This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Hai mươi năm qua tôi ăn rất nhiều tôm tép, nhưng chưa lần nào ăn cho ra hồn. Năm đầu định cư Hoà Lan tôi lên khu phố Tàu ở trên Amsterdammua tôm khô, củ kiệu đem về bày tiệc mời bạn bè tới nhậu. Nhưng tôm thì cứng như đá, mặn như muối, củ kiệu ngọt như đường và mềm như củi mục không mùi vị gì hết. Ăn tôm khô Tàu không thấy ngon, tôi thử ăn tôm Tây. Tôm luộc lột vỏ, bỏ vô ly thủy tinh cao cẳng, dưới đáy ly lót lá xà lách, trên miệng ly gắn khoanh chanh, trước khi ăn rưới xốt cocktail, tiếng Việt mình gọi là tôm cốc-tai. Trông ly cốc-tai rất đẹp mắt và ăn cũng khá ngon, ngon nhờ gia vị hằm bà lằng hơn là mùi tôm nguyên chất. Có một dạo báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh của Hoà Lan loan tin rầm rộ. Có vài người chết và nhiều người vô nhà thương vì ăn nhằm tôm tép nhập cảng bên châu Á. Tin gây xôn xao dân chúng Hoà Lan và bay ra tới Đại Tây Dương, trong lúc tàu tôi còn đương lênh đênh trên biển. Nghe tin thủy thủ đoàn bàn tán rùm beng. Cuối cùng thuyền trưởng đề nghị đầu bếp đem tôm đông lạnh liệng hết xuống biển. Ông nói, ngừa trước tốt hơn, lỡ ăn nhằm tôm bịnh, ngộ độc giữa đại dương không có nhà thương rửa ruột. Vốn lớn lên trên một quê hương giàu tôm cá, tôi đã thấy vài lần người ta ăn nhằm mật cá nốc mới bị ngộ độc chết chớ chưa nghe ai ăn tôm tép chết bao giờ. Dĩ nhiên tin loan rầm rộ như vậy ắt hẳn không phải tin gà tin vịt rồi. Nhưng sao trong lòng tôi không nao núng sơ sệt gì hết. Tôi quyết định để mấy hộp tôm lại. Chiều nào tôi cũng nhậu bia lạnh ăn tôm thẻ luộc chấm muối tiêu chanh. Tôi ăn trong hai tuần hết sạch ba hộp, sáu ký lô tôm thẻ. Vậy mà trong người tôi không thấy triệu chứng bịnh đau gì hết. Và cũng từ đó trở đi tôi không còn biết thèm thuồng tôm tép nữa. Còn vụ ăn tôm cho ra hồn có lẽ là năm tôi mười chín tuổi. Lúc đó tôi sống với gia đình bên vàm sông Ông Đốc. Anh em tôi làm nghề đánh cá, đi bạn cho người ta, tay làm hàm nhai. Cho nên ngoài nghề đánh cá ra phải có chuyện phụ thêm, nếu không nhằm lúc biển động dai dẳng thì cả nhà kể như treo mỏ. Mùa động nam năm 1978. Tôi theo bác Ba đặt đó trong ngọn Xẻo Quau ở bên kia vàm sông Ông Đốc. Bác Ba là bạn thân của ba tôi, lần nào qua thị tứ bác cũng ghé nhà lai rai với ba tôi vài xị đế rồi mới chịu về. Thỉnh thoảng ba tôi cũng bơi xuồng qua xẻo nhậu chơi với bác. Bác làm nghề đặt đó người ta gọi là ông ba Đó riết rồi chết danh. Bác chỉ có Phương, đứa con gái duy nhứt, mười bảy tuổi. Vì bác gái mất sớm, chuyện trong nhà do tay Phương đảm đương. Ban đêm bác ba giở đó về, Phương lựa tôm ra luộc. Sáng mai trời mắng cô trải đệm ngoài sân đổ tôm ra phơi. Cá còn sống cô đem rộng trong chiếc rộng tre đưới bờ rạch. Hết con nước cô chở cá qua thị tứ nhóm chợ và mua thêm thức ăn. Mỗi lần đi chợ còn bạc lẻ cô mua bài ca đem về, rảnh rổi lật ra ngâm nga. Buổi trưa người đi rừng thường nghe văng vẳng giọng vừa vai đào vừa vai kép hát nguyên tuồng cải lương. Miệt nầy trai gái lần đầu gặp gỡ thường hay hỏi thứ để gọi. Khi thâm tình mới gọi tên nhau. Tôi tên Cu, tên xấu háy, vì dầm mưa dãi nắng da đen thui. Bà con trong xóm gọi tôi là Cu Đen. Không lẽ nói chuyện với nhau Phương cứ gọi tôi Cu nầy Cu nọ, nghe kỳ cục quá. Tôi thứ tám, cô kêu tôi bằng anh Tám. Công việc của tôi ban đêm bơi xuồng phụ bác Ba giở đó. Ban ngày thăm những tấm đăng, tấm nào rách ít bện lại tại chỗ, rách nhiều kéo lên thay tấm khác. Những ngày nước chết, tôi phụ Phương chẻ củi, đập tôm, chèo xuồng qua thị tứ đổi nước phông-tên về xài. Rảnh rổi chúng tôi rủ nhau đi rừng băt vọp, móc cua, chặt củ hủ chà là hoặc vô vạt cò móc trứng. Có lần lội ngang một trảng nước, trong lòng nước phình lên những bọc trắng như con sứa, lớn bằng cái mâm, nhỏ bằng chiếc nấm. Tôi thò móc cua định móc lên coi. Bác ba vội ngăn: – Ê đừng làm bể, bọc tôm đó. – Bọc tôm ? Thấy tôi ngơ ngác. Bác Ba chỉ cho tôi thấy những chấm đen li ti trong bọc. Bác nói, đó là mắt tôm vì trứng tôm còn non nên chưa thấy rỏ, chừng nào già tôm sẽ hiện nguyên hình sau đó bọc bể tôm mới lội ra. Tôm nầy do đất sanh nên người ta gọi là tôm đất. Theo tôi biết thì tôm bầu, tôm gai, tôm càng có ôm trứng dưới dạ bụng, còn các loài tôm bạc tôi chưa thấy trứng bao giờ. Thiệt tình mà nói, cho tới nay tôi vẫn còn nghi ngờ chuyện đất sanh ra tôm, dù là tôm bạc đất đi nữa. Nhưng phải công nhận, tôm bạc đất sanh sôi nẩy nở rất mau. Những ngày nước xổ tôm từ trong ngọn tràn ra ào ạt, chiếc đó bự hơn người ôm vậy mà tôm vô đầy đặc. Hai bác cháu phải nhảy xuống nịt chiếc đó lại rồi lăng lên bờ, chớ kéo đổ như ngày thường thì không nổi. Tôm đất sống trên trảng, ở nước lợ nên thịt ngọt, luộc không cần thêm màu, phơi khô ruột vẫn đỏ. Nhờ ngon ngọt và màu sắc tự nhiên mà tôm bạc đất bán mắc tiền hơn tôm biển. Thường thì ban đêm giở đó, sáng sớm về nhà cơm nước xong tôi đánh mật giấc tới trưa mới thức dậy. Một hôm mệt quá, tôi ngủ mê mang, khi giựt mình thức giấc, lồm cồm ngồi dậy, ngó dáo dác, cả nhà đi đâu vắng ngắt, vắng teo. Tiếng gió nhẹ lướt qua mái lá lào xào, lạc xạc. Dưới dòng rạch, mặt nước láng trơn, không một bóng xuồng qua lại. Trời ngã chiều, nắng đã nhạt. Tiếng chim rừng kêu vang, con kêu cạc cạc, com kêu chim chíp, con ục ục, rù rù… nghe rầu chín ruột chín gan. Nhìn di ảnh của bác ba gái trên bàn thờ, bổng nhiên tôi sợ nổi da gà. Miệng khô khốc, lòng hoang mang chưa biết phải làm gì, thì bổng nghe tiếng Phương ngân nga ở phía sau nhà. ‘….Đố ai quét sạch lá rừng, để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây. Đố ai nằm ngủ không mơ…’. Tôi bước xuống đi nhanh ra nhà sau, ngó thấy Phương lom khom ở bìa rừng tôi mới yên dạ. Vói tay lấy cái ca úp trên đầu cây cắm cạnh bên chiếc khạp da bò, tôi múc nước súc miệng, tiện tay múc thêm một ca ngữa cổ nốc một hơi. Úp ca lại chỗ cũ tôi men ra bìa rừng. Phương chăm chú lựa trái dác, tôi tới sau đít mà cô vẫn không hay, cứ thảng nhiên ngân nga ca vọng cổ. ‘… Bốn mùa bông cúc nở xây, thử coi trời bắt duyên nầy dìa ai ơ…ơ…’ – Dìa tui nè chớ dìa ai. Bất ngờ ghe tiếng, Phương giựt mình ngó lên thấy tôi, tay chận ngực cô quát: – Anh mắc dịch, làm người ta hết hồn hết día. Thấy vẻ cô giận giổi, tôi cười cầu hoà: – Tui giởn chơi mà. – Anh giởn như vậy có ngày tui đứng tim chết. Phương xốc xốc rổ trái dác, nhắm chừng nấu đủ nồi canh, cô đứng dậy đi vô. Tôi men theo, hỏi: – Bác ba đâu rồi ? – Qua chợ cân tôm rồi. – Ủa bác qua bển sao hổng rủ tôi theo cà? Ngâp ngừng Phương nói: – Hồi sớm thấy có nắng, ba tui dặng chừng nào anh thức nhờ anh bửa củi ra phơi, thấy anh ngủ ngon quá tui hổng kêu. – Trời đất! Sao cô hổng kêu tui, bây giờ bửa ra nắng đâu nữa mà phơi. – Xí, chờ anh bửa chắc người ta phải chẻ ống quyễn ra chụm trước. Cô chỉ tay qua đống củi phơi ở góc sân: – Tui bửa hết rồi, anh lợi đẳng ôm vô đi, hổng ấy mưa xuống ướt hết bây giờ. Tôi ngó lên nhìn trời. Mây đen nghịt ở phía tây, mây trống chưn che khuất hơn nữa ánh mặt trời. Ánh sáng tỏa ra cái mống cụt ngủn nằm vắt vẻo bên phía nồm. Mống dài trời nắng, mống ngắn trời mưa. – Phương! Nghe tôi kêu cô ngoái lại: – Gì đó? Tôi chỉ tay về hướng nồm: – Coi kìa. Tưởng gì, cái mống cũng lạ dữ. – Ê, mống chuồng là muốn chồng ha ha… – Dô duyên. Cô mắn nhẹ tôi một cái rồi bưng rổ trái dác đi te te vô nhà. Tôi đi qua góc sân gom củi lại ôm vô. Một lát sau đống củi đã nằm ngay ngắn trong chái bếp. Phương đương nấu cơm, thấy tôi rảnh tay cô biểu: – Anh Tám ra đẩy máng xối qua miệng khạp hứng nước và khép cửa lợi dùm cái coi. Tôi bước ra đẩy chiếc máng xối và khép cửa lại, cùng lúc cơn mưa chiều cũng vừa rớt hột. Phương lui cui nấu bếp, trán lấm tấm mồ hôi, hai gò má bóng lưởng và cặp ngực căng phồng trong lớp áo bà ba. Nhìn Phương máu tôi xôi lên như nồi canh chua đương bốc khói… vừa lo sợ vừa mắc cở. Tôi bẽn lẽn đi ra nhà trước ngồi bó gối trên bộ ván mơ mộng… Thường ngày nấu cơn xong, Phương bới bưng lên bàn thờ cúng bác gái trước, sau đó mới dọn cho cả nhà ăn. Hôm nay bác Ba qua chợ chưa về, sau khi bưng cơm lên cúng cô lấy mẻ un ra nhóm. Ngoài trời mưa đã tạnh, gió ngừng. Mọi hôm sóng bạc đầu ập vô bãi bùn vang tiếng rầm rầm. Bây giờ dệu xuống sóng lượng trường lên bãi. Đêm ấy đoàn xuồng bắt ba khía, vô ‘ruồng’ trong ngọn xẻo Quau, xuồng họ nối hàng lướt qua dòng rạch. Chợt dưới dòng vọng lên tiếng của một đứa con trai: – Cô Phương ơi tui thương cô quá trời quá đất cô ơi!!! Thêm một đứa khác hô to: – Bác ba ơi cho tui ở rể nhà bác ‘đi’ bác ơi!!! Và tiếng một đứa ngâm nga: – Ông già ơi hởi ông già, có con hổng gả đốt nhà ông chơi. Tiếp theo là tràng cười làm vang vội khu rừng. Phương vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì, cô bưng mẻ un ra để trước nhà. Khói un làm nước mắt cô ràng rụa. Cô đi lại ngồi kế bên tôi, vừa quẹt nước mắt vừa nói: – Lần nào đi ngang họ cũng chọc ghẹo tui om xòm trời đất. – Ai biểu cô đẹp quá chi. – Xạo hoài. Đoàn xuồng qua khỏi, xẻo Quau trở nên yên lặng. Bóng đêm kéo về đánh thức bầy đom đóm trên cây bần trước nhà, ánh sáng nhịp nhàng theo hơi thở làm rực rỡ một góc sân. Tôi day ngang hỏi: – Sao mà đom đóm tụ lợi có mình ên cây bần? Phương thỏ thẻ: – Tại nó thích mùi bần. Chợt cô giơ tay lên đập xuống đùi tôi nghe cái chách, vừa ê ẩm vừa đã ngứa, tôi ngó xuống cả chục con muỗi dẹp lép, máu dập ra đỏ lòm. Bàng tay Phương cũng dính xác muỗi và máu, cô chùi tay vô ống quần, rồi ngước lên nói: – Anh lấy quần dài bận vô không thôi muỗi cắn chết bây giờ. Tôi bước xuống đi qua vách buồng lấy chiêc quần ka-ki trồng vô. Trở ra ngồi sát bên Phương. Gió khua nhẹ tấm phên bên hong nhà. Phương nói vừa đủ nghe: – Gió nồm. Phải rồi! Gió nồm, gió báo hiệu mùa đồng chung tới. Nghĩa là tôi sẽ về thị tứ nay mai. Tôi với Phương thường ôm nhau giỡn hớt và cặp kè bơi qua bơi lại dưới dòng rạch mỗi khi nước ngọt tràn bờ. Tôi đâu lạ gì cái thân thể rắn chắc trong bộ đồ ướt nước bó sát để lộ rỏ những đưởng nét thanh xuân. Nhưng lúc đó lòng tôi không rạo rực như bây giờ. Có lẽ hôm nay biết mình sắp rời khỏi nơi đây nên lòng tôi như lửa cháy. Tôi kéo Phương ôm sát vào người. Chắc Phương cũng nghĩ như tôi, cô không có ý kháng cự, trái lại còn ngã người vựa qua tôi. Được trớn tôi ôm vật Phương nằm xuống bộ ván, hôn lên hai gò má ngâm bóng và tay tôi vẹt hàng nút áo… Hai đứa ôm nhau lăn lộn trên bô ván. Chợt nghe tiếng xuồng lụp cụp đậu vô bến. Hai đứa vội buông ra. Phương hoảng hồn ngồi dậy nhảy tót xuống đất, vừa gài nút áo vừa chạy vô buồng. Tôi cũng lồm cồm ngồi dậy nhảy xuống, đi thẳng ra bờ rạch. Giống như tên trộm chưa lấy được đồ đã thấy chủ nhà. Tôi chấn tỉnh mình bằng cách hô to: – Bác ba dìa! – Cu đen đó hả? – Dạ. – Mầy sửa soạn dìa ngoải đi cào, chủ nghe mới nhắn với ba mầy hồi chiều. Nói dứt câu bác chợt chưn té cái đụi, văng giỏ đồ qua một bên. Tôi bước tới đỡ bác dậy. Phương bưng đèn ống khói đi ra, cô vặn tỏ ngọn đèn, soi lượm chiếc giỏ. Tôi kè bác Ba vô nhà, vừa nương theo tôi bác vừa lè nhè: – Hồi sớm ghé nhà tao với ba mầy mần hết cả lít, tao muốn quắc cần câu vậy mà ảnh còn chưa chịu cho tao dìa nữa. Phương đem giỏ đồ cất, sau đó cô lên trải chiếu giăng mùng trên bộ ván. Bác Ba rửa mình, thay đồ khô ráo leo lên chui vô, nằm chẳng bao lâu bác ngáy khò khò, không thiết tha tới chuyện cơn canh nữa. Hai đứa dọn cơm trên chiếc chỏng. Đêm nay Phương giống như cô dâu mới về nhà chồng, cô bẽn lẽn không nhìn thẳng mặt tôi. Còn tôi thì nghe lòng lân lân, tuy chưa nói ra nhưng biết chắc trước sau gì cũng chiếm trọn trái tim vàng trong túp lều tranh. Muốn không khí bửa ăn không ngượn ngập, tôi gắp tôm bỏ qua chén cho Phương, nhưng khi gắp lên cả chục con tôm dính tòn ten trên đầu đũa. Tôi gặt gặt mà mấy con tôm ôn dịch không rớt xuống. Đợi Phương giơ đũa gạt dùm mới xong. Tôi nói: – Ỏ nhà chị tui rang tôm thường cắt đầu cắt đuôi bỏ. Phương nói: – Tôm tép lặt đầu, bỏ đuôi đem rang thì mất đi chất ngọt. Nhờ gắp nhằm chùm râu tôm, không khí bửa ăn trở lại tự nhiên. Chúng tôi bắt sang chuyện mùa đồng chung, chuyện tôi sắp sửa ra bãi. Tôi hứa với Phương tôi sẽ trở vô phụ bác Ba trong những ngày biển động…Hai đứa nói chuyện rù rì đến khi nghe chồn cáo rụt rịt bò ra săn mồi và nghe tiếng thét của con vật xấu số nào đó bị con thú lớn vồ được. Chúng tôi ái náy nhìn nhau, lua vội miếng cơm cuối cùng và bước xuống dọn dẹp chén đũa. Dọn dẹp xong Phương vô buồng ngủ. Tôi lật nóp ra chiếc chỏng chui vô. Lòng tôi nôn nao cồn cào, đã vậy cơn mưa đêm ác ôn lại kéo về làm cho khu rừng vang tiếng rào rào, hỏi ai mà chịu đời cho thấu. Tôi nghe trong buồng động vạt cọt kẹt, biết Phương cũng ngủ không được. Muốn chui qua buồng nằm với Phương nhưng ngặt một nỗi bác Ba ngủ cách buồng chỉ một tấm vách. Ông già thính tai lắm, say rượu quắt cần câu, chồn cáo xuống bắt cá rọng trong chiếc rọng tre dưới rạch ông còn nghe, huống hồ chi chui vô buồng mò con gái ông bất hợp lệ. Chết với ông chớ hổng phải chơi. Nhưng tôi không trở lại xẻo Quau như lời đã hứa với Phương. Tôi vượt biển bỏ quê hương giữa mùa đồng chung năm ấy. Sau hai mươi năm xa xứ, nay tôi trở về. Đầu tôi sói, tóc tôi bạc gần nửa mái nhưng tôi không bao giờ quên được bửa cơm canh chua trái dác và tôm bạc đất rang muối, mỡ, hành. Nhứt là cảm giác đầu đời được ôm con gái. Cái cãm giác mơ mơ màng màng cứ lãng đãng trong tôi ngót hai mươi năm. Hai mươi năm biết bao sao dời, vật đổi, ba má tôi giờ đây không còn nữa, bác ba Đó cũng đã qua đời. Còn Phương thì Nghe đâu cô đã có chồng và sinh một bầy con. Người nói cô ở Cái Đôi, người chỉ qua bên Cái Nước, Năm Căn hay rạch Gốc… Địa chỉ tùm lum như vậy, tôi có muốn đi thăm cũng không biết đâu mà lần. Hồi ra đi mấy đứa cháu tôi còn dọc bùng dọc đất. Bây giờ chồng con lủ khủ, chúng dắt díu về thăm. Một đứa cháu gái kêu con ra đứng trước mặt khoanh tay, dạy nói: – Dạ thưa ông Tám. Nghe cháu gọi tôi rùng mình một cái, già tới nơi rồi. Tôi cúi xuống bồng đứa cháu kêu bằng ông, nó sợ khóc ré lên và day ngang ôm chân má nó cứng ngắc. Trong gia đình máu mủ ruột thịt với nhau còn lạ lẫm rồi. Thử hỏi khắp xã nầy được mấy người quen. Bây giờ là tháng ba, mùa gió chướng, mùa ngư phủ ra khơi và mùa tôm bạc bãi. Trước kia mấy ngày nầy những chiếc ghe cào, ghe te đem tôm về phơi lấn hết lối đi. Trưa trưa nghe tiếng đập tôm phình phịt từ đầu khu một tới cuối khu ba. Ngày nay nhà cửa chiếm hết mặt bằng. Tôm tép chẳng thấy phơi. Người ta ở đâu mà đông như kiếng. Tôi chen chúc trong khu chợ. Gặp vài người quen chào hỏi. Họ nói chuyện lơ là nhưng không gọi tôi là thằng Cu Đen như ngày trước, mới hay cho đến cái tên cún cơm của tôi cũng bị thời gian xóa bỏ. Ghé qua chợ cá, những thau cá, thau tôm lưng lững, trông chiếc thau dềnh dàng ra, còn người bán thì ngồi chum húm như teo lại. Tôi dừng lại trước một cô gái bán tôm, ngày xưa Phương của tôi cũng ngồi nhóm chợ như vầy. Thấy tôi đứng tần ngần chăm chăm ngó. Cô gái sửa lại thế ngồi, nhết miệng cười duyên và cất tiếng hỏi: – Bác mua tôm hả bác? Tôi không có ý mua tôm, cho nên nghe cô gái hỏi, tôi giựt mình gật đầu ừa đại: – Ừ ừ, tôi mua. – Bao nhiêu bác? – Cô cân hết trong thau cho tui. Cô lẹ làng nghiêng chiếc thau, tay vét tôm gôm lại. Nhúm tôm đủ gói trong chiếc lá chuối vấn kèn, vậy mà cô cũng hỏi tôi mua bao nhiêu. Tôi đem tôm về nhà nhờ đứa cháu rang muối, còn cẩn thận dặn cứ để nguyên đầu nguyên đuôi cho tôi. Bửa cơm chiều hôm đó, tôi ăn tôm rang xảm xì, vỏ tôm lợn cợn dán vô cuống họng làm tôi phải khạc nhổ mấy lần. Cháu tôi thấy vậy bưng dĩa tôm lột bỏ vỏ lấy thịt để riêng một chén đưa qua cho tôi. Tôm bạc đất lột vỏ màu đỏ, tươi rói, ngon ngọt khỏi chê. Phải chi có miếng xà lách lót dưới, một khoanh chanh để trên và rưới thêm xốt cóc-tai thì ngon biết mấy!
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte ngày mùng 5 tháng Chín năm 2016 chữi Tổng thống Mỹ Barack Obama là “con trai của gái điếm” khi bị phê phán cảnh sát bắn chết hơn 4.400 người trong cuộc chiến chống ma túy ở nước này mà không qua xét xử.
(“Con trai của gái điếm” là dịch rất sát từ chữ ‘son of bitch’; nhưng dịch như vậy không hay, không làm rõ được lời chữi bới vô cùng ác miệng của kẻ hàm huyết phún nhân, ngậm máu phun người dơ miệng mình.
Bà con mình có câu chữi tương đồng là: “Con ‘đ.’; mẹ mầy!” nhưng ít ai dám xài… vì xài là chết chắc…dưới tay người bị chữi…)
Đây không phải là người duy nhất bị Rodrigo Duterte xúc phạm mà còn nhiều nhân vật tài cao đức trọng nữa…Và đây không phài là lần đầu Duterte nói chuyện ‘ba trợn’ và bá láp như thế và chắc không phải là lần cuối cùng.
Sau khi Cảnh sát quốc gia Philippines công bố thành phố Davao có ít nhất 42 phụ nữ đã bị hiếp dâm từ tháng Tư đến tháng Sáu năm 2018. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm 30 tháng Tám tại thành phố Davao, quê nhà của ông, đăng đàn phát biểu linh tinh và lung tung rằng: “Họ nói có nhiều vụ hiếp dâm tại thành phố Davao. Thành phố nào có nhiều phụ nữ đẹp thì sẽ gặp những vụ hiếp dâm như vậy.”
Philippines dẫu sao cũng là một đất nước tự do nên Liên minh mang tên Babae Ako (Tôi là phụ nữ) cự nự quá xá, khẳng định hiếp dâm chẳng liên quan gì tới vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ; mà Tổng thống lại tuyên bố ruồi bu kiến đậu, thật là thối tha và xấu xa như vậy chỉ vì ông ta coi thường nữ giới; đổ thừa cho nạn nhân ai biểu đẹp làm chi để bị hiếp dâm?
“Thay vì đề ra giải pháp có hiệu quả để bảo vệ nạn nhân thì Duterte lại xúc phạm và khoét sâu thêm vào nỗi đau của những nạn nhân bị cưỡng bức. Hiếp dâm là tội ác vì cho rằng phụ nữ là vật sở hữu nên có thể bị đàn ông thản nhiên xâm hại.”
Phát ngôn viên thấy Tổng thống của mình ăn nói lôm côm quá, không biết chống chế ra làm sao chỉ nói xuôi xị là: “Đừng quan trọng hóa vấn đề Tổng thống chỉ nói đùa thôi!” Dù nói đùa chăng đi nữa, rõ ràng đây là một lời nói đùa cực kỳ vô duyên đến mức độ nhẫn tâm.
Tuy nhiên so với cái chuyện xảy ra ở cái nước CS đỉnh cao trí tuệ của loài người thì đây chỉ là cơn bão trong tách trà. Cái thói coi người phụ nữ chỉ là một công cụ để thỏa mãn tình dục nó xảy ra hà rầm trong chế độ CS đương quyền đang cai trị đất nước ta.
Chắc bà con mình còn nhớ cách đây gần 10 năm, Hiệu trưởng trường THPT Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (miền cực Bắc nước ta) Sầm Đức Xương, 52 tuổi mua dâm tới 10 trẻ vị thành niên tuổi từ 13 đến 17 tuổi, vốn là học trò của trường.
“Thầy Xương đe dọa sẽ hạ thấp kết quả học tập, ép chúng cháu quan hệ tình dục với thầy. Từ đó, thầy bắt chúng cháu quan hệ tình dục với một số bạn bè của thầy. Mỗi lần được 500.000 đồng, tui cháu đều mang về cho thầy Xương.”
Sầm Đức Xương đặt dóc để né…“Ba năm nay tôi bị bệnh không thể quan hệ tình dục. Tôi còn là nhà giáo thâm niên 30 năm, đáng tuổi cha chú sao có thể làm chuyện đó? Đơn tố cáo hoàn toàn là vu khống và bịa đặt vì muốn bôi tro trát trấu lên mặt mũi của tui thôi!”
Chủ tịch tỉnh Hà Giang, Nguyễn Trường Tô lên mặt đạo đức giả: “Hiệu trưởng mua dâm nữ sinh là một việc động trời, không thể hình dung được. Nếu đúng như những gì báo chí phản ánh, đây là một việc làm đáng xấu hổ và không thể chấp nhận với một thầy giáo đồng thời là người đứng đầu một trường cấp 3.”
Làm Thầy giáo còn kiêm Mã Giám Sinh, ma cô dắt mối, bán rau sạch cho quan chức tai to mặt lớn tỉnh Hà Giang nênTòa CS ra lịnh cho Xương ngồi đếm 10 cuốn lịch.
Phiên Tòa quái đản nầy xáng cho mỗi đứa 5, 6 năm tù để hù, khóa miệng các cháu lại, đừng có khai huỵch toẹt ra mà bể ổ.
Nhưng sau rốt cái mặt nạ rơi xuống, lòi ra những bộ mặt ấu dâm gớm ghiếc xấu xa là chính Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch tỉnh Hà Giang vừa giảng luân lý, cùng một số đồng chí đồng đảng bên Công an Tỉnh, Phó Chủ tịch huyện Vị Xuyên, Giám đốc Ngân hàng chung xuồng cái tuồng già khoái cỏ non, xơi rau sạch…
Cái tội ấu dâm nầy, nếu bên nước Úc nầy đây là chú Xương, chú Tô chắc vô nằm ấp, râu dài tới rún mới được về! Về còn được biếu thêm cái còng điện tử để Cảnh sát Úc theo dõi chú mầy có léo hánh lại gần mấy cái trường học để làm bậy bạ với đám học trò ngây thơ nữa hay không?
***
Ỷ thế cậy quyền, chà đạp lên nhân quyền của người phụ nữ đối với xã hội Tây Phương nầy là một tội cực kỳ nghiêm trọng chớ không phải nghe qua rồi bỏ…
Ngay cả mới ló mòi lợn lòng kêu ột ột ra mà bị đem đi nấu ‘cháo lòng’ liền hè.
Mới đầu năm nay, ông Thị trưởng Melbourne của tui bị ba em nữ nghị viện tố quấy rối, sách nhiễu tình dục. Con lợn lòng của ông mới kêu ột ột thôi chớ cám chưa ăn được mà phải thân bại danh liệt, phải từ cái chức thơm như múi mít mà vác đít đi nằm nhà thương… vì bịnh quá hè?!
Mấy em tố là: Nhậu hơi cửng cửng, ông quơ đại đụng vô hai cái ‘ví’ của em nầy; thọc tay vô cái đùi em kia; còn em nọ thì xin cho hun một cái coi!
