This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Những năm 80, người đi thì đi rồi… người chưa đi vẫn tiếp tục… trốn ra đi nếu có vàng đóng cho chủ tàu. Còn đa số dân nghèo chạy ăn từng bữa thì ở lại chịu trận!
Vật chất đói thì khỏi nói rồi; tinh thần thì còn khổ hơn. Không được nói, thấy được thì nhìn… rồi để đó! Cấm nói tùm lum mà trở thành “phản động”?!
Nhạc thì ra rả Quốc Hương! Già xấu thấy tội nghiệp luôn! Già cúp bình thiếc! Gần 5, 6 chục tuổi rồi… mà lên đài truyền hình “cưa sừng làm nghé”… đội nón tai bèo, mang súng AK… hát Trường Sơn Ðông Trường Sơn Tây!
“Ðường ra trận mùa này đẹp lắm?”
Giỡn chơi hoài “cha nội”! Ra trận là đánh nhau! Là có chết chóc, có thương vong dù ở bên nào đi chăng nữa! Tui hỏng tin! Ði bắn nhau “ì ì” chớ đâu phải đi “picnic” đâu… mà rảnh rỗi Trường Sơn Tây nhớ “o” Trường Sơn Ðông đây “cha nội”?
Mà bữa nào truyền hình cũng có mặt “ổng” hết trơn. Chán như “cơm nếp nát!” Bà con mình muốn ổng đừng lên “truyền hình” nữa mà “tàng hình” luôn cho “phẻ” con mắt và “phẻ” cái lỗ tai!
Ðó là về tinh thần! Còn về vật chất thì đói xanh như tàu lá chuối! Nhà nào có con chạy được vài năm trước, giờ nó gởi về cho một thùng “quà” chừng hai, ba chục “pounds” là mừng như trúng số!
Người viết không có anh em nào chạy được vì lẽ là nhà nghèo… hỏng có vàng… vậy thôi! Nên đành “ké” mấy thằng bạn nhậu khác… có anh em thơm thảo gởi về tí chút, “an ủi” chiều cuối năm. Tụi nó đem thuốc tây hay vải vóc ra chợ bán được một mớ rồi “hú” người viết: “Ê! chiều xuống quán Tám Lư ở đường Trần Hưng Ðạo mà uống bia hơi nhe!”
Quán nhậu chiều cuối năm cũng rôm rả lắm! Ða số uống rượu thuốc là rượu đế (gạo hay nếp) pha màu cho nó dễ “ực.” Ai trúng mánh như bàn nhậu của người viết và mấy thằng bạn thì mới dám uống bia hơi!
Ðầu hôm, thằng con của chủ quán ham vui, vác cái đàn ghi ta ra nhập bọn… đờn “tửng từng tưng,” chơi nhạc “cách mạng” Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây do Hoàng Hiệp phổ thơ Phạm Tiến Duật.
Nửa khuya, thiên hạ tan hàng, về nhà hết ráo, quán gần dẹp, nó ra kéo cửa lại! Ở trong, còn bàn nhậu duy nhứt của người viết vẫn chưa tàn; nó chơi bản:
“Một Chút Quà Cho Quê Hương”
Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay. Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con quê hương quá đọa đầy!
Gởi về cho chị dăm ba xấp vải Chị may áo cưới hay chị may áo tang? Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng!
Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây. Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình!
Em gởi về cho anh một cây bút máy Anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh. Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh (Xin) Mẹ pha hộ con (dòng) nước mắt đã khô cằn!
Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương. Gởi về cho em chiếc nhẫn yêu thương Em bán cho đời (để) tìm đường vượt biên!
Con gởi về cho cha vài viên thuốc ngủ Cha rũ cuộc đời trong trong tử tù chung thân. Gởi về Việt Nam khúc hát ân cần Mơ ước yên lành… trong giấc ngủ… da… vàng…!
Lần đầu nghe “chú” hát đâu biết là nhạc của ai nhưng phải công nhận là hay! Nhạc như vậy mới gọi là nhạc chớ! Nghe tưởng tượng như tác giả ở hải ngoại vừa đi siêu thị về, lui cui đóng thùng, gởi về cho ba má, anh chị em người một chút… Vừa làm vừa nức nở!
Trong thâm tâm, ước gì mình cũng “may” như tác giả, được có tiền, được đi siêu thị, mua rồi đóng một thùng quà gởi về nhà cứu đói. Mình muốn làm người gởi chớ hỏng muốn làm người được thăm nuôi đâu!
Sau này vọt được; mới biết bài này là của ông Việt Dzũng. Rồi chiều nay nghe tin ổng mất ở Huê Kỳ, tại bệnh viện thành phố Fountain Valley, quận Cam, tiểu bang California, hồi 10h35” sáng, ngày 20 tháng 12 năm 2013, chỉ mới 55 tuổi!
Nghe tin… như mình đang đi mà bị hụt chưn… lảo đảo muốn té!
Chưa hề được gặp ông, chỉ nghe nhạc của ông. Nhạc của ông là một phần đời kỷ niệm bi thiết đó của mình!
Xin cám ơn ông! Ông là “Một chút quà cho quê hương!” Mà người viết được “ké” vào trong đó một chút nước mắt khi nghe năm xưa! Và bây giờ khi nghe tin ông mất!
Là một đứa trẻ lớn lên tại Úc, thằng cu, con tui, cư xử giống hịt như Úc vậy! Hổng có cái vụ Tía nói mà con phải luôn luôn khoanh tay cúi đầu “Yes! Mommy” đâu nhe!
Mới hôm qua nè, bất đồng ý kiến với Má nó, thằng cu bèn hùng hồn tuyên bố rằng: “Con không muốn bị kiểm soát. Con muốn tự do, con yêu con nhỏ nào là con yêu. Yêu cho con; chớ hổng yêu cho Má! Thôi con đi đây!”
Nói xong, cu cậu ôm bịch rác đựng quần áo, tính tếch luôn ra cửa. Tui lật đật chạy theo. “Tía đừng có ngăn cản. Hãy để con đi!” “Không! Tía đâu có ngăn cản, nhưng xin con hãy đợi một chút, Tía đi với con!”
Hai Tía con tui lon ton ra cửa thì một chiếc xe Cảnh sát đậu xịt ngay trước mặt. Thầy đội quay kính xe tuần tra xuống, hỏi: “Ði đâu đó ông nội với thằng con nít? Thành phố đã bị cô lập, bị giới nghiêm rồi. Ai cũng bị quản thúc tại gia trong sáu tuần lễ sắp tới. Cà lơ phất phơ ngoài đường là lãnh cái giấy phạt 1,652 đô Úc đó nhe!”
Nghe vậy, hai Tía con tui bèn riu ríu bước vô lại chiếc lồng son của Má nó. Hu hu!
o O o
Ðúng như thầy đội Úc đã cảnh báo rồi cảnh cáo: Tiểu bang Victoria, có cái thủ phủ Melbourne của tui, đang bị chánh phủ tiểu bang cách ly, cô lập giai đoạn 3. Giai đoạn 3 là: Ði làm thì được. Giận vợ xách gói ra đi thì không được.
Ðời người tóm lại chỉ có hai mục ăn chơi. Chơi thì chánh phủ tiểu bang nầy cấm tiệt rồi. Sòng bài đóng cửa, máy kéo đánh bạc cũng ngừng quay. Nhà thổ cũng đóng cửa luôn. Mấy nàng Kiều chổng mông la Trời như bọng! Thế nên mấy anh mình buồn nào hơn đêm nay, bị trầm cảm nặng, bị bịnh tâm thần, cười đó, khóc đó cũng khá là nhiều!
Ði đám cưới lần thứ ba của thằng bạn nhậu cũng không được. Chỉ được phép có ba người. Cô dâu, chú rể và thằng cha làm nghi lễ kết hôn. Ði đám ma để tiễn bạn nhậu về bên kia thế giới vì bị ung thư gan chỉ được có 10 người. Cho dù thằng cha nầy hồi sanh tiền vốn rất quảng giao. Bạn nhậu của ảnh còn đông hơn cả quân Nguyên. Giờ chỉ có mấy cái thiệt là cần thiết mới được phép làm. Như cho đi chợ mua đồ ăn cho vợ. Nếu chánh phủ cấm tiệt hết thì đói nhăn răng chết cả lũ; trước khi chết vì con ‘coronavirus’ của Tàu.
o O o Mới tháng trước thôi, chánh phủ tiểu bang Victoria nầy đã đè được cái đường cong trong đồ thị, chỉ số người bị nhiễm con coronavirus COVID-19 xuống rồi nên xả cảng rồi mà! Giờ sao mấy ông chánh phủ lại nhốt tụi tui vô chuồng hết ráo vậy?
Thì ông Thủ hiến tiểu bang Victoria, Úc Châu (tương đương với Thống đốc bên Mỹ) trả lời rằng: “Ðây không phải là sự trừng phạt! Ðây là để bảo vệ cho ông bà và những người thân yêu. Biện pháp khắc nghiệt nầy đâu ai muốn kể cả tui!”
Ý của ổng, theo tui hiểu, là: “Còn sống mới còn mèo chuột tưng bừng, còn đi nhậu tá lả. Chớ chết là hết! Là ‘on-bon phi-nan’!”
Nghe vậy, tui thầm nghĩ đừng có cho tui uống nước đường để nhốt tui nhe! Nhưng mấy cái đài truyền hình số 7, số 9 của Úc đâu có dễ bị dụ! Mấy ‘giả’ mời ông Thủ hiến nhà ta xuất hiện trên đài để mà cật vấn:
“Xin ông đừng có đổ lỗi cho dân ngu khu đen nhe vì tiểu bang Victoria nhiễm con coronavirus mỗi ngày tới hằng trăm ca mới. Làm tiểu bang NSW về hướng Bắc, tiểu bang Nam Úc về hướng Tây nó rét, nó cấm cửa không cho tụi tui héo lánh chạy xe vào. Còn mấy tiểu bang xa hơn như Bắc Úc, Queensland hay Tây Úc, mình bay lên để tắm biển chơi thì nó đều mời mấy anh vô đây! Nhốt hết ráo cả bọn trong khách sạn năm sao tới 14 ngày. Nhưng chi phí là do mấy ông móc xỉa chớ chánh phủ tiểu bang tui không có bao đâu nhe!”
“Lỗi nầy tại ai?” Xong mấy nhà đài truyền hình nầy đế thêm: “Tại chánh phủ của ông hợp đồng vớ vẩn ăn chia với công ty an ninh tư nhân để kiểm soát những khách sạn cách ly dân Úc từ hải ngoại trở về. Mấy tay an ninh tư nhân nầy chỉ được huấn luyện có 5 phút về cách phòng dịch. Thế là mấy chú (tỉnh bơ như người Hà Nội) ‘tù ti tú tí’ với mấy em đang bị cách ly. Xong, đem con ‘coronavirus’ về lây cho con vợ nhà. Con vợ nhà lại lây cho thằng cha hàng xóm. Rồi thằng cha hàng xóm lây qua luôn cả xóm! Nên tình hình rất là tình hình như vậy đó!”
Xong báo, đài còn nhao nhao lên đòi ông Thủ hiến phải từ chức, đi chỗ khác chơi đi, để cho đứa khác nó làm! Tội nghiệp ông Thủ hiến mặt xìu xuống như đưa đám ma, nói: “Tui xin tạ tội nhưng để tui ngồi lại để chống con ‘coronavirus’ Vũ Hán nầy cái đã.”
Nhưng đời mà! Xưa giờ cũng vậy. Vận đen của anh nầy lại là cơ may cho em khác cất giọng kỳ thị phân biệt chủng tộc để mà câu phiếu. Nên có chuyện rằng:
Chiều thứ Sáu, thằng nhóc Johnny ngồi trong lớp học thì cô giáo bảo:
“Các em nghe đây: ai trả lời được một trong những câu đố này thì cô sẽ cho về sớm bữa nay và được nghỉ học ngày thứ Hai tới.”
Ai khám phá ra Châu Úc và vào năm nào?
“Thưa cô thuyền trưởng Cook năm 1788” Jimmy Nguyen trả lời.
“Giỏi lắm Jimmy! Em có thể về sớm và được nghỉ ngày thứ Hai tới.” “Thưa cô không! Lớn lên em muốn làm bác sĩ nên em phải siêng học. Em không muốn nghỉ ngày thứ Hai đâu!”
Thình lình cuối lớp có đứa hét tướng lên: “Tổ cha thằng Châu Á!”
Cô giáo giận dữ hỏi: “Em nào nói đó?” “Pauline Hanson, năm 1996”.
Trả lời xong, Johnny chạy ù ra cửa, còn nói vói lại: “Gặp lại cô vào ngày thứ Ba nhé!”
o O o Pauline Hanson, 66 tuổi, là lãnh tụ một đảng chánh trị nhỏ chút éc, có tên là ‘One Nation’, đang làm Thượng nghị sĩ Liên bang Úc thuộc tiểu bang Queensland, thấy con ‘coronavirus’ hoành hành dữ dội ở tiểu bang Victoria bèn chụp lấy cơ hội để nhào vô kiếm ăn bằng cách tự hỏi rồi ‘bả’ tự trả lời!
“Tại sao những tòa nhà cao tầng của chánh phủ cho dân nghèo mướn vòng quanh Melbourne như Flemington, North Melbourne… phải bị cô lập? Bị nội bất xuất; ngoại bất nhập?
Tại vì cư dân không chịu tuân nghe lời chánh phủ biểu phải giãn cách xã hội, đừng lại gần nhau hơn 1.5 mét. Ở trong mấy cái chúng cư nầy có rất nhiều người nghiện rượu, nghiện ma túy. Thiếu hai thứ đó, tụi nó chịu không có nổi nên la làng chói lói lên!
Là di dân từ các nước bị tàn phá về chiến tranh được đến Úc nầy đây, vốn hào phóng về tiền an sinh xã hội, là sướng quá cha rồi mà cứ la làng hoài hè? Tiếng Anh thì không chịu học. Không chịu đồng hóa vào dòng chánh mạch của Úc. Cà chớn như vậy nên có thể gián tiếp gây ra cái chết cho người Úc của chúng ta.”
Giới truyền thông Úc nghe vậy bèn hỏi Pauline có trái tim hông; xong cấm bà Thượng nghị sĩ xuất hiện trên đài truyền hình; vì cái tội loan truyền những thông tin sai lệch, gây chia rẽ dân Úc để thủ lợi về chánh trị.
Bà Thượng nghị sĩ nầy phản pháo là: ‘Tôi có trang Facebook riêng của mình để kết nối với mọi người. Hai năm tới tui lại ra tranh cử! Không muốn tui thì đừng bỏ phiếu cho tui. Ðùng chụp cái mũ kỳ thị chủng tộc lên đầu tui. Quyền tự do ngôn luận mà!”
o O o
Mấy người bạn văn bên Mỹ cũng xót thương hoàn cảnh của tui bèn gọi qua hỏi thăm tới tấp: “Sao rồi mậy?”
“Thành phố, buồn nằm nghe khói tỏa. Người lưa thưa chìm dưới sương mù”. Vắng hoe như Chùa Bà Ðanh hè mấy anh ơi!
