Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by sƠn râu 15 Sep 2023

Bài 24 – Thăm Lại Chiến Trường

Một hôm có phái đoàn của Tổng Tham Mưu tới điều nghiên trận đánh, dẫn đầu là Đại tá Phạm Văn Sơn, nghe nói ông ta là giám đốc Nha Quân Sử.

Ông đến để thu thập tài liệu viết chiến sử cho trận đánh. Các sĩ quan khác thì lo nghiên cứu những kinh nghiệm có thể rút ra được từ những bài học quý báu của trận đánh lịch sử này.

Phái đoàn có ghé qua hầm cứu thương của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Đại tá Phạm Văn Sơn, người mà tôi đã nghe danh từ lâu. Đúng ra tôi đã biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi, khi tôi còn học tiểu học ở ngoài Hà Nội trước năm 1954. Khi đó gia đình chúng tôi chưa di cư vào Nam. Tôi còn nhớ một buổi chiều, mẹ tôi đi làm về, đưa cho tôi một cuốn sách thật dầy. Mẹ tôi nói:

– Này cho con đó, con đọc đi, hay lắm.

Tôi rất thích đọc sách. Từ thuở biết đọc đến giờ tôi chưa bao giờ có được một cuốn sách dầy như thế. Tôi vội giở ra thì thấy đó là cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử của Phạm Văn Sơn.

Tôi say mê đọc cuốn sách cả mấy tuần liền. Không những tôi đọc một lần mà tới nhiều lần. Tôi không nhớ là bao nhiêu lần. Tôi biết rành Việt sử là nhờ cuốn sách này. Từ ngày đó cho tới khi tôi học năm học chót của chương trình trung học, tôi không cần phải học môn Việt sử nữa, vì tôi đã thuộc cả rồi. Có nhiều đoạn, nhất là những đoạn văn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, hay bài Hịch Tướng Sĩ củaTrần Hưng Đạo cho tới bây giờ, đã mấy chục năm tôi vẫn còn nhớ nằm lòng.

Tôi nói với Đại tá Phạm Văn Sơn:

– Hân hạnh được gặp Đại tá ở đây. Tôi nghe danh Đại tá từ lâu rồi.

Chắc Đại tá ngạc nhiên lắm, nếu biết rằng tôi biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi.

Đại tá Sơn ngạc nhiên thật. Tôi thấy ông hơi mỉm cười nhướng mắt lên như dò hỏi, như chờ đợi lời giải thích câu nói của tôi. Tôi không đi thẳng vào vấn đề, mà đọc mấy câu trong bài Bình Ngô Đại Cáo cho ông nghe:

-Tượng mảng. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo.

Sau đó tôi kể lại trường hợp tôi được mẹ tôi cho tôi cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử, và tôi đã say mê đọc cuốn sách đó như thế nào. Đặc biệt là những trang ông viết về vua Hàm Nghi bỏ triều đình, ra Hịch Cần Vương chống Pháp; hay vua Duy Tân, vị vua trẻ tuổi, mới có 18 tuổi mà đã có lòng yêu nước triệt để chống Pháp, rồi bị tù đày ra đảo Reunion.

Đại tá Sơn nghe xong cười nói:

– Bác sĩ có trí nhớ hay quá.

Tôi vội hỏi:

-Thưa Đại tá, trong trường hợp nào ông đã viết bộ sử đó.

Đại tá Sơn nói:

– Tôi thực sự không phải là nhà sử học. Hồi đó tôi làm công chức cho ban Quốc phòng thuộc Phủ Thủ Hiến Bắc Việt. Vì người Pháp theo hiệp định Genève sẽ phải rút khỏi Việt Nam, chính quyền sẽ về tay mình, nên cấp trên có trao cho tôi nhiệm vụ viết một bản tường trình tóm tắt về lịch sử nước Việt, để làm sáng chính nghĩa quốc gia Việt Nam, làm căn bản cho cuộc chiến đấu của chúng ta. Sau đó mọi người đọc thấy được nên mới phổ biến rộng rãi, và cuốn sách đã được nhiều người biết đến. Đó chỉ là một cuốn tóm lược thôi. Sau này tôi có viết lại đầy đủ hơn gọi là cuốn Việt Sử Tân Biên. Không biết bác sĩ có đọc cuốn này chưa?

– Dạ thưa chưa. Tôi có nghe quảng cáo cuốn này hồi 1959, nhưng chưa mua xem.

Chúng tôi mải nói chuyện về sử Việt Nam nên những chi tiết về trận đánh này ông đã không có thì giờ hỏi tới. Sau đó ông phải rời Bình Long gấp vì trực thăng đã đến đón. Tuy nhiên những người tháp tùng với Đại tá Sơn đã có đầy đủ những dữ kiện rồi, nên ông cũng không cần phải làm gì thêm. Vả lại về phía Quân Y thì cũng không quan trọng bằng những đơn vị chiến đấu, đặc biệt là về những chiến thuật đã được thực hành để giữ vững An Lộc.

Khi phái đoàn Tổng Tham Mưu đi rồi, Thiếu tá Diệm tới rủ tôi:

– Ông Quý, đi một vòng chơi không? Tôi có xe Jeep đây.

Tôi nghĩ ông Diệm là tay cẩn thận lắm, nếu rủ tôi đi chơi một vòng như vậy, chắc là vòng đai an ninh của mình đã khá rộng, và an toàn. Tôi gật đầu chịu liền, nhân tiện tôi cũng muốn trở lại bệnh viện thăm một lần chót xem sao, vì biết nếu có đổi về Sài Gòn, tôi chắc cũng chẳng có cơ hội trở lại đây. Tôi rủ anh Phúc:

– Anh Phúc có muốn theo tụi tôi đi một vòng không?

Anh Phúc hưởng ứng liền. Thật ra ở mãi trong hầm cũng chán, bó cẳng lắm.

Anh nói:

– Đi chứ. Tôi cũng muốn trở qua bệnh viện xem anh em mình có cần gì không và tình trạng hiện giờ ra sao.

Thế là sau một tháng trời, tôi trở về thăm Bệnh Viện Tiểu Khu. Bệnh viện vẫn còn đó nhưng điêu tàn hơn trước. Hàng tên TY Y-TẾ, BỆNH-VIỆN BÌNH-LONG trên cổng đã bị mảnh pháo văng trúng nhiều lần làm rơi rớt cả năm, sáu chữ.

Chúng tôi nhảy vội xuống. Tôi đưa mắt nhìn quanh, cố ý tìm kiếm những khuôn mặt quen thuộc.

Tôi chỉ thấy nhiều khuôn mặt lạ, lẫn lộn với những anh em thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Bác sĩ Tích ở trong phòng nghe tiếng máy xe nổ, vội chạy ra, thấy tôi bèn ngoắc vào:

– Các anh vào trong này, đứng đây nguy hiểm lắm. Mấy ngày trước, tụi Việt Cộng đã chiếm được Ty Công Chánh ngay sau Phòng Mổ đó. Không biết bây giờ chúng đã rút đi chưa. Một Tiểu Đội Nhảy Dù đã được tăng cường tới đây để chận chúng, không cho tụi nó đánh sang bên này. Hai bên cầm cự mấy ngày liền, không bên nào dứt điểm bên nào. Tụi nó có những tên đặc công cảm tử bò qua ban đêm nhưng qua đứa nào chết đứa đó. Bên Dù cũng đã có ba người tử thương. Mồ chôn tại ngay sân bệnh viện đây.

Tôi nhìn anh Tích với anh Nam Hùng, thấy cảm thương cho hai anh đã phải trải qua những giây phút hiểm nghèo. Cái chết chỉ cách đường tơ kẽ tóc.

Tôi thở ra, nói:

– Có ai ngờ đâu các anh lại ở ngay tuyến đầu, cách địch chỉ có một con đường nhỏ. May mắn các anh không bị hề hấn gì. Thấy các anh bình an như thế này, tôi mừng lắm. Có lễ những giây phút nguy hiểm đã qua. Tụi mình sắp được đổi đi nơi khác rồi. Chỉ cần chịu đựng vài tuần nữa là khỏe thôi.

Anh Phúc cũng tiếp lời tôi, hỏi hai anh Tích và Nam Hùng:

– Ở bên Tiểu Khu đã phát lương cho binh sĩ. Bên Sư Đoàn đã có lương chưa, các anh?

– Có, tụi này mới lĩnh lương hôm qua. Nhưng anh thấy đó, cầm tiền cho vui vậy thôi chứ đâu có mua sắm được gì. Giờ đây, nhân có tiền lại được thảnh thơi một chút, tệ nạn đánh bạc bắt đầu xuất hiện. Nhiều đứa thua nhẵn túi. Cũng may, ở đây tiền chẳng còn giá trị mấy vì có gì để mua đâu. Đợi đến tháng sau lại có nữa, lúc đó chắc đã về hậu cứ rồi.

– Tôi thấy anh cũng nên can ngăn họ một chút. Đánh bạc chơi cho vui thôi, nếu cứ mê mải rồi đêm đến buồn ngủ không canh gác cẩn thận. Đặc công nó bò vào là chết cả đám.

Anh Tích gật đầu nói:

– Tôi cũng bảo họ thế. Một số nghe lời còn một số vẫn ham chơi.

Tôi đi ra cuối Trại Nội Khoa, nhìn ra sân ngăn cách trại này với Phòng Mổ và Văn Phòng Hành Chánh. Tôi thấy ba ngôi mộ nằm song song với nhau. Mỗi ngôi mộ đều có một mũ sắt Dù treo trên một cái cọc ngay trước mộ. Thấp thoáng trong phòng y tế, tôi thấy có những người lính Dù còn bố trí bên trong nhưng không căng thẳng lắm. Tôi đoán tụi địch bên phía Ty Công Chánh đã rút đi rồi. Tôi hỏi một người lính Dù gần đó:

– Chào anh, anh đóng ở đây đã lâu chưa?

– Thưa Đại úy được hơn hai tuần rồi.

Tôi dơ ngón tay chỉ về phía Ty Công Chánh, tiếp tục hỏi:

– Tụi Việt Công bên kia đường còn đó không?

– Tôi chắc tụi nó đã rút đi rồi, không thấy động tĩnh gì bên đó cả. Mấy ngày trước có máy bay tới dùng súng radar điều khiển bắn phá dữ dội lắm. Tôi nghĩ tên nào may mắn còn sống sót chắc cũng chém vè hết rồi.

– Vậy cũng đỡ lắm. Mình ở đây cũng được an toàn.

Tôi nhìn về phía nhà Bảo Sanh, thấy cũng có lính mình đóng chốt ở đó.

Tôi cũng yên dạ. Tôi muốn đi xuống Trại Ngoại Khoa của tôi xem có còn ai không. Tôi cẩn thận đi vòng ra phía trước rồi men theo hành lang đi lần vào lối phòng cũ của tôi. Trại bây giờ đây hoàn toàn hoang vắng. Hầu hết các phòng đều bị ăn đạn pháo kích, chẳng có phòng nào còn nguyên vẹn. Tôi ghé qua phòng bên xem người tù binh có sao không, chỉ thấy một bộ xương khô nằm trên giường, nơi cổ xương tay vẫn còn cái còng số tám khóa chặt vào thành giường. Thế cũng xong một đời người.

Tôi đi nhanh ra cửa lên chỗ đậu xe. Mọi người đã sẵn sàng trên xe, chỉ còn đợi tôi. Ông Diệm rồ máy chạy ra cửa, vừa khi ấy tôi thấy cô Bông hiện ra ở cửa sổ, chỗ phòng cô Bích cũ. Cô vẫn mặc áo màu xanh lá mạ tươi mát của mấy tháng trước. Tôi chỉ kịp ngoắc tay vẫy vẫy chào cô. Cô cũng vẫy tay chào lại, miệng mỉm cười. Tôi thấy cô vẫn mạnh khỏe là tôi yên trí và mùng cho cô. Cho đến giờ phút này mà vẫn còn cười được là tốt rồi. Chúng tôi không kịp trao đổi lời nói nào cả. Xe đã phóng ra khỏi bệnh viện, đi theo con dốc xuống công viên Tao Phùng rồi vào khu Chợ Mới.

Nơi đây cũng vậy, chỉ tháng trước đây khi tôi và bác sĩ Chí xuống thăm khu này, con đường giữa dãy nhà lầu và cái khung chợ vẫn còn rộng thênh thang. Nay đã bị hẹp lại vì một dãy mộ mới, chừng 13 cái nằm song song với nhau, trải dài theo dãy nhà lầu đó. Một tấm biển bằng gỗ pháo binh ghép lại. Trên có ghi một câu đối:

An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Tôi nghe nói câu này do một cô giáo làm ra. Cô là người được mấy anh Biệt Cách Dù cứu sống khi cô bị thương, gãy xương đùi. Cô được mang vào khu nhà lầu đó và được săn sóc bởi những anh Biệt Cách Dù. Chiều chiều, cô đã ngồi trong căn nhà lầu nhìn ra con đường trước mặt để cứ thấy từng ngày, cùng với mức độ giao tranh lên cao, những ngôi mộ mới của những anh Biệt Cách Dù, những ân nhân của cô tăng lên dần. Trong nỗi xót thương những người lính chiến quả cảm ấy, cô đã viết lên câu đối lịch sử này.

Xét về câu đối, tôi thấy hai câu này không hoàn hảo lắm. Nhưng cần gì. Những áng thơ hay thường thoát ra ngoài khuôn sáo tầm thường, gò bó của quy luật. Người ta đã không cần để ý tới hình thức nữa mà chỉ chú ý tới ý nghĩa, nội dung thôi. Câu đối trên, quả nhiên đã nói lên những hy sinh to lớn của những chiến sĩ can trường Biệt Cách Dù. Đồng thời nó cũng ngầm nói lên tấm lòng tri ân của người dân và đặc biệt của cô giáo đối với những ân nhân của cô. Cái hay trong hai câu đối đó, chẳng có một chữ nào nói lên lòng tri ân cả nhưng đọc lên, tôi lại cảm nhận ngay những điều đó. Thế mới tài tình. Mặc dù những chữ trong hai vế, thật ra chẳng có gì mới mẻ. Nhưng có lẽ vì đối cảnh sinh tình nên nó có được cái sức lôi cuốn rất mạnh, không giống như những câu đối ước lệ khác.

Do câu đối này, tôi được biết những ngôi mộ mới. Đó là của các anh em chiến sĩ Biệt Cách Dù đã hy sinh để bảo vệ An Lộc trong cuộc tấn công đợt hai của địch. Như vậy, lần tấn công đó cũng ác liệt lắm. Tôi may mắn được ở dưới hầm an toàn nên đã không có cơ hội quan sát. Vì vậy đã không biết được cuộc diện chiến trường lần đó ra sao. Mới sơ sơ nhìn qua những tổn thất của mình thì thấy cuộc tấn công đợt nhì quả thật rất kinh hoàng, đẫm máu chứ không phải chỉ pháo kích suông.

Chúng tôi tiếp tục đi ngược lên hướng Lộc Ninh, rẽ trái qua một con đường nhỏ. Chúng tôi thấy ngay ba chiếc xe tăng mới tinh bị bắn hạ nằm sắp hàng ngay ngắn trên con đường An Lộc – Lộc Ninh. Tôi ghé tai nói với anh Phúc:

– Anh trông tụi nó sắp hàng đi vào An Lộc như đi diễn binh ấy. Chẳng trách bị xơi tái hết là phải. Tôi chẳng hiểu sao tụi nó đánh đấm gì mà kỳ vậy.

Ông Diệm ngắt lời, nói:

-Trông bên ngoài tưởng đó là cái may mắn của ta. Thực ra cũng nhờ những yếu tố khác.

– Tôi nghe nói tụi nó xích chân những tài xế xe tăng lại. Không biết có đúng thế không?

– Muốn kiểm chứng, cứ vào trong xe tăng của tụi nó mà coi.

Tôi đồng ý liền vì quả thực tôi muốn biết sự thực. Hay là bên ta lại tuyên truyền kiểu tâm lý chiến. Tôi nói:

– Phải đấy, để tôi chui vào một xe tăng xem. Nhưng những xe tăng này cao quá. khó có thể nào trèo lên để vào bên trong được.

Ông Diệm nói:

– Có cách, bỏ mấy xe này đi. Chúng mình lên chỗ Chợ Cũ. Nơi đó cũng có mấy xe tăng bị máy bay bỏ bom trúng, chúi đầu xuống hố bom nên pháo tháp gần mặt đất hơn, dễ trèo vào lắm.

Thế là chúng tôi lại vòng lên phía Chợ Cũ. Tôi chợt thấy một xe tăng tương đối còn mới dù đã qua gần một tháng trời phơi mưa nắng. Tôi vội bảo ông Diệm ngừng xe lại, nhảy xuống và tiến về chiếc xe tăng. Vì chiếc xe bị bom thả trúng, chúi mũi xuống hố bom cũng khá sâu. Tôi thấy pháo tháp hơi bật ra về phía bên trái. Tôi và ông Diệm trèo lên nhìn vào bên trong chiếc xe tăng. Tôi thấy một bộ xương người ngay chỗ của tài xế. Chiếc xương sọ gục xuống bên tay lái. Cổ xương chân trái có một sợi dây xích cột vào cần lái xe. Mọi hồ nghi của tôi về việc này trong giây phút đó đã được hoàn toàn giải tỏa.

Trong xe không còn bộ xương nào khác. Trong cơn nguy hiểm, tài xế xe tăng đã chết một mình. Đồng đội đã thoát thân, đã bỏ đi. Người tài xế không thể trốn được vì đã bị xích chặt vào xe. Tôi có thể hình dung được nỗi tuyệt vọng, nỗi kinh hoàng của người tài xế trước khi chết ra sao. Xe còn, người còn. Xe mất thì người chết theo. Đó là cái ý nghĩa quyết tử của binh đội lái xe tăng của địch.

Đứng về bên phía ta, ta có thể lên án tính cách vô nhân đạo của địch. Bất cứ một người nào cũng ghê tởm phương pháp sắt máu này.

Nhưng đây là chiến tranh. Chiến tranh tự nó đã vô nhân đạo rồi, huống chi với một chế độ độc tài như chế độ Cộng Sản thì việc xích chân vào xe chẳng có gì phải một chút bận tâm.

Trong thời chiến, thiếu gì những trường hợp quyết tử như ôm bom lao vào xe tăng địch, ôm bộc phá phá hàng rào đồn binh địch, lao đầu vào lỗ châu mai của địch để lấy thân mình bịt kín nòng súng địch cho đồng đội tiến lên. Ngay như phía bên ta, trong trận này, chính mắt tôi đã thấy sáu cánh Dù nhảy xuống ngay trong vùng đóng quân của địch. Đó cũng là những hành động cảm tử một đi không về của những người lính chiến. Nhưng khi thấy những hành động trên chúng ta chỉ thấy cảm phục, thương xót nhưng không ghê tởm như thấy những trường hợp bị xích chân vào xe tăng hay vào mấy khẩu thượng liên. Có lẽ vì hình ảnh bị xích cho ta cái ấn tượng bị ép buộc phải làm những việc nguy hiểm ngoài ý muốn của người lính, không để cho họ một cơ hội thoát thân dù rất nhỏ.

Cụ Phan Bội Châu đã viết, Thánh Cam Địa (Gandhi) rất ghét chế độ Cộng Sản cũng chi vì họ chủ trương lấy mục đích biện minh cho phương tiện. Tức là có thể dùng bất cứ một mưu kế nào dù cho vô nhân đạo đến đâu cũng được, miễn là chúng đạt được mục đích tối hậu.

Tôi đã chui vào hẳn bên trong xe tăng. Không có mùi hôi thối, chứng tỏ cái thây này đã chết từ lâu, chắc từ đợt tấn công thứ nhất, hơn một tháng rồi. Tôi chỉ ngửi thấy một mùi hôi khăm khẳm giống như mùi mốc chà bông để lâu ngày bị thiu. Tôi nhìn quanh bên trong xe tăng, thấy khá rộng. Tôi chợt để ý thấy một dãy đạn đại bác 100 ly vỏ bằng đồng sáng loáng mói tinh, xếp ngăn nắp bên góc phải của xe. Nếu mang về gõ làm bình bông chắc đẹp lắm. Nghĩ là làm liền. Tôi tháo hai viên đạn ra, không ngờ nó cũng khá nặng vì đạn 100 ly dài tới gần một thước. Tôi cố mang ra ngoài để lên xe Jeep rồi cùng ông Diệm và bác sĩ Phúc lái về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Chúng tôi đi chơi cũng hơi lâu, thấy quang cảnh chỗ nào cũng giống nhau, cũng bị tàn phá thành bình địa hết. Như nhà hàng Tứ Hải, một nhà hàng Tàu xây bằng bê tông cốt sắt, hai tầng lầu, nấu ăn cũng khá ngon. Tôi đã ăn vài lần ở đó, bây giờ xẹp lép giống như một ngôi nhà bằng giấy bị một bàn chân khổng lồ giẫm lên. Tôi đề nghị đã đến lúc nên quay về. Mọi người đều tán thành vì thực ra cũng chẳng còn gì hay để xem nữa.

Khi về đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, ai trông thấy hai viên đạn đại bác 100 ly, chiến lợi phẩm của tôi cũng đều thích cả. Ông Thượng sĩ Thiện thuộc ban An Ninh tỉnh đề nghị:

– Bác sĩ nên cho tháo đầu đạn, đổ thuốc bồi đi, lấy cái vỏ đạn cho nhẹ, dễ di chuyển và an toàn không sợ bị nổ bất tử.

– Đúng rồi, để thế này nguy hiểm mà lại quá nặng. Nhưng tháo đầu đạn ra có dễ không?

– Nếu bác sĩ muốn, tôi bảo mấy thằng em nó làm cho. Tụi nó nhà nghề mà, làm chừng nửa tiếng là xong à, nhanh lắm. Chứ bác sĩ không quen, làm mất thì giờ lại nguy hiểm nữa

Tôi lắc đầu nói:

– Tôi không dám sờ tới đâu, nhỡ nó nổ một cái thì khốn nạn ngay.

Tôi bèn giao hai viên đạn đại bác đó cho Thượng sĩ Thiện. Chỉ gần một giờ sau, ông ta mang lại hai cái vỏ đạn, đưa cho tôi. Ông dặn tôi:

– Cái chốt ở dưới đáy vẫn còn nguyên đấy. Bác sĩ đặt nó nhè nhẹ, đừng vất mạnh, đụng vào nó, có thể nổ lắm đó. Tuy không hề gì, nhưng đề phòng vẫn hơn.

Tôi mừng lắm, cám ơn ông Thiện rồi mang hai vỏ đạn xuống để ở một góc phòng, chờ ngày mang về Sài Gòn, có dịp sẽ thuê người gõ thành hai bình bông, chắc đẹp lắm.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy
Post by Sơn râu 15 Sep 2023

Bài 23 – Cô Bé Mang Tên An Bình

Mấy ngày sau, thuốc chủng ngừa dịch tả đã tới. Chúng tôi đã tổ chức chích thuốc cho đồng bào ở chùa. Đúng như tôi dự đoán, mọi người đã hưởng ứng đợt chích thuốc này rất nồng nhiệt. Trong vòng ba ngày, chúng tôi đã chích hết tất cả số thuốc đã xin. Chúng tôi đã huy động được tới 8 y tá làm việc suốt ngày toàn là những người tình nguyện. Đa số những y tá dân sự đều tản cư khỏi An Lộc từ lâu rồi. Tôi nghe nói hình như họ đều về tỉnh Bình Dương và tiếp tục làm việc tại những trạm tiếp cư đã được Bộ Y Tế phối hợp với Hội Thập Tự để tiếp đón các đồng bào tị nạn của tỉnh Bình Long.

Sau khi hoàn tất, anh Phúc báo cáo lên ông Tỉnh Trưởng biết. Ông rất hài lòng. Tính ra chúng tôi đã chích ngừa được hơn bốn ngàn người trong một thời gian kỷ lục. Như vậy, hiểm họa dịch tả thực sự đã không còn đe dọa dân chúng khu đó nữa. Nhưng để chắc ăn, hai tuần sau anh Phúc lại xin thêm thuốc để chích đợt hai cho những người đã chích đợt nhất và những người chưa chích vì dịch tả phải chích hai mũi mới công hiệu.

Pháo kích bây giờ cũng chỉ lai rai, không còn hung hãn như trước nữa. Địch quân thường chỉ nhắm vào bãi đáp trực thăng. Chúng tôi vì vậy cũng được an nhàn một chút.

Một buổi sáng, vào khoảng 11 giờ, tôi với anh Phúc đang ngồi trong phòng. Anh Phúc đang hát nho nhỏ bài Thu Ca của Phạm mạnh Cương. Tôi thì mải mê viết nhật ký cho quên thì giờ. Anh Phúc chợt hỏi:

– Anh viết gì nhiều vậy?

– Tôi muốn ghi lại những điều trông thấy và những cảm nghĩ của tôi trong biến cố này. Anh muốn coi không?

Không đợi anh trả lời, tôi nghĩ anh rằng anh cũng tò mò muốn biết tôi viết gì, có khi viết về anh chăng nên tôi đưa một xấp đã viết xong cho anh xem. Anh đọc chừng vài tờ rồi trả lại tôi:

– Anh có trí nhớ dai và chi tiết đấy nhỉ, mà cũng chịu khó viết quá.

– Tại việc mới xảy ra mà anh. Tôi không có tài viết văn, thấy gì viết nấy không thêm bớt và như văn nói chuyện vậy.

– Như vậy mới trung thực. Anh có tính xuất bản không?

– Chắc là không. Mục đích tôi ghi lại những cảm nghĩ của tôi để mẹ và các em tôi đọc, hạn chế trong gia đình thôi. Sau này, nếu tôi có con thì cũng là cái hay nếu nó biết được vào thời bố nó còn trẻ đã phải chịu những nguy hiểm gì, đã trải qua những kinh nghiệm gì trong thời gian đó.

Anh Phúc vội ngắt lời tôi, nói:

– Anh sẽ không ngờ được đâu. Bây giờ anh cứ viết đi để ghi lại những cảm nghĩ trung thực của anh ngay trong trận đánh này. Sau này chỉ cần tiểu thuyết hóa hoặc sửa lại vài chữ cho nó có vẻ văn hoa một chút, có thể sẽ có nhiều người thích. Biết đâu có khi được quay thành phim thì bác sĩ Quý lại giàu to.

Nói xong, anh cười lớn vì câu nói đùa của anh. Tôi cũng mỉm cười nhưng không tin kết cục lại tốt đẹp như thế. Mục đích của tôi rất khiêm nhường là viết để cho người nhà đọc thôi, không dám để người ngoài đọc vì chỉ sợ văn chương chữ nghĩa của mình không ra gì. Thiên hạ đọc rồi chê thì ngượng lắm.

Tôi đã đọc những tác phẩm của những đại văn hào thế giới. Tôi thấy ngoài thiên tài của họ, khi viết họ đã viết một cách rất nghiêm túc. Chẳng hạn như cuốn “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Leo Tolstoy. Ông đã phải bỏ ra nhiều năm để tìm hiểu, thu nhập mọi dữ kiện và đã đích thân đến những bãi chiến trường hồi xưa để nghiên cứu địa hình, địa vật rồi mới viết chứ không phóng bút viết liều. Ít ra, nếu muốn xuất bản thì tác phẩm của tôi cũng phải được thông qua bởi một nhà văn hay những bạn bè có óc thẩm định văn chương.

Anh Phúc vừa dứt cười thì có tiếng gõ cửa mặc dù cửa mở. Tôi nhìn ra, thấy Đại tá Nhựt đang tươi cười bước vào. Theo sau lố nhố chừng năm, sáu người nữa đứng chật cả hành lang.

Đại tá Nhựt nói:

– Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Phó Quân Khu III tới thăm ủy lạo các anh em.

Rồi ông quay sang Trung tướng Minh, chỉ bác sĩ Phúc và tôi, nói tiếp:

– Đây là bác sĩ Phúc, Y Sĩ Trưởng Bệnh Viện Tiểu Khu. Còn đây là bác sĩ Quý, bác sĩ giải phẫu của bệnh viện.

Chúng tôi đứng dậy giờ tay chào đúng theo cung cách nhà binh. Trung tướng Minh hơi mỉm cười, bắt tay tôi nhưng không nói một tiếng nào. Đó là một điều lạ. Trong một tích tắc thoáng qua đầu tôi tự hỏi, đi ủy lạo chiến sĩ mà chẳng nói gì sao. Tuy nhiên tôi vội bỏ những ý nghĩ đó trong đầu. Tôi nói:

– Cám ơn Trung tướng đã đến thăm. Thưa, Phòng Mổ ở bên cạnh, xin mời Trung tướng qua coi.

Cả Đại tá Nhựt lẫn ông Trung tướng đều nhìn tôi một cách hơi lạ lùng.

Tôi cảm thấy có điều gì không ổn. Trước khi tôi nghe Đại tá Nhựt gõ cửa, tôi dường như có nghe thấy tiếng mở cửa ở Phòng Mổ rồi lại đóng lại ngay. Tôi đoán các vị quan khách đã thấy cái gì khác lạ trong phòng đó.

Tôi nhớ chắc chắn là từ hôm qua tới giờ chưa có một vụ mổ nào. Phòng Mổ đã được dọn dẹp sạch sẽ để chờ những trường hợp mổ sắp tới.Tôi vội đi ra ngoài mở cửa Phòng Mổ ra thì hỡi ôi. Tôi chỉ muốn độn thổ xuống đất. Căn phòng mà tôi cứ yên chí đã dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp và không có ai thì ngay trước mắt mọi người là một cái võng mắc xéo qua phòng trên cái bàn mổ dã chiến. Vợ anh Sáu Xòm mà cái bụng chửa sắp đến ngày sanh, to vượt ngực đang ngồi trên võng, nhìn ra cửa tỉnh bơ.

Tôi bàng hoàng cả người, vừa ngượng với cấp trên, vừa giận cái cô vợ anh Xòm. Phòng của mình ở dưới kia, mắc mớ gì hôm nay lại mang võng lên trên Phòng Mổ nằm mà chẳng xin phép gì cả. Mà làm từ hồi nào tôi chẳng biết, vậy có chết người không. Tôi muốn chửi thề. Tôi muốn văng tục. Tôi muốn đá đít cho cô ta văng xuống võng cho đỡ tức. Nhưng tôi chỉ có thể nhanh tay khép lại cánh cửa và nói:

– Xin lỗi Trung tướng.

Thế rồi phái đoàn lại tiếp tục di chuyển, rời khỏi căn hầm như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Tôi trở lại Phòng Mổ, hỏi cô vợ anh Xòm, giọng bực bội:

– Tại sao lại mắc võng nằm ở Phòng Mổ?

– Dạ tại phòng em bí hơi quá, nằm nóng bức chịu không được.

Tôi chỉ biết lắc đầu thở ra, đóng cửa Phòng Mổ đi về phòng mình. Ngồi xuống giường mà lòng vẫn còn ngượng ngùng xấu hổ vì sự kiện đã qua. Tình ngay lý gian. Phòng Mổ phải là phòng sạch sẽ mà lại để một người đàn bà mắc võng giữa phòng nằm chễm chệ. Nếu không phải là người rất thân của bác sĩ thì ai dám làm chuyện như vậy. Một cô gái mà lại có chửa nữa, chắc tác giả phải là bác sĩ chứ còn ai vào đây nữa. Đây là căn cứ quân sự không có đàn bà. Vậy là bác sĩ lợi dụng quyền hạn của mình dấu đàn bà, mang vào căn cứ quân sự làm chuyện bậy bạ rồi. Khi nhìn thấy sự kiện trên thì ai cũng phải có những ý nghĩ như vậy.

Càng ngồi suy nghĩ, tôi càng bực mình. Dĩ nhiên mình không làm gì sai trái thì đâu có gì sợ nhưng giận vì không có cơ hội để giải thích. Biết bao nhiêu điều tốt tôi làm từ đầu cuộc chiến tới giờ, bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu cực khổ, bao nhiêu lời đồn đại tốt đẹp về Bệnh Viện Tiểu Khu, chỉ một việc xảy ra không ngờ tới mà nó xóa đi tất cả. Tức ơi là tức. Chỉ đau trong lòng mà không thể giải bày được.

