Thép đen

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 20 Sep 2023

Gặp Z-5

Đặng Chí Bình

Bài 20

Sáu giờ chiều ngày 31 tháng 5 năm 1962, xe tới Kim Liên, Hà Nội. Mặt trời mùa Hè đã lặn khi xe còn cách Hà Nội hơn 10 cây số, thế mà những dáng hình quen thuộc của đất thanh lịch ngàn năm hãy còn sáng rõ, khi chiếc xe đò chở tôi vào bến Kim Liên. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu kỷ niệm của thời niên thiếu năm xưa như ùa về bủa kín hồn tôi. Đó là phút giây giao cảm buổi đầu còn trên xe khi nhìn thấy Hà Thành. Chân tôi rời khỏi xe, theo dòng người chảy ra phố phường, những ngoại cảnh chung quanh đập vào mắt tôi. Con người, xe cộ, biểu ngữ, tôi cảm thấy thật xa lạ đẩy đưa dần tới sự tò mò và cuối cùng là sự cảnh giác của nghiệp vụ. Phải rồi, đây là đất Cộng Sản, đất kẻ thù. Mươi phút, tâm tư chìm lắng vào hố sâu của hoài cảm đến nỗi tách rời thực tế, tôi phải nghĩ đến an ninh của tôi.

 Tôi đang hướng về ga Hàng Cỏ. Làm một vài động tác nghề nghiệp để quan sát chung quanh, rồi tôi rẽ ngang về phía hồ “Ha Le” trong lúc trời tối dần. Tôi cố ý lắt léo về nơi vắng vẻ để xác định an ninh. Đến đây, tôi xin nói về một điểm thiên bẩm mà trời đã cho cơ thể tôi. Thông thường, thị trường của con ngươi là 160 độ. Như vậy, 10 độ ở phía trái và 10 độ ở phía phải “chết,” nghĩa là khi con ngươi đang nhìn thẳng chính giữa, bất cứ vật gì di chuyển trong phạm vi 80 độ phía bên trái và 80 độ phía bên phải, người đó đều thấy. Trừ người nào có bộ mắt lồi, thì có thể thị trường của mắt rộng hơn.

Vậy mà, đôi mắt của tôi, chẳng hiểu thế nào, không phải lồi, đôi khi người ta còn nói là sâu nữa. Qua thử mắt thực tập, thị trường của tôi là 170 độ, có nghĩa là mỗi bên tôi chỉ có 5 độ “chết.” Chính vì thế, trên đường phố, tôi thường trông thấy người quen trước. Ngay khi thực tập theo dõi và chống theo dõi ở Sài Gòn, Brown, Dale và Phan đã khen ngợi nhiều lần. Dù phố thường đông đúc, hay địa hình phức tạp, (trừ khi tôi chủ quan, mất cảnh giác,) tôi cảnh giác thì bao nhiêu người hầu như tôi phát hiện hết.

Sau khi xác định không có hiện tượng gì khả nghi cả, tôi đã bắt đầu chủ quan và nghĩ rằng, từ chỗ đổ bộ ở Kỳ Phương, Hà Tĩnh, biết bao hiểm nguy gay cấn, chỉ một chút xíu nữa mình bị bắt, thế mà cuối cùng đều đối ứng linh hoạt thoát được hết.

Trời đã tối, theo lời Phan dặn thì tôi không nên mò gần về khu phố tôi đã ở trước kia, vì trong khi đi đường, bất chợt có thể gặp một người quen xưa, một người họ hàng, v.v… Họ sẽ ngạc nhiên rằng tại sao thằng Bình đã di cư từ 1954 mà bây giờ lại gặp ở đây. Từ đấy, có thể tôi sẽ bị phát hiện. Nhưng lúc này, do chủ quan, coi thường đối phương, tôi nghĩ là các ông ấy theo nguyên tắc cứng ngắc, nên quá lo xa, chứ khi ở Hà Nội tôi mới 16 tuổi, bây giờ đã 23-24. Lớn lên mặt mũi thay đổi nhiều, dù người quen có gặp chăng nữa, ai mà nhận được. Vả lại, Hà Nội bây giờ toàn là dân quê ở đâu mới về. Còn một yếu tố nữa, đó là vì lòng tôi cũng xúc động khi nhìn lại cảnh cũ. Nó như có hồn, cuốn hút ve vuốt lòng tôi. Từ hồ Ha Le chân cứ thả bước, mắt nhìn từng nhà, từng hẻm phố, từng gốc cây. Cảnh cũ còn đây, người xưa không thấy. Hồn lâng lâng, tôi bước mãi vào nơi cảnh quen, người lạ cho tới khi đến phố Tràng Thi rồi Tràng Tiền.

Ôi! Hồ Gươm! Hình ảnh hồ Gươm nằm trong ký ức suốt những tháng năm nổi trôi ở miền Nam, bây giờ đã hiện ra trước mắt. Vẫn chiếc Tháp Rùa âm thầm nghiêng bóng đen sẫm với vài vệt vàng sáng lung linh dưới mặt hồ của những ánh đèn đường chung quanh. Tôi rẽ sang Gô Đa, về Chế Linh, hướng về đền Ngọc Sơn, đến Bà Kiệu. Phố phường đông đúc hơn. Khi tôi qua rạp Phillamoniqufe, nhìn xa xa đầu hàng Dầu, thấy tấm biển đề:“Nhà Trọ Số 5 Hàng Dầu”

Chân đã mỏi, người đã mệt và cũng đã 7 giờ 30 tối rồi. Tôi quyết định vào xin trọ nghỉ đêm để lấy sức. Ngày hôm sau làm gì hãy hay. Nhìn bên ngoài, căn nhà một tầng, ngói và tường đen sạm, nứt nẻ vì gánh nặng thời gian.

Tôi đi vào, ngọn đèn điện nhỏ, bụi và mồ hóng phủ gần kín, hắt ánh sáng yếu ớt làm cho căn phòng sáng mờ mờ. Tại chiếc bàn kê trong góc, một lão già đang hý hoáy ghi chép. Tôi đoán là chủ nhà. Khi tôi đến gần, ông ta ngẩng lên, cặp kính lão trễ xuống. Tôi dùng từ không lịch sự như Cộng Sản:

– Cháu muốn trọ một đêm.

Ông ta cũng nhát gừng:

– Một đồng, đưa giấy thông hành đây!

Tôi rút giấy đưa liền. Ông ghi, rồi đưa cho tôi một miếng bìa con, vuông 5 x 5 phân, mầu vàng, mang số 4. Ông giữ giấy thông hành của tôi để nộp cho công an khu phố (theo nguyên tắc của các nhà trọ.)

Tôi cấm tấm bìa đó vào trong nhà. Dưới ánh điện vàng khè không đủ sáng vì mồ hóng, tôi thấy hai dãy giường cá nhân, gồm 8 cái. Mới có 3 người, hai anh bộ đội và một bác có vẻ nông dân. Tôi vào nữa là 4. Tìm được số giường, tôi vất chiếc túi dết, ngả người một tí cho đỡ mỏi. Mấy ngày nay không tắm rửa, tôi phải đánh răng và tắm một cái cho tỉnh người. Sau khi vào đi giải, tôi đã thấy chỗ tắm. Tôi lại xách túi dết ra phố. Tôi tính mua cái bàn chải và hộp thuốc đánh răng, và cái gì để nhét vào dạ dầy trước đã chứ. Tôi đi ra phía bờ hồ và rẽ về phía hàng Đào, hàng họ bầy bán ở vỉa hè. Tôi mua một cái bánh mì ỉu 5 hào trong cái thúng con của một cô bé ngồi bán, một cái áo may ô, một mũ cát. Lúc về, tôi cũng mua một góc thuốc lá Trường Sơn. Thế là toàn thứ thực của xã hội chủ nghĩa.

Về tới nhà trọ, có người đã ngủ. Tôi tranh thủ vào tắm, đánh răng và nhai chiếc bánh mì có lẽ đã từ hai, ba ngày trước. Ăn xong, tôi vào súc miệng, mở vòi nước làm mấy hơi. Tôi ra giường ngả lưng, đốt điếu thuốc Trường Sơn. Thế là cuộc đời cũng vi vu!

Nằm trong màn, lúc đó đã 10 giờ, chung quanh mọi ngưòi đã ngủ cả. Tôi suy nghĩ, tính toán. Thời gian ở Hà Nội rất ngắn, so với bao việc phải làm. Vậy, ngay từ sáng mai, tôi cứ tìm đường đến nhà thương Việt Đức xem sao, nhất là đóng đúng vai trò đi chữa bệnh. Còn một điều nữa, trước đây ở Hà Nội, còn quá nhỏ, tôi lại ở Hàng Bạc, nên chỉ đi nhà thờ lớn Hà Nội. Nhà thờ “X,” Phúc Xá thượng, hạ ở đâu, thực sự tôi chưa biết. Tôi chỉ nhớ mang máng bãi Phúc Xá, dưới gầm cầu Long Biên (hồi xưa có một lần theo mấy người bạn ra đó đá banh.) Tôi cũng phải ra đó thăm dò xem thế nào.

Sáng hôm sau, ngày mồng 1 tháng 6, tôi ra bờ hồ chỗ bến xe điện mua tờ báo Thủ Đô ngồi đọc và nhìn đủ hạng người qua lại. Hầu hết mọi thành phần, mọi lứa tuổi, từ các em học sinh cho đến các bác xích lô đạp, trên mũ hoặc ở cánh tay đều có đeo hay quấn một băng giấy mẫu, trên có hàng chữ: Đả đảo Ngô Đình Diệm bán nước. Chỉ một số ít, cá biệt mới không đeo mà thôi. Người đi bộ, người đi xe, v.v… ai tôi cũng thấy đeo. Điều này, nói lên sự kiện miền Bắc đang tăng cường chiến dịch tuyên truyền chửi bới miền Nam, mà mũi dùi chính là ông Ngô Đình Diệm.

Trời mùa Hè trong xanh, mặt trời chiều sáng không gian cũng không làm mờ nhạt được ấn tượng đầu tiên tôi nhìn Hà Nội. Tất cả là một mầu xám xịt, từ những dòng người đông đúc xuôi ngược trên những phố phường với áo mũ, không mầu xanh thì đen, hoặc nâu, và dép nếu không Bình Trị Thiên (râu) màu đen thì ba ta màu xám hay xanh. Đến nhà cửa xỉn lại vì rêu hoặc dơ bẩn, mà tôi nghĩ rằng từ ngày tôi rời Hà Nội đến nay đã hơn 8 năm, nay tôi trở về, chưa một lần quét vôi lại hay sang sửa.

Về âm thanh, thực là một thành phố chết, im lìm vắng lặng. Trên đường phố đầy người, nhưng toàn là xe đạp. Giữa trung tâm thủ đô, nơi sầm uất nhất, mà thỉnh thoảng mới thấy một chiếc ô tô. Tôi đưa mắt nhìn một vòng chung quanh hồ Hoàn Kiếm chu vi 2.300 mét. Cả một vòng như vậy, cứ trung bình 10 phút mới nhìn thấy một chiếc ô tô chạy, mà nếu không là molotova, thì cũng lại là commanca của bộ đội hay công an. Xe tư nhân hầu như không có. Thành phố yên vắng vì không có tiếng động cơ của xe cộ, cũng như của nhà máy. Khác biệt hẳn với Sài Gòn.

Sau đó, tôi quẹo lên phố Hàng Đào. Đang mải nhìn một tên công an túm tay một đứa nhỏ chừng 12 tuổi, kéo đi trên đường phố Hàng Bông. Một số ngưòi cũng nhìn theo và họ nói là ăn cắp. Tôi thấy một đoàn xe từ phía chợ Đồng Xuân đi xuống gồm 5, 6 chiếc Simca, Citroen, Peugeot. Chiếc đi đầu cầm cờ Việt cộng và Lào.

Đoàn xe đi chầm chậm, vì phố xá hẹp, nên tôi nhìn rõ Kongle và Võ Nguyên Giáp ngồi trong xe. Chà! Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt cộng hôm nay đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Lào! Các xe sau chở một lũ lóc nhóc Tướng và Tá, mặt tên nào cũng vênh vênh. Lúc đó tôi nghĩ, anh chàng Kongle bốc đồng đang bị lũ quái, cáo già ve vuốt, thổi! Mặt y dương dương, hớn hở. Sớm muộn, chúng sẽ cho anh chàng ăn mắm ngoé mà thôi!

Ngay từ đêm trước khi còn nằm ở Hàng Dầu, tôi đã đặt thành nguyên tắc. Ít ra, cứ mỗi ngày một lần, tôi phải kiểm tra xác định về an ninh của mình. Vì vậy, lúc này nhớ đến, tôi vờ hỏi mua mấy ống khóa, để có điều kiện quay ngang, quay dọc. Cầm ống khóa lên soi, mục đích nhìn hết mọi bộ mặt chung quanh tôi, trong phạm vi 30 đến 50 mét. Rồi sau đó, tôi quặt vào một ngõ hẽm sang phố Hàng Quạt. Đường Hàng Quạt thật vắng người, nhìn thấy một hàng bán nước chè ở vỉa hè. Chính vì tôi muốn nhìn lại phía sau toàn phố, nên tôi cố ý đi qua hàng nước vài bước, rồi như là muốn uống nước. Tôi quay trở lại, ngồi xuống chiếc ghế dài con trước hàng, lật một chiếc chén trên chõng để bà hàng rót nước. Nhờ những động tác này, tôi đã nhìn được hết mọi bộ mặt ở phố Hàng Quạt. Không có bộ mặt nào tôi đã nhìn thấy trước ở bên phố Hàng Đào. Yên tâm, trả tiền 5 xu nước xong, tôi đi về phía nhà thương Việt Đức.

Khi gần tới nhà thương, từ xa tôi quan sát, thấy mỗi người vào đều rút giấy đưa cho người gác cổng. Tới nơi, tôi làm theo, đưa tấm giấy thông hành và tời giấy giới thiệu. Tôi nói:

– Em là học sinh, mới ở Vĩnh Linh ra, xin vào chữa bệnh.

Tất nhiên, mặt tôi sịu xuống và chảy dài ra vì bệnh tật buồn phiền. Y xem giấy, nhìn tôi thông cảm nên chỉ nói nhẹ:

– Đi vào chừng 50 mét, rẽ trái sẽ thấy khu nội khoa.

Tôi cảm ơn, cầm giấy đi vào. Tôi vẫn cảnh giác, khi bắt đầu rẽ trái, mắt tôi lướt nhanh ra cổng, xem có gì khác thường không? Yên tâm, tôi tiến bước, khi nhìn thấy tấm biển ghi: “Khoa Nội’ trước mấy dẫy nhà to, tôi tiên vào chỗ phòng đợi, đã có khoảng 40, 50 người chờ. Hỏi thăm mấy người đợi, tôi đưa giấy giới thiệu cho cô y tá trực. Cô đọc giấy xong nhìn tôi hỏi:

– Thẻ học sinh anh đâu?

Tôi lấy ví rút thẻ trao cho cô. Cô nhìn thẻ rồi chăm chú nhìn tôi. Tôi thấy cái nhìn khác thường, dù vậy tôi vẫn tỏ ra bình thản nhìn cô. Một lúc sau cô mới chậm rãi trả lời:

– Bệnh tim thì sang khu B bên kia.

Cô chỉ tay. Thế mà làm người ta hết hồn! Không phải thì nói ngay lúc nãy, còn bày đặt hỏi thẻ học sinh!

Tôi cầm giấy ra phía dẫy ghế sau ngồi, tính toán cân nhắc. Thứ nhất, chủ trương của tôi hôm nay chưa phải để đưa tài liệu, mục đích chỉ đến xem những đường lối và cách thức sinh hoạt khám bệnh ra sao thôi. Tôi có bệnh thực đâu mà khám! Hơn nữa, tôi chỉ biết Z-5 là bác sĩ nội khoa ở Phủ Doãn, tức Việt Đức ngày nay, chứ chưa rõ chuyên trách về môn gì: ruột, gan, tim, phổi …? Tôi đang ngồi ngẩn ngơ suy nghĩ, tính toán, chợt tai tôi nghe thoáng:

– Bác sĩ Thọ có ở trong phòng không?

Thót người, tôi liếc nhanh về phòng trực. Thì ra một nam y sĩ hỏi cô y tá. Tôi chỉ thấy cô gái gật đầu và ngưòi y sĩ mở cửa bên ra hàng hiên. Phản xạ cấp thời, cân nhắc tình thế, tôi lợi dụng một đám đông, chỗ góc gần hàng hiên, tôi lẫn vào và đi theo ông y sĩ ngay.

Cả một dẫy dài, bao nhiêu cửa phòng. Đến một cửa phòng, ông y sĩ mở cửa, tôi đi thoáng qua liếc vào, phòng số 8. Tôi như bị điện giật. Dù nhìn rất nhanh qua cánh cửa vừa đóng lại, tôi đã thoáng thấy bộ mặt của một người mặc áo “blouse” trắng, đeo kính trắng, ngồi ở một bàn giấy to, trong một phòng rộng. Tuy đầu đã bạc, nhưng đúng hình dáng với tấm ảnh 4 x 6 mà Cục đã đưa cho tôi xem, giữ một tuần ở Sài Gòn.

Thời cơ đến, tôi phải quyết định lẹ. Tôi vẫn cứ đeo túi dết đi về phía cuối hành lang. Thỉnh thoảng, một người mặc “blouse” trắng đi lại, họ chả để ý đến tôi. Tôi tìm một buồng vệ sinh, nhưng nhìn khắp, chả thấy đâu. Tôi đành cứ đi, tôi lựa cho tay vào trong quần rờ và nắn sờ tìm tài liệu “X”, phải hai, ba lần mới thấy, tôi rút ra. Lúc tôi quay lại, từ buồng số 8 ông y sĩ lúc nãy đẩy cửa bước ra.

Thời cơ ngàn năm một thủa, tôi phải liều. Tôi đẩy cửa bước vào. Người đeo kính trắng đó ngửng lên nhìn tôi, mắt ngạc nhiên. Tôi thấy trong phòng còn ba bàn giấy nữa, hai bàn có người, một bàn không. Hai người kia cũng ngửng lên nhìn tôi. Tôi nói cố ý cho họ cùng nghe:

– Thưa bác sĩ! Mẹ cháu vẫn cứ sốt, vì vậy …

Đúng lúc ấy, hai người kia lại cúi xuống sổ sách. Tôi hạ giọng:

– “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi.”

Trong lúc hồi hộp, tôi chả nhớ là bao nhiêu chữ. Ông nhìn tôi, đôi mắt mở to, bàn tay ông đang cầm bút rung lên. Mặt ông lộ vẻ hết sức xúc động. Tôi lo quá. Ông này làm sao thế! Ông không đọc lại mật khẩu. Nhanh trí, tôi hiểu ngay là ông bị đột ngột quá. Có thể từ bao năm nay ông mong chờ, ông đã sống với cuộc sống bình thản, giờ đây bất chợt quá chăng? Nếu tình trạng đó, để lâu không lợi. Tôi vội cảm ơn bác sĩ rồi đi ra. Khi ra đến cửa, tôi cố ý quay lại đóng cửa, thế nào ông cũng nhìn theo. Đúng như vậy. Lúc đó hai người kia không nhìn thấy tôi, tôi giơ tay vẫy nhẹ, và mắt cũng làm hiệu là ra theo tôi.

Tôi đóng cửa và ra ngoài. Tôi đi theo hành lang vào phía trong, vì nếu đi ra ngoài phía phòng đợi, có thể tôi không vào được nữa.

Tôi ra ngoài như vậy, vì có hai vấn đề. Thứ nhất, nếu không phải đấy là Z-5, hoặc là Z-5 nhưng bây giờ vì lý do nào đó, ông sợ, ông không muốn lôi thôi nữa, ông sẽ không ra. Thứ hai, nếu ông theo ra, tùy cơ, tôi sẽ đọc lại mật khẩu. Trường hợp ông không trả lời đúng theo quy ước, tôi sẽ lựa theo tình thế biến chế đi, rồi tôi phải chuồn lẹ.

Khi tôi đi tới cuối hành lang, cửa phòng số 8 mở ra và ông đi ra. Tôi quay lại, ông đi về phía tôi. Thái độ và nét mặt ông lúc này đã bình tĩnh, tuy mắt vẫn đăm đăm nhìn tôi. Tôi coi như không nhìn thấy và đi trở lại phía ông. Ngang qua ông, tôi mới tươi nét mặt nhìn và để một tay lên cánh tay ông, nhẹ giọng:

– “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi.”

Ông mỉm cười:

– “Tôi chỉ chữa tim nhịp đập một trăm ba mươi.”

Tôi nhẹ người, liếc nhanh hai đầu hành lang, tôi cho tay vào túi quân lấy tài liệu, nhét vội vào tay ông. Ông định cất tiếng hỏi điều gì nữa, nhưng tôi bỏ đi ngay ra phía phòng đợi, không cần nghe gì thêm. Khi gần tới phòng đợi, tôi nhăn nhó mặt, để tay vào phía trái tim trước ngực, và đi qua phòng trực rồi ra cổng. Tên gác cổng mỉm cười với tôi. Tôi cũng cười đáp lại và đi tuốt ra phía bờ hồ.

Lòng tôi lúc đó thật hân hoan phơi phới. Nghĩ lại, tôi thấy thực là may mắn. Thành công bất ngờ!

Nếu sau khi cô y tá xem giấy tờ, tôi không ngồi đợi, làm sao tôi nghe được ông y sĩ hỏi về ông Thọ? Phải chăng như thế một xác xuất may mắn nào đó đã nâng đỡ những nỗ lực của ta trong cuộc đời? Một cơn gió mát thổi lướt qua hai bên má tôi mềm mại dịu dàng như bàn tay của một bà tiên: “Ta chúc mừng chú mày!”

Bờ hồ! Những gợn sóng lăn tăn rất đều khoảng cách của làn nước trong xanh, đang đuổi nhau vào bờ gây lên những tiếng động nho nhỏ triền miên nhịp nhàng, giữa một màu đỏ rực chan hòa của hoa phượng vĩ. Chung quanh hồ hầu như toàn hoa phượng. Những chùm hoa đỏ ối, nằm đè lên những tàng lá xanh xanh, soi bóng rạp sát mặt hồ. Hoa lá nhún nhẩy lắc lư đùa giỡn với gió Hè thổi qua từ phía sông Hồng.

Đã 11 giờ, tôi trở về phía Cầu Gỗ, tính tìm một hàng cơm nào đó để ăn một bữa cơm đầu tiên ở Hà Nội.

Khi tới gần nhà thủy tạ, tôi thấy một “kiosque” bán bia, nước ngọt, với ba, bốn bàn kề ngoài trời sát bờ nước, trống trơn vắng vẻ không có khách. Nhìn những chai bia “Hà Nội”, tôi thấy lòng mình nổi hứng bất tử. Tôi sà vào một bàn. Một cô gái trong “kiosque” mỉm cười, ra phía bàn tôi:

– Anh dùng gì?

Tôi đáp cộc lốc:

– Một bia “Hà Nội!”

Cô ta trở vào, vài phút sau mang một chai bia đã mở nút và một cái cốc có hai cục đá con. Tôi cầm chai bia, vừa rót vào ly vừa nói thầm với chính mình:

– Hôm nay, gọi là đặc biệt một chút để thưởng công!

Chà, bia “Hà Nội” gì mà lạt thế! Tôi nhấp một ngụm nữa. Vị bia chỉ thấy hơi một chút “gas”, nhạt thếch. Tôi có cảm tưởng như một chai “33” ở Sài Gòn đổ nước lã vào thành hai chai mà uống, chắc cũng còn thơm ngon hơn thế này. Vậy mà đến 6 hào cả đá (không đá 5 hào). Thôi, gọi là cũng có một chút hơi men trong người để tâm hồn bốc khói.

Uống xong, tôi thả bước về Cầu Gỗ. Khi đến đầu phố Cầu Gỗ và Tạ Hiền, tôi thấy một đám đàn bà con gái ở góc đường. Mấy người đó tươi nét mặt nhìn tôi, hỏi tíu tít:

– Anh có gì bán?

– Này, này đưa tôi xem nào!

Một chị cứ giằng lấy cái túi dết của tôi, định kéo riêng ra một chỗ để coi. Lúc đó tôi cũng hơi lạ. Sài Gòn đâu có cảnh ấy. Hẳn rằng, cảnh nghèo túng đói ăn, thường nhiều người phải moi móc đồ nhà đi bán, nên mới có kiều con buôn vặt, đứng đón đầu phố. Tôi nói “Chẳng có gì” rồi đi luôn ra phía chợ Hàng Bè.

Chợ Hàng Bè bây giờ, trông chẳng khác một cái chợ quê ngày xưa: Dăm ba cái sạp gỗ với toàn rau muống, raul lang, rau cần,…Chợ mà chẳng có một hàng thịt, hàng cá tươi nào, chỉ có cá khô. Tôi đi qua chợ, vào phố Hàng Bè, nhìn cheo chéo thấy một quán cơm và 3, 4 chiếc xích lô đỗ trước cửa. Theo ý nghĩ ngây thơ khi còn ở Sài Gòn, của tôi về Cộng Sản: Hà Nội ngày xưa với bao nhiêu kẻ giầu người nghèo. Người giầu thì giầu quá, sung sướng quá. Ngược lại, người nghèo thì nghèo quá, suốt đời cực nhọc lầm than mà không đủ ăn. Chắc khi Cộng Sản về, giới giầu có bị đánh đổ, bị ghét bỏ, tẩy chay, còn những người nghèo khổ như con ăn, con ở, xích lô, thợ thuyền cả đời đem bát mồ hôi đổi lấy miếng cơm mà Cộng Sản gọi là giai cấp cần lao, dân nghèo thành thị hay bần cố nông gì đấy, có lẽ sẽ có rất nhiều quyền lợi, cuộc sống phải thay đổi. Cuộc đời của những người này, như cảnh chị Dậu trong Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố; dưới chế độ Cộng Sản, sẽ xa rồi…Những ngày tăm tối, để đón nhận bình minh của đảng mang về cho giai cấp mình.

Mang trong đầu ý nghĩ như vậy, nên thấy một hàng cơm có nhiều bác xích lô, tôi vào ăn, để xem đời sống của các bác ra sao. Nhìn bên ngoài cửa kính của một quầy nhỏ, tôi thấy dăm, sáu đĩa con con bầy 3, 4 miếng đậu rán một đĩa, đĩa có mấy miếng dứa xào, v.v… Tôi bước vào. Hai dẫy bàn kê dọc theo nhà, trên bàn trống trơn. Bốn dẫy ghế dài kê theo bàn; góc này một anh xích lô tay đang cầm đôi đũa ngồi không; chỗ kia một bác vận quần đùi ngồi chồm hổm trên ghế, để lòi cái cục… cũng có đôi đũa trước mặt. Phía dẫy bàn bên kia, ba người cũng là xích lô ngồi ngả nghiêng túm hụm lại, trước mặt cũng có ba đôi đũa để trên bàn, đang bàn tán hỏi nhau:

– Thế nào, từ sáng đến giờ bao nhiêu rồi?

– Tao mới được 7 hào, chưa đủ tiền thuế, đói thì ăn đã, chiều tính, còn mày?

– Tao được mỗi cú xuống Phà Đen 1 đồng 2. Nắng quá, uống mẹ nó hai hào nước! Ăn hai củ khoai hồi 5 giờ sáng, bay hết mẹ rồi. Phải kiếm cái đút bụng đã, tính sau.

