Tâm tư khi in lại THÉP ĐEN

Đặng Chí Bình

một điệp viên, một chiến sĩ trong bóng tối

của Quân Lực VNCH hoạt động tại miền Bắc VN.

Quyển 1-Bài 1

Post by Sơn râu 16 Sep 2023

Tâm tư khi in lại THÉP ĐEN

Bài 1

Năm 1985, tôi viết xong hai tập hồi ký Thép Đen I & II. Hai năm sau mới tìm được nhà in và phát hành. Năm năm sau Thép Đen tập III mới ra đời. Từ khi Thép Đen I & II được in đến nay đã 15 năm. Trong thời gian đó phần vì sức khoẻ, phần vì gánh nặng gia đình, tôi hầu như không viết lách gì, cũng không sinh hoạt báo chí gì cả. Nhưng thật ngạc nhiên, cứ thỉnh thoảng tôi nhận được một lá thư độc giả nói về Thép Đen. Cả thảy có hơn 300 lá thư. Đài phát thanh Việt Ngữ Quê Hương ở Bắc Cali, Đài Sống Trên Đất Mỹ ở Nam Cali… cho đọc Thép Đen. Có cả những đài cho đọc mà tôi không được biết, chỉ biết do thính giả quen. Bây giờ thì ngoài sách Thép Đen, còn có cả băng audio và đĩa CD Thép Đen nữa.

Trong hân hạnh ấy, tôi tự hỏi làm sao mà Thép Đen được đón nhận như vậy? Trước và sau Thép Đen có biết bao hồi ký về lao tù và thời cuộc. Có nhiều bí mật chính trị được phanh phui. Bao nhiêu vị tướng lãnh thuật lại những giai đoạn gay go của đất nước. Bao nhiêu nhà văn tên tuổi ghi lại những cảnh sống tù đầy mà nếu không có văn chương tài năng, khó có thể nói lên những trạng huống cũng như cảm xúc day dứt và cùng cực. Trong khi đó tôi chỉ là một điệp viên không tên tuổi, thi hành một công tác giới hạn, hầu như bị bịt mặt trước thời cuộc, cũng chưa bao giờ viết văn, và ngoài Thép Đen cũng chưa viết gì đáng kể. Hỏi bạn bè, mỗi người cho một ý kiến. Cuối cùng tôi đoán rằng, ngoài một số yếu tố về văn mà Thép Đen cùng góp phần với các tác phẩm khác, có lẽ tính xác thực một cách mộc mạc của Thép Đen đã lôi cuốn độc giả suốt mười mấy năm nay chăng? Có độc giả gửi thư sửa cho tôi số nhà ở phố Hàng Bạc. Có người nhận là vợ của một trung tá cho tôi biết rõ nhiều chi tiết của sự việc ngày ấy v.v… Nhiều độc giả hỏi cô Vân bây giờ ra sao?

Nếu các độc giả muốn biết về cô Vân ra sao một phần, thì tôi muốn biết đến một trăm phần, và không phải chỉ có cô ấy mà là tất cả cảnh cũ người xưa của 40 năm trước. Tôi mơ ước có một ngày được về rờ những bức tường xà lim, cái cùm chân và cùm mồm. Tôi khát khao được nhìn thấy cô Vân để tìm xem cô còn những nét gì ngày xưa, và cô còn nhớ tôi không. Tôi muốn được tay bắt mặt mừng với những bạn tù, nếu họ còn sống, để ôn lại những ngày bị đầy đọa trong kiểu tù đầy chắc chỉ còn sót lại cuối cùng trong bước tiến hóa của con người nhân tính từ thế kỷ này.

Đã gần 20 năm, tôi chưa về được. Nhưng may cho tôi, có một vị linh mục trẻ và một bạn trẻ độc giả đã lần theo giai đoạn của Thép Đen để đến tận nơi, ghi lại bằng hình ảnh, và quí nhất một anh chị bạn đã gặp “người muôn năm cũ”, của đất Hưng Yên nhiều mầu mỡ, còn thu vào băng hình video mang về cho tôi. Xin quý vị tha lỗi, nếu tôi nói rằng, không ai có thể hiểu hết được tôi sung sướng đến mức độ nào! Có đến vài tháng trời, tôi như sống trở lại những ngày xưa ấy, chỉ trừ không có cái xà lim và không có cùm.

Cho nên, một phần để đáp lại sự đón nhận của độc giả, một phần Thép Đen những lần in trước đã không còn, tôi quyết định cho tái bản với sự bổ sung nhiều hình ảnh mới có được. Một điều ngạc nhiên cho chính tôi là, cũng như viết văn, tôi chưa hề vẽ bao giờ, vậy mà chỉ bằng trí nhớ, tôi vẽ được cái cùm mồm, cùm chân, xà lim… trong khi viết Thép Đen gần giống như cái hình chụp bây giờ, cả về hình dáng cũng như kích thước. Vậy, chính vì tính xác thực tạo nên sự hấp dẫn và thuyết phục cho Thép Đen thì lần tái bản này, tôi hy vọng có thể góp thêm vào sự xác thực ấy.

Sau hết, tôi xin cảm tạ vị linh mục trẻ, anh chị bạn thân và một độc giả thanh niên nhiều nghĩa tình. Đã giúp tôi giải tỏa được phần nào nỗi niềm trong lòng tôi.

Boston ngày 29 tháng 10 năm 2002.

Đặng Chí Bình

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2023

Bài 29 (Bài cuối) – Một Sự Chịu Đựng Kỷ Lục

Bài viết về trận đánh An Lộc đăng trên báo Time

Chiến tranh Việt Nam đã đi vào dĩ vãng. Sau 30 năm ít người còn nhớ tới. Để quý độc giả có thể hình dung được tầm mức quan trọng của mặt trận An Lộc cũng như chia sẻ được sự khốn khổ của những người dân cũng như các chiến sĩ từ thủ tại mặt trận này, tôi xin trích ra đây một bài báo của tạp chí Time viết về trận An Lộc tháng 6 năm 1972 mà tôi đã lược dịch ra sau đây (Cũng cần phải nói thêm rằng, mặc dù phóng viên chiến trường đã đến tận nơi quan sát, cũng không tránh phải một vài chi tiết sai lầm.)

An Lộc, quận châu thành của tỉnh Bình Long, cách thủ đô Sài Gòn miền Nam Việt Nam 60 dặm về hướng Bắc. QuÂn đội Bắc Việt khởi sự tấn công tỉnh này từ 30 tháng 3 năm 1972. Với 3 sư đoàn Cộng Sản bao vây, An Lộc đã bị pháo kích hằng ngày với những trận pháo khủng khiếp nhất trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương.

Thành phố này cũng đã chịu đựng nhiều cuộc tấn công liên tiếp bằng bộ binh, xe tăng của quân đội Bắc Việt và cả những cuộc không tập không ngừng của phản lực cơ chiến đấu cơ Mỹ cũng như pháo đài bay B52.

Một đạo quân tiếp viện của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cầm chân bởi địch quân dọc theo Quốc lộ 13 suốt trong hai tháng qua. Cho tới cuối tuần này vòng vây An Lộc vẫn chưa được giải tỏa. Tuy nhiên, viện quân Dù đã bắt tay được với đội quân trong thành phố. Với sự yểm trợ của không lực đồng minh và sức chiến đấu cực kỳ dũng cảm của những chiến sĩ tử thủ Việt Nam Cộng Hòa, An Lộc đã được giữ vững lâu hơn trận Điện Biên Phủ.

Đặc phái viên chiến trường của tuần báo TIME, Rudolph Rauch và nhiếp ảnh viên Lê Minh đã tìm cách tới thành phố An Lộc bằng trực thăng tuần qua. Rauch là một trong hai phóng viên chiến trường Mỹ đã tới An Lộc ngay từ đầu của trận chiến. Sau đây là bài tường thuật của anh

Có lẽ chỉ còn lại sáu tòa nhà còn đứng vững trong thành phố, nhưng không một mái nhà nào còn nguyên vẹn. Không điện, không nước. Mọi đường phố đều bị cày nát bởi những hố pháo kích và ngổn ngang những đống gạch vụn như mọi bãi chiến trường.

Bất cứ nơi nào khi bạn đặt chân xuống là lại đạp nhầm lên những mảnh đạn đầy dẫy trên lối đi. Cả thành phố chưa tới 10 chiếc xe còn sử dụng được. Khi tôi tới chỉ còn độc nhất một chiếc xe Jeep là có đủ bốn đánh. Những chiếc còn lại vì bánh xe bị bể hết nên chạy trên những niềng xe và cảnh quen thuộc thường thấy 7 hay 8 người lính Việt ngồi trên những chiếc xe Jeep nghiêng ngả chạy vì bánh xe không còn nữa.

Mới hai tháng trước, có khoảng 30,000 thường dân ở An Lộc. Hiện hiện nay chỉ còn lại có 2,000. Không kể khoảng chừng 1,000 người bị sát hại bởi pháo của Việt Cộng, số còn lại chen chúc nhau tại một ven làng phía Đông của thành phố, làng Phú Đức. Không có địa điểm quân sự ở làng này nên ít là mục tiêu của pháo kích. Tuy nhiên khi cường độ mặt trận đã dịu xuống ở thành phố vào đầu tháng 6 thì số pháo kích tại làng này lại tăng lên.

Trắng Bạch Như Sứ. Bệnh viện tỉnh lỵ đã di tản vào 8 tháng 5. Sau khi đã bị pháo, có lẽ chẳng may thôi, làm cho 30 thường dân tránh nạn bị tử thương. Kể từ đó những thường dân bị thương đều được săn sóc tại một ngôi chùa ở Phú Đức. Ở đây không có giường nằm và chỉ có vài tấm nệm mà thôi.

Đa số những người bị thương nằm trên nền đất bẩn thỉu hay những đống vải rách. Một đứa nhỏ chết vì bệnh phong đòn gánh vì thiếu thuốc chủng ngừa. Nằm co xoắn lại như một con rắn được phủ bằng một tấm mền rách nát. Cách đó hai bước một bà già đang nằm hấp hối vì thiếu dinh dưỡng. Bà này đã nằm trong hầm hơn hai tháng, trước ăn cơm sau ăn cháo. Khi thực phẩm cạn dần, bà ta phải ăn bất cứ thứ gì có thể ăn được. Bà ta có một sắc mặt trắng bạch như đồ sứ và ruồi đậu phủ đầy mặt bà ta.

Ông Tỉnh Trưởng, Đại tá Trần Văn Nhựt, đã ra lệnh chia khẩu phần gạo cho từng người. Từng bao gạo đã được chuyển qua hàng rào dây kẽm gai cho những người nào còn có sức tới đó lấy được. Một người gầy đét với một chiếc chân cụt nhảy tới, đã lúng túng không biết nắm lấy gạo hay giữ cây nạng. Anh ta ngã bổ nhào xuống nhưng vẫn còn cố gắng nhét bao gạo vào cạp quần.

Thiệt hại bên phía quân đội còn đáng thương hơn bên phía thường dân. Bệnh viện độc nhất của họ hiện giờ đã biến thành một công sự chiến đấu. Một vài thương binh đã ở đó lâu cả tháng rồi. Người bị thương nhẹ nấu nướng săn sóc cho các đồng đội bị nặng hơn. Những dụng cụ không còn được khử trùng đúng quy tắc nữa, và chỉ may khâu vết thương cũng không còn. Bác sĩ Nguyễn Văn Quý đã giải phẫu 200 trường hợp trong hai tháng đã phải dùng chỉ bao cát để may vết thương.

An Lộc đã đứng vững sau những cuộc tấn công nặng nề hơn tất cả những thành thị nào trong cuộc chiến này. Ngày khủng khiếp nhất là ngày 11 tháng 5 khi khoảng 7000 trái đại bác, súng cối, hỏa tiễn đã rơi xuống một khu vực có thể dễ dàng băng qua được trong 10 phút. Một Cố vấn Mỹ đã nói đó là ngày mà một người mạnh khỏe muốn uống thuốc làm cho táo bón để khỏi phải đi ra ngoài. Nhu cầu thiên nhiên hình như còn dễ dàng chịu đựng hơn.

Không lực Mỹ và Việt liên tục thả bom suốt trong ba ngày tôi ở tại An Lộc. Đủ mọi loại hỏa lực đã được dùng đến: đại liên, bom CBU, bom thường. Cuối cùng hai giờ trước khi mặt trời lặn, một phi tuần B52 đã trải thảm khoảng 900 thước phía Tây Bắc vào một nơi tập trung xe tăng của Cộng quân. Tuy nhiên các khẩu pháo của địch quân vẫn di chuyển và vẫn tiếp tục pháo vào thành phố. Hiện nay tình thế ở An Lộc được coi như đã yên tĩnh mặc dù hằng ngày vẫn còn khoảng 200 trái pháo vào.

Không quân Việt Nam có nhiệm vụ tản thương đã không muốn tới một quãng đường thuộc Quốc lộ 13 này dùng để làm nơi bốc thương binh. Để đánh lạc hướng những xạ thủ Cộng quân tập trung súng vào quãng đường này để ngăn ngừa máy bay tản thương, các phi công trực thăng thường đáp xuống bất cứ chỗ nào trên khúc đường khoảng hai cây số ấy. Trên nguyên tắc, mỗi phi vụ tản thương, nơi hạ cánh phải được chỉ định trước để gom thương binh tới chờ sẵn gần đó. Nhưng chẳng bao giờ chuyện đó xảy ra. Thay vì đó, các trực thăng bay dọc theo quốc lộ rất thấp chỉ cách từ hai đến ba bộ trên mặt đường. Trong khi những người ở trên máy bay nhảy xuống thì chỉ những người bị thương nhẹ mới có thể leo lên máy bay được. Thỉnh thoảng những người nằm trên cáng, mà họ đã phải đợi tới hai giờ dưới sức nóng gần 100°F, được nâng cao ngang vai của đồng đội chờ để được tải lên máy bay. Nhưng lúc đó trực thăng sà xuống chừng 10 giây rồi lại bốc thẳng đi, để lại người bị thương với một lớp bụi đỏ mới của đất Bình Long và như vậy lại phải chờ thêm hai giờ nữa.

Nếu bị phá vỡ, An Lộc sẽ là một chiến thắng vĩ đại cho quân đội miền Bắc. Nhưng nó đã không bị sụp đổ do công của Không Lực Mỹ và ý chí kiên cường của những quân nhân Việt Nam và những Cố vấn Mỹ tử thủ trong thành phố đó. Những người lính đã bắn nhau để dành những đồ tiếp tế thả dù và viện quân thì không có công gì vì đã bị cầm chân tại quốc lộ 13 suốt hai tháng trời bởi một địch quân ít hơn nhiều.

Điều quan trọng là thành phố này đã đứng vững. “Một cách độc nhất để nói về trận An Lộc là phải nhớ rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã có mặt ở đây, còn quân đội Bắc Việt thì không ” một Cố vấn Mỹ đã tuyên bố như vậy. “Bất cứ một lời phê bình nào khác đều là bất công cho người Việt Nam. ”

Tuy nhiên trong một tương lai gần, An Lộc đã chết – chết như hàng trăm bộ đội Bắc Việt đã chết trong vùng Bắc thành phố vì bị trúng bom của máy bay đồng minh mà mùi hôi thối từ những xác chết đó đã khiến cho sự hít thở không khí An Lộc thêm khó khăn khi những luồng gió nhẹ thổi về lúc xế chiều.

Cách hay nhất có thể nói là thành phố này đã chết một cách anh hùng và rằng – trong một năm kể cả việc mất Quảng Trị và Tân Cảnh – đó không phải là một thành quả tầm thường.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2023

Bài 28 – Chiến Sĩ Xuất Sắc 1972

Tôi nghỉ ở nhà được một tuần. Sau đó tôi lên trình diện tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 73 Quân Y Biên Hòa. Tôi nghe danh ông Liên Đoàn Trưởng, Đại tá Lương Khánh Chí lâu rồi. Từ hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43, ông có sở thích chơi súng và bắn súng rất cừ. Tôi được nghe ông Trung Đoàn Trưởng, Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng, kể rằng có lần ông đi cùng Đại tướng Đỗ Cao Trí ra Côn Sơn chơi. Hôm đi săn, một con sóc vừa vọt qua, ông chỉ dơ súng lên để nhẹ một cái đã bắn trúng con vật ngay trước những cặp mắt khâm phục của mọi người. Tôi ngây thơ hỏi:

– Thế ông ấy không nhắm sao bắn trúng được.

Trung tá Hùng cười:

– Ông ta không cần nhắm. Ông ta chỉ có một con mắt thôi.

Quả thực vậy, nghe nói ông ta bị thương bể mặt, hình như bị mìn, hư mất một con mắt. Do đó ông bắn không cần nhắm. Ông ta nhỏ con, gương mặt méo mó vì mất một phần xương khá lớn trên mặt.

Tôi được Trung tá Liên Đoàn Phó, bác sĩ Lâm Đại Quang dẫn đến chào ông Đại tá Liên Đoàn Trưởng. Ông thấy tôi đi đôi giày rách vì pháo kích làm thủng một lỗ lớn ở phần trước, tỏ vẻ không bằng lòng. Ông nói:

– Về đây hết đánh nhau rồi, anh nên bỏ đôi giày ấy đi.

Tôi vội nói:

– Thưa Đại tá tôi không có đôi nào khác.

– Vậy thì anh Quang, ra lệnh cho tụi nó trang bị lại toàn bộ cho những quân nhân của mình về từ mặt trận Bình Long đi.

Y sĩ Trung tá Lâm Đại Quang vội nói :

– Dạ được, tôi sẽ làm ngay bây giờ.

Rồi ông kêu thủ kho tới ra lệnh cấp phát quân trang, quân phục cho tôi.

Thực ra thay vì phải đi xin, tôi đã đi đôi giày rách ấy, dụng ý khổ nhục kế để các xếp lớn thấy tự động cấp đồ cho.

Sau phần trang bị xong, hai ông Liên Đoàn Trưởng và Phó kéo tôi vào văn phòng nói chuyện.

Đại tá Lương Khánh Chí mở đầu:

– Liên Đoàn tuy ở xa nhưng những việc làm của các anh trên đó chúng tôi đều được báo cáo đầy đủ. Liên Đoàn rất vui mùng vì anh đã tận tâm làm việc giúp các thương binh ở mặt trận. Hiện nay với tình thế chiến trường như anh đã thấy, nhu cầu về cấp cứu Quân Y rất cao. Liên Đoàn đã tổ chức xong một Đại Đội Cấp Cứu và thấy anh rất xứng đáng để điều khiển Đại Đội này. Với kinh nghiệm giải phẫu và kinh nghiệm chiến trường sẵn có của anh, tôi nghĩ rằng anh sẽ giúp cho Liên Đoàn rất nhiều nếu anh nhận lời làm Đại Đội Trưởng mới thành lập này.

Khi nghe ông Liên Đoàn Trưởng ngỏ lời với tôi như thế, tôi nghĩ rằng ông đang ở trên mây. Ý kiến của ông không hợp lý chút nào. Vì khi mới ra trường tôi đã là Đại Đội Trưởng Đại Đội 43 Quân Y rồi. Nay thêm những kinh nghiệm giải phẫu dã chiến, kinh nghiệm chiến trường mà ông lại đề nghị cho tôi một chức vụ như vậy thì tôi không thấy hợp lý. Tuy nhiên để tránh làm phật lòng ông, tôi nói:

– Thưa Đại tá, tôi chỉ muốn làm việc trong một bệnh viện lớn để có cơ hội học hỏi thêm. Nhất là tôi không phải Quân Y Hiện Dịch mà chỉ là Y Sĩ Trưng Tập thôi. Đáng lý ra tôi không phải nhập ngũ vì là con trai độc nhất của một góa phụ. Như Đại tá đã thấy, tôi đã tình nguyện phục vụ hết mình. Nay tôi muốn được làm việc tại một đơn vị tĩnh tại như Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi không còn muốn phiêu lưu nữa.

– Tôi thông cảm tình cảnh của anh. Đó là đề nghị của Liên Đoàn thôi. Anh cứ suy nghĩ đi rồi trả lời tôi sau cũng được. Nhân tiện đây tôi muốn anh Quang lái xe đưa anh Quý đi một vòng coi bệnh viện của Liên Đoàn mới thành lập thuộc Đại Đội Quân Y Cấp Cứu. Nếu anh nhận lời anh sẽ là Chỉ Huy Trưởng của căn cứ này. Nó ở trong khu Long Bình, một trong những doanh trại của Mỹ bàn giao lại cho quân đội ta. Liên Đoàn được chia một số trại dùng để làm bệnh viện như một thứ Bệnh Viện Dã Chiến vậy.

Tôi liền theo Y sĩ Trung tá Lâm Đại Quang ra xe Jeep lái về hướng Long Bình, nơi căn cứ cũ của Mỹ.

Trong thời gian thụ huấn khóa Giải Phẫu Cấp Cứu Binh Đoàn, tôi đã đi thực tập tại bệnh viện 24th Evac và bệnh viện 93rd Evac của Mỹ tại căn cứ Long Bình nên không lạ gì những căn nhà tiền chế mái tôn cong vòng bán nguyệt này. Chỉ khác là mấy năm trước, những căn nhà này trông còn vững chắc, còn trang bị đầy đủ, nhà nào cũng có máy lạnh. Nay bàn giao lại cho phe ta với chỉ sau hai năm tôi không ngờ nó lại xuống sắc đến mức độ tàn phai như thế.

Máy lạnh hoàn toàn không còn. Các cửa sổ và cửa ra vào đều phải mở rộng, nếu không những căn nhà tôn chùm hụp ấy sẽ biến thành những lò nướng. Tôi bước vào bên trong chỉ thấy hai hàng giường bệnh, ngoài ra chẳng có trang bị gì cả. Tôi thấy đã có một số thương binh nằm đây, toàn bệnh nhẹ, có vẻ như là một nơi an dưỡng hơn là một bệnh viện. Vì khu này không có cây cối nên hôm đó gió thổi luồn vô những căn nhà tiền chế đó một cách khá tự do khiến những người thương binh phải lấy áo trùm đầu cho dễ chịu.

Ông Liên Đoàn Phó hỏi tôi :

– Sao, anh Quý thấy sao?

Tuy trong lòng tôi nản lắm, nhưng nhìn ánh mắt của ông tôi thấy ông không thể nào chấp nhận một câu trả lời phủ định được. Nên tôi tìm cách đánh trống lảng lái qua một khía cạnh khác mà không trả lời trực tiếp vào câu hỏi.

– Thưa, tôi thấy chỗ này rộng lắm, có thể chứa đến 400 thương binh. Khi cần, có thể còn hơn nữa.

– Anh nói đúng. Chúng tôi phải tranh đấu ghê lắm mới được Quân Đoàn chia cho chỗ này. Mọi việc đều sẵn sàng cả. Anh nào về đây thì coi như cỗ đã dọn sẵn chỉ mời ông xơi thôi. Thực ra Liên Đoàn đang cần một người biết giải phẫu, tận tâm, có kinh nghiệm nắm chỗ này. Nếu anh nhận lời ông Liên Đoàn Trưởng vui lắm. Ông đã nhắm anh từ lâu rồi.

Tôi lại cố tình lái câu chuyện sang vấn đề khác. Tôi hỏi:

– Thế nhiệm vụ chính của Đại Đội Cấp Cứu này là gì? Có phải di chuyển không?

– Có chứ. Trong tương lai sẽ có nhiều trận đánh lớn. Nơi nào cần thì đại đội sẽ đến. Nhưng anh đừng lo. Ít khi anh phải đi lắm. Anh ở đây chỉ huy thôi. Dưới quyền anh sẽ có ba y sĩ phụ tá cho anh.

– Thưa anh, theo tôi khi hữu sự đơn vị trưởng phải đi trước, lo tổ chức đơn vị đàng hoàng rồi mới giao cho phụ tá. Còn cứ ở nhà không chỉ huy được đâu.

– Khá lắm. Đồng ý hoàn toàn.

Tôi nói chuyện đưa đẩy một hồi rồi ra xe về lại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn. May quá ông Liên Đoàn Trưởng đã về rồi vì hết giờ làm việc nên tôi không phải trả lời những câu hỏi tôi không muốn. Tôi lái xe về Sài Gòn. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ và phải làm nhanh, không sẽ kẹt. Dù sao trong quân đội khi cấp trên đã ra lệnh, dù muốn dù không tôi vẫn phải tuân theo.

Tôi nghĩ cách hay nhất phải đi từ trên cao xuống. Tôi dự định sáng mai sẽ tới Cục Quân Y gặp Phụ Tá Lục Quân, Y Sĩ Trung tá Nguyễn Đức Liên để trình bày ý định của mình là muốn xin về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa đúng với khả năng chuyên môn về giải phẫu của tôi.

Đúng mười giờ sáng tôi tới Cục Quân Y. Đúng là số tôi gặp may. Tôi ngồi đợi ở văn phòng Phụ Tá Lục Quân chưa đầy 5 phút, bác sĩ Liên tới. Bác sĩ Liên vui vẻ nói chuyện rất cởi mở. Tôi biết Bác sĩ Liên từ khi mới vào năm thứ nhất sinh viên Y Khoa. Lúc ấy Bác sĩ Liên đang học năm thứ năm. Nhìn năm ngôi sao đỏ chót thẳng hàng trên túi áo của anh, tôi phục lắm. Trên túi áo tôi chỉ có một ngôi sao. Còn lâu lắm tôi mới có nhiều sao như vậy. Đó là người đàn anh đầu tiên tôi tiếp xúc khi tôi bước chân vào Bệnh Viện Bình Dân thực tập về ngành Ngoại Khoa. Có thể anh không còn nhớ tôi, một đàn em rất non mới bước chân vào ngưỡng cửa của bệnh viện, nhưng tôi đã có cảm tình với anh ngay từ ngày đầu, vì anh đối với tôi rất tử tế, chỉ bảo từng tí một. Do đó tôi đã không quên anh.

