Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

Bài 4

28 tháng 4, 1975 
Sau khi ông Lâm bỏ đi, mẹ tôi ngồi im lặng mấy giờ liền, nét mặt không hề thay đổi. Vú Loan ôm chúng tôi ngồi trên sàn xe. Tôi lặng lẽ nhìn đêm xuống trên thành phố trong tiếng lửa cháy, tiếng bom nổ, tiếng than khóc tiếp tục vang lên. Ngồi trên sàn xe, hai tay bịt chặt tai, tôi có cảm tưởng mọi việc dường như biến mất đi, những sự việc đang diễn ra chung quanh tôi hình như không còn là thực nữa; có vẻ như tôi đang ở trong một cuốn phim câm với một hậu cảnh toàn một màu đen trắng. Sự im lặng khô cứng ấy bám lấy tôi cho đến khi mẹ tôi lên tiếng cho biết chúng tôi phải trở về lại nhà. 
Đêm xuống dường như làm cho thành phố bớt vẻ khủng khiếp. Trên đường dắt díu nhau về nhà, nỗi sợ hãi lo âu trong lòng chúng tôi giảm dần xuống. Hầu hết đèn đường đều bị vỡ nát, số còn tốt thì lại không xài được vì tình trạng thiếu điện. Chung quanh chúng tôi nhiều bóng đen âm thầm chuyển động. Chúng tôi không biết rõ là họ đang lục tìm xác thân nhân hay chỉ là những người đi hôi của như những con cho sói đi tìm mồi. Thỉnh thoảng, một tia sáng lóe lên trên bầu trời theo sau là những tiếng nổ kinh hồn của bom, của lựu đạn, của súng liên thanh gây hoang mang lo lắng cho toàn khu vực. 
Từ chỗ chiếc xe bỏ lại cách nhà chúng tôi không xa lắm nhưng phải mất hơn hai tiếng đồng hồ len lỏi qua những con đường kẹt cứng chúng tôi mới về đến nhà. Xe du lịch, xe vận tải chồng chất lên nhau như những đống sắt phế thải chặn cứng các ngả đường. Ông bà ngoại tôi vẫn còn trốn dưới hầm. Qua khung cửa tò vò, họ nhận ra chúng tôi ngay và vội vàng lên tầng trên mở cửa cho chúng tôi vào. Chỉ mới trong mấy giờ đồng hồ mà ông bà ngoại tôi như đã già thêm hàng chục tuổi như không còn một chút sinh lực nào. 
“Ông Lâm đâu?” Là câu hỏi đầu tiên họ hỏi chúng tôi. 
Mẹ tôi nhún vai: 
“Con không biết. Tụi con cãi nhau trên xe rồi hắn bỏ đi. Về hướng phi trường.” 
“Quân khốn nạn!” Ngoại tôi lầm bầm. 
“Con tính làm sao bây giờ?” Ngoại tôi hỏi. 
“Con không biết.” Mẹ tôi lắc đầu. “Con nghĩ là chúng ta cứ ở đây chờ xem.” 
Ông nhìn mẹ tôi. Ông nói, đắn đo từng chữ như không muốn làm cho tôi và em tôi hoảng sợ. “Ba nghe radio nói là Sài Gòn sẽ đầu hàng. Quân đội gần như đã tan hàng. Phía bên kia quá mạnh; có vẻ như không ai, không có cái gì có thể ngăn chận họ được nữa. Con quyết định làm gì thì nên làm ngay bây giờ. Chỉ còn một ngày mai nữa thôi. Ông tướng ra lệnh là mọi người nên cẩn thận vì trong các ngày sắp tới tình hình có thể hổn loạn không lường được.” 
“Sau khi con đi thì bà Đặng có gọi lại.” Bà ngoại tôi nói, tay vẫn lần chuỗi hạt bồ đề. “Bà ấy hỏi con. Con nên gọi lại cho bà ấy coi sao.” 
Mẹ tôi gật đầu: 
“Được, con gọi ngaỵ” 
Mẹ tôi nhắc ống điện thoại lắng nghe một lúc rồi ném mạnh xuống với vẻ chán nản. 
“Đường giây bị cắt cha nó rồi.” Mẹ tôi nói một cách giận dữ. Quay sang bà tôi, mẹ tôi hỏi: “Chị ấy có nhắn gì với mẹ không?” 
“Có, bà ấy nói chờ máy bay trực thăng gì đó. Bà ta cũng hỏi giấy xuất cảnh của má, nhưng má nói con mang theo cả rồi. Rồi bà ấy cúp máy. Cũng khoảng bốn năm giờ rồi.” 
Mẹ tôi dòm ra ngoài đường phố vắng lặng. Bà cắn môi ra vẻ suy nghĩ. Bàn tay xoa xoa lớp vải lụa trên bụng trong khi tất cả chúng tôi cùng nhìn bà chờ đợi. Một lúc lâu sau, mẹ tôi đi đến một quyết định. Mẹ tôi đẩy chúng tôi về phía ông bà ngoại và nói: 
” Ba má trông chừng giùm các cháu. Con sang nhà chị Đặng một lát sẽ về ngaỵ” 
“Con không nên đị” Bà ngoại tôi khóc. 
“Con không nên đi, bên ngoài nguy hiểm lắm. Con không thể bỏ tụi nhỏ ở đây với ba má được.” Ông ngoại tôi nói thêm vào. 
Từ góc hầm, khuôn mặt chìm khuất vào bóng tối, vú Loan lên tiếng. Giọng chị nhỏ như thường lệ, nhưng rõ ràng. 
“Thưa bà Khuôn, tôi vẫn còn là người ở của bà. Bà cần gì xin cứ sai bảo. Nếu bà cho phép tôi sẽ sang nhà bà Đặng thay cho bà. Tôi sẽ nhắn bất cứ điều gì bà cần nhắn cho bạn bà.” 
Mẹ tôi ngó thẳng vào vú Loan. Một thoáng ngạc nhiên hiện trên khuôn mặt bà tuồng như đó là lần đầu tiên bà trông thấy người tớ gái trong nhà. Bà tiến về phía Loan. Bà đưa tay xoa mặt Loan nhưng chỉ những đầu móng tay của bà là chạm da thịt Loan. Vú Loan co rúm người lại, vẻ hoảng sợ. 
“Chắc không?” Mẹ tôi hỏi. 
Vú Loan gật đầu 
“Chắc. Thưa bà .” 
“Vậy thì đi ngay đị” Mẹ tôi nói. “Nhớ cẩn thận và cố gắng về sớm.” 
Cô gái tiến về phía cửa hầm, rồi dừng lại. Vú từ từ quay lại đứng đối diện với mẹ tôi. Với vẻ khó khăn và lúng túng, chị vừa cắn móng tay vừa nói, nhưng lời lẽ rõ ràng, minh bạch: 
“Nếu con không trở lại trong vòng nửa giờ, thì có lẽ con gặp phải một bất trắc gì đó. Trường hợp đó xin bà đừng chờ nữa, mà nên nghĩ đến biện pháp khác. Thưa bà Khuôn, có một việc con định thưa với bà từ lâu nhưng chưa có dịp, xin bà cho con nói một lần cho nhẹ lòng trước khi con đi. Con muốn xin lỗi bà từ lâu về chuyện xảy ra giữa con và ông Lâm.” Trong khi vú Loan tiếp tục nói, mẹ tôi đứng nhấp nhổm không yên. “Con thật không muốn bà chứng kiến việc ấy trong đêm bà bước vào phòng con ở Nha Trang. Nhưng con không có cách nào khác. Con không kháng cự lại được. Ông ấy mạnh quá, ông ấy làm dữ, dọa đuổi con ra khỏi nhà nếu con không chiều ông tạ Thưa bà, suốt đời con, bao lâu con còn ở dưới mái nhà bà, con không bao giờ muốn làm bà đau lòng. Xin bà tha thứ cho con trước khi con đị” Vú Loan bắt đầu khóc sụt sùi.
“Đừng bận tâm về chuyện đó nữa.” Mẹ tôi lắc đầu. “Mọi chuyện đã qua rồi. Ông ta đã bỏ đi. Không còn vấn đề gì nữa cả. Cô chỉ nên cẩn thận. Chúng tôi sẽ cầu nguyện cho cộ Nhớ về sớm.” 
“Thưa bà vâng.” Vú Loan trả lời trước khi biến mất vào trong bóng đêm âm u bên ngoài. 
* 
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, vú Loan trở về như đã hứa với chúng tôi. Vú đem theo một người giúp việc của bà Đặng. Cả hai đều thở hổn hển sau khi chạy băng ngang qua đường phố. Nét sợ hãi vẫn còn phảng phất trên khuôn mặt họ. 
Ngay sau khi họ bước vào nhà, mẹ tôi hỏi ngay: 
“Chuyện gì xảy rả Họ đã đi rồi à? Cô có gặp được ông bà Đặng không? Cô biết họ đang ở đâu không?” 
“Con đã gặp bà Đặng.” Loan vừa thở hổn hển vừa nói. “Bà ấy vẫn còn đang chờ tại nhà. Bà ấy gởi cho bà chủ cái này.” Vú Loan lấy bức thư trong túi áo ra giao cho mẹ tôi. Mẹ tôi giật vội lấy và đọc lớn cho cả nhà nghe. 
“Chị Khuôn, 
Tôi không biết là nên vui hay buồn khi nghe những tin tức về gia đình chị. Khi tôi gọi điện thoại đến nhà chị nói chuyện với bác hồi chiều, lúc đó tôi có cảm tưởng là giờ này chị đang trên đường đi đến Thái Lan. Rồi con Loan đến mang theo lá thư của chị. Hiển nhiên là chị đã trể chuyến bay cuối cùng rời khỏi Sài Gòn. Tôi nghe đầy đủ tin tức báo cáo về những việc đã xảy ra chiều hôm ấy. Tôi không biết là mình nên vui hay buồn. Một mặt, tôi cảm thấy an tâm, và vui mừng là còn có chị Ở đây để chia xẻ với tôi những khó khăn; mặt khác tôi thật buồn vì hoàn cảnh không may của chị. Chị đã phải trải qua bao nhiêu đau khổ bất hạnh chỉ trong một thời gian ngắn như vậy. Nhưng, dù sao thì chúng ta trở lại sum họp như trước. Để tôi kể cho chị nghe những việc đã xảy ra cho chúng tôi kể từ lần cuối cùng chúng ta gặp nhau vào hai ngày trước. 
Như chị đã biết, ông nhà tôi từ trước đã cố gắng tìm mọi cách để có được giấy thông hành cho tôi và hai thằng con trai. Nhưng không may cho tôi, chỉ riêng có hồ sơ của tôi là bị thất lạc qua đường bưu điện. Dù tôi đang rối ruột lắm nhưng tôi cũng không thể trách nhà tôi được; anh ấy đã làm hết sức để có thể mang tôi ra khỏi cái quê hương khốn khổ này. Chiều hôm qua, sau khi các con tôi nhận được giấy thông hành, thì một dịp may hiếm có đã xảy ra. Nhà tôi và các con được phép rời Sài Gòn trên chuyến trực thăng cuối cùng với mấy nhân viên ngoại giao Mỹ, trong đó có một người là bạn thân của nhà tôi từ nhiêu năm trước. Người bạn thân của chồng tôi khuyên rằng tôi không nên tháp tùng theo gia đình vì tôi không có giấy tờ hợp lệ, sẽ gây nhiều rắc rối, trở ngại cho mọi người khi đến phi trường Băng Cốc. Họ toàn là những nhân viên ngoại giao quan trọng, nên rất thận trọng không muốn bất cứ việc gì có thể gây nguy hiểm cho bản thân họ. Thế là tôi phải đứng một mình trên nóc tòa đại sự chứng kiến cảnh chiếc máy bay chở những người thân trong gia đình tôi biến mất trong bầu trời mà lòng tự hỏi không biết đến bao giờ mới cơ hội gặp lại họ. Chị cũng là một bà mẹ, chắc chị biết là tôi đau khổ biết chừng nào sau cái biến cố đã xảy ra ngày hôm qua. 
Xin báo chị một tin vui là nhà tôi và các cháu đã đến Băng Cốc không có gì trở ngại, họ đang ở trại tạm trú chờ chuyến bay đi California. Trước khi đường giây bị cắt, nhà tôi có gọi điện thoại cho tôi. Nhà tôi hứa là trong ít ngày tới sẽ cùng với chiếc trực thăng hôm trước trở lại đón tôi. Tôi biết nhà tôi là người tháo vát, xông xáo, chuyện gì cũng có thể làm được nên tôi tin là nhà tôi sẽ trở lại. Vì vậy mà tôi chờ, chưa mất hết hy vọng. 
Tôi viết thư này cho chị với một đề nghị mà tôi nghĩ là chị sẽ không từ chối vì, hơn ai hết, tôi biết tình cảnh không còn chọn lựa nào khác của chị. Thực ra đây là ý kiến của nhà tôi, và cũng chỉ là một chuyện trao đổi đơn giản. Chị thì cần đi và tôi cần giấy thông hành, chúng ta có thể hợp tác trao đổi. Chị có thể cho tôi mượn giấy thông hành và vé máy bay của bác. Bác nói với tôi hồi chiều là hai bác không có ý định đi đâu cả, cho nên tôi đoán là bác chưa cần tới giấy thông hành lúc này. Khi anh Đặng trở lại với chiếc trực thăng, mà tôi tin chắc là nhà tôi sẽ trở lại, gia đình chị có thể tháp tùng tôi sang Băng Cốc. Tới đó rồi thì tôi vẫn sẽ tiếp đụng đóng vai là một thân nhân của gia đình chị cho đến khi nào chúng ta đến California. Khi sang tới Mỹ rồi thì tùy ý chị muốn ra riêng hay ở chung với chúng tôi bao lâu cũng được. Trong trường hợp nào thì chúng tôi cũng xin hứa sẽ là những người bạn đồng hành tốt nhất của gia đình chị. Xin chị nhớ cho là chúng ta phải hành động ngay vì không còn thì giờ nữa. Tôi sai một người giúp việc khỏe nhất qua để giúp đưa chị và các cháu sang nhà tôi. Khi chị đến đây thì chúng ta sẽ đi ngay đến tòa đại sứ. Tôi có cách để lọt vào trong. Xin chị rán giúp để tôi có thể gặp lại các con tôi. Chị là hy vọng cuối cùng của tôi đấy. 
Nguyện xin Bồ Tát phù hộ chúng ta. 
Thân mến, 
Nguyễn Đặng.” 

Sau khi đọc xong lá thư, mẹ tôi nhướng mắt nhìn ông bà ngoại tôi hỏi ý kiến. Không ai nói lời nào. Cuối cùng mẹ tôi lên tiếng phá tan sự im lặng ngột ngạt: 
“Ba nghĩ thế nào?” 
“Theo như bà ấy nói trong thư thì con không còn cách nào khác, trừ trường hợp con muốn giữ mấy đứa nhỏ ở lại đây, mà điều đó thì ba nghĩ là con không bao giờ muốn. Cho nên nếu ba là con thì ba sẽ đi ngay đến đó.” 
Ánh mắt của ngoại tôi chùng xuống theo từng lời ông nói. 
Bà ngoại tôi cũng đồng ý với chồng: 
“Con rán thử lần nữa coi sao. Còn nước còn tát. Cứ lấy giấy thông hành của má mà đi đị” 
“Còn vú Loan thì sao?” Tôi hỏi, nghe giọng mình vang lên lạ lùng như trái banh dội đi dội lại trong phòng. 
“Con Loan sẽ ở lại đây chăm sóc cho ông bà, phải vậy không Loan?” Ông tôi nói thay cho vú Loan. Ông nhìn thẳng vào mặt chị, cái nhìn của ông diễn tả nhiều hơn những lời ông nói. 
“Thưa bác, vâng.” Vú Loan trả lời. Nét mặt chị không buồn không vui. Chị cúi mặt nhìn xuống đất, không nói gì thêm mãi cho đến khi chúng tôi rời nhà. 
Chúng tôi lặng lẽ từ giả mọi người rồi theo người dẫn đường của bà Đặng bước ra ngoài trời đêm. Bên kia đường, chuông đồng hồ trên nóc nhà thờ Đức Bà điểm ba tiếng. Nhà bà Đặng cách nhà chúng tôi chừng mấy block đường, chỉ mất chừng năm phút, qua một vài khúc quẹo là chúng tôi đến trước của nhà, không khó khăn gì mấy. 
Bà Đặng đón chúng tôi bằng một giọng nói nhỏ nhẹ nhẩn nhục, khác với thói quen nói năng rổn rảng ồn ào thường ngày. Mắt bà ta đỏ và sưng húp lên. Trong tay bà, một chiếc khăn giấy đã bị vò nát. Tóc bà rối bù như một cái ổ chim, chỉa lởm chởm trên đầu. Một vết lấm màu nâu sậm dính trên ngực áo bà trông như một bàn tay phù thủy mò mẫm bà mỗi khi bà cử động. 
Bà Đặng nắm chặt lấy tay mẹ tôi và cảm ơn liên hồi. Chúng tôi vào nhà ngồi trên chiếc trường kỷ trong phòng khách. Bà Đặng sôi nổi với niềm khích động mới mẻ: 
“Tôi biết thế nào chị cũng tới.” Bà ta nói. “Chị là tia hy vọng cuối cùng của tôi. Tôi cầu nguyện suốt đêm. Ngày hôm qua khi hay tin chị đi rồi, tôi điếng ruột điếng gan, không biết phải làm gì nữa. May sao con nhỏ ở của chị tới, tôi mới thấy còn chút hy vọng. Cảm ơn Trời Phật.” 
Bà hỷ mũi sột sột rồi cẩn thận chùi vào chiếc khăn giấy nhàu nát. Khi bà ngẩng lên nhìn mẹ tôi, mắt bà đầy lệ. “Chị Khuôn ơi, chồng tôi, con tôi đi mất hết rồi.” Bà rên rỉ thảm thương. 
“Tôi biết.” Mẹ tôi nói. “Xin chia buồn cùng chị.” 
Bà Đặng cố nén tiếng khóc: 
“Tôi có mặt ở đó.Tôi không làm sao có thể quên được.” Bà nói. ” Trên nóc tòa Đại Sứ với mấy đứa con. Thằng út Tuấn vẫn còn cầm chiếc cà rem sút cù là. Nó cố nhảy vào trong mình tôi. Ba nó và mấy người khác phải kéo nó ra. Thằng bé mới ba tuổi, nhưng chị biết không, nó biết chuyện gì đang xảy ra. Nó níu áo tôi gào lên “mẹ Ơi, mẹ Ơi.” Nghe tiếng nó khóc mà tôi tan nát ruột gan. Bàn tay nó dính đầy sô cô la còn dính trên ngực áo tôi đây.” Bà ta cúi nhìn xuống những vết kem hình một bàn tay nhỏ phía trên ngực và nở một nụ cười buồn bả. “Họ mang con tôi đi rồi. Tôi quỵ xuống khóc thảm thiết, tôi khóc lóc như mưa trong khi họ mang con tôi đi mất. Tôi chỉ muốn chết. Chị Khuôn ơi, tại sao lại xảy ra những chuyện như vầy? Chừng nào thì những chuyện kinh khủng này mới chấm dứt hả chị?” 
“Cũng sắp rồi. Chị nên giữ mình, chỉ còn vài ngày nữa chị sẽ gặp lại chồng con.” Mẹ tôi nói. 
“Chúng ta phải đi ngay bây giờ. Tôi không muốn nhà tôi trở lại mà không thấy tôi.” 
Bà ta đứng dậy, bước vội vả băng ngang căn phòng. “Chị sẳn sàng chưa. Chị muốn mang gì theo thì chuẩn bị ngay đi. Chúng ta đi ngay bây giờ. Xin lỗi phải gấp rút như vầy, nhưng tôi không thể chờ được nữa.” Bà vổ tay, hò hét một cách giận dữ với những người giúp việc đang chạy tới chạy lui thu dọn đồ đạc. “Nhanh lên! Nhanh lên!”

Tòa Đại Sứ nằm ngay phía bên kia công viên. Như đã tiên liệu trước, chúng tôi đụng ngay một đám đông dân chúng đang giận dữ bu quanh trước cổng. Họ kêu gào năn nỉ không một chút kết quả trước những người lính gác người Việt trang bị đầy đủ súng ống, đứng thản nhiên phía sau chiếc cổng sắt. Chúng tôi níu chặt lấy nhau để khỏi bị làn sóng người đẩy lạc ra xạ Bà Đặng hét lên với anh dẫn đường, cũng là người đàn ông đã sang nhà tôi mấy giờ trước đây, trao cho anh ta một thẻ căn cước màu vàng có hình của bà ta. 
“Tìm ông David. Chú có gặp ông ta rồi, nhớ không? Cái ông cao cao tóc vàng đứng ở góc đàng kia kìa. Cái ông duy nhất mặc thường phục đó. Chú không thấy mặt ông ta được đâu vì ông ta đang mang mặt nạ chống hơi độc. Thấy chưa? Tốt. Đưa cho ông ta cái này. Nói với ông ta bằng tiếng Mỹ, đừng nói tiếng Việt, bảo ông ta cho chúng tôi vào. Nhớ đưa cho ông coi thẻ này. Chúng tôi chờ ở đây. Đi nhanh lên trước khi ông ta lại trở vào trong.” Anh dẫn đường cầm lấy chiếc thẻ rồi không một chút chậm trể, lấn ngay vào đám đông. Chúng tôi lui ra xa một chút đứng nhìn anh ta tả xông hữu đột tiến lại gần chiếc cổng. Mắt mọi người đều đỏ hoe và sưng lên vì hơi caỵ Anh dẫn đường gây được sự chú ý của người đàn ông Mỹ nhờ quơ quơ chiếc thẻ trước mặt ông ta. 

David thò tay qua khung cổng sắt đón lấy chiếc thẻ rồi đảo mắt nhìn quanh tìm bà Đặng. Cách một con đường, chúng tôi nhảy choi choi, quơ tay trong không khí để ông David có thể nhìn thấy, đồng thời kêu lớn tên ông. Nhưng trước khi ông ta có thể mở cổng cho chúng tôi vào, những người lính lại xịt hơi cay vào đám đông. Mọi người ngã lăn ra đất, vừa há miệng ra để thở, vừa ói mửa. 

Những người quân cảnh vội vàng mở cánh cổng sắt, dùng nòng súng đấy đám đông ra xạ David và ba người quân cảnh khác xông về phía chúng tôi. Ông ta ôm ngang hông bà Đặng kéo bà băng ngang đường. Bà giảy dụa chỉ về hướng chúng tôi, vừa la lên bằng một thứ tiếng Anh bập bẹ: “Cho họ theo với. Họ là bạn tôi. Hai đứa con trai và một bà. David giỏi lắm. Cảm ơn, cảm ơn. Họ đi với tôi, bằng trực thăng. Xin làm ơn.” 