Thả dê bậy bạ mà nó la làng lên là cha mầy cũng chết. Vì Úc nầy có cái Ủy ban về Nhân quyền và Cơ hội Bình đẳng để mấy em nào đi làm mà bị sách nhiễu tình dục, bị sàm sỡ, bị rờ rẫm, sờ sẫm, bị đòi hun hít thì đi thưa…
Mấy thằng bạn Úc làm chung sở với tui, nó có thừa kinh nghiệm nhiều lần bị mất ‘job’ bởi con lợn lòng kêu không đúng chỗ, dạy tui là: “Look! Don’t touch!” (Nhìn chớ đừng rờ).
Nhìn thì thoáng qua thôi; nếu có thèm nhểu nước miếng thì quay lại nhìn nữa. Đừng có một chỗ mà cứ ‘địa’ hoài là coi chừng bay luôn cái cần cầu cơm thì đừng có trách lẫn trời gần trời xa.
Nói thiệt hồi đặt chưn tới nước Úc nầy đây tui cũng còn mang theo cái tư tưởng thời khẩn hoang miền Nam của ông cha mình. ‘Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp gái cũng ghẹo, gặp chùa cũng tu’.
Nghe lời cảnh báo của mấy thằng bạn Úc như vậy tui bèn binh “thùng thủ chớ không dám cù lủ giương như xưa nữa!” Không phải là đối với mấy em Úc trắng, Úc đen thôi đâu mà mấy em Mít mình cũng vậy. Bởi vì cái Cộng đồng Mít mình đây nó nhỏ xíu hè. Chuyện trong nhà chưa tỏ mà ngoài ngỏ đã hay. Dê bậy, dê bạ mấy em méc con vợ tui; là tui chết tức, chết tối, chết không kịp trối và không kịp hối… hận!
Hổng dám xớn xác, ào ào nhẩy vào bốc hốt bậy bạ để bị mấy em chửi là người chớ nào phải heo đâu mà để con lợn lòng nó bò lông nhông… đòi ăn cám chớ?
***
Nhưng đời mà, làm đàn ông mà diệt dục, không dê, thì buồn lắm bạn mình ơi!
Vậy là lỡ bị em nào làm tim tui xao xuyến, tui bèn thả thơ cho chắc ăn (Vì ai nỡ trừng phạt một người nghệ sĩ lăn lóc gió sương, ba ngày đêm nổi lên sình chương bao giờ?!)
‘Thương em nên mới đi đêm/ Té xuống bờ ruộng, đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau/ Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này’.
Hay: tình đơn phương, câm lặng làm mình muốn khùng luôn là: ‘Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa/ Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều’.
Thấy em coi bộ chịu đèn thì hổng yêu tui là tui chết cho coi nè ‘Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’/Chết ngủm rồi đời/ Sống chi đây chịu chữ mồ côi/ Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?’
Cầm bằng nghe em thỏ thẻ: “Lời tùng quân làm xiêu lòng em lắm; nhưng ngặt con sử tử Hà Đông của chàng dữ quá em hổng dám đâu!” “Gan lên đi em hai! Dao phay kề cổ, máu đổ không màng/ Chết thì chịu chết, buông chàng em không buông.”
Chơi đủ chiêu rồi mà hổng ăn thua gì thì ‘xì tốp’ lại đi. ‘Gá duyên chẳng đặng hội này/ Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô’. Cho nó ‘phẻ’
***
Đời mà! Úc hay Mít mình, làm gì có chuyện một lòng chung thủy với con vợ nhà tới răng long đầu bạc, em đặt đâu anh ngồi đó không dám nhúc nhích bao giờ?!
Nếu đứa nào cũng tốt hết biết như vậy thì tại sao ly dị hàm rầm hè? Hai đứa thôi nhau ắt phải có đứa thứ ba chen vô chớ! Tất nhiên có cơ hội, mỡ tới miệng mèo là nó quằm liền. Ngu sao mà nhịn…
Tuy nhiên thằng bạn Úc của tui cứ tưởng bở mỡ tới miệng mèo tính đớp, tưởng con lợn lòng của mình được em thương tình cho ăn cám xú…
Dè đâu đất bằng bỗng nổi phong ba! Cha mầy cũng chết!
Chuyện rằng: Tuần rồi là sinh nhựt của tui. Vợ tui chẳng buồn chúc tui “Happy Birth Day” anh yêu gì ráo. Tía má và đám nhóc tì cũng quên phứt cái ngày trọng đại: Thế gian nầy cách đây 40 năm có một thằng cà chớn lơn tơn bước vào cõi đời ô trọc.
Ngay cả đi làm, bạn cùng sở cũng chẳng thèm chúc mừng sinh nhựt gì hết ráo hè. Mình có làm tệ hại, bại hoại gì đâu mà lại bị đời lãng quên.
Nhưng cuối cùng bước vô văn phòng, mới vừa đặt đít lên ghế em thư ký miệng mỉm cười tươi như hoa hàm tiếu tuông ra lời châu ngọc làm mát dạ tui hết sức hè. “Happy birth day boss!” Sau đó em còn mời tui đi ăn trưa nữa chớ. Quá đã. Chắc em chịu đèn tui lâu lắm rồi chỉ chờ việc thuận tiện để ngỏ… cửa lòng em.
Cơm no bò cỡi, tui nghĩ vậy nên mời tui về căn gác trọ nhà em, tui OK cái rụp! Em xin phép vào phòng ngủ…! (Tui đoán chừng em xịt chút nước hoa cho tình thêm lãng mạn đây mà!)
Năm phút sau, em bước ra trên tay cầm một cái bánh sinh nhựt to đùng có cắm bốn cây đèn cầy mỗi cây tượng trưng cho mười năm tình lận đận.
Nhưng không chỉ mình em mà còn có con vợ tui, đám con tui, bạn tui đồng nghiệp của tui. Cả bọn hò reo: “Surprise!!!” (Ngạc nhiên!!!).
Ngạc nhiên quá đi chớ! Vì lúc đó tui đang ở truồng nằm trên ghế sofa!
Tóm lại con lợn lòng của tui ơi, tao lạy mầy đừng kêu ‘ột ột’ nữa. Xin hãy để tui yên!
Chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt gần như kiệt sức, tôi trở mình xoay qua phải, tay trái gác lên xác Minh đã được gói ghém cẩn thận trong lớp poncho ướt đẫm sương khuya.
Chiều nay, trước khi đặt xác Minh vào chiếc quan tài bằng nylon dã chiến này, tôi đã khấn nguyện như thầm nhủ với em :”…thôi em hãy đi… đi…vào cõi siêu thoát , chớ vương vấn chi…chi những hệ luỵ của kiếp người phù du trong cuộc đời vô thường như ảo mộng nầy…”…và vuốt đôi mắt mở trừng tới lần thứ ba, Minh mới chịu nhắm mắt…!
Minh trình diện tôi cuối năm 1968 với cấp bậc Hạ Sĩ truyền tin, nhân tướng cao dong dõng với khuôn mặt đẹp trai dáng vẻ thư sinh, tài tử phim ảnh hơn là một “Lính Nhẩy Dù” gan lỳ dũng mãnh mà gót giầy Saut dẫm nát trên 4 vùng chiến thuật với những chiến trận khốc liệt tử sinh không biết ngày mai ai còn ai mất…?!…với tính tình vui vẻ hoà đồng với mọi người, nhưng khi lâm trận thì can đảm, lỳ lợm không thua kém một ai trong đơn vị…!!! Chỉ một năm sau, Minh được thăng cấp Trung Sĩ và tôi gửi Minh đi học khóa Truyền Tin đặc biệt về mật mã, sau khóa học Minh trở về đơn vị, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và đuợc tôi bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù. Trong nhiệm vụ này, Minh lúc nào cũng thường kề cận sát bên cạnh tôi như hình với bóng, và theo thời gian binh lửa ngút ngàn, dần… dần tôi thương mến Minh như em ruột của mình…! Minh còn độc thân, chỉ có một mẹ già và một đứa em gái nhỏ đang buôn bán tảo tần ở chợ Trương Minh Giảng. Minh rất giàu đầu óc sáng tạo, tự “chế tác” ra những mật mã Truyền Tin nguỵ hoá để xử dụng hiệu quả mà ngay Nha Kỹ Thuật cũng không mã hoá được, huống hồ mấy tên cán ngố “sinh Bắc tử Nam” có thể phát hiện được qua âm thoại trên tầng sóng điện máy truyền tin … Đụng trận, Minh hét lên trong máy báo cáo liên lạc: “… ba lẽ tám bẩy không chín tám mười hai ba ba ba…” (giải mật mã là: 2 toán viển thám: 1 và 2 xuống chân đồi, 2 trung đội trinh sát theo sau và tấn công bộc hậu lên đồi).
Sau hai ngày “san định” đồi 1049 (Delta), một Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (ĐĐ/TĐ2ND) thay thế Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND), chúng tôi có lệnh di chuyển về hướng Bắc để bắt tay với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH/TĐ2ND) đang ở đồi Charlie. Chúng tôi vừa “di hành” vừa nhổ “đẹp” chốt địch và tống tiễn hồn Bắc quân khiếp đảm, kinh hoàng bay tung về với thế giới cô hồn uổng tử…! Nhưng khi đến đồi 1028 (cao độ so với mặt nước biển) thì “đụng nặng”. với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 CSBV trú phòng trên đó với ưu thế hầm hố, địa đạo chiến đấu đã bố trí vững chắc, sẵn sàng chờ đợi để “gom bi” TS2ND chúng tôi…với “Thế Bối Thủy”, tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn xông lên vượt đường máu lửa để sống còn, tôi ra lệnh “táp pi”…súng nổ vang rền chiến trận… Minh bị một tràng AK47 xé banh lồng ngực chết tại chỗ, máu tuôn ướt đẫm thân xác…!.
Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngủ dật dờ, bàn tay trái vẫn còn trên cái poncho bó xác của Minh lạnh giá, chợt tai nghe tiếng nói của Minh từ một cõi âm ty thâm u xa xăm nào đó mang âm hưởng tỉ tê não nuột rờn rợn ớn lạnh toàn thân…!
– Đại Úy ơi…! Mở ba lô của em ra, lấy cái poncholight của em mà đắp và giữ nó bên mình, mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho Mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng Đại Úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó….”…!
Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, chỉ nghe tiếng xào xạc của lá cây rừng cùng tiếng văng vẳng đâu đây của Minh như chưa tan loãng hết trong không gian u uất, linh hồn phất phơ đầu cây ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm…! Nhìn quanh bên cạnh vài thước, Y Khương vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm về sáng…Tôi tự lự: có thật linh hồn của Minh vẫn còn lẫn khuất quanh đây, em về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị giữa đời thường, trong khi áp lực địch quân trùng điệp với lưới thép lửa đạn dầy dặc vẫn còn vây kín tứ phương …và cho dù có tin hay không tin cũng phải chờ cho đến khi trời sáng có L19 (phi cơ quan sát) bao vùng và mong là sẽ có C&C của Lữ Đoàn bay trên không phận để liên lạc với tôi…! Tôi làm theo lời báo mộng của Minh, thò tay lục ba lô và mở poncho gói xác Minh… quả thật đúng như vậy và tôi làm đúng những gì Minh căn dặn là tìm thấy được: một pocholight, sợi dây chuyền có cái nanh heo rừng khắc Phạn Ngữ Chú Nguyện theo phương pháp bùa Miên mà các vị “Lục Khủ” (Thầy) phúc tụng, tom phép hộ thân vào Katha… Suốt ngày hôm đó trực thăng của Phi Đoàn 229 không tiếp tế, tản thương được, đến buổi chiều chỉ có chiếc LOH của John Paul Van rà xuống đạp vội vài thùng lựu đạn, đạn đại liên và vài chục ống đạn 155 ly chứa nước uống. Hơn hai mươi thương binh và 12 xác chết vẫn còn nguyên đó…! Tôi nhận được công điện từ hậu cứ Long Bình của Trung Úy Tài nguyên văn:” Kính đích thân! Sáng nay mẹ và em gái của TSN Nguyễn Văn Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết và chất vấn tôi về tình trạng Minh đã tử trận. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì chưa nhận được một báo cáo hành quân nào cả. Chỉ biết là đơn vị đang đụng nặng và chờ tin tức mà thôi. Tôi hỏi thì bà trả lời rằng: “… thằng Minh đã chết và đã có về báo mộng cho tôi đêm qua …”…?!!! Đọc công điện từ hậu cứ, tôi giao động thân tâm thẩn thờ như kẻ mất hồn…! Đã có báo cáo tổn thất tổng quát cho Lữ Đoàn nhưng chưa có chi tiết tên họ tử sĩ và thương binh, vì người thay thế cho Minh phụ trách công điện chưa thành thạo công việc truyền tin liên lạc báo cáo… vả lại TS2ND chúng tôi còn trong vòng chiến trận bị Bắc quân vây hãm với hoả lực hùng hậu tứ bề thọ địch…!!! Để độc giả có thể hình dung được bối cảnh lâm trận của TS2ND và tương quan lực lượng với địch quân trên Mặt Trận Tây Nguyên – Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, tôi xin trích dẫn đoạn văn của Tác Giả Vương Hồng Anh là Nhà Văn Quân Đội đã dầy công biên soạn Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã có đề cập đến Đơn Vị TS2ND trong trận thư hùng khốc liệt với Bắc quân: “Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie”:
“Trận chiến giữa Trinh sát 2 Nhảy Dù và Cộng Quân ở đồi Delta:
Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, đại tá Trần Quốc Lịch-lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh đại đội 2 Trinh Sát do trung úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.
Sau khi Pháo binh và Không quân hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ đại đội Trinh Sát vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn đại đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của tiểu đoàn 1/trung đoàn 3/sư đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng quân đã điều động 1 tiểu đoàn để bao vây đại đội Trinh Sát. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng trung úy Út (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán đại đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm claymore. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh sát 2 đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào bộ chỉ huy tiểu đoàn Cộng quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/ trung đoàn 3 CSBV là Trương Hà.
Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, trung đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ đại đội Trinh Sát 2 để trả thù cho tiểu đoàn 1 của trung đoàn này. Vào lúc này, đại đội Trinh sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch. Bị một trung đoàn CQ bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên đại đội Trinh sát 2 ở trong tình trạng nguy kịch. Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các phi công VN của phi đoàn trực thăng Bạch Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho đại đội Trinh sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một phi công kinh nghiệm và gan lì của phi đoàn Song Chùy đã điều khiển trực thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho đại đội này được một chuyến duy nhất.
* Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù nhập trận:
Ngày 20 tháng 3/1972, bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã điều động tiểu đoàn 2 Nhảy Dù từ căn cứ Charlie đến giải vây cho đại đội Trinh sát 2. Ngay khi vào khu vực hành quân, thiếu tá Lê Văn Mạnh-tiểu đoàn trưởng đã điều động 4 đại đội tác chiến của tiểu đoàn tấn công ngang hông. Trận chiến đã diễn ra khốc liệt, sau 3 ngày kịch chiến, từ ngoài đánh vào, từ trong tấn công ra, tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và đại đội Trinh sát 2 đã đánh bại trung đoàn 3 CSBV, “xé” trung đoàn này thành từng phần nhỏ. Sau đó, đại đội Trinh sát 2 được trực thăng bốc về Võ Định để tái chỉnh trang và bổ sung quân số.Được báo tin về chiến thắng của đại đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù, trung tướng Ngô Du đã bay đến nơi quan sát, vị tư lệnh Quân đoàn 2 đã đích thân gắn cấp bậc đại úy cùng Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương cho đại đội trưởng Trương Văn Út. Ngoài ra, đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã thưởng cho đại đội này 1 triệu 200 ngàn đồng về chiến tích bắt sống 12 tù binh của sư đoàn 320 CSBV”. (ngưng trích).
Và trích dẫn bài viết “Charlie Ngọn Đồi Quyết Tử”của Nhà Văn Quân Đội Mũ Đỏ Nguyễn Văn Lập , đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hoà số 2, xuất bản tháng 8 năm 2009 do Hệ Thống Báo SàiGònNhỏ phát hành:
“Từ ngày này trở về sau, toàn bộ Charlie bị pháo kích thật nặng, mổi ngày cỡ ngàn quả mà nhiều nhất là 130 ly, rồi đến đại bác 122 ly, và cả hỏa tiển 122 ly mà tôi nghe được tiếng hú. 310 báo lên Thiếu Tá Lạc:” tụi tôi bị ăn 130 ly, ngoài tầm không phản pháo được, chẳng lẽ phải nằm đây lãnh pháo”? Lúc này Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn II Dù ở Căn cứ Võ Định cũng đã trình lên cấp trên xin cho 11 Dù rút ra ngoài căn cứ, Nhảy Dù mà nằm đưa đầu ra lãnh pháo như thế này thì phản chiến thuật quá. Nhưng Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn II vẫn lặng thinh, và Cố Vấn John Paul Van chẳng biết mẹ gì chiến thuật và pháo binh, vẫn kiên trì áp lực…tử thủ, chắc là định dùng 11 Dù nhử cho địch lên tapi như trường hợp của Đại Đội 2 Trinh Sát Dù dưới sự chỉ huy của Đại Uý Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã được trực thăng vận nhẩy xuống trấn thủ ngọn đồi 1069 ở Mặt Trận Tây Nguyên 1972. Nhận biết được tin quân Việt Cộng sẽ cường tập tấn công ngay trong đêm để tận diệt TS2ND, viên cố vấn Mỹ của Đại Đội là Trung Uý Buda đã gọi liên lạc xin với Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn 2 Mr Paul Van và Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II xử dụng toàn bộ hoả lực phi pháo, hải pháo Việt – Mỹ để yểm trợ cho TS2ND dứt điểm giết chết cả Trung Đoàn Phòng Không thuộc Sư Đoàn Thép 320 lừng danh của Bắc Việt, cộng quân phơi xác vương vải khắp cả ngọn đồi 1069…! Với chiến thắng lẫy lừng Quân Sử nầy Tướng Ngô Du đã đặt tên cho đồi 1069 là “Đồi Út Bạch Lan” …!!! Và vì trận này mà Bộ Chì Huy Quân Sự Việt Cộng đã lên án tử hình Đại Úy Trương Văn Út, Đại đội trưởng Trinh Sát 2 Dù và thề tiêu diệt đại đội này. Quân đoàn II còn lệnh cho T Đ11 ND ra hố pháo tìm chứng tích của đầu nổ130 ly mới cho B52 dập. Quân đoàn cũng chẳng màng gần một phần ba quân số 11 Dù bị loại ra ngoài vòng chiến vì đạn pháo và chưa đươc di tản. Cái hào quang chiến thắng của thượng cấp ngoài binh chủng đo bằng máu của Dù thật quá đắt, và quả thật nếu không bị pháo kích từng phút một, chúng tôi có thể ra hố đạn đo hướng bắn và bới tìm đầu nổ, nhưng làm sao gửi ra cho các bộ óc đặc sệt chỉ thị đây. Hằng trăm thương binh, mấy chục binh sĩ tử thương vì pháo còn chưa di tản được nằm đầy các giao thông hào, không có chiếc trực thăng tản thương nào vào được cách C2 500 mét thì nói gì đáp xuống tãi thương hoặc tiếp tế. Chỉ có một pass B52 đánh về hướng Nam gần Charlie thì nhằm nhò gì, pháo của chúng đặt về hướng Tây và Tây Bắc cách Charlie ít nhất 15 đến 20 cây số thì không dập. Mỗi lần bị pháo kích xong, phi cơ lên vùng, pháo địch im, phi cơ bay ra khỏi vùng, lại bị pháo tiếp, tôi chỉ còn biết ước lượng vị trí pháo địch gửi về các pháo đội tùy nghi phản pháo nếu có thể. Tình hình hết sức khẩn cấp, nếu không có lệnh rút, chắn chết hết vì pháo”. (ngưng trích)
…Tiếp theo chuyện của Minh: Tôi hỏi Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh tôi với Minh về sợi dây chuyền và cái nanh heo rừng. Sơn Nhung nói:
– Thưa Đại Úy đây là cái thẻ “Bùa Miên”. Trên cái thẻ ngà màu trắng đục có khắc một hàng chữ Miên màu đỏ, nó là câu thần chú để khi gặp cơn nguy biến thì đọc lên…may ra có ứng nghiệm…em không hiểu câu thần chú là gì, nhưng Đại Úy có thể đọc khi hữu sự” Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát “. Thằng Minh nó sống khôn chết thiêng, nó đang phù trợ cho Đại Úy đó “…!
Tôi không biết có nên tin hay không…? Nhưng thuở còn học trung học, tôi thích nhất môn hình học không gian, trong đó có chiều thứ ba, ngoài không gian và thời gian. Sau này khi ra hải ngoại đọc bộ sách của Giáo Sư Linh Mục Lương Kim Định mới hiểu chút chút ngôn từ “Chiều Kích Tâm Linh”. Giờ nhớ lại mới thấy thấm thía…!
Sau khi đơn vị (TS2ND) được bốc về căn cứ Võ Định (BCH/ LĐ2ND) tôi được lệnh bay cùng Đại Úy Phạm Công Cẩn C&C Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 229 (K21 ĐL) để liên lạc với Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh Sư Đoàn 22BB vì Quân Đoàn cho biết ĐT Đạt vẫn còn liên lạc qua hệ thống Rescue Radio của Hoa Kỳ. Tôi lên trực thăng bay với một Trung Úy Tác Chiến Điện Tử của SĐND và phi hành đoàn. Trực Thăng cất cánh bay được chừng 30 giây, vừa lên cao độ khoảng 100 bộ thì bị phòng không của địch bắn vào hông tàu và phía đuôi đã rách bươm lỗ đạn. chiếc gunship bay bên cánh trái bị bắn nổ tung cháy bùng lên như một khối cầu lửa trên không rơi xuống, chiếc HU-1 bên phải nghiêng mình lách về hướng Đông để cố vượt lưới đạn phòng không như thiên la địa võng giăng mắc tử thần…!!! Cẩn gọi tôi như hét trên headset: “…thắt dây nịt cho thật chặt …”, tôi vội vàng chụp lấy dây bell an toàn cài khoá, Cẩn bậm môi, tay trái đẩy hạ cần Collective lái chiếc C&C lao xuống sát mặt đường QL14 và hướng về Tân Cảnh…Người xạ thủ đại liên bên phải đã chết gục đầu xuống cây M16 tự khi nào, co pilot ngồi ở ghế trên gục đầu bất tỉnh nhân sự, Trung Úy TCĐT bị một viên đạn 12ly7 vào chân phải gẫy lặc lìa…! Tôi hồn phi phách tán, vô thức thò tay vào ngực mò tìm cái bùa nanh heo rừng của Minh đang mang theo và miệng lẩm bẩm “cầu Kinh”…!!! Tàu vừa mới tới vùng trời Tân Cảnh, thì ôi thôi lại thêm một trận kinh hoàng: phía dưới là hằng chục chiến xa T54 VC đang tùng thiết trên đường Ql14 xuôi Nam như đang diễn binh …!!!. Như vậy Tân Cảnh (Dakto) đã bị over run…! Phạm Công Cẩn lại cắn chặt môi, bàn tay trái kéo cần Collective lấy cao độ và vận tốc, tay phải điều khiển Controller đưa Tàu lướt tới rồi cho con tàu quẹo thật gắt về phía Đông, chiếc trực thăng nghiêng bẻ góc, gầm rú dữ dội, tiếng cánh quạt xé gió phành phạch tưởng chừng như vỡ tung thân Tàu…!!! Tôi thấy vẻ mặt Anh đanh lên khẩn thiết, cương nghị, dưới Helmet khuôn mặt mổ hôi nhỏ giọt nhễ nhại…con tàu chòng chềnh như muốn lao xuống vỡ vụn …Nhưng “Công Cẩn” thật là “tay” Pilot Trực Thăng lão luyện, nhuần nhuyển phối hợp thao tác điêu luyện với hai chân đạp nhịp nhàng trên pedal và tay trái kéo lên, hạ xuống cần Collective, tay phải điều khiển đẩy Controller con tàu vực đầu phóng tới, gật qua trái, phải…điều hợp với Collective để lái con Tàu bay lên cao, rớt xuống thấp, lắt léo qua lại như chiếc lá rơi chao lượn trong cơn bão để cố vượt tránh thoát những tràng đạn của địch bắn lên từ dưới đất, con Tàu hoạt động tối đa công xuất, tiếng động cơ nổ vang rền liên thanh như gầm rú dữ dội lạ thường, thân Tàu chuyển động run lên bần bật với tiếng kêu răng rắc như muốn vỡ bung ra từng mảnh, tiếng cánh quạt chém xé gió phành phạch xen lẫn tiếng súng và đạn phòng không nổ long trời, chớp nhoáng sấm sét lấp loáng không gian, thần chết ẩn hiện chờ cơ hội thu đoạt lấy linh hồn người chết trận oan nghiệt khuất uất…”Chu Công Cẩn” của Tam Quốc Chí tân thời lại phải hạ cần lái một lần nữa cho con Tàu hạ cao độ bay là xà xuống thung lũng, men theo khe suối cố lết cánh quạt về tới Võ Định.!!! (Sau nầy tìm hiểu thêm, Tôi mới được biết kỹ thuật bay trực thăng như chiếc lá rơi để tránh đạn đạo là phát minh từ tài nghệ thao luyện tinh xảo có một không hai trên thế giới, do Cố Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh – Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân, khi Ông hãy còn là Phi Công với chức vụ Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng – Phi Đoàn 211 Trực Thăng. “Kỹ Thuật Bay Lá Rơi “được phát huy và huấn luyện cho những Phi Công tài hoa tinh nhuệ và gan dạ những “Nam Nhi Chinh Chiến Kỹ Nhân Hồi” là Kinh Kha thế hệ của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đã viết lên trang sử Anh Hùng Bảo Quốc Trấn Không suốt 21 năm cuộc chiến Quốc – Cộng…Khi cất cánh tung hoành trên những trần mây xanh thẳm, hay ráng chiều tim tím hoàng hôn cũng chiếu sáng bởi con Tàu bị trúng đạn phòng không bùng nổ cháy đỏ rực như khối cầu lửa trong không gian dung chứa biết bao tình…! Phái Bộ Quân Sự Mỹ cũng đã cử Chuyên Gia Huấn Luyện Kỹ Thuật Bay Helicopter đến Việt Nam để tham khảo và thực nghiệm với Ông).
Tôi nghĩ tới Minh trong những giây phút thập tử nhất sinh vừa qua, em có bên cạnh anh với máy PRC25 nặng chình chịch trên lưng của em hay không, hay em đang ở một cõi trời vô sắc nào đó không có không gian cũng không có thời gian, em đã vào hư vô hay vẫn hiện hữu bên anh…?
Hai tuần lễ sau đó, Lữ Đoàn II ND triệt thoái Komtum không vận về Sài Gòn bổ sung quân số, quân trang, quân dụng, đạn dược, vũ khí… trong khi An Lộc đang ngập chìm trong biển lửa, Đông Hà, Quảng Trị thất thủ,… Cộng quân nã đại pháo bắn giết tan tành dân lành vô tội tháo chạy giặc, tìm sinh lộ lánh nạn trên “đại lộ kinh hoàng”, đường lui quân xuôi Nam của gần hai trăm ngàn dân (200 000) và hai mươi ngàn lính(20 000) đang tháo chạy về phía Nam trong Chiến Dịch Xuân Hè 1972 của Quân Đội Nhân Dân (VC)…! Sau chiến trận, công binh đã phải xử dụng xe cày đào huyệt mộ để chôn cất hàng ngàn xác người đang dần phân huỷ…thảm cảnh địa ngục môn có thật giữa đời thường trần gian đầy máu và nước mắt của quân dân tỉnh địa đầu giới tuyến…!
Ôi vùng Trị Thiên, An Lộc, vùng Tam Biên lửa máu từ rừng sâu ngụt trời Dòng máu đỏ da vàng, trên đất nghèo nàn đã đổ vì ai Kìa giặc thù đốt phá quê hương ta Kìa giặc thù bắn giết đồng bào ta…!!!
Để gọi đích danh chúng: “bọn đồ tể Việt Cộng”:
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em. Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.
Lợi dụng mấy ngày ở hậu cứ, tôi cùng Trung Úy Tài Chỉ Huy Hậu Cứ, Thượng Sĩ Nhất Tá Thường Vụ, Thượng Sĩ Nhất Chiến HSQ Tiếp Liệu đến Nghĩa Trang Quân Đội để viếng mộ của Minh. Ngôi mộ chắc chỉ mới được lấp đất vài ba hôm trông thảm hại…! Đứng trước mộ của Minh, tôi thầm khấn vái: “Em sống khôn, nay chết có linh thiêng xin phù trợ cho tất cả anh em được tai qua nạn khỏi “…! Buổi chiều cùng ngày tôi với các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ trong đơn vị “làm” cạn láng 5 thùng Remy Martell của toán Cố Vấn Mỹ mua tặng…rượu hết, tàn tiệc…tôi say chếnh choáng, thần trí lờ mờ, chân bước loạng choạng ngã nghiêng tìm giường và ngáy khò khò chìm vào giấc ngủ say khước…Bỗng tai lại nghe văng vẳng đâu đây âm thanh quen thuộc trên máy PRC25 khi trời vừa sáng:”… Đại Úy ơi…nhớ ngày mai ra thăm em lần nữa… và nhớ ghi cho kỹ số mả của em để mua vé số” ! Tôi choàng tỉnh giấc và có cảm giác như linh hồn của Minh còn dang lãng vãng quanh đây…và tôi tin có thật Minh đã ở bên cạnh phù hộ thân cho tôi và anh em trong đơn vị đã thoát qua hai cơn hiểm nghèo, một ở phía tây Charlie, một ở Chupao… cũng bởi nhờ vào kỷ vật nanh heo rừng có khắc Phạn ngữ chú nguyện cho người hữu Duyên của Minh báo mộng “trao” lại…?!!! Trong buổi họp bỏ túi sáng hôm sau, bên tách cà phê đang bốc khói ở Câu Lạc Bộ TS2ND, tôi đem câu chuyện Minh báo mộng đêm qua tâm sự với tất cả Sĩ Quan trong đơn vị và họ đề nghị:”… thì mình cứ làm thử xem, cầu may mà, có tốn kém gì đâu…”! Sau đó ai muốn đóng góp bao nhiêu tiền tùy hỉ, giao cho HSQ kế toán làm sổ sách…tổng cộng được trên mười ngàn đồng để mua vé số.!