Anh thứ ba tiếp:

– Hôm nay vớ bở, tao được 2 cú đồng 8. Tao phải bỏ riêng 1 đồng nộp thuế. Còn 3 hào, chén đã. Từ giờ đến tối, tao phải cố làm sao được 2 đồng rưỡi.

– Vợ mới mà, hết ý!

Tôi cũng đến ống đũa lấy một đôi, về một góc ngồi. Giữa lúc ấy, một bà đội khăn vấn, từ nhà dưới đi lên ôm một cái thúng, trong có một nồi cơm to, khói bay nghi ngút, chung quanh nồi có chèn bao tải, có lẽ để giữ cho cơm nóng lâu. Cả 5 người đứng dậy, đến chồng đĩa, mỗi người lấy một cái, cùng đưa đến chỗ bàn, bà hàng đang dùng đũa cả đánh cơm ra. Một đứa bé từ trong nhà đưa theo ra một chai nước mắm và một ống đừng thìa nhôm để chỗ cạnh bà hàng. Mỗi đĩa cơm, lưa thưa vài miếng sắn khô (trông ngon hơn ở Hà Tĩnh nhiều) chừng độ 2 bát cơm. Bà hàng cầm chai nước mắm xóc xóc, vẩy đều vào đĩa cơm, lấy một cái thìa cắm vào giữa, đưa cho một người, người đó trả hai hào. Hết 3 người rồi, còn 2 ngưòi nữa. Tuy tay họ vẫn còn cầm đĩa, nhưng chưa lấy cơm, như chờ cái gì. Đang vẩn vơ suy nghĩ, nhìn ra phía cửa có thêm hai bác xích lô nữa đi vào, thì có tiếng cãi nhau, và có tiếng bà hàng cơm quát to:

– Những cái anh này! Của đâu mà lắm thế! Đưa tiền đây, còn để cho người ta bàn hàng chứ!

Tôi nhìn lại, thấy hai anh xích lô cầm hai đĩa cháy đầy, mắt nhớn nhác, liếc ngang, liếc dọc, thỉnh thoảng bỏ một miếng cháy vào mồm nhai rau ráu. Thì ra, các anh giành nhau mua cháy, nên chờ từ nãy, mua cháy được nhiều hơn.

Hai anh đi về phía gần bàn tôi, vừa đi vừa bốc ăn như đói lắm, mắt hau háu nhìn mọi chỗ. Từ nãy, tôi vẫn liếc nhìn chiếc tủ kính có mấy đĩa món ăn. Tôi muốn ăn, nhưng chưa thấy ai kêu, vì họ ăn toàn cơm với nước mắm, nên tôi hơi e dè. Tôi lấy đĩa, đưa cho bà hàng. Sau khi bà hàng đơm cơm xong, tôi hỏi:

– Thức ăn kia bán thế nào?

Bà hàng nhìn tôi một lúc, như xét nghiệm xem loại người nào mà dám hỏi thức ăn:

– Năm hào một đĩa.

– Cho tôi một đĩa.

Thế là đĩa cơm của tôi bớt được một phần nước mắm. Bà cúi ra mở tủ, tôi chỉ đĩa lòng gà xào dứa.

Tôi cầm về bàn. Hai anh ăn cơm cháy mở to mắt nhìn mãi vào đĩa thức ăn của tôi. Chẳng biết vì khi nãy tôi đã uống bia hay vì cơm sắn khô đắng, tôi ăn vẫn thấy khó nuốt. Phần vì đói, phần để cho mọi người chung quanh không thấy khác thường, tôi cố tỏ vẻ ăn liên hồi. Miệng nhai nhưng đầu tôi vẫn băn khoăn, mắt nhìn mọi người ăn một cách ngon lành. Phải rồi! Mình vửa ở một nơi ăn những thứ ngon xong, chứ lâu rồi thì cũng như họ. Ăn được hai phần ba đĩa cơm, tôi buồn nôn vì đĩa lòng gà đã nguội, hơi tanh tanh, lại thấy có mấy cái lông gà con con trong một miếng ruột gà. Tôi lại phải giả vờ ôm bụng. Hai anh ăn cháy, từ nãy vẫn cứ nhìn tôi, rồi nhìn đĩa cơm và đĩa thức ăn. Tôi vừa bỏ thìa và đũa xuống, mắt hai anh đã sáng lên, nhìn tôi cười. Tôi cũng mỉm cười rồi xoa bụng, kêu trống không:

– Không biết tại sao đang ăn lại đau bụng?

Hai anh xô lại chỗ tôi rất lẹ, một anh một đĩa cơm thừa, anh kia đĩa ruột gà ăn dở.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 20 Sep 2023

Đường ra Hà Nội

Đặng Chí Bình

Bài 19

Trời trong xanh, vài vầng  mây trắng lờ lững trôi về phương Nam, hình như muốn ngừng lại nói với tôi:

– Chào mừng chú mày, ta sẽ về Nam báo cho mọi người biết, chú mày đã thoát được một “ca” đặc biệt!

Hai con cò trắng từ phía núi bay sà đỗ xuống mảnh ruộng trước mắt. Tôi đưa mắt nhìn đây đó. Thỉnh thoảng giữa ruộng khô cũng có một vũng nước con đục ngầu. Tôi vục tay mò thấy mấy chú cá rô con, dăm mười con tép nhẩy loi choi. Nếu mà nhà gần đây, tôi đi khắp cánh đồng, chắc sẽ được một bữa ê hề tép kho.

Tôi cứ tung tăng, chân nhẩy choi choi nhởn nhơ trên cánh đồng một mình. Gió thoảng mùi nồng nồng của đất, của những gốc rạ còn lại. Lòng tôi thênh thang mở rộng như cánh đồng này. Chân tôi bước đều, đầu tôi lan man nghĩ đến chiếc bi đông và những viên thuốc lọc nước của Harry cho. Tôi chẳng cần! Chôn tại chỗ, đeo theo càng lỉnh kỉnh. Lúc này, tôi đã thấy khát nước thật sự, nhưng tôi vẫn bằng lòng.

Đã gần tới đường cái, đã nhìn rõ dăm ba mái nhà rải rác dọc theo con đường. Thỉnh thoảng một đám bụi mù cuộn tung, đẩy một chiếc xe đi phía trước. Mặt đường nhựa nhưng đầy ổ gà bụi đất. Gần tới đường cái, tôi phải đi vào con đường nho nhỏ sau mấy căn nhà, mới lên đường nhựa. Những căn nhà ở sát mặt đường cũng lụp xụp nghèo nàn, không hơn gì những căn nhà trong làng. Nhiều nhà vắng người, những tấm phên liếp bằng nứa che kín cửa. Những cây cà cây ớt, vài đám rau muống cằn cỗi đầy bụi đường, trong những mảnh vườn con con phía sau nhà, đã nói lên cảnh đời của những người dân địa phương.

Thật may, ngay gần đấy, tôi nhìn thấy cột cây số đầu sơn đỏ, thân trắng, một phía đề “Kỳ Anh 18cs”, một phía đề “Quảng Bình 32cs”. Vậy là Quốc lộ 1 rồi! Như thế, rõ ràng đây là tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây đến ranh giới Hà Tĩnh-Nghệ An phải hàng 30, 40 cây số nữa. Thế có chết con người ta không chứ! Không biết các anh, các bác vì đêm tối mịt mùng nên lầm chỗ, hay vì sợ quá nên vất đại, bỏ của chạy lấy người, bỏ cái nợ để chạy thoát thân? Chẳng biết các anh các bác nghĩ thế nào. Chính tôi cũng như các anh, các bác, lại còn phải sắp lên bờ một mình nữa, biết bao hiểm nguy đón chờ. Như vậy, phải chăng tôi đi vào chỗ chết như thế này, là việc riêng tư của tôi hay sao?

Thấy một quán nước bên đường, ở đầu làng với một cô bé chừng 11, 12 tuổi, mắt toét bán hàng và mấy bác nhà quê đặt quang gánh trước chõng hàng, tôi đường hoàng ghé vào. Tôi mua một tấm mía và hai quả chuối ăn. Trong bụng mấy ngày không ăn, nên tôi muốn ăn cả chục quả, nghĩa là hết chỗ chuối đang bầy đó, nhưng sợ rằng mọi người để ý, nhất là chiếc biển gỗ con đã sứt nẻ, hàng chữ đỏ quạch treo ngay trên vách, phía chéo trước mặt tôi: “Phòng gian, phòng gián, bảo mật.” Vừa nhai mía, tôi vừa nhìn tấm biển. Bàn chân tôi rung rung, như đang chia sẻ với niềm rạo rực, hân hoan của dạ dầy. Lần đầu tiên tôi mua hàng trên đất Cộng Sản.

Thỉnh thoảng một chiếc xe ô tô chạy qua, đi vào hoặc đi ra thường chạy tuột luôn. Tôi nhớ lại, qua cuộc phỏng vấn anh lái xe ở trại tiếp đón đồng bào vượt tuyến bên Gia Định, tôi đã biết xe không đón khách dọc đường. Vậy nên, giữa đường, nếu anh giơ tay vời, xin đi không đúng là hành động của người dân miền Bắc trong thời gian ấy. Ngoài một vài chiếc đò cũ rích, còn hầu hết là xe GMC hoặc Molotova hay Commanca của bộ đội.

Ăn xong, tôi tiếp tục đi, lúc này đã hai giờ trưa, trời càng nóng dữ. Dọc theo đường không có một bóng cây, chỉ lưa thưa vài bụi cây con hai bên vệ đường, cũng cằn cỗi mốc meo, đầy bụi bặm. Từ mặt đường, hơi nóng hừng hực bốc lên. Tôi đành cuốc bộ, đầu không nón mũ, đi về phía Kỳ Anh. Qua cách lựa lời thăm hỏi, em bé bán hàng đã cho tôi biết, phải về Kỳ Anh nghỉ trọ ở đó, sáng hôm sau mới có xe đi Vinh. Tôi cũng được biết xã này là xã Kỳ Phương. Từ đây về Kỳ Anh còn 18 cây số nữa. Cái nắng thật kinh khủng, tôi tưởng đến khô người đi. Tôi phải lấy chiếc khăn mặt đội lên đầu, rồi cố rảo bước đi dưới cái nắng đốt da đốt thịt. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao gió cũng nóng. Học địa dư và thời tiết ngày xưa, vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Từ tháng 5 đến tháng 8 có những ngọn gió Lào thổi qua dẫy Trường Sơn nóng vô cùng, gió nóng đến độ có thể làm héo lá cây.

Tôi đi được chừng 2 cây số, xa xa có một cây to duy nhất ở bên đường. Chiếc bóng râm đen đen choáng hẳn một gioi đất, đang đong đưa ngúc ngắc trên mặt đường nóng bỏng, như muốn mời gọi kẻ lữ hành dừng chân trên đường dài đầy nắng lửa.

Trong bóng râm, đã có một chị phụ nữ mang đôi quang gánh với hai chiếc thúng không, đang ngồi nghỉ. Trông thoáng chị khoảng hai mươi lăm, ba mươi tuổi. Chiếc khăn vuông đen buộc chặt mớ tóc dài trên đầu, làm cho bộ mặt rám nắng của chị như sạm lại. Tôi kéo chiếc khăn lau mồ hôi mặt, rồi cũng ghé vào bóng mát. Tụt một chiếc dép ra lót đít rồi cũng ngồi nghỉ, cách xa chị chừng 2 mét. Tôi ngồi yên lặng, tay cầm chiếc khăn phe phẩy, mắt đăm đăm dõi nhìn giậu mồng tơi trước ngôi nhà con con phía bên kia đường. Giậu mồng tơi không còn lá, chỉ có vài cái ngọn rụt, cằn lưa thưa, còn toàn là dây đỏ quạch, héo tong teo như sắp chết khát. Tuy không quay lại, nhưng tôi biết chị phụ nữ đang nhìn tôi, rồi chị nói bâng quơ:

– Trời nóng quá!

Lúc này tôi mới quay lại nhìn chị. Bàn tay sạm nắng đưa lên nhẹ vuốt mấy sợi tóc mai, môi chị ngập ngừng hơi mỉm cười như chào làm quen một người lạ. Thấy vậy, tôi cũng cười, rồi cũng nói không có chủ từ:

– Nóng đến khô người đi!

Chỉ có hai người, trời nóng, đường vắng, có lẽ thấy tôi có vẻ cởi mở, nên chị nhìn tôi rụt rè nói tiếp:

– Cuộc đời cực nhọc vất vả quá!

Tôi hơi ngạc nhiên, đăm đăm nhìn chị. Chị cúi xuống một lúc, nghiêng người với chiếc khăn con mầu đất, vắt ở đầu quang gánh lau mồ hôi, rồi lại ngửng lên nhìn tôi, dè dặt thăm dò:

– Chẳng biết đến bao giờ dân mình mới đỡ khổ? Bao nhiêu thóc lúa trồng lên cứ phải nhập kho nhà nước hết; còn dân ăn khổ quá!

Câu chuyện và điều kiện đã dồn tôi vào phải đóng vai một cán bộ để giải thích:

– Bây giờ dân mình cực, vì đang giai đoạn thắt lưng buộc cụng để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, mọi người hãy tạm chịu khổ.

Tuy chị nghe tôi nói như thế, mặt chị vẫn còn đầy vẻ băn khoăn. Im lặng một lúc, rồi chị hỏi tiếp:

– Thế lúa gạo đem đi đâu?

Đã trót thì trét luôn, tôi ra vẻ hơi ngạc nhiên, trả lời:

– Ô hay, mình làm gì đã chế được máy móc, vì thế, mình phải đem gạo đi đổi lấy máy móc chứ. Hơn nữa, vì nghĩa vụ quốc tế, ta còn phải có trách nhiệm giúp đỡ nhân dân những nước bạn nữa!

Giữa lúc đó, từ phía Quảng Bình, một anh đang cọc cạch đạp chiếc xe đạp đi tới. Sau xe, đèo một số lủng củng những đồ phụ tùng xe đạp đã cũ rỉ. Dáng bộ anh. Từ nét mặt tới cử chỉ, không thể là một tên Cộng Sản. Tuy thế tôi vẫn ngồi yên, mắt lơ đãng nhìn xa xa phía chân trời. Anh đỗ xe, lục đục mãi mới dựng được, vì chiếc chân xe đã quá già. Anh lật chiếc mũ lưỡi trai trên đầu, đen nhẻm đầy dầu mỡ, chắc cũng cùng tuổi đời với chiếc xe. Anh vừa đi vào bóng râm, giữa chị phụ nữ và tôi, vừa quạt lia lịa tìm một chỗ ngồi, mồm kêu “nóng quá!”. Giọng anh trọ trẹ, tôi khó xác định. Chị phụ nữ lên tiếng:

– Anh ở Quãng Bình ra hỉ?

Anh gật đầu và nói:

– Tôi về Vinh.

Thấy thế, tôi hỏi ngay:

– Anh sẽ đạp xe về Vinh?

Anh cũng chẳng nhìn tôi, mắt anh vẫn để vào chiếc xe đạp màu sơn đã loang lở, chỉ còn một chiếc thắng, đầy bụi đất. Anh vừa lắc đầu vừa nói:

– Tôi đến Kỳ Anh nghỉ, sáng mai mới đi xe đò về Vinh.

Tôi hơi mừng, vì đã có bạn đồng hành, tôi vội vàng đon đả:

– Tôi về Hà Nội chữa bệnh đây, tôi cũng sẽ đi qua Vinh.

Một lúc sau, chị phụ nữ đứng dậy, quay lại mỉm cười gật đầu chào anh đi xe đạp và tôi, rồi rảo bước trên đường. Tôi trông theo mãi chiếc quanh gánh, nhấp nhô một quãng thật xa, rồi rẽ vào một con đường nhỏ phía bên kia quốc lộ, Sau đó, anh đi xe đạp cũng đứng lên, quay lại nói với tôi:

– Tôi đi trước nhé! Có khi về Kỳ Anh sẽ gặp.

Quen như xe đạp ở miền Nam, tôi định nhờ anh đèo, hoặc tôi sẽ đèo anh cùng đi. Nhưng khi nhìn lại chiếc xe đạp anh dẫn ra đường, tôi có cảm tưởng chính nó cũng đã phải lặc lè mang một mình anh, nên tôi kìm lại, chỉ tươi cười:

– Ừ! Có thể chúng mình gặp lại nhau ở Kỳ Anh thì vui!

Anh gò lưng đạp chiếc xe lọc cọc trên con đường nóng bỏng, gặp ghềnh như nỗi niềm của người dân sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt của loài người!

Còn lại một mình, đường không một bóng người, tôi chưa muốn đi ngay vì chiếc dép râu cọ vào làm chân đã lột da, đau và xót. Đi giầy đã quen, bây giờ xỏ dép râu, lại phải đi bộ xa nên tôi cứ dùng dằng mãi rồi mới đứng dậy đi. Vừa đi, tôi vừa nhìn cảnh vật nhà cửa hai bên đường. Đất Hà Tĩnh thật nghèo nàn khổ cực. Cây lúa ở ruộng chỉ cao chừng 30 phân, mỗi cây chừng 5, 6 bông nho nhỏ, vì ruộng không những thiếu nước mà còn toàn là cát. Tôi nghĩ rằng, người dân ở đây làm được một bát gạo thi phải đổ một bát mồ hôi. Thế mà, chỉ được hưởng một phần mười của bát gạo đó thôi, do cách quản chế bóc lột tinh quái của Cộng Sản. Tôi cứ đi khoảng 2, 3 cây số, thấy một chiếc bụi bên đường lại chui vào trốn nắng. Suốt hai bên đường, hàng chục cây số không có một cây to nào, toàn những bụi cây khô cằn thấp lè tè. Cái đất kinh khủng, cây và cỏ cũng khó mọc.

Một lần, tôi đang ngả người nằm nghỉ cạnh một bụi cây ở mé đường, mặt đường nắng chói chang, hơi nóng hừng hực từ mặt đường nhựa bốc lên làm tôi lóa cả mắt. Óc tôi đang miên man tính những chặng đường phải đi tới, bỗng nhiên một tiếng “soạt” như ai ném một hòn đá vào một bụi cây ở gần đấy. Tôi ngồi bật dậy, lắng nghe, lướt nhanh mắt toàn bộ chung quanh, vẫn im vắng. Không thể có người nào ở giữa đường trống nóng như thiêu này. Dù vậy, tôi phải biết nguyên nhân của tiếng động vừa rồi. Tôi khẽ trườn sang phía bụi cây có tiếng động. Sau khi quan sát, tôi thò tay bới đám lá rậm. Bỗng vụt! Một con chim màu nâu, to bằng con chim ngói bay ra. Tôi chả biết chim gì, nhưng thấy nó bay không bình thường, tôi lướt nhanh đuổi theo, và vồ được. Nó thở hổn hển, mỏ vãi máu. Tôi sờ khắp người nó, không có một chỗ nào bị thương. Sau, tôi suy đoán, có thể vì trời nóng quá sức, nó không thể bay tới những nơi có nước. Vì vậy, tôi nhường chiếc khăn che đầu, bọc che nắng cho nó và mang theo.

Đi gần hai cây số nữa, tới một chiếc cầu, nhìn xuống dưới cầu, mãi dưới đáy có một dòng nước nhỏ như con suối con. Cả chim và tôi đều cần nước. Tôi mon men tìm cách xuống tới giòng suối. Tôi vừa len lỏi vừa nhìn lên chiếc cầu cao tít trên mặt đường. Có thể mùa mưa, mùa nước, đây là một dòng sông. Tôi xuống rửa mặt, rồi cho cả người và chim uống nước. Đúng là nó bị khát nước quá, nó uống tới đâu, tình dần tới đó. Thế mà chẳng hiểu vì sao nó lại không bay đi. Tôi phải mang nó theo mãi gần tới Kỳ Anh. Mặt trời đã ngã kuất sau dẫy Trường Sơn. Những chòm xóm hai bên đường đã lác đác bóng người ra ngoài. Đến một con đường đầu làng, thấy một em bé chừng 9-10 tuổi, hai chân toàn bùn đất. Tay đang cầm một chiếc thừng dẫn một con trâu gầy bên vệ đường, tôi gọi và giơ con chim ra hiệu, cho em. Em nhìn con chim một lúc rồi lắc đầu không muốn lấy. Tôi hơi lấy làm lạ về thái độ em bé nhà quê, nghèo này. Ngay khi tôi còn bé, có được một con chim như vậy thật là thích thú. Vậy tại sao em lại không lấy? Tôi đành mang con chim đi một đoạn đường nữa, gặp một bác nông dân gánh hai chiếc thúng, tuy có hai cái nia con đậy, nhưng dáng đi của bác nhẹ tênh. Bác đang đi ngược chiều với tôi phía bên kia đường. Khi ngang qua, từ bên này đường, tôi giơ con chim ra gọi bác, hỏi bác có lấy con chim này không. Bác nhìn tôi một lúc, như xem tôi nói đùa hay nói thực rồi mới gật đầu.

Về con chim, lúc đó chả có một ý nghĩ gì. Chỉ vì tính yêu thiên nhiên và thích chơi đùa nghịch ngợm, nên dù đang trên đường vào sâu trong lòng địch, tôi đã đuổi bắt. Nhưng sau này, tôi kể chuyện cho các anh, các bác trong tù, họ đều nói:

– Đó là cái điềm của cậu đấy, may mà cậu cho con chim ấy đi, nên còn sống. Nếu cậu ăn thịt con chim ấy thì cậu không còn dịp nào kể chuyện lại cho chúng tôi nghe nữa đâu, vì cậu đã hai năm mươi rồi. Người ta kỵ nhất: Chim sa, cá nhẩy.

Nghe để mà nghe, chứ tôi không thể tin được những chuyện vô cớ như thế. Từ óc thực tế, tôi luôn luôn nhìn sự việc trên cơ sở lý luận khoa học. Nhưng con người cũng thật mâu thuẫn. Vì cứ tù mãi, chịu đựng những ngày tháng lê thê cùng cực gần hết cả cuộc đời. Thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến con chim ấy.

Đi một đoạn đường nữa, xa xa đã thây một khu chừng vài chục mái nhà tranh, trông thật nghèo nàn lụp xụp. Một chiếc biển gỗ to, đóng ngang trên hai cái cột, dựng ở cạnh đường. Trên tấm biển ghi HUYỆN KỲ ANH bằng chữ mầu trắng trên nền đỏ, nước sơn đã long lở bạc mầu. Lác đác đây đó một số người đi lại. Người ta gọi đây là phố huyện.

Lúc này đã hơn 6 giờ chiều, ánh nắng không còn, người ta ra ngoài đường nhiều hơn. Tôi tiến dần vào phố huyện, vừa đang quan sát thăm dò nghe ngóng, để tùy theo tình hình tìm chỗ trọ. Thì may quá, tôi thoáng thấy anh đi xe đạp đã gặp ở gốc cây, gần xã Kỳ Phương đang từ trong đó đi ra phía tôi. Thật nhẹ cả lòng! Tôi tiến đến chận đầu anh, cười niềm nở:

– Đi đâu mà ra đây?

Đôi mắt anh nhìn tôi ngỡ ngàng, xa lạ. Rồi như chợt nhớ ra, anh vồ cả hai tay vào vai tôi, vồn vã hỏi:

– Bây giờ mới tới đây à?

Tôi trả lời:

– Ừ! Trời nắng quá, tôi đợi mát, đi dần.

Qua thái độ trên của anh, tôi thấy anh toát ra một con người hiền lành thật thà mà còn vô tâm nữa. Tôi nhắc lại câu hỏi khi nãy:

– Anh đi đâu ra đây, xe đạp đâu rồi và trọ ở đâu?

Mắt anh long lanh, miệng anh rối rít, tay chỉ về phía một dãy chòi con con chéo đấy:

– Xe tôi gửi ở nhà trọ. Tôi vào trong kia đi tiêu một chút, chờ tôi một tý thôi, rồi tôi ra mua thuốc lá cho mà hút. Chúng mình về cùng trọ một chỗ nói chuyện cho vui.

Tôi còn chân ướt chân ráo, ngơ ngác chưa biết trọ ở đâu, cách thức trọ ra sao, giờ gặp anh thì nhất rồi còn gì! Chừng năm phút sau, anh ra. Anh kéo tay tôi dẫn vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ treo một tấm biển: Bách Hóa Tổng Hợp. Anh mua một hào được 6 điếu thuốc Trường Sơn. Nếu mua cả gói thì 3 hào. Anh vỗ vai, đưa tôi một điếu. Thái độ của anh tỏ vẻ như đây là một ân tình đặc biệt anh dành cho tôi. Đã mấy ngày không ăn cơm, lại vừa cuốc bộ một đoạn đường dài, lúc này mới thấy đói và mệt, nên tôi hỏi anh:

– Anh đã ăn cơm chiều chưa?

Anh lắc đầu, tay chỉ vào phía trong:

– Chưa, tý nữa vào kia, chúng mình cùng đi ăn.

Tôi kéo anh trở lại hiệu bách hóa:

– Tiện, tôi cũng mua một hào thuốc để hút.

Nhà trọ là hai căn nhà tranh nhỏ, mỗi nhà có hai dẫy giường dài bằng những cây nứa bổ đôi ghép lại. Những chiếc chiếu cói đã cũ mèm, rách nhiều chỗ. Vì thế, nằm giường nhưng như nằm trên đống củi, vừa đau người lại vừa ọp ẹp. Đưa giấy thông hành nộp cho bà chủ trọ. Hai hào thì không có mùng, bốn hào thì có mùng. Trí nói:

– Chúng mình hai người một mùng thôi, đỡ tốn.

Tôi đồng ý. Lúc này, tôi đã biết tên anh là Trí. Anh cũng gọi tôi là Hùng theo giấy tờ. Khi sang tới quán cơm quốc doanh, cũng là chỗ bán hàng cơm duy nhất ở phố huyện, tôi có ý định mời Trí ăn cơm. Tôi còn đang do dự, Trí đã quay lại hỏi:

– Hùng định ăn 2 hào hay 4 hào? Hãy xếp hàng sau tôi.

Tôi chưa biết rõ thế nào, nên trả lời:

– Để cho vui, tôi sẽ ăn theo anh, anh ăn gì tôi ăn nấy!

Thấy Trí lấy 4 hào ra cầm tay, tôi cũng lấy 4 hào. Đã mấy ngày nay chưa có hạt cơm nào trong bụng, tôi đinh ninh rằng sẽ phải chén hai đĩa mới thỏa. Đây cũng là lần đầu tiêu nếm cơm xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao trí tuệ loài người. Tay tôi vừa cầm đĩa cơm theo Trí ra một chiếc bàn trống, vừa nhìn đĩa cơm. Hai phần là cơm, một phần là sắn khô thái mỏng. Những miếng sắn, có lẽ lâu ngày, hoặc khi phơi không được nắng nên mầu đen đen. Cả cơm và sắn nấu lẫn lộn thành một thứ cơm xam xám. Một miếng cá khô bằng hai ngón tay và nửa lá rau riếp. Trên mỗi đĩa cơm đã cắm sẵn một cái thìa nhôm. Tôi theo Trí đến một mé vách có treo một cái ống bương to đựng đũa để lấy một đôi đũa tre.

