Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Cái “mánh”của tên trực trại

Đặng Chí Bình

Bài 14

Hôm nay hơi đặc biệt. Kẻng cấm rồi mà đây đó, từ những chiếc điếu cầy đủ kiểu cứ thi nhau ré lên liên hồi như những chú dế cồ và những nàng dế đang thi gọi nhau, hẹn hò trao đổi ân tình trong đêm khuya.

Buổi sáng, cho tới khi tôi theo toán ra ngoài lán làm việc rồi mà lòng vẫn băn khoăn không dứt về một sự việc sáng sớm hôm nay khi tên trực trại Cẩn vào buồng điểm tù. Điểm buồng xong, y dừng lại trước chỗ anh Phạm Tấn Tích đang ngồi, cất giọng Cao Bằng lây lứt:

– Hôm qua, anh Tích phát biểu hay và khá lắm!

Thoáng qua, nghe như một câu khen ngợi bình thường, nhưng đã làm cho cả buồng ngơ ngác, đờ đẫn, nhất là tôi. Óc tôi lướt nhanh, tổng hợp mọi hiện tượng và sự việc. Đêm qua, toán 2 sinh hoạt từ 6 giờ đển 9 giờ, kẻng cấm. Bên ngoài trời mưa bay dầy hạt, gió lộng lạnh thấu xương. Bao nhiêu câu hỏi cứ vấn vít, quẩn quanh trong đầu tôi:

– Chẳng lẽ y chịu lạnh, đứng rình nghe bên ngoài vách để theo dõi buổi sinh hoạt của toán?

– Hay có đường dây báo cáo nào của toán 2?

– Tại sao sáng sớm hôm nay vào điểm buồng, y cố ý nói cho toàn buồng nghe để làm gì?

– Tại sao y lại chỉ rình nghe của toán 2 mà không ở các toán khác nữa? Hay có sự trùng hợp lúc Tích phát biểu thì y mới đến?

– Thực ra, bất cứ buổi sinh hoạt của toán nào đều có ghi biên bản. Như vậy, ai phát biểu ra sao thì trong biên bản đã ghi rồi. Tại sao y còn vào rình nghe?

– Chỉ là một tên trực trại, tại sao y lại theo dõi về tư tưởng? Theo như anh Đồng, lúc cùng ngồi ăn sắn sáng nay với tôi thì tư tưởng thuộc về cán bộ giáo dục. Trực trại chỉ bao quát về nội quy. Trách nhiệm chính yếu của trực trại vẫn là nắm vững nhân số phạm toàn trại, từng buồng và từng toán.

Quá nhiều câu hỏi mà chưa có lời giải đáp thỏa. Trong lúc làm việc với Lê Sơn, tôi đã lựa lời, lựa lúc hỏi Sơn thì được biết thêm: hồi trước, ban đêm tên Cẩn thường hay vào trại đi bên ngoài các buồng để rình nghe như vậy.

Lấy điểm này, cọ sát với điểm kia, loại bỏ những vô lý hoặc những vô lý hoặc mâu thuẫn thì chỉ có thể như sau:

– Dù ở khía nào thì tên Cấn cũng là một tên cán bộ mẫn cán. Phục vụ và tin theo hết lòng cái chế độ mà y đang làm việc.

– Y chỉ muốn tỏ cái tài, cái uy riêng của y với tù.

Để thực hiện cái ý trên, thỉnh thoảng y bỏ công, bất ngờ vào rình, dò xét một vài sự việc. Rồi từ những sự việc y đã biết rõ, lấy đó làm ông “ba bị” để hù lát mọi người tù. Tưởng như làm cho mọi người tù đều nghĩ và tin rằng; y có nhiều tai mắt ở khắp nơi, khắp chỗ. Ai làm cái gì, nói gì y đều biết.

Nếu y tưởng như vậy là y lầm, mà y lầm thì cũng không có gì lạ. Bởi vì với mớ kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm đóng hẹp trong cái nhãn quan truyền thống giòng tộc của y; đối với bên ngoài, tưởng mình đang đứng ở vị thế cao nhất. Hơn nữa, trong lòng y lại đang dạt dào, say mê tin tưởng tự hào, đang phục vụ cho, hoặc y cũng là một nhân tố trong cái đảng “vĩ đại, uyên bác cao siêu nhất” của loài người.

Thực ra với chủ trương ấy, y cũng là một con “ngáo ộp” được với một số người kém hiểu biết hoặc lười suy nghĩ. Chứ không thể có tác dụng với những người như anh Phạm Tấn Tích chẳng hạn. Khi anh phát biểu có người ghi biên bản thì cá cái ban nghiên cứu của giám thị sẽ đều biết. Bởi thế, bất kể ai đứng rình nghe hay theo dõi thì có nhằm nhè gì với anh?

Buổi trưa, lúc ngồi ăn cơm ở hội trường, tôi dõi mắt nhìn theo một bác người cũng thật to lớn như Lê Văn Kinh. Tay bác xách một cái bị bằng vải sô cũ, một tay cầm chiếc gậy đang rờ rẫm, chậm chạp đi trên hè buồng số III gần bếp, hướng ra sân chính của trại. Đầu óc tôi còn đang dập dờn về một kiếp người đã mất cả đôi mắt rồi mà vẫn chưa yên, thì thấp thoáng thấy màu áo vàng ở sân A, một tên cán bộ tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Người y nhỏ con, da trắng trẻo, nếu không nói là có dáng dấp thư sinh, chừng tuổi 35. Y không đeo lon nên tôi không biết y ở cấp bực gì. Hai tay vắt chéo sau lưng, y chậm chạp thả bước nhàn du, lang thang trong trại. Thỉnh thoảng đầu y nghiêng ngó, nhìn phía này, phía kia hoặc gật gật mỗi khi gặp một anh tù lễ phép cúi đầu chào y. Thái độ y vừa lạnh lúng, vừa lơ đãng.

Tôi cứ cảm thấy y là một tên tạch tạch sè (tiểu tư sản) chứ không quê đặc một cục, như tên Chu Huy Cẩn. Tôi thấy cậu Toàn đang ngồi lúi húi vá chiếc áo choàng bằng dạ, máu cứt ngựa ở mãi trong góc nhà ăn. Hẳn chiếc áo đã được sinh ra từ thời Tây, vì đã đụp nhiều tầng. Lách qua mấy chiếc bàn tôi đến bên, ra ý cho Toàn nhìn về tên cán bộ hãy còn đang lững thững gần cụm nứa phía dưới nhà ăn:

– Này ông cán bộ kia là ai đấy?

Toàn nhìn ra rồi quay lại ra vẻ hơi quan trọng, thì thầm:

– Đấy là ông Đức, Thiếu úy, trưởng ban giáo dục trại này đó!

Tôi chỉ trả lời hai tiếng “thảo nào” rồi tôi mang chiếc rổ và cái đĩa nhôm đi vào buồng. Vừa đi tôi vừa nghĩ, làm sao mấy ngày tới, kiếm đâu được miếng vải khâu cái túi đựng bát, đĩa mới được. Ngay buổi chiều nay, một chiều thứ Bẩy không mưa rơi. Sau khi đi lao động ở lán về, anh Lân đã phổ biến cho toán, sáng mai Chủ Nhật toàn trại đi lao động xã hội chủ nghĩa. Mục đích là dọn dẹp, sắp xếp làm vệ sinh toàn trại để chuẩn bị ăn Tết.

Toán 2 là toán có tay nghề, nên được phân công sang sửa, làm hai luống hoa dài trước nhà số một và số hai. Buổi tối, mới điểm xong, anh Lân đã lại vẫy tay gọi tôi sang chỗ anh. Chẳng hiểu vì nguyên cớ nào, tôi cảm thấy anh Lân dành cho tôi một sự gần gũi, thân thiện như đã quen biết nhau từ lâu. Anh mở choàng chiếc chăn anh đang ngồi khoác ra để tôi cùng vào ngồi. Choàng chung một chiếc chăn ngồi nói chuyện cho ấm.

Phần do lòng thiện cảm mến người của anh; phần khác do những cái ngỡ ngàng của buổi ban đầu giữa một nơi còn nhiều cái tôi chưa biết; lại nhìn thấy bao nhiêu hiện tượng làm cho tôi chưa được yên lòng nên khi anh gọi, tôi vẫn đến với anh. Tôi nghĩ rằng, mình thân mật, thường chuyện trò với anh toán trưởng sẽ ít lo lắng cho những ngày sau. Vả lại, khi mới chuyển đến một môi trường mới, một vị trí mới trong cái mặt trận không dao, không súng này, không gì bằng hãy tìm một chỗ nấp tốt; một chỗ đứng tương đối an toàn, để quan sát, nghe ngóng đã chứ! Cho nên, dù có thân mật, chuyện trò với ai thì tôi vẫn chả hay chưa thổ lộ hoặc nói một điều gì ngược lại với xu hướng tiến bộ chung hiện nay.

Khi anh biết tôi chỉ là một học sinh trong Nam, chưa vợ con gì, anh càng trêu đùa và cứ gọi tôi bằng “mày” xưng “tao”. Lúc này tôi cũng đã biết nhiều anh em gọi lén anh là “Lân Lợn”, có lẽ vì con người sồ sề của anh. Ngay buổi tối đó, qua anh Lân, tôi được rõ thêm về lao động xã hội chủ nghĩa. Cứ một Chủ Nhật đi làm, thì một Chủ Nhật được nghỉ. Như vậy mỗi tháng có 4 tuần thì 2 tuần phải mất đi buổi sáng Chủ Nhật.

Một tuần lễ có 7 ngày, thì đi lạo động 6 ngày rưỡi. Lao động thì cực nhọc như trâu, bò. Dù bất cứ ở ngoài đồng, trong rừng hay trong lán đều phải dốc hết sức mình ra làm việc. Quấn áo dơ dáy, mủn rách phải đụp vá, giặt giũ, còn tắm rửa. Với bao nhiêu việc khác nữa cho một cá nhân mà chỉ có nửa ngày. Con người bị coi như một cái máy. Bắt máy chạy liên tục mà chỉ đổ rất ít dầu, lại chỉ là dầu cặn, dầu thô như lời anh Khải đã phát biểu.

Đêm hôm ấy, lòng tôi cứ ngổn ngang với bao nhiêu khắc khoải cho cảnh đời trước mặt, nhất là lại nghe tin anh Khâm nào đó mà tôi chưa hề biết mặt, mắc bệnh lao của toán 2 đã chết ngay, trong đêm. Thế là toán 2 cũng chưa kịp cử người thăm hỏi, như đề nghị của bác Chánh trong buổi sinh hoạt tối hôm qua.

Mấy đêm nay, đêm nào giấc ngủ cũng không yên, tôi cứ trằn trọc thấp thỏm mệt mỏi rã rời cả thể xác, lẫn tinh thần; tôi chìm đắm vào cơn ngủ muộn xen lẫn những tiếng thở dài.

Sáng hôm nay, tôi đã mở mắt rồi mà chưa thấy kẻng báo thức. Liếc nhìn đây đó trong buồng, vẫn màn mắc vây kín mít. Không chịu được mãi nỗi băn khoăn trong lòng, tôi cố liếc nhìn qua khe hở của tấm vách liếp. Bên ngoài, trời đã hơi mờ mờ sáng, rõ ràng đã muộn hơn mọi khi. Tôi nghiêng người nhìn qua màn Vân. Thấy dáng Vân vẫn nằm dài, không biết thức hay ngủ. Tôi còn đang nhấp nhổm chưa yên thì hình như Vân cũng đã đoán được nỗi bần thần của tôi. Khi thấy tôi cứ xoay trở lục đục, Vân nhỏ nhẻ như tiếng gió:

– Cứ ngủ nữa đi. Chủ Nhật, sáu giờ ba mươi mới kẻng báo thức.

À ra thế! Bụng tôi nghĩ vậy, rồi tôi mơ màng để hồn lãng đãng cho thân xác bập bềnh chìm nổi trong giấc ngủ tiếp mập mờ. Hồn tôi đang lơ lửng với gió mây thì tiếng kẻng đã khua vang núi đồi. Những chiếc máy người lại bắt đầu khơi động cho công việc một ngày.

Qua những lúc chuyện trò ngắn ngủi với Vân, mãi đến hôm nay, tôi mới biết Vân không hút thuốc lào. Mặc dù những năm trước đây, anh đã hút khi mới bị bắt vào. Bây giờ anh đang cố xoay sở, móc nối với những anh tự giác của toán rua, để mua được những lá thuốc khô (một loại thuốc lá, khác với cây thuốc lào) do chính họ tranh thủ ngoài giờ, trồng được trong khu vực của toán họ. Vì không có công sức và thời gian chăm bón, nên mỗi anh chỉ trồng được vài chục cây. Do đó, khi các anh lén lút đưa thuốc được vào trong trại, thì bán hơi đắt. Chỉ những ai có nhiều tiền mới hút được.

Như vậy, tôi đã hiểu về giờ giấc ngày Chủ Nhật lao động xã hội chủ nghĩa. Bảy giờ ba mươi mới kẻng tập họp để tám giờ thì bắt tay vào lao động, đến mười hai giờ trưa mới nghỉ. Những điều ấy tôi chưa hỏi anh Lân tối hôm qua.

Khoảng bảy giờ, anh Lân, Vân và tôi ngồi nhai sắn sáng, trên chiếc chiếu con trải trên hè nhà, ngay cạnh cửa ra vào. Trời sáng nay không một vẩn mây, tuy thỉnh thoảng những đợt gió mùa Đông Bắc vẫn ào ào, luồn cái rét ngọt vào cơ thể mọi người. Nhưng ai cũng cảm thấy dể chịu hơn là có thêm mưa. Bởi vậy, trên hè, tuy bằng đất nện, nhưng khô ráo sạch sẽ nên cũng lố nhố nhiều người. Cả toán ba lẫn toán hai đang ngồi ngồm ngoàm những củ sắn để chờ giờ đi lao động.

Từ dưới sân chính phía nhà bếp, thoáng thấy bóng tên trực trại đi lên. Khi tới ngang buồng hai, y ngoặt vào, bước lên hè, làm nhiều người râm ran lên tiếng:

– Chào cán bộ ạ!

Y bước vào trong buồng một mình, nên anh Lân buồng trưởng phải đứng lên vào theo. Bên ngoài này, tôi và hẳn còn nhiều người đều nghĩ, y lại sắp đem ai đi cùm, nên những chiếc mồm đang nhai sắn đều ngập ngừng, lắng nghe chờ đợi.

Một lúc sau, từ trong buồng y trở ra tới cửa, tôi và Vân vẫn cúi đầu chậm chạp, ngoạm nốt suất sắn sáng đang ăn dở. Thoáng bóng một bàn chân dép râu với chiếc ống quần mầu vàng, vừa để lên bậu cửa buồng, chếch ngay phía sau lưng tôi. Như vậy, y đang đứng nhìn Vân và tôi. Một giây sau, y cất tiếng hỏi đột ngột:

– Anh Bình, đêm qua anh nói mơ hay nói thật? Anh nói gì anh còn nhớ không?

Tôi quay lại, vì hơi bất ngờ nên làm tôi cũng hơi ngỡ ngàng. Tuy thế, chợt nhớ tới sự việc của y với anh Phạm Tấn Tích sáng hôm qua, nên tôi đã bình thản hỏi lại y:

– Thưa ông tôi đã nói mơ gì ạ?

Một vài giây, y ngập ngừng, trong khi có nhiều bộ mặt chung quanh, kể cả anh Lân đang lo lắng nhìn tôi. Hơi sừng sộ, y lớn tiếng:

– Anh thường nghĩ về cái gì, thì anh nói cái đó!

Hơi nhếch mép nhưng không cười, tôi trả lời:

– Nếu vậy, hẳn rằng tôi lại nói về cái ăn rồi. Vì suốt ngày, lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ đến cái ăn mà thôi.

Hơi nặng chân, y bước hẳn ra ngoài, xuống sân. Ngoay ngoảy đi về hướng nhà bếp, hẳn rằng trong lòng y đang mang một nỗi hậm hực. Tôi nghĩ thầm: thật là may, câu trả lời của y đã mở cho tôi một lối thoát để trả lời. Bởi vì, tuy từ nhỏ tới giờ tôi chưa hề bao giờ nghe thấy ai bảo tôi ngủ nói mơ, dù rằng tôi thường nằm chung đụng với nhiều người khi còn ở trại sinh Phú Thọ cũng như trong tù hiện nay. Song le ai dám chắc chắn, khẳng định hiện nay và sau này mình không bao giờ nói mơ, nói sảng? Chứ còn ngủ mơ thì ai mà chả. Nếu không thì làm sao lại vẫn có câu ca dao lơ lẳng: “đố ai nằm ngủ không mơ…”

Y đã đi rồi, cũng chẳng một ai hỏi han tôi về sự việc này, kể cả anh Lân và Vân ngồi ngay cạnh tôi. Đưa mắt nhìn lên mấy tảng mây trắng đang lững lờ bay, tôi nói một câu trống không:

– Hôm nay trời rét ngọt!

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Một buổi sinh hoạt cuối tuần

Đặng Chí Bình

Bài 13

Hôm nay khi cán bộ trực trại vào điểm xong, sau khi cửa đóng, anh Lân cất cao giọng nói với toán hai:

– Mười lăm phút, các anh toán hai hút thuốc, đi giải rồi ta vào sinh hoạt toán.

Không thấy tiếng đài léo nhéo như hôm qua. Tôi hỏi Vân thì được biết, hôm nay thứ Sáu, không có đài, để cho các toán, các buồng sinh hoạt hàng tuần. Vân móc túi mời tôi điếu thuốc cuộn, rồi nhẹ nhàng nói:

– Tôi nghe Bình được vào làm ở tổ vernie, may đấy. Công việc mộc nặng lắm!

Ngưng một lúc, đốt điếu thuốc, Vân lại hỏi:

– Thế nào, cảm tưởng Bình ra sao sau một ngày đi lao động?

Nhiều ý tôi định nói, nhưng tôi trả lời lập lờ, sau khi mồi xong điếu thuốc Vân đưa:

– Mình là tù thì chỉ biết cố gắng.

Nói rồi, tôi hỏi tiếp Vân, giọng hơi thắc mắc:

– Này, sao tôi thấy sau lưng nhiều người có số tù. Nhiều anh lại chỉ có chữ “cải tạo”?

Vân cũng nhìn tôi như cái nhìn của anh Đồng, khi tôi hỏi về hai người bị phạt đứng ở cổng trại lúc chiều, rồi chậm rãi nói nhỏ:

– Điều này chẳng ai hiểu được. Tập trung hay người ta thường gọi là “tắc bọp” thì không có án đã đành. Nhưng nhiều người có án cũng không có số. Như tôi đây chẳng hạn.

Vân nói đến đây thì anh Lân ngồi ở sàn phía trước, ngay cạnh cửa ra vào, vẫy tay ra ý muốn gọi tôi sang. Vừa đến nơi, Lân kéo tay tôi ngồi xuống cạnh, rồi ghé tai tôi nói nhỏ:

– Tao đề nghị, và nói mãi với cán bộ để mày về tổ vernie đấy!

Thấy cử chỉ của anh tỏ ra đầy thiện cảm, qua ánh mắt của anh cũng không thấy gì phải dè dặt, tôi cũng thân mật:

– Trong Nam anh ở đâu? Gia đình ấy!

– Vợ con tao ở Nghĩa Hòa, Ông Tạ, Sài Gòn. Thế còn mày?

Anh vồn vả hỏi lại tôi. Mừng ra mặt, tôi cũng niềm nở:

– Cũng ở gần anh, cuối đường Bắc Hải, Lê Văn Duyệt, và cũng Ông Tạ.

Anh rối rít đập vào tay tôi:

– Thế à, thế sao tao không trông thấy mày bao giờ?

Tôi thấy buồn cười, rồi cũng trả lời anh:

– Thế mà tôi lại…cũng không trông thấy anh bao giờ.

Anh cười như nắc nẻ thành tiếng. Tôi cảm thấy anh cũng không có gì sâu, hiểm. Người anh, tuy da vẫn còn tai tái như mọi người tù khác, nhưng anh vẫn mập so với nhiều người. Tôi đang nghĩ ngợi về anh, thì anh lại đập vào tay tôi như thúc giục:

– Thôi về sinh hoạt đã, mai nói chuyện tiếp.

Nói dứt, anh đứng lên, đi ra giữa nhà cất tiếng dõng dạc:

– Anh em toán hai ở sàn trên xuống hết dưới này. Toán hai ngồi gọn tập trung sinh hoạt ở phía đầu này. Còn toán ba sinh hoạt ở sàn trên, phía đầu kia để không bị ảnh hưởng lẫn nhau. Anh vừa nói, tay anh vừa khoắng ra hai phía của căn nhà.

Trong buồng rầm rập, người trèo lên, người trèo xuống. Một vài tiếng í ới lớn tiếng của toán ba nhắc một người vào nhà xí, lấy chiếc đèn trong đó ra để sinh hoạt. Một anh toán hai trèo lên sàn trên với, tháo chiếc đèn bão đang treo giữa nhà xuống. Chỉ hai phút sau, căn buồng lại trở về im lặng. Trong góc phía sàn dưới, toán hai gồm năm mươi người quây quần, tụm lại một đám thành một vòng tròn. Ngay ở giữa, để một khoảng trống hơn một mét vuông. Lù lù ở một mé khoảng trống, đặt ngay trước mặt Phan Thanh Vân được Lân chỉ định làm thư ký ghi biên bản buổi sinh hoạt là một chiếc rương bằng gỗ, quét mực tím đã phai màu. Trên mặt rương, một góc là chiếc đèn bão, chính giữa là mấy tờ giấy trắng. Cái bút và lọ mực cũng mầu tím. Anh Nguyễn Huy Lân, toán trưởng chủ trì cuộc họp đang ngồi cạnh Phan Thanh Vân. Tôi ngồi trong một góc phía sau, cạnh Bùi Tâm Đồng với cậu Châu.

Ánh sáng của chiếc đèn bão hắt ra, làm cho những khuôn mặt ngồi xa phía sau thành đen thẫm. Lấp loáng những đốm mắt trắng đục lờ đờ, đăm chiêu đều nhìn vào chiếc đèn. Thoang thoảng một vài tiếng thì thào, rì rầm trong yên lặng. Nguyễn Huy Lân hơi dướn người lên, mắt lướt nhẹ một vòng qua các khuôn mặt, khèn khẹc vài tiếng, gãi cục đờm thuốc lào trong cuống họng. Anh cất tiếng, giọng vẫn còn rè:

– Lệnh và chỉ thị của ông cán bộ toán cho chúng ta sinh hoạt hôm nay nhấn mạnh. Toán ta phải đào sâu, cọ kỹ, mổ xẻ cụ thể về vấn đề tư tưởng. Toán chúng ta đã có truyền thống lao động hăng say, ít vi phạm nội quy của trại, triệt để áp dụng nếp sống văn hóa mới, thực hiện nghiêm chỉnh bốn tiêu chuẩn cải tạo, sản xuất thường vượt mức kế hoạch. Vậy mà chưa năm nào khi bình bầu, toán ta được là toán xuất sắc. Như vậy là vì sao? Chính là vì vấn đề tư tưởng. Chúng ta phải thừa nhận rằng thành phần của toán chúng ta thật phức tạp. Nhiều cặn bã, mầu sắc, khuynh hướng được buộc chặt, gói kín. Nhưng thỉnh thoảng vẫn lấp ló ra trong lời nói hay hành động.

Chúng ta đều biết, hiện nay trong nhà kỷ luật có 6 người của toàn trại mà riêng toán ta đã chiếm 3 người. Tóm lại, chúng ta không thể phủ nhận là toán ta rất nặng về khâu tư tưởng. Bởi vậy, tôi đề nghị các anh hãy thành khẩn, tự nguyện trình bầy những khúc mắc trong lòng mình cho mọi người cùng đóng góp qua lại lẫn nhau, xây dựng giúp cho nhau cùng tiến bộ.

Anh Lân đã ngừng lời, cục hầu ở cổ anh cứ động đậy nhô lên, thụt xuống; chẳng hiểu vì muốn lấy hơi hay nuốt nước bọt? Láo liêng con mắt, anh nhìn khắp một lượt, đợi chờ.

Một phút, rồi hai phút, vẫn im lặng, nặng nề; nghe rõ cả một anh đang gãi bụng sồn sột. Một số cái đầu hơi cúi thấp xuống như muốn tráng ánh đèn. Bầu không khí đã bắt đầu hơi ngột ngạt, mặt tôi cũng dần dần nóng lên. Có lẽ anh Lân cũng thấy cái tắc nghẽn của sự im lặng, vì vậy anh lại rổn rang cất tiếng để tháo nút:

– Bây giờ trước hết từng tổ lần lượt phát biểu trình bầy những vướng mắc và những sự việc chính của tổ mình trong tuần qua.

Anh Lân vừa dứt lời thì đã có hai người giơ tay xin phát biểu. Cả hai anh tôi đều chưa biết tên, anh Lân chỉ một anh có cái đầu nhọn hoắt, cái môi dưới thưỡn ra như môi cá ngão, anh nói sôi nổi như cổ vũ:

– Hoan nghênh anh Dũng tổ 4. Xin mời anh phát biểu!

Anh có cái tên Dũng, lấy tay hất mạnh mái tóc đang phủ xuống mặt như đuôi con gà trống lên; mắt đăm đăm nhìn ngọn đèn:

– Tổ tôi gồm có 9 người, hiện nay chúng tôi nhận thi công 10 chiếc giường đôi của toán. Nói chung về khía lao động thì mọi người đều nổ lực làm đều tay. Còn về tư tưởng của mỗi người thì tôi không thể biết được. Tuy vậy, chỉ có anh Lù Chằn Păng, trong giờ lao động, anh hay lén lút làm đồ tư. Cụ thể tôi đã đưa một chiếc hộp con anh đã làm bằng gỗ Mỡ, báo cáo với cán bộ toán. Mặt khác, những buổi trưa hay chiều, anh Páng thường lẩn ra phía sau hội trường để liên lạc, quan hệ thì thầm to nhỏ với nhiều người dân tộc khác. Hiện tượng này, trong tổ chúng tôi đã nhiều lần giúp đỡ, nhưng anh vẫn cứ chứng nào tật ấy. Chưa hết, chiều Chủ Nhật vừa qua, anh Páng đã đem 4 con tem thư để đổi lấy con chuột nướng của anh Thiềng tự giác toán 6.

