Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Bài 10 – Những Chuyện Tình Báo

Nhiệm vụ phụ:

Ngoài những nhiệm vụ chính mà tôi phải đem hết nghị lực, khả năng để phải thực hiện bằng được, trong quá trình sống và di chuyển ở Hà Nội, tôi phải để ý tới những hiện tượng dưới con mắt nghiệp vụ những số nhà sau đây:

–  Số 6 phố Cầu Gỗ.

–  Số 1 phố Đường Thành.

–  Số 27 phố hàng Đường

Theo nguồn tin tình báo, ba nơi này thường xuyên đào tạo, huấn luyện gián điệp rồi tung vào miền Nam hoạt động. Tình báo miền Nam đã bắt được hai vụ nổi tiếng, và Cục đã cho tôi biết chi tiết để rút ra nhiều kinh nghiệm như một bài học. Dưới đây là hai vụ điển hình. Tất nhiên còn nhiều vụ khác nữa:

1. Khoảng 1957, do nhân dân bí mật tố cáo, tình báo miền Nam đã bố trí bắt được một nhân vật có hạng về tình báo của miền Bắc. Khi đem về khai thác, điều tra. Sau hơn một năm trời, dùng mọi khả năng của những nhà chuyên môn, ta cũng đành chịu khuất phục trước sự kiên trì, lì lợm của y.

Nếu ở trong tay công an dưới chính quyền miền Bắc, nhận tội hay không, tội nhân cũng cứ bị tù cho tới khi nào cơ thể không chịu được nổi, hoặc cho tới già, rồi về với ông vải, thì thôi.

Nhưng chính quyền miền Nam, nếu thiếu chứng cớ cụ thể, chỉ giam tội nhân tới một mức quy định, rồi cũng phải thả ra. (Cụ thể như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình v.v…)

Anh ta, trước sau chỉ một mực chối lá vô tội. Ta đã dùng nhiều biện pháp tinh vi hơn như: Khổ nhục, tra tấn, dụ dỗ, khích lệ v.v… cũng đều vô hiệu. Việc này đã làm điên đầu những người có trách nhiệm của Cục tình báo miền Nam.

Sau nhiều phiên họp gay cấn, chính ông Cục Trưởng đã đưa ra một kế hoạch, và ông xin chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch đó.

Vào một buổi cuối Đông, bầu trời Huế xám xịt, những cơn gió mùa Đông Bắc về muộn mang theo những trận mưa rả rích, nhạt nhòa … Từ cổng nhà lao Thừa Thiên, hai chiếc xe Dodge 4 phủ mui kín mít, lao về quốc lộ 1 hướng về Nam, chuyển tù vào Sài Gòn.

Xe trước, băng sau chở 4 phạm nhân bị khóa tay, trong đó có tên Cộng Sản lì lợm nói trên, và hai người mặc quân phục có vũ trang áp tải. Băng trên, ngoài tài xế, còn có một trung úy và một hạ sĩ. Ông hạ sĩ này chính là ông Cục Trưởng mà tên Cộng Sản đó chẳng lạ gì.

Xe sau, chở một thiếu úy và nửa tiểu đội, tất cả đều mặc quân phục và có vũ trang. Hai chiếc xe theo nhau chạy mãi vào đêm tối. Hơn 4 tiếng đồng hồ sau, lúc đó khoảng 11 giờ khuya, giữa quãng đường dài vắng vẻ, hai bên là triền rừng; bất chợt hai loạt trung liên nổ ròn rã phía trước xe. Đạn réo lên ngay phía trên mui. Ngay lúc đó, tài xế và mọi người đều đã nhìn rõ một chướng ngại vật là một thân cây to nằm chặn ngang đường. Biết là đã lọt vào ổ phục kích, các quân nhân trên hai xe vội vàng nhẩy xuống đường, tìm địa thế cấp thời để chống trả.

Nhưng, tất cả đã nằm gọn trong vòng vây, với đầy mũi súng tua tủa của đoàn quân phục kích. Chỉ sau 10 phút, tất cả quân nhân trên hai xe đều bị tước hết vũ khí, bị trói gô và bắt ngồi tập trung vào một chỗ. Một người, có lẽ là chỉ huy đoàn quân phục kích, ra lệnh lục soát trên hai xe, tịch thu một số đồ cần thiết, trong đó có cả giấy tờ, hồ sơ, v.v…

Riêng 4 phạm nhân, tay vẫn bị khóa, bị dẫn xuống bắt ngồi cùng với đám quân nhân, sau khi biết họ đều là tù hình sự can tội an cướp hoặc giết người.

Người chỉ huy đoàn quân phục kích nhìn những quân nhân đang bị trói, dõng dạc tuyên bố:

–  Các anh là ngụy quân, lầm đường lạc lối, làm tay sai cho đế quốc Mỹ bắn lại nhân dân, làm hại đồng bào, lẽ ra chúng tôi bắn bỏ hết. Nhưng, theo chính sách khoan hồng của đảng (lúc đó chưa có Mặt Trận Giải Phong Miền Nam), chúng tôi sẽ tha hết, kể cả 4 phạm nhân hình sự. Các anh hãy trở về cải tà quy chính. Riêng hai tên sĩ quan, vì đã có nhiều nợ máu với nhân dân, chúng tôi phải mang vào bưng xử lý.

Rồi người đó ra lệnh cởi trói cho hết các quân nhân, còn bắt đưa chìa khóa mở còng cho 4 người tù. Giữa lúc đó, tên tù Cộng Sản lì lợm, đứng bật dậy, rút ở trong ve áo ra một miếng vải đỏ hình vuông mỗi bề 4 phân, ở giữa có hai ngôi sao vàng nằm trên sọc trắng. Y đưa cho tên chỉ huy đoàn quân phục kích xem và nói:

–  Các đồng chí, tôi là Trưởng K 10 nội thành Sài Gòn, thuộc cục R. Hôm nay, vô tình các đồng chí đã lập được một kỳ công vô cùng to lớn. Các đồng chí hãy trói ngay tên hạ sĩ kia, nó chính là tên Cục Trưởng Trung Ương tình báo của Sài Gòn.

Cả đoàn quân phục kích sáng mắt hân hoan. Bốn, năm mũi súng đều chĩa vào ông hạ sĩ và trói nghiến lại.

Thay vì đưa vào bưng, người chỉ huy mặc áo bà ba đen ra lệnh tất cả lên xe trở về miền … sông Hương, núi Ngự.

2. Sự việc xẩy ra vào năm 1959 ở ngôi nhà, hình như mang số 126 hay 128 (tôi không nhớ rõ), đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Ngôi nhà này có cửa sắt, tuy ở mặt phố nhưng không bao giờ thấy mở, trừ đôi lúc có người ra vào. Chủ ngôi nhà là một quả phụ, gần 60 tuổi. Trước đây, bà có một người em trai ở cùng. Ông này học hành đã thành đạt, nên hiện đang làm việc trong Phủ Tồng Thống. Người ta chẳng biết ông làm gì, chỉ nghe đồn ông rất có uy thế, thường gần gũi với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Có thể do đòi hỏi của công việc, hoặc vì lý do nào khác, ông đã được cấp một căn biệt thự ở đường Công Lý, gần dinh Độc Lập, để đi vể được thuận tiện. Và vì vậy, ngôi nhà ở Phan Đình Phùng càng vắng vẻ đìu hiu. Ngoài bà Hân là chủ nhà, trong nhà chỉ còn một bà giúp việc cũng họ gần xa với gia đình bà Hân.

Những người mới đến ở dãy phố này không biết chồng con bà ra sao, chứ những người đã ở lâu gần đó đều hiểu hoàn cảnh gia đình bà. Bà Hân rất hiền lành phúc hậu, bà thường hay đi chùa đền để niệm phật ăn chay và làm việc phúc đức. Theo câu chuyện bà kể lại với những người quen biết, vợ chồng bà đều là con những gia đình giàu có thế phiệt trước đây ở Huế. Bà hiếm hoi, chỉ sinh được một cậu con trai duy nhất, đúng vào lúc xẩy ra những biến cố lớn lao của đất nước 1945. Khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Hân là một thành phần đảng phái, ông đã hiểu rõ sự hiểm độc của Việt Minh nên cương quyết không hợp tác trong Chính Phủ Liên Hợp của cáo Hồ bịp bợm. Ông đã bị chúng bí mật thủ tiêu ngay thời gian ấy. Giữa cảnh hỗn loạn Nhật, Pháp, Anh, Tàu, và Việt Minh thời đó, dân chúng đã phải trôi dạt, đẩy đưa khắp nơi, và bà đã thất lạc đứa con trai yêu quý, niềm an ủi độc nhất của đời bà. Sau đó, theo giòng đời, bà đã trôi dạt về Sài Gòn với người em trai nói trên.

Do của cải trước đây để lại, hiện bà là người giầu có, thừa thãi tiền tài, nhưng lại rất thiếu nghèo tình đầm ấm của gia đình. Bà đã mất biết bao tiền bạc, tâm lực để thăm dò, tìm kiếm người con thất lạc, nhưng đều bặt vô âm tín. Nỗi nhớ thương buồn phiền của bà suốt 14 năm càng ngày càng cô đọng lại, dồn nén dần vào chỗ sâu kín nhất của tâm hồn bà. Nhũng người quen biết bà đều hiểu rõ như thế. Nhưng, Cộng Sản lại đào sâu, nghiên cứu kỹ, nên đã hiểu biết hơn thế nữa. Chúng đã triệt để lợi dụng, khai thác bối cảnh này. Chúng thấy đây là cơ hội để chúng đưa người lọt vào ở sát nách cơ quan đầu não của chính quyền miền Nam.

Chúng đã tìm và tuyển mộ được một thanh niên theo ý chúng muốn. Chúng ra sức đào tạo, huấn luyện, từng động tác, thái độ, lời ăn tiếng nói, kể cả về tình cảm để đóng vai trò người con thất lạc của bà Hân.

Nói về ngôi nhà của bà Hân. Ngôi nhà này thường đóng cửa, cho nên ở phía trước sát vỉa hè, một người đàn bà nghèo trong xóm đã kê một chiếc ghế dài nhỏ và một cái phản gỗ con, trên bày ít kẹo, chuối, nước sôi…bán cho các bác xích lô…ít tiền.

Tên điệp viên là một cậu trai 19-  20 tuổi, khôi ngô, quần áo lam lũ; thuy khoẻ mạnh đầy sức trai, nhưng bộ mặt lúc nào cũng đăm chiêu mang nặng một nỗi niềm. Hàng ngày, sau những cú xe đường dài mệt nhọc, anh thường ghé chiếc xích lô đạp sát lề, uể oải ngồi vào ghế, gọi mua nước trà, nhấm nháp, lúc thì cái kẹo, lúc thì quả chuối…anh tỏ ra rất ít nói. Dần dần, hà hàng quen mặt. Bà cũng để ý và đôi khi nhìn bằng ánh mắt thương hại người còn trẻ, mặt mũi sáng sủa mà đã phải lam lũ cuộc đời! Trước, còn là những câu hỏi bâng quơ:”Hôm nay chạy khách có khá không?”, “Trời này, lại sắp mưa!”, “Sao hôm nay cậu đến muộn?” v.v… Cậu trai càng tỏ ra rất ít nói. Mặt lúc nào cũng buồn như che dấu một tâm sự riêng tư. Khi đã có thiện cảm với một cậu bé nghèo, cái tính tất nhiên của người đàn bà là sẽ dần dà thăm hỏi đến gia đình, thân thế, bố mẹ ra sao? v.v…

Lúc đầu, cậu tỏ ra không muốn nói về cuộc đời bất hạnh hẩm hiu của mình, sau thấy bà già nghèo tử tế nên dần dần kể sự tình…

Cậu chẳng biết bố mẹ là ai cả. Ngay từ lúc 4-  5 tuổi đã đi làm con nuôi cho người ta. 9-  10 tuổi phải đi ở , hầu hạ nhiều người. Rồi phiêu bạt đi làm đồn điền cao su đầy gian chuân, cực khổ. Cuối cùng, trôi dạt về Sài Gòn thân cô, thế cô, phải đi đạp xích lô mưu sinh.

Bà bán nước, đã biết về câu chuyện của bà chủ nhà, nên cũng hơi nghi, vì vậy hỏi tới:

–  Thế cậu có nhớ ngày xưa bố mẹ cậu như thế nào không?

Cậu trả lời, mường tượng, lúc nhỏ sung sướng, được mặc quần áo đẹp, được ngồi xe với bố có người kéo…Bà bán nước càng hỏi tiếp, hình như chạnh nỗi niềm đau buồn, cậu không muốn trả lời nữa, và trả tiền, đứng dậy đi.

Bà bán nước tưởng tượng, càng suy nghĩ, biết đâu đây chả là chuyện cơ trời, nên chiều đó, sau khi gửi phản, ghế, bà nói với người giúp việc muốn gặp bà Hân.

Khi gặp bà chủ nhà, bà bán nước thuật lại câu chuyện về người đạp xích lô trẻ tuổi. Đến đây ai cũng hiểu. Có bệnh thì vái tứ phương. Khi nỗi lòng của bà Hân như vậy, hỏi sao lòng bà chả xốn xang, bồi hồi, mong sớm gặp người xích lô đó để hỏi rõ đầu đuôi. Vì thế bà Hân vồn vã dặn:

–  Khi nào cậu ấy đến, bà dẫn vào đây ngay cho tôi hỏi chuyện.

Ngày hôm sau, và cả mấy ngày sau nữa; bẵng đi bốn năm ngày không thấy cậu xích lô đó lại, khiến bà hàng nước lẫn bà Hân càng nôn nóng, bồn chồn mong đợi.

Mãi tới hơn một tuần sau; vào một buổi chiều mưa giăng ẩm ướt, cậu xích lô ướt át ghé lại bà hàng nước. Bà hàng tíu tít hỏi:

–  Sao mấy bữa nay cậu không ghé đến?

Sau khi rót ly nước trà để đó, bà hàng vội vàng bấm chuông vào nhà bà Hân. Chừng 5 phút sau, bà hàng nước hơ hải ra bảo:

–  Này cậu, mời cậu vào đây chơi một tí đã!

Y tỏ vẻ không muốn vào, nên lắc đầu. Bà hàng nước lại vồn vã như níu kéo:

–  Cậu vào đây một chút thôi mà, đàng nào trời cũng đang mưa, cho bả chủ ở đây hỏi thăm cậu một câu chuyện.

Rồi đến lúc bà hàng nước phải cầm tay lối kéo, y mới miễn cưỡng đi theo. Ngay khi bà Hân thấy người xích lô bước vào nhà, ánh mắt của bà hình như đã tràn đầy tình thương yêu, mặc dù bà chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ người con trai ấy là con bà. Lòng bà bồi hồi xốn xang, đến nỗi bà quên cả mời người xích lô đó ngồi. Khi bà mời, cậu xích lô ấy dè dặt ngồi xuống chiếc ghế gụ cạnh bàn, đầu cuối gầm. Bà hàng xóm cũng thấy lòng không yên, bỏ cả quán nước để mong được chứng kiến cái giây phút hồi hộp rấp ranh này. Mãi sau, như dằn được lòng xốn xang, bà Hân mới hỏi với một giọng còn xúc động:

–  Cậu bây giờ có họ hàng thân thích gì không?

Y lắc đầu mà không nói.

–  Cậu có nhớ ngày xưa, gia đình cậu như thế nào không?

Y vẫn đăm chiêu im lặng. Bà lại hỏi, trong niềm nghẹn ngào dâng trào:

–  Có phải cậu nhớ, lúc nhỏ cậu đi xe với bố có người kéo phải không?

Y gật đầu. Bà Hân nôn nóng, tiếp tục hỏi:

–  Cậu cố nhớ lại xem, lúc nhỏ cậu hay chơi gì, làm gì?

Y nhìn ra phía cửa sổ, mắt như dõi về một phía trời xa, về những quãng đời ấu thơ. Tới khi bà Hân nhắc lại câu hỏi, y mới chậm rãi:

–  Cháu chẳng nhớ gì rõ lắm….Cháu chỉ nhớ láng máng lúc nhỏ, cháu được bố mua cho con cù, con cù có cái đinh rất dài…..

Bà Hân mắt sáng lên long lanh, hỏi như hết hơi:

–  Gì nữa?

–  Cháu có một quyển sách, có hình con rùa, bố cháu dạy cháu tô theo bằng bút chì màu đỏ.

–  Còn gì nữa không cháu?

Y càng cúi gằm, trong khi không khí căn buồng như rên lên, căng đầy xúc động đợi chờ, cuối cùng y giơ ra ngón tay cái trái, chỉ vào một cái sẹo nhỏ, ngập ngường nói:

–  Một lần ở bếp với mẹ, cháu nghịch dao, đứt tay chảy máu. Mẹ đã khóc.

Không kìm được nữa, bà Hân xô đến, ôm chầm lấy cậu xích lô, nước mắt chan hòa, nức nở:

–  Ôi, con ơi!

Y cũng khóc, cả bà bán nước người ngoài cũng nước mắt vòng quanh. Hình như bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ của tình mẫu tử thiêng liêng bây giờ cuồn cuộn chảy ra theo giòng nước mắt, bà hổn hền tưởng như xỉu đi, dù vậy bà vẫn cố gắng lôi tay đứa con yêu:

Con ơi! Con cù và quyển sách của con má vẫn giữ, vì đó là di vật duy nhất của con, má vẫn để ở ngăn tủ đầu giường má.

Bà vừa nói vừa kéo người con trai lên gác. Bà rối rít hết sờ mặt, xoa tay, lại vuốt lưng cậu xích lô thân yêu, trong khi bà bán nước cũng lây nỗi vui mừng, cứ chạy lăng xăng hết đầu này, đầu kia chẳng biết làm gì cả.

Ngay chiều hôm ấy, bà Hân báo tin gọi người em trai về. Thôi thì cậu cháu, mẹ con hàn huyên nỗi niềm máu mủ ruột thịt, của buổi trùng phùng nước mắt đầy vơi.

Thương bà chị cả cuộc đời cô đơn heo hút, ông cậu nhìn thằng cháu khoẻ mạnh, khôi ngô, ông hứa sẽ đem hết khả năng dạy dỗ, nâng đỡ đứa cháu yêu đến khi thành đạt. Ông bàn, nào là đón giáo sư về kèm cặp, nào là tập lái xe để chở mẹ đi chùa,v…v…Ngôi nhà giờ đây tràn ứ đầy sự sống, sự ấm cúng và niềm vui tươi.

Riêng tên điệp viên, ngay khi vào Sài Gòn đã được cấp trên y chỉ định phải thường xuyên liên lạc, cặp bồ với cô Ngân làm chiêu đãi viên cho một quán cà phê ở ngã Bảy, để dự phòng, nếu sau này bà Hân và ông cậu bắt lấy vợ thì phải cương quyết đòi lấy cho bằng được cô Ngân. Dĩ nhiên, cô Ngân cũng trong mạng lưới hoạt động của Cộng Sản ở Sài Gòn.

Đến đây, mọi việc tường êm xuôi trôi lọt như ý Việt cộng mong muốn, nhưng không, trái lại đã bắt đầu trục trặc. Nguyên nhân cũng chỉ vì diễn viên đã không khéo đóng trọn vai trò.

Bà Hân tin tên xích lô là con nên tình bà vẫn thắm thiết thương yêu. Ngược lại, y biết y không phải con bà. Mẹ y hiện đang ở ngoài Bắc. Lúc đầu, vì cố gắng nổ lực để công tác thành công, nên y đã xuất thần thủ đúng vai trò. Sau một thời gian, những biểu lộ thương yêu với người mẹ giả trở nên cứng ngắc, không có hồn. Nỗi buồn của bà càng ngày càng khoét sâu, càng lớn. Bà thổ lộ với người thân quen và tất yếu, cả với em trai.

–  Tôi không hiểu sao, tôi thương yêu nó như trời biển, nhưng hình như có cái gì ngăn cách, tôi chỉ cảm thấy sự tẻ nhạt, gắng gượng ở bên trong của nó.

Sự phàn nàn, ca thán của bà dần dần đến tai những nhân vật phản gián. Một sự việc không bình thường! Tình mẹ con ruột thịt là sự thiêng liêng, phải có những chiếc dây vô hình gắn bó. Thấy một sự không bình thường thì phải đặt vấn đề. Mà nguyên tắc tình báo cũng như công an, nếu đã đặt vấn đề thì phải tìm mọi cách để biết rõ hư thực của vấn đề đó, cho nên, họ đã dùng chính ông cậu trong nhà làm tấm bình phong để bí mật theo dõi và phanh phui sự việc.

Gần một năm sau, trọn ổ gián điệp vùng đó đều bị sa lưới.

Trở lại nhiệm vụ phụ:

Dale và Brown mang đến hai chiếc máy bay MIG –15 và MIG-  19 dài chừng 20 phân, nhưng thật tinh vi, sắc sảo như máy bay thật, thu nhỏ; với đầy đủ cả động cơ, phù hiệu, cờ quạt…..Hai ông đã giảng cho tôi rõ ràng tính năng từng loại; để suốt quá trình thời gian tôi ở miền Bắc, nếu thấy loại máy bay đó trên bầu trời, về báo lại.

Ngoài hai máy bay MIG, hai ông còn đưa tôi xem hai cuốn sách có hình mầu: lon, phù hiệu các binh chủng, từ lính cho tới nguyên soái; cả y phục mùa Đông cũng như mùa Hè của quân đội Trung Cộng và Bắc Triều Tiên.

Ngoài ra, trong thời gian ở Hà Nội, tôi phải quan sát các hiện tượng ngoài đường phố. Theo dõi các báo chí, phát thanh những đơn vị nhỏ tập tành. Tiếp xúc quan hệ với mọi từng lớp người dân, v.v…Để từ đấy đánh giá (nếu ghi được số lượng cụ thể càng tốt) những điều tai nghe mắt thấy, nói chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội…và tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội.

Công Tác “Columbus”

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Bài 9 – Công Tác “Columbus”

Đặng Chí Bình

Thời gian trôi qua, thấm thoát đã lại tới tháng Tám, cái tháng của Sài Gòn nắng thật nhiều. Tôi lại được chuyển về số 62 đường Trần Hưng Đạo.

Đây là một phòng rất rộng, có hai buồng, với đầy đủ tiện nghi của một khu có nhiều người ngoại quốc ở. Như vậy mới tạo vẻ bình thường, khi có những người Mỹ thường xuyên ra vào phòng của tôi.

Thời gian này, vừa tiếp tục đào tạo huấn luyện tôi, vừa chuẩn bị kế hoạch công tác tung ra Hà Nội.

Công tác trực tiếp ra Hà Nội:

Bí danh công tác: COLUMBUS

Bí danh từ khi tôi vào ngành: X20.

Thời hạn: 25 ngày (công tác ngắn hạn).

Nội dung:

Chính:

1. Tài liệu X cho Z5 (Hoàng Đình Thọ).

2. Tài liệu M cho … (theo quy ước).

3. Mang 3 tâm thư bằng máu của linh mục Hoàng Quỳnh cho các linh mục A, B, C.

4. Tuyển mộ huấn luyện.

Phụ:

Theo dõi với khả năng và điều kiện tối đa những hiện tượng:

6 Cầu Gỗ, 1 Đường Thành, 27 Hàng Đường.

MIG 15, 19 – Về chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự.

Tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội v.v…

Vỏ bọc:

Học sinh lớp 10 Phổ Thông Vĩnh Linh, đau tim ra Hà Nội chữa bệnh.

Buôn lậu.

Mang thư của sư bà Đàm Hướng chùa Phước Hải về sư Tuệ Chiếu với Thẩm Hoàng Tín.

Theo dõi sư đoàn 308, phòng thủ Thủ Đô Hà Nội do Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm sư trưởng.

Giai đoạn chuẩn bị:

–  Một kế hoạch nghiên cứu tỉ mỉ thấu đáo, phòng hờ mọi tình huống, suốt hơn một năm trường cho tới tháng 4/1962.

–  Hết thực tập lại nghiên cứu. Brown, Dale, Phan và tôi thường xuyên làm việc, theo phương châm: Càng học tập, nghiên cứu kỹ lưỡng trong “giai đoạn chuẩn bị” thì đường vào đất địch càng rộng, càng bằng phẳng.

Chi tiết toàn bộ công tác:

Bí danh X20 (ngay khi là nhân viên chính thức của Cục họ đã đặt bì danh cho tôi là X20, và bây giờ, trong công tác COLUMBUS, vẫn duy trì bí danh đó).

Nhiệm vụ chính:

1- Tài liệu X cho Z5 Hoàng Đình Thọ.

