Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Posted 7 Feb 2015

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Bài 5

Tết tù

Tết nguyên đán Bính Thìn nhằm ngày thứ Bảy, 31 tháng 1 năm 1976. Đó là cái tết đầu tiên chúng tôi ở trong tù tại L3-T3 trại Trảng Lớn, Tây Ninh.

Trước tết mấy tháng, bộ đội ra lệnh mỗi khối nuôi hai con heo để chuẩn bị ăn tết. Nghe tin đó, ai ai cũng rầu. Tưởng học xong 10 thì về, đâu có ai nghĩ phải ăn tết trong tù. Vậy là thông cáo “10 ngày học tập cải tạo”, coi như mây khói. Thế là xong lời hứa của “cách mạng”. Ai nghĩ “Cách mạng” hứa Cuội?

Trong khi học tập, cán bộ có giảng giải, yêu cầu “An tâm học tập cải tạo”, nói trắng ra, có nghĩa là không được, không nên trốn trại.

Một tối, anh em nằm với nhau chờ giấc ngủ như thường lệ, Lê Quang Dung cằn nhằn: “Cứ bảo an tâm học tập cải tạo” mà không biết ngày nào học xong để về thì an tâm làm sao được.”

Phạm Quang Chiểu, nằm gần cuối vách trong, kế bên Trần Phú Trắc, “giải đáp”:

“An tâm như Vương Cấu vậy.”

Nghe Chiểu nói, tôi nhớ một đoạn trong Tam Quốc, (1), vừa lặp lại câu của Tào Tháo nói với Vương Cấu vừa cười khúc khích với Phạm Xuân Lý nằm bên cạnh:

– “Thôi nhà ngươi hãy an tâm mà chết đi…”

Dung, nóng tính:

– “An tâm mà chết thì an tâm chó thế nào được!”

Thấy Dung nóng nảy, chúng tôi đều cười.

Phạm Ngọc Hiền, nằm phía vách sát cửa vào, chưa ngủ, còn đong đưa cái võng, nói đùa:

– “An tâm mà chờ… ăn thịt heo.”

Khối 1 của tôi có làm một cái chuồng heo phía ngoài sân bóng chuyền, chỗ Lê (?) Văn Cư hay chơi bóng. Phó khối tên là Hợp, quê Quảng Ngãi, mỗi ngày yêu cầu tổ nào tới phiên nấu cơm, sau khi phát cơm rồi, phần cơm cháy còn lại, không  được ăn, để trộn với rau muống cho heo ăn.

Heo cũng đói như người. Những hai con heo mà mỗi ngày chỉ có hai miếng cháy, có khi bị “ai đó” gỡ bớt, còn chút lõm.

Một hôm, Hợp họp các tổ trưởng lại, bàn cách “khắc phục”, làm sao cho heo ăn no. Trắc, đại diện tổ 1 của chúng tôi, đi họp.

Vốn tính hay đùa, mới vào họp một chốc, Trắc nói:

– “Khối phó ơi! Heo đói kêu “hợp hợp” kìa!”

Trắc chơi chữ, “hợp” cũng là tên khối phó.

Hợp tức giận, nói:

– “Anh về anh nói với cha anh vậy đi.”

Trắc bị chưởi cha, tức quá, bỏ về, không họp nữa, than phiền với chúng tôi. Nghe chuyện, ai cũng cười.

Hiền nói:

– “Dù ông lớn tuổi, nhưng đi “học tập” thì cũng còn là học trò. Học trò kêu cha mẹ ra chưởi là thường.”

Câu Hiền nói đùa làm tôi nhớ năm tôi học lớp nhất với ông Hồ Đắc Hanh, một hôm có anh vào thưa với thầy: “Thưa thầy, thằng … nó kêu tên cha con.”

Thầy bảo:

– “Ông Trần Hưng Đạo, người ta kêu tên ra hằng ngày, có sao đâu!”

Chỗ chuồng heo có sân bóng chuyền, đây là nơi vui chơi của chúng tôi, xem Lê (?) Văn Cư biểu diễn chơi banh.

Cư chơi banh hay lắm! Anh chia phe “đá” bóng chuyền. Phen bên kia gồm 6 người, phe bên nầy một mình Cư. Bên kia đánh bóng qua, bằng tay; bên nầy Cư dung chân đá bóng trả lại. Một mình anh ta xoay ngang, xoay dọc, đá banh qua lưới, bất phân thắng bại, khán giả ai nấy đều vui, vỗ tay hoan hô, khen Cư om sòm.

Có anh bộ đội đi ngang, đứng lại xem, cũng nói: “Sao mà tài thế!”

Nhiều lần Cư dùng trái banh, biểu diễn cho mọi người xem. Anh dùng banh đội đầu, đá vòng cầu, đá trước vòng lui sau, đá sau vòng ra trước, đá vòng ra tả hữu, tài tình lắm. “Can Tây đen” một cầu thủ nổi tiếng của làng bóng đá Saigon trước 1975, có lần ra đấu ở Huế, một mình anh giữa sân Bảo Long, cũng biểu diễn như Cư vậy; cả cầu trường đứng lên “hoan hô nhiệt liệt”, còn hơn “hoan hô Ngô Tổng Thống” hay “hoan hô Hồ Chí Minh”.

Có anh chàng bên T4, mê xem Cư chơi bóng, chiều nào cũng chui hàng rào qua xem, chờ khi gần tối, lại vạch hàng rào chui về.

Cư, cấp bậc thiếu úy, cầu thủ đội bóng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Vào trại cải tạo, “Bộ đội” bắt buộc ai ai cũng phải tự xác nhận là người “có tội với cách mạng”. Cư nhứt định nói chỉ có mỗi một tội mà thôi. Đó là “tội giương cao mầu cờ sắc áo” bóng đá của miền Nam ở Đông Nam Á. Cán bộ quản giáo kêu lên làm việc nhiều lần, anh ta cũng nhận có mỗi một tội như thế!

Vậy là ngoan cố, chưa thông suốt “đường lối giáo dục của cách mạng”, khó được “Cách mạng khoan hồng” khó “sớm về sum họp với gia dình”, v.v…. Nhưng rồi mới hơn một năm, anh ta được về sớm, nhờ có một người cô là y sĩ Dziệt Cộng bảo lãnh cho.

Dù do “Bộ đội” hay Công an quản lý, họ chỉ có nhiệm vụ giữ tù là quan trọng, làm sao tù đừng trốn, chớ họ có quyền gì trong việc xét cho về sớm hay muộn đâu!

Hôm Cư được gọi lên văn phòng để về, cán bộ buộc anh phải đi cắt tóc vì anh chừa tóc theo kiểu Hippy. Để về, Cư làm liền. Anh ta “nghe cách mạng” có chừng đó.

Phần đông chúng tôi lớn lên, đi lính, vào lính thì cắt tóc theo kiểu nhà binh, “trước một phân, sau trọc lóc”, nên khi đi tù cải tạo, nhiều anh em muốn trở lại sống thời trai trẻ, bèn chừa tóc dài.

Một hôm, “bán chợ trời”, -tức là bày “tư trang” ra giữa sân cho bộ đội khám xét -. Có một tên đại úy Dziệt Cộng bộ dạng rất khó ưa, đi kiểm tra từng người.

Tới chỗ Trương Đình Khải, khối 4, thấy Khải tóc dài ngang cổ, y nói, vẻ giận dữ:

– “Tôi ra “nệnh” anh phải đi cắt tóc ngay. Cắt ngay mà cắt “chọc”. Không được phép chừa dài như thế.”

Khải phải nhanh chân tìm người cắt tóc giùm, để được yên.

Trước hôm tết, chúng tôi được lệnh tập họp đi nhận quà do thân nhân gởi vào cho. Chỗ phát hàng nằm ở phía bên kia L3-T3 nên chúng tôi phải sắp thành hàng mà đi.

Trên đường đi, chúng tôi gặp một toán người khác đi ngược lại. Vừa khi hai bên gặp nhau, tôi thấy hai ba người chạy ra giữa đường tranh nhau nhặt một cái gì đó. Xem ra, đó là cái tàn thuốc điếu, ai hút vứt lại. Thèm thuốc hút, không những là cái khổ mà còn là đại nạn trong anh em chúng tôi, không thiếu người bị mất cắp thuốc rê, thuốc lào…

Hôm đó, trong toán đi ngược chiều, tôi thấy có Huỳnh Hữu Ủy, thiếu úy, thuộc khối Quân Sử Bộ Tổng Tham Mưu, một người em họ, và Phan Văn Hộ, giáo sư Anh văn trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, một người vừa là bạn học, vừa là cùng quê. Chúng tôi đưa tay vẫy chào nhau, không thấy bộ đội cầm súng đi theo “bảo vệ” nói gì. Họ không cấm hay họ không thấy cũng không biết nữa.

Kêu tên người nào thì người đó lên nhận hàng.

Hầu hết tổ tôi ai cũng có hàng. Gói hàng của tôi khá lớn, có thuốc hút ống vố của hãng Bastos – có lẽ hàng cũ còn lại – các thứ cá thịt đều được làm khô, nước mắm pha bột ngọt làm khô, thứ nầy ít ai có, do vợ tôi tự làm, thuốc cảm cúm, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng…

Hôm đó, cả tổ tôi chung nhau làm một bữa “thịnh soạn”. Ai nấy có quà thân nhân gởi cho, gom lại ăn chung, kẻ ít người nhiều. Thật là vui.

Trong khi nhận quà, trung úy Việt Cộng Hồng Dư, làm một việc khiến cho chúng tôi biết ơn. Anh ta cầm con dao nhỏ đi quanh. Thấy ai loay hoay mở chưa được gói quà, anh ta bước tới cầm dao cắt giây dùm, vui vẻ với người nhận quà.

Khi về phòng, chúng tôi nói với nhau chuyện ấy. Xem ra, nếu chỉ là con người với con người, trong tình người thì ai ai cũng đáng yêu.

Vài anh em phát biểu như thế!

Tôi nói đùa: “Thiếu úy Ái là người đáng yêu nhất, nhất là khi có được chiếc xe Honda.”

Ai nấy đều cười.

Có hai người đến tổ chúng tôi khi chúng tôi đang “học 10 bài.” Trước hết là viên thiếu tá trung đoàn trưởng.

Khi vào phòng, ông ta ngồi xuống sập và hỏi:

– “Học chính trị có khó khăn gì không?”

Phan Hải thay mặt, trả lời chung cho cả tổ, đúng “bài bản” Việt Cộng đưa ra.

Một lúc sau, ông ta nói đùa:

– “Tôi cũng có một người em đang học tập như các anh. Học xong thì cũng về cả thôi. Trước kia, nó cũng hay tìm tôi lắm. May tôi không gặp nó!”

Nói xong, ông ta cười. Ngồi chơi một chút, ông ta chào từ giã và ra khỏi phòng.

Sau đó, Phan Hải kể chuyện: “Ông ấy người Bắc, có người em con ông cậu di cư vô nam, làm trung sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt ở Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.”

Người thứ hai là thiếu úy Ái, gốc ở Diên Sanh, Quảng Trị.

Bố anh ta theo Việt Minh, nhưng không tập kết.

Thời đệ nhứt Cộng Hòa, khi chính quyền thi hành “Quốc sách Tố Cộng”, anh ta mới 13 tuổi.

Một hôm xã tập trung đồng bào xã lại để biểu tình “tố Cộng” theo “Chiến Dịch Tố Cộng” thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, anh ta đi xem. Thấy có tấm biểu ngữ đề “Tố Cộng là yêu nước”, nhớ câu nói của cha, anh ta lén thêm dấu sắc vào chữ yêu, thành ra yếu, bị dân chúng bắt được.

Xã trưởng thấy anh ta còn con nít, tát một tát tai, bồi thêm một cái đá đít, đuổi về. Vậy rồi do bọn nằm vùng móc nối, anh ta “nhảy núi”, theo Việt Cộng, làm du kích. Đến 30 tháng Tư, anh mang lon “thiếu úy cách mạng.”

Thấy anh ta là người cùng quê, vài lần tôi hỏi chuyện anh. Hỏi anh ta bây giờ “nước nhà độc lập thống nhứt” rồi, muốn gì. Anh ta cười, nói một cách tự nhiên: “Bây giờ có cái xe Honda đàn ông mà chạy thì sướng lắm.” Nghe anh trả lời, cả bọn chúng tôi cười vui vẻ.

Sau khi anh ta đi rồi, Trắc nói: “Cả một đời theo “cách mạng” chỉ mong có được chiếc 67 mà thôi. Buồn cười thiệt. Lý tưởng cao quí gì cũng không qua được cái xe Honda.”

Ít lâu sau thì tết đến. Bộ đội cũng tổ chức liên hoan đón giao thừa cho chúng tôi ở hội trường.

Tất cả tù cải tạo của 6 khối tập trung vào đó. Tổ của tôi là tổ 1, thường được ngồi trước, nhưng Trắc, Chiểu và tôi thường hay lẻn ra sau chót, ngồi cuối hàng của khối 1.

Ngồi ở đây xa, hơi tối, dễ đùa dởn hơn. Cũng vì vậy mà đã có lần chúng tôi bị “vệ binh” bắt gặp, bị cảnh cáo. Dung nói đùa: “Khinh địch là hửi địt”. Những lần sau, chúng tôi “canh phòng địch” kỹ hơn.

Tuy ở xa, chúng tôi cũng theo dõi được các mục diễn ra trên sân khấu. Một là nhạc sĩ Lê Dần (chế độ cũ), thuộc khối 6, – do ông Khuất Duy Trác làm trưởng khối -, dùng một cái can xăng, nối với một cái cần gỗ, căng lên mấy sợi giây đàn, chế ra một cái đàn contrebasse, nghe cũng hay. Khi ai hát, anh ta đệm đàn. Tiếng giây trầm của đàn nghe như tiếng trống đánh nhẹ.

Thứ hai, anh ta diễn trò đọc thư “bằng tai”, không nhìn vào thư mà vẫn đọc được câu viết trong thư (2). Trò nầy vui quá!

Ba là có một anh chàng nào đó, hát bài “Tự nguyện”, bản nhạc do Trương Quốc Khánh phổ thơ Mai Tuyết An (3).

Gần giao thừa, chúng tôi được cho về.

Trong khi lo chuẩn bị chỗ ngủ, tôi nói:

– “Anh chàng hát bài “Tự nguyện” hay đấy chớ!”

Hoàng Hữu Chung nói đùa:

– “Tui à! Tui mà làm chim, tui sẽ làm chim chèo bẻo.”

Nghe Chung nói vậy, tôi bèn hát đùa: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài chim… chèo bẻo hớ hớ…”

Phạm Xuân Lý nói:

– “Chi cũng được, nhưng hát “Ra ngoài bắc báo tin nối liền” là làm tay sai cho… Dziệt Cộng rồi.”

Chiểu chế diểu:

– “Làm tay sai cho Dziệt Cộng tức là làm Dziệt Cộng đấy.”

Lợi dụng lúc đó Phan Hải chưa về, Dung nóng tính:

– “Dziệt Cộng mà cứ gọi là “cách mạng”. “Cách mạng” cái con cặ… gì!”

Cũng vì câu hát do Chung chữa lời như trên, Chung được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên mới là “chèo bẻo”, sau khi cái tên Trần Dạ Từ bị bể mánh. Anh em cứ gọi “chèo bẻo, chèo bẻo” mà không gọi cái tên thực là Chung của anh ta.

Quá khuya, nhớ nhà, lại cảm phận tù của mình trong những vòng rào vây hãm, không ngủ được, tôi đọc hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:

                        “Ngoài kia xuân đã bén duyên chưa?

                        Tôi ở trong đây chẳng có mùa!”

Dung, học trò trong Nam, ít rành văn chương Việt Nam, hỏi tôi:

– “Thơ của ai dzậy?”

Tôi trả lời: “Hàn Mặc Tử đấy!”

Dung nói:

– “Hàn Mặc Tử thì nói về trăng chớ! “Ai mua trăng tôi bán trăng cho!”

– “Đó là thời thượng.” Tôi nói. “Hàn Mặc Tử viết nhiều về trăng. Ông có một bản văn xuôi “Chơi giữa mùa trăng”, nhiều người thích, nhưng tôi ít thích. Tôi ưa trăng của ông ở “Lầu ông Hoàng” hơn.

Phan Hải vừa về, nằm yên chỗ, biểu: “Anh Hải có thuộc không? Đọc nghe chơi.”

Tôi nói:

Tôi thuộc cả bài, nhưng bây giờ không biết nhớ được bao nhiêu. Để tôi đọc mấy câu tôi hay đọc:

“Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi,

                        Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

                        Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ

                        Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

                        Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng     

                        Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết

                        Ôi trời ơi là Phan Thiết!

                        Phan Thiết!

                        Mi là nơi ta chôn hận ngàn thu

                        Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư!

Chung nói đùa:

– “Phan Thiết là cái chi mà ông hận như bọn mình hận trại cải tạo vậy!”

Phan Hải cảnh cáo:

– “Nói tầm bậy đi. Để nghe anh Hải đọc thơ cho vui.”

Phạm Xuân Lý hỏi:

– “Câu chuyện Phan Thiết ra làm sao?”

– “Một “cô nường” mê thơ ông, yêu ông, rồi hẹn nhau đi chơi ở lầu ông Hoàng ở Phan Thiết. Xong, về hai người bỏ nhau.”

– “Lầu ông Hoàng là cái chi?” Ai đó hỏi.

– “Có một ông Hoàng bên Tây, dòng dõi vua “Lu-i” hay gì đó, nên người ta mới gọi là ông Hoàng. Ông Hoàng nầy thất tình vì một cô đầm xòe bên Tây, bỏ qua Việt Nam, xây một ngôi lầu, kế một cái Tháp Chàm, trên một ngọn đồi ở kế thành phố Phan Thiết để ở. Được một thời gian, ông về Tây, không thấy trở lại. Lầu Ông Hoàng bỏ hoang.”

– “Tại sao hai người bỏ nhau?” Ai đó hỏi.

– “Hàn Mặc Tử bị phung. Đêm đó họ đi chơi ở lầu ông Hoàng, khi về, ngang qua một bãi tha ma thì gặp mưa to, rồi Hàn Mặc Tử bị cùi.”

Một lúc, tôi hỏi: “Mấy ông biết sao bị phung không?”

– “Tại sao?” Hiền hỏi.

– “Hồi tui mới lớn, có lần đi nghe diễn thuyết về Hàn Mặc Tử ở rạp Morin. Về, ông chú hỏi, tôi kể chuyện thi sĩ Hoàng Diệp nói về những kỷ niệm của ông ta với Hàn Mặc Tử. Tôi kể lại chuyện Hàn Mặc Tử đi chơi với Mộng Cầm ở lầu ông Hoàng về thì bị phung. Ông chú bảo: “Đừng bắt chước Hàn Mặc Tử.” Tôi chưng hửng, chưa biết chuyện gì thì ông chú nói tiếp: “Tụi bây lớn lên, có đi chơi với bồ, đừng đè nhau làm bậy trên mồ mả người ta. Nguy hiểm lắm, bị phung đó.”

Tôi nhớ chừng câu chuyện Hoàng Diệp nói bóng gió hôm đó. Về giữa đường, Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm gặp mưa, hai người dẫn nhau vào trú trong một cái nhà mồ. Sau đó, Hàn Mặc Tử về bị phung. Không lý ông Hoàng Diệp kể đoạn phim sex của hai người ở cái nhà mồ ấy cho thính giả nghe?!”

Trắc nói đùa:

– “Chú ông Hải có kinh nghiệm chuyện nầy lắm nên muốn “truyền nghề” cho con cháu đó chớ chi.”

Câu nói của Trắc làm nhiều người cười thành tiếng.

Tôi cũng đùa: “Đ. m, kể chuyện cho nghe còn bị nói móc lò tới cha chú. Không kể nữa.”

Có người trách Trắc: “Chuyện đang hấp dẫn, ông Trắc phá đám. Tiếp đi ông Hải ơi! Đêm giao thừa nghe chuyện chơi bời cho đỡ buồn.”

Tôi kể tiếp:

– “Tôi nhớ buổi diễn thuyết đó – năm đó tôi đang học lớp Đệ Nhị -, có mấy diễn giả nói hay lắm: Ông Bác sĩ Lê Khắc Quyến nói về bệnh phung, ông Quách Tấn nói về công lao chu cấp tiền bạc của ông cho Hàn Mặc Tử những năm Hàn Mặc Tử sắp qua đời. Ông Hoàng Diệp thì nói về Thương Thương và Hàn Mặc Tử. Thương Thương là em ông Hoàng Diệp, ông tính chuyện mai mối Hàn Mặc Tử cho bà nầy. “Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương, Má đỏ âu lên đẹp lạ thường.”

Chung nói:

– “Ở Huế, người ta nói có một người yêu cũ của Hàn Mặc Tử dạy ở Trường Đồng Khánh, phải không?”

– “Bà H.T.K.C. chớ ai, bà dạy nữ công ở đó.” Tôi nói.

– “Bà đẹp không anh?” Trắc hỏi.

Trần Hữu Bảo nói đùa:

– “Thằng Trắc dê. Cứ nghe đàn bà con gái là hỏi tới có đẹp không?

– “Tui gặp bà nầy rồi. Bà ta đẹp lão. Ông nào ưa người “tóc bạc da mồi” thì cứ nộp đơn.” Tôi nói đùa.

Một lúc, tôi nói thêm: “Người ta có âm mưu cả đấy! Chuyện là như thế nầy. Hồi đó, người ta lập “Hội Văn Hóa Thành Phố Huế”. Ghế danh dự là Cha Luận, ghế chủ tịch là do mấy ông tranh nhau. Tôi cũng được đi họp.”

– “Anh là học sinh, làm cái khỉ khô chi mà họ kêu đi họp?” Có người hỏi.

– “Đang ngồi trong lớp, ông M., giáo sư Việt Văn của tôi vào lớp. Ông đi thẳng tới chỗ tôi, đưa cho tôi cái giấy mời đi họp. Trời! Tui thấy tui to quá, đưa cái thiệp mời cho Nguyễn Công Trung ngồi bên cạnh xem. Trung nói: “Mầy ngon lành!”

Chủ Nhật đó, tôi tới trụ sở của hội ở Chi Thông Tin tại Morin. Lèo tèo khoảng vài chục người tham dự, có Cha Luận, có ông Võ Long Tê, ông Đỗ Tấn, Quang Đạo, có Kỳ Quang. Mấy ông nầy làm ở báo “Mùa Lúa Mới”, ông M. làm chủ bút. Tui làm “mầm non văn nghệ” có truyện ngắn, truyện dài đăng ở đây; có ông Phan Du, báo “Ý Dân” của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, có ông trung sĩ Nguyễn Đình Hòe chủ bút báo “Lửa Thiêng” của Đệ Nhị Quân Khu. Sau khi mời Cha Luận làm chủ tịch cái “danh dự”gì đó, tới mục bầu Hội Trưởng. Mấy ông biết tụi bầu cho ai không?

Không ai trả lời.

– “Tui bầu cho ông M. Mấy ông thấy không. Tui được mời nên ông M. thêm một phiếu, không lý tui bỏ phiếu cho ai mà không bỏ phiếu cho ông thầy. Nếu tui không đi họp, ông M. mất một phiếu. Ấy là  “tình đời”, đừng tưởng bở?! Trước đó, trong chương trình “Tạp lục văn nghệ”, ông M. đã có một bài “lăng xê” tui trên đài phát thanh Huế để “chuẩn bị” cho việc tui đi họp. Mình chẳng là cái thá gì cả, nhưng “trò đời” đều có bài bản cả đấy?”

Ai đó nói: “Bỏ chuyện ruồi bu đó đi, anh Hải nói tiếp về Hàn Mặc Tử.”

– “Trong buổi nói chuyện về Hàn Mặc Tử, ông Lê Hữu Mục, ông Võ Long Tê nói nhiều về bài thơ “Ma-Ri-A linh hồn tôi ớn lạnh”. Hàn Mặc Tử hay Ma-Ri-A, hay niềm tin ở Chúa Giê-Su, chẳng qua thời kỳ đó là đời Cộng Hòa, “hữu thần chống vô thần”, với lại tiếp tục công việc đánh phá đạo Phật từ thời Tây xâm lăng với mấy ông cha cố Tây, còn chính quyền miền Nam dùng đạo Thiên Chúa để chống nhau với Cộng Sản, còn âm mưu gì nữa… Sau đó, họ còn “tưởng niệm” vài “nhà thơ nhà thờ” nào đó. Gọi là hội văn hóa nhưng mục tiêu là chính trị và tôn giáo!”

“Ông Quách Tấn kể khi ông tới thăm Hàn Mặc Tử ở bãi biển Qui Hòa, Hàn Mặc Tử đọc bài thơ Phan Thiết cho ông ta nghe. Khi đọc tới những câu như:

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết

Khi đọc tới hai chữ Phan Thiết, ông Quách Tấn nói tưởng như Hàn Mặc Tử uất nghẹn, ngộp thở, đọc xong nằm thở dốc!”

– “Chắc hận Mộng Cầm dữ lắm!” Phan Hải nói.

– “Rõ ràng dzậy mà còn hỏi. Sướng thì sướng chung, bệnh thì một mình Hàn Mặc Tử, “Còn gì đâu em ơi!” Con nhỏ đá đít là phải.” Phạm Xuân Lý bình phẩm.

– “Ai lại kêu là con nhỏ. Bằng tuổi bà nội đó.” Chiểu phê phán.

– “Tui nói chuyện nầy cho nghe! Mai Đình có ra Qui Hòa, tính ở lại chăm sóc cho Hàn Mặc Tử. Được mấy bữa, bà ta thấy ông nầy cứ nhắc Mộng Cầm hoài nên bà bỏ về Saigon. “Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt xuống!” Mai Đình là cô Nguyễn Quảng Thành đấy.”

