Thuyền Nhân

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Những ngày gió nhẹ biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy vậy mà hổng biết là bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suông sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.

Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau đó tôi đổi những tuyến đường xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi, tôi mới trở lại tuyến đường Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới có ngày nắng đẹp. Trước kia khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm cười một cái rồi quay gót giày đi trở về  hội quán.

Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao, nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:

– Chú có thường lên hội quán?

Tôi cười:

– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết chú.

– Oh, chú còn nhớ ai không?

– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.

– À, con biết ông John.

Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán, ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:

– Bia gì?

Tôi nói:

– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.

Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:

– Ô kê, ô kê…When in Rome, do as the Romans do.

Thấy ông đưa cho tôi bia Guinness. Tôi nói:

– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.

Ông nói:

– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.

– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng thế giới.

– Đúng đúng…

Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John hỏi tôi là người gì. Tôi nói:

– Tôi là người Việt.

– Nam Việt hay Bắc Việt?

– Nam Việt.

– Oh! Southern Vietnamese, boat people!

Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.

Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.” Tức thì có người hỏi:“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam, nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc! Southern Vietnamese boat people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và có người thân thiện vỗ vai, nói:

– Southern Vietnamese people are good, very good…

Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong bọc, nhờ ông đưa cho tôi. 

Tôi hỏi Bryony:

– Ông John còn khoẻ không?

Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:

– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.

– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?

– Không, nhưng con tìm được.

Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:

– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không.

Bryony cười:

– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.

Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ lạnh lùng.

Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes. Lâu rồi tôi cũng hổng nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt không?”  Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc những tiệm nails trốn thuế và chứa chấp nhiều người ở lậu, trẻ em trong tuổi vị thành niên bị bóc lột sức lao động, người làm việc bất hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo, gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận trời Âu lạnh lẽo này.

Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia, ông hỏi:

– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?

– Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu, tôi nhận ra ông ngay:

– Oh, Bobby.

Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

– Ngồi xuống, ông khoẻ không?

Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say xỉn. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:

– Khoẻ khoẻ… Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à.

– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?

– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.

Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung tuyến đường từ Pháp sang Belfast này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã chết rồi. Sống chung với đân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình, nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng lại cho ông ly bia.  Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông hỏi:

– Mày hổng uống bia sao?

– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.

Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi, nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì. Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:

– Ông John hổng tới được.

– Ô kê.

Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm, nói với Bobby:

– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao hổng ra quán Bar ngoài góc phố:

Ông lắc đầu:

– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.

Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:

– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?

Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông nói:

– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày hổng thấy sao, toàn toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy giống như con gà chết. Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:

– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội. 

Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông và nghỉ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới ngày hôm nay thì cũng là lạ.  Chợt nhiên tôi thốt lên:

– Oh, Ghosts!

Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:

– Chuyện gì?

Tôi mỉm cười:

– Không, hổng có gì hết. 

Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng lên bắt tay từ giã Bobby:

– Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.

Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:

– Mày cho tao xin hai chục pound.

– Để tui xem.

Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông:

– Ông ở lại chơi vui vẻ.

Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào. Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.

– Cho chú nè.

Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón len. Đêm nay cầm cái nón len mới toan, tôi nghĩ, có lẽ Bryony mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:

– Cám ơn.

– Không có chi.

Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

Teestport 20 3 2019

Thư Không Viết

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Này hải đăng Hải Yến
Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm   
Hôm tàu về Âu Châu tôi có nhận của Hoàng Yến gói quà gói trong một phong bì giấy xốp, bên trong ép những tờ giấy trắng tẩm nước hoa ngọc lan thơm phức. Phần quà có hai cuộn băng cải lương, một tập thơ lay out trên máy vi tính, bìa màu vàng bóng, mỗi bài thơ in trên một màu giấy khác nhau. Trong gói quà có kèm theo một bức thư viết nắn nót nét chữ học trò. Yến cho biết, trên biển có nhiều loài chim lạ mà cô rất thích, cô muốn tôi kể cô nghe về chuyện các loài chim biển và chuyện vui buồn trên chuyến hài hành.  Hôm kia có xảy ra một chuyện mà tôi cũng hông biết vui hay là buồn, chỉ thấy sau khi dọn dẹp xong thủy thủ đoàn thằng nào thằng nấy mệt muốn đứt hơi. Chuyện bắt đầu vào buổi trưa. Trong lúc tàu chạy cách bờ biển Châu Phi gần trăm hải lý. Chợt nghe chuông báo động reo ầm ĩ, thường thì chuông reo một ngắn một dài là báo hiệu tàu bị cháy, bảy dài một ngắn tức là tàu bị nạn gì đó, thủy thủ phải chuẩn bị rời tàu. Nhưng hôm đó chuông reo liên hồi không ai hiểu là báo hiệu chuyện gì hết. Tuy vậy thủy thủ đoàn cũng mang áo phao tụ tập lên phòng lái.  Lên tới nơi thấy mặt viên thuyền trưởng không có gì là khẩn trương hết, ông kêu mọi người cởi áo phao ra và  ông chỉ tay về phía trước mũi tàu. Mọi người nhìn theo tay ông và ồ lên một cái. Xa xa một vùng khói sương mù mịt.  Jono, thủy thủ người In Đô, thắc mắc:
– Mưa hay sương mù? 
Thuyền trưởng đáp:
– Không phải mưa cũng không phải sương mù mà là cát từ trong sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn ra.
– Mình cách bờ gần trăm hải lý thì làm sao cát bay ra được.
– Gần trăm hải lý mà nói gì, cát của sa mạc Sahara bay qua tới Âu Châu lận. Ở Hoà Lan, nhứt là những ngày mùa xuân, lắm khi sáng thức dậy đi ra ngoài thấy trên lá cây, trên mui xe và trên mái nhà cát mịn đóng một lớp mỏng, thì biết đó là cát của sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn rải về.  Giải thích xong chuyện cát bị gió lốc cuốn từ sa mạc Sahara sang Âu Châu, viên thuyền trưởng ra lịnh đóng kín hết các cửa và trong lúc tàu chạy qua ngang vùng cát không ai được ra ngoài boong, trừ trường hợp người nào có chuyện cần ra ngoài thì phải đeo mặt nạ hoặc kiếng che mắt và khẩu trang. Không bao lâu tàu lọt vào vùng gió cát mịt mùng. Lạ thay lẩn, trong cát vô số cào cào, con nào con nấy lớn bằng nửa cườm tay, xanh màu đọt chuối, hai hàm răng giống như hai kìm sắt, loại cào cào nầy lỡ đáp lên một thửa ruộng hoặc một vườn hoa màu nào chắc chắn trong nháy mắt sẽ bị chúng cắn phá sạch sành sanh. May mắn cho nhà nông, nhà vườn đám cào cào không bay vào ruộng, vườn mà theo gió cát bay ra tận biển khơi làm mồi cho cá.  Khi tàu qua khỏi vùng gió cát thì trời đã về chiều. Những trự cào cào bị ống khói phun cháy cánh rơi rụng nằm lẫn lộn trong cát ngập cả boong tàu. Thủy thủ đoàn phải mất một phen xúc cát và xác cào cào đem đổ xuống biển, sau đó kéo ống nước ra xịt rửa tàu, tới khi xong chuyện thì đã quá giữa khuya.  Biển Châu Phi thường êm sóng và màu nước rất xanh. Một ngày trôi qua và ngày thứ hai đã hết. Mọi người đã quên chuyện cát sa mạc Sahara và con tàu chạy rất bình yên. Thủy thủ đoàn lúc nầy được nhàn rỗi hơn, tối lại họ tụ tập vô phòng ăn coi phim và uống bia. Tôi cầm chai bia ra lái tàu ngồi nhâm nhi. Đêm nay hăm mốt âm lịch, đầu hôm trăng chưa mọc. Biển tối đen, chưn vịt tàu đạp nước rù rù, nước biển gợn lên một đường dài ngời sáng trông giống như dãy Ngân Hà vướng vô bánh lái và bị tàu kéo theo. Ngồi trên tàu tôi có cảm giác như ngồi trên một hành tinh lạ. Xa xa trên hải phận quốc tế nổi bật sáu chòm đèn tàu buôn, ba chiếc xuôi Nam, ba chiếc ngược Bắc, tàu tôi đương hướng về phía Đông.  Đương thả hồn theo cảnh vật chợt nghe tiếng động rột rẹt ở góc mui. Tôi mới nhớ tới con nhàn bị bịnh sao đó mà tôi để nó trong lòng cuộn dây lái từ hồi sáng tới giờ. Con nhàn nầy hồi hôm đậu với hàng trăm con nhàn khác ngủ ở đằng trước, sáng sớm đồng bọn bay đi săn mồi còn vãi phân lại trắng trên mặt boong. Trong lúc xịt nước rửa tàu, Jono thấy một trự đứng co ro bên cuộn dây cáp của cần trục, anh bắt đem vô giao cho tôi. Tuy biết thức ăn của loài nhàn là cá sống, trên tàu không có cá, tôi mới lấy bánh mì xé nhỏ và lon nước đặt trước mặt nó nhưng từ sáng tới giờ nó không ăn uống gì hết.  Trong ánh đèn lờ mờ từ trên trần mui dọi xuống, trông con nhàn thê thảm với bộ lông khô, xoắn lại từng cọng, chỉa ra như lông nhím, đôi lần nó nhấp cánh định bay nhưng thân hình lê thê lết thếch, miệng ngáp ngáp rồi quỵ cặp giò chúi nhủi. Thấy tội nghiệp quá, tôi đỡ nó dậy để lại chỗ cũ, lấy bánh mì nhét vô miệng nhưng nó không nuốt được, cần cổ cứ lắc lư mỏ rẫy mạnh làm bánh văng tứ tung, cái mửng nầy kéo dài cho tới ngày mai thì làm sao nó sống được. Con nhàn cũng có quê hương là hài đảo xa gần nào đó, với đôi cánh ngàn dặm nó có thể đi đi về về bất cứ lúc nào, chẳng may giữa đường lâm bịnh hấp hối và nằm đây chờ chết. Nhìn con nhàn sắp chết, tôi nhớ tới Hoàng Yến, người con gái mảnh mai, ốm nhưng không yếu, nhan sắc trung bình. Cô biết viết văn, làm thơ, không uống rượu nhưng ăn thịt chó và cô rất thích nhìn loài chim biển bay lượn trên bãi biển lúc chiều hôm. Tôi gọi loài chim biển trắng là con nhàn, còn cô gọi nó là hải âu. Tôi bắt bẻ:
– Hải âu không phải tiếng Việt.  Cô cãi lại:
– Gọi hài âu là nhàn thì giống dân Hai Lúa.
– Hai Lúa làm ruộng thì làm sao biết được tên của các loài chim biển. 
– Tại sao thủy thủ các anh gọi hải âu là con nhàn?
– Tui hổng biết từ đâu nữa, nhưng nhớ hồi còn nhỏ làm ngư phủ trong vịnh Thái Lan, miệt đó có hai loại nhàn, nhàn sẻ nhỏ con, lông màu trắng mượt, nhàn ô thì lớn hơn nhàn sẻ, lông cũng mượt mà và trắng tươi nhưng đặt biệt dưới ức có một đốm lông đen.
– Vậy thì chữ nhàn ô cũng không phải thuần tiếng Việt.
– Nhưng ít ra cũng có phân nửa tiếng Việt.
– Nhưng Yến thích gọi nó là hải âu nghe thi vị hơn.
– Giống tiểu thuyết tình cảm của Tàu thì có, nhưng cô là nhà thơ mà, gọi sao nghe hay và có vị thơ là được, còn tôi thì quen gọi chim nhàn rồi sửa lại kỳ thấy mồ.  Có lần đi chơi ngoài bãi biển, Yếu thấy một con nhàn chết khô nằm trên gành đá, cô rưng rưng buồn, cầm con nhàn chết cứng đưa cho tôi và biểu tôi đào cát chôn cất cho đàng hoàng. Mỗi lần gặp chuyện cảm động cô hay thốt lên câu “Buồn năm phút”. Hôm đó mặt cô dàu dàu buồn…năm phút khi thấy tôi đào cát chôn cất hải âu.Hồi chiều có mấy thủy thủ sợ con nhàn ỉa dính dơ tàu mới kêu tôi liệng nó xuống biển, tôi không nỡ lòng liệng khi thấy nó chưa chết. Cứ để đó khi nào nó chết rồi tính sau.  Không biết bây giờ là mấy giờ mà ánh trăng già hơn nửa mảnh nằm ngang đọt cần trơi, ánh sáng nhạt nhoà chan hoà trên mặt biển. Trời nước yên bình quá, có lẽ tôi phải viết cho Yến một lá thư dài, kể chuyện biển cho cô nghe. Tôi trở vô phòng, kéo mở hộc tủ lấy giấy, viết để lên bàn. Chợt thấy tập thơ của Yến bên cạnh, tôi ngồi xuống lần giở tập thơ. Đập vào mắt mắt tôi một bài thơ chữ nghiêng trên trang giấy màu xanh nước biển và có in hình mấy con nhàn đương dang cánh bay. 
Tôi đọc:
*”Ta yêu lắm nhịp đều hoà của biển Sóng trầm lặng rồi sóng lại dâng Bình minh lên và hoàng hôn xuống Trong thoáng mơ hồ bâng khuâng một chút Cho Hải Yến tung cánh giữa khơi Lẩn vào mây… Mây xanh ngát bầu trời Cho đêm đen thẳm tối Có hải đăng mịt mù xa trên cao
Này Hải-Đăng Hải-Yến Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm Biển trời xanh… Thời tuổi nhỏ cũng xanh” 
Hoàng Yến chưa từng ra khơi bao giờ vậy mà cô làm thơ về biển rất sống động. Còn tôi thì lênh đênh trên biển nhiều hơn ở đất liền. Biển khi xanh màu da trời, lúc xanh màu cẩm thạch, bàng bạc lóng lánh và lúc thì đục màu phù sa. Chim biển rất nhiều loại, có con đen như quạ, con thân hình mập chè bè, chưn thì giống như chưn con vịt, con thì giống như cò đen, cò trắng, hạc… nhưng nhiều nhứt vẫn là chim nhàn. Tôi không biết viết văn, làm thơ gì hết thì làm sao viết thư tả cảnh biển ban đêm có trăng tỏa sáng và triệu trệu sao trời lấp la lấp lánh, ban ngày thì có chim bay lượng trên mặt bước và bầu trời xanh bát ngát… Tôi ngần ngại, muốn viết cho Yến một lá thư dài, nhưng chuyện biển của tôi quái đản, kỳ cục, nhạt nhách nhạt nhẽo cũng như chuyện cát, cào cào và chuyện con nhàn sắp chết. Biết đâu đọc xong thư Yến hỏi tôi con nhàn chết chưa và nếu chết rồi thì có đem nó chôn cất cho đàng hoàng không. Trên biển lấy đất đâu mà chôn. Còn nói tôi sẽ thủy táng con nhàn sau khi nó chết thì thế nào Yến cũng thốt lên câu tội nghiệp và “buồn…năm phút”. Không muốn cô nhỏ phải mất năm phút buồn, tôi bèn thu xếp giấy, viết cất vào học tủ và cầm lấy tập thơ leo lên giường nằm đọc à vỗ giấc ngủ./. 
Đại Tây Dương tháng 5 2008
*Thơ của Hoàng Ngâu 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Cứ ngỡ đùa vui trong tí chút!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Người Mỹ gọi chuyện đùa là joke, chuyện chung chung vô thưởng vô phạt thì gọi là ‘clean joke’, diễu sạch; còn chuyện diễu có dính líu ít nhiều đến hoạt động tình dục là: ‘dirty joke’, diễu ‘dơ’.

Suốt cả một cuộc đời , ai mà không nói đùa, ít nhứt là một lần, để trêu chọc ai đó?

Hồi mới lớn là mình đã biết nói đùa mà bà con cô bác gọi là chọc gái, ghẹo gái, dê gái.

“Cô kia bới tóc đuôi gà! Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu? Cô kia bới tóc đuôi chồn! Nắm đuôi cô lại hỏi… hỏi cái gì hè?”

Đùa như vậy gọi là đùa vô duyên bị em chửi là thường. Còn đùa ý nhị gọi là đùa có duyên thì em nào cũng thích nghe và thích luôn cả người nói. Vì người có óc hài hước nói ra những câu đùa ý nhị, ắt hẳn là người rất thông minh mới sáng tác ra những lời như dệt gấm thêu hoa, xứng đáng là cha sắp nhỏ, đám con của em sau nầy….

Tuy nhiên cũng có những câu đùa ác ý làm người nghe hộc máu mồm máu miệng. Cứ làm tới! Làm tới đi thì trước khi người nghe hộc máu mồm máu miệng là mình đã bị hộc máu mũi trước rồi.

Thế nên dù nói đùa, viết chuyện đùa cũng nên ‘cẩn trọng… mới vô áy náy!’

***

Chuyện rằng: Tiệm Pizza Hut, trên Jefferson Highway, ở Stafford, tiểu bang Virginia, Huê Kỳ được khách hàng đặt bánh pizza trên mạng và yêu cầu thêm một chuyện đùa. Khách hàng là Thượng đế mà! Muốn là chiều!

Em gái giao bánh pizza bèn viết, bằng mực trắng, câu: “What do a pizza delivery driver and a gynocologist have in common?” “They both have to smell it, but neither of them get to eat it.”

“Một anh giao bánh pizza và một bác sĩ phụ khoa có chung điểm gì?” “Cả hai có thể hửi hửi, mà không anh nào được quyền ‘quằm’.”

Nhưng người em gái giao bánh pizza đâu có biết rằng niềm vui đã nằm trong thiên tai; vì khách hàng của em lại là hai thằng bé vị thành niên, một đứa mới 12 tuổi, và một đứa lên 15 tuổi.

Em cứ tưởng khách có thẻ tín dụng để đặt pizza ắt hẳn là thành niên rồi chớ. nên em ‘vô tư’; dè đâu nó mượn thẻ của Má nó mới chết!

Dẫu tiếng Mỹ là tiếng Mẹ đẻ chăng đi nữa, tui e rằng hai chú nhóc nầy không thể nào hiểu hết cái ngôn ngữ đa tầng, đa nghĩa thâm sâu ảo diệu về chuyện giường chiếu nầy đâu.

Ngay cả tui đây, từng tuổi nầy rồi, bôn ba khắp chốn ta bà mà còn hiểu một cách tờ lờ mờ, hiểu một cách lơ tơ mơ…

Cho đến khi em yêu của tui cắt nghĩa ‘đùi, bằng bạch văn chỉ rõ ra rằng, tui mới cảm được hình ảnh ‘giựt giựt’ của câu mà em gái giao pizza muốn truyền tải.

Trước hình ảnh sinh động nầy, tui vỗ đùi cái đét, tán thán là: “Rằng hay thì thiệt là hay! Đọc lui, đọc tới thấy hay càng nhiều!”

Người hiểu được phải là người có kinh nghiệm chiến trường ít nhứt là cả trăm trận xáp là cà mới ‘cảm’ nhận được. Người hiểu sâu sắc giống em yêu của tui là Má của hai chú nhóc nầy. Nhưng bà ấy lại không vui, không cười gì ráo mà lại quạu mới báo!

Đọc xong, bà má than phiền với viên quản lý tiệm bánh; rồi còn đăng hình lời diễu dơ nầy lên trên mạng xã hội để câu ‘likes’.

“Tui thiệt là kinh ngạc thiếu điều té ghế luôn! Đâu ai ngờ được Pizza Hut diễu dơ đến thế! Tôi gọi cho tác giả và nói với cô ấy rằng tôi hi vọng cô ấy sẽ không bị mất việc về chuyện nầy!”

“Nhưng buồn thay! Cô ấy đã bị đuổi! Làm cư dân trên mạng, nghe chuyện ùa vào bảo vệ em giao bánh Pizza, chửi rủa tui quá xá hè!

Chỉ có vài người lèo tèo là đứng về phía của tui thôi.”

“Qua câu chuyện nầy, hãy để người em gái giao bánh Pizza Hut học được kinh nghiệm là diễu dơ phải có chỗ, có lúc, chớ trên hộp bánh pizza là không phải chỗ ấy!”

“Câu chuyện tiếu lâm nầy ‘mặn’ quá không nên viết trên hộp bánh! Hộp bánh là để đựng bánh không phải để viết chuyện dung tục.”

“Khi mình phục vụ quần chúng nhân dân (nghe quen quen nhe!) thì cũng có cái giới hạn của nó. Đây là bài học hay cho những người trẻ tuổi.

Lần sau, muốn viết cái gì bậy bạ nên suy nghĩ cho chín chắn. Dĩ nhiên đời bao giờ cũng có những trải nghiệm không vui… Nhưng cũng đành phải học mà thôi!”

“Em gái giao bánh pizza hãy gởi câu chuyện dung tục nầy cho Má em đi. Coi Má em nghĩ làm sao nhe! Tôn trọng một chút đi chớ!”

” Khách hàng là Thượng đế. Khách hàng luôn luôn đúng! Khách phán sao là mình người phục vụ phải rán mà chìu theo dù trong bụng nghĩ nó khùng hết biết, nhưng chìu là phải chìu cho nó trúng khía kìa, trật chìa là không có được!”

***

Tuy nhiên đó chỉ là hạt cát trong sa mạc, giọt nước giữa đại dương, chỉ 1% cư dân trên mạng bao che cho bà má Virginia chút đỉnh. Chớ còn 99% còn lại họ ‘xì nẹt’ tơi bời hoa lá!

Trên twitter, họ còn xúm nhau kêu gào đòi công lý cho người em gái giao pizza, có cái đầu hài hước hơi đen đen ấy, trót lỡ dại mồm, dại miệng.

“Người em gái ấy chỉ làm bổn phận của mình! Rất tiếc là bà cảm thấy bị xúc phạm. Vì con bà yêu cầu một chuyện diễu thì nó đây nè! Còn càm ràm cái gì chớ?”

“Tyler, con trai tôi 20 tuổi đặt bánh pizza và yêu cầu cô giao bánh viết cái gì lên đấy. Cô ấy viết rằng: “Em yêu anh Tyler” Xong ký tên cô gái giao bánh pizza. Con tui khoái quá; giờ vẫn còn khoái!

Tuy nhiên tui chỉ cười hè hè. Cô ấy chưa biết gì về con mà nói yêu con? Quả là một chuyện đùa. Tui cũng đâu có đăng lên mạng để càm ràm. Và không có ai bị mất việc đâu hè!”

“Người em gái giao pizza nầy đã điện thoại đến để xin lỗi nhưng kết cục vẫn bị viên quản lý tiệm bánh nắm đầu đuổi! Em còn trẻ nghèo đi giao bánh pizza tiền hỏng có là bao! Sao nỡ lòng nào chó cắn người áo rách?Hả dạ bà chưa?”

Giận cá họ chém luôn cả thớt! Tay quản lý tiệm Pizza Hut nầy cũng bị đưa lên thớt! “Hỡi tiệm Pizza Hut thân mến! Nếu tôi đặt bánh pizza, xin thêm phô mai ‘đen thùi’ thay vì phô mai ‘trắng xác’. Sau đó tôi không thích; thì xin hỏi ông rằng: ông có nắm đầu người làm bánh theo yêu cầu của tôi để đuổi họ hay không hả?”

“Hay ông đuổi cổ cô nhân viên của mình chỉ vì muốn tạo ra một cái ‘xì căng đan’ trên mạng, một cơn bão trong tách trà, bằng cách vác cái búa tạ đi đập một con ruồi. Lỗi nhỏ như con thỏ đáng lý bỏ qua cho thì ông lại làm to chuyện, đập nồi cơm của nhân viên mình để làm quảng cáo không phải tốn tiền chăng?”

Rồi người khác lại vặn vẹo tui là: “Bà cho rằng câu đùa nầy quá sỗ sàng, không thích hợp cho con nít nó đọc. Vậy tại sao bà lại chụp hình hàng chữ nầy đăng lên mạng xã hội. rồi con nít của người khác đọc thì sao?”

(Hỏi ngặt nghe! Cà lăm… Biết trả lời sao?)

“Tôi hy vọng là bà đã thấy tâm địa cực kỳ đen tối của mình chỉ vì muốn câu ‘likes’ trên trang mạng xã hội!”

“Hãy gọi lại cho viên quản lý và nói rằng bà không bực bội gì hết!”

“Tốt hơn nên dạy dỗ con mình! Đặt bánh pizza là để ăn… Cô gái giao bánh đâu có nhiệm vụ tấu hài để làm tụi bây vui đâu!”

“Nhưng tui tin là bà sẽ bao che, cho rằng tụi nó vô tội, đầu óc ngây thơ trong trắng lại bị đầu độc bởi cô bán pizza tối ngày cứ tơ tưởng đến chuyện tù ti tú tí!”

Có người còn nói xỏ xiên bà má Virginia nầy không có óc hài hước gì hết trơn, hết trọi!

“Có ai đó nói với tui rằng pizza của bà ấy lâu rồi ông chồng không muốn ăn.

Vì ông chồng mắc ăn pizza của con vợ bé đêm nay rồi! Hi hi!”

“Tui tiếc những ngày mà chuyện đùa không ai cảm thấy mình bị xúc phạm hết ráo. Còn bây giờ chỉ vì một chuyện đùa mà khách hàng bực bội; cô ấy phải mất cái cần câu cơm. Thiệt là quá đáng!”

“Em giao bánh pizza nầy làm việc hơn cả yêu cầu! Đáng để nhận thêm tiền tip! Câu chuyện đùa cũng vui mà; thì việc gì mà nhẩy đông đổng lên để làm người ta bị đuổi, bị bể nồi cơm! Nhứt là chỉ vài ngày trước lễ Giáng Sinh ai cũng cần tiền cho gia đình đi chợ!”

***

Qua câu chuyện lùm xùm ở trên, tui cũng học được bài học rất hay là viết chuyện đùa không phải chỉ đùa đâu! Phải dòm trước trông sau, coi chừng “Anh cứ ngỡ đùa vui trong tí chút. Đâu có ngờ đùa mãi đến điêu linh!”

Chẳng hạn như câu chuyện đùa có vẻ vô thưởng vô phạt là: “Nếu bất cứ chuyện gì mà bạn không bao giờ thành công trong lần đầu; thì thú vui nhẩy dù dứt khoát không dành cho bạn rồi đó!”

Thì đã có người phê bình diễu như vậy là nhẫn tâm với những người đã từng nhẩy dù mà dù không bọc (?!)

Thế nên! Có một chỗ an toàn để nói chuyện đùa, chuyện tiếu lâm mặn như muối hay nhạt như nước ốc gì cũng được là nói với bạn thân của mình trên bàn nhậu. Nghe qua hay thì nhớ; dở thì bỏ; hơi sức nào để bụng rồi bị sình bụng chớ phải không?

Nói đi thì cũng nói lại. Dân chơi thì sợ gì mưa rơi! “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa!”

Nếu sợ quá thì những tác giả chuyên sáng tác chuyện đùa cho những show hài kịch trên truyền hình Mỹ, đâu còn ai dám viết để cho bà con mình tìm vui trong phút giây thôi; mà mình lại bị dũa tới tàn đời!

Chỉ cần nâng cái nghệ thuật đùa vui trong tí chút bằng 1% tài nghệ của nhà thơ lục bát Bùi Giáng, là an toàn trên xa lộ, là thanh lịch trong thành phố hè.

Ông Bùi Giáng có hai câu lục bát lừng danh, gieo vần trật lất, theo giai thoại nói về hai nhà thơ ‘cách mạng’ cùng mình, cách mạng từ đầu tới chưn là: nữ sĩ Thu Ba và nhà thơ Thu Bồn!

“Thu Ba ca ngợi Thu Bồn/ Thu Bồn khoái chí sờ ‘vai’ Thu Ba!”

Đọc xong, không ai có thể hiểu khác ý của nhà thơ cho được; dù Bùi Giáng đầy nghệ thuật ám chỉ, không chịu nói huỵch toẹt ra! Ha ha!

Đúng là bực sư tổ trong làng viết chuyện đùa vui trong tí chút! Đáng cho đám hậu sanh như tui kính cẩn nghiêng mình học và tập!

doanxuanthu

melbourne

Cứ bửa tới!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Mẹ đẻ là một điều không dễ dàng là vì nó khó… (Nói huề vốn!)

Chuyện rằng: Con chuột mẹ dẫn hai chuột con đi dạo. Bỗng một con mèo đánh hơi được mùi chuột, liền nhón cẳng núp sau cánh cửa chuẩn bị vồ ba mẹ con nhà chuột, tha về về đánh chén tối nay.

Trong lúc thập phần nguy cấp, thập tử nhứt sanh, chuột mẹ vội kéo hai chuột con nấp vào phía nên nầy cánh cửa, sủa rõ to: “Gâu, gâu! gâu! Gừ! gừ! gừ! Gâu!”

Mèo ta tưởng là chó, nên vội vàng tam thập lục kế dĩ đào vi thượng, lên đường bôn tẩu .

“Đó các con thấy chưa? Biết được ngoại ngữ thật là có lợi vô cùng vì đôi khi nó cứu được mạng sống của mình!”

Chính vì vậy khi thế giới toàn cầu đã trở thành một cái làng, việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác tiếng Mẹ đẻ vô cùng cần thiết… thực! Nhứt là đi cưới vợ.

Mấy thằng chuẩn rể Tây, tức da trắng nói chung, lỡ phải lòng với con gái Việt Nam là phải rán mà học tiếng Việt, (dẫu đâu có dễ), để lấy điểm với Bố Mẹ nhà em…

Bố Mẹ ngoài một mớ đô bộn bộn bù của còn phải có một chàng rể Tây dẫu mắt xanh mũi lỏ, nhưng biết húp nước mắm, và phun ra tiếng Việt… để hãnh diện với xóm làng…

Nàng là sinh viên đi Mỹ học, sau khi tốt nghiệp không muốn về nước mà muốn ở lại cái nước tư bản bóc lột nầy nên quăng chài tứ tung mới bắt được một thằng Mỹ lù khù, dễ dụ.

Em sẽ dắt chàng về Hà Nội ra mắt bố mẹ và bà con nội ngoại để chứng tỏ rằng em chẳng lấy làm chơi mà làm thiệt. Nhưng anh lại đực mặt ra đó, một câu tiếng Việt chào hỏi cũng bù trất thì thiên hạ sẽ cho rằng anh ỷ là dân đế quốc Mỹ đem cái thẻ xanh ra nhử nhử trước mặt mà gạt gẫm tiết trinh em!

Nàng dạy chàng ngôi thứ nhứt, tiếng Anh là “I”, thì tiếng Việt không “ai” gì ráo mà phải tùy người đối diện để mình xưng cho thích hợp: là con, là cháu, là anh, là tôi.. v.v…

Lúc nói chuyện với nàng, chàng xưng là anh và âu yếm gọi em. Nhưng với ông bà, cha mẹ là khác! “Nhớ chưa con bò! Cha! Khó dữ vậy hè!”

Về tới Hà Nội, gặp bố em, chàng cung kính, gật đầu chào “Anh muốn cưới con Bố. Bố có đồng ý không?”

