Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Bài 14.

Sửa Soạn Lên Đường

Đặng Chí Bình

Theo những quy định thời gian ấy, tôi phải làm một số thủ tục về giấy tờ. Trong đó, tôi phải viết một giấy ủy quyền cho thân nhân.

Đã từ 6, 7 tháng trước, mỗi tháng lương của tôi là 5.000đ không kể công tác phí như thuê nhà, xe cộ.v.v… Vì vậy, nếu vì lý do nào đó mất liên lạc, như bị bắt, chết, v.v… đều được coi như là mất tích, nhà nước sẽ trả lại cho thân nhân 12 tháng lương. Đó, nếu ai đi ra vì tiền, thì 60.000đ là một sinh mạng của một con người.

Thực ra, tất cả những người trong Cục Tình Báo miền Nam đều hiểu, đối với những người ra đi, nếu không vì một lý do nào khác cao đẹp hơn, như non sông, đất nước, thì làm sao số tiền đó có thể mua được họ?

Cục cũng hứa hẹn thật nhiều. Nếu công tác thành công trở về, chính phủ sẽ cho đi nghỉ ở Nhật mấy tháng. Nếu công tác trở về, sẽ v.v… và v.v… Vậy, còn nếu không trở về, thì sẽ được… mất tiêu!

Tôi hiểu đây cũng chỉ là những thủ tục giấy tờ về lương lậu. Vậy mà phải nghe, phải làm những vấn đề này, mặt tôi cứ nóng dần lên. Thật lòng, tôi nghĩ thàt đừng có cái mục này, tôi lại còn thấy lòng nhẹ nhàng thích thú hơn, cho nên tôi rất uể oải, lần thần không muốn viết. Mấy lần tôi định nói thẳng với ông An: “Hay thôi, không phải viết nữa. Nếu tôi vào đất địch, bị chết, hay bị mất tích, Cục cứ nói như không có tôi.”

Chắc An cũng hiểu những nỗi niềm thầm kín của tôi, nên ông đặt nhẹ tay lên vai tôi, thân mật:

–  Tôi hiểu lòng Bình lắm và cả Cục cũng hiểu con người Bình cho nên họ rất quý nể Bình. Bây giờ Bình hãy nghe tôi, viết vài chữ ủy quyền lại cho bất cứ ai như bố mẹ, bạn bè thân thuộc v.v… chỉ là một thủ tục phòng hờ, chứ người ta ra ngoài miền Bắc, đi về chợ ấy như đi chợ ấy, có sao đâu!

Để khỏi phải nói nhiều, tôi ngồi viết nghuệch ngoặc giấy ủy quyền cho bố tôi, tâm tư thầm nghĩ, thôi, nếu có bề gì thì gọi là một chút đền công các đấng sinh thành!

Họ mang đến cho tôi một chiếc ba lô của Nhật, bên trong đựng sẵn một đôi “bốt-  đờ-  sô” để lội bùn và đi trong rừng, quần áo và một vài trang bị vặt, hầu hết đều sản xuất từ Nhật, riêng cái túi “dết” màu xanh nước biển là của miền Bắc (tôi đoán chắc chiếc túi này của một đồng bào vượt tuyến.) Những thứ trang bị đều dùng để đi từ ngoài biển vào, và sống ở trong rừng, còn quần áo, dép, mũ v.v… để sử dụng trong những vỏ bọc thì chính tôi phải lo liệu lấy.

Tôi nghĩ đến dép “râu” (Bình Trị Thiên.) Nó làm tôi thật vất vả. Tôi phóng xe chạy đôn đáo suốt Tân Định, ông Tạ, Cầu Ông Lãnh tìm mua mà không có. Thậm chí tả kiểu ra đặt thợ làm giầy, họ lại không có nguyên liệu và không biết cách nào. Mãi mới gặp được một ông thợ giày di cư đã từng sống ờ vùng Việt Minh làm cho. Tay ông làm, nhưng mắt ông nhìn tôi đầy thắc mắc. Tôi phải nói đây là một “mốt” mới ra lò của học sinh, của tay chơi. Đi dép râu mà lại ngồi trên solex hay vespa thế mới hách. Ông thợ giầy làm sao có thề hiểu được, nên ông tin quá!

Tôi còn phải đi hớt tóc theo kiểu nông thôn miền Bắc, và ra Cấp mấy ngày phơi nắng cho da ngâm đen. Trong khi tôi phải làm những công việc bình thường này. Đầu óc tôi lửng lơ nghĩ về xã hội và con người trong thời đại ngày nay. Vào đất Cộng Sản, hoạt động tình báo cho thế giới tự do, khổ thật. Phải trở về một dạng anh nông dân, quê mùa cục mịch. Ngược lại, Cộng Sản vào đất tự do hoạt động, thì lại lên “complet,” kính trắng, phong độ hào hoa. Càng ra vẻ trí thức càng dễ hoạt động. Chính một điều này đã đủ nói lên mức sống của hai xã hội; tương phản cảu hai cảnh đời.

Trong ngày ra Cấp với Hoàng Công An; một buổi tôi đang ngồi đôi mắt nhìn ra biển cả bao la về mãi phía chân trời. Tai đang nghe đài phát thanh Hà Nội, thì chợt một giọng the thé của xướng ngôn viên miền Bắc, tuyên bố về phiên tòa xử vụ C-  47. Nghe loáng thoáng, chiếc phi cơ hoạt động tình báo đã xâm nhập bầu trời miền Bắc. Bị bắn rơi tháng 7 năm 1961 ở Cồn Thơi, Ninh Bình, nhiều người đã chết v.v… Còn mấy người sống sót bị thương nặng. Điệp viên Đinh Như Khoa bị 15 năm tù (mới chạm vào đất liền đã bị bắn rơi, chưa hoạt động gì,) phi công phụ Phan Thanh Vân bị 7 năm tù.

Cái tên Phan Thanh Vân nghe thật quen thuộc, nhưng lúc đó tôi không thể nhớ ra vì còn đang bận tâm về việc xử điệp vụ kể trên. Từ vụ án này, giòng suy tư của tôi cứ len lỏi chảy dài, đẩy đưa về công tác của chính mình.

Tôi vào đất địch một mình, tôi phải quyết định nhiều vấn đề với bao cảnh huống khác nhau chưa thề biết trước. Từ ý nghĩ này, tôi cần phải đặt ra giả thuyết về một số tình huống, để hỏi ý kiến giải đáp của Cục. Có như vậy, khi đã ở trong đất địch; tôi nắm vững để dễ dàng, mạnh bão xử lý. Tôi đưa ý kiến này ra với Hoàng Công An, ông ta vồn vã khuyến khích tôi:

– Ý kiến của Bình rất có giá trị thực tiễn. Bình hãy suy nghĩ; đặt ra những trường hợp bất ngờ, tôi sẽ đưa ngay về Cục để đáp ứng yêu cầu của Bình.

Cuối cùng, tôi đã mầy mò viết một bản 30 câu hỏi để đưa về Cục. Thí dụ:

*  Nếu trong hai ngày 16 và 18 theo quy ước. Tôi không gặp đối tượng để trao tài liệu M. Vậy tôi sẽ hủy ngay tài liệu M?

* Cũng làm như vậy với Z5 Hoàng Đình Thọ?

* Nếu trên đường trở về, tôi bị ốm nặng, bị kẹt vì tụi công an truy lùng. Hoặc vì lý do nào đó, tôi không thể đến được điểm hẹn theo thời gian quy định, thì sao?

* Nếu bị bắt tù, sau 2 – 3 năm, tôi trốn được về Nam, thì sao? v.v…

Mấy ngày sau, khi 30 câu hỏi của tôi được đưa về Cục. Hoàng Công An trở lại với bác sĩ Harry trả lời: Trên Cục chỉ giải đáp một số, còn hầu hết những câu hỏi khác để tôi tự quyết định, tùy theo tình hình tại chỗ, sao cho thỏa đáng.

Mãi ngày hôm đó, họ mới trao cho tôi những giấy tờ tùy thân mang theo. Tôi nhìn tờ giấy thông hành mới, với chữ ký phòng công an huyện Vĩnh Linh; thời hạn một tháng. (thời gian công tác của tôi là 25 ngày) tôi đoán rằng, tất cả những giấy tờ đưa cho tôi phải giống hệt như thật. Tôi nhìn, từ con dấu cho đến nét chữ, thật sắc sảo. C.I.A. làm giả, hết chê!

Ngoài mấy bao thuốc lá “Dại Tiền Môn” và hộp quẹt của Trung Cộng (điều này đã nói lên nhiều khía cạnh yếu, kém của C.I.A. và tình báo miền Nam) Anh còn đưa cho tôi 400đ tiền miền Bắc, gồm giấy 5đ, 2đ, 1đ, 5 hào. Bằng cái nhìn về tiền bạc ở miền Nam, tôi cầm 400đ với thái độ không thỏa mãn lắm, vì thấy quá ít ỏi. An đã hiểu ý tôi ngay, nên nói:

– Bình yên tâm, ở trên Cục đã nghiên cứu kỹ. Với 400đ này trong một tháng, Bình có thể bao quát, phòng hờ hết cả. Tiền không thiếu, nhưng nếu Bình mang đi nhiều, đôi khi lại làm ảnh hưởng ngược lại cho công tác. Thông thường, tiêu ở miền Bắc chỉ có giấy 5đ là lớn nhất đấy.

Sau đó, bác sĩ Harry đưa cho tôi một số thuốc bệnh, lọc nước, chống muỗi, và một số hộp lương khô, tăng sức v.v… khi sống trong rừng.

Trước khi về, An còn nhắc tôi xác định lại rõ ràng những quy ước, mật khẩu, tín hiệu v.v…

*

Ngày 20 tháng 4 năm 1962, ngày tôi rời Thành Đô dịu hiền và nhiều tình nghĩa.

Tôi lên đường theo thời gian và lộ trình quy định như sau:

2 giờ chiều ngày 20/4, tôi sẽ rời Sài Gòn, đáp máy bay ra Huế. Tôi sẽ ở lại đấy 2 ngày để ra Bến Hải nghiên cứu và xác định lại một số địa điểm chính của địa hình bên kia bờ khu quân sự Bắc. Sau đó, ngày 22/4/62, sẽ trở về Đà Nẵng, điểm uất phát, để đến điểm đổ bộ thuộc Nga Sơn Thanh Hóa.

Buổi sáng ngày 20/4, ở số 62 đường Trần Hưng Đạo, Dale và Brown báo cho biết: Khoảng 12 giờ trưa, sẽ có một nhân vật cao cấp trong ngành của Mỹ ở Sài Gòn, đến chào vả tiễn đưa tôi.

Đúng buổi trưa hôm đó, một người Mỹ to lớn, bệ vệ cùng đến với bác sĩ Harry. Ngay từ lúc ông ta bước vào phòng, tuy tôi không nhìn trực diện, nhưng tôi biết ông ta không rời một cử chỉ thái độ nào của tôi trong lúc tôi cùng Brown, Dale và An chuẩn bị lại một số trang bị của chuyến đi. Qua đôi kính trắng thật to, mắt ông ta vừa lộ vẻ hân hoan tươi sáng, vừa như tò mò quan sát. Tôi chẳng biết ông ta đang nghĩ gì về tôi, nhưng tôi có một điều chắc chắn, ông ta không thể nghĩ được rằng, người thanh niên trước mặt sắp bước vào đất thù của thế giới tự do – có thể sẽ hy sinh cả mạng sống – đã là chủ một hiệu vàng, nghĩa là từng ngồi trên hoặc cạnh đống tiền. Nếu ông ta biết được như vậy, ông ta mới đánh giá được đầy đủ ý nghĩa chuyến đi của tôi. Cuối cùng, ông ta nắm tay tôi thật chặt, chúc tôi thành công và hẹn gặp lại.

Lần lượt sau đó, Dale, Brown, Harry đều bắt tay tôi, nói rằng không thể ra trường bay đưa tiễn, vì lúc đó ờ Sài Gòn rất ít người Mỹ, đi ra đây là điều bất tiện.

Như tôi đã nói, trình độ Anh ngữ của tôi còn thấp, phải nói bằng tay nhiều hơn bằng miệng, đồng thời để hiểu được họ tôi phải dựa vào sự phán đoán là chính. Vì thế, tôi chả nói hết được những điều tôi muốn nói với họ lúc chia tay.

Những thứ dụng cụ trang bị của tôi đều được mang đi trước. 1 giờ 30 tôi và An ra phi trường. Trên đường đi, tôi nhìn lại Đô Thành, có thể là lần cuối, mắt đăm chiêu, lòng ngập ngừng thăm thẳm.

Khi xe tới đường Công Lý, tôi thoáng thấy một anh bạn quen đang song đôi hai chiếc solex cùng với người bạn gái rẽ vào phía đường Yên Đổ. Âm vang của một bài hát quen thuộc từ đâu ùa đến với tôi, như trỗi dậy thành lời:

“Rồi đây, mai này ai hỏi đến tên tôi,

Bạn ơi! Hãy nói đã đi xa rồi…”

Phải chăng đó là điềm báo trước một lần đi không trở lại? Tôi cũng nghe và thuộc nhiều bài hát, nhưng không hiểu tại sao lúc ấy lại chỉ nhớ mấy câu này!

Suốt từ lúc đó ra phi trường, tôi im lặng không nói một lời, lòng vương vấn nặng nề như cái nóng chiều Hè oi ả của Thành Đô. Tôi liếc nhìn sang An, trong cặp kính trắng, mắt An cũng đăm chiêu như đang nghĩ ngợi điều gì.

Xe tới trường bay, tôi thấy ông Lý và ông Cục Trưởng đã có mặt. Đó là lần thứ ba tôi gặp ông Cục Trưởng. Người ta nói “quá tam ba bận,” chẳng lẽ tôi không còn lần nào gặp ông nữa ư? Mà đúng, sau đó không bao giờ tôi gặp lại ông.

Nhìn hàng ria mép rậm xì to tướng của ông Cục Trưởng, nhất là đôi mắt dù đã được che khuất sau chiếc kính râm mầu đen bóng, tôi vẫn thấy hai luồng nhỡn tuyến phát ra, có thể những ai là đối thủ sẽ không yên lòng khi phải đứng trước cặp mắt ấy.

Thấy tôi xuống xe, ông nhanh nhẹn chạy lại, nắm chặt tay tôi, niềm nở chào đón, sau đó ông ân cần hỏi:

–  Trước khi anh ra đi, anh có yêu cầu bất cứ điều gì không?

Tôi bâng khuâng nghĩ ngợi, tôi cần cái gì nhỉ? Nếu tôi ra đi, thành công chẳng nói làm gì, còn như bị bắt, hay bị chết, tôi cần cái gì? Nếu như vậy, tôi chẳng cần cái quái gì cả. Điều tôi cần, tôi hiểu, kể cả chính phủ miền Nam cũng không làm gì được, đó là, nếu tôi bị bắt, tôi cần được cứu ra. Cho nên, nhìn ông ta, tôi cám ơn và lắc đầu. Cuối cùng, khi bắt tay lúc tôi bước lên máy bay, ông Cục Trưởng đặt nhẹ tay lên vai tôi, dịu dàng thân mật:

– Bình đi vào thực tiễn, biết đâu khi thành công trở về. Bình lại mang kinh nghiệm huấn luyện bổ sung cho chúng tôi.

Tôi hiểu, đó cũng chỉ là một câu xã giao để động viên, khích lệ người ra đi thôi. Nhưng, phải thừa nhận rằng, đó là một câu nói có giá trị thực tế của một người có nhãn quan tiến bộ. Tuy nghĩ như vậy, nhưng tôi chỉ cười, không nói gì. Thấy tôi im lặng tư lự, ông Cục Trưởng nói tiếp giọng sôi nổi:

– Nếu Bình đi công tác thành công trở về, tôi sẽ ra tận Đà Nẵng đón Bình ngay khi còn ở trên hải thuyền.

Tôi ngước mắt, nhìn thẳng vào mắt ông, miệng tôi hơi mỉm cười để làm giảm độ căng sắc của mắt mình. Thì ra, tôi chỉ có giá trị khi thành công! Còn lúc này, chỉ là tiễn đưa lấy lệ! Tuy nhiên, nghĩ cho cùng “Đời là thế!” Nên tôi cười to hơn và bay tay tự nhiên cũng nắm chặt tay ông Cục Trưởng hơn khi từ giã.

Khi tôi và Hoàng Công An xuống trường bay Phú Bài, lại vẫn chính ông Hương lái chiếc xe “díp” dân sự ra đón. Ông đưa chúng tôi về một khách sạn ở Huế.

Hôm sau, chúng tôi lại ra Bến Hải, nhưng lần này dịch về gần phía cầu Hiền Lương. Tôi ngước mắt đăm chiêu nhìn hai lá cờ đang phất phới tung bay trong gió lộng. Một lá đầy mầu máu, sặc mùi tử khí, giết chóc phía bên kia. Và một lá mầu vàng với ba sọc đỏ hiền hòa phía bên này, tự nhiên lòng tôi suy ngẫm. Hai lá cờ đứng bên nhau đang cùng tung bay trước gió dưới cùng một bầu trời Tổ Quốc, thế mà muôn đời không bao giờ có thể sống chung. Chỉ vì một lá cờ muốn trên trái đất này, chỉ còn lại một mầu duy nhất là mầu của nó. Nghĩa là tất cả mọi mầu cờ khác phải bị tiêu diệt. Ai cũng hiểu đó là lá cờ nào rồi.

Sáng ngày 22/4, ông Hương đưa tôi và An trở vào Đà Nẵng.

Đà Thành với thời tiết bốn mùa của Hà Nội năm xưa đây rồi. Cái lành lạnh của cuối Xuân đầu Hè càng làm cho thành Đà thêm nhiều mầu sắc. Xe đã đi sâu vào giữa phố phường. Do thói quen từ trước, tôi không hỏi và cũng không cần biết khi đến Đà Nẵng sẽ ở đâu, và ai sẽ đón. Chính vì vậy, khi xe ngừng lại trên đường Độc Lập, chéo xa xa phía bên kia là một “bar” giải khát, mang cái tên mỹ miều gợi nhớ “Hà Nội,” cả ông Hương và Hoàng Công An đều bắt tay tôi từ biệt, hẹn gặp lại ngày tôi từ bên kia vĩ tuyến trở về. Sau đó, ông Hương chỉ sang quán Hà Nội:

– Bình xách va li váo quán đó chờ, lát nữa sẽ có người đến đón. Từ lúc này, Bình thuộc quyền hạn của người khác.

Vai khoác chiếc ba lô to mầu vàng của Nhật, tay khệ nệ xách chiếc va li, tôi tiến về phía “bar” Hà Nội. Bước chân vào quán, nhìn thấp thoáng qua mấy chậu cảnh hoa lá tốt tươi, tôi thấy bàn này vài sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, bàn kia mấy người Bộ Binh ngồi chung với những người bận Không Quân và thường phục. Sâu phía trong, chỗ sát quầy “buvette” trên những hàng ghế cao, là mấy quân nhân Dù cổ áo óng ánh một vài chiếc mai vàng. Tại một đầu quầy, ba người mặc thường phục, kính trắng đạo mạo, đang ngồi trầm ngâm bên những “phin” cà phê sáng bóng. Quang cảnh trong quán, nổi bật vẫn là ba bộ mặt giai nhân duyên dáng, lả lướt trong những tà áo dài bó chẽn những thân hình căng đầy hương sắc.

Tôi hơi ngỡ ngàng băn khoăn, tiến vào một chiếc bàn trống ở trong góc. Chính cái dáng dấp “không giống ai” của tôi đã làm cho hầu hết những người trong quán đều quay lại với những ánh mắt tò mò. Tôi coi như không biết, lựa thế đặt va li và ba lô. Tôi hiểu đây là một trong những tụ điểm gặp gỡ của những giới son trẻ tài hoa nơi Thành Đà, tuy khác nẻo đường nhưng cùng chung sở thích những âm thanh du dương trầm bổng đưa đẩy bên những mầu sắc mơ hồ chìm nổi chung quanh. Một tà áo mầu hoa khế tiến lại nhỏ nhẹ giọng của đất văn vật ngàn năm:

–  Dạ thưa anh dùng gì ạ?

Nghe giọng nói của một giai nhân, tuổi trạc đôi mươi, với bối cảnh của chiếc quán, tự nhiên tôi nổi hứng gió sương:

–  Một ly Martel “sếch”, một Capstan.

Khi cô chiêu đãi đưa rượu và thuốc lá ra, nhìn đôi bàn tay thon dài, óng chuốt duyên dáng khẽ để ly rượu trước mặt tôi. Gợi trí tò mò, tôi ngước lên. Đôi mắt long lanh thăm thẳm soi mói nhìn tôi ngập ngừng:

–  Chắc anh mới đến Đà Nẵng?

Hơi mỉm cười như để thừa nhận, tôi hỏi lại nhẹ nhàng:

–  Thế cô đoán tôi là dạng người gì đến đây?

Cô cũng mỉm cười, liếc nhìn vào chiếc ba lô và va li rồi dè dặt:

–  Chắc anh là nhà chuyên môn, tới mỏ than Nông Sơn…?

Đầu tôi gật gật, nhìn cô như tỏ vẻ thán phục. (Lời đoán của cô, làm tôi chợt nhớ đến tên bạn thân của tôi là Lê Đức Bình, hiện cũng đang trông coi mỏ than Nông Sơn, tôi nghĩ nếu có dịp sẽ tạt vào thăm hắn.) Tuy vậy, tôi cũng lơ đãng phà hết khói thuốc, rồi quay lại khẽ cảm ơn cô, lửng lơ để tùy cô suy nghĩ.

Về sau, tôi mới biết cô này tên là Hiếu. Cô cũng là nguyên nhân trong vụ một anh trung úy Thủy Quân Lục Chiến đã tát cảnh cáo một ca sĩ khá nổi danh của Sài Gòn ngay tại “bar” nay hơn một tháng trước đó.

Ngay từ lúc bước vào quán, tôi đã thắc mắc, suy nghĩ không hiểu sao người nào ở trên Cục lại cho hẹn đón tôi ở cái quán này? Chừng nửa giờ sau, thắc mắc của tôi đã được trả lời. Tôi thoáng thấy bóng ai như dáng dấp của Phan, ngồi trên chiếc xe “díp” dân sự chạy tới và đỗ lại chéo phía xa bên kia đường. Người trên xe bước xuống, đúng là Phan. Tôi hơi ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Thì ra từ bốn, năm tháng trước, Phan nói bận công tác xa, chính là ra Đà Nẵng này.