– “Ai biết cha ấy là cha nào?” Hiền nói.

– “Nầy Trắc!” Tôi nói. “Thành khóa 22 Võ Bị, cùng với “Hùng móm” đi Nhảy Dù.”

– “Tui biết tay nầy! Ít gặp. Nó ở Dù nhưng hoạt động tình báo ở Cao Nguyên.”

– “Bịnh phung dễ lây nên gia đình dựng cho Hàn Mặc Tử một cái chòi tranh ở bờ biển Qui Hòa, sống riêng một mình. Quách Tấn tới thăm, thấy Hàn Mặc Tử lấy bìa chen vào những chỗ thủng trên mái.” Tôi kể.

– “Ông còn làm thơ không?” Chiểu hỏi.

– “Còn! Hay lắm, mà ghê lắm.” Rồi tôi đọc liền:

                        Ai đi lẵng lặng bên làn nước

                        Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

                        Cớ sao ngậm cứng thơ đầy miệng

                        Không nói không rằng, nín cả hơi!

                        Chao ôi ghê quá trong tư tưởng

                        Một vũng cô liêu cũ vạn đời.

                        Ta nằm trong vũng đêm trăng ấy

                        Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra!”

– “Gì mà ghê quá vậy! Trăng rồi máu, rồi cô liêu…” Dung ta thán!

– “Phung không có máu sao được. Nó ăn rụng từng ngón tay, ngón chân. Tôi không hiểu nằm trong trăng, có bị trăng đè không mà ông ta viết “mửa máu ra”. Có thể đây chỉ là cách nói biểu tượng. Bài nầy hay không phải ở tính chất ghê rợn của nó. Nó có sự im lặng như “đi lẵng lặng”, nó có “ai ngồi khít cạnh” mà không nói gì được vì miệng “ngậm cứng thơ” hay vì ai đó là ma? Thơ là nói ra, thơ ở đây không làm cho người ta nói ra được. Ý tưởng “cô liêu”, “cũ vạn đời” là ý tưởng mới. Trong thi ca nước ta, trước nay, chưa ai từng nói như ông. Tôi cho chữ hay nhất trong bài thơ là chữ “Vũng” – “Vũng đêm trăng”, “Vũng cô liêu”. Có người nói “bãi cô liêu” tôi cho là không đúng ý ông ta. Tại vì sao “vũng” mà không phải là “bãi” các ông biết không? Bãi là nói về bề rộng, bãi có tính cách mênh mông, không biên giới. “Vũng” là nói về chiều sâu. Nhà thơ như bị bao phủ, che lấp, bị nhốt dưới đáy một vũng sâu, một thung lũng của cô liêu…

– “Đi dạy, anh dạy từng chữ như vậy à?” Dung hỏi.

– “Một chữ bẻ làm đôi. Dạy Kiều, ông Mục dạy chúng tôi như vậy. Đọc Kiều là phải đọc từng chữ, phân tích từng chữ. Tôi đem cái tinh thần ấy mà dạy cho học trò, khi tôi dạy về Thơ Mới, về Hàn Mặc Tử”. Tôi nói.

– “Chắc học trò thích học với anh lắm. Có cô nào mê thầy chưa đó?” Dung hỏi.

– “Thàng cha dê đó chắc cua học trò trước khi học trò cua thầy.” Hiền lại đùa.

– “Mấy cha nói tầm bậy không?” Tôi cự nự.

– “Tầm bậy mà trúng tùm lum.” Nói xong, Trắc cười ha hả.

– “Nói là phải nói cho hết!” Tôi nói. “Các ông có biết cái bản chất của loài người không?”

Chiểu nói: – “Tại sao lại đổi đề tài. Đang nói về Hàn Mặc Tử mà!”

– “Từ từ, để tôi nói. Bản chất của con người là sống hợp quần. Từ thuở ăn lông ở lỗ, con người đã sống hợp quần, sống từng bầy. Không có con người sống riêng lẻ, cô đơn, một mình, như con sư tử hay con cọp một mình trong một rừng. Bắt con người sống riêng rẽ, sống cô đơn là tội nghiệp cho nó lắm, con người sẽ chết sớm. Người ta không quen sống cô đơn. Hồi còn nhỏ, tôi có đọc một truyện của Lý Văn Sâm, truyện “Kòn Trô”. Thuở nhân loại sơ khai, một “người rừng”, tôi nhớ mang máng Lý Văn Sâm viết như vậy, sống một mình trong một cái hang ở thượng nguồn sông Đồng Nai. Lâu lâu, anh ta tìm tới một bộ lạc nào đó, tấn công, rồi bắt về một người đàn bà làm vợ. Người đàn bà tìm cách trốn về với bộ lạc. “Cô nường” không chịu cảnh cô độc. Người rừng thì ở lại một mình. Hồi đó, tôi còn nhỏ, học lớp nhất, tôi không rõ Lý Văn Sâm muốn nói gì. Nhưng cái truyện ấy cứ ám ảnh tôi. Tại sao “người rừng” muốn ở một mình mà cô gái phải trốn về với bộ lạc của cô ta?”

– “Ở một mình với một con nhỏ là an tâm, không có thằng cha nào cậy thế, cậy “loon”, cậy tiền “cày rẽ” vợ mình cả. Có quyền, có tiền, “loon lá đầy mình” là có nhiều lòng tham, tham luôn cả vợ người ta, mười thằng như chục.” Lý nói.

– “Bọn cai trị rất thâm độc, bỏ người ta vô xà-lim, giam một mình, nó độc địa không khác chi tra khảo. Tra khảo tâm hồn. Nghĩ như anh chàng Hoan bị giam ngoài conex chẳng hạn. Suốt ngày suốt đêm ngồi trong cái conex tối om, ngày thì nóng như lửa, đêm thì lạnh như Bắc Cực, không điên cũng thành niên, đã điên lại điên thêm.” Tôi nói.

– “Thôi! Đừng ví dụ thằng Hoan vô đây, động chạm đó. Anh Hải nói về sự cô đơn của Hàn Mặc Tử đi.” Phan Hải nhắc tôi.

– “Một mình sống bên bờ biển, đêm ngày không một bóng người. Hàn Mặc Tử không gọi là cô đơn, mà gọi là cô liêu. “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Hồi dạy bài thơ đó của Hàn Mặc Tử, tui phải chui vô “Thư Viện Đại Học Huế” tìm “Việt Nam Tự Điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức với “Hán Việt Tự Điển” của Đào Duy Anh để tra chữ “cô đơn” với “cô liêu” khác nhau như thế nào?”

– “Vô Thư viện mà gọi là chui, làm như đi ăn trộm!” Chiểu đùa.

– “Bộ ông tưởng ăn trộm sách không mau giàu sao? “Một năm ăn trộm bằng ba năm làm” Khi thành lập “Thư Viện Viện Đại Học Huế”, Cha Luận phải xuất một triệu để mua lại bộ “Bulletin Des Amis Au Vieux Hué” đó. Có lẽ Mậu Thân bị ăn cắp mất rồi.”

– “Ai ăn cắp?” Chiếu hỏi.

-Sau Tết Mậu Thân, tôi lên thăm ông Vàng, ông nầy làm ở “Tòa Đại Biểu Chính Phủ”, cha ông ta vừa bị lính Mỹ bắn chết. Hồi tui chưa cưới vợ, tui thuê nhà của ông ở với hai đứa em. Nhà nầy chếch cổng sau Thư Viện Đại Học. Rõ ràng Nguyễn Hữu Châu Phan, thằng nầy hồi trước học lớp Đệ Nhất với tui. Nó đang “chỉ huy” ba bốn cái xe ba gác, lấy trộm sách từ trong thư viện đem đi. Chính hiệu nó là thằng ăn trộm sách.”

– “Thôi bỏ đi! Nói chuyện tiếp nghe chơi.”

– “Tra tự điển xong, theo tôi nhớ chữ “cô” là một mình, đơn cũng là một mình. Chữ “liêu” thì trong tự điển không có. Tôi xin gặp ngay ông Bửu Kế, “quản thủ thư viện”. Tui từng gặp ông một lần rồi. Khi giảng Kiều, gặp câu “Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”. Tui tìm trong “Tầm Nguyên Tự Điển” chính ông là tác giả, không thấy, tui hỏi trực tiếp ông. Ông giảng về tích Bao Tự. Ông có trí nhớ tốt lắm. Bây giờ tui lại vô hỏi ông. Tui hỏi chữ “liêu” thôi, mấy chữ kia dễ hiểu. “Liêu” là mênh mông, lặng lẽ, cô đơn. Chữ “liêu” không đứng một mình bao giờ. Ông ta giảng cho tui vậy đấy.”

– “Cái gì mà nghe ông nói toàn “tự điển” không. Đúng là “con một sách”. Dung nói.

– “Vô trại cải tạo, sách không có nên “mọt sách” cũng đói meo như mọi người.” Hiền nói đùa. Mọi người lại cười.

– “Mấy ông đừng chê mấy thằng cha mọt sách. Mao Trạch Đông chỉ tốt nghiệp trường sư phạm, cỡ giáo sư trung học là cùng, chưa từng du học ngoại quốc. Người mở mang trí óc cho Mao là bố của Dương Khai Tuệ, vợ đầu của Mao, – không kể bà vợ nhà quê cưới khi còn đi học -. Mao vào Thư Viện Bắc Kinh, đọc sách, chỗ nào không rõ thì hỏi ông quản thủ thư viện, ông giảng cho. Thấy Mao giỏi, ông gã con gái cho. Ông Ngô Đình Nhu cũng vậy!” Tôi nói.

– “Ông Nhu sao?” Chiểu hỏi.

– “Ông tốt nghiệp bên Tây, ở một trường “khảo cổ, khảo họng” cái École gì đó. Ông chú tôi nói “đưa ngón tay gõ vào một cái bát sứ, ông biết là sứ gì, Giang Tây làm vào đời nào, Càn Long hay Khang Hy!”

– “Chén bát thì liên quan gì tới “Chủ nghĩa Nhân vị”. Không lý đó là “Chủ Nghĩa Chén Bát”. “Chủ Nghĩa Đồ Cổ” mà xài gì được.” Lý nói.

– “Ông ta tự đọc sách. Học bên Tây về, Tây cho ông làm ở “Musée Khải Định”. Tui vô coi đó rồi, toàn súng gươm đời xưa không, có sách vở gì đâu. Chủ Nghĩa Nhân Vị của ông là theo sách vở ông ta đọc chớ không phải cái ông ta học. Chủ nghĩa của ông cũng chủ trương sống hợp quần.” Tôi nói.

– “Tui đồng ý với anh là con người sống hợp quần, nhưng họ cũng cảm thấy cô đơn vậy. Cô đơn trong tâm hồn.” Chiểu góp ý.

– “Dĩ nhiên. Có bao giờ cô Kiều không thấy mình cô đơn. “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” – “Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay” Tôi nói.

– “Bọn mình sống ở đây không cô đơn sao?” Chiểu nói.

– “Lòng người đổi thay không nói trước được. Vợ chồng còn phản nhau huống chi bạn qua đường!” Lý nói.

Câu nói của Lý làm tôi nghĩ tới hoàn cảnh anh ta. Anh đi “học tập”, bỏ mấy đứa con lại không ai nuôi. Con anh còn nhỏ. Vợ anh thì lấy chồng Mỹ, bỏ nhà đi đã lâu.

Bỗng Chung lên tiếng: “Cha nầy nói tào lao! Mấy người tu thiền thì sao? Thiền là tu một mình, không lý “thiền tập thể” hay “thiền cộng đồng”?

– “Ông nói vậy thì tôi chịu. Tôi chưa từng thiền nên tui không biết như thế nào! Tui nói thiệt. Tín ngưỡng, tôn tôn giáo thường cực đoan, cuồng tín. Ngay cả thiền, nhiều người tu thiền mà nói ra nghe cuồng tín, không lọt lỗ tai được!”

– “Không phải đâu! Thiền là mở rộng tâm hồn mình với thế giới, với vũ trụ, với nhân loại. Cô đơn gì nữa!” Chiểu giải thích.

– “Cô đơn mà còn buồn là nguy lắm. Buồn là không vững tinh thần, là mau chết. Các ông nhớ Truyện Kiều không? Mười lăm năm lưu lạc, dù cô đơn, dù buồn khổ, dù đau đớn như thế nào, cô Kiều vẫn vững một niềm tin: “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương”. Cô Kiều chỉ tự tử ở sông Tiền Đường, khi biết mình bị gã cho thổ quan, làm vợ thằng mọi thì coi như tuyệt đường về.”

– “Thôi ông ơi! Tự dưng ông đem mười lăm của Kiều mà dọa anh em. Bộ cải tạo tới mười lăm năm hay sao?” Hiền trách cứ.

– “Biết đâu đấy” Chiểu nói. “Cộng Sản ai mà tin gì được. Thúc thủ như bọn mình thì cứ “Que sera sera” thôi. May ra còn sống tới ngày về.”

– “Chiểu nói đúng đấy! “Ai biết ra sao ngày sau!” Tôi nói.

– “Vậy là thằng Mỹ bỏ mình sao?” Chung thật thà hỏi.

Chiểu nói: “Thằng Mỹ bây giờ như Thúc Sinh. “Liệu mà cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần nầy mà thôi.” Thúc Sinh đang sợ Hoạn Thư Trung Cộng.”

– “Bây giờ là lúc mình hãy tự tin vào mình mà thôi. Mỹ hay “Cách mạng”, tin gì được. Mấy ông có nghĩ mình đang bị giết mà không cần tắm máu không?”

Nói xong, tôi đọc câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc”:

                        “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, (4)

                        Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa?!”

 (1)-Quân Tào Tháo mười bảy vạn mỗi ngày ăn lương tốn lắm. Các quận lại mất mùa, chuyển vận không kịp. Tháo thúc quân đánh mau. Lũ Lý Phong cứ đóng chặt cửa thành không ra. Quân Tháo đánh thành hơn một tháng, lương ăn gần hết. Tháo đưa thư sang vay Tôn Sách được mười vạn hộc lương. Quan coi lương là Vương Cấu (có sách viết là Hậu) thấy ít quá không đủ phát cho quân, vào bẩm với Tháo, hỏi xem nên làm thế nào?

Tháo nói:

– “Ðem hộc nhỏ mà phát cho chúng nó, tạm cấp cứu lấy một lúc.”

Vương Cấu lại hỏi:

– “Thế ngộ quân sĩ kêu ca thì nói thế nào?”

Tháo nói:

– “Ta đã có cách.”

Vương Cấu vâng lệnh, lấy hộc nhỏ đong lương phát cho quân.

Tháo cho người đi dò các trại, chỗ nào cũng thấy quân ta thán rằng: “Thừa tướng đánh lừa quân”. Tháo thấy vậy, cho người ra đòi Vương Cấu vào bảo rằng:

– “Nay ta muốn mượn ngươi một cái, để dẹp yên lòng quân, ngươi đừng nên tiếc.”

Vương Cấu hỏi:

– “Thừa tướng muốn dùng cái gì?”

Tháo nói:

– “Ta muốn mượn cái đầu ngươi.”

Vương Cấu thất kinh, kêu oan, Tháo lại nói:

– “Ta cũng biết ngươi không có tội, nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, ngươi hãy an tâm mà chết đi, sau khi ngươi chết, vợ con ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo.

(2)-Anh Lê Dần bày ra một trò chơi khá vui. Anh phân phát cho những người chung quanh mỗi người một tờ giấy trắng. Người nhận viết một câu gì đó, xếp làm 4, đưa cho anh. Anh đưa tờ giấy lên tai, đọc câu viết trong đó bằng tai, xong đọc to lên. Mười câu, câu nào cũng đúng. Vậy là đọc bằng tai. Ai muốn biết đọc bằng cách nào, xin hỏi tác giả viết bài nầy.

(3)- “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương …

Thơ của Mai Tuyết An(?). Nhạc sĩ Trương Quốc Khánh, người phổ nhạc bài thơ trên đã qua đời./

(4) Lưu Cầu: tên một hòn đảo thuộc quần đảo Ryukyu, Nhật Bản. Nơi sản xuất gươm, dao rất bén. Các sĩ quan trong Quân Đội Thiên Hoàng thường mang theo bên mình hai thanh kiếm Lưu Cầu, một kiếm dài để chiến đấu, một kiếm ngắn để hara-kiri, bảo toàn danh dự!

Hồi ký tù cải tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 2 Feb 2015 by quanvan.net

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Bài 4

Mười bài học tập

Tôi “trình diện, đóng tiền để được đi tù cải tạo” buổi sáng 24 tháng 6 năm 1975 tại trường Taberd, Saigon. Ba ngày sau, 27 tháng 6, được chuyển lên Trảng Lớn. Một tháng sau nữa, sau khi làm bản tự khai đầu tiên, thì được chuyển về L3-T3.

Khoảng tháng 9, tất cả anh em đều được cho viết thư về thăm gia đình. Thư phải viết ngắn gọn, không được “phản động”, bày tỏ sự “tin tưởng tuyệt đối vào chính sách khoan hồng trước sau như một của đảng và nhà nước”, khuyến khích gia đình an tâm, chỉ ghi rõ hòm thư, không được tiết lộ nơi hiện đang học tập cải tạo là chỗ nào, v.v…”

Thư viết xong, gom lại giao cho đội trưởng, đội trưởng giao cho khối trưởng, khối trưởng nộp cho quản giáo. Có lẽ quản giáo là người đọc và kiểm soát thư của chúng tôi, trước khi gởi đi. Khoảng một tháng sau, phần đông chúng tôi nhận được thư gia đình trả lời. Trong chế độ mới có những điều khá buồn cười. Tuy là thư riêng, gởi cho gia đình hay gia đình gởi lại, nhưng bao giờ cũng phải theo những khuôn mẫu nhứt định, phải viết những câu như trong biểu ngữ… Tối hôm đó, nằm nói chuyện với nhau trong khi chờ giấc ngủ, tôi nói đùa: “Thư đi cũng phải “Muôn tâu thánh thượng, hoàng đế vạn tuế”. Thư về thì cũng phải bài bản như thế. Thư nào viết khác đi, coi như không có người nhận.”

Lê Quang Dung hỏi: “Thư của mình có bị kiểm duyệt không?”

Phạm Xuân Lý, người dày dạn kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát, trả lời:

_ “Ông mang tới lon đại úy rồi mà còn hỏi ngây thơ. Thư tù mà không kiểm duyệt thì kiểm duyệt thư ai?!”

Nằm phía ngoài cùng, Phan Hải nhắc chừng:

_ “Bộ đội nghe tới thì phiền, không phải tù.”

Chúng tôi làm thinh, không nói gì.

Thói quen của tôi là đùa, hay kể “chuyện xứ Huế tui” cho tất cả anh em nghe cho vui.

Phạm Xuân Lý thì kín đáo hơn. Anh gia nhập ngành cảnh sát khi còn trẻ, khi vừa quá 20 tuổi, sau khi đậu bằng trung học. Anh chăm chỉ, vừa làm cảnh sát, vừa học thêm, đậu tú tài, đang học luật. Thời Ngô Đình Diệm đã làm trưởng phòng Cảnh Sát Quận Hai, Saigon.

Một hôm, chỉ có anh và tôi, anh ấy hỏi:

_ “Anh Hải ở Huế có biết ông dược sĩ Nguyễn Cao Thăng không?”

Tôi trả lời:

_ “Trời ơi! Ông nầy là quái kiệt, lanh lợi số một, tài ba số một, xoay chuyển tình thế như gió bão, ông nắm ai là trúng người đó, đố chạy thoát.”

Lý hỏi:

_ “Có vẻ như ông ấy là thần tượng của anh?”

_ “Không phải đâu, nhưng anh hỏi tui như vậy thì chắc anh có lần “đụng độ” với ông ta?” Tôi hỏi.

_ “Sức mình mà đụng độ với ông ta sao nổi. Nhưng ở trong ngành Cảnh Sát gần 20 năm, tôi chưa từng thấy ai chơi sộp như ông. Mình đang ở cái thế trên ông, bị ông kéo đi như kéo xe.” Lý giải thích.

_ “Chuyện gì?” Tôi hỏi.

_ “Thời Ngô Đình Diệm, triệt để bài trừ “tứ đổ tường”. Một hôm, tôi vây bắt một ổ chơi bời hạng sang ở đường Cô Bắc. Vây nhà xong rồi, gái bán dâm, khách mua dâm đều bị tóm hết. Không như trước kia, bây giờ khách mua dâm cũng bị ra tòa.

“Sau khi giữ đám khách đàn ông ở lầu trên rồi, tôi đi lên để lập danh sách. Tới nơi, tôi thấy một người ăn mặc bảnh bao lắm, vét-tông xanh đậm, cà vạt đỏ, giày “đơ cu-lơ” ngon lành.

Ông ta đến trước mặt tôi, nói: “Tôi muốn gặp người chỉ huy hôm nay!”

Tôi trả lời, hơi sẳng giọng: “Tôi.”

Ông ta nói từ tốn nhưng cương quyết:

“Tôi là dân biểu Nguyễn Cao Thăng. Tôi không thể có tên trong số những người nầy. Anh cầm tạm số tiền nầy uống càphê.”

Nói xong, ông ta đưa cho tôi một phong bì khá dày. Tôi nhìn ông ta, xong, đưa tay cầm phong bì dày, đứng tránh ra một bên đầu cầu thang, nói: “Xin mời ông dân biểu về.”

Ông ta cám ơn, bắt tay tôi rồi xuống cầu thang.”

Tôi hỏi anh Phạm Xuân Lý:

_ “Anh sợ ông ta cái gì?”

Lý cười:

_ “Cả hai. Ông ta là dân biểu, tôi không tha, về tới ty Quận Nhì, ông Trưởng ty cũng tha. Kinh nghiệm dạy cho tôi như vậy. Tui tha thì tui hưởng trọn phong bì. Còn ông Trưởng ty tha, chắc chi tui có chút tiền uống một ly cà phê?”

Tôi cười:

_ “Vậy là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy?”

Lý cải:

_ “Không phải. “Thẳng mực tầu đau lòng gỗ”. Luật pháp không phải bao giờ cũng cứ một đường thẳng mà đi. Anh có biết “bát nghị” là gì không?” (1)

_ “Biết chút chút.” Tôi nói: “Luật Hồng Đức.”

_ “Anh chắc biết ông ta là công thần của chế độ!” Phạm Xuân Lý nói.

Thấy anh ta nói đúng, tôi làm thinh.

Một lúc, tôi nói thêm:

_ “Từ một người bị “cậu Cẩn” ghét cay ghét đắng, vì cho rằng ông ta là “đệ tử” Thủ hiến Phan Văn Giáo, cương quyết trừng trị một khi “anh thượng thư về châp chánh”, trở thành một người “kinh tài cho Ngô triều” (Báo chí hồi đó gọi ông Nguyễn Cao Thăng là một người như thế – tg) phải nói rằng ông ta là thiên tài. Ông nầy không thua gì Lã Bất Vi bên Tầu. (2).

Tôi không nhớ chắc ngày nào, sau khi dựng hội trường ở giữa hai khu nhà số 4 (Khối 4) và nhà số 5 (Khối 5) thì được tổ chức học tập. Ai nấy đều vui, hy vọng “học xong” sẽ được về.

“Đi học” mà, học xong thì về chớ có phải tù tội gì đâu!!!

Phần đông tin tưởng như vậy bởi vì “cách mạng” yêu cầu phải “tuyệt đối tin tưởng” vào “cách mạng” thì mình cũng phải tin chớ. “Cách mạng” cũng có danh dự, uy tín của “cách mạng”, không lý “cách mạng” “nói ra rồi lại nuốt lời như… Chí Phèo hay Thị Nở”.

Tất cả chỉ có 10 bài học chính trị. Tổ của tôi, ai cũng lo học cho thuộc. Hồi đó, tôi cũng rán học thuộc, nhưng đến bây giờ, tôi không sao nhớ rõ tên 10 bài học đó. Đại khái là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân, cách mạng”.

Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với “cách mạng”… Rồi thì: “Xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là con đường tất yếu của nhân loại”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng trước sau như một”, v.v… Nói chung là như thế… như thế!…

Ban ngày thì đi học. Học xong, họp tổ, thảo luận rồi làm bài “thu hoạch” nhưng tối lại, trong bóng tối, chưa ngủ được, nằm bên nhau, chúng tôi nói toàn chuyện “phản động”, mặc dù có Phan Hải nằm ở đầu vách phòng. Đôi khi anh ta cũng góp ý, tuy không nhiệt tình. Tội nghiệp, anh ta đang hy vọng bố mẹ bảo lãnh cho về sớm, nên ai cũng thông cảm chuyện anh ta “giác ngộ cách mạng” sớm hơn chúng tôi. Đời nầy, ai cũng vì cái quyền lợi của người ta cả, “tổ quốc, tổ cò” gì đâu!!!

Một đêm, Chiểu hỏi tôi:

_ “Anh Hải, “Mỹ giàu mà không mạnh. Vậy thì chắc chắn bọn chúng đã thua ở Việt Nam.”

_ “Tôi không rõ.” Tôi nói. “Nhưng theo tôi nghĩ, các tay chuyên viên, nằm ở phía sau tòa Bạch Ốc, là các ông giáo sư đại học, như “Kít” hay Brzezinski họ có “tầm nhìn chiến lược” về toàn thế giới, vạch ra đường lối cho nước Mỹ, thì cứ 10 năm hay 20 năm, tình hình thế giới có vài biến chuyển lớn, trong đó, bao giờ cũng có vai trò như thế nào đó của Mỹ.”

Dung nói:

_ “Nói chung chung dzậy ai nói mò chẳng được. Anh đưa ra ví dụ đi.”