Thấy y phát biểu cứ giật đùng đùng như người ta đánh trống ngũ liên; tôi hỏi nhỏ cậu Châu ngồi bên cạnh. Tôi đã biết Châu là một trong nhóm 4 người mà Shè Khửu Sáng đã nói với tôi:

– Này em, Dũng, y tội gì?

Châu ghé sát vào tai tôi thì thào:

– Thằng này tiến bộ lắm! Nó thuộc đảng phái trong nhóm của Phạm Huy Tân. Nó là Lê Khắc Dũng, anh em vẫn gọi nó là Dũng Khoằm. Anh có nhìn thấy cái mũi của nó khoằm xuống như mỏ con vẹt không?

Trong khi Châu đang thì thầm với tôi thì anh Lân đã hướng về anh thứ hai, đã giơ tay lúc nãy:

– Bây giờ xin mời anh Đinh Sơn, tổ kỹ thuật phát biểu.

Nghe anh Lân gọi là Đinh Sơn, tôi cứ chằm chặp nhìn anh ta mãi. Óc tôi đang lục tìm những cái tên trong toán Boone biệt kích đã ra đầu hàng. Phải rồi Đinh Sơn, Lân, Thú, Công Thành v.v… Hôm qua tôi đã nhìn thấy anh này nhiều lần ngoài lán mộc. Dáng anh cao cao, nhưng cái lưng lại hơi cong về phía trước. Tóc anh cắt ngắn ngủn, đôi mắt to và sâu, làn lông mày thật thưa. Nét mặt luôn đăm chiêu, chưa thấy lúc nào anh ta cười.

Trong khi tôi đang thả hồn nghĩ ngợi về anh và toán Boone thì anh đang chậm rãi, nhỏ nhẻ phát biểu:

– Tổ chúng tôi chỉ có 3 người, thường sản xuất mặt hàng làm kỹ, riêng cho cán bộ và ban giám thị nên không có định mức. Tuy vậy, trong phong trào thi đua một người làm việc bằng hai để góp phần chống Mỹ cứu nước, tổ chúng tôi luôn luôn cố gắng thao tác tay nghề thành thực; nâng cao kỹ thuật để đạt hiệu suất cao. Hàng ngày chúng tôi thường động viên, giúp đỡ nhau trong ý thức tập thể vươn lên; triệt để hưởng ứng phong trào thi đua chung của trại.

Tuy lời phát biểu không có gì đặc biệt, nhưng anh nói từ tốn, trầm trầm thể hiện sự điềm đạm, sống nhiều về nội tâm. Tôi đang nhìn chiếc lưng dài, cũng hơi cong cong của Phan Thanh Vân đang ngồi khòm xuống ghi biên bản thì anh Lân lại hướng về một anh nhắc nhở:

– Còn tổ 3 của anh Phạm Tấn Tích nữa. Tổ vernie của anh Quý phát biểu đi chứ!

Một anh chắc là Tích, tuy còn trẻ nhưng dáng lùn tịt. Từ sớm, anh vẫn ngồi im lặng nhìn xuống khoảng chiếu trước mặt. Chiếc cằm của anh lẹm ngắn cũn cỡn; hàm răng trên lại hơi hô, nên nhìn thoáng, cứ tưởng như anh không có cằm. Anh ngẩng lên nhìn về phía chiếc đèn; cũng khọt khẹc gại giọng rồi anh nói ẽo ợt, giọng đặc Bến Tre:

– Tổ chúng tôi gồm 10 người, hiện đang nhận đóng 5 chiếc tủ áo hai ngăn của trại. Trong ý thức thi đua thực hiện tốt 4 tiêu chuẩn cải tạo, chúng tôi luôn nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, nâng cao tay nghề, nỗ lực lao động sản xuất để đạt năng suất cao. Về nội quy, tổ chúng tôi không vi phạm. Tuy vậy, tôi xin đề bạt một ý kiến trong thực tế mà chúng ta lại không ai nói đến. Nói đến đây, anh Tích ngừng lại, a hèm mấy cái. Chắc bị vướng mấy tảng đờm trong cuống họng, vừa như anh cố ý để cho mọi người sốt ruột rồi mới nói tiếp:

– Trong phong trào thi đua một người làm việc bằng hai góp phần vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước với nhân dân. Hầu hết chúng ta ai ai cũng ra sức cải tạo, lao động không tiếc thân mình. Nhưng thực tế trong những buổi lao động, mọi người hùng hục hăng say thao tác chỉ được một giờ đầu, rồi sau đó rã rời uể oải dần. Tay cưa, tay đục, tay bào; thậm chí anh nào cũng hoa mày chóng mặt. Trong khí thế cả nước, quân cũng như dân đang dốc toàn lực cho sản xuất và chiến đấu, chúng ta không được quyền đòi hỏi ăn nhiều. Chúng ta chỉ xin ăn tạm đủ để có sức mà lao động sản xuất. Hơn nữa trong vụ giáp hạt của trại ta vừa qua: gạo chúng ta không có đã đành, nhưng sắn cũng không đủ, nhất là rau. Phương ngôn của dân tộc ta vẫn có câu: cơm không có rau, như đau không có thuốc. Chúng ta thiếu rau trầm trọng. Ăn muối rang nhiều bữa, nhiều người trong toán đã đi ngoài ra máu, trong đó có tôi. Toán chúng ta lại chỉ quanh quẩn làm trong lán thủ công…..

Anh Tích phát biểu đến đây, chừng như mệt ngừng lại để lấy hơi. Mọi người đều dướn người nhìn về phía anh. Da mặt ai hình như cũng được giãn ra, nên hơi sáng lên. Anh Tích lại tiếp tục:

– Tôi được biết toán rau đang thu hoạch toàn bộ 5 sào cải bắp cho cơ quan. Tuy những lá già được thu hoạch về phân phối một phần cho trại ta, một phần cho chăn nuôi của cơ quan. Nhưng anh em toán rau cho biết, vẫn còn nhiều rơi rớt, lãng phí. Do đấy, tôi đề nghị anh toán trưởng hãy mạnh dạn đề bạt với cán bộ toán quan hệ với ông Toàn cán bộ toán 5 cho anh Chén nhặt nhạnh và xin một ít lá cải bắp già về luộc cải thiện cho toán.

Đến đây thì mọi người nhao nhao lên tán đồng, ủng hộ ý kiến của anh Tích. Ngay cả tôi, mới vào có mấy ngày, cũng sót ruột như bào vì bữa cơm chỉ có sắn mà không có rau. Trong toán vẫn còn râm ran, ồn ào cả lên. Anh Lân phải cao giọng hai lần:

– Các anh trật tự, im lặng để sinh hoạt tiếp.

Rồi anh qua sang Phan Thanh Vân:

– Bây giờ đến tổ anh Vân cho ý kiến.

Từ đầu Vân vẫn cắm cúi ghi chép. Bỏ bút, anh hơi ưỡn người, chắc cho đỡ mỏi. Vì anh ngồi sát chiếc đèn, tôi nhìn rõ cái mắt chột phía trái của anh. Nó hoắm sâu vào như cái lỗ đáo, một vệt nước ướt vàng nhờn nhợt đang rỉ ra. Một cái sẹo dài ngòng ngèo, có một miếng thịt gồ lên ở dưới má. Mấy nốt sần sùi gần ngang miệng càng làm cho bộ mặt hơi to của anh thêm dữ tợn. Bù lại, anh có giọng nói nhỏ nhẻ và ấm cúng với chiếc miệng lúc nào cũng như cười, đã làm giảm hẳn cái nét dữ trên khuôn mặt. Một mắt anh liên láo nhìn mọi người một lúc, rồi cất giọng nói từ từ, thong thả:

– Tổ chúng tôi gồm 10 người. Chúng tôi đang nhận kế hoạch thi công 50 cái giường cá nhân. Sau nhiều lần bàn cãi, trao đổi, tổ chúng tôi đã cùng nhau hạ quyết tâm sẽ vượt mức ấn định 3 ngày, để lấy thành tích chào mừng quân và dân ta đã hạ 2000 máy bay của giặc Mỹ xâm lược. Nhưng hiện nay, chúng tôi hơi gặp khó khăn: anh Khải bị đi kỷ luật sáng hôm nay, do đấy, hẳn rằng chúng tôi sẽ không thể thực hiện được mức đã giao kết. Ngoài ra, sáng hôm nay có sự hiểu lầm để đến chỗ tranh chấp nhau về gỗ lạt với tổ anh Tích. Tôi thấy rằng tổ anh Tích đã sai. Những tấm ván đó, chúng tôi đã mất công lục lọi, bới tìm từ trong đống gỗ của lán chọn ra. Như thế, những tấm ván mà anh Lân toán trưởng phân cho tổ anh Tích là những tấm ván khác. Hoặc, chính anh Lân đã chưa biết những tấm ván ấy là của chúng tôi đã chọn ra nên đã phân bổ cho tổ anh Tích.

Sau khi Vân phát biểu xong, đến Quý Cụt tổ vernie của tôi cũng phát biểu, nhưng không có gì mới. Đến đây, anh Lân lại nhìn khắp lượt cả toán rồi dè dặt thăm dò:

– Sau khi chúng ta đã nghe các tổ đã lần lượt trình bầy, bây giờ xin anh em trong toán phát biểu.

Anh Lân chưa dứt lời đã có 3 – 4 cánh tay giơ xin có ý kiến. Trong 4 người này thì tôi đã biết 2 là Lù Chằn Páng và bác Đặng Minh Chánh. Anh Lân chỉ bác Chánh nói trước. Với giọng miền Nam khàn khàn, nhưng bác nói thật to và mạch lạc:

– Tôi phản đối ý kiến của anh Lân toán trưởng khi nãy, cho là toán hai khâu tư tưởng quá nặng nề. Tư tưởng là trừu tượng! Bản thân của tư tưởng thì không ai nhìn thấy nên không thể ai đánh giá được là xấu hay tốt. Vậy chỉ có thể đánh giá được khi nó thể hiện ra lời nói, cử chỉ hay việc làm. Bởi tư tưởng là thống soái, là bộ tổng tư lệnh chỉ huy mọi việc làm, cử chỉ cũng như lời nói của một người. Toán 2 chúng ta như các tổ đã trình bầy, hầu hết là hăng say, tích cực lao động. Lao động có hiệu suất cao, vượt nhiều chỉ tiêu kế hoạch, làm lợi cho công quỹ của trại. Thực hiện nghiêm chỉnh 12 điều nếp sống văn hóa mới, 10 điều nội quy và 4 tiêu chuẩn cải tạo. Như thế, nếu bảo tư tưởng không tốt, tư tưởng nặng nề thì làm sao đạt được những thành tích tốt đẹp như vậy? Làm sao mà hầu hết những công trình chính, những việc trọng yếu trong trại gần như đều do toán 2 thi công, thực hiện? Do đấy, những anh em bị đi kỷ luật là những cái riêng biệt cá nhân của mỗi người. Không thể nào chỉ nhìn vào vài cá nhân này mà đánh giá cả toán 2. Phần nữa, hiện nay anh Khâm của toán ta bị bệnh lao, đang nằm ở bệnh xá. Hôm qua tôi được biết, do thời tiết quá lạnh và do thiếu… à bệnh tình của anh khá nặng nên hai ngày nay anh đã lịm đi, ngay nước cháo cũng không ăn được nữa. Có thể đêm nay, hoặc ngày mai sẽ từ giã chúng ta. Tôi đề nghị, ngày mai nếu anh còn sống, toán ta cứ lấy hai người đại diện. Tuy chúng ta cũng chẳng có gì để giúp mình, nhưng gọi là nghĩa tình cùng một tầu ngựa, thăm hỏi, an ủi nhau bằng một vài lời cho ấm lòng kẻ ra đi.

Ông già nói hùng hồn, nói phòi cả bọt mép ra. Cứ mỗi lần, ông nhấn mạnh, tay của ông lại vẩy ra một cái, như có con sâu róm đậu vào tay; như phụt ra được một ấm ức đã ủ nên từ lâu. Anh Lân lại chỉ tiếp một anh khi nãy đã giơ tay xin phát biểu. Anh này người thật to lớn khác thường, còn cao hơn cả Phan Thanh Vân. Anh là người cao, to nhất toán, có khi nhất trại. Cũng cái đầu cắt cao như Đinh Sơn, anh có làn da bánh mật. Những ngón tay của anh to như những quả chuối tiêu xanh luộc rồi, vừa dài, vừa xam xám. Nhưng anh lại có một bộ mặt nhìn thật hiền. Tò mò tôi lại ghé sang Châu thì được biết anh là Lê Văn Kinh, người nhái bị bắt trong vụ nổ, phá một chiếc tầu trên sông Gianh năm 1962. Khi phát biểu, tôi mới biết anh là người miền Nam. Anh nói giật giọng không đầu, không gẫy gọn, sáng tỏ ý. Chứng tỏ rằng anh không phải là người quen ăn nói, tranh cãi trước đám đông. Nội dung anh phát biểu cũng chẳng có gì khác lạ; không ngoài mấy vấn đề sinh hoạt, lao động trong tổ, trong toán. Nghe anh phát biểu, tôi có cảm tưởng anh chỉ muốn chúng tỏ là một người cải tạo tiến bộ, có tinh thần đóng góp với tổ, với toán mà thôi.

Lần này thì anh Lân chỉ tiếp đến Lù Chằn Páng. Anh này, da trắng trẻo như con gái. Người tầm thước, hay mặc chiếc áo bóng xanh mầu da trời, nhiều chỗ bạc phếch với nhiều miếng vá loang lỗ. Tuy tiếng Việt nói không rõ lắm về âm sắc; chỉ thô kệch, mộc mạc, nhưng mặt anh đỏ lên trong khi phát biểu. Những lời nói của anh như được xì ra từ một nỗi căm tức, uất ức trong lòng:

– Tôi xin có ý kiến với anh em là anh Dũng tổ trưởng của tôi không có tốt. Anh ta cậy mình là tổ trưởng, áp chế tôi không biết ăn nói, là người dân tộc. Từ lâu, tôi có một miếng xà phòng của gia đình tiếp tế. Anh muốn xin một nửa, tôi không cho. Tôi để dành, để thỉnh thoảng gội đầu. Rồi anh ta ghét tôi. Anh ta giữ nội quy cũng không có tốt. Hôm nọ, buổi trưa, tôi thấy anh ta vào phòng trật tự của anh Tân cùng vụ với anh, giấu đem về buồng củ sắn nướng. Tôi nằm gần, thấy anh bỏ màn, lén lút lấy ra ăn. Anh Dũng không có cải tạo tốt đâu!

Một vài tiếng cười rúc rích khi nghe anh Páng phát biểu. Tôi cũng thấy rung rung trong bụng, không phải vì nội dung lời phát biểu của anh, nhưng là cử chỉ, thái độ tức bực, phẫn nộ của anh. Tuy ai cũng cảm thấy là anh đã nói thật.

Còn một người có ý kiến nữa là anh Lương Yên. Người quét dọn vỏ bào, làm vệ sinh ngoài lán thủ công của toán. Tuy anh chỉ khoảng 45 – 46 tuổi nhưng mồm anh chỉ còn cái răng, nên má hóp vào thành móm sều. Anh đề nghị mọi người trong toán khi lao động ở ngoài lán thủ công hãy tiết kiệm nước uống. Các cán bộ vũ trang, từ nay chỉ dẫn anh vào giếng trại lấy nước có một lần vào tiết lao động sáng. Bởi vậy, chỉ có một gánh nước nên buổi sáng một thùng và chiều một thùng, thay vì hai gánh sáng, chiều như trước đây.

Vì không có đài, nên cũng chả biết lúc này là mấy giờ. Nhìn qua khe cửa sổ ra bên ngoài, trời đen kịt một mầu. Tuy ngồi trong buồng, cạnh bao nhiêu người mà tôi vẫn lạnh run. Nhiều người đã ra chiều mỏi mệt, ít nhất cũng gần 3 tiếng đồng hồ rồi. Tư tưởng tôi đang bồng bềnh băn khoăn, vấn vít vào những tình huống của cảnh đời mới thì tiếng anh Lân dội lên:

– Cuối cùng xin anh Bình phát biểu cảm tưởng sau một ngày đi lao động.

Không hề nghĩ là anh Lân muốn tôi phát biểu hôm nay, vì tôi đã biết gì đâu? Bất ngờ nên hơi khớp, tuy vậy sau một giây lấy lại tinh thần tôi chậm chạp nói:

– Thưa các anh, sau một ngày theo các anh đi lao động ở lán. Nó cũng là ngày đầu tiên đi lao động trong cuộc đời cải tạo của tôi. Rồi tối nay lại được dự một buổi sinh hoạt chung với toán. Cảm tưởng của tôi thì nhiều, nhưng cảm tưởng nào cũng còn nhiều ngỡ ngàng chưa rõ, chưa chính xác. Có một điều đã rõ nhất là tôi được an lòng hơn so với khi chưa nhập trại.

Anh Lân thấy tôi ngừng lời, anh quay sang phía Vân:

– Đề nghị anh thư ký đọc lại biên bản cho toàn toán nghe như thường lệ.

Phan Thanh Vân đọc lại biên bản chưa xong, tuy đã gần hết thì kẻng cấm đã gióng giả từng tiếng một, lanh lảnh vang lên như khua đập vào óc. Trong buồng lại ồn ào như tan hát. Chỗ thì chen chúc nhau vào nhà cầu, chỗ thì túm hụm chung quanh những chiếc điếu cầy, trong khi Vân và Lân đang vội vàng ký vào những tờ biên bản.

Một! Hai! Ba! Dzô!

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Chuyện rằng: Một con vợ Úc đang tù tí với bạn tình trên giường thì nghe tiếng chồng mình đút chìa vào ổ khóa. “Nằm yên đi! Thằng chả xỉn lắm; không để ý thấy anh nằm trên giường với em đâu!”

Y như kinh! Chồng Úc leo lên giường, híp con mắt rồi hè; tính ngáy ‘o o’ nhưng: “Ủa trong chăn sao lòi ra tới 6 cái bàn chưn hè? Sao kỳ vậy hè? Đúng ra là phải có 4 thôi chớ? Chuyện gì đã xảy ra ở đây vậy em yêu?”

“Chắc tại anh xỉn quá nên đếm nhầm. Leo xuống khỏi giường rồi đếm lại coi!”

Chồng Úc tuột xuống, đếm: “Một, hai, ba, bốn! Em yêu của anh bao giờ cũng đúng hết! He he!”

Vâng! Úc đây, nhậu cũng danh trấn giang hồ vậy đó! Vô Liquorland, chuyên bán rượu bia của Úc, ôi thôi tùm lum nhãn hiệu. Rượu vang đỏ, vang trắng, rượu mạnh trong nước, ngoài nước. Từ rượu rẻ tiền cho tới mắc tiền vài ngàn đô một chai rượu đỏ 700 ml cũng có.

Thủ hiến Barry O’Farrell của tiểu bang New South Wales, năm 2014, bị buộc phải từ chức vì nhận quà tặng nhưng quên khai báo, một chai rượu vang đỏ giá sơ sơ chỉ có 3 ngàn đô Úc thôi!

Rượu mắc, uống chắc thơm râu! Vậy mà đối thủ chánh trị nỡ lòng bứt râu, lôi ông xuống, khỏi cái job cũng rất thơm!

(Còn lương cu li của tui, đành nhậu rượu rẻ rề. Vài chục đô một chai rượu mạnh Jack Daniel’s. 15 đô cho một hộp giấy, đựng 4 lít rượu đỏ, cũng say như thường! Tiền mình làm mình nhậu nên hỏng sợ đứa nào bứt râu mình hết ráo!)

Phần bia bọt thì mỗi người Úc nốc hết 74.2 lít năm, xếp hạng 19 trên bảng phong thần. Âu cũng có số má trên chốn giang hồ đó chớ.

Người viết có thằng Úc làm chung uống bia thay nước lã. Khát là khui một lon bia làm cái ót, cạn hết ráo hè.

Bia có ghiền không? Có chớ. Chính vì vậy trong mơ, ta thấy em về; thì Úc trong mơ ta thấy về cả một biển bia.

Bởi có chuyện vầy nè: Hai ông mướn thuyền đi câu. Máy hư, thuyền trôi giạt. Một ông lượm được chiếc đèn thần đang dập dềnh trên con sóng.

Lấy vải áo cọ vào chiếc đèn và quả nhiên ông thần hiện ra. Ông thần nầy đặc biệt khác hơn những ông thần khác là chỉ ban cho một điều ước duy nhứt chớ không phải là ba.

Không cần đắn đo suy nghĩ gì cho lâu lắc “Xin thần hãy biến biển nước mặn nầy thành một biển đầy bia đi!”

Quả nhiên màu nước xanh thẫm của biển mênh mông biến thành màu bia vàng óng ánh. Quá đã. Cả hai cứ múc lên rồi ngồi nhấm nháp.

Nhưng cuối cùng căng thẳng giữa hai đứa nổi lên. Tên còn lại sỉ vả bạn mình: “Thật là một lời ước ngu ngốc! Bây giờ bụng đầy beer, mình biết ‘xì trum’ ở đâu, ngoài ngay tại trong chiếc thuyền nầy hả?”

Con gái Úc cũng uống nhưng nhấm nháp chút rượu mạnh hay chút rượu đỏ lúc hẹn hò ăn tối với anh yêu, cho má thêm hồng để làm duyên chớ ít có say bí tỉ không biết trời trăng gì ráo như mấy đứa con trai Úc đâu.

Nhưng em yêu kêu: Tốp bớt lại mà thằng chả đâu có nghe; nên em đặt ra cái chuyện ngụ ngôn vầy chửi chơi cho hả giận!

Một con heo vào quán rượu gọi một lít bia. Uống xong, hỏi bồi bàn chỗ đi ‘wee wee (tức đi tè)? “Cuối phòng, bên tay trái!”

Một con heo khác vào quán rượu gọi hai lít bia. Uống cạn, bèn hỏi chỗ đi ‘wee wee’ ? “Cuối phòng, bên tay trái!”

Một con heo khác lại đến quán rượu gọi ba lít bia. Uống xong bèn đứng dậy.

“Sao ông không hỏi phòng vệ sinh ở đâu?”

“Không cần! Trên đường về nhà, ta vừa đi vừa ‘wee wee’ cũng được mà!”

Tháng rồi, người viết được một bạn ní mời đi ăn đám gả con cho Tây.

Cô dâu Việt, chàng rể Úc gốc Ý, đi từng bàn cám ơn bậc chú bác đã đến chung vui.

Thằng nhóc nầy không biết phong tục lễ phép bên đàng gái gì ráo. Đứng cạnh chỗ tui ngồi, nó cầm ly bia sóng sánh, lắp bắp vài câu tiếng Việt: “Xin mời tụi bây! Một! Hai! Ba! Dzô!”

Chào hết 40 bàn khách, thằng rể quý nầy gục luôn ngay tại chỗ… Cho mầy hết hỗn hào nhe con!

Thưa mới đây tui có đọc cái tin vịt rất là giựt thịt như vầy: Một nhà khoa học vừa công bố công trình nghiên cứu của mình về bia cho thấy rằng: Trong bia có chứa nhiều hormornes (hóc môn) nữ.

Hậu quả là quý ông anh mình, ai uống bia nhiều sẽ biến thành đàn bà ráo trọi.

Cuộc khảo sát trên 100 quý ông anh mình, mỗi ngày, mỗi người uống 3 lít bia thì sẽ mập ra như con ‘ột’, lập đi lập lại những lời vô nghĩa lý, rất dễ xúc động hay khóc lóc vô cớ, không lái xe được, hay cãi lộn về những điều nhỏ nhặt và không bao giờ chịu mở miệng ra xin lỗi; dù biết chắc rằng mình đã sai!

Hèn chi trong nước mấy quan chức cỡ chóp bu trong nước đang kêu gào thảm thiết là: bà con mình phải ráng đẻ cho đủ hai con. Mấy ông đừng có tối ngày đi uống bia hoài, nam trở thành nữ hết, bổn phận truyền giống chẳng có lo vì uống bia sướng hơn thì dân số sẽ lão hóa, sẽ già đi, không có người thay thế làm việc thì ai đóng thuế để nuôi nhà nước đây hở Trời?

Năm 2016, người Việt Nam mình cạn sạch có 3,8 tỉ lít bia, thành vô địch Đông Nam Á và có số má trên khắp địa cầu.

Hãng thông tấn tầm cỡ thế giới CNN vừa có đi một bài về ‘Bia Hoi’. (Không bỏ dấu, giữ nguyên văn, xin bà con mình đọc là Bia Hơi chớ không phải Bia Hôi!)

Ai cũng biết bia là thức uống có cồn, gas do loài người đã chế ra cách 5 thế kỷ trước Công Nguyên. Từ thuở hồng hoang ấy, bia tràn tới đâu cũng đều được nhiệt liệt hoan hô: “Một! Hai! Ba! Dzô!”

Bia được sản xuất từ lúa mạch và hoa bia (hoa houblon) lên men để chuyển tinh bột thành đường rồi đường thành bia. Hòa thêm nhiều hương liệu khác nhau để thêm ăn khách. Bia, ngon, bổ lắm nhe vì có nhiều vitamin nhóm B và các nguyên tố vi lượng.

Màu vàng sóng sánh bọt của bia, mùi hơi đăng đắng, thơm thơm, đưa lên mũi cách 5cm ngửi, uống nghe cái ót trong cái nắng chiều nhiệt đới thì đã tới mấy ông Trời.

Chiều xuống, đi nhậu ở Việt Nam bây giờ là đi uống bia hơi, trên hè Phố Cổ, Hà Nội: Hàng Bạc, Hàng Mã, Hàng Gỗ,… hay đường Bùi Viện, Phố Tây ở Sài Gòn…

Phe ta, đàn ông có, đàn bà cũng có, Tây cũng như ta, ngồi chen chúc quanh những chiếc bàn nho nhỏ, trên những cái ghế con con: “Một! Hai! Ba! Dzô”, vui hơn Tết tới!

Ôi nhớ xưa! Cái thời XHCH, xếp hàng cả ngày, xách can nhựa đi mua bia hơi mà mấy em mậu dịch viên ăn gian dân nhậu, nhẫn tâm pha thêm nước lã vào… đã qua rồi.

Giờ dừng xe cái két bên lề đường, kêu một vại bia, giá một lít khoảng chừng 70 xu Mỹ, rẻ chán so với Úc nầy đây tới 5, 7 đô; thì ngu sao mà mình không nhậu chớ ? Để mỗi chiều tui chọn một niềm vui!

Dù rẻ, nhưng người uống đông như ruồi nên giờ đây có tới 12 hãng giải khát lớn, nhỏ nhẩy xô vào giành giựt quyết liệt thị trường bia hơi nầy.