Dục tửu phá thành sầu, tui rót ra một ly rượu đỏ ‘quất’ nghe cái ót để mong sau cơn mưa trời lại sáng.“Còn cầm bằng sau cơn mưa trời lại tối thì sao chú em?” “Ờ trời lại tối thì tui đi ngủ! Ðể trong con mơ và mớ, tui lại nhớ tới: “Quỳ bên em trong góc giáo đường. Tiếng kinh cầu đẹp mộng yêu đương. Chúa thương tình sẽ cho mình mãi mãi gần nhau!”
Tình tui bất khả lậu! Xin bà con độc giả kín miệng, đừng tiết lộ giấc mơ hoa nầy cho con vợ tui hay nhe!
Trời đêm mát mẻ. Khu vườn đã được bác trai tôi tưới ướt đẫm, hơi ẩm toả lên chan hoà bầu không khí. Từ giữa những vòm cây, có tiếng cánh chim cưạ quậy trong giấc ngủ, khua động màn đêm. Đối với Jimmy và tôi, tiếng động vang dội ấy như tiếng thở hổn hển của con quái vật đang ẩn núp đâu đó. Chúng tôi nắm tay nhau dò dẫm đi sâu vào trong bóng tối. Chiếc đèn dầu leo lét ở phía trước chỉ đủ soi tỏ vài bước trên mặt đất. Tôi có thể nghe thấy tiếng cãi cọ của lũ anh họ tôi từ bàn ăn vọng ra và tiếng bà bác tôi cố bắt họ giữ im lặng.
Khi chúng tôi bước tới đống lá khô, tôi mò mẫm tìm cái xác của con chó trong lúc em tôi đứng cạnh bên tôi, hai tay bưng cây đèn dầu. Chẳng mấy chốc mà tôi tìm thấy Lulu, một nửa thân xác bị vùi trong đống lá. Dưới ánh sáng chập chờn, nó nằm nghiêng, cái mõm há hốc. Dù đã chết, mặt nó vẫn còn giữ vẻ thảng thốt. Một bên mắt của nó bị dập nát, nhầy nhuạ, sậm mầu máu. Máu cũng ứa ra từ hốc mắt bên kia, rỉ xuống thân mình nó, như một vệt sơn đen. Cái cẳng tật nguyền vắt ngang mõm như thể nó đã cố gắng tự vệ trước sự tấn công của lũ anh họ tôi. Thân thể nó ướt nhẹp bởi một thứ nước khó phân biệt, có thể là nước tiểu của nó, hay là cái đống mà nó đã oẹ ra, hoặc là cũng có thể do nước mà bác tôi tưới vườn.
Tôi dùng cả hai tay để mang nó lên bất chấp mấy ngón tay dính nhầy nhuạ. Nụ hôn của thần chết đã làm cho thân thể nó cứng lại. Tôi ghì nó trong vòng tay, hy vọng hơi ấm của tôi có thể làm cho nó sống lại. Quên bẵng cả sự hiện diện của đứa em, tôi bật lên khóc mùi mẫn. Ẳm Lulu trong đôi tay, tôi đi về sân cỏ phía trước nhà tôi. Tôi lưạ một chỗ để chôn Lulu, một khoảnh đất dưới tàn cây mai trông ra đường phố.
Em tôi lầm lũi đi theo mà không nói tiếng nào. Ngay khi tôi cầm cái xẻng con để xới lớp đất mềm lên, nó cũng lấy một cái thuổng để giúp tôi. Bất thình lình, có một tiếng động phát ra từ phía sau bụi cây, khiến hai anh em tôi giật bắn mình. Tôi rít lên hãi hùng :
– Ai đó ?
Từ phía sau bức tường ngăn đôi nhà tôi với bên hàng xóm hiên ra một thằng bé trạc tuổi tôi, hai tay đút trong túi quần. Trong bóng tối, tôi có thể nhìn thấy dáng mặt của nó đang liếc nhìn chúng tôi với vẻ tò mò.
– Không có ai hết !
Vừa nói nó vừa bước ra chỗ sáng để tôi có thể trông thấy. Tóc nó đen và dài thoòng che phủ gần khắp khuôn mặt. Cái áo thung qúa khổ trùm lên thân hình gầy gò của nó và chùng xuống tới đầu gối nom giống như một cái áo đầm. Nó đi chân đất. Nghếch cái đầu qua một bên, thằng nhỏ cất tiếng hỏi :
– Hai đứa mày đang làm cái gì thế ?
Em tôi đáp :
– Làm đám tang cho con chó của anh Kiên.
– Vậy hả, tao giúp một tay được không ?
Jimmy nhìn tôi. Tôi gật đầu đồng ý. Thằng bé trông có vẻ thân thiện, vả lại tôi đang cần một đứa bạn. Tôi nói với em tôi:
– Ra mở cổng cho nó qua đi.
Thằng nhỏ quơ hai tay lên ra dấu từ chối, nói :
– Khỏi cần. Tao trèo qua tường được.
Nó tiếp tục thật thà khai :
– Trước khi gia đình mày dọn tới, tao đã trèo qua nhà bác mày cả triệu lần, thường là để ăn trộm ổi.
Nó bắt đầu trèo qua tường cao, thành thạo như một con khỉ. Mình nó trườn qua lớp kẽm gai ở phía bên trên, đung đưa trong không khí một lát trước khi nhẩy xuống phía bên tôi. Lúc nó đứng dậy, phủi những cọng cỏ bám trên quần áo, tôi mới hỏi :
– Sao mày biết cái ông đó là bác của tao ?
– Quanh đây không có nhà nào mà giữ được bí mật. Ngoài ra, tao còn cả dòm sang nữa. Tao đã chứng kiến mấy thằng khốn kia giết con chó của mày.
Nghe nhắc đến Lulu, tôi lại muốn khóc. Tôi không góp ý vào những lời bình luận của nó, tiếp tục đào đất. Thằng nhỏ cầm lấy cái xẻng trên tay em tôi và bắt đầu xới lớp cỏ lên. Cũng giống như khi leo trèo, nó đào nhanh nhẹn hơn tôi rất nhiều. Trong khi đó, cái nhìn chăm chăm của nó đang thầm lặng quan sát chúng tôi. Đôi mắt hình trái hạnh sáng rực lên trên khuôn mặt của nó. Tôi cất tiếng hỏi :
– Tên mày là gì ?
– Tao tên là Duy. Còn mày là Kiên phải không ? Tao đã nghe cô giáo San kêu tên mày ở trong lớp. Không biết mày có nhớ là đã nhìn thấy tao không, nhưng chúng mình học cùng lớp đấy. Tao ngồi ở ngay chỗ cửa sổ.
Lại một lần nữa tôi tảng lờ không đáp và nó vẫn tiếp tục nói :
– Dù sao tao cũng mừng được biết mày.
– Tao cũng thế. À, đây là Jimmy, em tao.
Jimmy ngước lên, nhe răng ra cười. Duy nhoài người lại gần tôi hơn và thì thào :
– Đối với con của một tay tư bản, mày kể ra cũng biết quá nhiều về Cộng sản đấy. Mà mày học ở đâu ra những điều Hồ chủ tịch dậy nhi đồng thế ? Mà thôi ! Đừng nói ! Tao không muốn biết đâu.
Nó ngừng lại, rồi đổi sang một giọng tình cảm hơn :
– Đừng có buồn về lũ anh họ của mày. Chúng nó chỉ là một đám hay ăn hiếp người thôi. Quanh đây cũng chẳng có ai ưa cái gia đình bà bác của mày. Ba tao nói bọn họ chỉ là một lũ hạ cấp bợ đỡ mà thôi. Một ngày nào đó, tao và anh em tao sẽ kiếm dịp đá đít tụi nó cho mà coi. Còn mày thì khác hẳn tụi nó nên tao thích. Thỉnh thoảng, nếu thích thì mày và em của mày có thể qua nhà tao chơi. Tao có một con chó vui lắm. Mày qua chơi thì biết.
Em tôi hỏi :
– Chó của anh tên là gì ?
– Ngốc !
Em tôi cười và nhắc lại :
– Ngốc ! Cái tên nghe tức cười quá !
Duy đáp :
– Một cái tên tức cười cho một con chó tức cười !
Tới lúc đó thì cái lỗ đã được đào vưà đủ sâu để chôn Lulu. Tôi đặt cái xẻng qua một bên và ngồi xuống đất, ngay cạnh nó. Tôi vuốt lên nó lần chót trước khi đặt nó vào lòng đất xốp. Chúng tôi lặng lẽ ngắm nhìn những lớp đất dần dà bao phủ lên tấm thân nhỏ bé của nó, chút một, cho đến khi không còn nhìn thấy nó nữa. Duy đặt lại lớp cỏ phủ lên phần đất trên mộ của nó. Tôi thầm thì :
– Cảm ơn nha.
Duy đập đập hai bàn chân, nói :
– Tao phải về thôi. Sắp tới giờ giới nghiêm rồi.
Tôi hỏi :
– Mày không quơ vài trái ổi à
– Thôi đêm nay thì khỏi. Có kẻ rình chúng mình đấy. Chuồn thôi ! Chào ! Ngày mai gặp lại ở trường. À Kiên này, bây giờ mày biết là chúng mình học cùng lớp, vậy tốt hơn, hãy đi la cà với tao còn hơn là cứ lủi thủi một mình quanh sân trường. Được không ? Nó nói một cách vội vã, chưa kịp nghe tôi trả lời thì đã trườn qua bức tường và biến mất trong bóng đêm.
Khi tôi và Jimmy về gần tới cửa sau, một tiếng thì thào rất nhỏ vang lên từ chân tường nhà ông bác của tôi làm chúng tôi dừng lại. Một cái bóng dưạ vào cột nhà vẫy tay, ra hiệu cho chúng tôi lại gần. Tôi nhận ra ngay dáng dấp người con gái lớn nhất của bác tôi, chị Ánh Nguyệt. Đã có kinh nghiệm về sự man rợ của lũ anh họ, nên tôi muốn bỏ đi. Nhưng sự tò mò cuối cùng đã thắng, và tôi ra lệnh cho Jimmy :
– Mày vô nhà trước đi. Anh sẽ về liền.
Trước khi nó kịp phản đối, tôi đã đẩy nó qua cửa sau và chạy về phía chị Nguyệt. Chị ngồi bệt xuống đất, hai chân co lên sát ngực để cho cằm có thể dưạ vào hai đầu gối. Ánh sáng chiếu từ khung cửa sổ vừa đủ khiến cho thân hình gầy gò của chị khỏi trộn lẫn vào bóng tối bao quanh.. Chị ho húng hắng, hai tay chị che lấy miệng một cách lịch sự. Tôi tiến đến trước mặt chị và cất tiếng hỏi :
– Chị muốn gì ?
Chị đáp, môi run run vì trời lạnh :
– Không có gì, chỉ coi em thôi. Kiên, chị thấy em chôn con chó. Chắc em hận mấy đứa em chị lắm. Chị muốn thay cho lũ chúng nó mà xin lỗi em. Hồi chiều, tụi nó tệ quá đỗi.
Tôi chẳng biết trả lời chị ra sao. Chị vỗ nhẹ vào nền đất và mời tôi :
– Em ngồi xuống đi.
Tôi ngồi xuống theo lời mời của chị. Chị lại hỏi :
– Kiên, em có biết tên chị là gì không ?
Tôi gật đầu
– Ánh Nguyệt.
– Đúng rồi, nhưng em có biết tiếng Mỹ thì gọi là gì không ?
Tôi lắc đầu còn chị thì mỉm cười. Bàn tay của chị vuốt lên đầu tôi :
– Dịch ra tiếng Mỹ là Moonlight. Nghe xuôi lỗ tai quá hả ?
Tôi đồng ý :
– Vâng, rất xuôi tai.
– Vậy kể từ nay em gọi chị là chị Moonlight đi nhé, như hồi chị còn ở trong trường các bạn chị cũng gọi như thế.
Chị co tay lại che miệng, giọng nói lúng búng như thể đang có đồ ăn đầy mồm :
– Vừa rồi chị thấy có một thằng bé. Nó đi đâu rồi ?
– Nó về nhà rồi.
– Tại sao hôm nay nó không ăn trộm ổi vậy ?
Tôi lắc đầu :
– Nó nói là có kẻ nào đó đang rình nó. Có thể là nó đang ám chỉ chị đó, chị Nguyệt.
Chị chỉnh lại tôi :
– Moonlight chứ !
Tôi nhắc lại :
– Chị Moonlight.
– Nó có nhắc gì về mấy đứa anh trai nhà nó không ?
Tôi quyết định nói thẳng ra với chị :
– Dạ có. Nó nói là một ngày nào đó, anh em nhà nó sẽ nện cho lũ em nhà chị một trận vì mọi người đều nghĩ là lũ em chị chỉ là một lũ chuyên môn đi bắt nạt người khác.
Chị phá lên cười và vuốt tóc tôi :
– Có giỡn không đấy ? Có thật nó nói như vậy không ? Tụi nó sức mấy mà đánh nhau. Hai bên đã từng là hàng xóm của nhau bao nhiêu năm rồi, chị chưa từng thấy lũ con trai nhà bên ấy gây gổ với bên này bao giờ.
Tôi hỏi :
– Tại sao không ?
Chị bỗng nhiên đổi giọng ra vẻ người lớn :
– Tại vì.. Ồ, thôi, dẹp chuyện đó đi. Em còn quá bé để hiểu được vấn đề.
Tôi nói một cách tự hào :
– Chị cứ thử nói đi, em hiểu thiếu gì chuyện.
– Ồ, có thiệt không đó ? Cũng có thể em hiểu đấy, nhưng em có giữ kín được bí mật không ?
– Coi chừng đó, em mà tiết lộ cho ai về điều mà chị sắp nói ra thì lũ em của chị sẽ không tha kiếm đó. Và chị đoán chắc với em là khi đó em sẽ đoàn tụ với con Lulu sớm.
Tôi trả lời chị :
– Chị Moonlight, em xin hứa là sẽ không nói với ai hết, kể cả Jimmy.
Chị bắt đầu kể :
– Thôi được, như thế này. Câu chuyện liên quan đến anh cả thằng bé ấy và chị. Anh này và chị quen nhau từ lâu. Tên ảnh là Tống Ty.
Chị nghiêng đầu, tì cằm lên hai đầu gối, hai tay bó lấy mắt cá chân. Ngước mắt lên nhìn trời cao, chị tiếp tục thì thầm :
– Chị và ảnh lớn lên cùng với nhau, và bẩy năm trước đây, anh Ty bắt đầu tỏ tình với chị. Đó là một điều bí mật. Tuyệt đối gia đình chị không thể biết việc này, em hiểu chứ ?
Tôi hỏi :
– Tại sao vậy ? Mọi người không thích chị hẹn hò với anh ấy ư ?
Chị đáp :
– Không phải, vấn đề có đôi chút phức tạp hơn là như thế. Trước khi Sài Gòn sụp đổ, gia đình của ảnh không muốn cho anh ấy lấy chị vì họ giầu, còn bên chị thì nghèo. Anh Ty lại là con trai trưởng nên ba má anh muốn anh kết hôn với một người mạnh khoẻ và mắn con. Còn chị thì vừa ốm yếu lại vừa bị lao phổi. Nhiều lý do để cha mẹ anh chống lại mối liên hệ giữa hai người. Bây giờ, những người Công sản tịch thu hết của cải của họ thì đến lượt gia đình của chị lại coi khinh bên ấy.
