Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted 21 may 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Kỳ 4 –  Giải mật đặc nhiệm Spetsnaz

TTO – Trong phần nêu thành tích, Bộ trưởng Shoigu tuyên bố các đơn vị của lữ đoàn 810 đã ‘thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Nga trên lãnh thổ Cộng hòa Ả Rập Syria’.

Giải cứu phi công Konstantin Murakhtin – Ảnh: Twitter

Ngày 1-10-2015, tức một ngày sau khi Nga triển khai quân đội giúp đỡ quân sự cho Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria, Hãng tin Interfax (Nga) dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nga cho biết các toán đặc nhiệm Nga đã tham gia “bảo vệ chu vi” các cơ sở quân sự Nga ở Syria. Ngoài ra còn có lữ đoàn cận vệ 810 của hạm đội Biển Đen và sư đoàn đổ bộ đường không số 7 (Novorossiysk).

Năm đơn vị đặc nhiệm chủ lực

Hãng tin lenta.ru (Nga) ghi nhận thông tin nêu trên đã được chính thức xác nhận vào tháng 6-2016 khi Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu trao tặng huy chương cho lữ đoàn 810. 

Trong phần nêu thành tích, Bộ trưởng Shoigu tuyên bố các đơn vị của lữ đoàn 810 đã “thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Nga trên lãnh thổ Cộng hòa Ả Rập Syria”.

Ba tháng trước đó, thượng tướng Alexander Dvornikov chỉ huy các lực lượng quân đội Nga tại Syria và Iraq đã trả lời báo Nga Rossiyskaya Gazeta: “Tôi sẽ không che giấu sự thật rằng các đơn vị tác chiến đặc biệt của chúng tôi đang hoạt động tại Syria. 

Họ thực thi các nhiệm vụ trinh sát mục tiêu không kích của Nga, tham gia dẫn đường cho máy bay đến các mục tiêu ở khu vực xa xôi và giải quyết nhiều nhiệm vụ đặc biệt khác”.

Đến cuối năm 2016, kênh truyền hình Nga Rossiya-24 đã phát một thiên phóng sự về hoạt động đặc nhiệm Nga tại Syria. 

Trên thực tế đây là thông tin chính thức đầu tiên nêu đầy đủ chi tiết về vai trò tham chiến của đặc nhiệm Nga tại Syria. 

Phóng sự ghi nhận đặc nhiệm Nga đảm trách các nhiệm vụ như săn lùng các chỉ huy chiến trường, chỉ điểm cho máy bay, điều động các tay súng bắn tỉa chuyên nghiệp hỗ trợ quân đội Syria. 

Tháng 11-2015, đặc nhiệm Nga đã tham gia chiến dịch tìm cứu phi công Konstantin Murakhtin nhảy dù từ máy bay ném bom Su-24 bị không quân Thổ Nhĩ Kỳ bắn rơi.

Lực lượng đặc nhiệm Nga thường được gọi là Spetsnaz, tên ghép từ hai từ tiếng Nga “spetsialnoye” (đặc biệt) và “naznacheniya” (nhiệm vụ), tức lực lượng thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt. Spetsnaz là lực lượng can thiệp được huấn luyện bài bản, tinh nhuệ nhất của quân đội và cơ quan tình báo Nga. Spetsnaz gồm năm đơn vị chủ chốt:

* Spetsnaz Tổng cục Tình báo (GRU) ra đời năm 1950 được xem là tai mắt của Bộ Tổng tham mưu. Đơn vị này thực thi nhiệm vụ trên phạm vi quốc tế, đã từng hiện diện ở Tiệp Khắc, Angola, Lebanon, Syria, Afghanistan, Campuchia…

* Spetsnaz Tổng cục An ninh Liên bang Nga (FSB) với đội chống khủng bố Alpha ra đời năm 1974. 

Đơn vị này đã thực hiện nhiều chiến dịch nổi tiếng như phối hợp với Spetsnaz GRU tấn công cung điện Tajbeg giết chết Tổng thống Afghanistan Hafizullah Amin năm 1979, chống khủng bố trong chiến tranh Chechnya, năm 2002 phối hợp với đội Vympel (thành lập năm 1981) tấn công nhà hát Dubrovka ở Matxcơva giải cứu con tin.

* Lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không hoạt động sau phòng tuyến chuẩn bị địa bàn cho lính nhảy dù đổ bộ. Nổi tiếng nhất là lữ đoàn trinh sát độc lập số 45.

* Spetsnaz hải quân: Tên chính thức hiện nay là Đơn vị chiến đấu chống thiết bị và lực lượng xâm nhập dưới nước (PDSS) bảo vệ các cơ sở hải quân và tàu chiến đồng thời làm công tác phá hoại trong chiến tranh.

* Lực lượng tác chiến đặc biệt (SOF) ra đời năm 2009 trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Lực lượng này quy tụ mọi đơn vị đặc nhiệm quân đội Nga. Thông tin về nhân sự và hoạt động của SOF luôn được giữ bí mật. Lực lượng đã tham gia chiến dịch ở Crimea (năm 2014), Syria và đụng độ với cướp biển Somalia.

Đặc nhiệm Nga ở Crimea vào tháng 4-2014 – Ảnh: TASS

Năm quan niệm sai lầm

Hầu hết các lực lượng đặc nhiệm quân đội trên thế giới được giữ bí mật hoạt động vì an ninh quốc gia. Spetsnaz cũng không phải ngoại lệ. 

Chính vì vậy có khi câu chuyện về Spetsnaz được thêm mắm giặm muối mô tả người lính đặc nhiệm kiêm luôn làm điệp viên và chuyên gia phá hoại, từ đó dẫn đến khó phân biệt giữa thực tế với hư cấu. 

Một sĩ quan Spetsnaz nghỉ hưu (giấu tên) giải thích với tạp chí Nga Russia Beyond có năm quan niệm sai lầm phổ biến:

Thứ nhất, đặc nhiệm Nga không phải là những người cơ bắp như Rambo trong phim ảnh Mỹ vì nếu như vậy làm sao đặc nhiệm có thể hòa nhập vào đám đông. 

Thông thường họ là người mảnh khảnh cao khoảng 1,7m. Khi hành quân rèn luyện, họ phải chạy, nhảy, bò, không ăn ngủ trong thời gian dài, do đó cần nhiều thức ăn và nước hơn.

Thứ hai, không phải đặc nhiệm Nga đều giỏi võ thuật. Cựu sĩ quan Spetsnaz nhận xét: “Chiến đấu tay không chỉ hữu ích nếu hai kẻ ngốc gặp nhau mà không có súng máy, súng lục, dao, xẻng, đá trong tầm tay và ngay cả gậy gộc. 

Chỉ trong những điều kiện như vậy mới đấu tay không”. Kỹ năng cận chiến thật ra chỉ cần thiết để rèn luyện tính cách giúp họ không mất tinh thần trong chiến trận khi đạn bay vèo vèo trên đầu.

Thứ ba, không phải cái gì đặc nhiệm Nga cũng biết mà mỗi người có chuyên môn và nhiệm vụ riêng. Người hoạt động nội thành trong đám đông, người tác chiến ở vùng rừng núi, người khác nữa sành sỏi ngoại ngữ hoặc bắn tỉa. Cựu sĩ quan Spetsnaz giải thích: “Ví dụ chuyên môn của tôi là hoạt động chống khủng bố trong rừng và địa hình đồi núi…”.

Thứ tư, không phải đặc nhiệm Nga lúc nào cũng có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ. Cựu sĩ quan Spetsnaz nêu trên kể: “Nhiệm vụ của đơn vị tôi có thể là giải tỏa khu vực, quan sát lâu dài, thu thập tin tình báo, đột kích. Tôi cũng chuẩn bị phục kích và theo dõi đối phương trong một hoặc hai tuần trên đồi hoặc bên đường”.

Ngoài ra còn có nhiều đơn vị đặc nhiệm hoạt động trên tuyến đầu với nhiệm vụ chính là chiếm cứ điểm và tiêu diệt quân địch. 

Đội đặc nhiệm tấn công từ bên sườn chớp nhoáng rồi rút. Còn có cách đánh khác tương tự bằng ôtô, máy bay trực thăng hoặc tàu thuyền. Sĩ quan Spetsnaz nghỉ hưu giải thích: “Đôi khi bạn phải chỉ điểm mục tiêu. Chúng tôi ở bên ngoài chiến tuyến thu thập thông tin và tọa độ để chỉ điểm cho pháo binh, trực thăng và máy bay. Bạn có thời gian rút khỏi khu vực”.

Thứ năm, đặc nhiệm Nga chỉ xài vũ khí Nga, ngoại trừ súng ngắn. Cựu sĩ quan Spetsnaz cho biết: “Có bốn thứ quan trọng: vũ khí chính, vũ khí phụ, hệ thống liên lạc và thuốc”. Sử dụng vũ khí là súng tiểu liên, súng trường tự động hay súng bán tự động còn phụ thuộc phạm vi hoạt động xa hay gần và chiến thuật. 

Ví dụ có cần dùng súng hãm thanh hay không, đối phương ở cách bao xa lúc khai hỏa, hoạt động ban ngày hay ban đêm, làm nhiệm vụ ở đâu (nhà cửa, đồng ruộng, rừng núi). Cuối cùng ông khẳng định tất cả vũ khí đều được sản xuất ở Nga.

Theo trang web forces.net (Anh), hiện nay cũng như dưới thời Liên Xô cũ, lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz của Nga nổi bật là lực lượng được huấn luyện kỹ, có kỷ luật và trang bị tốt về cơ bản. Spetsnaz luôn được điều động trước tiên trong các hoạt động chống khủng bố và giải cứu con tin.

Điều khác biệt của Spetsnaz so với các lực lượng đặc biệt phương Tây là Spetsnaz được sử dụng cho nhiều mục đích đặc biệt, từ tấn công vào nguồn lực đối phương, ngăn chặn thông tin liên lạc cho đến triển khai đến các khu vực gặp thảm họa thiên tai và các trường hợp khẩn cấp về y tế như động đất kinh hoàng ở Tashkent (Uzbekistan) năm 1966, bệnh đậu mùa ở Aralsk (Kazakhstan) năm 1971.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Những con rận phiêu lưu

Đặng Chí Bình

Bài 18

Hồn tôi đang lãng đãng, chơi vơi, nửa mơ màng, nửa thức thì lại có tiếng lục đục ồn ào, ngay sàn trên chỗ tôi nằm. Tôi giật mình, ngồi bật dậy. Tưởng lại một người nữa đi cùm. Tôi chồm xuống đất, xỏ dép nhìn lên. Ba, bốn anh đang tranh nhau chộp vồ huỳnh huỵch. Thì ra có một con gián to, Lê Văn Kinh đã vồ được.

Vội vàng, Kinh trèo xuống đất, đến chỗ chiếc đèn con, đang để ở gầm sàn dưới, chỗ hút thuốc lào của buồng. Anh dùng một chiếc đóm nứa con đốt, hơ, nướng con gián. Con gián thật to, mầu sậm bồ quân. Cánh cháy trụi ngay, bụng nó bị ngọn lửa của chiếc đóm hơ mãi vào. Nó phình ra, rồi cong lên, phì ra một đám bọt li ti, sủi lên sùng sục. Một mùi thơm ngậy, phả ra khắp buồng.

Tôi mở to mắt, nhìn cái thân hình đồ sộ, nhìn những ngón tay chuối mắn dài nghêu của Lê Văn Kinh đang vặt từng chiếc chân, cái đầu con gián, đưa lên miệng. Cuối cùng, còn cái thân mình con gián, anh đút tỏm vào mồm, làm nước chân răng của tôi ứa ra. Qua ánh mắt của những người khác, đang ngồi nhìn Lê Văn Kinh thưởng thức con gián. Tôi dám cả quyết rằng cuống họng của họ, cũng bị ướt như tôi. Hàng tháng không có chất protein trong người, chỉ cần một tí hơi hướng, cũng làm say đắm hồn người.

Hẳn cũng sắp đến giờ kẻng báo thức đi làm buổi chiều. Vì không chợp mắt được chút nào, người tôi cảm thấy mệt mỏi. Tôi vội vàng mượn chiếc gầu của cậu Toàn, chạy lẹ xuống giếng, rửa qua cái mặt cho tỉnh người. Khi ngang qua buồng số một, tôi thoáng thấy một đám người ồn ào, to tiếng ở phía chái hồi. Lẹ làng tôi ghé tới. Có mấy bác già, mặt đang chảy dài như quả bí khô. Một bác đang năn nỉ với tên trật tự Tân:

– Xin anh thông cảm tha cho, vì chúng tôi tuổi già không ngủ được.

Hai con mắt của tên Tân, càng trắng thêm ra. Tay y cầm một con dao con làm bằng một miếng sắt, dài hơn một ngón tay. Miệng y đang nguệch ra, hai hàm răng khít lại như không muốn cho ai nhìn thấy lưỡi:

– Tôi tha đề nghị kỷ luật. Từ trưa mai, dù không ngủ, các anh cũng phải vào buồng nằm. Tụ tập, chui rúc ra đây để bàn chuyện phản động à? Con dao này, tôi tịch thu!

Dù không phải chuyện của tôi, nhưng sao người tôi cứ nóng lên bừng bừng, chân tay tôi, thấy ngứa ngáy bứt rứt. Nghe tên Tân nói, tai tôi như có ai rắc sạn vào. Có lẽ, từ nỗi khinh rẻ, căm uất nó từ buồng số 2 xà lim II, Hỏa Lò, nên nhìn cảnh này, nỗi khinh, nỗi uất trong lòng tôi càng chất chứa nhiều hơn.

Xuống đến giếng rồi, mà tay chân tôi vẫn còn rần rật. Vừa lau mặt, vừa nhìn chiêc hoa chuối đang rung rinh với gió. Mới có mấy ngày mà hôm nay nó đã lồi ra, thò dài. Những chiếc bẹ úp phía ngoài, mầu đỏ đã thẫm lại, giương xòe ra như những chiếc cánh dơi. Ấp bên trong một lượt quả con tí, như những ngón tay con gái, dài ngoẵng, trắng đục màu ngà. Trông chiếc hoa chuối chiều nay như một chiếc hoa sen đại đang thì, đỏ choét.

Nước lạnh, nhìn hoa chuối đỏ, tôi quên béng chuyện của tên Tân, để rồi tiếng kẻng mất dạy, đập ngay vào bên tai. Trên chòi gác, tên bộ đội oắt con, cứ thong thả nện cái búa con, vào cái vỏ quả bom kêu oăng oẳng. Tôi thừa nhận cái kẻng này mất dạy thật. Người ta đang ngủ ngon lành thì nó khua dậy. Người ta đang gửi hồn, lãng đãng với trời, mây, gió, nước thì nó đập tan tành. Nó cũng mất dạy, trơ tráo, ỏm tỏi như những tên chủ của nó vậy.

Lúc các toán xuất trại đi làm chiều, tôi đang ngồi trong hàng ở giữa sân, bên cạnh Phan Thanh Vân. Vừa thì thào nói chuyện với Vân, mắt vừa lo đãng rõi nhìn các toán đang xếp hàng đôi, theo nhau ra ngoài cổng trại. Tiếng một tên cán bộ quát to, làm tôi chú ý:

– Không đi, thì lôi nó đi!

Toán bốn, toán nông nghiệp, do anh Hà làm toán truởng. Theo lệnh của tên cán bộ toán, anh đang lúng túng, chỉ định cho hai đi cuối hàng, trở lại kéo một anh còn đang ngồi lại ở sân. Anh này chừng 30 tuổi, mặc bộ quần áo trại mầu xanh xám đã tã. Anh có bộ mặt xương xẩu, đang gục đầu vào hai đầu gối, hai tay luồn, ôm ngang bụng, mồm rên rỉ kêu:

– Thưa ông, tôi đau bụng quá!

Hai anh toán 4 được chỉ định, còn đang lóng ngóng, ngần ngừ, thì tên Cẩn trực trại, quát giận lên:

– Kéo nó đi, còn chần chờ gì nữa! Để cho toán khác xuất trại chứ?

Như cái máy khởi động do người khác điều khiển; hai người cầm hai tay anh đang đau bụng, kéo nê ra phía ngoài cổng. Anh đau bụng nằm ngửa hơ hơ, hai chân xuội ra, rê trên mặt đất. Đầu anh ngoẻo về một bên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng cứ rên rỉ…đau quá! Vì lần đầu tôi nhìn thấy cảnh này, nên quay lại hỏi Vân:

– Đau bụng mà không được nghỉ lao động à?

Vân quay sang, như đang định trả lời, thì tên trực trại đã gọi đến toán 2. Thành ra, mãi tới khi vào đến nhà vernie, tôi phải hỏi lại Quý và Lê Sơn. Tôi rất ngạc nhiên, thấy Lê Sơn văng tục:

– Địt mẹ cái thằng Thái y tá! Phải có gì cho nó, thì không ốm, muốn nghỉ cũng được nghỉ.

Thấy thái độ giận dữ của Lê Sơn như vậy, Quý Cụt cũng buồn cười, nói vừa như dàn hòa, vừa như mai mỉa:

– Quy định của trại là 2 phần trăm người bịnh chung cho các toán. Như toán ta có 49 người, thì chỉ được phép nghỉ ốm 1 người là cao nhất. Nếu áp dụng đúng chính sách thì chỉ được nghỉ tám phần chín thân của một người mà thôi. Do đấy, không những mọi người đã “thông” mà còn phải biết ơn cái nhã ý, linh động, nhân đạo của ban giám thị nữa chứ! Hơn nữa, y tế cũng phải chấp hành lệnh của cán bộ mà!