Công ty Pasteur Street Brewing Co chuyên sản xuất bia hơi khai trương năm 2015, ăn nên làm ra nên bán qua cả Malaysia, Australia, Hong Kong còn tính xuất qua cả Mỹ, Nhật và Châu Âu vào cuối năm nay.

Rẻ nhưng ngon, nên năm 2016 chiếm được 3 cái huy chương vàng tại Hội thi Asian Beer và huy chương vàng World Beer Cup .

So với thế giới, thu nhập tính trên đầu người của Việt Nam không bằng ai nhưng cái khoảng ăn nhậu chắc cũng không ai bằng mình.

Thống kê cho thấy: nước Cộng Hòa Czech, . thu nhập đầu người 18, 953 đô một năm, sa cạ già trẻ lớn bé nốc hết 142.6 lít, là vô địch nhậu bia.

Nước Mỹ giàu gấp 3, thu nhập đầu người 58,714 đô một năm, nhưng nốc ít hơn, chỉ 75.8 lít , chiếm hạng 17.

Việt Nam mạt, một năm kiếm được chừng 2, 3 ngàn đô mà dám nốc tới 42 lít, chiếm hạng 48. Nghèo mà chịu chơi… cho nó mạt luôn! He he!

Nhưng nói nào ngay bà con lao động, tay làm hàm nhai, không nhìn thấy tương lai cho đất nước, tương lai cho chính bản thân mình, nên dục tửu phá thành sầu, nhậu cho đỡ cái buồn rầu thì cũng còn hiểu được.

Nhưng cái đám quan chức CS, ăn như xáng xúc mà làm như lục bình trôi, sướng quá, đâu có buồn rầu gì cho vận nước, mà cũng nhậu tưng bừng tá lả.

Vì không nhậu với lãnh đạo làm sao mà được đề bạt lên chức. Không nhậu cùng đồng chí, không tạo bè kết đảng… nhậu lỡ có gì ai đứng ra mà binh vực hay che chở cho mình?

Nhưng ông Trời công bằng lắm! Ai nhậu bằng tiền mồ hôi nước mắt của chính mình làm ra thì đâu dám nhậu nhiều. Vui thì có vui chút đỉnh thôi, nên bịnh hoạn do tác hại của bia rượu so với đám quan chức CS thì ít hơn nhiều.

Chuyện rằng: Một quan chức CS cấp cao nhậu quá xá, làm da mặt vàng khè như nghệ, sợ chết nên đi khám bác sĩ.

Sau khi làm cả đống xét nghiệm, bác sĩ bảo ‘quan’ là: “Tôi có tin xấu dành cho đồng chí! Đồng chí đã bị ung thư gan giai đoạn cuối, vô phương cứu chữa. Đồng chí còn đúng một tháng và hai tuần lễ nữa để sống!”

Quan bước ra gặp thằng con lớn đang chờ để chở về nhà.

“Nè con! Người CS chúng ta có một truyền thống rất tốt đẹp, đáng duy trì là vui ta cũng ăn mừng mà buồn ta cũng ăn mừng luôn!”

“Điều không may, buồn, đã xảy ra. Bố bị bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, chỉ còn một khoảng thời gian ngắn ngủi để sống. Thôi hãy lái xe ra quán rượu làm mỗi người chục lon đi con!”

Sau khi cạn vài lon, nỗi buồn đã vơi bớt đi rất nhiều. Tiếng cười rộn rã nổi lên. Thêm vài lon nữa nhé!

Những đồng chí thân thiết đang nhậu trong quán, thấy hai bố con ăn mừng rôm rả bèn đến hỏi lý do? “Báo cáo với các đồng chí! Tao chỉ còn vài tuần để sống. Bác sĩ nói: Tao bị bệnh ‘Ết'(AIDS), bệnh liệt kháng!”

Tất cả các đồng chí đều thành thật chia buồn, thành kính phân ưu… sớm; khi nghe tin dữ. Sau vài lon bia nữa, họ đi khuất mắt để tôn trọng quyền riêng tư của bố con, nhậu để vĩnh biệt nhau.

“Bố à! Hồi nãy Bố nói Bố bị bệnh ung thư gan mà sao giờ Bố lại nói với mấy đồng chí, là: Bố bị bệnh ‘Ết’, bệnh liệt kháng!” “À! Vì khi Bố đã đi rồi! Bố không muốn bất cứ thằng đồng chí nào léng phéng với Mẹ của mầy!”

Một mảnh đời rạn vỡ!

đoàn xuân thu

December 10 th, 2014.

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Đọc xong bài phóng sự điều tra của ký giả David Montero, “Who was Tuan Nguyen?” đăng trên nhật báo Los Angeles Daily News ngày 25 Tháng Mười, nhiều người Việt tị nạn chúng ta, nhiều người không cầm được nước mắt!

Bà Kristin Chan, 42 tuổi, đã đạp nhầm chân ga thay vì chân thắng, đâm sầm chiếc Jeep Liberty của mình vào cửa trước tiệm Jolly Donuts, bán bánh ngọt và cà phê ở góc đường Roscoe và DeSoto giết chết một người khách hàng đang ngồi uống cà phê trong quán và làm bị thương bốn người khác. Cảnh sát không nghĩ là tài xế nầy gây tai nạn vì chịu ảnh hưởng của bia rượu hay ma túy.

Băng hình an ninh ghi lại vào ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Mười năm 2014 cho thấy nạn nhân đến tiệm uống cà phê nửa tiếng đồng hồ trước khi anh bị xe đụng chết.

Đã ba tuần trôi qua mà không có người thân nào đến nhận xác nạn nhân. Năm 2014, tại thành phố Los Angeles, số người chết vô thừa nhận, theo Sở Pháp Y cho biết là có 5 người không phân biệt được giới tính nên gọi là ‘Undetermined Doe’; nếu là nữ được đặt tên là Jane Doe, có 89 người; nếu là nam, John Doe 296 người. Nạn nhân trong tai nạn xe cộ nầy theo cảnh sát tới giờ nầy chưa xác định được nhân thân nên mang tên là John Doe 278.

Video an ninh từ ngày 4 tháng 10 năm 2014 cho thấy người đàn ông được gọi là Tuấn Nguyễn 53 tuổi. Nguyễn là người vô gia cư trong ba mươi năm ở Canoga Park. ẢNH JOLLY DONUTS

Đêm John Doe 278 bị đụng chết, trong túi anh đầy những tờ vé số đã cạo, 350 đô la tiền mặt, một điện thoại di động hiệu Samsung. John Doe 278 chưa từng gọi cho ai và cũng không có ai gọi cho anh cả. Điện thoại di động nầy anh dùng chỉ để chơi ‘gêm’.

John Doe 278 là một người không nhà, cô độc, có thói quen đến quán Jolly Donuts lúc 9 giờ tối mỗi đêm, mua một tách cà phê và cắm cái điện thoại di động nầy vào ổ điện để ‘sạc’ pin. Trong tiệm chỉ có hai cái bàn đặt gần ổ điện; nếu lỡ có ai ngồi rồi thì John Doe 278 kiên nhẫn chờ cho đến khi nào nó trống!

Thói quen của John Doe 278 khi bước vào tiệm bỏ cái nón kết kiểu của cầu thủ chơi dã cầu ra, gọi một ly cà phê, giá một đô la, uống với sữa bột có thêm đường chớ không uống với sữa tươi.

Giờ định mệnh đêm Thứ Bảy, 4 Tháng Mười đó, lúc 9 giờ 36 phút 34 giây, có 6 người ngồi rải rác trong tiệm. Chiếc bàn quen thuộc của John Doe 278 đêm ấy không có ai ngồi. Cái điện thoại Samsung chưa ‘sạc’ đầy pin thì chủ nhân của nó đã chết.

Anh là ai? Những người buôn bán ở đó cho Cảnh sát biết vài chi tiết về nạn nhân. John Doe 278 là một kẻ không nhà đã hơn 30 chục năm nay. Anh tên là Tuấn; họ là Nguyễn, sanh năm 1961.

Cảnh sát tìm ở cơ quan cấp bằng lái xe, danh sách có 632 người cùng tên, cùng họ, cùng năm sanh. Lục trong hồ sơ Cảnh sát không tìm được dấu vân tay vì tuy là kẻ không nhà nhưng anh chưa hề phạm tội, chưa hề làm điều gì lôi thôi với luật pháp.

Một con người không hề có tên trong bất cứ một hồ sơ lưu trữ nào, của bất kỳ một cơ quan nào, theo hệ thống lưu trữ bằng điện toán, là không hiện hữu… dù Tuấn đã và đang có mặt trên đất nước Hoa Kỳ nầy suốt hơn 30 năm qua! Giờ chết đi, không xác nhận được nhân thân, chỉ là một tấm thẻ bài màu xanh cột vào ngón chân cái bên phải, tấm chăn phủ xác cũng màu xanh, nằm trong cái hộp đựng xác của văn phòng giảo nghiệm y khoa với bí danh là John Doe 278.

Nhưng John Doe 278 cũng có một cuộc đời! Theo bà Lori Huỳnh năm nay 77 tuổi, bà biết Tuấn hơn 20 năm về trước. Câu chuyện của Tuấn, một người tị nạn, đến nước Mỹ vài năm sau Tháng Tư 75, khi Sài Gòn sụp đổ, cũng âm hưởng tương tự như là câu chuyện của đời bà Lori Huỳnh, một người vượt biển.

Sau khi trốn khỏi Việt Nam năm 1980, đến Hoa Kỳ, Lori Huỳnh, năm 1986, mua lại tiệm Violet Nails Salon! Bà để ý đến một thanh niên dáng vẻ Á Châu, gầy ốm, hay lang thang trong bãi đậu xe một mình. Tối ngủ quanh quẩn trong một ngõ cụt đàng sau các cửa tiệm ở góc đường Roscoe và DeSoto.

Thoạt đầu bà mời anh thanh niên nầy một ly cà phê để làm quen và những cuộc nói chuyện rời rạc giữa hai người trong suốt 2 năm, được kết lại, vẽ nên cuộc đời của Nguyễn Tuấn.

Trong số khoảng 200 ngàn người tị nạn đã chết trên biển vào những năm 70 và 80, năm 1988, Tuấn, một lần duy nhứt, kể cho bà nghe là cả gia đình cha mẹ, (có thể còn có anh em nữa?) tất cả đều đã chết hết trên biển trong thảm trạng thuyền nhân. Và Tuấn là người duy nhứt trong gia đình còn sống sót!

Năm 2007, sau khi bán tiệm neo của mình đi, bà Lori Huỳnh không có cơ hội gặp Nguyễn Tuấn thường như trước nữa. Bà đã yêu cầu người chủ mới tới hãy chăm sóc Tuấn dùm bà. Họ đồng ý! Và khi anh mất, họ cùng nhau đến đặt hoa nơi hiện trường tai nạn xảy ra để tưởng niệm người xấu số!

Nguyễn Tuấn là con của một gia đình công chức Sở Thủy cục và Điện lực Sài Gòn! Tuấn từng học Petrus Ký, một trường trung học danh tiếng ở miền Nam. Anh có năng khiếu về Toán. Mặc dù sống hàng ba thập niên trên đường phố, đôi khi anh ngồi còn giữ thói quen ngồi vẽ những biểu đồ đơn giản. Trên cái túi đeo lưng của anh, luôn luôn có một cuốn sách.

Bà cũng kể cho Tuấn nghe về chuyến vượt biển của mình. Sau 75, gia đình bà phải tan đàn xẻ nghé vì người chồng phải đi học tập cải tạo! Về chiếc tàu trôi dạt với 300 người trên đó và phải sống 6 tháng trên một hòn đảo kinh hoàng, gần nước Nam Dương, trước khi đặt chân lên nước Mỹ!

Vì chia sẻ cùng chung một phần số, trong nhiều năm liên tục, bà Lori Huỳnh hay mang thức ăn đến cho anh. Bà nhớ Tuấn rất thích ăn mì.

Tuan Nguyen chưa từng nhờ vào bất cứ trợ cấp nào của chánh phủ Mỹ, anh tự kiếm sống bằng cách nhặt những lon bia rồi đem bán, lãnh đổ rác cho tiệm giặt quần áo kế bên tiệm neo trong suốt 32 năm trời!

Kate Leone, chủ nhân của viện thẩm mỹ Maine Affair Beauty Lounge thuật lại: “Một tối Chủ Nhựt, bà quên khóa cửa tiệm. Ngày Thứ Hai lại nghỉ. Sáng Thứ Ba quay lại, hoảng hốt khi thấy cửa vẫn còn mở, sau khi xem xét không thấy mất cái gì; coi lại hệ thống an ninh ghi hình của cửa tiệm, bà biết tại sao đã không bị ăn trộm; vì anh Tuan Nguyen đã ở đó suốt ngày Thứ Hai để canh chừng tiệm cho bà! Dù phải bận ra ngoài chỉ một chút, khi quay lại, anh vẫn xem xét lại để đoan chắc là không có ai đột nhập vào lúc mình vắng mặt!

Bà Maria Avila, người cắt tóc cho anh một năm hai lần, đã khóc khi nghe anh tử nạn. Maria nói để tôi cắt tóc miễn phí cho; nhưng anh không chịu! Lần nào cũng nài nỉ trả cho tôi 10 đô la, công cắt tóc.

“Anh ấy nghĩ chúng tôi đã chăm sóc cho anh ấy nhưng thực ra anh ấy mới là người đã chăm sóc cho chính chúng tôi”. “He thought we were looking out for him, but he was looking out for us,”

Cô Brooke Carrilo, 42 tuổi, cũng là một kẻ không nhà, sau khi bị mất việc không trả nổi tiền nhà, phải sống trong một chiếc xe, gợi nhớ vài kỷ niệm với Tuan Nguyen.

Brooke làm việc thiện nguyện cho một nhà thờ, nấu nướng và phục vụ bữa ăn cho những kẻ không nhà vào mỗi Thứ Năm nơi Tuan Nguyen thường hay ghé qua. Brooke dọn bữa ăn cuối cùng cho Tuan Nguyen vào ngày 2 Tháng Mười tại nhà thờ, hai ngày trước khi anh mất. Hôm đó, Tuan Nguyen ăn một dĩa mì Ý (spaghetti) và uống một ly nước trái cây.

“Anh ấy là một phần của chúng tôi trong một khoảng thời gian dài! Một năm không ai nghĩ là dài nhưng một năm không nhà, bụi đời như vậy là khoảng thời gian rất dài. Huống hồ hơn những ba mươi năm!”

Đôi mắt Brooke Carrilo đẫm lệ khi nghe tin Tuan Nguyen đã chết. “Một ngày xe bị hết xăng, anh móc túi cho tôi chút đỉnh tiền đổ xăng! Để tôi có thể di chuyển từ chỗ nầy qua chỗ khác nhằm tránh sự quấy nhiễu của Cảnh Sát tuần tra” “Một con người tử tế, nhân hậu, không làm phiền nhiễu bất cứ một ai!”

Tuan chỉ có hai tật xấu: hút thuốc (tự mình vấn lấy) và mua vé số cạo! Cách đây không lâu, trúng được 800 đô, anh mua hoa tặng cho tiệm neo và nước hoa tặng cho mấy cô làm trong tiệm!

Hiện thời Tuan Nguyen đang nằm trong nhà xác, gần với khoảng 200 xác vô thừa nhận khác. Nếu không có bà con thân nhân nào đến nhận xác, anh sẽ được lấy mẫu DNA để lưu trữ. Từ 2 tới 4 tháng, xác John Doe 278, sẽ được đưa tới lò thiêu của quận Cam! Sau đó tro xác được lưu giữ tại nghĩa trang của thành phố Los Angeles. Tháng Chạp, thành phố sẽ làm một buổi lễ đơn sơ để chôn cất tất cả tro xác của những người chết vô thừa nhận vô cùng chung một huyệt mộ! Trên bia mộ chỉ đề duy nhứt năm những nạn nhân vô thừa nhận đã qua đời: 2014!

Cuối cùng Nguyễn Tuấn đã trở về nhà!

Có độc giả tự hỏi: “Tại sao một con người nhân từ, có tinh thần trách nhiệm như thế lại sống 30 năm ở ngoài đường? Tại sao anh ấy không xin phiếu trợ cấp thực phẩm (food stamps) và chương trình trợ cấp tổng quát (General Relief) của chính phủ?” Vâng cũng có người đã giúp anh tìm một chỗ tạm cư; nhưng sau đó anh lại trở về đời ‘homeless’; vì theo anh ở đó vẫn còn người đối xử tử tế với anh!

Ký giả bài phóng sự điều tra nầy phỏng đoán: “Tôi nghĩ đây là câu chuyện bi đát của một người không quên được các thảm kịch mình đã trải qua; rồi sau đó không còn muốn trở về với đời sống thực tế nữa!” “Tôi đoán trong chuyến vượt biển, cái chết của cha mẹ anh kinh khủng lắm nên anh mới thành một con người khác hẳn chúng ta.”

Thưa! Người viết bài nầy đã từng gặp một thanh niên tị nạn Việt Nam ở Fleminton, Melbourne, Úc Châu, bề ngoài có vẻ rất bình thường, một hôm tình cờ bước vào một căn ‘flat’ của chánh phủ cho anh mướn. Trong nhà không còn một khoảng trống nào, từ phòng khách vào tới nhà bếp. Toàn là những chai nước ngọt đủ cỡ, đựng đầy những nước. Khi được hỏi chứa nước nhiều như vậy để làm gì? Thì mặt anh đột nhiên trở nên nhăn nhúm, thống khổ như hình tranh lập thể của họa sĩ Picasso, anh trả lời: “Ông không biết! Chớ nước quý lắm đó!”

Ôi! Những thảm kịch kinh hoàng của thuyền nhân trên biển. Những bi kịch không thể nhạt phai, những chấn thương tâm lý không bao giờ hồi phục. Chúng ta vô tình thản nhiên đi qua những niềm đau đó. Bác sĩ có thể chữa lành những vết thương về thể chất; còn những chấn thương tinh thần nầy mãi mãi sẽ không yên cho đến khi nạn nhân về với mộ!

Xin anh Nguyễn Tuấn (tên Việt Nam), Tuan Nguyen, (tên Mỹ) và John Doe 278, (tên một xác chết vô thừa nhận), đã sống một cuộc đời lặng lẽ, đã chết trong cô đơn, sẽ được bình yên phía bên kia cuộc đời, sum họp với cha mẹ, với anh em… Chắc sẽ làm đời anh bớt đau đớn hơn chăng?!

Vĩnh biệt anh! Một hình tượng của thảm trạng thuyền nhân Việt Nam!

đoàn xuân thu – melbourne.
(Theo David Montero, Los Angeles Daily News.)


Nguyễn Tuấn, ‘sống vô gia cư, chết vô thừa nhận,’ đã có nơi an nghỉ cuối cùng

Hà Giang/Người Việt

(nguồn: http://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nguyen-tuan-song-vo-gia-cu-chet-vo-thua-nhan-co-noi-an-nghi/)

Thày Phong Nguyên, đại diện của chùa Liên Hoa nhận hũ tro cốt của Tuấn Nguyễn từ nhân viên Los Angeles Crematorium Cemetery hôm cuối tháng Ba, 2017. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

GARDEN GROVE (NV) – Sau một thời gian dài nằm chơ vơ trên chiếc kệ trong nhà kho của nghĩa địa quận Los Angeles, chiếc hộp màu nâu mang tên ‘John Doe No. 278,’ nhỏ gọn và dày hơn cuốn sách bìa cứng một chút, bên trong đựng tro cốt của Nguyễn Tuấn, một người chết vô thừa nhận, vừa được quận Los Angeles cho phép thầy Phong Nguyên, đại diện Hòa Thượng Thích Chơn Thành, mang về chùa Liên Hoa, thành phố Garden Grove, chờ ngày làm lễ cầu siêu.

Buỗi lễ cầu siêu đầy tình đồng hương này sẽ được Hòa Thượng Thích Chơn Thành, viện chủ chùa Liên Hoa, đích thân chủ trì, từ 2 giờ chiều đến 4 giờ chiều, ngày Thứ Bảy, 15 Tháng Tư, tại địa chỉ 9561 Bixby Avenue, Garden Grove, CA 92841.

“A Di Đà Phật! Nghe tin một đồng hương vô gia cư chết đã lâu mà không có ai giúp đỡ, chúng tôi rất hoan hỉ và sung sướng đón nhận anh để làm lễ cầu siêu giúp anh mau siêu sanh tịnh độ.” Hòa Thượng Thích Chơn Thành bày tỏ đồng thời kêu gọi: “Xin các cơ quan truyền thông báo chí tiếp tay phổ biến tin về ngày làm lễ.”

  • ‘Sống vô gia cư, chết vô thừa nhận’

Nhiều người Việt quan tâm còn nhớ câu chuyện Nguyễn Tuấn, một người Việt vô gia cư, thiệt mạng tại chỗ vào tối 4 tháng Mười, 2014, khi một chiếc xe SUV đâm thẳng vào tiệm Jolly Donuts trên đường Roscoe ở Canoga Park, trong lúc ông đang ngồi uống cà phê ở chiếc ghế quen thuộc hàng ngày bên trong cửa tiệm.

Khi chết, trong người ông Tuấn hoàn toàn không có bất cứ giấy tờ gì, vì thế cảnh sát Los Angeles đặt cho ông cái tên ‘John Doe No. 278.’

Tên ‘John, họ Doe,’ là biệt hiệu thường được cảnh sát đặt cho những người đàn ông vô danh, và 278, là tổng số người đàn ông vô danh chết trong quận Los Angeles, tính cho đến tối hôm ông Tuấn qua đời.

Cổng vào Los Angeles Crematorium Cemetery. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

Thám tử điều tra của cảnh sát Canoga Park đến tiệm Jolly Donuts trên đường Roscoe ở Canoga Park, nơi ông Tuấn hàng ngày lui tới, để tìm danh tánh nạn nhân. Ở đây, tuy nhiều khách hàng lẫn nhân viên quen mặt, thậm chí có người rất có thiện cảm với ông, nhưng cũng không thể cho cảnh sát biết gì hơn là “nghe đâu” tên ông là “Tuan” (Tuân hay Tuấn) và họ là “Nguyễn”.

Mong tìm thêm manh mối, cảnh sát đưa dấu tay của ông vào kho dữ liệu, nhưng cũng không tìm được gì, vì ông Nguyễn Tuấn chưa bao giờ bị bắt giữ. Việc đưa tên ông với ước đoán năm sinh vào DMV cũng không mang lại kết quả khá hơn, vì DMV tìm thấy có hơn 600 người có cái tên tương tự sinh cùng năm.

Theo bản tường trình viết ngày 9 Tháng Mười Một, 2014 của phòng giảo nghiệm, người ta không tìm thấy trong máu ông Nguyễn Tuấn có dấu hiệu của một người uống rượu. Cũng không có dấu hiệu hút ma túy, cần sa, thuốc phiện, hay những loại thuốc giảm đau. Nói tóm lại, ông Tuấn là người tương đối có sức khỏe tốt và cuộc sống lành mạnh.

Khi được biết tin chùa Liên Hoa sẽ tổ chức lễ cầu siêu cho ông Tuấn, bà Hoa Tăng, chủ tiệm Violet Nails, cách tiệm Jolly Donuts khoảng một dặm, nơi mà trước đây ông Tuấn thường lui tới, chia sẻ sự ngạc nhiên với nhật báo Người Việt.

“Trời hơn hai năm rồi! Tưởng có chùa nào xin tro ổng về cúng lâu rồi chứ. Bữa hổm đi đến cái chùa nhỏ nhỏ gần đây tôi thấy trên bàn thờ có tấm hình ổng uống cà phê trong tiệm donut trước khi bị đụng chết đó mà.”

“Có chắc là tro của ông Tuấn không chị?” Bà Vân, một người làm nail khác trong tiệm thoáng ngừng cắm cúi săn sóc đôi bàn tay của khách, ngẩng đầu lên hỏi.

Khi được nghe tả sơ về quy luật bảo vệ thân xác của người quá cố kể cả của những người sống vô gia cư, chết vô thừa nhận, cũng như hành trình hơn hai năm của ông Nguyễn Tuấn từ lúc đột ngột qua đời, đến khi hũ tro cốt được quận Los Angeles trao cho thầy Phong Nguyên, bà Vân chép miệng: “Vậy chắc là người ta thờ hình ảnh và thờ hồn ổng thôi!”

Bà Hoa Tăng nhẹ gật đầu như tỏ sự đồng ý với người bạn đồng nghiệp, rồi băn khoăn: “Ổng người tốt mà đàng hoàng lắm. Thôi tụi tôi gửi ít tiền nhờ chị mang về chùa Liên Hoa nhờ thầy cúng dùm cho ổng được không?”

“Lễ cầu siêu ngày 15 hả? Ồ, 15 là Thứ Bảy chắc phải làm không xuống được. Mà xa quá, đi hơn một tiếng, chắc khó xuống lắm. Thôi kệ, chị cứ gửi báo lên đây tôi để trong tiệm, ai biết ổng thì người ta xuống cúng.”

Bà Hoa ngập ngừng đề nghị, rồi không nén được thắc mắc: “Mà hơn hai năm rồi sao chùa Liên Hoa còn theo xin được tro ổng về cầu siêu hay vậy?”

Hũ tro cốt của Nguyễn Tuấn tại Los Angeles Crematorium. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

  • Mong một lễ cầu siêu!

Chùa Liên Hoa không phải là nơi duy nhất muốn hương hồn Nguyễn Tuấn có được một lễ cầu siêu tử tế.

Ngay sau khi Nguyễn Tuấn qua đời, ký giả David Montero của báo Los Angeles Daily News đã có một loạt bài viết để tìm tung tích ông, cũng như nói về sự thương tiếc nhiều người quanh vùng Canoga Park dành cho con người tốt bụng mà cuộc đời bất ngờ chấm dứt trong tai nạn thảm khốc đó.

Bài phóng sự điều tra của David Montero khiến nhiều người khắp nơi thương cảm, muốn xin thi hài ông về mai táng ngay khi sự việc mới xẩy ra. Nhưng việc một người xa lạ xin mang một thi hài vô danh, vô thừa nhận về mai táng hoàn toàn không dễ, vì quận Los Angeles, theo quy luật, trong một thời hạn nào đó, phải bảo vệ mọi người khỏi mọi sự lừa đảo, kể cả người đã chết.