Rồi quay sang bà già vợ tương lai khen ngợi vài câu xã giao là: “Giò Mẹ căng lắm!” Quay sang con em vợ thì: “Em đẹp, sexy lắm!”

Con vợ tương lai nghe vậy, bèn rầy: “Anh ngốc như con bò!”

Vốn có chút đỉnh rượu, (chớ bình thường là không bao giờ dám), chàng rể Tây sửa lưng vợ, để cho nhạc phụ và nhạc mẫu biết là tiếng Việt mình cũng giỏi hỏng thua ai

“Con bò không có ngốc! Em phải nói là: Anh ngốc như con ““donkey”“, con lừa, mới đúng!”

Trưởng tộc và cả nhà bên đàng gái thán phục, ồ lên cười vui vẻ.

Xong ông Bí thư xã ủy đến ăn chực để chia vui, đứng dậy giới thiệu cùng chú rể Tây của làng ta, chỉ tay vào vợ đang đứng kế bên trịnh trọng nói: “Đây là nhà tôi!”

Thằng rể Tây buộc miệng hỏi: “Rồi cái cửa ra vào, nó ở đâu?”

Thiệt là cái đồ đế quốc Mỹ mà! Toàn là dân cà chớn không hè!

Đó là Mỹ học tiếng Việt; còn Việt học tiếng Mỹ thì sao?

Mấy bữa nay, bên Little Saigon, bà con mình rôm rả bàn về cái vụ nói tiếng Mỹ giả cầy, ba rọi, nửa nạc nửa mỡ mà không chịu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong Cộng đồng người Việt…ở nước ngoài…Nghe vui quá chừng vui đi!

Đa số ông bà, chắc bằng cấp đầy mình mẩy, xúm lại xài xể, xì nẹt bà con mình nói tiếng Việt mà cứ chêm vô tiếng Mỹ, theo giọng đọc của tự điển Lê Bá Kông, Ziên Hồng, trường dạy Anh văn từ hồi năm nẩm ở Sài Gòn!

Ối tưởng cái gì? Chớ cái vụ sính nói tiếng Tây, tiếng U hòa đồng với tiếng Việt của dân mình có gần cả thế kỷ trước lận mà.

Tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang kể về chuyện tình giữa Nguyệt và Minh trắc trở rồi tan vỡ trong cái biến loạn của xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến qua chế độ thuộc địa, sự xung đột giữ cũ và mới!

Ông Cả, (ba của Nguyệt) thì thủ cựu bài tân: “Nhân bất học bất tri lý. Học giả như hòa như đạo. Bất học giả như cảo như thảo (Người không học không biết lẽ phải. Học như lúa nếp lúa mùa. Không học như cỏ dại cỏ khô ích gì?)

Còn bên ông chủ tiệm bazar Phát Đạt (ba của Minh) thì ““đã cựu nghinh tân”: bonjour, oui, non, pardon, merci! C”est par bien? tá lả.

Xách đít ra về, chủ tiệm bazar Phát Đạt còn ““Adieu”“ (tạm biệt) (A dơ). Ông Cả đáp lại: “Ai dơ” thì biết? He he!

Ông soạn giả Tư Trang đã mượn nhân vật Tân, em của Nguyệt, để phê phán ông chủ hiệu bazar Phát Đạt rằng: “Tây phải ra Tây! Việt Nam phải ra Việt Nam! Đừng mở miệng lai căng pha trộn nửa nạc nửa mỡ nghe không lọt lỗ tai!”

Chuyện đó xưa rồi! Còn bây giờ là thế kỷ 21, mình ở nước của người ta mà chỉ nên nói toàn bằng tiếng Việt, thì là tui sẽ dốt toàn tập tiếng Anh thì làm sao kiếm ra việc làm? Làm cu li, chớ đâu phải là diễn giả trường đại học đâu mà cần tiếng Anh lưu loát?

Mấy thằng Úc nó thường khuyến khích tui, chớ nó không hề dám chê bai, dạy đời như ông Tư Trang đâu! Nó nói: một người biết hai thứ tiếng là ‘bilingual’; còn người chỉ biết một thứ tiếng là thằng Úc!

Thì việc gì mà sợ quê chớ? Muốn giỏi tiếng Anh là phải thực hành, không có cách nào khác. Từ dở mới tới giỏi, biết chữ nào chơi chữ đó, từ ít mới có nhiều, dựa vào kinh nghiệm chiến trường chớ không phải trong sách giáo khoa, toàn là phi hiện thực…tế!

Đây là bài học thực tế nè: “Cô ơi, tôi muốn khám bệnh! Vậy bác “phiu ao” (fill out) cái “phom” (form) này dùm con nha bác!”” “OK Salem!”

“Thằng chả nói tui suốt ngày chỉ lo “sốp binh” (shopping), hỏng có “khe” (care) gì cho chồng con, cho nhà cửa!

“Nô mó nì” (no money) mà sốp binh (shopping) cái gì?Ai đi chợ “khút” (cook) cho cha con ông “ít” (eat)?

Khôn hồn đừng làm tui”ghét mát” (get mad) là tui “mu” ra (move) thì đừng có mà chạy theo khóc lóc năn nỉ kêu tui “mu” vô…” Đồ sì tu pit! ((stupid)”

(Ôi tui khoái cái chữ mu (move) ra, mu (move) vô nầy quá Trời! Mà nỡ lòng nào bắt em phải nói thuần tiếng Việt, không cho chen chữ “move “ nào vô hết trơn thì làm sao mà đã chớ?)

Mạnh vì gạo bạo vì tiền, thương vợ thương con; cái tình thương bao la đó đã làm tui không sợ mất mặt (ủa tui có mặt đâu mà sợ mất?)

Không sợ các bức thức giả chê tui là đồ vọng ngoại cộng với “kém thông minh pẹc- ma- năng (permanent) (thường trực).

Mười năm, hai chục năm nữa cái đám tụi tui sẽ đem cái “xi líp” (slip), “xú chiêng” (soutien-gorge), tiếng Tây ; “no star where” (không sao đâu), no medicine (không thuốc hút), master run (thầy chạy) tiếng Mỹ… đi luôn về bên kia thế giới.

Cái tụi tui để lại là đám con cháu nói tiếng Mỹ như Hoàng gia Anh dù da nó vẫn vàng khè.

Do đó cứ chê tui là tiếng Anh… ăn đong của Phước Lộc Thọ mà hay khoe. “Ai đông khe!” (I don”t care). He he!

***

Tóm lại sĩ diện hảo mà làm gì? Ai chê tiếng Anh tui giả cầy, ba rọi thì kệ họ chớ. Tui chỉ cần biết chút đỉnh tiếng Anh đủ xài, không cần trúng giọng gì ráo, sao cho “boss” Úc hiểu, cho tui cái “job” để tui đi làm kiếm tiền về cống nạp cho con vợ, để trả tiền nhà, tiền bill, tiền con cái ăn học nữa là tui… OK rồi!

Chớ chờ tui nói tiếng Anh giỏi cỡ Donald Trump hãy nói (chắc tới Tết Congo)… thì vợ tui ai nuôi, con tui ai lo, tiền nhà tui ai trả?
Thử hỏi chê tui rậm rề thì mấy cái chữ tiếng Mỹ nầy quý ông, quý bà có xài không vậy?

Như đi ăn buffet, ăn hamburger, hot dog, pizza! Rồi OK, Cheers, Website, Cell, Ticket, IPhone, IPad, Computer… xe SUV, xe RV, xe Van…

Kêu tui nói bằng tiếng Việt thì nó ra làm sao hả? Chỉ cho tui nói với nhe bồ!

Chẳng qua, tiện là xài, tiếng Anh, tiếng Việt gì cũng được tất! Hoặc pha với nhau cũng được vì tui là một con người tha hương, đành đa văn hóa một phần mà phần khác tui học theo ông bà mình hồi xưa đấy thôi!

Có cái chuyện như vầy: Có anh bồi kia muốn báo động với ông chủ Pháp có một con cọp ngoài vườn, nhưng anh ta không biết con cọp tiếng Pháp là gì!

Không đi đường thẳng được, thì đi đường vòng, cốt cho ông chủ hiểu cái nguy hiểm cận kề, để hai người vọt cho lẹ!

“Lui non buffle, lui pas boeuf, lui “tí ti” jaune, lui “tí ti” noir, lui “gầm” lui “gừ”, lui beaucoup méchant, lui mangé monsieur, lui mangé moi!”

“Lúy nông buýp, lúy pa bớp, lúy tí ti dôn, lúy tí ti noa, lúy gầm lúy gừ, lúy bố-cu mê-xăng, luý măng giê mông-xừ, lúy măng giê cả moa!”

(Chẳng phải trâu chẳng phải bò, nó một tí vàng, nó một tí đen, nó gầm nó gừ, nó dữ lắm, nó xực ông, nó xực cả tui luôn).

Do đó, tui rất hoan nghinh bà con mình ở bên Mỹ, bên Canada, bên Úc nầy đây nên nói tiếng Anh khi có dịp. Dù nói chỉ để khoe, để nổ thôi… cũng được mà!

Vì một con người có đầu óc rộng mở, luôn luôn muốn du nhập cái mới! (Chớ không cực đoan thủ cựu, cứ bám riết vào cái cũ, không thèm học thêm cái mới vì sợ thiên hạ chê là nhà quê, dốt hay nói chữ) là tiến bộ rồi hè!

“Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” mà!

Vậy là không cần chờ đến giỏi tiếng Anh mới nói, cứ bửa tới, bửa tưới hột sen đi bà con!

Ngay cả lúc cự nự em yêu, tui chơi tiếng Anh ba rọi không hè. Vì em không hiểu, nên tui an toàn trên xa lộ, còn xả được cơn tức… giận trong tình nghĩa vợ với chồng.

Nhưng đau đớn thay những ngày hoa mộng đó qua mau; khi đám cháu nội của tui lớn lên đi nhà trẻ, mẫu giáo rồi vào lớp “prep”.

Về nhà tụi nó líu lo tiếng Anh và con vợ tui chạy lăng xăng chạy xuống bếp lo cho tụi nhóc từng miếng ăn, thức uống…

Mới đầu thì tụi nó ra dấu, đút ngón tay trỏ vô mồm… là đòi bú tí sữa….Riết rồi em yêu học và hiểu tiếng Anh cũng kha khá!

Vậy mà tui cứ ngây thơ không biết. Cứ theo cái mửng cũ, xài xể em bằng tiếng Anh ba rọi của tui như “you sì -tu- pịt” chẳng hạn!

Ai ngờ em trừng trừng nhìn tui với đôi mắt hình viên đạn. “What? How dare you?”

“Chết Tía tui rồi bà con ơi!” Vậy mà tui cứ tưởng em yêu ù ù cạc cạc như hồi xưa chớ!

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 19 – Tái Lập Phòng Mổ Dã Chiến

Chúng tôi vừa đi vừa suy nghĩ chẳng mấy chốc đã tới chân đồi bệnh viện. Bắt đầu từ đây là đường lên dốc. Vì lâu ngày chúng tôi không có đi bộ nhiều, chỉ quanh quẩn ở mấy góc phòng nên các bắp thịt trở thành yếu đuối. Lên tới dốc chúng tôi đã “mỏi gối chồn chân” và cũng hụt hơi luôn. Vừa mới ló mặt vào qua cổng bệnh viện đã thấy Binh nhất Thiện reo lên:

– A, Bác sĩ Quý đây rồi, tụi em đi tìm bác sĩ mãi không thấy. Có ông Thiếu tá ở bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đang kiếm bác sĩ đó.

Tôi nghĩ thầm chắc là Thiếu tá Diệm chứ không phải ai khác. Tôi vừa rẽ vào cuối trại Nội Khoa đã thấy chiếc xe Jeep của ông Diệm đậu ở trước cửa văn phòng Ty Y Tế Ông Diệm đang đứng nói chuyện với bác sĩ Phúc. Thấy tôi ông ngoắc lại:

– Đợi ông mãi, ông đi đâu vậy?

– Chào ông. Tôi xuống khu chợ mới xem xét tình hình một chút.

Thiếu tá Diệm nhăn mặt:

– Sao ông liều vậy, không sợ Việt Cộng nó bắn sẻ sao?

– Tôi cũng có đề phòng chứ, nhưng thấy lính đi lềnh khênh dưới đó, chắc an ninh nên tôi mới dám mạo hiểm xuống chứ.

– Tôi mới nói chuyện với bác sĩ Phúc xong. Đại tá Nhựt hỏi bệnh viện có còn khả năng tiếp nhận thương binh hoặc mổ xẻ gì được không?

Tôi đưa tay chỉ phòng mổ và các trại bị pháo sập rồi nói:

– Ông thấy đấy, bệnh viện không có điện nước, hai Phòng Mổ đều bị hư hại nặng. Chúng tôi bị bó tay không làm gì được cả.

Bác sĩ Phúc tiếp lời:

– Tụi tôi còn được một ít y cụ bông băng thuốc men, nên chỉ có thể băng bó vết thương thôi, không thể mổ lớn được.

– Nếu vậy thì không xong rồi. Nếu có những trường hợp nặng cần mổ gấp thì làm sao. Chả nhẽ lại để cho thương binh chết dần mòn vì không thể tản thương, làm sao giữ được tinh thần binh sĩ. Đại tá Nhựt cho tôi biết là nếu bệnh viện không còn hoạt động được, bác sĩ Quý sẽ tổ chức một Phòng Mổ Dã Chiến ở ngay tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Tôi ngắt lời Thiếu tá Diệm:

– Ý kiến đó hay lắm. Tôi sẽ thành lập ngay một toán giải phẫu cấp cứu. Bảo đảm với ông chỉ trong hai ngày thôi là chúng tôi có thể bắt tay vào việc tiếp tục mổ xẻ được. Nhưng có chỗ để cho chúng tôi làm việc không đã?

Thiếu tá Diệm cười tin tưởng:

– Ông khỏi lo. Tôi đã nói với ông Nhựt dành cho Bệnh Viện Tiểu Khu nguyên một dãy hầm, có đầy đủ tiện nghi để làm việc. Có điện đàng hoàng. Hầm ngầm ở dưới đất an toàn lắm. Ông cứ yên chí làm việc chẳng sợ pháo đâu.

Nghe vậy tôi rất lấy làm phấn khởi. Đã trót mang danh y sĩ mà cứ phải bó tay chẳng làm gì được để cứu những đồng đội của mình tôi cảm thấy rất khó chịu, rất tội lỗi. Tôi không còn mong muốn gì hơn. Tôi quay sang bác sĩ Phúc bàn:

– Toán cấp cứu giải phẫu tôi đã có sẵn rồi. Chỉ cần ra lệnh là có thể di chuyển ngay được. Tôi và các nhân viên sẽ qua bên đó trước, thu xếp mọi việc xong sẽ báo tin để anh qua tiếp tay với tôi.

Quay qua ông Diệm tôi hỏi:

– Bao giờ tôi có thể dọn dọn sang đó được?

– Càng sớm càng tốt, ngay bây giờ nếu ông muốn.

– Vậy thì nhờ ông làm ơn chờ tôi một chút. Tôi sẽ cắt đặt nhân viên mang theo một số dụng cụ cần thiết để mổ, phải dùng một xe Hồng Thập Tự chở đồ còn tôi quá giang theo xe ông.

Tôi để ông Thiếu tá Diệm nói chuyện với bác sĩ Phúc. Tôi đi kiếm Thượng sĩ Lỹ và ra lệnh cho ông ta đi kêu toán giải phẫu cấp cứu của tôi tới. Lát sau mọi người đều có mặt đầy đủ ở trong Phòng Hậu Giải phẫu. Tôi nhìn ra thấy có hai chuyên viên tê mê là Trung sĩ Xòm, Binh nhất Thiện, một chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Trung sĩ Tăng để có người phân loại máu trong trường hợp cần truyền máu cho thương binh. Tôi kêu cô Bích, chuyên viên phụ tá mổ cao tay nghề nhất, để giúp tôi. Thượng sĩ Lỹ chuyên viên dụng cụ lo bao quát điều hành mọi việc.

Như vậy kể cả tôi tất cả là 6 người. Tôi ra lệnh cho mọi người ai lo việc nấy đi thu thập tất cả các dụng cụ phòng mổ, thuốc, bông băng chất lên xe Hồng Thập Tự. Tôi không quên mang theo máy gây mê, và một bàn khám bệnh bằng thép không rỉ để làm bàn mổ vì bàn mổ quá nặng không thể di chuyển được, nhất là lại phải mang xuống hầm, rất khó khăn.

Sắp xếp xong, tôi về hầm bác sĩ Phúc và đem theo những vật dụng cần thiết của tôi, rồi từ giã bác sĩ Phúc. Chúng tôi lên đường sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Phải mất hai chuyến xe nữa chúng tôi mới đem được khá đầy đủ những dụng cụ cần thiết qua hẳn chỗ mới. Nghĩa là phải tới ngày hôm sau mọi sự mới được coi như xong.

Cảm tưởng đầu tiên của tôi, khi chiếc xe Jeep của ông Diệm chở tôi vượt qua vọng gác Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để tiến vào trong trại là một cảm giác ngỡ ngàng, một bất ngờ khi tôi nhìn cái căn cứ B15 của Biệt Kích Mỹ, nay biến thành Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những dãy nhà tiền chế san sát của một trại binh rộng lớn quy mô mà mấy tháng trước đây, tôi có dịp vào thăm cùng với bác sĩ Risch, nay hoàn toàn biến dạng. Trước mắt tôi chỉ còn một vòng rào kẽm gai bị cháy đen. Gần như mọi kiến trúc trên mặt đất đều bị đốn sụm. Chỉ còn lại một tháp gác cũng cháy đen, đứng xiêu vẹo ở một góc sân, và những mái tôn thấp sát mặt đất của những dãy hầm ngầm nằm song song với nhau.

Xế trước mặt tiền trại, ngay vòng rào kẽm gai, hai xe tăng bị bắn cháy đen thui. Đằng sau Bộ Chỉ Huy cũng có một xe tăng bị bắn nằm hơi nghiêng, giơ ngọn pháo hổng lên trời. Phía xa hơn nữa gần rừng cao su, ba chiếc xe tăng nằm ngổn ngang cùng một xác trực thăng ở gần đó.

Thì ra trận chiến ở mặt này khá ác liệt, không như mặt trận phía Bắc gần bệnh viện. Ông Diệm đậu xe trước cửa một hầm rộng chừng hai thước có bậc thang xây bằng xi măng đi thẳng xuống sâu chừng ba thước. Thiếu tá Diệm nói:

– Đây, hầm của ông đây. Hầm này dài chừng 25 thước, dành riêng cho bệnh viện Tiểu Khu. Toàn quyền ông sử dụng. Ông cho nhân viên khênh đồ xuống đi. Để tôi dẫn ông xuống coi chỗ ở mới của ông, chắc chắn ông sẽ hài lòng. Có ông ở đây chúng mình còn chạy qua chạy lại với nhau được. Ông ở bên bệnh viện chẳng có hầm hố gì cả làm tôi lo quá.

Tôi hiểu ý ông Diệm muốn nói gì. Nếu lỡ có phải di tản chiến thuật vì địch quân đánh dữ quá, ông cũng có thể kịp thời báo tin cho tôi biết, không nỡ bỏ rơi tôi. Tôi nói:

– Cảm ơn ông lắm, hầm này kiên cố quá, không biết pháo trúng có sao không?

Ông Diệm chỉ cho tôi chỗ nóc hầm bị pháo. Mái tồn thủng một lỗ nhưng hầm chẳng hề hấn gì:

– Ông thấy không, như gãi ghẻ thôi.

Hầm này có hai lối đi xuống rất rộng, khiêng băng-ca người bị thương lên xuống rất dễ dàng. Hầm có ngăn ra từng phòng. Tất cả có sáu phòng. Mỗi phòng rộng chừng 3 thước dài 4 thước. Có một hành lang rộng chừng thước 2 thông suốt dẫn tới hai cửa hầm. Trong hầm tôi thấy đã có những thương binh nằm dài dọc theo hành lang. Quần áo họ lấm be bét đất cát. Tất cả chừng hơn một chục người. Đa số bị thương ở chân tay. Một vài người ở đầu, chắc cũng nhẹ thôi. Trong hầm, hơi người cũng khá nặng nhưng còn dễ thở hơn sống với mấy trăm xác chết ở bên bệnh viện cũ. Điều quan trọng có hầm an toàn để làm việc. Sau này chúng tôi sẽ làm vệ sinh rồi di tản thương binh đi, hầm lại sạch sẽ thơm tho ngay.

Ông Diệm nói:

– Tôi đề nghị phòng đầu tiên để làm Phòng Mổ. Phòng thứ nhì sẽ là của ông ở đồng thời cũng để những dụng cụ y khoa. Phòng thứ ba và thứ tư dành cho thương binh. Phòng cuối cho y tá.

Tôi gật đầu nói:

– Tôi đồng ý với ông, như vậy rất tiện. Nếu có nhiều thương binh, tôi sẽ cho nằm ở dọc hành lang. Ngoài ra ông còn chỗ nào chứa thêm được không?

– Nếu cần cũng có thể được. Nhưng ông yên trí đi, chỉ có những thương binh nặng mới được mang vào cho ông mổ, còn những trường hợp nhẹ có các bác sĩ của đơn vị họ lo rồi nên cũng không nhiều lắm đâu. Thôi ông đi với tôi lên chào ông Nhựt để báo là ông đã tới đây.

Tôi theo Thiếu tá Diệm đi về phía hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Hầm này hình vuông, rộng hơn hầm chỗ tôi và kiên cố hơn nhiều.

Tôi gặp Đại tá Nhựt ngay tại nơi phòng họp chính giữa hầm. Chỗ ông ở là một phòng nhỏ gần đấy được che bằng một vách ngăn. Ông vui vẻ hỏi thăm sức khỏe các anh em bên Bệnh Viện Tiểu Khu. Tôi báo cáo sơ qua tình hình và tổn thất của nhân viên bệnh viện. Chết mất sáu, bị thương 36 nhưng không nặng lắm. Tôi cũng nói qua về việc phối hợp làm việc với anh em Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Đồng thời cũng báo cáo đã thành lập đoàn giải phẫu cấp cứu và Phòng Mổ Dã Chiến tại căn hầm đã được chỉ định. Đại tá Nhựt ngồi chăm chú nghe xong ông nói:

– Sau khi bác sĩ ổn định xong Phòng Mổ rồi, nếu có rảnh bác sĩ làm một chuyến xuống làng phía sau trại mình xem dân chúng có cần giúp đỡ săn sóc gì không. Tôi được báo cáo là dân tản cư về đó đông lắm. Nếu không phòng ngừa trước thì sẽ xảy ra bệnh dịch đó.

Tôi gật đầu đồng ý, tiếp lời Đại tá Nhựt:

– Chúng tôi đã nghĩ tới vấn đề này, và ngay từ ngày đầu khi dân tụ về đã có cho chích ngừa dịch tả rồi. Nếu có thể xin Đại tá gửi một công điện về Bộ Chỉ Huy Tiếp Cận Vùng III yêu cầu họ gửi lên chừng 10 ngàn liều thuốc chủng ngừa dịch tả nữa. Chúng tôi sẽ xuống làng chích cho dân.

Tôi nhấn mạnh thêm:

– Có tiếng nói của Đại tá thì mọi sự sẽ nhanh hơn.

– Cái đó dễ mà, bác sĩ khỏi lo, để tôi bảo họ gửi lên cho bác sĩ. Bác sĩ cần gì cứ cho tôi biết.

Vừa lúc đó một sĩ quan Dù đi vào, dáng cao lớn cỡ ông Tỉnh Trưởng. Đại tá Nhựt chỉ tôi giới thiệu:

– Đây là bác sĩ Quý, bác sĩ giải phẫu của bệnh viện Tiểu Khu của moa.

Rồi ông quay sang tôi nói tiếp:

– Đây là Đại tá Lưỡng, Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù lên đây cứu mình.

Tôi đưa tay lên chào với một lòng biết ơn vị Đại tá Dù đã đem quân lên cứu tụi tôi. Ông chuyển điếu xì gà sang tay trái rồi đưa tay ra bắt tay tôi, miệng hơi mỉm cười. Tôi nói:

– Tôi mong quân Dù lên đây từng ngày để giải cứu tụi tôi. Cảm ơn Đại tá đã tới và hân hạnh được biết Đại tá.

Đại tá Nhựt nói:

– Bác sĩ Quý là bác sĩ của moa từ hồi còn ở Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Sau khi học xong khóa Giải phẫu Binh Đoàn, thấy moa ở đây bác sĩ Quý lại lên đây làm việc với moa.

Rồi Đại tá Nhựt cười cười nói với tôi:

– Này bác sĩ muốn lấy vợ thì phải lo o bế Đại tá Lưỡng đi, ông ấy có cô con gái đẹp như Thẩm Thúy Hằng ấy.

Xong ông quay đầu về phía Đại tá Lưỡng nói tiếp:

– Bác sĩ Quý này tuổi trẻ tài cao vẫn còn độc thân, đang kén vợ đấy. Lê Lai của tôi đấy.

Nói rồi ông cười khà khà có vẻ khoái chí lắm.

Đại tá Nhựt thực sự vui tính, giữa lúc dầu sôi lửa bỏng mà ông vẫn tỉnh bơ nói chuyện tếu được. Tôi biết Đại tá Nhựt nói chơi cho vui, để không khí đỡ tẻ nhạt khi hai người không quen biết được giới thiệu với nhau. Tôi vẫn thầm phục ông sếp lớn của tôi có biệt tài giao tiếp với bất cứ hạng người nào, từ người sang đến kẻ hèn, cỡ nào ông cũng tỏ ra thích nghi với mọi trường hợp. Tuy vậy tôi vẫn thấy hơi ngượng khi bị đưa vào chuyện mai mối vợ con. Giữa lúc tôi đang bối rối thì may quá, anh Đức, em vợ Đại tá Nhựt nghe tiếng tôi vội chạy ra thăm hỏi. Thành ra tôi thoát nạn. Tôi xin phép hai vị Đại tá ra khuất một góc phòng có kê cái giường của Đức để nói chuyện .

Tôi biết Đức từ khi còn ở Trung Đoàn 43. Chúng tôi hay nhậu nhẹt với nhau và cùng với ban văn nghệ của Trung Đoàn. Có cả nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, một tài danh về đàn guitar classic. Thực ra Đức là đầu tàu, lôi kéo mọi người vào cuộc nhậu. Chúng tôi đa số là những người trẻ xa nhà. Đêm tối rảnh rỗi, được ngồi lại với nhau nhậu nhẹt cũng đỡ buồn. Lại thêm nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, những lúc cao hứng lấy guitar biểu diễn vài tuyệt chiêu thì cũng thấm lắm. Tôi có hỏi Phương về cách học, thấy rất công phu. Ngoài việc năng khiếu ra, còn phải tập luyện 8 tới 10 tiếng mỗi ngày.

Đức là cây nhậu nhà nghề. Nghĩa là không cần mồi, chỉ một ít muối tiêu, xả ớt là cũng đủ chơi suốt đêm. Còn tôi nhậu là phải có mồi. Hạng bét cũng phải có xoài tượng, khô mực, tôm khô, củ kiệu, nếu có vịt quay, gà quay hoặc lòng heo là nhất. Trong nhóm, chuyên viên phá mồi là tôi. Đức có thể uống cả két bia như không. Tôi chỉ giới hạn tối đa là sáu lon Budweiser hoặc sáu chai 33 thôi. Nhậu xong rồi đi ngủ, tuy vậy cũng phải tới 2 hay 3 giờ sáng là thường.

Đức mang cho tôi một ly nhỏ nước đá lạnh, nói:

– Mời bác sĩ uống nước. Bác sĩ thấy không, đánh giặc mà vẫn có nước đá uống như thường.

Quả thật tôi hơi ngạc nhiên sao bây giờ mà vẫn có nước đá uống. Tôi uống một hơi sạch bay ly nước. Đã lâu tôi chỉ uống nước trà nguội bây giờ được uống một ly nước đá lạnh, tôi thấy thật tuyệt vời. Chưa bao giờ trong đời tôi lại được uống một ly nước ngon như thế. Nó ngọt ngào thấm dần vào từng thớ thịt của tôi. Một cảm giác khoan khoái, tươi mát nhẹ nhàng thoải mái theo từng dòng nước lạnh vào trong bao tử tôi. Thực giống như ruộng khô gặp mưa rào. Nếu nước Cam Lồ của Phật Bà Quan Âm có ngọt ngào như trong sách tả thì cũng chỉ đến thế là cùng. Tôi thực không nói ngoa, chỉ một ly nước đá lạnh cũng đủ cho tôi cái cảm giác khoan khoái như vậy.

Cảm giác của con người, vui sướng, khổ sở đúng là tương đối thôi. Miếng ăn có ngon cách mấy nếu được ăn uống phủ phê mãi rồi cũng hóa nhàm chán. Còn khi đói khát thì chỉ một món ăn thức uống tầm thường cũng trở thành hơn cả cao lương mỹ vị.

Trình diện Đại tá Tỉnh Trưởng xong, tôi xin phép rút lui để lo sắp xếp đồ đạc. Trước khi rời hầm Chỉ Huy, anh bạn Đức đưa cho tôi ăn thử một miếng bào ngư nhỏ bằng đầu đũa, nhưng tôi lắc đầu từ chối không ăn.

Về tới hầm của tôi, thấy khoan khoái rồi. Các nhân viên đã khênh hết đồ xuống để tại phòng thứ nhất. Tôi bước vào phòng thứ nhì là phòng tôi sẽ ở. Trong phòng tôi đã thấy có sẵn hai cái giường gỗ ép kiểu divan kê dọc hai bên vách ngăn, giữa là một lối đi nhỏ chừng 30 phân. Chắc là của binh lính Mỹ để lại. Như vậy cũng tiện.

Toán Giải Phẫu Cấp Cứu của tôi đã phải làm việc suốt ngày hôm đó, khuân vác di chuyển các y cụ cần thiết tới chiều mới xong. Tổng cộng phải cần tới ba chuyến xe Hồng Thập Tự mới tạm di chuyển đủ số y cụ tôi cần dùng.

Đồ đạc tạm thời để ở mấy phòng chưa có thương binh. Chúng tôi dự trù sẽ dành ngày hôm sau để lắp ráp máy thuốc mê, máy hút, đèn mổ, rồi dở đồ đạc, phân chia từng khu từng món để dễ tìm. Dĩ nhiên chúng tôi không có máy hấp khử trùng. Các dụng cụ y khoa sẽ được rửa sạch bằng xà bông “Surgical soap” rồi đổ alcool vào đốt cháy là xong. Khử trùng dã chiến như vậy, tôi thấy không đúng quy cách nhưng chúng tôi không có phương tiện làm hơn được nữa.