Bàn nào cũng trống trơn, chẳng có nước mắm hay ớt. Tôi lựa xúc chỗ cơm không cho vào miệng. Nó vừa chát vừa đắng ngắt. Nhìn Trí, nhìn người khác, họ vẫn ăn ngon lành, ấy là nhiều người họ ăn loại hai hào, đĩa cơm chỉ rưới tí nước mắm thôi đấy. Mình đã lịch sự, cao cấp hơn, có cá, thế mà, tuy bụng đói, tôi phải cố gắng tọng vào, nhai như mọi người, cho có vẻ hòa đồng. Miệng nhai nhóp nhép, tâm tư tôi chạnh tưởng về một cảnh đời ở một phương trời bên ấy. Chỉ mới hai ngày trước đây thôi, những người họ đang ăn uống phè phỡn, thừa thãi thức ngon vật lạ, họ có thấy được đầy đủ giá trị của cuộc sống? Hai không gian, hai cảnh đời, tuy cùng chung một mảnh dư đồ nước non!

Tôi đã cố gắng ăn, nhưng cũng chỉ được nửa đĩa. Tôi sợ họ thấy lạ, nên tôi ghé sang Trí ôm bụng, mặt nhăn nhó:

– Không hiểu sao, tôi đang ăn, đau bụng quá!

Tôi vẫn xoa bụng, trong khi Trí băn khoăn bảo tôi hãy ăn cố đi. Tôi vừa đẩy đĩa cơm sang Trí, vừa lắc đầu:

– Tôi đau lắm! Quen rồi, đã đau mà còn ăn nữa, lại càng đau thêm. Trí ăn hộ đi!

Ngần ngừ một lúc, rồi Trí ăn ngon lành. Tôi cứ giả vờ ngồi ôm bụng nhăn nhó. Khi về tới nhà trọ, trời đã tối. Nóng vô cùng. Trí dẫn tôi ra mua hai cái quạt giấy, mỗi cái một hào. Mỗi người đều trả riêng. Thực ra tôi không thiếu tiền, nhưng tôi phải giữ ý với Trí.

Bắt đầu thân, khi vào trong mùng. Trí than cuộc sống ở đây khổ cực quá. Trí rút ví lấy cho tôi xem một cái ảnh vợ anh đang bế hai đứa con nhỏ. Nằm bên nhau, Trí và tôi tâm sự. Tôi được biết, Trí cùng vợ con và bố mẹ ở Thái Lan về nước năm 1956. Bây giờ, nhà nước đưa về Bến Thủy (Vinh). Bố mẹ Trí làm nghề đánh cá, còn Trí sửa chữa xe đạp. Trí khoe, ngày còn ở Thái Lan, cuộc đời thật thảnh thơi, chẳng bao giờ phải lo nghĩ đến chuyện ăn uống. Thường có nhiều bạn bè chơi bời, chuyện trò thân mật. Chủ Nhật ngày nghỉ thường rủ nhau đi chụp ảnh, rất vui. Bây giờ nghèo nàn vất vả quá. Có cái gì cũng cứ phải bán dần để ăn, cuối cùng còn ít nào phải mua vội một chiếc nhà tranh để ở. Trí nói rất quý tôi, cứ căn dặn khi đi Hà Nội chữa bệnh trở về, thế nào cũng vào chơi. Trí sẽ giới thiệu bố mẹ và vợ, rồi nhất định phải giết một con gà cho ăn (7 năm đã tiêm nhiễm phong cách xã hội chủ nghĩa, giết gà là một chuyện ghê gớm và đặc biệt).

Sáng hôm sau, chúng tôi ra lấy giấy tờ. Trí cũng định đi xe đò với tôi, nhưng chờ mãi 8 giờ chưa có xe. Mấy người có xe đạp họ rủ nhau đi trước. Đoạn đường 52 cây số từ Kỳ Anh tới thị xã Hà Tĩnh. Trí đi theo họ nên từ giã tôi, căn dặn, tả nhà cửa v.v… là thế nào đi về cũng ghé vào. Tôi đồng ý. Tôi ở lại cùng bao nhiêu người khác chờ xe để đi thị xã Hà Tĩnh. Mãi tới 10 giờ mới có một chiếc xe kiểu “Dodge 4” xọc xạch, cổ lỗ sĩ có thể từ thời 1954, thùng xe đã phải chấp vá lung tung, không mui. Một đồng rưỡi một vé ra thị xã Hà Tĩnh. Hành khách chen chúc, không có ghế, toàn đứng nêm vào nhau. Đường xóc vô kể. Trên xe, người cứ ngã nghiêng xiêu vẹo. Phụ nữ ngồi, đàn ông đứng, thật hỗn độn. Tôi đứng cạnh một anh Hải Quân chừng 23, 24 tuổi. Nhiều lúc xô mạnh như những người say rượu vì đường quá xấu, nên đôi khi phải ôm chầm vào nhau.

Khi tới Hà Tĩnh, tôi thấy thị xã gì mà như phố huyện ngày xưa, toàn nhà tranh, thỉnh thoảng mới có một cái nhà xây cũng cóc gặm và đen nhẻm do những năm tháng nghèo nàn, nên không hề sửa sang. Tôi và anh Hải Quân đi với nhau. Anh rất có cảm tình với tôi. Phần tôi, bất cứ lúc nào, ở đâu, cũng đóng vai một học sinh ở Vĩnh Linh. Tôi theo anh thì tuyệt quá! Đi với một Hải Quân (tên anh là Hảo, anh mặc đồng phục Hải Quân,) vừa không phải bỡ ngỡ từ cảnh vật xa lạ tới mọi cách sinh hoạt đi đường. Lại còn được một “vỏ bọc” vững vàng, ít bị để ý. Anh cho tôi địa chỉ viết thư, đơn vị anh đóng ở Vinh, anh bảo:

– Chỗ đơn vị đóng thường bí mật, chỉ giao thiệp thư từ với người nhà, tuyệt đối không được cho một ai biết. Đây là địa chỉ người quen ở Vinh, thỉnh thoảng tôi ra nhận thư. Tôi muốn làm bạn với Hùng. Khi Hùng chữa bệnh về, thế nào cũng viết thư cho tôi nhé. Suốt quãng đường từ thị xã Hà Tĩnh ra thị xã Vinh, tôi với anh là một cặp. Đi với Hảo tôi rất thoải mái. Có lúc Hảo thân mật:

– Đơn vị đóng ở Bến Thủy từ hai năm nay được lệnh tăng cường “phòng gián bảo mật” vì miền Nam nó đang tung gián điệp ra ngoài Bắc.

Tôi hỏi:

– Thế ta đã bắt được vụ nào chưa?

– Thế Hùng không nghe ta bắn rơi chiếc C-47 ở Cồn Thoi hay sao?

Tôi gật đầu:

– Tôi muốn hỏi là bắt được ở trong nội địa cơ?

Y lắc đầu:

– Cái đó, mình làm sao mà biết được.

Đến Bến Thủy, khi còn ở phía bên này sông, tôi thoáng thấy Trí trong căn nhà tranh nhỏ Trí đã tả. Trí đứng ở cửa cố nhìn lên xe tìm tôi, nhưng tôi nép vào chỗ khuất. Đến phà Bến Thủy, Hảo bắt tay từ giã tôi. Tôi theo xe về thị xã Vinh. Về tới Vinh, trời đã cập quạng, khoảng 7 giờ rưỡi gì đó. Tôi theo những người đi trọ ở một nhà trọ tập thể để mai lấy vé đi Hà Nội.

Nhìn thoáng thành phố Vinh, ngoài một số xí nghiệp, nhà máy ở vùng ven, trong thành phố thật quê mùa, một nửa là nhà tranh. Khách bộ hành trên đường phố, nếu không đi dép râu là đi… đất. Trong khi xếp hàng nộp giấy thông hành lấy vé trọ, trời thì tối, tôi đứng sau một anh bộ đội mang ba lô và mang lon Trung sĩ. Tại một chiếc bàn nhỏ, trên đặt một ngọn đèn chai, một cậu chừng mười lăm, mười sáu đang xem giấy tờ của từng người rồi bán vé. Người nào nó xem giấy, nó cũng hạch hỏi nào là:

– Đến Vinh để làm gì?

– Năm nay đã đến Vinh mấy lần?

– Gốc quê ở đâu?

– Còn giấy tờ gì nữa? v.v…

Mọi người xếp hàng sốt ruột. Khi gần tới viên Trung sĩ, thấy nó cứ hạch hỏi người trước anh mãi, anh ta bực quát:

– Cái thằng này, mày làm cái gì mà mày hạch hỏi người ta nhiều vậy? Mày làm như ở đây có gián điệp không bằng!

Tôi cười thầm, “gián điệp đang đứng ngay sau mày đây!”

Cũng nhờ anh đó quát tháo, những người sau đỡ bị vặn hỏi. Nhà trọ bến xe Vinh cũng là nhà tranh, nhưng hai dẫy dài hơn. Cũng một giá tiền, hai hào không mùng và bốn hào có mùng. Cũng sàn nứa ọp ẹp lùng bùng như ở Kỳ Anh. Cái mùng cá nhân đen xì, rách lung tung và sực mùi hôi khăn khẳn của nhiều người và nhiều ngày không giặt. Đêm đó rệp cắn ngứa ngáy suốt đêm, tôi thật khó ngủ. Khoảng một giờ đêm, thấy ngưòi ta hét lên kêu mất trộm inh ỏi ở dẫy bên, tôi cũng phải sờ lên cái túi gối ở đầu, rồi buồn cười nghĩ thầm: “Là một điệp viên thừa sống, thiếu chết, vào được đất địch rồi, ngủ, có cái túi dết vật dụng lại để bị mất trộm.”

Sáng hôm sau, mới 5 giờ sáng đã có tiếng loa gọi khách dậy ra lấy giấy tờ. Đã quen thuộc, nên tôi ít phải ngỡ ngàng khi lấy vé xe lên Hà Nội. Xe đò đi Hà Nội có ghế ngồi, mặc dù cũng cóc gặm rách như tổ đỉa. Đoạn đường từ Vinh lên Hà Nội, có lúc hành khách phải xuống xe đi bộ qua cầu, vì cầu cũ kỹ không chịu nổi sức quá nặng khi chở cả người, như cầu Lèn Thanh Hóa, cầu Quất Ninh Bình, v.v… Đường đi thật ghê, thậm chí có lúc xe xóc đầu hành khách va cả lên mui xe. Tôi nghĩ những người thợ vặn những con tán (vít) của xe thật tài.

Thép đen

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 20 Sep 2023

Vào Đất Địch

Đặng Chí Bình

Bài 18

Đã bước chân lên bờ, mà người tôi vẫn còn quay cuồng mệt lả, tôi nằm luôn tại chỗ ngoài bãi cát trắng dăm phút cho lại sức. Bây giờ chỉ còn một mình, tôi nhìn vào phía trong, vẫn đen kịt một mầu, không thấy một hình dáng nhà cửa, cây cối. Tuy người chưa hết rã rượi, nhưng theo cái bản tính tự nhiên của sự sinh tồn, tôi vội vơ chiếc ba lô, tay xách đôi dép râu, chúi đầu tiến vào phía trong, chỗ mầu đen, để ẩn nấp nằm nghỉ. Chứ đây là giữa bải cát trắng lồ lộ, nằm làm sao yên. Chạy được vào chục mét, tôi thấy bãi cát có những khoảng, đốm loang lổ mầu đen. Tôi bước chân lên, thì ra là cỏ! Chẳng biết là thứ cỏ quái quỷ gì mọc trên cát lại toàn là gai, đâm vào chân tôi đau nhói. Vội vàng ngồi xuống, tôi thụt chân vào đôi dép râu, rồi tiếp tục lần mò chạy vào sâu nữa, qua hết bãi cát, đất sỏi càng lúc càng dốc lên. Bỗng, tôi bước hụt chân, cả người lẫn chiếc ba lô nặng chịch đều lộn tùng phèo xuống một hố đầy lá và cành cây khô. Sườn tôi đập vào một hòn đá đau điếng, nhưng vì hốt hoảng, căng thẳng, tôi vẫn thục mạng bò lên khỏi hố. Tôi cứ tưởng chiếc hố là cái bẫy của kẻ thù có gài mìn, nó sắp nổ.

Cứ ôm chiếc ba lô lúi húi xê dịch sâu mãi vào phía trong cho đến một lúc người quá mệt, tôi ngồi thụp xuống, ghé sát mặt đất, căng mắt ra nhìn vào màn đêm đen kịt. Nhìn lên nền trời xam xám, bóng mờ mờ của một cây to trước mặt. Tôi lầm lũi tiến về chiếc cây. Tôi đã tỉnh dần, nhìn đồng hồ đã hai giờ hơn. Trời vẫn tối như mực, giơ bàn tay trước mặt không nhìn thấy. Tôi chỉ còn dùng tai, vểnh lên nghe ngóng. Chỉ nghe những tiếng xào xạc của lá cây lẫn vào tiếng rì rào của sóng biển xa xa.

Dựa gốc cây mươi phút đã đỡ mệt, tôi lần mò lấy tay sờ soạng mặt đất chung quanh, xác định điạ hình, đào chôn những thứ tôi không cần mang theo. Đất cát nên tương đối mềm. Tôi lần mò lấy chiếc xuổng con trong ba lô. Đã mấy lần thực tập chôn giấu vật dụng trong đêm, tôi hiểu điều quan trọng nhất là không để rơi ra ngoài một hòn đất mới nào. Một chiếc túi to may sẵn, bao nhiêu đất cát đào lên, đều đổ vào đấy.

Trong lúc loay hoay làm việc, tôi nghĩ đến các vỏ bọc trong kế hoạch khai báo khi bị rơi vào tay địch mà Sài Gòn đã huấn luyện cho tôi. Ngay từ khi đó, tôi thấy Cục Tình Báo miền Nam đã đánh giá cộng sản thật ngây thơ. Vỏ bọc 2 và 3 làm sao cộng sản tin được. Sài Gòn không thấy làm như vậy sẽ gặp hai khuyết điểm: thứ nhất, nó sẽ không tin vào một vỏ bọc nào hết. Thứ hai, chắc chắn thân tôi sẽ nhừ đòn của chúng. Cho nên, lúc này tôi quyết định bỏ hẳn vỏ bọc 2 và 3. Tôi đã chôn mấy chục lọ thuốc Tây của vỏ bọc 2, cả lương khô, bi đông lọc nước, chiếc máy hồng ngoại tuyến, 200 đồng tiền miền Bắc, thuốc lá “Đại Tiền Môn”, diêm quẹt. Những thứ này xét ra không thực tế, lại vừa kềnh càng lỉnh kỉnh, vừa càng dễ bị phát hiện. Tôi chỉ mang theo hai trăm đồng với một chiếc túi dết, cùng một số quần áo lót, nghĩa là những thứ đã cũ của miền Bắc. Những tài liệu, đựng trong một cái túi tí con, tôi đã khâu phía bên trong quần lót. Tài liệu này, ngay từ khi rời Đà Nẵng tôi đã luôn mang theo trong mình. Dù vậy, tôi vẫn thỉnh thoảng phải cho tay vào sờ, vì đó là linh hồn của chuyến đi.

Vì đã có kinh nghiệm, nên chỉ hơn một tiếng đồng hồ tôi đã chôn giấu hoàn hảo. Làm xong, đưa tay sờ độ dày của lá khô bên cạnh, tôi xoa chỗ chôn vật dụng cho bằng như cũ.

Nhìn đồng hồ 3 giờ 30 phút, quá hồi hộp, căng thẳng thần kinh trong khi làm việc tôi không để ý, bây giờ tôi mới thấy chỗ sườn đau ê ẩm, nhoi nhói. Tôi sờ tay vào không thấy sưng. Tôi tự nhủ, kệ nó, rồi nó sẽ khỏi. Lúc này, tôi mới thấy đói và thấm mệt. Tôi gối đầu lên túi dết, dự định nằm một tý để lấy sức. Vừa mệt, vừa thiếu ngủ tôi thiếp đi lúc nào không hay. Khi tai tôi thoáng nghe tiếng người gọi nhau í ới, tôi giật mình thức giấc. Bò nhổm dậy, tôi mở to mắt, vểnh tai lên, hướng về có tiếng người khi nãy. Tôi nhìn đồng hồ mới 4 giờ 30. Trời vẫn còn tối đen. Tôi ngạc nhiên, hay là tôi mơ. Tôi vẫn nhớ đinh ninh lời ông Phan nói: “Nơi đây có thể nghỉ ngơi hàng tuần thoải mái,” nghĩa là khu vực này không có người ở. Với khả năng thính giác của mình, tôi tin là đã nghe đúng, vì vậy tôi tiếp tục nghe ngóng. Nhưng chỉ là tiếng gió rì rào lẫn vào tiếng xào xạc của vài chiếc lá khô rời cành.

Mãi chả thấy gì, vẫn cái im lặng của đêm trường. Một tiếng cú ở đâu xa rúc lên trong đêm khuya, nghe dài lê thê như tiếng thở than của những kiếp người nhiều cực nhọc gian khổ. Tôi lại nằm xuống như cũ. Chưa được mười phút, đột nhiên một tiếng cười dòn ngặt nghẽo của một người con gái, lẫn vào trong gió làm tim tôi thắt lại. Tôi nhỏm bật dậy, tiếng một người đàn ông nghe rõ mồn một:

– Để cái liềm đấy cho tui!

Không còn nghi ngờ gì nữa, với phản xạ tự nhiên, tôi vội vơ lấy cái túi dết và lủi dần, xa hướng có tiếng nói.

Trời sáng dần, mờ mờ, tôi đã nhìn ra cảnh vật. Ngay chỗ tôi ngồi là một chỗ nghĩa địa, lưa thưa một số ngôi mả, lác đác chung quanh vài bụi cây nhỏ cành lá khô cằn như thiếu nước, bụi nào cao nhất cũng chỉ chừng 2 mét. Cả một khu vực, chỉ có một cây to duy nhất chỗ đêm qua tôi đã lần mò tới được. Lướt tầm mắt về những phía xa xa, bao quanh phía trong, toàn là những lũy tre làng ngang dọc. Như vậy, ở đây thật gần xóm làng!

6 giờ, xa xa phía làng, một đoàn người trai gái, liềm hái đang đi về phía tôi. Nhìn quanh, chẳng còn chỗ nào kín đáo để ẩn núp. Gần chỗ tôi đang đứng, chỉ có duy nhất một bụi cây nhỏ, đường kính chừng 2 mét và cao cũng khoảng 2 mét là cùng. Cấp bách quá rồi, tôi đành chui vào đấy, trong khi đoàn người vẫn đang đi tới. Con đường mòn đi qua chỉ cách chỗ bụi cây tôi nấp chừng 6 mét. Trong bụi lại có một ổ kiến vàng to tướng, kiến bò vào chân, vào người tôi cắn nóng ran. Tôi chỉ dám lấy hai tay xoa khe khẽ, không dám làm mạnh vì sợ rung cành lá.

Khi đoàn người đi ngang qua bụi cây, tôi tường như nghẹn thở. Nếu có ai đó buồn đi tiểu, rẽ vào bụi cây này, ôi thôi, cuộc đời tôi sẽ… đi đứt! Điều làm tôi hoang mang không ít nữa là họ nói tiếng ríu rít như chim, nhiều tiếng tôi không hiểu được. Tiếng Nghệ An tôi đã biết; ở đây, không phải tiếng đó. Như vậy, đây chỉ có thể là Hà Tĩnh. Thực ra, tôi cũng chỉ suy đoán chứ chưa dám khẳng quyết, vì Phan đã nói rõ ràng: “Chỗ Bình đổ bộ thuộc tỉnh Nghệ An giáp với Hà Tĩnh. Đây là vùng quê hương của họ, họ là thổ công của vùng này. Bình hãy yên tâm!”

Còn một điều nữa, một phần do tinh thần tắc trách của Phan, nhưng phần chính là do tôi. Do tinh thần chủ quan xem thường địch. Tự tin vào khả năng của mình sẽ qua mặt chúng được, cho nên tôi đã không hỏi vùng tôi đến là làng nào, xã nào, huyện nào khi quyết định thay đổi điểm đổ bộ khác. Đó là một khuyết điểm trầm trọng của tôi, người đi vào đất địch để hoạt động.

Nhưng qua thực tế, dù tôi có hỏi kỹ để biết rõ chăng nữa, tôi vẫn bị tình trạng hoang mang như lúc này. Nghĩa là, tôi cảm thấy hải thuyền đã không đưa tôi đến đúng chỗ quy định, mà Phan đã giao ước với họ. Ngồi trong bụi cây, càng suy nghĩ mặt tôi càng nóng lên. Như thế này, thật là đầy cam go, gay cấn: Một người trai Bắc lạ, ở giữa một vùng mà chưa biết đích xác thuộc tỉnh nào, chứ đừng nói làng xóm địa phương.

Lúc này, đoàn người đã xuống ngay một thửa ruộng cách chỗ tôi nấp chừng 200 mét để gặt lúa. Họ cười nói, chuyện trò ầm ĩ. 7 giờ, rồi 8 giờ. Mặt trời chói chang, đỏ như lửa đang bò lên cao từ hướng Đông. Đến đây, tôi mới nhớ lại chiếc mũ cối, vì vội vàng, lại rũ rượi vì say sóng, tôi đã để quên trên hải thuyền. Thật là lúng túng nhiều mặt. Ở trong bụi mãi đâu có được. Trời nắng, khi họ nghỉ gặt, giải lao, họ sẽ kéo vào nơi bóng mát nghỉ ngơi. Tôi bấn cả người lên, ngó ngấp chung quanh. Giá có cách gì bới đất để chui xuống! Phần bị kiến cắn nhiều, lại còn sợ hãi, nên căng thẳng làm tôi tê người đi.

Nhìn lại phía cây to, chỗ tôi chôn giấu vật dụng, cách bụi cây tôi đang nấp chừng 30 mét. Do đêm tối sờ soạng, tôi đã để rơi mấy hòn đất ra ngoài, mà tôi không biết. Hơn nữa, lá phủ ngụy trang chỗ chôn cũng chưa ổn như mình nghĩ. Người tinh ý nhìn thấy, sẽ tò mò, phát hiện ra ngay. Làm sao đây? Đây cũng là chuyện sống chết, tôi phải tìm mọi cách để giải quyết. Tôi lựa một góc khuất do bụi cây che với nơi ruộng của đoàn người đang gặt. Tôi bỏ túi dết lại trong bụi, nằm sấp, bò về phía cây to. ị Tr.31

Tiếp theo trang 18

Tôi nhặt những hòn đất vương vãi đút dần vào túi quần, xáo lại những chỗ lá khô cho đồng nhất, rồi tôi bò về bụi, móc những hòn đất bỏ ra.

9 giờ rồi. Mồ hôi tôi ra ướt đẫm áo, vừa vì tinh thần căng thẳng, vừa vì cái nóng oi nồng của mùa Hè. Mới còn sớm mà sao gió thổi từ hướng Tây nồng nực, gió cũng nóng. Lúc này tôi phải quyết định, dù có bị bắt liền tại đây. Muốn hay không tôi cũng phải chui ra ngay khỏi cái bụi cây quỷ quái này. Vì còn một điều gay cấn nữa, khi sớm, vì sợ và vì bị kiến cắn, tôi không để ý. Bây giờ, trời sáng rõ tôi mới thấy trên đầu và chung quanh tôi, toàn là sâu róm! Trong cuộc đời tôi, không hiểu sao loại này tôi ghê sợ nhất. Tôi chẳng biết sợ thứ gì, dù trong rừng gặp hổ hay rắn. Ngay khi còn đi học ở Sài Gòn, có lần tôi đã trèo vào chuồng cá sấu để sờ da nó. Một vài người bạn thân chẳng có thể làm gì được để bắt tôi phải chiều theo ý họ, trừ khi họ có con sâu róm. Chính tên Đặng Trí Hoàn đã cầm một cành điệp có con sâu róm, đuổi tôi chạy dọc suốt mấy phố chung quanh trại học sinh, để xẩy ra một tai nạn giữa hai người đi xe đạp, trên đường phố, đầu năm 1957.

Nghĩ lại lúc ngồi trong bụi cây, bây giờ tôi còn nổi gai ốc lên. Sau này, lúc cộng sản khai thác cung, nếu chúng biết được nhược điểm ấy của tôi, cứ đưa sâu róm dí vào người, không biết lúc ấy tôi sẽ như thế nào. Tôi chui ra khỏi bụi cây ngay! Tay vuốt lại quần áo ngay ngắn, khăn mặt vắt vai, một bên khoác túi dết, tôi đường hoàng đi ra.

Tôi đã có chủ định, cứ phải vào làng. Hiện giờ, tôi chưa xác định được Quốc lộ 1 nằm về hướng nào phía bên trong. Tôi đưa mắt nhìn khắp phía xa xa, trong cái màu xanh bạt ngày của cây và núi, tôi cố chú ý, cũng chẳng thấy vật gì di chuyển. Lúc đó khoảng 9 giờ 30 sáng. Nhìn về phía đoàn người đang gặt, tôi tươi mặt, vừa cười, vừa giơ tay ra hiệu chào và tiến về phía họ. Vài cô gái tự nhiên cười ré lên, tay vẫy vẫy gọi:

– Anh ơi! Đi đâu đấy, xuống đây gặt lúa với chúng em!

Một số thanh niên cũng cười. Tôi cứ tiến bước về phía họ, rồi tay khoắng lên lia lịa, nói to:

– Chào các bạn, vui quá, lúa năm nay có khá không?

Tôi đi đến nữa chừng, rồi vờ chợt xem đồng hồ tay, tôi ngửng lên, tay chỉ về phía làng:

– Chết đã 9 rưỡi rồi, tôi phải vào gặp ông chủ tịch đã!

Mồm nói, chân tôi quay lại phía làng, vừa đi tới vừa ngoái lại, đưa tay vẫy vẫy:

– Chiều nhé, tôi còn ở lại đây đến chiều!

Các cô rối rít léo nhéo, vẫy gọi tôi. Đi dăm chục mét, tôi quay lại cũng vẫy, mấy chiếc bàn tay giữa ruộng cứ giơ mãi lên vẫy tôi. Đã đi xa, qua được “ca” này, tôi cũng thêm phấn chấn tinh thần. Làm sao họ có thể biết được rằng, tôi vừa ngoài biển vào đây đêm vừa qua. Từ nơi bụi cây, dẫn vào làng là một con đường đất đỏ, dài chừng độ 700 mét. Trời nắng chang chang, đầu lại không mang mũ nón, thật là bất tiện. Trên đường đi tới, sẽ càng khó khăn thêm ra.

Vào tới gần làng, tôi thấy trước một chiếc cổng tre là một người đàn ông cởi trần, mặc chiếc quần đùi đen, khoảng năm chục tuổi, ngồi ngay xuống vệ cỏ. Tay ông ta cầm chiếc roi tre, đập đập vào cây khoai nước dưới ruộng như đùa nghịch chơi một mình. Ngay từ xa còn cách khoảng 200 mét, tôi đã thấy lão nhìn phía tôi rồi, thế mà giờ đây tôi đi gần đến, lão vẫn coi như không biết. Thái độ của lão già làm tôi hơi chờn. Theo lẽ thông thường, trong một xóm làng vắng vẻ, thấy một người lạ đi đến, phải trố mắt ra nhìn mãi mới phải. Khi tôi tới, còn độ 2, 3 mét, tôi phải lên tiếng trước xem sao:

– Chào bác, bác ngồi chơi? Cháu vừa ngồi ngoài đó! (tay tôi chỉ về hướng đoàn người đang gặt phía xa) nói chuyện với các anh chị vui quá. Ở ngoài đó cháu mới uống nước đấy, thế mà vào tới đây đã khát rồi. Cháu vào xin bác ngụm nước nhé?

