Biệt Đội 817, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù

Minh Cui
Khóa 28 Võ Bị Đà Lạt

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Biệt Cách Dù


Vâng! Chúng tôi thuộc Biệt đội 817 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, một biệt đội tân lập để nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường thật sôi động vào những ngày cuối tháng tư đen.

Nhận đơn vị

Sau lễ ra trường vội vã tại căn cứ Long Thành, tôi và một số anh em khoá 28/29VBĐL, những người trai trẻ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm, đã chọn bộ đồ dù với chiếc nón xanh ngạo nghễ làm chiến y. Nếu ai hỏi tôi: Cái gì làm mày chọn binh chủng oai hùng đó, tôi sẽ trả lời bằng hai câu thơ cảm khái của một nữ sinh ở chiến trường đẫm máu An Lộc:

An Lộc địa, sử lưu chiến tích,
Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân.
Tuổi trẻ là vậy đó: thèm khát chiến trường, sau gần bốn năm trui rèn gian khổ mong được thử lửa, thêm với bầu máu nóng của tuổi trẻ muốn bảo quốc an dân, chúng tôi đã xông pha vào trận chiến vói hành trang thật đầy đủ từ tinh thần, thể lực lẫn trí tuệ của một sĩ quan đa hiệu, và còn nữa: trên vai chúng tôi còn cả một truyền thống oai hùng của các bậc đàn anh

Ôi! Kể sao cho hết lòng tự tin, hăng say náo nức của ngày đầu tiên tôi được khoác lên mình bộ quân phục khét tiếng chiến trường ấy.

Tôi và Xuân, một tay có dáng người cao, đen, đẹp trai của khóa 29, sau khi cùng anh em trình diện Trung tá Thông ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương 2 Suối Máu, được phân phối ngay về Biệt Đội 817 đo Đại úy L. chỉ huy, không một ngày giờ phép.

Tôi xin nói sơ qua về cách phối trí đơn vị và danh xưng trong liên đoàn một cách tóm lược vì sự hiểu biết hạn hẹp và cũng để bảo mật cho một đơn vị đặc biệt nàỵ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn là Đại tá Huấn, Hậu cứ của Liên đoàn đóng ở An Sương, Hóc Môn, có hai Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đặc nhiệm cho từng vùng hoạt động. Dưới quyền cuả Bộ Tư Lệnh Tiền Phương là những Biệt Độị. Biệt Đội có quân số của một đại đội, lúc nào cũng được bổ sung thật đầy đủ, và được chia ra làm 03 Trung Đội Xung Kích, một Trung Đội Thám Kích và một Trung Đội Súng Nặng. sau đó được chia thành Toán và Tổ. Khi hành quân, các trung đội xung kích thường đánh trực diện và trung đội thám kích được phân phối thành 06 toán để nhảy thăm dò, đột kích, tìm diệt, thu thập tin tức, hay hoa nở trong lòng địch. Biệt Đội được yểm trợ đặc biệt như một Tiểu Đoàn khi hành quân.

Đại Úy L. là một người chỉ huy dày dạn và bình tĩnh. Sau khi chúng tôi chào trình diện, ông chỉ nói vỏn vẹn “Chào hai anh” rồi lặng yên nhìn hai đứa tôi như dò xét khả năng, nhưng chúng tôi như một cặp gà nòi ế độ, đứng lặng yên chờ nhận nhiệm vụ, không chút bồn chồn, dù trong lòng có chút băn khoăn.

Sau khi yên lặng soi vảy và xem giò cẳng, Đại Úy L. từ từ nói: “Biệt Đội cần một Trung Đội Trưởng súng nặng và một Trưởng toán Thám Kích, hai anh chọn cái nào”. Xuân K.29 e dè nhìn qua tôi, bắt gặp cái nhìn của Xuân tôi hiểu rằng “em muốn nhường anh”. Tôi không ngần ngại, bước lên một bước, đưa tay lên chào và dõng dạc nói: “Tôi nhận Trưởng toán Thám Kích”. Quả thật cái gì đã in sâu trong tôi: Truyền Thống -Tình Anh Em? Em nhường Anh và Anh gánh vác hiểm nguy cho Em…và cùng lúc đó trong đầu tôi thoáng qua hình ảnh người tôi yêu với đôi mắt đợi chờ sâu thẳm.

Sau thủ tục giấy tờ và giới thiệu sơ qua về đơn vị do một Sĩ quan khác đảm nhiệm, hai đứa tôi được đi ăn bữa tối đầu tiên của đời lính thật sự trong căn lều lớn có những lớp bao cát dày che chở chung quanh.

Trên đường đi, Xuân lo ngại hỏi tôi: Làm sao Niên trưởng, tôi quên hết rồi, Niên trưởng chỉ tôi với. Tôi trấn an Xuân: “Ông đừng lo, chỉ cần ông định điểm đứng và chấm tọa độ cho chính xác là đủ, tụi nó sẽ làm hết cho ông.” Xuân vẫn còn lo ngại nói tiếp: “Tối nay tôi qua hỏi thêm Niên trưởng vài chuyện”. Tôi gật đầu và sụyt khẽ với Xuân khi có vài người lính đi lại gần.

Trong đầu tôi lúc đó cũng mang nặng nỗi lo không kém: Làm sao để thu phục được những người lính gan lì đã từng vào sinh ra tử này.

Buổi tối hẹn với Xuân không bao giờ đến, vì sau bữa cơm chiều, chúng tôi đã nhận được lệnh hành quân cấp tốc vào sáng sớm ngày mai.

Vào vùng trách nhiệm.

Biệt đội chúng tôi được chuyển vận về sân vận động quận Nhất ở bên hông bộ Tổng Tham Mưu đúng vào ngày 23 tháng Tư của năm định mệnh 1975.

Trên đường về Sài gòn, ngang qua đại lộ Phan Thanh Giản, chúng tôi đã nhìn thấy những căn cứ phòng thủ được vội vàng thiết lập đọc hai bên đường, nhưng Sài Gòn vẫn còn ngơ ngác, chưa sẵn sàng cho một cuộc phòng thủ qui mô rộng lớn trong chiến tranh. Dân chúng hốt hoảng, sợ VC, ủng hộ quân đội Quốc gia, nhưng họ vẫn xem cuộc chiến chống lại VC là của Quân Đội VNCH, người dân chỉ đóng vai trò như một cổ động viên trong một trận tranh tài thể thao không hơn không kém. Những căn cứ phòng thủ được thiết lập lẻ loi trơ trọi, không kết hợp được với địa hình bao quát chung quanh, chưa thiết lập được sự liên kết chặt chẽ cần thiết giữa dân và quân cũng như giữa những đơn vị chính qui và địa phương cho một phòng tuyến liên hợp cần thiết khi chiến tranh đã đi vào thành phố.

Nhìn những lô cốt bằng bao cát nằm lẻ loi trơ trọi hai bên xa lộ, quan sát những tòa nhà cao ốc chung quanh không một sự phòng thủ thích nghi, tôi lo ngại cho sự an toàn bền vững của nhưng chốt phòng thủ nàỵ Chúng là miếng mồi béo bở của một trái B40 hay cối 61 của một toán đặc công vô danh nào đó len lỏi vào các tòa cao ốc trước khi tank hay lưc lượng chính qui tiến chiếm trận địa.

Suy nghĩ bâng quơ một lúc, thì đoàn xe đã đến ngã tư Công Lý và quẹo phải để chạy về hướng Bộ Tổng Tham Mưu. Đến đây, chúng tôi phải chạy chậm lại vì dân hai bên đường di chuyển hỗn loạn khác thường, một số đã nhận ra chúng tôi và bắt đầu hô lên “Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù Về!” và làn sóng âm thanh ấy từ từ rộ lên nhịp nhàng lấn át cả mọi tiếng động ồn ào trong thành phố và rồi toả rộng ngân vang: Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù về! hoà với tiếng vỗ tay cách nhịp của các em thiếu niên, và trên khuôn mặt hốt hoảng của những người dân đã dấy lên ánh mắt loé sáng của niềm tin. Vâng! chúng tôi, những người lính của chiến trường đẫm máu, đã về thành phố. Bất giác, tay tôi nắm chặt lại, nhìn gương mặt của những người lính vốn đã gan lì nay lại rạng ngời lên ánh mắt cương quyết. Trong lòng chúng tôi như cùng thầm nguyện lời hứa Kinh Kha.

Chúng tôi đổ quân xuống sân vận động quận Nhất, Sau khi bố trí canh gác phòng thủ, các sỉ quan trong biệt đội được lệnh họp và chúng tôi được tiếp xúc với một vị Trung Tá từ Bộ Tổng tham Mưu phái đến. Sau khi sơ lược ngắn gọn tình hình và nhiệm vụ, ông ta dỏng dạc nói: “Các anh là đơn vị cuối cùng được cấp trên tin tưởng đưa về đây phòng thủ BTTM và chúng tôi tin rằng đơn vị các anh không phụ lòng tin đó.” Sau lời phát biểu ngắn gọn hàm chứa ý nghĩa ủy thác, ông ta lên vội xe jeep về lại TTM, chúng tôi về đơn vị mình và tôi băt đầu làm quen với những người lính chai lỳ có gương mặt lạnh lùng u uất, những nét chỉ có trên những người đã từng về từ cõi chết. Quả thật họ là những người đáng gờm, những người lính lạnh lùng ít nói này sẽ gầm lên như hổ dữ khi chạm trán địch quân.

Chiều hôm đó, chúng tôi được cấp phát mỗi người một bộ quân phục của cán binh VC và được huấn luyện sơ qua về các hoạt động trà trộn trong lòng địch cùng cách xưng hô địch quân thường gọi nhau trong đơn vi.. Mãi sau này, tôi mới biết cấp trên đã dự trù một kế hoạch rút vào rừng và tiếp tục chiến đấu nếu Sài gòn thất thủ. Sau đó, sĩ quan và các trưởng toán dược phát một bản đồ quân sự của Sài gòn.

Chúng tôi đóng quân hai ngày đêm trong sân vận động để dưỡng quân, huấn luyện và cũng để các binh lính và sỉ quan làm quen với đơn vị mới. Sáng ngày 26/04/75, theo từng vùng trách nhiệm đã phân định sẵn, chúng tôi âm thầm rải quân trấn ngự các dịa điểm trọng yếu. Toán Thám Kích do tôi chỉ huy trấn đóng nhà thương Cơ Đốc lúc bấy giờ còn đang xây cất dở dang và một dãy cao ốc đối diện.

Đã được chỉ thị từ trước, tôi cho anh Trung sĩ toán phó chọn hai người lính có kinh nghiệm xử dụng M72, thiết lập hai tổ chống tank di động trải dài dọc theo bờ rào bằng gạch táp- lô (concrete block) nằm cạnh lề đường. Một tổ khác nằm trên cao ốc đối diện. Tôi theo tổ thứ tư đóng ở nhà thương Cơ Đốc. …

Phối trí đơn vị xong thì trời cũng đã đứng bóng, trong lòng tôi đầy ắp những lo âu và căng thẳng tột cùng: giặc vào Đô Thành dân chúng sẽ ra sao. Đánh giặc trong thành phố thật là điều mới mẻ trong kiến thức quân sự nhỏ bé của tôị Từ cao ốc nhìn xuống nhũng dãy phố chung quanh, tôi tưởng như những dãy đồi trùng điệp với nhũng địa dạo bí hiểm bên trong. Trong đầu tôi loé lên kế hoạch xử dụng những toán trẻ đưa tin như Huân tước Baden Powell (ông tổ của Phong trào Hướng đạo) để chống lại sự xâm nhập bằng đặc công của đich. Tôi lịm người thiếp đi trên vai người hạ sĩ mang máy PRC25 với giấc mơ tuổi thơ của những trò chơi lớn. Những đêm mất ngủ lo âu đã kéo đôi mi tôi sụp xuống.

Tình quân dân:

Tôi giật mình tỉnh giấc vì những tiếng rè rè cuả PRC 25 từ Tổ 1 gọi lại: K a đây Hắc báo! nghe rõ trả lờị Tôi đáp: 5/5. “Có 02 con tôm đang bò lại nghe rõ trả lời! 5/5 tôi đáp gọn nhưng trong lòng hoang mang với danh từ mới mẻ nàỵ Cua là tank của địch, én hay chuồn chuồn là các loại phi cơ, còn tôm….tôi đảo mắt nhìn xuống mặt đường, hai chiếc xích lô đang đậu lại, trên mỗi xe là một giỏ cần xé đầy được phủ bao đệm, không biết cái gì bên trong. Tôi giật mình thét lên “Đ.M. coi chừng!” rồi nhảy từ lầu một xuống một đụn cát bên dưới, người Hạ sĩ mang máy cũng nhảy theo. Toán phó H. đã nhanh chóng dẫn tổ ba người của anh tràn lên mặt đường, phối hợp với tổ trực đang gác trên đường để cô lập hiện trường, một mặt kềm chế những chiếc xích lô, một mặt chận đứng giao thông. Tôi đích thân gọi các toán trưởng khác cùng lên máy. Một người đàn bà ăn mặc bình dân từ sau giỏ cần xé của chiếc xích lô bước xuống với vẻ ngạc nhiên lẫn hốt hoảng:” Tôi đem đồ ăn tới cho lính mình mà”. Trung sĩ nhất H. quay nhìn tôi chờ lệnh.

Thấy hơi quê với đàn em, tôi làm như tay sành điệu, đưa bàn tay phải ra, chúm năm đầu ngón tay lại rồi dùng ngón chỉ của tay kia chạm vào chúm tay nọ rồi bung năm đầu ngón tay ra (hiệu lệnh lục soát tôi mới học lóm được). H. hiểu ý, sai một lính dưới quyền trải tấm poncho mỏng bên lề đường, (đời lính ăn ngủ và hy sinh gói trọn trong tấm poncho).

Người đàn bà cùng hai phu xích lô lần lượt chất chả và bánh mì xuống poncho dưới sự quan sát cẩn thận của H. rồi tất tả cùng đạp đi như sợ người khác nhận diện, không kịp nhận một lời cảm ơn. Tôi giao cho H. giải quyết mọi việc, không quên nhắc anh ta chia đều cho các toán khác và “cúng dường” ban chỉ huy Biệt đội.

Bữa cơm trưa thật ngon miệng, những lát chả thơm ngon lạ lùng sau một tuần lễ gạo sấy, cá hộp làm ấm cả lòng người (ration C chỉ còn là huyền thoại). Nhìn khuôn mặt những người lính tươi lên, có lẽ họ cũng thấy ấm lòng như tôi và tay súng của họ sẽ ghì chặt thêm trong trận chiến.

Trời dần về chiều, những tin tức bất lợi dồn dập đưa tới, tiếng nổ xa gần của đại pháo không làm tôi quan tâm đến nữa. Những chiếc xe buýt chật cứng người được Mỹ cho đặc ân di tản chạy về hướng Tân Sơn Nhất báo trước sự chạy làng của cái gọi là “Đồng Minh”, chúng tôi chỉ chận lại xem xét giấy tờ và tịch thâu tất cả vũ khí trên xe để phòng ngừa rối loạn có thể xảy ra.

Họ ra đi cho bản thân riêng, chúng tôi ở lại vì nhiệm vụ chung của người lính cho đến giờ phút cuối, không mảy may than phiền thắc mắc.

Tối đến trong căng thẳng, sau bữa cơm chiều, tôi ra lệnh cho các tổ giữ vững cách phối trí nhưng thay đổ vị trí để ngừa đặc công. Tổ chỉ huy của tôi di chuyển qua bên kia đường đóng trên một cao ốc. Khuya hôm đó, H. Toán phó, chuyền tay đến tôi một chai Johny Walker với hàng chữ thật dễ thương ghi bên ngoài: “tặng các anh”. Chúng tôi chuyền tay nhau hết chai, đỏ mắt lên chờ sáng.

Ngao du sài gòn

Hôm nay đã là ngày 29, 08 ngày mang chiếc lon Thiếu Úy mới toanh trên trên cổ áo với nhũng nhiệm vụ thật mới lạ và bất ngờ không có trong binh thư, tôi cũng đã quen dần với đời sống lính rừng trong thành phố. Suốt gần 04 năm quân trường, có bao giờ tôi nghĩ đến tình huống ngộ nghĩnh như thế này: Đường đường một đơn vị lính trận mà phải chia nhau đứng gác đường như những anh chàng cảnh sát bạn dân không bằng. Thật rõ chán, lòng lại nóng như lủa đốt vì những tin tức bất lợi dồn dập đưa đến không ngừng qua các đài phát thanh. Đất nước tan hoang, gia đình di tản không nơi ăn chốn ở.

Người yêu duy nhất của tôi lúc bấy giờ đã một lần đến thăm tôi nắm tay để nói lời từ biệt, Nàng muốn ra đi với một ông lớn nào đó trong Bộ Dân Vận Chiêu hồi, nơi Nàng đang làm việc. Lòng tôi thật rối như tơ vò nhưng ngoài mặt vẫn lạnh như băng.

Tội nghiệp những người lính đang trông chờ tất cả vào tôi, họ nhìn thẳng vào mắt tôi mỗi khi có biến động dầu chỉ là tiếng nổ của đạn pháo xa xa.

Quả thật phòng thủ không phải là sở trường của một đơn vị đầy tính chất linh động như thế này. Và chúng tôi bắt đầu cảm thấy mình như những con vật nửa người nửa ngợm. Bộ đồ dù này chỉ đẹp trong những buổi sớm chiều trong rừng già trùng điệp, hay trên bãi chiến trường khét mùi thuốc súng.

Ngày 29 trôi qua thật nhàm chán, thỉnh thoảng chỉ nghe vài tràng liên thanh nhỏ, không khí ngột ngạt, một sự yên lặng ngấm ngầm ghê rợn. Lệnh tử thủ vẫn được nhấn mạnh từ Bộ Tư lệnh tiền phương. Trong ánh mắt những người lính gan lì đã thoáng lên sự nhàm chán. Tôi chợt nghỉ ra một cách để giải khuây: Hai tiếng đồng hồ phép cho tất cả mọi người, một quyết định thật táo bạo trong tình huống bấy giờ, nhưng không biết tại sao tôi lại tin tưởng hoàn toàn ở những người lính chịu chơi nàỵ.

Tôi im lặng phối trí lại các tổ tam đầu chế, mỗi tổ có một người biết đường đi nước bước ở Sài Gòn. Đúng 08 giờ tối, tôi cho tổ đầu tiên âm thầm lên trình diện.

Tôi ra lệnh ngắn gọn:

Tao cho tụi bay đi chơi, đúng hai tiếng, mổi đứa chỉ được mang theo một trái mini, súng đạn để hết lại đây, thằng tổ trưởng giữ cây P38 này của tao nghe. Đi về cho đúng giờ để thằng khác còn đi. Nhớ cẩn thận.

Đầu tiên là ngạc nhiên và sau đó là những nụ cười sáng rỡ, hồn lính thật ngây thơ. Một tiếng dạ ngắn rồi ba chàng Ngự Lâm biến mất trong màn đêm, tôi bắt đầu lo âu chờ đợi…Và họ đã trở về đầy đủ, đúng giờ với những nụ cười hồn nhiên pha một chút bẽn lẽn khi nghe tôi hỏi “Dzui không tụi bay”.

Khi các tổ đã về đầy đủ, tôi cũng tự cho phép tôi, mượn chiếc Honda, chạy vội về thăm gia đình đang tạm trú ở nhà người quen gần đó sau khi di tản từ Qui Nhơn. Tôi chỉ kịp ôm hôn Mẹ tôi, trấn an Bà vài câu rồi vội vã ra đi, mang theo ánh mắt luyến lưu chịu đựng của một bà Mẹ VN tiễn con đi trong những giờ phút cuối.

Đôi co trên lửa đốt.

Khoảng 5 giờ rạng sáng ngày 30 tháng tư, toán thám kích chúng tôi như một chú sư tử ngái ngủ trong cũi sắt giữa một thanh phố bỏ hoang. Bỗng nhiên tiếng gầm của đại pháo và súng chống tank vang lên dữ dội từ hướng Lăng Cha Cả, cùng lúc tiếng rè rè của máy PRC25 vang lên, tôi vươn mình chụp vội cần liên hợp không kịp chờ anh Hạ sỉ mang máy. Lệnh chuẩn bị hành quân từ Đ/U Biệt đội trưởng.

Qua đối thoại ngắn ngủi, tôi biết rằng biệt đội đang chận đứng một đoàn Tank của cọng quân không rõ bao nhiêu chiếc và đã nướng được 04 con. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị thật nhẹ để nhảy chân chim, một lối nhảy trải mỏng từng tổ một và thay đổi vị trí liên tục để gây hoang mang trên đường tiến của địch quân. khu vực và phương tiện sẽ được chỉ định sau.

Tôi ra lệnh cho thuộc cấp chỉ mang theo những trang bị nhẹ nhàng nhất và chuẩn bị tinh thần cho những trận cận chiến và chống Tank. Vài người lính rút chiếc dao găm ra ngắm, liếc nhẹ vào nòng súng vài cái, đút lại vào bao rồi vỗ mạnh, tôi biết họ đã sẵn sàng và thật điệu nghệ. Có người còn nhổ một bãi nước bọt vào nòng súng, có lẽ vì một thói quen cố hữu.

Chúng tôi nóng lòng đợi chờ lệnh hành quân như những con ngựa chiến bị ghìm cương, mắt trợn trừng lồng lộn, bạn bè cùng đơn vị chúng tôi đang sống chết với giặc ngoài kia, sao chúng tôi đành ôm vó đợi chờ vô tích sự, và tôi như một chàng trai tân đang chờ đợi cuộc hẹn đầu đời với con gái của Ma Vương.

Cái đợi chờ làm tôi bồn chồn nóng nảy lẫn lo âu như một chú cá đang bị nướng sống trên lò lửa nóng, mắt tôi đỏ gừ, hơi thở dồn dập, mặt tôi tê dại đi không còn cảm giác. Tôi cắn chặt hàm răng, cố thở thật sâu để nén đi cảm xúc của mình rồi lừ mắt nhìn thẳng vào mặt của từng người lính. Bất giác, tôi chưởi thề lớn tiếng: ĐM. tao như đứng trên lửa… và cứ thế thời gian trôi qua như thử thách sự dẻo dai của những dây thần kinh đang căng thẳng đến cùng cực. Để đốt thời gian, trấn an tinh thần lính, tôi trải rộng tấm bản đồ, định hướng chính xác, rồi gọi các tổ trưởng đến phân tách và giải thích từng cứ điểm quan trọng trong vùng.

Tuy sẵn sàng nhưng chúng tôi vẫn duy trì nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm, các tổ vẫn thay phiên nhau cho người đứng gác đường, chứng tỏ sự có mặt của mình để duy trì trật tự. Đang trong tình thế căng thẳng đó, một sự kiện buồn cười nhưng cảm động xảy đến làm tôi nhớ mãi.

Người đứng gác đường lúc bấy giờ là một anh Trung sĩ tổ trưởng với bộ quân phục đẹp nhất mà anh có được trong túi quân trang. Bỗng nhiên, có chiếc cyclo đậu xịch lại sát bên anh, mọi người đều giật mình chưa kịp phản ứng thì một cô gái trẻ ăn mặc diêm dúa nhảy ra, cô ta cười toe toét, ăn nói líu lo rồi rút ra một xấp tiền dúi vào tay anh chàng Trung sỉ trẻ, anh ta đẩy tay cô này ra, nhìn về hướng tôi có vẻ lo lắng vì tôi rất nghiêm ngặt trong nhiệm vụ đứng gác này, sau một hồi đôi co, cô gái tìm cách dúi đại tiền vào túi quần trận của anh Trung sĩ rồi leo lên cyclo chạy đi mất.

Tôi ra lệnh cho người khác lên thay gác, kêu anh chàng này đến chấn chỉnh để làm gương. Anh Trung sỉ này chỉ biết gãi đầu bứt tai rồi phân trần với giọng đặc sệt miền Nam:

“Hồi hôm, Trung úy cho tụi em đi chơi (lại lên lon), em quằm con nhỏ này, tiền bạc đàng hoàng, sáng nay ngang qua đây, nhận ra mặt em đứng gác, nó tội nghiệp, nằng nặc đòi trả tiền lại cho được.”

Tôi mĩm cười trong bụng, ra lệnh anh ta quay lưng lại, đá nhẹ một cái vào đít cảm thông. Anh ta xoay người chào tôi với nụ cười trên khoé mắt rồi vội vàng chạy đi thi hành tiếp nhiệm vụ canh gác đang được tạm thời thay thế.

Người lính mang máỵ

Lúc bấy giờ đã hơn 10 giờ 30 phút trưa ngày 30, lệnh tử thủ vẫn được duy trì, lệnh hành quân tôi vẫn đang chờ đợi mặc dù trên đài phát thanh, Tướng Minh đã tuyên bố và kêu gọi đầu hàng. Chúng tôi, những người lính, chỉ biết tuân lệnh cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Tôi thấy được trong ánh mắt lính sự hoang mang, trong lòng tôi cũng tự đặt câu hỏi không biết phải làm gì.

Tuy đã quá mệt mỏi với sự đợi chờ và lo âu kéo dài, nhưng tinh thần trách nhiệm trong tôi vẫn còn tỉnh thức: mạng sống của thuộc cấp và sự an toàn ổn định của người dân trong khu vực trách nhiệm lúc bấy giờ là mối quan tâm chính yếu của tôi.

Trên vai trái hai khẩu M72, trong túí áo 04 trái mini, vai phải là cây M16 với cấp số đạn đầy đủ trong túi quần, giắt khẩu P38 ngắn nòng vào dây nịt dưới chiếc áo 4 túi, tôi cố gắng tạo cho mình một dáng đi chững chạc bình tỉnh dẫn anh Hạ sĩ mang máy đi một vòng thăm hỏi nói chuyện với từng người lính, tinh thần họ hơi xao động vì không biết việc gì sẽ xảy ra, nhưng những người lính gan lì này vẫn quyết tâm sát cánh bên tôi cho đến giờ phút cuối, thật không hổ danh là những con cọp biết nhảy dù. Không biết tôi trấn an họ hay chính họ đã làm lòng tôi ấm lại và vững vàng hơn.

Tôi biêt rằng một sơ sẩy của tôi trong lúc này có thể đưa đến cái chết thật oan uổng cho những người lính quả cảm trung thành ấỵ Chúng tôi như keo sơn sống chết có nhau, quan cũng như lính, sự hiểm nguy thật công bằng trong những đơn vị nhảy toán này. Đây đã là giờ thứ 25, tất cả đều im lặng vô tuyến, tôi rít một hơi thuốc dài cuối cùng rồi dùng ngón tay bóp nát đóm thuốc lúc nào không biết. Mãi lo nghĩ đến sự an nguy của thuộc cấp, tôi quên hẵn đi thân phận của chính mình.

Đang suy nghĩ vẫn vơ, bỗng nhiên, một chiếc Pờ-giô 404 màu trắng bóng loáng thắng rít cạnh lề đường, gần chỗ tôi đang đứng, một người đàn bà đứng tuổi, ăn mặc sang trọng xuống xe, chạy vội lại ôm chầm lấy người hạ sĩ mang máy, bù lu bù loa:

– Con ơi con! sao giờ này con còn ở đây con! về với má đi con.