Thấy Lê Sơn cầm mấy tờ bìa đi xuống dưới lán mộc, tôi lại hỏi Quý nữa:

– Việc gì mà phải lôi kéo như thế, nhỡ anh ta đau bụng thật thì sao?

Quý Cụt cười lên khềnh khệch:

– Y tá không cho nghỉ, thì đi làm. Không đi thì bị lôi đi, có khi còn vào kỷ luật nữa chứ!

Không hiểu vì sao, chỉ trả lời như vậy mà Quý lại cười? Hay anh cười tôi đã hỏi một câu thật là tồ? Tôi không hỏi nữa, quay vào lấy sơn, bút ra làm tiếp công việc buổi sáng. Tay làm việc nhưng lòng tôi vẫn băn khoăn; không yên được. Tôi lại đến chỗ Quý:

– Này, thế anh Thái nào đó là y tá có khá chuyên môn không?

Quý đang mở tủ xách mấy lọ dầu sơn ra. Vì Quý chỉ có một tay nên tôi phụ giúp. Xong, Quý quay lại thong thả giải thích:

– Chuyên môn ở đây là phụ thôi. Ông Đặng Văn Hiệp kia kìa, là bác sĩ nội khoa nổi tiếng đấy; đang ở toán 6 nông nghiệp, làm cỏ, nhổ mạ, gánh phân như điên. Vấn đề là tư tưởng và tội trạng, chứ chẳng phải do chuyên môn.

Quay về chỗ tiếp tục làm việc, tôi vẫn chưa hiểu hết vấn đề Quý nói.

Buổi cơm chiều nay, cả toán 2 xôn xao náo nhiệt hẳn lên. Cứ í a, í ới, ríu ra, ríu rít gọi nhau về bát với đĩa, làm như mở đại tiệc. Một đám đông những nhân vật tai mắt trong toán: toán trưởng, tổ trưởng, tự giác đang túm hụm vây quanh gánh rau lá cải bắp già luộc. Tay chân các vị chỉ chỏ, miệng bàn tán cứ vung củ cải lên. Tôi nhớ, ngay từ khi còn ngoài lán thủ công: lúc anh Lý A Chén gánh về một gánh đầy lá rau cải bắp. Trong lán, anh em giáo giác đổ xô hết cả ra chỗ gánh rau đang để ở giữa sân, bên cạnh đống lửa bác Đặng Minh Chánh hàng ngày vẫn đun nước sôi cho toán. Dù phải tôn trọng giờ lao động, nhưng ai cũng liều chạy ra nhìn một cái, rồi mới chịu vào làm. Tôi cũng chả ngăn được sự háo hức nên cũng phải nhào ra. Nhìn cái mầu xanh xậm của những lá cải bắp nằm từng loạt hơ hớ, xếp xuôi chiều, thấy mát cả mắt và cũng mát cả con tì, con vị luôn.

Tên Kích cán bộ toán hôm nay cũng có vẻ dễ dãi. Y cũng thấy nhiều anh em rầm rập chạy ra chỗ gánh rau, nhưng có lẽ y nghĩ rằng: nỗi vui này, hạnh phúc này cũng có phần chính của y ban cho nên tuy y đứng ngay đấy mà chẳng hề nói gì. Mặc dù hàng ngày có bác Chánh dọn dẹp, phục vụ vệ sinh và đun nước cho toán, hôm nay anh Lân còn phân công thêm 2 người nữa, xin bộ đội vũ trang dẫn vào trại, gánh nước ra để rửa và luộc rau.

Thế mà chỉ khoảng 40 phút sau, rau đã được vớt ra để vào 3 cái giành còn mới tinh, đậy bằng mấy lá chuối tươi, khói tỏa ra nghi ngút. Cả toán được thưởng thức phần cải thiện đầu tiên ngay tại lán là nước rau. Cái này thì cho tự do, tuy vậy, anh Lân, toán trưởng cũng nhẹ nhàng nhắc nhở anh em hãy tự giác. Mỗi người nên uống in ít, còn để dành cho người khác.

Lê Sơn đưa cho tôi cái cóng nhôm Guigoz đã vàng khè vì đôi khi nấu trà:

– Bình hãy xuống múc đầy 3 chiếc ly nứa.

Nước óng lên mầu xanh bích ngọc, tôi nghĩ rằng nó chứa rất nhiều diệp lục tố. Nước nóng, 3 chúng tôi vừa thổi, vừa uống, vừa nhìn nhau. Uống đến đâu, tôi cảm thấy khoan khoái, mát rượi cả cõi lòng đến đấy. Tôi liên tưởng đến những năm xưa còn ở thành đô nhiều hương sắc. Những buổi trưa hè oi ả sau buổi tan tầm, ghé chiếc solex đến chiếc xe sinh tố ở đầu đường Yên Đổ làm một ly cối thập cẩm: măng cụt, chuối, dứa, mãng cầu với một hột gà cũng tuyệt cú mèo đến thế này là cùng.

Bây giờ ở trong trại, theo anh Lân cho biết: gánh rau luộc rồi cân được 19 kg 5. Như thế, toán 49 người, đổ đồng mỗi người cũng xấp xỉ 4 lạng rau chứ có phải chơi đâu. Của hiếm, lâu ngày mới có, nhiều anh toán 2 cũng đem đi chia xẻ niềm hạnh phúc với những người thân quen ở toán khác. Tôi vẫn có lòng thương mến riêng cậu Hùng, vì vậy tôi cũng đưa cho cậu một bát con; gọi là một chút cho ấm lòng nhau lúc này. Hôm nay trại cũng có canh rau, tuy mỗi phần cũng chỉ độ nửa lạng, nhưng vì hàng tuần lễ chỉ có canh sắn hoặc muối rang. Cho nên, cũng có nhiều chỗ một, hai người đã hể hả ăn chung với nhau như một bữa tiệc thân tình.

Buổi trưa hôm sau, khi ăn cơm xong tôi và Toàn xách túi rổ, rá, bát đĩa từ dưới giếng về, vừa bước chân vào cửa buồng, thì anh Lân đang nằm ngay mép sân, cạnh lối cửa ra vào, bò giật dậy, tay chỉ vào tôi, miệng ré lên:

– Thằng Bình, mày đổ rận cho tao phải không?

Phần bất ngờ, phần thấy nhiều người đều chăm chú nhìn tôi, cả Toàn nữa làm tôi ngượng chín người, yếu ớt chống chế:

– Đâu có!

Anh Lân choài người ra, nắm tay tôi, kéo ngồi xuống chỗ anh, miệng vẫn bô bô, làm nhiều người đã nằm đều ngồi dậy nghe chuyện:

– Chính mày mang rận ở Hỏa Lòa lên rồi!

Thấy mọi người còn ngơ ngác nhìn, anh lại nói tiếp như phân bua:

– Tôi thấy lạ, mấy hôm nay đêm nằm cứ ngứa mãi. Lúc nãy cởi áo ra xem, bắt được mấy chú rận kềnh. Tôi nghĩ và biết ngay là anh chàng Bình chứ không có ai vào đấy cả.

Tôi chỉ cười, mặt hơi nóng lên vì ngượng. Nhất là mọi người cứ nhìn tôi như đang nghe một trò vui ngộ nghĩnh. Chưa tha, anh Lân còn chỉ vào mặt tôi giọng chì chiết:

– Trông mã cậu, kẻng trai, tư cách như sinh viên, ai ngờ người toàn rận. Mình không biết lại cứ ôm ấp nó!

Anh còn đang nói, thì Vân ở sàn trong cũng bò giật dậy, la hoảng:

– Thôi chết, thảo nào mấy đêm nay tôi cũng thấy ngứa quá!

Một số các anh, các bác xôn xao có ý kiến:

– Thôi, chiều nay anh Lân phải đề nghị ông cán bộ toán: cho đun một thùng nước sôi. Tất cả quần áo chăn màn của 3 anh, hãy nhúng vào nước sôi, cho chết cả trứng đi. Nếu không, rận lan ra toàn toán thì chết.

Lân còn quay lại hỏi tôi:

– Có rận, sao không nói cho tao biết!

Lí nhí, ngập ngừng, tôi nói nhỏ:

– Tôi quên mất, là nó lại có thể bò sang người khác!

Nhiều người cười ầm cả lên. Để chữa ngượng, tôi nói như thanh minh:

– Lúc ở xà lim ra, họ cho tôi vào một cái buồng có đến hàng trăm đứa trẻ con. Ghẻ lở, rận, chấy đầy, tôi không biết làm sao được.

Và buổi chiều hôm ấy ở ngoài lán, tôi phải một bữa rét run. Quần áo phải nhúng nước sôi, vắt kỹ rồi hơ, phơi ở đống lửa trong nhà vernie, suốt cả buổi mới khô.

Câu chuyện rận này, cho suốt mãi hàng chục năm sau, ở trại này, hay trại kia, nếu mỗi lần Nguyễn Huy Lân gặp lại tôi, còn nhắc nhở đến. Anh lại vẫn không quên nói với anh em chung quanh:

– Trông cậu thế đấy, mà trong người toàn rận thôi!

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Phỉnh phờ, dụ dỗ

Đặng Chí Bình

Bài 17

Đã từ mấy ngày nay, tôi vẫn nhớ một cậu có nét mặt trẻ măng, vẫn nhìn tôi bắng ánh mắt tràn đầy thiện cảm. Chính một lần cậu ta đã nhắc nhở tôi phải coi chừng Toàn. Qua Châu, tôi đã biết cậu ta cũng ở trong Nam và cùng ở trong toán biệt kích của Shè Khửu Sáng. Hiện nay, cậu ta ở toán 3 (xẻ), nằm trong góc, sàn trên phía trước. Tôi cũng hơi ngập ngừng khi định trèo lên thăm hỏi, chuyện trò với cậu ta. Chỉ vì, ngay ở toán mộc, còn nhiều người; họ hoặc tôi chưa dám tiếp xúc với nhau, huống chi cậu ta lại ở toán 3.

Nhưng từ bản tính thích tìm hiểu những điều mới lạ, lại cùng một buồng thăm hỏi thì có sao đâu. Nghĩ thế, tôi đã trèo lên sàn chỗ cậu ta. Thấy tôi nhô đầu lên, cậu ta vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, lại vừa mừng, vồn vã ân cần tiếp chuyện tôi.

Khi biết tên cậu là Hùng, Hoàng Mạnh Hùng, tôi chợt liên tưởng tới anh Hoàng Hùng, tiểu đoàn phó “một chiến sĩ của Điện Biên” năm xưa, đã dẫn đại đội của mình, cắm lá cờ đầu tiên lên nóc hầm của tướng De Castrie. Tôi đã nằm với anh ở buồng số 2, xà lim II của khách sạn Hilton Hà Nội. Một thoáng chạnh lòng, ngậm ngùi nghĩ đến anh. Chẳng biết anh còn sống hay đã chết, trong cái đêm oan nghiệt của đời anh?

Tôi còn đang ngỡ ngàng khi biết Hoàng Mạnh Hùng là người Thổ, dân tộc thiểu số, mới có 23 tuổi đời mà đã bị bắt 3 năm rồi, thì đã thấy Shè Khửu Sáng từ sàn dưới trèo lên. Sau khi ngồi yên chỗ, Sáng nói như thì thầm:

– Khi biết anh cũng ở trong Nam ra, chúng em đã nhiều lần muốn đến thăm anh mà chưa dám.

Tôi cứ nhìn con mắt của cậu Sáng. Con mắt trái hoằm sâu vào, một dòng nước nhờn trắng đục như rỉ, đang sùi ra một cục. Mặt cậu thật hiền hòa, toát ra một nét chất phác của tuổi đời 26. Rồi tôi lại nhìn Hùng, nước da trắng trẻo, mặt như còn hơi sữa. Lòng tôi dâng lên niềm dạt dào mến thương các cậu. Một sự gần gũi ân tình anh em, chiến hữu cùng trong một cảnh ngộ đã sưởi ấm hồn nhau.

Do buổi tối này, anh em bên nhau thì thầm, nhỏ to trò chuyện, tôi đã biết sơ lược về toán của các cậu như sau:

Toán gồm tất cả 7 người. Vào lúc 2 giờ, một đêm cuối tháng 4/1965, toán đã nhẩy xuống một vùng rừng già thuộc tỉnh Cao Bằng. Toán trưởng là Nông Quốc Hải, 26 tuổi (1965) người dân tộc Thổ. Toán có nhiệm vụ lúc đầu là bắt mối, liên lạc với địa phương, gây một cơ sở đầu cầu cho những toán kế tiếp. Sau đó, thâu tập một số tin tức tình báo thuộc địa bàn hoạt động. Nhưng khi toán nhẩy xuống điểm đã được quy định, chỉ 2 giờ sau đã bị bao vây. Trong lúc đêm tối, hỗn loạn chiến đấu, người chết, người bị thuơng tán loạn chẳng ai biết rõ về ai. Cho tới khi bị bắt về trại giam thì chỉ có 5 người. Trong số đó có Nông Quốc Hải, toán trưởng bị đạn xuyên qua đùi, nhưng không gẫy xương. Shè Khửu Sáng bị một viên đạn lồi hẳn con ngươi ra ngoài. Còn 2 người nữa, không biết rõ là mất tích hay bị chết, cho đến nay (1968) chưa hề nghe tin tức gì về họ cả.

Năm người bị bắt, sau hơn một năm bị hành hạ khai thác ở Cao Bằng, cũng chẳng được đưa ra tòa xử mà bị nhận lệnh tập trung cải tạo, rồi chuyển về trại E này. Hiện nay cả 5 người đều ở buồng II. Hai người ở toán xẻ gỗ (toán 3) là Nông Quốc Hải, toán trưởng, 29 tuổi (1968); Hoàng Mạnh Hùng.

Ba người ở toán 2 (mộc) là: Shè Khửu Sáng – 26 tuổi, người Nhắng. Nguyễn Văn Châu – 25 tuổi, người Kinh; La Văn Thịnh – 23 tuổi, người Thổ.

Tất cả 7 cậu đều ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng. Khi các cậu được tuyển mộ vào ngành biệt kích, tuổi đời đều trên dưới 20. Trước đây, đôi lúc tôi cũng băn khoăn, nhớ khi bị bắt tuổi đời tôi mới 24, nhưng bây giờ nhìn về toán biệt kích này, tôi càng không khỏi bùi ngùi, khi vào tù các cậu chỉ mới ở tuổi đôi mươi. Câu chuyện của các cậu, dù tôi chưa biết được tỉ mỉ, chi tiết, nhưng cứ chập chờn len lỏi vào hồn tôi lúc rõ, lúc mờ trong giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, thứ Hai. Điểm xong, khi ra khỏi cửa buồng, tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, khi nhìn thấy sương mù. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sương mù như vậy. Cả một bầu trời trắng đục, ngay cái hội trường chỉ cách gần 2 chục mét trước mặt mà cũng mờ mờ trong sương. Nhìn xuống phía dưới sân trại, những bóng người nhấp nhô, ngược xuôi thấp thoáng, di chuyển như trong một đám khói dầy. Tôi vừa chạy trong sương xuống phía giếng nước, vừa ngẫm nghĩ: chẳng biết ở những miền rừng núi thường có sương mù như thế, hay chỉ trong khu vực Hoàng Liên Sơn này?

Lúc tôi chạy trở về gần ngang buồng, cứ nhìn những bóng người thấp thoáng trong sương mờ, hồn tôi lại lắc lư, bồng bềnh liên tưởng về một ngày xưa xa lắm. Khi ấy, tôi còn rất bé, nhìn một bức tranh địa ngục với những bóng ma, quỷ tội đồ, xiềng xích. Họ làm việc khổ hình cũng trong khói sương thuộc quyền của Diêm Vương. Mập mờ, thoáng thấy bóng anh Lân và Lý A Chén cùng một số người đang ồn ào bàn tán. Thì ra hôm nay, toán trang trọng cử tự giác Chén ra đồng, sang toán 5 lĩnh lá cải bắp già về bồi dưỡng cho toán.

Ngay từ hôm thứ Bẩy, anh Lân đã vận động với ông cán bộ toán, liên hệ với cán bộ toán 5; sau khi anh Lân đã đến riêng với anh Xuân Tảo, toán trưởng toán 5. Theo anh Lân, anh đã phải vận dụng hết khả năng ngoại giao, mở cả một chiến dịch chạy chọt hai, ba nơi. Phải nêu những thành tích sản xuất vượt bực của toán 2, nói sùi cả bọt mép v.v… Bởi vì, theo kế hoạch phân phối đã từ lâu của trại thì những lá già của các loại rau xanh, chỉ dành riêng cho bên khu chăn nuôi của cơ quan và trại giam mà thôi. Nếu toán 3 xin riêng được, thì toán khác cũng xin được. Như vậy, còn gì cho trại và cho chăn nuôi? Chưa hết, anh Lân lại còn phải lấy giấy giới thiệu của ông Kích, cán bộ toán để đến ông cán bộ nhà bếp xin 3 lạng muối nữa!

Một nguồn tin còn quan trọng gấp nhiều lần hơn tin bác Hồ trở lại thăm hang Pắc Pó. Nó làm cho khí thế lao động của toán 2 hôm nay, được nâng cao rõ rệt. Mặt anh nào cũng tươi rói, chào hỏi nhau, vồn vã khác thường.