Vẫn theo ký giả David Montero, bà Sue Lim, một nhà môi giới địa ốc ở Huntington Beach, từng liên lạc với văn phòng giảo nghiệm tử thi về việc xin một lệnh tòa để cho phép bà chôn cất ông Nguyễn Tuấn một cách hợp pháp, làm buổi lễ đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng, nhưng lúc ấy, tòa quyết định không trao xác của Nguyễn Tuấn cho ai, cho đến khi được thân nhân nhận diện.

Không chỉ một mình bà Sue Lim, nhiều người khác, xúc động về chuyện của Tuấn Nguyễn, như bà Christina Nguyễn trong cộng đồng người Việt chúng ta, cũng từng theo dõi sự việc, cũng muốn bỏ tiền ra để lo cho ông một đám tang tươm tất, nhưng tất cả, trong thời gian đó, đều đã bị cánh cửa quy luật chặn lại.

Cảm thương cho hoàn cảnh của ông, ký giả Montero từng viết: “Nếu lúc sống Nguyễn Tuấn đã sống trong vòng tay thân thương quen thuộc, đón nhận những cử chỉ ân cần, sự chăm sóc nhỏ bé nhất của những người thương ông và hiểu ông, thì sau khi ông ra đi, những người quen biết ông, xót xa nhất vì cái chết của ông, đã hoàn toàn bất lực không thể làm gì được cho ông…”

Sau gần sáu tháng, khi mọi nỗ lực nhận diện ông đều thất bại, và cũng không ai thành công trong việc chứng minh họ là người thân của ông, quận Los Angeles hỏa thiêu thi hài Nguyễn Tuấn hôm 25 tháng Ba, 2015, và vào sổ hai ngày sau.

Hỏa thiêu xong, họ bỏ tro cốt ông vào chiếc hộp nhỏ dán nhãn ‘John Doe No. 278,’ mang đến trao cho nhà kho nghĩa địa quận Los Angeles. Tại đây, hộp tro cốt của ông được xếp lên một cái kệ, chờ đến tháng Mười Hai năm 2017, khi ông dự trù được mai táng trong cùng một nấm mồ với hàng trăm, có khi cả ngàn những tro cốt vô thừa nhận khác, trong một đám tang tập thể hàng năm của quận.

Buổi chiều hôm 29 Tháng Ba 2017 nắng đẹp nhưng thỉnh thoảng vẫn có những ngọn gió se lạnh ấy, khi tro cốt của ông được đưa từ nhà kho nghĩa địa quận Los Angeles về chùa Liên Hoa, người vô gia cư Nguyễn Tuấn đã đến được nơi an nghỉ cuối cùng.

Tuấn Nguyễn may mắn hơn những người chết vô thừa nhận khác, vì ông là thành viên của một cộng đồng, trong đó mọi người biết thương yêu đùm bọc lấy nhau!

Thân phận dư thừa

Nha Trang – 1978

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Bài 18

Ba năm trôi qua, gia đình tôi vẫn sống bên cạnh nhà của bác tôi. Mẹ tôi rất bận rộn trong công việc trông em bé Ti và thu nhập của chúng tôi chỉ trông có mỗi vào việc bán đi những đồ nữ trang của bà. Chúng tôi vẫn chỉ mặc những bộ quần áo mang đi từ biệt thự họ Nguyễn hồi trước. Trong mấy năm qua, Jimmy và tôi chẳng bao giờ có thêm quần áo mới vì mẹ tôi chỉ có nối thêm gấu quần và nới thêm thắt lưng để cho chúng tôi mặc vừa. Ngày hai bữa, món ăn chính thanh đạm của chúng tôi vẫn là cơm mà mẹ tôi đong ở chợ với giá tám đồng mỗi giạ. Dù mưa hay nắng, chúng tôi vẫn quay cuồng bên nhau để sống qua ngày.
Càng lớn, mầu tóc của tôi càng sậm hơn. Tôi cũng chả hiểu có phải là ước vọng của mẹ tôi khi bà tưới thuốc nhuộm lên đầu tôi hồi trước hay là do lòng khao khát của tôi, mong mỏi được hoà nhập với đám trẻ con trong xóm. Đến khi tôi được mười một tuôỉ, mái tóc vàng hoe của tôi ngả sang mầu nâu sậm. Ngay cả trong những ngày hè nóng nhất, ánh nắng mặt trời cũng không thể tẩy được nó cái mầu óng ánh bạc nguyên thuỷ.
Jimmy và tôi theo học tại trường tiểu học, ở đó chúng tôi tập trung vào các môn học như toán, văn, sử và khoa học. Tất cả đều được dạy theo quan điểm của người Cộng sản. Cô giáo San vẫn tiếp tục dạy ở lớp tôi. Cô còn mở thêm lớp dạy miễn phí ở ngay nhà cô vào mỗi chủ nhật. Những bài giảng tại đó, theo tôi còn nhớ, là những bài duy nhất không có mầu chính trị.
Cô San sống trong một ngôi nhà hai tầng cách chỗ tôi ở khoảng vài con phố. Cô dùng tầng dưới để sản xuất nước mắm, có ba cái chum lớn bằng đất nung, luôn luôn đầy nhóc, đặt ở đó. Mỗi chum chứa chừng một trăm đến một trăm rưởi ký cá và ướp bằng cũng chừng đó số lượng muối. Cô giải thích với chúng tôi rằng làm nước mắm là nguồn thu nhập chính của cô. Dạy học chẳng qua chỉ để cho vui thôi. Mùi cá ươn xông lên hôi nồng nặc, từa tựa mùi thối của răng sâu nhưng còn tệ hơn nhiều. Cái mùi kinh niên ấy bám vào quần áo cô, xông lên mái tóc, và như một loại chướng khí cuốn lấy thân thể cô. Bọn người lớn, đặc biệt là cánh đàn ông thì tránh xa cô. Họ sợ cái khác thường cố hữu ấy của cô. Nhưng lũ trẻ thì lại bị lôi cuốn bởi tính tình nồng ấm của cô và riêng tôi thì, qủa thật, không ai thấy cô có sức thu hút hơn tôi.
Cứ đến mỗi buổi chiều chủ nhật là chúng tôi lại náo nức đón chờ cái buổi học thêm ở nhà cô. Ngồi trên sàn trong căn phòng ngủ lộn xộn của cô, giữa những bộ quần áo rải rác, chúng tôi chờ cô xuất hiện như khán giả chờ minh tinh. Trong một những môn ưa thích của cô là Anh ngữ. Cô thường nói với chúng tôi :
– Cách duy nhất để chúng ta xây dựng đất nước là học hỏi kỹ thuật của các nước khác. Mà làm thế nào để có thể tiếp thu được những kỹ thuật của họ ? Hãy khởi sự bước đầu là học thứ ngôn ngữ quốc tế: đó là Anh ngữ.
Cô nháy mắt với chúng tôi và nở một nụ cười tinh quái:
– Hôm nay, mình đừng học theo sách. Thay vào đó là một cuộc khảo sát từ ngữ, được không ? Trong giờ tới, ai cũng đều phải nói tiếng Anh. Trò chơi này rất khó, nhưng các em cứ thử xem. Sẽ vui đấy.
Chúng tôi hăm hở vì bị kích động. Từ bỏ không nói tiếng mẹ đẻ trong một cuộc bàn cãi giữa những đám đông như thế là điều cấm kỵ theo luật, nhưng lúc này chúng tôi lại cho là tự nhiên và vô hại. Khi cảm thấy chúng tôi còn ngập ngừng, cô San nói tiếp:
– Hãy giữ bí mật giữa chúng mình nghe, các trò.
Rồi cô đổi đề tài Anh ngữ và buổi học bắt đầu:
– Duy went out last night.
Tôi thấy bạn tôi ngồi thẳng lại. Còn cô San thì chỉ ngay một cô bé có tóc đuôi ngựa nhún nhảy và nói tiếp :
– Chi, hãy tiếp tục với cái ý đó.
Chi suy nghĩ trong khoảng mười giây rồi cẩn thận nói :
– Duy went out with a girl last night..
Có vài tiếng cười khúc khích trong đám học trò. Hình ảnh của Duy với người bạn gái có vẻ tức cười dù nói bằng bất cứ ngôn ngữ. Cô San hướng về phía tôi và nói:
– Kiên, tiếp tục đi.
Tôi đặt câu thật nhanh trong đầu rồi nói:
– Who was that girl?
Cô San nói:
– Câu hỏi hay đấy. Vậy, Duy hãy cho biết cô gái ấy là ai?
Duy đứng lên, gãi tai, ấp úng, nhìn cả lớp cầu cứu. Một vài người thì thào câu trả lời và hắn chộp lấy như người chết đuối vớ được cọc:
– The girl was.. was.. was.. my.. mother.
Hắn la lên như thế, giọng lạc đi vì quýnh quáng. Còn chúng tôi thì ngả ngốn vào nhau vì cười. Đứng dựa lưng vào tường, cô San cũng phì cười nữa. Trong bóng tối của căn phòng, tôi cho rằng cô là một phụ nữ rất đẹp, gần giống như ảo ảnh.
Hôm ấy, khi tan buổi học, cô San bảo tôi ở lại sau. Cô nói:
– Kiên à, em có nghĩ là cái mớ tóc này sẽ hoàn toàn hết quăn khi mình.. ờ.. cắt nó thật ngắn đi không?
Cô lướt những ngón tay trên đầu tôi với vẻ suy tư. Có cái gì đó trong cung cách cô đưa ra câu hỏi khiến tôi ngẩn người, e ngại. Tôi trả lời:
– Con cũng không biết nữa. Nhưng tại sao cô lại hỏi thế?
– Nhà trường đang chuẩn bị tổ chức liên hoan chào mừng ngày thống nhất đất nước. Ban giám hiêụ đã lựa chọn lớp mình đi đầu đoàn diễu hành vì thành tích học tập tốt của lớp. Kiên thì lại là học trò giỏi nhất của cô nên cô định chọn Kiên cầm quốc kỳ đi đầu toán.
Ngừng lại một giây, cô nói tiếp:
– Chỉ có một vấn đề nhỏ là cô e rằng cái bề ngoài của Kiên có thể gây ra sự bối rối của khán giả thôi.
– Nếu cô muốn thì con sẽ đi cắt tóc ngay ngày mai.
Cô gật đầu:
– Đúng đó, cưng, cô nghĩ cách đó là tốt nhất. Cứ làm thế đi, cô sẽ dành cái vinh dự ấy cho em.
Một áng mây đen chợt thoảng qua mặt cô:
– Kiên, hãy làm tốt nhé. Chúng ta cũng chẳng còn được gần nhau bao lâu. Nhà trường sẽ nghỉ hè sau cuộc diễu hành. Em sẽ lên bậc trung học và cô sẽ chẳng còn nhiều dịp gặp lại Kiên nữa.
– Con sẽ tới thăm cô thường xuyên.
Cô nói giọng buồn bã:
– Rồi sẽ thấy. Thật khó mà hoạch định được cái gì cho tương lai. Ngay cả chính cô, có thể có mà cũng có thể không chắc là sẽ còn ở lại đây.
– Đương nhiên là cô sẽ ở lại để giúp những học sinh khác chứ. Mà cô có thể đi đâu? Cô là cô giáo mà, cô San.
Cô cắn xuống cái môi dưới và quay đi. Bên ngoài, trong bầu không khí oi ả, lũ bạn cùng lớp của tôi đang rượt đuổi nhau chạy tới quán bán nước trái cây ép ở cuối đường, tiếng cười đùa vang vọng lại. Cô San lục trong buồng để lấy ra một cái túi làm bằng da giả. Cô mò mẫm trong đó vài giây rồi ngẩng lên, tay hất cái lọn tóc dầy đang phủ xòa lên khuôn mặt. Cô trao cho tôi mấy tấm phiếu màu đỏ và nói:
– Cô có mấy cái tem phiếu dành cho giáo viên còn xót lại từ hồi đầu học kỳ vẫn chưa dùng đến. Vậy tại sao em không giữ lấy rồi đem mua mấy tập vở mà xài ? Năm học tới, em sẽ cần vở mới, phải không?
Chế độ mới đã dành riêng cho các thầy cô giáo một loại tem phiếu để họ có thể mua những đồ dùng sách vở bằng giá rất rẻ. Để bù đắp thêm vào cái đồng lương đạm bạc của mình, nhiều thầy cô đã phải mang những tem phiếu này bán ở ngoài chợ đen. Hành đông bất ngờ và hào phóng của cô San khiến tôi ngạc nhiên. Cái ý nghĩ đem khoe với mẹ tôi những tập vở mới và nhìn thấy vẻ mặt vui vẻ của bà đã khiến tôi muốn cầm ngay lấy xấp tem phiếu. Nhưng ngay lúc đó, cái mặc cảm về sự thiếu thốn nghèo túng lại trở về khiến cho hai má tôi nóng bừng lên vì xấu hổ. Tôi lùi lại và lắc đầu:
– Đó là những món quà quí, con không dám nhận đâu, thưa cô.
– Tại sao không nhận?
Tôi thở dài, tìm câu trả lời:
– Tại mẹ con đã mua ở chợ đủ đồ dùng cho chúng con rồi.
– Cô biết. Cô đã nhìn thấy bà hôm nọ. Mẹ và cô đã nói chuyện với nhau hàng giờ. Bà ấy buồn phiền vì muốn mua quần aó mới cho em và em của em, nhưng lại không đủ tiền, sau khi đã mua sách. Cho nên cô nghĩ là cô có thể giúp bà bằng mấy cái phiếu này, vì qua năm mới em cần rất nhiều tập vở chứ chẳng phải vài cuốn như năm nay đâu.
Tôi hạ thấp giọng:
– Chúng con lo lấy được.
Cô San nhiú mày:
– Kiên, em xấu hổ vì mình nghèo à?
Tôi cố tránh cái nhìn đăm đăm của cô bằng cách tập trung nhìn vào cái đốm nắng chiếu dưới đất. Cô ấn mấy cái tem phiếu vào tay tôi rồi tiếp:
– Không nên xấu hổ vì hoàn cảnh thấp kém hay tình trạng xuất thân của mình. Thực ra, em nên tự hào. Này nhé : em không còn là một dân tư bản nữa. Dưới mắt người Cộng sản, em đã đạt tới điạ vị thấp kém nhất mà lại đạt yêu cầu nhất, đó là thuộc giai cấp nghèo khó. Vậy hãy phấn khởi lên, vì từ nay em chẳng còn gì để mà mất lại có khối điều để được. Yên hẵng, còn nữa.
Cô lại lục cái tuí lần thứ nhì rồi nói:
– Cầm lấy món tiền này đi. Cô muốn em đi hớt tóc để các thầy cô trong trường khỏi bình phẩm người tiên phong mới tinh của cô trong cuộc diễu hành. Cô muốn mọi người hoàn toàn hãnh diện giống như cô khi họ nhìn thấy em dẫn đầu cuộc diễu hành. Thôi về đi. Em còn có nhiều việc vặt vãnh phải làm, mà cô thì cũng thế.
Cô vừa vuốt lên tóc tôi, vừa đẩy tôi ra cửa. Tôi lúng túng nói với cô lời cám ơn không mạch lạc lúc ra về.
Ngày hôm sau, lần đầu tiên tôi đến một tiệm hớt tóc ở ngay trong xóm. Từ trước tới nay, mẹ tôi thường xuyên hớt cho tôi. Tiệm hớt tóc, là nơi chỉ có đàn ông tới hớt và tiả lông muĩ, chỉ là một cái lều nhỏ cất sơ sài bằng bốn cái cọc gỗ và một tấm vải nhựa mầu đen. Nó được dựng dưới một cây sồi lớn chỉ cách trường tôi vài bước chân. Người thợ hớt tóc đã cắt tóc cho tôi theo kiểu nhà binh. Những đồ nghề của ông nom cũ kỹ như ít nhất đã hai chục năm rồi, thỉnh thoảng ông lại đem mài chúng loẹt xoẹt trên một miếng da bò đóng vào thân cây. Tóc trên chóp đầu tôi được ông xén cao hai phân, ngoài ra còn bao nhiêu thì ông cạo nhẵn bằng một lưỡi dao cạo sáng loáng.
Suốt ba tuần lễ tiếp theo, dưới sự giám sát của cô San, chúng tôi tập diễu hành dưới sân trường như những cậu lính nhỏ. Còn học sinh của các lớp khác thì xếp hàng đi sau, thứ tự tùy theo thành tích.
Một tuần trước ngày diễu hành, cô San không tới trường. Ngay cả các giáo viên cũng không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra cho cô. Người được cử thay thế dạy lớp tôi là một thầy trạc ngoài ba mươi với mái tóc bóng nhẫy và hàm răng sỉn dến nỗi làm nụ cười thầy xám xịt. Thầy này cũng thế, tránh bàn luận về sự vắng mặt của cô San.
Một buổi sáng, cũng theo như thông lệ, trước khi giờ học bắt đầu, toàn trường phải đứng xếp hàng nghiêm chỉnh trong sân trường. Tôi đứng ở ngay phía sau tập thể, hết sức chú ý. Khi bản quốc thiều cất lên từ cái loa, thì vai trò của tôi là phải đi xuống dọc theo lối đi chính giữa, qua cái bục chính để tiến tới cột cờ.
Khi nghe đoạn nhạc mở đầu : “Đoàn quân Việt Nam đi..” tôi dấn bước tới, đầu ngẩng lên cao, mắt nhìn phía trước, lưng ướn thẳng. Lá quốc kỳ trong tay tôi với nền đỏ và ngôi sao vàng ở chính giữa.
Sau khi tất cả mọi người đã chào lá cờ xong, ông giám hiêụ bước lên bục gỗ. Đặc điểm của ông, vốn lúc nào cũng nghiêm trọng, hôm nay lại càng thêm nóng nẩy, thô lỗ. Những nét nhăn nhúm trên mặt của ông chảy xệ, cái miệng mín lại mỏng như một nét bút chì ẩn ở phía dưới hàm ria lưa thưa. Nhìn trừng trừng cử toạ một hồi, ông với tay tắt cái máy phát thanh vừa mới chơi xong đến cuối cùng của bản quốc ca. Ông gõ ngón tay lên cái micro để thử âm thanh làm nó rít vang cả lỗ tai mọi người. Rồi, một tay ông cầm micro, tay kia vẫy ra hiêụ cho tất cả chúng tôi im lặng, ông bắt đầu nói, giọng của ông hối hả, mất bình tĩnh, vang vọng tới tân làn sương còn lảng vảng dưới những lùm cây:
– Tất cả hãy lắng nghe đây, tôi biết là mới đây có những lời xì xào trong trường, nhất là về cô San, giáo viên lớp 5 C. Hẳn anh chị rất tò mò muốn biết vì sao cô ấy lại vắng mặt. Tôi khuyên các anh chị nên dẹp chuyện ấy đi.
Ông lại rà soát mọi người bằng cặp mắt cú vọ và tiếp:
– Nếu các anh chị hỏi : “Tại sao lại đẹp chuyện đó đi” ? vậy đây là câu trả lời của tôi: Đấy không phải là vấn đề của các trò. Bất cứ ai, nếu còn tiếp tục tọc mạch vào chuyện đó thì sẽ bị xem như một hành động phản CM vậy. Kẻ nào mà bị phát giác vi phạm thì đừng có hòng tôi khoan hồng. Sẽ bị đuổi ngay lập tức. Bây giờ, trước khi các anh chị trở về lớp học, tôi muốn bàn qua về một vấn đề khác nữa.
 Nhìn thẳng về phía tôi, ông ta lấy lại vẻ bình tĩnh mọi ngày:
– Ban giám hiêụ đã quyết định bầu chọn một người mới, đi tiên phong cho cuộc diễu hành. Để chiếm được vinh dự đi đầu, người đó phải làm hơn cái chuyện thành tích xuất sắc về học tập. Nghĩa là còn phải phát huy tinh thần tập thể giữa các bạn cùng lớp, với cả các thầy cô. Rồi còn phải tham gia sinh hoạt ngoại khoá và còn là một biểu tượng tích cực của toàn trường. Nguyễn Kiên là một học trò giỏi, nhưng cũng không có nghĩa là người xuất sắc nhất để đại diện cho trường. Trường ta còn có nhiều trò khác vượt quá cả Kiên trong mọi lĩnh vực. Vì thế nhà trường sẽ xếp đặt lại, thay thế Kiên bằng một người đi tiên phong khác để dẫn đầu đoàn diễu hành, như thế sẽ đạt nhiều thành công hơn.
Ông ta sải bước lại chỗ tôi đang đứng. Điềm nhiên, ông ta giật lấy lá cờ trong hai tay tôi và trao lại cho anh lớp phó của tôi.
Quay về phía đám học trò, ông nói:
– Phần nói chuyện của tôi đến đây là kết thúc. Các trò có thể quay về lớp học.
Ông ta vất cái micro lên bục nghe cái thịch rồi bước khỏi sân khấu, hai tay khoanh trước ngực.
Khi mọi người giải tán khỏi sân trường, mặt tôi đỏ dừ vì nhục nhã. Không nói một lời, tôi lủi khỏi đám đông và lẩn đi ngay. 
Mùa hè năm 1978 ấy đánh dấu ba năm sống dưới chế độ Cộng sản. Mặc dầu chính quyền mới đã tiếp thu thành công miền nam Việt Nam, nhưng nhiều công dân của chế độ cũ vẫn hy vọng người Mỹ quay trở lại, và mỗi tối thứ hai, họ vẫn lén nghe các bản tin tức của đài BBC. Khi đời sống ngày càng khó khăn thì niềm hy vọng lại càng trở thành một thứ xa xỉ duy nhất mà Cộng sản vẫn chưa tóm được. Buồn thay, đối với nhiều người, hy vọng trở nên một sức mạnh tiêu cực cầm giữ đời sống của họ trong lao tù của sự chờ đợi phù phiếm. Thay vì tận hưởng đời sống, nhiều người đơn thuần coi như sống chỉ là tồn tại. Trường hợp này cũng xảy ra với gia đình tôi.
Mẹ tôi chẳng hoàn tất được chuyện gì trong ba năm liền ngoại trừ sự chờ đợi. Bà hy vọng là chế độ Cộng sản sẽ sụp đổ hoặc vì sự lạm phát, hoặc vì lý do yếu kém của guồng máy nhà nước. Bà cũng chờ đợi một cuộc nổi dậy có thể xảy ra, hay một cuộc chiến tranh lật đổ chế độ mới vì sự căng thẳng giữa quần chúng và các cán bộ lúc nào cũng mạnh mẽ. Nhưng sự chờ đợi lê lết kéo dài quá lâu, mọi khí thế trong lòng chúng tôi đã tắt nguội dần. Sự tủi hổ không còn chiếm vị thế ưu tiên trong đầu óc mẹ tôi nữa. Mớ nữ trang cất dấu trong tuí quần của tôi đã được bán dần mòn để cho gia đình tôi được sống sót. Cuối cùng thì mẹ tôi khánh tận và chúng tôi bước vào đường cùng.
Thối chí với sự chờ đợi trong vô vọng, mẹ tôi đã thuê một quầy hàng trong ngôi chợ lớn nhất tỉnh, cách nhà tôi khoảng năm cây số. Gian hàng của bà chỉ là một cái ngăn rộng chừng mười mét vuông chen vào giữa hai gian hàng, một của người bán xôi, và một là tiệm bán bánh mì. Ngôi chợ, bao gồm hàng trăm dân tiểu thương như mẹ tôi, được chia thành nhiều khu vực riêng, như khu bán cá, khu bán gia súc, rau cỏ, vải vóc, đồ dùng về điện, thuốc men và ở ngoài bìa xa nhất là nơi bán những sản phẩm của nông trại. Xa hơn đó nữa, là chỗ đổ rác của thành phố, một thứ siêu thị của lũ lang thang không nhà.
Mẹ tôi bán gạo là chủ yếu, thêm vài thứ sản phẩm trồng trọt khác như khoai tây, đậu. Tuy vậy, người Cộng sản cũng ghé mắt vào những loại buôn bán như kiểu của mẹ tôi, vì họ cho là loại tiểu thương này làm cho hàng hoá trở nên đắt đỏ và làm sáo trộn nền kinh tế. Trong một bản tuyên cáo, chính quyền cấm thành phần trung lưu được buôn bán tự do và gửi nhiều toán đi tịch thu hàng hoá. Họ hứa hẹn với mẹ tôi là nếu từ bỏ gian hàng thì sẽ kiếm cho một công việc khác. Nhưng dù đã thoả thuận như thế, đơn xin việc của mẹ tôi vẫn luôn luôn bị từ chối.
Gian hàng của mẹ tôi chỉ tồn tại được có vài tháng thì bị bắt phải đóng cửa. Chỉ vài phút trước khi có cuộc đột nhập, mẹ tôi đã tẩu tán được một số hàng hoá qua mấy người bạn hàng. Sau đó là những cuộc lục soát tinh vi hơn, toàn diện hơn mà không hề thông báo trước.
Ở ngoài chợ, hầu hết các bạn hàng đều kém may mắn hơn mẹ tôi. Chính quyền, thông qua các đội tình nguyện trẻ tuổi, đã xông vào các cửa tiệm vào lúc nửa đêm, tịch thu tất cả các loại hàng hóa đã được kiểm kê. Rồi hôm sau, họ bắt chủ tiệm trưng ra giấy tờ biên nhận buôn bán, chứng tỏ họ có quyền sở hữu đối với món hàng đó. Làm sao mà có được, vì hầu hết các hàng hoá chỉ là mua đi bán lại ở chợ đen, làm gì có giấy biên nhận. Thế là phải nộp phạt cho những hàng hoá tồn kho và các thương gia bị quét sạch sẽ.
Vào cái hôm mà đội thanh thiếu niên tới đóng cửa gian hàng của mẹ tôi, trong cơn giận dữ và thất vọng vì chẳng có món nào có giá trị, họ đã đập phá tan hoang. Một thành viên của toán, một đứa con gái mới chừng mười bốn tuôỉ, trong bộ đồng phục mầu xanh đã xiả xói vào mặt mẹ tôi với giọng khinh bỉ:
– Thử coi bà còn dám mở lại gian hàng chống phá CM này nữa không ? Chúng tôi sẽ quay lại kiểm tra thường xuyên cho bà biết tay.
Rất lâu sau khi họ đi khỏi, mẹ tôi vẫn ngồi trên sàn, đầu cúi xuống, không nhúc nhích. Ở bên ngoài, một bóng người bước vào gian hàng của mẹ tôi, ngừng lại ở ngưỡng cưả để quan sát bà. Từ chỗ mẹ tôi ngồi, bà chỉ có thể nhìn thấy một đôi chân dơ dáy của người khách thọc trong đôi dép râu rẻ tiền..
Bà ngẩng lên nhìn và thấy khuôn mặt quen thuộc của bà Đặng lúc ấy cũng đang chăm chăm nhìn bà. Ba năm sống dưới ách Cộng sản đã biến người bạn ồn ào của bà thành một phụ nữ già nua và nhút nhát. Tuy nhiên tiếng cười của bà Đặng vẫn còn dễ lây lan, vang lên như tiếng pha lê khi bà nhận ra mẹ tôi. Bà la lên:
– Trời phật ơi! Chị đó à, Khuôn? Chao ôi, chuyện gì đã xảy ra cho chị thế?
Mẹ tôi nhìn đăm đăm một cách ngây dại vào khoảng không gian phía sau khuôn mặt của bà Đặng. Quá xúc động vì cuộc hội ngộ bất ngờ, Bà Đặng qùi xuống sàn giữa đống chai lọ vỡ, mẻ và gục khuôn mặt vào cổ của mẹ tôi. Tuy nhiên mẹ tôi không ôm lại bà. Đầu óc của mẹ hình như ở đâu đó bên kia sự hôi thối, lầy lội của ngôi chợ, tiếc nuối sự mất mát của mình.
Nhiều ngày sau, mẹ tôi vẫn còn nằm liệt giường và từ chối ăn cơm với gia đình. Bà nói với Jimmy và tôi về việc bỏ rơi chúng tôi để đi sống ở một nơi nào khác. Một đôi khi, bà còn tính đến chuyện cả nhà, trừ ông bà ngoại tôi, sẽ tự tử tập thể cho thoát nợ đời. Sợ hãi vì những cơn xuống tinh thần đó, Jimmy và tôi tránh vào căn buồng của bà y như thể đó là khu vực của người cùi.
Nhưng may mắn thay, với nhiệt tình của dì Đặng, đến thăm viếng thường xuyên, mẹ tôi quyết định đi tiếp con đường đời. Bà lại dấn mình vào việc buôn bán.. Tuy rằng bà có sẵn kinh nghiệm làm ngân hàng, vấn đề cạnh tranh với người khác để mua đi bán lại kiếm sống, đối với bà là một ý nghĩ chua chát. Dầu vậy, bà biết là mình vẫn phải tìm ra một cách nào đó để mà có được bữa ăn hàng ngaỳ cho gia đình.
Cũng mùa hè năm ấy. Chị Loan trở về từ toán thanh niên xung phong. Sau ba năm trời lặn lội trong rừng cùng với trên hai trăm thiếu nữ khác cùng đơn vị, chị đã chứng tỏ là có tinh thần phục vụ cho chính quyền mới và thời hạn phục vụ của chị đã qua.
Vào cái hôm mà tôi bị ông giám hiêụ cho ra rìa khỏi vụ diễu hành, trên đường trở về nhà, tôi bắt gặp chị trên đường phố giữa đám đồng chí của chị. Mặc dầu chị mặc bộ đồng phục quá khổ mầu xanh may bằng vải ka ki dầy che lấp tất cả các đường nét phụ nữ, tôi vẫn nhìn thấy ngay khuôn mặt khả ái của chị. Sau nhiều năm làm việc dưới ánh nắng gay gắt, nước da của chị đã biến thành mầu nâu. Trên lưng chị là một cái ba lô đựng tất cả tài sản, nom nặng nề như đeo đá trên thân hình mảnh mai của mình. Chị nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy tôi vừa chạy vừa réo to tên chị. Chúng tôi ôm lấy nhau thật lâu, chan hoà nước mắt khi thấy mỗi người đều có sự thay đổi. Chị hỏi tôi:
– Sao em không viết thư cho chị. Bộ em không nhận được thư nào của chị hay sao?
Tôi trả lời:
– Không, chẳng có thư nào hết. Em không viết cho chị vì chả biết chị ở đâu. Chị đã gửi đi bao nhiêu thư tất cả?
Chị có vẻ bối rối:
– Chị không biết nữa. Nhiều đấy. Lúc ban đầu chị viết mỗi tuần một lá. Có khi chị còn nhờ một người bạn chuyển tay nữa. Thật là kỳ cục khi em chẳng nhận được lá thư nào.
Đăm chiêu một lát, chị tiếp:
– Khó có thể tin là mọi thứ đều thất lạc. Thật quá tệ, nhưng sống trong những điều kiện như thế này thì em cũng biết nó như thế nào rồi. Cũng chẳng sao, điều quan trong nhất là cuối cùng chị em mình gặp lại nhau, phải không. Dẫn chị về nhà gặp má đi em.
Tới ngưỡng cưả, hai chúng tôi bị con chó của Jimmy chặn lại. Nó vẫy đuôi mừng rỡ và liếm lên mặt của chúng tôi bằng cái lưỡi nham nháp của nó. Nó không còn là một con chó nhỏ nữa mà đã to lớn gần bằng vóc dáng của một con chó bẹc-giê trưởng thành và sức nặng của nó làm chị Loan liểng xiểng. Nó sủa oang oẳng lên làm chị Loan hết hồn, lùi lại phiá sau tôi:
– Nó không thể là con Lulu, phải không?
Chị hỏi rồi lại tự trả lời:
– Dĩ nhiên là không rồi. Con chó này đâu có cái chân què.
Tôi gãi vào sau cái tai con chó của em tôi và trả lời:
– Lulu chết rồi. Đây là con chó đực. Nó tên là Lu.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Bài 17