Tôi với Trung Úy Tài SQ Hậu Cứ đến Nghĩa Trang Quân Đội vào lúc buổi trưa. Mộ của Minh vẫn chưa có bia, chỉ có tên họ số quân đơn vị viết nguệch ngoạc trên tấm gỗ cắm trước mồ, không có số mộ…! Trung Úy Tài vào văn phòng của Đại Đội Chung Sự mới tìm ra đưọc danh số mộ bia là: 198264. Tôi tính nhẫm cộng lại thành ra số “bù” (10 nút)…Nhớ trước đây khi Minh còn sống, em luôn luôn chọn danh số liên lạc truyền tin cho tôi lúc nào cũng chín nút chẳng hạn như: 81, 72, 63…hay 531, 405 và các Sĩ Quan Trung Đội Trưởng cũng tương tự như vậy…Nay em đã mất,mộ bia của em lại mang con số “bù”…Ngẫm tạo hoá cũng khéo trêu người…?!!! Tôi hỏi:
– Anh Tài …anh nghĩ sao?
– Đã nói là “cầu may” mà đại úy…!
Trên đường trở về doanh trại, những ý nghĩ lung tung cứ vẫn vơ trong đầu, tôi cố lắc đầu mấy cái để xô đuổi những thứ vẫn vơ “bù” với “chín nút” đó đi… trong khi còn bao nhiêu việc chuẩn bị để hai ngày nữa lên đường đem quân ra Huế rồi vào Quảng Trị với những tin tức chiến trường mỗi ngày càng tăng thêm khốc liệt…Nhưng sáu con số 198264 vẫn y cứ quanh quẩn trong trí óc của tôi như một nỗi ám ảnh bâng quơ nào đó mà lại khó phai mờ hay bỏ quên theo ngày lại qua ngày …? Tôi tự nhũ thầm hãy quên nó đi để còn lo bao nhiêu công việc chuẩn bị lên đường ra Quảng Trị. Buổi chiều trước khi về căn nhà trong khu gia binh nằm dưới lưng chừng đồi Long Bình, tôi căn dặn Trung Úy Tài:
– Anh bảo Thượng Sĩ Dự (kế toán trưởng) giao số tiền đó cho Anh để đi mua vé số…và phải nhớ cho kỹ…tìm cho bằng được lô có bốn số đầu 1982, còn hai số sau, số nào cũng được nhưng cộng lại phải là con số bù… Đừng mua một lần mà phải tìm mua nhiều lần cho đến khi hết mười hai ngàn thì thôi…!
Đường vào Cổ Thành Đinh Công Tráng – Quảng Trị:
Từ ngã ba Long Hưng, cửa ngõ vào thành phố Quảng Trị đến làng Tri Bưu phía chính Đông của cổ thành chỉ non một cây số. Tiểu Đoàn 11 ND đã áp sát nhà thờ La Vang từ phía Nam, TĐ7ND đã vào tới Long Hưng, nhưng chậm bước vì sức kháng cự của địch quân quá mãnh liệt, TĐ5ND bên cạnh sườn phải của TĐ7ND về phía Đông và chỉa mũi dùi thẳng vào Tri Bưu theo trục Nam – Bắc. Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND) được thiết vận xa “cõng” ra gần bờ biển, mượn đường Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đâm thẳng vào Tri Bưu theo trục Đông-Tây cho đến khi bắt tay được với Tiểu Đoàn.
Từ Tri Bưu đến chân tường cổ thành chỉ có vài trăm thước mà chúng tôi TĐ5ND và TS2ND có cảm tưởng như Cửu Niên Đạo, trên con đường chín năm này chúng tôi không biết cũng không nhớ, làm sao mà đếm để mà biết mà nhớ, có bao nhiêu đồng đội của chúng tôi lên thiên đàng hay xuống địa ngục hay chưa siêu thoát vẫn còn lỡn vỡn quanh đây…?!!! Tôi và Thiếu Úy Khâm là tiền sát viên của TĐ1PBND đang đứng trước một mộ bia khá lớn check lại vị trí để điều chỉnh tác xạ…Bỗng nghe “cắc bùm” một tiếng động khô khan của CKC bắn tỉa, Thiếu Úy Khâm bật ngửa tay chân giựt giựt vài cái, mắt trợn trừng…! Tôi ngồi thụp xuống tấm mộ bia bằng xi măng, phía sau có ai đó với bàn tay hộ pháp nắm giây ba chạc của tôi giật mạnh, tôi bật ngã mạnh ra phía sau cùng lúc tiếng nổ ầm trước mặt, một quả không giật trúng ngay mộ bia, tôi ngất đi không còn biết gì nữa…?!!! Nửa giờ sau tôi lay tỉnh, tâm trí mù mờ, nghe thoang thoảng tiếng của Sơn Nhung mừng rỡ cười nói bên tai:
– Đại Úy tỉnh lại rồi… Đại Úy tỉnh rồi… anh Được ơi…!!!
Được là Trung Sĩ Nhất y tá của TĐQY/SDND biệt phái Cho TS2ND, Được nhào tới bên tôi, trong khi tôi vẫn còn nghe tiếng M16, M60, M79 vang rền chung quanh.
– Không sao đâu Đại Úy. May nhờ cái mộ bia, không bị vết thương nào…chỉ tức thở một chút thôi, tôi đã làm hô hấp rồi, Đại Úy có cần tản thương thì tôi đưa đi ngay, vì tôi đã gửi công điện báo cáo rồi…?!!!
Tôi vung tay, vung chân cố bò qua máy truyền tin liên lạc với Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền) và BCHLD2ND để báo cáo rằng tôi vô sự để cấp trên yên tâm. Tôi hỏi Sơn Nhung:
– Lúc nãy cậu nắm giây ba chạc giật tôi ngã ngửa ra sau có phải không?
– Dạ không, …lúc đó em đang nằm bẹp bên phải cạnh Đại Úy, nó bắn rát quá, em thì hết đạn nên nằm im lìm cúi đầu chịu trận, thằng Bi ôm cây đại liên không dám xài phí, chỉ chực chờ nó tràn tới thì thằng Bi đứng xổng lên quạt vài tràng rồi ngồi thụp xuống ẩn núp…chớ …. em không có ở đằng sau lưng Đại Úy hồi nào đâu, chỉ có thằng Chỉnh mang máy, nhưng nó đang núp phía sau một mộ bia khác cùng với thằng mang máy Pháo Binh…?!!!
Như vậy,… thì tôi đã hiểu và càng tin mãnh liệt thêm về cái “bùa Miên” của Minh mà tôi đang đeo trên ngực…!
Hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù (BĐ81BCD) thay thế TS2ND. Chúng tôi lui ra phía sau giữ “Bến Đò Đưa Xác” ở sông Nhung (sông Vĩnh Điện) trong khi quân số còn không quá 40 nhân mạng… ! Bây giờ đến phiên TS2ND khiêng poncho, cõng thương binh của TĐ5ND và 81BCD để chất lên Thiết Vận Xa M113 cách đó gần 500 mét… cho đến gần hai tuần lễ sau mới có lệnh TQLC thay thế toàn bộ lực ND và 81BCD…! Chúng tôi TS2ND được triệt thoái về phía Nam sông Bồ chờ bổ sung quân số và tiếp liệu…!!! Tôi nhận được công điện của Trung Úy Tài Chỉ huy hậu cứ báo: ” Ngày mai tôi sẽ có mặt hành quân. Có vài điều cần trình với đích thân. Tài”. Sau đó Tài theo chuyến bay tiếp tế ra chỗ hành quân gặp tôi và trình báo:
– Anh-Em mình đã trúng lô độc đắc một triệu đồng đúng con số ở bia mả thằng Minh…!!!
Tài vừa trình bày chi tiết vừa mếu máo, nào là phải mất bao nhiêu ngày lùng sục khắp các chợ Biên Hòa, Thủ Đức, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định…để mua cho bằng được vé số đúng sáu con số ghi trên bia mộ của Minh như em đã báo mộng cho tôi….và:”… phải mua liên tiếp cả lô cho tới tuần lễ thứ ba, mới nghe radio phát thanh số trúng độc đắc 1000 000$ … xong chạy lòng vòng sân trại như người điên hét lên mình trúng số rồi, chúng mình trúng số độc đắc rồi ha …ha…ha…”!!!
Tôi rót một ly Remy Martell cho Tài.
– Uống đi Tài… để rồi mình tính chuyện sau…!!!
Tôi suy nghĩ phải làm gì đây với số tiền một triệu đồng trúng số…? Con số chính xác theo “lời nói” của Minh đã báo mộng. Số trúng độc đắc một triệu đồng năm 1972 ngay trong Mùa Hè Đỏ Lửa, hay số phận của Minh cùng sự hẩm hiu của bà mẹ già với đứa em gái tuổi còn thơ dại…?! Tôi quyết định ngay:
– Ngày mai trở về hậu cứ, anh Tài tìm đến nhà Mẹ của Minh và cứ giao hết số tiền này cho bà cụ…với lời nhắn của tôi là xây mộ phần cho Minh khang trang…!
Tài làm y như lời tôi yêu cầu. Mẹ và em gái của Minh rất xúc động…! Nhưng bà cụ không nhận tất cả số tiền mặt mà chỉ xin cho một trăm ngàn (100 000$) để sang lại một cái sập nhỏ ở chợ Trương Minh Giảng để bán bún suông sinh sống, số còn lại 900 000$ xin giúp cho những gia đình tử sĩ cùng tử trận với Minh ngày hôm đó ở đồi Delta-Kontum… Nài nỉ cách nào Bà cũng không nhận…! Cuối cùng tôi phải xin nghỉ phép đặc biệt vài ngày để bay về Sài Gòn gặp Bà thuyết phục thì Bà mới nhận 500 000$ để lo phần mộ cho Minh và chi phí cho Nguyệt là em gái của Minh ăn học khi mới vừa tuổi trăng tròn…!!! Còn lại 500 000$, tôi chia ra để chi giúp cho các quả phụ: Thiếu Úy Thới, Thiếu Úy Mỗi, Thiếu Úy Oanh mỗi người năm chục ngàn và chia đều cho 23 gia đình quả phụ khác…!!!
Con người từ đâu tới và khi chết sẽ đi về đâu…???
Tôi vốn xuất thân “Võ Biền”, văn dốt chữ nát… thì làm sao để có thể biện luận, giải thích, trình bày từ u mặc cho chí lý hiển lộ được hiện tượng, trạng thái, tính chất chân đế, qui ước chế định là chỉ Danh để vay mượn tạm mà làm phương tiện hạn hẹp trong lắm lời ngôn từ vốn thường tối nghĩa để lý sự chỉ bày nhiều trường hợp rất giản dị và thường tình mà hạng “thuật sĩ”, triết gia thời đại, …thường hay lẻo mép dạy đời…và lại nữa “thì làm sao” “thuyết minh” câu chuyện mộng mị của cố Thượng Sĩ Minh, người Hạ Sĩ Quan Truyền Tin bên cạnh tôi như hình với bóng trong suốt một khoảng thời gian dài chinh chiến dạn dầy gian khổ, hiểm nguy… có dư thừa bi thương máu lửa và nước mắt mà được ít ngắn ngủi niềm vui …! Hôm nay đây ở Mỹ, vào những ngày đầu Nguyên Đán khí trời ấm ám, gió sớm thoáng thổi nhè nhẹ mang theo tiết Xuân hây hây vờn những sợi tóc mây phơn phớt trên má cô gái Xuân thì e ấp nói cười, trong nhà, ngoài ngõ sắc Xuân tươi thắm mơn mỡn hiện nét trên những cành chồi non, hoa Xuân nở rộ khoe sắc,…Chuyện chinh chiến máu lửa không còn nữa, nước mắt đã khô cạn, nhưng trong tôi vẫn có linh cảm Minh vẫn còn “hiện hữu” bên cạnh tôi với những thăng trầm trong cuộc sống hoài cố hương nơi xứ lạ, em luôn phù hộ nâng tôi đứng dậy khi tôi ngã quỵ, an ủi tôi khi rơi vào nghịch cảnh…và có đôi khi thu thúc lục căn, thân tâm khinh an lạc bước dạo chơi vào thế giới quan “Âm cảnh” lý sự mang mang với Minh nơi cõi “Vô Sắc Giới” hà phương chi liễu ngộ vốn vô minh mà sinh chấp hữu vạn pháp giới …chí đến:
Thuỷ chung tương hoán hà phi xứ Lai khứ thường niên hà thị tâm Vạn hoá đại toàn ai khá biết ! Cổ lai muôn sự lý tuỳ trung…
“Cái” tuỳ trung, hiểu biết như ở trong lòng bàn tay là ở những “Bậc Thần Nhân” Đại Trí, Đại Lược, Đại Dũng,…phải chăng cũng là “ đại gạt, đại gian hùng, đại ác độc” …đã thiết kế Chính Trị,… và dùng cường quyền đưa đẩy Dân Tộc – Đất Nước Việt Nam vào chiến sự khốc liệt suốt cả phần tư thế kỷ, rồi tháo chạy an toàn về hậu phương “phớt tỉnh Ăng Lê” (England) mồm loa mép giải với “danh ngôn” để lại lịch sử mai hậu soi chơi:” …trang sử Việtnam đã được lật (lọng) qua…”…!!! Thống kê của “Người Mỹ” đã đưa lên con số 3,000 000 (ba triệu) người Việt đã bị giết trong cuộc chiến, thống kê của Nhà Nước Việt Nam (VC) hơn 1,100 000 (một triệu một trăm ngàn) quân dân Bắc Việt hy sinh và còn nữa (Quí Độc Giả có thể lên Net để xem thống kê) …! Con số thật nạn nhân Việt bị bom đạn được sản xuất tận các quốc gia Văn Minh Âu, Mỹ, Liên Xô, Tàu Cộng ,…phải nhiều lần hơn thế ! Thế giới đã đồng loã với tội ác với Việt Cộng. Vì nếu nói thật, viết thật, công bố thật số nạn nhân Việt Nam trong cuộc chiến Quốc – Cộng chẳng khác nào như gián tiếp tố cáo “Tính Nhân Đạo,Trí Thức, Lương Tâm” …của “người” văn minh Tây Phương trước sự diệt chủng của Việt Cộng dẫu sao cũng đã mang đến lợi nhuận cho “họ” rất nhiều…Người Lính Nhẩy Dù chúng tôi và toàn thể dân Việt đã phải nhận chịu bao nhiêu triệu tấn bom đạn đã trút xuống ruộng vườn, nương rẩy, nhà cửa, mồ mả gia tiên, súng đạn từ Nga,Tàu, Khối Sô Viết và những “quốc gia anh em Cộng Sản” cũng chỉ để tàn sát dân Việt. Người Việt chúng tôi là Người đó! Minh là một điển hình: “Người Lính chết trận khi mái tóc còn xanh” và:
Một ngày tôi đi qua Trại lính ngang nhà Thấy một lá cờ Với một vòng hoa. Hỏi ra: Mới biết anh là Lính trẻ xa nhà Chết trận đêm qua! Chung quanh đây Có ai đâu…? Đưa tiễn anh về Buồn tiễn anh về Với lòng đất sâu…!
Đêm Xuân nơi xứ người, trời khuya lành lạnh…! Chạnh nỗi nhớ quê nhà, tôi thắp lên nén hương thầm tâm sự lênh đênh với “chúng sanh” Minh:
Ai từ sắc tướng tìm ta? Ai từ âm tiếng gọi ma cõi ngoài?
Tâm tư của tôi như chuyến tàu đêm đỗ bến quê nhà, viếng mộ em nay còn hay đã hoang phế tiêu điều mà rợ hoang đã mọc phủ kín chỗ nằm…? Minh ơi! Anh không có tham vọng là ảo tưởng để “ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời” lấy “cái” trí tục vật hạn hẹp để bàn chuyện bao la vô cùng của vô thuỷ, vô chung không không du du hạt vi trần du phương trôi lăn hà tứ xứ…chỉ là khúc nôi của trí não chưa bị lú lẫn còn nhận biết: “phân biệt là Thức, vô phân biệt là Trí; dựa Thức là Nhiễm, dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có Sinh Tử; Tịnh chẳng có Chư Phật”…bước “chân” vào thế giới Chân Đế nầy Anh phải cởi bỏ kiến thức cũng như giầy dép để qua ngưỡng cửa thế gian pháp, tháo mở nút thắt thói tục đã huân tập, tiêm nhiễm biết bao định kiến, thành kiến, thường kiến, đoạn kiến …là si mê bao bọc, đóng chặt nẽo về giác ngộ…! Minh ơi! …Không gian bao la vô cùng và hằng chuyển…trái đất “của” chúng ta đang sinh sống đây “thuở trời đất chưa có cơn gió bụi” nó như là một tinh cầu than (carbon) chết bay hoài, bay huỷ…nhiều tỷ tỷ tỷ năm …và những “hạt” vi trần năng lượng làm Nhân theo trùng trùng Duyên khởi mà cấu tạo thành môi sinh để nẩy nở vật chất là vạn pháp tiến hoá…khởi thuỷ hành tinh có sự sống nầy không có ngay cả ý niệm thời gian thì nói gì đến có ngày:” thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Nam, thứ Sáu, thứ Bẩy và Chủ Nhật”…?!!! Sắc Pháp: thân thể Vật Lý hay Vật Chất luôn biến đổi theo tính chất vô thường… là duyên “vay mượn” của hạt năng lượng trong không gian có sẵn mà cấu thành…? Danh Pháp: là “phần” Tâm Lý” 121 Tâm Vương, Tâm Sở cũng là Duyên vay mượn từ 33 cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, Siêu Thế Giới… làm: Thọ, Tưởng, Hành, Thức và là “nơi” chúng sanh “Người” thọ hưởng tướng trạng hạnh phúc hay đau khổ…?!!! Đó cũng là ý nghĩa của bản Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – Prajna-Paramita Sutra: “Ngài Bồ Tát dụng tuệ giác không có gì ngăn ngại quán xét thâm sâu hiện tại, soi thấy ngũ uẩn: Sắc (hình thể vật lý), Danh (tâm lý): Thọ cảm giác chủ thể chịu ảnh hưởng bởi đối tượng, Tưởng tác ý đến đối tượng, Hành hiện tượng tâm lý hay cảm xúc phát khởi theo sự kích động của thọ và tưởng, Thức sự hiểu biết …đều không có tự tánh (vô ngã)…nên rốt ráo là giai không…! Vậy thì Minh ơi, sau khi tử cận tâm chấm dứt thân thể vật chất của em chỉ còn là cái xác vô tri, vô giác đang theo tiến trình huỷ hoại vật lý…Tâm thức của em ngay lập tức tái sanh theo nghiệp mới, sanh trở lại trong kiếp sống kế tiếp, không là người, mà là một “chúng sanh” Ma trong cõi vô sắc giới còn giữ được nguyên thức giác, tính năng ở tàng thức thứ 8 Alayda…mà như như quán tính khi còn tại thế Minh vẫn miệt mài gian khổ, vui buồn kinh qua đoạn đường chiến chinh…? Hay em cũng như bao “chúng sanh” hữu tình ở cõi sắc giới, vô sắc giới do vô minh u… u… mê… mê lầm tưởng là đời sống ở những cõi như thế là hạnh phúc vĩnh viễn và tâm tham được sống, tham ái phát sinh mà thành nhân thức tái sanh kiếp người tương lai khi có hội đủ phước báu và nhân duyên…? Thời Kinh khuya tụng:” Sappe Satta Avera Hontu Sukita Hontu …nguyện cho chúng sinh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự an vui, sự hạnh phúc, sự bình yên lâu dài…Anh phúc chúc và hồi hướng cho em Nguyễn Văn Minh được an lạc, hạnh phúc, tái sanh nhàn cảnh…”…! Nhưng em khẳng định:” Em không muốn tái sinh khi bọn Việt cộng còn đang ngự trị trên dân tộc, đất nước Việt Nam…”…! Khiến cho anh đã bao lần cũng mong ước sẽ được về lại quê nhà, thăm bao người thân, quyến thuộc, viếng mộ Ông Bà, Cha Mẹ và tìm lại mộ phần của em…Nay “đành” phải dứt khoát thái độ sẽ không về Việt Nam khi còn loài Việt cộng kẻ thừa sai của Hán thất trên đất nước Việt thân yêu.
Khi còn sống Minh hiền lành, khôn ngoan…sau khi chết em linh hiển “Hồn” vẫn còn tình Huynh Đệ Chi Binh quyến luyến, thường theo bên đời phù độ giúp cho anh may mắn thoát khỏi bao hiểm nguy giăng mắc trên đoạn đường chiến binh …Tự thân anh biết cũng là quá đủ để thầm truy điệu tử sĩ và cám ơn em với tất cả tấm lòng trĩu nặng ân tình:
Nếu cuộc đời là hữu phùng hữu biệt Thì tôi như mậy trắng mãi ngàn phương Nếu cuộc đời là sầu đa lạc thiểu Sao chân cầu còn lưu nước trường giang? Ai đã qua sông còn ngoảnh vời cố quận Thiên lãng xa ải nhạn hướng đâu tìm…? (MĐTTA)
Viết xong Mùa Xuân Ất Mùi 2015 Houston, Texas. Mũ Đỏ Trương Văn Út (ÚtBạchLan)
Sau khi Lộc Ninh thất thủ, một Liên Đoàn Biệt Động Quân được trực thăng vận tới An Lộc để trấn giữ mặt Đông Bắc Bình Long. Vừa rời phi trường để di chuyển vào một đường mòn, Đại Đội Chỉ Huy bị lãnh ngay một trái hỏa tiễn khiến bốn người chết, năm người bị thương. Tất cả đều được đưa vào bệnh viện để tôi săn sóc. Ông Đại Đội Trưởng bị nát chân mặt lên tới đầu gối. Tôi đành phải cắt khớp gối. Ông ta có một gương mặt thật đẹp. Chiếc mũi cao thẳng, đôi mắt đều và sáng. Tôi lấy làm buồn vì ông đã phải hy sinh một chân.
Sau đó tôi làm thông phổi cho một người bị thương ở ngực. Anh này là y tá của Tiểu Đoàn Biệt Động Quân. Thấy mặt anh ta tôi hơi ngờ ngợ như đã gặp ở đâu rồi. Hỏi chuyện anh tôi mới nhớ ra trước kia khi tôi còn ở Trung Đoàn 43 Bộ Binh, anh là lao công đào binh ở đó. Khi hết hạn anh tình nguyện đi Biệt Động Quân làm y tá và xui xẻo cho anh lại bị thương ở trận này. Gặp người quen cũ tôi mừng lắm nhưng quá bận nên không nói chuyện được nhiều.
Tôi còn mổ làm sạch vết thương cho một Trung úy bị thương ở chân và một người nữa bị thương ở gần mặt. Người bị thương ở bụng tình trạng tốt, tôi để làm sau chót đợi có người cho máu.
Một y tá Biệt Động Quân được bác sĩ Cảnh, bác sĩ của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân phái đến bệnh viện để săn sóc và theo dõi mấy người bị thương cùng tìm cách đưa mấy xác chết về hậu cứ. Tôi không nhớ tên anh ta, nhưng có lẽ tôi không bao giờ quên anh được. Anh dáng người to lớn, giọng nói trầm ấm thong thả, nét mặt thật thà, mới nhìn tôi đã có cảm tình ngay. Sự tận tâm của anh với đồng đội lại càng làm tôi mến anh hơn. Khi tôi ngỏ lời cần máu để mổ người bị thương bụng. Chính anh là người đã tình nguyện cho tôi lấy 250 phân khối. Nhờ vậy tôi mới vững bụng để mổ và đã cứu sống người thương binh đó.
Cho máu xong anh không cần nghỉ ngơi, anh đi liên lạc mọi nơi để xin và biết giờ đến của trực thăng tản thương. Bốn giờ chiều hôm ấy mới có chuyến trực thăng. Đặc biệt chỉ để tản thương cho năm thương binh Biệt Động Quân.
Họ không chở xác chết. Anh phụ cùng với mấy y tá bệnh viện đem thương binh lên xe ra phi trường.
Từ đó tới nay tôi không gặp lại anh nữa. Không biết sau cuộc chiến này anh có được bình an không?
Từ ngày Biệt Động Quân đổ bộ xuống An Lộc, những cuộc đụng độ càng ngày càng nhiều. Máy bay bỏ bom để yểm trợ các cuộc hành quân hầu như hàng ngày. Dân chúng bị thương đa số là những người Thượng ở những sóc ở xa và số thương binh cũng tăng lên rõ rệt.
Tôi nhận thấy với một Phòng Mổ, chúng tôi không thể nào giải quyết kịp được số thương binh chắc chắn sẽ gia tăng trong những ngày tới. Ở trại Ngoại Khoa của tôi, Bộ Y Tế có thiết lập một Phòng Mổ khá tối tân. Dự trù trong năm nay sẽ di chuyển Phòng Mổ tạm thời xuống đó. Nhưng vì còn thiếu nhiều tiện nghi cần thiết nên cho tới nay vẫn chưa sử dụng được.
Hiện giờ Phòng Mổ này là chỗ ở tạm của cô Bông, Điều Dưỡng Trưởng bệnh viện và cô Bích bạn cùng lớp với cô Bông, chuyên viên Phòng Mổ. Tôi liền cho hai cô dọn đi nơi khác và nhờ ông quản lý Kiên sai y công thu dọn và làm sạch sẽ lại căn phòng, gắn điện vào dàn đèn mổ. Đồng thời tôi cho trang bị một số dụng cụ y khoa cần thiết. Trong phòng đã này có sẵn một bàn mổ rất tân tiến, còn mới nguyên. Tôi dùng phòng này làm Phòng Tiểu Giải Phẫu và có thể có khả năng Đại Giải Phẫu nếu cần.
Tôi đề phòng nếu Phòng Mổ trên bị hủy hoại tôi sẽ có ngay một Phòng Mổ khác để làm việc. Phòng này tôi giao cho Bác sĩ Chí điều khiển. Phải tới gần một ngày trời chúng tôi mới tổ chức xong Phòng Mổ mới. Ngay ngày hôm sau chúng tôi đã có bốn khách hàng. Người thương binh đầu tiên được mổ tại Phòng Mổ này là một anh lính người Thượng. Anh bị pháo kích gãy nát chân phải và tay trái. Bàn chân phải văng đi đâu mất tiêu. Y tá đơn vị chỉ dùng băng cá nhân bó sơ sài phần chân còn lại để cầm máu. Không còn gì có thể cứu vãn được những bộ phận trên, tôi phải thiết đoạn 1/3 chi dưới và bàn tay trái.
Nhờ có hai Phòng Mổ làm việc điều hòa nên bệnh không bị ối đọng.
Chúng tôi giải quyết rất nhanh, thương binh không phải chờ đợi lâu. Các vết thương đưa tới thường được mổ ngay nên mặc dù làm việc trong điều kiện thiếu thốn nhưng số người bị nhiễm trùng gần như không đáng kể. Ít ra là trong mấy ngày hậu giải phẫu tại bệnh viện. Còn sau đó, thương binh được tản thương về Bệnh Viện Bình Dương hay Tổng Y Viện Cộng Hòa, có nhiễm trùng hay không tôi thực không biết.
Tôi để một chuyên viên tê mê là Binh nhất Thiện cùng với cô Vân, cô Tú, cô Hương làm việc ở Phòng Mổ mới với Bác sĩ Chí. Ở Phòng Mổ cũ tôi cóTrung sĩ Xòm, Thượng sĩ Lỹ, cô Bích, cô Thìn, cô Mỹ, cô Trí, cô Lâm. Tuy phân chia như vậy cho dễ làm việc, nhưng lúc cần vẫn có thể du di người từ chỗ này tới chỗ khác để công việc được giải quyết nhanh gọn điều hòa.
Cô Đào là chuyên viên tê mê nhiều kinh nghiệm nhất, trông coi tê mê cả hai Phòng Mổ. Những ngày đầu cô làm việc rất hăng. Cô có sức chịu đựng thật dẻo dai. Những ngày sau vì cô còn có con nhỏ, nên chỉ những trường hợp nào cần thiết tôi mới cho mời cô giúp một tay.