Tôi hít vào một hơi dài rồi thở ra thật mạnh. Bao nhiêu bực bội trong lòng đều theo luồng hơi thở đó mà tan trong không khí. Tôi đã nghiệm được phương thức này để tập tính tự chủ, quên đi những phiền toái của cuộc sống. Đặc biệt những điều không xứng ý, toại lòng, những việc ngoài tầm tay của mình, những việc đã xảy ra rồi, không thể thay đổi trở lại được. Bởi vậy chỉ trong một cái lắc đầu là tôi quên đi những diễn biến khó chịu vừa qua.

Tôi định đi qua hầm của bác sĩ Chí nói chuyện chơi, bất chợt anh Châu xuất hiện ngay cửa hầm. Trông thấy anh, tôi mừng rỡ vì như vậy, chứng tỏ anh đã không hề hấn gì trong những cuộc pháo kích vừa qua. Khi thấy tôi, con mắt còn lại của anh cũng lấp lánh lộ vẻ vui mừng. Tôi hỏi anh:

– Gặp anh, tôi mừng lắm. Gia đình anh bình an cả chứ? Nhưng sao anh biết tôi ở đây mà kiếm?

– Gia đình tôi vẫn như thường. Tôi tới Bệnh Viện Tiểu Khu hỏi thăm bác sĩ. Họ bảo bác sĩ đã dọn sang đây rồi nên tôi tới đây thôi.

– Bây giờ anh ở đâu?

– Tụi tôi dọn xuống làng từ lâu rồi sau cái hôm tôi rời bệnh viện. Ở dưới làng không bị pháo vì không có căn cứ quân sự.

– Anh đã gặp ông Diệm chưa?

– Chưa, tôi chỉ tới tìm bác sĩ thôi. Tôi có đem bánh xèo tới để bác sĩ ăn. Bánh hãy còn nóng, bác sĩ ăn đi kẻo nguội.

– Bà xã anh làm phải không? Anh hay thật, chạy loạn mà còn có bánh xèo ăn là nhất rồi.

– Bánh xèo dã chiến thôi bác sĩ à. Làm gì có tôm tươi đâu. Bà ấy thay thế bằng tôm khô. Ăn cho đỡ ghiền thôi chứ chắc không ngon bằng bánh xèo thứ thiệt đâu.

– Giờ phút này mà còn có thứ này ăn là hạnh phúc quá rồi. Mấy ngày nay tôi chỉ có cơm gạo sấy mà thôi.

Anh Châu rút ra trong bọc một cái bếp điện nhỏ, hỏi tôi:

– Bác sĩ có muốn cái bếp này không?

Tôi mỉm cười, lắc đầu:

– Tôi mua thứ này bây giờ làm gì. Tôi sắp đổi về Sài Gòn rồi.

Mặt anh Châu thất vọng hẳn đi. Anh dậm chân nói:

– Tôi lại cứ kết bác sĩ sẽ mua cái bếp này chứ. Nếu vậy, chắc tôi còn phải nợ bác sĩ một thời gian nữa.

Trước khi xảy ra trận chiến này, anh Châu cần tiền, không biết để làm gì, anh nói mà tôi quên đi mất. Tôi cho anh Châu mượn mười một ngàn. Anh đã trả bốn ngàn, còn nợ tôi bảy ngàn. Trong óc tôi nghĩ rằng anh đã nhặt được cái bếp này ở đâu đó, thấy còn mới nên tính gán cho tôi để trừ vào số nợ anh còn thiếu. Bây giờ tôi mới hiểu, anh lặn lội tìm tôi khắp nơi là muốn trả nợ tôi.

Đến giờ phút này, tôi đâu còn nghĩ tới món nợ ấy nữa. Như vậy anh Châu rất sòng phẳng. Anh không nhân cơ hội làm bộ quên đi món nợ, vẫn cố ý tìm cách trả tôi. Như vậy là người tốt. Chỉ nguyên việc này thôi cũng làm cho tôi không muốn nghĩ tới việc đòi nợ anh. Hơn nữa, với lòng tận tâm săn sóc của anh đối với tôi trong những ngày tháng qua cũng đã khiến tôi không nỡ lòng nào đòi nợ anh trong lúc khó khăn như thế này.

Tôi cũng chợt nhớ ra hôm nay là ngày lãnh lương ở Tiểu Khu. Có lẽ anh vào đây để lãnh lương, cũng là một công hai việc. Tôi vội nói để anh yên lòng:

– Về số tiền anh còn nợ tôi, anh đừng lo. Anh không cần trả lại, cứ giữ lấy mà tiêu dùng. Chẳng bao lâu, tôi sẽ rời khỏi nơi đây, có lẽ cũng ít dịp gặp lại anh. Tôi với ông Diệm được anh săn sóc chu đáo lắm. Trong thâm tâm, tôi rất cám ơn anh.

Tôi đưa tay ra bắt tay anh Châu thật chặt. Một bàn tay lao động, da chai cứng không như bàn tay thư sinh mềm mại của tôi. Tôi nói tiếp:

– Tôi lúc nào cũng giữ một kỷ niệm đẹp về anh.

Tôi thấy những sớ thịt trên mắt anh Châu giựt giựt. Anh đưa con mắt độc nhãn của anh nhìn tôi không nói gì. Nhưng tôi nghĩ chắc anh cảm động lắm. Sau cùng, anh nói:

– Thôi tôi đi đây. Bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

Tôi không nói gì nữa, chỉ gật đầu và đưa tay vỗ vai từ giã anh. Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh Châu vì sau khi tôi đổi về Sài Gòn, tôi không được biết anh đã đi về đâu. Qua ông Diệm, hình như anh vẫn còn ở Bình Long, không rời đi đâu cả.

Khi anh Châu đi rồi, tôi liền mở bịch bánh xèo ra, thấy có sáu cái. Bà xã anh Châu chắc phải là tay đổ bánh xèo lành nghề lắm vì sáu cái bánh đó to hơi quá khổ một tí nhưng không rách, bánh cuộn lại rất khéo, da bánh vàng ươm thơm phức. Mới nhìn thấy đã thèm rỏ dãi ra rồi. Nhất là bị nhịn ăn, nhịn uống cả gần hai tháng trời thì với cái mùi hành mỡ này, làm sao mà tôi không háo hức cho được.

Tôi liền mời anh Phúc cùng dùng thử cho vui. Dĩ nhiên, so với cơm sấy thì món này là nhất rồi. Tuy không có tôm tươi nhưng có giá, có trứng, có đậu xanh và nhất là nước chấm khá ngon đã làm cho những chiếc bánh xèo đó trở thành tuyệt diệu. Hai chúng tôi đã đánh nhanh đánh mạnh nên chỉ trong một thoáng sau là sáu chiếc bánh xèo đã nằm yên trong bao tử. Hôm ấy, chúng tôi không cần ăn cơm chiều nữa. Từng ấy bánh xèo cũng đủ no bụng rồi.

Tuy chẳng có tin gì đặc biệt mà chúng tôi lại cảm thấy vui vui trong dạ. Tôi suy nghĩ có lẽ nhờ những cái bánh xèo chăng? Không lẽ vật chất lại ảnh hưởng đến tinh thần mạnh mẽ như vậy? Gần hai tháng thiếu dinh dưỡng, cái bao tử có vẻ như reo vui khi lại được tiếp xúc với những chất béo bở quen thuộc mà lâu không được gặp. Khi bao tử vui thì óc cũng vui và hai chúng tôi đều vui cả.

Không có việc gì làm, chúng tôi dự bị đi ngủ sớm tuy chỉ mới có 7 giờ rưỡi tối thôi. Chẳng bao lâu giấc ngủ đến với chúng tôi dễ dàng. Tôi đã ngủ một mạch cho tới sáng. Chưa bao giờ tôi được ngủ ngon một mạch như thế kể từ ngày có trận chiến này. Tôi không hiểu vì không phải làm việc quá sức, vì có hầm chắc chắn an toàn, hay vì đã có một chút ăn tươi cho một cơ thể thiếu thốn dinh dưỡng cả tháng trời đã đưa tới một giấc ngủ thoải mái như thế. Nhìn sang bên giường anh Phúc, tôi thấy anh vẫn còn say giấc nồng. Thì ra không chỉ riêng tôi mà cả anh Phúc cũng có một giấc ngủ ngon lành trong đêm qua.

Tôi đứng dậy, mặc quần áo đi ra ngoài theo cầu thang, đi lên khỏi miệng hầm. Tôi đang đứng thở hít không khí trong lành buổi ban mai thì thấy Thiếu tá Diệm đi tới. Ông nói:

– Tôi định đi kiếm bác sĩ, mời sang bên tôi uống ly cà-phê chơi.

– Xin tuân lệnh ông ngay. Ông lúc này khỏe không?

– Cũng sống được, chưa đến nỗi nào.

Tôi theo ông Diệm xuống hầm của ông. Vào văn phòng của ông Trưởng Ban tư Tiểu Khu, thấy đầy đủ tiện nghi chẳng khác gì ở nhà cả. Đặc biệt có cái cà-phê phin đang được chú Út đổ nước sôi vào. Mùi cà-phê thơm nồng như xoáy vào lỗ mũi tôi. Tôi không ghiền cà-phê nhưng thích ngửi mùi cà-phê. Lâu lâu tiếp ông Diệm một ly nhỏ như hồi còn thanh bình cũng thú vị.

Đi ăn tiệc mà ngồi cạnh ông Diệm thì cũng được lắm, vì ông này hơi khó tính. Ông đặc biệt sợ ăn chim bồ câu quay. Mỗi lần trong tỉnh thết tiệc, ông hay kéo tôi ngồi cùng để giúp ông tiêu thụ món này, nhất là cái đầu. Ông nói mỗi lần trông thấy cái đầu chim bồ câu quay trên đĩa là ông chỉ muốn ói, không dám nhìn nữa. Trong khi tôi lại khoái ăn cái đầu dòn tan và béo ngậy của loài chim hiền lành này.

Tôi hỏi ông:

– Trong các món ăn, ông thích ăn món nào nhất?

Ông Diệm trả lời không cần suy nghĩ:

– Tép rang xúc bánh tráng.

Tôi tức cười, ghé tai ông nói:

– Nếu vậy, đợi tới khi ông lên làm Tỉnh Trưởng thì họa may mới có món khoái khẩu đó cho ông.

Thiếu tá Diệm mỉm cười nói:

– Có thể lắm. Khi nào tôi lên làm Tỉnh Trưởng, tôi sẽ đãi ông món đó.

Tôi nghĩ thầm trong bụng: “Thấy mẹ, tưởng ông đãi món gì, chứ món đó thì tôi buồn 5 phút. Nếu quả thực như vậy, tôi sẽ đãi lại ông món đầu chim bồ câu quay có cái cổ dài ngoằng, đưa những cặp mắt lim dim nhìn ông”. Tôi không dám nói ra điều này vì chỉ sợ ông sẽ ói trên bàn tiệc thì phiền.

Ông Diệm mời tôi ngồi xuống cái ghế độc nhất trong phòng, còn ông ngồi trên giường. Ông nhấc cái phin cà-phê để lên trên nắp của nó rồi chia đôi ly cà-phê ra cho tôi một nửa, ông một nửa. Ông hỏi tôi:

– Bác sĩ uống cà-phê sữa hay đen?

Tôi trả lời:

– Tôi uống cà-phê sữa.

– Sữa Quân Tiếp Vụ đây, ông cứ tự nhiên.

Ông Diệm đưa cho tôi một hộp sữa đặc đã khui sẵn. Ông tiếp:

– Tôi chỉ khoái một ly cà-phê đen vào buổi sáng. Có uống vào rồi mới tỉnh táo đi làm được.

– Ông biết đấy, tôi ít uống cà-phê lắm. Chắc là đêm nay sẽ không ngủ được.

– Không sao đâu, bây giờ cũng ít người bị thương rồi. Đêm không ngủ thì ngày ngủ bù, lo gì. Trung úy Lành đã tới gặp bác sĩ chưa?

– Mấy ngày trước có tới gặp tôi vì ông ta bị một mảnh đạn trên đầu muốn tôi lấy ra và muốn tôi cho ông ấy một giấy chứng thương. Tôi nói nó ở ngoài da đầu, không có vô trong não đâu mà sợ. Nếu không có gì trở ngại thì cứ để nguyên như vậy, không cần lấy ra ngay lúc này. Chắc ông này muốn xin một Chiến Thương Bội Tinh đây.

Ông Diệm ngắt lời:

– Không phải chuyện đó đâu. Tôi nghe nói Đại tá ra lệnh cho Phòng 1 Tiểu Khu lập danh sách mọi người để đề nghị huy chương và thăng cấp.

– À, ông ta có hỏi tôi lên Đại úy lâu chưa, trong trận này có bị thương gì không? Vậy thôi.

Ông Diệm nói tiếp:

– Tình hình bây giờ tương đối đã lắng dịu. Tuy mình chưa hoàn toàn kiểm soát được Quốc lộ 13 và Lộc Ninh, nhưng tụi nó cũng không làm gì được mình. Mọi hoạt động của các ty sở trong tỉnh sẽ cố gắng làm việc như trước. Như ông đã biết binh lính đã được tiếp tục trả lương hàng tháng. Người nào muốn đi phép sẽ được cấp phép cho đi về thăm nhà. Hiện nay chính phủ đã thiết lập một trại tạm cư cho dân Bình Long tị nạn tại tỉnh Bình Dương. Đa số những nhân viên dân sự được làm việc tạm tại Bình Dương để chờ đợi xin đi làm các nơi khác tùy ý muốn. Để xem, một vài tuần nữa, nếu không có gì trở ngại tôi cũng xin phép về thăm nhà một tuần. Rồi mình cũng kiếm chỗ dọt lẹ khỏi nơi này.

– Đúng vậy. – Tôi tiếp lời ông Diệm –Tôi ở đây đã hơn một năm rồi, cũng đúng lúc đi là vừa. Số tử vi của tôi Thân cư Thiên Di nên cứ phải thay đổi chỗ ở luôn.

Mặt ông Diệm bỗng đăm chiêu, ông nói:

– Ông nghĩ thế nào về tương lai của miền Nam mình?

Tôi nhíu mày suy nghĩ rồi trả lời:

– Tôi thấy lo quá. Bây giờ chưa thấy gì rõ ràng lắm. Nhưng tôi có cảm tưởng nếu Mỹ rút thì mình cũng thua ông ạ. Miền Nam mình hết cách mạng rồi lại chỉnh lý. Tham nhũng từ trên xuống dưới. Người dân không còn tin tưởng ở giai cấp lãnh đạo nữa, làm sao mình nói dân nghe được. Phải có một chính phủ mạnh được hậu thuẫn của toàn dân mới có cơ may thắng được. Miền Nam phải có một tay lãnh đạo cỡ Park Chung Hee của Đại Hàn. Tự túc tự cường không nhờ vả ỷ lại vào viện trợ của nước ngoài, để khi nó buông mình ra mình mới tự bảo vệ để sống còn được.

Ông Diệm gật đầu đồng ý. Rồi tiếp:

– Như ông biết đấy, nếu trận này không có Mỹ can thiệp thì chúng mình đi đoong rồi. Ngay lúc khởi đầu trận đánh, có những lúc áp lực địch quá mạnh làm cho bên ta bối rối. Có khi tôi tưởng mình đã phải nghĩ tới rút lui chiến thuật rồi chứ chẳng phải chơi đâu.

– Có thể lắm. Thua dài dài từ Lộc Ninh về tới tận đây, tan tác cả một trung đoàn, cả một thiết đoàn, thì phải biết áp lực của địch mạnh dường nào.

-Vậy ông có biết làm sao mình còn cầm cự được và lật ngược thế cờ không?

– B52.

– Đúng! Rốt cuộc chỉ là nhờ đàn anh Mỹ thôi. Nếu Mỹ không yểm trợ cho mình, ông thử nghĩ coi, tôi với ông còn ngồi đây uống cà-phê được không. Trong tương lai Mỹ sẽ bỏ rơi mình. Việt Nam hóa chiến tranh, đó là hình thức nó rút. Trong khi tụi Việt Cộng vẫn được Nga, Tàu yểm trợ. Lúc đó mình sẽ bị nó ăn gỏi. Anh em mình đã phải bỏ miền Bắc chạy vào Nam. Rồi đây sẽ không biết chạy đi đâu nữa.

Tôi không nói gì. Trong lòng thầm nghĩ ông bạn già này hơi bi quan một chút. Nếu có thật thế cũng phải vài ba năm nữa. Việc trước mắt bây giờ là làm sao an toàn ra khỏi địa ngục này đã, rồi hãy hạ hồi phân giải. Việc mất cả một nước là việc lớn. Dù ông bạn có đúng thì cũng chẳng thay đổi gì được. Dù có biết trước, quả thật tôi cũng chẳng biết trốn đi đâu. Đâu có nước nào dung dưỡng mình làm gì. Nhất là mang danh kẻ bại trận. Thôi việc đến đâu hay đến đấy.

Uống xong ly cà-phê tôi nhìn đồng hồ đã thấy hơn 9 giờ, mải nói chuyện không ngờ thời gian đi nhanh như thế. Tôi liền cáo từ để về hầm mình. Ông Diệm cũng đi lên hầm chỉ huy họp.

Bước lần xuống cầu thang vào hầm, tới phòng tôi, tôi chợt nghe thấy tiếng bác sĩ Phúc đang dặn anh Sáu Xòm:

– Khi nào nước đầu ối bể, cho cô ấy sang bên Phòng Mổ để tôi đỡ đẻ cho. Anh cũng kêu cô Bích giùm tôi, sửa soạn những dụng cụ cần thiết để lúc cần khỏi phải tìm kiếm mất thời giờ.

Tôi bước vào phòng nhìn anh Phúc nói:

– Tôi có miếng nylon để anh quấn quanh người tránh nước đầu ối hoặc máu dây vào người. Tôi chắc tối nay thôi. Con so thì hơi lâu một chút. Nhưng cô ấy đau như vậy đã được hai ba tiếng rồi. Nhanh lắm thì cũng tám, chín giờ tối mới sanh được. Đừng có chậm hơn sẽ làm anh mất ngủ.

Tôi ngại nhất vấn đề đỡ đẻ. Tôi biết nếu theo cái ngành này thì có thể kiếm được khá tiền đấy, nhưng tôi không thể chịu được cái mùi nước ối, mùi nhau bà đẻ và những đau đớn rên la của những bà đang lúc chuyển bụng sanh. Hồi còn là sinh viên Y khoa, khi đi thực tập tại những bảo sanh viện như Từ Dũ, Hùng Vương, mỗi sinh viên đều phải đỡ đẻ 20 trường hợp sanh bình thường.

Tôi chỉ cố làm cho đủ số thôi chẳng muốn làm hơn thế. Tôi thấy phục những cô đỡ, ngày nào cũng phải ở trong phòng sanh hít thở không khí đó, ngày này qua ngày khác mà vẫn tỉnh bơ. Tôi nhớ phòng sanh bệnh viện Từ Dũ xây theo hình vòng cung. Mười phòng sanh vây chung quanh một bàn nữ hộ sinh ở chính giữa để người trưởng toán có thể ngồi đó nhìn bao quát được tất cả các phòng, để theo dõi và kiểm soát dễ dàng mọi diễn biến từng bàn sanh một. Rất là tiện lợi. Nhưng tôi nghĩ ở đó âm khí nặng nề lắm. Thử tưởng tượng ngồi trực ngay giữa phòng mà bị mười sản phụ nằm dạng háng ra chiếu tướng thi chẳng thú vị gì cả. Tối hôm đó quả nhiên vợ anh Sáu Xòm sanh được một đứa con gái. Thật là may mắn, tuy sanh con so, nhưng chắc trời thương nên vợ anh Sáu đẻ khá nhanh và dễ, không gặp rắc rối gì cả. Anh Xòm thì lo quấn người lên như mắc đẻ. Sau khi đứa bé ra, cắt cuống nhau xong, Bác sĩ Phúc đưa cho anh Xòm bế, nhưng anh không quen, anh nhờ cô Bích ẵm giùm mang về phòng, còn anh phải lo săn sóc vợ. Đợi khi lấy cái nhau xong, mọi sự ổn định, anh bồng vợ sang cái băng-ca cùng thượng sĩ Lỹ khiêng về phòng nghỉ ngơi. Anh không ngót lời cám ơn Bác sĩ Phúc.

Thật là trời sanh voi sanh cỏ. Đẻ con so mà dễ dàng như đẻ con rạ. Trong điều kiện thiếu thốn mà mẹ tròn con vuông như vậy thực là may mắn. Tôi nghĩ có lẽ anh Sáu Xòm là người tốt nên trời cũng thương.

Tôi nhớ hồi còn là sinh viên y khoa, đi thực tập tại bệnh viện Chợ Rẫy, vào khu trẻ em bị tật bẩm sinh. Tôi thấy đủ mọi thứ bệnh. Đứa thì sanh ra hậu môn bị bít kín, đứa thì sứt môi, đứa thì sáu ngón tay, đứa thì xương sống không phát triển hoàn toàn để lòi ra một bướu màng não, có cái ở đầu, có cái ở lưng. Đủ mọi thứ dị tật, ấy là chưa kể những chứng bệnh rối loạn về nhiễm sắc thể gây nên hội chứng mongolism… v..v…

Tôi thấy khi sanh ra được một đứa con lành lặn không tật nguyền, thì quả thực là một ơn phước ông bà để lại, cũng như của trời đất ban cho mình. Nếu có quỳ xuống tạ ơn Trời Phật cũng không có gì quá đáng.

Tôi thấy tục lệ ăn đầy tháng đứa nhỏ cũng hay. Những ngày trong tháng đầu đời của đứa bé thật rất là nguy hiểm dễ chết lắm. Với những phương tiện y khoa lạc hậu ngày xưa, nếu đứa nhỏ sống mạnh khỏe qua được thời gian ngặt nghèo ấy thì làm tiệc cúng tạ ơn Trời Phật cũng là phải.

Sáng hôm sau, anh Sáu Xòm tới xin tôi mấy tấm Bed Pads trải giường cho vợ anh nằm. Những tấm này dùng cho những người mới mổ để lót giường cho máu khỏi chảy xuống nệm, nên rất tiện cho những người mới sanh xong.

Tôi liền cho anh cả một bịch nguyên, 24 cái, tha hồ vợ anh dùng.

Tôi hỏi thăm về đứa bé và vợ anh, thì được biết là mọi sự đều bình thường cả. Tôi hỏi anh:

– Anh đã đặt tên con là gì chưa?

– Dạ thưa chưa, bác sĩ có ý kiến gì không? Tụi em muốn đặt cho nó cái tên liên quan đến trận chiến này để kỷ niệm.

– Nếu vậy thì thật là dễ quá, anh có thể ghép hai chữ đầu của Bình Long, và An Lộc để đặt tên cho nó cũng được. Hoặc là Bình An, hoặc là An Bình.

– Bác sĩ nói có lý lắm, em sẽ chọn cái tên An Bình cho nó. Lê Thị An Bình, nghe cũng được lắm, phải không bác sĩ?

– Đúng rồi. Nó tuy sanh ra tại mặt trận này, mà sanh ra rất dễ dàng, bố mẹ phải chịu mấy chục ngàn trái pháo kích mà vẫn được bình an mang thai nó. Vậy đặt tên nó là An Bình là đúng, và hợp lý lắm rồi. Vừa có ý nghĩa, lại vừa gợi được kỷ niệm Bình Long An Lộc. Cũng mong cả cuộc đời nó sẽ được an bình như tên của nó.

Anh Sáu Xòm vui vẻ nói:

– Cám ơn bác sĩ nhiều.

Suốt mấy tuần sau đó, đứa trẻ phát triển bình thường, sống trong thiếu thốn, nhưng hình như không có ảnh hưởng gì tới đứa nhỏ. Một phần vì nó được nuôi bằng sữa mẹ. Một phần nữa thì tình hình cũng khá yên ổn nên anh Xòm có thể xuống làng thường xuyên mang về những thức ăn tươi cho vợ, nên hai mẹ con đều mạnh khỏe.

Tiền nong bây giờ không thiếu nữa rồi. Vì các ty sở bây giờ đã hoạt động trở lại, nên các công chức cũng như các quân nhân đều bắt đầu được lãnh lương đều như trước.

Công việc của chúng tôi cũng nhàn nhã hơn, thỉnh thoảng mới có một vài người bị thương. Đa số lại bị nhẹ chứ không nặng như hồi trước. Đó cũng là cái vòng luẩn quẩn của cuộc sống. Có lúc lên thì cũng có lúc xuống. Có lúc bận rộn thì cũng có lúc nhàn hạ. Nhưng với trọng trách trong tay, chúng tôi lúc nào cũng phải “Cư an tư nguy”. Lúc nào cũng phải sẵn sàng.

Trên một chuyến tàu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

  Chiếc Elisabeth rời Bremerhaven từ sáng sớm và đương chạy dọc theo ven biển bắc Đức hướng về dòng kinh Kil. Phía trời Đông đã toả ánh vàng và đám mây xám dần dần biến dạng. Tôi ngồi trên đầu cột trụ sau lái nhìn biển xanh trơn láng và bầy chim nhàn bay lượn trông thảnh thơi vô cùng. Xa khơi, trong làn sương mỏng vài chiếc ghe đánh cá vươn ngán chạy kéo cào.  Viên thuyền phó từ trên phòng lái đi xuống tới góc cầu thang, thấy tôi hắn khoát t ay chào và nhảy cà tưng tay gãi gãi nách mặt như hề, miệng kêu cà tót cà tót làm như gà trống sắp đạp mái. Hắn đưa hai ngón tay ra dấu chữ v (victor), gặt gặt và ễn bụng, hai tay cung phía trước ra bộ ôm con gái, cái mông nẩy nẩy vừa bước đi vô mui tàu miệng vừa kêu cà tót, cà tót…  Trong lúc tôi phân vân chưa biết viên thuyền phó chiến thắng cái gì thì tôi nghe tiếng càu nhàu phía sau:
– Cái thằng khùng!
Tôi day lại thấy gã thủy thủ người Tây Ban Nha đi ra, mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn gừng:
–  Chuyện gì vậy?
Gã chỉ ngón tay trỏ lên đầu gõ gõ và nói.
– Mẹ cái tên thuyền phó, chiều hôm qua nó nói với tao là con Linda có kinh mà đồ lót bị tụi In Đô ăn cắp hết nên hỏi mượn quần lót của nó, bây giờ nó xuống khoe vừa làm tình với con nhỏ.  Thì ra đây là cái chiến thắng tưởng tượng của viên thuyền phó làm cho gã Tây Ban Nha tức giận hay ganh tị hổng chừng:
– Nó nói thì kệ nó mắc mớ gì tới ông mà ông nổi nóng. Gã dịu giọng nhưng ráng thòng một câu:
– Cũng vì tật nói bậy nói bạ mà bị đầu bếp cho ăn đồ dơ hoài riết rồi đầu óc đần độn.
– Thuyền phó làm ông bực mình thì ông nói nó thôi, ông lôi đầu bếp vô làm gì. Gã trực nhớ tôi cũng là đầu bếp nên nói trớ:
– Tao chỉ nói đầu bếp In Đô thôi.
– In Đô người nào có người, ông quơ đũa cả nắm, có người nghe được thì phiền cho ông.  Gã cười cầu tài:
– Ở đây chỉ có tao với mầy, mầy không nói thì ai biết.
– Tui hổng nói, nhưng ông sẽ tự nói. Cũng ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu, gã tiếp.
– Tao đâu có khùng dữ vậy mậy. 
Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt.
– Vậy thì tốt, tốt lắm.  Chuyến nầy có hai cô gái, cô phụ máy tay chưn gân guốc, thân hình đồ sộ như trâu nước tánh tình của cô rất vui vẻ, nhưng hay trêu chọc cánh đàn ông. Cô phụ thuyền phó gầy gộc như cây khô, hổng biết ngực có độn gì không mà lúc nào cũng vun tròn như hai trái bưởi; má hóp, mỏ nhọn và hàm răng trên hơi đưa ra ngoài, được cái là cô sống rất kỷ luật, không ăn tạp như cô phụ máy, cô giải khát bằng bia và thỉnh thoảng thay bữa ăn bằng rượu, mặt mày lúc nào cũng lầm li, hiếm hoi lắm mới thấy cô ta cười một nụ héo queo còn thua hoa tulip cuối mùa xuân.  Theo nguyên tắc thì đầu bếp quản lý kho thực phẩm, không ai được tự do vào lấy ăn. Nhưng mấy cô thường xuống lấy trái cây, sữa và bánh ngọt đem dự trữ trong phòng riêng. Nhiều lần đầu bếp khoá kho lại, nhưng viên thuyền trưởng kêu để các cô ăn thoải mái, chuyện nhỏ. Dĩ nhiên không phải là chuyện lớn, may chuyến nầy chỉ có một đứa ăn tạp bằng không mấy thằng, mấy ông chịu khó nhịn bớt phần trái cây, sữa tươi và bánh ngọt…  Tuy nhan sắc của hai cô không mấy hấp dẫn nhưng cũng đủ làm cho đám đực rựa điên đảo tâm thần. Gã thủy thủ Tây Ban Nha thường thì ăn bận lùi xùi, dơ dáy, râu ria bồm xồm, mỗi bữa ăn gã ăn bốn năm tép tỏi sống. Từ ngày có hai con nhỏ theo tàu, hết giờ làm việc và ngày cuối tuần gã thay đồ sạch sẽ và áo luôn bỏ trong quần, đầu sói sọi tóc còn vài ba cọng nhưng lúc nào cũng chảy tém và thoa dầu mướt rượt, mình mẩy sực nức mùi dầu thơm và gã cũng bỏ luôn cái thói quen ăn tỏi. Một hai tuần nghe tôi đổ bộ thì gã nhờ tôi mua dầu thơm và thuốc cà nách. Gã viết và đọc chữ không thông nhưng chiều nào cũng mở cửa phòng toang hoác ngồi cầm tờ báo lật qua lật lại cho tới lúc đi ngủ mới thôi. Đã vậy mà lúc nào cũng ra vẻ mình là người đứng đắn, thấy ai có cử chỉ là lạ một chút là gã lên giọng đạo đức chỉnh trước liền tại chỗ hoặc phê phán sau lưng. Gã nói với tôi cũng tại con Maria ăn bận lúc nào cũng đưa cặp đùi và cặp vú ra ngoài nên mấy thằng con trai khùng hết.  Tôi hất hàm nói: 
– Nó đưa cho ông coi đã con mắt ông còn phàn nàn gì nữa.
– Tao đâu có coi.
– Hổng coi sao ông thấy vú và đùi nó?
Ông bẽn lẽn đứng một hồi rồi trớ qua chuyện khác:
– Ở nước tao đàn bà con gái không bao giờ theo tàu.
– Xạo đi nữa đi cha, tôi biết bên tây phương đàn bà con gái đi biển cả mấy thế kỷ trước rồi.
– Ai?
– Viking, ông biết người Viking?
Gã ra vẻ sành sỏi:
– Sao không mậy, Viking là đám cướp biển, họ bắt đàn bà, con gái theo chỉ để làm tình thôi.   Tôi định nói thêm nhưng nhìn cái mặt đần độn của gã, sách báo không đọc được, chỉ biết coi phim con heo riết rồi hễ nghe tới đàn bà, con gái thì nghĩ ngay tới chuyện tình dục.
Tôi nhắc lại chuyện xưa:
– Hồi đó, thời tui với ông còn trẻ, thỉnh thoảng cũng có con gái theo tàu, lúc đó phòng tắm thủy thủ còn liền nhau, chớ mỗi phòng ngủ chưa có phòng tắm riêng như bây giờ, chính ông đã dùi lỗ vách phòng tắm và rủ tui rình coi mỗi lần con nhỏ đi tắm. Mùa hè con gái hoặc vợ của nhóm officers theo tàu chơi, vào những ngày nắng đẹp họ bận đồ hai mảnh nằm bên hong mui tàu. Ông cùng với mấy thủy thủ dành nhau trèo lên sơn cần trục với mục đích rình coi mấy cô mấy bà tắm nắng. Ông quên rồi sao?
– Nhưng lâu lâu mới có một lần.
– Thời gian thay đổi phải khác chớ, thế kỷ hai mươi mốt rồi, hơn nữa xứ ông cũng nằm trong Châu Âu, trai gái gì cũng có quyền bình đẳng chọn nghề như nhau. – Ở Hoà Lan, chớ xứ tao thì không được, đàn bà đi tới đâu là chộn rộn tới đó.  Gã ăn nói ngang ngược như vậy, để đứng đó một hồi chắc tôi dộng vô mặt gã quá.
Tôi cố ý nói để gã đi chỗ khác cho rồi:
– Tôi thấy ông mới là chộn rộn. Nhưng mà nè, ít ra nhờ hai đứa nó ông mới bỏ tật ăn tỏi, thân thể ông được gọn gàng, sạch sẽ, thơm tho và còn đọc được báo nữa.
– Mẹ, mầy là cái thằng cà chớn.  Những lớp thủy thủ đồng hương với gã lần lượt về hưu hết còn lại mình gã là người Tây Ban Nha duy nhứt trong công ty. Như một định số, thắm thoát tôi với gã biết nhau đã hơn hai mươi năm rồi. Gã lớn hơn tôi năm tuổi, nếu luật lao động không thay đổi thì gã sẽ về hưu vài tháng tới. Hồi còn trẻ tôi với gã như nước với lửa mỗi lần bất bình là muốn ăn thua đủ. Tôi còn nhớ chuyến đầu xuống tàu ngay buổi ăn sáng gã tới kêu tôi mỗi sáng phải chiên cho gã hai cái trứng. Tôi không cho, cứ mặc kệ cho gã mặt dầy mặt mỏng và chửi tục. Thấy tôi yên lặng, gã tưởng tôi là thằng dễ bắt nạt, gã làm tới và doạ liệng tôi xuống biển. Tôi liền nổi nóng chỉ thẳng mặt gã chửi cho một chập và cấm gã léo hánh hỏi nầy hỏi nọ trong lúc tôi đương làm việc và nếu gã còn xúc phạm tới tôi, tôi sẽ cắt cổ gã lấy máu làm dồi huyết (blood sausage). Bị tôi doạ lại gã sợ tôi làm ẩu, hễ mỗi lần tranh cãi thấy tôi khó chịu sừng sộ thì gã chửi thề một cái rồi đá cái nầy, liệng cái kia và tránh đi chỗ khác. Thật ra một cái trứng thì có gì đâu, nhưng trước tập thể tôi sợ sanh chuyện lôi thôi nên tôi từ chối. Chẳng lẽ sống với nhau ngày nầy qua tháng nọ trên một chiếc tàu, chỉ vì một cái trứng mà gây với nhau hoài coi cũng kỳ lắm. Tôi bèn kêu gã lại dặn, nếu muốn ăn thêm cái gì thì mỗi buổi sáng xuống sớm hơn giờ ăn tôi sẽ cho thêm. Không ngờ chỉ tốn thêm một cái trứng mà giữa tôi với gã chẳng những hết căng thẳng với nhau, trái lại tôi có thể sai khiến gã làm những chuyện lặt vặt cho tôi nữa. Từ đó tôi khám phá ra cách xử thế mà tôi gọi là phương pháp trứng gà, phương pháp nầy có thể xử sự từ người trí thức cho tới người dốt đặc cán mai, tất cả đều đem lại cho tôi sự tốt lành. Thời gian qua mau, tuổi đời chồng chất, tôi với gã tuy không là bạn thân nhưng xa lâu thì nhớ gặp nhau thì mừng. Nhưng vẫn chứng nào tật nấy, tôi thì hay nói móc lò, gã thì ưa chửi bậy, được cái là qua cơn cãi vã chúng tôi có thể ngồi nhậu với nhau và tâm sự chuyện gia đình con cái suốt buổi.  