_ “Như vầy nè! 1945, Thế giới chiến tranh thứ hai chấm dứt. Năm 1955, Mỹ vào miền Nam, Pháp rút đi. Mười năm sau, Mỹ đổ quân vào miền Nam. Rồi mười năm nữa, Martin cuốn cờ ở tòa đại sứ Mỹ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Không chắc, vậy hiệp định Genève 1954 để làm gì, hiệp định Paris 73 để làm gì?”

Tôi nói:

_ “Theo tôi nghĩ, đó chỉ là những công việc chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng, chính yếu tiếp theo. Có hiệp định Genève 1954 thì Mỹ mới nhảy vào trực tiếp ở miền Nam năm 1955. Lạt đổ Ngô triều năm 1963 để chuẩn bị cho Mỹ đổ quân năm 1965. Hiệp định Paris 73 chỉ là chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn không dính líu gì tới Việt Nam nữa, giao cho Trung Cộng.”

_ “Vậy là Mỹ thua Trung Cộng?” Trắc hỏi.

_ “Thua hay không thì phải trở lại thông cáo Thượng Hải, hay việc Kissinger bí mật qua Bắc kinh hồi tháng 7 – 1970, với việc Nixon gặp Mao hôm 21 tháng 2 năm 1972. Kissinger là một giáo sư, một lý thuyết gia, chiến lược gia. Tay nầy nguy hiểm lắm.

“Khi tiễn chân Nixon ra về, Mao nói buồn cười lắm: “Những người như chúng tôi thường nổ những loạt súng lớn, tổng thống đừng quan tâm.”

“Mấy tay đầu sỏ quốc tế chưởi nhau om sòm cho vui thiên hạ, còn trong thực tế thì họ chia chác nhau quyền lợi. Quyền lợi của các nước lớn, hy sinh quyền lợi các nước nhỏ. Tội nghiệp là thân phận các dân tộc nhược tiểu như mình, cứ nghe súng “đại bác mồm” của Mao mà sợ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Coi như Mỹ phủi tay, xong rồi!”

_ “Không đâu!” Tôi nói. “Tôi có cảm tưởng như tụi Mỹ đang “chia vùng trách nhiệm” vậy! Mấy hôm trưóoc khi trình diện (cải tạo), tui vẫn còn nghe Bêbêxê. Kissinger lại đi Ai Cập, Do Thái chuẩn bị cho một thỏa hiệp gì đó để ổn định Trung Đông. Mỹ muốn giao một trách nhiệm gì đó cho Do Thái, đệ tử ruột của Mỹ, còn Ai Cập, bàn chuyện gì bên đó mà không có Ai Cập làm sao được.

_ “Đông Dương, Đông Nam Á coi như xong” Lý nói.

_ “Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á” là coi như xong rồi. Khi tôi còn làm viêc ở Kiên Giang, một hôm về Tam Sơn (3), nghe dân chúng thuật lại thời cụ Ngô, lính Nhảy Dù Úc nhảy xuống Tam Sơn, mới biết có lần “Liên Minh” nầy tập trận, có cho lính nhảy dù nhảy xuống đó. Dân chúng đi coi đông lắm.” Nếu nói “chia vùng trách nhiệm ở vùng Đông Á nầy, có thể coi vai trò của Trung Cộng với Nhật là quan trọng. Sau lưng Nhựt còn có Mỹ mà. Mỹ không bỏ Nhựt như bỏ miền Nam mình đâu!

Phan Hải nói, tự ái:

_ “Cách mạng mình cũng ghê lắm, họ chịu lép sao?”

_ “Nước mình là nước nhỏ, là con cờ của tụi nó. Con tốt hay, như bài thơ đánh cờ của Hồ Chí Minh thì cũng có thể, nhưng nhìn chung, cũng chỉ là con cờ.”

Chung lên tiếng:

_ “Dân cải tạo cũng nhạy bén lắm, anh biết không! Nhiều người đang học tiếng Tầu.”

Quả thật trại L3-T3 của tôi có hai hiện tượng đáng chú ý. Thiên hạ đua nhau học tiếng Tầu. Khối nào cũng có lớp học tiếng Tầu, học chữ Hán và nhiều sòng mạt chược mở ra.

Học xong 10 bài, cũng chẳng thấy biến chuyển gì cho thấy sắp được tha về, ai nấy nôn nao, buồn bã, chán nản.

Đang trong tình hình như thế, Phan Hải đề nghị:

_ “Cái giếng đầu kia đông người quá, mình đào riêng một cái giếng cho tổ của mình đi.”

Dung nói:

_ “Sắp về rồi, đào giếng làm chi nữa.”

Chiểu phản ứng:

_ “Trường học tập cải tạo không bao giờ thiếu người đâu, mình đi thì để lại cho người khác dùng.”

Trắc cười không vui, nói:

_ “Thằng “đui” nầy phát biểu câu nào cũng độc. Nó đoán trước chế độ nầy không bao giờ thiếu tù, chỉ thiếu nhà tù mà thôi.”

Phan Hải góp ý, không biết thành thật hay đùa:

_ “Cách mạng nói rồi, không phải tù, chỉ là học tập cải tạo mà thôi.”

Toán đào giếng chỉ có mấy ngoe. Phan Hải tìm một chỗ bên hông nhà, hy vọng trúng mạch nước, đào một vòng làm dấu rồi đi mất, còn lại Phạm Quang Chiểu là người tích cực nhứt trong việc đào giếng nầy, thứ đến là Trần Phú Trắc và tôi. Mấy ông khác, chỉ hụ hợ rồi chán nản bỏ đi.

Khi đào xuống sâu, thấy đất đã ướt, có mạch nước thì Chiểu không cho tôi và Trắc xuống giếng nữa. Anh ta giành lấy công việc khó nhọc đó.

Tôi và Trắc, đứng trên miệng giếng, có gác ngang hai tấn ván. Khi vét đất đầy cái giỏ do chúng tôi làm bằng giây kẽm gai, Chiểu hô to: “lên”.

Tôi và Trắc ở phía trên thay nhau kéo lên.

Đất càng ngày càng nặng, cho biết mạch có nhiều nước. Khi cái giỏ đất được kéo lên, phải từ từ để cái giỏ không lắc lư qua lại.

Chiểu phải nép vào thành giếng để tránh nước từ cái giỏ đầy chảy ra.

Khi kéo thì chúng tôi đứng dạng chân trên hai tấm ván, cúi người xuống, cầm giây kéo lên.

Trắc thì nhiều khi rất “xà bát”. Thay vì đứng cho ngay mà kéo, anh ta đứng nghiêng một bên người mà kéo. Vậy nên anh bị “cúp xương sống” nằm lì một chỗ, không nhúc nhích gì được, suốt cả mấy tháng trời. Việc ăn uống, đi tiểu, đi cầu, tắm rửa, v.v… của Trắc đều được Chiểu chăm sóc, giúp đỡ.

Chiểu rất tận tâm, chân thành, đáng quí. Sau nầy, khi về trại Long Giao, Trắc chưa bình phục hẳn mà Chiểu thì đã bị đưa ra Bắc, không ai giúp đỡ Trắc cả, tình cảnh của anh ta rất đáng thương.

Trắc nằm một chỗ, khoảng hai chục ông bác sĩ đến thăm mà Trắc không bình phục được. Bác sĩ khám thì phải có thuốc. Bác sĩ không thuốc thì cũng “cùi.”

Trần Hữu Bảo nói đùa:

_ “Hồi trẻ chơi chị Năm chị Mười, mục xương sớm chớ cúp mẹ gì đâu!” (4)

Nghe Bảo nói đùa, ai nấy đều cười. Trắc đang nằm liệt cũng cười, nói vớt vát:

_ “Đ. mẹ. thằng ba trợn, nói bậy bạ không!”

Dung, cũng hay đùa, vừa nói to, vừa cười: “Bậy bạ, trúng tùm lum.”

Không có thuốc thì châm cứu vậy.

Khi tôi bị chuyển về trại L3-T3 thì nghe nói bác sĩ Văn Tần cũng ở đây, bác sĩ Trương Thìn cũng ở đây, nhưng cả hai đã được tha về rồi. Người ta đồn bác sĩ Văn Tần nói rằng ông ta bà con với Văn Tiến Dũng. Nghe thế, tôi không cải chính, chỉ thấy buồn cười việc thiên hạ hay tán bậy. Bác sĩ Văn Tần quê ở Long Hưng, làng nầy sát thị xã Quảng Trị. Năm tôi học lớp nhứt với ông Hồ Đắc Hanh thì Văn Tần đi học lại. Đi học lại có nghĩa là mấy năm chiến tranh, việc học anh ấy bị gián đoạn, nay anh ta đi học cùng với lớp “hậu sinh”, cũng có nghĩa là trước 1945, anh ta học trước chúng tôi những mấy lớp. Tuy là bạn học nhưng nói chuyện với anh ta, bao giờ tôi cũng phải ngửng đầu lên vì anh ta vừa lớn tuổi, vừa lớn con. Chúng tôi với nhau thì gọi mày tao, nhưng với Văn Tần thì bao giờ cũng gọi bằng anh. Học chung với anh tới lớp đệ lục, thì tôi bỏ trường, tới đệ nhị cấp thì lại gặp nhau ở Quốc Học. Bố anh làm lý trưởng làng Long Hưng trước 1945, còn ông Văn Tiến Dũng là dân Bắc Kỳ. Bắc Kỳ, Trung Kỳ xa nhau lắm, đâu phải người cùng làng, cùng xứ, dễ làm bà con với nhau hơn.

Còn ông Trương Thìn vô trại thì phát triển môn châm cứu. Nhiều người theo học, người nầy dạy lại người kia. Kể từ khi ông Trương Thìn rời trại tù cải tạo đến nay chưa đầy một năm, mà có cả một chục thế hệ học trò châm cứu tiếp nối nhau.

Có lần, tôi nói đùa:

_ “Châm để cứu, hễ cứu không được thì “châm kêu”, “châm khiêng”.

Nguyễn Văn Bê không hiểu ý tôi, hỏi:

_ “Châm kêu, châm khiêng là sao?”

_ “Kêu là kêu y tá xuống cấp cứu, hoặc khiêng lên bệnh viện.”

Trắc cũng được châm cứu, lần hồi anh ta ngồi dậy được, đi lại được, cũng đỡ cho Chiểu. Tuy nhiên, không ai trong tổ tôi cho rằng đó là kết quả của châm cứu cả.

“Thầy” Đạo, tên thật là Nguyễn Đạo, cùng đội với tôi, cũng học nghề châm cứu đâu đó.

Cũng như mọi “thầy” khác, ông ta sắm một bộ kim châm cứu, rút từ sợi thép cứng trong giây điện thoại. Thỉnh thoảng “thầy” cũng mang hộp đi đâu đó, hành nghề “cứu nhân độ thế.” Hôm Lê Khắc Quyền ở khối 3, bị “thần quyền” nhập, có nghĩa là nửa đêm, anh ta tung mùng dậy, múa vỏ lung tung, mãi gần sáng, đánh võ “Xôlô” mệt quá, anh mới nằm xuống ngủ.

Trắc kể cho tôi nghe:

“Không rõ ông nào trong tổ của Lê Khắc Quyền, nghe danh “thầy Đạo” bèn lên rước “thầy”xuống.

Đang kẹt ván cờ tướng, “thầy” bảo “Chút nửa tui xuống.”

“Khi người mời “thầy” đi rồi, tui nói với Đạo:

_ “Bệnh người ta mời, cứ ngồi đánh cờ.”

“Đạo vẫn ngồi đánh cờ, trả lời Trắc:

_ “Mấy sợi giây thần kinh nó chạm nhau đó mà, chút tui xuống gở ra là xong.”

“Tuy nói vậy, “thầy” cũng giải quyết xong ván cờ cho sớm, ôm hộp kim ra đi.

Mấy hôm sau thì nghe tin Lê Khắc Quyền chết, chôn bên cạnh phi trường, chỗ “nghĩa trang tù”.

Kể lại chuyện đó với tôi, Trắc than phiền:

_ “Tính mang người ta mà coi như chuyện chơi.”

Tôi cải:

_ “Nhưng ông Quyền chết có phải vì châm cứu đâu. Tui chưa nghe ai nói vì châm cứu mà chết.”

_ “Đã đành” Trắc nói.

 “Nhưng làm thầy thuốc thì không phải tác phong như thế!”

Tôi nghĩ rằng Trắc không ưa Đạo vì tay nầy thường hay “show up” nên nói thế. Tuy nhiên, điều Trắc phê phán, không hẳn sai. Thời gian ở L3-T3 do bộ đội quản lý, chẳng lao động, phá rừng, cày cuốc gì cả, cả ngày chúng tôi chỉ lang thang chuyện trò. Để giết thì giờ, và có thêm rau “cải thiện”, chúng tôi tự kiếm đất trống, trồng rau, trồng đậu…Khoảng một lần một tuần, bộ đội tổ chức đi cuốc đất, chuẩn bị trồng khoai mì ở phi trường, hai bên phi đạo. Chỉ là chuẩn bị thôi, nghĩa là chúng tôi lấy cuốc đánh vồng, đắp từng mô đất bằng cái nón lá, chờ có mưa thì dăm hom khoai mì xuống đó. Những mô đất đó, chúng tôi gọi đùa là mả gió. Đi lao động có nghĩa là đi đắp mả gió. Mỗi khi có gọi đi lao động, vài anh em chúng tôi tình nguyện xin đi. Ở hoài trong trại cũng chán. Tuy kế hoạch thì vậy, nhưng ra tới nơi, mạnh ai muốn làm gì thì làm, có kẻ đi lang thang, thậm chí có anh vạch cỏ bắt dế về cho dế đá nhau xem chơi. Cả buổi, toàn thể chúng tôi miễn có đắp vài ba chục cái mả gió là được. Có hôm trời nắng quá, thiếu úy Đậu, Dziệt Cộng, người dẫn chúng tôi đi lao động, tập họp chúng tôi lại. Anh ta đứng trên gò đất cao, tuyên bố một câu, lần nào cũng như lần nào:

“Điều kiện trời thì nóng, đất thì cứng, ta về thôi.”

Thế là chúng tôi hoan hô, vác cuốc kéo nhau về. Gần chỗ chúng tôi đắp mả gió là “nghĩa trang tù”. Anh em trong trại tôi, ai qua đời thì chôn ở đó. Những anh em các trại khác, khi chết, cũng chôn ở đó. Vì vậy, khi đi đắp mả gió, chúng tôi thường ghé lại “nghĩa trang”. Cứ vài ngày thì có một cái mả mới, có dựng bia, bằng gỗ thì viết tên, hay bằng “tôn” lợp nhà thì đục lỗ khắc tên cho lâu bền. Có hôm, anh Thế của trại tôi ra tới nơi, bèn tới xem tên trên những bia mộ mới, rồi khóc òa lên.

Anh em đổ xô tới hỏi. Anh ta vừa chỉ lên mộ bia vừa nói: “Thằng nầy em tao. Nó chết rồi! Trời ơi. Nghe nổ ở T5, tao đã nghi. Ba má ơi, biết nói làm sao với ba má!”

Nghe khóc, chúng tôi ai cũng cảm động. Vào trại, để giết thì giờ, chúng tôi thường kiếm việc làm tiêu khiển, vừa để làm vật kỷ niệm. Trần Thanh Tuấn, khối 1 với tôi, nguyên Trưởng phòng Công xa Bộ Tư lệnh CSQG, tú tài kỹ thuật nên đục, đẻo, giũa, mài…khéo tay lắm. Cứ mỗi lần đi đắp mả gió, anh ta tới chỗ hai chiếc AD-6 bị hỏng, để bên phi đạo, đục, cạy lấy nhôm vỏ máy bay đem về. Anh ta làm cỡ vài chục cái lược, vài chục con dao. Có hai anh em ở tổ 7, khối 1, quen tay nghề ở nhà khắc tượng Chúa, Mẹ nên họ lấy mấy khúc gỗ đun bếp, cắt, khắc chạm thành những cái ống điếu (vố) rất đẹp. Ở T5, nghe nói có mấy ông thiếu úy còn trẻ, rủ nhau lấy hỏa tiển (loại gắn máy bay), lớn hơn cổ tay, chưa nổ, đem về cắt làm vòng tay, khắc tên, chạm hình, đeo chơi. Có mấy người đã làm thì không sao. Bữa đó có mấy ông xúm nhau cưa một hỏa tiển như thế. Bất thần hỏa tiển nổ khiến bốn ông mạng vong. Ai ngờ, trong số đó có một người em của Thế. Hai anh em cùng đi Thủ Đức, cùng ra sĩ quan và cùng đi tù cải tạo, chỉ khác trại mà thôi.

Bấy giờ chúng tôi phá những ca uống nước của lính. Loại nầy bằng inox. Dùng inox nầy, chúng tôi cắt, khắc chạm, chùi bóng, làm những tấm “lắc” chờ khi được tha về hay được thăm nuôi thì tặng biếu gia đình. Không lấy nhôm ở chiếc máy bay AD-6 bị hư ngoài phi trường được thì chúng tôi kiếm nhôm, cắt nhỏ, đem nấu, lại cắt, dũa mài, thành những cái lược. Tôi cũng làm cho con tôi mấy tấm lắc bằng nhôm. Hễ đứa nào tuổi con gì, thì tôi khắc hình các con đó: Trâu, mèo, ngựa …

Có người dùng “tôn” lợp nhà, cắt gò, thành dụng cụ dùng hằng ngày như nồi, soong, v.v… Sĩ quan Dziệt Cộng thì kiếm nguyên một tấm “tôn”, nhờ cắt gò thành những cái “vani” (valise) để đựng đồ đem về Bắc. Họ thích lắm. Những cái lược nầy, “vệ binh” (lính Dziệt Cộng) cũng rất thích, nhờ cải tạo viên làm giùm hay xin lại ai đã làm sẵn. Bấy giờ có bài hát phổ theo thơ của Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Có người nhại theo đó mà hát:

“Bàn tay ta làm nên cái lược,

Để mai nầy đem biếu anh vệ binh.

Vệ binh khen “lao động là quang vinh”

Hãy phát huy làm thêm nhiều nhiều nữa.”

Dĩ nhiên là để họ xin đem về bắc./

(1)-Tám loại người nếu phạm tội nặng thì trước khi xét xử phải được phép của vua và khi kết tội phải tâu lên vua để vua định đoạt. Bộ Quốc triều hình luật thời Lê ở Việt Nam (giữa thế kỉ 15) quy định tám loại người đó:

1-Những người thân thuộc của vua (nghị thân).

2-Những người giúp đỡ vua lâu ngày (nghị cố).

3-Những người có đức hạnh lớn (nghị hiền).

4-Những người có tài năng lớn (nghị năng).

5-Những người có công lớn (nghị công).

6-Những người có chức tước lớn (nghị quý).

7-Những người siêng năng cần mẫn trong chức vụ (nghị cần).

8-Những con cháu các triều trước (nghị tôn).

Tám loại người này được hưởng ba sự ưu đãi:

a)-Vua cho phép xét xử thì quan mới được xét xử và vua quyết định việc kết tội.

b)-Khi thẩm vấn, họ không bị tra khảo như dân thường.

c)-Nếu bị kết từ tội lưu trở xuống, họ được giảm một bậc. Đối với việc phạm thập ác (mười tội ác: 1/ Mưu phản. 2/ Mưu loạn 3/ Mưu đại nghịch: giết vua 4/ Ác nghịch: Giết cha mẹ 5/ Bất đạo: thiếu đạo đức 6/ Đại bất đạo 7/ Bất hiếu. 8/ Đại bất hiếu 9/ Bất mục 10/Bất nghĩa) thì không được áp dụng bát nghị. (Theo VNTĐ)

(2)-Lã Bất Vi (trước Công Nguyên) là một thương gia thời Chiến Quốc. Sau ông làm thừa tướng nước Tần. Lã Bất Vi là cha của Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Tầu. Ông là người nổi tiếng trong lịch sử về buôn bán, kể cả buôn vua. (Xem phần nói về Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trong Viết Về Huế, tập 3, cùng tác giả)

(3)-Tam Sơn là 3 ngọn núi ở vịnh Rạch Giá: hòn Me, hòn Sóc, hòn Đất (Hòn Đất là  đặc khu của VNCH, tên gọi là Đạc Khu Hòn Đất”

(4)-Chị Năm là 5 ngón tay, chị Mười là 10 ngón tay, để thủ dâm.

Anh Ba Trọc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Anh Ba Trọc

Đoàn Xuân Thu

Anh Ba Trọc là người bị ghét nhứt ở đất Footscray. Ghét vì cái lối nói chuyện hay móc họng người ta của ảnh. Như đa phần bà con người Việt, ảnh họ Nguyễn, con trai lót chữ Văn, tên là Phú. Nguyễn Văn Phú.

Vì hồi xưa, nhà nghèo lắm, tía má ảnh chỉ mơ tiền rủng rỉnh nên chị của ảnh tên Giàu. Nguyễn Thị Giàu, như nghệ danh Ngọc Giàu của một cô gái nghèo ở cái đất Thủ Thiêm, bên kia sông Sài Gòn. Sau Ngọc Giàu đi hát cải lương, tiền công-tra với bầu gánh lên tới cả triệu đồng. Từ nghèo thành Giàu là vậy!

Anh Ba Phú giàu có máu mặt ở Footscray nhờ trúng số cả chục triệu đô. Thiên hạ gọi ảnh là “trọc Phú”. Nhìn cái bản mặt câng câng thấy ghét nên thiên hạ bỏ quách cái tên Phú cúng cơm đi, chỉ còn là Ba Trọc.

Trọc không phải là trọc lóc, không có tóc. Xấu củ nhưng tốt dây, tóc râu của Ba Trọc chỉ cần một năm không hớt, nó dài xọc giống người rừng sông Amazon bên đất Brazil, Nam Mỹ vậy. Mấy ông thợ hớt tóc nói lén, thằng cha Ba Trọc ở dơ.

Cuộc đời của Ba Trọc ly kỳ như tiểu thuyết của nữ sĩ Quỳnh Dao, Ðài Loan. Năm 1978, Lê Duẩn sai một tay thợ thiến heo tên Ðỗ Mười từ ngoài Bắc vào Nam đánh tư sản. Mà chữ gọi là cải tạo công thương nghiệp tư sản mại bản. Sau 75, ai mà được cộng sản nó gắn cho chữ “cải tạo” là nát cửa, tan nhà.

Lúc đó, Phú với Giàu ngày đi học, đêm hai chị em đội xề bánh ú đi bán ở chợ Cầu Ông Lãnh. Một bữa, có chú Ba nói tiếng Việt lơ lớ mua mão luôn hai xề bánh ú. Chị Hai Giàu nghĩ bán đắt, sẽ được về nhà ngủ sớm. Khoái chí, chị Hai Giàu chúc bà con (dù đi ghe) thượng lộ bình an. Ai dè đó là ghe vượt biên. Sợ bể, bọn công an còng đầu cả đám; nên mấy chú Ba bắt hai chị em theo luôn. Nhỏ chút éc, Ba Phú đâu có chịu xa tía má. Khi ghe xuôi sông Lòng Tàu ra biển, Phú cứ khóc i ỉ. Chưa có ai chết mà nghe khóc hoài xui thấy mẹ. “Nị mà khóc nữa, ngộ cho một đạp văng nị tuốt xuống sông bây giờ”, nghe bị cho đi thăm Hà Bá, Phú mới chịu nín khóc, lột bánh ú ra ngồi ăn. Sau 5 ngày, 5 đêm, ăn tới cái bánh ú cuối cùng, tính ăn luôn lá chuối thì ghe tấp vô được Pulau Bidong, Mã Lai.

Phái đoàn Úc tới, thấy hai chị em “con bà phước” nên nó ưu tiên bốc ngay về Úc. Ba Phú tính kiếm việc làm ngay để gởi tiền về nuôi tía má gần chết đói ở Việt Nam vì không còn ai đi bán bánh ú hết ráo.

Nhưng Úc nó nuôi. Con nít không cho đi làm, buộc Phú phải học ít nhứt phải hết lớp 10. Chỉ được làm “part time” như giao bánh pizza ban đêm, tuần không quá 20 tiếng.

Ba Phú mới đầu chỉ tính học tiếng Anh đủ để không phải xài động từ “tu quơ”. Ai dè, học riết ghiền; vì trong lớp có mấy em đẹp não nùng. Cuối cùng, Phú cũng lấy được cái bằng cử nhân của Úc. Nhưng thiên hạ nói Ba Trọc gốc dân bán bánh ú chợ Cầu Ông Lãnh thì sức mấy mà có đủ trí thông minh để có được cái cử nhân?

Thiên hạ không tin nhưng tui tin. Mặc dù anh Ba Trọc chưa bao giờ xùy ra cái bằng đại học Úc để nhát tui bao giờ. Tui tin vì có lần nhậu chơi, ảnh đem một câu bằng tiếng Anh ra đố để coi trình độ của tui cao tới đâu.

Câu đó vầy nè: Thầy hỏi: “What has four wheels and flies?”. Trò trả lời là: “A garbage truck!”.

Tui là người rất dốt tiếng Anh nên hỏi: “Mắc cười chỗ nào?” thì Anh Ba Trọc cắt nghĩa: “Cái gì có 4 bánh và biết bay?” Thầy giáo mong học trò trả lời là “chiếc máy bay”. Nhưng học trò lại trả lời là “xe rác”. Như vậy ai đúng? Ai sai? Câu trả lời là: thầy sai, trò đúng. Thầy sai ở chỗ nào? Sai trong cách đặt câu hỏi. Hỏi mà không biết dùng liên từ “and” (và).