Khoảng 5 giờ chiều ngày hôm sau, trong khi chúng tôi đang cố gắng sắp xếp đồ đạc, có người mang mảnh giấy viết tin từ Bác sĩ Tích hỏi xem chúng tôi đã sẵn sàng để mổ chưa. Một y tá thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y bị thương ở bụng ngày hôm qua. Tưởng là sơ sài thôi nhưng nay thấy bụng cứng rồi, muốn xin chuyển qua cho tôi mổ. Tôi chỉ cho người đưa tin thấy tình trạng bề bộn của chúng tôi chưa sửa soạn xong, không thể nào mổ được. Tôi nhờ anh ta về nhắn lại với Bác sĩ Tích rằng cách hay nhất là xin trực thăng tản thương. Với tình trạng thiếu thốn, chưa dự bị như hiện nay mà mổ một vết thương bụng đã có biến chứng viêm phúc mạc rồi thì thường thường số tử vong rất cao. Sư đoàn có nhiều uy quyền và phương tiện xin tản thương dễ dàng hơn Bệnh Viện Tiểu Khu nhiều.

Suốt ngày hôm sau chúng tôi ra sức thu dọn, sắp xếp các dụng cụ thật nhanh vậy mà tới 3 giờ chiều mới tạm xong. Tôi dự trù ngày mai nếu có bệnh, tôi có thể khai trương Phòng Mổ Dã Chiến này được. Lợi dụng thời giờ rảnh rỗi, tôi kêu cô y tá tới để kiểm điểm mình cần những gì, đúc kết làm thành một phiếu xin tiếp tế để nhờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu gửi về Liên đoàn 73 Quân Y. Gửi gấp lên, dĩ nhiên là bằng cách thả dù.

Vì bệnh viện đã chính thức dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu tuy rằng đã bị thu gọn lại, nên có lệnh là tất cả các y cụ thuốc men thả xuống, ai nhận được đều phải đưa về bệnh viện hết. Tuy nhiên chỉ trừ máu là được trao lại 100 % còn các thuốc men y cụ bông băng chỉ đến tay chúng tôi được 30% là cùng. Bởi vì các đơn vị ở ngoài cũng cần phải có tiếp tế mới săn sóc sơ khởi cho thương binh được. Điều đó cũng tốt thôi. Tôi không có điều gì phàn nàn cả. Máu thì phải dùng ngay vì không có tủ lạnh chứa. Tất cả đều là máu loại O cả. Nếu kỹ thì bảo Trung sĩ Tăng bên Phòng Thí Nghiệm phân loại máu. Nếu cần gấp, tôi cứ việc truyền cho thương binh, không sao cả.

Đến 6 giờ chiều, mọi sự xong xuôi hết. Mọi người ai về chỗ nấy lo ăn uống nghỉ ngơi. Tôi lấy bao cơm sấy đổ nước lạnh vào. Chờ cho cơm khô ngâm nước mềm rồi mới ăn được, cũng phải đợi đến gần một tiếng. Nếu có nước nóng thì nhanh hơn. Nhìn qua khe thông hơi gần nắp hầm ngang với mặt đất ở phía trên, tôi thấy bên ngoài đã bắt đầu hết ánh nắng mặt trời.

Hoàng hôn đã hết và đêm tối sẽ dần tới. Máy phát điện của Bộ Chỉ Huy đã chạy. Trong phòng tối mờ mờ nhờ có chút ánh sáng hắt vào từ kẽ thông hơi phía gần nóc hầm. Có một ngọn đèn điện ở giữa phòng với cái bóng đèn đặc biệt của Mỹ để lại có xoáy trôn ốc. Không như bóng đèn thông thường của Việt Nam có hai chấu để dễ gắn vào chốt điện. Tôi lười biếng ngồi dựa lưng vào vách tường, nhìn qua kẽ hở cửa sổ thông hơi chưa chịu bật đèn lên. Tay cầm cái muỗng nhỏ múc từng muỗng cơm sấy lên ăn từ từ với thịt chà bông. Thỉnh thoảng lại uống một nắp bi-đông nước trà cho dễ nuốt.

Tôi không đói lắm, chỉ hơi mệt thôi. Nhưng dù sao đến bữa cũng phải ăn nếu không sẽ bị mệt dễ xỉu lắm. Rút cuộc tôi cũng chỉ ăn được nửa bát cơm sấy đã thấy no rồi. Tôi gói lại, cất bịch cơm còn dư lên một cái kệ trên tường để dành ngày mai ăn sáng. Tôi đang nằm trên giường nghỉ ngơi thì có tiếng gõ cửa, rồi giọng cô Bích hỏi:

– Bác sĩ có ở đây không, sao không có đèn đuốc gì cả vậy.

– Cô Bích đó hả? Mời cô vào, phiền cô bật đèn giùm tôi. Công tắc ở ngay bên cửa ấy.

Cô Bích đưa tay tìm chỗ bật điện. Dường như không quen, cô tìm một hồi vẫn chưa thấy. Tôi vội lấy cây đèn pin chiếu vào chỗ công tắc điện. Cô bật lên, một ánh điện yếu đuối vàng vọt tỏa ra khắp phòng. Tôi ngồi dậy tựa lưng vào túi quần áo ở đầu giường. Cô Bích ngồi xuống một chiếc ghế mây chắc của lính Mỹ bỏ lại, cũng khá tốt. Cô hỏi tôi:

– Bác sĩ ăn cơm chưa?

– Tôi mới ăn xong, còn cô thì sao?

– Tôi cũng ăn xong rồi, cơm nóng đàng hoàng, ăn với xúc xích nướng, ngon lắm.

Nói xong cô cười một cách khoái trá vì thấy tôi cứ thộn mặt ra ngạc nhiên.

Tôi nói:

-Vậy là cô chơi trội hơn tôi rồi. Trong khi tôi phải ăn cơm gạo sấy với nước lạnh thì cô lại được ăn cơm tươi. Cô làm cách nào mà hay vậy?

Thấy tôi thán phục, cô Bích thích chí cười khanh khách, chưa chịu nói ngay.

Tôi chợt nghĩ ra, vội hỏi chặn họng trước:

– Cô nấu bằng lon gô chứ gì? Đúng không?

Cô Bích vẫn ỡm ờ đáp:

– Đúng một nửa thôi.

Tôi nghiêm giọng nói:

– Này, cô cẩn thận đấy không được nấu ở dưới hầm này đâu, lỡ cháy thì chết cả đám đấy, vả lại ông Tỉnh Trưởng mà biết được thì cũng rắc rối lắm, cô biết không?

Cô Bích vẫn đủng đỉnh cười cười đáp:

– Thưa quan đốc nhà cháu biết rồi.

Cô vừa nói vừa kéo dài cái miệng ra cho có vẻ khôi hài, lại như có vẻ trêu tức tôi vì tôi không biết cái mà cô biết. Một lúc sau cô mới chịu tiết lộ:

– Đúng là nấu bằng lon gô, nhưng không phải trong hầm này mà ở nhà bếp Tiểu Khu. Muốn ăn phải lăn vào bếp. Sau khi họp xong, tôi lên trên hầm thấy chỗ nào có khói là tới. Ngoại giao với họ là có quyền ghé lon gô vào nấu. Chỉ 20 phút là xong, có cơm tươi ăn ngon lành.

Cô Bích vừa dứt lời tôi vội khen cô:

– Hay lắm, cô cũng khá lắm chứ chẳng phải chơi đâu.

Tôi chuyển sang đề tài khác, tiếp tục hỏi cô:

– Dọn sang đây cô thấy làm sao?

– Tôi thấy an toàn hơn ở bên bệnh viện nhiều. Cảm ơn bác sĩ đã cho tôi đi theo.

Tôi mỉm cười nửa đùa nửa thật:

– Cô cảm ơn tôi là đúng. Cô nên nhớ mạng tôi lớn lắm, ai theo tôi sẽ được an toàn. Cô không nhớ bao nhiêu lần tôi chết hụt sao, cứ bỏ chỗ nào là chỗ đó bị ăn pháo ngay.

Tôi liếc nhìn cô. Tôi thấy cô hơi bĩu môi một chút vì lời nói tự cao tự đại của tôi nhưng chỉ một thoáng rất nhanh nét mặt cô đã trở lại bình thường. Có lẽ vì cô Bích thấy tôi nói cũng đúng phần nào. Nhất là hiện tại trước mắt, tuy rồi sau này chưa biết ra sao, nếu tôi không kéo cô đi theo làm sao cô được ở trong một cái hầm kiên cố như thế này. Hơn ở bên bệnh viện rất nhiều. Vừa an toàn pháo, vừa an toàn đủ mọi thứ. Bởi vậy cô cám ơn tôi là đúng.

Cô ngồi trầm ngâm, một lúc sau cô ngẩng đầu lên hỏi tôi:

-Tôi muốn về Sài Gòn. Ở đây bom đạn tôi sợ quá. Bác sĩ có cách nào cho tôi về không?

– Dễ lắm, cô cứ ở đây chờ. Vì cô là nhân viên dân sự, cô muốn rời khỏi đây lúc nào cũng được. Không ai ngăn cấm cô. Khi nào có chuyến tản thương, cô đi theo săn sóc thương binh lên máy bay là sẽ thoát khỏi địa ngục này ngay. Mặc dù cô thuộc toán giải phẫu của tôi và tôi cần cô nhưng nếu cô đi được trước thì cứ đi. Anh Sáu và ông Lỹ có thể thay cô được. Vậy cứ kiên nhẫn chờ.

Tôi lại nửa đùa nửa thật nói tiếp:

– Này cô có thuộc bài hát nào, cứ việc hát cho tôi nghe đi để tôi dễ ngủ.

Lại thêm một sự ngạc nhiên nữa là nghe tôi nói vậy, cô liền hát ngay chẳng chút khách sáo ngượng ngùng gì cả. Cô hát liên tiếp gần một chục bài, dĩ nhiên là hát nho nhỏ trong miệng đủ để cho chúng tôi nghe thôi. Giọng hát của cô không có gì hay lắm, hát chỉ để làm đỡ căng thẳng tinh thần thôi. Và cũng chẳng cần trình diễn cho ai cả, kiểu hát hay không bằng hay hát như Phạm Duy đang hô hào cho phong trào du ca đang thịnh hành lúc bấy giờ.

Tôi cũng thuộc lõm bõm năm bẩy bài nên hát theo cô. Tôi không có tài ca hát. Trời sanh ra giọng của tôi không được mạnh, lên cao không được mà xuống thấp cũng không xong. Vậy mà hồi nhỏ lúc 12 tuổi trước khi di cư vào Nam năm 54, trong một đoàn Thiếu Nhi thi hát tôi lại được nhất, thế mới lạ.

Mới đầu tôi cũng hát theo, sau tôi mệt mỏi, giấc ngủ từ từ tới. Thấy tôi im tiếng, cô đoán tôi đã ngủ rồi liền rón rén về phòng cô, không quên tắt đèn để tôi ngủ khỏi chói mắt.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 18 – Những Nét Buồn

Chúng tôi ra khỏi cổng bệnh viện. Từ từ theo con dốc để đi xuống khu chợ mới. Ngay dưới chân đồi bệnh viện, trước khi tới công viên Tao Phùng, ở dưới góc tay phải là nhà của anh Đức, em vợ Đại tá Tỉnh Trưởng, đã bị bỏ bom lầm nên nhà hoàn toàn bị sập. Nhà này chỉ cách bệnh viện chừng 150 thước thôi.

Trước khi đi, tôi không quên mang theo cái máy hình để nếu có gì thì chụp làm kỷ niệm. Tôi thấy một chiến xa địch bị bắn cháy nằm ngay giữa ngã tư nối liền chợ cũ với chợ mới. Tôi cẩn thận tiến lại gần chụp lại hai tấm hình xong chúng tôi rẽ xuống khu chợ mới. Tôi gặp Thiếu tá Cang chỉ huy đơn vị Pháo Binh đóng ngay công viên Tao Phùng. Tôi liền tạt vào thăm. Tôi với anh Cang là chỗ quen biết. Tôi biết anh từ khi còn là Đại úy Pháo Binh, đi hành quân chung với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 43, đóng tại đồi Kiệm Tân ở Dốc Mơ, Gia Kiệm yểm trợ cho Công Binh Mỹ làm Quốc lộ 20.

Gặp nhau chúng tôi đều mừng rỡ vì thấy mình vẫn còn khỏe mạnh. Thiếu tá Cang vẫn vui vẻ chịu chơi như ngày nào. Anh xem mọi nguy hiểm như trò đùa, chẳng có gì đáng quan tâm cả. Anh mời chúng tôi ngồi nhưng bác sĩ Chí chừng như nóng lòng về căn nhà của mình nên xin phép đi tới đó trước, chỉ cách nhà này có chừng ba căn thôi.

Tôi ngồi xuống chiếc divan. Anh Cang giới thiệu tôi với người chủ nhà. Cũng chẳng phải ai xa lạ vì là dân trong tỉnh nên anh ta đã biết tôi. Tôi không nhớ đã gặp anh ta ở đâu. Anh Cang mở đầu:

– Trông thấy bác sĩ còn mạnh khỏe là tụi tôi mừng lắm. Tôi nghe mấy thằng đàn em về nói là bác sĩ bận lắm phải không?

Tôi gật đầu đáp:

– Đúng, mấy tuần trước thì có. Nhưng nay tương đối được rảnh rang nên mới có dịp đến thăm ông đây.

Tôi nói thêm:

– Hiện nay bệnh viện gần như bị tê liệt hoàn toàn. Tôi không còn mổ xẻ được gì nữa. Ngay tiểu giải phẫu cũng không đủ phương tiện làm. Chỉ có thể làm first aid thôi. Cũng may tình hình đã bớt căng thẳng, nếu không thì kẹt lắm.

Anh Cang tiếp lời tôi:

– Tụi này cũng vậy. Mấy khẩu pháo của tôi cũng banh càng rồi, chỉ còn lại hai khẩu 105 ly còn xài được. Thôi, đến đâu hay đến đó. Tụi nó cũng vậy thôi. Chắc là ê càng hơn mình nhiều, nếu không chúng nó đâu có để mình dễ thở như bây giờ, khi chúng có 3 sư đoàn vây quanh.

Trong khi chúng tôi nói chuyện, tôi thấy anh chủ nhà, chắc cũng là công chức của tỉnh, có vẻ như xốn xang, có điều gì trong lòng như muốn hỏi tôi. Tôi thấy anh ta cứ đưa mắt ra dấu cho anh Cang hoài. Anh Thiếu tá Cang nói:

– À, bác sĩ, tụi này có một việc muốn nhờ bác sĩ coi giùm và cho biết ý kiến.

Nói xong anh chỉ cho tôi cháu gái nhỏ chừng 7 tuổi đang nằm dài theo chiếc divan sát tường. Anh tiếp:

– Đây là bé Thủy con anh chủ nhà, chẳng may bị một mảnh đạn ở xương sống, liệt cả hai chân từ tuần trước. Bác sĩ xem có thể mổ cứu được cháu khỏi bị liệt không?

Tôi đưa mắt nhìn cháu gái nhỏ. Tôi đã để ý thấy từ nãy giờ, cô bé nằm không cục cựa gì hết. Cháu gái cũng đưa mắt nhìn tôi mỉm một nụ cười thật tươi, có vẻ như chào đón, có vẻ như gây cảm tình để tôi đem khả năng y khoa ra cứu cho cháu. Gương mặt cháu trắng xanh, nét mặt thanh tú, trông có vẻ thông minh. Tôi thấy tội nghiệp cháu quá. Một cô bé xinh đẹp như vậy mà không may bị thương đứt tủy sống bị liệt cả hai chân. Sau khi khám cho cháu xong, tôi nói với anh chủ nhà:

– Vết thương ngoài da của cháu đã lành rồi, hiện tại không có dấu vết gì chứng tỏ vết thương bị làm độc cả. Đó là một dấu hiệu tốt. Chắc chắn mảnh đạn đã cưa đứt tủy sống của cháu. Hai chân đã bị liệt như anh đã thấy. Hiện giờ không ai có thể làm gì được. Chờ đến khi giải tỏa rồi đem cháu về Sài Gòn vào bệnh viện Chợ Rẫy, nơi có những bác sĩ chuyên khoa về thần kinh để họ khám xem họ quyết định ra sao. Nhưng chắc chắn là khó khăn lắm.

– Chúng tôi cũng hiểu như vậy, thôi thì để bề trên định đoạt cho cháu. Cảm ơn bác sĩ.

Tôi từ giã hai người và không quên vỗ nhè nhẹ tay lên vai cháu gái và chúc cháu được nhiều may mắn. Với những buồn phiền chất nặng trong lòng, tôi bước qua nhà bác sĩ Chí. Tôi không thể quên được ánh mắt của cô bé, đã sáng lên khi biết tôi là bác sĩ. Chắc cô bé hy vọng rằng tôi sẽ chữa trị để cô có thể đi được như thường. Tôi thấy đau trong lòng. Phải mất bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian mới tạo nên được một con người như thế. Chỉ trong khoảnh khắc chiến tranh đã biến một mầm non tươi trẻ thành một sinh vật sống dở chết dở. Mặc dù qua ánh mắt ấy, tôi chưa thấy một nét buồn nào cả, có thể cô bé còn quá nhỏ để buồn khi biết mình đã trở thành một phế nhân.

Chỉ có người lớn là đau thôi. Tôi đã thấy những giọt nước mắt lăn dài trên má của mẹ đứa bé, đứng bên nghe tụi tôi nói chuyện.

Tôi bước vào nhà bác sĩ Chí. Không nói thì ai cũng biết, căn nhà tan hoang, bừa bộn, đồ đạc ngổn ngang. Một dòng chữ đỏ phía trên tường, đập vào mắt tôi ngay khi tôi bước chân vào phòng khách cũng là phòng chờ đợi: “Bao năm móc đít thiên hạ nay còn đâu!”

Tôi gặp Chí từ phòng trong đi ra, mặt mũi xám lại vì buồn vì tức. Tôi biết Chí không buồn lắm vì căn nhà mới xây của mình bị hư hại. Chẳng qua cũng là tai nạn chung của cả dân trong tỉnh. Không có gì đáng phàn nàn. Nhưng dòng chữ viết trên tường quả thật là một sự nhục mạ đối với Chí. Có thể chỉ là một sự đùa bỡn, nhưng là một sự đùa bỡn vô ý thức.

Tôi thông cảm nỗi đau buồn của người bạn cùng lớp. Tôi tới nắm lấy cánh tay Chí nói:

– Đừng để ý tới những chuyện lẻ tẻ đó. Đi với tao thăm một vòng khu chợ mới xem mấy người quen còn sống sót không?

Chí gật đầu, lẳng lặng theo tôi bước ra khỏi căn nhà với dòng chữ đáng buồn ấy. Qua hai căn nhà nữa chúng tôi được sự đón tiếp nồng hậu của những người quen biết với Chí ở khu chợ mới.

Tôi nghĩ thầm có lẽ họ tiếc căn nhà của họ nên liều mình ở lại không chịu đi. Cũng có thể họ cũng chẳng biết chạy đi đâu. Tôi gặp bà chủ nhà cho tôi thuê phòng mạch mấy tuần trước. Bà ta mời hai chúng tôi vào trong nhà uống nước trà. Lâu lắm rồi chúng tôi chưa được uống những chén trà ngon như thế. Tôi để ý ở đây nước non rất đầy đủ. Một bể chứa nước đầy tràn trông mát mắt lắm. Đặc biệt là những tường ngăn của những căn nhà này đã được đục phá ra để mọi người có thể di chuyển bên trong an toàn hơn là phải đi vòng phía ngoài. Nhà nào cũng có binh sĩ ứng chiến và đều có hầm hố khá tốt. Do đó, những căn nhà này đã trở thành những công sự chiến đấu rất kiên cố.

Đa số những nhà xây bằng vật liệu nặng, hai ba tầng lầu nên hầm hố ở tầng dưới lại càng an toàn hơn. Nếu không may bị trúng hỏa tiễn vẫn có cơ hội sống sót. Còn những loại bích kích pháo 61 ly thì chẳng ăn nhằm gì. Tôi hỏi bà chủ nhà:

– Sao nhà bà có đầy đủ nước thế?

Bà chủ nhà vui vẻ trả lời:

– Đó là nước giếng nhà tôi. Nhà chúng tôi ở dưới chân đồi nên giếng đào lúc nào cũng đầy nước. Tôi lại có máy phát điện riêng chạy xăng nên bơm nước từ giếng lên hồ chứa dễ dàng. Tụi tôi chẳng bao giờ phải lo thiếu nước cả.

– À, thì ra thế. Chẳng bù cho tụi tôi ở trong bệnh viện khổ sở vì thiếu nước. May hôm qua trời mưa, nếu không thì đã gần tháng tụi tôi không có nước tắm giặt.

– Bác sĩ khỏi lo, lúc nào muốn tắm thì cứ việc xuống đây, tha hồ tắm giặt.

Tôi cảm ơn bà chủ nhà đã có nhã ý ấy, nhìn bác sĩ Chí nói:

– Có lý quá Chí ạ. Mình chỉ cần cuốc bộ một chút xuống đây là mát mẻ sạch sẽ ngay.

Chí vui vẻ mỉm cười gật đầu. Tôi nhận thấy cơn buồn phiền của Chí đã tiêu tan được phần nào với sự tiếp đón nồng hậu của những người hàng xóm đầy tình người.

Bà chủ tiếp lời:

– Hay là tiện đây hai bác sĩ tắm luôn cho khỏe.

Tôi vội trả lời ngay:

– Thưa cảm ơn bà, tụi này mới tắm mưa hôm qua vẫn còn sạch chán. Xin để khi khác sẽ xuống nhờ bà. Tiện đây xin bà một bi-đông nước trà mang về để uống dần.

– Được rồi, cái đó thì dễ quá. Bác sĩ đưa bi-đông đây để tôi đổ nước vào cho.

Tôi vội rút bình bi-đông ra khỏi bao đưa cho bà chủ nhà rót nước từ trong ấm ra. Xong xuôi bà còn mời tụi tôi ở lại ăn cơm nhưng chúng tôi rời bệnh viện đã lâu sợ ở đó có người cần tôi nên vội cảm ơn bà chủ nhà tốt bụng cùng bác sĩ Chí trở về bệnh viện.

Sau khi rời khỏi khu chợ mới hoang tàn nhưng vẫn còn sức sống đó, Chí và tôi lại cuốc bộ trở về bệnh viện. Chúng tôi đều im lặng, không ai nói với ai một lời nào. Mọi người đều mang nặng một nỗi suy tư riêng. Liếc nhanh nhìn Chí, tôi thấy hình như tâm tư Chí vẫn còn ray rứt về những dòng chữ quái ác kia. Tôi không muốn đề cập tới vấn đề đó nữa. Những lời an ủi chỉ để khơi dậy niềm đau mà thôi. Tôi cứ để cho Chí được tự nhiên, hy vọng thời gian sẽ làm nhạt nhòa những hình ảnh không vui đó.

Thực ra ngay bản thân tôi cũng có những dằn vặt riêng. Đó là sự bất lực của một y sĩ đứng trước một người bệnh, nhất là một đứa trẻ rất dễ thương. Tôi không thể nào quên được nụ cười của cô bé khi tôi sửa soạn khám bệnh cho cô. Một nụ cười vừa hy vọng, vừa an phận, vừa như để lấy lòng người thầy thuốc để mong được chữa khỏi bệnh. Thật là buồn tủi khi bao nhiêu hy vọng đã trở thành hư không, khi chính người thầy thuốc cũng phải bó tay, không giúp gì được. Tôi nghĩ, nếu thay vì nụ cười đó là những tiếng khóc kêu la, chắc tôi không đến nỗi bị ám ảnh dằn vặt nhiều như thế.

Tôi lẩn thẩn tự hỏi, nếu có đủ phương tiện và săn sóc cấp cứu ngay vết thương đó, cô bé có thể bị liệt không? Hai trường hợp có thể xảy ra. Nếu mảnh đạn cắt đứt ngang tủy sống thì vô phương, không thể làm gì khác được. Nếu chỉ chạm nhẹ hay tủy sống chỉ bị thương một phần nào đó thôi, với sự săn sóc đúng cách, mổ ngay lấy mảnh đạn ra để giới hạn vết thương không làm hư hại thêm nữa, có thể cứu vãn được một phần nào. Lúc mới bị thương, thân hình không được giữ yên, sự di động cột sống càng làm cho mảnh đạn cắt sâu toàn bộ tủy nên cô bé mới bị liệt hai chân. Dù sao thì hy vọng có thể đi được rất là mong manh.

Từ khi ra trường, nhập ngũ, nghĩa là chính thức gia nhập cuộc chiến này, tôi đã được chứng kiến rất nhiều cảnh đau thương do chiến tranh gây nên. Thượng Đế đâu có tạo ra chiến tranh. Chính loài người đã gây nên cảnh tàn sát chém giết lẫn nhau. Những từ ngữ độc lập, tự do, hạnh phúc chỉ là những sáo ngữ, những cái cớ để một nhóm người thực thi cái thú tính của mình mà thôi.

Có thể nói thế hệ chúng tôi là một thế hệ không may mắn, đã sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành trong chiến tranh, và nay chính thức gia nhập chiến tranh. Trong suốt cuộc đời lớn lên của những người thuộc thế hệ chúng tôi, không bao giờ là không nghe thấy tiếng súng.

Thời thơ ấu cực khổ vì tản cư từ Hà Nội về miền quê, chân đi đất dưới trời mưa tầm tã, trơn té ngã, quần áo lấm lem, trên đầu tiếng rít của đạn trái phá làm mọi người đều sợ, rồi khi tới bờ sông, bao nhiêu người tranh nhau lên thuyền qua sông. Thuyền chở khẳm, may mà không bị lật. Nghĩ đến bây giờ mà vẫn còn rùng mình. Bác gái của tôi mặt đầm đề nước mắt, ngước mặt nhìn trời than:

-Trời ơi là trời, sao trời làm chúng con khổ thế này!

Thấy những nước khác, họ sống thanh bình, chẳng bao giờ có một tiếng súng. Những ngày Quốc Khánh, dân chúng nhảy múa vui chơi ngay cả trên đường phố. Tôi thấy thế mà thèm. Mơ ước sao cho nước mình được một ngày hòa bình để mọi người được vui sống bên nhau, gia đình đoàn tụ, cha con chồng vợ, anh em không phải xa nhau.

Khi mới nhập ngũ, lần đầu tiên va chạm với thực tế tôi đã thấy thế nào là bị bó buộc, là mất tự do của đời sống nhà binh. Trước đây sống ở nhà năm này qua năm khác, muốn đi đâu, ở đâu tùy ý rất thoải mái tự do. Nhưng khi vào quân đội, lần đầu tiên cầm tấm giấy 24 giờ phép, tôi thấy vô lý quá. Hai mươi bốn giờ làm được những gì, ngắn ngủi quá. Nhưng rồi cũng quen đi. Được 24 giờ là mừng rồi. Thoáng về thăm mẹ thăm em, tuy chẳng có gì nhưng được trông thấy nhau an lành khỏe mạnh là vui rồi.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Bài 17- Cơn Mưa Đầu Mùa

Từ ngày tản thương được toàn bộ số thương binh, bệnh viện trở nên yên tĩnh. Mấy ngày qua cũng không thấy pháo kích nhiều nên số thương vong gần như không có. Chúng tôi vì vậy được nhàn nhã đôi chút.

Đã gần một tháng nay không có nước nên chúng tôi chẳng ai tắm rửa gì cả. Nước uống thì không hiểu mọi người kiếm được ở đâu ra. Tôi có hỏi mấy anh em Quân Y, họ nói là đi kiếm ở mấy nhà dân chung quanh. Nhà nào cũng có một hồ chứa nước riêng hoặc có giếng nước. Nói chung thì nước uống vẫn kiếm được mặc dù khan hiếm. Riêng tôi vì dùng dè sẻn nên hai bình phisohex cũ đựng nước uống đã tiêu một bình vẫn còn một bình, có thể cầm cự được thêm vài ngày nữa trước khi phải đi kiếm hoặc xin những người khác.

Mỗi sáng tôi chỉ mất một nắp bi-đông nước, tức là khoảng một muỗng canh nước để rửa mặt. Nên tôi chẳng tốn nước bao nhiêu. Lấy một miếng gạc nhỏ nhúng chút nước rồi quét lên mặt cũng thấy khoan khoái rồi. Chiều hôm qua mây đen kéo phủ kín một góc trời. Tôi cứ nghĩ là đêm sẽ mưa nhưng chờ tới sáng, vẫn chưa thấy gì.

Tôi chắc chắn sẽ mưa ngày nay vì mây đen càng ngày càng nhiều. Tôi và mọi người trong bệnh viện đều đổ xô đi tìm đồ để sửa soạn hứng nước mưa. Những thùng đều được gom lại để dọc theo mái hiên. Những tấm tôle bị pháo đánh bay xuống sân được gom lại uốn thành những máng dã chiến để hứng nước mưa từ mái xuống.

Chúng tôi sửa soạn xong thì trời bắt đầu chuyển. Mới đầu là những cơn gió nhè nhẹ mang hơi lạnh không biết từ đâu tới rồi trời hình như tối sầm lại. sấm chớp liên hồi và một cơn mưa dữ dội đổ xuống. Một cơn mưa mang nguồn sống, nguồn nước cần thiết cho chúng tôi. Không ai bảo ai, mọi người đều lợi dụng cơn mưa như thác lũ đó để tắm rửa tối đa, gột bỏ những cáu bẩn, mồ hôi mấy tuần nay cũng như giặt những quần áo hôi hám trên người.

Tôi cẩn thận hơn, mang quần áo sạch và những đồ dùng cần thiết xuống trại Ngoại Khoa. Tôi chọn một phòng bị tróc mái vì pháo kích, vào trong đó khởi sự tắm. Tắm ở đây an toàn hơn tắm ngoài trời. Lỡ có pháo kích thì có các vách tường chung quanh bảo vệ khỏi lo bị miểng văng trúng.

Nước mưa từ lỗ hổng trên mái nhà đủ để cho tôi tắm thoải mái giống như ở phòng tắm có bông sen nước. Tôi nhắm mắt lại lấy xà bông gội đầu rồi kỳ cọ khắp mình. Sạch sẽ xong xuôi mở mắt ra tôi mới ngạc nhiên nhìn thấy nước mưa đen ngòm như mực tầu loãng. Chỉ sau vài giây tôi chợt hiểu là khói của những đám cháy trong trận chiến này đã nhuộm thành màu nước như vậy. Cũng chẳng sao tôi đã được tắm thoải mái sạch sẽ rồi dù nước có đen hay không cũng từ trên trời rơi xuống không bị ô nhiễm bởi bùn đất, phân người, xác chết là được.

Trận mưa cứu tinh này quả thật đã rửa sạch bên ngoài bệnh viện. Chúng tôi hứng được rất nhiều nước. Ít nhất trong vòng một tuần, chúng tôi có đủ nước thỏa thuê. Tôi để ý thấy mặc dù bệnh viện không có hồ chứa nước nhưng trên trần hành lang xây bằng xi măng chắc chắn còn chứa được một số nước đáng kể. Quả nhiên mấy ngày sau khi đã cạn nước, tôi nói với cháu Sơn, cháu của bác sĩ Phúc, leo lên trên cái cầu xây nối liền Phòng Cấp Cứu với trại Nội Khoa xem có nước không. Sơn ngồi ở trên nóc báo cáo xuống:

– Cháu thấy nhiều nước lắm, mình có thể dùng tới hai tuần mới hết.