Mùa hè năm 1975 ấy mưa nhiều hơn nên đất không kịp thấm. Khắp nơi trong thành phố đều có những vũng nước đọng tạo điều kiện cho ký sinh trùng nảy nở khiến cho bệnh tật tràn lan với một tốc độ nhanh chóng. Bệnh sốt rét, bệnh kiết lỵ và bệnh lao thi nhau hoành hành. Trong cố gắng kiềm chế, nhà nước cộng sản thiết lập một hệ thống y tế huấn luyện cho mọi người để họ có thể tự săn sóc chính họ. Cứ mỗi tuần ba lần, một nhóm y tá lại kê bàn ra bên ngoài cổng phường, phân phát cho mỗi người một liều thuốc ký ninh để ngăn ngừa bệnh sốt rét. May mắn thay, xóm tôi chưa thấy xảy ra bất cứ một thứ dịch bệnh nào.

Tháng tám chậm chạp trôi qua trong khi thành phố điều chỉnh theo sự sắp xếp mới. Một hôm bác trai tôi hối hả chạy vào nhà tôi. Vì sự sai lầm trong quá khứ mà bác bị giam trong trại tập trung mất một tuần lễ. May mắn thay, ông tôi lại được bãi miễn cái loại gian khổ ấy vì sự tàn tật của mình. Vào cái hôm mà bác tôi được thả ra, ông tới nhà tôi để cảnh giác mẹ tôi về những tin tức thâu lượm được trong trại giam.

Trên khắp thành phố, người Cộng sản đã thi hành một chiến lược mới để triệt hạ chủ nghĩa tư bản, khởi sự từ dân giầu có cư ngụ ở khu phố tầu, sau lan tới các phú hộ ở miền quê. Đó là một kế hoạch khá giản dị. Mỗi ngày, cán bộ của nhà nước chỉ định đại một khu vực dùng làm mục tiêu. Tại mỗi nơi này, họ lục soát tất cả mọi nhà và đặc biệt họ chuyên chú tới tất cả những người có máu mặt trong vùng. Muc tiêu chính là để tìm ra của cải bị cất dấu hoặc những bằng cớ chứng tỏ rằng đương sự đã phạm trọng tội trong quá khứ. Trong khi nhân viên nhà nước lục soát đồ đạc, của cải thì mọi người trong nhà bị dồn hết vào một góc. Bất cứ vật gì có giá trị đều bị tịch thu hoặc bị phá hủy tức thì. Nếu gia chủ bị phát giác là có dính líu tới quá khứ một cách nặng nề, tùy theo mức độ tội phạm, đương sự sẽ bị giải tới trại giam tù cải tạo hay chờ bị đưa ra toà án xét xử. Ngay cả bọn con nít cũng không tránh khỏi cuộc lục vấn vì có nhiều trường hợp cha mẹ chúng đã khôn ngoan cất dấu của cải nơi con cái.

Với sự trợ giúp của các anh em họ tôi, Mẹ tôi đã làm một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng đồ tế nhuyễn, của riêng tây, lựa ra những món kỷ niệm có liên quan đến quá khứ vàng son của bà, nhất là những cái có dính dáng đến cha tôi và cha của Jimmy. Bà đem dấu tất cả vào một cái hộp đựng giầy, nhét thêm vào đó một nửa số nữ trang. Nửa số còn lại thì vẫn còn được cất dấu trong túi quần của tôi. Chờ lúc đêm xuống, bà đem hộp giầy ra chôn ở sân cỏ phía trước.

Tại nhà bên cạnh, gia đình của Duy không có may mắn như thế. Bọn Công sản đã lục lọi từng xó xỉnh, đào bới lung tung. Lúc trở ra, họ còng tay ba của Duy mang đi, trên một chiếc xe vận tải nhà binh. Mẹ của Duy chạy theo chồng rền rĩ khóc than như một con thú bị thương trong khi chiếc xe vẫn lầm lũi chạy trên con đường đất bụi, nhả đám khói đen đặc vào mặt bà. Giữa lúc tôi đang đứng bên cạnh bà tôi trên sân cỏ phía trước để coi quang cảnh nhốn nháo ở nhà hàng xóm thì chị Moonlight đến đứng ngay sau lưng tôi. Chị trỏ tay về anh Tống Ty và thì thào vào tai tôi :

– Kiên à, em đưa cái này cho anh ấy giùm chị nhé, 

Chị dúi vào tay tôi một tờ giấy nhỏ. Tôi hỏi lại 

– Bây giờ à ? Đưa giữa vào lúc như thế này sao ?

– Phải rồi. Ngay bây giờ 

Nói xong chị đứng dậy bỏ đi trước khi bố mẹ của chị kịp nhìn thấy. Tôi tiến về phía cửa nhà bên cạnh và đảo mắt tìm anh Ty trong đám lố nhố của gia đình anh. Anh đứng ngay bên cạnh bà mẹ, cánh tay ôm lấy ngang lưng của bà để cho bà đừng khỏi xỉu. Bà khóc ngất trên vai của anh bất kể sự tò mò nhòm ngó của mọi người qua lại. Trước cảnh tan hoang, anh Ty tỏ ra cứng rắn và vững vàng. Anh không nhận ra tôi lúc tôi luồn tới gần anh. Còn Duy thì ngưng khóc và nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên.

– Xin lỗi nhé, Duy !

Duy không trả lời tôi. Đứng lẫn trong đám anh em hoảng hốt thất thần của Duy, tôi cảm thấy lạc lõng khi họ kéo nhau vào nhà. Lúc anh Ty đi qua trước mặt tôi, tôi nhét vào tay anh mảnh giấy của chị Moonlight. Trước khi anh kịp bước đi thì tôi đã thì thào vào tai anh :

– Của chị Ánh Nguyệt đấy. 

Anh nói cảm ơn và tôi chạy về nhà. Tới sân trước, tôi thấy chị Ánh Nguyệt đang đứng ở đó, nháy mắt với tôi và mỉm cười.

Sau khi chờ đợi cả mấy tuần lễ coi người Cộng sản có biện pháp gì mẹ tôi nhận ra rằng, sau khi đã lấy được căn biệt thự thì họ chẳng còn coi chúng tôi như một sự đe doạ ghê gớm nữa. Thấy an tâm, mẹ tôi đi thu lượm lại những món đồ đã chôn. Nhưng bà thất đảm khi thấy cái hộp đã chôn nay biến mất. Sau năm tiếng đồng hồ xới tung cả đám cỏ lên, bà cho rằng cái hộp đã bị cuốn trôi ra biển vì có dòng nước ngầm ở dưới. Tình trạng này cũng thường xảy ra khi người ta đem chôn đồ vật mà lại đào qúa sâu.

Mấy tháng cuối cùng trước khi mẹ tôi sanh nở, không khí trong gia đình càng lúc càng nặng nề, khó thở. Vì cả gia đình tôi chẳng ai có công ăn việc làm nên tất cả phải sống nhờ vào việc bán dần các món nữ trang của bà. Chuyên thai nghén cũng không được suông sẻ như bà trông đợi. Ở tháng cuối cùng bà gặp trục trặc hai lần. Lần băng huyết thứ nhì lại còn kèm theo những đợt quặn đau rút khiến cho bà nghĩ rằng đứa bé sẽ bị đẻ non. Trong lúc rối trí, bà hối hả chạy tới bệnh viện, nhưng ở đâý cho biết là chưa có triệu chứng đẻ. Thế là bà lại hối tiếc vì đã tốn tiền chi phí cho bệnh viện trong lúc tiền bạc eo hẹp.

Cũng vào thời gian đó, dượng Lâm bị ông trưởng phường gọi đi làm lao động tập thể trong mười lăm ngày, mà thực chất là là sự khổ sai cưỡng bách trong một khu rừng cách thành phố năm mươi cây số. Lâm đã từ chối không đi. Vì sợ rắc rối, mẹ tôi đã thuê một người anh họ của tôi đi thay. Thật ra, sự đánh tráo như thế này thường thường là xuông lọt. Nhưng, trong cái ngày xui xeỏ đó, tay trưởng phường tình cờ phát giác ra sự thay thế gian trá này khi ông dự định đưa Lâm lên làm tổ trưởng lao động. Và ông ta nhận ngay ra đó là anh Lễ chứ không phải là dượng Lâm.

Dù cho dượng Lâm đã thoát được chuyện này, không có rắc rối gì quan trọng xảy ra, nhưng sự mâu thuẫn giữa gia đình tôi và ông ba Qùi, viên trưởng phường, đã tới một ngã rẽ mới. Theo ông ta, thì nếu gia đình tôi có khả năng thuê mướn được kẻ thay thế thì có nghĩa là chúng tôi còn giữ được của cải mà không khai với nhà nước. Tình trạng này khiến cho mẹ tôi và dượng Lâm càng xa cách nhau hơn, đến nỗi chẳng ai nói với ai một lời. Một vài người trong xóm còn cho rằng mẹ tôi và dượng Lâm chẳng còn có vẻ là một cặp bồ bịch nữa.

Cứ mỗi ngày qua đi, mẹ tôi lại tỏ ra khó chịu và bứt rứt. Những cơn mưa dầm và cái bụng bầu càng ngày càng to đã khiến cho bà mất hết kiên nhẫn, ngay cả đối với những chuyện vụn vặt. Vào một buổi tối, giờ cơm, chúng tôi ngồi trên sàn ăn cơm với cá mặn do bà ngoại tôi nấu. Kể từ khi chị Loan đi khỏi, bà ngoại tôi thay thế làm công việc vặt trong nhà như bếp núc, dọn dẹp, giặt giũ. Nếu không bị hành bởi bệnh tê thấp, bà tôi đã có thể là một đầu bếp giỏi. Nhưng, cũng như tối hôm đó, hầu như tất cả mọi bữa, chúng tôi đều chỉ có cơm với cá khô mà thôi.

Mẹ tôi đang ngồi im lặng ăn, bất thình lình ở phía đối diện, dượng Lâm cau mày nói :

– Nhìn tôi đây này.

Mẹ tôi vẫn tiếp tục ăn coi như chẳng nghe thấy gì. Trong khi ấy, Jimmy lấm lét nhìn hai người. Tôi nắm lấy tay nó và biết rằng nó sắp khóc. Sự im lặng của mẹ tôi khiến dượng muốn điên lên, tay ông ta đập xuống sàn, to tiếng hơn :

– Tại sao cô không nhìn tôi ? Tôi chịu hết nổi cái thói bỉ mặt này nữa rồi.

Vẫn thế, cách trả lời độc nhất của mẹ tôi là tăng thêm sự ghẻ lạnh. Dượng quát :

– Đừng có giỡn mặt với tao, con đĩ thối.

Trong cơn giận dữ, lời xỉ nhục của dượng vọt ra nghe khàn cả giọng. Rồi dượng ném cả nửa bát cơm đang ăn vào mẹ tôi rồi bỏ ra ngoài châm thuốc lá. Những hạt cơm bắn tung toé lên tóc, lên cả mặt mẹ tôi mà bà cũng không buồn phủi đi. Bên cạnh tôi, Jimmy bắt đầu lên tiếng khóc.

Khuya đêm ấy, dượng Lâm luồn vào trong giường của tôi. Đang nằm sấp, tôi không biết rõ có dượng mãi cho đến khi tôi bị sức nặng của dượng đè lên mới choàng dậy. Hắn ta dùng tay bịt mồm tôi lại để tôi khỏi la lên. Tôi choáng váng tỉnh giấc mà không biết có chuyện gì đã xảy ra. Bên tai tôi, giọng của hắn thì thào :

– Mày mà kêu tao bẻ gẫy cổ.

Thoạt tiên tôi chắc là mình đang ở trong một cơn ác mộng, và tôi cố vùng vẫy để thức dậy. Nhưng bàn tay của dượng đè chặt lên mặt tôi và đem tôi trở về thực tế. Tôi cố giâỹ giuạ để thoát ra khỏi sự ghì cứng của hắn và cố hớp chút không khí. Nhưng tôi không có đủ sức mạnh để thoát ra khỏi, tôi cảm thấy nghẹt thở. Chắc là tôi chết quá. Tôi thầm van xin và cảm thấy óc căng phồng lên như một qủa bóng đầy hơi, sắp phát nổ. Tôi nghĩ đến Lulu và thầm hỏi rằng trước khi chết, con chó của tôi có cùng một cảm giác hãi hùng như thế này hay không. Yếu dần, tôi không còn vùng vẫy được nữa. Ngay khi tôi ngừng cựa quậy thì dượng lơi những ngón tay ra, không ghì lên mặt tôi nữa, khiến chút không khí có thể ùa vào trong phổi của tôi. Tôi hăm hở hớp lấy sự sống, đến nỗi phát nghẹn vì đờm của chính mình. Dượng gằn giọng, thì thào :

– Nghe đây và nghe cho kỹ, thằng nhóc. Sau này mày lớn lên, nếu muốn trách ai đã gây ra chuyện này thì hãy trách mẹ mày. Mụ đã gây sự trước, ngay khi mụ giết đứa con chưa chào đời của tao.

Giọng của dượng tuy gần mà nghe xa văng vẳng. Tuy nhiên tôi cũng hiểu được ông ta nói cái gì, những lời lẽ ấy nhiễu vào tâm hồn tôi như những giọt mực. Ở bên ngoài, trời đã về khuya, có ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ soi rõ mọi vật trong phòng, kể cả những ngón tay như những móng vuốt bấu sâu quanh cổ tôi. Dượng một tay kéo cái quần pyjama của tôi xuống, và cởi cả quần của dượng, còn tay kia thì vẫn giữ cứng lấy tôi. Tôi vừa sợ hãi vừa cảm thấy nhục nhã nhưng cũng vẫn chẳng hiểu dượng toan tính làm cái gì. Trong cơn bối rối và hoảng loạn, tôi cảm thấy người tê cứng lại. Rồi bất chợt một cơn đau điếng như một làn sóng ùa vào cơ thể của tôi trong khi dượng hầm hừ và nhún nhẩy trên mình tôi. Tôi muốn gào lên mà không thể được. Tôi cũng không còn khóc được nữa, tất cả trong tôi chỉ còn là một sự trống rỗng cứ mỗi phút lại tăng trưởng hơn, lạnh lùng hơn.

Trước khi rời khỏi thân mình tôi, dượng dứ dứ nắm tay lên mặt tôi và nói :

– Giữ kín chuyện này giữa tao với mày thôi, nhóc, lần sau thì tao có thể nhẹ nhàng hơn. Nếu mày ngu đến nỗi đi mách mẹ mày thì tao sẽ tìm tới thằng em của mày.

Hắn ta chẳng cần cảnh cáo để bịt miệng tôi lại. Sự nhục nhã và cô đơn mà tôi cảm nhận không phải là những cảm giác mà tôi muốn chia sẻ với bất cứ ai. Tôi nằm vùi trong đống gối, lắng nghe tiếng chân của hắn rời xa và cố gắng ngăn chăn. sự tuỉ nhục đang ăn xói vào tâm hồn của mình.

Hắn đã đi khỏi rất lâu mà tôi vẫn nằm trần truồng, bất động trên giường. Đầu óc tôi trống rỗng. Tôi đắm mình vào cái vỏ kén, như đã chết, lạnh lẽo, không hồn, và vào cái giây phút ấy thì tôi chỉ còn có cách đó để yên thân.

Ngày hôm sau tôi ngủ vùi dưới tấm khăn trải giường trùm kín đầu. Tới giờ ăn sáng, mẹ tôi đi tìm tôi. Bà thấy tôi run rẩy dưới tấm khăn. Lo lắng, bà kéo tung ra để quan sát. Tôi nhìn chăm chăm lên trần nhà ở phía sau khuôn mặt của bà.

Một tay bà quơ lấy tôi, tay kia thì đập vào tôi rồi bà kêu lên :

– Dậy đi, Kiên.

Thấy tôi vẫn chẳng nhúc nhích, giọng bà trở nên hốt hoảng :

– Có chuyện gì thế, con nói đi. Con bị cái gì thế ? Ôi trời ơi, máu ở đâu ra thế này ?

Sự hoảng hốt của bà lôi tôi trở về hiện tại, với căn phòng, nơi mọi người đang tò mò nhìn tôi. Nằm ườn ngang giường, dượng Lâm ngó tôi dòm chừng. Cái nhìn tăm tối của dượng giật tôi ra khỏi trạng thái ngơ ngẩn. Tôi lắp bắp :

– Con.. con như thường mà mẹ. Con chỉ hơi mệt thôi.

Mẹ tôi rờ lên đốm máu khô trên nệm giường, hỏi :

– Vết máu này ở đâu ra vậy ? Con chảy máu ở đâu vậy kìa.

Dượng Lâm xen vào :

– Nó bình thường mà. Hãy để cho nó yên.

Mắt hắn không rời tôi trong khi vẫn nói với mẹ tôi :

– Sáng sớm hôm nay nó hơi bị chảy máu cam. Tôi đã giúp nó cầm máu rồi. Có phải không, Kiên ?

Tôi gật đầu. Nhưng mẹ tôi không chịu. Bà cau mày vẻ hoài nghi :

– Chảy máu cam à ? Không thể như thế được. Xưa nay có bao giờ nó bị chảy máu cam đâu. Có chắc như vậy không ?

Hắn qủa quyết :

– Chắc vậy mà. Để yên cho thằng bé nghỉ ngơi đi. Nếu tình trạng nó không thấy khá hơn thì tụi mình sẽ mang nó đi bác sĩ được không ?

Những lời của hắn có vẻ như đã làm cho mẹ tôi dịu đi, bà đặt tôi nằm dựa lưng trên gối. Dượng níu lấy vai của mẹ tôi, dẫn bà ra ngoài.

Chỉ một chút sau, hắn quay lại, lật cái khăn trải giường lên và nói :

– Dậy, đi ra khỏi giường ngay. Mày phải làm cho má mày tin là mày không có ốm. Nếu không, mẹ mày mà moi ra mày đã là cái thứ gì trong đêm hôm qua thì tao sẽ không che dấu cho mày nữa.

Hắn đẩy tôi ra khỏi phòng, thẳng tới sân cỏ phía trước. Tôi ngồi ở bậc thềm, tay ôm lấy bụng một hồi lâu. Cái đau ngầm ở bên trong làm cho tôi thấy khổ sở. Tôi cũng đang còn cảm thấy máu rỉ ra trong quần lót và mùi của nó làm tôi phát buồn nôn. Ở phía bên kia bức tường, Duy giơ tay vẫy, ra hiệu cho tôi qua bên đó. Cố quên chuyện đã xảy ra, tôi qua chơi với nó và con Ngốc mãi tới tận bữa cơm chiều.

Đêm hôm ấy mẹ tôi qua giường tôi, kéo tôi vào lòng. Bàn tay mềm mại của bà đặt lên trán tôi để xem nhiệt độ. Nằm trên giường của hắn, dượng Lâm hé mắt nhìn qua. Sự hiện diện của hắn làm cho tôi bồn chồn, mẹ tôi hỏi :

– Con thấy thế nào, Kiên ?

– Con khoẻ rồi 

– Có chắc không ? Mẹ thì không thấy như vậy.

Sau một chút yên lặng, bà nói tiếp với giọng đầy lo lắng :

– Kể cho mẹ nghe chuyện gì đã xảy ra. Mấy tuần lễ qua rồi, chẳng lẽ con vẫn còn giận mẹ vì chuyện con Lulu.

Thay vì trả lời bà, tôi nhắm mắt lại giả vờ ngủ. Mẹ tôi tiếp :

– Con à, tuy là việc khó cho mẹ, nhưng mẹ hứa là ngày mai sẽ tìm cho con một con chó khác nếu con hứa với mẹ là sẽ khoẻ lên.

Tôi mở mắt ra. Dưới ánh sáng mờ nhạt, khuôn mặt mẹ tôi hằn lên vì những nếp nhăn mới. Mắt bà đẫm lệ. Tôi khẽ lắc đầu trước lời gợi ý ấy. Bà hỏi :

– Con không muốn một con chó khác à ?

– Không.

– Vậy nói với mẹ con muốn cái gì. Con chó bên nhà hàng thịt vừa mới đẻ xong. Mẹ đã nói với ông ta là để dành cho con một con chó nhỏ rồi. Nếu con không ưng thì mẹ làm gì với con chó ấy.

– Cho Jimmy. Con không thích chó nữa, mẹ à.

– Được rồi, nếu con chắc chắn như thế. Nhưng hãy khoẻ lên, mẹ cần con.

Bà hôn tôi rồi tắt ngọn đèn nhỏ và đi ra ngoài. Lúc bà đi khỏi. Trong bóng tối, tôi dè trước sự mò tới của dượng Lâm bằng từng sợi gân thớ thịt của tôi. Nhưng sau cùng thì tiếng ngáy như kéo gỗ vang lên trong sự im ắng của căn buồng và rồi tôi còn nghe tiếng ú ớ những điều gì vớ vẩn trong cơn mơ.

Tôi bò ra khỏi giường cầm theo cái gối. Lặng lẽ, tôi nhón gót lần ra khỏi phòng để tới khu vườn.

Bên ngoài, từng cum. mây nặng triũ treo lơ lửng trên những lùm cây báo hiệu cơn mưa đang tới. Cây cối biến dang như những con quái vật đang rên rỉ theo gió. Trí tưởng tượng của tôi biến mọi thứ trong vườn thành những hình dị dạng chung quanh tôi. Nhưng dù vậy, đây cũng còn là nơi đỡ đe doạ hơn nhiều so với căn buồng của tôi.