Trong tình huống này, tôi không biết phải làm gi, có nên giữ anh ta ở lại đơn vị trong giờ phút thứ 25 này không? Suy nghĩ thoáng nhanh trong đầu, tôi vội bước lui vài bước, quay đi hướng khác, để tùy anh ta định đoạt. Qua ánh nắng đỗ nghiêng, tôi thấy bóng anh ta quay lại phía tôi im lặng hồi lâu, rồi với giọng trầm buồn nhưng quả quyết:

– Má về đi, con ở lại với Thiếu uý à.

Tôi bất giác quay lại nhìn anh, nén vội dòng lệ đang trào dâng lên mắt. Tình đồng đội, tinh thần trách nhiệm hay khí phách của một người trai đã giữ anh ở lại với chúng tôi trong những giờ phút cuối cùng tuyệt vọng đó. Đơn giản quá một câu trả lời ngắn ngủi, nhưng nó hàm chứa tâm tình của một hào kiệt, và tâm tình đó không thiếu trong đơn vị dù mũ xanh này.

Người Mẹ không biết làm gì, quay lại phía tôi với ánh mắt nhìn cầu cứu, một lần nữa tôi lại phải ngoảnh mặt để tránh đi một tình huống ngỡ ngàng khó xử. Trong đầu tôi thoáng hiện lên hình ảnh luyến lưu chịu đựng của Mẹ tôi đêm hôm trước.

– Thôi, Mẹ về, con nhớ lời Mẹ dặn.

Bà chỉ nói được bao nhiêu, rồi ôm chầm lấy con thổn thức. Người lính mang máy đứng thẳng người, hai tay trong túi quần trận, đầu ngẫng cao, cắn chặt răng, quai hàm bạnh ra, trông anh vững vàng như một cổ thụ đang cố đè nén những cơn bão táp phong ba dữ dội trong lòng.

Người Mẹ sau đó lau vội nước mắt, đi chậm chậm về hướng chiếc xe, tôi đưa mắt ra hiệu cho anh trung sỉ toán phó đang ở gần đó đến mở cửa đứng chờ. Bà lẳng lặng bước lên xe nổ máy, ngồi nhìn con một lúc rồi từ từ lái xe đi sau khi quay lại đón nhận cái gập mình cúi đầu chào tôn kính của tôi.

Quả cảm thay người lính, bao la thay lòng hy sinh của người Mẹ trong chiến tranh. Lòng tôi chạnh lại dưới ánh nắng dã dượi của Sài gòn trong ngày tàn cuộc.

Địt mẹ nó, đầu hàng rồi

Lòng bàng hoàng xúc động về lòng trung thành của anh Hạ sĩ mang máy đối với đơn vị, tôi ngẩn ngơ đứng lặng người, nhìn bâng quơ lên bầu trời ám khói hanh vàng.
Lúc bấy giờ đã gần 11 giờ, dân chúng di chuyển tấp nập, thỉnh thoảng họ lén đưa ánh mắt ái ngại nhìn về phía chúng tôi. Họ đang nghĩ gì về chúng tôi?: những nhân chứng của chiến tranh, hình ảnh hào hùng đã trôi vào quá khứ, hay những hình nộm được trưng bày không đúng thời hợp lúc. Mặc cho những suy nghĩ thị phi, chúng tôi vẫn chu toàn nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm: bảo vệ mạng sống của binh sĩ dưới quyền và sự an toàn ổn định của người dân cho đến khi có lệnh mới.
Một tràng M16 nổ dòn tan kéo tôi ra khỏi những suy nghĩ vẩn vơ, tiếp theo là tiếng thét thất thanh phẫn nộ:” Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi. Địt mẹ nó! đầu hàng rồi. Một toán lính Dù gồm một người có vẻ là cấp chỉ huy và 3 người lính xuất hiện ở ngã ba cuối phố, họ di chuyển về phía chúng tôi không được bình tĩnh. Thỉnh thoảng, người chỉ huy bắn một tràng M16 rồi lại thét lên: “Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi.” Trên vai anh, một dòng máu chảy dài xuống cánh tay còn nhỏ giọt, ba người lính với khuôn mặt đanh lại lạnh lùng im lặng đi theo bảo vệ.
Tôi ra dấu cho thuộc cấp giữ ổn định tại vị trí của mình. Chúng tôi đã dùng áp lực tước vũ khí nhiều toán quân lẻ tẻ không tổ chức khi họ qua phòng tuyến của chúng tôi để vào Sài gòn nhằm tránh những hỗn loạn đáng tiếc trong thành phố. Nhưng đây là một trường hợp thật nguy hiểm và khó khăn.

Chúng tôi tôn trọng những người anh em lính Dù mũ đỏ này với những chiến công lừng lẫy. Nhìn tình đồng đội của họ trong hoàn cảnh tuyệt vọng hiện nay cũng đủ thấy tinh thần và hiệu quả chiến đấu của họ như thế nào khi lâm chiến. Làm sao đây để chận đứng những hành động nguy hiểm chết người có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cơn cuồng nộ phẫn uất ấy.
Một suy nghĩ táo bạo thoáng qua trong đầu, tôi lột chiếc nón sắt đưa cho một thuộc cấp, gác hai khẩu M72 bên vệ đường, rút trong túi áo ra chiếc nón xanh của binh chủng đội lên đầu, mang cây M16 trên vai, khoác tay ra dấu cho thuộc cấp cùng đứng lên, rồi với thái độ bình tĩnh ung dung, tôi dẫn anh Hạ sĩ mang máy chậm bước đến vị trí người lính đang đứng gác giữa đường. Một tràng M16 nữa lại nổ vang, toán lính Dù này chỉ còn cách chúng tôi khoảng 30 thước, và họ vẫn chưa nhận thấy sự hiện diện của chúng tôi. Họ tiến gần chúng tôi khoảng 20 thước nữa, một tràng đạn chỉ thiên lại nổ dòn trên không. Tôi hít một hơi thở sâu, dùng hết sức thét lên
” N-G-H-I-Ê-M “. Đúng là Lính, họ giật mình dừng lại nhìn quanh, thấy chúng tôi với quân trang và vũ khí đầy đủ, có lẽ cảm thấy ấm lòng trong vùng kiểm soát của một đơn vị bạn, họ dừng chân và hơi bình tĩnh trở lại, chúng tôi nhìn nhau, chung bộ đồ Dù, một là chiếc nón đỏ với những trận chiến vang danh, một là chiếc nón xanh với những hoạt động biệt cách đởm lược. Tôi tiến đến bắt tay anh, người chỉ huy toán lính Dù quả cảm. Chúng tôi im lặng nhìn nhau, anh vẫn còn thì thào: Địt mẹ nó!……
Tôi đích thân đưa anh vào một căn bỏ trống trong tòa cao ốc, kêu toán phó băng bó vết thương ở vai và lưng cho anh rồi vội vã bỏ ra ngoài sau khi đưa cho anh chiếc áo dù còn mới toanh của tôi để thay chiếc áo đã bết máu khô. Ba người lính Dù vẫn lặng lẽ bám theo anh không rời một bước.
Tôi không nhớ anh mang cấp bậc nào, nhưng chỉ biết toán lính Dù này rút về đây khi trại Hoàng Hoa Thám đã hoàn toàn thất thủ. Sau khi chuyện trò thuyết phục, họ đã đồng ý ở lại với chúng tôi và trở thành một tổ mới trong toán. Về sau toán lính Dù này đã theo chúng tôi cho đến tọa độ cuối cùng.

Toạ độ cuối cùng. Thời gian như dừng lại, cái nắng ảm đạm của Sài gòn như chuyên chở tâm tư tôi trở về với những thực tại phũ phàng:
Sụp đổ rồi ư những hoài bão ước mơ vá trời ngang dọc, có làm được gì không trong cơn tuyệt vọng cùng đường này.
Đầu óc tôi trống không mụ mẫm. Cổ họng tôi khô quánh lại. Những người lính của tôi dễ thương và tội nghiệp quá, làm sao để bảo vệ mạng sống của họ trong hiện tại và dẫn dắt họ trong đời sống vô định của một tương lai đen tối. Vì trách nhiệm, tôi bám chặt họ để làm lẽ sống. Vì quả cảm trung thành, họ quyết theo tôi cho đến bước đường cùng. Tôi đứng như trời trồng, nhìn sững xuống chân thấy bóng mình dần thu ngắn lại.
Tiếng rè rè của PRC25 làm tôi giật mình, đích thân Đại úy Biệt đội trưởng ra lệnh hành quân, các sĩ quan trong ban chỉ huy Biệt đội đã đồng ý một kế hoạch rút quân về toà nhà Quốc Hội, giá súng tại đây, tuyệt đối không buông súng trong vùng trách nhiệm. Trung đội Thám kích mở đường và tập hậu, chiếm các cao ốc làm điểm tựa cho cuộc rút quân.
Tôi tê dại đánh rơi cần liên hợp xuống mặt đường. Vậy là hết !…
Sững người trong phút chốc, tôi buông thõng:
– Đi.
– Đi đâu thiếu uý. Người toán phó nôn nóng hỏi.
Tôi nhìn anh ta với đôi mắt ngầu lên uất hờn tủi nhục rít qua kẽ răng đang nghiến chặt:
– Lệnh hành quân về quốc hội. Tôi đáp gọn rồi kịp quay đi dấu đôi dòng lệ trào tuôn không cầm được.
Biệt đội đã bắt đầu di chuyển, ba toán nhảy theo chân sáo mà điểm đậu là các tòa cao ốc để bảo vệ các trung đội xung kích di chuyển trên mặt đường. Toán chúng tôi tuy vẫn giữ nguyên tắc tổ tam đầu nhưng tụ lại cho ấm cúng hơn.
Bỗng nhiên, tiếng máy của T54 đồng loạt gầm lên trên khắp ngã đường, những khối sắt đen đồng loạt bò ra dừng lại án ngữ những điểm chính yếu rồi đứng lại đe dọa, có tiếng click nhẹ của những khẩu M72 dương nòng, tôi chưa kịp phản ứng gì thì nhìn quanh, những người lính thiện nghệ của tôi đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, tôi vụng về dương nòng cây M72 rồi ẩn mình sau một gốc cây lớn vệ đường quan sát.
Một sự im lặng căng thẳng cùng cực, T54 gục nòng trong tư thế trực xạ, M72 đã sẵn sàng với biểu xích đã bật lên, súng ghìm súng, mắt long lên theo từng động tỉnh của đối phương, chỉ cần một tiếng súng nổ là khai hỏa một trận chiến không ai lường được hậu quả. Lúc bấy giờ khả năng tham chiến của biệt đội 817 chúng tôi vẫn đầy đủ.

Chiến công cuối cùng của Biệt Đội 817 Liên Đoàn 81 BCD ngay giữa Thủ đô Sài Gòn sáng ngày 30-04-1975

Đang trong phút im lặng tử thần đó, một sĩ quan, nếu tôi nhớ không lầm là một toán trưởng kỳ cựu trong trung đội thám kích, một cánh tay phải của Biệt đội trưởng, đứng thẳng người, mạnh dạn bước ra, nhìn về hướng Biệt đội trưởng như chờ sự chấp thuận. Nhận được thủ lệnh, anh từ tốn cởi bỏ vũ khí để xuống mặt đường, rồi dỏng dạc bước ra đứng giữa đường lớn tiếng:
– Chúng tôi, biệt đội 817 Biệt cách Dù, chúng tôi không buông súng trong vùng trách nhiệm, chúng tôi đang hành quân về quốc hội để trả vũ khí lại cho dân. Giọng anh sang sảng bằng tiếng Bắc 54.
Phía đối phương không động tĩnh một hồi lâu, có lẽ họ đang liên lạc để chờ lệnh trên hay để đánh giá lực lượng chúng tôi trước khi quyết định việc gì. Sau đó, từ chiếc T54 phía sau, một người bên đối phương bước xuống nói chuyện với anh Sĩ quan toán trưởng này, hai bên tranh luận dằng co, lúc nhẹ nhàng, khi lớn tiếng, cuối cùng, anh toán trưởng quay trở lại, khuôn mặt đỏ ngầu. Vì sự an nguy của đồng đội, anh đã cố nén đi sự phẫn nộ, có lẽ anh đã quen nói chuyện với địch quân bằng một phương pháp cứng rắn hơn.
Sau khi về lại vị trí, anh toán trưởng này đã gọi mọi người cùng lên máy và chúng tôi nói chuyện bằng bạch văn.
Tôi được biết đối phương đã đồng ý để chúng tôi tiếp tục hành quân về toà nhà quốc hội, nhưng hai bên cùng thỏa thuận: trên lộ trình hành quân, nếu gặp nơi đối phương đang trú quân, chúng tôi phải vác súng lên vai và ngược lại, khi chúng tôi nghỉ chân thì bất cứ đơn vị nào của đối phương đi chuyển qua cũng phải vác súng lên vai không được ở tư thế tác chiến.
Đại úy Biệt đội trưởng ra lệnh tiếp tục hành quân.
Chúng tôi câm lặng di chuyển, trong lòng thấm dần niềm đau nỗi nhục, nhìn quang cảnh phố phường lẫn lộn đỏ xanh của màu cờ gạt lừa dối trá.
Dân chúng hai bên đường nhìn chúng tôi như những bóng ma đang đi chuyển trong một nghĩa địa hoang tàn của Sài gòn sau cơn binh lửa.
Đến ngã tư Trương minh Giảng- Công lý, một lần nữa tiếng gầm rú của T54 lại vang lên như đang cố gắng nghiền nát tinh thần chúng tôi. Đối phương đã huy động một lực lượng chiến xa lẫn chủ lực đáng kể nhằm khống chế chúng tôi tại chỗ. Toán nhảy tiền phương đã bị chận đứng không thi hành được nhiệm vụ vì đối đầu với những khẩu 3.5 đang theo dõi bước chân của từng người lính thám kích. Nhìn chung quanh, đại pháo của chiến xa trên các ngã đường dang gục nòng sẵn sàng khai hoả. Toán nhảy tập hậu đã gọi về báo một tình trạng tương tự ở sau lưng, trên các cao ốc đối phương đã hoàn toàn trấn giữ.
Chúng tôi nhìn nhau không biết phải làm gì, Biệt đội trưởng lắc đầu chậm chạp, từng khuôn mặt lặng câm không cảm xúc. Một cảm giác tê dại chạy khắp người tôi từ bàn chân lên đến đỉnh đầu. Tâm trí hoàn toàn trống không, tôi đứng như trời trồng uất nghẹn, mắt trợn trừng nhìn vào cõi hư vô, tai ù lên chỉ còn nghe tiếng mạch máu nhảy lên trong lồng ngực. Tôi nói như trong mơ:
– Các anh về với gia đình đi.
…………………………

Từng người lính rời xa, trái tim tôi quặn thắt.
…………………………

Tôi không nhớ việc gì đã xảy ra sau đó, nhìn chung quanh trống vắng lạnh lùng, nòng đại pháo trên các chiến xa T54 vẫn còn nhìn tôi với con mắt chột đen ngòm lạnh lẽọ
Tôi lặng lẽ trút bỏ quân trang và vũ khí trên người, giắt khẩu P38 ngắn nòng vào thắt lưng, đặt chiếc nón sắt nhẹ nhàng xuống một gốc cây gần đó, rút chiếc nón xanh của binh chủng đội lên đầu, vuốt sơ lại bộ quân phục đã nhàu nát và bước đi giữa những vết tích tàn lụn ngổn ngang của binh sĩ, như kẻ mộng du, nhắm về hướng Suối Máu, như loài cá vô tri tìm về nơi chốn đã khởi đầu một cuộc hành trình dĩ vãng.
Tôi bước đi như vào chốn không tên, tất cả giác quan đều ngưng hoạt động, mắt nhìn đăm đăm trơ dại, tai ù lên những tiếng vo ve nhức nhối, miệng lưỡi đắng khô và chân tôi đều bước nhịp quân hành…..Lúc bấy giờ trời đã nghiêng bóng, có lẽ đã hơn 2 giờ……..
– Niên ttrưởng! Niên trưởng! Trời ơi, giờ này mà Niên trưởng còn mặc đồ này đi coi chừng tụi nó bắn chết.
Một khoá đàn em hay một nguời lính nào đó nắm tay tôi, vừa la thất thanh vừa kéo tôi vào một hẻm nhỏ bên kia cầu xa lộ . Anh ta dằng lấy nón, cởi phăng áo tôi ra, rút khẩu P38 gói vào trong áo chung với chiếc nón xanh dấu vào một góc nhà, rồi khoác vào tôi một chiếc áo sơ mi cũ nhàu nát loang đốm vết dầu.Sau đó quăng cho tôi một chiếc quần cũng nhàu nát không kém và một đôi dép Nhật, tôi lặng lờ theo lời anh thay đôi giày và chiếc quần trận ra như một kẻ không hồn.
Anh dẫn tôi ra lại xa lộ, nắm tay khẽ bảo: Niên trưởng về nhà đi.
Và tôi lại lững thững bước đi…..Như một xác âm binh lạc lối……

Bước chân tôi dừng lại trước căn nhà trọ của gia đình đã di tản từ Qui nhơn hơn tháng qua . Nhìn qua khe cửa hé mở, tôi thấy Mẹ tôi ngồi im lặng một góc theo lối Kiết già, Bà đang niệm Phật để nguyện cầu cho Quốc thái Dân an, hay cho hai đứa con trai đang còn mãi mê ở chiến trường đâu đó. Tôi khẽ lách cửa bước vào, hai người chị gái tôi ngồi bệt dưới đất trong tư thế đợi chờ ngột ngạt không biết chuyện gì sẽ xảy đến.
– Mạ! tôi khẽ kêu lên.
Cả nhà nhìn lên tôi, ngạc nhiên, sững sờ, bể dâu của cuộc đời đã thể hiện cả lên hình hài tôi qua bộ đồ dân sự nhàu nát.
Mẹ tôi nhìn tôi từ trên xuống dưới, cái nhìn đau đớn đến vô hồn của một bà Mẹ đi nhận xác con.
Vâng! con của Mẹ đã chết trong ngậm ngùi, mang theo những hoài bão ước mơ vá trời lấp biển, và nó đang về đây với cái xác không hồn từ cõi âm ti…..

Tôi viết lên những dòng chữ này để nhớ đến những người lính quả cảm trung thành cùng binh chủng. Đây là dấu tích sau cùng của riêng tôi trong đoạn đường binh nghiệp ngắn ngủi.

Trong những ngày cuối tháng tư đen, hảy chia xẻ niềm đau với biết bao nhiêu người trai trẻ đã bị sống trong cảnh bức tử oan nghiệt.
Thượng cấp, vì quá lệ thuộc vào ngoại bang, đã tước bỏ đi của chúng tôi cái quyền căn bản của các cấp sĩ quan trẻ đầy lý tưởng và nhiệt huyết:
QUYỀN ĐƯỢC CHIẾN ĐẤU ĐỂ ĐI ĐẾN CHIẾN THẮNG HOẶC HY SINH BÊN CẠNH NHỮNG NGƯỜI LÍNH THÂN YÊU.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Ta quen nhau mùa … Đông

Đặng Chí Bình

Bài 26

Thỉnh thoảng từng làn gió heo may đã bắt đầu nhè nhẹ thổi về, làm chuyển dần màu lá bàng từ xanh thẫm sang ươm vàng. Gió heo may về như nhắc nhở lòng ai mùa Thu trở lại.

Dạo này, bàng chín rộ. Càng về đêm hương bàng càng ngạt ngào, theo gió tỏa khắp Hỏa Lò. Bàng lại mỗi ngày mỗi rụng nhiều. Cứ hai ngày một lần, tôi phải quét và hốt mệt nghỉ. Công việc này, tôi thấy đam mê như hái hoa, bắt bướm, nhởn nhơ trong cánh rừng đời.

Sáng hôm nay, tôi vừa quét sân xà lim, vừa lắng nghe tiếng loa léo nhéo một bản tin:

“…..Theo nguồn tin UPI và AFP, Mỹ đã chuyển thêm hai tiểu đoàn Dù nữa, đang rời từ Okinawa sang Việt Nam, để bổ sung và tăng cường cho Sư đoàn “Anh Cả Đỏ”; đưa tổng số quân Mỹ ở miền Nam cho đến nay lên tới…..”.

Không những rõ ràng chi tiết số vạn, số nghìn, số trăm mà con cả số chục nữa.

Nằm ở trong lòng đất của kẻ thù, hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, nghe những loại bản tin như thế này không biết bao nhiêu lần. Tai đã nhàm chán, vậy mà lòng vẫn không hết ấm ức, bực bội. Tôi vẫn hiểu là Mỹ giầu lắm, Mỹ mạnh lắm, Mỹ nói chuyện với Cộng Sản thường nói thẳng, nói thật. Chính phủ Mỹ không nói, Quốc hội, báo chí Mỹ cũng nói. Nếu không như thế chăng nữa, với lề lối tổ chức, làm việc ở nước Mỹ dân chủ, tự do, các điệp viên của Cộng Sản đã lấy tin quá dễ dàng. So với cảnh những điệp viên của thế giới tự do phải vào đất Cộng Sản lấy tin, khó khăn khác nhau một trời, một vực.

Mỹ đã đánh giá Cộng Sản Việt Nam theo con mắt của Mỹ nhìn…Việt Nam Cộng Hòa. Nghĩa là, Mỹ cho rằng Liên Xô và Trung Quốc có quyền hạn tuyệt đối với Cộng Sản Việt Nam. Cụ thể, nhiều Tổng Thống Mỹ bàn chuyện giải quyết vấn đề của Việt Nam lại bàn với Liên Xô, với Trung Quốc. Tôi thừa nhận, trong tương quan giữa các nước trên thế giới ngày nay, những nước lớn có ảnh hưởng hoàn toàn không giống như Mỹ đã đánh giá. Nhất là giữa các nước Cộng Sản. Sự ảnh hưởng này, phụ thuộc vào những tình tiết quan hệ riêng của mỗi nước Cộng Sản. Không hề giống như bên thế giới tự do. Thật là sai lầm! Sai lầm nọ lại đẻ ra sai lầm kia, theo cái nhìn của người tư bản. Để phần sau, tôi sẽ nêu nhiều dữ kiện minh chứng. Đó là yếu tố bí mật, bất ngờ. Điều này sẽ làm cho đối phương mất cảnh giác, nhìn sai sự thật.

Từ ngàn xưa, nếu Khổng Minh không sử dụng yếu tố bất ngờ, bí mật, ngày nay, ông đã không nổi danh với chúng ta như vậy. Nước Nhật chỉ là một nước vừa phải, không lớn lắm, mà đã nhiều lần làm cho Mỹ méo mặt, Liên Xô điên đầu, thế giới nể sợ, cũng chỉ vì những yếu tố trên. Thế mà, nước Mỹ đã hầu như không sử dụng những yếu tố này.

Để làm sáng tỏ hơn, tôi xin đơn cử một thí dụ: “Một binh đoàn M được lệnh đánh chiếm một hòn đảo X của đối phương. Hòn đảo X này có một trung đoàn địch quân phòng thủ, trang bị những vũ khí bình thường. Những kế hoạch bố phòng cũng bình thường như từ trước đến giờ.

Binh đoàn M quân số quá lớn, gấp 9, 10 lần lực lượng phòng thủ của đối phương. Vũ khí trang bị lại hiện đại hơn hẳn bên phía lực lượng phòng thủ của đảo. Do đó, dù không có yếu tố bất ngờ và bí mật. Dù đối phương có biết trước hay không, hòn đảo X cũng bị chiếm.

Nhưng, nếu biết vận dụng và phát huy tối đa yếu tố bất ngờ, giương Đông, kích Tây; vờ chuyển quân, bắn tin là sẽ sang phía A, lại bất ngờ đánh phía B; dùng những phương pháp tương kế, tựu kế đánh lừa, ru ngủ địch, thực thực, hư hư… Nghĩa là, làm sao bịt chặt mắt địch lại để đánh. Địch không thể đoán biết ta sẽ đánh chỗ nào, lực lượng ta đặt ở đâu, chỗ địch tưởng nhiều, lại hóa ít, v.v… Vì vậy, khi ta chiếm hòn đảo X, địch giật mình, hoang mang đầu óc. Vì địch không hề biết trước, và có thể hôm đó đảo lại đang mở hội liên hoan chẳng hạn, cho nên, quân đổ bộ chiếm được đảo, với số lượng thuơng vong độ 200 chiến sĩ.

Ngược lại, vì lề lối tổ chức của phe ta, tính huênh hoang của kẻ khỏe, quân ta ở đâu, địch biết; rút đi bao nhiêu, thêm vào bao nhiêu, địch biết; vũ khí loại gì, mới đưa vào bao nhiêu, địch cũng biết… Khi đã biết, tất nhiên đối phương phải tăng cường tối ta để phòng thủ, kể cả về người cũng như về vũ khí, kế hoạch, hầm hố chướng ngại v.v… ngày đêm cẩn mật không rời tay súng.

Vì quân số của bình đoàn M gấp bội, và vũ khí lại trội hơn hẳn như đã nói trên, nên hòn đảo X vẫn bị chiếm. Nhưng, vì đối phương đã tăng cường quân số, vũ khí, cũng như tinh thần không rời tay súng, v.v…nên số thương vong của binh đoàn M lên tới 1000 người…

Như vậy, đối với 800 chiến sĩ ưu tú của chúng ta, mỗi một người là một đơn vị trong chùm liên hệ của gia đình. Thêm 800 gia đình đau thương vì mất người thân, chỉ vì muốn tỏ ra là người “lớn”, là quân tử bảo thẳng cho đối phương “tiểu nhân” biết mọi việc khi ta hành quân… Ai sẽ chịu tội, chịu trách nhiệm về 800 mạng người này? Các ông Tổng Thống, các ông Tư Lệnh có chịu trách nhiệm không? Trách nhiệm là đền được mạng sống của con người không? Xin quý vị giải đáp cho người khác nghe lọt lỗ tai.

Đêm nay, chẳng hiểu sao tôi cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Tôi mở mắt nhìn lên phía cửa sổ, trăng Thu vằng vặc như mời gọi tôi dậy. Tôi vươn vai lắng nghe, xác định tụi cán bộ, nghe những âm thanh của đêm khuya, tôi biết đêm đã khuya lắm rồi. Thỉnh thoảng, tôi lại nghe tiếng rên ở buồng số 1 sát nhà tắm. Tôi đứng dậy, trèo lên sàn, tựa đầu vào lưới thép của cửa sổ, nhìn ra bầu trời bên ngoài.

Nền trời tím sẫm, không một vẩn mây. Chéo mãi phía Đông, một mảnh trăng gầy, hạ huyền với hai đầu nhọn hoắt quặp xuống, như đôi sừng của con dê già. Những khung nhà, mái ngói của khu trại chung phía xa xa, vạch cắt bầu trời phía Đông Bắc thành những nét kỷ hà đen xẫm. Một chiếc lá bàng rời cành, lắc lư, chao đảo, lấp lánh dưới ánh trăng khuya, sà xuống nền xà lim càng làm cho cảnh đêm thâu vắng lặng. Một cơn gió nhẹ thổi qua làm những chiếc lá bàng trên cành xao xác.