“And” là một co-ordinate conjunction (liên từ nối hai chữ đồng đẳng về văn phạm, như danh từ số nhiều phải nối với danh từ số nhiều). Vì thế học trò nó nghĩ “four wheels” danh từ số nhiều của chữ “wheel” ắt phải nối với “flies” là danh từ số nhiều của “fly” (con ruồi). Muốn cho học trò hiểu “flies” là động từ chia ngôi thứ ba số ít của động từ “fly” (bay) thì ông thầy phải thêm chủ từ “it” trước động từ “flies” để chữ “and” nối hai mệnh đề độc lập với nhau. Lúc đó thì học trò hiểu mới trúng theo ý của ông thầy. Cái gì có bốn bánh và nó biết bay là chiếc máy bay. Bằng không có chủ từ “it” của mệnh đề độc lập thứ hai, thì học trò hiểu cái gì có bốn bánh là chiếc xe và nhiều con ruồi (“flies” số nhiều của chữ fly (con ruồi) trước khi đổi qua số nhiều thì phải đổi “y” thành “i” rồi mới thêm “es”. Như vậy, chiếc xe có nhiều con ruồi học trò trả lời là xe rác, là đúng quá xá về văn phạm, đâu có cãi được gì nè.

“Mổ câu, chữ ra cặn kẽ như vậy để thấy chuyện đùa của Úc dù ngắn gọn, nhưng không thừa, không thiếu. Ý nghĩa của nó rất thâm sâu”, anh Ba Trọc lên giọng thầy đời.

Tiếng Anh, đua không lại anh Ba Trọc. Nhưng tiếng Việt là ảnh phải học của tui. Ba Trọc qua Úc hồi chín, mười tuổi sao bằng tui qua Úc lúc đã quá nửa chừng xuân? Tui đố anh Ba Trọc chữ “tiêm chủng” và chữ “chích ngừa” COVID-19 chữ nào đúng? Chữ nào sai? Anh Ba Trọc trả lời: “Hai chữ giống nhau”.

Trả lời như vậy là trật lất, tui cắt nghĩa: “Tiêm chủng: chích cái chủng, cái giống vi trùng đã làm yếu đi để cơ thể sanh ra kháng thể, ngừa bệnh, như tiêm chủng đậu mùa. Bây giờ bào chế kiểu mới hoàn toàn khác, chích vaccine “mRNA” vào để dạy tế bào tạo protein giúp miễn dịch. Không có “tiêm chủng” gì ráo, phải dùng chữ “chích ngừa” mới đúng”.

Nếu anh Ba Trọc không muốn quên tiếng mẹ đẻ của mình; sợ thành dân mất gốc thì mỗi ngày nên đọc Bình Nguyên Lộc hoặc Sơn Nam rồi anh Ba Trọc sẽ thấy các nhà văn trẻ ngoài nước và ngay cả trong nước viết trật bấy bá!

Có sắp nhỏ viết tiếng Việt không giống ai là: “Jeep Wrangler giữ giá lâu nhất, Nissan Leaf nhanh mất giá” (?). Ai cũng biết tiếng Việt trạng từ đi sau động từ. Thì “Nissan Leaf nhanh mất giá” (?) phải viết là: “Nissan Leaf mất giá nhanh”. Vì “đi nhanh” viết thành “nhanh đi” nó khác nghĩa với nhau một trời một vực.

Kết luận sắp nhỏ viết tiếng Việt phải dùng Vietnamese Grammar (văn phạm Việt), đừng dùng English Grammar mà viết tiếng Việt kỳ lắm nha!

Hai đứa ngồi nhậu cãi nhau đến sùi bọt mép thì thằng Cu Tèo, con anh Ba Trọc, đi học về gật đầu chào rồi nói: Cô giáo của con muốn gặp bố! (nó kêu anh Ba Trọc bằng bố; vì chị Ba Trọc là dân Bắc Kỳ 9 nút).

Chẳng qua đầu đuôi gốc ngọn vầy nè:

“Tuần rồi Cu Tèo về nhà nói: Bố! Cô dạy toán của con muốn gặp bố!

– Về chuyện gì?

– Cô hỏi con: 7 nhân 9 là bao nhiêu? Con trả lời: 63.

Sau đó, cô ấy hỏi:

– 9 nhân 7?

Con đã hỏi lại cô:

– Có cái quái gì khác nhau đâu?

– Ðúng thế, được rồi. Bố sẽ đi.

Hôm sau, Cu Tèo đi học về và nói:

– Bố đi gặp cô con chưa?

– Chưa!

– Vậy lúc nào đi, bố gặp cô dạy thể dục luôn nhé!

– Về chuyện gì?

– Giờ thể dục, cô kêu giơ tay trái lên. Rồi cô kêu giơ tay phải lên. Sau đó, cô kêu nhấc chân phải lên, con cũng làm tất. Bây giờ cô kêu nhấc chân trái lên. Vì vậy, con hỏi: Cái gì? Cô muốn em phải đứng trên con “cu” của em hả?

– Ðúng thế – Anh Ba Trọc nói – được rồi, bố sẽ đến.

Bữa nay, Cu Tèo lại hỏi:

– Bố đi gặp cô giáo chưa?

– Chưa.

– Khỏi cần bố ạ. Con bị đuổi học rồi.

– Tại sao con lại bị đuổi học?

– Họ kêu con lên văn phòng thầy hiệu trưởng. Và ngồi đó là cô dạy toán, cô dạy thể dục và có cô dạy văn nữa!

– Cô dạy văn làm cái chó gì ở đó vậy? Anh Ba Trọc hỏi.

– Ðó, đó! Chính xác đến từng chữ! Ðó là câu con đã hỏi!”

Đoàn Xuân Thu

Anh Ba Tèo!

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Anh Ba Tèo!

Đoàn Xuân Thu

Hồi mới qua, tui được mấy thằng Úc dạy nghề an ninh (security) một tháng. Ðược Cảnh sát tiểu bang Victoria cấp ‘lái sần’ (licence), tui đi làm bảo vệ. Làm con ‘ki ki’ giữ nhà cho chủ nghĩa tư bản. Làm mọi cho tài phiệt Do Thái. Nói thiệt ra đó là một khu thương mại có nhiều nhà hàng, quán rượu, khu ẩm thực (food court), lẫn tiệm bán quần áo thời trang… sát bờ sông Yarra, trung tâm thành phố Melbourne.

‘Job’ làm không cực nhọc như làm hãng Ford, phải rượt theo cái băng chuyền tự động chạy ào ào, mệt lắm! Cũng không khiêng vác gì nặng. Chỉ cần mặc đồng phục na ná quần áo của mấy thầy đội Úc để nhát ăn trộm.

Thằng ‘boss’ nó dặn: “Nhát thôi nhe! Ðừng có ngu làm anh hùng, đương đầu với tội phạm. Mấy thằng ‘xì ke’ đó nó đang đói thuốc; nó móc dao ra là cha chú mầy cũng chết. Có gì cứ kêu phú lít. Ðó là chuyện của Cảnh sát. Nhớ chưa?”

Như vậy cái ‘job’ bảo vệ nầy không bảo vệ ai cả, thấy tội phạm thì la làng. Chỉ cực cái là đêm thức, ngày ngủ. Cả năm không thấy ánh mặt trời nên thiếu Vitamin D! Da mặt xanh lè, xanh lét, xanh mét! Người rút lại còn chút éc như đang làm bạn với ả phù dung.

Mấy thằng Úc đồng nghiệp nó chỉ tui là mỗi giờ đi tuần cứ dợt qua, dợt lại trước máy thu hình chừng 5 phút thôi. Khoảng thời gian còn lại muốn làm gì thì làm. Ðừng có ngủ là được. Vì sáng ra, coi lại màn hình, thằng ‘boss’ nó không thấy mình đi lên đi xuống mấy tầng lầu siêu thị canh chừng ăn trộm là thôi rồi Lượm ơi! Nắm đầu mình nó đuổi là mình móc bọc.

Nhờ cái bí kiếp ‘ma lanh’ đó, nên thằng ‘boss’ của tui, luôn miệng khen: “Vietnamese! Good! Good”. Nó nói ngắn gọn thôi. Vì nói nhiều tui đâu có hiểu. Nó nói tiếng Anh của tui nghèo (poor) nhưng được cái là tui siêng. Thằng nầy xạo, nói cho tui khoái để tui làm đêm cho nó ròng rã từ năm nầy qua năm khác. Vì cái vụ ca đêm nầy, đâu thằng Úc nào chịu làm. Nó sợ con vợ nó đêm ở nhà một mình hay làm sảng.

Vậy là tui cứ an tâm cày. Ước mơ quê người trở lại trường đại học đành hẹn kiếp lai sinh! Vì phận làm chồng, mình phải nuôi vợ. Như ông nội nuôi bà nội. Như tía nuôi má vậy thôi!

Làm được chừng 4 năm, dành dụm được một mớ. Em yêu ra nhà băng hỏi vay tiền để mua một căn nhà. Trong tài khoản của tui được 20 ngàn đô, bằng 10% tiền cọc. Bốn năm nay, tui chỉ làm cho một công ty; chớ không cóc nhảy tùm lum như mấy thằng Úc. Tiền lương mỗi hai tuần của tui ổn định. Tui có thể trả tiền nợ nên nhà băng đồng ý cho vợ chồng tui mượn. Ðời mà! Có thóc nó mới cho mượn gạo. Có tóc nó mới nắm được đầu mình. Vậy là vợ chồng và hai thằng cu con dời về cái nhà do nhà băng làm chủ. Phải cày trả cho nó suốt 25 năm râu dài tới rún. Em yêu bèn kêu thợ lại sửa cái nhà xe để cho mướn. Vì tiền nhà hết phân nửa tiền lương rồi! Ðâu còn bao nhiêu để đi chợ, trả ‘bill’ và nuôi con ăn học chớ?

Ðăng báo rao vặt được mấy hôm thì anh Ba Tèo gọi điện thoại cho tui xin mướn. Ảnh đến coi cái nhà xe. Còn tui coi cặp giò của ảnh. Có phải là phường Lương Sơn Bạc, đầu trộm, đuôi cướp, xì ke, ma túy hay không? Chớ hớp tớp mình rước cọp vào nhà coi chừng có ngày nó ăn thịt em yêu của mình.

Té ra tui đa nghi như Tào Tháo. Nhìn người dưới cặp mắt kiếng màu đen. Ai cũng xấu hết ráo. Ảnh đến coi chỗ mướn mà còn vác theo một thùng Budweiser, bia Mỹ làm lễ ra mắt chủ nhà. Anh Ba Tèo cười he he nói: “Mình sống ở Úc, phải uống bia ngoại, bia Mỹ mới đúng điệu dân chơi Cầu Ba Cẳng. Hành động tế nhị đó làm tui rất lấy làm đẹp dạ. Tui cũng làm bộ biết điều. Bánh ít đi; bánh quy lại. Anh tốn tiền bia. Tui tốn tiền mồi. Vậy là tui xào một dĩa trẹt đầy ú thịt bò Úc bún tàu và đậu phộng. Dĩa thịt bò còn bốc khói thơm phức! “Gắp đi anh!” Một bữa nhậu thấm đậm tình quốc tế đảng Ve Chai! Bò Úc, bia Mỹ và hai thằng Mít.

Làm cạn vài chai. Trao đổi nhau vài chiêu, bốc phét qua lại để biết trình độ võ công của nhau thâm hậu đến dường nào?

Ảnh thấy trên vách, tui có lộng kiếng hình hai trái bưởi ế kinh. Ðể khỏi làm tét nhánh, chủ vườn dùng một cái nịt ngực để bợ hai trái bưởi lên.

Anh Ba Tèo nhìn hình, nuốt nước miếng nghe cái ực. Ảnh nói: “Bây giờ mới hiểu sơ sơ hai câu thơ của Phạm Thiên Thư trong bài Ðộng Hoa Vàng:

“Thôi thì em chẳng yêu tôi!

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng”

Tui cãi lại! Cựu nhà sư kiêm nhà thơ Phạm Thiên Thư làm hai câu nầy không phải nói trái bưởi ế kinh như anh nghĩ đâu. Nếu có, là hai câu nầy nè: “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền. Ðôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”. Diễn Nôm ‘Ðôi gò đào’ là hai trái bưởi đó cha nội!

Còn cái vụ hứng bất tử ‘Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng’ là ổng chôm cái ý của câu ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!”
Ý ổng tiếc con ghệ, xưa là của ổng, sau vì ổng đi tu để trốn quân dịch; mà đạo lại không cho cái vụ đó; nên em bèn ngồi sau yên xe cho thằng khác chở… đi chơi!

Chớ làm chủ Ðộng… Hoa vàng thì ổng làm gì còn xí quách mà mơ tới hai trái bưởi như tui?

Cạn gần hết thùng bia, đôi bên cũng tình thương hơi mến thương nên tui đi đại ‘bốt đờ sô’ vô đời tư của ảnh. “Trước anh Ba ở đâu?” “Thì ở với con vợ tui!” “Sao không ở nữa?” “Tại nó đuổi tui” “Lý do?” “Ðâu có lý do gì! Chẳng qua tui có óc hài hước mà con vợ tui thì không! Chuyện tui cười thì nó lại quạu”.

Mới tháng rồi nè! Vợ tui không chịu đầu hàng trước vẻ ngày càng già nua. “Em yêu của tui ra tiệm thuốc Tây, mua một đống mỹ phẩm đắt tiền với hy vọng mình dối già, sẽ trẻ hơn nhiều so với tuổi thiệt.

Sau một hồi ngồi trước gương bôi các sản phẩm ‘thần kỳ’, em hỏi: “Anh Tèo, hãy nói một cách thành thật! Nếu anh chưa hề biết em, anh sẽ nói em đang ở độ tuổi nào?”

Nhìn em một cách cẩn thận, tui trả lời: “Làn da của em, 20; tóc của em, 18; và dáng của em, 25.”

“Quỷ nè! Ðồ nịnh đầm!” Vợ tui bĩu môi. Ngay khi em định nói phần thưởng đêm nay, thì tui ngăn lại “ Khoan khoan! Hãy để anh cộng mấy con số đó lại đã”

Vậy là em vụt cái bịch rác đựng quần áo của tui ngay trước cửa. Mặt hầm hầm như ai ăn hết của. Em không nói một lời nào. Vốn là một con người lịch sự, tôn trọng sự tự do của con vợ tui; em đuổi, tui lẳng lặng lái xe đi ra bãi đậu xe để làm ‘homeless.

Ðược vài bữa, con vợ tui dán bố cáo ngoài chợ Footscray là: “Nếu bạn đã nhìn thấy anh Tèo, hình đính kèm trên đây ở đâu? Vui lòng cho tui biết theo số mobile…Xin hậu tạ 50 đô! Lòng tui đang rất lấy làm lo lắng!”

Nhưng anh ơi! Chữ rằng tức nước ắt vỡ bờ. Sức chịu đựng ai cũng có hạn phải không nè? Lòng tự ái của tui đã tổn thương quá nặng. Chén nước em đang tâm đổ xuống thì hốt lại có được đâu? Vì nó chảy mẹ hết trơn rồi! Giận vợ dứt áo ra đi; vợ theo năn nỉ; hổng có cái vụ tù ti trở về đâu mà ham.

Nghe anh thề như dao chém đá, nháng lửa, tui òa lên khóc. Anh ngạc nhiên “Yểm bi lụy! Yểm bi lụy! Chớ ai bi! Chớ ai bi. Sao khóc vậy cha?”

Tui mếu máo trả lời: “Tình cảnh của tui cũng y hịt như anh! Tui cũng tính bỏ con vợ tui để đi về chân trời tím. Nhưng chân trời tím xa quá. Ði mỏi cẳng. Nên tui tính dọn xuống nhà xe cho khuất mắt em yêu. Giờ nhà xe, em đã cho anh mướn rồi thì tui biết phải về đâu? Hu hu!”

Đất hẹp

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Đất hẹp

Hồ Đình Nghiêm

 Nhà quàn Bougie nằm trên con đường dẫn ra ngoại ô. Nó như một lằn ranh được mọc lên, vô tình ngăn chia sự tạp nhạp của phố phường, chận đứng những thứ tiếng động dài hơi lại và rồi mở ra sau đó những lối đi trống trải, với bát ngát cánh đồng cỏ chạy tứ tán về phương trời xa. Nhà quàn, tự thân nó, đã là hình ảnh của chia lìa, của ngăn cách rồi. Mọi thứ khác chỉ trang điểm thêm vô, chỉ trùng hợp ngoài ý muốn.

  Đường tới nhà quàn cây cối xanh tươi, trồng ngay hàng thẳng lối. Cây không mấy cao và cành lá xum xuê luôn đan kết với nhau khiến người ta có cái cảm giác dễ chịu là được đi dưới sự che chắn của thứ bóng im mát chẳng đứt đoạn. Con đường không mấy rộng, có tấm bảng sơn trắng lưu ý những người lái xe hãy kềm giữ tốc độ từ ba mươi cây số giờ trở xuống. Sự yên tĩnh thường trực chiếm giữ lấy một vùng không gian. Nghe mơ hồ tiếng kêu lách cách đều đặn của cái vòi phun nước nằm cuộn mình ẩn dấu dưới cỏ như một con rắn lục kì dị. Một con rắn rung chuông nhân tạo, và gửi theo tiếng kêu của nó, nước sẽ phun đi xa, tưới ướt đẫm một vùng cỏ mượt mà. Cỏ chạy từ lề đường xi-măng lên tới tuốt nhô đất cao bưng bít tầm nhìn. Nó không giống một sân chơi golf, nó tựa một cái nghĩa địa mà người ta sợ những tấm mộ bia khi trồng dựng lên sẽ làm rối mắt, mất mỹ thuật.

  Gió hiu hiu thổi. Góc vườn nhà ai phơi những tấm khăn trải giường trắng. Sợi giây chùng xuống, vẽ một đường cong sáng ngời. Những cánh buồm không căng gió và những chiếc thuyền mãi loanh quanh không định được phương hướng. Trời hanh. Tháng bảy vẫn có những chiều mang thứ sắc màu ủ dột như vậy. Thứ ánh sáng mạnh bạo bị vây hãm bởi mây dày. Nó tức tưởi tựa một cơ thể đang sung bỗng chốc bị hao hụt khi phải dồn sức chống đỡ bệnh hoạn. Vọng bị ung thư cuống họng, những câu nói đùa của Vọng không vì thế mà mất đi cái duyên dáng thường nhật. Người ta nhìn ra vẻ lạc hồn trên khuôn mặt Vọng, nhưng sau đó những nghi hoặc của họ thảy bị nhận chìm rất mau. Họ dễ dàng tìm thấy ngay câu trả lời: Có mấy đứa viết văn luôn giữ cho mặt mình được bình thường? Vênh váo ở chỗ này và buồn bực ở chốn khác. Một con gà trống khi đứng gáy và một con gà mái đang mắc đẻ.

  Có cái cầu vồng mọc mờ nhạt, lưng chừng phía sau nhà quàn. Óng ả, huyền hoặc. Mưa rơi ở nơi nào mà chốn này hơi nước lẫn về trong gió hiếm. Lá xao xác, như nó biết rùng mình khi ngửi ra mùi hương trầm phảng phất. Mùi tử khí rất Viet-nậm. Một nhân viên nhà quàn ngồi trực nơi bàn kê ở lối ra vào. Hắn có khuôn mặt láng lẫy đặc thù của một dân tộc hãnh diện về món Pizza, Spaghetti. Hắn vô cảm, không dị ứng với đám mây trì nặng từ trong trôi dạt ra, nhưng hắn sẽ đứng lên, can thiệp với bộ điệu chẳng mấy thiện cảm nếu thấy một kẻ buồn miệng đang đứng lớ ngớ châm lửa điếu thuốc. Sau lưng hắn là cái hành lang thắp đỏ những bóng điện yếu ớt, buồn tủi màu vàng đục. Hành lang quáng gà, là con lộ duy nhất mở ra những căn phòng có kẻ thuê nằm chờ hoá thân về với cát bụi. Và cái nhà quàn này, sao nó có đầy sự đe doạ như cái Baté motel trong phim Psycho? Thuỳ Mị bước lên những bậc cấp, cô nghĩ tới tấm màn nylon treo trong bồn tắm, cái bóng đen đứng thầm lặng bên ngoài và rồi tiếng kêu thảng thốt của những cái móc sắt khi tấm màn bị níu kéo, bứt rời.

  Vọng nằm căn thứ 5. Cửa rộng mở nhưng ngược lại có cái giá dựng tấm bảng đen đứng án một góc. Những con chữ bằng nhựa trắng sắp trên bảng xộc xệch như thứ đồ chơi cho trẻ con học tập mẫu tự và vọc đùa với toán số. Nó không tiên liệu trước sự rắc rối dành cho những thân chủ người ngoại quốc cho nên tên Vọng không cách nào có được cái dấu nặng bên dưới. Vong là vong thân, là tiêu vong, là biến mất là xoá sạch. Còn Vọng? Là sự chấn động, là dội về, là âm ba, là trùng trùng những sân si chẳng bao giờ diệt sạch.

  Những người đến viếng linh cửu thảy đều phải đi qua cái bục gỗ. Ngọn đèn, cây bút và cuốn sổ đặt ở đó lưu giữ chân bước rụt rè của họ lại trong phút giây. Nếu trong quang cảnh dễ làm chảy nước mắt này mà ai đó lòng còn dấy lên những tạp niệm u tối khác, giả như nhác thấy một “người đẹp” vừa xuất hiện sáng loà; thì họ rất dễ dàng để biết ngay ra cái xuất xứ hiển lộng kia. Tên họ và địa chỉ chưa khô nét mực còn nằm cứng người trên trang giấy.

  “Xin lỗi, cô là Thuỳ Mị có phải không?”

  Người con gái thoáng bối rối, hoặc giả đó là cái bối rối thường trực khi cô đặt chân vào lãnh địa của nhà quàn.

  “Lâu quá rồi, có thể Thuỳ Mị đã khuấy quên tôi”.

  Thuỳ Mị. 365 rue Vincent. Appt. #25. Ville St-Lảuent sẽ rụt rè ngó lên khuôn mặt thằng đàn ông. Trong lúc này, cô không thể bình tâm mà lục soạn trí nhớ mình được, vả lại cái đứa đứng gạ chuyện kia chẳng có đui què mẻ sứt gì ráo. Nó bình thường tới độ tầm thường, nó chẳng mang dấu vết dị hình để khiến mình phải thảng thốt nhìn nhận ra ngay. Thằng đàn ông hiểu được chuyện ấy hơn ai cả, hắn còn biết thêm một điều, là khi đứng gần kẻ chết, tuồng như lòng dạ của kẻ còn sống có phần nào mềm đi. Độ lượng hơn, rộng rãi hơn, quên bẵng đi những hoài nghi mà thường khi họ xem đó là cách ứng xử an toàn nhất trong cuộc sống.

  “Muốn hay không, khi đến nhìn mặt Vọng lần cuối này, mặc nhiên chúng ta đã có một sợi dây liên hệ nào đó rồi, Thuỳ Mị thấy không?”

  Giọng nói hắn nhỏ, gần như thì thầm bên tai cô. Làm như to tiếng hơn một chút thì có thể đánh thức Vọng dậy, và đó là điều mà chẳng ai muốn cả. Thuỳ Mị xem đó là cách lý giải hay nhất, cọng thêm chút tự trọng bởi không làm phiền đám đông. Cô cần một người đồng hành để giúp cô có sự can đảm khi đứng sát bên quan tài Vọng. Với cô, bao giờ người chết cũng dễ sợ cả và cô luôn ngờ vực câu nói: “Sợ là sợ người sống chứ ai lại đi sợ kẻ chết!” Trước khi bước lên bậc tam cấp, ở ngoài sân Thuỳ Mị đã nghe tiếng nói đùa của hai gã đàn ông: “Tụi này nó lấy chữ Bougie để cầu chứng môn bài mần ăn nghe cũng hay nhỉ? Mẹ, ông ngán tới độ teo bu-ri”. Thuỳ Mị hiểu chữ teo bu-ri nhằm ám chỉ cái vật gì và cô không cho lời đùa nghịch kia là vô duyên. Cô sợ nhìn mặt người chết, dẫu người đó là Vọng. Và cô sẽ không hiểu được bộ phận nào trên cơ thể cô sẽ teo lại khi đối đầu với niềm sợ hãi. Có một đứa tự nhận là người quen cũ khiến Thuỳ Mị đỡ phải teo… tim.

  “Tôi không biết cách thức vái lạy người chết. Tôi đi theo Thuỳ Mị để bắt chước học lóm, đồng ý không?”

  Thuỳ Mị gật đầu. Không ai đủ nhẫn tâm để từ chối lời yêu cầu đáng thương ấy cả.

  Vọng. Cuối cùng thì tôi cũng đến được gần anh. Tôi đến trễ và một lần nữa, giữa chúng ta luôn còn đó sự ngăn chia. Lần này thì trầm trọng hơn, nó chẳng giống trò chơi cút bắt nữa. Anh bị đạp mạng và anh sẽ thực sự biến mất. Còn tôi, bao lâu nữa thì tôi mới thực sự quên hẳn anh? Người ta bôi son trét phấn làm anh lạ lùng hẳn ra, anh trẻ trung anh tươi hồng tới độ kỳ cục. Phấn son là thứ của đàn bà, người ta cho phép đàn ông sử dụng khi mà kẻ đó đã thực sự xuôi tay. Anh có bực mình vì chuyện đó không? Thời trước, anh vẫn xa lánh những đứa mà anh bảo chúng nó luôn đeo mặt nạ. Anh luôn cô đơn, bởi vì trước tiên anh là một nghệ sĩ, và sau rốt, tôi đồng tình với anh một điều: Thật khó cho chúng ta kiếm được một người bạn chân tình, bên kia trái đất cũng như bên này bán cầu. Thôi anh đi, cõi vĩnh hằng kia biết đâu lại chẳng dễ thở hơn dương thế? Hằng năm, vào ngày này tôi sẽ nhớ thắp lên cho anh một nén hương.