Sau khi tôi trình bày xong, Bác sĩ Liên nói :

– Anh xin về Tổng Y Viện Cộng Hòa rất hợp lý. Chuyện bày vẽ lập ra một Đại Đội Quân Y Cấp Cứu có vẻ không thực tế lắm. Vì bây giờ mình có những phi vụ trực thăng tản thương rồi. Nếu có thương binh chỉ cần tản thương gấp về các bệnh viện. Nơi đây có đầy đủ phương tiện săn sóc thương binh hơn là tạo một Đại Đội di động theo chiến trường. Tôi thấy hoàn toàn không hữu hiệu, lại còn tốn công tốn của, tốn thêm các đơn vị Bộ Binh phải lo bảo vệ cho Đại Đội. Việt Cộng chỉ bắn vào vài chục quả thì đại đội ấy cũng bị tê liệt ngay chẳng còn làm gì được nữa. Lúc đó lại ôm đầu máu mà chạy thôi. Hao tổn bao nhiêu quân trang quân dụng cùng những dụng cụ thuốc men nữa.

Tôi hơi thắc mắc hỏi :

– Nếu Cục đã thấy sự vô ích của đại đội tại sao lại không ngăn cản Liên Đoàn?

– Cục không muốn xen vô những quyết định của Liên Đoàn. Thực ra sau khi Mỹ bỏ căn cứ Long Bình, một căn cứ quá rộng lớn. Quân Đoàn III không đủ người để sử dụng toàn bộ căn cứ đó nên mới chia cho Liên Đoàn một phần. Chẳng biết làm gì nên anh Chí mới cho tổ chức Đại Đội đó. Tôi cho rằng chẳng chóng thì chày nó cũng đi vào quên lãng thôi.

Bác sĩ Liên gốc Nhảy Dù, hình như có vẻ thích tôi lắm. Anh nói tiếp:

– Anh Quý cứ ở lại đây. Không đi đâu hết. Tôi sẽ trình lên Thiếu Tướng Cục Trưởng bổ nhiệm anh về Tổng Y Viện Cộng Hòa làm việc. Nhưng trong thời gian chờ đợi tôi đề nghị anh hãy viết lại mọi việc xảy ra ở Bình Long như một cuốn hồi ký vậy. Tôi sẽ để dành cho anh một văn phòng có bàn giấy đàng hoàng. Mỗi ngày anh đến đây ngồi viết như đi làm, bao giờ xong hãy sang bên Cộng Hòa làm việc.

Rồi không để tôi trả lời có bằng lòng hay không, anh Liên bốc điện thoại gọi Y Sĩ Đại úy Quản Quan Hoa coi về báo chí của Cục Quân Y ở phòng bên, tới giới thiệu với tôi và nói ý định của anh về việc để tôi viết hồi ký trận An Lộc.

Anh Hoa mồm mép nói như nước chảy, đúng là nhà báo. Anh tán thành ngay ý kiến của xếp. Còn nói thêm nếu tôi cần gì anh sẽ hết lòng giúp đỡ. Xong anh Liên nói với tôi:

– Bây giờ để tôi vào trình Thiếu Tướng Vũ Ngọc Hoàn xem ông có rảnh không, tôi sẽ dắt anh vào chào ông một tiếng.

Vài phút sau anh Liên hiện ra ở cửa gật đầu làm hiệu để tôi vào chào Thiếu Tướng Cục Trưởng. Tôi bước vào văn phòng giơ tay nghiêm chỉnh chào theo đúng lễ nghi quân cách. Thiếu Tướng Hoàn, mặt mũi phương phi, lấp lánh cặp kiếng trắng mỉm cười ra hiệu cho tôi và Bác sĩ Liên ngồi xuống hai chiếc ghế trước bàn làm việc của ông. Ông nói:

– Anh bác sĩ Liên có cho tôi biết ý định của anh muốn xin về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Việc đó đối với tôi không có gì trở ngại. Rồi ông quay sang Bác Sĩ Liên nói tiếp: Anh cứ bảo tụi nó làm sự vụ lệnh thuyên chuyển anh Quý về Cộng Hòa khu Ngoại Khoa. Cục Quân Y đã được Liên Đoàn báo cáo rất tốt về anh trong những ngày anh làm việc tại An Lộc. Chúng tôi rất hãnh diện về anh. Anh về Cộng Hòa làm việc là đúng lắm rồi. Không phải đi đâu nữa.

Tôi nghe nói vậy, trong lòng rất mừng. Tôi nói :

– Xin cảm ơn Thiếu Tướng.

Ông giơ tay ra bắt tay tôi:

– Bây giờ anh về nghỉ ngơi. Sửa soạn tinh thần vào làm ở Cộng Hòa. Sẽ rất bận rộn.

Tôi đứng dậy cảm ơn ông Cục Trưởng một lần nữa rồi theo Bác sĩ Liên ra cửa. Sau khi khép cửa lại, tôi nói với Bác sĩ Liên:

– Xin anh miễn cho vụ tới đây viết hồi ký. Thực ra tôi đã viết ngay tại đó rồi. Giờ chỉ cần xem lại sửa vài đoạn văn để đọc cho nó đỡ ngang tai thôi. Khi nào xong tôi sẽ đưa cho anh Hoa xem. Cuốn hồi ký này thực ra tôi viết cho những người trong gia đình đọc để có thể chia sẻ những tin tức và cảm nghĩ của tôi trong những giờ phút thập tử nhất sinh ở An Lộc.

– Không sao nếu anh không muốn tôi cũng không ép. Vậy anh cứ về nghỉ ngơi, chừng tuần sau khi có sự vụ lệnh anh sẽ tới trình diện tại Tổng Y Viện Cộng Hòa để làm việc.

Anh bác sĩ Liên nói xong, bắt tay tôi. Tôi từ giã đi về, trong lòng rất vui vì đã tránh khỏi phải đi Biên Hòa nhận công tác. Tôi không thích và thấy không thực tế như Bác sĩ Liên cũng đã đồng ý.

Chỉ trong vòng nửa ngày tôi đã giải quyết được một công việc rất vừa ý. Nếu biết được việc gì đã xảy ra chắc ông Y Sĩ Đại tá Lương Khánh Chí không vui lắm vì thấy tôi đã dám qua mặt ông, đi thẳng lên tận thượng đỉnh nói chuyện, không qua hệ thống quân giai.

Khi biết tôi đã chọn Tổng Y Viện Cộng Hòa, Y Sĩ Trung tá Trịnh Cao Hải, Y Sĩ Trưởng khu ChỉnhTrực của bệnh viện đã cười khẩy, nói với tôi:

– Sai lầm, cậu chọn đây là sai lầm. Cậu đã chịu cực khổ bao nhiêu ngày rồi tại sao không chọn những bệnh viện khác như Trưng Vương, Trần Ngọc Minh cho khỏe mà lại đem đầu vào đây chịu cực nữa. Tôi đã chán ở đây lắm rồi. Tôi đang muốn xin ra thì cậu lại xin vào.

Tôi biết đàn anh có lý. Nhưng tôi cũng biết đàn anh đã già rồi đâu còn trẻ như tôi, hăng say như tôi. Tôi cũng có cái lý của tôi khi chọn ở đây.

Tôi thích đàn anh nói thẳng như vậy. Những tay khác không dám nói ra điều đó. Tuy nhiên tôi có cảm tưởng, qua giọng nói, thì hình như đàn anh có vẻ cay cú một cái gì. Tôi được biết đàn anh lên Trung tá lâu lắm rồi mà vẫn dậm chân tại chỗ không chịu rửa lon mới. Đàn anh lại có tài. Hồi còn là sinh viên, đàn anh là một trong những sinh viên xuất sắc của trường. Tôi nghĩ bụng nếu đàn anh được trọng vọng một chút, được cất nhắc một chút chắc chắn sẽ không có những lời bất mãn đâu. Tôi cũng nghe nói bác sĩ Hải sắp sửa được giải ngũ đúng như nguyện ước của anh. Có lẽ sau đó anh sẽ hết giọng bất mãn.

Đúng một tuần sau tôi được tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa như Y Sĩ Thiếu Tướng Cục Trưởng đã hứa. Trong thời gian đó tôi cũng được tin bác sĩ Phúc và bác sĩ Chí, hai người bạn cùng tử thủ ở An Lộc với tôi cũng đã từ chối những lời mời mọc về Liên Đoàn để về làm việc tại Trung Tâm 3 Hồi Lực, sát bên Tổng Y Viện Cộng Hòa. Thì ra hai ông bạn tôi cũng khôn không kém. Lại chọn được một bệnh viện lý tưởng, không bị bận rộn như tôi. Hai vị cứ tà tà làm việc không phải thức đêm trực gác khổ sở như bên Tổng Y Viện.

Khoảng tháng 9, tôi nhận được sự vụ lệnh thăng cấp Thiếu tá đặc cách tại mặt trận từ Bộ Tổng Tham Mưu gửi tới, đúng như lời hứa của Tổng Thống. Tuy trong lòng khoái chí lắm, nhưng tôi không vội đeo lon ngay. Tôi ỉm đi, tỉnh như không, vẫn đi làm với cái lon Đại úy màu đen dã chiến như thường.

Người đầu tiên được biết tin mừng này dĩ nhiên là mẹ tôi. Bà mừng lắm. Bà đã cho các em tôi biết ngay khi chúng đi làm về. Em Minh tôi nói:

– Má mở tiệc ăn mừng đi chứ!

– Đương nhiên rồi. – Em Tuệ tôi tiếp lời.

Má tôi nói:

– Để Chủ Nhật tuần sau. Má nghe nói có cả anh Cương cũng từ Kontum về nữa. Mình làm mời luôn cả anh ấy tới với hai bác, cô chú cho vui.

– Như vậy là Bình Long anh dũng với Kontum kiêu hùng sẽ gặp nhau. – Em Nguyệt tôi vội nói xen vào.

Buổi chiều đó cả nhà tôi đều vui vẻ bàn chuyện về bữa tiệc ấy cùng hoạch định những món ăn phải làm.

Được lên Thiếu tá tôi cảm thấy cảm thấy thích thú lắm. Vì thuộc ngành Quân Y, lên lon hoặc được tưởng thưởng huy chương rất là khó khăn vì Quân Y có đánh đấm gì đâu. Nên lúc nào cũng bị lép vế hơn bên tác chiến. Năm 1971 khi tôi về theo học khoa Giải Phẫu Binh Đoàn tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi mới là Trung uý vậy mà chỉ sau một năm trở lại đây tôi đã lên Thiếu tá rồi. Vì khi tôi rời Cộng Hòa lên Bình Long nhận nhiệm sở mới, tôi cũng nhận được sự vụ lệnh lên Đại úy. Những ai không biết thì thấy như là một năm lên hai lon. Dù sao thì tôi cũng là một trong những người lên lon nhanh trong ngành Quân Y.

Một buổi chiều sau khi làm việc xong tôi lái xe ra về. Nửa đường chợt nhớ là tôi để quên quyển sách ở văn phòng. Tôi bèn lộn lại lấy, gặp hai anh bạn tử thủ của tôi đi về từ Trung Tâm 3 Hồi Lực. Tôi thấy trên cổ áo hai người sáng choang cái lon mai bạc. Tôi mỉm cười vui vẻ giơ tay lần lượt vẫy chào hai người.

Anh Chí và anh Phúc sung sướng chào trả lại tôi nhưng đồng thời hai người đều có phản ứng giống nhau khi nhìn thấy trên cổ áo tôi vẫn ba bông mai đồng đen dã chiến tối tăm, không có gì thay đổi. Hai người, xe trước xe sau đều giơ tay đập đập vào cổ áo ra hiệu, nhướng mắt như hỏi tôi sao không mang lon mới. Tôi chỉ hơi nhún vai nghiêng đầu trả lời hai người bằng dấu hiệu như vậy. Không biết họ nghĩ làm sao. Vì đi ngược chiều nên chỉ trong một hai giây là chúng tôi đã xa khỏi tầm nhìn của nhau rồi. Tôi nghĩ rằng họ đoán là tôi chưa nhận được sự vụ lệnh thăng cấp. Chứ không thể nào ngờ được rằng tôi cố tình ỉm đi xem sao.

Tôi thích thú cái trò chơi trẻ con đó của tôi. Là mình đã nắm chắc cái tin vui trong tay rồi nhưng vẫn tỉnh bơ như chẳng có gì thay đổi cả. Tôi giữ kín cái vui của mình không muốn chia sẻ với ai khác. Cho đến cuối tháng mười, một tuần lễ trước ngày Quốc Khánh 1 tháng 11 năm đó, tôi nhận được một lệnh từ Tổng Tham Mưu qua văn phòng của Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện ra lệnh cho tôi phải tới trình diện tại Cục Tâm Lý Chiến để sửa soạn tham dự lễ Quốc Khánh. Vì tôi đã được Liên Đoàn 73 Quân Y đề nghị làm chiến sĩ xuất sắc toàn quốc về tham dự lễ Quốc Khánh năm nay, 1972.

Tôi nghĩ rằng đến nước này thì đành phải mất tiền mua lon mới rồi. Thế là trước khi tới Cục Tâm Lý Chiến, tôi bèn lái xe lên đường Lê Thánh Tôn vào một tiệm chuyên bán đồ huy chương cùng những thứ quân trang, quân dụng mua vội một cặp lon Thiếu tá rồi trở về nhà, tự đứng trước gương gắn lấy cho mình.

Đợt chào mừng ngày Quốc Khánh năm nay, tất cả có được 195 người chiến sĩ xuất sắc được đề cử từ các đơn vị chiến đấu gửi về. Trong đó tôi lại là người có lon cao nhất. Thành thử đương nhiên tôi là người đại diện cho toán chiến sĩ xuất sắc năm nay.

Trong toán này cũng có hai bác sĩ được tuyển chọn. Đó là Y sĩ Trung úy Lê Văn Thại thuộc Liên Đoàn Biệt Động Quân và Y sĩ Trung Uý Tô Phạm Liệu thuộc Sư Đoàn Dù. Bác sĩ Liệu là người về từ căn cứ căn Charlie nơi Trung tá Nguyễn Đình Bảo,Tiểu Đoàn Trường đã đền nợ nước khi hầm qua ông bị trúng một pháo.

Bác sĩ Liệu đã may mắn thoát chết trong trận này. Bác sĩ Liệu tướng to con rất oai trong bộ đồ Dù cùng cái mũ đỏ mà Liệu đã nói với tôi là gửi mua từ bên Pháp. Bác sĩ Liệu là người có tài ăn nói đâu ra đấy, lưu loát. Bất cứ chuyện gì trên trời dưới biển đều được trình bày một cách rành mạch như đọc trong sách ra vậy. Liệu vẫn thường tự nhận là mồm ăn mồm, tức là chỉ dùng lời nói cũng đủ thắng đối phương rồi. Bác sĩ Thại nhỏ con hơn, người Bình Định có đệ tam đẳng Thái cực đạo. Anh đã từng nổi tiếng đánh một tên Mỹ đen to lớn dềnh dàng, ỷ thế ăn hiếp một anh xích lô đạp khiến tên Mỹ này kêu cha kêu mẹ ôm đầu máu chạy có cờ. Hai ông bác sĩ xuất sắc này lại là bạn cùng lớp với nhau nên tâm đầu ý hợp lắm, nói chuyện liên miên không ngừng nghỉ. Vì tôi là lớp đàn anh, lại lớn lon nên hai tay y sĩ anh hùng này hơi nể và chúng tôi trở thành một toán riêng.

Nhưng khi Liệu hỏi tôi:

– Anh ở đơn vị nào về đây vậy?

Tôi biết tay này muốn thử bản lãnh của tôi xem ra sao. Có phải là dân ngon lành không. Nghĩa là có phải dân chì ra tuyến đầu không, mà được chọn làm chiến sĩ xuất sắc. Bởi vì một Y sĩ Thiếu tá thì không thể đi hành quân ở những đơn vị tác chiến được. Ở những đơn vị này chỉ có những Y sĩ Trung uý mới ra trường mà thôi.

Tôi đoán hai bạn trẻ này nghĩ tôi có cổ cánh, quen biết lớn mới được đẩy lên thôi chứ không thể nào bì với những người đã xông xáo nơi tuyến đầu như họ được. Tôi muốn trêu hai vị y sĩ xuất sắc này bên trả lời:

– Tôi ở Tổng Y Viện Cộng Hòa.

Nói xong tôi cười thầm trong bụng. Tôi biết hai người bạn trẻ này sẽ bị hố to với tôi, sẽ hiên ngang đi vào bẫy của tôi. Tôi chỉ muốn đùa cho vui thôi chứ không có ác ý. Vì dù mới quen nhau tôi đã thấy mến hai vị đồng nghiệp trẻ tuổi vui tính và nhiều tài lạ này.

Quả nhiên vừa nghe thấy tôi trả lời như vậy, cả hai cùng nhướng cặp mắt lên nhìn nhau tỏ vẻ vừa kinh ngạc vừa hơi có chút khinh thường, như thầm nói với nhau là: Ở hậu cứ an toàn như vậy mà cũng được đề cử làm chiến sĩ xuất sắc. Liệu hỏi tiếp giọng có vẻ hơi mỉa mai:

– Chắc trong năm vừa qua anh đã mổ nhiều lắm, cứu được nhiều người lắm? Hay là anh đã phát minh ra được nhiều phương thức mổ tân kỳ phải không?

Tôi vẫn chưa chịu buông tha, tôi gật đầu trả lời:

– Đúng vậy. Tôi đã cứu được gần 250 người, đúng ra là 248 người.

Liệu với Thại gật gù nhưng trông nét mặt của hai người, tôi vẫn thấy có những nét không phục lắm. Liệu cho hỏi:

– Thế anh làm ở Cộng Hòa lâu chưa?

Đến nước này thì tôi thấy không thể nào giấu được nữa. Tôi làm bộ nhún vai trả lời:

– Tôi làm ở đó cũng được gần ba tháng.

Thại từ nãy đến giờ im lặng chợt hỏi tôi:

– Thế trước đây anh ở đơn vị nào?

– Tôi ở bệnh viện tiểu khu Bình Long.

Cả hai đều ồ lên một tiếng, cùng cười thoải mái. Liệu nói:

– Thế là đàn anh chơi tụi này một cú đau lắm đấy nhé. Đàn anh cứ làm bộ ỡm ờ. Tụi này nghi ngay mà. Ở những đơn vị tĩnh tại như Cộng Hòa làm sao được đề cử vào chiến sĩ xuất sắc. Đàn anh đùa dai quá. Được lắm. Khâm phục, khâm phục. Đúng rồi bây giờ tôi mới nhớ ra có đọc bài báo TIME có nhắc đến tới tên anh. Phải anh là người đã dùng chỉ nylon bao cát để may các vết thương không?

Tôi mỉm cười gật đầu:

– Đúng rồi, chính tôi đó. Lúc đó hết chỉ đành phải tự xoay sở lấy. Nhưng chỉ có hai, ba ca thôi. Mấy ngày sau tiếp tế được nên không xài chỉ bao cát nữa vì sợ bị nhiễm trùng.

Sau lần nói chuyện đó, ba chúng tôi trở nên thân nhau hơn. Trong suốt tuần lễ chào mừng các chiến sĩ xuất sắc nhân ngày Quốc Khánh năm đó, chúng tôi đều đi chung với nhau.

Vì là người đại diện cho các chiến sĩ xuất sắc đợt đó nên tôi được ban tổ chức tức Cục Tâm Lý Chiến đưa cho mấy bài diễn văn đã làm sẵn. Tôi chỉ đứng đọc mà thôi. Bây giờ tôi mới thấy đằng sau hội trường chính trị. Một chút thôi. Ý tôi muốn nói là những sắp xếp khi ra trước đám đông. Sĩ quan hướng dẫn cho phái đoàn chiến sĩ xuất sắc này là hai người, một Đại úy, một Trung úy thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Hai người này lo phần ăn ở cho phái đoàn. Chúng tôi được ở tại khách sạn Ambassador đường Công Lý do dòng họ Lê ở Bình Định làm chủ.

Thoạt đầu phái đoàn được vào dinh Độc Lập yết kiến Tổng Thống, dự dạ tiệc ngay tại khuôn viên dinh Độc Lập. Mỗi chiến sĩ xuất sắc được Tổng Thống tặng 10000 đồng và một hộp quẹt Zippo có khắc chữ ký của Tổng Thống. Đại tướng Cao Văn Viên tặng mỗi chiến sĩ 5000 đồng.

Các chiến sĩ ai cũng được thưởng huy chương, đồng thời ghi rõ tiểu sử cùng chiến công vào một cuốn sách. Tôi được trao tặng Nhân Dũng Bội Tinh.

Tôi chưa bao giờ nghe tới tên cái thứ huy chương này. Không hiểu nó đã có từ đời nào hay mới được tạo ra. Tôi hỏi hai sĩ quan phụ trách, họ nói huy chương này quý lắm, chỉ sau có Bảo Quốc Huân Chương thôi. Họ còn nói thêm: bác sĩ được huy chương này là nhất rồi. Tôi cũng cố tin như vậy cho xong việc.

Trong bữa dạ tiệc tại vườn dinh Tổng Thống, tôi được ngồi bàn đặc biệt, có Tổng Thống, Đại tướng Cao Văn Viên, Đề Đốc Chung Tấn Cang, bà Nguyễn Thị Hai, chủ nhân công ty dược phẩm cùng tên và quý vị Chủ Tịch Thượng Hạ Viện. Cùng với tôi có thêm ba chiến sĩ xuất sắc nữa. Tôi ngồi cạnh Đại tướng Cao Văn Viên. Ông hỏi tôi:

– Thiếu tá thuộc đơn vị nào?

– Thưa Đại tướng, tôi ở Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc.

– À, Thiếu tá là bác sĩ ở An Lộc hả?

Tôi gật đầu đáp:

– Thưa vâng. Tôi tham dự trận này suốt từ đầu tới cuối.

Đại tướng Viên liền quay sang Tổng Thống Thiệu nói:

– Thưa Tổng Thống, Thiếu tá đây là bác sĩ tại Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc.

Ông Thiệu đang nói chuyện với bà Hai nghe vậy liền quay sang nhìn tôi, mỉm cười rồi nhíu mày như cố nhớ một điều gì. Ông nói:

– Tôi có lên đó, hình như tôi không gặp bác sĩ ở đó.

Tôi thầm nghĩ ông này hay thật. Làm đến Tổng Thống chắc cũng phải có một cái tài nào đó. Tôi vội giải thích:

– Khi Tổng Thống lên ủy lạo binh sĩ thì trùng với ngày tôi về phép nên không được hân hạnh tiếp kiến Tổng Thống.

Câu trả lời của tôi làm Tổng Thống Thiệu thích thú. Mọi người trong bàn cùng trầm trồ nhân cơ hội này ca ngợi trí nhớ dai của Tổng Thống có một không hai. Ông Thiệu cười hài lòng và có vẻ hãnh diện về trí nhớ của ông.

Tôi nhận thấy tiếng ông như tiếng chuông. Chắc là một thứ quý tướng nên ông mới lên tới chức vị cao nhất nước như vậy. Trong buổi tiệc ông cũng hay nói chuyện tiếu lâm làm mọi người vui vẻ, đỡ căng thẳng vì ngồi gần mặt trời.

Tôi thấy Đại tướng Viên là gốc Dù nên vuốt ông một câu:

– Thưa Đại tướng, An Lộc giữ vững được một phần cũng nhờ những đơn vị của sư đoàn Dù và Biệt Cách Dù.

Đại tướng Viên gật đầu đáp:

– Đó là một trong những đơn vị xuất sắc nhất của quân đội ta.

Tôi tiếp tục hỏi một câu mà vừa ra khỏi miệng tôi thấy là hơi cù lần một chút:

– Thưa Đại tướng thế tại sao mình không cho thành lập thêm vài sư đoàn Dù nữa để áp đảo tụi nó giành thắng lợi cho mình?

Đại tướng Viên nhìn tôi, thấy tôi hoàn toàn ngây thơ cụ về vấn đề nhà binh nên ông, như một người anh cả kiên nhẫn giảng giải cho tôi hiểu vì sao:

– Tại bác sĩ không biết chứ, thành lập một sư đoàn nhiêu khê lắm, có cả một danh sách rất dài để làm. Người thì mình có nhưng tiền thì không. Thành lập một sư đoàn Bộ Binh không thôi đã tốn rất nhiều rồi, nói chi tới một sư đoàn Dù lại tốn gấp đôi. Quân đội không đủ tiền làm chuyện đó.