Giữa tôi và Phan đã quen cảnh gặp nhau bất ngờ, tôi thong thả thanh toán tiền, rồi khoác ba lô, xách va li đi ra. Khi tôi vừa khuất xa cửa quán, chiếc “díp” đã chồ tới sát ngay cạnh tôi. Một cái bắt tay thật chặt, bốn mắt mở to, hoan hỷ nhìn nhau.

Trên đường đi, sau những phút hàn huyên của giai đoạn xa cách. Phan quay sang tôi dặn dò:

–  Bây giờ “moa” đưa “toa” đến trọ ở một khách sạn. Tên chủ khách sạn là bạn quen của “moa.” “Moa” sẽ giới thiệu “toa” là bạn. Con trai của một chủ tiệm vàng ở Sài Gòn, ra đây tìm địa điểm mở chi nhánh. Như “toa” biết đấy, người ta dự đoán là thành phố này Mỹ sẽ vào nhiều, cho nên con buôn các nơi, nhất là tụi ba Tầu, đang đổ xô về đây làm ăn.

Tiếp xúc với Phan từ lâu, tôi đã hiểu tính làm việc quá phóng khoáng của Phan, nhiều khi trở thành tùy tiện, thiếu sự điều nghiên thấu đáo. Có thể cho tới khi gặp tôi, nhìn lại con người tôi, Phan đã nghĩ ra là tôi cần phải đóng một vai như vậy mới hợp. Tuy biết vậy, tôi vẫn gật đầu đồng ý, vì Phan hiện đang là người chỉ huy trực tiếp của tôi.

Lát sau, xe tới đậu trước khách sạn Hồng Phát, một khách sạn 6 tầng lầu mới xây; tầng một chuẩn bị mở “buvette.” Phan chạy vào một lúc, rồi cùng trở ra với một người đeo kính trắng, đóng bộ đàng hoàng, khoảng 40 tuổi. Phan giới thiệu tôi, rồi chỉ ông đó:

–  Đây là anh Yến, chủ khách sạn này, đồng thời anh còn là chủ một khách sạn lớn nữa ở Sài Gòn.

Phan cười, hất hàm về phía tôi, nói với anh Yến:

–  Đó, bạn “moa,” “toa” liệu sắp xếp cho một buồng tiện nghi.

Ông Hồng Phát rất niềm nở cởi mở, ông gọi người quản lý ra hỏi một lúc, rồi quay lại nói với tôi:

–  Tôi rất vinh hạnh được quen biết anh. Ở đây buồng số 5 là tiện nghi nhất, nhưng một “xừ” đại tá Mỹ đã ở hơn một tháng rồi, hai ngày nữa y đi. Tôi sẽ ưu tiên dành cho anh. Bây giờ, anh hãy ở tạm phòng 8 cùng lầu 3.

Trong khi hai anh bồi mang va li và ba lô của tôi lên lầu, ông Yến tự tay lấy chìa khóa từ ông quản lý, dẫn Phan và tôi lên theo.

Ngay buổi chiều hôm đó và những ngày hôm sau nữa, tôi hơi ngạc nhiên thấy ông Yến hay chuyện trò, tỏ ra thân mật muốn kết thân với tôi. Nào là sẽ hướng dẫn tôi đi thăm thú thành phố, vân vân… và vân vân.

Khi ông đại tá Mỹ rời đi, tôi đã chuyển về phòng số 5. Những buổi gặp Phan và Yến sau này, tôi đã hiểu họ. Phan hiện là người chịu trách nhiệm tung người ra Bắc, gồm Biệt Kích, người Nhái và những người đi lẻ như tôi v.v…Điểm xuất phát là Đà Nẵng. Một mình Phan một chiếc “Cadillac” mới toanh. Đối với thành phố Đà Nẵng nhỏ hẹp này, Phan là người rất có thế lực. Các giới chức từ Tỉnh Trưởng trở xuống đều nể vì. Ông Yến, tức Lương Hồng Yến; người Tầu. Là một thương gia giầu có, chồng của Thái Lệ Chi, một giai nhân của đất thần kinh. Khổ người và dáng dấp bà Chi hao hao giống bà Trần Lệ Xuân. Chính qua người vợ hương sắc này, ông Yến đã lọt qua nhiều cửa chính quyền, để tiến mãi trên bực thang tiền bạc.

Thấy tôi là bạn của Phan, ông ta nghĩ tôi không những là người có tiền bạc, mà còn có thần thế nữa, cho nên ông ta đã hết mình săn đón. Những buổi chuyện trò thân mật, chính ông đã tâm sự:

–  Loại chúng mình luôn luôn là đối tượng mà Cộng Sản muốn tiêu diệt!

Qua câu chuyện và cách ăn nói, mặc nhiên ông ta đã nghĩ tôi cũng trong giới giầu sang như ông ta. Tôi cười thầm, tôi chỉ là loại dân nghèo cùng đinh, làm sao được ờ giai cấp giầu sang như ông bạn! Tuy nghĩ thế, vì vỏ bọc, tôi cũng cười tỏ sự đồng tình với ý kiến của ông ta.

Tôi ra Đà Nẵng được 3 ngày, Phan đưa tôi đến một căn nhà ở gần phía cầu Hàn. Ở đây, tôi lại gặp Brown và Dale. Vì có một số diễn tiến mới, hai ông ra đây trực tiếp thông báo cho tôi. Tôi ngồi nghe và sau đó cùng nghiên cứu, thảo luận lại một số vấn đề về tình hình cũng như tin tức. Ngoài ra, hai ông còn cho tôi biết thêm là hải thuyền tôi đi, phía bên ngoài khơi, sẽ có một tầu của hạm đội 7 đi hộ tống. Hoặc, đang có sự nghiên cứu; lần sau. Nghĩa là trong tương lai, sẽ dùng tầu ngầm, khi đến điểm đổ bộ, dùng xuồng cao su, nhẹ nhàng bí mật tiến vào bờ v.v… Phải nói rằng, ngay lúc đó, tôi chẳng hề tin theo lời Phan. Tôi vẫn nghĩ, đó chỉ là những hình thức dùng để động viên, nâng cao tinh thần, tin tưởng cho người đi hoạt động mà thôi.

Tới hai hôm sau, Phan đưa tôi sang phía biệt khu Hải quân, vào một nơi riêng biệt. Dùng “ca nô” chạy ra phía sau ngọn Sơn Trà để thực tập đổ bộ và chôn dấu vật dụng.

Phần vì đêm khuya, sóng gió lớn ở vùng cửa biển. Phần vì lề lối, tác phong làm việc hời hợt, chiếu lệ. Kiểu “cỡi ngựa xem hoa,” nên khi thấy bị ướt át, run lạnh, Phan cũng giục đi về dù tôi chưa làm xong. Tuy cũng có thực tập về hồng ngoại tuyến vài lần, nhưng cũng chỉ là hời hợt thiếu sự mẫn cán thực tế.

Một tuần lễ ở Đà Nẵng, tôi cũng có ý định gặp lại bạn Lê Đức Bình trong mỏ than Nông Sơn. Nhưng rồi công việc bề bộn cho đến phút chót, nên tôi đã không thực hiện được ý định này. Phan thường căn dặn tôi, để tránh nguy hiểm, không nên đi về phía đầu đường Bạch Đằng từ Grande Hotel trở lên. Vì ở đấy, nhiều người Mỹ thường lui tới có thể xẩy ra những vụ lộn xộn gài mìn, gắn lựu đạn v.v… sẽ nguy hiểm cho mình. Trong thâm tâm, tôi hiểu rằng phía ấy là nơi làm việc của cơ quan tình báo. Phan không muốn tôi đến, chứ giai đoạn đó, hầu hết những building mới xây. Thậm chí, ngay khách sạn Hồng Phát, Grand Hotel, v.v… đã đầy rẫy những người Mỹ từ Hạm Đội 7 mặc thường phục vào mướn thuê phòng rồi.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Chọn Điểm Đổ Bộ

Bài 13.

Sau khi đã tập sử dụng thuần thục bút chì mật, tôi bắt đầu phải nghiên cứu về phương tiện ra ngoài Bắc, và địa điểm tôi sẽ xâm nhập.

Ngay từ giai đoạn đầu, khi tôi mới tiếp xúc với ông Cẩn cũng như sau này gặp Hoàng Công An, các ông đều nói, tôi sẽ phải đi dự một khóa huấn luyện về dù. Nhưng dần dần ít tháng sau; có thể do những diễn biến của điều kiện phòng thủ Bắc, Nam. Hoặc vì lý do gì khác tôi không rõ. Ông Phan nói rằng tôi sẽ ra Bắc, với bao nhiêu địa hình thiên nhiên phức tạp. Tụi Cộng Sản không thể giăng người ra canh gác suốt ngày đêm được. Hơn nữa, hiện nay hải quân của tụi Việt cộng hầu như rất yếu. Tầu tuần tiễu của chúng chỉ quanh quẩn gần bờ. Ít khi chúng dám lảng vảng ra ngoài khơi.

Theo ý kiến của Cục, chính tôi phải chọn vùng tôi sẽ đổ bộ. Vì như vậy, ít nhiều tôi đã quen thuộc địa hình, địa vật, bớt ngỡ ngàng hơn ở một vùng lạ. Đối với tôi, đây cũng là một vấn đề hơi nan giải. Vì khi ở miền Bắc, tôi còn quá bé; không biết được, hoặc nhớ được một vùng biển nào rõ ràng cả. Dĩ nhiên, điểm đổ bộ phải ở một vùng hoang vắng, xa thủ đô Hà Nội, nơi có địa bàn hoạt động của tôi. Tôi nghĩ ngay đến Đồ Sơn. Kỳ Hè 1953, tôi theo một số bạn bè xuống bãi biển Đồ Sơn Hải Phòng tắm, đến chiều tối mới về Hà Nội.

Khi tôi vừa nêu lên địa điểm Đồ Sơn, cả ba người: An, Dale và Brown đều lắc đầu, hoặc xua tay. Đó là cửa biển Hải Phòng, Cộng Sản canh gác rất cẩn mật, gắt gao; không thể đổ bộ được. Tôi moi óc nghĩ mãi, mới nhớ ngày xưa, khi tôi còn học tiểu học ở quê nhà (lúc ấy tôi mới lên 10), có lần nhà trường tổ chức cắm trại ở một miền rất xa, đó là Cồn Vạn. Chúng tôi phải đi qua một con sông rất to, sau này, tôi biết là sông Đáy. Tôi chỉ nhớ mơ hồ chỗ đó mọc rất nhiều thông, như rừng vậy.

Tôi tìm trên bản đồ chi tiết. Sau một lúc, tôi xác định được vị trí. Brown và Dale hẹn sẽ trả lời tôi sau. Họ còn nghiên cứu thẩm tra. Khoảng 3 ngày sau, họ đến cho tôi biết, vùng đó không thể đổ bộ được. Phía ngoài miền biển đó có đất bồi và những bãi sình lầy, lún thụt lẩn ra ngoài biển đến 5- 6 cây số. Hơn nữa, chỗ rừng thông phía bên trong. Hiện là mấy nông trường lớn, đã và đang xây dựng.

Với quãng đời thơ ấu của tôi, tôi chỉ biết có nơi đó, nên cuối cùng tôi nói:

– Tùy ở trên chọn cho tôi một địa điểm nào gần đấy, khoảng vài chục cây số cũng được. Tôi sẽ mò mẫm tìm vào quốc lộ Một để về Hà Nội.

Mấy ngày sau, Brown đến chỉ cho tôi trên bản đồ lớn. Chi tiết một vùng, thụt lùi về phía Nam:

– Chỗ này đã được sưu tra, xác định, cách khoảng 30 cây số so với vùng Bình biết. Nằm giáp ranh giữa hai huyện Kim Sơn của tỉnh Ninh Bình và huyện Nga Sơn của tỉnh Thanh Hóa.

Tôi còn đang quan sát để nắm được một cách khái niệm về những tuyến đường, và những điểm chuẩn của khu vực, Brown lại nói tiếp:

– Nơi đấy là khu rừng non, dài hàng mấy cây số, lau sậy um tùm. Do đó, khi Bình đổ bộ lên, nếu thấy mệt mỏi có thể nghỉ ngơi tùy ý hàng tuần cũng được.

Nghe Brown nói vậy, tôi cũng yên tâm. Tuy nhiên, nhìn trên bản đồ, gần vùng đổ bộ, trên đường về quốc lộ Một, có một con sông không to lắm. Tôi hơi băn khoăn, chỉ chỗ sông tôi sẽ phải vượt qua, hỏi:

– Chỗ này có cầu không?

Theo quan điểm của tôi khi ấy. Kế hoạch của một công tác bao gồm nhiều khâu. Nhiều khi chuẩn bị kỹ những khâu lớn, khâu khó khăn; nhưng đôi khi chính những việc nhỏ, rất vặt vãnh, lại quyết định sự thành bại. Chẳng hạn, điệp viên chỉ cần qua khúc sông ấy không có cầu, đò. Phải mò mẫm thăm hỏi, để rồi bị bắt ngay chỗ đó. Như vậy, những chuẩn bị chính yếu công phu ở Hà Nội để làm gì?

Tôi đã phát biểu ý kiến này với họ. Sau khi Hoàng Công An dịch lại, mắt Brown sáng lên, nhìn tôi vừa gật đầu, vừa nói:

– Đó là một ý kiến cần thiết, rất hay!

Họ hẹn sẽ trả lời sau, câu hỏi này. Thật là nhanh, tôi không ngờ. Chỉ 3 ngày sau, Brown và Dale đưa đến cho tôi 16 tấm không ảnh loại 40×60 phân. Hình chụp rõ ràng khu vực tôi yêu cầu. Con sông có một chiếc cầu và rất nhiều thuyền bè lớn nhỏ trên sông. Đồng thời cả hình quốc lộ Một và đường xe lửa từ Thanh Hóa về đến Hà Nội.

Lúc đó, chính sự việc này đã làm cho tinh thần tôi được nâng cao thêm qua hai yếu tố:

* Tin tưởng kỹ thuật khoa học chụp hình mà Hà Nội chưa biết.

* Ý niệm được mức độ quan tâm đến công tác của Cục cũng như của Mỹ.

Thời gian này càng gần tới ngày đi, một ngày đi đầy rẫy những hiểm nguy đang đợi chờ. Với muôn ngàn tình huống đang đợi chờ. Với muôn ngàn tình huống chưa biết. Nhiều lúc đi trên đường phố Sài Gòn, tôi nhìn cảnh tấp nập náo nhiệt xe cộ của đường phố, Nhìn dòng người quần áo đủ mọi mầu sắc ngược xuôi, với những nét mặt đầy vẻ hân hoan, háo hức nỗ lực đi vào cuộc sống ngày mai; mà tôi biết rằng sẽ đầy hương vị và tình người, tôi bâng khuâng. Tôi nhìn từng mái nhà, từng chòm cây, góc phố quen thuộc. Cảnh vật và con người như luyến lưu, như hẹn ước và cũng như giã từ.

Tâm trạng của người sắp từ giã cảnh sống này để đi vào đất địch. Như là đi sang một thế giới khác với những cảnh đời hoàn toàn xa lạ và những tình huống bất trắc, bạn bè thân thuộc không ai hay.

Càng gần ngày đi, tôi càng nhiều lần về với bố mẹ và các em.

Bố ơi! Mẹ ơi! Các em bé bỏng thương yêu ơi!

Những lúc vui đùa hàn huyên với các em. Nhìn dáng thơ ngây, hồn nhiên thân mật của các em. Tự nhiên, một nỗi niềm đã nén chặt trong lòng tôi, như muốn trỗi dậy đầy vơi. Để rồi thì, chỉ còn là những cái nhìn đắm đuối, nghẹn lòng như thầm căn dặn: Rồi đây nếu anh ra đi không trở lại. Các em hãy thay anh trông nom, săn sóc bố mẹ. Ai có hỏi anh, các em hãy nói: Anh đã đi xa để trả nợ quê hương rồi, nhé! Nhưng, cả hai đứa em gái và một đứa em trai của tôi thật vô tình. Chúng vẫn cứ cười vui, đùa bỡn với tôi như thường. Các em không biết rằng trong lòng tôi sóng gió tơi bời. Thôi đành! Thời gian sẽ nói rõ với các em những gì lòng tôi muốn nói lúc này.

Buổi chiều cuối cùng, trước ngày lên đường, dù công việc chuẩn bị bề bộn. Tôi vẫn quyết dành ra hai tiếng về thăm bố mẹ và các em một lần nữa.

Khi tôi về, chỉ có bố tôi ở nhà, mẹ tôi đã đi nhà thờ chầu. Các em, đứa xin phép đến nhà bạn, đứa xin phép đi xem phim, không còn đứa nào ở nhà. Cảnh nhà vắng vẻ càng làm tăng nỗi niềm đang đè nặng tim tôi. Bố tôi, tuổi đã gần ngũ uần, dáng dấp còn nhanh nhẹn, cường tráng như người 40, nhờ vẫn thường xuyên ôn luyện quyền thuật. Người tưởng tôi về thăm nhà như mọi khi, nên người chỉ quan tâm nhắc nhở tôi một câu, mà người vẫn nói, ngay khi tôi còn nhỏ: “Văn ôn, võ luyện, mày phải thường xuyên luyện tập, để tay chân cứng chắc; tinh thần minh mẫn.”

Đến đây, tôi phải trình bày vài nét sơ lược về bố tôi. Khi chưa di cư, còn ở ngoài Bắc, Ông là một võ sư nổi tiếng của huyện. Có lẽ trong đời võ nghiệp, ông đã nhiều lần phải gục mặt, uất hận trước đối thủ. Vì vậy, người đã kỳ vọng vào đứa con trai đầu lòng, mong rằng sau này nó sẽ làm được những điều mà người chưa, hoặc không làm được trong ngành võ thuật. Ngay từ khi tôi mới lọt lòng mẹ (bố mẹ kể chuyện lại), Người đã ngâm, tắm tôi nhiều lần bằng những bài thuốc gia truyền, mà người đã dày công sưu tầm được. Người đã bắt tôi, một đứa bé 3-  4 tuổi, tập đứng Trung bình tấn, Xà tấn, Đình tấn; tập những bài Quý Châu, Mai hoa và Hùng quyền; bắt đứa bé đó phải chịu bao nhiêu khổ luyện suốt mùa Đông rét mướt, cũng như những ngày Hè nóng nực; năm nay qua năm khác. Khi tôi 10 tuổi, người đã gửi gấm tôi cho nhiều võ sư mà người cho là có thực tài. Vị võ sư cuối cùng là Lã Giang Sơn (1948) với hỗn danh “Bạch Tượng” một danh thủ có hạng của Trung Hoa. Âu đó cũng là một cơ may, cơ thể dẻo dai của tôi, sau này mới chịu đựng nổi những gian khổ trong cái nghiệp chướng của đời tôi.

Tôi nhìn vào đồng hồ đã một tiếng rồi, mãi không thấy mẹ tôi đi chầu về. Tôi đang băn khoăn chưa biết phải nói với bố tôi như thế nào, may quá, bố tôi đã bỏ lên lầu; tôi vội vàng xin phép để ra gặp mẹ tôi ở nhà thờ.

Trên đường đi, tôi miên man nghĩ đến mẹ tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao hình ảnh người mẹ vẫn đậm nét hơn hình ảnh của người bố ở trong tôi. Khi tôi vào đến cuối nhà thờ, nhìn thấy dáng mẹ tôi đang quỳ, tay lần tràng hạt, miệng lẩm bẩm đọc kinh, đôi mắt người vươn cao trên bàn thờ, một mối xúc động đã dồn ứ trong tim tôi. Nhà thờ chỉ còn lại mươi ông già, bà cả ở lại cuối buổi chầu. Tôi tiến lên quỳ cạnh mẹ tôi. Người quay lại mở to mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Ôi! Mắt mẹ tôi nhìn bao la mênh mông như đại dương! Tôi cảm thấy như bé nhỏ lại trong cái nhìn của bà mẹ. Mẹ ơi! Ôi, tình mẫu tử! Tôi nghĩ rằng, tất cả những ngôn từ đẹp nhất, cao quý nhất của loài người cũng không diễn tả hết được sự cao quý thiêng liêng của tình mẫu tử. Mẹ tôi biết là tôi có việc muốn gặp, nên người làm dấu thánh giá rồi hai mẹ con ra khỏi nhà thờ.

Vừa ra đến ngoài, người đã hỏi ngay, giọng băn khoăn:

–  Mày lại có chuyện gì, lại về thế?

Chắc người thấy dạo này tôi về nhà luôn. Tôi nhìn xuống bàn tay mẹ tôi vẫn lần cỗ tràng hạt. Lòng tôi nghẹn lại. Làm sao tôi nói được, tôi về giã từ để đi vào nơi đầy bất trắc đang chờ đợi (có thể thuyền bị đắm ở biển khơi, bị công an, bộ đội kẻ thù bắt ngay trên biển và rồi trong đất liền. Có thể, còn lắm chông gai trên đất địch…) Mẹ ơi! Con sắp chia xa cùng mẹ. Có thể chẳng bao giờ con còn được nhìn thấy mẹ nữa.

Có lẽ vì thái độ của tôi, mẹ tôi cảm thấy một chuyện gì bất thường, nên người đặt tay lên vai tôi, giọng lo lắng:

–  Con có chuyện gì, hãy nói thực với mẹ đi!

Chỉ một phút yếu lòng khiến mẹ tôi phải lo sợ, tôi vội vàng tươi nét mặt và cười toét:

–  Có gì đâu, mẹ! Con về nhà không thấy, nên ra đây gặp mẹ. Vậy thôi!

Nét mặt lo âu của mẹ tôi biến ngay, người đập vào tay tôi mắng yêu:

–  Bố mày, thế mà làm tao hết hồn!

Rồi mẹ tôi nói tiếp:

–  Chủ nhật này, mày về đưa tao sang khu Bàn Cờ thăm bà bạn nhé!

Tôi chợt hiểu, lại vấn đề cô Nga, Thu Nga. Đã nhiều lần, bố mẹ tôi muốn tôi lập gia đình với con gái của bà bạn này. Làn nào tôi cũng khất lần với lý do sự nghiệp vẫn chưa thành, v…v…Điều chính khiến tôi, thoái thác là, tôi tự nghĩ, trong khi đất nước đang chia hai, xẻ ba, tôi không thể vội vã tìm chuyện ấm êm. Hơn nữa, đã thích nghiệp gió sương, tôi không được quyền làm bận rộn cuộc đời của một người khác. Tôi vẫn thích những câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Em là gái trong song cửa

Anh là Mây bốn phương trời.