Miệng tôi nói, chân như có vẻ định đi vào cổng. Tôi đã thấy một căn nhà tranh con lụp xụp, với vại nước để bên cạnh chiếc cầu ao bằng 3 thân tre ghép lại. Tôi chào và nói bấy nhiêu lời, mà lão chẳng trả lời tôi một tiếng. Lão ngước nhìn tôi, rồi đứng dậy đi về phía trong làng, nói mấy tiếng cộc lốc:

– Uống nước thì đi theo tui!

Tôi đã tưởng lão câm, bây giờ lão mới nói. Vậy, từ nãy giờ lão là con người tôi đáng sợ. Lão cứ im lặng đi trước, tay vẫn cầm cái roi tre vung vẩy. Tôi phải phá tan cái không khí nặng nề này:

– Vụ mùa năm nay có khá hơn năm ngoái không bác? Năm ngoái cháu về, chỉ thấy tương đối thôi, bác nhỉ?

Im lặng một lúc, rồi lão trả lời tôi, giọng nhát gừng:

– Cũng khá!

Thật khó bắt chuyện! Thôi cứ đành đi theo lão, rồi sẽ tùy cơ ứng biến. Mà lão dẫn đi uống nước xa thế! Mãi gần giữa làng. Tới nơi, tôi nhìn thấy một sân gạch rất rộng, trên đó mấy người đang gò lưng kéo con lăn lúa bằng đá. Mấy đống khoai lang to tướng bên cạnh sân. Mấy thanh niên nam nữ đang chọn khoai từ đống này sang đống kia. Tôi hiểu ngay, thằng cha già này dẫn tôi vào chỗ chết.

Tôi bỏ lão, sà ngay vào chỗ đống khoai to. Tôi trầm trồ khen những củ khoai lớn và hỏi chuyện mấy người thanh niên đó. Tuy tôi nói chuyện, mắt vẫn không rời lão già chó chết. Lão đi vào căn nhà con phía bên kia sân, trong đó, tôi thấy mấy thanh niên mặc quần áo nâu, mấy khẩu CKC dựng ở mé vách. Tôi đoán là du kích! Lão già ghé tai một người nói gì đó, và người này nhìn về phía tôi. Phải chủ động, tôi chào mấy người nhặt khoai, rồi đi về phía nhà du kích. Lão già mắc dịch trở ra đường cũ, về ngay. Khi đi qua sân lúa, tôi cúi xuống nhặt một bông lúa lên nhấm. Tôi biết mấy tên du kích đang theo dõi, không bỏ sót một hành động nào của tôi. Tôi vẫn đủng đỉnh ở giữa sân, toi còn nói như đùa với mấy người kéo lúa:

– Như thế này là đốt giai đoạn đấy!

Tôi và mấy ngưòi ấy cùng cười vang. Tôi vừa đi vào nhà, vừa gật đầu chào mấy anh du kích. Thấy thái độ tự nhiên của tôi, một anh có vẻ là chỉ huy, cầm cái tích sứt vôi, rót vào một trong 3 cái chén mẻ, cáu ghét đen xì, đang để lỏng chỏng trên chiếc bàn mộc bám đầy bụi đất. Anh vừa cười vừa nói:

– Mời đồng chí uống nước!

Tôi cầm chén nước và xách luôn cả tích nữa. Uống hết, tôi rót tiếp, miệng như nói một mình: “Tại anh Đạt đây! Hôm qua, tôi đã bảo tôi không uống được nữa, anh cứ cố ép, làm từ sáng đến giờ uống bao nhiêu nước. Còn ngủ nhỡ giờ nữa chứ!”

Anh du kích chỉ huy (trong 3 người, tôi chỉ thấy anh ta nói, nên đoán vậy) chừng độ 25 tuổi, nhìn tôi có vẻ hơi ngập ngừng:

– Thế này không phải, đề nghị đồng chí cho chúng tôi xem giấy tờ?

Tôi tươi nét mặt, nhìn anh, tay cho vào túi sau rút ví, miệng nói:

– Hoan nghênh tinh thần cảnh giác cao của các đồng chí!

Tôi mở ví, rút tờ giấy thông hành, nhưng cố ý dềnh dàng cho họ xem thấy bìa giấy nghĩa vụ quân sự, và một số giấy tờ khác. Anh ta cầm xem, tôi coi như không để ý, chỉ tay ra sân nói với hai anh kia:

– Năm nay, vùng mình khá hơn năm ngoái nhiều!

Trong khi đó, tôi thấy thái độ của anh xem giấy tờ có vẻ ngần ngừ. Thực ra, lúc này ruột tôi cũng đang co thắt lại, chả biết giấy tờ có chính xác không, và tình huống này sẽ dẫn tới đâu. Tuy vẫn nhìn ra sân, nhưng tôi không bỏ sót một cử chỉ nào của họ. Tôi thấy anh đó nói nhỏ gì với một anh du kích khác, hình như có nói đến xã trưởng, rồi anh kia nói không có nhà. Sau đó lại nói đến cơ quan, lại nghe hôm nay Chủ Nhật, rồi tôi chỉ nghe thoáng thấy tiếng “Phong”. Lúc tôi quay lại, anh du kích chỉ huy cầm giấy, mỉm cười nói với tôi, có vẻ ngài ngại:

– Tôi đề nghị anh (bây giờ y gọi tôi là anh, vì giấy tờ là học sinh) theo anh này lên gặp ông chủ tịch.

Tôi sáng mắt lên, vẻ ngạc nhiên, nói:

– Có phải lên nhà ông Phong phải không?

Anh đó mở mắt to nhìn tôi, rồi gật đầu. Tôi quay lại, vừa kéo tay anh du kích sẽ dẫn tôi đi, vừa nói to:

– Hay quá! Tôi cũng đang định đến nhà ông ấy đây. Vậy thôi, nào ta đi!

Thái độ này của tôi đã làm không khí cởi mở hơn. Anh du kích cầm giấy tờ đi trước, không mang súng. Tôi thấy tình hình không căng lắm.Trên đường đi, tôi tìm mọi cách để kể chuyện trò vui vẻ với anh du kích. Chủ đích trong lòng, tôi chỉ muốn hỏi anh ta đây là làng gì, xã gì, huyện hay tỉnh gì mà thấy điều kiện không thể cho phép. Đã nhiều lần lên tiếng ngập ngừng lên đến cổ họng, rồi lại đành kìm nuốt xuống, chỉ sợ hở cái đuôi ra thì nguy. Đường trong làng vắng vẻ quạnh hiu, lác đác đây đó vài mái nhà tranh trông lụp xụp tiêu điều lẫn vào lũy tre, nghe thật vắng lặng hiu hắt. Trái ngược với trái tim tôi, đang đập thùm thụp như trống làng vào đám.

Tới gần một chiếc ngõ có cổng gạch, anh du kích rẽ vào, tôi biết ngay là nhà tên chủ tịch (không biết là huyện hay xã). Nhìn vào trong, tôi thấy một cái sân gạch, một bà cụ mặc váy nâu, đang khòm lưng hý hoáy cầm chiếc chổi quét ở góc sân. Hai căn nhà làm nối vào nhau thành hình thước thợ, tuy cũng là nhà tranh nhưng rất khang trang sạch sẽ so với những nhà khác trong làng, vỉa hè bó gạch. Khi vào tới sân, một con chó mực con bé tí từ trong nhà bếp ra hè, đứng ngửng đầu lên sủa húng hắng. Bà cụ vừa ngửng lên, mắt hấp háy nhìn chúng tôi, mồm vừa xùy chó. Tôi sà đến chỗ bà cụ, để một tay lên vai cụ, rồi niềm nở:

– Thưa cụ, cụ còn nhớ cháu không ạ, cụ dạo này có được khoẻ không?

Tôi nói to cho tên du kích cũng nghe thấy. Bà cụ đưa đôi mắt kèm nhèm nhìn tôi ngập ngừng:

– Không dám, chào anh, anh đến chơi!

Trong khi đó, mắt và tâm trí tôi còn đang bám sát từng thái độ, cử chỉ của tên du kích. Đó mới là chính, thái độ của y ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng của tôi. Tên du kích bước lên nhà trên, rồi đi vào trong buồng. Tôi hỏi bà cụ:

– Ông Phong còn ngủ à cụ?

Bà cụ nói chậm rãi, một cách mệt nhọc:

– Nó, hôm qua đi họp mãi khuya mới về!

Tôi bỏ bà cụ, lên ngay nhà trên để tranh thủ thời cơ. Khi tôi bước vào nhà, thấy tên du kích đang kéo cái điếu bát định hút thuốc. Tôi chưa từng bao giờ hút thuốc lào trước đây, nhưng bây giờ, để tạo không khí chan hòa quen thuộc, tôi cũng sà đến, vê một điếu và hỏi:

– Ông Phong hãy còn ngủ kia à?

Y đã ngậm miệng vào chiếc se điếu, tay đang bật lửa, nên y chỉ gật đầu. Khi y hút xong, thì một người khoảng 35 tuổi, mặc quần đùi màu xám bộ đội đã bạc, đi chân đất, áo sơ mi cháo lòng, da cũng trắng mai mái (chứng tỏ ít ra nắng) đang ở trong buồng bước ra. Mắt còn ngái ngủ, tay đang cầm tấm giấy thông hành của tôi. Tôi quay lại, mặt tươi lên, lớn tiếng:

– Anh Phong, chà bây giờ còn ngủ kia à? Hôm qua tôi ghé xuống Đạt, uống say quá, bây giờ mới ra đây!

Phong như tỉnh hẳn, mở to mắt nhìn tôi, rồi anh ngập ngừng, ngọ nguậy rồi toét thành nụ cười, giơ tay bắt tay tôi. Ánh mắt anh ta thoáng chút ngỡ ngàng. Chắc anh đang băn khoăn lục óc, chả biết đã gặp anh này ở đâu. Rồi có lẽ đổ tại trí nhớ của mình tồi, mặt anh bình thường trở lại, nói một cách xuề xòa:

– Hôm qua họp khuya quá!

Anh ta để tờ giấy xuống bàn, rồi co hai chân lên, ngồi xổm trên ghế. Tên du kích thấy thái độ của tôi với ông Phong như vậy, nên anh ta chào Phong và tôi trở về sân hợp tác xã. Tay đã cầm điếu thuốc, nên tôi đành kéo cái điếu lại, cố gắng hút. Dù tôi không dám rít mạnh, phải kìm ghê lắm, nếu không thì ho, thế mà cũng say đáo để. Phong kéo điếu, bắt đầu hút. Hết say, mặt tôi xụ hẳn xuống nói như phân trần:

– Đấy, anh xem, trước đây tôi khoẻ như vậy, thế mà gần một năm nay, cứ tự nhiên xây xẩm mặt mày.

Thấy nét mặt y trầm tư, tôi nhẹ giọng vẻ thân mật nói tiếp:

– Anh Phong à, tôi học hành như anh đã biết đấy, rất chăm mà cứ học trước quên sau. Cái bệnh tim chó chết này như vậy. Nhiều lúc tôi không muốn sống nữa.

Phong vẻ cảm động, quay lại nhìn con người phờ phạc mệt mỏi (mấy đêm ngày say sóng, không ăn) của tôi, nói như an ủi:

– Làm gì mà bi quan thế! Có bệnh, khoa học ngày nay tiến bộ chữa, sẽ khỏi.

Tôi cười buồn:

– Thực thế! Mới hôm qua ở bến xe, thấy đông người, tự dưng tôi xây xẩm mặt mày. Nếu không có người đỡ, tôi đã ngất, ngã vỡ đầu rồi. Có cái mũ thì cũng lại để quên trên xe. Anh Chí bí thư đoàn đã giục tôi nhiều lần, thậm chí, chính anh phải xin giấy giới thiệu cho tôi ra Hà Nội chữa bệnh, nhân kỳ hè này.

Phong hút thuốc xong, chả để ý gì đến tấm giấy thông hành để trên bàn. Phong vừa cho chân xuống đất định đứng dậy, vừa nói:

– Này, để tôi gửi tiền mua hộ tôi 3 cục “pin” nhé!

Tôi khẽ đập vào tay y, cười:

– Ồ! Anh lạ! Tôi có tiền đây, để tôi mua về rồi hãy tính. Có cần mua gì nữa không, tôi mua một thể?

Phong nghĩ ngợi một lúc rồi lắc đầu. Tôi chậm rãi nói, như thân tình quen thuộc:

– Lúc về, thế nào tôi chả phải ghé vào đây (nhưng thực ra lúc đó, tôi chưa biết đây là đâu), tôi vừa nói vừa cầm tờ giấy thông hành cho vào ví.

Phong còn tiễn tôi ra hè, bắt tay. Tôi chạy lại chỗ bà cụ, cầm tay bà cụ nói:

– Cụ ơi! Cháu đi đây!

Bà cụ lại ngừng quét, ngửng đôi mắt nhập nhèm:

– Phải, anh đi!

Sau này nhiều lúc nghĩ lại, tôi cũng thấy buồn cười. Phong chờ cái thằng chó chết, mãi chả thấy mua “pin” về. Tôi ra khỏi cổng, thấy con đường trước mặt thì cứ đi, chứ cũng không biết con đường sẽ dẫn đến đâu.

Lúc này đã gần 12 giờ trưa, mặt trời càng chói chang như thiêu đốt. Nóng hừng hực, không một ngọn gió, thế mà lòng tôi mát rượi nhẹ nhàng. Chỉ một chút xíu nữa thôi, thì đời tôi đã tịch ở ngay mảnh đất này, nơi tôi đổ bộ. Cho tới nay, tới lúc tôi đang ngồi viết những giòng nỗi niềm này, tôi cũng vẫn chưa biết rõ ràng đấy là đâu. Trên con đường đất trắng bệch vì lâu ngày không mưa, hai bên toàn là ruộng đã gặt rồi, đất cũng đã khô nứt nẻ. Xa xa ngược chiều, một bà cụ đầu đội bó củi đang đi lại. Giữa cánh đồng vắng buổi trưa, tôi quan sát trước sau chả thấy một bóng người, vì thế khi gặp bà cụ, tôi chào vồn vã:

– Trời ơi! Nắng quá cụ ơi! Các cháu đâu không đi làm cho cụ; mà cụ phải vất vả thế này?

Bà cụ thật già, tội nghiệp! Bà cụ này còn già hơn bà cụ nhà tên chủ tịch. Bà cụ hổn hển nói khi tôi đỡ bó cây thanh hao con khô đã rụng hết lá:

– Chúng nó đi hết rồi. Ngày nào tôi cũng phải vào núi để lấy củi đun bếp.

Thấy bà cụ đã quá già, tôi đánh bạo:

– Cụ ơi, cứ đi thẳng đường này là ra đường cái hở cụ?

Bà cụ quay lại, nhìn về phía xa xa, tay cụ vẩy vẩy:

– Cứ đi một thôi nữa là tới đường cái.

Tôi hỏi tiếp:

– Đường nhựa chứ cụ?

Bà cụ gật đầu. Tôi thấy không nên hỏi thêm nữa, sợ khi bà cụ vào làng, lão Phong hoặc du kích hỏi bà cụ là tên đó hỏi cái gì, bà cụ nói ra thì chết. Tôi phải phòng hờ như vậy, vì chỗ này tuy đã xa làng, nhưng giữa đồng trống, biết đâu chả có những con mắt đang theo dõi. Cẩn tắc vô ưu, không chơi dại! Vì vậy, tôi đỡ bó củi lên đầu cho bà cụ, chào rồi đi lẹ.

Bây giờ tôi mới chú ý, xa xa đã nhìn thấy ô tô chạy. Nhìn trải dài cánh đồng bao la xa tắp, tôi thấy vài người đang đi dưới ruộng khô hướng ra phía đường cái, có người đội cái “rương” mà đỏ cạch. Họ đi tắt qua cánh đồng. Tôi cũng bắt chước họ, xuống ruộng nhắm thẳng phía đường cái, bước tới. Một mình lang thang trên cánh đồng rộng, óc tôi miên man nghĩ ngợi. Tôi nghĩ đến lão Phong chủ tịch. Chắc bây giờ lão đang lục óc xem đã gặp tôi ở đâu! Vậy lão chỉ còn trách cái óc tồi tệ của lão, lão ta đã gặp tôi trong lúc nào đó mà quên rồi. Hội hè họp hành, thiếu gì trường hợp.

Thép đen

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 20 Sep 2023

Chuyến Đi Định Mệnh

Đặng Chí Bình

Bài 17

Sớm, muộn, rồi ngày tháng cũng đến mức ấn định. Sau một trận mưa đêm hôm trước, sáng hôm 28/5, khung trời Đà Nẵng không một vần mây. Phố phường cảnh vật như được lau chùi, rửa sạch từ đêm. Khí hậu đầu Hè dịu mát như mùa Thu.

Đã hẹn trước, 11 giờ Phan đến đón tôi, tôi đã lại lột xác của Đặng Chí Bình, một thanh niên của miền Nam tự do đầy hương sắc, để trở thành một Lê Viết Hùng, học sinh lớp 10 bằn xương bằng thịt của vùng Vĩnh Linh khô cằn, lạc hậu, mảnh đất tuyến đầu của cái gọi là xã hội chủ nghĩa.

Hôm đó, cũng là buổi ra đi, buổi giã từ Đà Thành và cả miền Nam hiền hòa nhiều ân tình, để đi về một phương trời đầy chông gai nguy hiểm, lòng tôi thật nhẹ nhàng lâng lâng, Có lẽ một phần vì là chuyến đi thứ hai, đã giảm đi sự xốn xang hồi hộp của buổi ban đầu, nhưng vì còn một phần nữa, nằm sâu kín trong tâm tư tôi. Đêm hôm trước, nằm nghe tiếng mưa rơi, tôi đã liên tưởng đến những quãng đời khi tôi còn sống ở Sài Gòn. Từ hình ảnh những người ruột thịt thân thương, những bạn bè đầy nghĩa tình, đến những người trong Cục, tất cả đều rõ ràng như một cuốn phim lướt nhanh trước mặt. Tôi hiểu, ít nhiều đã có một số người trông chờ nơi tôi. Rồi, như một niềm thúc đẩy, ngay từ hồi đêm, tôi đã nâng quyết tâm và tự nhủ thầm, phải làm được một điều gì để không ngượng với tấm thân trai, khi đất nước còn trong cảnh chia hai xẻ ba như thế này. Đã ra đi, bằng mọi giá, mọi cách, phải đến bờ: Dù chẳng hay ho, thì cũng phải húng hắng được một vài.

Khi chúng tôi ra đến bến cũ, trong biệt khu Hải Quân, đã 11 giờ 30, mặt trời gần đứng bóng. Chiếc hải thuyền vẫn đậu bến xưa một mình trong chỗ hẻo lánh của Biệt khu.

Ngay từ còn xa, thoáng thấy xe Phan và tôi đến, dưới thuyền đã lố nhố mấy anh thủy thủ quen mặt, quần áo nâu sồng, nét mặt người nào cũng tươi tỉnh như khung trời Đà Nẵng. Khi xe ngừng hẳn, một anh đã quen như lần trước, vội chạy lên bờ, xách chiếc ba lô và vật dụng của tôi xuống. Chỉ mới một lần cùng chia xẻ hiểm nguy mà tình thân thương đồng đội đã nhanh chóng nẩy mầm giữa tôi và các anh các bác. Những chiếc bắt tay nồng hậu, những ánh mắt long lanh gần gũi như ruột thịt anh em! Bến cũ người xưa, công việc làm lại.

Nhớ lại ban sáng, khi tôi đưa bản quy ước đón tôi (Cục và Phan muốn chính tôi viết, tôi sẽ nhớ lâu. Cục sẽ giữ bản viết này), tôi đã khẳng quyết vào ba đêm: 22, 23, và 24 của tháng Sáu. Mỗi đêm hai tiếng, từ 1 giờ đến 3 giờ sáng. Đổ bộ ở điểm nào, sẽ đón ở điểm ấy. Phải phòng hờ ba đêm để dự trù trước những trục trặc trở ngại về phía tôi là chính. Có thể nhỡ xe, nhỡ tầu, trốn chạy, v.v… nghĩa là trăm nghìn thứ chưa thể biết trước. Theo quy định, cứ từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, trong ba đêm ước định, tôi sẽ dùng chiếc máy con hồng ngoại tuyến, hình dạng giống như cái ống nhòm hai ống kính, chạy bằng pin, dùng máy ngày nhìn ra biển. Chiếc máy cứ 30 giây, nháy sáng lên một lần, ánh sáng màu hồng xanh. Tia sáng máy này thật nhỏ, thậm chí trong đêm tối, nếu có người chỉ đứng cách xa 10 mét cũng không thấy gì. Thuyền ở ngoài khơi, cách xa hàng chục cây số, trong đêm tối, cũng dùng loại máy này nhìn vào bờ, sẽ nhìn thấy điểm sáng loé lên xanh như làn chớp, từ đó, thuyền theo điểm nháy sáng mà vào. Tôi có cảm tưởng, chúng tôi như những cô nàng và những anh chàng đom đóm bật tín hiệu để tìm nhau trong đêm khuya. Chỉ có khác là khoảng cách quá gần và quá xa.

Tôi đang bần thần nghĩ ngợi, đưa mắt nhìn những người thủy thủ đang mỗi người một việc chuẩn bị cho con thuyền sắp rời bến. Ông Phan đứng nói chuyện với ông già thuyền trưởng quay lại khẽ đập lên vai tôi, cười:

– Làm gì mà mặt thần ra thế?

Tôi quay lại, cũng cười, nói với Phan mà cũng như nói với ông già:

– Tôi linh cảm thấy chuyến này đi dứt khoát, phải đến bờ.

Cả hai, ông già và Phan, cùng cười. Rồi không ai bảo ai, đều ngửng lên nhìn trời, đầu hơi gật như thừa nhận lời tôi nói là có giá trị. Chẳng hiểu vì quên hay cố ý, lần này Phan lên bờ không bắt tay tôi, chỉ đứng giơ tay vẫy vẫy, khi con thuyền từ từ quay mũi rời bến.

Tâm lý của con người thật cũng lạ! Mới khi ra đây, tôi thấy lòng thanh thoát lâng lâng, thế mà lúc con thuyền rời bến, thấy Phan đứng trên bờ với chiếc xe díp. Bóng dáng Phan mặc quần áo trắng nốp, nổi bật giữa mầu xanh của cỏ cây, tôi cảm thấy ngút ngàn xa vời vợi, như hình ảnh của cả miền Nam cũng mất dần, mất dần; nhất là lúc đó một giọng hát trữ tình của một người con gái phát ra từ chiếc radio nào đó của mấy dẫy doanh trại phía mé sông, đang nỉ non réo rắt, trải dài trên sông nước buổi trưa Hè. Tôi không biết bản nhạc này, nhưng không hiểu tại sao, tôi đã nghe bản nhạc đó không bằng tai mà bằng nội tâm, lúc như tha thiết nhắn nhủ, lúc như oán trách giận hờn giống một bài ca tôi thuộc:

“Bến ấy…ngày xưa…người đi…vấn vương…biệt ly…

“Ra đi … bến xưa…ngày ấy…

“Anh như… bóng mây…hồng trôi…

“Về chốn xa vời…lòng nặng…nhớ thương…”

Thuyền đã ra xa. Tiếng hát của chiếc máy phát thanh chỉ còn văng vẳng lẫn vào tiếng máy thuyền. Tự nhiên, mắt tôi nhắm lại, tay tôi bấu chặt vào mui thuyền, rồi như có tiếng hát khác âm vang từ đáy lòng, tôi tưởng tai tôi nghe rõ:

“… Quên đi … sầu biệt ly, anh còn … đi theo gió,

“Hát buồn … nữa chi … để nhớ … người đi …”

Mặt trời đã xế về hướng Tây, vài con hải âu trắng toát đang chao đảo ngang dọc trên nền trời xanh lơ. Thỉnh thoảng, một con lại bay sà xuống, lướt qua mạn thuyền, chiếc mỏ ngúc ngắc nghiêng ngó, nửa như muốn ngừng đáp xuống, nửa như muốn chào tiễn biệt con thuyền … viễn xứ.

Nhìn về phương Nam mờ mờ chân mây, vài vạt mây màu vàng óng nằm phơi dài trên mặt nước. Không khí chiều Hè trên đại dương vẫn ẩm sệt, hăng hăng, mằn mặn. Bóng chiều của chiếc thuyền ngã dài và nhọn hoắt như một con dao, đang phạt băng băng những ngọn sóng bạc đầu. Gió càng về chiều càng lộng, khiến con thuyền càng nhấp nhô lên xuống. Trong sách vở trước đây, các văn nhân thi sĩ tả cảnh hoàng hôn trên biển cả thật là tuyệt vời. Tôi có ý định sẽ cứ đứng thế này mãi mãi, để chờ cho mặt trời chìm dần và lặn sâu xuống nước, xem thế nào. Nhưng, người tôi đã nôn nao ngất ngư bởi con thuyền rồi, vì vậy, tôi đành bỏ cái dịp ngàn năm một thuở đối với tôi này, để chui vào khoang thuyền nằm bẹp. Lúc tôi đang chuẩn bị cái thế để nằm sao cho đỡ say sóng, thì anh thợ máy, hai tay đen nhẻm dầu mỡ, từ dưới hầm thuyền chui lên. Nhìn chiế lưng và đôi bàn tay đồ sộ của anh, tôi đanh định nở một nụ cười để chào anh “Tạc giăng” dễ mến lần trước. Tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, khi anh quay lại nhìn tôi. Anh có một khuôn mặt trẻ măng với một thân hình lực lưỡng đầy sinh lực. Anh ngập ngừng hơi mất tự nhiên. Một anh thủy thủ đang ngồi dựa một góc khoang đọc sách, có lẽ vừa nãy đã thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, nên dù tôi chưa hỏi, anh đã hất hàm về phía anh thợ máy, giọng Nghệ An nghe như hát:

– Anh lần trước, vì có chuyện gia đình, nên không đi, đây là em trai anh ấy.

Thảo nào! Như cùng đúc trong một chiếc khuôn, không những giống nhau về cơ thể mà lại còn cả về nét chất phác hiền lành. Tôi mỉm cười và gật đầu chào, như muốn trao anh niềm cảm mến. Tôi muốn nói chuyện với anh nhiều, nhưng một con sóng giật chiếc thuyền làm tôi đổ nằm xuống. Tôi đành nằm bẹp luôn! Một đêm rồi lại một ngày nữa trôi qua, tôi vẫn rã rượi nằm yên trong khoang, vừa say sóng vừa không ăn gì, tôi chỉ uống được hai ly sữa. Tôi chỉ nhớ mơ hồ vào lúc buổi trưa hôm nay, tuy thuyền đi trên mặt biển chỉ có trời với nước mênh mông, thế mà không khí oi nồng, mồ hôi của tôi ra ướt cả quần áo làm người tôi càng bứt rứt khó chịu.

Những tiếng hò hét quát tháo làm tôi tỉnh hẳn người ra, tôi bò giật dậy, định cố bò ra xem có chuyện gì, nhưng người tôi lảo đảo, hoa mày chóng mặt. Một anh thủy thủ thấy tôi như vậy nên nhanh chân lại đỡ. Tôi vịn tay anh, hỏi giật giọng:

– Chuyện gì thế?

– Có một chiếc thuyền lạ cùng đi hướng mình, nhưng cách xa từ phía trong bờ, nó bám mình hơn hai tiếng đồng hồ rồi!

Để sáng tỏ thêm tôi hỏi tiếp:

– Mắt thường có nhìn thấy không?