  Thuỳ Mị bước ra khỏi đám đông, đi tới cửa. Cô dừng chân dưới bậc thềm, đứng hít thở mùi đất nồng mùi cỏ ẩm. Đầu hơi váng vất, đôi mắt cay. Thuỳ Mị nhìn nhớ ngoại cảnh một lát rồi mới biết đâu là trạm dừng của xe buýt để mang cô về lại thành phố.

  “Lên xe đi. Tôi sẽ chở Thuỳ Mị về”.

  Thuỳ Mị nhìn thằng đàn ông ngồi trong xe, trước tay lái. Xe nổ máy, lăn bánh chậm rãi bên hông cô.

  “Tôi tên Đán. Tôi nghĩ là sẽ có nhiều điều mà Thuỳ Mị muốn biết”.

  “Về chuyện gì?”

  “Về Vọng”.

  Đán. Cái tên chẳng đánh động chút gì vào ký ức Thuỳ Mị.

  “Anh với Vọng quan hệ ra sao?”

  “Lên xe rồi hẳn nói. Thứ bảy, đợi cả tiếng mới có xe buýt”.

  Thuỳ Mị nhìn quanh. Bên phải, đồng cỏ rộng và xa lộ vạt xẻ một đường đen hút mắt dẫn tới cây cầu treo. Xe cộ chạy ùa về phía đó như có ma đuổi. Hai ba giờ chiều, trời đất âm thầm chứa một nỗi buồn trĩu nặng làm chân đi chóng mỏi. Thuỳ Mị mở cửa, trong xe có tiếng nhạc quen thuộc, xa vắng. “Nhớ tới ngày nào cùng bước xuống… mùa thu quyến rũ anh rồi…”

  “Tại sao không rẽ tay trái?”

  “Đi theo lộ trình xe buýt à? Mình lấy xa lộ sẽ mau hơn”.

  “Bao lâu thì người ta sẽ chôn cất anh Vọng?”

  “Thứ hai. Có lẽ vậy”.

  “Tại sao ở bên đây cứ nghe tin người chết hoài, trong khi lý ra…”

  “Lý ra điều gì? Buồn bã, lạc lõng, thương nhớ cũng dễ làm mình đổ bệnh vậy!”

  “Tôi không tin. Ở bên nhà, mọi điều kiện sống đều tồi tệ hơn đây vậy mà người ta cứ sống nhăn. Sống trân tráo”.

  “Vì họ còn lòng tin. Họ chờ đợi, họ hy vọng”.

  “Hy vọng?”

  “Bị rớt xuống biển sông ai cũng mong leo được lên thuyền… Thuỳ Mị qua đây đã lâu chưa?”

  “Gần ba năm”.

  Thuỳ Mị trả lời, thoáng khó chịu. Cô nới lỏng sợi dây an toàn.

  “Anh Đán thì sao?”

  Đán nhìn chiếc áo trắng Thuỳ Mị mặc. Sợi dây đen gài chéo lên đó, luồn ở giữa và vì vậy ngực của Thuỳ Mị có cái gì đó bắt mắt.

  “Mười hai năm. Tôi sắp đổi xe lần thứ ba… Ý tôi muốn nói là xứ này, tuyết nó làm tuổi thọ của mỗi chiếc xe kéo dài được sáu năm thôi. Thuỳ Mị thấy đó, sắt thép còn vậy huống hồ con người!”

  “Anh quen anh Vọng trong trường hợp nào?”

  “Hồi nãy trong nhà quàn tôi cũng tự hỏi vậy mà không nhớ ra. Một trận nhậu? Một buổi ra mắt sách? Một cuộc triển lãm tranh? Dẫu sao thì chúng tôi cũng đã có với nhau những thứ gần như tình bạn. Tôi mến con người nghệ sĩ có ở Vọng… Thuỳ Mị khát không? Tụi mình ghé vào một quán nước nhé?”

  “Không cần thiết, khi khác đi. Tôi thấy chẳng được khoẻ”.

  Mây dồn xuống thành phố. Những vệt nắng loang lỗ rải đều trên đường bị chùi sạch đi. Trời sẽ đổ mưa, và mưa sẽ tắm gội đồng đều những thứ cắm trên mặt đất, chẳng bỏ sót. Người ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xẻ xắn một cái mộ huyệt. Những cây dù đen sẽ trương ra, mưa tráng một lớp thuỷ tinh trước tầm nhìn, nhấp nhô những bóng đen di chuyển bên hàng thập tự trắng có trong một nghĩa trang gầy ốm bóng cây.

  “Chẳng được khoẻ? Có cần uống thuốc không? Advil? Tylenol?”

  “Anh có sẵn?”

  “Không. Gần đến nhà rồi. Đừng đổ thừa là lối lái xe của tôi dễ làm kẻ khác chóng mặt. Ai cũng thế cả, bước khỏi nhà quàn làm sao mà giữ lòng được thư thái?”

  Xe chạy qua một cái chợ lộ thiên. Mùi cá tanh ở đầu đường và cuối đường là mùi thơm của đào, dâu, cam, chuối trộn lẫn cùng đủ thứ hoa tươi.

  “Buổi tối khi chợ vãn, ở lòng đường còn gửi mùi lên ô cửa phòng tôi. May một điều là họ không hoán đổi vị trí cái chợ cá. Ban đêm thao thức, ngửi mùi trái cây vương vấn, tôi có cảm giác mình là một oan hồn đang hưởng “chùa” thứ hương hoa của bá tánh!”

  Thuỳ Mị đổ người ra trước khi xe dừng ở một vuông sân đất. Bên kia hàng rào lưới sắt có bọn nhỏ tụ tập đá banh, những thứ tiếng động không ngớt tràn ra ngoài đường cái, kể cả bụi bặm.

  “Vào nhà một lát cho biết. Tôi để dành cho Thuỳ Mị một ngạc nhiên”.

  “Tôi đang có mặt ở đây, giờ phút này, chưa đủ là một ngạc nhiên à?”

  Đán mở cánh cửa gỗ không phát tiếng, dùng lưng để dọn sẵn một lối đi.

  “Tôi có giữ được hai bức tranh Vọng vẽ đã lâu. Bảo đảm Thuỳ Mị sẽ xúc động khi nhìn lại chúng”.

  “Anh còn bảo đảm chuyện gì khác cho tôi không?”

  Thuỳ Mị nói khi bước vào phòng. Đán bật đèn, đóng hai lần cửa.

  “Đừng đùa. Hãy uống trước một viên thuốc cho bảo đảm rồi hẳn nói chuyện”.

  “Anh ở một mình?”

  “Tạm thời thì như vậy. Bởi vì cuối cùng thì ai cũng phải lập gia đình cả, đúng không?”

  “Chưa chắc”.

  “Thuỳ Mị ngồi xuống đó đi. Ừ, chưa chắc; nhưng có thêm một người trong nhà thì đỡ lạnh lùng, đỡ trống trải, đó là chưa nói tới trường hợp bị ốm đau… Tôi mở quạt máy cho mát, Thuỳ Mị thấy nóng không?”

  Gió đi qua rồi lại lùa về. Tóc Thuỳ Mị rối và tấm màn buông che cửa sổ lay động từng hồi. Căn phòng ngăn nắp. Thuỳ Mị nhận xét, bởi vì thực ra nó chẳng có gì nhiều để bày biện, để tạo nên sự lộn xộn. Tạm bợ, và dường như điều ấy không nhằm chứng minh chủ nhân là một kẻ độc thân. Đán từ phòng sau mang ra hai ly nước. Thuỳ Mị đón lấy uống rồi nhăn mặt đặt xuống bàn:

  “Thứ gì vậy?”

  “Một loại rượu nhẹ, để xua đuổi tử khí. Thuỳ Mị biết không, những tay làm ở nhà đòn, những đứa rửa ráy xác chết đều phải tợp rượu mạnh cả”.

  “Vậy à. Họ mượn nó để tránh đụng mặt với niềm sợ hãi?”

  “Không rõ. Tìm đến rượu thì có nhiều nguyên nhân, đa số đều phát xuất từ buồn nản… Thật lạ lùng, trước đây tôi quen được một người bạn do bởi ngồi chung bàn trong một cái đám cưới thịt rượu ê hề. Giờ này thì đám ma… nếu Thuỳ Mị cho phép tôi dùng tới chữ bạn”.

  “Vách trống trơn, tranh đâu không treo?”

  “Tôi treo trong phòng ngủ. Để tôi mang ra xem, và Thuỳ Mị sẽ hiểu do đâu tôi đặt nó trên đầu chỗ nằm”.

  Đán quay lưng. Hắn cao hơn Vọng, hơi chải chuốt. Hắn có dáng vẻ một tên làm ở cửa hiệu bán xe hơi, hoặc một công ty chuyên lo ba cái vụ bảo hiểm. Những công việc hoàn toàn trái khuấy với con người Vọng. Thuỳ Mị uống thêm một ngụm nước. Ngọt, chua, nồng và tê lạnh ở đầu lưỡi. Trong rượu tuồng như có pha sẵn một ít mùi vị trái cây. Một đằng nó làm giải khát và đằng khác nó bay biến đi mau, để lại một cần cổ khô khốc, đòi hỏi đền bù.

  “Trong hai bức, đây là bức mà tôi quý nhất”.

  Đán nói. Hắn đặt tấm tranh trên một chiếc ghế trống, kéo lùi sát vách, vừa đủ mãn nhãn tầm nhìn. Hắn vặn vẹo những ngón tay vào nhau, nhìn rõ nét đổi thay có trên gương mặt Thuỳ Mị. Nụ cười nở ra trên miệng hắn, tự mãn không kém một kẻ vừa làm nên một kỳ tích. Hắn đặt đít xuống mặt nệm, cái soà rùng mình lan truyền qua người Thuỳ Mị một cơn sóng. Nỗi váng vất có ở nhà quàn đã rút khỏi người Thuỳ Mị, thế vào đó cô đón nhận một sự rung động kỳ quặc.

  “Dưới chữ ký của Vọng có để năm. Đã mười lăm năm, theo tôi người trong tranh vẫn chẳng có gì đổi thay”.

  Thuỳ Mị mãi miết nhìn như đang bị thôi miên. Như một người ngồi trước gương soi và lạc hồn nuối tiếc khi nhìn ra sự tàn phai có trên nhan sắc mình. Tủi hờn và cảm động làm Thuỳ Mị muốn khóc. Thuỳ Mị khoả thân trong tranh nhìn tới cô bằng ánh mắt dịu dàng. Vọng vẽ thật xuất thần, tia nhìn đằm thắm kia nửa như an ủi cô, nửa biết đe doạ. Nó làm Thuỳ Mị ngạt thở.

  “Anh Đán. Tôi muốn… anh bán lại bức tranh này cho tôi”.

  “Bán nó? Theo cô thì tôi phải ra giá là bao nhiêu… Một tác phẩm nghệ thuật…”

  “Bao nhiêu cũng được… Anh nói đi”.

  Đán cười. Tiếng sắc, cao. Suốt buổi, lần đầu tiên Thuỳ Mị nghe giọng cười của hắn. Cô nghĩ, có gì bất thường đang rung nơi cần cổ kia.

  “Nếu tôi là đứa không túng thiếu, không cần tiền bạc thì Thuỳ Mị tính sao?”

  Ly rượu làm đầu Thuỳ Mị trì nặng. Mặt cô nóng và có lẽ cô chẳng còn chút sáng suốt để toan tính. Cô ngồi yên trên ghế, bềnh bồng với tất cả những hình ảnh cũ vừa lùa về. Trời nóng, chiếc áo thun ướt đẫm dán vào da thịt. Một góc vải trắng che mất nửa người Vọng, đầu tóc anh rối và con mắt dưới đó như một luồng sáng thỉnh thoảng quét lên cơ thể Thuỳ Mị. Nó có thể lột trần mình ra một cách kỳ diệu, trung thực đến độ phải phát hoảng khi mình nhìn thấy bề mặt tấm tranh. Nếu dùng cọ nhỏ để chấm một nốt ruồi son bên trên ngực trái thì khi ấy tranh với người sẽ là hai giọt nước.

  “Anh đừng chơi ác. Xin anh hiểu cho bức tranh này nguyên thuỷ là của tôi. Một ngàn đồng, anh đồng ý không?”

  Đán cởi ca-vàt ném xuống ghế, hắn trạc áo và xắn cao ống tay lên gần nách. Hắn có bôi đeỏoant ngăn mồ hôi và mũi Thuỳ Mị ngửi được thứ mùi thơm làm choáng váng. Bức tranh, ly rượu, căn phòng đóng kín cửa, quạt máy khuấy động thêm sự bần thần… Mọi thứ có vẻ như sắp đặt.

  “Trời đã đổ mưa, xem chừng nó giữ Thuỳ Mị lại đến tối”.

  “Anh Đán, thực ra thì anh muốn gì?”

  “Thuỳ Mị đoán thử coi”.

  Thuỳ Mị nhìn hắn. Không. Vọng chẳng thể có một người bạn như hắn. Cũng như hắn không thể làm chủ bức tranh này được. Không đủ tư cách!

  “Anh có bao rác không? Loại bao rác lớn”.

  “Để làm gì? Thế áo đi mưa à?”

  “Làm phiền anh bọc hộ bức tranh kia lại, xong rồi tôi sẽ nghe theo điều kiện đánh đổi của anh”.

  “Tốt lắm. Tôi rất yêu sự thẳng thắng của Thuỳ Mị. Tôi cũng rất có cảm tình với cái tên Thuỳ Mị. Thuỳ Mị… Tại sao lại không là Thông Minh? Làm thêm một cốc rượu nữa nhé?”

  “Sẵn lòng. Uống cho có can đảm”.

  “Nói nghe ghê vậy? Không sợ say sao?”

  “Được say lại càng tốt. Khi say thường người ta phải mửa ra, đúng không? Một ngày nào đó cái chợ cá đằng kia sẽ dọn tới đây cho xem, anh tin không?”

  Rượu đổ tràn ra ngoài ly, chảy ướt một vạt áo Thuỳ Mị. Màu trắng bị hoen ố, nước xâm thực mau trên sứa vải tựa cái tả lót của một đứa bé đang làm bậy. Chẳng hề chi. Rồi mưa sẽ tắm gội tuốt những dơ bẩn khác có trên người. Cơ thể Thuỳ Mị nóng ran. Cô nằm dài xuống ghế, đầu nhức buốt:

  “Tôi đọc ở đâu đó chuyện kể một bà mẹ thuê nhà ở gần chợ… Chắc anh chưa hề nghe qua? Ở gần chợ nên đứa nhỏ chửi thề như sáo. Hoảng quá bà mẹ liền mang con tới mướn nhà sát nách một trường học… Đã gói dùm tôi bức tranh chưa?”

  Cái ly thuỷ tinh trên tay Thuỳ Mị rơi xuống nền gỗ. Tiếng vỡ dội vào ngực cô đau râm ran một nỗi buồn của mất mát. Thuỳ Mị nghĩ tới những hạt nút bị cởi tháo ra, áo này áo nọ, quần này quần kia. Da dẻ sẽ nổi gai và sau đó… Cô nhắm nghiền mắt lại. Trong trí cô, khuôn mặt phấn son kỳ quái của Vọng lại hiện ra. Anh ta nhắm mắt nhưng sao khuôn mặt anh ta hoàn toàn không được thư giãn như một kẻ ngủ say. Vọng ơi, có lẽ em cũng đã chết một nửa người rồi!

  Mưa cào rầm rộ trên cửa gương. Quạt gió vẫn luân phiên thổi. Thuỳ Mị co rút người lại khi bên tai cô có tiếng thở rất gần. Hâm hấp nóng. Tấm nệm của futon lún xuống, mùi thuốc bôi nách xông đầy. Chiếc giày cao gót rời khỏi chân, lăn lóc đâu đó rồi nằm yên. Thuỳ Mị chìm dần, chìm… sâu. Bao lâu thì Vọng sẽ bị hạ huyệt?

Hồ Đình Nghiêm

Dạ khúc

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Dạ khúc

Hồ Đình Nghiêm

Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.

 – Một trăm.

   Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.

 – Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.

 Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.

 – Cho tao một điếu. OK?

  Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).

  Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!

 Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.

 – Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?

 – Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.

 – Đù má em.

 Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…

 – Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?

 – Có lẽ.

 – Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.

   Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.

 – Trên đó phải không? Hắn hất hàm.

 – Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.

  Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.

 – Lẹ lên cưng.

  Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.

 – Nóng bức quá hả?

   Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.

 – Đưa tiền đây.

  Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.

 – Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?

   Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.

 – Chưa cởi đồ ra sao?

  Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.

 – Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.

   Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.

 – Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.

 Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.

 – Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.

 – Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.

 – Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.

   Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:

 – Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.

  Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.

   Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.

 – Đi bộ hả? Thôi bai nghe.

   Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.

 – Về rồi à? Có sướng không?

   Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.

 – Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…

 Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.

 – Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.

 – Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.

 – Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.

 – Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.

 – Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?

 – Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?

 – Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.

 – Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?

 – Mày câm mỏ đi.

   Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.

 – Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.

 – Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?

  Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.

 – Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!

 Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?

 – Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.

 – Cần tui phụ cái gì không?

 – Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.

 – Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…

  Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.

 – Mày có tin là tao sẽ giết mày không?

 – Vì miếng ăn hay vì đàn bà? 

  Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.

 – Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.

 – Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.

 – Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?

 – Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!

 – Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?

 – Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.

  Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.

 – Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.

 – Không có.

 – Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.

 – Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?

 – Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.

 – Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!

 – Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.

 – Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.

 – Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!

  Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:

 – Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!

   Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.

 – Uả, lại là mày nữa sao?

   Con Nancy từ hẽm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.

 – Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?

 – Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.

 – Cái gì? Mày nói sao?

 – Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?

 – Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.

 – Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.

 – Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!

 – Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?

  Con đĩ ngựa cười ré lên:

 – Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.

 Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.

  Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.

 – Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?

 – Hoành thánh mì.

 – Thêm gì khác? Nước trà nhé?

 – Hầy. Dậm xà.

   Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.

 – Lị còn ở chỗ cũ không?

   Hắn hỏi. A Hính đáp:

 – Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?

 – Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?

 – Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?

 – Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.

 – OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.

 – Li quả là hảo bằng hữu!

 – Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.

   Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:

 – Lị làm ở đây có khá không?

 – Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!

 – Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.

 – Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?

 – Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.

 – Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!

   Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?

   Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.

 – Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.

   Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.

 – Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?

 – Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.

 – Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?

   Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.

  Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.

   Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:

 – Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!

 – Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?

 – Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!

  Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.

 – Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.

 – Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.

 – Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?

 – Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.

 – Nó có dẫn xác về bất tử không đó?

 – Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.

 – Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.

 – Là sao?

 – Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mỗi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…

 – Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?

 – Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.

 – Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.

 – Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.

 – Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.

 – Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?

 Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.

 – Lại là mày, thằng khốn kiếp!

   Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.

 – Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!

 – Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…

 – Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?

  Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.

 – Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.

 – Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.

 – Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.

 – Thằng chó chết.

 – Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?

 – Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.

   Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:

 – Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.

 – Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.

  Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 36

Tối hôm đó, chúng tôi được mời dùng cơm tại một nhà hàng Việt Nam trong quận 5 Paris. Cùng đi với chúng tôi có chú Nam, chú Thanh và anh Thái. Chủ nhà hàng là một người đàn ông Việt Nam chừng 45 tuổi, tên là Giang. Chắc anh ở Pháp đã lâu, có vợ đầm; tên chị Giang là Simone. Chị có vẻ hiểu nhiều về phong tục Việt Nam. Chị mừng rỡ khi thấy ba tôi bước vào nhà hàng, đon đả chạy ra đón, rồi hôn hai má ông. Anh Giang cũng tay bắt mặt mừng. Anh chị đều tỏ vẻ mừng rỡ khi ba tôi giới thiệu má tôi và tôi. Anh cung kính chào má tôi, rồi nói:

“Bác Năm và chúng cháu chỉ mong có ngày hôm nay, bác ơi! Gia đình bác được đoàn tụ, rồi đây đất nước mình sẽ yên vui”.

Chị Simone cung kính chắp tay lên ngực chào má tôi cung cách Việt Nam.

Anh chị bắt tay tôi, rồi anh nói:

“Chị giống bác trai quá. Chúng tôi rất mừng được chung vui bác Năm và gia đình chị ngày hôm nay. Rồi mình sẽ về quê hương với dân tộc mình, chị Dung ơi”.

Niềm vui lên cao, tôi lây cái vui của anh Giang. Tôi nghe như có tiếng reo vui của dân tộc tôi đâu đây. Tôi hình dung ra những đêm trăng sáng không còn tiếng súng. Ba má tôi sẽ dậy sớm đun nước pha tra để đối ẩm. Ban ngày thì đi thăm bà con lối xóm bên Cần Thơ, bên Ba Càng. Rồi tôi sẽ về thăm Cần Thơ… Nhưng tiếng ồn ào chung quanh kéo tôi trở lại thực tế.

Simone đem ra một chai Johnny Walker đen, chưa khui, và một ly nhỏ để trước mặt chú Nam. Khi bắt đầu kêu món ăn, ba tôi nói:

“Đây là bữa cơm đặc biệt, tôi phải uống rượu ăn mừng”.

Mọi người đều vui vẻ tán thành. Ba tới kêu một chai Côte du Rhône. Tôi cũng hay uống rượu nhưng giấu má tôi, nên khi chú Nam định rót rượu cho tôi, thì tôi vội từ chối. Lúc má tôi vô phòng tắm, tôi nói nhỏ với chú:

“Chú cháu mình còn nhiều dịp uống rượu với nhau khi cháu đã về Việt Nam”.

Chú gật đầu cười đồng loã.

Bữa cơm thịnh soạn, toàn những món ngon, đặc sản của miền Nam, vì anh Giang là người Sóc Trăng. Trước khi mang món ăn ra, anh nói:

“Hôm nay chúng cháu chỉ đãi hai bác và chị các món ăn của dân miền Nam mình, không có món Bắc kỳ nào”.

Nghe giọng nói của anh, và nhớ lại thái độ của mấy người trong nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đoán có chuyện lủng củng gì giữa họ với Bắc Kỳ. Còn anh Thái thì thuộc phe nào? Anh trung lập, hay là tai mắt của đại sứ Hà Nội, đi theo để dòm chừng ba má tôi?

Về công tác tình báo của tôi, cho đến lúc ấy vẫn chưa rõ ràng. Rob chỉ dặn đi dặn lại là tôi cứ theo dõi những gì đang xảy ra trước mắt. Vì vậy, suốt bữa ăn, tôi để ý nhiều đến chú Nam và anh Thái. Chỉ mới uống có một ly rượu, mặt anh đã đỏ như gấc chín. Còn chú Nam thì đã uống gần một phần tư chai Whiskey mà mặt cứ tái xanh, nặng như chì.

Tôi dặn lòng là phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, không uốn lưỡi đủ bảy lần thì cũng phải sáu lần. Tôi còn cố gắng xài những từ Việt cộng, tuỳ cơ ứng biến, như một con cắc kè thay đổi màu da tuỳ hoàn cảnh. Vậy mà khi chú Nam khen đi khen lại rằng tôi tài tình khi tìm ra ba tôi ở Tokyo, tôi nói phần lớn cũng nhờ tự do báo chí mà tôi tìm được ba tôi. Báo Japan Times đã đưa tin ngày giờ phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến Tokyo.

Khi nghe tôi nói vậy, mọi người trong bàn đều im lặng, một thứ im lặng ngột ngạt, khó chịu. Ba tôi thì nhìn tôi bằng cặp mắt nghiêm nghị, trách móc. Má tôi đá nhẹ chân tôi dưới gầm bàn.

Hồi nhỏ dì Bảy tôi dạy, trước khi nói phải suy nghĩ. Có thật không? Có cần nói không? Có tử tế không? Đúng 100%, không cần nói cho lắm. Có gì mà không tử tế, khi đó là sự thật ai cũng biết.

Phan Thanh Nam chủ động trong cuộc nói chuyện. Chú đặt nhiều câu hỏi riêng tư cho người đối thoại, vì vậy, tôi khó đoán nổi trong cái đầu hoa râm của chú đang thật sự nghĩ những gì. Tôi phải thận trọng khi nói chuyện với chú.

Trước hết, chú hỏi tôi đến Mỹ bằng cách nào. Tôi cứ thành thật mà trả lời:

“Cháu nghe nói Mỹ là nước tự do, có nhiều cơ hội để tiến thân và có thể tìm đến ba cháu được. Rõ ràng là cháu đang ngồi bên ba cháu nè”.

Chú đột ngột hỏi:

“Cháu làm gì ở Mỹ?

Chú nhìn tôi không chớp mắt, trong khi đó anh Thái xích lại gần chú hơn để nghe tôi trả lời.

Tôi thành thật đáp:

“Cháu dậy tiếng Việt cho quân đội Mỹ ở Fort Bliss tại tiểu bang Texas một thời gian, rồi sau đó cháu dọn qua Monterey, tiểu bang California”.

Chú lại hỏi bằng một giọng nửa tò mò nửa nghi ngờ:

“Làm sao cháu được chọn để dạy cho chánh phủ Mỹ?”.

Tôi đáp ngay, không một chút rụt rè, suy nghĩ:

“Chắc chú còn nhớ đại tá Phạm Ngọc Thảo, bị giết trong một cuộc đảo chính ở Biên Hoà? Bà đại tá Thảo là…”.

Chú cướp lời tôi:

“Chị Phạm Thị Nhiệm, người của mình, Mỹ Dung biết không?”.

“Cháu hy vọng là như vậy, bà ấy giúp cháu khi cháu dạy học”.

Phan Thanh Nam gật gù, mặt tươi hẳn lên, rồi nói với giọng đắc ý:

“Mặc dù cháu phải sống xa ba cháu, không được ba chỉ dẫn nhưng cháu đã gần gũi với những người chính đáng của bên ta. Chú rất hài lòng”.

“Con của ba cháu không có đi lạc đường đâu, chú!”.

Chú lại hỏi:

“Khi dạy lính Mỹ, cháu nói gì với họ về chiến tranh Việt Nam? Cháu có nói cho họ biết là sự có mặt của Mỹ là một sai lầm to lớn của chánh phủ họ không?:.