Sau khi yết kiến Tổng Thống, chương trình ngày hôm sau phái đoàn phải đi tới thăm viếng Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa, cũng có Tổng Thống cùng các nhân vật trong chính phủ đi tế lễ các hương hồn tử sĩ đã vị quốc vong thân. Buổi chiều chúng tôi được Tòa Đô Chánh đãi tiệc, có ông Đô Trưởng Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu chủ tọa, Lại những bài diễn văn đã được soạn sẵn cho tôi đọc, lại vỗ tay, lại đủ thứ. Thú thực tôi không khoái lắm. Ngày hôm sau chúng tôi được đi coi triển lãm chiến lợi phẩm tịch thu của Việt Cộng trên khắp các mặt trận đem về trưng bày tại sân vận động Hoa Lư, đường Đinh Tiên Hoàng. Tôi thấy trong đó có ba chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng còn mới nguyên được trưng bày trên sân cỏ. Tôi biết một trong những chiếc đó đã bị quân ta tịch thu tại An Lộc. Nhiều súng lớn đủ loại, cả những súng phòng không cao nghều nghệu.

Tổng Thống Thiệu chủ tọa xong, đi xem một lượt rất nhanh rồi đi về. Tôi ngồi trên những ghế cao phía xa cùng với một số người khác không hòa mình vào đám đông. Tôi đề phòng nhỡ có đứa nào muốn ám sát Tổng Thống, mình đi gần lại bị vạ lây. Tôi thấy có một đoàn nữ sinh mặc áo trắng đứng quanh sân chào mừng Tổng Thống và quan khách.

Tôi nhận thấy họ chỉ là nữ sinh giả thôi. Vì trong đó có nghệ sĩ Mộng Tuyền cũng mặc áo dài trắng lẫn lộn với mấy người đẹp khác. Tôi thấy Tổng Thống đứng hơi lâu bên Mộng Tuyền, cười nói thoải mái. Tôi có nghe đồn Tông Tông khoái cô nghệ sĩ này lắm. Mà quả thực cô có duyên và rất đẹp.

Sau khi đi xem hết một vòng, Tông Tông lên xe về. Tôi mới lững thững đi xuống, chợt thấy Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đeo kính trắng đang tà tà tới. Tôi định tiến lại chào ông, nhưng thấy hai bên ông có đám vệ sĩ gườm gườm nhìn, còn ông Thủ Tướng thì mặt lạnh như tiền coi như không có ai ở chung quanh cả. Tôi vội quay đầu đổi hướng lui nhanh ra phía khác.

Sau buổi sáng đi xem triển lãm chiến lợi phẩm, chiều hôm đó đoàn chúng tôi được Quốc Hội đãi tiệc. Tiếp tục ngày tới là Thượng Viện rồi lần lượt các quận trong đô thành Sài Gòn thay phiên nhau mỗi quận một ngày tiếp đãi chúng tôi.

Tôi còn nhớ ngày Quốc Hội đãi tiệc phái đoàn chúng tôi. Sau khi tan tiệc ra về, chúng tôi đi thang máy xuống đường cùng một số dân biểu. Một vị dân biểu trẻ tuổi bước tới tự giới thiệu:

– Tôi là Nguyễn Trọng Nho, rất biết ơn các bạn đã hy sinh rất nhiều để bảo vệ nền Cộng Hòa công chính của chúng ta.

Anh đưa tay bắt tay tôi rất chặt. Chưa bao giờ có người bắt tay tôi một cách chí tình đến thế. Anh như muốn chuyển cho tôi tất cả những nhiệt tình yêu nước của anh. Tôi thấy anh có một sức hấp dẫn lạ lùng với người đối diện. Tôi chỉ nghe danh anh từ những năm trước là vua sinh viên xuống đường chống độc tài gia đình trị. Bây giờ tôi mới được hân hạnh nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, thật là thích thú. Tôi thấy buổi tiếp tân hôm nay ít ra gặp được Dân Biểu Nguyễn Trọng Nho cũng làm cho thấy tôi thấy đỡ nhàm chán một chút. Chúng tôi không có cơ hội nói chuyện nhiều, chỉ gặp gỡ trong giây phút thôi rồi mọi người lại đi một ngã. Nhưng chỉ trong giây phút ngắn ngủi đó, tôi cảm thấy vui và có cảm tưởng như đã gặp một người mình tin tưởng được.

Ngày hôm sau là ngày Thượng Viện đãi tiệc chúng tôi tại một tửu lầu ở trong Chợ Lớn. Đáng lẽ chúng tôi phải đi cùng với phái đoàn nhưng bác sĩ Liệu có sẵn xe Jeep ở hậu cứ sư đoàn Dù, đề nghị ba chúng tôi dùng xe đó đi riêng.

Vị Trung úy Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị có nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn giống như một ông bầu, ngần ngừ có ý định không chịu vì ông ta không muốn gây xáo trộn trong chương trình ông đã có trách nhiệm thi hành cho thật đúng. Sau vì cả nể, ông đồng ý cho tụi tôi được dùng xe Jeep đi riêng đến địa điểm tiếp tân. Không ngờ hôm đó kẹt xe. Chúng tôi đến trễ nửa tiếng, vào tới bàn tiệc thì mọi sự đã bắt đầu. Thay vì tôi lên đọc bài diễn văn soạn sẵn cảm ơn các vị Thượng Nghị Sĩ, một chiến sĩ xuất sắc khác đã được ông bầu phái đoàn đưa lên thay.

Vì đến trễ nên chúng tôi quả thực đã làm xáo trộn chương trình đã ấn định từ trước. Ông sĩ quan điều hợp phái đoàn chắc phải một phen lên ruột. Ông nhìn chúng tôi với ánh mắt như trách móc. Chúng tôi chỉ có nước ngồi cười trừ thôi. Sau bữa tiệc, cả ba chúng tôi đến ngỏ lời xin lỗi ông sĩ quan điều khiển chương trình. Dĩ nhiên ông ta cũng bỏ qua.

Nhân dịp tham dự phái đoàn chiến sĩ xuất sắc này tôi đã được biết thêm hai người bạn mới, ngoài hai ông bác sĩ trẻ ở đơn vị Dù và Biệt Động Quân. Đó là Hạ sĩ Cường của tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Thiếu úy Trí, Trung Đội Trưởng Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh.

Thiếu Úy Trí người Sa Đéc. Một sự tình cờ ban tổ chức đã sắp xếp cho hai chúng tôi ở chung một phòng tại khách sạn Ambassador trong suốt những ngày thủ đô chào mừng phái đoàn chiến sĩ xuất sắc toàn quốc nhân ngày Quốc Khánh. Vì vậy chúng tôi có dịp nói chuyện với nhau sau những bữa tiệc khi về phòng. Sau khi tắm rửa xong, chúng tôi thấy thoải mái sau một ngày tiệc tùng tại các quận đô thành. Tôi gợi chuyện anh bạn cùng phòng.

– Anh được chọn làm chiến sĩ xuất sắc về trận nào vậy?

– Trận Bắc ChơnThành

Tôi vội cướp lời anh:

– Trên Quốc lộ 13 phải không?

Trí ngạc nhiên hỏi tôi:

– Ủa, sao bác sĩ biết?

– Tôi là bác sĩ Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long, An Lộc. Tụi tôi bị vây ở đó cả tháng rồi. Cũng chỉ vì mấy cái chốt tụi nó đóng tại phía bắc Chơn Thành, nên chiến đoàn đặc nhiệm lên không được để giải tỏa cho tụi tôi.

– Đúng rồi vì tụi Việt Cộng nó đóng chốt chặn giữ giữa Quốc lộ 13 trên đường vào An Lộc. Sư đoàn chúng tôi lên không được. Hao tốn cũng khá nhiều. Thay hết đơn vị này đến đơn vị khác. Sau cùng tới lượt đơn vị tôi. Tôi cũng chỉ là thư sinh mới ra trường thôi, thực ra cũng được gần hai năm. Nhưng những thời gian đầu tôi ở bên tiếp vận. Vì thiếu sĩ quan nên tôi bị đổi ra đơn vị này.

Tôi cũng thấy như vậy, ông bạn mới của tôi nhỏ con, không có vẻ gì là dân tác chiến cả. Bề ngoài trông ông bạn trẻ của tôi chỉ hợp với nghề văn phòng. Nên tôi cũng tò mò muốn biết chiến thuật của ông làm sao mà thắng được địch để trở thành chiến sĩ xuất sắc. Tôi hỏi tiếp:

– Rồi sau đó thế nào?

– Nhận được lệnh, tôi lo, chỉ sợ làm không được việc thì tức lắm. Tôi hỏi mấy đơn vị trước xem tụi Việt Cộng đánh đấm ra sao. Họ đều nói, tụi nó có đánh đấm gì đâu. Nó cứ cho đóng chốt rải rác. Chốt nọ bảo vệ chốt kia. Tên nào chết thì có ngay tên khác thay thế. Cho nên quân mình dường như không thể tiến lên được một bước nào. Biết được vậy, tôi nằm suy nghĩ mấy đêm liền, kêu mấy Hạ sĩ quan nhiều kinh nghiệm chiến trường tới bàn bạc tìm kế phá tụi nó. Họ đều nói là muốn phá chốt chỉ có một cách là phải đánh đêm thôi. Không dùng súng mà dùng lựu đạn. Ban ngày chúng tôi quan sát địa thế chiến trường. Những chỗ nào tình nghi có chốt đều được ghi rõ. Ban đêm chúng tôi dùng Starlight scope của Mỹ viện trợ cho dùng để quan sát ban đêm. Rồi chúng tôi cho lính mình bò lên tận nơi thẩy lựu đạn vào chốt. Cứ từ từ như vậy chúng tôi đã tiến lên được cả cây số. Chúng tôi đã nhổ cả mấy chục cái chốt mà thiệt hại của quân mình rất ít. Ông Chỉ Huy Trưởng của tôi rất mừng. Vì vậy tôi mới được tuyên dương và trở thành chiến sĩ xuất sắc.

– Hay lắm. Đúng là muốn nhổ chốt chỉ có cách đó thôi. Nhưng tôi lấy làm lạ, là tại sao không đem B52 trải thảm là dẹp chốt dễ dàng không?

– Tôi thấy không lợi. Dùng B52 chỉ có hiệu quả khi nào địch tập trung quân lại thôi. Còn nó đóng chốt, tổng số quân chỉ chừng một đại đội là cùng thì không bõ, rất tốn kém, lại có khi không trúng nữa vì diện tích mục tiêu quá nhỏ.

– Nếu vậy mình dùng nghi binh. Chắc chắn tụi nó có kiểm thính. Mình làm bộ là sẽ cho B52 trải thảm. Để cho địch bắt được mấy cái tin ấy qua radio. Chúng tưởng thật, rút quân về khu an toàn thế là mình có quyền đường hoàng đi mà không bị một thiệt hại nào cả.

Thiếu úy Trí cười nói:

– Bác sĩ cũng giàu tưởng tượng thật. Kế đó cũng hay lắm. Nhưng làm sao mình biết được là tụi nó bắt được tin B52 trải thảm, làm sao kiểm chứng được tụi nó sẽ rút quân. Tôi nghĩ chỉ có một cách như tôi đã trình bày là tung quân cảm tử đánh đặc công như tụi nó. Nghĩa là gậy ông lại đập lưng ông thì mới có kết quả.

– Không sai, bằng chứng là anh đã thành công và đang về đây dưới danh nghĩa chiến sĩ xuất sắc nên tôi mới có cơ hội gặp anh.

Sau lần đó anh lại trở ra đơn vị nhưng lần này anh cho tôi biết là đơn vị của anh sẽ rút về Vùng IV không còn ở Vùng III nữa. Từ ngày đó tôi không còn có duyên gặp anh nữa. cầu mong sao anh được bình an, sống sót qua được cuộc chiến này.

Còn trường hợp của anh Hạ sĩ Nhảy Dù tên Cường, tôi được biết khi ngồi chung xe buýt với anh trong chuyến đi các quận đô thành dự tiệc. Cũng cùng một câu hỏi:

– Anh đã dự trận nào mà được trở thành chiến sĩ xuất sắc vậy?

– Thưa anh, em dự trận Quảng Trị.

Cường xưng em với tôi rất tự nhiên. Không giống như một cấp nhỏ đối với cấp trên. Trong cách xưng hô của Cường đối với tôi, tôi cảm thấy có một điều gì đặc biệt. Một sự tình cảm thật thà giữa những người trong gia đình, ruột thịt. Chỉ cần một giây phút đầu mà thôi, là chúng tôi đã cảm thấy thân nhau như từ lâu lắm. Đó là đầu mối của một tình thân lâu dài về sau.

– Kể cho anh nghe chiến công của em đi.

– Chiến công của em dễ dàng lắm. Chính em chẳng thấy có gì đặc biệt cả. Em ngạc nhiên khi thấy mình được đề cử làm chiến sĩ xuất sắc năm nay. Em cứ nghĩ là được cái Anh Dũng Bội Tinh gì đó là cùng.

Đúng lắm, đó là tâm trạng chung của hầu hết các chiến sĩ xuất sắc. Khi cố gắng thi hành phận sự, có ai nghĩ là mình sẽ được đền bù này nọ đâu. Chúng tôi chỉ cốt sao chu toàn bổn phận là mừng rồi. Cường còn rất trẻ, chỉ mới 23 tuổi. Trông anh Hạ sĩ Nhảy Dù can trường này vẫn còn những nét học sinh mặc dù cũng đã hơn hai tuổi lính và dự khá nhiều trận rồi. Nhưng theo Cường trận Quảng Trị là trận gay go nhất. Tôi khuyến khích Cường kể tiếp:

– Chiến công nào cũng là chiến công cả. Cường kể tiếp đi.

– Hồi ở Quảng Trị, tiểu đội của em ở ngay tuyến đầu. Hai ngày rồi tụi em bị dậm chân tại chỗ vì mấy cái chốt ngang sườn đồi. Nó nhìn thấy mình mà mình không thể nhìn thấy nó. Vì tụi nó có lợi thế ở trên cao, lại có hầm núp đàng hoàng. Trong khi quân mình từ dưới đi lên rất là trống trải. Dù hy sinh cách mấy cũng không tài nào lên để phá chốt được. Có kiểm soát được ngọn đồi đó thì mình mới có lợi thế đánh ngang hông để dứt điểm tụi nó được. Ông Đại Đội Trưởng của em rầu rĩ quá. Em thương ông quá vì ông không phải thuộc loại thí quân coi thường sinh mạng binh sĩ. Em suy nghĩ làm sao dẹp được mấy chốt đó thì mới sướng được. Em bàn với ông Thiếu Úy Trung Đội Trưởng của em là để em dẫn hai tay tình nguyện theo em đi vòng xa mấy chỗ đó, lên cao hơn một chút rồi đi thẳng xuống cái chốt khó nhai nhất ở ngay chính giữa sườn đồi rồi bất ngờ đánh xuống lật ngược lại cái thế thượng phong của tụi nó làm cái lợi thế của mình. Túng thế quá ông Trung Đội Trưởng của em đành gật đầu ưng thuận cho em đi. Vì biết rằng rất nguy hiểm cho tụi em. Chết dễ như chơi vì mình không biết địch còn bao nhiêu chốt nữa chưa phát hiện được đang chờ đón mình.

Tôi ngắt lời Cường, nói:

– Nguyên cái vụ tình nguyện đi phá chốt nguy hiểm như vậy cũng đáng tuyên dương công trạng lắm rồi. Vậy mà Cường còn khiêm nhượng mãi. Thôi kể tiếp đi, đến hồi gay cấn rồi đó.

Cường mỉm cười gật đầu tiếp:

– Em dẫn 2 đồng đội tình nguyện đi ra xa khoảng nửa cây số rồi thận trọng tụi em bò lên đỉnh đồi. Em chọn chỗ có cỏ tranh mọc cao hơn đầu người, cẩn thận đi từng bước một vì sợ nó gài mìn. Em bò lên được lưng chừng sườn đồi thì có tiếng hỏi: K nào vậy? Em giật thót cả người, nhanh trí khôn em đáp bừa: K3 đây đồng chí. Đồng thời em đứng thẳng dậy, thấy lố nhố ba thằng lính chính quy Bắc Việt. Chúng nó cũng đã trông thấy em, một thằng kêu lên:

– Ngụy Dù đồng chí ơi.

– Nó chưa nói dứt câu em đã lia một băng M16 vào cả ba tên. Chúng gục ngay tại chỗ không kịp bắn một phát nào. Em cho một người lên trước thám hiểm xem có còn đứa nào không. Chúng chỉ có ba tên mà thôi. Em cho một anh bạn về báo cho trung đội em biết. Đồng thời chuyển quân qua con đường tụi em đã dọn sạch. Nếu tụi nó biết, tấn công hai đứa tụi em thì em cũng có quân tiếp viện. Sau khi còn lại hai tụi em, em đặt một trái mìn Claymore trên lối mòn mà em đoán tụi địch sẽ đi qua. Xong xuôi chúng em vô hầm chốt của tụi nó ngồi chờ. Vì chung quanh không có chỗ nào trốn núp được. Chừng 10 phút sau em thấy ba tên đi dọc theo lối mòn nói chuyện với nhau rất tự nhiên như chẳng có gì xảy ra cả. Thì ra nơi tuyến đầu tiếng súng nổ là thường và chắc tụi nó ỷ y phía này không có quân mình nên không quan tâm mấy. Em bấm quả mìn khi chúng nó còn cách đó chừng 10 thước. Tiếng nổ của trái mìn vang lên, em thấy ba đứa biến mất chẳng thấy vết tích đâu cả. Chỉ thấy dấu máu đầy chỗ chúng đứng thôi. Hai mươi phút sau thì trung đội của em lên tới nơi. Từ đó chúng em nhổ những chốt còn lại rất dễ dàng. Đó, chiến công của em đó anh ạ. Cũng là may thôi. Nếu địch đừng tưởng lầm tụi em là quân tụi nó, cứ chờ cho tụi em tiến lên, lia một tràng AK là em đâu có dịp gặp anh ở đây.

– Đúng rồi Cường ạ. Con người ta có số cả. Nhưng Cường quả thật can đảm và cũng đa mưu túc trí chứ chẳng chơi đâu.

Cường cười hồn nhiên, nhưng chợt giọng em trầm xuống:

– Chiến tranh cả anh ạ, vì mạng sống của mình em phải làm thế. Em thấy nếu mình không hạ nó thì nó cũng chẳng tha mình. Nên em phải ra tay trước. Tuy nhiên em thấy thế nào ấy. Tụi nó còn trẻ lắm, em độ chừng 18, 19 tuổi thôi, bằng tuổi thằng em trai em. Em còn ông bác ở ngoài Bắc. Biết đâu mấy tên địch không may đó lại là bà con của em thì đau lắm.

Tôi vội an ủi Cường, mà thật ra cũng như nói với chính tôi để quên đi cái cảnh nồi da xáo thịt:

– Thôi chuyện đã qua rồi. Miễn là mình còn sống là may rồi. Đừng nghĩ lẩn thẩn nữa.

Rồi tuần lễ chào mừng các chiến sĩ xuất sắc toàn quốc nhân ngày Quốc Khánh năm 1972 cũng qua đi. Mọi năm, phái đoàn còn được cho đi xuất ngoại sang bên Đài Loan thăm viếng và trao đổi kinh nghiệm chống cộng tại nước này một tuần. Nhưng năm nay vì thời sự chiến cuộc có vẻ khẩn trương, lại thêm Mỹ Việt Nam hóa chiến tranh cũng như những diễn biến về hội nghị Hòa Bình Paris giữa Mỹ với chính phủ Cộng sản Hà Nội nên cái món du lịch nước ngoài bị hủy bỏ. Số tôi là thế. Có tiếng nhưng chẳng có miếng. Đã là số mạng thì còn gì nữa đâu để buồn.

Thế là sau một tuần phè phỡn, tôi lại được trở về với công việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi lại bắt đầu một cuộc đời mới, lại có những kinh nghiệm mới, vui có buồn có. Tôi lại có cơ hội phục vụ các đồng đội của tôi, tuy cùng một môi trường, nhưng với một kỹ thuật cao hơn, hữu hiệu hơn. Đứng như lòng mong muốn của tôi là tay nghề của mình phải lên cao, lên cao mãi.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2023

Bài 27 – Giã Từ Bình Long

Ngày 29 Tháng 7 Năm 1972

Kể từ ngày đi phép về được ba tuần, một hôm vào cuối tháng 7, tôi được tin bác sĩ Lê Quang Tín đang trên đường lên Bình Long để thay thế anh Phúc.

Ba tuần chờ đợi ấy thực dài. Thà không biết để sự việc tự nó đến lúc nào thi đến, nay biết rồi chúng tôi chờ đợi, đếm từng ngày một rất sốt ruột.

Trời dạo này ở Bình Long hay mưa, gần như ngày nào cũng có một trận. Mưa ở đây hơi đặc biệt một chút là mưa nắng cùng một lúc. Chính trong một trận mưa nắng đó mà bác sĩ Tín, người tụi tôi đang mong đợi đã tới.

Sau khi giúp bác sĩ Tín để gọn đồ vào một chỗ xong, tôi với anh Phúc sơ lược tình hình hiện tại cho bác sĩ Tín nghe, cùng kêu tất cả các anh em Quân Y từ các hầm khác tới giới thiệu với bác sĩ Tín để cho biết mặt nhau. Phụ tá với bác sĩ Tín là hai bác sĩ khác mới ra trường cũng đang trên đường lên đây.

Tôi và anh Phúc dẫn bác sĩ Tín sang hầm chỉ huy để giới thiệu Tín với Đại tá Tỉnh Trưởng. Nhân cơ hội đó tôi nói ngay:

– Thưa Đại tá bây giờ đã có người thay thế. Sau khi bàn giao xong chúng tôi muốn được từ giã Đại tá về Liên Đoàn 73 Quân Y trình diện để nhận công tác mới.

Đại tá Nhựt nói:

– Được rồi, bàn giao xong bác sĩ muốn đi lúc nào thì đi. Chừng một hai tháng nữa chắc moa cũng đi chỗ khác. Chỗ này đâu còn gì đâu, để cho ông Thành coi.

– Như vậy nếu ngày mai có trực thăng tới, xin phép Đại tá chúng tôi sẽ theo máy bay về Lai Khê luôn.

Đại tá Nhựt gật đầu:

– Được, chúng mình sẽ còn có ngày gặp nhau.

Tôi với anh Phúc, Bác sĩ Tín lần lượt bắt tay Đại tá Nhựt rồi đi về hầm mình.

Sáng hôm sau, chúng tôi được tin có hai chuyến trực thăng tới vào khoảng 1 giờ trưa. Tôi với anh Phúc đã sửa soạn xong rất gọn và nhẹ. Tôi chỉ có một túi xách tay, anh Phúc cũng vậy. Chúng tôi từ giã các nhân viên và bác sĩ Tín rồi lên xe Hồng Thập Tự ra chỗ sân ở bãi đáp cùng với mấy người lính Nhảy Dù đi phép. Khi máy bay vừa đến, bay là là trên mặt đất, không đậu hẳn xuống đất, có lẽ là đề phòng, nếu địch pháo thì sẽ vọt lên lẹ hơn.

Chúng tôi chạy nhanh để nhảy leo lên máy bay. Tôi lên sau cùng vừa phóng người lên chưa nắm được điểm tựa nào thì máy bay đã bốc vọt lên cao làm tôi chới với suýt nữa té lộn xuống. May có người lính ngồi ở gần đưa tay kéo áo tôi kịp lôi vào. Lúc đó tôi mới ngồi lên được trên ghế, cột nịt dây an toàn xong nhìn ra thì thấy anh Phúc đã ngồi đối diện, đang mỉm cười nhìn tôi. Tôi thầm nghĩ: Tay này nhanh thật. Không biết dọt lên hồi nào mà đã yên vị như vậy.

Khi máy bay cất cánh lên đầu ngọn cây thì bắt đầu pháo địch nổ. Tôi thấy hai trái rơi cạnh bãi đáp khoảng 100 thước. Bụi đất tung mịt mù toàn cát đỏ. Chỉ trong tích tắc máy bay đã ra khỏi vòng pháo, lướt mình trên những ngọn cây cao su thẳng đường về hướng Lai Khê.

Thế là sau hơn một năm làm việc tại Bình Long-An Lộc, tôi đã rời khỏi tỉnh lỵ này với một số kỷ niệm khó quên.

Về tới Sài Gòn, đọc lại những tờ báo cũ tả trận chiến đó, tôi thấy nó lớn ghê gớm và cũng rất quan trọng. Nếu để địch quân chiếm đóng được tỉnh này thì ảnh hưởng tâm lý với dân chúng toàn miền Nam sẽ rất lớn. Các nhà báo cả trong và ngoài nước đã so sánh trận này với trận Điện Biên Phủ năm 54. Chỉ khác là trận này quân ta đã giữ vững được vị trí, đẩy lui được địch quân.

Năm trước khi tôi tới đây, thành phố đang trên đà phát triển. Tôi thấy nếu không có chiến tranh tỉnh này sẽ là một trong những tỉnh trù phú nhất của Vùng III Chiến Thuật. Khi tôi ra đi thì nơi này đã trở thành bình địa. Những thay đổi đó cùng với cái may mắn được sống sót đã cho tôi nhiều suy nghĩ. Tôi có cảm tưởng như là người vừa được sống lại. Vậy phải sống làm sao cho ra người.