Sáng hôm sau, tôi vừa rời khỏi Phòng Hậu Giải Phẫu bước xuống sân thì gặp ông Khổng đi tới. Ông Khổng là Trưởng Phòng Y Tế Công Cộng. Ông có dáng người gầy gò, da ngăm đen, ăn mặc lúc nào cũng chải chuốt. Khổng nói:
– Thưa bác sĩ, dân tị nạn về càng ngày càng đông. Họ tụ tập ba nơi: chùa Từ Quang, nhà thờ Xứ và ngã ba chợ cũ. Họ ăn ở bừa bãi mất vệ sinh lắm. Tôi đi thăm thấy có nhiều người bị bệnh và bị thương nhẹ. Nếu tình trạng này mình không lo trước có thể xẩy ra bệnh dịch lắm.
Tôi gật đầu đồng ý. Tôi đã nhìn thấy những hậu quả không hay do sự ăn uống thiếu vệ sinh.
– Họ từ đâu tới ông biết không?
– Dạ, họ từ Xa Cam, Xa Trạch và các sóc quanh đây. Phần đông ở trạm tiếp cư là những người Thượng, vấn đề vệ sinh họ chưa được thông suốt nên phóng uế bừa bãi.
– Mình có thuốc chủng ngừa nào không?
– Thưa, y tế còn một ít Plague Vaccin và Anti Cholera Vaccin.
– Thế thì tốt quá. Ông có bao nhiêu nhân viên?
– Dạ có 12 người kể cả tôi.
– Bây giờ ông huy động toàn thể ra đó làm việc. Thứ nhất ông cho chích ngừa dịch tả. Tụ tập dông người mà ăn ở bê bối như vậy sợ dịch tả xẩy ra lắm. Thứ nhì ông lấy một số thuốc thông thường cùng bông băng cần thiết lo phát thuốc cho đồng bào và săn sóc những người bị thương. À ông lấy thêm bột DDT rắc quanh chỗ họ ở. Ông có thể ngoại giao với Ty Công Chánh cho người đào những hầm vệ sinh.
– Thưa mấy thứ thuốc đó tôi đã dự bị xong xuôi cả rồi.
– Vậy thì tốt quá. Ông cho nhân viên đi làm ngay đi. À còn vấn đề ăn uống của đồng bào thì sao?
– Thưa chuyện đó ty Xã Hội đã lo cùng với Hội Đồng Tỉnh, phân phát gạo và bánh mì hàng ngày. Nước thì có xe của Công Chánh chở tới.
– Thôi được, ông lo dùm tôi việc đó nhé. Đáng lẽ ra tôi phải tới thăm xem đồng bào ra sao, nhưng ở đây bận quá, đi không được. Ông lo được như vậy là giỏi lắm đó. À, nếu có ai bị thương nặng ngoài khả năng làm việc của ông thì nên cho xe chuyển về đây ngay cho tôi.
Tôi vỗ vai ông Khổng tỏ ý khen ngợi ông đã làm việc chu đáo. Thực ra vì quá bận rộn trong vấn đề mổ xẻ nên tôi không có thì giờ nghĩ tới những việc ngoài bệnh viện. May nhờ có ông Khổng tới báo cáo nên tôi mới biết được những sự việc liên quan tới y tế bên ngoài mà bổn phận tôi, Xử Lý Thường Vụ Trưởng Ty Y Tế, phải biết để điều hành cho đúng cách hầu ngăn chận kịp thời những tai họa như dịch hạch, dịch tả có thể xẩy ra trong phần trách nhiệm của mình.
Phòng Y Tế Công Cộng chỉ hoạt động cứu trợ đồng bào được gần một tuần thì xẩy ra cuộc tấn công đợt nhất của Việt Cộng. Thành ra toàn thể nhân viên phải rút về bệnh viện hết.
Tại các trại, số y tá vì vậy được tăng thêm. Mỗi buổi sáng, các cô lũ lượt tới thay băng cho các bệnh nhân. Tôi đi thăm bệnh, thấy mọi người đều yên lặng chăm chỉ làm việc. Tôi không còn nghe những tiếng cười vui vẻ hồn nhiên của các cô nữa. Bị hãm trong trận chiến này, sống chết không thể biết được, sống được ngày nào hay ngày ấy. Lúc nào mọi người cũng nơm nớp lo sợ bị trúng pháo của địch, cũng cảm thấy như có một con dao treo trên đầu, có thể rơi xuống cổ bất cứ lúc nào.
Nỗi lo lắng ấy làm mất đi những nụ cười thường ngày. Thay vào đấy là những ánh mắt đăm chiêu, lo sợ hoặc hốt hoảng khi nghe một tiếng động nhẹ như tiếng kéo lê của một đôi dép trên sân hay tiếng sột soạt của mái tôn bị tróc khi gió thổi qua. Tình trạng thật là căng thẳng.
Sau khi tôi cho xuất viện hàng loạt những bệnh nhân đã ổn định và những bệnh nhân nhẹ. Đồng thời phối trí lại tất cả các phòng ốc, thuốc men cùng nhân viên. Bệnh viện lúc nào cũng ở trong tình trạng sẵn sàng đón nhận một số lớn thương binh và dân chúng bị thương, số giường trong hiện tại là 160 giường, tức là đã tăng lên 50 phần trăm số giường thường có của bệnh viện. Tôi dự trù nếu cần, tôi có thể tạo thêm chỗ nằm nữa bằng cách cho ba người hai giường hoặc huy động một số băng-ca để ở hành lang.
Tôi lấy làm lạ, đánh lớn ở Lộc Ninh, Quản Lợi mà sao không thấy đưa thương binh về. Hôm qua tôi chỉ nhận được 13 người. Đa số là thường dân, đặc biệt là dân Thượng bị pháo kích và một ít Địa Phương Quân mà thôi. Sau này tôi mới biết Tiểu Đoàn 5 Quân Y đã phụ trách việc tản thương gần 200 thương binh tại một địa điểm gần đồi Đồng Long.
Mỗi buổi sáng, tôi đứng dưới hiên Phòng Giải Phẫu chờ người mang bệnh tới. Họ dùng đủ mọi phương tiện có thể chuyển bệnh đến nhà thương. Khi thì họ dùng xe lam, xe bò, xe kéo và thường là khênh bằng võng hay cáng.
Từ ngày xảy ra cuộc chiến, chúng tôi chỉ lo cấp cứu mà không phải khám Ngoại Chẩn nữa. Đó là điều thích thú nhất của tôi. Những bệnh Nội Khoa và những bệnh tái khám cũng không thấy tới. Khám Ngoại Chẩn là công việc buồn nản nhất. Bình thường tôi với bác sĩ Chí sáng nào cũng phải khám cho tới 11-12 giờ mới hết bệnh.
Đa số người đến khám bệnh đều không có bệnh gì nặng cả, chỉ cảm sốt sơ sơ lấy cớ khám bệnh để được xin nghỉ mấy ngày. Chuyện này làm mất thì giờ của tôi không ít, trong khi tôi còn lo mổ, săn sóc hậu giải phẫu, thăm bệnh trại Ngoại Khoa và Nhi Đồng. Những khi phải xử lý thường vụ, còn phải coi thêm cả Nội Khoa Nữ và Bảo Sanh nữa. Đôi khi làm không hết việc.
Sáng nay sau khi khám xong bệnh trại Ngoại Khoa, tôi đi về phòng Hậu Giải phẫu. Vừa đến đầu trại Nội Khoa Nam, gặp Thiếu tá Diệm, đầu đội mũ sắt, mình khoác áo giáp đàng hoàng. Gặp nhau chúng tôi đều mừng rỡ, đã ba ngày chúng tôi không thấy mặt nhau. Có nhiều tin tức tôi muốn được biết.
Tôi chỉ phong phanh chiếc áo xanh không tay ba lỗ của Phòng Mổ, tôi chưa cần mặc áo giáp liên tục vì thấy pháo kích cũng chưa nhiều. Vả lại các nhân viên Quân Y đều không có áo giáp. Tôi muốn sống hòa đồng với họ và cũng muốn chứng tỏ mình cũng không phải là tay nhát gan. Tôi kéo Thiếu tá Diệm ngồi xuống ngay bậc thềm trại Nội khoa.
Tôi hỏi ông:
– Ông thấy tình hình giờ ra sao?
– Nguy lắm, Lộc Ninh mất liên lạc rồi. Ông Quận Trưởng Thịnh giờ không biết sống chết ra sao. Ông Trung Tá Mỹ, Quận Trưởng Chơn Thành bị thương, tản về Sài Gòn tối qua. Ông già Tuyên, Chi Khu Phó chết rồi.
Tôi giật mình hỏi lại:
– Thiếu tá Tuyên ấy hả?
Thiếu tá Diệm gật đầu:
– Ông ấy mới lên làm Chi Khu Phó Chơn Thành được mấy ngày nay, bị trúng đạn pháo kích chết.
Hai tháng trước Thiếu tá Diệm có giới thiệu Thiếu tá Tuyên với tôi, nhờ tôi chữa giùm căn bệnh “xìu xìu ển ển” của ông. Theo lời Thiếu tá Diệm, ông mới cưới bà vợ trẻ được mấy năm nay. Muốn có một cậu con trai nữa và nhất là muốn làm cho bà xã hài lòng. Tôi nhìn ông Tuyên thấy người vui vẻ, hơi gầy một chút, tóc đã hoa râm. Bề ngoài thấy nội lực có vẻ không được thâm hậu cho lắm. Thấy tôi còn trầm ngâm suy nghĩ, ông Tuyên tưởng tôi thoái thác bèn năn nỉ:
– Bác sĩ cố giúp tôi. Nếu thành công, tôi không quên ơn bác sĩ đâu.
Ông Diệm cũng nói thêm vào:
– Ông này có mấy tay đàn em hay đi săn nai lắm. Nếu bác sĩ giúp thế nào chúng mình cũng có một đùi nai nhậu.
Sau khi hỏi sơ qua tôi biết căn bệnh của ông chẳng có gì, chỉ là vấn đề tâm lý thôi. Công vụ bận bịu thành ra hết hứng thú, chứ ông già Tuyên không có sao cả. Sau khi trang bị cho ông một số dữ kiện tâm lý, tôi biên cho ông một cái toa. Đó là Triolandren, chích mỗi tháng một lần.
Tôi nói với ông già Tuyên đó là thần dược đấy. Thế là ông yên chí hân hoan ra về. Nửa tháng sau ông Diệm cho tôi biết Thiếu tá Tuyên nhờ ông gửi lời cám ơn tôi và nói thuốc rất công hiệu. Ông còn nhắn thêm rằng ông sẽ mang một đùi nai tới biếu tôi một ngày rất gần đây.
Nay được tin ông đã vĩnh viễn giã từ vũ khí thì đùi nai của tôi cũng tiêu diêu luôn. Tuy vậy tôi cũng thấy có phần vui vì ít ra ông già Tuyên cũng đã được hài lòng. Bà Tuyên cũng hài lòng, mặc dù trong một thời gian không được dài lắm.
Chúng tôi đang ngồi nói chuyện, Thiếu úy Thu từ văn phòng chạy lại:
– Chào Thiếu tá, xin Thiếu tá cấp cho bệnh viện ít lương khô, không thì anh em đói quá.
Thiếu tá Diệm gật đầu:
– Rồi. Cho biết quân số bệnh viện Tiểu Khu là bao nhiêu người?
– Dạ thưa 70 người.
Thiếu tá Diệm với tay rút cây viết bi dưới nách áo trái nói:
– Ông kiếm cho tôi mảnh giấy, tôi biên mấy chữ rồi cho người sang bên Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận lãnh về cho anh em.
Thu vội chạy về văn phòng lấy tờ giấy trắng đưa cho ông Diệm. Ông đặt tờ giấy trên đùi hý hoáy viết rồi đưa cho Thu dặn:
– Đây tôi cấp cho bệnh viện 70 phần khô trong ba ngày. Cho người đi lãnh ngay rồi chia cho anh em.
Thu cầm tờ giấy, cười rất tươi luôn mồm cám ơn Thiếu tá Diệm.
Ông Diệm hít hơi thuốc cuối cùng rồi búng mạnh mẩu thuốc lá ra xa rồi hỏi tôi:
– Ở đây hầm hố có kiên cố không?
– Có ba cái dành cho bệnh nhân, tôi không có hầm.
Ông Diệm nhướng mắt lên ngạc nhiên hỏi:
– Thế lúc pháo kích ông núp ở đâu?
Tôi cười, tựa lưng vào chân cột hành lang:
– Chui vào gầm giường nghe radio.
Diệm cười, gật gù:
– Ngon, thế không sợ sao?
– Sợ chứ, nhưng đạn tránh người chứ mình đâu tránh được đạn.
Tôi tiếp:
– Thế còn Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu thì sao?
– Hầm rộng tốt lắm.
– Liệu chịu nổi hỏa tiễn không?
Thiếu tá Diệm tin tưởng:
– Dư sức, hầm ngầm của Mỹ làm mà, beton cốt sắt dầy năm tấc trên còn sáu lớp bao cát với vỉ sắt nữa. Này, hay ông sang đó ở cho chắc ăn.
Tôi lắc đầu trả lời:
– Tôi không thể bỏ bệnh viện được. Ông yên trí đi, tôi cứu người chả lẽ trời không thương sao? Chỉ cần ông tiếp tế lương thực cho tụi tôi đầy đủ là tốt rồi.
– Rồi, chuyện đó tôi với ông thì khỏi lo. Thôi tôi về bên đó đây.
Tôi đứng dậy bắt tay Thiếu tá Diệm. Ông lên xe Jeep về bên tiểu khu. Thiếu Úy Thu gọi tôi:
– Bác sĩ Quý, có điện thoại bác sĩ Phúc gọi.
Tôi chạy vội về văn phòng cầm ống điện thoại lên:
– Allo, tôi bác sĩ Quý nghe đây.
Tiếng Bác sĩ Phúc xa vắng từ đầu dây bên kia:
– Allo, anh Quý đó hả, tình hình bây giờ ra sao?
– Việt Cộng hăm đánh Bình Long, vẫn pháo kích lai rai. Ông già Long gác cổng bệnh viện chết rồi.
– Vậy hả, thương binh nhiều không?
– Chưa có gì, phần nhiều là dân thôi. Làm việc bù đầu rồi, mong anh về giúp tôi một tay.
– Tôi sẽ lên ngay. Hiện giờ đang kiếm phương tiện. Trực thăng ở Biên Hòa hiếm lắm, chỉ ưu tiên cho hành quân thôi. Anh cần thuốc men gì thêm không?
– Có, anh xin cho tôi thêm nước biển đủ loại, máu, dây truyền máu, các thuốc trụ sinh và bông băng.
– Tôi nghe rõ rồi, dứt nghe. Cho tôi gửi lời thăm tất cả các anh em nghe không.
Tôi đặt máy xuống, Thu hỏi:
– Bác sĩ Phúc nói bao giờ lên đây, bác sĩ?
Tôi nhún vai trả lời:
– Chưa biết được, còn kẹt trực thăng.
Thu cười khành khạch:
– Kẹt dài dài là phè ở Sài Gòn rồi.
Tôi im lặng nhìn Thu:
– Mình ở đây tuy vậy còn an toàn hơn. Đi trực thăng lên đây thật là nguy hiểm, dễ bị bắn lắm, nhất là lúc hạ cánh xuống bãi đáp. Thôi, ông cho tụi nó đi lãnh thực phẩm khô chưa?
– Dạ, chưa.
Tôi cau mày:
– Ông cho người đi lấy ngay đi.
Thiếu Úy Thu ra ngoài một lát trở vào nói:
– Thưa bác sĩ tụi nó không dám đi, vì không có áo giáp, nón sắt. Chỗ đó pháo kích dữ lắm.
Tôi cười nói:
– Mới pháo sơ sơ đã lạnh cẳng rồi. Thôi ông ra kiếm bốn người tình nguyện đi với tôi.
Thiếu Úy Thu nói:
– Nếu bác sĩ đi, tôi lái xe cho bác sĩ.
Thấy tôi đích thân đi, họ không còn ngần ngại nữa. Ba người theo tôi và Thiếu Úy Thu lên chiếc xe Dodge Hồng Thập Tự. Thu de xe rồi vọt ra cổng bệnh viện coi có vẻ hùng dũng lắm. Tôi ngoảnh lại phía sau, thấy cóTrung sĩ Đắc, Hạ sĩ Hội, Hạ sĩ Đức. Đường từ bệnh viện đi tới Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận Tiểu Khu Bình Long là một đường thẳng dài chừng 400 thước, đi ngay sau Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Đường đi khó vì những chướng ngại vật đầy mặt lộ để chận xe tăng. Xe phải lách qua lách lại những chướng ngại vật ấy một cách khó khăn.
Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận là một trong những căn cứ quân sự bị pháo kích nhiều nhất. Dọc đường tôi thấy những hố đạn pháo kích rải rác đó đây cày xâu xuống mặt đường nhựa. Con đường này đi rất nguy hiểm, vì nó nằm như một đường viền trống trải của ngọn đồi. Địch quân có thể trông thấy được mọi sự di chuyển từ một nơi cách xa hàng hai ba cây số. Chúng tôi ngồi trong xe hồi hộp nghĩ tới những bất trắc có thể xảy ra. Thực ra việc này không cần tôi phải đi. Nhưng thấy lính ngại ngùng, là cấp chỉ huy đôi khi phải biểu diễn vài đường cho lính nó phục mới đều khiển được.
Gần tới cổng vào trung tâm, một tiếng rít của đạn trái phá bay ngang qua đầu rồi nổ ở sân vận động cách chỗ chúng tôi chùng 100 thước. Thiếu úy Thu cúi đầu xuống bánh lái nhấn ga vượt qua cổng kêu:
– Xí hụt.
Chúng tôi cùng cười. Đến nơi chúng tôi bung cửa xe lẹ làng nhẩy xuống. Liếc nhanh địa thế chung quanh, tôi thấy hầu hết những căn nhà trong trung tâm đều bị pháo sập. Cảnh tượng thật tiêu điều. Tôi không quen chỗ này, ngơ ngác nhìn quanh, hỏi Thu:
– Hầm đâu? Chui vô cho lẹ đi không nó pháo bây giờ.
Thu dơ tay chỉ về phía trái trả lời:
– Đây lối này bác sĩ.
Chúng tôi vội chạy vào lách vô hầm. Vừa may, một trái rớt nổ ngay phía hàng rào gần cổng. Tôi nhìn Thu nháy mắt:
– Hú vía, chậm một chút nữa là khốn nạn rồi.
Thu kêu Hội:
– Hội ơi, xem nếu hết pháo quay đầu xe lại nghe.
Hội gật đầu, Thu tiếp:
– Tụi bay đứng đây chờ nghe.
Tôi và Thu tiến sâu vô hầm. Hầm hẹp nhưng dài có thể tới 100 thước.
Trần làm bằng vỉ sắt, đà sắt xe lửa có chất nhiều lớp bao cát. Chung quanh có để những thùng phuy lớn, trong đổ đầy đất làm tường. Hầm coi có vẻ kiên cố. Lính kê ghế bố nằm dọc theo vách hầm. Gặp vài người quen chào tôi. Tôi hỏi:
– Đại úy Phẩm ở đâu các ông?
Một người nói:
– Bác sĩ cứ đi thẳng tuốt rồi quẹo trái là tới.
Đại úy Phẩm là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận Bình Long. Tôi đi chừng chục thước nữa tới nơi. Tôi thấy Thiếu tá Diệm đang ngồi nói chuyện với Đại úy Quang đang nằm trên ghế bố. Trông Quang có vẻ an nhàn. Tôi bắt tay từng người xong quay sang ông Diệm nói:
– Lại gặp ông nữa. Ông chưa về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu à?
Diệm cười, rít một hơi thuốc nhả khói ra một cách khoan khoái:
– Chưa, sang đây tị nạn, nhân tiện làm một tí cà phê đỡ ghiền. Ở bên đó xếp cứ thấy mặt là sai đủ thứ chuyện.
Tôi hỏi:
– Đại úy Phẩm ở đâu ông?
– Chào bác sĩ.
Tôi ngoảnh lại. Đại úy Phẩm bước ra sau tấm màn chắn. Phẩm tiếp:
– Mấy ngày nay chắc bác sĩ bận lắm?
– Vâng làm việc cũng nhiều hơn trước.
– Tôi có mấy đứa bị thương nhẹ thôi, tôi giữ lại bên này có trợ y lo.
Tôi gật đầu tỏ ý cám ơn:
– Ông nghĩ vậy đỡ cho tôi lắm. Cái gì bên này làm không được hãy chuyển sang, nếu không bên tôi nhiều quá, ối đọng làm không xuể.
– Bác sĩ sang đây có chuyện gì không?
– À, tôi xin lãnh thực phẩm khô cho lính.
Thiếu Úy Thu đưa phiếu cho Đại úy Phẩm hỏi:
– Thưa Đại úy có 70 khẩu phần, Đại úy có gạo tươi không?
Đại úy Phẩm lắc đầu:
– Gạo sấy thì có nhiều, gạo tươi thì gần hết.
Tôi nói xen vô:
– Gạo sấy cũng được, tiện lợi nữa là đằng khác. Miễn có cái gì ăn khỏi đói là được rồi.
Phẩm ký tên vào phiếu đưa cho Thu:
– Ông cho người xuống kho lãnh đi.
Thu cám ơn đứng dậy đi ra. Tôi liếc nhìn sơ đồ phòng thủ doanh trại để rút kinh nghiệm. Nơi này kể như là tuyến đầu rồi. Bên ngoài không còn đơn vị nào khác. Địch quân mà chiếm được nơi này thì Tiểu Khu và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn phải mệt lắm vì nơi đây chứa lương thực và đạn dược. Tôi hỏi Đại úy Phẩm:
– Ông có chừng bao nhiêu tay súng?
– Hơn hai trăm.
– Cũng khá đấy chứ. Việt Cộng có tấn công cũng khó mà nuốt nổi mình.
– Có điều mình toàn là lính văn phòng với lính thợ mới kẹt chứ. Tôi thường phải đích thân đi kiểm soát, sợ mấy ông nội lơ là để tụi nó lẻn vô là chết cả đám.
Chúng tôi ngồi nói chuyện được một lúc thì Thu trở lại.
– Xong rồi bác sĩ, mình về.
Tôi chào mọi người rồi theo Thu ra xe. Ngồi trên xe tôi hỏi:
– Mình lãnh được những gì?
– Gạo sấy, cá hộp Mackarel, thịt gà, xúc xích.
Về tới bệnh viện an toàn, Thu cho xe vô đậu trước văn phòng, nhảy xuống hoa chân múa tay miệng la:
– Toàn thắng, toàn thắng!
Nhân viên Quân Y túa ra. Tôi đứng yên mỉm cười. Lãnh được đồ ăn mà kêu toàn thắng. Thu có tính hiếu động, vui vẻ, thích khoa trương, nhưng tốt bụng, không nham hiểm. Tôi nói:
– Kêu tụi nó khuân đồ xuống, cất xe đi rồi chia cho anh em. Đừng đứng tụ lại một đám đông nguy hiểm lắm.
Chiều hôm đó tôi lên Phòng Mổ, thấy Trung úy Quý, sĩ quan Quản Lý bên Quân Y đứng ở cửa văn phòng. Tôi mừng rỡ hỏi:
– Ủa, ông lên hồi nào vậy?
– Thưa, mới lên hồi trưa.
– Xuống máy bay có bị pháo không?
– Dạ có, chạy bò lê bò càng. Tôi phải đi bộ từ phi trường về đây.
Tôi bước vào phòng ngồi lên mặt bàn:
– Sao, ông về Liên Đoàn họ hỏi chuyện gì?
– Ôi, họ hỏi nhiều chuyện lắm. Liên Đoàn muốn biết khả năng đại giải phẫu của mình trong một ngày. Có bao nhiêu bộ đồ đại giải phẫu. Bao nhiêu nhân viên phòng mổ, chuyên viên tê mê, cùng những thứ thuốc nào mà bác sĩ cần xin thêm.
– Thế ông trả lời ra sao?
– Vấn đề giải phẫu tôi đâu có rành. Tôi nói để về hỏi lại bác sĩ. Còn vấn đề nhân viên tôi nắm vững, có đưa trình một danh sách các nhân viên phòng mổ. Tôi cũng nói thêm về kế hoạch an ninh phòng thủ đơn vị nữa. Đây, ông Liên Đoàn Phó sợ tôi quên, có bảo tôi ghi các điều ông cần biết vào tờ giấy này. Bác sĩ xem rồi cho tôi các chi tiết để tôi báo cáo về Liên Đoàn.
Tôi cầm lấy tờ giấy lên xem qua, xong trả lại cho Trung úy Quý. Tôi nói:
– Chúng mình làm ngay bây giờ. Ông đọc từng mục một, rồi tôi cho ông biết chi tiết. Ông ghi vào rồi đánh một công điện khẩn báo cáo về Liên Đoàn.
Một lát sau chúng tôi làm xong. Tôi tự tay ghi thêm một danh sách thuốc men cùng với số lượng tôi cần để xin gửi khẩn cấp. Nhấn mạnh về mục nước biển, máu và thuốc trụ sinh. Sau đó tôi cho Trung úy Quý biết:
– Như vậy tốt rồi. Liên Đoàn muốn biết gì cứ hỏi ông ấy là xong.
– Nhưng xem chừng về vấn đề giải phẫu ông ấy không nắm vững bằng bác sĩ.
– Có gì đâu mà nắm vững với không nắm vững. À sao bác sĩ Phúc không về cùng với ông?
– Bác sĩ Phúc còn ở Biên Hòa. Tôi phải đi Lai Khê mới có trực thăng lên đây. Ở Biên Hòa không có phương tiện. Nếu bác sĩ Phúc muốn đi phải lên Lai Khê mới có trực thăng.
– Ông có gặp Thiếu Úy Kha không?
– Ông Kha lên cùng với tôi. Có lẽ đang về thăm nhà. Ở Liên Đoàn sửa soạn dữ lắm. Xe cộ, thuốc men, nhân viên, cái gì cũng sẵn sàng cả. Liên Đoàn đang tính lập một Bệnh Viện Dã Chiến ở đây. Nhưng với tình trạng này, chắc phải làm dưới Lai Khê.
Tôi gật đầu đồng ý:
– Đây biến thành chiến trường rồi, chỉ có thể băng bó cấp cứu. Lập thêm một bệnh viện kiểu nhà lều thì lại chết cả lũ vì pháo kích. Trừ khi làm bệnh viện ngầm như của Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới được. Nhưng tôi thấy chậm rồi. Điều cần nhất bây giờ là phải có phương tiện để di tản thương binh cho thật lẹ.
Nói vừa dứt lời thì một tiếng nổ bùng lên. Một trái đạn pháo kích rơi ngay vào hàng rào trường Trung Học, phía trước bệnh viện đúng lúc một xe Dodge và một xe gắn máy vừa chạy tới. Qua đám bụi đen mù, tôi thấy người tài xế bay ra ngoài, chiếc xe ngừng lại. Hai người đi xe gắn máy văng ra lề đường, cạnh hàng rào bệnh viện. Cảnh tượng diễn ra như trong ciné. Tiếng nổ bất thần làm chúng tôi chưa kịp có phản ứng. Thiếu úy Thu chỉ kịp nói:
– Chết cha hai thằng xe gắn máy rồi.
Nhưng chỉ lát sau tôi thấy hai người cùng đứng dậy đẩy chiếc xe gắn máy hư vào bệnh viện. Mặt họ tái xanh, đầu tóc, quần áo bê bết bụi nhưng không có vẻ gì bị thương nặng cả, ngoài mấy vết trầy, xây xát do té xuống đất. Người tài xế xe Dodge cũng chỉ bị thương nhẹ thôi. Ai nấy đều cho là họ may mắn.
Chuyện rằng: Trùm Sò đi thưa Thị Hến về tội oa trữ đồ của Ốc ăn trộm ở nhà mình. Thầy Đề đòi cả hai đến công đường chờ huyện quan thẩm tra và phán xử.
Huyện Trìa hỏi Thị Hến “Đã có chồng hay chưa?” Thị Hến vân vê hai ngón tay, mắt lúng liếng, long lanh mặt hồ thu đang yên bỗng nhiên gợn sóng, bồi hồi, tim đập rộn ràng nhớ ngày năm cũ, rồi cúi mặt thở dài thườn thượt…. Huyện Trìa bảo thầy Đề ghi vô lý lịch: “Chồng chết!”
Huyện Trìa hỏi Trùm Sò: “Đã có vợ hay chưa?” Trùm Sò, bấm đốt ngón tay, rồi cũng thở dài thườn thượt. Huyện Trìa bảo Thầy Đề ghi vô lý lịch là: “Đã có vợ!”
Thị Hến không còn ba sinh hương lửa, rêu mọc đầy thềm cũ bởi chẳng có dấu chưn ai… đột nhiên bị Huyện Trìa nhắc lại cái thời giựt giựt; nên em buồn cũng phải. Vì buồn nào hơn đêm nay khi bão loạn đầy trời! Nằm trên giường mình ên, dẫu đắp hàng chục cái mền điện, sao ấm bằng cái lò sưởi 37 độ rưỡi chạy bằng beer phải không nào?
Ngược lại, Trùm Sò là đại gia, tiền bạc rủng rỉnh đầy hầu bao, muốn lao vào ăn chơi trác táng, muốn sống mình ên, để lênh đênh nay con nầy, mai con nọ cho nó đã; ngặt đã có con Hà Bá ở nhà; nên tiếc đời trẻ trai, trai trẻ, bướm bay, bay bướm; nên thở dài thườn thượt, buồn cho kiếp chim hót trong lồng.
Thuở nhỏ muốn chơi thì không có tiền. Giờ có tiền rồi muốn chơi… lại có vợ!