Đã lâu lắm, hôm nay, tôi mới lại được ngửi mùi hương Thu. Tôi không biết dùng ngôn từ gì để tả rõ được mùi hương này. Hương Thu len lén, chậm chạp luồn lách vào mũi khiến cho hai cánh mũi tôi như cong lên, trán tôi cau lại, ngón chân cái của tôi tự nhiên ngọ nguậy, ngúc ngắc đập nhè nhẹ xuống sàn theo một điệu nhạc mơ hồ, đưa hồn tôi lơ lửng vào cõi… không bờ. Bỗng tiếng một con mối ré lên “chặc, chặc, chặc…” một hồi dài đã gọi hồn tôi trở về thực tại. Đã mỏi chân rồi, thôi tôi xin tạm biệt trời Thu để đi vào giấc ngủ đêm Thu gần tàn…

Sáng hôm sau, tôi đang còn muốn ngủ nữa, tiếng loa đã gióng lên như tiếng con mẹ hàng xóm mất gà, đang cất cao giọng rủa sả thiên hạ, cứ làm như cả xóm ăn cắp gà của mụ. Như vậy, làm sao còn ngủ nổi nữa, tôi đành phải nằm nghe tiếng chửi rủa vậy thôi.

Một bản tin về chiến trường miền Nam: loan báo số thương vong của lính Mỹ, Úc và Đại Hàn trong tháng vừa qua. Âm thanh chọc vào tai tôi, đã đẩy mồm tôi, loe ra thành một nụ cười. Tôi cười, vì nếu cứ ghi số thương vong của lính Mỹ, Đại Hàn và Úc từng trận đánh, của suốt mấy năm, từ khi Mỹ bắt đầu đưa quân vào, đầu 1965, cho đến bây giờ, ở miền Nam chả còn một người lính Úc, Mỹ hay Triều Tiên quái nào nữa. Thế mới lạ chứ! Ngược lại, tôi cũng khen lính Mỹ, Triều Tiên, Úc ra trận càn quét, bắn rất tài tình, nghĩa là chỉ nhằm bắn…bà già, đàn bà, con gái và…trẻ con, và tránh rất giỏi, không hể bắn trúng vào một thằng Việt Cộng nào cả.

Nó vô lý đến độ buồn cười như vậy đấy, và có như vậy, nó mới là lmột trong những yếu tố để sau này tôi làm sáng tỏ lý luận chứng minh về nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản. Sau này, khi tôi có gần hai năm chuyên chú đọc những tác phẩm lý luận, của hầu hết những nhà tư tưởng tiền khởi Cộng Sản cho đến bây giờ, kết hợp với thực tiễn người thực, việc thực tôi đã gặp, trong hơn một chục năm ở các trại giam trung ương, tôi đã có cái nhìn đủ điều kiện hơn về một số lãnh vực.

Thấm thoát đã lại vào mùa Đông, mùa Đông thứ năm. Cây bàng lại khẳng khiu, trơ trụi những cành chọc thẳng lên trời, như những cọng râu của con cá mực khô.

Cả một năm tròn vừa qua, chấp pháp không hề gọi cung, chúng làm như đã quên hẳn tôi rồi. Thật là kinh khủng! Ý nghĩ này đã tạo nên một sự ức chế ghê rợn đối với tâm lý của tôi. Hơn 4 năm qua, với biết bao cung kẹo giày vò, cùm kẹp, chết đi sống lại mấy lần, đói khát, cấu xé ngày đêm…Thế mà hầu như tôi không hề biết sợ. Chân ở trong cùm vẫn rung lên theo những điệu nhạc ngầm của cõi lòng. Giờ đây, tôi lại cảm thấy ghê sợ. Tôi sợ chúng đã bỏ quên tôi! Năm này, qua năm khác, cơ thể của tôi, dù tinh thần có cố gắng phấn đấu đến đâu, cũng tàn lụi dần đi. Hoặc, không bệnh tật, cũng điên khùng mà chết. Nếu, chúng gọi tôi ra tuyên bố rõ ràng sẽ giam thêm ba năm, hoặc năm, mười năm nữa trong buồng kín rồi sẽ cho ra trại chung…..tôi cũng không có cái tâm trạng ghê sợ, đến như lúc này. Đấy là, tôi vẫn còn một chút may mắn, được tên Dư có ít thiện cảm, thỉnh thoảng cho ra  ngoài sân quét dọn. Chứ nếu không, cứ phải ngồi một chỗ cả năm, óc đến thối ra mất. Thật là kinh khủng! Chúng dùng thời gian, thi đua với sức chịu đựng của con người. Tôi hiểu, chủ trương của chúng đối với tôi bây giờ là để xem cơ thể của tôi, có chịu đựng được mãi đối với thời gian hay không. Vì vậy, đang đêm, giật mình tỉnh dậy, cứ nghĩ đến điều đó, tôi cảm thấy lạnh cả người. Một niềm rùng rợn, ghê khiếp bao vây chặt lấy người tôi. Dù ban ngày, tôi vẫn tập thể dục; hàng ngày, tôi vẫn thực hiện phương pháp trường sinh; nhưng cứ đêm xuống, nỗi ghê rợn, niềm kinh hãi, vẫn ùa đến tràn ngập lòng tôi.

Tôi nhớ một buổi, lúc tôi đang múc bùn ở lỗ cống đầu hè (khi đó là đầu 1967, tôi đã ở xà lim 5 năm rồi; tên Dư đã lên chuẩn úy, tên Đại coi trại thợ đã là thiếu úy, (mà hồi tôi mới vào Hỏa Lò, hắn chỉ là trung Sĩ). Hai tên Đại và Dư đang đứng nói chuyện với nhau ở góc sân, tên Đại quay lại nhìn tôi một lúc, rồi nói với tên Dư:

– Này, ông này, cái anh kia không biết trên giải quyết thế nào, mà cứ để mãi ở xà lim nhỉ?

Tên Dư nói nho nhỏ gì đó với tên Đại. Đại quay lại nhìn tôi với đôi mắt nửa như tò mò, nửa như thông cảm. Đấy! Ngay tụi quản giáo Hỏa Lò còn sốt ruột thay cho tôi nữa là.

Ngay đầu năm ngoái, một lần tôi đi cung, chính hai tên chấp pháp Thành và Nhuận, cùng cười, nhìn tôi một lúc, rồi tên Thành vừa nói, vừa gật cái đầu:

– Trông anh, dạng thư sinh, thế mà anh chịu đựng tốt thật!

Nhưng, từ đầu năm 1967, tôi bắt đầu sợ thật. Lòng tôi đầy âu lo! Tự nhiên, tôi thấy sợ cả bóng tôi. Ngay ở xà lim I này, từ khi tôi vào, đã biết bao nhiêu người: hết đợt này ra, đến đợt khác vào, lại ra. Trừ trường hợp của hai anh Căn và Lượng, hầu hết lâu là một năm, còn thường chỉ mấy tháng. Có người vào xà lim độ mươi ngày hay nửa tháng, họ đã ra rồi.

So với bốn tháng trước đây, xà lim bây giờ toàn là người lạ. Chỉ còn anh Nguyễn Lân, buồng số 4, là cũ. Vụ án của anh cũng hơi phức tạp, không xử được, có lẽ anh sẽ bị tập trung. Hiện anh vẫn còn đấy, nhưng bây giờ trông anh như bộ xương biết đi, mỗi khi anh ra sân phơi quần áo. Khi anh mới vào, tôi nhìn hai cái tai của anh đã thấy to. Lúc này mặt anh choắt lại, gồ ghề, nhiều chỗ lồi lõm, thành ra hai cái tai trông càng to hơn, như hai cái tai chuột cống, trong khi mặt anh là mặt chuột nhắt.

Gần chiếu tối hôm qua, có một người bị đưa vào buồng số 5. Đó là buồng tôi đã ở trước, đối diện với buồng 12 của tôi hiện giờ. Số 5 thì ở dẫy trong.

Tôi nghĩ, người đó cũng như nhiều người khác mới vào. Hơn nữa, dạo này tâm hồn tôi cũng hơi bấn loạn, tôi chẳng còn háo hức tò mò gọi nói chuyện với người mời vào làm gì. Chỉ có với anh Lân, lâu lâu, tôi mới gọi anh thăm hỏi một vài câu.

Khi nãy, hai buồng số 3 và số 8 báo cáo xin thuốc đau bụng và đau dạ dầy. Buồng số 8 đang rên như lợn xề kêu. Một lúc sau, tên Dư dẫn y tá vào. Tôi ngạc nhiên khi nghe tiếng y tá, là giọng nữ, nhưng không phải tiếng bà Dậu. Tôi cũng muốn tò mò xem y tá mới mặt mũi ra sao. Tôi lại nghe cả buồng số 4 là anh Nguyễn Lân, cũng báo cáo:

– Báo cáo bà y tá, cho tôi xin thuốc đau dạ dầy!

Tôi cũng thấy lạ! Từ khi số 4 vào xà lim cũng đã 8, 9 tháng rồi, tôi chả thấy anh xin thuốc đau dạ dầy lần nào. Hôm nay lại nhiều buồng xin thuốc thế, râm ran cả lên.

Tôi nghe tiếng hỏi dấm dẳn, hách dịch ở phía buồng số 4:

– Buồng này, xin cái gì?

Tiếng anh Lân, giọng miền Trung trọ trẹ:

– Tôi đau dạ dầy, bà cho tôi xin thuốc đi!

– Trước anh có đau dạ dầy không, bây giờ lại xin thuốc?

– Chưa đau, nhưng bây giờ đau.

– Sao anh biết là đau dạ dầy?

– Của tôi, tôi biết chứ!

Tiếng cửa sổ con đập mạnh vào nghe “xoạch” một cái, cùng với một giọng cong cớn:

– Tôi vớ vẩn với anh đấy à!

Lại buồng số 10 báo cáo:

– Báo cáo bà y tá! Buồng 10 xin ăn cháo!

Tiếng tên Dư đứng giữa xà lim ngay chéo trước buồng tôi nói to:

– Y tá đây là cô Vân mới có 19 tuổi thôi, các anh cứ gọi cô cho nó tiện.

Buồng 10 lại ré lên:

– Báo cáo cô y tá.  Buồng 10 xin ăn cháo .

Tiếng mở cửa sổ nhỏ, rồi tiếng cô Vân hỏi:

– Làm sao mà ăn cháo?

– Thưa cô, tôi bị táo, ba ngày nay không đi cầu.

– Không được! Lấy tay mà xoa bụng nhiều lần đi!

Tiếng chân của tên Dư và y tá ra ngoài bàn trực. Một lúc, có tiếng chân bước ra sân. Tôi lẹ làng lựa thế đứng lên nhìn.

Á chà! Cái cô có mái tóc dài mà có lần, tôi đã nhìn thấy vào một buổi tối, khi cô vào xà lim tắm ra. Cô là y tá mới! Có lẽ bà Dậu, y tá cũ, đã nghỉ, hay chuyển công tác. Thảo nào, các buồng báo cáo rối rít cả lên. Trong xà lim không có “chất” phụ nữ nên mới như vậy. Ngay anh chàng Nguyễn Lân, sinh viên Roumanie, cũng ỡm ờ con cá đỏ với cô ta. Thông cảm! Thông cảm! Tôi cũng chưa trông rõ mặt cô ấy ra sao. Hai lần, tôi đều nhìn thấy sau lưng cô ta.

Mấy hôm sau, ra lấy cơm, tôi nhìn thấy có một bát cơm đầy hẳn lên, tuy trông nát như bát bánh đúc, nhưng vẫn còn thấy vài hạt cơm còn nguyên. Đói quá, xin ăn cháo, tuy được hai bát, nhưng toàn nước. Húp vào, no ngay lúc ấy, nhưng suốt đêm đi giải còn mệt hơn.

Tự nhiên, tôi có ý nghĩ là làm sao, để xin được ăn cơm nát là tốt nhất. Trông bát cơm, tuy nát nhưng đầy hẳn lên. Tôi để ý, biết là cơm nát của số 8, đau dạ dầy kinh niên. Tôi chưa biết cách nào để xin được, hơn nữa, cô y tá lại hách “xì dầu” quá!

Buổi tối hôm đó, lại có người vào xà lim tắm. Tôi không để ý, nên không biết là ai. Một lúc, chợt có tiếng quát the thé của cô…Vân:

– Buồng kia, đứng lên làm gì đấy?

Không có tiếng trả lời. Tôi tưởng như là yên. Không ngờ, sáng hôm sau, tên Dư vào mở cửa buồng số 3, mắng cho một hồi, rồi rút chốt cùm. Số 3 lạy van rối rít, nhưng vẫn bị cùm.

Mãi gần 10 giờ, y tá mới vào cho thuốc buồng số 8 và 10. Cô này là y tá mà như công an, quản giáo không bằng, cũng rình rập các buồng. Cô quát buồng số 4:

– Anh đưa ngay con dao đây!

Im lặng. Lại nghe tiếng cô ta giục lần nữa, rồi hỏi:

– Anh lấy dao này ở đâu?

– Báo cáo, vớ được cái đinh, tôi mài để cắt móng tay.

Tiếng cửa sổ nhỏ đóng lại. Rồi, một lát sau tên Dư vào, mở cửa số 4, tuyên bố kỷ luật một tuần. Thấy sự như vậy, tôi đâm ra có ác cảm với cô y tá mới này. Tôi chẳng thèm xin thuốc men hay cơm nát nữa. Tôi đoán, chắc cô này, được vào làm y tá trong Hỏa Lò, phải là thứ “đít đỏ như máu”. Không những bản thân, ngay gia đình phải là thành phần cách mạng trung kiên. Cô ít ra phải là một đoàn viên thanh niên Cộng Sản cuồng say, ưu tú!

Sau đó, hơn một tuần, một hôm, tôi đang tập thể dục chạy tại chỗ, bỗng cửa sổ con xoạch mở. Tôi ngừng chạy, nhìn ra: một đôi mắt rất trong đang nhìn tôi. Phảng phất dáng dấp, tôi đoán ngay là cô Vân. Chắc cô này đang đi rình mò, nghe tiếng thình thịch trong buồng nên mở cửa con xem là chuyện gì. Nghĩ thế, tôi không chạy nữa, xem cô này có thái độ sao đây! Cô im lặng, trân trân nhìn một lúc, và chắc là hiểu tôi đang tập chạy thể dục, cửa con đóng lại. Tôi cũng hơi bâng khuâng. Cô này, bộ mặt trông cũng được đấy chứ, nhất là nước da rất trắng và đôi mắt, như nước giếng trong của đình làng. Cái mặt như vậy, sao lại dữ thế!

Thế rồi, bẵng đi đến hơn mười ngày sau, một hôm đang quét sân, tôi chợt nhìn thấy ở kẽ cánh cổng có một mẫu thuốc lá. Liếc vội vàng phía trong, tên Dư đang lúi húi viết, tôi nhặt lẹ mẩu thuốc, nhét vào cạp quần. Tôi thấy lòng vui hẳn lên. Tí nữa vào buồng, tôi sẽ có một hơi thuốc say đê mê.

Chiếc điếu, từ ngày hút với anh Đà tới bây giờ, để mốc meo. Dạo sau này, có dịp ra sân, năm thì mười họa gặp tên cán bộ nào hút thuốc ném mẩu tàn lại, hôm đó, tôi mới lại có một bữa say. Hôm nay cũng vậy, tôi lại được chơi vơi với…tình: “Tình thà coi như khói thuốc say” mà lại! Đầu óc tôi đang xoay quanh với mẫu thuốc dắt ở cạp quần, bỗng có tiếng động ở cổng xà lim. Tôi quay lại, vừa đúng lúc thấy hai con mắt thật trong mở to nhìn tôi. Tôi hơi ngượng, cúi xuống quét tiếp. Một dáng đi rất mềm, ngang qua tôi, vào chỗ bàn trực tên Dư đang ngồi. Một mùi hương rất lạ. chưa bao giờ tôi ngửi thấy, làm mát cả một khoảng sân xà lim. Tôi thoáng nhìn theo hai lọn tóc, gióc thành hai chiếc đuôi sam, mỗi đầu buộc bằng một sợi len đỏ. Tôi cứ cắm cúi quét mãi, tới khi bóng đó trở ra. Tôi lại thấy cái mùi hương lạ lùng lúc nãy. Tôi vẫn cúi, tay đưa dài mái chổi. Tôi cảm thấy mất hẳn tự nhiên. Và…dường như có một cái gì đó thoang thoảng, mơ hồ len lén vào lòng tôi.

Mỗi lần ra lấy cơm, nhìn suất cơm nát, tôi thấy mình bị quyến rũ quá rồi. Nhưng tôi cứ rụt rè, mãi đến hàng chục ngày sau, tôi vẫn chưa dám báo cáo để …xin ăn. Nếu được ăn cơm nát, có thể tôi khỏi phải mỗi tuần hai lần nhịn buổi sáng, để dành ăn vào buổi chiều như bây giờ. Suất cơm nát với tôi lúc này, thật là lý tưởng. Điều làm cho tôi phải rụt rè như vậy, chỉ vì y tá là một cô gái; lại là một người mà lúc đầu tôi đã có ác cảm. Bây giờ, tôi cũng chưa biết tính ra sao. Tôi chỉ sợ bị hạch hỏi, rồi bị từ chối, ngượng chết.

Lại nghĩ đến nguyên tắc sống: không hiểu, nhiều khi không có cái gì cả. Thế là buổi sáng hôm đó, sau khi ra đổ bô xong, lúc quay vào, tôi nhăn nhó mặt, nói với tên Dư:

– Thưa ông, từ ít lâu nay, tôi cứ ăn cơm vào là lại đau bụng. Đêm ngủ, cứ bị ợ chua. Hiện giờ, tôi thấy đau bụng lắm. Xin ông báo dùm y tá, cho tôi xin thuốc!

Tên Dư mở to mắt nhìn tôi, như lạ lùng, như thăm hỏi bởi vì từ khi lão trực xà lim I đến bây giờ, lão chưa hề thấy tôi xin thuốc đau ốm lần nào.

Quả là tên Dư đã quan tâm đến tôi. Với các buồng khác, trừ trường hợp cấp cứu đặc biệt, chứ kiểu bệnh như tôi vừa báo cáo, phải tới hôm sau, hoặc hôm sau nữa, nếu không tiện dịp. Chỉ một lúc sau, y tá đã đến xà lim. Dư vào mở cửa buồng tôi, rồi nói:

– Anh ra cho cô Vân xem bệnh!

Ra tới ngoài, tôi thấy cô Vân ngồi ở chỗ bàn trực của tên Dư. Trước bàn vẫn có cái ghế đẩu mọi khi, tôi ngồi vào, trong khi đó tên Dư đi đi, lại lại ngoài sân.

– Anh ốm ra sao?

Giọng nói khác thường, thật êm dịu nhẹ nhàng. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt trong, trả lời:

– Tôi cứ bị ợ chua, ăn cơm vào là đau.

Tôi kêu đau bụng, cô lại bảo đưa tay cho cô xem. Cô bắt mạch tay tôi, cả hai tay; rồi lại bảo tôi kéo tay áo lên, cô xoa xoa, nắn nắn đến tận khuỷu tay. Cô không nói gì, tôi cũng im lặng. Mãi một lúc, tôi phải lên tiếng trước:

– Thưa, tôi đề nghị xin ăn cơm nát!

Cô nhìn tôi đăm đăm, cuối cùng, nói nhè nhẹ:

– Anh đi vào đi!

Tôi cũng chẳng hiểu, cô có bằng cho tôi ăn cơm nát hay không? Bữa sáng hôm ấy vẫn cơm thường. Nhưng, tới buổi chiều, trên chõng cơm đã thấy có hai suất cơm nát!

Thế là tôi đã đạt được mục đích. Nhớ lại thái độ của cô Vân những ngày đầu mới biết, tôi không nghĩ là cô lại chấp thuận dễ dàng như vậy. Không hiểu sao, từ khi ăn suất cơm nát, hàng ngày tôi ít đói hẳn đi. Tôi hiểu, tiêu chuẩn gạo thì vẫn thế thôi; nhưng tại sao lại có hiện tượng lạ vậy? Tôi đã nghiền ngẫm phân tích kỹ, dứt khoát không phải do tâm lý khi thấy bát cơm đầy. Cơm nát, thậm chí có khi rất khô giống như cơm thường nấu dẻo vậy, thế mà số lượng lại gấp rưỡi suất cơm thường.

Như thế, chỉ có thể, vì đói thiếu, nên những anh nhà bếp đã giấu, cất bớt cơm khô, lỗ hà, lỗ hỗng, đêm đêm lấy ra ăn với nhau. Còn cơm nát, chỉ nấu cho cả trại, 5, 10 người ăn, nên không ai “chấm mút” làm chi. Ngoài ra, ăn cơm nát nhão nhoẹt, lạt và chán nhà bếp ai thèm ăn, nên cơm không bị hao hụt chút nào. Phần khác, cũng có thể nhà bếp ngại thổi riêng một nồi, nên cho cả vào nấu với chảo cơm thường. Sau đó, họ tìm chỗ nào cơm nhão, ướt nhất là họ xúc cân. Cơm thường 3 lạng thì cơm “dạ dầy” phải 4 lạng rưỡi…Nói chung, chả biết làm sao, nhưng rõ ràng ăn cơm nát, thật là tôi vớ…bở! Thế mà, gần 5 năm tôi mới phát hiện ra. Thế là từ đấy tôi cứ ăn cơm nát đều, mà chả phải uống thuốc đau dạ dầy gì cả.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí bình

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Những hành động bẩn thỉu   của bọn quản giáo với nữ tù

Đặng Chí Bình

Bài 25

Sáng hôm sau, tên cán bộ trực xà lim thay Dư, không ai xa lạ, chính là tên Thế “mũi cà chua”! Ngay từ trận thử lửa trong ngày đầu tiên tôi bước chân vào Hỏa Lò, giữa tôi với y cách đây đúng 4 năm về trước; cho tới bây giờ, bất cứ lúc nào gặp nhau, tôi và y vẫn bốn mắt gườm gườm. Tôi rất hận y, nhưng không thể làm gì được. Còn y, là một tên rất nhỏ nhen, vặt vãnh, vẫn sẵn lòng thù ghét tôi, nên hễ có dịp là y hành tôi đến nơi, đến chốn. Dù sao tôi chì là một tên tù, nên vẫn cúi mặt làm theo ý y, nhưng ruột gan tôi hẳn phải tím bầm lại. Vậy mà, bây giờ nó lại trực xà lim nữa. Do đó, với tên hung thần luôn nghĩ cách “trù ếm” tôi này, tôi quyết định, trong thời gian này, tôi phải nằm im nghỉ ngơi.

Khi y mở tới cửa buồng tôi, ôm bô đi vào nhà tắm mà tôi biết là cặp mắt ti hí đang đăm đăm nhìn tôi soi mói, như mắt của con rắn nhìn con ếch vậy. Nhưng, cái thế của một tên tù, tôi phải lờ đi coi như không biết.

Sau khi cho tù ăn cơm nước xong, y vào mở cửa cho hai cô buồng số 9 ra sân chơi! Hai cô này, mới vào xà lim được ba, bốn ngày, mà tên Thế lại mở cửa cho ra sân chơi? Điều này làm cho tôi tò mò, muốn nhìn xem hai cô là loại người nào. Tuy nhiên, cũng biết tên Thế này rất quái quỷ. Y cũng chỉ hơn tôi 1, 2 tuổi thôi; nhưng, nhìn đôi mắt lươn của y, tôi biết y quả thực không vừa. Tôi cũng hiểu điều làm y thích nhất, là bắt được tôi phạm nội quy. Vì thế, tôi lại càng phải cẩn thận. Không hiểu sao, tự trong lòng tôi, tôi lại thấy ham, muốn tranh đấu, thủ đoạn với tên Thế này, một tên quái nhất trong những tên quản giáo ở Hỏa Lò Hà Nội.

Tôi đang băn khoăn nghĩ ngợi, tính cách làm sao để đứng lên nhìn hai cô buồng số 9 đang ở ngoài sân; chợt giật mình vì tiếng quát của tên Thế:

– Anh kia, đứng lên làm gì đấy?

Biết ngay mà, tôi tự nhủ, thế nào y chẳng rình! Tiếng chân rầm rập đi vội vào buồng số 10. Buồng 10 cũng mới vào được hai ngày sau khi anh phi công Mỹ ra trại chung, vậy mà đã bị bắt phạm nội quy. Thật xui xẻo! Tiếng cùm rút nghe đến “xoạch”, không hề có một tiếng hỏi, chỉ có giọng tên Thế khô đanh:

– Bỏ chân vào!

Thời cơ đẹp, lúc này chính là lúc an toàn nhất, nhanh như một con cắt, tôi đứng ngay lên sàn, nhìn ra sân.

Trời! Tôi cũng phải bàng hoàng giật mình. Một phụ nữ chừng 25, 26 tuổi, dáng cao, gầy đang cúi đầu đi đi, lại lại phía sát tường ngăn sân trại chung xà lim. Còn cô kia, chừng 21, 22 tuổi, đẹp như một nàng tiên trên trần, hai tay chắp ngược lên phía sau gáy, đang nhịp nhàng xoay một điệu Valse lả lơi, nhún nhẩy của một khúc nghê thường!

Tôi như đờ người ra và ngỡ ngàng vì không thể ngờ nổi. Bốn năm trước đây, hơn một tháng trời lang thang khắp phố phường Hà Nội, tôi chẳng thấy một người đẹp nào cả. Vậy mà, trong lúc này, ở ngay trong xà lim, tại sao lại có một giai nhân tuyệt thế như vậy! Thảo nào mà tên Thế đã vội vàng cho hai người ra sân. Và, buồng số 10 mới vào xà lim đã bị cùm.

Tôi mải mê suy nghĩ, mắt vẫn đăm đăm nhìn tấm thân ngà ngọc đang nhịp nhàng, uyển chuyển dưới ánh nắng vàng. Đôi tay trần chắp sau gáy như muốn khoe với thế nhân, đây là tuyệt tác của hóa công. Làn tóc mây, óng lên màu nắng, phất phơ buông thả phủ nửa kín, nửa hở đôi vai trần.

Hình như cô ấy cảm thấy có một tia lửa điện vô hình đang chà, xát chiếu thẳng vào khắp người cô, nên đột nhiên, cô ngửng đầu lên nhìn về phía cửa sổ buồng tôi. Thấy bóng người lờ mờ sau khung cửa sổ, cô dúm người như một phản xạ tự nhiên, khuỵu xuống, hét lên một tiếng thất thanh, rồi nhào thụt vào sát phía chân tường, dưới cửa sổ, khuất tầm mắt tôi. Cô lớn quay lại, nhớn nhác, hỏi giật giọng:

– Cái gì? Cái gì vậy?