Tôi và Bác sĩ Phúc vui mừng bảo Sơn xuống để khi nào cần thì sẽ leo lên múc nước dần để dùng. Dù cho nước có bốc hơi bay đi thì cũng phải mất mấy ngày nữa. Hy vọng sẽ có thêm vài trận mưa nữa tới tiếp sức thì vấn đề nước non cũng tạm giải quyết xong.

Việc gì cũng có mặt trái, mặt phải, phần tích cực và phần tiêu cực. Cơn mưa đã mang đến niềm vui cho mọi người vì có nước uống, vì được tắm giặt sạch sẽ, cuốn trôi những rác rưởi làm cho sân bệnh viện được sạch. Cũng cơn mưa này làm cho chúng tôi ngất ngư vì hậu quả tiêu cực của nó mà ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã phải chịu khổ rồi.

Những đống rác chung quanh bệnh viện gặp nước mưa trở thành nơi sản xuất ruồi bọ cùng những mùi hôi hám rất khó chịu. Tôi đề nghị toàn bệnh viện làm vệ sinh thu dọn rác rưởi về phía đầu cuối của bệnh viện. Có ý kiến nên đào hố sâu để chôn vùi. Ý kiến khác là đốt đi đỡ tốn sức lao động. Dĩ nhiên là cách giản dị nhất đã được mọi người vui vẻ chấp thuận.

Đống rác đã được mồi bằng xăng rồi đốt. Chúng tôi xoa tay khoan khoái đứng nhìn ngọn lửa lan dần rồi đốt cháy ngay cả những gì trước đây đã sũng nước. Chúng tôi đang dự định giải tán ai về chỗ nấy thì được lệnh của Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đòi hỏi báo cáo việc gì đã xẩy ra ở bệnh viện mà khói lên nhiều như vậy.

Sự việc được báo cáo lên Sư Đoàn. Ít lâu sau chúng tôi được lệnh phải dập tắt ngay đám cháy vì sợ địch quân điều chỉnh tọa độ pháo ngay vào Bộ Tư Lệnh gần đó. Đến giờ thì vô phương dập tắt đám cháy này vì làm sao chúng tôi có nước để bơm vào đó. Vả lại đống rác cũng cháy gần hết, không thể lan ra chung quanh được. Cho nên chúng tôi miệng nói tuân lệnh, sẽ thi hành ngay nhưng trên thực tế cứ để nguyên như cũ, lại còn mong sao nó cháy mau cho chóng xong. Quả nhiên chỉ 20 phút sau, đám cháy cũng tự nó lụi tàn.

Tôi thấy một số người thật vô lý, cả chục ngày nay địch đã pháo vào Bộ Tư Lệnh rồi. Chúng đã biết rõ tọa độ rồi đâu có phải đợi đến bây giờ mới cần điều chỉnh tọa độ để pháo vào đó nữa.

Dù sao mọi sự đã được thu xếp khéo gọn. Bệnh viện đã được dọn dẹp sạch sẽ hơn trước. Chẳng lẽ một cơ sở y tế mà lại bê bối về vấn đề vệ sinh. Ngay cả trong trường hợp thiếu thốn, khó khăn như bây giờ cũng khó mà biện minh được.

Tuy nhiên với tình trạng hiện tại, bệnh viện đã bị vô hiệu hóa gần như hoàn toàn. Nghĩa là các cuộc mổ lớn không thể nào thực hiện được. Phòng mổ chính và phòng mổ phụ đã bị hư hại nặng. Mặc dù thuốc men, y cụ chúng tôi vẫn còn nhưng không điện, không nước, nhân viên dân sự đã di tản hết nên chúng tôi chỉ còn có thể rửa sạch các vết thương, làm tiểu giải phẫu rồi băng bó, và chờ chuyển thương thôi.

Trận chiến hình như bớt căng thẳng. Tôi nói với Bác sĩ Chí:

– “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”

Mượn nhan đề của một cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque, để chỉ tình trạng của mặt trận An Lộc trong giờ phút này.

Không biết địch quân đang tính toán gì đây. Tôi chắc chắn là sau khi bị B52 trải thảm bên địch đã bị thiệt hại khá nặng. Nay là lúc họ đang bổ sung quân, tiếp nhận thêm đạn dược để sẽ tung ra đợt tấn công kế tiếp.

Nhìn xuống khu chợ mới đã bị cháy rụi. Những căn nhà lầu xây bằng vật liệu nặng phía bên tay trái của tôi, đứng từ bệnh viện nhìn xuống, trong đó có nhà của Bác sĩ Chí, tôi thấy vẫn còn nguyên, có thể ở được mặc dù bị sứt mẻ vì những mảnh đạn pháo kích. Phía bên hông phải của khu chợ cũ, đa số các căn nhà đều bị pháo sập. Trong đó có một căn đã bị một xe tăng vì bị bao vây bắn rát quá, đã chui đại vào ngay cửa chính để rồi sau đó bị tiêu diệt luôn. Hiện giờ xác xe vẫn còn nằm tại chỗ. Quá nửa, bên tay phải của tôi về phía chợ cũ, nơi có phòng mạch của tôi đã bị san thành bình địa. Tôi chỉ nhận ra được chỗ của phòng mạch nhờ có một cây cổ thụ cao, đã bị cháy đen, đứng đơn độc trên những xác nhà xẹp lép tới nền.

Từ bệnh viện, tôi chỉ có thể nhìn xa được đến thế mà thôi. Lác đác tôi thấy những binh sĩ của mình di chuyển một cách bình thản trong khu chợ mới lẫn chợ cũ. Tôi nghĩ rằng những khu vực đó đã được quân đội ta kiểm soát và có thể nói là tương đối an toàn.

Tôi lợi dụng giờ phút rảnh rang này, nói với bác sĩ Chí:

– Tao thấy ở khu chợ mới và chợ cũ có vẻ an toàn. Mày có muốn xuống dưới đó xem nhà của mày giờ ra sao không?

Bác sĩ Chí đồng ý liền:

– Phải đó, đi phiêu lưu một chút cho đỡ bó cẳng. Ở mãi trong bệnh viện này dám khùng mất.

Đồi Delta

February 22, 2017

Mũ đỏ Trương Văn Út

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Cuộc hành quân Toàn Thắng do Trung Tướng Đổ Cao Trí sắp bước vào giai đoạn kết thúc, Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (LĐ1ND) đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Kampong Cham, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù (LĐ3ND) chiếm tòan bộ phía Đông của Cambodia gồm các cứ điểm trọng yếu như: Snoul, Memot, Chup, Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐ2ND) làm lực lượng trừ bị trách nhiệm dọc theo biên giới Miên – Việt. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH-LĐ2ND) đang trú đóng tại trại Biên Phòng Thiện Ngôn vốn là căn cứ của Lực Luợng Đặc Biệt về phía Tây của tỉnh lỵ Tây Ninh cách biên giới khoảng 10 cây số (Km). Toàn bộ nhân sự lãnh đạo Cục R và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời cùng đám cán binh thoát chết của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải tháo chạy thục mạng lẫn trốn về vùng biên giới Việt – Miên – Lào khiến Tướng Đổ Cao Trí không thực hiện được quyết tâm: “phen này ta nhất quyết phải bắt được thằng Mười Trí” !Những ngày cuối năm Tân Hợi (1971), Đại Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) được lệnh triệt xuất ra khỏi vùng biên giới sau một tháng dầm mình dưới những đầm lầy đầy dẫy đĩa vắt muỗi mòng … và được bốc về Căn Cứ Hành Quân BCH-LĐ2ND chuẩn bị đón Tết Nhâm Tý (1972) dưới hầm trú ẩn trong trại LLĐB Biên Phòng Thiện Ngôn. Những ngày cuối tháng Hai tuy không lạnh lắm, nhưng sương mù buổi sáng giăng khắp nơi như bao phủ cả trại lính chìm vào không gian của những ngày cuối Đông lành lạnh còn vướng víu chưa nỡ sang Xuân…! Chợt có tiếng hát từ radio của lính:

Đợi hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa,
mời Xuân đến với tôi, giờ còn nặng hai vai,
thân tha hương hồ hải, hỏi Xuân có gì vui ?
hỏi Xuân có gì vui, Xuân làm dáng cho đời,
đẹp lòng giây phút thôi, ôi đất nước xa xôi,
Xuân đi làm sao tới, dặm dài xin chớ lui…!
(Tôi Chưa Có Mùa Xuân – Châu Kỳ )

Tôi chạnh tình nhớ đến khung cảnh sinh hoạt của những người thân yêu trong gia đình: giờ này chắc Mẹ và Chị đang ngồi canh bên bếp lửa hồng với hai nồi bánh chưng và bánh tét, Cha và Em đang chùi mấy bộ lư đồng, quét dọn bàn thờ, treo vài ba câu đối đỏ, cắm một vài cành mai… và thành tâm lâm râm khấn vái, cầu nguyện với niềm hy vọng mong manh: “thằng Út có thể sẽ về ăn tết năm nay”…? Trong cơn hồi tưởng miên mang tôi tự thưởng hương vị tất niên:

春 園
山泉兩處晚
花柳一園春
還持千日醉
共作百年人

Xuân Viên
Sơn tuyền lưỡng xứ vãn,
Hoa liễu nhất viên xuân.
Hoàn trì thiên nhật tuý,
Cộng tác bách niên nhân.
(Vương Bột –
王勃)

Hay Thơ Xuân với Thiền sư Việt:

Tựu khai
Đào trung xuân mãn diện
Xuân trung đào tựu khai
Hà tất quân vị báo
Vô đào xuân bất lai.
(MĐTTA)

Và:

Rừng núi thương Xuân bèn trổ lá
Thị thành nhớ Tết cố chưng bông.

Trong căn hầm trú ẩn chỉ rộng khoảng năm sáu thước vuông, một cái bàn dã chiến cùng bốn thùng gỗ pháo binh làm ghế ngồi. Khi tôi và Bác Sĩ Hiệp đến thì đã có mặt Trung Tá Nguyễn Văn Tường TĐT/TĐ2PB ngồi sẵn đó rồi. Trên bàn là một chai Remy Martelle, một cái bánh chưng, một đĩa giò thủ cùng với dưa hành củ kiệu…Thường chúng tôi gặp nhau hằng ngày qua máy PRC25 hoặc trong những buổi họp hành quân kể cả những khi không có gì để nói đến trận mạc chiến chinh. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi mở lời :
– Theo tôi được biết Lữ Đoàn sẽ được lệnh về hậu cứ vài ngày tới, để nghĩ dưỡng quân không biết được bao lâu, sau đó sẽ tăng phái cho Quân Đoàn II, vì Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn22Bộ Binh đang bị áp lực nặng nề ở Tân Cảnh – Dakto . Tôi chỉ biết có thế ! Còn về phần tôi có lẽ được thuyên chuyển về đơn vị khác.
Trung Tá Tường cười cười nâng cốc rượu và chợt nói:
– Chúc mừng !!!
À ,…thì ra hai “ngài” được thăng quan tiến chức. Thiếu Tá Khôi về làm Tiểu Đoàn Trưởng – Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐT/TĐ7ND), Trung Tá Tường lên làm Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn (CHP/BCHPBS Đ) cả hai sẽ được thăng cấp.

Quốc Lộ 14 Kontum – Dakto:

Tôi leo lên chiếc trực thăng (Slick) thứ tư, một trong 15 chiếc trực thăng chở quân của Phi Đoàn 229 Lạc Long đang quạt cánh nằm chờ dài trên quốc lộ 14 phía trước căn cứ Võ Định – Bộ Chỉ Huy Hành Quân của LĐ2ND…. Lố nhố trong 3 Slick đầu là ba toán Viễn Thám, Slick thứ tư có tôi, 3 hiệu thính viên và 3 “thầy trò” Thiếu Úy Chu Văn Chấn tiền sát viên Pháo Binh của TĐ1PBND, Slick thứ năm là toàn bộ cố vấn Mỹ và phóng viên chiến trường Cao Sơn của Phòng Tâm Lý Chiến Quân Đoàn II, những Slick còn lại chở các binh sĩ Trung Đội Trinh Sát Dù… Trên không là chiếc C&C của Đại Úy Phạm Công Cẩn (Công Cẩn Giang Đông “tân biên” – K21VBĐL) cùng với Đại Tá Trần Quốc Lịch Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐT/LĐIIND), Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành (K19VBĐL) Sĩ Quan phụ tá hành quân Lữ Đoàn, Thiếu Tá Bùi Đức Lạc – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐT/TĐ1PBND) và các hiệu thính viên.Phao binh NHAY DU
Tiếng cánh quạt quay nhanh bắt đầu tăng tốc độ nâng cao thân tàu lên khỏi con đường tráng nhựa mang tên Quốc Lộ 14, con đường nối liến từ ngã ba biên giới Việt – Miên – Lào (Benhet) về Kontum đến Pleiku đã trãi đầy máu và nước mắt của biết bao nhiêu Quân – Dân – Cán – Chính vùng Tam Biên với sức cường tập háo sát của Sư Đoàn 320A chính quy Cộng Sản Bắc Việt (SĐ320A CSBV) từ vùng Hạ Lào xâm nhập vào nơi đây sau “Mặt Trận Đường 9 Nam Lào” (Hành Quân Lam Sơn 719 Việt Nam Cộng Hoà), được tăng cường thêm 2 Trung Đoàn Tank T54, 1 Trung Đoàn Phòng Không hạng nặng cùng với sự hổ trợ của Sư Đoàn 10 Cơ Động Địa Phương (SĐ10CĐĐP).Trên tầng số liên lạc tôi gọi thiếu tá Thành:
– Thành Thái…Út Bạch Lan.
– Nghe…
– Thăng thiên…
Từ bãi bốc (PZ) đến bãi thả (LZ) mất hai phút bay. Trong hai phút ngắn ngủi này mà bao nhiêu người phải vận dụng tất cả trí lực để chú tâm vào nhiệm vụ của mình. Người quan trọng nhất phải nói là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc – Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1PBND người đang phối hợp điều động cả lực lượng Pháo Binh, phi yểm của Việt và Mỹ cho việc đổ quân, chỉ một sơ xuất nhỏ tính toán vài giây đồng hồ thì sẽ gây ra không biết bao nhiêu hậu quả không lường trước được… Với Kỹ Thuật “GAP” (Ground and Air Preparation) là dọn bãi đáp an toàn cho chiến thuật Trực Thăng Vận, chắc có lẽ chỉ có Pháo Binh Nhẩy Dù là thông thạo và nhiều kinh nghiệm nhất vì đã phối hợp với Không Kỵ Hoa Kỳ (1st Cavalry Division) nhiều năm rồi.
– Hồng Vân, Huyền Vân, Thanh Vân…11…?
– Nghe đích thân.
– 10,9,8,7,6,5,4,3,2,1…Out…

Ám số 11 là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc TĐT/TĐ1PBND, Hồng Vân là Đại Úy Tựu (A1), Huyền Vân là Đại Úy Thái (B1), Thanh Vân là Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc (C1) ba sĩ quan Pháo Đội Trưởng của TĐ1PBND. Khi tôi báo “Thăng Thiên” và dự trù sẽ đến LZ hai phút thì Th/T Lạc cho lệnh 3 Pháo Đội cùng lúc khai hỏa TOT(Time On Target) tập trung ngay vào mục tiêu, trong khi chúng tôi đang trên đường bay tới mục tiêu… Chúng ta hãy thử làm con tính nhẫm: 3 Pháo Đội có tổng cộng 18 khẩu pháo 105ly, mỗi khẩu tác xạ 20 quả đạn vào cùng một điểm, trong vòng một vài phút thì sức tàn phá huỷ diệt có khác gì phi cơ thả bom chiến lược B-52 ?
Tôi tuy đang ngồi trên chiếc Slick thứ tư, nhưng thân luôn chồm lên phòng lái để theo dõi phía trước, nghe trong máy của Th/U Chấn pháo binh đếm tiếng điểm của Th/T Lạc …2…1…Out, vừa nghe chữ “Out” và một trái khói cuối cùng bung nổ ngay trên đỉnh đồi 1049 (có tên là đồi Delta) nơi mà tôi phải dẫn quân đáp xuống như đại bàng điểm sơn, bốn chiếc Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long lao xuống phóng hàng loạt Rocket ngay vào đám khói trắng đang bung tỏa rộng lên không và trong tít tắt giây đồng hồ thì chiếc Slick thứ nhất với toán Viễn Thám 1 cũng vội đáp xuống trên đỉnh đồi. Nhưng mọi việc không xảy ra như dự tính để đưa đến những biến chuyển dở khóc dở cười và sau này ký giả Cao Sơn của Quân Đoàn II đã viết bài dệt gấm thêu hoa, thăng thiên gần như huyền thoại …! Slick thứ nhất vào tới mục tiêu trên cao độ 50ft thì đột ngột quay về phía phải 90 độ, hạ thấp độ cao và biến mất dưới thung lũng rừng núi chập chùng, Slick thứ hai, rồi Slick thứ ba… Tôi lao lên chỉ cho Pilot chính bên trái và hét lớn: “ xuống… xuống… xuống ngay cho tôi…”! Chiếc trực thăng xà xuống ngay đỉnh đồi chừng 5ft, chúng tôi đồng loạt phóng nhanh xuống mặt đất, trực thăng bốc lên bay khỏi đỉnh đồi, tôi chụp máy gọi ngay cho Thành Thái:
– Tôi bị phục kích độn thổ, yêu cầu phải cho tất cả con cái của tôi đoàn tụ…hết.
Trong khi đó chân tôi đang đứng trên miệng hầm, dưới hầm là một nòng đại liên phòng không 12ly7 đang quơ qua quơ lại… Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Minh trưởng ban truyền tin của Đại Đội xô ngang vai tôi một cái thật mạnh, tôi bật ngã lăng lòm còm trên nấp hầm, Trung Úy Buhdar cố vấn Mỹ đang ở bên cạnh rút vội khẩu Colt 45 không kịp kéo cơ bẩm cho đạn lên nòng mà cứ hô hoán “bố cu vi ci” luôn miệng… Tôi lấy lại bình tỉnh và la lớn: “lựu đạn”… Vì trong tình trạng quá bất ngờ lại ngạc nhiên, quýnh quáng nên Thiếu Úy Chấn tháo trái lựu đạn từ giây ba chạt, cắn rút chốt, quăng ngay xuống hầm chờ cho nó nổ, thì ngay tức khắc trái lựu đạn lại bị Việt Cộng từ dưới hầm ném trả trở lên phát nổ tung… Thầy trò chúng tôi nằm rạp xuống, bò lết bò càng, sờ bụng, sờ đầu, lần mò xem tay chân có mất cái nào không… ? May quá cả đám không hề chi như phép lạ, hú hồn …!!! Thôi,… không dùng lựu đạn nữa, chơi mìn Claymore theo kiểu a la mode “Nhẩy Dù“ cho chắc ăn, tay cầm sẵn “con cóc”, ném một trái khói xuống hầm, rồi ném mìn Claymore xuống theo, xong bấm cóc… “Oành” tiếng nổ vang trời, nóc hầm bung vỡ tung, có tiếng khua động cuống quít ở những hang đào ăn luồng với căn hầm chính là lố nhố năm ba chú nón cối đang cố chui vào các ngách đục sâu vào vách hầm chính, mặt mày ngây ngô, thất kinh tưởng như bị thiên lôi vừa giáng một búa mà chưa chết…! Và cứ tiếp tục như thế, các Trung Đội đến sau cứ y theo thủ thuật “thảy lỗ bấm cóc “cho đến khi dứt điểm hơn hai chục (20) căn hầm trên đỉnh đồi bung nắp, thằng nào còn sống nguyên vẹn thì lôi lên, đối xử tử tế với nó, không cần trói, chỉ cho ngồi yên tại chỗ, cho uống cà phê, hút thuốc lá Pallmall, thằng nào chết thì đếm xác, bị thương nặng ngáp ngáp không thể cứu chữa được thì cho nó một phát ân huệ cuối cùng để tránh khỏi đau đớn hành xác với lời cầu nguyện cho linh hồn được siêu thoát và đưa tay vuốt cho đôi mắt khép lại luôn cả oán hờn…! Kiểm lại bắt sống được 12 tên Bộ Đội chính qui Việt Cộng tại chỗ, chúng chỉ ở lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ốm đói vì thiếu ăn lâu ngày không tương xứng làm đối thủ với Trinh Sát 2 Nhẩy Dù ! Chiếc Slick thứ năm và 10 chiếc Slick kế tiếp lần lượt đáp xuống yên ngựa dưới triền đồi, chờ đợt hai thì thả đủ toàn bộ ĐĐ2TSND của tôi. Tôi đang lượng định địa thế để bố trí quân thì qua máy liên lạc:

– Út Bạch Lan…qua tần số UHF nói chuyện với tôi.
Giọng nói của Pilot trực thăng Phi Đoàn 229 Lạc Long là đại úy Phạm Công Cẩn dân Thiếu Sinh Quân vào Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia có nhiều kỷ niệm ân tình với tôi khi tôi còn ở Lực Lượng Đặc Biệt tại Nha Trang… “Công Cẩn Giang Đông” đang bay C&C cho đại tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND.

– Út Bạch Lan…bằng mọi giá tôi sẽ lo cho con cái UBL xum họp đầy đủ… 207 (ám số truyền tin của Đ/T Trần Quốc Lịch) đã xin Quân Đoàn phi yểm khẩn cấp với sự hổ trợ của cố vấn trưởng John Paul Vann, OV10 vừa báo cho biết UBL đang bị bao vây đó…Tôi đang xuống đây!
Công Cẩn vừa dứt lời thì tôi thấy chiếc C&C đã quần trên đầu hai vòng và lặn sâu xuống thung lũng… Năm phút sau:

– Út Bạch Lan… 207.
– Tôi nghe đích thân.
– Út Bạch Lan đang trong vòng vây của Trung Đoàn 64 Sư Đoàn 320 (TĐ64/SĐ320). Cố gắng giữ Delta trong đêm nay, ngày mai TĐ2ND sẽ xuống Charlie (phía Bắc), TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà (phía Nam). Tôi đã nói với đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn yêu cầu Quân Đoàn dành ưu tiên tất cả phi yểm từ bây giờ cho đến ngày mai cho Delta. Đêm nay là đêm không ngủ của UBL và cả Lữ Đoàn nữa đó. Nhẩy Dù Cố Gắng!

Trên tầng số liên lạc Thành Thái (K19), Trọng Nhi (K20) cũng nhắn lời tôi sẽ thức với UBL đêm nay, và đặc biệt Công Cẩn (K21) sẽ bay suốt đêm nay để yểm trợ …!
Tôi xin tiếp tế ngay lựu đạn, mìn Claymore, mìn chiếu sáng, đạn đại liên M60 đồng thời yêu cầu bốc luôn 12 ông nhô con nón cối gầy còm trơ xương, da xanh xao như tàu lá vì đói ăn và thiếu ánh sáng mặt trời lâu ngày… đang lấm la lấm lét nét sợ hãi hiện lên vẻ mặt cùng với dáng ngồi xổm co ro trông rất tội nghiệp nếu họ không phải là Việt Cộng …?! Trong số 12 tên bị bắt có một Sĩ Quan cấp Thiếu Úy tên Đoàn Tạo tốt nghiệp trường Hoàng Phố. Tôi hỏi hắn:

– Tại sao các anh không có phản ứng khi chúng tôi đến?
– Chúng em chưa có lệnh khai hỏa!

“Giời cao, đất dày ơi”…! Thật hú vía bà đỡ, hồng phước tề thiên …! Thử nghĩ xem với giàn phòng không cả chục khẩu 57ly di động, tối tân của Nga – Tầu mới “ra lò” nó mà khai hỏa thì không biết có bao nhiêu trực thăng bị bắn gảy cánh như chim Bằng thọ tiễn mang theo cả thân xác, xương thịt của ĐĐ2TSND làm phân bón cho cây cỏ xanh lá và đám rợ hoang đua mọc bao phủ quanh đồi Delta… ! Trang đầu cuốn sổ nhỏ nhật ký hành quân của hắn viết: “Polko dậy sóng, giải phóng Tây Nguyên” và “chặt Kontum rụng cả Tây Nguyên” rất là ảo tưởng và cường điệu tính lãng mạn trên chiến trường “võ mồm” bởi bị guồng máy Đảng và Nhà Nước tuyên truyền, nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ giải phóng miền Nam và thẳng tiến trên đường xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định thắng lợi …?! Trong nhật ký có một đoạn khá bi thương và cảm động: “Bu ơi! Sau sáu tháng, đêm đi ngày nghĩ, cuối cùng chúng con đã đặt chân lên phần đất Kontum, Gia Lai với rừng núi bạt ngàn. Con nhớ Bu lắm, không biết Bu còn khỏe để hằng ngày tưới mấy chục luống khoai hay không, mùa đông sắp tới còn củi rừng để đốt sưởi hay không, nỗi buồn nhớ bố, anh cả, bé Tư đã mất trên đường vào B có vơi đi hay không ? Đơn vị của con xuất phát từ Lao Bảo, Khe Sanh với hơn 400 người, giờ chỉ còn gần 200 trong tâm trạng hoang mang lo âu không biết chết sống ngày giờ nào. Bệnh tật chết, bom đạn bất thần đổ ập xuống đầu…cũng chết…!”

Tôi móc bao thuốc Quân Tiếp Vụ và hỏi đám cán binh Việt Cộng bị bắt này với thái độ trấn an khoan hoà:
– Có ai muốn hút thuốc không? Các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa thật là các cậu còn sống … Nhưng những đồng chí của các cậu đang ẩn nấp rình rập trong rừng kia chưa biết tử thần rồi sẽ đưa đi lúc nào…”?!
Quả thật như vậy ! Nếu mấy tên cán binh nhô con VC này không bị chúng tôi bắt giữ mà phải tiếp tục chiến đấu, không may bị thương nặng thì ắt sẽ phải chết tức tưởi…! Vì để tránh không phải chịu trách nhiệm và là gánh nặng kinh tế phải săn sóc, nuôi nấng đám thương binh tàn phế vô dụng, báo cô trong cuộc chiến sẽ gây ảnh hưởng xấu, tiêu cực, bi quan làm giao động tinh thần, rối loạn hàng ngũ cán binh vào Nam chiến đấu và khiến cho xã hội suy yếu, xáo trộn hậu phương… Trong khi điều kiện chiến trường khắc nghiệt, thiếu thốn tất cả phương tiện, nhân sự y tế và tiếp liệu để cứu chữa cho thương binh… Nên Bắc Bộ Phủ đã ban hành tiêu lệnh triệt để cho các cấp chỉ huy phải “ban phát ân huệ” là xử tử tất cả cán binh bị thương nặng ngay tại chiến trường và chúng đã “thanh toán” hơn 300 000 (ba trăm ngàn) thương binh được “ghi nhận là mất tích” …?! Nhưng chắc chắn con số thật phải nhiều lần hơn “báo cáo” vì gian dối như “Vẹm” là bản chất bất biến với thời gian… Lại nữa bí mật đã có loài côn trùng hoang vùng núi rừng trùng điệp xứ nhiệt đới gậm nhắm tất cả còn đâu hình hài để mà xăm soi, nào ai biết, nào ai hay, người chết không biết nói, chỉ có oan hồn vật vờ phiêu dạt trong cõi vô minh mịt mù…!

Trên tầng số liên lạc:
– Út Bạch Lan…chuẩn bị bãi đáp.
Tiếng Thành Thái (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành) vang vang trong máy. Bốn chiếc Cobra xuất hiện bao vùng. Tôi ra lệnh vội vàng cột hai tay ngoặc sau lưng 12 tên nhô con VC này, bịt mắt bằng khăn chít đầu Viễn Thám, căng bốn Panel vàng cùng với kính phản chiếu đánh dấu cho LZ. Hai trực thăng tiếp tế được hộ tống bởi hai Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long dưới sự điều động của C&C Phạm Công Cẩn từ từ đáp xuống ngay dấu hiệu của kính phản chiếu và đạp vội xuống mấy thùng đạn dược, trong khi chúng tôi đẩy nhanh 12 tên tù binh nhô con VC lên trực thăng cùng với 6 thương binh nhẹ của TS2ND. Phi vụ cảm tử tiếp tế khẩn cấp đã hoàn tất với sự gan lì của các Kinh Kha thời đại Bảo Quốc Trấn Không – Phi Đoàn 229 Lạc Long “bay không ai tìm xác rơi”. Hạ sĩ Mang Đen vai đang vác hai thùng đạn đại liên M60 khi đi ngang tôi hát vang: “ba về thủ đô…má có đồ chơi…” !!! Thiếu Úy Chấn tiền sát viên hỏi tôi:

– Nó hát cái gì vậy?
Tôi trả lời:
– Thì đồ chơi của “má” là hai thùng đạn đại liên M60 đó.

Đại uý Buhdar cố vấn Mỹ lom khom chạy đến chỗ tôi ngồi báo tin:
– Hey Út,… Đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn mới cho tao biết, đêm nay tụi nó (VC) nhất quyết trả thù trận thảm bại vừa rồi, chúng sẽ đánh cường tập dứt điểm bọn mình. Nên Quân Đoàn đã chấp thuận lời đề nghị của Mr. B-52 JohnPaul Vann là ưu tiên dồn hết tất cả mọi phi yểm cho mình. Chúng ta phải đối phó với cấp Trung Đoàn VC cùng với đại pháo 130 và hoả lực phòng không tân tiến của chúng nó. Ý kiến của Út mày ra sao cho tao biết?
– Budhar, mày yên tâm ! Tonight, mày cứ ở bên tao và Chấn, tất cả đều không ngủ… Hey, yeah make my day. You and us wait for the night to come… Ok?

Buhdar móc trong áo Shaun chai Black&White nhỏ bằng bao thuốc lá Pallmall mở nắp trao cho tôi rồi nói :
– Ok…Ok…Ok…We bottle up…God blessed for us to night…!