Khi trò chuyện trong lúc kẻ khẩu hiệu với Lê Sơn sáng nay, tôi đã lựa lời hỏi về anh Khải bị đi kỷ luật tuần trước. Không ngờ, anh Khải còn một người bố nữa là Nguyễn Từ Hải, cũng đang ở toán 3 xẻ. Hai bố con cùng một tội phản tuyên truyền trong phong trào “trăm hoa đua nở” và “nhân dân giai phẩm”. Hai bố con cùng ở Hà Nội, anh Khải là con trai cả, 28 tuổi, chưa lập gia đình. Cả hai bố con đã từ gần 10 năm rồi với cái lệnh tập trung cải tạo 3 năm.

Nghe Lê Sơn nói như vậy, tự nhiên tôi muốn biết cái cảnh cùm kỷ luật ở trại ra sao nên hỏi anh. Lê Sơn đang cắm cúi, nắn nót kẻ một đường kỷ hà trên tấm khẩu hiệu:

Chiến dịch Đông Xuân: Bộ đội đổ máu nơi chiến trường. Nông dân đổ mồ hôi trên đồng ruộng.

Nghe thấy tôi hỏi. Anh đứng giật dậy, quay hẳn lại phía tôi sôi nổi:

– Bình chưa biết cái cùm ở đây đâu. Một tác phẩm vĩ đại của Hoàng Thanh.

Trong khi tôi mở to mắt, đăm đăm nhìn. Tay Lê Sơn đang cầm chiếc bút vẽ cứ hất vung ra, mỗi khi anh giằn giọng. Mặt anh còn toát ra sự uất hận nén đầy; làm cho Quý Cụt từ mãi trong góc nhà cũng quay ra nghe chuyện:

– Nó bằng 2 súc gỗ lim to tướng, đóng thành một cái hộp, mà mọi người gọi là “cái cùm hộp”. Đã bị cùm thì chân không còn nhúc nhích. Ai mà bị cùm chỉ một tuần hay nửa tháng, lúc được thả ra đều phải bò về buồng. Nhiều người đã bị thối chân ra vì cái loại cùm này rồi.

Thấy tôi cau mày, hơi vẻ bàng hoàng. Quý Cụt hất hàm về phía Lê Sơn, rồi cũng lên tiếng như thể thừa nhận:

– Lần trước, cách đây mấy tháng. Lê Sơn khỏe như thế, chỉ bị cùm gần một tháng, khi ra phải hai người giúp, khênh về buồng, người chỉ còn xương với da. Sơn, nó cũng mới lại người đấy!

Đến đây, mắt Quý sáng lên, môi dưới hơi dề xuống ngọ nguậy nói tiếp:

– Lê Sơn mới xoay được tiền để mua chuột bồi dưỡng, nếu người khác thì đừng hòng!

Tôi chặc lưỡi, càng tỏ vẻ trầm trồ. Lê Sơn lại gằn giọng phẫn uất:

– Thằng Hitler bây giờ có sống lại, cũng phải quỳ xuống vái tụi này là tổ sư!

Thấy Lê Sơn phát biểu mạnh quá, làm tôi cũng hơi khớp. Khớp về sự kiện Sơn đưa ra thì ít, mà vì ngỡ ngàng thấy không khí riêng tư của buồng vernie này khác hẳn với bên ngoài trại. Tôi liếc mãi nhìn khoảng cách dưới lán mộc với nhà vernie, rồi chuyển hướng câu chuyện:

– Thế Hoàng Thanh là ai?

– Rồi Bình sẽ gặp, ông ta là trung úy giám thị phân trại E này.

Quý vừa nói xong, thoáng thấy bóng Nguyễn Huy Lân từ dưới lán mộc đi lên, cả 3 người lại cúi xuống làm việc. Lên đến hè, nhìn tôi, Lân nghiêm nghị:

– Bình lên gặp ban giám thị!

Quý Cụt và Lê Sơn đều quay lại nhìn tôi đầy nét dò hỏi. Phần tôi, cũng bắt đầu lo lắng. Tôi chậm chạp đi theo anh Lân. Thấy Lân dẫn sang phía toán 3, đi sát lại, tôi hỏi khẽ:

– Ông Hoàng Thanh à?

Anh Lân chỉ lắc đầu, tôi chẳng hiểu là anh không biết, hay không muốn nói? Thái độ của anh Lân lạnh lùng, khác hẳn với sự cười cợt thân mật mọi khi. Anh dẫn tôi đến trước căn nhà con của cán bộ toán 3. Chỉ vào cánh cửa gỗ đang khép hờ, anh nói nhẹ:

– Bình vào trong ấy!

Nói rồi, anh trở về lán mộc ngay. Hơi đắn đo, rồi tôi bước lên những bậc đất, đến trước cánh cửa khép. Một giọng Bắc, ngai ngái miền Bắc Ninh rất nhẹ phía trong:

– Anh cứ đẩy cửa vào đi!

Một người chừng 50 tuổi, hơi nhỏ con, tóc đã muối tiêu, đặc biệt có cặp lông mày thật rậm; đã ngồi sẵn phía sau chiếc bàn con để mộc. Hai bên ve áo, có hai chiếc lon hình chữ nhật lệch đỏ chóe. Trên mỗi chiếc lon có 4 ngôi sao và một chiếc vạch mầu vàng ươm, phía dưới. Tôi bước vào, hơi nghiêng người tỏ vẻ chào ông ta. Hơi hất hàm ra phía cửa, rồi ông ta nhìn xuống chiếc ghế đẩu, đang để chơ vơ phía trước bàn:

– Đóng cửa lại, rồi ngồi đây!

Một giây im lặng, ông ta cất tiếng nhè nhẹ như chuyện trò thăm hỏi:

– Hơn một tuần nay, lên đây rồi, anh thấy khung cảnh trại thế nào? Anh phát biểu tôi nghe!

Qua giọng nói nhỏ nhẹ, nhất là đôi mắt của ông ta dìu dịu như le lói, chút ít tình người. Tuy vậy tôi vẫn dè dặt:

– Dạ, thưa ông, tôi thấy tinh thần lao động của mọi người rất hăng say, tích cực.

Ông ta gật gật đầu nhưng miệng lại hỏi:

– Ngoài vấn đề lao động ra, tôi muốn anh phát biểu về những lảnh vực khác.

– Thưa ông, tôi mới nhập trại nên chưa biết gì.

Tôi đã hơi hiểu ý ông ta muốn những cái gì rồi, nhưng tôi vẫn trả lời như trên. Có lẽ thấy tôi ngập ngừng dè dặt, ông ta bắt đầu, hơi gằn giọng:

– Tôi biết tư tưởng anh chưa ổn định. Anh cón nhiều hoang mang, giao động khi phải chuyển đến một nơi chưa biết.

Ngưng lại một lúc, thấy tôi vẫn cúi đầu ngồi yên, ông ta lại tiếp:

– Chính vì thế, lẽ ra tôi chưa muốn gặp anh. Nhưng một cái cây, mới đem trồng vào đất khác; nếu nó nghiêng, có khi rồi nó sẽ đổ gục; hoặc nó sẽ cứ nghiêng mãi. Tôi muốn cái cây ấy mọc thẳng đứng ngay từ đầu.

Ngồi nghe ông ta nói, tuy chưa biết rõ ý đồ, mục đích của ông ta gặp tôi để làm gì, trong lòng tôi cũng nhiều lần tự hỏi, tên này tuy là đại úy nhưng chưa biết y ở cương vị nào. Xem vẻ y rất mềm mỏng, muốn đi sâu vào tâm hồn của đối tượng. Lạt mềm thì buộc chặt, loại này càng phải cảnh giác, thận trọng khi tiếp xúc, quan hệ. Thực ra trong lòng tôi, vẫn luôn luôn mang sẵn một quả bom nổ chậm. Chưa thể nói là đã lấy được hết ngòi nổ ra. Tuy rằng sau gần 6 năm khai thác, cuối cùng chúng đã đưa tôi ra tòa xử án, Nhưng dưới chế độ cộng sản, thực tế đã cho mọi người đều hiểu: xử án xong không có nghĩa là vụ án đã kết thúc. Bởi vậy, từ chuyện Z5 Hoàng Đình Thọ, đến tài liệu “M” v.v…luôn luôn làm tôi phải ngấp nghé, phập phòng mỗi khi phải gặp một tên cán bộ lạ.

Tôi vẫn cúi đầu nhìn xuống mép bàn, để lòng chảy về những năm tháng cũ ở Hỏa Lò thì ông ta đằng hắng:

– Anh Bình, anh phát biểu ý kiến của anh đi! Anh hoang mang à?

Thấy ông ta nói vậy, để cho xuôi và hợp lý, tôi phát biểu:

– Thưa ông, tôi xin nói thành thật là trước khi đến trại này tôi có hoang mang, vì tôi chưa từng ở một trại giam xa xôi thế này. Nhưng sau năm, sáu ngày ở đây, qua những sinh hoạt ăn ngủ, lao động, tôi đã tin tưởng vào đường lối chính sách cải tạo, giáo dục của đảng và nhà nước. Tôi không còn hoang mang nữa.

Ông ta gật đầu rồi nói đều đều như nhắn nhủ, như nhắc nhở:

– Tôi tin vào cái nhìn sâu, sát của anh. Vì vậy anh phải thực hiện thật tốt 4 tiêu chuẩn cải tạo mà nhà nước đã đề ra. Trong đó không những anh phải phấn đấu lao động, cải tạo tư tưởng cho bản thân mà còn có trách nhiệm phải giúp đỡ mọi người khác cùng tiến bộ. Đó cũng là cách tích cực nhất, anh đã tự mở con đường cải tạo thênh thang cho chính anh. Ngoài ra, tổng quan tình hình của trại, thấy những vấn đề gì làm trở ngại cho bước đi lên, anh cứ mạnh bạo đề xuất sáng kiến. Tôi sẽ gặp anh sau! Ông ta vừa nói, vừa đứng dậy.

Sau khi chào ông ta, tôi đã quay đi ra đến cửa, thì ông ta đến bên, nói như thân tình:

– Bất cứ khi nào anh cần gặp tôi, hãy đề bạt với ông cán bộ toán.

Tôi phải chào y lần nữa và bước ra khỏi cửa. Trên đường về lán mộc, lòng tôi thấy nhè nhẹ vơi hẳn cái lắng lo khi sớm. Nhưng tôi cũng mờ mờ cảm thấy, ông ta muốn tôi làm một con chó săn cho ông ta. Cá to thì phải câu cần to; cá nhỏ thì câu cần nhỏ. Cá nào cũng câu, chỉ còn tùy thuộc vào từng con cá, có cắn câu hay không. Đó là chủ trương của những người cộng sản giam giữ tù.

Đành rằng, ngay trong 4 tiêu chuẩn cải tạo đã có câu: “phát hiện và tố giác mọi phần tử xấu chung quanh, từ lời nói cũng như hành động”. Nhưng tới đây, tôi cũng mới chỉ mơ hồ nhận thấy những phương pháp: ngăn cách, ly gián, hư thực, thực hư…; lấy cái đói khổ (cái dạ dầy) sự khích lệ, tâng bốc, phỉnh phờ, kết hợp với áp lực của vũ khí. Nhào lộn nhuần nhuyễn để tùy theo áp dụng với từng người, sao cho đạt mục đích tối hậu là mọi phạm nhân trong trại, sẽ yên định như những chiếc nêm cối xay lúa. Nghĩa là, không thể nhúc nhích, yên lành sống, ngoan ngoãn trong cảnh tù đày; như không có chuyện gì xảy ra cả. Còn nhiều điều, nhiều khâu, tôi chưa nhìn được rõ ràng. Phải đợi những ngày tới, qua những tình huống và sự việc cụ thể, bằng người thực, việc thực mới giúp tôi nhìn sáng tỏ vấn đề này hơn.

Khi về qua chỗ cầu bào của Lân, anh gật đầu gọi tôi lại. Anh nhìn tôi chằm chặp rồi ngập ngừng:

– Có chuyện gì thế?

Để khỏi phải dài dòng, tôi thủng thẳng:

– Ông ta hỏi cảm tưởng mấy ngày ở trại và một vài sự việc trong vụ án của tôi.

Tôi hỏi lại anh Lân, ông ta tên gì và làm việc ở đâu, thì được biết ông ta tên Chuân, Nguyễn Chuân, giám thị ở trại chính. Tôi sắp từ giã, thì anh Lân ghé gần tai nói nhỏ:

– Hãy cẩn thận thằng Quý Cụt. Trước đây nó tiến bộ lắm, tố cáo lung tung mọi người, nhưng kỳ này bớt rồi. Tuy vậy “cẩn tắc, vô ưu”.

Rời chỗ Lân để trở lên nhà vernie, tôi vừa đi vừa suy nghĩ: mấy người, trong năm ngày nay tôi hay chuyện trò, anh này bảo cảnh giác anh kia, như vậy người ta có thể nghi ngờ hết cả mọi người, kể cả tôi. Như thế là đúng như dụng ý của kẻ coi tù rồi! Tuy thế, chỉ có Lê Sơn thì chưa có một ai bảo tôi phải cảnh giác cả.

Lúc về đến nhà vernie, tôi cũng hỏi Lê Sơn và Quý Cụt như đã nói với anh Lân về chuyện gặp ông Chuân. Qua Lê Sơn, tôi còn được biết rõ hơn về Nguyễn Chuân. Giám thị của toàn trại Trung Ương số 1, gồm 5 phân trại là ông Toán, thiếu tá. Nhưng bí thư Đảng ủy lại là ông Chuân. Tuy chỉ là đại úy, nhưng quyết định mọi việc lớn của trại, đều do ông Chuân, đại diện của Đảng. Tôi cũng được biết là ông Chuân ít khi vào trại này và cũng năm thì, mười họa mới gặp phạm nhân mà thôi. Hơn một năm trước, có một lần ông ta vào gặp Vân và một lần gặp ông Hinh Mù, người mà đã một lần tôi trông thấy đang lần bước trên hè nhà số 1. Ông có thân hình to, cao như Lê Văn Kinh, ông chừng 55 tới 60 tuổi rồi.

Buổi trưa ở trong trại, sau bữa cơm ngô vội vàng, tôi đang nằm liu riu, mơ màng bên cạnh Vân để chờ giờ đi lao động buổi chiều, thì thoáng nghe tiếng rủng rẻng của chùm chìa khóa ở phía cửa, làm tôi mở choàng mắt ra. Tên Cẩn, trực trại và tên Phạm Huy Tân, trật tự đang đứng ở giữa nhà. Tên Cẩn đang chỉ chỏ lên sàn trên, phía trước của toán 3. Một bác chừng 50 tuổi ngoài, dáng hom hem, mảnh khảnh đang lúng túng cuộn chăn chiếu, lò rò trèo xuống. Tôi còn đang ngơ ngác, thì Vân cũng đã mở mắt rồi, nói khẽ:

– Ông Chương, Lê Tài Chương đi kỷ luật.

Hơi bàng hoàng, tôi hỏi lại Vân:

– Làm sao mà đi kỷ luật?

Vân vẫn nằm, nói nhỏ:

– Bình chưa hiểu được đâu, những người bị đi kỷ luật, chỉ đôi khi mọi người mới biết lý do. Còn thông thường chỉ có người nào bị đi, thì họ mới được biết mà thôi. Thế mà nhiều khi, ngay bản thân người phải đi kỷ luật, cũng không biết tại sao nữa. Thậm chí, như anh Đồng, hai tháng trước bị đi kỷ luật, cùm một tuần. Cho tới khi được tha, anh ta cũng chưa biết vì sao mà anh ta phải đi kỷ luật.

Nghe Vân nói thế, lòng tôi hoang mang cực độ. Vân nhìn thái độ của tôi một lúc, rồi anh vừa chùm chăn lên mặt, vừa nói:

– Tội tư tưởng, thì ai mà biết được!

Tôi nằm nhắm mắt, mà lòng ngổn ngang xôi động đầy vơi. Nỗi lắng lo về ngày mai, cứ dâng đầy, bủa kín hồn tôi. Óc tôi vất vưởng, chợt nhớ tới ông Chương. Phải rồi, ông Chương, chủ tịch đảng Tân Phong mà có lần Quý Cụt nói đến. Tôi vẫn có ý định đến gặp ông ta, để học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức. Thế mà bề bộn nhiều sự việc lan man, tôi đã quên khuấy không tìm dịp gặp ông ta.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 16 Oct 2023

Điệp vụ C47

Đặng Chí Bình

Bài 16

Buổi trưa nay, sau khi cơm nước xong, tuy không mưa nhưng vẫn không có mặt trời. Vẫn thỉnh thoảng có những đợt gió mạnh rào rào chui vào trong trại nên đã có nhiều người đi nằm đắp chăn. Hàng tuần lễ nay có gió mùa Đông Bắc nên tôi không tắm được, thấy ngứa ngáy, khó chịu. Tôi rủ Toàn xách gầu xuống dưới giếng, dù không tắm được thì cũng phải lau người.

Hai anh em dùng chiếc khăn vải nhúng nước, rồi cứ mặc quần áo, cho khăn ướt vào lau trong người. Thế mà hàm răng anh nào cũng đập vào nhau cành cạch. Còn quần áo, tuy cũng thấy dơ bẩn nhưng xin cho miễn, đợi có dịp nào cũng vào ngày Chủ Nhật mà trời lại nắng hãy hay. Hơn nữa, tôi với Vân đã có hẹn nhau trong lúc lao động xã hội chủ nghĩa, chiều nay sẽ ra hội trường nói chuyện. Khi tôi trở về đến buồng, tuy mới khoảng 2 giờ chiều nhưng nhiều người hãy còn nằm im trong chăn. Thấy Vân vẫn ngồi khoác chăn cuộn thuốc lá, tôi nói như đùa:

– Sao, Vân không tắm à?