Chị ngừng lại, chìm đắm trong ý nghĩ của chị. Tôi hỏi :
– Vậy chị làm cách nào bây giờ ?
Chị cọ nhẹ gương mặt vào lớp quần luạ trong dáng lắc đầu, đáp :
– Chị cũng chẳng biết nữa. Sự thực là, cha của anh ấy là một sĩ quan cao cấp trong quân đội Cộng Hoà. Ai cũng cho là họ có lý lịch xấu, giống như nhà em vậy. Ba chị thì không muốn chị dính liú tới thành phần có tội như ảnh. Sự việc cả thành phố biết là có liên hệ với gia đình em đã đủ tệ hại rồi. Cho nên, cũng thông cảm về chuyện chị bị cấm gặp anh ấy.
Tôi hỏi :
– Nhưng gia đình em thì có vấn đề gì kia chứ ?
Chị Moonlight trả lời ngay :
– Không có gì hết.
Rồi chị thêm :
– Trừ một điều là chính các em đã khiến cho họ nhớ lại quá khứ. Đó là cái bề ngoài lạc lõng của em và Jimmy, với lại cái cung cách mà mẹ em kiếm tiền thông qua sự liên hệ với người ngoại quốc. Mọi người trong gia đình của em đều là dân tư bản.
Tôi cãi lại :
– Thì ba chị cũng vậy. Ông ấy cũng ở trong quân đội Cộng Hoà mà.
– Đúng. Nhưng nhà nước biết rằng ba chị chỉ là thứ đi quân dịch cấp thấp và chỉ làm việc trong văn phòng thôi. Ông ấy không giết một ai ngoài mặt trận, nên có khác chứ. So sánh với hầu hết mọi người trong xóm, nhà chị được gọi là giai cấp lao đông thấp kém nhất miền nam.
Chị nhìn tôi qua đôi hàng lông mi :
– Nghe này, chị đâu có đặt ra luật lệ, đừng có mất công cãi cọ với chị. Ngoài ra, tại sao mình lại chống nhau chứ ? Nếu phải đảo ngược vị thế, thì gia đình em cũng đối xử với gia đình chị như vậy thôi. Đời là thế mà, Kiên. Mình hãy làm bạn với nhau vì chị muốn Kiên giúp chị.
– Giúp chị à ? giúp gì ?
– Em quen Tống Duy. Nếu em la cà với nó thì sẽ có lúc em gặp anh nó dễ dàng. Lúc đó, em có thể chuyển cho anh Ty lời nhắn của chị được không ? Nếu chị có thể nhờ được một đứa em trai hay em gái của chị thì chị chẳng làm phiền đến em. Nhưng chị biết là chúng nó sẽ từ chối.
Tôi hỏi chị với một sự bồn chồn :
– Chị nhắn tin gì vậy ?
– Ngay bây giờ thì chị cũng chưa có tin gì. Có thể là vài hàng chữ, hoặc vài món quà, đại loại là như thế. Chị cũng chưa rõ hẳn. Nhưng khi đã có rồi thì em có chiụ giúp chị không ?
Chị nhìn tôi, mắt đầy hy vọng. Nhưng cùng một lúc, tôi phát hiện trên gương mặt của chị có cái gì khang khác, – một vẻ tuyệt vọng. Tôi đành phải hứa với chị cái điều mà chị cần nghe. Chị nhoài qua ôm lấy tôi, mái tóc của chị xoà xuống mặt tôi :
– Tốt ! cảm ơn em. Em đúng là con chim xanh bé nhỏ, thân yêu của chị. Chị sẽ cố hết sức để cho lũ em thô bỉ của chị sẽ không làm phiền tới em và Jimmy nữa.
Tôi đứng nhìn chị khuất vào sau cánh cửa nặng nề rồi mới trở về nhà. Ở trên sàn, cạnh cây đèn dầu là một phần cơm nhỏ mà bà ngoại đã để cho tôi. Mẹ tôi thì đã khoá cửa nằm một mình trong buồng nhưng chưa ngủ. Tôi nghe tiếng sụt sịt của bà sau cánh cửa hình như bà đang bị cảm lạnh. Jimmy thì đang nằm trên giường chăm chú nhìn tôi. Tôi chui vào tấm nệm trải giường, bỏ mặc phần ăn tối trên sàn. Chỉ một thoáng là tôi đã ngủ say.
Ở chỗ họp trở về, mẹ tôi tỏ thái độ bứt rứt, cáu kỉnh. Dượng lâm thì thiểu não như một qủa bóng bị xì hơi. Mặt bà lộ vẻ giận dữ khi nhìn thấy Jimmy và tôi đang nằm lết trên sàn với con chó. Bà la chúng tôi :
– Đem ngay cái con quái này đi cho khuất mắt tao. Bỏ nó ra ngoài sân.
Ông ngoại tôi bênh :
– Nó còn bé quá làm sao ở bên ngoài được.
– Thây kệ ! Đem ra ngoài !
Tôi bế con Lulu lên tay và em tôi cũng vội vã theo tôi đi mau cho khỏi tầm mắt của bà. Tại sân trước, hai đứa tôi đi tới đi lui còn Lulu thì nhẩy cà nhắc lẩn quẩn quanh chân của chúng tôi. Một lát sau Tín dẫn theo lũ em chận chúng tôi lại. Hắn chỉ vào con chó và hỏi :
– Mày có cái quỷ gì vậy ?
Tôi đáp :
– Qùa của chị Loan cho đấy. Nó tên là Lulu.
– Đưa tao coi.
Nói rồi hắn đẩy tôi qua một bên và xốc con chó lên. Lulu kêu lên một tiếng ” ẳng ” khi nó bị bàn tay của hắn xiết chặt vào khoảng bụng.
– Đừng có mạnh tay qúa, nó đau. Chân nó bị tật.
Vừa năn nỉ tôi vừa cậy ngón tay của hắn ra để lấy lại con chó. Hắn giơ con chó lên cao hơn để tôi không với tới. Lũ em rộ lên cười khi thấy tôi kiễng lên để với theo. Tín quay về phía chúng nó, vừa đu đưa con chó vừa cười. Rồi hắn la lên :
– Ê ! Nhân và Hiếu. Chúng mày chạy lại đằng kia để tao quẳng cho tụi mày con chó què này nhé.
Tôi la lên chói lói để goị mẹ tôi. Thằng em tôi thì bắt đầu oà lên khóc. Tôi nhìn con chó trong tay hắn mà lòng thầm lo, không biết mẹ tôi có nghe tiếng kêu cứu của tôi không. Bỗng nhiên cánh cửa bật mở và có giọng nghiêm khắc của ông tôi hét lên :
– Tín ! Trả lại cho thằng Kiên con chó, mau !
Tín khựng ngay lại giữa đà đu đưa con chó. Tôi bèn chạy lại phía hắn giật nó ra khỏii bàn tay giữ chặt của hắn. Bác tôi và bác trai chạy xồ ra cửa nhà. Từ khung cửa, mẹ tôi cũng vừa xuất hiện với vẻ bực bội. Bác gái nhìn thằng con của mình rồi chống tay lên hông, trên môi vẫn còn tòng teng điếu thuốc cẩm lệ. Bà nói với tôi :
– Có cái quái gì mà mày phải tru tréo lên như đàn bà vậy ? chỉ vì một con chó mà phải rùm beng lên. Còn ba nữa, ba không việc gì phải la hét với chúng nó để bênh thằng này. Chúng nó đều là cháu của ba cả, chẳng việc gì mà ba phải về phe của đứa nào. Nếu ba không bằng lòng với lũ con nhà này chơi với đứa cháu qúy tử của ba thì ba cứ nói. Không cần phải la lối chúng nó.
Mẹ tôi bước lại phía tôi, ném nột cái nhìn nghiêm khắc làm tôi díu cả người lại. Bất thình lình, bà giang tay tát lên mặt tôi một cái thật mạnh khiến tôi thấy nổ đom đóm mắt. Rồi bà rít lên :
– Lại chuyện về con chó ! Tại sao vậy Kiên ? Tại sao mày không hoà thuận được với tụi nó. Tại sao mày cứ bầy chuyện ra để làm khổ cho tao thế này.
Bà tiếp tục gào :
– Mày có biết rằng tao đã phải chiụ bao nhiêu là thứ phiền phức đến độ căng thẳng thần kinh không ? Có bao giờ mày nghĩ đến lúc tao chiụ hết nổi, tao tung hê hết không ?
Ông tôi quát mẹ tôi :
– Nó có lỗi gì mà mày đánh nó ? Nó đang chơi với em nó. Đừng có giận cá chém thớt. Để cho nó yên.
Mẹ tôi tiến lại phiá tên anh họ của tôi và xoa lên đầu hắn nhẹ nhàng, nói:
– Cháu đừng để ý đến ông. Ông già rồi, mà ông chẳng có ý la cháu đâu. Thôi, tha lỗi cho em nó đi. Chúng nó chỉ là những thằng đầu đường xó chợ. Có thể cháu không nghe dì, nhưng cứ tin đi, cái lũ gà chết này không thể làm hại cháu và gia đình cháu đâu. Đừng ghét bỏ chúng mà làm gì.
Bác tôi kéo thằng con ra khỏi bàn tay vuốt ve của mẹ tôi, đẩy hắn vô nhà, ném cho mẹ tôi thêm một cái trừng mắt trước khi khuất theo. Mẹ tôi nhìn vào tận mặt tôi, nói thêm một câu trước khi bà đi vào nhà :
– Mày có giỏi thì gây thêm chuyện nữa đi !
Tôi ngồi phệt xuống đất, ôm lấy con chó và trong khoảng khắc quên đi cái đau đớn gây ra bởi cái tát của mẹ tôi. Jimmy cũng qùi xuống đất, nhìn tôi lo lắng. Một giọt nước mắt còn đọng lại trên mi của nó, nhưng nó đã bắt đầu cười toe toét. Lulu hếch cái mõm lên, lưỡi của nó liếm lên cái vạch đỏ còn hằn trên má tôi. Ở ngưỡng cửa, ông ngoại tôi lắc đầu. Ông ngồi ở đó, trên bậc cấp và canh chừng cho chúng tôi đến hết buổi sáng.
Chiều hôm đó, khi ngủ giấc trưa dậy, tôi không thấy Lulu đâu cả. Tôi phóng ra khỏi giường đinh ninh sẽ tìm thấy nó đang chơi với Jimmy. Nhưng Jimmy vẫn còn đang ngủ trên giường của nó. Tôi tìm tòi khắp căn buồng mà vẫn không thấy tăm hơi của Lulu đâu. Mẹ tôi đứng ở cửa nhìn tôi lặng lẽ. Sự sục sạo của tôi có lẽ làm bà giật mình chỉ ít phút sau thì bà chậm rãi nói với tôi :
– Nếu mày có ý đi tìm con chó của mày thì thôi đi. Mẹ đem nó cho người ta rồi.
Tôi dò xét khuôn mặt của bà để tìm một câu giải thích :
– Mẹ nói như vậy nghiã là gì ?
Măc dù hỏi thế, nhưng tôi đã hiểu ra ngay và lắp bắp :
– Tại sao thế, mẹ ơi. Con đâu có gây rắc rối gì nữa đâu. Tại sao mẹ lại làm như thế ? Mẹ cho người ta là ai vậy ?
Tuy bà không trả lời, nhưng đã có kẻ khác thay thế cho bà. Từ phía bên ngoài, vọng lại một tiếng rên rỉ quen thuộc – tiếng con chó của tôi. Tôi phóng ra phía cửa sổ và nhìn thấy lũ anh họ của tôi đang chơi trong vườn nhà họ. Tín đang ở giữa đám em, tay xách gáy con chó lủng lẳng. Bốn cẳng của nó chới với trong không khí. Tôi la thất thanh :
– Đừng !
Nước mắt của tôi trào ra. Lồng ngực của tôi thắt lại. Tín cười hô hố. Hắn đưa con chó lại gần mặt hắn hơn, bất kể nó sủa, goị to :
– Coi này ! Thằng lai ! Con chó của mày bây giờ thuộc về tao rồi.
Chân tôi khuỵu xuống khi tôi quay lại cầu cứu mẹ tôi :
– Mẹ ơi, lấy lại con chó đi. Con xin mẹ. Con sẽ làm bất cứ điều gì mẹ muốn, chỉ cần lấy lại nó thôi.
Mẹ tôi trả lời :
– Tránh cái cửa sổ đó ra. Con chó thuộc về người khác rồi.
Ngoài vườn, cái giọng chua ngoa của bà bác tôi nói to với lũ con :
– Tao chẳng hiểu sao tụi bay lại đi dành cái con chó què quặt ấy làm gì. Nó có đi đứng ngay ngắn gì được đâu
Tín trả lời mẹ :
– Ơi, xài nó làm banh đem đá được rồi !
Đứng ở cửa sổ, tôi nghe rõ từng câu nói của hắn như từng nhát dao cứa vào da thit.. Mẹ hắn cười lớn :
– Thôi dẹp đi !
Tôi kinh hoảng nhìn về phía mẹ tôi như thể bà là niềm hy vọng cuối cùng, và khóc nức nở :
– Mẹ ơi, đừng để chúng nó giết con chó của con.
Mẹ tôi quát :
– Câm mồm. Mày đã mất biết bao nhiêu thứ hơn thế nữa mà có bao giờ thấy mày giở một giọt nước mắt đâu. Vậy tại sao bây giớ lại khóc ? Vì cái gì chớ ? vì cái con chó khốn kiếp ấy hả ? Mày bước ra khỏi cái cửa sổ đó ngay lập tức. Hãy cứng rắn lên !
Nói xong bà quay lưng về phía tôi. Ở bên ngoài. Tín ném con chó lên cao. Thân hình bé nhỏ của nó lộn trên không. Nhưng trước khi nó rớt xuống đất, hắn nhắm kỹ và sút một cú đá truyền nó qua vườn về phía một trong lũ em của hắn. Con chó nhỏ hết còn kêu được một tiếng nào. Cú đá của Tín đã ép không khí ra khỏi buồng phổi của nó. Rớt rãi văng lên cao thành một vệt trắng trắng tung tóe như vệt sơn.
Tôi phóng ra khỏi cửa, đẩy mẹ tôi sang một bên. Tâm trí tôi chẳng còn quan tâm đến bất cứ chuyện gì ngoại trừ con Lulu. Mẹ tôi túm lấy cánh tay tôi, kéo lại. Bà kêu lên và đồng thời cũng bật khóc :
– Mày đứng lại !
Ông bà ngoại tôi xuất hiên ngay cửa buồng. Ông nói :
– Mày coi kìa. Tại sao mày lại hại con ruột mày đến thế ?
Mẹ tôi vừa chùi nước mắt bằng mu bàn tay của mình vừa sut. sit. :
– Ba đừng xiá vào chuyện của con. Ba lầm rồi. Con đâu có hại nó. Con chỉ dạy cho nó cứng rắn hơn thôi. Ba với con có quan điểm khác biệt nhau, vậy con xin ba cứ để mặc tụi con.