– Nhìn kỹ thì chỉ thấy một điểm trắng xám lẫn vào trong sóng, nhưng nhìn bằng ống nhòm, thì rõ là một chiếc thuyền có vẻ to hơn thuyền mình.

– Vừa rồi ông thuyền trưởng hò hét cái gì thế?

Anh thủy thủ nhìn tôi một lúc, rồi dè dặt:

– Anh thợ máy muốn quay mũi thuyền chạy tránh ra khơi nhưng ông già quyết định vẫn thẳng tiến!

Nghe qua sự việc, nếu tôi không mệt mỏi, chóng mặt, tôi phải quan sát cụ thể, rồi có ý kiến. Nhưng, phần vì quá mệt nhọc (ngay từ hôm trước, những khi lịm thiếp đi không kể, lúc nào tỉnh dậy, nôn oẹ mật xanh, mật vàng. Tôi chỉ mong làm sao cho chóng tới điểm đổ bộ, để tôi lên bờ, dù là nguy hiểm. Chứ cứ dập dềnh với sóng gió suốt ngày đêm như thế này, tôi còn thấy sợ hơn.) Phần khác, thấy hiện tình chưa quan trọng lắm, nên tôi nằm vật ra sàn. Tuy vậy, vì sự sống còn, tôi nằm mà bao tâm trí vẫn tập trung nghe ngóng, theo dõi thái độ của ông già thuyền trưởng và các anh thủy thủ.

Mãi đến gần 1 giờ, vẫn chẳng thấy động tĩnh gì khác. Tiếng máy thuyền vẫn bành bạch nổ rền lẫn vào tiếng ì ào của sóng biển. Để cho yên tâm khỏi khắc khoải nghe ngóng, tôi cố chống tay bò dậy, ra hiệu cho một anh thủy thủ đang ngồi gần đấy, anh tưởng tôi muốn ăn, nên đến hỏi:

– Ông muốn uống sữa?

Tôi lắc đầu, hỏi ngay điều tôi muốn:

– Chiếc thuyền lạ bây giờ ra sao?

Anh sáng mắt lên, nói gọn lỏn:

– Nó biến vào bờ rồi.

Chỉ vì lòng thấp thỏm về chiếc thuyền lạ, nên tôi mới nhỏm dậy hỏi, nghe anh nói xong như vậy, tôi lại vật ra nằm. Trời tối đã lâu, lúc này đã chín giờ, tôi vẫn vẩn vơ nghĩ lại chuyện buổi trưa. Tuy nằm mà người cứ lắc lư, nhấp nhổm như đưa võng. Kể cũng lạ, tôi rất khoái cưỡi ngữa phi nước kiệu, mà lại không nằm võng được. Tôi nghĩ có lẽ khi xưa bố mẹ đẻ ra và lúc nhỏ đã không cho tôi nằm võng chăng?

Tiếng máy vẫn đều như một bản nhạc đơn điệu đưa dần tôi vào giấc ngủ mê man vì mệt mỏi. Mãi cho đến khi có ai lay chân, tôi choàng dậy. Ông thuyền trưởng già, vẻ mặt khẩn trương, thì thào:

– Dậy đi, ông cán bộ, đã đến nơi rồi, chuẩn bị để vào bờ!

Tôi tỉnh hẳn ra, trời vẫn còn xám xịt, mịt mờ. Con thuyền vẫn nhấp nhô, tiếng sóng đập vào mạn thuyền bành bạch chắc nịch. Phía ngoài mũi thuyền, 4, 5 anh thủy thủ đang lúi húi người bơm chiếc xuồng cao su, người nắp máy nổ. Tôi hiểu giờ phút nghiêm trọng đã đến. Tôi muốn đứng dậy chui ra ngoài, mà người lảo đảo xiêu vẹo. Bác già đã đỡ cho tôi, trong khi cả hai anh thợ máy và 4 anh thủy thủ đang hạ chiếc thuyền cao su xuống nước. Giữa mặt biển bao la, ánh sáng chỉ lờ mờ, không trông rõ mặt người. Thái độ của mọi người đều vội vã, lộ hẳn nét lo âu, căng thẳng.

Ba anh thủy thủ và anh thợ máy đã xuống xuồng cao su. Do sóng lớn, thuyền cao su và hải thuyền cứ nhồi lên thụt xuống ngả nghiêng, nên mọi người phải đỡ tôi và chuyển những vật dụng tôi mang theo đưa xuống xuồng cao su. Người tôi vẫn mệt lả, đến nỗi trong lúc đỡ tôi xuống xuồng cao su, bác thuyền trưởng già và anh thủy thủ còn lại trên hải thuyền đã nắm chặt tay tôi thầm thì: “Chúa phù hộ cho anh,” mà tôi không trả lời đáp lại ân tình của họ.

Xuồng cao su đang tiến dần vào bờ. Tiếng máy ro ro rất nhỏ, lẫn vào tiếng sóng, dù ở cách mươi mét cũng không nghe thấy, nhưng có sức đẩy thật mạnh. Chiếc thuyền vẫn lướt sóng tiến dần vào đất liền. Do giờ phút quyết định đã đến, và cũng do nước biển bắn vào mặt tôi, tôi tỉnh hẳn lại, không còn thấy mệt như trên hải thuyền. Tôi muốn biết khoảng cách đến bờ còn bao xa, nên quay lại hỏi một anh ngồi cạnh. Các anh đều khoắng tay rối rít ra hiệu đừng lên tiếng, rồi một anh nghé vào tai tôi thì thầm:

– Hải thuyền xa bờ khoảng 5 cây số.

Tôi nhìn cả 4 anh, chẳng rõ mặt người nào. Tôi chỉ biết anh thợ máy, qua dáng dấp to lớn của anh đang cầm lái. Mặt nước lấp lánh như có trăm ngàn con đom đóm đang đùa bỡn trong những ngọn sóng bạc đầu, lung linh như hàng ngàn những đóa kim cương khổng lồ.

Nhìn về phía bờ xa xa chỉ một mầu đen kịt, tôi tự hỏi trong chỗ đen tối mịt mùng ấy, cái gì đang chờ tôi? Trăm ngàn cái chưa thể biết, ai trả lời được? Tôi cúi nhìn đồng hồ, 01 giờ 15 phút. Quả các anh là những người đi biển đêm có kinh nghiệm. Trước mắt, tôi vẫn thấy chỉ là một mầu đen bao la, thế mà các anh đã tắt máy, rồi hai anh một bên, dùng bốn mái chèo con, nhẹ nhàng đều nhịp đẩy chiếc xuồng đi. Chừng 10 phút, tôi đã thấy mờ mờ phía trước một vệt trắng to, thuyển đã vào bãi cát.

Hai anh đã lội xuống nước. Tôi một tay xách vội chiếc ba lô nặng trĩu vật dụng, một tay xách đôi dép râu. Nhanh nhẹn, một anh phía sau đã đỡ chiếc ba lô cho tôi, còn hai anh phía dưới đã giúp tôi (phải nói, hai anh đã bế tôi đặt hẳn lên chỗ cát khô) để tôi khỏi lội vài mét nước sát bờ. Khi họ giao chiếc ba lô cho tôi xong, bỗng một anh nắm chặt cánh tay tôi, thì thào:

– Anh đi, chúng tôi về!

Rồi các anh vội vàng lên xuồng, quay mũi chèo ra. Mãi lúc tôi định được thần trí, chiếc thuyền cao su chỉ còn mờ mờ phía ngoài đại dương.

Ai lên xứ hoa Đào đừng quên mang về một cành hoa..

Sơn râu 19 Sep 2023

Tháng 9 năm nay Úc châu bắt đầu vào Xuân, buổi sáng ra trước sân nhà thấy hoa Đào chớm nở, lấy máy ra ghi vội vài tấm ảnh, trở vào sân sau thấy hoa Lan cũng bắt đầu nở với chậu hoa tím Mộc Lan và chậu Huyền Lan.

Hoa Mai Tứ Quý Việt Nam cùng khoe sắc.

Tiệm nước

baotreonline.com

Posted on April 21st, 2023

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Tiệm ‘Bảy Mập’ ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản 

Tiếng Quảng Ðông là ‘chà thỏi’ (bàn nhỏ uống trà), ông bà mình kêu là tiệm nước. Tiệm nước không bán nước. Tiệm nước không bán trà. Tiệm nước bán cà phê, hủ tiếu mì, sáng, trưa, chiều, tối.

Gần khu dân cư lao động chằng chịt biết bao nhiêu cái xuỵt (sur: trên), tiệm nước đóng đô ở vị trí thuận tiện nằm ở ngã tư đường.

Tiệm nước của người Việt rất ít; đa phần là của chú Ba Tàu. Bảng hiệu của người Việt hơi hài hước dễ nhớ như: ‘Bảy Mập’ ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản quận Ba, Sài Gòn.

Bảng hiệu của người Tàu thì nghiêm chỉnh hơn. Thường có chữ Ký hay chữ Lạc. Chữ Việt lớn bên trên, còn chữ Hoa nhỏ hơn bên dưới sơn chữ đỏ, màu hên. trên nền vàng cũng hên.

‘Ký’ là ghi nhớ. Ghi nhớ cái gì? Ghi nhớ đồ ăn, thức uống của bổn tiệm ngon lành nên ghé vô mà hẩu xực nhe! ‘Lạc’ là chỗ mọi người vui vẻ dừng chân tụ tập, chủ tiệm mong tạo ra một không gian dễ chịu cho khách hàng. Trước chữ Ký, chữ Lạc, là tên của ông chủ. Ở Cần Thơ có Hoạt Ký là tiệm của chú Hoạt và Viễn Lạc (nơi dừng chân gặp chú Viễn) ở đường giữa, Phan Ðình Phùng.

Tiệm nhỏ thì ông chủ làm tổng khậu (đầu bếp) nấu mì, hủ tiếu. Thím Xẩm, vợ chú Ba; bữa thì Á Xẩm, con gái chú Ba thâu tiền. Em trai chú Ba pha cà phê kiêm thêm rửa ly, tô, dĩa muỗng. Thằng Từng (con trai chú Ba) phổ ky chạy bàn. Mở một tiệm nước, cả nhà chú Ba không ai bị thất nghiệp.

Là nơi bán thức ăn điểm tâm bình dân nên tiệm nước mở cửa từ 4, 5 giờ sáng, đèn đuốc đã sáng choang.

Dọc hai bên tường, trong tiệm là hai, ba dãy bàn. Mỗi dãy dách, dì, xám, xây, ựng. lục… hình chữ nhật mặt bọc thau cho dễ lau. Mỗi bàn có bốn chiếc ghế xếp. Bàn xếp hướng mặt trời mọc và lặn. Ðông (tún), Tây (sấy) và giữa (thoàn).

Trên mỗi chiếc bàn, có mấy dĩa bánh ngọt cho khách uống cà phê. Bàn nào cũng đặt sẵn ống đũa, muỗng, hũ ớt, hũ tỏi, chai xì dầu, chai giấm đỏ, hũ tiêu, dĩa đựng mấy miếng chanh, hũ đường, hũ tăm cho khách ăm mì, hủ tiếu.

Tổng khậu đứng gần thùng nước lèo lúc nào cũng sôi sùng sục. Phổ ky chạy vô bếp nóng. Nên quanh năm suốt tháng cả hai bụng phệ mặc quần Tiều (ống dài chí gối), áo thun có tay, khăn lau bàn vắt vai.

Khách vừa ngồi xuống, phổ ky mau mắn vừa lau bàn vừa hỏi “Nị xực mí dẹ”? (Nị ăn cái gì?). Rồi kêu to hướng vào trong bếp: “Dì co hoành thánh mì thoàn dách. (Hai tô mì hoành thánh bàn số 1 dãy giữa). “Lưỡng co sủi cảo tún lục” (Hai cái sủi cảo bàn số sáu phía Ðông).

Sáng ngồi tiệm nước của chú Ba cứ tưởng mình đi lạc qua Hồng Kông; ai dè bên hông Chợ Lớn.

Món ăn chánh của tiệm nước ngoài bánh bao, xíu mại, dầu cháo quẩy, mì và hủ tiếu. Xíu mại hình tròn nhân thịt xay sốt với cà hấp hoặc chiên. Bánh bao vỏ bằng bột mì và có nhân thịt và một phần tư cái hột vịt với miếng lạp xưởng bỏ tỏng xương hấp hoai cho nó nóng. Trên đầu cái bánh bao có chấm đỏ như cái ‘nhũ hoa’ trắng phích có điểm hồng rất hấp dẫn, nhìn là muốn cắn.

Tiệm Viễn Lạc, Phan Đình Phùng Cần Thơ

Té ra trong đầu óc chú Ba luôn bị ám ảnh về tình dục. Hèn chi dân Tàu lên tới 1.42 tỉ người đông nhứt thế giới. Nên ở đâu có khói bốc lên trời là ở đó có người Tàu! Thiên hạ nói đâu có sai!

Ông Vương Hồng Sển, người Tiều Sóc Trăng, trong “Sài Gòn năm xưa” gọi hủ tiếu là “củi tíu”.  Củi tíu là bánh bột cọng nhỏ. Ngày xưa, củi tíu nấu theo kiểu người Tiều có tôm tươi lột vỏ, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là phá lấu, chút thịt gà, thì gọi củi tíu cá gà, hoặc vài miếng thịt heo thì gọi củi tíu thịt.

Hủ tiếu tô lớn thì gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh thì gọi tái phảnh, tức nửa tô.

Nồi nước lèo hầm với khô mực nướng, hành tím nướng cho thơm, tôm khô cùng xương heo (gọi là xí quách, củ lẳng, khu lẳng), để nước lèo cho ngọt. Hủ tiếu cọng hơi bự bản và mềm trắng như bánh phở. Hủ tiếu và mì một, hai hoặc ba vắt có hai loại khô hoặc nước. Có thịt nạc xắt miếng mỏng tanh như tờ giấy quyến, thịt nạc băm, tim, gan, phèo, phổi… Ngoài ra còn có tang xại, cải bắc thảo và bắp cải ướp muối với xì dầu và hành lá xắt nhuyễn. Hủ tiếu, mì ăn vói giá, hẹ sống hoặc trụng. Khách xịt giấm đỏ, ớt ngâm giấm hoặc tỏi ngâm giấm.

Nhà hàng Tàu ‘Golden Leaf’, Sunshine

Tiếng lóng gọi hủ tiếu mì là ‘xá hỏ cấm’. Xá hỏ là hủ tiếu, cấm là vàng vì vắt mì có màu vàng. Tui có thằng Ba Tàu ở Canada tên ‘Cấm’; giờ mới biết Cấm là vàng lượng.

Gặm xí quách đưa cay với ly xây chừng chẩu (cà phê đen nhỏ pha rượu) hoặc xực phảnh mìn (hủ tiếu mì). Nhai chảy mồ hôi ròng ròng trên má, ngon bá chấy, bù chét.

Ăn xong, kêu tính tiền, khách gõ muỗng vào vành tô hoặc miệng ly. Phổ ky dọn ngay muỗng, dĩa, đũa liếc qua là biết bao nhiêu tiền. Khách tẩy xu cho á xẩm nơi quầy thâu ngân đặt gần cửa cái.

Tháng Tư đen lại về trên quê người viễn xứ, tui nhớ ngày mới ra trường đi dạy xa. Tui nhớ tiệm nước Vĩnh Tân ở đường giữa, gần nhà lồng chợ quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên, Sóc Trăng.

Là nơi bán thức ăn điểm tâm bình dân nên tiệm nước mở cửa từ 4, 5 giờ sáng. Tôi ghiền không khí tiệm nước ghiền ‘dẩm cà phé’ (tiếng Quảng); ‘khựa tè láo’ (tiếng Tiều), mỗi sáng; Tui ghiền nụ cười mỉm chi cọp, liếc mắt đưa tình của A Lìn, á xẩm, con chú Ba chủ tiệm nước.

Footscray, nơi tui ở, ngoài đường Barkly cũng có tiệm hủ tiếu mì. Cũng có tiệm bán thịt heo quay, vịt quay, chân gà, sách, lòng bò hầm thuốc Bắc. Trên Sunshine, cách nhà tui chừng 15 phút xe có nhà hàng Tàu ‘Golden Leaf’ (Kim Diệp) bán điểm tâm (‘dim sum’). Ðủ hết nhưng còn thiếu cái mà ông Bình Nguyên Lộc gọi là “Hồn ma cũ”.

Ðêm tháng Tư mơ mơ màng màng, hồn ma cũ đó khều chân tui, hỏi: “Nị còn lang thang đất lạ tới bao giờ?”

Quê người nghĩ xót thân lưu lạc!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

June 9th, 2023

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Thầy Ba Mẹo không phải là thầy bói mà là thầy giáo dạy trường Việt ngữ. Trong giấy khai sanh, chánh phủ VNCH, Sở Tư pháp Nam Phần, Phòng Lục sự Tòa cấp có ghi: Tên họ đứa con nít: Nguyễn Tân Mão. Sanh ngày 31 tháng 12 năm 1951 tại xã Ðiều Hòa, quận Châu Thành, tỉnh lỵ Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường.

Hai thằng cháu nội của tui là học trò của Thầy Ba Mẹo. Sáng thứ Bảy đưa hai thằng cháu nội vô lớp học xong, tui kiếm một cái ghế trong sân trường, chỗ vắng vẻ, lôi cái laptop ra viết bài cho báo. Chờ hết giờ học, rước hai thằng nhóc bữa thì đi ăn Happy Meal của McDonald’s; bữa thì tụi nó đòi đi ăn Kids Meal của Hungry Jack’s vì nó có cho đồ chơi để dụ khị con nít. Xong, chở về nhà giao lại cho ba má nó.

Nói nào ngay già rồi, hưu rồi mà lần quần ở nhà, xách đít đi vô đi ra, đi tới đi lui hổng làm gì như ở không lắm vậy là bị vợ rầy hoài hè. Nên tui xung phong chở cháu mình đi học tiếng Việt để chém vè.

Phần mỗi lần nói chuyện với mấy đứa cháu, tụi nó cứ lắc đầu. “What are you talking about?” “Nói tiếng Anh đi nội!”

Từ hồi cưới vợ tới giờ tui đâu biết tiếng Anh. Tui biết tiếng Em. Tui chia động từ “to quơ”. Quơ tùm lum. Ðời mà! Hay dở gì!? Hên xui thôi!

Vậy là hai thằng cháu tui thay vì ở nhà bắn “game”, tụi nó hy sinh để đi học tiếng Việt hầu nói chuyện được với ông nội. Ðể khỏi mỏi tay của  cả hai bên. Và lỡ có đói bụng thì kêu bà nội nướng thịt trừu cho cháu ăn với khoai tây chiên.

Trong khi ông bạn già của tui nhậu ở nhà bị vợ rầy hoài, thằng chả kiếm cách khác để dĩ đào vi thượng.“Cho một con cá, tui no chỉ được một ngày. Cho cái cần câu, tui khỏe lỗ tai năm bữa.”

Nói nào ngay như mấy ông họ Nguyễn khác, thầy Nguyễn Tân Mão cũng khoái khoe dóc, khoái nổ bốp trời thiên như CS.

Thầy khoe cái làng Ðiều Hoà, Tổng Thuận Trị, Mỹ Tho là cái đất địa linh nhơn kiệt.

Ngoài ra đất địa linh nhơn kiệt nầy còn sản sinh ra một người ưu tú nữa là thầy Ba Mẹo, trên thông thiên văn; dưới tường địa lý, chuyên trị tiếng Việt.

Thầy Ba Mẹo vượt biên qua tới Úc nầy đây thầy bỏ tên Mão. Lý do Úc không có dấu ngã,  Mão thành Mao. Mao đọc như “Mouse” là con chuột. “Cha sanh mẹ đẻ tui con mèo giờ Úc biến tui thành con chuột, tuổi Tí, đâu có được nè”

Nên thầy thay Mão thành Mẹo. Úc bỏ dấu nặng thành Meo, (viết là Mel). Mel là rút gọn “Melvin” bắt nguồn từ tên tiếng Wales cổ là “hoàng tử”. Mel cũng là một tên của người lừng danh thế giới, đạo diễn phim Braveheart (1995) đoạt hai giải Oscar:  Ðạo diễn xuất sắc nhất và Phim hay nhất.

Sanh tại New York, Hoa Kỳ, năm 1968, Mel Gibson theo cha đến Úc sống suốt thời thơ ấu. Thành danh ở Hollywood nhưng Mel Gibson lại coi Úc là quê hương của mình.

Thầy Nguyễn Tân Mão tức thầy Ba Mẹo tự thầy Meo đang ở Úc nhưng lại quyến luyến về mồ mả của ông bà quê cũ. Thầy Meo chê người Việt mình vượt biên qua Úc nầy đây không chịu viết gia phả. Lỡ mai già chết, con cháu không đi học tiếng Việt, không có gia phả, nó cứ tưởng từ đất nẻ nó chui lên? Lỗi là đám già mình chớ không phải tại sắp nhỏ.

“Anh nói đúng lắm, hay lắm!” Nhưng tiên trách kỷ hậu trách nhân. Anh viết gia phả của anh chưa mà rầy thiên hạ!?”

“Chưa!” “Sao vậy?!” “Tui dạy tiếng Việt nhưng mần văn thua mấy ông nhà báo nên tính nhờ anh viết giùm!”

Tui chụp cơ hội ra giá: một chữ một xu tính tới! Kiếm tiền mua vài thùng beer về nhậu chơi.

Gia phả của thầy Meo tính từ khi CSBV chiếm được VNCH tới nay chỉ mới 48 năm mà nó lại là một trường thiên tiểu thuyết, kéo ra nó dài như chuyện Tây Du Ký mà thầy Meo đóng vai con khỉ Trường Sơn!

21 tháng 9 năm 1995, thầy Nguyễn Tân Mão từ xứ nhiệt đới tới phi trường Tullamarine trời đã sang xuân nhưng vẫn lạnh teo bugi! Vì Melbourne thủ phủ của tiểu bang Victoria nằm ở cực bắc của vịnh Port Phillip Bay thụt vô sâu trong lục địa lạnh là phải.

Melbourne có hai con sông: Yarra ở phía đông và Maribyrnong ở phía tây. Nói là sông cho nó le; chớ chiều dài  sông Yarra nó ngắn ngủn hè chỉ có 242 cây số. Còn bề ngang bằng con rạch nhỏ quê mình!

Năm 1835, John Batman và John Pascoe Fawkner từ đảo Tasmania đến bờ bắc của Sông Yarra. Năm 1837, “Melbourne” thành lập đặt theo tên của Thủ tướng William Lamb, Tử tước thứ 2 của Melbourne bên Anh.

Thập niên năm 1850, Victoria có “gold rush” kể cả mấy chú ba Tàu ùn ùn kéo tới đào đất để kiếm vận may. Melbourne là một trong những thành phố giàu có nhất thế giới lúc đó.

Thầy Nguyễn Tân Mão tức Thầy Ba Mẹo tức thầy Meo luân lạc tới Melbourne quê người đã trôi qua những ngoại ô buồn xa xứ. Từ Coburg theo tên của thành phố Coburg ở Ðức nhưng là đất của người Wurundjeri, cách CBD (central business district) khoảng 8 km về phía bắc. Rồi xa hơn dạt xa hơn tới nghĩa trang Fawkner nơi rất nhiều ông bà Ý sống gần đất xa trời, cách CBD khoảng 12 km. John Pascoe Fawkner, một trong những người lập Melbourne. Rồi St. Albans cách CBD khoảng 17 km về phía tây bắc tên theo giáo xứ St. Albans ở Hertfordshire, Anh. Cuối cùng vợ chồng già của thầy Meo tấp vô Footscray cách CBD khoảng 5 km về phía tây trên bờ sông Maribyrnong đúng 20 năm nay.

Quê người nghĩ xót thân lưu lạc, chìm nổi, rày đây mai đó. Hỏi thầy Meo có bắt chước nhà thơ Hạ Tri Chương (659-744), người Quảng Ðông thời Thịnh Ðường bên Tàu:

“Bé  đi, già mới về nhà.

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.

Trẻ con trông thấy hững hờ.

Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao ?”

Thì thầy Ba Mẹo trả lời nghe bùi ngùi quá mạng: “Thân lưu lạc là nỗi nhớ quê nghèo không nguôi. Nhưng gần 30 năm tui vẫn chưa một lần về quê cũ. Còn CS đè đầu cỡi cổ dân ngu đen, tui không làm gì được để cứu giúp thì tui về làm gì?

Nếu mai tôi chết  tha hương?

Xác thân quàn ở nhà thương thí nào?

Người xưa ai đến nguyện cầu?

Cỏ xanh non mọc trên màu lãng quên!”

đoanxuanthu

melbourne

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Tuổi thơ khốn khó

Howard E. Wasdin

Bài 3

Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học cách chịu đựng áp lực. Mẹ sinh tôi vào ngày 08 tháng Mười một năm 1961 tại phòng khám Weems Free, bờ biển Boynton, Florida khi bà mới 16 tuổi – một bà mẹ trẻ con nuôi một đứa trẻ. Bà quá nghèo để đến viện khám thường xuyên. Vì thế tôi được sinh non trước hai tháng, và cân nặng chỉ khoảng 1,5 kg với đôi mắt màu nâu đỏ và mái tóc đen. Phòng khám nơi tôi sinh ra tồi tàn đến mức không có cả một cái lồng kính nho nhỏ cho một đứa bé sinh thiếu tháng như tôi. Tôi bé đến mức chiếc nôi trẻ em quá lớn với tôi, nên thực ra mẹ đã đưa tôi về nhà trong một chiếc hộp đựng giày. Chiếc xe đẩy ở nhà cũng quá lớn, nên mọi người sử dụng một chiếc ngăn chạn bát đĩa, lót thêm ít vải xuống dưới làm chỗ cho tôi ngủ.

Mẹ tôi tên là Millie Kirkman, người gốc Scotland. Mẹ là người lạnh lùng, bà hiếm khi thể hiện cảm xúc cũng như sự nhanh nhạy với cuộc sống, bà làm việc quần quật suốt ngày tại một xưởng may để nuôi mấy anh em tôi. Có lẽ tôi thừa hưởng tính khí lạnh lùng và bảo thủ – với quan điểm “không chấp nhận từ bỏ nếu cho rằng mình đúng” từ mẹ mình – quả thật là một sai lầm.

Khi tôi lên chín, mẹ cho tôi biết rằng cha đẻ tôi là Ben Wilbanks, ông đã ruồng rẫy và bỏ rơi chúng tôi. Đó là lý do mà tôi luôn thù ghét ông ấy. Ký ức tuổi thơ đầu tiên mà tôi có được là khi tôi bốn tuổi, tại vùng biển West Palm, Florida. Giữa đêm hôm khuya khoắt, tôi bị đánh thức bởi một gã to lớn nồng nặc mùi rượu tên là Leon – người đang hẹn hò với mẹ tôi. Mẹ tôi gặp hắn khi bà làm hầu bàn tại một trạm dừng xe tải.

Cả hai vừa trở về từ một buổi hẹn hò. Đang nằm ở giường trên cùng, Leon xốc tôi dậy, vặn vẹo tôi vì sao ngày hôm đó tôi làm sai một vài việc. Rồi sau đó hắn tát tai tôi, đấm vào mặt tôi và cả vào mồm khiến tôi chảy cả máu mồm. Đó là cách mà Leon giúp mẹ tôi dạy đứa con trai của bà sống tử tế hơn.

Nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu và không phải khi nào nó cũng diễn ra vào ban đêm. Bất kể khi nào về nhà, hắn ta lại cho mình cái quyền dạy dỗ tôi. Tôi sợ đến phát khiếp mỗi lần biết mẹ sắp hẹn hò, toàn thân tôi run như cầy sấy. Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lần này sẽ tệ thế nào đây? Nếu Leon đến nhà khi mẹ tôi sửa soạn đi đâu đó, hoặc khi mà cả hai vừa trở về từ một cuộc hẹn hò thì trận chiến có thể diễn ra. Leon khá “dễ tính” trong việc chọn thời điểm cho tôi ăn đòn. Vào một ngày sau khi tan lớp từ trường mẫu giáo, tôi chạy trốn. Tôi cố tình đi nhầm tuyến xe buýt của trường. Gã này sẽ không thể đánh ta nữa đâu, ta thoát rồi. Xe buýt đưa tôi ra khỏi làng, tới nơi mà tôi không xác định được. Lúc này chỉ còn vài đứa trẻ trên xe. Xe dừng lại và một đứa đứng lên, rồi tôi theo nó xuống xe. Thằng bé cuốc bộ trên con đường bẩn thỉu về nhà. Lúc đó tôi chẳng biết phải làm gì, tôi mới chỉ năm tuổi và không có chút hiểu biết nào. Tôi đành đi đúng theo con đường bẩn thỉu đó cho đến khi tôi giáp mặt một ngôi nhà. Tôi cứ luẩn quẩn quanh ngôi nhà mà không biết phải làm gì ngoại trừ suy nghĩ phải tránh xa con đường lớn ngoài kia. Sau khoảng 2 giờ, một người đàn ông và một người đàn bà về tới ngôi nhà và phát hiện tôi đang trốn ở hè sau để tránh bị phát hiện từ phía đường lớn. Người phụ nữ hỏi: “Cháu tên gì?”.

“Howard ạ”.

“Chắc cháu đói rồi.” Họ đưa tôi vào nhà và cho tôi ăn.

Sau khi ăn xong, người phụ nữ nói: “Này cháu, cô chú phải liên lạc với bố mẹ cháu để đưa cháu về nhà.”

Tôi hoảng sợ, “Không, không được. Xin cô chú đừng gọi mẹ cháu. Có cách nào để cháu được ở lại đây với nhà cô chú không?” Họ cùng cười ồ lên.

Tôi không hiểu việc đó có gì buồn cười, nhưng tôi không kể cho họ hoàn cảnh của mình. “Đừng, xin cố chú đừng gọi mẹ cháu. Cháu ở với cô chú được không?”

“Không được cháu yêu à. Cháu không hiểu rồi. Mẹ cháu chắc đang lo đến chết đấy. Số điện thoại nhà cháu đâu?” Thực tế là tôi không biết. “Thế cháu sống ở đâu?”

Tôi cố hướng dẫn cho họ đường đến nhà tôi ở Hồ Worth, Florida, nhưng xe đã đi qua quá nhiều đường quanh co và ngã rẽ nên tôi không thể nhớ được. Cuối cùng họ đành đưa tôi quay lại trường, tại đó họ thấy dì tôi đang tìm tôi. Kế hoạch trốn chạy của tôi thất bại. Tôi nói dối mẹ tôi là mình đi nhầm xe.

Khoảng một hai năm sau, mẹ tôi lấy Leon. Rồi thời gian ngắn sau đó, cả nhà tôi chuyển tới Screven, Georgia và chúng tôi cùng tới gặp quan tòa. Ngồi trên xe, mẹ tôi bảo: “Khi gặp quan tòa, ông ta sẽ hỏi con rằng con có muốn bác Leon làm bố của con không. Hy vọng con sẽ trả lời là có.” Trong cuộc đời tôi, Leon là điều cuối cùng trên thế giới này mà tôi muốn, nhưng tôi biết chắc là tốt nhất nên chấp nhận, vì nếu không tôi có thể sẽ bị giết khi về nhà. Do đó tôi làm theo lời mẹ nói.

Ngày hôm sau, trước khi đi học bố mẹ tôi dặn hãy “nhớ bảo với bạn bè ở trường là từ nay con không còn là Wilbanks nữa, giờ con là Wasdin.” Tôi răm rắp làm theo lời họ.

Giờ thì tôi đã là con riêng của vợ Leon và phải giáp mặt với ông ta suốt ngày. Khi một con sư tử đực chiếm được một con sư tử cái và những đứa con của nó, sư tử đực sẽ giết tất cả. Leon không giết tôi, nhưng tôi phải trả giá cho bất cứ điều gì mà tôi không thực hiện chính xác như lời hắn nói. Nhiều lúc ngay cả khi làm đúng, tôi cũng phải chịu trận.

Vườn nhà tôi trồng rất nhiều cây hồ đào và việc của tôi là phải hái quả hồ đào. Leon làm nghề lái xe tải, nên nếu mỗi khi hắn về mà nghe thấy tiếng quả hồ đào bể dưới bánh xe, thì tức là tôi phải chịu lỗi. Hắn chẳng thèm quan tâm là sau khi tôi đã lượm hết thì lỡ có quả nào rơi xuống hay không. Lỗi của tôi là không chăm chỉ và không biết việc. Khi đi học về, tôi phải tới thẳng phòng ngủ và nằm ra giường để cho Leon dùng roi da đánh tôi không thương tiếc.

Ngày tiếp theo ở trường, tôi phải cố gỡ quần lót ra khỏi lớp máu khô và đóng vảy ở mông để ngồi xuống khi đi vệ sinh. Tôi chưa bao giờ tin vào Chúa, nhưng cũng đã có lúc tôi cầu xin Người: “Xin Người hãy giết chết Leon.”

Chịu đòn quá nhiều, tôi đã đạt đến ngưỡng không còn sợ mỗi khi chiếc roi da từ tay gã đàn ông nặng hơn 100 kg quật lên lưng, lên mông và chân tôi. Hãy nằm yên. Đừng lăn lộn. Làm thế không thay đổi được gì đâu. Hãy chịu đựng nó. Tôi cứ nằm trên giường, mắt nhắm nghiền lại và hình dung tới những vết thương. Việc tôi cứ nằm chình ình như cái xác chết càng khiến Leon thêm điên tiết.

Phi vụ bắn tỉa đầu tiên của tôi là sau mùa Giáng sinh, khi tôi bảy tuổi. Một thằng to con hơn so với tuổi lên 10 của nó, tên Gary, là đầu gấu ở trường đánh một trong những đứa bạn của tôi. Chiều hôm đó, tôi tụ tập thêm bốn chiến hữu. Chúng tôi thừa biết là Gary quá to lớn nên không thể đánh lại hắn được, nhưng lúc đó chúng tôi đứa nào cũng có súng BB cho ngày Giáng sinh. Tôi bảo: “Sáng mai mang súng tới trường. Chúng mình sẽ đợi nó ở gốc cây cạnh sân trường và bắn nó khi nó đi ngang qua.” Để đến trường, Gary phải đi qua một con đường hẹp, chính việc này tạo thuận lợi cho chúng tôi chọn điểm phục kích hắn. Ngày hôm sau, cả hội chúng tôi cùng đợi hắn. Chúng tôi có lợi thế chiến thuật là đông người, có vũ khí và lại ở cao hơn. Khi Gary vừa vào khu vực nã đạn, chúng tôi nổ súng vào hắn. Có thể bạn sẽ cho rằng Gary sẽ tháo chạy ngay từ phát đạn đầu tiên, nhưng nó không chạy. Nó đứng chịu trận như đang bị một đàn ong tấn công. Nó cứ ôm lấy vai, lấy lưng và lấy đầu mình. Chúng tôi tiếp tục bắn. Lúc đó, một bà giáo ở trường tên là Waters chạy tới và quát ầm lên. Rồi một giáo viên nữa quát nạt và chúng tôi chạy tán loạn ra khỏi gốc cây. Gary nằm oằn mình dưới đất và thở dốc ra như khóc. Tôi thấy tội cho nó vì đầu nó – nơi bọn tôi nhằm vào là chủ yếu, đang chảy máu, nhưng tôi cũng thấy là nó đáng bị đánh như thế vì hôm trước nó đã đánh bạn tôi. Áo của Gary lộn cả về đằng lưng. Một thầy giáo dùng khăn tay để băng mặt cho Gary.

Cả bọn chúng tôi bị triệu tập lên phòng Hiệu trưởng. Cảnh sát địa phương cũng có mặt ở đó, cố không bật cười vì trò đùa của chúng tôi. Tôi giải thích, “bạn ấy lớn hơn tất cả bọn em, nhưng hôm qua bạn ấy đã đánh bạn Chris.” Trong suy nghĩ của mình, tôi không hiểu là chúng tôi sai ở chỗ nào. Nhà trường tịch thu súng của chúng tôi và mời bố mẹ chúng tôi tới. Hiển nhiên bố dượng đã cho tôi ăn đòn tơi tả khi về nhà.

Một vài năm sau, trước khi tham gia vào SEAL, tôi về nhà vào kỳ nghỉ phép của lính Hải quân. Tôi ngồi trên xe do Gary lái, giờ hắn là lái xe cho bố tôi. Gary hỏi tôi: “Cậu nhớ lần bắn tôi bằng súng BB không?”

Tôi gượng gạo trả lời: “Ừ, nhớ. Cậu biết đấy, lúc đó mình đều là trẻ con mà.” “Không, không, không sao mà.” Gary chỉ vào vai trái và bảo: “Chỗ này giờ cũng ổn rồi.” Tôi sờ vào vai trái của cậu ta – và tôi cảm nhận được hình viên đạn BB dưới làn da cậu ấy.

“Đôi khi những vết đạn làm tôi đau đấy”, giọng cậu ta rất thật: “Có lúc nó khiến tôi đau ở đầu, lúc lại đau ở vai”. “Ôi anh bạn! Tôi vô cùng xin lỗi!”

Sau đó chúng tôi cùng uống bia và cảm thấy buồn cười về chuyện đã xảy ra.

Khi lên tám tuổi, tôi quay lại Florida với dượng mình cùng một vài người khác để làm nghề bán rong, tức là rong ruổi khắp mọi nẻo đường bán hàng trên một chiếc xe tải nhỏ không mui. Tôi ngồi phía sau bán hàng trong khi một gã nghiện rượu cổ đỏ ửng tên là Ralph Miller lái xe. Hắn thường dừng xe ở cửa hàng rượu. “Tao dừng đây để vào mua ít nước cà chua. Mày thích uống không?”

“Chắc là có.”

Hắn vào mua một bình nước cà chua cho tôi. Tiếp đó hắn mua một ít nước cà chua màu nhạt, mùi thơm thơm trộn lẫn với hành, cần tây, vài thứ gia vị khác và một tý chút nước trái cây Mott Clamato.

Ralph thích uống loại này.

Một lần khi đang ngồi trên thùng xe tải, tôi lén nhìn vào phía trong cabin. Ralph mở khóa túi quần

và lôi ra một chai rượu vodka, rồi trộn rượu vào nước Clamato. Làm thế có gì hay ho nhỉ? Gã này lại làm hỏng thức uống Clamato ngon lành này rồi!

Chúng tôi lái xe quanh những khu vực nguy hiểm nhất của thị trấn để bán dưa hấu, dưa vàng. Một lần khi xe của chúng tôi dừng lại ở một thị trấn tên là Dania, có hai gã đến thùng xe hỏi giá dưa. Một gã lấy một quả dưa, đặt vào trong xe hắn rồi bước về phía cabin như để trả tiền cho Ralph.

Đoàng! Tôi quay lại và thấy gã đó đang hướng một khẩu súng lục ổ quay .38 vào Ralph. Chân của Ralph đang chảy máu. Ralph run rẩy đưa cho gã đó ví tiền.

Gã cầm súng hất hàm hỏi Ralph: “Mày nghĩ tao không dám bắn mày chắc?” Tôi toan chạy khỏi xe.

Tên còn lại quát tôi: “Ngồi yên”. Sau đó gã hướng súng vào tôi. Tôi nhảy qua hàng ghế trên thùng xe và giật mạnh báng súng, lo sợ bị bắn bất cứ lúc nào. Tôi chạy nhanh đến mức mà chiếc mũ cao bồi màu đỏ nho tôi mua từ cửa hàng giá rẻ Grandma Beulah bay khỏi đầu. Trong một thoáng tôi đã nghĩ tới việc quay lại nhặt mũ, song tôi quyết định không vì nếu tôi quay lại, gã kia sẽ bắn tôi.

Tôi trốn quanh hai mô đá và thấy Ralph lê người tới buồng điện thoại ở trước cửa hàng tạp hóa.

Tôi rất mừng vì Ralph vẫn còn sống. Ralph gọi một xe cứu thương.

Cảnh sát tới ngay trước khi xe cứu thương xuất hiện. Nghe cảnh sát thẩm vấn Ralph, tôi biết rằng Ralph bị hai tên cướp yêu cầu đưa tiền chứ không phải là đưa ví. Do đó Ralph mới bị bắn.

Trong khi Ralph vào viện để băng bó vết thương thì cảnh sát đưa tôi vào đồn cảnh sát Dania. Nhân viên điều tra thẩm vấn tôi, rồi đưa tôi quay lại hiện trường để nghe tôi thuật lại sự việc. Họ có chút nghi ngờ song cũng nhận thấy là tôi còn quá nhỏ và lại bị sốc vì phải chứng kiến những điều vừa xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những người lính chuyên nghiệp. Họ dành thời gian cho tôi, kể cho tôi nghe về công việc của một cảnh sát và cho tôi biết họ đã phải làm gì để trở thành cảnh sát. Một viên cảnh sát chống ma túy cho tôi xem những loại ma túy khác nhau mà họ thu được trên đường. Họ để tôi đi quanh đồn cảnh sát, rồi một y tá ở phòng bên chỉ tôi toàn bộ trang thiết bị. Nhân viên y tế thậm chí còn cho tôi chơi trò trượt tuyết. Tôi sẽ mãi không bao giờ quên được họ.

Đêm hôm đó, tôi được một nhân viên điều tra đưa về nhà ông ấy để ngủ lại vì họ vẫn chưa tìm ra được bố tôi. Vợ ông ta hỏi tôi: “Cháu đã ăn gì chưa?”.

Từ sau bữa sáng đến giờ tôi chưa ăn gì, vì thế tôi đáp: “Chưa, thưa bà.” “Thế cháu có đói không?”

“Hơi đói ạ.”

“Được rồi, để cô làm gì đó cho cháu ăn nhé!”

Ông cảnh sát nói: “Bọn anh đưa nó vào đồn từ chiều nay, nhưng chẳng ai nghĩ tới việc cho nó ăn cả.”

“Các anh không biết nó là một đứa bé đang tuổi ăn tuổi lớn à?” Bà ta mang ra cho tôi một đĩa đồ ăn.

Tôi ăn ngấu nghiến. Ước gì tôi có thể ở với những con người này mãi mãi… Ăn xong, tôi đi ngủ. Sáng hôm sau tôi được gọi dậy lúc 5 giờ, viên cảnh sát đưa tôi quay lại đồn. Tại đó bố dượng và bác Carroll đang chờ tôi. Hai người có một vườn dưa hấu, nơi tôi làm việc sau giờ học và trong suốt mùa hè. Hai người này chỉ biết đến công việc. Khi không làm ở nông trại, họ làm nghề lái xe tải. Kể từ khi tôi làm việc phụ thêm với gia đình, mối quan hệ của tôi và dượng (nay đã bỏ rượu) đã tốt hơn. Ở miền Nam Georgia, nơi cái nóng có thể đạt đến gần 40 độ C và độ ẩm lên đến gần 100%, tôi thường đi khắp vườn dưa để thu hoạch những quả dưa hấu nặng đến gần 15 kg, xếp tất cả thành một hàng dọc và lăn dưa qua bên kia đường, sau đó chuyển lên thùng xe tải. Một trong số những người lớn tuổi hơn tôi sẽ lùi xe tải tới một xe moóc 18 bánh và tôi giúp họ chất dưa lên xe. Sau khi chuyển hàng ngàn quả dưa lên xe, sáng sớm hôm sau tôi theo xe tải lên vùng Columbia, miền Nam Carolina để bán dưa. Tôi có khoảng hai tiếng để ngủ trước khi quay về.

Khi có vài tiếng rảnh rỗi, gia đình tôi cũng đi picnic. Từ một trong những chuyến đi như vậy, tôi đã tự học được cách bơi qua những chỗ nước lặng ở sông Little Satilla. Trước đây tôi chưa biết chút kỹ thuật bơi nào, nhưng cũng phần nào cảm nhận được khi tắm ở nhà. Cả nhà tôi tới đó vài lần vào cuối tuần để bơi, câu cá vược, cá thu, cá chim cổ đỏ và cá mang xanh.

Cũng có lúc sau khi làm việc ở vườn dưa xong, cả nhóm chúng tôi cùng tới bơi trong làn nước đen ngòm ở hồ Grace. Do tác động của axit tannic từ cây thông và các loại rau khác nên nước ở cả sông Little Satilla và hồ Grace đều đen tới mức mà vào những ngày đẹp trời, bạn cũng không thể thấy chân mình dưới nước. Vào mùa hè, chuồn chuồn bay tới đây để săn muỗi. Từ bìa rừng bao quanh hồ, tiếng kêu của sóc hòa lẫn tiếng vịt và tiếng gà tây rừng. Những dòng nước đen ngòm đó luôn ẩn chứa vẻ đẹp bí hiểm.

Khi lên 14 hay 15 tuổi, tôi điều hành nhóm công nhân vườn dưa. Tôi thường đi từ vùng người da trắng sinh sống, theo một con đường mòn tới Quarters – khu vực sinh sống của người da màu. Tôi chở từ 15 đến 20 người làm đến vườn dưa ngày hôm đó, phân công công việc và cùng làm với họ, nhưng thực chất thì họ làm việc nhiều gấp đôi tôi.

Sau một ngày làm việc, cả nhóm chúng tôi lại tới hồ Grace để tổ chức thi bơi xem ai bơi được xa nhất tính từ chân cầu. Những chuyến đi picnic của gia đình giúp tôi cải thiện được khả năng bơi lội của mình. Khi bơi dưới làn nước đen nâu, miệng tôi khép hờ và thở ra một ít. Khi tôi lên bờ, có người còn bảo: “chắc là cậu xì hơi rồi, làm sao mà cậu nín thở lâu thế được!” Những lúc như vậy là dịp hiếm hoi tôi được thoải mái và vui vẻ. Thỉnh thoảng vào buổi tối, chúng tôi đốt lửa trại và chuyện trò.

Bố dượng không ngăn cấm chúng tôi dành vài giờ đi bơi hay câu cá, nhưng chúng tôi không bao giờ được đi săn. Ông cũng có lần cho tôi bắn súng, nhưng đi săn thường phải mất cả ngày. Như vậy thì sẽ bỏ bê công việc. Ông ấy chỉ chú tâm đến công việc. Nếu tôi làm sai hay lười biếng, ông sẵn lòng cho tôi ăn đòn.

Ở trường cấp hai, một hôm, tôi bị đau chân khi chơi đá bóng trong giờ thể dục. Thầy giáo tôi bảo “Để thầy xem hông em có việc gì không!” Ông kéo quần tôi xuống để kiểm tra hông phải và ông nhìn thấy dấu vết còn lại từ trận đòn của dượng tôi, kéo từ phần dưới lưng tới phần đùi. Ông giáo há hốc mồm và thốt lên: “Ôi! Chúa ơi…” Sau khi kiểm tra xong, ông kéo quần tôi lên và không nói thêm lời nào nữa. Trong những ngày tiếp theo, cuộc sống gia đình tôi vẫn vậy. Nhưng tôi cứ có cảm giác lung túng vì đã có người phát hiện ra bí mật của mình.

Dù cho những chuyện đã xảy ra, tôi vẫn yêu bố mẹ mình. Đó không phải hoàn toàn là lỗi của họ vì họ không được học hành và không biết cách dạy dỗ trẻ con. Họ đã làm tất cả để cả gia đình đủ ăn đủ mặc. Theo Tháp nhu cầu của Maslow, chúng tôi không bao giờ đạt tới tầng tự thể hiện bản thân (tầng thứ 5 trong tháp) vì chúng tôi hiện đang ở đáy tháp – chỉ cố để có đủ cơm ăn áo mặc. Về cơ bản, bố mẹ tôi không bao giờ dùng những lời cay nghiệt. Họ là những người tin vào Chúa. Chủ nhật nào mẹ cũng đưa mấy anh em tôi tới nhà thờ. Họ thấy cách nuôi dạy con cái của mình chẳng có gì sai cả.

Là anh cả của mấy anh em, bố dượng muốn tôi chăm sóc các em gái của mình là Rebecca, Tammy và Sue Anne. Cô em Tammy nói luôn miệng và hay tác oai tác quái. Từ khi vào học cấp một, không biết đã bao nhiêu lần tôi phải bênh vực cho cái tội vạ miệng của nó. Khi tôi đang học lớp 5, cô bé chửi một cậu bé học lớp 8. Hậu quả là cậu ta đấm thẳng vào mặt tôi, tặng cho tôi một quầng đen trên mắt, một chiếc mũi gãy và một cái răng sứt. Khi về nhà, bố tôi là người tự hào nhất mà chẳng quan tâm đến việc Tammy đã làm những điều xằng bậy và gây sự đánh nhau. Tôi trông chẳng khác nào một con vật hiến tế. Tuy nhiên, tôi biết dù cho cậu bé kia có đánh tôi tàn bạo đến đâu, nhưng nếu tôi không cho cậu ta đánh, thì chắc chắn dượng tôi còn đánh tôi tàn bạo hơn nhiều. Vào một buổi chiều khi tôi 17 tuổi và đang nghỉ hè ở nhà, tôi vừa đi làm cả ngày ở vườn dưa về, tôi tắm táp, sau đó ra phòng khách ngồi, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Một lát sau, Tammy đi đâu về, vừa đi vừa khóc.

Tóc vẫn còn ướt, tôi hỏi: “Có chuyện gì đấy?” “Đầu em bị đau.”

“Sao mà đầu em lại đau?” Tôi sờ đầu em nó và thấy một cục u ngay trên đỉnh đầu. Tôi hỏi: “Ở đây có đau không?”

Tammy kể: “Bọn em đang chơi bóng rổ ở nhà thờ. Khi em vừa ghi điểm, Timmy nhặt bóng lên và ném bóng vào người em nên em ném ngược vào người nó. Nó chộp được em rồi khóa đầu em lại. Sau đó nó đấm vào đầu em.”

Tôi ra ngay khỏi phòng. Giờ thì tôi như con bò tót đối mặt với màu đỏ, nhưng tôi hoàn toàn tự chủ. Tôi rời khỏi nhà, qua cổng, vọt qua hàng rào xích và chạy thẳng tời nhà thờ First Baptist. Lũ trẻ cùng cha mẹ chúng đang rời nhà thờ sau giờ học Kinh thánh mùa hè. Mấy người trợ tế đứng ở phía cửa nhà thờ. Tôi phát hiện ra Timmy – người đã đánh em gái tôi. Tôi và nó cùng tuổi. Nó quay lại đúng lúc thấy tôi đi tới. Timmy hét toáng lên “Howard, chúng ta cần nói chuyện đã.” “Không cần đâu, thằng chó chết.” Tôi giáng một cú vào má phải, rồi quật ngã nó. Tôi chụp lấy đầu và ngồi lên lưng Timmy rồi đánh nó nhừ tử, miệng văng tục liên hồi. Tất cả những gì tôi nghĩ tới lúc này là em gái của tôi đang khóc với một cục u trên đầu.

Một người trợ tế cố lôi tôi ra, song nên nhớ tôi đang 17 tuổi và luôn làm việc quần quật từ nhỏ tới giờ. Phải thêm một số người trợ tế nữa mới kéo được tôi ra. Cha Ron xuất hiện. “Howard, dừng lại.” Tôi tin và tôn trọng cha Ron. Cha giống như người anh tinh thần của cả thị trấn này vậy.

Tôi dừng tay. Cha Ron là người đã dừng được cuộc ẩu đả.

Đen đủi thay, vụ việc này lại châm ngòi cho một mối thù. Bố của Timmy là một kẻ giống như bị tâm thần, trong khi dượng tôi là người nóng tính. Ông ta không bao giờ chùn bước trước ai.

Gã tâm thần lái xe tới nhà tôi. Dượng tôi gặp gã ở trước cửa nhà.

“Tôi mà gặp thằng nhãi con ông ở đâu đó thì nó sẽ không tự về nhà được đâu.” − tâm thần dọa.

Dượng tôi đi vào nhà và chộp lấy khẩu súng ngắn. Khi ông vừa bước ra trước nhà thì gặp ông nội tôi đi cùng Cha Ron đến. Bố tôi định nhắm thẳng vào mông của gã tâm thần. Song nội tôi và Cha Ron đã ngăn ông lại.

Những tuần tiếp theo thực sự rất căng thẳng với tôi. Đi đâu tôi cũng phải để ý phía sau xem có gã nào theo mình không. Timmy cũng có hai anh trai nữa. Tôi phải tụ tập anh em lại để bảo vệ mình và không bao giờ dám đi đâu một mình. Cha Ron gặp mặt cả bố và nội tôi ở nhà thờ. Hóa ra mọi chuyện diễn ra không phải như những gì phát ra từ cái mồm láu cá của em gái tôi. Tammy đã gây chuyện gì đó với Timmy. Sau đó Timmy chỉ dùng ngón tay cốc đùa vào đầu Tammy. Tôi đã từng nghĩ đó là cú đấm vào đầu thay vì những gì diễn ra trong thực tế. Cha Ron khuyên chúng tôi nên bỏ qua vụ việc. Giờ thì tôi biết là rắc rối to rồi.

Nhưng bố tôi lại bảo: “Này con trai, nếu là bố thì bố cũng làm tương tự, ngoại trừ việc văng tục liên mồm giống như con làm trong sân nhà thờ.”

Tôi xem hành động đó như là để bảo vệ phẩm giá. Mặc dù bố tôi cũng có lỗi, song với ông, bảo vệ gia đình luôn rất quan trọng và tôi qúy trọng ước muốn bảo vệ tôi của ông. Cha Ron là người gắn kết cộng đồng này và chính cộng đồng này đã giúp hình thành tính cách của tôi.