Vì là đích danh, nên tôi đã được cầm tấm hình bán thân (4×6) của ông Thọ một tuần lễ, thỉnh thoảng lấy ra xem cho quen mặt và ghi dần vào tiềm thức của tôi.

Theo tin tức của Cục cho: Lúc đó, Hoàng Đình Thọ là bác sĩ Nội Khoa bệnh viện Phủ Doãn cũ (bây giờ đổi lại là Việt Đức).

Khi về tới Hà Nội, có giấy giới thiệu để khám bệnh tim. Tìm thời cơ thuận tiện để trao “tài liệu X” cho Thọ.

Mật khẩu: “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi”. Đúng 12 chữ.

Trả lời: “Tôi chỉ chữa  tim nhịp đập một trăm ba mươi”. Đúng 10 chữ.

Tài liệu X: bọc ny lông đen, dầy 2 ly, dài 4 phân rưỡi, rộng 2 phân. Kín, không thấm nước. Tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Nếu Hoàng Đình Thọ không còn làm ở bệnh viện Việt Đức. Hủy tài liệu ngay.

2- Tài liệu M theo quy ước.

Giờ và ngày quy định:

Từ 8 giờ đến 10 giờ sáng (2 tiếng).

Ngày 16 và 18 (phòng hờ nếu trục trặc ngày16 thì ngày18).

Địa điểm: Trên cầu Thê Húc (cầu bằng gỗ) của đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm.

Tôi quần xanh, áo trắng xắn tay, đi dép Thái Lan, đội mũ xanh công nhân. Tay cầm tờ báo Quân Đội Nhân Dân.

Đối tượng: (Bất cứ ai) mặc quần ka-ki xám, áo nâu, dép Bình Trị Thiên (dép râu). Tay cầm 3 quyển vở học trò.

–  Khi tôi nhìn thấy bất cứ ai vào giờ ấy, ngày ấy, trên cầu Thê Húc. Chờ người ấy nhìn thấy, tôi đang cầm tờ báo gấp đôi, bây giờ tôi gấp thành tám.

–  Người ấy trả lời bằng cách: Chuyển 3 quyển vở từ tay này sang tay kia. (Luôn luôn ở cách xa ít nhất 10 mét). Sau đó, tôi cứ đi, chính tôi phải chủ động tìm một địa điểm thuận tiện như công viên chẳng hạn. Tìm ghế đá, hoặc chỗ ngồi nào đó để đối tượng, từ xa 50 mét trở lên, có thể dễ dàng quan sát được tôi.

Tôi sẽ ngồi bình thường ở một cái ghế xi măng nào đó. Mở báo xem, che trên hai đùi, rồi (tùy cơ ứng biến) chờ đối tượng nhìn thấy. Gãi khuỷu tay, tuy gãi nhưng một ngón tay chỉ thẳng vào chỗ bỏ tài liệu. “Gãi” là dấu hiệu đã bỏ tài liệu, bây giờ là chỉ chỗ.

Khi thấy đối tượng “gãi đầu”, tức là đối tượng đã nhìn thấy. Chừng 5, 10 phút sau, với một thái độ bình thường, tự nhiên đứng dậy đi (nếu có đuôi, dẫn đuôi đi). Nhưng phải kín đáo, dùng phương pháp nghiệp vụ quan sát, kiểm tra khi đối tượng lại lấy tài liệu. Chỗ để tài liệu tùy theo cái kẹt hay cái góc nào mà người ta vô tình không thể nhìn thấy nhưng phải tạo thuận tiện cho người ấy.

Tài liệu M:

 Bọc ny lông nâu, dầy 3 ly, dài 4 phân, rộng 3 phân; kín, không thấm nước. Cũng như tài liệu X, tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Về mục tài liệu M này, tôi phải nhắc đi nhắc lại. Học thuộc lòng những mật khẩu, và những quy ước phải thực tập nhiều lần. Bây giờ đã 23 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ.

Tôi nhớ thời gian này, những lúc tâm sự hoặc đi chơi với Phan (theo đúng nguyên tắc, tôi không bao giờ được đi với Phan ngoài phố, vì Phan đã bị lộ, là một cán bộ của cơ quan tình báo miền Nam, tôi mà đi với Phan thì cũng gần như bị lộ). Lúc đó, tôi là một thanh niên mới vào nghề, làm sao tôi có ý thức quán thấu mọi mặt, vậy lỗi này do Phan). Phan nói, trong cơ quan hiện nay, đang hình thành hai phe:

a) Gồm Cục Trưởng và đa số: Quan niệm tình báo theo lối cổ, bào thủ, rập theo nguyên tắc cứng ngắc. Thí dụ: Sai một người đi chợ mua một ký táo chẳng hạn. Phải dặn: Lấy xe đạp đi, lúc đi phải đi sát lề phía phải đường đi, phải đi từ từ, chú ý xe cộ ở ngã ba, ngã tư, khi quẹo, nhớ phải giơ tay làm hiệu. Khi đến chợ, khóa xe thế nào, gửi ở đâu, vào chợ thì mua loại táo nào, mặc cả ra sao, cách thức chọn táo; cũng như trên đường vể v.v…

b) Gồm Cục Phó và một số ít người, trong đó có Phan là người điển hình. Quan niệm, tình báo phải sống động linh hoạt, khích lệ cho nhân viên có óc sáng tạo, bén nhậy trong mọi tình huống. Cũng là sai một người ra chợ mua một ký táo, chỉ cần dặn: Nhớ mua, mặc cả táo ngon, đi đường phải cẩn thận. Nhưng, với khả năng khôn khéo sẵn có của anh, tôi tin rằng anh sẽ mua được táo ngon và rẻ.

Theo tôi nghe và nhận định: Tuy tôi chẳng phải là loại người ba phải, tôi thấy cả hai quan niệm trên đều có cái ưu và khuyết. Vậy cần trộn lẫn, rồi nhặt những cái ưu ra dùng, không cần biết của phe nào cả. Đó cũng chỉ là ý nghĩ của tôi, chứ không dám phát biểu với Phan. Tôi chỉ hỏi: Vậy hiện nay, kết quả phe nào có ưu thế? Phan nói: Thực tế bây giờ đánh giá bằng những kết quả của công tác; theo lối cổ điển thì thành công nhiều hay ngược lại, từ đấy phe này sẽ phải theo phe kia.

Do quan niệm trên, Phan nhiều lần giảng dậy cho tôi rất phiến diện, hời hợt. Vì thế, nhiều vấn đề tôi cần sáng tỏ, rõ ràng thì lại phải yêu cầu.

Chẳng bù với Ngọc Cẩn, hoặc sau này là Hoàng Công An, lại quá ư chi tiết, nhàm chán, đôi khi thành lẩn thẩn. Riêng Brown và Dale, thì tôi hiểu là của CIA, tui tôi chưa hiểu lắm, vì trình độ Anh văn của tôi. Nhưng qua một số hiện tượng, phong cách, thái độ của họ, tôi thừa nhận họ có nhiều cái đúng. Nghĩa là, cái nào họ cần chi tiết, thì rất tỉ mỉ từng ngóc ngách một, đoạn nào không cần thiết thì họ cũng phiến diện, khái quát.

Trong thời gian học tập và chuẩn bị công tác này, tôi được cung cấp một radio transitor với cả ống nghe. Tôi được toàn quyền nghe đài miền Bắc, và có rất nhiều sách báo của miền Bắc gồm đủ loại: tuần báo, nguyệt san, nhật báo, sách vở v.v… Mục đích là để tôi quen sự sinh hoạt, cũng như ngôn từ của Cộng Sản miền Bắc.

Vào khoảng tháng 9/1961, một hôm Phan dẫn một người đeo kính trắng đến giới thiệu là ông Hoàng Công An. Vì Phan có một số công tác đặc biệt không ở Sài Gòn, nên ông An sẽ thay Phan phụ trách tôi. Ông An là người miền Trung.

Qua sự huấn luyện và học tập, và kinh nghiệm từ số 2 Jean Jacques Rousseau, tôi đã hiểu đầy đủ về sự tò mò tìm hiểu những điều mình không cần biết, một nguyên tắc ngay trong cuộc sống, thường thường đã là không tốt rồi và bất lợi rồi. Vì vậy, ngay những người đến giảng dạy huấn luyện cho tôi gần 2 năm trời, tôi chẳng, hoặc không cần biết tên thật của họ, chức vụ của họ. Họ ở đâu đến, xong họ đi đâu, tôi không biết.

3) Mang 3 tâm thư của linh mục Hoàng Quỳnh.

Đây là một vấn đề phức tạp và nghiêm trọng. Nó có liên quan ảnh hưởng đến toàn bộ Thiên Chúa Giáo miền Bắc. Có lẽ vì vậy mà Cục đưa Hoàng Công An, một tu sĩ gần thành linh mục, đến phụ trách tôi.

Nội dung: Tôi sẽ mang tâm thư của cha Hoàng Quỳnh cho:

–  Linh mục A ở nhà thờ X (Hà Nội).

–  Linh mục B ở nhà thờ Y (Hà Nội).

–  Linh mục C cũng ở nhà thờ Y (Hà Nội).

Tôi đã được xem 3 bản giấy đánh máy, nói rõ về thân thế đặc tính của từng linh mục trên, kèm theo 3 tấm hình bán thân (4×6).

a) Linh mục A.

Đã có bằng tiến sĩ ở Pháp. Tháo vát, cương quyết, tinh thần chống Cộng Sản rất cao. Có nhiều thành tích và uy tín với giáo dân. Lời hẹn ước xưa với cha Quỳnh. Do tình trạng thiếu linh mục nên linh mục A còn phải phụ trách thêm Phúc Xá Thượng và Phúc Xá Hạ nữa.

Yêu cầu của cấp trên nói rõ:

Sau khi Cha A  xem xong thư của Cha Quỳnh, đồng ý tự nguyện hoạt động cho thế giới tự do, điều đó là thành công nhất. Khi đó, tôi sẽ nằm luôn tại nhà xứ trong một nơi an toàn, theo sự sắp xếp của Cha A. Hàng ngày, chính tôi sẽ huấn luyện cho người những nét chính yếu, cơ bản về hoạt đống tình báo. Trong vòng 10 ngày, phải xác minh được tinh thần, năng khiếu, hoàn cảnh, điều kiện của người. Giao mật khẩu và mật vật là nửa đồng bạc 1 đồng miền Bắc xé đôi: một nửa giao cho người, một nửa tôi sẽ mang về miền Nam. Sau này, bất cứ thời gian nào đó, hoặc nơi chốn nào, có một người nào đó, đến gặp Cha, nói đúng mật khẩu và đưa mật vật, người đó chính là đại diện của Sài Gòn, và sẽ cung cấp những nhu cầu cần thiết cũng như nhiệm vụ cho Cha.

Nếu vì một lý do nào đó, Cha vẫn có tinh thần chống Cộng Sản, nhưng lại không đồng ý hoạt động trực tiếp cho Sài Gòn, yêu cầu Cha giới thiệu người tin cẩn, thân tín nhất, có khả năng và tinh thần. Lúc đó, tôi sẽ trực tiếp gặp riêng, rồi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của người đó, sẽ quyết định nơi huấn luyện. Nếu không có điều kiện thuận lợi, yêu cầu Cha giúp đỡ rồi cũng bí mật nằm im 10 ngày để huấn luyện.

Tuyển mộ nhân viên: Không phân biệt tuổi tác, thành phần, nữ hay nam, nếu là người của chính quyền địch thì càng tốt. Tìm hiểu kỹ thân thế, quan hệ họ hàng, hoàn cảnh, điều kiện sống của người nhân viên mới đó. Cân nhắc xác đáng, phù hợp để cho họ hai địa chỉ ở Pháp và Campuchia để liên lạc.

Địa chỉ ở Pháp: Paul Lạng, 14 rue du Four, Paris 6è, France. Cung cấp cho nhân viên đó rõ thực tế: Paul Lạng, 42 tuổi. Pháp lai có vợ là Marie Nguyễn cũng là Pháp lai. Trước năm 1954 ở Sài gòn. Đầu năm 1954 cùng vợ và 5 con gái về Pháp trên chuyến tàu Espérance. Hiện y đang làm chủ một hiệu giặt ủi máy lớn  ở cùng địa chỉ.

Địa chỉ ở Kamphuchea: Peck Kim San, Maternité Sokha, 105 Monivong St. Phnom Penh, 28 tuổi là nhân viên làm trong Maternité  . Vợ là người miền Nam, quốc tịch Kampuchea, có đứa con trai 4 tuổi.

Lý do phải tương đối hợp lý về quan hệ họ hàng cũng như quan hệ xã hội để nhân viên mới đó giao thiệp thư từ với 2 địa chỉ nói trên: có thể là anh em chú bác bạn bè v.v…. thỉnh thoảng vẫn  thư từ  thăm hỏi sức khoẻ của nhau từ trước. Có thư từ giao thiêp một thời gian  sau đó lẫn vào những lá thư sẽ có những câu hỏi an ninh thí dụ như:

1) Anh dạo này có khoẻ không? – Trả lời vẫn khoẻ, là bị theo dõi. Trả lời ốm bịnh là vẫn bình thường, không ai theo dõi cả.

2) Anh có ước mong có tiền để mua một chiếc xe đạp mới không? – Trả lời không thích tự do.

3) Anh có thích nhạc Phạm Duy không? – Không thích là bị theo dõi. Thích nghe là tự do.

4) Anh thích ăn thịt gà không? – Trả lời thích là bị theo dõi. Không thích là tự do.

5) Người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, sống có thoải mái không? Thoải mái là bị theo dõi. Không thoải mái là tự do.

Ngoài ra, còn hai quy định nữa trong những thư viết cho hai địa chỉ trên để báo cho Sài Gòn biết là mình đang bị công an cưỡng bức ngồi viết thư:

1) Đầu lá thư viết ngày tháng, nếu không để chữ “Ngày” là bị theo dõi. Thí dụ: 20-10-1963: bị theo dõi. Ngày 20-10-1963: không bị theo dõi.

2) Tuy có viết ngày hay không, mà dưới niên hiệu năm không có “dấu chấm” là bị theo dõi. Có “dấu chấm” là tự do. Thí dụ: 20-10-1963: bị theo dõi; 20-10-1963.: tự do.

Bắt nhân viên đó học thuộc lòng. Cần nhớ nguyên tắc 5 câu hỏi trên là: Hợp lý: bị theo dõi. Không hợp lý: tự do.

Bởi vì, nếu không có ai để ý theo dõi, hoặc ngồi trong phòng: công an dí súng bắt viết báo cho Sài Gòn, thì viết ngược cũng không thành vấn đề.

Quy ước có hàng nghìn kiểu, chỉ có trời biết, nhưng với điều kiện phải nhớ, không được lẫn lộn.

b) Linh mục B.

Là một người rất trầm tĩnh, ít nói. Làm việc hết khả năng, dù gặp trở ngại cũng tìm mọi cách để hoàn thành công việc. Có óc tổ chức. Còn nặng về tôn giáo hơn xã hội. Theo Cục cho biết cha B vẫn ở trong nhà thờ Y.

c) Linh mục C.

Cũng ở nhà thờ Y, Hà Nội. Cha năm nay đã già. Tuy vậy, tinh thần của ông rất cao. Ông rất có uy tín với giáo dân Hà Nội, cũng nhưn hàng giáo phẩm Việt Nam.

Theo ý của Cục:

–  Cần nhất là linh mục A. Nếu vì lý do nào đó mà người không còn ở nhà thờ X; hoặclý do nào khác mà người từ chối thì hãy tới linh mục B.

Nếu vì lý do nào đó mà không thể được linh mục B, thì mới tới linh mục C.

Theo Hoàng Công An cho biết. Ba linh mục trên, không những cùng hàng giáo phẩm thờ Chúa, chăn chiên như linh mục Hoàng Quỳnh, mà còn là những người thân, những đồng chí đã có nhiều hẹn ước khi cha Hoàng Quỳnh từ giã theo đàn chiên di cư vào Nam. Tuy vậy, đã 8 năm rồi, dưới chế độ Cộng Sản tàn bạo, chẳng hiểu tinh thần của các người bây giờ thế nào. Hơn nữa, sức khoẻ cũng là một vấn để đối với ba linh mục kể trên.

Riêng tôi, tôi đã suy nghĩ nhiều: Tôi thấy và hiểu rằng công tác này quá nặng nề và nghiêm trọng, đòi hỏi phải một người có khà năng 10 mà tôi chỉ có 2, nghĩa là không có trâu thì phải bắt nghé đi cầy. Vì thế, tôi đã mạnh dạn nói ý này với An.

An nói:

– Trên Cục đã nghiên cứu về vấn, đề này rất kỹ, nhất là về tôn giáo. Không phải ai cũng giao được công tác này, bởi vì, nếu thất bại, Cộng Sản sẽ lấy đó để hạ uy tín của công giáo và tăng cường kìm kẹp giáo dân cũng như các hàng giáo phẩm hơn nữa. Không những thế, công tác còn đòi hỏi rất nhiều mặt, nhất là địa bàn hoạt động lại là thủ đô của Cộng Sản. Bình yên tâm, Cục đã cân nhắc, tìm tòi nhiều, cuối cùng mới quyết định Bình đấy chứ.

Dù An nói sao, tôi vẫn tự nghĩ thầm. Những người đầy đủ khả năng thì không ai dám đi, vì đầy nguy hiểm, chết chóc trước mắt. Vì thế, trong số những người liều bất tử, dù không đủ yêu cầu thì cũng đành chọn vậy.

Tuy trong lòng tôi đầy vơi nghĩ suy như vậy. Nhưng nhìn lại, thế của tôi đã ngồi lên lưng cọp rồi. Quan điểm của tôi là đã trót ngồi lên lưng ông Ba Mươi, phải thúc gót thêm cho ông phóng mạnh, rồi muốn ra sao thì ra.

Một hôm, Hoàng Công An đến nói với tôi: Theo ý cha Hoàng Quỳnh, trước khi người viết thư, người yêu cầu được gặp chính người lãnh sứ mạng đặc biệt đó ra Hà Nội. Cục đã chấp nhận. Vậy, sáng mai, 9 giờ tôi đến, chúng ta cùng đi.

Tôi hỏi đi đâu, có xa không?

An nói:

– Ở xứ Bình An, bên Bình Xuyên.

Tôi nhớ lại ngày xưa, ngày tôi còn là cậu bé, cha Hoàng Quỳnh là trưởng đoàn võ: Đinh Bộ Lĩnh mà tôi là một võ sinh tí hon theo đoàn đi các nơi biểu diễn những bài song kiếm hoặc Mai Hoa Quyền trêm một võ đài. Chắc giờ đây tôi có nói ra thì cha mới nhớ được, vì tôi lúc này đã lớn rồi. Bởi thế, tôi đã định, nếu khi gặp, cha không nhận ra thì tôi cũng không nhắc lại.

Hôm sau An đến, chúng tôi cùng đi xe tới xứ Bình An. Tôi và An ngồi chờ cha ờ phòng khách. Một lát sau, cha ra. Ôi, mới hơn 10 năm trời mà khi tôi nhìn thấy người, tôi rất ngỡ ngàng. Da mặt người đã nhăn nheo, tóc người đã điểm sương. Chỉ còn dáng dấp quen thuộc, nhanh nhẹn của người thì vẫn như ngày nào.

Hơn một giờ chuyện trò, Cha thường nhìn tôi, nói: “Dũng cảm nhỉ!”. Lúc tiễn An và tôi ra cổng, cha nói:

–  Cha rất cảm phục con. Trước ngày con đi, cha muốn ăn cơm với con một bữa, để thỏa lòng cha, gọi là trách nhiệm của một người tiễn đưa một tráng sĩ mang tinh thần oanh liệt của Phạm Hồng Thái, con có đồng ý không?

Tôi không dám trả lời và nhìn sang An. An nói:

–  Con xin lĩnh ý cha. Con về xin ý kiến, rồi sẽ điện đến cha ngay.

Trên đường về, An nói:

–  Chưa chắc cấp trên đã đồng ý, vì Bình còn nhiều việc lắm.

Tôi biết uy tín của cha Quỳnh không phải là nhỏ. Người đã làm cho Hồ Chí Minh bẽ mặt một lần, khi người còn là Phó Chủ Tịch Mặt Trận “Liên Tôn Diệt Cộng” hiển hách năm nào ở ngoài Bắc, mà sư Tuệ Chiếu là Chủ Tịch; cái thời cáo Hồ còn bịp bợm ve vãn, mua chuộc, quỳ gối trước Đức cha Lê Hữu Từ xin chịu rửa tội nhập đạo.

4. Tuyển mộ huấn luyện:

Nếu do lòng nhiệt tình và ý thức dân tộc nên các cha đồng ý, tối sẽ huấn luyện. Nếu không, xin các cha giới thiệu những người tin cẩn và thân tín, lúc đó, chính tôi sẽ tuyển mộ và huấn luyện họ. Đối với tôi, điều này không khó khăn gì lắm. Ban đầu, chỉ cần nói những nét cơ bản về nghiệp vụ. Điều khó khăn là tìm biết được khả năng và bản tính của mỗi người, phát hiện ngay được cái ưu, cái khuyết của họ.

Tuy tôi cũng đã được học tập gần 2 năm, Dale, Brown và An vẫn nhấn mạnh:

–  Bản tính con người ta vô cùng phức tạp, có rất nhiều vấn đề khác biệt. Nhưng nói chung, con người gồm ba loại:

a)Loại bộp chộp, ruột để ngoài da. Vui, buồn hay có vấn đề gì, chung quanh ai cũng biết. Loại ngưòi này ta ít phải quan tâm.

b)Loại thâm trầm, ít nói. Họ ghét hay họ yêu mình, họ đồng ý hay không đồng ý việc mình làm, thái độ của họ không thay đổi. Loại người này, khi sống gần, ta phải luôn luôn cảnh giác, giữ ý và coi chừng. Nếu họ bắt đầu có hành động hay thái độ gì không bình thường, ta đã chuẩn bị đối phó. Nhưng họ không nguy hiểm bằng loại thứ ba.

c)Loại người này, họ vẫn cười nói với mình, đôi khi lại tỏ ra thắm thiết thân mật hơn, ta có khó khăn gì họ sẵn sàng giúp đỡ, chia xẻ. Khi họ chiếm được lòng tin của ta, bất ngờ cho một mũi dao vào tim ta. Loại này thường làm mất cảm giác của ta. Gây cho ta sự chủ quan rồi hại ta v.v…

Tóm lại: Để có thể phân loại được bản tính của đối tượng, ta phải có sự nhận xét tinh tế và bén nhậy. Dù đối tượng nói gì, nấp dưới bất cứ hình thức nào, ta vẫn phải nhìn rõ bản chất, nghĩa là con người thực của họ. v.v… Người đi tuyển mộ phải biết.

Bản tính con người khó thay đổi. Vì vậy, trong giai đoạn thử thách, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cho phép có thể ngắn dài, nếu thấy người mình định tuyển mộ có những khuyết điểm về cơ bản thuộc bản chất, ta phải loại bỏ ngay. Khác với các lãnh vực khác còn có thể sửa chữa được, bản chất thì không.

Một người có tính huênh hoang, có thể đã bị đời đập cho méo mặt vì cái tính huyên hoang, khoác lác này, cũng chỉ chừa được ít ngày, rồi sau đó, đâu lại hoàn đấy.

Một người có tính tự ái cao, thì suốt đời cũng không thể bỏ được tính đó. Chính vì tính tự ái này, họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thăng tiến, lỡ lầm nhiều chuyện tình cảm, để phải ân hận lâu dài.

Ông bà ta đã chẳng từng nói: “Cái nết đánh chết không chừa”. Phương tây cũng có những câu chuyện về “Ông vua và chiếc tai Lừa”, hoặc “Con mèo và ông quan đại thần”… Ông cha đã dậy con cháu là chúng ta: Giang sơn dễ đổi, bản tính khó chừa!

Hồi Ký Của Một Tay Súng Bắn Tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Tôi thích bắn súng và tôi yêu săn bắn, nhưng chắc chắn tôi không bao giờ thích giết hại ai cả. Tuy nhiên, đó là công việc của tôi. Nếu tôi không giết những kẻ nhẫn tâm đó, họ sẽ ra tay sát hại nhiều lớp người trẻ khoác lên mình những bộ quần áo Thuỷ Quân Lục Chiến như chúng tôi.

− Trung sĩ Carlos Hathcock, Thuỷ Quân Lục Chiến

Phần 1. Tiếp cận và tiêu diệt

Khi Hải quân Mỹ cần sử dụng lực lượng tinh nhuệ nhất của mình, họ chọn lực lượng đột kích SEAL; khi lực lượng SEAL cần sử dụng lực lượng tinh túy nhất của mình, họ chọn Đội SEAL số 6. Lực lượng SEAL của Hải quân Mỹ có nhiệm vụ chống khủng bố và chống chiến tranh du kích (tương tự như nhiệm vụ của lực lượng Delta thuộc Bộ binh Mỹ) và cũng có lúc phối hợp với Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Đây là lần đầu tiên câu chuyện của một lính bắn tỉa thuộc Đội SEAL số 6 được thuật lại. Và đó là câu chuyện của tôi.