Phiá bên ngoài, tiếng bịch bịch do cái xác của con Lulu bị dùng làm trái banh để đá đi đá lại đã giảm và xa dần cho đến khi nó bị tan loãng trong tiếng cười của lũ anh họ. Tôi quỵ xuống sàn, kiệt quệ.
Sau khi moị người đã ra khỏi căn phòng, tôi vẫn còn nằm dài trên sàn. Đầu óc tôi trống rỗng. Hình ảnh của một cánh đồng xanh muớt, yên tịnh, không có người, không có hương vị và không một tiếng động chiếm lấy tâm trí tôi. Ttrong cánh đồng này, tôi chạy chân trần trên thảm cỏ xanh và ánh nắng ấm áp bao phủ lên khắp thân mình. Rồi thì Jimmy lôi tôi trở về thực tế. Nó ân cần nói :
– Anh Kiên, dậy đi. Mẹ goị. Tới giờ ăn tối rồi.
Dưới lưng tôi, thảm cỏ xanh rờn từ từ biến mất, chỉ còn cái thềm nhà cứng ngắc. Jimmy kéo mạnh tôi lên để giúp tôi đứng dậy. Tôi lại nhớ tới con Lulu, cái mũi nó ướt nhèm, hơi thở nó ấm áp và cái lươĩ mềm mại của nó môĩ lần nó liếm mặt tôi. Nỗi căm giận lại nổi lên trong lòng làm tôi đứng phắt dậy, nước mắt tuôn rơi. Tôi vớ ngay lấy cái đèn dầu để gần bàn và bước ra ngoài để đi ra vườn.
Jimmy chạy theo bên cạnh, níu lấy cánh tay tôi :
– Anh Kiên, anh đi đâu đấy. Quay lại đi. Mẹ đang nổi cáu lên rồi đó.
Tôi trả lời :
– Để mặc tao, Jimmy. Tao cóc cần.
– Thế anh làm gì vậy ? Anh đi đâu vậy ?
– Tao đi tìm con chó của tao.
– Nó chết rồi, anh Kiên ơi. Em đã nhìn thấy anh Tín ném xác nó vào đống rác
Tôi quay phắt lại và chôp. lấy bả vai của nó :
– Ở đâu ? Đống rác nào ?
Nó chỉ ngay về một chỗ ngoài vườn, một cái góc tôí tăm chất đầy lá rụng mà bác dượng của tôi vẫn trữ lại để ủ làm phân bón. Phía trên là một tàng cây ổi lớn với những nhánh cây đen trùi trũi khúc khuyủ vươn lên bầu trời. Dàn dây leo ở phía hàng rào cũng đã mọc thành một mảng lưới mâù xanh, kín mít. Trong bóng tối, cây cối đã biến thành con quái vật trá hình với những cánh tay quều quào và những cái chân có màng trấn giữ mặt đất. Tuy sợ, nhưng tôi vẫn cả gan tiến lại gần. Phía sau, thằng em tôi nhảy dựng lên khi nghe tiếng réo goị của mẹ tôi từ trong nhà. Tôi bảo nó :
– Jimmy, quay vào nhà đi. Đừng có vì anh mà lại gặp chuyện rắc rối.
Nó đáp :
– Em không muốn về một mình đâu. Em đi với anh.
– Mẹ sẽ đánh đòn cho nếu mày không nghe lời anh.
Jimmy cắn vào môi dưới, nhưng nghĩ thế nào nó quyết định ở lại với tôi. Tôi tiến sâu hơn vào trong khu vườn. Ở chỗ hai đứa đứng, tôi có thể nhìn thấy bóng dáng mẹ tôi hiện rõ trên khung cửa sổ. Bà chần chừ, nhưng không ép chúng tôi phải trở vào trong nhà.
Phước Long mới được tái chiếm lại. Ngày ấy, Trung Tá Mã Sanh Nhơn là tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng. Trại B-34 LLĐB/HK lúc ấy chưa có LLĐB/VN.
Thời gian ở đây trôi qua chậm chạp, lượn lờ và nhàm chán. Trừ một số nhân viên nhà bếp, giúp việc người Việt còn lại toàn là người Mỹ. Cuộc sống an nhàn nhưng vô vị không hứng thú. Nửa năm ở đây thế là đủ, tôi muốn thay đổi. Lên gặp Trg/tá Joseph E Roy, tôi xin chuyển đến toán A.341 Bù Đốp. Nghe nói ở trại A đời sống sôi động hơn (lương cũng cao hơn) Yêu cầu được chấp thuận, cắp theo cây guitar, tôi lên chopper vù đến Bù Đốp đất đỏ.
Mừng vui được gặp lại nhau, tôi được Đ/úy Hannawald trưởng trại cho tôi chọn lựa, hoặc quanh quẩn ở trại làm việc với ông, hoặc đi theo đại đội hành quân. Tôi xin đi hành quân thay vì ở trại và tôi sẽ được phân bổ khi đại đội đi hành quân về. Ông nói đại đội A thiếu thông ngôn, có lẽ tôi sẽ làm việc với đại đội Nùng này.
Tôi chờ đợi những mới lạ và sống động. Đại đội còn đang hành quân, chưa về. Tôi tha thẩn quanh trai, tìm hiểu, truyện trò và ngắm nhìn lung tung. Trong trại, anh em biệt kích phần đông là Nùng, một ít người Kinh và còn lại là người Thượng (Montagnard). Tôi mến người Thượng. Họ chân chất và thật thà. Họ không sõi tiếng Kinh. Điều này sẽ rất tồi tệ khi có chuyện, lúc ấy tôi sẽ không làm tốt công việc của mình. Chưa chính thức nhận nhiệm vụ rõ ràng với đại đội thì điều tôi lo sợ đã xảy ra…
Chạng vạng tối hôm sau, ngoài sân bắn, lúc thử súng, một hạ sĩ quan người Mỹ còn rất trẻ (không biết tên) đã để đạn lạc trúng một thanh niên Thượng khi đi ngang qua sân bắn. Viên đạn vô tình đã cướp đi một mạng người. Biết chuyện sẽ không hay, Đ/úy Hannawald cho gọi gấp một Cessna, bốc ngay người lính Mỹ trẻ về B-34 Phước Long, chờ phương tiện đưa đi Nha Trang. Ông chuẩn bị việc chia buồn, tạ lỗi cũng như đền bù cho gia đình người xấu số. Nhưng mọi việc không như ông nghĩ.
Khi chiếc Cessna khuất bóng sau rừng cao su, đất đỏ còn mù mịt cuối airfield, một số đông người trong buôn làng túa ra tụ tập trước doanh trại. Những ngọn đuốc bập bùng ánh lửa, những thân người đen nhãy mồ hôi chạy rầm rập, những khuôn mặt đầy kích động đang ra sức hò hét, trên tay họ là cung, tên. nỏ, rựa, dao cồng, chiêng, phèng, mõ đua nhau khua gõ rầm trời, họ cho thấy họ sẵn sàng sống chết mạng đổi mạng.
Trai được đặt trong tình trạng báo động, bạo loạn có thể xảy ra vì trong trại cũng có nhiều biệt kích người Thượng.. Mọi việc khó lường..
Ngột ngạt ..Căng thẳng .. dễ sợ . .
Ông Hannawald lịnh cho tôi theo và chỉ được đi tay không.
Ông bước ra với cử chỉ thân thiện khi người thân của người xấu số được dẫn tới.
Chắp tay trước ngực, ông chào theo cung cách người Việt.
Trước mặt ông, một bà cụ người Thượng gày gò móm mém, lưng còng đang vật vã, khóc lóc lu loa, nước mắt nước mũi ràn rụa, tay chân khoa múa loạn xạ. Tiếng khóc thương của người Thượng thật não lòng, khó diễn tả nếu không phải là một nhà văn. Thật tiếc vì tôi không làm được việc đó. Nó như tiếng rú, tiếng gọi, trầm bổng, ỉ ôi, dai dẳng, khằng khặc, nghe não nuột và bi ai làm sao!
Ông Hannawald muốn biết tương quan giữa bà cụ và người xấu số. Tôi chậm rãi hỏi bà và hy vọng bà hiểu. Đáp lại, bà cụ chỉ khóc và rú từng chập trong sự kích động của đám đông người dân trong buôn làng. Ông Đ/úy giục giã hỏi tôi những lời kể lể của bà cụ. Nào tôi có hiểu gì?
Lời thúc giục của ông cộng với tiếng hò hét vang dậy của đám đông khiến tôi hoảng.
Tôi cố gắng hiểu cụ và cuối cùng biết rằng nạn nhân là cháu của cụ. Bố mẹ nó chết hết rồi.. Đau đớn quá! Bà cụ chỉ còn mình nó …
Mỗi lân ông Hannawald hỏi tôi là tiếng hò hét lại to hơn, sự kích động được đẩy lên cao hơn. Đám người vây quanh chúng tôi nhưng ông không nao núng hoặc sợ sệt.
Sự tự tin của người sĩ quan LLĐB được hun đúc ở Fort Bragg của ông đã giúp tôi bình tĩnh trở lại. Cả tôi và ông đều đổ mồ hôi. Ông tháo mồ hôi vì hơi nóng của lửa đuốc, của hơi người. Tôi đổ mồ hôi vì nóng và vì sợ hãi. Cái sợ này khác hẳn với cái sợ trước lằn tên mũi đạn. Xông trận, sống chết có số. Hơn nữa, lằn ranh địch ta rõ nét. Đối mặt, ta chậm bóp cò ta tiêu. Mi chậm bóp cò mi ngủm.
Vậy thôi! Nhưng, giờ này ở đây… trước mặt tôi không phải quân thù. Tôi đang ở phía người bị lên án. Chúng tôi có thể lãnh một loạt cung tên, một loạt vết rựa, dao và đủ thứ giận dữ man dại đổ lên đầu, lên người. Trong khi, chúng tôi lại không có vũ khí trên tay để chống trả. Nhưng nếu có, chắc gì tôi dám xả súng vào đám người người dân vô tội kia? Nếu tôi chết trong hoàn cảnh này thì đau quá! Chẳng fair tý nào
Vòng người xiết chặt hơn, tôi có thể cảm nhận qua cái nóng của đuốc, của mồ hôi người, mùi da khét nắng lẫn hơi thở dồn dập, giận dữ, xô đẩy của đám đông. Không khí ngột ngạt. Bà cụ bỗng ngã qụy xuống đất ngất xỉu vì mệt và ngộp thở. Tiếng hò hét to hơn, tiếng cồng chiêng điên loạn om trời cùng tiếng dậm chân thình thịch, tôi nghĩ chắc chết vì sẽ có bạo động nếu không biết kềm chế ..
Nhưng, mọi việc dường như chựng lại ..tất cả im bẵng khi ông Hannawald quỳ một chân xuống đỡ lấy bà cụ. Rút mu soa từ trong túi, ông lau nước mắt, chùi nước mũi dãi cho bà cụ. Đám đông dõi nhìn việc làm của ông, lẳng lặng ẵm bà cụ lên tay, ông chầm chậm đưa bà vào trại, hướng về phía trạm xá.
Ông Hannawald rất nhỏ con so với người Mỹ bình thường. Ông chỉ cao khoảng hơn thước sáu một tý. Chân thấp chân cao có lẽ do bị thương. Hình ảnh người Đ/úy Mỹ nhỏ con, khập khiễng ẵm một bà cụ Thượng trên tay, lặng lẽ bước qua cổng trai khi người lính gác cổng đứng nghiêm chào thật xúc động. Không còn sự kích động nào, tiếng hò hét nay chỉ còn tiếng xì xào từ đám đông. Sự xúc động đều giống nhau nơi con người. Vài người người thân của bà cụ theo sau ông Hannawald đi vào Dispensary.
Ông Hannawald muốn bà cụ được chăm sóc thật tốt. Cái TÂM của ông được thể hiện rất rõ. Anh em biệt kích thẳng người khi ông bồng bà cụ bước qua. Bên ngoài cổng trại, đám đông tản mạn ra về. Tôi tạm thở phào…
Những y tá người Kinh hiểu tiếng Thượng, họ giúp tôi giải thích cho ông. Ộng gật gù lắng nghe vẻ xúc động ..
Việc mai táng được tiến hành theo nghi thức của buôn làng với sự trợ giúp của trại. Gia đình người xấu số được bồi thường. Hành động của ông Hannawald phần nào hóa giải phẫn uất của buôn làng. Họ đã tha thứ.
Ông đứng ra nhận trách nhiệm cho thuộc cấp và tỏ ra hối tiếc về việc không hay. Nếu không phải là ông, tôi nghĩ mọi việc chắc chắn sẽ rất tồi tệ. Mọi việc trở lại bình thường. Phần tôi, tôi vẫn sợ.. Tôi SỢ lắm. Sẽ còn nhiều việc xảy ra vì ngôn ngữ bất đồng và điều đó sẽ khiến tôi không làm tốt công việc của mình. Suy nghĩ cạn cùng, viện cớ người nhà đau, tôi xin về phép. Được chấp thuận, bỏ lại cả cây đàn guitar, tôi gói ghém đồ lên chiếc C-123 chuồn thẳng. Tôi quay về B-34 và ở lỳ không dám về Bù Đốp nữa.
Bái bai Bù Đốp!!! Bái bai Bye A-341!!! Tính ra, tôi ở Bù Đốp mới chỉ mấy ngày. Khi biết tôi không quay lại, ông Hannawald đã “Phắc” và “Cà chua” om sòm! Sau đó, nghe nói ông đã tử trận trong một cuộc hành quân không xa trại lắm và ông được vinh thăng Thiếu tá. Ít giòng viết về ông thay nén nhang tưởng nhớ đến người quân nhân Hoa Kỳ nhân hậu vì Tư Do của đất nước Việt Nam tôi, ông đã hy sinh.
Nghiêng mình kính cẩn vĩnh biệt Thiếu Tá HANNAWALD C.O Det A-341
Trước khi về làm C.O của Bù Đốp, ông Hannawald là X.O của B-34 Phước Long. Thời gian này ông còn là Đại úy và tôi cũng đã được làm việc dưới quyền ông. Tôi trở lại trại B-34 sống cuộc sống nhàm chán, buồn tẻ..
Chỉ 2 phút sau, người đã ngồi xếp hàng kín cả sân trại. Mỗi toán được xếp hàng đôi và ngồi dọc theo chiều dài. Tôi lướt nhìn, đến gần một chục toán, họ ngồi im phăng phắc. Thoáng thấy Toàn, Vân, một số người quen mặt ngồi trong hàng và nhất là trông thấy Nguyễn Huy Lân đang đứng ở đầu toán, tôi bước đến người ở phía sau. Tôi nghiêng người khẽ hỏi một anh ngồi bên:
– Sao kẻng tập họp đi làm sớm thế, bây giờ là mấy giờ?
Quay lại, anh nói rành mạch:
– 6 giờ rưỡi, kẻng tập họp để 7 giờ thì xuất trại.