Ánh thái dương khuất dần sau những hàng cây rừng phía Tây, bên kia là phía Đông nơi xa… xa …đó là thành phố Saigon bình yên, có lẽ giờ nầy phố phường bắt đầu lên đèn hoa rực rỡ, thị dân hiền hoà an hưởng nhịp đời như nên thơ:

Màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng,
Kìa bao phố phường, bao mái lầu chìm trong bóng đêm,
Lá lá lá lá la la, lá lá lá lá la
Đời đẹp quá á a à á a a bài thơ
Đường đi lối về cơn gió lùa ngả nghiêng bao tà áo
Và bao mái đầu không vướng sầu kề vai bước mau…
(Đêm Đô Thị – Y Vân)

Chúng tôi nằm phục ở nơi đây ghìm tay súng, chong đôi mắt đỏ chờ giặc trong bóng đêm ma quái rờn rợn khí thê thê lạnh của tử thần lảng vãng, lẫn khuất ngay ngáy mùi máu tanh còn thấm ướt qua từng thớ đất trận địa ban ngày vừa qua… ! Những khi “thầy trò Đường Tăng” ĐĐ2TSND chúng tôi phải lâm vào “Thế Bối Thuỷ” và giặc thù vây kín trùng trùng… không có đường trở lui mà phải Sinh Tử Chiến, mãnh hổ huyết chiến địch quần hồ mới hòng có đường sống sót trở về với vợ con ở trại gia binh… Hơn 200 sinh mạng “Kinh Kha” Trinh Sát Dù đã qua bờ Dịch thuỷ đang trông chờ ta với trọng trách nặng nề đè nặng trên vai… Tôi phải thật bình tĩnh nhận thức sự việc từ nội tâm tới ngoại giới như chiếu soi và trong không gian tỉnh lặng, tôi nghe rõ tiếng xào xạt lá cây rừng với vài cơn gió Hè thổi qua của vùng Tây Nguyên đất đỏ, mắt đảo quanh như soi hút cảnh vật chung quanh và chú tâm nghe ngóng những động tỉnh nhỏ nhặt mơ hồ như có, như không xen lẫn trong mớ âm thanh hỗn độn tiếng côn trùng gọi nhau trong đêm … Tôi biết tất cả hơn 200 đôi mắt của ĐĐ2TSND cũng đang chong đỏ trong bóng đêm dày dặc và tay ghìm chặc súng đạn đã lên nòng từ những hầm hố, lấy độ dày của đất làm chỗ che thân và chờ đợi từng giây phút sẽ có ánh lửa loé chớp nhoáng bùng lên với hằng loạt tiếng nổ xé rách màn đêm khi địch quân nổ súng tấn công cường tập… Trên không có tiếng vọng rù …rì … của chiếc không thám OV10 bay trên cao độ vài ngàn bộ như thần “thiên lý nhãn” hộ mạng luôn túc trực quan sát, theo dõi tình hình “dưới thế” để chỉ điểm, hướng dẫn, báo cáo hành quân, yểm trợ quân bạn từng chi tiết bất kể giờ giấc hay đêm ngày … Thời khắc tử thần quơ lưỡi hái đã điểm lúc 10:45 trời gần khuya: hằng loại trái sáng phát nổ phựt ánh sáng bung loé sáng rực trong đêm cùng lúc tiếng nổ mìn định hướng Claymore vang dội, thân xác, xương thịt vung vãi, bầy thiêu thân ngông cuồng lao tới bức tường thành lửa đạn khạc ra hằng loạt, lựu đạn tung lên nổ vang nháng lửa, hằng loạt M79 bắn trực xạ vào thân người tan nát, những tràng đại liên M60 nổ dòn liên thanh không cần giải nhiệt bắn vào thây người ngã xuống, bấm thêm mìn Claymore nổ dạt tung toé xương thịt kinh hoàng, lớp ngạ quỉ “sinh Bắc tử Nam” tan tành như xác pháo, lớp khác nhào tới như những cương thi vô cảm giác rồi ngã bật xuống trước họng súng thiện xạ của hơn 200 tay súng ĐĐ2TSND là đơn vị Tổng Trừ Bị ưu tú trong QLVNCH dày dạn kinh qua bao chiến trường trên 4 Vùng Chiến Thuật… Khoảng 5 phút sau, 4 chiếc Cobra trực thăng võ trang đã xuất hiện từ cao độ 500 bộ, theo tín hiệu của PRC11 phát ra từ Budhar và tôi hướng dẫn chỉ điểm mục tiêu để cho “Thiên Thần Mãng Xà Vương “ Cobra clean up bầy quỉ Đỏ lúc nhúc “dưới thế” với giàn phóng hoả tiễn (Rocket), M79 Auto bắn rãi cận phòng chung quanh đỉnh đồi … Tiếng nổ vang rền đinh tai, nhức óc, mảnh đạn cày sới tung đất đá, lửa cháy đỏ rực đỉnh đồi Delta trong đêm khuya … !!! Cobra hết đạn rời vùng. Ngay tức khắc Pháo Binh của Thanh Vân (Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc PĐT/PĐC1ND) nhuần nhuyễn khế hợp theo những tiêu điểm tác xạ định sẵn mà bắn hằng tràng đạn đại bác như trãi thảm cả ngọn đồi … Hằng hàng hàng lớp lớp Bắc Quân từ cánh rừng phía Tây vùng 3 biên giới Việt – Miên – Lào đã ém quân nằm phục sẵn từ trước, túa tràn ra bao vây quanh chân đồi, chúng hung hãn nhào lên như bầy dã thú để rồi thân xác bị nổ tan tành dưới sức công phá của bom đạn kinh hồn !!!

Tiếng Thiếu Tá Bùi Đức Lạc trong máy của Thiếu Úy Chấn :
– Thanh Vân…Check fire.
Pháo 105 của Thanh Vân vừa dứt, hai chiếc Skyraider (Khu Trục A-1, AD-6) của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng (PĐ514 PH-KQVNCH), Phi Đoàn 530 Thái Dương bổ nhào xuống phía Đông của đỉnh đồi Delta đánh bốn pass Bomb Napal lửa cháy rực sáng cả cánh đồi, rồi phóng vút lên không … Ôi,… thật đẹp làm sao một phi vụ bay đêm như ánh sao trời xé màn đêm u tối, ngàn thuở đẹp còn lưu tình chiến hữu cho mãi tới bây giờ …! Triền đồi phía Bắc và phía Tây dốc cao gần như 45 độ, hiện trạng Bắc Quân tấn công cường tập tương đối nhẹ hơn phía Đông và phía Nam có thế triền đồi thoai thoải dễ di chuyển… rồi lại đợt tiếp theo phi tuần Skyraider thứ nhì lao xuống đánh bồi thêm mấy pass Bomb Napal nữa, một biển lửa cháy bùng lên dưới ánh hỏa châu lơ lửng trên không …!!! Tôi không còn nghe tiếng lựu đạn hay đại liên M60 bắn ngoài vòng đai của đỉnh đồi nữa, có nghĩa là địch quân đã không còn tấn công tiếp…? Tôi ra lệnh Trung Đội 2 Trinh Sát (TĐ2TS) khoảng 40 hạ sĩ quan và binh sĩ của thiếu úy Sang theo chân toán Viễn Thám 2 (VT2) 7 binh sĩ di dời lách về phía Nam, dạ hành ra xa… xa… khoảng 500 mét, rồi bọc hậu về phía Đông, dùng hồng ngoại tuyến để quan sát tình hình và ém quân nằm phục chờ trời sáng. Những làn sương mù tan dần trên những ngọn cây trơ trụi lá, lộ hé cảnh tượng tàn phá kinh khiếp của bom đạn suốt đêm qua!

(Để trình bày rõ hơn bối cảnh của Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972, trong đó ĐĐ2TSND đã sát cánh với các đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử chiến với đại quân Chính Qui Việt Cộng trên Đồi Delta … tôi xin trích đoạn một số những bài viết liên hệ của nhiều tác giả như: Trận Đánh Trên Đồi Delta 1- Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc):

Quí vị cũng như chúng tôi ai ai cũng nghe ít nhất một vài lần bản nhạc Người Ở Lại Charlie, đó là trận đánh để đời, nguyên Sư Đoàn 320 của Cộng Sản Bắc Việt sau khi đã bị thảm bại bốn trận liên tiếp:
.Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
.Hai là tại giửa đồi Charlie và Delta, trên trận tuyến này chúng tôi gọi là đồi Delta 1,
.Ba là ngay tại đồi Delta nguyên một đại đội của chúng bị tiêu diệt hoàn toàn đó là trận Delta II,
.Bốn là tại ngọn đồi Delta, chúng bi tiêu diệt ít nhất là 1 Tiểu Đoàn Đặc Công v à 2 Tiểu Đoàn tác chiến đó là trận Delta III, cho nên Sư Đoàn 320 quyết trả thù đoàn quân Mũ Đỏ, vì vậy mới có trận Charlie. Phải công nhận chiến tranh Tâm Lý của Cộng Quân cao ở mức thượng thừa, cho nên khi chúng bị tiêu diệt 3 Tiểu Đoàn mà không có ai biết, các đài của chúng cũng như các cơ quan truyền thông của ta đều im lặng, vì không đài ngoại quốc nào loan tin. Hơn nữa không ai giám vào vùng đầy máu lửa này, có phải vậy hay không?!

Ngày 15 tháng 3 năm 1972, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù được trực thăng vận vào vùng hoạt động.
Vừa vào vùng Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đụng độ ngay với quân chính quy Bắc Việt, có mang tử thi của địch về nhưng Quân Đoàn không khai thác được gì hơn, ngoài việc xác nhận đây là Bộ Đội Chính Quy miền Bắc. Trên tử thi không có một tài liệu nào ngoài quân phục xác nhận là quân chính quy Bắc Việt.
Ngày 16 tháng 3 năm 1972, Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng, Cố Vấn Hoa Kỳ và tôi sau khi bay quan sát toàn vùng hoạt động. Nhận thấy giữa đồi Alpha và Charlie, có một điểm quân sự vô cùng quan trọng. Lúc đó TĐ2ND vừa không vận xong và chưa vào vùng hành quân, toàn bộ TĐ11ND vẫn chưa được không vận hoàn tất đến Pleiku. Khi chúng tôi bay quan sát, vùng trách nhiệm hành quân của TĐ1ND, Đại Tá LĐT nhận thấy TĐ1ND đóng quân tại cực Nam của dãy đồi không tên, nên quan sát được một vùng bình nguyên rộng, từ đó cho đến Kontum… Nhưng nếu phía Đông- Bắc của TĐ1ND, bị địch quân chiếm, thì TĐ1ND sẽ bị yếu thế, nên ông muốn đưa ngay ĐĐ2TSND vào vùng, đây là khúc xương sườn (khó nuốt của dẫy đồi này). Ông quay sang tôi cho lệnh:
-Anh chọn một Tiền Sát Viên cứng đi theo ĐĐ2TS, ngày mai vào vùng. Tôi im lặng suy tính. Ông đặt tên cho đỉnh quân sự này là Delta.
Ngày 17-3-1972 các đứa con của ĐĐ2TSND được trực thăng vận xuống đồi Delta, vừa bung ra phía bắc của Delta nhẹ nhàng như mèo bắt chuột và nguyên toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn thứ 3 thuộc SĐ320 bị toán Viễn Thám chộp gọn, mặc dù chúng đã biết trước có ta xuất hiện, do trực thăng vận đến. (ĐĐ2TSND do Đại Úy Trương Văn Út chỉ huy hoạt động từng toán nhỏ chung quanh căn cứ Võ Định, chu vi từ 2 cho đến 5 cây số liên tiếp tiêu diệt, hoặc bắt sống các toán tiền thám cũng như Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn 320, tù binh cho biết Sư Đoàn 320 có nhiệm vụ tấn công căn cứ Võ Định (gồm có BCH/LĐ2ND, BCH/TĐ1PB/ND, ĐĐ2CB/ND, ĐĐ2TS/ND) sau đó hướng về Kon Tum, hàng ngày chúng tôi vẫn bị pháo nặng nề, nhất là trong ngày chúng đánh Charlie và Tân Cảnh, nhưng chúng pháo không được trúng đích cho lắm đó chính là công đầu của ĐĐ2TSND). Ba chiến sĩ ưu tú của ĐĐ2TSND đã khôn khéo len lỏi từ phía sau như mèo chộp chuột, 3 tên Bộ Đội cáo Hồ bị tóm trọn và nhờ vậy Đại Đội 2 Trinh Sát Dù nhận được 90,000$(chín mươi ngàn) đầu tiên của BTL/SĐ22 khi đem hai tử thi và một tù binh về trao cho BTL/SĐ22BB, trên xác của một tử thi (anh ta viết nhật ký tâm sự với người yêu đang sống ở Hà Nam hứa hẹn ngày về huy hoàng của đôi trẻ, anh cho người yêu biết ngày 16-3-1972 chiếc máy bay lên thẳng (trực thăng) chở ba người Mỹ. (Nhưng địch quân đã lầm, nếu chúng nắm vững tình hình thì thậm chí nguy, đó không phải là 3 người Mỹ mà chỉ có 1 cố vấn Mỹ, Đại Tá Lịch và tôi). Anh ta viết: máy bay, bay rất thấp trên đầu anh, anh bắn hạ dễ dàng, nhưng cấp trên của anh không cho bắn.

Ngay sau đó ban chỉ huy của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù và toán tiền sát viên Pháo Binh, Thiếu Úy Chu Văn Chấn phải đánh cận chiến với địch. Ngày thứ hai vào vùng, Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù đã phân tán thành các Trung Đội Trinh Sát mỗi Trung Đội 40 Mũ Đỏ và các toán Viễn Thám mỗi toán 12 Mũ Đỏ, các chiến sĩ Trinh Sát ba người một Tổ, khi ẩn khi hiện làm địch quân điên đầu…! Đại Đội Trưởng ĐĐ2TS trong điện đàm với Đại Úy Nguyễn Trọng Nhi, Trưởng Ban 3 Lữ Đoàn (lúc đó Đại Úy Nhi chưa lên Thiếu Tá) sau khi báo cáo tình hình địch đang điều quân vây chung quanh điểm đóng quân ngày hôm qua, chúng có biết đâu ĐĐ2TS đã di chuyển ra xa và phân tán thành những toán nhỏ, các Pháo Đội liền hoạt động ngay. Thiếu Úy Chu Văn Chấn Tiền Sát Viên đi theo ĐĐ2TS làm việc rất nhanh và chính xác, (Trung Úy Chấn hiện đang ở Dallas) Anh hướng dẫn chính xác từng loạt đạn của 4 Pháo Đội tác xạ vào đầu từng đơn vị địch. Đạn nổ làm rung chuyển cả núi rừng, Út Bạch Lan (ám danh của ĐĐT/ĐĐ2TS) gọi về BCH/LĐ hỏi thăm quỹ tiền thưởng có còn nữa hay không? Đúng lúc đó ĐT/TL/SĐ22BB đang có mặt tại trung tâm hành quân, ông cầm ngay lấy ống liên hợp và trả lời ngắn gọn: “Còn nhiều lắm em”. Ngay sau đó ĐĐ2TSND bắt đầu đụng địch, địch biết rõ quân số của ta thả xuống vùng nên chúng điều động ngay một Tiểu Đoàn thiện chiến nhất của SĐ320 vây ĐĐ2TSND, với ý định tiêu diệt gọn. Nhưng chúng nằm mơ gặp ác mộng ! Chúng đã bị ĐĐT/ĐĐ2TS cho vào xiếc tại điểm đóng quân mà chúng đã nhận diện được, vì thật ra ĐĐT/Út Bạch Lan chỉ để lại vị trí một toán trinh sát phân tán và lưu động khai hỏa nghi binh, con cháu bác Hồ đã lầm và yên chí là đã vây trọn ĐĐ2TS, lúc đó ngay cả cấp chỉ huy của SĐ320 cũng không biết quân ta đang ở đâu ? Chính vì vậy mà nguyên BCH Tiểu Đoàn VC nằm ở phía ngoài đã bị thanh toán trọn gói, Đại Úy Trương Hà – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/3/320 bị Trung Đội 2 Trinh Sát của ĐĐ2TSND bắt sống. Nhưng vì cần phải di chuyển theo chiến thuật đã định trước, hơn nữa trực thăng đã cố gắng đáp xuống để nhận tù binh đem về BTL/SĐ22BB, nhưng đều thất bại vì rừng rậm, phòng không dày dặc và tránh làm lộ vị trí quân ta, nên Trung Đội 2 của Đại Đội 2 Trinh Sát, đành phải “tiễn” anh ta lên đường một mình không chiều theo ý của SĐ22BB được ! Địch quân như rắn mất đầu, vừa phần đưa lưng cho quân ta bắn mà không biết, do vậy Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 3/SĐ320 đã bị tan tác bởi 1 Đại Đội Trinh Sát của ta. Nguyên Trung Đoàn 3 của SĐ320, muốn được thành thép lại hoá ra bùn ! Ngay khi đó đại đội trưởng ĐĐ2TSND nhận thấy địch quân rất đông, nên đề nghị với LĐ2ND cho một đơn vị vào chiếm Delta để có đường về. Ngay lập tức một Đại Đội tinh nhuệ nhất của TĐ1ND được TrựcThăng vận vào Delta. Đại Đội này tuy chiến thắng. Nhưng chỉ không đầy 20 phút sau khi cận chiến ta có 8 Sĩ Quan bị thương, 5 Hạ Sĩ Quan bị thương, 15 Binh Sĩ bị thương phải tản thương. (Đại Đội Trưởng đang ở Nam CaLifornia).
Ngày 20 tháng 3 năm 1972, Đại Đội 15 thuộc TĐ1ND xuống bãi Delta và đụng độ với một Đại Đội địch có hầm hố… (trận đánh cận chiến này chúng tôi sẽ viết đầy đủ ở trận Delta II).
Ngày 23-3-1972 toàn bộ Trung Đoàn 3/320 VC tham chiến thề quyết trả thù cho Tiểu Đoàn 1, lúc đó các chiến sĩ Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã bị lộ, mặc dù cố gắng áp dụng kỹ thuật phân tán nhưng cũng không sao vùng vẫy như lúc chạm trán với 1 Tiểu Đoàn địch trước đây, hơn nữa đạn dược lương thực cũng đã bắt đầu thiếu hụt…! Các Phi Công trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng gan lì nhưng cũng không tiếp tế cho Trinh Sát được ! Sau đó nhờ lòng gan dạ và kinh nghiệm dầy dặn chiến trường của một Phi Công Phi Đoàn 213 Song Chùy mới tiếp tế cho các chiến sĩ Trinh Sát 2 Dù của ta một chuyến lương thực và đạn dược bằng cách khi đã nhận được điểm chính xác quân bạn, dừng Trực Thăng (helicopter hovering) trên ngọn cây, rồi đạp các thùng đạn và thùng lương thực xuống, đây là chuyến tiếp tế thành công duy nhất, trong mấy ngày quần thảo với VC. Đại Đội 2 Trinh Sát lúc đó đạn dược bị hạn chế lại phải đương đầu với một Trung Đoàn Trừ của địch quân, những yếu tố đó cũng làm cho quân ta lúng túng không ít, nhưng nhờ kỹ thuật tác chiến cao, phân tán mỏng nên chúng cũng không gây cho quân ta một tỗn thất nào đáng kể.
Ngày 25-3-1972 toàn bộ TĐ2ND được trực thăng vận xuống ngay đồi Delta lúc đó chiến trận đang khốc liệt chỉ cách đó không đầy 1/2 cây số về hướng Bắc, tại những góc cây gần đồi Delta địch quân cho ghim truyền đơn viết tay: “thề sẽ tiêu diệt ĐĐ2TSND”. Nhưng không còn may nắm đến với chúng nữa! Vì trong ngày TĐ2ND đã bắt tay được với Trinh Sát, và Đại Đội 15 Nhảy Dù. Địch bị TĐ2ND chọc ngang hông áp dụng chiến thuật đánh nhanh đánh mạnh, địch quân dù với hổn danh là Sư Đoàn Thép nhưng cũng không sao chịu thấu, tuy rằng một Trung Đoàn Trừ đang vây ĐĐ2TSND nhưng bị chọc ngang hông cho nên TĐ2ND làm cỏ từng Trung Đội, Đại Đội địch quá dễ dàng ! Sau 3 ngày quẩn thảo với các Thiên Thần sát cộng, địch quân đành tháo chạy với tỗn thất nặng nề !
Ngày 27-03-1972 toàn bộ ĐĐ2TSND được trực thăng vận ra khỏi vùng hành quân trở về căn cứ Võ Định nơi đặt BCH/LD2ND để dưỡng quân, ngay lúc đó Trung Tướng Ngô Du TLQĐ II và Đại Tá TLSĐ22BB cùng các cố vấn Mỹ và các vị Sĩ Quan trong Bộ Tham Mưu của Quân Đoàn II và SĐ22BB cũng đã đến để quan sát chiến lợi phẩm và lấy thêm tin tức tình báo… Lần này ĐĐT/ĐĐ2TS Trương Văn Út (Út Bạch Lan) được vinh thăng Đại Úy. (ngưng trích).

Và tiếp theo…Tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài viết “Vùng Trời Biên Trấn – Trần Ngọc Nguyên Vũ của giới Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã luôn sát cánh yểm trợ Lực Lượng Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù trên Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972 và trong suốt 21 năm 1954 – 1975 cuộc chiến Quốc – Cộng:

“Những người chinh chiến bấy lâu
Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.”
(Chinh Phụ Ngâm – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)

Tây-Nguyên! Vùng núi rừng trùng điệp… Nơi có những dòng sông huyền-hoặc nằm đợi khách qua bờ, mà mỗi “Một lần sang sông là một lần vĩnh biệt – Một lần sang sông là mãi mãi chẳng quay về”. Chính nơi đây đã có biết bao nhiêu tráng sĩ lạnh lùng phóng tay ghi đậm tên mình trên trang sử máu của dân tộc… Lịch sử sẽ thêm một lần sang trang khi chiếc “Thần Phong 01” của KQVNCH chế tạo, do Tr/Tá NNK và Th/Sĩ NVN bất thần bay lên đáp PleiKu vào một buổi sáng mây mù và gió lạnh, rồi Th/Tá Định cùng Tr/Tá Bá đi tìm “Tráng sĩ vượt dòng sông định mệnh” để lập một “Phi Đội Cảm Tử” bí mật đưa về Tân Sơn Nhất, đặt dưới sự điều động của ThầnPhong NNK vào năm 1971… Nhưng vận nước chưa xoay chuyển theo lòng người nên đại sự không thành, chỉ lưu lại trên trang huyền sử của KQ những vần thơ đầy hào-khí:

Tôi người lính trận từ xa tới
Gặp em nơi phố núi sương mù
Quán nhỏ ngây buồn nghe tâm-sự
Một buổi chiều mưa rơi… PleiKu
Rồi sáng hôm sau các anh lại lạnh lùng quay lưng cất bước lên đường khi:
Gió Lào dậy tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng gìa bạt núi non
Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch
Ta về theo cho dậm chiến trường

Chiến trường Tây Nguyên quanh năm mịt mù khói lửa, với những địa danh ngang dọc bước quân hành in dấu chân của tráng sĩ cùng với những:
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
lớp lớp tràn lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Cô đơn chót núi đứng bồng con
Khu chiến trập trùng cơn bão lửa
Đá vọng phu mọc khắp biên cương.

Lồng vào cái khung cảnh đất trời quay cuồng trong cơn bão loạn đó, “Không Đoàn 72 Chiến Thuật” đã trưởn thành, và vươn lên cùng với khí thế ngút ngàn của những anh hùng, hảo hán chốn sa trường… Chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động, mà tên tuổi đã danh trấn giang hồ. Pleiku thuở đó cũng đã thu hút được nhiều phóng-viên nổi tiếng của các hãng thong tấn quốc-tế… Tờ báo quân đội “Diều Hâu” của nhà văn Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh hồi đó đã nhận xét về KĐ 72CT qua bài viết “Tìm hiểu hiện-tượng nhổ giò của KQVN”, như sau: Chỉ vào một hố bom khá sâu, Đại Tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh nói với tôi:
– Anh biết quả bom này bỏ cách chiếc thiết giáp của mình bao nhiêu không?
– …?
– Ba thước.
Thao thao bất tuyệt, vị Tư lệnh trẻ nhất Việt Nam kể cho tôi nghe trận đánh khó khăn nhưng vô cùng hào hứng, vừa xẫy ra tại ngọn đồi mà chúng tôi đang đứng : “Một Tiểu đội Cộng quân, trang bị bằng một khẩu đại bác, một khẩu đại liên phòng không, đã chiếm giữ ngọn núi đá trên đường 14, cách Pleiku khoảng 20 cây số về hướng Bắc. Cây đại bác được nhét thật sâu vào hang núi. Sư đoàn 23 đã phái một đơn vị có chiến xa yểm trợ tiến lên núi, để diệt khẩu pháo đang gây khá nhiều trở ngại cho xe cộ di chuyển từ Pleiku đi Kontum. Một trong những chiếc thiết giáp yểm trợ bị bắn cháy. Xạ thủ B-40 VC chỉ khai hỏa cách chiếc xe ba thước. Phi Đoàn Khu Trục được gọi đến can thiệp, và nhiệm vụ của người Phi Công là phải bỏ lọt trái bom vào một miệng hang nhỏ, mà không làm tổn thương đến những người có thể còn sống trong thiết giáp”. Lắc đầu tỏ vẻ thán phục, Đại Tá Bá tiếp: “ Chiếc AD-6 bay với tốc độ mấy trăm cây số một giờ, mà anh chàng Phi Công này thả bom như để. Trái bom rơi hẳn vào hang hầm rồi mới nổ, không gây một hư hại nào bên ngoài cả…” !!!
Bốn trăm Phi Công, một ngàn chuyên viên làm việc quần quật. Máy bay được bảo trì, tu bổ cả đêm để mờ sáng hôm sau lại cất cánh, đáp ứng những nhu cầu yểm trợ cho quân bạn.(ngưng trích).

Và cũng tại chiến trường Tây Nguyên – Kontum này vào ngày 26-5-1972. Tôi đã mất một đi một người Anh “Đường Sơn Đại Huynh – Thặng Fulro” là Phi Công tài ba Thiếu Tá Phạm Văn Thặng của Phi Đoàn Khu Trục 530 Thái Dương! Tôi xin trích đoạn trong bài viết: Mặt Trận Kontum 530 Thái Dương Phạm Văn Thặng Fulro của Tác giả Hùng Chùa trong Lý Tưởng bộ mới số 7 -1998 đã ghi lại trường hợp hy sinh của Thiếu Tá “Thặng Fulro” như sau:

[I]- Bắc Đẩu đây Thái Dương gọi?
– Thái Dương cho biêt ví trí của bạn hiện nay?
Thái Dương vừa cất cánh khỏi Pleiku được 5 phút, hai phi tuần A-1 trang bị bom nổ và crocket, cho biết tình hình quân bạn và trục đánh.
– Thái Dương Thặng đó phải không?
– Đúng năm trên năm.  “Thặng Fulro” đây.
– Hay quá ! Quân bạn nằm nhiều cụm từ Bắc xuống Nam, trục đánh từ Đông sang Tây, địch chỉ cách bạn trên 100 thước, tình nghi địch có tăng yểm trợ, khi nào sẵn sàng tôi bắn khói chỉ điểm.
Trục đánh Đông sang Tây, có nghĩa là khi vào trục, anh sẽ bay trên thành phố Kontum, anh dỏi tìm cụm khói chỉ điểm, ngay từ bắt đầu vào trục, từ lúc khi còn ở trên cao khi vừa chúi xuống, anh nhìn thấy nhiều trái cầu khói đen lúp búp nổ ngay trước mặt, vẫn chúi xuống lao tới, anh nhấn nút release bốn trái ngay khi mục tiêu vào đúng hỏa điểm, rồi kéo stick đưa mũi phi cơ lên thẳng trên trời, đẩy cần ga tới maximum, rồi nhích stick về phía trái, anh kéo phi cơ lại về hướng Đông, hướng thành phố, đúng lúc này con tàu bị trúng đạn rung chuyển dữ dội, lữa phát cháy bên ngoài cockpit và cả trên cánh phi cơ.
– Thái Dương đây Bắc Đẩu! Tàu mày bị cháy rồi, nhảy dù ra ngay lập tức!
– Mày nghe tao không Thặng?, nhảy dù ngay lập tức. Tiếng Hiệp “Vixi” hoảng hốt trên tần số.
– Tao còn bốn trái bom trên cánh, nhảy dù ra để giết dân vô tội à?
Th/t Thặng cố gắng đưa phi cơ ra khỏi khu vực Kontum và đáp bằng bụng trên một cánh đồng nhưng phi cơ đã phát nổ.
Kính phục thay lòng thương người và lo cho bá tánh của anh.
Người anh hùng của phi đoàn 530 Thái Dương nói riêng và của KQVNCH nói chung.
Vĩnh biệt anh Thặng (Fulro)![(I]

Và trong một bài viết Cánh Chim Thần Tượng – tác giả DD-2ndG “nói” về những Phi Công “Bảo Quốc Trấn Không” để “minh hoạ” Không Quân Việt Nam Cộng Hoà “Trên Vòm Trời Lửa Đạn” chiến trường Tây Nguyên mùa Hè 1972:

Là một Phi Công trực thăng thời chiến, Trung Tá Khưu Văn Phát chứng kiến nhiều đồng đội của mình đã ra đi như chiếc “lá vàng rơi”. Ngày 11 tháng 4 năm 1972, Phi Đoàn có nhiệm vụ tiếp tế khẩu phần ăn nhà binh, nước uống và tải thương sau cùng cho tiểu đoàn 11 Nhảy Dù ở ngọn đồi “máu” Charlie. Một trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng do Trung Úy Nguyễn Tường Vân lái bị bắn bốc khói cháy sau khi vừa hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế. Phi cơ đang cố gắng rời khỏi vùng giao tranh một cách nhanh chóng. Thiếu Tá Phát (danh hiệu Charlie) đang bay chiếc trực thăng chỉ huy trên cao độ 6,000ft ở một góc trời quan sát và hướng dẫn Trung Úy Nguyễn Tường Vân (hoa tiêu tàu tiếp tế), hốt hoảng la lên trên tần số:
– Tàu bạn đang bốc cháy… đáp ngay… đáp lài xuống ở triền đồi phía dưới.
Charlie ( Thiếu Tá Phát) trấn an tức khắc:
– Đã có Hổ một (danh hiệu Gunship trực thăng) cover, nghe rõ trả lời ?
Nhưng con tàu trực thăng ngộ nạn sợ nguy hiểm, vì đang trong tầm tác xạ của phòng không địch đã không còn nghe được lệnh nữa. Lửa đã phụt lớn mạnh và tàu bốc cháy dữ dội như ngọn pháo bông. Trực thăng rơi nhanh xuống triền đồi và nổ bùng lên như quả bom lửa. Lửa và khói quện lại đen mù mịt cả một góc trời. Tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn đều tử nạn dưới con mắt của Thiếu Tá Phát và các bạn hoa tiêu trực thăng võ trang đang có mặt trong vùng. Trung Úy Nguyễn Tường Vân, Thiếu Úy Trần Văn Long và hai Mê Vô xạ thủ trực thăng đã lặng lẽ ra đi không tìm được xác rơi. Trung Úy Vân mới 23 tuổi đã để lại người vợ trẻ và đứa con thơ đầu lòng vừa chào đời trong tiếc nuối…! Chào vĩnh biệt các anh hùng vô danh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa một lần cuối!

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy…
Đã bay cao trong vòm trời đầy…
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời…
Ru anh ngủ vùi,
Mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi! (ngưng trích)

Một trích đoạn khác nữa trong bài viết Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie của tác giả Vương Hồng Anh:

Trận Chiến Giữa Trinh Sát 2 Nhảy Dù và 1 Tiểu Đoàn Cộng Quân ở Đồi Delta:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng Quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, Đại Tá Trần Quốc Lịch-Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh Đại Đội 2 Trinh Sát do Trung Úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.
Sau khi Pháo binh và Không Quân VNCH hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ Đại Đội Trinh Sát Dù vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn Đại Đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 3 Sư Đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng Quân đã điều động 1 Tiểu Đoàn để bao vây Đại Đội Trinh Sát Dù. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng Trung Úy Út Bạch Lan (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán Đại Đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng Quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm Claymore giết địch. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Cộng Quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 3 CSBV tên Trương Hà.

Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, Trung Đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ Đại Đội Trinh Sát 2 để trả thù cho Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn này. Vào lúc này Đại Đội Trinh Sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch lại bị một Trung Đoàn C ộng Quân bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên Đại Đội Trinh Sát 2 Dù ở trong tình trạng nguy kịch ! Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các Phi Công của Phi Đoàn Trực Thăng 215 Thần Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho Đại Đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một Phi Công kinh nghiệm và gan lì của Phi Đoàn 213 Song Chùy đã điều khiển Trực Thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho Đại Đội này được một chuyến duy nhất.(ngưng trích)

Tôi cũng xin được trích dẫn bài viết “Trận Đánh Đồi Delta” trong tác phẩm “20 Năm Chiến Sự” – Binh Chủng Nhảy Dù. Tác giả: Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND.Đại Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam căn cứ Charlie, trên đỉnh đồi một bên là rừng già dầy dặc. Sáng ngày 17/3/1972, sau những trận địa pháo và phi pháo vừa chấm dứt, địch quân chưa kịp hoàn hồn, thì một đoàn trực thăng chuyển quân sà thấp sát đất thả các Thiên Thần Trinh Sát 2 của “Út Bạch Lan” phóng xuống trận địa như những con diều hâu vồ mồi quanh vị trí Delta để săn lùng và tiêu diệt các chốt của TĐ1/ Trung Đoàn 3/SĐ320. Cả Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong vang rền khắp núi rừng khiến địch quân hoảng hốt đưa tay lên đầu hàng, kẻ nào ngoan cố chống cự đã bị các chiến sĩ Nhảy Dù diệt gọn. Chỉ trong chớp nhoáng, Các chiến sĩ Trinh Sát 2 của Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã làm chủ tình hình. Nguyên toán tiền đồn của TĐ1/TrĐ2/SĐ320 đã bị tóm gọn không sót một móng. ĐĐ2TSND đã bắt sống được 12 tù binh và lãnh tiền thưởng đầu tiên của Tướng Ngô Du.

Ngày 18/3/1972 Tiểu Đoàn 1/3/SĐ320 phản công bao vây để dứt điểm ĐĐ2TS. Út Bạch Lan, Đại Đội Trưởng/TS2ND không nao núng, điều quân phân tán mỏng chỉ để lại một toán nhỏ lừa địch, rồi đưa toàn bộ Đại Đội vòng ra bọc hậu đánh thẳng vào BCH/Tiểu Đoàn địch và tiêu diệt gọn TĐ1/3/320 bắt và giết chết TĐT là Đại Úy Trương Hà… Ngay sau đó, để phục thù Trung Đoàn 3/320 tập trung quân còn lại bao vây TS2 và thề bắt sống Út Bạch Lan cho bằng được. (Út Bạch Lan nỗi danh từ dạo ấy) Ngày 20/3/1972 TĐ2ND được trực thăng vận đổ quân xuống thiết lập và trấn đóng tại Charlie, và từ Charlie đánh bọc ngang hông TrĐ3/320 để cứu quân bạn và giải vây cho ĐĐ2Trinh Sát ND.
Đến ngày 23/3/1972 ĐĐ2TSND sau 3 ngày hổn chiến với địch và được TĐ2ND giải vây, 2 đơn vị Nhảy Dù đã dùng ngoại công nội kích với những chiến thuật thần kỳ tam mãnh “mãnh đã, mãnh xung và mãnh truy” đã phá nát Trung Đoàn 3/SĐ320 của CSBV, Sư Đoàn được hổn danh là “Thép” giờ đây đã bị chảy ra thành nước. Tin chiến thắng bất ngờ đã làm cho Quân Dân Quân Đoàn 2 phấn khởi, Trung Tướng Ngô Du đã bay ngay đến Delta để trao gắng cấp bậc Đại Úy tại mặt trận cùng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho Trương Văn Út và trao ngay 1 triệu 200 ngàn tiền thưởng vì đã bắt sống được 12 cán binh VC và thăng thưởng, ủy lạo cho tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù đã tham chiến. Đại Đội 2 Trinh Sát sau đó được bốc về Võ Định để nghỉ ngơi và tái trang bị. Trong khi đó Cộng quân khởi sự trận địa pháo liên tục bằng các loại 107, 122, và 130 ly vào các vị trí đóng quân của các đơn vị VNCH kể cả Tân Cảnh và Võ Định. (ngưng trích)

Và đây là trích đoạn trong tài liệu: Chiến Đấu Ở Tây Nguyên. Hoàng Minh Thảo. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2009 và Bộ Đội Chủ Lực Mặt Trận Tây Nguyên – Quân Đoàn 3 – 1966-2005. Nguyễn Văn Biều. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2005:

“Phối hợp với chiến trường chính, tại Tây Nguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn 320 (gồm 3 trung đoàn 52, 64 và 48) và 2 (gồm 2 trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000 người.
Từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn 320A Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm giả hai con đường cơ giới phía Tây Bắc thị xã Kon Tum. Tướng Ngô Du liền điều lữ đoàn dù 2 ra phá đường. Sư 320A dùng trung đoàn 52 chặn đánh nhưng không truy kích. Ngày 23 tháng 3, Liên đoàn 22 Biệt động quân tiếp tục tiến ra phá đường, cũng bị trung đoàn 52 chặn đánh.[6]. Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 28 (độc lập) cắt đứt đường 14 ở Diên Bình, bao vây Võ Định. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (bảo vệ 559) và đại đội 1 (địa phương) cắt đường 14 ở Chư Thoi, Tân Phú (nam Kon Tum).
Ngày 30 tháng 3, 2 trung đoàn 52 và 64 cùng một tiểu đoàn của trung đoàn 48, sư 320 (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam), đồng loạt tấn công 5 tiền đồn phía Tây sông Poko do 3 tiểu đoàn Biệt động quân QLVNCH đóng giữ. Tướng Ngô Du điều 2 tiểu đoàn của lữ đoàn dù 2 từ Tân Cảnh về các cứ điểm phía Tây sông Poko để tăng cường phòng thủ, điều trung đoàn 47 đánh ra tăng phái cho 2 đại đội quân địa phương chốt giữ Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bờ Biêng, lập 2 căn cứ hỏa lực đặt tên là “Delta” và “Charlie. Do bị lộ trận địa, công tác chỉ huy, phối hợp hiệp đồng pháo binh – bộ binh – phòng không chưa chặt chẽ, thông tin liên lạc kém, bị không quân Mỹ và pháo binh QLVNCH oanh tạc mạnh mẽ, trung đoàn 52 bị thương vong nhiều. Ngày 15 tháng 4, trung đoàn 64 Sư 320A đánh chiếm cứ điểm “Rocket Ridge” (1015), đánh tan tiểu đoàn dù 11 (lữ dù 3), bắn rơi 9 máy bay trực thăng. Cùng ngày, trung đoàn 48 (sư 320A) chiếm cứ điểm “Delta” (1338) và phục kích toán quân còn lại của tiểu đoàn dù 11 chạy về đây …” (ngưng trích).

Tôi có tính khí chỉ huy như mãnh hổ vồ mồi là trong khi phi pháo yểm trợ thì chúng tôi nằm yên mai phục và quan sát lượng định tình thế bén nhạy với tất cả giác quan và trực giác như viên đá cuội quẳng vào mặt hồ nước tĩnh lặng làm lan toả những gợn sóng âm ba va vào bờ, trãi rộng diện tích thăm dò, đo đạt trạng huống chung quanh, tôi có cảm tưởng trong nội tâm và ngoại vật như lồng vào nhau thành một thực thể trực ngộ kỳ diệu, tôi có thể cảm nhận được những di động của nhiều đôi dép râu “Bình Trị Thiên” và đôi chân trần của nhiều thân thể dẫm đạp lên mặt đất tiến về phía chúng tôi với cường độ sát khí hung hãn… Tôi thu dụng ngay tình trạng Tâm thức như nhất trong giây phút vừa qua và phối hợp với tri thức thực tại cùng bao nhiêu sở học ở quân trường và kinh nghiệm chiến trường, rồi quyết định hành sự chớp nhoáng sau khi phi pháo rời vùng ra xa để tránh tình trạng quân ta bắn nhầm lên đầu quân bạn.

Tôi gọi âm thoại qua máy liên lạc:
– 7273…6263…1001…
Tôi ra lệnh bằng mật mã cho hai Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cùng hai toán Viễn Thám 2 và Viễn Thám 3 đồng loạt “Tapi” từ phía dưới tấn lên, phía trên tràn xuống, trang bị nhẹ: vai không ba lô chỉ giây ba chạc, súng cá nhân và lựu đạn…Trinh Sát Dù dẫm lên xác Bắc Quân theo thế hàng ngang đột xuất tấn công nhanh như chớp đồng loạt nhã đạn vào hàng ngũ địch cho tới khi hai cánh từ trên và dưới gặp nhau (Link up)… Quang cảnh chiến địa: năm ba khẩu phòng không 57 ly chỏng gọng, hằng trăm vũ khí của Bắc Quân ngỗn ngang bên cạnh hằng trăm xác chết vẫn còn hơi ấm nồng mùi máu tươi…!

Chiến tranh nào mà không có tàn phá hủy diệt, không phải trả bằng máu đổ thịt rơi, xương phơi dưới chiều nắng quái …? Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam cốt nhục tương tàn này khiến tôi có nhiều xúc động, thương cảm, bồi hồi, nội tâm buồn mênh mang khi nhìn những cặp mắt mở trừng trên gương mặt trai trẻ tuổi đang độ xuân thì mà có lẽ cũng chưa được hưởng bao nhiêu tháng năm an bình niên thiếu với gia đình và cha mẹ, người yêu bên nồi khoai sắn vừa nấu chín tay cầm tay mà e ấp chuyện chung tình… thì đã bị bọn đồ tể chễm chệ trên chóp bu quyền bính “Đảng và Nhà Nước” Cộng Sản Bắc Việt xử dụng bạo lực thu gom, tuyên truyền nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ tạo ra “chất” ảo tưởng anh hùng giải phóng, ngọn giáo tiền phong của phong trào tiến lên thực hiện nghĩa vụ Quốc Tế Cộng Sản… và đẩy vào chiến trường miền Nam làm mồi cho bom đạn vốn được chế biến, sản xuất từ những quốc gia Âu – Mỹ phương xa …! Bọn chóp bu Cộng Sản Bắc Việt có bao giờ liếc mắt nhìn vào bản thống kê tổn thất sinh mạng Bộ Đội Bắc Việt, để xét lại tham vọng ngông cuồng của chúng ? Cán binh Bắc Việt bị chết trận được tô vẽ thành “liệt sĩ” chỉ là con số thôi, “chúng” đã chết tức không phải là người ?! Bọn chúng vẫn tiếp tục tận dụng vơ vét tài nguyên nhân lực cho đến khi cạn kiệt và sẵn sàng “đốt cháy cả dãy Trường Sơn để chiến đấu trường kỳ “nhất định thắng lợi” và đánh cho tới người Việt cuối cùng…” để cho nước Tàu được bình yên với hơn 1 tỷ dân trong nước luôn đói thiếu miếng ăn từ nhiều thiên niên kỷ đã trở thành nỗi ám ảnh và quán tính, nên do vậy câu chào hỏi đầu tiên khi gặp nhau: “你 吃 饭 了 吗” (nǐ chī fàn le ma?) – mày ăn cơm chưa? Và để cho Mao sếng sáng thân thể béo tốt ngủ ngày với giấc mơ Đông Phương Hồng và quyển sách nhỏ “Mao Tuyển” bỏ trong túi quần làm sách gối đầu giường lại là “Extract Testoterone” kích thích Hồng Quân, đám trẻ trâu Vệ Binh Đỏ chưa ráo máu đầu làm cuộc “Cách Mạng Tazan Hoá” để Mao “tá đao sát nhân” thanh toán hầu hết những đồng chí có công trong cuộc trường chinh là để tránh hậu hoạ “công thần chủ nghĩa” về sau và “đào tận gốc, trốc tận rễ” cả nền văn hoá Phật – Khổng – Lão – Trang – Bách Gia Chư Tử … đốt sạch, giết sạch như bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng tân thời…! Nhưng Mao đã nhận chân ra nhân dân “thoòng dzành” của “thiên tử” không thể làm công cụ bành trướng cho Nga Sô hưởng lợi và Nga hoá (Russianization, and Russian-led Sovietization) toàn thể lục địa Trung Hoa nên “rặn” ra Maoism để bảo vệ thành quả cách mạng triều đại “Mao Hoàng” ! Nhưng bọn gia nô “Jiệtcộng dzành” Annam Bắc Bộ Phủ cấp sách đồng ấu học Mao, học “Mac xít – Lê nin nít” chưa vỡ chữ nghĩa đang lùa thanh thiếu niên miền Bắc Việt Nam vào lò sát sinh do Mỹ đã an bày với tất cả Bomb đạn và pháo đài bay B52 chiến lượt trãi thãm… kể cả tên Lê Duẩn (1907–1986) là Bí thư Thứ nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam Cộng Sản cũng đã cúc cung tận tín làm con chó nhỏ đã căng giây cót tuyên bố :” Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…”… Ôi nhân tai !

Tôi biết nó thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao…!
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài người qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm nó từ xa…
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu!
Lúc rúc vào Tàu, lúc rụi vào Nga
Nó gọi Tàu – Nga là cha anh nó
Và nguyện làm con chó nhỏ !!!
Xông xáo giữ nhà, gác ngõ cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh…
Học thói hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
Đang diễn ra triền miên ghê gớm đó…
(Thơ Vô Đề – Khuyết Danh. 1968)

Trên tầng số liên lạc:
– Út Bạch Lan…207…
– Tôi nghe Đích Thân.
– Phú Quý (thiếu tá Lê Văn Mạnh TĐT/TĐ2ND) sẽ vào Charlie phía Bắc và sẽ Link up với UBL. TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà phía Nam của UBL. Chúc mừng UBL. Có tin vui cho UBL…sẽ gặp nay mai.
– Nhận 5/5 Đích Thân.

Đứng trên đỉnh đồi Delta bên cạnh thiếu úy Chấn với ca cà phê còn bốc khói, tôi chợt nghĩ lại lời nói hôm qua với tên Thiếu Úy Đoàn Tạo (VC): “các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa là các cậu còn sống…” rồi cười một mình…!!!

Thiếu Úy Chấn nói:
– Anh Út à… ! Tôi ở Nhẩy Dù 15 năm từ Hạ Sĩ Quan rồi đi học trở thành Sĩ Quan, xông pha bao nhiêu trận mạc vào sinh ra tử… Nhưng chưa bao giờ tôi có cảm tưởng hồi họp ly kỳ, đôi lúc tếu lâm như lần này ở bên cạnh anh, tôi nhận thấy thái độ của anh tỉnh bơ, tinh thần vững chãi, bản lãnh chỉ huy điều động anh em tác chiến và nhất là không nao núng, lo âu ngay khi cả bọn mình trong vòng vây trùng điệp tưởng chừng như sẽ bị địch tràn ngập… mà anh còn nói chuyện tếu trong âm thoại liên lạc với mấy Sĩ Quan Trung Đội Trưởng hay các Trưởng Toán Viễn Thám chẳng hạn khi trung úy Sang gọi báo cho anh rằng:
“…Trung Đội 2 chúng tôi bị tràn ngập…”. Anh trả lời tỉnh queo cho Sang:” … Anh còn gọi báo cáo cho tôi được, thì trên răng dưới lựu đạn, hay răng đen mã tấu của anh vẫn còn ? Sao không chơi xã láng sáng mặc quần xà lỏn về sớm với tôi… để chúng ta cùng chạy over run…”!!! Tôi thật sự ái mộ và khâm phục ĐĐ2TSND của anh vô cùng… !!!

– Anh Chấn nè…! Chiến công này không phải của riêng tôi và đơn vị đâu. Thứ nhất là kế hoạch hành quân tuyệt vời của BCH/LĐIIND với Quân Đoàn II, những bộ phận then chốt trong đó là TĐ1PBND của Thiếu Tá Bùi Đức Lạc, các Pháo Đội…và của Anh Chấn nữa, Phi Đoàn Khu Trục 514 Phượng Hoàng, Phi Đoàn 530 Thái Dương tăng cường, Phi Đoàn 213 Song Chuỳ, Phi Đoàn 215 Thần Tượng, Phi Đoàn Trực Thăng 229 Lạc Long của Phi Đoàn Trưởng Thiếu Tá Lê Văn Bút với tay Pilot gan lỳ xuất thân từ trường tôi luyện thép Thiếu Sinh Quân là Đại Úy Phạm Công Cẩn túc trực ứng chiến bay ngày đêm trên vòm trời lưới đạn phòng không để “cứu thằng em Út Bạch Lan và con cái của nó đang bị VC tapi en masse”, Đại Tá Mike cố vấn LĐIIND thảo hoạch và phối hợp điều động chặc chẻ ứng chiến từng phút, từng giờ và hằng ngày với Cố Vấn Quân Đoàn Mr B.52 John Paul Vann phối hợp nhịp nhàng với Phi – Pháo yểm trợ… Anh nên biết rằng các quan “Mặt Trời” bày binh bố trận “Trường Bản” rồi bốc toàn thể yên hùng Triệu Tử Long ĐĐ2TSND thả chúng ta xuống cái “hột Lạc” này đây là kế sách của cấp Quân Đoàn: “thảy một cục đường cho bầy kiến bu lại” rồi xịt thuốc pháo TOT (Time on Target: to determine the time to fire. An executive order to fire is given to all guns in the fire unit at the correct moment to fire), và mở Hội Thiên Lôi từ trên giời cao cho quan lái tàu bay mặc phi bào áo liền quần thảy lỗ Bomb Napal đốt muỗi, diệt ruồi …!!! Anh Chấn “vác ngộ” chưa ? Tôi choàng tay ôm vai người bạn già Thiếu Úy Tiền Sát Viên TĐ1PBND đã đồng cam cộng sinh tử vừa qua và cùng nâng ca cà phê:

– Hay không bằng hên… ! Chết sống như một định số an bày ? Anh nhìn xem có bao nhiêu người đã bất động nằm đó, còn tôi với anh vẫn còn đứng đây, chung quanh là những binh sĩ như huynh đệ thủ túc của mình đã cùng nhau kinh qua bao chiến trường gian khổ, hiểm nguy từng phút từng giờ trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật này, họ đang lom khom đốt lửa để hâm nóng hộp thịt ba lát chuẩn bị bữa ăn dã chiến và ngoài kia có hơn 600 xác chết Bắc Quân đếm được vì còn phần thân mình, những thây bị banh xác chỉ còn vài phần xương thịt vung vãi trên khắp ngọn đồi Delta và có bao nhiêu thân xác Bắc Quân bị Bomb Napal đốt cháy thành than không đếm được nữa… Tất cả sẽ ở cùng với đất đá tại thung lũng dốc thoai thoãi lẫn khuất này và rồi sẽ làm thêm mầu mỡ cho môi sinh khi mùa mưa tới vài tháng nữa đây…! Tôi đố Anh Chấn biết trong thâm tâm của những người Lính ĐĐ2TSND đang ghĩ gì …?

Với ý chí truy tìm và tuệ giác chiếu soi thì thế giới quan chẳng có gì là bí mật? Do dục vọng móng khởi trong Tâm làm sáng tạo tư tưởng và rồi tư tưởng lại làm cho dục vọng tăng trưởng thành nền tảng cho loài người tiến hoá, văn minh… và nhận thức sự lý tốt xấu, đau khổ, hạnh phúc, giải thoát khỏi vạn pháp … lại cũng tuỳ ở quan niệm giới hạn bởi tri thức, địa lý chính trị và tầng giác ngộ thô hay thậm thâm vi tế vượt qua khỏi trạng huống vật chất với phàm nhân còn vô minh thì như bất khả tư nghì …? Với tiềm năng của con người cộng với trí thức và có phương pháp, tinh tấn với nổ lực sẽ đạt được thành quả. Nhưng khi “cái” thành quả đó có được cũng là quá khứ với ít nhiều thiếu sót, khiếm khuyết … và lại có thêm những khám phá, phát minh mới … rồi tối hậu để làm gì? Có phải chăng loài Người trên thế gian này đối đãi và cư xử với nhau hướng thượng với phương châm cực Lý là Tình? Nếu là Tình thì những kẻ chủ xướng cổ máy xay xương thịt người Việt Nam là hợp Lý chăng? Dân Việt sẽ được gì sau cuộc chiến? Đất nước nầy rỗi sẽ ra sao? Trong phạm vi cuộc chiến Việt Nam mà 3 nước đại cường và cũng là 3 thế lực lớn: Mỹ – Nga – Tàu chủ trương, chi phối và điều động toàn thể giới lãnh đạo của hai miền Nam – Bắc Việt Nam: Mỹ có đại nhân, đại trí, đại lược, đại dũng và cũng là “nhân tố” thiên tài ở mặt sáng có ánh quang mặt trời làm lý tưởng che chắn và rao hàng, dòng thời sự Mỹ tuy có phản ảnh sự phân hoá ở mặt tầng xã hội, tin tức phản chiến rộ trên mặt trận truyền thông, báo chí là biểu hiện ý thức sinh hoạt Tự Do – Dân Chủ của dân chúng Mỹ “thấm thương” bởi Việt Nam War và cũng chỉ là Science có chỉ đạo và dự tính cho dù đã xảy ra hiện thực đang thời?
Nhưng Quốc Sách – Chiến Lược do những Kỳ Nhân – Thượng Hội Đồng Tối Cao Quyền Lực ngự trong “Nội Phủ” làm quốc chủ “Cung Đình” vẫn được các “hình nhân” răm rắp thi hành xuyên suốt… Nếu có trở ngại trên đường thẳng tiến ư ? Oh,… Flow Chart … đã có dự trù thế bò trườn của con sâu róm (sâu lông) nó rất cẩn trọng luôn ngẩng đầu lút lắc nghe ngóng, thăm dò để điều chỉnh hướng tiến tới và Policy vẫn trực chỉ thi hành cho hoàn tất những chặng đường đã hoạch định, thiết kế cho nước Mỹ và Thế Giới như an bày “In God We Trust – Annuit Coeptis – Novus Ordo Seclorum“ (tuân hành những điều đã qui định) … Ở mảng tối lại là thiên tai và gây nên đại hoạ cho dân Việt khi thiết kế sách lược xử dụng chiến tranh Việt Nam để phân hoá Nga – Tàu làm hư hoại khối Cộng Sản trên đà bành trướng!
Những người Bolshevik Nga tinh tuý, biến cải và ảo tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa và Thế Giới Đại Đồng ! Nhưng thực chất vẫn là cuồng vọng bành trướng Đại Nga, Đế Quốc Nga sau khi họ đã triệt hạ triều đại Nga Hoàng, với quyền lực đại cường họ đã xuất cảng dòng thác “cách mạng” là dòng sông máu Marxism-Leninism để nhuộm đỏ thế giới… Nhưng chính bọn đồ tể Bắc Bộ Phủ mới là tác nhân làm cho dòng sông máu Cộng Sản thêm phần dơ bẩn, hôi thối là rác rưỡi của nhân loại cần phải thiêu huỷ và vứt đi. Tàu với bản chất xâm lăng, chiếm đoạt, và phá hoại tài nguyên của nhân loại và với sách lược chính trị lộ tuyến… Tàu đang là công địch của thế giới thì trên lộ trình hướng tới tương lai phải đương đầu với đại hoạ phân thây là điều tất yếu, huống chi “Người Ta” vỗ béo con vật để giết thịt ? Kết cuộc: Nga bị lừa, Trung Cộng bị lừa, cả thế giới bị lừa, Giới lãnh đạo Nam – Bắc Việt Nam bị lừa, Dân Tộc Việt Nam bị lùa vào lò sát sinh… “Oh hô Washington Bodhisattva… xá mớ bái”…! Trời hết mưa rồi lại nắng, sau chiến tranh thì tới hoà bình, để những tập đoàn tài chánh là sân sau của “Cung Đình” sẽ di dời vùng kéo tới đầu tư, mua bán, tái thiết, xây dựng và khui bốc mẽ tài nguyên dưới mặt đất thời kỳ Vôi của đất nước Việt? Nhưng dân Việt ta có lẽ chỉ hưởng được một tí chéo áo là an vui, hạnh phúc rồi và lấy làm thịnh vượng…?! C’est sera sera, Anh – Em chúng ta biết ra sau ngày sau?

Sau hai ngày chờ đợi TĐ1ND và TĐ2ND vào vùng an định, ĐĐ2TSND được trực thăng vận triệt xuất về Căn Cứ Võ Định – Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn II Nhẩy Dù với báo cáo kết quả của TĐ2ND đã thu nhặt chiến lợi phẩm và đếm hơn 600 xác Bắc Quân nằm chung quanh và khắp ngọn Đồi Delta.

Mũ đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)
Houston – Tháng Giêng, Năm Đinh Dậu 2017.

Thủ Đô Helsinki

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Helsinki Cathedral and Market Square

Hồi nhỏ tôi đọc tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết về phở rất tuyệt và tôi biết ăn phở từ sau khi đọc xong tùy bút của ông. Tuy nhiên tôi thích thú cảnh ông tả về Hen-xanh-ky, tức là Helsinki, thủ đô nước Phần Lan. Đoạn đầu ông viết : “Xứ Phần Lan rừng thông trùng trùng xanh ngắt, nước hồ biếc biếc, phụ nữ da trắng một màu tượng tuyết, gái trai quần áo len ngũ sắc người nào cũng như nai nịt sắp biểu diễn điền kinh. Mình thành ra lạc lõng vào một thế giới vật chất nó sạch sẽ quá, sạch đến cái mức tạo cho tôi một thứ nghi ngờ nơi đây là một ấn tượng giả tạo…”

Lần đầu tới Helsinki lòng tôi hân hoang rộn rã, tôi nghĩ mình đã tới một xứ sở huyền ảo ở giữa trần gian, nhưng khi tới nơi thì hổng thấy ảo huyền gì hết. Helsinki là thủ đô của Phần Lan, đường phố náo nhiệt, người đông nhưng không ồn ào như nhiều thủ đô khác. Hệ thống xe điện ngầm, xe điện trên mặt đất và xe bus rất tân tiến. Thành phố sạch sẽ vừa cổ kính vừa hiện đại, là một nơi nghĩ dưỡng rất lý tưởng. Người Phần Lan sống rất văn minh, rất nhân bản và rất dễ gần gũi. Có thể lúc nhà văn tới Helsinki chưa có Sân vận động Olympic, các loại xe công cộng tân tiến và những xe bus hai tần sang trọng có tên là Hop On – Hop Off của công ty du lịch dành chở du khách tham quan thành phố như hiện nay. Tuy Helsinki không nhiều di tích lâu đời như Turku, thủ đô cũ của Phần Lan, nhưng có rất nhiều biểu tượng và bảo tàn viện đã thành lập cách đây hơn thế kỷ như nhà hát Thụy Điển, quảng trường Senate và bức tượng Alexander II phía trước Thánh Đường Trắng (Helsinki Cathedral)…

Theo nhà văn kể thì ông theo phái đoàn đi dự Đại Hội Hoà Bình thế giới, tiền ăn một ngày sáu đô la “Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thật là trang trọng : đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại phương Bắc này…”.

Có lẽ chánh trị Việt Nam lúc đó đương lộn xộn, nhà nước ta còn nghèo, cán bộ đi công tác được ban tổ chức bao tiền ăn, tiền ngủ chớ hổng cho chương trình tham quan thành phố và không có tiền cán bộ bỏ túi, tiệc tùng, ăn nhậu xả láng như cán bộ của nhà nước hiện thời. Trong những giờ rảnh rổi hổng có tiền đi xe, cả phái đoàn ngơ ngáo không biết đi đâu chơi đành kéo nhau vô rừng thông, ngồi trên bãi cỏ mơ màng tưởng tượng từ cái thủ đô cho tới chuyện ăn uống ra truyện thần thoại. Nhớ nhà, thèm ăn phở, nhà văn bèn thảo tùy bút ngay bờ hồ Ô-ta-ni-ê-mi của thành phố Hen-xanh- ky.

Vì kính trọng nhà văn tiền bối, một con người tài hoa, đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời nơi các nước xa xôi, tham dự Đại Hội Hoà bình thế giới để giới thiệu văn hoá nước nhà tới miền Bắc cực này. Mỗi khi lên phố Helsinki tôi hay để ý tìm lại dấu vết của người xưa. Trước tiên tôi tìm trong bản đồ thành phố những hồ nước có vần O hoặc Ö nhưng hổng thấy và không đọc ra hồ nước nào có âm Ô-ta-ni-ê-mi. Khắp Phần Lan có hàng ngàn hồ nước, xung quanh Helsinki ít ra cũng có vài ba chục hồ. Cái hồ lớn nổi tiếng tên Päijänne ở Sysmä vào những ngày hè, khi mặt trời lặng, ánh nắng nhuộm màu đỏ lói phía góc hồ Tây, dĩ nhiên Päijänne không nằm trong phạm vi của Hensinki. Công viên Esplanade nằm trong trung tâm của thành phố có bãi cỏ xanh và cây xanh mùa thu đầy lá vàng, nơi đây có một hồ nước ngầm luân lưu làm mát những ngôi nhà thành phố. Có lẽ chữ nghĩa thời đó khác thời nay nên phiên âm của nhà văn tôi không đọc ra, ngay cụm từ Hen-xanh-ky nếu hổng có từ Phần Lan đi kèm tôi cũng hổng biết ở đâu nữa, còn chữ Phần Lan tôi ngọng nên hỏi thăm người bản xứ tên hồ nước Ô-ta-ni-ê-mi hổng ai biết đâu hết, cuối cùng tôi đành bỏ cuộc.

Cũng từ đó cái ấn tượng một thế giới giả tạo, một thủ đô Hen-xanh-ky thần thoại của nhà văn tôi xem như trong truyện cổ tích. Tuy nhiên, cho tới hôm nay, mỗi lần ghé Helsinki tôi thường lang thang trong phố hay đi trên con đường vắng vẻ. Có khi suốt đêm trong quán nhậu hoặc ngồi uống cà phê trong góc phố bên công viên đầy lá vàng và cỏ xanh. Tôi lại nghĩ tới nhà văn tài hoa họ Nguyễn, coi vậy mà cũng hay, thử nghĩ, nếu hồi đó ông được đi lang thang như tôi bây giờ, có thể hổng có tùy bút Phở ra đời, biết đâu món phở Hà Thành cho tới nay vẫn còn bình dân như các bún nước, mì nước, hủ tiếu nước hoặc những món xúp thường thường chớ không nổi tiếng thế giới như hiện nay.

***

Tàu cặp cảng Helsinki lúc năm giờ sáng. Lòng tôi bồn chồn nôn nao như trở lại nơi thân thuộc. Bây giờ là mùa hè không gian thoáng, khí trời mát mẻ. Tôi thèm lên phố, dù chỉ lang thang vài giờ để nhìn ngắm cảnh đẹp của Helsinki, thủ đô này đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng.

Tôi xin thuyền trưởng cho tôi nghỉ buổi trưa. Thuyền trưởng nói:

– Tàu đậu lại ngày nay, mười giờ tối tàu khởi hành sang Estonia, ông phải có mặt trên tàu khoảng tám chín giờ.