Nghe hỏi, tôi nhớ ngay đến chiến dịch tuyên truyền của Cộng Sản. Cán bộ được đưa vào các trường dạy tiếng Việt ở Mỹ. Ngoài giờ dạy, chúng la cà làm quen với các lính Mỹ, rồi xúi bẩy họ đào ngũ. Bọn lính trẻ nầy là bọn bỏ học, bỏ nhà đi lính. Họ chưa bao giờ nghe nói tới Việt Nam, cũng không biết Việt Nam nằm ở chỗ nào trên trái đất nữa, thế mà khi nghe nói tới các mật khu sình lầy, rắn rết, thì họ đã hết hồn, có đường đào ngũ là thần tiên cho họ rồi. Dù sao họ cũng còn là con nít, học hành dở dang.

“Đó là một chiến dịch mật, cháu không được tuyển chọn, vì cháu còn non nớt, nhưng cháu biết tới chiến dịch đó”.

Phan Thanh Nam nhìn tôi chằm chặp, rồi nói với giọng nghiêm trang:

“Thôi, Mỹ Dung à, chiến tranh đã chấm dứt, những dịp để cháu đóng góp cho đất nước vẫn còn chờ cháu, nếu cháu muốn”.

“Nếu cháu muốn? Dĩ nhiên là cháu muốn chớ, chú Nam!”. Tôi vội trả lời như một Việt kiều nhẹ dạ, nghe mà mắc cỡ.

Nam gật gù:

“Chú cháu mình cần nhiều thời giờ ngồi lại với nhau sau khi ba má cháu về thành phố Hồ Chí Minh. Sẵn đây, chú báo cho cháu biết Sài Gòn đã đổi tên”.

Dù đã biết trước khi mất nước, nhưng nghe Phan Thanh Nam nói, tim tôi đau nhói. Sài Gòn mất tên; Sài Gòn không còn nữa.

Sau bữa ăn, tôi hỏi nhỏ ba tôi là tôi có nên trả tiền cho anh Giang không, vì tôi biết tất cả mọi người trong sứ quán đều nghèo tả tơi? Ba tôi chưa kịp trả lời, thì Phan Thanh Nam nói:

“Mình là người trong nhà cả. Bữa nay anh chị Giang đãi ba má cháu và cháu”.

Tôi không ngờ, truyền thống “dân phải nuôi đảng viên để đảng viên nuôi đảng” lại tràn sang tận Paris, dù xa cách rừng U Minh cả ngàn vạn dặm.

Trên đường về, Nam cho biết các Việt kiều ở Paris đã tích cực đóng góp cho cách mạng. Họ đã hiến tiền bạc, thì giờ, phương tiện theo khả năng của họ. Có như vậy, cách mạng mới thành công.

o O o

Hôm sau, tôi không tới Verrières thăm ba má, ở lại Paris để dò đường, tìm cách vô toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trước khi đi, tôi nói với Rob, nếu 12 giờ khuya mà không trở về khách sạn, tôi muốn xác của Phan Thanh Nam treo ngược đầu trong phòng làm việc của ông giám đốc CIA. Câu nói nửa đùa nửa thật của tôi đã làm Rob lo lắng. Tôi mừng thầm có sự lo lắng nầy, vì tôi không muốn họ quá tin tưởng vào sức của tôi, rồi đưa tôi vào một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm. Cho tới lúc đó, CIA chưa chánh thức huấn luyện tôi về chuyên môn. Tôi hoàn toàn trông cậy vào cái khéo léo xử sự của tôi thôi.

Rob lo lắng hỏi:

“Nếu cô không hoàn toàn thoải mái thì đừng đi”.

Tôi đáp:

“Không bao giờ tôi thoải mái khi tới gần Việt cộng, nhưng việc phải làm thì phải làm. Chúc tôi may mắn đi”.

Rob nhanh nhẩu chúc tôi đi may mắn.

Rob lớn hơn tôi chừng 10 tuổi, nên trong thời gian chúng tôi cùng làm việc, ông thường kêu tôi là kiddo (con nhỏ).

Ở Paris,Rob chỉ dẫn tôi đủ mọi điều, nhưng lại quên không chỉ cho tôi cách đi xe điện ngầm ở Paris. Tôi phải lần mò, hỏi han người khác, rồi cũng đi được một chuyến metro từ khách sạn đến Montparnasse. Rồi lại phải tìm một hồi lâu mới biết đường đến Avenue de Madrid, nhưng tìm hoài mà không biết có đi đúng đường không, đành đi về hướng Neuilly, rồi đi taxi.

Sứ quán của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam có bức tường cao che kín. Tôi bấm chuông ở cổng, nhưng không nghe ai trả lời trong intercome. Khi nhìn lên lầu, tôi thấy một người đàn ông đứng bên cửa sổ văn phòng chú Nam nhìn xuống. Sau đó, tôi nghe có tiếng mở khoá cổng. Chú “tài xế” Thanh đón tôi vô. Lúc nầy chú có vẻ trịnh trọng và khách sáo. Chú dẫn tôi vào phòng khách và chỉ một cái ghế mời tôi ngồi chờ.

Phan Thanh Nam có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, nhưng có thể ông lại cho là dịp tốt để khai thác tôi. Chúng tôi rời phòng khách, đi xuống phòng ăn của cơ quan. Phòng nhỏ ở trong bếp lạnh lẽo, vừa bước vô tôi nghe mùi thuốc lá hôi hám, mùi dầu nấu ăn, mùi nước mắm quen thuộc. Nơi đây rất yên lặng, thuận tiện cho trùm gián điệp Cộng Sản tìm một tài năng mới.

Không để mất thì giờ, chú đi thằng vào vấn đề. Chú hỏi về chồng con của tôi. Tôi không biết chú biết về gia cảnh của tôi đến đâu, tôi nghĩ, nói ít và nói thật là thượng sách. Chú hỏi rất nhiều chồng tôi, hỏi cả về gốc rễ, từ đâu di cư sang Mỹ. Tôi nói bên nội, bên ngoại của John là người Nam Tư. Chú nhận định y như ba tôi đã nói: “Như vậy, anh ấy không xa lạ gì với mình”. Tôi nghĩ bụng: “Ngu gì mà ngu thế! Ông bà của người ta di cư qua Mỹ để tỵ nạn Cộng Sản, ông VC ơi!”. Nhưng tôi không dám nói ra.

Nam tằng hắng, vẻ mặt trở nên nghiêm trọng. Tôi bình tĩnh sửa soạn tinh thần. Chú hỏi:

“Chồng cháu làm nghề gì?”.

Tôi giật mình và khó chịu, vì ở Mỹ không ai hỏi nhau làm nghề gì. Nhưng tôi hiểu ngay rằng, dù làm trong ngành ngoại giao, Nam cũng vẫn chỉ là một kẻ xuất thân từ rừng U Minh, kinh nghiệm hơn là suốt đời lẩn lút trong bóng tối.

“Anh ấy có bằng về Thiên Văn học và Hải Dương học, hiện đang làm cho đài khí tượng ở Hawaii”.

Phan Thanh Nam xoa hai tay vào nhau như ĐỂ cho ấm trong căn nhà bếp lạnh lẽo nầy. Nhưng nhìn mặt chú, tôi đoán biết ý nghĩ của chú. John Krall là một con mồi hấp dẫn của chú.

“Nếu chú cháu mình khéo léo hỏi chồng cháu giúp mình, thì anh ấy sẽ có ích cho Việt Nam vô cùng”.

Tôi giả bộ khờ khạo hỏi:

“Chú có thể nói rõ hơn chú muốn gì không?”.

“Chưa, chưa tới lúc. Chú cần nghiên cứu thêm. Nhưng phải nói là vào địa vị ấy, chồng cháu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam ta, và chú sẽ tạo cho cháu một chỗ đứng tốt trong xã hội”.

Chỉ mới nghe Nam nói, tôi đã thấy mình có tội với dân tộc và những người di tản. Tôi có thể kể chuyện nầy cho CIA, nhưng làm sao tôi dám mở miệng nói với John. Tôi biết anh sẽ giận lắm.

Nam nhìn tôi đăm đăm, rồi hạ thấp giọng hỏi:

“Cháu có yêu nước không, Mỹ Dung?”.

Tôi thầm nghĩ là ông nầy dám chọc cọp Thị Nghè thì cũng gan dạ thiệt. Tôi liền đáp một cách dõng dạc:

“Cháu dám nói chắc với chú là cháu yêu nước hơn chú!”.

Mắt chú mở to ra, và đôi môi chì mím lại. Tôi tiếp tục nói:

“Cháu sanh trưởng ở miền Nam, con của một nhà cách mạng, cả gia đình cháu bên nội bên ngoại đều chống Pháp. Cháu lớn lên với đất nước, đã biết yêu, biết thương dân tộc, đã chia sẻ mọi đau khổ theo vận nước thăng trầm. Xác của em cháu, bạn cháu, trong lòng đất nước, bạn học cũng trường của cháu mất tích trong rừng, dưới sông, dưới biển… Trong khi đó, ở bên Tây, chú theo dõi chiến tranh trên truyền hình, qua báo chí… Làm sao chú có thể yêu nước bằng cháu?”.

Nói xong, tôi nhìn chú không chớp mắt. Chú bình tĩnh, đáp:

“Hồi còn ở bên nhà, chú ở trong bộ đội. Như ba cháu, chú cũng hy sinh đời chú cho cách mạng. Chú không có thời giờ sống riêng cho chú, nên cũng không dám nghĩ đến chuyện vợ con”.

Chớ không phải bắt chước “bác Hồ” ở vậy không nuôi con?. Tôi nghĩ thầm, rồi mỉm cười.

“Không lập gia đình, chú cũng không mất mát gì lắm đâu. Vợ là nợ. Có vợ có con rồi đùm đề tản cư, chạy giặc cực lắm!”.

“Sao cháu biết?”.

“Chú quên là trước khi đi Mỹ, cháu ở đâu sao? Cháu chạy giặc từ hồi cháu mới chập chững biết đi mà, chú”.

Phan Thanh Nam đổi đề tài:

“Cháu nên thuyết phục má cháu trở về Việt Nam. Đó là thượng sách”.

Tôi đáp ngay:

“Gia đình cháu có truyền thống tự do. Bất cứ ai cũng có quyền lựa chọn theo ý mình. Má cháu muốn về Việt Nam hay ở lại Mỹ là quyền của má cháu. Chị em cháu không được xía vô, không xúi má về, cũng không giữ má lại. Chị em cháu đã bắt tay nhau đồng ý như vậy rồi”.

Nam ngập ngừng:

“Đôi khi người già không đủ sáng suốt để tính toán một việc quan trọng, mình phải giúp ý kiến…”.

Khi nghe Nam đánh giá thấp má tôi, coi bà như một bà già không đủ minh mẫn, tôi giận lắm, nhưng phải cố nén xuống để khỏi đập tay lên bàn. Tôi lấy giọng ôn tồn nói:

“Chú Nam, có thể chú chỉ biết ba cháu thôi, vì hai người là đồng chí. Bây giờ cháu xin nói về má cháu cho chú nghe, để chú biết má cháu. Bà đã tự do kết hôn với ba cháu. Khi biết ông theo Cộng Sản, bà vẫn lo tròn bổn phận một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền trong gia đình, dù ba cháu vắng mặt. Cháu dám quả quyết với chú là má cháu vượt xa hẳn những người đàn bà từng được tiếng là “cách mạng”. Má cháu thông minh, nhìn xa, hiểu rộng, chắc chắn không phải là một “bà già trầu” như chú tưởng. Má cháu chưa già, mới có 60 hà. Nếu có đầu thai lại 25 lần nữa, ba cháu cũng không thể tìm được một người đàn bà nào như má cháu để làm bạn đời đâu. Má cháu cũng không thương ai bằng thương ba cháu. Vì vậy, cháu đâu cần thuyết phục má về Việt Nam với ba cháu”.

“Tại sao lúc đó má cháu bỏ nước ra đi vậy?”.

Vừa hỏi, Nam vừa móc túi lấy một cuốn số nhỏ để ghi.

“Cháu sợ Sài Gòn tắm máu như Việt cộng doạ, nên phải tìm cách đưa bà ra khỏi cho nguy hiểm”.

“Tự cháu về Sài Gòn rước má?”.

Nam nhìn tôi bằng đôi mắt nghiêm nghị hỏi. Tôi lắc đầu:

“Ước gì cháu làm được việc đó. Chồng cháu phải về để cứu má và hai em cháu”.

Nghe nói có cả hai đứa em, Nam nhỏm người lên, nói như ra lệnh:

“Hai em cháu cũng phải trở về Việt Nam!”.

Tôi nhún vai:

“Tuỳ tụi nó, chú à. Gia đình cháu là gia đình tự do, dân chủ, không ai có quyền ép buộc người khác làm điều trái ý của họ. Chị em cháu sẽ ăn thịt cháu, nếu cháu định chơi trò độc tài”.

Nam giữ im lặng một lát, rồi nghiêm giọng nói:

“Mỹ Dung, cháu đừng quên là hai em của cháu có bổn phận phải trở về Việt Nam vì danh dự của ba cháu. Chúng nó sẽ làm tổn thương danh dự của ba cháu khi con cái của ba cháu đều sống trên đất nước của kẻ thù dân tộc”.

Tôi đưa hai lấy lên ra dấu cho Phan Thanh Nam bỏ qua đề tài nầy, rồi gạt đi bằng một giọng quả quyết:

“Mình không nên để mất thì giờ cho việc nầy. Cháu không có ý kiến hay ảnh hưởng nào tới sự quyết định của em cháu”.

Nhưng Nam vẫn nói:

“Khi má cháu về rồi, cháu nên thuyết phục hai em cháu phải về theo”.

“Tại sao?”.

“Ba của cháu là một vị đại sứ nổi tiếng ở Moscow. Các đồng chí Liên Xô của ba cháu đã ký hộ chiếu cho má cháu ghé thăm Liên Xô trên đường trở về Việt Nam. Họ còn có nhã ý mời ba má cháu đi máy bay Aeroflot từ Paris qua Moscow, rồi về Hà Nội không mất liền. Cháu có thấy đó là một vinh sự lớn cho gia đình cháu không?”.

Tôi bướng bỉnh nói:

“Cháu hiểu. Được Liên Xô ưu đãi là một vinh dự đối với chú và ba cháu. Nó hoàn toàn vô giá trị đối với cháu”.

“Khi má cháu trở về Việt Nam là một thắng lợi nữa cho chúng ta, và cho Việt Nam nữa”.

Tôi đáp ngay với giọng mỉa mai:

“Má cháu ở đâu, có ăn nhậu gì đến ai. Má chỉ là một trong mấy trăm ngàn người tỵ nạn đến Mỹ mà thôi. Nếu Nguyễn Cao Kỳ xin tỵ, nạn chánh trị ở Hà Nội mới là chuyện đáng nói. Báo chí cả thế giới sẽ đăng tin nầy trên trang nhứt. Còn má cháu? Hay em cháu?”.

Nam lắc đầu:

“Mỹ Dung, cháu sai lầm rồi. Má cháu không phải là người tầm thường, mà là vợ của một vị đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Má cháu là nạn nhân của một cuộc bắt cóc do CIA chủ mưu. Họ bắt má cháu đi để làm mất mặt chánh phủ cách mạng. Việc má cháu trở về có thể ví như một cái tát vào giữa mặt tổng thống Ford và chánh phủ Mỹ”.

Tôi giận đến run người khi nghe Phan Thanh Nam nói má tôi là nạn nhân của một vụ bắt cóc do CIA tổ chức. Như vậy, từ nãy tới giờ, ông không tin chồng tôi đã về Việt Nam rước má tôi qua Mỹ. Để lấy lại bình tĩnh, tôi xin phép đi vào nhà vệ sinh. Khi trở ra, tôi thấy trên bàn có hai chai bia. Tôi liền từ chối. Ông rót trà mời tôi.

Như Phan Thanh Nam đã có một loạt câu hỏi, và nóng nảy ngồi chờ tôi trở lại. Ông nhắc tới Hải Vân, em tôi. Tôi nghĩ rằng đời em không có gì phải giấu, vì em đã sống một cách hồn nhiên và danh dựr. Nhưng tôi lại nghĩ, anh cán bộ Cộng Sản nầy không xứng đáng nghe về em tôi.

Phan Thanh Nam dựa lưng vô ghế, nhìn tôi với vẻ mặt thách đố, ông nói:

“Cháu đừng quên những kẻ đã giết hại em cháu. Cháu phải bắt họ phải trả một giá thật đắt, phải chịu một hình phạt cho xứng đáng cho cái tội đã làm gia đình cháu đau khổ”.

Tôi không còn kiên nhẫn với nghệ thuật vụng về của Phan Thanh Nam nữa.

“Cái chết của em cháu là bị thảm của gia đình cháu, chú Nam à”..

Nhưng Phan Thanh Nam luôn luôn có giải pháp cho mọi vấn đề, ông nói:

“Gia đình của ba cháu cũng là gia đình của cách mạng. Mấy chú, mấy bác rất xót xa. Bây giờ lại được gặp má cháu và cháu, thì càng tội nghiệp hơn nhiều”.

Nói gì đây, với một người Cộng Sản đang gieo mầm thù hận vào lòng tôi! Mục đích của tôi hôm nay là tìm hiểu con người ông, để đối phó với ông sau nầy. Biết đâu, có một ngày, tôi cho ông vào cái bẫy, mà chính ông đang muốn đẩy tôi vô? Nghĩ vậy, tôi phải tìm những lời nhẹ nhàng, để làm vui lòng ông:

“Cháu mừng được gặp đồng chí của ba cháu. Cháu cần học hỏi với chú nhiều lắm. Ít nhứt cháu cũng phải hiểu việc làm của ba cháu, ý nguyện của ông, mục đích của ông, để có thể tiếp tay ba, nếu cho phép”.

Nam hãnh diện ra mặt, nói:

“Chú sẵn sàng chỉ dẫn cho cháu khi ba cháu vắng mặt. Cháu có thể đóng góp thật nhiều cho công cuộc xây dựng lại đất nước chúng ta, bằng cách dùng khoa học, kỹ thuật của Mỹ. Bằng cách hày bằng cách khác, Mỹ phải có bổn phận xây dựng đất nước chúng ta”.

Tôi hùa theo:

“Tối hôm qua, cháu nghe chú và ba cháu nói về chuyện Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Vậy, theo chú, Mỹ nợ Việt Nam bao nhiêu?”.

“Theo hiệp định Paris, họ nợ mình ba tỷ rưỡi Mỹ kim”.

Tôi biết câu nói sắp đến không nên nói, nhưng tôi hết kiên nhẫn với người nói ngang nói ngược rồi; có bị bắt bẻ, tôi sẽ nói là tôi không biết.

“Rủi Mỹ nhắc cho Hà Nội nhớ lại là theo hiệp định Paris, Hà Nội không được thôn tính miền Nam. Chừng đó ăn làm sao, nói làm sao? “. Tôi hỏi.

“Cháu ngây thơ lắm. Mình đâu có thôn tính miền Nam. Đúng hơn là mình giải phóng miền Nam khỏi tay để quốc Mỹ và bọn bù nhìn”.Ông cười đắc ý.

“À, cháu quên là Hà Nội giải phóng miền Nam”.

Nam lại nói với một giọng hăm hở:

“Khi về Mỹ, cháu phải vận động người Mỹ đòi hỏi chánh phủ của họ phải tôn trọng Hiệp định Paris”.

Tôi thầm tự hỏi, tôi sẽ vận động ai? Bọn phản chiến đã chạy qua Gia Nã Đại? Hay vận động thượng nghị sĩ Gorge McGovern? Thấy tôi mỉm cười vu vơ, Nam hỏi tôi nghĩ gì? Tôi đáp:

“Cháu đang nghĩ xem cháu có thể vận động ai được, và người đó có đủ khả năng để thúc đẩy quốc hội Mỹ chấp thuận đề nghị nầy không?.”

Nam vội hỏi:

“Ai vậy?”.

Tôi cười:

“Thượng nghị sĩ McGovern”.

Nam có giọng nghiêm trang:

“Chú đã nghiên cứu về các thượng nghị sĩ Mỹ. Chú thấy ông McGovern là một trong số ít người có tinh thần phóng khoáng. Ông là người mà chung ta có thể tin tưởng được”.

Trời! Tôi thầm cầu xin tôi không phải là loại người “phóng khoáng” như ông cán bộ Cộng Sản nầy nói tới. Nếu “phóng khoáng” như vậy, tôi sẽ trở thành một thứ bù nhìn có lợi cho Cộng Sản. Tôi tự hỏi, không biết thượng nghị sĩ McGovern đã làm gì cho Hà Nội chưa? Tôi hỏi Nam:

“Tại sao chú nghĩ ông ấy là người phóng khoáng?”.

“Điều rõ ràng nhất là ông ấy chống chiến tranh”.

Tôi nghĩ rằng chú Nam hơi tầm thường, nhưng tôi lại nửa đùa nửa thật nói:

“Chú à, cháu còn phải học chú nhiều lắm!”.

Chú không hiểu ý tôi. Vừa lúc đó, có người vào bếp để sửa soạn bữa ăn trưa. Tôi muốn ở lại để tìm hiểu chú nhiều hơn, nhưng hôm nay tôi cho như vậy là đủ rồi, nên tôi xin phép ra về, dù chú cố giữ tôi lại.

Vừa ra khỏi toà đại sứ, tôi đi thật lẹ như muốn chạy cho xa chỗ nầy, rồi kêu xe taxi để về khách sạn. Tôi cảm thấy tôi dơ bẩn, vì đã vào toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nói chuyện với Cộng Sản bên ly trà. Việc đầu tiên khi về đến khách sạn, tôi đi tắm gội, rồi bỏ hết quần áo vô bao để bỏ giặt ủi.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 35

Việc đầu tiên khi chúng tôi đến Paris, là tôi phải liên lạc ngay với CIA. Rob Hall và chúng tôi đi cùng chuyến bay, nhưng không nhận ra nhau ngay từ phi trường Dulles ở Washington, D.C. đến phi trường Charles de Gaulle. Thế rồi Rob cũng ở chung khách sạn Sheraton với chúng tôi. Một tiếng đồng hồ sau khi vào khách sạn, theo lời dặn của Rob, tôi xuống lầu, đi xem các cửa tiệm trong khách sạn, mua sắm lặt vặt vài thứ. Sau đó, tôi trở lại thang máy, nhưng tôi không lên tầng lầu 6, nơi chúng tôi đang tạm trú, mà lên lầu 3. Tôi lên xuống ba lần, đến lần thứ tư thì Rob đã chờ sẵn ở cửa. Nhưng chúng tôi không chào nhau, làm như không quen biết nhau. Khi mọi người đã ra hết, chỉ còn lại mình tôi, ông bước vào, rồi chúng tôi đi lên. Ông vừa nói “Welcome to Paris” vừa trao cho tôi một hộp diêm quẹt giấy của khách sạn. Đến tầng lầu 4, thang máy ngưng lại, mở cửa, ông bước ra, tôi tiếp tục đi lên tầng lầu 6 để về phòng. Khi đã đóng cửa cẩn thận, tôi mở hộp diêm để biết số phòng của ông. Năm phút sau tôi đến gặp ông để bàn về chuyện ba má tôi. Nhiệm vụ của tôi là phải quan sát và theo dõi những cán bộ Cộng sản chung quanh hai người, rồi báo cáo cho Rob.

Về phòng, tôi hỏi má tôi đã sẵn sàng gặp ba tôi chưa, bà tươi cười đáp “Chưa!”. Chưa bao giờ tôi thấy mặt má tôi vui tươi, rạng rỡ như lúc nầy. Má tôi trẻ hẳn lại. Có phải bà đang nao nức gặp lại người chồng đã xa cách hơn hai chục năm? Má tôi hát “Ngày trở về” không biết mấy trăm ngàn lần. Nhưng cái vẻ tươi vui, rạng rỡ của má tôi biến mất đi. Bà trở nên đăm chiêu, lo nghĩ. Tôi ngồi xuống cạnh má, hỏi nhỏ:

“Má nghĩ gì? Sao tự nhiên má buồn?”.

Má tôi khẽ thở dài:

“Má buồn cho hoàn cảnh ngang trái của mình. Chỉ còn vài phút nữa, má được gặp ba con, đáng lẽ mừng lắm, vậy mà má không thể dẹp qua cái giận hờn cái “đảng” của ba. Ba biết má thương ba, nhưng ba làm bộ như má cũng thích cái đảng của ba”.

Tôi đề nghị:

“Má, quan trọng nhứt là mình cho ba biết, mình thương ba bằng mình ghét cái đảng của ba. Con nghĩ, như vậy ba sẽ hiểu thấu xương thấu tuỷ của mình”.

“Nếu má có theo ba về lại Việt Nam thì cũng chỉ vì thằng con của má, anh Khôi của con thôi”.

Tôi nói ngay bằng một giọng tha thiết:

“Má sẽ không làm gì được cho anh Khôi đâu, má à. Đừng về vì ảnh, chỉ về cho má thôi”.

Má tôi nghẹn ngào, nước mắt chảy dài trên má:

“Ít nhứt mà cũng chịu khổ với ảnh…”.

Tôi năn nỉ:

“Bây giờ mà chỉ nên nghĩ tới ba thôi. Một lát nữa gặp ba, má ráng nói ngọt, ba mình ưa ngọt lắm”.

Ba lấy khăn chặm nước mắt, rồi đứng lên xuôi xị:

“Được rồi, cho má gặp ba con đi”.

Giọng bà đầy miễn cưỡng, không có vẻ rộn ràng như cái áo dài mới má đã ủi thẳng máng trên móc áo.