Chỉ một thoáng, David hiểu ra ngay những điều bà muốn nói. Ông ta ra dấu cho mấy người lính. Một người bồng thằng em tôi, một người nữa vác tôi lên vai. Người cuối cùng bồng mẹ tôi trong đôi tay đầy lông lá của mình. Tôi há miệng ra thở, phổi chứa đầy hơi cay như muốn nổ tung. Tôi không lên tiếng được, không thở được, cũng không thấy gì khi bị vác đi ngang đám đông như một bao gạo. Nhưng tôi cảm nhận được những bàn tay giận dữ cào cấu, níu kéo lấy tôi từ mọi phía. Tôi nhắm mắt và thầm mong rằng mình chết đi cho thoát nợ. 

Cuối cùng tôi được đặt nằm trên một nền xi măng láng bóng. Một người nào đó phủ lên mặt tôi một chiếc khăn ướt, tạm thời làm giảm những cơn nhức nhối. Phổi tôi bắt đầu giản ra và tôi hít một hơi dài. Dưỡng khí tràn vào, xua đi những cơn đau đớn. Tôi cố gắng quan sát chung quanh. Dù hơi cay vẫn còn đầy trong không khí, tôi cũng nhận ra là mình đang ở bên trong tòa Đại Sứ. Thằng em trai tôi đang nằm bên cạnh, khóc thút thít, tiếng khóc của nó yếu ớt nghe như tiếng một con mèo con đang đói bụng. Tôi nghe tiếng mẹ tôi đang dỗ cho nó nín. Một tia nắng mặt trời chiếu xuyên qua khung cửa sổ trên cao nhảy múa trên người tôi. Hơi ấm của tia nắng như vỗ vào tóc tôi, thì thầm bên tai tôi rằng bình minh đã đến. 

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

Bài 3
Sài Gòn, tháng Tư, 1975 
Đến Sài Gòn, chúng tôi thuê một căn nhà hai từng nằm trên một con đường có nhiều ngôi nhà xây theo kiểu Tây. Cách đó vài block đường là Dinh Độc Lập, nơi tất cả các vị Tổng Thống của miền Nam đã từng cư ngụ. Không quen với khung cảnh mới, tôi và thằng em trai suốt ngày chạy lên chạy xuống thang lầu, thò đầu vào dòm tất cả các phòng, hoặc ghé mắt nhìn ra thế giới xô bồ bên ngoài qua các khe hở của khung cửa sổ. Cả hai đứa tôi, không đứa nào thực sự hiểu được vì sao gia đình phải dời vô đây. Trong khi cả gia đình chìm đắm trong lo âu, chúng tôi được thả lỏng để chạy nhảy khắp nhà. 

Sài Gòn chìm trong hổn loạn. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bất ngờ từ chức vào ngày 23 tháng 4 năm 1975. Thu nhặt đồ tế nhuyển, cùng với tất cả tài sản, ông ta lên máy bay trốn ra khỏi nước. Quốc hội cố gắng trấn an quần chúng, bầu Trần Văn Hương lên làm Tổng Thống kế kiếp. Nhưng lại đến lượt ông phá kỷ lục là một người giữ chức vụ tổng thống ngắn nhất trong lịch sử Viêt Nam: 4 ngày. Chiều ngày 27 tháng 4, do sự yêu cầu của quốc hội, tân tổng thống Dương Văn Minh xuất hiện ở hành lang Dinh Độc Lập để ra mắt quần chúng. Minh kích thích quần chúng bằng một loạt những hứa hẹn nghe rất bùi tai. Nhưng cuối cùng, giống như cái chính phủ bát nháo của ông, cái kế hoạch nghe rất nổ của ông sụp đổ tan tành. 

Qua các cuộc nói chuyện của người lớn tôi nghe lén được thì mẹ tôi mang chúng tôi vào Sài Gòn là để chuẩn bị trốn đi ngoại quốc nếu miền Nam sụp đổ. Trong mấy tuần lễ đầu, mẹ tôi móc nối được với một số người và chuẩn bị đầy đủ giất tờ xuất cảnh cũng như giấy máy bay để chúng tôi có thể rời nước bất cứ lúc nào cũng được. Tuy nhiên, cứ mỗi lần chúng tôi dự tính ra đi thì ông bà Ngoại tôi nhất định không chịu đi theo. Thêm vào đó, Sài Gòn có vẻ như không muốn nhận cái thực tế phủ phàng đang xảy ra trên cả nước. Vẫn còn những cuộc hội họp, những buổi tiệc tùng thì vẫn còn hy vọng. Ngày nào chúng tôi cũng chào từ biệt các người bạn của mẹ tôi. Con đường ra đi của chúng tôi không có vẻ gì trở ngại, ngày nào cũng có máy bay lên xuống phi trường, và chúng tôi được bảo đảm là sẽ có chỗ. Chúng tôi nán lại trong thành phố và chờ đợi. 

Trong nhà, tình trạng căng thẳng giữa mẹ tôi và vú Loan không có cách gì giải quyết được. Vú Loan tìm mọi cách tránh mặt mẹ tôi, nhưng đó là điều không thể nào làm được vì mẹ tôi có vẻ như hiện diện khắp mọi nơi, mọi chỗ. Không còn bận việc như lúc còn làm ở ngân hàng, mẹ tôi có vẻ như đang mấp mé bên bờ của sự khủng hoảng. Cái tính nết thất thường của bà càng trầm trọng hơn khi chúng tôi nhận được tin tức ở nhà do dì tôi chuyển vào. 

Dì tôi báo tin rằng từ khi Việt cộng chiếm Nha Trang vào ngày 2 tháng tư, dì đã bị chỉa súng ăn cướp mấy lần. Gia đình dì tôi đã rời bỏ căn biệt thự nhà Nguyễn sau khi bọn cướp tràn vào lấy mất chiếc Mercedes của mẹ tôi cùng với một số tư trang, tiền bạc bà cất dấu trong nhà. 

* 

Rạng sáng ngày 28, trước khi mặt trời mọc, mẹ tôi nghe được cái tin mà mọi người đang chờ đợi: một giọng nói hoảng hốt loan báo trên đài phát thanh rằng Việt Cộng đang vào Sài Gòn. Mẹ tôi sai Loan kêu tôi dậy. Không một lời giải thích, vú Loan dắt tôi xuống tầng dưới, một căn hầm rộng 4×5 thước tây mà người chủ nhà trước đã đào trong nhà bếp phòng tránh đạn trong trường hợp có giao tranh. Mọi người khác trong gia đình đều đã có mặt. Trong một góc tối, bà ngoại tôi ngồi như một bức tượng bên cạnh một bóng đèn mờ. Trên tay bà đang cầm một xâu chuổi được kết lại bằng những hột bồ đề lấy từ loại cây bồ đề nơi Phật Thích Ca đã ngồi tu luyện trước khi thành chánh quả. Ngón tay ngoại tôi lần đếm từng viên bồ đề, mắt nhắm nghiền, miệng lâm râm những lời khấn vái không nghe ai nghe rõ. Bên

cạnh bà, ông ngoại tôi ngồi bên chiếc bàn duy nhất trong phòng, tay bịt tai như không muốn nghe những tiếng động kinh khiếp bên ngoài. Chiếc gậy mây ông mua từ hồi giải ngũ, sau khi bị thương ngang mông trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bực đại úy, đặt nằm bên cạnh. 

Cách đó vài bước, ông Lâm nằm trên chiếc sofa, với mái tóc đen bóng sấy chải kỹ lưỡng như thường lệ. Trông ông ta có vẻ tươi tỉnh và thoải mái. Trong một chỗ khuất, thằng em tôi đang đứng bên cạnh mẹ tôi, tay ôm con gấu nhồi bông ngang ngực. Mẹ tôi đứng tựa lưng vào cửa sổ, tóc cột túm ra sau gáy, mặt bà xanh xao không trang điểm trông già cổi, khô rốc dưới ánh sáng mập mờ. Một tay bà đặt ngang chiếc bụng chữa đã khá lớn vun lên dưới lớp áo ngủ như có ý muốn bảo vệ chiếc bào thai trong bụng. Lúc tôi và vú Loan bước vào phòng thì mẹ tôi đang bàn chuyện với ông ngoại tôi.

“Thưa ba, chúng ta phải rời khỏi đây ngaỵ” Mẹ tôi nói. “Chúng ta không còn nhiều thời gian để lảng phí nữa.” 

Ông ngoại tôi bỏ hai tay ra ngẩng đầu lên. Hai mắt ông là hai hố sâu chứa đầy sợ hãi, nhưng ông lắc đầu kiên quyết: 

“Ba đã nói với con nhiều lần rồi, và bây giờ ba nhắc lại lần nữa là ba sẽ không đi đâu cả. Ba sinh ra trên mảnh đất này thì sẽ chết trên mảnh đất này. Cả mẹ con cũng vậy.” 

Bà ngoại tôi vẫn lặng lẽ tiếp tục cầu nguyện, không tỏ lộ một chút xúc động nào. Tôi không biết bà ngoại tôi có để tâm đến cuộc đối thoại hay không. Trong suốt cuộc đời làm vợ của bà, ngoại tôi chưa bao giờ làm một việc gì mà không có sự đồng ý của ông ngoại tôi. Ông tôi quyết định là quyết định cả cho bà rồi. 

Ông ngoại tôi nói tiếp: 

“Ba không thể sang Mỹ được. Ba không muốn đi tới một xứ lạ, không biết tiếng tăm, không biết phong tục tập quán. Ba thà chết ở đây, dưới tay bọn Việt Cộng, bên mồ mả tổ tiên hơn là sống vất vưởng như cái bóng ma bên những người ngoại quốc xa lạ. Con đi đi. Đem các con của con theo. Đừng có phí thì giờ chờ đợi ba và mẹ con nữa. Đừng lo cho ba nữa, ba mẹ sẽ không sao đâu. Ba đã sáu mươi bốn tuổi, lại tàn tật. Chẳng có ai trên thế gian này, kể cả trong cái thế giới của việt cộng, lại nở làm hại vợ chồng một ông già như bạ Đừng vì ba má mà trể nải công việc.” 

Mẹ tôi vẫn nài nỉ: 

“Con năn nỉ bạ Xin ba nghĩ đến mấy đứa cháu của bạ Ba cũng biết là con không thể bỏ ba mẹ một mình ở đây được mà; nhưng nếu con ở lại thì các cháu lãnh đủ.” 

Ông tôi quyết liệt: 

“Ba không đi đâu cả. Bất cứ con nói gì cũng không làm ba đổi ý đâu.” 

Mẹ tôi hiểu được lòng yêu mến quê hương của ông ngoại tôi nhưng bà cũng ý thức được rằng Việt Nam là một xứ sở của kỳ thị. Qua bao nhiêu thế hệ liên tiếp chiến đấu chống lại sự cai trị của ngoại xâm, từ Tàu, Nhật, đến Pháp, thành kiến đó đã mọc rễ trong đầu của tất cả mọi người Việt Nam. Vì lẽ đó mà mẹ tôi lo sợ cho tương lai của hai anh em tôi. 

Chín năm trước, một kỹ sư người Mỹ sang làm việc tại Sài Gòn đã mướn mẹ tôi làm thông ngôn; rồi tình yêu nảy nở giữa hai người, và kết quả là tôi đã ra đời trong mối quan hệ dị chủng đó. Nước da trắng và mái tóc quăn của tôi tố cáo rõ ràng nguồn gốc của cha tôi. Có lẽ sự hiện diện của tôi làm thức tỉnh lương tri của ông hoặc có lẽ cảm động về tình yêu thắm thiết của mẹ tôi mà trước khi về nước ba tôi đã vét hết số tiền có được trong ngân hàng trao cho mẹ tôi. Số tiền hơn ba chục ngàn Mỹ kim ông trao cho chúng tôi thời đó là một gia tài lớn đối với bất cứ người Việt Nam nào. Mẹ tôi dùng số tiền này, và sự quen biết của mình để mua một cổ phần trong một ngân hàng. 

Vài năm sau mẹ tôi lại kết hôn với một sĩ quan người Mỹ, và Jimmy, em tôi, ra đời. Cha Jimmy rời Việt Nam vào năm 1971, cùng với những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam trở về với gia đình họ. Ông cũng là một người tử tế. Số tiền ông để lại đủ cho mẹ tôi trang trải nợ nần mắc phải sau khi cất ngôi biệt thự và còn dư để sửa sang, tu bổ thêm nhiều chỗ. Mẹ tôi cho xây một bức tường cao chung quanh ngôi biệt thự, không những để tránh những con mắt tò mò của thế nhân mà còn để che dấu chúng tôi với thế giới bên ngoài, giống như che dấu một điều ô nhục. Cứ như chúng tôi là một loại không nên được phô bày ra. 

Nhưng đến bây giờ thì mẹ tôi đã ý thức được rằng chẳng có cái bức từng nào trên thế gian này có thể che chở cho chúng tôi khỏi bị xã hội ruồng bỏ, rẻ rúng. Cái bí mật mà mẹ tôi luôn luôn tìm cách che dấu lại là một điều không thể nào che dấu được. Trong nỗi tuyệt vọng, mẹ tôi biết là chúng tôi sẽ phải lớn lên trong một xã hội đầy thành kiến, sẽ bị bỏ rơi như một loài lúa mọc hoang. Cho nên hy vọng duy nhất của chúng tôi là rời khỏi Việt Nam đến một nơi ít thành kiến hơn. Mẹ tôi ôm hai chúng tôi trong tay, nhìn ông ngoại tôi với nét mặt buồn rầu. 

“Xin ba tha lỗi cho con.” Mẹ tôi nói. “Vì tương lai của các cháu, con phải ra đi” 

Mẹ tôi quay sang nhìn Loan, giọng bà chùng xuống: 

“Loan. Đi lấy hành lý.” 

Rồi bà bảo chúng tôi: 

“Lại hôn từ giả ông bà ngoại đi. Nhớ hôn cho thật lâu. Đây là lần cuối cùng các con thấy ông bà ngoại.” 

Chúng tôi làm theo lời dạy. Bà ngoại tôi thả xâu chuỗi xuống nền nhà và ôm chầm lấy chúng tôi. Những giọt nước mắt chan chứa yêu thương lăn dài trên khuôn mặt đầy những vết nhăn khi bà ôm hôn chúng tôi. Ông ngoại tôi ôm tôi chặt đến nỗi gần như làm tôi nghẹt thở, và tôi có cảm tưởng như cái hôn kéo dài không bao giờ dứt. Ngoại thì thầm vào tai chúng tôi rằng ông yêu thương chúng tôi lắm. Cuối cùng khi vú Loan xuất hiện ở cửa với hành lý trên tay thì ông buông chúng tôi ra. Vú Loan giúp chúng tôi thay quần áo, thu góp một ít vật dụng cần thiết rồi dắt nhau ra xe. 

“Đem con Loan theo với con. May ra nó có giúp được gì chăng.” Ông ngoại tôi vừa nói vừa đẩy Loan về phía chúng tôi. 

“Ba nói sao?” Mẹ tôi dừng lại giữa phòng. “Nó không đi với chúng con được. Nó không có vé.” 

Ông Lâm từ trước vẫn giữ im lặng, lên tiếng: 

“Rồi sao? Ai cũng biết bà là người đàn bà nhiều quyền thế, bà muốn dời núi lấp sông gì mà không được. Nhưng không ai muốn bà làm chuyện đó, chỉ xin bà cho đứa con gái này đi theo thay vì bỏ nó lại đây. Thôi mà, đừng làm khó nữa. Lâu lâu làm phước một lần. Ai biết đâu được chuyện này sẽ để phước đức lại cho bà.” Mẹ tôi liếc nhìn ông ta trong khi ông ta tiếp tục nói: “Tôi nghĩ là được. Bên ngoài đang lôn xộn, cảnh sát không thể kiểm soát hết giấy tờ của tất cả mọi người được. Mà dù cho họ có hỏi giấy tờ đi nữa thì với sự quen biết rộng rải của bà, tôi tin chắc là chúng ta cũng có thể đưa lén cô ta theo được. Nhưng thật tình mà nói, vấn đề không phải là có làm được hay không nhưng là bà có muốn đưa nó theo hay không thôi.” 

“Câm miệng ông lại.” Mẹ tôi nói. 

“Được, bà nói gì cũng được.” Ông ta nhún vai rồi bỏ đi. 

“Đem nó theo.” Ông ngoại tôi lập lại. Giọng ông nghe như một mệnh lệnh chứ không còn là một đề nghị nữa. “Ba có một món nợ lớn với ba nó lúc cả hai lãnh chung một viên đạn. Ba đã hứa với chú ấy là sẽ săn sóc cho nó. Lâu nay ba đã giữ được lời hứa ấy; bây giờ đến lượt con tiếp tục nhận lãnh cái trách nhiệm này. Ba mong con làm tất cả những gì có thể làm được để giúp cho nó, mà cũng là cho bạ Ngoài ra, nó còn có thể chăm nom săn sóc cho mấy đứa nhỏ. Thôi đi lẹ lên. Ra khỏi nhà trốn đi cho nhanh lên, đừng có cãi nhau nữa. Nếu vì một lý do gì mà con không thể đưa nó theo được ở ngoài phi trường thì ít ra nó cũng có thể trở về cho ba má biết tin tức của các con, hiểu chưa?” 

“Dạ, thưa bạ” Mẹ tôi miễn cưỡng gật đầu. Không kịp cho mẹ tôi có cơ hội đổi ý, vú Loan chạy ào ra, leo lên xe ngồi nép vào trong một góc. Mẹ tôi lên xe sau cùng. Bà ngồi nhìn thẳng phía trước, như không muốn biết có sự hiện diện cô gái trong xe. 

Lúc ông Lâm cho xe rời nhà, tôi vẫn trông thấy hai khuôn mặt buồn bả thê lương của ông bà ngoại tôi dán sát vào khung kính cửa sổ hình bầu dục của căn hầm chỉ cách mặt đất chừng một thước. Mẹ tôi ngồi thẳng lưng, mặt lạnh như tiền. Từ chiếc máy radio, vẫn giọng người nữ xướng ngôn viên chúng tôi đã nghe vào buổi sáng, run rẩy loan báo là Việt Cộng đã vào thành phố. Mức tiến công của Cộng quân như một đàn châu chấu tràn trên đồng lúa, nhanh chóng và không ngăn chận được. 

* 

Sài Gòn thở hấp hối những giờ phút tự do cuối cùng. Không khí hổn loạn tràn ngập khắp nơi; sự hoang mang hiện rõ trên nét mặt mọi người trên đường phố. Từng toán tù nhân có võ trang xông vào nhà dân, hò hét chạy ngược chạy xuôi trên đường phố, nổ súng bắn lên trời. Đường phố ngập đầy bàn ghế, lưu thông bị ứ động Những vật dụng bị ném ra đó được đốt cháy, có thể do vô tình mà có thể do hữu ý. Lữa khói bốc lên càng gây thêm bao nỗi kinh hoàng. Những người lính rã ngũ chạy khắp các ngã đường, quăng vũ khí vào thùng rác, hối hả lột bỏ những bộ quân phục cứ như nó đang bị đốt cháy. Vài đứa trẻ lạc cha mẹ đang co rúm người ngồi khóc ở một góc đường. Trên đầu chúng một ngọn dừa bốc cháy, những tàn lữa rơi phủ lên mình chúng. Từ trong khung cửa xe nhìn ra, chúng như đang bị thiếu sống trong một cuộc tế thần. 

Chúng tôi không tiến được bao xạ Đường phố chật cứng một rừng người chạy loạn tuyệt vọng đang đổ xô về hướng phi trường. Khi ra đến đường lớn, chúng tôi nhận ra một sự thật phủ phàng là không thể đi đâu được cả. Ngút tầm mắt chúng tôi, con đường tràn ngập xe dân sự và những chiếc thiết giáp quân sự. Những tiếng kêu la đầy hãi hùng lo sợ vang lên trong không khí nóng bức. Người ta bỏ xe chạy bộ, chen lấn nhau, đạp dẫm lên nhau để tiến về phía trước. Xác chết bị dày xéo thành những hình thù kỳ dị, nhe răng nhe lợi như thách thức với cuộc đời. Cạnh chiếc xe chúng tôi chừng vài thước, trên vĩa hè, xác một người đàn bà có mang, bụng rách toang vì bị dẫm đạp lên, bên cạnh bà là cái thai nhi đang chết dần, rung nhẹ lên dưới đám ruồi nhặng bu đầy. Vũng máu đen dưới thân thể người đàn bà khô dần dưới sức nóng gay gắt của mặt trời. Mẹ tôi run rẩy thu người trên ghế, kéo chúng tôi vào sát mình bà. Dòng người cuốn nhau trôi đi như giòng nước. Tiếng khóc của những đứa trẻ lạc cha mẹ, tiếng kêu cứu của những người bị cướp, tiếng nhạc vang lên từ máy radio, tiếng súng nổ, tiếng rên rỉ của những người bị thương tất cả trộn lẫn thành một mớ âm thanh hổn tạp của một bản hòa tấu kinh hoàng. Những tiếng kêu than ai oán bốc lên cao, hòa với những giọt nước mắt của tột cùng thống khổ bốc thành hơi quyện kín không gian như nước bốc thành hơi trong không khí. 

Ngồi trong xe, tôi và thằng em trai sợ hãi không dám lên tiếng. Ông Lâm không còn cái vẻ thư thái vô lo nữa. Mái tóc dài của ông phủ lên chiếc trán trơn bóng đẫm mồ hôi. Những ngón tay cầm vô lăng của ông tái nhợt. Ông lắc đầu thở dài liên tục, hai mắt trợn tròn trắng dã. 

Ông Lâm vừa nhận còi vừa hét ầm lên trong nỗi bực dọc. Ông quay sang mẹ tôi: 

“Xuống mẹ nó xe đị” Ông cằn nhằn. “Ngồi mãi đây chẳng được gì đâu. Bà dắt mấy đứa nhỏ xuống đị” 

Mẹ tôi mím chặt môi. Bà chụp lấy tay tôi, siết mạnh: 

“Ông điên rồi sao? Thử nhìn đám người kia coi; tôi không ra khỏi chiếc xe này đâu.” 

Ông Lâm chồm sát vào mặt mẹ tôi. Những sợi gân cổ ông căng phồng lên như những con sâu. Hai người gườm gườm nhìn nhau. Cuối cùng ông Lâm lên tiếng trước: 

“Vậy thì đưa vé máy bay và giấy thông hành của tôi đây. Tôi chán nghe theo lịnh của bà rồi, con đàn bà hung dữ. Có bà hay không có bà tôi cũng đị” 

Mẹ tôi ngồi yên không nhúc nhích. 

“Đưa ngay đây” Ông ta hét lên. 

Tiếng hét giận dữ của ông ta dường như làm cho mẹ tôi giật mình. Bà lắc đầu như xua đuổi những ý nghĩ gì đó trong đầu rồi thò tay lấy chiếc bóp. 

Ông Lâm nhìn theo bàn tay mẹ tôi. 