Anh theo cánh gió chơi vơi,

Em vẫn nằm trong nhung lụa.

Tôi hiểu, ngày Chủ nhật tôi không có lý do gì để từ chối ý kiến của mẹ. Vả lại, chủ trương của tôi là trước khi ra đi, tôi không muốn làm một điều gì, dù nhỏ nhặt, để phật ý mẹ tôi. Cho nên, sau khi mẹ tôi nói, tôi chỉ vâng nhẹ một tiếng. Tiếng “vâng” như còn nằm trong cuống họng. Nếu tinh ý, mẹ tôi sẽ nhận ra tiếng “Vâng” rụt rè đó của tôi. Nhưng có lẽ người cho rằng tại nói đến nhà cô Nga, nên tôi mới ngập ngọng như vậy. Người đã không biết rằng, rồi đây, mãi mãi tôi vẫn không thực hiện được lời hẹn của người. Đứa con trai của người đã ra đi biền biệt, không về. Để rồi mấy chục năm sau, đứa con trai đó may sống sót, mang được tấm thân về, mọi vấn đề, từ đất nước, đến con người, đều đã đổi thay, tang thương, vũng thành đồi.

Ánh nắng chiều phía Tây đã nhạt dần. Không gian cảnh vật cũng đổi mầu tím sậm. Dùng dằng mãi, cuối cùng tôi cũng phải chào và xin phép mẹ về trường. Bất chợt, tôi cầm lấy tay mẹ tôi, nghẹn ngào muốn nói: “Lạy mẹ con đi,” nhưng không thốt ra thành lời. Đúng là chân bước đi mà đầu còn ngoảnh lại. Tôi đã ngoảnh lại nhiều lần nhìn bóng dáng nghiêng nghiêng đã thẫm mầu của người phía sân cuối nhà thờ cho tới khi bị khuất hẳn.

Xót xa thay cho giọng ngâm Hồ Điệp – Tài năng nhưng cuộc đời lại quá đỗi đau thương

by Mẫn Nhi

15/07/2021 

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Ban Tao Đàn cùng những giọng ngâm vang bóng một thời

Trước những những năm 1975, giọng ngâm nào làm mọi người thời đó mê mẩn, ắt hẳn bạn sẽ nhớ đến ban Tao Đàn. Nói về ban Tao Đàn, người ta không thể không nhớ đến giai thoại của giọng ngâm vang bóng một thời, được mọi người gọi với cái tên thân thương Hồ Điệp. Thế nhưng tài năиg là thế mà cuộc đời lại quá đỗi đαυ thương.

Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu đôi chút về ban Tao Đàn. Đây là một chương trình ngâm thơ do thi sĩ Đinh Hùng sáng lập từ năm 1954. Thời ấy, cứ mỗi độ 9 giờ 15 phút đến 10 giờ từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần, thính giả Sài Gòn lại được đắm chìm trong những ca khúc thơ ca vừa ᴅu dương, nhẹ nhàng mà lại có chút khắc khoải đau thương.

Về giọng ca ngâm của ban Tao Đàn, vào năm 1960 theo tờ báo Trẻ số 1, khi nhắc đến những giọng ca nam иổi tiếng, ai cũng nhớ đến giọng ca Hoàng Thư với giọng ngâm khỏe khoắn và ấm áp. Giọng thổ pha kim với các bài hát bi hùng của Thanh Hùng (Nguyễn Thanh), tài năиg thổi sáo bậc nhất cùng khả năиg ngâm thơ giọng Trung lẫn Bắc đặc biệt của Tô Kiều Ngân (Tô Lang), hay các bài thơ thất ngôn và lục bát của Quách Đàm.

Ngoài những giọng ca nam thời ấy, khi nhắc đến giọng ca nữ, người ta thường nhớ về Hồ Điệp, Thái Hằng và Giáng Hương. Những giọng ngâm oanh vàng thời đó mang đến cho thính giả những ca khúc ngọt ngào mà sâu lắng với những biệt tài và sở trường riêng biệt của mình. Tựa như khả năиg ngâm thơ mới (thơ tám chữ, tự do) và kịch thơ của Giáng Hương. Đặc biệt là khi trình bày kịch thơ, giọng ca của bà thể hiện rõ nội ᴅung buồn sầu тнảм dù cho nữ thi sĩ này đọc nhiều hơn là ngâm, thế nhưng nhiều người lại thích giọng đọc này của bà. Còn về phần Thái Hằng, hầu hết bà ngâm được tất cả các loại thơ và diễn đạt chúng bằng giọng ngâm hiền dịu và tha thiết.

Bên cạnh những giọng ngâm thời đó, đặc biệt phải kể đến giọng ngâm Hồ Điệp với phong cách ngâm cổ xưa làm hầu hết dân Sài Gòn gốc Bắc lúc bấy giờ cũng đều mê mẩn. Hồ Điệp, tựa là Nguyễn Thị Tý, sinh năm 1930, sinh ra trong một gia đình có truyền thống hát chầu văи lẫn cô đầu. Thi sĩ Đinh Hùng là người đã phát hiện ra tài năиg thiên phú của bà nên đã mời bà về làm chung với cả hội, cũng là để phát sóng chương trình thơ ca Tao Đàn иổi tiếng thời ấy. Thi sĩ Đinh Hùng đặt cho bà một biệt danh hết sức là dễ thương – Hồ Điệp, nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ca của bà tưởng chừng như nhẹ nhàng, mỏng manh nhưng lại mang đầy màu sắc như những cánh bướm. Từ đấy bà lấy nghệ danh này để ngâm thơ và иổi tiếng khắp mọi nẻo đường.

Hồ Điệp có giọng ngâm thơ hết sức ngọt ngào và trong trẻo, ảnh hưởng của nhạc điệu cổ xưa miền Bắc. Giọng ngâm của bà không dài, chuỗi ngân có phần đặc biệt. Bà thường pha điệu lẩy Kiều vào giọng ngâm của mình. Nhưng mà dù cho bà có lẩy Kiều, pha Sa Mạc hay pha Bồng Mạc thì đều quyến rũ và tình cảm. Nhắc đến đây, chúng ta đã phần nào mường tượng được giọng ca đặc biệt của Hồ Điệp, đầy cổ kính mà cũng thật yểu điệu.

Hồ Điệp được người đời ca ngợi là cô gái đẹp, hiền dịu với vóc dáng mảnh mai cùng khuôn mặt phúc hậu. Bà lúc nào cũng cười, nụ cười đoan hậu nhẹ nhàng của một người phụ nữ e thẹn và bẽn lẽn. Hồ Điệp đẹp, nhưng mắt Hồ Điệp buồn, cái buồn man mác như ánh tà dương ở phía chân trời vào mỗi buổi chiều ngày nắng. Hồi ấy, những văи nghệ sĩ như Vũ Hoàng Chương, Thanh Nam, Hoàng Hương Trang,… Ai ai cũng yêu mến Hồ Điệp.

Hồ Điệp được người đời ca ngợi là cô gái đẹp, hiền dịu với vóc dáng mảnh mai cùng khuôn mặt phúc hậu

Bà vốn dĩ xuất thân từ ca trù, thế nhưng Hồ Điệp lại bén ᴅuyên cùng với nghề ngâm thơ và lấy đi rất nhiều nước mắt của người dân xa quê nhớ nhà trên đất nước Pháp, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Đài Loan và Thái Lan trong một chuyến lưu diễn ca trù, ngâm thơ ở các nước. Lúc ấy, ai ai cũng ca ngợi, đâu đâu cũng đều chào đón bà.

Vào năm 1956, để trao đổi văи hóa nhằm thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan, ông Mai Văи Hàm, thuở ấy là đại sứ Việt Nam đã mời nghệ sĩ Sài Gòn sang Vọng Các (Bangkok) để trình diễn. Đặc biệt thay, chỉ ᴅuy nhất Hồ Điệp là nữ ca sĩ được cử đi giao lưu nền âm nhạc tại Thái Lan. Ở nước bạn, Hồ Điệp đã chiếm trọn trái tim của mọi người bởi giọng ca mùi mẫn của bà. Trong hôm ấy, Hồ Điệp vào vai cô ʟái đò trong vở chèo Đồng Quê, vừa ʟái đò, nữ ca sĩ đã vô tình ʟái luôn những con tim thổn thức của kiều bào vào giọng hát của bà. Sau bao năm xa cách, họ bỗng chốc cảm thấy nhớ quê hương, nhớ đất nước.

Hồ Điệp là ca sĩ, là nhà thơ, Liệu có phải chăиg? Thật ra bà không phải là người sáng tác, mà bà là người giàu lòng xúc cảm của một thi sĩ sáng tác thơ. Giọng ngâm của bà truyền cảm, nhẹ nhàng mà sâu lắng, giúp người nghe cảm nhận được ý vị trong bài thơ của tác giả. Không biết rằng người đọc thơ sẽ cảm nhận bài thơ ra sao, nhưng mỗi một bài thơ được Hồ Điệp ngâm đều truyền đến cho người nghe những âm thanh da diết và bồi  нồi, xúc động. Bà là một giọng ca oanh vàng mà không ai có thể thay thế, tựa như thi sĩ Đinh Hùng đã tìm kiếm và nhận định, giọng của Hồ Điệp đặc biệt đến nỗi, không một ai có thể thay thế.

Giọng ngâm bất hủ là thế, nhưng cuộc đời Hồ Điệp thật trái ngang. Nếu như trước những năm 1975, giọng ca Hồ Điệp nức tiếng một thời thì đến những năm sau 1975, bà đã hứng chịu số phận nghiệt ngã. Nữ ca sĩ bị mất tích trong rừng, không rõ đi về đâu trong một chuyến vượt biên qua ngã Miên vào năm 1987 bằng đường bộ.

Chuyện là có một người Việt Nam làm việc ở cơ quan Hồng Thập Tự trại tị nạn ở Thái Lan kể lại trong tự thuật Cánh Bướm Bên Trời rằng có người tìm người thân rời Sài Gòn vào năm 1987, trong thư có nhắc đến một nhóm người bao gồm 11 người, có 6 người nam và 5 người nữ, loáng thoáng trong thư có nhắc đến tên Hồ Điệp. Năm tháng trôi qua, từ Mỹ vẫn có người hỏi thăm tin tức về đoàn người đó, nhưng mãi vẫn không điều gì mới mẻ, đoàn người đó vẫn chưa quay trở về Việt Nam. Vậy là Hồ Điệp cùng đoàn người đó đã thật sự mất tích, bởi vì không có một ai có thể sống sót trong rừng suốt 6 tháng trời.

Lại một lần nữa nói đến Hồ Điệp, bà là người đem lại cho người dân thời ấy được quay lại dòng nhạc tưởng chừng như bị thời gian vùi lấp. Bởi lẽ, vào thời ấy, khi mà dòng nhạc Âu – Mỹ với những thanh âm, những nốt nhạc “xập xình” đang dần chiếm lĩnh tâm trí người dân thì nhờ giọng ca êm ái của Hồ Điệp đã đem họ trở lại với âm thanh nhẹ nhàng, sâu lắng mà tưởng chừng như sắp sửa bị đưa vào dĩ vãng. Khi giọng ca ấy cất lên, một miền quê đất Bắc như được gợi lại trong tâm trí của mọi người, những thanh bình và những niềm ước mơ đều được chất chứa trong giọng ca của Hồ Điệp.

Ban Tao Đàn của thi sĩ Hùng Vương là nơi dành cho những điều cổ kính và thi vị. Khi nghe ngâm thơ của những ca sĩ trong ban, chúng ta cảm nhận được rõ những âm sắc khác nhau của từng ca sĩ. Có giọng ca trong trẻo, có giọng ngâm khỏe khoắn, có tiếng thổi sáo ᴅu dương, đặc biệt là giọng ngâm thơ lấy đi nhiều nước mắt của người con xa xứ. Vậy thì liệu rằng người làm thơ hay người ngâm thơ đã làm chúng ta bồi hồi đến thế? Thật ra nhờ những giọng ngâm ấy, chúng ta càng thêm nhớ đến giá trị thơ ca mà người làm thơ muốn mang đến cho mọi người. Trong ban Tao Đàn, ai ai cũng đóng vai trò quan trọng và đều có những điểm đặc biệt, иổi bật là giọng ca của người con gái Sơn Tây Hồ Điệp, bà có tài nhưng cuộc đời lại quá trái ngang.

Hồ Điệp cánh bướm lạc vườn xuân

baotreonline.com

Tám Vạn

September 8th, 2023
Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Hồ Điệp xuất thân trong gia đình nghệ sĩ, khuê danh Nguyễn Thị Tý, tự Nhu, sinh năm 1930 ở Sơn-Tây và có chung ông ngoại với ca sĩ Thái Hằng, Thái Thanh. Ca sĩ Thái Hằng nhớ về cô em gái Hồ Điệp như sau: “Khi còn nhỏ Hồ Điệp là một cô bé rất xinh đẹp. Hồ Điệp lớn lên ở quê ngoại, còn Thái Hằng theo bố mẹ ra Hà-Nội sinh sống. Mỗi lần Thái Hằng về quê, Hồ Điệp chạy thật nhanh từ cổng nhà lên đến tận bờ đê đón các anh các chị với quà Hà-Nội. Hồ Điệp có giọng cười trong trẻo như một dòng suối tinh khiết cũng như đôi mắt rất đẹp nhưng ngày đó chưa u ẩn và chưa mang nỗi buồn viễn xứ. Hồ Điệp hay mặc quần satin tuyết nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay có thêu rua. Khi đi hát, Điệp đeo thêm kiềng vàng, mặc áo nhung đen tuyền, không thêu, không vẽ và choàng tấm khăn san mỏng, chân mang hài cong. Hồ Điệp trang điểm rất ít, tóc bới cao hay quấn khăn vành dây, cử chỉ khiêm cung, nhỏ nhẹ mang vẻ đẹp cổ kính của một thục nữ cõi Bắc Hà”.

Ðược sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật (hát chầu văn và ả đào) và với chất giọng thiên phú, Hồ Ðiệp đã bộc lộ khả năng ca hát từ rất sớm. Hiệp định Genève được ký kết năm 1954 chia đôi đất nước đã khiến cho hàng triệu người ngoài giới tuyến bỏ xứ, lìa quê và lên tàu đi lánh nạn. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Ðiệp cùng gia đình xuống tàu ngược Bắc, xuôi Nam để tìm tự do nơi miền đất mới.

Bên cạnh sự ổn định dần dần trong cuộc sống mới thì đời sống tinh thần cũng được ít nhiều quan tâm. Những chương trình chèo cổ, kịch thơ, ngâm thơ của đài truyền hình hay trên các làn sóng điện đã giữ một vai trò quan trọng, giúp người mới đến nguôi ngoai nỗi nhớ quê nhà bên kia bờ vĩ tuyến và dựng xây cuộc đời trên quê hương mới.

Chương trình “Thi văn Tao Ðàn” của thi sĩ Ðinh Hùng được thành lập năm 1955 nhằm giới thiệu những thi phẩm xa xưa cũng như cận đại với những giọng ngâm đến từ đất Bắc như Hoàng Thư, Nguyễn Thanh, Thái Hằng, Giáng Hương v.v. Dịp này, thi sĩ Ðinh Hùng cũng giới thiệu với khán thính giả bốn phương một chất giọng đặc sắc mang âm hưởng ca trù và khai sinh với công chúng một tên tuổi mới mẻ: Hồ Ðiệp, cánh bướm tươi mới chấp cánh bay vào vườn thơ nghệ thuật muôn màu.

Sở hữu chất giọng ngâm thơ ngọt ngào và ấm áp, Hồ Ðiệp thường pha điệu lẩy Kiều, Sa Mạc hay Bồng Mạc mỗi khi ca ngâm khiến cho những áng thơ xưa cũng như nay thêm phần sống động và truyền cảm. Hồ Ðiệp cũng thổi vào hồn thơ những cảm xúc riêng tư và nét sáng tạo trong từng cung bậc thấp cao. Không chỉ ngâm nga ở miền Nam tự do, giọng oanh vàng đó được mang đến tận xứ người để quảng bá nền văn học nghệ thuật nước nhà cũng như an ủi, vỗ về kiều bào đang cư ngụ nơi đất khách. Cách ngâm thơ và luyến láy của Hồ Ðiệp ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ ở thế hệ đi sau như Huyền Trân, Quỳnh Như, ca sĩ Hoàng Oanh – con chim vàng đất Mỹ-Tho cũng như nghệ sĩ cải lương Thanh Hải được khán giả yêu chuộng và báo giới ca ngợi là “vua Tao Ðàn” một thuở.

Hai mươi năm nức tiếng với giọng ngâm quyến rũ và điêu luyện, Hồ Ðiệp đã không phụ lòng yêu thương của khán thính giả gần xa. Nhưng cuộc đời không mãi êm xuôi như những vần thơ, vận nước đảo điên gây ra nhiều hệ lụy. Con chim oanh phải ngưng tiếng hót và chịu đựng nhiều giông bão trong cuộc đời. Năm 1987, Hồ Ðiệp vượt biên bằng đường bộ qua ngả Campuchia. Ngày tháng trôi đi nhưng tin tức của nhóm gồm mười một người ra đi năm đó vẫn biền biệt ở phương trời xa. Ðường đi không đến, Hồ Ðiệp đã gửi lại xác thân nơi xứ lạ và hồn phách còn bơ vơ, lạc loài nơi đầu ghềnh, cuối bãi ..

“Trời cuối thu rồi em ở đâu

Nằm trong đất lạnh chắc em sầu

Thu ơi đánh thức hồn ma dậy

Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu”

“Gửi người dưới mộ”,

Đinh Hùng

Mấy mươi năm dâu biển trôi nhanh, tao nhân mặc khách chỉ còn vấn vương, lưu luyến giọng ngâm của Hồ Ðiệp qua vài cuốn băng ghi âm hiếm hoi được lưu giữ từ hơn nửa thế kỷ trước. Chất lượng âm thanh dẫu đã phai phôi theo ngày tháng nhưng cảm xúc của biết bao tri âm, mộ điệu với người nghệ sĩ đã đi xa bao giờ cũng đong đầy. Giọng ngâm Hồ Ðiệp một thời điểm tô cho vườn thơ nghệ thuật muôn sắc và mãi là đóa hoa rực rỡ nhất trong vườn hoa thi ca Việt-Nam thuở còn thanh bình và thịnh trị.

Đời như một vở cải lương!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Hồi xưa bà con mình gọi mấy đoàn cải lương là gánh hát. Vì mỗi lần đi lưu diễn, mai chỗ nầy mốt chỗ kia, ngoài xe bò chở phông màn và vợ con ông bầu gánh, đào kép tự gánh y trang của mình, rồi lục tục quảy theo sau.

Gánh hát thời đó cũng có bảng hiệu đàng hoàng nhưng bà con mình lại thích gọi là gánh bà bầu Thơ tức đoàn Thanh Minh Thanh Nga, gánh bầu Ba Bản tức đoàn Thủ Ðô, gánh bầu Xuân tức đoàn Dạ Lý Hương, hay gánh bầu Long tức 5 đoàn Kim Chung 1, 2, 3, 4 và 5.

Sau nầy, mấy ông ký giả trên mục sân khấu kịch trường về cải lương mới dùng chữ đại ban nếu gánh hát lớn, trung ban nếu gánh hát vừa vừa. Còn những gánh nhỏ, mà ông bầu già, đóng vai lão, con gái làm đào chánh, con rể làm kép chánh thì gọi là gánh bầu Tèo, tức gánh hát nghèo, dọn từ nhà lồng chợ tới đình làng để trình diễn.

Gánh hát thì phải có tuồng tích do mấy ông thầy tuồng, sau nầy trân trọng gọi là soạn giả viết ra, phân vai, kiêm chỉ đạo diễn xuất (tức vai trò đạo diễn sau nầy).

Ngoài thầy tuồng là người có ăn học (mới biết chữ mà viết tuồng chớ) phải kể tới kép chánh và đào chánh (có người mù chữ).

Kép cũng có hai loại: Kép muồi, chuyên môn đóng vai hoàng tử  không hè (Út Trà Ôn, Thành Ðược).

Phản diện với kép muồi là kép độc, đóng vai ác thôi hết biết (Hoàng Giang, Văn Ngà, Trường Xuân)…

Ðào cũng có hai loại: Ðào thương (Út Bạch Lan, Thanh Nga, Phượng Liên), ra sân khấu là khóc bụp con mắt luôn, đôi khi khóc nhiều quá son phấn trôi đi, hết màn, phải chui vào hậu trường dặm mặt lại.

Phản diện với đào thương là đào lẳng (Hồng Nga, Thanh Nguyệt), vừa hát vừa nghiến răng trèo trẹo đóng những vai ghen tuông, đòi xởn tóc đào thương.

Trong vở hát nào cũng vậy, làm khán giả khóc lóc, chửi bới riết thì phải cho bà con cười chút chút cho thư giãn chớ.

Người phụ trách cái nhiệm vụ nặng nề đó là vai hề, ăn khách không kém kép chánh, đào chánh là: hề Minh, hề Văn Hường, hề Thanh Việt, hề Văn Chung… chẳng hạn.

Nhớ thời hoàng kim của sân khấu cải lương, bà con khán giả mộ điệu miền Nam mình đã nuôi sống biết bao nhiêu người nghệ sĩ.

Không những đủ sống thôi mà những danh ca: Vua vọng cổ như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Ðược… trở nên giàu có, ở nhà lầu mặt tiền, đi xe hơi Huê Kỳ, vì tiền ký ‘công tra’ lên cả triệu đồng (số tiền rất lớn). Vì trúng số độc đắc kiến thiết quốc gia xây cửa xây nhà, lô độc đắc cũng chỉ 1 triệu đồng thôi.

Nhớ hồi nhỏ, đi học, thường lội bộ theo đường Phan Thanh Giản qua đường Nguyễn Thiện Thuật là phải đi ngang nhà ông Út Trà Ôn.

Ðôi khi thấy ổng đang ở trần, mặc cái quần tiều lỡ, mái tóc chải xước ra đằng sau, không có rẽ đường ngôi, nhưng có xức ‘bi-ăng-tin’ láng mượt… đang lấy vải chùi chiếc xe Huê Kỳ bóng lưỡng, bèn đứng lại nhìn.

Té ra mặt mày không tô son điểm phấn như lúc trình diễn trên sân khấu, ở đời thường, ổng xấu hoắc hè! He he!

