Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Bản di chúc “sống” của Đào Thị Bắc

Đặng Chí Bình

Bài 23

Những ngày sau đó, càng chìm sâu vào mùa Đông, trời càng lạnh. Mùa Đông thứ tư của tôi. Dạo này, chấp pháp hình như quên hẳn tôi, không còn gọi đến nữa. Chị Bắc càng ngày trông càng thảm thương, chùm tóc bạc trên đầu chị ngày càng rộng ra. Ngay suất cơm hàng ngày, chị cũng ăn không hết. Trong khi đó, tôi ước gì mỗi bữa đuợc ăn 3 suất.

Thấy tình trạng của chị như vậy, tôi rất lo lắng cho sức khỏe của chị. Tôi dùng đủ thứ để động viên chị. Nhưng, mặt mày của chị luôn luôn như tàu lá héo úa của những ngày cuối Thu, không làm sao mà tươi hơn được. Thấy suất cơm của chị cứ để thừa, có khi là một phần ba, một phần tư; thậm chí, đôi khi đến một nửa, như thế, chị sẽ chết mất thôi!

Còn tôi, tôi cũng có điều khó khăn tranh đấu với chính mình. Nhiều lần, tôi ngập ngừng định mở miệng nói với tên Dư xin chỗ cơm ấy; nhưng sợ lão nghi ngờ có sự liên hệ giữa hai người miền Nam. Phần khác, cũng thấy ngượng ngùng. Cho nên, nhiều khi, tiếng nói tưởng như đã ra tới cổ họng rồi, nhưng lại phải nuốt sâu xuống, và đôi chân lại tiếp tục chậm chạp, dùng dằng đi vào buồng.

Hình như tên Dư cũng thấy, và hiểu ra những phút ngập ngừng, đắn đo đó của tôi; cho nên một hôm, sau khi các buồng trả bát hết, y vào mở cửa buồng tôi, nói vừa đủ nghe:

– Anh có đói ra lấy bát cơm vào mà ăn …

Được lời như cởi tấm lòng, mắt tôi sáng lên nhìn y và nhanh nhẹn chạy ra. Ở chõng cơm, một bát cơm đã ăn đúng một nửa bên bát, còn nửa bên này để nguyên. Tôi cầm vào, chỉ ăn hai phút là xong, vì không muốn làm mất nhiều thì giờ của y. Dù vậy, lão Dư cũng để tới 10 phút sau, mới vào mở cửa để tôi đem bát trả.

Khi hết giờ, tôi gọi chị Bắc đứng lên, nói thẳng cho chị biết sự việc như vậy. Mắt chị long lanh, môi chị run run xúc động. Nước mắt chị chảy dài bên gò má. Chị quay vào tường viết:

– Anh hãy cố gắng ăn đi. Anh còn trẻ, anh cần phải sống, để còn làm nhiều việc.

Được ăn thêm cơm, nhưng trong hoàn cảnh này, tôi không cảm thấy vui gì. Tuy rằng tôi không bảo chị nhường cơm cho tôi, nhưng tôi vẫn thấy lòng bứt rứt.

Cuối cùng, tôi phải ra điều kiện với chị. Mỗi ngày, buổi sáng chị phải cố gắng ăn hết suất cơm; buổi chiều để lại một nửa, tôi mới xin ăn. Nếu không, tôi cương quyết không ăn nữa. (Bởi vì, mấy ngày trước đó, bữa ăn sáng và cả bữa chiều, mỗi bữa chị đều để lại nửa suất).

Có lẽ tên Dư cũng thấy kỳ này chị ốm yếu quá, vì thế, thỉnh thoảng, sau khi cho hết các buồng ra đổ bô rồi, y vào mở cửa buồng số 6, nói gì đó. Sau đấy, tôi thấy chị Bắc đi sâu vào phía buồng số 9 bên trong; rồi tôi nghe tiếng mái chổi quét rào rào, nhè nhẹ, càng lúc càng nghe rõ dần ra phía ngoài này. Khi chị quét qua buồng tôi, tôi cúi mặt xuống sát nền để nhìn. Bỗng tôi thoáng thấy một bóng khác nhấp nhoáng, chỗ tối chỗ sáng ở lối đi nơi chị Bắc đang quét. Phản xạ cấp thời, tôi nhẩy lẹ lên sàn nằm nhắm mắt. Đúng lúc ấy, cửa con xoạch mở: mặt tên Dư.

Cửa nhỏ lại đóng vào! Tên Dư này, trông vậy, cũng quái lắm. Y nghi giữa tôi và số 6 có thể có liên lạc với nhau. Y dự đoán, lúc chị Bắc quét ngang buồng tôi, có thể tôi sẽ cúi xuống khe cửa để tìm cách liên lạc. Do đó, từ ngoài y đột xuất vào mở cửa buồng tôi, để xem xét. Nhưng, thấy tôi vẫn nằm, như chẳng để ý gì đến số 6. Chắc rằng y sẽ cho là mối nghi ngờ của y trước đây, nếu có chút nào, là không đúng. Hoặc ít ra, mối nghi ngờ ấy sẽ thu bé lại.

Khi chị Bắc quét ra tới ngoài sân, tôi nghe ngóng, phán đoán xem tên Dư hiện đang đứng ở đâu và đang làm gì. Trước hết, phòng hờ phía sau lưng, tôi để mắt sát xuống nền nhìn qua khe cửa, quan sát lối đi giữa hai dẫy buồng xà lim: không có gì. Như vậy, có thể tên Dư ra ngồi lại ở bàn trực, hoặc đứng ở sân? Làm thế nào để biết rõ được đây? Chỉ cần thoáng nhô cái đầu lên khung cửa sổ to nhìn ra sân xà lim, là người ở ngoài thấy ngay. Ác một cái là khi nhô đầu lên để cho tầm mắt vừa đủ quan sát, cái đầu tóc thò lên trước rồi. Chợt, tôi nghĩ ra một cách. Nếu tên cán bộ nào đang đứng ở sân để theo dõi, quan sát các cửa sổ; trong tâm y là chờ thoáng nhìn cái “đầu tóc đen” thò lên là biết ngay. Vậy, bây giờ tôi sẽ ngửa hẳn mặt lên trần, rồi từ từ nâng cao lên đến mép dưới của cửa sổ, mắt tôi sẽ liếc ngang. Vì mang tâm niệm trên, nên cán bộ sẽ không để ý mép dưới cửa sổ. Chà, tôi đã thoáng nhìn thấy tên Dư đang đứng ở sân, đưa mắt nhìn khắp các cửa sổ của các buồng. Tôi im ắng tụt nhanh xuống. Chừng 5 phút sau, tôi lại làm một “cú” y như vậy nữa. Tôi vẫn còn thấy y đi đi lại lại ở sân, mắt vẫn không rời các cửa sổ.

Đột nhiên, y đi vào với dáng vẻ vội vàng. Vậy là y đã nhìn thấy buồng nào đã đứng lên? Tôi hơi chột dạ, vội vàng nằm ngay xuống, đắp chăn. Tiếng mở cửa sổ nhỏ của buống số 14. Giọng tên Dư vang lên, sắc và lạnh:

– Anh đứng lên làm gì?

Một giọng yếu ớt, run run ngắt quãng:

– Thưa cụ, tôi xin lỗi cụ, xin cụ tha cho!

Tên Dư quát to, vẻ rất bực tức:

– Anh ngậm miệng anh lại! Anh bỏ chân vào cùm ngay!

– Tôi xin nhận lỗi! Sau, tôi xin hứa không bao giờ tái phạm.

– Tội của anh đang như tày đình, không biết lo, không dốc một lòng sám hối, thì không còn có ngày về với vợ, với con! Tôi mà bắt được một lần nữa, vừa cùm, vừa ghi hồ sơ!

Rồi, tiếng cửa nhỏ nghe đóng đến “xập” một cái như tức bực. Qua sự việc náy, tôi nhận thấy hai điểm:

1.  Phương pháp quan sát của tôi hữu hiệu. Tôi đã đứng lên, nhìn ra sân 2, 3 lần, tên Dư đứng ngay ở sân rình mà không biết.

2.  Kết hợp với một số lần trước đây, tôi có thể kết luận: – 3 lần trước, ở những tháng trước, khi bắt được số 8 có lưỡi “lam”, Dư chỉ mắng và tịch thu; số 10 đứng lên nhìn ra ngoài, và số 1 nói chuyện với số 3, y đều quát, chửi, nạt nộ, rồi cho một màn lên lớp chứ không cùm.

Ngược lại, hai lần khác, một lần tên Bằng bắt được buồng số 12 đứng lên, khi bất chợt y từ cổng xà lim đi vào, y báo cho Dư (là cán bộ đang trực chính xà lim). Hôm sau, tên Dư đã cùm buồng số 12, mặc cho lạy van xin tha. Một lần, vào buổi tối, mụ Hoa vào buồng tắm gội, đã bắt gặp buồng số 3 đứng lên. Sáng hôm sau, Dư vào sớm, cùm buồng số 3.

Tại sao như vậy? Chỉ có thể giải đáp: tên Dư đã khôn khéo xử thế theo lối “nhất cử, lưỡng tiện”. Chính y bắt được tù dưới quyền y trực chính, phạm nội quy, y chỉ giáo dục ngăn ngừa, không cùm. Đối với tù, như vậy y là người có lòng nhân có độ lượng; đối với tổ chức, với cấp trên, những người tù y coi ít phạm nội quy chứng tỏ được là y có uy, có khả năng giáo dục nên tù không hề phạm nội quy, phải ngoan ngoãn mọi bề. Ngược lại, tù để cho cán bộ khác bắt gặp phạm nội quy dù nhẹ, y cũng không tha, tỏ rằng cứng rắn, chuyên chính với kẻ thù.

Tóm lại, tôi đã nắm được ý của tên Dư. Sau đấy, nếu cần hoạt động hay nhấp nhỏm gì, cứ đợi giờ, ngày lão ấy trực.

Ngay chiều hôm ấy, tôi gọi chị Bắc đứng lên, để dặn dò một vài quy định cho chắc ăn: khi chị ra sân, nếu tôi ho một tiếng là ý hỏi có cán bộ đừng rình không; nếu y ngồi ở bàn, chị ho trả lời một tiếng. Im lặng là có cán bộ rình. Khi tôi đã đứng, tôi chỉ cần để ý phía cổng sợ bất chợt có cán bộ nào khác ở cổng đi vào. Vậy, nếu cán bộ ở bàn đứng dậy đi ra sân, chị đưa tay gãi đầu, tôi sẽ hiểu và thụt xuống; hoặc y đứng lên đi vào phía trong, có nghĩa là y vào rình mở cửa nhỏ, chị cứ ra hiệu tay vẫy ngồi xuống.

Thực ra, khi một người ra sân, giữa sân, giữa ánh sáng chang chang ở ngoài trời, mình có đứng lên cũng chỉ là để nhìn nhau, thỉnh thoảng cười, để cho mắt mình thấy một người bạn đồng loại; chứ ngày nào cũng nhìn thấy tên áo vàng, tuy cũng là đồng loại nhưng không phải là bạn, vẫn cảm thấy khô khan, cô đơn nặng trĩu một bên lòng.

Hai hôm sau, chị Bắc lại được ra quét nữa. Khi chị quét ngang buồng tôi, tự nhiên tôi thấy một gói giẻ buộc lại, to bằng ngón tay nhỏ, nhét vào khe cửa, nhưng hơi khít, nên nhét mãi chỉ vào được một nửa. Tôi lẹ tay, cầm lấy rút vào, rồi giúi ngay vào cạp quần. Một lúc sau, nghe ngóng không có gì, tôi mới mở ra: đó là một miếng giẻ cũ, to bằng bàn tay. Kèm thêm cái kim chị dắt vào bên trong trả lại tôi. Miếng giẻ có thêu chữ, kiểu chữ in, bằng chỉ nhuộm máu; máu đã thành màu nâu xám. Nội dung như sau:

Trang con yêu quý,

Đây là di vật bằng máu của mẹ. Đời mẹ sắp về với cát bụi.

Chú Bình là đồng chí, là chiến hữu của mẹ sẽ thuật lại cho con những ngày cuối của đời mẹ, tại xà lim án chém Hỏa Lò.

Một luồng lạnh từ xương sống chạy ngược lên gáy, làm hai tay tôi cầm miếng giẻ cũng như run run. Tôi vừa cảm động trước mối tình mẫu tử thiêng liêng, vừa thương cho một người mẹ tàn lụi trong khổ đau, và cay đắng.

Tối hôm đó, tôi gọi chị Bắc. Chị đứng lên, mắt đã đỏ hoe. Như vậy là chị đang khóc thầm một mình. Chị lấy khăn lau nước mắt rồi viết cho tôi:

– Rồi đây, trong muôn nẻo cuộc đời, anh hãy cố gắng tìm hỏi, giúp đỡ cháu Trang. Dù tôi có nhắm mắt, vẫn một lòng tin nơi anh không bỏ cháu Trang. Đấy là giọt máu duy nhất của tôi còn lại trên cõi đời này.

Thấy chị quá khổ đau, lại năn nỉ khẩn khoản, tôi đành phải nhận lời cho chị vừa lòng. Chứ trong lòng mình, tôi tự hiểu, đã rơi vào tay Cộng Sản, ngày về cũng như lá bàng giữa mùa Đông vậy.

Chị cũng nói lên một ước nguyện của chị là nếu sau này, Trời Phật thương cho chị không chết, và có ngày được thả ra, chị nguyện tìm đến ngôi chùa Cao ở Bắc Ninh để thế phát ăn mày cửa Phật.

Qua ý kiến đó, tôi thấy chị thật lạc hậu. Lạc hậu ở chỗ chị nhìn và xét về Cộng Sản 5 năm về trước cũng giống như 5 năm về sau. Chị chưa thấy được rằng, khi mới chiếm được toàn bộ miền Bắc, chúng còn nhiều việc khác cần phải lo ngay, lo trước đã: đó là quốc phòng và an ninh. Quốc phòng phải mạnh. Còn an ninh, bất cứ chuyện gì về chính trị, chúng phải làm ngay; lấy bạo lực của quốc phòng giải quyết tận gốc. Còn các vấn đề khác, sẽ dần dần. Vững cái này rồi mới nói tới cái kia. Khi được cái kia, mới hỏi tội cái này, v.v…Về vấn đề tôn giáo, chúng chủ trương sẽ diệt sạch. Nếu còn phải để tôn giáo, dưới hình thức nào đó, chẳng qua vì những điều kiện khác, vì cái thế của chúng, vì còn một nửa nước là miền Nam nữa; cho nên, chúng chưa thể ra tay diệt sạch tôn giáo miền Bắc. Nhưng, vì vấn đề an ninh xã hội, chúng phải bóp chặt tôn giáo, hoặc sẽ thay đổi nội dung. Bình cũ, rượu mới. Hình thức tôn giáo vẫn thế, nhưng do người của chúng điều hành. Đừng hòng một cá nhân nào đó tự tìm đến chùa, tìm nhà thờ, để đi tu theo ý mình. Tuy hiểu như vậy, nhưng trong tình cảnh này của chị, hãy để chị hy vọng, ước mơ. Thái độ của tôi phải làm như vậy, trong lòng tôi lại càng dào dạt thương chị hơn. Tôi đã hình dung thấy con đường chị sẽ phải đi tới. Nếu không chết trong tay chúng, chị cũng bị đầy đi một công nông trường hẻo lánh nào đó cho tới khi chị tàn lụi gục xuống ở đấy mà thôi, chứ đừng hòng chúng buông tha.

Mấy ngày hôm sau, tên Dư lại mở cửa buồng cho chị ra quét nữa, nhưng chị đã mệt quá rồi. Mấy lần trước, chị cố gắng ra quét, mục đích là để đưa trả cái kim và gửi lá thư máu cho tôi. Chị ăn uống như vậy, ngay đứng hay ngồi, cũng hoa mày, chóng mặt, huống chi là quét dọn. Do đó, chẳng hiểu tên Dư cân nhắc, suy nghĩ ra sao, y lại mở cửa buồng tôi, bảo tôi lấy chổi ra quét. Được ra quét dọn, đối với cảnh sống ở xà lim, là một… ân huệ. Bất cứ người tù nào cũng muốn ra khỏi căn buồng chật hẹp của mình. Ra ngoài, vừa thênh thang, vừa có không khí trong lành, chỉ trừ quá ốm yếu, không kể.

Vì là lần đầu tiên được quét dọn, tôi tỏ ra hết sức ngoan ngoãn. Trong thực tế, tôi chưa hề vi phạm một điều khoản nội quy nào của xà lim cả. Dùng chữ thực tế không đúng lắm, phải nói là y chưa bắt được tôi, hoặc cán bộ khác, cũng vậy. Vã lại, như tôi đã trình bày, y có một chút thiện cảm với tôi. Tuy nhiên, vì tôi đã có lần toan vượt ngục, thêm vào đó là ý chí phấn đấu để còn sống của tôi, mà y đã nhiều lần thấy, cũng làm y “nể” và e ngại. Vì thế, tuy cho tôi ra ngoài làm vệ sinh, nhưng y vẫn để ý coi chừng và theo dõi.

Người tôi, dạo này trông đã đỡ hẳn. Những bắp tay, bắp chân của tôi đã có thịt nhum nhúm lên. Những khi ngồi không buổi tối, tay tôi xoa xoa bóp bóp chỗ bắp thịt, lòng tôi vui buồn lẫn lộn. Vui mừng vì thấy cơ thể mình có sức hẳn lên, nước da tay chân đã đỡ xám xanh đi; nhưng, buồn vì máu thịt này là của chị Bắc. Gần hai tháng nay, trừ những hôm cá biệt do cán bộ khác không kể, còn thì ngày nào cũng có thêm nửa suất cơm. Tôi có xương thịt ra, trong khi chị Bắc lại càng ngày gầy đét lại, làm sao lòng tôi yên được. Đã có lần, tôi gọi chị Bắc và vờ nói là kỳ này tôi hay bị đau bụng lắm; cho nên không thể ăn thêm cơm được nữa. Tôi cũng nói với tên Dư như vậy. Mục đích của tôi là, nếu tôi không ăn nữa, chị Bắc phải cố mà ăn hết. Nhưng, sau đó 5 ngày liền, tôi vẫn thấy chị để cơm dư như vậy, không biết phải làm sao hơn, đành phải xin tên Dư để ăn lại.

Trong lòng tôi vẫn bị dằn vặt, giữa việc nhìn thấy sức khỏe mỗi ngày mỗi hao mòn của chị Bắc và cái đói của bản thân mình trước những bát cơm thừa, chắc sẽ đổ đi khi trả về nhà bếp. Ngày ngày, nhìn tấm thân ốm yếu, tiều tụy của chị Bắc, tâm trạng của tôi như trong gia đình có người ruột thịt bị bệnh nặng sắp chết vậy.

Dần dà, ngay việc đứng lên viết, nói chuyện với tôi, chị cũng chỉ chịu đựng được 5, 10 phút là cùng, rồi lại ngồi xuống. Nhìn chị thiểu não, mỗi khi đứng lên ngồi xuống phải vịn hai tay vào tường, mái đầu có chòm tóc bạc càng trắng ra đang ngoẹo một bên gục vào tường, tự dưng một niềm xúc động dào dạt dâng lên trong lòng làm tôi muốn khóc. Tình đồng chí, nghĩa đồng bào tràn ngập hồn tôi.

Một buổi sáng, sau khi cơm nước và trả bát xong, tôi đang nằm ngóng chờ tên Dư ra khỏi xà lim, để tôi gọi chị Bắc nói chuyện, thì lại có tiếng chân y đi vào. Mở cửa buồng tôi, tên Dư nói nhỏ đủ một mình tôi nghe:

– Anh ra đây, tôi nhờ một tí!

Tôi vội vàng theo y ra! Tới buồng số 13, y lại nói cũng với giọng nho nhỏ:

– Anh về buồng, lấy cái bô của anh, và cái chổi, lấy nước dội, rồi quét sạch từ trên sàn trở xuống hai buồng số 13 và buồng số 2.

Tôi nhanh nhẹn về buồng lấy cái bô và chổi vào nhà tắm lấy nước. Vừa mở vòi, tôi vừa suy nghĩ: cũng may, từ ngày tôi vào xà lim I đến nay đã gần hai năm rồi, tôi vẫn có ý muốn nhìn hai căn buồng này xem nó ra làm sao, mà chưa có dịp, hôm nay lại được quét rửa. Điều này, như vậy, cũng nói lên là tên Dư có phần tin tưởng tôi thêm. Có lẽ y thấy tôi nhiều lần ra quét dọn, chả có tò mò, hoặc vi phạm những điều cấm kỵ quy định trong xà lim.

Hai buồng này, lúc mới bước chân vào, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là cái màu ghê rợn của toàn bộ căn buồng: bốn bức tường và cả dưới nên đến trên trần, tất cả đều quét vôi đen, làm cho toàn bộ căn buồng tối om, đượm đầy không khí tù ngục, thê lương, ảm đạm. Hai cái cùm nằm hai bên sàn cũng đen ngòm. Trên tường, ngay thẳng đối diện với cửa ra vào, có treo một tấm bảng gỗ kích thuớc khoảng 80×40, viết bằng sơn trắng trên nền màu đỏ loét:

“Đây là nơi thực dân Pháp đã giam hãm, cùm kẹp, đầy đọa đồng chí Trần Đăng Ninh”.

Đó là câu ở buống số 13, còn ở buồng số 2 cũng viết như vậy, chỉ thay vào tên khác là “Hoàng Văn Thụ”. Lúc quét dọn xong, cũng là lúc hết giờ buổi sáng, tôi về buồng. Buổi trưa hôm đó, tôi loay hoay lấy đầu mũi kim cậy nhiều chỗ trên tường trong buồng mình, tôi thấy có chỗ tới 8 lớp vôi quét. Như vậy, từ khi xây lên xà lim này đã được quét vôi ít ra là 8 lần rồi. Trong 8 lớp vôi đó, tôi thấy chỉ có hai lần màu vàng, và 6 lần màu trắng. Không hề có một lần quét vôi đen nào cả. Như vậy, rõ ràng lớp vôi đen ở hai buồng số 13 và số 2 là do chúng quét thêm lên, mục đích lòe bịp với những phái đoàn tham quan là thực dân Pháp dã man, dùng màu đen để uy hiếp tinh thần người tù, và để cho cảnh ngục tù của thực dân Pháp thêm rùng rợn, dã man, tàn khốc hơn.

Hôm nay, là ngày tắm. Khi chị Bắc ra sân phơi quần áo, tôi đứng lên nhìn chị. Tôi giật mình, ngỡ ngàng, dạ tôi xót xa như vò muối. Hai bàn chân của chị phù, tái nhợt. Hai mi mắt của chị mọng lên. Bồi hồi và xúc động, tôi phải cúi mặt xuống, không dám nhìn chị nữa. Mới chỉ bốn, năm ngày không nhìn thấy chị, mà chị đã thay đổi nhanh đến như vậy! Tôi thấy thuơng chị quá! Lúc này, những người họ hàng thân thích của chị, những người của Tình Báo miền Nam đã đẩy chị xuống vực thẳm của cuộc đời, có ai biết là chị sắp chết không? Có ai còn hình dung ra chị đang đếm từng ngày, đợi chờ giờ về lòng đất trong tăm tối, tủi nhục của một kiếp người hẩm hiu, bất hạnh không?…

Giờ đây, tôi ngồi viết lại những giòng này, đã vừa đúng 19 năm rồi. Không hiểu chị Bắc còn sống, đang chìm nổi nơi đâu, hay chỉ còn là một nắm xuơng khô, vùi nông ở một xó rừng heo hút nào đó? Còn cháu Trần Ngọc Trang, mảnh giẻ di vật của mẹ cháu, chú vẫn còn giữ. Mảnh giẻ đó còn máu khô và hơi hướng của mẹ cháu. Lúc này, cháu ở đâu? Phương trời nào? Còn sống, hay đã như thế nào trong những biến thiên, đổi thay của cuộc đời, của đất nước? Làm sao, chú thực hiện được lời ký thác của mẹ cháu bây giờ?…

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Hai cái áo sơ-mi thay đổi một cuộc đời!

Đặng Chí Bình

Bài 22

Thuận tiện nhất cho tôi có trình bày ở trên, là viết liên lạc với ba buồng đối diện là 5, 6 và 7. Buồng số 5 và số 7 đã hơi chéo góc với buồng tôi rồi, nhưng khoảng cách cũng còn không xa lắm, nên tấm “bảng” cũng không nhỏ đi mấy. Bây giờ, buồng anh Lân (số 4) lại chéo góc hơi xa, tấm “bảng” vì vậy chỉ còn bé tí. Phải viết chữ lớn hơn mới trông rõ. Tôi và anh Lân cũng cố điều chỉnh mãi, dần dà việc nói chuyện cũng không còn khó khăn lắm.