Không có tiếng cô bé trả lời. Lúc đó, tôi đã ngồi thụt người xuống. Từ phía trong, tên Thế đã cùm xong số 10 và chạy vội ra sân, quát hỏi:

– Cái gì thế!

Tim tôi như thắt lại, hồi hộp chờ câu trả lời của cô bé. Im lặng một lúc. Rồi một tiếng cộc lốc:

– Không!

Người đẹp có khác, tù mà dám trả lời với quản giáo như thế! Vậy mà cũng không nghe tiếng hạch sách gì. Phần tôi, ở trong buồng, tôi cũng thở ra một hơi dài như vừa trút được một mối ưu lo.

Chiều hôm ấy, sau khi các buồng đã cơm nước xong xuôi và các cửa cũng khóa rồi. Lúc này, mới độ 4 giờ chiều, còn một giờ nữa mới hết giờ hành chính, (cách gọi của Cộng Sản là hết giờ làm việc, hay giờ “tan tầm”). Với thính giác bén nhậy của mình, rõ ràng tôi nghe có tiếng chân sền sệt, nhè nhẹ đi vào.  Vội vàng ghé mắt sát xuống nền, tôi nhìn qua khe cửa. Chà! Một đôi bàn chân không dép đang rón rén đi vào phía trong, phía buồng số 9. Tôi vểnh tai, lắng chờ nghe tiếng mở cửa. Nhưng, tuyệt nhiên không hề có một âm thanh hay tiếng động nào khác, ngoài thỉnh thoảng có tiếng động kéo bô, tiếng nước giải tồ tồ, róc rách, hòa lẫn với những tiếng rên, tiếng thở dài của các buồng chung quanh…

Như vậy, tên Thế vào trong đó để làm gì? Nếu muốn rình bắt các buồng nói chuyện, y ngồi ngay ngoài buồng trực cũng đủ biết. Hơn nữa, ở Hỏa Lò 4 năm nay, lần đầu tiên tôi mới thấy hiện tượng tụt dép, rón rén kiểu này. Vậy, đây là một hành động mờ ám. Do đó, chỉ có hai vấn đề: một, y lén vào buồng số 9, mà lúc nãy y đã không đóng cửa buồng này, nên tôi không nghe tiếng mở cửa. Hai, y đã làm một việc bẩn thỉu là nhìn qua khe cửa, để theo dõi những sinh hoạt riêng của phụ nữ.

Trường hợp một, khó có thể xảy ra, vì buồng số 9 có những hai người, đâu có thể làm như thế được. Vậy, chỉ còn trường hợp hai. Qua vấn đề này, tôi thấy tên Thế cũng chờn các buồng khác để ý, biết được việc làm mờ ám của y. Nhưng nói chung, những người phải vào xà lim, ai cũng chết cả cõi lòng về tội lỗi, về cuộc đời, để ý làm quái gì những việc chung quanh. Do đó, số người tò mò chỉ là số ít. Tò mò mà tinh ranh, y mới ngán. Qua những cái nhìn và thái độ của y, tôi biết tên Thế cũng kỵ tôi lắm. Tôi tự nói một mình: “được, những ngày tới, tao sẽ biết rõ về mày!”.

Hôm sau là ngày tắm giặt. Tới buồng tôi ra sân phơi quần áo. Tôi giặt và phơi đôi “bí tất” vĩ đại của mình, trông chúng như đôi hia, vá chằng vá đụp bao nhiêu màu vải. Cả hai cô buồng số 9 đều đứng lên nhìn tôi. Biết tên Thế đang đứng chỗ bàn trực rình, nên tôi không làm một cử chỉ khác lạ nào, chỉ hơi mỉm cười đáp lại buồng số 9.

Chắc hẳn các cô đang dán mắt vào đôi “bí tất” quái dị của tôi phơi trên dây, và ngạc nhiên thắc mắc không thể hiểu được là tại sao một người tù, không có quần áo riêng khác mấy bộ đồ tù, mà lại có một đôi “bí tất” vĩ đại như vậy? Đôi “bí tất” này muốn khô, dù được nắng, phải hai ba ngày. Chúng dày đến gần một phân ấy!

Chiều hôm đó, khi buồng số 9 ra sân lấy quần áo phơi, buồng số 14 lại có người nữa bị cùm! Hai cô số 9 mới vào xà lim chưa được một tuần, đã hai người bị cùm rồi. Đàn bà, nhất lại là đàn bà đẹp, đáng sợ thật! Ôi! Từ xưa tới nay đã làm khóc mếu bao vị anh hùng! Thậm chí tan xương, nát thịt cũng vì giai nhân!

Hai cô buồng số 9, không biết là loại người gì và bị bắt vì tội chi? Nếu không sợ buồng số 7 (nằm vùng) và tên Thế tinh quái, tôi có thể tìm cách hỏi chuyện để biết được.

Tên Thế chó chết này, không những cứ cuối giờ đi chân không vào trong phía buồng số 9; lại còn, cả trong giờ trực tối của cán bộ khác, y cũng vào xà lim. Có khi y vào nhà tắm đi cầu, rồi lại vờ ra cổng xà lim đóng cửa nghe “thình” một cái, xong lẳng lặng rút dép ra cầm tay, rón rén đi trở vào phía buồng số 9. Thái độ của y nhớn nhác, lấm lét, quả “cà chua” chín ở giữa mặt y dạo này hình như càng to ra và không còn mọng như 4 năm trước; trái lại, bắt đầu sần sùi dưới cặp mắt lươn nhấp nháy, và đôi mắt dầy xám ngoét như hai miếng thịt trâu xào với rau muống. Trông y thật buồn cho con mắt. Ấy thế mà xem ý ra, hai cô số 9 lại…chịu đấy!? Thế mới biết, hai thứ tiền và quyền mãnh lực cũng ghê gớm thật!?

Có nhiều buổi tối, tôi đã nghe thấy những tiếng thì thầm; và thậm chí, hai cô còn được mang thau vào nhà tắm nữa. Tôi biết, hai cô đã lợi dụng tên Thế, để vào nhà tắm làm vệ sinh phụ nữ, tắm rửa, hoặc lấy nước vào buồng. Hai cô có hai cái thau men rất đẹp.

Mùa đã vào Hè, trời ngày, càng nóng, nhất là ở xà lim. Tôi cởi trần mặc quần đùi, mồi hôi vẫn nhớp nháp khó chịu. Vì vậy, thường khoảng 9 giờ tối, trước khi đóng bộ đi ngủ, bao giờ tôi cũng phải … “tắm” một cái cho hết mồ hôi. Đã có kinh nghiệm nhiều, cho nên, khi trả bát buổi chiều, cầm gáo dừa đển thùng nước, tôi uống no ngay tại chỗ. Rồi múc một gáo, để cẩn thận trong một góc sàn. Tới 9 giờ, đợi và nghe ngóng không có tên cán bộ nào lai vãng, ra vào, tôi tụt quần ra … “tắm”. Với một gáo nước (để uống) và một miếng giẻ (thay khăn mặt), tôi “gội” ướt cả đầu, và lau suốt cả người. “Tắm” xong, cũng cảm thấy người mát mẻ, nhẹ nhàng dễ chịu hơn, và khoan khoái “đóng bộ” đi ngủ.

Ở xà lim lâu, tôi đã biết là khi hết giờ hành chính, không bao giờ tù lại được mở cửa cho ra ngoài, trừ trường hợp đặc biệt, có lệnh của Ban Giám Thị. Ở đây, cả hai cô buồng số 6 đều được ra vào. Nhưng có điều, tuy đi ra, đi vào giữa bàn trực với trong buồng, tên Thế và hai cô đểu phải đi chân đất, như vậy, là họ cố ý giấu không cho các buồng biết. Cao hơn nữa, các cô có thể nhờ tên Thế ra phố liên lạc với gia đình, hoặc mua bán những thứ cần thiết. Điều này là rất nghiêm trọng đối với một bị can còn đang trong thời gian khai thác, kể cả về chính trị hay hình sự. Sau khi tên “nằm vùng” số 7 chuyển đi rồi, tên Thế càng ngày càng ngang nhiên hơn; hầu như không tối nào không có mặt y, thì thầm to nhỏ ở trong buồng số 9. Mới đầu, tôi tưởng các cô là nhân vật này, nhân vật kia thế nào đó, tôi mới quan tâm, muốn tìm hiểu. Bây giờ, thấy các cô như thế, tôi cũng chả muốn để ý làm gì.

Còn tên Thế, tuy giữa cá nhân với cá nhân, tôi không ưa nó; nhưng, trong việc này, về khía cạnh khác, y là loại người xấu của xã hội (bất cứ một tổ chức, hay một nhà nước nào đứng đắn cũng không bao giờ dùng những loại cán bộ như tên Thế). Nhưng, riêng trong trường hợp này đối với tôi y lại rất… “tốt”. Tôi mong y tiến tới nữa; và, nếu có điều kiện, tôi còn “ủng hộ” hoặc che giấu cho y.

Vậy mà y chả hiểu cho lòng tôi ủng hộ y. Ngay buổi sáng hôm sau, y xuống trại thợ gọi anh thợ cắt tóc lên xà lim. Y mở cửa từng buồng, bắt ra cắt tóc. “Tông đơ” điện, giũi một cái đầu chỉ 2 phút, kể cả râu. Tôi để ý, những buồng khác tên Thế thường để tên tù “thợ” cắt theo kiểu cũ, chỉ có cắt cao lên thôi. Riêng đến lượt tôi, chẳng biết nghĩ thế nào, y lại bảo anh thợ cắt tóc hãy giũi trọc đầu tôi. Tôi phản đối, y cười đểu nói:

– Mùa hè, cho nó mát!

Tên thợ húi tóc phải theo lệnh, nên sau một lúc, tôi sờ tay lên đầu, như đầu sư cụ! Thật là giận tím ruột, bầm gan! Có thể tên Thế cũng biết tôi tù đã lâu và bây giờ không còn đi cung nữa, cho nên y mới dám làm như vậy.

Về buồng, tôi soi mặt vào “gương”, gáo đựng nước và bô khi có nước giải là hai cái “gương” của xà lim, trông mặt thật là ngáo! Thằng chó chết, thật hèn hạ, ỷ có quyền nên hành tôi những điều vặt vãnh.

Một buổi, các cô buồng số 9 ra sân chơi; trong buồng tôi cũng đang đi bách bộ. Tôi cứ đếm vừa đúng 8 bước là một vòng trong cái khung giữa hai sàn. Đầu óc thì vẩn vơ chơi vơi, thỉnh thoảng lại đưa mắt ra nhìn lên cây bàng.

Có nhìn cây bàng mới thấy thời gian đi vùn vụt. Những trái bàng, từng chùm, từng chùm thật đẫy đà lốm đốm những quả chín vàng hoe. Sân xà lim cũng đã lác đác những quả bàng chín lìa cành về với cội. Hết giai đoạn thở hít mùi hoa bàng, lại đếm thời gian ngụp lặn trong hương bàng chín. Chân tôi vẫn bước đều, óc tôi vẫn chảy dài về đâu đâu, đột nhiên, tôi thấy từ cái lỗ ở dưới nền chỗ sát chân tường, thông nước ra cái rãnh phía bên ngoài sân xà lim, có mấy quả bàng chín được đẩy vào buồng tôi. Ngồi thụp xuống, tôi chộp lấy cái que chổi thanh hao đang từ ngoài thọc vào. Bên ngoài, kéo ra, trong này tôi kéo mạnh vào. Tôi nghe bên ngoài hai cô cười rúc rích. Thì ra hai cô buồng số 9 nghịch ngợm, muốn phá tôi cho đỡ buồn. Lúc trở vào, hai ngang qua buồng tôi, các cô đã “dám” liều lĩnh gõ “cạch, cạch” hai tiếng vào cánh cửa buồng tôi. Chỉ có một người gõ cửa, không biết cô nào đây?

Sáng hôm sau, người mở các buồng lại là tên Dư. Y đã về! Khi y mở tới buồng tôi, tôi thật mừng rỡ, nói nhỏ đủ y nghe:

– Ông mới về?

Chỉ là một câu hỏi đơn giản như vậy, nhưng đã thể hiện tràn ngập nỗi hân hoan. Y gật gật đầu, mồm nhếch một nụ cười, mắt cứ nhìn lên đầu tôi.

Lúc tôi ở nhà tắm đổ bô về, từ bàn trực, tên Dư đứng dậy, đi vào hẳn trong buồng tôi. Đặt một tấm mía và một chiếc bánh nếp lên chiếc chiếu của tôi, y nói nhỏ, giọng tình cảm:

– Quà nhà quê đấy!

Của cho không bằng cách cho. Tôi thật cảm động. Tôi cũng không hiểu từ nguyên nhân nào, y lại đối xử với tôi như vậy. Có lẽ, một phần do y trông coi tôi đã lâu ngày, thấy được ít nhiều tính nết của tôi, nên y mới dám làm vậy. Nếu tôi thiếu ý thức, khi gặp chấp pháp, hay quản giáo khác khoe, kể lại chuyện quà cáp này, y sẽ bị kiểm điểm nặng. Nhưng với tôi, vì người ân, mình phải có ý thức, thà chết đừng hòng tôi kể lại những chuyện như vậy.

Tên Dư chỉ tay lên đầu tôi giọng thân mật:

– Đầu anh làm sao lại cắt trọc như vậy?

Chẳng muốn tình tiết làm gì, nên tôi trả lời cho qua:

– Mùa Hè, cắt như vậy cho nó mát!

Tôi chợt nhớ lại và mỉm cười, vô tình tôi đã nhắc lại đúng câu nói của tên Thế. Tôi hỏi tiếp:

– Thưa ông, gia đình nhà khỏe cả?

Y chậm rãi:

– Mấy đứa chúng nó đi nghĩa vụ hết, chỉ còn mình nhà tôi ở nhà. Cỏ mọc đầy sân, tôi về gần một tháng, chỉ suốt ngày làm cỏ với cuốc vườn.

– Thưa ông, vườn nhà có rộng không ạ?

– Có chết đâu mà rộng. Được có 5 phần trăm đất dành cho “cải thiện” gia đình, còn là của hợp tác xã hết.

Qua cách nói chuyện, tôi thấy y thật là một người nông dân chất phác, lại quê mùa nữa. Tất nhiên, cũng chả phải người tù nào, y cũng đối xử như vậy.

Gần hết giờ làm việc, y vào buồng số 10 và 14 mắng thậm tệ, vì khi y đi vắng hai buồng này đã phạm nội quy.

Buổi tối hôm ấy, tôi cũng thoáng nghe tiếng chân người đi rất nhẹ. Chắc lại là tên Thế mò vào buồng số 9. Không hiểu sao, dạo này ít thấy y vào? Nhưng, mọi khi phải đến 9, 10 giờ tối y mới mò vào, bây giờ mới khoảng 8 giờ? Nghĩ vậy, tôi cúi xuống xem sao. Bàn chân cũng tụt dép ra, nhưng lại rất to và thô. Không phải tên Thế. Nhưng tôi cũng không thể đoán ra bàn chân của tên quản giáo nào? Vậy mà, sao cũng phải tụt dép ra làm gì? Càng nghĩ, tôi càng thắc mắc, và óc tò mò của tôi lại càng được khích thích hơn. Để cho sáng tỏ vấn đề, tôi cố theo dõi, lắng nghe. Rất lâu, cũng không có âm thanh gì đặc biệt cả…

Mãi tới hơn 9 giờ, mới lại thấy đôi bàn chân dép đó, rón rén đi ra. Chắc phải ra tới chỗ bàn trực rồi mới dám xỏ dép. Tôi nghe thấy bước chân ra tới gần cổng, tôi dùng phương pháp “ngửa mặt” để quan sát. Tôi giật thót người lại! Người đi lén lút đó là tên Trì, Thượng Úy Phó Giám Thị. Người y như lực điền, cái mặt to tướng, đầy thịt, đôi mắt đỏ như mắt cá rói, với hàng lông mi rậm rì. Y vào buồng số 9 để làm gì? Trông y cũng đầy vẻ hảo ngọt.

Rồi từ đấy, tên Trì ra vào liên tục. Còn tên Thế? Tuyệt nhiên không dám bén mảng gì đến xà lim I nữa. Và, cho đến sau này, tôi cũng không gặp tên Thế ở Hỏa Lò, chẳng hiểu vì sao. Nhiều lần tôi muốn hỏi tên Dư về buồng số 9, nhưng lần nào cũng không dám. Tôi biết y sẽ không trả lời và có thể còn đánh giá là tôi đã lợi dụng tình cảm của y để làm tới. Cuối cùng, vào một buổi tối, sau khi xác định chắc chắn không có tên cán bộ nào, tôi đành lên tiếng gọi:

– Số 12 gọi số 7 nè! Số 7 khỏe không?

Ở buồng số 7 tên nằm vùng đã đi ra rồi, chỉ còn lại một anh cao cao, cho nên tôi gọi chào chơi, mục đích là để sau đó bắt chuyện với buồng số 9. Tôi không thấy số 7 trả lời, mà lại có tiếng số 9, nghe trong trẻo như tiếng khánh chạm nhau:

– Anh 12 khỏe không?

Mắt vẩn không rời mép trên cánh cửa cổng, tôi trả lời:

– Cám ơn, khỏe! Số 9 ở Hà Nội phải không?

Hai tiếng cười rúc rích:

– Hà Nội!

Tôi hỏi tiếp:

– Tội gì thế?

– “Dạt vòm ngoại!” Còn anh, tôi đã biết rồi nhé!

Hơi choáng người, cô này nói đùa hay nói thật đây? “Dạt vòm ngoại” là gì? Nếu hỏi lại, thì chứng tỏ mình “cà quỷnh”; mà không hỏi thì không biết. Nhưng các cô trả lời với tôi kiểu như vậy, tôi đoán ngay là các cô không biết thực về tôi. Nếu thực biết tôi ở miền Nam ra, các cô sẽ không dùng tiếng “lóng” đó với tôi, làm sao tôi hiểu được? Nghĩ thế, tôi hỏi một câu nữa dò dẫm:

– Ở ngoài số 9 làm gì?

Một giọng cười ré lên ngặt nghẽo:

– Văn Công Trung Ương!

Á, thảo nào! Vừa lúc đó, cánh cổng xà lim hé rộng ra, tôi ngồi thụt xuống. Số 9 cũng im bặt. Thì ra, các cô cũng canh cổng. Có người vào tắm giặt ở trong nhà tắm xà lim.

Số 9 là văn công Trung Ương, không trách được đẹp thế! Còn tội “dạt vòm ngoại” là thế nào? Chợt nghĩ đển anh Nguyễn Lân, số 4, tôi khạc hai tiếng gọi anh. Sau khi tôi hỏi bằng cách viết chữ vì cán bộ trong nhà tắm tôi không lên tiếng được, vả lại cũng chẳng muốn số 9 biết mình “tồ”. Anh Lân cho biết là cũng giống tội của anh, nghĩa là “chạy ra nước ngoài”.

  Mãi gần 10 giờ, người trong nhà tắm mới ra. Tôi nghe tiếng thau để nhẹ xuống nền nhà, chắc hẳn là nữ rồi. Tò mò, tôi khẽ đứng lên nhìn xem thử mụ Hoa, mụ Thơ hay mụ Dậu? Tôi thót người, nhìn theo sau lưng một cô gái thật trẻ, đang cắp một cái thau men màu xanh đậm. Mái tóc cô thật dài, buông xõa phía sau vai xuống đến ngang…mông. Cô gái này lạ hoắc, tôi chưa trông thấy bao giờ. Tôi cứ nhìn theo mãi, cho tới khi cô ấy ra khuất ngoài sân trại chung. Rất tiếc, tôi chỉ nhìn được phía sau lưng, chả biết mặt mũi cô ra sao. Nhưng, cô có một thân hình đang độ căng đầy

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Bí mật về nữ sĩ Thụy An!…  Đào Thị Bắc rời Hỏa Lò!

Đặng Chí Bình

Bài 24

Thấm thoát thời gian lại sắp tới Hè, nhìn những chiếc lá bàng mới hôm nào, chỉ nhú một một nhúm màu xanh xanh ở những đầu cành, thế mà giờ đây đã căng tròn màu con gái, ngày ngày đón ánh mặt trời để khoe hương với gió, để lắc lư, lả lơi với đời. Mấy con sẻ lạc đàn đa tình cứ rúc mãi vào những chùm lá. Những chiếc cánh nho nhỏ khỏa đập làm những chiếc lá non rung rinh. Vài sợi tơ trời, bồng bềnh vắt ngang sân xà lim. Lóng lánh màu vàng óng của nắng, như muốn cuốn buộc, níu kéo nàng Xuân sắp từ giã khung trời này để về một phương trời khác. Một cơn gió thoảng nhẹ đẩy mùi hương cuối Xuân vào trong buồng. Tự nhiên ngực tôi cao dần, mũi tôi cong lên, hít sâu mãi vào cho đầy ắp, cái hương ngầy ngậy của chiều Xuân gần tàn.

Một tiếng động mạnh vào cánh cổng xà lim làm tôi giật mình. Cánh cổng từ từ mở to, tôi vội vàng ngồi thụp xuống, lòng hãy còn lâng lâng luyến tiếc bẩu trời cuối Xuân. Những tiếng bước chân lẹp xẹp đi qua sân xà lim. Bất chợt vang lên một câu: “turn right here” của một người Việt nói tiếng Anh làm tai tôi vểnh lên nghe ngóng. Không một tiếng nói nào khác nữa, chỉ có những tiếng bước chân đi dần về phía buồng tôi, rồi tiếng mở cửa buồng số 10. Buồng 10 ngay cạnh buống tôi. Hẳn phải là người ngoại quốc! Ngoại quốc mà phải vào xà lim lúc này, chạy đằng trời cũng chỉ là Mỹ. Tôi yên lặng nghe ngóng. Tôi chỉ nghe được giọng người Việt lúc nãy, cái gì cũng bằng tiếng Anh, nhưng rất nhỏ, nghe tiếng được, tiếng mất. Không hề nghe tiếng đáp lại của ai.

Tôi đang đứng đờ người, vận dụng mọi giác quan để theo dõi, đột nhiên cửa sổ nhỏ buồng tôi bật mở khiến tôi giật thót người lại. Tên Dư, y trỏ một ngón tay vào ngoay ngoáy, miệng nói:

– Anh dọn hết đồ của anh lại, chuyển buồng!

Tôi vừa vơ gọn chăn chiếu và một số thứ lặt vặt, vừa ngẩn ngơ tiếc nuối lo lắng, không biết bây giờ chúng chuyển tôi đi đâu. Vừa xa chị Bắc, vừa không còn điều kiện để nhìn thấy người ngoại quốc (chắc cũng vì người ngoại quốc này tôi mới phải chuyển buồng vào dẫy trong, hoặc xà lim khác?), và một điều to lớn khác… mất nguồn tiếp tế hàng ngày.

Khi tên Dư mở cửa buồng, tôi nhìn y như luyến tiếc mà có lẽ tôi có thiện cảm nhất ở Hỏa Lò, bên phía kẻ thù. Tôi ra khỏi buồng với một tâm trạng bâng khuâng. Lại thấy y mở buồng số 12! Lòng tôi ngúng nguẩy mừng vui, như vừa đánh mất một món tiền, lại tìm thấy được. Như vậy, chúng chỉ sợ tôi ở cạnh buồng số 10 thôi. Ở buồng số 12 này, tất cả những điều kiện thuận lợi, tôi tưởng mất, vẫn còn.

Tôi loay hoay quét dọn lại sạch sẽ căn buồng. Chợt, tôi nhìn thấy trên tường, chỗ gần phía cùm, có mấy dòng chữ khắc sâu vào tường:

Tại nơi này, tôi đã dùng đũa chọc, hủy bỏ một con mắt của tôi, để phản đối chế độ Cộng Sản độc tài phi nhân đàn áp dã man văn nghệ sĩ.

“Thụy An: Lưu Thị Yến”

Tôi mần mò mãi mới đọc được hết những giòng trên. Phần vì bóng của chiếc cùm làm tối đi; phần khác, vì lâu ngày đã quét thêm một lớp vôi (cũng may, giòng chữ lúc khắc khá sâu, nên lớp vôi không lấp hết được). Nhưng, nếu ai vào buồng chỉ đứng nhìn cái cùm, vô tình sẽ không nhìn thấy giòng chữ viết ở chỗ hơi khuất này.

Tôi lại càng tò mò, nhìn tìm khắp chung quanh bốn bức tường, cả những chỗ khuất để xem, may ra còn thấy gì khác nữa không, trong khi óc tôi lần giở lại dòng thời gian xa xưa…Khi đó, tôi còn ở miền Nam, có lần tôi được đọc trên tờ nhật báo Tự Do, thiên phóng sự “Bên Kia Bức Màn Sắt” của ông Hoàng Hải Thủy, trong đó có nói đến cuộc đời tình cảm, cũng như sự nghiệp của nữ sĩ Thụy An. Mối tình của bà có liên quan đến Hoàng Quốc Việt. Theo ông Hoàng Hải Thủy, Hoàng Quốc Việt là tên điệp viên số một của miền Bắc. Hiện, y là chủ tịch Tổng Công Đoàn. Y là một trong 5 tên đầu sỏ. Những ngày lang thang đây đó trên miền Bắc, tôi thường thấy một cái khung 5 tấm hình, được treo mọi nơi: ở những cổng chào, ở những cơ quan khắp các tỉnh trên miền Bắc. Chính giữa là cáo Hồ, sát hai bên là Trường Chinh và Phạm Văn Đồng, hai bên ngoài nữa là Võ Nguyên Giáp và Hoàng Quốc Việt.

Như vậy, nữ sĩ Thụy An đã bị giam ở buồng này. Bây giờ, không biết bà ở đâu? Đã chết hay còn sống ở trại nào?…Chẳng hiểu sao, tôi cứ hình dung tưởng tượng nữ sĩ Thụy An chắc là đẹp lắm. (Sau này, khi đi trại trung ương, tôi được gặp nhiều nhân vật trong đó có Thụy An, Nguyễn Văn Tiến, Tôn Thất Tần, Lý Cà Sa, Nguyễn Chí Thiện, v.v… với biết bao nhiêu vấn đề. Lúc đó, tôi mới có điều kiện để hiểu cụ thể về nhiều sự việc).

Chiều hôm ấy, lại thấy đưa một người ngoại quốc nữa vào buồng số 8. Vì có hai người ngoại quốc, nên dạo này có nhiều cán bộ ra vào xà lim. Đa số là cán bộ lạ! Qua những ngày trước đây, tôi đã thấy buồng số 7 giam hai người: một người gầy, cao, chừng 35 tuổi, nước da bánh mật; còn người kia tầm thước, khoảng 30 tuổi, đặc biệt có hai con mắt lồi ra ngoài như hai con mắt cá vàng. Anh cao đi cung thường xuyên. Anh mắt lồi thỉnh thoảng mới đi. Nhưng, đặc biệt, nhiều lần anh cao đi rồi; anh mắt lồi mới được gọi, và…lại về trước. Vậy, anh cao không thể biết anh mắt lồi có đi cung, nếu anh này muốn giấu.