Tôi chợt nhớ tới bài thơ “Bán Than” của Đại tướng Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư khi ông bị cách chức vì đã thua quân Mông Cổ một trận. Ông lên rừng đốn củi bán than để làm kế sinh nhai. Tôi thích nhất hai câu:

Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài chi gốc củi tàn

Tôi thực ra bây giờ không phải là một gốc củi tàn, nhưng là một con người mới. Có những ngày địch pháo tới 10 ngàn trái vào tỉnh lỵ trên một diện tích giới hạn như vậy, mà tôi không bị một mảnh đạn nào. Kiểm điểm lại, tôi đã thoát chết bốn lần, hai lần tôi tin phải có một phép lạ nào đó đã run rủi cho tôi được thoát nạn. Đó là tôi đã di chuyển lên hầm bác sĩ Phúc đúng vào đêm phòng tôi bị pháo trúng và một lần khác khi đứng nói chuyện với mấy anh Quân Y Tá dưới tàn cây trứng cá tại sân bệnh viện. Tôi muốn sống cho xứng đáng với lòng từ bi của Trời Phật đã ban cho tôi. Làm gì thì làm cũng phải là đồng tiền tốt, phải lương thiện và cưu mang những người khốn khổ, giúp đỡ những người nghèo khó thế cô. Thực hành như vậy trong hoàn cảnh xã hội này thật khó. Nhưng cố gắng chắc cũng được, hoặc ít ra cũng vạch ra cho mình được một con đường đúng để đi, không bị cám dỗ bởi những đồng tiền không tốt.

Khoảng 45 phút sau, tôi an toàn xuống máy bay tại hậu cứ Sư Đoàn 5. Tôi với anh Phúc hỏi thăm đường tới doanh trại Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Tôi kiếm bác sĩ Trần Nguyên Tường, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Quân Y, bạn cùng lớp với tôi xin giúp đỡ phương tiện về Sài Gòn. Thời may có một xe Hồng Thập Tự sắp sửa rời Lai Khê chuyển thương binh về Tổng Y Viện Cộng Hòa, tôi với anh Phúc liền quá giang chuyến đó để khỏi phải chờ lâu. Một giờ sau tôi đã có mặt tại Sài Gòn, bấm chuông nhà. Hôm ấy là ngày Thứ Bẩy, các em tôi đều ở nhà cả. Mọi người đều vui mừng đón tôi. Lần này không có cái ngạc nhiên bất ngờ như lần nghỉ phép kỳ trước. Nhưng thật vui vì mẹ và các em tôi được biết là tôi không phải trở về Bình Long. Tuy tôi chưa biết sẽ nhận công tác ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn là tôi được ưu tiên chọn chỗ mới.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2023

Bài 26 – Về Phép Thăm Nhà

Ngày 6-7-1972

Bây giờ đến lượt tôi được đi phép thăm nhà.

Tôi nhanh chóng làm mọi giấy tờ cần thiết, sửa soạn trong chớp mắt là xong. Tôi kêu tài xế xe Hồng Thập Tự, nhờ chở giùm tôi ra bãi đáp. Bây giờ hầu như hàng ngày đều có những chuyến bay trực thăng đi đi về về liên lạc giữa An Lộc và Lai Khê, hậu cứ của Sư Đoàn 5. Nhân dịp này tôi mang theo phần lớn đồ đạc của tôi, gần như dọn nhà, chất lên xe Jeep Hồng Thập Tự, vẫn do tài xế Mệnh lái. Thực ra cũng chẳng có gì nhiều: một thùng sách vở, cây đàn guitar Yamaha, hai vỏ đạn đại bác. Còn cái ba lô tôi đeo vai là đủ.

Kỳ này hành khách của chiếc trực thăng chỉ có năm người. Mấy người kia cũng đi phép như tôi. Do đó tôi ngồi trên máy bay rất thoải mái. Đứng ở dưới đất nhìn lên trực thăng, thấy nó bay có vẻ chậm, giống như khi ngồi trên trực thăng bay cao, ta cũng có cảm giác như vậy. Vì những cảnh ở dưới đường như không thay đổi nhanh như máy bay. Khi cất cánh xong, phi công cho trực thăng bay là là trên đầu ngọn cây để tránh hỏa tiễn của địch. Tôi thấy tốc độ của nó cũng nhanh lắm. Chẳng trách là dù địch có muốn bắn cũng không trở tay kịp.

Gần một giờ sau, tôi đã an toàn tại hậu cứ Sư Đoàn 5 ở Lai Khê. Tôi gặp Thiếu tá Diệm, ông đã được phái lên đây mấy ngày trước và cũng đang ở đó để lo việc tiếp vận cho Tiểu Khu Bình Long. Ông Diệm bảo tôi chờ ông một chút vì đang dở nói chuyện với một ông Trung tá thuộc Sư Đoàn 5. Sau đó, chúng tôi lên một xe Jeep rồi thẳng đường về Sài Gòn, rời rừng cao su nơi Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn 5 đóng quân. Trong khoảnh khắc, tôi đã thấy hai bên đường toàn là ruộng lúa xanh tươi ngút ngàn. Trông rất vui mắt, rất thanh bình.

Thật trái ngược hẳn với những cảnh hầm hố, xe tăng, bom đạn ở mặt trận, chỉ trong một thời gian rất ngắn, tôi đã đi từ địa ngục để trở về khung cảnh bình thường của người đời. Tôi mới nhận ra một điều rất lạ là không khí sao thơm tho ngọt ngào như thế. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới được cảm nhận thấy vị ngọt của không khí. Suốt gần ba tháng trời sống trong mùi hôi hám của mấy trăm xác chết, của khói súng, của không khí tù hãm trong hầm. Ngay cả khi về tới Lai Khê nhưng ở trong vườn cao su vẫn còn khói xăng và mùi quần áo nhà binh. Chỉ khi xe ra tới ngoài đường với hai bên là đồng lúa, tôi mới cảm được vị của không khí, hương của lúa, của đồng nội và của thiên nhiên.

Thật là sảng khoái, thật là thiên đàng. Tôi hỏi ông Diệm:

– Ông có thấy không khí ngọt chưa?

Ông Diệm gật đầu, cười nói:

– Thấy chứ, tôi đang tính hỏi ông. Hít thở không khí này tỉnh cả người. Sau trận này, ông đã tính xin đổi đi đâu chưa?

– Tôi cũng chưa biết nữa. Nhưng chắc tôi xin về một bệnh viện nào đó khu Sài Gòn. Có thể là Tổng Y Viện Cộng Hòa cho gần nhà. Ông biết nhà tôi chỉ mình tôi là con trai. Mấy năm nay xa nhà rồi, bây giờ là dịp để tôi có thể được ở gần gia đình. Còn ông thì sao?

– Để xem đã. Mình đã chịu khổ nhiều rồi. Bây giờ mình có quyền lựa chọn. Tôi đợi xem chỗ nào ngon, cờ tới tay là phất liền.

Nghe ông Diệm nói, tôi nghĩ thầm: Ông này khôn thiệt! Chợt một ý nghĩ thoáng qua trong đầu, tôi liền hỏi:

– Còn ông Nhựt thì sao?

– Có thể ông ấy sẽ nắm một Sư Đoàn nào đó để mau lên Tướng. Đó là đường đi của các ông ấy.

– Ông có tính đi với ông ấy không?

– Cũng còn tùy. Như tôi đã nói với ông, nếu có chỗ ngon thì đi, không thì mình binh đường khác. Nhưng gì thì tôi chỉ ở Vùng III này thôi. Không đi đâu hết. Gia đình tôi ở Sài Gòn, các cháu đang đi học đâu vào đấy cả rồi. Nay mà dời đi xa thì lại xáo trộn tất cả, tội cho chúng nó.

Tôi chợt nhớ tới một thắc mắc từ lâu, vẫn để trong lòng chưa có dịp hỏi ai cả. Nay nhân tiện cùng ông Diệm về cùng đường, vui câu chuyện tôi liền hỏi xem ông có thể cho tôi biết được thêm gì không để giải tỏa những thắc mắc của tôi.

– Này ông, tôi có vấn đề này muốn hỏi ông thử xem ông có chia sẻ được gì không?

Thiếu tá Diệm nhìn tôi, nói:

– Ông cứ nói đi, tôi biết gì sẽ trả lời ông ngay.

– Này nhé, ông thấy trận này khá lớn phải không?

– Đúng! Sao ông?

– Quân mình cũng có tới cả sư đoàn chứ không ít, phải không?

Ông Diệm gật đầu, tôi nói tiếp:

– Tôi nghe radio, thấy họ so sánh trận này với trận Điện Biên Phủ nhưng trong thâm tâm, tôi lại thấy không có vẻ gì là ghê gớm cả. Có lẽ tại vì tôi không ở trên tuyến đầu nên không thấy những cảnh thịt nát xương rơi chăng? Hay là tại vì tôi không ở trong Bộ Chỉ Huy nên không có một cái nhìn tổng quát của trận đánh mà chỉ nhìn trên một phạm vi nhỏ hẹp nên không thấy được mức độ to lớn của trận này?

– Đúng vậy, thực ra ông chỉ nhìn được một mặt của trận này thôi. Đúng ra, ta phải nhìn trên một bình diện rộng lớn cả toàn tỉnh Bình Long. Những cuộc điều quân bố trí từ Lộc Ninh tới Chơn Thành mới thấy được sự nghiêm trọng của trận này. Ngay ở Lộc Ninh, Thiết Đoàn I rồi Trung Đoàn 48, Trung Đoàn 52 bị trận địa pháo vây khốn, bị phục kích ra sao. Nhất là ở cầu Cần Lê, quân mình bị thiệt hại ra sao. Còn khi tới An Lộc, đa số quân bao vây của địch đã bị B52 loại bỏ rồi. Như ông đã thấy đấy, cũng không có gì gay cấn lắm. Nhưng tại mặt trận đồn điền Quản Lợi, mình cũng phải trả một giá khá đắt mới giữ vững được An Lộc đấy. Thực ra còn nhiều chi tiết ghê gớm nữa trong trận đánh này. Quân Dù lên tiếp viện mình đã phải dùng những chiến thuật tốc chiến tốc thắng, phải hy sinh, phải quyết tâm như thế nào mới bắt tay được với mình. Nếu không, mình đã bị tụi nó xơi tái rồi còn đâu. Thôi, dù sao mình vẫn còn may mắn, còn được sống sót sau trận đánh kinh hoàng này là phúc đức bảy mươi đời nhà mình rồi ông ạ.

– Đúng vậy nhưng tôi thấy có một điều gì đó hơi bất công ông nhỉ. Những người đã hy sinh, đã nằm xuống, chẳng bao lâu sẽ bị lãng quên. Những người may mắn sống sót sẽ được lên chức, lên lon và được làm anh hùng.

Ông Diệm ngắt lời:

– Đời là vậy ông ạ. Thôi, cứ vui những cái mình có là được rồi. Ai có phận nấy nhờ, chẳng nên thắc mắc làm gì.

Vừa đi vừa nói chuyện, chẳng bao lâu đã tới Sài Gòn. Tài xế rẽ vào ngã ba Hàng Sanh rồi theo sự chỉ dẫn của tôi, đi theo đường Chi Lăng qua Lăng Ông, qua nhà thương Nguyễn Văn Học. Chẳng mấy chốc đã tới khu nhà tôi ở cư xá Chi Lăng, ngay ngã tư Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Xe dừng trước cổng. Tôi bấm chuông. Mẹ tôi ra mở cổng. Trông thấy tôi, mẹ tôi mừng lắm, nét mặt tươi cười rạng rỡ cả lên. Mẹ tôi thấy ông Diệm, liền mời:

– Mời ông vào nhà chơi xơi nước.

Ông Diệm cũng mong về nhà ngay nên thoái thác:

– Xin cụ cho để khi khác. Tôi vội về nhà ngay kẻo các cháu mong. Thế nào tôi và nhà tôi cũng đưa các cháu sang đây chào cụ.

Thông cảm với ông Diệm, mẹ tôi không ép:

-Vậy thôi, để ông về nhà cho sớm.

Ông Diệm lên xe, bảo tài xế vòng xe lại đi về nhà ông ở cư xá Trương Minh Giảng.

Lúc mẹ tôi vừa mở cổng ra, hai con chó của tôi, con Bi và con Lu chạy ra vẫy đuôi đón tôi. Chúng rít lên những tiếng vui mừng, tranh nhau quấn quít bên chân tôi. Bi cao hơn, nó thuộc loại giống chó Phú Quốc, có xoáy trên lưng hình thù như cái bình bông. Lông nó pha đen vàng xám giống như lông mấy con chó Béc-giê. Đôi khi tôi gọi nó là thằng Bình. Còn con chó Lukia, thấp và dài trông cục mịch, lông đen, không nhảy cao được, chỉ tới đầu gối tôi thôi. Cách đây mấy tháng trời không gặp mặt tôi, hai con chó vẫn còn nhớ, đón chào một cách nhiệt tình như thế.

Mẹ tôi giúp mang mấy đồ đạc của tôi vào nhà. Tôi đặt hai cái vỏ đạn chiến lợi phẩm của tôi ở chỗ nhà để xe. Mẹ tôi cầm giùm cây đàn guitar vào nhà. Tôi khuân thùng sách và cái túi ba lô để dưới chân cầu thang.

Tôi ngồi xuống cạnh cái bàn con trong nhà bếp. Mẹ tôi lúc này mới nhìn kỹ tôi hơn, bà nói:

– Sao con gầy thế?

– Tại ăn cơm sấy với thịt hộp không, nhưng con vẫn thấy khỏe, không sao cả. Tóc má cũng bạc đi nhiều. Các em đi làm chưa về hả má?

– Ừ, tụi nó năm giờ chiều mới về tới nhà. Thấy anh về, chắc tụi nó mừng lắm.

Mẹ tôi vừa nói vừa hỏi:

– Con có muốn uống nước chanh không?

Tôi lắc đầu, đáp:

– Cho con ly nước lạnh thôi. Con đang khát nước.

Mẹ tôi đi ra mở tủ lạnh, chợt bà vui mừng nói:

– May quá, còn bình cháo nước lạnh đây. Đang khát mà uống nước này thì đỡ khát ngay.

Vào mùa hè, mẹ tôi thường hay nấu cháo thật loãng, chắt lấy nước, pha thêm chút xíu đường cho ngon miệng rồi để tủ lạnh làm nước uống trong ngày. Tôi thích món giải khát này lắm. Tôi đỡ lấy ly nước cháo trong tay của mẹ tôi. Tôi uống từng ngụm đầy, thấy ngon ngọt vô cùng, uống tới đâu, tôi tỉnh người tới đấy. So với ly nước đá lạnh mà anh bạn Đức cho tôi uống dưới hầm Chỉ Huy thì ly nước này còn ngon và mát hơn nhiều.

Mẹ tôi ngồi nhìn tôi thưởng thức món nước cháo ướp lạnh. Nét mặt bà tươi vui, tràn đầy hạnh phúc. Người mẹ nào mà chẳng vui mừng khi thấy con mình trở về từ địa ngục. Tôi uống hết ly nước, mẹ tôi hỏi:

– Con uống thêm ly nữa nhé!

Tôi vội trả lời:

– Thưa, con đủ rồi. Ly nước cháo ngon quá nhưng không nên uống nhiều. Để từ từ đã, con sợ lâu ngày không uống, dạ dày chưa quen sẽ gây đau bụng.

– Thôi, con lên lầu tắm rửa đi. Mẹ sửa soạn làm cơm, nấu xôi cúng ông bà đã phù hộ cho con. Nhân thể cũng mừng con thoát nạn về đây được an toàn.

Trước khi đi lên lầu, tôi ra ngoài phòng khách đi xem một lượt những đồ vật quen thuộc trong nhà. Mọi thứ vẫn còn nguyên như cũ, chẳng có gì thay đổi. Phòng của tôi ở trên lầu cũng vậy. Tắm rửa xong, tôi cảm thấy buồn ngủ. Tôi vào phòng nhặt tờ báo lên coi, chưa được một phút thì mắt ríu lại. Những mệt mỏi từ mấy tháng nay, bây giờ mới thấm. Nhất là sau một thời gian di chuyển, hết trực thăng lại đi xe hơi về trên một quãng đường gần 100 cây số. Tôi đã thấm mệt và giấc ngủ đến với tôi nhanh chóng.

Tôi ngủ một mạch tới chiều. Tôi chỉ tỉnh dậy khi nghe thấy nhiều tiếng nói lao xao ở dưới nhà. Mở mắt ra. Tôi phải định thần một lúc mới nhận ra là mình đang ở nhà tại Sài Gòn chứ không phải còn ở trong hầm cứu thương ở Bình Long. Tôi nghe tiếng em Minh tôi hỏi:

– Ủa đồ đạc của ai đây má? Anh Quý về hả má?

– Ừ của anh đó, anh mới về trưa nay. Đang ngủ trên lầu.

Tiếng em Tuệ tôi nói:

– Vậy hả má. Thế là bà má mừng nhé.

Tiếng em Nguyệt tôi xen vào:

– Bộ chị Tuệ không mừng sao?

– Mừng chứ. Nhưng bà má mừng nhiều hơn. Con trai cưng của má đã về là bà yên chí rồi. Thế là bây giờ bà má hết rầu rĩ rồi nhé.

Em Tuệ tôi thường hay trêu má tôi nhất.

Rồi tiếng chân chạy nhanh lên cầu thang. Tôi đã tỉnh ngủ hẳn, đứng dậy bước ra khỏi phòng. Tiếng mẹ tôi vọng từ dưới bếp:

– Này, chúng mày để yên cho anh ngủ.

– Không sao đâu má, để cho anh dậy sửa soạn ăn cơm là vừa. – Em Tuệ tôi vừa đi vừa nói.

Tôi thấy ba bộ mặt tươi vui như Tết hiện ra đầu cầu thang. Vừa trông thấy tôi em Tuệ tôi cao giọng:

– Anh ấy khỏe như vậy mà ở nhà bà má cứ lo lắng cho anh ấy hoài.

Em Minh tôi từ tốn hơn:

– Trông anh ấy gầy đi nhiều chứ!

Nguyệt thì chỉ đứng mỉm cười thôi không nói gì. Trong nhà Nguyệt là người ít nói nhất.

Thế rồi anh em chúng tôi lại rần rần chạy xuống bếp ngồi ngay tại bàn ăn nhỏ cho tiện. Những câu hỏi lại được các em tôi thay phiên nhau đặt ra liên miên bất tận. Má tôi sau cùng phải nói:

– Thôi các con ngừng đi, dọn cơm ra ăn không có anh đói rồi.

Em Tuệ tôi nói:

– Anh biết không ở nhà má lo cho anh ghê lắm. Đêm nào tụi em cũng nghe đài BBC thấy nguy hiểm cho anh quá. Có đêm má nằm mơ thấy anh bị Việt Cộng bắt trói trong rừng cây cao su, quần áo trắng bê bết máu. Sáng ra má kể chuyện làm tụi em đứa nào đứa ấy mặt mũi buồn xo. Sau má bèn lên coi ông thầy bói mù người làng. Má vừa mở miệng ra hỏi ông về anh thì ông Mù biết ngay là anh, liền nói: Người con trai của bà, năm nay hạn nặng lắm nhưng nhờ phúc đức ông bà để lại nên tuy vậy mà cũng không sao.

Má lại hỏi về giấc mơ của má, thì ông Mù vẫn nói rằng không có đổ máu đâu. Tiền hung hậu kiết. Má nghe vậy cũng được yên lòng một tí nhưng ngày đêm vẫn lo.

Tôi vội ngắt lời hỏi:

– Thế ông Mù còn nói gì nữa không?

– Không, má chỉ cần hỏi xem anh có an toàn không mà thôi.

Tôi cười nói tiếp:

– Nếu anh là ông Mù thì sẽ đoán rộng ra là cuối năm anh sẽ được thăng cấp, được huy chương thì mới gọi là đoán mò mà hay. Vì sau những trận chiến lớn như vậy ai sống sót được đều có thưởng cả.

– Thôi để em kể tiếp cho anh nghe. Một buổi sáng bà Diệm tới nhà mình nói có mấy bà bạn biết nếu muốn liên lạc với Bình Long thì phải vào ty Bưu Điện Chợ Lớn mới có đường dây. Bà ấy rủ em đi chung vì bà ấy không biết đường. Em phải đi dò hỏi biết bao thì giờ, hẹn lên hẹn xuống, đợi cả nửa ngày mới tới phiên mình được nói chuyện với anh. Rốt cục ông anh lại ít nói quá. Nói có mấy câu rồi cúp. Chẳng hỏi được gì nhiều. Tức quá đi thôi.

Thấy em Tuệ tôi trách móc tôi cũng thông cảm, chỉ còn nước ngồi cười trừ. Tôi nói:

– Điều quan trọng nhất ở nhà muốn biết là anh có mạnh khỏe bình an không. Còn anh thì muốn biết ở nhà có sao không. Nếu mọi sự đều bình thường cả thì những chuyện lẻ tẻ khác đâu có gì đáng để nói đâu. Vả lại cần phải ngắn gọn để cho người khác khỏi phải chờ lâu.

– Đành rằng thế nhưng cũng phải nói một vài câu cho bõ công em chờ đợi, chứ cụt lủn thì chán chết.

Em Minh tôi xen vào, chuyển câu chuyện sang đề tài khác:

– Thế kỳ này anh về được bao lâu?

– Được một tuần. Sau đó chừng một tháng có người thay thế rồi sẽ xin đổi về Sài Gòn luôn.

Mẹ tôi nghe nói vậy mừng lắm. Bà vội hỏi:

– Thế con đã biết được đổi về đâu không?

– Con chưa biết. Nhưng nếu muốn gần nhà chỉ có Tổng Y Viện Cộng Hòa thôi. Nhưng ở đó thì làm việc cũng cực lắm.

– Ừ, gần nhà là được rồi. vất vả một chút cũng không sao.

Tôi cũng nghĩ vậy, cực đến mấy cũng không thể nào bằng những ngày tháng tôi làm việc trong trận chiến này. Hơn nữa về làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, được coi như là một bệnh viện cấp cao nhất trong quân đội, chắc sẽ có nhiều nhân tài, có nhiều cơ hội để tôi học hỏi thêm, có cực một tí cũng không sao.

Bữa cơm gia đình đoàn tụ tuy giản dị nhưng thật vui. Tôi ăn cơm rất ngon miệng. Xong xuôi chúng tôi ra ngồi ngoài phòng khách tiếp tục nói chuyện. Hết chuyện nhà đến chuyện họ hàng. Tôi hỏi thăm tin tức của anh Cương, con trai bác Hai tôi, thì được biết anh hiện đóng ở Kontum ngành Pháo Binh. Mặt đó cũng đang có áp lực nặng của địch. Ngoài ra mọi người khác trong họ đều bình an cả. Trước khi lên phòng, tôi không quên lấy ra hai cuốn phim tôi chụp ở Bình Long đưa cho em Tuệ. Tôi nhờ gửi đi Hawaii rửa vì tôi không tin mấy quán ảnh ở Sài Gòn, sợ chưa rửa được hình màu dương bản. Các em tôi phải đi ngủ sớm để đến mai tiếp tục đi làm.

Ngày hôm sau là ngày tôi đi chào họ hàng. Tôi ra thăm bác Hai tôi, cô chú tôi, và ông anh trưởng tộc, anh Quyền, con trai bác Cả tôi, người rất vui tính, tất cả mọi người đều thích anh ấy. Chính anh là người đã dạy cho tôi chích thuốc, chích thịt, chích mạch, dùng ngay thân thể anh để làm vật thử cho tôi. Thành ra khi tôi vào học Y Khoa tôi đã có kinh nghiệm chích đủ mọi thứ rồi. Gần chiều tôi trở về nhà vì không muốn mẹ tôi ở nhà một mình, sợ bà buồn.

Ăn cơm chiều xong chúng tôi ra phòng khách coi TV. Đến tin chiến sự Bình Long. Những hình ảnh quen thuộc hiện lên. Tôi chợt chú ý khi xướng ngôn viên cho biết Tổng Thống Thiệu đang đi thăm viếng, ủy lạo các anh em chiến sĩ tử thủ ở An Lộc. Hình ảnh Tổng Thống Thiệu đứng giữa các anh chiến sĩ, đằng sau là một xe tăng của địch bị bắn hạ. Nhiều người leo lên cả xe tăng. Tổng Thống Thiệu tươi cười sau khi xuất khẩu đọc một bài diễn văn ngắn ca tụng sự chiến đấu anh dũng của toàn thể quân dân các cấp tại mặt trận Bình Long. Tổng Thống tuyên bố: Tất cả quân nhân tham chiến tại mặt trận Bình Long đều được đặc cách thăng lên một cấp. Vì có công giữ vững được Bình Long qua bao đợt tấn công của địch quân với quân số gấp ba lần, Tổng Thống tặng cho danh hiệu Bình Long Anh Dũng.

Những ngày sau tôi chỉ quanh quẩn ở nhà với mẹ tôi, không muốn đi đâu cả. Tôi biết mẹ tôi đã lo lắng cho tôi quá nhiều, nay tôi thoát hiểm về thăm nhà, tôi muốn dành nhiều thì giờ với mẹ tôi cho bà được vui. Thực ra tôi cũng chẳng thích đi chơi nếu không có gia đình cùng đi. Tôi có nhiều sách báo truyện ở nhà tôi tha hồ đọc. Tôi chẳng thấy buồn chán gì cả.

Thấm thoát đã hết một tuần phép. Đến ngày tôi trở lại Bình Long, ông Diệm cho xe tới đón tôi lên Lai Khê rồi từ đó đi trực thăng trở vào An Lộc. Tôi tới nơi vào khoảng 3 giờ chiều. Xuống máy bay tôi đã thấy có xe Hồng Thập Tự ra đón. Thì ra ông Diệm đã liên lạc với Bộ Chỉ Huy sau khi rời Lai Khê, cho biết ngày giờ tôi lên nên mọi sự mới được ăn khớp như vậy.