Có lẽ vì suýt soát tuổi nhau, nên anh Lân tỏ vẻ rất thích tôi. Hầu như anh cứ đứng suốt buổi để nói chuyện với tôi. Một phần nhờ tôi ở dẫy phía ngoài, có điều kiện canh chừng cán bộ ngày từ ngoài sân; phần khác, tôi ở xà lim đã lâu, thành tinh, nắm được hầu hết những kẻ hở của cán bộ trông coi xà lim, nên mọi việc nói chuyện với chị Bắc hay với anh Lân đều do tôi chủ động. Bởi vậy, nếu tôi không gọi anh, anh đành chịu. Tôi đã quy định, với chị Bắc khi gọi nói chuyện là “hai tiếng ho”; còn với anh Lân là “hai tiếng khạc”; và với số 7 là “hai tiếng nhổ khô”. Nhưng, tôi không cho buồng này biết điều quy định của tôi với buồng kia!

Sau nhiều lần nói chuyện, tôi biết được sơ lược nội dung sự việc của anh Nguyễn Lân như sau:

Câu đầu tiên anh viết với tôi, đã làm tôi thật ngạc nhiên và buồn cười: “Nguyên nhân chính làm cho cuộc đời anh bị bắt vào Hỏa Lò là do “hai chiếc áo sơ-mi’”. Hai cái áo này, đã có lần tôi thấy phơi ngoài sân.

Quê anh ở miền “Thắt cổ bồng” của đất nước. Cái miền mà chó phải ăn đá, gà phải ăn sỏi”. Bố anh là một cán bộ ưu tú của Cộng Sản, đã nằm xuống cho cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Vì vậy, anh được coi như thành phần cốt cán, con trai duy nhất của một liệt sĩ. Nhờ đó, khi anh mới học hết lớp 6 Phổ thông Trung học, anh đã được ưu đãi chiếu cố đặc biệt của chính phủ, để đi du học ở Roumanie 5 năm về ngành Quản lý kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa. Một tương lai sáng lạn rộng mở khi anh tốt nghiệp trở về nước. Năm nay, 1965, anh đã bước vào năm thứ tư rồi. Cuộc sống cũng như việc học hành của những sinh viên Việt Nam ở thủ đô Bucharest tuy còn nhiều khó khăn về vật chất, nhưng so với quê nhà, đã như từ đang ăn cơm với rau bây giờ được ăn thêm món cá. Chỉ còn một năm nữa thôi là đã thành đạt rồi; nhưng trong dạ của anh lại không mang niềm phấn khởi; vì nhìn về quê hương Việt Nam, anh thấy đầy dẫy nghèo nàn lạc hậu. Sau hàng chục năm tiến lên xã hội chủ nghĩa, vẫn không có gì thay đổi cả. Vì thế, tuy không quá buồn, nhưng lòng anh cũng chả thấy vui khi sắp được trở về mảnh đất quê hương, để trở thành một cán bộ nồng cốt.

Rồi, cuộc đời, cũng như mặt biển, chẳng bao giờ phẳng lặng bình yên mãi…!

Anh có một người cậu, em ruột của mẹ. Vì mảnh  đất đầy khắc nghiệt của quê anh, người cậu từ trước 1954 đã đi tha phương cầu thực, lang bạt kỳ hồ nổi trôi; hết làm phu phen ở Tân Thế Giới, rồi lại trôi dạt về “mẫu quốc” là nước Pháp. Hiện người cậu, đã có vợ con, làm nghề tài xế Taxi ở Paris, sống một đời thợ thuyền nghèo nàn ở thủ đô xứ người. Từ khi biết thằng cháu được đặc tuyển đi du học Roumanie, ngay gần cạnh nước Pháp, thôi thì, tình ruột thịt cậu cháu hàn huyên qua những cánh thư thương nhớ hàng tuần, hàng tháng. Rồi, kỳ Hè năm ngoái, toàn bộ du học sinh Việt Nam học ở Roumanie được chở đến bờ biển Hắc Hải để cắm trại. Người cậu đã biết do đứa cháu báo tin, nên cũng đem gia đình đi nghỉ mát ở đấy, để gặp thằng cháu đã lâu ngày xa cách. Thật là tay bắt, mặt mừng, cậu cháu, anh em được dịp tỏ bầy lòng thương, nỗi nhớ chất chồng từ hàng chục năm qua. Trong dịp gặp gỡ này, người cậu cho đứa cháu yêu vài món quà vặt vãnh, trong đó có…hai chiếc sơ-mi trắng nói trên.

Qua những cánh thư trao đổi mấy năm trước đây, theo hình dung của anh Lân, gia đình người cậu làm nghề Taxi, chắc cũng rất là chật vật, thuộc loại dân nghèo thành thị, trong giới cần lao. Với sự tưởng tượng của Lân, từ ống kính nhìn giới thợ thuyền ở quê nhà, nghèo nàn phải ở cảnh mặc quần áo vá, đội mũ bạc màu, gia đình vợ con nheo nhóc, nhếch nhác… Vì thế, do tình quý mến và thương cậu, Lân đã dành dụm được 50 francs, định trong dịp gặp cậu này, sẽ gọi là một chút giúp đỡ mợ và các em. Bởi vì, anh đã được may mắn sắp sửa bước lên giai cấp trên, giai cấp có thế có quyền, nên anh nghĩ phải có trách nhiệm cưu mang họ hàng. Nhưng, khi gặp cậu mợ và các em, anh đã mở to mắt, há hốc mồm, trân trân đứng nhìn đến nỗi quên cả bắt tay người cậu. Gần 50 francs anh dành làm quà cho cậu đã như cục than nóng trong túi quần. Anh cứ cho tay vào túi mân mê, định lấy tiền ra, rồi lại ngập ngừng lấy tay ra; để rồi một lúc sau lại đút tay vào, mất cả vẻ tự nhiên khi anh nói chuyện với cậu mợ. Cuối cùng, người cậu đã đút vào túi cháu 500 francs và nói là vì…cậu quá nghèo, mong cháu thông cảm cho lòng cậu, gọi là của thảo để cháu mua thêm giấy bút, sách vở…(!). Đến lúc này, gần 50 francs trong túi của Lân mới chịu nguội lạnh, nằm yên.

Trên đường trở về  Bucharest, tiền thì anh đã giấu kín, nhưng hai chiếc sơ-mi thì đã thành một đầu đề, điểm đầu mối để anh em sinh viên suy nghĩ bâng khuâng về cuộc sống con người và xã hội. Ngay chính bản thân anh Lân, cũng từ hai chiếc áo sơ-mi này, đến những hình ảnh gia đình của người cậu, đã phải thay đổi nhiều cách nhìn đời. Từ những suy nghĩ này, đẻ ra những suy nghĩ khác. Chính ngay khi ông cậu cho hai chiếc áo sơ-mi này đã nói…”đây là loại áo thường cậu mua cho cháu, cậu không dám mua loại sang, e rằng cháu về quê nhà mặc, sẽ không tiện, không phù hợp với môi trường, sinh hoạt của quê hương…”. Hai chiếc áo sơ-mi “thường” mà còn làm cho Lân và bao nhiêu bạn học phải ngẩn ngơ về cuộc sống con người, về những viễn ảnh của đất nước xã hội chủ nghĩa.

Rồi, chính Lân dần dần chuyển biến tư tưởng, thập thò nhen nhúm ý tưởng sẽ giã từ chủ nghĩa xã hội “ưu việt” của loài người, “đỉnh cao” của trí tuệ, “trái tim” của nhân loại để chạy sang với ông cậu sống một cuộc đời…phồn vinh giả tạo, tự do chết đói, đầy dẫy những lạc hậu và bất công…(!) Vì vậy, trong những lá thư sau, Lân có những lời thăm dò, bóng gió để hỏi cậu xem, Pháp có nhận người tị nạn chính trị chạy sang không? Nhờ cậu chuẩn bị lo trước về công ăn việc làm, cũng như cuộc sống, v.v… Khi ông cậu trả lời, tất nhiên cũng bóng gió xa xôi nhưng Lân cũng hiểu là, cứ đi, cậu sẽ lo liệu mọi vấn đề cho, cậu rất hoan nghênh ý kiến đó của cháu, v.v… Dù chỉ là những lời bóng gió, nhưng những lá thư như vậy Lân đều đốt hủy đi.

Ít ngày gần đây, tự nhiên như do linh tình, Lân cảm thấy tâm hồn bất an, dù anh vẫn tiếp tục học hành bình thường. Nhưng, rồi anh vẫn không nhận thấy một hiện tượng gì để cho mối lo ngại băn khoăn của anh có cơ sở. Anh cho rằng, chẳng qua, vì lòng đã có ý định chuồn, nên có tật thì giật mình mà thôi, anh lại bỏ qua những băn khoăn anh đã cho là vô căn cớ đó.

Cho tới hơn một tháng trước đây, đột nhiên anh nhận được một tờ điện tín từ quê nhà là mẹ anh bệnh sắp chết, phải về ngay. Anh cầm bức điện lên anh tổ trưởng, đồng thời cũng là Bí Thư Chi Bộ, với nét mặt đầy băn khoăn lo lắng, nên về hay không về? Vì, tuy anh là con trai duy nhất, nhưng anh cũng biết rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tình cảm gia đình không phải là một vấn đề lớn lắm. Anh lại sắp ra trường. Bài vở của năm cuối rất nhiều cho nên, chưa chắc Chi Bộ Đảng đã đồng ý cho anh về.

Nhưng, thật là bất ngờ, không những anh không gặp những lời ngăn cản hay phản đối, mà lại là những lời thúc giục, khuyến khích anh phải về. Nào là, mẹ anh chỉ có một mình anh là con, đời bà đã đau thương quá nhiều, cha anh đã hy sinh cho Tổ Quốc khi mẹ anh còn quá trẻ v.v…

Anh đã được tổ chức lãnh đạo lo liệu cho giấy tờ thuận tiện, vé tầu, xe cả về lẫn đi trong nửa tháng. Cùng về với anh cũng có một đồng chí ở sứ quán Việt Nam tại Bucharest. Khi về tới Mạc Tư Khoa, qua thái độ của người đồng chí mà anh phải đi cùng, cũng như qua một số hiện tượng, anh cảm thấy như bị theo dõi, và bị giam lỏng. Giấy tờ của anh đều do đồng chí sứ quán nắm giữ hết, với lý do là đồng chí ấy có trách nhiệm trình báo, cũng như lo liệu giấy tờ trên đường về.

Chính anh Lân, cũng là người tinh quái, sau một đêm suy xét, tính toán, cảm thấy lần này về không ổn chút nào cà. Nhưng biết làm sao, anh hoang mang cùng độ, biết trở về đến Việt Nam là có chuyện. Vì thế, ngay sáng hôm sau, một mình anh lần ra phố, vẫy một chiếc Taxi, bảo chạy bừa đến tòa đại sứ Pháp. Thực ra, vì anh lo quýnh quá rồi, thấy mình từ từ lăn xuống hố mà không còn bấu víu vào đâu, nên đành liều chạy đến tòa đại sứ Pháp v.v… chứ anh chả biết một chữ Pháp nào, thì biết ăn nói làm sao đây.

Sau khi trả tiền xe Taxi, anh thấy ngôi nhà có lá cờ Pháp thì xông bừa vào. Lúng ta, lúng túng, ngôn ngữ bất đồng, chẳng ai hiểu ai. Nhất là, khi tòa đại sứ Pháp thấy thái độ của anh nhớn nhác, lo sợ, cứ hai tay chấp lại, lạy xin cứu mạng, rồi định chạy vào chỗ kín để trốn nấp; nên họ đã đưa anh ra xe, đem trao trả cho nhà chức trách Liên Xô. Để rồi, cuối cùng anh bị giong về Việt Nam. Đi qua Trung Quốc, trên đường về, bây giờ kèm thêm một người nữa có vũ trang. Khi về tới Hà Nội, họ đưa ngay đến Hỏa Lò và vào thẳng xà lim (mà tôi đã nghe thấy tiếng giầy cồm cộp độc đáo hôm nọ).

Nhìn anh viết kể lại, biết được chuyện của anh, tôi cũng thấy buồn và tiếc cho đời anh. Ngay sau khi anh kể xong sơ lược sự việc bị bắt, tối hôm đó, tôi lại gọi anh đứng lên trao đổi tiếp. Tôi hỏi anh là, gần một tháng nay, anh đi cung kẹo thế nào? Sao anh không dứt khoát chối là không hề có ý định chuồn sang Pháp?

Anh trả lời tôi rằng, ngay từ đầu, anh đã khăng khăng một mực là không và chưa bao giờ anh lại có ý định sang Pháp cả. Anh đã tận dụng đủ mọi lý do. Nào là, anh không khi nào lại dại, thả mồi bắt bóng, sắp tốt nghiệp, nghiễm nhiên là một cán bộ có khả năng và có uy tín của nhà nước; nào là, anh còn người mẹ kính yêu, không lẽ lại lỡ lòng bỏ mẹ lại bơ vơ một mình…Dù chúng có dọa nạt, trước sau, anh cũng vẫn một mực chỉ khai như vậy. Còn lý do vào tòa đại sứ Pháp, anh nói là vào lầm chỗ. Anh định đến tòa đại sứ Roumanie để nhờ họ chuyển một chiếc khăn tay kỷ niệm cho một người bạn gái Roumanie; chứ anh không biết một chữ Pháp nào cả, vậy đến tòa đại sứ Pháp để làm gì…

Mãi cuối cùng, chấp pháp đưa ra hai tấm hình “photocopy”. Một tấm là của một tờ giấy…nháp lá thư anh gửi cho ông cậu. Tờ giấy này, anh đã xé nhỏ, bỏ trong sọt rác, thế mà, trong anh em sinh viên đã có người theo dõi ngấm ngầm, nhặt hết và ghép lại để “photo”, còn một tấm nữa là bức thư của ông cậu gửi cho anh (chúng đã bóc ra đem chụp, rồi dán lại như cũ, anh vô tình nên không biết). Vì thế, anh không còn chối cãi được nữa.

Anh đứng nhìn tôi, tôi nhìn anh. Trông anh mặt mũi cũng sáng sủa, có hai cái tai vều ra hai bên thật to như tai con dơi. Dáng anh cao cao. Tôi cứ tưởng tượng anh mặc áo “ba đơ suy”, đi đôi giầy cồm cộp. Chợt, tôi nhớ đến câu nói của tên Bí thư Chi bộ sinh viên Việt Nam ở Roumanie: …Anh phải về vì mẹ anh đã đau khổ nhiều. Khi cha anh đã hy sinh cho Tố Quốc, mẹ anh hãy còn quá trẻ…”. Vậy, bây giờ anh Lân đã trở về đấy, và chúng còn cho anh vào…”ấp” nữa. Chắc tên bí thư kia nghĩ rằng người mẹ đã rất vui mừng và tự hào có một người chồng đã hy sinh vì chống Pháp, và bây giờ, bà cũng rất hân hoan sung sướng, hả hê vì đảng đã bắt con bà, một tên phản động định chuồn ra nước ngoài. Phải cho nó cực khổ chết dần trong ngục tù (!).

Buổi tối hôm đó, đã muộn, tôi vẫn chưa ngủ được. Câu chuyện đời anh Lân vẫn còn làm đầu óc tôi bồng bềnh với nhiều ngả ngược xuôi của cuộc đời. Bỗng, đèn phụt tắt! Tiếng còi báo động lại hồng hộc, ùng ục như tiếng nấc nghẹn, rồi ré lên một hồi dài u ử. Tiếng rú hãi hùng của hồi còi chưa hết hơi, thì những tiếng nổ đinh tai nhức óc đã bắt đầu rền vang kéo dài. Những lằn chớp xanh lè cả bức tường trắng trước mặt. Tôi tung chăn ngồi bật dậy.

Lúc này những tên cán bộ ở Hỏa Lò đang chúi đầu vào “tăng xê”. Vậy là, tôi lại tha hồ thoải mái, kê hẳn một cái chăn lên sàn để đứng cho cao. Tôi đứng sát cửa sổ, nghiêng nghiêng ngó ngó ra ngoài trời. Cả một vạt trời phía Đông Bắc mầu tím thẫm. Từng chuỗi, từng chuỗi những dây chỉ bằng lửa, sợi to, sợi nhỏ, sợi cong cong thun thun, sợi thẳng tuột, vắt ngang, vắt dọc chọc tuốt lên bầu trời; trông nhiều lúc cứ như tuyết rơi vào một đêm Đông trên…màn ảnh ấy. Điều khác là những luồng sáng trắng lại rơi ngược từ đất lên trời và đủ màu xanh, đỏ, da cam, trắng bạc…Trong bức tranh “tuyết rơi ngược” ấy, vẫn có những luồng sáng trắng bạc vun vút chạy ngang, chạy dọc; có lúc quay vòng, vẽ lên những đoạn cung bằng lửa trắng, hoặc mầu da cam vàng ối, ánh cả vào trong xà lim của tôi. Đột nhiên, giữa màn tím thẫm ấy lóe lên một làn chớp làm lóa mắt, rồi một tiếng nổ tưởng đến xé tai của tôi. Một tiếng “choeng” ở ngay sân xà lim bật lóe ra những tia lửa xanh lè làm tôi giật mình, hụp vội đầu xuống, tưởng như một quả bom rơi. Tôi vừa gượng đứng lên, vừa mỉm cười tự chế nhạo mình, sao mà tôi can đảm thế! Thôi, tạm tha thứ, chỉ vì đầu óc đang quá say sưa nhìn ngắm bức tranh muôn mầu hào quang, nên đã không kịp phân biệt rõ ràng. Đó cũng chỉ là một phản xạ tự nhiên mà thôi.

Không khí đặc quánh lại, mùi mặn chua của thuốc nổ kích thích vị giác, khiến tôi thấy thèm thèm. Tự dưng cánh mũi tôi phập phồng, ngực tôi như to dần, rồi căng lên, hít sâu mãi vào cho đầy ắp hai buồng phổi cái mùi thuốc nổ say sưa ấy.

Chợt, chẳng hiểu vì đâu, tôi nảy lên trong óc một ý nghĩ, một ước muốn thì đúng hơn, len lỏi vào tâm tư là được một quả bom rơi xuống giữa sân Hỏa Lò! Có thể có nhiều người chết, kể cả tôi. Thế là hết cảnh đọa đầy! Nhưng chắc mũi tôi sẽ được hít ngửi mùi ngầy ngậy, mằn mặn chua chua ấy một cách thỏa thê.

Đột nhiên, một tiếng nổ lớn rất gần, ngay đâu đây. Tôi nhìn thấy những chiếc lá bàng rung giật lên, rồi rơi xuống một loạt. Có những chiếc lá còn xanh nguyên đang chao đảo lao xuống đất, dù gió chỉ nhè nhẹ, hiu hiu. Cả cái lưới thép tôi đang tì trán vào cũng rung lên. Tiếp theo là những tiếng lộp độp trên mái ngói, tiếng choeng choeng ở sân trong và sân ngoài. Phải nói, từ ngày tôi dọn sang buồng 11 tới nay, đã nhiều đêm, nhiều buổi tối, cả ban ngày, tôi đã được nhìn theo dõi những trận không tập của máy bay Mỹ, cũng như sức chiến đấu, chống trả từ mặt đất nhưng chưa có trận nào vừa lâu, vừa hứng thú như trận đêm nay.

Tôi đang mải mê đôi mắt, về góc trời hướng Đông, theo hai đốm lửa to mầu da cam chạy vùn vụt qua những sợi dây lửa xanh đỏ lao xuống đất với góc xiên độ 30 độ, thì một tiếng gào rít lên, tưởng như có sức đè đổ cả cây bàng, và làm sập cái xà lim tôi đang đứng, đến nỗi tôi vội vàng giơ một tay lên đầu như chống đỡ. Quả thực, có một luồng gió ào ào quạt qua những chiếc lá bàng giẫy lên đành đạch, rồi thốc vào xà lim, làm tóc tôi bay ngược ra phía sau.

Hơi hồi hộp mà thực say mê. Giá mỗi đêm có một trận thế này, thì cảnh đời ở xà lim đỡ sầu biết mấy! Tôi thấy hứng quá liền ho hai tiếng. Mãi một lúc, tôi mới thấy chị Bắc nhô đầu lên. Tóc chị rối bù, dáng dấp chị còn rụt rè, tôi buồn cười, viết mấy chữ hỏi:

– Đầu óc và mặt mũi chị làm sao thế?

Bàn tay của chị còn run run, viết nguệch ngoạc:

– Tôi sợ quá, phải chui xuống dưới gầm sàn!

Thực ra, trong lúc này máy bay bắn phá, đèn đóm trong Hỏa Lò tắt hết nhưng, nhờ ánh lửa của đạn, bom nổ chớp sáng bầu trời, ánh vào cả trong xà lim, nên chúng tôi cũng có thể trông rõ nhau. Tuy vậy, để dễ đọc ra chữ, tôi và chị đã phải viết nét lớn hơn, như thế một ý tưởng, một câu nói, phải viết lâu hơn, hoặc chỉ viết ý chính trong câu để người kia đoán hiểu ra.

Thấy chị viết trả lời như vậy, tôi thầm nghĩ thế mà chị lại nói chị không thiết tha gì đến sự sống nữa. Bây giờ, chị lại làm như vậy. “Nói dậy mà không phải dậy”. Câu này phải nói theo giọng miền Nam mới hay. Tuy nghĩ như thế, nhưng thông cảm vì dù sao, chị cũng là phụ nữ, đêm khuya, một mình một buồng trong xà lim án chém này. Máy bay gầm rú, súng, bom nổ rát ràn rạt, nhà cửa rung lên như trời sắp sập. Có khi mấy buồng kia, ngay đàn ông, cũng chui xuống gầm sàn, huống chi là chị. Vì vậy, tôi cười và động viên chị, đại ý là:

– Chị thử nghĩ xem, nếu bom rơi trúng, hay sát gần đây, dù có chui xuống dưới gầm sàn, tôi và chị cũng cứ dắt tay nhau cùng về bên kia thế giới. Còn như bom không rơi, việc quái gì phải chui vào gầm sàn cho khổ. Hãy như tôi, từ đầu trận đánh tới giờ, tôi nhìn say mê một bức tranh hào quang muôn màu. Bức tranh tuyệt vời ấy lại có cả âm thanh nữa. Ngoài ra, người họa sĩ lại vừa xóa đi, lại vừa chấm phết thêm nhiều nét mới. Cũng cùng một chiếc khung, nhưng luôn luôn biến đổi màn ảnh.

Thấy thái độ của tôi như vậy, chị cũng có vẻ đỡ sợ. Tôi quay ra sân, vì tai tôi chợt thoáng “nghe” tiếng chân người. Phải nói, do sự cảnh giác cao độ luôn sẵn có trong tiềm thức mình; nên tôi “nghe” được tiếng bước chân người, hoàn toàn là do “trực giác”; chứ làm sao mà “nghe” nổi tiếng bước chân đi, hay chạy, trong lúc đạn nổ, bom rơi ầm ầm ngoài kia!

Chà, tên Nhiễm. Y đang đi cúi đầu lao về phía trước. Y chỉ mặc mỗi cái quần xà lỏn, chạy như điên, chúi xuống cái hầm cá nhân ở một góc sân xà lim. Cũng may, y mải chạy, chả còn hồn vía đâu mà ngửng đầu lên. Giá ngửng lên, chắc y đã thấy tôi rồi. Tôi cũng hơi giật mình vì bất ngờ. Tôi không thể nghĩ đang lúc tên bay đạn nổ, lại có một tên cán bộ chạy vào như vậy… Lúc tôi quay lại, chị Bắc đã “biến mất” rồi.

Trận không tập này tương đối khá lâu, có lẽ gần hai tiếng đồng hồ. Như vậy, Mỹ phải huy động rất nhiều loại máy bay, ở nhiều tầng khác nhau, từ nhiều hướng khác nhau, thay nhau quần đảo với những bài bản của nghệ thuật không tập. Ngược lại, phía dưới đất chắc cũng phải “vãi” ra không biết cơ man nào là đạn, là tên lửa; cứ như bắp rang suốt gần hai tiếng đồng hồ, trong phạm vi ít nhất  mỗi bề 20 cây số, như vậy là từ 4 đến 500 cây số vuông…

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 4 Oct 2023

Đời hoạt động của người nữ gián điệp…bất hạnh!