Tôi không hỏi anh nữa, nhưng trong lòng tôi đang nghĩ ngợi: 5 giờ báo thức. Như vậy, chỉ có 1 giờ 30 phút mà bao nhiêu là việc, chả trách ai cũng nhanh nhẩu, nhớn nhác chạy như ma đuổi. Có nhiều con mắt nhìn về phía tôi, thậm chí nhiều người ngồi mải hàng trên còn ngoái lại. Có thể vì tôi là người tù mới đến trại. Hơn nữa, tôi vẫn còn mặc chiếc quần tergal mầu vàng và cái ruột áo bông còn tốt mà các cậu Phúc Thổ, Thọ Lột, Tiến Ga v.v… ở dưới Hỏa Lò đã trang bị cho. Loại quần áo này, làm khác hẳn với quần áo mầu xám xịt, hoặc nâu đất của anh em toàn trại. Bên ngoài cổng, một lũ công an vũ trang mặc quần áo xanh lá cây, đeo súng dài cũng đang đứng xếp hàng đôi một loạt. Cạnh đấy, một lũ công an mặc áo vàng mà lúc này gọi là quản giáo, đang đứng tùm hụm phía trong cổng. Một lúc sau, có lẽ chúng trao đổi, hoặc nhận chỉ thị chung gì đó, mỗi tên tản ra đến gặp toán trưởng từng toán tù.
Nhìn Lân ôm một chồng sổ sách đang đứng báo cáo với một tên cán bộ ở phía góc sân; tôi dự đoán có lẽ y là cán bộ của toán 2, tức toán của tôi. Nhất là, thấy y cứ liếc nhìn về phía tôi, hẳn Lân đã báo cáo với y có tù mới nhập toán. Tuy rằng, là cán bộ y đã phải biết trước Nguyễn Huy Lân nhiều ngày. Y khoảng 4 chục tuổi, có cái đầu cắt ngắn kiểu Tăng Gô làm cho mặt y hơi chất phác, không có vẻ ác ôn, láu lỉnh.
Trời sớm, chợt sáng bừng lên. Lơ đãng, tôi đưa mắt nhìn về phía Đông, mặt trời đã ngoi lên khỏi rừng nứa đến 3 gang tay, làm cho mầu đỏ nét chữ của khẩu hiệu: “Vì miền Nam ruột thịt, bộ đội đổ máu nơi chiến trường, nhân dân đổ mồ hôi trên đồng ruộng” tươi rói lên, tương phản với cái nền mầu trắng của tờ giấy dài, dán lên tấm phên nứa che giếng nước của trại. Tấm biểu ngữ ngay trước mặt như đập vào mắt những toán tù đang ngồi xếp hàng. Trời mùa Đông, nhưng hôm nay trong xanh. Một vài vạt mây trắng nằm trải dài trên những ngọn nứa xa xa như đang cố muốn ngóc đầu lên, để nhìn xuống sân trại xem đám tù ra quân; xả thân lao động vì miền Nam ruột thịt.
Chừng 20 phút sau, tên Cẩn và một tên cán bộ vũ trang đeo lon thiếu úy. Mỗi tên tay cầm một cuốn sổ, tay cầm cây bút đứng sát hai bên phía cổng trại. Tên Cẩn bắt đầu gọi từng toán một. Mỗi toán khi gọi đến tên, đều đứng hết dậy, rồi theo hàng đôi tiến ra phía cổng. Khi toán ra hết khỏi cổng trại, toán trưởng của toán đó, đứng lại báo cáo to nhân số xuất trại của toán mình; nếu phù hợp đúng với số người mà 2 tên đang điểm; khi đó, ở bên ngoài cổng sẽ có hai tên vũ trang đã được phân công từ trước, tách ra khỏi hàng, đeo súng đi theo toán tù đó.
Toán 2 và 3 là hai toán làm việc trong khu thủ công ngay cách cổng trại chừng 150 mét, vì vậy thường được gọi sau cùng. Lúc toán 2 ra khỏi cổng trại, Lân, lão cán bộ áo vàng quản giáo và hai tên bộ đội vũ trang đi sát liền phía sau. Ra đến bên ngoài, tôi lại nhìn thấy con đường đất đỏ mà ngày hôm qua tên Y đã dẫn tôi vào đây. Nhìn chéo phía trái, cũng vẫn lá cờ máu đang ngơ ngác trên ngọn chiếc cột là một cây muồng to thật dài sơn trắng. Phía bên trong là một khu nhà, trong đó có một cái nhà khá to, tuy cũng vẫn là gỗ với nứa. Bên ngoài, phía trước có nhiều chậu cảnh và những luống hoa dài mà tôi đã đoán từ hôm qua, đó là nhà của giám thị và bọn cán bộ coi trại.
Ngay phía bên phải đường theo một đường mòn khoảng dăm chục thước là một chiếc cổng bằng gỗ để mộc đã mốc đen xì vì mưa nắng. Bên trên là một chiếc biển đề: “Khu thủ công”. Chiếc biển có lẽ đã mang nặng tuổi đời nên đã cong méo đi. Nét chữ đỏ nhiều chỗ sơn đã dộp lên như gỗ mục lâu ngày đang mọc nấm mèo.
Khi toán 2 đã vào hết trong sân khu thủ công, vẫn phải đứng xếp hàng đôi ở giữa sân. Anh Lân toán trưởng đi từ đầu toán xuống đến cuối, miệng lẩm bẩm, mắt nhìn từng đôi một. Sau đó, anh quay lại, tiến đến đứng nghiêm trước hai tên vũ trang, từ nãy vẫn đứng chờ ngay phía cuối toán:
– Báo cáo cán bộ, toán 2 điểm số 49 người, đủ!
Hai tên cùng lạnh lùng gật đầu. Bấy giờ toán mới tản mác , mỗi người chạy về cầu bào chỗ làm của mình. Tôi đang nhìn theo tên quản giáo toán đi phía trước, Lân ôm chồng sổ sách quầy quả đi theo sau về phía một chiếc nhà con, đầu tôi chợt nghĩ: mới có từ trong trại ra đây chỉ hơn một 100 mét, thế mà đã phải điểm lại, báo số. Thật là một nguyên tắc giáo điều!
Vì chưa được phân bổ công việc, trong khi tên cán bộ toán và Lân chắc còn đang hội ý trao đổi hay báo gì đó trong căn nhà con. Hơn nữa, mỗi người mỗi việc chả ai nói gì đến tôi, cho nên tôi đi lang thang trong lán nhìn những cảnh lạ của cuộc đời mới lạ.
Một không khí lao động hùng hục, ai cũng luôn chân, luôn tay cưa, đục, đẽo; thấy tôi đi qua cầu bào chỗ họ đang làm. Thỉnh thoảng mới có một anh ngẩng lên nhìn tôi, hơi mỉm cười như chào, rồi lại cúi xuống say mê vào với công việc. Thấy Toàn đang mắm môi, gò lưng cưa một miếng gỗ dầy, tôi rảo bước tiến lại. Toàn ngừng tay, ngẩng lên vừa hỏi tôi vừa thở:
– Anh Bình chưa được phân về tổ nào à?
Tôi tươi mặt trả lời Toàn là chưa và tôi định hỏi làm như thế này thì có mệt lắm không. Nhưng Toàn đã lại gò người xuống, chồm chồm cưa rọc như bổ củi. Thấy vậy, tôi khẽ gật đầu chào Toàn vì tôi đã liếc thấy Phan Thanh Vân đang dạng hếch chân ra trên cầu bào, tay cầm chiếc dùi đục to tướng, đang vẹo người nện lấy nện để vào cái đục ở trong tay kia. Một tay ngoáy đục, một tay anh nện liên hồi, tôi đến kề bên mà anh vẫn không thấy. Chờ một giây, tôi đành cao giọng, lên tiếng vì tiếng đục, tiếng cưa vẫn cứ chan chát:
– Làm gì mà ghê thế? Chắc Vân đã quên ngày cầm càng lướt gió rồi à?
Vân ngẩng lên, mặt đỏ gay, chắc anh đang mệt. Một mắt của anh ánh lên hơi cười rồi liếc nhanh một anh bào soàn soạt ở cầu bào bên cạnh. Anh cố lờ ý nói đùa của tôi mà chỉ hỏi:
– Trước đây anh đã biết tí gì về nghề mộc chưa?
Vẫn giọng đùa cợt, tôi hỏi lại Vân:
– Thế ngày xưa Vân có biết làm mộc không?
Vân hơi nhếch mép cười rồi lại giơ dùi lên tiếp tục nện. Tôi cảm thấy rằng nhiều người không dám nói chuyện trong khi lao động. Nghĩ vậy tôi rảo bước sang chiếc lán nhỏ, chỗ có lò rèn và mấy bác già đan lát. Tôi rẽ ra một lối đi nhỏ, rồi bước lên hè của căn lán lò rèn. Ở đó, tôi thấy một số bác già đang cúi xuống, mải mê đan những chiếc giành. Tôi khẽ lách chân để đi qua, nhưng mấy bác đã lục đục đứng cả dậy hơi cúi đầu lễ phép:
– Xin chào cán bộ ạ.
Tôi ngạc nhiên nhưng chợt hiểu. Chỉ vì chiếc quần tergal màu vàng của tôi. Hẳn rằng các bác đang cắm cúi làm việc, thấp thoáng thấy chiếc ống quần mầu vàng, nên họ mới lầm như vậy. Tôi vừa đặt tay nhẹ vào một bàn tay nhăn nheo của một bác, vừa nói:
– Cháu cũng là tù đây mà bác!
Bác già hơi mở to mắt, rồi mấy bác cũng vừa cười vừa ngồi xuống, còn ngoái nhìn theo tôi mãi. Tôi thầm nghĩ: “thì ra cái mầu vàng ở đây cũng có oai thực”.
Tôi đang mơ màng đi dần vào giấc ngủ muộn rã rời, mỏi mệt thì đột nhiên có tiếng ai đó vang lên trong đêm:
– Báo cáo ông cán bộ, tôi xin đi tiểu!
Tiếng báo cáo giật giọng như gọi mọi người thức dậy của một người ở sàn trên, làm tôi giật mình mở choàng mắt. Vài tiếng ho húng hắng, xen lẫn tiếng trở mình, rồi tất cả lại chìm vào im lặng.
Cứ như vậy cho đến sáng, thỉnh thoảng đây đó, sàn trên hoặc sàn dưới lại dội lên tiếng báo cáo thì làm sao tôi ngủ được. Nhìn những người khác, tôi thấy họ vẫn ngủ đều. Có thể họ đã quen hàng đêm từ lâu như vậy rồi.
Vì không ngủ được nên tôi cũng mót đi giải. Tôi cứ nằm rụt rè đắn đo mãi, trong cái lần đầu phải báo cáo cái rắc rối này. Cho đến khi tưởng không còn có thể rụt rè nữa thì may quá vừa lúc đó có một anh ở sàn bên báo cáo; tôi cũng ngồi dậy báo cáo và theo họ vào nhà cầu.
Nhà cầu là một gian hẹp phía cuối buồng, chỉ rộng chừng một mét. Một đầu là một bệ xi măng nhỏ, chỉ có một chỗ cho người đi đại tiện. Một đầu là một cái giá gỗ ba tầng úp đầy những nón lá và áo tơi. Ngay phía giữa, sát dưới nền đất có cái máng bằng xi măng để cho gần một trăm người trong buống đi tiểu tiện. Vì vậy khi tôi bước vào, một mùi khai nồng nặc xông lên làm cho mắt cay xè. Tôi vừa đi tiểu, vừa nghênh ngó nhìn chiếc đèn dầu hỏa con con treo sát vách tường chiếu ánh sáng lờ mờ, không rõ. Một anh vào trước đã đi tiểu xong, quay lại: tôi hơi tò mò vì anh cũng chỉ một mắt như Phan Thanh Vân, tuy rằng anh còn quá trẻ. Anh mỉm cười gật đầu chào tôi rồi hơi ngập ngừng dè dặt:
– Anh ở trong Nam ra ạ?
Nghe giọng nói hơi ngang, không rõ âm tiếng Việt nên tôi mỉm cười gật đầu. Anh sôi nổi:
– Em cũng là biệt kích không ở trong Nam ra.
Tôi mở to mắt nhìn anh. Anh tiếp:
– Toán em bảy người, hiện nay ở đây có năm người.
– Ủa, thế tên cậu là gì?
Tôi hơi ngạc nhiên hỏi.
– Em là Shè Khửu Sáng.
Tôi hơi đắn đo:
– Thế Sáng là người dân tộc à?
Anh đã mở cửa đi ra, còn ngoái lại nói khẽ:
– Em là người Nhắng, quốc tịch Việt.
Khi trở về chỗ nằm mãi, vẫn không ngủ được, tôi nằm nghe tiếng đêm thâu với bao nhiêu nỗi khắc khoải cho ngày mai của cuộc đời. Bên cạnh tôi, Vân vẫn ngáy đều đều, ngay từ mười giờ tối.
Tôi đang chập chờn chìm dần vào cơn ngủ khuya thì một hồi kẻng rền rĩ, xé tan cái tĩnh mịch, âm u của núi ngàn làm tôi choàng tức dậy. Có tiếng loa “nói thầm” cũng bắt đầu lí nhí dạo điệu nhạc khởi đầu bài tập thể dục buổi sáng.
Căn buồng tôi như sôi lên tiếng lục sục gấp chăn, gấp màn. Tôi đã ngồi dậy nhưng vẫn còn ngơ ngác trong giấc ngủ nửa vời. Vân đang gấp chăn màn bên cạnh, quay lại giục giã:
– Kẻng báo thức rồi, gập chăn màn theo qui định trật tự nội vụ. Tranh thủ đi đái rồi vào ngồi điểm số. Cán bộ vào điểm bây giờ.
Thấy tôi cứ lúng túng mãi với màn, với chăn, Vân cầm lấy giũ tung ra rồi vừa gấp vừa nói:
– Bình phải nhớ màn gấp như thế này và chăn gấp như thế này!
Chỉ hai phút, Vân đã gấp xong gọn ghẽ. Màn bên trong, chăn bên ngoài thành một hình hộp chữ nhật; phải vuốt, nắn cho vuông thành, sắc cạnh. Chưa xong, sau đó Vân nghiêng đầu xuống sát sàn, ngắm, ra hiệu tay cho hộp chăn của người nào còn thụt vào, nhô ra. Cuối cùng, sao cho thành một hàng thẳng tắp: cách vách đúng một gang tay (20 phân). Vân vừa làm, vừa như căn dặn, giải thích:
– Mỗi sàn có một người chịu trách nhiệm trật tự nội vụ. Khi cán bộ điểm buồng xong, ban thi đua sẽ đi khám: chấm từng buồng trong nếp sống văn hóa mới, lấy điểm bình bầu của toán mỗi tháng, mỗi quý (tam cá nguyệt) và cuối năm.