Tôi ngả mình nằm xuống thềm nhà. Trên cao khoảng ba mét, cái mái hiên bằng tôn che gần hết tầm nhìn của tôi lên bầu trời. Cách xa tôi một khoảng ngắn, ngôi mộ của Lulu nằm dấu trong lòng đất. Sự hiện diện của nó có vẻ cũng làm vơi đi nỗi lo lắng của tôi và tôi bắt đầu cảm thấy thư thái hơn. Giấc ngủ đến với tôi rất mau nhưng chẳng kéo dài. Từ rất sâu trong tiềm thức, tôi nhớ lại lời đe doạ của dượng Lâm, giọng của hắn như vang vọng lên : ” Này, Kiên. Lần sau tao sẽ tìm tới em của mày. Lần sau tao sẽ tìm tới em của mày. Lần sau tao.. “

Tôi chồm lên khỏi nền đất lạnh và chạy tuốt vào trong nhà. Nín thở, tôi đi chân đất và rón rén qua giường của Lâm. Em tôi đang ngủ say nên không biết có tôi tới bên cạnh. Tôi lay nó dậy, bịt mồm để nó khỏi kêu lên. Jimmy mở mắt ra và nhìn sững tôi. Tôi thì thào vào tai nó :

– Dậy, đi theo anh.

Mắt nó hấp háy, nhưng nó không kêu lên và cũng thì thào với tôi :

– Mình đi đâu vậy ? 

– Đừng hỏi. Cầm theo cái gối và cứ đi theo anh.

Tôi đỡ nó ra khỏi giường và dẫn nó ra vòm cổng phía trước. Jimmy không hỏi thêm gì nữa mà chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt tin cậy. Tôi bảo nó nằm xuống mặt hè, Tôi cũng nằm xuống, lấy tay choàng lên nó để che cho nó khỏi lạnh chừng  nào tốt chừng đó. Chúng tôi ôm lấy nhau ngủ khi mưa bắt đầu rơi. Cái mái hiên đã che cho chúng tôi khỏi bị mưa hắt xuống gần suốt một đêm trường.

Sáng hôm sau, mẹ tôi điên tiết lên khi phát giác chúng tôi không có ở trong giường. Đang ngủ ngon thì nghe bà thét lên đong đỏng bên tai chúng tôi :

– Dậy ngay lập tức ! Tại sao tụi bây lại ngủ ngoài mưa thế này ?

Chúng tôi choàng dậy ú ớ, nhưng chẳng biết nói sao. Mẹ tôi rên rỉ :

– Trời ơi, cái lũ này. Tại sao tụi bay làm phiền tao đến như thế. Nói đi, tao đã làm gì mà phải lãnh qủa báo này.

Rồi bà quay sang tôi :

– Còn mày, bộ không nhớ những gì tao dặn đêm qua sao ?

Phía sau bà là ông ngoại tôi, đứng tựa cửa và nhìn chúng tôi với vẻ lo ngại. Nằm trên sàn, Jimmy bỗng hắt hơi. Khuôn mặt của nó đẫm mồ hôi và đỏ như đang lên cơn sốt. Mẹ tôi la lên :

– Coi kìa, thằng em mày phát ốm lên rồi.

Bà bế nó lên tay và hầm hè với tôi :

– Vô trong ! Tao sẽ giết cả hai đứa tụi bay ! 

Bà đặt Jimmy vào giường rồi quay sang tôi :

– Có phải chính mày đem em ra ngoài ngủ đêm qua, phải không ?

Tôi sợ hãi, gật đầu. Bà rít lên :

– Tao biết mà. Mày có điên không hay là mày muốn nổi loạn chống lại tao đây ?

Bà túm lấy vai tôi. Những móng tay của bà, với cung cách quen thuộc, bấu vào chỗ có da có thịt của tôi. Tôi đau đớn la lên :

– Con xin lỗi. Tại đêm qua con sợ quá.

– Sợ ? Mày sợ cái gì ?

– Con không biết, mẹ ơi.

Ông ngoại tôi bỗng chen vào :

– Thôi. Nó còn bé mà. Chúng nó đã bị đầy đoạ đến thế mà vẫn còn chưa đủ sao ? Từ từ rồi chúng nó quen dần với tình thế mới, con ơi. Khi đứa trẻ sợ thì ắt phải có lý do. Vậy sao không hỏi nó mà cứ đánh nó như kẻ thù vậy ?

Mẹ tôi quát lên :

– Nó hư đốn rồi. Nó làm cho thằng kia phát ốm lên. Rồi không biết nó còn giở cái trò trống gì nữa đây. Con biết làm sao bây giờ ?

Ông tôi noí :

– Đừng có la lối nữa. Ắt phải có chuyện gì ghê gớm xảy ra cho các cháu của ba, khiến chúng nó phải bỏ cái giường êm ấm ngay giữa khuya khoắt mà kéo nhau ra ngủ giữa trời lạnh như thế chứ. Cứ để ba hỏi nó cho.

Rồi ông quay sang tôi, hạ thấp giọng xuống, thì thào :

– Kiên, nói cho ông nghe tại sao con không ngủ trong giường đêm hôm qua. Tại sao con lại ngủ ngoài trời như bọn lang thang không nhà không cửa thế ? Con trốn chạy cái gì vậy ?

Tôi không trả lời ông. Cơ thể của tôi quá suy sụp khiến cho mặt tôi nóng lên và choáng váng. Tôi phải đứng dựa lưng vào tường cho khỏi ngã.

Ông tôi thở dài thất vọng. Quay sang phía mẹ tôi, ông nói bằng một giọng mạnh mẽ bất thường :

– Đây là sự sắp đặt mới. Kể từ hôm nay, thằng Kiên sẽ ngủ với ba, còn thằng Jimmy thì tạm thời thì ngủ với bà ngoại. Như vậy có thấy khá hơn không hả cháu ?

Tôi gật đầu. Với vẻ hài lòng, ông tôi quay về buồng ông. Từ trên giường, dượng Lâm rít lên qua kẽ răng và bước ra ngoài. Mẹ tôi bực bội càu nhàu :

– Con hy vọng ba không làm hư chúng nó 

Rồi bà cũng bước ra ngoài, giận dỗi nện chân thình thịch.

Ở ngoài cửa trước, ông hàng thịt bỗng xuất hiện với con chó nhỏ nằn yên ổn, ngoan ngoãn trong lòng bàn tay. Chẳng ai chú ý đến ông ta trừ em tôi. Nó nhẩy ra khỏi giường, chạy tới ông ta để đón lấy con chó và khẽ kêu lên sung sướng.

Ông tôi giữ lời hứa. Hằng đêm, ông đu đẩy ru tôi ngủ trong vòng tay của ông, cố gắng tối đa để giúp tôi xua tan đi cơn ác mộng. Cùng lúc đó, ở phòng bên, Jimmy cũng ngủ cạnh bà ngoại trên giường của nó..

Mẹ tôi đã tới cữ, vào tháng chín, đẻ sớm mất hai tuần lễ. Trong căn phòng dơ dáy của bệnh viện, cạnh khu phòng hoa liễu, mẹ tôi sanh em bé gái. Ngay từ giây phút đầu tiên mà nó bị đẩy ra thế giới bên ngoài, nó khóc liên tục như thể bị đau đớn không ngừng. Mẹ tôi gọi nó là bé Ti, một cái tên phản ánh sự dửng dưng của bà đối với nó.

Vài ngày sau, dượng Lâm tới thăm. Mẹ tôi đang cho bé Ti bú. Hắn cúi xuống dòm vào đứa con gái của mình. Mẹ tôi tránh không nhìn hắn. Với giọng mệt mỏi, bà hỏi :

– Anh muốn gì, Lâm ?

Dượng thì thầm :

– Chẳng còn muốn gì ở đây nữa. Phải tìm cách ra khỏi cái đống bùi nhùi này thôi.

Và không đợi mẹ tôi trả lời, hắn tiếp :

– Thành thật mà nói, tôi với cô đã chán nhau qúa rồi. Để cho cô thoải mái hơn, tôi đã tính ra một cách.

Mẹ tôi nói :

– Anh có thể nghĩ ra được cái trò gì ?

– Tôi có mối rồi.

– Hắn cúi đầu xuống, dí sát mũi vào mặt mẹ tôi, tiếp :

– Tôi cần một mớ tiền để vượt biên !

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 19 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Binh sĩ SOF làm nhiệm vụ bí mật ở Afghanistan tháng 4-2014 – Ảnh: Quân đội Mỹ

Kỳ 2 – Vì sao Mỹ lập lực lượng tác chiến đặc biệt?

TTO – Lực lượng tác chiến đặc biệt của Mỹ ít quân nhưng đang gánh vác trách nhiệm phần lớn hoạt động tác chiến tại các điểm nóng.

Từ một đội giải cứu con tin nhỏ vào năm 1979, lực lượng này liên tục phát triển, đến nay đã lên khoảng 75.000 quân hoạt động trên hơn 80 quốc gia, bao gồm cả các nhà thầu dân dụng.

Phi vụ Iran bất thành, JSOC ra đời

Từ những năm 1950, quân đội Mỹ sử dụng thuật ngữ “lực lượng đặc biệt” để chỉ lính mũ nồi xanh bộ binh. Vài thập niên gần đây, thuật ngữ này đã được thay thế bằng cụm từ “lực lượng tác chiến đặc biệt” (SOF). 

Danh hiệu SOF bao quát hơn vì bao gồm biệt đội SEAL của hải quân, biệt đội Delta và mũ nồi xanh của lục quân, biệt động quân của thủy quân lục chiến hoặc đội điều không của không quân.

Tác giả Mark Bowden nhận xét trên tạp chí The Atlantic (Mỹ): muốn biết vì sao các chiến dịch đặc biệt chiếm vai trò trung tâm trong hoạt động quân sự Mỹ, cần điểm qua quá trình phát triển của SOF. 

Trong quá khứ, các đơn vị quân đội Mỹ hoạt động theo kiểu “duy ngã độc tôn”, không ai tán thành lập ra một lực lượng tinh nhuệ hơn hẳn làm nhiệm vụ đặc biệt. Tổng thống John F. Kennedy đã đi ngược với suy nghĩ đó khi quyết định phát triển mạnh lực lượng mũ nồi xanh.

Sau đó, đại tá Charlie Beckwith từng phục vụ một thời gian ngắn trong lực lượng đặc biệt không quân Anh (SAS) tại Malaysia đã đề xuất thành lập lực lượng Delta bắt chước theo mô hình SAS. Kế hoạch của Beckwith bị bỏ xó. 

Đến đầu tháng 11-1979 đã xảy ra sự kiện các sinh viên Iran tràn vào Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bắt giữ con tin. Trước đó có hai vụ giải cứu con tin ngoạn mục. Năm 1976, đội đặc nhiệm Israel giải cứu hơn 100 hành khách trên chuyến bay bị không tặc ở sân bay Entebbe (Uganda). Một năm sau, đặc nhiệm Đức lập chiến công tương tự ở Mogadishu (Somalia).

Ngũ Giác Đài sực nhớ tới kế hoạch của Beckwith. Chiến dịch Móng vuốt đại bàng (Eagle Claw) nhằm giải cứu con tin Mỹ ở Iran bằng lực lượng đặc biệt khởi động vào ngày 24-4-1980 song đã không vượt qua chặng đầu tiên là bay đến Tehran. 

Các máy bay trực thăng loại lớn phải hạ cánh ban đêm trên sa mạc Iran để tiếp nhiên liệu. Quả cầu lửa bùng phát ở bãi đáp làm tám binh sĩ thiệt mạng. Đây là một trong những chiến dịch giải cứu thất bại nặng nề nhất trong biên niên sử quân đội Mỹ.

Kết quả điều tra của Ủy ban Holloway xác định Ngũ Giác Đài không chuẩn bị gì cho các chiến dịch mang tính chất táo bạo, phối hợp, chính xác đồng thời có tình trạng thiếu hợp tác giữa các cơ quan như phải trầy trật mới có bản thiết kế đại sứ quán ở Iran hay các phi công hải quân lái trực thăng qua sa mạc không tập luyện trước theo yêu cầu. Từ đó, Ủy ban Holloway khuyến nghị thành lập Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt hỗn hợp (JSOC).

Các binh chủng không thích ý tưởng này. Sau khi ra đời, JSOC bị đối xử như con ghẻ, chưa có ngân sách riêng và hệ thống chỉ huy làm việc rất miễn cưỡng. Tháng 10-1983, Tổng thống Ronald Reagan ra lệnh đánh chiếm đảo quốc Grenada với lý do đưa 600 sinh viên y khoa Mỹ trên đảo về nhà. JSOC giữ vai trò chủ công trong chiến dịch.

Nhà Trắng khen ngợi chiến dịch thành công, thật ra chiến dịch diễn ra hết sức lộn xộn. JSOC chủ yếu sử dụng bản đồ du lịch vì bản đồ địa hình quân sự không có. Bốn binh sĩ SEAL chết đuối trong quá trình thám sát. JSOC không nắm chính xác các binh sĩ Grenada và Cuba ở đâu trên đảo, quân số bao nhiêu, sử dụng vũ khí nào. 

Các toán không liên lạc được vì tần số vô tuyến không được điều phối. Trong bốn trực thăng Black Hawk nhồi nhét 15 biệt động quân mỗi chiếc đã có ba chiếc rơi xuống biển. Thêm ba người chết. Rốt cuộc trong doanh trại Calivigny không có binh sĩ Cuba hay Grenada nào. Thiếu tướng Richard Scholtes chỉ huy JSOC phải điều trần thất bại trước ủy ban quân lực Thượng viện vào tháng 8-1986.

Trực thăng Mỹ giải cứu con tin bốc cháy trong sa mạc Iran ngày 26-4-1980 – Ảnh: AP

Tổ chức mạng lưới tình báo – tấn công phối hợp

Sau sai lầm ở Grenada, Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Mỹ (SOCOM) được thành lập. Nhờ hai thượng nghị sĩ Sam Nunn và William Cohen bảo trợ, SOCOM có hệ thống quản lý và ngân sách riêng. 

Ngân sách hằng năm hiện nay khoảng 13 tỉ USD, chiếm 2% chi tiêu quân sự. Uy tín của SOCOM tăng lên vì chỉ huy là một vị tướng hoặc đô đốc bốn sao. Các chiến dịch đặc biệt của SOCOM được báo cáo trực tiếp cho bộ trưởng quốc phòng.

Sử dụng quân đội chính quy giống như sử dụng búa tạ, còn sử dụng lực lượng đặc nhiệm giống như dùng con dao đa năng Thụy Sĩ. Nhiệm vụ của SOF được mở rộng hơn. SOF nổi như cồn sau vụ đột kích ở Panama năm 1989 bắt giữ nhà độc tài Manuel Noriega áp giải về Mỹ truy tố các tội buôn ma túy và rửa tiền. 

Trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Iraq bắn tên lửa Scud sang Israel. Chỉ trong vài ngày, các toán JSOC (thuộc SOCOM) đã lập chốt thám sát trong sa mạc và loại bỏ các dàn tên lửa Iraq. Tìm kiếm và tiêu diệt đã trở thành một đặc sản khác của SOF.

Viễn thông hiện đại đã thay đổi chiến tranh không quy ước. Định nghĩa về JSOC cũng đã thay đổi lần nữa. SOF không chỉ là các đặc nhiệm hay xạ thủ nhảy toán từ trực thăng mà trở thành mạng lưới tình báo – tấn công phối hợp toàn diện. Giải cứu con tin, săn người, tìm và diệt đã trở thành các hoạt động chính. Kịch tính nhất là chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden ở Pakistan năm 2011.

Các toán SOCOM đã đảm trách cuộc chiến chống các mạng lưới khủng bố Hồi giáo ở châu Phi và châu Á chủ yếu thông qua công tác huấn luyện quân đội địa phương. Mạng lưới tình báo và các phương tiện không quân của Mỹ đã mang đến cho các chiến binh người Kurd, người Iraq và người Syria lợi thế áp đảo trước tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS).

Dưới thời Tổng thống Barack Obama, SOCOM hoạt động rất tích cực. Ngoài các hoạt động triển khai lớn ở Trung Đông còn có các đơn vị nhỏ hơn ở Niger, Chad, Mali, Hàn Quốc, Philippines, Colombia, El Salvador, Peru và hàng chục quốc gia khác. SOCOM được ưu ái vì hai lý do: một là lực lượng tinh nhuệ và hai là lực lượng thực hiện nhiệm vụ với giá rẻ (chỉ cần cử 10 đặc nhiệm thực hiện một công việc thay vì điều động 100.000 quân).

Đến thời Tổng thống Donald Trump, tuy ông đã tiến hành nhiều đợt rút quân, nhất là ở Syria và Afghanistan nhưng nhiệm vụ của SOCOM cứ tiếp tục phình to. Mục tiêu ưu tiên là chống chủ nghĩa cực đoan bạo lực như Taliban, IS, Al Qaeda và al-Shabaab (Somalia).

SOCOM đã tổ chức không kích tiêu diệt thủ lĩnh IS Abu Bakr al-Baghdadi ở Syria năm 2019, sử dụng máy bay không người lái giết chết thiếu tướng Iran Qassem Soleimani ở Iraq năm 2020. SOCOM còn được giao nhiệm vụ phát triển các phương án dự phòng cho xung đột với Iran và CHDCND Triều Tiên. 

SOF được điều động đến châu Âu giáp với Nga và soạn thảo kế hoạch ngăn chặn Trung Quốc. Năm 2017, trách nhiệm kiểm soát vũ khí hủy diệt hàng loạt đã được chuyển giao từ Bộ tư lệnh Chiến lược Mỹ cho SOCOM.

Đi đầu sử dụng trí tuệ nhân tạo

Khi tướng Stanley McChrystal chỉ huy JSOC vào năm 2003, ông đã cải tiến JSOC và SOCOM để biến lực lượng tác chiến đặc biệt trở thành thợ săn-sát thủ hiệu quả. Ông nhận ra khả năng số hóa thông tin có thể dẫn đến mục tiêu nhanh chóng.

Các toán đặc nhiệm nhờ công nghệ hỗ trợ đã phát hiện và kết liễu Abu Musab al-Zarqawi cầm đầu Al Qaeda ở Iraq vào tháng 6-2006. Để cạnh tranh trên chiến trường hiện đại có máy tính hỗ trợ, SOCOM đã đi đầu trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo.

———————

Tình báo Israel lần ra dấu vết Abu Jihad cách Israel hơn 2.400km. Lực lượng Sayeret Matkal xuất quân phối hợp cùng lực lượng đặc nhiệm hải quân và đặc vụ Mossad thực thi kế hoạch tiêu diệt.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí BÌnh

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Một chiều vấn vương

Đặng Chí Bình 

Bài 12

Trong buổi nói chuyện với Lê Sơn, Lý A Chén này, tôi thấy rằng: Lê Sơn là một con người có kiến thức, khá lanh lẹ, bén nhậy. Vì thế, anh đã nhìn sâu, nhìn sát được nhiều vấn đề nên có nhiều hiểu biết về cái chế độ mà anh đã nhiều năm xả thân phục vụ, cũng như hiện nay đang nằm trong nhà tù của nó. Bản tính của anh lại ngông cuồng, hơi kiêu ngạo. Một người như vậy thì không thể nịnh bợ, sum soe, báo cáo lập công một cách hèn nhát. Còn Lý A Chén là người dân tộc. Tuy anh không nói rành tiếng Kinh, nhưng anh có cái láu cá, khôn lanh riêng của người thiểu số. Những chuyện lớn như trốn tù, phá trại, ăn cắp lớn của trại thì anh ta sẽ không ngần ngại, gì mà không báo cáo. Chứ còn những chuyện vặt vãnh như: vài lời nói phản động, dăm ba củ sắn, cái lược v.v… thì hẳn anh ta cũng biết dành ra một cách sống thích hợp.

Cũng một phần do sự chân thành nhã nhặn của tôi, nhưng cũng do sự hiểu biết và hiếu đượm tình người của các anh nữa nên buổi nói chuyện cởi mở có ít nhiều tin tưởng. Tuy vậy, từ sớm ý định của tôi muốn biết về anh Khải bị đi cùm sáng nay và còn nhiều điều nữa muốn thăm dò, hiểu biết, nhưng xét ra chưa vội. Hãy để những ngày tới cho tôi có thể nhìn kỹ hơn; vả lại thời gian buổi trưa cũng đã gần tàn.

Buổi chiều ở ngoài lán thủ công. Lê Sơn thấy tôi cũng làm được nhiều việc trong vấn đề sơn, vẽ và kẻ băng khẩu hiệu, phần nữa do phong cách sống trọng người của tôi nên anh đã thể hiện sự quan hệ thân mật hơn:

– Anh làm như vậy, chỉ ít ngày nữa là công việc chạy lắm. Mình phải biết điều chế cho vừa phải thôi, kẻo mệt về sau.

Anh cũng cho tôi biết, chỉ còn hơn 10 ngày nữa là Tết, vì vậy những khẩu hiệu này là để chuẩn bị treo dán cho trại cũng như cho cơ quan trong dịp Tết. Lê Sơn còn khoe: cứ vào dịp này hàng năm anh sẽ phải lên cơ quan để trang trí nhiều ngày, và như vậy có nghĩa: trà và thuốc lá là không chạy đâu được. Anh cười, nói thêm:

– Bộ đội và cán bộ có biết chó gì đâu!

Vừa để hưởng ứng, và cũng vừa muốn đề cao Sơn một tí cho anh vui, tôi cũng cười:

– Họ phải như vậy thì anh mới nổi bật và mới èo ọt với họ được chứ!

Không ngờ anh lại lắc đầu quầy quậy, nói giọng hơi bực:

– Thế mà có được cái chó gì đâu. Sang, hẩu lắm là một gói trà Đoàn Kết 2 hào, hay gói thuốc lá Trường Sơn 3 hào là hết bã.

Nói rồi, anh cúi xuống chỉ cho tôi làm tiếp một số công việc. Xong rồi anh hạ giọng:

– Bình làm đi, làm vừa phải thôi. Để ý thấy cán bộ hay người lạ lên đây, ho 2 tiếng báo động cho tôi.

Dặn tôi xong, anh quầy quả đi khuất vào phía trong nhà. Một lúc sau, tôi vào trong góc nhà chỗ Lê Sơn đang cắm cúi, hì hụi tôi mới hiểu: anh đang cưa một chiếc lược bằng nhôm. Thấy tôi vào, ngừng tay, anh rút trong túi áo nâu ra một cái bọc con bằng vải đen, bên trong là một cái lược nhôm sáng bóng. Anh nương nhẹ bọc nó trong miếng vải sợ tay sờ vào làm mờ cái bóng soi gương được của chiếc lược. Anh đưa cho tôi xem rồi nói trong dáng tự hào:

– Hiện nay lược nhôm này đang được anh em trong trại ưa chuộng lắm, để làm quà khi gia đình lên thăm. Ngay cán bộ, bộ đội cũng có người lén lút nhờ làm, cũng để làm quà cho thân nhân mỗi khi họ được về phép. Nhất là trại nữ tiêu thụ mới nhiều.

Tôi cầm, ngắm nghía chiếc lược: phía đầu có một cành hoa hồng cả nụ, hoa, lá uốn éo, mềm mại; phía chuôi là hai con thỏ say đắm ôm nhau. Nét khắc thật là điêu luyện, tuyệt vời. Nghe những chuyện anh nói tôi đã hiểu. Nhiều phạm nhân ở trại này cũng như ở các phân trại khác không thể làm lược được như Lê Sơn vì nhiều lý do: thời gian, uy tín, nguyên liệu là nhôm và dura, lại không biết liều lượng pha chế giữa nhôm và dura của máy bay Mỹ để cho lược vừa cứng vừa bóng, chưa nói là khả năng cưa và khắc nữa. Rất nhiều điều không thể, nên chỉ có mình Lê Sơn làm được chiếc lược tuyệt hảo như vậy. Điều đáng nói nữa là Lê Sơn biết kìm chế ở mức điều kiện cho phép, tham thì đổ, vỡ. Tất nhiên anh phải bắt mối với những anh tự giác để chạy nguyên liệu cũng như tiêu thụ. Giá Lê Sơn bán là: cái nhỏ 2 đồng, cái vừa 3 đồng, cái lớn 4 đồng.

Để có ý niệm thì một đồng bạc ở trong trại E hay trại trung ương số I lúc này thật là không nhỏ. Lương cả tháng của một người tù tập trung cũng chỉ có 1 đồng. Một ngày công lao động là 4 hào. Nếu ai lao động làm về một cái gì đó như mộc, rèn, xẻ. Có làm chết cha, chết mẹ gầy cả người đi thì một tháng mới may ra vượt được 3 – 4 ngày công. Như vậy cũng chỉ có 1 đồng 20 hay 1 đồng 60. Nhưng cả toán cũng chỉ dăm ba người làm được thôi.

Qua chuyện trò với Lê Sơn về việc này, tôi cũng có suy nghĩ: tôi mới lên trại được vài ngày, Lê Sơn và tôi tiếp xúc với nhau chưa nhiều, vậy hẳn anh cũng có cái nhìn về tôi như thế nào. Tôi cũng hiểu về kinh nghiệm sắc sảo, tinh tế xét đoán con người thì tôi chỉ là học trò của anh. Mới lên trại tù lạ, chung quanh toàn những người e dè, lấm lét, câm lặng trong một bầu không khí ngột ngạt mà lại được gặp ngay Lê Sơn. Tôi còn được hưởng cái thích thú nữa là có người đã hiểu mình và dám tin mình. Chính vì vậy mà ngay chiều hôm ấy tôi đã hỏi Lê Sơn và anh Quý có cánh tay cụt là tổ trưởng lán vernie này. Vì anh chỉ có một tay nên toàn trại đều gọi anh là Quý Cụt. Tôi không thể ngờ Quý Cụt lại cùng vụ với Phạm Huy Tân. Cả câu chuyện về cái đảng “Tân cách mạng Việt Nam phong trào” gọi tắt là TÂN PHONG từ trong hố sâu của thời gian 4 năm xưa ở Hỏa Lò lại ùa về tràn ắp lòng tôi. Chợt nhớ đến ông Chương chủ tịch đảng mà tôi ngưỡng mộ từ lâu; săn đón tôi hỏi Lê Sơn:

– À, vụ của Quý Cụt, nghe đâu còn người nữa là Chương thế nào?