Thấy hiện tượng lạ, nên tôi đặt vấn đề. Đã đặt thành vấn đề, tất nhiên, phải để ý theo dõi, nghe ngóng với điều kiện có thể được của tôi. Đã hai lần, khi anh cao đi cung rồi, tên Dư mở cửa buồng số 7 gọi anh mắt lồi ra. Chừng nửa giờ sau, tôi thấy anh mắt lồi ôm một vốc vỏ chuối, lá bánh và giấy báo vụn ra ngoài phía cổng xà lim, một lúc sau mới trở vào. Từ đó, tôi đã có thể tạm kết luận: tù ra khỏi cổng xà lim phải có cán bộ đi theo; ở đây, hắn đi một mình. Qua việc này, tôi lại hiểu thêm là, chỗ bàn trực của tên Dư có một cái tủ nhỏ, không chỉ để đựng giấy tờ, hồ sơ, mà còn là chỗ để thức ăn, bánh trái. Đã biết về tên mắt lồi như vậy, nên tôi không bao giờ lên tiếng nói chuyện với các buồng khác. Nhất là đối với những người ngoại quốc mới vào. Nhưng, vì tính tò mò, tôi cũng quyết sẽ gọi thử hai buồng 10 và 8 khi nào điều kiện cho phép để tôi nói chuyện, may ra biết được tí chút, dù tiếng Anh của tôi chỉ thuộc loại cóc kêu.

Hai ngày sau, khoảng nửa đêm, tôi đang ngủ bỗng giật mình, nghe như có tiếng gấu kêu ở trong rừng. Tôi mở mắt, bò dậy, vểnh tai nghe. Thì ra, tiếng buồng số 10… khóc! Phải nói, đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy tiếng một người đàn ông Mỹ khóc. Nghe ồng ộc, hô hố, rất lạ tai. Mới thoáng nghe, tiếng khóc y hệt tiếng người Da Đỏ hát ở trên… màn ảnh mà tôi vẫn thường coi trước đây. Mãi một lúc sau, vì có tiếng nấc và tiếng xụt xịt tôi mới biết đó là tiếng khóc. Sau đó, bỗng một tiếng khóc khác lại ư ử rúc lên ở buồng số 8. Có lẽ vì nghe thấy buồng 10 khóc, vì đồng cảnh, lại là đồng bào, nên cũng chạnh lòng dào dạt nguồn cơn…

Tôi hiểu, hai anh ở Mỹ sướng quen rồi, bây giờ phải ở cảnh này. Đìu hiu, tịch mịch, hoang vắng như nghĩa địa tha ma suốt đêm ngày, bảo sao không buồn. Đấy là các anh không bị cùm, nếu cùm như chúng tôi, chắc các anh chả chịu nổi đâu.

Tôi đã biết chắc các anh là phi công Mỹ. Vì sáng hôm qua, khi gọi buồng số 10 đi cung, tôi đã liều đứng lên quan sát theo kiểu của tôi. Tôi đã thấy một anh mặc bộ đồ sọc màu đỏ sậm như của tôi. Vì cao lêu nghêu nên đầu của anh gần sát xà trên, của cổng xà lim. Anh đang nói và chỉ trỏ ra sân trại chung với tên cán bộ lạ mặc quần áo thường dân. Anh số 10 có bộ mặt dữ tướng. Bộ râu quai nón như chổi xể càng làm cho đôi mắt anh xanh thêm. Người trông như vậy, mặt như thế mà lại… khóc. Dù trong lòng rất thông cảm và tội nghiệp cho anh, nhưng cứ tưởng tượng ra nét mặt anh khi khóc, tôi cũng phải mỉm cười một mình.

Tôi cũng đã thấy mỗi ngày hai lần, một tên cán bộ dẫn một anh tù hình sự bê hai tay hai cái đĩa to, trên mỗi đĩa thường có khúc bánh mì, một quả chuối và một miếng thịt to bằng ba đốt ngón tay. Nhìn khẩu phần ăn của phi công Mỹ, tôi đã phải đăm chiêu suy nghĩ. Đời là thế! Con nhà giầu bao giờ cũng hơn. Người dân của nước lớn, dù thế nào chăng nữa, dù ai có hô bình đẳng dân chủ đến rách mép, vẫn cứ hơn người dân một nước nhỏ.

Rất nhiều vấn đề, trên cõi đời này, nói là một việc, nhưng trong thực tế lại là một việc khác, hoàn toàn không giống nhau. Nhưng, đã bảo “đời là thế”, thì còn nghĩ suy làm quái gì cho mệt óc. Thôi, hãy trở về với xà lim.

Bởi ánh nắng, những chiếc lá bàng thời kỳ con gái từ màu lá chuối non, nay đã đổi thành màu xanh thẫm. Những chùm hoa nho nhỏ đã bắt đầu xuất hiện. Hàng ngày, những trận nồm Nam thổi bay rắc tứ tung đầy sân những cánh hoa bàng vàng hoe bé tí. Thật cũng lạ, cây bàng to như vậy, mà bông lại bé tí teo! Cứ hai ngày, tên Dư lại mở cửa buống cho tôi ra quét sân một lần. Chỉ quét hoa bàng mà mỗi lần cũng hốt được cả thúng. Nhiều lúc tay tôi vốc từng vốc hoa vàng ngạt ngào hương sắc bỏ vào sọt, tôi tưởng tượng nếu không phải là tù, được sống trong cảnh này thôi, cũng tuyệt rồi! Những khi quét sân, thỉnh thoảng lúc tên Dư cúi xuống bàn hí hoáy viết, tôi lại liếc nhẹ về phía buồng số 10, mong anh phi công đứng lên để nhìn một cái cho đời đỡ tê. Tôi liếc hoài, mà khung cửa sổ của anh vẫn là màn ảnh trống trơn mãi chả thấy nổi hình.

Tôi biết anh nhớ quê hương, nhớ gia đình, anh buồn nhiều lắm. Nhưng, suốt ngày cứ ngồi gục trong căn buồng nhỏ đó để mà suy nghĩ, anh cũng chẳng giải quyết được gì hơn. Hãy thỉnh thoảng đứng lên, ngắm thiên nhiên, thả hồn bay bổng với trời mây, hoa lá…Anh bạn chiến hữu ơi! Tôi cũng hiểu, trước khi tụi chúng đưa anh vào xà lim, chúng cũng bắt các anh học thuộc nội quy xà lim rồi. Nhưng, học là một chuyện, vì đấy là ý của chúng. Chúng ta vẫn còn phải có ý của chúng ta nữa chứ!

Mấy hôm trước, hai đêm liền máy bay Mỹ xâm nhập bầu trời Hà Nội. Tôi đã được thưởng thức nhiều trận mà tôi gọi là hội hoa đăng. Tôi dám bảo đảm từ xưa đến giờ, chưa có ai tổ chức được một đêm hoa đăng sinh động và vĩ đại như vậy.

Tối nay, tôi đi ngủ sớm để đến đêm, nếu có mở hội, tôi còn thức mà tham gia. Chợt, nghe tiếng cán bộ vào mở cửa buồng số 6: buồng của chị Bắc. Tôi vội cúi xuống sát nền, nhìn qua khẽ cửa, thấy chỉ có một cán bộ. Nhìn đôi dép râu, tôi chưa thể phán đoán được là tên cán bộ nào thì chị Bắc đã đi ra. Tôi hồi hộp và thấy lòng bâng khuâng, vì chị Bắc ôm hết chăn màn đi. Như vậy, là chuyển buồng? Chuyển xà lim? Hay chuyển trại?…

Khi hai người ra tới sân xà lim, tôi lắng nghe và tính qua tiếng bước chân, khi ra gần tới cổng xà lim, tôi mới dám đứng dậy. Lúc này, nếu tên cán bộ nó quay hẳn người lại, y mới nhìn thấy tôi. Nhưng nếu muốn quay như vậy, qua những động tác của cơ thể trước khi xoay người, tôi có thể biết trước được. Hơn nữa, quay hẳn người lại 180 độ như vậy nhanh nhất cũng phải 1 phần 10 giây, thời gian này cũng đủ để tôi thụp người ngồi xuống. Chẳng ai xa lạ, chính là tên Thế “mũi cà chua”. Thảo nào, y vào lúc nào tôi cũng không hay, tên này quái lắm!

Nhìn hình ảnh chị Bắc mặc chiếc áo cánh nâu, đầu đội chiếc khăn vuông mầu xanh nhạt, hai tay túm ôm bọc chăn màn khệ nệ, ì ạch, tập tễnh bước ra khỏi cổng xà lim, lòng tôi bồi hồi, xót xa thương cảm. Như vậy là chị Bắc đã chuyển khỏi xà lim này rồi! Chúng sẽ đưa chị đi đâu? Qua xà lim khác của Hỏa Lò? Hay đi trại trung ương?… Đó, cũng là hình ảnh cuối cùng của chị Bắc mà tôi nhìn thấy; để rồi, không còn bao giờ, dù nghe một ai nói về chị.

Lúc bấy giờ, trời đã bắt đầu vào Hè, năm 1966; và như vậy, chị Bắc đã ở xà lim I này được 6 tháng.

Hai anh phi công Mỹ, càng về sau càng khóc nhiều, cứ vào lúc đêm khuya. Có nhiều đêm, tiếng khóc của hai anh cũng làm tôi chạnh lòng nhớ nhà. Khiến tôi cũng bị lôi cuốn vào vòng bồi hồi thổn thức. Tôi không muốn nghe hai anh khóc nữa. Tôi vẫn còn những nóng nảy, bực bội của tuổi trẻ, nên đã không dằn được, tôi quát lên:

– Don’t cry anymore!

Cả hai anh đều im bặt tiếng khóc, có lẽ các anh tưởng tên cán bộ nào quát! Quát các anh xong, các anh im lặng, tôi lại thấy buồn cười, xen lẫn một chút ân hận. Các anh có biết không, tôi rất thích nói chuyện với các anh. Dù sao, cuộc đời của các anh và tôi đã có một khoảng thời gian cùng thở hít một bầu không khí của Hỏa Lò mà các anh vẫn gọi là “Khách sạn Hilton” đó! Cùng chung một kỷ niệm, chúng ta dễ trở thành bạn lắm chứ, phải không các chiến hữu? Sở dĩ, tôi phải nghĩ và nói với các anh nhiều, bởi vì, trong đáy lòng tôi, tôi vẫn ngưỡng mộ và biết ơn các anh đã chiến đấu cho quê hương tôi, một đất nước mà người dân quá khổ cực, lầm than này.

Thật là nhanh, mới hơn một tuần lễ, từ những chùm lá bàng sum suê đã nhú ra những cụm quả xanh bé tí; chỉ vài ngày không nhìn, lúc xem lại, đã thấy quả to gần gấp đôi rồi. Thậm chí, tôi có cảm tưởng là tôi nhìn thấy những quả bàng lớn dần từng giờ, to dần theo sức nóng của mùa Hè.

Hè năm nay cũng thật lạ, chẳng thấy chú ve sầu kêu? Chẳng biết các chú đi đâu, hay năm nay đặc biệt ngủ muộn! À, phải rồi, có lẽ những tiếng đạn rơi, bom nổ như rung chuyển trời đất của loài người đã làm cho các chú giận, hay sợ, bỏ đi nơi khác, để ngủ yên một giấc dài Đông Xuân chăng? Chứ làm sao giải đáp được là, năm nay tôi chả nghe thấy những tiếng vi vu rền rĩ của bản nhạc cộng đồng vĩ đại của dân tộc các chú tấu lên: ”điệu nhạc trưa Hè” hàng năm!

Chỉ khoảng mười ngày sau, cả hai anh phi công Mỹ đã được ra trại chung. Rất tiếc, tôi chưa tìm được dịp nào hỏi chuyện các anh. Tôi chỉ đoán, việc các anh phải vào xà lim có thể là vì khi ở ngoài trại chung, các anh quen tính ngang tàng của người hùng, trong thế giới tự do mà tôi vẫn nhìn thấy trên các phim ảnh, nên đã tỏ chí khí quật cường bất khuất với tụi Cộng Sản. Nhưng, các bạn cũng như tôi, chỉ biết chuẩn bị đương đầu với dao búa, súng đạn mà đã không biết và không ngờ, là kẻ thù của chúng ta lại khốn nạn và ti tiện túm ngay cái huyệt của con người để chi phối. Đó là cái dạ dày của chúng ta! Chúng hèn thật, nhưng cũng phải công nhận một điều là cái hèn đó của chúng đã từng làm cho những quái kiệt anh hùng, ba đầu sáu tay, đã từng ăn gan Cộng Sản phải chịu phép một bề; hoàn toàn ngoan ngoãn theo sự chỉ huy của chúng!

Hai anh phi công Mỹ ở buồng số 10 và số 8 ra trại chung vào buổi sáng, thì ngay buổi chiều hôm ấy, tôi nghe có những tiếng léo nhéo báo cáo. Qua đó, tôi biết được là chúng đưa vào buồng số 9 hai …cô gái.

Từ ngày chị Bắc đi, tôi cũng thấy buồn. Vừa vắng một người bạn đồng chí, đồng nghiệp, vừa mất một nguồn “chi viện” quan trọng cho cuộc sống hàng ngày. Cái bụng đã quen được hưởng thêm tiêu chuẩn, bây giờ phải trở về mức cũ một cách đột ngột, cái mức chỉ đáp ứng được 1/3 số lượng dạ dày mong muốn hàng bữa. Vì vậy, ít ngày sau, tôi phải bắt buộc áp dụng lại cái phương pháp…nhịn buổi sáng, để dành buổi chiều ăn hai khẩu phần vào một, và chỉ hai ngày thứ Ba và thứ Sáu mỗi tuần. Vì mải lo cho cái ăn, nên có một số người vào, tôi chả đôn đáo nép chỗ này, ngó chỗ kia để tò mò tìm hiểu về người mới tới như mọi khi.

Chiều hôm nay, sau khi các buồng đã trả bát xong, tự nhiên tên Dư vào mở cửa buồng tôi. Vẫn bằng giọng nói nho nhỏ, nhưng hôm nay có vẻ tình cảm hơn:

– Anh đi ra bàn tôi gặp!

Khi tôi đã ngồi ghế đâu đấy, y tỏ vẻ thân mật:

– Ngày mai, tôi nghỉ phép hàng năm, sẽ có cán bộ khác đến thay. Vậy, anh phải nhớ lời tôi: trong thời gian tôi không có mặt ở xà lim, anh đừng để cho cán bộ nào bắt được anh vi phạm nội quy. Nếu tôi về, nghe các đồng chí phản ảnh, anh đừng trách tôi!

Qua câu dặn dò ân cần của y, tôi thấy y cũng thừa hiểu “típ” người như tôi hay tò mò, sục sạo; chỉ có điều y chưa bắt được tôi tại trận, hoặc là y biết nhưng lờ đi, không muốn bắt. Nhưng dù thế nào, tôi cũng không thể phủ nhận là y có thiện cảm với tôi. Thực vậy, theo nguyên tắc, chả có một tên cán bộ nào lại gọi tù trong xà lim ra bảo mình sắp đi phép cả, lại còn dặn dò điều này, điều nọ. Nghĩ như vậy, nên tôi cũng tươi nét mặt:

– Ông về phép ở đâu?

– Về quê.

– Quê ông ở đâu ạ?

– Hà Nam.

– Ông cho tôi gửi lời thăm hỏi và chào mừng gia đình!

Y có vẻ xúc động, đầu chóp mũi y đỏ lên rồi rung rung, mắt y nhìn tôi đăm đăm và gật gật đầu. Thấy thời cơ thuận lợi, tôi hỏi luôn một vấn đề thắc mắc trong lòng mà chưa có dịp:

– Thưa ông, hôm nọ có một ông đi với ông Trì và ông Lê vào buồng thăm tôi, ông biết là ai không?

Y hơi ngập ngừng, nhìn tôi một lúc, rồi nói chậm rãi:

– Ông Nguyễn Văn Long, giám đốc sở Công An Hà Hội.

À , ra thế! Thảo nào hai tên Trì và Lê nể sợ là phải. Tên Long này còn là đại tá, thường vụ Thành Ủy Thủ Đô của cả nước xã hội chủ nghĩa này nữa đấy. Trên đài truyền thanh Hà Nội, tôi vẫn thường xuyên nghe nói nhiều về y.

Sau khi trả lời tôi câu này, hình như tên Dư cảm thấy rằng y đã nói hơi nhiều; mà lại nói cả những điều không được phép nói; vì vậy y tỏ ý bảo tôi vào…

Kiều nương!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Vi Tiểu Bảo, nhân vật chính trong Lộc Ðỉnh Ký của Kim Dung, sinh ra tại Dương Châu, con của một kỹ nữ lầu xanh nên thất học, nhưng tình cờ run rủi được làm hoạn quan; dẫu bộ đồ nghề vẫn còn nguyên si; không bị thẻo để ngâm giấm như các hoạn quan khác; rồi làm bạn thân và được vua Khang Hi nhà Thanh sủng ái.

Lại tình cờ, gặp Tổng đà chủ Thiên Ðịa Hội vốn chủ trương ‘Phản Thanh phục Minh’ và Vi Tiểu Bảo đã tình nguyện trở thành điệp viên hai mang. Một mặt giúp triều đình, mặt khác giúp Thiên Ðịa Hội chống lại triều đình.

Khang Hi đánh hơi được cái trò lá mặt lá trái nầy nên bắt Vi Tiểu Bảo phải: “Tụi nó và ta ngươi chọn ai?”.

Vi Tiểu Bảo cuối cùng phải: Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng tức là dông; vì không muốn làm kẻ phản bội, bán đứng Thiên Ðịa Hội vốn phe mình.

(So với điệp viên VC hai mang Phạm Xuân Ẩn thì Ẩn chưa đáng xách dép cho Vi Tiểu Bảo về cái khoản yêu nước thương nòi.)

Vi Tiểu Bảo từng lăn lóc hai nơi gian trá nhất là kỹ viện và triều đình; nên về mặt khôn ngoan, giảo quyệt thì thiên hạ phải gọi Vi Tiểu Bảo là Sư phụ.

Mê gái đẹp, dại gái nên hay bị lừa; nhưng chưa từng nghĩ sẽ đòi tiền lại.

(Còn ngon hơn đại gia Cao Toàn Mỹ cứ chạy theo đòi tiền hoa hậu Trương Hồ Phương Nga hoài hè!)

Văn dốt vũ nát, (không cần bằng Tiến sĩ dỏm) hay nói tục chửi thề nhưng chửi đúng, chửi xối xả đứa nào đáng chửi.

Tuy vô lại, xuất thân từ phường chợ búa nhưng Vi Tiểu Bảo rất trọng nghĩa khí.

Vi Tiểu Bảo phơi phới tiến thân từ chốn lầu xanh lên hàng công tước triều đình nhà Thanh thời Khang Hi, tước vị: Nhất đẳng Lộc Ðỉnh Công kiêm Phủ Viễn Ðại tướng Quân.

Sở dĩ tui ôn cố tri tân như vậy để thấy rằng cái chủ nghĩa lý lịch không đáng một xu teng vì dẫu là con cháu các cụ cả, té ra cũng có đứa xuất thân từ phường vô lại…

Hồ Xuân Mãn

Còn bên Việt Nam, thời Pháp thuộc và ở Hà Nội, danh trấn giang hồ với khách yêu hoa đến hát ả đào là phố Khâm Thiên. Cô đầu xịn là kỹ nữ  biết ca hát, nhảy múa rất giống Geisha của Nhật Bản. Còn cô đầu rượu không biết ca hát mà chỉ biết rót rượu cho khách yêu hoa ngà ngà say, con lợn lòng trỗi dậy là em đem thân xác em làm cám xú cho bầy heo ục ục để em kiếm sống.

Chính vì lập lờ như vậy nên quan lớn mới bé cái lầm!

Hồ Xuân Mãn, ‘Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bí thư tỉnh Thừa Thiên’ sàm sỡ em tiếp viên nhà hàng nên bị em cho ăn một cái tát nổ đom đóm mắt.

Bài học rút ra là mặc dầu em là tiếp viên hầu rượu, muốn em hầu cái khác thì  phải hỏi em có ‘OK bum bum’ không?! Bằng xớn xả ôm hun cái chụt là bị em đục vô mặt thì ráng chịu nhe quan!

***

Có những nghề theo thời gian mai một dần đi rồi biến mất như nghề thắp đèn đường ở các thành phố bên Tây chẳng hạn. Nhưng có một nghề, dẫu xưa như trái đất, nhưng chắc chắn là khi nào còn con người trên trái đất là nó còn sống hùng, sống mạnh, sống phây phây; đó là nghề bán phấn buôn hương nếu nói một cách văn chương.

Thời phong kiến, còn chế độ nô lệ, buôn người, thì là: kỹ nữ, gái lầu xanh. Thời Pháp thuộc vì Tây rất thích nhảy đầm, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen thì là: cave (cavalière), là “gái nhảy”. Thời CS, trẻ đẹp như người mẫu, diễn viên mà làm nghề nầy thì là: “gái gọi”; vì em có iPhone 8 plus để khách gọi cho em.

“Em tính làm bồ nhí, vợ hờ, gái bao cho quan viên một thời gian khi nào mua được nhà lầu, xe ô tô thì sẽ hoàn lương lấy chồng”. He he!

Còn khi phấn lạt hương phai, ế dài dài chưa đủ tiền mua nhà lầu, xe hơi thì từ hàng cao cấp, kiều nữ sẽ dạt xuống gái ăn sương, hành nghề khi sương xuống lạnh. Rày đây mai đó, từ động nầy trôi qua động khác thì gọi là gái giang hồ…

Còn tiếng lóng, đời gọi em biết bao lần, là: em út, hàng, phò, phạch, bớp, gà lạc, gà công nghiệp để chèo kéo khách hảo ngọt đi đá gà.

Chủ chứa, chủ các lầu xanh, bên Úc nầy gọi là đèn đỏ. Các nơi nầy là ổ nhền nhện dệt tơ, giăng lưới để khách làng chơi bay bướm vướng vào, là âu yếm châm chích vào túi tiền của khách làng chơi tới khi cạn quéo. Chính vì vậy mà tiếng Anh chỉ Kiều nương là ‘Hooker’. Hook là lưỡi câu ‘khách’.

***

Nhắc tới lầu xanh chúng ta không thể nào không nhắc tới Thúy Kiều trong Ðoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.Tú Bà là chủ chứa, Sở Khanh là ma cô cùng toa rập bày mưu tính kế khiến Kiều đành phải bán phấn buôn hương.

Muốn lên làm chủ thì Tú Bà cũng có một thời làm công nên kinh nghiệm ái ân tràn đầy. Kiều, nai tơ, phải ‘bái’ Tú Bà là Sư mẫu.

Tú Bà ân cần truyền nghề bán thịt sống cho Thúy Kiều như vầy: “Ở đời ai cũng như ai; người ta ai mất tiền hoài đến đây”; “Nghề chơi cũng lắm công phu. Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.”

Ngoài cái vũ điệu ái ân là phải tùy theo khách làng chơi mập, bụng phệ  hoặc ốm tong ốm teo như cây tre miễu, già khú đế như Bạch Mi lão tổ hay mặt còn hôi sữa như Hồng hài nhi mà chọn những điệu thức thích hợp cho từng đối tượng. Kiều nương còn phải đóng vai đào thương thuần thục nữa. Phải biết khóc tỉ tê làm cho khách xúc động đem lòng thương xót. “Mẹ ốm, cha đau; nhà ngập nước!” Còn khóc hoài hết thằng nầy đến đứa khác làm tuyến lệ cạn queo thì vắt vài giọt gừng vào chiếc khăn tay mà sụt sịt. Nước mắt sẽ tuôn ra như suối. Chiêu đó gọi là Khấp.

Dính chấu rồi là thề nguyền một thủy chung như nhất, cắt tóc để làm tin. Ðứa nào đem lòng bội phản là bà bắn nó. Chiêu nầy gọi là Tiện.

Lâu lâu, dắt chàng đi Sở Thú, không phải để làm trò khỉ trước thanh thiên bạch nhật mà lại cái gốc cây nào đó khắc tên hai đứa nằm đè khít lên nhau để tỏ lòng yêu. Chiêu đó gọi là Thích.

Rồi đốt hương, chích vào tay, bỏng, rát muốn chết, thề: “Bao giờ cạn lạch Ðồng Nai. Nát Chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền!” Chiêu nầy gọi là Thiêu.

Tình đã nồng, duyên đã đượm thì em tỉ tê xin chàng lượm em về. Tình ta mới đầu là ‘casual’, thời vụ, thấy khách mê mồi là khách rồi đời thì xin chàng cho em được phục vụ chàng ‘part time’, tức bán thời, ưu tiên cho chàng xí chỗ.

Nếu chàng quả là đại gia, tiền bạc nhiều vô thiên lủng thì xin cái job ‘full time’ tức toàn thời về làm vợ lẻ cũng được. Chiêu đó gọi là Giá.

Ðôi khi giả bộ rủ chàng ra bến sông, đưa tay bịt lỗ mũi ngừng thở, nhảy xuống tự trầm để sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách. Chiêu nầy gọi là Tử !

Hồi xưa, kỹ nữ là nô lệ, muốn được giải phóng thì phải đem tiền mà chuộc em ra. Thấy chàng chơi sộp thường vung tay quá trán, ngàn vàng mua một trận cười như không thì giả bộ rủ chàng trốn đi xây tổ uyên ương.

Cầm bằng lâu lâu trúng mánh số đề, chàng chơi nổi chớ thực ra là thường vét cơm nguội với nước mắm kho quẹt thì kiều nương kêu cái đám chăn dắt gái, ma cô hay mặc rô (maquereau), hù cho chàng sợ chạy mất dép.

Mậu lúi mà đeo theo hoài thì làm sao mần ăn gì được chớ?! Chiêu đó gọi là Tẩu.

Kieu nuong 01Ông anh nào lỡ dính vào mạng nhện thì khỏi mong vùng vẫy vì dẫu thông minh cái thế thì đàn ông bao giờ cũng toàn là một lũ dại gái mà thôi. Chính vì tài nghệ giường chiếu tuyệt vời, miệng lằn lưỡi mối nên các nhà thơ vốn lù khù dễ tin, chồn đèn mắc bẫy tình yêu.

Ðỗ Mục: “Mười năm sực tỉnh Dương Châu mộng/ Luống hận lầu xanh phụ bạc hoài.”

Bị đá đít vì nhà thơ tiền đâu có bao nhiêu, thôi dông về với Má bầy trẻ, cớ chi mà cứ khóc hi hi hoài hè?!

Nhưng với nhà thơ Tú Xương của chúng ta là không ăn thua gì sất mà còn bị Tú Xương xí gạt lại; vì Xương thì có chút thịt nào đâu cho mấy kỹ nữ lầu xanh nầy gặm chớ?

“Vị Xuyên có Tú Xương/ Dở dở lại ương ương/ Cao lâu thường ăn quịt,/ Thổ đĩ lại chơi lường.”