*

Tàu vào kinh Kil lúc giữa trưa và nối đuôi theo đoàn tàu chạy thẳng một dọc trên dòng kinh. Trong kinh tàu chạy trên dưới bảy hải lý một giờ, tuy chậm nhưng cũng đủ làm tung những bầy cá con lên mặt nước cho đám chim nhàn bay theo sớt.  Bây giờ là đầu mùa xuân cỏ hai bên bờ kinh xanh mướt, cây cối bắt đầu trổ bông và ra lá xanh non. Dòng kinh nầy nhiều hoạ sĩ vẽ và nhiều nhiếp ảnh gia đã chụp từ vàm kinh ven bờ biển Baltic của thị xã Kiel nối dài vô thị xã Brunsbutel ra tận vàm sông Elbe, họ in những cảnh đẹp từ mùa xuân cho tới mùa đông thành những tấm bưu thiếp đẹp tuyệt vời, bày bán trong các tiệm sách và tiệm bán đồ kỷ niệm trong vùng. Tôi đứng chăm chú ngắm cảnh mà quên đem bỏ bịch rác vô chiếc thùng sau lái. Khi nghe mùi khét trong bếp, tôi vội để bịch rác sau boong chạy vô thấy nồi thịt còn dư đã khét lẹt, có lẽ hồi nãy tôi vặn tắt lửa nhưng bị lộn nhằm số lớn, cũng may không bị cháy và thủy thủ đoàn đã ăn xong bữa trưa. Tôi nhắc nồi thịt để qua vòi nước và vặn nước ngâm chiếc nồi, day qua tắt lửa, định đi ra bỏ bọc rác. Chợt đụng đầu Toto từ trên đi xuống, nó chỉ ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu:
– Con khùng.
– Cái gì nữa?  Lúc Toto thấy Maria bưng rổ đồ chưa giặt đi xuống, nó liền chộp lấy bịt rác:
– Chú để tui bỏ rác cho. Nó rinh bọc rác đi ra ngoài. Tôi ngơ ngác chưa biết chuyện gì thi thấy viên thuyền phó đi vô đứng lóng ngóng. Con Maria bèn xề rổ đồ chưa giặt ra trước mặt và hỏi:
– Mầy cần cái nào thì cứ lấy, tao cho. Viên thuyền phó mắc cở gầm mặt bỏ đi tuốt…  Tôi trở vô bếp cạo rửa cái nồi thịt khét. Con Maria đem đồ bỏ vô máy giặt xong trở lên, nó ghé vô phòng bếp vừa ngoặt ngoẻo cười vừa nói:
– Thằng Toto với viên thuyền phó chỉ ưa rình ăn cắp đồ lót, nhưng tui đưa thì không thằng nào chịu lấy ha ha…
– Mầy làm tụi nó mắc cở.
– Mấy thằng khùng mà biết mắc cở gì.
– Sao mầy cứ tìm cách chọc ghẹo tụi nó hoài vậy?
– Tại tụi nó ngốc chớ, như ông thì ai chọc làm gì.
– Mầy nghĩ tao tốt lắm à?
– Không biết, nhưng ít ra ông không đến đỗi xàm xỡ như mấy người kia.  Thật ra thì tôi cũng chẳng tốt lành như nó nghĩ. Mấy ngày đầu xuống tàu, sáng nào cũng vậy, điểm tâm xong, trước khi làm việc nó vô phòng bếp chào tôi và nói ba điều bốn chuyện rồi mới chịu đi. Một hôm tôi thấy bên mép miệng nó có dính một bệt kem đánh răng, tôi lấy giấy chùi cho nó. Từ đó về sau mỗi buổi sáng bên mép miệng của nó không dính kem cũng dính mứt. Tôi lưu ý nó thì nó chu mỏ ra nhờ tôi chùi dùm. Tôi ngờ con nhỏ có tình ý gì nên trong lòng tôi rạo rực, nhứt là lúc hừng đông tôi thường hay tơ tưởng tới nó…  Cho tới một sáng kia, tôi chùi miệng cho nó xong, nó kề sát mặt vô tai tôi  và kêu tôi ngó ra phía sau. Tôi ngoái lại thấy bên ngoài cửa kiếng ba bốn cái đầu của thủy thủ lấp ló dòm vô, trong đó có cái đầu sói sọi của gã Tây Ban Nha nữa. Chúng tôi phá lên cười… Cười người xong tôi mới giựt mình, cũng may mà khám phá kịp thời nếu không thì tôi cũng bị con nhỏ gài bẫy làm trò hề như mấy tên lấp ló ngoài kia.  Không hiểu sao mỗi khi thấy Maria đứng nói chuyện với tôi trong bếp thì ông thợ máy già đứng sớ rớ ngoài sau và kêu con nhỏ đi làm chuyện nầy, chuyện nọ. Hôm nay là ngày chủ nhựt, không sai vặt được ông bèn tạt ngang chỉnh con nhỏ về chiếc áo hở cổ chừa gần hết cặp ngực ra ngoài. Khi ông đi rồi Maria gạt tay qua trán gằn giọng:
– Ông già khùng!  
Tôi cười khôi hài:
– Ha ha… suốt ngày tao nghe hết thằng khùng, con khùng bây giờ tới già khùng, hổng biết chừng nào tới đầu bếp khùng đây. Cũng tại mầy không thôi.
– Sao tại tui?  Tôi chỉ ngón tay vô cổ áo rộng, chỗ mặt dây chuyền thánh giá nằm ở kẽ giữa cặp vú:
– Tại mầy để cái nầy cho ổng coi.   Nó đưa cánh tay lực lưỡng lên gặt gặt:
– Coi thì được nhưng đụng vào thì coi chừng cái nầy.
– Nhưng ngày nào mầy cũng cho ổng coi mà hông cho đụng, tối bị mất ngủ nên ổng bị điên đảo tâm thần . Nó đưa tay ngang bụng ra dấu sục vô sục ra vừa cười vừa nói:
– Ngủ hổng được thì thủ dâm ha ha…   Tôi định lên lớp vài câu nhưng nghĩ tới sáng nào nó cũng bày hai trái đưa gang ra trước mặt, tuy tầm cỡ không bắt mắt lắm nhưng có còn hơn không, bày đặt lên giọng đạo đức lỡ nó nghe theo thì mất quyền lợi. Sẵn hôm nay chủ nhựt tôi làm một ổ bánh kem cắt ra được mười sáu phần, trong giờ cà phê tôi đem chia cho mỗi người một phần. Con Linda thì thích uống rượu hơn ăn bánh nên còn dư ra mấy miếng. Để khỏi áy náy cho cái tánh giả nhân giả nghĩa của mình. Tôi lấy một miếng bánh đưa nó và kêu nó ra bàn ngồi ăn để nó khỏi khui ra ba cái chuyện xấu máu của đám đực rựa trên tàu.  

*
Linda thường bận quần Jeans, áo thì lộn xộn không thời trang gì hết nhưng kín đáo hơn Maria. Tên nào lố lăng là bị nó chỉnh hoặc chửi thẳng mặt, tánh hung dữ của nó làm nhiều người không thích, nói đúng hơn là không người nào dám đụng tới. Thường thì sau giờ làm việc, trước giờ ăn nhóm officers ngồi nhậu với nhau trong phòng. Không hiểu sao hổm rày nó ngồi uống vài chai rồi bỏ ra ngoài boong hoặc đi lòng vòng đâu đó chờ tới giờ nó mới vô ăn. Hôm nay không biết mắc chứng gì nó vô bếp mang cái mặt hầm hì hỏi tôi:
– Bếp, bánh của tui đâu?  Nhìn cái mặt méo hóp và cái mỏ nhọn hoắc, hàm răng đưa ra hơn lúc bình thường, trông giống như cái mỏ con dơi. Tôi muốn cười một cái nhưng sợ nó bị quê nên tôi lấy miếng bánh bỏ vô dĩa đưa ra: 
– Phần của mầy đây.  Cầm miếng bánh đứng tần ngần một lát, không biết nghĩ gì nó đưa miếng bánh lại và nói:
– Thôi, ông cho Maria ăn luôn đi. Thiệt là đàn bà con gái! Uống mấy chai rồi lẩm ca lẩm cẩm chẳng ra gì hết. Tôi day ngang tiếp tục làm công chuyện. Nhưng thấy nó còn la cà đứng xớ rớ tôi mới hỏi:
– Sao mầy không vô phòng uống bia?  Như bắt được chuyện nó nói:
– Sau chuyến nầy tui về.
– Vậy à? Ai xuống thay cho mầy?
– Thằng Viktor, người Ukraina.
– Tao nghe ông thợ máy và con Maria nó cũng về và người thay Maria cũng đến từ Ukraina.
– Đúng rồi, nhưng người ta chưa xuống tàu mà mấy người ngày nào cũng ngồi nói xấu người ta hết.
– Thời gian đầu chưa quen là vậy nhưng vài năm sau thì đâu cũng vào đó hết thôi.
– Ông nghĩ vậy sao?
– Đương nhiên, thế giới thay đổi từng ngày từng giờ mà. Như ngày trước hông có con gái theo nghề hàng hải, tới khi bắt đầu có vài cô theo tàu thì cánh đàn ông cũng bàn tán xôn xao, chê nầy chê nọ nhưng bây giờ đàn bà lên tới chức thuyền trưởng, còn thuyền phó và thợ máy con gái cũng nhiều thì có nghe ai nói gì nữa đâu.
– Nhưng tôi thấy In Đô và Phi Luật Tân cũng sang đây làm vậy mà đâu có ai nói gì.
– Mầy nên nhớ In Đô và Phi Luật Tân và tao là Việt Nam đến từ những quốc gia nghèo bên Châu Á, không bằng cấp, cam phận làm những công việc lặt vặt mà dân mầy không làm, với đồng lương ít ỏi không đáng để ai ganh tị hết. Những người tới từ Đông Âu họ chiếm những địa vị tốt, lương cao dĩ nhiên có cạnh tranh với đám officers người bản xứ.  Nghe tôi nói nó đứng gật gật đầu, cùng lúc đó thấy có mấy thủy thủ đi vô phòng ăn nó mới chịu đi ra.     

  *
Mỗi khi tàu ghé bến tôi hay lên internetcafe lục lạo lấy tin tức hoặc những bài viết nào hay bỏ vô bộ nhớ nhỏ đem xuống tàu, khi tàu ra khơi, rảnh rang tôi mới đem in ra giấy nằm đọc. Máy in nằm trên phòng lái, mỗi lần in tôi phải leo lên bốn chiếc thang, mỗi chiếc mười hai bậc. Sáng hôm ấy tàu vào kinh Drogden chạy dọc ven bờ  Đan Mạch sắp sửa chui qua chiếc cầu bắt từ Copenhagen nối qua Malmör. Lúc đó nhằm giờ trực của Linda. Mấy lần trước lên in bài vở nó chỉ chào tôi một cái rồi giao máy cho tôi,  khi tôi in xong đi xuống và chào qua chào lại một cái nữa rồi thôi. Không hiểu sao sáng nay nó đứng sau lưng chờ tôi in xong nó hỏi:
– Ông viết gì đó?
– Cái nầy không phải tao viết, tao đương tìm coi nguồn gốc người Viking.
– Viking là một nhóm người ô hợp thì làm sao có nguồn gốc được.
– Ồ, vậy à?
– Ông biết gì về đám người nầy.  
Tôi khoa tay một vòng ra biển:
– Tao chỉ biết Viking là một đám cướp biển lừng lẫy từ Âu sang Mỹ, xuất xứ từ vùng Scandinavia nầy hồi đầu thế kỷ mười một mười hai.  
Nó chỉnh lại:
– Viking để lại nhiều tiếng xấu nhưng họ không phải là ăn cướp.
Tôi dí dỏm:
– Theo tao nghĩ thì kẻ nào giết người cướp của thì kẻ đó không cướp biển thì cũng cướp bờ.  Nghe tôi nói con nhỏ ngập ngừng một lát rồi tiếp:
– Nhưng những người nầy có theo đạo Tin Lành.  
Tôi pha trò:
– Vậy thì gọi họ là plunder religion.  
Con nhỏ ngạc nhiên:
– Ông nói gì? Plunder religion nghĩa là gì?
 Tôi lấy cây viết nằm trên bàn hoa tiêu và vở tập nháp cạnh bên hải đồ viết hai chữ đạo tặc tổ bố và cắt nghĩa bừa:
– Tiếng Việt có danh từ đạo tặc, ám chỉ những người cướp của nhà giàu đem cho người nghèo hoặc những thầy tu đi ăn cướp. Viking tuy cướp giựt nhưng họ có theo đạo thì cũng có thể gọi là đạo tặc.
 Linda cười lớn:
– Tui biết Viking cũng nhiều nhưng chưa nghe ai nói như ông.  
– Ha ha… nhờ vậy mới làm cho mầy cười được.
– Cái gì nữa?
– Từ ngày xuống tàu tới nay đây là lần đầu tao mới thấy mầy cười tươi như hoa tulip đầu mùa xuân.  Nghe tôi khen bất ngờ con nhỏ sựng một chút rồi ngập ngừng:
– Tại ông nói chuyện nghe mắc cười quá.
– Vậy thì tao gặp may.
Giọng Linda trở nên vui vẻ lạ thường:
– Ông nhớ tui là đàn bà mà, cũng biết khóc nữa.
– Nhưng tao chưa thấy mầy khóc chỉ thấy mầy lầm lì.
– Nếu tôi giỡn mặt đám con trai thì khó làm việc lắm, nhứt làm đám In Đô ngu ngốc mà lại không biết tôn trọng đàn bà.
Chuyện đối phó với cái đám người tạp nhạp thì tùy mỗi người, mầy có cách của mầy.
– Tôi thấy ông cười và ca hát suốt ngày sao hay vậy?
– Mầy nghĩ coi, chỉ vì có miếng ăn mà mỗi ngày đầu bếp lắng nghe biết bao nhiêu chuyện vô lý, nếu tánh tình tao nóng nảy, cố chấp thì mỗi ngày tao phải tức giận tới bao nhiêu lần.  
Con nhỏ đứng suy nghĩ một hồi rồi hỏi:
– Có mấy đầu bếp như ông?
– Tao nghĩ ai cũng làm được chớ không riêng đầu bếp. Một cái trứng hay một miếng bánh có thể làm người ta thù hằn, chửi bới, thậm chí tới đánh nhau. Nhưng cũng một cái trứng và miếng bánh có thể giải hoà, làm cho người ta vui vẻ. Vậy tại sao ta không chọn cách thứ hai để cư xử với nhau cho cuộc sống nầy được tốt đẹp thêm lên.
– Dù sao ông cũng là đàn ông nên dễ dàng hơn. Còn tui là đàn bà con gái chung chạ với đám đàn ông thì biết ai tốt ai xấu để đối xử.  
Tôi cười lớn:
– Ha ha… cũng vì mầy sợ người xấu lạm dụng nên mầy đề phòng, cũng vì đề phòng mà mầy nhìn chung quanh toàn là người xấu.
– Không phải tôi đương nói chuyện với người tốt đây sao?
– Vậy thì tốt lắm, cám ơn mầy, tao đương đọc lịch sử nhóm đạo tặc Viking, có chỗ nào không hiểu tao sẽ hỏi, mầy góp ý với tao nhé.
– Ô Kê!  Tôi đi tới cầu thang định bước xuống, Linda nói vói theo:
– Nè, chữ Plunder religion không có nghĩa gì hết, ông dùng không ai hiểu đâu.
Tôi ngoái lại:
– Không sao, mầy hiểu là đầy đủ ý nghĩa lắm rồi.
– Nghĩa gì?
– Nghĩa là hôm nay tao thấy mầy vui vẻ và cười tươi như hoa. 
– Rồi ông được gì?
– À, một câu hỏi rất hay.  Lúc đó tàu đã qua khỏi chiếc cầu bắt ngang nối hai bờ Đan Mạch và Thụy Điển. Tôi chỉ tay vô thủ đô Copenhagen còn mờ trong sương sớm:
– Mầy coi kìa, nhờ mầy cười mà sáng nay tao thấy biển có thêm phần duyên dáng.
– A ha, cái ông Bếp khùng!   Baltic zee 16 – 1- 2008
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Trên Bến Brega

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Buổi sáng tháng bảy, sáu giờ mười lăm phút, nắng đã chói chang như muốn xóa tan hơi lạnh ven sa mạc ban đêm còn đọng lại. Gió từ ngoài khơi Địa Trung Hải lồng lộng thổi vào nhưng không làm giảm sức nóng của mặt trời mỗi lúc một tăng. Trên bến Brega công nhân đã tề tựu đông đủ, họ chờ thủy thủ trên tàu xoay cần trục, tháo móc những container thì lập tức bắt tay vào việc cất hàng.  Có một nhân viên Triều Tiên lên phòng việc của thuyền trưởng lo thủ tục nhận hàng. Xong. Ông xuống từng dưới, thấy tôi ngồi mình ên trong phòng ăn, ông chào làm quen. Còn sớm chưa đến giờ làm việc nên tôi có thời giờ rảnh rỗi rót cà phê ra mời. Trong lúc uống cà phê ông kể tôi nghe, công ty Dong Ah (Đông Á) của Nam Triều Tiên, qua Libia thực hiện dự án khoan lấy nước ngọt từ phía nam chuyền ngang sa mạc vô các thành phố miền Bắc cho dân chúng xài, và đặt ống lòn dưới lòng đất theo hình xương cá dẫn nước vào những vùng đất khô cho đất thấm ướt để nhà nông dễ bề trồng trọt. Dự án lớn, kéo dài hơn chục năm, vì vậy Đông Á cần rất nhiều công nhân. Họ nhận người từ những quốc gia có mức sống thấp như: Phi Luật Tân, Thái Lan, Bangla Desh và Việt Nam.   Nghe có người Việt, tôi liền ra boong đứng ngó lên đám công nhân tạp chủng. Tôi có thể phân biệt người Bangla Desh nước da nâu, người Thái phần đông gốc Hoa nên hao hao giống người Phi Luật Tân và người Việt. Nhưng giữa đám công nhân hỗn hợp, tôi thấy có một vài người ốm, mặt xương, da đen nám, má hóp, có vài anh răng hô, nếu tôi không lầm, đây là những người Việt ở miền Bắc. Như để xác nhận, một người đàn ông độ tứ tuần tới trước mặt tôi, anh cười:
– You you Việt Lam?
Tôi khôi hài nói bằng tiếng Việt :
– Hỏi vậy cũng hỏi.  Thôi, nói tiếng Việt cho chắc ăn cha nội. Ngập ngừng một lát, anh ta cất tiếng:
– Anh người Việt Lam à ?
– Dĩ nhiên, chánh hiệu con rồng vàng. Anh móc thuốc ra mời. Tuy bỏ thuốc đã lâu, nhưng tôi cũng rút một điếu gắn lên môi hút xã giao. Có lẽ anh ta ngượng trước những câu dí dỏm của tôi, nên rít hết mấy hơi thuốc, phà khói phì phèo mà vẫn chưa bắt được chuyện.
Thấy vậy tôi bèn giả lả:
– Các anh mần gì ở đây ?
– Bọn nầy bốc hàng cho công ty Đông Á. Có ba người nữa thấy anh nọ bắt được chuyện cũng men tới. Tôi chợt nhớ ra, nãy giờ gặp đồng hương mà cứ dí da dí dỏm quên đi phép xã giao thông thường. Tôi bèn chìa tay ra bắt từng người và tự giới thiệu tên mình. Các anh ấy cũng lần lượt giới thiệu tên họ; Ngà, Bi, Hải, Cường.
Sau màn giới thiệu, tôi hỏi :
– Mấy anh ở đâu? Anh Bi chỉ tay lên cái container để trên bến cảng:
– Tụi tôi ở trong cái công-ten-nơ kia.
– Trời đất! Bao nhiêu mạng người dồn trong một cái công-ten-nơ có bây lớn?
– Không, bọn tôi ở tạm để làm việc, chiều về trại ngủ.
– Trại ở đâu vậy ?
– Ở cách đây hai chục cây số.
– Gần thành phố Benghazi hông ?
Ngà chen vào:
– Được gần phố thì ngon rồi, trên sa mạc đấy.  Lúc đó, tên xếp người Triều Tiên đi tới đi lui trên kè đá, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Các anh lật đật từ giã tôi để ra boong làm việc. Tôi cũng trở vô bắt đầu công việc của mình.  Tên xếp người Triều Tiên xuống tàu xin bữa ăn sáng. Ăn xong, chưa chịu đi, ông ta còn đứng la cà trước cửa phòng bếp. Trong lúc tôi đương dọn rửa, thấy trên cổ hắn có đeo cái tu hít, tôi mới hỏi :
– Ông mần việc bến cảng chớ có phải thể tháo gia đâu mà đeo tu hít ? Như bắt được chuyện, ông cười:
– Mầy coi, công nhân của Đông Á có nhiều quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ bất đồng, lại thêm bến cảng ồn ào, vì vậy tao dùng tu hít cho dễ điều khiển, chớ la hét bằng miệng suốt ngày tao sẽ bị tắt tiếng liền. A, đây là mánh khóe nhề nghiệp. Tôi đưa ngón tay gõ gõ tay lên đầu khen ông một cái:
– Ông thông minh lắm ? Nghe tôi bốc. Ông hỉnh cái mũi tịt hãnh diện cười tươi.  Mười giờ sáng Ngà đi qua đi lại trước của sổ, mặt cứ ngó láo liên vô phòng ăn của thủy thủ đoàn. Thấy vậy tôi bèn đi ra chào:
– Nghỉ việc rồi hả ?
– Vâng, bọn em nghỉ giải ‘nao’.
– Giải lao với gì vậy ?
Ngà chỉ tay lên kè đá, nói :
– Với nước ‘nã’ đấy anh. Ở đây chỉ có Ngà nói chữ l thành chữ n, những anh em còn lại nói giọng Bắc, nhưng không giống Ngà. Tôi ngó lên bến, các anh công nhân tụ quanh một thùng nước đá, múc nước chuyền qua từng người trong một cái ca, các anh vừa uống vừa trò chuyện vui vẻ. Thấy vậy tôi mới vô lấy cho Ngà một lon nước ngọt, anh hỏi xin thêm ba lon. Từ đó trở đi, tới giờ nghỉ Ngà không lên bờ, đã vậy còn rủ thêm Bi, Cường, Hải ở lại tàu chờ tôi cho nước ngọt để giải ‘nao’.  Bi và Cường đã ngoài bốn mươi tuổi, Ngà và Hải tuổi vừa mười chín, bốn người mần việc ngoài boong nên tôi tiếp xúc, nói chuyện được nhiều hơn các anh em làm trên bến. Khi mặt trời đứng bóng, tôi men lên cái container có gắn máy điều hòa không khí dành cho toán công nhân Việt Nam nghỉ trưa. Vừa bước vô tới cửa, tôi thấy anh em nằm ngủ la liệt. Tôi bèn day trở ra. Chợt một anh thấy tôi, lật đật ngồi dậy kêu, làm cả đội giựt mình thức giấc. Mắt nhắm mắt mở, các anh dồn chỗ và mời tôi ngồi. Thấy các anh nhiệt tình, tôi cũng không ngần ngại bước vô, ngồi phệt xuống, dựa lưng vô vách, giả lả hỏi :
– Mấy anh cơm nước chưa mà ngủ ngon quá vậy ?
– Xong rồi anh. Một anh nói thêm :
– Nhưng ăn cơm cá bậy bạ thôi chớ chả có mẹ gì. Mần việc cạnh sa mạc, gió tung cát bụi đầy đầu đầy cổ, cho nên các công nhân người nào cũng trùm miếng vải trắng từ đầu phủ xuống khỏi vai, nếu không bụi cát dính vô người trộn lẫn mồ hôi, lâu ngày ăn lở da. Khi nghỉ ngơi anh em tháo nón tháo khăn xuống. Nhưng có một em nhỏ trạc mười bảy mười tám tuổi, nếu không có những vết cắt, cạo gió còn bầm trên trán, trên cổ, thì da dẻ trắng trẻo, bô trai như công tử bột. Có lẽ em từ Việt Nam mới qua nên chưa đậm nét phong sương. Thấy mặt xanh như tàu lá, vẫn để trùm nguyên khăn, nón, tôi biết ngay em bị bịnh.
Tôi hỏi :
– Em tên gì ?
– Dũng.
– Bịnh sao không ở nhà nghỉ ngơi ?
Dũng cười buồn không đáp.
Ngà trả lời thay :
– Nghỉ bị trừ tiền đấy anh.
– Bộ mấy anh hổng có bảo hiểm sức khỏe sao ?
– Không anh, nhưng khi mình bệnh có bác sĩ chữa cho.
Tôi day qua Dũng, hỏi :
– Sao em hổng xin đi bác sĩ ?
– Em đi hôm qua rồi.
– Bộ bác sĩ cắt, cạo gió cho em đó hả ?
Cả đám cười rộ lên.
Ngà tiếp :
– Đâu phải anh, bác sĩ cho vài viên thuốc uống. Nhưng đêm qua thấy Dũng nó sốt quá, anh em mới cạo, cắt cho đấy chứ.
– Người ta bịnh mà hổng cho nghỉ rủi đương mần việc chết rồi sao ?
Giọng Bi mỉa mai :
– Thì gia đình được lãnh vài trăm đô.
Tôi lảng sang câu chuyện :
– Còn chuyện giải trí trong trại của anh em, và đời sống tinh thần có thoải mái lắm không ? Các anh phân vân câu tôi vừa hỏi nên tất cả im lặng.
Lát sau, một anh nói :
– Ngoài cái vi-đê-ô ra chẳng có mẹ gì hết.
– Còn chứ, Bi cay cú, tối buồn khó ngủ, cả bọn sụt cặc lẫn nhau cho đỡ buồn. Đúng là giọng của chiến sĩ từng vào sanh ra tử. Mặt bên phải anh Bi có một vết thẹo, nếu tôi đoán không lầm, vết thẹo do chiến tranh gây ra, may nhờ bộ râu quai nón che bớt phần nào, nếu không nhìn anh tưởng đến một tay dao búa, chớ hổng phải dân lương thiện. Lời nói của anh có hơi cay cú thời thế, nhưng nhờ tánh thành thật, nghĩ sao nói vậy mà tôi có cảm tình với anh ngay lúc đầu. Tôi day qua hỏi chuyện anh :
– Anh mần ở đây bao lâu rồi ?
– Gần ba năm.
– Chị nhà vẫn liên lạc thường xuyên hả anh ?
– Vâng.
– Anh được mấy cháu ?
– Ba, hai giai một gái.
– Mỗi tháng anh vẫn chuyển tiền về đều đặn chớ ?
– Không anh, mỗi năm tụi Đông Á chỉ ứng trước ba chục đô, còn bao nhiêu nó giữ lại, khi mình về nó đưa nốt.
– Như vậy còn chị và mấy cháu ở nhà sống ra sao ?
– Vợ tôi dạy học.
– Lương giáo viên thời này sống sao nổi.
– Thì tự bán buôn thêm mà sống. Tôi ái ngại thấy mình tò mò hơi quá đà chuyện gia đình của anh. Tôi bèn khôi hài để trớ sang chuyện khác.
– Ba năm qua xứ sa mạc phơi cu khô queo, khi về nhà bà xã muốn xài dám phải ngâm nước quá.
Cả đám cười rộ, anh cũng cười, nói :
– Địt mẹ, bỏ cả bốn năm cay vàng mới đi được, tưởng ngon, ngờ đâu qua đây chơi với lạc đà.
Tôi ngạc nhiên:  
Ủa, mần công mà cũng phải đóng thuế nhiều như vậy sao ?
Anh Bi ừ hử như chưa tìm ra câu trả lời.
Anh Cường chen vô :
– Không phải đóng thuế đâu anh, đây là tiền trà nước lo giấy tờ.
– Giấy tờ gì mà mất cả hai cây vàng ?
– Thì người nầy vài vé, người kia vài vé, tới khi đi được mất hơn cả chục vé đấy.
Tôi thắc mắc :
– Vé là cái gì vậy ?
– Mỗi vé là một trăm đô đấy anh.
– Xin lỗi, Đông Á trả cho các anh mỗi tháng được bao nhiêu ?
– Từ một trăm năm chục đô đến hai trăm hai chục, ăn ở, áo quần họ bao.
– Công nhân nước khác cũng vậy sao ?
– Không anh, người mình họ trả lương thấp hơn Phi Luật Tân và tụi Thái.
– Ngộ vậy, tôi nói, bốn năm cây vàng, qua đây mần cả năm chưa lấy lại vốn.
– Thì vậy. Tiếng xoay cần trục, tiếng động của các xe chở hàng ồn ào trở về. Tên xếp lùn đi tới đi lui ngoài sân, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Anh em lật đật đứng dậy đội khăn, đội nón. Tôi cũng phủi đít đứng lên từ giã các anh bước ra ngoài. Dưới nắng chang chang, gió lồng lộng, cát bụi bay ngợp trời. Mấy người Triều Tiên tụ lại một nơi, kẻ đứng, người ngồi trong chòi che mát. Miệng quát tháo, tay chỉ trỏ đám công nhân, trông giống như những viên tướng chỉ huy đứng phía sau ra lịnh xua quân xông trận.  Trưa hôm sau, Ngà ngoắc tôi ra boong, dẫn tới góc khuất bên hông tàu, mắt ngó láo liên, không thấy người dòm ngó, anh lận ngực áo móc ra một xấp báo giơ cho tôi. Thì ra, hôm qua tôi hỏi các anh có báo chí Việt Nam cho tôi xin đọc ké. Hôm nay Ngà đem xuống mà mặt mày lấm lét như tên ăn trộm. Cầm xấp báo trên tay, lòng ray rứt. Tôi ráng gượng cười, nói :
– Cám ơn Ngà nhé, nhưng mà nè, báo chí chớ bạch phiến, hay đồ lậu gì đâu mà em sợ.
– Nhưng phải cẩn thận chứ anh, tụi Ni-Bi kỳ lắm, mình sơ ý nó thấy được nàm khó dễ phiền phức.  Thiệt ra thì xứ Libie nầy cũng kỳ cục lắm. Trước khi tàu ghé bến, sách báo phim ảnh khiêu dâm, bia và rượu phải đem để vô một phòng, chờ quan thuế xuống kiểm xong, họ khóa phòng lại bằng cọng kẽm có bấm nút chì. Trong thời gian tàu đậu lại bến, ai coi phim con heo, uống bia rượu họ bắt được sẽ bị phạt ba ngàn mỹ kim. Tuy nhiên những nhân viên cao cấp thường xuống tàu hỏi xin thuốc thơm và rượu mạnh. Mỗi chuyến về Âu châu, thuyền trưởng chuẩn bị sẵn trong phòng rượu mạnh, thuốc thơm, dành khi trở qua tặng cho các quan, nếu không thì các ngài sẽ cho đệ tử xuống tàu lục lọi, moi móc tùm lum. Thấy tôi và Ngà đứng nói chuyện, Cường đi lại đứng cạnh bên. Lát sau anh hỏi tôi:
– Trên tàu có thịt lợn không anh ?
– Có chớ.
– Hơn cả năm rồi em chưa thấy miếng thịt lợn.
– Phải rồi, xứ nầy đạo Hồi mà. Ngà chen vô, nói :
– Bọn Ni-bi thờ nợn đấy. Tên xếp chạy lúp thúp tới lui trên kè đá, miệng thổi tu hít, tay chỉ trỏ hối thúc đám công nhân. Thấy hơi chướng mắt, tôi hỏi :
– Xếp nó sai khiến công nhân như vậy sao ?
Ngà vọt miệng:
– Vậy mà nhằm nhoà gì anh, thằng nào lạng quang nó đánh bỏ mẹ đấy.
– Như vậy hai anh đứng đây một hồi coi chừng có chuyện.
– Không sao, tụi em tới giờ giải  nao đấy anh.
Tôi chợt nhớ ra :
– Anh Bi và Ngà chờ tui một lát. Cầm xấp báo đi vô để trong phòng. Tôi xuống mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt ra cho mỗi người một lon. Nhận hai lon nước, hai anh đi tới chỗ khuất người mở ra uống. Tôi ngước mặt nhìn lên bầu trời cao thăm thẳm, nền trơi xanh ngát, trong veo nắng cứ gay gắt đổ xuống đầu những công nhân khuân vác. Trên đọt ống khói của nhà máy lọc dầu, lửa phun lên cả chục thước, khói đen cuồn cuộn làm ô nhiễm không gian.  Buổi sáng, tên xếp ăn điểm tâm xong, hắn đi lại đứng trước cửa phòng bếp, mặt nghiêm nghị,  kêu:
– Bếp!
Tôi day lại :
– Chuyện gì ?
– Ông đừng đem đồ cho mấy người Việt Nam của ông nữa.
– Sao vậy ?
Hắn giơ chéo hai tay ra dấu bị trói :
– Tụi Libie bắt được bỏ tù đó.
– Sao ông xuống tàu ăn uống hà rầm mà hổng ai bắt ông bỏ tù hết ?
– Vì tao cao hơn tụi nó. Tôi định nói xốc hắn một câu cho bỏ cái thói tự cao tự đại, chợt tôi nhớ ra, trong những ngày sống tại đây, tôi cũng có ít nhiều kinh nghiệm đối với xứ đạo Hồi. Cảnh sát rắc rối dàn trời, chuyện bé xé ra to. Mặc dù chánh quyền nơi đây không thích Mỹ, nhưng những người tới từ các quốc gia tư bản, mỗi khi bị phạt phải tính bằng Mỹ kim. Biết đâu điều hắn nói là sự thật, thì rắc rối cho anh em. Đến đây tôi không còn thành kiến với hắn ta nữa, bèn đổi giọng khôi hài:
– Ông đâu có cao?
Hắn cãi lại :
– Tao cao. Tôi bước lại đứng cạnh bên, giơ tay lên cằm gạt chéo qua đo, đầu ông vừa ngang cằm tôi.
Tôi nói :
– Ông thấp hơn tôi cả tấc. Vỡ lẽ ra hắn hỉnh cái mũi xẹp cười sằng sặc trông mặt hắn giống y chang mặt con chim mèo. Tôi lại mở tủ lạnh rót cho hắn một ly nước cam và cám ơn ông đã nhắc nhở tôi một chuyện khá nguy hiểm. Hôm về Âu châu, tôi có mua bánh kẹo và gom góp một mớ áo quần định chuyến nầy qua tặng các bạn. Nhưng sau khi nghe tên xếp lưu ý, tôi đâm e ngại. Có lòng tốt trên những quốc gia kỳ khôi như vầy lắm khi mang hoạ vào thân. Mặt trời tròn như chiếc mâm, ngoan ngoãn nằm sau một lớp màn trắng đục. Buổi chiều khô khốc, không ánh hào quang, không ráng đỏ nhưng gay gắt nóng. Tiếng động cơ của các xe tải đã ngưng bặt. Coi như ngày làm việc đã qua, công nhân đứng tụm năm tụm ba trên bến tán gẫu. Một anh người Tàu gốc Thái, đô con có bộ ngực lực sĩ, da ăn nắng xạm đen, ở trần, áo vắt lên chiếc vai trần bóng lưỡng. Đi tới truớc mặt tôi, cười vui vẻ. Đột nhiên anh cất tiếng:
– Ở đây không có l. ! Cả đám đực rựa ở trong sa mạc lâu ngày, thèm khát đàn bà, dằn không được, hễ có dịp là mở miệng nói tục một cách trơn tru. Có lẽ anh ta tập nói tiếng Việt chỉ một câu duy nhứt nên phát âm rất rõ ràng. Tôi hỏi anh nói tiếng Việt thạo không. Anh ta nhún vai lắc đầu rồi bỏ lên bến. Lúc đó Hải lại đứng cạnh bên tôi.
Day qua, tôi nói :
– Vậy là xong hết một ngày. – Vâng. Hải vừa móc thuốc mời vừa hỏi :
– Tàu anh sang Ý à ?
– Ừa, tối nay tàu khởi hành.
– Ý văn minh không anh ?
– Văn minh gì ? Hải ngập ngừng:
– Em…em muốn biết bên Ý giàu không đấy ?
– Như vậy thì nước Ý văn minh hơn Việt Nam mình nhiều.
– Nước mình còn nói làm chi nữa. Phì phà mấy hơi thuốc, Hải tiếp :
– Bọn em muốn theo tàu qua Ý, nhưng không biết qua đó người ta có nhận mình không ? Tôi ái ngái nhìn Hải. Gần hai chục năm sống đời hồ hải, tôi đã chứng kiến nhiều vụ trốn theo tàu, nhưng mười lần may ra thoát được một. Đó là thời điểm cách đây hơn chục năm, còn bây giờ thì khó lắm. Tôi lơ đãng ngó lên bến thấy Ngà, Bi, Cường đứng trên kè đá nhìn xuống, trông mặt người nào cũng có vẻ khẩn trương. Lòng bâng khuâng không biết phải làm sao, vì câu chuyện đột ngột quá. Tôi thân mật vịn tay lên vai Hải ôn tồn:
– Hải à, chuyện nầy phiêu quá nên anh không dám ý kiến với em đâu.
– Không sao, anh cứ nói, bọn em nhờ anh đấy.
Tôi lắc đầu:
– Cá nhân tui, bất quá chỉ giúp anh em cơm ngày ba bữa trong chuyến đi, nhưng tuyến của chiếc Elsa nầy, sang Ý rồi trở về Tripoli không đầy một tuần lễ. Người ta sẽ bắt em trả lại, vì trên tàu nầy ai cũng biết tụi em là người của Đông Á.
– Thế anh có cách nào giúp bọn em không ? Tôi nhìn gương mặt đen xạm vì nắng, gió sa mạc, đôi mắt em sáng đầy nghị lực và giọng nói cương quyết. Không nỡ làm ngơ, cuối  cùng tôi cũng đưa ý kiến :
– Nếu em muốn đi thì phải biết phân biệt cờ của những quốc gia trên thế giới. Tôi chỉ tay qua chiếc tàu đậu cạnh bên:
– Hải coi kìa, đó là tàu Panama, cờ sau lái là cờ quốc tịch, còn cờ trên ngọn cột hàng hải phía trước là của Libie, tức là cờ của quốc gia tàu đến. Khi đọc được cờ rồi còn phải biết tàu đó chạy tuyến nào, tốt hơn hết nên chọn những chiếc chạy không tuyến nhứt định.
Hải chận :
– Thế là sao anh ?
– Nghĩa là tàu ghé ở cảng nầy một lần rồi không biết chừng nào mới trở lại nữa.
– Họ có liệng mình xuống biển không anh ?
– Theo luật hàng hải và lương tâm con người thì không, nhưng cũng nên cẩn thận. Trước đêm muốn trốn thì phải chuẩn bị hộp quẹt và nước. Hộp quẹt phòng khi xuống khoang người ta đóng hầm lại, lỡ bị kẹt không lối ra thì xé áo quần đốt gây khói để người trên tàu biết mà giở nắp hầm cho lên, còn nước phải đủ uống hơn một ngày. Muốn chui lên phải chờ tàu chạy ít ra cũng hai mươi bốn giờ đồng hồ, nhưng phải đợi ban ngày ban mặt, có đông đủ thủy thủ đoàn mới chui ra, như vậy có thằng gian ác muốn làm ẩu cũng không làm được. Tôi hỏi để kích động tinh thần :
– Hải dám hông ?
Giọng em cả quyết, nói :       
– Dám chứ anh.
– Vậy thì về bàn lại với anh em, nhưng còn chuyện nầy nữa.
– Chuyện gì anh ?
– Khi xuống tàu cứ liệng bỏ hết giấy tờ, tạm thời lờ đi cái quốc tịch của mình là có hy vọng.
Đôi mắt Hải sáng lên:
– Cám ơn anh, để em về bàn lại với anh em. Mấy giờ tàu anh chạy?
– Mười giờ hoa tiêu xuống. Lúc đó Hải nhìn thấy xe bus chở công nhân của Đông Á từ ngoài tung cát chạy vô, em bắt tay chào từ biệt và vội vàng đi nhanh lên bến.  Từ đó tới nay, mỗi lần chứng kiến cảnh những người từ bỏ quê hương mình, để chọn cuộc sống trốn chui trốn nhủi nơi đất lạ. Lòng tôi ray rức nhớ tới những công nhân ở bến Grega và ân hận chuyện tôi đã chỉ đường đi cho họ. Nếu thật sự họ bỏ trốn thì cả bọn sẽ đi về đâu và có được an toàn tới bến bờ không. Hay là đã bỏ mạng như những người nhập cư bất hợp pháp bỏ mạng trên đường. Tôi cầu mong cho các bạn kia đừng chui xuống những con tàu vô định, để sau khi hết hợp đồng họ còn được trở về quê hương gặp lại những người thân đang đêm ngày trông đợi.
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đàn… hặc!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Hồi năm ngoái, trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, mấy thầy bói bên Hong Kong thi nhau bói! Vì nếu chó táp phải ruồi, phước chủ may thầy, trúng một cái là thân chủ đến xem nườm nượp, mặc sức mà hốt tiền đô (Hong Kong).