Bên cạnh Cha Ron, một người khác cũng có ảnh hưởng đến tôi là bác Carroll – anh trai của bố. Ông ấy không phải là người nóng tính và dù không phải là người học nhiều, song ông rất thông minh, đặc biệt trong đối nhân xử thế. Bác Carroll có bạn bè ở khắp nơi. Chính bác đã dạy tôi lái xe tải vì bố Leon không đủ kiên nhẫn để dạy tôi. Bố Leon có thể nổi giận ngay cả lần đầu tôi bốc nhầm dưa, lái xe sai hay bất cứ lỗi gì. Trong khi bác Carroll lại dành thời gian để giải thích mọi thứ cho tôi. Khi tôi họclái xe 18 bánh, bác Carroll bảo: “Không, Howard à, đáng lẽ cháu không nên quay trục xe ngay lúc này. Cháu nên tăng vòng quay thêm một ít đã. Rồi bây giờ thì về số và tiếp tục đi.” Tôi học được nhiều điều từ bác Carroll. Tôi và bố Leon có thể cùng lái xe từ bờ biển West Palm, Florida tới Screven, Georgia, liên tục 8 tiếng mà chẳng mấy khi nói chuyện với nhau. Hai bố con tôi không có chuyện gì để nói với nhau hết. Nếu có, thì đó là những câu đại loại như, “Con muốn đi tắm không?”. Ngoại trừ những nhu cầu cá nhân hay ăn uống, hai cha con chẳng nói gì nữa. Bố mẹ tôi thường bảo chúng tôi là “Con cái là để ngắm, không phải để nghe.” Nhưng họ cũng không phải hoàn toàn xấu. Nếu chúng tôi ra đường và nói ra điều gì, trong khi không ai hỏi mình thì khi về nhà, chúng tôi biết điều gì sẽ dành cho mình. Bác Carroll là người duy nhất thể hiện tình thương đối với tôi. Bác thường quàng tay ôm lấy vai tôi khi biết dượng lại đánh tôi một cách tàn nhẫn vào chân. Bác luôn động viên tôi, thậm chí là chỉ bằng một lời nói yêu thương lúc cần thiết. Nếu tôi và bác cùng đi xe, hai bác cháu sẽ dừng lại để ăn sáng và ăn trưa tại nhà hàng. Trong khi với dượng, hai bố con sẽ đi vào một cửa hàng tạp hóa và mua một ít xúc xích với pho mát rồi lên xe để làm thành món bánh sandwich. Leon không muốn dừng lại lâu. Đáng quý nhất là bác Carroll luôn động viên tôi. Ảnh hưởng của bác với tôi thậm chí là còn hơn cả Cha Ron. Nếu không có họ, có lẽ tôi đã có những hành động ngu xuẩn. Thậm chí là tự kết liễu đời mình.

Những năm trung học, tôi học trở thành chuyên viên tin học tại Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị Trung cấp (JROTC) của Không quân. Tôi yêu JROTC, yêu cả những quy định, cơ cấu của tổ chức này cũng như bộ quân phục đẹp đẽ. Tôi luôn là một học viên xuất sắc: cả trong xếp loại sĩ quan cũng như trên cương vị là chỉ huy tổ quân kỳ. Điều đó cho tôi công việc để làm và cũng để vượt lên trên người khác. Khi đèn được bật lên, tôi hiểu được rằng tôi có thể dễ dàng trở thành người xuất sắc nhất. Tuy nhiên khi tiếp xúc với phụ nữ, tôi lại là kẻ đến sau. Vào tháng Mười, tức là một tháng sau sinh nhật 18 tuổi của tôi, tôi hỏi bạn mình: “Hôn kiểu Pháp thì phải làm thế nào nhỉ? Cậu làm thế nào?”

“Howard, thế này nhé, sáp lại cô ta, đặt môi mình lên môi nàng, luồn lưỡi vào trong, rồi sau quấn chặt lấy nàng.”

Tôi cần phải có một bạn nhảy đi cùng đến buổi khiêu vũ của JROTC. Một anh bạn cùng đơn vị của tôi có em gái tên là Dianne, mọi người đều gọi cô ấy là Dee Dee. Tôi chẳng mấy khi nghĩ về cô ấy,

nhưng giờ thì tôi đã nghĩ đến việc có thể cô ấy sẽ cùng tới buổi khiêu vũ với mình. Lo lắng và hồi hộp, tôi mời Dee Dee: “Em đi tới buổi khiêu vũ cùng anh nhé?” “Dạ vâng,” − cô ấy đáp.

Sau khi khiêu vũ xong, cô ấy bảo tôi “Mình đi tới nhà Đèn ma đi.” Tôi đưa cô ấy tới nơi người ta đồn là có bóng ma không đầu của một công nhân đường sắt lang thang trên đường ray tìm kiếm gì đó, tay cầm một chiếc đèn lồng.

Khi tôi dừng xe, người tôi như cứng lại. Khi nào thì mình nên đặt môi lên môi cô ấy? “Luồn lưỡi vào và quấn lấy cô ấy” nghĩa là cái quái gì? Mình có nên luồn lưỡi theo vòng tròn không? Mình nên làm gì? Tôi cứ cố thoát ra khỏi những suy nghĩ đó. Tôi định bảo với Dee Dee, em này, chúng ta nên về thôi. Nhưng cô ấy đã tiến sát đến gần tôi, chờ đợi. Mặt cô ấy ngay trước mặt tôi. Rồi cô ấy chủ động hôn kiểu Pháp. Chẳng cần nói gì nữa, đây rõ ràng chẳng phải là môn học Vật lý lượng tử, như thế là ổn. Chúng tôi thành một đôi cho đến mùa xuân năm sau.

Buổi hòa nhạc mùa xuân sắp diễn ra, nhưng một gã nào đó đã mời Dee Dee trước tôi rồi. Suốt giờ học môn Kinh tế học, tôi cố mời Laura, bạn của Dee Dee cùng tới buổi hòa nhạc – đó là cuộc hẹn đầu tiên của chúng tôi. Laura dáng người đẹp và nảy nở. Khi buổi hòa nhạc kết thúc, chúng tôi đã hôn nhau lần đầu tiên ngay trong ô tô. Laura hôn tôi và tôi không cưỡng lại. Bởi tôi lớn lên trong một gia đình không có sự biểu hiện của tình thương, nên sự quan tâm của Laura dành cho tôi vô cùng ý nghĩa.

Nghĩ về quãng thời gian thanh niên, tôi vẫn nhớ phi vụ trinh sát đầu tiên của mình. Khi ở Screven, Georgia, chúng tôi không phải làm gì nhiều, nên thỉnh thoảng lại tự tạo niềm vui cho mình. Có một lần vào tối thứ Sáu, Greg, Phil, Dan và tôi lái xe xuống phía bờ sông. Chúng tôi thấy một cái va li cũ có lẽ là rơi ra từ xe của ai đó. Chúng tôi mở ra và chỉ thấy một ít quần áo trong đó. Chúng tôi quẳng nó lên thùng xe tải của Greg và chẳng nghĩ gì về nó cả. Khi chúng tôi dựng trại ở bờ sông, cùng ngồi quanh đống lửa uống bia với thịt bê nướng thì một con mèo ghẻ lở và gầy nhom xuất hiện. Nó chắc là mèo hoang nên chẳng dám đến gần chúng tôi, nhưng con mèo chắc là đói lắm. Chúng tôi ném cho nó một miếng bê nướng, con mèo vồ lấy và nhai ngấu nghiến. Một người trong chúng tôi bắt chước động tác của loài mèo thì con mèo nổi quạu ngay – móng vuốt và răng nó nhe ra. Tội nghiệp con mèo. Chúng tôi dùng cái va li làm cái bẫy bắt mèo bằng cách chống nắp va li lên và cho một miếng bê nướng vào trong. Khi con mèo mò vào trong va li, chúng tôi thả nắp va li xuống và kéo khóa lại. Chúng tôi cười toáng lên, rồi khi nghe con mèo kêu như điên dại trong chiếc va li càng làm chúng tôi khoái trá hơn. Con mèo cứ kêu cho đến khi kiệt sức.

Tôi chợt nảy ra một ý kiến. “Anh em biết là khi thấy cái va li, bọn mình đã muốn mở nó ra như thế nào? Vậy nếu mình đặt cái va li dọc đường, thì ai đó bắt gặp cũng sẽ dừng lại và mở nó ra.” Thế là chúng tôi mang cái va li ra phía đường và dựng nó ở gần một cây cầu. Sau đó chúng tôi nấp ở gần đó bằng cách nằm sát mặt đất trên một con dốc ở gần đường. Chúng tôi đợi một lúc thì có một chiếc xe chạy qua. Song xe này không phát hiện ra. Đúng là lái xe không thèm quan sát gì.

Rồi chiếc xe khác tiến tới và đèn phanh sáng lên. Sau đó nó vượt qua cái va li, quay một vòng chữ U và quay lại. Nó vượt qua chỗ chúng tôi nằm và quay tiếp một vòng chữ U, cuối cùng nó dừng lại sát cái va li. Một bà béo da đen bước ra và nhặt lấy cái va li. Sau khi quay về xe và đóng cửa, chúng tôi nghe tiếng nói chuyện rất rôm rả, tưởng như họ vừa nhặt được một hòm châu báu vậy. Chiếc xe di chuyển. Đột nhiên, đèn phanh xe bật sáng và cả rung lắc như người đứt hơi. Ba trong bốn cửa xe mở tung ra, rồi ba người nhảy phốc ra khỏi xe chửi rủa ầm ĩ. Chúng tôi cố nín cười.

Một người trong bọn họ vứt cái va li xuống sườn đồi. “Đuổi nó cút khỏi ghế sau đi!” một người khác hét toáng lên. Một người khác chộp lấy một cái gậy và chọc vào trong xe để đuổi con mèo ra. Cuối cùng thì con mèo cũng thoát được ra ngoài.

Chúng tôi chẳng mong là họ mở cái va li ở trong xe khi xe đang chạy vì chúng tôi không ý định làm hại ai. May là không ai bị thương. Từ vụ này, chúng tôi có thêm một câu chuyện để kể cho vui vào ban đêm. Tôi dám cá là những người đó sẽ không bao giờ dám nhặt bất cứ thứ gì trên đường nữa. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thực hiện hoạt động quan sát bí mật.

Khi tốt nghiệp trung học, tôi đã cao trên 1m80 và dành dụm đủ tiền để mua một chiếc ô tô, theo học tại một trường công giáo là Đại học Cumberland ở Williamsburg, Kentucky. Nhưng chuyện đi làm để dành tiền cho chiếc Ford LTD màu xanh đời 1970 của tôi đã xôi hỏng bỏng không vì Tammy đã ngốn hết khoản tiền mua xe của tôi trước khi tôi rời khỏi nhà, do đó tôi phải đi bằng xe buýt. Trước khi bước lên xe, mẹ tôi bảo bố: “Anh ôm Howard đi.” Sau đó bà bảo tôi: “Lại ôm dượng đi con.” Leon dang rộng hai cánh tay và hai bố con tôi gượng gạo ôm nhau. Đó là lần đầu tiên hai bố con tôi ôm nhau. Tiếp đến tôi ôm nhẹ mẹ mình. Tôi lên xe mà lòng vui sướng vì đã thoát khỏi chốn địa ngục này.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Chuẩn Bị Chuyến Sau

Đặng Chí Bình

Bài 16.

Gần hai giờ sau, khoảng 8 giờ sáng, mặt trời đỏ như một miếng tiết bò to tướng, ở dưới nước từ từ chui lên, làm cảnh vật sáng lung linh một mầu đỏ ửng.

Phan đã đỗ xe trên đường ngay phía trước thuyền, đang đứng nói chuyện với ông già thuyền trưởng và mấy anh thủy thủ. Tôi mở cửa khoang chui ra. Phan quay lại nhìn thấy tôi, mắt Phan mở to rồi nhấp nháy. Dù đã được nghe báo trước, nhưng chắc Phan cũng không ngờ người tôi xuống nhanh như vậy, khi mới chỉ có cách 5 đêm 4 ngày. Lý do chính là trong 4 ngày 5 đêm đó, tôi chỉ húp được ba, bốn bát nước cháo, và lại trải qua nhiều giờ phút căng thẳng. Phan tiến lại nắm nhẹ tay tôi, chỉ hỏi một câu:

 – “Toa” có mệt không?

Cho tới lúc lên xe, Phan thấy tôi ít nói hẳn đi. Nếu là người khác, có thể sẽ tưởng rằng, sau một chuyến đi căng thẳng, tinh thần tôi bị xuống. Nhưng, có lẽ Phan đã hiểu nét trầm tư của tôi, nên đã đập vào vai tôi, vừa cười vừa nói:

– Ồ, “L’homme propose, Dieu dispose” (*) mà! “Toa” nghĩ ngợi làm gì!

Đã 5 ngày không rửa mặt, lại đang mặc bộ quần áo miền Bắc, dép râu, mũ cối, nên tôi chui ra băng sau. Mở chiếc va li của tôi, mà Phan đã mang theo từ cơ quan sang cho tôi, để thay đồ.

(*) “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

Trên đường về thành phố, Phan nói:

– Bây giờ “toa” chưa thể về Hồng Phát được. “Moa” đã tạm thuê cho “toa” một phòng trong khu vắng vẻ; “toa” hãy về đấy tắm rửa, cạo râu, ăn uống cho lại sức. Chiều mai, “moa” sẽ trở lại đón “toa” về Hồng Phát.

Buồng số 5 đã lại có một người Mỹ khác đến thuê. Nghe quản lý nói họ chỉ ở vài ngày, nên tôi phải tạm ở buồng 14 trên lầu tư. Tầng này cũng có vài anh Mỹ ở mấy buồng, tuy thỉnh thoảng gặp nhau ở lối đi khi ra vào. Họ và tôi cũng chỉ mỉm cười để chào nhau, chứ không nó năng gì.

Hai ngày sau Phan cho biết: “Công tác sẽ lại tiến hành vào ngày 28 tháng 5.”

Như vậy, tôi có gần một tháng để nghỉ ngơi, để lấy lại sức và tinh thần. Theo quy ước, ngày đi thường phải là những ngày cuối tháng. Tôi băn khoăn hỏi Phan vì sao đài khí tượng của ta, lại không biết gì về những cơn bão đột xuất?

Phan trả lời:

– Với trình độ và phương tiện của đài khí tượng của mình hiện nay, mình chỉ dự đoán tương đối chính xác về thời tiết trong một thời gian 30 giờ và trong một phạm vi bán kính 300 cây số. Mà điểm đổ bộ lại ở ngoài tầm quá xa và thời gian cũng cách hàng 50-60 giờ, nên thật khó!

Sau khi tôi làm báo cáo gửi đi được 3 ngày, tường trình những nét diễn tiến cơ bản của chuyến đi, có lẽ ở Sài Gòn, những người trên Cục cho rằng cần phải khích lệ, động viên tinh thần tôi, nên một hôm Phan đến bảo sẽ đưa tôi đi gặp một nhân vật của Cục muốn tiếp xúc. Phan đưa tôi tới quán nước “Diệp Hải Dung” khi gần tới nơi, Phan dặn:

– “Toa” vào một mình, tìm một bàn trống, cứ gọi theo ý mình. “Toa” ngồi chờ, sẽ có người đến gặp.

Tôi vào quán, một lúc sau, thoáng nhìn chéo góc đường, tôi thấy một người mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, thắt cà vạt. Ông ta khoảng ngoài 40, lái một chiếc xe “díp” dân dự còn mới, bên cạnh là ông Lý, một người miền Bắc tôi có gặp vài lần.

Đậu xe ở một góc xa, người đó và ông Lý xách chiếc cặp đen theo sau, tiến vào quán. Trong quán, cũng đã đông người, hầu hết là thành phần trẻ.

Do sự hướng dẫn của ông Lý, hai người đến bàn tôi. Vì không muốn người chung quanh để ý, nên họ chỉ cười nhẹ và bắt tay tôi, chứ không nói gì cả. Khi đã ngồi, gọi thức uống xong, ông Lý hơi cúi ra giữa bàn nói nho nhỏ nhưng ra vẻ quan trọng:

– Đây là ông Cục phó, có nhã ý muốn ra gặp anh. Vậy, anh cần giải quyết hay đề bạt ý kiến gì, anh cứ nói?

Sau khi nghe ông Lý giới thiệu, tôi nhớ lại qua vài câu chuyện với Phan ở Sài Gòn lúc trước. Tôi đã biết đây là ông Nguyễn Khắc Bình, vì vậy, một lần nữa, tôi hơi nghiêng đầu tỏ vẻ được vinh hạnh gặp ông. Với hàng ria mép xén tỉa cầu kỳ, đôi mắt sâu long lanh thật sắc và làn môi hơi mím lại của ông làm tôi thấy toát ra từ ông ta một nét cương nghị. Có lẽ vì thấy tôi mãi chưa nói gì, ông mỉm cười thân mật:

– Trong người anh có được khỏe không?

– Cảm ơn ông, tôi bình thường.

Tôi chậm rãi trả lời. Mặt ông nghiêm lại, nhưng mắt ông sáng lên, ông nói rành rọt:

– Đọc bản báo cáo tường thuật chuyến đi của anh; chúng tôi thấy anh quyết định quay về như vậy là đúng. Điều đó, chứng tỏ anh là người thận trọng, cân nhắc. Vậy, sau chuyến đi vừa rồi, anh có những cảm nghĩ gì?

Tôi nhìn ông ta:

– Thưa ông, cảm nghĩ thì nhiều, nhưng có một ý nghĩ đã lấn át tẩt cả. Chuyến đi không thành, phải quay trở lại, dù rằng ngoài ý muốn, lòng tôi vẫn nằng nặng không vui.

Ông ta gật gật đầu, mấy ngón tay để trên bàn cũng đập nhè nhẹ theo nhịp gật. Ông mỉm cười, quay lại ông Lý như chia xẻ nhận xét:

– Chính điều đó đã thể hiện chí khí của anh. Lâu nay, chúng tôi nhìn về anh đã không sai! Bây giờ anh cần gì không? Cục sẽ sẵn sàng giải quyết cho anh!

Tôi còn đắn đo nhìn ông ta, chưa muốn trả lời vội, ông Lý đã nhỏ nhẹ thúc đẩy tôi:

– Tiện có ông Cục phó ở đây, anh có gì khó khăn, dù là còn trong ý nguyện, anh đừng ngại gì cả.

Tôi ngần ngừ là vì chưa muốn trả lời ngay, chứ không phải tôi muốn nói mà còn rụt rè. Tôi nghiêm trang nhìn hai ông:

– Tôi xin ghi nhớ sự quan tâm của hai ông đối với tôi. Hiện nay, về mặt cá nhân tôi, tôi không cần gì cả. Nhưng, về công tác, tôi muốn đề nghị với ông một vấn đề.

Mắt ông Bình hơi sáng lên, những bắp thịt phía hai quai hàm của ông động đậy liên hồi, rồi như ông khích lệ:

– Anh nói đi.

Tôi im lặng, thận trọng một lúc nữa, rồi nhìn thẳng ông:

Qua thực tế của chuyến đi phải quay về vừa rồi, tôi thấy rằng: Sự quan sát theo dõi khí tượng của ta chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định, mà điểm đổ bộ của tôi lại vượt quá xa về cả không gian lẫn thời gian. Do đó, chúng ta không chủ động thực thi được công tác, không những bởi ngăn chặn của đối phương đã đành, mà còn bởi cả thiên nhiên nữa. Vì vậy, tôi xin đề nghị ta kéo lùi điểm đổ bộ vào Nghệ An hay Hà Tĩnh. Tuy đất lạ và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, nhưng tôi tự thấy, tôi có thể vượt qua. Tôi chỉ cần tìm về được trục chính Quốc Lộ 1 là tôi có thể về tới Hà Nội.

Sau này, tôi đã thấy hậu quả về lời đề nghị đó, chưa nói gì về nội dung, ngay qua thái độ đề nghị của tôi, tôi bắt đầu rơi vào cái bệnh chủ quan, coi thường địch rồi.

Trong khi nghe tôi nói, ngón tay của ông Cục phó vẫn nhẹ đập trên mặt bàn càng lúc càng mau hơn; ông gật nhẹ đầu, rồi như nhiệt huyết của ông được tăng độ, ngón tay ông miết dài trên mặt bàn như dứt khoát:

– Đó là những ý kiến đi sát vào vấn đề, rất thực tế. Anh hãy về viết ngắn gọn, trình bày mạch lạc những ý kiến anh đề nghị, rồi đưa cho ông Phan hay ông Lý đây chuyển về Cục. Chúng tôi sẽ nghiên cứu ngay để giải đáp sáng tỏ đề nghị hữu lý của anh.

Ông nhìn tôi một lúc, rồi gặn hỏi lần nữa:

– Ngoài ra, anh cỏn cần đề nghị gì cho cá nhân anh?

Tôi vẫn lắc đầu nhè nhẹ:

– Xin để khi công tác trở về.

Dù tôi đã nói như vậy, nhưng ông Bình muốn thể hiện thiện cảm của ông cũng như Cục đối với tôi, ông vừa đứng dậy:

– Tôi đã chỉ thị cho ông Lý đây, bất cứ lúc nào anh gặp khó khăn gì muốn được giải quyết, anh cứ nói với ông.

Trong khi ông Lý vào quầy trả tiền nước, ông Bình bắt tay tôi thật chặt và nói nho nhỏ nhưng rất thật tình:

– Khi được báo cáo anh đi công tác trở về, tôi sẽ ra đây đón anh!

Tôi mỉm cười vì thoáng nhớ lại lời nói của ông Cục trưởng ở trường bay Tân Sơn Nhất hơn 20 ngày trước đây. Sao lại giống nhau thế! Một ông thì tận hải thuyền, một ông thì ở Đà Nẵng. Một vương vấn buồn len lỏi vào lòng tôi.

Trên đường trở về khách sạn Hồng Phát, và cả đêm hôm ấy, lòng tôi vẫn đầy vơi nhiều chuyện về đất nước và con người. Để gạt đi những nỗi niềm nặng trĩu trong lòng, nhớ đến anh bạn Lê Đức Bình. Sáng hôm sau, tôi đến số 80 đường Độc Lập, văn phòng đại diện của mỏ than Nông Sơn, gửi một lá thư nhờ chuyển ngay. Cuối tuần đó, Bình ra Đà Thành liền. Anh đến Hồng Phát gặp tôi, anh mang theo hai người bạn, giới thiệu là Xuân và Sỹ. (Bình với tôi cùng tên, khi còn ở trại Pavie la Mothe, để phân biệt, anh em gọi tôi là Bình “Follis”, vì lúc đó tôi thường đi chiếc xe máy dầu của Đức hiệu này. Còn Lê Đức Bình vì có mái tóc quăn, nên anh em gọi là Bình “Xuân”.)

Phải nói, tình bạn bè đã sưởi ấm lòng tôi. Sau mấy ngày đây đó bên nhau tâm sự anh nằng nặc đòi tôi phải vào mỏ, đê thăm nhà và vợ con anh. Anh phải về làm việc ngay, vì chỉ xin nghỉ được có 1 ngày. Tôi làm sao có thể nói cho anh biết được chuyện gió mưa của tôi, nên đã hẹn với anh vào dịp khác, cái dịp “Tết Công Gô” sau này.

Ở lại Đà Thành còn Xuân, Sỹ với tôi. Một mình Xuân một chiếc Vespa đời 62 của Ý và một chiếc Peugeot 203. Các anh cũng là những người trong giới tài hoa son trẻ của Thành Đà. Điều thích thú là, các anh và tôi đồng một sở thích: Thiên nhiên. Cho nên từ đấy, hết đi Cửa Đại, Lăng Cô, Mỹ Khê, Thăng Bình để ngắm biển cả bao la, những hoàng hôn lộng gió, những bình minh điệu kỳ mang nhiều sức sống; lại đến Ngũ Hành Sơn, Tam Kỳ, để chiêm ngưỡng cảnh núi đồi hùng vĩ. Bao nhiêu những thắng cảnh của Hòn Ngọc miền Trung! Ôi, quê hương ta, tuy nghèo nàn, lam lũ đạm bạc nhưng muôn đời vẫn đẹp mãi trong lòng tôi!

Năm ngày sau khi tôi nộp bản báo cáo đề nghị, một buổi sáng, Phan đến cho tôi biết là đề nghị của tôi đã được Cục chấp nhận. Rồi, Phan hân hoan nói tiếp:

– Như vậy thì trở ngại giảm đi rất nhiều, lần này “toa” chỉ phải đi một ngày rưỡi và một đêm rưỡi, nghĩa là trong khoảng 36 tiếng thôi.

Thấy tôi ra dáng băn khoăn muốn hỏi ở đâu, Phan liền vỗ vai tôi, nói rành rọt:

– Yên tâm, vùng này là cuối tỉnh Nghệ An, giáp giới Hà Tĩnh. Đó là quê hương của đám thủy thủ, họ là thổ công ở đấy. Họ sẽ đưa “toa” vào một chỗ hoàn toàn an ninh, tha hồ “toa” nghỉ ngơi thỏa đáng cho khoẻ, rồi mới tìm vể Quốc Lộ 1.

Một phần do bản tính làm việc theo lối đại cương của Phan, phần khác, chính tôi cũng đã bắt đầu chủ quan, lơ là với những công việc mà đáng lẽ tôi phải nghiên cứu thấu đáo, cho nên tôi đã không hỏi kỹ là thuộc huyện nào, xã nào, địa hình, địa vật ra sao…Những điều cần được sáng tỏ, tôi lại không hỏi Phan, mà lại chú ý sang một điểm khác:

– Này, những người đưa thuyền họ thật chất phác. Họ phụng sự lý tưởng một cách đơn giản như lời của họ vậy, không cần phải hò hét ồn ào.

Phan cười ré lên, rồi bệ vệ đứng dậy, vừa tiến lại chiếc tủ của tôi vừa nói:

– “Toa” nhận xét đúng đấy!

Rồi như lơ đãng, cầm lọ thuốc bổ, Phan quay lại hỏi tôi:

– “Toa” uống cái loại thuốc này, thấy người khoẻ không?

Thấy tôi gật đầu, Phan rút bút ghi tên thuốc, nói:

– “Moa” sẽ bắt chước “toa” uống một trăm viên xem sao.

Sau đó chỉ là những chuyện phiếm, không còn liên quan gì đến công tác nữa. Hình ảnh của những người đưa thuyền vẫn vương vấn trong tôi, một lần nữa tôi lôi Phan về với họ:

– Ông Phan này, cái người thợ máy, trông tay chân như lực sĩ ấy nhỉ?

Phan lại cười, giơ ngón tay cái ra trước mặt:

– Y là số “dách” đấy, “moa” vẫn gọi y là “Tạc giăng”. Bất kể ngày đêm, nguy hiểm thế nào, hễ yêu cầu, y xông vào ngay.

Rồi như để ngắt câu chuyện ở đấy, Phan đứng dậy và bắt tay tôi ra về.

Thép đen

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 19 Sep 2023

Bão Tố Ngoài Khơi

Đặng Chí Bình

Bài 15.

Theo quy định, 7 giờ chiều ngày hôm sau. Ngày 28 tháng 4, tôi sẽ xuống hải thuyền đậu ở một nơi riêng biệt bên Biệt khu Hải Quân.

Bên ngoài trời mưa gió. Khung trời Đà Nẵng, chung quanh toàn biển, nên gió thật nhiều. Không gian ẩm thấp, xám xịt. Từng đợt gió mạnh đẩy bạt những hạt mưa nho nhỏ qua khung cửa sổ, hắt vào mãi giường tôi nằm. Cũng chẳng hiểu tại sao, tôi vẫn không muốn đóng khung cửa sổ lại. Cứ nằm đón nhận từng làn hơi ẩm ướt của gió mưa, buông lơi tâm tư bồng bềnh ngược xuôi chìm nổi.

Đã hơn 10 giờ tối, nằm mãi không ngủ được, đầu óc tôi lướt nhanh soát lại tất cả các vật dụng sẽ mang theo. Tôi đã để lại nguyên chiếc va li cồng kềnh với tất cả hành trang của một đời trai độc thân, với bao ân tình kỷ niệm: Từ chiếc đồng hồ đeo tay (đi công tác, tôi đã được cung cấp một đồng hồ khác, loại chống nước của Liên Xô). Chiếc dây chuyền 3 chỉ vàng chưa hề bao giờ đeo. Tiền bạc, toàn bộ giấy tờ; chiếc ví da, cho đến những thư từ, hình ảnh gia đình và bạn bè. Tôi cảm thấy một Đặng Chí Bình như được lột xác, trút bỏ hết tất cả. Nay cả đến hơi hướng của những cảnh đời đầy hương sắc, để trở thành một Lê Viết Hùng, sẽ ngược xuôi trong một cảnh đời khác. Một cảnh đời lầm than cực khổ của những con người lôi thôi lếch thếch. Làm việc như những con vật, quần quật suốt ngày đêm.