Nhưng: “Than ôi! Thời vận bất tề”. Không phải ai đi hát cũng đều nổi danh, tiền vô như nước, nữ khán giả ái mộ cuồng nhiệt.

“U xàng u xáng u, xáng trên đầu ba bữa còn u” Bài bản phải vững vàng. Hát chạy chữ sao cũng đặng nhưng tới xề là phải nhịp song lang nghe cái cốc mới đặng nhe!  Muốn ca diễn cho có nghệ thuật, làm khán giả hài lòng, bỏ tiền ra mua vé, đâu có dễ.

o O o

Gánh bầu Tèo nghèo hơn nhiều! Ghe hát vừa mới cắm sào bên dòng kinh Ngã bảy mà cô gái năm xưa hổng thấy ra chào... là cả gánh xúm lại khiêng phông màn lên bờ, lấy vải bố bao quanh nhà lồng chợ để đêm nay bổn ban sẽ ra mắt bà con cô bác xã nhà.

Xong, ông bầu mướn một chiếc xe ngựa, treo hai cái bảng quảng cáo hai bên hông. Trên xe có cái trống chầu, một kép cơm (theo gánh hát làm kép chỉ để được ăn cơm), đánh thùng thùng từ đầu làng đến cuối xóm.

Ngựa bị ghìm cương, xe chạy chậm, con nít nó ùa theo reo hò tở mở, mừng gánh hát… mới ‘dzìa’.

Gánh bầu Tèo thường về làng vào tháng Mười Một âm lịch trước khi trời sắp đổ mưa;  lúa đổ đầy bồ xong, bà con rảnh rang đến coi đông, nhưng khá lắm gánh hát lưu lại chưa tới một tuần thì vắng hoe, khán giả chỉ loe ngoe chừng chục mống.

Nghỉ hát, tiền chưa chạy đâu được để dọn đi xứ khác thì ông bầu cho đào kép tự kiếm việc mà làm. Ai mướn gì làm nấy như: gặt lúa, vác lúa, đi mót, đi câu, bắt cua, lưới cá.

Nên: “Bầu Tèo hát dở đừng lo/ Sang năm hát khá được đi xe bò!/ Bầu Tèo hát dở đừng rầu/ Sang năm hát khá được ngồi xe trâu!”

Ðời nghệ sĩ, nhứt là đào thương cũng ngắn ngủi, tới bốn mươi là quá ‘đát’, trừ trường hợp cực kỳ xuất sắc, thanh sắc vẹn toàn, nhưng nói chung bụi thời gian không ai phủi được, đành phải chuyển qua đào mụ, vai nhì, vai ba…

Bèn lo xa, thôi kiếm một đại gia nào đó để nhờ vả tấm thân hầu đeo đuổi con đường nghệ thuật tới khi không còn hát nổi nữa!

“Thiếu chi rau em ăn rau é, thiếu chi chồng em làm bé người ta!”

Vậy mà có người ác tâm, ác khẩu, rằng: ‘Xướng ca vô loại! Không thông cảm cho duyên kiếp cầm ca dâng hiến cho đời gì ráo trọi, nỡ bĩu môi chê rằng: “Mới là tiểu thơ đêm trước mà mơi hổng có gạo nấu à nghe, đừng bày đặt nhí nhảnh!”

o O o

Lại nhớ, gánh hát về nhà lồng chợ Cái Bè, năm 1958, thời ông Nguyễn Bá Cẩn đang ngồi quận, thuở thanh bình thạnh trị của nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa mà.

Ôi bà con vui hết biết! Tui cũng đi coi hát là phụ nhưng hẹn với em yêu là chánh! Chờ em cho mãn kiếp chờ, gần kéo màn rồi em mới chịu ló mặt ra, kẻo anh nóng lòng trông đợi bóng ‘chim’?!

Tui nóng lòng thiệt nên làm hết chục mía ghim và hai lon đậu phộng nấu.

Khi khán giả đông bộn, tiếng gõ cồm cộp trên sàn sân khấu, bức màn nhung được kéo lên, hiện ra gác tía lầu son sáng choang dưới ánh đèn măng xông như thể ánh trăng rằm.

Mở đầu tuồng Phạm Công – Cúc Hoa là màn Nghi Xuân Tấn Lực, quần áo rách rưới tả tơi, vá chằng vá đụp, vẻ mặt thiểu não, tay cầm thau nhôm móp méo, dắt nhau chầm chậm quanh sân khấu, rồi xuống tới hàng ghế thượng hạng. Ðám khán giả nầy, chắc như bắp, là có tiền rủng rỉnh đây, ca điệu Xuân Tình: “Bà con cô bác dùm thương/ Bố thí cho con một chén cơm thừa/” “Tấn Lực ơi! Ráng nhịn đói chút xíu nữa nghe! Chừng nào bà con cho tiền, chị mua cơm đút em ăn!”

Bà con mếu máo, tháo kim Tây, găm túi áo khỉ, móc ra cho năm đồng nói: “Nè! Nghi Xuân! Chạy ra trước cửa rạp mua cho thằng Tấn Lực tô bánh canh giò heo ăn đỡ đi nhe! He he!”

Rồi giữa vở diễn, chờ chuyển màn, chuyển cảnh, cái ‘mi cà rô’ treo trên dây ròng rọc căng ngang, thả xuống trước miệng, ông bầu Bảy Cao của đoàn Hoa Sen, quần áo lớn chỉnh tề, thắt ‘cà ra oách’, kính thưa khán giả: tuồng ‘Tôn Tẫn giả điên’ sẽ hát đêm mai. Tiện thể, nghệ sĩ Bảy Cao xuống sáu câu vọng cổ, phựt đèn màu, bà con khán giả vỗ tay rào rào…

Lại nhớ năm 1960, tại rạp Ðồng Thinh, thị xã Rạch Giá, đoàn Hữu Tâm của bầu Ba Khuê về, hát tuồng: “Nắm cơm chan máu” của đôi soạn giả Bạch Diệp và Minh Nguyên.

Trần Ai (kép Bửu Tài) phải đi ăn trộm về nuôi Ðỗ Lệ (đào Thanh Hương) bị thiên hạ đánh lỗ đầu, chảy máu…

Em yêu cảm động khóc thút thít, hỉ mũi rột rột… Thiệt là thấy gớm nhe!

o O o

Tháng Tư đen lại về trên quê người viễn xứ, lại nhớ biến cố năm xưa: “Tróc mã đề thương, ứ ư ứ ư…” “Cấp báo! Cấp báo!” “Ðiều chi?” “Dạ, chí nguy! Giặc Hung Nô vượt khỏi biên thùy. Ta, dũng tướng thảy đều tử trận…” “Lui!” “Thôi rồi!”

Nhưng “Họa phước đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viễn tẩu giả nan tàng.” 

(Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác. Bay cao, chạy cho thiệt xa cũng không trốn đâu cho khỏi.)

Triều đại nào, chế độ nào cho dù cực kỳ gian ác như giặc Hung Nô, như  bọn ‘đại ban’ CS Liên Xô: “Kìa! Ma trêu trước cửa” “Nọ, quỷ lộng sau hè” thì cũng như một vở cải lương, trước sau cũng phải hạ màn, vãn hát chớ! Phải không thưa bà con?

Đời nghệ sĩ!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Con người khi sanh ra, dù khôn hay không được khôn lắm cũng được ông Trời công bình phú cho những năng khiếu khác nhau.

Trời cho cái óc tưởng tượng, lại khoái nói dóc thì thành văn sĩ. Cho giọng hát lúc lên thì cao tuốt chín tầng mây, lúc xuống thì sà ngay mặt nước thì làm ca sĩ.

Ngoài ra còn biết thêm vũ khúc nghê thường của Hậu Nghệ, Hằng Nga thì làm nghệ sĩ cải lương.

Năng khiếu là một lẽ nhưng cái nghề mà… phải nghệ tinh thì thân mới vinh!

Tuy vậy chữ cũng có câu rằng: “Thời vận bất tề!” Tên tuổi của người nghệ sĩ nổi danh hay chìm lỉm thường không do mình tính trước được. Bởi chữ hay không bằng hên mà…

Kiếp cầm ca là do mình tự chọn. Mà đời không có gì khoái hơn là: làm cái nghề mình yêu thích vì mình không có nản. Nên đừng có rên: “Khi biết em mang kiếp cầm ca/ đêm đêm phòng trà dâng tiếng hát cho người đời/ bỏ tiền mua vui/ hỏi rằng anh ơi còn yêu em nữa không?”

(Yêu quá đi chớ! Ôi nhớ xưa! Tui đã từng ái mộ nghệ sĩ Lệ Thủy trong vở Hoa rơi cửa Phật.

Lệ Thủy, vai Lan, thất tình nên đi tu, đi cẳng không. Chớ nếu Lệ Thủy có mang guốc vông kêu tui xách guốc cho… thì thú thiệt với bà con là tui rất lấy làm vinh hạnh…)

Người nghệ sĩ là người đa nhân cách. Sống cùng lúc hai thế giới: ban ngày và ban đêm. Ban ngày sau hậu trường đầy dẫy bực bội, bất trắc, khốn khó do mậu lúi vì đánh tứ sắc giải khuây hết tiền, hay ghiền rượu hoặc trót làm bạn với ả phù dung cho tiếng hát thêm muồi (mùi).

Ban đêm khi ánh đèn măng-xông thắp sáng, mang hia đội mão thành Hoàng tử đẹp trai và nói rất dai trên sân khấu, vung kiếm trừ gian diệt nịnh.

Vừa ca diễn vừa nhìn xuống khán phòng, nơi những đôi mắt tròn như hột nhãn của em bán cháo lòng trong nhà lồng chợ say sưa thán phục. Hỏi rằng không hãnh diện, hểnh lỗ mũi to bằng trái cà chua lắm ru?!

Nên trong lòng bấy lâu, tui vẫn hằng ao ước được chường cái mặt mẹt của mình lên sân khấu, dầu chỉ một lần, để làm một xác bướm khô: “Than ôi! Cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập, chớ xác bướm khô ôm ấp mặt bởi tình yêu. Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột thắt trăm chiều. Trông hồ điệp lệ sầu tuôn mấy lượt…

Ðể hưởng vài giờ huy hoàng trên sân khấu như MC Nguyễn Ngọc Ngạn cho tới khi dàn đèn màu phụt tắt để trở lại đời thường, sau khi rửa hết phấn cùng son.

Út Trà Ôn

Tuy nhiên đời nghệ sĩ cũng sàng lọc ghê gớm lắm. Cả hàng ngàn nam diễn viên mà chỉ có được một vài người nổi tiếng như là ông Út Trà Ôn nhờ sáu câu vọng cổ để: trên ô-tô dưới thì ca-nô, nằm giường Lèo trải thêm nệm gấm.

Nên có nam nghệ sĩ tính lợi dụng mấy em khán giả ái mộ nhưng giàu vô số kể để nhờ giọng ca muồi (mùi) rệu, cộng với văn chương ướt át của Thầy tuồng là chiếm được trái tim em.

Hy vọng hão huyền là một bước trở thành ông bầu gánh hát, vừa được tiếng, vừa được miếng cho nó ‘phẻ phắn’ cái đời nghệ sĩ lăn lóc gió sương mà không sợ ba ngày đêm nổi lên sình chương bao giờ.

Soạn giả Nguyễn Phương, hiện ở Canada, có kể một câu chuyện đọc thì thấy vui vui nhưng nghĩ kỹ thấy bùi ngùi cho một đời đi làm kép hát.

Tui hoàn toàn tin là thiệt. Bởi tui có một lần bèo dạt hoa trôi vì miếng cơm manh áo mà tấp vô quận Kế Sách, là bản quán của nam nghệ sĩ Thành Ðược, thuộc làng An Mỹ.

Chuyện vầy nè: Từ năm 1952 đến năm 1958, kép Minh Tấn là kép ca vọng cổ nổi danh của đoàn hát Thanh Minh.

Ðoàn Thanh Minh về hát tại Kế Sách, Sóc Trăng. Ðêm hát đầu, khán giả lưa thưa. Chúng tôi phải lãnh lương ‘đờ mi’. Nhưng đoàn hát cũng bớt cơn thắt ngặt vì tánh chiêu hiền đãi nghệ sĩ của một người phụ nữ đang tuổi xuân nhưng đau đớn thay nửa đường gãy gánh.

“Chú Chệt Ám chết, để lại hai đứa con còn nhỏ, cô đang làm chủ một cái nhà máy xay lúa  lớn nhứt ở tại chợ Kế Sách, đầu Cầu Sắt, từ quận đường bước qua phía tay phải, nằm ngay ở vàm sông, thuận tiện cho ghe tấp vô khi đi chà lúa.”

Nếu tôi vô được cái mối nầy thì tôi sẽ biểu cô ta bỏ vốn ra lập gánh hát, lấy bảng hiệu Minh Tấn – Kế Sách.”

Bà Chệt Ám là người Tiều, má của thằng bạn nhậu của tui là Trung úy Sơn! Tui quen biết Sơn qua Lê Quang Tổng, dạy Việt Văn, cũng là Giám học của trường quận, vốn tốt nghiệp trường Ðại học Sư phạm Cần Thơ, hệ thường xuyên, học chỉ hai năm, là đồng nghiệp, bạn hiền kiêm bạn nhậu, kiêm chủ nhà vì nó cho tui ở ké cái nhà sàn dựa mé sông Kế Sách mà không tính tiền trọ gì hết ráo.

Lúc giảng bài, Giáo Tổng hay gặc cần cổ qua lại kêu rắc rắc cho đỡ buồn nên được tui ưu ái đặt cho bạn hiền cái ‘nick name’ là con bửa củi.

Nhớ tới ngày mùng Một, Tháng Năm, năm 1975, mà Chợ Kế Sách vẫn im ru bà rù kể từ chiều 30 Tháng Tư, ông Thiếu tá Kiến, Quận trưởng mới đổi về chừng hai tháng, lên xe Jeep lùn, cùng đám lính cận vệ chạy mất tiêu về hướng Sóc Trăng, nhưng VC rút kinh nghiệm đau thương về cái Tết Mậu Thân chưa dám ló đầu vô mà tiếp quản.

Cuối Tháng Tư, chưa kịp lãnh lương nên đứa nào cũng đói. Giáo Tổng sầu vận nước ngả nghiêng quá, chạy ra tiệm hàng xén của mấy đứa học trò, mua chịu, rinh về một kết Lave, 12 chai, biểu tui uống. Nó nói uống lần chót đi bồ! Mai mốt hổng có đâu mà uống.

Giáo Tổng vốn là dân ruộng, sống trong vùng xôi đậu, nên nó rành cái chuyện nầy hơn tui, vốn là dân thành hồi nhỏ tới giờ.

Hai đứa ngồi nhâm nhi được vài chai. Chừng 5 giờ chiều, nhìn ra lộ đá thấy du kích mặc áo bà ba đen, quần ni long dầu, đi cẳng không, cầm súng AR 15, lấy được ở mấy cái đồn nghĩa quân của mấy xã vùng ven đi cóm róm.

Giáo Tổng lẳng lặng bỏ mấy chai Lave còn lại xuống mép sông.

Nó sợ xanh mặt cũng phải vì sau nầy nghe nói: Hồi năm Tết Mậu Thân 1968, bọn cán bộ ghé nhà nó trong Xã Kế An kêu tham gia cách mạng thì nó cười hì hì: Thuyền cách mạng đang mắc cạn. Chừng nào chạy được nó sẽ tham gia.

Xong nó vọt tuốt ra chợ Quận làm giáo chớ không dám léo hánh về nhà nữa, vì nghe rằng mấy thằng Xã ủy họp dân lại, kết án khiếm diện Giáo Tổng tội tử hình vì…dám chọc quê cách mạng. He he!

Trở lại với chuyện Thiếm Năm, vợ Chệt Ám, thì thuở đó kép Minh Tấn rề rà tính nhào vô cho ấm tấm thân và có tiền của em yêu cho lập gánh hát để trở thành Bầu gánh.

Nhưng đâu ngờ là người đẹp cũng trong tầm ngắm, chấm tọa độ tính bắn cái ‘bùm’ của ông Quận…

Nên đêm đó sau khi vãn hát, kép Minh Tấn tính bò đi khám điền thổ thì bị lính Quận phục trước.

Doi nghe si 04“Bất ngờ nghe tiếng la lớn: “Ai đó? Ðứng lại!” “Trong nhà đốt đèn lên, xét tờ khai gia đình!” Rồi tiếng lên cò súng rốp rốp, kép Minh Tấn sợ quá té xuống sông, không dám lên nên đội giề lục bình, tính bơi về mé sau cửa rạp rồi leo lên bờ. Thì bị mấy ổng bắt lên, dọng cho mấy báng súng. Ông Quận dặn biểu bắn dọa thôi chớ không thì kép Minh Tấn ăn đạn rồi.

“Ðến xứ người mà muốn ăn vụng thì cũng phải dò xét coi món đồ quý đó là của ai chứ! Ðừng có đi quá giờ giới nghiêm, đừng có đi vô những vùng đất cấm.

Ông Quận biểu chúng tôi cho thằng cà chớn nầy một bài học, nhốt nó một đêm  thôi!”

Biết rồi mới cảm thương cho đời nghệ sĩ!

Phần 2. Mỗi phát súng, một tên địch?

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Một năm trước, tôi đóng quân tại căn cứ tại Đội SEAL số 6 ở bờ biển Virginia, Virginia. Trong thời gian trực chiến, tôi để tóc dài hơn so với quy định của lính Hải quân, vì thế tôi có thể đi đến bất cứ nơi đâu trên trái đất này mà không sợ bị phát hiện ra là một quân nhân. Tôi thường cạo râu nhẵn nhụi. Mặc dù trong lần triển khai dàn quân tới Na Uy cùng Đội SEAL số 2, tôi đeo râu giả, nhưng thực sự tôi không thích để râu mọc trên mặt tẹo nào.

Trong thời gian chờ lệnh triệu tập, tôi luyện tập tại khu nhà được gọi là “nhà tiêu diệt” (kill house)

– khu vực được sử dụng để huấn luyện chống khủng bố trong đô thị và tại trường bắn.

Sau giai đoạn trực chiến sẽ là khoảng thời gian ba tháng huấn luyện cá nhân, khi đó chúng tôi được phép rời đoàn và đến các trường học như Trường bắn Bill Rogers, Trường lặn, leo tự do hay bất cứ nơi nào mà chúng tôi phải đến. Điều tuyệt vời khi là thành viên Đội SEAL số 6 là tôi có thể theo học tại hầu hết mọi ngôi trường tốt nhất, ở bất cứ đâu nếu tôi muốn. Giai đoạn huấn luyện cũng là cơ hội tốt cho chúng tôi tranh thủ nghỉ ngơi, có thể là một kỳ nghỉ ngắn với gia đình – những dịp như thế đặc biệt quý giá đối với người vừa trở về từ những nhiệm vụ ở nước ngoài. Sau đó, chúng tôi có ba tháng tập trung để huấn luyện theo đội hình chung tại trường học lặn, nhảy dù và bắn súng. Sau mỗi nội dung huấn luyện, chúng tôi tham gia tác chiến giả để áp dụng những kỹ năng vừa học được.

Một buổi tối nọ, tôi ngồi trong một nhà hàng Pizza được gọi là Phòng chờ (giống như địa điểm mà Charlie Sheen và Michael Biehn đã đứng bên ngoài để tranh luận trong phim Navy SEAL (tạm dịch: Biệt đội hải sư)) và nói chuyện về golf với Blake, cậu con trai 7 tuổi của tôi và một anh chàng lắm chuyện vui tính có biệt danh là Smudge. Giai điệu của ban nhạc Def Leppard phát ra từ máy hát. Chúng tôi thưởng thức món xúc xích tiêu, lạp xưởng và bánh pizza hành – những món ưa thích của tôi. Trong giai đoạn trực chiến, tôi không được phép uống quá 2 cốc bia. Ở Đội SEAL số 6, chúng tôi phải tuân thủ nghiêm túc các quy định ngặt nghèo.

Đồ uống ưa thích của chúng tôi là bia Coors Light. Mỗi khi đi chơi theo nhóm, tôi và đồng đội đều ngụy trang thành vận động viên của Đội nhảy dù nghệ thuật Bia Coors Light. Chuyện ngụy tạo ấy được dùng để giải thích cho việc vì sao 30 gã trai lực lưỡng, đẹp trai, lại vào quán với dép tông, quần soóc, áo ba lỗ và dao Spyderco CLIPIT ở túi trước. Mỗi khi chúng tôi vào quán, tức thì những gã trai ở đó đều chuyển sang dùng bia Coors Light, rồi sau đó đám phụ nữ cũng chuyển sang dùng đồ uống này. Đáng lẽ hãng Coors nên tài trợ cho chúng tôi mới phải! Vỏ bọc này rất an toàn vì chúng tôi có thể trả lời mọi câu hỏi về nhảy dù biểu diễn. Không những vậy, trong quán, chúng tôi chỉ nói chuyện tầm phào nên chẳng ai quan tâm.

Khoảng 7 rưỡi tối, ngay trước khi thưởng thức xong món Pizza với bia Coors Light, tôi nhận được tin nhắn: T-R-I-D-E-N-T-0-1-0-1. Đây là mật mã có nghĩa: “Có mặt tại căn cứ Đội SEAL số 6.” Mật mã luôn báo cho tôi biết cần phải đến căn cứ nào. Lần này tôi phải lên máy bay ngay.

Tôi sẽ nhận túi quân trang của mình trên máy bay. Mỗi chiếc túi đều được buộc và sơn màu sắc theo mã cho từng nhiệm vụ cụ thể. Nếu trước đó tôi không gói ghém chính xác mọi thứ, tôi sẽ không nhận được đúng túi quân trang của mình. Khi tham gia tác chiến, mỗi chúng tôi phải quên đi những chiếc giường êm ái, thay vào đó là những túi ngủ để ngăn nước ngấm vào bên trong. Giấc ngủ tuyệt vời của lính bắn tỉa thực tế chẳng dễ chịu chút nào.

Trong suốt thời gian trực chiến, chúng tôi thực hiện chế độ tập trung trong một giờ. Dù ở đâu đi chăng nữa, tôi cũng chỉ có không quá một giờ trên máy bay và ngồi nghe tóm tắt nhiệm vụ. Giờ thì thời gian đã bắt đầu đếm ngược. Hai cha con tôi nhanh chóng lên xe − một chiếc Pontiac Grand Am màu bạc. Tôi lái xe về nhà ở ngay phía cuối con đường xuất phát từ Phòng chờ. Về đến nhà, vợ tôi, Laura vặn vẹo: “Anh đi đâu đấy?”