Đặng Chí Bình

Bài 21 

Những ngày đầu thuật lại chuyện, nước mắt chị Bắc vẫn cứ vòng quanh. Nhìn dáng chị đứng viết, thỉnh thoảng chị quay lại, đôi mắt đỏ hoe, tôi có cảm tưởng như chị kể lể nghẹn ngào. Nội dung sơ lược như sau:

………………………………………….

“Đời hoạt động, bây giờ bị bắt, đã là không may rồi; nhưng, ngay đời tình cảm của tôi cũng đầy nước mắt đau thương. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả ở ngoại thành Hà Nội. Tôi là nữ sinh Trưng Vương của những năm 1948-1949. Bấy giờ, tôi đang yêu một nam học sinh trên tôi 3 lớp. Khi đó, tôi đang thi Trung Học Phổ Thông và anh ấy thi phần II Tú Tài. Chúng tôi đã yêu thương nhau hơn 4 năm rồi. Anh đã được gia đình tôi công nhận. Vì vậy, thường xuyên hàng tuần, thậm chí, hàng ngày anh vẫn đến kèm dạy thêm cho tôi. Chúng tôi và gia đình đều đã có ý định chờ anh và tôi thi xong sẽ làm lễ cưới. Hai ngày sau khi thi đỗ, như mọi lần, anh đạp xe đến thăm tôi. Lúc về, trở ra tới đầu phố, chẳng hiểu thế nào mà, anh bị một chiếc xe GMC cán vỡ óc, chết ngay, còn chiếc xe đạp cũng bị gẫy đứt đôi.

“Được tin sét đánh, tôi tưởng như trời sập. Tôi đã định tự tử theo anh, nhưng nhiều lần đều bị gia đình ngăn cản. Dù chưa cưới, nhưng tôi quyết xin gia đình cho tôi đưa đám anh, như một người vợ. Sau đó, tôi nguyện khép chặt cửa lòng, quyết định suốt đời sẽ không lấy ai nữa, bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ của bố mẹ và bạn bè.

“Tôi đã xin về một vùng quê xa xôi ở Hưng Yên, rồi Bắc Ninh để dạy học. Gần hai năm tôi sống thu mình như một nhà tu hành. Lấy các em học sinh làm nguồn vui của đời. Tôi cương quyết khước từ nhiều người tìm cách rấp ranh, muốn xây dựng gia đình với tôi. Tôi cũng tưởng như vậy là yên thân. Nhưng, chiến tranh đã không để cho các em học sinh được yên lành đi học. Thành ra, tôi cũng chẳng còn chỗ để dung thân, đành lại trở về Hà Nội.

“Khi ấy là 1952, chiến tranh ngày càng ác liệt. Một đêm, tôi không ngủ được, và chợt tìm thấy một hướng đi cho đời mình. Đó là, vào quân đội. Mấy ngày sau, tôi thực hiện ngay ý định của mình, dù gia đình có ngăn cản. Là con gái, lại có bằng Trung học Phổ thông, mà anh đã biết, bằng “Diplôme” của 1952 về trước, cũng có nhiều giá trị lắm. Cho nên, quân đội rất hoan nghênh, ưu đãi tôi. Chỉ phải 6 tháng huấn luyện quân sự sơ sơ, tôi đã được đeo lon Thiếu Úy, làm việc văn phòng trong bộ Tổng Tham Mưu.

“Quân đội là nơi thu hút biết bao những người anh hùng, những nhân vật lỗi lạc tài hoa của đất nước. Nhất là lại ở bộ Tổng Tham Mưu, nơi có đủ mọi binh chủng, có đủ mọi loại quái kiệt, xuất chúng. Cho nên, tôi, một cô gái Thiếu Úy, tuổi mới 22, 23; không “đổ” với nhân vật này, rồi sớm muộn cũng “đổ” với nhân vật tài hoa khác. Cho nên, cuối cùng, trái tim sắt đá, cánh cửa lòng đã định mãi khép chặt, nay đành mở toang, để đón nhận một nhân vật hào hoa mã thượng, là Thiếu Tá Trần Ngọc Tính.

Trái tim tưởng như khô cằn, hết nhựa tình yêu từ khi mối tình đầu tan nát, bây giờ lại chảy tràn trề nhựa sống, cho mộng tràn gối chăn, cho tình tràn trước ngõ. Để rồi, một đám cưới linh đình hoa bướm với xá pháo đỏ ngập sân…

Đùng một cái, đất nước chuyển mình, Hội nghị Genève ký kết. Lúc này, bụng đã có mang 4, 5 tháng, tôi được điều động sang bộ  phận đón rước và lo di chuyển cho gia đình binh sĩ di cư vào Nam. Tôi nỗ lực, tích cực công tác lo cho thân nhân, gia đình, vợ con quân đội, nên thường xuyên đi ra, đi vào giữa Sài Gòn và Hà Nội. Cũng giai đoạn này, nhà tôi được chuyển vào Nam và được thăng lên cấp Trung Tá. Tôi miệt mài công tác, cho tới khi trở dạ sinh được một cháu trai mới tạm nghỉ. Cháu trai thật xinh và bụ bẫm. Tôi và anh Tính đặt tên cho cháu là Trang; Trần Ngọc Trang.

Tôi những tưởng do mình ăn chay, ở lành, ngày ngày cầu xin Trời Phật độ trì, cho nên Trời Phật đã đền bù cho tôi một cuộc sống tràn trề hạnh phúc giữa thế giới tự do. Nhưng cũng bất ngờ, lại một tin sét đánh nữa đến với tôi. Trong một chuyến công tác, chồng tôi cùng hai, ba người nữa lái chiếc xe “díp” lên Đà Lạt; rồi không hiểu vì sao, trên một khúc quanh, lại gặp trời ẩm ướt, chiếc xe đã bị lao xuống vực thẳm. Hai người bị thương nặng; hai người bị chết, trong đó có chồng tôi.

Tôi như điên rồ, gào thét, vật vã mấy ngày đêm. Nếu không vì giọt máu của tôi và anh ấy cỏn đỏ hỏn, lần này, tôi không thể sống được nữa. Tôi còn thiết gì cõi đời đầy máu và nước mắt này. Tôi quá ư đau đớn! Ruột tôi đêm ngày như vặn xé, đứt ra từng khúc. Vì vậy, cho dù bao nhiêu lời khuyên giải, bao nhiêu lời úy lạo của quân đội cũng như chính quyền, tôi đều bỏ ngoài tai. Tôi không cần biết thế giới này tự do hay Cộng Sản, tôi cũng chẳng còn ý niệm về chính trị cũng như con người.

Lúc này, cũng sắp hết hạn 300 ngày di cư của Hải Phòng. Tôi đã như một người điên, không còn đủ sáng suốt nghĩ suy, quyết định ôm con trở về Bắc với gia đình tôi. Sống, chờ đứa con khôn lớn, rồi tôi xin thí phát ăn mày cửa Phật. Tôi gạt hết mọi lời ngăn cản của bạn bè, ngay của chính quyền cũng như quân đội. Cuối cùng, vì thấy tôi đau khổ quá, họ cũng đành ngao ngán thở dài, để mặc tôi ôm con trở về quê cũ.

Tôi trở về Hà Nội. Trên đường đi vì có con dại, nên tôi không gặp khó khăn gì. Tôi về sống với bố mẹ và họ hàng ở khu lao động Thịnh Hào, ngoại ô thành phố Hà Nội

Tôi trình bầy tất cả sự thật đời tôi với nhà cầm quyền địa phương của Cộng Sản. Vì đấy là thực tế, họ cũng thấy rằng cuộc đời tôi quá nhiều đau thương về mặt tình cảm. Thêm nữa, ở địa phương, hầu như suốt ngày đêm, tôi chỉ quấn quít với con tôi, cho nên họ cũng để yên, không làm phiền hà gì cả. Nhưng, điều chính mà sau này tôi mới biết, là vừa về chiếm lại nhiều thành phố, nhiều xóm làng, Cộng Sản còn nhiều công việc khác to lớn, cấp thiết hơn phải lo, cho nên chúng mới để cho tôi sống yên thân. Mặt khác, càng những năm sau này, các em, các cháu tôi phải đi nghĩa vụ quân sự. Vậy là gia đình ngày càng có nhiều người trong hàng ngũ Cộng Sản. Vả lại, chính tôi, để được yên thân, ngay trong địa phương tôi cũng tỏ ra tích cực họp hành, học tập, tham gia mọi sinh hoạt v.v… Tôi cũng chả cần biết thế giới này ngược hay xuôi nữa. Cuộc đời tôi cứ thế đều đặn như vậy theo thời gian trôi đi, cho mãi tới đầu 1960. Lúc đó, cháu bé đã 5 tuổi, đã bắt đầu cắp sách đến trường.

Vào giai đoạn này, có lẽ đám đầu não Tình Báo miền Bắc, phát hiện được ra tôi như là một người có đầy đủ điều kiện và khả năng, chui được vào trong giai cấp lãnh đạo của chính quyền miền Nam để hoạt động: – Đào Thị Bắc, một phụ nữ đã từng làm việc ở bộ Tổng Tham Mưu, bản thân lại là cựu sĩ quan, có chồng là trung tá Trần Ngọc Tính. Như vậy, thiếu gì bạn bè, những bạn bè quen biết trước đây, ngày nay, hẳn có người đã leo lên nhiều chỗ đứng cao của quân đội, cũng như của chính quyền Sài Gòn. Một chỗ dựa, một thế đứng vững chắc. Không còn một “miếng mồi” nào tốt hơn miếng mồi Đào Thị Bắc.

Từ chỗ chúng tìm tòi nghiên cứu để nhận định, đến khi đã thấy rồi, chúng chỉ còn bắt tay thực hiện. Chúng nghiên cứu tỉ mỉ tư tưởng, cuộc sống của Bắc qua những đoàn thể địa phương, và chính quyền sở tại. Khi đã phân tích nắm được chỗ ưu, chỗ nhược của Bắc rồi. Tùy theo điều kiện, chúng lựa dần dần bằng nhiều hình thức khác nhau, từ nhiều phía khác nhau, để đi đến với Bắc. (Tới đây, chị Bắc không xưng là “tôi” nữa, mà chỉ viết xưng tên).

Sau nhiều lần gặp, cuối cùng chúng ngỏ ý, với những lời phỉnh phờ, dụ dỗ, khích lệ có nghiên cứu. Nào là, Bắc đã thích cách mạng nên với về với cách mạng; nào là, Bắc là một người dân thì, phải có trách nhiệm với đất nước, với cách mạng, v.v…và v. v… Nghĩa là, trong cái thế bị chi phối từ nhiều phía, Bắc đã phải đồng ý để chúng tuyển mộ và huấn luyện những bài học cần thiết, về hoạt động tình báo.

Sau gần một năm huấn luyện bí mật, nghiên cứu thực tập nhuần nhuyễn vỏ bọc, cũng như các đường dây liên lạc, Đào Thị Bắc đã được Tình Báo miền Bắc tạo điều kiện hợp lý, hợp tình, để ôm đứa con 5 tuổi vượt tuyến vào Nam. Lý do vượt tuyến, rất đơn giản hợp tình, hợp lý đó là: tuy đã chán hết mọi sự đời, ôm con về Bắc, tưởng được sống âm thầm, yên ổn nhưng, vì điều kiện xã hội miền Bắc nên cũng phải lao động, làm thợ may trong một hợp tác xã và tham gia hầu hết các buổi học tập của xóm giềng. Nghĩa là tỏ ra tích cực để được sống yên nhưng, dần dần, càng ngày càng bị để ý. Những tên công an xóm, xã dùng đủ mọi hình thức o ép, đe dọa. Hơn nữa, cuộc sống cũng mỗi ngày một khó khăn, không thể chịu đựng nổi được nữa, nên nhen nhúm dần tư tưởng trốn trở lại miền Nam đã lâu. Mãi tới dịp này, khi gặp thời cơ thuận tiện đưa đến, mẹ con đã luồn lọt, cuốn gói ôm nhau lội sang bên kia bờ sông Bến Hải. (Tất nhiên, những “khâu” này, chúng đã phải dàn dựng như thật, và “lô gích” nữa). Khi đã qua sông Bến Hải rồi, giai đoạn đó, bất cứ ai vượt tuyến cũng đều được đón tiếp để đưa về Huế, rồi đưa vào Sài Gòn ở trại đón tiếp đồng bào vượt tuyến bên Gia Định.

Đúng như mọi dự tính của tình báo Hà Nội. Ngay khi vào tới Sài Gòn, Đào Thị Bắc, đã được nhiều bạn bè khi nghe được tin, đã sang trại đón tiếp đồng bào vượt tuyến Gia Định để thăm hỏi. Trong đám này, có Trung Tá Xuân là bạn của Trần Ngọc Tính và Bắc ngày xưa. Cũng chính Trung Tá Xuân đã bảo lãnh và đón mẹ con Bắc ra trại, về một cư xá sĩ quan ở tạm. Trung tá Xuân cũng là một nhân viên…Tình Báo của Sài Gòn…

Đến đây, chẳng hiểu vì tư tưởng của Đào Thị Bắc thích thế giới tự do, hay vì nghệ thuật khai thác, móc nối của Tình Báo Sài Gòn cao tay, cuối cùng Đào Thị Bắc đã khai báo hết sự thật với Tình Báo của Sài Gòn, mà đại diện là Trung Tá Xuân.

Tình Báo Sài Gòn, cũng nằm trong lề lối chung của chính quyền miền Nam, là làm việc, hời hợt, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc của mình; ưa hình thức đao to, búa lớn, nhưng bên trong rỗng tuếch. Như vậy, làm sao tìm ra được một kế hoạch hoạt động tinh vi. Một kế hoạch mà muốn thành công, đòi hỏi phải nhiều tâm sức, vắt óc tính toán, mổ xẻ phân tích nhiều ngày đêm. Thậm chí, ăn sẽ không ngon, ngủ sẽ không yên nếu chưa tìm tòi nghiên cứu được một kế hoạch thỏa đáng! Hoặc, sẽ đau đầu, nhức óc, về việc tại sao công tác vừa qua lại bị thất bại! Nhân viên, bị bắt, bị chết! Phải coi nhân viên đó như ruột thịt của mình. Luôn luôn phải đào sâu, xét kỹ từng vấn đề để rút tỉa kinh nghiệm.

Những người chịu trách nhiệm của cơ quan tình báo phải làm việc theo phòng cách: vì việc nước, phải gửi, phải phái người anh, người em, người con mình vào đất địch để hoạt động. Nếu người anh ấy, người con ấy bị bắt, bị chết, thái độ của mình sẽ ra sao? Từ đấy sẽ thấy là, phải coi việc nước như việc nhà.

Tóm lại, với cách làm việc, với lề lối phong thái như trên, làm sao có được một kế hoạch tốt. Cá biệt, có điều gì thành công, hầu như phần lớn là do may mắn mà thôi. Hay, nói theo cách thông thường, là hôm đó, hay lúc ấy, “trời đi vắng”!

Chính vì vậy, khi thấy Đào Thị Bắc khai báo, hay nói đúng ra là thú hết những âm mưu, ý đồ của Tình Báo miền Bắc, Tình Báo miền Nam đã vội vàng ra cái vẻ “tương kế tự kế”, bí mật tuyển mộ lại Bắc. Tất nhiên, lại phải huấn luyện theo “lò” Tình Báo của Sài Gòn. Rồi, một mặt vờ cung cấp một số tin tức không phải thiết yếu để hòng “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Một vài năm sau, cố vờ tạo lên một sơ hở của Bắc để SàiGòn nghi ngờ, nghĩa là thúc ép tình báo Cộng Sản là “động rồi đấy, hãy đưa Bắc về Hà Nội đi; nếu không, SàiGòn sẽ bắt”.

Phần vì, đánh giá khả năng của đối phương qua đôi dép râu, qua bộ quần áo cà quỷnh; rồi nhìn từ chỗ đó, để suy ra những khả năng khác của kẻ thù; nên đã không thấy một điều quan trọng thiết yếu của Cộng Sản: Chủ trương của chúng là “chỉ dùng người ngu”. Dùng những thuộc hạ chỉ biết nghe lời. Dù người lãnh đạo có ra lệnh lầm, thuộc hạ cũng cứ cắm cúi thực hiện. Không có, và không cần loại thuộc hạ bàn ngang, tán láo. Loại thuộc hạ này không làm được gì cả. Cứ nhìn những thuộc hạ đầy ngu ngốc, đầy cà quỷnh, đầy ngây ngô, khỉ mán trong rừng…mà quên đi là những tên lãnh đạo trong bộ chính trị của chúng là những tên cáo già, chỉ ngày đêm nghĩ suy, tính toán. Không phải một vài tên, mà là 15, 16 tên như vậy. Hầu như chúng đã thấy trước được nhiều vấn đề (sau này, tôi sẽ minh chứng cụ thể). Một bộ óc trong cái tập thể ấy, sẽ không kém gì một bộ óc khôn quái của chúng ta. Ba cái đầu, hơn một cái đầu. Ở đây, 15, 16 cái đầu chắc chắn phải hơn một cái là ông Tổng Thống. Huống chi, những cái đầu của những vị nguyên thủ phía ta, đến quá nửa thời gian lại dành cho hưởng thụ, phục vụ cho những tham vọng cá nhân và gia đình. Như vậy, làm sao đặt để được một kế hoạch thấu đáo. Làm sao chống lại được Cộng Sản miền Bắc, mà không phải hết cầu cứu với ông lớn nước này, lại cầu cứu với ông lớn nước khác! Nếu các ông ấy không giúp, tất yếu là …đổ.

Tóm lại, về tình huống của chị Đào Thị Bắc: nếu đầu não của Tình Báo Sài Gòn là người hiểu biết kẻ thù, phải thấy ngay là, những loại người như Bắc, không bao giờ Cộng Sản tin dùng cả. Chúng chỉ dùng theo thời gian, theo những yêu cầu đòi hỏi của những giai đoạn ấy; rồi sau đấy; sẽ cho phép “ngồi chơi xơi nước” nếu làm tốt cho chúng. Còn, trong quá trình công tác, lại có gì sai trái, tùy theo mức độ chúng gạt luôn, hoặc cho vào “ấp”. Chúng không tin Bắc, đã không tin, chúng phải theo dõi, để ý. Chỉ cần một hiện tượng không bình thường là chúng đã phát hiện ra ngay rồi. Như thế, cố gắng đẩy chị Bắc về miền Bắc, chẳng khác gì đẩy chị vào tù, hay nói khác, đẩy Đào Thị Bắc vào chỗ…chết!

Như vậy, người lãnh đạo Tình Báo miền Nam lúc ấy, phải nhận một trong hai khuyết điểm sau:

– Chưa đủ hiểu sự tinh quái của Cộng Sản.

– Hiểu, nhưng vẫn còn đẩy Đào Thị Bắc đi. Một là để lấy tiếng vang, hoặc may ra có kết quả. Còn nếu không, chết, mặc xác; tù rục xương cả cuộc đời, cũng không cần biết!

Nếu là khuyết điểm trên: còn gì để nói nữa (!). Chiến đấu với kẻ thù mà không đánh giá được kẻ thù! Còn nếu là khuyết điểm ở dưới: người chỉ huy vô nhân đạo. Bất cứ một nhà nước nào, một tổ chừc nào, một cá nhân nào, làm việc không có hậu như vậy, sớm muộn sẽ bị thất bại, đổ vỡ.

Đào Thị Bắc, từ tim gan, ruột phổi cho đến giòng máu đang chảy trong cơ thể là người quốc gia, nghĩa là Bắc là con ruột của ta. Con ruột mà ném vào miệng cọp thì thật là hết ý! Vậy, không thể lấy lý do mượn tay kẻ thù, để trừ đi một người ta cần chặt bỏ. Riêng tôi, khi xem chị Bắc viết thuật đến đây, tôi hiểu Tình Báo Sài Gòn mắc cả hai khuyết điểm trên, cũng chỉ vì lề lối làm việc hời hợt.

Trở lại sự việc Đào Thị Bắc:

…Cho tới đầu năm 1965, theo kế hoạch của miền Nam, chị Bắc báo cáo với Cộng Sản là đã bị lộ. Sài Gòn đã nghi ngờ. Sau một thời gian bảo Bắc đợi lệnh, cuối cùng, vào đầu tháng 5, lệnh từ Hà Nội cho Bắc về. Tất nhiên lại một sự dàn dựng của cả hai bên để Bắc rời Sài Gòn về miền Bắc…

Khi chị Bắc qua sông Bến Hải thì được đưa tuột về ngay Hà Nội. Chúng đưa chị đến ngôi nhà số 23 phố Hàng Đường, lên một căn buồng ở trên gác, phía dưới là một cửa hiệu quốc doanh. Khi vào trong buồng, chúng đưa cho chị một tập giấy, bảo chị hàng ngày hãy viết lại tất cả mọi sự việc từ khi vào Nam: làm những cái gì, giao thiệp với những ai, đi những đâu…một cách chi tiết.

Chị bị coi như giam lỏng, giấy tờ chúng thu hết với lời khích lệ là viết tốt, viết xong mới cho về với gia đình.

Gần một tháng trời cặm cụi viết, khi viết xong, nộp cho chúng rồi, chị tưởng là chỉ hai, ba ngày nữa sẽ được cho về thăm gia đình. Nhưng, chúng đã mắng, đã nạt nộ chị, là chúng đã biết hết mọi sự thật. Thậm chí, chúng đưa và nêu cả hình ảnh, chứng cớ. Thế là chị Bắc đành phải khai báo sự thật. Là Sài Gòn đã tuyển mộ chị, huấn luyện chị. Và, tương kế tựu kế, để chị về Hà Nội, nằm trong tổ chức Tình Báo miền Bắc, hoạt động cho Sài Gòn v.v… và v.v… Khai, viết xong một lần nữa, chị bị chúng đưa thẳng vào buồng số 6, mà tôi đã gặp.

Trong suốt những lần đứng viết thuật lại mọi sự việc cho tôi, lúc nào nước mắt chị cũng lưng tròng, nét mặt đầy vẻ khổ đau. Chị cũng hiểu, đời chị đến đây là hết! Chị không còn thiết bất cứ một điều gì trên cái cõi đời này. Nếu trong chị còn le lói chút ánh sáng nào, đó chính là giọt máu duy nhất của chị và của người chồng kính yêu. Cháu vẫn còn ở miền Nam, năm nay đã 11 tuổi rồi, hiện nay đang sống với một người họ hàng ở đường Phan Thanh Giản. (Bây giờ, tôi không thể nhớ rõ số nhà là bao nhiêu nữa).

Từ lúc, chị biết tôi cũng là người của chính quyền miền Nam, lại cùng gặp nhau trong cảnh khốn cùng này, ánh mắt chị nhìn tôi đã thay đổi hẳn. Cũng là ánh mắt ấy, nhưng trước đây mỗi khi chị nhìn tôi, hãy còn cái nhờn nhợt của màu nâu, cái màu của nhiều rụt rè, băn khoăn, xa lạ; bây giờ, nó đã đổi sang màu xanh, cái mầu của thân thương, ruột thịt, người trong một nhà. Chính chị đã viết, đời chị lúc này đang như cánh bèo bị nước cuốn chìm nổi, dập vùi, chơ vơ lạc lõng, thế mà cơ duyên gặp được tôi. Cánh bèo ấy như được dạt vào đám bèo to; tuy rằng giòng nước vẫn còn đẩy đưa đám bèo này đi mãi…Thấy chị nghĩ như vậy, tôi cũng cố giả vờ ra vẻ là một đám bèo cho chị dựa: chứ thực ra, trong lòng tôi cũng mịt mùng chả biết đường đi ngả nào, còn đấy hay mất đi lúc nào cũng đâu có hay.

Một lần, sau khi cán bộ đã đi ra, tôi lại gọi chị đứng lên nói chuyện. Chị phàn nàn, băn khoăn là quần áo của chị bị mấy chỗ tuột chỉ và đứt mấy khuya áo, nhưng không có kim. Tôi cũng hiểu, gặp khó khăn, chị viết như vậy để kể lể, cũng chỉ như là san sẻ tâm sự; chứ chị làm sao có thể nghĩ rằng tôi lại có kim. Chiếc kim của tôi thực vô cùng quý giá, chẳng bao giờ rời khỏi mình tôi; nhưng với chị, tôi có thứ gì để tiếc chị nữa. Bởi vậy, tôi nói với chị là tôi có kim. Mắt chị mở to, miệng chị mấp máy như nửa tin, nửa ngờ, cho là tôi nói đùa. Nhưng, nét mặt của tôi đang nghiêm trang nghĩ cách nào để đưa được kim cho chị. Và, tôi đã tìm ngay được một cách. Tôi vội viết: “hãy ngồi xuống, chờ một tí”.