Những người lính bắn tỉa đều tránh bộc lộ bản thân. Mặc dù chúng tôi ưu tiên tấn công thay vì trở thành mục tiêu bị tấn công, nhưng một vài kẻ thù vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi. Chúng tôi dựa vào sức mạnh của mình để khai thác điểm yếu của đối phương, tuy nhiên trong suốt thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần I, tôi đã bị thương và nằm đơn độc trên phần đuôi nhô ra của con tàu địch có sự hiện diện của nhóm thủy thủ làm việc cho Saddam Hussein. Một lần khác, dù là bậc thầy về nghệ thuật ngụy trang và ẩn nấp, nhưng tôi lại phải nằm phơi mình trên đường băng của một nước thuộc thế giới thứ ba với những lỗ đạn trên cả hai chân, chân phải gần như bị đứt lìa bởi đạn súng AK-47. Đôi khi chúng tôi phải đối mặt với những gì mà mình vẫn luôn cố tránh.

Tờ mờ sáng ngày 18 tháng Chín năm 1993 tại Mogadishu, Somalia, Casanova và tôi bò qua một bức tường còn sót lại ở đó, rồi trèo lên sân thượng của một tòa nhà 6 tầng. Mới tờ mờ sáng, nhưng ở khu vực xung quanh tòa nhà đã có người đi lại. Đàn ông, đàn bà và trẻ con đang tận hưởng những giây phút bình yên trên những con phố. Tôi ngửi thấy mùi từ những lò lửa mới nhóm lên bằng phân động vật khô hay bất cứ thứ gì mà người ta có thể để đốt. Chúng được dùng để nấu bất kỳ loại thức ăn nào mà người dân Somali tìm thấy. Thủ lĩnh phiến quân Aidid hiểu rõ được tầm quan trọng của việc kiểm soát nguồn cung lương thực, cho nên cứ mỗi lần thấy một đứa trẻ chết đói, tôi lại đổ lỗi điều đó cho Aidid, vì trò chơi quyền lực tàn độc của hắn đã tàn phá cuộc sống của người dân nơi đây.

Tòa nhà chúng tôi đang trú ngụ nằm ở giữa khu phức hợp Pakistan. Người Pakistan rất thân thiện và tôn trọng chúng tôi. Vào giờ uống trà, một cậu bé phục vụ luôn mang tới cho chúng tôi một cốc trà. Sữa dê mà họ cho vào trong trà thậm chí còn giúp tôi sáng tạo ra một hương vị trà mới. Ẩm vị và hương vị của những người chăn dê trong khu phức hợp này chạm tới cảm xúc của tôi khi tôi cùng Casanova trườn tới mép ngoài đỉnh tòa nhà. Chúng tôi nằm sấp ở đó và hướng tầm mắt về một gara lớn phía trước, đó là một tòa nhà không nóc của một xưởng sửa chữa các loại phương tiện. Vây quanh gara này là khung cảnh của một thành phố ảm đạm. Những con người Somali nặng nề lê bước, đầu và vai nặng trĩu như sắp sụp xuống. Sự bất lực bủa vây khuôn mặt họ, sự nghèo đói biến họ thành bộ da bọc xương. Do đây vẫn còn là khu vực “tốt hơn” so với những nơi khác ở thành phố này, nên những tòa nhà đa kích cỡ cũng được tôn tạo đôi chút. Ở vùng này cũng xuất hiện cả những ngôi nhà kiên cố bằng bê tông, thay vì chỉ có những tòa nhà cấp bốn bằng tôn và gỗ phổ biến trên khắp các thành phố và khu vực nông thôn ở đất nước này. Tuy nhiên, mùi hôi thối từ xác người chết và rác rưởi, trộn lẫn với “mùi” tâm trạng vô vọng của người dân nơi đây tràn ngập trong không khí. Vâng, đúng là sự vô vọng cũng có mùi vị. Người ta sử dụng khái niệm “các nước đang phát triển”, nhưng với Somali, khái niệm đó nghe thật chối tai. Thứ “đang phát triển” tại Somali lúc này chính là đói nghèo và chiến tranh. Tôi nghĩ khái niệm “các nước đang phát triển” chỉ là cách khiến những người vẽ ra nó cảm thấy được an ủi hơn. Dù chúng ta có xem đói nghèo và chiến tranh là gì đi chăng nữa, thì thực sự đó vẫn là hai điều tệ hại nhất có thể tưởng tượng ra. Tôi đo khoảng cách chính xác tới một số tòa nhà. Khi thực hiện thao tác bắn tỉa, hai yếu tố chính mà bạn cần xem xét chuẩn xác đó là độ lệch ngang và độ lệch cao thấp của đường đạn. Do hiện giờ gió không đủ mạnh để có thể làm lệch trái hoặc lệch phải đường đạn, nên tôi không phải quan tâm nhiều đến độ lệch ngang. Độ cao thấp thay đổi tùy thuộc vào tầm bắn (khoảng cách tới mục tiêu). Do hầu hết các mục tiêu của tôi đều ở cách xa từ khoảng 200m (từ gara trước mặt) tới 650m (tương đương với khoảng cách tới điểm giao nhau phía sau gara), nên tôi thường điều chỉnh kính ngắm ở mức cách 500m. Cách này cho phép tôi điều chỉnh súng cao hay thấp tùy thuộc vào tầm bắn. Khi súng nổ, giữa các phát bắn, bạn sẽ không có thời gian điều chỉnh kính ngắm để lấy tầm bắn chuẩn.

Chúng tôi bắt đầu trinh sát vào lúc 6 giờ sáng. Trong khi chờ tín hiệu của đồng nghiệp, tôi đã hình dung ra những cảnh tượng khác nhau trong đầu mình: có thể một tên sẽ xuất hiện chỗ này, rồi một tên khác xuất hiện chỗ kia và tiếp tục như thế. Khi đó tôi sẽ xác định mục tiêu, ngắm bắn và thậm chí còn làm động tác lên cò tượng trưng, phát đạn lướt xuyên qua hơi thở ổn định của tôi và theo đúng đường đạn đã vạch ra, trong khi vẫn đang dán chặt mắt vào mục tiêu. Sau đó tôi giả lên đạn lại, trở lại quan sát qua kính ngắm Leupold 10-power, tiếp tục tìm kiếm thêm vài tên khốn nữa. Đã hàng nghìn lần tôi bắn thử cũng như bắn thật, kể cả trong thời tiết ẩm ướt hay khô ráo, trong bùn lầy hay trong tuyết phủ; từ công sự tự đào trong lòng đất, ẩn mình sau những cánh cửa sổ khép hờ trong thành phố, hay gần như ở bất cứ nơi nào mà chúng tôi nghĩ ra. Những điều chúng tôi luôn được nghe ngay từ ngày đầu tham gia huấn luyện tại SEAL thực sự đúng đắn: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Ngày hôm nay, tôi có trách nhiệm phải đảm bảo không một ai trong những người đồng đội thuộc Lực lượng Delta phải rơi một giọt máu nào khi tôi yểm trợ cho họ đột kích vào gara. Trong tác chiến, sự an toàn tuyệt đối của đồng đội tôi cũng quan trọng như sự bình an của chính tôi vậy.

Mục tiêu lần này của chúng tôi là Osman Ali Atto – chuyên gia, cố vấn tài chính quan trọng của Tướng Aidid. Dù ngay từ lần trinh sát trước, cả Casanova và tôi đều có thể xác định được mục tiêu, nhưng cấp trên yêu cầu chúng tôi phải chờ mật vụ CIA xác nhận về đặc điểm nhận dạng của hắn trước khi nổ súng.Tôi không được phép quên thực tế trớ trêu hiện tại đó là phải thực hiện nhiệm vụ bắt sống Atto thay vì tiêu diệt hắn, dù hắn và cấp trên của hắn đã giết chết hàng trăm nghìn người dân Somali vô tội. Tôi có cảm giác rằng nếu tiêu diệt Atto và Aidid, chúng tôi có thể kết thúc xung đột, nhanh chóng mang lương thực đến cho người dân và bình an trở về nhà.

Khoảng 8 giờ 15 phút sáng, cuối cùng mật vụ của chúng tôi cũng ra tín hiệu theo quy ước định sẵn. Mật vụ này làm điều đó vì đã được CIA đối đãi rất hậu hĩnh. Điều đầu tiên mà tôi học được khi làm việc với CIA là sức mạnh của đồng tiền có thể xô đổ mọi sự trung thành. Nhận được tín hiệu, cả Casanova và tôi đều lên đạn sẵn sàng. Trực thăng Black Hawk (Diều hâu) và Little Bird (Chim nhỏ) bay rợp trời. Vào thời điểm đó, các thành viên Delta đã bắt đầu xuất kích. Quả thực, môi trường tác chiến trong đô thị đã cung cấp cho quân địch rất nhiều lá chắn, nhiều chỗ ẩn nấp và đường rút lui. Tất cả những gì mà một tên địch phải làm là nổ một vài loạt đạn vào trực thăng hoặc xe Humvee, rồi nhảy ngược lại vào trong tòa nhà và quẳng vũ khí đi. Thậm chí nếu hắn có tái xuất hiện, thì hắn cũng không còn bị coi là quân địch khi không mang vũ khí. Mọi chuyện diễn ra rất nhanh và môi trường tác chiến không có chỗ cho lòng vị tha.

Những người lính của Delta nhanh nhẹn tụt dây vào bên trong gara, lính Ranger cũng rất nhanh leo dây xuống bủa vây quanh gara, trong khi những lính bắn tỉa của Delta hiện diện trên trực thăng Little Bird bay lượn phía trên bảo vệ lực lượng trực tiếp tác chiến tấn công. Người của Atto chạy tán loạn như bầy ong vỡ tổ. Ngay lập tức, lực lượng dân quân của đối phương xuất hiện từ các tòa nhà xung quanh và nổ súng vào trực thăng. Thông thường khi tác chiến, các lính bắn tỉa phải phối hợp với những người xác định mục tiêu. Người này sẽ nhận dạng, ước tính khoảng cách tới mục tiêu và truyền thông số cho các lính bắn tỉa để triệt hạ kẻ thù. Tuy nhiên, lần này chúng tôi không có thời gian để thực hiện thao tác đó vì đang tác chiến trong thành phố. Trong môi trường tác chiến này, kẻ địch có thể xuất hiện ở bất cứ đâu. Thậm chí tồi tệ hơn là bọn chúng ngụy trang làm dân thường. Chúng tôi buộc phải căn cứ vào động tĩnh của hắn. Thậm chí nếu lỡ hắn có xuất hiện với súng trên tay, hắn ta vẫn có thể là người của phía chúng tôi. Chúng tôi phải đợi cho đến lúc hắn hướng vũ khí về phía những đồng đội của chúng tôi. Đến lúc đó chúng tôi mới chắc chắn được rằng hắn ta cần phải bị tiêu diệt. Chúng tôi không có thời gian chỉnh sửa hoặc thực hiện phát bắn thứ hai. Hiện tại cả Casanova và tôi đều được trang bị súng bắn tỉa .300 Win Mag.

Sử dụng kính ngắm Leupold 10-power, tôi thấy một phiến quân nấp ở cửa sổ cách tôi khoảng 500m và đang nã súng vào trực thăng. Tôi thở đều, lấy lại nhịp tim ổn định và hướng tâm kính ngắm vào hắn, những hành động tiếp theo diễn ra theo yếu lĩnh động tác sẵn có: báng sùng ghì chặt vào vai, má áp vào một bên kính ngắm, mắt tôi tập trung vào tâm kính ngắm thay vì tên địch, từ từ lên cò (thậm chí dù cò rất nhẹ, lực kéo khoảng 2 kg). Tôi cảm nhận được sự chính xác ngay từ cú giật của súng. Viên đạn đâm xuyên từ bên trái sang bên phải ngực tên địch. Hắn quay cuồng, oằn mình rồi ngã vật xuống nền nhà và nằm đó mãi mãi. Tôi nhanh chóng quay lại với kính ngắm và tiếp tục rà tìm mục tiêu. Cuộc chiến lại tiếp tục. Tất cả những ý nghĩ khác biến mất khỏi tâm trí tôi. Ngay lúc này chỉ có súng Win Mag bên cạnh, tôi tiếp tục rà tìm mục tiêu trong phạm vi đảm nhiệm. Casanova cũng đang thực hiện nhiệm vụ tương tự của mình.

Một tên phiến quân khác sử dụng AK-47 xuất hiện từ cửa một tòa nhà cách tôi khoảng 300m và hướng súng về phía những người lính Delta đang thực hiện cuộc tấn công vào gara. Tôi chắc chắn hắn ta nghĩ rằng ở vị trí hiện tại của mình, hắn an toàn trước lực lượng tấn công. Tuy nhiên hắn không thể thoát khỏi tầm ngắm của tôi bởi vì khoảng cách 300m không phải là một trở ngại lớn. Tôi hạ hắn từ phía sườn trái và tất nhiên viên đạn bay ra ở phía bên phải. Hắn gục xuống ngay ở cửa thoát hiểm và không bao giờ biết ai đã hạ mình. Khẩu AK-47 nằm im lìm bên cạnh xác hắn. Một tên khác cố tiến tới chỗ hắn để giành lại khẩu súng, song một phát đạn từ súng Win Mag của tôi đã ngăn không cho điều đó xảy ra. Ngay sau mỗi lần thực hiện một phát bắn, tôi lập tức quên mục tiêu cũ để chuyển sang mục tiêu khác. Trong và ngoài gara, khung cảnh hỗn loạn thấy rõ. Mọi người chạy tán loạn khắp nơi. Trực thăng Little Bird và Black Hawk che phủ bầu trời, tiếng cánh quạt rít gió đinh tai nhức óc, nhưng tôi vẫn đang ở trong thế giới riêng bé nhỏ của mình. Ngoại trừ nhiệm vụ và những mục tiêu tôi quan sát được từ kính ngắm, hiện giờ chẳng có gì khác tồn tại cả. Hãy để những người lính của đơn vị thực hiện tác chiến làm nhiệm vụ của mình bên trong gara. Nhiệm vụ của tôi là tiếp cận và tiêu diệt quân địch.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi hạ kẻ thù vì đất nước mình. Hiển nhiên, đó cũng không phải là lần cuối cùng. Tôi tiếp tục rà tìm mục tiêu trong vài phút. Cách tôi khoảng 800m có một tên xuất hiện với súng phóng lựu RPG. Hắn chuẩn bị bắn trực thăng của chúng tôi. Nếu tôi hạ được hắn, đó chắc là mục tiêu bị hạ ở khoảng cách xa nhất trong suốt sự nghiệp cầm súng của mình, nhưng nếu tôi thất bại thì sao…

Vượt Đại Tây Dương

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Sáng sớm vừa vẹt màn cửa sổ, một quang cảnh tuyệt vời liền ập vào mắt tôi. Ngoài khung cửa kiếng, những con tàu đậu bên kè đá còn lờ mờ trong ánh sáng mai và chơn trời Đông nhuộm màu than cháy. Tôi vội quay ngang lấy chiếc điện thoại thông minh trên bàn, bấm phần camera, mở cửa đi nhanh ra sau lái, đưa máy nhắm về chơn trời Đông hực màu ráng đỏ và bấm liền vài ba tấm. Chụp xong tôi mới phát hiện chim nhàn bay rợp không gian và đậu trắng trên bến cảng, tiếng kêu chót chét om xòm trời đất nghe không hay ho gì hết, trong thơ ca các vị thi sĩ nhạc sĩ gọi chim nhàn là Hải Âu và họ chỉ tả về sắc trắng duyên dáng của loài chim gắn liền với biển trời nhưng không có ai diễn tả về tiếng kêu, có lẽ tiếng kêu của loài Hải Âu quá tệ nên trong thơ ca không nhắc tới. Tôi đưa máy lên chụp bầy chim lớp bay lớp đậu giữa lúc trời còn tranh tối tranh sáng. Khi thấy chim nhàn tụ về đất liền đông đảo, người mang nghiệp sông nước biết liền đó là báo hiệu ngoài khơi có gió to sóng lớn. Trời vừa sáng trắng thì mây đen lại kéo về chuẩn bị cho cơn mưa, thời tiết thay đổi thất thường làm tôi tưởng nhớ tới quê hương, lạ thật, lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác nhớ quê. Quê hương tôi hướng mặt ra biển, thường vào những buổi chiều đẹp, phía trời Tây nhuộm đỏ một màu, đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy ráng đỏ lúc bình minh và trời chuyển cơn mưa sáng gợi cho tôi nhớ lại đầu mùa gió nam và cũng là mùa tôm bạc rại. Nỗi nhớ nhung chỉ thoáng qua tâm trí nhưng nó đã khiến lòng tôi xôn xao và lưu luyến buổi sáng tuyệt vời.

Trời bắt đầu mưa lắc rắc và cũng đã tới giờ làm việc, tôi trở vào phòng cất máy, vô buồng tắm đánh răng, rửa mặt, thay quần áo và bắt đầu công việc hàng ngày của một đầu biếp tàu viễn dương. Trong lúc sửa soạn cho buổi ăn sáng, thuyền trưởng tới nói với tôi:

– Ông xem lại thực phẩm, nếu còn thiếu gì thì mua thêm tại đây, sang Nam Mỹ không mua được đâu.

– Yes sir!

Tàu khởi hành từ cảng Rotterdam Hòa Lan, sau đó sang Anwerpen bên Bỉ, xuống thêm hàng rồi qua Bilbao vùng cực bắc Tây Ban Nha, nơi đây họ xuống thêm containers, đây là cảng cuối cùng ở Âu Châu. Khuya nay tàu sẽ khởi hành qua Nam Mỹ, qua đó còn ghé nhiều cảng lên hàng và xuống hàng, chưa biết bao lâu mới trở về Âu Châu. Thuyền trưởng nói bên Nam Mỹ đồ ăn chất lượng kém và nhiều chứng bịnh truyền nhiễm vùng nhiệt đới nên không phải cảng nào cũng được phép mua thức ăn. Chuyện này thiệt tình tôi không hiểu nổi, nhiều năm trước, mỗi lần sang Nam Mỹ hay trên những tuyến đường đường xa, trên tàu hết rau cải, trái cây tươi và trứng, thuyền trưởng đưa tiền cho tôi lên chợ mua thêm. Bây giờ bày ra chuyện an toàn thực phẩm cho có vẻ nhân đạo một chút, nhưng dù gì đi nữa thì đây cũng là một cái cớ cho công ty tiết kiệm được một khoản tiền.

Tôi lấy đơn nhận hàng hôm ở Rotterdam xem lại mới phát hiện thiếu muối và dấm. Cho chắc ăn, tôi xuống kho kiểm lại thực thẩm lần nữa, những thứ cần thiết như ngũ cốc, đồ đông đá, đồ khô, đồ hộp đầy đủ trên hai tháng. Rau, củ và trái cây tươi ăn từ Rotterdam qua đây có hao hụt chút đỉnh nhưng không sao, dù gì đi nữa đồ ăn tươi cũng không giữ được lâu hơn một tháng, trên tàu ăn rau cải đông đá là chuyện thường. Dấm thiếu thì có thể châm chế được, cần lắm thì lấy chanh hoặc lấy dấm ngâm dưa chua thay thế, muối coi vậy mà thiếu nó thì nấu nướng còn có ra gì. Tôi sắp xếp công việc buổi sáng gọn gàng để giấc trưa dư nhiều thời gian có thể lên chợ mua thêm mớ đồ dùng cá nhân và vài ký lô muối.

Sau cơn mưa ngày dứt, tôi rời tàu, đi theo con đường dưới chơn núi và hướng về trung tâm khu phố nhỏ gần bến cảng. Bilbao là một thành phố lớn của tỉnh Biscay miền bắc Tây Ban Nha, thuộc xứ Basque có bãi biển nối dài liền qua nhiều tỉnh trong vịnh Biscay, hướng ra phía Bắc Đại Tây Dương, nước sâu và lạnh nên khách du lịch tới đây tắm biển không đông. Tuy nhiên nơi đây rất lý tưởng cho những du thuyền đến nghỉ ngơi và ngoạn cảnh. Những con đường ven biển của vương quốc Tây Ban Nha thiết kế gần giống nhau, một con đường rộng lót gạch sạch sẽ, dành cho người đi bộ, lề trong con đường trồng cây thốt nốt ngay hàng thẳng lối, từng khoảng trống dưới gốc có đặt những băng đá dành cho người đi bộ nghỉ chưn, bên ngoài con đường là một bờ biển dài có bến đậu cho những chiếc du thuyền. Bây giờ là mùa thu, không thích hợp cho khách đi thuyền, nên nhiều chiếc đã xếp buồm đậu san sát nhau chung một bến.

Thả tà tà một lát đã tới ngã quẹo vào công viên khu chợ. Tôi lưỡng lự, không biết nên vô siêu thị trước hay đi dạo phố trước? Suy đi tính lại, thời gian nghỉ trưa của tôi còn lâu, mua đồ xách theo vướng bận tay chưn. Lâu lắm rồi tôi mới trở lại cảng Bilbao thì cũng nên đi dạo chơi và xem lại những con đường, những quán nước và xem hoa lá cành trong khu phố nhỏ. Khỏi nghĩ ngợi lôi thôi tôi quẹo vô khu phố, vừa tới đầu đường cạnh công viên, liền nghe tiếng đờn ghi ta rộn rã. Dưới gốc cây thốt nốt, một anh ca hát dạo ngồi trên chiếc xe lăn, tay ôm cây ghi ta vừa đờn vừa hát. Tôi dừng lại móc bóp mở ngăn tiền lẻ bước tới trút hết số tiền cắc vô chiếc bao đờn lật ngửa trước mặt và đứng xem anh hát. Văn hoá Tây Ban Nha và Nam Mỹ mật thiết với nhau, cho nên loại nhạc vui vẻ này tôi cũng thường nghe ở nhiều quốc gia bên Nam Mỹ.

Thưởng thức xong bản nhạc tôi tiếp tục đi, anh nhạc sĩ vẫn chăm chú vô bản nhạc kế tiếp như chỉ có mình anh và trời đất chung quanh. Mưa lại rỉ rả làm cây cỏ lá hoa ướt mèm. Trong khí trời lành lạnh, người đi phố thưa thớt, tiệm, quán và phố xá không nhộn nhịp như những ngày hè. Tôi vô một quán nước vắng người, mua một ly bia, ngồi nhâm nhi ly bia lạnh, tự dưng trong dạ bồn chồn nhớ tới già Luis, quê hương già cũng ở trong vịnh Biscay này. Nhiều năm về trước, tôi với già thường la cà thâu đêm trong những quán nhậu bên góc phố kia, cũng trong quán đó, tôi đụng phải mấy tên lại cái, nếu không có già can thiệp chắc bọn chúng đập tôi một trận nhừ tử và móc sạch túi. Nhớ tới già tôi liên tưởng tới một con người kỳ dị, mình đầy lông và râu phủ gần hết khuôn mặt, đi tới xứ nóng già bận quần jeans cắt ống ngang đầu gối tua tủa, phơi lưng trần và lúc nào bên hông cũng mang con dao găm, con cá chuồn nào xấu số bay đáp nhằm boong tàu, nhảy lạch bạch trước mặt già, lập tức một tay già thộp con cá, một tay móc dao găm ra và đè con cá lên thành tàu, cắt cổ lóc thịt bỏ vô miệng xơi tái ngay. Thời gian tôi còn trẻ và ông còn khoẻ, chúng tôi thường hải hành sang Nam Mỹ, vùng này nhiều quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha, ghé cảng nào chúng tôi cũng đi chơi chung, nhờ có già thông dịch, tôi khỏi phải huơ tay ra dấu mỗi khi tiếp chuyện với người bản xứ, nói chung già lúc nào cũng muốn giúp đỡ và che chở tôi. Ấy vậy mà tôi thường có thái độ bất kính với già, có khi chưởi già không ra gì, được cái là dù cãi nhau ầm ĩ, có khi muốn đánh nhau, nhưng qua rồi thì già vẫn vui vẻ chia xẻ và chỉ dẫn tôi kinh nghiệm sống. Cũng tại thị trấn ven biển này, già giới thiệu món Pintxo của Bilbao, được xiên lại bằng cọng tăm tre, cầm tay ăn không cần dao, nĩa. Pintxo nhậu rượu nho hoặc bia rất bắt.