Người thì nói: Tám năm trước, năm 2008, tại bà Hillary Clinton hơi nóng nảy, mạnh bạo, hơi tự mãn về bản thân trước Barack Obama, nghĩ mình phải là người chiến thắng nên rốt cục đã thua.

Còn năm nay, năm 2016, Bà Hillary Clinton có gương mặt hoàn hảo nhất, đôi mắt sắc, khuôn mặt dài, mũi cao và môi mềm mại, cằm bạnh và má nở so với đối thủ Donald Trump.

Bà chỉ cần phùng mang trợn má là thắng chắc! Nước Mỹ sẽ có Nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử. Bói trật lất hè!

Một ông thầy bói Tàu khác thì coi cái lông… mày xong, bèn phán rằng:

“Theo tướng số về lông! Lông mày rậm, thẳng sẽ có may mắn nhiều hơn những người có lông mày cong”.

Có lẽ Trump nghe được điều này nên đã nhờ ông thầy này tỉa bớt lông mày, làm nó bớt cong cong! Phần lông mày đã tốt; Trump có một gương mặt vuông vức như cái bánh chưng nên Donald Trump mới thắng.

Nghe Donald Trump thắng, Thầy khoái quá, tán thêm rằng: 2016 là một năm tốt đẹp cho Donald Trump, do sao Thái Dương chiếu mệnh!

Rồi cách đây 500 năm, trong bài thơ sấm như của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm của ta vậy, tiên tri Nostradamus đã ám chỉ Trump cũng sẽ thắng cử Tổng thống đó thôi! Nhưng cái khúc sau là sẽ bị đàn hặc?

Chu choa! Thầy bói này chết nhăn răng, chết mất đất cả hằng 5 thế kỷ rồi mà coi bộ đoán trúng phóc đó nhe.

Nhưng đàn hặc là gì? “Đàn… Hặc là vừa đánh đàn vừa cười hặc hặc!”

Làm Tổng thống Mỹ mà bị đàn hặc, rầu muốn chết, mà bụng dạ đâu mà ngồi vừa đánh đàn vừa cười hặc hặc đây ông?

Không đồng ý với cách giải nghĩa tiếu lâm đó, tui tầm chương, giở tự điển Hán Việt ra coi thì thấy như vầy: “Đàn hặc, động từ, có nghĩa là Quốc hội Mỹ gồm Hạ viện và Thượng Viện luận tội một viên chức công quyền nào làm điều phạm pháp.”

Còn từ điển tiếng Anh thì cắt nghĩa đàn hặc là impeach, động từ: “to charge (a public official) with a crime done while in office”

(Truy tố một viên chức chánh phủ phạm tội hình sự lúc đang tại chức).

Thí dụ là: “Congress will vote on whether or not to impeach the President”. (Quốc hội sẽ bỏ phiếu để xem có nên truy tố Tổng thống hay không?)

Trong lịch sử nước Mỹ, thế kỷ 19, bị đàn hặc, Tổng thống Andrew Johnson cũng thoát tội trong cuộc bỏ phiếu của Thượng viện.

Năm 1988, Tổng thống tài hoa và đào hoa Bill Clinton cũng bị đàn hặc vì che giấu vụ thổi kèn saxophone với người đẹp thực tập sinh tại Tòa Bạch Ốc là em Monica Lewinsky. Nhưng Thượng viện đã không đạt được đủ 2/3 số phiếu biểu quyết để phế truất Bill Clinton!

Chỉ có Tổng thống Nixon buộc lòng phải từ chức trước khi Hạ viện có thể đưa ông ra xét xử về vụ bê bối, nghe lén đảng Dân Chủ, vụ Watergate.

Còn lần này thì Tổng thống Donald Trump đang bị giới truyền thông Mỹ nhào vô cắn xé… “Mãnh hổ, tui e, nan địch quần hồ?!”

Hai tờ báo mạng New York Times và Washington Post đang đua nhau tìm sự thực về quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua.

Lúc 5 giờ chiều thứ Hai, ngày 15 tháng Năm, Washington Post đưa một tin động Trời là: “Tổng thống Trump đã tiết lộ cho người Nga biết một tin tình báo được xếp loại tối mật!”

Tin tối mật thì chỉ Hội đồng An Ninh quốc gia của Mỹ biết mà thôi. Đâu ai, dẫu là Tổng thống Mỹ, lại có quyền muốn “xì” ra cho mấy thằng Nga nó biết hè?!

Không chịu để địch thủ bỏ lại, chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau đó, New York Times cho nổ tung một cái tin còn động trời hơn nữa là: “Cựu Giám đốc Cục Điều Tra Liên bang Mỹ có hồ sơ cho thấy Tổng thống Donald Trump cố gây sức ép để FBI ngưng cuộc điều tra nhắm vào Cố vấn an ninh quốc gia Michael Flynn vì có liên lạc với Nga.”

Triều đại Trump hết cái xì căng đan này tới cái xì căng đan khác trong vòng chỉ hơn 3 tháng, Trump lên ngôi cửu ngũ, đã làm sống lại cuộc đua giành giựt độc giả cực kỳ quyết liệt giữa hai tờ báo lớn nhứt Hoa Kỳ.

Quyền tự do ngôn luận theo Tu Chính án thứ nhứt ngày một mạnh lên. Dân Mỹ giờ đây nhận được tin thứ thiệt chứ không còn tin giả như Trump đã từng kết tội và đòi FBI bắt bỏ bót giới truyền thông Mỹ.

Cả hai tờ Times và Post đều hát khúc khải hoàn, hoan ca; vì ấn bản báo mạng, nhanh, lẹ, nóng hổi vừa thổi vừa đọc, được thêm cả trăm ngàn bà con xúm vô mua quá trời hè.

Báo giấy, báo in, tin tức chậm như rùa, đã thực sự cáo chung, dầu không muốn cũng lăn ra ngủm củ tỏi.

Thế là mấy ký giả kiểu xưa, vừa hút thuốc lào, ngồi rị mọ tuần viết một, hai bài… đang ôm con vợ nhà khóc i ỉ! Giờ biết sống làm sao đây bà nó ơi?

Thì mấy ký giả trẻ của thời tin học thì reo mừng tở mở.

Cuộc đua quyết liệt của hai tờ @nytimes and @washingtonpost này làm tui cực kỳ hãnh diện, lỗ mũi to bằng trái cà chua của Mỹ.

Nguyên văn là: “Makes me proud to be a journalist. Bravo!”

Tui cho là hai tờ báo này ngây thơ; đang cố tình giết một con gà đẻ trứng vàng!

Nếu Trump không còn làm Tổng thống nữa. Không còn tàn chi quái đao, tự lấy đao mà cắt thịt xương mình… thì anh em nhà báo chúng ta còn đề tài nào nữa mà viết hè?!

Bấy lâu nay, nhờ Trump anh em mình có thêm chút cháo bào ngư mà giờ này mấy ông quyết đảo chánh Donald Trump, (nếu thành công), chắc tụi mình chỉ còn ăn cháo trắng…

Đối với Trump không có đúng hoặc sai. Chỉ có thắng và thua. Mà lần này có vẻ sẽ thua nên các cố vấn lòng thấp thỏm cho tương lai. Mất job rồi mình sẽ về đâu?

Trump cũng trở nên gay gắt, rầu rĩ, xì nẹt các cố vấn là “đồ ăn hại”, ngay cả đối với con rể dấu yêu, Jared Kushner.

Các dân biểu Liên bang và Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đang nghĩ đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng Mười Một, năm 2018! Toàn bộ 435 ghế Hạ viện cũng như 1/3 trong 100 ghế Thượng viện phải được bầu lại.

Bây giờ mà sơ sẩy ủng hộ Trump, dân Mỹ ùn ùn bầu cho đảng Dân Chủ; coi chừng lúc đó mất ghế như chơi!

Nhứt là khi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ chỉ định một Công tố viên đặc biệt để điều tra tận tường việc liên hệ với Nga của Putin. Không một ai trong đảng Cộng hòa dám lên tiếng bênh vực Tổng thống phe ta hết ráo!

Những xì căng đan liên tiếp như những đám mây mù che phủ cả Tòa Bạch Ốc sau khi Tổng thống Trump đuổi việc Giám đốc FBI James Comey.

Một Thượng nghị sĩ Cộng Hòa than nghe thấy thương luôn: “Chẳng lẽ không thể có một ngày không xảy ra khủng hoảng hay sao? Tôi chỉ mong muốn điều đó”.

Các nhà lập pháp bảo thủ của Hoa Kỳ đã bắt đầu xầm xì to nhỏ với nhau là: “Tổng thống Pence!” Tính thay ngựa giữa dòng: Donald Trump làm thuyền trưởng dở như hạch thôi để Thuyền phó Mike Pence lên thay để đảng Cộng Hòa vượt qua cơn giông tố này.

Nếu không thuyền chìm là cả đám sẽ chết chìm hết ráo cho mà coi.

Pence ít tạo ra kẻ thù! Pence là một con chiên ngoan đạo! Chúa Nhựt nào cũng đi nhà thờ xem lễ.

Tánh tình Pence điềm đạm hơn! Không chửi bới, xúc phạm một ai, không dùng trang mạng xã hội Twitter chửi thiên hạ để không cho thiên hạ chửi lại mình.

Chính vì vậy, mà Thượng nghị sĩ John Cornyn, trước là một Tổng Chưởng Lý của tiểu bang Texas, nghe phong phanh được đề nghị làm Giám đốc Cục điều tra Liêng Bang FBI đã từ chối: “Thôi gạch tên tui ra đi nha!”

Với lý do là: Chưa bao giờ đất nước chúng ta cần một Giám đốc FBI độc lập và có uy tín như lúc này!”

Chánh án Tòa Chống Án Liên Bang Merrick Garland thuộc đảng Cộng Hòa cũng lắc đầu “No! Thank you”

Rồi Dân biểu Cộng Hòa, Trey Gowdy, của South Carolina cũng: “Hỏng có tui!”

“Tất cả đã bỏ Trẫm đi hết rồi Hu hu! He he!”

Nói nào ngay khi Donald Trump đắc cử cũng làm nhiều bà con mình hy vọng đổi đời.

Đổi đời thì có… Nhưng đổi từ tệ qua quá xá tệ; nên bà con hỏng ai ham, đã cạn đi lòng kiên nhẫn; chỉ muốn Donald Trump “biến” cho rồi!

Báo chí Mỹ vừa chơi hai cái tin, cùng một nội dung, là hai ông cụ, một 91 tuổi và một 75 tuổi, trong giờ hấp hối!

Thân nhân bèn: “Chúng tôi cho cụ hay rằng tiến trình đàn hặc ông Trump vừa mới bắt đầu, (một tin hoàn toàn “cuội”, fake news), nhờ vậy cụ cười khặc khặc rồi thanh thản ra đi.”

Đối với tui thì hoàn toàn khác. Năm ngoái, trước khi có kết quả bầu cử khi theo dõi những lời phát biểu “cà chớn” cà cháo và cà pháo của Trump, tui cũng không thích lắm.

Nhưng từ khi Trump bất ngờ thắng cử ngoài dự đoán của hàng triệu triệu bà con nước Mỹ cũng như trên toàn thế giới; thì tình cảm của tui dành cho Donald Trump đã thay đổi hoàn toàn. Bởi tánh tui là thấy sang bắt quàng làm họ hè!

Từ không thích chuyển qua thích ít! Ngày qua ngày lại thành thích nhiều và thích đủ thứ ở Trump.

“Tội nghiệp là tỉ phú Mỹ kim, vợ đẹp con ngoan, nhà cao cửa rộng, già sống còn không bao lăm mà bon chen chi cho nó khổ dữ vậy nè?”

Trump than: “Làm Tổng thống Mỹ khó hơn tôi tưởng. Rồi nhớ vô cùng đời sống trước khi vào Tòa Bạch Ốc” Làm tui muốn rớt nước mắt cảm thương!

Nếu Trump từ chức tui buồn lắm nhe! Thiệt là một người bạn tốt biết bao của tui.

Người đã dạy cho tui biết bao câu tiếng Mỹ cực kỳ dễ hiểu; vì vốn từ vựng của Người xài chỉ chừng độ 500 chữ, nên tui dễ nhớ dễ thuộc.

Hai là khi nói dóc mà muốn thiên hạ tin thì hãy thuyết phục họ chỉ bằng hai chữ “Believe me!”

Nếu không còn làm Tổng thống nữa, Trump sẽ bỏ tui thui thủi một mình trong vòng vây của địch, (tức em yêu của tui)!

Vì mỗi ngày đi làm về mệt; còn bị em yêu giận hờn cấm vận, đuổi ra “sofa” nằm ngủ, tui đâu còn dịp gặp mặt bạn hiền.

Cứ cầm remote control, bấm nghe cái cốc là bạn hiện ra ngay! Ngày cũng như đêm; để “believe me!” Hi hi.

“Đừng từ chức! Cứ “fight! fight” Chịu chơi; chơi tới cùng như Trump vừa chém gió vừa hứa đó! Nhớ nhe!”

Da vàng mũi tẹt!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bà con mình ở hải ngoại, như nước Úc nầy đây, thường nghe cảnh báo: “Con nít mà không được ai trông chừng sẽ bị bán cho rạp xiếc!”

Vì con nít rất lí lắc! Má nó chỉ rời mắt có chút xíu thôi là tụi nó đã quậy tưng lên, làm diễn viên xiếc rồi.

Chẳng qua có chuyện vầy: Busan (âm Hán Việt: Phủ Sơn), hay còn được gọi là Pusan, là thành phố cảng lớn nhất của Đại Hàn, dân số khoảng 4 triệu người, lớn thứ nhì tại Đại Hàn sau Seoul.

Giáo sư Robert Kelly, người Mỹ, dạy tại Khoa Chính trị học và Ngoại giao, Đại học quốc gia Busan (Đại Hàn), trong căn phòng làm việc của mình ngay tại nhà, đang trả lời phỏng vấn truyền hình trực tiếp với đài BBC, hôm 10 tháng Ba.

Giáo sư Đại học chuyên về bán đảo Triều Tiên cũng có nhiều; nhưng Robert tức Bob, được BBC, hãng thông tấn nổi tiếng của nước Anh mời là trúng mánh nhe!

Một là có danh, nhiều khán giả truyền hình biết mặt, biết tên! Hai là có lợi, vì phỏng vấn là được trả tiền đó.

Không gì sung sướng hơn là làm việc ngay tại nhà, gần vợ, gần con. Muốn chạy qua nựng con một chút; hay hun vợ một cái là phẻ re hè. Được em yêu tiếp thêm năng lượng bất cứ lúc nào mình muốn thiệt không khoái lắm ru?

Nên phu nhân của vị Giáo sư nầy, bà Kim Jong-a, cô giáo dạy yoga, chắc cũng lấy làm sung sướng và hãnh diện nên cùng hai đứa con mình: bé gái Marion, 4 tuổi và bé trai James, mới 8 tháng tuổi, ngồi xem ông xã mình đem cái sở học ra trả lời nhà đài, được truyền hình trực tiếp trong phòng khách.

Marion, mới ăn sinh nhựt trong trường về, còn phấn khích lắm; giờ lại thấy Tía mình xuất hiện trên truyền hình nên mở cửa phòng làm việc của Tía mình, tay cầm đồ chơi, vừa đi vừa nhún nhẩy như đang múa ba lê! Vô kiếm chắc để báo tin vui cho biết là Tía đang có mặt trên truyền hình kia kìa..?!

Thằng nhóc tì James ngồi trên xe tập đi cũng vội vã bường theo!

Giáo sư Kelly thấy trên màn hình con gái mình mở cửa bước vào: “Thôi rồi! Hư bột, hư đường hết ráo rồi! Cũng lỗi tại tôi sơ ý quên đóng cửa đó mà!”

Sợ nhà đài BBC chê mình làm ăn không chuyên nghiệp, lần nầy chắc không có lần sau; nên miệng xin lỗi nhà đài, tay đẩy con ra…

Bà Kim Jong-a hoảng hồn vọt theo vào, (cố cúi rạp người xuống chắc để né cái camera, tránh bị thâu hình trực tiếp trên Skype), kéo hai đứa con ra, cho chồng mình tiếp tục trả lời phỏng vấn.

Marion không chịu ra, dù bị kéo, miệng hỏi mẹ bằng tiếng Hàn là: “Tại làm sao mà kéo nó ra khỏi Tía nó vậy hè?”

Thiệt là một tình huống dở cười dở khóc trước hàng triệu bạn xem đài trên toàn thế giới.

Nhưng tiền hung hậu kiết. Thấy xui mà lại hên, trên Facebook, hơn 84 triệu lượt người xem, khiến gia đình Kelly nổi như cồn! Bà con mình chú ý đến hai nhóc tì đang hát xiệc, vui quá mạng, hơn là việc ông giáo sư Kelly nhận định về phán quyết lịch sử của Tòa án Hiến pháp phế truất nữ Tổng thống Nam Hàn Phác Cận Huệ!

Nổi tiếng, ăn khách là truyền thông nó lại mời phỏng vấn nữa hè. Lại vô mánh!

Lần nầy, hôm 15 tháng Ba, ông bà giáo sư diện cho hai đứa con mình rất là bảnh tỏn. Marion mặc áo khoác, vì Nam Hàn đang mùa Đông, mang kiếng màu hồng.

Dụ khị con nít ngồi yên, có tham khảo sách vở đàng hoàng nên bà giáo sư cho một cây kẹo để Marion ngồi mút. Được một cái bánh, James, bận rộn hai cái tay nhỏ xíu đút vô mồm…

Có kẹo, có bánh… mắc ăn rồi nên không chộn rộn làm xiếc nữa mà chi… Ai muốn làm, muốn nói gì thì xin cứ tự nhiên nhe!

Giáo sư Kelly chia sẻ: “Khi con bé mở cửa, tôi đã thấy qua màn hình. Tôi biết chuyện này không ổn rồi! Nhưng ráng nhịn cười! Con nít mà! Hãy để cho chúng tự nhiên… như con nít!”

“Tôi nghĩ việc đó dễ thương đấy chứ. Vợ tôi xứng đáng được gắn ‘mề đai’, vì đã làm một việc thật tuyệt vời, cố cứu vãn tình huống không ai lường trước được!

Tôi đã mắc phải sai lầm nhưng không ngờ lại biến gia đình mình trở thành ngôi sao trên YouTube.

 Chúng tôi rất vui về tình cảm bà con mình dành cho bọn trẻ. Xin cảm ơn các bạn.”

***

Rồi tui cũng trộm nghe công viên Hyde Park ở thủ đô Luân Đôn nước Anh, từ năm 1872 tới nay, chánh phủ Anh dành cho dân Hồng mao một nơi để ai muốn đến đó diễn thuyết, muốn nói gì thì nói, bất cứ đề tài gì mà không bị chụp mũ là thế lực phản động bao giờ!

Thời buổi internet thì còn tiện lợi hơn, tự do hơn nữa; ai muốn nói gì thì nói… bất cứ đề tài gì trên các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube. Bấm chuột nghe cái cốc là nó hiện hình liền! Cái quan trọng là bá tánh có chịu nghe mình nói xàm, nói bá láp hay không?

Chỉ một hạt cát mà bà con mình tìm thấy được một đại dương, xôn xao cãi nhau ì xèo, ông nói gà bà nói vịt như cái chợ Cầu Ông Lãnh vậy!

Có người cho rằng: “Cuộc phỏng vấn trên BBC hài hước nhất, thú vị nhất mà tôi từng được xem trên BBC nhưng tôi không thể cười nổi khi chứng kiến Marion bị Tía đẩy ra và bị Má lôi đi.”

Có người lại hỏi tại sao không đứng dậy, dắt con mình ra khỏi phòng, chỉ chừng vài giây thôi, rồi vào trả lời phỏng vấn tiếp?

Thì có tay khác đầu óc hơi ‘bị’ tiếu lâm trả lời là: “Máy thu hình thấy ông Giáo sư mặc đồ lớn thắt cà vạt phía trên khi ổng ngồi. Đứng dậy, sợ bà con mình thấy ổng mặc quần xà lỏn sao cha? Ha ha!”

Người binh vực thì khen ông Giáo sư rất chuyên nghiệp, tôn trọng nhà đài và bạn xem đài. Ông Giáo sư thương con đó chớ; chính vì vậy mà cháu bé muốn vào phòng làm việc của Tía mình lúc nào cũng được. Cửa không khóa là mở cửa vào thôi hè!

Chương trình hài của New Zealand đã làm một video ăn theo! Thay vì giáo sư Kelly, lại là bà Kate Wordsworth đang trả lời câu hỏi về khủng hoảng chính trị ở Nam Hàn thì đứa con gái bước vào.