Ngửng lên, ánh mắt của Vân như cười, nhỏ nhẻ:

– Tháng trước mình vừa tắm rồi!

Nói xong, Vân vừa đưa tôi điếu thuốc vừa hỏi lại:

– Bây giờ Bình có ngủ không? Mình ra hội trường nói chuyện cho thoải mái he?

Tuy tôi chỉ gật đầu, nhưng Vân cũng hiểu là tôi gật đầu cho ý sau, chứ không phải ý trước trong câu hỏi của Vân. Vì thế, Vân vội thu dọn lỉnh kỉnh những đồ nghề ra tiếp tục cuộn thuốc, vừa ngập ngừng, dè dặt hỏi tôi:

– Bình là công giáo à?

Nhìn Vân đăm đăm, tôi khẽ gật đầu nhưng mắt tôi như muốn hỏi lại “có sao không”? Nhưng Vân vẫn không có thái độ gì khác, vẫn cắm cúi cuộn thuốc. Sau vài câu chuyện không đâu, Vân nhìn tôi, ra dáng băn khoăn:

– Bình biết về tôi ra sao, và vì sao Bình lại biết?

Dù rằng đã trao đổi, chuyện trò với Vân trong mấy ngày qua chưa nhiều, chưa đủ. Rồi lại qua lời Toàn dặn dò phải coi chừng Phan Thanh Vân. Nhưng qua từng điệu bộ, dáng đi, cách nhìn, cách nói của Vân thể hiện trong khi chuyện trò, tôi vẫn cảm thấy Vân là người chân thành, dù anh vẫn còn ít nhiều dè dặt. Vả lại quan điểm của tôi: mình muốn người ta đối xử với mình ra sao thì mình hãy đối xử với người ta thế vậy, trước đã.. Vì vậy tôi đã chân thành nói thật hết, nội dung:

Từ một ngày Chủ Nhật 24/6/1962, tôi bị bắt vào Hỏa Lò, nhìn thấy Vân ngồi ở gốc cây bàng. Rồi khi còn ở trong Nam, một buổi nghe đài miền Bắc ở Cấp (Vũng Tầu) cho tới khi ra Hà Nội mua và đọc cuốn C47. Cũng như thời gian ở xà lim II, một buổi tối nghe Vân đọc lời kêu gọi anh em trong binh chủng không quân hãy lái máy bay vào vùng giải phóng v.v… Tóm lại, tôi đã nói hết những sự việc tôi đã biết về Vân.

Khi nghe tôi kể chuyện lại, ánh mắt của Vân đã giảm hẳn sự dè dặt, dọ dẫm, nhường cho sự gần gũi, thân mật, tin tưởng hơn. Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng, sự thật bao giờ cũng có hồn, sẽ có sức truyền cảm mạnh đến người nghe. Cứ cần sự thật dủ cách nói của mình có kém, có lúng túng không diễn đạt hết được ý, nhưng rồi người nghe cũng tin mình.

Vân rất ngạc nhiên và băn khoăn không biết được rằng điệp vụ C47 của anh, cộng sản đã xuất bản thành sách. Băn khoăn vì Vân không biết cộng sản đã nói những gì về anh. Thấy Vân nóng nảy muốn biết một vài khía cạnh nói về Vân trong nội dung tập sách, nhất là khi Vân nghe tôi nói: hầu như cuốn sách đã tường thuật lại đầy đủ về phiên toà và nội dung vụ án mà còn có nhiều tấm ảnh tài liệu. Thậm chí chúng chụp cả bản khai cung của từng người như Vân, Phạm Văn Đăng (thợ máy), Đinh Như Khoa (gián điệp) v.v…

Một phần, cả tập sách điệp vụ C47 dầy gần 300 trang với bao nhiêu sự việc, lại nằm trong mục đích tuyên truyền, làm sao tôi nhớ và kể hết được. Phần khác, trong lòng tôi cũng nôn nóng. Tôi đã nghe đài cộng sản nói về Vân. Tôi cũng đã đọc sách của cộng sản nói về điệp vụ C47 của Phan Thanh Vân. Bây giờ do điều kiện và hoàn cảnh đặt, đưa tôi lại gặp Phan Thanh Vân. Vậy tôi muốn biết những tình tiết thực tế của sự việc, để so với những điều tôi đã đọc trên sách.

Vì vậy tôi đề nghị Vân: hãy kể lại sơ lược sự việc từ đầu, diễn tiến ra sao. Tùy theo đấy tôi sẽ có những câu hỏi, hoặc cho Vân biết là trong sách đã có sự khác biệt, khi cùng nói về một sự việc. Tay Vân đang quấn thuốc, như ngập ngừng, rời rạc. Mắt Vân lắng đọng đăm chiêu. Hẳn là Vân đang lần giở lại những trang đời nhiều mây gió, chồng chất những dáng hình, sự kiện trong hố sâu ngóc ngách của tâm tưởng. Anh hơi ngửng đầu lên. Mắt anh rõi nhìn về những ngọn nứa già đang lắc lư phía bên ngoài trại. Giọng anh chậm rãi đều đều với nội dung:

– Ngay từ hồi niên thiếu cắp sách tới trường, đôi khi tôi đã say mê đờ đẫn, nhìn theo những chiếc máy bay ì ầm, vi vút trên nền trời quê hương. Tôi đã có những ước mơ như một hoài bão: sau này tôi sẽ tập trung mọi nỗ lực để thực hiện một mục đích, là trở thành một phi công cho thỏa chí ngao du hồ hải.

Cuối cùng sau bao nhiêu những cố gắng miệt mài, tôi đã được tuyển mộ đi học lớp phi công ở Marrakech. Tôi tốt nghiệp, trở về nước với những lời ngợi khen là một phi công ưu tú của các huấn luyện viên người Pháp trong trường. Lúc này, thực sự tôi chẳng hề có một chính kiến, dù chỉ là khái niệm về chính trị, đối với quê hương dân tộc. Ngoài những giờ bay nhiệm vụ, cũng như tập tành, huấn luyện, tôi vẫn buông lỏng tâm hồn, đắm chìm vào những thú rong chơi; lả lướt với những hương sắc của cuộc đời. Thậm chí, với những bối cảnh đẩy đưa cho mãi tới khi tình nguyện nhận lái chuyến bay định mệnh này, tôi vẫn chưa ý thức được đầy đủ về cộng sản, cũng như mức độ hiểm nguy thực sự của chuyến bay. Một chuyến bay, một công tác nguy hiểm, đầy cam go, có thể một đi rồi sẽ…..không trở về.

Tâm tư tôi bảng lảng, lơ là nhìn chuyến đi như nhìn một khẩu hiệu, một tấm bảng ghi một chỗ; “nguy hiểm chết người”. Nhiều lúc tôi cũng cảm thấy đôi phút ớn lạnh, rùng rợn như đang nhìn thấy một người giết một người. Lòng vẫn mơ hồ lăng đăng, người bị giết đó không phải là mình. Rồi cứ tiến bước trên con đường mình đã chọn.

Tuy vậy, khi chuyến bay vượt qua vĩ tuyến 17, bắt đầu xâm nhập vào bầu trời của miền Bắc, dù còn ở ngoài khơi biển Đông, cả 9 người chúng tôi trên chuyến bay đều bắt đầu căng thẳng thần kinh. Thỉnh thoảng người này liếc đôi mắt lắng lo nhìn người kia, chứ không ai nói với ai một lời. Đôi lúc thân chiếc C47 rung giật lên. Dù đó chỉ là hiện tượng bình thường của những chuyến bay đêm, cũng làm cho bầu không khí ngột ngạt, nặng nề thêm. Tôi nhìn nết mặt đăm chiêu của anh Tiêu Huỳnh Yên, điều hành viên, đang ngồi giữa tôi và anh Thích, phi công phụ. Rồi tôi ngoái lại, nhìn Đăng, cơ khí viên cũng đang ngồi trên đống bao lô dụng cụ quân trang. Tay anh đang chống cằm dáng mỏi mệt, dựa lưng vào thành chiếc cửa thông lên buồng máy. Đăng cũng đang chầm chập nhìn tôi thì anh Yên cao giọng nhắc nhở: “đã sắp đến điểm chuẩn, quẹo trái, chếch 40 độ vào hướng đất liền”.

Tôi nhớ rõ. Khi máy bay vào sâu nội địa, ở độ cao ba ngàn thước, chỉ chừng 20 phút thôi. Bầu trời như bức màn đen, không một mảnh trăng sao, lúc đó khoảng một giờ 20 đêm. Đột nhiên tôi thấy nháng lên như ánh chớp mầu da cam, ngay trước mặt. Máy bay rung mạnh, không hề nghe thấy một tiếng nổ bay bất cứ một âm thanh gì, mắt tôi còn thoáng thấy anh Yên và anh Thích ôm chầm lấy nhau. Rồi tôi không còn biết gì nữa.

Mãi khi thấy lạnh run, tôi mở mắt ra, nhưng vẫn đen kịt. Người tưởng như vỡ nát ra, tôi không cử động được chân tay nữa. Hồn lãng đãng lửng lơ, tôi tưởng tôi đã chết rồi hay đang…chết. Sau đó, một lúc, tôi mới thấy đau nhừ khắp cả người, chỗ nào cũng đau. Tay chân tôi vẫn chưa hề cử động được. Tôi đã mở mắt ra nhiều lần, nhưng vẫn không nhìn thấy gì. Đầu tôi như có ai đang cầm chiếc gậy cứ đập cứ đập vào đều đều.

Nói tới đây thì Vân ngừng lại. Tôi nghĩ là Vân muốn lấy hơi, vì nói đã hơi dài. Nhưng khi tôi nhìn con mắt của Vân trắng bạch ra lơ láo như hãy còn toát ra nỗi kinh hoàng, hãi hùng của giây phút rùng rợn gần 7 năm xưa. Tôi không dám lên tiếng, tôn trọng cái phút xuất hồn của Vân. Tôi vẫn im lặng, đưa mắt nhìn mấy bông bách hợp đang đong đưa, chờ Vân tiếp tục.

Một lúc, rồi anh lại thẫn thờ nói tiếp, giọng nao nao, da diết:

– Tôi mê man, trong đầu như có một khoảng rỗng im lìm. Chẳng còn một ý niệm gì về thời gian, không gian, rồi tôi lại không biết gì nữa.

Tôi cũng chẳng biết là cho đến bao lâu. Mãi khi tai tôi chợt nghe văng vẳng trong gió lao xao, loáng thoáng có tiếng người. Chợt lờ mờ có ý niệm về chiếc C47 tôi đang lái đã bị bắn và tôi đã rơi xuống đất. Tôi lại mờ choàng mắt ra, lúc này đã nhìn lơ mơ thấy khung cảnh đồng ruộng. Đầu đau nhức như có người lấy dao nạo vào óc tôi. Tai tôi đã nghe rõ tiếng người hò hét xa xa. Một ý thức bừng dậy thành phản xạ của sự sống còn, ập đến như một đòn bẩy giúp tôi đã nhấc được đôi tay. Mắt tôi đã nhìn thấy mờ mờ mầu đỏ loang lổ của máu nhầy nhụa lẫn vào đất bùn. Cả một nửa người tôi đã ngập sâu dưới bùn. Tai vẫn nghe tiếng léo nhéo, quát tháo vẳng vào trong gió. Cố vùng vẫy, kéo người lên khỏi đám xình lầy, nhưng tôi bất lực. Tôi tưởng phải nằm chịu trận, phó mặc cho cuộc đời. Nhưng rồi, đột nhiên như có một nguồn sức mạnh ở đâu đến trợ giúp, tôi đã ngoi và rút cả người lên mặt ruộng. Mắt tôi đã nhìn thấy những đám cói lưa thưa và tôi đã hiểu đây là một cánh đồng cói. Những tiếng quát càng lúc càng gần, lẫn lộn của đàn ông, phụ nữ:

– Chỗ này có một cánh tay!

– Chỗ này có một chiếc giầy!

– Có đứa còn sống. Các đồng chí cẩn thận!

Tôi run người lên, nhìn về phía trái có một đám cói rậm, mọc cao cách xa tôi chừng hơn 10 mét. Tôi cố nhoài, cố lê, rồi tôi cũng chui được vào đám cói rậm ấy. Những tiếng người hò hét như đã gần bên tôi. Phần vì khắp người đau như dầnl; phần khác, quá khiếp sợ, óc tôi tê đi. Vả lại, còn bao nhiêu sức cuối cùng vì sự sống còn tôi đã dùng hết để bò vào tới đây. Cho nên khi đã nghe thấy cả những bước chân lội bì bõm, tôi cũng đành nằm im, bất động; không còn một hơi sức nào để tự bảo vệ nữa. Cho đến lúc họ đã quát tháo ầm ầm ngay bên tai mà tôi vẫn nằm như một xác chết. Họ hò nhau, túm lấy chân tôi, kéo ra khỏi lùm cói rậm.

Lúc này, trời đã sáng rõ. Bao nhiêu là người, đàn ông, đàn bà lố nhố vây quanh tôi. Súng ống, gậy gộc. Họ hầm hè như muốn nhai xương, ăn thịt tôi. Đau đớn, sức tàn, sợ hãi, tôi lại nhắm mắt lại. Những tiếng quát, tiếng chửi vẫn ập, ngoáy vào tai tôi:

– Nó hãy còn sống!

– Đập chết nó đi!

– Nó là biệt kích của Mỹ Diệm!

Có một tiếng quát to, dõng dạc như ra lệnh:

– Không ai được đánh chết nó. Hãy lấy cáng khênh nó về cơ quan!

Nghe Vân kể đến đây, mặt Vân vừa tỏ ra mệt, vừa buồn rười rượi. Hơn nữa, trời cũng đã chiều gần tàn, sắp đến giờ cơm, nên tôi khẽ đặt tay vào vai Vân, nói nhè nhẹ:

– Xin cảm ơn Vân, lòng tôi cũng xúc động, cảm thông với những giây phút kinh hoàng gần 7 năm xưa Vân đã trải qua. Còn một điều tôi muốn nói nữa: có lẽ đó là những hình ảnh hãi hùng, khiếp đảm lớn nhất, đã hằn sâu nét vào tâm hồn, nên Vân vẫn còn nhớ đầy đủ những chi tiết tỉ mĩ đáng ngưỡng mộ.

Vân nhìn tôi đầy thiện cảm, ánh lên mầu tin tưởng, tuy mắt Vân vẩn còn vướng vít một nỗi buồn mênh mông. Vân nhếch môi cười gượng gạo, nói nhát gừng:

– Những phút đầu và những ngày đầu thì vẫn cứ như in trong óc, nhưng những ngày tháng sau này thì tôi chẳng còn nhớ gì cả, ngoài những sự việc chính.

Phía buồng II, đã có một số các anh, các bác đem cân và bát, đĩa ra hè. Quay lại, tôi bảo Vân:

– Chắc cũng sắp kẻng cơm rồi! Ăn cơm xong, tối nay mình sẽ nói chuyện tiếp.

– Không được! Không tiện, để dịp khác, còn nhiều ngày.

Vân vừa lắc đầu, vừa nói, vừa đứng dậy mang túi thuốc lá về buồng. Tối nay, sau khi điểm xong, cửa buồng đã khóa, tiếng loa lại léo nhéo, rì rầm nhỏ to như mọi khi. Tôi đã hiểu, một tuần chỉ có mỗi ngày Chủ Nhật là không sinh hoạt buổi tối mà thôi. Tôi có ý định chờ cán bộ trực trại vào điểm xong sẽ hỏi tiếp Vân một số điều. Câu chuyện lúc chiều với Vân còn đang dang dở, nhưng đã thấy Vân chuẩn bị chăn đi nằm. Có thể câu chuyện lúc chiều đã gợi lại cho Vân nhiều nỗi niềm ngược xuôi, vơi đầy của cuộc đời. Vả lại, tôi chợt nhớ, ngay buổi chiều, khi còn ở hội trường Vân đã nói trước, không muốn nói những chuyện như vậy ở trong buồng.

Mùa Giáng Sinh ngày ấy!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Tháng Mười hai lại về! Đường phố Melbourne, (nơi tỵ nạn đời tui, xui làm sao, tấp vào; rồi mắc kẹt mấy mươi năm chưa tìm được đường về quê cũ), đã giăng đèn kết hoa, biểu cảm mùa vui của Giáng Sinh! Mùa bán buôn nhộn nhịp nhất trong năm!

Mùa Giáng Sinh với những món quà dưới gốc cây thông, đèn trong cửa sổ, thiệp Giáng sinh, bữa ăn tối đoàn tụ gia đình, bạn bè thân thiết… với gà Tây đút lò!

Bên Mỹ, bên Canada, tuyết Đông rơi lã chã trắng trời ngoài sân. Bên Úc, đang Hè, nên chỉ có tuyết rơi trên màn ảnh truyền hình… để cho mấy thằng Úc, gốc Ăng Lê, nhớ tới bà cố tổ của mình!

Con nít Úc treo vớ dưới cây thông trong phòng khách. Cháu nội tui, cũng Úc; nhưng Úc vàng mũi tẹt, cũng bắt chước theo… Làm ông Nội của tụi nó là tui, buộc lòng móc xỉa. Hu hu! Hao xu quá!

Lễ Giáng Sinh, không chỉ dành cho hàng tỉ người có đạo Thiên Chúa mà hầu như tất cả mọi người dù tôn giáo có khác, ai cũng đều gửi đến nhau lời chúc “Merry Christmas”! Chúc bạn một mùa Giáng sinh vui vẻ và hạnh phúc, khi lái xe qua mặt tui cái vù trên phố thị!