– Yes Sir, tui sẽ về tàu trước chín giờ.

Thủy thủ In Đô trước kia bán được rượu và thuốc lá kiếm thêm tiền túi. Từ ngày Estonia nhập vào châu Âu, đường tàu Helsinki sang Tallin một ngày hai ba bận, rượu và thuốc hút không kiểm soát gắt gao như trước, dân Helsinki đổ xô qua Estonia mua rượu và thuốc lá về dùng. Làm thủy thủ tàu containers không còn cơ hội kiếm thêm tiền, không có tiền túi thì không lên bờ chơi, cả đám cứ ru rú trên tàu, những giờ rảnh nối mạng internet chat với người thân hoặc rút vô phòng coi phim con heo. Để khỏi phiền phức tôi không bao giờ rủ rê ai hết, thường thì tôi hay đi mình ên lang thang trên phố. Ama người In đô, tánh tình rất cởi mở, vui vẻ, có óc khôi hài, thích khám phá, nó theo đạo Tin Lành và không ưa Hồi giáo, nên không đi chơi với mấy người đạo Hồi. Có lần nó nói với tôi:  

– Ở In Đô phần đông là đân ít học hoặc có học nhưng vì lợi lọc họ mới theo Đạo Hồi, những người này ngoài cái việc không ăn thịt heo và mỗi ngày cầu nguyện Allah năm bận ra họ hổng biết đạo lý là gì hết.

–  Tao nghĩ, Đạo nào cũng phải có tình thương, nếu hổng có tình thương thì còn nói chi là Đạo.

– Nhưng đạo Hồi một chút tính người cũng hổng có, nói chi tình thương, trong họ không có hoà bình, chỉ có chiến tranh và khủng bố.

Tôi nhún vai:

– Là do con người thôi. Theo tao đạo Hồi tồn tại trên hai ngàn năm rồi, khắp thế giới hiện nay tính đồ Hồi giáo đông nhứt, dân In Đô mày theo Đạo hồi gần hết, mày đừng nên xem thường họ.

Bình thường với đồng hương của nó, nhứt là mấy người đạo Hồi, nó hay cải lý, nhưng không hiểu sao với tôi thì chuyện này không xảy ra và cũng từ đó, nó thường hay la cà nói chuyện với tôi. Ama rất thích đổ bộ, trước kia nó thường đi với người Hoà Lan nhưng sau này không thấy đi với họ nữa, hôm nay nghe tôi sắp lên lên phố, nó tới hỏi tôi:

– Chú cho tui theo được không?

Thấy nó thoải mái, đi chung chắc không phiền phức, tôi day qua nói:

– Đương nhiên, xứ tự do mà, mày đi chưn của mày, nhưng tao nói trước, tao đi để mà đi và đi bộ hoặc xe công cộng, hổng đi tắc xi, nếu mày không ngại mỏi giò thì cứ đi theo.

Nó vỗ vỗ tay xuống bắp đùi và nói:

– Dĩ nhiên, dĩ nhiên, chưn tui còn khoẻ mà, ông đi tới đâu thì tui tới đó.

Nó cười hì hì rồi nói bằng tiếng Hoà Lan:

– Kijken kijken, niet kopen. Nghĩa là coi thôi chớ hổng mua gì hết. ( Đây là một thành ngữ châm chọc sự keo kiệt của người Hoà Lan mỗi khi dạo ở những khu du lịch nước ngoài.)

Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt, nói:

– Tốt lắm! Ru rú trên tàu trong những ngày hè nắng đẹp thì thật là uổng phí thời gian.

Ama chỉ tay ra ngoài trời cười dí dỏm, nói:

– Ngoài trời đương mưa kìa chú.

Tôi nhìn ra ngoài khung cửa kiếng thấy trời ui ui, mưa lâm râm. Tôi gật đầu nói:

– Ừ, năm nay thời tiết khác thường, đầu tuần tháng Bảy rồi mà trời chợt mưa chợt nắng, một lát mình đi chắc phải đem theo áo khoát.

– Okay, trưa nay tui theo chú.

Mưa lai rai từ sáng tới giữa trưa mới dứt. Khi cơn mưa vừa tạnh thì nắng lại lên. Tôi bỏ áo khoát mỏng vô ba lô và hai chai nước lọc rồi cùng Ama lên bờ. Chúng tôi lấy xe điện ngầm vô phố và xuống trạm gần đường Aleksanterinkatu, đây là khu phố chính. Sau hơn bốn năm mới trở lại Helsinki, tôi thấy tất cả đều mới, thành phố này lúc nào cũng mới, trong ánh sáng diu dàng của ngày hè, người ta đi rất đông. Ama hân hoan nói:

– Sáu tháng qua lần đầu tui mới thấy người ta đông quá.

Tôi nói:

– Người dân Phần Lan thường hưởng thụ ánh nắng mặt trời chừng ba bốn tháng, cuối mùa xuân nắng bắt đầu ấm, sớm lắm giữa tháng năm, cho tới giữa tháng chín thì gió mát của mùa thu lại về.

– Chỉ ở Phần Lan thôi hả chú. 

– Không phải riêng ở Phần Lan này, ngoại trừ vùng Lappi ở phía Bắc, nơi đó những tháng hè mặt trời hổng lặng. Các nước trong vùng Baltic như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Estonia, Latvia, Lithuania trong khoảng thời gian mùa hè, từ cuối tháng năm tới đầu tháng tám, mặt trời mọc khoảng bốn năm giờ sáng, lặn khoảng mười, mười một giờ tối, những giờ mặt trời lặng tuy ngắn ngủi nhưng ánh sáng mặt trời toả sáng suốt ngày đêm. Thỉnh thoảng ban ngày nhiệt độ lên tới ba mươi độ C. 

Giữa dòng người ngược xuôi trên đường phố có vài người hát dạo, chơi phong cầm, chơi gita và cũng có người ăn xin nghêu ngao ca hát. Mỗi khi nghe tiếng đờn thì cả thân hình Ama lại lắc lư theo điệu nhạc. Chúng tôi đi tới một khoảng rộng, nghe văng vẳng âm thanh trong trẻo như tiếng kim ngân, nhìn tới trước thấy một đám người bu quanh chỗ phát ra tiếng đờn. Ama liền đi nhanh tới chen lấn đám đông, tôi bước theo sau, nó chen tới đâu tôi theo tới đó, cuối cùng chúng tôi cũng lọt vô phía trong. Trước mặt chúng tôi có ba anh nhạc sĩ chơi hai bàn đờn Xelophene, đờn Xelophone tương tợ như đờn T’rưng, đờn T’rưng phiếm bằng những thẻ tre và để đứng nghiêng, còn Xelophone phiếm làm bằng kim loại và để nằm thẳng trên chiếc bàn. Ba anh nhạc sĩ đứng sau hai bàn đờn, chưn cẳng nhịp nhịp, thân người lắc lư, mắt lim dim, tay cầm dùi say mê gỏ phím, hoà tấu một bản nhạc nghe rất vui tai. Khi bản nhạc chấm dứt người đứng xung quanh vỗ tay rân trời và sau đó xúm nhau bỏ tiền vô chiếc thùng phía trước mặt. Chúng tôi cũng vỗ tay thiệt lớn và cũng bỏ tiền vào thùng, Ama còn bịn rịn chưa chịu đi. Khi ấy ba anh nhạc sĩ rót cà phê uống nghỉ giải lao và những người chung quanh cũng tản đi gần hết, lúc đó nó mới chịu  quay lưng. Tôi nói:

 – Tao nghĩ mấy nhạc sĩ này đến từ nước Nga:

– Sao chú biết.

– Thấy cách ăn bận của họ cũng đoán được. Thường thì mùa hè, người Phần Lan hay đi ở những ngôi nhà nghỉ bằng gỗ trong rừng hoặc bãi biển, gần ao hồ hay ra những hải đảo. Cũng như dân Na Uy, Thụy Điển, người Phần Lan rất thích tắm hơi và đi du lịch nước ngoài, nên trong thành phố ít người bản xứ. Ngược lại người nước ngoài tới đây nhiều, nhứt là những nước lân cận như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy,  Estonia, Latvia, Lithuania và Nga…

Nó cười hì hì:

– Thì tui và chú cũng là người nước ngoài đi du lịch.

– Ờ, mày để ý thì thấy dân nước khác đi rất nhiều nhưng chưa thấy ai giống tao và mày.

Ama ngó quanh và nói.

– Ừa, hổng thấy người Á Châu.

– Tao nói chưa thấy chớ hổng phải hổng có người Á Châu. Người Tàu, người Nhựt có khi họ đi du lịch thành nhóm cả mấy chục người.

Chúng tôi bước theo dòng người vô trung tâm Stockman. Cùng lúc đó tôi thấy một tốp năm sáu người vừa con gái vừa con trai từ trong khu mua sắm đi ra. Tôi day qua nói nhỏ với Ama:

– Mày coi, người Á Châu  kìa, họ ăn bận sang trọng hơn tao với mày nhiều.

– Họ là dân du lịch mà.

– Vậy tao với mày hổng phải là dân du lịch rồi.

– Ừ hén, mình là thủy thủ, mấy người này chắc là người Tàu.

 – Người Nhựt đó.

Ama nhìn qua họ rồi day lại hỏi:

– Làm sao phân biệt giữa người Tàu và người Nhựt?

– Mày thấy đám người Á Châu nào ăn bận loè loẹt, trên đường xí xô xí xào ồn ào nhứt thì đó là người Tàu lục địa, ngoài ra người Hồng Kông, Đài Loan và người nước khác…

Stockman là một trong những trung tâm buôn bán nổi tiếng của Phần Lan, bên trong người ta bán thượng vàng hạ cám, những món hàng nội địa và hàng nhập từ khắp nơi trên thế giới, đồ thủ cô nghệ bằng thủy tinh và đồ gỗ chạm trổ tinh vi trông lộng lẫy và hấp dẫn vô cùng. Ama dừng lại gian hàng bán đồ lưu niệm, cầm con dao nội địa tra cán màu ngà lên ngắm nghía một lát, rồi qua chỗ để nón cầm lên một cái xem tới xem lui một cách thích thú, nhưng khi nhìn bảng giá nó để xuống và rụt vai, nói:

–  Mắc quá. 

Tôi khoác tay cười và nói:

 – Ở xứ này món nào cũng mắc hết, có thể đồ không thiệt, nhưng bảo đảm chất lượng tốt.

– Chú nói cái gì hổng thiệt?

– Thí vụ như cán dao mày thấy màu ngà, nhưng cũng có thể bằng nhựa hoặc một loại đá nhân tạo, vì bên này hội bảo vệ thú vật cấm không cho giết những con thú quí hiến của thiên nhiên lấy sừng hoặc lấy ngà làm đồ chơi. 

Dĩ nhiên chúng tôi chỉ ngó cho vui mắt chớ hổng mua gì hết. Xem tới lúc không còn gì để xem, chúng tôi mới rời khỏi Stockman trở ra đường phố. Lần đầu tiên Ama tới Helsinki, nhìn cảnh xe điện chạy trên đường, người đi bên phố nó trầm trồ khen:

– Ở đây xe cộ nườm nượp nhưng trật tự, người ta đông đúc nhưng hổng thấy xả rác rến trên đường.

– Không riêng gì ở Helsinki, vùng Scandinavi nơi nào cũng sạch và đẹp. Nhộn nhịp nhứt là bắt đầu cho những Đêm Trắng, khắp phố phường đâu cũng nghe tiếng nhạc.

– Nghe nói Đêm Trắng qua rồi.

– Ngày lễ của Đêm Trắng thì qua rồi, đêm nay mày chờ tới giữa khuya, ra ngoài boong xem thử, nếu thấy trời hổng tối đen thì đêm vẫn còn trắng.

– Vậy thì đêm trắng còn lâu mà, nghe nói những ngày này ở đây người ta thường hay tổ chức lễ hội.

– Không riêng gì người ta. Cỏ, cây, hoa, lá và muôn thú, chúng đã trải qua một mùa đông dài lạnh buốt. Khi nắng lên thì khắp nơi bừng sáng, dưới mặt đất hoa nở tốt tươi, trên cành cây lá non xanh, chim chóc nhảy nhót hót ca, hưu nai vui vẻ rượt đuổi nhau trong rừng và có lẽ chúng cũng có lễ hội riêng.

– Chú nói chuyện nghe vui quá.

– Tại hôm nay tao với mày gặp hên, nhằm trời mắng đẹp nên mày thấy cái gì cũng vui mắt và nghe gì cũng vui tai.

– Trước đây tui thường đi với người Hoà Lan, nhưng tụi nó chỉ biết chui đầu vô quán ba uống cho say xỉnh, rồi kêu tắc xi chở về, đi với họ hổng biết trời cao đất rộng là gì.

– Mỗi một người có cách sống khác nhau, mình nên tôn trọng.

Những ngày nắng đẹp, người ta thường vô những quán gần công viên hay ngồi uống cà phê dĩa hè quanh đó. Tôi định dẫn Ama qua dạo công viên Esplanade, nhưng khi lên dốc tôi mới hay đã ngang quảng trường Thượng Nghị Viện. Tôi chỉ tay lên Thánh Đường Trắng nằm trên bậc thềm cao bên kia con đường, nói:

– Nơi đây không gian rộng rãi, sạch sẽ, mày nhìn xem, lối kiến trúc nhà thờ trắng rất độc đáo, vừa hiện đại vừa cổ điển.

Nó trầm trồ:

– Ồ, đẹp quá chú.

Chúng tôi bước qua kia lộ đi về phía thánh đường, qua một sân lót gạch đá rộng, tới bức tượng trước sân. Ama khoái quá, đưa điện thoại qua nhờ tôi chụp hình cho nó. Sau đó chúng tôi đổi điện thoại nhau và tiếp tục vừa chụp hình cho nhau vừa leo lên những bậc thang. Một lát sau chúng tôi tới trước nhà thờ, khi nhìn xuống thấy mình ở trên những bậc thang khá cao, tôi và Ama ngồi xuống trên bậc thang cao nhứt, tôi mở ba lô lấy nước ra uống và bấm điện thoại xem lại hình đã chụp, tôi xóa mấy tấm hình không vừa mắt rồi ngước lên nhìn chung quanh. Rất nhiều người ngồi nghỉ, phần đông cúi mặt chăm chú nhìn vào điện thoại, có lẽ họ cũng như chúng tôi đương xem lại hình mới vừa chụp được. Vài người con trai, con gái ngồi đọc sách trên những bậc thang, trông họ nhàn nhã, đẹp đẽ và trí thức quá chừng. Tôi nói với Ama:

 – Theo thống kê của tổ chức Phát Triển và Hổ Tương Kinh Tế.  Phần Lan có tên trong mười nước học giỏi, và có nhiều bằng đại học từ những đại học danh tiếng thế giới. 

Ama liền nói:

– Người Phần Lan nhờ ăn cá nhiều nên thông minh.

– Ừ, tao cũng nghe nhiều người nói ăn cá nhiều thông minh, người Phần Lan thường ăn cá hồi, nhưng tao thấy trong thực đơn văn hoá ẩm thực của người Phần Lan, tính ra thì họ ăn cá ít hơn người In Đô và người Việt. Người In đô của mày và người Việt Nam của tao ăn từ cá lớn như cá mập, cá ngừ đại dương, cá nhỏ như lòng tong, ròng ròng, tôm, tép và cho tới con ruốc li ti đều đớp láng, nhưng con người thì ngu bỏ mẹ. Dân Phần Lan họ ăn cá, ăn thịt, uống rượu, sáng say, chiều sỉnh, tối quặt quà quặt quại, nhưng bình thường trông họ sáng láng, văn minh, tự tin hơn người In Đô và người Việt nhiều.

Ama cười hì hì  thì.

– Theo chú như thế nào mới là một dân tộc thông minh?

– Một dân tộc thông minh thì hổng phải chịu nhục, chịu nhã, ở đợ, làm mướn, trồng cần sa, bán ma túy, làm đĩ, làm điếm khắp nơi trên thế giới.

– Ừa, chú nói cũng đúng, nhưng tại chánh quyền hổng lo cho dân.

– Ờ… Chánh quyền Phần Lan hổng để đầu óc tính toán chuyện hối lộ, tham nhũng, vơ vét tiền bạc của dân nên họ hổng sợ dân chúng nổi dậy lật đổ, đảo chánh gì hết, nhờ vậy mà đầu óc họ sáng suốt để tính chuyện làm sao cho dân giàu, nước mạnh. Con người Phần Lan sống dưới một chế độ trong sạch, tự do, nhân bản, một đất nước an bình, trong một môi trường sạch sẽ, họ khỏi phải lo sợ chánh quyền đàn áp, đè đầu cỡi cổ, cướp đất, cướp nhà, nhờ vậy đầu óc họ sáng suốt hơn, thông minh hơn, học cái gì cũng giỏi và khỏi cần phải ăn nhiều cá.

Ama nín lặng ngó quanh, chợt day qua, nói:

– Hôm nay mình đi dạo thủ đô Phần Lan, xứ sở văn minh, so sánh với những nước còn lạc hậu làm gì?

– Cũng nên so sánh nước này với nước khác để học hỏi, rút kinh nghiệm, biết đâu tương lai mày làm tổng thống, có nhiều sáng kiến giúp đất nước của mày tiến bộ lên.

– Ha ha..Tui mà làm được tổng thống thì ở In Đô không còn đạo Hồi, chỉ cần dẹp hết thứ này thì người In Đô mới, tiến bộ và hết ngu.

–  A ha…Chánh sách khủng bố hả mậy? Nghe mày nói tao thấy cả trời In Đô máu me và bình địa. Giống xưa kia Thiên Chúa giáo tiêu diệt ngoại giáo vậy.

Chúng tôi cười ha hả làm những người ngồi gần cũng ngước lên nhìn. Tôi nói với nó:

– Những người sống trong những quốc gia thanh bình, họ không có ý bạo động, con người nhân bản lúc nào cũng nhã nhặn và lời lẽ luôn ôn tồn.

Nó uống xong ngụm nước và nhìn qua tôi:

– Tui thấy chú hổng có ý bạo động.

– Sống hơn ba mươi năm trên những đất nước thanh bình tao có hơi đỡ một chút, nhưng còn phải tập tành nhiều lắm. Những chuyện tiêu cực đã xảy ra hàng ngày trên thế giới cũng dư thừa rồi, bạo động thêm nữa làm gì.

– Có lẽ tui cũng phải tập theo chú. Tui đi nhiều nước Âu Châu thấy đất nước người ta không nói nhiều về tôn giáo và lễ hội vui vẻ và rất bình thường hổng có chen vào chuyện dị đoan mê tín như người bên Châu Á. 

– Người Âu Châu cũng có dị đoan chớ mậy. Ở Phần Lan có lễ hội Juhannus, một ngày lễ có tính cách quốc gia, được tổ chức vào thứ Bảy, từ ngày hai mươi tới ngày hai mươi sáu tháng bảy. Trong những ngày này khắp nước trang hoàng nhà cửa, người ta bện lá bạch dương thành vòng tròn treo trên vách phía trước và trước cửa nhà trưng bày nhiều loại hoa. Bên các bờ hồ, bờ biển những đống lửa lớn được đốt bừng lửa ngọn, người Phần Lan tin tưởng làm như vậy để xua đuổi ma quỷ, đây cũng là một tập tục có tánh dị đoan.

– Nhưng tui nhìn thấy hổng có cảm giác gì là magic hết…

– À, tao hiểu mày nói gì rồi. Hổng magic là vì ở bên này người ta đuổi ma quỹ đi và lễ lạc xong rồi thì người ta dọn dẹp sạch sẽ. Còn bên Á Châu thì người ta rước ma quỹ về nhà lập bàn để thờ phượng, lạy lục xin xỏ nọ kia và sau khi lễ hội, tiệc tùng xong hổng chịu dọn dẹp, để lại một đống rác bầy nhầy nên mày thấy bát nháo vậy thôi.

Ama nhìn vô điện thoại, ngước lên nói:

– Hôm nay tám tháng Sáu, hai tuần sau tàu mình trở lại thì đã tới lễ Juhannus rồi, tui với chú đi chơi nữa hén.

 – Dĩ nhiên, phải đi cho biết.

– Chú biết nhiều rồi. 

– Biết thì làm sao cho nhiều được, nhứt là chuyện đã qua nó khác hơn chuyện bây giờ.

– Nhưng nghe chú nói, tui thấy chú rành nơi đây lắm.

–  Mười mấy năm trước tao đi tàu hàng trong vùng Scandinavi này, công việc nhàn nhã lắm. Dạo đó mỗi lần nghé Helsinki tàu đậu lại cả tuần lễ, giờ rảnh tao đi tùm lum. Cho tới nay đã qua nhiều năm nhưng tao vẫn còn nhớ ở ngoài biển gần Helsinki có một đảo nhỏ tên là Seurasaari được nối với đất liền một cây cầu bằng ván dài chừng hai trăm thước. Đảo là một khu vực giải trí, thường thì những người có tiền ra đó mua đất cất nhà nghỉ mát. Ngoài đó người ta ăn mừng lễ Juhannus rất long trọng, các sân khấu dành diễn kịch, chơi nhạc, biểu diễn múa lúc nào người cũng đông, cũng như những nơi khác trong Phần Lan, một đống lửa lớn được đốt lên trên bờ biển. Mùa hè nơi đây cũng là mùa khoai tây, hoa, trái và nhiều loại cá được các đầu bếp chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, mọi người cùng nhau ăn uống, nhảy múa, ca hát và vui chơi suốt những ngày nghỉ hè.

– Chắc phải đi ra đó chơi cho biết chú.

– Tao nghĩ mình đi tàu container không có thời gian nhiều để đi xa đâu, ngoại trừ tự bỏ tiền đi du lịch.

Chợt điện thoại reo, Ama cầm lên xem rồi đưa qua cho tôi.

– Thuyền trưởng gọi chú nè.

– Ông ta gọi là không có chuyện tốt đâu.

Tôi bấm máy nghe, thuyền trưởng cho tôi biết thêm một cần cẩu cất hàng, tàu khởi hành khoảng tám giờ, ông biểu chúng tôi phải về tàu sớm.

Tôi trả lời:

– Yes Sir! Chúng tôi sẽ về tàu trước tám giờ.

Tôi nhìn đồng hồ trên mặt điện thoại day qua nói với Ama:

– Mới đi chút xíu mà đã hơn năm giờ rồi. Tao với mày vô bên trong thánh đường chụp vài bôi hình, xong rồi đi qua công viên Esplanade dạo chơi một lát, tìm chỗ nào ấm áp ngồi uống vài ly bia và sau đó trở về tàu là vừa.

Lưỡng lự một chút, Ama nói:

– Tui muốn trở lại trung tâm mua sắm hồi nãy.

– Mày muốn trở lại Stockman mua dao găm và cái nón hả?

Ama cười:

– Được không chú?

– Dĩ nhiên là được, đây là xứ tự do mà, nhưng bây giờ mình phải vô trong thánh đường chụp vài bôi hình kỷ niệm.

Bên ngoài thánh đường bề thế, bên trong chạm trổ tinh vi, vài bức tượng của những bật Thánh được âm trong tường, một chiếc bàn và một thánh giá để trước chỗ linh mục đứng giảng, không gian lại rộng rải, người ra vào hơi nhiều nhưng không chật chội xô bồ xô bộn. Chúng tôi đi theo dòng người vô trong, khi nhìn thấy chánh điện, Ama liền bước nhanh tới đứng cùng với mấy người chắp tay cầu nguyện. Ama làm xong thủ tục cầu nguyện, day lại cùng tôi chụp mấy bôi hình, sau đó chúng tôi trở ra và đi ngược lại trung tâm mua sắp.

Vào Stockman, Ama liền vô ngay hàng bán đồ thủ công nghệ lấy chiếc dao rồi đi qua hàng nón lấy lên chiếc nón kết có thêu chữ Finland và hình con nai lên săm soi, hình như nón kết là một loại trang sức có giá trị cao của thanh niên In Đô nên thường thấy lúc nào họ cũng chọn mua loại mắc tiền, có người mua sáu bảy chục euro một cái nón kết. Ama day qua tôi hỏi:

– Chú có hai chục euro cho tôi mượng không?

– Dĩ nhiên.

Tôi móc bóp nhưng không có tờ hai chục, tôi đưa cho nó tờ năm chục.

– Mày trả tiền rồi đưa lại tao ba chục.

Không do dự nó lấy chiếc nón và con con dao đi lại quày, đứng sắp hàng tính tiền. Khi ra khỏi trung tâm thì giờ giấc lỡ cỡ hết rồi, đi dạo không đủ và nếu đi xe điện trở xuống tàu thì sợ trể. Thấy chiếc tắc xi trờ tới, không do dự gì ráo, tôi liền đưa tay ra chận. Khi chúng tôi lên xe, xe chạy được một đổi, Ama nhìn tôi cười trêu chọc:

– Chú nói chú hổng đi tắc xi mà.

– Ê, đây là trường hợp khẩn cấp, nếu hổng đi tắc xi thì tao với mày phải bay qua Bosnia hay Litunia xuống tàu.

Tôi chỉ tay qua gói đồ nó để trên bắp đùi, nói:

– Có mày kìa, mày nói, Kijken kijken niet koppen, nhưng cuối cùng cũng mua hết năm sáu chục euro.

– Ha ha…tui là người In Đô chớ đâu phải người Hoà Lan chú.

Mùa hè có rất nhiều xe nước ngoài tới Helsinki, làm đường xá nơi đây chật chội. Tắc xi chạy một lát một dừng, mất trên cả giờ đồng hồ mới tới được bến cảng, tính ra trể hơn đi xe bus và xe đường hầm gấp đôi. Trong lòng tôi ấm ức vì tiếc phải trả tiền gấp chín mười lần đi xe bus và xe đường hầm, lại còn bị mất nhiều thời gian. Tôi ái ngại nhìn qua Ama, thấy nó không phàn nàn gì hết nên tôi cũng nín luôn. Tuy nhiên tôi rút ra được một bài học, lần sau trở lại Helsinki có cho tiền tôi, tôi cũng hổng leo lên tắc xi nữa.

Baltic 17-7-2015

 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Thiên nhiên ở Guyana

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Sep 2023

Những tháng mùa Thu, vùng biển Caribbean khi im lắng, lúc sóng vời vợi dâng cao. Vào những ngày trở gió, từng bầy cá chuồn như hàng ngàn cánh bạc bay lấp lánh trong ánh mặt trời. Mỗi lần tàu cán ngang bầy cá làm chúng giựt mình hốt hoảng phóng tua tủa và đáp trên boong tàu trắng vã. Thủy thủ đoàn sách xô ra lượm, làm sạch rồi đem vôi đưa cho đầu bếp.
– Bếp, chiên.
– Ô kê.
Trong lúc gã đầu bếp lấy xô cá đổ ra bàn rắc muối, tiêu lên ướp. Già Luis với Jony đi vô lựa một vài con tươi đem ra sau lái lấy dao lóc thịt ăn

 liền. Jony xin nước tương chấm cá. Thấy già Luis ngồi ăn cá sống, gã đầu bếp lột vài tép tỏi, cắt mấy miếng chanh trộn tiêu và muối để vô dĩa đem ra đưa cho già.
– Ông chấm với cái nầy ăn đỡ tanh miệng.
Già lắc đầu.
– Nature, nature.
Hai tiếng nature (thiên nhiên) đã nhập vào đời sống của già Luis từ thâm căn cố đế nào. Không cạo râu, không tắm rửa, không bận áo mỗi khi tàu đến vùng nhiệt đới, coi phim con heo, ăn cá sống đối với già tất cả đều là thiên nhiên, theo già thì động vật dưới biển rất nhiều loại ăn sống được chớ không riêng gì cá chuồn. Sáng ra là thấy già cởi trần mang chiếc dao găm ngang hông, bận chiếc quần Jean cắt ống cụt ngang đầu gối, viền ống bung chỉ tua tủa. Nhìn già Luis gã bếp nhớ tới lão Ernesto trong một truyện nổi tiếng của Hemingway. Trước đây một thế kỷ lão Ernesto cũng lênh đênh đâu đó trong vùng biển Caribbean mấy ngày đêm và có lẽ cũng ăn cá chuồn sống, vì vùng nầy chỉ có loại cá chuồn mới bay lên ghe lên tàu được. Quê hương già Luis ở vịnh Viscaya thuộc vương quốc Tây Ban Nha, suốt đời già sống trên biển nhiều hơn ở đất liền. Còn Jony người In Đô, trước kia có đi tàu đánh cá Nhựt Bổn nên học được cách ăn cá sống của Nhựt, nó có thể ăn một hơi nửa ký lô cá tuna sống chấm muster hoặc năm bảy con cá chuồn sống chấm nước tương vậy mà thịt bò bít-tết nó chê sống không dám ăn.
Rohadi cầm chiếc chày đâm tiêu đi ra đưa cho già Luis. Thấy hai người ăn cá sống, nó chỉ tay lên đầu lắc lắc, day qua nói với gã đầu bếp.
– Coi hai người khùng.
– Ai khùng? Gã đầu bếp hỏi.
– Hai người ăn cá sống.
– Thì đã sao?
Rohadi cũng không biết trả lời sao. Jony nghinh mặt hách dịch:
– Đ. m. sống trên đời một miếng cá sống cũng hổng dám ăn thì lấy tư cách gì mầy chê cười người khác.
Rohadi biết mình lỡ lời nên nó vội xin lỗi hai người. Nó dặn già với Jony uống ít thôi vì đêm nay tàu neo ngoài vàm sông Demerara thủy thủ phải chia phiên gác.
– Mày khỏi lo, có già Nature nầy thì không thằng ăn trộm nào dám bén mảng xuống tàu đâu.