Bà bế con lên, cho nó ngồi lên đùi, đút vào miệng cháu cái núm vú, không phải của mình mà của cái bình sữa! Khi đứa thứ hai bước vào, Bà đưa cho nó một món đồ chơi.

Sau đó, bà mẹ ba đảm đang nầy còn lấy gà nướng ra khỏi lò, chùi bồn cầu ‘toilet’ và thậm chí còn dư tay dùng kéo cắt dây điện của bom hẹn giờ trong khi vẫn tiếp tục nói chuyện với đài truyền hình BBC.

Cái video clip nầy ca ngợi chị em ta; rồi đá khéo cánh đàn ông chúng ta dở như hạch, có như vậy mà cũng không biết giải quyết ra làm sao cho xuôi chèo mát mái!

Rồi bà con mình ở không, ghiền ‘facebook’, kẻ nói qua người nói lại đưa đến một cuộc tranh luận nẩy lửa về chủng tộc, da trắng, da vàng và cuộc hôn nhân dị chủng. Một nhà đài bèn phóng tác video clip nầy thành một tiểu phẩm hài hước nhưng đầy tính phê phán rất sâu cay.

Bằng cách cho xuất hiện một người phụ nữ Á Châu, ăn mặc có có vẻ xốc xếch “Chị vú em của ông bước vào kìa?” “Không! Đó là vợ tôi!”

Kế đó một người phụ nữ Á Châu khác cũng lôi thôi không kém bước vào.

“Chị người ở của ông kìa!” “Không! Đó là má vợ tui!”

Rồi một ông già Á Châu, vẻ lam lũ bước vào.

“Người làm vườn của ông kìa!” “Không! Đó là ông già vợ tui!”

(Mấy thằng Tây da trắng nó cười ai lấy phụ nữ Á Châu làm vợ là phải nuôi hết cả gia đình bên vợ nữa!)

Cuối cùng có một bà da trắng, cầm trên tay một bức tranh rón rén bước vào.

“Mẹ ông kìa!” thì ông Giáo sư hốt hoảng hỏi: “Bà là ai?”

Người phụ nữ đó chạy biến đi. “Nè! Xì tốp!”

Té ra bà da trắng nầy đi ăn trộm tranh!

Phụ nữ Á Châu, mũi tẹt da vàng, mắt một mí thường bị truyền thông phương Tây mô tả là nanny, tức vú em, tức bảo mẫu, kẻ giúp việc, đầy tớ, khúm núm trước ông chủ da trắng, là chủng tộc thượng đẳng, ưu tú nhất.

Do đó vợ của giáo sư Robert Kelly là Kim Jung-a, người Nam Hàn, mới bị nhầm là vú em, là bảo mẫu.

Ê! Cái nầy đúng hồi thế kỷ thứ 19, thuở huy hoàng của đế quốc Anh mặt trời không bao giờ lặn!

Bây giờ là thế kỷ 21 rồi! Muốn có một người vợ Á Châu đảm đang, hết lòng nâng khăn móc túi mình không phải là dễ rớ tới cọng lông chân của em đâu nha!

Muốn rớ tới cọng lông của em là phải giàu chừng 13 tỉ đô la Mỹ mới được đó.

Hỏng thấy ông chủ bự của đài Fox News, ‘mông xừ’ Rupert Murdoch giàu xụ vậy mà còn bị á xẩm Wendi Deng cho đi tàu suốt; sau khi tuốt của chàng chừng vài trăm triệu đô thôi.

Á xẩm Hong Kong bên hông Tàu Cộng mắc như vậy; nhưng còn chưa nhằm nhò gì với một người em Việt gốc Hoa, Priscilla Chan! Tía má em không phải là dân Hong Kong mà chính thực là bên hông Chợ Lớn, nhưng em sanh ở cái đất nước Cờ Hoa!

Phải giàu hạng 5 trên toàn thế giới, phải trẻ tuổi, tài cao, tài sản xỉu xỉu có 56 tỉ đô Mỹ như Mark Zuckerberg mới được làm Huyện Trìa mà đi khám điền thổ của Thị Hến.

Dẫu da trắng, thuộc chủng tộc siêu đẳng gì gì đó… mà móc bọc thì đừng có hòng!

***

Như vậy, so với mấy thằng còn đầu óc kỳ thị chủng tộc, coi da trắng là siêu đẳng thì tui may mắn hơn tụi nó nhiều. Vì em yêu của tui cũng là xẩm lai da vàng như nghệ! Được em yêu ‘OK Salem’ là coi như tui có tài sản cả tỉ đô rồi đó. Con vợ tui nghe tui nịnh ‘sảng’ như vậy nó khoái quá trời.

Chịu làm vợ của tui là tui khoái quá rồi; nhưng được voi đòi Hai Bà Trưng, phải chi em sản xuất cho tui một đứa con gái, để nó làm diễn viên xiếc cho Tía nó cũng nổi tiếng như ông Giáo sư Kelly vậy; vì em chỉ cho tui được có hai thằng cu hè.

Thì em chu cái mỏ cong cong, phán rằng: “Con trai hay con gái là do Trời định sao mình chịu vậy! Càm ràm cái gì hỏng biết nữa hè?

Còn xét về Bảo sanh viện Từ Dũ, nhiễm sắc thể X, Y gì đó là do anh; chớ nào phải do em.

Do cái phần cứng và cái phần mềm của anh lập trình sẵn. Em chỉ là cái máy in ba chiều, 3D thôi. Anh làm sao là em in ra y hịt vậy hè. Đổ thừa là hỏng có được đâu nhe!

Phần có con gái cũng lo lắm; chớ có sướng ích gì đâu!

Ông bà mình xưa giờ thường nói:“Có con gái lớn trong nhà như hũ mắm treo giàn bếp!”

Nó ngoan thì đi tiệc tùng xong, về nhà, leo lên giường ngủ.

Bằng không nó đi tiệc tùng xong, leo lên giường ngủ, rồi mới về nhà! Thì vợ chồng mình chỉ còn có cái nước khóc tiếng Tiều!”

doanxuanthu

melbourne

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bài 22 – May Rủi Trong Cuộc Chiến

Một buổi trưa, bác sĩ Phúc và tôi đang ngồi nghỉ trong phòng. Lợi dụng thời gian rảnh rỗi, tôi tiếp tục viết nhật ký. Tôi chợt nghe nhiều bước chân người từ cầu thang xuống hầm. Đoán là có thương binh chuyển tới, tôi liền đứng dậy, nhét xấp giấy xuống dưới bọc quần áo và bước ra khỏi phòng. Vừa gặp ngay một người Mỹ mặc đồ phi hành rất trẻ, tuổi chừng 24-25 gì đó. Bên góc trán bên trái bị bầm và trầy một chút xíu, không có vẻ gì nặng lắm. Anh ta vẫn tỉnh táo, đi đứng nhẹ nhàng như thường. Theo sau là mấy sĩ quan bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Tôi nhận ra Trung úy Lành Phòng l Tiểu Khu. Ông nói:

– Đây là Trung úy phi công Mỹ, lái máy bay thám thính mới bị bắn rơi sáng nay. May quá, anh ta nhảy Dù và được cứu mang về đây. Đại tá bảo tôi mang anh ta sang đây cho bác sĩ khám xem có cần phải chữa trị gì không.

– Ồ vậy hả. Trông ông ta như vậy chắc không có gì nặng đâu. Nhưng để tôi khám toàn bộ xem sao đã.

Tôi quay sang vị Trung úy phi công Mỹ nói:

– Welcome to An Loc. How do you feel?

Anh ta mỉm cười nói:

– Tôi đang bay qua thành phố này để tìm kiếm những vị trí của địch quân thì thấy hỏa tiễn bắn lên. Tôi than thầm trong miệng: “Chúa ơi, con bị bắn rồi”. Tôi vội bẻ tay lái, bay quặt lại thành hình chữ U nhưng không kịp nữa. Hỏa tiễn đã bắn trúng máy bay tôi. Nhưng may cho tôi là phản xạ của tôi khá nhanh, quẹo cua kịp thời nên nó chỉ trúng cái đuôi của máy bay thôi. Tôi còn đủ thì giờ mở nóc máy bay nhảy ra ngoài bung Dù ra kịp. Tôi chỉ sợ Dù rơi xuống vùng Việt Cộng là đi đứt. Nhưng may cho tôi, nó lại rơi xuống địa khu của lính bên ta nên được cứu sống mang về đây.

Tôi ngắt lời anh ta:

– Ông thật là may mắn. Ông thấy có bị đau ở đâu không? Ngoài vết thương nơi trán của ông.

– Khi tôi rơi xuống, bị té chúi đầu xuống đất nên trán hơi bị trầy một chút. Ngoài ra, tôi không thấy bị đau ở đâu cả. Tôi thoát chết nên sung sướng lắm. Tôi chẳng có gì ngoài một bao thuốc lá hút dở dang trong túi, tôi liền đem tặng lại mấy người lính đã cứu tôi, gọi là chút đền ơn vậy thôi. Sau đó, họ báo cáo cho cấp trên của họ và dẫn tôi về đây.

Đối với những người ở thành thị thừa mứa thuốc hút, một bao thuốc hay ngay cả một bịch thuốc lá cũng chẳng có gì là quý cả. Nhưng đối với những người lính tác chiến trong rừng, thiếu đồ tiếp tế và nhất là đối với những dân nghiện thuốc lá, dù chỉ là một điếu cũng rất quý. Đặc biệt là điếu thuốc ‘cám ơn cứu tử’ thì nhất rồi, không còn gì ngon hơn, đậm đà hơn và đã hơn.

Tôi không hút thuốc lá nhưng tôi hiểu được những cái thú của người hút thuốc. Đi hành quân trong đêm rừng lạnh lẽo, được một điếu thuốc phì phèo thú vị biết chừng nào. Nhất là sau khi đã đói thuốc mấy ngày rồi. Trong thời gian tôi còn ở đơn vị tác chiến, mỗi lần đi hành quân mọi người đều được phát mỗi ngày một khẩu phần ‘ration C’ của Mỹ. Trong đó có một bao thuốc lá nhỏ, khi thì Lucky, khi thì Marlboro, khi thì Pall Mall. Tôi để dành những gói thuốc này, đợi đến khi mấy người nghiền hết thuốc, thảy cho họ để họ thấy cuộc đời lên hương một chút. Tôi cảm thấy sung sướng cái sướng của họ, rất nhỏ, rất đơn giản và rất ngắn. Nhưng cần gì, mỗi ngày một niềm vui là thích rồi.

Tôi khám qua toàn bộ, quả nhiên thấy không có gì nặng ngoài vết trầy ở trán. Nhưng để an toàn, tôi vẫn chích cho anh ta một mũi SAT để ngừa phong đòn gánh. Sau đó anh trở về Bộ Chỉ Huy để chờ một chuyến tản thương bốc anh trở lại đơn vị.

Xong việc, tôi trở về phòng ngồi kể chuyện lại cho bác sĩ Phúc nghe. Vừa xong thì anh Sáu Xòm bước vào phòng, rủ chúng tôi xuống nhà dân ở dưới làng, cách Bộ Chỉ Huy chừng một cây số để mua thêm mấy thứ cần dùng và thức ăn tươi cho vợ anh sắp sanh trong nay mai. Lối đi từ phía trong trại, tôi hỏi anh:

– Dưới đó có an ninh không mà anh tính đi?

– Thưa bác sĩ, an ninh lắm. Mấy người lính ở trong Bộ Chỉ Huy này vẫn xuống đấy hàng ngày. Dưới đó đầy lính của mình và chưa bao giờ bị pháo cả. Dân của mình tị nạn ở đó đông lắm.

Tôi quay sang bác sĩ Phúc hỏi ý:

– Anh Phúc này, nếu vậy mình thử làm một chuyến xuống đó xem sao. Đại tá Nhựt cũng lưu ý tôi về vấn đề y tế công cộng ở khu đó. Bây giờ mình rảnh, nên đi xem xét tình hình. Có gì mình sẽ nhờ ông Tỉnh Trưởng xin thuốc chủng ngừa cho dân sẽ nhanh hơn là mình xin.

– Vậy thì mình nên đi lắm. Nhưng lỡ có người bị thương tới thì sao?

– Anh đừng lo, tôi sẽ nói Thượng sĩ Lỹ và cô Bích ở nhà coi chừng. Nếu có gì qua mời bác sĩ Chí tới trông hộ một chút. Mình đi nhiều lắm hai tiếng là cùng.

– Bác sĩ đi nhớ mang theo quần áo để thay. Mình sẽ tắm ở dưới đó. – Anh Xòm dặn tôi và nói tiếp – mấy người ở Tiểu Khu đều xuống dưới đó tắm cả vì ở đây mình không có nước. Em nghe nói dưới đó có nhà của một Trung sĩ Địa Phương Quân, thuộc Bộ Chỉ Huy, có một giếng đầy nước. Tha hồ cho mình tắm giặt thoải mái.

– Như vậy thì tốt quá. Đã gần 10 ngày nay tôi chưa được tắm từ khi cơn mưa đầu mùa tới giờ. Thôi chúng mình đi là vừa.

Trước khi đi, tôi có tạt qua hầm bác sĩ Chí dặn coi dùm vài tiếng để chúng tôi đi thăm dưới làng. Bác sĩ Chí cười:

– Bây giờ mày mới xuống đó sao. Hôm qua tao đã đi rồi. Xuống đó tắm giặt, sướng lắm. Mày nên ghé qua chùa, ở đó có trạm cứu thương nơi Trung sĩ Tiếng vẫn làm, băng và rửa các vết thương cho dân.

– Được rồi, kỳ này mày chơi trội hơn tao, khá lắm. Thôi ở đó trông nhà dùm tao. Tao với đốc-tờ Phúc đi một tí rồi về ngay. Có gì Thượng sĩ Lỹ sẽ gọi mày. Cám ơn trước.

Ba người chúng tôi liền rời Bộ Chỉ Huy đi ra phía cổng sau. Trại được bao quanh bởi một bức tường đất. Bên ngoài là những hàng rào kẽm gai chằng chịt, rộng tới 20 thước. Qua một trạm gác, chúng tôi đi theo một con đường mòn dẫn xuống tới khu làng ở dưới đồi. Ở một khúc quanh, tôi thấy gần một đám cây nhỏ rậm rạp, một ngôi mộ mới được phủ bằng một mảnh Dù lỗ nên trông như một con rùa thật lớn. Tôi lấy làm lạ, dừng lại ghé qua đọc dòng chữ viết nguệch ngoạc trên tấm bia bằng gỗ pháo binh. Chữ viết đã bị trận mưa đầu mùa làm mờ đi nên đọc không rõ lắm. Tôi chỉ đọc được: Bác sĩ Quốc. Anh Xòm nói:

– Đây là mồ của bác sĩ Quốc, thuộc Trung Đoàn 52.

Tôi nghe nói anh Quốc chết được gần một tháng nay, không biết chôn ở đâu. Không ngờ lại gặp mộ anh ở chỗ này. Lần chót tôi gặp anh Quốc tại Bệnh Viện Tiểu Khu vào những ngày đầu cuộc chiến khi anh chuyển thương binh đến cho tôi săn sóc.

Hình ảnh một ông bác sĩ đeo kính trắng, dáng người thư sinh, hiền lành và có vẻ hơi gầy một chút. Trông anh mệt mỏi, ít nói cười. Tôi biết anh đã thoát chết nhiều lần khi Trung Đoàn rút lui từ Lộc Ninh, về qua cây cầu tử thần Cần Lê bị Việt Cộng phục kích, nã đại liên vào đám binh sĩ đang qua cầu, không có một chỗ ẩn núp nào.

Tôi biết anh ra sau tôi mấy khóa. Anh ở Trung Đoàn 52 cũng khá lâu. Đáng lẽ anh phải được đổi về những đơn vị tĩnh tại rồi. Không hiểu sao anh vẫn còn ở Trung Đoàn. Vì theo thông lệ, các bác sĩ khi mới ra trường đều được cử xuống các đơn vị tác chiến trước rồi từ từ các đàn em ra sau, sẽ đến thay thế để các lớp đàn anh về dần các đơn vị lớn hơn. Hình như bác sĩ Quốc không hợp với ông Trung Đoàn Trưởng sao đó. Tôi chỉ nghe tin đồn mà thôi.

Các binh sĩ ở Trung Đoàn đều thương mến bác sĩ Quốc. Một người hiền lành, tận tâm đối với các anh em binh sĩ và gia đình họ. Những thương binh thuộc Trung Đoàn 52 khi được tin bác sĩ Quốc chết đã kể lại với tôi như thế.

Về trường hợp bác sĩ Quốc bị tử thương, tôi được nghe nói đang trên đường đi về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, anh Quốc thấy một người lính bị thương kêu cứu, bèn dừng lại săn sóc người lính này nhưng không may, một trái pháo rơi trúng chỗ anh đang ngồi. Bác sĩ Quốc đã bị chết ngay tại chỗ. Nay tình cờ, tôi lại được trông thấy phần mộ của anh.

Nghĩ tới anh, tôi lại thương lấy thân phận của tôi. Anh Quốc đã làm xong nhiệm vụ, xứng đáng với truyền thống Quân Y, quên mình cứu người. Còn tôi, bị vây hãm trong trận địa này không biết sống chết lúc nào. Đã có lúc tôi nghĩ thà chết còn hơn bị thương, vì bị thương sống lây lất khổ lắm. Cũng may cho tôi, giờ phút này tôi đã thoát hiểm bao nhiêu lần, bao nhiêu lần chết hụt. Chỉ nhờ một may mắn hoặc một run rủi nào đó đã đưa tôi ra khỏi nơi nguy hiểm trong đường tơ kẽ tóc.

Không có sẵn nhang đèn nên khi đi ngang qua phần mộ của anh Quốc, tôi đã cầu nguyện cho hương hồn anh chóng được siêu sinh tịnh độ và cũng không quên thầm khấn anh sống khôn thác thiêng phù hộ cho tôi được mọi sự an lành trong những ngày sắp tới.

Với tổng số 16 bác sĩ tham dự trận đánh này, anh là người độc nhất đã ở lại An Lộc. Các vị khác, chỉ có bác sĩ Trương Văn Châu ở Tiểu Đoàn Dù là bị thương nhẹ ở mắt nhưng không sao cả.

Chỉ vài phút sau chúng tôi đã đặt chân tới Phú Đức. Một làng tương đối an toàn mà dân tị nạn đã kéo về đây rất đông. Trận mưa vừa qua, tuy đã hơn một tuần rồi, vẫn để lại những vũng nước bùn hai bên bờ đường. Chứng tỏ vùng này rất nhiều nước nên đất ở đây không thể rút nước đi dễ dàng. Điều này cũng dễ hiểu vì khu này ở dưới chân đồi nên nước ngấm từ trên cao đều đổ dồn về đây cả.

Điều nhận xét đầu tiên khi đặt chân vào đây là đông người quá. Đi ngang qua một căn nhà, tôi chợt nghe thấy một tiếng đàn bà gọi tên chúng tôi:

– Bác sĩ Quý, bác sĩ Phúc.

Tôi ngoảnh cổ lại nhìn sang bên trái. Tôi thấy cô Đào đang ngồi trên một cái võng căng trên một cái giường, tay ôm đứa con. Cạnh đấy là cô bé Hồng, em cô Đào, chừng 13 tuổi đang nhìn tôi, nhăn răng ra cười. Tôi vẫy tay chào cô, hỏi:

– Cô và cháu bé mạnh không?

– Dạ cũng đỡ, chỉ thiếu sữa cho cháu thôi. Bệnh viện còn làm không bác sĩ?

– Chúng tôi không còn ở bệnh viện nữa, đã dọn sang bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu rồi. Cũng gần đây thôi nên mới đi bộ xuống đây được.

Bác sĩ Phúc đứng bên tôi, tiếp lời:

– Để chờ một ít bữa nữa cho an toàn hơn rồi cô cũng nên kiếm cách về Sài Gòn đi. Ở đây thiếu thốn không tốt cho cháu bé. Cô liên lạc với mấy nhân viên Hành Chánh Tỉnh ở quanh đây để nếu có phương tiện, họ cho cô biết. Thường thường, tản thương bằng trực thăng Chinook rất rộng, họ hay cho dân chúng quá giang về Lai Khê, rồi từ đó, cô kiếm xe về Sài Gòn.

– Cám ơn hai bác sĩ.

– Thôi chào cô, chúng tôi đi đây.

Chúng tôi đi về phía chùa. Hai cây Phượng Vĩ bên cổng chùa nở hoa đỏ rực rỡ trên cành. Nếu là những người khác, họ sẽ trách móc sao thiên nhiên quá vô tình. Ngay trong sân chùa, nằm la liệt những người dân tị nạn hẩm hiu, khốn khổ thì phía trên, hoa Phượng Vĩ vẫn khoe sắc tươi đẹp của mình. Hình như chỉ có mình tôi để ý tới những chùm hoa tươi thắm rực rỡ của hai cây Phượng Vĩ. Mọi người chẳng ai buồn ngó lên trên những ngọn cây đó. Tuy có một hình ảnh tương phản giữa sự khốn khổ của dân tị nạn và vẻ tươi đẹp của hoa. Ít ra trong cái địa ngục này cũng còn có một cái gì tươi mát, một tia hy vọng để cho đời bớt khổ.

Thấy hoa, tôi mới chợt nhớ bây giờ là mùa hè. Nếu không có trận chiến này, chúng tôi lại có dịp thưởng thức những trái cây đặc sản của Bình Long, Lái Thiêu, Long Khánh với những trái Mít, Chôm chôm tróc và đặc biệt là Sầu riêng mà có lần vì ngon miệng, tôi đã một mình ăn tới gần 10 ký liền, khiến cho ngay cả mồ hôi của tôi cũng có mùi Sầu riêng nữa.

Những trái cây tôi ăn được đặc biệt chọn lọc bởi những tay lành nghề. Đó là ba má cô Duyên, một nữ Hộ Sinh, phụ tá cho cô Đào. Nhà ba má cô ở Lộc Ninh, gần một vườn Sầu riêng và Mít. Cô thấy tôi mê Sầu riêng với Mít nên nhờ ba má cô chọn những trái ngon nhất cho tôi.

Tôi đã có lần mang những trái cây đó về Sài Gòn làm quà cho mẹ tôi. Cả nhà thưởng thức những trái cây đó đều phải công nhận là tuyệt vời. Chúng tôi là dân Bắc Kỳ di cư nhưng lại mê Sầu riêng ngay từ lần thử đầu tiên khi còn ở trại tiếp cư ở Phú Thọ. Nhưng khi đi mua, vì không biết chọn nên khi được khi không. Lắm lúc tức anh ách khi gặp một trái bị sượng mà bên ngoài trông có vẻ được lắm, hứa hẹn lắm. Khi mở ra thì hỡi ôi làm chúng tôi buồn 5 phút.

Bước vào trong chùa, chúng tôi không phải kiếm lâu. Chúng tôi đã thấy Trung sĩ Tiếng đang thay băng cho một người bị thương ở cánh tay. Tiếng ngước nhìn lên, thấy chúng tôi mỉm cười và cúi đầu chào. Bác sĩ Phúc hỏi Tiếng:

– Anh xuống đây làm từ hồi nào vậy, có ai tới giúp anh không?

– Dạ cũng được một tuần. Sau vụ tản thương đưa được hết thương binh đi rồi, em thấy ở lại bệnh viện cũng chẳng giúp được gì thêm vì phòng ốc bị hư hại nhiều quá nên em cùng với hai người bạn, tụi nó có nhà ở đây, rủ em xuống đây an toàn hơn. Em thấy đồng bào tị nạn nhiều người bị thương mà không được săn sóc đúng cách nên bị làm độc nhiều lắm. Sẵn có mớ thuốc cùng với bông băng mang theo phòng thân, em liền lấy ra giúp họ. Người này đồn người kia nên phòng này dần dà biến thành trạm cứu thương.

Tôi thấy bề ngoài Tiếng có vẻ lính chiến gồ ghề, dữ dằn lắm, nay nhờ có trận chiến này mới thấy Tiếng quả là người có tâm địa tốt. Tôi bình sinh lúc nào cũng quý trọng những người có một tấm lòng vì người khác. Tôi thấy dù tôi có đưa ra cả ngàn lời khen Tiếng bây giờ thì cũng bằng thừa. Những người có lòng thì những cái xảo xã giao đó, họ cũng không để ý tới nhiều. Bởi vậy tôi chỉ nói ngắn gọn sau khi thân mật vỗ vai Tiếng:

– Tiếng thật là người có lòng. Tôi cảm phục lắm.

Tiếng hơi ngượng vì lời khen tặng của tôi. Gương mặt anh hơi đỏ một chút. Nhưng trong ánh mắt, tôi cũng thấy những nét vui sướng, hài lòng khi sự dấn thân của mình được người khác biết đến. Nhất là người ấy lại là cấp trên trực tiếp của mình.

Bác sĩ Phúc chợt nhớ ra một điều, vội hỏi Tiếng:

– Anh ở đây lâu có thể đoán được có bao nhiêu người không? để tôi xin thuốc chủng ngừa dịch tả cho đồng bào.

Tiếng ngần ngừ đáp:

– Cái đó em không được biết. Thấy đông lắm nhưng không thể ước lượng được. Bác sĩ cứ xin đại chừng năm ngàn liều. Nếu thiếu, xin thêm.

– Mình không sợ thiếu mà chỉ sợ dư vì ở đây mình không có tủ lạnh. Quá 24 giờ là thuốc chủng sẽ hư, không công hiệu nữa.

Tôi đề nghị:

– Nếu vậy mình chỉ xin ba ngàn liều thôi. Mỗi ngày mình chích chừng một ngàn người, ba ngày là xong. Nếu chích được nhiều thì càng hay. Thuốc còn dư thì dùng phương pháp dã chiến, để trong bọc nylon ngâm trong nước mát dưới giếng sẽ để được lâu hơn. Nếu chúng ta huy động được chừng 10 y tá hay nhiều hơn nữa để chích thuốc cho dân thì sẽ hoàn tất công việc rất nhanh và thuốc sẽ không bị hư.

Bác sĩ Phúc nói:

– Tạm thời cứ theo như vậy mà làm. Anh Tiếng có thể có được chừng ấy y tá không?

– Nhiều hơn thì khó còn chừng 10 người thì có thể huy động được.

– Để tôi về liên lạc với Bộ Y Tế xin thuốc dịch tả cùng bông băng và kim chích. Nếu không có gì trở ngại, tôi nghĩ mình sẽ có thuốc trong vòng một tuần nữa. Thôi chào anh Tiếng. Tụi này đi kiếm chỗ tắm giặt rồi về, sợ có thương binh chờ.

Anh Xòm dẫn chúng tôi tới một căn nhà quen có giếng nước ở sau nhà. Chúng tôi đứng ngay ở bờ giếng múc nước tắm giặt đã đòi rồi cùng nhau thơ thới ra về. Chỉ có mỗi một việc tắm giặt đó thôi mà chúng tôi đã thấy vui sướng tràn trề. Hạnh phúc chẳng tìm ở đâu xa và cũng chẳng phải khó khăn rắc rối gì cả. Có nhiều người được sướng mà không biết sướng. Đứng núi này trông núi nọ, cứ tìm bắt hoài mà không thấy. Tôi vừa đi vừa triết lý vụn như vậy trong đầu.

Tôi còn nhớ hồi mới ra trường, anh bạn thân cùng lớp với tôi là Khánh. Anh chọn một đơn vị Thiết Giáp. Mỗi lần đi hành quân, tôi phải lội bộ, đi đứng vất vả, khổ cực, xuyên rừng, lội suối. Còn anh bạn của tôi, khi ra khỏi trại đã ở trên xe rồi. Anh chẳng bao giờ biết lội bộ là gì và lúc nào cũng có đầy đủ mọi thứ như ở nhà vậy. Đi hành quân mà có cả trái cây tươi, nước đá lạnh, sách vở đầy đủ. Thế mà lúc nào anh cũng than thở, chẳng thấy gì là sung sướng cả. Thành ra phải vui cái mình đang có, mới được thảnh thơi không vướng mắc, không khổ sở. Khi bị đụng trận, ông Thiết Đoàn Trưởng ra lệnh cho bác sĩ lên coi người lính bị thương, anh bạn tôi lại cho là ông ta chơi mình, muốn hành mình.

Trong khi tôi cũng ở trong một tình cảnh như vậy như trong một trận ở phía Bắc Gia Kiệm. Khi Tiểu Đoàn 2/43 bị đụng nặng với một bộ phận của Công Trường 9 của Việt Cộng, trong đó một cố vấn Mỹ của Tiểu Đoàn đã bị tử thương, không thể lấy xác được. Ông Nhựt, hồi đó là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 đã ra lệnh cho tôi mang hai y tá xuống ngay tại mặt trận để giúp đỡ săn sóc các anh em thương binh. Tôi vẫn vui vẻ mang hai y tá lên xe Hồng Thập Tự đi liền, mặc dù biết sự có mặt của tôi ở ngay tại mặt trận sẽ chẳng giúp đỡ gì hơn được cho thương binh cả. Từ ngoài lộ, xe Hồng Thập Tự băng qua một trảng rộng cỏ tranh rồi tiến vào phía rừng. Nơi đó đang có tiếng súng nổ ròn rã, chứng tỏ đang có giao tranh ác liệt giữa hai bên.

Tới bìa rừng, xe Hồng Thập Tự ngưng lại. Tôi cùng hai y tá xuống xe mang theo một băng-ca và hai túi cứu thương. Tài xế xe Hồng Thập Tự là Hạ sĩ Xê hỏi tôi:

– Em đậu xe ở đây đợi bác sĩ được không?

– Không cần? cứ mang xe về đi, đợi ở đây nguy hiểm lắm.

Xê ngần ngừ chưa muốn về. Tôi biết Xê lo cho tôi. Hắn sợ chút nữa xong việc, ai sẽ đưa tôi về. Tôi lại lo cho Xê vì chỗ này sát ngay tuyến đầu. Khi chúng tôi tiến vào rừng tấn công địch, sẽ chỉ còn mình Xê ở lại với chiếc xe cứu thương. Nhỡ một vài tên địch chạy lạc ra ngoài, Xê sẽ bị nguy hiểm. Để giữ an toàn cho Xê, tôi thấy tốt hơn hết là cho Xê trở lại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Tôi đỡ phải áy náy lo lắng và để dồn tinh thần vào công việc nguy hiểm trước mắt.

Lúc đó Tiểu Đoàn 1/43 do Thiếu tá Hiếu chỉ huy đang ở bìa rừng. Tiểu Đoàn này đã bị thiệt hại khá nặng nên lui ra để Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận. Thấy tôi Thiếu tá Hiếu ngạc nhiên, hỏi:

– Ủa, bác sĩ xuống đây làm gì? Nguy hiểm lắm.

– Ông Trung Đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi xuống đây để săn sóc thương binh.

Thiếu tá Hiếu nhăn mặt:

– Tầm phào. Tụi nó còn đánh nhau tưng bừng trong đó, làm gì có thương binh mang ra đây đâu. Phải xong trận đánh rồi mới thu nhặt thương binh gom lại rồi tản thương ngay chứ bác sĩ đâu có cần phải xuống tận mặt trận làm gì. Đây là cấp Tiểu Đoàn đã có Trợ Y lo được rồi.

Nói đến đây, chợt có điện thoại reo qua máy truyền tin. Thiếu tá Hiếu đưa tay cầm ống liên hợp do một Trung sĩ truyền tin đưa cho ông. Ông nói chuyện xong, quay sang tôi:

– Ở trên ra lệnh Tiểu Đoàn của tôi phải bằng mọi giá mang cho được xác viên cố vấn Mỹ về. Chúng tôi phải vô rừng đây.Bác sĩ có muốn đi theo không hay ở lại chỗ này đợi tụi tôi?

Tôi trả lời không cần nghĩ ngợi:

– Tôi sẽ đi theo Thiếu tá.

– Được rồi. Bây giờ là đụng trận thật sự đấy, bác sĩ nên cẩn thận.

Tôi đã suy nghĩ rồi, tuy bổn phận tôi không phải đi theo Tiểu Đoàn vào trong trận. Nhưng đứng ở ngoài bìa rừng, chỉ ba thầy trò trơ trọi thì rất nguy hiểm. Lỡ Việt Cộng bung ra ngoài rừng thì thua là cái chắc.