Tôi nhún vai trả lời: “Anh không biết”. “Thật không đấy”, Laura hỏi.

“Không biết; và nếu có biết thì anh cũng không thể nói cho em biết được. Gặp lại em sau nhé.”

Smudge đón tôi tại nhà và thả tôi xuống phi trường của Căn cứ Không quân − Hải quân Oceana. Mắt tôi đảo quanh một chiếc máy bay C-130 mà bên trong tối thui. Có một vài máy bay phản lực được trang bị thiết bị hỗ trợ cất cánh (JATO) nhằm giúp nó cất cánh khỏi đường băng và vút lên không trung rất nhanh. Đây là thiết bị cần thiết khi máy bay của bạn đang là mục tiêu bị tấn công. Nếu có sự đồng hành của JATO, tôi biết ngay rằng nơi tôi sắp phải tới không dễ chịu chút nào. Tuy nhiên, lần này máy bay chúng tôi không được trang bị JATO.

Tôi có mặt trên máy bay sớm hơn nhiều so với giờ chót là 8 giờ rưỡi. Bên trong máy bay, đèn bị tắt hết. Dưới ánh sáng màu đỏ từ chiếc đèn pin, tôi quan sát và chắc chắn những chiếc túi quân trang của mình đã được chuyển lên cũng như đảm bảo chúng đã được sắp xếp chính xác. Tôi cố ghi nhớ vị trí của chúng để quay lại lấy khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ.

Ba lính bắn tỉa khác tham gia cùng tôi là Casanova, Gã Mập lùn (Little Big Man) và Sourpuss. Trong đội SEAL, hầu hết mọi người được gọi theo biệt danh. Tôi bị một số người gọi là Waz-man. Số khác thì thích gọi tôi là Howie, nhưng nếu họ gọi tôi bằng cái tên thứ hai tôi sẽ không bao giờ trả lời. Thường thì mỗi biệt danh được đặt theo một hành động ngớ ngẩn nào đó của chủ nhân mang biệt danh, giống như việc phải có lý do thì một anh chàng mới bị gọi là “Drippy” (sướt mướt). Cũng có những cái tên khó đọc như Bryzinski lại được mọi người gọi thành “Alphabet”. Một người bạn của chúng tôi ở Đội 2 lại được gọi là “Tripod” (Ba chân).

Casanova là bạn bắn phối hợp ăn ý của tôi. Chúng tôi đã làm bạn với nhau kể từ khi còn là học viên ở Trường đào tạo lính bắn tỉa tại Quantico, Virginia. Casanova đúng là gã sát gái. Đàn bà ném váy vào mặt anh ta còn nhiều hơn là ném xuống thảm phòng ngủ. Gã Mập lùn có tiếng là anh chàng phức tạp, điều này lý giải tại sao anh ta luôn kè kè con dao Randall có chuôi lớn bên hông. Mọi người thường trêu anh ta là “tiểu nhân, đại đao”. Sourpuss là một tay lính kỳ cựu nhưng không có điểm gì đặc biệt. Anh ta là người duy nhất trong đội chúng tôi không bao giờ pha trò hay thích thú với chuyện pha trò, chỉ chăm chăm sớm trở về với “vợ yêu” và có vẻ như chẳng quan tâm gì đến nhiệm vụ sắp tới hay những gì diễn ra với chúng tôi. Sourpuss cũng suốt ngày kêu ca nên chẳng ai trong chúng tôi có cảm tình với anh ta cả.

Cả bọn chúng tôi cùng ngồi trước một bảng kẹp giấy ngay cạnh buồng lái. Chỉ có bốn chúng tôi, có lẽ là một phi vụ tầm cỡ thế giới. Người đàn ông đang tóm tắt nhiệm vụ là người tôi chưa từng gặp bao giờ, có lẽ ông ta đến từ Bộ Chỉ huy Đặc nhiệm Liên quân (JSOC). Ông ta trông có vẻ quá nghiêm túc. Có nhiều khi trong lúc đang được giao nhiệm vụ, có tiếng cười khúc khích vang lên trong đội. Người giao nhiệm vụ có thể đùa một câu về anh chàng vừa cười với giọng hơi châm chọc, kiểu như: “OK, chúng ta sẽ đi tuần tra tại đây khoảng vài giây. Đây là nơi anh chàng Jimbo xả nước lần thứ nhất. Rồi đằng kia sẽ là nơi cậu ấy làm bậy lần hai.” Nhưng lần này, không có cú pha trò nào cả. Tất cả đều im lặng.

Sau thất bại trong nỗ lực giải cứu 53 người Mỹ bị bắt làm con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Iran năm

1980, người ta thấy rõ rằng Lục quân, Hải quân, Không quân và TQLC không thể phối hợp tác chiến hiệu quả trong các nhiệm vụ tác chiến đặc biệt. Năm 1987, Bộ Quốc phòng Mỹ quyết định tập hợp tất cả các lực lượng tác chiến đặc biệt của các quân binh chủng thành một đội, kể cả những đơn vị tinh nhuệ như Đội SEAL số 6 và lực lượng Delta. JSOC là cơ quan lãnh đạo chúng tôi.

Người chỉ huy từ JSOC lật tấm bản đồ để chuyển sang một bức ảnh chụp từ trên cao và nói: “Được rồi, thưa các anh, đây là chiến dịch TCS.” Hóa ra Thiếu tướng William F. Garrison, người đứng đầu JSOC điều chúng tôi đi thực hiện nhiệm vụ Điều kiện và Tiêu chuẩn (Task Conditions and Standard – TCS). Tướng Garrison lại chơi khăm chúng tôi rồi. Liệu chúng tôi có đủ sức làm được những điều mà bản thân tuyên bố – bất cứ việc gì, bất cứ khi nào, dưới mọi điều kiện, bao gồm cả tiêu diệt mục tiêu cách mình 800m không?

Người của JSOC tiếp tục: “Các bạn sắp thực hiện nhiệm vụ HALO đêm nhắm vào một mục tiêu định sẵn.” HALO có nghĩa là bay cao bung thấp, tức là chúng tôi sẽ nhảy ra từ máy bay và rơi tự do xuống gần mặt đất mới bung dù. Cách nhảy dù này cho phép người dưới mặt đất chỉ nghe hoặc thấy máy bay đang bay quanh khu vực đó mà thôi. Đối với cách nhảy bay cao bung cao (HAHO), chúng tôi sẽ nhảy ra từ độ cao gần 10.000 m, rơi tự do khoảng 5 giây rồi bung dù và tiếp tục bay lượn khoảng 65 km nữa trước khi tiếp đất, cách nhảy dù này giúp chúng tôi tránh bị phát hiện hơn. Trong một lần nhảy dù huấn luyện tại hai thành phố Pheonix và Tucson, Arizona − nơi cách địa điểm hiện tại hơn 160 km, chúng tôi rơi cách nhau khá xa. Khi nhảy HAHO, bạn phải đối mặt với cái lạnh cắt da cắt thịt ở độ cao gần 10.000m và cái lạnh đó còn kéo dài khá lâu. Khi xuống đến mặt đất, tôi phải kẹp tay vào nách để sưởi ấm. Nhưng lần này chúng tôi nhảy HALO nên cái lạnh không còn là vấn đề nữa.

Người hướng dẫn của JSOC chỉ cho chúng tôi xem lộ trình bay, điểm nhảy dù và quan trọng hơn là điểm đáp đất. Tại vị trí đáp, chúng tôi phải thực hiện các thao tác giấu dù. Ông ta thông báo cho chúng tôi địa điểm cất dù sau khi tiếp đất. Khi ở trên lãnh thổ của địch, chúng tôi thường đào hố để chôn dù, nhưng do đây chỉ là một cuộc thao diễn, nên chúng tôi không phải đào hố chôn những chiếc dù trị giá vài nghìn đô-la này.

“Đây là tuyến đường các anh sẽ hành quân vào.” Ông ta thông báo chúng tôi chỉ có tối đa 10 phút để tiêu diệt mục tiêu khi nó xuất hiện tại cửa sổ. Nếu đến muộn hoặc bỏ lỡ thời điểm mục tiêu xuất hiện hay bắn trượt, chúng tôi sẽ không có cơ hội thứ hai. Một viên đạn, một tên địch.

Chúng tôi cởi bỏ đồ dân sự. Giống như mọi thành viên khác của Đội SEAL, tôi cũng thực hiện nhiệm vụ đột kích với trang phục dân sự mà không có áo chống đạn. Khi thực hiện nhiệm vụ bắn tỉa, tôi thường mặc quần xanh chất liệu polypro hiệu North Face, kể cả khi tác chiến vào mùa đông, để chống muỗi. Chúng tôi mặc quần áo rằn ri xanh lá cây và ngụy trang từ đầu tới chân. Với bít tất, tôi chọn loại tất len. Sau thời gian huấn luyện tác chiến mùa đông với Đội SEAL số 2, tôi hiểu được giá trị của một đôi tất tốt, vì thế tôi luôn mua những đôi tất dân sự tốt nhất và đi giày cao cổ. Tôi cất mũ ngụy trang vào trong túi quần để dùng khi hành quân. Mũ ngụy trang có vành rộng và móc đính xung quanh vành để gắn cành cây ngụy trang. Ở ngăn đựng dao trên thắt lưng, tôi găm con dao hiệu Swiss Army, đây là loại dao duy nhất tôi sử dụng khi thực hiện tác chiến bắn tỉa. Tôi sử dụng bộ đồ nghề quân trang nhỏ như hộp trang điểm của phụ nữ để bôi xanh (đậm và nhạt) mặt mình. Tôi cũng dùng nó để bôi vào tay, nhưng chỉ khi không đeo đôi găng tay phi công có tác dụng giữ ấm hiệu Nomex mà thôi.

Đốt thứ nhất của ngón cái và ngón trỏ ở găng tay phải đã được cắt đi vì nó giúp tôi có cảm giác tốt nhất để điều chỉnh kính ngắm, lên đạn cũng như khi lên cò.

Vũ khí đeo hông của tôi là súng ngắn Hải quân mang số hiệu SIG SAUER P-226 9mm. Các bộ phận bên trong của loại súng này có lớp sơn bề mặt chống ăn mòn phốt phát, màu sắc của súng tương phản nhau với hình ảnh của chiếc mỏ neo được khắc ở thanh trượt. Hộp tiếp đạn của nó chứa được 15 viên. Được thiết kế riêng cho lực lượng SEAL, nó là loại súng ngắn tốt nhất mà tôi từng sử dụng. Thực tế tôi đã thử hầu như tất cả các loại súng hàng đầu của lực lượng SEAL. Hiện tôi đang có một hộp tiếp đạn lắp sẵn ở súng và hai hộp nữa đeo ở thắt lưng. Những trang thiết bị khác gồm bản đồ, la bàn và một đèn pin chiếu ánh sáng màu đỏ. Trong tác chiến thật, chúng tôi có thể sử dụng máy định vị GPS, song lần này Tướng Garrison muốn kiểm chứng kỹ năng sử dụng bản đồ và la bàn của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang theo túi nhỏ đựng các thiết bị y tế được gọi là túi y tế.

Không mang áo chống đạn khi tiến hành nhiệm vụ bắn tỉa thực địa như lần này, thay vào đó chúng tôi phải vận dụng khả năng ngụy trang của mình. Nếu thực hiện nhiệm vụ trong đô thị, chúng tôi sẽ mặc áo chống đạn và đội mũ bảo hiểm. Mỗi người đều mang theo nước được đựng trong CamelBak. Đó là một bóng nước đeo ở sau lưng, có ống hút chạy qua vai để người sử dụng có thể hút nước uống mà không phải dùng đến tay.

Chúng tôi dùng loại súng trường Winchester Magnum .300. Loại súng này có đường đạn ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài, đường cong của đạn đạo thấp và tầm bắn xa. Nó có sức mạnh hạ gục đối phương lớn hơn nhiều so với các loại súng trường khác. Nếu phải tiêu diệt mục tiêu cứng, ví dụ như động cơ của một phương tiện nào đó, tôi sẽ sử dụng súng trường 50 caliber, nhưng với mục tiêu là người, lựa chọn tốt nhất là Win Mag .300. Tôi đã lắp sẵn bốn viên đạn vào súng. Khi tiếp cận mục tiêu, tôi sẽ thêm viên đạn thứ năm vào ổ đạn. Hiện giờ trên người tôi đang có 20 viên đạn loại này nữa.

Tôi sử dụng kính ngắm bắn tỉa loại Leupold 10-power. Power là chỉ số phản ánh số lần mục tiêu ở gần mình. Như vậy thì với chỉ số 10-power, mục tiêu trong kính ngắm sẽ bằng 1/10 so với khoảng cách trên thực tế. Ký hiệu chấm millimet trên kính ngắm giúp tôi điều chỉnh khoảng cách. Chúng tôi cũng được trang bị thiết bị ống nhòm đo khoảng cách bằng tia laser chính xác gần như tuyệt đối, nhưng trong nhiệm vụ lần này chúng tôi không được sử dụng thiết bị đó. Phía trên kính ngắm Leupold, tôi gắn thêm một kính ngắm bắn đêm KN- 250.

Mặc dù Đội SEAL số 6 cũng có lúc sử dụng đạn xuyên thấu và đạn xuyên thấu đốt cháy, nhưng với nhiệm vụ lần này chúng tôi sử dụng loại đạn match − loại đạn tròn đối xứng. Loại đạn này đắt gấp bốn lần đạn thông thường và có tác dụng sát thương tương đương như loại đạn Win Mag do Winchester sản xuất.

Đối với các nhiệm vụ khác, chúng tôi sẽ mang theo máy liên lạc vệ tinh mã hóa LRT-5, nhưng đêm nay là tác chiến ngắn, do đó chúng tôi không phải báo cáo về trung tâm. Chúng tôi chỉ việc xâm nhập, nổ súng và rút lui. Chúng tôi mang theo máy liên lạc MX-300. Chữ X ở đây không phải là viết tắt của từ tiếng Anh “excellent” nghĩa là “tuyệt vời” mà nó là viết tắt của từ “experimental” –“thử nghiệm”. Loại máy liên lạc này vẫn có thể hoạt động dù bị ướt hay khi ở nhiệt độ thấp. Từ vị trí bắn tỉa, chúng tôi có thể trao đổi qua bộ đàm và dễ dàng tìm thấy nhau. Đội SEAL số 6 luôn sử dụng những trang thiết bị đời mới tối tân nhất.

Là chuyên gia nhảy dù, tôi có trách nhiệm kiểm tra dù của anh em. Đó là loại dù MT-1X, chữ X ở đây cũng không phải là từ viết tắt của từ “excellent”.

“Còn 30 phút”, chỉ huy nhóm nhảy dù thông báo.

Nếu có nhu cầu đi vệ sinh, thì tôi có thể “giải quyết” nhờ một chiếc ống tiểu được gắn trên tường.

Tôi không có nhu cầu, vì thế tôi tranh thủ chợp mắt. “Còn 10 phút”, thông báo cất lên.

Tất cả đều thức giấc.

“Còn 5 phút”. Lúc này thang ở phần đuôi của chiếc C-130 từ từ được hạ xuống. Tôi kiểm tra lại lần cuối dù của từng người. Chúng tôi di chuyển về phía thang nhưng chưa bước xuống thang.

Khi thang được hạ xuống, âm thanh quá ồn khiến chúng tôi không thể nghe thấy gì. Lúc này chúng tôi phải sử dụng ngôn ngữ cử chỉ. Khi còn 3 phút, tôi quay mặt về phía thang. Nhớ lại bức ảnh chụp từ trên cao vừa xem khi tóm tắt nhiệm vụ, tôi nhìn xuống dưới để đảm bảo rằng máy bay đang bay qua khu vực mà chúng tôi phải xuống.

“Còn một phút”. Lúc này mọi thứ trên mặt đất có vẻ quen thuộc hơn. Tôi rất tin tưởng vào phi công, nhưng do đã nhiều lần trước đây tôi phải cuốc bộ, nên tôi muốn xác nhận lại điểm hạ cánh.

“Còn 30 giây!” Máy bay hơi rung lắc. Tay trái của tôi giữ chặt vào thang, tay phải ra tín hiệu. Hướng ánh mắt vào bên trong máy bay, tôi giơ năm ngón tay lên, rồi đấm mạnh về phía bên phải nhằm ra tín hiệu chỉ đạo nhảy. Người chỉ huy yêu cầu phi công bẻ lái sang phải 5 độ. Nếu tôi giơ hai lần năm ngón tay, anh ta sẽ bẻ lái 10 độ. Tôi chưa lần nào cần phải bẻ lái hơn 10 độ cả, thậm chí có nhiều khi còn không cần phải điều chỉnh. Thật tuyệt khi được bay với phi công giỏi.

Đèn trên thang chuyển từ đỏ sang xanh. Lúc này chính là thời điểm để quyết định nhảy. Tất cả chúng tôi mất khoảng 5 giây để nhảy khỏi máy bay.

Tôi ra tín hiệu cho đồng đội. Gã Mập lùn là người đầu tiên nhảy ra khỏi máy bay, hiện tại đang ở độ cao khoảng 3.000m. Chúng tôi thường nhảy theo thứ tự từ nhẹ nhất đến nặng nhất để tránh trường hợp vị trí người nặng nhất đáp đất cách xa những người còn lại. Người nhảy tiếp theo là Sourpuss, rồi tiếp là Casanova. Tôi là người nhảy cuối vì với cương vị nhóm trưởng, tôi phải đảm bảo rằng tất cả đồng đội đều đã ra khỏi máy bay, hay trợ giúp khi có người bị mắc kẹt… Khi ở trên không, ba lô dù được buộc dây luồn ra phía trước ngực. Đã có lúc tôi nghĩ: Lạy Chúa cho cái thứ quái quỷ này hoạt động. Có lẽ trong khoảng 100 lần nhảy đầu, tôi đã luôn cầu nguyện: Cầu Chúa, xin hãy bung dù ra. Đến bây giờ, tôi đã có hàng trăm lần rơi tự do và tôi luôn tự gấp dù của mình. Một số người gặp phải tình huống dù chính không bung, do đó phải sử dụng dù phụ, nhưng tôi không nằm trong số đó. Dù của tôi luôn mở đúng lúc. Tôi chưa bao giờ bị thương, dù chỉ là một ngón chân, mặc dù tôi đã nhảy tổng cộng 752 lần.

Tôi điều chỉnh cơ thể để đáp xuống gần vị trí quy định. Sau khi rơi tự do khoảng gần một phút, tôi bung dù khi cách mặt đất khoảng 1.000m. Ở độ cao khoảng 800m, dù của tôi đã bung ra hoàn toàn. Tôi

nhìn ngược lên để kiểm tra dù và nới lỏng dây nối với ba lô cho dễ thở. Hai chân giúp tôi cân bằng

sức nặng của ba lô. Tôi bật thiết bị nhìn đêm (NOD) của mình lên. Ánh sáng hồng ngoại rực sáng phía sau mũ bão hiểm của chúng tôi. Bình thường thì ánh sáng này được tạo ra từ những thanh nhựa phát sáng (glow stick). Thanh nhựa được uốn cong cho đến khi những hạt thủy tinh dễ vỡ ở bên trong vỡ ra, sự pha trộn của hai hợp chất hóa học này tạo ra ánh sáng đó. NOD phát ra ánh sáng hồng ngoại mà mắt thường không nhìn thấy được. Chúng tôi chỉnh hướng bay xếp chồng lên nhau. Phía trên Gã Mập lùn là Sourpuss, trên Sourpuss là Canasova. Trên nữa là tôi. Vị trí dù của chúng tôi xếp theo hình bậc thang khi hướng tới mục tiêu.

Khi gần tới mặt đất, tôi tách dù ra khỏi nhóm và từ từ hạ thấp độ cao. Tôi nới lỏng ba lô để nó không kéo ngã tôi khi tiếp đất. Gã Mập lùn tiếp đất đầu tiên. Do không có tác động của gió, dù của anh ta nghiêng 10 – 12 độ và ngay lập tức bị vùi trong cát bụi. Anh ta nhanh chóng thoát ra khỏi dù và sẵn sàng vũ khí, trong khi Sourpuss là người tiếp theo hạ cánh. Tương tự, Sourpuss cởi dù và chuẩn bị vũ khí. Casanova và tôi hạ cánh tiếp sau ngay trên dù Gã Mập lùn và Sourpuss. Cả bốn chúng tôi cùng hạ cánh trên một khu vực có diện tích rộng bằng một phòng khách. Gã Mập lùn và Sourpuss mỗi người cảnh giới một bên góc 180 độ, trong khi Casanova và tôi cởi dù. Sau khi tất cả đã giấu xong dù, tôi dẫn đầu cả nhóm thoát khỏi khu vực này. Giám sát viên của JSOC đang đâu đó quanh đây chờ đợi nhằm phát hiện ra việc chúng tôi đi đường tắt. Cảm giác cám dỗ cứ xúi chúng tôi chơi trò bịp này, khi đó cả bốn chúng tôi có thể tháo dù cùng một lúc mà không phải bắt hai người đứng cảnh giới và có thể chúng tôi sẽ tiết kiệm được năm phút trong tổng thời gian tác chiến của mình. Tuy nhiên việc làm đó quá mạo hiểm và không đáng nếu bị giám sát viên phát hiện. Chúng tôi đều hiểu rằng tốt hơn là nên tập trung như đang ở trên lãnh địa của quân thù. Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.

Gió thổi mưa táp vào mặt chúng tôi. Thời tiết này đúng là lý tưởng để dung thứ cho những sai lầm chiến thuật, khi chỗ này xuất hiện tiếng động, rồi chỗ kia là một cử động đột ngột. Chúng tôi hành quân khoảng gần 1 km, sau đó dừng lại ở điểm tập kết. Gã Mập lùn và Sourpuss cảnh giới, trong khi tôi và Canasova mở ba lô, lôi ra áo ghi lê và quần áo ngụy trang trông giống như một tán lá nặng nề được làm từ vải lòng thòng. Mỗi chúng tôi đều tự tay làm ra trang phục của mình, mỗi người có 2 bộ, một để dùng khi tác chiến trong rừng và một trên sa mạc. Tôi thay mũ tai bèo ngụy trang bằng mũ lưỡi trai ngụy trang. Trong lựa chọn trang phục, yếu tố quan trọng là phải làm sao để giúp mình hòa vào môi trường xung quanh. Trong môi trường tác chiến đô thị, màu trang phục thường tối để giống với màu đất, do đó quần áo có hai tông màu sẽ rất hiệu quả, quần dài ngụy trang màu tối như rừng nhiệt đới và mũ ngụy trang sáng màu cát sa mạc.