Để sắp xếp cuộc gặp gỡ, tôi gọi toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, xin nói chuyện với Phan Thanh Nam, người đã giúp chúng tôi lấy được giấy chiếu khán cho má tôi. Nam cho tôi biết, ba tôi đã tới Paris từ ngày 14 tháng 9 và rất nóng lòng mong tin má tôi. Khi được Nam chuyển điện thoại, ba tôi hỏi ngay địa chỉ của khách sạn, để sai nhân viên tới rước. Tôi đề nghị ông đến gặp chúng tôi ở khách sạn, nhưng ông cho biết theo luật, ông phải ở trong cơ quan. Tôi nói đùa:

“Thì lâu lâu ba phạm luật một lần cũng đâu có sao!”.

Ba tôi cười, rồi cho biết ông và “chú Nam” sẽ đến khách sạn ngay. Tôi hơi bực mình vì “chú Nam” chen vô cuộc gặp ba má tôi, làm mất hết ý nghĩa của phút giây đoàn tụ của hai vợ chồng.

Tôi xuống đón ba tôi và “chú Nam” để đưa lên gặp má tôi. Tôi thấy “chú Nam” không có dáng của một nhà ngoại giao. Chú có vẻ khắc khổ, chừng 55 hay 56 tuổi. Chú lùn, nhưng người vạm vỡ, da đen sạm, môi chì. Khi chú đưa tay ra bắt tay tôi, tôi thấy hai ngón tay chú vàng khè vì khói thuốc lá. Chú vui vẻ hỏi:

“A, cháu đây là người đã nói chuyện với chú trong điện thoại. Quite an operator”.

Tôi hơi giựt mình vì tưởng bí mật của tôi đã bị… bật mí. Tôi cố giữ bình tĩnh, nhìn thẳng mắt chú như chờ đợi, thách thức. Chú nói tiếp:

“Chú rất ngạc nhiên khi cháu gọi chú lần đầu”.

Tôi vui vẻ hỏi:

“Bộ từ hồi nào đến giờ không có ai gọi chú từ bên Mỹ sao?”.

Tôi cũng muốn nhân dịp nầy tìm hiểu chú, để có lợi cho công tác của tôi sau nầy. Chú đáp:

“Có, có người gọi chú từ Mỹ chớ, nhưng không phải…”.

Thấy chú ngần ngừ, tôi nói tiếp để trả lời:

“…một người Việt Nam không phải là Việt cộng?”

Chúng tôi cùng cười phá lên, làm cho bầu không khí bớt căng. Chú Nam sau đó giới thiệu anh Phạm Gia Thái, một sinh viên Hà Nội du học Pháp. Giọng Hà Nội của anh nghe thật êm tai. Anh cao hơn chú Nam, tất nhiên, người ốm yếu. Anh cận thị, mang kiếng dầy cộm như cái đít ve chai, nhưng tôi cũng nhận thấy đôi mắt lé của anh sau cặp kiếng. Anh mặc sơ mi trắng tay dài, bên ngoài khoác thêm một jacket kiểu Members Only mầu xanh dương, quần kaki xanh. Anh có dáng dấp của một thư sinh, con nhà gia giáo, lịch sự, dịu dàng, dễ thương. Nhưng tôi nghĩ anh làm “nghề” sinh viên, vì đã trên dưới 40 tuổi. Anh sẽ là tài xế cho chúng tôi trong thời gian chúng tôi lưu lại Paris. Sau tôi mới khám phá ra rằng tôi đã đánh giá anh quá thấp trong mọi hoạt động của Việt cộng ở Paris.

Chú Nam đề nghị với ba tôi là chúng tôi nên dọn về sứ quán ngay đêm đó; hôm sau anh Thái sẽ đưa chúng tôi đến biệt thự của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam ở vùng Verrières-la-Buisson. Đây là nơi mà cộng sản đã dùng làm nơi trú ngụ cho phái đoàn trong thời gian có hội đàm Paris. Dĩ nhiên là tôi muốn biết nơi đó lắm, nhưng lại không muốn mang ơn, và không thích ngủ dưới cùng một mái nhà với cộng sản. Tôi cần tự do đi lại để có thể liên lạc dễ dàng với CIA. Ngoài ra tôi cũng ngại đó là một cái bẫy? Tôi từ chối, nói rằng tôi sợ Bộ ngoại giao Hà Nội không muốn người có quốc tịch Mỹ ngủ trong biệt thự đó. Khi về Mỹ, tôi cũng có thể bị rắc rối. Tôi hứa sẽ đi xe lửa tới thăm ba má tôi hàng ngày. Chú Nam nghe xong, tỏ vẻ bực mình, lạnh nhạt nói:

“Tuỳ Mỹ Dung, miễn sao tiện cho cháu. Nhưng chú cần cho cháu biết, là sẽ không có xe đưa rước cháu hàng ngày đâu”.

Tôi trấn an:

“Chú khỏi lo. Cháu sẽ đi metro, chớ không làm phiền ai hết”.

Anh Thái thì ngạc nhiên, nhìn tôi đăm đăm mà không nói gì hết. Tôi thầm nghĩ, tôi cũng liều khi dám trả treo với Việt cộng trên xứ lạ của thằng Tây. Hai mươi năm trước, tôi mới ra sống nơi thị thành sau mười năm trong bưng biền, rừng rú. Nay mới 29 tuổi, lần đầu tiên tới thủ đô ánh sáng, chữ Tây đã trả tại thầy hết ráo, may ra chỉ còn sót lại mấy chữ thông thường. Vậy mà dám toan tính di chuyển bằng xe điện ngầm. Hồi đó, ông ngoại thường nhắc nhở: “Đường đi ở cửa miệng”. Cứ hỏi những người chung quanh thì cũng có thể đi đến nơi về đến chốn.

Khi tôi đưa mọi người lên phòng, cửa vừa mở, ba má tôi nhìn nhau sững sờ. Rồi ba tôi ôm choàng lấy với má tôi, cả hai cũng khóc trước mặt chúng tôi. Nhưng hai cụ phải cố kiềm chế xúc động để thăm hỏi nhau một cách trang trọng, vì có hai người lạ. Nếu không phải là người Việt, tôi có thể thẳng thắn mời chú Nam và anh Thái đi chỗ khác chơi, để ba má tôi được tự do bày tỏ tình cảm sau một thời gian dài xa cách, nhớ nhung. Trong phút giây đầy cảm xúc nầy, mà có hai cán bộ cộng sản chứng kiến, quả thật bẽ bàng quá chừng đi. Đáng lẽ chính họ phải tự ý rút lui để tỏ ra mình là người lịch sự hiểu biết chớ. Nhưng họ cứ trơ trẽn đứng ỳ tại đó một cách thô bỉ. Khoảng 15 phút sau, anh Thái cho biết phải về sứ quán vì có buổi họp, chú Nam cũng về theo vì có hẹn. Đáng lẽ ba tôi có thể ở lại khách sạn với chúng tôi, nhưng theo luật của cộng sản, cán bộ cao cấp phải có người bảo vệ (hay rình rập, kiểm soát?), nên không thể ở lại một mình được, phải về theo họ. Chú Nam mời má tôi cùng đi cho tiện. Má tôi từ chối hẹn ngày mai về thẳng biệt thự ở Verrieres-la-Buisson.

Sau khi tiễn ba người lên xe về sứ quán, tôi phải gặp Rob Hall để báo cáo. Tôi nhớ lời dặn của ông, là khi đã gặp cán bộ cộng sản, tôi sẽ bị chính cộng sản và cơ quan phản gián Pháp theo dõi. Tôi lại phải dùng cái mẹo vặt lần trước, là đi lên đi xuống, ra vào thang máy nhiều lần, rồi gọi cho Rob bằng điện thoại công cộng. Khi gặp Rob, tôi cho ông biết mọi chi tiết. Ông có vẻ tiếc, là tôi không đến ở biệt thự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vì nơi đó là một kho báu chứa nhiều tài liệu bí mật về cuộc hoà đàm Paris. Tôi nói với anh, tôi không muốn mắc nợ cộng sản.

Sáng hôm sau, ba tôi và anh Thái tới rước chúng tôi. Anh cho biết chúng tôi được mời vào thăm sứ quán của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, vì các nhân viên ở đây nôn nóng muốn gặp má tôi và tôi. Trong phòng tắm, má tôi nói nhỏ với tôi, là má không muốn gặp “ông kẹ” nào hết, nhưng không thể từ chối, để ba tôi vui lòng.

Sứ quán là nhà số 44, Avenue de Madrid ở vùng Neuilly-sur-Seine. Trên đường đi, anh Thái cho biết chú Nam sáng nay bận gặp mấy người “bạn Mỹ” nên không thể đi cùng. Nhưng khi tới sứ quán, tôi thấy chú ăn mặc xuề xoà, ngồi cạnh bàn viết đọc cuốn “Inside the Company CIA Diary” của một cựu trùm CIA, Phillip Agee. Quyển sách nầy đã gây sóng gió ở Washington trong tháng trước, nhưng tôi chưa có dịp đọc. Tôi bước nhẹ tới sau lưng chú, rồi chỉ quyển sách hỏi:

“Ôn bài, hả chú Nam?”.

Chú bẽn lẽn như con nít bị bắt quả tang đang ăn vụng. Chú ngượng ngùng đáp:

“Không, chú thực hành Anh ngữ”.

Rồi vội vàng xếp quyển sách lại, cùng tôi đi ra phòng khách. Tại đây, tôi thấy ba má tôi đang nói chuyện với mấy nhân viên, trong đó có một người tên là Như Phi mà chú Nam giới thiệu “thơ ký” của sứ quán. Sau nầy, tôi mới biết bà là vợ của nhà vật lý Kaplan, làm việc cho French National Scientific Research Center. Tôi sực nhớ hồi tháng 3, người gọi tôi từ Paris biểu tôi lo cứu má tôi và hai đứa em cũng là Kaplan, không lẽ ông Kaplan nầy? Mà thôi, cũng có thể trùng tên, cũng như Việt Nam mình có bao nhiêu ông Trần, ông Đặng. Tôi cũng được gặp ông Thanh, tài xế của toà đại sứ. Thật ra, chức vụ tài xế chỉ là bề ngoài; ông chính là một sĩ quan tình báo, cánh tay trái của Phan Thanh Nam.

Chúng tôi cũng được giới thiệu với một số nhân viên của Bộ ngoại giao đã làm việc dưới quyền của ba tôi. Một người hãnh diện khoe rằng ông đã chăm sóc ba tôi khi ba tôi bị bịnh vào một mùa đông ở Moscow, và được đưa sang Paris dưỡng sức vào mùa xuân năm 1972.

Đứng giữa phòng khách nguy nga, tráng lệ của toà đại sứ, thảm đỏ dưới chân, với những bình bông đầy hoa tươi, với những bộ bàn ghế kiểu Tây phương quý giá, tôi chợt nhớ tới phòng làm việc của ba tôi ở một xó hẻo lánh trong vùng giải phóng trước năm 1954. Tôi cảm thấy mình xa lạ với căn phòng lộng lẫy nầy, dù những người chung quanh đều tỏ vẻ thân mật với tôi.

Khi ba má tôi vào phòng riêng để nói chuyện vài phút, anh Thái đưa tôi đi thăm sứ quán của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam một vòng. Anh tặng tôi một lá cờ của Mặt Trận và cho biết lá cờ nầy đã được treo trước toà đại sứ lâu ngày. Tôi thầm nghĩ tôi đang cầm trong tay một di tích lịch sử. Vậy mà tôi không mảy may xúc động như khi tôi nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ. Sau nầy tôi tặng lá cờ đó cho Rob Hall để kỷ niệm ngày tôi “vào đất giặc”. Nhưng Rob cũng không muốn giữ nó, lại đem tặng ông chánh văn phòng của CIA tại Paris. Lá cờ được treo trên tường trong mấy ngày như một “chiến lợi phẩm” của mấy ông thợ săn.

Trước khi trở lại phòng khách, tôi vào nhà vệ sinh. Khi mở đèn sáng, tôi lạnh toát người vì thấy trên sàn nhà có mấy lá cờ của Việt Nam Cộng Hoà chung quanh cầu tiêu. Tôi qùy xuống, định cuốn mấy lá cờ lại, nhưng chúng nặng trĩu nước. Tôi bỗng nhớ đến lá cờ phủ trên quan tài của em Hải Vân và những bạn bè chết trận. Cũng là lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Sau đó, tôi không còn biết gì nữa.

Tôi xỉu đi không biết bao lâu, mấy người trong toà đại sứ không thấy tôi, phải chạy đi tìm. Họ gõ cửa ầm ầm phòng tắm làm tôi tỉnh lại. Tôi nghe tiếng ba tôi. Tôi vội mở cửa, nắm lấy áo ông, kéo vô phòng tắm, rồi đóng cửa lại ngay. Tôi cũng chả có cần mọi người nghĩ gì lúc đó.

Tôi chỉ xuống sàn nhà tắm, vừa nói vừa nghiến răng:

“Ba coi nè, tụi nầy là đồ thú vật. Con sẽ trả mối thù nầy. Con thề với ba đó”.

Nói xong, tôi đẩy ông ra ngoài và lại đóng của. Tôi cố vắt cho ráo nước lá cờ bị ướt, rồi lấy lá cờ khô gói lại, cất hết vô trong bóp. Về khách sạn, sau mấy tiếng đồng hồ cân nhắc, không còn cách nào hơn là gói mấy lá cờ trong bọc nylon, rồi miễn cưỡng nhẹ nhàng để vào thùng rác, như một kẻ hèn nhát. Khi về Mỹ, chị em tôi hỏi sao tôi không giữ làm kỷ niệm? Tôi cho biết mỗi lần nhìn thấy nó, tôi lại căm hờn cái đám người trong toà đại sứ đó.

Nhưng chỉ hôm sau, tôi biết rõ hơn về “ý đồ” của CIA. Khi đọc bản báo cáo của tôi về chuyện viếng thăm sứ quán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Rob tỏ vẻ thất vọng, nhất là về mấy lá cờ Việt Nam Cộng Hoà. CIA đâu cần đếm xỉa gì tới sự sống còn của Việt Nam Cộng Hoà, kể cả nỗi đau khổ của người dân miền Nam phải sống dưới ách độc tài đảng trị của cộng sản. Họ chỉ cần tôi báo cáo những gì liên quan tới họ, những gì mà CIA muốn biết. Rob yêu cầu tôi vẽ lại sứ quán, rồi chỉ rõ cho ông biết một số chi tiết, như chỗ nào là phòng khách, chỗ nào Phan Thanh Nam thường ngồi ăn uống, chuyện trò riêng tư, phòng làm việc cho nhân viên, chổ để điện thoại của phòng khách, v.v…Rất tỉ mỉ. May mà tôi mới vào sứ quán ngày hôm qua, nên còn nhớ rõ mọi thứ.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 34

Như trời đã sắp xếp trước, khi tôi vừa trở về Hawaii một ngày thì John phải đi công tác hai tuần. Nhờ vậy, tôi có nhiều thì giờ chuyện với má tôi về chuyến đi gặp ba tôi ở Tokyo. Má tôi thì nóng lòng nghe chuyện về người chồng đã xa cách hơn hai mươi năm, còn tôi thì chỉ muốn kể cho nhanh, cho hết, trước khi tôi quên đi những chi tiết lặt vặt. Các chị và em tôi cũng muốn nghe, muốn biết về ba. Vì vậy, tôi cứ phải nói đi nói lại, người muốn biết thêm chi tiết chuyện nầy, người lại thắc mắc tại sao lại thế nầy, hoặc thế kia… Tôi đưa cho má tôi lá thơ của ba tôi; bà cầm rồi đi vào phòng riêng. Các em tôi tò mò hỏi ba viết gì cho má?. Làm sao tôi biết được! Chị em tôi chỉ lo ba tôi trách má sao lại bỏ đi trước khi ba về Sài Gòn. Tôi cũng vái cho ba tôi không trách má tôi để cho con gái lấy chồng “đế quốc Mỹ”.

Khi má tôi mở cửa bước ra gặp chúng tôi, ai cũng chăm chú nhìn bà, chờ xem phản ứng. Nhưng má tôi không có vẻ xúc động mấy, và cũng không có vẻ giận hờn, chỉ hơi buồn một chút thôi. Vì sống lâu với má, tôi hiểu rõ nỗi buồn nầy. Buồn pha chút thất vọng. Khi tôi nghỉ học để làm cho Phòng V, Quân đoàn 4, má tôi buồn. Khi tôi lãnh số lương đầu tiên, đưa về cho má, bà cất ba ngàn vào hộc tủ máy may mà mặt buồn hiu. Khi chúng tôi tiễn Hải Vân lên Sài Gòn ở với chị Kim, chị Cương để đi học, tránh bị dụ dỗ theo Việt cộng, má cũng buồn héo hắt.

Má biểu chúng tôi đến ngồi vào gần quanh má để nghe thơ ba. Chị Cương mới nghe nửa chừng đã ôm mặt khóc nức nở. Tôi thì không khóc, nhưng tim thắt lại như bị ai bóp nghẹn. Đọc xong, má xếp lại như cũ, đưa cho chị Cương. Chị chạy vội về phòng riêng để đọc; rất lâu sau mới trở ra, hai mắt đỏ hoe. Rồi tới lượt Hoà Bình và Minh Tâm. Tôi không đọc ngay tại chỗ, mà đem thơ về nhà.

Thơ ba làm chúng tôi khóc, mà cũng làm chúng tôi cười, khi nhắc tới những thói hư tật xấu của từng đứa con. Anh Khôi thì lúc nào cũng lo bị thất học, vì cứ phải chui rúc trong “vùng giải phóng” khỉ ho cò gáy. Hai chị Kim và chị Cương chỉ mơ ước được sống ở thành thị to nhiều tiện nghi. Hải Vân rất thông minh, còn Hoà Bình hay nhõng nhẽo. Ba cũng không quên cái tật tôi thường bỏ mứa khi ăn cơm.

Khi chúng tôi họp nhau để bàn chuyện đi Paris của má, ai cũng biết chuyến đi nầy có nhiều khó khăn cho má, vì má có nhiều “hành lý” nặng trĩu trên đôi vai gầy. Hơn hai chục năm xa cách chồng để một mình nuôi dạy đàn con nhỏ. Má đã gánh bổn phận làm cha, làm mẹ, làm thầy, làm bạn với chúng tôi trong khi ba đi theo tiếng gọi của núi sông, của lý tưởng mơ hồ.

Chị em chúng tôi không ai dám hỏi thẳng má, chỉ đoán thầm với nhau, là có thể má sẽ trở về Việt Nam với ba. Thiệt ra, theo chúng tôi, nếu má chịu về Việt Nam, thì nguyên nhân chính là má muốn gặp lại anh Khôi.

Chị Cương và tôi biết má đang đứng trước một sự lựa chọn quá khó khăn, tế nhị. Để má dễ dàng trong việc lựa chọn ấy, chúng tôi đã cho má rõ là trong suốt hai chục năm qua, má đã sống và đã cống hiến hết tuổi trẻ cho các con nhiều rồi, bây giờ là lúc má hãy nghĩ đến má, đến bản thân má. Chúng tôi nói như vậy không phải để làm vui lòng hoặc trấn an má, nhưng thực tế đã đúng như vậy. Má tôi đã dành trọn tuổi trẻ và tình thương của má cho đàn con. Bà đã cho chúng tôi mái ấm gia đình, cơm no, áo ấm. Bà đã không bỏ rơi một đứa nào trong chúng tôi. Có những người bạn giầu có của má, hiếm muộn, muốn xin một, hai đứa làm con nuôi, với hảo ý làm nhẹ bớt gánh nặng trên vai má tôi. Nhưng bà cương quyết từ chối, ôm chặt chúng tôi vào lòng, dù có những lúc khó khăn, thiếu thốn. Bà dạy dỗ chúng tôi không bằng roi vọt hay những lời trách mắng nặng nề, mà bằng những lời khuyên răn và làm gương tốt cho chúng tôi noi theo. Ngay cả vấn đề tôn giáo, má cũng không cấm đoán hay ép buộc. Hai chị tôi muốn theo đạo Thiên Chúa, má khuyên hai chị nên tìm hiểu kỹ trước khi quyết định. Theo một đạo mới, má khuyên, không giản dị như chạy theo thời trang, thay đổi một kiểu tóc, một cái áo dài hay mua một đôi giầy kiểu mới. Chừng nào thật lòng tin ở “Đức Chúa Trời” thì hãy vô đạo. Hai chị tôi vâng lời, cuối cùng đã được rửa tội. Hai chị đã trở thành con chiên của Chúa và suốt đời giữ đạo.

Chị Cương và tôi biết má không mạo hiểm gì mà trở về Việt Nam, khi vừa mới thoát nạn. Nhưng có thể vì bà nhớ đứa con đầu lòng xa cách hai chục năm dài mà đổi ý, để được gặp anh Khôi. Hiểu tâm trạng của má như vậy, chị Cương cấm các em không được ngăn cản má. Chúng tôi còn hứa với má, sẽ lo lắng, đùm bọc Minh Tâm suốt đời.

Sở ngoại kiều ở Honolulu cho chúng tôi biết phải mất chừng bốn tuần mới lấy được giấy thông hành cho má tôi (Refugee Travel Document). Trong khi đó, ba tôi không thể chờ đợi bốn tuần ở Paris được. Muốn được việc, tôi phải tìm “tay trong” giúp thì may ra mới kịp. Tôi chợt nhớ tới viên sĩ quan làm việc cho Sở Ngoại Kiều mà tôi đã gặp khi tôi tình nguyện giúp người tỵ nạn ở phi trường Honolulu. Ông vui vẻ nhận lời, nên chỉ hai tuần sau má tôi có giấy thông hành đi Paris.

Sau khi được giấy thông hành, tôi đưa má tôi tới toà lãnh sự Pháp ở Honolulu để xin chiếu khán. Một bà đầm già xem đơn xong, trả lời bằng tiếng Pháp:

“Việt Nam phải không?”.

Tôi hơi bực mình vì giọng nói xách mé của bà. Tôi nghĩ rằng bà cũng như nhiều người Pháp khác, thường có mặc cảm tự tôn đối với người Việt Nam. Hình như họ vẫn tự coi là kẻ cai trị dân Việt. Tôi chưa kịp trả lời thì bà lại hỏi thêm, cũng bằng tiếng Pháp:

“Có phải là thường trú nhân hợp pháp của Mỹ không?”.

Tôi vội trả lời bằng tiếng Anh:

“Tôi không biết tiếng Pháp”.

Bà ta tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi bằng tiếng Anh:

“Cô là người Việt Nam mà không nói được tiếng Pháp?”.

Tôi nhìn thẳng mắt bà, trả lời một cách thách thức:

“Tôi là người Việt Nam, nhưng tôi không bị người Pháp cai trị”.

Bà hơi giật mình, dịu dàng:

“Cô ơi, cô không cần phải chua chát như vậy”.

Bà nói đúng. Tôi không nên chua chát khi đang cần họ giúp đỡ. Nhưng lúc đó, bỗng tôi nhớ tới những chuyện Tây ăn hiếp dân mình do má tôi kể lại.

Bà đầm bình tĩnh đọc đơn của má tôi, rồi cho biết má tôi cần hai người ở Pháp bảo trợ, và giấy chiếu khán sẽ được chấp thuận từ 4 đến 6 tuần. Hai người bảo trợ thì không khó, vì má tôi cho biết có thể nhờ vợ chồng Cúc, bác sĩ ở Paris. Vợ chồng nầy là con của bạn má tôi. Người thứ hai cũng là con của bạn má tôi. Nhưng cái thời hạn thì quá dài. Tôi phải tìm cách rút ngắn lại. Thoạt tiên, tôi nghĩ đến toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Paris. Không biết họ có thể móc nối với một thằng Tây, mẹ đầm nào khuynh tả trong bộ ngoại giao Pháp không? Tôi viết thư cho ba tôi về vấn đề nầy, hy vọng ba tôi có thể giải quyết nhanh chóng để gặp má tôi.

Rồi tôi nghĩ đến Rob Hall, nhân viên của CIA. Nhưng Rob cho biết tức khắc, là việc nầy “ngoài tầm tay” của CIA. Tôi nghĩ trong bụng “vậy mà người ta tưởng mấy anh đi trên nước, bước trên lửa!”.

Bối rối trước nhiều bức tường, tôi chợt nhớ tới một nhân viên toà đại sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Paris tên là Phan Thanh Nam. Hồi tôi sang Tokyo, ba tôi cho biết, nếu cần giúp đỡ gì khi ba tôi chưa tới Paris, có thể liên lạc với ông ta và kêu ông bằng chú. Thế là tôi vội gọi cho Nam ngay. “Chú Nam” hứa sẽ nhờ một “người bạn thân” lo ngay việc nầy cho má.

Chỉ mới hai tuần và bốn ngày sau ngày nộp đơn ở toà lãnh sự Pháp, bà đầm gọi điện thoại báo cho chúng tôi biết là má có giấy chiếu khán. Khi chúng tôi đến toà lãnh sự; bà đầm tỏ vẻ rất ngạc nhiên, vì sự nhanh chóng khác thường. Bà đoán chúng tôi phải quen biết nhiều người trong bộ ngoại giao Pháp. Tôi nửa đùa nửa thật nói:

“Bây giờ tới phiên người Pháp phục vụ chúng tôi, bà ơi”.

Bà đầm thắc mắc nhìn má tôi, rồi chúc:

“Bon voyage!”

John và tôi quyết định để Lance ở nhà với John, vì chúng tôi không muốn dạy con nói đối. Lời nói trung thực của một đứa trẻ lên 5 có thể gây mâu thuẫn giữa người lớn. Chúng tôi gửi Lance cho bà vợ một sĩ quan cùng phi đoàn với anh. Buổi chiều đi làm về John sẽ đón Lance về nhà. John còn định xin nghỉ một tuần lễ để hai cha con đi cắm trại. Tôi yên tâm đi với má tôi sang Paris.