Nghĩa là ai không có thì tiếc sao không có? Ai có rồi cũng tiếc tại sao mình lại có?
***
Mà không có thì than khóc nghe áo não làm sao như: “Tui nghèo, em cũng chẳng cao sang, sao em nỡ bỏ qua cho đành?!”
Em bỏ mình tưởng xui chớ thiệt ra là hên; là tiền hung hậu kiết đó!
Ngày ấy, mình hẹn nàng ra công viên Bạch Đằng sát bờ sông Sài Gòn. Đêm đầy sao. Lung linh và lãng mạng; mình lạng quạng, quỳ xuống cầm tay nàng run run như con thằn lằn bị đứt đuôi, lập bập nói: “Em về làm vợ anh nhá?” Nàng nói “Không!” Và sau đó hai người đều sống trong hạnh phúc.
Nếu chẳng may em cười mỉm chi cọp: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương em mẫu từ em hay…” là chết Tía tui rồi!
***
Tuy nhiên tìm được người mình yêu và để người yêu mình không phải dễ nó gian nan lắm bà con ơi. Đôi khi lỡ yêu một người khác hệ khác băng tầng là xôi hỏng bỏng không.
Chuyện rằng: Một ông bước vào quán rượu kêu người phục vụ cho mười ly rượu mạnh, rượu whiskey. “Có chuyện gì thế anh bạn?” Người phục vụ hỏi. “À tui mới vừa phát hiện ra là thằng em trai của tui đồng tính và nó vừa làm đám cưới với thằng bạn thân nhứt của tui hôm qua.”
Hôm sau, cũng người đàn ông đó bước vào quán và kêu tới 12 ly rượu mạnh, rượu whiskey. “Lần nầy lại có chuyện gì nữa đó anh bạn?” “À tui vừa phát hiện ra thằng con trai của tui cũng là người đồng tính!”
Ngày hôm sau nữa, cũng người đàn ông đó đến quán rượu và kêu tới mười lăm ly rượu mạnh, rượu whiskey. Người phục vụ hỏi: “Bộ trong gia đình anh bạn không có ai thích đàn bà con gái hết hay sao?” Ông ta thở dài và trả lời: “Có chớ! Vợ của tui!”
Đó là chuyện bên Tây; Việt Nam mình cũng thế thôi! Xuân Diệu vốn sanh bất phùng thời, nhà thơ thuộc thành phần thứ ba, vào thời ấy phải che giấu giới tính thật của mình,nếu vào thời nầy xin cứ ‘vô tư’; ông yêu ông bà yêu bà cũng là chuyện thường xảy ra trong ta bà thế giới.
Mà đôi khi tình yêu đồng tính lại mãnh liệt hơn là tình yêu một trai một gái.
“Yêu nhau đi chiều hôm tối rồi” và giục giã: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi.”
Vì tình yêu là trái chín của mọi mùa. Xuân, Hạ, Thu, Đông đều có trái chỉ cần anh và em cùng giơ tay ra mà hái. Đó là giành cho ai khoái ăn, còn chỉ khoái hửi hửi chơi thôi thì tình yêu đôi lứa khác nào một vườn hoa đang có nhiều hoa đâm nở trong mùa Xuân!
Còn ai vốn đam mê vàng bạc, hột xoàn, kim cương thì: lời nói là bạc và im lặng là vàng thì tiếng kêu của con tim là một hạt kim cương muôn màu muôn sắc.
Mà nói tới kim cương là mấy em ham hè nên cắm đầu nhào vô bởi khi đã yêu là mơ mộng nhiều, không một trở ngại nào làm cho người ta lo sợ!
Bởi đời không tù ti tú tí, quả là đời vô vị; kiếp sống không yêu, kiếp sống thừa!
Sống mà không có tình yêu không có cái đó là sống trong một bầu trời đầy gió âm u! Rồi khi ngỏm củ từ, thiên đường sẽ chẳng mở cửa để đón chào những người cằn cỗi, thiếu tình yêu!
Chỉ cần yêu, cần tình, đừng để tiền bạc chen vô hư bột hư đường hết ráo. Lỡ yêu mà có bị em gạt lấy hết tiền trong tài khoản ngân hàng thì cũng nên vui vẻ mà ‘ngu’ đi. Chớ thưa tới ông Trời ổng cũng chịu thua thôi.
Dẫu “bắt thang lên hỏi ông Trời! Lấy tiền cho gái có đòi được không? Ông Trời ngoảnh mặt lại trông. Tao đòi chưa được; huống chi là mày!”
Nếu quý anh mình coi đồng tiền bằng bánh xe bò, chỉ sợ thiên hạ cười mình dại gái thì hãy yêu em lúc mình áo vũ cơ hàn, nhà tranh vách đất, vì tình yêu như ngọn đũa thần, biến túp lều tranh thành lâu đài bằng vàng 24 ca ra trong đó có con tim của đôi ta; chỉ có một điều không thể rứt nó ra mà đem đi cầm hay đi bán lúc mình bị ‘viêm’ túi…
***
Đàn ông nào cũng biết đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ. Phải cầu nguyện một lần trước khi ra trận mạc, phải cầu nguyện hai lần trước khi bước chân xuống tàu ra biển khơi, nhưng phải cầu nguyện đến những ba lần trước khi… cưới vợ!
Vì lấy vợ không khác nào thọc tay vào một cái bao trong đó có đựng chín con rắn độc và một con lươn, xác xuất mà bắt được trúng con lươn khó lắm!
Anh nào cũng biết phải luôn luôn sống trong tình yêu. Đó chính là lý do chớ bao giờ nên kết hôn cả. Bởi vì kết hôn là bản án tử hình cho một thời để yêu và… để chết ngắc ngoải…rồi chết ngắc!
Khi chưa lấy nhau, nhà thơ Nguyên Sa bảo: “Em là con mèo ngái ngủ trên tay anh”. Lấy nhau rồi, em biến thành sư tử Hà Đông. Gầm gừ tối ngày hè!
Vì trong thâm tâm em lấy anh là muốn làm anh thay đổi nhưng anh vẫn vậy! Anh cưới em về mong em đừng thay đổi; hãy cứ ‘xí xọn’ như thời con gái nhưng em lại đổi thay mới chết!
Anh thề hứa lúc yêu anh sẵn lòng xuống địa ngục cũng bởi vì em. Cưới em về rồi anh quả là đang sống trong địa ngục. Vì lúc đầu em yêu ở trong vòng tay ta, một ngày kia ở trên cánh tay và ngồi trên lưng ta; sau rốt là em ngồi trên đầu như con chí. Con chí leo lên đầu mình còn bắt xuống được nhưng con vợ thì vô phương!
Hôn nhân thì nồng nàn như cái chết vì người anh hùng trong quyển truyện tình đã chết ngắc ngay chương đầu tiên. Sự khác nhau giữa hôn nhân và cái chết là: người chết sẽ được tự do.
Ai nói có vợ sống lâu hơn còn độc thân là nói bậy, không trúng đâu. Thời gian nó có vẻ dài vô tận đấy thôi! Vì tình yêu giống như món súp, những muỗng đầu thì quá nóng, những muỗng cuối lại quá lạnh. Lạnh bởi nhiều nguyên do. Một nguyên do là: cánh đàn ông chúng ta rất căm ghét những ai bĩu môi chê mình hết xí quách, đi chợ chưa tới chợ đã hết tiền; nếu là thằng nào thì mình nổi máu du côn lên đục cho nó phù mỏ nhưng nếu phát ra từ miệng vợ nhà thì mình phải xót xa mà cam chịu vì nó có thử rồi nên nói hỏng có sai.
Bà Nội được năm đứa cháu gái rồi chờ hoài một đứa cháu trai để nối dõi tông đường, giục “Khi nào hai đứa bây sinh nữa đây?” “Ảnh bị “liệt” cha rồi; còn làm ăn gì đâu mà đẻ chửa nữa Má!””
Một câu mắng vốn cay nghiệt nhắm ngay vào người đã sanh đẻ ra ta thì làm sao không xót xa cho được chớ?
Thế nhà thơ nước Anh, Milton sau khi cưới vợ đã viết tác phẩm ‘Thiên đường đã mất.’ Rồi đến khi vợ ông qua đời; ông viết cuốn ‘Thiên đường trở lại’
Viết vậy nên bị mấy ông có máu thờ bà, sợ vợ, chửi bới tưng bừng hè. Lên mặt đạo đức ‘giả’ rầy xối xả: người đầu ấp tay gối nói vậy mà nói cho được hè?
Riêng tui, dẫu biết là con gái là nho tươi; còn về già là nho khô… nhưng nho tươi hay nho khô cũng là nho; chỉ khác một điều nho tươi là nhiều nước nho khô là khô… nhưng cả hai đều ngọt hết mà. Thì than vãn chê bai mà chi chớ?
***
Còn ở với nhau, chịu đựng nhau, thì của chồng công vợ. Thôi nhau thì chia hai. Án lệnh bất thành văn này có trước án lệnh thành văn của quan tòa Tây cả mấy trăm năm.
Nhưng phụ nữ mình hồi xưa dễ thương lắm cà! Lỡ có xa chàng, vàng vòng, bông tai, hột xoàn, cà rá… cũng hỏng thèm, chỉ xin mang con theo, để mẹ con em về với má. Hu Hu!!!
Giờ cũng vậy! Em yêu có đòi bỏ tui thì chắc tui chẳng có tốn cắc nào bởi có đâu mà tốn chớ? Nên tuần rồi nè, giận cái cái vụ tui sáng xỉn chiều say, tối ôm chai mà ngủ; nên em bèn xách gói ra đi.
Tui nói vói theo em bằng tiếng Tây đàng hoàng nhe: “Merci pour ce bon moment!”(Cám ơn thời hạnh phúc ấy!). Ai dè em nói: “Thấy người ta đi mà hổng chạy theo cản hả?” Và em ôm gói đi trở vô. He he!!!
Sống với nhau đã gần nửa thế kỷ tình ta rồi mà tui đành phải kết luận một cách đau đớn là: Em yêu hổng biết cách yêu tui! Dù yêu nó dễ òm hè!
Yêu là tôn trọng cái tự do của nhau mới hạnh phúc bền lâu; chớ cứ theo chủ nghĩa độc tài toàn trị, biến tui thành một con rối theo bàn tay em, đặt đâu tui ngồi đó, cấm hó hé gì hết ráo thì làm sao mà hạnh phúc?
Hãy học tập cách giữ tình ta như lửa cháy ‘riu riu’ hoài, cháy ‘leo lét’ mãi là phải nghe lời tư vấn miễn phí của cựu Tổng thống Huê Kỳ, George W. Bush: “Bí quyết nào khiến cuộc hôn nhân của ông được lâu dài?”. Ông Bush trả lời rằng: “Chúng tôi thường thoải mái đi tới nhà hàng hai lần một tuần. Ăn nhậu có thắp đèn cầy cho lãng mạn, sau đó nhạc nhẹ, ôm sát vào nhau, tình tứ nhảy đầm theo điệu “Cha Cha Cha”.
Điều quan trọng là: Em yêu đi vào những ngày thứ Ba. Còn tôi đi vào những những ngày thứ Sáu!”
Cuối năm xin kính mời quý độc giả thân mến cùng người viết điểm lại con đường tình ta đi năm vừa qua, (Có tham khảo chuyện Chú Ba và Chú Kangaroo), coi nó có trật chìa chỗ nào hay không? Để mình ra tay cùng sửa chữa, trước khi nó bể bạc hết trơn!
Chú Ba cà chớn hàng xóm của mình theo chế độ phụ hệ! Chồng làm cha! Là dách lầu; là số một! Chú Ba được quyền bỏ vợ, nếu Thiếm Ba lạng quạng! Thiếm Ba phạm bảy tội nầy là phải ‘xin cho thiếp đò ngang thiếp về’… để Chú Ba rước em khác.
Bảy cái tội đó gọi là ‘Thất xuất’:
– Một là hổng tọt ra được thằng ‘cu’ nào để nối dõi tông đường! Sau nầy khoa học chứng minh rằng lỗi nầy không phải chỉ do em. Nên gán tội nầy cho Thiếm Ba không mà thôi là Chú Ba dốt, hổng biết khoa học gì hết ráo!
– Tội thứ hai là dâm dật! Mà dâm dật với ai mới được chớ? Dâm dật với chồng mình thì đốt đuốc đi tìm chưa chắc có! Mừng hết lớn còn bày đặt nói ‘Hổng được!’ Bộ khoái tình em như nước Bắc Băng Dương hay sao? Còn nếu Thiếm Ba dâm dật với xì thẩu khác thì phải mời Thiếm Ba đi chỗ khác chơi gấp gấp! Bằng không có ngày Chú Ba quất xong tô bò vò viên rồi sùi bọt mép. Xuống Diêm Vương giở sổ ra, chưa tới số mà; xuống đây làm chi thì biết trả lời sao?
– Tội thứ ba là không thờ cha mẹ chồng, coi Tía Má Chú Ba hổng ra cà ram nào hết trơn! Hổng có Tía Má mình, đồng tác giả xuất bản, thì làm sao có mình để em nâng khăn sửa túi. Hổng biết ơn mà còn ‘hỗn ẩu’… Đuổi đi là phải! Kẻo mấy tiểu muội nóng mũi, chê làm Ca ca (xin đừng hiểu theo tiếng Tây nhe!) gì mà cái mặt gà mái, thờ bà, thì quê lắm đó!
– Tội thứ tư là lắm lời! Nói hoài miệng hổng chịu kéo da non! Tội nầy thấy nhẹ nhưng thực ra là nghiêm trọng ngang với tội ‘khủng bố tinh thần’ đó! Nghe nhiều, nghe hoài một chuyện, băng nhão hết trơn, nhức đầu làm sao mà chịu nổi. Thôi là phải!
– Tội thứ năm là trộm cắp, tiền của chồng chôm hết ráo, tuồn cho Tía Má em xài hổng biết sao cho đủ; thì sức trâu nào cày cho thấu. Nghỉ chơi cũng phải luôn! (Nên có chuyện rằng: “Con lấy tiền của Tía hả?” “Con không có lấy!” Thiếm Ba nói: “Em lấy đó!” Ủa sao còn sót lại vài đồng bạc lẻ?”)
– Tội thứ sáu là ghen tuông! Trai năm thê bảy thiếp là thường vậy mà tối ngày xem nè tui với nó có khác gì đâu mà anh mê con quỷ đó? Ghen là tánh nữ nhi thường tình! Nhưng ghen cho trúng khía kìa; còn ghen gió… ghen bóng là tui đóng cửa sổ cho hết gió; tắt đèn luôn là hết bóng! Hết ghen!
– Tội thứ bảy, tội cuối cùng, là Thiếm Ba mắc bệnh hiểm nghèo. Cái nầy bậy bạ quá, vợ lỡ có bệnh thì lo chạy chữa chớ đòi thôi, đòi bỏ… thì thiệt là cái thằng chồng ác nhân thất đức. Chú Ba… ‘Made in China’ là đáng bị la lắm!
Sau nầy thời cuộc đẩy đưa, lưu lạc quê người tới đây; thấy mấy Chú Kangaroo cũng theo phụ hệ. Con nó đẻ ra nhưng mang họ của mình! Cái khác với mấy Chú Ba là mấy Chú Kangaroo đây bỏ vợ không cần bày đặt kiếm chuyện nầy chuyện nọ. Hổng khoái nữa là thôi. Nhưng Thiếm Kangaroo cũng có cái quyền ‘y’ như vậy. Bản mặt thằng chả thấy ghét là em thôi cho bỏ ghét!
Thưa quý độc giả thân mến.
Chuyện rằng: Tèo, 32 tuổi mà chưa vợ! Bạn bè hỏi: “Bộ chưa kiếm được đứa nào hợp nhãn hay sao?” Tèo nói: “Có nhiều đấy chớ! Nhưng dắt em nào về nhà Má tớ đều không chịu!” “Thì tìm em nào tánh tình giống hịt Bà Già là xong ngay!” “Có dắt một em về giống hịt Má! Má thích lắm! Nhưng ngặt nổi là tới phiên Ông Già tớ; Ổng phản đối quá chừng!”
Ông bà mình xưa có tâm sự rằng: “Ví dầu nhà dột cột xiêu! Muốn đi cưới vợ sợ nhiều miệng ăn!” nên Tèo trước khi ‘chim vào lồng; cá cắn câu’ bèn hỏi: “Cưới vợ tốn bao nhiêu Tía?” “Tía không biết! Chưa tổng kết được vì Tía vẫn còn đang phải trả!”
Làm gan, coi tiền bạc là chuyện nhỏ, cưới vợ về rồi mà muốn tình ta bền lâu, phải nhớ ông bà có dạy rằng: “Dạy con dạy thuở còn thơ! Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về!” Phải đề ra ‘quân lịnh’ đàng hoàng mới được!
“Anh sẽ về nhà bất cứ lúc nào anh muốn, và anh muốn… ‘ẹ …ẹ’ bất cứ lúc nào anh muốn!” Anh muốn khi về bữa ăn tối phải có sẵn trên bàn; trừ trường hợp anh báo trước rằng tối đó anh không về!” “Anh sẽ đi săn, đi câu cá, đi nhậu, đi đánh bài cùng những người bạn cũ của anh bất cứ lúc nào anh muốn và không mong đợi em sẽ làm khó làm dễ anh chút nào!” “Em có ý kiến gì không?”
“OK! Vậy cũng được! Chỉ cho anh biết rằng: Em sẽ ‘đốt nóng lửa lòng em với bạn tình’ mỗi đêm, ở nhà nầy lúc 7 giờ, trong phòng ngủ của đôi ta… dù có mặt anh hay không cũng được!” OK?
Anh có vợ rồi mà vẫn còn muốn chơi! Nên em cũng vậy!
Rồi sau đó, tuần trăng mật vui hết biết nha! Hai đứa ăn ở không rồi bắt ‘chí’ cho nhau là vui? Nhưng ngày vui sẽ qua mau. Cởi áo cưới ra, lau hết phấn son, đôi ta trở lại đời thường. Cơm áo gạo tiền!
Qua xứ Úc nầy, xứ của Nữ Hoàng Anh, khi hầu chuyện là mình phải khụy một đầu gối xuống! Về nhà với vợ mình cũng làm y hịt như vậy; đôi khi còn lễ phép gấp đôi… không phải một mà là… cả hai đầu gối… Chữ gọi là “Phụ xướng phu tùy!” “Trong nhà, tui làm sếp! Vợ tui chỉ là người phát biểu sau cùng mà thôi!”
Bằng không chịu chấp nhận sự thực phũ phàng đó thì ngay việc dạy dỗ con cái cũng đủ sanh giặc rồi!
“Nhân loại từ đâu mà ra? Tía nói: “Adam và Eve có con. Con lớn lên lập gia đình và có con. Cứ thế!” Thằng nhỏ hỏi Má nó cùng câu hỏi. Má nói rằng: “Tổ tiên chúng ta là khỉ; tiến hóa dần trở thành con người!” Thằng nhỏ quay lại: “Sao Tía nói dóc con chi vậy?” Tía trả lời: “Má con nói về phía bên dòng họ của bả ấy mà!”
Thưa quý em yêu! Mỗi lần đay nghiến, xì nẹt chồng mình nên suy nghĩ kỹ! Lời nói như mũi tên bắn ra là không mong lấy lại!” Cuối năm rồi, chúng ta hãy cầu nguyện cho vợ chồng không bao giờ lớn tiếng với nhau… Trừ trường hợp cháy nhà!”
Nhưng câu hỏi bự tổ chảng đặt ra là: “Tại sao, chung sống chỉ một thời gian chẳng bao lâu mà hai người không còn yêu nhau tha thiết nữa?” “Có phải là tại nhan sắc em đã hoa tàn nhụy rữa hay tại anh giờ đem bụng ở đời, vì ‘tộng’ quá nhiều gà nướng Kentucky (KFC) hay không?”
Em khỏa thân đứng trước gương soi! “Cha lóng rày em già, mập, trông xấu quá! Anh có thấy vậy không?” “Mắt của em còn tỏ lắm đó!” Và cuộc cãi lộn lại bắt đầu!
Em gởi tin nhắn cho chồng: “Truyền hình nói Cảnh Sát vừa tìm được một cái xác mập như con heo, răng sún lại ngậm xì gà, trên tay còn chai rượu. Em lo cho anh quá! Hãy gọi cho em nhé! Anh yêu!”
Hỡi ơi! Tình ta mới đầu như ly cà phê sữa nồng ấm uống vào buổi sớm mai trời sương thu lành lạnh… Sau thành ly cà phê đá mà phải uống giữa mùa đông rét mướt!
Anh không nói gì hết mà chỉ dán mắt vô cái máy truyền hình coi phim diễu ‘Big Bang Theory’ hay đọc báo mà thôi!
“Đời tui cô đơn nên yêu anh cũng cô đơn, ước gì em là tờ báo để em có thể trong tay anh suốt ngày!” “Anh cũng ước em là tờ báo để mỗi ngày anh lại có một tờ báo mới!”
Chu choa! Ông Thần nầy gan thiệt! Nói như vậy là em sẽ nổi máu Hoạn Thư lên; sẽ điều tra coi tờ báo mới đó là tờ báo nào? Và khi ghen tuông, em điều tra, theo dõi chồng mình còn hay hơn cả FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ)
“Sam và Becky được mời đi ăn tiệc Giáng Sinh, lễ hội hóa trang. Sam hóa thành Ông Già Noel. Bất ngờ Becky nhức đầu không đi nhưng cũng khuyến khích cho ông Xã mình thư giãn. Quất vài viên thuốc nhức đầu Panadol, nằm nghỉ một lát! Thuốc Panadol “Made in Australia” hay thiệt là hay nhe! Cơn nhức đầu biến mất; nên em cũng tới chơi nhưng giữ bí mật không cho anh yêu biết… để theo dõi coi vắng chủ nhà gà có mọc đuôi tôm không?
Em bèn hóa trang thành nữ tài tử xinh đẹp Nicole Kidman! Em rề rà đến, má tựa vai kề với ông Già Noel. Rồi rủ chàng chui ra sau vườn! Em lẳng, em lơ như trái mơ… coi thằng chả có nhểu nước miếng và cư xử ra sao?
Được bật đèn xanh khuyến khích, chàng bèn ‘chơi’ tới bến luôn. Thiệt là con Dê già háo sắc! Tới lúc tiệc gần tàn, thiên hạ sắp cởi mặt nạ hóa trang thì Becky lẳng lặng chuồn trước về nhà để định quạt cho ‘Đức ông chồng’ một trận nên thân về tội không nên nết. Thấy ‘nó’ là tươm tướp hè!
Khi Sam bước vào phòng ngủ. Becky hỏi: “Sao dạ vũ hóa trang có vui không anh?” “Cũng được! Anh gặp thằng Harry nữa! Nhưng râu của ông Già Noel làm anh nhột lỗ mũi, ách xì hoài… nên anh đổi trang phục hóa trang của mình với nó!
Ráng ráp lại tình ta mà bị chuyện nầy làm đôi ngã đôi ta nên: “Sao anh đi làm về sớm vậy?” “Tại ông chủ bảo anh hãy về lại cái địa ngục của anh đi!” (Go to the Hell!)
“Thưa Luật Sư, suốt 6 tháng trời nay, vợ tui không mở miệng ra nói với tui một tiếng nào. Tui muốn ly dị!” Viên Luật sư: “Xin ông hãy suy nghĩ kỹ lại. Vợ như vậy là khó kiếm lắm đó!”
Không ly dị được thì cuộc chiến tranh giữa vợ và chồng lúc nào ‘ục ục’ trong nồi súp de chờ ngày cái bùm nó nổ!
“Tía đi săn, bắn được một con nai. (Con nai tiếng Anh là deer cùng âm với dear là anh yêu!) vác về nhà xẻ thịt, làm bữa tối. Con hỏi thịt gì? Tía nói: “Tên của nó là chữ mà Má tụi con đôi khi gọi Tía đó! ”Đứa em gái nhỏ thét lên với anh trai mình: “Đừng có ăn! Thịt đó là Chó đấy!”
Vậy là thôi rồi “Anh đường anh em đường em; tình nghĩa đôi ta có thế thôi!
Ra Tòa giành quyền nuôi con cái. “Thưa quý Tòa! Tui đẻ chúng ra, chính tui là người mang chúng vào cuộc đời ô trọc… lóc nầy… nên tui phải được quyền nuôi dưỡng!”
Tòa quay qua ông chồng! “Thưa quý Tòa! Nếu tui nhét một đô vào máy bán kẹo. Viên kẹo ló ra. Thì nó thuộc về tui hay thuộc về cái máy?!”
Thưa quý độc giả thân mến!
Riêng người viết với em yêu là: ‘Thương lắm mình ơi!’ Vì ngay từ đầu yêu em, người viết đã yêu theo chủ nghĩa ‘bình ắc quy’!
Mình là điện dương; còn em yêu là điện âm. Bao nhiêu sức lực, tiền bạc từ điện dương đều được điện âm hút qua hết ráo… bình ắc quy mới ‘quớt’ (work) và chiếc xe tình yêu của đôi ta mới êm đềm lăn bánh ‘bon bon’ tới bến hoàng hôn mà nào có ‘khục khặc’ gì đâu!
Muốn tình ta đầu bạc răng long chỉ còn duy cách đó mà thôi! Thưa quý độc giả thân mến!
Thưa cách đây gần 50 năm, nghĩa là nửa thế kỷ, nghĩa là lâu lắm rồi, ngày tui mới về với em, nghĩa là em mới cưới tui.
(Hi hi! Xin mở ngoặc ở đây một chút về tiếng Việt sau nầy trong nước!
Tui thường đọc thấy mấy ông nhà báo quốc doanh viết rằng: Hoa hậu X, Y gì đó cưới chồng?!
Thưa tiếng Việt mà tui học hồi năm nẳm, Thầy, cô tui dạy rằng: “Trai cưới vợ; gái lấy chồng!” Chớ tui chưa hề thấy gái cưới chồng bao giờ cả!
Hay là tại vì xa quê đã lâu, tiếng Việt của tui giờ đã rỉ sét, đã lạc hậu hết rồi chăng? Không theo kịp với trình độ của những nhà văn thời ôn dịch?!)
Thôi thì cho rằng em cưới tui đi, để cho tui lên giá một chút… Chớ già rồi cái gì cũng xuống hết trơn hết trọi hè!
Lấy chồng dạy giáo; cho dù mình dốt đặc cán mai, hổng biết chữ Nhứt một, đám học trò ra đường gặp mình, bao giờ cũng giở nón cúi đầu: “Thưa cô! Bộ hổng khoái hay sao?”
Hai là vì tui dạy Sử, Ðịa… nghĩa là chuyện hồi xưa không hà. Giáo sư Sử Ðịa ai cũng bị bịnh nghề nghiệp, mê cổ vật; nên cho dù sau nầy em yêu trở thành bà già, già háp, xấu, má hóp da nhăn! Hề gì? Càng già tui lại càng yêu, càng trân quý! Bộ hổng khoái hay sao?
Hổng thấy Vương Hồng Sển tiên sinh, chuyên sưu tầm cổ vật, sống với em yêu là Bà Năm Sa Ðéc suốt 4, 5 chục năm mà tình đôi ta vẫn còn nồng như hồi mới cưới hay sao? Em yêu của tui thông minh hết sức nhe! Vậy mà bấy lâu nay tui cứ tưởng là em lù khù; ai dè em vác cái lu mà chạy…
Thưa bà con!
Tết nghe câu vọng cổ Út Trà Ôn: Gánh nước đêm trăng để nhớ con bồ cũ mà tui từng gánh nước dùm em mấy trăm ‘đôi’ rồi sau đó em cặp ‘đôi’ với thằng khác!
…Nghe vọng cổ đã rồi qua nghe tân nhạc:
“Ðêm nhớ về Sài gòn… thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi, những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi, đường im nghe quá khứ trong sầu, đường chia ly vẫn ngóng tin nhau, tình lẻ loi canh thâu…”
Mấy ông nhà nhạc nầy nhớ Sài Gòn, là nhớ phố nhớ phường; vì xưa tối ngày mấy ổng cứ đi long nhong ngoài đường, rồi vô quán cà phê nghe nhạc của chính mình viết mà người khác hát để… “Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa, ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa, ai sầu trong quán úa…
Ðể... bóng mẹ hiền mờ mờ bên song, mắt người tình một trời mênh mông, gợi bao nhiêu cho cùng…”
Thưa tui cũng nhớ Sài Gòn như mấy ổng vậy; nhưng nhớ vì tò mò…
Tui nhớ nhứt là cái đường Da Bà Bầu mà trên đường đó, ông Nhạc trẻ Trường Kỳ hồi xưa, sau qua Canada viết báo, từng nói nhà tui ở đấy đó nhe…
Chu choa người ta ở mấy con đường đẹp và thơ như Duy Tân, Tự Ðức hoặc giàu như ở Tú Xương, người ta khoe là quá phải. Ổng ở đường Da Bà Bầu mà ổng cũng khoe?
Song, nghĩ cho kỹ! Mấy ông viết báo phải có cái đề tài gì độc nhứt vô nhị trên chốn giang hồ, bài viết mới ăn khách, không lo đụng hàng hay chôm của người khác trên web…
Cả ngàn ông ký giả, chỉ có Trường Kỳ là ở đường Da Bà Bầu thì khoe là cũng phải quá rồi…!