Bước trên từng bậc thang xuống hầm, tôi đi qua Phòng Mỗ tới phòng tôi. Vừa bước vào đã thấy anh Phúc nằm ngước mắt lên nhìn trần nhà như đang nghĩ ngợi điều gì. Tôi chắc đàn anh lại nhớ tới vợ thôi chứ chẳng có việc gì khác. Nghe thấy tiếng động, anh Phúc nhìn ra, thấy tôi anh vội nhổm dậy nói:

– Anh thật hên, ở Sài Gòn anh có nghe tin gì không?

Tôi ngơ ngác hỏi:

– Không, mà chuyện gì vậy anh?

Anh Phúc thở ra nói:

– Mới ngày hôm qua thôi, một phái đoàn cố vấn Mỹ tới thăm, vừa ra khỏi trực thăng di chuyển về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu thì bị một trái 75 ly của Việt Cộng bắn trúng làm một thông dịch viên và hai sĩ quan Mỹ chết ngay tại chỗ. Một thiếu tá Mỹ gẫy tay, còn ông Thiếu Tướng Tallman bị thương trầm trọng mang vào hầm này cấp cứu. Nhưng người Mỹ này nặng lắm. Mang được vào vào hầm rất là khó khăn, vất vả lắm mới khiêng được vào để trên bàn mổ. Nhưng vết thương nặng quá không thể làm gì được. Chỉ băng bó xong, truyền nước biển rồi có ngay trực thăng chở về Long Bình. Thật là náo loạn cả lên, khẩn trương vô cùng. Lúc đó chỉ có mình tôi lo đủ mọi thứ, nếu có anh thì đỡ cho tôi hơn. Anh hên thật, đỡ phải chịu những những cảnh giật gân khổ sở như vậy. Khi phái đoàn bị trúng đạn, nằm la liệt ở ngoài bãi đáp, họ gọi xe Hồng Thập Tự cùng bác sĩ đem đồ tới cấp cứu rồi chở những người bị thương về đây. Chỉ có mình tôi chỉ huy mấy tay y tá mà tới năm, sáu người vừa chết vừa bị thương lại còn sợ chúng pháo nữa vì ở ngay khu trống trải. Địch quân ở trên đồi gió trông xuống rõ mồn một. Thực là khủng khiếp. Tới lúc máy bay trực thăng tản thương tới, bốc hết nạn nhân đi xong tôi mới hoàn hồn, thân thể rã rời, mệt mỏi lạ lùng.

Tôi thấy tôi may mắn thực. Tôi đã không phải chịu cảnh kinh hoàng đó. Mà cũng tội cho anh Phúc phải ra tay nhận lãnh một số thương binh nhiều hơn là y tá của mình. Đồng thời anh lại không phải là bác sĩ giải phẫu cấp cứu, nên điều hợp những việc này thật ngoài tầm tay của anh. Nhất là người bị thương lại là một sĩ quan cao cấp của Mỹ.

Tôi an ủi anh:

– Rồi cũng xong, phải không anh? Định mệnh đã an bài. Khi Tổng Thống Thiệu đến đây sao êm, không một trái pháo nào vậy. Tôi thấy cũng lạ. Ông Tổng Thống hên thật. Còn ông Tướng Mỹ này thì lại xui cùng mình. Thế Đại tá Nhựt có sao không anh?

– Mạng ông ấy lớn lắm. Không hiểu sao hôm ấy ông không ra đón.Thường thường có Tướng tới thăm, ông Tỉnh Trưởng hay thân hành ra đón lắm. Nếu ông Nhựt mà ra bãi đáp là lãnh thẹo rồi. Đúng là con người có số mạng. À mà anh về kỳ này thấy có tin tức gì mới không?

– Không, tôi về cũng chỉ ở nhà thôi không đi đâu cả. Nên không biết gì hơn anh ở đây. Nhưng dù sao tôi thấy chúng mình cũng sắp sửa được đổi đi chỗ khác rồi.

Trên một dòng sông

Nguyễn Lê Hồng Hưng

  Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung. Thương nhau xin chớ ngại ngùng, sông sâu cũng lội rậm rừng cũng băng. (ca dao)  Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.  Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.  Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:  – Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.  Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.  Hải với anh Tài ngồi nhậu bia ăn tôm luộc. Anh Tài vắn tắt câu chuyện. Sau khi Hải đi, Thành Đất hỏi cưới Lệ rồi hai vợ chồng dắt nhau xuống Cái Đôi làm nghề đáy hàng khơi. Hải lặng thinh và trong lòng mênh mang niềm nhớ… Hồi sau anh Tài hỏi Hải:
– Mầy có muốn tao nhắn cô ấy về chơi hông? Hải hớp một hớp bia, bóc con tôm lột vỏ bỏ vô miệng, nhìn ra giữa dòng sông.
– Về còn gặp lại anh cho tá túc là may lắm rồi, làm phiền cô ấy nữa không nên.
– Nhưng mà… mầy… mầy còn ở đây được bao lâu?
– Khi nào sơn, sửa xong mả của ba má tui thì tui đi.
– Mày còn về đây nữa hông?
– Tui cũng hổng biết nữa.
– Nhưng mà…  Hình như anh Tài muốn nói thêm điều gì nhưng ngại không nói, anh ngập ngừng rồi bưng ly lên cụng.
– Uống đi mầy.
– Đêm nay anh cho tui theo đóng đáy với.
– Đêm nay con Dung đóng đáy, mầy muốn thì đi theo nó.
– Ừa cũng được.  Dung là đứa con gái đầu lòng của Tài, con nhỏ hồi anh đi nó đâu hơn mười tuổi gì đó, bây giở đã thành thiếu nữ. Trong lúc cột xuồng chờ con nước ròng anh hỏi Dung:
– Cháu có bồ chưa? Dung trả lời tỉnh bơ:
– Cháu đen thui thùi lùi như vầy ai mà thèm chú. Hải day lại nhìn Dung, trong ánh đèn bão đủ sáng cho anh ngắm nghía thân thể đầy đặn, khoẻ mạnh, cặp ngực vun tròn nhô ra như muốn bứt tung hàng nút áo bà ba, nước da bóng màu xô-cô-la nguyên chất, mặt tròn không một vết mụn, trên môi lúc nào cũng tươi cười, cái nhan sắc ấy chỉ có ở những cô gái miền sông nước Amazon. Ngặt ở đây, cái xứ tận cùng đất nước Việt Nam, trong thì đồng, rẫy, ngoài thì biển xanh. Người ta chỉ chuộng những cô gái nước da trắng trẻo, ốm yếu chớ không biết chiêm ngưỡng một thân thể mặn mà, đầy đặn và tràn đầy sức sống.
– Mấy thằng con trai miệt nầy đui hết rồi mới hổng thấy cháu đẹp. Nghe Hải khen cô nhỏ cúi đầu mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát Dung ngước lên:
– Ở trong xóm mấy anh con trai kêu con là Dung đen.
– Mai mốt thằng nào kêu con như vậy, thì con cứ nói lại, các anh có mù mắt hông, tui màu xô cô la chớ hổng phải màu đen, đồ ngoại chánh hiệu đó.
– Ai nói dzậy, kì thấy mồ à. 

*
Nước bắt đầu chảy, hai chú cháu cài đáy. Chui đáy xong, buộc xuồng vô cột đáy ở giữa dòng. Trong khi chờ đổ đục, mở cát sét lên nghe nhạc. Cô lấy bánh dừa ra lột vỏ đưa cho Hải, hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Dung hỏi: – Hồi đó chú với cô Tư sắp cưới nhau rồi chú đi phải hông? Thấp thoáng dưới ánh sao trời, Hải trông gương mặt Dung giông giống Lệ. Hải nhớ cái đêm sắp xếp cho chuyến đi, cũng giữa dòng sông nầy, Lệ đã tặng cho anh của quí nhứt đời người con gái, khóc nức nở, hứa đợi chờ, vậy mà anh ra đi chưa đầy một năm thì cô ấy đã lấy chồng.
– Con biết rồi sao còn hỏi chú.
– Con muốn biết chú còn thương cô Tư con hông?
– Ngồi đây chú lại nhớ hồi chia tay với cô con.
– Cô con nhớ chú lắm, trước đây thấyViệt kiều dìa, cô cứ ngong ngóng, hỏi tại sao không thấy chú dìa, bây giờ chú dìa sao hổng đi thăm cô.
– Cô con đã có gia đình rồi, chộn rộn làm gì.
– Còn thằng Đợi chú hổng muốn gặp nó sao?
– Thằng Đợi nào?
– Ủa! Con của chú bộ chú hổng biết hả?
– Con chú!  Hải điếng hồn không nói thêm được lời nào. Nhìn lên bầu trời sao dầy đặc, cúi xuống nước ròng đương chảy xiết, anh vói tay khoát nước rửa mặt, lắc lắc cái đầu cho tỉnh. Nhớ lại những ngày sắp chia tay, ban ngày anh với Lệ ôm ấp với nhau trên chòi, tối xuống xuồng đóng đáy giữa dòng sông, làm chuyện xui xẻo trên xuồng, bất chấp phong tục cấm kỵ… Anh day qua nói với Dung:
– Chuyện trước kia chú với cô Tư cháu thương nhau chú biết, còn những chuyện xảy ra sau nầy chú hổng biết gì hết cháu à.
– Ba con sợ chú biết nhưng chú hổng muốn nhìn, ổng dặn cả nhà nếu chú hổng hỏi thì không ai được nói.
– Hồi chú đi ra tới ngoải, chú có gởi thơ dìa cho cô Tư con cả mấy chục lá, nhưng thư đi mà hổng thấy thư dìa, chú buồn hết sức vậy đó, chú tưởng ở nhà thất tán đâu đó. Sau nầy chú nghe bà chị của chú ở Úc nói cô Tư con đã có chồng rồi nên chú hổng viết thư nữa, thời gian đó chú như người khùng. Chú chỉ biết tới đó, sau nầy chuyện xảy ra cho cô con chú có biết gì đâu. Đầu đuôi ra sao con kể hết cho chú nghe đi.
– Hồi chú đi cô Tư bịnh liên miên, ói mửa, cô nằm vùi, mấy tuần sau cô mới biết mình mang bầu. Lúc đó cô như điên như dại, khóc hoài có khi ngồi một mình nói lảm nhảm như mắc nàng dưới. Ba con sợ chuyện xấu đổ ra ngoài nên sẵn dượng Thành, à chú còn nhớ dượng Thành lúc đó phụ mần đáy với ba con hông?
– Nhớ chớ, thằng Thành Đất chớ ai.
– Đúng rồi, lúc đó dưỡng cũng thương cô, ba con mới khuyên cô ưng dưỡng, cuối cùng cô Tư con đâu cách nào khác cổ đành nhắm mắt đưa tay, nhưng cổ nói thẳng cho dượng Thành biết cổ đã mang bầu với chú, chịu thì cưới không chịu thì thôi. Lúc đó dượng mê cô như điếu đổ cái gì cũng chịu, dưỡng còn nói chú với dưỡng là anh em kết nghĩa, con của chú cũng như con của dưỡng.
– Bây giờ hai người ra sao?
– Mần ăn cũng khá, cô còn sanh thêm cho dượng Thành hai đứa nữa vậy mà dưỡng vẫn thương thằng Đợi như con ruột của mình. Thiệt vậy ngày xưa Hải và Thành là anh em kết nghĩa, tánh tình nó rất thật thà, từ ngày kết nghĩa anh em với nó cho tới ngày Hải bỏ đi, anh chưa bao giờ nghe thấy nó giận ai và chưa hề gây gổ với bất cứ người nào, nhà nghèo chăm chỉ làm ăn và hiền như cục đất, vì vậy nó mới có tên Thành Đất.
– Bây giờ chú tính làm sao?
– Theo con chú phải làm sao đây?
– Chú gặp cô Tư con đi.
– Gia đình cô ấy đương cơm lành canh ngọt con à.
– Con nghĩ dượng Thành cũng không tệ lắm đâu. Hải chưa biết tính sao thì Dung đề nghị:
– Hổng ấy chú để con nhắn qua cô, nói chú đã về coi cổ tính sao.
– Ừ con tính sao thì tính miễn đừng làm xào xáo gia đình cô ấy là được. 

*
Những ngày sau đó Hải để hết tâm trí cùng với anh em thằng Bình và An sửa sang, sơn phết lại hai ngôi mả của ba má anh, chuyện của Lệ anh phó mặc cho Dung và gia đình. Tuy vậy lòng anh cũng nôn nóng như lửa đốt, hổng biết sắp tới đây chuyện lành hay chuyện dữ? Đến ngày thứ ba thì hai ngôi mộ của ba má sửa sang lại coi như đã xong. Anh và hai đứa thợ đương đứng ngắm nghía hai nấm mồ nước sơn còn ướt. Chợt Dung đi ra mặt hớn hở hỏi: 
– Xong chưa chú?
– Xong hết rồi, con coi coi có được hông?
– Đẹp lắm chú. Thấy cô nhỏ hấp tấp trả lời anh bèn hỏi:
– Có chuyện gì mà trông con hớt hải dậy?
– Cô Tư mới vừa dìa. Tuy biết trước chuyện sẽ đến nhưng trong lòng anh lo lắng bất an. Nhìn hai đứa nhỏ lom khom dọn dẹp đồ đạc định đi về, anh mượn cớ trì hoãn bằng cách mời hai đứa thợ đi ra tiệm ăn cơm. Day qua Dung Hải hỏi:
– Con đi ăn với chú hông?
– Chú hổng về liền được sao?
– Nhưng cho thợ thầy người ta ăn cơm cái đã. Dung miễn cưỡng gật đầu:
– Vậy cũng được, nhưng mau mau nghe chú, cả nhà đương chờ chú đó. Dung quày quả bước đi, Hải day qua hỏi:
– Hai đứa bây thấy con Dung ra sao? Bình ngước lên nói:
– Con nhỏ đen như cột nhà cháy. An cãi:
– Nâu chớ đen đâu mà đen, ông nói cho cố. Hải vỗ vai An: – Mày chấm nó chỗ nào. – Ngực, mông hết xẩy chú.
– Chỉ có hai chỗ đó thôi hả? Nghe anh hỏi ngặt thằng nhỏ đứng gãi đầu. Thấy thằng nhỏ bí lối, anh câu vai nó nói:
– Nhưng mầy chịu cặp ngực và cặp mông của nó hông? Tao làm mai cho.
– Con nghèo quá chú.
– Bộ nghèo rồi hổng có vợ sao? Nhưng thôi, dẹp cặp ngực và cặp mông qua một bên, mình đi ăn cái đã. Hải kêu chủ quán dọn một bữa cơm thiệt ngon và bia lon ướp lạnh cho hai anh em Bình, An ăn, còn anh thì uống bia khan. Đầu óc cứ nghĩ đến chuyện gặp gỡ lát nữa đây, người ta nói chia ly là khổ, còn xum vầy là vui. Còn anh thì đương khổ sở cho cuộc xum vầy. Thằng Bình thấy anh cứ trầm ngâm và ngước cổ nốc bia, nó nhắc chừng:
– Theo con bữa nay chú uống ít thôi. Hải nốc một ngụm bia, nhìn qua hỏi:
– Mầy biết chuyện gì hông?
– Chuyện của chú nổi như cồn, cả xóm mình ai hổng biết.
– Nổi như cồn à, sao tao hổng biết gì ráo. An nói vô:
– Thôi chú dìa giải quyết chuyện gia đình đi, con nghĩ mọi chuyện trơn tru thôi, chú khỏi phải lo nghĩ nhiều quá.
– Hai đứa nghĩ dậy sao?
– Con nghĩ ai biết hoàn cảnh của chú đều nghĩ vậy hết.
– Bình, An chú phải tin dị đoan thôi, gặp hai đứa chắc chuyện gì thì cũng… bình an hết trọi. Ba người cùng cười và đưa ly lên cụng:
– Thôi chú dìa đây, chừng nào xong chuyện chú làm mâm cơm cúng ông bà, chú sẽ mời hai đứa tới nhậu một bữa chết bỏ.

*

Khi Hải vừa bước tới cửa thì Thành từ trong nhà phóng ra ôm anh vừa mếu máo vừa nói:
– Anh dìa, em mừng quá. Nổi lo âu của Hải được thay bằng niềm xúc động mênh mang, anh trấn tỉnh lại:
– Vô nhà cái đã, từ từ rồi anh em mình tâm sự sau. Hải câu vai Thành đi vô nhà, thì Lệ cũng từ nhà dưới đi lên.
– Sao mà ai cũng khóc hết vậy nè? Hải muốn trấn an mọi người nhưng chính ngực anh cũng đã nghẹn khi thấy một đứa con trai nép bên Tư Lệ giống anh như đúc. Anh tới ngồi xuống cạnh bên nó, vuốt tóc hỏi nhỏ:
– Con là Đợi phải không? Nó gật đầu. Hải ôm nó vào lòng, nó mắc cỡ xô anh ra và lao nhanh xuống nhà dưới. Anh đứng lên hỏi Lệ:
– Đi đường xa em có mệt lắm hông? Cô lắc lắc đầu mặc cho nước mắt tuông chảy lên hai gò má. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài Hải ngó ra anh thấy trước cửa hàng xóm bu đầy nghẹt, anh lúng túng không nói được gì. Thành như hiểu ý anh nên bỏ đi xuống nhà dưới. Anh Tài từ dưới nhà đưới đi lên nói:
– Thôi mình ra nhà sau ngồi lai rai nói chuyện. Day ra anh nói với đám người tò mò còn lấp ló phía trước:
– Hôm nay, gia đình tôi đoàn tụ và có chút chuyện riêng xin bà con thông cảm cho nhé. Bà con từ từ giải tán. Mọi người kéo nhau đi xuống nhà dưới. Đồ ăn đồ nhậu đã được ba người đàn bà dọn đầy bộ ván. Thành kêu Lệ:
-Em với thằng Đợi qua ngồi với anh Ba, cho cha con quen nhau cái đã. Nhờ Lệ ngồi cạnh bên nên thằng Đợi mới dám lên ngồi gần, hai đứa em nó thấy vậy cũng chen vô ngồi sau lưng má nó. Cả nhà ngồi quây quần trên bộ ván rộng. Anh Tài bưng rượu lên:
– Hôm nay mỗi người phải uống để mừng gia đình mình xum hợp. Chú Ba tui mời chú trước. Hải bưng ly nốc cạn dằn cái cảm giác gờn gợn rùn người. Gia đình xum hợp! Vui quá xá chớ! Kể từ khi hay tin ba má anh qua đời, anh chị em tứ tán, Hải chưa bao giờ nghĩ mình còn có một gia đình trên quê hương xứ sở. Nếu ngày xưa không có chuyện chia lìa thì giờ đây bên anh là vợ, con, kia là anh chị vợ và thằng em kết nghĩa. Bây giờ mọi chuyện đã đảo ngược đâu vô đó hết rồi. Hải vuốt tóc thằng Đợi, hỏi:
– Ai đặt tên cho con? Nó bẽn lẽn cúi đầu:
– Hổng biết. Thành chen vào.
– Bả đặt đó chớ ai, Đợi có nghĩa là đợi anh dìa đó.
Lệ mắc cỡ mắng chồng:
– Cái thằng cha mắc dịch. Té ra Hải cũng còn có những người chờ đợi anh nơi bến sông nầy, vậy mà từ lâu nay anh nào hay nào biết. Anh Tài rót rượu vừa đưa từng người vừa nói:
– Bây giờ dùng món đặc sản của dượng Tư đem từ dưới Cái Đôi về cái đã. Lệ đập vỏ càng cua, lấy thịt bỏ vô chén cho Hải. Hải bắt chuyện hỏi Thành:
– Bộ ở đây hổng có cua, vọp sao mà phải đem từ bển qua?
– Ở đây làm gì còn anh, cua em nuôi, vọp phải đặt dưới miệt Năm Căn mới có.
– Hồi đó mấy thứ nầy anh em mình xách bao xách mốc ra rừng một lát đem dìa cả đống, nhậu hổng hết chia cho bà con mặc sức mà ăn.
Anh Tài chen vô:
– Ôi người càng đông của càng hiếm con người tham lam càng nhiều, tranh dành với nhau từ rừng rú tới dòng sông, người nầy xâm phạm của người kia một chút thì chửi bới ỏm tỏi lên, đôi khi chỉ vì con cua, con vọp mà quánh lộn với nhau dập đầu chảy máu.  Họ nói chuyện đời sống một lát, cũng trở lại chuyện riêng tư của Hải. Anh nói với Lệ:
– Hổng biết thì thôi, biết rồi thì tôi phải có bổn phận. Anh hỏi việc học hành của thằng Đợi, Lệ cho anh biết nó học hết lớp năm rồi nghỉ. Anh day qua hỏi thằng nhỏ: – Con muốn đi học nữa hông? Nó lắc đầu.
– Hông, lớn rồi, đi học người ta chọc quê. Hải thấy mình không nên xen vô chuyện gia đình của Lệ nhiều quá. Anh mới nói:
– Tùy chú Thành với Lệ tính sao cho nó cũng được, số tôi phong trần thì đành phải phong trần vậy, ở nhà có khó khăn gì thì cứ cho tui hay, khả năng của tui tới đâu tui phụ tới đó.
– Anh dìa nhìn nhận con để sau nầy nó khỏi tủi thân là được rồi. Tư Lệ vừa nói vừa lau nước mắt. Thành chen vô:
– Ngày mai tui phải dìa bển sớm, để bả với thằng Đợi ở lợi chơi với anh vài ngày. Chừng nào anh đi thì tui qua tiễn anh. Sáng hôm sau, trong lúc Thành sửa soạn trở về Cái Đôi vàm, trên chiếc ghe đóng đáy hàng khơi, cái máy Yanmar đầu xanh thời ông Thiệu chưa làm tổng thống đã đổi ra màu đen, Thành quây cà ì cà ạch hồi lâu mới nổ bành bành, khói đen phun ra mù mịt. Hải nói:
– Máy Yanmar đầu đen chớ đầu xanh khỉ mốc gì. Sao chú hổng thay máy khác? Thành than:
– Chưa đủ tiền anh.
– Chừng bao nhiêu mới đủ?
– Nếu có hai cây nữa thì em đổi máy mới.
– Được rồi anh sẽ cho chú hai cây.
– Ý chết cha, em đâu có hỏi.
– Anh tự nguyện mà.
– Anh có lòng tốt giúp em, em cám ơn nhiều lắm, nhưng thong thả đi cái đã. Thành chỉ vô cái máy nói:
– Coi cà tàng vậy đó mà chưa bao giờ nằm đường hết anh.
– Thôi chú đi đi, chúc chú mầy con nước nầy tôm cá đầy ghe. Hải nhảy lên bờ tháo dây mũi liệng qua cho Thành. Hải vịn mũi nghe, chờ Thành khoanh dây lại rồi ra sau cầm lái, anh mới đẩy mũi ghe vạt ra lấy trớn để Thành vô số, rồ ga cho ghe chạy. Khi cơn xúc động đã lắng xuống, mọi chuyện trở lại bình thường, Hải nghĩ, đối với Lệ và thằng Đợi anh thương lắm và tội nghiệp cho Thành Đất đã gánh gánh nặng cho anh, chắc hẳn anh phải có trách nhiệm với những người nầy. Anh định trước khi rời khỏi thị trấn ven biển anh đưa cho gia đình Thành Đất số tiền anh đã hứa, phần còn lại anh ngao du một chuyến ra Bắc.  Nào ngờ hôm sau, trời mới hừng đông, Hải đương ngủ ngon, chợt Lệ vô buồng đánh thức anh dậy:
– Anh Ba, gia đình có chút chuyện muốn bàn với anh.
Hải ngồi dậy dụi dụi mí mắt cho tỉnh ngủ rồi đứng dậy đi theo Lệ. Ở nhà dưới đèn thắp sáng chưng, vợ chồng anh Tài ngồi trên bộ ván. Giữa bộ ván một mâm trà bánh còn nguyên, hai người như có ý chờ Hải. Lệ lấy khăn và bàn chải đưa cho anh. Hải ra sàn lảng sau nhà đánh răng rửa mặt. Xong. Anh trở vô ngồi cạnh bên Lệ. Nhìn ai cũng ra vẻ khẩn trương làm anh nhột nhạt. Lệ rót nước trà cho Hải, anh hớp một hớp nước, để xuống. Anh Tài hớp một hớp trà rồi cất tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:
– Thiệt ra thì tui mời chú xuống đây là muốn nhờ chú một chuyện.
– Chuyện gì anh? Hải hỏi.
– Ý tui là muốn nhờ chú bảo lãnh con Dung ra ngoải, chú thấy có được hông? Nghe hỏi bất ngờ làm Hải lúng túng hồi sau anh mới tìm ra câu nói:
– Dìa đây tui hổng có ý định gì hết, bổng nhiên lòi ra thằng Đợi, bây giờ anh tính thêm chuyện nầy nữa. Hải ngó qua Lệ:
– Theo em, em thấy sao? Lệ không nhìn thẳng Hải mà cúi xuống ly trà, nói: – Anh coi coi, giúp được cháu thì giúp.
– Hổng phải vậy đâu, tui thấy những cô gái ở niền quê ít học ra phố nếu không đi ở mướn thì cũng trở thành gái làm tiền. Ra nước ngoài cũng vậy thôi, nếu không có nơi nương tựa thì các cô cũng lang thang trôi nổi trong cái thế giới xô bồ xô bộn của tây phương. Còn tui thì cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó, không bà con thân quyến, nơi xứ lạ quê người, đem cháu sang rồi bỏ cháu bơ vơ một mình đâu có được. Anh Tài nằng nặc:
– Hổng lẽ chú cứ lông bông hoài sao?
– Chuyện đột ngột quá anh chị cho tui thời gian suy nghĩ cái đã. – Ừ cũng được, quan trọng là chú mầy chịu nó hay không. Chịu nó! Hải nghĩ bụng, ông anh định chơi cha chắc.
– Thôi được, chuyện nầy tui sẽ trả lời sau. Câu chuyện tạm ngưng lúc trời sáng bửng. Dung với thằng Đợi đi đổ đáy vừa về tới. Hải kêu thằng Đợi thay đồ và rủ má con nó ra quán ăn sáng, tiện dịp anh bàn chút chuyện. Thằng Đợi xin tiền đi chơi chớ không theo. Hải để ý, từ ngày gặp con cho tới nay, không bao giờ thằng nhỏ theo anh, ngoại trừ những lúc cần tiền mới tới hỏi xin. Mới chừng đó tuổi mà đi hết bàn bi da này qua tới quán Karaoke nọ, có bữa anh thấy nó uống bia nữa. Trong quán phở, ăn xong Hải hỏi Lệ:
– Hình như em nuông chiều thằng Đợi có hơi quá mức.
– Anh Thành đó, mỗi khi em rầy nó là ảnh binh.
– Con cưng là con hư, nhưng nói là nói vậy chớ anh làm sao có quyền chen vào chuyện gia đình em. Lệ cầm muỗng quậy quậy ly trà đá, mắt nhìn nước trà đương sóng sánh trong ly, cô nói:
– Anh có trách em cũng hổng sao, ngặt vì thương anh nên ai cũng chiều thằng Đợi.
– Cám ơn em và chú Thành đã lo lắng cho nó.
– Anh khách sáo làm gì, anh Thành cũng thương anh, cho tới nay ảnh còn mặc cảm có lỗi với anh đó.
– Chú ấy đã săn sóc mẹ con em trong những ngày em khổ sở, hết kiếp nầy hổng biết anh có đền ơn nổi cho chú hông đây.
Hải móc sổ địa chỉ ra đưa cho Lệ:
– Em ghi địa chỉ ở Cái Đôi cho tui.
– Bộ anh tính đi hả?
– Chưa, tui nán lợi chơi với em và thằng Đợi vài ngày. Lệ đổi giọng:
– Còn chuyện con Dung anh tính sao?
– Theo em tui phải tính sao đây?
– Thì anh coi giúp được cho cháu thì giúp đi.
– Đơn giản như vậy sao?
– Em thấy nhiều Việt kiều dìa cưới vợ cũng đơn giản dậy thôi. Anh lớn tuổi rồi cần phải có gia đình chớ. Hơn nữa trong họ hàng ai cũng thương anh, muốn gả nó cho anh anh còn đi đi dìa dìa, chớ hông thôi anh đi biệt xứ.  Biệt xứ! Hải nhìn ra ngoài, ánh nắng đã lên cao. Người đi chợ cũng thưa dần. Đây là quê hương xứ sở của anh, kia là người thân thân thuộc, chơn tình biết mấy.
– Thôi được, để thong thả rồi tính. Bắt đầu từ hôm đó gia đình Tài coi Hải như người nhà. Ngày Dung lo miếng ăn, tối lo giũ chiếu giăng mùng, soi muỗi cho anh. Ban đêm Hải theo Dung đóng đáy. Từ ngày có Hải đi theo, cô nhỏ vui sướng vô cùng, Dung có cảm tưởng đi đóng đáy là cuộc phiêu lưu, thám hiểm hơn là chuyện mầm ăn, cho nên cô cứ nôn nao trong lòng mỗi khi con nước lớn vừa chựng lại. Khi nước bắt đầu ròng họ chui đáy xong đâu đó. Dung mở máy cát sét rồi cô đi lại ngồi cạnh Hải. Những năm luân lạc xứ người, không khi nào Hải mơ tới đàn bà Việt Nam. Các bà ngoài ấy cao xa quá, còn anh trước mắt họ bất quá chỉ là một tên vô gia cư. Mười mấy năm qua, anh không bao giờ dám ước mơ có một mái ấm gia đình. Hôm nay về đây tuy cảnh vật và người thương đã thay đổi nhưng anh không thấy mất mát điều gì. Trước một người con gái mơn mởn như hoa mùa xuân và dòng sông bon bon nước chảy, làm anh sống lại thời mới lớn. Tim anh đập, tay anh run run ôm cô gái trẻ, lòng thầm cám ơn bà cậu của miền sông nước… Anh ngất ngây theo tiếng hát du dương truyền cảm tỏa trên mặt sông: “ … Anh ơi chim kia bay về tổ ấm, nước cũng xuôi về nguồn …”

