ăn trộm của mình. Coi ti vi nằm dài trên sa lon mà cứ phải đứng dậy bấm đổi đài hoài cũng tội nghiệp nó chớ!”

Phần ông bà mình có dạy: “Cái gì cho đi là còn lại… Ăn hiền ở lành là Trời không phụ mình đâu!”

Nói nào ngay xa lối xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng, hy vọng là tui ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, gặp thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.

Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó.

Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.”

Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Đó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Đúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”

Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui, đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.

“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?”
“Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”

Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”

Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà nó sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim, ngỏm củ từ, khi tuổi chưa quá tuổi 70.

Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Đêm ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.

Jack tâm sự: Tối qua tui lại thấy thằng Bill hiện về. Tui hỏi “Trên thiên đàng có vui hôn?” Nó nói: “Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy!”

 “Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”

Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết; chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!

đoàn xuân thu.

melbourne