Tôi lấy cái kim ra, xỏ vào một sợi chỉ, buộc thắt lại. Nối hai, ba sợi chỉ dài độ 3, 4 mét, rồi buộc một đầu vào một đoạn cọng cuốn chổi thanh hao dài khoảng 2, 3 phân. Tôi trèo lên sàn, gọi chị và viết: “Hãy cúi sát xuống nền phía cửa. Tôi sẽ “búng” cái cuống chổi sang. Chị nhặt lấy kéo về. Còn muốn dùng chỉ thêm, ngay trong chăn của trại, cứ cách hai sợi, rút một sợi, không sao cả. Một cái chăn có thể rút được 15, 16 sợi chỉ, mỗi sợi dài trên 2 mét. Tha hồ khâu vá”. Sợ mất cái kim, tôi dặn chị, khi nào tôi ho hai tiếng, chị cứ việc khâu. Nếu nghe một tiếng ho, cất ngay đi. Tôi sợ cán bộ bất chợt đi vào, đứng rình thấy chị Bắc khâu, vừa bị tịch thu kim, lại vừa bị cùm nữa. Còn một tội to hơn là…phá hoại tài sản của xã hội chủ nghĩa.

Thế là chị có kim. Chị bắt đầu việc khâu vá, trong khi đó tôi gọi anh Nguyễn Lân, buồng số 4, đứng lên nói chuyện…

Khói bay vô mắt!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Con của máviết xong một bài văn, đôi khi đọc lại thấy cũng có cái trúng mà cũng có cái trật; nhưng điều mà con sắp nói ra lần nầy chắc chắn là trúng. Trúng trăm phần trăm! Cái đó là: Ai cũng có Mẹ, ai cũng có Má hết! Và ai cũng thương Mẹ, ai cũng thương Má mình sâu thẳm tận đáy lòng. Con cũng không là ngoại lệ!

Chiều cuối năm, quê người, năm hết, tết đến chợt nhớ Má, nhớ Ba biết bao nhiêu mà nói!

Nhớ năm 1964, ông Trưởng Ty Bưu Điện Ban Mê Thuột đương nhiệm, bất ngờ  ôm hết tiền trong két sắt, dắt vợ con mà dông tuốt qua Lào. Số tiền nghe đâu cũng khẳm, lên tới vài ba triệu, (lúc đó là rất lớn, vì vàng chỉ khoảng hai ngàn đồng một lượng). Đó là tiền của mấy ông chủ đồn điền cà phê trên cái xứ Ban Mê Thuột nầy gởi.

Ban Mê Thuột là đi 7 phút đã về chốn cũ, đi lâu hơn Pleiku được 2 phút, vì lớn hơn một chút. Mấy ông nhà văn, gốc lính, đến đây viết bài gọi tưng nó lên, là thủ phủ cao nguyên, nơi đóng bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Ban Mê Thuột viết tắt là B.M.T nên thiên hạ chơi chữ, đặt cho vài cái mỹ danh là ‘Bụi Mù Trời!’; vì tỉnh lỵ vốn nằm trên vùng đất bazan, đỏ quạch, sình tới ống chân, nhão hoét khi mùa mưa tới, rất tốt cho mấy đồn điền trồng cà phê. Mùa nắng, xe qua, cuốn theo từng lốc bụi mù. Xứ rừng, chim kêu, vượn hú, vui sao được? Nên còn gọi là cái xứ ‘Buồn Muôn Thuở!’

Sau cái vụ thụt kết rồi chạy của ông ‘thần’ nầy, mấy xếp lớn trên Tổng Nha Bưu Điện lo sốt vó, bèn điều một ông khác từ Sài Gòn lên trên ấy để sắp xếp, kiểm tra lại sổ sách coi ông Trưởng Ty cũ chính xác ôm theo hết bao nhiêu tiền, để biết mà bồi thường cho khách hàng ký gởi. Ông nầy không muốn đi, bèn xách giấy vô nằm nhà thương, né, vì sợ chết… do tình hình chiến sự ở vùng cao nguyên lúc đó đã bắt đầu ác liệt. Quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đi Buôn Hồ, ngược về hướng Bắc lên tới phố núi cao, phố núi đầy sương, Pleiku, hay chạy về hướng đông, hướng biển, để tới Tuy Hòa bị VC cắt hoài bằng cách đắp mô, giựt mìn, phục kích công voa. Từ Sài Gòn ra Ban Mê Thuột phải bay bằng máy bay cánh quạt  DC-3 của hãng Hàng Không Việt Nam.

Ba bị điều đi, mấy ổng hứa: “Đi đi! Hai tháng rồi về!”, nên không thoái thác được, dù Ba Má rất đông con. Cả 7 đứa leo nheo lóc nhóc ở Cư Xá Bưu Điện Hai Bà Trưng. Ba đi, phải làm giấy ủy quyền cho Má tới cuối tháng là ra phòng lương bổng của Tổng Nha Bưu Điện lãnh một phần lương về để nuôi mấy đứa con. Nhà nghèo, chỉ có một đầu lương của Ba. Giờ còn phải chia hai. Nhà vắng Ba như thiếu cái cột cái, thiếu cái mái. Gió! Trống huơ, trống hoác!

Tới bữa, cơm không thiếu nhưng đồ ăn thì dè xẻn lắm! Có bữa không có đồ ăn luôn! Má phải nấu cơm hơi nhão rồi nén lại, cuốn vô mo cau, xong dùng chỉ tét thành từng khoanh như bánh tét cho tụi con chấm với nước mắm kho quẹt ăn mà trừ bữa. Hồi còn Ba ở nhà, Ba đi đánh máy mướn thêm, nên cũng có đồng vô đồng ra mà đắp đổi. Ba đi, nhà vắng, tiền cũng ‘hẻo’ theo luôn. Và Má dàu dàu buồn vì vắng chồng vốn đã quen hơi hướm! Sớm tối có nhau!

Mấy ông quan lớn, ăn trên ngồi trốc, thiệt không có chút từ tâm nào mà hiểu, mà cảm thông cho hoàn cảnh gia đình của cấp dưới! Mấy ổng chỉ lo cho thân mấy ổng mà thôi! Hứa hão là Ba đi chỉ hai tháng ; mà rốt cuộc Ba phải xa nhà, xa vợ, xa con hơn cả năm trời. Ở nhà chỉ Má, một mình, chèo chống!

Má thương con ăn đói, nên cuối tháng ra sở lãnh lương của Ba về, Má xuống cái tiệm bán bê thui nằm gần cầu Kiệu và chợ Tân Định mua đâu khoảng 300 gram thịt bê thui.  Về, má bắt chảo lên cho mỡ vào, xào với đậu phộng, bún tàu, củ hành. Dọn ra một dĩa, nhỏ xíu, lớn hơn bàn tay một chút. Vậy mà khói bay lên, thơm phức. Con chạy u ra chợ, mua về thêm bốn ổ bánh mì thiệt bự! Rồi Má kêu mấy anh em con xúm lại mà ăn!  Mà ngộ! Má không ăn gì hết! Hỏi: “Sao Má hõng ăn gì hết! Má!” “Ờ! Má xào, cái hơi nó lên no rồi! Tụi con ăn đi!”

Nhỏ khờ đâu biết Má nói vậy là để nhường mấy miếng thịt bê ít ỏi, bé tí teo đó cho đám con mình. Nên tụi nhỏ thiệt tình tranh nhau đớp láng! Dĩa thịt bò hết sạch, vẫn còn thòm thèm, ngẩng nhìn lên, thấy mắt má chớp chớp. Má nói bâng quơ: “Củi ướt quá, khói bay vô mắt Má!”

Sau nầy lớn lên, xa Má, xa Ba, con lập gia đình, rồi bận bịu lo cho vợ cho con. Nước mắt cứ chảy xuôi hoài vậy sao cà?  Rồi vợ chồng con cái bỏ nước ra đi. Và Má với Ba đều mất. Ngẫm lại! Có trả hiếu được đồng xu cắc bạc nào đâu để bù lại những ngày Má nhịn; cho đám con mình đỡ thèm ‘cao lương mỹ vị!’ Mà thiệt thịt bê thui xào đậu phộng đâu có phải là ‘cao lương mỹ vị’ gì cho cam ở cái đất nước Úc Châu này!

Cuối năm, quê người, vậy là con xa Má gần hai mươi năm rồi đó mà không về tảo mộ. Xin má đừng buồn! Con nhớ khói bếp quê nhà dữ lắm! Con cũng muốn về quê cũ, thăm mộ má, thắp một nén nhang để thưa với má rằng: Thằng con của Má ngày xưa giờ đây không còn đói nữa; mà phải nói còn hơn là no đủ. Là phủ phê, là thừa mứa! Hõng phải chỉ có tụi con không đâu mà bất cứ người nào, rất bình thường như làm hãng ở đất nước Úc nầy cũng y như vậy! Nếu con về tảo mộ má chắc là được rồi, chắc cũng có đủ tiền để mua vé máy bay, bay về với Má; nhưng về khi quê nhà mình vẫn còn tan hoang, con no đủ trong khi bà con mình vẫn chìm trong thiếu đói, thì trong tận đáy lòng con, con thấy mình hình như có lỗi với quê hương mình nhiều lắm đó! Má ơi!

***

“Chiều em đi chợ Footscray, mua dùm anh ba ký bê thui!”

Vợ con, hơi ngạc nhiên, hỏi lại: “Mua chi nhiều dữ vậy? Ăn hõng hết, bỏ tủ lạnh, thịt cũ lần sau ăn, hõng có ngon! Mà anh muốn ăn món gì?”

“Đừng có cãi! Mua cho anh ba ký! Tiền nè!

Vợ con nghe lời chồng sai, bèn cầm tiền te te, rẹt rẹt đi ra chợ. Về nhà, nó hỏi: “Anh muốn ăn món gì? Để em làm!”

“Thì bê thui xào củ hành, đậu phộng với bún tàu!”

“À! Bê thui xào lăn!”

Rồi nó bày ra thớt, thịt bê thui xắt nhỏ, vừa gắp, trộn với tương hột, nước cốt dừa, đậu phộng rang. Uớp thêm gia vị: hạt nêm, tiêu, đường, hành tỏi bằm, bột cà ri, bún tàu, nấm mèo, ớt tươi rồi thêm hành tây, hành lá, mò om! Đủ hết trơn hõng thiếu một món gì! Rồi nó xẹt xẹt, bật lò ga nghe cóc cóc, đặt chảo lên cho nóng, đổ dầu ô liu, hành, tỏi vào phi vàng, xào với bột cà ri. Thơm phức! Xong trút thịt vào chảo chung với nấm mèo, hành tây, nước cốt dừa. Lấy cái xạng mà xào tới xào lui! Nước từ cả ba ký thịt bê thui tươm ra, hơi sắc lại, là nó bắc xuống bếp. Đổ thịt bê thui lên từng cái một, trên một chồng dĩa chừng chục cái, rắc đậu phộng đâm dập dập; rồi ngắt mấy cọng mò om rắc lên mặt dĩa.

Con nhỏ nầy cũng biết nấu ăn quá chớ nhưng chắc ‘tài’ không bằng Má đâu! Con nghĩ vậy nhưng để trong bụng chớ nói ra làm chi cho nó tự ái! Phần hồi xưa, đói, má nấu đã ngon, con ăn cái gì thấy cũng ngon hơn bây giờ nhiều!

Móc ‘mobile phone’, gọi hai thằng con. “Hai đứa chở mấy đứa cháu về thăm ông bà nội chiều cuối năm nhá!” Nửa tiếng sau, hai chiếc xe lần lượt ngừng cái kịt trước cổng; mấy đứa nhỏ chạy ào vào nhà: “Hello! Ông Nội! Hello! Bà Nội! Cha! Thơm quá!”

Thằng con lớn, nịnh, đến bên, chép chép cái mỏ, nheo mắt hỏi: “Má cho tụi con ăn cái gì mà thơm quá tay vậy?” Thằng kế nói: “Bữa nay anh em mình trúng mánh ‘ăn’ rồi!”

Vợ con trả lời tụi nhỏ: “Ờ! Ba tụi con muốn ăn bê thui xào đậu phộng, củ hành với bún tàu đó mà! Người ta gọi là bê thui xào lăn! Vậy mà ổng hõng có biết gọi tên nó là gì!”

Vợ con dọn lên bàn, ê hề, cho mỗi người một dĩa. Con nói: “Dọn cho anh thêm hai dĩa nữa để anh mời Ba Má về ăn!” Sau đó với hai đứa con trai, hai đứa con dâu và bốn đứa cháu: “Thôi! Mấy đứa ăn đi!”

Rồi con khóc!  Đứa cháu gái nhìn con trân trân, ngạc nhiên hỏi: “What’s wrong? Ông Nội?”

Giựt mình, con trả lời: “Ờ! Khói bay vô mắt Nội đó mà!”

Nhưng ở đây xài bếp ga mà! Làm gì có khói! Phải rồi khói bếp của quê nhà!

Quê người, gia đình đông đủ chiều cuối năm, thức ăn ê hề, dư dả đến mức thừa mứa trên bàn; mà Ba Má đã mất hết còn đâu!

doanxuanthu

Huyền thoại bạn!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Theo từ điển, huyền thoại là một câu chuyện không có thật, kỳ lạ, hoàn toàn do trí tưởng tượng thêu dệt nên… Như bài “Huyền thoại Mẹ”của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chẳng hạn!

Còn huyền thoại bạn là tình bạn không hề có thật, theo nhân sinh quan của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, trưởng ban nhạc trẻ Phượng Hoàng vào những năm 60, không có bạn bè thân thích, nên sống cô đơn và chết trong cô độc.

8 giờ sáng ngày 11, tháng Năm, năm 2003, tại nhà  đường Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận Nhứt – Sài Gòn, nhạc sĩ Lê Hựu Hà, (1946-2003), được phát hiện nằm chết trong phòng, xác đã bắt đầu phân hủy. Trong nhà đèn vẫn sáng, tivi vẫn mở, quạt máy vẫn quay! Đời vẫn trôi!

Phần số Lê Hựu Hà giống như lời tiên tri trong bản nhạc nổi tiếng ngày xưa “Hãy ngước mặt nhìn đời” của ông:

“Cười lên đi em ơi/ Dù nước mắt rớt trên vành môi/ Hãy ngước mặt nhìn đời/ Nhìn tha nhân ta buông tiếng cười

Ta không cần cuộc đời / Toàn những chê bai và ganh ghét .

Ta không cần cuộc đời/ Toàn những khoe khoang và thấp hè .

…Yêu thương gì loài người/ Ngoài những câu trau chuốt với đời

Ngoài những toan tính trong tiếng cười/ Và những âm mưu dọn thành lời

Ta chỉ cần một người/ Cùng với ta đợi chết mỗi ngày /Rồi hóa thân trong loài hoa dại / Để muôn đời không biết đớn đau

Cười lên đi em ơi/ Cười để giấu những dòng lệ rơi/ Hãy ngước mặt nhìn đời/ Chờ ngày xuôi tay xong kiếp người!”

Xong một kiếp người sống cô đơn, chết trong cô độc, người nhạc sĩ tài hoa nầy đã về miền vĩnh cửu cũng tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Còn đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump, tình bạn cũng là một huyền thoại!

Mới làm chủ Tòa Bạch Ốc được 8 tháng mà Hollywood đã tính dựng phim về cuộc đời của vị Tổng thống, xưa giờ và cả trong tương lai không giống ai và cũng không ai dám giống!

Nghe nói phim nầy sẽ do tài tử Mỹ Tom Hanks, chuyên trị tâm lý nhân vật cực kỳ phức tạp sẽ đóng vai Tổng thống Donald Trump!

Truyền thông Mỹ đặt cho Donald Trump biệt danh là: “Gã cao bồi đơn độc! Người biệt kích cô đơn!” Tức là không có bạn bè gì ráo trọi!

Thời niên thiếu, gia nhập học viện quân đội ở New York, ai cũng biết Donald Trump chỉ qua cái tên; vì Trump vốn con một đại gia ngành địa ốc; tuy nhiên các thiếu sinh quân nầy không ai biết rõ về Trump cả. Vì sau khi ăn tối cùng nhau là Trump ‘hô’ biến vô phòng riêng của mình, nơi Trump cảm thấy là nơi thoải mái nhất!

Rồi từ trường Fordham chuyển tới trường Đại học Pennsylvania, Trump không thèm nói một lời từ biệt, ‘good bye’ với bất cứ một ai.

Tốt nghiệp đại học, ra đời, về sống ở Manhattan, New York trong cao ốc của gia đình mình; quây quanh Donald Trump chỉ là những người thân cận nhứt trong gia đình.

Rất hiếu thắng, ai thân cận mon men tới gần đều bị Trump tìm cách tiêu diệt.

“Anh không thể nào kết bạn với ông ta. Ông ta tạo ra nhiều kẻ thù hơn là bè bạn!” Những người trong giới kinh doanh địa ốc đều cố gắng lánh xa Trump.

Trump không bao giờ cười trước lời nói đùa của kẻ khác. Cho dù tính hài hước là đức tính căn bản và cần thiết để có được tình bạn. Tình bằng hữu không có trong từ vựng của đời Trump.

Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình: “Ông có bạn thân không?” “Tôi có rất nhiều bạn nhưng bạn thân thì khó để nói là có hay không!”

“Vợ ông có phải là bạn thân nhứt của ông không?” “Bà ấy là người bạn lớn của tôi. Thân phụ tôi cũng vậy! Ngoài ra, tôi không tin ai khác!”

Các nhà tâm lý học bèn nhào vô lý giải, căn theo lời Trump từng tâm sự loài chim biển là: “Anh ấy (Freddy Trump Jr lớn hơn Donald Trump 8 tuổi) cả tin vào nhiều người quá! Một lỗi lầm chết người. Họ lợi dụng anh ấy; điều đó đưa đến việc anh ấy bị nghiện rượu và cuối cùng qua đời khi chỉ mới 43 tuổi. Đó là bài học của tôi. Đúng ra! Anh ấy đừng nên tin bất cứ một ai!”

“Xưng là bạn thì thực ra không phải là bạn! Họ cư xử như những người tốt, lịch sự nhưng sau lưng sẵn sàng rút dao ra, đâm sau lưng bạn!

Hãy nghĩ xa hơn để thấy rằng: Gọi là bạn bè mà chúng muốn cướp công ăn việc làm, muốn chiếm nhà, muốn cướp tiền và chúng muốn giựt luôn vợ của mình!”

Trump cho rằng thế giới nầy nhẫn tâm, tàn bạo, đầy thú tính; là một bọn ‘chó ăn thịt chó’! Trump bèn dựng nên một bức tường quanh mình và không cho phép bất cứ một ai xâm nhập!

“Tôi ghét dựa dẫm vào bạn bè. Tôi dựa vào sức mình là chánh. Người bạn thực sự là gia đình tôi!” “Có qua nhiều câu chuyện về người bị giết hại bởi kẻ mà họ đã từng hết lòng tin cẩn!”

“Tôi chỉ yêu tui thôi thế nên rất khó có người phụ nữ nào chịu làm vợ mình!” Chính vì vậy Trump có tới 3 đời vợ!

“Song thân tôi là những người bạn tốt nhứt!” Dẫu vậy, khi thân phụ qua đời năm 1999; thân mẫu một năm sau đó, Trump cố gắng không để rơi nước mắt vì Trump không tin nước mắt sẽ giúp ích được cái gì?

Đắc cử Tổng thống Mỹ, cầm đầu Hành pháp; nhưng bên Lập pháp, trong Quốc hội và ngay cả trong đảng Cộng Hòa của chính mình, Donald Trump không có ai là bạn cả. Chỉ là quan hệ trên công việc; vì lợi ích của đôi bên khác nhau quá xa!

“Nếu ở thủ đô Washington DC cần một người bạn thì hãy nuôi một con chó!”

Càng ngày Trump càng tự cô lập mình trong Tòa Bạch Ốc! Đây là tuýp người không chịu nghe ai khác bảo phải làm gì, nói gì, đi đâu, ai cần gặp, ai không nên gặp; ai có thể trò chuyện; không hoặc nên công du tới chỗ nào?

Donald Trump cố gắng tự kiểm soát lấy chính bản thân mình mà không cần ai khác dạy bảo! Thế nên các cố vấn thân cận của Trump muốn làm điều nầy trước hay sau đều thất bại cả!

***

Bây giờ Donald Trump là con người nắm giữ quyền lực nhứt trên thế giới. Là một trong những lời nguyền kinh hoàng nhứt (của những người chống Mỹ) đã trở thành hiện thực!

Trump từng nói: “Là một ngôi sao truyền hình, một người nổi tiếng, mình muốn làm gì cũng được mà! Có thể rờ rẫm, sờ sẫm, mò mẫm hôn hít mấy em! Làm gì cũng được hết ráo!”

Phụ nữ Mỹ cự nự quá xá trời; nhưng Floyd Mayweather, 40 tuổi, một võ sĩ quyền Anh huyền thoại, đánh 50 trận chưa thua, từng kiếm tới 300 triệu đô Mỹ trong cuộc thượng đài tỉ thí và thắng Conor McGregor gần đây, vỗ tay tán thưởng: “Ông ấy đã nói như một người đàn ông đích thực. Mọi người có thể không thích sự thật này, nhưng ai chẳng kích thích khi thấy một vòng ba nảy nở”.

Mayweather khoe khoang là: “Có ít nhất bảy bóng hồng bên cạnh! Vì chỉ có một bạn gái thì xem như chẳng có gì!” “Hãy nói chuyện với phụ nữ sau khi đã chốt cửa”!

(Tưởng cái gì, giàu cả vài trăm triệu đô như ông mà chỉ có 7 em cũng bày đặt khoe! Tui mà giàu cỡ đó, tui sẽ có gấp 10 lần chí ít là cũng 70 em; vì tui vốn già hơn sống hổng bao lâu, sẽ để lại gia tài… và tui vốn đẹp trai hơn! He he!)

Mã tầm mã! Ngưu tầm ngưu; nên Mayweather từng được mời dự lễ đăng quang Tổng thống Mỹ của Donald Trump vào ngày 20, tháng Giêng, năm 2016!

Rồi cả hai lại gặp nhau, chụp hình kỷ niệm chung, cười tí toét ở Tòa Bạch Ốc chỉ 8 ngày sau đó.

Thành ra giới truyền thông Mỹ nói Donald Trump cô độc, không có bạn bè là tui hổng có tin đâu nhe!

Riêng tui, tui rất sợ sống cô đơn; sợ không đứa nào chịu chơi với tui hết ráo vì cái tánh ‘cà chớn’ của mình!

Tui khoái chơi với bạn, nhứt là bạn nhậu. Tui chỉ ghét thằng bạn nào đi nhậu hoài với tui mà hổng chịu móc túi trả lần nào. Còn ngoài ra, tui đều khoái hết ráo!

Vì bằng hữu, từ Hán Việt, là bạn bè, thân bằng, hảo hữu, thân hữu. Tui khoái giao bằng kết nghĩa! Giao du bè bạn!

Chỉ cần: “Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ?” (Giao thiệp với bạn bè, có thành tín hay không?)

Bạn thân nhứt trong cuộc đời là quà tặng của phần số hên mới gặp; do ông Trời ông thương ổng khiến nó chịu chơi xả láng với mình!

Đó là người đầu tiên bạn nghĩ tới khi tính lập ra kế hoạch, làm một chuyện gì đó?

Đó là người đầu tiên bạn nghĩ tới khi cần người nói chuyện. Đôi khi bạn gọi cho nó mà không nhứt thiết phải có chuyện gì để nói; hoặc để thổ lộ chuyện quan trọng nhứt trong đời mà ngay cả con vợ bạn cũng mù tịt luôn. Nhứt là chuyện mèo chuột!

Khi bạn buồn, họ tìm đủ mọi cách để làm bạn vui. Họ là bờ vai cho bạn tựa vào thổn thức khóc hi hi! Hu hu!

Trong nhiều trường họp họ hứng lấy viên đạn đồng chữ nổi; bởi vì họ cực kỳ đau đớn khi phải nhìn thấy bạn bị bắn què giò.

Tay súng gầm lên: “Ta sẽ giết người bạn thân nhứt của nhà ngươi. Không! Hãy giết tui trước đi!”