Giáng Sinh có thể là một mùa vui lớn với ai kia; chớ mấy thầy Phú lít của nước Úc lại buồn vì quá ư là bận rộn!

Nhà tù Úc chật chội vì tù nhân đông lúc nhúc; nên vịn vào thời điểm Giáng Sinh để đặc xá, mở cửa xả cảng, thả bớt, (mà không sợ dân nó càm ràm), cho cái đám bán trời không mời thiên lôi nầy được về nhà đoàn tụ gia đình!

Ra tù, ai hỏi sao lâu hỏng thấy cái “bản mặt” hè? Thì trả lời đi “holiday”, (bên Mỹ là “vacation”) mới về!

Đi holiday về và “bộng”… Cần gấp tiền xài; nên ngựa quen đường cũ!

Thằng nào lì lợm và bặm trợn thì vác búa vô mấy cây xăng, mấy tiệm bán rượu về đêm, đe dọa mấy anh Bảy Cà ri Chà đang đứng bán, để gom tiền, thuốc lá và rượu; dông về để ăn “reveillon” với bè đảng cướp.

Thằng nào nhát gan hơn thì rủ thêm một “đồng chí”, ăn cắp một chiếc xe, rồi de “đít” vô, đụng cái rầm, sập “cha” luôn cái cửa cuốn. Nhào vô, hốt đầy vài thùng mắt kiếng, loại đắt tiền (tổng cộng khoảng 300 ngàn đô Úc) như vừa xảy ra ở chợ Footscray nầy đó thôi! Xong dông trước khi lính tới…

Mắt kiếng mùa hè Úc nầy bán chạy lắm! Đem ra chợ Trời thứ Bảy ở Laverton! Bán nửa giá, mua một tặng một, là chúng sẽ có một mùa Giáng Sinh xa hoa như tỉ phú Donald Trump bên Mỹ vậy!

Đám hơi “bị” buồn thứ hai là Bưu điện Úc!

Trước cái thời email, facebook nầy, Giáng Sinh là mùa Bưu điện Úc hốt tiền, ôi vô thiên lủng, vì bán thiệp, bao thơ, tem cho thiên hạ gởi tùm lum tà la chúc mừng “Merry Christmas and Happy New Year”

Giờ thì thiên hạ chỉ chơi e-card, có kèm theo nhạc, bấm con chuột cái cốc là bay cái vù tới em yêu tận phương trời nào, dẫu xa lơ xa lắc, chỉ trong vòng tích tắc! Ôi người xưa của tui, em Mà rí à (Maria), hằng đã bao năm, tình cũ không rủ cũng nhớ… Mùa Giáng Sinh nào em cũng gởi lời “Merry Christmas” tới tui!

Cuối lời chúc, em không dám đề tên; vì sợ con Sư tử Hà Đông của tui ở nhà biết được là tui sẽ chết tức, chết tối; chết không kịp trối… vàng cây vàng miếng “diếm” ở đâu?

Em chỉ ký bằng ba chữ “XXX” nghĩa là “kiss, kiss và kiss”. “Hun, hun và hun!”

Tui, cũng lén con sư Tử Hà Đông, lịch sự gởi lại em xưa, trên Facebook, là “Merry Christmas” nhưng tới 6 chữ X nghĩa là hun em gấp đôi, tới 6 lần lận!

Bấm chuột gởi xong; soi gương xem dung nhan đó bây giờ ra sao? Thì thấy cái lỗ mũi của tui vẹo đeo, quặt hẳn qua một bên. Ai kêu chú mầy khoái hun cho lắm nhé!

Ôi lại nhớ xưa! Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời độ ấy, tui ở đường Hai Bà Trưng gần Nhà thờ Tân Định.

Nói không phải khoe với bà con chớ hồi nhỏ tui rất đẹp trai! Cỡ danh hài Tùng Lâm, vốn ở cuối cái hẻm, từ đường Đinh Công Tráng đâm ra đường Trần Văn Thạch gần rạp chiếu bóng Mô Đẹc, Tân Định.

Nhờ đẹp trai thấy “ớn chè đậu” như thế; nên tui mới bắp non mà nướng lửa lò; đố ai cò được con gà giò đó nhe? Con gà giò, (ghệ nhí), của tui ngày đó là nữ sinh chuyên mặc áo đầm màu hồng, trường Thiên Phước gần nhà thờ Tân Định.

Em học trường đạo tất nhiên là có đạo. Mùa Giáng sinh năm nào tui cũng tò tò, anh tan trường về; anh theo em về… dọc đường Hai Bà Trưng, cà rề cà rà xem người ta bán thiệp Giáng Sinh!

Chắc em cũng tính quen chơi; rồi sau tính “ưng” tui thiệt… Nên em chịu khó cắt nghĩa cho tui ý nghĩa ngày Giáng Sinh như thế nào?

Bởi theo lệ, cưới một người em xóm đạo là mình phải học đạo rồi theo đạo của em!

Thưa bà con tui có cái tật hơi ngồ ngộ, không giống ai, là: thầy cô dạy gì thì tui quên hết ráo. Nhưng mèo (cụt đuôi) hay vợ dạy cái gì là tui luôn ghi nhớ trong lòng… để mà cãi lại!

Hơn nửa thế kỷ rồi đó, mà lời dạy của em xưa về ý nghĩa của mùa Giáng Sinh vẫn còn vang vọng đâu đây.

Ngày ấy, em dắt tui vào sân nhà thờ Tân Định để xem hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng Chúa Hài Đồng, tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, tượng Ba Vua và một số thiên thần. Em cắt nghĩa rằng: “Tại Bethlehem, thuộc tỉnh Judea, nước Do Thái, dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã, Chúa sinh ra đời trong hang đá nơi máng lừa!

Chúa vừa giáng sinh thì xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy. Từ các vùng phía đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có Ba vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao dẫn đường để đến được thành Bethelem và mang theo ba món quà quý giá: vàng, trầm hương và mộc dược để bày tỏ sự thành kính của mình.

Đó anh thấy hông? Trên nóc hang đá có treo cái ngôi sao năm cánh đủ màu sắc sáng rực như ngọn hải đăng, dành cho những con chiên còn lạc bầy như anh, biết chỗ để trở về. Vì là con chiên, đi một mình nguy hiểm lắm!

Chúa phán: “Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh.”

Và em trang trọng thêm rằng: “Tất cả chúng ta đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy. Nếu Chúa không đến cứu chúng ta, không người nào có thể tìm được đường về nhà Cha!”

Xong, tui dắt em ra quán cà phê Thu Hương, cách nhà thờ Tân Định chừng mười thước, để em uống chanh rum, có chút rượu rum cho bốc, hầu giữ giọng; vì em đêm nay, trong vai thiên thần, em được ca đoàn trưởng chọn làm lĩnh xướng!

Tui uống cà phê phin đen không đường, ra vẻ là người lớn, đời đắng thế nào cũng không có ngán, lim dim ngồi thả khói thuốc Capstan mù mịt như ống khói tàu!

Em ôn ca từ bằng cách hát nho nhỏ, đủ để tui… và cả quán cùng nghe. “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời/ Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa/ Trong hang Bethlehem ánh sáng tỏa lan tưng bừng/ Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng/

Đàn hát réo rắt tiếng hát, xướng ca dư âm vang xa/ Đây Chúa Thiên tòa Giáng Sinh vì ta? Người hỡi hãy kịp bước tới, đến xem nơi hang Bethlehem / Ôi Chúa Giáng Sinh khó khăn thấp hèn?

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn nhân trần/ Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than/ Nơi hang Bethlehem thiên thần xướng ca/ Thiên Chúa vinh danh chúng dân an hòa.

Ngày nay Thiên Chúa giáng sinh ra chốn gian trần/ Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than/ Nơi hang Bethlehem chiên lừa thở hơi/ Tan giá đêm đông ấm thân con người!”

Xong, em còn ngân nga rằng: “Sáng danh Thiên Chúa trên trời! Bình an dưới thế cho người thiện tâm!”

Nhưng vài năm sau mùa Lễ Giáng Sinh êm đềm năm ấy, tui vào lính và lên đường ra mặt trận. Thuộc lực lượng Tổng trừ bị, nên tiểu đoàn lội ra tuốt ngoài Quảng Trị, Thừa Thiên.

Cuộc chiến tranh càng lúc càng ác liệt. Đổ vỡ điêu tàn khắp nơi nơi. Ngay cả những ngôi giáo đường hòa bình, như nhà thờ Đức Mẹ La Vang, cũng cùng chung số phận!

“Con đã qua bao giáo đường đổ nát/ Duy chỉ còn ngơ ngác gác lầu chuông,

Chuông gọi hồn ai? chiều thôi óng ả/ Chúa gục đầu, nhỏ máu, khóc tang thương!”

Rồi tháng Ba gãy súng! Những cuộc di tản chiến thuật liên miên (mà không biết tại làm sao?!) Cuối cùng, tui về lại được Sài Gòn. Về lại cái đất Tân Định, đi lại con đường xưa, giờ trong cơn hoảng hốt! Tìm em nhưng không còn gặp em được nữa. Em đã theo bố mẹ, anh chị em di tản khỏi Sài Gòn, trên chiếc vận tải cơ C130, từ Phi trường Tân Sơn Nhứt bay thẳng tới Guam, chừng mười ngày trước khi miền Nam sụp đổ. Tui kẹt lại, bị bắt đi tù cải tạo!

Những đêm Giáng Sinh, bụng đói meo, nằm lạnh lẽo trong trại tù, đêm tui lại mơ về ngày cũ!

Tiếng nhạc Jingle Bells rộn rã! Hình ảnh Ông già Nô-en cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà, leo qua ống khói để bỏ quà vào những chiếc vớ treo lủng lẳng dưới cây thông Giáng Sinh chợt trở về trong tiềm thức!.

Tui cũng thầm mong ông già Noel ghé qua, hãy bỏ vào chiếc vớ tui treo dưới cành cây Giáng Sinh tưởng tượng trong tù, mối tình tui và em của những đêm Đông, nồng ấm yêu nhau ngày ấy.

Ra tù, về lại Sài Gòn, ngóng tin hoài từ bên Mỹ, nhưng em vẫn bặt tăm hơi! Nghe nói em đã có chồng. Mà chồng em chắc không bao giờ hài lòng… nếu biết vợ mình đã từng có một thời yêu thằng khác!

Nên vì lẽ đó em muốn chôn chặt tình tui vào mồ chôn dĩ vãng rồi chăng? Thôi phần số mà! Nên tui chẳng trách gì em!

“Nếu biết rằng em đã có chồng! Tui về lấy vợ thế là xong!

Vợ tui không đẹp bằng em lắm! Tui lấy cho tui đỡ lạnh lòng!”

Vâng! Tình tui đã đứt phim theo vận nước… buồn hắt hiu như thế đó!

Nên đã bao mùa Giáng Sinh về, thiên hạ ai vui thì cứ vui… Còn tui, tui buồn thì kệ Tía tui!

 đoàn xuân thu

melbourne

Mùa Giáng Sinh lưu lạc!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Nhà Thờ Tân Định Sài Gòn.

Thưa quý độc giả thân mến!

Lụi hụi là sắp hết một năm rồi! Cái lốc lịch ngày nào dày cui; giờ chỉ còn le hoe vài tấm. Tháng Chạp, mùa Giáng Sinh lại về, mùa đoàn tụ.

Nhưng nếu quý bà con nào có con cái đi làm ăn xa, xuyên tiểu bang hay phải ra tận nước ngoài, muốn tụi nó mùa Giáng Sinh nầy cả bọn ùa nhau về thăm cho mình đở nhớ mấy đứa cháu nội, ngoại… (mà mình lại móc bọc, nghèo không có tiền mua vé máy bay cho tụi nó) thì nên áp dụng cái ‘mánh’ nầy người viết học ‘lóm’ của người ta thấy hay hay nên ‘xì’ ra cho bà con mình bắt chước, cam đoan hiệu nghiệm 100%.

Một ông già Việt Nam gọi điện thoại cho thằng con trai tên Tèo trước lễ Giáng sinh một tuần: “Tía không muốn phá bĩnh ngày vui Giáng Sinh của vợ chồng con nhưng buộc lòng phải báo cho tụi con biết một tin động trời, động đất rằng: “Tía Má sẽ đưa nhau ra Tòa ly dị. Sống trong sự kèm kẹp dã man của Má con suốt 40 năm trời; giờ Tía thấy là quá đủ. Tía sẽ từ giả Má con mà đi theo tiếng gọi của tình yêu phía bên kia biễn.

Chốn ấy quê nhà! Quá đã!”

Tèo thảng thốt kêu lên: “Tía! Tía nói cái gì vậy?”

“Tía chịu hết nỗi rồi con ơi! Ghen tuông bậy bạ, ghen bóng; ghen gió! Đồ ăn thì sáng mì gói, trưa gói mì và chiều mì gói! Nói làm sao cho hết nỗi đắng cay chớ?! Tụi con có mang đôi giày của Tía đâu mà tụi con biết! Thử một lần đi, sẽ thấy nó chật và đau lắm! Đời con, may mắn, đẻ bọc điều, gặp con vợ dịu hiền, dễ chịu… dễ thương! Con đi nhậu không ai cản, con thỉnh thoảng cười tình với mấy em khác không ai rầy…Đời con giống như mang dép Nhựt thoải mái, ngón cái ngoáy đâu thì ngoáy… làm sao con hiểu cho đặng nỗi lòng của Tía. Hãy báo tin nầy cho em gái của con biết dùm Tía! Thôi Tía dứt áo đi đây!”

Một lúc sau, Tèo hét lên với Đẹt, em gái mình, trong điện thoại: “Đẹt ơi! Tía Má thôi nhau đấy” “Đâu có được nè! Em sẽ làm ra lẽ chuyện nầy mới được!”

Đẹt đang theo chồng nuôi trừu ở đảo Kangaroo, Nam Úc, bốc phôn gọi ngay về cho Tía! “Không được! Con và anh Tèo sẽ bay về ngay! Xin Tía, Má đừng manh động mà hư bột hư đường hết trơn hết trọi!”

Gác điện thoại lên, Tía Tèo híp mắt cười hí hí, nói với vợ mình: “Thấy ‘mánh’ của Khổng Minh Gia Cát Lượng chưa! Mùa Giáng Sinh nầy cả nhà đoàn tụ, vui hé! Chịu khó ra chợ mua một con gà Tây về đút lò cho mấy đứa cháu tui ăn! Tụi nó sẽ bay về ăn mừng Giáng Sinh với gia đình mà mình hỏng tốn cắc nào tiền vé máy bay cho chúng như năm rồi! (Hao quá!)”

Thưa quý độc giả thân mến!

Hồi mới qua, thôi không còn mơ công danh sự nghiệp gì nữa, cày như trâu, rán cái mua cái nhà thiệt bự cho con cái ở chung. Lúc tụi nó có vợ có chồng thì mình nhường phòng lại, de ra ‘garage’ mà ở. Vậy mà tụi nó đâu chịu, bồng túm nhau đi hết ráo! Hu hu! Giờ già cô đơn, nghỉ cày, nằm nhơi cỏ, dư được chút đỉnh tiền hưu, có người ta sợ chết hỏng hưởng được phước, bèn lẹ lẹ đi du lịch đó đây…kẻo không còn kịp nữa! Còn vợ chồng mình già, ở nhà hủ hỉ, rủ rỉ, rù rì rau cháo có nhau! Dư được cắc nào là lo mua quà Sinh Nhựt, quà Giáng Sinh cho con cháu nó vui! Thiệt lòng Mẹ bao la như biễn Thái Bình dạt dào. Biễn Thái Bình chứa toàn nước nó kêu dạt dào là phải lắm. Còn tình gia đình mình dạt dào là phải đào ra tiền mới được… bằng không thì…

Chuyện rằng: ‘Nội thấy năm nào mua quà Giáng Sinh cho một đám cháu mà phải là quà đúng ý, tụi nó mới hài lòng… Thiệt khó! Nên năm nay Nội quyết định rằng sẽ gởi cho mỗi đứa một tấm ngân phiếu.

Thiệp Giáng Sinh, Nội viết: “Chúc tụi con một mùa Giáng Sinh vui vẻ. Tái bút: Hãy tự mua quà cho mình nhé!”

Sau đó, ngạc nhiên thay, không nghe đứa nào gọi điện chúc mừng lại hay trả lời trả vốn gì ráo trọi?! Một hôm, sau Tết Tây, lục trong chồng sách vở, Nội hiểu tại sao rồi. Vì Nội chỉ gởi thiệp Giáng Sinh mà quên gởi đi những tấm ngân phiếu của mình cho chúng nó! Già rồi hay quên trước quên sau là vậy đó!

Còn bạc còn tiền còn đệ tử! Hết cơm hết gạo hết ông tôi! Đời là thế! Hỏng có ngân phiếu thì không Nội Ngoại gì cho nó mệt!

Nội đến cái đất nước nầy từ một vùng quê mà ‘Xứ nào như xứ Cạnh Đền. Muỗi kêu như sáo thổi; đỉa lội lền như bánh canh vậy!’ Chỉ có muỗi và đỉa, còn Ông Già Noel và Giáng Sinh làm sao có?! Thế nên ai bao năm từng lê gót nơi quê người, Nội vẫn còn cảm thấy: Giáng Sinh là khoảng thời gian rất lạ! Là lúc đám con nít ríu rít ngồi trước một cành cây thông đã chết… Rồi lấy kẹo bánh từ trong đôi vớ của mình ra mà nhấm nháp! Thiệt ở dơ hết biết nhe!