Dà xin tầm chương trích cú để thỏa mãn cái óc tò mò của một tay nhiều chuyện như tui, Da Bà Bầu hổng phải là da của bà bầu đâu.
Mà là quán của một bà tên Bầu (hay đang có bầu) dưới gốc một cây Da.
Bà con miền Nam mình gọi là cây Da; bà con miền Bắc 54 mình, như ông Trường Kỳ gọi là cây Ða…
Nếu cho ổng đặt tên thì Da Bà Bầu nó sẽ thành Ða Bà Bầu (để thiên hạ tưởng rằng đàn bà con gái trên đường nầy ai cũng ôm một bụng bầu hết ráo… thì càng thêm báo…)
(Cây Da trốc gốc trôi rồi! Em xa người nghĩa đứng ngồi không an. Hay cây Da trước miễu, ai biểu cây Da tàn… Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu! Dù sau 75, cây Da tàn và chàng đã bỏ nàng, vọt mất tiêu rồi!).
Cây Da thân lớn, tàn lớn, chống mưa bão phẻ re hè! Nếu cây Da không nằm cạnh bến sông là khó lòng trốc gốc lắm; nên bà Bầu mở cái quán dưới tàn cây Da nầy vừa mát vừa phẻ trong cái nóng, bức của cái đất Sài Gòn.
Thưa xa quê từ độ đứt phim nên bà con mình lúc buồn tình hay đem cuốn phim cũ ra mà chiếu lại…
Mấy tay to mặt lớn, có trách nhiệm nhiều về cái vụ mất nước nầy thì viết hồi ký để phủi trách nhiệm: “Hổng phải tại tui! Mà tại Trời xui khiến nên đôi mình mới xa?!”
Còn bà con nào hơi ‘bèo’ bởi con nhà ‘nghèo’, không chức tước danh phận gì ráo thì chiếu lại tuồng cũ như Vàm Kinh Cũ, nếu em xưa ở gần một bến sông…
Con anh nào dân chợ, đi đường lộ đá xanh đã quen chưn, thì viết Con Ðường Cũ.
Nên tui cũng bắt chước quý ông anh viết về con đường tình ta đi, cho nó có tụ, vui với người.
Vui đâu hổng thấy, tui chiếu phim cũ, vô tình, sót một khúc là bị rầy:
Chẳng qua khi viết bài về: “Ðề ơi lúc chiều về mình đánh con dê . Mà sao đề lại xổ con kê (tức con gà) hỡi đề!” tui có nhắc tới đường Trần Hưng Ðạo B mà bị rầy quá xá.
Ông bạn văn của tui vốn là bà con, cháu chít chừng mấy mươi đời vương của Trần Thượng Xuyên, ở Cù lao Phố, Biên Hòa! Vì ủng hộ Nguyễn Ánh nên bị nhà Tây Sơn dợt cho một trận lên bờ xuống ruộng. Ðại Phố điêu tàn phải chạy về Chợ Lớn làm ăn buôn bán tiếp.
Vừa là tác giả vừa là độc giả mà thằng chả khó dàng trời mây đi.
Giả bắt lỗi là tui viết Trần Hưng Ðạo B là hổng có được.
Con đường nầy là do ‘Vi Xi’ nó đặt ra năm 1976; hổng phải thời mình, nên ảnh hổng có chịu…
Trần Hưng Ðạo B nầy là cái đường Ðồng Khánh, thời Việt Nam Cộng Hòa mình, chạy từ đường An Bình mút chỉ vô tới Chợ Lớn.
“Tui sanh đẻ ở đó nè ông Nội!” Ảnh nói với tui như vậy đó bà con ơi!
Anh muốn đem tên con đường xưa em đi, đường Ðồng Khánh, vô bài viết của tui mới được. Bạn bè mà! Muốn là chiều!
Thế là tui lại tầm chương trích cú từ ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc tới ông Sơn Nam. Toàn là những ‘bồ’ kiến thức về đường phố Sài Gòn mà ngộ cái là… hổng có ông nào sanh đẻ tại Sài Gòn hết ráo?!
Ông Vương Hồng Sển dân Sóc Trăng! Ông Bình Nguyên Lộc dân Ðồng Nai, Biên Hòa (Lộc của ổng là con nai đó bà con ơi)! Còn ông Sơn Nam (không ở trên núi) mà tuốt miệt Gò Quao, Rạch Giá!
Thưa trở lại thời Tây chiếm đóng! Sài Gòn và Chợ Lớn bị ngăn cách bởi một vùng đầm lầy. Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, đi đường Route Haute (Ðường Cao) tức đường Hồng Thập Tự, chạy trên đồi cao, nối với Route Basse (Ðường Thấp), chạy ven đầm lầy, tức đường Nguyễn Hoàng vào những năm 60.
Mãi tới ngày Mùng 9 Tháng Chạp năm 1913, Tây lục lộ mới xây xong con đường thứ hai, đặt tên là Ðại lộ Sài Gòn- Chợ Lớn băng qua vùng đầm lầy…
Cuối năm 1916, Ðại lộ nầy đổi tên là Ðại lộ Galliéni, tên một viên tướng Tây có công trạng với Thực dân Pháp vừa mới đi chầu ông bà ông vải.
Ðại lộ Galliéni bắt đầu từ đại lộ Bonnard (tức đường Lê Lợi, trước chợ Bến Thành), chạy tới đường An Bình, nối với đường des Marins, tên thời Tây, sau đó chánh phủ mình đặt tên là đường Ðồng Khánh!
(VC không khoái Vua Ðồng Khánh nhà Nguyễn nên đổi tên khúc đường nầy là Trần Hưng Ðạo B) để tiếp tục đi vào Chợ Lớn.
Do đó nếu anh bạn văn Tàu lai của tui hổng chịu tên Trần Hưng Ðạo B thì anh cự tụi nó! Sao lại quay qua cự tui hè?
Thưa tụi nó bây giờ đặt tên đường phố lôm côm lắm! Tui đâu có dám binh mấy cái chuyện ngu ơi là ngu nầy đâu.
Chớ hồi xưa chánh phủ VNCH mình đặt tên đường đâu ra đấy, lớp lang thứ tự, hợp lý chớ đâu có loạn xà ngầu như bây giờ…
Chẳng hạn từ Bến xe Miền Tây vô Chợ Lớn trước, mình có Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Ðà… Bà Triệu… rồi thì có Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục…
Cứ thế vào càng gần trung tâm thì càng gần hiện tại như Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trãi…
Nhà Nguyễn mới vãn hát không lâu, lại càng gần trung tâm hơn nữa như: Nguyễn Hoàng, Minh Mạng, Tự Ðức cùng chư tướng như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Lê Văn Duyệt…
Các bến sông thì có Vạn Kiếp, Hàm Tử… lớn nhất tên Bạch Ðằng… Nơi mà quân ta đã thủy chiến mấy trận làm Tàu phù… phù mỏ hết ráo!
Thưa! Tên đường là chuyện lớn, chuyện quan trọng, chớ không phải là chuyện giỡn chơi. Vì nó có cất giữ biết bao nhiêu là kỷ niệm của những người con xa quê, viễn xứ như chúng ta.
Anh bạn văn, đường Ðồng Khánh, hỏi tui Tết nầy có về Sài Gòn ăn Tết hay không?
Tui trả lời: “Tui chỉ về khi nào không còn đường Trần Hưng Ðạo B nữa mà phải là đường Ðồng Khánh mới được!”
Chi vậy? Vì tên đường năm cũ, tui mới quen, mới thuộc, mới biết đường lại nhà anh, kiếm tiền lì xì và nhậu chơi…
Còn cầm bằng tên đường cũ mất rồi vẫn không phục hồi trở lại, mà tui ham vui về, sợ đi lạc, bị xe bắt chó bắt thì tội nghiệp cho con vợ của tui lắm nhe!
Mùa Hè 1972 NHẨY DÙ TỬ CHIẾN VỚI BẮC QUÂN TẠI MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ
. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Út bạch Lan)
Post by Sơn râu 7 Sep 2023
Mày cứ viết ra vài trang nhật ký Đọc nghe chơi coi thử khóc hay cười? Tuổi học trò tuổi đời rồi tuổi lính Tuổi vào tù, tuổi vượt biển ra khơi (Trạch Gầm)
Chúng ta, những người sinh trưởng tại nước Việt, nhất là ở miền Nam dưới thể chế Việt Nam Cộng Hoà miền nắng ấm ban mai lan toả bao nỗi niềm tự do, hạnh phúc, an bình của những năm 1955 – 1960 và chắc hẳn như bao học sinh ngày ngày cắp sách đến trường khó có thể quên được bài Tôi Đi Học của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính, lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học….”. Và có tôi trong số những cậu học trò nhỏ đó nữa… Vâng, chính tôi với những ngày xưa còn bé cắp sách đến trường học hành, vui chơi cùng “đám học trò” ngây ngô bắt dế, đá gà, trèo cây hái trái, phá phách dễ thương trong xóm làng bình dị, mộc mạc có tiếng võng đu đưa kẻo kẹt và lời mẹ ru con à… ơi lẫn tiếng chim cu đồng gáy gọi nhau nghe buồn xao xác trong buổi trưa hè oi ả …! Cứ mỗi buổi tan trường, chào thầy cô phấn bảng trở về nhà, rồi lớn dần theo thời gian … tôi thường lang thang trên những con đường dưới hàng cây bóng mát, buông lời chọc ghẹo vẫn vơ với những nữ sinh trung học dung dăng tà áo dài phất phơ bay theo cơn gió nhẹ và đem về nhà nỗi tương tư dệt nên dăm đoá mộng diễm tuyệt lung linh và ôi…thời gian đầy hoa mộng đó vội qua mau như áng mây bay qua cửa sổ.! Khi bước chân vào Quân Ngũ phải hành quân miệt mài trên đoạn đường chiến binh, lặn lội đi suốt những con đường dài hun hút gió heo may…Những con đường mòn trên dãy núi rừng Trường Sơn bạt ngàn, lởn vởn những bóng ma trơi và thần chết chực chờ từng giây, từng phút để vung tay tử khí quơ mẽ lưỡi hái đoạt hồn chiến binh trong thâm lâm u ất…! Có lúc phải chặt cây choáng chằng chịt vừa đủ chỗ để chui qua dưới những bụi tre già dày đặc um tùm thăm thẳm mịt mùng… Đi ngày chưa tới, phải cố gắng đi đêm…Còn đâu những buổi ráng chiều nắng nhạt, nhàn du dung dăng dung dẽ thơ thẩn dưới những hàng dừa nghiêng ngã nên thơ “sao không thấy em lại để cùng anh thẩn thơ” đâu đấy thoảng nghe văng vẳng có tiếng sáo diều vi vu trên cánh đồng nội cùng với tiếng bao tiếng cười nói rộn rã của những cô học trò nghịch ngợm ở lứa tuổi trăng tròn…!!! Bây giờ là gót giày Sault dẫm lên chông gai, bùn lầy ướt sũng nước đọng mùa mưa, khô héo quắc queo mùa nắng cháy bõng da người trên khắp nẽo đường hành quân lùng và diệt địch trong những “mật khu bất khả xâm phạm” của địch quân…Còn đâu những bước chân dệt đầy mộng đẹp lứa tuổi học trò, bỏ lại sau lưng những mùa hè có hàng cây phượng trổ hoa nở đỏ thắm rực rỡ với tiếng ve sầu kêu vang và trao vội cho nhau vài hàng lưu bút ngày xanh còn thơm mùi mực mới…! Con đuờng gian khổ, hiểm nguy miệt mài bây giờ là con đường đi biết bao giờ đến đâu và về đâu, đi mãi rồi sẽ “nhỡ” một mai “rách áo” hồn bay vào hư vô với tử thần chực chờ đón tiếp và “anh trở về hòm gỗ cài hoa”…! Sống còn tồn tại hay từ giả cõi đời chỉ trong tích tắt cây kim gió đồng hồ quả thật là như loài phù du trên mặt nước vô tình!
Hạt lệ khô như gió nam Trường Sơn Qua bao tuổi tác bấy nhiêu buồn…!
Từ Trí Bửu tới Hạnh Hoa Thôn:
Quận châu thành Mai Lĩnh nằm ở phía Đông- Nam cổ thành, cách non một cây số về hướng Bắc là làng Trí Bửu nằm ngay chính Đông, lên nữa là Hạnh Hoa Thôn, nơi đây là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 325 của CSBV, các đơn vị trực thuộc của Sư này gồm cả chiến xa, hoả tiển phòng thủ dọc theo con đường Duy Tân…
Vào trung tuần tháng 5 năm 1972. Chúng tôi Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐ2ND) gồm có Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐ7ND), Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù (TĐ9ND),Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐ1PBND), Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) triệt xuất Kontum – Chiến Trường Tây Nguyên về hậu cứ, riêng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù (TĐ11ND) sau trận “banh xà rong” bi hùng ở đồi Charlie vào ngày 17 tháng 4 năm 1972 Thiếu Tá Lê Văn Mễ Tiểu Đoàn Phó được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, cũng là ngày TĐ11ND chính thức mang khăn tang Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo trở về Sài Gòn tái bổ sung, chỉnh đốn quân sĩ và cũng được lệnh tăng cường ra Huế chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị, trong khi Lữ Đoàn I Nhẩy Dù (LĐIND) và Lữ Đoàn III Nhẩy Dù (LĐIIIND) còn đang vất vả bảo vệ An Lộc. Ra đến Huế, tất cả tập trung ở căn cứ Hiệp Khánh (Sally) chờ lệnh xuất phát. Trong thời gian chờ lệnh và cũng đang chờ Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù (TĐ5ND) triệt xuất An Lộc trả về LĐIIND cho đủ “bộ tam sên 5-7-11”, các toán viễn thám TS2ND bung ra xa căn cứ thám sát thì phát hiện ngay địch quân đã nằm áp sát ở bên mình với bộ binh và thiết giáp tự khi nào rồi…!!! Quảng Trị đâu chưa thấy mà thấy chúng nó trước mặt, không chừng chưa kịp đánh nó thì chúng đã “tapi” đè bẹp mình rồi. Đại Tá Trần Quốc Lịch tính toán quyết định ngay là phải “Tiên Hạ Thủ Vi Cường” ra lệnh cho TĐ11ND thử lửa để phục thù rữa hận sau trận “rách áo” ở Charlie và quả thật không hổ danh “Song Kiếm Trấn Ải” lẫy lừng, TĐ11ND phối hợp với Pháo Binh Dù tác chiến chính xác đã chiến thắng vẻ vang trên đồi Trần Văn Lý với chiến tích là xác 20 xe Tank T54 bị bắn cháy và thi thể Bắc Quân phơi đầy trên chiến địa còn đang khét nóng mùi khói lửa…!!! Không cần tịch thu chiến lợi phẩm vì con đường phải đi trước mặt còn dài xa hun hút… Trận chiến ngoạn mục này đã làm cho tinh thần Quân Cán Chính địa đầu giới tuyến vùng lên theo chiến dịch Lam Sơn 72 trở về mái nhà xưa. Chỉ buồn cho ĐĐ2TS vì một Trung Đội giúp đỡ tiếp tế tản thương cho TĐ11ND mà phải banh xác bỡi “dính” một trái mìn chống chiến xa của quân…ta khiến cho Thiếu Úy Nguyễn Văn Oanh, Trung Sĩ Thạch On cùng 6 binh sĩ chết tại chỗ, 17 bị thương nặng nhẹ, số còn lại hồn phi phách tán. Hạ Sĩ Nhất Kim Chơi vừa khóc mếu máo vừa giận giữ chữi thề:” Mẹ,… Trinh Sát Nhẩy Dù không chết rừng chết bụi mà chết trên GMC…”! Buồn cay trên mí mắt đứng tròng đã bao lâu nay khô hóng vì không ngủ và gió cát nóng miền Trung …! Chỉ 5 ngày sau quân số của Trung Đội này được cấp tốc bổ sung đầy đủ với hơn 30 người.
. Ngày N giờ G điểm:
Toàn thể lực lượng quan quân Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐIIND) súng đạn mũ sắt ba lô vượt phòng tuyến bên bờ Nam sông Mỹ Chánh do Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thuỷ Quân Lục Chiến của Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc (K16VBĐL) đang trấn thủ vào “thăm và viếng” Quảng Trị với 3 Sư Đoàn Chính Qui của CSBV, cùng đại pháo 130ly, hỏa tiễn phòng không, hoả tiễn chống chiến xa của Liên Sô ồ ạt tiếp viện trong vòng mấy tháng qua…chúng đã điều nghiên chiến trường và chuẩn bị chu đáo thế thượng phong đang chờ đón quân “Nhẩy Dù Nguỵ”… Lần giở trong ký ức Binh Pháp Tôn Ngô thấy “tức” cười. Muốn tấn công Thành phải dùng lực lượng gắp 5 lần quân phòng thủ, nay toàn thể lực lượng chủ lực phía quân ta chỉ có một mà dám tấn công bên địch mười, thì không bể đầu cũng sức trán, không chột cũng què, ấy vậy mà vì “Nhẩy Dù Cố Gắng” chỉ trong vòng ba ngày đêm từng bước, từng bước thầm đầu đội pháo, chân dẫm lên xác địch, tác xạ lao về phía trước vượt trên quãng đường vài ba cây số ngập tràn máu lửa, đạn bắn như đan lưới địa võng biết nơi nao là không phải là hoả ngục …?
TĐ1ND1,TĐ5ND cũng đã tiến vào được La Vang, TĐ7ND đã vượt qua ngã ba Long Hưng áp sát vào vòng đai Cổ Thành Đinh Công Tráng, TS2 ND có lệnh theo đuôi TĐ7ND, sau đó đơn độc tách rời, rẽ về hướng Đông để tiên phong xâm nhập vào Quận Mai Lĩnh bằng kỹ thuật dạ hành ngụy trang tối đa, bảo toàn lực lượng để làm đầu cầu cho TĐ7ND của Trung Tá Trần Đăng Khôi (Khôi Nguyên Khóa 16 VBĐL) và Thiếu Tá Nguyễn Lô (Sông Lô K18 VBĐL) “từng bước…từng bước thầm…đi vào hang lang sói…” cuối cùng toàn bộ TS2ND cũng “luồn” vào được mục tiêu “êm ái như mơ” địch không hề hay
biết nên không một tiếng súng nổ “chơi”. Tôi và đám “con cái Trinh Thử” loại Chuột với M16, lựu đạn, M72 trang bị tận răng nằm “ém quân” hai đêm ba ngày bất động nằm “ưu ái” trong lòng địch, phải nhiều phen nín thở, nhịn ăn để tránh “đi đồng”, mở banh chong đôi mắt thăm dò trong đêm ngày, vểnh đôi vành tai nghe ngóng âm ba như loài dơi thính dò tìm động tĩnh chẳng khác gì những bóng ma vô hình, theo dõi thật sát từng bước chân của địch quân đang nhởn nha qua lại trên đường phố, đến đêm thứ hai nghe bỗng tiếng thì thào “trọ trẹ” nhẹ như tơ vàng trong máy: – Út Bạch Lan…! Sông Lô đây?
Tôi trả lời với tiếng nói “thỏ thẻ” như gió thoảng hư không trên PRC25: – Tôi nghe! – Tôi sẽ gặp UBL lúc hai (2) giờ sáng đêm nay… chờ !
Tôi vui mừng không thể tả tâm trạng dường như trẻ thơ chờ mẹ đi chợ về, nỗi vui bỗng chốc trấn áp biết bao lo âu, chờ đợi làm căng thẳng thần kinh mấy ngày qua vì nghĩ đã bắt tay được với TĐ7ND tức không còn đơn độc trong lòng địch nữa…! Nhưng không phải như vậy, vì “Ôn” Sông Lô sau 10 phút “bắt tay” hàm thụ xong thì rời khỏi vùng địch ngay, trở về tuyến của Tiểu Đoàn cách xa gần cây số. Tôi xin mở ngoặc để “nói” thêm về “Ôn” Sông Lô Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ7ND, sau lên Trung Tá là một trong những Sĩ Quan Chỉ Huy kiệt xuất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chí cho đến ngày tàn cuộc chiến 30-4-1975… và sau đó Sông Lô với dáng người như cây tùng trước gió bão vẫn anh hùng hiên ngang lừng lững với quần áo Nhẩy Dù rằn ri vượt trại giam, đón xe đò đi về đâu…khi tứ bề địch bủa lưới ? Khi còn bị giam trong tù (nguỵ danh Trại Cải Tạo) đảng Cộng Sản gian trá đề cử nhân viên đài Truyền Hình Saigòn xuống trại tù thu hình làm phóng sự tuyên truyền, bọn công an bắt Sông Lô cầm cuốc làm cỏ để quay phim, Sông Lô liền dõng dạc từ chối thẳng thừng :”Tôi không chơi được cái trò khỉ đó”! Mặc cho chúng muốn hành hạ bắn giết không hề chi, tất cả bạn đồng tù lo âu tưởng rằng Sông Lô cựu Tiểu Đoàn Trưởng Nhảy Dù danh tiếng lẫy lừng sẽ bị chúng giam cùm hoặc bắn bõ. Sông Lô thời chiến yên hùng lẫm liệt giữa chốn ba quân nay trong thân tù cũng hiên ngang lẫy lừng… đã khiến cho tên sĩ quan trưởng trại thán phục với nhận xét: “Họ là những người Sĩ Quan kiên cường đáng phục…” ! Và xin hãy đọc một trích đoạn trong bài viết của người bạn cùng trại tù ngoài Bắc với Sông Lô đăng trên báo Mạch Sống số 62 tháng 9-2007 do Phan Nhật Nam phụ trách trong mục Lịch Sử Qua Lời Kể:
“Toán tử tội được dẫn đến trước những chiếc cột. Các anh có muốn nói điều gì không? Trưởng trại thoáng bối rối trước sự im lặng bình thản của năm người. Không một ai có dấu hiệu sợ hãi. Không có gì? Nguyễn Lô thay mặt các bạn trả lời (Bởi khi chấp cung, Lô đã xác nhận ông là người trách nhiệm độc nhất tổ chức vụ trốn trại). Nhưng đột nhiên, ông cười nhẹ.. Nếu cho hút điếu thuốc lào thì tốt lắm! Trưởng trại trầm mặt nghĩ ngợi (không hiểu Lô có ẩn ý gì vì yêu cầu quá nhỏ nhoi, bất ngờ) trước khi chấp thuận. Lô biết ý, giải thích: “Tôi có cái điếu mới, gởi ở các anh BK (đọc là Bê-Ka, Biệt Kích), tôi muốn hút cái điếu đó một lần chót!” -…Có đây! Có đây! Thưa ban (Ban Giám Thị), chúng tôi hiện giữ cái điếu của anh Lô. Viên trưởng toán Biệt Kích mau lẹ đứng dậy từ đám tù ngồi chật hội trường. Chiếc điếu được đưa tới, Sông Lô cầm lấy ung dung nói:” Mình chơi một điếu nghe mấy ông…? Những người bạn đưa mắt nhìn nhau. Hạnh nói nhỏ chán nản: – Hút làm gì Lô? – Thì cứ hút đi, trước sau cũng chết! Lô ngồi xuống, cho thuốc vào nỏ điếu, hâm cây đóm, kéo sâu hơi thuốc, thở khói lên trời. Ông cười nhẹ, đứng dậy, trao điếu cho các bạn và mời:”Làm một bi đi”! cựu Trung Tá Nhẩy Dù Nguyễn Lô nhìn quanh hội trường, đến với mỗi người tù, mặt ông không biến sắc..ký ức trận Ắp Bắc 1963,Pleime 1965, Cầu An Hòa – Tết Mậu Thân Huế 1968, Tổng Công Kích Đợt 2, Nghĩa Trang Người Pháp, Ngã Tư Bảy Hiền, Sàigòn 1968, Hạ Lào, Động Ông Đô, Chu Pao, La Vang, Quảng Trị 1972, Long Khánh tháng 4-1975.. .Đoạn đường mười hai năm một đời chiến đấu ông đi qua không một lần yếu đuối. Vậy hãy coi đây như chỉ là trận chiến cuối cùng trong đời, trận chiến không vũ khí, chỉ với những người bạn từng sống-chết và những người bạn tù ngồi im lặng dưới xa kia…. Nguyễn Lô thở hắt như lần trái đạn 57 ly bắn tung chiếc chiến xa và thân hình ông trước Thánh Đường Đức Mẹ LaVang, nơi quê hương Quảng Trị vào buổi chiều tháng 7 Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngày ấy cũng có nắng như hôm nay. Nhưng nắng miền Nam ấm, vàng tươi, sáng rỡ hơn… Có chiếc xe đổ nhanh dưới lưng đồi, trước bộ chỉ huy trại. Bóng người cán bộ VC chạy vội lên hội trường hô to:” Dừng lại! Dừng lại! Nguyễn Lô bình thản, tỉnh lạnh bảo với Hạnh và Bằng hai người bạn đứng gần kề bên cạnh: “Cứ hút đi, đừng để ý làm gì”! Điều đáng nói là phong cách hút điếu thuốc lào cuối cùng của Sông Lô khinh bạt, lãng tử yên hùng của trang “Hảo Hán Lương Sơn Bạc” và hơn thế nữa chính là Kẻ Sĩ Đông Phương xem cái chết nhẹ tựa lông hồng quả thật là không hổ danh Cấp Chỉ Huy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà…!!!” (ngưng trích).
Trở lại với hiện tiền trời nhá nhem ửng sáng, những tiếng động của xích sắt chiến xa càng lúc càng rõ dần, trước mặt xuất hiện lố nhố nón cối, AK, Đại Liên, B40-41 đang giàn hàng ngang tiến dần đến gần…oành…oành… oành… ầm… ầm… ầm… nhà bung mái ngói, cây cối gãy đôi, đất sỏi tung bay mù mịt. Trung Uý Cố Vấn Mỹ Terry Griswold chân tay run rẩy như thằn lằn đứt đuôi, hồn phi phách tán hét thất thanh trong máy: “Zulu…Zulu…Zulu right away! Right now…”!!! Mẹ, muốn rút lui phải có
kế hoạch từng bước, nếu rút lui cái ào hỗn loạn vô trật tự là đưa lưng lãnh đạn chết ráo còn ai để mà rút lui. Tên Trung Úy Cố Vấn mới tốt nghiệp West Point, một năm sau lên Trung Úy được điều sang VN tham chiến trong toán Cố Vấn 162 của Nhẩy Dù. Tôi phải trấn an và chậm rãi bảo hắn:”Terry…listen…You and your man stay here with me, don’t move and wait for my order…”! Rồi phải “run” thôi, tháo bung “banh xà rong”dzọt lẹ với kỹ năng nhất bộ nhất biến “thao lược” nhuần nhuyễn xuất thần để bảo toàn lực lượng trong trình trạng sinh tử, tránh bị tiêu diệt là nghề của chàng, của TS2ND vốn là hậu thân của đơn vị 81 Biệt Cách Dù Lực Lượng Đặc Biệt với hỗn danh “Dog Run” chó chạy đường mòn. Chạy cũng có kỹ thuật của chạy, chạy tán loạn là táng mạng cả đám, mạnh ai nấy chạy là tự sát, bỏ xác một mình. Trong kỹ thuật tác chiến rút lui khó hơn tấn công rất nhiều, cho nên theo thứ tự rút lui với chiến thuật “nhẩy cóc”, thằng này rút trước rồi ở lại bảo vệ thằng rút sau, từng bước, từng bước thoát ra cái lưới đạn pháo đang phủ chụp lên cả đơn vị. ĐĐ2TS thoát ra được đồng ruộng, thằng què tay cõng thằng què chân, thằng què chân cà thọt lôi thằng không đi đứng được, đành bỏ lại 17 đồng đội đã ra đi nằm im lìm bất động, hơn 30 mạng máu me đầy người được TĐ6ND vừa được tăng cường từ mặt trận An Lộc giúp đở tản thương, thiếu tá Nguyễn Văn Tùng TĐP/TĐ6ND (Khóa 19 VBĐL) tử thương trong mặt trận này, trung tá Nguyễn Văn Đĩnh (Khóa 15 VBĐL) ôm xác khóa đàn em mắt lệ lưng tròng…! TS2ND lui về phía sau nghỉ “thở” ba ngày để chỉnh đốn lại hàng ngũ trong khi các Tiểu Đoàn Nhẩy Dù vẫn tiếp tục tiến chiếm từng ngôi nhà, dãy phố và áp sát cổ thành Đinh Công Tráng. TĐ11ND đã vào đến đường Nguyễn Hoàng phía chính Nam đang nới rộng về phía tây tới cầu Thạch Hãn với TĐ1ND và hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù cạnh sườn trái ở thôn Như Lệ Tích Tường. TĐ7ND sau khi bứng hết các hầm hố kiên cố chôn dấu dưới những gốc tre già bằng một cái giá sòng phẳng phải chăng, quần thảo với Bắc Quân để bước vào khu vực bến xe và sân banh Nguyễn Hoàng. TĐ6ND theo lộ trình của TS2ND đã chiếm lại chi khu Mai Lĩnh nới rộng về phía Bắc về hướng Trí Bửu. Như vậy là quân Nhẩy Dù đã kiểm soát hoàn toàn khu vực ngoại thành của thành phố Quảng Trị ở phía Tây-Nam, phía Nam và Đông-Nam. TĐ5ND được lệnh triệt thoái phòng tuyến La Vang, bọc sau lưng TĐ7ND song hành với TĐ6ND hướng về Trí Bửu phía chính Đông của Cổ Thành. TS2ND mượn đường TQLC từ hướng chính Đông, dùng thiết vận xa đưa đến điểm xuất phát là sông Nhung để cùng TĐ5ND thành hai mũi giáp công, cố chiếm cho bằng được Trí Bửu để làm bàn đạp đánh phá Cổ Thành Đinh Công Tráng. TS2ND vượt sông Nhung bằng phao dã chiến Poncho, con sông này có thượng nguồn từ trong dãy núi ở phía tây Quốc Lộ 1 chảy ra sông Vĩnh Định chỗ cầu Ba Bến. Sông Vĩnh
Định có đầu nhánh phía tây chạy ngang chợ Sãi và thông với sông Thạch Hãn. Từ chỗ của tôi vượt sông để tới khu nghĩa địa phía chính Đông bìa
làng chỉ cách xa khoảng vài trăm thước, bỗng nghe một tiếng cắc bùm, Thiếu Úy Lã Quý Khâm Tiền Sát Viên của TĐ1PBND đang đứng sát bên vai với tôi, bật ngã ngửa người ra phía sau mắt trợn trừng, môi mấp máy mấy cái rồi…đi! Tôi ngồi thụp xuống bên một mô đất lạ ra lệnh cho tất cả hiệu thính viên, kể cả 5 ông Cố Vấn Mỹ cuốn ngay lá Antenna PRC25 dấu dưới ba lô. Không biết có phải vì biến cố này hay không mà chỉ vài giờ sau toàn bộ Cố Vấn Mỹ được lệnh rời khỏi TS2ND ngay tức khắc. Trước mặt tôi quả là một khúc xương khó nuốt. Bên cạnh sườn trái của tôi TĐ5ND đã chiếm được 1/3 Trí Bửu, bằng mọi giá TS2ND phải trườn hay bò lên phía trước để giữ cạnh sườn phải cho TĐ5ND và hướng mặt về phía Cổ Thành. “Đường đi không khó vì ngăn sông, cách núi” đường chỉ có khoảng vài ba trăm thước… Nhưng khó vì đầu đội pháo, ngực đang phơi khơi khơi trước những họng súng Nga – Tàu và đạn đã lên nòng đang hờm sẵn chờ cho mục tiêu là thân thể chúng tôi lọt vào tầm ngắm rồi nhã hằng loạt đạn… ở phía Bắc của tôi chỉ khoảng 500 mét là Hạnh Hoa Thôn, theo tin tức của Phòng 2 Sư Đoàn Nhẩy Dù cho biết là một đơn vị lớn của Sư Đoàn 320B (SĐ320B) Bắc Quân đang trú đóng ở đó, Sư Đoàn nầy do tướng Nguyễn Sùng Lãm làm Sư Đoàn Trưởng và là Tư Lệnh Mặt Trận 7 Quảng Trị thuộc Quân Khu Trị Thiên được đưa vào tăng cường, chịu trách nhiệm khu vực thuộc quận Triệu Phong từ tây bắc Vĩnh Định ra tới Cửa Việt. Trung Đoàn 27 tại vùng Đông Hà, Động Lôn, Quai Vạc, Trung Đoàn 48 (Quang Sơn) của Trung tá Lê Quang Thúy trong Cổ Thành Đinh Công Tráng, Trung Đoàn 64 tại Cam Lộ, Định Xá, Bái Sơn. Trung Đoàn này tăng phái Tiểu Đoàn 9/64 cho Trung Đoàn 48 của SĐ320B cùng TĐ3 và TĐ8 địa phương của B4 trấn giữ Cổ Thành cùng khu vực
làng Trí Bửu và Hạnh Hoa Thôn… Nếu họ muốn càn quét chúng tôi, chỉ cần một chi đoàn chiến xa T54 với bộ binh tùng thiết, dùng hỏa tập tấn công thì chỉ trong phút chốc chúng tôi sẽ trở thành mây khói, bởi lẽ không yểm của quân ta gần như bất khiển dụng trong việc yểm trợ cận phòng vì lưới đạn phòng không dày đặc đan giăng như Thiên La mắc cửi, pháo yểm cũng không thể diệt được Tank 54 và bộ binh địch chớp nhoáng sẽ tràn ngập….!!!