“Đưa luôn cái vé và giấy thông hành của bà nữa.” Ông ta ởm ờ: “Tôi dắt con Loan theo với tôi.” 

“Tại sao là nó?” Mẹ tôi hỏi. 

Ông Lâm nhìn chăm chú vào một vật gì đó trên sàn xe. 

“Nó đang mang thai đứa con của tôi.” 

Vú Loan bật khóc tấm tức. Mẹ tôi làm ngơ không để ý đến Loan. Sau một tiếng thở dài, mẹ tôi nhìn ông Lâm dịu giọng: 

“Tôi cũng đang mang thai đứa con của ông. Ông giải thích sao về chuyện đó với tôi? Ông không biết là tôi cũng mang thai con ông hay sao?” Mẹ tôi hỏi. 

“Rồi sao? Bà không cần tôi. Bà chưa bao giờ cần đến tôi.” Ông ta nói bằng một giọng chua chát. “Tin tôi đi. Bà sẽ không hề hấn gì đâu.” 

Ông ta giật lấy chiếc bóp trên tay mẹ tôi, lục tìm giấy tờ. Ngoài những giấy tờ cần thiết ông ta còn hốt một nắm giấy bạc. Vẫy vẫy nắm giấy bạc trước mặt mẹ tôi tuồng như để chọc tức, ông ta lên tiếng: “Coi như bà trả công tôi hầu hạ bà lâu naỵ” 

Ngồi ở cuối xe, vú Loan cuối cùng lên tiếng: “Tôi không đi với ông đâu. Tôi ở lại đây với bà chủ.” 

Ông ta quay sang nhìn Loan như nhìn một người điên, rồi nở một nụ cười nham nhở: “Tốt, cái thứ ở đợ ngu xuẩn. Cứ ở lại mà làm khách đị” 

Ông ta lựa ra tấm vé và giấy thông hành cùng với chiếc bóp của mẹ tôi rồi ném trả lại trên đùi bà. Lão nhét tấm vé máy bay cùng với giấy thông hành vào túi quần trước. Miệng nở một nụ cười, ông ta ngồi lại vào ghế, sửa lại quần áo rồi mở cửa xe bước ra ngoài. Trước khi đi, ông ta còn quay lại nhìn chúng tôi: 

“Cả đám ở lại vui vẻ.” Đó là những lời cuối cùng ông ta nói trước khi biến mất vào đám đông. 

Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến

Jan 16, 2021

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Cuối năm 1969, Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương được nhậm chức trưởng toán Bắc Bình của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, trong đó có những toán khác như Thăng Long, Lê Lợi, Lê Lai, Bạch Đằng… Mỗi toán gồm một sĩ quan chỉ huy, một hạ sĩ quan phụ tá và khoảng bốn quân nhân Xung Kích Lôi Hổ. Song song đó cũng có những toán Biệt Kích Mũ Xanh của Hoa Kỳ.

Cuối năm 1970, ông Thương được thăng cấp thiếu úy và vẫn giữ chức vụ trưởng toán Bắc Bình. Ông Thương kể: “Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn đều nằm dưới sự chỉ huy của Nha Kỹ Thuật, mà Nha Kỹ Thuật lại nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại Tướng Cao Văn Viên, tư lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, và tư lệnh đã thường xuyên báo cáo tình hình quân sự với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Các toán Xung Kích Lôi Hổ của Nha Kỹ Thuật đều có ám số đặc biệt khi hành quân, trong đó có những toán viên bị thất lạc hoặc bị Cộng Sản bắt giữ. Vì thế, một số những ám số danh hiệu của các toán và những tổ chức của các đơn vị hành quân bị bại lộ.”

Ông Thương kể tiếp: “Tổng thống mới ký sắc lệnh cho đơn vị của chúng tôi là đơn vị ‘Hành Quân Tác Chiến Ngoại Lệ,’ cũng có nghĩa là những toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuộc không tác chiến trong lãnh thổ miền Nam, mà chỉ hành quân vượt biên giới của miền Nam. Cho nên những cuộc hành quân của Lôi Hổ được giữ kín hơn, sau khi công tác được hoàn tất cũng không được tiết lộ ra ngoài truyền thông báo chí để đăng tải. Vì thế sự mất còn, sự thành công hay thất bại đối với các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ đều không ai biết được, ngoại trừ cấp chỉ huy của họ.”

Tham chiến trận Lam Sơn 719, Hạ Lào

Những ngày đầu Tháng Hai, 1971, mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi động qua cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, dưới sự chỉ huy của Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I. Mục đích của cuộc hành quân này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) với trọng trách hành quân sang Lào để cắt đứt đường tiếp liệu đạn dược, lương thực của địch quân đang hiện diện tại Tchepone, Lào. Và đây cũng là điểm xuất phát của những sư đoàn chính quy Bắc Việt để xâm nhập vào miền Nam Việt Nam.

Cũng từ nhiệm vụ đó, Quân Đoàn I mới đem hết lực lượng sang Hạ Lào và có thêm lực lượng của tổng trừ bị như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 1, Thiết Giáp, Pháo Binh kể cả Không Quân VNCH và Không Quân Hoa Kỳ sang Hạ Lào để tham chiến mặt trận này. Riêng các chiến sĩ của ba chiến đoàn Biệt Kích Lô Hổ có nhiệm vụ phá hủy các đường ống dẫn dầu của địch.

Thiếu Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Căn Cứ Non Nước, Đà Nẵng. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Thiếu Úy Thương kể: “Toán Biệt Kích Lôi Hổ của chúng tôi được lệnh nhảy từ sông Tchepone rồi vượt qua Cánh Đồng Chum để đến điểm hành quân. Lúc đó, Lữ Đoàn 3 Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Văn Thọ đóng quân tại đồi 30 và đồi 31. Điểm của hai ngọn đồi này là từ Quảng Trị đi xuống đường 9 Nam Lào được cắt đứt tại Bản Đôn, tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị.”

“Lúc đó, đơn vị của chúng dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Thế Nhã. Chúng tôi nhảy xuống một đỉnh cao cách đồi 31 khoảng sáu cây số. Nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ quan sát tình hình của địch để báo cáo về Bộ Tổng Tham Mưu, rồi sau đó, họ mới báo lại cho Đại Tá Thọ,” ông cho biết thêm.

Cũng theo Thiếu Úy Thương, toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông lúc đó chỉ có sáu người, nên không thể chạm địch quân đang di chuyển, và họ đã phát giác có chiến xa quân Bắc Việt đang xâm nhập vào vùng này. Khi mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi chiến, toán của ông Thương được lệnh rút về doanh trại Non Nước, Đà Nẵng.

Vài ngày sau, mặt trận Hạ Lào trở nên khốc liệt, trận đánh được kéo dài trên một tháng rưỡi. Quân Lực VNCH coi như đã thành công mặt trận này. Nhưng, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Phạm Văn Đính bị quân Cộng Sản bắt làm tù bình; Đại Úy Pháo Binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Đương và nhiều vị sĩ quan khác đã hy sinh.

Toán Biệt Kích Quân Lôi Hổ của FOB-1. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận Quảng Trị 1972

Vào khoảng gần cuối Tháng Ba, 1972, trước khi trận Quảng Trị khởi động, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống vùng phi quân sự tại Cửa Việt bên kia sông Bến Hải, để khảo sát lực lượng xâm nhập của quân Bắc Việt nhiều ít như thế nào. Vì phải nhảy xuống vùng phi quân sự thì mới phát hiện quân Bắc Việt vượt tuyến đến Lao Bảo, Gio Linh, Làng Vei…, và nhiều nơi khác để tấn công Cổ Thành Quảng Trị.

Cuối Tháng Ba, 1972, ba sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt tấn công vào các căn cứ phòng thủ của Quân Lực VNCH ở phía Bắc và phía Tây của tỉnh Quảng Trị.

Nhiệm vụ của toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông Thương là bí mật bám theo sự điều quân của Cộng Sản Bắc Việt, và báo cáo về cho Bộ Tổng Tham Mưu. Đây cũng là dự kiến của Bộ Tổng Tham Mưu nhằm có khái niệm để điều quân tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Sau đó, toán ông Thương được lệnh trở về căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Cùng lúc sư đoàn Nhảy Dù được lệnh đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị, cùng nhiêu quân binh chủng khác. Đơn vị cuối cùng tham chiến trận này là Thủy Quân Lục Chiến.

Cùng lúc đó, ba sư đoàn khác của Cộng Sản tấn công vào An Lộc, Bình Long ở Vùng 3 Chiến Thuật. Ông Thương cho biết: “Sau trận Quảng Trị, chúng tôi được lệnh bàn giao doanh trại Non Nước, Đà Nẵng cho Sở Công Tác. Sau đó, Hải Quân đưa chúng tôi đến Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Lúc đó tôi được thăng cấp Trung Uý.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (giữa) và hai cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Thọ (trái), và Trần Nhung Nguyên. Họ đều là cựu trưởng toán Biệt Kích Lôi Hổ. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận An Lộc, Bình Long

Cuối năm 1972, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống An Lộc. Nơi đóng quân đầu tiên là phi trường Quảng Lợi, Bình Long. Vì nơi này đã bị nhiều áp lực của địch quân nên đơn vị của ông phải di chuyển về trung tâm huấn luyện Quyết Thắng, Long Thành của Biệt Kích Lôi Hổ.

Ông Thương kể: “Không bao lâu, lệnh của Đại Tướng Cao Văn Viên cho đơn vị của chúng tôi về đóng quân ở bộ chỉ huy của Sở Liên Lạc gần Cổng Phi Long của phi trường Tân Sơn Nhứt để trực chiến ban đêm cho Bộ Tổng Tham Mưu, và ban ngày, toán vẫn tiếp tục đi công tác để thám sát các khu vực từ Đồng Xoài, Bù Gia Mập, Rừng Lạnh, Tống Lê Chân, Phú Riềng, Nha Bích, Bình Long, Phước Long…”

Vì trong năm 1972, đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ không còn nữa, nên đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ không được yểm trợ để hành quân ngoài biên giới, mà chỉ hành quân trong nội địa miền Nam. Lúc đó, các anh em Biệt Kích Quân cũng bị giải tán, có một số được thuyên chuyển về những đơn vị khác. Đơn vị Chiến Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ không còn được xem là chiến đoàn mà trở thành Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ, vì quân số một đoàn chỉ trên dưới 160 quân nhân của Quân Lực VNCH.

Gần cuối năm 1973, toán của Trung Úy Thương được lệnh nhảy xuống vùng Hậu Nghĩa, Châu Đốc, An Giang, nhiều nhất tại hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Đầu năm 1974, Đại Tá Lưu Yểm, tỉnh trưởng Biên Hòa, cho Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ trú quân tại Suối Máu, Biên Hòa.

Tháng Bảy, 1974, đoàn Đặc Công K-9 của địch đã tấn công đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ tại Suối Máu, đơn vị của ông đã chiến thắng trận này. Sau đó, đoàn của ông được di chuyển về đóng quân tại Chợ Sặc, Biên Hòa.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (trái) và các chiến hữu tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận cuối cùng ở Phan Rang

Đầu Tháng Ba, 1975, đơn vị của ông được lệnh ra hành quân tại Phan Rang, dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Đoàn 3. Ông Thương kể: “Chúng tôi được lệnh theo Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh bộ chỉ huy tiền phương để tham dự mặt trận Phan Rang, với nhiệm vụ lập trận tuyến để ngăn chặn quân Bắc Việt tiến vào Nam từ miền Trung. Nhưng lúc đó quân bố phòng không đủ để thực hiện công tác này, và Lữ Đoàn 2 Dù đang tham chiến trận Khánh Dương bị thất bại, nên đơn vị của tôi được lệnh đi đón những toán quân Nhảy Dù bị thất lạc về phi trường Thanh Sơn, Phan Rang.”

Ông Thương được thăng cấp đại úy vào ngày 8 Tháng Ba, 1975, tại Phan Rang.

Ngày 16 Tháng Tư, 1975, tuyến Phan Rang bị thất thủ! Đây cũng là trận chiến cuối cùng của Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương trong suốt hơn 10 năm chiến đấu.

Sau hơn tám năm trong trại “cải tạo” của chính quyền Cộng Sản, ông Thương được về Huế hành nghề Đông y và xem phong thủy, vì đây là nghề gia truyền lâu đời tại Huế của gia đình ông.

Năm 2002, ông được định cư tại Orange County, California cho đến bây giờ và đang sống bằng nghề xem phong thủy. 

(Lâm Hoài Thạch)

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

Ân tình qua cửa …xà-lim

Đặng Chí Bình

Bài 29

Vào một buổi trưa Chủ Nhật, tôi đang lúi húi lấy cái bàn chải đánh răng quệt cọ vào miếng xà phòng, lấy ít bọt để đánh răng, thì cô Vân lại vào. Cô mở cửa con rộng ra, cô thở hổn hển đứt quãng, mặt lấm tấm mồ hôi, tôi hỏi khẽ:

– Làm cái gì mà thở thế?

– Vừa đạp xe bên Gia Lâm về.

Cô vừa thở vừa nói ngắt quãng. Chẳng biết từ lúc nào, tự nhiên tôi bạo hơn:

– Lau mặt đi!

Cô có cái chiếc “mùi soa” trắng đang cầm trong tay, đưa lên mặt lau. Tôi hỏi tiếp:

– Sang Gia Lâm làm gì thế?

– Sang nhà con bạn. Nó hẹn mấy lần rồi.

– Quê Vân ở đâu?

– Hưng Yên.

– Vào ngành y tế lâu chưa?

– Mới ra trường được 6 tháng.

Cô nói rồi, ghé miệng sát khung cửa sổ, nói lẫn trong hơi thở:

– Mai là thứ hai, anh lật nắp bô lên, khạc đờm vào đấy. Anh lấy tăm chọc vào kẽ lợi răng lấy tí máu, rồi chấm vào giữa bãi đờm. Anh đưa ra báo cáo bác Dư là anh đau ngực, khạc ra như vậy.

Tôi chỉ biết gật đầu. Hôm sau, tôi làm như lời cô Vân nói, rồi báo cáo Dư. Tôi cũng tỏ vẻ buồn rầu, lo lắng là tôi mắc bệnh này, có lẽ chết; rồi cứ ôm ngực.

Khi cô Vân đển xà lim cho thuốc các buồng, Dư nói với cô Vân sao đó. Một lúc sau, mở cửa buồng tôi và cô Vân bước hẳn vào bên trong. Tôi cũng nói với cô, như đã trình bầy với Dư. Cô bảo tôi nằm xuống, rồi cô đặt ống nghe lên ngực tôi. Cô hỏi đau chỗ nào, khi tôi chỉ ở phía hai lá phổi, cô lấy tay đè đè, ấn ấn. Tôi vờ nhăn mặt đau, đưa hai tay lên đỡ ngực, thành ra cầm vào hai tay của cô. Cô vẫn để yên, miệng mỉm cười, cặp mắt long lanh. Trong khi đó, Dư vẫn đứng ngoài cửa, thỉnh thoảng mới nhìn vào.

Trước khi ra, cô nhìn khắp buồng tôi một lượt, chẳng có một cái gì cả. Cô cứ nhìn một chiếc dép Thái Lan và một chiếc guốc của tôi mãi. Chiếc dép cũng đã mòn nhẵn, nứt rách chung quanh, và chiếc guốc đã vẹt hết gót, của ai đó bỏ đi, khi đi đổ rác thấy ở thùng, tôi nhặt về đi hơn hai tháng trước. Thành ra một chân dép, một chân guốc. Khi đi, chỉ có tiếng kêu “cạch…xẹt, cạch…xẹt” rất thưa, như bước chân của người đi nạng.

Hai hôm sau, tôi lại được “bồi dưỡng” kẹo và bánh ngọt nữa. Ý của cô là chả tiếc gì tôi cả, muốn mua cho tôi đôi dép mới, khăn mặt, xà bông, thuốc đánh răng, cái màn…nhưng không thể được vì tôi không có ai tiếp tế cả. Cô đã nghĩ nhiều cách nhưng đành chịu.

Tôi cũng chưa thấy cô hỏi về tội trạng, thân thế, của tôi. Qua dư luận các buồng, cô là cháu gọi tên Lê, thượng úy phó giám thị, là chú. Theo tôi suy đoán, cô đã tìm mọi cách để đọc hồ sơ của tôi, ít nhất cô đã rõ về gia đình cũng như tội trạng.

Sau khi cô đi ra, tôi ngẫm nghĩ, thật là buồn cười khi cả cô và tôi đều không nói và hỏi: cô lấy tư cách gì để mua và lo tiếp tế cho tôi các thứ đó? Cả hai người, chưa hề có một lời nào về chuyện tình cảm mà! Thế ra vấn đề này cứ phải tự hiểu ngầm, và không thể được hỏi rõ ư? Thật, nhiều chuyện lạ trên mảnh đất lạ mới đi vào này!

Một buổi tối, tôi đang ngồi bô đi cầu, cửa sổ nhỏ khẽ mở. Tôi nhìn ra: cô Vân. Tôi hơi ngượng nên mất tự nhiên. Cô đứng nhìn một lúc, rồi đóng cửa sổ lại, không nói một lời.

Cô đã bỏ đi; trong dạ tôi cũng hơi bâng khuâng, tiêng tiếc buổi gặp mặt đã mờ mờ có ý mong chờ này. Hai tay chắp sau lưng, tôi đang thả bách bộ 200 vòng thường lệ trong buồng, trước khi lên sàn đi ngủ. (200 vòng là 1600 bước, ít ra là khoảng 800 mét đường dài chứ có ít đâu). Tôi mới đi được 40 vòng, cửa con lại khẽ mở. Không hề nghe thấy tiếng bước chân. Lại đôi mắt đăm đăm ngơ ngác như ánh mắt con nai tơ, nhìn thấy con hươu gầy đơn độc vào một buổi chiều Xuân bên suối vắng. Đôi mắt vừa như e ấp rụt rè, thuơng mến, vừa như mơn man thèm muốn vào miền xứ lạ nhưng chưa biết nẻo đường. Như vậy, cô đã phải cố bước nhẹ để đi vào đây. Như bị sức hút ngầm của nam châm, tôi tiến đến và cúi sát vào cửa sổ. Mấy sợi tóc mai dài của cô buông lơi đong đưa, như những sợi tơ vàng ngất ngây vang tiếng nhạc. Một cơn gió nhẹ vô tình đẩy một lọn tóc vào trong song cửa. Những sợi tóc cứ mơn man trên má, trên mũi tôi. Một mùi ngan ngát ngọt lịm của thịt da phảng phất, làm tay chân tôi rần rần run rẩy. Hơi thở của cô dồn dập quyện mãi vào mặt tôi, làm người tôi run lên, mặt tôi nóng bừng. Hai tay tôi quờ quạng giơ lên chới với, rồi bấu chặt vào cánh cửa buồng. Một tiếng gọi khẽ lẫn vào trong hơi thở của cô:

– Anh ơi!

Tiếng gọi khẽ, hổn hển, mơ hồ như tiếng chim đêm gọi bạn. Hồn tôi lảng vảng, dập dờn vào xứ mộng.

Cô và tôi chỉ cách nhau một cánh cửa xà lim dày 4 phân, nhưng tôi cảm thấy như xa vời vợi, trùng diệp sơn khê. Cánh cửa giòng đời đã khóa chặt, như một con đê kiên cố, sừng sững, bắt một giòng chảy ra biển cả bao la, còn một giòng bị bẻ quặt lại, cho chảy vào hang sâu thăm thẳm mịt mùng.

Như choàng tỉnh một giấc mơ hoa, tôi phải gọi hồn tôi trở về. Lý trí đâu? Nghị lực đâu? Ngay từ giây phút ban đầu, hãy khóa chặt cửa lòng lại như cánh cửa xà lim này! Tôi quyết tâm lên tiếng trước, để đập tan cái không khí im lặng chết người này:

– Cô Vân, sao cô khó tính và hách dịch thế!

Bây giờ, đã 18 năm rồi, mà tôi vẫn như còn nhìn thấy rõ đôi mắt của cô Vân lúc ấy. Đang từ mầu hoa thiên lý, đôi mắt chuyển ngay thành mầu vàng của hoa bách hợp, ngơ ngơ, ngác ngác như tỉnh như say; thổn thức dâng đầy như trách oán giận hờn, đến nỗi tôi phải nói lại một lần nữa.

Mắt cô đỏ lên, rồi tràn đầy lệ, môi cô rung rung:

– Sao anh lại nói thế!

Một nỗi niềm xót xa chua mặn dâng lên làm nghẹn lòng, tôi cố nuốt xuống, giọng tự nhiên:

– Không phải tôi, một số đông các người ở trong xà lim ca thán.

Miệng nói như vậy, nhưng trong lòng tôi như đang có một trận công đồn tả tơi quyết liệt. Tôi hiểu rằng, cả cô và tôi đã phải mất bao nhiêu tâm sức, nghĩ suy, cân nhắc hơn 3 tháng nay, bao nhiêu công lao dọ dẫm, rụt rè, e ngại, lòng ướm thử lòng, để rồi leo dần lên ngôi lầu tình ái; thế mà, ngay trong giây phút “thiêng liêng” này, tôi lại nói ra những điều gì đâu… Tôi đã mạnh bạo dứt điểm, nhấc chiếc thang đưa lên ngôi lầu ngất ngây đó. Cô hỏi tôi đã có vẻ bực dọc:

– Anh nghe những buồng nào nói?

Tôi ra vẻ còn lạnh lùng hơn:

– Cô đừng hỏi tôi là buồng nào. Cô hãy tin tôi, là có nhiều buồng kêu ca. Cái đó không nói làm gì nữa. Điều chính yếu là cô có cảm thấy rằng cô đã quá khó tính, cô đã đi ra ngoài phương châm: “Y tế là người mẹ hiền” rồi không?

Cô nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt nhỏ xuống bên ngoài cánh cửa, nhưng qua khe cửa dưới nền, mấy đầu ngón chân của tôi thấy thoáng lạnh ướt. Cô đã đóng cửa sổ nhỏ rồi. Phải chăng cô cũng thấy cần phải đóng cả cánh cửa lòng của cô nữa vì gặp phải…mùa gió chướng chăng? Tôi cũng thấy thật buồn. Tôi gọi Lương đứng dậy để tâm sự. Sau khi được tôi kể lại sơ lược câu chuyện, Lương phản đối quá chừng. Lương bảo tôi:

– Anh phải biết lợi dụng, không những cho anh, mà một phần nữa cho anh em trong xà lim dễ thở.

Tôi nói thẳng ý tôi với Lương là không thể được. Mình không có quyền làm buồn lòng một người con gái về một chuyện như vậy, một chuyện mà lúc tỉnh táo ai cũng thấy là không thể đi đến một kết quả nào cả. Tôi thú thật với Lương là chính lòng tôi cũng não ruột tái tê. Nhưng, thà dứt khoát như vậy, chỉ buồn một lần thôi, chứ dính líu vào còn tủi hận đáng cay, ê chề nhiều nữa; ảnh hưởng sang cả đầu óc, trên con đường đi tới của mình. Không lay chuyển được ý tôi, Lương cũng buồn.

