Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 30 Oct 2026



Sydney … ngày … tháng … 1998
Thưa cô VTQ
Tôi định có mấy hàng thăm cô từ lâu, từ khi ngắm nhìnbức tranh “Vườn Huế” của cô nhưng cứ lần lữa mãi. Một phần vì sợ đường đột, một phần vì “người già ngại viết”. Nhưng vài bữa nữa con dâu tôi mà cũng là học trò cũ của cô T.C, đưa hai đứa nhỏ về Huế thăm ông bà ngoại các cháu, nên tôi vội viết mấy dòng này, kẻo để lâu thì không biết đến bao giờ …
Tôi chưa lần nào được hân hạnh gặp cô trực tiếp, điều mà tôi rất lấy làm mong mỏi, nhưng thưa cô, gặp gián tiếp thì tôi gặp hằng ngày. Tôi thường “trò chuyện” với bức tranh “Vườn Huế” của cô mà mấy năm trước các con tôi từ Huế mang sang. Người ta thường bảo “văn tức là người” (le style c’est l’homme) thì tranh của cô, tác phẩm của cô cũng đương nhiên là một phần tâm hồn của tác giả. Ở bên này có lúc con cháu nó đi vắng hết … tôi ngồi một mình nhìn bức tranh “Vườn Huế” mà tưởng tượng. Bức tranh mang cây cỏ Việt Nam, tình tự Việt Nam. (Tranh của VTQ đều do hoa, lá, cỏ khô ghép lại mà thành). Bức tranh mang dấu tích quê nhà, nơi mình rất nhớ, rất thương mà không biết khi nào trở lại. Thật ra quê tôi không phải Huế, tôi được sinh ra và lớn lên ở một làng trung du miền Bắc thuộc tỉnh Sơn Tây. Tôi rời quê hương từ năm 1954, tức là 44 năm nay tôi chưa có dịp trở về. Tôi được nuôi dưỡng bằng tinh thần Quốc Văn Giáo Khoa Thư “Quê hương ta đẹp hơn cả” nên đi đâu thì đi tôi vẫn nhớ về làng cũ. Rồi dòng đời đưa đẩy, lớp sóng phế hưng đã đưa tôi đi rất nhiều nơi nhưng trong bao nhiêu năm ấy chưa một lần về thăm quê cũ. Tôi đi cải tạo 10 năm, trong đó có 7, 8 năm ra Bắc nhưng “cải tạo” thì chỉ được ở những nơi thâm sơn cùng cốc, chó ăn đá, gà ăn muối mà đi đâu thì cũng phải đeo đồng hồ Seiko (còng số 8) nên có lúc tôi được ở một tỉnh gần Sơn Tây mà không thăm nhà được.
Tôi được tha năm 1985. Khi tôi đi cải tạo, “mẹ cháu” và các con tôi phải đi vùng kinh tế mới. Sau rồi 4 đứa con lớn của tôi đi “bán chính thức” ra nước ngoài. Mẹ cháu và đứa con út, lúc đó dạt về Hốc Môn ở nhờ ông bà ngoại. Khi tôi đi học tập cải tạo, con út tôi mới 5 tuổi. Khi tôi về con tôi vừa mới lớn lên. Năm 1988 con tôi nó tốt nghiệp Trung học Phổ thông (bây giờ gọi là tú tài) được 36 trên 40 điểm nhưng không trường Đại học nào nhận cả vì “lý” (lý lịch) nó dốt quá. Cho tới lúc đó vợ con tôi vì trốn ở vùng Kinh tế mới về nên không có hộ khẩu, chỉ tạm trú qua ngày. Mà không có hộ khẩu là không học Đại học được. Nhưng thưa cô trong cái rủi lại có cái may. Không đi học Đại học được là nó đi học Computer và Anh Văn (do phái đoàn Đại học Úc sang dạy) và đi học thêm các môn cần thiết cho phụ nữ như cắt may, gia chánh … Trong một lớp học làm bánh, con út tôi gặp một cô sinh viên tốt nghiệp Đại học Sư phạm nhưng chưa đi nhận việc vì lương “nhà giáo tháo giày”rách quá, đâu có 45 ngàn 1 tháng (không đủ ăn trong 1 tuần). Hai chị em nó gặp nhau – và cô sinh viên đó chính là học trò cũ của cô: T.C. Năm 1989 con trai đầu của chúng tôi từ Úc về thăm. Con gái út tôi liền hỏi TC: “Chị dám làm chị dâu em không?”. T.C cũng đùa đùa “sợ gì”. Thế là con gái út tôi liền sắp xếp cho anh chị nó gặp nhau. Đúng là “hữu duyên thiên lý…”
Năm sau 1990, con tôi từ Úc về và tôi đưa con tôi ra Huế “lấy vợ”. Mẹ cháu phải ở nhà vì gia đình neo đơn quá, bà nhạc tôi lúc đó đã ngoài 80 tuổi. Hai bố con tôi ở một thành phố xa lạ, mọi việc đều phải nhờ anh chị sui (ba mẹ T.C) và nhà gái lo liệu cho hết. Tôi có một thời gian ở Huế, khu nhà vườn Kim Long, căng một cái võng nằm trong vườn lòa xòa cây lá, nửa thức nửa ngủ nghe con chim gáy nó gù “cúc cù cu … cúc cù cu … “ ở một chỗ nào. Tiếng chim gù như thực mà cũng như mơ … Tôi nằm đây mà tưởng nằm ở quê hương tôi ở Sơn Tây ngoài Bắc … Tiếng chim gù từ trên cây vọng xuống hay từ tiềm thức tôi vọng ra, tôi cũng không biết nữa. Tôi vẫn nghĩ rằng phải gần Huế, thân với Huế thì mới hiểu đời sống Huế. Ở Kim Long nhà ba mẹ T.C. tôi đã có những buổi sớm, ngồi trên một tảng đá “ngàn năm”, uống ly “chè tươi vườn nhà” mà nhìn ra sông Hương, sương vẫn còn lãng đãng. Đến khi là người thân rồi, không còn là “khách” nữa, tôi mới được ăn đọt bí luộc trong vườn cùng với cá bống kho khô cay xé lưỡi. Lúc bấy giờ tôi đã ngoài 60, đã mỏi mệt lắm rồi nên tôi thích sống với thiên nhiên đạm bạc mà phong nhã, trong khung cảnh “nhà vườn” như thế.