Nỗi lo âu đó trong tôi hằng phút hằng giờ trong thế bối thủy, tiến không được mà lùi cũng không xong ? Thôi thì phải tử thủ, Triệu Tử Long – Tam Quốc Chí tân thời không thể buông tay chết đứng giữa trận tiền, đành phải liều “bung Dù” tử chiến với giặc trùng điệp hoặc sẽ tan tành rã đàn xẻ nghé…? Tôi xin tăng viện khẩn cấp M72, buổi sáng ngày hôm sau TĐ5ND tăng cường cho tôi 50 hoả tiễn, buổi chiều Lữ Đoàn cung cấp thêm 100 súng M72 để thủ sẵn. Các toán viên Viễn Thám ngụy trang như những cây di động nằm yên tại chỗ, chỉ di chuyển ban đêm khi trái sáng phụt tắt, rồi tiếp tục nằm yên khi trái sáng bục nở trên bầu trời, tất cả M72 kéo nòng, mở khóa an toàn, áp sát một căn nhà nào đó ẩn thân rồi nhanh nhẹn như một tên đạo chích đột nhập vào trong nhà, dùng lưởi lê “thích khách” Bắc Quân “êm re” không một tiếng động…và có lẽ mấy cán ngố Đặc Công, Tiền Sát Viên đã âm thầm gặp diêm vương nên cường độ pháo tập 130ly giảm dần và cũng vì tình trạng trộn trấu giữa ta với địch cùng ẩn náo, sống chung một nhà “người ơi mau về đây, cùng chung mái nhà” chẳng thằng nào nhận ra thằng nào và cũng vì các toán viên Viễn Thám mặc quân phục của VC và xử dụng súng AK47, dùng ám hiệu mật mã trên PRC25 đều bằng những con số y chang như Bắc Quân thì làm sao chúng có thể phân biệt trong thế tranh tối, tranh sáng mờ mờ nhân ảnh… cho nên chúng nó lần lượt bị “đâm sau lưng chiến sĩ” rồi trở thành liệt sĩ mà không biết tại sao và vì sao
“em” đã vội “chia tay hoàng hôn” …?!… và cứ thế các Trung Đội Trinh Sát trám chỗ để các Toán Viễn Thám tiếp tục truy lùng và diệt địch, cho đến khi song hành với TĐ5ND chỉ còn cách bờ thành Đinh Công Tráng cửa Đông Quan khoảng 100 mét nằm trong tầm đạn đạo súng cối và đại liên 12ly7 từ trên cao của bờ thành rải như mưa xuống đầu chúng tôi…Bên trái là ĐĐ51ND của Trương Đăng Sĩ và ĐĐ52ND của Hồ Tường, tất cả lực lượng gọi là “Tiền Phương” này đều dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền Thủ Khoa K16 VBĐL). Bên phải của TS2ND là trùng trùng điệp điệp bóng dáng Bắc Quân…Bấy giờ lực lượng trừ bị hùng hậu Thuỷ Quân Lục Chiến còn ở xa chưa tới áp sát vì lệnh ở trên ! Chúng tôi trên đầu thì phải đội đạn 130ly sơn pháo, hoả tiễn 122ly, cối 82ly…từng giây phút, hằng giờ, trước mặt là một dãy hào sâu ngập nước với bức tường Cổ Thành dầy đặc kiên cố cao khoảng 12 mét.
– Út Bạch Lan…Tố Quyên. – Tôi nghe Đích Thân. – UBL nghiên cứu thử xem có thể gửi hai con vịt tiềm (Viễn Thám) vào trong được không ? – Nhận 5 trên 5 Đích Thân.
“Mission Impossible” !!! Xâm nhập vào mật khu rừng núi hay vào căn cứ địa của địch không mấy khó khăn, nhỡ bị phát hiện thì trổ tài…”dzọt”, sống còn hay tử vong mất xác là do số mạng, còn như nhận lệnh thi hành nhiệm vụ này chẳng khác gì Kinh Kha sang sông Dịch một đi không trở lại, không có đường về, cũng không có cơ may trở lại để kiếm đường về…! Tôi gọi Thiếu Úy Thông và Thiếu Úy Hiền hai Sĩ Quan trưởng toán vừa được bổ sung sau Mặt Trận Kontum, cả hai chưa có một chút kinh nghiệm gì về thoát hiểm mưu sinh để tôi “ban lệnh hành quân”. Nhìn hai đôi mắt đăm chiêu tư lự của hai Sĩ Quan trẻ độc thân này, lòng tôi bỗng chùng xuống không thể “hạ lệnh” một cách mạnh mẽ và dứt khoát được, vì biết rồi ta sẽ đưa họ vào cõi chết một cách oan uổng và phi lý cho dù “chuyên qua sông Dịch” là nghề của chàng…! Muốn tới được chân bờ thành đã khó vạn nan, rồi còn tìm cách nào để lên được tường thành rồi xâm nhập vào trong thì quả thật là liều lỉnh để tự sát, chỉ có cách duy nhất là làm sao đục thủng một lỗ tường thành thì họa may có thể …? Hiện tại TankM48 không có, pháo binh thì ở xa, phi cơ thả bom cũng chỉ đánh phá từ trên xuống không thể phá ngang hông được, đạn M72 hay 75 ly không giật công phá tường thành dầy 5-6 mét không hề hấn gì…! Tôi thật bối rối không biết
phải tính toán như thế nào để xâm nhập qua bức tường thành chắn lối thật là “đá dựng ngàn năm hoang đường khói độc”…? Nếu liều lỉnh nhắm mắt xua lính cảm tử thi hành lệnh lúc này đồng nghĩa với cái chết, thì lòng can đảm chỉ là thể hiện tính chất cường bạo và vô trí tuệ mà thôi chẳng có ích gì…? Không thi hành thì lại mang tiếng hèn nhát trước địch quân đâu phải là Trinh Sát 2 Nhẩy Dù vốn xuất thân từ Lực Lượng 81Biệt Cách Dù ? Tôi gọi Tố Quyên trình bày những khó khăn trở ngại nói trên và xin cung cấp cho 6 sợi dây tuột núi cùng với móc câu.
– UBL…tôi sẽ cố gắng…nhưng không hứa !
Như vậy là tôi phải chờ ! Tình hình biến chuyển từng phút, từng giờ, ĐĐ51ND (Trương Đăng Sĩ), ĐĐ52ND (Hồ Tường), ĐĐ54ND (Nguyễn Vũ Dương) và ĐĐ111ND (Đinh Viết Trinh) tăng phái dưới quyền điều động chỉ huy hành quân của Tố Quyên đã áp sát bờ thành đang chờ những phi tuần Không Quân Bảo Quốc Trấn Không “bay không ai tìm xác rơi “đang vần vũ trên bầu trời giáng sấm sét từng đợt đánh bom hạng nặng làm sập một góc tường thành thì may ra chúng tôi mới cảm tử chiến cho dù phải hy sinh nhiều chiến sĩ là phải đánh đổi bằng một cái giá rất đắt, nghĩ tới thâm tâm sinh nỗi bất nhẫn, nhưng rồi buột miệng: “chiến tranh mà” lẫn trong tiếng gầm rú của phi cơ và tiếng bom đạn nổ bùng vỡ xé trời xanh… và TS2ND chúng tôi đang trụ thế “nhất kiếm công thành” trước tuyến trận, đứng đầu sóng ngọn gió chịu áp lực từ phía Bắc càng lúc càng nặng nề. Quân số càng ngày càng hao hụt nhưng cũng phải cố gồng mình chịu đựng, vì nếu TS2ND bị chọc thủng thì Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của TĐ5ND bị đe dọa chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ. Đây là một điều ưu tư lo lắng từng phút từng giờ của Ông niên trưởng Tố Quyên (Bùi Quyền) Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt lúc nào cũng 24/24 trên máy PRC25 với tôi và Chí Bệu (K20VBĐL) trưởng Ban 3 Hành Quân của Tiểu Đoàn. Chúng tôi tiên liệu Bắc Quân sẽ có một trận pháo cường tập và tấn công biển người và chờ đợi tới đâu hay tới đó…? Tố Quyên điều động ĐĐ54ND lo bảo vệ khu vực Đông Bắc Trí Bửu và tải thương, ĐĐ51ND và ĐĐ52ND nhào vào Cổ Thành…Không Quân Việt Nam với những phi tuần Khu Trục (Skyraider AH-1) do những Phi Công dày dạn chiến trường, tài trí siêu xuất đánh bom vào chỗ kỳ đài rất chính xác như “thảy lỗ”, thì lúc đó bỗng có 2 phi tuần Jet của Mỹ ở đâu bay vào vùng để yểm trợ thêm cho quân Nhẩy Dù công phá Cổ Thành, Cố Vấn Mỹ hỏi Tố Quyên có muốn xử dụng không ? Tố Quyên OK và chỉ cho Jet nó đánh ngay vào mục tiêu cùng chỗ phi tuần Việt Nam vừa đánh. Nhưng than ôi… “điều động tại nhân mà tai hoạ tại thiên” khói bụi từ chỗ mới bị bom đánh tỏa ra bị gió thổi bạt đưa về phía ĐĐ51ND và ĐĐ52ND thế là Pilot Mỹ chơi 2 pass Smart Bomb vào Smoke Targets đó, thành ra bom bên Mỹ mình giáng xuống quân ta tan tành “banh xác pháo”…!!!
. Ngày N+21:
– Út Bạch Lan…207. (Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND) – Tôi nghe 207. – Qua bên kia. – Tôi hiểu ngay là qua tần số khẩn cấp đặc biệt của Lữ Đoàn. – Cố giữ cạnh sườn cho Tố Quyên và Minh Hiếu, trễ lắm trong vòng 48 tiếng đồng hồ sẽ có tăng viện thay thế.
Lệnh này Minh Hiếu và Tố Quyên cũng biết, nhưng chỉ biết là sẽ có tăng cường lực lượng, nên kế hoạch mạo hiểm xâm nhập cổ thành hủy bỏ. Hai ngày sau tôi được lệnh chuẩn bị bàn giao phòng tuyến cho hai Biệt Đội 81 Biệt Cách Dù, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phạm Châu Tài.
Tại chão lửa Quảng Trị nầy gặp lại những bạn cũ dưới cơn mưa pháo như Đại Úy Dương Thiện Ngộ (BĐ3BCD), Đại Úy Lê Đắc Lực (BĐ4BCD), Đại Úy Nguyễn Sơn (BĐTS/BCD-Biệt Đội Thám Sát) lòng vui mừng trộn lẫn nỗi lo buồn vì đã bỏ lại hằng chục đồng đội chưa mang được xác của họ về cho vợ con gia đình, mà đơn vị đang xác xơ chỉ còn trên dưới 40 người, tinh thần mệt mỏi rã rời sau 21 ngày đêm chống đỡ xa luân chiến với một lực lượng địch quân đông gấp chục lần quân ta…! Sau khi giao lại chiến trường cho BĐ81BCD, đám thiên lôi TS2ND chúng tôi được lệnh rút về phía
sau lưng bọc hậu cho TĐ5ND giữ đường tiếp tế tản thương đến sông Nhung, nơi đây chúng tôi gọi là “Bến Đò Đưa Xác”. Vừa rời khỏi phòng tuyến chừng 200 mét thì bị một cơn bảo táp tiếng súng lớn nổ vang rền đạn bay phủ chụp lên TS2ND như một mẽ lưới tử thần, chúng tôi nằm bẹp dí như những ngọn cỏ tại chỗ chịu trận…!!! Tôi hét lên trong máy:”Tố Quyên…Tố Quyên…bảo mấy đứa con của đích thân ngưng bắn ngay, nó đang bắn lên đầu chúng tôi…Tố Quyên…Tố Quyên…”! Hai phút sau.
– UBL…check lại xem cho tôi biết ngay. Không có đứa con nào phía sau lưng của tôi nổ súng trong khoảng một giờ trước đây…?
Lúc này là ĐĐ54ND đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy của Tố Quyên. Hoàn hồn, lấy lại bình tĩnh phán đoán, tôi nhận ra ngay, tiếng nổ là B40,B41 và phòng không 12ly7 của Bắc Quân… Tôi vỡ lẽ và buột miệng:”thôi chết rồi …”
TĐ5ND đã bị chặn hậu, đường giây tiếp tế cũng bị bít kín, như vậy TS2ND cũng không còn “đường xưa lối cũ có bóng tre che thôn làng” rồi, bây giờ là là con đường tử địa ! Tôi nghĩ chắc có thể Hổ Xám Phạm Châu Tài 81BCD cũng sẽ bị “gombi” không còn một mống nào thoát được khi bị tấn công cường tập với đại pháo 130ly, Tank T54, 12ly7, cối 82… và bộ binh của Bắc Quân…?! Cả đám chúng tôi tiến không được, thối cũng không xong, chỉ còn sự lựa chọn duy nhất là trực diện xông vào cửa tử để tìm sinh lộ với thân thể tàn tạ sức mòn lực kiệt, “chiến bào” rách bươm tơi tã…nhưng phải đồng thời “cứu chúa phò nguy”, chết vinh còn hơn bị hốt hết rồi sẽ bị sống nhục…! Tôi ra lệnh như hét:” Tất cả bõ Balô xuống, đưa M72 dồn cho Trung Đội 1 (chỉ còn 12 mạng), mỗi người 5 quả M72, kéo nòng, rút chốt an toàn sẵn sàng súng trên vai, nhắm vào căn nhà ngói nền cao phía trước khoảng 50 thước, quỳ dàn hàng ngang chờ lệnh…”. Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cũng còn trên dưới 10 mống, cùng với tôi và ban Chỉ Huy Đại Đội, súng cá nhân và lựu đạn sẵn sàng… khi nghe loạt M72 đầu tiên thì phóng như bay khoảng chừng 20 mét rồi nắm bẹp xuống, chờ loạt thứ hai và thứ ba cứ tiếp tục nhào lên cho đến khi đến sát những khung cửa sổ nhà đỗ nát, khi tiếng nổ M72 của Trung Đội 1 chấm dứt tác xạ đợt 4, thì Trung Đội 2 và Trung Đội 3 bắt đầu dùng lựu đạn tung vào trong. Bắc Quân như lũ chuột: chuột cống, chuột chù, chuột nhắt…kinh hoàng tháo thân chạy bung ra ngoài, nón cối rơi rớt vung vãi dưới những họng súng M16 thiện nghệ của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù, thây người ngã vật xuống, không một tên nào chạy thoát. Mày là Đặc Công hả? Tao là Trinh Sát Nhẩy Dù đây, mày là “giặc từ ngoài Bắc vô đây bàn tay bắn giết đồng bào” miền Nam, bàn tay đồ tể chúng mầy nhuốm máu anh em cùng dòng máu đỏ, da vàng Việt Nam của mày, thì làm sao tao có thể tha cho mày lúc này được..? Chúng mày chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót, còn tao thì chắc chắn không giết lầm cho nên không có cái vụ bỏ sót và lệnh của tao là:” Không để sót một thằng nào chạy thoát trong trận này” mặc dầu tao đã kiệt sức gần như muốn ngã quỵ…! Và chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ đánh xáp lá cà như tia chớp, nhoáng TS2ND đã quét sạch Đại Đội Đặc Công của Sư Đoàn 320B, xác chết quân địch và vũ khí ngỗn ngang chẳng cần thu nhặt dọn dẹp… Tố Quyên mừng lắm gọi tôi:”Thank you UBL…tôi sẽ cho 54 thay chỗ ngay bây giờ, UBL trở về bến đò đưa xác giúp cho tôi cõng thương binh và đem xác anh em “rách áo” về …” ! Ôi,.. đâu rồi “Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê” em ơi… TS2ND nay còn đâu mái tóc thề, rách bươm tơi tả, te tua sau 21 ngày đêm sống trong bão lửa khốc liệt như trời long đất lỡ, súng nổ vang rền tứ phương, đạn bay lấp loáng vung vãi phủ chụp, cày bung thớ đất và trong nón sắt còn âm vang vọng lại như vỡ bung màng nhĩ, nay trở về như lạc lõng nẻo tâm hồn nào vương theo lối cũ…? Tôi ngồi nhìn dòng nước con sông Nhung hiền hòa cứ lững lờ trôi với tâm tư: Sông và nguồn có bao giờ tịch lặng…? Con nước xuôi dòng chuyển chở bao niềm…
Tôi bỗng chạnh thương con sông Nhung vì trong dòng nước phù sa đầy vơi êm trôi kia có pha lẫn máu của Anh Em tử sĩ và thương binh nhỏ xuống hoặc thấm ướt qua làn vải áo trận bê bết đã tơi tã mấy ngày qua …! Nhìn những chiếc bè kết bằng thân chuối, bập dừa thay thuyền chở đưa xác tử sĩ qua sông, bên cạnh tôi còn hằng chục cái Poncho gói kín thân xác anh em chờ tiếp tục qua sông …Chúng tôi vừa khiêng, vừa cõng, vừa dìu dắt những đồng đội bị thương máu me đẫm ướt quần áo trận với tâm tư trĩu nặng, thần trí như con ốc hoang trôi dạt muốn bám vào những gốc cây bần, đám lau sậy hoang ven sông mà tìm nơi trú thân bình yên tạm trong giây phút…! Trong những Poncho đó là binh lính của TS2ND được Biệt Đội Thám Sát 81Biệt Cách Dù của Nguyễn Sơn “săn sóc” gói ghém cẩn thận trao lại cho tôi, còn những thương binh sẽ có “diễm phúc” ngồi chờ trực thăng tải thương có khi Pilot phải cắt giảm Throttle, hạ Collective để cho tàu OA (Overhead Approach) nếu bị 12ly7 đan lưới đạn đón chào và “may mắn” anh em sẽ được bốc về Nguyễn Tri Phương, Huế hay Duy Tân hoặc Đà Nẵng, rồi sau đó về Tổng Y Viện Cộng Hoà…và rồi anh sẽ trở thành “bại tướng cụt chân” tập làm quen với xe lăn, nạng gỗ hoặc mắt không còn thấy ánh sáng của cuộc đời…! Tôi tạm tiếp tục nhiệm vụ làm “tư lệnh” Bến Đò Đưa Xác như thế cho TĐ5ND và BĐ81BCD, đến khi không còn sức lực để khiêng, để cõng xác tử sĩ và thương binh nữa …!!! Tôi yêu cầu Lữ Đoàn tăng phái khẩn cấp cho TS2ND một tiểu đội Quân Y với 50 Poncho và 20 băng ca dã chiến, đồng thời ưu tiên bổ sung quân số. Chúng tôi rất cần những Poncho mới để gói lại những xác lâu ngày đã sình thối, chương phình làm bung rách nát lớp Poncho cũ, băng ca để khiêng những người bị thương nặng đem ra xa khoảng 500 mét, chất lên M113 chở ra Bộ Tư Lệnh SĐND ở Phong Điền. Hai ngày sau được bổ sung thêm 2 Sĩ Quan, 8 Hạ Sĩ Quan và 30 Binh Sĩ được lấy từ Quân Cảnh, Quân Lao, Lao Công Đào Binh, Hồi Chánh Viên tình nguyện trong QLVNCH…thôi thì có còn hơn không ! Trong những giờ phút và ngày tháng ở đây TS2ND chúng tôi bỗng trở thành lao công đào binh khiêng Poncho bọc xác đồng đội TĐ5ND và BĐ81BCD tiếp tục chất lên những chiếc bè kết bằng bập dừa “đưa anh sang sông” mà như dậy sóng ở trong lòng …! Ở Bến Đò Đưa Xác nầy tương đối bình yên, không còn những trận bão lửa, đạn nổ ầm vang tiếng 130 ly, B40, B41, AK47 với tiếng gào thét xung phong đằng đằng sát khí của kẻ thù như năm bảy ngày trước đây…Nhưng lại là những đợt sóng thương tâm dậy lên lao xao đau xót vô cùng khi cõng những đồng đội thân thể đẫm máu đang ngất ngư bơi qua bên kia sông Nhung, và rồi đêm nay, hay ngày mai không biết họ còn sống hay chết…! Chiến tranh mà! Cuộc chiến nào không có máu đổ thịt rơi, không có hủy diệt tàn phá, nhà cửa ruộng vườn mồ mả cha mẹ, ông bà, tổ tiên bị cày sới tung lên rơi rớt xuống từng mảnh vụn huống chi thân xác con người bằng da, bằng thịt sao không nát tan bởi một mảnh đạn sắt thép vô tình xuyên phá .
– Út Bạch Lan…207. – Tôi nghe đích thân. – Vào tần số này để liên lạc với TĐ3TQLC.
Dĩ nhiên cuộc đàm thoại nào với 207 cũng bằng ám số truyền tin. Như vậy là nguồn tin Thuỷ Quân Lục Chiến sẽ tăng cường cho mặt trận Trí Bửu là có thật. Nhưng không phải tăng cường mà là TQLC sẽ thay thế toàn bộ lực lượng Nhẩy Dù trong nhiệm vụ tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng. Trung Tướng Dư Quốc Đống TL/SĐND có lần đã nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn I rằng :”…Bảo tôi đánh giặc mà đánh như thế này thì làm sao tôi đánh..” và sau đó trên hệ thống liên lạc siêu tần số cơ hữu của Sư Đoàn Nhẩy Dù, sĩ quan truyền tin Võ Trung Tín đã nghe cuộc điện đàm giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng như sau: – Trung Tướng Đống:”Trưởng có thấy không, trước khi tấn công vào mục tiêu, Tổng Thống Thiệu ra lịnh tuyệt đối không cho phá hủy Cổ Thành, đến khi vừa vào được trong thành thì bom dội xuống trên đầu như thế nầy thì đánh giặc cái gì đây? Đánh giặc như thế nầy thì tôi không đánh nữa, Trưởng cứ cho ai vào đánh thì đánh đi”.
– Trung Tướng Trưởng:”Thưa Trung Tướng được rồi, để sáng ngày mai tôi bay ra Sally gặp Trung Tướng sẽ bàn định lại”…
Phía Đông Bắc của Nhẩy Dù hoàn toàn bỏ ngỏ, đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến còn đang mở đường từ Cửa Việt ở xa khoảng gần hai cây số, nếu phòng tuyến của TS2ND tan vỡ thì TĐ5ND cũng vỡ, và theo vết dầu loang xuống phía Nam với TĐ6ND sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến các lực lượng vòng đai phía chính Nam của Thành Phố Quảng Trị. Kế hoạch chiếm lại Cổ Thành Đinh Công Tráng như công dã tràng, mặc dù ĐĐ51ND của Đại Úy Trương Đăng Sĩ đã lên được bờ thành, nhưng liệu hai Biệt Đội 81BCD có chịu đựng nổi hay không khi phải tam đầu thọ địch…? Nếu hướng về tường thành là mục tiêu phải đến thì bên trái được “ấm lòng” vì dựa vào TĐ5ND, bên phải bị áp lực nặng nề với quân số chênh lệch như trứng chọi đá, phía sau lưng trống trơn, trong thế gọng kìm đó chỉ có thủ cầm hơi may ra chờ tăng viện, còn công thì bất khả thi chỉ biết ngạo nghễ ca vang “trên đầu súng Bắc Quân, Ta vì tổ quốc phải quên mình”. Hơn ai hết, Tướng Dư Quốc Đống đã thấy và biết điều đó, Ông không muốn những đứa em “đứa con” của Ông bị chết một cách oan uổng để được Tổ Quốc Ghi Ơn vì sự phối hợp hành quân, hợp đồng tác chiến một cách lỏng lẻo sơ hở tắt trách của cấp trên. Do đó mới có lệnh hoán chuyển toàn bộ phía Bắc,phía Đông, phía Tây cho Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là lực lượng hùng hậu chưa sứt mẻ, quân số mỗi TĐ/TQLC trên dưới 800 người với chiến xa Tank M48 và đặc biệt được ưu thế không yểm trực tiếp cận phòng của Không Lực Hoa Kỳ. Hợp đồng tác chiến dưới quyền chỉ huy duy nhất với 3 Lữ Đoàn gồm có 9Tiểu Đoàn, 3Tiểu Đoàn Pháo Binh, 1 Thiết Đoàn Kỵ Binh…thì Thành Phố Quảng Trị đã nằm trong tay của Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân rồi…?!!! Sư Đoàn Nhẩy Dù dạt qua hướng Tây Nam Thành Phố Quãng Trị nối vòng tay với Sư Đoàn 1Bộ Binh để giữ tuyến từ La Vang xuống Ba Lòng kéo dài tận phía tây Huế. Lúc nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng gọi lạ trên PRC25 tần số Lữ Đoàn:
– Út Bạch Lan…909 đây.
909 có một ám danh khác là Chương Thiện,Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh (K16ĐL TĐT/TĐ3TQLC)
– Tôi nghe 909. – Thằng con đầu của tôi sẽ gặp UBL khoảng nửa giờ sau, đón nó giùm ? – Nhận 5/5…tôi đang chờ.
Thằng con đầu của TĐ3TQLC là “thằng”…Đại Úy Nguyễn Kim Chung (ám danh C18) bạn cùng Khóa 22 Đà Lạt (K22ĐL) với tôi. Ba giờ sáng nó tới gặp tôi dưới ánh đèn pin quét qua quét lại, tôi nói với nó:”Chỗ này của tao, mày lo phối trí cho con cái nghỉ ngơi và đón Tiểu Đoàn rồi sáng nói chuyện”.