Lê Sơn ngước đầu lên nhìn tôi, hơi một chút ngạc nhiên, rồi chẳng hiểu anh nghĩ sao, cúi đầu chậm rãi:

– Ông Chương đang ở toán 3 ấy!

Hỏi Sơn sang một chuyện khác, vì tôi chủ trương sẽ có một buổi gặp ông ta khi điều kiện cho phép. Nói chuyện với Sơn tôi được biết thêm: chẳng hiểu khi bị bắt, nội bộ đảng này có mâu thuẫn khai báo ra sao đó. Hiện giờ, giữa thằng Tân và Quý Cụt chẳng bao giờ nói chuyện với nhau, như muốn tránh nhau.

Mới khoảng 4 giờ chiều mà mặt trời đã đi đâu mất. Trong nhà vernie, ánh sáng nhạt đi rồi thẫm dần. Ngoài hiên đã có những hạt mưa li ti, trăng trắng như rây bột. Nhìn những hạt mưa bay đang quấn quít, dẫy dụa trên cây nứa cụt phía chái hồi như vẫy gọi, như nhắc nhở tôi về cái thú xưa. Cái thú ngay từ những ngày hoa mộng còn cắp sách đến trường mà bạn bè thân của tôi ai cũng đã biết. Dù đang làm gì, hễ cứ thấy mưa phùn bay là tôi mặc quần áo ra khỏi nhà, đi dưới mưa bay. Tại sao lúc này tôi lại không hưởng cái có thể của tôi, dù chỉ từ đây ra đến nhà cầu phía cuối lán thủ công? Nghĩ thế, tôi đứng dậy ra ngoài. Không được cái thú đi đường dài dưới mưa, thì ngồi nhìn mưa bay vậy. Thà chịu mùi hôi, tôi lên nhà cầu ngồi. Trong mưa bay dầy hạt, tôi đưa mắt nhìn toàn bộ khu thủ công. Nó là một hình thang méo, cạnh dài là phía cổng, nhìn xa xa là lá cờ và khu giám thị. Giữa khu giám thị và khu thủ công là một con đường đất rộng, dẫn ra phía trại xây đã hoang tàn mà tôi đã nhìn thấy trên đường vào đây, mấy ngày trước.

Chung quanh khu thủ công rào bằng những cây nứa chẻ đôi. Nứa dựng đứng, ghép sát vào nhau; buộc, kên chặt vào những chiếc cọc gỗ to chôn sâu xuống đất. Tuy rào nứa, nhưng chỉ có một lượt, lại thưa mắt cáo nên đứng ở trong lán nhìn ra ngoài đường, nếu có người đi lại cũng thấy thấp thoáng. Khác hẳn với hàng rào của trại giam, được kên chặt 2 lần của cả cây nứa, nên kín mít giữa trong với ngoài; vững chải, kiên cố như tường xây.

Trong khu thủ công gồm có hai lán dài chính và mấy chiếc nhà phụ. Lán dài nhất là lán làm mộc. Một gian đầu có vách kín dùng để kho chứa đồ, còn lại là 7 – 8 gian trống trơn không có vách. Mỗi gian có 4 cầu bào làm mộc đặt phía hai bên, để ở giữa có một lối đi rộng dọc theo nhà. Một lán chính giữa ngắn hơn là của toán xẻ gồm chừng năm sáu gian. Mỗi gian có 3 cặp xẻ với những khúc gỗ lớn dựng hơi nghiêng. Hai người một cặp với chiếc cưa to, dài ngoẳng. Một người đứng cao bên trên, một người đứng dưới, suốt ngày cứ kéo cưa lừa xẻ. Anh nào làm khỏe thì ăn 18 kg chất bột; anh nào làm vừa thì ăn 15 kg, còn anh nào làm yếu thì về….. không được bú mẹ mà được đi kỷ luật cùm.

Một chiếc lán nhỏ hơn, ngay cạnh lán của toán xẻ; có một số bác già yếu, tật nguyền, đan lát ở một bên. Còn một bên là một chiếc bễ lò rèn, cứ thở phì phò suốt ngày. Có lúc như cãi nhau với tiếng khò khè xẻ gỗ của toán 3 bên cạnh. Nhưng có lúc lại như thủ thỉ, nồng đượm, đắm say của chàng với nàng. Thực vậy, bất cứ ai đã vào đến khu thủ công này đều không thể quên được bản hợp xướng vĩ đại của trại E nơi núi ngàn Hoàng Liên Sơn.

Dài theo cả ngày, tiếng pắc pắc liên tục như tràng pháo tép của dùi đục, của búa con thuộc lán mộc. Tiếng pang pang của búa tạ lò rèn; tiếng khò khè than thở của toán xẻ; tiếng phì phò, phì phò hổn hển của đôi bễ cứ quyện vào nhau, quấn quít lấy nhau, xoáy lên một cộng hưởng tuyệt vời của bản đại hòa tấu: “lao động là vinh quang muôn đời”.

Nhìn ra phía hai đầu, có hai gian nhà được dựng tách rời, riêng rẽ ở hai khu đất trống. Đó là hai nhà làm việc của hai tên cán bộ quản giáo toán hai và ba. Ngoài một căn chòi nhỏ ngay phía cổng có một tên vũ trang gác. Phía sau lán, có hai chiếc chòi cao làm sát vào hàng rào, cũng có hai tên vũ trang. Mỗi đứa một chòi, ngồi trên đó.

Mưa càng lúc càng dầy, càng nặng hạt. Tôi ngồi đã ê cả chân mà lòng vẫn còn muốn ngồi nữa, nếu không thấy 2 bác già đang run rẩy, đứng chờ dưới mưa lạnh thì tôi vẫn chưa về lán. Tôi ngồi viết, vẽ được một lúc lâu, đã mỏi cả người, vậy mà hồn tôi vẫn chưa hết chơi vơi với gió mưa ở ngoài trời. Nhìn những chiếc lá hình quả trám của cây Chò phía hông lán mộc, giẫy lên đành đạch từng hồi như muốn báo cho trại E biết, nàng Đông Bắc đã lại mò về.

Một nỗi nhớ nhung từng cơn như bẹo, chí lòng tôi. Cũng mưa bay, cũng gió thổi, mới buổi sáng hôm qua ở cái miền nhiều thương đau và cũng nhiều ngây ngất ấy; bây giờ xa vời vợi. Chẳng biết rằng, có lúc nào đó, người ấy còn nhớ đến tôi, đến một kẻ phải ôm một kiếp tù. Tay tôi làm việc, thỉnh thoảng tôi cứ nhìn ra mưa bay. Trong làn mưa lung linh ấy, rõ ràng một bóng hình thuôn thuôn, mềm mại với chiếc áo bông loang lổ hoa cà và làn tóc buông lơi vẫn đượm ngát mùi hoa nhài. Một vần thơ chẳng còn nhớ của thi nhân nào cứ lảng vãng trong hồn tôi:

Để thương, để nhớ cho đời.

Để vương vấn lại cho người xa xôi.

Nỗi nhớ từng cơn, từng cơn cứ cuồn cuộn lồng lên xé nát lòng tôi. Lúc giã từ, tôi cứ tưởng rằng, rồi đây ở nơi núi rừng hoang vắng, trong chỗ đen tối, lầm than của ngục tù; một trái tim đã bị cuộc đời vò xé, băm vằm tả tơi thì còn sá gì chuyện thương yêu. Nhưng người hỡi, tôi đã lầm!

Tôi đang để hồn đắm chìm vào niềm thương, nỗi nhớ thì chợt nghe có tiếng động ở chiếc cửa của hàng rào gỗ phía bên ngoài. Thoáng thấy tên cán bộ toán đang bước lên hè, tôi nhẹ ho 2 tiếng để báo động cho Lê Sơn. Từ lúc sáng do anh Lân, tôi đã biết tên của lão cán bộ toán là Kích, trung sĩ cán bộ tập kết. Khi y bước vào nhà thì Lê Sơn đã cầm bút vẽ đang choài người trên tấm khẩu hiệu như đang mải mê làm việc. Quý Cụt, tay còn cầm chiếc cọ từ phía trong đi ra lên tiếng trước:

– Chào cán bộ ạ!

Chúng tôi đều quay lại chào y, vừa gật đầu, y vừa tiến lại chỗ tôi, nhìn những chữ tôi đang tô vẽ. Mặt y hơi sáng lên, chiếc đầu hơi nhúc nhích gật. Một tia nhỏ hài lòng nhoáng lên trong mắt y. Lê Sơn đứng hẳn lên quay người lại, với giọng Nghệ An khìn khịt:

– Còn 3 băng khẩu hiệu lớn nữa trên ban giám thị mà sơn đỏ và trắng đã gần hết. Đề nghị cán bộ phản ảnh với ban giám thị cho cán bộ đưa sơn vào để chúng tôi còn làm kịp thời gian trên đã ấn định.

Tên cán bộ đã bước gần lại chỗ đống lửa đang âm ỉ cháy giữa nhà. Hai tay y rút ra khỏi túi, quơ quơ trên ngọn lửa vừa lướt nhìn một lượt chung quanh nhà rồi lay lứt giọng miền Nam:

– Các anh phải nhớ, sơn phải về mãi Hà Nội mới mua được, vì thế phải triệt để nâng cao ý thức tiết kiệm và bảo quản tốt. Dù là ở trong lán mặc lòng, mỗi ngày khi làm xong phải đem sơn bỏ vào tủ khóa lại.

Thấy toàn những chuyện không nhằm nhè gì đến mình, tôi lách mở cửa sau, lại ra nhà xí để đi giải nữa. Bên ngoài gió Đông Bắc càng lúc càng mạnh, những hạt mưa phùn càng to và dầy đặc hơn. Con đường mòn đã lầm bùn lên nhớp nháp, nhiều vết chân đi. Vừa đi giải tôi vừa run cầm cập, càng về chiều, trời càng lạnh. Đã cuối Đông, nàng Xuân sắp về với núi ngàn sao mà còn lạnh thế! Tôi nhìn những ống vầu to tướng cưa vát miệng. Hơn một chục ống dựng hàng loạt, nghiêng dựa vào một cây nứa nằm ngang, được buộc chặt vào hai chiếc cọc gỗ. Ống thì lưng lưng, ống thì đầy nước tiểu. Sáng hôm nay, qua Quý Cụt tôi đã hiểu: đây là một nguồn phân hữu cơ có giá trị kinh tế của trại. Nghe Quý nói, làm tôi nhớ đến buổi sinh hoạt của tổ Phan Thanh Vân tối hôm qua. Một anh đã phê bình một anh là đã đi giải không đúng chỗ quy định, làm lãng phí nhiên liệu. Nghe thấy lạ lùng khó hiểu, tôi cứ tưởng là họ đang phê bình một anh nào đó đi tiểu bậy bạ không đúng chỗ làm mất vệ sinh, chứ đâu có nghĩ là lãng phí nhiên liệu. Một ý nghĩ làm bụng tôi cũng nhúc nhích buồn cười: phải gọi là nhân liệu mới đúng.

Khi tôi trở về lán vernie thì tên cán bộ đã ra rồi. Tiến gần lại đống lửa, hơ tay cho đỡ cóng. Quý Cụt quay lại nhìn tôi, nói rổn rang như rắc sỏi:

– Bình mới nhập trại mà hên thật! Trời này, trong khu thủ công chỉ có lò rèn và lán vernie là duy nhất có lửa sưởi.

Tôi còn ngơ ngác chưa hiểu trọn ý của Quý Cụt, Lê Sơn đã giải thích:

– Mùa Đông rét căm căm, lạnh thun chim lại; được lao động trong lán là hạnh phúc rồi! Những toán làm rau, làm ruộng, vào rừng chặt cây, vác nứa v.v… Bình cứ tưởng tượng là thấy rồi. Trong lán thủ công, cái lửa của lò rèn là cái lửa của nghề nghiệp rồi, không nói. Còn lán vernie, dầu và vernie cần khô mới bóng nên phải đốt lửa.

– Như vậy là chúng ta bị sưởi, chứ không phải được!

Tôi nói tiếp, làm cả 3 đều cười thành tiếng. Trời càng về chiều gió càng lộng. Gió rào rào ở phía rừng cây thổi thốc vào trong nhà từng đợt. Nếu đóng cửa, có đống lửa thì cũng tương đối ấm. Nhưng lại bị tối lờ mờ thì làm sao mà viết với vẽ? Do đấy, dù lạnh đến cứng cả ngón tay không cầm được bút vẽ thì cũng đành phải mở cửa ra. Nhưng mỗi khi nghĩ đến, chẳng phải ở đâu xa, ngay anh em ở dưới lán mộc thôi, chung quanh, trống trơn không có vách, liếp, họ còn lạnh thế nào mà vẫn phải chịu, thì mình đây đã may mắn hơn họ nhiều rồi. Cứ nghĩ như thế là thấy bớt hẳn lạnh đi nhiều.

Khi toán tập họp ra về thì trời càng thẫm lại. Đứng ở sân tập họp, anh nào cũng áo bông, áo tơi chằng đụp, lếch thếch lôi thôi. Lại còn những chiếc mũ nữa chứ! Thôi thì đủ kiểu, đủ mầu, từ những mảnh chăn rách, đến những miếng dạ đã rụng hết lông tơ đều có thể túm, véo thành một chiếc mũ để chống cái lạnh của đất trời. Tôi cứ nhìn về phía Vân mãi. Dáng anh đã cao, lại đội một chiếc mũ, chẳng biết do anh hay người khác thiết kế: nửa dạ, nửa vải, tùm hụp che gần kín mặt; chỉ có một con mắt. Mỗi khi anh nhìn về phía này hay phía kia, tôi cứ cảm thấy lấp ló như mắt con cú mèo. Còn anh chàng Nguyễn Huy Lân nữa, thùm thụp khoác một chiếc áo bông tã cũng chằng đụp, không biết nên gọi nó là mầu gì. Chỗ nâu, chỗ đen, chỗ xám nhưng chỗ nào cũng xỉn lại vì vải đã lâu ngày và lâu ngày không giặt. Anh đang ôm một chồng sổ sách đi từ đầu hàng trở xuống dưới mưa bay dầy hạt. Cứ đến một đôi, đầu anh lại gật một cái, môi nhóp nhép như chào; nhưng thực ra anh đang đếm nhẩm số người anh điểm.

Người đứng trong hàng đã run, mà người đi điểm cũng ngắc ngư. Một phần nữa là bụng anh nào cũng chả có cái quái gì để có calo chống lạnh cả. Ai cũng mong cho nhanh, cho chóng, làm lẹ để còn về tổ ấm trong nhà tù. Mưa, gió rét lạnh như vậy mà khi toán về đến cổng trại vẫn thấy một anh đứng cạnh cổng, tay cầm một gói lá giong dại. Trong gói có chừng 3 lạng lá cải bắp già đã luộc rồi. Bên cạnh, là một bác chừng 45 hay năm chục tuổi, hay tay đang ôm 3 – 4 củ sắn nướng, nhiều chỗ đã đen xì. Cả hai cùng khoác áo tơi lá cũng đã tả tơi nhiều chỗ rách. Hai cái mặt thì tái ngoét, hai cặp môi xám xịt, cứ đứng chơ vơ ngoài gió lạnh, mưa Đông. Hai chiếc áo tơi lá cứ rung tít mãi lên, không hiểu vì gió hay vì người? Khi về đến gần ngang buồng, đang đi cạnh anh Bùi Tâm Đồng, tôi hỏi anh giọng băn khoăn:

– Tại sao họ không ăn ở ngay ngoài đồng, mang về trại làm gì để bị phạt, đứng lạnh khổ như vậy?

Anh Đồng quay hẳn sang nhìn tôi đăm đăm một giây, ánh lên vẻ lạ lùng rồi mặt anh trở lại tự nhiên. Chắc hẳn rằng anh đã hiểu, chỉ vì tôi chưa biết mới hỏi. Vừa đi vào buồng, anh vừa nói:

– Đôi khi toán làm ở ngoài đồng được cải thiện. Hoặc anh nào đó lén lút, xoay sở kiếm chác được cái gì cố liều, giấu mang về trại. Nếu may mắn mang thoát được vào trại sẽ ngấm ngầm móc ngược đổi lấy giấy viết thư, tem, phong bì hoặc thuốc lào, mà nếu không thì báo. Thiếu gì người có tiền, nhưng đói muốn mua.

Dù là mưa bay, nhưng mái tranh cũng nhì nhẹt nhỏ giọt. Mặt sân vẫn bùn đất, nhếch nhác vì thế các toán đều phải chia cơm canh ở những mái hiên hay vào trong hội trường. Trong lúc chia cơm, thỉnh thoảng tôi vẫn rõi mắt về hai người bị phạt còn đang đứng run rẩy ở phía cổng trại. Lòng tôi cứ ngậm ngùi, đầy vơi cho một kiếp người. Không biết bạn bè có ai lấy dùm cơm, canh cho họ hay không?

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Tiền âm phủ

Đặng Chí Bình

Bài 11

Thời gian ăn, ngủ, lao động luôn luôn có hạn khít khao. Vì thế khi toán 2 bắt đầu nhập trại; những anh đi hàng đầu, đôi nào vào đến bên trong cổng trại là đã vội vã chạy về buồng. Người nào đến phiên trực của mâm thì chạy rẽ ngay vào nhà bếp để lĩnh cơm, canh. Khi xếp hàng ở bếp chờ lĩnh được rồi, hai tay bê soong canh hay cơm chạy hộc tốc về ngay buồng. Tìm đến chỗ vẫn chia cơm, canh của mâm đặt xuống, rồi lại hấp tấp chạy về buồng mình lôi bát đũa của mình ra. Người nào trực mâm thì cũng giữ cân của mâm. Hai người lúi húi chia cơm và canh. Những anh không phải ngày trực mâm thì cũng chả được nhàn rỗi. Sau khi đặt bát lấy cơm, canh cũng tất bật chạy xuống giếng múc gầu nước về để khi ăn xong rửa bát. Vả lại cũng cần lo toan mọi việc cho nhanh chóng để còn về đứng chứng kiến người chia cơm canh thì mới yên lòng. Trong hoàn cảnh đói khổ, thiếu thốn thế này thì chẳng ai tin được ai.

Tôi chạy vội về buồng lấy chiếc rổ và chiếc rá cơm để ra lấy cơm, canh. Nhìn thấy chiếc đĩa nhôm của Lê Sơn, liếc lên sàn trên, thấy Lê Sơn đang lúi húi lấy đồ trên cái kệ. Tôi giơ cao cái đĩa gọi với lên:

– Anh Sơn! Tôi gửi lại anh cái đĩa để anh lấy cơm.

Chắc đang bận lục tìm cái gì, quay lại anh chỉ nói ngắn ngủn:

– Anh cứ dùng đi, tôi có rồi!

Không đủ thời gian để trả lời anh, tôi lập cập mang cái đĩa lẫn rổ ra chỗ chia cơm, canh. Chỗ cơm cũng như chỗ canh, mọi người đã đặt đủ bát đĩa rồi, chỉ còn thiếu một mình tôi. Nhiều người quay lại có vẻ sốt ruột. Một anh cầm chiếc đũa cả bằng nứa, đang đảo sùng sục soong cơm ngô, quay lại nhìn tôi:

– Sao chậm thế! Mọi người đang chờ mỗi mình anh.

Mặt anh còn rất trẻ, trắng trẻo mà nói tiếng kinh lại không rõ. Thấy tôi còn vẻ ngơ ngác chưa quen. Anh Đồng đã cầm chiếc rá lót ny lông của Toàn đưa hôm qua ở tay tôi. Anh đưa đến đặt ở chỗ chia canh, rồi kéo tôi lại chỗ chia cơm, chỉ anh trắng trẻo đang đảo cơm:

– Đây là anh Lù Chằn Páng. Hôm nay anh Páng và anh Yên trực mâm, Thành Xuân Yên.

Anh vừa nói vừa chỉ lại chỗ một anh chừng 40 tuổi đang cặm cụi chia canh. Một cậu đứng bên cạnh tôi, chỉ vào con số 10 ghi ở soong cơm thắc mắc:

– Sao, mâm 5 của mình hôm nay lại chỉ có 10 suất?

Anh Páng vẫn đang đảo cơm, ngửng mặt lên:

– Anh Khải đi kỷ luật sáng nay, quên à?

Tôi cứ băn khoăn, tại sao Páng cứ ngồi đảo cơm mãi, để cơm nguội hết. Tôi hỏi anh Đồng thì anh đã giải thích: việc này đã trở thành thông lệ của mọi năm rồi. Cơm cân, vì vậy phải đảo trên dưới cho đều, không còn để vầng, tảng. Cơm vầng và bên dưới, ướt sẽ nặng cân. Trước đây đã xẩy ra nhiều chuyện chửi bới thậm chí đấm, đá nhau chỉ vì cơm ướt, cơm khô. Cho nên bây giờ năm nào cũng vậy, trước khi cân đều phải đảo lộn, đánh cơm tơi ra.

Tôi đang nhìn mười chiếc gồm: rổ, rá, đĩa, bát đủ kiểu, đủ mầu đặt lộn xộn một đám giữa sân thì anh Páng đảo soong cơm đã rời đều. Anh chọn lấy một chiếc bát tráng men to mầu xanh thẫm trong đám lộn xộn rổ, rá này. Chiếc bát thứt thẹo, nhiều chỗ sét rỉ đã đen sì như mụn ghẻ đang làm vảy. Hẳn nó ra đời đã lâu ngày và đã vật lộn nhiều với cuộc sống lam lũ với bao lần thất cơ, lỡ vận. Quay lại, anh với chiếc túi vải xanh kiểu dân tộc Mèo để bên cạnh. Chiếc túi đã đụp vá bằng 2 -3 miếng vải vừa nâu vừa đen; chắc đã lâu ngày không giặt, đầy cáu ghét. Anh lấy trong túi ra một cái bát sành con để xúc cơm ở soong vào chiếc bát xanh lớn chừng 2 bát cơm con ở gia đình. Anh khẽ đặt vào một chiếc cân mà một anh trong mâm đang giơ ra chờ. Tùy theo chiếc cán cân, bổng lên hay hạ xuống. Anh rút trong túi áo bông ra một chiếc cùi dìa con bằng nhôm. Cẩn thận, anh lấy ra hay cho vào chỉ từ mươi hạt cơm đến nửa thìa là chiếc cán cân đã ngang bằng trước sự chấp nhận của gần mười cặp mắt đang nhìn chằm chằm. Xong rồi, anh cầm chiếc bát xanh to đổ vào một cái rổ, rồi lại tiếp tục cân suất thứ hai.

Trông anh “thao tác” nhẹ nhàng, nhuần nhuyễn; hầu như mỗi lần xúc cơm, anh ước lượng, ướm thử bằng mắt, nên nhiều lần cân không phải lấy cơm ra hay cho thêm vào. Thật là tài, có thể do lâu ngày, cái tay xúc, cái mắt nhìn đã thành quen. Tôi đang đứng coi anh Páng cân được 5 -6 suất thì Toàn từ dưới giếng xách gầu nước về đặt vào một góc sân, rồi đến kéo tay tôi lại chỗ chia canh.

Bây giờ tôi mới để ý. Canh gì sền xệt có mầu trắng xam xám; mãi đến khi anh Yên dùng cùi dìa bửa những cục to ra làm đôi, ba miếng tôi mới hiểu là sắn. Anh nhẹ nhàng xúc những cục sắn nấu chưa tan bỏ đều vào các bát, các rổ. Nếu cục nào to thì anh lại xắn bớt ra chuyển cho phần khác. Khi những cục sắn đã chia tương đối đều thành 10 suất, anh mới lấy, cũng một chiếc bát sành con múc cái nước sền xệt đổ vào từng suất cho đều. Khi đã làm hết lượt, còn một ít nào trong soong, anh lại lấy một chiếc muỗng nhôm múc thêm cho suất này, suất kia điều chỉnh cho đều tùy theo mắt anh quyết định. Đôi khi lại theo ý những người đang đứng theo dõi. Người bảo đổ thêm cho suất này, người bảo đổ thêm cho suất kia.

Thực ra điều này do tâm lý người đứng nhìn. Chỉ thấy bát mình ít hơn bát người khác, nên cứ chỉ chỏ lộn xộn. Cho nên, từ lâu đã nghiễm nhiên trở thành một nguyên tắc là không ai được chỉ hay nói. Hãy để tùy quyết định của người chia, vì ngày khác, đến lượt mình chia cũng được hưởng quyền đó.

Khi cầm cái rá đựng canh của tôi lên, thấy ướt nhèm. Nhìn xuống chỗ để chiếc rá, đất khoang ra một chỗ hãy còn ướt nguyên. Như vậy, miếng ny lông của Toàn lót hôm qua quá cũ nên đã bị rò. Tay còn đang cầm cái đĩa của Lê Sơn, tôi trút vội canh sang chiếc đĩa nhôm. Để chiếc đĩa nhôm chồng lên cái rá; đến lấy rổ cơm rồi theo Toàn vào hội trường.

Buổi trưa, trời còn sáng. Trong hội trường lại có nhiều bàn ghế vì nó vừa là nhà ăn, lại cũng vừa là hội trường dùng cho khi học tập hay khi ban giám thị nói chuyện. Lúc này người ta vào ngồi ăn kín cả hội trường. Dù tôi đang thích ăn sắn, vậy mà canh sắn lại đăng đắng do những củ sắn đã chạy máu, hơn nữa chỉ nấu với muối thành một thứ sền sệt, nên nhai với cơm ngô mãi không nuốt được. Tuy vậy, vì bụng đói nên cũng nuốt nhanh.

Ngồi nhai cơm, thoáng nhìn thấy Phan Thanh Vân và Lân ngồi cách hai ba bàn. Tôi và Vân đều gật đầu cười khi mắt gặp nhau. Nhìn thấy bát cơm của Vân hơn hẳn suất sơm của tôi với Toàn. Tôi ngạc nhiên hỏi Toàn mới hiểu được khái niệm: Toán hai có năm mâm, trong đó một mâm đặc biệt ăn 18 kg, ba mâm ăn 15 kg mà mâm chúng tôi là một. Ngoài ra còn một mâm ăn 13 kg, những người bị đi kỷ luật ăn 9kg thì không kể. Mâm ăn 18 kg là những người lao động khỏe, có năng suất, vượt chỉ tiêu lao động của trại. Hơn nữa, họ còn phải là những người cải tạo tiến bộ, không hề vi phạm nội qui của trại. Hàng tháng, hàng quí và hàng năm họ thường được bình bầu là những cá nhân xuất sắc của trại.