Năm trước già nghỉ hưu, lúc chia tay già tới ôm tôi nghẹn ngào nói:

– Tao không còn cơ hội đi nữa, mày tiếp tục đi cho thiệt tốt, thiệt tốt… giữ gìn sức khoẻ…

Đi cho thiệt tốt nghĩa là sao? Già vừa khóc vừa nói chẳng ra đầu ra đuôi làm tôi hổng hiểu gì ráo. Nhìn nước mắt già ràn rụa, tôi không nói được lời nào, bèn cúi xuống xách phụ già chiếc va li rồi tiễn chưn già lên bến.

Khuya nay tàu khởi hành, thủy thủ đoàn toàn là ma mới, sóng lên thì đã có người ói mửa. Chuyến này sang Nam Mỹ, hổng có già tôi thiếu đi một bạn đồng hành. Nhìn ngoài trời mưa rơi, tôi bỗng thấy mình đơn độc, hớp một hớp bia, bia gì mà đắng nghét.

Ra khơi

Mấy hôm đầu tàu còn trong vịnh Biscay mưa ngập trời, gió cấp sáu, cấp bảy quật con tàu dài một trăm hai chục thước, trọng tải trên mười ngàn tấn vừa lắc vừa nhồi làm Jurre, thằng nhỏ sinh viên theo thực tập, và đám thủy thủ In Đô ngóc đầu không nổi. Trong đời làm thủy thủ, thỉnh thoảng tôi gặp một vài người mỗi khi gió lên, say sóng, sợ hãi, nhớ nhà, kể lể khóc than, đây là lần đầu tiên tôi thấy cả đám thủy thủ say sóng nằm la liệt và ói mửa tùm lum. Thuyền trưởng, thuyền phó, phụ thuyền phó, thợ máy chánh, phụ máy và tôi đã gắn liền với đại dương lâu năm nên vật vã với sóng to gió lớn có hơi mệt mỏi nhưng không đáng ngại.

Mấy ngày qua tôi chỉ nấu được món stampot, stampot là món ăn truyền thống của người Hòa Lan, trên tàu nó rất thuận tiện cho những ngày biển động. Thực hiện món stampot chỉ cần gọt vỏ khoai tây và luộc khoai cho mềm dầm cho nhuyễn trộn chung với cải soắn (boerenkool) hoặc bắp cải trắng chua (zuurkool) gia vị thêm nootmuskaat, sữa, bơ, muối… Nếu đem khoai dầm trộn với cà rốt luộc mềm và củ hành xắt nhỏ xào cho thơm trộn chung thì stampot được gọi là hutspot, tuy nhiên hutspot hay stampot cũng ăn chung với dồi ung khói (rookworst) hâm nóng và thịt ba chỉ cắt lát mỏng chiên dòn.

Sáng nay gió cấp ba, gió mùa thu, dậy lên những con sóng đủ đẩy đưa con tàu bồng bềnh. Tôi bước ra boong khi biển còn tối om và sao trên trời chỉ còn vài mống. Tàu trực chỉ về hướng Tây Nam, từ hải cảng Bilbao sang Cuba nếu biển im thì hải hành mất mười lăm ngày, biển động lâu hơn. Từ hôm rời Bilbao tới nay đã năm ngày trôi qua và tàu cũng đã đi qua hai múi giờ. Giông gió đã qua rồi, thủy thủ đoàn tuy còn mệt mỏi nhưng cũng phải làm việc, làm để lấy lại sức. Thằng Idnul to con nhưng hơi lười biếng và làm việc thì hay càu nhàu, được phân công lau chùi trong tàu, nó vừa bò vừa lết quọt quẹt được một lát thì đã nằm dài trên băng, nùi giẻ một nơi, cây chổi một nẻo, sô nước lật đổ tùm lum. Thuyền phó kêu nó dậy làm việc. Nó nói:

– Chừng nào ông làm cho biển im thì tui sẽ làm việc.

Thuyền phó chửi thề và day qua tôi chỉ tay ra khung cửa kiếng, nói:

– Ông coi, biển như vậy mà nó nói biển động.

Tôi cười và gật gật đầu nói:

– Biển không động, nhưng trong đầu nó động.

Tuy miệng thì càu nhàu nhưng Idnul cũng rán sức bò dậy cầm nùi giẻ lau sàn tàu. Thấy thằng nhỏ thê thảm quá, tôi tới lấy cái sô nằm lăn lóc trong góc và giúp nó lau khô chỗ nước đổ. Giọng Idnul yếu ớt như đàn bà mới đẻ:

– Chú có say sóng không?

Tôi nói:

– Tao nghĩ, hổng nhiều thì ít người nào cũng say.

– Sao thấy chú tỉnh bơ vậy?

– Mấy ngày đầu tao cũng mệt nhưng vì việc làm phải rán chịu cho qua.

– Hồi mới bắt đầu làm thủy thủ chú có say sóng không?

– Có chớ, ói tới mật xanh luôn.

– Vậy có cách nào hết say không chú?

– Chỉ có cách làm việc cho quên.

Tôi vô bếp lấy ra đưa nó một gói bánh mì dòn và dặn:

– Mầy ra ngoài boong tìm việc gì đó làm đi, tôi chỉ tay xuống sàn còn tèm lem vết bẩn nói, chỗ này để tao giúp cho, mày có ói thì cứ ói, ói xong thì ăn vô, uống nước ít lại, đừng nằm lì riết rồi thành quen.

Idnul cầm bọc bánh, cám ơn rồi đi ra ngoài.

Suốt mấy ngày nay mây bạc phủ khắp bầu trời, mặt trời ẩn sau đám mây trắng tỏa ra ánh sáng chói loà làm lợt lạt màu xanh của nền trời, những tia nắng bạc chen theo kẽ mây xám chiếu xuống mặt biển như những ngọn đèn pha, biển dạt dào sóng và con tàu thì vẫn cứ lắc lư. Thủy thủ đã lấy lại được thăng bằng và trở lại ăn, uống bình thường, nghĩa là ăn rất nhiều. Thuyền trưởng khó chịu về cách ăn uống mấy người Nga và Ucraina, ông kêu riêng tôi lên phòng và đưa ra quy định, một tuần mỗi người được bốn trứng gà; mật ong, mứt trái cây, sô cô la mỗi thứ một keo, mỗi keo bốn trăm năm mươi gram; nước trái cây mỗi ngày một lít nước táo, một lít nước cam, một lít nước trái cây hỗn hợp và một lít sữa. Buổi trưa mỗi đầu người một trăm gram thịt, buổi sáng, buổi chiều ăn bánh mì, thịt nguội và phó mát, không được nấu thêm món gì khác.

Tôi biết viên thuyền trưởng hồi ông còn làm thuyền phó, lúc đó còn trẻ, khoẻ mạnh ông ăn uống rất bạo và nhiều lần ông cãi cọ với thuyền trưởng về chuyện ăn uống, có lần vô bếp cự nự làm đầu bếp tức giận phang cho cái tách xém chút lỗ đầu. Từ khi ông lên thuyền trưởng, ngồi chỉ tay năm ngón nhiều hơn vận động, sợ béo phì ông ăn ít lại và không muốn người khác ăn nhiều hơn ông. Thiệt ra thì ăn nhiều là thói thường của thủy thủ trẻ còn sung sức, dù là người của bất cứ nước nào, chớ hổng riêng gì người Nga hay Ucraina. Tôi thấy cách tính toán của ông hổng ổn, mới đề nghị:

– Buổi sáng, buổi trưa thì tạm được, buổi chiều ông phải cho thêm một món gì nữa, ông cho ăn kiểu này trong vòng một tháng thịt nguội và phó mát sẽ hết sạch.

Thấy ông nhìn xuống lưỡng lự, tôi tưởng ông đồng ý cho thêm, nào ngờ ông ngước lên nói:

– Ông dọn phó mát thì không thịt nguội, thịt nguội thì không phó mát.

Rồi ông gạt tay dứt khoát:

– Thằng nào ọ ẹ ông cho tôi biết.

Chuyện thức ăn trên tàu thừa mứa, ăn không hết, đổ bỏ tôi đã ý thức được từ khi còn là thủy thủ. Khi tôi làm bếp, muốn tránh phung phí, chỉ còn cách chịu khó học hỏi cách bảo quản thức ăn và chú ý những thực đơn được nhiều người ưa chuộng. Hơn nữa thực phẩm trên tàu thường là những thứ gần hết hạn, chuyến nào đi chung thuyền trưởng như ông, mỗi khi tụi kiểm tra thực phẩm xuống kiểm, những thứ hết hạn bị liệng bỏ trông mà xót ruột. Tôi nói:

– Ọ ẹ thì hổng có đâu, dù sao đồ ăn cũ cũng còn nhiều, ông hổng cho người ta ăn, lần nào tụi kiểm tra thực phẩm xuống kiểm, bắt gặp đồ ăn quá hạn phải đổ bỏ.

Ông lạnh lùng biểu môi, nhún vai, nói:

– Bỏ thì bỏ.

Trước kia gặp chuyện bất bình tôi hay cãi lại hoặc ra mặt thách thức, mặt dù ông lạm quyền cho thoả mãn lòng ganh tị cá nhân, nhưng thuyền trưởng là cha mẹ mà, mích lòng ông không tốt lắm đâu. Hơn nữa, tôi đã từng chứng kiến biết bao nghịch cảnh lớn lao trong đời thì ba cái chuyện ăn uống có đáng gì đâu. Đời mà, cá ăn kiến thì có ngày kiến cũng ăn cá, người Nga cũng đâu phải hiền.  Tôi đã từng chứng kiến người Hòa Lan sang Nga bị đánh sưng mặt hoài. Cho nên thuyền trưởng nói cái gì tôi cũng “yes sir”, rồi sau đó tôi vẫn làm việc bình thường. Ông ta nói cho bỏ ghét thôi chớ đời nào xách cân xuống bếp cân từng miếng thịt, miếng cá. Còn thức ăn nguội như dăm bông, phó mát có thiếu cũng không sao. Mứt và sô cô la trong keo khi nào tôi thấy gần hết thì châm thêm cho đủ ăn trong tuần. Thiệt tình mà nói thì người Nga và Ucraina họ ăn không mấy gọn gàng, lấy phần ăn lúc nào cũng dư ăn không hết đổ bỏ. Người Hòa Lan ăn uống gọn gàng hơn và lấy phần ăn lúc nào cũng vừa đủ, họ ăn xong cái dĩa sạch trơn, ngoại trừ những tên hổng bình thường ra, không khi nào thấy họ bỏ thức ăn. Người Hòa Lan phần đông uống bia, nhiều thuyền trưởng có thể ngồi uống từ mười hai giờ trưa cho tới bốn năm giờ chiều, thuyền trưởng uống thì nguyên cả nhóm officers cùng uống, uống bia trừ cơm và khỏi làm việc.Trong khi đó vài người Nga có tật uống rượu say hay quậy phá hoặc bỏ bê công việc thì bị cấm, mấy năm sau này trên tàu không chứa rượu mạnh nữa, nhưng bia thì lúc nào cũng đầy đủ.

Sau hai tuần hải hành, chỉ thấy xa xa vài biểu hiện tàu lấm chấm trên màn ra đa, tuyệt nhiên không thấy bóng một chiếc tàu nào chạy cùng tuyến. Càng tiến dần qua Nam Mỹ khí trời càng ấm áp. Đêm trăng soi lung linh, dìu dịu man mác, ngày nắng nóng.

Sáng nay tàu vô hải phận Caribbean, nghe mùi hăng hăng của đất liền người nào cũng thức sớm, vô phòng ăn rót cà phê rồi bưng ra boong ngong ngóng trời mây, chỉ có vậy thôi mà người nào cũng háo hức và có người bỏ luôn bữa ăn sáng. Nam Mỹ cách Âu Châu năm giờ trừ, vậy là tàu đi được mười bốn ngày rồi. Thuyền trưởng ăn sáng xong ghé mặt vô phòng bếp nói:

– Còn ba ngày nữa tàu sẽ tới Curaçao:

– Vậy à.

Thuyền trưởng đi rồi, Jurre hấp tấp đi vô kéo tay tôi:

– Ông qua đây.

– Cái gì vậy mậy?

Hỏi vậy thôi nhưng tôi cũng bước theo, chưa tới cửa phòng ăn đã nghe từ bên trong vang vang tiếng nhạc, vừa bước vô phòng đã thấy mấy chai bia mới khui để trên bàn và hai thằng In Đô và hai thằng Nga đứng lắc theo tiếng nhạc. Jurre buông tay tôi ra và nhào vô vừa lắc lắc giựt giựt vừa hấp tấp nói:

– Bắt được radio từ đất liền rồi.

– Ồ, hèn chi…

Nhạc Nam Mỹ thường rộn rã, vui tươi nhưng không ồn, hễ nghe trổi lên tức thì con gái lắc lắc cái mông, con trai cẳng chưn giựt giựt, nhứt là bản Lambada lúc nào nghe cũng nhộn nhip. Aryadi ngưng lắc cầm chai bia đưa qua tôi. Tôi cũng giựt giựt theo mấy cái và nói:

– Mới tảng sáng mà sung vậy sao?

– Hôm nay Chủ Nhựt mà.

Tôi khoác tay:

– Tụi mày chơi đi, tao còn phải làm việc.

Thật ra trên tàu tôi không dùng bia rượu với lại tôi còn phải ướp mấy con gà, Chủ Nhựt trên tàu thường ăn gà đút lò.

Tới giờ cà phê chỉ có Slovan, thợ máy người Ucraina tới rót một tách và lấy bánh ngọt đi ra ngoài. Tôi cũng lấy miếng bánh ngọt và tách cà phê rồi cũng đi ra ngoài, trong tàu có máy điều hoà không khí, vừa mở cửa ra, không khí miền nhiệt đới hắt vào mặt. Tôi hô:

– Nóng quá.

Slovan đương đứng nhâm nhi cà phê và nhìn trời nhìn mây sau lái thấy tôi bước ra hắn day lại nói:

– Ba mươi tám độ C.

– Nóng, nhưng biển đẹp quá.

Tôi đi tới đứng cạnh Slovan nhìn mặt biển im lìm, trong không khí thoang thoảng mùi hăng hăng của đất liền, xa xa vài hải đảo in đậm trên mặt nước xanh và bầu trời trong vắt.

Slovan hỏi tôi:

– Ông thường qua Nam Mỹ, ông thấy thế nào?

Câu hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một lát, tôi hỏi lại:

– Ông muốn hỏi về chuyện gì?

– Đời sống và con người.

– Nói hết ra thì nhiều lắm, nhưng tóm lại thì những nước bên Nam Mỹ còn nghèo nhưng con người lúc nào cũng vui vẻ và con gái bên đó rất chịu chơi.

– Nghe nói bên Nam Mỹ mấy cô gái chơi hổng lấy tiền.

Phần đông người Nga ít khi vô ba uống bia và tới chỗ nào cũng tìm mua đồ giá rẻ và vô hội quán có uống rượu thì cũng uống mình ên, có ngồi chung thì mạnh ai nấy trả tiền. Slovan nhỏ hơn tôi vài tuổi, trước khi sang Âu Châu làm việc hắn làm giàn khoan dầu ở Việt Nam. Lần đầu gặp tôi hắn đưa tôi cái USB trong có đựng mấy video bài bản cổ nhạc và hỏi tôi có loại nhạc này thu mp3 không thì sang cho hắn. Tôi đem sang mấy bài tân cổ, một số bài bản như: xàng xê, xuân tình, nam ai, tứ đại oán và vài điệu lý. Từ đó tới nay ghé bến hắn thường đi chung với tôi và vô quán ăn nhậu cũng biết có qua có lại, cho nên nói chuyện với hắn tôi không cần dè dặt nữa. Tôi nhìn Slovan cười và nói:

– Chơi mà sợ tốn tiền thì cắt cu bỏ cho rồi.

Slovan khoát tay lia lịa:

– No… no… Tui nghe nói mới hỏi thôi.

– Nói chơi thôi, thật ra thì tuổi tui và ông còn gái gộc gì nữa.

Slovan định nói thêm gì đó chợt Donald từ ngoài boong phía trước đi vô, thấy tôi nó liền đi lại đứng trước mặt và nói:

– Nghe chú nói vùng này cá chuồn bay lên tàu nhiều lắm, nhưng mấy hôm nay sáng nào con cũng đi rảo quanh tàu tìm mà hổng thấy con nào hết.

À, thì ra hổm nay tôi hay nói về cá chuồn và thường nhắc tới chuyện ăn cá sống của già Luis làm thằng nhỏ khoái quá, sáng nào cũng đi ra tìm cá chuồn. Tôi nhớ có lần tàu tới vùng biển Caribbean, và cũng trong không gian yên ả như sáng nay. Tôi với già Luis đứng sau lái tàu, hôm đó không thấy già xách sô đi lượm cá chuồn, tôi hỏi già:

– Sao lần này không thấy cá chuồn?

Già chỉ tay lên khoảng không sau lái nói:

– Khi nào mày thấy trên trời hổng bóng có chim thì đưới nước cũng không có tăm cá.

– À, tôi hiểu rồi, vậy thì chim hổng có mồi để đớp và ông cũng hổng có cá chuồn tươi sống để ăn.

– Dỉ nhiên, đâu phải lúc nào cũng có cá chuồn.

Tôi lước mắt nhìn khoảng trời xanh bao la và những đám mây trắng đứng yên giữa trời không động, nhưng không thấy một bóng chim nào hết. Tôi day lại, một tay câu vai Donald một tay chỉ ra khoảng không gian sau lái, bắt chước câu nói của già Luis:

– Khi nào mày thấy trên trời hổng bóng có chim thì dưới nước cũng không có tăm cá.

Slovan chen vào nói:

– Tao nghĩ tháng này cá chuồn qua bên quần đảo In Đô tụi mày hết rồi.

Tôi nói tiếp:

– Nếu tao nhớ không lầm thì tháng Ba tháng Tư nơi đây mới là mùa cá chuồn. Vậy thì mày phải chờ tới mùa xuân mới ăn được cá chuồn tươi sống.

– Không không, con không bao giờ ăn cá sống.

Dolnald lắc đầu, le lưỡi, dùn mình một cái và vừa nói vừa day lưng định đi vô trong. Chợt bốn đứa ở trong phòng, nãy giờ nhảy nhót đã rồi, mỗi đứa tay cầm chai bia, đi ra đứng sau lái tàu và tiếp tục uống. Jurre xách theo máy chụp hình, vừa uống bia vừa nhắm ống kính chụp hải đảo và trời mây…

Nếu hôm nay nhằm mùa cá chuồn thì người xách sô đi lượm cá, người đốt lửa, rồi xúm nhau góp bia rượu ra bày tiệc, cá chuồn đem tới cứ thảy nguyên con, nguyên cánh lên lò. Cá chuồn tươi nướng bay mùi rất thơm, ăn thịt rất ngọt và rất bùi, người nào hổng thích ăn cá nướng thì cứ việc mổ cá ra lóc thịt xơi tái liền tại chỗ. Thấy mọi người cao hứng uống bia khan, tôi vô trong cắt một dĩa phó mát và kèm theo một muỗng mù tạt bưng ra để lên đầu cột trụ và nói:

– Rất tiếc, mùa này hổng có cá chuồn tươi để nhậu, vậy thì mời mọi người nhậu đỡ phó mát vậy.

Tất cả hô lên:

– Thank you… thank you…

Slovan kêu Donald vô lấy thêm bia. Nó liền đi vô bưng ra nguyên thùng bia,  khui mời mọi người rồi vui vẻ và đưa chai lên cụng…

Biết rằng tàu viễn dương hiện đại, ít gặp hiểm nguy, có đi qua biển lớn rồi cũng tới bến an toàn. Nhưng trên đại dương mênh mông, suốt hai tuần lễ tuyệt nhiên không một chiếc tàu đi cùng tuyến, làm người thủy thủ cảm thấy bé nhỏ, cô đơn và bơ vơ giữa trời nước bao la. Cho nên vừa thấy hải đảo, nghe tín hiệu ra dô và mùi vị của đất liền thoảng trong không khí thì trên mặt người nào cũng lộ rõ nét vui mừng và hớn hở nhảy nhót hát ca..

Caribbean 15-07-2015

Vẫn Chuyện Trên Tàu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Mấy năm qua tôi đi đi lại lại trên vùng Baltic và biển Bắc châu Âu, đã quen khí hậu nơi đó: mùa xuân gió mát, nắng ấm vào mùa hè và những ngày đầu thu. Rồi tới cuối thu sang đông thì gió, mưa, tiếp theo là băng, tuyết lạnh buốt da. Tôi rất thích cảnh rừng thông ngút ngàn và quí trọng đất nước con người trên bán đảo Scandinavia. Tuy nhiên dù cho những người dân nơi đó hiền hoà, thân thiện và cảnh nơi đó có đẹp như tranh vẽ mà cứ lẩn quẩn hoài trong một vùng thì cũng thấy bình thường và nhàm chán. Cho nên khi nghe được đổi qua tàu khác, đi tuyến đường mới thì trong lòng tôi phấn khởi và vui tươi, cộng thêm háo hức. Dù sao đến một địa danh lạ, quang cảnh mới, con người khác vẫn thích thú hơn.

Từ hải cảng Rotterdam – Hoà Lan qua hải cảng Villagarcia – Tây Ban Nha mất hơn hai ngày hải hành. Suốt chuyến qua Tây Ban Nha tôi không tắt điện thoại, hễ nghe tín hiệu, dù đương ngủ tôi cũng thức dậy xem để biết tàu chạy ngang một hải phận hay một địa danh nào. Khi tàu vô eo biển Manche, tôi thích thú ra boong đứng nhìn. Ban ngày thì lúc thấy bên này bờ là nước Anh, khi thấy bên kia bờ là nước Pháp. Ban đêm rất nhiều đèn của tàu buôn xuôi ngược và hợp cùng ánh sáng của những thành phố trên đất liền hiện ra từng chòm. Những chòm đèn gần thì ánh sáng toả nhiều màu sắc, xa thì nhấp nhá như đom đóm, xa hơn nữa thì ánh sáng hừng toả phía chơn trời. Tàu hải hành ra khơi, bốn phương là biển, nhưng ngồi trong phòng, không cần xem nhiệt kế, cũng cảm nhận được thời tiết thay đổi qua mỗi vĩ tuyến và nghe lòng háo hức lạ thường khi trông thấy một bán đảo hay một con voi xa mờ lấp thấp trên mặt nước. Nhứt là lúc chiều lên, khi mặt trời sắp lặn, nhìn được mặt trời tròn như cái mâm nung đỏ sắp chìm xuống viền nước phía trời Tây, lúc này mới thấy được thời gian trôi qua chầm chậm, tuy thấy chậm nhưng lơ là day qua, day lại thì nguyên cái mâm đỏ biến mất tiêu. Giữa đại dương minh mông, bốn phương trời nước, sắc màu của không gian cũng dần thay đổi từ màu hồng sang màu xám, chẳng bao lâu bóng đêm tràn ngập và vài vì sao trên bầu trời hiện lên nhấp nhá.

Ông thuyền trưởng lái tàu từ hải cảng Rotterdam qua hải cảng Villagarcia xong ông trở về Hoà Lan. Hôm qua bà thuyền trưởng vừa đổi xuống thì cũng vừa lúc tàu khởi hành. Tới giờ ăn chiều bà xuống bắt tay tôi và khoe vừa đi tour Việt Nam mới về. Tôi hỏi bà đi từ đâu tới đâu. Bà nói, bà xuống phi trường Hà Nội nhưng trước tiên bà tham quan vịnh Hạ Long, Mai Châu rồi lần vô Hội An, Huế,  Mũi Né, Hồ Chí Minh City, Cần Thơ xong ra Phú Quốc. Bà khen nước Việt Nam đẹp, người Việt Nam dễ thương, nhứt là xuống bến Ninh Kiều đi đò trên sông Cần Thơ và xem chợ nổi Cái Răng, bà rất thích sông nước và con người ở đây, ai gặp bà cũng vui vẻ cười chào. Những địa danh nổi tiếng tôi nghe đã quen, chỉ có Mai Châu thì tôi chưa nghe tới, tôi sợ bà nói lộn nên hỏi lại:

– Lai Châu hay Mai Châu?

Bà lấy giấy viết ra viết hai chữ Mai Châu có dấu rõ ràng rồi chìa qua tôi xem. Bà cười cười, gật gật cái đầu ra vẻ hiểu biết và nói:

– Mai Châu là một làng nhỏ ở miền cao, phần đông người dân tộc thiểu số, sống bằng nghề dệt vải.

– Oh, đất nước, con người và văn hoá của nước tui mà tui hổng biết, vậy là bà biết nhiều hơn tui rồi.

