Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 19 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Con chó của Pavlov

Bài 8

Tháng Sáu năm 1976, chúng tôi bị chuyển trại, từ Trảng Lớn, đi đâu thì… chưa biết.

Đây là đợt chuyển trại chung của nhiều “đơn vị” như L1, L2, L3 (L3 là “đơn vị” của tôi), v.v… L3 phần đông là “dân” biệt phái, bò nhứt, bò nhì, nhiều hơn bò tam (thiếu úy, trung úy, đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa).

Thiếu tá thì độc nhứt chỉ có một mình Đỗ Quan Tư, anh xuất thân khóa 13 Võ bị. Khóa nầy phần đông người ta lên trung tá, đại tá cả rồi, vì ông là “Quan Tư” nên chỉ lên tới thiếu tá thì nằm ì ở đó. Quan Tư mà! Chính tả trong Nam viết hơi… ẩu, quang thiếu mất chữ G, làm anh ta chết cứng ở “loon” quan tư, thiếu tá.  Vừa mới về L-3 ít lâu thì anh đã bị đưa đi một mình, cũng chẳng ai biết đi đâu.

Tới bây giờ thì ra đi phần đông là đại úy. Tổ 1 của tôi, ở lại chỉ có Phan Hải, trung úy và hai ông đại úy mới “biên chế” tới. Tổ 2, ở lại cũng chỉ có vài ba mạng mà thôi.

Lệnh chuyển trại đưa ra từ trưa nhưng tới chiều mới tập trung lên xe. Phan Hải đưa chúng tôi ra cổng “đơn vị”. Anh ta khóc.

Chúng tôi ngồi tập trung bên con đường nhựa, chờ lệnh. Nhiều người ngồi quanh tôi, nói đùa chơi chơ đỡ buồn.

Tôi là người hay nói đùa nhất đám, hay kể chuyện vui, chuyện “hoang” nên rất được anh em “chiếu cố” ngồi chung quanh.

Theo trại phổ biến, chuyến đi nầy là để “Các anh có cơ hội lao động, để thấy “Lao động là vinh quang”, “sớm trở về sum họp với gia đình”, v.v… Mấy tiếng nầy, nghe cả năm nay rồi, cũng chán.

Một người nào đó, ngồi phía sau tôi, nói: “Mình đi dzậy, chắc còn lâu mới được về?”

Tôi nói:

– “Phải tẩy não. Chưa tẩy não xong thì chưa được về.”

Lê Quang Dung, dân Nam bộ chính cống, nóng tính, cãi lại:

– “Tẩy con mẹ gì nữa. Học xong 10 bài rồi thôi chớ!”

Trần Hữu Bảo hỏi tôi:

– “Biết khi nào thì tẩy não xong?”

Tôi cười:

– “Khi nào mình không muốn về nữa là tẩy não xong. Cách mạng sẽ cho về.”

Một tay nào đó, bất mãn:

– “Đ. mẹ, nghe cha Hải nói chán thấy mẹ. Không muốn về nữa thì về làm gì?”

Tôi cũng cười:

– “Không muốn về mà “cách mạng” cho về thì cũng phải về. Cũng giống như mình có muốn đi cải tạo đâu! Có ai không đi nào? Tuy nhiên, khi nào mình chưa tẩy não xong mà họ cho mình về, là “cách mạng” bắt đầu thua rồi đó.”

– “Cách mạng bắt đầu thua?” Nguyễn Văn Bê hỏi.

– “Có ăn thì có thua. Nhưng tôi nói lúc đó, họ chỉ mới bắt đầu thua.” Tôi nói.

– “Khi nào thua hẳn?” Hiền hỏi tôi.

– “Từ bắt đầu tới khi thua hẳn, còn xa. Khi Mỹ đổ quân vô miền Nam là bắt đầu thua. Tới khi thua hẳn năm 1975 là mười năm. Dziệt Cộng kiên trì hơn, thua chậm hơn.” Tôi nói.

– “Thôi ông ơi! Ông nói toàn chuyện bù trớt không! Mười năm nữa còn gì là tôi!” Người lúc nãy than van.

Hiền hỏi:

-“Tẩy não là sao?”

Người nào đó trả lời:

-“Là brain washing!”

Chung cười:

-“Não chớ có phải áo quần gì mà đem ra giặt!”

Bê hỏi:

-“Anh Hải, giặt não là giặt như thế nào?”

-“Giặt gì đâu! Họ dùng phương pháp gọi là “phản xạ có điều kiện!”

Bê lại hỏi:

-“Phản xạ có điều kiện” là sao?”

Tôi hỏi:

-Năm Đệ Nhứt, ông có nghe thầy giảng về con ngựa Páp-lốp (Pavlov) không?”

-“Tụi học ban A mới học kỹ ông ơi! Ban B học qua loa, ai mà nhớ!” Bảo nói.

Chung hỏi:

-“Con chó hay con ngựa?”

-“Tụi nhớ trong sách Obré tôi học là con ngựa, sau nầy thấy sách báo người ta nói là con chó!”

Ai đó cằn nhằn:

-“Chó mèo gì cũng được. Nó có dính dáng gì tới tẩy não thì nói nghe cho biết.”

-“Nó là như thế nầy.” Tôi nói. “Ông Páp-lốp là nhà bác học Nga. Ông thí nghiệm bằng một con chó. Quan sát, ông ta thấy, khi nào cho chó ăn, thì dạ dày nó tiết ra dịch vị để tiêu hóa đồ ăn. Ông ta bắt đầu thí nghiệm bằng cách, trước khi cho chó ăn, ông đánh lên mấy tiếng chuông. Dần dà, mỗi khi đánh chuông, không cần cho chó ăn, dịch vị vẫn tiết ra. Cái điều kiện là từ thức ăn đổi qua tiếng chuông. Đó là một thí nghiệm thiên về duy vật, được làm nền tảng cho chủ nghĩa duy vật. Người ta ứng dụng thí nghiệm của Páp-lốp như thế nầy. Tù hay người sống tập thể, bọn thanh niên, trước khi ăn, người ta đánh mấy tiếng chuông như cho chó ăn. Lâu dần thành quen, người ăn nghe tiếng chuông thì thấy đói và thấy ăn ngon. Sau đó, người ta thay tiếng chuông bằng khẩu hiệu. Như ở nhà tù nổi tiếng ở ngoại ô Băc Kinh, trước khi ăn, người ta buộc tù hô to “Mao chủ tịch muôn năm”. Riết rồi thành quen, mỗi khi ăn người ta đều hô khẩu hiệu như thế. Điều kiện sinh lý làm thay đổi tư duy của con người. Trong tất cả các trại tù nổi tiếng của Cộng Sản, họ đều cho áp dụng phương pháp “phản xạ có điều kiện” nầy, để tẩy não người tù.”

-“Có thành công không?” Hiền hỏi.

-‘Cái nhà tù ở ngoại ô Bắc Kinh như tôi nói, trong “cách mạng Văn hóa”, lật Lưu Thiếu Kỳ xong, Mao cho giam Kỳ vào đấy. Kết quả là người ta đem Lưu Thiếu Kỳ đi chôn. Ai được tha mà có tẩy não được không thì tôi không biết, nhưng tôi nghe nói nhà tù ấy đã đem chôn hàng vạn người.”

&

Trung úy (Dziệt Cộng) Hồng Dư và Phan Hải đi tới. Chúng tôi làm thinh, không nói gì nữa. Anh trung úy Hồng Dư nầy phụ trách “học tập” của trại tôi.

Trước đây, anh ta cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù. “Các anh chỉ đi học tập thôi. Học xong là về.”

Tội nghiệp, anh chàng người Việt gốc Tàu nầy ngây thơ dữ. Tin tưởng tuyệt đối vào đảng. Có lần anh ta nói: “Tất cả mọi sự đều tương đối, ngoại trừ nghị quyết của đảng.”

Nghe nói sau nầy, vì là gốc Tàu, nên khi vụ “Nạn Kiều” xẩy ra, anh ta bị đuổi về Tàu. Không rõ anh ta còn cho rằng nghị quyết lệnh của đảng là đúng tuyệt đối không?

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Cuộc Đời Ngô Nghĩa

Bài 7

Các trưởng khối đi họp lúc 10 giờ sáng, tới 11 giờ thì về thông báo cho biết trưa nay “cách mạng” sẽ xử bắn Ngô Nghĩa ở phi trường Trảng Lớn.

Mỗi khối cử một hay hai người đi coi để về phổ biến cho anh em cải tạo hay. Riêng L3/ T3, “đơn vị” chúng tôi, gồm 6 khối, từ khối 1 đến khối 6 vì ở sát phi trường nên mọi người có thể ra sát hàng rào, đứng bên nầy bờ đất để coi.

Phan Hải, trưởng khối 1, yêu cầu tổ trực nấu cơm hôm nay, phát cơm sớm để “anh em đi xem” như lời “bộ đội yêu cầu”.

Trưởng khối Phan Hải nhắm bộ háo hức trong vụ xử bắn nầy. Anh ta lảnh phần ăn, ăn vội vã cho xong, rồi mặc áo đi lên khu nhà bộ đội ở.

Anh ta nguyên là trung úy chế độ cũ, thuộc Đặc Khu Saigon – Chợ Lớn, biệt phái kiểm soát ẩm thực ở nhà tù Chí Hòa.

Anh ta rất “giác ngộ Cách mạng” bởi một lý do rất dễ hiểu. Anh ta thuộc thành phần liên hệ với Việt Cộng, mà liên hệ nặng như tôi đã kể ở bài trước. Cũng vì có lý lịch như thế, anh ta thường lên chơi với bộ đội và có nhiều chuyện hay hay đem về kể cho chúng tôi nghe.

Chẳng hạn như chuyện Ngô Nghĩa sẽ bị xử bắn trưa nay.

Ngô Nghĩa, nguyên là trung úy pháo binh thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Anh ta cũng “trình diện đóng tiền đi ở tù” như mọi người. Anh ở “đơn vị” L3/T1 hay T4 gì đó, không thuộc T2 vì nếu T2 thì cách T3 chúng tôi bằng một hàng rào kẽm gai mong manh, bên nầy bên kia anh em lén lút chuyện trò qua lại được thì chúng tôi biết rõ sự việc hơn.

Theo Phan Hải thì cách đây mấy hôm, trời mới rạng sáng, Ngô Nghĩa mặc quần áo bộ đội, – Anh ta giả trang bộ đội – đi từ trại ra cổng lớn ở Trảng Lớn, khoảng đường cũng khá xa, gần hai cây số.

Trên đường đi, Ngô Nghĩa cắt giây điện thoại nối từ cổng vào bộ chỉ huy. Anh ta mang một khẩu súng CKC nhưng lại băng đạn AK.

Có lẽ anh “điều nghiên sơ hở về khâu” nầy, dễ làm cho bộ đội sinh nghi.

Khi tới cổng, bộ đội gác cổng chận anh ta lại hỏi. Anh ta trả lời không rõ ràng đơn vị bộ đội nào. Toán ở cổng gọi điện thoại vào “xác minh” với bộ chỉ huy thì không nối đường giây được. – Ngô Nghĩa đã cắt rồi, còn đâu! –

Thế là toán gác cổng giữ anh ta lại, chờ “xác minh với trên”.

Bất thần, anh ta vùng chạy ra khỏi cổng. Bộ đội đuổi theo. Ngô Nghĩa quăng lui một trái lựu đạn, loại mini. “May” là lựu đạn rơi xuống một cái hố bên đường nên chỉ làm cho một “chú bộ đội” bị thương nhẹ. Toán gác cổng tiếp tục truy đuổi, cuối cùng anh bị bắt ở khu nhà dân phía ngoài cổng lớn.

Ngô Nghĩa nhứt định không khai một lời mặc dù Quân Pháp, từ “Sư” (Sư là Sư Đoàn, – Việt Cộng hay gọi tắt như vậy) về hỏi cung rất kỹ và rất căng. Theo Phan Hải thì không bao giờ Ngô Nghĩa bị đánh vì luật pháp Việt Cộng không cho phép đánh bị can?!

Do đó, “cách mạng” không biết ai đã cung cấp súng và quần áo bộ đội. Họ cương quyết cho rằng phải có người lấy giúp súng và quần áo cho Ngô Nghĩa chứ anh ta không thể lên khu bộ đội lấy cắp được.

Cuối cùng, Ngô Nghĩa ôm một lô tội mà ra pháp trường. Nặng nhứt là tội “sát thương bộ đội”, thứ hai là “tội trộm tài sản xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt lại là trộm vũ khí và quân nhu (có nghĩa là sung và quần áo bộ đội), thứ ba là tội trốn trại, thứ tư là “tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa”, có nghĩa là cắt giây điện thoại. Với chừng đó tội, “quân pháp” đề nghị với “trên” xử tử. “Trên” chuẩn y. Vậy là trưa nay Ngô Nghĩa ra pháp trường.

Trong khi Phan Hải vừa ăn vừa kể chuyện, anh em trong tổ tôi – Tổ 1, Đội 1, Khối 1 L3-T3 – im lặng ngồi nghe. Ăn xong, Phan Hải đi ra giếng bên hông nhà, Phạm Quang Chiểu, Bắc Kỳ 54, (như chúng tôi thường gọi đùa), chỗ nằm gần sát vách trong, bên cạnh Trần Phú Trắc, người thâm trầm ít nói, nhìn anh em chỉ cười cười, phán một câu, nghe hơi lạnh mình: “Chiến dịch khủng bố bắt đầu!”

Phạm Ngọc Hiền, dân Quảng Ngãi, chỗ nằm gần phía cửa trước, đang đu đưa nhè nhẹ trên võng, ngóc đầu lên ngó Chiểu cảnh cáo: “Mi coi chừng cái miệng mi. Tau từng ở với Việt Minh trước 54 cả chục năm, tau biết họ lắm. Khi họ làm một việc chi quan trọng, họ tăng cường theo dõi để tìm mấy đứa “phản động”.

Tôi đang ngồi dựa vách, tay cầm cái ông vố “tự biên tự diễn”, bập bập mấy khói “xơ-vơn-ti-rê” (1) góp ý bằng một câu Kiều:

Ở đây tai vách mạch rừng,

Gặp ai người cũ cũng đừng nhìn chi.

Trần Phú Trắc đang nằm dài sau lưng Chiểu, buồn buồn nói:

– “Không rõ có ai biết gia đình Ngô Nghĩa ở đâu mà báo cho họ hay. Không chắc bộ đội báo tin về nhà anh ta đã bị xử bắn. Chắc rồi không ai hương khói cho anh ta.”

Hoàng Hữu Chung, người nằm kế Phan Hải, vốn là người rất từ tâm, nghe nói tới chết không ai hương khói, mặt mày trở nên thểu nảo:

– “Anh Hải nhớ câu chi trong Chinh Phụ Ngâm, nói về người lính chết trận?”

Tôi nói:

– “Bỏ đi dạy lâu, tôi quên. Để nhớ thử coi.”

Một lát sau, tôi đọc:

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.

Chinh phu, tử sĩ mấy người

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?!

Mấy câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm làm ai nấy liên tưởng đến việc xử bắn Ngô Nghĩa trưa nay, không làm cho mọi người cảm thấy bình thản như thường lệ.

Sau khi Phan Hải đi rồi, vài anh em lục tục đi coi xử bắn. Tôi lấy gối nằm nghỉ, chờ giấc ngủ trưa. Trần Hữu Bảo, nằm bên kia vách, phía cửa sau, hỏi tôi:

– “Anh Hải không đi coi răng?”

Tôi trả lời bình thản:

– “Bộ hết cái coi hay răng mà đi coi giết người!”

Ngoại trừ Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Bê, Huỳnh Văn Khánh, Phạm Ngọc Hiền và Phan Hải đi xem xử bắn, còn lại thì nằm nhà.

Lê Quang Dung, dân Nam bộ, là người ít suy nghĩ sâu xa nhứt, lên tiếng:

– “Cái thằng Ngô Nghĩa sao nó ngu, trốn trại làm chi không biết!”

Phạm Quang Chiểu nghe vậy, trả lời:

– “Mình không phải là nó, làm sao mình biết nó nghĩ gì mà cho là khôn với ngu.”

Phạm Xuân Lý, người được xem là khôn nhất tổ, khôn theo nghĩa “từng trải” góp ý:

– “Khôn dại gì thì cũng chết. Càng khôn sớm, càng chết sớm. Dại lại càng dễ chết hơn. Đằng nào cũng chết. Đùng một phát là xong.”

Tôi nói:

-“Khôn chết, dại chết, biết sống! Khổng Tử nói rồi.”

Phạm xuân Lý hỏi:

-“Thế nào gọi là biết?”

Tôi cười:

-“Ông hỏi thế thì tôi cũng chịu. Tôi không rành về đạo Nho, nhưng hồi còn trẻ, làm précepteur ở nhà ông chú họ, ông là học trò cụ Phan khi cụ Phan bị giam lỏng ở Bến Ngự, có lần tôi hỏi ông về Sở Từ, ông bảo Khuất Nguyên sai, không biết tùy thời, nên phải bị biếm, bị truất, nhảy xống sông mà tự tử.”

Phạm Xuân Lý lại nói:

-“Bọn tôi học trò trong Nam, không rành về mấy cái rắc rối nầy. Ông nói nghe chơi đi.”

Tôi nói:

-“Tôi không nhớ kỹ. nhưng năm tôi học Đệ Lục, một hôm tôi đọc “Cổ Học Tinh Hoa”, thấy câu chuyện Hứa Do – Sào Phủ tôi thích lắm.

“Vua Nghiêu nghe danh Hứa Do là người tài đức vẹn toàn, bèn đến gặp, mời ra làm quan. Hứa Do từ chối. Vua đi rồi, Hứa Do ra sông rửa tai, tức là rửa cho sạch những lời vua nói vào tai ông. Lúc ấy có Sào Phủ dắt ngựa xuống sông uống nước, nghe chuyện, ông bèn dắt ngựa lên phía trên dòng nước cho ngựa uống. Ông bảo, nghe mà rửa tai, chi bằng không nghe thì hay hơn, nghe mà rửa chỉ làm cho nước dơ mà thôi.

Lê Quang Dung nóng tính:

-“Chuyện có ăn nhập gì đâu?”

-“Có chứ! Người đời sau chê hai ông nầy là cực đoan. Khuất Nguyên cũng vậy, người ta chê: “Đời đục cả, ta trong làm sao được. Đời say cả, ta tỉnh làm sao được?” Khổng Tử bảo phải biết “tùy thời”. Tùy thời tức là biết đấy.” Tôi nói.

Dung hỏi:

-“Khuất Nguyên là ông nào?”

Tôi giải thích:

-“Người nước Sở bên Tầu, làm quan đại phu. Tính tình ông ngay thẳng, bị gièm pha, bị đuổi ra khỏi triều chính. Một hôm ông ngồi bên bờ sông, một ngư ông trông thấy, hỏi:

-“Phải Tam lư Đại phu đó không? Sao mà tiều tụy đến vậy?”

Khuất Nguyên kể chuyện mình vì ngay thẳng mà bị gièm. Nghe xong, ông lão đánh cá chê Khuất Nguyên bằng mấy câu thơ, thường gọi là Sở Từ:

                        “Sông Tương nước chảy trong veo,

                        Thì ta xuống đó rửa lèo mũ ta.

                        Sông Tương nước đục chảy ra,

                        Thì ta xuống đó để mà rửa chưn!”

“Đời đục cả, ta trong làm sao được?”

-“Nói như anh, mấy ông tướng tự tử ngày 30 tháng Tư là vì gì?” Chung nói.

-“Điều Khổng Tử nói là đời thường. Còn như việc ông nói là “Chân lý tuyệt đối”. Tôi nói.

-“Cách mạng cũng “chân lý tuyệt đối vậy?” Phan Hải nói.

Phạm Quang Chiểu hỏi: “Anh Hải nhớ hôm trung úy Hồng Dư nói ở Hội trường không?” Rồi Chiểu nói tiếp: “Cái gì cũng tương đối, ngoại trừ “nghị quyết của Bộ Chính Trị.”

Nghe xong, chúng tôi cười. Tôi nhớ hôm đó ở Hội Trrường cũng nhiều người cười khi nghe anh ta nói vậy.

-“Tui nói thiệt! Lần đầu nghe mấy ông giáo viên dạy mười bài, nói “chủ nghĩa Mác là tuyệt đối, đỉnh cao của trí tuệ loài người”, tôi nhớ ngay câu của Pascal, thầy dạy Việt Văn của tui năm tui học Đệ Lục: “Bên nầy Pyrènées là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi kể.

-“Nhưng Mác khác, Pascal khác!” Dung cãi.

-“Không đâu! Cùng hệ tư tưởng Châu Âu cả. Mác còn là “hậu duệ” của Pascal.” Tôi nói.

-“Người Tầu họ có nghĩ như Pascal không?” Dung lại hỏi.

-“Trong Cổ Học Tinh Hoa” có câu chuyện “Ngọc Bích họ Hòa” cũng tương tự như thế. Có người thợ đá, đem dâng ho vua, vua gì tôi không nhớ, một cục đá thật lớn, nói rằng trong đá nầy có ngọc quý. Vua cho là xàm tấu, phạt chặt một chân. Đến đời vua sau, ông lại đem dâng ngọc, cũng nói như thế. Vua cũng cho là xàm tấu, chặt thêm một chân nữa. Đến đời vua thứ ba, ông ta lại đem dâng. Lần nầy vua tin thật, cho đập viên đá ra. Quả thật trong đó có ngọc quý. Đời Tần Thủy Hoàng, đem ngọc đẻo thành cái “ngọc tỷ”, tưởng truyền đến vạn đời nhưng đến đời thứ ba thì nhà Tần dứt nghiệp, sau ngọc tỷ thất lạc về đâu không ai biết!”

Chung nói: “Tui à! Dâng vua làm chi, làm sợi giây chuyền cho vợ đeo có phải hơn không?”

Ai cũng cười.

-“Ý nghĩa của ngọc là chân lý, là sự thực phải không?” Lý hỏi.

-“Ngọc là chân lý, chân lý thất lạc về đâu, không ai hay. Không chắc “chân lý cách mạng” không mai một vì thời thế đổi thay.” Tôi nói.

&

Một lúc sau, tôi nêu ý kiến:

– “Đúng ra thì không nên giết. Bây giờ nhiều nước bỏ án tử hình, trên bảy chục nước trên thế giới không còn án giết người.”

Chiểu nói, giọng dài ra, mai mỉa:

– “Tư bản đế quốc mới vậy anh ơi! “Cách mạng” là “giải phóng”. Đùng một phát là “giải phóng” một mạng người.”

Tôi nói:

-“Cũng không hẳn vì họ là những nước tư bản. “Văn minh Thiên Chúa giáo” đấy. Người ta văn minh. Người ta lý luận rằng chúng ta không thể lấy đi cái ta không cho. Nhân loại không tạo ra sự sống. Dù khoa học có tiến bộ như thế nào thì khoa học cũng không thể tạo ra sự sống; không ai cho ai sự sống. Không cho thì không có quyền lấy. Sự sống là do Tạo Hóa cho, người theo đạo Thiên Chúa thì cho là Thượng Đế. Chỉ có Tạo Hóa mới lấy đi cái Tạo Hóa cho. Ta nhân danh cái gì mà lấy đi cái Tạo Hóa đã ban cho người khác?”

Chung giọng buồn bã:

– “Qua một trận giặc chết chóc tùm lum, ai sống còn tưởng là may, không ngờ chừ lại bị đem bắn! Đời vô nghĩa thiệt.”

Trắc phụ họa, cũng với giọng chán nản:

– “Đời thiệt vô nghĩa!”

Lê Quang Dung nói:

– “Anh Ngô Nghĩa nầy nên đổi tên. Không phải Ngô Nghĩa mà Vô Nghĩa.”

Phạm Quang Chiểu cười cười:

– “Không có cuộc đời nào vô nghĩa cả. Đời có nghĩa đấy nhé.”

Rồi anh ta đọc mấy câu thơ của Tố Hữu:

Nghĩa đời trong ba tiếng:

Máy điện giục gầm gừ

Chuông đạo hát vô tư

Kiểng tù khua gắt gỏng.

Phạm Xuân Lý nghe đọc thơ, cười nói:

– “Trại bữa nay thay kẻng mới rồi. Bộ đội mới đem về một thanh tà vẹt, thay cho cái mâm xe. Kẻng nầy nghe to hơn. Không muốn dậy cũng phải dậy.”

Tôi bỗng nhớ mỗi sáng, khi còn tinh mơ, trước kẻng báo thức, tôi đã thức giấc nhưng còn nằm trong chăn. Mỗi sáng, cứ giờ đó, có tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng lại. Trong cái im lặng buổi sớm tinh sương mùa đông, tiếng chuông nhà thờ tuy gióng giả mà nghe buồn lắm. Trại tù tuy đông mà người tù thì cô đơn, lạnh lẽo. Ngoài kia cuộc đời vẫn tuần tự trôi đi, trong cuộc sống mới, không rõ người đời sướng khổ như thế nào! Gia đình bây giờ cũng xa lắm, xa lắm rồi, cũng không rõ vợ con no đói ra sao!

Có khi chuông không đổ đúng giờ mà lại bất thường. Có lẽ ai đó mới qua đời. Không biết “Chuông gọi hồn ai” (2) của Hemingway có buồn như vậy không.

Ở cuối khối 6, chỗ ca sĩ Khuất Duy Trác, có cái máy điện của quân đội cũ để lại. Cứ buổi chiều, một anh lính chế độ cũ, được bộ đội thuê lại, vào cho máy chạy. Cái máy điện Mỹ cũng “giục gầm gừ” y như trong thơ Tố Hữu vậy. Tố Hữu có nghĩ rằng chính vì ông ta mà cả triệu binh lính miền Nam đang sống trong cảnh tù như ông đã từng trải. Liệu ông có nghĩ tới những ngày tù trước kia của ông mà có chút thông cảm nào cho hàng triệu người tù sau ông?

Lại cứ mỗi sáng, khi trời chưa rạng, tôi lại nghe tiếng còi xe Ford giục giã phía chợ Long Hoa, gần “tòa thánh Tây Ninh”. Cuộc đời ngoài kia vẫn cứ sinh hoạt ồn ào, giòng đời cứ trôi mà trong nầy cuộc sống như dừng lại, ngày nào cũng như ngày nào.

Những người tù ở đây, phần đông còn trẻ, sức sống còn hăng, nhiệt huyết còn nhiều nhưng tất cả những thứ ấy, “cách mạng” thấy không có ích lợi gì cho “cách mạng” cả nên để cho chúng tiêu hao dần mòn trong những tháng ngày dài chán nản, vô vị.

&

Khoảng trưa, trong khi chúng tôi đang nằm nửa thức nửa ngủ trong phòng thì nghe một loạt súng nổ phía phi trường. Có lẽ đó là tiếng súng bộ đội xử bắn Ngô Nghĩa.

Một lát sau, tôi lại nghe tiếng người nói lao xao phía sau nhà cũng như ở sân trước. Mấy anh em đi coi xử bắn về đang bàn tán gì đó.

Mới vào nhà, Hoàng Hữu Chung vừa cởi áo vừa kể lại câu chuyện Ngô Nghĩa bị bắn, giọng sôi nổi:

– “Cha nội ni chì thiệt. Đi ra chỗ bị xử tử mà cha tỉnh bơ, làm như đi dạo phố.”

Phan Hải cũng vừa về tới, góp ý:

– “Tới phút cuối, sau khi từ trên xe xuống, “Quân Pháp” hỏi chả một lần chót. Nếu khai ra ai đưa súng và quần áo cho chả thì sẽ tha chết. Chả lắc đầu, không nói chi hết.”

– “Hèn chi tôi thấy thằng chả lắc đầu mà không biết chuyện chi. Chắc Ngô Nghĩa có hứa gì với “chú bộ đội” nào đó. Anh ta giữ lời hứa, chẳng thà chết chớ không chịu khai tên ra.” Phạm Ngọc Hiền nói.

Phan Hải thuật lại:

– “Trước khi bắn, anh ta không chịu cho bịt mắt. Bộ đội phải lấy cái bao cát rộng trùm lên đầu anh ta. Hai tay bị trói, anh ta lắc mạnh cái đầu cho cái bao cát văng ra nhưng không được.”

Chung hỏi:

– “Hình như anh ta không chịu quì?”

– “Không”. Phan Hải nói. “Hai bộ đội phải vật anh ta xuống rồi trói vào cọc bắn. Vậy mà anh ta cứ rướn thẳng người lên. Lợi dụng lúc ấy, Trung Úy Dư ra lệnh bắn, một loạt đạn ghim vào ngực anh ta. Khi đó, anh ta mới gục xuống, đi luôn. Trung úy Dư bắn phát ân huệ cũng vô ích, anh ta đã chết rồi.”

– “Không biết anh ta có được cái hòm không?” Hiền hỏi.

Phan Hải trả lời:

– “Sức mấy. Bộ chỉ huy bảo lấy tấm chiếu mà bó lại. “Phản động, chống phá cách mạng” sức mấy có hòm mà chôn. Có chiếc chiếu là may rồi.”

hoànglonghải

(1)-Trước khi “sập tiệm” tôi thường hút “Seventy nine”. Bây giờ không còn thuốc lá nhập, gia đình chỉ gởi cho thuốc rê. Tôi gọi đùa là “xơ-vơn-ti-rê”. Ông điếu (ống vố) thì tôi lấy một khúc củi mà tự làm lấy.