Tui vốn nghèo nên tình nguyện xin theo nhà thơ đất Vị Xuyên nầy tập tễnh thói ăn chơi mà không phải tốn tiền…

Chỉ e rằng bọn ma cô, mặc rô chăn dắt gái, nó quánh cho một trận về em yêu nhìn hổng có ra tui!

dxt

Khuya khuya chút nữa!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Trong chốn văn nghệ, trước 75, nhà văn phải viết truyện dài đang nhiều kỳ trên nhựt báo, gọi là viết Feuilleton (phơi-dơ-tông) để kiếm sống. Nhưng trước cái biến cố đau thương, miền Nam sụp đổ, nhiều nhà văn vượt thoát ra nước ngoài làm người tị nạn lại chuyển qua làm thơ. Và thơ rất hay vì ý thơ phát xuất từ đáy lòng đang đau đớn.

Nhà văn Thanh Nam (1931-1985) là một trong những nhà văn đó. Cuộc đời tị nạn cũng ông thật ngắn ngủi chỉ 10 năm; nhưng khoảng thời gian đó cũng đủ để lại cho đời tập thơ với nhan đề “Đất khách” (1983).

Tháng Tư lại về trên Đất khách, tôi nhớ đến thơ Thanh Nam: “Ngó ra buổi sáng quê người/ Tiếng xe lăn bánh nhịp đời trôi mau/ Giã từ ngôn ngữ đã lâu/ Hôm nay thèm nói một câu chửi thề!”

Nhà thơ sống bằng chữ nghĩa nên thèm nói một câu chửi thề; riêng tui lại thèm một tô hủ tiếu Mỹ Tho mới chết.

Nói nào ngay Footscray, nơi tui đến ở, cũng có quán bán hủ tiếu đó chớ. Nhưng khi ăn ở mấy tiệm nầy tui lại càng nhớ hủ tiếu Mỹ Tho hơn. Vì ăn không hẳn chỉ là ăn mà còn trong đó một cái tình quê tha thiết nữa đó bà con ơi!

Tui nhớ quê mình mỗi vùng đều có những món ăn nức tiếng trên chốn giang hồ nhưng đều tụ lại Thủ đô Sài Gòn, dân tứ xứ!

Nào là Phở Bắc theo đồng bào di cư vào Nam năm 1954. Nào là Bún Bò Huế từ cố đô, đất thần kinh cũng vào cho cay như ớt!

Rồi thời Phản Thanh Phục Minh bên Tàu, mấy chú Ba thiếm Xẩm, người Quảng Đông, Triều Châu chống không lại cái nhà Thanh, đàn ông mà thắt bím, bèn lên đường bôn tẩu.

Ra đi mang theo quê hương; mang theo hủ tiếu, mì, hoành thánh, bò vò viên đến Cù lao Phố Biên Hòa, đến Mỹ Tho, Sóc Trăng và cả đất Hà Tiên.

Người Tàu hồi mới đến Việt Nam thì cũng nghèo sặc gạch bèn bán hủ tiếu trên xe. Xe thì đậu một chỗ nơi có đông người qua lại. Vốn lấy công làm lời vì đâu có tiền mà mướn phố để kinh doanh.

Úc hay Mỹ giờ đây mới có cái vụ đặt đồ ăn nhờ ‘Uber Eats’ giao tới tận nhà, chớ chú Ba đã có cái dịch vụ phục vụ hủ tiếu, mì hoành thánh tới ngay tại chỗ; chỉ còn thiếu cái điều là gắp đút luôn vào miệng khách hàng thương mến thương mà thôi.

Đó là hủ tiếu gõ! Hang cùng ngõ hẻm nào của tám nẻo đường thành Sài Gòn nào mà không có nó.

Trong ngõ, xe đậu lại ngã ba, thằng nhỏ cầm hai thanh tre ngắn, gõ lóc cóc luồn quanh hẻm nhỏ lúc đêm về. “Ê cho một tô hủ tiếu nhiều thịt ít tiền đi mậy!” là 5 phút sau một tô hủ tiếu nóng hổi mang tới tận nơi.

Ngôn ngữ người Sài Gòn rất hay nhe. Nói cho một tô hủ tiếu tuy xin như vậy nhưng có trả tiền đàng hoàng chớ không ăn quỵt rồi chạy bao giờ! Bán hủ tiếu gõ đã lâu, làm ăn chí thú, ky cỏm tiền bạc; không chơi số đề hay vào sòng bài Kim Chung hay Đại Thế giới thua sặc máu thì trước hay sau chú Ba sẽ lên đời bằng cách sắm một chiếc xe bán hủ tiếu trụ lại ngã tư đường có nhiều ông đi qua bà đi lại

Chiếc xe nầy có miếng gỗ có thể bật lên, gài chốt làm thành một cái bàn hình chữ nhựt dài và hẹp, vừa đủ để đặt lên tô hủ tiếu còn bốc khói và chai xì dầu, giấm đỏ và hũ ớt sừng trâu ngâm dấm và khuya khuya chut nua 03một lọ tiêu xay.

Khách ngồi trên ghế xếp, ngồi chờ, xem tranh Tàu vẽ trên mặt kiếng hình Quan Công quánh nhau với Tào Tháo trong Tam Quốc Chí của Trần Thọ hay Tề Thiên Đại Thánh quánh với Ngưu Ma Vương trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân…

Những chiếc xe hủ tiếu kỳ cựu, chủ nhân nó luôn chung thủy với những đũa, muỗng, tô, vợt lưới to để trụng vớt bánh hủ tiếu hay trụng mì.

Ghế xếp mặt ngồi bóng lưỡng bằng gỗ và chân sắt mộc mạc cũ kỹ, nhưng chắc chắn.

Rồi lại làm ăn chí thú, ít xít ra nhiều, chú Ba nấu, thiếm Xẩm rửa chén, con Muổi chạy bàn kha khá hơn bèn ra ngã tư mướn nhà mặt tiền mở quán nước.

Nhưng bất cứ quán nước nào xe hủ tiếu cũng chiếm vị trí mặt tiền, trung tâm của quán. Vì mùi thơm của nồi nước lèo bốc ra ngào ngạt, lan tỏa trong buổi sáng tinh sương của đất Sài Gòn làm ai nấy đi qua mà không đói bụng, thèm một tô hủ tiếu mì nóng hổi… vừa thổi vừa ăn chớ?

Giờ ngoài hủ tiếu, mì hoành thánh ra còn thêm bánh bao, xíu mại, cà phê cà pháo kể cả la ve cho bà con ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều ăn luôn bữa tối.

Bà con mình đi qua những ngã tư đường ở vị trí tiện lợi sẽ gặp: Tuyền Kỳ, Hưng Ký, Phánh Ký, Phát Ký, Gia Ký, Oai Ký… Mì gia!

Sao chú Ba nào cũng ‘Ký’ hết vậy cà? Té ra chữ Ký trên bảng hiệu nghĩa là nhãn hiệu, thương hiệu như Phánh Ký là tiệm mì của chú Phánh vậy mà.

Trên bước đường hành hiệp chốn giang hồ, tui đã ăn hủ tiếu nhiều nơi nhiều chỗ. Ở Cần Thơ, Tây Đô thì có Hoạt Ký, Khung Ký đối diện rạp hát Minh Châu trên đường giữa Phan Đình Phùng thuở ấy.

Rồi về lại Sài Gòn ra đường Trần Quý Cáp gần tới đường Cao Thắng quận Ba, ăn hủ tiếu Nam Vang Hồng Phát.

(Đường Trần Quý Cáp đặt tên một nhà Nho yêu nước đất Điện Bàn Quảng Nam vì tham gia Phong trào Duy Tân nên bị án tử yêu trảm là chém ngang lưng; nhưng sau nầy VC vô đặt lại tên đường là Võ văn Tần!

Tui thú thiệt không biết ông nội con nít nầy là ai? Có công trạng gì với đất nước mình mà dám cả gan thay thế nhà chí sĩ Trần Quý Cáp?!).

Rồi trên đường Huỳnh Thúc Kháng ở quận Một có quán hủ tiếu Thanh Xuân quảng cáo là hủ tiếu Mỹ Tho; nhưng ăn có cả rau tần ô nữa(?!).

Hai quán nầy bán đắt ắt hẳn là ngon nhưng không thể nào làm tui quên được xe hủ tiếu của em yêu bên hông rạp Định Tường nằm trên đường Lý Thường Kiệt, chỉ đi chục bước chân là ra tới đường Trưng Trắc, dọc theo bờ sông Bảo Định.

Em yêu, Á xẩm, con chú Phu bán hủ tiếu ngày xưa là vợ yêu, má của hai thằng cu tui bây giờ.

Chẳng qua mất nước, đi học tập cải tạo nghĩa là ở tù VC về, tui đi chạy xích lô.

Bữa nào trúng mối, thèm tui ghé xe hủ tiếu của Ba má em để thiếm xực một tô, làm thêm xị đế mà bùi ngùi nhớ những huy hoàng ngày cũ. (Dẫu sao mình cũng từng làm quan đóng tới lon Thiếu Úy chớ bộ!)

Ăn riết rồi quen. Rồi được em lén Tía em cho tui thiếu chịu. Nói nào ngay thiếu cũng chừng chục tô thôi. May mắn canh me, vượt biên ra khỏi nước, rồi bèo giạt hoa trôi tới tận cái nước Úc nầy đây, nhớ cái ơn cho ăn chịu ngày xưa tui quay về mà rước em qua.

Qua tới đây em chỉ lo cơm nước, tui đi cày mà trả nợ em. Trả hoài mà tới giờ chưa có hết. Hu hu!

Chiều này quê người đất khách. Tháng Tư lại về mặt tui rầu rầu như vừa bị ăn cướp. Phải rồi tụi nó đã cướp nước tui, cướp quê hương tui, cướp luôn một thời tuổi trẻ nhiều ước vọng của tui thì hỏi tui không buồn sao đặng!

Vợ chồng đấu ấp tay gối bấy lâu em yêu thấy tui rầu nên lòng em cũng xót.

Em thỏ thẻ rằng: “Ngộ sẽ nấu hủ tiếu cho nị ăn! Rồi còn xí quách làm một tô cho nị nhậu để bớt buồn nhớ quê vì xa xứ! Thấy nị buồn, ngộ chịu không có nổi!”

He he! Lấy vợ là Áxẩm mấy chục năm nay mà em yêu nói tiếng Việt chưa rành.

Tiếng Việt em chưa sõi nhưng tài nấu hủ tiếu gia truyền của em đã chinh phục lòng anh (lòng nghĩa đen là cái bao tử) thì không cần phải hỏi. Nói theo kiếm hiệp là công phu đã đạt đến chốn thượng thừa!

Sáng hôm sau em đi chợ Footscray một mình rồi lỉnh kỉnh mang về hầm bà lằng đủ thứ.

Em giảng rằng: Bánh hủ tiếu hồi xưa ở Mỹ tho làm bằng gạo phải là từ Gò Cát, bên kia sông Bảo Định, từ cây lúa mùa mới đặng. Bằng lúa thần nông cọng hủ tiếu sẽ không dẻo, không dai và cũng không thơm.

Sau đó là xay gạo ra thành bột. Thêm bột lọc và trộn cho đều. Xong tráng bột thành bánh rồi đem phơi ngoài nắng. Cuối cùng là cắt thành sợi. Mình ăn hủ tiếu tươi không hè!

Giờ hủ tiếu để trong bọc, có chất phụ gia bảo quản. Chết em; em không tiếc nhưng chết anh em không đành… Vì cứ hai tuần ai lãnh lương về đưa tiền chợ cho em?

Cái quan trọng không kém một ly ông cụ nào là nồi nước lèo.

Cho xương heo, khô mực, tôm khô vào nồi ninh, thêm củ cãi trắng, củ cãi muối thêm chút muối, đường phèn, bột ngọt, nước mắm. Để lửa riu riu khoảng 3 tiếng, đun sôi, hớt bọt cho nước lèo nó trong.

Cho vào nồi thảo quả, đại hồi, tiểu hồi, quế (gọi là bí quyết gia truyền ai cũng giấu) trong nồi nước lèo.

Để có mùi thơm vị ngọt, tấn công vào vị giác và khứ giác của mình thì phải phi hành tím!

Thịt mỡ luộc lên, rồi cắt nhỏ, lớn hơn hạt bắp. Khi thắng tép mỡ, cho lửa lớn đảo đều cho tép săn lại, khi đó hạ lửa xuống và chiên riu riu cho tép vàng, săn lại và giòn. Đập vài tép tỏỉ sống để cho vào mỡ khi lấy ra khỏi bếp, là đủ độ nóng cho tỏỉ vàng rồi.

Bàn tay thoăn thoắt, em ngắt một nhúm bánh hủ tiếu khô, nhét sâu vào cái vợt cán tre, cùng ít giá, trụng vào nồi nước sôi, dạo lên dạo xuống mấy lượt, xốc lên xốc xuống cho ráo nước. Xong, cho vào tô, cho ít mỡ tỏi phi và hành phi trộn nhẹ cho đều thêm cải bắc thảo.

Lấy dao bén em xắt miếng thịt nạc heo mỏng còn hơn tờ giấy quyến trải đều lên mặt, vài lớp gan heo cũng mỏng không kém. Không phải hà tiện gì đâu! Ở Úc mà. Như phải xắt mỏng nhưng vậy để cho nước lèo mới thắm vào từng sớ thịt; ăn mới ngon.

Rau kèm theo thì có ngò rí, hẹ, hành lá thêm hai lá xà lách to, ít cọng hẹ rẫy, một miếng bánh tôm chiên.

Em dọn tô hủ tiếu bốc khói ra để trước mặt chàng. Chàng hỏi còn ‘giấm sửu’ đâu?

Em hiểu ý; hứ nghe cái cốc. “Ban ngày ban mặt mà giấm sửu cái gì? Nị ăn hủ tiếu của ngộ với xì dầu và giấm đỏ đi! Còn‘giấm sửu’thì để khuya khuya chút nữa nhe!”

doanxuanthu

Không còn con sông

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Thưa thân tui giờ già, viễn xứ; nhưng làm sao quên được thời trẻ trâu cho được chớ?
Nhớ xưa, cứ vào tháng Tám tới tháng Chín âm lịch, là dân miền Tây sinh sống dọc hai bên con sông Tiền, sông Hậu, hoặc vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, lại lục tục khăn gói bỏ nhà ra đi khi lũ lớn tràn về.
Lũ về, xóm làng, Tía má nhộn nhạo lên! Riêng đám con nít ‘ke’ vừa dứt mùa hè mới tựu trường được vài hôm, lại được nghỉ học nữa (Khoái quá xá!).
Cả nhà cụ bị tom góp đồ đạc chất xuống chiếc ghe tam bản, chèo riết đến rẻo đất cao, đất gò hay ra chợ xã che chòi ở tạm một hai tháng để chờ cho nước giựt! Đêm quê người, tha thiết nhớ một giòng sông chìm dưới cơn mưa mùa năm cũ! Nước từ trên Trời rơi xuống và nước từ dưới đất dâng lên! Nhưng mùa nước lũ năm rồi không về; hậu quả khốc liệt là mùa hạn năm nay nước mặn tràn vô vùng quê cũ. Lúa chết, cây trái lá úa vàng, bông bụp, bông nở đều rụng hết ráo, nước ngọt không có để mà uống; nói chi đến tắm giặt.
Thôi rồi: “Không còn con sông, nước dâng tràn lên bãi bờ/ Anh về quê em khắp nơi như là biển khơi/ Chập chờn mái tranh ngoi lên giữa ngọn triều dâng/ Những đàn gà con bơ vơ đứng nhìn trời xanh”

Ôi nhớ xưa! Nơi mà con sông, đồng lúa, rẫy khoai chỉ một đêm, sáng ra thành biển nước khi lũ tràn về. Không còn nhận ra đâu là bờ mẫu, ao cá! Hàng cau trước nhà chỉ còn nhìn thấy mấy ngọn tàu lá dật dờ sóng nước.
Lũ vậy mà bà con mình mừng! Vì ruộng phủ phù sa, kênh rạch thì đầy tôm cá!

Thưa mùa lũ đồng bằng sông Cửu Long dính liền với cá linh. Cá linh lại dính liền tới chuyện tình tui kể người nghe. Chuyện nọ nó xọ chuyện kia thành một đám rối nùi trong trí tưởng.
Mùa thu quê người, đêm nay, bên ly vang trắng, tui tẩn mẩn gỡ ra từng cọng nhớ một để bùi ngùi thương cảm một vùng quê, tui đã nỡ lòng nào bỏ nó đi cho đành đoạn nè Trời!
Nhớ mùa lũ năm 1978, nước chụp xuống tràn đồng, tui lon ton theo một đứa bạn giang hồ sông nước về quê nó mùa nước nổi tận miệt Thơm Rơm, Thốt Nốt, Cần Thơ để ăn chực bậy mấy bữa cơm!
Ôi cái xứ quê nghèo nhưng tình người với nhau không có nghèo như mình tưởng! Có gì ăn nấy! Có cá ăn cá; có mắm ăn mắm!
Miệt đồng bằng mình xưa giờ đãi nhau bằng tấm lòng nhân hậu; dẫu đất nước miền Nam sau khi thua trận, đang chìm trong cơn giông bão rách áo đói cơm.

Thằng bạn có đứa em gái thiệt là hoa đồng cỏ nội nhe bà con. Con gái ruộng vườn rẫy bái làm sao se sua son phấn đẹp như con gái ở thành?
Có điệu hết biết gì chăng nữa chỉ là mái tóc dài chấm lưng thon, xức dầu dừa mướt rượt và dùng cái kẹp lá giữ cho mấy lọn tóc trước cái trán hơi vồ, khỏi lòa xòa che khuất hai con mắt ươm màu khói đốt đồng!
Tui chơi ác nhìn sâu vào đôi mắt đó để em quýnh cẳng chơi! Ôi đôi mắt có bao điều muốn nói, mà em hỏng dám nói huỵch toẹt ra, chỉ vòng vo, để ai muốn hiểu sao thì hiểu vì mắc cỡ quá hè!
“Tình cờ anh Hai về quê em chơi dăm ba bữa, nửa tháng, để em trổ tài đãi anh Hai vài món quê Thơm Rơm! Hỏng phải cao lương mỹ vị gì đâu nhưng ăn đặng cơm lắm đó; để sau nầy anh Hai rời cái vùng quê buồn như tối đỏ đèn nầy mà nhớ em nhe!”
Tui cười he he đáp lại: “Làm liền! Cái gì ăn là tui khoái hè… Cô Út!”

Món em đãi anh Hai năm ấy là món cá linh, con cá quê nghèo như lời em ngọt như đường cát mà mát như đường phèn từng thỏ thẻ!
Tía em đi giăng lưới, dựng đăng, đặt đáy bắt được cá rô, cá mè vinh nè nhưng cá linh ôi nhiều vô số kể, tươi chong, nhảy soi sói cho một rổ.

Đầu mùa lũ, cá linh con ngon bá cháy; bởi cá chưa lớn quá, nên xương chưa cứng, bụng cá lại có mỡ nên ăn rất béo. Cá càng non thì thịt càng ngọt, xương càng mềm ăn nguyên con, không sợ mắc cổ.
Em ra sàn nước cầm kéo cắt ngang rún cá một đoạn nhỏ rồi móc hết ruột bên trong ra. Cắt đuôi, không cần đánh vảy gì ráo!

Sau đó rửa sạch mớ cá, ướp tỏi, ớt, đường, dằn thêm chút muối, để nấu một nồi canh chua với bông điên điển.
Chặt một trái dừa tươi, thêm vài muỗng nước mắm ngon, đường, ít me dầm lấy nước cốt đổ vào nồi; rồi nêm nếm sao cho vừa ăn. Sau đó cho tỏi phi thơm, thêm ít tóp mỡ, rau ngò gai và nấu cho nước canh sôi riu riu lên.
Trút nhẹ cá linh vào nồi. Cho bông điên điển vào rồi vớt ra liền kẻo bông mềm nhũn, hết giòn và hết ngọt. Rồi múc canh chua ra tộ!

Gắp con cá linh vừa chín tới, chắm vào cái chén nhỏ đựng nước mắm y, thêm vài lát ớt sừng trâu, đưa vô miệng nhai từ từ. Cầm cái ly hột mít rượu đế quất nghe cái tróc.

Bà con ơi! Ăn từ độ ấy mà mồ hôi trên chân tóc của tui còn ứa ra tới tận bây giờ…
Cơm quê nghèo có canh chua cá linh là phải có món cá linh kho tiêu.
Em gom mớ cá linh đã làm sạch cho thêm chút nước màu, đảo cho nó đều! Xong cho nước mắm vào nồi đất kho chung với cá, giữ lửa liu riu cái ơ kho cá. Rồi bỏ tiêu cho ngọt; bỏ hành cho thơm!
Bới cơm, chén đầu chan với canh chua, vừa ăn vừa nhậu. Chén cơm trắng cuối bữa, ăn với cá linh kho tiêu mà không cần phải chan canh. Mới ngon!
Bữa cơm mùa nước lũ năm 78, và ánh mắt đó theo tui suốt những cơn mơ hằng đêm nơi xứ lạ quê người…
Tía em khề khà cầm ly rượu hỏi tui: “Nghe thằng Hai mầy có mớ chữ chắc hỏng muốn về làm rể miệt ruộng đâu hả? Nếu muốn, tao gả con Út cho mầy. Về nói Tía Má mầy mang trầu cau xuống đây, nói láp giáp vài tiếng… là xong.”
Tui cười hè hè thưa: “Chắc gì cô Út chịu ưng con mà Chú Tư nói như đinh đóng cột vậy hè?”
“Ối! Tao là Tía, tao biết lòng con cái mà! Mầy đừng có lo!”

“Con cá linh mình ăn hết mùa là hết. Muốn ăn nữa là phải chờ mùa nước nổi năm sau. Còn mớ chữ của mầy xài hoài, càng ngày nó càng nở thêm ra chớ không hao hớt gì thì thử hỏi con gái đứa nào mà hỏng khoái có thằng chồng dạy giáo chớ?!”
“Nhưng giờ con bị đuổi rồi chú Tư ơi!”
“Ôi mấy thằng chăn trâu, nó ngu, nó có quyền, nó đuổi mầy vì nó dốt! Nó tị nạnh, cà nanh; chớ chế độ nào mà không cần chữ? Không chữ thì tụi nó chết cha tụi nó hết ráo cho coi!”

Quay qua con gái mình mặt đang đỏ bừng như vừa uống hết một chung rượu đế, hỏi: “Mà Tía nói vậy có hợp ý con không vậy Út?”
Em e thẹn hỏng trả lời trả vốn gì hết ráo.

Cuối mùa nước nổi 3 tháng đó, tui xa Thơm Rơm luôn. Út chống xuồng đưa tui ra mặt tỉnh lộ để đón xe về Cần Thơ, em nói: “Mùa nước nổi năm sau dù bận bịu tối tăm mặt mũi gì đi chăng nữa nhớ về Thơm Rơm ăn canh chua cá linh Út nấu và cá linh Út kho tiêu nhe anh Hai!”
‘Mến anh… Út chẳng dám thưa?! Hai hàng nước mắt như mưa tháng Mười!’

Thời cuộc biến loạn, đổi thay liền xì bóc; tui không về Thơm Rơm quê Út nữa mà tui đi luôn ra biển; tới giờ đã 38 năm trời!
Để bây giờ đêm đêm nhớ lại buồn biết bao trong tấc dạ. Mình mất cái gì quý nhứt của cuộc đời chắc không bao giờ tìm lại được nữa đâu.
Rồi nghe phong phanh thiên hạ nói: “Năm rồi miền Tây vào mùa nước nổi giờ buồn thỉu, buồn thiu khi con cá linh đã sông dài cá lội biệt tăm!”
Bà con miệt vùng trũng tứ giác Long Xuyên than thở: “Tụi tui ở miệt này muốn kiếm dăm mớ cá linh về lai khong-con-con-song-5rai ba xị… còn trần ai nè. Muốn ăn cá linh, phải đợi những ngày cá chạy theo con nước. Cá linh không chạy thì tui cũng nhịn thèm món canh chua bông điên điển luôn chứ biết đâu mà tìm!” –

Mùa nước nổi không còn vì mực nước con sông Cửu Long đã xuống mức thấp nhất trong vòng 90 năm qua, kể từ năm 1926.
Biển Hồ và Vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và những vùng đất thấp khác thuộc miền Tây Nam Bộ không còn nước để dành vào mùa lũ rồi lai rai chảy ngược ra sông vào mùa nước kiệt, giúp bà con xứ mình đẩy mặn.
Hậu quả là hạn, đất ruộng nứt nẻ, lúa chết, vườn cây ăn trái tưới bằng nước lợ, bông rụng hết ráo, trái không đậu nổi, thất mùa. Và con cá linh sẽ ngàn thu yên nghỉ, nằm trong cổ tích!
Không còn nước, không còn phù sa, không còn tôm cá nghĩa là không còn gì nữa cả nếu giòng sông nầy chết đi! Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang nước mắt chảy ròng ròng trên những cánh đồng nứt nẻ!
Chính bọn Tàu Cộng đã và đang giết chết giòng sông Cửu Long; bởi chúng xây tràn lan những đập thủy điện ở thượng nguồn.
Dù bọn cầm quyền Trung Nam Hải, Bắc Kinh luôn chối bai bải rằng tình hình hạn hán tệ hại hiện nay là do thiên tai El Niño gì gì đó; chứ không phải do con người.

Mùa hạn năm nay, người dân hạ lưu châu thổ sông Cửu Long kêu tới thấu trời xanh; nên Trung Cộng làm bộ giả nhân giả nghĩa, sẽ xả nước từ đập thượng nguồn ở tỉnh Vân Nam nhằm xoa dịu; để chúng bớt chửi!
Nhưng lượng nước xả về đến Việt Nam phải mất khoảng một tháng! Trên đường nước đi, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, hứng trước thì nước về tới quê mình hỏng có được bao nhiêu!.
Giòng sông Cửu Long, Mekong, trong tiếng Thái và Lào, hiểu là ‘Nguồn nước mẹ’ đang cạn giòng. Hơn 50 triệu người dân Miến Điện, Lào, Thái, Campuchia và Việt Nam thuộc hạ lưu của giòng sông đang thoi thóp như những con cá mà người ta tát đìa cạn hết nước chỉ còn bùn với sình! Ráng chòi đạp lung tung mà thở.

Các nhà khoa học về môi trường đã cảnh báo lâu rồi: “Cửu Long cạn giòng; Biển Đông dậy sóng!”
Tất cả đều do một tay Chú Ba Tàu hàng xóm, bự con, nhưng khó chơi nầy gây ra cả! Chúng giết giòng sông vì thói ích kỷ, sống chết mặc bây của một nhà nước bá quyền!