Liền mấy hôm sau, cô Vân không thấy vào xà lim nữa. Có mấy buồng báo cáo với Dư để xin thuốc, nhưng cũng chẳng thấy cô lên.

Ngày đã dần dần ngắn lại, đêm càng kéo dài thêm. “Ngày tháng 10 chưa cười đã tối”. Trời chuyển dần vào mùa Đông. Từ sau buổi ấy, cô Vân có vào mở cửa sổ nhỏ buồng tôi, lần nữa vào buổi tối. Nhưng, tôi vờ nằm im ngủ. Cô gọi 2, 3 lần không được nên đành bỏ ra về.

Một buổi trưa, tôi ngồi vá đụp thêm vào đôi “bí tất” để chuẩn bị cho mùa Đông sắp tới. Đôi “bí tất” đã được hơn ba năm rồi. Cứ mỗi năm, các lần vải phía trong mục dần đi. Tôi phải móc những chỗ quá mục ra, vậy nên đôi “bí tất” bị mỏng đi dần. Tôi lại phải đụp những miếng khác bên ngoài cho nó dầy lên, cứ như vậy đã mấy lần rồi. Đôi “bí tất” của tôi lúc này, không biết bao nhiêu là chỉ ngang, chỉ dọc. Bên ngoài, những chỗ mép vải bong ra nhiều tua, có chỗ trông như lông con chuột khoang.

Tôi đang cặm cụi đặt một miếng khăn mặt cũ to bằng hai bàn tay (miếng khăn này là giẻ chùi, tôi lượm được trong thùng nhà cầu mấy tháng trước, để dành) lên chiếc “bí tất” để lựa thế khâu, cửa sổ con chợt khẽ mở. Mùi hoa nhài quen thuộc thoảng quyện vào mũi tôi. Tôi nhìn ra: đôi mắt ánh lên mầu nâu thẫm, cái màu ủ dột lê thê là buồn. Tôi muốn che dấu miếng vải, vì một ý nghĩ chợt thoáng qua làm tôi lúng túng, mất hẳn tự nhiên. Biết đâu chừng trong những mảnh vải này lại có một mảnh vải của cô đã dùng và vứt đi. Ngay cả mảnh “khăn mặt” cũ này nữa, cũng biết đâu cô đã làm vệ sinh một lần nào? Tôi cảm thấy nóng cả mặt, một nỗi ngượng ngập dâng tràn ra cả hai tay. Nếu quả vậy, tôi biết giấu mặt đi đâu? Tôi bất giác liếc nhìn xem thái độ của cô ra sao.

Tôi cũng tưởng sẽ gặp một đôi mắt, với nét cười tinh ranh, chế diễu. Nhưng không, chỉ có ở khung cửa sổ đó có một đôi mắt đầy lệ. Nhìn đôi tất với nắm giẻ vụn tôi đang cầm trong tay, mắt cô như tràn ứ một nỗi niềm, thương cảm dạt dào. Tôi thấy lòng mình xúc động, nhưng vẫn ngồi yên, không tiến ra cửa sổ như mọi khi.

Môi cô, động đậy, mấp máy, rồi thoát ra thành tiếng gọi thật thiết tha:

– Anh Bình!

Tôi không hiểu vì sao, tôi đã không kìm hãm được lòng mình nữa. Như một cái máy, không có hồn, tôi từ từ bỏ chân xuống chiếc dép và chiếc guốc chậm chạp tiến dần ra phía cửa sổ. Thật gần. Bốn mắt lại nhìn nhau. Những chiếc lông măng trên mép của cô theo nhau nằm soãi hai bên, trông mướt như lông của quả đào non. Hai má cô đỏ au lên. Mùi xà phòng hoa nhài phả ra tràn ngập không gian của căn phòng. Nước mắt lưng tròng, cô nói trong tiếng nấc nghẹn thổn thức:

– Anh Bình giận em à?

Câu hỏi thật nhẹ nhàng, mà như cào vào trái tim rướm máu của tôi. Tôi chỉ lắc đầu, không trả lời được. Bất chợt, một tiếng động ở cổng xà lim. Cô lẹ tay đóng cửa sổ lại và đi ra.

Một lúc sau, nghe có tiếng cô Vân và tên Bằng nói chuyện ở bàn trực. Rồi tiếng chân cô Vân đi dần ra ngoài cổng xà lim. Buổi chiều hôm ấy, lúc gần hết giờ làm việc, tên Dư đi ra ngoài trại về, vào buồng tôi mở cửa. Tôi hơi ngỡ ngàng, vì đã hết giờ, trời lại về mùa Đông, lạnh rồi. Từ hơn một tháng nay, Dư không gọi tôi cho ra sân chơi, (mùa Đông, ai còn thiết ra sân đứng), mà chỉ sai tôi quét trước sân, thường vào buổi sáng. Vì vậy, tôi đã mở to mắt nhìn Dư, chờ xem y bảo tôi điều gì. Vẫn tiếng nói vừa đủ nghe:

– Mặc quần áo, đi cung!

Tôi thoáng cảm thấy hơi không bình thường. Mấy năm nay rồi, chúng có gọi tôi đi cung nữa đâu. Nhất là hơn hai năm nay, Hà Nội đêm ngày, thường bất chợt bị máy bay Mỹ đến đánh phá, các chấp pháp cũng sơ tán bớt về những trại giam khác. Tôi theo Dư ra khỏi cổng xà lim. Đã gần hai năm trời nằm giữa Hỏa Lò, ngay cái sân trại chung tôi cũng không nhìn thấy. Góc sân, gần phía xà lim II, vẫn còn quây cót, như thế vẫn còn phi công Mỹ ở Hỏa Lò, và lúc này chắc là đã…nhiều hơn. À ngôi nhà vãng lai mọi khi, bây giờ cũng để giam phi công Mỹ nữa. Chúng đóng cót bè ra sân, quây kín. Nhà vãng lai ở ngay cạnh cổng xà lim I. Thảo nào, nhiều đêm tôi nghe những tiếng rên la, quát tháo lạ tai, tôi lại cứ tưởng các phi công Mỹ ở gần chỗ xà lim II. Tuy khi ấy thấy lạ, là sao lại nghe gần thế, tôi lại không đoán ra.

Lúc này, gần 5 giờ chiều, tù nhân ở khu trại chung và hai khu phi công cũng đều đã vào buồng cả rồi. Người ta vào buồng, mình lại đi cung! Chẳng biết chấp pháp nào đây?

Đi qua phòng trực, tôi thấy cũng chả còn ai; chả có một chấp pháp nào ở đó cả. Dư dẫn tôi thẳng vào buồng giám thị. Tên Trì bây giờ đã đeo lon đại úy, trông rất bệ vệ, ngồi ở cái bàn có lá cờ của Chánh Giám Thị Hỏa Lò. Như thế, y đã lên thay tên Võ, còn tên Võ già, đeo kính trắng, người miền Nam, có lẽ đã về hưu rồi. Chả trách lâu lắm tôi không còn thấy y vào các xà lim.

Tim tôi hơi thắt lại, khi thoáng thấy người Hưng Yên đang lúi húi xếp mấy chiếc ly, tách ở một cái bàn nhỏ trong góc phòng. Dưới mái tóc buông dài như đuôi con ngựa tơ, chiếc lưng ong của nàng vặn vẹo, căng lằn làn áo nâu mỏng. Người Hưng Yên hôm nay lại đi guốc cao gót nữa chứ.

Tôi ngồi vào chiếc ghế đẩu trước bàn tên Trì đang ngồi. Mặt y hôm nay trong thật dễ chịu. Chưa bao giờ tiếng nói của y lại dịu như hôm nay:

– Hôm nay, gọi anh ra đây, tôi thông báo cho anh được biết Đảng và nhà nước đã chiếu cố đến điều kiện sức khỏe của anh, cho phép anh được ở trại chung. Bây giờ, anh về xà lim mang quần áo, chăn màn ra đó! Ở trại chung, anh phải nghiêm chỉnh chấp hành những nội quy của trại, mặt khác, cấm tuyệt đối không được nói hay kể bất cứ một chuyện gi ở trong xà lim cho phạm nhân khác.

Tai tôi nghe, lòng tôi thật không ngờ được đó là sự thật! Nhưng, chỉ một thoáng, tôi xúc động vì chợt hiểu: phải rồi, cô Vân đây! Hai, ba lần bồi dưỡng, ho khạc ra máu, v.v… tất cả, có thể với tư cách là chuyên môn, cô đã đề nghị để tôi ra trại chung. Chắc từ mấy tháng trước rồi, bây giờ đề nghị của cô mới được chấp nhận, sau nhiều cứu xét.

Thảo nào, tuy cô vờ cắm cúi lau bàn, nhưng tai cô cứ nghiêng bên này, lại nghểnh bên kia, để nghe tin Trì nói với tôi. Bây giờ đã hết giờ làm việc, cô lại không phải là người lau dọn bàn; vậy là cô cố ý chờ tôi, để nghe và vừa để nói ý cho tôi biết là do cô đấy! Nhưng cô Vân ơi! Cô đã tính sai rồi! Ở xà lim, đôi khi cô và tôi còn dễ gặp nhau, chỉ có một cái khó là tuy gần gũi nhưng phải cách một cái…cửa buồng. Bây giờ, ra trại chung, bản tính của tôi lại rất nghiêm ở chỗ đông người, tôi chả gần cô được nữa, dù có gặp.

Dư đứng chờ, dẫn tôi về xà lim. Trước khi chào tên Trì ra cửa, mắt tôi còn thoáng thấy một nụ cười của người Phố Hiến, như cánh hoa hồng đón gió Xuân.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

Người bạn tù “Lôi Hổ”

Đặng Chí Bình

Bài 28

Chiều hôm đó, sau khi cơm nước, trả bát xong, trời đang nắng tự nhiên tối sầm lại. Mới 4 giờ chiều mà tưởng như trời sắp tối. Có những tiếng ầm ầm, ì ì như cối xay lúa ở xa xa, càng lúc càng rõ dần. Bây giờ như có mấy xe lửa đang chạy trên trời, suốt từ Đông sang Tây, rồi từ Nam lên Bắc. Trời đang chuẩn bị mưa lớn.

Bỗng một làn chớp xanh lè, rồi một tiếng nổ xé tai làm rung chuyển cả Hỏa Lò. Trên mái, đã nghe thấy những tiếng lộp độp của những hạt mưa thưa. Càng lúc, tiếng lộp độp cành mau hơn. Thỉnh thoảng vẫn có những làn chớp lóa mắt, kèm theo những tiếng nổ lúc xa, lúc gần. Bỗng, tôi chợt nghe lẫn trong mưa gió tiếng gì… đầu tiên như tiếng sáo diều, rồi mỗi lúc một to dần, để cuối cùng thành tiếng… còi hụ báo động!

Tôi như choàng tỉnh khỏi một cơn mơ, khi những tiếng nổ rền như bắp rang của súng đạn: những tiếng “pọp, pọp, pọp…” của trung pháo, tiếng “cùng, cùng, cùng…” của đại liên, tiếng “ùng ục, ùng ục…” của đại pháo… Tiếng trung pháo nghe ngọt nhất. Lúc đầu, tôi còn phân biệt rõ được từng loại pháo; nhưng sau thì lộn tùng phèo! Tiếng sấm, tiếng sét, tiếng bom, tiếng súng, tiếng tên lửa, tiếng mưa rơi…rối rít tít mù! Tôi chả còn biết đường nào mà rờ nữa. Tôi đứng thẳng lên trên sàn, dựa vào cửa sổ lớn nhìn ra sân xà lim, vừa nhìn mưa rơi, vừa nghe súng nổ.

Thế này là, các anh phi công đã lợi dụng những đám mây đen, lợi dụng trời mưa gió, sấm chớp để vào Hà Nội. Phải nói, trận này các anh đánh thật đẹp. Nhưng, như tôi đã trình bầy, các anh đánh để có công tác vậy thôi, chứ các anh có đánh gấp đôi như vậy, cũng đừng hòng Cộng Sản thay đổi thái độ, hoặc theo ý các anh. Đánh miền Bắc! Không sử dụng quân bộ thì không có cách thứ hai để giải quyết đâu!

Sau gần một tiếng đồng hồ, trận không tập mới dứt. Cùng lúc đó, trận mưa của đất trời cũng tạnh. Sau cơn mưa, trời lại sáng; nhưng sau cơn bom, chắc bên ngoài Hà Nội đang có nhiều chỗ có tiếng than khóc, xen lẫn tiếng rên la. Trong chiến đấu, tất nhiên là phải có máu chảy thịt rơi rồi.

Không khí sau trận mưa dìu dịu mát. Tôi vẫn bần thần dựa đầu vào lưới thép cửa sổ, dõi mắt nhìn những chiếc gương to, nhỏ nhiều hình thù khác nhau để ngửa, rải rác khắp đó đây trên mặt sân. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua làm những tấm gương nhăn mặt, như cáu giận nàng gió lả lơi cợt đùa.

Đứng mãi một thế, mỏi chân. Tôi vừa quay người lại, định chuyển thế đứng thì mắt tôi nhìn thoáng qua khung cửa sổ buồng số 5. Một bộ mặt tai tái, với đôi mắt sáng lên vẻ mừng rỡ khi nhìn thấy tôi. Tôi mỉm cười và giơ tay làm hiệu chào người bạn xóm giềng, chứ lúc này lòng tôi đang ngổn ngang nhiều nỗi, chả còn thiết trò chuyện linh tinh. Tôi làm hiệu chào, định không nói chuyện, nhưng rồi tôi lại đổi ý. Tôi ra hiệu tay cho anh biết cách thức, rồi viết cho anh như kiểu tôi thường “nói chuyện” với chị Bắc trước đây. Tôi hỏi:

– Bị bắt lâu chưa?

Anh cũng viết trả lời:

– Bị bắt 4 tháng rồi.

Tôi hỏi tiếp:

– Mới về đây hơn nửa tháng, vậy mấy tháng trước giam ở đâu?

– Xà lim, ở trại giam Thanh Trì, Hà Nội.

Như thế, Hà Nội lại còn một trại giam nữa ở Thanh Trì, tôi nghĩ thầm, rồi tiếp:

– Trước ở đâu?

– Ở Sài Gòn, bên Chợ Lớn!

Tôi giật mình, hỏi tiếp:

– Tội gì?

– Lực lượng Biệt Kích “Lôi Hổ”!

Chà! Lại một đồng chí, một chiến hữu nữa! Tôi mừng rỡ, hết hẳn vẻ mỏi mệt hỏi tiếp:

– Nhảy ở đâu?

– Vùng giải phóng, chiến khu “D” (tức miền Nam).

————————————-

Sau cuộc nói chuyện, tôi biết sơ lược về anh như sau:

Anh tên là Lưu Nghĩa Lương, 24 tuổi, người Việt gốc Trung Hoa, ở số 276 đường Bà Hạt, Chợ Lớn. Anh đi một toán gồm 6, 7 người, trong đó có một người Mỹ làm cố vấn. Nhảy trực thăng vào một vùng trong chiến khu “D” để tìm dấu vết địch. Anh đã nhảy nhiều lần. Lần này, không may rơi vào ổ phục kích Cộng Sản. Trong lúc bất ngờ tán loạn, mỗi người chạy thoát thân mỗi nơi. Riêng anh, sau 2, 3 ngày lang thang trong rừng, cuối cùng bị chúng vồ được và giong anh ra miền Bắc…

Khi đã biết Lương là người của Sài Gòn, tôi cũng không giấu và cho Lương biết sơ lược sự thật về tôi. Lương rất mừng rỡ, xưng em và coi tôi như một người anh. Vì Lương vẫn còn phải thỉnh thoảng đi cung, nên với những kinh nghiệm sẵn có, tôi góp ý cho Lương một số vấn đề để khắc phục bớt những nhược điểm của mình, cũng như nhìn rõ một số yếu điểm của đối phương, tức là chấp pháp. Tôi cũng kể lại cho Lương nghe sơ qua về trường hợp rất đáng thương của chị Bắc. Mãi gần về cuối cuộc nói chuyện, Lương có vẻ ngập ngừng viết:

– Cô y tá Vân “mết” anh lắm rồi!

Tim tôi bị bóp nhẹ, vội vàng tôi hỏi ngay:

– Lương thấy thế nào, lại nhận định như vậy?

Lương nói là đã mấy lần trèo lên cửa sổ, nhìn phía sau lưng cô ấy, khi cô ấy đi vào nói chuyện với tôi.

Thật không ngờ. Tôi cũng tiếc, nếu biết Lương là người của mình, tôi đã nói chuyện với Lương ngày từ đầu rồi. Chắc chắn, Cộng Sản không hể biết được phương pháp liên lạc “viết” này. Nếu chúng biết, chả khi nào chúng lại giam Lương và tôi đối diện với nhau.

Tôi cũng nói thật những suy nghĩ của mình về cô Vân: về một mặt nào đó, cô Vân cũng chỉ dưới mắt mình thôi, chúng ta coi khinh. Khinh ở đây là giữa địch và ta, giữa hai luồng tư tưởng hoàn toàn đối nghịch nhau. Nhưng, trong trường hợp này, phải nói, cô ta chẳng bao giờ thèm để ý đến những người như chúng ta. Chúng ta đã thất bại, rơi vào tay chúng rồi, hãy cam phận là một tên tù, đừng chơi vơi mà mang nhiều tủi hận.

Ngược lại, tôi không hiểu Lương căn cứ vào đâu lại dám có ý kiến khác hẳn. Nào là, theo Lương thấy, cô Vân rất hách dịch, đã cùm bao nhiêu người rồi; ngay cả số 4 cạnh buồng Lương, anh chàng có vẻ học thức thế mà cô ta cũng tố cáo với Dư, để anh chàng phải cho chân vào “cạm”. Nhưng riêng với tôi, cô ta lại đối xử khác hẳn. Vả lại, nhiều buổi trưa, cô ta vào đứng nói chuyện với tôi. Nào là, Lương bảo đảm cô Vân đã để ý nhiều đến tôi. Lương đề nghị là trong hoàn cảnh tù đầy như thế này, tôi hãy cứ tiến tới, lợi dụng để cho đỡ buồn cảnh sống, trong xà lim hoang vắng âm u.

“Nói” chuyện với Lương, tôi thấy lòng len lén dâng lên một thứ tình cảm thân thuộc ấm cúng. Vừa là đồng chí, vừa như tình anh em. Tôi hỏi Lương có hút thuốc lá không? Mắt Lương sáng lên như ngọn đèn mờ sắp tắt, lại được đổ thêm dầu. Lương nói là từ ngày bị bắt đến hôm nay, thèm một điếu thuốc kinh khủng mà chưa hề có một hơi thuốc lá nào cả, chứ đừng nói là một điếu.

Buổi tối hôm ấy, sau khi xác định là không có cán bộ, tôi liền làm theo cách thức đưa kim cho chị Bắc trước đây. Lần này, tôi nối lại thành hai dây do bốn sợi chỉ chăn, mỗi sợi dài khoảng hai mét. Tôi cột một mẩu cuống chổi vào một đầu chỉ, rồi búng mạnh sang sát cửa buồng của Lương. Lương lấy một cọng chổi thanh hao có móc ngoéo ở đầu, luồn ra qua khe cửa, móc kều sợi chỉ vào. Đầu bên này, tôi đã buộc sẵn những điếu thuốc lá, diêm và 3, 4 cái kẹo. Tôi và Lương chỉ việc lựa, lần tay kéo về. Làm kiểu này, chúng tôi tha hồ chuyển cho nhau những vật theo ý mình.

Trong lúc chuyển kéo dây, tôi chợt nhớ đến chị Bắc. Một nỗi buồn thương cảm dâng đầy, nặng trĩu trong lòng. Nếu bây giờ chị còn ở đây, bao nhiêu kẹo bánh, tôi sẽ chuyển sang cho chị bồi dưỡng hết. Tôi chỉ ăn mỗi thứ một cái thôi, để gọi là biết mùi, còn thì hút thuốc lá.

Lương cảm ơn tôi rối rít và càng giục tôi tiến tới, để anh em có kẹo, có thuốc hút. Thấy Lương nghĩ và nói như vậy, tôi cho là Lương chủ quan, nghĩ chuyện đời quá đơn giản. Chứ theo tôi, sự việc chẳng phải dễ dàng. “Người ta” có lập trường giai cấp của “người ta” chứ!… Tuy nhiên, những lúc nằm không, tôi cũng đã vẩn vơ suy nghĩ: hơn 5 năm trời ở xà lim, đã mấy lần tôi tưởng không còn thể sống được nữa; khi tấm thân tôi phù thũng, khi thì người như con cá khô, chỉ còn da bọc xương; chả khi nào nghe thấy ai nói chuyện “bồi dưỡng”; vậy mà bây giờ tự nhiên lại có chuyện như ở trên trời rơi xuống đất thế này! Nhất là dạo này, sau gần hai tháng ăn thêm được một phần cơm của chị Bắc, người tôi lại có xương, có thịt nhất kể từ khi vào tù. Rồi, đôi mắt cô Vân tại sao lại nhìn tôi thế? Tại sao, buổi trưa cô hay vào mở cửa sổ nhỏ buồng tôi nói chuyện? Với bao nhiêu câu hỏi tại sao, chẳng câu nào tôi trả lời rõ ràng được.

Buổi tối nay, không biết là rằm hay 16 của tháng cuối Hạ, đầu Thu, mà trăng thật sáng? Mảnh trăng tròn vành vạnh như thách đố, với những đám mây đen nặng chịch, đang bò lổm ngổm như những con sâu róm từ hướng Đông về hướng Tây Nam trên nền trời tím xậm.

Tôi đang đứng ngắm trăng để hồn say sưa, dập dờn bay đây đó, chợt cổng xà lim mở rộng. Tôi thụt ngay người xuống, nhưng mắt vẫn còn thoáng nhìn thấy một mái tóc xõa tung, buông dài, với cánh tay trần cắp chiếc thau men. Cô Vân tối nay lại vào tắm. Chẳng hiểu sao, tôi thấy tim mình đập mạnh và nhanh hơn.

Tôi ngồi xuống sàn, không dám đứng lên nữa. Nghe tiếng mở cửa nhà tắm, rồi tiếng nước chảy, người tôi tự nhiên nóng dần lên như vừa nhắp một chú rượu đời. Lạ thật! Tôi thật là lẩm cẩm. Tại sao mình lại như vậy? Tôi chẳng còn hiểu nổi ngay chính mình nữa! Lý trí đã hiện rõ hai chữ “không được”, vậy tại sao còn lẩm cẩm hão huyền?