*

Vậy là thời gian Hải dành cho chuyến du ngoạn ra Bắc coi như đi đứt. Chuyện đám tiệc theo Tài thì không khỏi phải rườm rà, chỉ nấu một mâm cơm làm lễ ra mắt ông bà đủ rồi. Hải kêu Dung nghỉ đóng đáy đi với anh ra thị xã mua sắm áo quần và bông đeo tai. Bữa tiệc thay cho đám cưới ngoài người trong gia đình ra, Hải chỉ mời anh em thằng Bình và thằng An tới. Hai đứa ngồi nhậu mà cứ nhìn anh cười cười như có ý chọc quê. Sau bữa tiệc, Thành Đất chở vợ con về Cái Đôi vàm. Còn Hải lên thành phố đổi vé máy bay trở về Âu châu để lo thủ tục bảo lãnh.

*

Mọi chuyện xong xuôi trong vòng sáu tháng. Dung là vợ chánh thức của Hải từ khi cô nhỏ tới đất Âu châu nầy. Chờ Dung học xong khóa ngoại ngữ lấy xong bằng lái xe, hai người mới quyết định có con. Nhờ khoẻ mạnh Dung sanh rất dễ dàng, hai năm Dung sanh liên tiếp hai đứa con trai, thấy vợ cực khổ với hai đứa nhỏ Hải kêu ngưng nhưng Dung muốn có thêm đứa con gái, vậy là cô mang bầu sau đó đẻ thêm thằng con trai nữa. Anh biểu nghỉ nhưng Dung ham con gái quá, nằng nặc đòi mang bầu, nhờ trời thương đứa thứ tư cho ra con gái, có như vậy cô nhỏ mới chịu treo buồng trứng.  Từ ngày có Dung Hải xin việc làm dây chuyền trong một xưởng sửa xe. Dung may thuê vá mướn, dư ra đồng nào gởi về đồng nấy, một bên gia đình ba má Dung, một bên là cho vợ chồng Thành Đất. Bây giờ dân số trong gia đình anh tăng thì chi phí cũng tăng theo. Dung ôm bốn đứa con đâu có đi làm gì thêm. Còn lương tháng của anh trang trải nhà cửa, mua sữa và tã lót cho mấy nhỏ, ăn uống cũng phải dè sẻn mới đủ. Ấy vậy bên nhà hổng biết mần ăn ra sao mà tiền gởi về y như gió luồng nhà trống. Thư cứ gởi qua hỏi tiền lúc đầu còn nói năng tử tế, dạo sau nầy hỏi thẳng kê những món cần xài ra hàng lô hàng lốc, những con số đọc lên thấy phát chóng mặt, tối thiểu một ngàn đô, khi thì cả chục cây vàng. Có lần ở nhà nói ba Dung bịnh gần chết, kêu gởi tiền về thang thuốc, làm Dung hoảng lên. Hải phải xin ngày nghỉ ở nhà giữ con cho Dung bay về bển. Nhưng Dung về vừa tới phi trường, cô tức muốn ói máu khi thấy ông già đứng đón tỉnh bơ trước cửa phi trường. Dung ở lại một tuần, dốc túi đưa hết số tiền đem theo lo cho ba bịnh, rồi bay trở về vừa khóc vừa kể cho Hải nghe.  Đó là gia đình ông Tài chớ thật ra thì với vợ chồng Thành Đất anh có cho thì gởi thư cám ơn, không thì thôi chớ chưa bao giờ biên thư hỏi tiền. Mới đây Lệ có gởi thư qua nói, thằng Đợi xách dao rượt chém Thành Đất rồi bỏ nhà đi. Đọc thư xong Hải cảm thấy buồn buồn cũng như lần đầu nhận con mình, anh đã cảm thấy cái hạnh thằng nhỏ không được tốt rồi. Vì vậy chuyện nó đánh ba nuôi nó là do bản tánh mất dạy của nó chớ hổng phải lỗi tại Thành Đất . Anh thấy càng liên lạc bên nhà bao nhiêu càng thêm rắc rối bấy nhiêu, vì vậy anh giao hết tiền bạc cho Dung. Anh dặn:  Em làm sao thì làm miễn đừng để mấy đứa con thiếu thốn là được rồi.  Từ đó hễ ở nhà hỏi tiền thì ít nhiều gì Dung cũng gởi, gởi xong tối nằm thao thức, nén tiếng thở dài. Dung sanh ra chứng mất ngủ và kinh nguyệt cũng theo đó không đúng chu kỳ, thân thể vạm vỡ của Dung mỗi ngày một sa sút, da dùn, mặt mày rũ rượi trán có vết nhăn. Mới đây nhận thêm thư nhà Dung đem cho anh xem. Trong thư nói thằng Đợi về ở với cậu Hai, tức là ông già vợ của Hải, nó hỏi xin tiền mua chiếc Dream II và ở nhà xây thêm cầu tiêu và bồn tắm tổng cộng năm ngàn đô, xem thư xong Hải trao lại cho Dung:
– Em tính sao cũng được. Đêm khuya Dung đánh thức Hải dậy, cô nói trong tiếng khóc:
– Anh ơi anh. Gì vậy em? Mình tính sao đây ? Từ lúc Dung sanh chứng mất ngủ cho tới giờ, tuy Hải không nói ra nhưng lúc nào anh cũng chú ý đời sống tinh thần của vợ. Đến nước nầy anh cần phải lên tiếng thôi.
– Em nín khóc đi. Hải ngồi dậy lấy bình nước rót một ly đưa cho Dung.
– Em uống đi, rồi nằm xuống hít thở một lát rồi ngủ, chuyện bên nhà để bên nhà lo khi nào vợ chồng mình giàu có rồi tính. Anh sẽ viết thư nói cho ba biết hoàng cảnh của gia đình mình.
– Ba má em thì được rồi nhưng còn thằng Đợi?
– Năm nay nó đã ngoài hai mươi rồi, nó biết cầm dao rượt chém ba nuôi nó, thì nó phải đủ bản lãnh ra đời kiếm sống, em nên dồn hết tâm trí lo cho bốn đứa con của em kìa. Xe trước lật rồi, xe sau tránh, hy vọng còn vớt vát lại mấy đứa nhỏ. Thấy vợ bớt căng thẳng anh chỉ tay lên trán Dung pha trò:
– Đẻ cho cố rồi lo. Dung bấu mạnh vai chồng lấy đà nằm xuống phủng phịu:
– Em muốn đẻ nữa. Hải kê gối gối đầu và kéo mền đắp cho vợ xong, anh nằm xuống cạnh bên và luồn tay xuống dưới dạ bụng mân mê:
– Muốn vậy thì em phải đi bác sĩ nối buồng trứng lại. Đợi Dung ngủ say, Hải qua phòng sách lấy giấy viết ra viết thư cho ông Tài. Anh nói thẳng cho ông biết, cũng vì u mê mà anh và ông mắc phải một sai lầm, làm cho tôn ti trật tự trong gia đình đã đảo lộn hết, bao nhiêu đó cũng đủ cho lương tâm ray rứt suốt đời rồi. Anh khuyên ông nên dừng lại, đừng quá tham lam mà gieo khổ cho con, cho cháu sau nầy… Hôm sau Hải đưa thư cho Dung đọc và hỏi:
– Em thấy thế nào. Cũng được. Dung trao thư lại cho anh đem đi gởi. Cũng từ hôm đó, tánh tình của Dung mỗi ngày một thay đổi, trong gia đình Dung lo cho chồng cho con rất là chu đáo, duy có một điều cô nhỏ càng ngày càng lạnh nhạt với anh, nhứt là chuyện chăn gối không còn mặng nồng như trước nữa. Có lần Hải thắc mắc hỏi thì Dung gượng gạo biểu, hổng có gì, rồi ôm anh thật chặt và gục đầu lên vai anh mặc cho hai dòng nước mắt tuôn chảy…  * Bảy năm qua rồi ở bên nhà không thư qua nữa. Và cuộc sống tẻ nhạt của gia đình Hải vẫn tiếp tục điều trôi không biết tới bao giờ… Nhiều đêm ngồi một mình nhớ lại những chuyện đã xảy ra, anh tự hỏi: Hổng biết bên bển có còn ai đợi chờ anh như lần đầu anh rời xa bến đáy.  Dronten 02/05/04
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đêm giã từ Kế Sách*

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Sep 2023

Sáng bước vô trường, nghe bị đuổi;
về nhà lúi húi xếp hành trang:
bài thơ tình cũ… quần áo cũ..
hết thời dạy giáo… giờ lang thang.

Đến quán em quen, để trả tiền
“anh bị đuổi rồi, cuốn nóp thôi”
em buồn, con măt rưng rưng nói
“hia giáo bỏ đi… chợ chắc buồn.”

Em hỏi làm sao anh bị đuổi ?
“vì anh là giáo ngụy em ơi!”
chỉ vì tin bạn mà bạn phản,
bởi tại Lý Thông, bởi thói đời.

Tiệc tiển hành anh, em thết đãi
cá sặt rằn khô, xoài thanh ca
rắc chút đường, thêm vài lát ớt,
“uống đã đời đi! lắm đăng cay.”

Nửa khuya thức giấc đò Ngọc Diệp,
tình ta như chiêc lá xuôi dòng,
“thức dậy đi anh… về cho kịp!”
lỡ nhịp tình ta… sông cách sông.

Footscray cũng có khô cá sặt,
đầy dẫy, ê hề xoài thanh ca,
cũng là món gỏi… nhưng không phải…
quay quắt chiều xưa tiệc tiển hành.

Melbourne đất khách trời lưu lạc,
Kế Sách… quê mình nhớ biết bao,
thương người con gái Tiều lai ấy,
ước gì mình gặp lại kiếp sau.

đoàn xuân thu
melbourne.

*Kế Sách, một quận thuộc Sóc Trăng.

Đảo Phục Sinh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Sep 2023

So với nước có tới 4000 năm văn hiến như nước Việt Nam ta thì nước Úc mới tới tuổi dậy thì! Vì Liên bang Úc mới thành lập năm 1901, cách đây chỉ hơn một thế kỷ và 18 năm hè, nên tràn đầy sức sống. Lập nước thì phải có quốc kỳ, quốc ca và quốc huy cho giống với người ta.

Nên Úc chọn hình Kangaroo và Đà điểu trên nền hoa ‘wattle’ làm quốc huy.

Trên quốc huy, còn có huy hiệu của 6 Tiểu bang là: New South Wales (thủ phủ Sydney), Victoria (thủ phủ Melbourne), Queensland (thủ phủ Brisbane), Westwern Australia (thủ phủ Perth), South Australia (thủ phủ Adelaide) và Tasmania (thủ phủ Hobart)

(Hai Vùng lãnh thổ tự trị là thủ đô Canberra và Northern Territory (thủ phủ là Darwin), mới thành lập sau nầy nên không có trong quốc huy nước Úc.)

Kangaroo mặt giống như con chuột, mang con trong túi trước ngực nên bà con mình mới gọi là chuột túi!

(Mấy tay Úc mới làm Tía cũng phải mang túi như con Kangaroo trước ngực để địu con vì vợ nó biểu!)

Loại Kangaroo đỏ và Kangaroo xám cao đến 2 mét và nặng đến 85 kg . Có những con Kangaroo khổng lồ, cao tới 3mét và nặng tới 200 kg.

Kangaroo chân dài thòn như người mẫu nhưng hai cái tay lại ngắn ngủn, rất mạnh.

Mới đây trên Youtbe có một đoạn phim quánh võ đài giữa một thằng Úc với một con Kangaroo.

Chẳng qua chú em chở theo một con chó cưng đi vào trảng rừng. Con Kangaroo xuất hiện dùng hai cái tay kẹp cổ con chó. Con chó yếu sức hơn không thoát ra được chỉ còn cách đứng chịu trận. Không sủa được vì nó chơi đòn xiết cổ, thở khò khè đây nè!

Chú em Úc, chủ chó, thấy vậy nóng ruột, cung tay quánh quyền Anh, đấm một phát ngay vào mặt con Kangaroo để giải cứu bạn chó của mình.

Dính đòn, chắc đau, con Kangaroo đành phải buông tay ra; nhảy phóc vào bụi rậm.

Bà con rầy rà là chú em Úc nầy sao lại dám bạo hành với con thú đại diện của nước Úc mình hè? Thì thử hỏi: “Không cho nó ăn đấm thì làm sao cứu được bạn chó của mình hè?”

Mà cũng còn may, vì con Kangaroo bận hai tay kẹp cổ con chó, mới dính đòn vào mặt. Bằng không dễ gì? Đánh võ quyền anh với Kangaroo, nó chơi lại bằng võ Đại Hàn, Tae Kwon Do, nó đá cho một phát là dám bay luôn cả hàm răng.

Vì chân nó cứng, móng nó sắc, mạnh, đâu có đi như như những con thú bốn chân khác mà nhảy không hè. Mỗi bước nhảy có thể dài 7 thước! Lực sĩ nhảy ba bước từng đoạt huy chương vàng thế vận hội cũng phải chịu thua.

Kangaroo là niềm hãnh diện vì chỉ nước Úc mới có mà thôi. Nó là đại sứ du lịch rất hữu hiệu vì du khách nước khác từ Châu Âu, từ Canada hay Hoa Kỳ đến Úc chỉ vì muốn gặp mặt chú Kangaroo coi mặt mày tròn méo ra sao?

Chính vì vậy mà hãng hành không Úc, Qantas lấy hình con Kangaroo trắng  cách điệu trên nền đỏ để làm biểu tượng (logo).

Nên có chuyện vui rằng: Tổng thống thứ 43 của Mỹ George W. Bush, dân Texas cái gì cũng bự; một lần đến công du nước Úc được John Howard, Thủ tướng thứ 25 của Úc dẩn đi vòng vòng ở vùng quê để khoe nước Úc mến yêu.

Xe chở Tổng thống Mỹ qua những cánh đồng trồng lúa mì, chạy mút mắt tới tận chân trời. George W Bush bĩu môi chê: “Ôi nhằm nhò gì! Bên Texas quê tui nông trại lớn gấp 10 lần cái nầy!”

Qua những đàn bò sữa vài chục ngàn con, George. W. Bush lại bĩu môi chê: “Ít xỉn hè! Texas tui, một đàn bò chừng cả triệu con, bự hơn nhiều!”

Nghe thiệt là tức cho cái tự hào dân nước Úc!

Thình lình xe dừng lại cho một đàn Kangaroo dể chừng có cả ngàn con theo con đầu lĩnh nhảy băng qua lộ. George W. Bush hồi nhỏ tới giờ chưa thấy ngạc nhiên hỏi: “Úy con gì mà bự khổng lồ như vậy hở John?

“Thủ tướng Úc cười khè khè nói: “Bên Texas khổng lồ của anh không có con cào cào hay sao cà?”

***

Còn con thứ hai dù không đẹp trai như tui; vì cái lông nó xám xịt hè nhưng vẫn được ló cái mặt của mình lên quốc huy của Úc là con Emu, Đà điểu Úc.

Tui hoàn toàn đồng ý việc vinh danh Đà điểu Úc; vì Đà điểu, Emu, cũng khoái đa thê! Khi nuôi nhốt chỉ cần ghép một trống với tối đa ba mái. Với tui ba mái hơi ‘bị’ nhiều. Hai là đã đủ!

Dù Đà điểu Úc, Emu, trai năm thê, bảy thiếp là thường. Nhưng không phải tối ngày chỉ châm bẩm vào chuyện gái gú không đâu mà kỹ năng sinh tồn của chúng cũng khiến mình phải dỡ nón ra mà thán phục.

Chuyện rằng: Sau Thế chiến thứ nhứt, chính phủ Australia tìm cách tạo công ăn việc làm cho các cựu quân nhân trở về từ mặt trận bằng cách cấp đất cho họ để trồng lúa mì và nuôi cừu ở ngoại ô thủ phủ Perth, tiểu bang Tây Úc.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh giành lãnh địa giữa người và Đà điểu đã nổ ra ác liệt.

Hàng chục ngàn con Đà điểu bản địa ở Western Australia tràn vào nông trại,  giẫm nát lúa mì, xơi từ ngọn xuống đến tận gốc, tàn phá mùa màng vô số kể.

Chịu hết xiết, nông dân cầu cứu. Chánh phủ gởi hai trung đoàn đến để tiêu diệt đàn Đà điểu khổng lồ này.

Thiếu tá G.P.W. Meredith, Pháo binh Hoàng gia dự tính với hỏa lực hùng hậu trong tay, sẽ tiêu diệt đám Đà điểu thảo khấu nầy trong vài ba ngày.

Nhưng Đà điểu Úc, Emu, không ngu ngốc như mình tưởng. Mỗi đàn đều có con lãnh tụ, thường là màu đen cao tới 1,8 m, nặng tới 50 kí lô.

Khi dáo dác ra điều hiểm nguy đang chực chờ, lãnh tụ này sẽ báo động đỏ cho cả đàn chạy vào bụi rậm rồi lãnh tụ mới vọt theo sau.

Thiếu tá Meredith trèo lên sau một chiếc xe tải có gắn súng máy, đuổi theo xả đạn xối xả vào 1.000 con Đà điểu ở gần một đập nước.

Những đàn Đà điểu chạy tản trên thế đất gồ ghề, khiến chiếc xe mất thăng bằng đâm vào hàng rào. Lũ Đà điểu biến vào đêm rất sâu trời Tây Úc.

Cuộc hành quân thất bại. Vì bắn 2500 viên đạn, hết 1/4 cấp số đạn mang theo mà chỉ hạ được có 200 con hè.

Tổng kết chiến dịch, chưa đến 1000 trong số 20.000 con Đà điểu bị tiêu diệt.

Chính phủ Australia sau đó tìm cách khác, trang bị súng đạn cho nông dân.

Hiệu quả thấy nhãn tiền. Hơn 57.034 con Đà điểu chỉ trong vòng 6 tháng của năm 1934 bị bắn hạ.

Ngoài ra, nước Úc còn có Koala hay gấu túi, Wombat, chuyên ăn lá cây bạch đàn hay khuynh diệp rồi ngủ…Hỏng làm gì hết; hè lè phè như Úc vậy!

Ngoài ra phải nhắc tới Possum là con sóc nữa. Chu choa nó phá thấy thương luôn.

Sân trước vườn nhà em yêu có trồng một cây lựu. Mùa hè, trái trỉu cành. Possum, Sóc, đến nó cạp ráo trọi hè! Hỏi có tức không chớ?

Sân nhà sau có trồng cây chanh Úc, vỏ dầy và the gần chết vậy mà nó nỡ lòng nào cạp hết cái vỏ vàng chỉ chừa lại lõi trắng; chắc vì chua quá nên Sóc nó chê!

Mãi tới khi em Úc hàng xóm, cách hàng bông giấy mùa hè đỏ lửa, đời em cô đơn nên em có nuôi một con Mèo bốn chưn.

Từ hồi Đại vương Mèo về trấn thủ; con Possum nầy chịu không thấu nên đã lên đường bôn tẩu. Nên mùa lửa lựu năm nay hoa lại nở; trái lại ra đầy.

Bà con độc giả thân thương nào muốn ăn trái lựu, nghe nói chữa được bịnh sạn thận, thì cứ tự nhiên đến nhà tui mà hái. Tui không méc vợ tui đâu. Hi hi!

Năm rồi, mùa Đông. để hâm nóng lại tình ta tui dắt em yêu ra biễn.

Đêm chập choạng xuống, từng đàn chim cánh cụt, Penguin, lũ lượt theo nhau về tổ. Em yêu càm ràm rằng: “Mấy con chim cánh cụt dễ thương nầy tối là về với vợ. Còn anh chiều sập tối là về với quán bán beer. Hu hu!”

Tuy nhiên, nước Úc không phải con vật nào cũng dễ thương vì dễ nhìn, dễ ôm ấp, dễ nựng nịu đâu nhe. Vì ngoài biễn Úc trùng trùng sóng vỗ, có cá mập, gần cửa sông còn có cá sấu, nặng vài tấn là thường. Rồi trong hoang mạc có Dingo, (chó rừng), rắn và nhện cực độc nữa nhe.

Dẫu vậy, với tui, nước Úc vẫn mến yêu. He he!

Có mấy em sinh viên từ các nước khác đến Úc nầy du học cảnh báo mấy đứa sắp tới là: “Dẫu đang mùa hạ nóng cháy da đừng quên mang theo áo mưa!”

Ối! Lo chuyện con bò trắng răng. Tui, hơn hai mươi mấy năm ra đường, có bao giờ đem áo mưa gì đâu; (trừ chuyện khác).

Ra khỏi nhà là chui vô xe chạy thì làm sao mà ướt? Còn lỡ đang đi trên đường, mưa thì tấp vô cái quán nào đó làm một ly rượu đỏ! Chưa cạn ly là trời đã hửng nắng lên rồi. Cũng có mưa rỉ rả suốt một hay hai ngày đó chớ. Nhưng hiếm lắm.