(2)-“To whom the bell rings?” Tác phẩm nổi tiếng của Hemingway

Anh Hay Cự

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Anh Hay Cự

Thứ Bảy rồi anh Hay Cự, nhà báo, kêu tới nhậu. Tui hỏi: “Chị Hai có ở nhà không anh?”. Ảnh trả lời: “Nó giận tui, nó ôm đồ về nhà em gái nó rồi. Không có mấy bả, mình nhậu phẻ!”.

“Rồi hổng có chỉ ở nhà; ai làm mồi nhậu cho anh em mình?”. “Tui chớ ai! Bộ chú mầy không biết mấy tay khoái nhậu như anh đây, đứa nào cũng biết vài độc chiêu làm mồi nhậu rất bắt hay sao?”.

Anh nói tiếp: “Trời Melbourne đang chính Thu, chưa lạnh lắm, hai anh em mình uống bia đi! Có gỏi tai heo rồi. Ðể anh làm thêm món nghêu xào XO là đủ. Nhậu xong, nếu anh em mình còn đói. Mỗi đứa làm thêm một tô mì gói là phẻ re như con bò kéo xe”.

Nghe cái chương trình nhậu hấp dẫn, khoái quá tui bèn vác càng tôm lò mò bò tới. Tới không cần bấm chuông gì ráo; vì cửa cái đã rộng mở để chào đón người khách viễn phương ba ngày đêm nổi lên sình trương.

Anh Hay Cự đang lui cui trong bếp. “Làm gì đó anh?”. “Nghêu xào XO”. Ảnh vớt nghêu đang ngâm trong bồn rửa chén ra, chà sạch vỏ. Tui tiếp ảnh lấy hành lá và thêm vài trái ớt đặt lên cái thớt rồi xắt nhỏ. (Tui khoái ăn cay lắm. Vì nghe ăn ớt, nhứt là ớt Mexico cay thấu trời, dù món mà bao tử của mình không quen mình không bao giờ bị Tào Tháo rượt.)

Anh Hay Cự rót dầu ăn vào chảo. Ðợi dầu nóng trên lửa lớn, ảnh cho hành lá, ớt đỏ vào đảo đều chừng 2 phút. Xong ảnh trút nghêu vào. Rồi thêm dầu hào, nước sốt XO mua ở shop Tàu. Xong ảnh bớt lửa. Nghêu nó há vỏ ra. Thêm hành lá, ớt và vắt chanh vào. Cầm chảo đổ nghêu ra một cái dĩa trẹt bành ky nái. Khói bốc lên nghi ngút. Anh còn có bốn cái giò cháo quẩy, kéo cắt khúc, để chấm với nước sốt nữa chớ.

Té ra làm đồ nhậu dễ ợt. Cái gì ngoài chợ cũng có. Mua về đổ vô nồi; chờ nó chín rồi xực. Bấy lâu nay em yêu nấu ăn, tui lò mò xuống bếp tính học lóm nghề là em đuổi tui lên. Em nói: “Ðàn ông, con trai vô bếp làm gì?”. Tui khờ, cứ tưởng em yêu không muốn mặt tui dính lọ nghẹ. Ai dè sau nầy, tui mới khám phá ra là em cố ý cho tui “mù” nấu ăn. Em giữ rịt cái lợi thế vua làm bếp. Ðể tui sợ đói mà phải ngoan ngoãn nghe lời. Tui mới hơi hơi cà chớn là em hăm mẻ răng: “Mai tui về với má tui”. Nghe vậy, tui run lên bần bật. Nó bỏ mình đi rồi; ai nấu cơm cho mình ăn? Thế nào cũng đói chết nhăn răng. Cho nên em đặt đâu tui ngồi đó. Biểu cười là cười. Biểu khóc là khóc. Không dám “ngựa” vòng vòng. Cái vụ độc quyền, thiếu cạnh tranh khổ lắm mấy anh ơi! Chỉ trung thành, cúc cung phục vụ duy nhứt một con vợ, không dám mèo chuột gì ráo thì trước sau cũng bị con vợ nó đì. Con vợ giống như con… chí, nó trèo lên đầu!

Xong, hai anh em dọn ra một bàn ê hề. Nhậu tới Tết Congo còn chưa hết. Bia khui lốp bốp. Gắp miếng giò cháo quẩy, chấm nước sốt XO, tui nhai ngồm ngoàm. Chơi thêm một ngụm, bia trôi qua cái cần cổ nghe cái ót. Tui bèn đi ‘botte de saut’ vô đời tư của ảnh: “Chỉ giận chuyện gì mà bỏ nhà ra đi để anh cu ky một mình vậy?”. Hớp một ngụm bia cũng nghe cái ót, bọt bia dính trắng hàng ria mép, ảnh thuật lại: “Tháng trước, hai vợ chồng tui đi chợ Footscray. Con vợ tui thấy một chiếc kiềng có đính kim cương tuyệt đẹp, chưng trong tủ kiếng của một tiệm vàng. “Anh, anh! Vô tiệm coi nó một chút đi anh!”. ‘Chìu’ vợ, tui bước vào dòm; nhưng thực sự không muốn mua vì cái kiềng đó mắc tiền quá. “Em yêu, một ngày nào đó anh sẽ mua nó cho em mà”.

Một tháng trời trôi qua. Rồi hôm qua, bả hổng biết tui trốn đi đâu mất biệt. Cực kỳ giận dữ, em gọi điện thoại cho tui: “Nè, ông đang ở cái chỗ quái quỷ nào vậy?”. “Em yêu! Em có nhớ cái tiệm vàng nơi em đã thấy chiếc vòng cổ kim cương và em rất thích nó hay không? Lúc đó anh không có tiền và anh đã nói, một ngày nào đó nó là của em!”.

“Anh yêu! Em nhớ chứ!”. Em vừa trả lời vừa mỉm cười sung sướng. “Anh đang ở trong cái quán rượu sát bên tiệm vàng đó!”.

Rồi khi ngà ngà, đã đủ đô, tụi lội bộ về. Thì trước sân nào thấy bóng người. Hoa đào năm trước còn cười gió đông. Vô nhà, tui thấy trên bàn ăn có tờ giấy. Trên đó nguệch ngoạc vài hàng gởi anh trìu mến: “Một đi không trở lại. Cu ky một mình mạnh giỏi nhe!”.

“Nhát ma tui hả?”. Giận chồng xách gói ra đi. Chồng theo năn nỉ, tù ti trở về” Năn nỉ giờ hơi sớm. Mình nhậu hết đồ trong tủ lạnh cái đã rồi tui tính sau!

o O o

Vậy là hai đưa uống tì tì vì không biết chuyện gì để tán dóc. Cuối cùng thì rượu vô lời ra. Anh Hay Cự kể một chuyện đùa, mà Úc gọi là joke.

“Putin chết và xuống địa ngục! Sau một thời gian, Putin có hạnh kiểm tốt nên được quỷ sứ cho đi phép một ngày. Putin nhớ nhà bèn về lại Moscow. Putin vào một quán rượu, gọi một ly vodka và hỏi người pha chế: “Crimea có phải là của chúng ta không?”. “Vâng, Crimea đúng là của chúng ta”. “Và Donbas?”. “Cũng của chúng ta”. “Và Kyiv?”. “Dà cũng vậy”.

Hài lòng, Putin cạn ly và hỏi: “Cảm ơn, tôi nợ anh bao nhiêu?”. “5 Euro”.

Vốn trì độn, hơi ngu, tui ngẫm nghĩ hồi lâu mới hiểu hết cái ý nghĩa thâm trầm của 5 Âu kim. Tui phá lên cười ha hả. Nước bia xém văng trúng mặt của ảnh. Né qua một bên, anh Hay Cự hỏi khó tui: “Chú mầy có biết trong khi những người công chính trên toàn thế giới chửi Putin tơi bời vì xua quân qua Ukraine giết ông già, bà cả và con nít thì tại sao CSBV lại ủng hộ tên Putin đồ tể?”. Tui trả lời xụi lơ: “Thú thiệt là tui không biết sao kỳ quái như vậy?”.

Anh Hay Cự cắt nghĩa nghe rất hợp lý: “À! Hồi xưa Nga ủng hộ ta cướp nước VNCH. Giờ Nga cướp nước Ukraine ta phải ủng hộ lại chớ?”.

Anh Hay Cự có cái tật xấu là nghe ai nói gì trên Facebook trái ý anh là ảnh hay cự lại. Chính vì vậy ảnh có cái biệt danh là Hay Cự. Chớ thực ra anh thứ Mười tên Cu. Anh Mười Cu (nghe hết hồn hè) lần nầy không cự (mừng quá): “Anh cũng nghĩ y như chú”. Chiều nay tui đi mua vé số mới được!

Anh Hai Chữ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Anh Hai Chữ!

Lần đầu gặp, ảnh tự nổ bùm bùm: “Tui là nhà văn Hai Chữ”. Tui nghe ba xí, ba tú tưởng là nhà văn ‘Hay Chữ”.

Thấy tướng thằng cha nầy phèn hết biết mà có vẻ phách, mặt câng câng thấy ghét, nên tui nói:  “Chữ Việt thiên la địa võng, tùm lum, tà la! Học cả mấy đời còn chưa biết chữ nào trúng, chữ nào trật, kể cả mấy ông nhà văn bán chữ mà ăn.

“Thi Bá” còn không dám vỗ ngực ta đây huống chi anh chỉ là ‘Hà Bá’? Anh viết làng nhàng vài bài! Ðược báo đăng (không trả tiền nhuận bút) mà mừng muốn chết. Rồi mua cả trăm tờ đem tặng tùm lum, nhứt là cho mấy em, để khoe. Tui hỏi thiệt nè: Anh có hay chữ thiệt hay không vậy cha nội?

Nghe tui nói xỏ, xài xể nặng nề như vậy mà anh ‘Hai Chữ’ không giận lẫy sẩy cùi gì hết ráo; mà còn dám xưng ‘qua’ với tui nữa chớ?

‘Giả’ cười khèn khẹt như Tôn Hành Giả đáp lại rằng: “Chị của chú, tức con vợ của ‘qua’ hồi chưa cưới, nó cũng cà nanh, cà chớn và cà chua như chú vậy.

Nó hỏi ‘qua’ vầy nè: “Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời: Nội Nam Kỳ lục tỉnh có mấy cây cầu, anh biết không?”

“Thấy em hỏi tức, anh đáp phứt cho thông. Nội Nam Kỳ lục tỉnh, có bảy cây cầu: Cầu Phú, cầu Quới, cầu Ninh, cầu Lợi, cầu Tiền. Cầu cho cha mẹ song tuyền. Cầu cho anh với bạn kết nguyền trăm năm!”

Em yêu ‘xí’ một cái dài thòng: “Hổng biết thì nói hổng biết mới là biết! Chạy vòng vòng né không hè! Người ta hỏi cầu là danh từ: chiếc cầu. Còn anh trả lời là: cầu danh, cầu tên tuổi, cầu lợi, cầu tiền, cầu cưới vợ đẹp như tui. Cầu đó là động từ nhe cha nội!”

Vậy mà dám vỗ ngực ta đây khoe ta là ‘Hay Chữ?” Làm như anh giỏi cỡ Cao Bá Quát (1809-1855). Dám khoe thế gian chỉ có 4 bồ chữ, anh chiếm hết 2 bồ?

Lúc đó, ‘qua’ từ tốn bằng bốn lần làm phách, cười khè khè: “Cô Hai bị bịnh tự kỷ văn chương rồi. Cứ nghĩ văn chương mình là hay, là giỏi không hè? Còn Cô Ba, Cô Tư, Cô Năm nữa mà chi?

(Thâm ý của ‘qua’ là hù nó: “Dê em không đặng thì con sáu, con bảy, con tám, con chín bờ đò (xin đừng nói lái) nữa mà chi? Ế chổng mông bây giờ! Ðừng có chảnh!)

Thực ra, tên của ‘qua’ là ‘Hai Chữ’. Chẳng qua, ‘qua’ là con đầu lòng nên thứ hai. Nhà có điền cò bay thẳng cánh; chó chạy cong đuôi miệt Bảy Ngàn, Kinh Xáng Xà No đó.

Tía là Cai tổng Ruộng, Ðồng Văn Ruộng. (Mặc dầu họ Ðồng nhưng nhà điền chủ không có lan can gì với tướng VC Ðồng Văn Cống đâu nhe bà con)

Hồi Má sanh ‘qua’ ra, Tía nói nhà mình giấy xăng bộ lư không thiếu; chỉ thiếu cái học, cái chữ. Con trai là phải lót chữ văn. Thôi đặt nó tên ‘Chữ’. Văn là phải có Chữ!

Ðể từ rày về sau tá điền đong lúa thiếu, đong lúa ăn non, lúa lép không dám nói lén sau lưng Cai tổng Ruộng giàu mà dốt. Tụi tá điền một chữ bẻ đôi nó cũng không biết mà dám lươn chê lịch, dám cười tui.

Gặp con mình, tá điền phải xá xá: “Bẩm Cậu Hai Chữ”.  ‘Hay Chữ’ thì nghe càng khoái.

Cự cãi như vậy nhưng cuối cùng em cũng ưng tui; vì Tía tui làm Cai tổng Ruộng mà. Em nói: “Ưng thằng ngu mà giàu dễ xài hơn là ưng thằng khôn nhưng chỉ có cái ‘đít không! Nghèo rớt mùng tơi (không có tới cái mùng rách) thì nói chi tới tiền. Mà không có tiền làm sao mà sống? Một túp lều tranh hai quả tim vàng? Hết gạo, hai trái tim vàng đem đi cầm được hông?

Riêng ‘qua’ trộm nghĩ thời nào cũng vậy: “Nghèo là ngu hè!”. Tui cự lại: “Ê! Nói vậy đụng chạm tới tui nhe!” Anh Hai Chữ cười khèn khẹt hỏi: “Vậy anh nghèo mà cái trí khôn anh cất ở đâu? Ðưa ra coi chơi!”

Bị chê nghèo vì ngu, tui tức quá hỏi đố Hai Chữ: “Anh biết phát minh lớn nhứt của nhân loại là gì không?”

Hai Chữ đáp: “Lửa”.  “Tầm bậy nè! Trước khi có lửa con người vẫn ăn thịt sống. Quan chức CS nhỏ lớn trong nước giờ tụi nó ăn thịt sống, báo đăng hà rầm, anh không biết hay sao? Thiệt là chậm tiêu quá!”

“Cái phát minh quan trọng nhứt của con người là chữ. Không có chữ, con người sẽ trở về thời mông muội, thời ăn lông ở lỗ. Con người sẽ ngu toàn tập! Phải hông nè?

o O o

Anh Hai Chữ phán rằng từ Hán Việt tam sao thất bổn thì cũng còn châm chế được đi. Ngay cả có vài chữ người địa phương khác xài, tui mà hiểu được chết liền.

Như hồi xưa trong Nam mình dùng chữ ‘chăm bẵm’ là chăm chú, không xao lãng. Chăm bẵm làm việc suốt ngày. Sau nầy mấy tay ‘Bake 75’ vào dùng chữ ‘chăm bẳm (hoặc chăm bẵm, hỏi ngã lung tung xèn) như: “Thằng bé được cả nhà ‘chăm bẳm’ thì lạ quá?”

Ðó là chuyện ngoài Miền Bắc, còn chuyện ở Miền Trung, ông Sơn Nam có thuật lại câu ru em là: “Ru em em théc cho muồi. Ðể Mẹ mua bánh chợ Truồi em ăn.”

Trái chuối chín quá xá chín thì gọi là chín muồi. Muồi còn có nghĩa là ‘muồi’ mẫn. Xuống vọng cổ ‘muồi’ tận mạng. Còn tình ‘muồi’ là tình hết biết trời trăng gì rồi!

(Dù Tía có đem em ra treo tại cột đình. Ðứt dây rớt xuống; thương mình em vẫn thương!)

Truồi tên một cái chợ, tên một vùng đất ở Thừa Thiên thì ai cũng đoán ra được. Còn ‘théc cho muồi’ là gì?

Một bà Huế, ở kế nhà ông Sơn Nam, giải thích: “Théc là khóc, đứa bé théc là khóc lớn tiếng. Sài Gòn, U Minh quen với khóc théc (?!)

Tuy là người Huế nhưng bà Huế nầy cắt nghĩa chữ ‘théc’ trật lất. Hổng lẽ ru em để em théc cho muồi, để em la làng chói lói hay sao chớ?

Hổng phải như vậy đâu! Từ điển Phương ngữ Huế cắt nghĩa ‘théc’ là ngủ. Như vậy ‘théc cho muồi’ là: “Cưng ơi cưng ngủ cho say. Mẹ đi chợ Truồi mua bánh về cho cưng ăn”. Thằng cu Tí nghe dụ khị bánh như vậy chắc miệng nó sẽ nhóp nhép rồi chìm vào cơn mộng đẹp!

Kết luận ‘théc’ không phải là khóc la lớn tiếng như thành ngữ ‘thét ra lửa’ của tướng Hòa Hảo Năm Lửa đâu nhe!

Nghe cha Hai Chữ biện giải tới đây tui đã ‘ngộ’ ra rồi. Nhưng tui cũng giống như một số bà con mình có bao giờ mở miệng ra khen ai bao giờ đâu nè (?!) Tui vẫn cố chấp giữ rịt cái quan điểm cà chớn của mình hỏi lại anh Hai Chữ là: “Phải vậy hông cha?”

Hèn chi cách đây không lâu, có một độc giả ký là “Em yêu” nhào vô “Facebook” phê tui vầy nè: “Tác giả rất cứng đầu! Dạy hổng bao giờ nghe” Té ra đây là lời phê của “con vợ tui” đó nhe! He he!

Bông hồng xám

Hồ Đình Nghiêm

Bông hồng xám

Hồ Đình Nghiêm

Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.

– Một trăm.

Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.

– Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su.

Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.

– Cho tao một điếu. OK?

Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).

Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!

Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.

– Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?

– Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.

– Đù má em.

Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…

– Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?

– Có lẽ.

– Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.

Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.

– Trên đó phải không? Hắn hất hàm.

– Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.

Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.

– Lẹ lên cưng.

Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.

– Nóng bức quá hả?

Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.

– Đưa tiền đây.

Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.

– Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?

Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.

– Chưa cởi đồ ra sao?

Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.

– Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.

Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.

– Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.

Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.

– Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.

– Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.

– Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.

Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:

– Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.

Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.

Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.

– Đi bộ hả? Thôi bai nghe.

Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.

– Về rồi à? Có sướng không?

Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.

– Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…

Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.

– Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.

– Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.

– Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.

– Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.

– Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?

– Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?

– Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.

– Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?

– Mày câm mỏ đi.

Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.

– Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.

– Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?

Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.

– Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!

Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?

– Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.

– Cần tui phụ cái gì không?

– Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.

– Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…

Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.

– Mày có tin là tao sẽ giết mày không?

– Vì miếng ăn hay vì đàn bà?

Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.

– Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.

– Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.

– Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?

– Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!

– Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?

– Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.

Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.

– Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.

– Không có.

– Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.

– Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?

– Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.

– Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!

– Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.

– Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.

– Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!

Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:

– Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!

Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.

– Uả, lại là mày nữa sao?

Con Nancy từ hẻm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.

– Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?

– Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.

– Cái gì? Mày nói sao?

– Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?

– Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.

– Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.

– Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!

– Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?

Con đĩ ngựa cười ré lên:

– Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.

Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.

Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.

– Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?

– Hoành thánh mì.

– Thêm gì khác? Nước trà nhé?

– Hầy. Dậm xà.

Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.

– Lị còn ở chỗ cũ không?

Hắn hỏi. A Hính đáp:

– Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?

– Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?

– Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?

– Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.

– OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.

– Li quả là hảo bằng hữu!

– Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.

Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:

– Lị làm ở đây có khá không?

– Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!

– Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.

– Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?

– Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.

– Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!

Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?

Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.

– Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.

Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.

– Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?

– Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.

– Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?

Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.

Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.

Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:

– Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!

– Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?

– Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!

Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.

– Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.

– Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.

– Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?

– Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.

– Nó có dẫn xác về bất tử không đó?

– Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.

– Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.

– Là sao?

– Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mổi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…

– Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?

– Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.

– Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.

– Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.

– Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.

– Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?

Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.

– Lại là mày, thằng khốn kiếp!

Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.

– Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!

– Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…

– Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?

Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.

– Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.

– Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.

– Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.

– Thằng chó chết.

– Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?

– Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.

Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:

– Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.

– Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.

Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!

Hồ Đình Nghiêm

Bản nháp

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Bản nháp

Hồ Đình Nghiêm

Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.

Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.

Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!

Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!

Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?

Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.

Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!

Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!

Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!

Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.

Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.

Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.

Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.

Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?

Tên em là chi, anh quên hỏi?

Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.

Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.

Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?

Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…

Rồi răng nữa?

Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.

Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!

Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?

Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?

oOo

Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!

Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!

Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.

Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.

Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.

Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.

Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.

Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.

Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.

Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 39

Sau chuyến đưa má tôi sang Paris gặp ba tôi, Rob và tôi lại sang đó một lần nữa. Chúng tôi tới Paris vào giữa mùa đông giá buốt. Không có tuyết trên mặt đất, nhưng lề đường trơn trợt. Người đi đường mặc nhiều lớp áo. Những người vô gia cư phải chun vô các nhà ga xe điện ngầm để tránh mưa giờ lạnh lẽo. Những người hành khất nầy dù vẫn nguyền rủa trời đất không tiếc lời, vẫn kéo mấy đứa nhỏ ra ngoài để ăn xin. Tôi cho đứa nhỏ 5 Francs, thể là cả đám chạy ùa theo tôi, nhưng tôi đành lắc đầu từ chối. Đám con nít la ó um sùm lên, rồi chạy đi tìm người khác để xin tiền.

Khi còn ở Washington, trước khi bay sang Pháp. Rob hỏi tôi có muốn ở khách sạn Sheraton như lần trước không? Tôi cho biết là tôi không muốn trở thành khách quen của khách sạn đó, vì vậy lần nầy tôi ở khách sạn khác. Sau khi đi loanh quanh một chút và ăn trưa, tôi bắt đầu làm việc. Tôi kêu điện thoại đến trụ sở của phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng nói chuyện với Phan Thanh Nam.

Nam nóng lòng muốn gặp tôi ngay, nhưng tôi cho ông tôi phải đi đặt hàng trước rồi mới gặp ông được.

Tôi nói dối như vậy để ông khỏi nghi ngờ. CIA quên giúp cho tôi một “cover”, nghĩa là cho tôi đóng một vai gì để tôi đi đi lại lại Paris như đi chợ. Tôi biết chút ít về chén dĩa kiểu, nên một lần tôi nói cho những người Cộng sản ở Paris, nghề của tôi là nhập cảng chén dĩa của Pháp và Anh Quốc. Hơn nữa, họ nghe tới cái nghề chán phèo nầy, dĩ nhiên không ai thèm chú ý chuyện của đàn bà.

Tôi gọi tới nhà Mimi, vợ chưa cưới của Phạm Gia Thái. Má của Mimi cho biết, tôi có thể gặp Thái ở khách sạn Lutèce, một nhà trọ do chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà quản lý trước khi chiến tranh chấm dứt. Bây giờ là tài sản của chánh phủ Hà Nội và Thái cai quản nơi tạm trú cho các sinh viên Việt Nam du học.

Sau khi tiếp xúc với hai nơi đó, tôi ngủ một giấc để chỉnh lại giờ giấc vì Paris cách Washington 6 tiếng đồng hồ. Sau đó, tôi sửa soạn để đi gặp Rob, như chúng tôi đã định từ trước. Nhớ lời ông dặn, tôi phải hết sức thận trọng, vì lần trước tôi đã công khai tiếp xúc với các cán bộ của chánh phủ Hà Nội. Như vậy, các nhân viên của cơ quan mật vụ Pháp có thể nhận ra tôi. Tôi phải tìm cách đánh lạc hướng họ, như đến một thẩm mỹ viện, hay bất cứ nơi nào đó, cho tới khi chắc là mình không bị theo dõi, thì mới tới chỗ hẹn.

Lần nầy, tôi quyết định không để lại chìa khoá cho nhân viên văn phòng nữa, và cũng không tới hỏi xem có thơ từ gì không. Tôi làm như vậy để phòng hờ, nếu có ai rình rập, không thể biết tôi hiện ở đâu. Rob tất nhiên biết tôi ở đâu, nhưng tôi không bao giờ biết phòng của anh. Tôi nghĩ rằng đó là luật lệ của cơ quan, cũng có thể đó là sự cẩn thận riêng của anh ta. Tôi cũng phớt tỉnh những việc lặt vặt đó. Thiệt ra, nếu ở địa vị ông, tôi cũng phải sợ con gái của ông đại sứ của MTGPMN.

Ngay hôm đầu tiên đi ra ngoài để gặp Rob, tôi thấy có hai người đàn ông Pháp khả nghi ngồi ở phòng đợi của khách sạn. Họ ngồi cách xa nhau. Tôi không rõ họ có phải là điệp viên của Pháp không, nhưng tôi không muốn họ theo dõi tôi từ đường nầy tới đường khác trong thành phố Paris. Do đó, tôi phải đóng vai khách du lịch, hỏi nhân viên văn phòng về chuyện xe cộ để đi thăm thành phố. Rồi tôi cố ghi nhớ gương mặt một tên khả nghi. Tôi vào một tiệm bán đồ kỷ niệm và chờ cho hai tên đó bỏ đi. Nhưng mười phút sau họ vẫn ngồi lì ở đó.

Tôi đành vào tiệm uốn tóc trong khách sạn để làm tóc. Một tiếng đồng hồ sau, tôi ra khỏi tiệm, thấy ghế của hai tên khả nghi hồi nãy có hai người đàn bà Ả Rập ngồi. Tôi cũng chỉ đoán là đàn bà Ả Rập thôi, chứ đâu có biết họ có thật là Ả Rập không, sau tấm vải đen che mặt của họ.

Khi tôi đi về phía trạm xe điện ngầm, thì trông thấy hai thằng Tây khả nghi đi theo tôi. Tôi đi chậm lại để chờ họ. Khi họ tới gần, tôi nhìn thẳng vào mặt họ, rồi hỏi đường đi tới tiệm Printemps, một tiệm bán tạp hoá lớn.

Họ luống cuống, ngạc nhiên và giận dữ, vì tôi đã chặn đường họ lại. Một tên cáu kỉnh trả lời bằng tiếng Pháp:

“Đi mà hỏi cảnh sát, đừng làm mất thì giờ của tôi”.

Tôi phản ứng bằng tiếng Anh:

“Chó săn”.

Họ liền vội vã bỏ đi mất. Tôi thong thả một mình đi về phía trạm xe điện ngầm.

Vì phải kiếm cách “thanh toán” hai tên khả nghi đó, tôi đến chỗ hẹn với Rob trễ bốn mươi lăm phút. Tôi phải đi hai chuyến xe điện mới tới trạm Trocadero, rồi đi bộ tới viện bảo tàng Museum of Moder Art để gặp Rob. Theo lời dặn dò trước của chúng tôi, nếu tôi thấy anh đang ngồi xem báo và hút ống điếu thì tôi có thể tới gặp anh, có nghĩa là từ xa anh nhìn kỹ, tôi không bị theo dõi thì cứ tới gặp anh và bắt tay tự nhiên. Nếu không, có thể ông đã thấy tôi đang bị một kẻ khả nghi theo dõi, tôi phải làm ngơ và đi thẳng.

Tôi thấy Rob đang ngồi trên một bực thềm trước viện bảo tàng, miệng ngậm ống điếu và đang đọc tờ báo Pháp. Tôi mừng quá, vì từ nãy giờ đi bộ mỏi chân rồi. Thấy tôi, anh nói:

“Ê nhỏ, an toàn rồi, không có cái đuôi sau lưng. Mà sao trễ quá vậy?”.

Tôi cho ông biết tôi bị hai thằng Tây theo dõi, phải tìm cách chặt đứt hai cái đuôi dài đó, rồi mới leo lên xe điện được. Chúng tôi tôi vào một tiệm café nhỏ để trao đổi một số tin tức mới. Khách trong quán phần lớn là mấy ông già ngồi chơi bài quanh những chiếc bàn nhỏ. Sau khi nói chuyện, Rob đi bộ đến cầu D’Iena, còn tôi kêu taxi về khách sạn. Tại đây, tôi mua cho Phan Thanh Nam một chai Johnny Walker đen.

Nam tỏ vẻ rất thích khi nhận quà của tôi. Ông cất ngay rượu vào tủ, như cất đồ quý, rồi mời tôi vô phòng ăn trong bếp. Ông mở một chai rượu chát để cùng uống với tôi. Ông nhớ lại lời hứa của tôi trước kia, là tôi sẵn sàng uống rượu với ông khi vắng mặt má tôi. Trong khi ông rót hai ly rượu, tôi để ý túi áo của ông có một gói thuốc lá hiệu Dunhill.

Khi ra khỏi xe taxi ở trước cửa trụ sở của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi không còn thấy lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng, mà thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng của chính quyền Hà Nội. Tôi hỏi Nam, tại sao có sự thay đổi như vậy, ông liền trả lời:

“Mỹ Dung, cháu phải nhớ rằng nhiệm vụ của Mặt Trận Giải Phóng đã hoàn tất. Bây giờ cả hai miền Nam Bắc đã thống nhứt”.

Tôi nghe lời ông, như một bài tuyên truyền hơn là một lời giải thích.

“Chú Nam, trên cương vị một nhân viên cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng, chú tán thành việc thống nhứt mau lẹ như vậy sao?”.

“Còn chờ đợi gì nữa?”.