Tôi ra lệnh cho Binh nhất Bá, cận vệ của tôi cùng với Trung sĩ Minh, y tá của tôi vác băng-ca theo tôi nhập bọn với Trung Đội Quân Y Tiểu Đoàn 1/43 theo đoàn quân đi vào trận tuyến.

Mới rời khỏi bìa rừng chừng hai trăm thước đã đụng trận rồi. Súng lớn, súng nhỏ bắn như mưa. Chúng tôi không đi nữa mà phải bò. Tôi đi cùng một toán lính, khoảng 20 người. Tay nào, tay nấy lấm lét nhìn nhau. Trong toán đó, tôi là sĩ quan cao cấp nhất. Trung úy nhưng lại là Trung úy Quân Y, không phải dân tác chiến. Nhưng tại mặt trận, cứ cấp bậc cao cao là chỉ huy. Lính đã được huấn luyện như vậy. Mọi con mắt đổ dồn vào tôi. Nếu tôi tiến là họ tiến. Nếu tôi chạy là họ chạy ngay. Với đám tàn quân này, họ mất tinh thần rồi, đâu còn nhuệ khí để đánh đấm gì.

Chúng tôi bò tới một hố bom rộng lắm. Không ai bảo ai, mọi người đều lăn mình xuống hố bom cho an toàn. Khi ở trong hố bom rồi, tôi nhìn chung quanh mới thấy cả mấy chục người dồn cục trong đó. Chỉ một trái pháo rơi trúng thì chúng tôi tàn đời trong ngõ hẹp. Tôi lo quá vì Việt Cộng hay chơi trò này lắm. Nó đã canh kỹ pháo những nơi nó nghĩ rằng mình sẽ ẩn núp khi đụng trận, rồi cứ thế mà pháo để gây thiệt hại cho mình rất nhiều như trong trận Đồng Xoài năm nào.

Mấy tay lính gan dạ, bò lên miệng hố bom, tính từ từ tiến dần vào trong. Chợt họ thấy xác viên cố vấn Mỹ nằm ngay trước miệng hầm của Việt Cộng, đầu đã bị chặt lìa khỏi thân rồi. Muốn tiến lên lấy xác mà không tài nào được vì súng ở bên trong bắn ra rát quá. Chúng tôi không nhúc nhích, cục cựa gì được mà cứ tụ lại cả ở hố bom cả mấy chục người như vậy thì nguy quá. Tụi nó mà xông ra quăng lựu đạn xuống thì chết hết.

Tôi đang tính kế thì ba người mặc phù hiệu của Tiểu Đoàn 2/43 từ trong rừng chạy vọt ra. Thoáng thấy một trong ba người đó là Trung úy Nguyễn Trí Phúc, sĩ quan truyền tin của Tiểu Đoàn 2/43 – một trong những người bạn thân của tôi, thuộc khóa 21 Võ Bị Đà Lạt. Tôi vội kêu lên:

– Phúc, có việc gì không?

Trung úy Phúc trông thấy tôi, vội nói:

– Rút ra ngoài đi. Tụi nó đang đánh gọng kìm đó.

Nghe nói vậy, không ai bảo ai chúng tôi rời hố bom, rút thật nhanh ra ngoài bìa rừng. Đi vào thì lâu nhưng khi rút ra thì không đầy 15 phút. Chúng tôi đã ra tới bìa rừng an toàn. Tôi với Bá, Minh nhân viên của tôi, ba thầy trò sau những giây phút căng thẳng đều rã rời mệt mỏi. Tôi rút bi-đông tu một ngụm nước rồi nằm ngả người trên một gò mối.

Đang nằm nghỉ, chợt tôi nghe có tiếng máy nổ đều đều rồi tiếng xích sắt nghiến trên đường cỏ dại. Tôi vội đứng bật dậy, thì ra một chiếc xe tăng M47 của Thiết Đoàn 5 đã tới, cách tôi chỉ có nửa thước. May, mắc cái gò mối nên nó đi chậm lại. Nếu tôi mệt quá ngủ quên thì sẽ bị nó cán xẹp lép như con tép chứ chẳng phải chơi đâu. Vì cỏ tranh cao ngang cổ nên tài xế đâu có trông thấy những người nằm trong cỏ.

Tôi bèn kiếm một chỗ khác, cạnh một gốc cây dựa lưng, ngồi cho an toàn. Nhìn vào phía rừng, tôi thấy thương binh bắt đầu được dìu hoặc cõng ra, trong khi bên trong rừng súng nổ liên hồi. Trận đánh có vẻ dữ dội lắm. Nhưng không phải giữa quân ta và Việt Cộng mà là giữa chúng với nhau. Trên trời lại thêm mấy phi tuần trực thăng Cobra bắn xuống như mưa. Tôi ngồi nghe Trung úy Phúc kể chuyện mà thấy khoan khoái trong lòng.

Thì ra sau khi gây tổn thương khá nặng cho Tiểu Đoàn 1/43, lính Việt Cộng lấy quần áo của các binh sĩ của ta bị tử thương bỏ lại, mặc vào giả làm lính Tiểu Đoàn 1 rồi chia thành hai đường tính vây bọc Tiểu Đoàn 2/43 và tàn quân của Tiểu Đoàn 1/43, đánh theo thế gọng kìm, quyết tiêu diệt toàn bộ quân ta. Nào ngờ, trời bất dung gian và cũng may cho phe ta, trong đó có tôi, đã rút ra kịp thời nên khi hai gọng kìm của chúng đụng nhau, chúng lại tưởng là quân của Tiểu Đoàn 1/43 vì chúng đã giả dạng như vậy. Chúng bắn nhau tưng bừng hoa lá lại thêm trực thăng bên trên bắn xuống, vì vậy thiệt hại của chúng chắc chắn rất cao.

Chúng bắn nhau phải tới nửa tiếng rồi chúng mới nhận ra nhau. Tôi đoán vậy vì sau đấy, tiếng súng đột nhiên ngưng bặt. Trả lại sự yên lặng cho khu rừng, lúc này đã đen thẫm vì mặt trời đã lặn từ lâu. Trời tuy vậy vẫn còn sáng mờ mờ. Tôi đoán chắc chỉ chừng nửa tiếng nữa là đêm tối sẽ xuống rất mau. Chúng tôi săn sóc nhanh chóng những thương binh. Cả thảy chỉ có 14 người, đa số là nhẹ, không có người nào bị tử thương cả. Chẳng bù cho trận đánh hôm trước, thiệt hại quá nặng cho cả hai Tiểu Đoàn. Nhưng hôm nay vì tụi địch tham thì thâm, tự chúng giết lẫn nhau. Như vậy so ra thì hai bên thiệt hại chắc cũng ngang nhau.

Trung úy Phúc kể rằng, khi Tiểu Đoàn 1/43 tiến sâu vào rừng, gặp ngay Việt Cộng mặc đồ của quân ta nên mọi người bị lọt vào ổ tụi nó. Chúng đánh xáp lá cà, ôm vật Thiếu tá Tân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/43. May nhờ có Trung úy Phúc dùng súng Colt bắn hạ tên đó mới cứu được Thiếu tá Tân và chạy thoát ra ngoài. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/43 bị hỗn loạn. Mạnh ai nấy chạy. May mắn đều thoát được cả.

Chúng tôi ngồi nói chuyện được một lúc, xe Hồng Thập Tự tới đón tôi về. Tôi hỏi Hạ sĩ Xê:

– Sao biết tôi đã ra đây mà mang xe tới đón?

Xê cười tươi, khi thấy tôi và hai người bạn không hề hấn gì, nói:

– Dạ, ở Tiểu Đoàn báo về. Trung úy Kháng ra lệnh cho tụi em mang xe đi đón bác sĩ. Ở nhà, chúng em lo lắm, không biết bác sĩ đi có việc gì không. Hồi chiều, Trung úy Kháng thấy em lái xe về không có bác sĩ. Ông ấy la tụi em, bảo sao không ở đó chờ bác sĩ về. Em nói tại bác sĩ ra lệnh cho em mang xe về, còn bác sĩ đi theo Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận rồi. Ông ấy cứ lắc đầu thở ra hoài. Em biết ông ấy lo cho bác sĩ lắm.

Khi tôi về tới Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, trời đã tối hẳn rồi. Người tôi gặp đầu tiên là Trung úy Kháng, ông cười nói:

– Này, quan đốc, ông liều quá. Tụi tôi ở nhà tưởng ông đi đứt rồi.

Tôi cười mệt mỏi, nói:

– Tôi đâu có liều đâu, lệnh trên bảo đi là đi. Mình ở trong quân đội mà, ông không nhớ sao!

– Tụi nó nói ông đi theo Tiểu Đoàn 2/43 nhập trận trước. Mấy phút sau, truyền tin Tiểu Đoàn 2/43 báo cáo về là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn bị đụng nặng, đánh xáp lá cà. Tiểu Đoàn Trưởng Tân ‘Hao Dầu’ suýt nữa bị bắt sống. Toàn bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/43 bị banh càng hết. Ở nhà, tôi nghĩ bụng phen này đốc Quý chắc gặp nạn quá. Tôi tin là ông đi theo Tiểu Đoàn 2/43 như tụi nó mới đầu báo cáo vì ông thân với Trung úy Phúc. Tôi cứ hét trong trong máy truyền tin là “có bác sĩ Quý ở Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn không?” thì tụi nó lại cứ nói là “không!”. Tôi nghĩ là ông bị Việt Cộng nó cõng đi rồi. Cả ban Tham Mưu Trung Đoàn đều lo cho ông. Sau, tụi nó báo về rằng ông đi theo Tiểu Đoàn 1/43. Tôi gọi cho ông Thiếu tá Hiếu hỏi, ông xác nhận là có thấy bác sĩ Quý cùng đi với trợ y của tiểu đoàn vào trận nhưng sau đó thi không biết ông đi đâu cả. Tụi này lại càng tin ông bị Việt Cộng vồ rồi. Mãi sau, được tin ông an toàn ra khỏi trận rồi. Mọi người mới thở phào như trút được một gánh nặng. Thôi ông đi tắm rửa rồi còn ăn cơm và nghỉ ngơi.

Tôi đứng dậy định trở về khu Quân Y thì Trung tá Nhựt bước tới, cười cười nói:

– Sao cụ liều thế, dám đi vô trận như vậy, chắc cụ muốn kiếm một huy chương hả?

– Dạ, đâu có. Không phải tôi muốn huy chương, tôi chỉ làm theo lệnh thôi.

Vừa đi vừa suy nghĩ lẩm cẩm như vậy, chẳng mấy chốc tôi đã về tới trại. Gặp Thượng sĩ Lỹ, tôi hỏi:

– Ở nhà có chuyện gì lạ không ông?

– Dạ, thưa không.

-Vậy thì may quá. Ông đã xuống đó tắm rửa bao giờ chưa? Tốt lắm. Để ngày mai, có rảnh ông xuống đó một chuyến cho biết. Có thể vài ngày nữa, mình sẽ nhận được thuốc chủng ngừa dịch tả rồi mọi người đều xuống đó chích ngừa cho dân.

Vừa vào đến phòng, phơi đồ xong là bác sĩ Phúc bắt tay vào việc liền. Thảo công văn xin thuốc chủng ngừa dịch tả rồi anh sang bên hầm chỉ huy nhờ gởi công điện về Sài Gòn.

Tôi đang ngồi nghỉ ngơi thì ông Thiếu tá Diệm tới. Tôi mời ông ngồi nhưng ông từ chối, bảo có việc phải đi ngay, chỉ ghé sang có tí việc cho tôi biết. Thấy giọng ông có vẻ nghiêm chỉnh, tôi tưởng có sự gì quan trong, vội hỏi ông:

– Có chuyện gì thế ông?

– Có chuyện nhỏ thôi, nhưng cũng phải nói cho ông biết. Nhân viên của tôi báo cáo thấy cô Bích, quần áo lúc nào cũng ủi thẳng tắp. Như vậy không được đâu. Máy phát điện ở đây là để dùng vào những việc quân sự trọng đại chứ không có đủ điện ủi đồ. Đến nước này mà còn ăn mặc bảnh bao làm gì.

Tôi không tin cô Bích đã dùng bàn ủi điện để ủi đồ vì ai cũng biết điện ở đây rất yếu. Vả lại, ủi đồ làm gì khi không biết được ngày mai sống chết ra sao. Tôi nghĩ quần áo của cô thẳng nếp vì cô đã ủi bằng một phương pháp dã chiến mà tôi đã có lần dùng. Tức là để quần áo ngay ngắn lên một miếng gỗ thẳng rồi để xuống dưới nệm. Mình nằm qua đêm, sáng mai dậy sẽ có một bộ đồ thẳng nếp như ủi vậy. Vì ông Diệm không biết cách ủi dã chiến này nên nghi cô Bích đã dùng bàn ủi điện. Tôi đã không giải thích cho ông Diệm hiểu, tôi chỉ nói:

– Được, cám ơn ông đã cho tôi biết điều này. Tôi sẽ cho cô Bích biết Bộ Chỉ Huy cấm không được dùng điện để ủi đồ.

Sở dĩ tôi không giải thích vì tôi không biết sự thực có phải như lời ông Thiếu tá Diệm nói không. Dù sao cô Bích cũng là nhân viên của bệnh viện, lại trực tiếp làm dưới quyền của tôi. Nếu tôi giải thích thì lại sợ ông hiểu lầm tôi biện hộ cho cô ấy. Tôi không nên nói gì trước khi có đầy đủ những bằng cớ trong tay. Tôi sẽ hỏi cô Bích cho rõ ràng mọi chuyện rồi sẽ báo cho ông Diệm biết sau cũng chưa muộn. Nếu đúng như tôi nghĩ, cô Bích đã không dùng điện để ủi đồ thì sau này chỉ một lời giải thích cũng đủ. Còn quả như cô ấy đã dừng điện ủi đồ thi chỉ cần cho cô biết lệnh của Tiểu Khu là xong.

Ông Diệm đi rồi, tôi cho gọi cô Bích đến. Tôi hỏi:

– Sao dạo này cô diện vậy, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu mới cho người tới nói với tôi là cô đã dùng điện ủi đồ nên quần áo mới phẳng phiu như vậy. Thực sự ra sao, cô cho tôi biết.

Cô không trả lời tôi ngay mà hỏi lại tôi, tính cô là như vậy:

– Thế bác sĩ có tin tôi dùng điện để ủi đồ không?

Tôi lắc đầu, đáp:

– Không nhưng tôi muốn hỏi cô cho rõ ràng để tôi giải thích với người ta.

Cô Bích hơi mỉm cười vì thấy tôi có vẻ về phe cô. Cô lại hỏi tôi:

-Vậy tại sao quần áo của tôi vẫn phẳng như thế?

Tôi thấy cô này muốn thử tài tôi đây. Tôi nghĩ thầm, tôi là sư phụ của cô chứ có phải tay mơ đâu mà đòi thử tài. Tôi không trả lời trực tiếp câu hỏi của cô mà chỉ nói:

-Thôi cô ạ, dù sao cô so với tôi cũng chỉ thuộc lớp hậu sinh khả ố thôi. Tôi đã qua cái kinh nghiệm này rồi. Tôi dùng điện trong cơ thể tôi này, đúng không?

Cô Bích cười, tỏ vẻ khâm phục, nói:

– Đúng, xin bái phục. Nhờ bác sĩ nói lại và giải thích cho họ biết giùm tôi.

– Đó là bổn phận của tôi. Tôi đã nghĩ như vậy, nhưng phải chờ mọi sự minh bạch rồi mới nói cho họ biết, kẻo họ lại tưởng kiểu phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Thôi chuyện này là chuyện nhỏ nhưng cô cũng nên biết là nhất cử nhất động của cô đều bị theo dõi. Vậy cô nên để ý đừng làm gì lệch đường. Chúng tôi sắp có chuyện nhờ cô rồi đó. Xuống làng chích ngừa dịch tả cho dân.

– Bao giờ đi bác sĩ?

– Chưa đi ngay đâu. Bác sĩ Phúc còn đi xin thuốc. Bao giờ có thuốc rồi, tôi sẽ cho cô biết. Chúng tôi cần một số đông y tá để giải quyết công tác này càng nhanh càng tốt vì mình không có tủ lạnh. Thuốc không để lâu được.

-Tôi sẵn sàng đi. Nhân tiện được dịp xuống làng xem có gặp người quen nào không.

– Tôi có gặp cô Đào ở dưới đó. Tôi có nghe Đại tá Tỉnh Trưởng dự trù cho di tản dân về Bình Dương. Sẽ có những chuyến trực thăng Chinook tới bốc hết những ai muốn tản cư rời khỏi nơi này. Có thể lúc đó cô sẽ đi với cô Đào. Được không?

– Tôi chỉ mong có thế thôi. Cám ơn bác sĩ.

Đến đây, cô liền từ giã tôi đi về phòng. Cô vừa rời khỏi thì bác sĩ Chí dẫn một người ngoại quốc tới. Bác sĩ Chí liền giới thiệu:

– Đây là ông phóng viên chiến trường báo Time, mới đến đây ngày hôm nay. Tao gặp ông ấy ở hầm Chỉ Huy. Ông ấy muốn phỏng vấn tụi mình để có thêm tài liệu viết bài. Tao thấy ở đây mày nắm vững tình hình về bệnh viện, về thương binh nên dẫn ông ấy tới đây nói chuyện với mày. Thực ra, ông ấy đến đây lần thứ hai. Lần trước cách đây chừng một tháng, vào ngày Việt Cộng tấn công đợt nhất. Ông bị thương ở cánh tay, tao có băng bó cho ông ấy rồi tản thương về Sài Gòn, nay khỏi rồi ông lại tới đây.

Tôi dơ tay ra bắt tay người phóng viên can trường này. Trông ông có vẻ nhỏ con so với người Tây Phương. Dáng điệu không có vẻ gì là gồ ghề phóng viên chiến trường cả. Lưng ông ta đeo hai cái máy ảnh Nikon. Tôi hỏi:

– Ông làm cho báo Time, chắc ông là người Mỹ?

– Không, tôi là người Canada. Tôi muốn biết tình trạng và khả năng y tế ở đây. Tôi biết những thương binh được đưa vào đây săn sóc. Còn dân chúng thì sao? Bác sĩ Chí cho tôi biết bệnh viện Tiểu Khu đã dọn cả về đây rồi.

Để cho ông ta có một khái niệm về tình trạng y tế ở đây. Tôi đã tóm tắt mọi sự ngay từ những ngày đầu rồi tôi nói tiếp:

– Hiện tại phòng mổ này tuy là dã chiến nhưng chúng tôi cũng có thể mổ lớn được. Mặc dù vất vả lắm vì thiếu thốn đủ mọi thứ. Có một trạm cứu thương ở dưới làng. Những người dân bị thương nặng vẫn được phép chuyển vào đây cho tôi săn sóc. Chúng tôi đang dự định một chương trình chích ngừa dịch tả trong vài ngày nữa khi chúng tôi nhận được thuốc từ Sài Gòn.

– Thế về y cụ có đủ không?

– Tạm đủ, tuy nhiên trước mắt tôi phải lấy chỉ từ những sợi dây nylon cột bao cát để may những vết thương dưới da khi đóng bụng. Sợi nylon này rất dai, bền và nhất là dễ khử trùng. Chúng tôi khử trùng bằng xà-bông bột Quân Tiếp Vụ.

Nói đến đây, bác sĩ Chí lôi từ trong túi ra một túm chỉ nylon của bao cát, đưa cho anh ký giả coi.

– Thế không bị nhiễm trùng làm độc sao?

– Tôi chưa thấy trường hợp dùng chỉ nylon nào bị làm độc. Có người bị thương, mổ xong không có chuyến tản thương, bị kẹt ở đây tới hai tuần mà vết thương lành luôn, lại tiếp tục chiến đấu. Lý do không bị làm độc vì đa số các vết thương đã được săn sóc ngay, thường là khoảng một giờ. Không như ở những bệnh viện xa nơi chiến trường, khi nhận được thương binh là đã trễ mất ba, bốn giờ có khi đến sáu, bảy giờ nên vi trùng có đủ thời gian sinh sản làm độc. Tôi mới nhận ra một điều, không có trong sách vở, là chẳng cần phải những thứ thuốc sát trùng đắt tiền rắc rối làm gì. Phương tiện khử trùng hay nhất theo như kinh nghiệm của tôi tại chiến trường này là nước xà-bông hay nước Javel pha loãng. Tôi dùng những dung dịch này để rửa vết thương thì thấy sau ba, bốn ngày mở ra vết thương vẫn còn đỏ tươi không một chút mủ, không có mùi gì cả. Vì vậy rất dễ mau lành.

Ông ký giả này nghe tôi nói vậy có vẻ thích thú lắm. Ông luôn mồm khen tụi tôi số một. Ông hứa hẹn tên của tụi tôi sẽ được đăng trên báo Time. Tôi vội ngắt lời và nói đùa:

– Như vậy, tụi tôi sẽ nổi tiếng trên thế giới sao?

– Đứng thế, các ông xứng đáng được như vậy.

Trước đây mấy tháng, trong những lần cùng Thiếu tá David Risch đi vào các làng, các xóm kiếm bệnh về mổ. Tôi đã có lần nói nửa đùa, nửa thật với ông ta rằng:

– Mình hợp tác với nhau, cố làm sao kiếm được một phương thức hay mổ được một bệnh gì độc đáo để được nổi tiếng khắp thế giới.

Bác sĩ Risch gật gù nói:

– Được lắm, ý kiến đó hay lắm. Chúng ta chắc sẽ có ngày đó.

Bây giờ, nghe ông phóng viên chiến trường này nói thế, tôi cũng thấy vui vui nếu được nêu tên trên báo Time.

Vừa nói đến đây, chúng tôi nghe một tiếng nổ ở ngay sân Bộ Chỉ Huy. Anh ký giả Canada vội xin lỗi, chạy lên cửa hầm đứng chụp hình những chỗ pháo mới nổ tung tóe đất cát. Tôi thấy anh này gan cùng mình, tỉnh bơ như không. Anh ta còn vẻ khoái trá nữa, có lẽ vì anh đã chụp được những hình ảnh sống động ngay tại mặt trận. Địch vẫn tiếp tục pháo kích vào Bộ Chỉ Huy. Toàn bằng súng cối thôi nên thật tình chẳng gây được một tổn hại nào đáng kể. Tôi đứng bên cạnh anh ta nhìn xem những chỗ bị pháo nháng lửa lên chỉ cách chúng tôi chừng 30 thước. Sau khi ngớt pháo, anh ta từ giã tụi tôi, hả hê đi về hầm Bộ Chỉ Huy. Ít ra anh cũng có những hình ảnh pháo kích 100% đã do chính anh chụp được.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 14 Sep 2023

Bài 21 – Người Ở Lại Bệnh Viện

Khoảng 5 giờ chiều, bác sĩ Phúc từ hầm chỉ huy trở về, trông anh có vẻ vui. Tôi nghĩ chắc chắn anh đã nhắn được tin về nhà. Tôi hỏi:

– Có gì vui không anh?

Bác sĩ Phúc mỉm cười đáp:

– May quá, vào phút chót, tôi đã nhắn được tổng đài gọi về cho nhà tôi. Có lẽ ngày mai bà xã tôi sẽ lên Bưu Điện Chợ Lớn gọi cho tôi.

– Như vậy đêm nay anh lại mất ngủ nữa rồi? – Tôi hóm hỉnh đùa anh.

– Chắc không đâu, vì đêm qua đã mất ngủ rồi, mệt lắm, đêm nay phải ngủ bù thôi. Hôm nay có khá nhiều chuyện vui, đặc biệt là cu Sơn đã được anh thông phổi và tản thương ngay, số thằng đó tuy xui mà rốt cuộc lại hoá hên. Hai nữa chúng mình lại thông tin được cho người nhà. Nhưng phải nói rời bỏ được bệnh viện, sang được bên này là điều đáng mừng nhất.

Tôi gật đầu, hoàn toàn đồng ý với anh:

– Từ khi sang bên này tôi mới thấy là mình mới có hy vọng sống. Ở bên bệnh viện nhất là khi còn ở phòng tôi dưới trại Ngoại Khoa, đầu óc tôi căng thẳng, lo sợ quá, không biết chết lúc nào. Thực đúng là sống trong địa ngục, cả nghĩa đen lẫn với nghĩa bóng. Chẳng gì mình cũng đã sống cùng với mấy trăm xác chết sình thối suốt mấy tuần liền. Ăn uống lại thiếu thốn. Tôi lại bị bó tay, muốn làm việc mà đành chịu không thể làm được, nản hết sức. Khi tôi lên ở cùng hầm với anh cũng thấy hơi yên tâm phần nào. Vì ở hầm an toàn hơn ở phòng tôi nhiều, lại có người bên cạnh nên dù sao cũng bớt cô đơn, đỡ sợ hơn trước.

Anh Phúc vội ngắt lời tôi với giọng trầm hẳn xuống:

– Nói đến cô đơn, để tôi kể anh nghe. Khi anh đi rồi, tôi xuống tinh thần kinh khủng. Như anh đã nói, trong cơn nguy hiểm chúng mình ở chung một hầm tôi thấy yên trí lắm. Khi anh dọn sang đây tôi thấy như hụt hẫng, tuy có thằng cháu Sơn nhưng nó là con nít, đâu có chia sẻ được những cảm nghĩ như tôi với anh được. Trong thâm tâm tôi chỉ sợ hai điều là bị bỏ rơi và đặc công lẻn vào tấn công. Bởi vậy khi anh đi rồi tôi cho đóng kín cửa lại ở trong hầm nằm cho chắc ăn. Tuy có nóng, ngộp một chút còn hơn cứ nơm nớp lo sợ tụi nó lẻn vào thịt mình.

Tôi ngắt lời anh nói:

– Tôi quả thực phục sức chịu đựng của anh. Ở hoài trong hầm như vậy tôi thấy ngột ngạt chịu không nổi.

Anh Phúc lắc đầu nói:

– Tôi cũng đâu có hơn gì anh. Nhưng thực ra chẳng có cách nào khác. À anh để tôi nói tiếp. Sau khi rút vô trong hầm rồi, chùng 1 giờ sau, tôi bỗng nghe thấy tiếng bước chân lạ lắm, không giống như những bước chân thường. Nó đi lọc cọc, khấp khểnh chậm chạp từng bước một từ phía Phòng Mổ đi về phía văn phòng Ty Y Tế Nó dừng lại trước cửa.

Tôi ở trong hầm lắng tai theo dõi sợ muốn nín thở luôn. Ngay khi đó có tiếng gõ cửa gấp rút rồi có tiếng đàn bà gọi: “Bác sĩ Phúc có ở trong này không?” Tiếng của người nào lạ hoắc. Tôi ngẫm nghĩ: Mà sao nó lại biết tên mình. Xin lỗi anh, tôi sợ đến thiếu điều són đái ra quần. Tôi làm thinh không trả lời. Tiếng chân khập khiễng, lọc cọc lại đi về phía Phòng Hậu Giải Phẫu. Ngừng lại một hồi lâu lại tiếp tục quay trở lại, dừng trước cửa, gõ cửa nữa. Lại vẫn giọng nói đàn bà vang lên, lần này có vẻ khẩn trương hơn, hổn hển đứt quãng:

– Bác sĩ Phúc ơi, em là T.T. đây. Xin bác sĩ cứu em với, em đang chuyển bụng, sắp sanh rồi.

Nghe tới đây tôi mới hoàn hồn. Nhận ra tiếng của cô T.T. thư ký Tòa Hành Chánh tỉnh. Cô bị cụt một chân, đi nạng gỗ lại có thai sắp tới ngày sanh, nên ở trong hầm mới nghe thấy tiếng bước chân lạ lùng kỳ dị như vậy, làm cho tôi bị một phen sợ điếng hồn. Tôi bảo cu Sơn ra mở cửa. Cô T.T trông thấy tôi vội nói: “bác sĩ ơi em sắp sanh rồi bác sĩ đỡ đẻ dùm em.”

Cô T.T. ngày thường trông đẹp đẽ khả ái là thế, nay trông xanh xao, tiều tụy quá vì đang đau đẻ. Tôi chỉ thấy một mình cô với cái bụng mang thai lớn vượt ngực. Tay chống nạng, đeo một túi vải trên vai cùng với một người con gái có lẽ là người em của cô ta. Tôi vội dìu cô ta lên Phòng Mổ tính đỡ đẻ ở đó nhưng lên tới nơi thì phòng mổ tanh bành hết trơn. Bẩn thỉu không thể chịu được. Dưới sàn là những vũng máu đen xì. Bàn mổ thì ruồi bu đầy trên những vết máu.

Đã từ lâu, bệnh viện không có nước để chùi rửa làm vệ sinh nên chỗ nào chỗ nấy đều dơ bẩn lắm. Tôi thấy không thể đỡ đẻ ở đây được, lại dìu cô về văn Phòng Y Tế. Ở đó có cái bàn làm việc của tôi để ở giữa phòng. Tôi nghĩ có thể để cô nằm trên đó tạm thời đỡ đẻ cũng được. Tôi liền loay hoay giúp cô leo lên bàn. Vì cô ta có một chân nên rất khó khăn vất vả mới đặt cô ta nằm đàng hoàng lên bàn được.

Tôi giúp cô ta kéo quần xuống, gấp cái chân còn lại trong tư thế sẵn sàng để rặn đẻ thì đầu ối vỡ ra. Nước bắn tung tóe lên người tôi, văng cả lên mặt, ướt hết cả quần áo. Tôi chỉ biết cắn răng mà chịu thôi chứ biết làm sao bây giờ. Đâu có nước mà rửa ráy đâu. Anh thấy mùi nước đầu ối nó khan khản như thế nào ấy. Vậy mà tôi phải lãnh đủ. Tôi ráng đỡ đẻ cho cô ta, cũng may cô này sanh khá dễ.

Sau khi cắt nhau xong, tôi đặt đưa bé vào lòng cô ta, sai cu Sơn đi kêu mấy tay y tá kiếm dùm một cái băng-ca khiêng cô ta ra Phòng Cấp Cứu để ở đó nằm tạm rồi tôi lo thay đồ. Tôi lấy miếng bông gòn nhúng alcool chùi rửa những chỗ bị nước đầu ối bắn vào. Rồi mới chui vào hầm nằm thở dốc vì quá mệt.

Tôi chợt hỏi một câu hơi lạc đề một chút:

– Thế đứa nhỏ là con trai hay con gái?

– Tôi cũng quên chẳng để ý nó là trai hay gái. Mình cố gắng giải quyết công việc cho nhanh, gọn, thấy nó vừa lọt lòng mẹ ra khóc được là mừng rồi. Chắc là sống rồi.

Óc khôi hài của tôi chợt nghĩ đến một việc khiến tôi phải cố gắng nín cười, sợ bác sĩ Phúc nổi giận vì đã cười giỡn trên sự đau khổ của anh. Tôi đang nghĩ, người đầu tiên trên thế giới được tắm bằng nước đầu ối đàn bà đẻ chắc chắn phải là bác sĩ Phúc. Tôi vội đánh trống lảng hỏi tiếp câu chuyện của anh đang kể:

– Thế rồi sau ra sao anh?

– Sau khi nằm nghỉ được một lúc, hơi lại sức, tôi vội ra xem coi cô ta và đứa bé có khỏe không thì không thấy đâu cả. Tôi hỏi mấy người y tá gần đấy thì nghe nói có một người đàn ông đi xe gắn máy tới chở cả hai mẹ con đi rồi. Từ đó tôi không được tin tức gì của họ cả.

Tôi nhìn anh Phúc thấy tội nghiệp cho anh đã phải trải qua một kinh nghiệm không được sạch sẽ lắm. Tôi đã không chọn sản phụ khoa chỉ vì sợ cái mùi nước ối và cái mùi nhau đẻ tanh tanh khan khản khó chịu. Tôi lấy làm may mắn là những sự việc như vậy thật không xảy ra cho tôi.

Tôi vội ỏi:

– Thế đêm qua nó pháo dữ như vậy bệnh viện có bị gì không?