Tôi nằm xuống, chuẩn bị những đồ chống muỗi, đi ngủ. Tôi muốn đi vào giấc ngủ ngay, nhưng trong khi tôi nằm nhắm mắt, tiếng nước chảy, tiếng động của chiếc thau men xát xuống mặt nền xi măng cứ như cào vào đầu, làm người tôi rần rận nóng lên, thì làm sao tôi ngủ cho nổi. Nếu tôi có quyền, tôi sẽ không cho ai vào xà lim tắm nữa.

Dù tôi không muốn, nhưng tôi vẫn biết cô Vân đã tắm xong. Thậm chí, tôi còn nghe thấy cả tiếng động nhẹ của chiếc thau men để lên bàn trực nữa. Im ắng, không có tiếng bước chân ra cổng xà lim. Tôi vẫn nằm lì, nhắm mắt, cố dỗ vào giấc ngủ. Mồm bịt kín trong chiếc khăn che muỗi, tôi vẫn lẩm bẩm nói với lòng: “Đừng chơi vơi nữa thuyền ơi!”

Đột nhiên, một tiếng quát giật giọng của cô Vân từ phía ngoài sân xà lim:

– Anh kia, đứng lên làm gì?

Rồi tiếng bước chân vội vã, xền xệt từ ngoài sân đi vào. Tiếng cửa sổ nhỏ buồng 14 nghe “xoạch”:

– Anh nào vừa đứng lên?

Tiếng một thanh niên:

– Xin cô bỏ qua cho, tôi thấy trời sáng trăng đẹp, nên vừa đứng lên.

Tiếng chỏng lỏn, rấm rẳn:

– Mai anh sẽ nói như thế với cán bộ trực ở đây này!

Tiếng cửa sổ nhỏ đóng mạnh, tiếng bước chân đi ra, rồi lại im ắng. Như thế, hẳn cô Vân đang đứng ở sân. Tôi đã buộc người để đi ngủ; tôi đã cưỡng lại với lòng mình; đến nỗi bỏ cả một buổi trăng tròn cuối Hạ. Thế nhưng, tôi vẫn không ngăn được giòng tư tường của mình: cô này “hắc” thật, con gái gì mà dữ thế! Được! Để tôi thử khả năng quan sát của cô, xem cô nó bắt được tôi không? Đặt giả thuyết, nếu cô ta bắt được, cũng đành một tuần bị cùm để dứt chuyện “chơi vơi”.

Nghĩ vậy, tôi liền ngồi bật dậy, tụt đầu, tụt tay, tụt chân ra khỏi đồ nghề chống muỗi. Vuốt lại đầu tóc một tí, rồi tôi lựa thế, ngửa hẳn mặt lên trần, và từ từ nâng mặt lên sát mép cửa sổ.

Ngoài sân là một bức tranh tuyệt vời. Dưới ánh trăng huyền ảo của đêm Hè là một thiếu nữ đang độ xuân thì, căng đầy nhựa sống. Da cô đã trắng, cô lại mặc chiếc quần đen ống nhỏ bó sát, làm lẳn lên đôi chân thuôn dài. Chiếc áo lót mùa Hè cũng màu đen làm nổi bật đôi cánh tay trần và chiếc cổ dài lấp loáng trong làn tóc mây. Hai cánh tay như hai thỏi sáp thỉnh thoảng lại uốn éo, hất, hong mái tóc huyền trong gió dưới trời trăng. Mấy cành bàng nhỏ trĩu lá xanh lắc lư theo gió, nhiều lần sà xuống như muốn vuốt ve, chiêm ngưỡng một tuyệt tác thiên nhiên. Dăm chiếc lá bàng khô mãi từ góc sân đàng xa đang rủ nhau mượn gió lăn dần về phía bóng giai nhân. Một mùi nồng, ngậy, ngòn ngọt của thịt da quyện vào mùi ngai ngái của lá hô, của rêu mốc làm cho trong mũi tôi ngứa lên như có rận bò. Tôi tiếc rằng lúc này phải chi mình là một nhà thơ, một họa sĩ, hay một nhà văn để tôi tả, tôi vẽ được đủ nét bức tranh “trăng tròn đêm Hè” này.

Thỉnh thoảng, cô Vân vẫn nghiêng nghiêng cái đầu, nghênh ngó đưa mắt nhìn suốt lượt các cửa sổ lớn của xà lim trông ra ngoài sân, vậy mà cô chả nhìn thấy tôi. Điều này, càng chứng tỏ phương pháp của tôi là hữu hiệu, an toàn (có thể sau này sẽ có lúc cần thiết tôi phải dùng đến). Tự nhiên, một ý tưởng ngông cuồng thoáng đến trong óc tôi:

“Cứ đứng thẳng người lên, nhìn đường hoàng, cho cô nàng thấy, xem thử thái độ của cô ra sao?”. Chẳng hiểu do từ nguồn thúc đẩy nào làm tôi “dũng cảm” thế! Tôi nhô đầu lên, tựa trán vào lưới thép, nhìn cô.

Đôi tay của cô vẫn trải dài, buông lơi để hong những lọn tơ huyền, tôi hơi hồi hộp, đợi chờ. Kìa, cô đã ngửng lên. Mặt cô hướng về cửa sổ buồng tôi. Tôi chờ…một tiếng quát để cắt đứt “mối tơ vương” không nhằm chỗ của mình. Nhưng không, cô mở to mắt nhìn tôi, hai cánh tay cô ôm chặt vào ngực, cứ tưởng như không mặc áo. Đôi môi cô mấp máy, rồi nở thành một nụ cười! Rồi, cả cặp mắt của cô như cũng cười theo nữa!

Dưới ánh trăng, xà lim càng vắng lặng, bốn mắt cứ nhìn nhau, im lặng. Một cơn gió thoảng qua, những chiếc lá bàng run rẩy đập vào nhau gây lên những âm thanh rì rào, xào xạc. Tay cô vẫn ôm ngực. Tôi lúc này, người cũng đờ ra như tượng gỗ. Hình như có một sức hút ngấm ngầm nhưng rất mạnh đâu đây, đã từ từ kéo cô từ sát tường phía bên kia tiến dần, tiến dần đến phía dưới cửa sổ buồng tôi! Bây giờ, cô và tôi chỉ còn cách nhau chừng hơn một mét. Một đám mây đen kéo đển che lấp mặt chị Hằng. Cả người cô Vân đổi thành màu xám xậm; nhưng đôi mắt của cô lại ánh lên như hai vì sao nhỏ long lanh. Một tay cô bỗng giơ vào quãng không về phía tôi. Môi trên của cô cong rướn lên, người cô như muốn xiêu đổ về phía cửa sổ tôi đang đứng. Bàn tay tôi cũng tự dưng chậm chạp đưa lên, run rẩy, quờ quạng xoa lên tấm lưới thép.

Phút này thật là nguy hiểm. Nếu có một cán bộ từ ngoài cổng xà lim đi vào, ăn làm sao, nói làm sao bây giờ đây? Chẳng biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra? Có lẽ Vân cũng chợt cảm thấy như vậy. Có thể dăm phút vừa qua, hai linh hồn đã thoát xác bay bổng, bây giờ mới gọi nhau trở về nhập vào hai tấm thân. Cô bàng hoàng như sực tỉnh một giấc mơ, quay vào bàn trực lấy cái thau, rồi từ từ đi ra cổng. Đến cổng, cô còn ngoái lại, đứng nhìn tôi một lúc, rồi mới khép cánh cổng, ra về.

Tôi quay vào, đứng lên sàn, nhìn sang buồng số 5. Lương viết nói với tôi:

– Khi nãy cô Vân quát, em tưởng cô ấy quát anh em lo quá chừng. Sau, biết là số 14, em mới an tâm. Có thế chứ! Hôm nào anh cứ thử đứng lên nhìn cô ở ngoài sân xem sao?

Tôi chả muốn cho Lương biết chuyện vừa rồi, vì lại phải dài dòng kể lể nên tôi chỉ gật đầu nói là để xem sao. Lương động viên, khích lệ tôi. Đang nói chuyện với Lương, tai tôi thoáng nghe có tiếng dép đi nhẹ ngoài sân, liền vẫy tay ra hiệu cho Lương ngồi xuống. Một lúc sau, qua cách mở cửa và tiếng “đằng hắng”, tôi biết là tên cán bộ Kế, chuẩn úy người miền Nam, đi kiểm tra nhận ca trực đêm. Vậy cũng đã 9 rưỡi, 10 giờ rồi, tôi lại chuẩn bị các “thủ tục” chống muỗi để đi ngủ.

Tôi nằm nhắm mắt, nhưng đầu óc vẫn cứ vương vấn với những hình ảnh vừa qua. Chuyện này cũng thật gay go đây. Nhưng, như vậy thì lại càng hấp dẫn, lôi cuốn. Tôi và cô cứ phải giữ thế của mỗi người, phải lựa ý nhau, nay một tí, mai một tí, từ từ. Cô Vân có cái tự ái của một cán bộ, không phải một lúc mà cô có thể xé bỏ ngay được. Còn tôi, tôi cũng có lòng tự trọng của mình, không thể nài xin, và lại càng không được quyền tiến trước, như một chuyện tình cảm bình thường, mà phải đóng vai thụ động.

Có một điều khiến tôi cứ băn khoăn mãi không giải thích nổi. Đó là, không nói gì ở ngoài Hỏa Lò, hay trong ngành công an; mà ngay trong Hỏa Lò này, gần 200 công an vũ trang toàn loại thanh niên trẻ, thiếu gì người coi được, tại sao cô Vân lại để ý đến một tên tù trọng phạm? Về mặt lý trí, cô thừa hiểu, tôi có thể chết, không chết trẻ, cũng chết già trong nhà tù; tôi lại còn phải chìm nổi đọa đầy nơi rừng sâu, hay biên cương hẻo lánh… Vậy, cô còn “lắc lư” làm gì cho tím thẫm cả hai cõi lòng? Phải chăng, cô cũng không thoát ra được khỏi, cái chung của người đời là chỉ thích những chuyện…không bình thường?

Tôi cứ trằn trọc mãi, rồi thiếp đi trong giấc ngủ mờ màng. Bỗng tai tôi nghe có tiếng gọi rất nhẹ, nhưng thật rõ:

– Anh Bình ơi! Anh Bình!

Tôi bật nhỏm dậy, rút đầu ra khỏi bao, nhìn về phía cửa sổ nhỏ. Một chiếc mũi ghé, thò hẳn vào giữa hai cái song sắt của cửa sổ. Hai con mắt đen láy nhìn tôi đầy thương cảm. Tôi rút vội hai tay ra khỏi “bao tay”, tôi tiến tới sát cửa sổ. Hai mặt thật gần nhau, một làn hương ngầy ngậy  phả ra làm ngây ngất hồn tôi. Cô Vân nhìn tôi một lúc, rồi nói trống không:

– Mãi không ngủ được!

Tôi chỉ yên lặng nhìn cô, và ngúc ngắc cái đầu, ý bảo cô đừng nói nữa, đừng lên tiếng nữa.Chẳng hiểu sao, bỗng hơi thở cô dồn dập, tay cô run run đưa cho tôi một gói thuốc lào, loại hai hào và một gói thuốc là Điện Biên. Cô nói thật nhẹ, thật khẽ vậy mà tôi vẫn cảm thấy làn hơi thở của cô thơm nồng, quyện trên mặt tôi:

–   Anh hút ít thuốc lào thôi đấy nhé!

Lòng tôi đang xốn xang, hồi hộp nên chỉ gật đầu mà không thể nói lên lời. Tuy vậy, khi một ý định từ nãy chợt trở về óc tôi, tôi nói luôn:

– Mai đừng báo cáo ông Dư về buồng 14 nữa!

– Em không muốn các buồng họ nhìn. Nếu không thế, họ làm loạn xà lim lên ấy!

Trong thâm tâm, tôi thừa nhận ý kiến của Vân là đúng. Dù vậy, tôi vẫn nhắc lại một lần nữa:

–   Ngày mai đừng báo cáo ông Dư về buồng 14!

Có lẽ vừa rồi, tôi đưa ý kiến một cách bất chợt, cô chưa phản xạ kịp nên xưng “em” một cách rất tự nhiên. Nhưng ngay sau đó, cô cũng thấy hơi ngượng ngùng, nên cô lại nói trống không. Khung cửa sổ nhỏ có 6 khoảng trống tạo bởi 5 song sắt. Ở hai khoảng trống chính giữa, hai đầu ngón tay trỏ và giữa của cô Vân vịn vào, như thể đỡ cả người cô đang cúi đầu sát cửa sổ. Tôi cũng để hai ngón tay trỏ và giữa của mình ở hai khoảng trống bên cạnh, mặt cúi sát gần mặt cô. Tôi hỏi cô một câu, cũng trống không:

– Mấy giờ rồi?

– 12 giờ rồi!

Cô cũng trả lời không có chủ từ, túc từ như trước. Chợt, cô nhấc hai ngón tay cuả cô lên, rồi vô tình, để lên hai ngón tay của tôi. Như có ma lực, tự nhiên hai ngón tay của tôi, cứ xoắn xuýt lấy hai ngón tay của cô.

Đêm khuya vắng lặng, không hẹn, cô với tôi cùng thở dài. Rồi cuối cùng, chả biết tự lúc nào, tay phải của tôi, đưa ngón tay trỏ ra bên ngoài để tay trái của cô cấm lấy; và tay phải của cô cũng đưa ngón trỏ vào để tay trái của tôi giữ. Cứ như vậy, chúng tôi “nắm” tay nhau. Bốn mắt nhìn nhau, chả nói một câu nào nữa.

Tôi và cô lúc này lại thả hồn lửng lơ bay khắp bốn phương trời. Không gian, thời gian, thế giới và cả xà lim đều tan biến. Cho đến khi có tiếng động bên ngoài cánh cổng xà lim, cô và tôi đều bàng hoàng bỏ tay nhau ra. Cô đóng lẹ cửa sổ rồi nhanh chân đi vào nhà tắm.

Cũng vừa lúc ấy, có tiếng chùm chìa khóa ném lên bàn trực nghe cái “xoảng”. Một bóng người đi “tua” hết lượt qua các buồng. Cũng là lúc cô Vân trong nhà tắm đi ra. Có tiếng cô Vân:

–   Chú Đại trực ca này à?

Giọng khàn khàn của ngan đực:

– Phải, cô còn thức khuya thế!

Không có tiếng trả lời. Tiếng bước chân cô Vân đã tới cổng xà lim rồi.

Hôm sau, Lương lại có nửa bao thuốc lá Điện Biên hút. Tôi cũng nói cho Lương biết là đã nói với cô Vân cho buồng 14. Ngày sau đó, khi Dư vào, rồi suốt cả ngày, chúng tôi cùng nghe ngóng xem thái độ của Dư với buồng 14 ra sao. Nhưng, vẫn im lìm, không có chuyện gì cả. Như thế, lời nói của tôi với cô Vân đã có tác dụng. Chắc hai anh ở số 14 cũng băn khoăn thấp thỏm không ít. Riêng anh bạn trẻ nào đó sẽ ngẩn ngơ, chẳng hiểu vì sao lại không bị cùm. Có thể anh sẽ nghĩ, biết đâu cô y tá đã đối xử đặc biệt với anh! Để rồi anh sẽ có những giấc mơ…hồng từng đêm.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Oct 2023

“Tình riêng chỉ có …chút này mà thôi!…”

Đặng Chí Bình

Bài 27

Một buổi trưa, tôi đang ngồi mân mê cái điếu, óc đang miên man nghĩ ngợi, đấu tranh tư tưởng với…một nửa mẫu thuốc lá, chưa quyết định dứt khoát là sẽ “hưởng” bây giờ hay là để tối nay; bỗng cửa sổ con nhẹ mở. Tôi nhìn ra, trong ánh sáng mờ mờ, chỗ trắng, chỗ đen, thấy một chiếc mũi xinh xinh dưới hai đốm sáng long lanh trong như pha lê. Rồi hai đầu ngón tay nho nhỏ thò qua khung cửa sổ như tì, như vịn; hai đầu ngón tay nổi rõ mầu ngà giữa hai chiếc song sắt mầu xanh xám. Tôi cũng hơi bâng khuâng hồi hộp, cứ ngồi đờ ra nhìn. Tôi không biết cô Vân vào từ bao giờ. Cô mở cửa sổ buồng tôi không một tiếng động.

Bốn mắt nhìn nhau một lúc, rồi giọng cô êm êm như gió mộng chiều Xuân:

– Anh hút thuốc lào à?

Tôi vừa gật nhẹ đầu vừa nói:

– Hút, nhưng không có thuốc!

– Anh đừng hút nữa!

Chao ôi, giọng nói như tha thiết thân quen, làm mát rượi trái tim đã khô cằn nhựa sống. Thế ra, trên cõi đời này, vẫn còn có người quan tâm đến tấm thân tàn bất hạnh của mình ư? Tôi nhìn hai đốm sáng trong một lúc, rồi như nói một mình:

– Ở xà lim buồn quá! Hút cho đỡ buồn thôi. Nhưng cũng không có thuốc!

Một ngón tay nhỏ như cái ngó sen thò vào trong, ngúc ngắc, ra hiệu:

– Anh đưa cái điếu cho tôi xem!

Như một phản xạ tự nhiên, tôi cầm cái điếu áp vào bụng, sợ rằng cô này sẽ tịch thu cái điếu của mình. Nhưng nhìn ánh mắt của cô dịu êm như những áng tơ trời ve vuốt, tôi từ từ đưa chiếc điếu ra. Hai ngón tay trắng ngần thò vào cặp lấy cái điếu, kéo ra ngoài song cửa.

Cô mân mê, ngắm nghía cái điếu làm bằng 3 chiếc bao diêm, nối với nhau và được dán kín lại bằng giấy. Tôi đã rút những sợi vải và vò vò thành một búi như bông gòn đặt vào mỗi ngăn, để cản bớt bụi khói, đỡ hại phổi. Từ ruột bao này thông tới ruột bao kia đều có lỗ. Tôi giùi những lỗ này bằng cách, vo cuộn một cái giẻ lại, đánh diêm đốt, rồi vừa dí vừa thổi vào chỗ nào mình định giùi.

Cô nhìn cái điếu một lúc, rồi ghé sát miệng vào cửa sổ nói nho nhỏ:

– Anh đừng hút thuốc lào nữa. Hút thuốc lá đi!

Tôi vừa lắc đầu, vừa nhìn chăm chăm vào hai vành môi của cô. Tôi thầm nghĩ, phải thừa nhận các nhà văn đã tả và ví đôi môi của một cô gái đang độ xuân thì, giống như cánh hoa đào một sớm Xuân, thật là chính xác!

Cô cũng biết tôi đang ngắm môi cô nên mặt cô đỏ dần, mắt cô long lanh như sáng hẳn lên. Xà lim im vắng, chỉ còn hai người. Tôi không hiểu sao mình lại “bạo” thế! Tôi cứ nhìn trân trân vào đôi môi đỏ mọng của người con gái trước mặt, mà thấy người mình như nóng dần lên. Nhưng, chợt một ý tưởng thoáng qua trong óc đã như một gáo nước lạnh, dội vào trái tim đang bốc lửa. Tôi chợt nghĩ đến thân phận hiện tại của mình: một tên tù trọng phạm, một tên tối phản động, một kẻ thù không đội trời chung của “giai cấp công nhân” mà bọn Cộng Sản đã lừa bịp nhận là giai cấp của chúng; tù đầy, gian khổ trước mặt còn dài, chưa biết sống chết thế nào. Trong khi đó, người con gái đứng trước mặt tôi đây, cô y tá này đã được sinh ra và lớn lên trong một chế độ Cộng Sản, được đảng của chúng giáo dục và uốn nắn; nhất là được đưa vào đây, một nơi hàng ngày tiếp xúc với đầy dẫy những phần tử “phản cách mạng”; vậy, cô ta phải là người được đảng tin cậy lắm, đã trải qua bao nhiêu thử thách của đảng, mới được vào làm việc trong Hỏa Lò. Có thể, biết đâu, cô ta lại chẳng là công an? (Có lần, tôi đã thấy cô mặc bộ đồ vàng của công an!). Hơn nữa, cô lại không phải là xấu, ở trong một môi trường mà chung quanh ngoài hàng nghìn tù nhân ra, còn hàng trăm công an vũ trang và cán bộ. Cô như một con chim họa mi độc nhất, nhởn nhơ bay lượn trước hàng nghìn cặp mắt đắm đuối ngất ngây chiêm ngưỡng. Như thế, về phía cô, khi nào cô lại chú ý đến một tên tù như tôi! Còn tôi, tôi cũng có lòng tự trọng, tôi không thể thích cô được: cô là người của bên phía…kẻ thù.

Tôi không thể mơ hồ nữa! Hai trận tuyến, hai đường đi riêng biệt, mỗi phía đều có những hàng rào kiên cố riêng của nhau. Sau những nỗi niềm ngang trái đó, tôi lạnh lùng lên tiếng:

– Cô cho tôi xin lại cái điếu!

Thái độ của tôi thay đổi đột ngột, khiến cô hơi ngỡ ngàng. Mắt mở to nhìn tôi, tay cô nâng chiếc điếu lên cửa sổ rồi đưa vào. Tôi đưa tay cầm lấy chiếc điếu, không dám kéo mạnh vào, trong khi cô cũng chưa buông hẳn ra. Hai bên cứ cầm như vậy một lúc như giằng co, như ngập ngừng, bốn mắt nhìn nhau không nói một lời. Vừa lúc ấy, có tiếng động nhẹ ở ngoài sân, cô buông chiếc điếu và khẽ đóng cửa sổ lại.

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, các buồng còn đang ra đổ bô, cô Vân đã vào cho thuốc một số buồng báo cáo xin hôm trước. Vì đã có những ý nghĩ như hôm qua, nên tôi chẳng muốn gặp cô để xin thuốc nữa. Tôi vẫn cắm cúi đi bách bộ trong buồng, chờ giờ ăn cơm, mặc cho các buồng cứ râm ran xin thuốc, xin ăn cháo… Mãi một lúc, yên ắng, tôi tưởng cô y tá đã đi rồi; nhưng lại thoáng nghe có tiếng nói chuyện ở ngoài bàn trực. Tôi lắng tai. Giọng cô Vân, vậy là cô vẫn còn đấy.

Tôi đang sốt ruột. Nhà bếp đã đưa cơm lên rồi, sao mãi vẫn chưa thấy tên Dư mở cửa cho các buồng ra lấy cơm? Có tiếng dép lẹp xẹp đi vào. Đột nhiên, cửa buồng tôi mở. Tôi ngỡ ngàng và hơi băn khoăn, không hiểu tên Dư lại mở buồng tôi làm gì. Nếu cho lấy cơm, y phải mở dần từ các buồng đầu, có đâu lại vào mở buồng tôi ở giữa trước? Tôi đứng yên ngập ngừng nhìn y như muốn hỏi, y nói:

– Anh ra ngoài gặp cô Vân!