Tôi liền nhắc lại lời ba tôi cho biết Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải có thời giờ để giới thiệuChủ nghĩa Xã hội với dân chúng miền Nam, vì nếu thay đổi đột ngột sẽ gây phản ứng không hay trong lòng người dân.

“Cháu nói vậy là có ý gì?”.

Tôi đáp ngay:

“Như chú đã rõ, dân miền Nam của mình không có nhiều ý thức về chính trị. Hầu như ai cũng biết Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng rất ít người tin rằng Mặt Trận đã giải phóng miền Nam. Người miền Nam cho rằng họ là nạn nhân của Giải Phóng. Bây giờ, nếu chánh phủ Hà Nội quyết định thống nhứt ngay hai miền, thì các cán bộ ngoài Bắc sẽ vô cai trị miền Nam. Điều nầy sẽ làm dân chúng sợ hãi và bất mãn trong lòng. Họ cho rằng miền Nam bị miền Bắc xâm chiếm hơn là giải phóng”.

Nam uống một hơi cạn sạch ly rượu, rót thêm một ly khác, rồi nhìn tôi bằng cặp mắt bực mình, khó chịu, ông nói:

“Vậy là cháu bị bọn đế quốc tư bản phản động nhồi sọ rồi. Thực sự không phải như cháu nghĩ đâu!”.

Tôi nói:

“Chú Nam ơi, cháu chỉ nhắc lời của bác Hồ thôi. Những ý nghĩ của dân miền Nam đều đáng quan tâm. Tương lai của đất nước nằm trong tay những người mà các chú cai trị, không nằm trong tay các chú đâu”.

Ông liền hạ giọng nói nhỏ:

“Mỹ Dung, cháu nghe chú nói đây. Chú nói riêng với cháu thôi. Chú khuyên cháu đừng nói cho ai nghe ý kiến vừa rồi của cháu. Người ta là sẽ hiểu lầm cháu đó”.

“Nhưng cháu tin là chú hiểu cháu, vì chú là người của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà!”.

“Cháu ơi, trong khi vắng mặt ba cháu, cháu đã giao du với những người không tốt, nên cháu mới có cách suy nghĩ như vậy. Nhưng, chú hy vọng từ nay có chú hướng dẫn, cháu sẽ hiểu biết hơn”.

Nói xong, ông nâng ly rượu để cụng với ly của tôi và nói:

“Mừng cho nước Việt Nam độc lập và thống nhứt!”.

Tôi miễn cưỡng nâng ly lên, nhưng đặt ly xuống bàn ngay mà không uống rượu. Tôi cúi mặt xuống để tránh cái nhìn ông.

Trong khi đó, Nam đi vòng sang phía tôi ngồi, rồi nghiêm trang hỏi:

“Dung, cháu cho chú biết chồng cháu có thắc mắc gì vế cháu sang bên nầy không?”.

“Anh ấy rất buồn vì cuộc chia tay của ba má cháu”. Tôi trả lời trật đường rầy, vì tôi không muốn nói láo.

“Vậy chồng cháu có hỏi cháu đã gặp những ai trong phái đoàn của Mặt Trận không?”.

“Anh ấy hỏi cháu có đưa ba má cháu đi ăn tiệm không? Má cháu và cháu ở đâu? Anh ấy cũng hỏi ba cháu có hỏi gì vì sống của vợ chồng cháu không?”.

“Chồng cháu nghĩ sao về cuộc giải phóng?”.

“Lần trước, anh ấy nhờ cháu chuyển lời nói với ba cháu là anh ấy thành thật hy vọng dân tộc Việt Nam sớm hưởng hoà bình thật sự”.

“Hai vợ chồng cháu không nói gì về chánh trị sao? Chồng cháu nghĩ gì về xã hội chủ nghĩa?”.

“Tụi cháu nói nhiều đến chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam. Anh ấy hiểu được những đau buồn của cháu. Anh ấy cũng biết cháu khao khát hoà bình cho Việt Nam lắm. Ảnh kính trọng ba cháu và rất quý má cháu”.

Nghe tôi nói vậy, Nam liền hỏi:

“Cháu có nghĩ rằng chồng cháu sẵn sàng giúp các chú khi cần không?”.

“Chú muốn anh sự giúp các chú về việc gì?”.

Nam giải thích:

“Chuyên môn của chồng cháu rất cần cho Việt Nam. Ngành hải sản cần các khoa học gia như anh ấy. Anh ấy có thể giúp chúng ta lập một đoàn nghiên cứu để khám phá những tài nguyên thiên nhiên. Anh ấy cũng có thể giúp chúng ta thiết lập một hệ thống phòng thủ trên bờ biển để ngăn chặn kẻ thù, chống lại tầu ngầm của kẻ địch…”.

Tin nầy rất đáng cho CIA biết. Phan Thanh Nam đang tìm cách thâu lượm tin tức cho chánh phủ Hà Nội, kể cả về tin chống tầu ngầm. Tôi nghĩ, họ trao đổi bí mật với Liên Xô.

Câu chuyện của chúng tôi ngưng lại ở đó, nhưng Nam tỏ ra nôn nóng muốn tôi kiếm cách nói cho chồng tôi biết là ông “cần những tin tức mà các nhà khảo cứu mới phát minh cho các công ty Mỹ” biết cách dò và khai thác dầu mỏ ở bờ biển Việt Nam. Điều thứ hai ông muốn biết, là một bản đồ của Hải quân Mỹ và cơ quan Hải Dương học về bờ biển và tài nguyên thiên nhiên. Cuộc nghiên cứu bao gồm cả kỹ thuật đánh cá và những thói quen của bầy cá trong vùng. Nam huênh hoang kết luận:

“Nếu chúng ta có tất cả những tin tức đó, là chúng ta có cả một mỏ vàng”.

Tôi tưởng vậy là hết rồi, nhưng không, ông lại nói thêm:

“Còn một chuyện nầy nữa, Mỹ Dung à. Vì chồng cháu đang ở trong vùng Hoa Thịnh Đốn, có thể anh ấy giúp chú tìm hiểu một số tin tức. Chỉ cho cá nhân chú mà thôi, vì từ lâu chú muốn biết, làm cách nào và thế nào Hải quân Mỹ có thể đối địch được với Hải quân Liên Xô”.

Tôi ngạc nhiên tự hỏi, không biết Nam đang nghĩ gì về tôi, mà dám đề nghị tôi đi ăn cắp tài liệu mật của quốc phòng Mỹ cho ông? Có thể ông cho rằng, vì tôi yêu thương ba tôi quá, nên tôi sẵn sàng làm bất cứ cái gì ông muốn; hay là trong qua khứ, ai đã gặp ông, kể cả người Mỹ phản chiến, đều sẵn sàng hăng hái làm những điều ông sai bảo. Tôi chỉ trả lời rằng, tôi sẽ nói chuyện với chồng tôi khi tôi về Mỹ.

Sau khi trao cho tôi một bản “liệt kê công tác”, Nam tỏ vẻ muốn giữ độc quyền con cờ mới tuyển dụng nầy. Khi tôi cho ông biết Thái đã đưa tôi đến gặp ông chủ tịch Hội Việt Kiều Yêu Nước là Huỳnh Trung Đồng, thì ông khuyên tôi không nên giao lưu với những hội viên của hội Việt Kiều Yêu Nước ở Paris, hay bất cứ ở đâu, để “bảo vệ ba cháu cũng như sự liên lạc giữa chú với cháu”. Ông còn nhấn mạnh, là tôi không giúp ích gì cho quê hương trong giai đoạn nầy nếu tôi gia nhập vào nhóm Việt Kiều Yêu Nước, bởi vì vai trò của họ sẽ thay đổi, tôi sẽ mất nhiều thời giờ quý báu để hội họp, tuyên truyền, kết nạp đoàn viên để phục vụ cho đường hướng, mà tôi sẽ bỏ phí tài nguyên tôi đang có.

Ông kết luận:

“Hãy dành những thời giờ đó để làm việc với chú. Cháu nhớ rằng có nhiều người Việt yêu nước ở Âu châu, ở Mỹ và ở nhiều nước khác nữa, không tham gia một hội đoàn nào, nhưng lại là những người đóng góp rất nhiệt tình. Bây giờ người ta không biết quan điểm chánh trị của cháu. Họ cũng không biết gốc gác cháu ra sao. Tốt hơn hết, bên ngoài cháu cứ để họ nghĩ cháu chống cộng, chỉ có chú và những người quan trọng trong ngành của chú biết lập trường của cháu mà thôi”.

Tôi hiểu rằng Nam và Thái khác nhau, khi muốn tôi cộng tác với họ. Thái có ý định đưa tôi vô bộ máy ngoại vận. Còn Nam tuyển mộ tôi làm gián điệp cho Hà Nội. Một thì muốn tôi công khai “thân Cộng”, một thì buộc tôi làm ngược lại, phải “chống cộng”. Dĩ nhiên, trước sau tôi vẫn là tôi, người Việt quốc gia ngạo nghễ muôn đời.

Khi báo cáo cho Rob về buổi gặp gỡ giữa tôi với Nam, tôi yêu cầu là vấn đề nầy chúng tôi phải ngồi xuống nói cho chồng tôi biết, vì nó liên quan đến anh. Tất cả những hoạt động, sinh hoạt với FBI và CIA, tôi không đem về nhà nói với chồng hay má và các em tôi. Má tôi tin là tôi làm thông dịch cho cơ quan an ninh của Mỹ, vậy thôi. Hai lý do mà tôi không chia sẻ được: một là luật lệ của hai cơ quan nầy; hai là tôi cố tránh cho má tôi biết đến việc làm của tôi. Dĩ nhiên, nếu má tôi biết nhiều, má sẽ ngăn cản, mà làm sao má tôi ngăn cản việc nầy được, thì má tôi sẽ lo đêm lo ngày, bất cứ lúc nào tôi bước ra khỏi nhà. Cấm tôi không được, thì má sẽ giận rồi bỏ đi ở với một trong hai chị tôi.

o O o

Vừa mở cửa phòng khách sạn, tôi đứng khựng lại sững sờ vì căn phòng của tôi trống trơn. Tôi nhìn cái chìa khoá, trở ra nhìn lại số phòng, rồi bước trở vô. Đồ đạc, va-li của tôi biến mất, cái phòng đã dọn sạch. Cầu tiêu, bồn tắm sạch sẽ, láng bóng như đang chờ người khách mới.

Tôi đi thẳng xuống gặp người làm việc tại quầy của khách sạn. Ông ta làm bộ không nói được tiếng Anh để khỏi tiếp tôi, dù tôi biết những người làm trong khách sạn lớn nầy đều nói được tiếng Anh. Tôi hỏi ông:

“Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra trong phòng tôi, và đồ đạc của tôi đâu mất hết rồi?”.

Ông ta không nói gì hết, nhưng có một viên thơ ký khác từ trong chạy ra, vừa cười gượng vừa hỏi:

“Có chuyện gì vậy thưa bà?”.

“Tôi muốn biết các anh làm gì trong phòng tôi, mà đồ đạc của tôi biến mất?”.

“Thưa bà, đây có thể là một sự lầm lẫn”. Hắn đáp với vẻ mặt như tôi là người đi lộn phòng.

Tôi đòi gặp viên quản lý, nếu hắn không giúp gì được tôi. Nhưng hắn cho biết viên quản lý hiện không có mặt ở khách sạn, rồi hắn nói sẽ đi hỏi lại nhân viên.

Tôi cho ông ta biết tôi đi cả ngày, tôi mệt, tôi cần nghỉ ngơi. Tôi vào quán café của khách sạn ngồi chờ. Lúc đó tôi quá bực mình, tự hỏi không biết nên uống một ly sữa hay một ly rượu mạnh để lấy lại bình tĩnh. Tôi không biết đây là một sự lầm lẫn của bồi phòng, hay là mấy thằng Tây của tình báo Pháp lục lạo va-li của tôi bằng cách thông đồng với nhân viên của khách sạn, khiêng va-li của tôi đi một nơi khác để lục, thay vì lục trong phòng của tôi, phòng hờ tôi về phòng thình lình?

Nửa giờ sau, tôi trở lại quầy. Viên thư ký liền nói với vẻ mặt buồn bã một cách giả tạo, rằng có một người khách ở đó đã lâu mà không chịu trả tiền hay không có tiền gì đó, nên họ dọn đồ của người khách đó; không ngờ bồi phòng dọn lộn phòng của tôi.

Tôi nghe thì nghe, nhưng vẫn không tin lời hắn, nên nói:

“Tôi vẫn muốn gặp ông quản lý”.

“Thưa bà, ông Charrière chiều mai mới có mặt ở đây. Bây giờ thì đồ đạc của bà đã được đem về cho bà. Chúng tôi thật xin lỗi bà về sự lầm lẫn đáng tiếc nầy”.

Tôi vẫn bực mình nói:

“Ngày mai, khi nào ông Charrière của ông tới, biểu ông gọi tôi ngay”.

Nói xong, tôi hấp tấp đi về phòng. Tôi đoán, lúc đó có người đang rình ngó trộm tôi.

Tôi khoá chặt của phòng, còn chặn thêm một cái ghế cho chắc chắn. Tôi kiểm soát xem các cửa sổ đã đóng kỹ chưa, kéo màn kín mít, rồi mở va-li ra kiểm soát. Nhưng tôi ngừng lại vì thấy mình làm chuyện vô ích. Người nào lục va-li của tôi không phải là kẻ ăn trộm, mà là người muốn biết tôi là ai, và tới Paris làm gì?

Điều quan trọng là họ không thấy những bản nháp của các báo cáo tôi gởi cho CIA, vì mỗi lần viết xong, tôi thường đốt, bỏ tro vào cầu tiêu.

Tôi chỉ có một sơ suất nhỏ, là còn để trong va-li lá thơ của ba tôi, viết năm 1972 tại Milan, Ý. Đó là lá thơ mà cho đến 1974 tôi mới nhận được, và tôi còn ấp ủ nó cho tới giờ phút đó.

Tối hôm đó, tôi sợ đến nỗi không dám đi tắm. Khi Rob tới, tôi cho ông biết chuyện gì xảy ra. Mặt ông tái xanh, làm cho tôi càng lo sợ hơn. Ông hỏi tôi có muốn đổi khách sạn khác không, thì tôi lại giấu, nói là tôi không sợ, mà cũng không muốn dọn đi khách sạn khác. Tôi nghĩ mình đã ở trên cái đất của thằng Tây rồi, chạy đâu cũng không khỏi. Hồi đó mình xuống hầm núp rồi mà nó còn ráng bỏ bom cho chết, thì bây giờ ngủ trên xứ của nó, nó muốn kiếm, làm sao mà trốn. Chỉ có cái khác hơn thời Tây đô hộ Việt Nam: bây giờ tôi là công dân Mỹ, và ba tôi cùng mấy ông Việt Minh đã đánh bại thằng Tây rồi. Nghĩ vậy, cho qua thì giờ, cho đỡ sợ, chớ quốc tịch gì, công dân của nước nào, làm gián điệp trên đất của người ta cũng đều bất hợp pháp. Thằng Tây nó bắt nó nhốt, rồi Bộ Ngoại giao Pháp mới làm mầu làm mè liên lạc với toà đại sứ Mỹ, hai bên trao đổi gián điệp tép riu, rồi đâu cũng vô đó. Nhưng ít nhứt cũng ngồi tù Tây, ăn cơm tù Tây một thời gian mới được thả trở về Mỹ. Tôi rùng mình khi nghĩ tới đó.

Sau khi Rob ra về, tim tôi đập muốn văng ra khỏi lồng ngực, vừa hồi hộp, vừa giận thằng Tây. Tôi nằm nghĩ đến việc làm của mình, nghĩ đến má, đến Lance và chồng tôi, mà thấy ngao ngán, cô đơn quá. Tôi trở cái gối không biết bao nhiêu lần đêm đó. Sáng ra, tôi quá mệt mỏi sau một đêm mất ngủ.

Tôi phải ráng hết sức lấy lại bình tĩnh, đi ăn một bụng điểm tâm, uống một tách café cho tỉnh táo, vì hôm đó tôi sẽ gặp kỹ sư Huỳnh Ngọc Châu. Cậu Châu là con trai của ông bà ngoại Huỳnh Ngọc Nhuận, người đã cho gia đình tôi tá túc, hồi ở Gia Định. Cậu Châu sang Pháp chữa bịnh ung thư do chính ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Chánh phủ Lâm thời Miền Nam đích thân can thiệp, cho phép cậu xuất ngoại. Cuộc thăm viếng của tôi có hai mục đích: cá nhân và công tác. Tôi muốn tìm hiểu thêm về tình hình Việt Nam và những người lưu vong ở bên Pháp. Má tôi cũng muốn biết tin tức của bà ngoại Nhuận còn kẹt lại ở Sàigòn, hỏi thăm sức khoẻ của cậu. Má tôi quý mến cậu Châu lắm, biểu tôi bận rộn cách mấy cũng ghé thăm và chăm sóc cậu Châu một hai ngày giùm má.

Hồi xưa, cậu Châu được coi như một vị hoàng tử của gia đình. Cậu là một kỹ sư về dầu khí, làm việc cho hãng dầu Esso. Đối với một cô bé 12 tuổi, việc cậu Châu làm gì ngoài đời là việc người lớn, nhưng tôi biết cậu là một người quan trọng ở Sài gòn; cậu đi học bên Pháp. Biệt thự của cậu ở Sài gòn nhỏ hơn biệt thự của ông bà ngoại Nhuận, nhưng tối tân, đầy đủ tiện nghi. Đó là cậu Châu mà tôi nhớ hồi tôi 12 tuổi, cho tới lúc tôi 29 tuổi.

Sau khi ăn điểm tâm ở một quán ăn xinh xắn ngang cửa khách sạn, tôi mua mấy tờ tạp chí và báo hàng ngày để làm quà cậu Hai Châu, rồi đi taxi đến đường Savoie, nơi cậu đang nằm dưỡng bịnh tại nhà của nhạc phụ, ông Cao Minh Chiếm.

Đường Savoie là một con đường nhỏ, nhiều chó và mèo hơn xe cộ. Nhờ sự vắng vẻ của con đường, tôi dễ dàng nhận biết tôi đang bị theo dõi. Mỗi lần tôi quẹo ở một góc đường, tôi thấy một người đàn ông theo tôi vội quẹo sang một con hẻm, rồi chỉ mấy phút lại thấy anh ta lẽo đẽo phía sau.

Tôi không muốn thằng Tây biết tôi tới nhà ông Cao Minh Chiếm. Ông không phải là một ông già vợ thuần tuý như trăm ngàn ông già vợ Việt Nam khác. Ông là một người thiên Cộng. Ông từng có liên lạc với Hồ Chí Minh từ khi có cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nhưng khi đất nước chia đôi năm 1954, ông ở lại miền Nam và thành lập Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm và sự can thiệp của người Mỹ ở Việt Nam. Khí giới của ông là cây viết, với bút hiệu Phi Bằng.

Hậu quả của những người “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” là việc đầu tháng 3 năm 1965, thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng hoà, ông Phan Huy Quát đã cách chức gần 50 công chức. Cao Minh Chiếm là một trong hơn 30 người bị bắt giam

Thủ tướng Phan Huy Quát quyết định tống ông và vài nhânvật “thờ ma Cộng sản” ra Hà Nội để làm gương cho những ai “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản”. Vài tháng sau đó, ông Minh Chiếm, bác sĩ thý y Phạm Văn Huyến và ông Tôn Thất Dương Kỵ được đưa tới cầu Hiền Lương; các bà vợ của 3 ông nầy còn được chánh phủ cho bay ra để chia tay chồng, trước khi họ đi qua bên kia cầu.

Sau đó ông Cao Minh Chiếm sang Paris. Sau khi miền Nam sụp đổ, ông rất đau lòng vì cách đối xử tàn bạo của Cộng sản Bắc Việt đối với dân miền Nam và vợ con ông tại Sài gòn. Tôi không biết rõ mục đích của ông Cao Minh Chiếm sống để làm gì cho đời ông và đời người, nên tôi không nói được nữa về ông, chỉ biết là ông có liên hệ mật thiết với nhóm Việt Nam thân Cộng ở Paris và ông đi lại với những người trong hai toà đại sứ của Cộng sản tại Paris. Bây giờ, đào sâu để tìm sự thật về ông Cao Minh Chiếm là việc tôi không nên làm, bởi vì ông đã qua đời, và biết đâu, ông và ba tôi thỉnh thoảng từng ngồi với nhau mà tiếc thương đất nước và dân tộc.

Muốn giữ an ninh cho ông, tôi không vô nhà ông ngay, mà đi qua luôn để tới một tiệm bán thức ăn ở góc đường gần đó.

Tôi biết tôi không thể cà kê trong tiệm nầy lâu được, vì ai cũng vô đây để mua đồ ăn rồi đi ra ngay. Tôi giả bộ kiếm món ăn muốn mua, nhưng mắt vẫn liếc ra ngoài. Khi thấy người theo dõi đã đi qua, tôi mua vội hai hũ kem chua, rồi ra khỏi tiệm. Nhìn trước ngó sau không thấy bị theo dõi nữa, tôi an tâm gõ của nhà số 15.

Một người đàn ông trạc tuổi ba tôi, đẹp trai, cao lớn, lịch sự mở của mời tôi vô. Rồi ông vừa cười vừa nói bằng một giọng dịu dàng:

“Cháu tới chơi, cứ coi như một cuộc viếng thăm bình thường. Xin đừng nói chuyện chánh trị với bác, vì bác đã nói nhiều với người bịnh nầy suốt buổi sáng hôm nầy rồi nhen”.

Dù ông tỏ vẻ rất thân mật, tôi vẫn nghe giọng nói của ông đầy chua chát.

Cậu Châu nằm trên giường, trong cái phòng nhỏ bé đó, đắp một cái mền cũ, cái mền rằn ri của quân đội Hoa Kỳ bán ở chợ Sài gòn Sài gòn. Tôi cúi xuống, nhẹ nắm lấy bàn tay cậu ở ngoài mền.

Cậu giới thiệu tôi với ông Chiếm:

“Thưa ba, đây là Mỹ Dung, con gái anh Minh”.

Ông Chiếm bỗng cười lớn một cách khác thường, rồi nói:

“Chắc ba còn chút hy vọng đây. Không lẽ con gái của một ông Cộng sản lại đi nói xấu Cộng sản trước mặt một người bạn cũ của ba nó, đúng không?”.

Tôi bối rối, vì không biết trước đó hai cha con của ông đã nói gì với nhau, và chuyện gì đã xảy ra?

Tôi nghĩ ông chỉ nói chơi với con rể, nên tôi giữ im lặng. Sau đó, cậu Châu cho biết hai cha con của ông đã tranh luận với nhau kịch liệt Cộng sản và cuộc “Cách Mạng” ở Sài gòn.

Một lát sau, ông Chiếm khoác thêm áo ấm, đội nón, và cho biết ông cần ra tiệm mua đồ. Ông hỏi con rể có cần gì không? Cậu Châu liền đáp:

“Nếu con cần gì. Mỹ Dung sẽ có thể giúp con được, thưa ba”.

Sau khi ông Chiêm ra đi, tôi khoá cửa rồi quay lại với người bịnh đang nằm trên giường. Trên đường đi tới đây, trong lòng tôi mong cho mau tới nơi, để gặp lại người mà tôi mến phục từ lâu. Gia đình cậu Châu đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều trong thời gian ba tôi xa nhà. Nhưng bây giờ, nhìn người bịnh nằm liệt trên giường, tôi bàng hoàng tê tái trong lòng. Căn phòng nhỏ xíu, ngổn ngang một vài cái nồi, một lò điện nhỏ để nấu nướng, một chai dầu ăn cũ, một ống đũa và một cái chảo. Ngoại trừ một bàn bếp và bốn cái ghế cùng cái giường của cậu Châu, không còn đồ đạc gì khác nữa. Vậy mà cũng chật cứng rồi. Tôi nhớ tới biệt thự rộng lớn của ba má cậu, với nhiều phòng, mà không còn nghĩ được gì cho cuộc đổi đời nầy.

Tôi quá xúc động, nhớ mới hồi nào cậu trẻ trung, đầy sức sống, vui vẻ thân thiện với má tôi. Mỗi lần cậu tới thăm ba má cậu, cậu đều ghé qua thăm hỏi má tôi. Nhưng bây giờ cậu già quá, già cả trăm tuổi, so với lần cuối cùng tôi gặp cậu. Tôi chợt nhớ lại ông ngoại Nhuận, ba của cậu, cũng bị bịnh ung thư ruột già rồi qua đời không lâu sau khi giải phẩu. Bây giờ cậu Châu cũng bị ung thư như ba cậu, và cũng đã được giải phẫu trước đó vài tháng. Nhưng cậu còn sống, và tôi được thăm viếng cậu là diễm phúc của chúng tôi rồi.

Căn phòng yên tĩnh, trừ tiếng nước bắt đầu sôi trong ấm mà tôi vừa nấu để pha trà. Tôi lên tiếng hỏi để phá tan sự im lặng:

“Có phải bác Chiếm muốn tránh mặt cháu không cậu? Chắc cháu tới không đúng lúc?”.

Cậu Châu đáp:

“Cậu cũng vừa nghĩ tới ổng. Đúng, ổng tránh mặt cháu đó, cũng như tránh mặt tất cả những người sống sót sau giải phóng và có can đảm nói lên sự thật ở Việt Nam”.

Cậu tiếp tục:

“Ba cháu với cháu cũng gặp khó khăn đó khi gặp nhau không? Nhắc tới ba cháu, cậu lại nhớ những ngày cậu ở bịnh viện ở Sài gòn về. Cậu biết ba cháu không hợp với chế độ mới. Theo cậu, đảng Cộng sản Việt Nam thay đổi quá nhiều. Bọn Cộng sản Hà Nội ức hiếp dân miền Nam. Những người trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không còn được trọng dụng nữa. Chúng phản bội Mặt Trận vì chúng tuân lệnh bọn Nga”.

Nói một hơi dài, cậu có vẻ mệt, nên phải lấy gối kê lên đầu và chêm gối sau lưng.

“Ba cháu không bao giờ nói thiệt ý nghĩ của ông”.Tôi nói.

“Vậy mà cậu có may mắn được biết rõ ổng. Cậu đồng ý với cháu, là ba cháu sẽ giữ im lặng. Trong chế độ đó, nếu mình tỏ ra bất mãn, sẽ bị kết tội “phản bội” liền. Ba cháu sẽ không bao giờ có thể từ bỏ được giấc mơ đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Ông sẽ cố gắng thực hiện điều đó cho đến ngày ông chết”.

“Cháu rất kính phục ba cháu, nhưng cháu không tin ba cháu sẽ thành công. Một đàng có can đảm giữ vững lý tưởng của mình, một đàng người ta sẽ loại trừ những ai không theo đường lối của đảng và nhà nước. Ba cháu biết rất rõ, rằng chánh phủ Hà Nội sẽ lừa dối, cướp bóc và hiếp đáp dân miền Nam sau khi họ ngưng tiếng hát ca tụng cách mạng. Bây giờ ông vẫn cố gắng tranh đấu cho nhân dân. Thiệt là cô đơn và vô ích”.

Cậu Châu vừa chỉ vô cái thân héo mòn bịnh hoạn vừa nói:

“Cháu nhìn cậu nè. Hoàn cảnh chánh trị của ba cháu cũng giống như bịnh ung thư thời kỳ cuối cùng của cậu. Chắc chắn cậu sẽ chết. Cậu có thể tự tử cho chết luôn đi, mà cậu cũng có thể cứ sống để vui với những người thân yêu. Ngày nào cũng là ngày tốt đẹp đáng quý hết. Cậu đã tốn rất nhiều tiền cho thuốc men để vẫn được nhìn thấy vợ con, mẹ già dù đau đớn. Đôi khi cuộc đời không còn ý nghĩa gì hết nếu cậu không ăn được những món cậu thích, cậu không thể vô phòng tắm một mình như mọi người, kể cả những người đui và điếc. Nhưng cậu vẫn muốn sống, thì ba cháu cũng vậy”.

Nghỉ một một chút rồi cậu Châu nói tiếp:

“Còn đối với ba cháu, nếu ông công khai tỏ vẻ bất mãn với đảng, tức là ông tự tử. Họ sẽ giam ổng trong nhà thương điên. Như vậy, ba cháu còn làm được gì cho những người dân mà ông tranh đấu cho họ? Bây giờ ông còn uy tín, vẫn có thể làm những điều tốt cho dân miền Nam. Ông có được sự bình thản mà hiểu rõ những nhu cầu của nhân dân Việt Nam và quyết tâm làm những điều đó. Cháu không thể đòi hỏi nhiều hơn ở một người đàn ông”.

Chúng tôi ngồi im lặng một lát, nhấm nháp chén trà tôi vừa pha. Rồi cậu cho biết ba tôi đã giúp cậu sang Pháp để chữa bịnh, nhưng sự giúp đỡ lớn nhứt là ông chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Ông Thọ còn thúc đẩy các thủ tục tiến hành thật lẹ để vợ con của cậu Châu sớm sang Paris đoàn tụ với cậu. Cậu Châu hy vọng mẹ cậu cũng được đi một lượt với con dâu và cháu nội. Cậu được ưu tiên là đi sớm để chữa bịnh.