Ngày đầu bà kể tôi nghe được bao nhiêu, nhưng rồi mạnh ai nấy làm việc đó. Những năm gần đây bạn đồng nghiệp của tôi đi tour, hay hải hành ghé Việt Nam, không gặp được thì thường gởi tin nhắn, khoe là được ghé Việt Nam. Hễ gặp mặt là phấn khởi khoe, lúc nào tôi cũng nghe khen Việt Nam vui, ăn thức ăn ngon, cảnh đẹp lắm… Nhìn gương mặt hớn hở và nghe họ hả hê khoe khoang thành tích những chuyến du lịch, trong đầu tôi miên man suy nghĩ và thường hiện ra câu hỏi. Nếu những người này họ sống trong xã hội Việt Nam, cũng như những người dân bình thường nơi đó, thì họ có thời gian, tiền bạc để đi du lịch và thưởng thức những món ngon, những vẻ đẹp như họ đã được hưởng trọn vẹn trong chuyến đi hay không? Hay là tới lúc đó họ mới thấm thía câu ‘có tiền mua tiên cũng được’?

Chiếc Alinda chạy tuyến Villagarcia ra Santa Cruz, một hải cảng của đảo  Tenerife, cùng với Las Palmas là quần đảo nằm về châu Phi nhưng thuộc vương quốc Tây Ban Nha. Xuống hàng tại cảng Villagarcia, chiều hoặc tối thứ sáu khởi hành, trưa thứ Hai ra tới Santa Cruz de Tenerife, thứ Ba qua Las Palmas lên hàng, xuống hàng xong rồi trở về tới Villagarcia vào sáng thứ Sáu, như vậy chuyến ra, chuyến vô đúng một tuần lễ.

Đúng một tuần tàu trở vô đất liền lúc khuya và neo trong vàm Villagarcia. Sáng lại tôi lên phòng lái mượn ống dòm. Bà thuyền trưởng thấy tôi phóng ống dòm nhìn những bè nuôi tôm, cá dọc theo bờ biển. Bà nói:

– Ở Phú Quốc cũng có nhiều bè nuôi tôm, cá.

– Ờ, đúng rồi, nhưng bà thấy bè ở đây có khác hơn ở Phú Quốc không?

– Bè nuôi tôm, cá là bè nuôi tôm, cá tui thấy khác gì đâu?

– Khác chớ, những bè nuôi tôm, cá ở  Phú Quốc, nói chung là ở Việt Nam đều có cất chòi cho người ở canh chừng ăn trộm, bọn ăn trộm ban đêm chúng hay bơi xuồng ra bè trộm cá hoặc phá phách. Có những bè cất chòi đủ cho cả một gia đình sống luôn trên đó. Cho nên từ bờ sông hay bờ biển nhìn ra những dãy bè trông giống như những căn nhà nhỏ nổi bình bồng trên mặt nước. Những bè nuôi cá, tôm bên này không có những căn chòi và cũng hổng có người canh nên thấy nằm lè phè gần như ngang bằng mặt nước.

– Ờ ờ…

Tôi hỏi bà:

– Bà đi từ Bắc Việt vô Nam Việt bà có ấn tượng nào không?

– Oh, nhiều lắm như Vịnh Hạ Long cảnh đẹp, Mai Châu tui có mua được chiếc khăn choàng cổ vải rất mềm, rồi phố cổ Hội An, Huế, Mũi Né nơi nào thức ăn cũng ngon, nơi nào cũng hấp dẫn, chỗ nào tui cũng thích.

– Nhưng bà thấy chỗ nào ấn tượng nhứt?

Bà chu cái mỏ, đưa tay lắc lắc ra chiều suy nghĩ, một chút sau bà nói:

– Phú Quốc, chỗ người ta phơi cá cơm và hãng nước mắm thúi kinh khủng…

Đoạn bà kể tôi nghe chuyện bà tham quan hãng nước mắm và cách người ta phơi cá cơm. Bà có mua mấy bọc cá cơm khô và hai chai nước mắm, bà nói nặng quá bà hổng mua được nhiều, bà khen:

– Đảo Phú Quốc rất đẹp…

Nói tới đây chợt có tiếng gọi của văn phòng bến cảng, bà bắt ống nghe. Thấy bà bận nói chuyện, tôi bỏ đi xuống từng dưới và ra boong đứng hóng gió.

Mùa xuân Âu Châu nơi nào cũng mát mẻ và bình minh chuyển màu cũng rất nhanh. Khi mặt trời thong thả nhô lên và soi hừng đồi núi nằm lừng lững trong một vịnh nhỏ thông ra Đại Tây Dương. Mực nước biển sâu, trong xanh và gió xuân nhẹ nhàng thổi tạt sóng nước gờn gợn đủ để nhấp nhô những chiếc bè nuôi cá của dân ngư thả neo bềnh bồng dọc ngang trên mặt nước. Trong khi tôi đứng nhìn những bè cá và cảnh mặt trời lên, thì nghe tiếng máy tàu nổ. Viên thuyền phó người Lithuania từ trên đi xuống, thấy tôi đứng hắn dừng lại, đi tới bên tôi, chào và nói:

– Tàu sắp nhổ neo.

– Oh! Có chuyện gì không?

Tiếp theo hắn hỏi:

– Nhổ neo xong tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được hông?

– Dĩ nhiên.

Qui chế ăn uống mỗi ngày trên tàu Hoà Lan, ontbijt tiếng Hoà Lan là ăn sáng, bữa ăn sáng trên tàu có bánh mì, bơ, thịt nguội, phó mát, trứng gà, sữa, nước trái cây, trà và cà phê. Nếu hôm qua còn dư cơm nguội, tôi đem chiên với trứng hoặc xào mì gói cho người In Đô hoặc người nào hổng ăn được bánh mì. Maaltijd là ăn trưa, bữa trưa là bữa ăn chính có súp, rau, thịt, khoai tây, cơm và đồ tráng miệng có trái cây tươi, trái cây đóng hộp, yoghurt, pudding hoặc kem. Diner là ăn chiều, bữa ăn chiều dọn bàn cũng giống như bữa điểm tâm và ăn đồ ăn dư của bữa trưa còn lại hoặc thêm xúc xích, hamburger, pizza… Hôm nào siêng tôi làm món chả giò, gần bốn mươi năm nấu cho nhiều giống dân và nhiều hạng người ăn, tôi chưa từng nghe dân nước nào, hạng người nào chê món chả giò Việt Nam (Vietnamese loempia) là dở hết.

Hồi tôi còn phụ bếp, nhiều đầu bếp nấu nhiều món không hạp khẩu vị dân tứ xứ làm thủy thủ đoàn ăn hổng được, thức ăn dư rất nhiều, đầu bếp kêu tôi bưng những thức ăn dư đổ bỏ. Mỗi lần bưng thức ăn đem đổ, tôi không cầm được nước mắt. Tôi nhớ lại quê hương tôi trong những ngày chiến tranh, chạy giặc phải ăn cháo loãng và những ngày vượt biển tị nạn Cộng Sản sau này. Trên bước đường gian khổ, hổng có đồ ăn, nhiều người chết đói, thậm chí đói quá người còn sống ăn thịt người đã chết. Cho nên khi làm đầu bếp, tôi tìm tòi học hỏi, lựa chọn chế biến những món ăn nào nhiều người có thể ăn được. Dĩ nhiên nấu cho tập thể ăn, hổng tránh được thức ăn thừa, nhưng tôi cố gắng làm sao cho thức ăn dư càng ít càng tốt. Cho tới nay, hơn bốn mươi năm làm bếp tàu buôn, tôi rất hài lòng công việc của mình và lương tâm tôi cũng hổng bị ray rức vì tôi biết độ số lượng nấu cho bao nhiêu người ăn và ra menu hợp khẩu vị nhiều người, cho nên mỗi ngày thức ăn thừa rất ít, thường là ngày nào hết ngày nấy, có khi ngon miệng bà con hỏi thêm, ít khi thức ăn bị đổ bỏ. Hổng phải chỉ pha chế nấu nướng cho ngon, đầu bếp cũng cần để ý văn hoá ăn uống của mỗi người và mỗi vùng nữa. Nếu đầu bếp được thủy thủ đoàn quý mến thì chuyện đố kỵ về văn hoá, chủng tộc cũng giảm đi, ít ra chỉ là bề mặt.

Có lẽ nhờ để ý học hỏi, dần dà tôi khám phá ra, không khí trên tàu vui hay buồn một phần cũng do đầu bếp, ngoài cách ăn uống khác nhau, tánh tình, ý tưởng của mỗi dân tộc cũng khác nhau và con người khó hoà hợp với nhau lắm. Nhứt là những người lớn tuổi, như viên thuyền phó trong chuyến đi này, hắn nhỏ hơn tôi vài ba tuổi, muốn ăn giờ nào thì ăn, uống giờ nào thì uống, hổng giờ giấc gì ráo và không khi nào ngồi bàn ăn chung với ai hết. Thuyền trưởng người Hoà Lan cũng chịu thua hắn luôn. Trước kia gặp thành phần như viên thuyền phó tôi khó chịu lắm, nhưng hổng lẽ mỗi lần đụng chuyện mỗi lần nổi nóng la ó om sòm, hơn nữa chỉ vì miếng ăn mà chửi bới nhau hoài, chẳng ra thể thống gì hết. Tôi mới nghĩ ra cách, sau giờ ăn tôi để phần ăn của những người chưa ăn ra ngoài và nói với họ muốn ăn giờ nào thì tự lấy ăn nhưng phải rửa dĩa sạch sẽ và dọn dẹp cho gọn gàng, tưởng làm cách đó là ổn, nhưng phiền cái là thằng tới trước lấy nhiều quá, có khi lấy sạch luôn, thằng tới sau hổng có ăn rồi cũng tìm tôi mắng vốn. Thấy vậy tôi mới chia phần ăn ra mỗi người một dĩa, bao giấy kiếng lại rồi để ra bàn, cách này coi vậy mà hữu hiệu và cũng từ đó cho tới nay tôi mới được yên thân. Hôm rồi ngồi nói chuyện chơi với viên thuyền phó, thấy không khí vui vẻ, tôi mới hỏi hắn:

– Bên nước ông giờ giấc ăn uống thế nào?

Hắn lắc đầu nói:

– Muốn ăn giờ nào cũng được, đói giờ nào ăn giờ đó.

– Ai cũng vậy sao?

– Ờ, tất cả mọi người.

Tôi cười thành tiếng:

– Oh! Thiệt hông cha nội?

– Thiệt mà.

– Nếu đi tuyến đường sang Mỹ, mỗi khi qua một múi giờ, giờ giấc thay đổi ông làm sao? 

Hắn nhún vai:

– Thì cũng vậy, khi nào đói thì ăn.

Hắn rất thích thịt gà, hôm nào làm gà chiên, gà luộc, gà kho, nói chung món nào cũng được miễn là gà, người khác ăn dư ra bao nhiên hắn đớp hết bấy nhiêu.

Thấy vậy tôi hỏi:

– Bộ ở nước ông hổng có thịt nào khác hơn gà sao?

Ông trả lời:

– Có chớ, nhưng gà ở bên nước tui rẻ tiền hơn những thứ thịt khác.

Thiệt tình mà nói, nói chuyện với những người này khó tin và khó hiểu họ lắm. Ăn, uống tùy tiện, nói sao họ cũng nói được hết.

Trước đây thì đầu bếp ghi đơn đặt thực phẩm đưa thuyền trưởng đặt mua, có khi thuyền trưởng và đầu bếp cùng đi siêu thị mua thêm rau cải và trái cây tươi. Mỗi tháng đặt hàng một lần, đầu bếp tự phân chia làm sao đủ trong một tháng cho tuyến đường gần, ba tháng cho chuyến đi xa. Ngoại trừ những tuyến đường xa, không mua được rau tươi thì ăn đồ đông đá, nếu đầu bếp kinh nghiệm, khéo tay thì chế biến đồ đông đá ra những món ăn cũng ngon lành.

Tôi còn nhớ hồi bốn mươi năm trước, lúc đó thủy thủ đoàn người In đô, Tây Ban Nha, còn officers là người Hoà Lan, đầu bếp người Hoà Lan và người Cape Verde. Không hiểu sao hồi đó người cung cấp thực phẩm chất lượng rất tốt và một hai tuần thuyền trưởng đưa tiền cho đầu bếp mua thêm rau và trái cây tươi. Còn rượu nho, rượu mạnh, bia, nước lọc, nước ngọt, thuốc lá những thứ này thì thủy thủ tự trả tiền với giá miễn thuế, lúc nào trên tàu cũng đầy đủ. Từ ngày những người Nga và những người Đông Âu sang làm việc, nhứt là người Nga, họ uống rượu say rồi phá phách nhiều quá, có người say xỉn gây lộn sao đó rồi đổ dầu, châm lửa đốt tàu, vì vậy công ty cấm không cho dự trữ rượu mạnh trên tàu. Và cũng từ đó cho tới bây giờ, thức ăn tuy không thiếu nhưng những món thịt mắc tiền và loại thịt bò bít tết công ty cũng không cho đặt nữa. Bị công ty giảm phần ăn và đầu bếp cũng hổng còn được đi chợ mua thêm rau, trái cây tươi nữa. Thực phẩm mỗi tháng lấy một lần, dĩ nhiên đầu bếp ghi đơn đặt hàng, đưa thuyền trưởng gởi về công ty đặt, chớ thuyền trưởng không trực tiếp đặt như trước kia. Theo tôi thì khắp thế giới này bọn phân phối thực phẩm cho tàu buôn hổng có người nào lương thiện hết, ngoài rau và trái cây tươi họ làm mặt để giữ mối ra, còn lại những thứ khác như thịt bò đông đá thì gân, mỡ nhiều hơn thịt và dai như vỏ bánh xe, heo tuy không dai nhưng thịt ít mỡ nhiều, đồ đóng hộp và đông đá thường là những thứ gần hết hạn. Hôm rồi ông thợ máy người Ukraine cầm miếng thịt heo ba chỉ muối rất mặn đem xuống đưa cho tôi và nói:

– Vợ tui làm cho tui đem theo, nhưng ông nấu lúc nào tui cũng ăn no nên tui hổng cần nữa, ông lấy làm gì thì làm.

Tôi hỏi:

– Bộ vợ ông sợ trên tàu thiếu thịt hả?

Ông nhún vai:

– Có nhiều tàu hổng có thịt heo.

– Cái này làm gì ăn?

– Hổng làm gì hết, để vậy ăn.

– Oh!

Theo tôi biết người Ukraine và người Nga có món cá thu muối trộn gia vị ăn sống, bây giờ tôi mới biết thêm món thịt ba rọi muối, gia vị rất nặng mùi, họ cũng ăn sống luôn. Tôi cũng có nghe nhiều thủy thủ tàu khác, nước khác, công ty khác than phiền trên tàu có khi bị thiếu đồ ăn. Cả đời làm bếp cho tàu Hoà Lan, thức ăn trên tàu dạo sau này tuy chất lượng có hơi kém, nhưng tàu nào dự trữ thức ăn cũng dư, không bao giờ thiếu. Vậy mà những bữa ăn dọn ra đầy bàn, người Hoà Lan thì vào ngồi ăn, ít có người vào bếp hỏi món này món kia và cũng hổng dám chê khen, trứng gà thì người Hoà Lan ăn rất ít, có người hổng ăn. Những người Nga và Đông Âu thì thường xông vào bếp, đòi này, đòi nọ và kèo nài thêm một hai cái trứng chiên, trứng luộc. Họ cũng biết menu của một ngày giống nhau vậy mà thỉnh thoảng có người vô bếp hỏi:

– Bếp, ông có món nào khác không?

Khi tôi  hỏi lại:

– Món gì?

Thì họ đừ cái bản mặt ra lắc đầu nói hổng biết. Nhứt là những người cỡ tuổi tôi, còn ảnh hưởng cái văn hoá nước Nga thời Cộng Sản. Cái văn hoá tham ăn, keo kiệt, nhỏ nhen và ích kỷ. Mặt mày lúc nào cũng nặng chịt nhăn nhó khó chịu, hễ mở miệng ra thì dùng ngôn ngữ tuyên truyền, phóng đại, nói sai sự thật mà hổng biết ngượng. Dân chúng nghèo thiếu thốn, vây mà nói ra cái gì bên nước họ cũng có hết. Người thất nghiệp thì đi khắp thế giới tìm việc làm, ai hỏi tới thì nói ở nước họ việc làm thiếu gì. Thật ra thì tôi cũng có một số bạn trẻ người Nga, họ sống rất văn minh, những người này còn trẻ, hội nhập với thế giới tự do rất nhanh nên tánh tình cởi mở, thân thiện và dễ gần gủi hơn. Có lần tôi nói với viên thuyền phó người Nga:

– Người Nga mày phần đông gương mặt lúc nào cũng buồn bã, ít khi cười tươi.

Nó tươi cười và nói:

– Hồi đó dân nước tui, nếu ai mà thoải mái vui vẻ cười tươi thì bị nghi ngờ, hoặc nói thật lòng đôi khi bị đi tù, nên họ lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen.

“Lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen.” Câu nói của viên thuyền phó làm tôi chạnh lòng và cảm thấy buồn buồn. Sao mà giống y chang ở nước tôi! Quả thật xã hội nào, con người đó. Cũng từ đó trở đi tôi thay đổi cách nhìn và mắc cở không dám trêu chọc và phê bình, chê bai đất nước con người bất cứ ở nơi đâu.

Những năm sau này thủy thủ tạp nhạp nhiều hơn. Mặc dù tôi hổng còn trẻ trung nữa, nhưng tôi thích tiếp cận với mấy đứa nhỏ, cũng nhờ thân thiện với chúng nên tôi mới thấy được sự tiến bộ và sự đổi thay trên thế giới này. Dần dà tôi cũng quen với mọi đổi thay trong cuộc sống, cho nên đi tới một đất nước lạ, gặp con người mới hoặc hoàn cảnh khác hay thời tiết biến chuyển, tôi thích nghi rất dễ dàng. Có lẽ đây là nguyên nhân do cuộc sống luôn xê dịch của tôi và cũng có lẽ là do càng lớn tuổi trải nghiệm càng nhiều nên tôi nhìn cuộc đời thông thoáng hơn.

Santa Cruz De Tenerife 10-6-2019

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Tuyến Hải Hành Mới, Vẫn Chuyện Trên Tàu

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Posted on July 18, 2019 by Ban Tu Thư 

Mấy năm qua tôi đi đi lại lại trên vùng Baltic và biển Bắc Châu Âu, đã quen khí hậu nơi đó: Mùa xuân gió mát, nắng ấm vào mùa hè và những ngày đầu thu. Rồi tới cuối thu sang đông thì gió, mưa, tiếp theo là băng, tuyết lạnh buốt da. Tôi rất thích cảnh rừng thông ngút ngàn và quí trọng đất nước con người trên bán đảo Scandinavia. Tuy nhiên dù cho những người dân nơi đó hiền hoà, thân thiện và cảnh nơi đó có đẹp như tranh vẽ mà cứ lẩn quẩn hoài trong một vùng thì cũng thấy bình thường và nhàm chán. Cho nên khi nghe được đổi qua tàu khác, đi tuyến đường mới thì trong lòng tôi phấn khởi và vui tươi, cộng thêm háo hức. Dù sao đến một địa danh lạ, quang cảnh mới, con người khác vẫn thích thú hơn.

Từ hải cảng Rotterdam – Hoà Lan qua hải cảng Villagarcia – Tây Ban Nha mất hơn hai ngày hải hành. Suốt chuyến qua Tây Ban Nha tôi không tắt điện thoại, hễ nghe tín hiệu, dù đương ngủ tôi cũng thức dậy xem để biết tàu chạy ngang một hải phận hay một địa danh nào. Khi tàu vô eo biển Manche, tôi thích thú ra boong đứng nhìn. Ban ngày thì lúc thấy bên này bờ là nước Anh, khi thấy bên kia bờ là nước Pháp. Ban đêm rất nhiều đèn của tàu buôn xuôi ngược và hợp cùng ánh sáng của những thành phố trên đất liền hiện ra từng chòm. Những chòm đèn gần thì ánh sáng toả nhiều màu sắc, xa thì nhấp nhá như đom đóm, xa hơn nữa thì ánh sáng hừng toả phía chơn trời. Tàu hải hành ra khơi, bốn phương là biển, nhưng ngồi trong phòng, không cần xem nhiệt kế, cũng cảm nhận được thời tiết thay đổi qua mỗi vĩ tuyến và nghe lòng háo hức lạ thường khi trông thấy một bán đảo hay một con voi xa mờ lấp thấp trên mặt nước. Nhứt là lúc chiều lên, khi mặt trời sắp lặn, nhìn được mặt trời tròn như cái mâm nung đỏ sắp chìm xuống viền nước phía trời Tây, lúc này mới thấy được thời gian trôi qua chầm chậm, tuy thấy chậm nhưng lơ là day qua, day lại thì nguyên cái mâm đỏ biến mất tiêu. Giữa đại dương minh mông, bốn phương trời nước, sắc màu của không gian cũng dần thay đổi từ màu hồng sang màu xám, chẳng bao lâu bóng đêm tràn ngập và vài vì sao trên bầu trời hiện lên nhấp nhá.

Ông thuyền trưởng lái tàu từ hải cảng Rotterdam qua hải cảng Villagarcia xong ông trở về Hoà Lan. Hôm qua bà thuyền trưởng vừa đổi xuống thì cũng vừa lúc tàu khởi hành. Tới giờ ăn chiều bà xuống bắt tay tôi và khoe vừa đi tour Việt Nam mới về. Tôi hỏi bà đi từ đâu tới đâu. Bà nói, bà xuống phi trường Hà Nội nhưng trước tiên bà tham quan vịnh Hạ Long, Mai Châu rồi lần vô Hội An, Huế,  Mũi Né, Hồ Chí Minh City, Cần Thơ xong ra Phú Quốc. Bà khen nước Việt Nam đẹp, người Việt Nam dễ thương, nhứt là xuống bến Ninh Kiều đi đò trên sông Cần Thơ và xem chợ nổi Cái Răng, bà rất thích sông nước và con người ở đây, ai gặp bà cũng vui vẻ cười chào. Những địa danh nổi tiếng tôi nghe đã quen, chỉ có Mai Châu thì tôi chưa nghe tới, tôi sợ bà nói lộn nên hỏi lại:

– Lai Châu hay Mai Châu?

Bà lấy giấy viết ra viết hai chữ Mai Châu có dấu rõ ràng rồi chìa qua tôi xem. Bà cười cười, gật gật cái đầu ra vẻ hiểu biết và nói:

– Mai Châu là một làng nhỏ ở miền cao, phần đông người dân tộc thiểu số, sống bằng nghề dệt vải.

– Oh, đất nước, con người và văn hoá của nước tui mà tui hổng biết, vậy là bà biết nhiều hơn tui rồi.

Ngày đầu bà kể tôi nghe được bao nhiêu, nhưng rồi mạnh ai nấy làm việc đó. Những năm gần đây bạn đồng nghiệp của tôi đi tour, hay hải hành ghé Việt Nam, không gặp được thì thường gởi tin nhắn, khoe là được ghé Việt Nam. Hễ gặp mặt là phấn khởi khoe, lúc nào tôi cũng nghe khen Việt Nam vui, ăn thức ăn ngon, cảnh đẹp lắm… Nhìn gương mặt hớn hở và nghe họ hả hê khoe khoang thành tích những chuyến du lịch, trong đầu tôi miên man suy nghĩ và thường hiện ra câu hỏi. Nếu những người này họ sống trong xã hội Việt Nam, cũng như những người dân bình thường nơi đó, thì họ có thời gian, tiền bạc để đi du lịch và thưởng thức những món ngon, những vẻ đẹp như họ đã được hưởng trọn vẹn trong chuyến đi hay không? Hay là tới lúc đó họ mới thấm thía câu ‘có tiền mua tiên cũng được’?

Chiếc Alinda chạy tuyến Villagarcia ra Santa Cruz, một hải cảng của đảo Tenerife, cùng với Las Palmas là quần đảo nằm về Châu Phi nhưng thuộc vương quốc Tây Ban Nha. Xuống hàng tại cảng Villagarcia, chiều hoặc tối thứ sáu khởi hành, trưa thứ Hai ra tới Santa Cruz de Tenerife, thứ Ba qua Las Palmas lên hàng, xuống hàng xong rồi trở về tới Villagarcia vào sáng thứ Sáu, như vậy chuyến ra, chuyến vô đúng một tuần lễ.

Đúng một tuần tàu trở vô đất liền lúc khuya và neo trong vàm Villagarcia. Sáng lại tôi lên phòng lái mượn ống dòm. Bà thuyền trưởng thấy tôi phóng ống dòm nhìn những bè nuôi tôm, cá dọc theo bờ biển. Bà nói:

– Ở Phú Quốc cũng có nhiều bè nuôi tôm, cá.