Thân đến nỗi khi em yêu trốn đi với người bạn thân nhứt mà tui lại nhớ thằng nầy mới chết! “My wife ran off with my best friend and I sure do miss him!”

Kết bạn, tui chẳng nghĩ giàu nghèo gì ráo; chỉ cần biết nhậu (dẫu chỉ sương sương cho thắm giọng càng tốt; vì ít tốn tiền rượu) và biết nói dóc cho vui vẻ cả làng là được.

Có những lúc ta cần bằng hữu hơn cần cả gia đình. Bạn hữu hiểu ta hơn vì cùng lứa tuổi, cùng đương đầu với những rắc rối của cuộc đời rất giống như nhau.

Một người được coi là may mắn khi có được một người bạn chân thật. Vì vậy: Đừng bao giờ từ bỏ tình bạn thâm giao bấy lâu nay. Vì nó cũng như là rượu quý. Càng lâu càng ngon. Càng già càng tốt hơn!

Tui sẽ tốt hơn… còn bạn sẽ già đi!

Người bạn sẽ làm cuộc đời mình thêm nhiều màu sắc tuyệt đẹp. Thế nên cần sơn mới lại căn nhà là tui lại kêu một đứa đến!

Tui đã từng ân cần căn dặn những người bạn thân, là ‘ní’ của tui rằng:

“Khi bạn đang sa vào rắc rối và cần lời khuyên bảo: Hãy gởi tin nhắn cho tui nhe!

Nếu cần một người bạn nhậu hãy gọi cho tui. Mưa gió bão bùng, tui cũng sẽ trùm áo mưa, trốn em yêu mà đi nhậu với bạn!

Nhưng nếu kẹt quá, bạn đang cần tiền thì số điện thoại của tui không liên lạc được đó nhe.” He he!

Huyền thoại bạn với tui là có thực tới 100%!

Hữu thù bất báo… phi quân tử!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Hữu thù bất báo… phi quân tử!

đoàn xuân thu

Nhớ năm 72, sau khi học làm lính một khóa dài 9 tháng, ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức, mấy thằng bạn lính của tui lên đường ra mặt trận thì tui lại được biệt phái về trường cũ để dạy học.

Chánh phủ mình hồi xưa quan niệm rất đúng đắn rằng: Dẫu đất nước vẫn đang còn chìm trong chiến tranh ác liệt thì cái học, cái tương lai của dân tộc nầy, bằng cách nầy cách nọ, phải được đặt lên ưu tiên ở hàng đầu!

Nên thay vì cầm súng, cái đám giáo chức, dứt cháo, trong đó có tui được chánh phủ gởi về trường cầm phấn…

Cầm cái sự vụ lịnh của Thiếu tá Nguyễn Văn Xin, Chủ sự Phòng Ðộng viên của Bộ Giáo dục, nằm trên đường Lê Thánh Tôn, thủ đô Sài Gòn về nhận nhiệm sở ở Cần Thơ.

Có lẽ 9 tháng quân trường chưa đủ lâu để làm tui bay đi mùi sữa ‘Babilac’, nên ông gác dan chận lại khi tui mới dợm bước qua cổng trường:

“Ê! Thằng kia! Chuông reo vào học đã lâu, giờ mới vác cái bản mặt tới. Chuyên đi học trễ không hà… mà còn hổng chịu mang hiệu đoàn nữa hè.”

Cha chả! Ông làm gác dan trường mà muốn nhảy lên làm thầy Giám thị một cách ngang xương hè?

Tui bèn từ tốn cắt nghĩa: “Tui đi học là hồi xưa kìa. Còn giờ tui đi dạy chú ơi!”

“Ủa! Thầy là giáo sư mới đổi về hả? Tui đâu có biết… Cứ tưởng học trò họ vè không hè! Thôi cho tui xin lỗi nghe!”

***

Hồi xưa làm Hiệu trưởng trường công lập cấp tỉnh là oai lắm. Phụ huynh gọi là ông Ðốc không hè. Cỡ mới ra trường như tui được ông Giám học tiếp đã là hân hạnh lắm rồi, đâu dám đòi hỏi gì hơn.

Nhưng chuyện đó với tui không quan trọng bằng cái chuyện điền tên vào bảng lương để cuối tháng lãnh lương. Vì có tiền mới có thực… Mà có thực mới vực được đạo của Thánh hiền phải không nào?

Ông Giám học xếp thời dụng biểu cho tui dạy lớp Ðệ tứ, nhưng tui cứ nằn nì là: “Thưa thầy cho tui dạy lớp Ðệ thất đi!”

Ông Giám học có vẻ không bằng lòng khi thấy tay thầy giáo lơ mơ và lơ ngơ mới ra trường nầy không kính nể cấp chỉ huy đúng mực, không tuân theo lịnh phân công, còn càm ràm xin xỏ lôi thôi nầy nọ nên dấm dẳn tra vấn tui là:

“Tôi xếp thầy dạy lớp Ðệ tứ là ưu ái cho thầy có nhiều cơ hội dạy thêm để kiếm tiền mà cưới vợ… Nhưng tại sao thầy cứ nhứt quyết đòi dạy lớp Ðệ thất vậy hả?”

Tui bèn kiên nhẫn và từ tốn trả lời cho ông Giám học rõ là: “Chẳng qua hồi xưa tui học lớp Ðệ thất tới hai năm nên có rất nhiều kinh nghiệm.”

***

Ngày đầu tiên nhận lớp, chưa kịp đặt đít ngồi xuống bàn Giáo sư, thì lấp ló ngoài cửa lớp có một phụ huynh dắt một thằng nhóc con xin phép được vào lớp. Tui bước ra chào đón thì: “Úy! Trời đất ơi! Người xưa của tui đây mà!”

Em cũng vừa ngạc nhiên đến sững sờ, vừa bỡ ngỡ che ngang vành nón lá, nói: “Nếu Thầy có nghĩ tới tình xưa nghĩa cũ dẫu không cùng nhau nên duyên mới lỗi cũng tại em, xin Thầy dạy cho cháu nên người! Ðừng có thù dai, thù vặt mà khẻ tay hay bắt nó quỳ gối tội nghiệp.”

Gọi em là người xưa! Chẳng qua hồi còn đi học, thằng anh ruột của em cũng là bạn tui, học hành siêng năng giỏi dắn ngồi chính giữa. Tui và một thằng nữa ngồi hai bên.

Cả hai đứa tui đều làm biếng học bài nên lúc nào thầy cô cho bài làm trong lớp là phải nhờ bạn hiền giúp đỡ bằng cách cho cọp dê.

Bù lại tụi tui sẽ hùn tiền đãi nó uống cà phê sữa đá ở quán Năm Dưỡng gần trường.

Có lần mang điểm bài thi về cho Tía tui ký tên rồi nộp lại theo yêu cầu của Giáo sư, Tía tui có vẻ hổng có hài lòng, nên cật vấn tui rằng:

“Sao điểm bài thi lục cá nguyệt của con thấp vậy?”

“Thưa Tía! Tại khiếm diện ạ!”

“Sao ngay ngày thi mà con lại khiếm diện, trốn học?”

“Dạ đâu có! Tại thằng bạn ngồi kế bên con nó nghỉ!”

***

Một hôm đến nhà tìm nó để rủ đi uống cà phê Năm Dưỡng thì người mở cổng cho tui vào là em gái của nó. Dịp may hiếm có nên tui cười he he mở miệng làm quen là: “Xin lỗi, Chủ Nhật vừa rồi hình như anh thấy em đi Sở Thú chơi phải không?” “Phải. Anh ở chuồng nào vậy?”

Câu trả lời thiệt làm tan nát lòng tui.

Mười năm sau, gặp lại, chắc em thấy tui được làm tới chức giáo sư ‘quèn’, em tiếc hùi hụi con chim ngày xưa, em ngu không bắt để bây giờ hồn em phải chìm trong phương trời viễn mộng! Cho đáng đời em! He he!

Rồi vài tháng sau, con em mang vào lớp cái thư phụ huynh mời tui đi ăn đám giỗ ông nội của nó!

Cái gì cái, được mời ăn là tui không bao giờ từ chối. Ðôi khi còn đến sớm sủa để khỏi phải ăn xà bần nữa kìa.

Ðón tui trịnh trọng trước cửa nhà là thằng chồng của em. “Úy trời đất ơi! Thằng chồng của em lại là thằng bạn học chí cốt của tui ngồi chung bàn năm cũ đây mà!”

Thì ra trong lúc tui tấn công em trực diện thì nó lại tiêu lòn, nước chảy đá mòn nhờ nhà nó giàu tiền giàu bạc, giàu vô thiên lủng, nên nó đem tiền ra mua chuộc tình em để biến tui thành một kẻ tình thua!

***

Vô bàn nhậu, làm sương sương vài ly là tui quên mất tiêu mối hận lòng năm cũ! Tui bồi hồi nhớ lại kỷ niệm xưa ở Sài Gòn, lang thang chợ đời, sau nhiều năm gặp lại ngoài đường, có lần tui hỏi nó:

“Ðậu Tú tài hai rồi mày tính đi thi vô trường nào vậy?”

“Tao hả? Thi vô Ðại học Y khoa, làm bác sĩ!”

“Ủa! Tao nhớ lúc trước mày tính thi vô Ðại học Kiến trúc mà?”

“Tại lúc trước ba tao còn làm bên xây dựng!”

“Còn sau đó?” “Ổng làm chủ trại hòm!”

“Nhưng ba tao cũng mất rồi! Tao là con một nên hưởng toàn bộ gia tài. Ăn cả đời còn chưa hết nhưng con vợ tao cứ khăng khăng đòi mở “phéc-mơ-tuya” để bán.

Ờ, tao nghĩ vợ tao, như mầy biết, vừa đẹp và có duyên ăn nói như nó mà mở “phéc-mơ- tuya” thì chắc chắn 100% đắt khách rồi, nên tui cũng tính chiều theo ý nó! Mầy thấy sao?”

“Ý mầy nói là vợ mầy muốn cái ‘pharmacy’ phải không? Chớ mở ‘phec mơ tua’ ra thì bán cái gì hè?”

***

Vài năm sau, mất miền Nam, VC đánh tư sản mại bản, nghe nói vợ chồng nó cũng lâm vào cảnh đói khổ như tui.

Vì gốc sĩ quan biệt phái, nên tui bị VC đuổi không cho dạy nữa, từ Cần Thơ tui trở về Sài Gòn cũng như vợ chồng nó từ vùng kinh tế mới trốn về vậy.

Một hôm, khoảng năm 78, 79 gì đó tình cờ gặp lại nó ngồi quán cóc uống cà phê trên lề đường Lý Thái Tổ, nó nói: “Sao tao thấy mầy suốt ngày mặc áo bỏ vô quần, giắt viết trong túi cầm sổ đi tà tà hoài vậy?” “À tao kiếm sống bằng ngòi bút!”

Thằng bạn tui gục gặc đầu, thán phục: “Sao làm nhà văn hay nhà báo?” “Ðâu có! Tao đi ghi số đề!”

Sau đó nghe đồn gia đình nó đã thuyền ra cửa biển!

o O o

Trong Luận Ngữ của Khổng Tử có câu: “Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” (Khách từ phương xa tới mà không vui sao được!)

15 năm sau nữa, đó là tâm trạng của tui sau một cuộc vượt biển đầy hiểm nguy lại may mắn gặp người năm cũ.

Một chiều, rinh theo chai rượu đỏ, vợ chồng tui đến ghé thăm vợ chồng nó ở Footscray, Melbourne.

Ðứa cháu nội của tụi nó ra mở cửa xong, nó gọi vọng vô: “Bà nội ơi! Có ai gọi ông nội bằng thằng đến kiếm kìa!”

Và người xưa của tui, vợ của thằng bạn tui, ra mở cửa, thấy em yêu của tui trước, bèn cất giọng khàn khàn: “Nè! Cháu muốn hỏi thăm nhà ai?”

Tui bèn nói: “Bà xã của anh đó! Ở Việt Nam mới qua định cư được hai năm!”

“Sắc đẹp dẫu chẳng bằng ai. Chỉ thua người mẫu với chân dài” về nâng khăn, móc túi…

Phải em xưa đừng hỏi tui ở chuồng nào? Thì đôi ta đã chung một chuồng, cùng tóc bạc như nhau, sau bao năm vầy duyên can lệ!

Quá đã! Không có cuộc trả thù nào ngọt ngào cho cái đắng cay ngày cũ bị em hỏi anh ở chuồng nào cho bằng cái lúc nầy đây!

Ðúng là ‘hữu thù bất báo…phi quân tử’ diễn Nôm là có thù mà không trả thì “sẽ không lớn nổi thành người”!

BÃI ĐÁP “NÓNG”

Sherman Batman, MSG RET. Edited by: Robert L. Noe, Cpt. MACVSOG 

Vũ Đình Hiếu dịch

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Lời giới thiệu:

 Đây là bức thư Sherman Batman viết, gửi cho Gerald Denison, toán biệt kích Ohio, và một biệt kích SOG ngồi ghế sau phi cơ quan sát “Covey”. Bức thư viết ngày 6 tháng Mười Hai năm 1999, kể lại chuyến xâm nhập của toán biệt kích Illinois.

        Tôi không còn nhớ bãi đáp đưa toán biệt kích xâm nhập, nhưng rất “nóng” (có địch quân nơi bãi đáp). Bãi đáp để cho toán Illinois xâm nhập là một khoảng trống giữa đám rừng, cây cao và rậm rạp, nên phải thả rơi từ trên một độ cao xuống. Tôi đã đặt chân xuống càng (chân) trực thăng, chuẩn bị nhẩy xuống, bên cạnh là người xạ thủ đại liên M-60 sẵn sàng nhả đạn.

        Nhưng khi nhìn vào bên trong hàng cây xung quanh bãi đáp. Chúa ơi! Tôi chưa từng thấy lính Bắc Việt đông như thế. Họ đang tiến ra chỗ chiếc trực thăng đang đáp xuống. Lập tức, tôi nhẩy vào bên trong trực thăng và cùng với người xạ thủ đại liên nổ súng. Viên phi công trực thăng cũng vội vàng kéo cần lái cho trực thăng bốc lên cao.

        Chuyến xâm nhập này, tôi đem theo Joel Haynes làm toán phó (1-1, One-One) cho tôi vì ông bạn James M. Tramel “lạnh cẳng” viện cớ đau răng không đi được. Điều này không hoàn toàn đúng, anh ta có hẹn đi nha sĩ ở Pleiku (bệnh viện của quân đội Hoa Kỳ) ngày hôm sau. Hôm đó, anh ta ngồi trên chiếc trực thăng phụ “bay theo” (chase), để chứng kiến cảnh toán biệt kích Illinois “ị” ra quần nơi bãi đáp trực thăng.

        Trong lúc chiếc trực thăng “bốc” lên, tôi trông thấy khẩu đại liên .50 của địch bắn vào trực thăng. Người lính Bắc Việt xử dụng khẩu đại liên rất chính xác, anh ta cố tình “đem” chiếc trực thăng xuống cho một chuyến thăm viếng. Tôi chưa kịp thay băng đạn mới, chiếc trực thăng trúng nhiều viên đạn đại liên, tiếng đạn trúng vào trực thăng nghe rất rõ.

        Để trấn áp hỏa lực của địch, viên phi công, chuẩn úy Mehlman gọi trực thăng võ trang Cobra vào cứu, bắn xung quanh bãi đáp. Chiếc Cobra bay vào bắn hỏa tiễn làm cho địch im tiếng súng và chiếc trực thăng “slick” chở toán biệt kích bay thoát ra ngoài.

        Tôi ngồi dựa lưng vào thành máy bay, nghĩ lại những giây phút kinh hoàng vừa qua. Joel Haynes chìa mũi súng M-16 ra ngoài bắn xuống một phát, vỏ đạn nóng hổi văng vào người tôi. Theo phản ứng tự nhiên, tôi đứng bật dậy phủi áo cho vỏ đạn rơi xuống, rồi nhìn thấy cái bao tay của mình cũng đang từ từ rơi xuống mặt đất.

        Chiếc trực thăng trúng đạn lỗ chỗ khắp nơi, tôi không lo chỉ “tiếc rẻ” cái bao tay. Trước khi lên đường, tôi ghé nhà kho xin đôi bao tay mới. Bob Howard, một người rất nổi tiếng trên bộ chỉ huy Trung (CCC) Kontum, được thăng ba cấp bậc một lúc, từ trung sĩ nhất lên trung úy và sau đó được ân thưởng huy chương Danh Dự (Medal of Honor) cao quý nhất của người Hoa Kỳ. Bob nhắc nhở tôi “Batman! Đây là đôi bao tay thứ hai tôi cho anh trong vòng hai tuần lễ. Anh để mất nữa, về đây tôi sẽ đá đít!”… Tôi bật cười… Kỳ này về Bob Howard sẽ giết mình! Nhớ lại những lời của Bob Howard, làm tôi bớt lo, quên đi đám lính Bắc Việt nơi bãi đáp trực thăng.

        Câu chuyện chưa kết thúc ở đây. Chiếc trực thăng chở toán biệt kích Illinois vẫn phải bay về Việt Nam, đáp trong bãi đáp ngay trước cửa hầm quân y trên căn cứ hành quân tiền phương Dak To. Chiếc “slick” bay trên đầu ngọn cây khoảng 20 thước, hướng về biên giời Lào-Việt. Được khoảng hai phút, người xạ thủ đại liên M-60 vỗ lên đầu tôi, nói thật to (để át tiếng động cơ trực thăng) “Anh ta bị trúng đạn!”. Tôi đã “coi lại” những biệt kích quân trong toán của tôi, không ai “ăn đạn”, mặc dầu sàn trực thăng có nhiều lỗ đạn xuyên qua. Tôi lên tiếng “Ai bị trúng đạn?”. “Phi công”.

        “Như cứt!”. Tôi bỏ ba lô xuống sàn trực thăng, bước lên buồng lái. Viên phi công phụ (co-pilot, Peter pilot), chuẩn úy Gagnon ngồi ôm đùi phải bị trúng một viên đạn, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Tôi lấy cuộn băng cá nhân ra, băng tạm cho anh ta. Tôi định chính cho anh ta thêm một mũi morphine cho bớt đau, nhưng anh ta không chịu… vẫn phải lo nhiệm vụ lái chiếc máy bay trực thăng.

        Lúc mới nghe anh ta từ chối chích morphine, tôi chưa hiểu. Nhìn qua phiá phi công chính, chuẩn úy Mehlman, tôi hiểu ngay. Anh ta “vi phạm” luật phi hành của tiểu đoàn 52 Không Trợ (trực thăng của Lục Quân cũng được gọi như cấp tiểu đoàn, đại đội…), bay vào bãi đáp mà không kéo lớp kính che mắt xuống. Hậu quả, bị nhiều mảnh kính trước trực thăng (bị đại liên 50 của địch bắn) vỡ văng đầy mặt và đầu, khuôn mặt anh ta đầy máu. Nặng nhất là một, hai mảnh trúng mắt trái, chẩy máu và không thể nhắm lại được. Tôi lấy dụng cụ cứu thương (First Aid) lau mặt cho anh ta. Tôi không dám đụng đến con mắt trái, lau máu dính con mắt bên phải còn tốt, rồi trấn an anh ta… chắc không có gì đâu.

        Cuối cùng chiếc trực thăng về đến Dak To, hai viên phi công được y tá đem cáng ra bãi đáp khiêng vào hầm quân y. Toán biệt kích Illinois “Trơì đánh không chết”, gồm có tôi, Joel Haynes, và mấy biệt kích quân Thượng, không một người bị xây xát, trầy da tróc vẩy, lên một trực thăng về bộ chỉ huy Trung ở Kontum.

        Tôi xem sơ qua chiếc trực thăng, bị trúng đạn nhiều, nhiều lắm! Ít hôm sau, tôi liên lạc với viên phi công chính Steve Mehlmam được cho biết, chiếc trực thăng bị trúng 137 viên đạn. Tôi nghĩ con số đúng, vì ngoài khẩu đại liên .50, còn biết bao khẩu AK đưa lên trời… tha hồ bắn vào chiếc trực thăng.

Phần trả lời, bổ túc của Denison.

        Hai câu chuyện đã xa xưa bao nhiêu năm. Tôi vẫn còn cảm thấy hào hứng. Trí nhớ của anh vẫn còn rất tốt. Tôi xin bổ túc một vài điều. Mục tiêu cho toán biệt kích Illinois xâm nhập hôm đó là I-6, một chuyến hành quân “khẩn cấp, gấp rút”, do đó anh bạn không có thì giờ bay thám thính, quan sát mục tiêu trước (Trước khi xâm nhập, người trưởng toán thường bay quan sát khu vục xâm nhập (mục tiêu) trước để chọn bãi đáp cho trực thăng thả toán biệt kích).

        Anh đã nhờ tôi trong buổi sáng hôm đó “Chọn cho tôi một bãi đáp tốt”, trước khi tôi ra phi trường Kontum để bay trên chiếc phi cơ thám thính “Covey” (ngồi ghế sau).  Nhiệm vụ của tôi đi bay trên chiếc “Covey” ngày hôm đó và tôi đã chọn “lỗ hổng” giữa đám rừng già để trực thăng thả rơi xuống trên bãi đáp. Tôi biết “lỗ hổng” hơi hẹp nhưng không ngờ “kẹt” như vậy.

        Tôi vẫn theo dõi “lỗ hổng” đó trước khi trực thăng đưa toán biệt kích Illinois vào, và mừng rỡ khi chiếc trực thăng từ từ hạ xuống “lỗ hổng”. Các trực thăng võ trang Cobra bay vòng bao vùng cho chiếc “slick” chính bay vào… Tiếp theo là những tiếng đạn nổ vang trời như điạ ngục. Theo lời phi hành đoàn kể lại, chiếc trực thăng bị trúng 139 viên đạn, trong đó 59 viên là đạn đại liên .50… Ô! hấp dẫn lắm!

 Dallas, TX.

vđh

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Trở về cuộc sống đời thường

Howard E. Wasdi

Bài 16

Khi ra khỏi quân đội, cuộc sống của tôi đứng giữa ngã rẽ hoặc sẽ giàu có hoặc sẽ chết đói. Ở thời điểm vẫn đang nhận trợ cấp thương tật của Hải quân, tôi nhận được lời mời huấn luyện cho đội bảo đảm an ninh Thế vận hội mùa Hè 1996 ở Atlanta. Khi đó, 1.500 đô-la một tuần là một khoản tiền lớn đối với tôi, đặc biệt so với số tiền quân đội trả. Tôi giải ngũ và nhận công việc này. Trong thời gian này, tôi còn nhận huấn luyện cho Cục Quản lý Trại giam Liên bang (SORT) và nhiều cơ quan khác nữa. Công việc đòi hỏi tôi phải đi lại nhiều. Được trả 500 đô-la một ngày, tôi nghĩ mình sắp giàu đến nơi rồi.

Tính riêng trong mỗi phi vụ, số tiền tôi được trả công là rất hậu hĩnh, nhưng các phi vụ cứ đến rồi lại đi. Thời điểm giữa các phi vụ huấn luyện, tôi lại gặp khó khăn về tài chính. Với mong muốn có cuộc sống ổn định hơn, tôi đã gia nhập lực lượng cảnh sát Bãi biển phía bắc Miami, Hallandale, Broward, Florida, một địa điểm nổi tiếng với các cuộc đua chó và lượng lớn khách du lịch người Canada. Sau hơn sáu tháng huấn luyện, tôi trở thành sĩ quan cảnh sát.

Trong khi tuần tra, tôi đeo kính râm hiệu Revo, do công ty kính mắt Luxottica của Italia sản xuất theo công nghệ của NASA. Các loại kính mắt nhãn hiệu Ray-Ban và Oakley cũng do công ty này sản xuất. Kính râm Revos có thấu kính trong suốt, chống phân cực tốt nhất và chúng tạo cho người đeo cảm giác rất thoải mái. Do tôi là một tân binh nên một sĩ quan huấn luyện tân binh luôn đi cùng với tôi. Một hôm, tôi phát hiện một chiếc xe Cadillac bị đánh cắp đang chạy phía trước. Tôi yêu cầu lái xe dừng lại. Một chiếc xe tuần tra khác cũng tham gia vào cuộc truy đuổi và chúng tôi bật còi hú của cảnh sát lên. Chiếc xe bị đánh cắp rê vào bên đường. Ngay khi chiếc xe dừng, một thanh niên da đen trạc tuổi 17 hoặc 18 gì đó nhảy ra khỏi xe và bỏ chạy. Chúng tôi dừng xe ngay phía sau chiếc xe bị đánh cắp. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh nhảy ra khỏi ghế và chạy về phía chiếc xe Cadillac bị đánh cắp và bắt tên lái xe, một thanh niên béo phì. Mở cửa bên ghế lái, tôi chạy ngay khi chân vừa chạm đất.