Trong buồng, mọi người đã ngồi xếp hàng thứ tự, ngay ngắn từng đôi một ở sàn dưới. Vì buổi ban đầu còn nhiều lớ ngớ, chậm chạp nên tôi chưa kịp đi giải thì cửa đã loạch xoạch mở rồi. Trời mùa Đông, lại ở miền rừng núi nên bên ngoài vẫn mờ mờ chưa sáng hẳn. Tên Cẩn đã bước vào cửa buồng, đột nhiên y nghiêm trang đứng lại một vài giây liếc toàn buồng. Sau đó, tay y xách chiếc đèn bão, bước những bước dài theo lối đi giữa nhà điểm phạm; mỗi bước chân của y là một đôi. Tên Tân cầm chùm chìa khóa rủng rẻng, thập thò phía bên ngoài cửa. Nhiều buổi thấy tên Cẩn đứng lại một vài giây ở cửa trước khi điểm, tôi không hiểu thì sau này đã hiểu: khi cán bộ bước vào buồng điểm, toàn buồng mọi người đều ngồi xếp chân bằng tròn. Thứ tự, anh sàn dưới ngồi trong, anh sàn trên ngồi phía ngoài thành từng đôi một. Hai tay để trên hai đầu gối, ngực ưỡn, đầu thẳng, người ngồi sau trông thẳng gáy người ngồi trước sao cho thẳng hàng ngang, hàng dọc, toàn buồng không một ai còn động đậy. Nếu ai đó đầu còn ngúc ngắc, hay còn xê dịch cho thẳng hàng thì cán bộ quay ngoắt trở ra ngay, đi điểm buồng khác.
Lúc đó thì buồng này thật khốn khổ. Thường thường cán bộ đi điểm hết các buồng rồi về phòng thi đua trật tự, cộng số phạm toàn trại thiếu, đủ. Giải quyết những việc đột xuất xẩy ra trong đêm có khi 15 hoặc 20 phút. Buồng đó vẫn cứ phải ngồi yên, chờ cho cán bộ trở lại điểm. Lúc này thì ai cũng nhớn nhác, vắt chân lên cổ mà chạy lo mọi việc. Ai cũng bị trễ, vì những giờ giấc từ lúc kẻng báo thức cho đến lúc kẻng tập họp đi làm, kẻng xuất trại đều đã được ban giám thị nghiên cứu tính sát nên ai cũng phải khẩn trương mới kịp.
Trong buồng, chỉ còn trút hết sự buồn giận vào anh nào đã không ngồi ngay ngắn để cả buồng bị phạt. Chưa hết, anh đó còn bị cả buồng sinh hoạt phê bình, xỉ vả trong tuần. Không những cá nhân anh đó mất điểm thi đua, mà cả toán, cả buồng đều bị giảm điểm thi đua. Chính vì thế cho nên ai cũng phải giữ nghiêm ngặt.
Trở lại chỗ tên Cẩn đang điểm. Khi tên Cẩn đi vòng ra tới cửa, một tay tên Tân đưa tập sổ điểm cho tên Cẩn, tay kia y nhận chiếc đèn bão do tên Cẩn đưa. Lúc tên Cẩn hý hoáy ký sổ đã điểm đủ người của buồng II là lúc tên Tân xách chiếc đèn bão và chùm chìa khóa vội vàng rảo bước, chạy sang mở tiếp cửa buồng bên cạnh. Như vậy, điểm cả ba buồng cũng chỉ hết 6 – 7 phút là cùng.
Khi tên Cẩn ra khỏi cửa buồng cũng là lúc tù túa ra sân như kiến động tổ. Người cầm bát, người cầm rỗ, người xách gầu. Anh nào đến phiên trực của mâm thì hộc tốc chạy xuống bếp lĩnh sáng về chia cho các anh em trong mâm. Thật là ồn ào, ngoài sân, trong nhà, người chạy đi, người chạy lại í ới gọi ngoài sân, chỗ thì chia ở góc hè. Đã được anh Lân nhắc khi nãy là lấy sắn sáng ở mâm anh Đồng, vì vậy tôi theo Toàn lại một góc sân đặt rổ để lấy sắn.
Tuy vừa qua một đêm ít ngủ, chật chội ngột ngạt trong buồng, ra đến ngoài được thở hít bầu không khí trong lành của buổi ban mai; nhưng mùi sắn luộc nồng lên, tỏa ngát khắp sân đã cuốn hút hết cả tâm hồn tôi. Nhìn những củ sắn to nhỏ, trắng mát mắt xếp dầy một chiếc soong nhôm của mỗi mâm, nước chân răng tôi đã ướt dầm chỉ vì bụng tôi đã lép kẹp ngay từ tối hôm qua. Hơn nữa, từ lâu rồi cả ở trong Nam cho tới khi ra Bắc, cũng như dưới Hỏa Lò tôi chưa được ăn sắn luộc. Trong khi chờ mâm cân, chia sắn, tôi theo Toàn, vì Toàn có cái gầu gỗ con, chạy xuống phía giếng nước trước nhà bếp; cách buồng II chừng 50 -60 mét. Chiếc giếng thật rộng, đường kính đến 3 – 4 mét. Bờ giếng được xây cao hơn mặt đất khoảng 40 -50 phân. Giếng thật sâu, nhưng về mùa Đông nước nhiều nên chỉ cho gầu xuống 4 – 5 mét là tới rồi. Còn chiếc khăn mặt bằng miếng vài xoọc sé từ chiếc áo tù cũ ở dưới Hỏa Lò, tôi tranh thủ dùng nước để lau qua cái mặt. Nước lạnh buốt làm những ngón tay tôi cứng ra và đỏ lên.
Trời đã sáng dần, về hướng Đông, chìm sâu phía rừng già đã hồng đỏ lên một góc. Chắc hẳn mặt trời mùa Đông dậy muộn, sắp mò lên nhìn cảnh vật. Tôi vừa lau mặt, vừa nhìn mấy bụi chuối cạnh giếng. Lẫn vào đám lá xanh có một bắp chuối con đã thò ra đỏ chót. Tôi đưa mắt nhìn quanh những tấm liếp bằng nứa đan dầy vây quanh giếng, lòng nghĩ ngợi mông lung: nước buốt và lạnh thế này thì tắm làm sao? Nhưng Toàn đã ra khỏi giếng, quay lại giục tôi về ăn sắn kẻo sắp đến giờ tập họp đi làm.
Trở về đến chỗ mâm chia sắn, thì chỉ còn cái rổ của tôi và chiếc rá rách của Toàn để chơ vơ giữa nền sân. Phần của tôi cũng như của Toàn mỗi người, lớn thì 2 đoạn, nhỏ thì 3 đoạn sắn gồm chừng 2 lạng. Cầm rổ sắn, tôi theo Toàn vào mé hè của hội trường ngồi ăn. Tuy củ sắn có vài chỗ chạy máu đen xì hơi đắng, nhưng những chỗ còn tốt thì thật là tuyệt cú mèo; vừa bở, vừa ngọt lại vừa thơm. Miệng nhai, nhưng hồn tôi lặng lờ chảy ngược về những ngày xưa, lâu lắm rồi. Khi tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng mẹ tôi đi chợ về mua cho mỗi đứa một đoạn sắn luộc. Mấy anh em chúng tôi bẻ ra từng miếng nhỏ, rủ nhau mang chiếu ra mải góc bờ ao dưới bóng của cây mơ già. Mỗi lần, mỗi đứa chỉ được lấy ra một miếng để ăn. Thành ra nó vừa thòm thèm, vừa ngon, ngon hơn cơm, ngon như một món quà. Tôi lại nhớ đến một lần ở dưới Hỏa Lò ngoài trại chung. Một buổi chiều, mụ Hoa và cô Vân ríu rít, hí hửng đã đem 2 cái bánh mì để đổi lấy 2 củ sắn mà một anh tù từ một trại trung ương phải về xử lại đem theo.
Đối với người ít khi được ăn sắn luộc thì nó như một món quà lạ miệng, ngon ơi là ngon! Mới chỉ vài phút, suất sắn của tôi đã sạch trơn. Trong khi tôi liếc Toàn và một số người khác thì họ vẩn còn ngồi nhai chậm chạp.
Tôi đang tính cầm rổ đứng dậy để vào buồng thì một bóng người cầm một chiếc đĩa nhôm đựng một suất sắn tiến lại phía tôi và Toàn đang ngồi. Anh chừng 35 – 40 tuổi mà tôi đã biết anh cũng ở buồng số II với tôi. Anh mặc bộ quần áo nâu, tuy cũ nhưng không có miếng vá nào; khác biệt với đại đa số tù, thường mặc là loại vải mầu xám xậm mà trại phát. Đặc biệt anh có đôi mắt lươn. Khi anh nhìn, tôi cứ tưởng như anh đang lim rim mơ màng. Cầm đĩa sắn, anh hơi ngập ngừng nhìn tôi:
– Anh thích ăn sắn lắm hả? Anh có ăn được nữa không?
Trời, sao lại hỏi lạ lùng như vậy. Tôi muốn nói là tôi còn thích hơn ăn cơm nữa ấy chứ! Nhưng tôi cũng hơi ngượng và chưa hiểu hết ý của anh nên cũng ngập ngừng, chậm rãi:
– Nhưng đó là phần của anh!
Anh nhìn tôi vẫn đôi mắt lim rim, rồi đặt ngay đĩa sắn vào cái rổ của tôi, nói kiểu coi pha cuộc đời:
– Tôi không ăn, anh thích thì cứ ăn. Tôi đã ăn sắn quá nhiều rồi!
Giọng anh nằng nặng của miền Nghệ An. Anh nói rồi bỏ đĩa sắn đấy đi luôn vào buồng. Tôi đang đắn đo thì Toàn đã nói nhỏ:
– Anh cứ ăn đi, Lê Sơn đấy! Anh ta vẫn không thích ăn sắn.
Tôi đang muốn hỏi “vậy anh ta ăn bằng cái gì” thì thoáng thấy tên cán bộ trực trại và tên Tân từ phía nhà trật tự bên cạnh nhà bếp, rảo bước đi lên, rồi vào buồng số II của chúng tôi. Mọi người ở sân, kể cả tôi và Toàn đều ngạc nhiên nhìn theo với những đôi mắt dè dặt, lấm lét. Mới mấy phút, tôi chưa kịp hỏi Toàn thì đã thấy một anh chừng 25 – 26 tuổi, da trắng trẻo, nét mặt đăm đăm ôm chăn và chiếc chiếu từ trong buồng đi ra. Tên Cẩn theo sát phía sau, rủng rẻng lắc chùm chìa khóa. Tôi chợt nhớ ra anh bạn này, người đã phát biểu “xin cảm ơn đảng cho soong cơm đầy” bữa chiều, lúc chia cơm hôm qua.
Tôi đã dõi nhìn theo bóng chiếc áo vàng của tên cán bộ Cẩn và túm chăn chiếu đi trước y, về phía cuối nhà số III; chỗ có một căn nhà nhỏ làm thụt vào gần phía hàng rào cấm của trại. Tên Tân nhận chùm chìa khóa từ tay tên Cẩn chạy lên trước, đến căn nhà đó mở cửa. Tôi quay lại nhìn Toàn như hỏi han, thì Toàn chỉ khẽ nói:
– Nhà kỷ luật!
Tôi còn định hỏi Toàn tiếp là anh ta tên gì và bị bắt vào tù vì tội gì v.v… Nhưng tôi thoáng cảm thấy một vấn đề: tại sao, từ tối hôm qua, đến sáng hôm nay, ai đã báo cáo cho cán bộ đã vào đưa anh ta đi cùm? Giòng liên tưởng của óc tôi cứ trôi mãi: vì sao mà nhiều người chỉ lấm lét nhìn tôi mà không ai dám đến trò chuyện? Vì sao bên ngoài thì máy bay Mỹ bắn phá như thế. Trong Nam thì trận chiến đang khốc liệt, thế mà từ hôm qua đến nay không có một ai, kể cả Nguyễn Huy Lân, Phan Thanh Vân; không hể một ai tò mò nhắc đến? Hầu như mọi người chỉ nói chuyện sinh hoạt, ăn, ngủ và lao động?
Bao nhiêu vấn đề, trong cái không khí ngột ngạt, đầy đe dọa này. Trong cái mớ bòng bong câm lặng nhiều hố tối, rồi đây tôi sẽ phải tìm hiểu. Mới có hơn một ngày mà ngay cả tôi cũng đâm ra dè dặt với cả mọi người. Bao nhiêu những hiểu biết, bao nhiêu những cái tai nghe, mắt thấy. Mỗi người đang buộc chặt, câm nín, đè ép lại trong lòng. Còn một điều nữa càng làm cho tôi phải dè dặt, thận trọng. Buổi tối hôm qua, lúc tôi đang nói chuyện với anh Lân và Vân; ở mãi góc sàn trên phía đối diện, có một cậu còn rất trẻ, bộ mặt rất hiền lành. Tôi bắt gặp nhiều lần ánh mắt của cậu ta nhìn tôi: nửa như tò mò, nửa như thiện cảm. Sáng nay, trong lúc mọi người đang chạy ra, chạy vào lúc điểm xong, cậu ta đã đi sát vào người tôi nói nhỏ:
– Anh hãy coi chừng thằng Toàn!
Nói rồi, cậu ta đi luôn, để tôi cứ thỉnh thoảng phải để ý theo dõi cậu ta. Dù tôi chưa hề biết gì về cậu ta, ngay cả tên và tuổi.
Mải nghĩ suy về cảnh đời tù, tôi cảm thấy cả sân và hội trường đã thưa vắng hẳn người. Tôi nhìn lại Toàn thì cậu ta cũng đã đi từ lúc nào. Vội vàng, tôi mang chiếc rổ chiếc đĩa nhôm của anh bạn Lê Sơn đi vào buồng. Thì cũng là lúc một hồi kẻng nữa, từng tiếng một lại rền vang trong sương sớm. Đã bước gần vào tới cửa buồng, tôi còn ngoái lại liếc lên chòi gác phía cổng trại. Trong căn chòi nhỏ, thấp thoáng một tên bộ đội vũ trang đang cầm chiếc búa con, giang thẳng cánh, thong thả đập vào cái vỏ quả bom 50 kg treo lủng lẳng trong chòi. Cũng là lúc từ các buồng, tù nhân túa ra ngoài sân như vỡ tổ kiến càng.
Trong khi mọi người đổ xô ra thì tôi lại chen vào. Nhét vội cái rổ và chiếc đĩa nhôm lên cái kệ phía đầu giường rồi chạy ra.
Mặc dù tôi đã được Toàn và một anh nữa chưa biết tên, khi gặp anh trong nhà xí đã nói nhỏ với tôi phải coi chừng Phan Thanh Vân. Tôi vẫn có chủ trương, tối nay hoặc những ngày tới phải hỏi chuyện Vân để biết rõ về quan điểm tư tưởng thực sự cũng như về điệp vụ chiếc C47 bị bắn rơi. Hơn nữa, còn một điều tôi vẫn băn khoăn từ sớm, vì sao mà Vân đã tỏ ra như đã biết về tôi rồi? Vì sao như vậy, thì tôi cần phải tìm hiểu. Thực ra chỉ có tôi biết về Vân trước là do một buổi sáng nghe đài ở Cấp (Vũng Tầu). Rồi, một ngày Chủ Nhật, khi tôi mới bị bắt vào Hỏa Lò nhìn thấy Vân ngồi ở gốc một cây bàng ở sân. Sau đó, tôi được chuyển về buồng 4, xà lim II. Trong một buổi tối nghe Vân đọc bản kêu gọi anh em binh chủng không quân lái máy bay vào vùng giải phóng theo cách mạng v.v… Vả lại, những ngày còn lang thang trên khắp các phố phường của Hà Nội, khi chưa bị bắt, tôi đã mua và đọc cuốn C47. Điệp vụ máy bay xâm nhập không phận miền Bắc bị bắn rơi ở Cồn Thoi, thuộc tỉnh Ninh Bình mà cộng sản đã xuất bản thành sách ở miền Bắc, nên lại càng biết rõ về Vân hơn.