Như mọi lần, y vẫn nói bằng giọng nhỏ nhẹ, đủ nghe, nên tôi tưởng mình nghe lầm, chỉ khẽ “dạ” một tiếng như mọi khi, sau khi cán bộ nói, những vẫn đứng yên. Y phải nói lại lần nữa, tôi mới ăn chắc, thong thả đi ra ngoài bàn trực.

Không hiểu sao, gặp ánh mắt cô Vân nhìn, tôi phải cúi xuống nhìn đi chỗ khác. Ánh mắt như có điện! Tôi quay nhìn chỗ khác mà như chả nhìn thấy cái gì. Tên Dư cũng đã ra theo, đang đứng phía sau lưng tôi. Cô Vân mở một gói giấy trên bàn, vừa nói chậm rãi:

– Thấy cơ thể anh bị suy nhược, tôi đã làm phiếu đề nghị để anh được tiêu chuẩn bồi dưỡng một tuần. Mỗi ngày hai hào, như vậy anh được một đồng tư. Tôi đã nói với bác  Dư ở đây, thông cảm với đề nghị của anh. Tôi mua cho anh một gói thuốc lá “Trường Sơn” với một bao diêm, còn bao nhiêu, tôi mua kẹo và bánh ngọt cho anh.

Nghe cô nói, tôi cảm thấy như tôi đang được trèo lên cây măng cụt đầy quả chín lại Lái Thiêu, Bình Dương ở miền Nam vậy. Tôi vừa lâng lâng ngụp lặn đong đưa trong hương sắc ngọt ngào, của mùi trái chín gọi mời, vừa ngạc nhiên cùng độ: tại sao mình lại được trèo lên cây măng cụt chín ở miền Nam lúc đang ở tù như thế này? Thành ra, tôi như người mất hồn, nửa tỉnh nửa mê, ngơ ngẩn dại cả người ra. Mãi tới lúc tên Dư giục:

– Đem vào buồng, rồi ra lấy cơm luôn!

Như người máy, tôi mới ôm các thứ đi vào. Chẳng còn nhớ tới cả lời cám ơn, chỉ vì lúc ấy hai cánh mũi của tôi như bị hút chặt bởi mùi ngan ngát của thuốc lá, mùi chua chua mằn mặn của những chiếc kẹo chanh. Mùi kẹo này làm nhức ngứa trong đáy mũi, làm tuyến nước miếng như mở toang ra, để nước chảy đầy mồm. Tôi như người không hồn, chạy như con gà trống đuổi mái ra phía để chõng cơm, với tay múc đại một gáo nước, rồi cầm một bát cơm vào buồng. Chắc hẳn cả tên Dư và cô Vân đều toét miệng cười, khi trông thấy cử chỉ lính quýnh, loáng quáng của tôi.

Bữa cơm hôm nay, không hiểu sao tôi chẳng thấy ngon lành gì cả. Có lẽ tại bao nhiêu tâm tư mình đều để cả vào gói giấy báo, đang nằm cồm cộm một đống cạnh cái cùm kia. Tôi thấy nôn nao không dằn lòng nổi, dù đang ăn dở bát cơm, tôi cũng buông xuống. Rồi, một tay dằn ngửa gói giấy, một tay mở banh ra: thuốc lá, bánh ngọt, kẹo…nằm một đống, tênh hênh. Tôi lại cầm bát cơm lên, vừa ăn vừa nhìn. Hết ngoẹo đầu sang phía bên này ngắm nghía một lúc, lại nghiêng đầu sang phía bên kia. Đã  5 năm rồi, bây giờ mắt tôi mới được nhìn cái kẹo gói ra làm sao. Thì ra mầu nó xanh xanh như vậy đấy. Thế thì, vị của nó như thế nào? Chỉ một chốc nữa thôi, tôi sẽ biết.

Lúc trả bát, cô Vân đã ra về từ lúc nào rồi, tôi cũng chẳng biết. Trả bát xong, cửa buồng đã đóng lại. Tôi súc miệng, rồi trang trọng ngồi xếp chân bằng tròn, cầm bao thuốc lá đưa lên mũi hít hít, lại bỏ xuống. Cầm một chiếc kẹo đưa lên mũi, hít hà một lúc, lại tới chiếc bánh ngọt. Nước miếng tôi đã chảy ra đầy cả miệng, nhưng tôi cương quyết chưa ăn. Tôi cứ nghiêng ngó, hết cầm cái này, lại nhặt cái kia. Có ai hiểu được nỗi vui mừng, nỗi hân hoan trong lòng tôi lúc này như thế nào? Tôi có cảm giác tất cả mọi tế bào, mọi bộ phận của cơ thể tôi đều đã như đứng hết cả dậy, từng đôi một, đang dìu nhau nhún nhẩy trong một khúc nhạc được mùa. Tôi thông cảm với chúng.

Mới nhẹ bóc cái kẹo ra, tôi đã nghe cuống họng mình vang lên những tiếng kêu, như tiếng suối róc rách chảy lưng đồi. Nhìn viên kẹo xanh xanh óng lên như viên bích ngọc, tôi khẽ đặt mấy đầu ngón tay run rẩy của mình lên viên ngọc lưu ly ấy. Nhẹ nhàng cầm viên ngọc lên, tôi tưởng như làn da của ngón tay mình đang nếm trước được vị ngọt ngào, thơm đến suội người ra đó. Cầm viên kẹo để chạm nhẹ vào môi, tôi dừng lại một chút, cố tưởng tượng xem cái vị ngọt của kẹo nó như thế nào, trước khi cho vào miệng. Tôi không thể tưởng tượng được! Mới có 5 năm mà tôi đã quên tiệt. Năm năm này, tôi không được nếm một tí đường lần nào. Không tưởng tượng lại được vị ngọt thì bây giờ ta cho mi biết! Tôi bỏ chiếc kẹo vào mồm nghe đến “xèo” một cái, tưởng như cho con cá vào chảo mỡ nóng đang sôi. Tôi đổ vật nằm ngửa xuống sàn, mắt nhắm lại, lịm người đi. Trong mồm, lưỡi tôi cứ đẩy vào cái kẹo rồi lại rụt ra, xong lại đẩy vào, như người nhạc sĩ búng thử dây đàn. Trong cuống họng tôi hình như có trăm nghìn cái miệng bé tí đều há hốc ra, chờ giòng nước ngọt ấy chảy vào.

Chao ôi! Sao cái kẹo lại ngọt và thơm đến như thế, hỡi cuộc đời? Tôi xin đại diện loài người cảm tạ ông trời, ngài đã thương yêu loài người quá thế! Ai muốn nói thế nào thì nói, chứ tôi cứ xin trang trọng tuyên bố: tôi rất sung sướng và tự hào làm loài người. Nếu có kiếp sau, tôi xin “đăng ký một kiếp nữa, chứ chả như cụ Nguyễn Công Trứ xin làm… cây thông: “Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo”…đâu!

Hết cái kẹo, tôi ăn một cái bánh ngọt, rồi hút một điếu thuốc lá. Người tôi cứ dật dờ, như chiếc thuyền con trong một chiều lộng gió, ngoài cửa sông.

Mãi đến lúc này, tôi mới nhớ tới…cô Vân. Mà lạ thật, tôi có đề nghị cô cho tôi bồi dưỡng, bồi diếc, hay mua cái này, cái kia cho tôi đâu! Điều này là hoàn toàn do… cô. Vậy mà khi nãy, cô lại nói trước mặt tên Dư: “theo anh đề nghị…”. Chính cái điều này, cái điều tại sao cô lại phải “không” thẳng thắn như vậy, phải chăng?…, hay là…? Nếu như thế…thì thực là khó hiểu!

Buổi trưa hôm đó, tôi đang nằm lim dim cặp mắt để mặc cho thân xác nổi trôi với thuyền, với nước, thoáng nghe có tiếng động khẽ ở cửa. Tôi mở mắt ra nhìn, rồi vội vàng bò nhỏm dậy, đi ra sát cửa sổ con. Cô Vân đang đứng đấy, không nói một lời, mắt nhìn tôi đăm đăm. Vẫn hai ngón tay trắng muốt vịn vào trong song cửa, hờ hững. Tôi nhìn hai mắt cô, rồi nhìn hai ngón tay của cô để trên mép dưới cửa sổ. Xà lim vắng lặng lạ thường. Hai mặt gần nhau đến độ, tôi ngửi được cả hơi thở của cô. Tôi nhìn thấy rõ những sợi lông tơ, ở trên mép của cô. Vài sợi tóc buông lơi, theo từng cơn gió nhẹ đẩy đưa, vật vờ quấn vào những chấn song cửa sổ. Môi cô mấp máy như nói điều gì đó, nhưng tôi không nghe thấy tiếng.

Trong cái giây phút ngàn đời, tay tôi như muốn đưa lên đặt vào hai ngón tay trắng muốt ấy, chỉ cách mặt tôi chừng 7, 8 phân. Tôi đã cố gắng mấy lần, nhưng sao tay tôi như cứng ngắc, nặng như cánh tay sắt. Tôi không làm sao có thể nhắc tay lên được theo ý mình muốn.

Một tiếng nói như ở đâu, rất xa:

– Anh đã hút thuốc chưa?

Tôi bàng hoàng, ngập ngừng, nói mà không suy nghĩ:

– Trong xà lim buồn, tôi thích hút thuốc lào hơn.

– Anh đừng hút thuốc lào nữa!

Tôi ngút ngắc như ý mình vẫn giữ, nhưng không nói ra lời. Nhìn chiếc túi áo sơ-mi của cô cứ động đậy, gồ lên, thụt xuống, hồn tôi như bay đâu mất.

Chỉ nói được mấy câu, rồi hai người lại đứng yên, chả biết nói gì. Một lúc, tự nhiên cô nói trống không:

– Bây giờ phải xuống chợ Hôm!

Tôi muốn hỏi: “xuống chợ Hôm làm gì?”, nhưng chưa dám, cô đã gật gật cái đầu như chào, hai mắt cô chớp chớp lia lịa, tay cái cửa sổ nhỏ lại. Cô đóng cửa sổ xong, đi ra rồi, tôi vẫn còn đứng ngây như người gỗ.

Bao nhiêu câu hỏi, thắc mắc trong đầu chưa được trả lời. Có phải cô có cảm tình với tôi chăng? Tôi chưa thể kết luận được, phải chờ xem đã. Tôi quay vào, lấy một điếu thuốc nữa ra hút, để nghe: Tiếng đời xua động! Để cho: Võng lòng đu đua!

Lá Thư Úc Châu: Cùng tắc biến

đoàn xuân thu
Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Chuyện rằng: Tới giờ cơm chiều, một bà mẹ Úc ra trước cửa nhà, rống họng kêu John tới bảy lần. Thì 7 thằng cu sàn sàn nhau, cách chỉ một cái đầu, chạy ùa về nhà.

Anh yêu, em mới quen ngoài quán rượu đến chơi nhà, thắc mắc hỏi: “Sao đứa nào em cũng đặt tên John hết ráo vậy?” “À cho dễ nhớ mà!”

“Rồi em muốn gọi riêng từ đứa thì phải làm sao?” “Dễ ợt! Em sẽ gọi ‘họ’ của nó!” Té ra 7 thằng nhóc nầy cùng mẹ nhưng lại khác cha.

Chuyện đó nó hơi là lạ với xứ ta; nhưng ở xứ Úc nầy nó là chuyện hàng ngày ở huyện. Vì chữ có câu rằng: “Không chồng mà chửa mới ngoan. Có chồng mà chửa thế gian sự thường!”

Ở nước Úc phúc địa nầy đây! Đèn nhà ai nấy sáng! Chuyện có chồng, có con là chuyện riêng tư của từng chị em mình! Không có ai rỗi hơi mà chỏ mỏ vô giường của hàng xóm.

Đời em em muốn sống làm sao thì sống? Muốn lấy ai thì lấy; muốn bỏ ai thì bỏ. Đó là cái quyền của em. Chánh quyền, xã hội hay ngay cả ông Trời cũng không có quyền nói vô nói ra, kiểm điểm phê bình gì ráo trọi.

Đẻ nhiều vậy Úc nó còn mừng! Vì dân số Úc chỉ hơn 24 triệu một chút mà số sinh cứ giảm mà số tử cứ tăng thì trước sau gì nước Úc cũng bị diệt vong; nên chánh phủ lo sợ lắm chớ.

Tuy nhiên ở cái xã hội công nghiệp nầy mấy em bận đi làm kiếm tiền, đâu có ai ở không… mà đẻ?!

Vì nuôi một đứa con nít từ khi lọt lòng đến năm 16 tuổi, hơi cứng cựa để tự vỗ cánh bay vào đời… thì tốn mỗi đứa xỉu xỉu tới nửa triệu đô!

Nào tiền ăn, tiền quần áo, tiền gởi nhà trẻ, tiền đi học, tiền đồ chơi rồi tiền đi nghỉ lễ hằng năm. Đó là không kể tiền khám răng, tiền mua thuốc uống lúc ốm đau… Hầm bà lằng vô số thứ phải chi. Nên chị em mình nín đẻ là vậy!…

Chánh phủ Úc bèn đem tiền ra dụ khị, khuyến khích chị em ta nên vui hưởng chuyện tù ti tú tí và đừng quên làm cái nghĩa vụ thiêng liêng, phục vụ tổ quốc mến yêu là sản xuất cho thật nhiều cu tí…

Nhưng trong bụng chánh phủ chỉ muốn cái đám thu nhập cao, đám dân nhà giàu đẻ thôi, đẻ nhiều tự nuôi con, không xin trợ cấp gì ráo…

Còn đám dân nhà nghèo, làm ơn tốp tốp lại; chứ đẻ như gà, cục tác một tiếng ra một đứa, đông như quân Nguyên, ngân sách phải è cổ ra gánh là gãy xương đòn gánh; hết gánh luôn!

Bụng muốn vậy nhưng chánh phủ không dám nói tách bạch ra vì sợ dân nó chửi là không ‘fair’, tức bất công, chống lại nguyên tắc bình đẳng của Hiến pháp Úc, là rắc rối to…là mất thế cầm quyền trong kỳ bầu cử tới như chơi hè!

Không dám công khai kêu dân nghèo bớt đẻ… thì chánh phủ Úc chơi kiểu ma lanh là đẻ vẫn cho tiền, cùng lúc lại cắt trợ cấp nuôi con của các bà mẹ Úc nghèo bỏ chồng hay bị chồng bỏ mà chữ gọi là ‘single mum’!

(Mấy thầy thông dịch Việt Nam dịch rất bay bướm là mẹ đơn thân. Còn tui, tui dịch là mẹ cu ky!)

Dĩ nhiên đời mà! Cuộc sống đã khổ, phải giật gấu vá vai. Tiền có bữa nay mai lại hết; ai mà không cự nự chớ?

***

Nhiệm vụ của chánh phủ Úc là thâu thuế người đi làm rồi đem giúp lại người thất nghiệp, sống cầm hơi chờ ngày mai trời lại sáng. (Sáng đâu không thấy mà thấy tối hù tương lai nên mấy em la bài hải cũng là phải phải!)

Chẳng hạn như em Jessica Russell, sống ở khu nghèo miền Tây Sydney mới có 25 tuổi thôi, mà một nách đã hai con!

Không biết thằng đồng tác giả hai tác phẩm nầy nó trốn biệt đi đâu mà không chịu đóng tiền ‘child support’, tức tiền trợ cấp nuôi con, (hay thằng chả cũng ăn thất nghiệp luôn nên mậu lúi?) làm em phải cực kỳ khốn khổ dựa vào tiền sữa của nhà nước cho, để nuôi hai thằng nhóc tì chỉ mới vừa lên 2, 3 tuổi.

Em Jessica ca bản nhạc buồn, con cá nó sống vì nước nghe đến đứt ruột như vầy: “Em phải trả tiền chợ mỗi ngày… tiền mướn nhà, tiền điện thoại di động, tiền nước, tiền điện, tiền ga, tiền xăng, tiền thuế đường, tiền bảo hiểm xe hơi…

Phần em hai tuần chỉ được $552.60. Hai thằng cu em, mỗi đứa được $260.

Tổng cộng cả nhà em chỉ được hơn 1000 đô hai tuần. Một tuần chỉ khoảng 500 đô; ngày chỉ 70 đô thôi. Chính vì vậy rút tiền trợ cấp ra trả hết ráo, em chỉ còn đúng có 50 đô cầm hơi cho đến tiền đợt tới! Hu hu!

Rồi giờ chánh phủ Liên đảng của Malcolm Turnbull chơi ác như vầy ai mà chịu nỗi chớ?

Hai đứa con em đang ngụp lặn; chỉ có cái lỗ mũi ló lên khỏi mặt nước để thở mà giờ mấy ông bà chánh trị gia nắm giò tụi nó kéo xuống nữa hay sao?

“Hai thằng cu của em là tối quan trọng, nhất đời em. Đời em, em không ‘care’ (lo) nhưng đời chúng ít nhứt phải no, có đồ ăn, phải ấm, có quần áo mặc, phải tắm, có tiền trả tiền nước, phải có điện để mấy đứa nhỏ không phải sợ ma…

Đừng có rầy sao em suốt ngày ngồi nhà, uống bia và coi tivi không à nhe. Em đợi con em lớn lên một chút là em đi học làm cô mụ để giúp mấy chị em Úc khác sản xuất thật nhiều baby, mầm non của tổ quốc thân yêu chúng ta trong tương lai…

Tăng trưởng kinh tế Úc liên tục suốt 25 nay rồi nhưng ai ăn không hè. Tại sao giờ bắt tụi con em phải chịu…?”

***

Theo thống kê cho biết em Jessica nầy chỉ là một trong khoảng 3 triệu dân Úc, chiếm tới 13, 3% dân, và có hơn 731 ngàn con nít chiếm 17% đám xây lố cố đang sống dưới mức nghèo khổ.

“Đơn thân một nách hai con. Vất vả như thế, ‘đá’ còn phải đau!”

Nên các tổ chức binh vực phúc lợi cho tầng lớp thiệt thòi ở nước Úc kêu gọi chánh phủ dẹp cái kéo đi; đừng cắt vào số tiền còm cõi của bà con mình nghèo mạt nữa.

Nhưng chánh phủ nói rằng: “Đang nợ ngập đầu nè, không cắt cũng đâu có được, tiền đâu mà trả?”

Mấy năm trước, Tàu Cộng nó cần khoáng sản, nên Úc chỉ đào đất lên mà bán. Công ty thâu tiền nhiều, đóng thuế nhiều, hỏng nói làm chi! Giờ Tàu nó bớt mua quặng mỏ rồi.

Đào đất hỏng được giờ Úc chỉ còn có nuôi bò, nuôi heo mà bán ra nước ngoài thôi. Thịt bò thì bán cho Nam Dương, vì nó theo Hồi giáo! (không có ăn thịt heo). Còn thịt heo của cựu Thủ tướng Úc Paul Keating thì bán cho Tàu Cộng.

Dân nó cả tỉ rưỡi người! Thịt heo, thịt bò nó đều quất láng!

Thị trường ăn heo, bò của Tàu A Man thấy lớn vậy nhưng so với quặng mỏ thì tiền thuế thu hỏng được bao nhiêu.

Nên xin quý ‘single mum’ hãy thắt lưng buộc bụng, mua cái sợi dây nịt nhỏ nhỏ một chút được hông?

Năn nỉ coi bộ không xong, Chánh phủ Liên đảng bèn lên mặt dạy đời rằng:

“Cách thức tốt nhất để đối phó với vấn đề nghèo khó ở trẻ em, là phải có một nền kinh tế mạnh mẽ, bởi vì có nhiều trẻ em lớn lên trong các gia đình, trong đó một hay nhiều cha mẹ và có thể cả ông bà, không có công việc nào cả”.

“Vì vậy chúng ta phải khuyến khích họ tham dự vào lực lượng lao động”.

Nghĩa là than nghèo thì đi kiếm việc làm đi; chớ đừng ngồi nhà uống bia, xem ti vi hay ra biển ‘sex, sea và sand’ (chơi, sóng biển và cát trắng) nhe!

Nhưng tui hỏi ông chính phủ một câu rất ngặt là: “Việc làm ở đâu mà biểu mấy em yêu của tui đi kiếm chớ?”

***

Thật ra không phải chỉ mấy em ‘single mum’ là bị cái chánh phủ nầy nó gõ đầu mà ngay cả mấy ông già, bà lão đang ăn tiền già, tiền hưu cũng bị cái kéo nầy nó thò vô túi để cắt…

Cả một đời cày sâu cuốc bẩm, đóng thuế đều đều cho ngân sách mà tới già, hết xí quách về ăn tiền già mà nó cũng hỏng để cho yên.

Bà con ơi chính vì vậy mà đúng ra tui đã tới tuổi về hưu, vui thú điền viên cùng má sắp nhỏ; vì đời càng ngày càng thun lại, hỏng biết đi ra đi mãi mãi ngày nào? Nhưng tui vẫn còn chưa dám tháo ách, cởi cày đó nha! Thôi còn sức là mình còn làm cu li; chừng nào đi thì rảnh nợ…

Người Việt mình dễ thương vậy đó đến đây là đóng góp hè chớ không thèm chơi cái kiểu: cái khó nó ló cái ma lanh, ăn gian trợ cấp của chánh phủ (tiếng Úc nó nói là: smart ass; ass là cái mông, smart là khôn lõi)

Nhưng Úc rặt thì khác! La làng không ai cứu thì mình phải tự cứu mình thôi! Như hai cặp Úc già trong câu chuyện dưới đây:

Hai vợ chồng Úc già đã trên 70, đến một phòng khám chuyên khoa về rắc rối trong đời sống tình dục.

Bác sĩ hỏi: “Tôi có thể làm được gì cho quý vị đây?”

“Bác sĩ có thể chứng kiến lúc tụi tui ‘se chỉ luồn kim’ với nhau được không?”

Hai cặp lông mày của bác sĩ dựng đứng lên, vẻ ngạc nhiên; nhưng trong bụng thầm nghĩ ông già nầy kinh nghiệm chiến đấu ở trên giường còn quá cha tui; mà bày đặt đến gặp mình nhờ tư vấn về nghệ thuật ái ân nữa chớ! Thôi được!

Xong chuyện. Bác sĩ chẩn đoán: “Không có gì trục trặc hết ráo nhe!” “Chúc may mắn; tiền công của bác sĩ là 50 đô!”

Tuần sau, đến hẹn lại lên, hai cụ lại tới. “Cũng không có trục trặc gì ráo! Và tiền công của bác sĩ là 50 đô!” Rồi nhiều tuần liên tiếp, đến hẹn lại lên, y hịt vậy.

Vị bác sĩ đâm nghi ngờ bèn hỏi: “Xin lỗi! Tới giờ tôi cũng không hiểu hai ông bà muốn tôi chữa bịnh gì?”

“À bịnh viêm túi! Vì chánh phủ Liên đảng của Malcolm Turnbull thẳng tay cắt trợ cấp của người già!” “Thưa bà nói sao tôi không hiểu?”