Cậu cho biết tất cả mọi người trong gia đình cậu đã sống trong kinh hoàng sau chiến tranh. Khi ba cậu qua đời cách đây mấy năm, gia đình cậu đã dọn về ở chung với mẹ cậu trong ngôi biệt thự của bà ở 38 đường Chi Lăng, và sống những ngày thật ấm cúng. Nhưng thời kỳ “trăng mật với Cộng sản” chấm dứt mùa thu năm 1976.

Một đoàn cán bộ Cộng sản Bắc kỳ, tự mệnh danh là “quân giải phóng” của thành phố mới đổi tên “Hồ Chí Minh” bất ngờ đột nhập vô nhà. Tất cả mọi người trong nhà, kể cả mấy chị giúp việc, bị đưa hết vô phòng ăn có mấy tên mang súng AK-47 canh chừng. Mấy tên cán bộ khác lục lạo cùng nhà. Khi chúng không kiếm thấy những gì chúng muốn, tên cầm đầu hỏi bà ngoại Nhuận giấu vàng và tiền ở đâu. Khi bà cho biết không có tiền gì ráo, thì chúng đẩy bà già bảy chục tuổi té khỏi ghế ngồi, rồi bắt đầu hạch hỏi vợ chồng cậu Châu.

Cuộc xét nhà, lục lạo kéo dài tới tối mà không moi ra được cái gì hết, nên cả đám phát giận, quay lại nạt nộ mọi người rồi kéo bà ngoại Nhuận ra khỏi nhà dẫn đi. Những người còn lại bị đuổi ra khỏi biệt thự, dồn vô một căn nhà ngang dành cho những người giúp việc ở. Bọn cán bộ nói với cậu Châu rằng biệt thự sẽ bị niêm phong để tìm điều tra thêm, cấm mọi người không được vô nhà, trừ các cán bộ “giải phóng”. Tới nửa đêm, đứa con nhỏ nhứt của cậu Châu khóc đòi sữa, cậu Châu năn nỉ cán bộ gác cửa cho phép vô nhà lấy sữa, bị người lính từ chối dù đứa nhỏ đang khóc vì khát sữa.

Suốt một tuần, cậu Châu không biết tin tức gì của mẹ, nên rất nóng lòng. Trong khi đó, đồ cổ và mọi thứ khác trong biệt thự bị bọn cán bộ Cộng sản khuân đi hết. Khi nhà đã trống trơn, mọi người người mới được phép vô biệt thự trở lại. Nhưng chỉ mấy bữa sau các “quan giải phóng” gởi cho cậu Châu một là thơ rất quan trọng “đề nghị” cậu “hiến” căn biệt thự cho chánh phủ cách mạng. Tất nhiên, cậu không thể từ chối.

Vậy mà cậu cũng vẫn không biết tin tức gì của mẹ. Ông phải cầu cứu chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, từng là bạn cũ của cha mẹ cậu. Chủ tịch Thọ phải cho người kiếm mãi mới biết bà ngoại Nhuận bị giam ở Cần Thơ. Như vậy sau một tháng trời, cậu Châu mới được tin mẹ. Ông chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đích thân xuống Cần Thơ xin cho bà ra khỏi tù, rồi đưa bà về Sài gòn. Khi được gặp mẹ, cậu Châu mới biết “Giải phóng” đã ép bà hiến hết tài sản cho họ, gồm có ruộng đất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, những nhà cho mướn ở Bạc Liêu, nhà may xay gạo ở Cần Thơ… Bây giờ tài sản của bà đã thuộc về của “nhân dân”.

Cậu Châu nói với giọng tức giận:

“Mất hết tài sản, cậu cũng chịu được, vì dù sao bà ngoại cũng đã phải ký để “dâng hiến” cho chánh phủ. Nhưng cậu không thể nào quên được sự tủi nhục khi bọn cán bộ hành hạ bà ngoại trước mặt các con của cậu. Tụi nó la ó với bà ngoại. Tụi nó vô lễ với mợ Hai, không cho vô nhà lấy sữa cho đứa nhỏ. Mấy đứa con cậu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”.

Mắt tôi cay, miệng tôi đắng, ngồi nghe cậu Châu kể lại chuyện nước nhà sau ngày Cộng sản vô Nam. Tôi lau nước mắt bằng hai lòng bàn tay, mà không dám nhìn cậu. Không hiểu tôi mắc cỡ vì ba tôi là một trong những người Cộng sản đó, hay tôi cảm thấy thấy tội lỗi vì gia đình tôi chạy thoát nạn trước gia đình cậu Hai.

Lúc đó, cậu mới thú thật với tôi về một chuyện cũ. Vào tháng 4 năm 1975, khi đã sẵn sàng rời khỏi Sài gòn, má tôi đến gặp cậu và bà ngoại để hỏi xem gia đình có muốn ra đi không. Cậu nói với gia đình cậu rằng:

“Bả để cho con lấy kẻ thù, nên bây giờ phải bỏ chạy là đúng rồi, mình phải ở lại với dân tộc và đất nước chớ”.

Bây giờ thì cậu đã hiểu thế nào là “giải phóng”. Nhưng cậu nói rằng việc ở lại cũng có ích, vì các con cậu sẽ không bị Cộng sản lừa gạt nữa.

Đến đây chúng tôi tạm bỏ qua những buồn phiền đau khổ của riêng ông, mà nói tới cuộc sống mới ở Việt Nam. Tiền đổi không kịp trở tay; giá vàng, giá gạo, giá thịt, giá vật dụng, v.v… Tất cả mọi thứ đều tăng giá vùn vụt chỉ trong có mấy tháng trời. Tôi hỏi cậu, tôi có thể ghi lại những gì cậu vừa nói với tôi không? Cậu không những không ngăn cản mà còn khuyến khích tôi nên cho chánh phủ Mỹ hoặc báo chí rõ mọi điều. Đã đến lúc phải cho người Tây phương biết họ ngu ngốc và ngây thơ đến mức nào trong cuộc chiến ở Việt Nam. Henry Kissinger nên mắc cỡ vì đã bị bọn Cộng sản qua mặt và lợi dụng trong hội nghị đình chiến ở Paris. Hà Nội đã điều khiển 85% trong thời gian hội nghị.

Sắp đến giờ ăn trưa, tôi đề nghị tôi chạy ra chợ mua thức ăn về làm cơm, nhưng cậu Châu khoát tay, vừa cười vừa nói:

“Cậu gần chết rồi, nên cậu muốn đến một tiệm ăn ở St. Michel mà cậu vẫn thích để được ngồi cùng với người của cậu”.

Nói xong, cậu ra khỏi giường, kéo tấm màn che lại để thay đồ bên trong. Tôi phải buộc giây giày cho cậu vì bụng cậu vừa mới rút chỉ còn đau, cậu không thể cúi xuống được. Tôi giúp cậu mặc cái áo choàng ngoài khá nặng. Sau đó, chúng tôi đi bộ tới một tiệm ăn nhỏ ấm cúng. Cậu phải vịn chặt cánh tay tôi để đi cho vững.

Cậu Châu kêu một chai rượu Côte du Rhône. Chúng tôi nhâm nhi ly rượu mà không muốn thời gian đi qua. Tiệm ăn nầy ở gần khu Sorbonne, khiến cậu nhớ lại quá khứ. Cậu cho biết, nơi đây ngày xưa cậu bắt đầu làm quen với chủ nghĩa Cộng sản, mà ba má cậu cũng đã là cảm tình viên rồi. Sau đó cậu Châu cưới một người vợ cũng có cùng một chí hướng với cậu. Mợ Châu cũng đã bị công an thời ông Thiệu bắt bỏ tù, vì bà ủng hộ MTGPMN.

Với một tâm hồn đau khổ trong một thể xác bịnh hoạn, cậu Châu lết gót đi bên cạnh tôi để trở về đường Savoie với căn phòng hẩm hiu cậu đang tá túc. Trên đường về, chúng tôi ghé qua một tiệm sách, một tiệm bán dĩa hát và một tiệm bán tranh vẽ. Trời âm u nhiều mây ảm đạm, khiến tôi nghĩ đến nỗi đau khổ mà đồng bào của tôi đang chịu đựng ở trong nước. Tôi muốn về ngay khách sạn, đóng kín cửa để cách biệt với thế giới bên ngoài, cố quên đi nỗi buồn xót xa trong lòng.

Với sự giúp đỡ tận tình của ông Nguyễn Hữu Thọ, mẹ và vợ con cậu Châu được phép rời khỏi nước Việt Nam để sang Paris đoàn tụ với cậu. Gần một năm sau, cậu Châu từ trần.

o O o

Tôi mở tung của phòng khách sạn, làm nó đập vô tường, rồi dội trở ra, gây nên một tiếng động lớn. Tôi làm như vậy với mục đích doạ kẻ nào đang ở trong phòng tôi. Nhưng mọi sự đều bình thường, va-li của tôi vẫn ở vị thế khi tôi ra đi. Tuy vậy, tôi vẫn cẩn thận bước vô phòng.

Một bình bông thật lớn, thật đẹp để trên bàn nước ở phòng khách. Ủa! Hôm nay đâu có phải là sinh nhứt tôi! Sinh nhựt Hồ Chí Minh còn những ba tháng nữa mà. Bên cạnh bình bông bằng pha lê, có một tấm thiệp của ông quản lý khách sạn André François Charrière, viết cho tôi bằng chữ Pháp như sau: “Avec compliments, nous souhaitons de continuer très agréablement votre séjour au Paris Hilton”.

Đó không phải là cử chỉ xin lỗi chân thành. Hay ông quản lý đã cộng tác với kẻ lục xét đồ đạc của tôi? Tôi không biết nó là cái gì.

Trong khi tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, thì Rob bỗng ghé qua. Sau khi tôi chỉ cho Rob bình bông, anh ra dấu cho tôi giữ im lặng. Rồi anh xem xét kỹ các bông hoa, từ cánh xuống cành. Khi xem hết hoa, ông đổ nước trong bình vô bồn rửa tay để coi đáy bình. Lúc đầu tôi nín thở, chờ xem ông kiếm thấy vật gì trong bình bông. Nhưng đến bông thứ tư thì tôi cười bò ra, vì tôi thấy hài hước quá. Nếu thằng Tây nó có muốn gài máy nghe, thì trong phòng nầy có cả ngàn chỗ cho nó gài, chớ làm gì mà phải tặng hoa mới có phương tiện gài máy nghe lén? Khi ông đã xem xét xong xuôi, tôi hỏi:

“Anh kiếm cái gì vậy?”.

Ông đáp nhỏ:

“Tôi nghĩ có thể người ta gài máy nghe lén”.

Tôi lắc đầu mà cười ông trùm CIA. Tôi đổ nước vô bình rồi cắm bông trở lại. Tôi hy vọng không có gì thay đổi, để người rình rập không biết. Vừa lúc đó, lại có tiếng gõ của. Thì ra ông Rob vì bận kiếm máy nghe lén nên quên không cho tôi biết ông xếp của ông ở Paris muốn gặp tôi. Mấy tháng nay ở trong toà đại sứ Mỹ, trong một góc phòng của CIA, người ta hay nhắc tới “ngôi sao” của gián điệp, nên hôm nay ông xếp của ông tại gặp “ngôi sao”.

Cuộc gặp gỡ của chúng tôi ngắn ngủi, ông Andrew muốn biết thêm về Phan Thanh Nam. Mấy ngày trước, Rob đã đem cho một bản kiểm kê nhiều câu hỏi về Phan Thanh Nam, gồm những đặc điểm về thể chất, cá tánh, thói quen, những hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Cái gì có thể làm ông sa ngã. Cái gì làm cho ông phản đảng.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 38

Ngày ba tôi rời Paris, Thái và tôi đưa ông đến phi trường Orly. Trong khi Thái còn chạy kiếm chỗ đâu xe, ba tôi và tôi đi vô để trình vé ở quầy của hãng máy bay Aeroflot. Tôi không hiểu gì hết, khi ba tôi nói tiếng Nga với người đàn bà Nga ở sau quầy. Thái muốn ba tôi đi máy bay của hãng Air France, nhưng ba tôi không chịu, chỉ muốn Aeroflot thôi. Điều nầy khiến tôi nhớ lời dặn của Rob, là tôi chỉ nên đi máy bay Mỹ thôi.

Chúng tôi ngồi chơi với ba tôi ở phòng đợi cho đến khi ông lên đường. Khi nhân viên hàng hàng không kêu tên ba tôi, ông không nhúc nhích mà nắm chặt tay tôi như không muốn rời.

Ông nhắc lại:

“Con săn sóc má giùm ba”.

Chúng tôi cùng đứng lên, rồi ông ôm tôi thật lâu trước khi bắt tay Thái để lên máy bay.

Tôi thấy mình như đứa trẻ mồ côi. Tôi đứng bên cửa sổ nhìn chiếc máy bay sắp sửa đưa ba tôi đi mất. Thái đứng cách tôi vài thước để chờ tôi. Trên đường về, tôi không biết nói gì với Thái.

Trước khi tôi rời Paris, Phan Thanh Nam đưa tôi đến gặp ông Võ văn Sung, đại sứ của Hà Nội ở Paris. Nam dặn tôi kêu ông đại sứ là “Chú”. Càng tốt, có chú làm đại sứ của Cộng sản, cháu mặc tình mà lấy tin tức cho CIA.

Chúng tôi uống trà trong một phòng ấm cúng của toà đại sứ, và tôi lắng nghe tất cả những câu hỏi của ông đại sứ. “Chồng cháu có phải là người Mỹ tốt không?”. (Đối với Cộng sản, một người Mỹ “tốt” là người chống chiến tranh). “Anh ấy làm nghề gì?” (Công việc tốt đối với Cộng sản là không làm gì hại đến họ). Tôi có thể nói dối với họ, nhưng tôi quan niệm là không nên nói dối; nếu không nói thật được, thì đừng nói; không ai đánh mà khai.

Tôi trả lời ông đại sứ:

“Thưa chú, chồng cháu yêu nước của ảnh như cháu yêu nước Việt Nam. Điều an ủi là cháu biết anh ấy thông cảm, buồn cho đất nước mình”.

Võ Văn Sung và Nam có vẻ phấn khởi khi biết chồng tôi là một nhà khí tượng học, và đang làm việc cho đài khí tượng ở Honolulu. Đại sứ Sung nói:

“Một ngày nào đó, chồng cháu có thể giúp ba cháu khi ông cần”.

Đại sứ Võ Văn Sung không để mất thì giờ nói chuyện quanh co, mà đi thẳng vô vấn đề. Ông hỏi tôi đã có bao giờ tham gia hoạt động của Mặt Trận chưa? Cũng như đối với mọi người, tôi cho ông biết cả gia đình tôi ở miền Nam đều hoạt động cho Mặt Trận. Mặt Trận đã từng lấy đất của ông bà tôi làm căn cứ hoạt động, và vì thế người anh bà con rất trẻ của tôi đã bị giết. Tôi biết rằng những mất mát nầy chẳng có nghĩa lý gì đối với ông đại sứ. Có chăng, là máu của tôi hoà với máu của kẻ thù của Cộng sản và trở thành thương binh một giò đứng trước mặt ông, thì may ra tôi mới là người có công với “Cách Mạng”. Nhưng ông cũng tạm cho tôi một dịp nữa, là cho tôi bắt đầu đóng góp. Ông nói:

“Chú có một người bạn rất tốt ở Mỹ. Ông ta sống ở San Francisco. Chú muốn cháu gặp ông ta ngay khi cháu về Mỹ”.

Tôi tự hỏi, không biết các viên chức cao cấp của chính phủ Hà Nội có xem bản đồ của nước thù địch của họ không? Ông có biết khoảng cách từ Hawaii đến San Francisco là bao xa không? Tuy vậy, tôi vẫn hỏi địa chỉ của người bạn tốt đó, và ghi vào sổ tay. Tôi còn xin ông đại sứ viết mấy chữ vô sau danh thiệp của ông để giới thiệu tôi với người “bạn tốt”. Ông viết ngay. Thế là tôi có đủ mọi thứ cần thiết để có thể liên lạc với mạng lưới của Cộng sản ở nước Mỹ.

Người bạn mà ông đại sứ muốn tôi gặp ở San Francisco chính là người thành lập và là chủ tịch của “Hội Việt Kiều Yêu Nước” ở Mỹ. Một năm sau, tôi bay qua San Francisco gặp ông và thâm nhập vào hội nầy. Tôi còn hỏi ông đại sứ có “bạn nào tốt” ở Honolulu muốn tôi gặp không?. Ông hãnh diện trả lời:

“Có thể mình cũng có nhiều người ở Honolulu, nhưng hoạt động bí mật nên chú không rõ”.

Tôi rời Paris về Hawaii với sự tin tưởng rằng tôi sẽ vẫn được cộng đồng người Việt thân Cộng tại Paris đón tiếp nồng hậu. Và chắc chắn sẽ có nhiều cuộc gặp gỡ Nam, Thái. Tôi không hứa hẹn gì trước khi từ biệt, nhưng tôi biết, Nam tin rằng tôi đã lọt vô màng lưới hoạt động của ông. Hôm tôi đến chào ông để về Mỹ, Nam nói:

“Chú biết rằng sự đóng góp sau nầy của cháu cho Cách Mạng sẽ được những người có trách nhiệm trong nước biết. Điều nầy sẽ làm cho ba cháu vui lắm đó!”.

o O o

Mấy tháng sau khi tôi trở về Hawaii, CIA thương lượng với Hải Quân, cho John đổi về Ngũ Giác Đài. Sau đó, CIA cho tôi bay sang Paris theo lời mời của ông chủ tịch của Hội Việt Kiều Yêu Nước, Huỳnh Trung Đồng. Trước đó, Thái cố vấn tôi nên gọi ông chủ tịch bằng “anh”. Thế là tôi tới trụ sở gặp anh Huỳnh Trung Đồng.

Đồng là một người cô đơn, trầm lắng, dáng người khắc khổ. Mỗi lần gặp anh, tôi có cảm tưởng như thân của anh ở đó, mà tâm của anh ở một nơi nào, đố ai biết. Anh như một người lính chán chiến tranh, một người hết nghị lực. Anh còn có cái tật nói nhỏ, thì thầm như sợ có ai rình nghe.

Vào một buổi sáng tôi đến gặp anh Đồng, anh cho tôi xem tờ báo “Đoàn kết” do hội của anh xuất bản. Báo phát hành hai tuần một lần. Anh xin địa chỉ của tôi để anh gởi báo cho tôi sau đó. Tôi đề nghị anh gởi về hộp thơ của tôi ở Washington, D.C, cho tiện.

Như sực nhớ một điều gì quan trọng, anh lục lọi trong hồ sơ “USA”, cho đến lúc tìm ra một danh thiệp có đánh dấu ở một góc, lẩm bẩm đọc mấy chữ trên đó, rồi hỏi tôi có biết một người đàn bà tên Nguyễn Thị Ngọc Thoa không? Ba Thoa hiện sống ở Washington. D.C. Tôi trả lời rằng tôi mới dọn tới đó, nên chưa biết ai hết. Anh đọc tấm thiệp một lần nữa, rồi cho tôi biết sơ về bà Thoa:

“Bà nầy có chồng Mỹ, nhưng ông ấy là bạn của chúng ta. Bà tham dự phong trào chống chiến tranh rất sớm, vào đầu thập niên 70”.

Tôi giả bộ khờ khạo nói:

“Vào những năm đó, em còn ngủ kỹ, không có làm gì hết”.

Đồng nói:

“Tôi muốn cô gặp chị Thoa, kết bạn với chị ấy trước cái đã”.

Tôi không mấy thích chuyện bắt con cá, nhử con tôm, nhưng nhớ lời dặn của Thái là phải kiên nhẫn, nên tôi gật đầu và giữ im lặng.

Trong buổi thăm viếng đó, anh Đồng đưa tôi đến trụ sở của hội. Đó là một thư viện ở tầng dưới hầm, chứa đầy sách về “Nghiên cứu chủ nghĩa Cộng sản”, và một nhóm thanh niên nghe một người đàn bà diễn thuyết. Nữ diễn giả dùng những từ Cộng sản đầy mầu mè nhưng vô nghĩa, để giảng giải về một cuốn sách mà mọi người đã đọc.

Trong một tủ kiếng gần lối ra vào của một phòng lớn lầu chánh, Đồng hãnh diện khoe với tôi “cây viết đã từng dùng để ký hiệp định Paris”. Sau đó, anh cầm một miếng kim loại mầu trắng đưa cho tôi xem. Trên miếng kim loại đó có vẽ hình một nữ chiến sĩ, quần xắn lên tới đầu gối, vai mặt đeo một khẩu súng máy, vai bên trái có một sợi dây kéo một vật phía sau. Đồng giải thích:

“Đây là xác máy bay B-52 của Mỹ”.

Ông đưa cho tôi mảnh kim loại đó để xem cho rõ hơn, nhưng tôi bỗng thấy hơi run run, nên không đưa tay ra đón nhận. Tôi chợt nghĩ tới các phi công Mỹ và những chiến binh khác. Tôi giận mình, vì không thể nói gì thay cho sự hy sinh của họ, cho đất nước Việt Nam của mình.

Anh Đồng đưa cho tôi nhiều tài liệu để đem về Mỹ, đa số là sách báo tuyên truyền của Cộng sản bằng Anh ngữ và Việt ngữ. Tôi cám ơn ông về những tài liệu nầy, và nghĩ ngay rằng tôi sẽ trao hết cho CIA cùng với địa chỉ của bà Nguyễn Thị Ngọc Thoa, một người hoạt động cho phong trào phản chiến ở vùng Hoa Thịnh Đốn.

Ba tuần lễ tôi tiếp xúc với Cộng sản và người Việt thân Cộng ở Paris, là thời gian xa nhà dài nhứt của tôi. Không một ngày nào là tôi không gặp gỡ, chung đụng, chuyện trò, ăn uống với Cộng sản. Tôi học ăn, học nói, hành động như một người thân Cộng.

Qua chung trà, tách nước, tôi được tiếp xúc với người Việt tỵ nạn Cộng sản, và những người trước kia đã nhiệt tâm ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng sau 75 họ đã biết sự thật phũ phàng, thì trở lại giúp đỡ những người tỵ nạn còn chân ướt chân ráo.

o O o

Trở về Washington, D.C, tôi cho Rob biết là chúng tôi nên liên lạc với những người mà ông chủ tịch của Việt Kiều Yêu Nước ở Paris giới thiệu, vì đây là những điệp viên của Cộng sản Hà Nội hoạt động tại Mỹ, đặc biệt là Nguyễn Thị Ngọc Thoa. Nhưng Rob cực lực phản đối. Ông nói:

“Phản gián không phải là việc của chúng ta. CIA không có trách nhiệm về chuyện nầy”.

Tôi không đồng ý với Rob vì hai lý do. Một là, ông đại sứ Võ Văn Sung và chủ tịch Huỳnh Trung Đồng đã giới thiệu họ cho tôi. Thứ hai, họ là cái chìa khoá để mở những cửa ra vào những nơi mà CIA và tôi muốn thâm nhập. Nếu tôi không gặp những người nầy, thì khi trở lại Paris gặp họ, tôi đâu có đề tài gì để trao đổi với mấy ông Cộng sản nầy. Rob thì nghĩ khác, anh nói chừng đó tính sau, tuỳ cơ ứng biến.

“Phản gián là việc của FBI, không phải chuyện của mình”.

Tôi nói:

“Rác sau nhà mình, nếu mình không quét, thì việc làm của mình có lợi ích gì cho nước Mỹ, khi mình cứ chạy hết cái địa cầu nầy để săn tin của địch?”.

Nhưng ông lại nói:

“CIA không được phép tuyển dụng người Mỹ để hoạt động trên đất Mỹ, nếu không được phép đặc biệt của Bộ tư pháp!”.

Thì ra CIA đã làm trái luật khi tuyển dụng tôi, một công dân Mỹ, và hoạt động tại nước Mỹ. Luật của người lập ra khác hẳn luật thiên nhiên; bởi vì người lập ra, thì người có thể thay đổi, để thích ứng với hoàn cảnh. Tôi cho Rob biết ý nghĩ của tôi, và khuyên anh nên bàn lại với thượng cấp của anh, để họ thương lượng với Bộ Tư Pháp.

Rob hứa sẽ suy nghĩ về đề nghị của tôi, và dặn tôi cứ theo đúng nguyên tắc. Có thể tôi vẫn phải nghe lời ông, nhưng tôi muốn ông hiểu tầm quan trọng của vấn đề. Vì vậy, tôi nói:

“Nếu anh không báo cho FBI biết về người đàn bà Việt Nam đó, tôi sẽ báo. Nếu không được, tôi sẽ nhờ chồng tôi chuyển tin tức nầy đến cho FBI”.

Có lẽ như vậy dễ dàng hơn, vì John đang làm cho cơ quan tình báo Hải Quân, dưới quyền đô đốc Bobby Inman. Rob liền phản ứng:

“Nếu cô làm như vậy, tôi sẽ đuổi cô”.

Ông nói bằng một giọng cứng rắn. Tôi liền phá lên cười, đáp:

“Trước hết, anh phải chánh thức mướn tôi, rồi mới có thể đuổi tôi được”.

Trên thực tế, dù đã làm việc cho CIA và cung cấp nhiều tin tức giá trị, tôi vẫn chỉ là một nhân viên không lương, căn bản là tự nguyện. Làm gián điệp không phải là cái nghề để tìm kế sinh nhai. Có thể lời nói thẳng của tôi đã làm Rob chột dạ, nên ông đáp:

“OK, có lẽ cô và tôi nên ngồi xuống để nói chuyện về việc làm của cô”.

“Có như vậy anh mới có quyền đuổi tôi khi công việc không xuôi chèo mát mái. Nghề tình báo không phải lúc nào cũng suôn sẻ, êm ru như ba tuần vừa qua đâu. Tôi có thể vui vẻ làm với anh, nhưng tôi cũng là một con chồn hôi khi bị ăn hiếp đó! Anh nên nhớ cái tánh xấu nầy của tôi”.

o O o

Hải Quân chuyển chồng tôi về Hoa Thịnh Đốn. Anh làm tại Ngũ Giác Đài dưới sự lãnh đạo của đô đốc Bobby Inman, ông trùm tình báo của Hải Quân Mỹ. Ở Hoa Thịnh Đốn, tôi và Rob Hall thường gặp nhau ít nhứt mỗi tuần một lần, khi thì ở tiệm ăn Marco Polo, trong vùng Vienna để ăn trưa, khi thì tới Springfield ăn điểm tâm ở McDonald; lại có khi chỉ gặp ở bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán thuộc quận Fairfax để trao đổi với nhau một vài tin tức.

Chúng tôi thảo luận về việc đối phó với Phan Thanh Nam, Huỳnh Trung Đồng và Phạm Gia Thái ở Paris cùng những người khác, để chuẩn bị cho những công tác tương lai. Chúng tôi nghiên cứu một kế hoạch lợi dụng chỗ quen biết với Huỳnh Trung Đồng, như một cây cầu để gặp ngoại trưởng Hà Nội Nguyễn Duy Trinh và thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi hai ông sắp tới Paris. Cuộc viếng thăm nầy có thể quan trọng đối với chánh phủ Hà Nội, vì họ muốn tái lập mối quan hệ với nước Pháp. Tất nhiên, CIA cũng quan tâm đến chuyện nầy.

Trong một buổi gặp gỡ, tôi nhắc lại chuyện “dọn dẹp rác rưởi” bằng cách báo cho FBI biết mấy cán bộ Cộng sản nằm vùng tại Mỹ. Có thể Rob đã suy nghĩ kỹ về vấn đề nầy, nên ông trả lời ngay rằng ông không đồng ý với tôi, dù đây là một vấn đề quan trọng.

Tôi không thể dễ dàng chấp nhận một chuyện như vậy được. Gián điệp của Cộng sản và nhóm “Việt Kiều Yêu Nước” chính là hậu thuẫn của phong trào phản chiến trong những năm 1960. Ngay cả bây giờ đã hoà bình, họ vẫn có thể tuyển dụng người Mỹ cộng tác với họ trên danh nghĩa “Phục Vụ Hoà Bình Qua Tình Hữu Nghị”. Họ có thể đánh cắp những bí mật quốc gia, kể cả về kỹ nghệ lẫn kỹ thuật mới. Họ cũng có thể xâm nhập vào ngành tình báo, phản gián, và Bộ Quốc Phòng. Một chiến thuật khác của họ là tung những tin vịt trong ngành báo chí, để gây hoang mang và hiểu lầm trong các cộng đồng thiểu số, tạo nên sự căng thẳng giữa các chủng tộc. Cao hơn nữa, họ có thể gây nên rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa các nước đồng minh với nhau, nếu họ biết được những mật mã trong sự liên lạc. Chiến tranh có thể bùng nổ giữa hai nước bạn.

Tối hôm đó, tôi thảo luận với chồng tôi về mối lo nầy. Tôi nói với John rằng tôi thông cảm với Rob về ý nghĩ của ông, khi cho rằng FBI chỉ là “bọn cảnh sát”, nhưng tôi thực sự muốn có ý kiến của một chuyên gia khác về vấn đề nầy. Tôi muốn biết đô đốc Bobby Inman, một “siêu gián điệp”, nghĩ gì về chuyện nầy. Riêng John thì anh cũng nghĩ rằng ngành phản gián phải biết rõ những gián điệp địch đang hoạt động trên đất Mỹ.