Thưa bà con! Và Út ơi!
Tui tin có ông Trời! Những kẻ tham lam quỷ quyệt hủy hoại môi sinh bằng cách bằm nát cả một giòng sông thì chắc như bắp là ông Trời, có mắt mà, ổng hỏng có để yên cho tụi nó muốn làm gì là làm đâu!

dxt

Anh về từ thung lũng tử thần Ashau

Đinh Văn Tiến Hùng

Anh về từ thung lũng tử thần Ashau

Đinh Văn Tiến Hùng

(Kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH 19/6, để ghi nhớ công lao và tinh thần hy sinh cao cả của các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây trích trong Nguyệt San Bốn Phương/Lực Lượng Đặc Biệt năm 1969)

Dáng người nhỏ, da đen sạm, 25 tuổi, độc thân, sinh tại Hà Tây, Quảng Ngãi, thuộc bộ lạc Hả, 8 tuổi lính, từ Bộ Binh qua Biệt Kích rồi Thám Kích Tiền Phong. Đó là những nét đầu tiên tôi ghi nhận nơi Đinh Đó, người toán phó Thám Kích/Lực Lực Đặc Biệt, bị Cộng quân giam giữ suốt 45 ngày nhưng đã can đảm thoát vùng tử địa và hướng dẫn oanh kích sào huyệt Cộng quân gây tổn thất nặng nề cho địch.

Trong không khí yên lặng buổi ban mai đẹp trời, nơi chiếc ghế băng ngoài sân TTHQ/Delta, tôi được Đinh Đó kể lại quãng thời gian 45 ngày chung sống với Cộng quân trong thung lũng tử thần Ashau.

Cuộc đồi thoại không mang tính cách phỏng vấn, mà là một buổi trao đổi tâm tình cởi mở.

Nhảy vào vùng tử địa

Ashau nằm cách biên giới Lào Việt không đầy 10 cây số và cách thị trấn Huế trên 40 cây số về phía Tây.

Với địa thế núi rừng hiểm trở, mây mù bao phủ quanh năm, tiện đường chuyển vận quân và vũ khí của Cộng quân. Qua nhiều năm CSBV dùng nơi đây làm sào huyệt xuất phát những trận đánh phá nhiều tỉnh thuộc Vùng I Chiến Thuật, nơi Cộng quân cho là bất khả xâm phạm với địa thế lòng chảo, một tiền đồn và một phi trường bỏ hoang còn ghi dấu lại. Nhưng đối với các chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt và BKQ thì danh từ ‘vùng tử địa’ hay ‘bất khả xâm’ cũng bị xoá bỏ. Chính nơi thung lũng tử thần này, tháng 3/68, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 91 Biệt Kích Dù đã phục kích phá tan đoàn xe Cộng quân gồm 8 chiếc chuyển vũ khí lương thực xâm nhập miền Nam. Đến nay trong khuôn khổ hành quân Delta vẫn còn nối tiếp, các toán Delta và Thám Kích Tiền Phong luôn được tung vào hoạt động trong vùng rừng núi tử thần này.

Trưa ngày 2/4/69, một toán Thám Kích Tiền Phong gồm: Toán Trưởng Nguyễn văn Son, Toán Phó Đinh Đó và hai toán viên Lê Văn Bang cùng Đinh Đức, được trực thăng thả bằng thang giây xuống hoạt động tại vùng thung lũng Ashau. Bốn chiến sĩ được trang bị súng AK, y phục kaki, đi dép râu, đầu trần giống như Cộng quân. Buổi trưa bầu trời quang đãng không có những lớp mây mù giăng phủ như thường ngày, nhưng khí rừng vẫn xông lên hơi lạnh ẩm ướt. Đứng dưới hố bom, toán trưởng mở bàn đồ để xác nhận lại vị trí và ra lệnh cả toán gióng hướng Bắc 32 độ. Núi rừng âm u, tàn cây che kín chỉ để lọt xuống những khoảng nắng nhỏ, im lặng đến nỗi nghe rõ từng tiếng chim gõ mõ từ xa vọng lại và cả tiếng chân mình khua động lá rừng cùng hơi thở đồng đội. Ở đây núi đồi không cao lắm, chỉ dưới ngàn thước, nhưng đường đi chênh vênh dốc và vướng mắc nhiều rễ cây rất khó di chuyển. Mồ hôi đã thấm lưng áo, nhỏ giọt từ trán xuống, bốn người dừng nghỉ. Rừng chiều xuống, những đám mây giăng trên đầu và sương rừng bắt đầu rơi lạnh. Son ra hiệu cho các bạn tiêp tục lên đường để tìm một vị trí an toàn nghỉ đêm. Màn đêm chụp xuống thật mau, xoá nhoà cảnh vật chung quanh. Bốn người dò dẫm đi gần nhau, vì chỉ một khúc quanh, một hốc núi, một gốc cây là lạc nhau. Son đứng lại và cả toán dừng theo. – ‘Đêm nay nghỉ tạm trong hốc núi này!’.

Son ghé tai nói với Đinh Đó, anh gật đầu đồng ý và cả toán dừng theo.

Đêm rừng huyền bí lạ. Bốn bề yên lặng nghe rõ tiếng côn trùng rên rỉ dưới cỏ, sương rơi trên lá. Những con đom đóm rừng bay vật vờ ma quái. Tiếng vỗ cánh của con chim say ngủ. Khí lạnh từ trong lòng đất và hang đá toát ra khiến mọi người rùng mình vội kéo tấm áo lạnh khoác vào người. Đêm đầu tiên dựa vào nhau mà ngủ cho ấm và để dễ liên lạc. Một người ôm súng canh chừng cho ba người ngủ. Cứ thế thay phiên nhau tới khi những tia nắng đầu tiên lọt qua khe đá dội xuống. Cả bọn tiếp tục lên đường. Cứ ngày đi đêm nghỉ băng qua nhiều đồi núi. Tới ngày thứ ba, cả toán đang đi bỗng trời xám dần, rừng cây lay động mạnh. Những cơn gíó ào ào xoáy lốc giật lá cây trút xuống, những tia chớp loé lên kèm theo tiếng nổ vang động núi rừng. Cơn mưa đổ như trút nước. Bốn người nép mình vào hốc đá vẫn không tránh khỏi ướt sũng. Trận mưa dai dẳng kéo dài suốt đêm. Một đêm giấc ngủ chập chờn với những tiếng động ầm ầm của đất trời và núi rừng.

Hai lần thoát chết trong gang tấc

Sáng ngày 5/4/69, trận mưa đêm dứt hẳn, nhưng lá cây còn ướt sũng, thỉnh thoảng rùng mình trút nước dưới những cơn gíó ào ào. Một dòng suối róc rách chảy đâu đây, cả toán tiếp tục lên đường. Đổ đồi thật vất vả, ướt và trơn tượt, phải níu vào rễ cây mà đi xuống. Đó dừng lại, chú ý đám cỏ thấp nghiêng rạp hai bên. Anh giơ tay chỉ một nhánh cây non mới bị bẻ gẫy. Dấu người vừa đi qua gần đây, anh nhìn khả nghi lùm cây phía trước, đưa mắt ra hiệu đồng bạn thận trọng. Bỗng một tràng AK từ trên đồi dội xuống, Đó lăn mình vào hốc cây, ria một băng đáp trả. Rồi từng loạt đạn từ bốn phía thi nhau nổ giòn. Địch hình như phát giác được quân số phía toán. Tiếng đạn rít lên từng hồi, tiếng hô xung phong bắt sống, phá tan bầu khí yên tĩnh ban mai núi rừng. Bốn tay súng can đảm chống trả, nhưng không thể cầm chân địch từ bốn phía tràn lên.Vài tên gục ngã, tiếng rên bi thảm.Tíếng súng dưới chân đồi thưa dần, chứng tỏ địch đã cận kề. Phải mở một đường máu liều chết để thoát ra ngoài. Son ra hiệu dồn hoả lực về phía trước để cầm chân địch. Bốn khẩu AK nổ giòn. Cả toán lăn nhanh xuống đồi như những con sóc rừng. Từng loạt đạn vút theo. Hai tiếng hét phía sau: Bang và Đức trúng đạn chúi xuống, một loạt đạn bồi theo. Toán Trưởng Son và Toán Phó Đinh Đó biết là hai toán viên đã bị hạ, nhưng không sao tiếp cứu nổi, vì những loạt đạn vẫn nối tiếp đuổi theo với tiếng hò hét phía sau. Son và Đỏ thoát xuống chân đồi, lẩn vào khu rừng kế cận. Tiếng súng xa dần…

Nắng lên cao, nhưng hai người vẫn không dám dừng chân nghỉ, vì biết địch còn bám sát phía sau.

Gói cơm chiều hôm trước còn dở hai người chia nhau vừa đi vừa ăn. Đỏ hỏi Son:

– Bây giờ tính sao?

– Chúng ta đã mất hai, còn hai lạc hướng không thể nào tiếp tục như kế hoặch đã định trước.

Máy truyền tin mất, phải tìm một vị trí dựng ‘pano’ báo hiệu phi cơ đến tiếp cứu.

Đó chỉ ngọn núi phía trước, hai người trực chỉ. Phải lên tới dỉnh núi trước khi trời tối mới hy vọng.

Ngọn núi trông xa sườn thoai thoải, nhưng tới gần dốc đứng, lên thật vất vả, vô ý một chút là trượt chân té xuống vực. Gần 5 giờ hai người mới lên tới đỉnh. Sương mù xuống lạnh, giăng giăng trên đỉnh che khuất ánh nắng chiều. Cố lắng nghe tiếng phi cơ từ xa vọng lại, nhưng im vắng bao phủ triền miên núi rừng. Hai người tháo ba lô lấy thức ăn. Gói cơm lạnh ngắt, mùi cá hộp tanh nồng nhưng cố nuốt. Thèm một ngụm cà phê, một điếu thuốc biết chừng nào! Nhưng giữa cảnh núi rừng này, tìm đâu ra. Son giơ ‘bi đông’ nước lên uống một ngụm, dòng nước chưa kịp trôi xuống cổ họng thì anh bị một viên đạn bắn trúng đầu gục xuống. Nhanh như cắt, Đó chụp lấy khẩu AK ria một loạt về phía tên Cộng quân vùa từ dưới bò lên. Tên địch chới với lăn xuống phía dưới. Đó vội giựt khẩu AK trên đùi Son rồi biến mất. Anh không kịp mang ba lô theo và biến vào sương chiều đang vây phủ núi rừng. Có tiếng nói lao xao phía trên. Anh nép mình vào hốc đá và thoáng nghĩ “đây là lần thứ hai mình phải bỏ đồng đội ở lại. Thế là mất ba, chỉ còn một mình, chắc khó thoát. Nhưng dù sao cũng phải cố gắng ra khỏi vùng này ngay trong đêm nay”.

Đỏ lần mò trong bóng đêm. Một hòn đá lăn dưới chân, một con đom đóm đêm cũng đủ làm anh giật mình. Thật là một đêm kinh hoàng nhất trong đời quân ngũ. Anh đã từng xông pha nguy hiểm nhiều lần, nhưng chưa bao giờ anh phải chiến đấu đơn độc như lần này, nói đúng hơn là anh phải tự bảo vệ cho mình.

Khi tiếng chim rừng hót vang anh mới biết trời đã sáng. Anh nhớ bao đạn đã tuột mất và khẩu AK đã bắn hết viên đạn cuối cùng. Thật là vô dụng mang theo thêm nặng, anh tìm một hốc đa vùi xuống và lấp lá cây lên. Giờ thì nhẹ nhõm, nhưng mạng sống đành trao cho số mệnh. Lúc này có thể gặp bất cứ ai bạn hay thù.

Người toán phó Thám Kích cứ lầm lũi đi theo bóng mặt trời lên. Người mệt lả, bụng đói vì hết lương thực, mắt mờ đi, tay chân bủn rủn….

45 ngày sống với Cộng quân.

Buổi trưa, Đỏ dừng lại đang lấy tay vục nuớc uống từ một dòng suối chảy qua khe đá, bỗng có tiếng quát lớn phía sau:

-Giơ tay lên!

Như một cái máy, anh quay lại từ từ đứng lên giơ tay cao. Lúc này không còn thoát được nữa. Hai người mặc kaki vàng cầm súng AK từ sau hốc đá nhảy vọt ra. Chúng lục soát người anh thấy không tìm được gì quan trọng, liền bắt anh cởi bỏ quần áo, chỉ cho mặc chiếc quần cụt và dùng giây trói tay quặt về phía sau.

Không đầy một phút sau, một tóan chừng 20 tên kéo đến. Tất cả đều ăn mặc và trang bị giống như hai tên trước. Tên mang khẩu Colt Trung Cộng- chắc là cấp chỉ huy- lên tiếng hỏi:

-Bắt được có một tên hay sao?

-Vâng chỉ có một tên thưa đồng chí! Tên kia đã bị bắn chết trên núi, chỉ còn tên này trốn thoát.

Nghe tên kia trả lời, Đỏ biết là chúng đã cho một Trung đội theo sát Son và anh trong mấy ngày nay. Tên chỉ huy hỏi anh:

-Mày là lính Biệt Kích Mỹ?

-Không, tôi là Biệt kích Việt Nam.

-Súng đạn đâu?

-Tôi đánh mất tất cả.

-Tên mày và chức vụ?

-Đinh Đó, toán phó Thám Kích.

Hỏi mấy câu vắn tắt rồi hắn hất hàm ra lệnh:

-Thôi giải hắn đi!

Toán người do tên chỉ huy hướng dẫn đi trước và Đinh Đó được bốn tên áp giải theo sau. Đoàn người theo đường mòn mà đi, hình như chúng đã thông thuộc với những lối đi quanh co này. Trưa hôm đó tới một căn nhà dùng làm trạm giao liên. Đây không có người ở, chỉ dùng làm chỗ dừng chân nghỉ ngơi. Cả bọn ăn cơm và một tên mang đến cho Đó một chến cơm với ít muối. Ăn xong chúng ngồi nói chuyện một lúc rồi tiếp tục lên đường. Khi trời vừa tối tới trạm giao liên thứ hai. Trạm này có chừng một trung đội đang đóng giữ. Sau khi trao đổi vài câu cùng trưởng trạm, chúng nghỉ đêm tại đây… Cứ như thế, tiếp tục ngày đi đêm nghỉ và tiến về hướng đông. Dọc đường anh để ý cứ hai trạm bỏ trống tới một trạm có người, mỗi trạm cách nhau từ 2 tới 3 cây số. Anh được biết trong câu chuyện chúng trao đổi: Đơn vị này thuộc Tiểu Đoàn 50 CSBV và chúng đang áp giải anh về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn.

Qua ngày thứ ba, anh dược lãnh mỗi ngày nửa lon gạo và một gói muối nhỏ, trong khi chúng lãnh mỗi người 1 lon gạo kèm 1 gói đồ ăn khô. Giờ chúng để anh thong thả hơn vì đây là vùng hoạt động của chúng.

Ban ngày anh được cởi trói, tự nấu lấy cơm dưới sự giám sát của 4 tên. Đêm đến chúng trói lại và nằm cạnh để canh giữ….

Năm ngày qua đã tới Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn của chúng. Nơi đây không một hàng chữ, không một cổng ra vào vì bốn phía đều trống trải. Năm dẫy nhà mỗi dẫy chừng 10 căn cách nhau từ 50 đến 100 mét. Nhà dựng sơ sài bằng cây, lợp lá rừng trông đã cũ. Anh thấy những người lính qua lại cõn rất trẻ chừng 15,16 tới 21, 22 tuổi là nhiều. Đứa mặc quần áo, đứa cởi trần, tỏ ra rất thong thả. Có vài người chống nạng hay bó tay chân. Anh thoáng thấy có cả nữ cán bộ, nhưng không biết họ làm nhiệm vụ gì ở đây. Các cô mặc quần đen, áo nâu, chit khăn theo lối người miền Bắc. Nhưng một đặc điểm là bọn này ngừơi nào cũng gày gò da vàng bủng. Anh đoán chừng đây là cơ sở hậu cần trung đoàn. Những người qua lại đưa mắt tò mò nhìn anh rồi bỏ đi.

Một tên bước tới hỏi:

-Mày là lính ở đâu?

-Lính Việt Nam Cộng Hoà.

-Đi lính có sướng không?

-Không đến nỗi khổ cực.

-Quần áo và ăn uống thế nào?

-Đầy đủ.

-Hút thuốc này?

Tên cán bộ vừa nói vừa giơ điếu thuốc cuốn theo lối đồng bào Thượng thường dùng.

-Không! Tôi hút Salem.

-Ồ khá nhỉ!

Hắn thoáng lộ nụ cười với nét mặt nham hiểm và ra lệnh:

-Đưa vào khu 1, không cho tiếp xúc với bộ đội.

Chúng dẫn anh vào phồng số 1 trong khu đầu tiên. Trong nhà không có giường chiếu, không bàn ghế, chỉ có bóng tối tràn ngập…Anh bị giam tại đây đúng 5 ngày. Chỉ được ra ngoài giờ ăn và lo vệ sinh cá nhân, có người đi theo giám sát. Đỏ đã nghĩ đến cách trốn thoát, nhưng vì bị kiểm soát chặt chẽ và anh cũng chưa định ra vị trí nơi mình bị giam nên chưa thể quyết định được. Qua ngày thứ 6, chúng tiếp tục áp giải anh đi về hướng đông. Anh bỡ ngỡ không hiểu chúng đưa mình đi đâu…

Vào cuối tháng, cả trung đội tới trạm giao liên nằm duới chân ngọn đồi và xa xa phía bên kia là một con sông chảy ngang qua. Trong khi dừng đợi anh đã nhận ra vị trí nơi đây. Cách một tháng trước anh đã bay qua vùng này khi Toán Thám Kích của anh ngồi trên trực thăng tìm vị trí đổ quân. Đó là dòng sông chia đôi vùng ranh giới giữa Quốc Gia và Cộng Quân, thuộc quận Đức Dục, cách thị xã An Hoà chưa đầy 20 cây số. Trong những cuộc hành quân trước đây những toán Delta và Thám Kích đã quen thuộc địa thế vùng này.

Một tia hy vọng loé trong đầu, anh phải tìm cách trốn thoát. Cần chờ thời gian thuận tiện và lúc địch sơ hở.

Đây là trạm tiếp liên, chúng chờ tiếp tế hơn 10 ngày. Vào một buổi sáng, chúng bắt anh đi vác gạo từ bờ sông về. Chắc gạo được chuyển từ vùng Quốc Gia vào đây. Được tiếp tế rồi chúng vẫn đóng lạí chờ lệnh.
Thoát vùng tử địa

Trong những đêm nằm tại đây, Đinh Đó để ý thấy bốn tên áp giải càng ngày càng tỏ ra không lưu tâm đến anh như trước. Nhiều lúc trông coi anh qua loa và đêm đến lại nằm cách xa. Hai tuần trôi qua. Vào một đêm tối trời, sau khi một tên trói anh lại và tìm một góc tối nằm ngủ. Anh giả vờ nhắm mắt, rồi một lát sau ngáy gỗ. Về khuya, bốn bề im lặng chỉ còn nghe tiếng côn trùng và tiếng người thở đều đều. Anh mở rộng đôi mắt nhìn vào màn đêm, những bóng đen bất động. Bọn chúng đã ngủ say như chết. Đỏ khẽ cựa mình trút bỏ sợi giây buộc tay lỏng lẻo. Anh tìm một cục đá ném về tên áp giải nằm gần, không có phản ứng gì. Anh từ từ bò về phía trước rất nhẹ và nín thở. Thoát chốc anh đã lẩn vào bóng đêm tiến về phía sông. Con sông không rộng lắm nên chỉ một lúc sau anh đã sang tới bờ bên kia. Thế là yên tâm, vì bên này vào vùng kiểm soát của Quốc Gia. Xa xa có ánh lửa, anh lầm lũi về phía đó. Một ngôi nhà nhỏ có tiếng từ trong vọng ra. Có cả tiếng radio. Anh cố gắng lắng nghe những bài ca và giọng nói quen thuộc Đài Quốc Gia. Anh vững tâm gõ của. Tiếng bên trong hỏi vọng ra:

-Ai ngoài đó?

-Thưa tôi.

-Tôi là ai?

-Tôi đi lạc đường.

Tiếng dép lẹp xẹp, một người đàn ông chừng ngoài 40 ra mở cửa:

-Mời vào trong.

Ông đưa mắt nhìn bỡ ngỡ vì thấy người anh còn ướt và mặc độc nhất chiếc quần đùi. Anh vội lên tiếng:

-Thưa ông đây là đâu?

-Vùng Quốc Gia kiểm soát.

-Có quân đội…

-Không có lính bên kia, chỉ có quân đội VNCH đóng thôi. Vậy anh là…?

-Thưa ông tôi là lính Cộng Hòa bị bắt, trốn thoát và đi lạc. Tôi đói ông có gì cho ăn…

-Được anh ngồi đợi đó.

Rồi ông xuống bếp lấy cơm và đồ ăn mang lên. Vì đói nên anh ăn rất ngon lành không cần khách sáo.

Anh rất cảm động về thái độ ông đối với mình:

-Chắc anh bị lính bên mặt trận bắt và tìm cách trốn?

-Dạ vâng.

-Thế giờ anh định về đâu?

-Tôi sẽ nhờ chính quyền địa phương gíúp trở về đơn vị ở Đức Dục, gần khu Kỹ Nghệ Nông Sơn.

-Thôi để trời sáng, tôi sẽ đưa anh lên trình diện hội đồng xã, quận Đức Dục gần đây.

-Cám ơn ông nhiều.

Sáng sớm người đàn ông dẫn anh lên trình diện hội đồng xã. May mắn dọc đường anh gặp một chiếc xe nhà binh, anh nhận ra ngay chiếc xe Toán Delta thường lên Quận. Xe dừng lại đưa anh về căn cứ hành quân Đức Dục.

Cấp chỉ huy và đồng đội rất ngỡ ngàng khi thấy anh trở về. Họ tưởng anh mất tích hay đã chết rồi. Đồng đội hân hoan bao quanh hỏi thăm sức khoẻ và tin tức. Anh cảm động biết bao khi gặp lại mọi người trong tình huynh đệ nồng nàn đầm ấm.

Người chiến sĩ Thám Kích Tiền Phong ghi công đầu.

Ngay trưa hôm ấy, Đinh Đó ngồi trên trực thăng cùng thiếu tá chỉ huy trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta đi thám sát khu vực địch đóng quân anh đã ghi nhận đêm trước. Căn cứ địch đóng phía bên kia sông cách làng An Hoà chưa đầy 10 cây số, nằm dưới chân một ngọn đồi. Anh đã nhận ra vị trí. Chiếc HU1B bay lượn vòng phía trên, rồi lao xuống thấp dần. Dấu vết Cộng quân được xác nhận. Một loạt AK phía dưới vọt lên, hai khẩu đại liên từ trên phi cơ đáp trả giòn vang.

Vài tiếng sau chiều hôm ấy 18/5/69, pháo binh ta đã nã vào vùng địch hàng trăm trái đạn. Tiếp theo là những phi vụ B52 oanh kích rung chuyển núi đồi… Chắn chắn những phi vụ oanh kích và trọng pháo đã gây cho địch tổn thất nặng nề. Đó cũng là nhờ công lao của:

-Toán Phó Đinh Đó.

-Người chiến sĩ gan dạ Thám Kích Tiền Phong, đã hai lần lọt vào tay Cộng quân (lần trước bị bắt giam 7 ngày trong cuộc hành quân Delta năm 1967, anh cũng trốn thoát)

-Một lần bị thương trong cuộc hành quân Tết Mậu Thân tại Nha Trang.

-Chính tay anh trong đời binh nghiệp đã hạ 30 tên Việt Cộng,

Nhưng anh đã san sẻ vinh dự cho đồng đội và chỉ nhận một số huy chương thật khiêm tốn gồm một Ngôi Sao Bạc – một Chiến Thương Bội Tinh, cùng một số tiền thưởng do Thiếu Tá Phan Văn Huân chỉ huy trưởng/Trung Tâm Hành Quân/Delta trao tặng trong dịp trốn thoát vừa qua.

Tôi nhìn huy hiệu anh mang trước ngực: Chiếc dù mở rộng phía trên đôi cánh chim đại bàng bạt gíó, chiếc sọ người dấu tử thần cùng lưỡi lửa biểu hiệu lòng nhiệt thành quả cảm, ba tia sét tượng trưng 3 lối xâm nhập: Không- Thủy –Bộ và hàng chữ dưới cùng Thám Kích Tiên Phong.

Anh nở một nụ cười tươi trong dáng điệu còn mỏi mệt vì đang thời gian nghỉ bồi dưỡng sức khoẻ.

Tôi ghi nhớ câu anh nói khi chia tay tạm biệt:

-Nghỉ ngơi sau ít ngày phép, tôi sẽ trở về cùng đồng đội tiếp tục cuộc sống như cũ.

Nghĩa là anh lại đi toán vô rừng, tiếp tục gian khổ và có thể lại bị bắt, thất lạc, mất tích hay ra đi vĩnh viễn…. nhưng anh chấp nhận tất cả, vì cuộc sống của những chiến sĩ Delta hay Thám Kích Tiền Phong Lực Lượng Đặc Biệt luôn là thế. Huy hiệu Anh và các bạn mang trên ngực áo đã nói lên lòng quả cảm và sự hy sinh của tuổi trẻ dâng hiến cho Quê Hương Tổ Quốc.

Phóng Viên Chiến Trường Đinh Quân

(*) Ghi chú thêm của tác giả Đinh Văn Tiến Hùng, bút hiệu Đinh Quân.

– Và tại nơi đây hơn 1 năm sau, trên ngọn đồi Abia đã xảy ra trận chiến ác liệt giữa Quân đội Hoa Kỳ và Cộng Sản Bắc Việt kéo dài từ 1/7 đến 23/7/70, mà người Mỹ đã gọi là Ngọn đồi Thịt Băm (Hamburger Hill)

-Năm 1987, đạo diễn John Irvin đã dựng thành phim mang cùng tên.

-Rồi mới đây, trong dịp kỷ niệm 40 năm Quốc Hận, cuốn phim Ride the Thunder đã được công chiếu rộng rãi và nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt. Phim dựa theo tác phẩm của Richard Botkin, do đạo diễn Fred Koster thực hiện, nói lên tinh thần chiến đấu can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Lời kết

Howard E. Wasdi

Bài 18 – Bài cuối

Bốn tên cướp biển Somali nhảy lên tàu hàng MV Maersk Alabama của Mỹ đang chạy cách bờ biển Somali 450 km. Đây là chiếc tàu đầu tiên mang cờ Mỹ bị cướp kể từ những năm 1800. Những tên cướp biển đã giữ Thuyền trưởng Richard Phillips làm con tin trong chiếc xuồng cứu sinh. Tàu khu trục USS Bainbridge (DDG-96) ngay lập tức có mặt đưa ra yêu cầu bọn cướp biển thả Thuyền trưởng Phillips. Máy bay trinh sát P-3 Orion Bay phía trên, theo dõi tình hình. Bọn hải tặc chỉ đồng ý thả thuyền trưởng khi đã nhận được khoản tiền chuộc một triệu đô-la. Lợi dụng bóng tối, một nhóm đặc nhiệm SEAL nhảy dù xuống biển và lên tàu khu trục Bainbrige. Chiếc xuồng cứu sinh hết nhiên liệu và lúc này gió biển khá to. Lo sợ trước những đợt sóng lớn, hải tặc cho phép tàu Bainbridge kéo xuồng cứu sinh vào vùng biển lặng sóng hơn.