Thời tiết Melbourne không đoán trước được, bốn mùa trong một ngày.  Chính vì vậy mà tánh tình người Melbourne cũng đổi thay loạn xị theo thời tiết. Mới cười đó; rồi khóc đó. Mới vui như vừa trúng tattslotto; rồi bí xị như đi siêu thị mà bị đứa nào móc túi.

Nước Úc vẫn mến yêu vì Footscray, nơi tui dừng bước giang hồ, đã hơn hai mươi mấy năm qua, có một món làm tui rất khoái là Phở!

Lỡ em yêu giận, đình công không nổi lửa lên em, thì tui cũng không đi ngủ với cái bụng lép xẹp bao giờ.

Footscray có hơn chục cái tiệm Phở. Tui thử ăn qua hết trơn nhưng không ai nấu ngon hơn con vợ tui hết ráo, dù em là dân Nam kỳ đặc sệt.

Bà con biết tại sao không? Vì trong tô phở nghi ngút khói đó, em yêu gởi theo cái tình yêu nồng ấm cho chồng mình, tức là tui đây. Hi hi!

***

Khi bài nầy lên khuôn là mùa Phục Sinh, Chủ Nhựt, mùng Một tháng Tư, lại về trên nước Úc buổi sơ thu.

Các nước Bắc Bán Cầu, như Canada và Mỹ, mùa Đông vừa dứt, mùa xuân đến. Mùa phục sinh, đâm chồi nẩy lộc.

Lễ Phục Sinh (Easter) là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành và Anh giáo.

Ai cũng biết năm 1722, nhà thám hiểm Hòa Lan, Jacob Roggeveen đã đến và đặt tên Easter, Phục Sinh cho một hòn đảo thuộc đông nam Thái Bình Dương, cách bờ Tây nước Chile bên Nam Mỹ khoảng 300 dặm.

Còn tui vốn bị đọa đày dưới chế độ CS, như người vừa từ cõi chết, may mắn đến được nước Úc phúc  địa nầy đây; phục sinh, làm lại cuộc đời nên tui gọi nước Úc mến yêu nầy là Đảo Phục Sinh !

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn rậu 15 Sep 2023

Bài 25 – Đi Phép Đợt Đầu

Thấm thoát cô bé An Bình ra đời đã được nửa tháng. Đúng là trời sinh trời dưỡng. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đó, rất may không có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra. Cả hai mẹ con được anh Sáu Xòm hết lòng chăm sóc nên chẳng thiếu thứ gì. Cả hai đều mạnh khỏe. Em bé rất dễ nuôi, chỉ ăn rồi ngủ chẳng quấy khóc làm rộn ai cả.

Lúc này trời mưa thường hơn trước. Hầu như chiều nào cũng có một trận mưa, không lớn lắm nhưng cũng đủ làm nước thoát đi không kịp, đọng thành những vũng nhỏ ở những chỗ trũng hay ở các vết lún của bánh xe. Thỉnh thoảng có được một trận mưa lớn. Chúng tôi lợi dụng ngay những cơn mưa ồ ạt ấy để tắm mưa và hứng nước để uống dần.

Dù cho cuộc chiến đã có vẻ bớt phần căng thẳng nhưng tôi vẫn phải đề phòng. Chỉ những khi nào thật cần thiết, tôi mới ra khỏi căn hầm. Tôi nghiệm rằng địch quân rất ít khi pháo kích trong những cơn mưa lớn. Có lẽ họ cho rằng pháo như vậy vô ích, ít gây ra thương vong vì mọi người đâu có đi ra ngoài. Do đó, tôi mới liều tắm mưa nhưng cũng vẫn để nón sắt và áo giáp trong tầm tay của mình.

Bây giờ tôi không sợ bị thiếu nước uống nữa. Cuộc sống có vẻ thoải mái hơn trước rất nhiều. Đi từ một cái khổ nhiều tới một cái khổ ít là thấy sướng rồi, tuy cái cảm giác có một trái đạn đại bác lúc nào cũng treo lủng lẳng trên đầu vẫn còn, nhưng lúc này, sợi dây ấy có vẻ hơi lớn hơn trước.

Tôi nghe tin Quân Đoàn III đang cố gắng lập một chiến đoàn để giải tỏa Quốc lộ 13. Nhưng đã mấy tuần nay, mọi sự đều giậm chân tại chỗ. Địch quân đã cho đóng chốt rải rác ở quãng đường giữa Chơn Thành tới ấp Tân Khai.

Quân mình không thể tiến lên được. Vì vậy, cho tới bây giờ mọi tiếp tế từ bên ngoài vẫn bằng không vận.

Có lệnh cho đi phép một phần quân số. Tôi vội vã cho anh Xòm biết, đồng thời xin anh Phúc cho phép anh Xòm được ưu tiên đi phép trước. Tôi có ý cho anh đi như vậy để anh có dịp đem vợ con về dưới Sa Đéc, quê anh càng sớm càng tốt để chóng được sum họp với gia đình.

Cho tới nay, mọi sự đều như êm đẹp đối với anh. Tôi muốn anh phải được thật toàn hảo, nghĩa là anh phải cùng vợ con về tới quê nhà an toàn thì tôi mới hả lòng.

Tôi giúp anh Sáu lo tất cả các giấy tờ cần thiết, từ giấy phép đến giấy khai sanh cho đứa trẻ, rồi tiền lương lãnh trước một tháng, rồi giờ máy bay đến v.v… Tôi đã chạy đi chạy về giữa hầm cứu thương và hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu dưới cơn mưa chiều hôm ấy đến 8 giờ tối. Mọi giấy tờ xong xuôi, tôi mới thấy yên trí về phòng nằm nghỉ. Trong bụng vẫn cầu mong sao cho chuyến bay ngày mai được suông sẻ thì lúc đó, tôi mới yên tâm.

Về chung với anh Sáu chuyến này có cả cô Bích. Thành ra toán Giải Phẫu Cấp Cứu của tôi bắt đầu từ ngày mai chỉ còn lại tôi, Binh nhất Thiện và Thượng sĩ Lỹ. Thế cũng đủ rồi. Tôi chỉ cần chuyên viên tê mê là Thiện thôi, còn những người khác kiếm người thay thế cũng không khó mấy.

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm. Tôi và anh Phúc đang ngồi ăn sáng với bịch cơm sấy, anh Sáu Xòm và vợ ghé qua. Anh Phúc nói:

– Sao, anh Sáu sẵn sàng chưa?

– Thưa bác sĩ, xong hết cả rồi. Vợ chồng chúng em đến chào hai bác sĩ. Chúc hai bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

Tôi đứng dậy bắt tay anh Sáu, nói:

– Tôi cũng chúc gia đình anh đi đường được may mắn và về tới nhà an toàn.

Vợ chồng anh Sáu đi ra. Cô Bích bước vào. Tôi hỏi đùa:

– Cô cũng tới chào tụi tôi đấy hả?

– Dạ.

Miệng cô hơi mỉm cười, dáng điệu làm ra vẻ thản nhiên nhưng nét mặt có vẻ hơi xúc động. Đó cũng là phản ứng bình thường trong mọi cuộc chia tay. Cô nói tiếp:

– Hai bác sĩ ở lại mạnh giỏi.

– Cô đi đường cẩn thận. Chỉ nửa tiếng thôi, ra khỏi vùng này là an toàn rồi. Một giờ sau, cô lại có quyền thảnh thơi dạo phố Sài Gòn, sướng nhé.

Cô gật đầu chào chúng tôi một lần nữa rồi mang cái túi xách tay đi lên miệng hầm, theo vợ chồng anh Sáu lên xe Hồng Thập Tự ra bãi đáp.

Lát sau, tôi nghe thấy tiếng trực thăng từ đàng xa vọng lại, càng ngày càng gần rồi nửa tiếng sau, mọi sự lại yên tĩnh như cũ. Tôi biết trực thăng đã tới bốc mọi người đi rồi. Tôi thấy mừng thầm trong lòng là không nghe thấy tiếng pháo kích nào cả. Như vậy mọi người đã được an toàn lên máy bay. Chỉ còn sợ quãng đường từ An Lộc tới Chơn Thành thôi nhưng chắc cũng không sao.

Tôi nghe nói để tránh hỏa tiễn của địch bắn lên, những máy bay trực thăng đều bay ở tầm rất thấp, là là trên ngọn cậy. Vì vận tốc rất nhanh nên địch quân không thể nào quay súng cho kịp đề nhắm bắn.

Anh Phúc chợt nói:

– Rồi, bây giờ tới lượt tụi mình. Anh tính bao giờ đi phép?

– Bây giờ tình thế cũng lắng dịu rồi. Chúng mình ế khách, rảnh rang, cũng nên đi phép về thăm nhà một chuyến.

– Vậy, chuyến tới anh có muốn đi không?

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

– Anh đi trước đi. Một tuần sau anh lên, tôi sẽ đi cũng không muộn. Anh sang hầm Chỉ Huy nói với ông Nhựt một tiếng rồi làm giấy tờ sẵn sàng. Khi nào có chuyến bay là về cho lẹ.

– Vậy cũng được.

Mấy ngày sau có chuyến bay. Anh Phúc đã được về phép một tuần. Trong hầm cứu thương chỉ còn có tôi, Thượng sĩ Lỹ và Binh nhất Thiện. Không có việc gì làm, tôi tha hồ viết nhật ký, vừa để giết thì giờ vừa để ghi lại những cảm nghĩ của tôi lúc bấy giờ.

Bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu lại cho người sang hỏi tôi đã lên Đại úy thực thụ lâu chưa? Có huy chương nào không? Tôi nói đã lên thực thụ được sáu tháng. Huy chương cũng có một hay hai cái gì đó. Tôi biết trận chiến sắp kết thúc, đây là lúc Đơn Vị Trưởng lo đề nghị thăng cấp và ban thưởng huy chương cho những người xuất sắc. Những thứ này đối với tôi có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Điều đáng mừng nhất là tôi đã được may mắn sống sót, không bị một vết thương nào. Công việc làm do muốn chu toàn bổn phận một cách tự giác. Nhìn lại những nỗi khổ của tôi trong trận này so với những người khác thật ra chẳng đáng là bao.

Tổng kết ra, tôi đã mổ được 254 trường hợp đại giải phẫu. Chết mất sáu người ngay tại mặt trận, số tử vong của những thương binh đã được di chuyển về các bệnh viện khác, tôi không tài nào biết được.

Bác sĩ Vũ Thế Hùng bên Tiểu Đoàn 5 Quân Y có đòi tôi báo cáo những trường hợp đã mổ từ đầu trận chiến tới giờ. Tôi không có được những danh sách đó vì cuốn sổ nghi thức giải phẫu đã để lại bệnh viện khi tôi di chuyển sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Vả lại, nghi thức giải phẫu chỉ được ghi đàng hoàng trong tuần lễ đầu. Về sau, địch pháo dữ quá, mổ làm sao cho nhanh cho chóng xong, rồi đi kiếm chỗ núp. Ai còn nghĩ tới nghi thức giải phẫu làm gì. Mổ xong, gắn được giấy chuyển thương với đầy đủ tên tuổi, số quân và đơn vị trên người thương binh là quá đẹp rồi. Tôi chỉ ghi số ca mổ trong ngày rồi cộng lại thôi chứ không ghi rõ như thời bình. Do đó, tôi chỉ biết được tổng số, còn muốn đi vào chi tiết thì đành chịu.

Tôi nghĩ đó cũng là một thiếu sót của tôi vì đã không giữ được danh sách các thương binh tôi đã mổ. Ngay tại mặt trận như vậy, thật tình mà nói, tôi thấy không có hứng làm những chuyện đó. Trong khi cái chết lúc nào cũng lởn vởn bên mình thì tôi còn cần gì nữa. Đúng ra phải có một thư ký lo về việc này. Đó là cô Trí nhưng chỉ sau đợt tấn công lần đầu, các nhân viên dân sự đều bỏ bệnh viện di tản cùng với gia đình. Tôi có nhắc Thượng sĩ Lỹ tiếp tục làm nhưng chúng tôi làm việc mờ người ra. Xong việc lại còn tự mình đi lo cơm nước thi ai còn nghĩ tới phúc trình làm gì nên tôi cũng thông cảm và làm lơ cho Thượng sĩ Lỹ.

Tôi đoán bác sĩ Vũ Thế Hùng có thể hiểu lầm tôi có danh sách thương binh nhưng cố tình không báo cáo cho anh. Anh cho người sang đòi hai lần, tôi đều nói không có . Tôi chỉ có con số thôi. Không có cơ hội trực tiếp nói chuyện với nhau nên tôi đã không có cách trình bày, giải thích cho anh Hùng hiểu.

Tôi biết, với nhiệm vụ Y Sĩ Trưởng của Sư Đoàn, anh Vũ Thế Hùng phải báo cáo lên thượng cấp về tổng số thương binh đã được Tiểu Đoàn 5 Quân Y phối hợp với Bệnh Viện Tiểu Khu săn sóc. Tôi thấy anh chỉ cần báo cáo những gì anh có trong tay, tức số thương binh được Tiểu Đoàn 5 Quân Y đã điều trị, chẳng ai bới ra mọi chi tiết làm gì rồi mọi chuyện cũng qua đi.

Một buổi chiều sau khi cơm nước xong, tôi sang bên hầm chỉ huy chơi, xem có tin tức gì không. Đại tá Nhựt thấy tôi không mặc áo giáp, đội nón sắt như thường lệ khi đi ra ngoài hầm. Ông có vẻ không bằng lòng, nói:

– Bác sĩ nên cẩn thận. Đi ra ngoài là phải mặc áo giáp, đội nón sắt đàng hoàng, lỡ nó pháo bất tử mình còn có cái che thân. Anh mà bị thương, ai sẽ mổ cho anh?

Tôi biết ông nói đúng nên chỉ biết trả lời:

-Tại đi vội quá. Lần sau tôi sẽ không quên đâu.

Đại tá Nhựt không muốn tôi ở trong tình trạng khó chịu lâu, ông chuyển qua vấn đề khác, hỏi tôi:

– Bác sĩ Phúc đi phép, chắc sắp về rồi phải không bác sĩ?

– Dạ, chỉ đúng hai ngày nữa là đúng một tuần.

– Có thể Tổng Thống Thiệu sẽ lên đây thăm mình đấy. Bác sĩ ráng chờ đi, để tôi kiếm cái Bảo Quốc Huân Chương cho bác sĩ.

– Cám ơn Đại tá. Tôi đâu có đánh đấm gì đâu mà mong được cái huân chương cao quý ấy.

Đại tá Nhựt lắc đầu nói:

– Không phải cứ giết được địch nhiều mới là có công. Công việc bác sĩ làm tại chiến trường này ai cũng biết. Tụi cố vấn Mỹ ở Quân Đoàn đề cao bác sĩ lắm. Nhất là ông bác sĩ Risch, không tiếc lời khen ngợi bác sĩ. Dù sao, binh sĩ biết ngay tại mặt trận mà vẫn có bác sĩ mổ cấp cứu được thì họ lên tinh thần lắm chứ. Bác sĩ biết mổ được bao nhiêu ca không?

– Dạ, thưa từ đầu trận đánh này tới giờ vào khoảng 250 ca, trong đó có sáu tử vong.

Đại tá Nhựt tính nhẩm một lúc rồi gật đầu hài lòng và nói:

– Như vậy, số tử vong tương đối cũng thấp đấy nhỉ? Chưa tới 3 phần trăm.

– Đó cũng nhờ bị thương được mổ ngay, không phải đợi chờ lâu. Thương binh không bị mất máu nhiều. Kích xúc được điều trị ngay. Vi trùng chưa có đủ thời gian nẩy nở làm độc. Đó là những yếu tố căn bản để làm giảm số tử vong của thương binh.

Nói chuyện một lúc, tôi cáo từ đi về hầm của tôi. Vừa đi vừa ngẫm nghĩ những lời Đại tá Nhựt mới nói với tôi. Tôi đoán ông biết trong tuần này có chương trình để Tổng Thống lên đây thị sát chiến trường An Lộc cùng ủy lạo các anh em binh sĩ. Nhân cơ hội này, chắc chắn Tổng Thống sẽ gắn huy chương ngay tại mặt trận cho những người được đơn vị trưởng đề cử. Cũng có người sẽ được thăng cấp đặc cách tại mặt trận vì những thành quả xuất sắc của họ.

Tôi bước vào hầm, đi về căn phòng của tôi. Bây giờ căn phòng thật lặng lẽ. Mọi khi có anh Phúc, tôi còn có người nói chuyện, nay chỉ còn có một mình. Tôi thấy lẻ loi quá. Thuở bé tôi là đứa trẻ hay sợ ma lắm và nhất là sợ chuột nữa. Vậy mà mấy tháng nay sống gần với mấy trăm xác chết, tôi chẳng thấy có con ma nào cả. Tuy rằng trông thấy xác chết thì cũng ơn ớn. Có thể vì pháo dữ quá nên các hồn ma cũng sợ, lỉnh đi chỗ khác chăng.

Tôi còn nhớ mấy tháng trước khi xảy ra trận chiến này, ngủ trong phòng của tôi ở bệnh viện Tiểu Khu, tôi hay bị bóng đè lắm. Cứ nằm xuống liên tiếp mấy đêm liền là bị một bóng đen đè dậy không nổi. Tôi có về kể lại cho ông Diệm nghe. Ông Diệm nói:

-Vậy để tôi cho bác sĩ mượn cái tượng ảnh Chúa đã được Cha làm phép, để ngay đầu giường bác sĩ nằm. Chắc sẽ không bị nó quấy rầy nữa đâu.

Tôi nghe lời, đem tượng ảnh Chúa treo ngay trên đầu giường nhưng vẫn bị bóng đè như thường. Tôi mang mấy củ tỏi để ngay đầu giường cũng chả ăn thua gì. Mỗi lần tôi nằm sấp xuống là bị bóng đè liền. Có lần tôi đang mơ mơ màng màng thì bị bóng đè. Nó còn lôi tôi ra khỏi giường, vẫn ở trong cái thế nằm, giữ tôi lơ lửng trên không một hồi rồi đặt tôi lại vào giường như cũ. Thế có láo không chứ. Tôi cũng chẳng sợ. Tôi không tin mấy là ma làm. Có thể vì ban ngày, tôi làm việc mệt nhọc nên đêm đến, đặt mình xuống là bị ảo tưởng chăng. Có điều tôi hơi thắc mắc, ảo tưởng gì mà cứ lập đi lập lại hoài, liên tiếp cả tuần lễ.

Khi dọn sang hầm này, tôi không còn bị bóng đè nữa. Nhưng hình như tôi lại bị ảo tưởng là trong hầm có chuột mặc dù tôi chưa thấy một con chuột nào cả. Vì sợ chuột nên lúc nào tôi cũng đề phòng. Bởi vậy, thỉnh thoảng tôi lại có cảm giác có cái gì đụng đậy ở dưới chân hay dưới lưng khi đang ngủ.

Hai ngày sau, tôi đang nằm nghe radio theo dõi tin tức, chợt nghe thấy tiếng hắng giọng quen thuộc của bác sĩ Phúc. Tôi nhỏm dậy đã thấy anh tay xách hai túi hành lý khá nặng, bước vào cửa. Trông thấy anh, tôi mừng quá:

– Anh lên thật đúng lúc. Vắng anh có một tuần mà tôi thấy trống rỗng quá. Anh đi đường có gì nguy hiểm không?

– Hơi mệt thôi, cũng không có gì nguy hiểm lắm. Phi công bay rất thấp, là sát ngọn cây nên cũng an toàn, không sợ bị chúng bắn. Ở đây, mấy ngày nay có bị pháo kích không anh?

– Vẫn lai rai, vài trăm quả nhưng không có quả nào vô Bộ Chỉ Huy cả. Bà cụ và gia đình vẫn mạnh khỏe cả chứ?

Anh Phúc lấy tay gạt mồ hôi trán, nói:

– Cám ơn anh, má tôi vẫn mạnh. Gia đình thấy tôi về thì mừng lắm. Người về từ địa ngục mà lị. À, bà xã tôi có gửi biếu anh ít Mè Xửng ăn chơi cho đỡ buồn.

Kẹo Mè Xửng Huế là thứ tôi thích ăn nhất, kẹo có mè với đậu phọng, ăn vừa bùi lại vừa thơm. Trong lúc đói khổ, thiếu thốn như thế này mà lại có của quý đó thì vui biết mấy. Tôi reo lên:

– Ồ, vậy thì tốt quá. Cám ơn anh chị nhiều lắm. Món này là thứ khoái khẩu nhất của tôi. Chút nữa ăn cơm xong, tráng miệng thứ này với nước trà nóng thì thật tuyệt. Anh về thấy Sài Gòn ra sao?

Anh Phúc lắc đầu, thở dài nói:

– Dân chúng vẫn tỉnh bơ như không. Thanh thiếu niên thì vẫn ăn chơi như cũ, chẳng có ai biết An Lộc là gì cả. Chỉ những người có thân nhân sống ở Bình Long mới có một chút suy nghĩ tới trận đánh này thôi.

– Thế anh có đi chơi đâu không?

Anh Phúc lắc đầu, đáp:

– Đâu có thì giờ, anh. Về nhà được có hai ngày, tôi lại phải lên Liên Đoàn Quân Y họp rồi lại tới bệnh viện để rút kinh nghiệm trận đánh này, sửa soạn cho những trận sắp tới. Trong cuộc họp đó, họ đề cao anh quá. Có anh bác sĩ Trần Văn Tính, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Quân Y ở Mỹ Tho, ca ngợi anh hết lời. Đề nghị tuyên dương tinh thần phục vụ can đảm của anh.

Tôi ngạc nhiên, tự hỏi làm sao họ có thể biết được những việc làm của tôi, một khi chúng tôi bị bao vây nội bất xuất, ngoại bất nhập trong gần ba tháng trời. Tôi hỏi bác sĩ Phúc:

– Tôi lấy làm lạ, sao họ biết được hở anh. –Tôi nói đùa – Chính tôi còn không biết nữa là ai khác.

Anh Phúc nói:

– Có gì đâu, họ hỏi những thương binh được anh mổ, săn sóc và những nhân viên của bệnh viện tản cư xuống Bình Dương là biết hết chứ có khó gì. Dù sao đó cũng là điều tốt cho anh. Công việc mình hết sức làm mà được mọi người biết đến cũng đủ an ủi cho mình rồi. Vả lại, anh đừng quên phái đoàn cố vấn Mỹ đến thăm mấy tuần trước. Chính những người Mỹ đó đã nói rất tốt về anh nên ông Đại tá Lương Khánh Chí, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 73 Quân Y mới biết và báo cho những người khác biết để như một công tác tuyên truyền khích lệ các đơn vị khác cố làm được như mình ở đây.

– Anh nói đúng. Ai ở trong trường hợp tôi cũng phải làm như vậy. Nhưng được thiên hạ hoan nghênh thì cũng thú vị lắm. Phải nói thực là như thế. Thôi thì cũng bõ công ăn gạo sấy hơn hai tháng trời.

Anh Phúc chợt vỗ tay lên trán, nói:

– Ô, nhắc đến cơm gạo. Tôi có mang lên xôi với con gà quay mua ở Chợ Cũ, để tôi dọn đồ một chút rồi mình ăn kẻo nó hư thì uổng. Bà xã tôi còn nhét theo cả mấy ký gạo nữa vì sợ mình ở trên này đói.

– Chị ấy chu đáo quá. Có vợ như vậy cũng ấm lòng người chiến sĩ phải không anh?

Tôi nói đùa với anh Phúc. Anh mỉm cười, gật đầu công nhận mặc dù vẫn than:

– Tôi đã bảo nhà tôi sắp đổi về Sài Gòn rồi, không phải tiếp tế những thức ăn làm gì, mang đi nặng lắm. Nhưng nhà tôi cứ ấn đại vào bao: “Đâu có nặng gì đâu, trực thăng nó chở đi”. Bà ấy đâu có biết, từ bãi đáp vào đây tôi phải khênh mấy thứ này nặng muốn xỉu luôn.

Thảo nào tôi thấy anh mặt mày thất sắc vì phải mang những đồ đạc nặng nề như vậy. Tôi an ủi anh:

– Tội nghiệp anh phải mang quá nặng. Ở đây vẫn còn đầy dẫy nguy hiểm. Mình phải gọn nhẹ để di chuyển cho nhanh. Lỡ nó pháo bất tử thì sao. Rút kinh nghiệm của anh, tôi sẽ không đem theo gì hết. Tôi nghĩ nhiều lắm chừng một tháng nữa, mình có quyền vi vút ở Sài Gòn rồi phải không anh?

– Đúng vậy, tôi có hỏi ông Đại tá Lương Khánh Chí rằng chừng nào chúng tôi có người thay thế? Ông ấy nói chậm lắm là hai tháng, nhanh là một tháng. Ông ta đang chọn người làm Y Sĩ Trưởng thay thế tôi và mấy người nữa. Hình như đã có sẵn danh sách rồi. Tôi nghe ông ấy nói anh bác sĩ tên Lê Quang Tín sẽ lên thay tôi. Anh có biết anh Tín không?

– Có chứ, tôi với nó thân lắm. Nó sau tôi một lớp và cùng học lớp Giải Phẫu Cấp Cứu với tôi. Tay này được lắm, được cả về tính tình lẫn tay nghề nhưng lên đây cũng phí đi. Với khả năng của Tín, tôi thấy để hắn ở mấy bệnh viện lớn tốt hơn. Không hiểu sao nó lại thích lên đây.