Hôm sau, John gặp ngay Đô Đốc Bobby Inman. Ông cho biết ông sẽ tìm hiểu tình trạng nầy. Nhưng chỉ mấy ngày sau, John cho biết “họ không quan tâm” đến chuyện nầy. Tôi không thể tin như vậy được. Tôi nghĩ rằng nước Mỹ đang sai lầm trầm trọng, mà tôi có bổn phận phải kiếm cách giúp đỡ để sửa đổi. Tôi vật lộn với những ý nghĩ ấy, rồi tôi lại xin chồng tôi tiếp tôi một tay. Tôi muốn anh dàn xếp cho tôi được gặp riêng Đô Đốc Bobby Inman, biết đâu người phương Tây học được cái khôn của người phương Đông và tôi tin rằng tôi có thể trình bày thẳng với ông một cách rõ ràng hơn. John chiều ý tôi, và hai vợ chồng tôi đã được gặp đô đốc tại Ngũ Giác Đài. Đô đốc Bobby Inman ngồi lắng nghe cẩn thận lời trình bày của tôi về hoạt động của Cộng sản trên đất Mỹ. Ông hứa sẽ trình bày chuyện nầy với ông giám đốc FBI Clarence Kelley. Hai ngày sau, John lại chở tôi vô Ngũ Giác Đài để được yết kiến giám đốc của FBI.

Cuộc gặp gỡ nầy chỉ có tôi và ông giám đốc của FBI trong một phòng hội nghị có cái bàn thật dài và hơn 10 cái ghế chung quanh bàn đó. Tôi bắt đầu kể lại cho ông Kelley cũng như tôi đã trình bày với đô đốc Bobby Inman. Ông chăm chú nghe, cuối cùng, ông bắt tay tôi với hai bàn tay của ông, tỏ ý hài lòng về cuộc gặp gỡ nầy.

Tôi không biết rõ sau đó chuyện gì đã xảy ra giữa FBI và CIA, nhưng chỉ mấy ngày sau, Rob loan báo:

“Bây giờ thì cô hợp pháp rồi!”.

Rob Hall cho biết “hợp pháp có nghĩa là tôi đã được Bộ Tư Pháp cho phép CIA và tôi hoạt động ngay trên đất Mỹ. Rồi tôi sẽ được gặp một ông nhân viên của FBI. Ông là người tôi sẽ tiếp xúc thường xuyên trong những hoạt động tay ba: là FBI, CIA và tôi.

Ông cho tôi biết tôi sẽ phải qua một lớp huấn luyện đặc biệt, và sẽ phải làm việc với một nhân viên CIA mới. Tôi giựt mình, vì với một người khác thì tôi lại mất biết bao nhiêu thì giờ dậy ông ta về Việt Cộng nữa, như tôi đã mất biết bao nhiêu thì giờ huấn luyện Rob Hall. Tôi ngao ngán vô cùng. Tôi hỏi Rob Hall tại sao tôi phải làm việc với một người khác, ông chua chát trả lời:

“Cô muốn gặp nhân viên FBI, thì cô sẽ gặp, sẽ toại nguyện. Cô còn đòi hỏi gì nữa?”.

Vì sẽ cộng tác với FBI, Rob Hall không được làm việc với tôi. Điều nầy, tôi hoàn toàn không hiểu lý do bên trong của CIA, nhưng tôi chủ trương là không hỏi, khi tôi nghi là câu trả lời sẽ không được thành thật. Thà không biết, hơn là biết tin không đúng. Rob cũng có vẻ ngạc nhiên, tại sao tôi không hỏi anh câu nói đó, mà chỉ chấp nhận làm việc với người khác. Tôi hỏi ông về người mới, thì ông cho biết người nầy không hiểu gì mấy về Viễn Đông, và ông ta đang chờ đợi được cử sang Bangkok làm việc.

Mấy hôm sau, tôi gặp nhân viên mới của CIA. Ông tên là Bill Reardon, tuổi chừng bốn mươi. Ông lịch sự, dịu dàng, ít nói. Ông không hề hỏi tôi một điều gì trong những buổi gặp gỡ. Thật ra ông đâu có quan tâm đến những hoạt động của tôi. Ông nói thẳng tôi biết là ông đang chờ đợi sự vụ lịnh đổi qua Bangkok. Được đổi đi Bangkok hai năm trước khi về hưu, là một cái post lý tưởng, còn hơn là được cơ quan thưởng tiền. Có một vài lần ông đã ngủ gục, khi tôi đọc cho ông nghe những lá thơ tôi mới nhận được từ Paris và giải nghĩa cho ông hiểu.

Tôi không muốn mất thì giờ với một người chỉ tạm thời làm với tôi: thân của ông ở đây, mà tâm ở Thái Lan. Tôi cũng có cảm tình với ông, vì ông yêu gia đình. Tôi tin rằng nếu ông thực lo cho dự án của tôi, ông sẽ là một người cộng tác đắc lực. Chúng tôi vẫn gặp nhau để ăn trưa và trao đổi ít rau tươi trong vườn chúng tôi trồng. Chỉ có vậy thôi.

Một buổi trưa nóng nực tháng 6 năm 1976, tôi được gặp một nhân viên đặc biệt của FBI tên là William Fleshman. Ông còn trẻ, trạc tuổi tôi, trầm tánh, dáng thư sinh, lịch sự. Đôi lúc trong ông có dáng dấp của tài tử màn ảnh Robert Redford, nhưng mỗi lần gặp ông, tôi lại nhớ tới một ông giáo sư dậy Sử. Khi đã hiểu ông, tôi rất quý ông, một con người ngay thẳng, chính trực, có tinh thần hợp tác và dễ chấp nhận các đề nghị. Ông còn là một người chân thành hiếm có, sẵn sàng thú nhận mình không biết gì hết, và ông không ngại học hỏi rèn nghề. Ông có vẻ dịu dàng và hơi lệ thuộc vào sách vở, vào kỷ luật của FBI, nhưng theo tôi, ông đúng là một nhân viên FBI chuyên nghiệp.

Bill Fleshman là một người kiên nhẫn, hiểu biết và nhạy cảm. Chúng tôi cùng quan điểm cho rằng công tác tình báo thực sự cần nhiều thời giờ để đối phó với những nghiên cứu, điều tra khô khan không thú vị, từ ngày nầy qua tháng khác. Nó chẳng có vẻ vui nhộn như trong ciné. Nó không có kết quả trong vòng hai tiếng đồng hồ như James Bond 007, và cũng không có gì vui, hay hấp dẫn. Có hồi hộp, có cô đơn, lương tâm có bị dày vò.

Cuộc liên lạc đầu tiên của tôi với các cán bộ nằm vùng của Việt Cộng trên đất Mỹ là việc tôi gặp Nguyễn Thị Ngọc Thoa, người phụ nữ ở Washington, D.C, mà Huỳnh Trung Đồng đã chú tâm đến rất nhiều. Tôi yêu cầu FBI bảo vệ tôi khi tôi đến chỗ hẹn gặp chị ấy, vì tôi chưa hề đến vùng nầy ở Washington D.C, cũng như chưa bao giờ nghe đến tên Nguyễn Thị Ngọc Thoa.

o O o

Cầm lá thơ giới thiệu của anh Huỳnh Trung Đồng, tôi tới gặp Nguyễn Thị Ngọc Thoa tại địa chỉ 1300 đường 18, ở lầu 2, khu Tây Bắc Washington. D.C. Lúc tôi tới, có một người đàn ông Việt Nam đang ngồi nói chuyện với chị. Những khi thấy tôi, chị tiễn ông ta ra cửa và với vẻ e ngại, dò xét, mời tôi vô nhà . Chị cho biết ông khách vừa rồi là một người tỵ nạn muốn nhờ chị tìm việc giùm.

Chị Thoa người rất nhỏ, không son phấn, ăn mặc đơn sơ, ít nói và tỏ vẻ dè dặt với tôi. Tôi ráng tỏ ra thân mật với chị, nên nói rằng đáng lẽ tôi phải đến thăm chị từ lâu, nhưng bận dọn nhà. Lúc đầu chị chẳng nói năng gì, làm cho bầu không khí thật khó chịu, chị lẳng lặng nhìn tôi từ đầu xuống thân. Cuối cùng, chị nói:

“Có nhiều người tới đây nói với tôi là họ cùng phe với mình, nhưng chỉ ít lâu sau chúng tôi khám phá ra họ là những tên phản động”.

Tôi nói:

“Tôi hiểu chị muốn nói gì. Chị muốn biết tôi thật hay giả, phải như vậy không?”.

Chị nói, trong khi vẫn nhìn tôi chằm chặp:

“Tôi lấy làm tiếc phải cẩn thận như vậy”.

Tôi ra giọng người trên khen người dưới:

“Tôi rất hài lòng khi thấy chị cẩn thận như vậy. Tôi tin rằng chúng ta sẽ cộng tác với nhau rất dễ dàng”.

Vừa nói tôi vừa mở bóp lấy lá bài tủ: là thư giới thiệu của anh đưa cho chị. Thư nầy đã được nhân viên FBI chụp làm bản lưu trong hồ sơ của chị. Đọc hết lá thơ, chị để lại vô bao, bỏ vô túi áo, rồi bắt tay tôi với một vẻ hài lòng.

Trong buổi đầu gặp gỡ nầy, chúng tôi không nói chuyện nhiều. Tôi nói với chị là tôi thường sang Paris và sẵn sàng giúp bất cứ việc gì nếu có thể. Chị ngỏ lời cảm ơn và cho biết có thể sẽ nhờ tôi “mang mấy thứ” qua Paris.

Lần thứ hai hẹn gặp chị, chị đề nghị đi ăn trưa. Chị hẹn tôi ở tiệm Old Stein, một nhà hàng Mỹ ở gần khu chị ở. Tôi báo cho FBI biết để họ cho người tới canh chừng khi chị và tôi ngồi ăn trưa.

Chị cho tôi xem tờ nguyệt san “Người Việt đoàn kết”. Thực ra đó không phải là một tờ báo theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ là những bản tin lấy từ những tờ báo của Cộng sản ở Hà Nội, được cắt dán in lại rất công phu. Tôi tự hỏi chị lấy tiền đâu để in và gởi cho gần 5.000 người, vì đó là tờ báo biếu. Chị không nói cho tôi biết về nguồn tài chánh, nhưng chị lại đề cập tới sự giúp đỡ của một linh mục, cha Trần Tam Tỉnh ở Canada. Chị nói thỉnh thoảng chị qua Canada thăm vị linh mục thân Cộng đó.

Chị tin tưởng hoàn toàn vào chánh phủ của Mặt Trận Giải Phóng và hãnh diện đã tham gia vào những hoạt động của Mặt Trận trong suốt thời kỳ chiến tranh. Chị không hề quan tâm tới những tiện nghi vật chất. Chị làm việc, ăn, ngủ và hoạt động chính trị trong căn phòng nhỏ xíu đó. Tấm đệm chị ngủ để ngay trên mặt sàn nhà. Căn phòng thiếu ánh sáng, bàn ghế ọp ẹp, lung lay. Cái bàn chị viết rung rinh, chị lấy hai chân kẹp lại cho vững khi chị viết. Quần áo thì chị cho biết toàn là đồ mua ở các tiệm bán quần áo cũ. Tất cả những thứ xa xỉ không làm chị bận tâm, miễn là có đủ sức khoẻ và cơ hội để phục vụ Mặt Trận Giải Phóng.

Khi tôi mô tả chị một cách trung thực, có ý phục sự đắc lực, kiên tâm của chị, có vài người trong cơ quan FBI chau mày. Bill hỏi tại sao tôi khen ngợi “VC ”. Tôi nghĩ rằng tôi không thể làm ngơ trước một con người xuất sắc, dù người đó ở một chiến tuyến khác.

Thoa không thích nói chuyện lâu qua điện thoại. Sau khi chúng tôi đã quen biết nhau, mỗi lần gọi tôi, chị kín đáo và ngắn gọn. Chẳng hạn như: “Nè, tôi đây. Ngày mai mình có thể gặp nhau vào giờ mọi khi và ở chỗ cũ không?”. Giờ mọi khi là 10 sáng và chỗ cũ là quán ăn Old Stein. Cứ gặp nhau hoài ở nơi nầy, tôi quen dần và thích đồ ăn của người Do Thái. Tôi cũng hiểu tâm trạng chị Thoa hơn. Chị hoạt động cho cách mạng trong thời kỳ phản chiến ở Mỹ; bây giờ chị có cảm tưởng bị cách mạng bỏ rơi. Tôi là sợi dây liên lạc giữa chị với những người đại diện cho chánh phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Paris và cả ở Việt Nam nữa. Chị nhờ tôi nói cho Huỳnh Trung Đồng ý nghĩ và cảm tưởng của chị. Nhưng chị Thoa đâu biết là Huỳnh Trung Đồng cũng ở trong hoàn cảnh của chị, nghĩa là sau khi MTGPMN giúp cho Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, thì trái chanh chỉ còn có cái vỏ. Bây giờ là tới lúc Hà Nội ngồi thưởng thức nước chanh; MTGPMN chỉ là một đống vỏ chanh thôi.

Theo tục lệ Việt Nam, tôi có thể không lịch sự với chị Thoa nếu tôi không mời chị về nhà chơi, trong khi tôi vẫn đi ăn tiệm với chị. Nhưng cả hai chúng tôi cũng không muốn dây dưa đến đời tư của nhau. Về tôi, chị chỉ biết số điện thoại của tôi, và sự kiện quan trọng: ba tôi là một nhân vật trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Không bao giờ tôi hỏi chị về chồng con, vì tôi không muốn chị hỏi về chồng con tôi. Những người đồng chí của chị ở Paris đã cho tôi biết về hoàn cảnh riêng tư của chị rồi. Họ còn nói: chồng chị là một “người Mỹ tốt”. Chồng tôi chắc không được các cán bộ Cộng sản đánh giá là “tốt”.

Sau nhiều lần nói chuyện với chị, tôi biết khá nhiều về những phần tử thân cộng ở nước Mỹ. Tổ chức của họ rất hạn chế, nhưng họ mạnh, nhiệt tình và đa số có học. Nhiều người trong tổ chức là những sinh viên trốn động viên dưới thời tổng thống Thiệu bằng cách không về nước sau khi đã tốt nghiệp đại học, và những sinh viên được học bổng rồi kẹt lại sau 30 tháng 4 năm 1975. Hầu hết những người nầy tham dự phong trào chống chiến tranh vào những thập niên 60 và 70.

Thoa giới thiệu với tôi một người trong nhóm sinh viên đó, tên là Trương Đình Hùng. Chị cho biết, anh là con của luật sư Trương Đình Dzu. Ở Việt Nam, ông Trương Đình Dzu là một người có tiếng tăm, giầu có và năm 1967 đã từng tranh cử tổng thống với ông Thiệu. Cuộc tranh cử nầy khiến ông gặp tai hoạ: ông Thiệu đã ra lệnh bắt giam ông, vì ông dám chống lại ông Thiệu. Một hôm, chúng tôi tình cờ gặp nhau ở cầu thang trong khu nhà của chị Thoa. Chị liền giới thiệu chúng tôi với nhau. Lúc đầu Trương Đình Hùng không thèm nhìn tôi, nhưng khi chị nói: “Chị Mỹ Dung là người do anh Huỳnh Trung Đồng ở Paris giới thiệu”. Trương Đình Hùng bỗng rối rít bắt tay chào tôi.

Mùa thu năm ấy, CIA lại cử tôi sang Paris lần nữa. Một tuần trước khi lên đường, tôi báo cho Thoa biết. Chị muốn nhờ tôi đem mấy thứ sang Pháp giùm chị. Nhưng chị không trao cho tôi ngay những thứ đó, mà hẹn tôi cận ngày đi ghé lấy. Tôi đành phải nghe lời chị dù rằng CIA và FBI đều cũng muốn biết vật đó là vật gì. Tôi tin rằng hai cơ quan tình báo và phản gián nầy có dư khả năng đối phó với mọi hoàn cảnh, cho nên tôi không hối thúc chị Thoa đưa đồ cho tôi sớm hơn.

Hai ngày trước khi rời Washington, D.C. tôi tới gặp Thoa để lấy mấy “món đồ”. Thường thường, Hùng không bao giờ có mặt khi tôi gặp chị, nhưng lần nầy, anh đợi tôi ở đó. Tôi đậu xe ngày trước cửa, rồi chạy lên căn phòng chị ở trên lầu hai. Tôi hết hồn khi trông thấy món đồ chị nhờ tôi đem sang Paris. Đó là hai thùng lớn và rất nặng, toàn những giấy tờ, gồm bản tường trình các buổi họp của quốc hội và mấy chục cuốn sách bìa cứng về chính trị và kỹ thuật: có một quyển “Jimmy Who?”. Năm đó là năm Jimmy Carter ra tranh cử tổng thống. Quyển sách viết về ứng cử viên Jimmy Carter. Trước khi tôi ra về, Hùng đưa cho tôi một bao thơ dán kín. Tuy ngoài bao thơ đề tên người nhận là ông Nguyễn Ngọc Giao, nhưng Hùng bảo tôi đưa cho anh Đồng. “Đừng đưa cho anh Giao”.

Hai tiếng đồng hồ sau, các nhân viên FBI và CIA đến nhà tôi xem xét hai thùng đồ của Thoa. Họ ghi lại tên các cuốn sách, nhưng họ không mở thơ dán kín của Hùng, vì họ chưa được phép của Bộ Tư Pháp để mở thơ của Thoa hay Hùng. Đó là thủ tục của con rùa hành chánh và cũng là luật lệ của một xã hội có nhân quyền. Tôi đành phải trao cho anh Đồng lá thơ nguyên vẹn.

Tháng 4 năm 1976, tôi viết thơ cho ông Nguyễn Văn Lũy, chủ tịch Hội Người Việt Yêu Nước ở Hoa Kỳ, người mà ông ông đại sứ Võ Văn Sung của Hà Nội muốn tôi gặp. Ông Lũy ngỏ ý mời tôi sang San Francisco gặp ông và các hội viên điều hành tổ chức Việt Kiều Yêu Nước do ông làm chủ tịch. Không những vậy, ông còn đề nghị tôi tới Christianburg, tiểu bang Virginia bí mật gặp hai “hội viên rất tích cực”, đang là sinh viên trường Đại học Virginia Tech. Tôi biết Lũy điều hành tổ chức của Cộng sản dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông bộ trưởng Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Do đó tôi muốn dồn hết nỗ lực vô việc nầy, và cần có người chỉ dẫn tích cực hơn Bill Reardon, người chỉ mơ đến chuyện đi Bangkok.

Tôi định thử thời vận, nên liều gọi cho cấp trên của Rob, ông Roger McCarthy, xin được gặp ông. Ông đồng ý gặp tôi ở tiệm McDonald, ở Vienna, Virginia để ăn sáng. Khi gặp ông, tôi đề nghị ông cho Rob thay Bill Reardon, dù Rob và tôi nhiều lần bất đồng với nhau về cách làm việc, cũng như về ai làm chủ tình hình, nhưng Rob rành việc, như anh rành lòng bàn tay mình.

Ông Roger mỉm cười và chỉ đầu hói của mình nói:

“Rob là nguyên nhân làm cho tôi rụng gần hết tóc rồi!”

Tôi cười theo ông.

Thế là Rob trở lại làm việc với tôi. Công việc của tôi trôi chảy hữu hiệu hơn.

o O o

Tháng Chạp năm đó là tôi bù đầu với cái việc của người làm gián điệp, Cứ mỗi Thứ Sáu, tôi lại phải gặp hai nhân viên FBI và CIA để báo cáo về hoạt động của tôi với mấy người Việt Nam thân cộng trong vùng Virginia và Washington, D.C. Từ ngày John là một sĩ quan tuỳ viên liên lạc quốc tế, chúng tôi thường được mời đến các toà đại sứ để dự tiếp tân, kể cả các toà đại sứ của các nước như Liên Xô, Úc, Ấn Độ, Thái Lan, Thuỵ Điển, Triều Tiên, Nam Phi, Nam Tư và Phi Luật Tân.

Trong khi đó, ở nhà, tôi phải sửa soạn tổ chức hai buổi kỷ niệm quan trọng. Thứ nhứt, là mừng sinh Lance lên sáu tuổi, vào ngày 9. Lance đòi rủ tất cả bạn trong lớp; có tất cả hai mươi hai đứa con nít học lớp Một. Tôi thầm nghĩ, một đứa con nít học lớp Một mà có khi chạy theo nó không kịp, thì hai mươi hai đứa, không biết có làm xuể không? Nhưng việc gì cũng bắt đầu bằng lần thứ nhứt mới rút tỉa được kinh nghiệm. Kế đó, buổi kỷ niệm lớn nhứt là mừng lục tuần của má tôi. Em tôi phụ lập một danh sách gồm những người được mời, gồm có các bà mẹ của các bạn tỵ nạn của chúng tôi trong vùng Washington và một cô hàng xóm sát vách của chúng tôi hồi còn ở Sài gòn. Chúng tôi âm thầm tổ chức và giữ hết sức bí mật. Đến ngày 16 tháng Chạp, đại lễ. Má tôi vừa ngạc nhiên, vừa ngỡ ngàng trước đông đảo bạn bè cũ từ Sài gòn và con cháu đến chúc thọ bà.

Đến tuần lễ đầu tiên của tháng Giêng, tôi mệt mỏi quá, nên dặn các em tôi: nếu “Việt Cộng gian ác” kêu, thì cho họ biết tôi đang nghỉ ngơi, không họp hành gì trong tháng nầy.

Nhưng sự nghỉ ngơi nầy cũng không thể thực hiện được, vì tôi mới nghe đồn rằng có một bà tên là Thu Novax đi hỏi loanh quanh tìm “một người con gái của ông đại sứ Việt Cộng ở Mạc Tư Khoa”. Vào thời gian đó, ngay cả những người bạn thân của tôi cũng không biết gì về ba tôi. Tôi gọi điện thoại cho Trương Đình Hùng, hỏi anh có biết ai tên là Thu Novax không? Hùng biết rất nhiều. Anh khuyên tôi không nên giao du với “hạng người ấy”. Anh và chị Thoa còn nói rằng Thu Novax lợi dụng sự liên hệ thân mật với đại sứ của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc là Đinh Bá Thi, để khoe khoang là chị thân Cộng. Cả hai còn e ngại rằng Thu Novax có thể làm những người trong tổ chức của Việt Kiều Yêu Nước bị tai tiếng. Tôi nói với Hùng rằng tôi muốn gặp Thu Novax, để tìm cách ngăn cản bà ta tiết lộ bí mật riêng của tôi. Lúc đó Hùng mới cho biết, Thu Novax là một thành viên trong Hội Người Việt Yêu Nước mà Nguyễn Văn Lũy là chủ tịch. Tôi gọi ông Lũy, xin ông số điện thoại của bà ta.

Tôi gọi Novax và tự nhận tôi là người bà đang kiếm, thì bà vô cùng mừng rỡ. Bà cho biết bà vừa gặp ông Đinh Bá Thi, đại sứ của Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc; chính ông Thi yêu cầu kiếm “con gái của ông đại sứ Minh”. Ông tin rằng con gái ông đại sứ thế nào cũng hợp tác, hoạt động với những người theo phe Cộng sản. Tôi yêu cầu bà từ nay đừng nhắc tới tên tôi với bất cứ ai, vì “tôi muốn ẩn danh”. Tôi không chấp nhận hay phủ nhận là tôi có hoạt động trong tổ chức của Việt Kiều Yêu Nước hay không.

Bà ngỏ ý muốn gặp tôi, vì bà tin rằng tôi có thể dạy bà về xã hội chủ nghĩa. Không biết những người thân cộng có hiểu chủ nghĩa Cộng sản không là một bịnh di truyền, mà là một bịnh của xã hội? Sau khi nói chuyện với bà Novax, tôi nói với nhân viên phụ trách, là tôi có thể xâm nhập phái đoàn Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Rob tỏ ý không thích tôi làm việc nhiều cho FBI. Trong khi đó, tất nhiên FBI cho đó là một ý kiến rất hay. Tôi đề nghị để tôi điện thoại với ông Đinh Bá Thi xem ý ông ấy ra sao, rồi mình sẽ tính nên làm gì sau đó.

Khi tôi gọi ông đại sứ Thi ở New York và kêu bằng “ông” thì ông sửa ngay:

“Kêu bằng chú đi, vì chú là bạn của ba cháu”.

Ông cho biết ông mới về Việt Nam và nghe các nhân viên trong Bộ ngoại giao nói chuyện về “gia đình đồng chí Đặng Quang Minh hiện ở Mỹ”. Ông đề nghị tôi đến thăm phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc. Ông nói:

“Cháu có thể tới càng sớm càng tốt. Tất cả các nhân viên ở đây đều biết ba cháu, là đồng chí của ba cháu. Không những vậy, chúng ta là người đồng hương”.

Tôi nghĩ rằng tất cả các cơ quan tình báo Mỹ đều muốn nắm lấy cơ hội nầy, để biết xem các phái đoàn Cộng sản hợp tác với nhau như thế nào. Nhưng một lần nữa, CIA không muốn tôi dính vô vụ nầy. Rob doạ sẽ “đuổi” tôi nếu tôi đi New York. Nhưng ông miễn cưỡng cho phép tôi nói chuyện với Bill Fleshman về lời mời của đại sứ Đinh Bá Thi. Tôi nói với Bill là sự xung đột giữa hai cơ quan tình báo, nên tìm cách giải quyết cho ổn thoả, đó là sự ganh ghét của hai bên có từ ngày hai cơ quan mới ra đời, không dính líu gì tới tôi, nhưng đừng để chuyện cắn đắng giữa cặp vợ chồng không xứng đôi vừa lứa nầy, mà cản trở việc làm của tôi. Cuối cùng, Bộ Tư Pháp bật đèn xanh cho tôi đi New York. Nhưng tôi tin rằng hai cơ quan đã có một cuộc tranh cãi gay go, mà tôi không được tham dự.

Tôi muốn gặp đại sứ Thi để phục vụ cho chánh phủ Mỹ. Ngoài ra, tôi cũng muốn gặp một nhân vật đã từng tham dự hoà đàm Paris, người mà Thái và Mimi, vợ chưa cưới của Thái, kể cả những người thân cộng ở Pháp nữa, rất hâm mộ. Tôi cũng muốn gặp các cán bộ Cộng sản khác ngoài Phan Thanh Nam và Huỳnh Trung Đồng. Có lẽ tôi đang kiếm một tia sáng trong bóng tối dầy đặc, một chút nhân tánh trong đám độc tài thiển cận ấy.

Trước khi đem tầu ra biển đánh cá, tôi muốn biết thêm về con cá mà tôi tính đánh trong mẻ lưới tới, nên tôi gọi cho Trương Đình Hùng, hỏi anh ta có muốn tôi mang gì cho phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc không? Anh trả lời có. Anh muốn nhờ tôi đem một lá thơ khẩn cho ông đại sứ. Tôi lái xe ra Washington D.C, để gặp Hùng bên ngoài một tiệm ăn trên đường Connecticut; tất nhiên là tôi đã báo trước với CIA và FBI. Chủ trương của tôi là không một hành động nào giữa tôi và phe Cộng sản, thân Cộng, mến Cộng, mà không báo cho hai cơ quan nầy, để tránh mọi hiểu lầm, và để được bảo vệ an ninh cho cá nhân và gia đình tôi.

Sau đó, tôi điện thoại cho ông đại sứ để báo tin tôi sẽ bay lên New York ngày 19 tháng Giêng, và muốn gặp ông ngay ngày đó. Ông đề nghị tôi không nên ở hotel; mỗi ngày phải vô ra trụ sở của ông, thì sẽ bị tình báo Mỹ theo dõi. Ông mời tôi cứ đến ở trọ trong nhà khách của cơ quan. Tôi vẽ ra dự tính của tôi với Bill Fleshman và Rob Hall: trong ba ngày làm khách ông Đình Bá Thi, tôi sẽ không gọi điện thoại cho hai cơ quan tình báo của Mỹ, nhưng tôi sẽ liên lạc với gia đình tôi bằng điện thoại. Nếu trong ba ngày mà tôi không kêu cho gia đình được, thì cả FBI lẫn CIA phải biết là đã có chuyện gì không hay xảy ra cho tôi.

Tôi mong rằng sẽ không có trục trặc gì khi tôi đến thăm phái đoàn. Chỉ có năm người làm việc tại trụ sở nầy: ông đại sứ, ông phụ tá Phạm Ngạc, người đã từng cộng tác với ông đại sứ ở Pháp và Thuỵ Sĩ. Người thứ ba là ông Phạm Dương, chuyện viên kinh tế. Rồi đến ông Hùng, quản gia kiêm đầu bếp. Người cuối cùng ông Văn, tài xế kiêm vệ sĩ của ông đại sứ.

Hai ông Hùng và Văn chắc chắn không phải là nhà ngoại giao. Ông Hùng không bao giờ một mình dám ra khỏi nhà với bất cứ lý do nào, trừ khi ông đi cùng với nhân viên trong phái đoàn. Ông không biết tiếng Anh và ông thù ghét Mỹ. Ông sợ mùa đông ở New York lắm, ghét xem quảng cáo thương mại trên truyền hình, và ghét luôn cả những tiệm bán tạp hoá lớn. Còn ông tài xế Văn là một người hình như pha trộn cả chất Á đông với một nông dân người Anh. Ông hút thuốc xì-gà, ăn uống và lái xe đều đội một cái nón chỉ có vành chung quanh và lưỡi trai ở phía trước, như một người đang ngồi sau tay lái một chiếc xe thể thao. Ông huênh hoang khoe “ông thích New York hơn Moscow, vì lái xe ở New York là cả một vấn đề đầy thử thách”.