Lúc này chả biết là mấy giờ. Nhìn ra bên ngoài qua cánh cửa sổ mở hé, trời đã đen kịt. Đột nhiên nghe tiếng léo nhéo, rè rè, nho nhỏ tiếng nhạc khởi đầu của đài phát thanh. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn bão, tôi nhìn lên chiếc loa nhỏ vuông vắn, bằng gỗ gắn liền vào vách phía trên cửa ra vào. Tôi đang lạ lùng, bần thần lắng nghe tiếng nói quá nhỏ của chiếc loa thì anh Lân buồng trưởng đã lớn tiếng dõng dạc:
– Đề nghị toàn buồng im lặng để nghe đài!
Sau tiếng nói của anh Lân, buồng đang râm ran, ồn ào bỗng im bặt. Chỉ còn những tiếng rầm rì thì thầm, chỉ đủ cho một người ngồi gần sát nghe. Giọng người con gái xướng ngôn viên nhỏ và rè quá. Tôi có cảm tưởng như cô ta đứng nói trong một cái tủ kín để xa tôi hàng chục mét. Tiếng đài nói nhỏ như thế, họa chăng chỉ có một số người nằm gần chung quanh phía cửa mới nghe được mà thôi. Anh Vân từ trong nhà cầu ra, ghé về chỗ. Sau khi tháo đôi dép râu ở chân, đút sâu vào gầm sàn, (sàn dưới cao hơn nền nhà chừng 30 phân) ngửng lên, thấy tôi đang nhìn anh. Hơi cười bằng ánh mắt, anh chỉ vào đôi dép của tôi dưới nền, thì thào:
– Bình hãy đút dép vào gầm sàn. Gót của dép vừa bằng mép sàn theo quy định.
Tôi liếc nhanh toàn buồng. Dưới gầm sàn dưới, dép được để đều đặn trong gầm sàn, thẳng tắp với mép sàn; vì thế, tôi khẽ gật, cúi xuống làm theo lời Vân. Nê vào bên trong phía đầu sàn, Vân quỳ lên lúi húi phía trên kệ tối mò vì không có ánh đèn. Lôi xuống một chiếc túi vải nâu, anh ghé nghiêng về tôi, khẽ nói:
– Ở đây còn nhiều điều quy định lắm, rồi Bình sẽ biết!
Vừa nói anh vừa dịch ra chỗ ánh sáng đèn (do ngọn đèn treo ở trên cao, giữa nhà nên sàn dưới chỉ có ánh đèn từ giữa sàn trở ra). Anh móc trong túi vải ra lủng củng một số thứ. Mãi tôi mới hiểu, khi anh mở đến một bọc giấy, trong có một nhúm thuốc lá sợi, mầu nâu xám. Mở một gói con có ít cơm ngô lúc chiều, anh nhặt từng hạt cơm riêng ra phết, dính. Sau đó, với một chiếc hộp gỗ con con, trong đó có mấy bộ phận đơn giản: chỉ một tí anh đã cuộn được một điếu thuốc lá bằng giấy rơm mỏng, vàng khè mà anh đã cắt sẵn từng tệp. Dùng chiếc kéo con tý, nhẹ nhàng anh cắt những sợi thuốc thừa ra khỏi hai đầu giấy. Tôi đang mở to mắt theo dõi anh làm thì anh đã giơ điếu thuốc đầu tiên vừa cuộn xong về phía tôi. Một mắt của anh chớp chớp, miệng anh mấp máy:
– Bình hút thử xem!
Tôi vừa cảm ơn, nhận điếu thuốc anh mời, thì anh Lân từ sàn đối diện vừa mỉm cười, vừa tiến lại chỗ tôi và Vân. Dịch vào phía trong để chỗ cho anh ngồi, mắt tôi vừa thoáng nhìn đây đó trong ánh đèn không đủ sáng. Sàn trên, sàn dưới có nhiều con mắt đang hướng về phía chúng tôi. Ngay sàn trên, phía đối diện, Toàn và anh Đồng đang ngồi trùm chăn nhìn xuống, Vân cũng cầm một điếu thuốc lá đã cuộn rồi đưa cho anh. Lân vừa lơ đãng giơ tay cầm điếu thuốc, vừa quay sang tôi vồn vã:
– Sáng mai, Bình đi làm theo toán 2. Khi ra lán sẽ tùy theo cán bộ toán phân bổ công việc.
Anh hạ giọng nói tiếp:
– Bình án hay tập trung?
Tôi đang nhăn mặt nhả làn khói thuốc, mà tôi thấy đắng và khét lẹt; còn hăng hăng như nhai ớt. Hơi ngỡ ngàng chưa hiểu ý Lân thì Vân đã giải thích:
– Án là đem ra tòa xử, còn lệnh tập trung cải tạo 3 năm thì không có án.
Chợt hiểu, tôi trả lời hơi đắn đo:
– Án tôi 18 năm, và 5 năm mất quyền công dân.
Cả hai đều nhìn tôi đăm đăm. Anh Lân phà hết khói thuốc, hơi nheo mắt hỏi tiếp:
– Xử ở đâu, đã lâu chưa?
– Hà Nội, mới nửa tháng trước đây!
Trong khi anh Lân đang nói về người tập trung thì tiêu chuẩn mỗi tháng là 13 đồng, còn có án thì chỉ 12 đồng. Vì thế, tù tập trung mỗi tháng được lĩnh phụ trội 1 đồng, thì cái tên “Lân” đã làm óc tôi chợt gợi lại câu chuyện toán Boone biệt kích mà tôi đã nghe từ dưới Hỏa Lò. Để thăm dò, hơi ngập ngừng, tôi hỏi anh Lân:
– Xin lỗi, anh họ gì?
– Nguyễn, Nguyễn Huy Lân!
Vừa trả lời, anh vừa quay hẳn lại nhìn tôi; mắt anh đổi mầu vàng vẻ dò hỏi. Tôi đã ngạc nhiên đến ngỡ ngàng. Chẳng lẽ thằng Long Châu Sa nói, đây là chuyện có thật ư? Để chắc chắn là sự thực ở ngay trước mặt tôi, nên tôi hỏi ngay:
– Phải anh là toán trưởng toán Boone biệt kích?
Đến lượt Lân, mắt anh nhìn tôi tưởng đến lồi hẳn ra rồi gật đầu. Cả một cái cảnh buổi sinh hoạt đấu tố Lê Văn Lượng ở buồng số 5 dưới Hỏa Lò như mới hôm qua, hôm kia hiện ra trước mắt tôi. Tôi đưa cả hai tay cầm chặt tay Lân vồ vập:
– Câu chuyện không thể tin được, anh có biết không? Một người đã bị cả buồng sinh hoạt, sỉ vả suốt một buổi sáng và bị 15 ngày kỷ luật vì chuyện của các anh đấy!
Tôi chưa nói hết câu, nét mặt Vân và Lân đều bị lôi cuốn, háo hức muốn biết diễn tiến của sự việc, thì đột nhiên một hồi kẻng gióng lên lanh lảnh, âm thanh nhọn hoắt chĩa vào tai mọi người. Trong khi Vân xếp vội đồ nghề cuộn thuốc vào trong chiếc túi thì anh Lân đã đứng lên nói nhỏ:
– Kẻng cấm rồi, mai mình sẽ nói chuyện tiếp.
Nhìn sàn trên, sàn dưới, mọi người đang vội vàng, ai về chỗ nấy, cũng là lúc tiếng loa vẫn rả rích, ẽo ợt nói thầm im bặt. Thấy Vân giở chăn chuẩn bị đi nằm, tôi cũng kéo chiếc chăn đơn từ chiều vẫn gập để trên phía đầu sàn để ngả lưng . Đầu óc tôi đang ngổn ngang bởi bao nhiêu thứ mới lạ của một cảnh đời tù tội thì Vân khẽ ghé sang thì thào:
– Chín giờ kẻng cấm, tuyệt đối không được ai nói chuyện. Ai cũng phải về chỗ nằm, dù muốn ngủ hay không!
Đã cuộn chăn nằm rồi, tôi chợt nhớ đến cái lõi chì mật. Buổi sáng ở dưới Hỏa Lò ra đi, vì chưa thể biết sẽ đi về đâu, với tình huống bất trắc thế nào nơi xa xôi núi rừng mờ mịt, nên tôi đã thận trọng nhét vào hậu môn. Trong chăn, tôi nhẹ, khẽ lần mò rút ra, nhét vào chiếc lỗ nhỏ dưới gấu vạt áo, nơi tôi vẫn để miếng dao nhỏ ở dưới Hỏa Lò. Có lẽ Vân thấy tôi hãy còn rục rịch chưa ngủ, cố ghé hẳn sang rỉ tai:
– Ngày mai có ai hỏi thăm, anh đừng nói nhiều, không có lợi đâu!
Một nỗi hoang mang, lắng lo đang len dần vào lòng tôi. Tuy mỏi mệt suốt từ sáng, từ dưới Hỏa Lò lên, đến bây giờ, biết bao nhiêu sự việc trong cảnh đời tù mới lạ nơi rừng núi thâm u. Một cảnh mà trước đây, tôi chỉ được đọc trên sách báo. Cho nên tôi cứ trằn trọc, thao thức mãi, không ngủ được. Trong đêm trường đầu tiên ở giữa rừng già, tôi chỉ nghe tiếng gió ngàn xào xạc. Thỉnh thoảng, có những tiếng hú dài lê thê xen lẫn những tiếng kêu cụt ngủn, ngoắc ngoải, không biết là tiếng của loài thú hay loại chim gì từ trong rừng sâu vẳng ra, càng khoét sâu niềm băn khoăn, thấp thỏm trong lòng tôi.
Những năm cuối đời, Mark Twain sống ở West 10th Street, Manhattan, New York.
Khi con gái lớn là Susy qua đời vì bịnh sưng màng óc, Mark Twain bị khủng hoảng tâm thần rất trầm trọng.
Rồi Olivia, vợ ông mất vào năm 1904 và Jean, con gái nhỏ, mất vào tháng Chạp năm 1909, Rồi ngày 20, tháng Năm, năm 1909, người bạn chí thân là Henry Rogers bị đột tử làm tinh thần của ông càng thêm suy sụp.
“Năm 1835, sao chổi Halley đến và chỉ sau hai tuần tôi ra đời . Năm tới, 1910 sao chổi Halley lại đến. Chắc tôi sẽ đi cùng với nó!”
Thượng đế có nói rằng: Có những điều huyền bí không tính trước được. Chúng đến cùng lúc ắt sẽ ra đi cùng một lúc!
Lời tiên tri đó đã thành sự thật! Mark Twain qua đời vì nhồi máu cơ tim vào ngày 21, tháng Tư, năm 1910 tại Redding, tiểu bang Connecticut, thọ 74 tuổi, chỉ một ngày sau khi sao chổi xuất hiện trên bầu trời nước Mỹ.
Tổng thống Mỹ, William Howard Taft, tán dương rằng: “Mark Twain đã mang lại niềm vui đầy trí tuệ cho hàng triệu người, và tác phẩm của ông sẽ tiếp tục tạo ra niềm vui cho hàng triệu người nữa!
Đó là óc hài hước đậm đầy chất Mỹ, chinh phục dân tộc nầy, người Anh và các dân tộc khác trên toàn thế giới. Mark Twain sẽ còn thuộc về nền văn học Mỹ rất lâu!”
Mark Twain muốn tro cốt của mình được thả xuống dòng sông Mississippi yêu dấu nhưng ái nữ Clara đã đem ông về an táng trên phần mộ dành cho gia đình tại nghĩa trang Woodlawn ở Elmira, New York.
Một nhà văn lừng danh đã mang lại cho đời biết bao tiếng cười. Nhưng trớ trêu thay lại chết trong nỗi buồn rầu!
***
Mark Twain (1835-1910) một nhà văn kiệt xuất trong nền Văn học Mỹ đã từng viết “Khi anh đi câu tình yêu, hãy dùng trái tim làm mồi chứ đừng dùng bộ não!”
“When you fish for love, bait with your heart, not your brain!”
Tinh thần của câu nói về tình yêu đó đã bàng bạc trong một truyện ngắn làm lay động cả lòng tựa là “Chuyện của một người California”.
“Hồi còn trẻ, tôi đến California tìm vàng. Số vàng kiếm được không đủ để làm tôi trở nên giàu có. Nhưng bù lại, tôi đã phát hiện ra được một vùng đất tuyệt đẹp của xứ sở này: Stanislau.
Stanislau đúng là thiên đường hạ giới với những ngọn đồi xanh mướt và những cánh rừng sâu, nơi cơn gió dịu dàng mơn man cành lá.
Những người khác tìm vàng đã đến vùng đồi Stanislau, California trước tôi nhiều năm. Họ xây dựng thị trấn dưới lòng thung lũng với đường đi, cửa hiệu, ngân hàng, trường học. Họ cũng xây dựng những căn nhà nho nhỏ, xinh xinh cho chính gia đình mình.
Mới đầu, họ tìm được rất nhiều vàng trên những ngọn đồi Stanislau. Nhưng vận may chẳng được bao lâu. Sau vài năm, vàng cạn kiệt. Lúc tôi đến, họ bỏ đi hết cả rồi.
Cỏ, bây giờ, mọc đầy trên đường thị trấn. Hoa dại che phủ mất những căn nhà nho nhỏ. Chỉ có tiếng côn trùng vo ve bay đầy trời khi tôi bước qua thị trấn vắng lặng mùa hè nơi đó cách đây đã rất lâu. Rồi tôi lại nhận ra là thị trấn không phải chỉ còn có một mình tôi.
Một người đàn ông đứng trước một căn nhà nhỏ và mỉm cười với tôi. Căn nhà này không bị hoa dại che khuất. Một khoảng vườn nho nhỏ, xinh xinh đầy hoa hồng vàng và xanh thẫm. Những tấm màn trắng muốt mắc trên khung cửa sổ lay bồng bềnh trong cơn gió mùa hè nhè nhẹ.
Vẫn nở nụ cười, ông ấy mở cửa rồi mời tôi vào. Tôi bước vào nhà mà không thể nào tin được ở chính mắt mình. Tôi cùng những người tìm vàng khác đã sống vất vả nhiều tuần lễ liền trong bãi đào vàng. Chúng tôi đã ngủ trên nền đất cứng, ăn đậu đóng hộp, đựng trên các chiếc dĩa sắt lạnh ngắt và suốt cả ngày quần quật, cực khổ tìm, đãi vàng.
Còn ở đây, trong căn nhà nhỏ xinh xắn này, tôi thấy lòng mình ấm lại.