Casanova và tôi kiểm tra màu sơn tác chiến của nhau: tay, cổ, tai và mặt. Khi sơn màu lên da, điều quan trọng là phải làm cho mình xuất hiện trái ngược hoàn toàn so với một người bình thường, tức là biến màu tối thành sáng và biến màu sáng thành màu tối. Điều đó nhằm đảm bảo cho các phần của khuôn mặt tạo thành bóng (như là hốc mắt) biến thành màu xanh nhạt và những điểm phát sáng (trán, má, mũi, lông mày và cằm) biến thành màu xanh đậm. Nếu mặt của lính bắn tỉa vô tình bị phát hiện, thì nó không nên giống như một khuôn mặt. Chúng tôi phải biến mất và trở nên vô hình.

Chúng tôi chia làm hai cặp và đi theo hai tuyến đường khác nhau tới điểm đích. Thậm chí nếu một cặp có lỡ mất thời cơ, thì cặp còn lại vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ. Tôi và Casanova âm thầm tiến lên xuyên qua màn đêm tới đích. Mỗi người dò dẫm từng bước tiến về phía trước, hai bàn chân luôn thẳng hướng, loại bỏ tất cả mọi chướng ngại vật, cảm nhận được cả những cành con hay bất cứ thứ gì mà chúng tôi giẫm lên. Tiến từng bước ngắn, tôi dùng cạnh ngoài bàn chân, chầm chậm chuyển từ mũi bàn chân sang gót bàn chân tiến về phía trước.

Chúng tôi tới khu vực trống, theo xác định là cách mục tiêu khoảng 900m. Casanova và tôi dựng lều trên mặt đất. Do vẫn giữ cự ly với nhau nên chúng tôi không bị trông giống như những đốm sáng đang chuyển động khi bò thấp. Chúng tôi phải di chuyển đủ chậm để không bị phát hiện, nhưng cũng phải đủ nhanh để kịp đến nơi và nổ súng. Tôi cẩn thận giữ cho nòng súng trường không cắm xuống đất vì bụi bẩn sẽ làm giảm độ chính xác của nó, nhưng đồng thời cũng không để nòng súng chĩa lên trời vì sẽ làm lộ vị trí của chúng tôi. Tôi nằm sấp, tay và chân phối hợp nhịp nhàng trườn về phía trước. Mặt tôi sát đất đến mức mà nó đẩy cả bùn đi theo khi tiến lên. Mỗi lần trườn, tôi tiến được khoảng 15 cm. khi tôi và mặt đất gần như hòa làm một, tôi xóa bỏ hết tất cả mọi suy nghĩ khỏi đầu. Trong suốt quãng đường đó, tôi thường tự nhủ: Tôi và mặt đất là một, tôi là một phần của Mẹ Đất.

Nếu tôi thấy mục tiêu hay đội tuần tra, tôi sẽ không nhìn trực tiếp hay nghĩ về nó. Chúng ta biết rằng loài hươu đực thường hít hít và nhảy chồm chồm trên mặt đất vì nó chỉ có thể ngửi thấy mùi của bạn chứ không thể xác định được vị trí của bạn. Nó hít hít và nhảy chồm là nhằm bắt bạn phải chuyển động để nó xác định vị trí của bạn. Con người không có khả năng bắt mùi như loài hươu, song họ có giác quan thứ sáu: biết mình có bị theo dõi hay không. Tất nhiên thì một số người có khả năng cảm nhận tốt hơn người khác. Khi bạn nghĩ là mình đang bị theo dõi và nhìn quanh để xác định ai đang làm điều đó, tức là bạn đang sử dụng giác quan này. Các tay súng bắn tỉa nếu không muốn đánh thức giác quan này của kẻ thù thì nên tránh nhìn trực tiếp vào mục tiêu. Khi đến thời điểm nổ súng đến, tất nhiên là tôi sẽ nhìn thẳng vào mục tiêu qua tâm ống ngắm; thậm chí ngay cả lúc đó thì tôi cũng chỉ nên tập trung vào tâm ống ngắm mà thôi.

Tôi ngừng lại trong giây lát rồi tiếp tục trườn. Cuối cùng khi mục tiêu cách chúng tôi ước lượng chừng gần 500 m, chúng tôi đã tới được điểm bắn cuối (FFP). Lúc này là 2 giờ 20. Tôi kéo khăn trùm lấy ống ngắm nhằm không để xuất hiện đường sáng do đầu tôi và ống ngắm ban đêm tạo ra. Nếu bạn chưa từng nằm trong một vũng đầm với áo ghi lê ướt sũng, trong tiết trời mưa tầm tã với gió rít gào, trong khi phải liên tục giương mắt nhìn vào ống ngắm và thực hiện công việc của mình, thì bạn hẳn đã bỏ lỡ mất những giây phút tuyệt vời nhất của cuộc đời.

Trước mặt chúng tôi là một ngôi nhà cũ kỹ. Đâu đó trong căn nhà này là mục tiêu của chúng tôi. Casanova và tôi thảo luận về tầm bắn, tầm nhìn… Chúng tôi sử dụng mã màu cho từng phía của ngôi nhà, bao gồm màu trắng cho mặt trước, màu đen cho mặt sau, màu xanh lá cho phía bên phải và màu đỏ cho phía bên trái của ngôi nhà. Màu dùng để mã hóa các phía bắt nguồn từ mã hóa tàu thủy, trong đó xanh lá nhạt dùng cho mạn phải của tàu, màu đỏ cho mạn trái. Chữ cái theo phát âm được dùng cho từng tầng, gồm Alpha, Bravo, Charlie, Delta… Cửa sổ được tính từ trái qua phải theo thứ tự một, hai, ba… Nếu ai đó di chuyển qua cửa sổ ở mặt trước trên tầng thứ hai, tôi sẽ ám hiệu về cái cửa sổ là: Trắng, Bravo, một. Do đó chúng tôi dừng nói chuyện tào lao để trao đổi một cách ngắn gọn và hiệu quả. Những khóa mã này quen thuộc đối với thành viên của Đội SEAL số 6, giúp chúng tôi nhanh chóng hiểu ý của nhau dù trước đó chưa từng cùng làm việc.

Chúng tôi cũng có một công thức, bao gồm các yếu tố kích thước, hoạt động, địa điểm, đơn vị, thời gian và trang bị của kẻ thù (viết tắt là SALUTE). Thông tin tuần tra của kẻ địch rất quan trọng đối với đội đột kích. Ví dụ, đội đột kích có thể xông vào ngay lập tức sau khi đội tuần tra đó trở vào trong. Nếu đội tuần tra chỉ có hai người, đội đột kích có thể sẽ quyết định bắt sống khi chúng đang tuần tra, hoặc ba lính bắn tỉa có thể ngay lập tức hạ hai tên lính tuần tra ở bên ngoài và mục tiêu ở bên trong.

Nếu đây là tình huống giải cứu con tin, chúng tôi sẽ ghi nhớ địa điểm con tin đang bị giữ, địa điểm của bọn khủng bố, của bọn chỉ huy, giờ ăn, giờ ngủ… Chúng tôi vẫn đang phải ngâm mình trong nước, lạnh lẽo và khổ sở, song chúng tôi không bị bắt phải thích điều đó mà là phải làm điều đó.

Tôi dùng ống nhòm tính toán kích thước khung cửa sổ theo đơn vị milimet. Biết rằng cửa sổ thường có chiều cao khoảng 1 m, tôi nhân kích thước đó với 1.000, sau đó chia theo vạch milimet trên

ống ngắm để xác định tầm bắn.

Một giám sát viên xuất hiện và hỏi “Tầm bắn tới mục tiêu là bao nhiêu?” “600 m” là câu trả lời của tôi.

Một người trùm mũ kín đầu, mặc chiếc áo măng tô quân đội xuất hiện ở cửa sổ − đó là mục tiêu, nhưng chỉ là một hình nộm. Thường thì chỉ một lính bắn tỉa trong cặp đôi nổ súng, những người còn lại có nhiệm vụ ghi lại thông tin, xác định mục tiêu và bảo vệ xung quanh. Nhưng lần này cả bốn chúng tôi đều nổ súng. Tướng Garrison muốn biết liệu mỗi người có làm được điều mà chúng tôi đã cam kết hay không. Tôi nghe tiếng súng nổ từ cặp kia. Mỗi người chỉ có duy nhất một lần bắn thử, gọi là phát đầu. Cú bắn đầu tiên luôn kém nhất vì viên đạn xuyên qua nòng súng lạnh. Sau khi viên đạn thứ nhất làm ấm nòng súng, thì phát bắn tiếp theo sẽ chính xác hơn, nhưng Tướng Garrison không cho chúng tôi bắn phát thứ hai. Quân thù cũng đâu cho chúng tôi thực hiện điều đó.

Một giám sát viền kiểm tra mục tiêu nhưng không thông báo kết quả cho chúng tôi. Rồi phát đạn thứ hai nổ, tương tự đội tôi không hề biết kết quả. Bây giờ đến lượt cặp chúng tôi. Casanova nằm bên phải tôi, đủ gần để tôi có thể nghe được tiếng anh thì thầm nếu cần. Khoảng cách cũng đủ gần để chúng tôi xem chung một bản đồ. Với vị trí hiện tại, Casanova có thể xác định được vệt khói do đường đạn tạo ra cũng như quan sát được viên đạn găm vào mục tiêu, nhờ đó anh sẽ giúp tôi chỉnh đường đạn chính xác cho phát bắn thứ hai. Tuy nhiên, chúng tôi phải chấp nhận năm ăn năm thua với một phát bắn duy nhất. Chỉ mới sáu tiếng trước thôi, tôi đang ngồi thưởng thức món pizza nóng hổi trong Phòng chờ ấm áp cùng con trai tôi. Còn giờ đây tôi đang ở trong khu rừng lạnh lẽo và ẩm ướt, giữa một nơi vô định và chỉ được nổ súng một lần duy nhất vào mục tiêu. Hầu hết mọi người chẳng ai có ý niệm gì về cường độ huấn luyện và yêu cầu cao về trách nhiệm đối với công việc của một lính bắn tỉa.

Báng súng trường nằm chắc chắn trong hốc vai phải của tôi. Tay bắn của tôi ghì chặt tay nắm báng súng, trong khi ngón tay cò từ từ áp sát cò súng. Khuỷu tay phía sau giúp tôi giữ cân bằng. Má tôi tiếp xúc vững chắc với vùng ngay trên tay nắm báng súng, tôi hít một hơi thật sâu. Sau khi thở ra một phần, tôi nín thở − một kỹ năng mà người nhái làm rất tốt, giữ cho phổi ổn định để nó không làm lệch đường đạn của tôi. Tôi phải nín thở đủ lâu để chỉnh tâm ngắm trúng mục tiêu, nhưng cũng không được phép quá lâu đến mức có thể làm mờ tầm nhìn và gây căng cứng cơ bắp. Ngón tay tôi từ từ tăng cò – pằng.Tôi cũng không chắc liệu mình có bắn trúng mục tiêu hay không. Điều này không giống như trong phim, khi mà viên đạn có thể làm đổ vật mục tiêu ngay lập tức. Trên thực tế, viên đạn đi xuyên qua thân thể nhanh đến mức mà có những lúc người bị bắn còn không cảm nhận được là họ bị bắn, giống như những gì mà tôi được chứng kiến rất nhiều ở Somali, với loại đạn 223.

Sau khi Casanova thực hiện phát bắn, chúng tôi bò thoát khỏi khu vực theo một lộ trình khác so với khi xâm nhập. Nếu ai đó đã phát hiện ra dấu vết của chúng tôi và chờ chúng tôi quay lại trên chính con đường đó thì họ sẽ phải đợi dài cổ. Chúng tôi hành quân tới khu vực hạ cánh đã xác định và chờ ở đó cho tới lúc trời sáng.

Khi trời sáng, chúng tôi lộ diện để trực thăng đón. Giám sát viên cung cấp mã hiệu thông báo nhiệm vụ đã chính thức kết thúc: “Tuna, Tuna, Tuna.” Giờ thì chúng tôi có thể xả hơi được rồi, chúng tôi đứng thẳng dậy, vươn vai, bẻ khớp xương, tự thư giãn và đùa giỡn với nhau. Một chiếc trực thăng Black Hawk đón chúng tôi tại một sân bay dã chiến, sau đó thả chúng tôi ở một sân bay gần đó. Tại đó chúng tôi lên máy bay.

Sau khi về tới Đội SEAL số 6, cả bốn chúng tôi chưa được về nhà ngay. Chúng tôi phải trả lời thẩm vấn, sau đó lau chùi vũ khí trang thiết bị, kiểm tra hư hại và sửa chữa nếu cần. Rồi sau đó sắp xếp trang thiết bị chuẩn bị cho lần tập trung kế tiếp để tập dượt hoặc tác chiến thật. Công việc này khiến chúng tôi mất khoảng ba giờ để chuẩn bị sẵn sàng trang thiết bị cho những phi vụ tiếp theo.

Bốn chúng tôi đi tới phòng chỉ dẫn phi công số 1100 để báo cáo với tâm trạng như những kẻ bại trận. Tướng Garrison cùng với đội trưởng Đội SEAL số 6, chỉ huy Đội Anh cả Đỏ (Red Team), phụ trách Đội Anh cả Đỏ và khoảng 8 tới 10 cán bộ chủ chốt khác của các đơn vị lân cận ngồi trước mặt chúng tôi. Tướng Garrison là một người không chọn con đường binh nghiệp mà chính quân đội đã chọn ông. Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông đã tới đó hai lần và được tặng thưởng Huân chương Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Đồng Bronze Star vì lòng dũng cảm và Huân chương với Trái tim Đỏ tía Purple Heart vì những thương tật trong chiến đấu. Ông đã tham gia vào Chiến dịch Phượng Hoàng (Phoenix Program) nhằm triệt phá mạng lưới lãnh đạo của VC. Sau đó, ông làm việc trong Cơ quan hoạt động hỗ trợ của tình báo quân đội Mỹ và lực lượng Delta từ năm 1985 đến 1989. Đó là một người đàn ông cao dong dỏng, tóc nâu được húi cua. Ông ta ngậm phân nửa điếu xì gà đen xịt trên mồm. Đó là vị tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội từ trước đến nay.

Đội trưởng của chúng tôi không thường xuyên tham gia vào các buổi trả lời thực hành huấn luyện, nhưng ông luôn muốn đảm bảo rằng những chàng lính hải quân của mình an toàn và quan trọng hơn là có phần trong buổi ăn tối cùng với Tướng Garrison.

Phụ trách Đội Anh cả Đỏ là Denny Chalker, có biệt hiệu là Snake − người từng là lính nhảy dù Airborne thế hệ 82 của quân đội; trước khi là tham gia Đội SEAL số 6, ông cũng là thành viên của đội SEAL và thuộc đơn vị chống khủng bố mang tên Echo Platoon của Đội 1. Ông là một chiến binh thực thụ.

Chúng tôi báo cáo tóm tắt về hoạt động trên máy bay, việc nhảy dù và về toàn bộ nhiệm vụ tấn công và hạ mục tiêu. Giám sát viên đã bí mật theo dõi khu vực hạ cánh xác định của chúng tôi. Họ thấy hai trong số chúng tôi cảnh giới trong khi hai người còn lại giấu dù. Thật may là chúng tôi đã thực hành giống như trong tác chiến thật. Tướng Garrison phát biểu: “Tin vui là kỹ năng tác nghiệp của lính bắn tỉa đơn vị anh rất tốt. Các anh đã ẩn nấp, di chuyển, hòa vào môi trường, đến được vị trí, quan sát và hoàn thành phát bắn. Nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì khi tất cả các anh đều bắn trượt mục tiêu. Anh báo với giáo viên giám sát là mục tiêu cách 600 m, trong khi thực tế là cách 742m. Một trong số các anh bắn trượt xa đến tận bậu cửa sổ. Niềm hy vọng duy nhất của các anh là quân địch chết vì đau tim hơn là vì bị bắn.”

Cả bốn lính bắn tỉa chúng tôi nhìn nhau, mặt mày xị xuống giống như vừa bị sút vào bụng.

Khuôn mặt của đội trưởng chảy xuống.

Tướng Garrison vẫn giấu chúng tôi hai điều. Thứ nhất là lính bắn tỉa thuộc Đội Anh Hai Vàng (Gold Team) cũng không thực hiện nhiệm vụ thành công. Chỉ huy nhảy dù của họ không chỉ đúng địa điểm cần nhảy, do đó lính bắn tỉa của Đội Anh hai Vàng phải hành quân xuyên qua rừng trên quãng đường dài 13 km để tới mục tiêu. Tuy nhiên khi họ tới được mục tiêu thì đã quá muộn, vì thời gian cửa sổ mở trong 10 phút đã hết từ lâu. Thậm chí họ còn chẳng bắn được phát đạn nào. Bí mật thứ hai là lực lượng Delta của Tướng Garrison cũng thất bại.

Nhưng vấn đề tồn tại lớn hơn là ở chỗ tại sao Đội SEAL số 6 phải đột nhập vào máy bay khi nó đang chuẩn bị cất cánh trong khi Delta thực hiện việc đó tốt hơn? Rồi tại sao Delta lại phải đột nhập tàu khi nó đang di chuyển trong khi Đội SEAL số 6 có thể làm việc đó tốt hơn?

Thăm Giòng Bến Hải

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Bài 12.

Để phục vụ cho công tác COLUMBUS, tôi phải học và thực tập cũng như nghiên cứu về cách tiếp xúc với các linh mục. Trong một xã hội với bao chế ngự trong chính sách kìm kẹp của Cộng Sản đối với người dân, các linh mục đã có nhiều kinh nghiệm xương máu, cho nên dù trong lòng có muốn tiêu diệt Cộng Sản đến đâu chăng nữa, cũng không thể vội vàng lớ ngớ tham gia vào những chuyện không mấy tin cẩn để thiệt thân, chết lây. Do đó, là một cán bộ tình báo miền Nam, trước hết tôi phải tỏ ra điềm đạm, bình tỉnh, đủ khả năng, bản lĩnh xoay chuyển tình thế nếu gặp sự bất thường. Thêm nữa, các linh mục là những người có địa vị, có học, vậy ít ra tôi phải có kiến thức về nhiều mặt của xã hội, cộng với tư cách, tác phong. Có như vậy, tôi mới khả dĩ lôi cuốn được các linh mục. Thế mà tôi lại không đủ sức, cho nên tôi rất băn khoăn.

Sau đấy, tôi thực tập rất nhiều buổi tiếp xúc với một, đôi người lạ, đóng vai các linh mục ở miền Bắc. Ông An cũng như ông Phan, và cả những người tôi phải tiếp xúc thực tập, đều nói:

–  Thế là Bình làm được rồi!

Tôi nghĩ, bắt buộc họ phải nói “được rồi,” chả lẽ nói “không hay chưa được,” làm sao tôi đi!

Tôi yêu cầu cho tôi được tiếp xúc với một người nào đó đã ra ngoài Bắc vửa mới trở về để học hỏi kinh nghiệm. Sự yêu cầu này đã không được đáp ứng, và cũng không được trả lời. Lúc đó, tôi ngây thơ nghĩ rằng, có thể vì sự ngăn cách an ninh về cả hai phía, cho nên lời yêu cầu của tôi đã không được giải quyết. Sau này khi ra miền Bắc, có điều kiện nhìn được thực tế, cũng như có thêm được một số kiến thức để phân tích và lý luận, tôi thấy những điều tôi nghĩ trước kia là không đúng.

Để đáp ứng lời yêu cầu của tôi, thay vào đó, Cục cho tôi gặp 4 người vượt tuyến mới nhất. Thậm chí có người chỉ mới vào nửa tháng, ở Trung Tâm Tiếp Đón đồng bào vượt tuyến bên Gia Định. Tôi và An đóng vai nhân viên Phòng Báo Chí phủ Tổng Thống cầm giấy giới thiệu sang gặp Thiếu tá (tôi quên tên) Trưởng trại.

Tôi sang hai lần, mỗi lần gặp hai người, mỗi người gặp vào một giờ khác nhau. Hôm đầu, chúng tôi tiếp xúc với một người là bộ đội và một người là giáo viên cấp III, trường Thăng Long Hà Nội. Hôm sau, một người tài xế xe đò, một người là giáo viên cấp II ở Thanh Hóa. Dĩ nhiên, tất cả những người này kể cả trưởng trại; không thể hiểu ý đồ thực của chúng tôi. Để đánh lạc hướng, thỉnh thoảng chúng tôi mới xen vào giữa những câu phỏng vấn thông thường, vô bổ là một số câu hỏi câu hỏi cần thiết mà chúng tôi muốn tìm hiểu. Bốn cuộc gặp gỡ này đã giúp chúng tôi hiểu biết nhiều vấn đề, rất hữu ích khi tôi ra Bắc.

Trên tấm bản đồ quân sự loại lớn, bằng giấy dầy, bóng. Từng miếng 40×60 phân, ghép lại kín cả nền một căn phòng rộng. Hàng ngày, Brown và Dale hướng dẫn tôi nghiên cứu về quốc lộ 1 (từ Vĩnh Ling ra tới Hà Nội,) khu phi quân sự; thành phố Hà Nội, tỉ mỉ, chi tiết; nhất là khu phi quân sự Bắc và huyện Vĩnh Linh. Để phòng hờ biết bao tình huống có thể trục trặc không đón được tôi; tôi phải về bằng đường bộ. Vì thế, tôi đã hai lần phải ra tận bờ sông Bến Hải; dùng ống nhòm quan sát thực tế các điểm chuẩn, của khu phi quân sự Bắc.

Một điều tôi không quên, một lần tôi và Hoàng công An xuống trường bay Phú Bài. Người trách nhiệm đón chúng tôi không ai xa lạ, lại chính là ông Hương. Ông Hương và tôi nhìn nhau ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Chính An cũng ngạc nhiên không ít, không hiểu sao tôi lại biết ông Hương từ trước.

Từ ngày tôi bị loại ra khỏi lớp học đặc biệt, tôi chỉ nghe Lý nói loáng thoáng là ông Hương sau này mắc khuyết điểm gì đó về tài chính, nên không còn làm Giám Đốc lớp học đó nữa. Có lẽ do ý thức nghề nghiệp cho nên khi bắt tay tôi, ông Hương chỉ nói:

–  Bình vẫn như xưa, tay hay gầy, nhưng vẫn đẹp trai!