Ngay ngày đầu tiên tôi tới thăm, tất cả chúng tôi cùng ăn trưa, rồi mọi người biến mất để đánh một giấc ngủ trưa. Qua lời đại sứ Đinh Bá Thi, tôi tưởng là cơ quan có phòng cho khách trọ, nhưng ông Văn phải nhường phòng của ông cho tôi, chuyển đồ đac sang phòng ông Hùng để ngủ. Dù phòng yên tĩnh và tôi hai tiếng để ngủ trưa, mà tôi cũng không chợp mắt được. Lâu quá rồi, tôi đã mất đi cái hạnh phúc được ngủ trưa từ ngày “Đế quốc Mỹ” sang Việt Nam. Họ thay đổi giờ làm việc của hành chánh nên ai ai cũng phải thức với người Mỹ. Tôi đành ngồi đọc tờ New Yorker cho qua giờ. Ông đại sứ Thi, sau khi ngủ trưa sang phòng gặp tôi. Ông mang theo một cái ghế để ngồi nói chuyện.

Ông mở đầu:

“Chẳng mấy khi chú có thể hỏi thăm đến má cháu. Má hồi nầy thế nào?”.

Tôi đáp:

“Sức khoẻ của má cháu tốt lắm, nhưng hoàn cảnh của ba má cháu thật éo le. Má cháu nhớ ba cháu và anh Khôi vô cùng. Nhưng má cháu biết rằng nếu bà về Việt Nam cũng sẽ gặp nhiều thử thách lắm”.

Tôi không hiểu sao tôi lại thành thật với ông. Có thể giác quan thứ sáu của tôi rất nhạy, khi tôi ngồi trước mặt người đàn ông nầy với vẻ mặt đầy thiện cảm. Ông nói:

“Đây là giữa chú Thi và cháu thôi nhé. Má cháu đã làm đúng, khi không trở về Việt Nam. Không đâu có thể bình yên bằng Hoa Kỳ được. Cho tới nay, người ta vẫn bất bình với má cháu và các cháu”.

“Có phải vì mấy chị em cháu lấy chồng người Mỹ không?”.

“Cả chuyện đó nữa, những đó chỉ là việc phụ”.

Dù ông không nói ra, nhưng tôi hiểu rằng việc má tôi bỏ Sài gòn chạy đi Mỹ trước khi quân giải phóng vô, đã khiến chánh phủ Việt Nam mất mặt.

Sau giờ ngủ trưa, ông đại sứ đưa tôi đi thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc. Khi đi qua gian hàng bán các quà lưu niệm của nhiều nước, tôi buồn vô cùng, vì sản phẩm của các nước bày la liệt mà không có một món đồ nào của Việt Nam, ngoài mấy cái nón lá, búp bê mặc áo dài, đội nón lá, vài tấm tranh sơn mài nhỏ. Nếu nhà Thanh Lễ thấy tranh nầy, chắc động lòng mà bố thí cho họ tranh của Thành Lễ, may ra để đẹp mặt cho ngành sơn mài của Việt Nam. Tôi hỏi ông:

“Chừng nào thì nước mình có thể trở lại bình thường như trước hả chú?”.

Ông nhìn tôi, rồi vội quay mặt đi mà không trả lời.

Hôm sau, mọi người đi làm hết, nhưng khoảng 11 giờ, Phạm Ngạc trở về, và chúng tôi nói chuyện về cộng đồng người Việt ở Mỹ, những người tỵ nạn lẫn những kẻ thân Cộng. Anh đưa cho tôi một xấp hình của người tỵ nạn ở khắp mọi nơi trên nước Mỹ; hình người ta sắp hàng đi biểu tình chống Cộng; hình bà con đứng chờ ở các văn phòng bảo trợ tỵ nạn như USCC, IRC, v.v… Anh nhờ tôi cố gắng nhận diện những người nầy. Tôi nhìn hết hàng trăm tấm hình, nhìn để biết những người Cộng sản nầy len lỏi trong cộng đồng người Việt tỵ nạn sâu bao nhiêu. Hình do chính những người tỵ nạn và hội viên của Việt Kiều Yêu Nước chụp, cung cấp cho phái đoàn. Tôi hỏi Phạm Ngạc mục đích của công tác nầy, thì anh ta cho biết đây là “kho tàng” của họ, vì qua tấm hình nầy ở hải ngoại, họ sẽ tìm tới những người tỵ nạn đó, vì ai cũng có bà con thân nhân bên nhà. Hình sẽ được gửi về Việt Nam để điều tra ai có thân nhân ở Mỹ.

“Đây là một kho tàng của Bộ Nội Vụ của chúng tôi chị à!”. Tôi thầm chửi thề trong bụng: “Thằng Bắc Kỳ, nó là nhân viên của Bộ ngoại giao Hà Nội, đi chụp hình người tỵ nạn Cộng sản, đưa về cho ‘Bộ nội vụ của chúng tôi’”.

Tôi kiên nhẫn xem từng tấm hình mà trong bụng buồn, ngao ngán vô cùng, vì tôi biết đây rồi người tỵ nạn cũng bị chia rẽ phân hoá, sẽ nghi ngờ nhau. Kẻ hèn sẽ theo Việt Cộng. Người có trí tuệ sẽ đứng riêng biệt ra, rồi đánh nhau. Ông ngoại tôi đã phân tích hồi chúng tôi còn nhỏ. Ông nói: “Thằng Tây nó tốn xương, tốn máu làm chi cho uổng, để Việt Nam mình đánh nhau vài trăm năm là mất Việt Nam, rồi ung dung vô đây mà hưởng”.

Phạm Ngạc cho biết, ông có một người bạn làm cây cầu liên lạc cho phái đoàn ngoài giới hạn 25 dặm theo luật của Liên Hiệp Quốc. Nhân viên của phái đoàn trong Liên Hiệp Quốc không được hoạt động quá 25 dặm ngoài thành phố New York. Vì vậy, ông cần có người liên lạc ngoài giới hạn đó, kể cả những người trong hội “Việt Kiều Yêu Nước”. Ông khoe ông có một bà bạn người Mỹ. Ông cho biết:

“Bà ta rất tốt với chúng tôi. Bà không những là một người trí thức, mà còn có tinh thần phóng khoáng. Bạn của bà có nhiều người là triệu phú, trong đó có một ông là chủ nhiều tiệm bán quần áo đàn bà, trong hệ thống dây chuyền trên toàn quốc”.

Ngạc cầm một lá thơ, rồi hỏi tôi về Peter Arnett, phóng viên của hãng thông tấn AP. Ông nầy muốn được phép đi qua Việt Nam. Tôi cười mà cho ông biết rằng các nhà báo Mỹ, cũng như các chính khách Mỹ rất thích những đề tài không bình thường vậy. Vì nếu ký giả Arnett ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam, thì độc giả phản chiến không thèm đọc. Tôi biết ông nầy đã từng ở Sài gòn mấy năm để lấy tin chiến tranh. Ngạc hỏi:

“Như vậy hắn phải biết rất rõ về Việt Nam, phải không?”.

Tôi trả lời ngay:

“Làm sao ổng có thể hiểu rõ về Việt Nam được, khi ổng qua Việt Nam cỡi ngựa xem hoa, đi giầy Tây, mặc đồ ký giả. Đa số đám ký giả Mỹ chỉ muốn tìm hiểu xem tiền người dân Mỹ được tiêu xài như thế nào, để đăng báo. Cũng có người muốn đề cập tới những nỗi đau khổ trong cuộc chiến. Cũng có những ký giả muốn cho người đọc của họ biết về cuộc chiến hấp dẫn kỳ lạ, những đau khổ mà người Việt Nam nghèo đói phải chịu đựng. Đa số dân Mỹ chỉ biết Việt Nam một cách hời hợt, qua mấy ông bà ký giả nầy. Nhiều người còn tưởng Việt Nam toàn rừng rú, đầy bệnh tật, ruồi muỗi, sình lầy, nơi nào cũng có mìn, cũng có bàn chông. Và họ nghĩ rằng dân Việt Nam đều là hành khất, rách rưới, đĩ điếm; con nít thì đánh giầy, đàn ông thì làm cò mồi cho Việt Cộng. Những nông dân thiệt thà, chất phác đều ở trong vùng giải phóng và tất cả là Việt Cộng, chỉ muốn được bình yên.

Rồi tôi kết luận:

“Anh không cần biết lập trường chánh trị của Peter Arnett, vì khi nhận được thẻ nhà báo, thì nó phải quên đi lập trường riêng của nó rồi”.

Ngạc nhận xét:

“Chị không ưa nhà báo, phải không?”.

o O o

Vào ngày thứ hai của cuộc viếng thăm, trong khi mọi người ngủ trưa, ông đại sứ Thi lại đến nói chuyện với tôi vì tôi không ngủ trưa. Tôi rất mừng được dịp nầy. Tôi muốn biết ông thật tình nghĩ gì về chánh phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và vị trí của ông trong chánh phủ đó. Tôi và ông Thi nói chuyện về những mơ ước thầm kín của chúng tôi về tương lai nước Việt Nam. Ông tâm sự:

“Chú đã sống xa vợ con cả nửa cuộc đời. Giấc mơ của chú là một căn nhà nho nhỏ có vườn để trồng rau và nuôi gà… và có thể nuôi cả heo nữa”.

Tôi hỏi:

“Chú thích ở đâu?

“Thủ Đức, cháu à. Chú đã đi nhiều nơi xem phong cảnh đẹp ở khắp miền Nam. Cuối cùng chú mê Thủ Đức vì con sông Đồng Nai. Bao giờ xây được căn nhà trong mộng tưởng ấy, chú có thể ngắm những con gà tranh nhau ăn. Các con chú buổi chiều tan sở của Sài gòn sẽ về nhà bằng những chiếc xe gắn máy mới và cùng chú ngắm mặt trời lên trên bờ sông ngay trước nhà”.

Ông say sưa nói với nụ cười trên môi, nhưng hai mắt đỏ hoe. Tôi cũng không giấu được tình cảm của tôi, nên tôi đặt tay tôi lên tay ông mà nói:

“Chú Thi, cháu hy vọng giấc mơ của chú sớm thành sự thật”.

“Chú cũng mong được như vậy trước khi quá trễ. Thím không được khoẻ, và chú đã xin phép chánh phủ cho thím sang bên nầy để tìm bác sĩ chữa trị cho thím”.

“Bao giờ thì thím sang?”.

Ông lắc đầu:

“Đơn của chú đã tới nơi cao nhứt trong chánh phủ rồi, nhưng chú chưa nhận được trả lời. Nước nào thì cũng có sai lầm trong hệ thống quản trị của một chánh phủ. Nhưng ở nước ta, điều tệ hại nhứt là không tin nhau. Vợ không bao giờ được đi theo chồng khi chồng công tác ở hải ngoại”.

Tôi nhận xét:

“Không riêng gì Việt Nam mình đâu, chú. Cháu thấy cả các nhà ngoại giao Nga lẫn các nước cộng sản đều như vậy”.

Ông cất tiếng cười, rồi hỏi:

“Cháu có hình dung được rằng một người ở trong địa vị của ba cháu, lại có thể bỏ trốn theo tư bản khi ba được cử làm việc ở nước ngoài, mà chánh phủ cho anh cháu đi theo không”.

Ông vừa cười vừa lắc đầu, như cho đó là một chuyện không bao giờ xảy ra, nhưng nhà nước của chú thì lúc nào cũng sợ bị phản bội.

Lời nói của ông khiến tôi nảy ra một ý nghĩ, nên liền hỏi ông:

“Má cháu có thể xin phép được gặp anh Khôi của cháu ở hải ngoại không chú?”.

“Cháu cứ thử nói với má cháu viết thư cho ông Tổng bí thư Lê Duẩn xem sao; chú sẽ chuyển thư giùm má cháu”.

Tôi buồn bã nói:

“Một người mẹ phải xa con trai tới hai mươi năm, đó là một thời gian dài quá chú à”.

Ông sốt sắng nói:

“Nếu chánh phủ ta không đáp ứng được một nhu cầu tầm thường như vậy, thì cũng không thể thực hiện được những giấc mơ của người dân trong nước. Cháu nói với má cháu là chú sẽ hết lòng giúp má cháu”.

Thực sự cảm động trước tấm lòng của ông, tôi nói:

“Bây giờ thì cháu hiểu tại sao những người cháu gặp ở Paris đều khen chú là một người đặc biệt, có tình, không như những người khác trong họ ngoại giao.

Nhưng ông nói như để cảnh cáo tôi:

“Cháu đừng có nghi ngờ lòng trung thành của chú với đất nước Việt Nam và con đường chú đã chọn để phục vụ tổ quốc. Nhưng, chủ nghĩa xã hội hay cộng sản đều không ngăn cấm chúng ta đem hạnh phúc lại cho dân tộc, và đưa tổ quốc tới một tương lai rực rỡ. Chú đã thoát ly gia đình để phục vụ tổ quốc. Nay, nếu sự hy sinh đó không đem lại hạnh phúc cho dân tộc, thì chắc chắn phải có sự sai lầm nào trong hệ thống mà chú đang phục vụ”.

Tôi nói:

“Chú Phan Thanh Nam giải thích về đảng khác với chú”.

“Cháu nói Nam trong phái đoàn của Mặt Trận Giải phóng ở Paris?”.

“Dạ”.

Chú Thi lắc đầu tỏ vẻ chán nản, nói:

“Chú Nam cũng là người miền Nam. Loại người theo khuôn khổ, kỷ luật, không cấp tiến trong quân đội. Chú ấy vừa được chuyển sang công tác mới nên hăng hái lắm!”.

“Cháu đã có dịp nói chuyện với chú Nam chung quanh việc “làm cái gì cho Việt Nam”. Có hai lần ông đề nghị cháu kêu chồng cháu ăn cắp những tài liệu giá trị của chánh phủ Mỹ. Ông còn nói là nếu cháu còn muốn gặp ba cháu nữa, thì cháu phải chứng tỏ cháu trung thành với Việt Nam. Chú Nam hứa sẽ báo cáo cấp trên ở Việt Nam là cháu đang làm việc cho chú ấy”.

Vẻ mặt bình tĩnh của đại sứ Thi biến mất. Ông hít một hơi dài rồi nói:

“Có thể má cháu biết ông Đỗ Mười, những chú chắc cháu thì không, vì hồi đó cháu còn nhỏ quá. Ông Đỗ Mười là bạn chí thân của ba cháu. Chú tin rằng ông không bằng lòng khi biết cháu liên lạc với Phan Thanh Nam”.

Ông nói tiếp:

“Mỹ Dung, nghe chú nói đây. Cháu là con gái của ba cháu. Việt Nam là quê hương của cháu. Cháu không cần phải làm việc cho chú Nam để được cấp giấy thông hành về Việt Nam. Nếu chú ấy lại nhắc đến chuyện đó nữa, cho chú biết ngay. Chú Nam làm việc giỏi, nhưng đôi lúc cũng tàn nhẫn lắm”.

Tôi thay đổi đề tài, để tìm hiểu thêm về những liên lạc của ông trong giới người Việt ở Mỹ:

“Chú đã gặp anh Trương Đình Hùng ở Washington chưa?”.

“Hùng và bạn của anh ta là chị Thoa, là hai người đã tiếp đón chú khi chú tới Washington. Có việc gì vậy?”.

“Cháu nghĩ anh Hùng hiện đang hoạt động cho chú Phan Thanh Nam. Thỉnh thoảng cháu có gặp anh ấy”.

Tôi định nói, Thoa thì không còn được Hà Nội trọng dụng như trước nữa, vì đối với Cộng sản Hà Nội, chị chỉ là dụng cụ “chống Mỹ cứu nước”, chớ không phải là người được theo Cộng sản. Khi còn chiến tranh, Mặt Trận Giải Phóng và Cộng sản Bắc Việt len lỏi lợi dụng tất cả mọi người, tất cả các hội đoàn, đảng phái chánh trị, sinh viên, Phật giáo, Công giáo hay bất cứ ai. Bây giờ chiến tranh đã chấm dứt và họ đã thắng trận; họ thanh lọc để chỉ còn bè phái băng đảng của họ thôi. Chị Thoa là một nhân vật quan trọng trong phong trào phản chiến, nhưng bây giờ Hà Nội chỉ thích loại người như ông Lũy, đứng đầu hội Việt Kiều Yêu Nước. Lũy có tiền, có sự nghiệp, có nhà ngoài bờ biển San Francisco. Ông từng là điệp viên của Cộng sản từ thập niên 1950. Thoa tận tuỵ “chống Mỹ cứu nước” với hai bàn tay trắng và tấm lòng. Những quý giá nầy không xây được nhà lầu, không tạo nên sự nghiệp, thì hết chiến tranh rồi, nó trở thành vô dụng, vô duyên trước mắt Cộng sản. Lũy và Thoa đã từng tranh chấp quyền hành và Thoa đã thua. Anh Đồng ở Paris khuyên chị nên gia nhập tổ chức của ông Lũy như một đoàn viên mới. Đã vậy, anh còn viết thơ cho tôi, nhờ tôi khuyên chị Thoa nên đi học lại để xây dựng một cuộc đời mới. Đó cũng là một hình thức chia tay nhân đạo của người Cộng sản.

Ông đại sứ Thi nói bằng một giọng trầm tĩnh:

“Chú biết Hùng. Anh ta là người có nhiều tham vọng và sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì để đạt tới mục đích của anh. Hùng là người tình nguyện hợp tác với cơ quan của chú. Cháu không cần phải làm gì hết, nếu cháu không muốn. Khi nào cháu gặp Hùng thì biểu hắn cứ tiếp tục gởi những thứ đó lên trên nầy”.

Tôi hỏi:

“Liệu anh có hiểu “những thứ đó” là cái gì không?”.

Ông Thi nhìn tôi mỉm cười gật đầu. Tôi để yên câu hỏi đó cho thời gian trả lời.

Ngày cuối cùng ở New York, tôi mời ông đi ăn tối và đi xem vũ Ballet, vì hai ngày trước tôi nghe ông Thi nhắc vũ Ballet ở Pháp, và ông rất thích môn giải trí nầy. Dù tôi không thích, nhưng cũng nhận lời. Tôi gọi cho một tiệm ăn Pháp để giữ chỗ. Tôi biết, tôi có thể mua vé xem vũ Ballet qua điện thoại, nhưng tôi muốn có dịp đi ra ngoài, để kêu cho văn phòng FBI ở New York, báo cho họ biết chương trình tối nay của tôi. Vì vậy, tôi nói với Thi, tôi phải đi lấy vé.

Nhưng khi tôi đã sắp sửa ra đi, ông đại sứ tới phòng tôi cho biết ông rất lấy làm tiếc không thể đi ăn tôi và xem vũ Ballet với tôi được. Ông nói:

“Ông Dương nghĩ rằng chú cháu mình không nên đi riêng một mình tối nay”.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

“Tại sao lại không thể đi được chú Thi? Tiệm ăn nầy đâu có vượt quá hạn đã định?”.

Ông đáp:

“Tụi CIA và FBI sẽ chụp hình chúng ta, rồi báo chí đồn ầm lên rằng đại sứ Đinh Bá Thi đi ăn, đi uống với một người đàn bà Việt Nam ở New York”.

Vừa nói, ông vừa đưa một tờ báo lên cao, chỉ vô hàng tít lớn. Tôi liền đề nghị:

“Thế thì tất cả mọi người cùng đi cho vui”.

Ông đáp ngay:

“Như vậy thì tốn nhiều tiền lắm. Không nên”.

Ông đề nghị, ông Hùng và tôi đi xuống phố Tàu để mua thức ăn về nhà làm cơm ăn chung với tất cả mọi người. Thế là ông đầu bếp và tôi cùng đi với ông tài xế Văn. Tôi nhờ ông Hùng chọn mua những thứ để làm những món ăn mà ông Thi ưa thích. Ngoài ra, tôi cũng đề nghị ông mua những thức ăn khô cần thiết để dự trữ như nấm đông cô, gạo, mì, bún, bánh tráng, nước mắm, tất cả những đồ gia vị. Ông Hùng ngần ngại, những tôi nói tôi sẽ trả tiền.

Cuộc sống của phái đoàn ở thành phố New York nhộn nhịp nầy thu gọn trong cái nhà cao ốc, mọi người bảo vệ nhau, gìn giữ nhau, kiểm soát nhau. Tôi có cảm tưởng như họ không bỏ được những thói quen ở Hà Nội; hay là họ không được tự do để thích ứng với đời sống ở một xã hội tự do.

Đại sứ Thi nói, ngân khoản của phái đoàn rất eo hẹp; vì vậy cho nên mọi người nhịn ăn sáng. Còn bữa trưa và tối thì quá nghèo nàn, nhưng theo ông, vẫn đủ chất bổ dưỡng.

Nếu có ai yêu cầu tôi sáng tác một bản nhạc mô tả bầu không khí sinh hoạt trong căn nhà của năm người đàn ông nầy đang sống, tôi sẽ gom góp lại tất cả những âm thanh của ba máy truyền hình và ba cái radio cùng mở một lúc liên tục cả ngày, cộng với đó tiếng rào rạt của mấy tờ báo được lật qua lật lại trong nhà. Đó là âm thanh của căn nhà ấy.

Thời gian hấp dẫn nhứt đối với họ, là giờ tin tức sáng, trưa, tối. Đổi đài radio và TV theo giờ; giờ tin tức là công tác quan trọng của mấy ông Hùng, Văn và Phạm Ngạc. Họ thu vô băng cả những tin tức, rồi chuyển về nước.

Họ không có thì giờ để giải trí. Trong nhà không có một bộ bài, hay một bàn cờ tướng. Ông Thi giải thích:

“Những thứ giải trí ấy là xa xỉ. Chúng tôi phải làm việc vì chánh phủ gởi chúng tôi sang đây để làm việc”.

Hầu như không bao giờ họ ra khỏi trụ sở của phái đoàn, ngoài việc đi từ nhà đến trụ sở Liền Hiệp Quốc, đi phố Tàu mua sắm. Vì vậy, những nhận xét của họ về nước Mỹ được gởi Việt Nam chỉ là những nhận xét bị đóng khung trong một căn nhà nhỏ hẹp, với những kỷ luật khắt khe. Họ xét đoán “đế quốc Mỹ” theo những gì họ thấy trong truyền hình. Họ đã làm đúng theo cương vị của các nhân viên trong một phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Tôi nhớ, năm 1954, khi hoà ước Geneve đẻ ra Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ở Việt Nam, ông ngoại tôi đã nhận xét: “Tụi nầy chỉ làm được một chuyện, là cho giá mướn nhà và tiền mướn đầy tớ ở Sài gòn tăng vọt lên thôi”. Còn ông cậu tôi thì cho rằng: “Đám Uỷ hội nầy không làm được đách gì hết”.

Dù tôi không có ý nghĩ hay ho nào về phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, nhưng tôi vẫn kính phục đại sứ Đinh Bá Thi. Trước khi được nói chuyện riêng với ông, tôi đã cố gắng tìm hiểu ông, để xem có thể vạch đường cho ông đào thoát không? Nhưng sau buổi nói chuyện đó, tôi cảm thấy mắc cỡ với chính tôi, vì đã có ý nghĩ đó. Tôi biết chắc rằng, với bất cứ giá nào, không ai có thể mua chuộc được ông, cũng như không ai mua chuộc được ba tôi. Vì vậy, tôi thành thực cầu chúc ông thực hiện được giấc mộng của ông, là xây dựng một căn nhà ở Thủ Đức, bên bờ sông Đồng Nai, để sống yên ổn với gia đình. Ông nhận lời chúc mừng, với một nụ cười trong mắt ông.

Nhưng, khi ông trở về Việt Nam, thì những ngày cuối cùng của ông khác với giấc mộng ông hằng ấp ủ.

Đã mười năm nay, đã có nhiều giai thoại về đại sứ Đinh Bá Thi. Tôi chỉ biết chắc chắn một điều về ông, là ông đúng là một nhà ái quốc như ba tôi. Chỉ khác hơn ba tôi, là ông dám phê bình đảng. Chỉ có người ra lịnh giết ông mới biết nguyên do cái chết của ông thôi.

o O o

Từ ngày tôi làm việc cho CIA, đã nhiều lần Rob muốn tôi trắc nghiệm với máy dò sự thật. Tôi không hiểu tại sao ông ta muốn vậy. Tôi không nghĩ rằng CIA có một chút nghi ngờ gì về tôi. Họ biết rõ tôi là ai, và tại sao tôi cộng tác với họ. Ngoài ra, tôi không tin cái máy với những dây điện tử có thể hiểu rõ tôi hơn nhân viên chỉ huy tôi, vì ông đã cùng đi xa với tôi nhiều lần, làm việc sát cánh với tôi, rồi cùng thảo luận với nhau hàng trăm tiếng đồng hồ trong nhiều trường hợp. Rob luôn luôn nói với tôi rằng điều đó có thể làm cho sự liên lạc giữa ông và tôi dễ dàng hơn, nhưng nếu tôi không muốn làm trắc nghiệm cũng không sao. Tôi thì cực lực phản đối cách thức tìm hiểu sự trung thực của một cộng tác viên theo phương pháp đó.

Nhưng rồi việc phải đến đã đến. Việc thử máy nói thật trở nên bắt buộc khi tôi từ New York trở về với những bản báo cáo cuộc viếng thăm đại sứ Đinh Bá Thi của tôi. Rob nói rõ phải thử máy nói thật, nếu không thì không ai có thể chấp sự kiện tôi thản nhiên ca ngợi “kẻ thù” như vậy. Theo tôi, các cơ quan tình báo không sao hiểu được rằng tôi có thể tách rời con người ra khỏi ý thức hệ và chánh phủ của họ.

Vài ngày sau khi tôi từ New York về, Rob và tôi ăn trưa với Bill Fleshman để thảo luận về bản báo cáo của tôi cho FBI. Bill thì nghĩ khác. Theo anh, những nhận xét trung thực của tôi với đại sứ Đinh Bá Thi giúp cho tình báo Mỹ biết cá tánh của ông đại sứ và từng người trong phái đoàn. Nhưng, ngay sau khi Bill vừa đi khỏi bãi đậu xe, Rob đã nhắc tới việc thứ máy nói thiệt. Ông nói: “Hàng năm tôi phải làm cái việc nầy một lần” với ngụ ý rằng tôi không thể ra ngoài lệ thường.

Tôi giận dữ nói một cách bướng bỉnh:

“Một năm anh làm hai lần cũng kệ anh, không mắc mớ gì tới tôi. Tôi biết tôi, nhưng có thể anh không biết anh; thì với anh, việc làm trắc nghiệm cho chắc, là phải”.

Khi tôi đã vô ngồi trong xe, Rob còn giữ cửa mở, nói:

“Nè nhỏ, hãy biết điều một chút! Tôi muốn cô coi việc nầy một cách nghiêm chỉnh hơn. Với loại tin tức như của cô, ngay cả ông lớn nhứt trong “công ty” cũng phải thử máy nói thiệt”.

Tôi vẫn không chịu, nói lớn:

“Dù có cả chục ngàn người làm như vậy, cũng không có nghĩa là điều đó đúng”.

Trong đời tôi, tôi chưa nhìn thấy có bộ mặt nào để lộ nỗi thất vọng to lớn bằng một ông Rob lúc nầy.

Nhưng chuyện nầy không dễ dàng bỏ qua. Sau nhiều tuần cãi cọ, tôi bắt đầu phải nhượng bộ. Tôi nghĩ rằng đây là cái lệ bắt buộc của sở; đến ngay ông xếp lớn và các nhân viên trong sở đều phải làm, thì tôi cũng phải tuân theo cho đúng lề luật. Tôi nói với Rob:

“Thôi được, nếu cần, ông cứ nói chuyên viên lấy dây mà trói tôi lại”.

Nghe tôi nói vậy, Rob tỏ vẻ mừng như muốn nhảy một vòng tango.

Nhưng nói cho ngay, trắc nghiệm cũng không có gì là ghê đối với tôi hay với các nhân viên CIA dù tôi đã làm cho họ hoảng sợ. Trong các câu hỏi ngớ ngẩn, có một câu đáng chú ý là: “Ngoài CIA, tôi còn làm việc cho cơ quan tình báo hay tổ chức phản gián khác không?”. Tôi trả lời: “Có!”. Thế là Rob và nhân viên điều khiển máy cũng hoảng sợ.

Tôi phì cười, nói tiếp: “Tôi còn làm việc cho FBI nữa!”

Nhìn vẻ mặt hai người, tôi không rõ họ có coi FBI là cơ quan bạn hay không. Nhưng hai người nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm. Chuyên viên đặt lại câu hỏi:

“Ngoài CIA và FBI, cô còn làm việc cho cơ quan tình báo hay tổ chức nào không?”.

Tôi đáp ngay:

“Không, tôi không làm việc cho ai hết”.