Thì cụ ông chen vô, ăn cơm hớt: “Có gì đâu mà không hiểu. Chẳng qua, bà ấy có chồng; nên tui đâu tới nhà em được. Tui cũng có vợ; nên em cũng không thể đến nhà tui được. Đi khách sạn hạng xoàng nó tính 175 đô; khách sạn hạng sang nó tính tới 210 đô.

Thế nên tụi tui làm chuyện đó ở đây; bác sĩ tính 50 đô! Xong, tụi tui còn được Medicare, tiền trợ cấp y tế, của chánh phủ Malcolm Turnbull bồi hoàn cho 40 đô!

Cuối cùng, hai đứa tui chỉ tốn có 10 đô, em trả 5 đô; tui trả 5 đô thì ngu sao mà hỏng làm chớ?”

Thế nên: “Cùng tắc biến, cái khó nó ló… cái ma lanh!”… là vậy đó mấy ông anh mình ơi!

Kính chào sư phụ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Thưa quý độc giả thân mến!

Một năm quê người qua mau thiệt! Năm ngoái Giáp Ngọ, ngựa lọc cọc gõ móng tới cửa… rồi chẳng bao lâu nó đã phi nước đại… ngựa phi, ngựa phi đường xa tiến lên đường nắng cháy lóa lóa… tới 12 năm sau mới trở lại. Thiệt là bóng câu qua cửa sổ!

Ngựa đi thời Dê tới! Năm nay là Năm Ất Mùi; tụi mình sẽ bàn tới Con Dê!

Kính chào năm mới! Kính chào Sư Phụ!

Sư Phụ là tiếng xưng hô với người mà mình kính trọng. Xét cho cùng, Dê, tiếng Hán Việt là Dương có nhiều đặc tính mà chúng ta phải thành thật tự thú với lòng là so với Sư Phụ, đệ tử thấy mình còn kém cỏi quá; phải cần học hỏi ở Sư Phụ rất nhiều.

Trước tiên là nhân dáng.

Phải nói Dê rất đẹp trai hơn cả tài tử George Clooney mới vừa nghỉ sống cu ky một mình mà đi cưới vợ; làm con tim của biết bao bà “Đầm” tan nát.

George Clooney mày râu nhẵn nhụi; áo quần bảnh bao! Cái đẹp của George Clooney là cái đẹp ẻo lả, cũng là dương nhưng ẻo… chữ gọi là ‘dương liễu’. Còn sư phụ của tui, trời cho hàm râu dê, rậm, hơi dài, hơi cong, vểnh ra đàng trước một chút, trông oai hùng phất phơ trước gió (cha cái nầy cọ phải biết là nhột?!) trông cực kỳ nam tính!

Cái thứ hai làm chúng ta phải ngã nón cúi đầu, tâm phục khẩu phục… là khả năng sẵn sàng lâm trận, đâu cần thanh niên có đâu khó có thanh niên. Người viết muốn nói tới khả năng tình dục của loài Dê… đực, phe ta!
Xét cho cùng… “tò tí” với nhau là một nhu cầu căn bản của con người.

Tình dục làm giảm “xì trét”, giảm căng thẳng, giảm bệnh tim mạch và huyết áp. (Dà! Mấy loại bịnh nầy tui dính hết trơn; nên xét về cá nhơn thì nhu cầu nầy càng khẩn thiết). Làm mũi thính hơn! Tăng khả năng hệ miễn dịch! Rồi, không hề bực bội, tinh thần thoải mái, sảng khoái! Giúp mình trẻ lâu hơn mà không cần phải tốn tiền cho Bác sĩ Hàn quốc ăn… lấy chỉ may (đau thấy 9 ông Trời)… để mà căng da mặt!

Tranh: Can

Thưa quý độc giả thân mến!

Mấy ông Đồ Nho của Tàu hồi xưa đạo đức giả!

Cái gì liên quan tới Dê, tới tình dục là bĩu môi chê trậm trề, trậm trật, phê phán lung tung, nầy nọ nên mấy chú thanh niên, mấy cô thiếu nữ lòng xuân rạo rực muốn chạm vào nhau thì phải tìm cách bày trò. Đôi ta quá đã mà không bị “tả” nị à nha! “Giả vờ bịt mắt bắt dê. Để cho cô cậu dễ bề… với nhau!”

Do đó trong hội chợ xuân hồi xưa mấy tay tổ chức… đều bày ra cái trò hấp dẫn nầy, dụ khách đến chơi đông để kiếm xu, hào mà bỏ túi!

(Tây cũng vậy thôi, bày đặt ra cái vũ hội hóa trang, đeo mặt nạ để dê thoải mái! Lỡ có bị cự không có bị quê mặt bầu cua cá cọp! Ai có xem phim Romeo và Juliet đều biết!)

Thiệt là một phát kiến vĩ đại làm lợi vô số kể! Thiết tưởng mấy hội thương gia người Việt tổ chức hội chợ Tết năm nay ở Sain Albans, ở Richmond, ở Footscray hay ở Springvale nên phục hồi trò chơi nầy!

Hổng cần quảng cáo chi cho nó tốn tiền, chỉ cần lên đài SBS, la: “Bịt mắt bắt dê” là nam thanh nữ tú sẽ đến ào ào… vô số kể như đại dương (biển lớn toàn dê)…

Lúc đó ta mặc tình kiếm bạc chục, bạc trăm ngàn đô… chớ không còn kiếm bạc cắc như những năm về trước.

Ví dụ lỡ đang chơi, mà trời đổ trận mưa to; xin đừng có lo! Vì quần áo ướt nhẹp thì ‘dầy dầy đúc sẵn một tòa thiên nhiên’… trò chơi sẽ nóng bỏng; dân chơi sợ gì mưa rơi! Hội chợ Tết không còn sợ ế, sợ lỗ…

Càng mưa càng nhiều bạc vô túi “ngộ”… Mới ngộ!

Thưa quý độc giả thân mến!

Hồi còn ở quê nhà, chắc bà con mình đầu biết thi sĩ Bùi Giáng từng chăn dê ở quê ông vùng núi Quế Sơn, Quảng Nam.

Cho dù chăn dê ở ngoài Trung trong Nam gì cũng vậy: Sáng sớm, mình mới vừa mở cửa chuồng, thì chú Dê đực xông ra trước, đứng oai hùng, vểnh râu dê, làm chốt chặn, án ngữ lối đi.

Em dê cái nào muốn bước qua! “Nầy em yêu đóng thuế!“ Không em nào được quyền từ chối… Phải đóng thuế… rồi mới được ra đồng ăn cỏ!

Hết em nầy rồi em khác. Làm việc tận tâm, nhiệt tình… lâu lâu lại cất tiếng hoan ca “Be… he…Be… he!” trong nắng bình minh!

Chiều về, thì “đại dương’’ (một biển Dê) muốn được vào chuồng, tránh hùm beo, chó sói xơi tái thì cũng phải để “dê đực trả bài”.

Do đó có chuyện rằng chàng Dê hăng hái quá nên đột tử! Xuống Diêm Vương đầu cáo, làm đơn khiếu nại rằng: Đời đang đã mà phải ngỏm củ tì quá sớm làm tắt đi nhiệt tình cách mạng… Thiệt ông Trời đối xử với tui bất công quá!

Diêm Vương lục hồ sơ ra; an ủi: Chú làm việc rất tốt! Sáng đóng, chiều đóng, năm nầy qua năm nọ đều đóng, không bao giờ chểnh mảng, vừa ích nước lợi nhà, gia chủ được một bầy dê cỏn, đông như quân Nguyên. Ta cảm động trước nhiệt tình cách mạng, phục vụ không mệt mỏi của chú nên cho đi đầu thai làm người ngay lập tức.

Lên đầu thai không cần phải học hành gì ráo trọi! Chú sẽ sáng đóng, chiều đóng, già đóng, trẻ đóng, sồn sồn cũng đóng luôn không sót một ai cả! Dạ! Diêm Vương cho con làm gì mà quá sướng vậy? Ta cho Chú làm nhân viên Sở Thuế nhá!

Thưa quý độc giả thân mến!

Dê là chỉ cánh húi cua tụi mình! Còn cánh kẹp tóc được “dê” khoái dàng trời mây đi chớ! Còn giả bộ chính chuyên để xài xể bọn tụi tui!

“Phượng hoàng đậu nhánh sa kê. Ông thần ổng hổng vật mấy thằng dê cho rồi.”

Chửi tui thì cũng được đi nhưng tha cho Tía tui với chớ ổng đâu có ăn nhậu gì đâu với cái tật be he của tui đâu nè: “Dê xồm ăn lá khổ qua. Ăn nhầm sâu rọm, “chết cha” dê xồm?!”

Nhớ hồi còn trẻ, mới học dê; thay vì khuyến khích mầm non văn nghệ lại bị bà Chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương rầy, bị xài xể bằng thơ mới đau chớ. Bị gọi là dê cỏn, dê nhí, bị chê là khùng khùng, ngu ngu.

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ. Lại đây chị dạy cho làm thơ. Ong non ngứa nọc châm hoa rữa. Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!”

Còn nhà thơ Hoàng Cầm, cũng dê cỏn, thì bị chơi khăm như vầy:

“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng. Chị thẩn thơ đi tìm. Đồng chiều. Cuống rạ. Chị bảo. Đứa nào tìm được lá diêu bông. Từ nay ta gọi là chồng.”

Con dê cỏn nầy còn ‘khơ huyền khờ’ bèn ráng tìm thấy lá đưa cho; ai dè…

“Ngày cưới chị. Em tìm thấy lá. Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.”

Chị cười hí hí vì lấy chồng rồi; đang quá đã, con dê cỏn nầy tới quấy rầy hoài. Sao tui khoái cái câu “Chị cười xe chỉ ấm trôn kim” nầy quá bà con ơi!

Riêng nhà thơ thì buồn như dế kêu; bèn than rằng:

“Từ thuở ấy. Em cầm chiếc lá; đi đầu non cuối bể! Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời… … ới diêu bông…!”

Em ơi nếu mộng không thành thì sao! Dê em không đặng; tiếc hoài ngàn năm!

Dê cỏn, dê nhí dê; thì bị chê là thiếu kinh nghiệm tình trường. Mà sồn sồn như Bùi Kiệm dê cũng bị chê mới là lọa?! Em đẹp, em hấp dẫn… người ta mới để ý mà dê. Dê là một hành động khen ngợi xuất phát tận đáy lòng… Hổng chịu thời thôi… để anh đi “dê” em khác; xài nặng anh chi? “Con người Bùi Kiệm máu dê. Ngồi trơ bộ mặt, như dề thịt trâu?!”

Rồi già! Đời sống tình dục vào buổi hoàng hôn, trước khi đêm tối đến trùm mền; đời “Dê” ráng phựt chút đỉnh; như ngọn đèn, khô dầu lụi bấc, cháy bùng lên vài phát rồi tắt ngủm với thiên thu… không tội nghiệp thời thôi mà nỡ lòng nào xài xể là: Dê cụ, dê già, dê xồm, dê đạo lộ?! “Ông già ông đội nón cời. Ông dê con gái, ông Trời đánh ông!”

Người viết (cũng là một dạng Dê già) xin cực lực phản đối luận điệu nói trên. Nếu dê có nghệ thuật, dê đàng hoàng thì ta không được quyền phân biệt đối xử, kỳ thị tuổi tác như vậy; vì vi phạm… hiến pháp của Úc Đại Lợi!

Chỉ nên phê bình khi nó dê bậy, dê bạ, dê gian mà chữ gọi là: ‘dương gian’ như Lưu Bị chẳng hạn, ‘nhứt tẩu’ rồi quằm thêm ‘nhị tẩu’ nữa, bứng hoa, bứng cả cụm không chừa cho ai dê hết trơn. “Bươm bướm mà đậu cành bông. Ðã dê con chị, lại bồng con em!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Trong đời sống vợ chồng, tình dục đóng một vai trò rất quan trọng ai cũng biết, chớ hổng lẽ cưới nhau về, rồi ngồi đó nhìn nhau mà làm thơ…?!

Tuy nhiên nếu dê không đủ đô, không cho em mỗi sáng thức dậy cười lỏn lẻn là bị chì chiết đến nhức xương luôn nên mới có cái chuyện như vầy:

Hai vợ chồng đi Melbourne Show, cuộc triển lãm nông nghiệp, ở thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu.

Có một anh chăn dê đứng ra giới thiệu: “Con dê nầy đã phủ giống 50 lần năm rồi!

“ Bà vợ quay sang ông chồng: “Thấy chưa?”

“Rồi con dê nầy 65 lần năm!” “Thấy chưa! Một tháng hơn 5 lần”.

“Còn con nầy mới là vô địch quyền vương nè: 365 lần năm.” “Thấy chưa! Ngày một lần! Anh nên học theo sư phụ nầy!”

Ông chồng bèn đến hỏi cha chăn dê một câu: “Ê cho tui hỏi! 365 lần năm chỉ với một con dê cái thôi hay sao hả cha nội?”

Từ cái việc ngày nào cũng xơi một món, ngán tận cần cổ, gây ra trầm cảm; rồi bị ‘tịch dương và liệt dương’… nên mới có câu chuyện như thế nầy:

Cuộc họp được triệu tập khẩn cấp của Trung ương; vì có một đồng chí đột ngột muốn về hưu khi khoảng thời gian phục vụ cực kỳ ngắn ngủi; bắt đầu từ năm 20 tuổi đến năm 40 tuổi mà đã muốn từ giã tình trường; rũ áo ra đi!

Kinh chao su phu 08Đồng chí Não, từ miền Thượng Du, về nói: Mặc dù làm việc vất vả, suy nghĩ, động não tùm lum tùm la, dầu không ra cái gì… tui cũng xin tiếp tục hy sinh. Đồng chí Bao Tử, đại biểu vùng Đồng Bằng, nói: Làm việc toàn thời cũng mệt vì phải tiêu hóa đất cát ăn cướp được của dân, tiêu hóa sắt thép, xi măng ăn cắp của công trình… Toàn là thứ cứng rắn, khó nuốt trôi lắm! Bao năm nay vì sự nghiệp của chúng ta; tui không phiền hà gì cả, xin cứ cho tui tiếp tục ăn… ăn nữa!

Chỉ riêng có đồng chí “Dương Cụ Dê”, là đại biểu vùng Tam Giác Châu lại xin nghỉ hưu với lý do là: ‘Các đồng chí Não, đồng chí Bao Tử làm việc toàn thời, nhưng có giờ giấc đàng hoàng; lúc mệt là nghỉ xả hơi, lè phè chút đỉnh cũng chẳng sao! Riêng tui, dù làm việc thời vụ; nhưng lúc các đồng chí cần; tui phải ra sức phục vụ bất cứ ngày đêm, bất cứ nơi nào, bất cứ ở đâu, trong văn phòng, ngoài nhà nghỉ hay trong khách sạn 5 sao… Với bất cứ đối tác người mẫu chân dài đầu ngắn nào…

Dầu thời gian làm việc chỉ có hai mươi năm nhưng giờ oải quá! Viagra cũng không giúp ích được gì nên tui đành xin nghỉ!

Các đồng chí Não, đồng chí Bao Tử nghe thế đều ôm mặt khóc nức nở!

Thưa quý độc giả thân mến!

‘Cà kê dê ngỗng’ tới đây chắc đủ rồi… Xin phép quý bạn đọc thân mến cho phép người viết ngừng bút để dọn con gà nấu cháo lên cúng Giao thừa, mời ông bà về vui ba bữa Tết và mở cửa trân trọng kính mời Sư Phụ Dê, Ất Mùi, bước vào nhà xông đất! Đệ tử xin kính cẩn chào Sư Phụ!

Chúc mừng năm mới! Happy New Year!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Bài 2

Nha Trang, tháng ba ngày 25, 1975  Những tiếng nổ kinh hoàng kéo tôi ra khỏi giấc ngủ. Tôi nhảy ra khỏi giường, mắt nhắm mắt mở, không nhận ra hết mọi việc chung quanh. Bên ngoài cửa sổ, trời đêm lấp lánh những vì sao. Tôi ngạc nhiên không biết có phải những tiếng nổ tôi vừa nghe là thực hay chỉ là những điều trong mộng tưởng. 
Thêm nhiều tiếng súng khác. Sự sợ hải làm tôi hoàn toàn tỉnh ngủ. Tôi mò tìm đôi dép trong đêm tối vừa kêu mẹ tôi. Một bóng người hiện ra trong phòng, trên tay cầm một cây đèn cầy. Tôi nhận ra Loan, vú nuôi của tôi, mới mười tám tuổi và là người vú nuôi trẻ nhất trong nhà. Tóc chị rối bời và khuôn mặt hãy còn ngái ngủ. Trong căn phòng tối lờ mờ chị trông có vẻ hoảng hốt và run rẩy. Tôi chạy vội lại ôm chầm lấy chị, hít lấy mùi hương quen thuộc của thân thể chị. Chúng tôi ôm nhau đứng giữa phòng. 
Hơn một tháng qua, tiếng bom tiếng súng vang lên khắp nơi trong thành phố Nha Trang. Hàng ngày, báo chí liên tục loan tải những tin tức bất lợi, lan truyền trong dân chúng như một bệnh dịch. Mọi ngưới đón nhận những tin tức mới nhất với sự im lặng, dè dặt, và chán nản. Tin đồn lan truyền như một căn bệnh ung thư làm tê liệt thành phố Nha Trang. Nhà tù bỏ ngỏ, tù nhân tuôn ra như một giòng nước đục, cướp bóc trong thành phố một cách vô tội vạ. Không một người nào dám bước ra khỏi nhà. Đường phố vắng tanh, ngoại trừ thỉnh thoảng một chiếc xe vội vả chạy vụt quạ Nhà nhà đóng kín cửa trong nỗi lo âu sợ hãi. Truyền hình chiếu lại cảnh những người dân trốn thoát ra khỏi nhà vào nửa đêm, không mang theo được gì ngoại trừ những đứa bé trên tay ở các tỉnh gần vùng giao tranh. Giòng người chạy giặc, chân trần, tay không, kéo lê từ thành phố này sang thành phố khác, cố gắng chạy trốn những những nỗi kinh hoàng vô hình mà không biết mình sẽ đến đâu và chạy trốn cái gì. Thực phẩm trở nên khan hiếm vì chợ búa không còn hội họp thường xuyên nữa. Thành phố như một con cá đang chết dần trên nền xi măng, cố hớp lấy một chút không khí một cách tuyệt vọng. 
Giống như mọi người khác trong thành phố, gia đình chúng tôi trốn kín trong nhà chờ đợi những cảnh hãi hùng khủng khiếp của chiến tranh sẽ phải xảy ra. Cho đến lúc đó thì căn biệt thự nhà Nguyễn của chúng tôi chưa hư hại gì nhiều ngoài một vài trầy trụa nhỏ do sức ép của bom đạn. Tôi vẫn còn nhớ một việc thật phủ phàng đã xảy ra trước đó làm tiêu tán hết lòng tự tín của mẹ tôi là chuyện bà bị lường gạt trong việc làm ăn kinh doanh trong ngành ngân hàng. Từ năm 1968, mẹ tôi hùn với một cặp vợ chồng người Tàu mở một ngân hàng nhỏ tại Nha Trang. Mẹ tôi làm chủ một nửa, nửa còn lại do cặp vợ chồng người Tầu rất giàu có đó làm chủ. Rồi một buổi chiều, mẹ tôi nhận được một cú điện thoại cho biết cặp vợ chồng người Tàu đã ôm trọn số tiền mặt của ngân hàng trốn sang Thái Lan, và lúc đó đang trên đường sang New York. 
Ngày hôm sau mẹ tôi bước vào văn phòng nhà băng để chứng kiến một khung cảnh trống trơn điêu tàn. Bên ngoài, hàng trăm khách hàng vừa kêu réo tên mẹ tôi vừa tìm cách đập phá cánh cửa nhà băng đang khóa kín để xông vào. Mẹ tôi đã trốn thoát được ra cửa sau chỉ vài giây trước khi đám đông tràn vào. Lần đó, tuy mẹ tôi không bị tổn thương gì về thể chất, nhưng tinh thần bà suy sụp nặng nề. 
Tôi đứng nhìn mẹ tôi trên hành lang phòng ngủ khi bà bước vào nhà. Một chiếc guốc của bà rơi mất, khuôn mặt thất thần. Ông Lâm, nhân tình của mẹ tôi, lớn hơn bà chừng chục tuổi, và mấy người bạn của ông ta đang nằm phơi nắng bên hồ bơi ngơ ngác trước vẻ xốc xếch, bơ phờ của mẹ tôi. Họ ngó mẹ tôi lom lom cho đến khi bà bước hẳn vào nhà. Chỉ đến khi bàn chân trần của bà chạm vào nền gạch ẩm lạnh trong phòng thì mẹ tôi mới quỵ xuống khóc nức nở. 
Một nỗi thất vọng xâu sa xâm chiếm lấy tôi. Từ hành lang phòng ngủ ở lầu hai, tôi cũng bắt đầu khóc với mẹ tôi, và tiếng khóc nhỏ nhoi trẻ thơ của tôi chìm khuất vào tiếng gầm rú hung tợn của đạn bom. Một trái bom nổ ngay dưới đường làm rung chuyển mặt đất… Bây giờ cũng những tiếng nổ tương tự như vậy đã kéo tôi ra khỏi giường, xô tôi vào vòng tay của chị Loan. 
Vú Loan bồng tôi xuống lầu để tìm mẹ tôi đang tiếp mấy người bạn trong phòng khách. Mẹ tôi mời mấy viên chức chính phủ còn sót lại trong thành phố đến nhà hội họp để dò thăm tin tức. Mẹ tôi ngồi nơi ghế, mặc một chiếc áo dài, một kiểu áo quen thuộc của người Việt Nam có hai tà xẻ từ ngang hông trở xuống thường mặc chung với một chiếc quần đen. Lúc đó mẹ tôi có thai được bốn tháng, bụng bà đã thấy vun lên dưới lớp vải lụa. Lúc tôi bước vào thì mẹ tôi đang nói chuyện dở chừng với ông Đặng, trưởng thông dịch viên của tòa đại sứ Mỹ. 
Ông bà Đặng là một trong số những đồng minh quan trọng của mẹ tôi. Trong lòng mẹ tôi không có chỗ cho một tình bạn chân thành, gắn bó lâu dài. Bà đã nhiều lần thú nhận với tôi rằng đó là khuyết điểm trở thành cá tính bẩm sinh của bà. Ngoài vấn đề đó ra, theo lời bà, thì những việc khác trong đời sống bà thích ứng rất thành công. Mẹ tôi vốn không tin ai ngoài chính mình. 
Mối quan hệ giữa ông bà Đặng và mẹ tôi hoàn toàn thuộc về chuyện làm ăn. Nhờ làm việc ở tòa đại sứ, ông Đặng có thể cung cấp cho mẹ tôi những tin tức sốt dẻo, mới mẻ nhất về chuyện quốc gia, thị trường, và những nhân vật có thẩm quyền liên hệ, kể cả những người đang có mặt trong buổi họp mặt lúc đó. Nhờ vậy mẹ tôi có thể có được những tin tức mới nhất, đầy đủ nhất. Để bù lại, ông Đặng được vào phòng ngủ của mẹ tôi để có thể xác nhận rằng những chiếc áo ngủ của mẹ tôi rất vừa vặn, thích hợp với thân thể của bà, đại loại như những lời bàn ra tán vào của đám đàn ông nơi bàn mạt chượt. 
Bà Đặng cũng là một người rất được mẹ tôi để ý tới và luôn luôn được mẹ tôi mời đến tham dự những cuộc hội họp. Lúc đó bà Đặng đang cầm một ly champagn ngang ngực, đứng tựa người vào ông Lâm và một người khách đàn ông khác. Mỗi lần ông Lâm thầm thì gì đó vào tai bà thì bà ta cười rầm lên nghe rổn rảng như tiếng thủy tinh vỡ. Mẹ tôi và ông Đặng ngồi gần đó, chú hết tâm trí vào cuộc nói chuyện của họ cơ hồ như không quan tâm gì đến khung cảnh ầm ĩ náo nhiệt chung quanh. 
“Mẹ” Tôi đứng ở cửa gọi vọng vào. 
Mẹ tôi xin lỗi khách rồi bước về phía chúng tôi. Trong vòng tay ôm của vú Loan, tôi cảm thấy thân thể của vú rung lên khi mẹ tôi tiến lại gần. Vú Loan chưa kịp nói gì thì mẹ tôi đã giật tôi ra khỏi tay chị. Với cái nhìn lạnh băng, mẹ tôi gầm gừ vào tai vú Loan, thật nhỏ gần như không nghe được “Đi ra ngoài”. Bà ôm tôi trong tay quay trở lại tiếp tục công việc làm như không có gì quan trọng xảy ra. 
Mẹ tôi nói với ông Đặng: 
“Xin lỗi. Thằng nhỏ nghe tiếng nổ nên sợ.” 
“Đến nước này thì không phải chỉ một mình nó sợ.” Ông Đặng đáp với một tiếng thở dài. “Tôi nghĩ chị nên rời khỏi nơi đây trước khi quá muộn.” 
“Tại sao? Còn người Mỹ thì sao? Họ không giúp gì chúng ta sao?” 
Ông Đặng nhìn mẹ tôi như đang nhìn một người điên hoặc một người ngu quá mức. 
“Chị muốn nói người Mỹ nào? Người Mỹ đã bỏ chúng ta từ lâu rồi. Chúng ta đã không được giúp đỡ gì từ năm 1972. Chúng ta chiến đấu một mình; và đang thua liểng xiểng.”
“Nhưng… ” Mẹ tôi lắp bắp, lấy tay che hai tai tôi chừng như không muốn cho tôi hiểu được cái hoàn cảnh nguy ngập đang xảy ra. 
“Đúng vậy. Chị phải mang gia đình ra khỏi đây ngaỵ Việt Cộng đã chiếm thành phố Quy Nhơn, và Tuy Hòa rồi. Chỉ vượt qua một ngọn đèo nữa là họ sẽ tới đây ngaỵ” 
Mẹ tôi bật lên khóc tấm tức. Hai tay bà vẫn bịt chặt tai tôi nhưng tôi vẫn nghe được nỗi đau đớn thống khổ trong tiếng khóc của bà. “Trời ơi, tôi phải làm sao đây?” 
“Tôi đã nói với chị rồi. Điều duy nhất chúng ta có thể làm lúc này là chạy. Gia đình tôi sẽ rời đây vào sáng sớm ngày mai. Tôi nghĩ chị cũng nên đi ngay vào ngày mai đị” 
“Đi đâu bây giờ?” 