Nội cũng không tin có Ông Già Noel nào cho quà bánh gì đâu! Hôm qua, Nội thấy Ba Má tụi bây đi siêu thị mang kình kình về cả đống, rồi dấu trong tủ, chờ đến lúc nửa đêm ra treo trên một cành thông đèn nhấp nháy. Tốn điện cho Bà Nội bây la làng chói lói nhá!

Mùa Giáng Sinh là mùa chia sẻ giữa kẻ ăn không hết; người lần không ra, bây giờ đã bị thương mại hóa, là mùa làm ăn ì xèo của mấy thương vụ, năm chỉ có một lần hốt tiền thiên hạ! Tuy nhiên đi mua sắm xin đừng đi sớm quá như câu chuyện sau đây:

Gần tới Giáng Sinh, ông Tòa ngồi xử án nhưng trong lòng cũng hơi ‘bị’ vui vẻ vì không khí tưng bừng nhã nhạc, hỏi một bị cáo: “Nè! Bị cáo bị truy tố về tội gì?” “Dạ thưa quan Tòa! Tội đi sắm Giáng Sinh hơi sớm ạ!” “Như vậy thì có tội gì đâu hè?! Nhưng bị cáo nói hơi sớm là nghĩa ra làm sao? “Là cửa hàng chưa mở cửa ạ!”

Đời đâu cũng vậy mà thôi! Có tiền là có quyền mua sắm…Mà muốn có tiền là phải cày sâu cuốc bẫm. Ở nước Úc nầy hay bất cứ nước nào trên thế giới, không có gì là miễn phí đâu em! Nên nhớ lấy điều nầy! Làm gì có chuyện tự nhiên trên trời rơi xuống?! Vậy mà có chú nầy lại tin chớ. Chuông cửa reo đêm Giáng Sinh tại ngôi nhà quan chức cở to ở Hà Nội. Ông già Noel xuất hiện. “Ta cho con ba điều ước!” “Dạ! Con muốn một chiếc Mercedes “xì-po” đời 2014. Một căn nhà có hồ bơi sau vườn, rộng như sân tơ nít, để cho bồ nhí của con tập lặn, tập lội. Và 10 triệu đô trong tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ! “OK! Nhưng cho ta hỏi con được bao nhiêu tuổi rồi?” “Dạ! Con được 40 cái xuân xanh” “Trời đất! Bốn chục tuổi đầu mà vẫn tin là có Ông Già Noel sao chú?”

Thưa quý độc giả thân mến!

Đó là chuyện Giáng Sinh của người Việt mến yêu mình; còn đây là chuyện Giáng Sinh của mấy thằng Tây! Người viết xin kể ra để quý độc giả thân mến mua vui mùa ‘lễ… lạc!’ Đọc, vui nhưng xin đừng có tin…như tin chuyện Ông Già Noel! Xin đừng ‘giành’ tin với đám con nít nhe bà con!

Mùa Giáng Sinh, đi siêu thị, thấy ai cũng có Ba, có Má mà mình hỏng có Ba; nên Tony hỏi:” Ai là Ba của con vậy hả Má?” “Ông Già Noel!” Sao là Ông Già Noel cho được?” “Ngay cả Má cũng chẳng rõ … Đến phát quà một lần rồi đi… mà không một lời giã biệt!” Ôi tình ta một thoáng mà thành thiên thu!

Ba là ông Già Noel cuối năm về phát quà cho Má chỉ một lần nên Tony đi học là phải lo toan một mình kẻo bị mấy thằng bự con trong lớp nó “bú li’ (bully) (ăn hiếp)

Tony đi học về méc Má: “Má ơi! Sam ở trường đánh con!” Má nói: “Được rồi! Để Má đi nói chuyện phải quấy với Ba Má nó!” “Mà Sam là đứa nào vậy?” “Dạ! Sam là Thầy giáo dạy toán ạ!”

Rồi chiều áp Lễ Giáng Sinh, Thầy giáo Sam đang đi bộ trên đường bổng để ý thấy Tony đang cố gắng nhón chân để bấm chuông căn nhà phía bên kia đường. Tony phải nhón chân nhưng vẫn không với tới nút chuông vì chủ nhà thiết kế cao quá mà chú lại lùn tịt. Sau khi thấy Tony rán mấy lần đều thất bại nên Thầy Sam cũng tội nghiệp cho đứa học trò nhỏ của mình nên vội băng ngang qua giúp đở; dùng tay mình bấm một hồi chuông dài kêu inh ỏi, rồi hỏi: “Được rồi! giờ chúng ta làm gì đây hởi Tony?” “Dạ! Giờ thì Thầy trò mình… chạy cho nó lẹ ạ!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Mùa vui của thiên hạ, mình cũng muốn lấy đó làm vui ‘ké’… Chớ trong lòng người viết từ độ xa quê, mùa Giáng Sinh đã chết tự lâu rồi! Ôi buồn như một câu vọng cổ Út Trà Ôn!

Nhớ xưa, gần Giáng Sinh, ở Sài gòn, mỗi chiều tan học, hai anh em chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng từ Ngả Bảy Cộng Hòa qua bùng binh, xuôi đường Hồng Thập Tự tới ngả ba Hai Bà Trưng, quẹo trái để đổ dốc về Cầu Kiệu, Tân Định. Đạp xe đổ dốc rề rề qua Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi, phía trái là Nhà Thờ Tân Định với hồi chuông chiều óng ả.

Mùa Giáng Sinh, hang đá Chúa Hài Đồng, những cành thông, những thiệp Giáng Sinh bày bán dọc theo vỉa hè trước nhà thờ kéo dài cho đến Chợ Tân Định. Ôi còn đâu những ngày vui!

Tía Má ơi! Con đã mang những hồi chuông óng ả trong tâm thức buổi chiều quê nhà đến tận quê người. Quê người không còn nghe tiếng chuông giáo đường rơi rơi như ở quê mình nữa. Thiếu vắng cái gì đâu! Sao tha thiết nhớ!

Rồi lớn lên: Cuộc chiến cuốn con đi! ‘Con đã qua bao giáo đường đổ nát! Duy chỉ còn sót lại gác lầu chuông! Chuông gọi hồn ai chiều thôi óng ả! Chúa gục đầu nhỏ máu khóc tang thương!’

Mùa Giáng Sinh lại về thưa bà con cô bác!

Xin chúc mừng ‘Merry Christmas!’ Và chúng ta cùng hát bài Jingle Bells, tưởng tượng đến tuyết lả chả rơi trắng trời… mặc dù mùa Hè nước Úc nóng như cái lò bánh mì ở cái xóm Footscray!

Thưa bà con cô bác!

Mùa Giáng Sinh về, thêm một mùa lưu lạc, người viết lại nhớ những ngày se se lạnh ở Sài Gòn! Em quàng chiếc áo ấm làm duyên giữa Vương Cung Thánh Đường năm ấy! (Xin kiểm duyệt câu nầy kẻo Má nó hay!)

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Bài 20

Jimmy ngước nhìn tôi ngac. nhiên:
  – Chị Loan à? Nhưng chị ấy ở xa đây mà. Mình làm gì có tiền đi xe đò.
  – thì mình cuốc bộ.
   Jimmy nhìn tôi hoài nghi:
  – Anh có chắc là còn đi bộ nổỉ không?
   Tôi gật đầu:
  – Đươc.. Mình hết cách rồi. Có chết tao cũng không chết ở đây. Để anh nghỉ môt. chút rồi nếu mày ẵm con bé Ti thì anh có thể lết đươc..
  – Không sao , em bế nó cho.
   Chúng tôi rời nhà vào khoảng mười giờ sáng, băng ngang cổng chính. Vài cái đầu lấp ló trong nhà bác theo qua những khung cưả sổ. Cơn tê bạị ở phần dưới cuả tôi đã dần dần tan, nhường chỗ cho cái đau nhọn hoắt như có những móng tay dàì thoc sâu vào lưng tôi mỗi khi tôi bước. Jimmy cõng bé Ti trên lưng, cũng đang lê phía trước tôi vài bước, con Lu đi bên canh.. Lâu lâu nó và con Lu quay laị dòm chừng tôi, bốn con mắt tròn xoe, đen thuì.
   Khi chúng tôi ra tới ngã rẽ đầu tiên thì Jimmy ngừng laị. Khuôn mặt đầy vẻ lo âu:
  – Anh có biết lối đến nhà chị ấy không?
   Tôi đoan chắc với nó
  – Dĩ nhiên rồi! Không khó lắm đâu. Ra tới quốc lộ môt. mình cứ đi thẳng miết là tới chợ. Mày còn nhớ cái chợ ấy không? Nhà chị Loan không cách xa đấy lắm  đâu.
   Nó hỏi:
  – Nhà ấy là nhà mình hồi trước, phải không? 
   Tôi sửa lại:
  – Bây giờ là nhà cuả người ta rồi. Đừng nói như thế trước măt. chị ấy, kẻo chị buồn.
   Trời càng về trưa càng nóng. Khi chúng tôi đặt chân lên quốc lộ thì nhưạ dường đã bốc hơi lên ngùn ngụt và chẩy nhão ra, dính vào dép cuả chúng tôi như có keo dán. Bầu không khí nóng làm cho quang cảnh trước mắt chúng tôi như rung rinh mờ mit.. Phía trước măt, bên kia đường là những cánh đồng nối daì nhau đến mênh mông vô tân.. Con đường quốc lộ cũng chaỵ daì cho đến khi mờ đi thành môt. cái nấm nhoè ở cuối tầm mắt. Sự tĩnh mich. cuả cuả muà hè bao trùm lên măt. đất như môt. tấm mền vô hình bốc lên môt. muì khét let. cuả cao su bị cháy. Jimmy nói nhỏ với tôi:
  – Anh có chắc là mình phaỉ đi như vâỵ không? Còn bao xa nữa, anh Kiên?
  – Tao không biết, có thể độ năm hay sáu cây số nữa. Nếu mình muốn có cái ăn thì phaỉ đi tìm chị Loan. Trừ phi mày có ý kiến nào hay hơn.
   Chân tôi vẫn bước tới và biết rằng nó sẽ đi theo tôi. 
   Rồi tới môt. lúc , tôi không còn biết mình đã đi đươc. bao xa và phải đi trong bao lâu nữa, chỉ có một điều mà tôi thấy rõ là mình đã đi quá xa để có thể quay trở lại. Đằng trước, chẳng có một dấu hiêụ nào cho cuộc hành trình này sẽ có lúc chấm dứt. Tôi cứ tiếp tục bước vì sợ rằng nếu chúng tôi ngừng laị để nghỉ ngơi thì sẽ chẳng còn hơi sức đâu mà tiếp tục đi nữa.
   Cổ họng tôi khô cháy. Đầu lưỡi ngọ nguâỵ như một con cá ở trong mồm. Bên cạnh tôi , thằng em tôi lếch thếch trên đường nhưạ, cõng theo em bé Ti trên lưng, tay bé kéo chiếc gối bẩn thỉu lõng thõng trên măt. đường đầy buị bậm? Môi cuả chúng nó cũng bắt đầu rộp lên. Cuối cùng, nó dừng laị, đứng ỳ ở ngay giữa lộ. Tôi nhìn ra xung quanh, mơ hồ thấy chúng tôi hoàn toàn lac. lõng cô đơn trên con đường hoang vắng. Không thấy có lấy một chiếc xe , một bóng người, chỉ có chúng tôi giữa cái mênh mông cuả đồng luá. Phía trước vài bước, con chó cuả Jimmy quay laị dòm chừng chúng tôi, cái lưỡi đỏ ké cuả nó thòng xuống một bên mép đang sùi bọt.. Jimmy đặt em bé xuống đất. Bé Ti nhìn chúng tôi rồi oà lên khóc. Cơ thể nó bốc lên một mùi tanh tưởi như cá ươn. Thằng em tôi lắc đầu:
  – Em hết đi nổi rồi anh Kiên, em cần phải kiếm cái gì để uống cho đỡ khát.
   Tôi quát lên:
  – Cứ đi đi. Mình sẽ uống khi nào tới nơi. Không thể ngừng ngay bây giờ đươc..
   Nó chẳng nghe lời tôi mà nhìn quanh coi có cái bóng mát nào để ngồi nghỉ. Còn em gái tôi thì gào lên to hơn, hai chân dãy đành đạch..
   Tôi quơ lấy thân mình tong teo cuả nó rồi hét lên:
  – Nín ! Có câm môm` đi không. Để cho tao được yên. Tao đâu có mắc nợ gì mà mày báo tao? Tao chẳng có bổn phận phải lo cái ăn cho mày. Tao chẳng có bổn phận phải trông nom mày. Tao chẳng phaỉ làm cái quái gì hết. Nghe rõ chưa? mày muốn chết hả? Bộ mày muốn thế hả?
   Tôi cứ hét lên như thế mà không thể ngừng đươc.. Măt. tôi dí sát vào mặt nó, tay tôi đăt. lên cổ cuả nó:
  – Để tao giúp mày môt. tay. Để tao giúp mày thoát khoỉ caí nỗi khốn khổ này.
   Rồi tôi tát vào măt. nó liên hồi, giằng tóc nó, keó lê nó vòng quanh và cuối cùng tôi dằn nó úp mặt xuống giữa đường lộ. Giong. cuả tôi khản đi khi tay tôi xiết chăt. lấy cái cổ gầy đét cuả nó:
  – Mày nói gì, tao không nghe thấy! Mày có muốn chết không?
   Bé Ti chớp hai con mắt, săc. suạ, cố gỡ mấy ngón tay siết chặt cứng cuả tôi ra khỏi cổ nó, cái gối vẫn còn bám trên tay. Nó gào lên:
  – Đừng. Đừng.
  – Vâỵ mày có chiụ đi hay không? Hay là tao bỏ mặc. mày ở đây cho xe nó cán.
   Mắt nó trắng dã, nhìn dán vào tôi. Tôi buông nó ra, loạng choạng lui lại vài bước. Bé Ti vẫn nằm ở giữa đường. Trong lòng tôi, sự căm ghét con bé dâng lên mãnh liêt.. Thâm tâm tôi cầu mong cho cái xe nào cán lên nó cho rồi. Nó mà chết thì tôi sẽ được thảnh thơi.
   Từ trên con lộ trống trải, em gái tôi bò laị phía tôi bằng chân tay xương xẩu cuả nó. Mặt nó lem luốc đầy nước mắt và buị bậm?. Nó van nài tôi bế nó. Kiệt sức, tôi ngồi bệt xuống cạnh em trai tôi và ngửa măt. lên trời thở dốc. Sau cùng thì Jimmy góp ý là nên tiếp tục cuôc. hành trình. Chúng tôi cố gượng đứng dâỵ một cách khó khăn, lòng ngần ngại vì phải rời bỏ chỗ có bóng mát, chúng tôi cùng tiến về phía trước, bé Ti đã chật vật đi theo sau, cách vài bước.
   Bỗng môt. ý tưởng chợt lóe trong đầu tôi. Tôi nói với Jimmy:
  – Mình xuống ruộng đi. Nếu người ta có trồng luá thì phải tưới nước. Vâỵ mình đi kiếm nước uống đi.
   Jimmy không nghe tôi nói. Nó đang nghiêng cái đầu, có vẻ như đang tập trung chú ý. Rồi nó quay lại tôi, hỏi:
  – Anh có nghe thấy gì không?
   Tôi hỏi:
  – Nghe thấy gì?
   Nó đăt. ngón tay lêm môi như bảo tôi yên lăng, rồi nói:
  – Nghe này!
   Đôt. nhiên tôi cũng nghe thấy. Từ phía trên một ngọn đồi, có tiếng rì rầm vẳng lại qua bầu không khí trống rỗng, nghe như tiếng ồn ào cuả một đám đông. Chúng tôi nhìn nhau mà không thốt lên một lời nào. Rồi với một hình ảnh cuả ngôi chợ hiện ra trong đầu, chúng tôi vừa chaỵ lên đồi vừa la hét ầm ĩ. Mở ra trước măt. chúng tôi, y như thể một trang chuyện thần tiên, là cái chợ trải dài xuống tận chân đồi. Phía sau chợ là tỉnh lỵ hiện ra sáng ngời dưới ánh mặt trời mầu cam, đẹp tuyệt vời!

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Bài 19

Đêm hôm ấy, sau bữa cơm, cả gia đình quây quần tại phòng ông bà ngoại tôi để nghe chị Loan kể về những chuyện đã xaỷ ra với chị trong thời gian gần đây. Mặc dầu đoàn thanh niên xung phong không phải là một ngành trong quân đội, nhưng chị Loan cũng được huấn luyện như kiểu nhà binh, từ cách tháo ráp súng ống đến các ứng dụng những chiến thuật và ngay cả học cách giết kẻ địch khi cần thiết. Tuy nhiên nhiệm vụ của chị là thanh lọc đất nước, từ bài trừ những tên cực đoan đến việc chống chủ nghĩa tư bản và trừng trị những kẻ bất hợp tác với chế độ mới.

Ba năm trời phục vụ, chị cho rằng mình đã chứng kiến những vụ việc hỗn độn. Đến kỳ triển han. công tác, chị đã từ chối đăng ký. Thời gian phục vụ của chị cũng đã khá dài, đủ để đảm bảo cho chị có được một vị trí tương đối dễ chịu. Khi chị kể xong, tôi lên tiếng hỏi:

– Chị sẽ ở lại với chúng em chứ?