Tôi đuổi theo tên vừa bỏ trốn. Nhảy qua bụi cây và hàng rào. Trong khi rượt đuổi, chiếc dùi cui và bộ đàm của tôi rơi ra lúc nào không biết. Nhưng chiếc kính râm thì không bị rơi. Chúng tôi chạy qua đám đông và chạy vượt sang khu phố bên cạnh. Đột nhiên, tôi mất dấu tên bỏ trốn. Một người đàn ông đang tưới cỏ ở chiếc sân trước chỉ về phía sau nhà của ông. Tôi từ từ tiến về phía sau ngôi nhà, nhưng tên bỏ trốn đã nhìn thấy tôi và tiếp tục bỏ chạy. Cuối cùng, khi hắn đang chạy băng qua đường, bất thình lính tôi xuất hiện, vật hắn ngã xuống đường. Một sĩ quan cảnh sát đang lái chiếc xe zeep dừng lại giúp tôi. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi bắt được tên trộm này. Viên sĩ quan này nói: “Đây là cuộc rượt đuổi dài nhất tôi từng biết.”

Nếu tên trộm không phải vừa chạy vừa kéo quần thì có lẽ hắn đã tuột khỏi tay tôi rồi. Tôi bắt hắn đứng dậy sau khi đã còng hai tay lại, chiếc quần của hắn lại tụt xuống. Tôi lấy chiếc còng khác mắc khuy quần hắn vào chiếc còng trên tay hắn để chiếc quần không tụt xuống. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh đi cùng tôi lái xe tuần tra đến. Tên trộm quay đầu lại và nhìn vào biển tên của tôi “Ngài sẽ không đánh tôi chứ, Sĩ quan Wasdin?” “Tất nhiên là không. Tại sao cậu lại hỏi thế?”

“Tôi chỉ nghĩ rằng đó là những gì cảnh sát hay làm. Đánh đập chúng tôi. Đó là lý do tại sao tôi đã bỏ chạy.” “Này, cậu nghĩ sai về cảnh sát rồi”. Khi tôi chuẩn bị đưa cậu bé lên xe, một sĩ quan khác đã dùng tay đẩy cậu bé vào xe. Tôi vội quát lên: “Này, buông tay khỏi tù nhân của tôi. Nhớ đừng có chạm tay vào cậu bé thêm một lần nào nữa.”

Sau này tôi còn tịch thu được một số vũ khí từ vài gã lang thang. Mọi người dặn tôi phải cứng rắn hơn với bọn trẻ. Tôi hiểu điều đó, nhưng tôi không tuân theo nguyên tắc đó. Hóa ra kẻ đánh cắp xe là tên lái xe chứ không phải cậu bé bỏ chạy. Cậu chỉ là trẻ lang thang được chủ thuê khoảng hai mươi hoặc ba mươi đô-la một ngày, có nhiệm vụ đưa xe bị đánh cắp đến người mua và mang tiền về cho chủ. Cậu bé này làm thuê cho ba bốn ông chủ gì đó. Những người chủ chỉ thuê những đứa trẻ tuổi vị thành niên để tránh bị khởi tố như khi thuê những người đã trưởng thành.

Tôi để hai tên này ngồi sau xe của tôi, rồi lái xe đi. Tên bỏ chạy hỏi tên mập lái xe: “Tại sao mày không chạy?” Tên mập cãi lý: “Ừ, mày vẫn bị ông cảnh sát da trắng này bắt đó thôi. Mày giải thích sao về điều này?” “Đây không phải là người đàn ông da trắng bình thường. Mỗi lần tao quay đầu lại, đều nhìn thấy ông ta ở ngay phía sau.” Tôi mỉm cười.

Tại Đồn Cảnh sát Hallandale, tôi làm một số thủ tục đối với hai nghi can. Sau đó, tôi đưa chúng lên Sở Cảnh sát Broward để giam giữ chúng. Tôi thấy bàn tay và đầu gối của tên bỏ chạy bị rách khi bị tôi vật ngã trên đường. Hắn ta cần được khâu một vài mũi. Tôi đưa hắn đến bệnh viện.

Quá trình làm thủ tục khám bệnh mất tới 45 phút. Đã quá giờ ăn trưa, tôi còng tay hắn vào một hàng rào và đến quán McDonald trong bệnh viện mua đồ ăn. Tôi trở ra với suất ăn sẵn 25 đô-la. Cậu bé nhìn chằm chằm vào xuất ăn của tôi.Tôi hỏi “Cháu có đói không?” “Dạ, không đói lắm.”

“Lần cuối cháu nhét một cái gì vào dạ dày là khi nào?” “Cháu ăn súp từ tối hôm qua.”

Trời đất! Tôi quay trở lại quán ăn McDonald và mua cho cậu bé suất ăn như của tôi. Khi trở ra, tôi hỏi “Nếu bây giờ chú tháo còng tay ra để cháu ăn như một con người, liệu cháu có bỏ chạy nữa không?” “Không, thưa ngài Sĩ quan Wasdin. Cháu hứa với chú, cháu sẽ không chạy nữa. Cháu hứa đấy!” “Cháu cũng hiểu đấy. Chú sợ chạy lắm rồi. Nếu cháu bỏ trốn lần nữa, chú có thể sẽ bắn cháu.” Chúng tôi cười khúc khíc.

Tôi tháo còng tay cho cậu bé. Cậu bé cám ơn tôi. Cậu ta há miệng rất to ngoạm lấy miếng bánh. Sau đó, tôi quay lại quầy bán đồ ăn và mua thêm thức ăn cho cậu bé. Sau khi ăn xong, chúng tôi ngồi đợi ở phòng cấp cứu. Cậu bé nói “Chú chẳng giống các cảnh sát khác chút nào.” “Có nhiều cảnh sát như chú hơn là cháu nghĩ đấy.”

“Cháu chưa bao giờ nghĩ một sĩ quan cảnh sát sẽ mua cho cháu một cái gì đó để ăn.”

“Cháu biết những gì? Nếu cháu đến bên các nhân viên cảnh sát và xin họ đồ ăn, họ sẽ cho cháu ngay thôi. Họ có thể cho cháu một gói bánh hoặc một đồ ăn gì đó, nhưng chắc chắn họ sẽ không cho cháu tiền đâu.”

“Cám ơn chú.”

Cậu bé rất lịch sự, không ngớt lời cám ơn tôi. Có vẻ đó là một cậu bé tốt nhưng bị bạn bè xấu rủ rê. Tôi cảm thấy rất vui khi giúp cậu bé theo cách đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn bởi chẳng biết với tình cảnh của cậu thì cậu sẽ ra sao. Sau này, cứ khi nào tôi nhìn thấy cậu bé trên đường, cho dù đang làm gì chăng nữa, cậu cũng dừng lại vẫy tay chào tôi. Đôi khi, cậu bé còn chạy đến nói chuyện với tôi nữa.

Khoảng một hai tuần sau, tôi phải trả giá cho lần rượt đuổi bộ đó. Cổ và phần thắt lưng trở xuống đau khủng khiếp. Một cảnh sát ở Bắc bãi biển Miami khuyên tôi nên đến bác sĩ nắn xương khớp chữa trị. Lúc này tôi vô cùng tuyệt vọng. Tôi chợt nhớ đến bác sĩ nắn xương khớp mà ngài Đại sứ Negroponte từng bảo tôi. Cuối cùng tôi cũng đến gặp người thầy lang nắn xương khớp. Ông bảo tôi “Để thuận lợi cho đi lại, các bác sĩ phẫu thuật đã lắp thiết bị xoay chân phía ngoài cho anh. Thiết bị này ảnh hưởng đến hông phải của anh. Anh bị đau từ khung xương chậu đến cổ. Đó là lý do tại sao anh ngủ không ngon giấc và những cơn đau đớn liên tục tấn công anh.”

Sau ba lần nắn chỉnh, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tôi ngủ một mạch từ tối đến sáng. Tôi tiếp tục đến nắn xương tại đây hai lần một tháng. Kết quả thật kỳ diệu. Tôi đã trở lại được với cuộc sống trước kia của mình. Ở thời điểm đó, tôi nghĩ các bác sĩ nắn xương khớp giống như những người trị bệnh bằng mát xa hay tương tự như vậy. Tôi không hề biết, họ đã phải học hành rất nghiêm túc để trở thành bác sĩ chuyên ngành này. Là một sĩ quan cảnh sát, tôi không còn bắt gặp đứa trẻ nào với những dấu tích của những trận đánh đập như đứa trẻ tôi gặp hồi mới nhận công tác. Mà nếu có gặp, chắc hẳn tôi cũng sẽ chẳng hỏi nhiều. Tôi sẽ chuyển đứa trẻ ngay cho các cơ quan có thẩm quyền và cha của đứa trẻ hẳn sẽ phải vào nhà lao thăm con. Về mặt tài chính, tôi nhận thấy cũng không thể tiếp tục công việc này được nữa. Với mức thu nhập 45.000 đô-la một năm, hẳn sẽ giàu to nếu sống ở Jesup, Georgia nhưng đây lại là Hallandale, Florida. Công ty sản xuất áo giáp cá nhân cho quân đội và cảnh sát hàng đầu thế giới Point Blank Body Armor thuộc Tập đoàn PACA ngỏ ý mời tôi về làm việc cho một chi nhánh của công ty ở Tennessee. Thu nhập 75.000 đô-la một năm quả là một con số vô cùng lớn, đặc biệt là ở Tennessee. Vì vậy, tôi bỏ ngành an ninh và tiếp nhận công việc mới này. Sống trong một thị trấn nhỏ, tôi thấy mình thật giàu có. Blake đã ổn định việc học hành ở trường mới và cuộc sống cứ thế êm ả trôi.

Là một phần trong chương trình quảng cáo sản phẩm áo giáp, Công ty giao cho tôi nhiệm vụ dạy các chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) cho Kane Kosugi, một ngôi sao võ thuật người Mỹ gốc Nhật để vào vai trong chương trình trên truyền hình Nhật Bản mang tên Kinniku Banzuke (Những tài nghệ mới). Kane mặc một chiếc áo của Đội Thực thi Nhiệm vụ Đặc biệt (SMART) do tôi thiết kế. Anh ta là một người luyện tập chăm chỉ và tiếp thu rất nhanh. Công việc ở Point Blank đòi hỏi tôi phải đi lại khắp thế giới ở: Abu Dhabi, Dubai, Paris và bất cứ nước nào có hợp đồng lớn đối với công ty. Khi tôi đi công tác, Blake ở cùng với bạn bè. Khi Point Blank thay đổi bộ máy lãnh đạo, tôi không thích kiểu quản lý mới này.

Tôi trở lại Jesup để Blake và tôi được gần gũi hơn với con gái tôi, Rachel. Tôi lên kế hoạch huấn luyện cho lực lượng cảnh sát các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) theo hợp đồng của Thụy Sĩ. Bạn tôi, Tom McMillan, đã chuẩn bị một sân tập cho tôi ở Folkston, Georgia để tổ chức huấn luyện. Hợp đồng này thật béo bở. Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ kiếm được 5.000 đô-la một tuần. Tôi đang mong đợi đến giây phút này. Ngày 11 tháng Chín năm 2001, chúng tôi đã hoàn tất những khâu cuối cùng của kế hoạch và chuẩn bị bắt đầu tiến hành thì xảy ra vụ khủng bố vào Tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại thế giới. Sự kiện này đã thay đổi tất cả, làm cho kế hoạch huấn luyện phải tạm hoãn. Một giải pháp tạm thời được đưa ra trước khi vấn đề có thể được giải quyết. Ron, anh trai tôi tìm cho tôi công việc làm nhân viên bán hàng cho hãng xe GMC.Tôi đồng ý nhận việc này để duy trì cuộc sống. Thật ngạc nhiên, số tiền tôi kiếm được từ việc bán xe còn nhiều hơn tất cả những công việc tôi từng trải qua. Khách hàng yêu quý tôi. Thế rồi Blake vào học trung học.

Tôi thậm chí còn bắt đầu hẹn hò trở lại. Cuộc hẹn hò đầu tiên là với một người lúc nào cũng theo dõi tôi. Nghĩ lại thấy thật buồn cười. Cô ta thường gọi điện cho tôi và nói “Anh thường chỉ mất 20 phút để từ nơi làm việc về nhà. Hôm nay anh mất tới 35 phút. Chuyện gì đã xảy ra vậy?”.

“Em nói nghiêm túc đấy chứ?” Một tối, cậu em họ tôi Sandy vừa cười vừa nói với tôi: “Cô ấy đứng ở bụi cây bên ngoài nhìn vào cửa sổ nhà anh đấy”. Tôi phì cười vì chuyện đó.Sandy cũng cười theo. Cảm thấy khó chịu về việc này, tôi nghĩ mình phải đi kiểm tra mới được. Cô gái hay theo dõi tôi không đứng ở bụi cây bên ngoài nhà mà ngồi trong xe của cô đỗ cách nhà tôi một vài nhà để tiện bề theo dõi tôi. Tôi đã hẹn hò không đúng người. Tôi vô cùng thất vọng. Một lần khác, tôi hẹn hò với một người phụ nữ rất hấp dẫn. Ngay giây phút gặp mặt, ham muốn trong tôi trỗi dậy, tôi muốn ăn nằm ngay với cô ta. Trong khi ăn tối tại một nhà hàng, tôi hỏi: “Sở thích của em là gì vậy? Gần đây em có đọc cuốn sách hay nào không?”

“Kể từ khi tốt nghiệp trung học phổ thông, em chẳng bao giờ đọc sách cả.” “Em có sở thích gì không?” “Em thích nghe chương trình phát thanh của cảnh sát và thích xem chương trình Đô vật thế giới.” Tôi nghiêm mặt lại và nói “Vậy à”.

“Vâng. Chương trình phát thanh của cảnh sát giúp em gần gũi với cộng đồng hơn. Qua đó, em biết ai đang gặp rắc rối và nơi nào sẽ có cảnh thú vị để xem. Nếu cảnh sát chuẩn bị tiến hành bắt giữ hay diệt một ổ tội phạm lớn, em sẽ đến xem.”

Trời đất. “Và sở thích khác của em là gì?”

“Chương trình Đô vật thế giới. Em thích đô vật Stone Cold Steve Austin.”

Giá như đừng nói gì, thì cô ấy quả là cô gái tuyệt vời. Sau bữa tối, tôi đưa cô ta về nhà nhưng chẳng buồn hôn tạm biệt cô ta. Cô ta rất buồn. Tôi tự hứa với bản thân sẽ không có bất kỳ một cuộc hẹn hò nào nữa. Ở hạt County chẳng có cô gái nào phù hợp với tôi cả. Vào một buổi chiều thứ Bảy, ngày 19 tháng Một năm 2002, tôi về nhà với hai gói thịt gà mua ở Nhà hàng gia đình Sybil. Thịt gà ở nhà hàng này rất ngon. Có những người sẵn sàng lái xe hàng trăm cây số chỉ để đến thưởng thức món thịt gà ở đây. Blake và tôi đang chuẩn bị ăn thịt gà và xem bộ phim O Brother, Where Art Thou? tôi vừa thuê về thì cậu em họ Edward gọi điện cho tôi: “Tối nay, Deidre và em sẽ ra ngoài chơi. Cô ta có một người bạn và em muốn anh ra ngoài cùng”. Tôi biết đây hiển nhiên là kiểu sắp xếp cho một cuộc hẹn hò. Tôi trả lời dứt khoát “Không.”

Hai phút sau, Deidre gọi điện tới nài nỉ “Howard, chiều lòng tụi em đi. Em chưa bao giờ nhờ anh giúp điều gì cả. Debbie đã từng có một cuộc hôn nhân tồi tệ và cô ta sẽ đi cùng với chúng em nhưng cô ta không muốn làm người thừa. Anh chỉ đến với bọn em cho có bạn có bè thôi. Anh là người luôn thích vui vẻ mà. Em sẽ không bao giờ nhờ anh làm bất kỳ điều gì khác nữa đâu. Em hứa, chỉ một lần này thôi.”

Trò gạt người đây mà. Tôi rất tức giận nhưng vẫn bỏ hộp thịt gà xuống và nói “Blake, bố có cuộc hẹn phải ra ngoài đây.” “Thật vậy à? Con tưởng bố sẽ không bao giờ hẹn hò nữa.” “Ừ, bố cũng có muốn đâu.”

Edward và Deidre đưa tôi đến căn hộ của Debbie. Deidre giới thiệu: “Debbie, đây là người tôi từng kể với cậu và tôi muốn cậu gặp.” Deidre làm cả Debbie và tôi bối rối. Bốn chúng tôi đi chung một xe. Tôi hành động như kiểu, Này, tôi là Howard Wasdin. Cô em cần phải hạ mình trước tôi. Phải thể hiện sự tôn trọng đúng mực với tôi. Cô ta tỏ thái độ hoàn toàn ngược lại như kiểu. Này, tôi chẳng thèm quan tâm anh là ai.

Ồ, nhưng thật khác lạ, cô ta ăn nói thật nhã nhặn và lịch sự. Tôi băn khoăn chẳng biết cô ta xuất thân từ đâu? Hai chúng tôi đã có một bữa tối tuyệt vời, cười nhiều và nói chuyện rất tâm đầu ý hợp.

Tôi vẫn nhớ như in lần đầu tiên tay tôi chạm vào người cô ấy khi chúng tôi đang xem phim cùng Deidra và Edward. Ngay lập tức, tôi cảm nhận một luồng điện chạy qua người cả hai. Chúng tôi tiếp tục cuộc vui thêm vài phút nữa. Sau đó, tôi lái xe đưa Debbie về nhà. Khi chúng tôi đến nhà cô ấy, chúng tôi tiếp tục trò chuyện trong nhà. Cuộc nói chuyện đầy ắp tiếng cười. Tiếng cười dẫn đến sự kết nối, sự kết nối đưa đến nụ hôn và nụ hôn làm tim tôi muốn nổ tung. Tôi quên cả thời gian, nhưng tôi vẫn nhớ nếu là một quý ông lịch sự thì tốt nhất là nói lời chào rồi ra về. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy như đất dưới chân sắp sụp. Cả hai chúng tôi đều không có ý định tìm kiếm một cuộc hẹn hò trong lần gặp này nhưng ông tơ bà nguyệt đã xe duyên chúng tôi.

Cô ấy tiễn tôi ra cửa. Trước khi ra về, tôi không quên nói “Anh đã có một buổi tối thật tuyệt. Cám ơn em.”

“Em cũng vậy.” Tôi hỏi: “Tại sao em không gọi cho anh vào ngày mai chứ?” Tôi lớn lên ở Screven, Georgia dưới sự dạy bảo nghiêm khắc của cha mẹ. Cha mẹ tôi luôn dạy tôi phải biết cách cư xử lịch sự như một quý ông. Hành động vừa rồi chẳng ra chất quý ông chút nào cả, mà nó sặc mùi Howard Wasdin. Tôi chưa bao giờ phải cầm điện thoại gọi điện cho một người phụ nữ nào. Họ đều gọi cho tôi trước. Ngay cả người phụ nữ đứng trước mặt tôi này cũng sẽ phải làm vậy cho dù cô ta có được nuôi dạy để trở thành một quý bà.

“Em không biết anh được nuôi dạy như thế nào nhưng mẹ em dạy em không được gọi điện cho đàn ông. Nếu anh muốn nói chuyện với em, anh sẽ phải gọi điện cho em trước.” Nói xong cô ấy đóng sầm cửa lại.

Tôi thực sự bị tổn thương. Trên đường lái xe về nhà, mặc dù giới hạn tốc độ là 90km/h nhưng tôi phóng rất nhanh, có lẽ vượt giới hạn tốc độ khoảng 70 km. Mặc dù, tôi được nuôi dạy để trở thành một quý ông nhưng tôi lại trở thành người quá tự phụ. Cô ấy hoàn toàn đúng. Có chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Tôi biết, lẽ ra tôi nên nói “Anh là Howard Wasdin, hãy gọi điện cho anh nhé!” Sau này, tôi càng tôn trọng Debbie hơn.

Cả ngày Chủ nhật tôi ngồi đợi điện thoại từ Debbie. Nhiều lúc, tôi đã cầm máy lên định gọi điện cho cô ấy nhưng rồi lại không, bụng thầm bảo, cô ấy sẽ gọi cho mình ngay thôi mà. Cô ấy đã không gọi điện.

Sáng thứ Hai, tôi gọi điện cho Debbie. Chúng tôi đi ăn trưa cùng nhau. Vào cuối tuần, chúng tôi hẹn hò nhau. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi đều hẹn hò cho tới khi kết hôn. Mặc dù, tôi từng thề sẽ không bao giờ chui đầu vào rọ lần nữa nhưng ngày 17 tháng Một năm 2003, anh trai Ron đã đứng ra tổ chức lễ cưới cho Debbie và tôi. Giờ đây, mỗi khi gặp Ron ở nơi công cộng, anh đều rất vui khi thấy chúng tôi hạnh phúc bên nhau và anh thường đùa “Khi tổ chức lễ cưới cho hai em, anh đã sử dụng loại keo tốt nhất đấy.”

Doanh số bán xe của tôi không đạt yêu cầu mặc dù những người tốt bụng ở Wayne luôn tìm đến tôi mua xe, thể hiện sự yêu mến tôi. Họ biết tôi lớn lên trong cộng đồng của họ và rất trân trọng thời gian tại ngũ của tôi. Tôi bắt đầu tính đến việc học tập để trở thành bác sĩ nắn xương khớp. Tôi vào làm tại một nhà máy hóa chất. Người bạn cũ trong lực lượng CIA là Kền Kền giới thiệu cho tôi một công việc tại một công ty an ninh ở Braxin. Tuy nhiên tôi đã từ chối vì thấy rằng công việc này không thể kéo dài khi tôi có tuổi. Tháng Mười năm 2004, Debbie và tôi đã nói chuyện với đại diện Bộ Cựu Chiến Binh của tôi. Họ đồng ý trả tiền học phí cho tôi nếu tôi theo học nghề nắn xương khớp. Debbie và tôi đến thăm trường đại học chuyên ngành cột sống, xương, khớp. Trên đường về, tôi thấy có nhiều lý do khiến tôi khó có thể theo học ở đây. “Tôi không thể vừa làm việc vừa đi học trong giờ hành chính. Chúng tôi sẽ phải thắt chặt hầu bao. Khóa học này mất rất nhiều thời gian. Không khéo tôi phải bỏ học dở chừng cũng nên. Lúc này tôi rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.”

Debbie tức giận nói: “Nửa phần đời còn lại của anh sẽ trong khốn khổ – không bao giờ cảm thấy mãn nguyện, không bao giờ tìm được công việc mà anh yêu thích nữa. Nhưng nếu anh theo học ngành này. Càng bắt đầu sớm bao nhiêu, anh càng hoàn thành sớm bấy nhiêu. Anh sẽ cảm thấy hạnh phúc với công việc của mình. Còn nếu không, bốn năm nữa khi nhìn lại, anh sẽ nói: ‘Nếu hồi đó mình đi học thì giờ mình đã tốt nghiệp rồi.’” Ôi, tôi đã lấy được người vợ tuyệt vời.

Tháng Một năm 2005, tôi bắt đầu học ngành nắn xương khớp tại trường Life University ở Marietta, Georgia. Mặc dù tôi rất thích chuyên ngành nghiên cứu của mình nhưng một phần nhỏ trong số bạn cùng lớp của tôi có lối suy nghĩ rất lập dị. Số người này luôn phản đối bác sĩ y tế, kim tiêm và thuốc men. Thậm chí một giáo sư của trường còn nói với chúng tôi “Tôi sẽ không bao giờ tiến hành hồi sức cấp cứu hay hà hơi tiếp sức cho những người đang sắp chết.” Ông sẽ chỉ nắn xương cho những bệnh nhân sắp chết và tất cả chỉ có vậy thôi. Có một cặp vợ chồng, cả hai đều là bác sĩ nắn xương khớp, đã quen nhau và kết hôn khi còn đang học. Ba năm sau khi tốt nghiệp, người vợ qua đời vì bị nhiễm trùng tai do họ từ chối chữa trị theo y học hiện đại. Đối với trường hợp này, chỉ một liều kháng sinh là đã đủ để cứu sống người vợ rồi. Họ luôn giữ quan điểm rằng bác sĩ nắn xương khớp chỉ có một phương châm duy nhất là trị bệnh cứu người và dựa vào sức mạnh nội sinh của mỗi người. Họ làm tôi nhớ đến thầy mo, người không chữa được bệnh cho cậu bé tôi từng giúp đỡ ở Somali. Đa số bạn cùng lớp và các giáo sư đều không có lối suy nghĩ này và đa số các bác sĩ nắn xương khớp cũng không có lối suy nghĩ trên. Đó chỉ là một phần trăm nhỏ bé mang lại tiếng xấu cho những người hành nghề bằng liệu pháp nắn xương khớp.