Khi tôi báo cho Rob Hall biết tin nầy qua điện thoại, ông giữ im lặng một lúc khá lâu. Không biết có phải ông giựt mình vì sự việc xảy ra nhanh chóng hơn dự tính của CIA? Mà cũng có thể ông ngạc nhiên vì tài tháo vát của người “gián điệp mới” nầy. Nhưng chỉ vài phút sau, tôi hiểu rằng Rob không ủng hộ chuyến đi, vì lỡ má tôi theo ba tôi về Việt Nam thì sao. CIA đã góp công vào việc đưa má và hai em tôi sang Mỹ để bảo vệ an ninh tính mạng cho bà mới cách đó không đầy 5 tháng. Ông đề nghị tôi ghé Washington, D.C., trước khi chúng tôi lên đường sang Pháp. Tôi thắc mắc hỏi tại sao, thì ông cho biết:

“Chúng tôi cần bàn một vài chuyện quan trọng trước khi gia đình cô gặp ba cô lần nầy”.

Trước khi lên đường, tôi viết cho Rob một bức thơ, cảnh cáo ông không được xâm phạm tự do riêng tư của má tôi. Nếu bà quyết định về Việt Nam với ba tôi thì không nên ngăn cản, không nên hù doạ má tôi. Chúng tôi biết rằng, nếu má tôi quyết định về Việt Nam thì phần lớn là bà muốn gặp anh Khôi. Nhiều lần nói chuyện nhắc đến anh, bà không cầm được nước mắt.

Ba ngày ở Washington, D.C, là thời gian dài vô tận đối với tôi. Bà tâm sự với tôi:

“Trong thâm tâm, má muốn về với ba của con lắm. Nhưng quyết định của má còn tuỳ thuộc vào chính sách của cái chánh phủ của ba con. Má muốn biết tụi Bắc Kỳ Hà Nội đối xử với người Nam mình ra sao. Má không tin lời báo chí của phe quốc gia, má cũng không tin luôn cái miệng “chống cộng” của tụi con. Người má tin nhứt là ba con. Chắc chắn ba sẽ không gạt má kỳ nầy. Vậy, tụi con cứ yên tâm”.

Rob Hall đưa tôi đến “Nông trại” để gặp xếp lớn của CIA. “Nông trại” là tên lóng, gọi trụ sở bí mật của trùm CIA Jerrie Parker. Trên đường tới “nông trại”, Rob cho biết ông trùm muốn gặp tôi để chào đón tôi mới gia nhập “công ty”. Nhưng khi ngồi nói chuyện với ông Jerrie Parker tôi mới biết rằng “con mồi” mà CIA nhắm là anh Khôi của tôi.

Anh tôi đã từng học ở Hà Nội, Bắc Kinh và Liên Xô. Anh tốt nghiệp với bằng kỹ sư tên lửa. Nhưng, dù là con một nhà cách mạng, anh lại có tâm hồn phóng khoáng, thầm mơ ước cuộc sống tự do bên cạnh mẹ và các em của anh. Vì vậy, anh không phải đảng viên cộng sản.

Khi thấy Jerrie Parker quan tâm nhiều đến anh Khôi, tôi phải thận trọng, dè dặt khi trả lời những câu hỏi về cá nhân anh. Ông muốn anh ở lại Việt Nam vài năm, làm việc cho CIA, rồi sẽ tìm cách đưa anh ra khỏi nước. Đã hai chục năm nầy, kể từ ngày ba tôi đi tập kết, tôi phải lăn xả vào đời để giành một chỗ đứng danh dự, tôi chỉ tin có má tôi và… chính tôi thôi. Vì vậy, lời hứa của ông Parker tôi bỏ ngoài tai, không tin mà cũng không giận hờn. Tôi thầm nhắc nhở mình, rằng CIA đã có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam. Họ đã từng đi giầy, đi guốc, đi cả dép râu trên quê hương tôi. Mỹ đã từng đem tầu há mồm đến Hải Phòng đem người Bắc di cư vào Nam cho tới ngày ông đại sứ Martin ôm lá cờ Mỹ chạy. Trong khi đó, tôi chỉ mới biết CIA không đầy 3 tháng. Ba tháng là 100 ngày, một thời gian qua ngắn ngủi, chỉ như một giấc chiêm bao.

Khi tôi bắt đầu làm việc cho CIA, người ta đã bắt tôi ký một văn kiện có nhiều quy luật. Nhưng đối với tôi, quy luật nào cũng theo được hết, miễn không làm điều gì hại đến ba tôi, dù tôi vẫn biết ba tôi luôn luôn trung thành với đất nước, mà đất nước tức là Đảng. Nhưng đối với anh Khôi thì khác. Anh như con cá mắc cạn, con chim bị nhốt trong lồng. Anh khao khát được sống như mọi người bình thường khác. Tôi không ngần ngại tìm cách giúp anh thoát khỏi cái nhà tù khổng lồ đó.

Hồi ký tù cải tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 27Nov 2015 by quanvan.net 

Post by Sơn râu 13 Nov 2023

Bài 3.

“Một giọt máu đào, hơn ao nước lả”

Trần Phú Trắc nói với tôi:

– “Anh thấy có mất mặt không? Cán bộ Thắng nó nói bây giờ các anh có người bà con nào thật xa theo “cách mạng” cũng cố khai vô lý lịch để mong được khoan hồng. Kỳ cục không?”

– “Còn “ông” thì sao?” Tôi hỏi kháy Trắc.

Trắc trả lời, giọng cương quyết:

– “Tui thì dứt khoát. Tui coi như không có hai thằng chú tui. Cả ba tui, thời theo “kháng chiến”, tui cũng bỏ luôn, không thèm khai.”

Không cần nghĩ tới hai ông chú, một ông là Giám Đốc Sở Công An, một ông là Giám Đốc Sở Thương Nghiệp tỉnh Thuận Hải, Trắc nói với tôi rằng anh ta khai cha chết sớm, còn không khai gì về hai ông chú cả.

Tôi nói:

– “Chức vụ như vậy là mạnh lắm, đứng ra bảo lãnh là ông về cái một.”

Trắc nói:

– “Tui cũng có tự ái chớ anh. Tui không cần đâu!”

Họ đã bị bắt, bị bắn và không biết bao nhiêu người đã bỏ thây trên biển cả. Một cảnh đồng bào vượt biên.

Thế rồi vì lý lịch là cháu “anh Tám Thẹo” – tiếng chúng tôi hay gọi đùa “ông tông tông”, nên Trắc “được tha ra khỏi trại cải tạo” – câu trong lệnh tha thường ghi – sau tôi những năm năm.

Anh ngồi gỡ thêm 5 cuốn lịch nữa. Tội nghiệp! Mà cháu ông Thiệu, anh ta được cái gì chứ?! Ra trường khóa 21 Thủ Đức, Trắc đi Dù, về tiểu đoàn 5 với ông Trần Quốc Lịch, băng rừng, lội suối cũng như mọi người.

Một lần, Trắc nhớ hành quân ở giới tuyến, trong một đêm mưa phùn gió Bấc, ông Lịch sáng tác bài thơ, Trắc nhớ được mấy câu:

Bữa trước mưa đêm cũng chốn nầy

Bây giờ mưa gió lại về đây.

Ô hay mưa chẳng thương đời lính.

. . . . . . . .

“Chốn nầy” là Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi!

Hành quân ở đó mà gặp mùa mưa phùn gió Bấc thì da diết khó quên.

Hồi còn ở trại Trảng Lớn, cùng chung L3-T3, Tôn Thất Chu đến thăm tôi.

Ông nầy cũng là hạng “học trò quái kiệt” của tôi đấy!

Hồi học với tôi, anh ta nghịch lắm, được cái là tuy học không chăm nhưng rất lễ phép. Đậu trung học, anh vào Quốc Học. Năm thi Tú Tài 1, anh “quay phim” bị giám khảo bắt được, đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật, cấm thi ba năm, không những vì tội quay phim mà còn bướng, cải lấy được với giám khảo.

Năm sau, anh ta thay giấy khai sinh, thêm dấu ư và dấu ngã, từ Chu ra Chữ, đi thi lại như thường. Những năm “đấu tranh” của cái gọi là “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, anh ta từ Quốc Học về trường cũ, phá cổng trường vào kêu gọi học sinh bãi khóa.

Ông cai trường giận anh ta lắm, cứ nói hoài câu: “Thằng Chu chớ không ai hết. Hắn phá cổng trường! Hắn phá cổng trường!”

Vì tham gia đấu tranh, anh bỏ học rồi nhập ngũ.

Bây giờ thì hai thầy trò gặp nhau trong “trại cải tạo”. Tác phong của Chu vẫn như cũ, vui đùa tự nhiên và vẫn nghịch, dù đang ở tù.

Anh ta nói:

– “Không biết chắc em có về trước thầy không?! Ba em bảo lãnh cho em rồi.”

Ba của Chu là ông Tôn Thất Khâm, thiếu tướng Việt Cộng. Ông ta ở ngoài Bắc về, hiện nghỉ hưu ở Huế. Chu cũng có một người chú nữa, Việt Cộng nằm vùng, bị Thanh Niên Cộng Hòa bắn chết ở Nam Hòa khoảng năm 1960.

Chu lại nói:

– “Ba em dặn em được về thì nhớ nghe lời ba dặn, đừng như Tôn Thất Đính.”

Tôi hỏi:

– “Đính nào, mà sao?”

Té ra Chu có một người anh tên là Tôn Thất Đính, đại úy, trước 1972, phục vụ ở tiểu khu Quảng Trị. “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Đính bị Việt Cộng bắt, đưa ra Bắc.

Thiếu tướng Việt Cộng Tôn Thất Khâm nghe tin con bị bắt, bảo lãnh cho con về Hà Nội chơi, thăm cho biết “Thủ Đô Cách Mạng Việt Nam” văn minh tiến bộ như thế nào!!!

Ông ta cho con biết rằng Hiệp Định Paris 73 ký rồi, sắp trao trả tù binh, và yêu cầu con ở lại miền Bắc với cha, đừng về miền Nam nữa.

Đính nhứt định về, nói là về với mẹ ở trong Nam.

Ông Khâm chiều ý con nhưng dặn, nếu có về thì đừng đi “lính ngụy” nữa. Đính hứa.

Về tới miền Nam, khi còn ở Trại An Dưỡng, anh xin trở lại Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, “quên” lời hứa với cha.

Ông Khâm rất giận con việc nầy, nên lần nầy không bảo lãnh cho Đính nữa. Chỉ bảo lãnh cho Chu và ông anh cả, Trung tá Tôn Thất Thuyên.

Chu có một người chị nữa, cũng là học trò của tôi, nổi danh ở Huế một thời vì đẹp, sexy và có mái tóc vàng như “Mùa Hè Rực Rỡ”, như đào ciné.

Người ta đồn sau nầy vì cô ta mà một ông thầy chùa cởi áo tu. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” mà.

Hỏi Chu, Chu nói:

– “Tụi nó nói tầm bậy. Chồng chị ấy học sư phạm ra!”

Chu đưa cho tôi xem bản sao tờ bảo lãnh của cha, lời lẽ khá cảm động: “Tôi vì công tác cách mạng nên không có cơ hội chăm sóc con cái để đến nỗi gia đình ly tán như thế nầy. Tôi cũng thương các con tôi, vì Bác Hồ có nói tình yêu gia đình cũng thiêng liêng như tình yêu tổ quốc…”

Tôi nói:

– “Thư viết hay đó! Không biết mấy ông Việt Cộng đọc có thương tình mà cho ông về sớm không!? Thôi cứ “an tâm học tập cải tạo” đi.”

Chu nói:

– “Ba em nói nếu em “học tập” ở Huế thì nay em đã được về rồi.”

Tôi cười, nói đùa:

– “Tha ông về sớm để ông theo ông Đính chớ gì?”

Chu chỉ cười.

Đơn bảo lãnh của ông Khâm cũng được “cách mạng” xét tới, sau khi Chu ở “tù cải tạo” hơn ba năm, đủ để đi HO.

Chu đi tìm Hồ Đức Trai, cũng là học trò cũ của tôi. Cả hai đến thăm thầy.

Chu nói đùa:

– “Tù trò đi thăm tù thầy nên không có quà, chỉ có hai tay không?”

Tôi cười:

– “Khi tui bắt đầu đi dạy, có bà thím nói “Bộ hết nghề rồi hay răng mà đi dạy. Nghề nớ bạc bẻo lắm.”

Tui cười, chấp nhận chuyện bạc bẻo đó.

Nay ở trong tù mà mấy ông tới thăm tui là quí rồi. Ông Trai đi lính khi mô?”

– “Em học Võ Bị, mãn khóa về học thêm ở Phú Thọ, đậu kỹ sư, nhưng bằng của em thì do đại tướng Cao Văn Viên ký. Chưa kịp ký thì ông dọt mất, thành ra em mất cái bằng kỹ sư.”

Tôi nói:

– “Bỏ đi! Không chắc “cách mạng” cần tới bằng cấp của người miền nam. Hồng hơn chuyên mà.”

Ở trại nầy, tôi cũng có nhân vật khác, cũng khá buồn cười là anh Đặng Mậu Hùng. Anh thuộc loại sinh viên xuất sắc của viện Đại Học Huế hồi đầu thập niên 1960. Cùng với Huỳnh Hữu Tuệ – em họ tôi, người tôi từng làm precepteur khi tôi học ở Quốc Học, – (1) được học bỗng du học Canada.

Tuệ lên máy bay đi Canada dễ dàng, vì bố anh ta thuộc nhóm các ông Võ Như Nguyện, Đinh Sơn Thung, Đỗ Mậu, theo cụ Ngô khi cụ còn “lê gót nơi quê người” – câu cũ trong bài hát “suy tôn Ngô tổng thống” của Nguyễn Hiền- lại còn được chọn làm trưởng nhóm du học sinh nầy.

Hùng bị kẹt lại, bộ Nội Vụ không cho đi vì có bố tập kết ngoài Bắc. Hùng tiếp tục học ở Đại Học Huế, đậu cử nhân khoa học, bị động viên, ra trường được chọn làm giáo sư ngành văn hóa tại trường Võ Bị Quốc Gia. Khi trường Võ Bị muốn kiện toàn đội ngũ giáo sư cho chính của trường, Hùng lại được du học Mỹ, không bị trở ngại như lần trước. Đậu kỹ sư hóa học ở Mỹ rồi về nước, Hùng tiếp tục dạy ở Võ Bị cho đến 30 tháng Tư thì đi ở tù. (2)

Hùng là em vợ Lê Trọng Thọ, hai anh em cùng trình diện và “học tập” cùng chung trại Trảng Lớn với tôi.

Một lần chúng tôi nói chuyện chơi với nhau, Hùng nói đùa:

– “Ông già không bảo lãnh cho tui về là tui từ ông luôn.”

Tôi cười, nói:

– “Chuyện từ nhau là chuyện vô duyên. Cha mẹ có từ con thì con vẫn là con cha mẹ. Nó không thể chui đất mà lên được, dù là cán bộ Cộng Sản. Ai cũng phải có cha mẹ. Con từ cha mẹ thì cha mẹ vẫn là cha mẹ mình. Còn nếu như từ để khỏi nuôi cha mẹ là tội bất hiếu.”

Hùng thành thật nói:

– “Nóng về thì nói bậy nhưng tôi chắc ông không đủ sức để lo cho tôi về.”

Quả thật, ông cụ có bảo lãnh cho Hùng nhưng Hùng không về sớm được. Có người quen ở Huế nói với tôi rằng ngày xưa ông từng làm Công An Liên Bang, nhưng rất thường giúp đỡ những người hoạt động cách mạng, bất kể đảng phái Quốc gia hay Cộng sản.

Sau cách mạng tháng tám, ông làm việc cho Việt Minh, rồi đi tập kết, không dám trốn Việt Minh về với vợ con vì sợ Tây trả thù. Khổ nỗi, vì lý lịch từng làm Công An Liên Bang nên Cộng sản chẳng tin dùng gì ông, ông chỉ là nhân viên thường. Họ chỉ cần ông lúc ban đầu, khi mới cướp chính quyền mà thôi.

Một hôm tôi đi múc nước dưới đường mương để tưới rau. Đang lum khum với cái gầu thì có người đứng trên bờ mương gọi: “Anh Hải.”

Tôi bước lên khỏi mương, hỏi:

– “Xin lỗi, trông quen quen mà không biết ai?”

Anh ấy cười, nói:

– “Anh nhớ Hoàng Ngân Hà và chị Ái Loan không?”

Tôi hốt hoảng:

– “Thôi chết rồi! Thọ phải không? Thọ em chị Loan phải không? Tui xa quê sớm quá, đám nho nhỏ sau nầy, nhớ tên mà không nhớ mặt. “Ông” bị “tội” chi mà vô đây?”

– “Em trung úy. Đang học đại học nửa chừng thì em đi Thủ Đức.”

Về trại Suối Máu, tôi lại gặp một người học trò cũ khác, anh Trần Hữu Xiêm. Ông nầy cũng “buồn cười” không khác gì ông Chu.

Năm đệ tam, Xiêm học với tôi. Anh thuộc loại học trò xuất sắc, giống như trường hợp Võ Thế Hiệp vậy. Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh dạy kèm cho cả hai anh Toán và Lý Hóa, các môn khác, tôi chỉ sách cho họ tự học thêm. Cuối năm đệ tam, cả hai thi tú tài 1 và trúng tuyển.

Người Xiêm to cao, trắng trẻo, thi vào không quân và tốt nghiệp, làm “giặc lái” máy bay L. 19 ở Nha Trang.

Ra trường, anh về phục vụ ở vùng I. Một lần lái L.19 hộ tống cho đoàn xe của một người bạn trên quốc lộ 1, anh suýt chết khi qua đèo Hải Vân. Máy bay bị gió thổi sà ngang đầu mấy chiếc xe đang đậu trên đỉnh chờ đổi giờ đèo, ai cũng khiếp đảm. Anh cũng hú hồn thoát chết.

Được nửa năm, An Ninh Quân Đội “điều chuẩn an ninh”, phát hiện bố anh là “Ủy viên trung ương đảng” ở ngoài Bắc nên anh bị “cấm bay”, được giao công tác trên mặt đất.

Anh của Xiêm là Trần Hữu Tín cũng bị vạ lây. Tín đang làm ở phòng 2 bộ Tổng Tham Mưu, bị thuyên chuyển về Khối Chiến tranh Chính trị Tiểu khu Gia Định.

Bây giờ cả hai anh em cùng đi “tù cải tạo” với nhau.

Sau vụ “cấm bay” được nửa năm, cấp chỉ huy xét lại nên Xiêm được bay như cũ.

Xiêm kể:

– “Ngày 2 tháng Tư (1972), em bay quan sát từ Đà Nẵng ra Bến Hải. Ngang cầu Đông Hà em thấy 7 chiếc xe tăng đang từ hướng Bắc chạy vào, hai chiếc đầu gần tới cầu Đông Hà rồi.

Em rà thấp xuống coi thử xe tăng ai mà hơi lạ lạ. Nhìn kỹ, té ra xe tăng Việt Cộng, chúng từ ngoài kia, theo quốc lộ mà vào. Em gọi về trung tâm hành quân ở Đà Nẵng, xin máy bay oanh tạc.

Đà Nẵng biểu chờ, phải trình trung tướng đã. Mẹ nó lên. Xe tăng Việt Cộng sắp tới cầu Đông Hà rồi mà còn biểu chờ. Xe tăng nó qua cầu được là coi như xong.

Nghe em chưởi thề trong máy, một anh chàng A-37, chẳng biết tên họ là chi, cùng tần số, bảo em:

– “Đ. mẹ, đếch có chờ. Ông chỉ điểm đi, tôi chơi liền”.

“Thế là em rà xuống thấp, bắn trái khói. Anh chàng kia cùng người bạn, hai chiếc A-37 nhào xuống chơi trò “cua rang muối”.

Năm chiếc cháy ngay trên đường, hai chiếc hoảng hồn lao xuống ruộng, em chi điểm tiếp cho hai anh chàng kia rang cháy luôn. Còn thêm khoảng cở mười chiếc ngoài kia đâm đầu chạy vào, như tụi liều mạng vậy. Bọn em cũng hết bom, nhưng dưới đất thì kêu réo om sòm vì xe tăng Việt Cộng tới.

May khi đó, Thiết Đoàn 21 Chiến Xa của Trung tá Nguyễn Hữu Lý kịp phá sập cầu Đông Hà.”

Tôi hỏi:

– “Trong bản tự khai, ông có khai vụ nầy ra không?”

– “Có chớ, sao không?” Xiêm trả lời tự nhiên. “Biểu thành thật khai báo là em khai hết. Sợ gì? Mà hình như ba em ông “đấu tranh” dữ lắm. Em gái em ở Huế gởi thư cho biết nhiều lần ba em ngồi uống trà suốt đêm không ngủ. Bảo lãnh cho một thằng con rang hết cả chục con cua của “cách mạng” chắc khó lòng cho ông dữ!” Nói xong, Xiêm cười hề hề!

Sau đó ít lâu, có đợt đày tù cải tạo ra Bắc. Cả hai anh em của Xiêm đều có mặt trong đợt nầy.

Khi ở trại Z-30A, một hôm, Nguyễn Minh Chiếu, thiếu úy, nhân viên cũ của tôi, nay tù chung cùng một trại, hỏi: “Anh có biết thằng cha Tấn không?”

Tôi nói: “Có nghe người ta nói sơ, buồn cười lắm phải không?”

– “Mắc cười lắm. Ba anh ta tập kết ngoài Bắc, y ở lại trong Nam cùng với mẹ. Mẹ nuôi cho ăn học, khi “đứt phim”, anh ta đang học đại học khoa học. Cha anh ta từ Bắc vào “công tác” ở Saigon và thăm gia đình. Việc học hành lúc đó “cà lơ phất phơ”, tới trường thì chỉ có hát hò, học tập chính trị, chán quá, anh ta bỏ đi chơi, suốt ngày ngồi quán caphê, nghe lén nhạc vàng.”

– “Ông bố không biết?” Tôi hỏi.

– “Biết chớ. Cho nên ông biểu thằng con ra thăm Hà Nội một chuyến cho biết, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, văn minh, tiến bộ…”

– “Cha con đi với nhau?” Tôi hỏi.

Không trả lời tôi, Chiếu kể tiếp:

– “Cha dẫn con đi quanh Hà Nội, chỉ cho con thấy những ưu việt của xã hội Việt Cộng như cột ăngten đài phát thanh Hà Nội, cửa hàng mậu dịch vân vân…”

– “Mấy cái đó, có chi đặc biệt mà khoe!” Tôi góp ý.

– “Về tới miền Nam, thằng con than thở với mẹ, xin mẹ cho đi vượt biên.”

– “Trước đó chưa có ý định vượt biên?” Tôi hỏi.

– “Đâu có! Ban đầu tưởng Việt Cộng ngon. Ai ngờ ra tới thủ đô Hà Nội, sợ quá, về tới nhà xin mẹ vượt biên.” Chiểu kể.

– “Bà ấy cho con đi? Hai chục năm, cha con mới gặp nhau mà!”

Tôi than.

– “Ban đầu thì chưa. Bỗng một hôm, cha con đụng độ dữ dội, nên bà phải cho thằng con trai vượt biên.”

– “Đụng độ vì gì?”

– “Anh ta có thằng bạn đến chơi. Thằng bạn kể chuyện nước Mỹ văn minh tiến bộ, sản xuất theo giây chuyền. Đặt lên đầu giây chuyền một con heo sống, cuối giây chuyền là những hộp thịt, vô thùng đàng hoàng, chỉ cần cho lên xe phân phối mà thôi.

Nghe chuyện, thằng con góp ý:

– “Xã hội chủ nghĩa văn minh hơn mày. Nếu đầu giây chuyền để những hộp thịt heo, cuối giây chuyền sẽ có con heo sống.”

“Tình cờ ông bố ngồi nghe chuyện. Biết thằng con kể chuyện xỏ lá, bèn nổi giận mắng con. Thằng con cãi lại, chê thủ đô xã hội chủ mà cha dẫn đi xem chẳng ra con mẹ gì cả. Thế là ông ta tuyên bố từ con. Bà mẹ thấy cha con căng quá, bèn cho con vượt biên.”

– “Vượt biên bị bắt?” Tôi hỏi.

– “Ở trại nầy, hễ ai tích cực lao động, giác ngộ học tập, anh ta cho là ngu, không thèm chơi.”

hoànglonghải

(1) Huỳnh Hữu Tuệ, du học Canada năm 1961, đậu kỹ sư rồi tiến sĩ toán, dạy đại học ở Québec, Michigan, Mascơva và Hà Nội (sau 1975), đảng viên đảng Cộng Sản Canada, chủ tịch cái gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” Canada. Thân phụ là ông Huỳnh Hữu Hiến, một thành viên của “đảng cụ Ngô” như các ông Võ Như Nguyện, Ngô Ganh, Ngô Đình Thảng, Phùng Ngọc Trưng, v.v… Anh Đặng Mậu Hùng, vì thân phụ là Đặng Mậu Tư, đi tập kết, nên việc du học của Hùng bị trở ngại. Hai người nầy là bạn học, cùng quê ở Huế và cùng là sinh viên giỏi của viện đại học Huế. Hùng có thân phụ đi tập kết nhưng lại thuộc thành phần chống Cộng, hoàn toàn trái ngược với Tuệ.

(2) Hùng cưới vợ Quảng Trị, cô Mai (em) của nhà sách Sáng Tạo. Hùng kể lại cho tôi nghe khi còn đi học, mỗi tuần, Hùng chạy xe gắn máy từ Huế ra thăm “bồ” ở Quảng Trị, cách Huế 60Km. Về sau, Hùng cưới cô nầy làm vợ.