Chị trả lời, nét mặt buồn bã:

– Không đâu, Kiên. Hôm nay chị tới là để từ gĩa mọi người.

Không ai có vẻ ngạc nhiên về điều này cả. Với sự ” tiến bộ CM ” của chị, việc liên hệ với những thành phần phản động như gia đình chúng tôi chỉ kéo trì chị xuống. Ông tôi hỏi:

– Vậy con sẽ đi đâu?

Chị thở hắt ra:

– Con sắp lấy chồng, bác Oai ạ.

Chị tránh ánh mắt của ông tôi và tiếp:

– Tuần sau là đám cưới rồi.

Ông tôi kêu lên:

– Con quyết định thế là hay lắm rôì. Bác rất vui mừng. Mà đứa nào có may mắn thế? Có phải con gặp nó trong đoàn Thanh Niên Xung Phong không? 

Chị Loan trả lời, giọng yếu ớt:

– Thưa bác, không phải ạ.

Chị thở dài, ngực ưỡn lên sau lớp đồng phục đã bạc mầu:

– Người ấy thì bác cũng đã biết rồi. Hồi trước anh làm vườn cho nhà ta.

Nụ cười tắt ngóm trên môi ông ngoại và ông chớp lia mắt như thể không tin ở tai mình :

– Là cái ông Trần ấy à?

– Dạ vâng!

Ông tôi quay đi hai tay bưng lấy mặt. Chị Loan cố nói cho hết cái tin lấy chồng của mình:

– Anh ấy bốn mươi và chưa lập gia đình bao giờ. Theo tiêu chuẩn của xã hội mới thì anh ấy khá lắm đấy. Trong mấy năm vừa qua, ảnh đã tận tình săn sóc con. Khi con vào thanh niên xung phong, xa nhà, chính anh ấy đã tới thăm con thường xuyên, dù con di chuyển tới chỗ này chỗ kia. Ảnh đã chia sẻ với con những lúc con gặp khó khăn nhất. Và điều quan trọng nhất là anh đã hưá rằng không còn gây khó dễ gì đến bất cứ ai trong gia đình nhà ta nữa. Như thế, con đã cảm thấy con nợ ảnh bằng cả một cuộc đời của con rồi.

Ông tôi xuống giọng:

– Con đừng vì gia đình bác mà hủy hoại cuộc đời mình. Hắn ta không thể làm khó gia đình này được nữa đâu.

– Dĩ nhiên là không rồi, thưa bác. Nhưng con chọn anh ấy cũng là vì tương lai của con. Con muốn tìm một nơi an toàn và yên ổn để nương tựa. Nếu có vì sự an toàn của bác cũng chỉ là thêm thắt vào mà thôi. Con mong bác, cũng như tất cả mọi người hiểu được điều đó.

Ông tôi gật đầu:

– Con nghĩ cũng phải, bác hiểu, và bác nghĩ là con quyết định đúng. Bác mừng cho con, Loan ạ. Nếu con đến đây chỉ báo tin đó thì bác xin cầu chúc cho con được hạnh phúc. Còn nếu con tới đây vì những chuyện khác nữa, thì bác xin kiếu, vì bác thấy mệt rồi, tuổi già nó thế đấy.

Chị Loan nói với vẻ ngần ngại:

– Đúng ra thì cũng có chuyên khác nữa. Đây là vấn đề của chị Khuôn. Sau đám cưới, con sẽ dọn vô ở chung với anh Trần trong biệt thự họ Nguyễn. Anh ấy nghĩ rằng muốn được làm chủ căn nhà ấy phải lập gia đình và có con cái. Hy vọng một ngày nào đó hai bác và chị sẽ hiểu và tha thứ cho con. Nay thì mọi người đã biết chỗ ở của con, vậy bất cứ lúc nào có ai cần bất cứ điều gì, xin cứ tới tìm con. Đó là con nói ra tự đáy lòng, xin đừng từ chối.

Rồi chị quay sang tôi:

– Nhất là em đó, Kiên. Thỉnh thoảng em tới thăm chị nhé.

Cuối cùng thì mẹ tôi cũng lên tiếng:

– Chuyện giữa em và ông Trần chẳng phải là cái tin sửng sốt gì. Tôi đã thấy cái cách ông ta lăm le em từ nhiều năm nay rồi. Tôi biết là trước sau gì em cũng thuộc về ông ta, vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi.

Chị Loan kiếu từ và đi ra khỏi nhà. Đứng tựa vào khung cưả sổ, tôi nhìn chị trong bộ quân phục mầu xanh lao động. Chị vác chiếc ba lô lên vai rồi rẽ xuống đường phố.


Vài ngày sau đó, bà ngoại tôi phát hiện ra một vết sước ở bên gót chân bên phải. Bà tôi không biết tại sao lại có vết ấy. Mẹ tôi thì cho là bà bị cái cạnh sắc của đôi dép mà bà vẫn dùng đi trong nhà cứa phải. Vết sước không lành mà càng ngày càng lở loét to hơn.

Một buổi sáng sớm, tiếng ngoai rền rĩ đánh thức tôi dậy. Ngoại nằm trên giường, quây chung quanh là ông ngoại tôi, mẹ tôi và hai người anh chị họ. Tất cả đang quan sát chân của bà, bây giờ sưng vù lên nom như một con heo sữa quay và cũng bóng nhẫy như vậy. Lớp da chân bị phồng lên, căng quá mức, nom đỏ au và như muốn vỡ toang ra. Mẹ tôi dùng mũi dao chọc vào đó, hy vọng làm mủ chảy ra. Nhưng thay vì mủ lại có cả máu bầm lẫn lộn những sợi thịt rữa rỉ ra, giỏ từng giọt xuống cái khay bằng đồng để ở dưới giường. Mùi hôi thối xông lên tràn ngập không khí.

Chúng tôi đưa bà vào nhà thương lớn ở Nha Trang, tại đó, các bác sĩ cột chân bà bất động trên một cái băng ca đặc biệt có bánh xe trong lúc tiến hành thử nghiệm. Được vài ngày, vì gia đình tôi không có tiền trả phí tổn nhà thương, và cũng vì các bác sĩ không thể đồng ý với nhau về lý do đã khiến cho bà tôi đến nông nỗi này, bà tôi được cho về nhà với lời chẩn bệnh là bị ung thư.

Tại nhà, mẹ tôi đã nhờ tới một ông lang có tiếng trong thành phố. Sau một vài lần chữa trị, cơn sốt có dịu đi nhưng chỗ chân sưng vẫn chẳng thuyên giảm.

Trong khi đó, việc mua bán của mẹ tôi đã trở nên khó khăn hơn. Chiến thuật mới nhất của nhà nước để triệt tiêu việc tư nhân buôn bán ở miền nam là bằng cách ban giấy phép buôn bán, nhưng lại chỉ cấp cho một vài tổ hợp được lựa chọn. Còn những ai chưa được cấp giấy thì được khuyến khích ” tình nguyện ” bỏ nghề buôn bán. Để đảm bảo việc thực thi chính sách cho có hiệu lực, hằng ngày công an sục sạo khắp chợ để hỏi giấy phép của bạn hàng. Kẻ nào bị bắt gặp buôn bán mà không có giấy phép thì đều bị coi là bất hợp pháp và bị bắt lao động cải tạo trong vài tuần lễ.

Một hôm, ngay sau khi ông lang ra về và mẹ tôi đang thay băng cho chỗ đau của bà thì dì Đặng đến thăm. Giống như hoàn cảnh mẹ tôi, dì bị chính phủ ngược đãi cũng vì có lý lịch xấu. Gia tài dì chẳng còn gì ngoại trừ một vài bộ quần áo, một chỗ ở thuê chật hẹp đối diện với khu chợ và cái quá khứ vàng son của mình. Dì đi thẳng đến chỗ mẹ tôi mà không màng đến mùi hôi thối quá sức bay ra từ vết thương, nói:

– Khuôn à, nghe mình nói cái này nhé. Mình có cách cho chị và mình kiếm sống rồi.

Mẹ tôi trả lời:

– Nói đi, tôi đang nghe đây.

– Chị cũng biết là chúng mình không thể buôn bán chui. Sớm muộn rồi cũng bị công an nó tóm thôi. Tôi có giao thiệp với một vài người đã có giấy phép đàng hoàng. Họ cần có mối để Sài Gòn chuyển vải vóc và hàng hoá ra cho họ.

Mẹ tôi ngừng cuốn cái băng chung quanh mắt cá chân của bà tôi rồi hỏi:

– Nghĩa là sao? 

– Thì chúng mình vô Sài Gòn lấy hàng hóa chứ sao. 

Mẹ tôi quay đi.

– Mình làm được mà, Khuôn. Bây giờ hết chiến tranh rồi, đâu còn luật nào cấm mình đi đây đi đó nữa. Mình lại có thẻ chứng minh nhân dân. Chúng nó không còn bắt mình bê sổ hộ khẩu đi từ thành phố này qua thành phố kia nữa.

Dì Đặng ngừng một lúc để cho lời lẽ mình thêm thấm thía rồi tiếp:

– Vậy chị tính sao ? có đi Sài Gòn với tôi không?

Mẹ tôi lắc đầu. Dì tiếp:

– Thôi nào, Khuôn. Chị nghĩ tôi tính có đúng không?

– Tôi cũng chả biết nữa. Nhưng sao nghe phức tạp qúa. Ngoài ra, mẹ tôi đang ở trong tình trạng như thế này, chưa nói gì đến lũ nhỏ, chị thấy tôi đi làm sao được ? Rồi, còn ở phường, nếu họ không cho mình giấy thông hành thì mình đi làm sao đây?

Dì Đặng nắm lấy cổ tay mẹ tôi:

– Chị còn con đường nào khác không? Nếu chị không làm vụ này thì chẳng lẽ cứ tiếp tục sống cuộc sống bấp bênh theo kiểu buôn bán chui hoài này sao ? Hay là cứ ru rú trong nhà để cho chết đói cả đám hay sao? 

Mẹ tôi biết là mình đuối lý, nên hỏi:

– Vậy thì đi trong bao lâu? Và mình cần vốn khởi đầu là bao nhiêu?

– Tôi tính rằng vốn liếng cả hai chắc phải cần khoảng hai ngàn đồng, còn đi thì cũng mất năm ngày. Trừ tất cả chi phí, mỗi đứa cũng kiếm được ít nhất vài trăm đồng mỗi chuyến đi.

Mẹ tôi kêu lên nho nhỏ:

– Mỗi người phải cần tới một ngàn đồng kia à? Tôi làm gì ra có nhiều như vậy. Tôi biết đào ở đâu ra?

Dì Đặng trả lời thản nhiên:

– Hãy làm như tôi, bán đồ đạc đi. Ngày mốt mình nên khởi hành. Tôi muốn chị hứa một tiếng là sẽ đi cùng với tôi.

Ở phòng kế bên, em bé gái của tôi thức dậy từ giấc ngủ trưa và cất tiếng khóc. Đã hai tuổi rưỡi rồi mà cả thể xác cũng như tinh thần, nó chỉ như đứa bé lên một, mắc miú trong một thân hình bạc nhược và nhăn nhúm mà lúc nào cũng mọc đầy mụn đau đớn, nhất là ở đầu và cổ. Nó tập đi và tập nói cực kỳ khó khăn. Đa phần, nó chỉ muốn bò trên sàn nhà thay vì đi và khóc thay vì xin đồ ăn. Mặt nó nom già khằn mà giọng thì lại nhỏ xíu y như một con mèo con mới đẻ.

Tiếng khóc của em tôi làm cho mẹ tôi giật mình, ngưng việc chăm sóc vết thương của bà tôi và quát lên giận dữ:

– Kiên, bắt nó nín đi. Tao còn đang bận với dì Đặng đây này. 

Tôi bế em tôi lên và đung đưa nó trong khi nó cố bám chặt lấy cái gối rách ở trước ngực. Mặc dù đã gần mục và bốc mùi hôi thối vì rớt rãi của nó, nhưng cái gối vẫn là đồ chơi duy nhất của nó. Nằm trong lòng tôi, Bé Ti nhìn tôi ngây ngô với đôi mắt mầu nâu to, lồi, và cười với tôi bằng nụ cười chẳng có cái răng nào. Những răng sữa của nó đã rụng hết mà răng khôn thì chưa kịp mọc để thay thế.

Kế bên, mẹ tôi hỏi ý kiến bà Ngoại về đề nghị của dì Đặng. Tôi nghe thấy tiếng bà tôi yếu ớt góp ý:

– Mẹ nghĩ là con nên đi Sài Gòn. Đừng bận tâm gì đến cả nhà. Mẹ đã có ba trông nom, còn thằng Kiên sẽ săn sóc hai đứa nhỏ. Dù con có ở nhà thì cũng chẳng hơn được gì.

Hai ngày sau, với món tiền bán chiếc máy may, mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi. Bà dúi vào tay tôi tờ giấy năm mươi đồng. Bà đoán chắc với tôi số tiền này sẽ đủ cho cả nhà trong năm ngày sắp tới, rồi bà từ biệt mọi người để lên đường.

Cùng ngày hôm đó, ở trường tôi có buổi diễn hành đánh dấu ngày cuối cùng của học kỳ. Dẫn đầu toán diễn hành là Đoàn Thiếu niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phân biệt với những học sinh khác bằng chiếc khăn quàng quanh cổ. Anh chàng phó trưởng lớp của tôi đã đi tiên phong, hãnh diện vói cây cờ đu đưa trên tay. Họ đi diễu qua các đường phố, hát bài quốc ca và hô những khẩu hiệu tuyên truyền Công sản trước đám đông nồng nhiệt.

Tôi ở lại trong lớp để tránh buổi hội lễ. Sợ tôi buồn, Duy ở lại với tôi. Nó đứng cạnh cửa sổ xem đoàn diễn hành từ xa. Lúc ấy vào khoảng mười hai rưỡi trưa, mùa hạ mới chớm mà đã nóng nực phát khiếp. Có mùi phân bò thoảng lại hoà lẫn với mùi ngọt ngào của lúa chín từ những cánh đồng gần đó. Tất cả tạo nên một sự êm dịu và tôi buồn ngủ đến ríu cả mắt.

Duy hỏi tôi:

– Mày có nghe tin về cô San chưa?

Tôi choàng tỉnh, sự tò mò thay thế cơn buồn ngủ:

– Không, mày biết tin gì thì nói đi.

Duy nói với giọng đôi chút xúc động:

– Tao nghe nói cô đã vượt biên từ mấy hôm trước đây, nhưng tầu của cô có kẻ phản bội. Cô đã bị bắn. Chẳng có ai là được coi biết rõ cả. Công an đã báo cáo với ông gíam hiệu. Họ nói là cô đã chết.

Như có tiếng bom nổ ngang tai, đầu óc tôi ù lên:

– Ôi trời ơi!..

– Vậy đó kinh khủng quá phải không? mà cũng chả có đám ma nữa. Họ không cho tuị học trò tưởng niệm cô.

Nó nhìn tôi chăm chú rồi tiếp:

– Nếu còn cô San ở đây, chắc chắn cô sẽ đấu tranh để giữ mày trong cuộc diễn hành.

Ông gíam hiệu nói là tao không xứng đáng được cái vinh dự ấy. Tao cũng không nghĩ rằng ông ta sẽ cho là cô San xứng đáng có một buổi tưởng niệm. Không phải là vấn đề cá nhân ở đây. Mà chỉ vì sự đời là thế!

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted 20 may 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Ehud Barak (hàng đứng, người thứ ba từ trái sang) chỉ huy đội Sayeret Matkal – Ảnh: haaretz.com

Kỳ 3 – ‘Đơn vị’ Sayeret Matkal của Israel

TTO – Sayeret Matkal trực thuộc Tổng cục Tình báo quân sự của Israel thường được gọi tắt là ‘Đơn vị’. Biệt đội Sayeret Matkal chuyên thu thập tin tình báo, trinh sát thọc sâu, giải cứu con tin và chống khủng bố.

Ngày 7-3-1988, các tay súng Ả Rập chặn một xe buýt chở công nhân làm việc cho Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Negev của Israel và bắt giữ 11 con tin. Đơn vị đặc nhiệm Yamam thuộc cảnh sát biên phòng Israel xông lên xe buýt giết chết ba tay súng. Ba nữ công nhân thiệt mạng. 

Ngay sau đó, cơ quan tình báo Mossad của Israel khẳng định người đứng sau vụ này chính là Abu Jihad.

Soạn thảo kế hoạch ám sát

Abu Jihad tên thật là Khalil Ibrahim al-Wazir, chỉ huy tác chiến của tổ chức Al Fatah của người Palestine chuyên đấu tranh chống Israel. Israel đã săn lùng Jihad suốt 20 năm nhưng mọi kế hoạch ám sát đều thất bại.

Bộ trưởng Quốc phòng Israel lúc bấy giờ là Yitzhak Rabin được giao trách nhiệm tìm cách loại bỏ Jihad. Mossad đã lần ra dấu vết Jihad tại Tunisia (Bắc Phi) cách Israel đến hơn 2.400km. Jihad sống trong một ngôi biệt thự ven biển tọa lạc trong khu vực sang trọng ở thủ đô Tunis.

Bốn ngày sau vụ tấn công xe buýt, Bộ trưởng Rabin thúc giục Mossad trình kế hoạch ám sát Jihad. Ban đầu Mossad tự tin có thể tự mình thực hiện kế hoạch ám sát trong vòng 30 ngày. Tuy nhiên dù kế hoạch ám sát rất thiết thực, Rabin vẫn bác bỏ.