– Ờ, đúng rồi, nhưng bà thấy bè ở đây có khác hơn ở Phú Quốc không?

– Bè nuôi tôm, cá là bè nuôi tôm, cá tui thấy khác gì đâu?

– Khác chớ, những bè nuôi tôm, cá ở Phú Quốc, nói chung là ở Việt Nam đều có cất chòi cho người ở canh chừng ăn trộm, bọn ăn trộm ban đêm chúng hay bơi xuồng ra bè trộm cá hoặc phá phách. Có những bè cất chòi đủ cho cả một gia đình sống luôn trên đó. Cho nên từ bờ sông hay bờ biển nhìn ra những dãy bè trông giống như những căn nhà nhỏ nổi bình bồng trên mặt nước. Những bè nuôi cá, tôm bên này không có những căn chòi và cũng hổng có người canh nên thấy nằm lè phè gần như ngang bằng mặt nước.

– Ờ ờ…

Tôi hỏi bà:

– Bà đi từ Bắc Việt vô Nam Việt bà có ấn tượng nào không?

– Oh, nhiều lắm như Vịnh Hạ Long cảnh đẹp, Mai Châu tui có mua được chiếc khăn choàng cổ vải rất mềm, rồi phố cổ Hội An, Huế, Mũi Né nơi nào thức ăn cũng ngon, nơi nào cũng hấp dẫn, chỗ nào tui cũng thích.

– Nhưng bà thấy chỗ nào ấn tượng nhứt?

Bà chu cái mỏ, đưa tay lắc lắc ra chiều suy nghĩ, một chút sau bà nói:

– Phú Quốc, chỗ người ta phơi cá cơm và hãng nước mắm thúi kinh khủng…

Đoạn bà kể tôi nghe chuyện bà tham quan hãng nước mắm và cách người ta phơi cá cơm. Bà có mua mấy bọc cá cơm khô và hai chai nước mắm, bà nói nặng quá bà hổng mua được nhiều, bà khen:

– Đảo Phú Quốc rất đẹp…

Nói tới đây chợt có tiếng gọi của văn phòng bến cảng, bà bắt ống nghe. Thấy bà bận nói chuyện, tôi bỏ đi xuống từng dưới và ra boong đứng hóng gió.

Mùa xuân Âu Châu nơi nào cũng mát mẻ và bình minh chuyển màu cũng rất nhanh. Khi mặt trời thong thả nhô lên và soi hừng đồi núi nằm lừng lững trong một vịnh nhỏ thông ra Đại Tây Dương. Mực nước biển sâu, trong xanh và gió xuân nhẹ nhàng thổi tạt sóng nước gờn gợn đủ để nhấp nhô những chiếc bè nuôi cá của dân ngư thả neo bềnh bồng dọc ngang trên mặt nước. Trong khi tôi đứng nhìn những bè cá và cảnh mặt trời lên, thì nghe tiếng máy tàu nổ. Viên thuyền phó người Lithuania từ trên đi xuống, thấy tôi đứng hắn dừng lại, đi tới bên tôi, chào và nói:

– Tàu sắp nhổ neo.

– Oh! Có chuyện gì không?

Tiếp theo hắn hỏi:

– Nhổ neo xong tui vô ăn sáng, ông chiên cho tui hai cái trứng được hông?

– Dĩ nhiên.

Qui chế ăn uống mỗi ngày trên tàu Hoà Lan, ontbijt tiếng hoà Lan là ăn sáng, bữa ăn sáng trên tàu có bánh mì, bơ, thịt nguội, phó mát, trứng gà, sữa, nước trái cây, trà và cà phê. Nếu hôm qua còn dư cơm nguội, tôi đem chiên với trứng hoặc xào mì gói cho người In Đô hoặc người nào hổng ăn được bánh mì. Maaltijd là ăn trưa, bữa trưa là bữa ăn chính có súp, rau, thịt, khoai tây, cơm và đồ tráng miệng có trái cây tươi, trái cây đóng hộp, yoghurt, pudding hoặc kem. Diner là ăn chiều, bữa ăn chiều dọn bàn cũng giống như bữa điểm tâm và ăn đồ ăn dư của bữa trưa còn lại hoặc thêm xúc xích, hamburger, pizza… Hôm nào siêng tôi làm món chả giò, gần bốn mươi năm nấu cho nhiều giống dân và nhiều hạng người ăn, tôi chưa từng nghe dân nước nào, hạng người nào chê món chả giò Việt Nam (Vietnamese loempia) là dở hết.

Hồi tôi còn phụ bếp, nhiều đầu bếp nấu nhiều món không hạp khẩu vị dân tứ xứ làm thủy thủ đoàn ăn hổng được, thức ăn dư rất nhiều, đầu bếp kêu tôi bưng những thức ăn dư đổ bỏ. Mỗi lần bưng thức ăn đem đổ, tôi không cầm được nước mắt. Tôi nhớ lại quê hương tôi trong những ngày chiến tranh, chạy giặc phải ăn cháo loãng và những ngày vượt biển tị nạn Cộng Sản sau này. Trên bước đường gian khổ, hổng có đồ ăn, nhiều người chết đói, thậm chí đói quá người còn sống ăn thịt người đã chết. Cho nên khi làm đầu bếp, tôi tìm tòi học hỏi, lựa chọn chế biến những món ăn nào nhiều người có thể ăn được. Dĩ nhiên nấu cho tập thể ăn, hổng tránh được thức ăn thừa, nhưng tôi cố gắng làm sao cho thức ăn dư càng ít càng tốt. Cho tới nay, hơn bốn mươi năm làm bếp tàu buôn, tôi rất hài lòng công việc của mình và lương tâm tôi cũng hổng bị ray rức vì tôi biết độ số lượng nấu cho bao nhiêu người ăn và ra menu hợp khẩu vị nhiều người, cho nên mỗi ngày thức ăn thừa rất ít, thường là ngày nào hết ngày nấy, có khi ngon miệng bà con hỏi thêm, ít khi thức ăn bị đổ bỏ. Hổng phải chỉ pha chế nấu nướng cho ngon, đầu bếp cũng cần để ý văn hoá ăn uống của mỗi người và mỗi vùng nữa. Nếu đầu bếp được thủy thủ đoàn quý mến thì chuyện đố kỵ về văn hoá, chủng tộc cũng giảm đi, ít ra chỉ là bề mặt.

Có lẽ nhờ để ý học hỏi, dần dà tôi khám phá ra, không khí trên tàu vui hay buồn một phần cũng do đầu bếp, ngoài cách ăn uống khác nhau, tánh tình, ý tưởng của mỗi dân tộc cũng khác nhau và con người khó hoà hợp với nhau lắm. Nhứt là những người lớn tuổi, như viên thuyền phó trong chuyến đi này, hắn nhỏ hơn tôi vài ba tuổi, muốn ăn giờ nào thì ăn, uống giờ nào thì uống, hổng giờ giấc gì ráo và không khi nào ngồi bàn ăn chung với ai hết. Thuyền trưởng người Hoà Lan cũng chịu thua hắn luôn. Trước kia gặp thành phần như viên thuyền phó tôi khó chịu lắm, nhưng hổng lẽ mỗi lần đụng chuyện mỗi lần chửi bới, chẳng ra thể thống gì hết. Tôi mới nghĩ ra cách, sau giờ ăn tôi để phần ăn của những người chưa ăn ra ngoài và nói với họ muốn ăn giờ nào thì tự lấy ăn nhưng phải rửa dĩa sạch sẽ và dọn dẹp cho gọn gàng, tưởng làm cách đó là ổn, nhưng phiền cái là thằng tới trước lấy nhiều quá, có khi lấy sạch luôn, thằng tới sau hổng có ăn rồi cũng tìm tôi mắng vốn. Thấy vậy tôi mới chia phần ăn ra mỗi người một dĩa, bao giấy kiếng lại rồi để ra bàn, cách này coi vậy mà hữu hiệu và cũng từ đó cho tới nay tôi mới được yên thân. Hôm rồi ngồi nói chuyện chơi với viên thuyền phó, thấy không khí vui vẻ, tôi mới hỏi hắn:

– Bên nước ông giờ giấc ăn uống thế nào?

Hắn lắc đầu nói:

– Muốn ăn giờ nào cũng được, đói giờ nào ăn giờ đó.

– Ai cũng vậy sao?

– Ờ, tất cả mọi người.

Tôi cười thành tiếng:

– Oh! Thiệt hông cha nội?

– Thiệt mà.

– Nếu đi tuyến đường sang Mỹ, mỗi khi qua một kinh tuyến, thay đổi giờ giấc ông làm sao?

Hắn nhún vai:

– Thì cũng vậy, khi nào đói thì ăn.

Hắn rất thích thịt gà, hôm nào làm gà chiên, gà luộc, gà kho, nói chung món nào cũng được miễn là gà, người khác ăn dư ra bao nhiên hắn đớp hết bấy nhiêu.

Thấy vậy tôi hỏi:

– Bộ ở nước ông hổng có thịt nào khác hơn gà sao?

Ông trả lời:

– Có chớ, nhưng gà ở bên nước tui rẻ tiền hơn những thứ thịt khác.

Thiệt tình mà nói, nói chuyện với những người này khó tin và khó hiểu họ lắm. Ăn, uống tùy tiện, nói sao họ cũng nói được hết.

Trước đây thì đầu bếp ghi đơn đặt thực phẩm đưa thuyền trưởng đặt mua, có khi thuyền trưởng và đầu bếp cùng đi siêu thị mua thêm rau cải và trái cây tươi. Mỗi tháng đặt hàng một lần, đầu bếp tự phân chia làm sao đủ trong một tháng cho tuyến đường gần, ba tháng cho chuyến đi xa. Ngoại trừ những tuyến đường xa, không mua được rau tươi thì ăn đồ đông đá, nếu đầu bếp kinh nghiệm, khéo tay thì chế biến đồ đông đá ra những món ăn cũng ngon lành.

Tôi còn nhớ hồi bốn mươi năm trước, lúc đó thủy thủ đoàn người In đô, Tây Ban Nha, còn officers là người Hoà Lan, đầu bếp người Hoà Lan và người Cape Verde. Không hiểu sao hồi đó người cung cấp thực phẩm chất lượng rất tốt và một hai tuần thuyền trưởng đưa tiền cho đầu bếp mua thêm rau và trái cây tươi. Còn rượu nho, rượu mạnh, bia, nước lọc, nước ngọt, thuốc lá những thứ này thì thủy thủ tự trả tiền với giá miễn thuế, lúc nào trên tàu cũng đầy đủ. Từ ngày những người Nga và những người Đông Âu sang làm việc, nhứt là người Nga, họ uống rượu say rồi phá phách nhiều quá, có người say xỉn gây lộn sao đó rồi đổ dầu, châm lửa đốt tàu, vì vậy công ty cấm không cho dự trữ rượu mạnh trên tàu. Và cũng từ đó cho tới bây giờ, thức ăn tuy không thiếu nhưng những món thịt mắc tiền và loại thịt bò bít tết công ty cũng không cho đặt nữa. Bị công ty giảm phần ăn và đầu bếp cũng hổng còn được đi chợ mua thêm rau, trái cây tươi nữa. Thực phẩm mỗi tháng lấy một lần, dĩ nhiên đầu bếp ghi đơn đặt hàng, đưa thuyền trưởng gởi về công ty đặt, chớ thuyền trưởng không trực tiếp đặt như trước kia. Theo tôi thì khắp thế giới này bọn phân phối thực phẩm cho tàu buôn hổng có người nào lương thiện hết, ngoài rau và trái cây tươi họ làm mặt để giữ mối ra, còn lại những thứ khác như thịt bò đông đá thì gân, mỡ nhiều hơn thịt và dai như vỏ bánh xe, heo tuy không dai nhưng thịt ít mỡ nhiều, đồ đóng hộp và đông đá thường là những thứ gần hết hạn. Hôm rồi ông thợ máy người Ukraine cầm miếng thịt heo ba chỉ muối rất mặn đem xuống đưa cho tôi và nói:

– Vợ tui làm cho tui đem theo, nhưng ông nấu lúc nào tui cũng ăn no nên tui hổng cần nữa, ông lấy làm gì thì làm.

Tôi hỏi:

– Bộ vợ ông sợ trên tàu thiếu thịt hả?

Ông nhún vai:

– Có nhiều tàu hổng có thịt heo.

– Cái này làm gì ăn?

– Hổng làm gì hết, để vậy ăn.

– Oh!

Theo tôi biết người Ukraine và người Nga có món cá thu muối trộn gia vị ăn sống, bây giờ tôi mới biết thêm món thịt ba rọi muối, gia vị rất nặng mùi, họ cũng ăn sống luôn. Tôi cũng có nghe nhiều thủy thủ tàu khác, nước khác, công ty khác than phiền trên tàu có khi bị thiếu đồ ăn. Cả đời làm bếp cho tàu Hoà Lan, thức ăn trên tàu dạo sau này tuy chất lượng có hơi kém, nhưng tàu nào dự trữ thức ăn cũng dư, không bao giờ thiếu. Vậy mà những bữa ăn dọn ra đầy bàn, người Hoà Lan thì vào ngồi ăn, ít có người vào bếp hỏi món này món kia và cũng hổng dám chê khen, trứng gà thì người Hoà Lan ăn rất ít, có người hổng ăn. Những người Nga và Đông Âu thì thường xông vào bếp, đòi này, đòi nọ và kèo nài thêm một hai cái trứng chiên, trứng luộc. Họ cũng biết menu của một ngày giống nhau vậy mà thỉnh thoảng có người vô bếp hỏi:

– Bếp, ông có món nào khác không?

Khi tôi  hỏi lại:

– Món gì?

Thì họ đừ cái bản mặt ra lắc đầu nói hổng biết. Nhứt là những người cỡ tuổi tôi, còn ảnh hưởng cái văn hoá nước Nga thời Cộng Sản. Cái văn hoá tham ăn, keo kiệt, nhỏ nhen và ích kỷ. Mặt mày lúc nào cũng nặng chịt nhăn nhó khó chịu, hễ mở miệng ra thì dùng ngôn ngữ tuyên truyền, phóng đại, nói sai sự thật mà hổng biết ngượng. Dân chúng nghèo thiếu thốn, vây mà nói ra cái gì bên nước họ cũng có hết. Người thất nghiệp thì đi khắp thế giới tìm việc làm, ai hỏi tới thì nói ở nước họ việc làm thiếu gì. Thật ra thì tôi cũng có một số bạn trẻ người Nga, họ sống rất văn minh, những người này còn trẻ, hội nhập với thế giới tự do rất nhanh nên tánh tình cởi mở, thân thiện và dễ gần gủi hơn. Có lần tôi nói với viên thuyền phó người Nga:

– Người Nga mày phần đông gương mặt lúc nào cũng buồn bã, ít khi cười tươi.

Nó tươi cười và nói:

–  Hồi đó dân nước tui, nếu ai mà thoải mái vui vẻ cười tươi thì bị nghi ngờ, hoặc nói thật lòng đôi khi bị đi tù, nên họ lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen.

“Lầm lì chịu đựng riết rồi thành thói quen.” Câu nói của viên thuyền phó làm tôi chạnh lòng và cảm thấy buồn buồn. Sao mà giống y chang ở nước tôi! Quả thật xã hội nào, con người đó. Cũng từ đó trở đi tôi thay đổi cách nhìn và mắc cở không dám trêu chọc và phê bình, chê bai đất nước con người bất cứ ở nơi đâu.

Những năm sau này thủy thủ tạp nhạp nhiều hơn. Mặc dù tôi hổng còn trẻ trung nữa, nhưng tôi thích tiếp cận với mấy đứa nhỏ, cũng nhờ thân thiện với chúng nên tôi mới thấy được sự tiến bộ và sự đổi thay trên thế giới này. Dần dà tôi cũng quen với mọi đổi thay trong cuộc sống, cho nên đi tới một đất nước lạ, gặp con người mới hoặc hoàn cảnh khác hay thời tiết biến chuyển, tôi thích nghi rất dễ dàng. Có lẽ đây là nguyên nhân do cuộc sống luôn xê dịch của tôi và cũng có lẽ là do càng lớn tuổi trải nghiệm càng nhiều nên tôi nhìn cuộc đời thông thoáng hơn.

.

Nguyễn Lê Hồng Hưng
Santa Cruz De Tenerife 10-6-2019

Đọc Tô Thùy Yên khi Biển không yên!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Tô Thuỳ Yên dưới nét cọ của Đinh Cường (Hình Khoahoc.net)

Trung Cộng  từ khi chiếm được Hoa Lục năm 1949, bắt đầu giương oai diệu võ! Với đầu óc nông dân đặc sệt cả mấy ngàn năm, triều đại nào, hoàng đế Trung Hoa nào bao giờ cũng nghĩ tới giành giựt đất đai, lấn chiếm ao hồ của hàng xóm nhỏ hơn, yếu hơn mình. Cứ chờ thời cơ rồi ngày gặm thêm một chút.

Như Việt Nam từ thời lập quốc tới giờ núi liền núi, sông liền sông với chú Ba xấu bụng nầy chẳng lúc nào được yên. Trên bộ thì Ải Nam Quan rồi thác Bản Giốc; dưới biển thì Hoàng Sa rồi Trường Sa…!

Tình hình Biển Đông mấy hôm nay lại nổi sóng về cái vụ giàn khoan Trung Cộng lù lù xuất hiện ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm người viết lại nhớ tới bài Trường Sa Hành của nhà thơ Tô Thùy Yên viết cách đây đã bốn chục năm trời ròng rã.

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938, tại Gò Vấp, Gia Định, học Petrus Ký và Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ban Pháp Văn, gia nhập quân đội khóa 17 Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Đến 1975, mang lon Thiếu Tá Chiến Tranh Chính Trị, Trưởng Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm Lý Chiến. Ông bị VC bắt đi học tập cải tạo gần 13 năm; rồi đi định cư ở Houston, Texas, Hoa Kỳ năm 1993.

Trước bài Trường Sa Hành của ông, cũng có những nhà thơ khác làm thơ có tựa là ‘Hành’ như: bài thơ Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, năm 1940…

Hành là đi, là đến trong từ hành trình, du hành, vi hành, bộ hành hay hành khách… Nhà văn đi và viết thì gọi là ký. Nhà thơ đi và làm thơ thì gọi là Hành.

Nhưng ‘Hành’ nghĩa là gì? Có người cho đó là một thể thơ cổ. Song người viết lại nghiêng về một cách cắt nghĩa đơn giản hơn: Hành là đi, là đến trong từ hành trình, du hành, vi hành, bộ hành hay hành khách… Nhà văn đi và viết thì gọi là ký. Nhà thơ đi và làm thơ thì gọi là Hành. Đi Trường Sa làm thơ thì đặt tên bài thơ là Trường Sa Hành! Chắc vậy?!

Trường Sa Hành coi như một nhựt ký viết dưới dạng thơ khi Tô Thùy Yên đến Trường Sa năm 1974 vào tháng 3 khi gió mùa đông bắc thổi. Chuyến đi nầy hai tháng sau khi Trung Cộng xua tàu hải chiến rồi chiếm Hoàng Sa ngày 19 tháng giêng năm 1974 khiến 75 người lính anh hùng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong lúc bảo vệ biển đảo quê mình.

Trường Sa cách đất liền hơn 400 hải lý, nhà thơ đến bằng tàu Hải Quân và vẫn còn say sóng cũng y như những người lính thú trấn thủ trên đảo (không phải tất cả là ngư dân) trước khi đến Trường Sa có thể chưa biết biển bao giờ?!

Tô Thùy Yên, dân Gò Vấp, dân Sài Gòn, nên đêm đầu ra Trường Sa say sóng, cứ bồng bềnh, cứ tưởng đảo là con tàu vẫn tiếp tục trôi đi. Tả thực và xuất sắc!

Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

Trường Sa là quần đảo, tên tiếng Anh là Spratly Islands, đảo Trường Sa lớn là một đảo trong quần đảo nầy; lúc nhà thơ đến, không có dân; chỉ có lính… Đảo san hô đứng thứ tư về diện tích (0,15 km2).

Mãi khi Trung Cộng lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa mới đưa lính thuộc tiểu đoàn 371 ĐPQ, thuộc tiểu khu Phước Tuy, ra trấn thủ trên các đảo: Nam Yết, Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn và đảo Trường Sa lớn.

Nhà thơ đến chào, hỏi han (lính) đảo Hiu Quạnh lớn (có thể là đảo Trường Sa lớn mà nhà thơ tự mình đặt tên! Tôi đoán vậy vì nó viết Hoa?!)

Và có thể vì nhà thơ chỉ là khách, lại là quan ‘văn nghệ’, đến chơi vài bữa rồi đi… trong khi những người lính gian khổ ở lại… nên bước đầu gặp nhau không vồn vã lắm. Những người lính đó làm ‘ngơ’ cũng phải thôi! Tới đây là cực, là vất vả hết mức rồi thì việc gì phải sợ ‘quan’ nữa chớ?!

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
Ta hỏi han hề, Hiu Quạnh lớn!
Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ.

Người sống trên đảo năm ấy là lính Địa Phương Quân, mỗi đảo chỉ khoảng 20 người, từ đất liền ra đảo chẳng bao lâu, nên chưa có ai chết thì hồn ma quỷ làm sao mà có?! Thiệt là hiu quạnh! Thảo mộc cây cối thì hồi nhỏ tới giờ mới thấy; nên hỏng biết tên gì?

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ,
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.

Cách bờ xa quá, nơi những người lính thân cô, thế cô, tuân lịnh trên, xa nhà, xa cửa, xa vợ, xa con, xa cha, xa mẹ, anh em đến đây để giữ đảo quê mình. Xưa ai làm công chức hay quân nhân mà bị đổi đi đảo như Côn Sơn ngay cả Phú Quốc đều mang mặc cảm tự ti là mình bị đi đày, bị bỏ quên giữa trùng trùng sóng vỗ. (Dù sau ba tháng, sẽ có đại đội từ trong đất liền ra thay thế!)

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.

Vậy mà những người lính tưởng chừng như bị bạc đãi, bị lạc loài, bị bỏ quên, không ai nhớ đó lại can đảm đánh nhau với Tàu Cộng trang bị hùng hậu hơn nhiều để bảo vệ biển đảo quê mình rồi ngả xuống… nên:

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Dù gì đi chăng nữa, đã sanh ra làm dân Việt nếu phải chết vì đất nước thì chết. Lớp nầy rồi lớp khác!

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần,
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.

Để đêm về sống như người nguyên thủy bên đống lửa, chờ mồi… rồi nhậu!

Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.

Rồi văn nghệ, ca hát, không có ‘quan’ và ‘lính’ chỉ có ‘qua’ và ‘chú em’. Rặt ròng Nam Bộ!

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Rượu lâng lâng sầu viễn xứ rồi nhớ tới những người đã được gởi ra đây lúc trước, chiến đấu rồi chết một cách quạnh hiu mà quân tiếp viện đâu… chờ hoài chẳng thấy…như đã từng xảy ra ở Hoàng Sa chỉ mới hai tháng trước.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.

Người lính đảo, hầu hết là trẻ, là hoa niên, đến đây vì đất liền, chạm địch, đối mặt với quân thù thì xin đừng bỏ chúng tôi lại chiến đấu một mình trên “Hiu Quạnh lớn” đồng bào ơi!

Ngày trắng chói chang như giũa.
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên.

Tuổi hoa niên trong binh lửa là vậy đó. Hy sinh phận mình cho đất nước tồn sinh.

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

Nhà thơ đem ‘nỗi niềm’ kia hỏi Trời và hiểu ra rồi! Hiểu một điều là đất nầy, biển nầy, đảo nầy do những người lính rất bình thường, không phải là quan quyền chi hết… gian khổ giử lấy! Và nhà thơ cúi đầu khâm phục sự gian khổ hy sinh kính cẩn gọi những người lính vô danh đó trong bài thơ của mình bằng chữ “Người’, trang trọng viết hoa.

Năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, Hải Quân ta chống trả quyết liệt thì những nhà thơ quốc doanh phương Bắc chịu nhục, cúi đầu câm lặng. Sau 75, Bắc quân chiếm được miền Nam thì lại tự cao, tự đại… (dù trong thâm tâm cũng phải cúi đầu khâm phục bài thơ nầy do một nhà thơ tài hoa Nam Bộ duy nhứt trong nhóm Sáng Tạo (chủ lực có nhà văn Mai Thảo và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền…viết…) Nhưng vốn tánh nhỏ nhen, vẫn cón rán ‘khoèo’ một cái là bài thơ Trường Sa Hành của nhà thơ Miền Nam Tô Thùy Yên hay…nhưng thiếu tính chiến đấu.