Mâm ăn 15 kg là những người lao động chỉ đạt chỉ tiêu. Tuy có người trong nhóm này làm vượt chỉ tiêu, lao động tích cực nhưng có thể vì khâu tư tưởng, hoặc tỏ ra không năng nổ, tích cực làm gương cho những phạm nhân khác v.v… nên họ vẫn ăn ở mức 15 kg. Mâm 13 kg là những người không đạt chỉ tiêu lao động, hay phạm nội qui hoặc hay đau yếu v.v…Toàn nhấn mạnh:

– Em vừa nói là nhìn cái chung như thế. Nguyên tắc là vậy nhưng trong thực tế cũng có đầy rẫy những điều khó kiểu. Có nhiều người đang ăn ở mức thấp, lại nhảy lên mức cao hay ngược lại. Cũng có người lao động rất khỏe mà không bao giờ được ăn 18 kg. Nhiều vấn đề trong toán, không ai hiểu được lý do.

Nghe Toàn nói như thế, làm tôi chợt nhớ tới Lê Sơn, nên hỏi Toàn:

– Thế Lê Sơn ăn mức bao nhiêu?

Nuốt hết miếng cơm, Toàn chậm rãi:

– Lê Sơn thì hết nói. Chẳng ai kể được với anh ta. Hứng thì làm, không hứng thì ì ra, chỉ làm phất phơ. Đi kỷ luật xoành xoạch ấy. Ngang bướng, cứng cổ với cán bộ lại hay phạm nội qui nhưng anh ta có nhiều tài. Vì vậy ban giám thị cứ phải cần đến anh ta luôn. Có lúc ban giám thị cứ phải lờ khuyết điểm của anh ta đi, chỉ khi nào qua lắm mới đưa anh ta đi kỷ luật. Năm ngoái, anh ta còn dám làm tiền giả của trại nữa. Anh ta làm tinh vi đến nỗi nếu không có người tố cáo thì không ai phát hiện được.

Tôi hơi ngạc nhiên khi nghe Toàn nói đến tiền trại. Chắc Toàn cũng hiểu rằng tôi chưa hề nhìn thấy loại tiền đó bao giờ, nên anh ta thò tay vào ngực lấy ở túi áo trong ra một miếng bìa giơ cho tôi: đây là một đồng này. Loại lớn nhất là năm đồng, sau đó là hai đồng, một đồng, 50 xu, 20 xu, 10 xu, 5 xu. Loại nhỏ nhất là 5 xu. Loại tiền 5 dồng to nhất, tờ bìa lớn gấp rưỡi tờ 1 đồng này. Rồi cứ nhỏ dần cho tới đồng 5 xu. Đồng 5 xu thì một bề 2 phân, một bề 2 phân rưỡi. Thấy tôi bần thần ra dáng chưa hiểu thì Toàn nói tiếp như giải thích:

– Những tiên này chỉ lưu hành trong trại tù trung ương số 1 Lào Cai bao gồm 5 phân trại mà thôi và trao đổi giữa tù và tù. Đôi khi tiền dùng để nhờ cán bộ mua hàng. Cũng có khi ban giám thị thông báo bán thuốc lào, kẹo, đường. Vì trại có mía, nên lâu lâu ba bốn tháng lại bán mía hay mật.

Trong trại, anh em thường gọi tiền này là tiền âm phủ vì ra ngoài xã hội không tiêu được. Cầm miếng bìa một đồng, tôi nhìn mãi. Tuy đơn giản nhưng với điều kiện hiện nay ở trong trại E mà làm được giả thì cũng chỉ có được một hai người.

Một miếng bìa mỏng mầu xám nhạt hình chữ nhật, một bề khoảng ba phân rưỡi, một bề năm phân. Một khung như con dấu này có một đường bờ rộng hai ly. Cái khung giữa miếng bìa, phái trên có chữ “một đồng”. Hai bên, phía dưới, một bên chữ “ban giám thị”, (có chữ ký). Một bên có chữ “C/B tài chính” (có chữ ký). Toàn bộ tờ giấy bạc đều in bằng mực mầu xanh cánh trà. Triện mộc của ban giám thị trại cải tạo trung ương số một đóng ½ vào một góc của tờ bìa.

Sau khi rửa đĩa, rổ xong với Toàn, tôi cố đưa mắt tìm anh Lê Sơn để trả lại cho anh chiếc đĩa và cảm ơn anh đã cho tôi sắn. Lúc này, nhà ăn đã thưa người vì thế tôi đã nhìn ngay thấy anh còn ngồi ở một bàn cuối. Anh đang nói chuyện với một anh tôi đã quen mặt. Phải rồi! Anh này là Lý A Chén, hôm qua cùng với anh Sín Cà ốm bệnh ở trong buồng mà tôi đã gặp. Anh ta là người dân tộc, chả hiểu là dân tộc gì? Lê Sơn tươi nét mặt khi thấy tôi đến. Đặt cái đĩa lên bàn, tôi nói trong niềm hoan hỷ ân tình:

– Anh đã thông cảm những khó khăn của buổi ban đầu, xin gửi lại anh cái đĩa.

Sơn vừa dịch người lại để chỗ cho tôi ngồi xuống chiếc ghế dài, vừa nói giọng người lính:

– Anh cứ giữ mà dùng, ở đây dần dần rồi sẽ có đủ. Để ý làm gì những cái vặt ấy!

Rồi anh chỉ người cùng bàn đối diện, quay lại tôi, cười giới thiệu:

– Đây là Lý A Chén, tự giác của toán mình đấy!

Tôi cũng cười, nói là đã biết anh Chén từ hôm qua rồi, chỉ không ngờ anh lại là tự giác của toán thôi. Qua buổi nói chuyện này, tôi hiểu thêm được một số vấn đề mới. Như vậy, mỗi toán có một người tự giác, người mà có thể ra vào trại đi lao động, không cần phải có cán bộ đi coi. Anh tự giác này, tất nhiên đã được thử thách lâu ngày về nhiều mặt. Anh có trách nhiệm phải chạy lo nhiều khâu ở bên ngoài cho toán như: nguyên vật liệu, dụng cụ hoặc trông nom, bảo quản tài sản v.v… của toán ở bên ngoài trại. So với toán trưởng, trật tự thì quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau.

Trong trại, thì trật tự là nhất. Ra chỗ lao động thì do toán trưởng điều hành toán. Nhưng trật tự và toán trưởng không thể ra vào trại mà không có cán bộ dẫn giải. Vì thế, trật tự và toán trưởng vẫn phải thân mật, hẩu với tự giác. Chính do thành phần tự giác này là đầu mối móc ngoặc, mua bán, đổi chác thầm lén với các phân trại khác và đôi khi cả với người dân của những bản làng trong khu vực. Cũng qua Lê Sơn và anh Chén trong gần một giờ ở buổi trưa này tôi đã nắm vững được giờ giấc sinh hoạt của trại:

Sáng sớm, 5 giờ: kẻng báo thức. 6 giờ 30: kẻng tập họp đi làm. 7 giờ: kẻng xuất trại. 11 giờ: kẻng về trại buổi trưa. 12 giờ 30: kẻng tập họp đi lao động buổi chiều. 13 giờ: kẻng xuất trại. 17 giờ: kẻng về trại. 18 giờ: kẻng thu tù vào buồng. 21 giờ, tức 9 giờ tối: kẻng cấm, tất cả đi ngủ. Như thế là tròn một ngày của tù. Theo Lê Sơn nói: trước đây, trại còn nhiều lần kẻng như:

Kẻng giải lao 15 phút giữa giờ lao động buổi sáng. Kẻng vào lao.

Kẻng giải lao 15 phút giữa giờ lao động buổi chiều. Kẻng vào lao.

Kẻng thu dụng cụ 15 phút trước 11 giờ, giờ tù về trại buổi sáng.

Kẻng thu dụng cụ 15 phút trước 5 giờ chiều, giờ tù về trại.

Kẻng lấy cơm buổi sáng. Kẻng lấy cơm buổi chiều.

Nghĩa là, suốt ngày tiếng kẻng, chát chúa khua đập vào tai mọi người. Có thể chính ngay lũ cán bộ cũng điên đầu, đinh tai, nhức óc suốt ngày đêm với tiếng kẻng. Bởi thế, bây giờ bỏ sót, nên mỗi ngày chỉ còn lại 9 lần kẻng mà thôi.

Thông thường, buổi trưa tù đi lao động về, chia chác cơm nước, ăn uống chỉ trong vòng nửa giờ. Do đấy, từ 11 giờ 30 phút cho đến 12 giờ 30 phút là lúc kẻng tập họp đi làm. Mọi người phải nằm nghỉ, ngủ trong một giờ để hồi sức tiếp tục lao động buổi chiều. Trong một giờ ngủ trưa này, nếu anh không ngủ được thì tuyệt đối không được gây một tiếng động làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người khác. Đó cũng là nội quy của trại và trong những điều khoản của 12 điều “nếp sống văn hóa mới”.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 14 Oct 2023

Những ngày đầu trong lán thủ công

Đặng Chí Bình

Bài 10

Sau đó, tôi định bước vào chỗ mấy ống bễ, thì phía lán của toán 2 đang ầm ầm những tiếng nói to như cãi nhau. Tôi vội vàng trở về lán vì cũng nhác thấy tên cán bộ toán và Lân đang từ trong buồng con đi ra và đang tiến về chỗ đám cãi nhau.

Một đám đông, độ mười mấy người trong đó có cả Phan Thanh Vân, Bùi Tâm Đồng cạnh chỗ một đống to vỏ bào ở góc sân. Có hai người đang đỏ mặt tía tai giằng co mấy tấm ván gỗ. Khi tên cán bộ đến, thì hai anh này đều bỏ tấm ván xuống rồi tranh nhau báo cáo. Tên cán bộ mặt đanh lại, chỉ vào người có dáng mảnh khảnh (sau này tôi mới biết tên anh là Châu), cho báo cáo trước. Anh Châu, tuy đã tỏ ra lễ phép nhưng vẫn còn toát ra nỗi uất giận trong giọng báo cáo:

– Báo cáo cán bộ, những tấm ván này, mấy hôm trước anh Lân toán trưởng đã phân về cho tổ chúng tôi. Chúng tôi chưa kịp lấy về thì tổ anh Vân hôm nay đã cho người ra khuân về.

Anh kia, người lùn tịt, hẳn là ở tổ Vân, cũng hấp tấp báo cáo:

– Thưa ông cán bộ, anh Châu đã nói không đúng, những tấm ván này, ngay từ tuần trước, tổ chúng tôi đã mất thời gian chọn lựa từ trong đống gỗ ra. Chúng tôi đã sắp xếp chuẩn bị từng khâu theo kế hoạch lao động của tổ chúng tôi.

Tên cán bộ nhăn mặt lại, dõng dạc giọng miền Nam:

– Bây giờ, không được ai dùng những tấm ván này. Tất cả hãy về chỗ, không được lãng phí thời gian trong lúc lao động.

Mọi người đều dãn ra, đâu trở về đấy, không còn một tiếng ho hay hắng dặng. Nhìn và nghe cảnh này, tôi cũng chịu. Có lẽ tôi không hay chưa hiểu nổi vì sao. Tôi đang định chuồn ra phía sau để tránh mặt tên cán bộ thì Lân đã trông thấy. Nhìn tôi, Lân cao giọng:

– Anh Bình lên cho cán bộ gặp!

Tên cán bộ liếc nhìn tôi như ý bảo theo y, rồi quay lưng lại đi về phía căn nhà con. Tôi lặng lẽ, chậm chạp đi theo phía sau y. Khi tới cửa, tôi ngừng lại, thì y đã chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn của y rồi nhìn tôi nhẹ nhàng:

– Anh vào ngồi đây!

Y cúi xuống, lật qua mấy tờ ở tập sổ hay hồ sơ ở trước mặt, đoạn ngẩng lên nhìn tôi, thong thả:

– Anh tên gì?

– Dạ thưa,  Đặng Chí Bình.

Y lại nhìn xuống cuốn sổ. Tôi liếc nhìn toàn bộ trong chiếc phòng con. Trong góc chỉ có một chiếc tủ con bằng gỗ mộc, một cánh khép hờ. Trên mặt tủ, một cành hoa giấy mầu vàng nhạt, chắc vì lâu ngày nên đã xỉn lại. Bên cạnh là một chiếc lọ mực Waterman cũ kỹ không có nắp. Trên vách, phía sau lưng y, tấm hình tên Hồ già dán vào vách nứa. Đôi mắt lão lờ đờ vàng kệch vì tấm tranh đã sờn mép. Bên dưới có khẩu hiệu viết tay: “Hồ chủ tịch muôn năm”, nét chữ còn mới, rất mềm. Nhất là hai bông hồng hai bên vẽ thật tươi, đầy sinh động, nhìn như hoa thật. Tôi cứ lơ đãng nhìn hai đóa hồng, trong lòng thầm ca ngợi người họa sĩ thì y lại hỏi:

– Trước đây, anh có biết tí gì về nghề mộc không?

Câu hỏi giống hệt anh chàng Phan Thanh Vân, tôi vội trả lời:

– Thưa, tôi không biết!

– Anh có nghề gì?

Tôi vừa lắc đầu, vừa nói “không”. Y hơi cau mày, hỏi tiếp?

– Vậy trước đây ở miền Nam, anh làm nghề gì?

Tôi định nói, tôi biết làm nghề thợ vàng, nhưng tôi trả lời:

– Trong Nam, tôi chỉ đi học!

Mặt y có vẻ hơi dịu lại. Chiếc môi xam xám của y hơi rung rung. Nhìn tôi có vẻ nhẹ nhàng, tay y gập tập sổ lại, nói với một giọng mà tôi cảm thấy chân thành:

– Hiện nay ban giám thị chiếu cố cho anh hưởng 15 kg chất bột một tháng. Anh phải ra sức tích cực cải tạo lao động, nghiêm chỉnh chấp hành mọi điều khoản nội quy trại đã đề ra; ra sức phấn đấu trong lao động và học tập tiến bộ. Bây giờ anh xuống gặp anh Lân, toán trưởng đưa anh về tổ anh Quý.

Qua dáng dấp, cách nói, cách nhìn của y, tôi cứ cảm thấy y tương đối có tấm lòng thẳng thắn, bộc trực của người miền Nam. Cho nên tôi cũng nhìn lại y bằng ánh mắt dìu dịu tình người trước khi chào y và đi xuống lán.

Vừa xuống đến lán, anh Lân từ một cầu bào phía đầu lán đã đi lại phía tôi. Sau khi tôi nói với anh là cán bộ phân công tôi về tổ anh Quý, nhưng anh tỏ vẻ như đã biết rồi. Anh vẫy tay tôi đi theo vào một căn nhà xép làm nối liền với lán về phía sau. Đi qua một cái giậu gỗ thấp, vừa bước lên mấy bực thềm tôi đã thấy anh Lê Sơn, người đã cho tôi suất sắn sáng hôm nay; chiếc đĩa nhôm của anh tôi vẫn còn giữ. Anh đang cúi khòm người xuống nền đất viết, kẻ một khẩu hiệu lên một miếng bìa mầu trắng vừa to, vừa dài. Đây đó những hộp sơn, những bút vẽ để bừa bãi. Chung quanh vách, trên bàn còn treo nhiều băng khẩu hiệu vẫn còn tươi mầu mực, chắc là đang để cho khô.

Lán phụ này tuy có hai gian, nhưng chỉ thấy có hai người làm việc. Anh Lân vào gặp một anh phía trong cũng đang lúi húi quét sơn, hay dầu bóng vào một cái đầu giường còn mới nốt bào. Thấy Lân đến, anh đó đã đứng lên, tôi hơi ngạc nhiên vì anh chỉ có một tay. Anh Lân chỉ tay về phía tôi, quay nói với anh đó vẻ đầy thân tình:

– Bình nó về tổ Quý đấy nhé!

Từ nãy tới giờ, tôi đang băn khoăn; sao tự nhiên hôm nay Lân đối với tôi có vẻ vồn vã, thân tình hơn thì Lân đã hạ thấp giọng làm tôi đã hơi hiểu:

– Như vậy là Bình cũng ở trong Nam ra à?

Nghe thấy thế, Lê Sơn và Quý đều liếc nhìn lại phía tôi, Lân vẫn vừa cười, vừa nói tiếp:

– Thấy cậu ăn mặc chỉnh tề, tưởng cậu là cán bộ hay sinh viên du học bị bắt chứ, ai ngờ!

Trong khi nói thế, mắt anh ta vẫn cứ nhìn trân trân vào chỗ hàm dưới thiếu mấy cái răng cửa của tôi. Lê Sơn, từ lúc tôi vào vẫn cặm cụi tô vẽ, bây giờ đứng hẳn lên niềm nở, vẫn giọng Nghệ An nặng chình chịch:

– Hay quá, đang bù đầu, vào đây làm với anh em mình cho vui.

Khi Lân đã quay ra, trở xuống lán mộc thì anh Quý nhìn tôi nói nhỏ nhẻ, tuy cũng giọng miền Trung:

– Bình được vào tổ này là hay đấy! Đây là tổ vernie chỉ có tôi và Lê Sơn. Khi nào công việc nhiều thì mới gọi thêm người phụ, bình thường chỉ có hai người, nên văn nghệ lắm; không rắc rối, sinh hoạt như những tổ khác.

Nhìn thoáng qua công việc làm, tuy không phải năng khiếu của tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy thích thú hơn là đi học mộc. Hơn nữa, thấy hai người tính tình cởi mở, gần gũi đã làm giảm hẳn nỗi nặng nề, lắng lo trong lòng tôi lúc mới bước chân vào khu thủ công này; cho nên tôi cũng tỏ sự chân thành:

– Những việc này tôi chưa hề biết làm, mong các anh chỉ dẫn dần dần cho.

Lê Sơn chỉ bức khẩu hiệu đang kẻ dở dưới sàn hỏi tôi:

– Những chữ này chắc anh kẻ, viết thừa sức?

Tôi đang nhìn chăm chú một cành hồng tươi roi rói, còn thắm au lên mầu mực mới. Những chiếc lá uốn éo, mềm mại tự nhiên, những cánh hoa lả lướt lung linh làm tôi cảm thấy như có làn hương ngan ngát, thoang thoảng của một cành hồng nở rộ đón Xuân sớm. Cho nên khi nghe câu anh hỏi, tôi chỉ lắc đầu và hỏi lại anh một cách trầm trồ:

– Thế hai đóa hồng trên buồng ông cán bộ cũng do anh vẽ đó ư?

Anh cười hềnh hệch, đôi mắt lươn của anh càng nhắm tít lại. Luồn trong giọng trả lời của anh có nét tự kiêu:

– Ông ta muốn thì tôi phải chiều. Tôi chỉ phóng tay mươi phút, thế mà cũng được hai điếu Điện Biên đấy!

Chắc để hưởng ứng cái tài của Lê Sơn, anh Quý cũng tiến lại vừa cười, vừa nói:

– Lê Sơn có tài hai tay vẽ như một. Hầu hết những ngày lễ, Tết của trại cũng như của ban giám thị, bao nhiêu khẩu hiệu cũng đều do Lê Sơn vẽ cả. Thậm chí, những trang trí phòng ốc để đón các phái đoàn quan khách cũng đều phải gọi đến Lê Sơn. Ngay ở ngoài trại chính, khi có việc cũng cử cán bộ vào gọi Lê Sơn.

Tôi nhìn Lê Sơn bằng đôi mắt ngưỡng mộ, sốt sắng hỏi anh:

– Ngoài những cánh hồng tươi thắm, nổi bật như thật là biệt tài của anh; anh có vẻ được những loại hoa khác hoặc như chim, bướm v.v…?

Anh gật gật đầu, mắt anh càng như nhắm lại, sôi nổi trả lời tôi:

– Tôi không phải là họa sĩ, nhưng nhiều thứ tôi làm được.

Nói rồi, anh liếc nhìn về Quý, lúc này đã lại cặm cụi vào chiếc đầu giường cách xa 4 – 5 mét; anh quay lại hạ thấp giọng chỉ đủ mình tôi nghe:

– Ở trong này, chúng nó bóc lột mình đến xương tủy, tội gì mà đưa máu cho chúng nó hút!

Tôi ngẩn người ra nhìn, nghe anh ta nói. Tôi chưa hiểu gì về anh và anh cũng chưa hiểu gì về tôi; thế mà anh phát biểu một câu động trời như vậy, tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng xem ý anh ta cũng chẳng quan tâm, để ý xem thái độ của tôi khi nghe anh nói thế, ra sao. Tôi ngồi sát lại bên anh, chỉ băng khẩu hiệu anh đang kẻ, nói nhẹ nhàng:

– Tôi không có khả năng kẻ chữ như anh, nhưng để tô những nét anh kẻ rồi thì tôi làm được.

Mỉm cười, tôi nói tiếp như đùa:

– Tôi không có khả năng sáng tạo, nhưng lại có khả năng mô phỏng. Nghĩa là anh cứ chỉ dẫn, tôi sẽ làm được theo ý anh.

Nói rồi, tôi lựa một cái bút vẽ, cũng gò người cặm cụi tô những chữ anh đã kẻ. Như vậy cũng có thể thay được cái thời gian mà anh phải tô, để bắt đầu kẻ khẩu hiệu khác. Vừa làm vừa chuyện trò, chỉ có hai người nên cũng thoải mái. Hơn nữa, công việc này cũng ít nhiều là nghệ thuật nên không bị thúc ép mấy. Chính những lúc chuyện trò, trao đổi này, sơ lược tôi được biết về anh:

Anh là thiếu úy, làm quân báo hơn một năm, rồi về làm cận vệ cho ông Hồ Tùng Mậu. Anh đã theo ông Mậu đi khắp nơi trong những nẻo núi rừng Việt Bắc trong cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp. Thậm chí anh đã lặn lội 2 – 3 lần theo ông Mậu sang Trung Quốc. Nhưng sau, phần vì cá tính của anh trực, thẳng thắn xen lẫn ý ngông cuồng. Phần khác, anh đã lập được nhiều công trạng với khả năng của anh, nhưng anh đã không được đền đáp xứng đáng. Trong khi nhiều kẻ không có tài, chỉ biết cách luồn cúi, nịnh bợ thì lại nhẩy lên vùn vụt trên đường hoạn lộ. Chính vì anh mang sẵn trong lòng sự bất mãn để cuối cùng anh bị bắt vào tù với cái tội “phát ngôn bừa bãi” và “chểnh mảng nhiệm vụ được giao”. Bắt anh là lệnh tập trung 3 năm. Nhưng hiện nay anh đã sang lệnh thứ 4, nghĩa là đã 11 năm rồi.

Mải mê làm việc, và cũng mải mê trao đổi nghe chuyện của anh thì một hồi kẻng, dòn vang lên từ phía cổng trại làm tôi ngơ ngác nhìn Lê Sơn. Anh đã từ trong góc nhà, chỗ gần chiếc bàn có chồng bìa để kẻ khẩu hiệu đi ra, miệng rối rít giục:

– Bình xếp gọn sơ các thứ lại cho gọn ghẽ còn ra tập họp điểm số, 11 giờ rồi!

Tôi liếc nhìn ra lán mộc. Cả một bản đại hòa tấu các loại âm thanh hỗn độn lúc này đã ngưng bặt. Mọi người đang lục đục xếp gọn dụng cụ. Khi chúng tôi xuống đến lán mộc thì toán 2 và 3 đã xếp hàng đầy ở sân rồi. Anh Lân đang điểm người toán 2, quay lại nhìn chúng tôi đang chạy ra. Chắc rằng anh đã thấy đủ số, nên tiến đến chỗ 2 tên bộ đội vũ trang đang đeo súng đứng gần đấy. Anh Lân lại phải đứng nghiêm chân, thẳng người báo cáo con số.

Toán nào về đến cổng trại đều phải đứng lại. Trước khi toán vào trại, tên trật tự Phạm Huy Tân và tên Cẩn trực trại đến đầu toán. Lần lượt từng anh một, giơ hai tay thẳng lên đầu. Tên Tân dùng hai tay vuốt hai bên nách; vuốt lưng, bụng, hai chân từ háng trở xuống trước sự chứng kiến của tên trực trại Cẩn. Những ngày sau tôi đã hiểu rõ: nội quy cấm đưa vào trại mọi loại kim khí, mọi thức ăn (rau, sắn, gạo v.v…) củi, đóm, trà. Nếu trật tự khám thấy ở trong người anh nào thì anh đó phải đứng ra một bên phía trong cổng trại, chờ cán bộ sẽ xử lý kỷ luật. Nhẹ nhất là mấy chiếc đóm nứa để hút thuốc lào. Hoặc một mẩu sắn con, hay nắm rau dại luộc. Anh đó cũng bị đứng giam trơ trơ ra ở cổng trại. Ráng chịu rét về mùa Đông; nắng cháy về mùa Hè hàng nửa giờ, có khi hàng giờ. Trong khi cơm nước không có ai đi lấy cho, tới khi được tha thì cơm đã nguội. Phải ăn hộc tốc, vội vàng để còn kịp giờ lại phải đi lao động. Thôi thì phải chịu nhiều thứ khó khăn sau đó. Chưa nói đến tối hay cuối tuần còn bị tổ, toán nạo cho mềm người.

Tên trật tự Tân, phần vì phải tích cực làm tròn hết mình nhiệm vụ được giao. Càng tìm khám ra được các thứ vi phạm nội quy thì càng có thể, được lòng tin của giám thị và cán bộ. Phần khác, nếu trật tự thông cảm hay tốt với người quen chẳng hạn. Thí dụ: sờ bụng anh đó thấy gói trà, lờ đi để anh đó mang được trà vào trại. Buổi tối hay Chủ Nhật, họ sẽ lén lút, vụng trộm đun nấu trà để uống (nội quy cấm tuyệt đối không được đun nấu trong trại, trừ nhà bếp). Uống trà, nấu thì phải có khói nên những tên joóc (antene) sẽ báo cáo, hoặc chính cán bộ rình bắt được. Lúc đó, khuyết điểm của tên trật tự sẽ lòi ra. Bởi vậy, để không phải lo hậu họa, tên Tân chẳng để qua cho một ai. Khi đến lượt tôi phải giơ tay lên cho tên Tân vuốt người. Một nỗi sượng sùng, nhục nhã cứ rỉ ngấm dần vào để lòng se sắt ngậm ngùi cho một kiếp tù.

Sau khi tên Tân khám xét xong, bấy giờ tên Cẩn mới lùi về phía cổng trại thì anh Lân tiến lên đứng nghiêm trước mặt y rồi hô ta, dõng dạc:

– Toán 2 xuất trại 49. Nhập trại 49, đủ. Xin cán bộ cho nhập trại.