Lại có một điều may mắn nữa. Ra Huế, tôi gặp được một người bạn thân của ba mẹ T.C. Trong khi trò chuyện, tôi được biết ông đã ở ngoài Bắc nhiều năm. Kỳ thú làm sao ông ấy lại biết làng tôi, lại ở làng tôi khá lâu (Hữu Bằng – Quốc Oai – Sơn Tây) nên ông biết hết chuyện quê tôi. Tôi ở Huế khung cảnh thiên nhiên như thế, cưới xin nghi lễ cổ truyền như thế, nghe kể chuyện nhà như thế …thật là một cái duyên kỳ lạ. Tôi cứ lấy làm ân hận là tại sao tôi gặp người bạn “nhất kiến vi cựu” kia quá muộn. Khu vườn Huế đối với tôi rất lạ mà rất quen. Ở một khía cạnh nào đó, nó đồng dạng với quê hương đã xa, đã khuất của tôi. Nó là một nỗi nhớ còn tươi mới trong khi quê hương thật sự của tôi, gần nửa thế kỷ qua đi, đã bắt đầu nhòa nhạt. Cho nên đầu năm 1995 khi các con tôi mang bức “Vườn Huế” sang đây, tôi đã vui mừng lắm. Những lúc buồn có cái để nhìn, để nhớ, để gửi gấm một đôi điều không tiện nói ra. Cái tâm sự âm u của một “người lính già thua trận” như tôi không dễ dàng chia sẻ. Tôi thường “trò chuyện âm thầm” với bức tranh của cô là như vậy.
T.C. có lúc kể chuyện “cô Q. của con” cho tôi nghe “Cô con dạy rất giỏi mà hết sức thương yêu học trò”. Tôi nghĩ rằng nghề “dạy văn” của cô là một nghề cao quý nhưng rất khó khăn. Những vấn đề như văn phạm, ngữ nghĩa, cú pháp, tu từ, trường phái … xem ra chỉ là thứ yếu mà cái chính của nghề dạy văn (xin lỗi đã dám lạm bàn vào chuyên môn của cô) theo tôi là đào tạo tâm hồn con người, dạy cho học trò biết yêu, biết hướng về cái đẹp. Trong hành trang vào đời của T.C con dâu tôi, học trò cũ của cô, đã có một phần không nhỏ tiếp nhận được từ tâm hồn bao dung và nhân ái của cô. Chúng tôi xin được cảm ơn cô về điều đó.
Những vật vô tri như một cọng cỏ khô, một cánh hoa tàn còn được cô nâng niu và bảo trọng như vậy … chắc cô phải yêu thương con người lắm. Mà sự yêu thương theo tôi, là dòng chảy chính (main stream) của cuộc đời này.
Ở xứ Úc, nhất là ở Sydney, một “xã hội tiêu thụ” nên mọi người xô nhau tìm kiếm tiện nghi. Tiện nghi càng nhiều, nhu cầu càng lớn. Thường thường gia đình nào muốn khá là phải “cả 2 vợ chồng đều đi làm”. Tiện nghi thì có nhiều hơn, nhưng theo luật bù trừ, hạnh phúc yêu thương nó ít đi. Tôi thường bảo con tôi “vừa vừa thôi, tạm đủ là được rồi”. Cho nên con trai tôi làm thêm một vài việc ở nhà, để vợ nó có toàn thời trông nom cửa nhà, và chăm sóc cho “hai thằng cu”. Ở xứ này có mùa du lịch. Tôi cũng nói với các con tôi. “Mấy đứa nhỏ này, dù là công dân Úc chăng nữa, vẫn là người Việt Nam, phải cho nó về thăm Việt Nam, có một chút “vốn” VN. Năm 1995 thằng cu lớn về Huế được bà ngoại kể chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng”, bây giờ nó vẫn còn nhớ. Thằng cu con mới được hơn 1 tuổi, chưa biết nói sõi nhưng phải về để được ôm hôn ông bà ngoại, được nhìn núi Ngự sông Hương. Chúng nó về VN mấy tháng, hai vợ chồng già chúng tôi lại nhớ con, nhớ cháu quá. Có một chuyện tôi muốn thưa với cô. Bức tranh “Vườn Huế” mấy năm trước xanh tươi nên có vẻ “Vườn ai mướt quá … ”. Năm nay hình như nó nhạt màu hơn, vàng võ hơn nên lại làm nhớ câu thơ
“Khóm cúc tuôn rơi hàng lệ cũ –
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà…”.
Xin gửi những dòng này đến cô cùng với những cảm tình trân trọng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.