Khi tôi đang học năm cuối, bố dượng tôi mắc bệnh xơ gan cổ trướng. Bụng của ông cứ phình to lên như một quả bóng.

Thép đen -Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Một phương pháp liên lạc thần kỳ!

Đặng Chí Bình

Bài 20

Buổi chiều nay, sau khi hết giờ làm việc. Tôi đang ngồi khoác chân, dựa tường, gõ liên lạc với chị Bắc (chắc cũng đang ngồi như tôi, chỉ cách nhau một bức tường), bất chợt, cửa sổ nhỏ mở.

Tôi hơi giật mình. Khi tôi nhìn lên, cửa sổ con đã đóng, lại có tiếng mở khóa cửa lớn. Tôi chồm vội xuống đất, cứ tưởng là chúng đã phát hiện ra tiếng gõ liên lạc giữa buồng tôi và buồng số 6; nhất là người mở cửa lại là tên Trì, Phó giám thị. Cái mặt y đầy thịt. Cái đầu cắt tóc ngắn. Hai cái môi xám xịt, ngọ ngoạy dưới cái mũi vừa to, vừa sần sùi. Nhất là hai con mắt y trắng nhờn nhợt. Y đứng nhìn tôi một lúc, rồi lại đưa mắt nhìn khắp buồng một lượt.

Tôi thấy rõ tim mình đập mau hơn, chẳng hiểu y muốn gì mà từ nãy cứ lừ lừ chẳng nói. Mãi một lúc sau, với cái giọng miền Trung quả tạ, y mới lên tiếng:

– Anh có cái gì mang ra hết đi!

Tôi cảm thấy hơi hụt hẫng vì sự bất ngờ này. Thật ra, trong tù tôi cũng đã dọn buồng nhiều lần. Nhưng lần này, tôi thấy tiếc nuối cái buồng. Thứ nhất, chính từ căn buồng này, tôi được tha cùm; thứ hai, số 6 và số 4 là hai người bạn tôi mới quen, chưa biết hết về nhau đã phải chia tay. Chia tay không một lời từ biệt. Nhất là, với số 6, người bạn tù mà tôi tin là cuộc chia tay này sẽ làm chị buồn nhiều hơn tôi. Vì chị là đàn bà, lại có tuổi rồi; chắc rằng nước mắt, sẽ còn phải chảy nhiều nữa.

Tôi muốn gõ mấy cái để như lời từ biệt số 6; nhưng tên Trì cứ đứng nhìn, nên tôi cứ phải vờ tìm cái nọ cái kia để kéo dài thời gian. Tôi cứ vờ như xong rồi, ôm bọc đi ra, tới gần cửa lại sực nhớ, quay vào lấy cái bàn chải, rồi tới cái lược, v.v…mục đích mong y đi ra, để tôi gõ vài cái gọi là giã biệt, hoặc vĩnh biệt (?) người đồng chí, và đồng cái nghề “hang một lỗ” này. Chắc y cũng đã hơi sốt ruột nên quay ra. Y vừa quay người, tôi lẹ tay gõ vào tường mấy cái nhè nhẹ.

Tôi ôm đổ chăn chiếu ra khỏi cửa, đừng chờ y chốt và khóa buồng số 5 lại. Tôi đang lắt lay, thấp thỏm, không biết y sẽ đưa tôi đi phương nào? Thì không ngờ! Tại sao lại có thể có hai cái không ngờ xảy ra chỉ trong chốc lát: Y qua ra mở buồng số 11! Buống số 11 lại…đối diện với buồng số 6. Nhưng, một điều khác cũng quan trọng không kém đối với tôi là, buồng số 11 nhìn ra được ngoài sân xà lim. Đã từ hơn một năm nay ở xà lim I này, tôi mơ ước được chuyển qua phía dẫy bên này, có được nhiều ánh sáng vì cửa sổ to phía sau, nhìn ra sân xà lim không bịt gỗ, và quan trọng là được nhìn cái sân, được nhìn cảnh vật bên ngoài (dù rằng cái bên ngoài cũng vẫn là ở trong tù). Nhìn toàn bộ cây bàng, và tôi có thể sẽ biết mọi bộ mặt trong xà lim, một cách rõ ràng nhờ cái sân này; vì buồng nào chả cần phải tắm giặt và rồi phải ra sân phơi quần áo.

Tôi đã vào buồng rồi, lòng vẫn còn bồng bềnh, khấp khởi trong nỗi vui của đường đi rộng mở dần. Không hiểu số 6 có biết tôi được dọn sang phía đối diện không?

Có lẽ, khi chúng nhìn bản sơ đồ giam người ở xà lim I, chợt thấy số 5 và 6 là hai tên gián điệp cùng của Sài Gòn, nên đã nảy ra ý nghĩ là tại sao lại để cạnh nhau “nhỡ chúng liên lạc với nhau bằng “morse” thì sao!”. Vì vậy, chúng đã chuyển tôi sang dẫy đối diện.

Từ ngày tôi vào Hỏa Lò đến nay, ngoài những chuyện to lớn là tự tử và trốn tù ra, những nội quy như liên lạc, hay chuyện trò với các buồng khác, hầu như chúng không hề thấy tôi vi phạm. Hơn nữa, cũng đã gần 4 năm, chúng hành tôi ở những chỗ tăm tối rồi. Bây giờ, chúng cho tôi ra ánh sáng một tí kẻo tôi “củ” một cách vô ích, trong khi tôi còn phải là một con vật, để lao động trả nợ sau này cơ mà.

Đối với tôi, tất cả những chuyện gì đó, sau hãy xét; bây giờ, tôi được chuyển sang đây, khác nào như cá lại mọc thêm cánh, chim lại còn biết lặn xuống nước nữa. Tôi đang vừa vẩn vơ nghĩ ngợi, vừa quét dọn cho sạch sẽ cái buồng (vì đây là nơi tôi vừa tập thể dục, vừa đi bộ giải trí hàng ngày), chợt có tiếng cán bộ từ ngoài cổng xà lim vào.

Tiếng mở cửa sổ nhỏ, từ buồng số 1 đi dần vào tới buồng tôi. Tôi đã biết y là cán bộ Vân, béo ụt ịt, người miền Nam, đang đi kiểm tra người để nhận bàn giao phiên trực. Y mở cửa con rồi, chỉ khép lại chứ không cài chốt phía bên ngoài. Có lẽ để thuận tiện cho y khi đi ‘tua’ khẽ mở ra, không cần phải mở chốt, không có tiếng động, kiểm tra mà tù không biết.

Tôi chờ cho tới khi y đi ra. Thậm chí, tôi nghe đoán được tiếng bước chân y đi tới đâu, tôi trèo ngay lên sàn nhìn theo phía sau lưng y. Lúc ra khỏi cổng, y còn khép cổng lại.

Bây giờ, phải nói, tôi làm chủ tình hình ở xà lim này. Dù vậy, như tôi vừa trình bày ở trên, trong xà lim sẽ có một vài người nằm vùng, kiểu khổ nhục kế. Nếu không biết điều này, không những bị chân vào cạm, lại còn nguy hiểm hơn vì đôi khi thò cái tư tưởng thật của con tim mình ra, mâu thuẫn với những điều mình đã khó nhọc che dấu và khai báo từ trước tới nay. Để một vài ngày nữa đã, tôi phải kiểm soát được rõ ràng ai là địch, ai là bạn hãy hay.

Ngay tối hôm đó, tôi thử dùng cách liên lạc không tiếng nói. Tấm sắt nhỏ che chiếc cửa con khép hờ, ai không biết, tò mò muốn nhìn ra ngoài, lấy ngón tay mở rộng ra. Đẩy ra thì được, nhưng muốn khép lại như cũ thì ngón tay không thể kéo lại được. Cán bộ trở lại, thấy cánh cửa mở to, biết ngay là tù đẩy ra, sẽ chửi mắng, nạt nộ. Nhưng, nếu khôn lanh một tí, cứ tha hồ đẩy rộng ra, nhìn thoải mái. Nghe tiếng cán bộ sắp vào, dùng một cọng chổi thanh hao (buồng nào chả có chổi) có một cái cành, để làm cái ngoéo kéo lại. Hoàn toàn chủ động, đẩy ra kéo vào theo ý mình.

Do đó, tôi đẩy thẳng ra, vừa để nhìn rõ, lại vừa đưa mũi ra hít không khí bên ngoài trong lành hơn là trong buồng. Tên Vân, người miền Nam, không được quái lắm, cho nên khi kiểm tra phía dẫy buồng đối diện, y mở toác cửa sổ ra. Còn phía bên tôi, khép hờ. Bây giờ, tôi đẩy ra, hai bên cửa sổ nhìn thông thống sang nhau, chỉ cách một lối đi chừng 2 thước. Tôi nhìn sang buồng số 6 thấy im ắng không động tĩnh gì. Như thế này, chứng tỏ chị Bắc không hề biết tôi lại sang buồng đối diện. Có thể vì thấy tôi đi, chị Bắc buồn bã quá, không chịu theo dõi nghe ngóng. Phần khác, cũng có thể chẳng phải ai cũng tò mò tinh quái như nhau.

Tôi chõ mồm ra ho mấy tiếng, rồi nhìn qua lỗ cửa sổ nhỏ mỗi bề 18 cm vào buồng số 6. Vẫn không hề thấy động tĩnh gì. Cũng vì từ trước tôi không ho, nên số 6 không biết tiếng ho của tôi. Tôi không gọi, vì không muốn các buồng chung quanh biết tôi định liên lạc với số 6. Tôi đi bách bộ hàng nửa tiếng đồng hồ, nhìn sang bên số 6, vẫn lặng như tờ. Hàng tiếng đồng hồ sau, cứ loay hoay bực dọc mãi, tôi đã kéo cửa sổ nhỏ lại, đi nằm, thoáng nghe tiếng kéo bô ở bên buồng số 6. Tôi liền bò nhổm dậy, lại đẩy cửa sổ ra, nhìn sang, thấy thấp thoáng một cánh tay trần với một khoảng vai có cái áo lót màu đen. Tôi định ho gọi, nhưng cảm thấy hơi bất lịch sự, nên lại thôi, đành chờ. Chắc rằng, thế nào trước khi vào màn, chị Bắc thế nào cũng phải nhìn ra cửa sổ nhỏ một lần, vì cửa sổ đang mở toang toác ra như vậy. Lúc đó, chắc chị sẽ giật mình khi thấy bộ mặt của tôi, chỉ cách có 2 mét. Thật đúng là đàn bà, chị loay hoay một lúc, rồi giơ tay nhấc cánh màn lên, định chui vào ngủ, không hề nhìn ra ngoài!

Không được! Tôi đành chõ mồm ra ho gọi. Cũng phải ho hai, ba tiếng, tôi mới thấy chị Bắc quay mặt ra. Khi nhìn rõ tôi, phản ứng đầu tiên của chị là luýnh quýnh, rồi vội lấy chiếc áo khoác lên người, làm cho tôi buồn cười. Thế rồi, chị Bắc nét mặt tươi rói, áp sát mặt vào cửa sổ con, cười, nhìn tôi bằng ánh mắt long lanh, như thể lâu ngày gặp được người bạn thân.

 Trong cảnh xà lim vắng lặng, chúng tôi nhìn nhau, không thốt một câu, vì không muốn cho buồng khác biết. Nhưng, chỉ bốn mắt nhìn nhau, mà cũng nói được rất nhiều, tôi cảm thấy như bao nhiêu nỗi niềm ứ đầy trong lòng được vơi bớt.

Tôi cũng hiểu là chị Bắc hoàn toàn tin tưởng nơi tôi đã tinh quái để gác cán bộ, nên thái độ của chị rất bình tĩnh, chị áp mặt vào khung cửa sổ nhỏ mà không sợ hãi gì cả. Như hai người câm điếc, tôi dùng tay ra hiệu ý muốn nói với chị Bắc là: Ngày mai, khi nào tôi “ho 2 tiếng, chị đứng lên sàn” bên đó, tôi cũng sẽ đứng lên sàn bên này, rồi tôi sẽ chỉ chị cách nói chuyện. Chỉ có bấy nhiêu ý, mà hai tay tôi, mắt tôi, vừa múa máy, vừa nháy nhó, mãi chị Bắc mới hiểu. Cứ thỉnh thoảng tôi lại ho hai tiếng, mỗi khi tay phải làm lại, động tác chỉ trỏ như lần trước.

Cũng vừa lúc ấy, thoáng một tiếng động nhỏ bên ngoài sân, tôi vội vàng ra hiệu tay cho chị Bắc vào màn; còn tôi, nhẹ nhàng kéo cửa sổ con lại, rồi cũng lên sàn nằm. Một lúc sau, tiếng bước chân nhè nhẹ đi vào; đến cửa buồng tôi, thấy cánh cửa sổ hé to ra một tí, lại đẩy vào như cũ. Tôi biết nhưng vờ nhắm mắt như đang ngủ say. Tôi tự nghĩ, khi chưa bị bắt, mình còn qua mặt hàng bao nhiêu tên phản gián, huống chi ở đây chỉ có một tên, lại là một tên công an đơn thuần, làm quái gì có nghiệp vụ!

Ngay đêm hôm ấy, tôi suy nghĩ từ những điều kiện thực tế của các căn buồng của xà lim, để tìm ra một kiểu liên lạc tốt nhất. Chỉ một lúc, tôi đã tìm ra được một cách liên lạc hữu hiệu. Xà lim I thật tĩnh mịch và hoang vắng, cho nên chả một tên cán bộ nào lại điên rồ ngồi một mình trong đêm khuya khoắt, để rình mò. Chúng chỉ thỉnh thoảng vào đi “tua”. Bây giờ, tôi ở phía dẫy bên này, lại không bị cùm, có thể nói một cách chắc chắn là nếu tôi muốn, tôi luôn luôn dư sức chủ động nắm được đường đi nước bước ra vào, của bất cứ một tên cán bộ tinh quái nào. Tóm lại, ngay đêm hôm đó, tôi đã tìm ra được một phương thế liên lạc toàn bộ trong xà lim, dù cho có cán bộ ngồi thường xuyên ở bàn trực xà lim chăng nữa.

Sáng sớm hôm sau, ngay khi cán bộ trực chưa đến, tôi đã đứng lên, ho gọi số 6 để thí nghiệm. Số 6 đứng lên hớn hở tươi cười khi nhìn thấy tôi. Với thế đứng của hai người, tôi tính toán hình dung hai thế đứng nhìn nhau, qua hai khung cửa sổ phía trên cửa ra vào. Khung cửa này, bề nằm 60 phân, bề cao 50 phân, có 5 chấn song sắt to, bên trong có ghép lưới thép đan, mỗi mắt ba phân vuông. Như vậy, từ hai khung cửa này, tôi và số 6 nhìn sang nhau, đều thấy một khoảng tường hình chữ nhật theo khung cửa sổ, nghĩa là một tấm bảng 50×60 phân. Vì hơi chéo, nên tôi phải tính toán vị trí của số 6 nhìn “tấm bảng” đó ở bên tôi trên tường. Bằng ngón tay trỏ, tôi chỉ viết chữ in; thí dụ: “CHỊ CÓ NHÌN RÕ KHÔNG?”. Vừa viết, tôi vừa quay lại nhìn chị Bắc. Mặt chị tươi roi rói gật lia lịa. Tôi lại viết “CHỊ VIẾT ĐI,” để tôi điều chỉnh tấm bảng cho tôi nhìn thấy trên tường, bên chị bằng hiệu tay.

Thế là từ đấy, chúng tôi có thể liên lạc với nhau bất cứ lúc nào, dù có cán bộ hay không. Tuy vậy, để bảo đảm an toàn cao nhất, trừ những lúc cần thiết, còn thông thường tôi để cho cán bộ ra khỏi xà lim, mới nói chuyện. Mật hiệu đã định sẵn. Tôi “ho một tiếng” là “có cán bộ”, chị Bắc chỉ việc ngồi xuống; “ho hai tiếng” là “gọi nói chuyện được”, chị Bắc đứng lên.

Cũng với phương pháp này, ngoài buồng số 6, buồng tôi cón có thể nhìn sang hai buồng ở hai bên buồng số 6 là buồng số 5 và buồng số 7 nữa. Và cứ như vậy, số 5 nhìn sang dẫy tôi cũng được ba buồng là 12 đối diện, và 11, 13 ở hai bên. Rồi, buồng này có thể làm trung gian cho buồng kia, từ đấy, có thể nói chuyện, liên lạc toàn bộ các buồng trong xà lim. Dù cán bộ có ngồi ngay đấy canh, thậm chí có những tên cán bộ mẫn cán tích cực kê ghế ngồi đọc sách hàng mấy tiếng đồng hồ để rình, cũng không bắt được chúng tôi liên lạc với nhau. Tù liên lạc với nhau, phải nói chuyện. Ở đây, dù ngồi cả ngày để canh chừng, chúng cũng chẳng nghe thấy một tiếng; có chăng chỉ là tiếng ho, tiếng khạc mà thôi.

Lúc đó, tôi nghĩ nếu bọn thực dân Pháp ngày xưa và bọn Cộng Sản bây giờ, biết được là có một phương pháp liên lạc chuyện trò với nhau như thế này, chắc chắn chúng không bao giờ thiết kế xây xà lim có hai dẫy buồng đối diện nhau nữa. Mục đích của xà lim là không cho người này trông thấy người kia (trừ trường hợp chúng chủ ý để hai người trong cùng một buồng) để gây áp lực tâm lý. Làm cho tù hoang mang, giao động và không thể hỏi han, trao đổi những khúc mắc khó khăn trong khi cung kẹo. Tâm lý của con người nhiều khi rất lạ kỳ, chỉ cần nhìn thấy một người khác cùng vào nghĩa địa, tha ma với mình, tự nhiên mình sẽ thấy mạnh bạo hơn lên. Nhưng, khi chỉ có một mình mình trong rừng sâu, đêm khuya, với những ngôi mả hoang, là rợn tóc gáy, rùng mình, rồi cảm thấy cô đơn, không có ai bấu víu. Mục đích của xà lim là như vậy.

Chính vì chúng thấy tôi và số 6 ở cạnh nhau không tiện, nên phải cho sang dẫy đối diện. Sang dẫy đối diện, nếu liên lạc mới nhau bằng lời nói, dù canh kỹ đến đâu thì đi đêm mãi, thế nào chả có ngày gặp ma. Hơn nưa, chúng còn có người gài vào nằm thường trực ở một buồng nào đó trong xà lim, ngoài nhiệm vụ chính là moi tin những người cùng buồng. Nói cách khác, sở dĩ, tôi có thể tung hoành, chủ động sự liên lạc, chuyện trò trong cả xà lim I, chỉ vì Cộng Sản chưa biết rõ khả năng của tôi, cũng như những kẻ hở của chúng. Nếu chúng biết, chúng thừa sức hóa giải, thừa sức ngăn cấm tuyệt nọc. Cho nên, để cho đối phương biết được về mình, là điều tối nguy hiểm. Vậy mà, Mỹ, cũng như thế giới tự do cứ tự…vạch áo cho Cộng Sản xem lưng, để rồi vắt chân lên cổ mà chạy.

Từ một người lính, cho đến một người dân bình thường, ai cũng nói, cũng thuộc câu “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng”; nhưng tôi có thể nói ngay rằng nhiều chiến lược gia, những nhà quân sự cầm quyền của  phe ta chỉ đọc phương châm đó như là con vẹt thôi. Còn thực tế, thế nào là hiểu đối phương? Thế nào là hiểu mình? Tôi dám nói là họ chưa đủ hiểu. Nếu hiểu, đã không phải chạy hết chỗ này, rút hết chỗ kia. Có nói, lại đổ cho lý do này khác… mà không thấy cái khuyết điểm: hời hợt, rỗng tuếch của chính mình.

Khi đã chuyện trò với chị Bắc được mấy ngày rồi, tôi thấy bây giờ cũng thuận tiện cho nên tôi đã nói thật với chị là tôi cũng ở trong Nam ra. Tôi cũng kể sơ qua gần một tháng trời, khi còn ở bên ngoài, tôi đã đấu tranh đầy thủ đoạn với tụi phản gián Hà Nội. Cuối cùng, tôi ngỏ ý muốn chị thuật lại cuộc đời của chị ra sao, mà lại vừa là gián điệp cho Cộng Sản, lại vừa cho Sài Gòn, để bây giờ phải vào xà lim, thân gái một mình thế này?

Tôi nghĩ, cứ mỗi ngày một tí, điều gì cần rõ, tôi lại sẽ hỏi thêm. Sau khi tôi yêu cầu như vậy, mắt chị đỏ lên, mí mắt rung rung, ngấn lệ long lanh chảy dài xuống má, chị làm cho tôi cũng xúc động, phải nhìn ra hướng khác. Vừa thổn thức chị vừa viết, nội dung:

– Như một cơ duyên, tôi rất sung sướng được gặp anh ở đây. Tôi đã suy nghĩ mấy ngày hôm nay. Đời tôi đến đây coi như chấm dứt rồi. Nhưng vì tôi còn một đứa con trai duy nhất hiện vẫn ở miền Nam. Vậy, tôi xin kể lại chi tiết đời tôi, như một lời giối giăng và gởi gấm giọt máu của tôi cho anh.

Tôi nhìn chị viết, đôi vai gầy rung rung, thỉnh thoảng lại đưa chiếc khăn trắng lên chùi mắt. Tôi lại liên tưởng đến đời mình. Chị giối giăng ký thác cho tôi ư? Trong cảnh này, tôi hay chị, ai là người sẽ về lòng đất trước, chị có biết được không? Mặc dù lòng mình đầy vơi những nỗi niềm, nhưng nhìn chòm tóc bạc trên đầu chị, nhìn cái dáng đứng nghiêng nghiêng làm cái cổ chị rụt lại; tôi đành phải đè nổi niềm của mình xuống, để gọi là làm “cái cọc mục cho rêu bám” vậy!

Từ hôm ấy, trừ những ngày chị phải đi cung, bất kể ngày đêm, tôi và chị thường đứng viết “nói chuyện” với nhau. Thậm chí, nhiều lần, tôi còn giúp chị được những ý kiến để hóa giải một phần nào mưu mô, đòn phép của chấp pháp.

Thép đen – Quyển II

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Oct 2023

Người nữ gián điệp của Sài Gòn!

Đặng Chí Bình

Bài 19

Buổi trưa hôm nay, gió bỗng nổi nhiều hơn, trời đã lành lạnh, xà lim mới cho mượn chăn. Vì thế sau khi ăn cơm sáng, buổi trưa tôi đã nằm đắp chăn cho ấm, rồi lim dim đi vào giấc ngủ ngày lúc nào cũng không hay.

Một lúc, tôi chợt giật mình tỉnh dậy, vẫn nằm im trong chăn, tôi lắng nghe: Ngoài tiếng gió rung những lá bàng ở ngoài sân, tôi đinh ninh không lầm là có nghe thấy, không những bằng tai mà còn bằng cảm giác, một tiếng động lịch kịch phía sàn bên kia… tường. Nghĩa là bên buồng số 6. Chỗ sàn tôi nằm ở sát buồng số 6. Lạ, số 6 từ nửa tháng nay không có người mà!… Nói chung, xà lim dạo này tương đối vắng, có tới 3, 4 buồng không có người. Chính vì thế, khi nghe thấy tiếng động vào sàn, tôi ngạc nhiên. Nhưng vẫn nằm yên lặng, tôi cố vểnh tai chờ nghe có tiếng động nào khác không?

“ Chả lẽ trong khi tôi đánh một giấc ngủ trưa, có người vào buồng số 6 mà tôi không biết? Tại sao mải không vào, lại… đợi đến khi tôi ngủ mới vào?”, tôi tự nhủ. Rồi lại nghĩ cũng có thể vì mới thức giấc, thần kinh còn đang chơi vơi nên tưởng lầm như vậy chăng?