-Chắc anh chàng thích phiêu lưu hoặc bị hào quang của bác sĩ Quý cám dỗ.

– Hào quang gì anh, tôi chỉ làm bổn phận mà thôi.

– Anh không biết chứ, như tôi đã nói, ở Liên Đoàn họ thích anh lắm. Ai cũng đề cao anh. Anh sẽ là người hùng Quân Y đấy.

– Thôi để người hùng hạ hồi phân giải. Bây giờ anh em mình làm bổn phận công dân, tiêu thụ mấy món này đã rồi sau sẽ tính.

Chắc anh Phúc đi về hơi mệt nên tôi thấy anh ăn vài miếng rồi than no, không tiếp tục nữa. Còn tôi thì nửa bịch cơm sấy ăn hồi trưa, bây giờ vẫn chưa tiêu hết nên chúng tôi ăn có vẻ uể oải, không như tôi nghĩ sẽ làm hết. Chứng tôi thu dọn chiến trường trong một thời gian kỷ lục. Đúng là no bụng đói con mắt.

Chúng tôi ngồi uống trà và thưởng thức mấy miếng kẹo Mè Xửng. Quả thực là thần tiên. Đã lâu lắm tôi không được nếm những thức ăn ngọt nên mấy miếng kẹo này đối với tôi lúc đó thật là tuyệt vời. Lại uống với trà nóng nữa mà tiếng nhà nghề gọi là “hãm” thì không còn gì thú vị hơn. Tuy nhiên, tôi không dám ăn nhiều vì sợ sẽ bị sôi ruột hoặc đi tiêu chảy, đau bụng vì không dùng đường đã lâu rồi.

Chúng tôi thu dọn nhanh giường của mình rồi anh Phúc nói:

– Hôm nay quá mệt, tôi đi ngủ sớm!

Đúng thế, tôi thấy nét mặt anh có vẻ bơ phờ, hốc hác. Tôi nghĩ bụng về phép thăm nhà mà lại mệt hơn ở đây thì lạ nhỉ. Tôi uống nước trà, chắc tối nay lại không ngủ được. Không sao, đối với tôi, không ngủ được chẳng làm tôi lo lắng. Tôi chỉ cần để óc làm việc một chút thì lại ngủ được ngay. Nhất là hiện nay nhàn nhã, không phải như hồi xưa, phải dậy sớm đi làm. Bây giờ, nếu đêm không ngủ được, sáng ra có mệt thì tôi vẫn có quyền ngủ nữa, chẳng ai quấy rầy cả.

Nhật ký An Lộc

Thiếu Tá Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý

Posted on May 11, 2022 by Lê Thy

Post by sƠn râu 15 Sep 2023

Bài 24 – Thăm Lại Chiến Trường

Một hôm có phái đoàn của Tổng Tham Mưu tới điều nghiên trận đánh, dẫn đầu là Đại tá Phạm Văn Sơn, nghe nói ông ta là giám đốc Nha Quân Sử.

Ông đến để thu thập tài liệu viết chiến sử cho trận đánh. Các sĩ quan khác thì lo nghiên cứu những kinh nghiệm có thể rút ra được từ những bài học quý báu của trận đánh lịch sử này.

Phái đoàn có ghé qua hầm cứu thương của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Đại tá Phạm Văn Sơn, người mà tôi đã nghe danh từ lâu. Đúng ra tôi đã biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi, khi tôi còn học tiểu học ở ngoài Hà Nội trước năm 1954. Khi đó gia đình chúng tôi chưa di cư vào Nam. Tôi còn nhớ một buổi chiều, mẹ tôi đi làm về, đưa cho tôi một cuốn sách thật dầy. Mẹ tôi nói:

– Này cho con đó, con đọc đi, hay lắm.

Tôi rất thích đọc sách. Từ thuở biết đọc đến giờ tôi chưa bao giờ có được một cuốn sách dầy như thế. Tôi vội giở ra thì thấy đó là cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử của Phạm Văn Sơn.

Tôi say mê đọc cuốn sách cả mấy tuần liền. Không những tôi đọc một lần mà tới nhiều lần. Tôi không nhớ là bao nhiêu lần. Tôi biết rành Việt sử là nhờ cuốn sách này. Từ ngày đó cho tới khi tôi học năm học chót của chương trình trung học, tôi không cần phải học môn Việt sử nữa, vì tôi đã thuộc cả rồi. Có nhiều đoạn, nhất là những đoạn văn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, hay bài Hịch Tướng Sĩ củaTrần Hưng Đạo cho tới bây giờ, đã mấy chục năm tôi vẫn còn nhớ nằm lòng.

Tôi nói với Đại tá Phạm Văn Sơn:

– Hân hạnh được gặp Đại tá ở đây. Tôi nghe danh Đại tá từ lâu rồi.

Chắc Đại tá ngạc nhiên lắm, nếu biết rằng tôi biết tên ông từ năm tôi lên 11 tuổi.

Đại tá Sơn ngạc nhiên thật. Tôi thấy ông hơi mỉm cười nhướng mắt lên như dò hỏi, như chờ đợi lời giải thích câu nói của tôi. Tôi không đi thẳng vào vấn đề, mà đọc mấy câu trong bài Bình Ngô Đại Cáo cho ông nghe:

-Tượng mảng. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo.

Sau đó tôi kể lại trường hợp tôi được mẹ tôi cho tôi cuốn Việt Nam Tranh Đấu Sử, và tôi đã say mê đọc cuốn sách đó như thế nào. Đặc biệt là những trang ông viết về vua Hàm Nghi bỏ triều đình, ra Hịch Cần Vương chống Pháp; hay vua Duy Tân, vị vua trẻ tuổi, mới có 18 tuổi mà đã có lòng yêu nước triệt để chống Pháp, rồi bị tù đày ra đảo Reunion.

Đại tá Sơn nghe xong cười nói:

– Bác sĩ có trí nhớ hay quá.

Tôi vội hỏi:

-Thưa Đại tá, trong trường hợp nào ông đã viết bộ sử đó.

Đại tá Sơn nói:

– Tôi thực sự không phải là nhà sử học. Hồi đó tôi làm công chức cho ban Quốc phòng thuộc Phủ Thủ Hiến Bắc Việt. Vì người Pháp theo hiệp định Genève sẽ phải rút khỏi Việt Nam, chính quyền sẽ về tay mình, nên cấp trên có trao cho tôi nhiệm vụ viết một bản tường trình tóm tắt về lịch sử nước Việt, để làm sáng chính nghĩa quốc gia Việt Nam, làm căn bản cho cuộc chiến đấu của chúng ta. Sau đó mọi người đọc thấy được nên mới phổ biến rộng rãi, và cuốn sách đã được nhiều người biết đến. Đó chỉ là một cuốn tóm lược thôi. Sau này tôi có viết lại đầy đủ hơn gọi là cuốn Việt Sử Tân Biên. Không biết bác sĩ có đọc cuốn này chưa?

– Dạ thưa chưa. Tôi có nghe quảng cáo cuốn này hồi 1959, nhưng chưa mua xem.

Chúng tôi mải nói chuyện về sử Việt Nam nên những chi tiết về trận đánh này ông đã không có thì giờ hỏi tới. Sau đó ông phải rời Bình Long gấp vì trực thăng đã đến đón. Tuy nhiên những người tháp tùng với Đại tá Sơn đã có đầy đủ những dữ kiện rồi, nên ông cũng không cần phải làm gì thêm. Vả lại về phía Quân Y thì cũng không quan trọng bằng những đơn vị chiến đấu, đặc biệt là về những chiến thuật đã được thực hành để giữ vững An Lộc.

Khi phái đoàn Tổng Tham Mưu đi rồi, Thiếu tá Diệm tới rủ tôi:

– Ông Quý, đi một vòng chơi không? Tôi có xe Jeep đây.

Tôi nghĩ ông Diệm là tay cẩn thận lắm, nếu rủ tôi đi chơi một vòng như vậy, chắc là vòng đai an ninh của mình đã khá rộng, và an toàn. Tôi gật đầu chịu liền, nhân tiện tôi cũng muốn trở lại bệnh viện thăm một lần chót xem sao, vì biết nếu có đổi về Sài Gòn, tôi chắc cũng chẳng có cơ hội trở lại đây. Tôi rủ anh Phúc:

– Anh Phúc có muốn theo tụi tôi đi một vòng không?

Anh Phúc hưởng ứng liền. Thật ra ở mãi trong hầm cũng chán, bó cẳng lắm.

Anh nói:

– Đi chứ. Tôi cũng muốn trở qua bệnh viện xem anh em mình có cần gì không và tình trạng hiện giờ ra sao.

Thế là sau một tháng trời, tôi trở về thăm Bệnh Viện Tiểu Khu. Bệnh viện vẫn còn đó nhưng điêu tàn hơn trước. Hàng tên TY Y-TẾ, BỆNH-VIỆN BÌNH-LONG trên cổng đã bị mảnh pháo văng trúng nhiều lần làm rơi rớt cả năm, sáu chữ.

Chúng tôi nhảy vội xuống. Tôi đưa mắt nhìn quanh, cố ý tìm kiếm những khuôn mặt quen thuộc.

Tôi chỉ thấy nhiều khuôn mặt lạ, lẫn lộn với những anh em thuộc Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Bác sĩ Tích ở trong phòng nghe tiếng máy xe nổ, vội chạy ra, thấy tôi bèn ngoắc vào:

– Các anh vào trong này, đứng đây nguy hiểm lắm. Mấy ngày trước, tụi Việt Cộng đã chiếm được Ty Công Chánh ngay sau Phòng Mổ đó. Không biết bây giờ chúng đã rút đi chưa. Một Tiểu Đội Nhảy Dù đã được tăng cường tới đây để chận chúng, không cho tụi nó đánh sang bên này. Hai bên cầm cự mấy ngày liền, không bên nào dứt điểm bên nào. Tụi nó có những tên đặc công cảm tử bò qua ban đêm nhưng qua đứa nào chết đứa đó. Bên Dù cũng đã có ba người tử thương. Mồ chôn tại ngay sân bệnh viện đây.

Tôi nhìn anh Tích với anh Nam Hùng, thấy cảm thương cho hai anh đã phải trải qua những giây phút hiểm nghèo. Cái chết chỉ cách đường tơ kẽ tóc.

Tôi thở ra, nói:

– Có ai ngờ đâu các anh lại ở ngay tuyến đầu, cách địch chỉ có một con đường nhỏ. May mắn các anh không bị hề hấn gì. Thấy các anh bình an như thế này, tôi mừng lắm. Có lễ những giây phút nguy hiểm đã qua. Tụi mình sắp được đổi đi nơi khác rồi. Chỉ cần chịu đựng vài tuần nữa là khỏe thôi.

Anh Phúc cũng tiếp lời tôi, hỏi hai anh Tích và Nam Hùng:

– Ở bên Tiểu Khu đã phát lương cho binh sĩ. Bên Sư Đoàn đã có lương chưa, các anh?

– Có, tụi này mới lĩnh lương hôm qua. Nhưng anh thấy đó, cầm tiền cho vui vậy thôi chứ đâu có mua sắm được gì. Giờ đây, nhân có tiền lại được thảnh thơi một chút, tệ nạn đánh bạc bắt đầu xuất hiện. Nhiều đứa thua nhẵn túi. Cũng may, ở đây tiền chẳng còn giá trị mấy vì có gì để mua đâu. Đợi đến tháng sau lại có nữa, lúc đó chắc đã về hậu cứ rồi.

– Tôi thấy anh cũng nên can ngăn họ một chút. Đánh bạc chơi cho vui thôi, nếu cứ mê mải rồi đêm đến buồn ngủ không canh gác cẩn thận. Đặc công nó bò vào là chết cả đám.

Anh Tích gật đầu nói:

– Tôi cũng bảo họ thế. Một số nghe lời còn một số vẫn ham chơi.

Tôi đi ra cuối Trại Nội Khoa, nhìn ra sân ngăn cách trại này với Phòng Mổ và Văn Phòng Hành Chánh. Tôi thấy ba ngôi mộ nằm song song với nhau. Mỗi ngôi mộ đều có một mũ sắt Dù treo trên một cái cọc ngay trước mộ. Thấp thoáng trong phòng y tế, tôi thấy có những người lính Dù còn bố trí bên trong nhưng không căng thẳng lắm. Tôi đoán tụi địch bên phía Ty Công Chánh đã rút đi rồi. Tôi hỏi một người lính Dù gần đó:

– Chào anh, anh đóng ở đây đã lâu chưa?

– Thưa Đại úy được hơn hai tuần rồi.

Tôi dơ ngón tay chỉ về phía Ty Công Chánh, tiếp tục hỏi:

– Tụi Việt Công bên kia đường còn đó không?

– Tôi chắc tụi nó đã rút đi rồi, không thấy động tĩnh gì bên đó cả. Mấy ngày trước có máy bay tới dùng súng radar điều khiển bắn phá dữ dội lắm. Tôi nghĩ tên nào may mắn còn sống sót chắc cũng chém vè hết rồi.

– Vậy cũng đỡ lắm. Mình ở đây cũng được an toàn.

Tôi nhìn về phía nhà Bảo Sanh, thấy cũng có lính mình đóng chốt ở đó.

Tôi cũng yên dạ. Tôi muốn đi xuống Trại Ngoại Khoa của tôi xem có còn ai không. Tôi cẩn thận đi vòng ra phía trước rồi men theo hành lang đi lần vào lối phòng cũ của tôi. Trại bây giờ đây hoàn toàn hoang vắng. Hầu hết các phòng đều bị ăn đạn pháo kích, chẳng có phòng nào còn nguyên vẹn. Tôi ghé qua phòng bên xem người tù binh có sao không, chỉ thấy một bộ xương khô nằm trên giường, nơi cổ xương tay vẫn còn cái còng số tám khóa chặt vào thành giường. Thế cũng xong một đời người.

Tôi đi nhanh ra cửa lên chỗ đậu xe. Mọi người đã sẵn sàng trên xe, chỉ còn đợi tôi. Ông Diệm rồ máy chạy ra cửa, vừa khi ấy tôi thấy cô Bông hiện ra ở cửa sổ, chỗ phòng cô Bích cũ. Cô vẫn mặc áo màu xanh lá mạ tươi mát của mấy tháng trước. Tôi chỉ kịp ngoắc tay vẫy vẫy chào cô. Cô cũng vẫy tay chào lại, miệng mỉm cười. Tôi thấy cô vẫn mạnh khỏe là tôi yên trí và mùng cho cô. Cho đến giờ phút này mà vẫn còn cười được là tốt rồi. Chúng tôi không kịp trao đổi lời nói nào cả. Xe đã phóng ra khỏi bệnh viện, đi theo con dốc xuống công viên Tao Phùng rồi vào khu Chợ Mới.

Nơi đây cũng vậy, chỉ tháng trước đây khi tôi và bác sĩ Chí xuống thăm khu này, con đường giữa dãy nhà lầu và cái khung chợ vẫn còn rộng thênh thang. Nay đã bị hẹp lại vì một dãy mộ mới, chừng 13 cái nằm song song với nhau, trải dài theo dãy nhà lầu đó. Một tấm biển bằng gỗ pháo binh ghép lại. Trên có ghi một câu đối:

An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Tôi nghe nói câu này do một cô giáo làm ra. Cô là người được mấy anh Biệt Cách Dù cứu sống khi cô bị thương, gãy xương đùi. Cô được mang vào khu nhà lầu đó và được săn sóc bởi những anh Biệt Cách Dù. Chiều chiều, cô đã ngồi trong căn nhà lầu nhìn ra con đường trước mặt để cứ thấy từng ngày, cùng với mức độ giao tranh lên cao, những ngôi mộ mới của những anh Biệt Cách Dù, những ân nhân của cô tăng lên dần. Trong nỗi xót thương những người lính chiến quả cảm ấy, cô đã viết lên câu đối lịch sử này.

Xét về câu đối, tôi thấy hai câu này không hoàn hảo lắm. Nhưng cần gì. Những áng thơ hay thường thoát ra ngoài khuôn sáo tầm thường, gò bó của quy luật. Người ta đã không cần để ý tới hình thức nữa mà chỉ chú ý tới ý nghĩa, nội dung thôi. Câu đối trên, quả nhiên đã nói lên những hy sinh to lớn của những chiến sĩ can trường Biệt Cách Dù. Đồng thời nó cũng ngầm nói lên tấm lòng tri ân của người dân và đặc biệt của cô giáo đối với những ân nhân của cô. Cái hay trong hai câu đối đó, chẳng có một chữ nào nói lên lòng tri ân cả nhưng đọc lên, tôi lại cảm nhận ngay những điều đó. Thế mới tài tình. Mặc dù những chữ trong hai vế, thật ra chẳng có gì mới mẻ. Nhưng có lẽ vì đối cảnh sinh tình nên nó có được cái sức lôi cuốn rất mạnh, không giống như những câu đối ước lệ khác.

Do câu đối này, tôi được biết những ngôi mộ mới. Đó là của các anh em chiến sĩ Biệt Cách Dù đã hy sinh để bảo vệ An Lộc trong cuộc tấn công đợt hai của địch. Như vậy, lần tấn công đó cũng ác liệt lắm. Tôi may mắn được ở dưới hầm an toàn nên đã không có cơ hội quan sát. Vì vậy đã không biết được cuộc diện chiến trường lần đó ra sao. Mới sơ sơ nhìn qua những tổn thất của mình thì thấy cuộc tấn công đợt nhì quả thật rất kinh hoàng, đẫm máu chứ không phải chỉ pháo kích suông.

Chúng tôi tiếp tục đi ngược lên hướng Lộc Ninh, rẽ trái qua một con đường nhỏ. Chúng tôi thấy ngay ba chiếc xe tăng mới tinh bị bắn hạ nằm sắp hàng ngay ngắn trên con đường An Lộc – Lộc Ninh. Tôi ghé tai nói với anh Phúc:

– Anh trông tụi nó sắp hàng đi vào An Lộc như đi diễn binh ấy. Chẳng trách bị xơi tái hết là phải. Tôi chẳng hiểu sao tụi nó đánh đấm gì mà kỳ vậy.

Ông Diệm ngắt lời, nói:

-Trông bên ngoài tưởng đó là cái may mắn của ta. Thực ra cũng nhờ những yếu tố khác.

– Tôi nghe nói tụi nó xích chân những tài xế xe tăng lại. Không biết có đúng thế không?

– Muốn kiểm chứng, cứ vào trong xe tăng của tụi nó mà coi.

Tôi đồng ý liền vì quả thực tôi muốn biết sự thực. Hay là bên ta lại tuyên truyền kiểu tâm lý chiến. Tôi nói:

– Phải đấy, để tôi chui vào một xe tăng xem. Nhưng những xe tăng này cao quá. khó có thể nào trèo lên để vào bên trong được.

Ông Diệm nói:

– Có cách, bỏ mấy xe này đi. Chúng mình lên chỗ Chợ Cũ. Nơi đó cũng có mấy xe tăng bị máy bay bỏ bom trúng, chúi đầu xuống hố bom nên pháo tháp gần mặt đất hơn, dễ trèo vào lắm.

Thế là chúng tôi lại vòng lên phía Chợ Cũ. Tôi chợt thấy một xe tăng tương đối còn mới dù đã qua gần một tháng trời phơi mưa nắng. Tôi vội bảo ông Diệm ngừng xe lại, nhảy xuống và tiến về chiếc xe tăng. Vì chiếc xe bị bom thả trúng, chúi mũi xuống hố bom cũng khá sâu. Tôi thấy pháo tháp hơi bật ra về phía bên trái. Tôi và ông Diệm trèo lên nhìn vào bên trong chiếc xe tăng. Tôi thấy một bộ xương người ngay chỗ của tài xế. Chiếc xương sọ gục xuống bên tay lái. Cổ xương chân trái có một sợi dây xích cột vào cần lái xe. Mọi hồ nghi của tôi về việc này trong giây phút đó đã được hoàn toàn giải tỏa.

Trong xe không còn bộ xương nào khác. Trong cơn nguy hiểm, tài xế xe tăng đã chết một mình. Đồng đội đã thoát thân, đã bỏ đi. Người tài xế không thể trốn được vì đã bị xích chặt vào xe. Tôi có thể hình dung được nỗi tuyệt vọng, nỗi kinh hoàng của người tài xế trước khi chết ra sao. Xe còn, người còn. Xe mất thì người chết theo. Đó là cái ý nghĩa quyết tử của binh đội lái xe tăng của địch.

Đứng về bên phía ta, ta có thể lên án tính cách vô nhân đạo của địch. Bất cứ một người nào cũng ghê tởm phương pháp sắt máu này.

Nhưng đây là chiến tranh. Chiến tranh tự nó đã vô nhân đạo rồi, huống chi với một chế độ độc tài như chế độ Cộng Sản thì việc xích chân vào xe chẳng có gì phải một chút bận tâm.

Trong thời chiến, thiếu gì những trường hợp quyết tử như ôm bom lao vào xe tăng địch, ôm bộc phá phá hàng rào đồn binh địch, lao đầu vào lỗ châu mai của địch để lấy thân mình bịt kín nòng súng địch cho đồng đội tiến lên. Ngay như phía bên ta, trong trận này, chính mắt tôi đã thấy sáu cánh Dù nhảy xuống ngay trong vùng đóng quân của địch. Đó cũng là những hành động cảm tử một đi không về của những người lính chiến. Nhưng khi thấy những hành động trên chúng ta chỉ thấy cảm phục, thương xót nhưng không ghê tởm như thấy những trường hợp bị xích chân vào xe tăng hay vào mấy khẩu thượng liên. Có lẽ vì hình ảnh bị xích cho ta cái ấn tượng bị ép buộc phải làm những việc nguy hiểm ngoài ý muốn của người lính, không để cho họ một cơ hội thoát thân dù rất nhỏ.

Cụ Phan Bội Châu đã viết, Thánh Cam Địa (Gandhi) rất ghét chế độ Cộng Sản cũng chi vì họ chủ trương lấy mục đích biện minh cho phương tiện. Tức là có thể dùng bất cứ một mưu kế nào dù cho vô nhân đạo đến đâu cũng được, miễn là chúng đạt được mục đích tối hậu.

Tôi đã chui vào hẳn bên trong xe tăng. Không có mùi hôi thối, chứng tỏ cái thây này đã chết từ lâu, chắc từ đợt tấn công thứ nhất, hơn một tháng rồi. Tôi chỉ ngửi thấy một mùi hôi khăm khẳm giống như mùi mốc chà bông để lâu ngày bị thiu. Tôi nhìn quanh bên trong xe tăng, thấy khá rộng. Tôi chợt để ý thấy một dãy đạn đại bác 100 ly vỏ bằng đồng sáng loáng mói tinh, xếp ngăn nắp bên góc phải của xe. Nếu mang về gõ làm bình bông chắc đẹp lắm. Nghĩ là làm liền. Tôi tháo hai viên đạn ra, không ngờ nó cũng khá nặng vì đạn 100 ly dài tới gần một thước. Tôi cố mang ra ngoài để lên xe Jeep rồi cùng ông Diệm và bác sĩ Phúc lái về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Chúng tôi đi chơi cũng hơi lâu, thấy quang cảnh chỗ nào cũng giống nhau, cũng bị tàn phá thành bình địa hết. Như nhà hàng Tứ Hải, một nhà hàng Tàu xây bằng bê tông cốt sắt, hai tầng lầu, nấu ăn cũng khá ngon. Tôi đã ăn vài lần ở đó, bây giờ xẹp lép giống như một ngôi nhà bằng giấy bị một bàn chân khổng lồ giẫm lên. Tôi đề nghị đã đến lúc nên quay về. Mọi người đều tán thành vì thực ra cũng chẳng còn gì hay để xem nữa.

Khi về đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, ai trông thấy hai viên đạn đại bác 100 ly, chiến lợi phẩm của tôi cũng đều thích cả. Ông Thượng sĩ Thiện thuộc ban An Ninh tỉnh đề nghị:

– Bác sĩ nên cho tháo đầu đạn, đổ thuốc bồi đi, lấy cái vỏ đạn cho nhẹ, dễ di chuyển và an toàn không sợ bị nổ bất tử.

– Đúng rồi, để thế này nguy hiểm mà lại quá nặng. Nhưng tháo đầu đạn ra có dễ không?

– Nếu bác sĩ muốn, tôi bảo mấy thằng em nó làm cho. Tụi nó nhà nghề mà, làm chừng nửa tiếng là xong à, nhanh lắm. Chứ bác sĩ không quen, làm mất thì giờ lại nguy hiểm nữa

Tôi lắc đầu nói:

– Tôi không dám sờ tới đâu, nhỡ nó nổ một cái thì khốn nạn ngay.

Tôi bèn giao hai viên đạn đại bác đó cho Thượng sĩ Thiện. Chỉ gần một giờ sau, ông ta mang lại hai cái vỏ đạn, đưa cho tôi. Ông dặn tôi:

– Cái chốt ở dưới đáy vẫn còn nguyên đấy. Bác sĩ đặt nó nhè nhẹ, đừng vất mạnh, đụng vào nó, có thể nổ lắm đó. Tuy không hề gì, nhưng đề phòng vẫn hơn.

Tôi mừng lắm, cám ơn ông Thiện rồi mang hai vỏ đạn xuống để ở một góc phòng, chờ ngày mang về Sài Gòn, có dịp sẽ thuê người gõ thành hai bình bông, chắc đẹp lắm.