– Cũng bị chừng hơn chục quả, may mắn là không bị hỏa tiễn. Nhưng trại Ngoại Khoa của anh bị nặng nhất. Trại Nội Khoa với Nhi Khoa hình như chỉ bị một hai trái. Có lẽ kỳ này nó điều chỉnh được nên pháo vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn với bên trường Trung Học nhiều hơn cả. Đặc biệt lần này Ty Công Chánh ở ngay sau bệnh viện, cách hầm của tôi có một con đường nhỏ chừng 10 thước chứ mấy. Pháo nổ liên hồi ở hướng đó làm tôi thấy sợ hãi khủng khiếp lắm. Cứ như là nó nổ sát hầm mình. Rung rinh cả nắp hầm. Cánh cửa Phòng Y Tế ban đêm gài chắc như thế, lại chèn thêm một cái bàn chắn ngang cửa nữa mà cũng bị bật tung ra. Thằng cu Sơn bò ra kê lại cái bàn, chèn lại cửa vừa xui bị ngay một trái nổ trước sân, mảnh xuyên qua cánh cửa bị thương ở ngực. Trong đêm tối nó kêu lên: “Cháu bị thương rồi bác ơi”. Làm tôi xanh mặt tưởng nó tiêu rồi. Nó lết vô phòng thở hổn hển, máu ra đậm cái áo thun. Tôi vội lấy cái băng cá nhân, băng lại cho nó chỉ sợ mảnh đạn xuyên qua bên tim hoặc đụng phải động mạch chủ là hết thuốc chữa. Anh thử tưởng tượng ngoài kia pháo kích nổ như mưa, trong hầm chỉ có mình tôi với thằng cháu bị thương rên hừ hừ kêu đau, kêu cứu, tôi thực sự kinh hoàng gần như phát điên lên. Tôi muốn trách thằng cu Sơn sao không hỏi tôi lại chạy ra đóng cửa làm gì trong lúc nó đang pháo tới tấp như thế, nhưng ai biết đâu chữ ngờ. Nó làm cũng phải, lại còn can đảm nữa nên tôi chỉ có nước ngồi chờ cho tới sáng xin xe cứu thương mang nó sang đây để anh đặt ống thông phổi cho nó đồng thời xem nó có còn bị thêm những gì khác không. Tôi thấy nó sống được qua đêm thì cũng đoán rằng vết thương ngực này không đến nỗi tệ lắm. Vẫn còn nhiều hy vọng. Tôi cứ phải canh chừng bắt mạch nó hoài. Thấy mạch nó vẫn còn mạnh, không quá nhanh, hơi thở điều hòa tuy có hơi nhanh một chút, tôi cũng hơi vững dạ. Nhưng thật là một đêm lo sợ kinh hoàng nhất của đời tôi. Tới khi nó ngớt pháo rồi tôi mới hơi yên tâm được một chút. Nhưng những tiếng súng nhỏ lẫn lộn AK với MI 6 ở đằng phía Ty Công Chánh lại càng làm tôi run nữa vì nghĩ rằng tiền pháo hậu xung đã bắt đầu. Tuy nhiên chắc có lẽ địch quân không tiến nổi với sức kháng cự của quân mình. Tới gần sáng tụi nó rút đi, tiếng súng phía đó mới im lặng. Khi trời sáng bảnh mắt ra thấy có tiếng của lính mình gọi nhau tôi mới biết là mình còn sống.

Tôi ngồi yên lặng nghe anh Phúc kể lại cái đêm khủng khiếp hôm qua và thấy mình thật sự quá may mắn, không phải chịu những cảnh căng thẳng ghê gớm đó. Tôi bèn hỏi anh:

– Thế bên y tá của mình có ai bị thương không?

– Có mấy đứa bị thương nhẹ vào đầu, vào mình nhưng chỉ sớt bên ngoài vẫn đi lại như thường. Tôi nghe nói cô Cúc bị thương ở đầu khá nặng, mê man và có cho sang đây mà sao không thấy đâu nhỉ?

– Cô Cúc Đồng ấy à?

– Phải đó, nghe nói đã cho di tản sang bên này để anh xem có chữa trị cứu được không.

– Tôi thấy là vô phương, bị thương bể xương sọ mà bị mê rồi là hết thuốc chữa. Ờ mà sao không thấy tản thương cô ấy sang bên này? Để sáng mai tôi hỏi cô Bích chắc cô ấy biết. Anh thử tính sơ qua từ đầu trận đánh đến giờ Bệnh Viện Tiểu Khu mình tổn thương bao nhiêu người.

Bác sĩ Phúc ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

– Về bên dân sự, có ba người nếu kể cả cô Cúc này nữa. Cô kia là cô Nhan ở Y Tế Công Cộng. Tội nghiệp cô này bị chết hai lần. Bên Quân Y có bốn người. Số người bị thương cả thảy 36 người. Đa số nhẹ thôi, không có ai bị nặng cả. Quân số của mình là 70 người, như vậy cho tới hôm nay, bị thương hơn 50% quân số. Tuy nói vậy nhưng trừ những người chết ra, những người bị thương vẫn đi lại được như thường. Thành ra quân số bất khiển dụng của mình trên thực tế rất nhẹ. Tôi cho thế là may mắn lắm rồi.

Tôi gật đầu đồng ý với anh:

– Tôi cũng nhận thấy thế. Mình hoàn toàn không phòng bị gì cả. Hầm hố rất sơ sài. Địch pháo cả mười ngàn trái vào những ngày nó tấn công, cả những ngày thường nữa, suốt tháng trời. Như vậy thật là may mắn.

Tôi nhìn anh nói đùa một câu:

– Chắc tại anh tên là Phúc nên các nhân viên được hưởng lây.

Bác sĩ Phúc cười buồn:

– Nếu thực sự là thế thì đã không có ai bị tử thương cả.

Tôi chợt nhớ ra điều gì vội hỏi:

– Thế còn anh Chí, có sang bên này chưa?

– Anh Chí đi sau tôi có lẽ giờ này cũng ở bên này rồi. Hình như ở hầm kế cùng với mấy nhân viên khác. Một số muốn ở lại bệnh viện không đi. Thật ra bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu có cho biết, chỉ có thể còn chỗ cho một số người thôi. Một phần đã di chuyển xuống làng, trong đó có Trung sĩ Tiếng. Xuống đó lập một trạm cứu thương ở chùa để giúp những đồng bào bị thương, băng bó làm sạch những vết thương nhẹ.

– Vậy hả, như vậy là ở bệnh viện chỉ còn các anh em thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y và một số ít lính của mình thôi. À còn cô Bông, anh có thấy ở đâu không?

– Cô ấy vẫn ở lại bệnh viện, ngay phòng của cô Bích cũ.

Nghe được những tin tức như vậy tôi cũng tạm thời yên lòng đối với các nhân viên của bệnh viện. Đợi chừng vài ngày nữa, nếu tình hình cho phép, tôi sẽ làm một chuyến xuống làng xem tình trạng dân tị nạn ra sao. Bây giờ vẫn còn sớm quá, không biết ở dưới đó có an ninh không và nhất là mới sau đợt tấn công lần thứ nhì. Tôi sợ còn nhiều thương binh đem đến nếu tôi không có mặt ở đây thì thật là phiền.

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, hết chuyện nọ tới chuyện kia lan man hoài không dứt. Thực ra tuy làm việc với nhau cả năm trời nhưng chúng tôi chẳng có thì giờ ngồi nói chuyện với nhau thảnh thơi như thế này. Nói đúng ra dùng chữ thảnh thơi, không được chính xác lắm vì trong lòng hai chúng tôi vẫn còn nhiều vướng mắc, vẫn còn nhiều kinh sợ lo âu vì đã bị vây khốn trong trận này quá lâu. Nhưng tương đối so với mấy ngày trước quả có nhẹ nhàng trong lòng một chút.

Những ngày thường, chúng tôi đâu có cơ hội hoặc thì giờ để tâm sự với nhau, nói về đời riêng tư của mình cho nhau nghe. Do đó mà tôi lấy làm lạ khi anh Phúc cho biết đã có một thời anh làm Hội Trưởng Hội Khổng Học. Một điều tôi không thể ngờ được. Tôi đã nghe tới Hội Khổng Học hồi còn ở Sài Gòn. Tôi cứ nghĩ là ông Hội Trưởng chắc phải là một ông già cỡ như ông Khổng Tử tôi thấy ở trong những bức hình. Ai ngờ đâu lại là một ông bác sĩ trẻ tuổi như anh Phúc. Và còn lạ hơn nữa, trong thời buổi văn minh tân tiến này lại có một người trẻ tuổi để ý tới một hệ thống triết lý cổ thời như đạo Khổng.

Tôi có đọc qua cuốn Nho Giáo của cụ Trần Trọng Kim, nào là phần Hình Nhi thượng nào là phần Hình Nhi hạ. Tôi đọc để biết thôi chứ không đam mê nên không đào sâu lắm. Tuy nhiên để tiếp chuyện với ông cựu Hội Trưởng Hội Khổng Học, tôi cũng cố vận dụng sức hiểu biết của mình về Khổng Giáo, trao đổi với nhau cũng khá tốt, không đến nỗi làm ông nhàm chán.

Trong ánh mắt của anh Phúc, tôi cảm thấy là anh cũng hơi ngạc nhiên vì một tay đàn em cũng có sở thích và chú ý tới những việc mà anh không ngờ tới. Tôi cũng thích học chữ nho, đọc thơ Đường. Tôi đã đọc Đường Thi của cụ Ngô Tất Tố, của cụ Trần Trọng Kim, và của ông Trần Trọng San. Tôi thích cuốn thơ Đường của ông Trần Trọng San hơn vì ông viết tiểu sử của các thi sĩ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị khá chi tiết, giúp tôi hiểu thân thế sự nghiệp của các thi sĩ đời Đường chứ không chỉ dịch thơ và chú thích như những cuốn sách khác.

Chúng tôi nằm ngược chiều trên hai cái giường để nói chuyện cho nó thoải mái. Nhận thấy ánh trăng chiếu qua khe hở dùng làm chỗ thông hơi cho căn hầm tôi nhớ tới bài Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch nên đọc:

Sàng tiền minh nguyệt quang.

Anh Phúc ứng khẩu tiếp ngay:

Nghi thị địa thượng sương.

Tôi tiếp:

Cử đầu vọng minh nguyệt.

Anh đọc câu chót:

Đê đầu tư cố hương.

Xong chúng tôi đều mỉm cười thoải mái như tình cờ có được một khám phá mới. Hay nói cho nó có vẻ quan trọng, văn hóa hơn là gặp được tri kỷ, ít ra là về cái điểm thơ Đường. Bài thơ này diễn tả đúng tâm sự của chúng tôi lúc bây giờ.

Tính tôi hay thích đọc sách, đọc truyện, không phân biệt thể loại gì, có cái gì đọc cái nấy. Nhưng tôi lại là người ít nói. Chỉ khi nào gặp người hợp ý mới mở miệng mà thôi. Tôi thích nghe hơn là nói. Tôi có một quan niệm là ở bất cứ người nào họ cũng có một số sở trường của người ấy và đáng để cho tôi học hỏi. Tôi nhớ câu chữ nho: Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư. Tôi công nhận là rất đúng. Nếu chịu khó tìm hiểu và trao đổi thì bất cứ với một người nào tôi cũng có thể kiếm ra một điểm hay của họ tôi cần phải học.

Dù chỉ là một người rất tầm thường chẳng hạn như anh Châu chột của tôi, anh nói:

– Nếu Bác sĩ muốn có món nhậu bất thình lình, chỉ trong vài phút tôi sẽ có ngay cho bác sĩ, chẳng phải chờ đợi lâu.

Tôi hỏi anh thế làm thế nào mà nhanh thế. Anh Châu đáp:

– Có gì khó đâu tôi lấy con gà chặt phăng hai cái đùi rô-ti cho bác sĩ ăn. Trong khi đó tôi đun nước sôi làm lông gà rồi làm các món khác. Khi bác sĩ nhậu xong hai cái đùi gà là mọi thứ đều sẵn sàng cả.

Tôi thấy anh Châu cũng có lý. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ tôi lại muốn chặt cụt chân con gà trong lúc nó vẫn còn sống nhăn. Thực quả là tàn ác với súc vật. Nhưng cái ý tưởng cái gì làm trước cái gì làm sau, phối hợp chặt chẽ với nhau như thế để hoàn thành công việc, có thể rút ra từ câu chuyện đùi gà của anh Châu.

Từ ngày tôi tới làm việc ở Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, đối với bác sĩ Chí vì là bạn cùng lớp, cùng nhóm đi thực tập chung nên khi gặp lại chúng tôi đã thân nhau ngay, nói chuyện mày tao rất tự nhiên. Còn đối với bác sĩ Phúc vừa là cấp trên, vừa là lớp đàn anh, lại không quen biết trước nên tôi cũng có phần e dè, giới hạn. Tôi nhận xét giữa bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí hình như có một điều gì hơi kỵ nhau. Bên ngoài thì cười nói vui vẻ nhưng bên trong thì hình như có một cái gì vướng mắc không thoải mái. Tôi cảm thấy như vậy, không biết có đúng không. Trước khi có tôi, không hiểu hai người đã có chuyện xích mích gì không.

Tôi có thể nói những mối bất hòa đa số là do thiếu hiểu biết nhau. Không có dịp trao đổi ý kiến với nhau nên dễ bị hiểu lầm. Mọi người đều có một vỏ bọc riêng. Xét đoán người qua vỏ bọc ấy thường là không đúng. Cá tính người sẽ bộc lộ ra khi vỏ bọc ấy bị phá bỏ. Mà cách thông thường nhất để nhìn xuyên qua được cái vỏ bọc bên ngoài ấy là nói chuyện với nhau vào những lúc thích hợp nhất.

Sau những phút nói chuyện với anh tôi thấy anh là người dễ mến. Anh xuất thân trong một gia đình cách mạng, thân phụ anh là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vì anh mới lấy vợ được có mấy tháng, tôi tò mò hỏi anh:

– Anh có thể cho tôi một vài kinh nghiệm về đời sống gia đình, khác với đời sống độc thân như thế nào. Có gì thích thú không?

Anh mỉm cười hỏi đùa tôi:

– Sao, bộ muốn lấy vợ sao mà hỏi vậy?

Tôi lắc đầu đáp:

– Không, chắc số tôi còn lâu mới lấy vợ được, hỏi anh vì tò mò thôi.

Anh không đùa nữa, nét mặt có vẻ nghiêm trang hơn. Anh nói:

– Tôi nói thật với anh, đời sống gia đình rất vui. Tôi may mắn lấy được người vợ tôi ưng ý lắm. Anh biết không, tuy mới làm đám cưới với nhau không lâu mà mỗi khi tôi về thăm bên vợ tôi, gia đình bên đó đối xử với tôi thân thương như là người ruột thịt trong nhà từ lâu lắm rồi kìa. Mọi người cười nói vui vẻ tự nhiên thoải mái không có một chút hậu ý nào. sống rất hồn nhiên sung sướng. Không những không giống như bên gia đình tôi, chẳng ai nói với ai một tiếng nào, không khí gia đình rất lặng lẽ. Đôi khi tôi hơi lấy làm tiếc là gặp nhà tôi hơi muộn, gặp sớm hơn thì tôi đã đỡ mất mấy năm buồn tẻ trong đòi.

– Tôi nghe nói gia đình bên vợ anh có bà con với Trung Tướng Tôn Thất Đính phải không?

– Đúng, nhưng mạnh ai nấy sống chứ có nhờ vả gì đâu.

Chúng tôi nói chuyện lan man hết chuyện nọ ra chuyện kia. Tôi cho anh biết ý của tôi khi mới lên đây là nếu có dịp sẽ gây nên một phong trào học theo kiểu Journal Club của Mỹ. Anh gật đầu nói:

– Tôi cũng thích cách đó lắm. Nhưng mình bận việc quá nên không thực hiện được. Trước kia tôi có quen một một anh bác sĩ Đại Hàn. Anh này ham học ghê lắm. Các text book y khoa đều đọc từ đầu đến cuối, không bỏ một trang nào và không phải đọc một lần mà anh biết ông ta đọc mấy lần không? Tám lần cuốn Harrison’s. Vì đọc như vậy cái gì anh ta cũng biết. Có một lần anh ta hỏi tôi: anh có biết Osgood Schlatter Disease là gì không? Dĩ nhiên là tôi không biết. Anh ta nói đó là một bệnh đau đầu gối ở mấy đứa thiếu niên, gây ra bởi dây gân xương bánh chè kéo gần đứt mẩu xương ống trụ. Khám thì thấy một khối nhỏ ở mẩu xương trụ dưới đầu gối một chút, rất đau khi đụng tới. Chính nhờ lời khuyên của anh bạn đó mà tôi đọc sách rất kỹ từ đầu đến cuối.

– Nếu học như vậy thì công phu thật. Tôi chỉ đọc những chương nào cần thiết thôi. Thú thật với anh là chưa bao giờ tôi có đủ kiên nhẫn đọc một cuốn sách giáo khoa hết từ đầu đến cuối được.

Nói chuyện với anh tôi cũng học được những điều bổ ích. Tôi học được tính kiên nhẫn trì chí khi đọc sách. Phải đặt mục tiêu là phải đọc cuốn sách nào trong bao lâu thì xong. Ít ra là bây giờ nếu có ai hỏi Osgood Schlatter Disease là gì, thì tôi cũng trả lời được.

Chúng tôi nói chuyện đến đây, bỗng thấy cô Bích xồng xộc đi vào phòng chẳng nói chẳng rằng lục lọi như tìm kiếm một cái gì. Tôi vội hỏi:

– Cô Bích làm gì thế?

Cô Bích không trả lời cứ tiếp tục ngó quanh ngó quẩn tìm kiếm. Bác sĩ Phúc cười cười nói:

– Cô này điên rồi chắc. Cô kiếm cái gì nói ra để tụi tôi kiếm dùm cho.

Lúc này cô Bích mới dừng lại nhìn chúng tôi, cặp mắt đỏ hoe vì khóc. Cô nói, giọng có vẻ xúc động, lại hơi có vẻ trách móc:

– Cô Cúc Đồng chết rồi! Đang ở hầm bên kia, có bác sĩ Chí săn sóc cho cô ta. Tôi đi tìm mấy cái quần áo mổ để liệm cho cô, vì chẳng có vải nào khác.

Tôi liền đứng dậy kiếm ở trong bọc một chiếc quần mổ màu xanh xám đưa cho cô, rồi nói:

– Vậy mà cô chẳng nói gì, cứ đi sục sạo thì làm sao mà thấy được. Đây cô cầm cái quần mổ này để thay cho cô ấy vậy.

Cô Bích nói tiếp:

– Các anh Quân Y liệm xong sẽ khênh lên để tạm ở nóc hầm. Ngày mai sẽ đưa đi chôn. Tôi lo cho đứa em gái của cô Cúc mới 13 tuổi, bây giờ chỉ có một mình. Người anh bị thương về Bình Dương rồi. Bố mẹ ở Lộc Ninh không biết sống chết ra sao.

Tin cô Cúc mất làm cho chúng tôi thấm buồn. Những phút nói chuyện thoải mái vừa qua đã tan biến mất. Tôi cầm đèn pin đưa cô Bích ra cửa hầm lên mặt đất. Tôi không đi theo nhưng đứng ở cửa hầm rọi đèn pin giúp cô đi khỏi vấp té. Vì hai hầm cách nhau có 10 thước nên chỉ vài giây là cô đã tới cửa hầm bên kia rồi lần theo bậc thang mà xuống.

Tôi đứng tại cửa hầm của tôi, nhìn mọi hướng. Đêm tối đã lâu. Chung quanh không có một ánh đèn nào. Mặt trăng trong phút chốc đã bị một đám mây đen che khuất làm cho cảnh vật lại càng tối đen hơn. Nhìn về hướng Nam, hướng Sài Gòn, tôi thấy vùng trời phía đó bừng sáng, khác hẳn ba phía còn lại. Đột nhiên tôi nhớ Sài Gòn quá. Tôi biết rằng mẹ và các em tôi cũng đang nhớ và lo lắng cho tôi đang bị giam hãm ở địa ngục này.

Tôi trở xuống hầm. Bác sĩ Phúc vẫn còn chưa ngủ. Tôi nói:

– Anh lên xem, nhìn về phía Sài Gòn vùng trời phía đó sáng như rạng đông, trông thấy ấm áp vô cùng. Nhớ nhà quá.

Bác sĩ Phúc an ủi tôi:

– Chẳng bao lâu nữa mình cũng được về thôi. Tôi nghĩ qua hai đợt tấn công thất bại như vậy, địch quân sẽ không còn lực lượng nào uy hiếp mình nữa đâu. Bao nhiêu quân đều bị nướng hết bởi B52 rồi.

Lúc bây giờ cục diện chiến tranh Việt Nam có vẻ đang tiến tới một khúc quanh quan trọng vì đàn anh Mỹ đang muốn rút, đề nghị Việt Nam hóa chiến tranh, rồi hội nghị hòa bình Paris vân vân. Tôi nghĩ tới ông Tổng Thống Kennedy đã đương đầu quyết liệt, cứng rắn với Thủ tướng Nga lúc đó là ông Khrushchev người đã ra lệnh đặt dàn hỏa tiễn ở Cuba tính khống chế đe dọa Mỹ. Nhờ sự quyết tâm của Tổng Thống Kennedy nên Khrushchev đã phải nhượng bộ, ra lệnh tháo gỡ ngay những dàn hỏa tiễn đó. Tôi nói:

– Giá còn Tổng Thống Kennedy thì tình hình Việt Nam bây giờ chắc khác trước, có lợi cho mình hơn.

Anh Phúc cười không tin, quả quyết nói:

– Anh lầm rồi, Tổng Thống nào cũng vậy mà thôi, cũng hành động vì quyền lợi của nước Mỹ, của dân Mỹ, chứ nước mình đối với họ có nhằm nhò gì.

Tôi không trả lời vì không muốn tranh luận về chính trị, cũng như về tôn giáo, hai đề tài tôi muốn tránh vì rất dễ mất hòa khí, không đi đến đâu cả. Đó là những đề tài mơ hồ không có số liệu chính xác chứng minh, không có đủ những dữ kiện thuyết phục được người đối thoại. Nếu ai cũng muốn giữ lập trường của mình thì sẽ đi đến cãi nhau mất, mệt lắm.

Tôi chỉ đồng ý với anh một phần. Đương nhiên Tổng Thống Mỹ phải hành động có lợi cho nước của họ. Tuy cùng mục đích ấy nhưng ý tôi muốn nói là cũng phải tùy người hành xử chính sách của ông ta. Một Tổng Thống diều hâu sẽ có những đường đi khác hơn một Tổng Thống bồ câu. Đường đi ấy có thể cong, có thể thẳng hay có thể uốn khúc nhưng mục đích cuối cùng vẫn là quyền lợi của nước Mỹ. Chính nhờ nương vào những dị biệt cá nhân đó, nếu Việt Nam có được một lãnh tụ khá thì cũng có thể làm lợi cho nước mình.

Chúng tôi nói chuyện một hồi lâu cũng khá mệt nên tôi đứng dậy tắt đèn đi ngủ. Không biết chúng tôi ngủ được bao lâu, đột nhiên bị đánh thức dậy bởi một tiếng nổ khủng khiếp rất gần làm rung rinh cả căn hầm. Đồng thời tôi cũng nghe một tiếng máy bay vụt qua. Với những kinh nghiệm đã có, tôi nghĩ chắc lại bỏ bom lầm rồi. Không thể nào là pháo kích được vì tiếng nổ dữ dội lắm, dù cho hỏa tiễn cũng không nổ lớn và mạnh như thế. Trong bóng đêm, tôi nghe tiếng anh Phúc hỏi:

– Tụi nó lại pháo kích sao anh?

– Tôi nghĩ máy bay bỏ bom lầm quá. Để đợi chút xem, nếu pháo kích thì sẽ có những tiếng nổ thêm.

Chúng tôi nằm chờ hơi lâu mà chẳng nghe thấy tiếng nổ nào khác nên lại ngủ tiếp cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vừa ra khỏi phòng, tôi gặp ngay Thượng sĩ Lỹ, ông nói:

– Đêm qua, máy bay bỏ bom lầm ngay trại mình, trúng một tháp canh của Địa Phương Quân, làm bảy người ở đó biến mất, không còn một vết tích nào cả.

Tôi lè lưỡi nhìn Thượng sĩ Lỹ, nói:

– Số mình vẫn còn may. Tháp canh đó cách mình chừng 50 thước chứ mấy, nhích lại một chút là trúng hầm mình rồi. Tôi nghi quá, giữa đêm một máy bay lại đi bỏ có một quả bom rồi dọt mất. Không biết có một âm mưu nào nhằm ám sát Bộ Chỉ Huy hay chỉ nhầm thôi. Dù sao, mình vẫn còn sống là tốt rồi.

Đã có vụ trực thăng phóng hỏa tiễn, bắn nhầm Bộ Chỉ Huy Biệt Khu Thủ Đô ở Chợ Lớn đang giữ trọng trách phản công lại Việt Công trong vụ tổng tấn công của địch hồi Tết Mậu Thân, năm 1968. Dư luận đồn đại là có chủ ý thanh toán nhau, nhằm triệt hạ những vây cánh của tướng Kỳ vì đa số những sĩ quan tử nạn là những người thân cận của Tướng Kỳ. Tự nhiên, tôi đem lòng nghi ngờ tất cả mọi sự bắn lầm khác nếu nó xảy ra một cách vô lý. Nói vậy cho vui thôi, vì trong vụ bỏ bom lầm ở đây tôi không thấy có một lý do, một phe nhóm nào có âm mưu triệt hạ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và Lữ Đoàn Dù cả.

Sau những cố gắng tấn công bất thành lần thứ hai vào thị xã An Lộc, địch quân có vẻ như đã kiệt quệ. Những chuyến trải thảm của B52 khá trúng đích, đã vô hiệu hóa một số lớn quân chủ lực của địch. Nghe nói Công Trường 9 của địch, quân số chỉ còn lại hơn một tiểu đoàn. Khai thác tù binh bắt được trong trận đánh, cho thấy có sự trục trặc trong chiến thuật đánh hợp đồng giữa Bộ Binh và xe tăng. Một phần vì Bộ Binh, khi tập trung quân để tấn công An Lộc đã bị B52 làm tê liệt. Chiến xa đành phải đơn độc tiến vào thị xã mà không có bộ đội yểm trợ nên đã làm mồi ngon cho quân ta và đã bị diệt gọn một cách dễ dàng.

Tuy bị thất bại nặng nề, địch quân vẫn còn bao vây chung quanh An Lộc và Quốc lộ 13 chưa được giải tỏa. Địch quân tiếp tục pháo lai rai vào An Lộc, gây nên một số thương vong cho quân ta. Cường độ pháo kích so với trước chỉ bằng một phần tư thôi. Địch quân thường nhằm vào những bãi đáp trực thăng, gây trở ngại trong việc tản thương.

Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một trực thăng tản thương nào bị trúng đạn cả và chưa có một người nào chết vì tản thương. Cũng vì thế mà công tác tản thương rất căng thẳng và rất nguy hiểm. Các y tá lãnh nhiệm vụ này quả là những anh hùng vô danh, đáng được tuyên dương công trạng.

Những phi công tản thương, không biết là Mỹ hay Việt, phải công nhận họ là những sĩ quan can đảm, lại tài ba nữa vì họ đã đánh lừa được quân địch. Thay vì bình thường bay theo hướng từ Sài Gòn lên rồi là là xuống bãi đáp, địch sẽ biết ngay và không tránh khỏi bị pháo. Các phi công đổi hướng, đánh một vòng bay ngược lại từ hướng Lộc Ninh xuống một cách bất ngờ nên địch quân không đoán được chỗ nào trực thăng sẽ đáp xuống. Cho nên nhiều khi tản thương xong xuôi, máy bay đã cất cánh rồi địch mới pháo vuốt đuôi.

Chiến thuật mới đó đã giúp chúng tôi tản thương tương đối khá an toàn. Do đó chúng tôi không bị ối đọng thương binh như hồi trước nữa.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn Lu 14 Sep 2023

Bài 20 – Tấn Công Đợt Hai

Thế là tôi đã dọn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu được một tuần. Trong tuần rồi tôi đã bận rộn vừa phải. Mỗi ngày trung bình mổ được ba tới bốn trường hợp mà chỉ có hai cái mổ lớn là bị thương ở bụng. Hai ngày đầu tôi làm việc rất thoải mái vì ít thương binh. Nhưng mấy ngày sau, các đơn vị bạn được tin là Bịnh Viện Tiểu Khu đã hoạt động trở lại nên cứ có người bị thương là họ chuyển bệnh tới. Nhiều khi tôi làm việc không được nghỉ trưa. Tôi nhờ cô Bích xuống nhà bếp ngoại giao xin nước sôi để cho mọi người đổ vào bịch gạo sấy tranh thủ mấy phút giữa hai ca mổ để ăn cho lại sức.

Anh Sáu Xòm vì có người vợ mang thai gần đến ngày sanh nên vợ anh được đặc biệt theo anh vào ở chung với căn phòng của cô Bích. Đã từ lâu tôi không có những áo choàng mổ nên khi mổ chỉ mặc áo thường ba lỗ của phòng mổ với một tấm nylon quấn quanh người để phòng máu dây ra quần áo. Chúng tôi trông giống những tay đồ tể trong những tiệm bán thịt heo ngoài chợ.

Tuy làm việc mệt nhọc trong tình trạng thiếu thốn (chúng tôi đã quá quen với điều kiện làm việc như thế này rồi), tôi vẫn thấy là đã rất may mắn được dọn vào nơi đây. Thứ nhất là đã có một chỗ an toàn để làm việc. Thứ hai là đã có cơ hội để tiếp tục dùng khả năng của mình để có thể cứu sống người khác, hay ít ra cũng giúp được phần nào những chiến hữu của mình không may bị thương trong trận chiến này.

Chiều 15 tháng 6, sau một ngày làm việc mệt nhọc, toán giải phẫu chúng tôi thu dọn phòng mổ xong, ai về phòng nấy nghỉ ngơi cùng ăn uống cho lại sức. Tôi cũng lui vào phòng, mở bịch cơm sấy còn lại từ sáng ra ăn với mấy miếng xúc xích hộp của Quân Tiếp Vụ. Tôi ngồi trên cái ghế mây chân gác lên giường cho đỡ mỏi vì phải đứng suốt ngày. Bây giờ, ở ngoài hành lang hầm cứu thương đã đầy những thương binh của các đơn vị nằm. Đa số là những vết thương chân tay nhẹ thôi. Những trường hợp nặng, mổ xong được nằm ở trong hai phòng kế bên phòng tôi. Tất cả có bốn người. Tôi hy vọng ngày mai có chuyến tản thương cho đỡ kẹt vì hết chỗ rồi.

Theo thói quen làm việc đã học được khi còn ở quân trường Võ Bị Đà Lạt trong phần viết kế hoạch hành quân, phải dự trù những bước kế tiếp. Tiên đoán những sự việc có thể xảy ra để điều hợp các đơn vị tiếp ứng hỗ trợ cho nhau.

Tôi ngồi suy nghĩ cách phân tán thương binh để lấy chỗ cho những người mới tới. Việc này thật không đơn giản. Trả các thương binh về các đơn vị của họ là giải pháp dễ nhưng lại khó thực hiện. Không có phương tiện, các xe cộ gần như hư hỏng hết vì bị pháo kích. Vả lại các thương binh cũng chẳng biết đơn vị họ đóng ở đâu mà tìm. Nếu có chuyến tản thương thì làm sao gom thương binh cho kịp để đến bãi đáp.

Tôi nghĩ chỉ còn một cách duy nhất là phân tán mỏng các thương binh qua các hầm khác, để lỡ ngày mai có chuyến tản thương thì điều động cũng dễ. Sau khi quyết định như vậy, tôi dự trù sáng ngày mai giao cho Thượng sĩ Lỹ lo công việc này. Tôi yên trí ngã lưng xuống giường chờ giấc ngủ tới.

Không biết tôi đã ngủ được bao lâu, chợt tỉnh giấc vì những tiếng đạn pháo kích nổ thật gần. Những tiếng nổ càng ngày càng nhiều, phải nói như mưa. Tôi cố nhướng mắt nhìn đồng hồ có mặt dạ quang, thấy 2 giờ sáng. Việc gì tới đã tới, đúng như mọi người đã tiên đoán và chờ đợi, cuộc tấn công đợt hai vào thị xã An Lộc đã mở màn.

Khác với những lần pháo kích trước, lần này tôi tỉnh bơ, không có những cái sợ hãi lạnh xương sống như hồi còn ở bệnh viện. Với cái hầm kiên cố như hôm nay tôi yên trí lắm. Nhưng để đề phòng mọi bất trắc, tôi vẫn trở dậy đi giày vào đàng hoàng, mặc áo giáp, mũ sắt, đèn pin, bi-đông nước, tất cả mọi thứ cần dùng đều trong tầm tay của tôi cả. Tôi để cái ba lô có đầy đủ quần áo lương khô ngay đầu giường. Sau khi đã sắp xếp xong, tôi lại nằm xuống như cũ nghe ngóng tình hình.