“Trước hết là vô Sài Gòn. Ít nhất ở đó chúng ta có thể rời nước bất cứ lúc nào qua đường hàng không. Trái lại, nếu tình hình chính trị thay đổi, chị cũng có thể trở lại Nha Trang.” 
“Tôi chẳng còn gì ở đây để mà trở lại.” Mẹ tôi nói. “Nhà băng đóng cửa, bao nhiêu tiền mất sạch hết rồi.” 
Ông Đặng nhún vai bày tỏ sự bất lực của mình. 
“Có nhiều lý do phải rời bỏ chỗ này. Nhớ liên lạc với chúng tôi ở Sài Gòn. Đây là địa chỉ của chúng tôi trong đó.” Ông Đặng nghuệch ngoặc mấy chữ phía sau tấm card rồi trao cho mẹ tôi. 

* 

Đêm đó, mặc dù vẫn còn một vài người khách dự tiệc, mẹ tôi kêu ông Lâm ra ngoài thuê một chiếc xe van. Chỉ có xe cỡ đó mới có thể chở hết sáu người trong gia đình, kể cả ông nhân tình của mẹ tôi. Ngay khi ông Lâm mang xe về đến nhà, chúng tôi vội vả kéo nhau lên xe, chỉ mang theo một ít dụng cụ cần thiết. Lúc chúng tôi theo chân những người khách ra khỏi nhà, không một người làm công nào trong nhà chúng tôi hay biết gì về quyết định khủng khiếp đó. Hầu hết những người làm công đều đã đi ngủ khi bữa tiệc vừa mới bắt đầu. 
Thình lình, vú Loan chạy ra đứng trước đầu xe, khóc lóc van xin mẹ tôi cho chị đi theo. Suốt tám năm trời chị là một phần tử gắn bó với gia đình tôi, chăm sóc thương mến mọi người, kể cả mẹ tôi là người khinh miệt tất cả mọi người dưới tay bà. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, Loan là một thành phần trong gia đình chúng tôi. 
Mẹ tôi ngồi trong xe nhìn cảnh tượng trước mặt một cách dửng dưng, lạnh nhạt. Tuy nhiên tiếng khóc của vú Loan làm ông Ngoại tôi mũi lòng lên tiếng can thiệp. Ông tôi tuy nhẹ nhàng nhưng rất kiên quyết nên mẹ tôi đành phải cho chị đi theo. 
Lên xe, chị Ôm chặt lấy tôi và Jimmy vào lòng. Chị hôn chúng tôi mà nước mắt chảy dài trên má, rồi chị quay sang cúi rạp đầu xuống bàn tay mẹ tôi. Ngay khi môi chị vừa chạm phải bàn tay mẹ tôi, bà vội vàng giật tay ra như vừa mới chạm vào lửa. Mặt mẹ tôi tối sầm lại, ánh mắt hằn lên một niềm oán ghét. Trong một hành động bất ngờ ngoài sự tiên liệu của mọi người, mẹ tôi thẳng tay tát cho chị một cái thật mạnh. Cái tát đẩy mặt chị quay nghiêng chạm vào thành xe vang lên một tiếng kêu sắc lạnh. Vậy mà chị vẫn giữ nguyên tư thế quỳ mọp dưới sàn xe. Trong cái im lặng rợn người ấy, thằng em tôi bắt đầu lên tiếng khóc thút thít trong sự sợ hãi nhưng không ai buồn dỗ cho nó nín. Tôi quá khích động không thốt được lời nào. 

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Post by Sơn râu 5 Oct 2023

Bài 1

Nha Trang, 12 tháng 5, 1972, 7 giờ tối.

Tôi vẫn nhớ rõ buổi tối hôm ấy. Đó là ký ức đầu tiên của tôi, và là một ký ức hạnh phúc, đẹp đẽ nhất về thời tuổi nhỏ.

Mùi thịt quay quen thuộc từ bếp tỏa lan ra trong không khí. Mẹ tôi chạy lăng xăng từ phòng này sang phòng nọ, ra lệnh cho những người giúp việc với một vẻ vênh vang tự mãn. Không khí mùa hè ẩm ướt, đặc biệt chỉ có ở Nha Trang vào tháng Năm, bốc hơi thành một màn sương mờ vây bọc chung quanh tôi. Tôi nhớ rõ nhất là cái không khí hội họp tiệc tùng rộn ràng chung quanh khi những tia nắng mặt trời cuối cùng chìm vào mặt đại dương chỉ cách cửa sổ phòng tôi chừng vài trăm thước. Hôm đó là ngày sinh nhật tôi lên năm tuổi. Căn nhà thời thơ ấu của tôi nằm gần bờ biển với tiếng sóng vỗ lao xao ngay dưới chân tường, vốn là ý thích của mẹ tôi luôn muốn được sống gần những bãi biển đẹp. Lâu đài cao ba từng, có hơn hai mươi bốn phòng, kể cả ít nhất là tám phòng tắm. Mẹ tôi tự trang hoàng căn nhà bằng những vật dụng Tây phương đắt tiền vì muốn lâu đài có một sắc thái riêng; và để vinh danh giòng họ Nguyễn bên ngoại tôi, mẹ tôi đặt tên cho tòa lâu đài là Biệt Thự Nhà Nguyễn. Trong vô số những mẫu chuyện được nghe trong thời gian bắt đầu khôn lớn, mà phần lớn là do ông bà ngoại tôi kể lại, thì mẹ tôi xây ngôi nhà đó trong lúc bà đang mang thai tôi vì muốn được sanh đứa con đầu lòng trong căn nhà do chính bàn tay mình tạo dựng nên. Mẹ tôi cho sơn mặt ngoài căn nhà bằng màu trắng vỏ trứng gà, nhưng bà rất ngạc nhiên khi tôi cho rằng đó chỉ là một màu trắng trơn bị phai dần theo thời gian. Con đường chính dẫn vào cổng nhà được lát bằng đá hoa màu đỏ nhạt, chạy vòng quanh một vườn hoa bao quanh một hồ tắm hình bầu dục. Mẹ tôi mướn người làm vườn, ông Trần, qua trung gian một tổ chức môi giới để trồng và chăm sóc nhiều loại hoa quý trong sân trước. Mẹ tôi cố gắng che dấu vẻ sang trọng, hoa lệ của căn biệt thự với thế giới bên ngoài bằng cách cho xây hai chiếc cổng sắt lớn và một vòng rào kẻm gai phủ đầy giây leo che khuất ranh giới hai bên. Vào những ngày xa xưa đó, tôi thường chơi đùa với những món đồ chơi của mình trong vườn trong khi những đứa trẻ khác chạy nhảy bên ngoài cổng nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Theo mẹ tôi thì hoặc là những đứa trẻ này dơ dáy quá, hoặc là tôi sạch sẽ quá nên không thể chơi chung với chúng được. Ở Việt Nam, trẻ con nhà giàu như tôi thường được mang giày săng đan để giữ cho chân được sạch sẽ và khỏi bị bỏng trong khi trẻ con nhà nghèo như đám trẻ con bên kia cổng nhà tôi thì chạy chơi với đôi chân trần.

Chiều hôm đó, trước khi buổi tiệc sinh nhật chính thức bắt đầu thì mọi sinh hoạt đều diễn ra ở khu nhà bếp. Tôi giang hai tay ra giả làm máy bay “bay lượn” quanh căn phòng chật ních người, miệng kêu rì rì, tung vào chân khách giả làm máy bay bị đụng. Tôi và thằng em đã chế ra cái trò chơi đó để được mọi người chú ý. Không may cho tôi, có vẻ như chẳng một ai để ý đến. Giữa phòng bếp chính, một nhóm thợ bu quanh một cái bàn lớn để trang hoàng chiếc bánh sinh nhật bằng vô số những cành hoa hồng, những giây nho màu nâu, những chiếc lá xanh được làm bằng kem và thực phẩm nhuộm màu. Đầu kia căn phòng, mập mờ qua làn khói dày đặc, bầy gà sống đang chờ đem ra làm thịt; những tiếng kêu đầy hoảng sợ của chúng át cả tiếng thịt heo quay xèo xèo. Cách đó vài bước, một nhóm mấy người giúp việc của mẹ tôi đang bận rộn sửa soạn những món ăn chính. Một người bật chiếc quạt trần lên trong khi một người khác căng những sợi mì đã luột chín cho ráo nước. Hơi nước sôi từ chảo nước bốc lên làm cho căn phòng càng thêm nóng.

Tôi ngó quanh tìm một nạn nhân mới cho trò chơi máy bay, và khám phá ra một chú nhỏ phụ việc. Anh ta chừng mười tuổi, nhỏ thó, dưới hai mí mắt có những quần thâm đen. Anh ta tung vào tôi trong lúc chạy ngang qua phòng trên tay đang cầm một tô kem lớn. Tôi biết những người giúp việc cho mẹ tôi rất sợ những cơn thịnh nộ của bà. Trong lúc anh chàng giúp việc loay hoay hỏi han lo lắng về sự an nguy của tôi, tôi bất ngờ thọc tay vào chiếc tô đựng kem bốc lấy một nắm. Trước sự ngạc nhiên hoảng hốt của thằng nhỏ, tôi phá ra cười rồi bỏ chạy, rảy những vết kem trong tay.

Tôi quyết định chạy lên lầu nhìn lén vào phòng ngủ mẹ tôi. Bà đang ngồi nơi bàn trang điểm, mặc một chiếc áo ngủ màu xanh nhạt lấp lánh dưới ánh đèn màu vàng cam trông giống như những chiếc vảy của cô gái người cá trong truyện thần thoại. Bà đang chăm chú chải mái tóc đen tuyền, gợn sóng chảy dài trên chiếc lưng cong. Vóc dáng mẹ tôi không thuộc loại nhỏ nhắn như những người đàn bà Á Đông tiêu biểu khác. Bà có một bộ ngực lớn, mông tròn vun lên và một cái eo thật nhỏ. Mắt bà lớn, có đeo lông mi giả đang nhìn chăm vào bức hình trước mặt. Sau bao nhiêu năm nhìn thấy mẹ tôi ngày ngày săm soi nhìn ngắm mình trong gương làm tôi có cảm tưởng rằng mẹ tôi là một trong những người đàn bẹ đẹp đẽ hiếm hoi trên thế gian này.

Sự xuất hiện của tôi làm bà giật mình. Mẹ tôi thôi không ngắm mình trong gương, quay sang nhìn tôi mỉm cười, phô hàm răng trắng đều đặn. Tôi đã nhiều lần ngồi hàng giờ trong phòng ngủ của mẹ tôi để nghe bà nói về bí quyết làm đẹp. Tôi thường lắng nghe chăm chú lắm, nhưng không phải về những điều mẹ tôi nói mà chỉ để thưởng thức giọng nói của bà, luôn luôn đầy vẻ thông minh, duyên dáng.

Nụ cười mẹ tôi tắt đi thay vào bằng một cái cau mày, bà nói “Coi con kìa. Cái gì dính đầy trên mặt con vậy?”

Tôi sờ tay lên má và chạm phải những vệt kem còn dính sót lại. Vừa liếm những ngón tay tôi vừa trả lời bà: “Bánh sinh nhật của con ở nhà bếp đó. Con vào được không mẹ?”

Mẹ tôi gật đầu: “Vào đi” Rồi mẹ tôi mắng: “Con ăn uống kiểu gì mà dơ dáy quá. Con không chờ đến chiều được sao?”

Tôi ngồi trên giường ngủ ngắm bà một cách tò mò. Mẹ tôi dùng một que nhỏ thoa một lớp phấn trắng lên mu bàn tay của mình.

Tôi hỏi:

“Mẹ đang làm gì vậy?”

“Mẹ đang trang điểm cho bàn tay của mẹ.”

“Sao vậy được?”

“Lúc nào con cũng chỉ hỏi có một câu đó.”

“Nhưng con nhớ mẹ chưa bao giờ trả lời con mà.”

Bà dừng lại, dựng hai bàn tay lên trước mặt mình trông giống như hai người lính gương mẫu đang đứng chờ được thanh tra.

“Mẹ làm vậy bởi vì mẹ muốn mọi người chú ý đến. Con không thấy là bàn tay của mẹ đẹp lắm sao?”

Ngoài số tài sản tạo dựng được, mẹ tôi còn rất hãnh diện về đôi bàn tay của mình. Trước khi gặp cha tôi, mẹ tôi làm việc trong một tiệm kim hoàn như là một người mẫu về bàn taỵ Trái với cái thân thể đầy vẻ khêu gợi, bàn tay của mẹ tôi đầy đặn, thanh nhã, với những ngón tay thuôn dài, như không có đốt, không một vết nhăn, móng tay dài, gọn ghẽ, được đánh bóng kỹ lưỡng. Bà thường bỏ ra nhiều giờ chải chuốt, săn sóc, sơn phết chúng. Chỉ đến khi nào mẹ tôi thật sự hài lòng với bàn tay của mình rồi thì bà mới bắt đầu trang điểm khuôn mặt, và việc này cũng mất vài giờ nữa. Mẹ tôi bảo, vì không có được khuôn mặt thật sắc sảo, cho nên việc thành công của bà tùy thuộc vào đôi bàn tay ấy.

Như để chứng minh cho quan điểm của mình, mẹ tôi luôn luôn tìm cách phô bày đôi bàn tay của mình ra. Đôi bàn tay ấy khoa lên trước mặt bà trong các cuộc đàm thoại, tì lên má trong các bức ảnh và chống lên cằm mỗi khi bà muốn chứng tỏ quyền hạn của mình. Có lần mẹ tôi đã nghĩ đến chuyện mua bảo hiểm cho đôi bàn tay của mình nhưng không được ông ngoại tôi đồng ý. Tôi biết chắc là mẹ tôi đã hối hận vì không mua bảo hiểm trong lần tôi vô ý tông vào bà khi chạy chơi trong hành lang. Lần đó, tôi làm gảy hai cái móng và sướt một vài đường trên ngón tay của bà làm bà giận sôi lên, tát cho tôi một tát nên thân.

“Mẹ làm sinh nhật cho con hôm nay phải không mẹ?” Tôi hỏi trong khi bà đang tiếp tục săn sóc đôi bàn tay.

“Đúng rồi, cưng!”

“Như vậy là con được thức khuya tối nay phải không mẹ?”

“Con có thể thức trể một chút sau khi thổi nến sinh nhật xong.”

“Các bạn học của con có đến dự không mẹ?” Tôi nôn nao hỏi.

“Không. Không có trẻ con nào khác, ngoài con và em con, như vậy con mới là… tài tử chính được chứ. Tóm lại, đây là buổi tiệc cho người lớn, con không muốn chúng đến quấy rầy làm hỏng cuộc vui đi chứ?”

“Dạ, mẹ!” Tôi nói mà lòng không vui.

Tôi bước đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Mấy người giao hàng đang khuân từng kiện rượu nho vào nhà. Khu vườn được thắp sáng với những bóng đèn màu; tất cả các bụi cây đều được trang hoàng thành hình một con vật nào đó. Cạnh hồ tắm, sau mấy khóm hồng, mấy người nhạc công đang chỉnh lại giây đàn. Âm thanh từ rời rạc chuyển dần sang chịu dặt, êm ái, tan loảng trong không khí dày đặc. Thợ nấu, người giúp việc, bồi bàn chạy tới chạy lui bận bịu với công việc của mình như những con kiến trong một tổ kiến. Trẻ con hàng xóm bu quanh trước cổng biệt thự cùng một vài người lớn tò mò ghé mắt nhìn vào. Hễ có người nào lảng vảng đến gần cổng quá thì nhân viên an ninh sẽ đến đuổi họ ra xạ Lẫn trong tiếng tiệc tùng huyên náo, tiếng sóng biển từ trong đêm tối liên tục thổi đến rầm rì nghe như những tiếng thở đều.

Tôi quay sang nhìn mẹ tôi rồi hỏi:

“Chừng nào thì con mới thổi nến hả mẹ?”

“Ngay sau buổi cơm tối.”

“Chừng nào mình ăn cơm tối?”

Mẹ tôi đáp:

“Khi mọi người đến đông đủ.”

“Chừng nào thì mọi người mới đến đông đủ?”

“Khoảng chín giờ rưởi.” Mẹ tôi có vẻ như phát hiện một điều gì đó trên những chiếc móng tay của mình. Một thoáng bất mãn hiện trên khuôn mặt khi bà vói tay lấy chiếc lọ keo đánh bóng móng tay màu vàng.

“Con thức đến sau khi cắt bánh được không mẹ?”

“Không được, con. Sau khi cắt bánh thì đến phần nhảy đầm. Con còn nhỏ không thức khuya như vậy được. Có thể sang năm mẹ sẽ chọ Thôi, con ngoan nghe lời mẹ và đi chơi với em con đi”

“Nhưng nó đang ngủ trong phòng ngoại.”

“Thì đánh thức nó dậy. Nói với bà ngoại hay Loan thay quần áo cho hai con đi”

Bà đẩy nhẹ tôi ra khỏi phòng và cẩn thận khép cửa lại tránh không cho đụng đến những chiếc móng tay.

Ngay sau khi tôi và Jimmy thay xong những bộ quần áo mà mẹ tôi đã đặt mua từ hãng Sear, một việc mà không mấy người ở Việt Nam thời đó có khả năng làm được, thì khách khứa bắt đầu kéo đến. Từ trong phòng ngủ của ông bà ngoại, hai anh em tôi vẫn nghe được những tiếng ồn ào bên ngoài. Chúng tôi áp tai vào vách lắng nghe tiếng bước chân chạy đi chạy lại trong hành lang và nhìn nhau hồi hộp. Mùi thức ăn và mùi nước hoa trộn lẫn bay đầy trong không khí.

Cuối cùng mẹ tôi bước vào phòng với một hình ảnh cực kỳ lộng lẫy. Chiếc áo dạ hội màu trắng bó sát chảy dài theo thân thể bà trông như những giải nước bạc. Tóc bà uốn cao, cầu kỳ, để lộ chiếc giây chuyền hột xoàn và đôi bông tai cũng nhận hột xoàn. Bà trông lạ lẫm, lộng lẫy, tao nhã như một nữ hoàng Ai Cập. Bà cười giơ tay ra nắm lấy chúng tôi với bàn tay lấp lánh ánh sáng kim cương. Rồi chúng tôi cùng nhau, tay trong tay, bước vào vùng ánh sáng náo nhiệt bên bên ngoài cùng với mùi nước hoa sực nức của mẹ tôi.

Phần còn lại của đêm hôm đó thì tôi không nhớ rõ lắm. Tôi nhớ loáng thoáng những tiếng cười, những nụ hôn, thức ăn, áng sáng rực rỡ, những bài hát và những gói quà chất thành núi trong phòng ngủ của tôi. Tôi cũng nhớ đã thấy vài người khách ngoại quốc tóc vàng mắt xanh và những mẫu đối thoại đầy băn khoăn, lo âu trên môi mọi người về những thay đổi của thời thế. Tôi và Jimmy bị bắt đi ngủ ngay sau khi tôi thổi xong mấy cây nến sinh nhật cắm trên một chiếc bánh khổng lồ. Rồi tôi ngủ một giấc dài ba năm, xa vòng tay ấm êm của mẹ để vào trường học, bỏ lại phía sau một đêm sinh nhật đặc biệt mà đúng ra chỉ để cho riêng tôi.