Tâm tư tôi đang chìm đắm trong những cảnh sống của khung trời miền Bắc đang đợi chờ, chợt văng vẳng một giọng hát nho nhỏ cao vút đâu đây: “…Mai anh đi rồi, làm sao em ngăn được, thà vui cho trót đêm nay…” Tôi giật mình, bâng khuâng. Câu hát trùng với hoàn cảnh của tôi làm sao! Không hiểu ai đó lại ca vào đúng lúc này? Không thể dằn được sự tò mò. Tôi bật dậy, tiến tới cửa sổ, nhô hẳn đầu ra ngoài nghe ngóng. Tôi xác định được tiếng hát ở lầu trên. Chẳng rõ nguyên nhân nào thúc đẩy, tôi mở cửa, nhẹ chân rón rén lên lầu, bước dần lại căn phòng vẫn còn tiếng hát lả lơi nho nhỏ. Tôi dựa tường, yên lặng lăng nghe. Giọng ca có lúc như nghẹn ngào than van, nhưng có lúc lại vút cao, lanh lảnh tràn đầy mộng ước.

Nhìn đồng hồ, đã gấn 11 giờ đêm, tôi cảm thấy đứng như thế này là một hành động bất nhã. Chỉ vì một bản hát nào đó tôi không biết tên, đã hợp đúng tâm trạng của tôi. Lần bước xuống hẳn dưới nhà. Người bồi và ông quản lý, đang ngồi hút thuốc nói chuyện, thoáng thấy tôi xuống, đều đứng dậy, tưởng tôi cần việc gì. Đắn đo một lúc, tôi hỏi:

– Này, trên phòng 12, ai hát hay thế nhỉ?

Người bồi tên là Lụa, đẩy hẳn cái ghế ra, quay lại. Mắt sáng lên nhìn tôi, giọng Quảng Nam săn đón:

–   Trời ơi! Hôm nay thầy mới hỏi, cô là em nuôi tên là Dạ Lý Hương, ca sĩ tài tử đó! Nếu thầy muốn làm quen, mai cháu sẽ giới thiệu cổ cho thầy. Cồ nổi tiếng là cao kỳ, nhưng với thầy, cháu thấy hai người hợp lắm. Cháu bảo đảm, ăn chắc!

Tên Lụa nói líu lo một hồi, cướp hết cả lời ông quản lý. Tôi nghĩ, phần vì hoàn cảnh và điều kiện không cho phép, phần vì còn đang phải dấn thân vào những phương trời giông bão. Không được quyền đa mang những chuyện bận tâm, nên tôi nghiêm hẳn nét mặt, cố nói giọng thật lạnh lùng:

– Cảm ơn anh! Cô ấy đã làm tôi mất ngủ, vì hát giữa đêm khuya!

Nói xong, tôi trở lên phòng, trước 4 con mắt mở to của họ. Lúc này, tiếng hát đã im bặt, nhưng lời ca và giọng hát ấy đã theo tôi về phương trời miền Bắc xa xôi, suốt dài theo năm tháng. Nhất là vào những đêm mưa buồn, không ngủ.

5 giờ chiều hôm sau, Phan đến đưa tôi sang biệt khu Hải Quân. Khi đến gần, một chiếc thuyền đâu khuất trong một vụng nhỏ vắng vẻ. Tuy Phan chưa nói, nhưng qua một số hiện tượng, tôi đã hiểu, đó là chiếc thuyền tôi sẽ đi. Nhìn bề ngoài, chiếc thuyền trang bị như một thuyền đánh cá ở các vùng ven biển. Nhưng theo Phan nói, máy móc được thiết kế thật tốt, có thể chạy từ 10 đến 12 hải lý một giờ. Lúc Phan dẫn tôi xuống thuyền, tôi đã thấy lố nhố 5, 6 người, đa số là thanh niên, mặc toàn quần áo nâu. Hai người làm tôi chú ý hơn cả, đó là một ông già chừng 50-  55 tuổi. Dáng mặt đen ròn mạnh khoẻ. Và một người khoảng 40 tuổi mặc may ô tay còn cầm cái mỏ lết, vừa chui từ hầm tầu lên. Thân hình anh ta trông lực lưỡng, to, cao với những bắp thịt cuồn cuộn, chắc nịch như một lực sĩ.

Sau khi cả 6 người dưới thuyền có mặt đầy đủ, Phan chỉ ông già rồi quay lại tôi:

–  Đây là bác thuyền trưởng.

Rồi Phan chỉ tiếp anh chàng có thân hình to lớn, khi nãy:

–  Đây là anh thợ máy.

Sau đó, Phan khoa tay nói rằng, những người còn lại đều là thủy thủ. Theo lệnh Phan, một anh chạy lên chỗ xe “díp” mang vật dụng của tôi xuống thuyền. Tôi thấy các anh, các bác dưới thuyền, người nào cũng đen xạm, rắn chắc, khoẻ mạnh. Họ đều là người Công Giáo, vì tôi thấy ai cũng đeo tượng Chúa. Và nhất là ở mé thuyền, mấy cỗ tràng hạt còn đang rung rinh theo đà lắc lư của con thuyền. Tất cả đều là người miền Trung. Khi cả Phan và tôi đã chui vào trong khoang thuyền, Phan quay lại hỏi toàn thể:

–  Tất cả những đồ cần thiết đã chuẩn bị đầy đủ chưa, anh em?

Bác thuyền trưởng dõng dạc trả lời:

–  Thưa đủ!

Phan hất hàm về phía anh thợ máy:

–  Tình trạng máy móc thế nào?

Anh ta trả lời, giọng Quảng Bình chắc nịch:

–  Thưa, bình thường!

Bây giờ, Phan mới hướng về tôi, nói với toàn thể những người dưới thuyền:

– Đây là ông cán bộ, đi công tác đặc biệt. Các anh em có trách nhiệm phải đưa ông đến điểm đổ bộ đã quy định. Suốt trên đường đi đến mục tiêu, ông có toàn quyền bảo thuyền quay lại, các anh em phải theo lệnh.

Nghe Phan nói, tôi hiểu, nếu lúc đó, bắt đầu vào thực tế, tôi mất tinh thần, tôi sợ, (một điệp viên vào đất địch mà sợ hãi, dứt khoát chỉ làm hư việc,) thì quay về là đúng. Nếu không, đôi khi còn tác hại hơn, không thể nào mà lường được. Anh sợ, anh quay về, chỉ có một điều hại là công tác chưa thi hành được, chứ địch chưa biết gì cả, và anh chỉ bị kỷ luật như đã định mà thôi, chứ nếu anh đã sợ mà anh cứ vào đất địch, chắc chắn anh sẽ không hoàn thành được công tác và dễ bị địch phát hiện. Địch sẽ khai thác những tài liệu anh mang theo, sự di hại còn to lớn biết chừng nào.

Sau đó, tôi theo Phan lên bờ, Phan đặt tay lên vai tôi, thân mật:

–  Tinh thần của “toa” thế nào?

Tôi mỉm cười, đập mạnh vào tay Phan một cái, đùa cợt:

–  Đấy, tinh thần tôi đấy!

Phan siết chặt tay tôi, rồi không biết Phan nghĩ thế nào, tự nhiên dang tay ôm chặt tôi, không một lời từ giã, hẹn gặp lại hay chúc thành công. Đó cũng là cá tính của Phan khi chia tay.

Trời đã chập choạng, thuyền bắt đầu rời bến. Xa xa, thành phố Đà Nẵng đã lên đèn. Hơn một tuần lễ ở đây, tôi chưa biết nhiều về Đà Thành, vậy mà tôi cũng thấy vương vấn bâng khuâng. Tôi có cảm tưởng con thuyền rời xa dần khung trời tươi sang để đi sâu vào vùng đen tối mịt mù. Thực sự, con thuyền đã khởi hành lúc 7 giờ chiều, trời còn sáng, để đi dần vào màn đêm. Và từ một vùng yên tĩnh trên sông Hàn, để tiến dần vào vùng sóng gió của biển khơi. Con thuyền đã bắt đầu lắc lư, vật vã với những vạt sóng bạc đầu vùng cửa biển.

Tôi đứng dựa mui thuyền. Đã gần nửa đêm, bầu trời rất thấp, hàng trăm ngàn vì sao nhấp nháy. Tôi đưa mắt nhìn một vòng chung quanh. Tôi có cảm tưởng, bầu trời như một chiếc vung khổng lồ úp xuống mặt nước bao la cùng chiếc hải thuyền cô độc, đang âm thầm rẽ song. Giữa mầu xám xịt mênh mông của biển khơi, là những tảng trắng đục của những lớp sóng bạc đầu trông như đá hoa cương. Chiếc thuyền nhấp nhô nghiêng ngả, đập vào đầu những ngọn sóng, gây lên những tiếng bộc bạch chắc nịch. Làm cho con thuyền rung lên, phát ra những tiếng cọt kẹt…cọt kẹt…

Dù tôi đã uống trước hai viên thuốc chống say sóng do Phan đưa, thế mà tôi vẫn thấy người nôn nao khó chịu. Tôi đành phải chui vào trong khoang nằm nghỉ. Đang vật vờ nửa thức nửa ngủ, tôi bỗng nghe tiếng rổn rang, nặng chình chịch của ông thuyền thưởng:

– Buộc lá cờ vàng, đen lên!

Dù người rất mệt vì say song và đã nôn ói hai ba lần, tôi vẫn phải cố bò lên xem chuyện gì. Trời đã sáng, mọi người đang hướng nhìn về phía mặt trời mọc. Một chiếc tầu mầu trắng toát, cách xa khoảng chừng 5 cây số, đang chĩa mũi về chiếc hải thuyền. Quá xa, và cũng do ánh nắng, tôi không trông rõ mầu cờ của chiếc tầu đó. Thấy anh thợ máy đang quỳ phía mũi thuyền, dán mắt vào chiếc ống nhòm. Tôi cố lần ra, khẽ đặt tay vào vai anh. Anh quay lại, hơi ngạc nhiên khi thấy tôi, anh tươi nét mặt:

– Tầu của ta, không sao!

Rồi anh trao ống nhòm cho tôi. Qua ống nhòm, tôi đã nhìn rõ mầu cờ vàng ba sọc đỏ phía cuối tầu. Và, đó cũng là lúc chiếc tầu đang chuyển mũi về phía trái, tức vào bờ. Tôi nhớ chiều hôm trước, lúc ở biệt khu Hải Quân. Phan đã đưa cho ông thuyền trưởng mấy loại giấy tờ, nói là khi nào có tầu của ta kiểm soát, xuất trình giấy lệnh công tác đặc biệt của trung ương. Nhưng, sao lại còn phải kéo lá cờ hiệu, con con mầu đen vàng? Tôi vào hỏi ông già, thì ra đó cũng là mật hiệu của thuyền đi công tác đặc biệt nữa. Mật hiệu này, luôn luôn thay đổi, có khi hàng ngày, có khi hàng tuần.

Mặt trời đã lên cao, nền trời trong xanh, mặt biển thật yên lành. Tuy vậy, phần vì bị nôn mửa, phần vì tôi không hề ăn uống gì, nên người rất mệt. Mặc dù cảnh biển trời rất đẹp, thật hùng vĩ, nhưng tôi vẫn phải chui vào khoang nằm.

Tôi nằm chập chờn, lúc tỉnh lúc mê, nhưng tôi vẫn theo dõi được những diễn tiến của con thuyền. Khoảng gần trưa, thái độ của mọi người có vẻ thận trọng, dè dặt hơn. Cứ 5, 10 phút, lại một người mang ống nhòm ra phía mũi thuyền quan sát một vòng. Từ ông già thuyền trưởng, cho đến các anh thủy thủ, ai nấy đều trầm tư im lặng, ít nói chuyện hẳn đi. Tôi hiểu, con thuyền đã đi vào vùng biển cùa miền Bắc.

Ánh nắng đã nhạt dần, một ngày nữa đã trôi qua. Tôi đã biết, từ bác thuyền trưởng đến các anh thủy thủ, trước đây họ đều là dân chài lưới chuyên môn ở Nghệ An. Họ đã chối bỏ bạo quyền vô nhân, khát máu Cộng Sản, di cư vào miền Nam. Họ là những người dân hiền lành chất phác, suốt đời chỉ biết cặm cụi làm ăn. Họ đã ra đi thoát khỏi bàn tay sắt máu của lũ cộng. Họ tìm đến được thế giới tự do. Nhưng, họ còn thấy trách nhiệm của họ với những bà con, thân thuộc còn ở lại, nên họ đã tình nguyện làm công việc này, để góp phần nhỏ bé, giới hạn do cuộc sống đơn giản, ít học thức của họ. Do đấy, tình cảm thương yêu đồng bào, đồng chí thật chân phương thắm đượm gần gũi. Thấy tôi bị say sóng, không ăn uống gì được, người nào cũng săn sóc, giúp đỡ như ruột thịt anh em. Họ nấu từng bát cháo nóng, đưa từng hộp dầu cao với những cử chỉ thật đậm đà, gần gũi, làm tôi vô cùng xúc động. Lại một đêm nữa trôi đi bình lặng.

Sáng hôm sau, mặt trời phía Đông loé sáng được hơn một tiếng đồng hồ, thì mạn phái Tây Bắc, từng cụm mây đen to tướng đùn lên, dần dần che lấp cả bầu trời. Không khí tự nhiên oi nồng khác thường. Mặt biển óng 1ên mầu vàng nhợt.

Mấy ngày này, tôi chỉ húp được sữa, ngồi một lúc hoa mày chóng mặt, tôi lại phải nằm. Gần về chiều, trời vẫn oi ả, giữa biển khơi mà im gió như trong buồng. Nét mặt mọi người đều lộ vẻ lo âu với những hiện tượng không bình thường của thiên nhiên.

Đột nhiên, một anh thủy thủ tay đang cầm ống nhòm ở mũi thuyền, quay lại mặt nhớn nhác, tay chỉ trỏ phía xa xa, miệng nói léo nhéo, nghe không rõ, vì tiếng máy nổ ồn ào. Mọi người, ngay cả tôi, linh cảm thấy một điều bất thường. Dù mệt, tôi cũng cố cùng mọi người đổ xô ra phía mũi.

Xa xa, từ phía trái, tức phía trong bờ, có hai chấm đen đang tiến dần về phía chiếc thuyền. Tôi giằng lấy ống nhòm từ tay anh thủy thủ. Rõ ràng hai chiếc ca nô đen xì. Vì còn quá xa, nên chưa trông rõ cờ hiệu, nhưng ai cũng hiểu rằng, còn chệch vào đâu được nữa, đó chính là ca nô của bộ đội hải quân biên phòng của Cộng Sản. Không nói ra, nhưng mặt người nào cũng tái đi, lấy cái gì để chống đỡ bây giờ? Chịu trận, như con cá đã nằm trên thớt. Tôi liếc nhanh những vật dụng mang theo, tay tôi sờ trong người, mân mê mấy bọc tài liệu con con. Đầu tôi loé lên quyết định, phút cuối cùng sẽ gửi chúng vào lòng biển cả. Dứt khoát, bằng mọi giá không để tài liệu này lọt vào tay kẻ thù.

Những bước chân chạy khẩn trương rầm rập. Những tiếng nói to dằn mạnh của mấy ngưòi í ới:

–  Mở tốc lực tối đa!

–  Bẻ lái chạy theo hướng phải!

–  Bỏ lưới lên mui, căng ra!

Hai chấm đen càng lúc càng to, càng rõ ra. Qua bản thân mình, tôi hiểu rằng trống ngực của mỗi người đều tăng nhịp đập theo tiếng máy tầu.

Sau khi những xốn xang chuẩn bị của mỗi người ạm ổn, tuy không ai bảo ai, nhưng cứ thỉnh thoảng, mọi người lại quay nhìn về phía hai chấm đen với những đôi mắt trắng nhợt. Anh thợ máy chui vào khoang, lấy bức hình Đức Mẹ treo cao lên phía vách thuyền. Rồi cũng không ai bảo ai, trừ ông già thuyền trưởng đang lái thuyền, mọi người, anh thợ máy và các thủy thủ, đều ngồi xếp chân bằng tròn làm dấu, nguyện kinh. Tôi cũng ngồi dậy đọc kinh cùng mọi người. Tiếng cầu kinh râm ran theo tiếng máy vang rền. Tuy đọc kinh, nhưng thỉnh thoảng một cái đầu, lại ngoảnh về phía hai chấm đen, lúc này đã to bằng hai con trâu mộng.

Mây đen mù mịt, trời càng thẫm dần. Bỗng nhiên pằng, pằng, pằng pằng! Bốn tiếng súng như xé màng tai mọi người, làm cả 7 cái đầu đều quay về phía hai chấm đen một lượt. Tiếng đọc kinh càng to, càng cấp bách hơn. Mọi người đọc kinh “dọn mình chịu nạn.” Khoảng cách của hai chiếc ca nô và chiếc thuyền càng lúc càng ngắn lại. So sức máy của con thuyền với sức máy của hai chiếc ca nô, tôi có cảm tưởng như sức chạy của con gà đối với hai con chó sói.

Đột nhiên, một làn chớp xanh lè nháng lên. Một tiếng nổ làm rung rinh mặt biển, rồi như tiếng gầm của đại bác, rền vang ngang dọc trên bầu trời. Những hạt mưa lạch tạch ngoài mũi, trên mui thuyền. Gió bắt đầu lồng lộn nổi thổi. Sóng cuồn cuộn nổi lên, mưa gió xoáy mịt mù. Chiếc thuyền dựng lên, ngụp xuống, nhấp nhô giữa muôn ngàn núi sóng. Biển trời gầm rú át cả tiếng đọc kinh và tiếng máy của thuyền. Mọi người đều nhìn lại, hai chiếc ca nô đã mờ mịt trong gió mưa.

Thoát cái nạn kẻ thù, lại gặp cái nạn cuồng phong, bão tố của biển khơi. Thuyền đã bẻ lái quay về hướng cũ, vì khi nãy sợ quá nên đã chạy ra hướng đại dương. Mưa bão càng cuồng loạn, tiếng đọc kinh càng lớn. Nhiều lúc, tôi tưởng như chiếc thuyền chìm nghỉm, hoặc vỡ tan ra từng mảnh. Ngồi trong khoang mà mọi người ướt đẫm. Cả chiếc thuyền, chẳng chỗ nào còn khô. Người tôi lúc xô sang góc này, lúc đập vào góc kia. Bác già thuyền trưởng đang xệch miệng gò người đẩy lái thuyền. Một cơn sóng đánh trùm lên, đánh bật văng bác váo trong góc. Ba anh thủy thủ đổ xô ra, một người đỡ bác, hai người kia chộp lẹ vào cần tay lái. Bác già đã vươn ngay dậy được, xông đến tiếp tay cho hai anh thủy thủ đang nghiêng ngả với chiếc bánh lái.

Người tôi lạnh run, mệt lả, vì mấy ngày không ăn. Tôi tưởng chắc phen này sẽ về lòng đại dương, chấm dứt một cuộc đời chìm nổi mưa gió.

Chừng nữa giờ sau mưa tạnh, gió dịu dần, biển khơi đất trời nguôi cơn giận. Màn đêm đã bao phủ cả bầu trời. Tôi đưa mắt nhìn khắp chung quanh, chỉ một mầu xám xịt, chẳng còn thấy bóng dáng hai con trâu điên đâu nữa. Chính chúng cũng đã phải chạy thoát thân, và có lẽ chúng nghĩ rằng, chiếc thuyền bé nhỏ của chúng tôi hẳn đã làm mồi cho cá biển.

Thuyền chạy được 5- 6 giờ nữa, lúc này đã gần 12 giờ đêm. Trời lại bắt đầu nổi gió, và mưa cũng trở lên đầy hạt. Gió thật mạnh, quay cuồng, gió quất vào những khe ngách con thuyền. Gầm rít lên như muốn xé tan con thuyền bé nhỏ, cô đơn, giữa sự giận khùng của đại dương bao la.

Trận bão này thật là khủng khiếp. Người nào cũng phải ôm ghì lấy khung thuyền. Ai cũng thấy nếu lỏng tay, không bị gió dữ thì cũng bị những cơn sóng thần sầu như trái núi hất tung người xuống biển. Chung quanh, mọi người chỉ còn nghe thấy tiếng ầm ầm của sóng gió thét gào. Tiếng máy thuyền như im bặt. Có chăng đây đó, thỉnh thoảng là tiếng kêu Chúa, hoặc gọi cha mẹ, ré lên rồi tắt ngủm trong màn đêm.

Giữa lúc cái sống và cái chết ở cạnh nhau này, tôi thấy ông già thuyền trưởng vung cánh tay như vẫy tôi, miệng của ông há to, tôi không nghe thấy tiếng gọi. Tôi vận sức, nắm chặt khoang thuyền, lết lần từng bước về phía ông. Tôi cảm thấy, ông gọi tôi chắc có việc nan giải. Phần vì người ướt như chuột trong cống, lạnh run, phần khác vì sức tôi quá yếu (hai ngày hai đêm không ăn) nên tôi trượt chân, chới với tưỡng đã lao xuống biển nếu tôi không nhanh tay, chộp được một cái cọc ở mé thuyền và cùng lúc đó, hai anh thủy thủ vồ được hai chân tôi kéo lại.

Có lẽ, vì thấy quá nguy hiểm, nên ông già thuyền trưởng vừa gào, vừa ra hiệu cho hai anh thủy thủ khác ra giữ lái thuyền thay ông. Khi ông và tôi đã bò vào được trong khoang, ông nhìn tôi giọng hổn hển ngắt quãng vì rét và vì mệt:

–   Đã đến điểm đổ bộ rồi. Chỗ này còn cách bờ khoảng 20 cây số. Với kinh nghiệm chài biển của tôi, trời đang giông bão thế này, nếu thuyền vào bờ, sẽ bị đắm. Vì thông thường, sóng cách bờ 5-  10 cây số dữ dội hơn ngoài biển khơi nhiều. Cơn bão hiện nay chưa biết bao giờ sẽ dứt. Vậy hoàn toàn do cán bộ quyết định đi vào hay đi … về?

Thật là một vấn đề nan giải giữa sống và chết. Bao nhiêu công lao khó nhọc, đã đến đây, chả lẽ quay về? Để có thể quyết định được dứt khoát, tôi hỏi lại ông:

–  Hay bỏ neo tại đây, chờ hết bão ta vào?

Ông cười, miệng méo xệu, trong khi ba anh thủy thủ mở to mắt nhìn tôi như nhìn một con quái vật. Cuối cùng, ông già nói gằn giọng như ông đang cãi nhau:

–  Không thuyền nào bỏ neo ở giữa biển, dù có bỏ neo cũng không tới, mà nếu có tới, trời đang gió bão thuyền sẽ lướt đi theo sóng không đứng yên. Đậu lại, hoặc chết máy lúc này thì chỉ một cơn sóng cũng chìm nghỉm. Chưa nói, nếu sáng mới hết bão, lúc đó ban ngày, đậu đây, chẳng khác nào chiếc mồi mời tầu công an ra mang vô.

Tôi nhìn ông, tuy mệt và rét mà ông vẫn phải nói nhiều, nói dài. Ông đã gợi hết đường ngõ cho tôi rồi. Vì vậy, sau một phút đắn đo, tôi khoát tay, dõng dạc hai tiếng:

–  Quay về!

Óc tôi lướt nhanh, nếu chỉ một mình tôi, sống chết cũng vào, vì đã đi thì dứt khoát chẳng quay về. Nhưng ở đây, còn 6 sinh mạng nữa, mỗi người là một chùm liên hệ gia đình, tôi không được quyền liều lĩnh.

Ba anh thủy thủ cùng ngồi trong khoang nghe tôi nói quay về, mắt họ sáng lên, ngực họ như xẹp xuống vì được xì hơi ra. Ông thuyền trưởng quay lại phía lái, chụm hai bàn tay trước mồm làm loa, gào to:

–  Bẻ lái quay về miền Nam. Phải coi chừng chiều gió và sóng.

Các anh thủy thủ đúng là đi biển có kinh nghiệm. Chiếc thuyền nhẹ lướt, quay nghiêng, rồi trực chỉ mũi về hướng Nam. Bây giờ, thuyền lại xuôi gió và sóng. Riêng tôi, vì mệt mỏi và những suy tư, nặng chĩu trong lòng, tôi nằm liệt ở trong khoang, chẳng muốn biết gì nữa ở bên ngoài. Tôi nằm thiếp dần, mê man. Sáng hôm sau, trời yên biển lặng, tôi vẫn chỉ mơ mơ màng màng, rồi tôi lại thiếp đi. Mãi cho tới khi anh thợ máy lay tôi dậy. Tôi nhìn miệng anh nói, nhưng giọng Nghệ An thật khó nghe, có lẽ vì mệt quá nên tai tôi ù lên chăng? Thấy tay anh cầm bát cháo con con đang bốc khói, và qua ánh mắt, tôi hiểu anh muốn bảo tôi cố ngồi dậy húp bát cháo này! Thái độ của anh, đã xoa dịu phần nào những nỗi niềm nặng chĩu u buồn trong lòng tôi. Tôi chống tay ngồi dậy, đón nhận tình anh. Tôi chỉ biết nhìn anh bằng ánh mắt biết ơn.

Bên ngoài, ánh nắng chiều đã xiên khoai vào khoang thuyền. Sau khi húp hết được bát cháo nóng, người tôi như thêm phần sinh khí. Tôi bò dậy, chui ra ngoài mũi thuyền, ngồi dựa vào mui. Tôi đưa mắt nhìn ra phía chân trời xa xa, nơi có miền Nam thân yêu đang đợi chờ. Đột nhiên, một ý nghĩ len vào hồn, làm tôi tư lự đăm chiêu. Tôi đã bỏ dở công tác phải quay về. Đường đi không đến, dù rằng chẳng phải do mình muốn, tôi vẫn cảm thấy như có áng mây buồn vương vấn trước mắt.

Cảnh chiều tàn trên đại dương làm cõi lòng tôi sầu nặng. Thêm nữa, đây vẫn còn là đất địch, nên tôi lại chui vào khoang.

Một đêm, một ngày nữa trôi qua. Đến đêm thứ năm, kể từ ngày đi, thuyền mới về vĩ tuyến 17, đến phần đất của miền Nam tự do. Như đã nói trên, vì mang một tâm sự không vui, phần khác vì say sóng không ăn uống gì được, làm người càng mệt, nên trên suốt đường về tôi cứ nằm li bì. Mãi tới gần nửa đêm, tôi nghe loáng thoáng nhiều tiếng ồn ào quát tháo. Một vài vệt đèn “pin” chiếu lấp loáng vào trong khoang thuyền. Một chiếc tầu tuần nào đó thuộc Hải Quân của ta, đến kèm sát để hỏi giấy tờ, dù thuyền đã đánh tín hiệu bằng đèn “pin” trước rồi. Một chiếc ca nô nhỏ, trên lố nhố một số người, cặp vào phía mũi thuyền. Tôi không muốn họ nhìn thấy, tôi kéo chiếc chăn đơn che mặt và vẫn nằm yên. Một lúc sau, thuyền lại tiếp tục đi. Mờ sáng hôm sau, thuyền về tới bến cũ trong Biệt Khu Hải Quân.