Ông muốn có bằng chứng chắc chắn về cái chết của Jihad và cách duy nhất là ám sát Jihad tại nhà riêng. Điều này cực kỳ khó khăn bởi khoảng cách đến mục tiêu quá xa. Rabin biết chỉ có một biệt đội tinh nhuệ hơn các sát thủ Mossad, đó chính là lực lượng đặc biệt Sayeret Matkal.

Sayeret Matkal trực thuộc Tổng cục Tình báo quân sự thường được gọi tắt là “Đơn vị”. Đây là đơn vị đặc nhiệm hàng đầu của Israel hoạt động tương tự biệt đội Delta của Mỹ và lực lượng đặc biệt không quân (SAS) của Anh về chiến thuật, nhiệm vụ và kỹ thuật. Sayeret Matkal chuyên thu thập tin tình báo, trinh sát thọc sâu, giải cứu con tin và chống khủng bố.

Người chỉ huy Sayeret Matkal vào thời điểm đó là Ehud Barak (sau này trở thành thủ tướng). Theo yêu cầu của Barak, các đặc vụ Mossad được cài cắm ở Tunis đã vẽ được sơ đồ biệt thự và nắm hết mọi sinh hoạt thường nhật của Jihad. Barak bắt đầu chuẩn bị kế hoạch. Ông quyết định một toán nhỏ 10 đặc nhiệm sẽ lợi dụng đêm tối xông vào biệt thự của Jihad.

Sayeret Matkal đã cẩn thận lập mô hình biệt thự thu nhỏ để thực tập tác chiến.

Sau khi kế hoạch tấn công cụ thể được soạn thảo, mô hình biệt thự với kích thước thực được xây dựng. Đội đặc nhiệm tập đi tập lại nhiều lần đến mức dù mắt bịt kín vẫn có thể biết đường. Cuối cùng họ tập luyện tấn công trong một ngôi nhà ở Israel được thiết kế tương tự như biệt thự của Jihad.

Nahum Lev – chỉ huy phó lực lượng Sayaret Matkal – được chỉ định làm đội trưởng đội đặc nhiệm. Hải quân Israel có trách nhiệm đưa đội đặc nhiệm đổ bộ vào gần Tunis. Không quân Israel sẵn sàng ứng phó trong trường hợp cần thu quân khẩn cấp. Bãi biển gần nhất nơi đội đặc nhiệm đổ bộ cách biệt thự của Jihad 4km.

Trong khi đó, các đặc vụ Mossad ở Tunis sẽ tổ chức nghi binh ở bên kia thành phố để đánh lạc hướng cảnh sát địa phương, từ đó đội đặc nhiệm Sayeret Matkal có thêm thời gian hoạt động. Sau đó, các đặc vụ sẽ đón đội đặc nhiệm bằng ôtô thuê và lái đến cách mục tiêu vài dãy nhà. 

Trong lúc đi bộ áp sát biệt thự của Jihad, đội đặc nhiệm sẽ ăn mặc cải trang như du khách đến từ Lebanon để dân địa phương khỏi chú ý.

Đội đặc nhiệm Shayetet 13 – Ảnh: reddit.com

Cú điện thoại giả trước giờ hành sự

Hôm trước ngày N thực hiện chiến dịch “Biểu dương lực lượng”, một máy bay Boeing 747 cất cánh từ Tel-Aviv (Israel). Máy bay đã được chuyển đổi thành trung tâm chỉ huy chiến dịch với trang thiết bị điện tử hiện đại theo dõi từ trên không. Ehud Barak điều khiển chiến dịch từ trên máy bay.

Khi các đặc vụ Mossad đã có mặt đứng đợi trên xe ôtô cạnh bờ biển Tunis, đội đặc nhiệm nhận được chỉ thị thi hành nhiệm vụ. Lực lượng Shayetet 13 của hải quân Israel đưa đội đặc nhiệm vào bờ. 

0h30 giữa khuya, họ gặp các đặc vụ Mossad và thay đồ cải trang. Lúc đó họ đã được cảnh báo một vấn đề mới phát sinh. Một cú điện thoại gọi tới biệt thự của Jihad bị nghe lén cho thấy có vẻ như một cơ quan tình báo châu Âu đã biết kế hoạch của Israel.

Barak ra lệnh cho đội đặc nhiệm Sayeret Matkal tiếp tục triển khai đến biệt thự. Xe ô tô chở tám đặc nhiệm đến trước nhà Jihad. Các thành viên đội đặc nhiệm trao đổi với nhau bằng từ ngữ đã mã hóa và nói tiếng Anh thay vì tiếng Israel. Họ cảm thấy hưng phấn trong lúc ngồi chờ.

Barak vẫn chưa thể phát lệnh tấn công khi chưa chắc chắn 100% Jihad có mặt trong biệt thự trong khi các đặc vụ Mossad lại không thể biết điều này.

Để kiểm tra, Barak đã cho sử dụng một đường dây điện thoại đặc biệt giả một cuộc gọi từ Ý gọi đến biệt thự báo tin một người thân của Jihad ở dải Gaza bị bắt. Sau đó, ba chuyên gia về ngôn ngữ Ả Rập có chuyên môn về nhận dạng giọng nói phân tích câu trả lời từ nhà Jihad. 

Sau khi các chuyên gia xác nhận giọng nói ở đầu dây bên kia chính xác 100% là Abu Jihad, Barak phát lệnh bắt đầu tấn công.

Đội trưởng Nahum Lev và một đặc nhiệm ăn mặc như phụ nữ đi bộ qua những con phố sầm uất tiếp cận biệt thự và hạ thủ vệ sĩ canh gác trước nhà. Các đặc nhiệm còn lại tiến vào từ cửa sau. Khi toàn bộ các vệ sĩ đều đã bị giết, toàn đội bước lên tầng hai.

Họ nhận ra Jihad đứng ở đầu cầu thang cầm súng bên tay phải. Chỉ trong tích tắc, tổng cộng 70 viên đạn được bắn ra ghim vào người Jihad. Cánh tay phải cầm súng của Jihad gần như bị cắt cụt. Người vợ của Jihad đột ngột xuất hiện và hét lên yêu cầu họ dừng lại: “Mấy người không thấy anh ấy đã chết rồi sao?”. 

Lev ra lệnh cho người vợ quay mặt vào tường khi cả đội rút lui.

Sau khi xác nhận Jihad đã chết, toàn đội vội vã lên xe trở lại bãi biển và được toán Shayetet 13 đưa trở lại tàu hải quân. Sáng hôm sau, cảnh sát Tunis vào cuộc điều tra. Tất cả những gì họ tìm thấy là mấy chiếc xe bị bỏ lại và nhiều dấu chân trên bãi cát dẫn ra biển. 

Sau 25 năm “ngậm tăm không khẳng định hay phủ nhận đã giết Abu Jihad, đến tháng 11-2012 Israel mới lên tiếng thừa nhận sự việc.

Theo chuyên trang specialops.org, Israel không có một lực lượng tác chiến đặc biệt tập trung như các nước khác. Mọi đơn vị quân đội đều được huấn luyện về chiến tranh không quy ước.

Năng lực tác chiến đặc biệt của quân đội Israel rất phát triển do có nhiều đơn vị cùng làm công tác đặc nhiệm và chi phí quân sự lớn. Có thể chia các đơn vị đặc nhiệm Israel làm hai loại gồm đơn vị trinh sát (Sayeret) và đơn vị chống khủng bố (Mista’arvim).

. Lữ đoàn biệt kích do lục quân chỉ huy gồm các đơn vị tác chiến đặc biệt như Duvdevan (đơn vị 217) chuyên chống khủng bố ở Judea và Samaria; Maglan (đơn vị 212) chuyên hoạt động sau chiến tuyến, thám sát và thu thập tin tình báo; Egoz (đơn vị 621) tập trung chống Hezbollah.

. Các đơn vị tác chiến gồm Sayeret Matkal; Shayetet 13 chuyên hoạt động trên biển và cũng có thể hoạt động trên bộ và trên không; đơn vị quân khuyển Oketz phụ trách chống khủng bố; đơn vị 669 phụ trách tìm kiếm và cứu nạn trên không cũng như giải cứu phi công.

. Các đơn vị đặc biệt khác gồm có Shaldag (không quân), đơn vị YALTAM (hải quân), đơn vị chuyên tác chiến trên núi, đơn vị Yahalom (công binh), các đơn vị Skylark & Moran (lục quân) chuyên về máy bay không người lái và công nghệ tên lửa.

Lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz luôn được điều động đầu tiên trong các hoạt động chống khủng bố và giải cứu con tin. Nhiều lời đồn đoán dẫn đến thông tin sai lệch về lực lượng này.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 15 Oct 2023

Một buổi lao động xã hội chủ nghĩa ngày chủ nhật

Đặng Chí Bình

Bài 15

Hai con chim cánh thật trắng từ hướng Nam đang soải cánh chống với gió ngược, lao về phía Bắc xa vời. Mấy ngọn nứa già phía cuối hội trường đang nghiêng ngả, rũ rượi, gật gù như cảm thông với nỗi đắng niềm cay của kiếp người. Mươi chiếc lá khô từ mãi phía góc nhà kỷ luật, quyện đuổi theo nhau chạy đến gần buồng số II rồi cuộn xoay lại, quay tít.

Lần lượt nhiều người đứng dậy, cuộn chiếu vào trong buồng. Không bảo nhau, nhưng hình như cùng cảm thấy cái rã rời nằng nặng của cõi lòng ứa ra, rải khắp đâu đây, cả Lân, Vân và tôi đều đứng dậy, chậm chạp bước vào trong buồng.

Vào buồng, chưa ngồi nóng chỗ thì phía ngoài cửa đã có tiếng xôn xao. Thấy anh Lân chạy ra, tôi cũng bước theo. Ngay mé hè, anh Lý A Chén đã mang về một đống cuốc, xẻng và một cái hòm dụng cụ đồ mộc với mấy cái cưa tay. Và kia rồi, từ phía dưới sân lớn của trại, có 3 anh của toán làm sân đang è vai vác 3 bó nứa tươi to tướng, đốt thật dài. Mầu nứa tươi xanh mát cả mắt, lần đầu tiên tôi thấy, nên cứ nhìn mãi. Ở miền xuôi trước đây, tôi chỉ nhìn thấy nứa khô mà thôi. Tôi cứ luẩn quẩn, loanh quoanh bên 3 bó nứa mãi, nếu không có một anh tự giác khác lễ mễ gánh đến một gánh gần hai chục túm những cây hoa con. Một niềm háo hức yêu hoa đã đẩy tôi rảo bước chạy lại. Những cây hoa nhỏ nhiều loại, với những cánh hoa nhiều mầu sặc sỡ làm nhiều người túm hụm vây đến.

Cây to, cây nhỏ, cây đã có hoa, cây chưa ra nụ. Trong hàng chục loại hoa này tôi chỉ biết được mấy cây: thược dược, mười giờ, cúc đại đóa và hoa…..hồng. Do nhiều các anh, các bác đang đứng chỉ chỏ bình phẩm, nên các cô nàng e ấp cứ cúi mặt che giấu thân thế, đành ngập ngừng khai rõ họ tên: vọng ư thảo, vạn thiên kim, bách hợp, đinh tử hương, bóng nước, tư lự với tóc tiên. Cô nào cũng mơn mởn đào tơ, lả lướt chuẩn bị để đón chúa Xuân sắp trở về.

Ngay từ khi còn dưới Hỏa Lò, “khách sạn Hilton Hà Nội”, đã nhiều lần tôi băn khoăn tự hỏi: tại sao trong chỗ thâm u, mờ mịt thê lương của ngục tù, chỉ có cùm, xích với những tiếng rên xiết, quằn quại, đắng cay thì người ta lại trồng nhiều hoa? Vì hoa là biểu tượng của hạnh phúc ấm êm, của ngọt bùi tươi sáng trong cuộc đời? Khi đó tôi đã tưởng, phải chăng đây chỉ là ý thích của tên Võ già, chánh giám thị của Hỏa Lò, người miền Nam. Nhưng lúc này, một trại giam, hẻo lánh xa xôi nơi đây, cũng đang được lệnh trồng hoa. Như vậy, phải chăng đây là một chủ trương của cục Lào Cai?

Lòng tôi còn đang bồng bềnh lẫn lộn giữa những hương sắc ngọt, bùi hạnh phúc của cuộc đời với những nỗi đắng cay tủi nhục, lầm than của kiếp tú, thì kẻng tập họp đã gióng lên đập tan nguồn suy nghĩ lãng đãng, vẩn vơ của tôi.

Chỉ nửa giờ sau, khi các tên cán bộ đã dặn dò, phân công với những anh toán trưởng từng toán. Tổ nào, toán nấy năng nổ, hùng hục làm việc khắp nơi, khắp chỗ trong trại. Chỗ cưa, chỗ đục, chỗ quét dọn râm ran tiếng chuyện trò, tiếng í ới gọi nhau. Tôi vừa kéo dây, cầm thước cho Đinh Sơn và anh Lân cắm cọc, phân luống trước nhà số II và III, vừa nhìn cái cảnh huyên náo, tấp nập làm việc của mọi người, mọi toán. Một khí thế lao động như giục giã, lôi, thúc người khác. Lòng tôi dâng lên một mối thẫn thờ hoang mang, xen nhiều nỗi ấm ức không hiểu được. Đói khát, khốn cùng, thương đau tràn lối mà mọi người vẫn hăng say, thi đua làm việc quên mình là vì sao?

Tôi mới mờ mờ cảm nhận thấy cái khả năng của cộng sản: phỉnh phờ, dụ dỗ khích lệ, nhử mồi  như cách mạng, yêu nước, yêu nhân dân, công bằng, ấm no, hạnh phúc ngày mai v.v… Kết hợp nhuần nhuyễn với súng, dao và cái dạ dầy đã gây ra ao áp lực ngầm, để mọi người tù dù không còn cả muốn sống nữa mà vẫn phải bóc xương, bó tủy ra làm hết sức của mình. Thật là đáng kính nể những tên cáo già trong bộ chính trị của lũ cộng đỏ.

Hôm nay làm việc trong trại nên tôi có điều kiện chạy chỗ này, chỗ kia đây đó để nhìn các toán làm việc. Riêng toán 5, toán rau xanh do anh Xuân Tảo làm toán trưởng. Do anh Đồng, tôi đã biết anh là một nhà tư sản ở Hải Phòng. Người anh cũng mập như anh Lân, cũng nước da mai mái khô cằn, chừng 45 tuổi. Anh ăn nói nhã nhặn, điềm đạm, nên tôi cũng muốn có dịp làm quen với anh. Toán của anh có trách nhiệm nhặt cỏ và dọn lá cây khô phía trong hàng rào cấm, dọc theo chung quanh của hàng rào trại.

Đến đây tôi đã có khái niệm về hình thể phân trại E. Trại hình chữ nhật dài, nằm quay mặt về phía Đông Nam. Chiều dài chừng 150 mét, rộng chừng 80 mét. Hàng rào làm bằng những cây nứa, cao 8 – 9 mét. Nứa được chôn sâu xuống đất 40 phân gồm 2 lượt, kên sát vào nhau. Lượt ngoài chôn nghiêng 10 độ phía này, lượt trong nghiêng 10 độ phía kia. Ghép liền, kên chặt bằng 3 lượt đà tre nằm ngang với lạt và dây rừng. Trong cũng như ngoài cứ 4 mét, lại chôn một cái cọc gỗ to, vót nhọn đầu, đường kính từ 15 đến 20 phân, cao 2 mét. Nó to và chắc chắn như một chiếc cột, buộc ghì chặt vào hàng rào. Như vậy, hàng rào dầy đến 15 – 16 phân, kín mít không còn một khe hở. Tuy chỉ bằng gỗ và tre nứa nhưng thật là kiên cố, vững chãi; vừa ngăn tù trốn lại vừa chống với gió bão hàng năm của đất trời.

Phía bên trong, dọc theo hàng rào chính; cách hàng rào chính một mét là hàng rào cấm. Hàng rào này chỉ cao chừng 1 mét 20. Bốn góc trại có 4 chòi gác bằng gỗ, lợp nứa cao 9 – 10 mét, cao hơn cả hàng rào chính để công an vũ trang ngồi gác, có thể quan sát hết phía trong đến bên ngoài trại.

Riêng cổng trại ra vào là một chiếc cổng to 2 tầng, cũng lợp bằng những tấm phên nứa. Tầng trên, công an vũ trang ngồi gác cổng, trên đó treo một chiếc vỏ quả bom 50kg dùng làm kẻng. Tên bộ đội gác ở cổng này, ngoài nhiệm vụ gác cổng, phải chú ý giờ giấc để đánh kẻng trong những giờ đã quy định.

Nhân số toàn phân trại E lúc này khoảng 310 người. Hầu hết là chính trị phạm với những thành phần: khoảng hơn hai chục người là biệt kích, gián điệp, người nhái (Biệt Hải) từ trong Nam ra Bắc hoạt động. Chừng trên dưới 100 người là dân tộc thiểu số: Mường, Mán, Mèo, Thổ, Nùng, Thái, v.v… bị cộng sản ghép cho cái tội là làm “phi”. Số còn lại linh tinh gồm: đảng phái, tu sĩ, tư sản, quân cán tập kết, vượt tuyến v.v… bị ghép chung một tội là phản cách mạng, phản tuyên truyền.

Khoảng 11 giờ 30, tên Cẩn trực trại vào đi kiểm tra khắp nơi những kết quả của từng phần việc được giao từng toán trong buổi lao động xã hội chủ nghĩa, để lấy điểm thi đua.