Đêm Chủ nhật ngày 12 tháng Tư năm 2009, tàu Bainbridge và xuồng cứu sinh neo đậu cách nhau chưa đầy 10m trong màn đêm đen kịt. Bên trong tàu Bainbridge, một hải tặc đang thương lượng về số tiền chuộc một triệu đô-la. Ở đuôi tàu, ba lính bắn tỉa SEAL và các đặc nhiệm phát hiện mục tiêu, đều ăn vận đồ màu đen có nhiệm vụ giám sát chiếc xuồng cứu sinh và truyền tải thông tin về cho Chỉ huy SEAL.

Một đặc nhiệm phát hiện mục tiêu thông báo “T đang dí súng AK vào lưng H.” Mật hiệu này có nghĩa “Tên khủng bố đang chĩa súng vào lưng con tin.” Hai tên cướp biển khác đang thò đầu lên boong tàu để theo dõi tình hình. Mỗi lính bắn tỉa đều có một miếng nhám Velcro ở bên thành khẩu súng bắn tỉa Win Mag. Gắn với miếng nhám Velcro là một thiết bị truyền tín hiệu. Khi một lính bắn tỉa đưa tên cướp biển vào thước ngắm của mình, anh ta sẽ ấn nút trên thiết bị này để gửi tín hiệu đến chỉ huy của SEAL.

Trên tai nghe, các lính bắn tỉa nhận được mệnh lệnh của Chỉ huy “Sẵn sàng. Ba, hai, một, bắn.” Từ đuôi tàu Bainbridge, ba lính bắn tỉa đồng thời siết cò. Ba tên cướp biển đổ gục. Một đội xung kích tiếp cận xuồng cứu sinh giải cứu Thuyền trưởng Phillips. Các đặc nhiệm SEAL khác bắt sống tên cướp biển đang thương lượng khoản tiền chuộc trên tàu Bainbridge.Một lần nữa, Đội đặc nhiệm số 6 của SEAL lại chứng tỏ được đẳng cấp của mình. Hầu hết những sứ mệnh do đặc nhiệm SEAL thực hiện đều được giữ kín với công chúng, gia đình và ngay cả với các đồng đội trong SEAL. Thật khó diễn tả những khó khăn và rủi ro các đặc nhiệm gặp phải trong quá trình huấn luyện và thực thi nhiệm vụ. Nói chung, sự tận tụy, sự hy sinh mất mát và lòng yêu nước của họ sẽ vẫn là những điều luôn được giữ kín. 

Phụ lục

Seal Team 6: Biệt đội siêu bí mật Vụ “hành thích” Osama bin Laden của SEAL Team 6 giúp soi rọi một chút ánh sáng vào biệt đội tinh nhuệ số 1 của quân đội Mỹ. Có 79 biệt kích được giao nhiệm vụ tiêu diệt Osama bin Laden song vào phút cuối chỉ có khoảng hơn 20 người tiến vào dinh thự của thủ lĩnh Al Qaeda, xông vào phòng ngủ và bắn trùm khủng bố này ở cự ly gần.Tất cả đều biết Tổng thống Mỹ Barack Obama đang theo dõi trực tiếp hoạt động của họ tại Washington. Những người này được ca ngợi như những anh hùng tại Mỹ song sẽ không có cuộc diễu hành mừng chiến thắng nào dành cho họ. Những biệt kích nói trên phục vụ trong một biệt đội có tên gọi không chính thức là SEAL Team 6 (Biệt đội SEAL số 6 – ST6), một đơn vị bí mật đến nỗi Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ từ chối thừa nhận trực tiếp sự hiện hữu của nó. Danh tính các thành viên của nó, dĩ nhiên, sẽ không được công bố vì lý do an ninh. Nhân dạng của họ có thể sẽ được giữ bí mật vĩnh viễn.

Thành viên của biệt đội này từng săn lùng những tội phạm chiến tranh ở Bosnia, chiến đấu tại một vài chiến trường đẫm máu nhất ở Afghanistan và từng bắn chết 3 tên cướp biển Somalia trong chiến dịch giải cứu một con tin người Mỹ năm 2009.

Cuộc đột kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 5 ở Pakistan cũng có thể xem là điểm son cho biệt đội từng can dự trong một số chiến dịch nguy hiểm nhất của quân đội Mỹ trong vài thập niên qua.Leon Panetta, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), nói các biệt kích SEAL lao vào nhiệm vụ với chỉ từ 60 đến 80% khả năng bin Laden có mặt trong ngôi nhà.Ông Panetta nói các biệt kích phải thực hiện quyết định bắn bin Laden, người không mang vũ khí và có một khẩu súng trường trong tầm với, trong một phần giây, khi họ tìm thấy hắn ở phòng ngủ trên tầng ba.Không hề có tranh luận giữa các thành viên của ST6 về việc họ có thực hiện quyết định đúng đắn khi bắn bin Laden hay không.

Don Shipley, một cựu thành viên của SEAL, nói: “Trong đêm tối, với đạn bay vèo vèo xung quanh và có nhiều người ngã xuống, nhiệm vụ của bạn là bắt sống hoặc giết chết bin Laden, ai biết được hắn ta giấu gì trong áo? Chuyện đó chỉ xảy ra trong một chớp mắt. Mục tiêu đang ở trước mắt và một cơ hội thứ hai sẽ phải trả giá bằng mạng sống”. Lalo Roberti, một cựu thành viên SEAL khác từng tham gia vào một chiến dịch giải cứu nguy hiểm ở Afghanistan vào năm 2005, nói: “Với chúng tôi, để trúng đạn đã là dở, đặc biệt với những thành viên ST6”. Trong hải quân Mỹ, các biệt đội SEAL bình thường được đánh số từ Đội số 1 đến Đội số 5 và Đội số 7 đến Đội số 10. Đội số 6 (ST6) được mô tả là đội “tinh nhuệ của tinh nhuệ” hay theo Roberti là “đội các ngôi sao”. Tên gọi chính thức của ST6 là Nhóm triển khai chiến tranh đặc biệt của Hải quân Mỹ (US Naval Special Warfare Development Group) hay được gọi tắt là DEVGRU. Các thành viên của SEAL cho biết, ST6 được chọn thực hiện chiến dịch “hành thích” bin Laden, sứ mệnh đình đám nhất trong lịch sử của SEAL, bởi kỹ năng sát thương của họ trong các điều kiện phức tạp và mơ hồ. Tất cả các thành viên của SEAL đều phải kinh qua những bước chuẩn bị khốc liệt, bao gồm 6 tháng huấn luyện tác chiến cơ bản dưới nước ở Coronado, California. Trong “tuần lễ địa ngục”, các tân binh chỉ được ngủ tổng cộng 4 tiếng trong suốt 5 ngày rưỡi chạy nhảy, bơi lội trong nước lạnh buốt và lội trong bùn lầy. Có khoảng 80% số ứng viên không vượt qua được vòng này và ít nhất có một người chết.

Với những ai thành công, họ sẽ được huấn luyện thêm sau đó. Sau nhiều năm làm thành viên SEAL bình thường, các ứng viên của ST6 được huấn luyện nhảy dù từ độ cao 9.000m với mặt nạ và chiếm lại một tàu du lịch bị tấn công. Chỉ có một nửa số thành viên của SEAL hoàn thành được khóa huấn luyện này. Ryan Zinke, một cựu thành viên của ST6 đang là nghị sĩ ở bang Montana, cho biết các thành viên của biệt đội này có một tính cách nhất định. “Tôi sẽ dùng từ tự phụ và kiêu căng”, Zinke nói. SEAL là từ viết tắt của nhóm từ chỉ phạm vi hoạt động đa dạng của họ gồm Sea (Biển) – Air (Không) – Land (Đất). Đơn vị này được Tổng thống John F. Kenedy thành lập vào năm 1962 như một cách thức để mở rộng chiến tranh không quy ước.Biệt đội ST6 về sau được thành lập nhằm phản ứng trước chiến dịch giải cứu con tin thất bại ở Iran vào năm 1980, khi Lầu Năm Góc cảm thấy có nhu cầu về một cơ quan mà ngày nay được gọi là Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt, cùng với một đơn vị đặc biệt của Hải quân chuyên trách chống khủng bố.ST6 có lịch sử chuyên tác chiến trên biển song trong một thập niên kể từ vụ khủng bố 11.9, đội đã tăng cường chiến đấu trên bộ ở Iraq và Afghanistan. Quy mô của ST6 được giữ bí mật song đội được cho là đã gia tăng quân số gấp hai lần lên thành gần 300 người kể từ đó.

Hiện tại, SEAL có khoảng 3.000 thành viên đang hoạt động, trong đó các đội số lẻ đóng tại Coronado và số chẵn đóng tại Virginia. ST6 trú đóng tại một căn cứ độc lập với các đội khác, tại bờ biển Virginia. “Tôi thường gọi đó là câu lạc bộ của những ông già”, Zinke nói. Với sự gia tăng mức độ quan trọng của các chiến dịch đặc biệt và kiểu chiến tranh du kích, các thành viên của SEAL cũng đã chiếm giữ nhiều vị trí nổi bật trong quân đội Mỹ. Quan chức lên kế hoạch và giám sát chiến dịch tiêu diệt bin Laden – Phó đô đốc William H. McRaven, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt (US Special Operations Command), là một thành viên của SEAL.

Ngày 4 tháng 5, Lầu Năm góc cũng thông báo Phó đô đốc Robert S. Harward Jr., một thành viên SEAL khác, sẽ trở thành Phó tư lệnh của Bộ Tư lệnh Trung bộ Mỹ (USCENTCOM, phụ trách Trung Á và Trung Đông), giúp ông trở thành quan chức cao cấp thứ hai của quân đội Mỹ tại Trung Đông.Eric Greitens, một cựu thành viên SEAL từng viết cuốn sách “Trái tim và quả đấm” về kinh nghiệm của mình, nói các thành viên của SEAL thường bị hiểu nhầm là các biệt kích chết chóc nhất của Mỹ.

Dù theo như mô tả của Nhà Trắng, mức độ bạo lực của những tấm ảnh về bin Laden với lỗ đạn trên đầu có vẻ như góp phần nhấn mạnh tai tiếng này, ông Greitens cho biết thành viên của SEAL là những biệt kích sáng tạo, những người biết cách “thu thập tối đa thông tin tình báo mà họ có thể”.

Bất chấp sự thành công của chiến dịch, các cựu thành viên của SEAL cũng thừa nhận tính hiểm nghèo của cuộc đột kích và mức độ may mắn trong đó. Ông Shipley nói với một phóng viên của tờ New York Times: “Nếu mọi chuyện diễn biến theo chiều hướng xấu, cuộc trò chuyện giữa tôi và anh sẽ hoàn toàn khác biệt. Chỉ có hai chiều hướng trong các chiến dịch như thế − số không hoặc người hùng”.

SƠN DUÂN

(Theo New York Times)

Bật mí về biệt đội siêu đẳng tiêu diệt Bin Laden

Tiêu diệt trùm khủng bố nhanh gọn trong khoảng 40 phút và không để xảy ra thương vong nào cho mình, đội quân siêu đẳng của hải quân Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh của mình.Từ căn cứ không quân Ghazi ở Pakistan, chiếc trực thăng cải tiến MH-60 hướng về pháo đài ở Abbottabad, cách trung tâm thủ đô Islamabad của Pakistan khoảng 50km. Trên trực thăng là đội SEAL của Hải quân Mỹ, đã từ Afghanistan bay qua biên giới cùng với hiệu lệnh chiến thuật, những người thu thập tin tình báo và người chỉ đường dùng ảnh siêu phổ tối mật.Sau loạt hỏa lực hơn 40 phút, 22 người thiệt mạng hoặc bị bắt. Một trong số những người đã chết là Osama bin Laden, trúng hai phát đạn vào phía trái mặt. Thi thể của trùm khủng bố được đưa lên trực thăng và máy bay trở lại nơi xuất phát. Một trong hai chiếc máy bay bị trục trặc kỹ thuật và bị quân Mỹ phá hủy, quan chức Nhà Trắng cho hay. Nếu đó không phải là mục tiêu có giá trị, thì hành động vừa qua chỉ là sứ mệnh thường lệ của đội quân SEAL Team 6 (đội 6), một đơn vị được huấn luyện đặc biệt và bí ẩn. Cũng như các đơn vị đặc nhiệm khác, các thành viên của SEAL Team 6 đội một chiếc mũ len trùm đầu và cổ dày. Được thành lập sau cuộc giải cứu 52 người Mỹ bị bắt làm con tin trong đại sứ quán Mỹ ở Tehran, Iran năm 1980, đơn vị này có nhiệm vụ thực thi các sứ mệnh tối mật, vốn bị chính phủ và quân đội Mỹ chính thức từ chối đảm nhận. Kết quả là họ thường được nói là “đặc vụ đen” – một thuật ngữ yêu thích của các nhà làm phim hành động Hollywood.

Để bổ sung cho không khí bí mật bao trùm quanh đội quân này, chỉ vài người ngoài quân đội dám chắc về tên gọi của đơn vị siêu đẳng. Tên gọi dài ngoằng đáng tín cậy nhất là NAVSPECWARDEVGRU viết tắt của Đội triển khai chiến tranh đặc biệt của hải quân, hoặc viết ngắn hơn là DEVGRU.Tháng 3/1997, Tổng thống Mỹ Bill Clinton ký Sắc lệnh 13039 đặt tên cho đơn vị trên là NAVSPECWARDEVGRU. Tên gọi này sau đó được phổ biến cho các nhân viên trong quân đội Mỹ. Tuy nhiên, với vụ tiêu diệt Bin Laden vừa qua, có vẻ như đơn vị siêu đẳng trên sẽ được công chúng nhớ mãi với tên gọi SEAL Team 6.SEAL là tên viết tắt từ chữ cái đầu của từ Biển (Sea) Không (Air) và Đất (Land), và đội SEAL của Hải quân chuyên trách các chiến dịch đổ bộ. Tuy nhiên, hành động gần đây của lực lượng này ở Pakistan cho thấy, các thành viên của SEAL có thể hoạt động trong bất cứ môi trường nào.

SEAL Team 6 là đơn vị tinh nhuệ trong đội quân tinh nhuệ. Đóng ở căn cứ không quân Oceana của hải quân ở Virginia, thành viên của Team 6 còn hơn cả các chiến binh tài giỏi. Hầu hết, họ đều giỏi một hoặc nhiều ngoại ngữ. Trong chiến dịch tiêu diệt Bin Laden vừa qua, một số thành viên của đội còn có thể nói tiếng Pasto. Các ứng viên được lựa chọn vào SEAL Team 6 có khả năng thích nghi với bất kỳ một môi trường nào. Không có gì ngạc nhiên, việc huấn luyện đội viên SEAL cực kỳ khắc nghiệt và có một số trường hợp tử vong đã xảy ra, thường là trong quá trình huấn luyện chiến đấu, khi mà đạn thật được sử dụng.

Với một chế độ tập luyện đầy nguy hiểm nhằm chuẩn bị cho các thành viên khả năng tham chiến thật sự nên quân Mỹ không có bất cứ thương vong nào trong cuộc đột kích 40 phút ở Abbottabad. Điều này chứng tỏ sự hữu hiệu của quá trình huấn luyện. Ngoài thành công trong cuộc tiêu diệt Bin Laden, Team 6 còn đạt được nhiều thắng lợi khác. Dù chúng ta không biết rõ mọi chiến dịch của đội quân siêu đẳng này, nhưng Team 6 có tham gia chiến dịch giải cứu Toàn quyền Grenada khi Mỹ chiếm hòn đảo này năm 1983 để lật ngược tình thế đảo chính. Những năm 1990, Team 6 đã tiêu diệt một số tội phạm chiến tranh ở Bosnia.

Song, cũng như các đơn vị khác, Team 6 cũng có những thất bại. Tháng 3/2002, trên đỉnh núi Takur Ghar ở đông nam Afghanistan, một chiếc trực thăng Chinook chở các thành viên của nhiều đơn vị đặc nhiệm Mỹ đã trúng lựu đạn. Trong khi phi công cố gắng kiểm soát máy bay, thành viên đội SEAL Team 6 Neal Roberts trượt khỏi cầu thang đổ bộ và rơi xuống núi. Dựa trên những bằng chứng pháp y thu thập được sau này cho thấy, Roberts bị một số chiến binh Al Qaeda bao vây và đã trụ được 30 phút cho tới khi bị giết. Tuy nhiên, trong lịch sử của SEAL, những trường hợp như trên rất hiếm.

HOÀI LINH

(Theo National Journal, Mail)

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Chữa bệnh cứu người

Howard E. Wasdi

Bài 17

Tôi lái xe vượt qua chặng đường dài khoảng 430 km đến thăm cha tại bệnh viện ở thành phố Savannah, Georgia. Vẻ bề ngoài của ông đã đánh lừa tôi. Khi tôi đến, ông vẫn đang thức và cười đùa với các chị gái của tôi. Bác sĩ phẫu thuật nói với tôi: “Cha của anh sẽ không sao đâu. Ông đang trong quá trình bình phục.” Do vậy, ngay tối hôm đó, tôi chào ông để quay về trường chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp. Vài giờ sau khi tôi trở về nhà, em gái út Sue Anne gọi điện báo cho biết bố dượng tôi bị một cơn đau tim. Đến chừng nửa đêm, người anh em họ của tôi Greg thông báo cho tôi biết ông đã qua đời.

Dù gặp phải biến cố lớn nhưng tôi vẫn tham dự kỳ thi tốt nghiệp. Trong môn thi đầu tiên, Tiến sĩ Marni Capes nói với tôi “Howard, cậu hãy đứng dậy và rời khỏi đây ngay bây giờ.” “Không, không. Tôi có thể thi được. Tôi có thể làm được điều đó.” Khi thi, tôi mới thấy nó không khó như tôi tưởng. Từ khi trở thành một đặc nhiệm SEAL, tôi không còn lo lắng chuyện bị cha làm tổn thương nữa. Mối quan hệ giữa hai cha con tôi đã cải thiện rất nhiều. Sau khi trở về từ Somali, lần đầu tiên tôi nói với ông “Con yêu bố.” Sau đó, tôi đều lặp lại câu nói này mỗi lần tôi gặp ông. Chúng tôi đã thân ái ôm hôn nhau. Theo dòng thời gian, tính tình cha tôi dịu đi rất nhiều. Trong buổi sum họp gia đình cách đây không lâu trước khi ông qua đời, cha nói với tôi rằng ông rất yêu quý người vợ mới cưới của tôi Debbie. Khi nói về nghề tôi đang theo học, ông bảo: “Khi nào con mở phòng khám tư, bố sẽ là một trong những bệnh nhân đầu tiên của con.” Lời nói từ một người chẳng bao giờ chịu đến bệnh viện khám chữa bệnh cho thấy ông rất tin tưởng vào tay nghề tương lai của tôi. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Tôi đã có được sự tôn trọng, tán đồng của cha, một điều tôi hằng mong ước.

Mẹ nói rằng cha dượng tôi đã rất buồn khi quan hệ giữa hai cha con tôi không mấy tốt đẹp. Tôi không muốn nói với mẹ tôi rằng khi tôi ở nhà, cha luôn là người quá gia trưởng, độc đoán. Ông không trò chuyện với tôi và cũng không thể hiện mong muốn xây dựng tình cảm với tôi. Khi cha mất, tôi không khóc nhiều như khi bác Carroll mất. Khi còn là một đứa trẻ, tôi chỉ dám tâm sự những chuyện thầm kín với bác Carroll. Tôi thậm chí có thể hỏi bác: “Mỗi sáng thức dậy, ‘thằng nhỏ’ của cháu cứ ngóc lên là sao? Liệu cháu có bị bệnh gì không?” Bác mỉm cười đáp: “Không, đó là chuyện bình thường cháu ạ.” Tuy nhiên, bố dượng tôi đã nuôi dạy tôi khôn lớn theo cách của ông và tôi rất buồn khi ông qua đời.

Một hôm, khoảng chín tháng sau đó, con trai Blake hỏi tôi “Bố có muốn gặp ông ấy không?” Tôi hỏi lại “Gặp ai hả con?”

“Cha đẻ của bố ấy.”

Cha đẻ của tôi có thể đã đi qua mặt tôi ở trong quầy tạp hóa nào đó và tôi chẳng biết ông là ai. “Này Blake, bố nghĩ là con biết ông ấy phải không”. Chúng tôi tìm kiếm và cuối cùng cũng tìm ra cha đẻ của tôi. Sau đó, tôi gọi điện cho ông. Vào dịp Lễ Giáng sinh, tôi đến gặp cha đẻ Ben Wilbanks của tôi. Cha đẻ Ben kể rằng mẹ tôi đã mang chúng tôi đi và đến sống ở Georgia với Leon. Trong tâm trí của mình, câu chuyện của cha đẻ tôi giải thích cho tôi hiểu tại sao gia đình tôi lại vội vã rời Florida đến Georgia để sống. Tôi có chiều hướng tin vào câu chuyện này bởi những câu chuyện tôi nghe được từ mẹ và các chị gái của tôi đầy mâu thuẫn. Cha đẻ tôi còn kể, ông đã bỏ ra nhiều năm tìm kiếm tôi nhưng không tìm được. Ông trở thành người tôi yêu quý nhất trong đời. Khi ông ôm tôi, tôi biết tôi đang đón nhận cái ôm chân thành. Ông từng phục vụ trong quân đội và là một nhân viên quân cảnh. Sau khi giải ngũ ông làm nghề lái xe tải cho tới tận bây giờ.

Blake và tôi tiếp tục giữ liên lạc với cha đẻ của tôi. Mẹ tôi không bao giờ tha thứ cho ông và cũng không bao giờ quên những chuyện đã xảy ra giữa bà và ông. Về phần mình, tôi không đưa ra bất kỳ quyết định nào ra chiều bênh vực riêng ai. Khi chuẩn bị tốt nghiệp, tôi nhận được email của Đại úy Bailey, giảng viên Trường huấn luyện các bài cơ bản dưới nước. Ông đã đọc một bài báo viết về tôi trong phòng chữa trị xương khớp. Trong thư ông gửi lời chúc mừng tôi và hỏi tôi có còn nhớ ông không.

Tôi tốt nghiệp với tấm bằng bác sĩ nắn xương khớp vào ngày 24 tháng Chín năm 2009. Tôi từng là người bảo thủ, kiên quyết không chịu gặp bác sĩ nắn xương khớp để trị bệnh trong một thời gian khá dài mặc dù thuốc men không làm tôi hết đau. Nhưng tôi cũng hiểu một điều là một người hành nghề y không thể làm được mọi điều cho một bệnh nhân và một bác sĩ nắn xương khớp không thể làm được tất cả mọi việc. Làm việc theo nhóm, đây là điều tôi đã đúc rút từ cuộc đời, luôn có hiệu quả. Xuất phát từ ý nghĩ đó, chúng tôi làm việc theo hệ thống. Các bác sĩ địa phương giới thiệu bệnh nhân cho tôi và tôi cũng giới thiệu bệnh nhân cho họ. Với phương thức làm việc này, bệnh nhân là những người hưởng lợi nhiều nhất.

Lần đầu tiên tôi bắt đầu khám bệnh cũng là lúc tôi biết mình đã có quyết định đúng. Bệnh nhân tin tưởng tôi. Tôi chẩn đoán chính xác bệnh cho họ. Tôi giúp họ cảm thấy khỏe hơn và họ yêu quý tôi vì điều này. Giờ đây, tôi toàn tâm toàn ý vào nghề nghiệp mới của mình. Phòng khám riêng của tôi hoàn thành vào tháng Tư năm 2010. Thật may mắn, ngay từ ngày đầu tiên khai trương đã có nhiều người dân ở khu phố và cộng đồng xung quanh đến khám chữa bệnh. Trong số này, có một bệnh nhân là cháu bé 13 tuổi. Cháu bị đau đầu mãn tính khoảng bốn năm trở lại đây. Sau khi khám bệnh tôi mới biết, nguyên nhân dẫn đến chứng đau đầu kinh niên của cháu bé khởi nguồn từ vụ tai nạn ô tô khi cháu còn bé dẫn đến mất phản hồi thần kinh về bó cơ trong vận động chủ động. Trung bình mỗi tháng cháu đau đầu 12 lần. Sau mười tuần điều trị tại phòng khám của tôi, cháu chỉ còn đau đầu khoảng một đến hai lần hàng tháng. Những ca trị bệnh thành công kiểu này là động lực giúp tôi hiểu mình đã có quyết định đúng. Tôi thực sự cảm thấy rằng đây là con đường Chúa dành cho mình sau khi Ngài đã cứu sống tôi ở Somali. Một minh chứng khác là khi tôi trị bệnh cho một bé gái 15 tuổi bị liệt tay. Cánh tay của bé gái này có cấu tạo không hoàn chỉnh và có nhiều dây thần kinh bị hỏng. Cô bé chỉ cử động được cánh tay phải. Tôi kết hợp xung điện, chỉnh nắn xương khớp với các kỹ thuật khác trong ngành học của mình để chữa trị cho cô bé. Sau một thời gian, lần đầu tiên trong đời cháu bé chuyển động được tay tạo với thân người một góc 42 độ. Sau một thời gian nữa, cháu cử động được cả về trước và về sau một góc 45 độ. Người trợ tá của tôi bật khóc. Bé gái òa khóc trong niềm hạnh phúc sau một thời gian kiên trì tập luyện. Cha cháu bé cũng khóc. Tôi buộc phải bỏ ra ngoài trước khi mình cũng không cầm được nước mắt. Tôi lấy khăn giấy lau nước mắt. Sau đó tôi trở lại với bệnh nhân như kiểu không có chuyện gì xảy ra và nói “Được rồi, đây là bài tập dành cho cháu tuần tới”. Cứu giúp những bệnh nhân như cháu bé này làm lòng tôi dịu bớt cảm giác tội lỗi khi tôi vẫn được sống còn những người tốt hơn tôi, như Dan Busch, lại phải chết. Giờ tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao Chúa để cho tôi sống. Ngài thực sự đã định sẵn cho tôi con đường tiếp sau cuộc đời của một đặc nhiệm SEAL.

Mặc dù Blake đã 20 tuổi nhưng bất cứ khi nào đến thăm, tôi đều ôm con khi chia tay. Tôi cũng dành sự yêu mến tương tự với con gái riêng của vợ là Eryn. Trong lòng tôi, lúc nào tôi cũng coi Eryn là con đẻ của mình. Riêng với vợ tôi Debbie, bao giờ tôi cũng ôm hôn nàng mỗi khi về nhà và ra khỏi nhà. Debbie và tôi rất mực yêu thương nhau nên bạn bè thường nói chúng tôi là một cặp trời sinh. Trước đó nhiều năm, tôi thường tự hỏi tại sao tôi lại được Chúa cứu vớt. Hôm nay, tôi rất biết ơn Chúa đã để tôi được sống và cám ơn con đường Ngài đã định sẵn cho tôi đi. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy tràn đầy nhiệt huyết. Và một lần nữa, cuộc đời lại mỉm cười với tôi.