Tính chiến đấu gì đây? Đâu phải cứ là: Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, súng ngoài xa chen khúc quân hành ca, đường vinh quang xây xác quân thù…

Tính chiến đấu không phải là ngư lôi, là tàu chiến, là tàu ngầm Kilo! Đôi khi có rồi mà chưa chắc đã dám ‘chơi’… vì nhát?!

Tính chiến đấu trong bài Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên là gian khổ của người lính trong trùng trùng gió mùa… khắc nghiệt, nắng cháy đến phỏng da vào mùa khô! Còm mùa mưa bão, những cơn bão nhiệt đới đi qua mạnh đến mức dường như thổi bay luôn cả đảo!

Thiên nhiên là vậy, khắc nghiệt như vậy…vẫn chịu đựng để giử biển đảo quê mình…Rồi quân thù đến, đánh tới cùng, dù biết rằng chấp nhận ra đây là nếu đụng trận là chỉ có chết chứ còn biết rút đi đâu, còn ai tiếp viện? Đảo mà!… Xa đất liền quá! Hỏng lẽ giơ tay, buông súng mà đầu hàng Tàu Cộng… Hai tháng trước khi nhà thơ đến, hải chiến đã xảy ra rồi đó ở Hoàng Sa. Đã có hy sinh! Biết vậy nhưng không có sợ… Dà! Tính chiến đấu ở đây đó thưa ‘chư vị’ thi sĩ quốc doanh miền Bắc!

Mỗi người đọc thơ đều có thể hiểu cách khác nhau! Càng nhiều cách hiểu càng tốt! Vì một bài thơ hay như một cái kính vạn hoa, mỗi lần đọc lại bài thơ thì tìm ra cái mới, cái hay, cái lạ là lần đọc trước mình chưa tìm thấy, chưa hiểu hết. Như cái kính vạn hoa, mỗi bức hình tuyệt tác chỉ là những hạt thủy tinh được sắp xếp, như những con chữ được sắp xếp trong thơ, lắc lên lại hiện ra hình ảnh khác… rực rỡ muôn màu!

Người viết không phải là nhà phê bình văn học, mạo muội viết ra những điều mình ‘cảm’ về bài Trường Sa Hành của một tác giả nổi tiếng như nhà thơ Tô Thùy Yên nầy là một việc làm mạo hiểm vì dễ bị chê là dốt chẳng hiểu gì thơ.

Tuy vậy, ai chê thì chê… mình hiểu tới đâu hay đó, viết ra chia sẻ cùng bạn đọc thân mến vì trộm nghe có người phê rằng bài thơ hay nhưng không có sức chiến đấu làm mình ‘tức’, mình ‘quạu’ lên, ‘quạt’ cho nó một trận cho đã tức!!

Bài thơ nầy viết cách đây đã 40 năm vẫn còn đứng vững và chắc rằng sẽ còn đứng rất lâu vì một lẽ đơn giản là nó hay.

Biển Đông không yên và chắc mãi mãi không yên… Mỗi lần Biển không yên… lại đọc Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên để yêu nước mình thêm. Tôi xin cảm ơn ông!

Cơm thố

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 19th, 2023

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Thuộc tỉnh Bình Dương, quận Lái Thiêu có nghề làm đồ gốm. Gốm, sành, sứ làm bằng đất sét tốt rồi đem nung. Gốm Phước Kiến chuyên về đồ dùng để đựng, kích cỡ lớn, nặng nề. Gốm Quảng (Ðông) chuyên trang trí đình, chùa, đồ đặt sân vườn. Gốm Tiều (Triều Châu) đồ dùng nhà bếp, gia dụng, chén sành dùng để ăn cơm. Câu hỏi đặt ra là cái thố là cái gì? Thố thường được dùng để đựng các loại đồ ăn, đặc biệt là cơm. Thố thường được làm từ gốm, sứ, đá, tre hoặc nhựa. Thố sành dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố có nhiều cỡ kiểu, có quai, loại không quai, có nắp, loại không nắp. Hầm bà lằng sắn cấu (tức sấu cắn)!

Còn nhà điền chủ, cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi, họ xài đồ kiểu làm tận bên Tàu.

Bà con mình ai cũng biết cơm nếp nấu bằng nếp. Cơm tấm nấu bằng gạo bể. Cơm tẻ nấu bằng gạo hột dài. Gạo nấu cơm thố là gạo ngon như Sóc Nâu, gạo Nàng hương Chợ Ðào. Cơm chín để nguội có cơm nguội. Ðem chiên có cơm chiên. Ðó là nói về cơm. Còn nói về dụng cụ nấu thì cơm thố hấp trong nồi, có nhiều tầng xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái.

Theo chân người Quảng Ðông từ những năm 30, 40 thế kỷ trước, cơm thố là ‘chung phàn’. Chung là cái thố còn phàn là cơm chưng cách thủy tức là hấp.

Cơm thố được nấu bằng cách cho gạo đã vo sạch để ráo nước, cho vào từng cái thố sành, châm nước vào thố một lần. Xếp thành từng vỉ trong xửng. Ðáy nồi nước sôi nước trong thố rồi cũng sôi. Nước trong thố cạn là cơm chín. Cơm thố không có cơm cháy như nấu cơm bằng nồi đất. Nói dễ hiểu cơm thố là hấp như nồi cơm điện của ‘võ sĩ mù nghe gió kiếm’ (tức Nhựt Bổn) chế ra sau nầy.

Một thố cơm bằng một chén cơm nhỏ luôn luôn nóng nhờ hơi nước như xửng hấp bánh bao, bánh bò vậy.

Như vậy cơm thố không phải chỉ riêng của người Quảng Ðông. Người Việt, nhiều quốc gia và vùng khác nhau trên thế giới, bao gồm cả toàn bộ đất Trung Quốc. Nước nào có lúa nước, người dân biết thổi xôi là có cơm thố hè.

Tui nhớ hồi xưa đi học ở Sài Gòn, Á Xẩm Quảng Ðông A Lìn của tui, từ Mỹ Tho lên thăm, thường rủ tui đi ăn cơm thố Chợ Cũ. Một phần cơm có ba món: canh, mặn, xào. Canh bí đao hầm thịt heo hoặc gà, tàu hũ, nấm, hành tây. Canh tôm hùm với nấm. Canh chua cá hấp với cà chua. Canh măng tây xắt nhỏ, với thịt heo hoặc gà, nấm, hành tây. Canh rau cải, với thịt heo hoặc tôm, tàu hũ, nấm. Món mặn thì: thịt kho tàu với trứng cút luộc. Cá chép chiên xù giòn với sốt chua ngọt. Tôm rim với nước sốt cà chua thêm đậu hũ hoặc trứng. Thịt gà kho với gừng. Mực xào sả ớt và nước mắm. Rau muống xào tỏi. Vào tiệm cơm thố, phổ ky bưng lên, hai đứa ăn bao nhiêu thố tính tiền bấy nhiêu.

Ra tiệm mình được chọn cơm phần hay cơm món, khoái món nào kêu món nấy. Nhưng từ khi cưới em về thì mình hết chửi thề. Vợ nấu gì ăn nấy. Không được quyền mở mồm ra đòi hỏi linh tinh vì em rất bực mình. Bữa nào vợ không giận thì chồng được ăn cơm phần ba món: canh, mặn, xào. Còn bữa nào quạu là chàng cơm dĩa chỉ một món thôi. Còn chiến tranh lạnh, không nóng đến độ dĩa bay nhưng ác liệt; không nói gì nhau, chỉ nhìn nhau bằng con mắt mang hình viên đạn là chàng đành phải ăn mì gói lưu niên. Sáng gói mì, trưa mì gói, tối gói mì. Ăn riết, ăn miết mà hổng biết lúc nào điên? Mà dẫu có điên đi nữa thì từ từ mà điên. Ðừng có cái vụ hạ cẳng tay (tức là đấm) thượng cẳng chân (tức là đá); đấm đá là đời chua như giấm. Quên phứt cái vụ “Không đánh thì bậu luông tuồng. Dang tay đánh bậu cho buồn lòng qua” đi.  Úc chớ không phải Việt Nam thời phong kiến đâu nhe mấy cha?! Coi chừng lính bắt!

Còn mấy em: “Chồng giận thì vợ bớt lời. Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê” Ðừng quen cái thói cư xử với chồng như một đứa con hư mà nên: “Chàng ơi giận thiếp làm chi? Thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng”.  Cầm bằng năn nỉ ỉ ôi hoài mà thằng chả cứ trơ như đá; vững như đồng thì em hãy chổng mông, lấy hơi bắc xuống một câu hò: “Ðốt than nướng cá cho vàng. Ðem tiền mua rượu cho chàng uống chơi!”

Cơm thố Chợ Cũ Sài Gòn – nguồn afamily.vn

Ðó là chuyện hồi xưa kìa. Tuy nhiên giờ chồng lạng quạng, quờ quạng tùm lum là vợ cho nhịn đói. Cho dù em yêu thừa biết: “Trừng phạt cái bao tử của chồng là hành vi cực kỳ dại dột của một người vợ vừa ngu vừa xuẩn”.

Tàn nhẫn (nại) như vậy vì em thừa biết: Nước Úc trai thừa gái thiếu, bị vợ bỏ là một tai ương còn tệ hại hơn bị ‘băng rắp’ (bankrupt) gấp ngàn lần! Bộ mấy anh không thấy bên Úc bị vợ bỏ, mấy anh mình phải tất tả xin nghỉ phép thường niên để bay như điên về ‘xứ Mít’ lãnh một ‘múi Mít’ qua lè lẹ. Mùa Ðông Melbourne lạnh quéo râu bên thềm cửa. Không có cái mền da 37 độ rưỡi là coi chừng chết teo cu!

Nhớ thời thơ ấu, lúc ba tui làm Trưởng ty Bưu Ðiện Rạch Giá dắt bầy con đông như quân Nguyên đi ăn cơm thố, chén đũa khua rổn rảng vui hết biết trong nhà hàng Tàu gần Rạp hát Ðồng Thinh.

Nhớ năm16 tuổi, ba má dắt đám con ‘xây lố cố’, đi ăn cơm thố, có món tôm kho tàu ngon bá chấy bù chét ở nhà hàng Nam Sơn gần rạp chớp bóng Ðịnh Tường đường Trưng Trắc dọc bờ kinh Bảo Ðịnh Mỹ Tho.

Mother’s Day, May 14th, tui nhớ cơm thố thời thơ ấu má nấu ở nhà: đầu tôm nấu với ruột bầu, rau muống xào tỏi chấm nước mắm me, cá ba sa kho tộ nước mắm y.

Quê người, đôi khi dắt em yêu đi ăn cơm thố với ‘hầm vĩ’(cá lù đù muối) chưng hột vịt, rau sống, dưa leo như mình ăn mắm chưng vậy. Món cơm thố hầm vĩ ngày nay chìm trong ký ức đẫm đầy nước mắt vì con còn mãi tha hương và ba má đã mất hết còn đâu?

DXT

Anh Quân tôi

dongsongcu.com

Posted on June 5, 2018

 Lý Văn Quý

Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Trung úy Lý Văn Quân tại đồi 31, một tháng trước khi anh tử trận

 Cha mẹ tôi có chín người con, tám trai và chỉ có một gái. Do tình hình chiến cuộc, cha mẹ tôi phải dời chỗ ở nhiều lần, vì vậy mà chúng tôi được sinh ra ba người tại miền Bắc, ba người tại miền Trung và ba người còn lại tại miền Nam. Điểm thú vị là chúng tôi không phải liên tục được sinh ra từng “lứa” ba người một tại một miền mà chia ra theo một thứ tự địa dư đảo lộn nhau.

Ông anh cả (nói theo người Bắc) sinh năm 1941 tại Hà Nội, đến năm 1944 thì ông anh thứ hai ra đời cũng tại Hà Nội. Vào năm 1947 thì gia đình dời vào Nam nên ông anh thứ ba (Lý Văn Quân) được sinh ra tại Sài Gòn. Năm 1950 cha mẹ tôi sinh hạ ông anh thứ tư tại Huế vì lúc đó cha tôi mãn khoá 6 Võ Bị Đà Lạt và gia nhập vào Vệ Binh Đoàn dưới quyền chỉ huy của Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ.

Tôi là con thứ năm trong gia đình, cũng sinh ra tại Huế năm 1951. Nhưng đứa em trai thứ sáu lại được sinh ra tại Sài Gòn năm 1952. Sau đó thì gia đình dọn ngược về Hà Nội nên đứa em gái (thứ bẩy trong gia đình) của tôi được vinh dự mang danh là “con gái Hà Thành.” Vào năm 1954 di cư cha tôi theo đơn vị Nhẩy dù vào Nha Trang nên đứa em trai thứ tám sinh ra tại đó. Gia đình chúng tôi dọn về Sài Gòn lần cuối cùng và đứa út sinh ra năm 1961.

Kể đến đây chắc quý vị nhức đầu lắm vì chính bản thân tôi đôi khi cũng lúng túng không theo dõi nổi ai sinh ra tại đâu. Nhưng mà thôi, câu chuyện tôi muốn kẻ đây xoay quanh ông anh thứ ba tên là Lý Văn Quân.

Lúc mới 17 tuổi khi chiến sự bắt đầu lan rộng, anh Quân tôi đang là học sinh Petrus Ký nhưng nằng nặc đòi cha tôi cho đi lính. Mẹ tôi buồn vô cùng và cha tôi phải tìm cách hoãn binh khuyên anh đậu Tú tài 1 đi thì cho đi lính vì có tú tài 1 thì được đi Thủ Đức, ra sĩ quan có cơ hội chỉ huy binh lính tốt hơn là đi học hạ sĩ quan. Tuy nhiên toan tính của cha tôi không thành công vì vừa đậu Tú tài 1 xong là anh gia nhập trường Sĩ quan Thủ Đức và tốt nghiệp khóa 21 với cấp bậc chuẩn úy. Anh lập tức xung phong đi Nhẩy Dù, đòi ra Tiểu đoàn tác chiến. Mẹ tôi lại nước mắt ngắn nước mắt dài và cuối cùng thì cha tôi vận động cho anh Quân gia nhập… Pháo binh Dù để chiều lòng mẹ tôi vì theo bà nghĩ, pháo binh thì dù sao cũng từ phía sau bắn tới nên chắc đỡ nguy hiểm hơn là trực diện với kẻ thù.

Từ khi ra đơn vị, chiến sự bùng nổ lớn và anh tôi theo chân đồng đội tham dự các trận đánh khốc liệt của cuộc chiến Viêt Nam cần đến đơn vị Tổng trừ bị lừng danh là Sư đoàn Nhẩy Dù, đặc biệt là trận Tết Mậu Thân và sau đó là cuộc Hành quân Lam Sơn 719 anh Quân tôi đã bỏ mạng tại đó dưới chân đồi 31… Lúc đó anh mới 23 tuổi và mang cấp bậc Trung úy, pháo đội phó thuộc Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Dù.

Khỏi cần nói nhiều quý vị cũng hiểu là tôi khâm phục anh Quân đến cực độ. Mỗi lần anh đi phép về là quẳng đồ chiến trận trong phòng tôi, trong đó tôi thấy dễ nể nhất là cây dao găm dài hai tấc, phía sống lưng là lưỡi cưa mà anh hay đeo ở bắp chân bên phải lận trong ống quần. Thỉnh thoảng tôi lén lúc anh đi nhậu mang ra vườn sau nhà để thử độ bén bằng cách băm vào cây chuối. Còn cây “côn đui” của anh thì khỏi nói, sờ vào nó lạnh tanh, tôi vẫn thường cầm thử nhắm vào kẻ thù vô hình trước mặt và ước ao một ngày nào đó sẽ có một khẩu như vậy.

Thông lệ mỗi khi anh về nhà là xoa đầu tôi và hỏi học hành tới đâu rồi? Thời đó tôi khá ngoan nên gần như lần nào anh cũng thấy tôi đang ngồi bàn học. Tôi vội khoe bài vở điểm cao và sung sướng được anh khen “thằng này giỏi, ráng học nghe chưa, đừng bắt chước tao đi lính khổ lắm!”

Tôi còn nhớ bạn thân của anh tôi là nhà văn Phan Nhật Nam, vài năm sau đó nổi tiếng với tác phẩm “Mùa Hè Đỏ Lửa.” Ông Phan Nhật Nam hay theo anh Quân ghé chơi với gia đình và thăm hỏi cha tôi lúc đó là Chỉ huy trưởng căn cứ Sư Đoàn Dù tại Bà Quẹo. Dĩ nhiên là tôi kính nể ông Phan Nhật Nam không kém gì anh tôi và vẫn thầm nghĩ phe ta có những “chiến tướng” như vầy thì làm sao mà không thắng Cộng Sản được? Sau này tại Hoa Kỳ tôi có dịp được gặp lại nhà văn Phan Nhật Nam nhiều lần và lúc nào cũng vậy, cảm giác trong lòng vẫn luôn luôn là niềm kính trọng đối với một con người quả thật đã sống hết lòng với đất nước và quê hương. Được biết trong lao tù Cộng Sản ông Phan Nhật Nam vẫn giữ khí phách của một sĩ quan QL/VNCH mặc dù bị chúng hành hạ đến tận cùng.

Trung Tá Lý Văn Quảng gắn bằng Dù cho con Lý Văn Quân

Đầu tháng 2, 1971 chiến dịch Lam Sơn 719 được tiến hành nhằm cắt đứt đường tiếp vận của quân Bắc Việt qua ngả Hạ Lào. Lữ Đoàn 3 Dù cùng với Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù được trực thăng vận xuống trấn giữ căn cứ hỏa lực đồi 31. Anh Quân tôi đã có mặt tại đó.

Theo lời các nhân chứng kể lại thì trong trận đánh cuối cùng, hầm chỉ huy của Lữ Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh bị quân Bắc Việt tràn ngập và kẻ địch đứng trên miệng hầm hô “hàng sống chống chết…” Trong hầm lúc đó còn Đại tá Thọ, Lữ đoàn trưởng, Trung tá Châu, Tiểu đoàn trưởng Pháo Binh đồng thời là thượng cấp của anh Quân và một số sĩ quan bộ chỉ huy khác. Anh Quân móc khẩu súng lục tùy thân ra nói: “để tôi đổi mạng vài đứa…” Một vị sĩ quan vội nắm tay anh cản: “Quân, quân tử thức thời, cứ tùy cơ ứng biến, không cần làm vậy…”

Bị bắt bỏ trên chiếc xe tăng T.54 tháo chạy ra khỏi đồi 31 để tránh phi pháo, anh Quân đã dùng con dao găm giấu trong ống quần đâm chết một tên lính canh Bắc Việt và chạy trốn vào rừng. Địch rượt theo bắn anh bị thương và hành quyết anh ngay tại chân đồi. Anh được ghi nhận là mất tích ngoài mặt trận và trong một thời gian dài gia đình bặt tin anh.

Câu chuyện chưa dừng tại đây.

Nhiều năm sau ngày 30/4/1975 Đại tá Thọ và Trung tá Châu được trả tự do từ trong lao tù Cộng sản có đến thăm cha tôi và xác nhận cái chết của anh Quân.

Sau đó đột nhiên vào khoảng năm 1989, lúc này cha tôi đã qua đời rồi, Trung tá Châu đến thăm mẹ tôi và cho biết là trước khi ra ngoài mặt trận lần cuối cùng, anh Quân đã chung sống với một phụ nữ và chị ấy đã mang thai. Chị tên là Hải. Hai người đã dự tính sau cuộc hành quân Hạ Lào thì sẽ chính thức xin cha mẹ hai bên cho làm lễ cưới với nhau. Tuy nhiên sau khi anh Quân bị mất tích thì chị Hải giấu nỗi đau buồn và ở vậy nuôi đứa con gái cho đến nay thì cháu đã 18 tuổi rồi. Lúc này gia đình chị Hải được người chị sinh sống tại Pháp bảo lãnh và đã được phỏng vấn chấp thuận ra đi rồi. Do đó chị muốn bên họ nội biết toàn bộ sự việc dù đã muộn màng trước khi lên đường, có thể là vĩnh viễn không bao giờ trở lại quê hương nữa.

Chính tôi là người đã đèo mẹ tôi trên chiếc xe gắn máy Honda lần mò các ngõ hẻm vùng Khánh Hội để tìm gặp chị Hải theo địa chỉ Trung tá Châu cho biết. Lần đầu tiên gặp cháu nội, mẹ tôi thốt lên “Đúng là ruột thịt nhà họ Lý rồi” vì quả thật, đứa cháu nội của bà giống như đúc với đứa con gái đầu lòng của tôi, lúc đó tuy chỉ mới 12 tuổi… Qua cơn nghẹn ngào, chị Hải đưa ra một tấm hình cũ mèm khổ 4×6 của anh Quân, tấm hình duy nhất mà chị còn giữ trong suốt 18 năm qua. Đến đây thì tôi không thể nào cầm nước mắt nổi. Chị Hải còn kể là anh Quân đã cứu mạng anh ruột của chị tên là Thỏa vì trong chuyến trực thăng tiếp vận cuối cùng rời đồi 31, anh đã ra lệnh buộc anh Thỏa, lúc đó là hạ sĩ quan dưới quyền anh phải trèo lên mặc dù anh Thỏa không muốn xa rời đồng đội trong lúc hiểm nguy.

Mẹ tôi tổ chức một bữa tiệc gia đình để chính thức nhận chị Hải là con dâu và bé Thảo là cháu nội của bà. Do một sự tình cờ, hay sắp xếp nào đó của đấng trên cao, ông anh thứ hai của tôi được thả khỏi nhà tù vượt biên sau gần một năm bị giam cầm về kịp thời, đồng thời đứa em kế tôi cũng vừa toan tính vượt biên bất thành trở về lại thành phố nên buổi hội ngộ có mặt đông đủ tất cả anh em chúng tôi.

Tôi còn “mắc nợ” quý vị và nhất là anh bạn thân BS Phạm Anh Dũng một lời giải đáp từ hơn 10 năm trước về cái thắc mắc là tại sao trên chuyến ghe 13 người ngoài cửa Cần Giờ ngày 30/4/1975, tôi lại là người duy nhất quay đầu trở về để lọt vào cái rọ Cộng sản và trả giá bằng gần ba năm tù “cải tạo.” Những lý do tôi vẫn thường nêu lên như vì nhớ nhà, nhớ người yêu tuy không sai nhưng không phải hoàn toàn là sự thật. Bây giờ tôi xin khẳng định đó là vì linh hồn anh Quân không cho tôi đi, cũng như không cho bất kỳ ai trong gia đình được rời khỏi nước trước khi gặp chị Hải…

Ngay từ ngày 30/4/1975, gia dình anh em chúng tôi đã có biết bao nhiêu cơ hội để vượt thoát, thậm chí một số anh em tôi đã ra được tới Phú Quốc nhưng cuối cùng vì lý do này lý do kia cũng phải quay đầu về lại. Sau đó thì biết bao nhiêu lần vượt biên đều thất bại, mấy anh em tôi thay phiên nhau nằm trong tù vượt biên, có hai đứa em đi đường bộ xuyên qua Miên tới gần biên giới Thái Lan rồi cũng bị tóm về lại nhốt ở Chí Hòa. Tôi trở thành “chuyên viên” đi lãnh tù, làm thân với nhóm Công an bộ Nội Vụ Việt Cộng đến nỗi cứ mỗi lần gặp họ là “kỳ này là anh Quế hay anh Quỳnh đây?” Giá cả rất ư là “hữu nghị,” cứ một cây một đầu người và một lần, nhiều quá rồi tôi cũng chẳng nhớ nổi nữa…

Vậy mà sau buổi tiệc gia đình nhận họ với mẹ con chị Hải, đầu tiên là ông anh lớn của tôi vượt biên và chuyến tàu đã bị hải tặc nhảy lên sửa soạn cướp và hiếp đáp. Anh tôi nhận thấy tên đầu sỏ có đeo tượng Phật nên đứng ra nói bằng tiếng Anh dùng Phật pháp khuyên nhủ. Trúng thằng cướp hiểu tiếng Anh nên hắn ngần ngại vuốt mặt nhiều lần và sau cùng ra lệnh đồng bọn trở về ghe. Trong lúc bọn chúng chần chừ chưa chịu buông tha thì anh tôi nói tài công dùng búa chặt đứt dây nối hai tàu lại với nhau. Hai chiếc ghe tách rời ra khiến bọn hải tặc còn trên ghe vượt biên phải vội vàng nhảy xuống biển bơi về lại với đồng bọn. Sau đó thì ghe thoát nạn qua được đến bờ Thái Lan! Tôi tin là sự việc có bàn tay vô hình can thiệp vào…

Sau đó là gia đình đứa em kế tôi gồm hai vợ chồng và ba đứa con thơ cuối cùng cũng vượt biên qua được đến Thái Lan bình yên vô sự, sau gần 20 lần thất bại. Hiện đứa em kế tôi sinh sống ở Dallas thuộc tiểu bang Texas.