Rồi từ đó, CIA không còn nghi tôi vừa làm việc cho họ vừa lén lút hoạt động cho nhóm khác, như KGB hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cũng như cho chánh phủ Hà Nội. Có thể họ đã biết như vậy từ trước, nhưng họ vẫn muốn bắt tôi phải làm trắc nghiệm cho chắc.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 37

Cửa sổ phòng khách sạn Sheraton của tôi trông ra nghĩa trang Montparnasse. Sau khi tắm cho sạch hết những dơ bẩn của toà đại sứ, tôi đứng bên cửa sổ, đem tâm trở về với cái thân mệt mỏi nầy. Một ý nghĩ vui vui hiện lên trong óc tôi. Trong nghĩa địa kia có người lính nào tử trận Điện Biên Phủ nằm không? Nghĩ đến cuộc chiến tranh của thực dân Pháp trên quê hương, tôi lại ghét thằng Tây nhiều nữa. Ác cảm của tôi với nước Pháp mỗi ngày một tăng, trong thời gian tôi ở đây. Cho tới cái tay vịn cầu thang bằng đồng cũng làm tôi nhỏ đến đạn đồng, bom đạn mà quân đội viễn chinh Pháp trút lên quê hương tôi.

Tôi lắc đầu để cố quên đi dĩ vãng, rồi đi ăn trưa và nghiên cứu bản đồ xe điện ngầm, tìm đường tới biệt thự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thăm ba má tôi. Khi ra khỏi trạm xe điện ở vùng ngoài ô Paris, tôi mở cửa một xe Taxi, đưa cho tài xế địa chỉ của biệt thự tại 49 đường Cambaceres.

Ông tài xế liền hỏi tôi:

“Bà định đến cơ quan của Việt cộng?”.

Khi tôi xác nhận bằng tiếng Anh, ông ta hỏi tôi có biết Pháp không. Tôi phải thú thật là tôi không biết. Ông bèn vén tay áo thun lên để cho tôi thấy hai chữ “Việt Nam” xâm trên vai. Ông cũng cho biết ông đã từng ở Việt Nam năm 1952 và 1953

Advertisement

Tôi hỏi ông có biết tiếng Anh không thì ông lấy tay ra hiệu “Biết chút chút”. Tôi liền hỏi:

“À, Việt Minh đuổi ông xuống tầu?”.

“Bà là Việt cộng?”.

“Không, tôi là người Quốc Gia”.

Ông vui vẻ nói:

“Tốt! Tốt!”.

Rồi ông bắt đầu cho xe chạy. Khi đến nơi, ông cựu lính viễn chinh không chịu thối tiền cho tôi, viện cớ không có tiền lẻ. Tôi tức giận định la ông, thì chợt trông thấy ba má tôi đứng trên bao lơn biệt thự nhìn xuống. Cảnh êm đềm hiếm có ấy làm tôi nguôi giận. Tôi vội vàng mở của xe bước ra.

Má tôi đi vào phòng. Cảnh nầy làm tôi nhớ lại thời chúng tôi ở tầng lầu hai, chung cư trên đường Nguyễn Văn Sâm, Sài Gòn. Má tôi thường đứng trên bao lơn đợi chúng tôi đi làm về. Khi thấy bóng chúng tôi, bà vội vào nhà để mở cửa cho con.

Một ông già, hình như là một người giúp việc, đón tôi ở cửa, và nói bằng một giọng chân tình:

“Rất vui mừng được đón tiếp cô ở đây”.

Tôi chắp tay, cúi đầu chào ông theo kiểu Việt Nam. Ông cũng cúi khom lưng để đáp lễ. Tôi kêu ông bằng “ông Các”. Nhưng sau đó ba tôi dặn tôi kêu là “bác Các” cho thân mật.

Trời tháng 9 của Paris có thể dễ chịu với người Pháp, nhưng lại lạnh đối với một người Việt Nam như má tôi. Bà đã quen khí hậu nóng ở Việt Nam và Hawaii. Bà đứng cạnh một bồn bông súng, mặc cái áo len dầy và trùm kín đầu bằng một khăn quàng màu đỏ. Trong khi đó, ba tôi chỉ mặc một chiếc áo sơ mi tay dài. Bác Các đưa chúng tôi vào một phòng khách và mang trà nóng ra. Sau đó, bác xuống nhà bếp để sửa soạn bữa ăn tối cho chúng tôi. Bác cho biết đây là một dịp đặc biệt, nên bác tự tay nấu nướng, dù bác nấu cũng không ngon lắm. Để tăng cường cho bác, sứ quán gọi hai người đàn bà tới phụ. Họ là hội viên của Việt Kiều Yêu Nước.

Sau khi bác ra khỏi phòng, má tôi và tôi nhìn nhau, không nói một lời, nhưng đều có ý không thích những người nầy ở gần chúng tôi. Má tôi chỉ muốn được ở bên ba tôi mà không bị ai nhòm ngó, rình rập. Má tôi muốn tìm hiểu ba tôi hơn, sau hai mươi năm xa cách. Má tôi cũng muốn biết ba tôi nghĩ gì về cuộc “giải phóng” tại quê nhà.

Lợi dụng khi ba tôi ra khỏi phòng mấy phút, tôi hỏi má tôi thấy thế nào khi được gặp lại ba tôi. Má tôi khóc, bà nói:

“Má muốn cho con biết để con yên lòng, là ba con muốn má về Việt Nam với ba. Còn họ, tụi Nga muốn má về, nên đã làm ầm ĩ chuyện nầy để tuyên truyền. Ba con chưa dám nói thiệt với má, nhưng má đã biết hết rồi”.

Tôi xác nhận:

“Má à, con nói chuyện với chú Nam, thì ra ý đồ của họ là như vậy. Con không quan tâm về chuyện tuyên truyền của họ; con chỉ muốn biết, khi má trở về Việt Nam, mà có được ăn toàn không?

Má tôi nghẹn ngào nói:

“Thằng John đã liều mạng, không kể hiểm nguy cho nghề nghiệp, để cứu má và hai đứa nhỏ. Không có một lý do nào, mà má phụ hết công lao do của vợ chồng con”.

Tôi vội lắc đầu lia lịa, nói:

“Đó là bổn phận của tụi con trong giờ phút đó. Quên công lao đó đi. Đó là chuyện quá khứ. Con nói chuyện bây giờ nè. Má về Việt Nam với ba không?

Bà chưa kịp trả lời thì ba tôi trở vào phòng. Ông ngỏ ý muốn đưa tôi đi xem quanh nhà, mà ông kêu là “biệt thự lịch sử”. Ông tỏ ra hãnh diện về ngôi nhà nầy. Thật ra thì cũng đáng hãnh diện vì đây là nơi trú ngụ của các lãnh tụ nổi tiếng trong khi dự hoà đàm Paris. Đó là ông Lê Đức Thọ và bà Nguyễn Thị Bình và nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa. Cũng chẳng có gì nhiều để coi vì nhà đang sửa lại, đồ đạc chất đống trong một căn phòng Nhưng tôi phải tỏ ra thích thú và thán phục khi đi vòng quanh nhà, cho ba tôi vui.

Ngay cả khi chúng tôi nói chuyện về ngôi nhà, tôi thấy ba má tôi có vẻ buồn trong ánh mắt. Tôi thấy mình bất lực. Dù sao tôi cũng là người ngoài cuộc: chỉ có ba má tôi mới giải quyết chuyện riêng của hai người. Khi chúng tôi còn sống ở Sài Gòn chị em tôi thường kêu tôi là người có “ba đầu sáu tay”, vì tôi có khả năng giải quyết nhiều chuyện khó khăn trong gia đình. Bây giờ mà có 6 đầu 18 tay cũng bất lực, vì đây là chuyện chỉ có thể giải quyết giữa hai trái tim.

Ba tôi vui lắm bên vợ con, dù hoàn cảnh quá mong manh:

“Ba à, con mơ ước ngày đoàn tụ của mình lâu quá rồi!

Ba tôi vui vẻ nói:

“Ba phải công nhận rằng con rất có công trong việc nầy. Con đã thu xếp cho má sang đây với ba, ngồi cùng một phòng nói chuyện với ba.

Má tôi nói:

“Con không thể nào chạy nửa vòng trái đất để được gặp ba con vài ngày, vài tuần, sau lưng đảng của ba con. Tới lúc con phải hiểu, những điều kiện nào hai cha con mới được gặp nhau?”.

Trời ơi, má tôi đi guốc trong bụng Cộng Sản, mới hiểu mà thắc mắc vấn đề nầy. Chắc má tôi nghĩ rằng, tôi đã phải tuân theo những điều kiện của Cộng Sản, để được gặp ba tôi. Ba tôi nhắc nhở má tôi:

“Chuyện riêng tư thì từ từ giải quyết!”.

Má tôi có giọng bất mãn:

“Ở Nhựt, ông đã không dám cho “đồng chí” của ông biết nó là con gái ông. Tôi không thích như vậy!”.

Tôi nháy mắt ra dấu cho má tôi hay giữ bình tĩnh, và đừng vì tôi mà trách móc ba tôi. Thật ra, hồi ở Nhựt tôi đau lắm, nhưng tôi cho rằng đó là điều cần thiết, để ba tôi giữ uy tín với các cán bộ Cộng Sản, khi được chút tự do ra khỏi nước. Nếu Cộng Sản biết được rằng các con của ba tôi hiện sống ở Mỹ, vẫn tìm cách liên lạc với ông, thì chắc chắn họ sẽ không cho ông được hưởng chút tự do nào nữa.

Bữa ăn tối rất ngon, với nhiều món đặc biệt và thuần tuý Việt Nam. Tôi ăn như người bị đói, đến nỗi ba má tôi hỏi tôi có ăn trưa không?

Khi bác Các và hai người đàn bà dọn cơm xong, họ đóng cửa đi xuống nhà bếp; chúng tôi nói chuyện gia đình, nhắc tới những ngày xa xưa. Ba má tôi nói tới con cái, cả những tánh tốt lẫn điều xấu. Khi má tôi khen tôi – rất hiếm khi tôi được khen như vậy – bà cho biết các con đã tận tình săn sóc bà. Khi phê bình tôi, bà nói:

“Con nhỏ nầy làm tôi bạc đầu, cho tới khi nó đi lấy chồng. Nó đúng là con gái của anh”.

Ba tôi cười và khen má tôi đã dạy dỗ chúng tôi nên người. Khi ba tôi nói tới Hoà Bình thì hai mắt của ông sáng lên. Ông vừa nói vừa nhìn tôi:

“Ba nhớ Hoà Bình… hồi ở Kim Qui trời đẹp, mình hay ăn bên ngoài cái sân nước trước nhà. Nó cứ nhảy xuống sông, con mau mau nhảy theo vớt nó; ngày nào nó cũng làm vậy, và lần nào con cũng nhanh nhẹn nhảy theo vớt nó lên. Ba nhớ con chó của mình, nó hay nằm giữ Hoà Bình lắm”.

Tôi hỏi:

“Ba có nhớ có lần ba làm thử nước mắm không?”.

Ba tôi chưa kịp nói gì, thì má tôi đã xen vô:

“Tôi khổ vì hai cái thùng nước mắm thúi quắc đó”.

Chúng tôi cười phá lên vui vẻ. Sau đó, ba tôi hỏi má tôi làm gì hai thùng nước măm của ông? Bà đáp:

“Anh không tin đâu, có một gia đình tới hỏi mua hai thùng nước mắm đó. Chắc họ muốn nuôi ruồi sau hè”.

Ba tôi vui vẻ nói:

“Nước mắm của anh làm ngon hơn nước mắm em mua ngoài tiệm”.

“Đúng!”. Má tôi vừa cười vừa nói bằng một giọng trêu ba tôi “Tằm của anh nuôi kéo nhiều tơ hơn tằm của người ta. Còn con của anh thì khôn hơn con của người ta vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dưa leo anh trồng lớn hơn dưa leo của anh Mười Cừ. Mía của anh cũng ngọt hơn mía của người khác trồng”.

Ước gì có chị em cũng chia sẻ những giây phút thần tiên đó.

Hôm đó, có một người đàn ông ghé qua villa trong Verrieres-la-Buisson gặp ba tôi. Trong khi người tài xế của ông ngồi đợi trong xe, ông và ba tôi vào phòng khách để nói chuyện. Vì phòng nầy đang được sửa sang, nên không có bàn ghế gì hết, hai người phải đứng bên cửa sổ thì thầm.

Má tôi về phòng nằm nghỉ. Nhận lúc vắng vẻ, tôi lên lầu hai để xem xét, thăm dò. Trong một văn phòng sát phòng ngủ của ba má tôi, tôi thấy có nhiều ngăn đựng giấy tờ, có cả những ngăn chứa toàn hồ sơ cũ, giấy đã ngả sang mầu vàng. Tôi vuốt nhẹ tay những tờ giấy vàng đó, và nghĩ rằng những hồ sơ nầy có nhiều giá trị đối với chánh phủ Hoa Kỳ, mà tôi nên đọc qua, hoặc định chụp hình để đưa cho Rob. Nhưng phòng nầy không đủ ánh sáng nên máy hình của tôi không chụp được. Tôi đóng cửa phòng rồi bắt đầu quan sát. Tôi không dám bật đèn, vì sợ người tài xế xe Mercedes từ dưới nhìn lên có thể thấy rõ. Tôi mở một ngăn và đọc sơ qua một vài trang giấy, thì mới biết cái bàn giấy nầy là của bà Nguyễn Thi Bình, bộ trưởng ngoại giao của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam . Tôi kéo ghế ngồi xuống. Tôi đọc lướt qua một vài tờ giấy nữa, rồi cảm thấy mắc cỡ vì bà ta cũng là một phụ nữ Việt Nam, mà lại phục vụ cho một tà đạo.

Trong ngăn kéo, có một lá thơ của một người đàn bà Mỹ chúc bà Bình gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp trong hội nghị hoà đàm Paris. Người đàn bà nầy ca tụng bà Bình là một con người có bản chất yêu chuộng hoà bình. Đoạn cuối của bức thơ, ba yêu cầu bà Bình và chánh phủ Hà Nội cũng như chánh phủ lâm thời miền Nam hãy thả các tù binh Mỹ. Bà cho biết, cháu bà đã bị ép buộc phải chiến đấu cho chánh phủ bù nhìn Nam Việt Nam và đã bị bắt làm tù binh.

Bà Bình đã phê vô cuối lá thư: “Bà nầy điên khùng quá, không trả lời”.

Lá thơ thứ hai của bà mẹ một anh lính trẻ đang chiến đấu ở Việt Nam. Bà tự nhận là một người “phản chiến”. Bà khẩn khoản xin bà Bình và Chánh phủ Hà Nội cố gắng chấm dứt chiến tranh, và hỏi bà có thể làm gì, để giúp Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sớm chấm dứt chiến tranh.

Tôi tin rằng em trai tôi sẽ không bao giờ cho phép má tôi đi van xin kẻ thù chấm dứt chiến tranh, để nó được về nhà với má.

Bà Bình viết vào lá thơ cho thơ ký trả lời: “Bà nầy có thể khuyên con trai đòi bồi thường khi nó về Mỹ, nhưng đừng viết vào thư trả lời. Bảo bà ấy hãy vận động và liên kết với hàng xóm giềng, chống chính sách của chính phủ về chiến tranh tại Việt Nam. Đồng ý với bà ấy là con bà phải được ở cạnh bà, chớ không phải ở Việt Nam”.

Lá thơ thứ ba của một cô gái Mỹ, bầy tỏ lòng ngưỡng mộ bà Bình và “những cố gắng của bà để tiến tới hoà bình trên tổ quốc của bà. Tôi hổ thẹn làm công dân Mỹ trong giai đoạn nầy, vì Việt Nam là nước duy nhứt bầy tỏ lòng yêu chuộng hoà bình”. Lá thơ còn tỏ ra thiếu dè dặt khi cô gái viết: “Tôi mong rằng nhờ bà và dân tộc Việt Nam mà chúng tôi có thể thấy lại được ánh sáng cho nước tôi, sau những ngày đen tối. Hơn thế nữa nước Mỹ hiểu rằng, dù là một cường quốc cũng phải tôn trọng hoà bình”.

Bà Bình viết cho thơ ký: “Tiếp tục gửi tài liệu cho cô gái nầy và cho người của chúng ta tiếp xúc với cô ấy. Đây là một nhân vật có thể xài được”.

Tôi định đọc tiếp, thì nghe tiếng ba tôi kêu. Tôi ngó qua lỗ khoá, thấy ông đang đứng giữa nhà nhìn dáo dác tìm tôi. Tôi mở cửa, lẻn ra, và rón rén bước xuống cầu thang ra vườn, rồi mới vào nhà trở lại; tránh cho ba tôi thấy tôi trở ra từ văn phòng bà Bình.

Tôi ghẹo ba tôi:

“Việt cộng gian ác tới gặp ba chi vậy?”.

Ba tôi cười nụ cười héo hắt, trả lời:

“Đó là nhân viên toà đại sứ đến lấy giấy tờ của má để xin chiếu khán cho má về Việt Nam, qua ngả Mạc Tư Khoa”.

Tôi không hiểu ba tôi có biết tôi cất giấy tờ của má tôi trong tủ sắt trong khách sạn không? Ba tôi cho nhân viên toà đại sứ biết rằng, má tôi còn cần suy nghĩ thêm một thời gian nữa. Tôi thấy đây là một chuyện rất khó khăn cho ba má tôi, khi phải chạm mặt với thực tế. Nó có thể làm tan vỡ ảo tưởng về sự sum họp tại ngôi biệt thự nầy. Ba tôi có vẻ lo lắng trong khi má tôi lại tỏ ra chán nản. Tôi nhìn bà, định nói một câu gì, nhưng bà đã lên tiếng trước:

“Tui không thích bị dồn vô cái thế nầy… đừng có để ai ép buộc tui”.

“Ai ép má?”. Tôi hỏi.

Ba tôi liền đi ra khỏi phòng, mà không nói một lời nào. Tôi im lặng nhìn theo ba tôi, rồi đến ngồi lên mép giường má đang nằm. Bà nói:

“Họ tới cho ba con biết họ đã giữ chỗ cho ba má trên chuyến bay đi Mạc Tư Khoa, rồi về Hà Nội vào cuối tuần nầy”.

Tại sao người ta lại sắp xếp ngày giờ cho ba má tôi đi? Hai người muốn đi chừng nào thì cho họ biết, chớ tại sao họ lại cho ba má tôi biết chừng nào phải đi theo chỉ thị của họ? Hồi đó tới giờ, chưa có ai biểu má tôi đi thì đi, ở thì ở bao giờ.

Chuyện nầy làm tôi nhớ lại một câu chuyện cổ tích đọc hồi nhỏ. Người ta tin có thiên đàng và địa ngục. Sứ giả của địa ngục là bọn quỷ sứ thường đi đón người sắp chết để về “dưới đó”. Một hôm, quỷ sứ đến gặp một bà già đang bịnh nặng: “Mời bà đi. Đã đến lượt bà rồi”. Bà già cố ngồi gượng dậy và quát lớn: “Cút đi! Đến lượt nhà ngươi chớ không phải của ta,. Ta đợi con trai của ta còn đi đánh giặc chưa về. Con của ta sẽ trở về sau cuộc chiến tranh để lấy vợ và sanh cho ta lũ cháu nội!”.

Ba tôi để hai mẹ con tôi ngồi nói chuyện, rồi lên giường nằm ngủ.

Lại sợ “vách có tai”, nên má nắm tay tôi dẫn ra ngoài sân nói chuyện.

Bà kể, bà đã hỏi ba tôi nửa đùa nửa thật:

“Khi tôi về bên nhà, tụi “cán ngố” nó làm gì tôi hả anh?”.

Ba tôi nhăn mặt:

“Sao em dùng danh từ không hay chi vậy em?”.

“Thì người người trong Nam của tui nói sao, tui nói vậy!”.

“Anh nợ em nhiều lắm, không làm sao trả hết, vì vậy, anh phải nói thật với em để sau nầy em không trách anh. Em về, các anh sẽ mời em lên nói chuyện. Có thể em sẽ đi họp vài ngày rồi thôi, em về với anh”.

Má tôi nói lại rằng bà vừa tội nghiệp, vừa thương ba tôi, khi nghĩ rằng ông đã lấy hết can đảm, hết tình chồng vợ mà trút hết sự thật với má tôi, nhưng bà cũng la lên:

“Vác cái mặt lên cho mấy thằng đó mắng chưởi chớ gì!”.

“Không có ai dám xúc phạm em, nhưng đi học tập ít ngày rồi về!”

“Tôi khôn hơn ông Hồ Chí Minh của anh, thương dân thương nước hơn anh Ba Duẩn của anh, thì ai mà dạy tôi để mà học với tập! Thôi, tôi không về, cho đẹp lòng hai bên”.

Má tôi kể lại. Bà nói, ba tôi không nói, mà im lặng cả buổi trưa.

Tôi thầm nửa mừng, nửa xót xa khi biết má tôi đã từ chối không về Sài Gòn. Tôi can má dùng giận ba tôi, vì đó không phải là ý của ông. Công bằng mà nói, cả tuần nầy ba tôi chìu má, nhượng bộ hết.

o O o

Tôi gọi cho Rob nhiều lần, khi tôi đã trở về khách sạn vào 9 giờ tối, nhưng không gặp ông. Rỗi rảnh quá, tôi ngồi lại viết báo cáo về cuộc viếng thăm ngôi biệt thự. Nó hơi dài, tôi thiếu loại giấy đặc biệt mà ông cho tôi hôm trước, nên tạm xài thêm giấy viết thơ.

Tôi mong Rob đến lấy bản báo cáo ngay tối hôm đó, vì tôi không muốn để nó trong phòng tôi, lỡ bị an ninh Pháp, hoặc gián điệp Nga KGB lén vô phòng tìm thấy thì rất phiền phức. Tôi tìm quanh phòng để kiếm một chỗ an toàn, tạm giấu bản báo cáo nầy trong đêm nay. Mấy bức tường thì cứng ngắc, còn thảm thì đóng chặt trên sàn. Trong chỗ máng quần áo có một giàn để máng áo phía chót của cái giàn bằng sắt tròn, có cái nắp bằng cao su đậy cái lỗ của thanh sắt, tôi gỡ cái nắp cao su đó, quấn tròn mấy trang báo cáo lại, rồi bỏ vô thanh sắt, đậy nắp lại. Xong xuôi, tôi rửa mặt, súc miệng, lên giường ngủ, ngủ ngon như một em bé.

Khoảng mười giờ sáng Rob tới gặp tôi. Trao ngay cho ông bản báo cáo xong, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Ông có vẻ ngạc nhiên, vì không ngờ lại có bản báo cáo sớm như vậy. Cũng có thể, tối hôm qua ông đi chơi khuya, chưa sẵn sàng làm việc sáng nay. Ông gấp bản báo cáo lại, rồi cất vào túi trong áo jacket.Tôi nửa đùa nửa thật nói:

“Nếu ông bị cướp hỏi thăm, thì cho chúng nó cái Rolex và thẻ đi metro, đừng cho nó lấy bản báo cáo của tôi nhen”.

Rob cũng mê tín dị đoan, nên nhăn mặt mà nói:

“Cái miệng của bà linh lắm, đừng nói vậy chớ”.

Khi tôi kể lại cuộc “thám hiểm” của tôi trong văn phòng bà Bình, Rob hơi giựt mình, và khuyên tôi không nên trở lại đó nữa. Không phải là vì an ninh của tôi mà ông khuyên tôi như vậy. Mãi sau nầy tôi mới biết rằng CIA không còn quan tâm, không muốn đả động đến đám phản chiến. Từ ngày chiến tranh chấm dứt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị lu mờ và Cộng Sản Hà Nội đã nắm hết. Bây giờ CIA chỉ nhắm vào Phan Thanh Nam vì Nam đã đốt nhịp cầu của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam , sau khi bước qua với chánh quyền Hà Nội. Họ không để cho cái bóng ma của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời nhát họ nữa.

Một buổi sáng, tôi đi xe điện ngầm từ Gaite tới St. Michel, rồi đi bộ trên lề đường để xem các quầy bán sách vở. Trong một thoáng, tôi có cảm tưởng tôi đang đi trên đường Lê Lợi ở Sài Gòn. Tôi thấy vui vui. Chung quanh tôi, người ta toàn nói tiếng Pháp. Sau khi ăn điểm tâm tại một tiệm cà phê đối diện với nhà thờ Notre Dame (Đức Bà), tôi quyết định gọi Thái. Anh ở nhà vợ chưa cưới ở Meudon, ngoại ô Paris. Bà mẹ vợ chưa cưới của anh cho biết, anh hiện đang làm việc ở toà đại sứ của Hà Nội. Thế là tôi biết Thái không phải chỉ là sinh viên, mà còn là một nhân viên tại của toà đại sứ.

Tôi nghĩ rằng nếu tôi cho bà ta biết tôi là ai, thì tôi có thể biết thêm được một số tin tức khác. Tôi liền xưng danh, và nói rằng tôi đang ở Paris để thăm viếng ba tôi là ông Đặng Quang Minh. Bà liền vui vẻ reo lên:

“Tôi biết anh Minh. Gia đình tôi rất quý anh. Cảm ơn cháu đã cho biết cháu là con gái anh Minh!”

Tôi hơi có mặc cảm tội lỗi khi nghe giọng thân mật của bà. Vì thế tôi không biết nói gì hơn nữa, chỉ xin bà cho anh Thái biết tôi đã gọi. Bà liền cho tôi số điện thoại của toà đại sứ Hà Nội và đề nghị tôi gọi cho Thái để cùng đi ăn trưa. Tôi nói tôi không muốn phiền anh khi anh đang làm việc. Nhưng bà nói thêm:

“Cháu cứ kêu Thái đi. Anh ấy chắc chắn rất vui được gặp cháu. Cũng có thể Thái sẽ đưa cháu đến Hội Người Việt và giới thiệu với ông chủ tịch hội.

Hội Người Việt này là hội của những Việt kiều theo Cộng Sản. Làm sao tôi có thể bỏ qua cơ hội đẹp như vậy? Tôi vội ghi số điện thoại toà đại sứ Hà Nội, và cám ơn bà rối rít. Tôi không có ý định kêu ngay cho toà đại sứ, vì không biết có bị an ninh chìm của Pháp hay của ai khác theo dõi không? Do đó, tôi nghĩ rằng phải hết sức cẩn thận. Tôi theo đám đông các du khách để đi thăm nhà thờ Đức Bà.

Trong một tiệm buôn lớn trên đường Haussman, tôi dùng điện thoại công cộng để gọi cho toà đại sứ Hà Nội. Người trả lời điện thoại cho biết Thái đang họp với ông đại sứ, nếu tôi có việc khẩn cấp cấp, thì ông ta sẽ mời Thái ra ngay. Như vậy là thêm một chi tiết quan trọng về Thái. Anh làm việc trực tiếp với ông đại sứ. Có thể những điều anh nói với tôi là ý kiến của ông đại sứ. Như vậy, giao thiệp với anh rất có lợi. Tôi cảm ơn người trả lời điện thoại và hẹn sẽ gọi lại.

Tôi cảm thấy tôi đang gặp may. Nhưng khi tôi đi dạo xem phố phường, chợt nhớ tới ba má tôi và hoàn cảnh hiện tại của ông bà, thì mây đen kéo đến che phủ nền trời trong sáng. Không còn hứng đi chơi nữa, tôi đi xe điện ngầm về và gọi điện thoại ngay cho ba tôi. Ông tỏ ra vui vẻ và muốn tôi cũng vui như ông. Tôi đề nghị ông đưa má tôi vào Paris để cả ba cùng đi chơi, mua sắm lặt vặt. Nhưng ông cho biết, ông đi đâu cũng phải đi với một người trong toà đại sứ; đó là hộ vệ viên của ông. Nhưng ông hứa, ngày mai ông có thể đi cùng với Thái để cùng má tôi và tôi đi mua sắm.

Tôi viết một bản báo cáo về những điều mới khám phá liên quan tới Thái, để trao cho Rob khi ông tới gặp tôi vào buổi chiều. Ông tỏ vẻ vui thích về khám phá này. Chúng tôi đồng ý là tôi cần đến Meudon gặp Mimi, vợ chưa cưới của Thái và gia đình cô ta. Có thể có nhiều tin tức mới lạ.. Nhưng tôi cần chờ đợi người ta mời, hơn là tự tiện đến. Rob cho rằng tôi nên giữ thế thụ động để Thái tìm cách chỉ bảo tôi về thế giới của xã hội chủ nghĩa.

Rob cho biết sẽ gửi bản báo cáo của tôi về Langley ngay tối nay. Sau đó, Rob mời tôi đi ăn tối, để mừng công việc có chút tiến bộ. Chúng tôi sẽ đến một tiệm mà ông thích. Nhưng chúng tôi cẩn thận đi riêng, chỉ gặp nhau trạm xe điện ngầm St. Francois-Xavier. Tối hôm đó chúng tôi được ăn một bữa thật ngon, và tôi đã uống rượu hơi nhiều.

Khi tôi trở về khách sạn, người làm việc ngoài quầy tiếp khách đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ trong hộc để chìa khoá phòng thì tôi biết Thái kêu tôi khi tôi đi vắng.

o O o

Khi Thái kêu và cho biết anh cùng ba má lời đang đợi ở dưới nhà, tôi vội vã chạy xuống ngay. Chúng tôi tới nhiều tiệm để coi hàng hóa. Ba tôi mua một máy quay phim. Nhưng khi má tôi đề nghị đến một tiệm bán quần áo đàn ông để mua cho ba tôi mấy sơ mi, thì ba tôi tỏ vẻ không thích. Ba tôi nói:

“Anh có đầy đủ rồi”.