Tờ mờ sáng ngày hôm sau, ngồi trước căn nhà lá nghiêng ngả đổ nát cạnh bờ sông, phía trước là sân gạch phơi lúa với Poncho sắp thứ tự (get line) để chờ chuyển về đi phép miên viễn nơi cõi vĩnh hằng, chung quanh đâu đó bên hiên nhà, dưới gốc cây lố nhố những “cây” bông băng trắng xóa, kẻ ngồi,người nằm, vài ba “ông thần” còn tỉnh táo lần mò trong ba lô lôi ra Beret đội lên đầu, mũ đỏ Nhẩy Dù, mũ xanh lá cây Biệt Đội 81Biệt Cách Dù chen lẫn nhau trong đám mũ xanh dương Thuỷ Quân Lục Chiến vừa mới tới còn khoẻ mạnh pha cà phê, mồi thuốc lá cho hai màu mũ thương binh đang nằm ngồi la liệt…! Định mệnh cũng có những trò chơi oái oăm lạ kỳ đun đẩy tôi vào hoàn cảnh cười không ra cười, khóc không ra khóc, tôi đang làm “giám đốc” bệnh viện dã chiến kiêm luôn “giám đốc” nhà xác mà thân chủ của tôi lại là gốc gác, cội rễ xuất thân binh nghiệp của tôi “một đời binh nghiệp hai màu mũ” 81BCD và ND…!!! Với ba ca cà phê dã chiến, Thiếu Tá Cảnh mắt đang dán chặt vào phóng đồ hành quân,thằng Chung cất tiếng hỏi tôi: – Trời ơi,…sao mày vầy nè Út…”?! – Vầy nè là vầy làm sao…?
Mặt tôi râu ria xồm soàm, mắt sâu má hóp, quần áo rách bươm bê bết loang lỗ đầy vết máu sậm mầu khô, tươi còn bốc mùi ngay ngáy tanh hôi trong cơn gió nóng nhẹ thổi qua, thần khí tiêu tan, oai phong rũ liệt, chẳng có còn gì để nói, để cười, người về từ cõi chết, bây giờ đang sống ở địa ngục trần gian, chỉ cần định mệnh run rủi một quả đạn 130ly trúng ngay chỗ ngồi thì Thiên Thần Nhẩy Dù hay Lính Nhẩy Dù ngã xuống có mặt đất hướng dẫn đường lên Thiên Thai ngay…Viễn du trên thiên đường để đầu thai kiếp khác…?! Thằng Chung bật cười, cái cười đầy tự tin, nhưng có chút méo mó vì nó biết rồi chính “đương sự” sẽ cũng đi vào “con đường xưa em đi” của tôi đã đi qua, làm sao nhớ và có lối về không…? Nó tiếp tục hỏi nữa: – Tao nghe nói mày bị thương nặng, rồi bây giờ mày có sao không…?! – Có sao thì tao đâu có ngồi đây để đón mày, hay không bằng hên, đạn tránh tao chứ tao tài cán gì như Đoàn Dự mà lăng ba vi bộ để tránh được đạn chứ …? Nhưng đau ở chỗ đạn tránh tao để sơi tái thằng đứng bên cạnh mới buồn xót xa chứ…!
Thiếu Tá Cảnh hỏi tôi: – Út cho tôi biết sơ sơ tình hình trong đó ra sao? Tôi nhận lệnh vào thay thế TĐ5ND và hai biệt đội 81BCD…? – Thưa Thiếu Tá…chua và cay và cam go lắm… ! Vì phía Bắc trống trơn, nên cứ lo sợ nó chơi xả láng một cú là mình mặc quần xà lỏn sáng về sớm…!!!
Thiếu Tá Cảnh bật cười: – Tôi cũng chịu thua và sợ ông luôn, trạng huống này mà ông còn “tếu ngạo giang hồ” được…!!! Nhưng cứ yên tâm vì chúng tôi sẽ vào đó với thế liên hoàn của 3 Lữ Đoàn (LĐ147TQLC, LĐ369TQLC, LĐ258TQLC) cùng giờ phát xuất, Đông, Bắc và dần qua Tây, phía Tây thì nhẹ hơn vì có sông Thạch Hãn làm rào cản, chỉ có lo pháo từ Ái Tử thôi, còn cua (TankT54) của chúng nó, chúng tôi rang muối cũng khá nhiều rồi trên đường đổ bộ từ bờ biển đến đây. Thôi,… 9 giờ chúng tôi bắt đầu qua sông…để tôi gọi ngay cho Tố Quyên, chắc hắn mừng lắm.
TS2ND chúng tôi được lệnh di chuyển về làng Vân Xá cách Huế 10 cấy số, hai ngày sau được lệnh ra phi trường Phú Bài để lên C130 bay về hậu cứ SàiGòn nghỉ phép xả trại 100% 15 ngày, để đi hớt tóc cạo râu, thay quần áo mới, tẩm bổ với những thang thuốc “hoàn hồn linh dược”, viếng mộ, thăm thương binh, cô nhi quả phụ… Trong khi chờ máy bay ở phi trường Phú Bài thì tôi thấy “thằng” Nguyễn Kim Chung mặt mũi băng trắng kín mít với đôi mắt còn tinh ranh. Chỉ mới hai ngày trước “tôi đưa em sang sông bằng Poncho hay bập dừa” mà bây giờ nó lại lội qua sông ở “Bến Đò Đưa Xác” theo tôi ra đây cùng về và ôi …” Anh về thủ đô gò má anh băng đầy bông” ở phiá gò má bên trái của nó ăn một viên “kẹo” AK47 làm thủng “dớt” cái quai hàm máu còn thấm ướt qua lớp band gaz quấn quanh. Tôi đùa lập lại câu hỏi mà nó hỏi tôi hai ngày trước đây khi “hội ngộ” ở Bến Đò Đưa Xác: – Trời ơi sao mày vầy nè Chung…? – Vầy nè là vầy làm sao …? Mẹ…tại tao không chịu luyện nội công lăng ba vi bộ như mầy, nên bị thằng Mộ Dung Phục nó chơi một phát vào mặt, may là không bị mất mặt chỉ bể má thôi…!!!
Tôi và nó là hai thằng bạn thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt ôm nhau lăn ra đất cười ngặt nghẽo, méo mó bên cạnh một đám thương binh bốn màu mũ: Đỏ, Nâu, Xanh Lá Cây, Xanh Dương …!!! Sách Giáo Khoa Thư Tiểu Học: “thân thể người ta chia ra làm ba phần, đầu, mình và chân tay “…thì quan quân chúng tôi tay chân, đầu ngực băng bông trắng xóa, máu tươi thấm ướt “chiến bào” bao nhiêu ngày không được tắm rữa giặt giũ mùi “hương” máu còn thoang thoảng “riêng một góc trời”…!!! Nhưng ở đây nơi bình yên, tôi thấy trong ánh mắt của họ như không còn lưu lại một chút gì dù chỉ mõng mõng một tí thôi nét kinh hoàng lửa khói “thời qua” để “làm tan nát lòng nhau”, thay vào đó là niềm vui hân hoan “hôm nay đây còn vui trông thấy nhau” và rạng ngời lên một thứ tình cảm đồng đội chiến trường đã cùng vào sanh ra tử trong suốt một tháng trời lửa đạn vừa qua…!!! Họ vẫn còn sống và sắp sum họp với gia đình một thời gian dù dài hay ngắn để không còn nghe những tiếng gào thét tử thần của bom đạn, lửa khói bất chợt phủ chụp lên đầu và nín thở lắng nghe, chong mắt trong đêm đen dõi theo những tràng đại pháo của Bắc Quân cày sới mặt đất, hất tung những bạn đồng đội lên cao, rớt xuống rồi nằm im bất động. Họ sẽ hưởng được những ngày dưỡng thương, nghỉ phép trong an bình với gia đình vợ con… !!! Tôi chợt nghĩ đến những cán binh Bắc Quân “sinh Bắc tử Nam” tuổi đời còn non dại, bị bắt buộc hay bị khích động bởi những giáo điều láo lếu của Mao – Hồ rồi bị đưa đẩy vào chiến trường khốc liệt miền Nam như con thiêu thân lao vào ánh đèn sáng nóng 1000 watt, để rồi ngã gục, thịt nát, xương tan trên con đường đi không đến và chẳng có nẻo về…! Họ có cùng máu đỏ như tôi, da vàng mũi tẹt, cùng Lịch Sử một Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm con nên gọi nhau là “Đồng Bào”, cùng sinh trưởng trên mảnh giang sơn hình cong chữ S này… rồi truy tìm bắn giết lẫn nhau có gì vui làm hạnh phúc…?
Đơn vị về đến hậu cứ, tôi giao hết cho Trung Úy Tài chỉ huy hậu cứ lo hết mọi thủ tục như sau mỗi cuộc hành quân, tôi vội vã ký giấy phép cho tất cả quân nhân trong đơn vị ngoại trừ nhân viên hậu cứ, nói với Hạ Sĩ Quan kế toán và tiếp liệu xoay sở tiền nong ứng trước cho mỗi người 10 ngàn để làm lộ phí về thăm gia đình, thăm cô nhi quả phụ rồi chờ tôi trở về cùng nhau ra Nghĩa Trang Quân Đội viếng mộ Tử Sĩ, thắp nén nhang cầu siêu hương linh quí Anh – Em là Hồn Thiêng Sông Núi hiển linh và siêu linh nơi cõi an lạc hạnh phúc…!!!
Máu đã từ chối không chảy về tim nữa Thì thôi anh tìm một chỗ để yên nằm (The soldiers never die, they just fade away)
Sau 15 ngày phép qua đi như một cơn gió thoảng, bây giờ nào là vợ con, thân nhân, bằng hữu…quyến luyến giữ chân muốn không rời xa ! Một ngày đêm trong vùng địch dài như bách nhật, 15 ngày phép với thân tình ngắn ngủi như chạy nước rút 100 mét ở thao trường. Trở ra vùng hành quân, TS2ND được lệnh tăng phái cho LĐIND làm lá bùa trấn yểm Thôn Như Lệ Tích Tường với TĐ1ND, sau đó tăng cường cho TĐ8ND lên Động Ông Đô, Đồi Gió Hú, tương đối dễ thở hơn Trí Bửu, Hạnh Hoa Thôn, bởi lẽ tất cả nỗ lực của hai bên đều dồn vào Quãng Trị để rút lá bài cuối cùng trên cái bàn thương thuyết bốn bên hình ôn hoàng hột vịt lộn ở Paris ! Đầu tháng 9 năm 1972 TQLC đã kiểm soát hoàn toàn thị xã Quãng Trị, chỉ còn cái nhân bánh chưng Cổ Thành ngày giờ cắm cờ đếm trên đầu ngón tay, Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC có thể khui sâm banh ăn mừng được rồi. Ngày 16 tháng 9 năm 1972: “cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…cờ bay…” do Đại Úy Giang Văn Nhân (K22VBĐL) thuộc TĐ3TQLC cắm trên một điểm cao nhất trong nội vi Cổ Thành, điểm cao nhất trên một đống gạch vụn, bởi thành phố giờ thành bình địa, không còn một ngọn cây, một nóc nhà nào nguyên vẹn, từ Trí Bửu có thể nhìn thấy dòng sông Thạch Hãn không cần phải leo lên cao, và từ Hạnh Hoa Thôn có thể thấy tháp chuông nhà thờ La Vang khi đi bộ trên đường Duy Tân vừa chiếm lại đêm qua bằng Máu! Máu của ai? Máu của cả hai bên Nam Quân và Bắc Quân, máu vương vãi khắp thôn làng thị trấn, ai có thể lấy thước đo bề dầy của máu đã đổ xuống thấm vào từng thớ đất quê hương à …ơi…”quê tôi nghèo lắm ai ơi, mùa Đông thiếu áo Hè thời thiếu ăn” này…! Để những lãnh tụ, lãnh đạo ngồi ở phủ, ở huyện và cả cái mảnh giấy “lộn” khốn nạn gọi là “Hiệp Định Paris” tháng giêng 1973 chỉ là thành quả, hệ quả đẩy đưa dìm chết toàn thể Quân – Dân miền Nam vào địa ngục dưới bàn tay cai trị ngu xuẩn và trả thù tàn bạo của tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt và đây là lời nói uẩn lương của cố Tổng Thống Ronald W. Reagan Mỹ Quốc:”Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau”.
Trước khi TQLC vẻ vang dựng lên lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì ai đã trãi bao nhiêu xương máu lót đường…? đã có biết bao nhiêu thân xác Quân Dân Cán Chính vùng địa đầu giới tuyến ngã xuống chôn bờ, lấp bụi, lớp nhựa đường “Đại Lộ Kinh Hoàng” đã được phủ thêm độ dầy bằng lớp da thịt mỡ người chết phân huỷ dính khằn hong dưới trời nắng quái và mùa gió khô hóc quắc queo thổi qua, đâu đấy còn lặt lìa tử thi quân nhân vương vít đong đưa vạt áo trận trên quân xa hư hỏng vì đạn đạo pháo Bắc Quân…!!! Ôi,… tang thương ngất trời và tôi biết chắc chắn trong niềm hân hoan đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến kéo vào Quãng Trị chiến đấu đem chiến thắng về cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có Máu của chính đồng đội Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát, An Ninh và cả quân xâm lăng Bắc Việt đã đỗ xuống thấm sâu vào lòng Đất Nước Việt thân yêu làm nên mầu mỡ cho mai hậu chăng?.
Chỉ có máu mồ hôi và nước mắt Nhỏ xuống thấm lòng đất tổ quê cha Tôi và Anh ai bảo vệ sơn hà? Ai hại nước, lừa ai mà vẽ mặt …?
Chiến thắng hay chiến bại đều phải trả một cái giá của nó. Sau Kontum Kiêu Hùng, Bình Long Anh Dũng, Quảng Trị Vùng lên…không biết các vị Tướng Tư Lệnh “khạc ra lửa, mữa ra khói”có ngồi độc ẩm Bồ Đào Mỹ Tửu Dạ Quang Bôi để nhớ câu “Cổ Lai Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi” ? Sau năm 1975, không biết các Tướng hai sao, ba sao và ba xạo của Bắc Quân vốn trở thành quán tính quen ngồi xổm ở cánh đồng Nông Cống ngập nước, hay khệnh khạng vung vít thế tiểu nhân đắc chí tự cười vang hô hố để quên câu:”Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô”…?! Vì theo tài liệu đã được phổ biến từ những xung đột nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam phía “Bên Thắng Cuộc” đã tiết lộ: Chính Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã cho Tướng Văn Tiến Dũng lên thay Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy Chiến Dịch Xuân Hè 1972 vì chính Võ Nguyên Giáp đã khuyến cáo Chính Trị Bộ không nên tiến đánh Nam Việt Nam vào năm 1972 vì Quân Lực Miền Nam rất mạnh. Đúng như Giáp đã nhận định và kêu than sau thất bại Chiến Dịch Hè Xuân 1972 rẳng:” hơn 10 000 (mười ngàn) bộ đội ta đã bị chết ở Mặt Trận Trị Thiên không có được mấy ai trở về …”! Đêm đã khuya, người người an giấc, còn ta Viết như nhắn gởi với mười phương bằng hữu Huynh Đệ Chi Binh thân tình rằng ta nhớ lắm và mơ một ngày về…?
Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Các anh về, mái ấm nhà êm Câu hát tiếng cười rộn ràng trong xóm nhỏ Các anh về, tưng bừng trước ngõ Xóm làng tôi còn nhớ mãi Hỡi đoàn người trai trẻ đấu tranh Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông… (Các Anh Đi – Văn Phụng)
Nhưng cuộc chiến nầy vẫn chưa kết thúc ! Chúng ta, những người bị gọi là chiến bại vẫn còn cơ hội để giành lại đất nước. Thua một trận chiến (a battle) không có nghĩa là thua một cuộc chiến (a war). Điều kiện tiên quyết để thắng kẻ thù Cộng Sản Bắc Việt là chúng ta phải có quyết tâm tranh đấu và học hỏi, để tích cực tham gia thực hành. Quyết tâm sống và bảo vệ những điều mình yêu, tin và lý tưởng. Phải thắng chính bản thân trước khi thắng kẻ thù. Phương thức để chiến thắng Cộng Sản là: Chúng Ta không được hèn ngu, tất là phải có sự hiểu biết tròn đầy viên mãn về mọi mặt, phải có hệ thống tư tưởng làm căn bản cho sự nhận định, thông suốt đại biện chứng thế giới,phải có ý thức hệ, chủ thuyết giải quyết được vấn đề một cách triệt để, toàn diện và hướng thượng. Không được hèn, tất phải có lòng can đảm hơn người, đại đởm, không quản ngại gian nan khổ cực, quyết tâm là dám chết để tìm đường sống (kinh nghiệm trong trận chiến Quãng Trị). Nhưng không phải là liều lĩnh, vọng động quờ quạng, lấy sự can đảm mà thi hành theo sách lược bỡi hiểu biết Chu Tri cao hơn và đẹp hơn phù hợp với Nhân Bản, phát huy được Nhân Tính để đạt tới mức Nhân Chủ như một lý tưởng vươn tới tất yếu của loài Người. Chúng tôi tin rằng trước thời thế nầy, hầu hết người Dân Việt chúng ta ở trong cũng như định cư ở các quốc gia Tự Do – Dân Chủ trên thế giới trong đáy lòng ưu tư đến Dân Tộc – Đất Nước đều có cảm giác sâu sắc là chúng ta cần phải mạnh dạn hành động quyết liệt để đánh đỗ, tháo cởi gông cùm, xích xiềng do đảng Cộng Sản ngu dốt, tàn hại áp đặt cho Dân Ta ? Nhẩy Dù cố gắng.
. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan): Viết và tham khảo với cựu Trung Tá Bùi Quyền (Tố Quyên) Thủ Khoa Khóa 16 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù hiện đang cư ngụ tại San Jose, California USA. Houston Ngày 28 Tháng 2 Năm 2016
Ngày 7-4-72 tình hình trở nên khẩn trương. Việt Cộng vẫn pháo kích đều đều vào tỉnh lỵ. Nhất là vào phi trường, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận Bình Long.
Tin tức báo cáo về cho biết Việt Cộng đã tràn ngập Chi Khu Lộc Ninh. Một quận ở phía Tây Bắc tỉnh Bình Long, sát biên giới Việt Miên và cách An Lộc chừng 25 cây số. Nghe nói một phần Bộ Chi Huy Trung Đoàn 9 bị bắt.
Thiết Đoàn 1 bị đánh úp, tan nát chỉ còn hai chiếc Thiết Vận Xa cố lết về An Lộc. Một chiếc hư đành nằm lại dọc đường và bị B40 bắn cháy cùng với một số thương binh nằm trong. Tôi đã thấy chiếc còn lại về tới An Lộc, bùn đất bê bết trông thật thê thảm.
Mấy ngày trước, các bệnh nhân từ Quản Lợi ra báo cho tôi biết Việt Cộng về đầy dẫy chung quanh đồn điền, đào hầm hố, công sự chiến đấu một cách công khai. Tôi có cho Thiếu tá Diệm biết và hỏi tại sao mình không có phản ứng nào hay mình không biết. Tin tức tình báo của mình đâu? Tại sao mình không cho máy bay dội bom xuống hay ít ra cũng pháo kích cho địch quân không có cơ hội sửa soạn chiến trường được. Ông Diệm không có câu trả lời. Bây giờ đến lượt Quản Lợi bị chiếm. Các tiền đồn dọc theo Quốc lộ 13 rút dần về phía tỉnh lỵ. An Lộc đã bị bao vây và cô lập. Những tin tức bất lợi dồn dập tới làm mọi người lo lắng xôn xao. Một số nhân viên ờ nhà thương đều có bà con thân thuộc ở Lộc Ninh. Họ không còn tinh thần làm việc nữa. Điều này không đáng trách.
Tôi gặp bà Tư đứng khóc một mình trong phòng mổ. Bà đã khá đứng tuổi. Tôi không biết tuổi thật của bà bao nhiêu nhưng chắc khoảng 50 tuổi. Bà là y công phòng mổ, dáng người gầy gò nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Tên thật của bà là Khánh.
Bà có một hàm răng mái hiên rất rõ ràng. Có lần tôi nói đùa với bà rằng nếu trời mưa ai đi với bà chắc chắn không sợ ướt. Bà chỉ cười không tỏ vẻ gì phật ý cả. Ở trại Sản Khoa của cô Đào cũng có một bà y công gốc Bắc Kỳ nữa tên là bà Đề. Một hôm trời mưa, tôi khám bệnh ở trại Sản Khoa xong ngồi lại nói chuyện với cô Đào, có cả bà Khánh, bà Đề. Tôi đọc trẹo một câu ca dao là: “Trời mưa thì mặc trời mưa, tôi không có nón trời đưa tôi về, trời đưa tới nhà bà Đề, trời bỏ tôi đó, tôi về mặc tôi”, làm cho bà Khánh, bà Đề cười sặc sụa. Tôi thấy những người đó rất chất phác và dễ cười thật.
Tôi tuy ít nói cười, thỉnh thoảng cũng hay nói chuyện khôi hài một chút nhưng luôn luôn có một niềm kính trọng người khác, không cậy thế, cậy thần, kiểu dưới mắt không người, nên tôi cũng được người ta quý trọng lại. Đặc biệt là đối với nhân viên dưới quyền, tôi rất tử tế và sẵn sàng giúp đỡ họ khi cần.
Bà Tư rất quý mến chúng tôi, coi như những người thân trong gia đình, đặc biệt là tôi, cũng người miền Bắc như bà. Mặc dù bà đã lập nghiệp ở đây từ mấy chục năm rồi. Tôi hỏi giọng nhẹ nhàng:
– Có chuyện gì vậy bà Tư?
– Con tôi chắc chết mất bác sĩ ơi! – Bà vừa mếu máo vừa trả lời.
– Nó ở đâu? Bị bệnh hay sao?
– Không ạ. Bà Tư vừa lau nước mắt trả lời. Cháu nó đi lính ở Lộc Ninh, Việt Cộng chiếm quận đó rồi thì nó còn sống làm sao được.
Những giọt nước mắt của người mẹ già khóc cho đứa con trai làm tôi xúc động. Tôi nghĩ tới mẹ tôi, giờ này ở Sài Gòn, chắc mẹ tôi nóng ruột và lo lắng cho tôi nhiều lắm. Tôi là con trai độc nhất, mẹ tôi đã ở vậy nuôi anh em chúng tôi từ khi thầy tôi mất, lúc bà mới 26 tuổi. Tới bây giờ tôi vẫn chưa giúp đỡ được gì cho gia đình cả. Mọi việc đều trông mong vào sự đảm đang của các cô em gái.
Hồi đầu năm về thăm nhà, mẹ tôi ân cần dặn dò:
– Này, năm nay con phải cẩn thận. Hạn sao Thái Bạch không phải tầm thường đâu.
Tuổi tôi năm nay 30 nhưng tính theo tuổi ta thì 31. Theo mấy ông thầy tử vi, đó là năm xui xẻo lắm. Tháng nào mẹ tôi cũng cúng sao giải hạn cho tôi. Tôi cũng tin là năm nay tôi gặp nhiều điều nguy hiểm nên tôi thầm mong lòng thành của mẹ tôi sẽ xui khiến tôi tránh được những rủi ro nếu có. Tôi biết rằng nếu tôi có mệnh hệ nào, mẹ tôi và các em tôi sẽ đau khổ vô cùng. Tôi là cột trụ, là niềm hy vọng của gia đình, tôi phải biết bảo trọng lấy thân. Các em tôi thường nhắc nhở:
– Anh ở trên ấy đừng đi chơi xa, Việt Cộng đầy dẫy, nguy hiểm lắm. Má và các em ở nhà lo lắng cho anh nhiều. Hôm nọ má đi xem bói, ông thầy mù nói hãy lưu ý đến đứa con tuổi Ngọ, vận hạn nặng lắm.
Tôi ngắt lời:
– Anh biết rồi, anh làm không hết việc, thì giờ đâu đi chơi xa.
Là con trai độc nhất, tôi nhận được nhiều tình thương của mẹ, lòng yêu kính của các em. Tuy nhiên vì vậy nhiều khi tôi không dám làm những việc theo ý mình. Tôi thích phiêu lưu, muốn có nhiều kinh nghiệm sống. Khi mới ra trường, tôi tính chọn vào một đơn vị Tổng Trừ Bị để có thể đặt chân trên khắp nẻo đường đất nước, để được mở rộng tầm mắt nhìn đối với quê hương. Nhưng nghĩ đến gia đình, tôi đành phải dẹp những ý định đó và cho đến bây giờ tôi vẫn quanh quẩn ở Vùng III Chiến Thuật, để khi cần chỉ trong vòng một hay hai giờ, tôi có thể có mặt ở nhà.
Vì có tâm sự như vậy, nên tôi rất thông cảm hoàn cảnh của bà Tư. Tôi kinh sợ cái cảnh tre già khóc măng. Không biết nói gì hơn, tôi chỉ an ủi bà:
– Thôi bà đừng khóc nữa, sống chết có số mạng cả. Bà ăn ở hiền lành chắc cháu nó cũng không sao đâu. Bà lo phiền, hại cho sức khỏe.
Bà Tư đáp:
– Cảm ơn bác sĩ, chắc tôi phải xin nghỉ. Nghe tin đó, chân tay tôi rời rã không còn làm việc được gì nữa.
– Được rồi, nếu bà thấy khó ở, cứ xin nghỉ vài hôm cho khỏe.
Tôi từ giã bà Tư đi ra Phòng Cứu cấp. Tôi thấy cô Cúc gương mặt buồn rầu, cặp mắt đỏ hoe ngồi thu người trên chiếc divan. Khác với ngày thường cô là người ham hoạt động và hay nói chuyện huyên thuyên rất vui vẻ. Tôi thường lưu ý tới đời sống nhân viên, sẵn sàng giúp đỡ họ nếu họ có gặp điều gì khó khăn. Một vài người kêu tôi là “bác sĩ nhà mình”. Danh từ đó nói lên tình thân giữa tôi và họ. Tôi hỏi cô Cúc:
– Có ai trêu chọc cô hả?
Cúc lắc đầu đáp:
– Nghe tin Lộc Ninh mất, em lo cho ba má em với thằng em trai của em đi lính trên đó. Ba má em già rồi, em còn mỗi thằng em trai, nó mà chết, chắc em sống không nổi.
– Năm nay nó bao nhiêu tuổi?
– Dạ, 17 tuổi.
– Nhỏ vậy chắc địch không thèm giết đâu, cùng lắm là bị bắt mà thôi. Nhưng tôi tin thế nào nó cũng trốn về được.
Những lời an ủi của tôi không làm vơi được nỗi buồn của cô. Sức làm việc của cô kém hẳn đi. Cô không còn tâm trí đâu để làm việc nữa. Thường cô và người em gái nhỏ chừng 12 tuổi rút vào phòng riêng khóc với nhau. Tôi thông cảm nỗi buồn của cô và để cô được tự nhiên.
Trước đây, cô Cúc thuê nhà ở ngoài phố nhưng từ khi có những cuộc pháo kích, cô và mấy y tá khác đã xin phép dọn vào văn phòng của phái đoàn Milphap ở vì nhân viên đoàn này đã không có mặt ở đây. Họ đã rút đi đâu mất tiêu từ khi Bác sĩ Risch đi nghỉ phép. Tôi rất vui lòng khi thấy họ ở đó vì chắc chắn lúc nào tôi cũng có nhân viên giúp việc, rất tiện cho tôi và cho bệnh viện và khỏi sợ họ trốn luôn ở nhà.
Bốn hôm sau khi tôi nói chuyện với cô Cúc, đi ngang qua chỗ cô ở, tôi ngạc nhiên lại nghe thấy tiếng cười vui vẻ rộn rã của cô. Tôi vội bước vào phòng hỏi:
– Có chuyện gì mà cô Cúc vui vậy?
Cúc mỉm cười quay sang bên trái, đưa ngón tay chỉ cho tôi một thiếu niên trong bộ đồ nhà binh nét mặt còn non choẹt nói:
– Bác sĩ, em trai em nó trốn về được rồi.
Tôi mừng rỡ:
– Vậy hả? Nó tên gì? về từ hồi nào?
– Nó tên Nhâm. Nó về đây từ chiều hôm qua.
– Giỏi quá, vậy mà cô không cho tôi biết để tôi mừng với.
Quay sang Nhâm tôi hỏi:
– Em đi bằng cách nào mà hay vậy?
– Em đi bộ từ Lộc Ninh xuống đây, – Nhâm rụt rè trả lời –, em đi cùng với mấy người bạn. Ban ngày thì trốn trong rừng, đêm đến mới dám lần mò tìm đường đi xuống đây.
– Đi như vậy có gặp Việt Cộng không?
– Dạ không, gặp thì nó đã bắt lại rồi. Tụi em biết lối đi, tránh né hết. Tụi em chỉ sợ Pháo Binh mình hoặc máy bay trông thấy tưởng là Việt Cộng bắn lầm. Về đến đây, gặp mấy anh Biệt Động Quân dơ súng định bắn. Tụi em phải dơ tay hàng, xuất trình giấy tờ nói là lính Nghĩa Quân trốn thoát từ Lộc Ninh về. Họ giữ lại điều tra kỹ càng rồi mới cho đi.
– Này, cô Cúc, thế là cô toại nguyện rồi nhé. Tôi nói đâu có sai. Em cô đã trốn về được rồi vậy cô phải làm việc thật hăng vào nghe không?
Cúc cười thật tươi đáp: – Dạ, em của em sống sót trở về. Bây giờ em có phải làm gấp đôi gấp ba em cũng vui lòng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.