Năm 1991, gia đình tôi được định cư qua Hoa Kỳ theo diện HO5, phải công nhận là nhờ công của ông bố vợ ngày xưa là Thiếu tá quân nhu đã từng đi tù cải tạo hơn 5 năm, lại cộng thêm cô em vợ đã làm giấy bảo lãnh theo diện ODP nữa. Bản thân tôi tù chưa đủ 3 năm nên cũng khó được nhận. Hồi đó thì tôi đã cam phận chẳng thiết tha gì chuyện đi Mỹ nữa vì dù sao Việt Cộng cũng để yên cho làm phòng mạch “chui” sống cũng tương đối dễ thở, lại nghe bạn bè kể lại qua Mỹ khổ thua con… chó. Ông bố vợ suốt ngày đi nghe ngóng tin tức rồi mang đơn từ về đưa tận tay cho thằng rể ký vào. Thế thì ký thôi, chẳng lẽ chịu mất vợ hay sao?

Ông anh thứ hai sau gần một năm tù vượt biên thì nhận được giấy báo vợ bảo lãnh mặc dù chị ta đã lập gia đình với người khác rồi sau nhiều năm mòn mõi đợi chờ. Chuyện khó tin nhưng có thật là chị vẫn còn nhớ tình xưa nghĩa cũ nên lén chồng mới, tiếp tục tiến hành giấy tờ cho đến khi anh tôi đặt chân được lên Hoa Kỳ thì hai người mới chính thức từ giã nhau. Hai đứa em còn lại thì cuối cùng cũng định cư được Hoa Kỳ 15 năm sau do tôi đứng đơn bảo lãnh. Sau khi vào quốc tịch rồi thì tôi đã bảo lãnh mẹ tôi qua được Mỹ. Tuy nhiên vì không thích hợp với cuộc sống bên này nên mẹ tôi đã trở về Việt Nam và qua đời vào lúc bà 86 tuổi…

Phần cuối câu chuyện là sau khi mẹ tôi qua đời, chúng tôi quyết định chia khu đất căn nhà của cha mẹ để lại tại Bà Quẹo, trong đó có dành phần cho chị Hải tuy theo luật pháp thì do anh Quân đã qua đời trước cha mẹ nên không hưởng quyền thừa kế. Ai lấy đất thì giữ lại phần mình, ai lấy tiền thì bán phần mình đi. Ngặt mỗi nỗi là sau hơn chục năm ra đi, anh em chúng tôi mất liên lạc với chị Hải và vô phương báo tin cho chị biết mặc dù đã tìm đủ mọi cách. Vậy mà một ngày đẹp trời, trong lần đầu tiên về thăm quê hương có lẽ do linh hồn anh Quân thôi thúc, chị lần mò đến căn nhà cũ của gia đình, trong lòng chỉ muốn nhìn lại cảnh cũ mà thôi. Cô em dâu tôi lúc đó còn ở Việt Nam trông thấy vội vàng chạy ra nắm tay mừng mừng tủi tủi…

Chị kể lại là đã từng có lần gặp một bà mợ ở Paris để hỏi thăm về gia đình thì bà này hơi “ác” nên khuyên chị là thôi quên đi, họ bây giờ khá rồi không màng tới chị nữa đâu. Với bản tính khí khái sẵn có nên chị thôi không tìm cách liên lạc lại nữa. Chúng tôi vui mừng với nỗi vui của chị, vừa nhận lại được họ hàng thân thương, lại còn vừa nhận được món quà đáng kể của anh Quân tôi để lại nữa.

Hiện nay chúng tôi còn lại năm anh em trai, ngoài đứa kế ở Dallas thì bốn người chúng tôi ở gần nhau trong vùng Little Saigon và có thông lệ ăn trưa với nhau tại nhà hàng Song Long để trao đổi tin tức và đôi khi… cãi nhau về chính trị chính em! Thỉnh thoảng thì có những vị khách mời đặc biệt tham dự như lần gần đây nhất chúng tôi được hân hạnh đón tiếp một vị sĩ quan Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Dù đã từng quen biết anh Quân tôi. Một chi tiết ông kể lại là cả đơn vị rất kính nể tài uống rượu vô địch của anh Quân. Anh có khả năng uống nạp từng ly rượu lớn một cho đến khi người đối diện gục trước mới thôi! Càng uống mặt anh càng tái ra! Đúng là lính Dù có khác!

Tôi còn nhớ hồi còn trong tù, có lần được chỉ định đi dọn hầm rác của cán bộ quản giáo Việt Cộng. Ngày hôm đó có hai tên lính vệ binh CS trong căn “lán” cãi nhau. Một thằng chửi thằng kia rằng “Đị…t mẹ mày, hôm đó trong hầm có 7 thằng, thằng ngụy dù đi ngang đéo thằng nào dám bắn bị nó đôi cho một quả lựu đạn chết hết 5, anh hùng cái chó gì…?”

Lên đường hành quân

Cảm giác của tôi đối với vị sĩ quan Dù ngày hôm đó cũng giống như những lần tôi được hầu chuyện với các sĩ quan Nhẩy Dù khác là thái độ của họ rất ung dung, hiền từ tương phản với những gì chúng ta có thể nghĩ rằng các “thiên thần mũ đỏ” chắc phải dữ dằn, hung tợn lắm mới khiến kẻ thù khiếp sợ như vậy.

Một nét đặc thù chung tôi thường thấy khi tiếp chuyện với các vị sĩ quan QLVNCH cũ là hầu hết đều hiền hòa. Chức vụ, cấp bậc họ càng cao và càng ra tác chiến nhiều bao nhiêu thì họ lại càng tỏ ra điềm đạm và khiêm nhường bấy nhiêu; chẳng hạn như các danh tướng Lê Quang Lưỡng, Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo v.v… mà tôi được hân hạnh gặp mặt. Trung tá TQLC Lê Bá Bình cũng là một người mà tôi rất kính trọng ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên.

Họ không tự mãn nhưng tôi tin chắc là trong lòng họ luôn mang niềm tự hào là đã hoàn thành lệnh cấp trên giao cho đến hơi sức cuối cùng và thành bại không thể luận anh hùng được. Họ đã sống đáng đời trai thời chiến, đã trọn đời chiến đấu và hy sinh cho quê hương. Có người ra đi sớm, có người ra đi trễ nhưng tất cả đều là những vị anh hùng của dân tộc và Tổ Quốc mãi mãi ghi ơn họ…

22-5-2018

Thép đen

Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 17 Sep 2023

Bài 8 – Huấn Luyện Tình Báo

Đặng Chí Bình

Ngay tối hôm đó, tôi về tới Thành Đô. Nhìn cảnh phố phường đầy mầu sắc, lòng tôi vẫn vời vợi, bâng khuâng với nhiều nẻo đi của cuộc đời. Hồn tôi đang chìm ngập trong nỗi ngơ ngác đầy vơi thì xe ngừng lại ở một góc đường Võ Tánh. Ông Cẩn móc túi lấy chùm chìa khóa trao tôi, thân mật dặn dò:

–  Đây là chìa khóa đã ghi sẵn số phòng ở tầng ba, số 8 đường Nguyễn Văn Tráng.

Trước khi chia tay ông còn căn dặn thêm:

–  Nhớ đừng về nhà, sáng mai tôi đến sẽ nói chuyện.

Sau một lúc lò dò tìm kiếm, tôi đã đến được căn phòng đó. Trong phòng đã có sẵn một chiếc radio transitor với một số sách báo ngoại ngữ, cũng như Việt ngữ.

Sáng hôm sau ông Cẩn đến. Nội dung những điều ông căn dặn hướng dẫn:

–  Tôi sẽ đóng vai trò là một sinh viên Văn Khoa, gia đình tôi thuộc loại khá giả, từ Bắc di cư vào miền Trung. Tôi vào Sài Gòn trọ học. Đó là đối với tất cả người chung quanh, kể cả với người quản lý building.

–  Còn riêng với gia đình, một tháng chỉ nên về một hoặc hai lần. Nói là: Khi lên tới trường Thủ Đức, họ khám sức khoẻ lại, thấy có bệnh yếu tim, nên không thể theo học quân sự được. Hiện nay, đã chuyển sang ngành công tác xã hội, phải đi học tập một thời gian.

–  Ít đi ra phố, chỉ ra khi đi ăn cơm. Hàng ngày, sẽ có người đến huấn luyện. Chiều Thứ Bẩy và Chủ Nhật nghỉ.

–  Trong thời gian huấn luyện, mỗi tháng tôi sẽ được lãnh 2500 đồng. (Lại cũng giống như số lương ở số 2 Jean Jacques Rousseau!).

Thời gian đầu, chính ông Cẩn, sáng cũng như chiều, mang tài liệu sách vở đến giảng dậy cho tôi.

Lúc đầu, ông đưa tài liệu ra giảng cho tôi về:

* Thế nào là một tổ chức bí mật. Lãnh đạo những tổ chức này, có khi do một cá nhân, một tập thể, hoặc một quốc gia.

* Xác định bạn và thù. Những người cùng chung một công tác là bạn. Ngoài ra, tất cả là thù; kể cả bố mẹ, vợ con, anh em, bè bạn và các cơ quan khác như cảnh sát, công an, an ninh quân đội. v.v… (Theo ý nghĩa ngăn cách, bí mật).

Tôi rất ngạc nhiên về điểm này. Ông Cẩn giải thích, đại ý:

–  Về lãnh vực tình báo trên thế giới, từ xa xưa cho tới bây giờ, biết bao sự việc lắt léo ly kỳ đã xảy ra. Trong hòa bình cũng như lúc chiến tranh, có khi hai quốc gia chống nhau, hoặc có khi hai khối quốc gia chống nhau. Bên nước này, cũng như bên kia đều đầy dẫy những nhân viên tình báo của đối phương. Những nhân viên này, tùy theo điều kiện và nhiệm vụ, có thể ở mọi nơi, mọi lãnh vực, thậm chí đôi khi còn nằm ngay trong chính quyền trung ương của nước sở tại. Nhiệm vụ của họ có nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có một cái chung là tìm tòi, nghe ngóng để biết trước được những âm mưu, ý đồ về tình báo của nước nọ đối với nước kia, ngõ hầu có những biện pháp thích ứng để ngăn chận, hoặc lợi dụng, có khi tiêu diệt. Vậy, điều quan trọng là người điệp viên cần phải biết những ai là nhân viên tình báo của đối phương, nhất là những nhân viên bí mật.

Thời đại ngày nay là thế giới tự do và Cộng Sản. Một thí dụ:

–  Một người đang được bí mật đào tạo huấn luyện để nhận một nhiệm vụ bí mật vào đất địch, phá một công xưởng sản xuất vũ khí chẳng hạn.

Anh này có vợ, vì anh là tình báo nên đi về thất thường, nguyên tắc không được nói với vợ, nên anh này thường nói dối quanh. Người vợ càng nghi ngờ có lẽ chồng đã đi với cô này, cô nọ, cho nên đã làm cho anh ta nhiều lần khốn đốn. Anh này vì chưa đủ ý thức về bí mật, an ninh công tác nên có ý nghĩ:

–  Tuy nguyên tắc là như thế, nhưng vợ của mình, đấu gối tay ấp trọn cuộc đời với nhau, chẳng lẽ lại hại nhau, chẳng lẽ vợ mình lại là Cộng Sản ư?

Và một đêm, anh đã thú thực với vợ, không quên căn dặn vợ là tuyệt đối không được nói với bất cứ ai. Người vợ lại có một người mẹ, thỉnh thoảng nàng hay sang nhà mẹ chơi. Bà mẹ thường bảo:

–  Này, cái thằng chồng của mày độ này nó làm ăn cái gì mà tao thấy nó đi suốt ngày, có khi cà đêm nữa? Mày ngốc, mày không để ý theo dõi xem thế nào, biết đâu nó chẳng mèo chuột, v.v…

Người vợ tuy đã nghe chồng dặn kỹ, nhưng lại nghĩ:

–  Mẹ đẻ ra mình chứ ai, chẳng lẽ mẹ lại hại vợ chồng mình? Mà mẹ mình là Cộng Sản hay sao?

Và, rồi một hôm nào đó nàng đã nói thực với mẹ, cũng không quên căn dặn mẹ: Đừng, chớ có nói chuyện này với một ai mẹ nhé!

Bà mẹ lại có một người bạn chí thân. Trong một lần nào đó, bà bạn hỏi thăm về thằng con rể của bà bạn mình. Bà mẹ không được học về nguyên tắc bí mật, nên muốn khoe với bà bạn thân:

–  Ấy, chẳng hiểu nó làm cái gì bí mật lắm, ở mãi trên Phủ Tổng Thống cơ! v.v…

Bà bạn chí thân này lại có chồng, có con thân mật ruột thịt khác. Cứ như thế, đến lúc nào đó, tình báo của đối phương sẽ đánh hơi thấy (cái này nó thính lắm) truy nguyên ra được tông tích và hành tung của anh chàng không kín miệng. Nếu anh đó, dùng bất cứ hình thức nào để xâm nhập đất địch, nếu không hai năm mươi thì cũng vào trong ấp mà nằm.

Như vậy, nguyên nhân vì đâu mà anh ta bị như thế? Rõ ràng, xuất phát từ vấn đề người vợ, khiến anh ta đã thất bại.

Hơn nữa, người ta đánh giá một công tác, thường chỉ căn cứ vào thành công hay thất bại mà thôi. Còn nguyên nhân tại sao, lý do thế nào, xét sau. Bất kể nguyên nhân ra sao, do đối phương ngăn chận không thể thực hiện được công tác, hoặc tư tưởng của nhân viên muốn lẩn trốn không dám thi hành công tác, v.v… dù nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì cũng dẫn đến chung một kết quả là công tác đó bị thất bại, không thực hiện được.

Qua thí dụ trên, về một khía cạnh nào đó, người vợ cũng như là một kẻ thù, một đối phương vậy.

Từ những vấn đề trình bày ở trên, tôi nhớ lại trước đây khi xem những phim tình báo gián điệp của Thế Chiến I và II, những tiểu thuyết tình báo trong đó có Z 28 chẳng hạn. v.v… Tôi cho rằng những điệp viên quái kiệt đã được đào tạo ở những trường điệp báo khét tiếng như: Hắc Long, Intelligent Service, Gestapo, CIA hay KGB, v,v… đều bắn các loại súng như máy, cưỡi ngựa như gió, sử dụng máy bay, xe hơi một cách điêu luyện tinh vi. Tôi thật ấu trĩ! Từ những nguyên tắc bí mật và ngăn cách, chẳng có một trường nào công khai đào tạo điệp viên cả. Nếu có một trường như vậy, chẳng khác gì những điệp viên ấy đã tự trình bầy với đối phương, thưa các ông: “Chúng tôi đang ở trong bụi rậm này!” Cho nên thực tế, có nhiều vấn đề chẳng giống như tiểu thuyết và phim ảnh.

Trở lại Ngọc Cẩn. Sau đó, tôi tiếp tục được giảng dạy nghiên cứu và mổ xẻ các loại nhân viên: Nhân viên giữ nhà an toàn, nhân viên trung gian, nhân viên đi hoạt động bí mật, nhân viên liên lạc, nhân viên công khai và bán công khai, nhân viên nhị trùng hay hai mang, v.v…

Trong khoảng bốn tháng, ông Cẩn đến với tôi hàng ngày như vậy. Tôi nhớ một hôm, vào cuối tháng 4 – 1960, ông Cẩn vào phòng tôi với một người nữa. Ông này cao, lớn con, đầy phong độ. Ông Cẩn quay lại tôi, rồi nhìn về phía người cao lớn vừa như dặn dò bàn giao, vừa như giới thiệu:

–  Tôi bận một số công tác đặc biệt khác, nên đây là ông Phan, Ông cũng như tôi, người của Cục, ông sẽ thay tôi phụ trách Bình. Tôi bắt tay và nhìn ông Phan. Ngay từ buổi đầu, chỉ vài câu chuyện trao đổi, tôi đã thấy ông dễ mến vì thái độ cởi mở. Qua tiếng nói, tôi hiểu ông là người miền Nam.

Sau đó, ông Cẩn thân mật bắt tay từ giã chúng tôi.

Còn lại một mình ông Phan và tôi. Qua ánh mắt và nét mặt, ông nhìn tôi như muốn trao cho tôi nhiều thiện cảm. Đúng như tôi nhận xét về ông từ lúc đầu, ông Phan thật xuề xòa và tỏ ra là một người rất phóng khoáng. Nghe ông nói chuyện, tôi có cảm tưởng như đã quen ông thân mật từ lâu rồi.

Ông Phan đến tủ sách của tôi, lật xem vài quyển, rồi quay lại nói:

–  Từ nay, tôi sẽ tiếp tục đào tạo và huấn luyện Bình.

Rồi ông quay hẳn lại, đến bàn ngồi trước mặt tôi, giọng đầy gần gũi, thân mật:

–  Bình có biết không? Trong Cục tôi nghe nói, Bình là một nhân viên mới có nhiều khả năng, tôi đã tìm mọi cách để xem hồ sơ của Bình, mặc dù theo nguyên tắc ngăn cách thì thật khó. Tôi thấy rằng, nếu trao cho Bình một công tác khác thì hơn. Bình làm công tác này hơi…phí.

(Phải nói, lúc đó tôi không hiểu câu nói này của Phan, mãi về sau, khi ra miền Bắc rồi tôi mới hiểu) Phan nói tiếp:

–  Vì thế, trong những ngày tới, tôi sẽ bàn với Bình sau. Bây giờ, Bình hãy tiếp tục học hành, nghiên cứu. Nhưng, ở đây lâu không tiện. Vậy ngày mai, tôi sẽ đem xe đến chuyển Bình về Kỳ Đồng.

Về building Kỳ Đồng, tôi tiếp tục học các môn:

–  Các loại chữ bí mật.

–  Cách viết thư bí mật.

–  Mật mã.

–  An ninh cá nhân và công tác.

–  Hộp thư sống, chết.

–  Hội kiến.

–  Vỏ học.

–  Tuyên truyền, phản tuyên truyền.

–  Cách lấy tin tức, moi tin.

–  Ngăn cách.

–  Đánh giá nguồn tin.

Mỗi môn đều phải nghiên cứu, mổ xẻ từng chi tiết lắt léo nhất, đồng thời thực tập nhiều lần. Phan cũng thử thách tôi liên tục, lợi dụng mọi hoàn cảnh, điều kiện để biết rõ về khà năng cũng như khuyết điểm của tôi.

Càng ngày, Phan càng có thiện cảm với tôi hơn, thường gọi “toa” xưng “moa”. Có những buổi sau giờ học, Phan và tôi bên nhau chuyện trò tâm tình. Từ đấy, tôi biết được ít nhiều về Phan. Phan đã có 15 năm nghiệp vụ tình báo. Trước đây, Phan đã ở Phòng Nhì của Pháp nhiều năm. Theo Phan nói, 1952, Phan đã bị Cộng Sản ám sát ở Cân Thơ. Tên Cộng Sản đặc công bắn Phan từ khoảng cách 25 mét nhưng rất chính xác. Y đã ghim viên đạn vào ngực phía trái, chỗ trái tim của Phan. Phan có vạch ngực cho tôi xem vết sẹo. Phan may mắn thoát chết là do hộp thuốc lá bằng kim loại đắt tiền ở túi áo ngực. Dù vậy, viên đạn cũng găm vào ngực Phan, tuy không vào sâu. Tất nhiên, tên Cộng Sản đó bị bắt. Rồi, tính quân tử và lòng hào hiệp của Phan đã lôi cuốn được trái tim của tên Cộng Sản ấy. Chính Phan đã bảo đảm và lãnh tên đó từ trong tù ra. Cho tới khi Phan đến huấn luyện cho tôi, tên đó vẫn là tay chân đắc lực của Phan.

Theo nguyên tắc, Phan không được kể những chuyện như vậy với tôi, nhất là về đời tư của mình. Nhưng, vì Phan là người cởi mở, và là người Nam, nên nói chung đã không quá kín đáo như người Trung hay Bắc.

Một buổi vào đầu tháng 10 – 1960, Phan đến nói với tôi:

–  Hiện nay trong vùng bưng biền, tụi Cộng Sản đang chuẩn bị thành lập một “mặt trận”, rồi có thể sẽ tiến tới thành lập một chính phủ lâm thời. Do đấy, tôi muốn chuẩn bị cho Bình đóng vai là một sinh viên bất mãn với chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Một mặt Bình sẽ tiếp tục đi học ở trong trường, lớp, Bình sẽ tổ chức ra một số vụ chống đối, để dẫn bắt mối với một sớ phần tử thực của Cộng Sản ở trong sinh viên và học sinh. Mặt khác, chính quyền sẽ tạo nên một cú bao vây, rượt bắt. Bình sẽ nhân thế đó, chạy vào bưng, v.v…

Sau khi nói xong, Phan hỏi ý kiến tôi.

Tôi hiểu, nói chung, vào “vùng giải phóng” thì ít nguy hiểm hơn ra ngoài Bắc. Nhưng đối với tôi, vấn đề nguy hiểm nhiều hay ít không phải là điều đầu tiên tôi quan tâm. Điều tôi nghĩ đến trước hết là công tác ấy có hào hứng và kỳ thú hay không. Vì thế, tôi chậm rãi trả lời:

–  Tùy sự quyết định ở trên.

Có thể Phan thấy sự trả lời của tôi không dứt khoát, hoặc có những tính toán thay đổi trong Cục, hay tình hình diễn biến có khác; những ngày sau đó, không thấy Phan nhắc nhở gì về vấn đề vào bưng nữa.

Hàng ngày, Phan vẫn đến tiếp tục giảng dậy cho tôi. Một thời gian sau, tôi lại được chuyển về building ông Thọ.

Một mặt, tôi vẫn theo học, mặt khác, tôi xem lại bài vở nộp đơn thi Tú Tài I. Chính Phan cũng khuyến khích tôi.

Một hôm, Phan dẫn đến hai người Mỹ, giới thiệu tên là Brown và Dale, để huấn luyện thêm một số môn khác. Cả hai đều mặc thường phục, ông Brown đeo kính trắng. Tuy mỗi người dạy những môn khác nhau, nhưng hai người hay thường xuyên đi cùng.

Thế là từ đấy ba người, Phan Brown và Dale liên tục giảng dạy cho tôi về các môn:

–  Phương pháp tổ chức.

–  Điện đài.

–  Theo dõi và chống theo dõi.

–  Phương pháp tuyển mộ.

–  Huấn luyện, đào tạo nhân viên.

–  Vũ khí, mìn.

–  Tự mưu sinh (núi, rừng, biển).

–  Phân tách tâm lý, khả năng từng dạng người trong xã hội.

–  Phương pháp hình thành một mạng lưới hoạt động bí mật.

Thời gian này thực vất vả. Lý thuyết rồi thực hành. Tiếng Anh của tôi viết hay đọc thì còn được chút ít, nghe và nói thì thật là cập quạng, nên Phan thường xuyên phải thông dịch vì có rất nhiều từ chuyên môn.

Một điều thật phấn chấn cho tôi, kỳ thi Tú Tài phần I năm đó tôi lại đậu. Vì thế, Phan và hai người Mỹ dự tính một công tác dài hạn rất chi tiết để tôi vào miền Bắc hoạt động. Nội dung, kế hoạch tổng quát:

Cộng sản miền Bắc thường ve vãn, mồi chài, lôi kéo những sinh viên du học tốt nghiệp ở ngoại quốc về miển Bắc xã hội chủ nghĩa để xây dựng (!) đất nước, tổ quốc, v.v…

Do đấy, tôi sẽ nhận một học bổng đi du học Hồng Kông, hay Singagore về Điện hay Hóa theo năng khiếu của tôi. Khi tốt nghiệp rồi, Cộng Sản sẽ tìm đến. Lúc ấy, tùy theo hoàn cảnh thích ứng mà theo họ về miền Bắc; rồi từ đấy, sẽ bí mật hoạt động cho Sài Gòn.

Tôi thấy công tác này quá lâu dài, có khi hàng chục năm, cho nên tôi không tỏ ý thích lắm, tôi cũng nói thẳng ý nghĩ đó với Phan. Thực ra, lúc đó tôi không biết, hoặc cũng chẳng chú ý đến việc lợi dụng cơ hội để đi du học trước đã, để dù có thế nào thì cũng có một mảnh bằng. Phan thấy thái độ ơ hờ của tôi như vậy nên lại thôi.