Điều tôi sợ bây giờ không phải là Việt Cộng mà là B52. Tôi chỉ sợ trong đêm tối nếu nó trải thảm lầm, chỉ lạc đi một tí xíu thôi là cuộc đời của chúng tôi kể như giã từ vũ khí vĩnh viễn. Dù hầm này có kiên cố cách mấy cũng chẳng ăn thua gì với một trái bom. Từ đầu trận chiến tới giờ đã có hai lần máy bay thả bom lầm. Đó là do máy bay thường thôi nên tổn thất chỉ có giới hạn, nếu là B52 thì thê thảm lắm.

Tuy pháo như mưa nhưng kỳ lạ thay số đạn rơi vào vòng đai Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu thật không đáng kể. Đúng như tôi dự đoán, gần 1 giờ sau mặt đất rung chuyển liên hồi vì B52 đã bắt đầu trải thảm. Tôi thấy hơi yên trí một chút vì tiếng bom nổ xa hơn tôi tưởng. Như vậy chúng tôi sẽ được an toàn hơn, khỏi sợ bị trải thảm lầm. Những tiếng súng nhỏ cũng xa ở ngoài bìa rừng. Toàn bộ khu trại của chúng tôi yên lặng như vẫn ngủ say chẳng có một tiếng súng nhỏ nào.

Tôi vẫn nằm thao thức suy nghĩ, cố dùng đủ mọi hiểu biết của tôi phối hợp với những tin tức nhận được để suy đoán cũng như lượng định tình hình thắng bại giữa ta và địch. Tôi thấy từ khi viện quân Dù đã bắt tay được với Bộ Chỉ Huy ở đây, vòng đai đã được nới rộng nên chúng tôi được an toàn hơn đợt tấn công kỳ trước. Vả lại bên địch quân sau lần tấn công đợt nhất đã thấm đòn vì bị thiệt hại nặng. Dù có nhanh chóng tu bổ tăng viện cũng không thể nào bằng tình trạng lúc ban đầu. Tôi đoán chắc chắn chúng sẽ yếu hơn cả về phẩm lẫn lượng.

Sau lần thất bại đầu tiên nặng nề như vậy, tinh thần binh sĩ của địch làm sao cao được. Các đơn vị chiến xa của địch đã bị tiêu diệt gần hết, không thể bổ sung toàn bộ được. Dù cho quân số có thể xấp xỉ với lần đầu chăng nữa cũng chỉ vá víu mà thôi.

Về phía bên ta, binh sĩ đã có kinh nghiệm qua lần tấn công đợt đầu của địch, nên tinh thần cao, không hốt hoảng sợ hãi như lần đầu. Lại thêm có những đơn vị thiện chiến tăng cường như Lữ Đoàn Dù, Liên Đoàn Biệt Kích Dù, Liên Đoàn Biệt Động Quân. Nhất là lại có B52 trợ lực, sẵn sàng trải thảm khi có tin địch tập trung quân ở địa điểm nào. Cân nhắc kỹ càng cái thế ta và địch, tôi vững lòng tin mình sẽ lại thắng một lần nữa.

Tôi thấy an tâm và may mắn đã rời bỏ bệnh viện đúng lúc. Nếu không cũng mệt lắm với cường độ pháo kích lần này. Tôi lo cho các bạn tôi còn ở lại bệnh viện. Chẳng hiểu họ có được bình an không. Với độ pháo như vậy chắc chắn sẽ có thương vong. Chỉ cầu xin sao cho thật nhẹ, thật ít. Bác sĩ Phúc có hầm tốt rồi, thôi cũng đỡ lo. Chỉ sợ cho bác sĩ Chí, bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích và các nhân viên vì ở khu Nội Khoa chẳng có hầm hố gì cả. Các Quân Y Tá của Bệnh Viện Tiểu Khu, mọi người đã có một hố cá nhân nên cũng đỡ lo. Xui lắm pháo rơi trúng chỗ phải đành chịu thôi.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khi chợt tỉnh dậy, nhìn đồng hồ thấy 6 giờ. Tiếng nổ của đạn pháo kích đã không còn nữa. Thỉnh thoảng mới có một vài tiếng súng nổ ở xa. Tôi đoán rằng cuộc tấn công đợt hai của địch đã bị bẻ gãy. Bên ta đã giữ vững phòng tuyến đẩy lùi địch. Tôi nghĩ sáng ra thế nào tôi cũng có nhiều việc làm. Tôi không thấy buồn ngủ nữa . Nghe có tiếng động bên phòng đầu, tôi liền nhỏm dậy đi ra khỏi phòng xem có gì lạ không. Thấy Trung sĩ Xòm đang dọn dẹp đồ trong Phòng Mổ. Tôi hỏi:

– Sao anh dậy sớm vậy. Không ngủ được à?

Anh Sáu Xòm ngó ra thấy tôi vội chào rồi nói:

– Dạ, ngủ được chút ít. Hôm nay chắc sẽ có nhiều bệnh lắm vì hôm qua pháo kích nên em sửa soạn khử trùng sẵn mấy bộ đồ mổ.

– Vậy thì tốt lắm. À, mình còn Catgut 1.0, chỉ silk 1.0 không? Tôi cần mấy thứ đó để đóng bụng mới chắc, mấy thứ nhỏ hơn sợ bị đứt, bung ra.

Trung sĩ Xòm ngần ngừ một tí rồi nói:

– Em sợ hết mất rồi, hôm qua còn một sợi chót bác sĩ đã dùng rồi.

– Như vậy thì kẹt nhỉ.

Tôi đứng trầm ngâm suy nghĩ. Tìm cách nào để có được những sợi chỉ thật chắc như vậy để đóng bụng bây giờ. Nếu đánh công điện về xin Liên Đoàn chắc nhanh lắm cũng phải hai ngày nhưng biết có thể đến được tay mình hay không. Vì mọi thứ tiếp tế hiện giờ bằng Dù hết. Nhỡ lạc sang phía địch hay là sang đơn vị khác khó có thể thu hồi lại được.

Bỗng nhiên trong óc tôi chợt lóe lên một tia chớp. Tôi nhớ hôm qua sang bên hầm chỉ huy tôi thấy một túm dây nylon dùng để cột miệng bao cát đen nhánh rất đẹp, lại cùng cỡ với chi silk 1.0. Tôi nghĩ có thể dùng sợi dây này may tạm dưới da để đóng bụng được vì nó rất dai và chắc, nhất là rất dễ kiếm vì ở đây bao cát mới chỗ nào mà chẳng có.

Muốn khử trùng thì dễ quá, chẳng cần phải mất công gì cả. Cứ đem ngâm rửa sạch bằng xà-bông bột Quân Tiếp Vụ sẽ chẳng còn con vi trùng nào có thể sống được. Nếu có làm độc cũng ở bên ngoài bụng, dưới lớp da thôi, sẽ dễ dàng cắt bỏ thay thế bằng những dây khác một khi thương binh đã được di chuyển về những bệnh viện ở Sài Gòn hoặc Bình Dương, nơi có đầy đủ phương tiện hơn.

Ở đây cần phải cứu sống mạng người trước rồi mọi sự khác sẽ được tính sau. Nghĩ là làm liền. Tôi nói với anh Xòm đi kiếm cho tôi chừng ba túm dây nylon cột bao cát mang về cho tôi ngâm rửa trong xà bông chừng 20 phút. Sau đó cất vào một cái lọ để khi cần sẽ dùng.

Một lát sau tất cả các nhân viên toán mổ đã tề tựu đông đủ. Mọi người ai nấy đều biết bổn phận mình phải làm gì, tự động lo phần việc của mình vì chắc chắn chẳng bao lâu nữa sẽ có thương binh tới.

Tám giờ sáng mọi việc đều xong xuôi. Chúng tôi đang tính ngồi nghỉ mệt một chút thì có tiếng xe thắng trên mặt hầm. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau thầm hiểu là khách hàng đã tới.

Anh Xòm nhanh nhẹn đứng bật lên trước tiến ra phía cửa hầm, theo sau là Thượng sĩ Lỹ, Thiện, cô Bích. Tôi vẫn ngồi tại chỗ . Chợt tôi nghe tiếng anh Xòm nói:

– Chào bác sĩ.

Rồi tiếng bác sĩ Phúc hỏi:

– Bác sĩ Quý đâu anh Sáu?

– Thưa, Bác sĩ Quý đang ở dưới hầm này.

Tôi vừa ra khỏi phòng tiến tới cầu thang hầm lên mặt đất thì gặp bác sĩ Phúc đang chạy xuống. Tôi chưa kịp lên tiếng hỏi thăm, anh Phúc đã hấp tấp nói:

– Anh Quý coi giùm tôi thằng cháu Sơn, nó bị thương tối qua ở ngực phải. Nó rên suốt đêm làm tôi không ngủ được, lại kêu đau nữa.

Tôi nhận thấy Bác sĩ Phúc nét mặt hốc hác. Đúng là đêm qua anh đã không chợp mắt tí nào. Chắc vừa sợ, vừa phải lo cho thằng cháu Sơn bị thương của anh. Mới xa anh một tuần mà trông thấy anh có vẻ già đi hơn trước nhiều. Tôi vội theo anh lên khỏi miệng hầm tiến tới chỗ xe Hồng Thập Tự. Lúc này cu Sơn, một đứa con trai trắng trẻo, nhanh nhẹn mới có 16 tuổi, ngày thường vui vẻ, thế mà nay mặt mũi xanh rờn, mệt mỏi nằm trên băng-ca đưa mắt nhìn tôi miệng mấp máy nói:

– Bác sĩ Quý làm ơn cứu cháu, khó thở quá.

– Đừng sợ, để khiêng xuống dưới phòng mổ rồi bác chữa cho.

Sau khi đặt cu Sơn nhẹ nhàng ngồi trên bàn mổ dã chiến như đã nói ở trên, chỉ là một bàn khám bệnh thường bằng sắt không rỉ. Tôi khám nhanh ngực của Sơn. Một vết thương nhỏ ở cạnh sườn phải dài hai phân đã được băng bằng băng keo dán chặt. Tôi nhận thấy phía ngực phải hô hấp kém hơn bên trái. Đặt ống nghe tôi không thấy có tiếng thở. Tôi đưa mắt nhìn anh Phúc nói:

– Cu Sơn bị Hemothorax rồi anh ạ. Tôi phải đặt ống thông phổi để rút máu ra nó mới dễ thở được.

Bác sĩ Phúc gật đầu nói:

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Thôi trăm sự nhờ anh lo cho cháu. Anh có cần tôi giúp gì không?

– Không sao đâu, tôi làm một mình cũng được. Anh sang phòng bên nghỉ cho khỏe.

Tôi hối anh Sáu mang bộ đồ thông phổi ra. Chúng tôi không có đầy đủ dụng cụ như dây ống nhựa để dẫn máu xuống bình nên tôi dùng một bịch nylon bao gạo sấy đổ nước vào rồi cột vào một đầu của ống thông phổi. Tôi chích thuốc Novocaine xong rồi rạch da, dùng một kẹp Kelly cong tách các cơ giữa sườn. Sau đó dùng kẹp ống thông phổi ấn mạnh qua thành ngực vào sâu bên trong xoang phổi. Máu bầm tuôn ra xối xả theo ống thông phổi chạy vào bao nylon gạo sấy. Cu Sơn nhăn mặt kêu đau nhưng tôi làm nhanh lắm nên chưa hết tiếng kêu đã xong rồi. Tôi kêu Thượng sĩ Lỹ sửa soạn tiếp một bình đựng máu dã chiến khác. Rồi tôi lấy ống nghe kiểm tra lại phổi, nghe thấy có tiếng thở phế bào. Tuy nhẹ nhưng rõ ràng là phổi bên phải đã có thể làm việc trở lại được, không còn bị máu ở xoang phổi ép lại như trước nữa.

Tôi hỏi cu Sơn:

– Sơn thấy dễ thở hơn trước không?

Sơn trán còn rịn mồ hôi vì đau và sợ, trả lời:

– Dạ, đỡ khá nhiều.

Tôi bảo anh Sáu cho Sơn nằm xuống, lấy một bịch bông băng kê sau lưng cho đỡ mỏi và để cho máu bầm trong phổi chảy dễ dàng hơn. Tôi dặn anh Sáu cách thay bọc nước nếu đầy. Rồi trở về phòng. Bác sĩ Phúc đang ngồi đó chờ. Tôi vội nói:

– Xong rồi, cu Sơn sẽ không sao đâu. Có lẽ mảnh đạn chưa qua phía bên trái, chưa chạm tim và những mạch máu lớn. Nên tôi chắc chỉ vài ngày là nó sẽ khá thôi.

– Cảm ơn anh, thấy nó bị thương tôi bối rối quá. Cũng may mà nó không việc gì, nếu không tôi biết ăn nói làm sao với bố mẹ nó.

Tôi an ủi anh:

– Anh biết đấy, mình đâu có muốn như vậy. Chuyện xảy ra ngoài tầm tay của mình. À, anh có mang hết đồ đạc đi theo không? Anh ở lại đây luôn với tôi, có sẵn giường này, anh em mình ở phòng này tiện lắm. Có lẽ anh bảo xe Hồng Thập Tự về đưa anh Chí và các nhân viên ai muốn sang đây thì sang, an toàn hơn ở bệnh viện mình nhiều.

– Tôi cũng có ý ấy.

Anh Phúc gật đầu đồng ý trả lời tôi, anh tiếp:

– Để tôi bảo tụi nó cho anh Chí biết rồi dọn cả sang đây. Chúng mình có ba người, đi đâu cũng nên có nhau.

Nói đến đây, Thượng sĩ Lỹ vào cho tôi biết có nhiều thương binh đã được chuyển tới. Tôi ra lệnh đem hết xuống hầm để dọc theo hành lang và các phòng rồi đi khám xét một lượt chọn những người nào nên làm trước, người nào nhẹ làm sau. Chỉ có một người nặng, bị thương ở bụng còn bốn người kia bị thương nhẹ ở tay chân thôi. Thượng sĩ Lỹ nói:

– Đây là Đại úy Nghi của Pháo Binh Dù.

Tôi thấy ông ta tuy bị thương nhưng tinh thần vẫn còn tỉnh táo không có triệu chứng kích xúc. Theo kinh nghiệm của tôi thì tuy bị thương vào bụng nhưng chắc không mất máu nhiều và chắc không bị lủng ruột già. Vì những người đó sẽ có vết thương thường bị nhiễm trùng rất sớm, do viêm phúc mạc cấp tính bởi những vi trùng yếm khí và những vi trùng ghê gớm khác trong phân nên trông sắc mặt không được tươi tỉnh.

Trong trường hợp của Đại úy Nghi Pháo Binh Dù, tôi thấy nhận xét của tôi khá đúng. Sau khi mổ bụng ra, tôi chỉ thấy một vết thương ruột non và một vết thương ở bàng quang. Không có vết thương ruột già. Xoang bụng tương đối sạch. Tôi đã may các vết thương đó lại bằng Catgut. Cuộc giải phẫu kết thúc rất nhanh, mặc dù chúng tôi thiếu chỉ 1.0 để đóng bụng. Tuy nhiên tôi đã dự trù trước, nên đã có sẵn những sợi chỉ nylon của bao cát, dùng rất tốt, rất dai. Thành ra Đại úy Nghi là người đã được tôi dùng chỉ bao cát may lần đầu tiên tại chiến trường An Lộc. (Tôi đã theo dõi trường hợp này, và thấy không có bị nhiễm trùng như tôi đã lo ngại, vết thương của Đại úy Nghi đã lành đúng như dự định.)

Tôi đã dùng dây nylon cột bao cát như vậy cho ba trường hợp nữa trước khi tôi nhận được tiếp tế các chỉ may. Chính Y Sĩ Thiếu tá David Risch đã đích thân mang lên cùng với một phái đoàn y sĩ Mỹ thuộc Quân Đoàn III ở Biên Hòa.

Gặp nhau chúng tôi mừng lắm. Tôi nói với Bác sĩ Risch:

– Ông lên đây bằng trực thăng phải không? Tại sao ông lại lên đây làm gì, nguy hiểm lắm. Chỗ này là chiến trường. Không thể làm gì được nhiều như trước nữa. Tôi đề nghị ông nên ở lại Biên Hòa, giúp tôi bằng cách tiếp tế đầy đủ y cụ cần thiết và cho nhiều phương tiện để tản thương càng nhanh càng tốt.

Bác sĩ Risch gật đầu nói:

– Tôi biết chứ, nhưng tôi nghĩ tôi có thể giúp bạn một tay, vì tôi biết rằng bạn rất bận rộn. Vả lại ở Biên Hòa, trong Quân đoàn III các cố vấn Mỹ nghĩ rằng không ai có thể làm được những cuộc mổ lớn ở đây, ngay tại mặt trận này. Tôi đã nói với họ là có bác sĩ Quý ở Bệnh Viện Tiểu khu khá lắm và tôi tin rằng ông ta có thể làm được những điều đó. Họ vẫn không tin vì tin tức báo về là Bệnh Viện Tiểu Khu đã bị pháo sập rồi. Họ cá với tôi là nếu quả thực là ở mặt trận này Quân Y vẫn còn có khả năng mổ lớn và làm việc được như thường thì họ sẽ thua cuộc, phải chịu một bữa ăn.

Tôi thích thú vụ đánh cá này vì chắc chắn ông bạn to khỏe của tôi sẽ thắng, tôi cười nói:

– Như vậy là ông thắng 100% rồi. Tuy Bệnh Viện Tiểu Khu không còn sử dụng được nữa nhưng tôi đã dọn sang bên hầm này và vẫn tiếp tục mổ như thường.

Vừa nói tôi vừa dẫn bác Risch đi thăm những người tôi mới mổ sáng nay.

Bác Risch tỏ ra cảm phục tôi quá, nói:

– Tôi biết ngay mà, thế nào về Biên Hòa tôi cũng được một bữa ăn ngon lành. Để tôi kêu mấy người ấy tới đây giới thiệu với bạn, cho họ thấy tận mắt, không phải tôi nói ngoa.

Nói xong Bác sĩ Risch đi về phía hầm chỉ huy nơi các cố vấn Mỹ đang họp. Trong đó có cả mấy bác sĩ cố vấn của Quân đoàn III nữa. Khi Bác sĩ Risch vừa đi khỏi thì Thượng sĩ Lỹ vào cho tôi biết có một người bị thương ở bụng vừa mới chuyển tới. Tôi ra lệnh khênh vô để trên bàn mổ khám nghiệm. Quả thật anh ta bị một mảnh đạn xuyên vào bụng ở ngang rẽ sườn bên phải. Bụng đã hơi cứng nhưng mặt mũi vẫn còn tỉnh táo.

Tôi ra lệnh toán giải phẫu sửa soạn mọi thứ để mổ ngay. Vừa lúc ấy bác sĩ Risch dẫn phái đoàn cố vấn Quân Y Quân đoàn III tới. Họ gồm có ba người. Tôi nói với họ có một người bị thương bụng đang sửa soạn mổ. Một người trong phái đoàn, có lẽ là một bác sĩ giải phẫu, đề nghị với tôi cho ông ta phụ mổ. Tôi gật đầu bằng lòng. Nhưng trước khi đó tôi giải thích cho họ là chúng tôi làm việc trong điều kiện hết sức thiếu thốn, không được khử trùng một cách đúng quy tắc. Mổ dưới hầm này không có máy lạnh, không có áo choàng mổ, không có khăn mổ đàng hoàng như họ nghĩ đâu.

Ông bác sĩ đó gật đầu thông cảm. Tôi và ông ta rửa sạch tay bằng xà-bông Quân Tiếp Vụ. Ông ta cởi trần mặc áo thun lót, tôi mặc áo mổ lót ba lỗ ngắn, đeo găng tay. Chúng tôi đợi tín hiệu của anh Sáu Xòm cho biết bệnh nhân đã ngủ say, mổ được.

Tôi ung dung cầm dao mổ, đi một đường ngoạn mục quen thuộc rất nhanh rất chính xác, mổ bụng ra thấy có máu bầm trào ra. Như vậy định bệnh đúng là có vết thương bụng. Tôi khỏi sự tìm chỗ máu chảy, thấy từ gan ra. Gan bị một vết thương chùng ba phân ở thùy bên phải gần bờ dưới khuất sau xương sườn. Tôi hút sạch máu, lấy Catgut chromic 2.0 ra cố gắng may lại vết thương gan. Nhưng vì vết thương ăn sâu sau thành ngực nên rất khó mà may vì vướng. Ông bác sĩ phụ mổ cho tôi phải dùng tay kéo bờ sườn lên một chút và tôi đã may xong hai mũi.

Ông bác sĩ phụ mổ tôi hỏi:

– Trong trường hợp không có tôi ngày hôm nay thì anh làm sao?

– Tôi vẫn may lại được vết thương nhưng có điều mất thì giờ hơn một chút thôi.

Sau khi may xong tôi thấy máu ngừng chảy. Tôi sửa soạn khám xét tất cả các cơ quan khác trong bụng thấy còn không còn vết thương nào nữa. Tôi thấy bệnh nhân này may mắn thật. Những trường hợp này nếu không mổ cũng có thể sống được. Vì vết thương tương đối nhỏ và máu cũng không chảy nhiều lắm. Nó sẽ tự động ngưng lại nhất là nếu bệnh nhân nằm nghiêng về bên phải.

Cuộc giải phẫu kết thúc chưa đầy một giờ. Tình trạng bệnh nhân rất khả quan sau khi đóng bụng như anh Sáu báo cáo lại. Chúng tôi trút bỏ găng tay.

Bác sĩ Risch đứng xem mổ bên cạnh tới bắt tay tôi nói:

-I am very proud of you! You did a great job.

Tôi mỉm cười, nghiêng đầu chùi mồ hôi từ trên trán xuống, nói:

– Thank you.

Hai ông bác sĩ khác trong phái đoàn nhìn tôi có vẻ cảm phục lắm, làm tôi hơi ngượng vì mổ ca này quá dễ, chẳng xứng đáng gì được ngưỡng mộ cả.

Bệnh nhân được tiếp tục truyền nước biển có pha thuốc trụ sinh rồi được đưa sang phòng bên săn sóc hậu giải phẫu. Phái đoàn cố vấn Mỹ lại trở về hầm chỉ huy họp hành báo cáo gì đó.

Chừng một giờ sau bác Risch trở lại hầm tôi, cho biết là có chuyến tản thương, hỏi tôi có cần chuyển thương binh không. Tôi nói tôi có 7 thương binh kể cả người mới mổ cần phải tản thương ngay. Bác sĩ Risch nói:

– Để tôi lo việc tản thương cho. Nghe nói kỳ này có Chinook tới nên sẽ chuyển đi được nhiều lắm.

Tôi dặn ông ta:

– Bạn đi ra chỗ bãi đáp nên cẩn thận, Việt Cộng hay pháo vô đó lắm. Không nên ở đó lâu.

Bác sĩ Risch nói:

– Cảm ơn đã dặn dò. Tôi sẽ đề phòng.

Tôi cho mấy y tá theo xe Hồng Thập Tự chuyển hết thương binh trong hầm ra bãi đáp. Một giờ sau có tiếng Chinook bay qua Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Tôi nóng lòng chờ đợi chỉ sợ nó pháo lúc chưa tản thương kịp. Phải gần một giờ sau, các nhân viên của tôi trở về báo cáo đã tản thương xong.

Họ nói ông bác sĩ Mỹ đó tận tâm quá. Ngoài bãi không phải chỉ có binh sĩ mà còn thường dân bị thương cũng được chuyển ra đó tản thương. Bác sĩ Risch đã đích thân khiêng băng-ca chuyển lên máy bay cho lẹ.

Tài xế Mệnh nói:

– Em thấy ông ấy ôm một bà già bị thương đưa lên máy bay. Bà này máu mủ tùm lum hôi hám không chịu được thế mà ông ấy chẳng ngại gì. Làm việc nhanh gọn lắm, cũng nhờ vậy mà tản thương kỳ này được dễ dàng nhanh chóng.

Khi máy bay đi rồi, Bác sĩ Risch trở lại hầm chỉ huy gặp những người Mỹ trong phái đoàn đi với ông ta. Trong dịp này Bác sĩ Risch đã được Đại tá Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long gắn một huy chương Đồng tuyên dương công trạng đã can đảm trở lại An Lộc tiếp tế cho chúng tôi cùng giúp chúng tôi tản thương.

Sau khi tiếp nhận huy chương xong, Bác sĩ Risch cùng phái đoàn ở lại dùng cơm trưa rồi lên máy bay trực thăng về Biên Hòa.

Sau khi tản thương được hết các thương binh, tôi thấy nhẹ hẳn người. Trong khi các y tá của toán giải phẫu thu dọn hầm cứu thương cho đỡ rác rưởi, tôi ngồi nghỉ mệt ở trong phòng, có tiếng Thiếu tá Diệm gọi tôi bên ngoài:

– Bác sĩ Quý có đây không?

Tôi giật nhỏm mình đoán chắc có điều gì không hay, hoặc lại có thương binh về. Tôi vội lên tiếng:

– Ông Diệm đó hả, tôi đang ở trong phòng đây.

Thiếu tá Diệm hiện ra ở cửa phòng dục tôi:

– Có điện thoại từ Sài Gòn kêu ông kìa. Ông sang bên hầm chỉ huy nhanh lên.

Tôi vừa bật dậy vừa hỏi, vẫn chưa hết ngạc nhiên:

– Điện thoại gọi tôi?

– Bà xã tôi với cô Tuệ, em ông gọi hỏi thăm xem tụi mình có được bình an không. Thường thường ở đây cứ 3 giờ chiều, Đại tá ưu tiên cho một đường dây điện thoại liên lạc với Sài Gòn để cho nhân viên báo tin về cho gia đình.

À thì ra thế. Tôi lại cứ tưởng những tin gì ghê gớm không hay. Nếu vậy thì quá tốt rồi.

Tôi theo chân ông Diệm sang bên hầm chỉ huy đứng đợi đến lượt tôi. Chừng 10 phút sau tổng đài viên ra hiệu cho tôi. Tôi tiến đến cầm lấy ống nghe nói:

– Alô, Bác sĩ Quý đây.

Bên đầu dây bên kia tiếng quen thuộc của em Tuệ, tôi nghe rất rõ:

– Anh Quý đó hả, anh có mạnh khỏe không, ở đó có nguy hiểm không?

– Anh vẫn mạnh khỏe, ở trong hầm nên không nguy hiểm mấy. Ở nhà má có mạnh không?

– Má vẫn mạnh, chúng em chỉ lo cho anh thôi.

– Không sao đâu, anh vẫn mạnh khỏe bình an như thường. Thôi nhé để cho người khác nói chuyện.

Tôi dứt lời đưa ống nghe lại cho tổng đài. Lùi lại phía sau nhường chỗ cho ông Trưởng Ty Công Chánh. Thiếu tá Diệm nắm lấy tay tôi trở lại một chỗ khuất rồi hỏi:

– Này sao ông nói ít vậy. Ông phải biết là cực khổ lắm mới tiếp xúc được với nhau. Vợ tôi nói là đi với cô Tuệ từ 11 giờ sáng tới giờ, đói dài người ra mãi mới tới lượt mình. Công trình lắm chứ không phải chơi đâu.

– Ông có vợ con nó khác. Tôi chỉ cần nhắn về cho mẹ tôi biết tôi vẫn mạnh khỏe bình an là đủ rồi. Còn để dành thì giờ cho người khác nữa chứ. Dù sao tôi cũng vui mừng đã báo tin được cho gia đình biết tôi vẫn còn sống, mạnh khỏe. Tôi chắc ở nhà mẹ tôi lo lắng lắm, nay được tin tức này rồi bà cũng bớt lo âu.

Về tới hầm, tôi thấy bác sĩ Phúc đang nằm buồn thiu trên giường. Tôi biết chắc là anh bị triệu chứng NV thôi chứ chẳng có gì lạ cả. Triệu chứng NV là triệu chứng “nhớ vợ”. Anh mới cưới vợ chưa đầy một năm. Tôi đã đi dự đám cưới của anh. “Nửa năm hương lửa đang nồng” thì làm sao mà chẳng nhớ nhung cho được. Tôi bèn mách nước cho anh:

– Bên hầm chỉ huy cứ 3 giờ chiều họ có đường dây nói chuyện với Sài Gòn, anh sang đấy nhờ người nhắn về nhà bảo chị lên Ty Bưu Điện Chợ Lớn xin ghi tên nói chuyện với anh. Ưu tiên cho mình đấy. Vì bây giờ cả nước và có thể cả thế giới đang đang theo dõi trận đánh này. Nói chuyện với bà xã anh sẽ thấy yêu đời liền.

– Vậy hả.

Bác sĩ Phúc vui mừng nhổm dậy, anh nói tiếp:

– Để tôi qua đó nhờ họ nhắn dùm, may mắn thì ngày mai tôi có thể tiếp xúc được với vợ tôi.

Tôi nói:

– Anh đi ngay còn kịp đấy. Chúc anh may mắn.

Thuyền Nhân

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Sep 2023

Những ngày gió nhẹ biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy vậy mà hổng biết là bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suông sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.

Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau đó tôi đổi những tuyến đường xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi, tôi mới trở lại tuyến đường Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới có ngày nắng đẹp. Trước kia khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm cười một cái rồi quay gót giày đi trở về  hội quán.

Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao, nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:

– Chú có thường lên hội quán?

Tôi cười:

– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết chú.

– Oh, chú còn nhớ ai không?

– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.

– À, con biết ông John.

Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán, ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:

– Bia gì?

Tôi nói:

– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.

Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:

– Ô kê, ô kê…When in Rome, do as the Romans do.

Thấy ông đưa cho tôi bia Guinness. Tôi nói:

– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.

Ông nói:

– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.

– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng thế giới.

– Đúng đúng…

Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John hỏi tôi là người gì. Tôi nói:

– Tôi là người Việt.

– Nam Việt hay Bắc Việt?

– Nam Việt.

– Oh! Southern Vietnamese, boat people!

Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.

Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.” Tức thì có người hỏi:“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam, nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc! Southern Vietnamese boat people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và có người thân thiện vỗ vai, nói:

– Southern Vietnamese people are good, very good…

Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong bọc, nhờ ông đưa cho tôi. 

Tôi hỏi Bryony:

– Ông John còn khoẻ không?

Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:

– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.

– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?

– Không, nhưng con tìm được.

Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:

– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không.

Bryony cười:

– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.

Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ lạnh lùng.

Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes. Lâu rồi tôi cũng hổng nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt không?”  Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc những tiệm nails trốn thuế và chứa chấp nhiều người ở lậu, trẻ em trong tuổi vị thành niên bị bóc lột sức lao động, người làm việc bất hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo, gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận trời Âu lạnh lẽo này.

Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia, ông hỏi:

– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?

– Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu, tôi nhận ra ông ngay:

– Oh, Bobby.

Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

– Ngồi xuống, ông khoẻ không?

Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say xỉn. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:

– Khoẻ khoẻ… Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à.

– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?

– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.

Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung tuyến đường từ Pháp sang Belfast này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã chết rồi. Sống chung với đân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình, nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng lại cho ông ly bia.  Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông hỏi:

– Mày hổng uống bia sao?

– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.

Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi, nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì. Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:

– Ông John hổng tới được.

– Ô kê.

Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm, nói với Bobby:

– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao hổng ra quán Bar ngoài góc phố:

Ông lắc đầu:

– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.

Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:

– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?

Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông nói:

– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày hổng thấy sao, toàn toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy giống như con gà chết. Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:

– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội. 

Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông và nghỉ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới ngày hôm nay thì cũng là lạ.  Chợt nhiên tôi thốt lên:

– Oh, Ghosts!

Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:

– Chuyện gì?

Tôi mỉm cười:

– Không, hổng có gì hết. 

Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng lên bắt tay từ giã Bobby:

– Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.

Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:

– Mày cho tao xin hai chục pound.

– Để tui xem.

Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông:

– Ông ở lại chơi vui vẻ.

Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào. Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.

– Cho chú nè.

Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón len. Đêm nay cầm cái nón len mới toan, tôi nghĩ, có lẽ Bryony mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:

– Cám ơn.

– Không có chi.

Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

Teestport 20 3 2019