Cục kịch! Lần này thì rõ ràng rồi! Rõ ràng tiếng động của ai đó nằm bên kia tường giở mình. Phải rồi, một người bạn, một đồng loại, một sinh vật cũng nằm song song với mình, chỉ cách một bức tường dày 20 phân. (Tường ngăn giữa hai buồng dày 20 phân; còn tường trước và sau dày 50 phân).

Để tìm một nguồn an ủi, trong cái vắng lặng heo hút, lẻ loi; tôi rút tay ra khỏi chăn, gõ nhè nhẹ vào tường hai cái: Cạch! Cạch!

Im ắng như tờ. Vẫn chỉ có tiếng gió lướt thướt rì rào chui luồn qua mái ngói. Tôi lại gõ thêm hai tiếng nữa như chào, như gọi người bạn mới, nằm cạnh nhau… Cũng vẫn không có một âm thanh nào đáp lại!

Tôi suy nghĩ: có lẽ, người bạn mới bị bắt vào, tâm hồn còn đang giao động, hoang mang; cho nên ai gõ, mặc ai, lòng đang đảo lộn đất trời, cuộc đời tan tác, vào tù rồi, còn thiết cái quái gì nữa!

Tôi thông cảm với người bạn mới, tâm trạng nghiêng ngả ngược xuôi khi cuộc đời rơi xuống hố, cho nên, tôi lại gõ nữa, như lời thăm hỏi an ủi của một người. Tôi vểnh tai lên nghe ngóng một lúc. Vẫn yên lặng như không có người. Tôi băn khoăn, thấp thỏm, chả lẽ tôi mơ? Hay, buồng bên ấy có…ma!…Nghĩ như vậy thôi, chứ ngay ban ngày, ban mặt…

Tôi thấy mỏi người, liền xoay lại thế nằm quay sang phía khác, không hướng mặt vào tường nữa. Một lúc sau, hai mắt lim dim thả hồn lơ mơ vào giấc tỉnh say. Thình lình, một âm thanh vang lên như tiếng xiết, trượt mạnh vào tường của một vật gì bằng gỗ? Không nằm mơ! Tôi xoay hẳn thế nằm lại, và giơ tay gõ nhè nhẹ vào tường “cạch, cạch!”. Bây giờ thì có hai tiếng gõ đáp lại, rất nhẹ, và thưa. Chính lúc này, tôi cũng không hiểu tại sao, chỉ nghe hai tiếng gõ mà lòng mình thấy vui hẳn lên. Với tay lấy cái lược sừng ở đầu sàn, tôi khua canh cách rốt rít vào tường như reo vui, như vỗ tay chào đón người bạn mới. Bên kia im lặng. Chừng nửa tiếng sau, tôi lại khe khẽ gõ hai tiếng nữa. Cũng có hai tiếng đáp lại, như hiểu ý định tôi nói gì.

Tới bữa cơm chiều. Sau khi lấy cơm vào rồi, tôi cố chờ không ăn vội, lắng nghe. Khi cán bộ mở buồng số 6, lấy cơm xong, cửa đóng; tôi nghe rõ tiếng bát đặt lên cái cùm như tôi bên này. Tôi liền gõ tường liên tục 5, 6 tiếng nhẹ, như ý mời anh bạn xơi cơm. Anh cũng ríu rít gõ đáp lại. Chỉ là những tiếng động thay lời, mà tôi thấy lòng mình hân hoan, ấm áp hẳn lên. Khi ăn xong, tôi cũng gõ, và cũng có tiếng vồn vã trả lời. Rồi trả bát, vào buồng, lại đi nằm. Cứ thỉnh thoảng, tôi lại nhè nhẹ gõ hai tiếng vào tường như muốn hỏi anh bạn buồng bên đã ngủ chưa? Hay có buồn không?… Anh cũng luôn sốt sắng gõ đáp trả lời tôi. Dần dần rồi tôi đi vào giấc ngủ đêm thâu.

Ngủ được một giấc khá dài, tôi chợt choàng thức dậy. Đêm đã khuya, nhớ đến anh bạn nằm sát bên cạnh, tôi lại “cành cạch” hai tiếng thật nhẹ, để nếu đã ngủ, anh bạn cũng không vì thế mà mất giấc. Vẫn thấy hai tiếng trả lời. Rồi, tôi lại thiếp đi; được một chốc, lại tỉnh. Lại gõ, vẫn có tiếng trả lời. Tôi ngạc nhiên. Như vậy là anh bạn bên ấy không ngủ ư? Suốt đêm, cứ lúc nào chợt tỉnh, tôi gõ, cũng đều thấy tiếng gõ trả lời!?…Gần về sáng, tôi thấy thương người bạn cả đêm sầu héo không ngủ được, nên tôi lấy cái lược gõ liên tục 7, 8 cái liền. Vừa như trách anh sao không ngủ, vừa như an ủi đừng buồn nữa. Anh bạn cũng đáp ứng vồn vã như hiểu ý tôi.

Chính vì chẳng nói thành lời, nhất là trong cảnh heo hút, vắng lặng thế này, lòng tôi càng bị lôi cuốn.

Ngày hôm sau, tôi muốn chờ nghe tiếng nói của anh bạn với cán bộ để có chút ý niệm về anh. Nhưng, đến buồng anh, lúc đổ bô, cũng như khi lấy cơm, trả bát, tôi không hề nghe thấy một âm thanh gì khác, ngoài tiếng những bước chân xèn xẹt đi qua lại trước buồng tôi. Vì lòng háo hức, muốn biết về người bạn nằm cạnh buồng, nên chiều hôm đó, đợi khi mở buồng số 6 ra lấy cơm, tôi ghé đầu sát đất, để nhìn qua khe hở, rộng chừng độ nửa phân, giữa mép dưới cánh cửa và nền nhà. Hai đôi bàn chân mờ mờ bước qua trước cửa buồng tôi, một đôi bàn chân dép râu đen đen của tên cán bộ Dư; còn đôi bành chân kia đi dép Thái Lan, quai đỏ. Đôi bàn chân rất trắng và nhỏ…như của phụ nữ làm tôi giật mình. Phải chăng người nằm phía bên kia, chỉ cách nhau một bức tường dày 20 phân, vẫn đêm ngày gõ chuyện trò với tôi là một người…phụ nữ?…

Vẫn như trước, tôi gõ mời xơi cơm. Ăn xong, lại gõ như chào đã ăn cơm cong. Bây giờ, bất cứ lúc nào tôi gõ là bên ấy lại gõ trả lời ngay.

Đêm hôm ấy, vào lúc nửa khuya, tôi chợt giật mình thức dậy, và tai nghe tiếng nức nở, nỉ non văng vẳng, lẫn vào tiếng gió rít của đêm thâu, nghe thật não nùng. Tiếng khóc, rõ ràng là âm thanh của một người nữ. Thổn thức, nấc lên từng cơn nghẹn ngào như cầu cứu, như van xin sự giúp đỡ của cuộc đời!

Tôi ngồi bật dậy, xác định hướng của tiếng khóc. Đúng là bên buồng số 6. Tôi vội vàng gõ mạnh mấy cái vào tường như hỏi tại sao lại khóc? Hãy nín đi thôi! Không có tiếng trả lời và tiếng khóc cũng ngừng bặt. Để động viên và an ủi, tôi gõ dồn dập thêm mấy cái. Có tiếng gõ trả lời, và đặc biệt là không còn khóc nữa, như hiểu ý.

Tôi suy nghĩ một cách chủ quan rằng, có thể trong khi tôi ngủ, người bạn tù nữ ở buồng bên đã gõ gọi, mà tôi không biết; rồi người bạn tù tự dưng cảm thấy tủi thân, giữa đêm khuya vắng lặng không ngủ được, nghĩ đến thân gái sa chân vào chốn ngục tù. Chung quanh im lìm, heo hút như nghĩa địa tha ma, chỉ thấy bốn bức tường lạnh lẽo và hai cái cùm to đen xì nằm im ỉm. Một nỗi cô đơn dâng lên, chỉ còn biết khóc.

Chợt một ý nghĩ đến với tôi: Người nữ này tội gì? Chính trị hay hình sự? Ở Hỏa Lò đã gần 4 năm, tôi chưa thấy người phụ nữ nào bị giam một mình ở xà lim cả. Phải nói, xà lim lúc ban ngày đã vậy, huống chi ban đêm, nhất là những đêm mưa dầm gió bấc không ngủ được, cứ trằn trọc một mình một bóng trong căn buồng hẹp vắng vẻ, cô liêu, chỉ nghe những tiếng rên la, hoặc tiếng hét trong cơn mê sảng của các buồng khác; ngay đàn ông cũng ít người chịu đựng được nổi, huống hồ là đàn bà. Do đó, thường chúng phải giam hai người để dựa vào nhau những lúc tối lửa tắt đèn; hoặc giả để không vì chán nản và tuyệt vọng quá mức mà nảy ra ý định tự tử. Thế mà bây giờ lại chỉ có mỗi một phụ nữ trong buồng số 6? Buồng này, tôi đã từng ở, và cũng là nơi tôi đã có kỷ niệm trốn tù bất thành. Buồng đó ở đúng chỗ gẫy khúc của xà lim, nên rộng hơn các buồng khác một chút. Vì vậy, nỗi hoang vắng lại càng lớn thêm ra. Một mình, cứ ngồi đấy suốt đêm, ngày, chỉ có thối ruột ra thôi.

Nhận thấy tiếng gõ của mình làm cho buồng số 6 ngưng tiếng khóc, tôi nảy ra ý định phải tìm cách liên lạc được với buồng số 6, để an ủi và hiểu rõ về người bạn tù “láng giềng” này. Nếu liều lên tiếng hỏi, dù có theo dõi được sự ra vào của cán bộ để không sợ bị bắt; nhưng, kinh nghiệm đã qua cho biết, trong xà lim không phải là không có những loại người của Cộng Sản cho vào nằm cùng buồng, dùng khổ nhục kế, để moi tin, để khai thác cũng như điều tra một người nào đó, hoặc qua những lời đối thoại hỏi han nhau giữa các buồng… Như vậy, che dấu được cán bộ xà lim, nhưng chấp pháp vẫn biết tôi có liên lạc với buồng số 6. Phần khác, buồng số 6 là phụ nữ, các buồng khác họ cũng muốn nói chuyện với buồng số 6, nhưng số 6 không chịu trả lời; vậy càng bất tiện nếu tôi lên tiếng. Tôi nằm nghĩ ngợi, suy tính. Cuối cùng, tôi nghĩ thử đánh kiểu “morse” xem sao, có thể số 6 hiểu lối đánh này. Vì lối này khá thông dụng, ngay trong Hướng Đạo cũng có dạy. Nghĩ thế, tôi lồm cồm bò dậy. Bằng sống chiếc lược sừng nhỏ, với khuỷu đốt ngón tay, tôi hỏi: “Ai đấy?”, im lặng một lúc, rôi tôi nghe tiếng bàn tay xoa xoa lên tường, như trả lời không hiểu.

Vậy là số 6 không biết lối đánh “morse”, tôi hơi nản lòng. Nhưng, chợt nảy ra một phương pháp khác…

Trước hết, tôi gõ nói về ngày bị bắt của tôi. Nếu số 6 thông mình, hiểu được, sẽ trả lời tôi ngày bị bắt của số 6. Đêm khuya, hơi lành lạnh, tôi lấy cái chăn khoác lên người. Rồi bắt đầu, tôi gõ hai tiếng:”Cạch, cạch!”. Sau khi số 6 cũng gõ hai tiếng trả lời như mọi khi, cũng có nghĩa là lúc này số 6 đang lắng tai nghe. Tôi lại lấy sống chiếc lược sừng để gõ, vì tay gõ mãi cũng thấy đau đau. Tôi bắt đầu gõ:”Cạch cạch…24 lần, ngừng lại; gõ tiếp 6 lần, ngừng lại; 1 lần, ngừng; 9 lần, ngừng, 6 lần, ngừng; 2 lần, ngừng. Tôi chờ đợi, nghe bên kia tường có âm thanh rê đi rê lại, hình như của một cái cán quạt thì phải, như có ý nói là không hiểu, chưa hiểu!

Tôi lập lại một lượt như trên. Vẫn tiếng rê ở trên tường. Tôi hiểu “vạn sự khởi đầu nan” là chuyện thường tình; vậy cần phải kiên trì, đừng nản lòng. Từ suy nghĩ này, tôi lại gõ đúng như trên một lượt nữa. Im lặng. Tôi ngồi bên này tường, hình dung ở bên kia, số 6 đôi mắt đang tuy mở, nhưng sẽ chẳng nhìn thấy một cái gì rõ, chỉ vì óc đang bận suy tính về những tiếng gõ của tôi ở trên tường. Chợt, tiếng cán quạt đập rối rít vào tường một lúc, rồi ngừng lại. Và bắt đầu gõ: 24-6-1962. Mắt tôi lúc này hẳn sáng lên, tay tôi cũng cuống quít đập cả lược, cả tay vào tường (dĩ nhiên tôi cũng kềm chế để âm thanh tiếng đập cũng như tiếng gõ không quá lớn đến độ các buồng khác cũng nghe thấy rõ). Vừa mừng vì số 6 đã hiểu; lại vừa thích thú vì số 6 tỏ ra thông minh. Sau đó, số 6 gõ hai tiếng:”Cạch cạch”. Tuy không quy định, nhưng tự nhiên hai tiếng gõ bây giờ như thay cho hai tiếng gọi nói chuyện. Tôi đáp lại hai tiếng như trả lời: “Sẵn sàng”! Rồi, số 6 gõ “25 (ngừng” 9 (ngừng) 1965. Tôi đập chiếc lược lia lịa vào tường mừng rỡ. Như vậy, số 6 đã bị bắt hơn một tháng rồi. Hôm nay, 18-10-1965. Và, cũng có nghĩa là số 6 đã hiểu tôi bị bắt đến nay đã 3 năm rưỡi rồi.

Tôi gõ tiếp: Ngày, tháng, năm sinh của tôi. Tôi được trả lời: Ngày, tháng, năm sinh của số 6. Số 6 năm nay đã 37 tuổi. Hơn tôi những 10 tuổi.

Điều buồn là đến đây, cách nói chuyện kiểu này gặp trở ngại. Tôi muốn hỏi tên số 6, và bị bắt về tội gì, v.v… nhưng đành chịu. Thật là tức, suốt đêm ngày ngồi không, mà chẳng nói chuyện với nhau được.

Bần thần nghĩ ngợi một lúc, chợt trong đầu tôi lóe lên một tia sáng. Phương pháp này tuy hơi mất công lúc đầu; nhưng khi quen, cũng tạm được. Ngay “morse” khi mới tập, cũng nhiều bỡ ngỡ, khó khăn. Nhưng, cứ dùng mãi, đánh mãi, sẽ quen và trở thành gần như nói chuyện bình thường vậy. Muốn nói chuyện tạm được với nhau, cách gì cũng phải qua vần a, b, c…Ở đây, hãy dùng vần chữ Việt, 23 chữ cái: A, B, C, v.v… Vậy A: 1, B: 2, C: 3, v.v… cho tới Y: 24. Để giản đơn và ngắn gọn hơn cứ 10 là một tiếng “thình” của gót bàn tay đập vào tường. Thí dụ: Chữ “Y” là thình thình, cạch, cạch, cạch, cạch. Chữ “K” là thình; chữ “N” là thình, cạch, cạch, cạch, v.v…

Sau khi nhẩm tính xong, vấn đề kế tiếp là làm sao để số 6 cũng biết như mình. Tôi hiểu số 6 cũng đang tức bực, không biết cách gì để hỏi và nói chuyện với tôi.

Bắt đầu, tôi gõ “cạch, cạch” là tiếng gọi “nói nhé?”; và sau khi số 6 đáp trả hai tiếng “sẵn sàng!”, tôi gõ “cạch”, rồi nói to:”A…À…À…”; “cạch, cạch” lại hô “Bê…ề…ề…”; “cạch, cạch, cạch” lại hô “xê…ề…ề…”. Tôi ngừng, lắng nghe, âm thanh cái cán quạt bên số 6 rê đi rê lại trên tường một cách chậm chạp. Tôi lại làm như trên một lần nữa. Một lúc, một lúc, bỗng tiếng cán quạt đập liên hồi vào tường. Rồi số 6 gõ lại:”Cạch (ngừng); cạch, cạch (ngừng); cạch, cạch, cạch (ngừng); cạch, cạch, cạch, cạch (ngừng).

Tôi cũng đập rối rít; thậm chí cả gót chân của tôi cũng rung rung, đập đập xuống sàn cho số 6 thấy nỗi vui mừng của tôi. Sau đó, tôi gõ: 5 cạch, 1 cạch, 1 thình 1 cạch, 7 cạch; rồi lấy cái sống lược kéo một cái trên tường nghĩa là sang chữ khác: 3 cạch, 8 cạch, 9 cạch, 1 thình 3 cạch, 8 cạch, kéo lược. Ngừng một lát, bên số 6 cứ xoa xoa tường, ra vẻ không hiểu. Tôi lập lại lần nữa. Số 6 rối rít gõ lại cho tôi…

Tôi được biết tên số 6 là: Đào Thị Bắc, Bằng phương pháp cổ lỗ sĩ ấy, tôi và chị Bắc say mê nói chuyện với nhau đêm ngày; trừ lúc ăn cơm hay đi đổ bô thôi. Đêm nào cũng thức khuya để nói…chuyện. Một điều tôi không tưởng tượng được chị Bắc lại là…gián điệp của Sài Gòn.

Bốn, năm ngày đầu còn chậm chạp, khó khăn để hiểu nhau; nhưng sau đó, nghe gõ là đã biết ngay chữ gì. Hơn nữa, có nhiều chữ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong câu chuyện, chúng tôi gõ “tắt”, nên càng nhanh hơn. Thí dụ: Chữ “Bình”, chỉ cần gõ chữ “B”, và “Ba”; là “Bắc”; hoặc “CP” là “chấp pháp”, v.v…

Sau khi biết được chị Bắc là điệp viên của Sài Gòn và cũng là điệp viên của miền Bắc nữa, tôi càng ngạc nhiên. Như thế, chị Bắc là loại gián điệp “hai mang” ư? (Agent double). Tôi hỏi, chị lại bảo là không phải. Rất nhiều điều tôi muốn biết rõ về chị; nhưng phương pháp liên lạc này không cho phép hỏi được nhiều, nhất là chờ thời gian, nghĩa là hỏi dần dần, vì dạo này, chị thường phải đi cung luôn.

Những lúc chỉ đi cung, tôi nằm trong buồng lại thấy buồn. Kể cũng kỳ, trước đây, cứ một mình lùi lủi mấy năm trời có sao đâu; thế mà những lúc chị đi cung, tôi thấy như thiếu vắng một người bạn tâm tình đồng chí. Tôi nghĩ đến buồng số 4. Một điều vui mừng là anh chàng này cũng tỏ ra rất thông minh. Tôi chỉ giải thích vài lần, anh và tôi đã nói chuyện được rồi. Tên anh là: Nguyễn Lân, ở Quảng Bình, anh cũng cùng tuổi với tôi. Bố anh là liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Anh là sinh viên du học ở Roumanie. Anh mới bị bắt, và bị đưa vào Hỏa Lò ngay.

Về phần tôi, vì sự việc dài giòng, phức tạp, cho nên tôi chỉ nói với anh tôi là giáo viên Cấp II ở Phủ Lý. Chỉ có tên tuổi là tôi nói thật thôi. Ngay cả với số 6, tuy tôi đã biết chị là đồng chí, đồng nghiệp, nhưng tôi cần tìm hiểu thêm nhiều về chị Bắc đã; bây giờ cũng cứ tạm nói là giáo viên. Rồi dần sau tôi sẽ nói thực.

Tự dưng, tôi nôn nao muốn nhìn thấy con người thực của chị Bắc ra làm sao. Đến ngày Chủ Nhật đó, tên Bằng trực. Tôi chỉ theo dõi một lúc, đã nắm được hướng đi nước bước của y. Cứ mở cửa một buồng xong, y lại trở ra bàn ngồi; trong 5, 10 giây sau, người tù trong buồng mới ôm bô đi ra. Có khi y đã ra tới gần bàn, trong này người tù mới ra khỏi buồng. Có thể, y muốn ra ngay để khỏi phải đi cạnh một anh tù hôi hám, lại ôm cái bô thối hoang. Vả lại, y vừa ra tới bàn đã đứng quay lại nhìn tù ôm bô ra rồi. Có thể y nghĩ là như vậy thì tù làm sao có thể liên lạc với nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó được.

Vì nắm được như thế, cộng thêm sự háo hức muốn nhìn mặt của số 6, và lại không muốn báo trước cho số 6 biết; cho nên, khi tên Bằng mở buồng số 6, tôi đã chuẩn bị trước, trèo đeo ngay lên khung cửa sổ lớn phía trên cửa ra vào. Mặt tôi giô lên, lộ ra ở chiếc khung có lưới thép. Trèo lên đứng kiểu này không phải dễ; phải có một cánh tay và một cái chân khỏe mạnh đủ để có thể chịu đựng sức nặng của cả cơ thể.

Số 6 ôm bô ra đi; tôi phải công nhận “trường” mắt của số 6 tương đối bén nhạy. Mặt tôi cao hơn số 6 đến 1m2, 1m3; thế mà số 6 đã ngửng lên trong khi ôm bô đi ra. Bốn mắt nhìn nhau, chả dám nói một câu. Bỗng số 6 cúi ngay xuống, có thể tên Bằng đã từ ngoài nhìn vào, tôi vụt tụt xuống. Lòng bâng khuâng nghĩ ngợi về con người của chị Bắc.

Mặt chị hơi dài, da trắng, môi dưới hơi thưỡn ra. Trên đầu chị, phía trước bên trái có một chùm tóc bạc giữa những lọn tóc đen buông xõa phía sau vai. Chị mặc một chiếc áo trắng, quần đen, như người nửa tỉnh, nửa quê. Nhưng, tôi cũng hiểu, quần áo đây chỉ là cách trang bị cho một “vỏ bọc” sống ở môi trường miền Bắc mà thôi.

Có một điều tôi hơi băn khoăn, là, khi bất chợt chị nhìn thấy tôi, đôi mắt chị sáng lên, tỏ ra một sự vui mừng như lâu ngày mới gặp lại người thân; nhưng ngay sau đó, một nỗi buồn như chiếc màn đen bỏ xụp xuống khuôn mặt của chị. Vì sao thế? Tôi chả hiểu được. Vì vậy, khi chị từ nhà tắm về, tôi im lặng không gõ nữa; và chị… cũng im luôn.

Chẳng hiểu vì lý do gì, làm như là thi gan với nhau, không ai chịu gõ gọi nhau nữa. Cho đến suốt bữa cơm chiều, tôi ăn xong, trả bát, sang gõ hỏi anh Lân mấy câu, rồi chào đi nằm ngủ… Mãi tới khoảng 10 tối, thoáng nghe có tiếng người khóc nức nở, trước nhỏ, sau to dần, tôi bò dậy lắng nghe. Thì ra tiếng khóc của chị Bắc. Đã từ nửa tháng nay chị không khóc; bây giờ tại sao lại thổn thức trong đêm khuya? Nếu là một người có lập trường ý thức chính trị rõ rệt, thì ngay gặp một người phụ nữ bình thường trong cảnh này, tôi cũng phải tìm mọi cách, tùy theo điều kiện, để an ủi, giúp đỡ; huống chi đây là một đồng chí, một chiến hữu, vừa là một đồng nghiệp của mình. Vì vậy, tôi không nghĩ ngợi lôi thôi nữa. Tôi gõ cành cạch hai tiếng để gọi. Im lặng. Một lúc, tôi lại gõ hai tiếng. Lần này, chị Bắc đã trả lời, mặc dù rất nhẹ và rời rạc.

Tôi hỏi: “Tại sao chị khóc?”. Chị trả lời: “Buồn, nên khóc”. Tôi chỉ biết khuyên chị hãy nhìn cảnh tôi, để mà vui. Tôi đã bị bắt từ hơn 3 năm rồi, mà vẫn còn nằm ở buồng tối đây này. Vả lại, buồn có giải quyết được vấn đề tha sớm hay muộn đâu. Do cách gõ, cho nên tôi chỉ nói được vài ý, mà cũng nói không hết, thường người nghe phải cố suy đoán thêm.

Nói chung, sau đó chị hết khóc. Và những ngày sau, tôi và chị tiếp tục gõ thăm hỏi nhau đêm, cũng như ngày.