Ông không hề nhắc nhở đến những chuyện cũ ở số 2 J.J. Rousseau. Ông Hương sau đó, lái xe đưa chúng tôi về một khách sạn ở Huế. Những ngày ở đây, đêm ngủ, luôn luôn có người canh gác tôi. Cũng từ đó cho đến gần cuối cuộc đời, lúc thức cũng như lúc ngủ; lúc nào tôi cũng có người canh gác. Cứ nghĩ đến, tôi lại nhếch mép tự mỉm cười.

Ông Hương lái xe đưa chúng tôi vào khu phi quân sự. Trong rừng bên này bờ Nam, tôi thấy đó đây có những người mặc đồ nâu, gài một miếng vải đỏ bằng hai đốt ngón tay ở khuy áo, lầm lũi canh gác. Có lẽ họ đã giấu súng trong người. Qua ánh mắt và thái độ của họ, tôi hiểu ông Hương là người chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ hệ thống canh gác bờ phía Nam.

Tôi ngắm giòng Bến Hải. Con sông đã đi vào lịch sử đau thương của dân tộc, vẫn lững lờ chảy xuôi về phía cầu Hiền Lương. Đây đó, một vài chiếc thuyền nan chài lưới phía bờ bên này, cũng như phía bờ bên kia. Tôi biết những người dân “chài lưới” này, dứt khoát không phải là dân bình thường. Bởi vì theo thỏa hiệp Genẻve giữa hai bên: Ranh giới hai miền là giữa giòng sông Bến Hải, và giữa cầu Hiền Lương. Vậy, vì lý do vô tình hay hữu ý, những thuyền này lấn sang khỏi ranh; phía bên kia có quyền bắt giữ. Lúc đó, những người dân chài này không còn thuộc quyền kiểm soát của bên bờ cũ nữa.

Tôi đi sát dọc bờ sông, có chỗ hai bờ cách nhau chỉ chừng ba chục mét. Nhìn thấy cô gái áo nâu, phía bên kia bờ, quần đen lăng xăng, chạy ra, chạy vô tưới mấy luống rau. Lòng tôi bỗng bâng khuâng, mắt dõi về hướng Bắc xa vời, nơi có Hà Nội cam go đợi chờ. Bất chợt, các cô ấy rối rít vẫy tôi, miệng cười duyên. Ý các cô ấy muốn tôi lội xuống nước, bơi sang. Thấy vậy, ông Hương nói với tôi:

–  Tất cả những người dân tron khu phi quân sự Bắc, đều bị Cộng Sản bắt rời khỏi, ra ngoài 5 cây số, kể từ bờ Bếb Hải. Rồi chúng đưa toàn công an mật vào, làm nhà cửa, cầy cấy, trồng tỉa như thường dân. Bình hãy dùng ống nhòm nhìn kỹ vào trong rừng sẽ thấy có những vật di chuyển; thậm chí còn có người bí mật ngồi trên cây canh gác nữa.

Đúng như vậy! Sau này, tôi thấy biết bao người vượt tuyến, bị bắt với bao nhiêu tình huống cười ra nước mắt ở trong nhà tù Cộng Sản.

Nhìn chéo xa ca phía bên kia, ngôi nhà thờ Hải Cụ bị rêu phong và cây cối che phủ, chỉ còn là một hình thù xám xịt, nhô lẫn trong lùm cây xanh. Cảnh hoang liêu cô tịch của nhà thờ khiến lòng tôi tím thẫm. Tôi hình dung đến cảnh sống của người dân Công giáo miền Bắc; hẳn không khỏi khắc khoải tối tăm.

Ông Hương bổng nói:

Sông Bến Hải, đi ngược quá vào phía trong; mùa nước cạn, nhiều chỗ chỉ cần xắn quần lội qua cũng được.

Giòng sông nhỏ bé và nông cạn như thế! Vậy mà nó đủ sức ngăn đôi một dân tộc, trong bao nhiêu năm trường! Đối với một dân tộc có truyền thống thương yêu, đùm bọc của người cùng một nước:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người trong một nước phải thương nhau cùng. (Ca dao)

Vậy, lỗi này do ai?

Sau khi về tới Sài Gòn, cũng đã gần tới ngày lên đường, do đó, một số công việc còn lại cần phải làm khẩn trương và dồn dập hơn. Tôi phải tập xử dụng một số loại thuốc hóa trang, hồng ngoại tuyến…..

Một điều tôi quên. Khi đi vào đất địch, tất yếu tôi sẽ gặp muôn ngàn điều chưa thể biết. Vì vậy, để phòng hờ; từ hơn hai tháng trước, Phan đã đưa cho tôi một chiếc nhẫn bạc mặt vuông có khắc chữ thọ. Chiếc nhẫn này, cũng như trăm ngàn chiếc khác; chỉ khác một điểm là, mặt trong có đóng chìm xuống con số 42. Phan bắt tôi đeo, nhìn cho quen mắt và phải nhớ nhập tâm. Phan cũng còn đưa cho tôi một tấm hình cỡ 6×9, hình chùa Một Cột ở Hà Nội. Phía sau lưng và góc trên của tấm ảnh, có ghi con số 1618 nhỏ xíu bằng bút chì. Tôi nhớ được con số 1618, vì nó liên quan đến ngày tôi trao tài liệu M.

Hơn một tuần sau, Phan lấy lại và hỏi:

–  Bình đã nhớ chưa?

Tôi gật đầu, Phan nói tiếp:

–  Nếu sau này, bất cứ ở đâu, thời gian nào và bất cứ ai đưa tấm hình này ra; thì người đó chính là người sẽ trao lệnh của Sài Gòn cho Bình.

Một hôm, Dale và Brown đến gặp tôi, bảo:

–  Hôm nay, Bình sẽ tập xử dụng bút chì mật.

Họ giải thích:

–  Đây là một loại dụng cụ mới nhất trong ngành tình báo. Bút chì mật nhỏ bằng 2/3 của lõi bút chì thường. Dài độ 6- 7 phân, mầu đen xám, không mùi vị. Một đầu hơi vát, nhờn nhợn, giống như một mẩu sợi ni lông thường. Brown và Dale nói là: Mẩu bút chì này hiện nay nếu muốn bán cho Cộng Sản hàng triệu nó cũng mua. Nó sẽ phân chất và sẽ biết cách phát hiện những chữ ta ghi, từ đó nó sẽ tìm ra được nhiều sự việc.

Bởi vì, khi ghi chép, nét chữ không có dấu vết. Muốn đọc, phải dùng một loại hóa chất đặc biệt bôi lên mặt giấy, chữ mới hiện ra. Điệp viên ghi tài liệu mật vào những khoảng trống trên ngay sách báo của địch. Thấy trước mặt, chúng cũng không biết; kể cả mẩu bút chì cũng vậy.

Tôi phải tập biết bằng mẩu chì mật này nhiều lần, trong nhiều ngày. Sao cho khi viết, không để lại vết gợn nào trên mặt giấy. Nghĩa là tờ giấy vẫn bình thường, và cũng không được mất nét chữ; sau này, khó đọc và khó đoán ra. Khi tôi ra tới miền Bắc, thực tế cho thấy, là thời gian này Cộng Sản chưa hế biết gì về bút chì mật. Tôi đã giấu mẩu chì này tới 1975, khi miền Nam thất thủ, tôi mới tiêu hủy.

Tôi đã biết rất nhiều loại mực để viết thư mật, nhưng tôi thừa nhận, loại chì mật là đơn giản và thuận tiện nhất. Có thể ngày nay, điệp viên của nhiều nước vẫn còn dùng.

Thép đen

Đặng Chí bÌnh

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Bài 11 – Những “Vỏ Bọc”

Đặng Chí Bình

Vỏ bọc I

Tôi sẽ đóng vai là một học sinh trường trung học Phổ Thông cấp III ở Vĩnh Linh với tên là Lê Viết Hùng, lý lịch giả như sau: gia đình bố mẹ tôi, do đói kém, loạn ly năm 1945, đã phiêu bạt từ Nam Định vào lập nghiệp ở xã Vĩnh Quan, Vĩnh Linh. Bố tên là Lê Văn Thông, mẹ là Vũ Thị Sàng. Tôi có 3 anh chị em: chị Lê Thị Thu, em trai Lê Tuấn. Tôi phải nhớ tên: Giám hiệu trưởng Phổ Thông cấp III Vĩnh Linh, chủ tịch và phó chủ tịch huyện V.L., chủ tịch và phó chủ tịch xã Vĩnh Quang. Và, vì tôi cũng là đoàn viên thanh niên, nên tôi cũng phải biết tên của bí thư và phó bí thư chi đoàn. Ngoài ra, tôi phải biết một số sự kiện lớn xảy ra ở Vĩnh Linh, nhất là ở xã tôi, vùng giáp ranh khu phi quân sự.

Qua những tin tức cố định trên, tôi sẽ tùy theo trường hợp để ứng biến sao cho hợp lý.

Tôi (Lê Viết Hùng) có nhiều triệu chứng mắc bệnh tim đã lâu, bây giờ càng ngày càng trầm trọng hơn, nên đã xin được giấy giới thiệu của thị trấn Vĩnh Linh về Hà Nội nhân dịp He để đến nhà thương Việt Đức điều trị.

Tôi mang theo đủ giấy tờ hợp lệ: Giấy giới thiệu chữa bệnh, thẻ học sinh, giấy nghĩa vụ quân sự, thẻ đoàn viên, giấy thông hành thời hạn một tháng, có chữ ký của công an trưởng huyện Vĩnh Linh.

Vỏ bọc này, tôi phải nghiên cứu và học thuộc lòng, sao cho từ nếp suy nghĩ đến hành động, coi như mình là Lê Viết Hùng có thực bằng xương bằng thịt.

Để thực tập, tôi phải đến gặp ba, bốn lần một người lạ rất hách dịch, đóng vai công an Cộng Sản, lúc thì ở khách sạn Catinat, lúc thì ở Majestic. Ông ta hạch sách, nạt nộ tôi đủ điều, hỏi những câu bất chợt lắt léo, xem tôi có trả lời hợp lý hay không. Tôi còn nhớ lần cuối cùng, khi nói chuyện vãn, ông tự giới thiệu tên là Đang đã từng sống và làm việc cho Cộng Sản nhiều năm, (ông không nói, nhưng tôi đoán hẳn ông đang làm việc cho Cục), ông nói:

Tôi nói thực với Bình, cái chính là đừng để cho công an của Cộng Sản nghi ngờ. Khi nó đã đặt thành vấn đề nghi mà sát hạch thì ‘mả bố ở đâu, mà nó bảo đào đưa cho nó, thì cũng phải đào.”

Kể ra, ông không nên nói câu đó, nhất là với một nhân viên sắp vào đất địch, chỉ làm hoang mang tinh thần của người đi. Sau này càng nghĩ, tôi lại càng thấy những người huấn luyện mình thiếu ý thức, thiếu tinh thần trách nhiệm, vì thiếu lý tưởng thực sự!

Vỏ bọc II

Trong trường hợp bị Cộng Sản bắt giữ. Nếu vì lý do nào đó, Cộng Sản không tin hoặc đã xác minh giấy tờ đều là giả mạo và tôi không phải là Lê Viết Hùng ở Vĩnh Linh. Lúc đó, tôi sẽ khai: Gia đình bố mẹ, gốc tích thực, nhà nghèo. Học hành thi hoài không đậu, chán chường, nhưng tính thích làm những việc táo bạo, không sợ nguy hiểm miễn việc đó có tiền để giải quyết cuộc sống và giúp đỡ bố mẹ già. Do bạn bè giới thiệu, tôi gặp một ông tên là Lân. Vì là nhân vật tưởng tượng, nhưng lại cần nhớ chi tiết để đề phòng sau này công an hỏi lại, do đấy, tôi phải lấy một người có thật để mô tả, và tôi đã lấy hình dáng một ông cậu to lớn, béo tốt, chủ một hảng xuất nhập cảng ở Sài Gòn, để tả về ông Lân.

Ông Lân thường hẹn gặp tôi ở một quán nước. Sau một, hai lần thăm dò, nói chuyện, biết về con người và tâm nguyện của tôi, ông đi thẳng vào vấn đề: Ông có “truy-  ô” nhiều thuốc Tây quý cần tiêu thụ. Ở ngoài Bắc, các loại thuốc này vô cùng hiếm nên giá rất cao. Vậy, nếu tôi muốn làm giầu, phải mạo hiểm. Ông sẽ lo giấy tờ giả cho. Tôi sẽ bí mật, lén lút lội qua sông Bến Hải, đem theo hơn một chục mẫu loại thuốc quý, móc nối, mua bán đặt hàng với những con buôn bí mật có thể lực ở Hà Nội. Sau này, lời lãi sẽ chia đôi, ông đó một nửa và tôi một nửa. Còn bây giờ, tốn phí ông đài thọ và cho tới khi đi sẽ trả trước cho tôi 10.000 đồng.

Một hôm, Dale và Brown dẫn đến một người Mỹ khác khoảng 40-  45 tuổi, giới thiệu là bác sĩ Harry. Ông Harry đưa gần 20 lọ thuốc Tây, chỉ dạy cách dùng và tính năng của từng loại. Theo ông Phan, cho tới ngày tôi đi, Harry cũng sẽ là bác sĩ riêng của tôi để săn sóc sức khoẻ và những cần thiết về y lý cho chuyến đi.

Vỏ Bọc III

Sau khi khai vỏ bọc II, nếu Cộng Sản vẫn không tin, hoặc tìm ra được những chứng cớ cụ thể là tôi nói láo, không đúng, có thể chúng sẽ cùm kẹp tra tấn, tôi không thể chịu đựng nổi, lúc bấy giờ tôi sẽ dùng vỏ bọc III. Vẫn chưa là chuyện chính trị.

Phần thân thế, gốc tích gia đình cũng như vỏ bọc II, vì đó là thực tế. Cảnh học hành, thi cử cũng chỉ ăn vỏ chuối nên chán chường, và tính tình thích làm những chuyện mạo hiểm cũng vậy. Phần khác biệt. Do quan hệ xã hội, đã được một người quen giới thiệu với sư bà Đàm Hướng ở chùa Phước Hải, khu Vườn Chuối, Phan Đình Phùng Sài Gòn, nội dung như sau:

Trong thời Pháp thuộc trước 1945. Sư bà Đàm Hướng và sư ông Tuệ Chiếu là hai sinh viên yêu nước thiết tha, nhục nhã đau lòng trước cảnh dân tộc bị thực dân Pháp thống trị. Hai ông bà nối chí những bậc cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học v.v… Đã bí mật hoạt động trong giới sinh viê ở Hà Nội, gây nên nhiều vụ chống đối sôi động, với bọn cầm quyền thực dân và đã bị chính quyền thực dân, ra lệnh truy lùng ráo riết.

Hai ông bà không những là đồng chí mà còn là đồng sàng, vì cùng nhau đã trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nên hai trái tim đã cùng rung đều một nhịp. Trước sự truy nã lùng sục của mật thám, để che mắt chúng, và cũng để tỏ với chúng là mình đã chán chường cuộc đời, hai người đều xuống tóc, nup1 bóng cửa thiền. Ông thì tu ở chùa Quan Thánh Hà Nội, pháp danh là Tuệ Chiếu; còn bà tu ở đâu, tôi không biết, chỉ biết pháp danh là Đàm Hướng, hiện trụ trì ở chùa Phước Hải, Vườn Chuối Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền, chúng lòi ra ý đồ diệt tôn giáo. Bề ngoài cổ vũ “Lương Giáo đoàn kết” để chống Pháp, xây dựng đất nước. Bên trong thì chúng ngấm ngầm tìm mọi điều kiện, lợi dụng mọi mâu thuẫn tôn giáo để kích động, khơi sâu mối chia rẽ. Nghĩa là, luôn luôn đổ dầu vào những đốm lửa mâu thuẫn, dị biệt của tôn giáo. Nhìn rõ trái tim đen bẩn thỉu của Cộng Sản, sư ông Tuệ Chiếu và sư bà Đàm Hướng đã dùng khả năng và uy tín vạch trần ý đồ nham hiểm của Cộng Sản trước tín đồ, và còn ngấm ngầm trao đổi bàn luận cùng bên Công giáo, lập ra Mặt Trận Liên Tôn Diệt Cộng mà chủ tịch là sư ông Tuệ Chiếu và phó chủ tịch là linh mục Hoàng Quỳnh cùng nhiều nhân vật lãnh đạo trong Mặt Trận.

Sư ông Tuệ Chiếu và nhiều người khác đã bị Cộng Sản bí mật thủ tiêu ngay. Chỉ vì khi đó phía Phật giáo chưa có sự đoàn kết thống nhất, nên chưa có áp lực mạnh với Cộng Sản. Còn linh mục Hoàng Quỳnh, trước áp lực sức mạnh của quần chúng Công giáo, chúng đã không dám giết ngay. Công giáo khi ấy đã là một tổ chức thống nhất nên Cộng Sản ít nhiếu kiêng nể. (Tôi nói thời gian đó thôi, vì lúc đó chúng chưa mạnh, chúng còn cần sự giúp đỡ hoặc không chống phá của Công giáo. Chứ sau 1975, chúng không còn e dè nể nang gì cả.)

Chúng chỉ dám quản thúc linh mục Hoàng Quỳnh ở nhà thờ Lạc Đạo, thuộc địa phận Bùi Chu. Con chiên vẫn được phép thăm nuôi bình thường, theo quy định.

Sư bà Đàm Hướng nghe tin chồng chết, quá đau thương, chỉ còn đành tìm xác người chồng bất khuất, chết anh hùng, oanh liệt hy sinh cho dân tộc, bí mật đem về thành Hà Nội, vùi lấp ở nghĩa trang Hợp Thiện Bắc Việt.

Hội nghị Genève chia đôi đất nước, bà cùng đứa con trai di cư vào Nam.

Vào Nam, tuy vẫn ở trong cửa Phật, nhưng bà vẫn không quên quê hương dân tộc, nên ngay trong chùa cũng như ngoài xã hội, bà diễn thuyết cổ vũ, khích lệ, tổ chức đoàn thể với mục đích chống kẻ tử thù Cộng Sản. Ngoài ra, từ ngày vào Nam, bà cũng còn ấp ủ trong trái tim một điều thầm kín nhất, là bà ước mong có cách gì đó, hay có ai ra miền Bắc, bà sẽ không tiếc tiền để xây cho ông một nấm mồ yên ấm. Gọi là chút lòng của người đồng chí, của người tình, của người vợ, đối với người ngàn đời kính yêu đã ra về nơi ngút ngàn mây gió, hy sinh vì Tổ Quốc.

Chính với nỗi niềm ấy của bà, nên khi gặp tôi, một thanh niên, cành đời đã làm cho bất đắc chí, và sau nhiều lần tìm hiểu, bà rất mừng rỡ. Bà sẽ lo liệu giấy tờ giả cho tôi để vượt tuyến. Bà sẽ trả cho tôi 100.000 đồng sau khi hoàn thành công việc. Trước khi ra đi, bà sẽ đưa trước cho tôi 10.000 đồng để giúp đỡ gia đình bố mẹ già. Tôi sẽ trốn qua sông Bến Hải về Hà Nội, mang theo một lá thư của bà gửi cho ông Thẩm Hoàng Tín, thị trưởng thành phố Hà Nội hồi 1954. Ông là dược sĩ, trước có hiệu thuốc Tây ở Hàng Da Hà Nội.

Ông Tín là bạn chí thân của hai ông bà. Nội dung lá thư nhờ ông Tín vì tình bạn thiêng liêng đứng trông nom xây cho ông Tuệ Chiếu một ngôi mộ gọn ghẽ khang trang.

(Sau hội nghị Genève 1954, lý do tại sao một đương kim thị trưởng của thủ đô Hà Nội vẫn ở lại với Cộng Sản, không di cư vào Nam sẽ được đề cập ở chương “Những bài học xương máu với Cộng Sản”.)

Chính Hoàng Công An đã dẫn tôi đến chùa Phước Hải gặp sư bà Đàm Hướng mấy lần, để tôi nhìn rõ cảnh sinh hoạt của chùa và con người của bà. Tôi cũng đã gặp người con trai của sư bà, lúc đó 19 tuổi, đang theo phần II Tú Tài, năm 1961.

Vỏ Bọc IV

Đến đây, thì đành phải nhận ra Bắc vì chính trị. Theo chỉ thị của Cục, vỏ bọc IV, đồng thời cũng là vỏ bọc cuối cùng, dù tôi có phải nhận mã tấu hay ăn kẹo đồng.

Đến giai đoạn này, Cộng Sản đã cùm kẹp tra khảo, khai thác nhiều. Chúng đã nêu ra đầy đủ băng cớ những điều tôi khai báo là sai. Vậy, nếu bị đánh đập, hành hạ đến lúc cơ thể không thể chịu đựng được nữa, lúc đó sẽ khai theo vỏ bọc IV: Là trung sĩ trong đại hội thám báo của sư đoàn 7, thích làm những chuyện mạo hiểm và coi thường những việc khó khăn mà nhiều người khác e sợ, v.v… Trong quân ngũ, lần lần quen biết Trung úy Xương nên nha an ninh quân đội. Ông này đã giới thiệu với bên tình báo. Cuối cùng, tôi được về Sài Gòn dự lớp đào tạo và huấn luyện trong 3 tháng ở một ngôi nhà thuê trong xòm Cầu Cống, khu Khánh Hội (nếu nói ở khách sạn, building, Cộng Sản sẽ để ý những nơi ấy, sẽ gây khó khăn cho những lớp huấn luyện sau này.) Chỉ nói một số lớp học hợp lý, thời gian huấn luyện ngắn và học tập sơ sài để địch đánh giá sai mức độ, khả năng của nhân viên tình báo miền Nam.

Chỉ một người huấn luyện duy nhất, định tả ai phải nhớ người ấy. Chớ nói tới Mỹ, vì năm 1961 Mỹ chưa vào miền Nam nhiều. Huấn luyện nặng về lãnh vực quân sự, tính năng và các loại vũ khí của bộ đội miền Bắc thường dùng, v.v… Nhiệm vụ:

–  Theo dõi sư đoàn 308 phòng thủ Thủ Đô Hà Nội. Do tên Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm tư lệnh.

–  Tên tuổi, tính tình các cấp chỉ huy, càng xuống sâu càng tốt, nghĩa là đến cấp đại đội.

–  Các loại vũ khí trang bị của sư đoàn.

–  Những nơi bố trí đại pháo và xe tăng.

–  Các phương tiện vận chuyển.