Tấm thảm màu sáng trên sàn nhà bằng gỗ bóng láng. Tranh, ảnh treo đầy phòng. Những chiếc bàn nhỏ trên có vỏ sò, sách, và những chiếc bình hoa bằng sứ. Người phụ nữ nào đó đã biến căn nhà này thành tổ ấm.
Niềm vui tràn ngập tim tôi, chắc hiện lên nét mặt. Ông ấy nhận ra điều đó.
“Đúng vậy!” ông cười nói. “Cô ấy làm mọi thứ đấy. Tất cả đồ vật trong căn phòng này đều do bàn tay cô ấy chăm chút”.
Một bức ảnh trên tường treo không được ngay ngắn lắm. Ông để ý thấy và sửa lại. Ông bước tới, rồi lui lại nhiều lần, nhìn, ngắm để đoan chắc là nó ngay hàng thẳng lối. Xong việc, ông dịu dàng chạm nhẹ tay vào bức ảnh.
Ông cắt nghĩa: “Cô ấy luôn luôn làm như thế. Nó cũng giống như người mẹ vuốt nhẹ mái tóc con sau khi chải gỡ xong tóc rối vậy mà”.
“Tôi thấy cô ấy chỉnh sửa những đồ vật trong nhà này nhiều lần đến nỗi nhập tâm luôn, nên khi làm tôi làm giống hệt như cô ấy làm mà không biết tại sao.”
Khi ông ấy nói, tôi có cảm giác rằng có cái gì đó trong căn phòng này mà ông muốn tôi phát hiện ra. Tôi nhìn quanh quẩn. Khi mắt tôi chạm đến góc phòng gần lò sưởi, ông bật ra tiếng cười hể hả và xoa hai bàn tay với nhau, vẻ mãn nguyện.
“Đúng rồi!” ông kêu lên. “Anh đã tìm ra rồi! Tôi biết chắc là như vậy. Đó là ảnh của cô ấy”.
Tôi bước tới cái kệ nhỏ màu đen: trên đó là bức ảnh của một người phụ nữ cực kỳ xinh đẹp, trên khuôn mặt biểu cảm một vẻ dịu dàng, thân ái mà tôi chưa từng được thấy bao giờ.
Ông ấy lấy bức ảnh khỏi tay tôi rồi nhìn chăm chú. “Sinh nhựt rồi, cô ấy được mười chín tuổi. Đó là ngày mà tụi tôi thành hôn. Khi anh gặp cô ấy… Ôi! khoan… hãy chờ đến khi anh gặp cô ấy đã.”
Tôi hỏi: “Bà nhà đâu rồi?” “Ô! cô ấy vắng nhà.”ông thở dài, đặt bức ảnh trở về chỗ cũ.
“Cô ấy đi thăm ba má mình ở cách đây khoảng 40, 50 dặm. Tính tới bữa nay cô ấy đi đã được hai tuần rồi.”
“Chừng nào bà ấy về?” Tôi hỏi. “À! bữa nay là thứ Tư,” ông chậm rãi nói.
“Cô ấy sẽ về vào chiều tối thứ Bảy.”
Tôi nói: “Thiệt là tiếc! bữa đó thì tôi sẽ phải đi rồi” “Đi? Không! Sao anh lại đi? Đừng đi. Cô ấy sẽ buồn lắm đó. Anh biết mà, cô ấy rất hiếu khách, thích người ta đến thăm và ở lại chơi lắm”.
“Không được, tôi phải đi thôi.” Tôi cương quyết.
Ông ấy lấy bức ảnh đưa trước mắt tôi. Ông nói: “Nè! bây giờ anh hãy nói tận mặt cô ấy rằng: anh có thể ở lại để gặp cô ấy nhưng mà anh không làm.”
Khi tôi nhìn bức ảnh lần thứ hai, thì có điều gì đó làm tôi đổi ý. Tôi quyết định ở lại.
Ông ấy cho tôi biết tên ông là Henry. Đêm đó Henry nói với tôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, nhưng chủ yếu là về vợ mình. Ngày kế êm đềm trôi qua.
Tối thứ năm chúng tôi có khách. Tom là thợ mỏ, to con, tóc bạc.
“Tôi chỉ ghé vài phút để hỏi chừng nào chị ấy về. Có tin tức gì không?”
“À! có…có.” ông đáp lại.
“Tôi nhận được thư. Anh có muốn tôi đọc cho nghe không?”
Ông ấy lấy trong túi áo sơ mi một bức thư đã ngả màu vàng ố và đọc cho chúng tôi nghe. Bức thư đầy lời lẽ yêu thương, chăm sóc dành cho ông và những ân cần thăm hỏi láng giềng, bằng hữu. Khi đọc xong, ông ấy nhìn bạn mình.
“Ô! Thôi đi! Tom! Anh lại làm như thế rồi. Anh luôn luôn khóc khi tôi đọc thư cô ấy, kỳ này tôi sẽ nói cho cô ấy biết.”
“Không, đừng làm vậy, Henry,” người thợ mỏ tóc bạc nói.
“Tôi già rồi, chỉ buồn một chút cũng đủ làm tôi chảy nước mắt. Tôi thực sự hy vọng là tối nay chị ấy sẽ về tới.”
Ngày kế, thứ Sáu, một người thợ mỏ già khác đến thăm và xin được nghe đọc bức thư. Lời thư cũng làm ông khóc. Ông nói: “Chúng tôi nhớ chị ấy lắm.”
Thứ Bảy cuối cùng rồi cũng đến. Chốc chốc, tôi lại nhìn đồng hồ. Henry để ý thấy.
“Anh nghĩ chắc hỏng có chuyện gì xảy ra cho cô ấy chứ?” ông ấy hỏi tôi.
Tôi cười nói: “Bà nhà chắc bình an mà!”. Nhưng dường như ông không tin lời tôi lắm.
Tôi rất vui khi gặp lại hai người bạn của ông: Tom và Joe, từ đầu thị trấn xuống chơi, lúc nắng chiều thoi thóp tắt.
Hai người thợ mỏ già mang theo đàn ghi ta. Họ cũng mang theo hoa và một chai rượu uýt-ki. Họ chưng hoa trong bình rồi bắt đầu chơi đàn ghi ta với những bản nhạc có tiết tấu nhanh, sống động.
Bạn bè Henry cứ liên tục rót và giục ông uống cạn. Khi trên bàn chỉ còn lại hai ly rượu, tôi lấy một cái. Tom ngăn tay tôi lại. Anh thầm thì: “Đừng uống ly này, hãy uống ly kia đi”.
Chiếc ly tôi mới vừa bỏ xuống Tom đưa cho Henry nốc cạn đúng vào lúc đồng hồ vừa điểm nửa đêm. Mặt Henry trắng, trắng bệch ra.
“Ê! Mấy bồ!” ông nói: “Chắc tôi bị bịnh rồi. Tôi phải đi nằm mới được.”
Henry hầu như chìm ngay vào giấc ngủ trước khi lời nói cuối cùng thoát ra khỏi miệng.
Hai người bạn đỡ ông lên, khiêng ông vào phòng ngủ. Họ đóng cửa lại rồi quay ra. Dường như họ thu xếp để ra về.
Thấy thế, tôi nài nỉ: “Xin quý vị ở lại. Bà ấy sẽ không biết tôi là ai. Tôi là khách lạ mà.”
Họ đưa mắt nhìn nhau. Tom nói: “Vợ anh ấy chết đã 19 năm rồi” “Chết!” Tôi há hốc, thều thào. Tom nói: “Chết! Mà còn chết thảm nữa…”
“Sau khi lấy chồng được sáu tháng, chị ấy về thăm cha mẹ. Trên đường trở lại vào chiều tối thứ Bảy tháng Sáu năm đó, khi gần tới nhà thì thổ dân da đỏ bắt được chị ấy. Từ đó không ai còn gặp chị nữa.”
“Henry mất trí. Anh ấy nghĩ vợ mình vẫn còn sống. Khi tháng Sáu về, anh ấy nghĩ vợ mình về thăm cha mẹ rồi trở lại. Anh nôn nóng đợi chờ và mang tờ thư cũ chị ấy đã gởi, ra đọc cho chúng tôi nghe.”
“Vào chiều tối thứ Bảy theo dự định chị sẽ về tới, chúng tôi xuống với anh ấy. Chúng tôi bỏ thuốc ngủ vào rượu cho anh uống để anh ngủ qua đêm. Sáng hôm sau anh ấy sẽ trở lại bình thường cho đến tháng Sáu năm tới.”
Joe nhặt nón và đàn lên. “Chúng tôi làm như thế mỗi tháng Sáu suốt 19 năm liền. Năm đầu có tất cả hai mươi bảy người. Bây giờ chỉ còn lại hai đứa tôi thôi.”
Ông mở cửa căn nhà nhỏ rồi hình bóng hai ông già thợ mỏ từ từ loãng vào đêm rất sâu Stanislau.
Trần Bang Thạch, bạn văn, Houston Texas, cách tôi một biễn Thái Bình viết:
“Cứ tà tà mần văn như vậy!”
Mèn ơi ! đọc thơ bạn hiền gặp lại chữ “ mần” khoái tỉ tê… như quê người, tình cờ gặp lại em xưa mà vợ mình không hay, không biết…
Tôi xa chữ “mần” đã khá lâu, dễ chừng năm chục năm rồi có lẽ. Hồi tôi còn nhỏ, bạn văn của ba, như Sơn Nam đến nhà tìm : “Ba có nhà không cháu? “Thưa bác Sơn Nam, ba con đi mần việc.” Tôi vòng tay lại.
Ba tôi, mần việc là mần việc; mần văn là mần văn. Nhưng với Sơn Nam mần việc là mần văn. Mần văn là mần việc!
Hồi tắm sông còn ở truồng, tôi đã kính trọng mấy bác nhà văn, bạn của ba, vì nghĩ làm sao mà có thể viết được những truyện ngắn làm người ta rớt nước mắt như vậy chớ?
Trong trí óc non nớt đó, nhà văn không phải là người thường mà là người thượng… tức thuộc cõi trên..
Sau nầy lớn lên đi học, thầy cho dăm ba chữ dằn bụng, đọc Sơn Nam tôi càng “ê càng” ổng hơn!
Có lẽ trong làng văn chương Việt Nam, Sơn Nam là người duy nhất sống trọn một cuộc đời bằng chữ nghĩa và sống vì chữ nghĩa. Ông sống để viết và viết để nuôi cuộc sống.
Ngay những năm đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, manh áo, chén cơm của ông đã bắt đầu từ trang viết.
“Trước 1975, tôi đồng thời viết cho bảy tờ báo. Sau năm 1975, tôi tiếp tục công tác với nhiều tờ báo. Thật ra, tôi mê viết văn hơn viết báo và với tôi, viết văn bao giờ cũng là trọng tâm. Tôi viết báo để kiếm sống và để giải trí. Tôi quan niệm: Viết văn để viết văn, để yêu nước chứ không nhằm một mục đích nào khác.”
Sơn Nam viết văn là vậy còn cái tánh ổng là sao cà? Hãy lục tìm vài chỗ: Có nhà báo nói là thích Sơn Nam ở chỗ ông thân tình, dễ gần, không lên mặt kênh kiệu với bất kỳ ai. Ông xuề xòa, vui tính, dường như tôi chưa hề thấy ông giận ai bao giờ. Cái này không đúng lắm đâu. Sơn Nam có giận chớ… mà giận dữ với “Tây” mới oai.
“Hiền hòa, nhỏ nhoi vậy, nhưng ông đã nổi giận thì thật ghê gớm. Cũng phim Người Tình, trong cảnh đám cưới ở chợ Sa Đéc, có mấy chục cụ ông, cụ bà mặc khăn đóng, áo dài đóng vai nhà trai, nhà gái. Giờ nghỉ trưa, thấy mấy cụ ngồi bệt dưới đất ăn cơm, trong khi đoàn phim vào nhà hàng ăn đàng hoàng, ông đã nổi giận thực sự. Mặt bừng bừng sát khí, ông đứng giữa nhà lồng chợ ra lệnh gọi đạo diễn ra cho ông nói chuyện. Chủ nhiệm đoàn phim vội hét lính dọn bàn ghế mời các cụ ngồi ăn.”
Giận “Tây” đã là ngon mà ổng còn đổ cộc với “ta” nữa, như trong truyện “Âm dương cách trở”:
Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu. Ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”.
Hồi cha sanh mẹ đẻ tới bây giờ thú thiệt là : tôi chưa hề may mắn được bực thức giả nào đó định nghĩa tổ quốc thâm trầm hơn nữa!
Dù ước có vài ba người bạn chơi được, không ba trợn… Nhưng Sơn Nam xui quá… lại gặp hai người: một ở Bắc Ninh: một ở… Hãy nghe: Khi chụp ảnh chân dung nhà văn Sơn Nam, các nhiếp ảnh gia rất chú trọng tới “chi tiết đặc tả” là đôi tai… ngoại cỡ của ông.
Có độc giả ở Bắc Ninh tên là Nguyễn Đình Tự đã đặt câu hỏi với ông:
Nhà văn Sơn Nam có lỗ tai đạt kích cỡ khoảng 7 cm x 20 cm. Có lẽ vì vậy mà ông… nghe được lắm chuyện xưa tích cũ hay ho về vùng đất Nam bộ để viết lại thành nhiều tác phẩm giá trị về đất nước, con người Đồng bằng sông Cửu Long… Có đúng vậy không nhà văn?”…
Sơn Nam đã trả lời rất một cõi U Minh rằng:
“Tai tôi quả là cũng có to hơn người bình thường một chút, nhưng không phải vì do nghe nhiều mà tai to đâu. Thiếu gì người “tai to mặt lớn” mà chẳng bao giờ biết lắng nghe gì cả”.”
Một câu hỏi ba trợn và một câu trả lời có thể ở tù.
Nhưng chưa hết, Sơn Nam còn gặp một ông ba trợn nữa.Ông viết rằng:
“Sơn Nam, có lẽ, vì tuổi đời đã cao nên không còn nghe và thấy được những tiếng kêu thương và cảnh đời vô vọng (đến thế) từ nơi sinh trưởng của ông.”
Hội cao niên nghe được …tôi e nó sẽ lôi ông ra ba tòa quan lớn.. vì tội “age discrimination” Sau đó… còn thêm:
Sơn Nam qua đời vào ngày 13 tháng 8 năm 2008 nhưng ông đã chết (trong tôi) hơi lâu, trước đó.
Cái này thì ông đúng chỉ 50 %… Vì Sơn Nam chết mà không mất vì ổng còn để lại “Hương Rừng Cà Mau”. Riêng tôi với ông, dù cũng mần văn, theo chữ Trần Bang Thạch, nếu chết là mất vì mình không để lại cái gì hết …ngoài một nhúm tro.
Có đọc, đừng giận nhe bạn, bớt giận mà nghe Sơn Nam nói:
“Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là không gây thù chuốc oán với ai, không ai ghét mình… (Nếu lỡ người ta oán ghét mình thì cũng đành cam chịu!)”
Tôi cũng ao ước giống hệt Sơn Nam là : “Có người tới thăm nói dóc chơi”… Nói dóc… vui hơn mần văn… anh Trần Bang Thạch ơi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.