Theo tôi biết, nếu một người đàn ông chỉ cần có bốn áo sơ mi thì có thể coi như ba tôi có đủ cả rồi. Má tôi năn nỉ nhiều lần, ông mới chịu mua mấy cái áo, nhưng nhất định không chịu mua quần. Ông chỉ mua thêm hai áo, và một vài quần lót cho anh Khôi thôi. Thấy vậy, tôi cũng đành đồng ý, dù trong lòng tôi hơi ghen với anh. Dù đã lớn, anhvẫn được ba tôi cưng chiều. Trong một thoáng, tôi nghĩ rằng nếu tôi ngưng hát những bài ca chống cộng bên tai ông, thì có lẽ tôi cũng được cưng chiều như anh Khôi. Thôi lớn rồi, biết ba má thương yêu nhau, đời cưng chiều tôi đến mức này là lý tưởng vô cùng rồi.

Trong chuyến đi mua sắm đó, vào một lúc vắng vẻ chỉ có hai mẹ con, má tôi cho biết bà đã có quyết định về tương lai của hai người rồi. Ba má tôi đã thảo luận rất lâu, và đã đi đến một kết luận, là má tôi nên trở về Mỹ với các con. Lúc đó, tôi không tiện hỏi lý do vì sợ Thái có thể nghe được. Tôi rất mừng là ba má tôi đã có một quyết định chung, dù quyết định đó có thể làm cả hai đau lòng lắm.

Khi mua sắm xong, bất ngờ Thái cho biết Phan Thanh Nam muốn gặp má tôi và tôi tới toà đại sứ Việt Cộng. Chúng tôi không muốn gặp Nam chút nào, nhưng lại không dám từ chối, vì Thái là người lái xe, mà chúng tôi lại không muốn tỏ thái độ thật của chúng tôi cho anh ta biết.

Khi chúng tôi tới toà đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thái độ của Nam đã thay đổi hẳn, không còn niềm nở như lần đầu gặp chúng tôi nữa. Ông tỏ vẻ lạnh nhạt đối với má tôi; không cười, dù chỉ là một nụ cười xã giao. Tôi đoán ông đã mất bình tĩnh khi phải chờ đợi quá lâu quyết định của má tôi. Ông chào đón má tôi song vẻ mặt lạnh lùng, nặng như chì.

Ngay khi chúng tôi vừa tới nơi, bà Như Phi, vợ một khoa học người Pháp, mời ba tôi lên văn phòng của bà ở lầu hai, để hỏi ý kiến ông về cách đối phó với Chánh phủ Gia Nã Đại về một chiếc tầu mới tới Gia Nã Đại sau khi miền Nam sụp đổ. Tàu đó chở đầy đồ cổ quý giá của miền Nam, mà chính quyền mới ở Sài gòn muốn lấy lại.

Thanh, bác “tài xế”, cũng đã ngồi ở phòng khách với Nam khi má tôi và tôi vào ngồi trong đó. Nhìn mặt má tôi, tôi biết bà không muốn nói chuyện với “thằng lùn” (biệt danh mà má tôi đặt cho Nam), nhưng bà im lặng chờ đợi. Sau khi Nam và Thanh đưa mắt nhìn nhau, Nam tằng hắng theo thói quen, rồi hỏi má tôi đã quyết định trở về Việt Nam chưa?

Má tôi đáp:

“Tôi quyết định rồi, chú Nam à”.

Bà dùng chữ “chú” để tỏ ra mình là người trên đối với kẻ ít tuổi hơn.

Thanh và Nam đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ vui mừng. Như cái máy, cả hai chồm tới để nghe má tôi nói, rồi cùng nhìn má tôi chờ đợi. Bà bình tĩnh nói:

“Tôi sẽ rời Paris thật sớm, nhưng tôi không về Sài gòn”.

Cả hai cùng tỏ vẻ kinh ngạc, ngồi bất động và giữ im lặng rất lâu. Cuối cùng, Nam lên tiếng bằng một giọng yếu ớt:

“Tôi không hiểu chị nói gì”.

Má tôi nói:

“Để tôi giải thích cho hai chú hiểu. Ba nó và tôi cùng phục vụ tổ quốc bằng hai đường khác nhau. Ảnh đi làm cách mạng, còn tôi nuôi dậy con cái. Không ai thay thế cho ai được. Cũng không thể lơ là bổn phận nặng nề của mình”.

Thanh ngắt lời má tôi:

“Nhưng các con chị đã trưởng thành và hoà bình đã tái lập trên quê hương ta”.

“Chú Thanh, chú cho tôi nói hết đã. Tôi còn hai đứa nhỏ. Đành rằng Việt Nam bây giờ không còn đánh nhau nữa, nhưng ba nó và chánh phủ mới còn nhiều việc phải làm lắm. Tôi lớn tuổi hơn hai chú, tôi đã trải qua chiến tranh, rồi hoà bình, rồi chiến tranh, nên tôi biết, mấy tháng mấy năm sắp tới không dễ như hai chú tưởng đâu”.

Hai nhà ngoại giao ngồi nín thở nghe người đàn bà Cần Thơ giản dị trình bày.

Ngưng một chút, bà tiếp:

“Không có tôi, ba nó có nhiều thì giờ rảnh rỗi để lo việc quốc gia đại sự. Trong khi đó, hai đứa con nhỏ của tôi sẽ được tôi che chở, săn sóc nơi xứ lạ quê người. Tôi xin hai chú trình bày ước vọng của tôi cho cấp trên ở Hà Nội biết”.

Hai nhân viên cộng sản ngồi im lặng, cố gắng vừa nghe má tôi nói chuyện, vừa nuốt trái đắng. Tôi nhìn lên tường có bức in chân dung của Hồ Chí Minh và câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tôi nghĩ rằng “Bác Hồ” chắc phải thích má tôi lắm, bà lúc nào cũng tỏ ra có tinh thần độc lập và đang thực hành lời nói lãnh tụ để được hưởng tự do.

Má tôi quay lại nói với tôi:

“Con à, mình làm mất thì giờ của chú Nam nhiều quá rồi!”.

Tôi biết hai chú không muốn gì hơn là “mất nhiều thì giờ” cho má tôi. Vì họ đã mất thì giờ tính toán kỹ càng chiến lược của họ để sắp xếp cho “vấn đề” của bá. Trong khi hai người đang lúng túng, tôi bỏ ra khỏi phòng, để lại một mình má tôi và hai ông Cộng Sản. Tôi chạy lên lầu xem ba tôi đã nói chuyện với ba Như Phi xong chưa. Bà cho biết ba tôi hiện ở trong phòng trọ của khách. Tôi vội tới đó, thấy ba tôi đang đứng bên cửa sổ, ngắm nhìn bầu trời tháng 9 của Paris.

Tôi đến bên ông và quàng tay ôm lấy lưng ông, rồi nhìn ra ngoài. Cây hạt dẻ trước toà đại sứ đã đổi sang mầu nâu, lá rung rinh mỗi khi có gió lướt qua, và lác đác rụng xuống lối đi. Tôi hỏi nhỏ:

“Ba nghĩ gì vậy, ba?”.

“Ba đang nhớ tới mùa thu ở quê mình. Ba nhớ tới mùa gặt trên cánh đồng của ông nội khi ba còn nhỏ”.

Trong khi ông nói, tôi nhận thấy nụ cười buồn man mác trên môi ông, một nụ cười của người đang nhớ nhà. Tôi nói:

“Ba ơi, con có thể nhắm mắt để nhớ lại cánh đồng ngập lúa vàng của bà ngoại vào mùa gặt”.

Ông vuốt nhẹ mái tóc tôi, rồi nói:

“Ba đã về thăm cô của con khi ba từ Hà Nội vào Nam. Một buổi sáng, ba đi thăm ruộng. Không khí mát mẻ, ngọt ngào; ba nghe như có tiếng chuông reo trong gió. Lá cây lấp lánh ánh nắng bình minh. Ba không ngờ ba lại còn có may mắn được trở lại nơi chôn nhau cắt rún. Ba bốc một nắm đất cầm chặt trong tay, rồi mơ ước được hưởng cảnh thanh bình này với gia đình ba”.

Ba tôi nhìn vào xa xăm. Quê hương và người và sắp đi xa. Tôi nói:

“Lạ lắm ba, mỗi lần con nghe mùi lá cháy ngoài đồng là ruột gan con xao xuyến. Có biết bao nhiêu kỷ niệm trở lại trong đầu óc con; kỷ niệm vui buồn, rối beng như tơ vò, mà con chỉ biết khóc thôi. Ba à, sao yêu mà đau đớn quá vậy ba?”.

Ba tôi lắc đầu:

“Ba cũng không biết trả lời câu hỏi đó!”.

“Hồi con nhỏ, mỗi lần buồn chuyện gì, con khóc. Nếu khóc nhiều, con chỉ thấy đau ở quai hàm. Vậy mà sao người ta vẫn kêu là đau trong tim, nên thường có chữ “tan nát trái tim”. Con thắc mắc về chuyện này hoài mà không biết hỏi ai”.

Ông biết, tôi có ý nói lúc tôi lớn lên ông không ở gần để trả lời những câu hỏi của tôi. Vì vậy, ông nói:

“Ba tiếc đã bỏ lỡ một thời tuyệt đẹp trong đời của ba. Đó là thời mà các con đang lớn lên. Ba không được chia sẻ với các con những nỗi đau buồn, những niềm hạnh phúc, những hy vọng và những thất vọng, để có thể trả lời các con những điều thắc mắc”.

“Ngày xưa ba với ông nội có thạn mật với nhau không?”.

Ba tôi vui vẻ đáp ngay:

“Ông nội yêu ba hơn cả yêu chính bản thân ông. Nhưng giữa ba với ông nội có tính cách nghiêm trang theo lễ nghi. Ba gọi ông bằng Thầy. Nhưng bà nội lại không giống những người đàn bà Việt Nam khác. Bà công khai bày tỏ tình thương, âu yếm con cái, ngay cả với ông nội nữa, không một chút e thẹn.

“Ba có biết, con đã rất buồn một thời gian dài, khi phải mang họ Trần, để được yên thân với công an dưới thời của ông Diệm không”.

“Con là con của ba, về máu huyết lẫn tâm hồn, con à. Không có ai có thể chối bỏ được điều đó”. Ba tôi mỉm cười.

“Không có ai chối bỏ được, kể cả điện Cẩm Linh. Con muốn ba biết chắc như vậy”.

Ba tôi cười đồng loã với tôi:

“Kể cả điện Cẩm Linh, ai cũng phải công nhận con là con của ba”.

Rồi ba tôi đổi giọng nghiêm trang:

“Con săn sóc má giùm ba, nghe con”.

“Dạ, con xin hứa chắc với ba điều đó”.

“Còn về phần ba, ba cũng hứa cố gắng hết sức để đem lại hoà bình và thịnh vượng cho toàn dân, vì ba biết điều đó quan trọng lắm đối với con”.

Tôi biết rằng một cuộc chia ly khác đã bắt đầu trong đời chúng tôi một lần nữa và lần này sẽ kéo dài không biết bao lâu. Tôi siết mạnh tay ba tôi, rồi nói:

“Con rất muốn có một ngày con với ba đi dạo trên cánh đồng của ông nội, để mình nghe tiếng chuông reo trong gió, để nếm hương vị ngọt ngào trong bầu không khí trên miếng đất của ông bà nội con”..

“Ba sẽ chờ con về”.

Tôi liền nói:

“Đau lắm ba ai. Tối hôm qua, con so sánh tâm trạng của con lúc này với tâm trạng của ba khi thực dân Pháp cai trị Việt Nam, con mới biết tội nghiệp cho ba hồi đó lắm…”.

Nói đến đây, tôi vội ngưng lại, vì nhớ ra rằng “rừng có mạch, vách có tai”. Tôi đang đứng trong sào huyệt của Việt Cộng, và người ta có thể lén đặt máy nghe khắp nơi. Tôi không thể nói thật ý nghĩ của tôi được nữa.

Ba má tôi và tôi được mời ăn tối cũng ông đại sứ Võ Văn Sung và phu nhân tại toà đại sứ Hà Nội. Nhưng sau khi má tôi cho Phan Thanh Nam biết sẽ không về Việt Nam, thì bà không muốn gặp các nhân vật của Hà Nội nữa. Khi Nam cho biết bữa tiệc tối nay là để ăn mừng ngày sum họp của ba má tôi, thì bà càng thấy cuộc gặp gỡ càng không hợp tình hợp lý nữa. Nam miễn cưỡng không muốn là người báo tin xấu với ông đại sứ. Ông nói thêm ông bà Sung muốn gặp má tôi và tôi lắm.

Nhưng má tôi đã quyết định khước từ. Phan Thanh Nam chịu thua.

o O o

Chiều hôm đó, Thái lái xe đưa ba má tôi trở về biệt thự ở Verrières-le-Buisson và đề nghị tôi đi cùng. Tất nhiên là tôi chịu liền, vì tôi biết rằng cơ hội được gần ba má tôi sắp sửa không còn nữa. Tôi phải tận hưởng những giây phút tuyệt vời này càng lâu càng tốt.

Tuy nhiên, trong chuyến đi này, chúng tôi không thể tự do nói chuyện riêng tư, vì Thái lắng tai nghe hết. Chúng tôi chỉ nói đến chuyến đi chợ hồi sáng đó. Chúng tôi đã tới tiệm Lafayette và nhớ tới cuốn catalog đã được xem từ nhiều năm trước ở quê nhà. Trong thời Pháp thuộc, có nhiều người giầu có ở Việt Nam đã gởi mua hàng của tiệm Lafayette này.

Trên đường đi ra ngoại ô, tôi trông thấy một bảng tên đường mầu xanh chữ trắng, nên nói với ba má tôi là bảng tên làm tôi nhớ đến Sài gòn. Thế là Thái thao thao nói về việc “giải phóng” sẽ thay đổi bộ mặt Sài gòn bằng cách bỏ tên Sài gòn và thay tên đường. Tôi hối hận đã nhắc đến Sài gòn vì theo đà nói như cái máy. Thái say mê nói đến “cách mạng”:

“Chúng ta sẽ xoá hết vết tích của thời Pháp thuốc và thời đế quốc Mỹ dày xéo quê hương ta”.

Tôi hỏi Thái có biết người ta sẽ làm gì với toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài gòn không? Thái nhanh nhẩu trả lời:

“Toà đại sứ Mỹ sẽ là nơi trưng bày hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ trên quê hương chúng ta. Đó cũng là nơi cho thế giới biết các chiến thắng oai hùng của nhân dân ta trước sức mạnh của một siêu cường”.

Thái liên tục đả kích “đế quốc Mỹ” và ca ngợi Phong trào Giải phóng. Lúc đó, mới chỉ năm tháng sau khi Sài gòn sụp đổ, anh ta đã nói tới chương trình “thống nhứt” hai miền Nam Bắc mà anh cho rằng càng sớm càng tốt.

Tôi nhận thấy ba tôi giữ im lặng trước những lời huênh hoang của Thái. Trước đây vài hôm, khi nói chuyện riêng với ba má tôi, thì theo ba tôi, chương trình tái thống nhứt đất nước không phải là một ưu tiên của ông. Ba tôi nói rằng miền Nam cần có thời gian để tái thiết và mạnh hơn, trước khi thống nhứt. Ông cho rằng thống nhứt đất nước là việc của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam chớ không phải việc của Chánh phủ Hà Nội.

Khi nghe Thái huênh hoang khoe người Bắc tự ý giải quyết mọi việc, tôi nghĩ tới lúc ba tôi trở lại làm việc, và một lần nữa chạm mặt với thất vọng tràn trề. Lần này không phải vì vợ và đám con “đi lạc đường”, mà vì cái chánh phủ ông hằng tin tưởng, và cái đảng ông đã phục vụ suốt đời.

Ngay sau khi cho biết sẽ không về Việt Nam, má tôi ngỏ ý muốn trở lại Mỹ càng sớm càng tốt. Thế là không khí trở nên căng thẳng giữa ba và má tôi. Má tôi thấy có một người lạ mặt nhưng không vô nhà gặp ba tôi; chỉ vô cổng, xuống nhà bếp, nhà xe, rồi đi. Bà e ngại có thể Chánh phủ Hà Nội ép bà phải về Việt Nam để Hà Nội khỏi bị mắt mặt.

Một ngày trước khi má tôi lên đường như đã định, tôi đến biệt thự lấy đồ đạc của bà đem về khách sạn. Khi tôi sắp sửa ra xe, bà muốn đi với tôi luôn, chớ không muốn chờ đến ngày mai.

Má tôi bay qua Atlanta để ở với vợ chồng chị Kim của tôi một thời gian.

Ba tôi lưu lại Paris thêm vài ngày với tôi. Ông không ở biệt thự nữa, mà về toà đại sứ của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời.

Ba má tôi mất nhau vì ý thức hệ. Đây là lần đầu tiên trong đời một đảng viên Cộng Sản ở địa vị của ba tôi được tự do. Tự do chấp nhận, và tự do để cho một cá nhân chọn lựa giữa Xã Hội Chủ Nghĩa và Dân Chủ.

Sau nầy, má tôi mới kể lại cho tôi biết: khi bà hỏi ba tôi, nếu bà về Việt Nam thì chánh phủ sẽ làm gì bà, ba tôi nói, ba sẽ phải gặp một vài người có trách nhiệm để giải thích về trường hợp của bà. Trường hợp của má tôi là “cho phép” con gái kết hôn với người Mỹ, và việc má tôi bị Mỹ “bắt cóc”.

Má tôi buồn lắm, nhưng bà duyên dáng kể rằng, khi ba tôi nhắc đến những thằng rể Mỹ, má tôi nói: “Tôi cho đồng chí biết, mấy thằng Mỹ đó là cha của cháu ngoại anh chớ không ai xa lạ!”.

Thời gian là một liều thuốc mầu nhiệm. Má tôi là người biết rộng. Bà không nhìn lại, không nuối tiếc về sự quyết định của bà, nhưng bà không ngừng tìm cách cho anh Hai tôi vượt biên đi tìm tự do.

Sau đó, thỉnh thoảng má tôi nhận được thơ của ba tôi; thơ viết từ “người chị yêu thương em, yêu thương con cái của em”. Thơ cám ơn người em đã chung thuỷ với gia đình, với bổn phận, làm vợ, làm mẹ, làm người con hiếu thảo.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long hải

Posted 14 tháng Hai 2015

Post by Sơn râu 14 Nov 2023

Sau tết, rục rịch “biên chế”

(danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là sẽ có người được tha hay chuyển trại

Bài 6

Một số sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy được chuyển đi. Sau nầy thì biết rằng họ đi Phước Long. Số người nầy, một vài năm sau, số đông được tha, một số chuyển trại, tiếp tục “học tập” trong trại tù của Công An.

Những người ở trại Phước Long không được tha sớm, sau nầy một số chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh). Hôm họ chuyển vô trại, anh em chúng tôi bị nhốt sau hàng rào, đứng ngó ra, thấy Khả Năng mang xắc “ma-re” nặng. Chúng tôi mừng lắm, gọi tên anh rối rít, mặc dù chỉ biết anh, không quen biết gì!

Khi nghe tin chuyển trại, có người hy vọng được tha, Phan Hải cũng mong anh sẽ được về. Đến khi “không thấy gì hết”, không hy vọng về sớm, lại tự ái vì con “ông lớn Việt Cộng” mà không được về sớm, anh ấy bệnh liền tù tì mấy ngày, ai cũng ái ngại.

Hết bệnh, anh chàng “Hoảng nôm hay cãi” Phan Hải thẳng thắn nói: “Tui tưởng tui được về, nhưng chưa về.” Nói xong, anh ta lại nằm xuống, quay mặt vào tường. Không phải là mình, anh em cũng ngậm ngùi cho Phan Hải.

Ít lâu sau, tổ tôi nhận thêm 2 người, cũng cấp bậc đại úy (Tổ tôi hầu hết cấp bậc đại úy, ngoại trừ Phan Hải là trung úy). Hai người mới là đại úy Thành. Ông nầy “có công với cách mạng” vì hôm 30 tháng Tư, thiên hạ chạy cả. Ông là trưởng kho đạn ở Long Thành nên ở lại giữ kho đạn, không chịu “di tản”.

Bỏ kho đạn mà chạy, lỡ bọn du côn, du đảng, cướp bóc vào “chôm” lựu đạn, chất nổ thì nguy hiểm cho dân chúng lắm. Vì vậy, ông gồng mình canh kho một mình, cầm súng đi tới đi lui, chờ khi “bộ đội” vô tới nơi, bàn giao kho đạn cho họ xong ông mới ra về.

Việt Cộng cho rằng ông có “tinh thần cao” nên cấp cho một tờ giấy. Tin vào tờ giấy ấy, đại úy Thành hy vọng về sớm.

Người thứ hai là Hải quân Đại úy Tôn Thất Phú Sĩ, quê ở Hàng Đường, Huế. Vợ anh đang đi dạy, hiện sống ở gần cầu Trương Minh Giảng.

Tôn Thất Phú Sĩ kể:

“Gần tới ngày “giải phóng” thằng em tui là Tôn Thất Mạnh Lương bỗng xuất hiện ở đơn vị tôi tại Cần Thơ, khuyến dụ tôi ra đầu hàng “cách mạng” để được khoan hồng. Tui đuổi nó: “Mày đi đi! Tao không nghe lời mày được, chắc nó giận tui lắm. Vậy nên bây giờ cũng khó về sớm.”

Sinh viên, học sinh Huế nhiều người biết Tôn Thất Mạnh Lương. Năm 1963, biểu tình chống Ngô Triều, anh ta và Thái Thị Kim Lan đang học lớp Đệ Nhứt, ở trường Quốc Học, tham gia đấu tranh tích cực lắm, bị Cảnh Sát Diệm Nhu bắt bỏ tù cả hai.

Khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, người ta coi anh như “người hùng”, khi đấu tranh cũng “dữ” mà vô tù cũng “dữ”. Ra tù, anh ta học đại học, nhưng có làm gì nữa không, tôi không rõ.

Sau cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Thủ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đám đấu tranh cũng có người nhờ công trạng “đấu tranh” mà đời lên hương.

Mặt khác, để “khóa miệng” các “công thần” sinh viên nầy, một số không ít được Nguyễn Khánh cho đi du học. Người ta gọi mỉa là “đấm mõm” bằng một cái học bỗng:

Cao Huy Thuần đi Pháp, Thái thị Kim Lan đi Đức, Lê đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến đi Mỹ.

Số nầy, không biết có ai bị (hay được) Xịa móc nối để làm tình báo cho Mỹ không?

30 tháng Tư, hình như Mỹ bốc cả gia đình Đỗ Ngọc Yến rời Saigon trước khi Dương Văn Minh đầu hàng đấy! Còn tấm hình chụp Đỗ Ngọc Yến họp với Nguyễn Tấn Dũng là photoshop hay thực sự như thế? Vì ai mà ông Yến gặp anh chàng “cựu y tá bộ đội địa phương” nầy? Ai mà biết!!!!

Không hiểu sao Tôn Thất Mạnh Lương không du học mà lại đi vô rừng theo Việt Cộng. Bấy giờ y lại xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị thằng anh trốn theo Việt Cộng. Việc không thành.

Chuyện Tôn Thất Phú Sĩ, Phật tử chính hiệu, cưới được bà vợ theo đạo Thiên Chúa, cũng là chuyện “trời thần đất lỡ” đấy, nhưng là chuyện riêng nên không viết vào đây.

Hồi đó, tôi đâu có biết anh ta có tài làm thơ!

Buổi sáng trước khi chuẩn bị “bồng gọn nhẹ” (danh từ Việt Cộng nữa đấy, tức là lo “hành trang”), tôi với Nguyễn Văn Bê ra chỗ trồng rau của tổ. Bê nói: “hái cho hết đem về ăn, để lại làm chi!”

Trong khi tôi và Bê đang lui cui hái rau, có môt “chú bộ đội” đi ngang, dừng lại hỏi thăm:

“Mấy anh biên chế phải không?” Tôi trả lời “Vâng”. “Chú bô đội nói: “Các anh đi mạnh khỏe, học tập tốt thì về thôi!”

            Khi anh ấy đã đi xa một quãng, tôi hỏi Bê:

            – “Thằng nầy hôm trước anh tập cho nó ca cải lương phải không?”

            Bê nói “Phải”.

            Khoảng gần tết, Bê trồng rau ở đám rau của tổ chúng tôi tại khoảnh đất gần kho đạn, kế hàng rào phi trường. Ở đó có môt cái chòi canh, “bộ đội” chỉ cắt cử vệ binh gác vào buổi tối mà thôi.

            Bê có cái thú ưa ca cải lương. Anh ca cũng khá hay. Lúc đó trời cũng đã chiều rồi, đang trồng rau, Bê bắt chước Út Trà-Ôn trong bản “Sầu Vương Biên Ải”:

“Nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương giá lạnh, chốn quê nghèo thêm chạnh nỗi niềm riêng, muôn dặm cách xa…”

Chú bộ đội hồi nãy sắp lên ca gác, đi ngang, nghe ca cải lương, bèn dừng lại, hỏi chuyện Bê, rồi nhờ Bê tập ca bài đó cho. Tập vài lần như thế thì anh ta ca được. Sau đó, cũng một lần trồng rau với Bê ở chỗ cũ, tôi lại nghe anh ta ngồi trong chòi canh, hát nho nhỏ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm, chào mừng xuân…”

Nói về con người thì ai cũng như ai, đều có tình cảm cả, cũng thương, cũng nhớ, và cũng… hoài hương. Sau mới biết thêm, anh ta quê ở Bắc Ninh.

Nghe nói quê ở Bắc Ninh, một đêm nào đó, tôi đọc cho mấy bạn tù nghe hai câu thơ của Xuân Diệu, trong bài thơ “Việt Nam Độc Lập”. Tôi không nhớ hết bài:

                        Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh,

                        Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh. 

            Về địa lý và lịch sử, Bắc Ninh có hai đặc điểm. Con gái Bắc Ninh nổi tiếng đẹp và nơi nầy là “quê hương quan họ”. Ỷ Lan phu nhân và bà mẹ ông Lý Công Uẩn cùng quê ơ Bắc Ninh.

            Hiền hỏi:

            – “Ông” có biết chi về quan họ không?”

            – “Không! Tui không biết.” Tôi nói. “Tui có nghe Phạm Duy soạn “Con đường cái quan”, nhưng tui ham theo “Đường giây 1 C” (1) nên không có thì giờ để biết con đường dân ca Phạm Duy đang soạn. Phải chi cứ ở thành phố, đánh giặc mồm CTCT thì có thì giờ “vui chơi ba ngày xuân 365 ngày”. (2)

            Dung nói:

            – “Thằng nầy quê quan họ, có máu “dzăng nghệ dzăng gừng” nên ưa ca cải lương cũng phải.”

            Bỗng “cóc” (3) Phan Hải lên tiếng:

            – “Cách mạng chủ trương dẹp bỏ cải lương, cho là ủy mỵ, ảnh hưởng tinh thần chiến đấu. Mấy ông đừng nói ra, tới tai cấp chỉ huy là thằng ấy bị kỷ luật đấy.”

            – “Ưa ca cải lương mà cũng khổ. Nhiều khổ quá sống sao nỗi.” Ai đó lên tiếng.

            – “Ủ my là không được, anh Hải có nhớ vụ Lê Hoàng Long không?” Phan Hải nói.

            – “Nhớ chớ!” Tôi trả lời.

            Sau khi học 10 bài, một hôm toàn bộ  “cải tạo viên lên lớp” ở hội trường, Trung úy Dziệt Cộng Chính trị viên tên Thảo của “Tiểu đoàn” đem tên hai người ra phê phán. Một là ông Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, gọi ông ta là “tên ác ôn”, và Lê Hoàng Long, làm thứ trưởng Bộ Chiêu Hồi, tên phản động văn nghệ.

Tôi từng hát nghêu ngao “Rồi mai lênh đênh trên sông Hương…” biết ông Lê Hoàng Long là tác giả bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” nầy vào những năm tôi còn học ở Quốc Học; còn sau nầy ông ta làm gì, tôi mãi miết “lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi…” của “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”, đâu có về Saigon để mà biết tới những việc ấy.

Nhưng tôi vẫn cứ thắc mắc: Việc Việt Cộng lên án ông chuẩn tướng thì dễ hiểu, còn ai là “người trong cuộc” để tố cáo Lê Hoàng Long là tên “Biệt kích văn nghệ” vậy cà?

&

Chẳng bao lâu sau chúng tôi chuyển trại. Tổ tôi đi hết, ngoại trừ hai người mới chuyển tới và Phan Hải.

Dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ rằng án tù những người bị chuyển trại nặng hơn người được ở lại.

(1)-Tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên”

(2)-Trước 1975, nhiều người gọi đùa những người phục vụ  ở bộ phận CTCT là “Cứ Thế, Cứ Thế” hay “Đánh Giặc Mồm”. Có những sĩ quan CTCT, khai rằng mình không trực tiếp chiến đấu, làm CTCT cho “nhẹ tôi với Cách mạng”. Trong khi đó, Việt Cộng đánh giá họ ngang tầm với Chính Ủy hay Chính Trị Viên, “nguy hiểm” hơn những người cầm súng chiến đấu ở mặt trận.

(3)-Phan Hải ít tham gia những buổi nói chuyện như chúng tôi, nên mỗi khi anh ấy lên tiếng, tôi gọi đùa là “Cóc mở miệng”.