Già vừa nói vừa cầm chày đâm tiêu dộng cộp cộp xuống boong. Chuyện thủy thủ đoàn canh gác mỗi khi tàu vô hải phận Guyana mới bắt đầu từ sau vụ trộm xảy ra chuyến trước. Sáng hôm ấy, lúc phương Đông vừa đâm mây ngang, chưn trời bàng bạc trắng và gió bấc phả hơi lạnh đều đều. Xa xa dải đất liền lờ mờ trong sương sớm, lốm đốm vài ánh đèn nấn ná như chưa muốn chia tay với ánh bình minh. Hoa tiêu hướng dẫn tàu chạy chầm chậm vô vàm. Đầu bếp đứng trên boong phía sau tàu, đây là chỗ đứng lý tưởng của gã mỗi khi rảnh việc, buổi sáng cũng như buổi trưa, buổi chiều và buổi tối, chỉ có chỗ nầy gã mới bình tâm nhìn được cảnh vật chung quanh. Nước trong sông Demerara đổ ra pha nước biển gân lên màu cẩm thạch, tàu đạp nước vẽ lên hai lằn bọt trắng dài tít phía sau. Chợt nhiên từ trong làn sương mờ đục hiện ra một chiếc ghe gắn máy chạy theo sau lái. Người đứng trước mũi ghe cầm đoạn dây đầu có móc, quây vun vút và quăng đầu dây phóng thẳng lên boong, hắn kéo sợi dây cho chiếc móc móc chặt vô thành tàu, lập tức ba người con trai ốm nhom như ba con khỉ đu dây leo thoăn thoắt leo lên boong. Đầu bếp hốt hoảng chạy vô mui, quay điện thoại lên phòng lái.
– Báo cáo thuyền trưởng có ăn trộm lên tàu!
Thuyền trưởng báo với hai tên gác tàu. Hai tên gác tàu chạy ra bắn hai phát súng cũng vừa lúc chiếc ghe tháo dây vạt ra và nhấn hết ga vọt biến hút trong đám sương mù.
Mọi chuyện xảy ra chưa đầy mười lăm phút. Già Luis ra sau kiểm điểm đồ đạc, mất hai cuộn dây cột lái và một cái mô-tơ cuốn cầu thang, già lên phòng lái cự nự thuyền phó sao không cho người canh phía sau lái, vì già đã cảnh cáo trước ở vùng Nam Mỹ nầy trộm cướp như rươi. Già xồng xộc đi xuống hằn học với gã đầu bếp. 
– Tại sao thấy ăn trộm mà mầy không chạy ra phang nó.
Thấy già Luis hầm hì như muốn ăn tươi nuốt sống đầu bếp. Gã day qua nhìn già cười một cái và chỉ ngón tay thẳng lên trán già:
– Ông già khùng! Trong lúc ăn trộm đương hành nghề, chỉ có những thằng điếc không biết sợ súng mới dám chường đầu ra lãnh đạn, dây và máy mất bảo hiểm bồi thường cho công ty đầy đủ, chớ còn nhân mạng của những tên thủy thủ mạt rệp như bọn mình bị ăn trộm đâm hoặc bắn chết, may mắn còn được cái xác liệm trong cái hòm loại rẻ tiền đem về cho vợ con ở nhà lãnh.
Nghe gã đầu bếp xối xả một tràng, gương mặt hầm hừ của già đột nhiên biến mất, già gãi gãi lên mỏ ác, chỗ không có tóc, tươi cười: 
– Xin lỗi, mới bảnh mắt ra gặp nhiều chuyện, giận quá tao quên. 
Già chìa tay ra: 
– Cho tao chai bia.
Đầu bếp mở tủ lạnh lấy bia khui nút đưa cho già, già cầm chai bia ngước cổ tu một hơi hết sạch. Bỏ chai vô thùng rác già nói: 
– Tàu sắp sửa bỏ neo.
Neo tàu xong thuyền trưởng ra lịnh. Bắt đầu từ bây giờ, mỗi khi tàu vô vùng nầy thủy thủ khỏi phải cạo sét sơn tàu, mỗi người chia phiên canh gác. Trước tới giờ thủy thủ đoàn thường xuyên thực tập cách phòng chống khi tàu cháy hoặc rời tàu khi chìm nhưng không có thực tập cách đề phòng trộm cướp vì vậy mạnh ai nấy tự nghĩ ra cách bảo vệ tàu. Lúc khẩn cấp thủy thủ phải dùng gậy gộc, dao găm, cán chổi làm vũ khí.
Hôm tàu trở lại Houston, thuyền trường đi mua sắm thực phẩm với gã đầu bếp trên chợ Việt Nam. Ông thấy cây chày đâm tiêu đầu bự, đầu nhỏ vừa nắm tay ông liền mua hai cái đem xuống tàu. Già Luis khoan đầu nhỏ của chiếc chày một lỗ và sỏ ngang một sợi dây da vừa ôm cổ tay để phòng khi đập ăn trộm chày khỏi vuột. Đêm nay thủy thủ bắt đầu xử dụng vũ khí bằng chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam được già Luis cải tiến.
Chiếc Elsa vô tới hải phận Guyana lúc năm giờ sáng. Thuyền phó đánh thức thủy thủ đoàn dậy chuẩn bị đón hoa tiêu. Tàu vô tới làn nước đục thì chiếc ghe chở hoa tiêu cũng vừa cặp lại. Có lẽ vì còn ngái ngủ nên thủy thủ đoàn thả thang dây ẩu tả sao đó để thang tuột làm hoa tiêu té xuống nước mình mẩy ướt như chuột lột. Gã hoa tiêu tức giận mặt hầm hầm đi vô tàu tìm phòng thay quần áo. Thuyền phó bị thuyền trưởng chửi, thuyền phó chửi lại thủy thủ đoàn, thủy thủ đoàn xanh máu mặt, thằng nầy đổ lỗi cho thằng kia và cãi vã nhau chúy choé. Tháp tùng với hoa tiêu có hai người chịu trách nhiệm gác tàu, một người mang túi quần áo, một người mang cây súng trường lót tót theo sau.
Tàu neo ngoài vàm chờ tới trưa nước lớn mới nhổ neo chạy vô Linden. Sông Demerara khúc ngoài sâu và rộng thênh thang, càng vô trong sông càng cạn và hẹp đủ để hai chiếc tàu buôn loại lớn chạy ngược chiều nhau. Thuyền phó đem máy quay phim ra quay cảnh. Hai bên bờ sông, cây thốt nốt và trúc xanh mọc hoang xen lẫn trong rừng cây tạp nhạp. Cách khoảng theo tán rừng những ngôi nhà sàn sơn xanh sơn đỏ, phía sau nhà chuối, dừa và vườn rau được nhà nông trồng ngay hàng thẳng lối. Mặt sông phẳng lặng, nước đục phù sa, vài đám lục bình, rác rến hững hờ trôi. Những hàng đáy được cắm vững vàng day miệng theo chiều con nước ròng, nước lớn. Những cô gái bận áo quần nhiều màu sắc ngồi sau lái cầm dầm bơi trên những chiếc xuồng con sơn màu xanh dợt, chầm chậm xuôi ngược hai bên mé nước cạn hoặc những chiếc đò gắn máy trong lòng khoang chạy tà tà và nhiều xuồng thon dài gắn máy phía sau phóng nhanh như ca nô phả sóng trắng xóa. Con nít trên xóm đứa lội, đứa bơi xuồng ra giữa dòng giơ tay vẫy vẫy. Thủy thủ trên tàu cao hứng gói kẹo, bánh, nước ngọt trong bọc ni lông liệng xuống nước. Đám con nít bơi theo tranh lấy những gói quà, chúng la ó vang dội khắp mặt sông.
Tàu ghé cảng Linden lúc mặt trời sắp khuất xuống ngọn cây. Bến cảng nằm bên bờ sông vừa đủ đậu một chiếc tàu, sàn lót ván dầy, không có kè đá, người ta cắm cây xúc bên ngoài cho tàu cặp và dây được cột lên những cột trụ bắt dính vô mặt sàn. Không có cần cẩu nên trông bến trống trơn. Trên bờ hai dãy nhà thiếc nằm nép mình bên rừng cây tạp nhạp có nhiều lá vàng chen lẫn trong khối lá tươi xanh, xa xa trên dạng rừng, nền trời hiện lên màu máu đỏ. Từng bầy chim trời kéo nhau bay về chỗ ngủ, chỉ còn lại bầy diều hâu còn nán lại trên sông, dang đôi cánh rộng thả lơ lửng lưng trời như điểm tô cho dòng sông thêm phần hùng tráng.
Trời nhá nhem tối, hai chiếc đò dọc chở đầy đàn bà và con gái cặp vào chiếc Elsa. Hai anh gác tàu thòng thang dây xuống cho các cô lần lượt leo lên. Một lát sau các bà các cô da đen và da nâu đứng đầy nhóc phía sau lái tàu. Thuyền trưởng hào phóng mở kho rinh lên ba thùng bia và hai thùng nước ngọt. Thủy thủ đoàn góp bia và rượu thêm vào chất thành một đống. Gã đầu bếp cắt phó mát, hâm xúc xít bày ra. Nhạc được mở lớn và mọi người đứng vòng tròn, khui bia lốp bốp mời nhau, các cô gái da đen bóng lưỡng mỗi khi cười nhe hàm răng trắng nhách. Các cô gái khởi động uốn éo theo điệu vũ khỏa thân, vạch ngực trần, vén đùi cao, ôm các anh cọ xát thân hình. Già Luis ở trần giơ tấm thân đầy lông lá, râu ria phủ gần hết gương mặt. Già đi tới đi lui, rờ mông cô nầy, bóp vú cô kia, coi mòi già xông xáo còn hơn đám trẻ. Thủy thủ đứa tóc dài chấm vai, đứa đầu tóc bù xù, đứa cạo đầu trọc lóc mặt mày thằng nào thằng nấy đã nhuộm màu thiên nhiên rừng rú. Khỏi cần đốt lên nhóm lửa hồng, giữa ánh đèn điện vàng vọt, trông họ giống dân da đỏ cắm trại giữa rừng trước đây vài thế kỷ.
Sau khi lo cho đám thủy thủ xong xuôi thì đêm cũng dần lên, gã đầu bếp tách ra khỏi đám tiệc, gã cầm chai bia leo lên boong sau lái đứng nhìn ra dòng sông. Trên sông lấp lánh ánh đèn của một chiếc xuồng câu và rừng thấp im lìm trong giấc ngủ. Nhìn đèn nhà vườn leo lét theo những tán rừng dọc hai bờ sông, làm gã nhớ quê hương ray rứt. Lâu lắm rồi gã chưa về thăm giòng sông cũ, hổng biết trên dòng sông ấy các cô gái quê có còn bẽn lẽn vân vê tà áo thẹn thùng khi gặp người con trai lạ muốn làm quen. Cuộc sống lam lũ, mộc mạc nơi đó khác xa nơi nầy một trời một vực. 
– Bếp, tao kiếm mầy nãy giờ.
Đương vẩn vơ thả hồn về quê hương chợt nghe tiếng già Luis, day lại thấy già cũng vừa đi tới, gã hỏi. 
– Kiếm tui chi vậy? 
– Mày còn Whisky không? 
– Còn, ông cần hả. 
– Ừa, cho tao mượn một chai. 
Gã bếp ngước cổ đưa chai lên uống hết phần bia còn lại rồi liệng vỏ chai xuống sông.
– Ông theo tui.
Gã vô phòng lấy rượu đưa cho già. Cầm chai rượu già nói:
– Mấy con đĩ muốn uống rượu.
Gã nhướng mắt mỉm cười:
– Thì cứ cho nó uống nhưng ông thì uống vừa thôi.
Già cười hì hì nói: 
– Tao biết rồi. 
Thấy gã bếp ngồi xuống chiếc băng, già hỏi:
– Mày không xuống chơi sao? 
– Không, ông chơi đi tui hơi mệt rồi.
– Vậy thì ngủ đi.
Già Luis đi rồi gã bếp vô phòng tắm đánh răng, rửa mặt xong gã lấy quyển sách leo lên giường nằm đọc.
Mỗi lần tàu ghé Linden, sáng nào gã cũng pha một ly cà phê bưng ra sau boong đứng, vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm mây xám đâm ngang phía trời Đông, sương mù đọng trắng trên mặt của dòng sông và lan tỏa trên dạng rừng cây tạp nhạp. Trên tàu yên ắng, gã đứng nghe tiếng thú và chim rừng đánh thức, gọi nhau đi tìm mồi…
Sáng nay gã định xuống phòng bếp pha cà phê. Nhưng khi bước ngang phòng ăn gã thấy từ trên mặt bàn cho tới sàn tàu đầy nhóc lon bia và lon nước ngọt, mùi hôi hỗn hợp bốc lên nồng nặc. Trong đám ngổn ngang bừa bộn và hôi hám, có một người con gái trẻ bận áo thun đỏ, cổ rộng xệ một bên ngực, bày ra gần hết chiếc vú căng tròn, cô bận chiếc váy màu đen, chiếc giỏ nhựa màu ngà mang trên vai thòng xuống khỏi bắp đùi, cô ta ngồi trên ghế, mặt ngước lên trần, miệng há hốc ngáy khe khẽ. Cô gái của miền sông nước Guyana mũi cao, mắt đen, chưn mày đậm, da nâu, lông tay, lông chưn rậm rì và cặp giò dài tỏa ra một sức sống mạnh mẽ và hứa hẹn những cuộc truy hoan không mệt mỏi. Ở bên Âu châu thân thể nầy phải đặt trong căn phòng kiếng có đèn màu hồng mờ mờ, nệm, gối thơm tho, kẻ nào muốn thử một lần cho biết, phải mất từ trăm Euro trở lên. Thường thì các cô xuống tàu đứng cho các anh chọn, cô nào hổng được chọn có thể ngồi lại ăn nhậu tới mãn tiệc rồi về. Không hiểu vì sao hôm nay sót lại một cô nằm trong cái đám ngổn ngang hôi hám như vầy.
Gã đi vô lắc lắc chiếc vai trần tươm mồ hôi rin rít của cô gái:
– Hello, hello, good morning, good morning!’
Cô gái giựt mình đưa tay vừa dụi mắt vừa nói giọng nhừa nhựa. 
– Buồn ngủ quá. 
– Sáng rồi, cô về nhà ngủ đi.
Cô gái mở mắt hổng lên, giọng lè nhè. 
– Nhưng tui mệt quá.
Gã phân vân, hổng lẽ để cô ta ngủ ngồi giữa ban ngày ban mặt trong phòng ăn như vầy coi kỳ quá, gã nói. 
– Cô lên phòng của tôi ngủ đi.
Cô gái đứng dậy mặt đờ đẫn giọng ngái ngủ:
– Phòng ông ở đâu? 
– Chờ tui một lát.
Gã lên phòng, lấy bóp tiền nhét túi quần, đồ đáng giá và máy móc dồn hết vô tủ khóa lại. Gã trở xuống kêu cô gái: 
– Đi theo tui.
Sau khi đưa cô gái lên phòng gã trở xuống bếp, trong lúc pha cà phê gã mới giựt mình, nhớ lại hồi mới đổi về tuyến đường nầy, mỗi lần ghé đây, đên khuya gã thường bị đánh thức bằng tiếng gõ cửa, gã không bao giờ mở. Đến khi các cô hè nhau đập cửa rầm rầm, buộc lòng gã phải mở cửa ra năn nỉ các cô đi chỗ khác, nhưng các cô cứ nằng nặc đòi gã cho vô. Các cô nói, chỉ ngủ thôi hổng làm gì cũng được. Nói chơi không! Gã thừa biết các cô vô được rồi đâu có để gã nằm yên ngủ một cách dễ dàng. Năn nỉ không được, cuối cùng gã phải lo lót thuốc lá và bia rượu cho tên gác tàu, nhờ hắn ta can thiệp dùm. Ấy vậy mà có khi nào gã ngủ được một giấc cho ngon, chốc lát lại nghe tiếng giựt nước rào rào, tiếng cười, tiếng nói, tiếng la oai oái, tiếng chưn rầm rập giống y như chó rượng đực tháng bảy. Hôm nay mắc chứng gì gã đem lòng tốt ra đối xử với cô gái nầy. Rước cô ả vô phòng rồi làm cách nào trục ra đây. Trong lúc miên man lo tới cái hậu quả không lành có thể xảy ra thì già Luis từ trên phòng lộp cộp đi xuống. Già nhìn vô phòng ăn thấy giống như kho chứa đồ phế thải, già đưa nắm tay kẹp ngón cái vô ngón giữa làm dấu tục gặt gặt, già chửi thề:
– Goddamn! biết ăn nhậu, biết làm tình nhưng không biết dọn dẹp. 
Gã bếp nhìn già lắc đầu: 
– Thôi ông à, lâu ngày lênh đênh trên biển, ghé bến được vài ngày cho tụi nhỏ xả hơi với chớ.
Nói là nói vậy, thật ra gã thừa biết hồi hôm cái mặt râu của già cũng có tham dự trong cái đám xô bồ xô bộn kia. Gã rót cà phê ra hai tách, bỏ đường, sữa rồi đưa qua già một tách. 
– Mình ra sau lái ngồi uống cà phê đi, tới giờ làm việc bắt tụi nhỏ dọn dẹp năm mười phút xong ngay.
Vừa bưng tách cà phê đi theo gã già vừa càu nhàu. 
– Chỉ có hai thằng già mình lo, chớ tụi nó mà lo cái gì.
Già Luis lớn hơn gã một gần một con giáp, thân thể già sắp bệ rạc, đã vậy còn mang bịnh ghiền rượu. Mỗi khi say già nói năng bậy bạ làm đám trẻ coi thường, chúng đòi đập già hoài. Hồi tàu mới ghé, già cá với bọn nhỏ, thằng nào cắt được lông háng của mấy đứa xuống tàu già thua một kết bia, bằng không thì mỗi thằng chung già một kết. Hôm qua tụi nó đem lông lại đòi bia. Già nói không phải lông thiệt già không chịu chung. Tụi nhỏ hăm he đòi thủy táng già. Thấy vậy gã đầu bếp mới lấy bia của gã đưa cho tụi nó, nhưng tụi nó không lấy. Gã kêu tụi nó tha cho già phen nầy. Thật ra thì tụi nhỏ hù già chơi cho bỏ ghét, chớ chúng cũng thừa biết bia rượu già mua hàng tuần hổng đủ cho già uống thì lấy đâu già chung. Nhờ được bọn trẻ thương nên chúng chịu lắng nghe gã. Già biết vậy nên mỗi lần gây chuyện với xắp nhỏ già vô phân trần với gã để gã dàn xếp với chúng. Nhìn già giống y như người tiền sử. Gã bếp nói. 
– Từ mặt mày cho tới mình mẩy ông lông phủ đầy, chỉ trên đầu bị sói, ông định lấy lông của mấy con đĩ gắn lên cho hết sói hả.
Đã vậy già còn ngoan cố đứng giải thích cho gã đầu bếp nghe giữa lông dưới háng và tóc của đàn bà khác nhau như thế nào. Già quả quyết mấy đứa nó chơi gian, không muốn chung bia mới cắt tóc của mấy con nhỏ đem lại gạt già. Đến một nơi đĩ điếm lúc nào cũng sẵn sàng, ai có tiền bỏ ra muốn làm gì trên thân xác các cô cũng được. Trong lúc làm tình tụi nhỏ chụp hình, quay video đủ cách đủ kiểu, huống hồ chi lấy kéo cắt vài ba nhúm lông. Tuy nhiên gã đâu lạ gì cái tánh cãi bướng rất nature của già nên chẳng cần đôi co với già làm gì.
Tánh thiên nhiên của già không thể nào gần gũi được đám trẻ nên già mới đeo theo gã bếp. Để cho có tình thân, già thường dùng câu ‘hai thằng già mình’ mỗi khi nói chuyện. Gã bếp day qua nói với già: 
– Nhưng mấy thằng nhỏ cũng đâu có thằng nào được khỏe. 
– Có sướng thì có mệt. 
– Dĩ nhiên, nhưng hồi trẻ thì mình cũng vậy thôi ông à.
Chợt nhiên già day ngang nói: 
– Hồi nãy tao thấy mầy dẫn một con vô phòng.
Gã đầu bếp chỉ tay vô cái đống xô bồ xô bộn trong phòng ăn, nói:
– Thấy ả ngủ ngồi trên cái đống rác kia, tui mới kêu lên phòng cho ngủ nhờ. 
– Tao trông con nhỏ cũng được mắt. 
–Đẹp, chớ được gì, mấy thằng nhỏ bộ xỉn hết rồi sao mà hông lấy con nhỏ bốc lửa. 
– Say khướt còn biết đẹp xấu gì nữa. 
– Ông thấy nó đẹp thì cứ tự nhiên đem nó về phòng. 
Già đưa một ngón tay lên giữa miệng: 
– Suyt! Mầy đừng nói với ai.
Gã đầu bếp đương suy tính làm cách nào để tống khứ cô gái, nhân cơ hội nầy gã chộp ngay: 
– Được rồi, trưa nay ông đem cô ta về phòng mặc sức cho ông cạo lông mà chẳng tốn lon bia nào. 
Già cười sằng sặc làm hàm râu quai nón của già run run.
Suốt buổi sáng gã đầu bếp nấu nướng phân phát đồ ăn cho hơn hai chục mạng làm gã mệt đừ, mồ hôi hột đổ ra ướt hết chiếc áo thun. Gã lên phòng thấy cô nhỏ đã thức từ hồi nào, cô nhỏ mới vừa tắm, đầu tóc còn ướt, bận chỉ có chiếc áo thun và quần lót, trời nóng nực, trông cô nhỏ mát mắt liền. Cô ta ngồi bên bàn phì phèo thuốc lá. Thấy gã vô cô ta than đói bụng. Gã xuống múc cơm và thịt đầy một dĩa đem lên đưa cho cô gái. 
– Nè, cô ăn xong rồi đi qua phòng ông Luis. 
– Không. 
– Sao vậy? Cô không cần tiền à? 
– Ông Luis hôi rình. 
– Ông ta là người của thiên nhiên nên không cần tắm rửa, cô đem ổng vô phòng tắm rửa sạch sẽ ổng trở lại thơm tho chớ gì.
Cô gái đưa ngón tay trỏ ra dấu quặt lên quặt xuống: 
– Nhưng con “gà cồ” của ổng không ngóc nổi. 
– Sao cô biết? 
– Hồi hôm tui ở phòng ông ấy.
Té ra hồi hôm già đem con nhỏ vô phòng, vậy mà sáng ra già tỉnh khô làm bộ không biết gì hết. Thật ra thì nghề làm đĩ xứ nào cũng có, ở đâu cũng vậy, hễ rớ tới đĩ thì phải sòng phẳng chuyện tiền bạc. Nhưng đĩ điếm xứ nầy xuống tàu ngoài chuyện kiếm ăn, kiếm uống, kiếm tiền còn đòi phải thỏa mãn dục vọng nữa. Bệ rạc như già lại thêm tật ghiền rượu, bữa ăn nào thiếu rượu tay, chưn già run bần bật đến đỗi cầm nĩa xỉa thịt đưa lên miệng, miếng thịt không vô miệng mà trợt lên gò má. Lậm rượu tới mức đó ôm con gái chơi cho đỡ thèm chớ làm ăn được khỉ khô gì.
Thủy thủ nào thường đi tuyến đường Nam Mỹ cũng nghe câu chuyện về một anh thủy thủ, say rượu quắc cần câu không đáp ứng tình dục cho cô gái. Cô ta nỗi khùng lên giữa khuya lấy dao lắt cu anh nọ liệng xuống sông. May cho già Luis, gặp cô nhỏ nầy còn hiền nên bỏ xuống phòng ăn ngủ, chớ phải tay cô gái trong câu chuyện vừa kể thì chắc chắn cái “củ từ ” của già bị cắt liệng xuống sông cho cá rỉa. Chuyện thường đem kể trên hội quán hoặc lúc nhậu nhẹt để đưa cay. Tuy nhiên khó mà lường trước được trong đêm đương ngủ, chợt giựt mình đau đớn với máu me đầy háng. Sau khi xe cấp cứu chở vô nhà thương băng bó, sáng ra biết mình đã trở thành thái giám bất đắc dĩ. Nghĩ tới đây cũng đủ ê ẩm hạ bộ rồi. Gã nói với cô gái. 
– Tui cũng như ông Luis vậy thôi, tui già rồi.
Gã day ngang mở tủ lấy khăn, áo sửa soạn đi tắm, cô gái bước tới vừa thoa thoa hai bàn tay vô cặp mông của gã vừa nói. 
– Tui tắm cho ông. 
– Không được, cô làm ơn ăn cơm xong rồi đi dìa cho tui còn nghỉ ngơi.
Gã đẩy cô gái ra, đi vô phòng tắm đóng cửa, khóa lại.
Tắm rửa thay quần áo xong trở ra. Gã thấy dĩa cơm còn nguyên trên bàn còn cô nhỏ thì nằm trần truồng trên giường. Thấy gã cô gái liền quỳ lên tay thoa cặp vú, tay vuốt chùm lông đen mượt quăn queo phía dưới bụng, thân hình uốn éo mặt ngước lên khiêu gợi giống y như mấy cô gái ngồi trong mấy cái sex-shop. Cô chồm qua ôm gã. Gã giựt mình đưa tay chống đỡ vô tình chạm phải trái ngực mềm mại và không tránh được cái hôn bất ngờ. Sẵn trớn cô ta câu cổ gã cứng ngắt. Gã đẩy cô gái ngồi xuống giường, nâng cằm cô gái, nhìn thẳng vào đôi mắt đen huyền, chưa kịp mở lời thì bất thình lình cô gái ngã người ra sau, kéo gã trườn tới, nguyên người gã ngã sấp đè lên mình cô ta. Lập tức tay phải cô câu cổ gã, tay trái nắm kéo tay gã nhét vô giữa háng. Gã vội rụt tay về, cô gái ghì mạnh cho trở vô và kẹp chắc hai bắp dùi lại. Thân thể cô ta bốc lên hừng hực, miệng rên khe khẽ please…please… Muốn thoát khỏi cảnh thiên nhiên rừng rú không còn cách nào khác hơn giúp cô nhỏ qua cơn cháy bỏng. Gã đút mấy đầu ngón tay vô ngoái mạnh, tức thì cô gáy nẩy người bần bật, da thịt căn cứng, tay quờ quạng lung tung. Cuối cùng cô đê mê không còn biết trời trăng gì nữa, mặt mày nhăn nhó, mũi dún lại nhiều ngấn trong giống như loài sói rừng, tay bấu mạnh lên ngực cào cấu nổi lằn trên vú và miệng kêu ăng ẳng như chó con đói sữa. Tới đây gã bếp cảm thấy máu trong người chạy rần rần, mình mẩy nóng đổ mồ hôi, hơi thở đứt đoạn, da mặt căng và toàn thân như đồng loã với tiếng kêu của cô gái. Cùng lúc cô gái thét lên tột đỉnh thì những dồn nén lâu ngày trên biển của gã bếp cuồn cuộn tràn theo đương đạo ào ạt tuôn ra như nước xịt rửa boong tàu….Giúp cô nhỏ xong gã ê ẩm cả người. Gã đứng lên đi vô phòng tắm lấy xà bông rửa tay và rửa sạch cái “ngã” đã làm nhớp nhúa chiếc quần lót mới thay. Khi gã trở ra, cô gái ngồi dậy đến bên gã rờ rẫm, hỏi dò. 
– Ông không làm gì thiệt sao? 
– Dĩ nhiên là không. 
– Tại sao? 
– Tui không có gì cho cô đâu. 
– Không sao.
Cô gái đưa tay mò xuống dưới dạ bụng của gã. Gã đỡ tay cô gái. 
– Này cô nhỏ, tui không làm tình với cô được đâu.
Mặc kệ cô gái nài nỉ, gã lấy áo quần thẩy lên người cô ta. 
– Cô bận quần áo vô rồi đi dìa cho tui còn phải nghỉ ngơi.’
Coi mòi khó thuyết phục được gã đầu bếp, cô gái để quần áo lên băng, đứng dậy đi vô phòng tắm, không đóng cửa, tự nhiên ngồi xuống đái xè xè vô bồn cầu, xong cô ta xối nước rửa ráy mình mẩy. Trước khi ra khỏi cửa cô hỏi xin tiền đi đò. Khi cô gái đi rồi gã leo lên giường ngả lưng nằm thở một hơi dài, coi như xong cái của nợ. Gã nằm ngay ngắn và bắt đầu đều hoà hơi thở. Trong lúc mơ màng, gã chợt nhớ quên vặn đồng hồ báo thức. Gã vói tay lên đầu nằm quờ qua quờ lại nhưng chỗ để đồng hồ trống trơn. Gã lồm cồm ngồi dậy tìm vẫn không thấy, có lẽ cái đồng hồ đã đi theo cô gái mất rồi. Gã nằm xuống nhắm mắt, chợt nhớ lại hồi sáng nầy gã thấy cái giỏ xách da của cô gái xẹp lép, nhưng sao hồi nãy nó lại phình ra như có chửa. Gã nghi ngờ ngồi dậy lấy chìa khoá mở tủ. May quá, máy móc đồ đạc còn nguyên. Nhưng khi mở tủ trong phòng tắm thì xà bông gội đầu, bàn chải, kem đánh răng dự trữ và cái máy cạo râu đã được cô gái dọn sạch bách.
Sáng sớm hôm sau tàu khởi hành. Già Luis ngồi cú rủ trong phòng ăn mặt như thụng mất trong hàm râu quai nón, nhìn già giống như loài khỉ đột ở châu Phi, ai hỏi gì già cũng hổng trả lời mà gừ gừ trong cổ họng như chó gậm xương. Đợi mọi người ăn xong và ra boong làm việc, già bưng tách cà phê vô phòng bếp mếu máo nói với gã đầu bếp, hồi hôm ăn trộm vô phòng già; máy móc, đồng hồ và số tiền dành dụm mua computer cho con gái đã bị ăn trộm lấy hết. 
– Mất hết không còn một xu hùmm… m…
Già gầm lên như cọp gầm rồi khóc hu hu như con nít. Chẳng những gã đầu bếp không nói lời an ủi mà còn mỉm cười xỏ lá: 
– Ông cẩn thận lắm mà, chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam đâu sao hổng đem ra khệnh ăn trộm, tối ngày cứ lo nhắc người nầy, nhở người kia coi chừng trộm cắp sao ông không giỏi coi chừng đồ đạc của ông đi. 
– Bốp!
Bất thình lình già chọi tách cà phê qua ngang đầu gã va vô vách bể nát. Già vừa đi ra boong vừa chửi gã đầu bếp om xòm trời đất.
Ai tới đây trước sau gì cũng nếm mùi hở ra bị chôm, lơ là bị chộp ít thì dày, dép, nhiều thì đồ đạc đắt tiền. Người cẩn thận lúc nào cũng kè kè chìa khóa trong mình mà còn bị lừa huống hồ chi già, nhứt là khi uống rượu say để cửa phòng toang hoác, già thì nằm chò co trên băng nệm miệng há hốc ngáy khò khò, ai rinh già liệng xuống nước già cũng chẳng hay nữa.

Lần nào cũng vậy, tàu đậu vài ngày, khi ra khơi, đám nhỏ thằng nào cũng bị cháy túi, nhưng đối với chúng tiền bạc không thành vấn đề, miễn là được hưởng thụ. Trong lúc hưởng thụ thể xác của các cô gái chúng còn dùng máy chụp điện tử chụp chứa nghẹt mấy cái laptop và thu video sang ra đầy mấy cuộn băng. Diễn viên nữ trần trụi dang háng chổng mông, hình thù thì đen thui như tràm cháy, diễn viên nam say rượu quắt cần câu vậy mà cũng bày đặt hết kiểu nầy sang kiểu nọ cà hì, cà hục, cà trật, cà vuột đóng phim con heo mà thằng “cu tí” quặt quà quặt quại giống như con gà chết trong khung cảnh bừa bộn vỏ chai rượu và lon bia. Ánh sáng không đều, người quay thuộc loại tơ lơ mơ, ống kính lúc lướt qua bên nầy, khi sang bên nọ nhanh như xe lửa chay trên đường đèo, màn ảnh giựt giựt coi phát chóng mặt. Tác phẩm không đạt tiêu chuẩn phát hành. May ra còn ghi được cảnh sông nước thiên nhiên của Guyana mà thiên nhiên nơi đây thì giống y chang thiên nhiên ở quê hương của gã đầu bếp.

 Nguyễn Lê Hồng Hưng