–  Cách bố trí trại, địa hình chung quanh với các đường giao thông.

–  Cách sinh hoạt học tập, huấn luyện.

–  Các trang bị, quân trang, quân dụng.

–  Tinh thần của bộ đội và sĩ quan.

–  Khả năng chiến đấu và tinh thần chiến đấu.

Muốn biết được những tin tức này chính xác, tôi phải làm quen, chuyện trò, tâm sự với bộ đội trên đường phố Hà Nội. Tóm lại, khai gì, nói gì thì nói, nhưng không bao giờ được nói tới nhiệm vụ thực của mình cả.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Sep 2023

Bài 10 – Những Chuyện Tình Báo

Nhiệm vụ phụ:

Ngoài những nhiệm vụ chính mà tôi phải đem hết nghị lực, khả năng để phải thực hiện bằng được, trong quá trình sống và di chuyển ở Hà Nội, tôi phải để ý tới những hiện tượng dưới con mắt nghiệp vụ những số nhà sau đây:

–  Số 6 phố Cầu Gỗ.

–  Số 1 phố Đường Thành.

–  Số 27 phố hàng Đường

Theo nguồn tin tình báo, ba nơi này thường xuyên đào tạo, huấn luyện gián điệp rồi tung vào miền Nam hoạt động. Tình báo miền Nam đã bắt được hai vụ nổi tiếng, và Cục đã cho tôi biết chi tiết để rút ra nhiều kinh nghiệm như một bài học. Dưới đây là hai vụ điển hình. Tất nhiên còn nhiều vụ khác nữa:

1. Khoảng 1957, do nhân dân bí mật tố cáo, tình báo miền Nam đã bố trí bắt được một nhân vật có hạng về tình báo của miền Bắc. Khi đem về khai thác, điều tra. Sau hơn một năm trời, dùng mọi khả năng của những nhà chuyên môn, ta cũng đành chịu khuất phục trước sự kiên trì, lì lợm của y.

Nếu ở trong tay công an dưới chính quyền miền Bắc, nhận tội hay không, tội nhân cũng cứ bị tù cho tới khi nào cơ thể không chịu được nổi, hoặc cho tới già, rồi về với ông vải, thì thôi.

Nhưng chính quyền miền Nam, nếu thiếu chứng cớ cụ thể, chỉ giam tội nhân tới một mức quy định, rồi cũng phải thả ra. (Cụ thể như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình v.v…)

Anh ta, trước sau chỉ một mực chối lá vô tội. Ta đã dùng nhiều biện pháp tinh vi hơn như: Khổ nhục, tra tấn, dụ dỗ, khích lệ v.v… cũng đều vô hiệu. Việc này đã làm điên đầu những người có trách nhiệm của Cục tình báo miền Nam.

Sau nhiều phiên họp gay cấn, chính ông Cục Trưởng đã đưa ra một kế hoạch, và ông xin chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch đó.

Vào một buổi cuối Đông, bầu trời Huế xám xịt, những cơn gió mùa Đông Bắc về muộn mang theo những trận mưa rả rích, nhạt nhòa … Từ cổng nhà lao Thừa Thiên, hai chiếc xe Dodge 4 phủ mui kín mít, lao về quốc lộ 1 hướng về Nam, chuyển tù vào Sài Gòn.

Xe trước, băng sau chở 4 phạm nhân bị khóa tay, trong đó có tên Cộng Sản lì lợm nói trên, và hai người mặc quân phục có vũ trang áp tải. Băng trên, ngoài tài xế, còn có một trung úy và một hạ sĩ. Ông hạ sĩ này chính là ông Cục Trưởng mà tên Cộng Sản đó chẳng lạ gì.

Xe sau, chở một thiếu úy và nửa tiểu đội, tất cả đều mặc quân phục và có vũ trang. Hai chiếc xe theo nhau chạy mãi vào đêm tối. Hơn 4 tiếng đồng hồ sau, lúc đó khoảng 11 giờ khuya, giữa quãng đường dài vắng vẻ, hai bên là triền rừng; bất chợt hai loạt trung liên nổ ròn rã phía trước xe. Đạn réo lên ngay phía trên mui. Ngay lúc đó, tài xế và mọi người đều đã nhìn rõ một chướng ngại vật là một thân cây to nằm chặn ngang đường. Biết là đã lọt vào ổ phục kích, các quân nhân trên hai xe vội vàng nhẩy xuống đường, tìm địa thế cấp thời để chống trả.

Nhưng, tất cả đã nằm gọn trong vòng vây, với đầy mũi súng tua tủa của đoàn quân phục kích. Chỉ sau 10 phút, tất cả quân nhân trên hai xe đều bị tước hết vũ khí, bị trói gô và bắt ngồi tập trung vào một chỗ. Một người, có lẽ là chỉ huy đoàn quân phục kích, ra lệnh lục soát trên hai xe, tịch thu một số đồ cần thiết, trong đó có cả giấy tờ, hồ sơ, v.v…

Riêng 4 phạm nhân, tay vẫn bị khóa, bị dẫn xuống bắt ngồi cùng với đám quân nhân, sau khi biết họ đều là tù hình sự can tội an cướp hoặc giết người.

Người chỉ huy đoàn quân phục kích nhìn những quân nhân đang bị trói, dõng dạc tuyên bố:

–  Các anh là ngụy quân, lầm đường lạc lối, làm tay sai cho đế quốc Mỹ bắn lại nhân dân, làm hại đồng bào, lẽ ra chúng tôi bắn bỏ hết. Nhưng, theo chính sách khoan hồng của đảng (lúc đó chưa có Mặt Trận Giải Phong Miền Nam), chúng tôi sẽ tha hết, kể cả 4 phạm nhân hình sự. Các anh hãy trở về cải tà quy chính. Riêng hai tên sĩ quan, vì đã có nhiều nợ máu với nhân dân, chúng tôi phải mang vào bưng xử lý.

Rồi người đó ra lệnh cởi trói cho hết các quân nhân, còn bắt đưa chìa khóa mở còng cho 4 người tù. Giữa lúc đó, tên tù Cộng Sản lì lợm, đứng bật dậy, rút ở trong ve áo ra một miếng vải đỏ hình vuông mỗi bề 4 phân, ở giữa có hai ngôi sao vàng nằm trên sọc trắng. Y đưa cho tên chỉ huy đoàn quân phục kích xem và nói:

–  Các đồng chí, tôi là Trưởng K 10 nội thành Sài Gòn, thuộc cục R. Hôm nay, vô tình các đồng chí đã lập được một kỳ công vô cùng to lớn. Các đồng chí hãy trói ngay tên hạ sĩ kia, nó chính là tên Cục Trưởng Trung Ương tình báo của Sài Gòn.

Cả đoàn quân phục kích sáng mắt hân hoan. Bốn, năm mũi súng đều chĩa vào ông hạ sĩ và trói nghiến lại.

Thay vì đưa vào bưng, người chỉ huy mặc áo bà ba đen ra lệnh tất cả lên xe trở về miền … sông Hương, núi Ngự.

2. Sự việc xẩy ra vào năm 1959 ở ngôi nhà, hình như mang số 126 hay 128 (tôi không nhớ rõ), đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Ngôi nhà này có cửa sắt, tuy ở mặt phố nhưng không bao giờ thấy mở, trừ đôi lúc có người ra vào. Chủ ngôi nhà là một quả phụ, gần 60 tuổi. Trước đây, bà có một người em trai ở cùng. Ông này học hành đã thành đạt, nên hiện đang làm việc trong Phủ Tồng Thống. Người ta chẳng biết ông làm gì, chỉ nghe đồn ông rất có uy thế, thường gần gũi với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Có thể do đòi hỏi của công việc, hoặc vì lý do nào khác, ông đã được cấp một căn biệt thự ở đường Công Lý, gần dinh Độc Lập, để đi vể được thuận tiện. Và vì vậy, ngôi nhà ở Phan Đình Phùng càng vắng vẻ đìu hiu. Ngoài bà Hân là chủ nhà, trong nhà chỉ còn một bà giúp việc cũng họ gần xa với gia đình bà Hân.

Những người mới đến ở dãy phố này không biết chồng con bà ra sao, chứ những người đã ở lâu gần đó đều hiểu hoàn cảnh gia đình bà. Bà Hân rất hiền lành phúc hậu, bà thường hay đi chùa đền để niệm phật ăn chay và làm việc phúc đức. Theo câu chuyện bà kể lại với những người quen biết, vợ chồng bà đều là con những gia đình giàu có thế phiệt trước đây ở Huế. Bà hiếm hoi, chỉ sinh được một cậu con trai duy nhất, đúng vào lúc xẩy ra những biến cố lớn lao của đất nước 1945. Khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Hân là một thành phần đảng phái, ông đã hiểu rõ sự hiểm độc của Việt Minh nên cương quyết không hợp tác trong Chính Phủ Liên Hợp của cáo Hồ bịp bợm. Ông đã bị chúng bí mật thủ tiêu ngay thời gian ấy. Giữa cảnh hỗn loạn Nhật, Pháp, Anh, Tàu, và Việt Minh thời đó, dân chúng đã phải trôi dạt, đẩy đưa khắp nơi, và bà đã thất lạc đứa con trai yêu quý, niềm an ủi độc nhất của đời bà. Sau đó, theo giòng đời, bà đã trôi dạt về Sài Gòn với người em trai nói trên.

Do của cải trước đây để lại, hiện bà là người giầu có, thừa thãi tiền tài, nhưng lại rất thiếu nghèo tình đầm ấm của gia đình. Bà đã mất biết bao tiền bạc, tâm lực để thăm dò, tìm kiếm người con thất lạc, nhưng đều bặt vô âm tín. Nỗi nhớ thương buồn phiền của bà suốt 14 năm càng ngày càng cô đọng lại, dồn nén dần vào chỗ sâu kín nhất của tâm hồn bà. Nhũng người quen biết bà đều hiểu rõ như thế. Nhưng, Cộng Sản lại đào sâu, nghiên cứu kỹ, nên đã hiểu biết hơn thế nữa. Chúng đã triệt để lợi dụng, khai thác bối cảnh này. Chúng thấy đây là cơ hội để chúng đưa người lọt vào ở sát nách cơ quan đầu não của chính quyền miền Nam.

Chúng đã tìm và tuyển mộ được một thanh niên theo ý chúng muốn. Chúng ra sức đào tạo, huấn luyện, từng động tác, thái độ, lời ăn tiếng nói, kể cả về tình cảm để đóng vai trò người con thất lạc của bà Hân.

Nói về ngôi nhà của bà Hân. Ngôi nhà này thường đóng cửa, cho nên ở phía trước sát vỉa hè, một người đàn bà nghèo trong xóm đã kê một chiếc ghế dài nhỏ và một cái phản gỗ con, trên bày ít kẹo, chuối, nước sôi…bán cho các bác xích lô…ít tiền.

Tên điệp viên là một cậu trai 19-  20 tuổi, khôi ngô, quần áo lam lũ; thuy khoẻ mạnh đầy sức trai, nhưng bộ mặt lúc nào cũng đăm chiêu mang nặng một nỗi niềm. Hàng ngày, sau những cú xe đường dài mệt nhọc, anh thường ghé chiếc xích lô đạp sát lề, uể oải ngồi vào ghế, gọi mua nước trà, nhấm nháp, lúc thì cái kẹo, lúc thì quả chuối…anh tỏ ra rất ít nói. Dần dần, hà hàng quen mặt. Bà cũng để ý và đôi khi nhìn bằng ánh mắt thương hại người còn trẻ, mặt mũi sáng sủa mà đã phải lam lũ cuộc đời! Trước, còn là những câu hỏi bâng quơ:”Hôm nay chạy khách có khá không?”, “Trời này, lại sắp mưa!”, “Sao hôm nay cậu đến muộn?” v.v… Cậu trai càng tỏ ra rất ít nói. Mặt lúc nào cũng buồn như che dấu một tâm sự riêng tư. Khi đã có thiện cảm với một cậu bé nghèo, cái tính tất nhiên của người đàn bà là sẽ dần dà thăm hỏi đến gia đình, thân thế, bố mẹ ra sao? v.v…

Lúc đầu, cậu tỏ ra không muốn nói về cuộc đời bất hạnh hẩm hiu của mình, sau thấy bà già nghèo tử tế nên dần dần kể sự tình…

Cậu chẳng biết bố mẹ là ai cả. Ngay từ lúc 4-  5 tuổi đã đi làm con nuôi cho người ta. 9-  10 tuổi phải đi ở , hầu hạ nhiều người. Rồi phiêu bạt đi làm đồn điền cao su đầy gian chuân, cực khổ. Cuối cùng, trôi dạt về Sài Gòn thân cô, thế cô, phải đi đạp xích lô mưu sinh.

Bà bán nước, đã biết về câu chuyện của bà chủ nhà, nên cũng hơi nghi, vì vậy hỏi tới:

–  Thế cậu có nhớ ngày xưa bố mẹ cậu như thế nào không?

Cậu trả lời, mường tượng, lúc nhỏ sung sướng, được mặc quần áo đẹp, được ngồi xe với bố có người kéo…Bà bán nước càng hỏi tiếp, hình như chạnh nỗi niềm đau buồn, cậu không muốn trả lời nữa, và trả tiền, đứng dậy đi.

Bà bán nước tưởng tượng, càng suy nghĩ, biết đâu đây chả là chuyện cơ trời, nên chiều đó, sau khi gửi phản, ghế, bà nói với người giúp việc muốn gặp bà Hân.

Khi gặp bà chủ nhà, bà bán nước thuật lại câu chuyện về người đạp xích lô trẻ tuổi. Đến đây ai cũng hiểu. Có bệnh thì vái tứ phương. Khi nỗi lòng của bà Hân như vậy, hỏi sao lòng bà chả xốn xang, bồi hồi, mong sớm gặp người xích lô đó để hỏi rõ đầu đuôi. Vì thế bà Hân vồn vã dặn:

–  Khi nào cậu ấy đến, bà dẫn vào đây ngay cho tôi hỏi chuyện.

Ngày hôm sau, và cả mấy ngày sau nữa; bẵng đi bốn năm ngày không thấy cậu xích lô đó lại, khiến bà hàng nước lẫn bà Hân càng nôn nóng, bồn chồn mong đợi.

Mãi tới hơn một tuần sau; vào một buổi chiều mưa giăng ẩm ướt, cậu xích lô ướt át ghé lại bà hàng nước. Bà hàng tíu tít hỏi:

–  Sao mấy bữa nay cậu không ghé đến?

Sau khi rót ly nước trà để đó, bà hàng vội vàng bấm chuông vào nhà bà Hân. Chừng 5 phút sau, bà hàng nước hơ hải ra bảo:

–  Này cậu, mời cậu vào đây chơi một tí đã!

Y tỏ vẻ không muốn vào, nên lắc đầu. Bà hàng nước lại vồn vã như níu kéo:

–  Cậu vào đây một chút thôi mà, đàng nào trời cũng đang mưa, cho bả chủ ở đây hỏi thăm cậu một câu chuyện.

Rồi đến lúc bà hàng nước phải cầm tay lối kéo, y mới miễn cưỡng đi theo. Ngay khi bà Hân thấy người xích lô bước vào nhà, ánh mắt của bà hình như đã tràn đầy tình thương yêu, mặc dù bà chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ người con trai ấy là con bà. Lòng bà bồi hồi xốn xang, đến nỗi bà quên cả mời người xích lô đó ngồi. Khi bà mời, cậu xích lô ấy dè dặt ngồi xuống chiếc ghế gụ cạnh bàn, đầu cuối gầm. Bà hàng xóm cũng thấy lòng không yên, bỏ cả quán nước để mong được chứng kiến cái giây phút hồi hộp rấp ranh này. Mãi sau, như dằn được lòng xốn xang, bà Hân mới hỏi với một giọng còn xúc động:

–  Cậu bây giờ có họ hàng thân thích gì không?

Y lắc đầu mà không nói.

–  Cậu có nhớ ngày xưa, gia đình cậu như thế nào không?

Y vẫn đăm chiêu im lặng. Bà lại hỏi, trong niềm nghẹn ngào dâng trào:

–  Có phải cậu nhớ, lúc nhỏ cậu đi xe với bố có người kéo phải không?

Y gật đầu. Bà Hân nôn nóng, tiếp tục hỏi:

–  Cậu cố nhớ lại xem, lúc nhỏ cậu hay chơi gì, làm gì?

Y nhìn ra phía cửa sổ, mắt như dõi về một phía trời xa, về những quãng đời ấu thơ. Tới khi bà Hân nhắc lại câu hỏi, y mới chậm rãi:

–  Cháu chẳng nhớ gì rõ lắm….Cháu chỉ nhớ láng máng lúc nhỏ, cháu được bố mua cho con cù, con cù có cái đinh rất dài…..

Bà Hân mắt sáng lên long lanh, hỏi như hết hơi:

–  Gì nữa?

–  Cháu có một quyển sách, có hình con rùa, bố cháu dạy cháu tô theo bằng bút chì màu đỏ.

–  Còn gì nữa không cháu?

Y càng cúi gằm, trong khi không khí căn buồng như rên lên, căng đầy xúc động đợi chờ, cuối cùng y giơ ra ngón tay cái trái, chỉ vào một cái sẹo nhỏ, ngập ngường nói:

–  Một lần ở bếp với mẹ, cháu nghịch dao, đứt tay chảy máu. Mẹ đã khóc.

Không kìm được nữa, bà Hân xô đến, ôm chầm lấy cậu xích lô, nước mắt chan hòa, nức nở:

–  Ôi, con ơi!

Y cũng khóc, cả bà bán nước người ngoài cũng nước mắt vòng quanh. Hình như bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ của tình mẫu tử thiêng liêng bây giờ cuồn cuộn chảy ra theo giòng nước mắt, bà hổn hền tưởng như xỉu đi, dù vậy bà vẫn cố gắng lôi tay đứa con yêu:

Con ơi! Con cù và quyển sách của con má vẫn giữ, vì đó là di vật duy nhất của con, má vẫn để ở ngăn tủ đầu giường má.

Bà vừa nói vừa kéo người con trai lên gác. Bà rối rít hết sờ mặt, xoa tay, lại vuốt lưng cậu xích lô thân yêu, trong khi bà bán nước cũng lây nỗi vui mừng, cứ chạy lăng xăng hết đầu này, đầu kia chẳng biết làm gì cả.

Ngay chiều hôm ấy, bà Hân báo tin gọi người em trai về. Thôi thì cậu cháu, mẹ con hàn huyên nỗi niềm máu mủ ruột thịt, của buổi trùng phùng nước mắt đầy vơi.

Thương bà chị cả cuộc đời cô đơn heo hút, ông cậu nhìn thằng cháu khoẻ mạnh, khôi ngô, ông hứa sẽ đem hết khả năng dạy dỗ, nâng đỡ đứa cháu yêu đến khi thành đạt. Ông bàn, nào là đón giáo sư về kèm cặp, nào là tập lái xe để chở mẹ đi chùa,v…v…Ngôi nhà giờ đây tràn ứ đầy sự sống, sự ấm cúng và niềm vui tươi.

Riêng tên điệp viên, ngay khi vào Sài Gòn đã được cấp trên y chỉ định phải thường xuyên liên lạc, cặp bồ với cô Ngân làm chiêu đãi viên cho một quán cà phê ở ngã Bảy, để dự phòng, nếu sau này bà Hân và ông cậu bắt lấy vợ thì phải cương quyết đòi lấy cho bằng được cô Ngân. Dĩ nhiên, cô Ngân cũng trong mạng lưới hoạt động của Cộng Sản ở Sài Gòn.

Đến đây, mọi việc tường êm xuôi trôi lọt như ý Việt cộng mong muốn, nhưng không, trái lại đã bắt đầu trục trặc. Nguyên nhân cũng chỉ vì diễn viên đã không khéo đóng trọn vai trò.

Bà Hân tin tên xích lô là con nên tình bà vẫn thắm thiết thương yêu. Ngược lại, y biết y không phải con bà. Mẹ y hiện đang ở ngoài Bắc. Lúc đầu, vì cố gắng nổ lực để công tác thành công, nên y đã xuất thần thủ đúng vai trò. Sau một thời gian, những biểu lộ thương yêu với người mẹ giả trở nên cứng ngắc, không có hồn. Nỗi buồn của bà càng ngày càng khoét sâu, càng lớn. Bà thổ lộ với người thân quen và tất yếu, cả với em trai.

–  Tôi không hiểu sao, tôi thương yêu nó như trời biển, nhưng hình như có cái gì ngăn cách, tôi chỉ cảm thấy sự tẻ nhạt, gắng gượng ở bên trong của nó.

Sự phàn nàn, ca thán của bà dần dần đến tai những nhân vật phản gián. Một sự việc không bình thường! Tình mẹ con ruột thịt là sự thiêng liêng, phải có những chiếc dây vô hình gắn bó. Thấy một sự không bình thường thì phải đặt vấn đề. Mà nguyên tắc tình báo cũng như công an, nếu đã đặt vấn đề thì phải tìm mọi cách để biết rõ hư thực của vấn đề đó, cho nên, họ đã dùng chính ông cậu trong nhà làm tấm bình phong để bí mật theo dõi và phanh phui sự việc.

Gần một năm sau, trọn ổ gián điệp vùng đó đều bị sa lưới.

Trở lại nhiệm vụ phụ:

Dale và Brown mang đến hai chiếc máy bay MIG –15 và MIG-  19 dài chừng 20 phân, nhưng thật tinh vi, sắc sảo như máy bay thật, thu nhỏ; với đầy đủ cả động cơ, phù hiệu, cờ quạt…..Hai ông đã giảng cho tôi rõ ràng tính năng từng loại; để suốt quá trình thời gian tôi ở miền Bắc, nếu thấy loại máy bay đó trên bầu trời, về báo lại.

Ngoài hai máy bay MIG, hai ông còn đưa tôi xem hai cuốn sách có hình mầu: lon, phù hiệu các binh chủng, từ lính cho tới nguyên soái; cả y phục mùa Đông cũng như mùa Hè của quân đội Trung Cộng và Bắc Triều Tiên.

Ngoài ra, trong thời gian ở Hà Nội, tôi phải quan sát các hiện tượng ngoài đường phố. Theo dõi các báo chí, phát thanh những đơn vị nhỏ tập tành. Tiếp xúc quan hệ với mọi từng lớp người dân, v.v…Để từ đấy đánh giá (nếu ghi được số lượng cụ thể càng tốt) những điều tai nghe mắt thấy, nói chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội…và tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội.