Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 24 May 2015

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Trại Đá

Bài 19

Khi anh em tù chúng tôi bị đưa từ trại Suối Máu về Z30-A, thường gọi là Trại Xuân Lộc, qua khỏi Trại “Đồi Phượng Vĩ” – còn gọi là “Trại A” – khoảng ba cây số, đi sâu vô rừng thì tới “Trại Cây” – Còn gọi là “Trại B” -. Bên cạnh nó là một trại mới đang xây, chúng tôi gọi là “Trại Đá”.

Việt Cộng mở nhiều “trường” quá, gọi lung tung, tạm thời cứ cho là như thế.

Trại Cây là trại làm bằng cây rừng, do tù nhân làm để giam tù nhân. Hàng rào bằng cây, vuông vức bốn phía, mỗi phía dài khoảng ba hay bốn trăm mét. Hàng rào dày lắm. Những “quái kiệt” trốn trại, như ông Trịnh Xuân Chính, phải leo qua trên đầu hàng rào, không thể phá hàng rào chui qua được.

Cổng trại là một gian nhà có tầng lầu cao để canh gác. Ban ngày, cổng ít khi đóng kín, còn ban đêm, bị chúng nó nhốt vào nhà, “đâu có thấy gì đâu?”

Vô khỏi cổng, bên phải là Trạm Y Tế, bác sĩ Trần Đình Đôn, cũng là tù cải tạo, bị bắt vì tội vượt biên, làm “xếp xòng” ở đây. Bác sĩ được ăn ở tại chỗ. Kế đó là 5 cái longhouse, nhà nhốt tù.

Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn khá nổi tiếng vì trạm chỉ có một thứ thuốc: “Xuyên Tâm Liên”. Đau đầu, nhức răng, cảm sốt, thương hàn, thậm chí trặc tay, gãy chân… cũng chỉ có một thứ “Xuyên Tâm Liên” mà thôi. Nó là thứ thuốc “bá bệnh tiêu trừ”, như câu quảng cáo “Mãi Võ Sơn Đông”, là biểu tượng của ngành Y Tế xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa đấy!

            “Mãi Võ Sơn Đông” thuộc loại đồ cổ. Mấy chục năm nay, ở miền Nam VN, chẳng ai còn thấy người ta diễn trò “Mãi Võ Sơn Đông” ở cái sân đầu chợ nữa. Nó là thứ bọn trẻ rất mê vì ông chủ Mãi Võ có con khỉ biết đi chạy đạp, những con búp bê gỗ biết nói tiếng người. Thậm chí cả thứ “Cao Đơn Hoàn Tán” của nhà thuốc Võ Văn Vân trên đường Nguyễn Thái Học ở Saigon cũng mất dấu luôn vì bị thuốc Tây tràn ngập. Các thứ nầy, ở xứ Mỹ, nếu còn lại, ai muốn mua thì phải vô mấy tiệm bán đồ antique mà tìm.

Vậy mà bây giờ Việt Cộng cho sống lại cái “hồn ma cũ” bằng thứ thuốc Xuyên Tâm Liên, đen như… “cứt chó” (xin lỗi độc giả, bởi vì tôi phải viết như thế cho đúng với lời bình phẩm của anh em tù cải tạo khi họ được bác sĩ Đôn cấp cho thứ thuốc nầy).

            Nói thật tình, mấy năm đầu khi bọn tù chúng tôi mới về Trại Cây, khi lên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn để khám bệnh xin thuốc, thì trạm cũng phát cho vài ba tứ thuốc cũ, chế độ cũ còn lại, có khi “quá đát”, nhưng cũng còn hiệu nghiệm chán, uống vô hết bịnh, vì tâm lý hay sinh lý, đâu ai biết được!

Được vài năm, sau khi miền Nam VN, dưới chế độ mới, “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên xã hội XHCN thì thuốc cũ không còn. Nhà nước bây giờ, ở ngoài dân chúng hay trong trại tù Cải Tạo cũng “thống nhất” một thứ thuốc “Xuyên Tâm Liên” mà thôi.

            Tới Trạm Y Tế không phải để xin thuốc, mục đích chính là để xin “nghỉ một ngày” lao động hôm đó, nằm khểnh nhà cho khỏe thân, lấy đồ ăn do gia đình tiếp tế cho “nấu nướng linh tinh”, – câu cán bộ thường phê bình bọn tù chúng tôi..

“Mánh” nầy rồi cũng bể. Sau đó thì bác sĩ Đôn hạn chế phê vào giấy khám bệnh mấy chữ “đề nghị nghỉ lao động…” Chỉ mới đề nghị nghỉ thôi, chớ không quyết định. Việc nầy thuộc quyền “quản giáo”.

            Vì vậy nên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn vắng dần. Không được nghỉ lao động thì thôi, còn mang ba cái thứ “Xuyên Tâm Liên” về chỉ mất công bỏ thùng rác.

            Thành ra, ai bệnh, cứ xin thẳng “cán bộ quản giáo”, khỏi làm phiền bác sĩ Đôn. Quản giáo, kiêm luôn bác sĩ, xét từng người cho nghỉ hay không.

            Một hôm Trần Phú Trắc nói với tôi:

– “Tui xin thằng Chinh – quản giáo đội tôi – “Tui muốn bệnh, quản giáo cho tui nghỉ một bữa.”

            “Chinh hỏi:

– “Anh nói anh “muốn bệnh” phải không?

– “Vâng”. Trắc trả lời.

– “Muốn bệnh là chưa bệnh. Đi làm đi!”

            Dĩ nhiên, khi Trắc kể lại câu chuyện cho tôi nghe, anh không thể không kèm thêm một tiếng chưởi thề.

            Bên trái cổng trại là “hồ nước”. Việt Cộng cho đào sâu một cái hồ, hình tròn, đường kính khoảng năm hay sáu mét. Mỗi ngày, “nhà đèn” cho bơm nước vô đấy, để tù đi lao động về có nước tắm giặt. Hồ nầy không xây, nên nước hòa với bùn đỏ, nước đục ngầu. Tuy nhiên, tắm vô cũng mát, cũng sạch. Thế là “sướng đời tù” rồi, còn mong chi nữa! Để tiết kiệm vải, phần đông chúng tôi tắm ở đây đều tắm truồng.

            Kế hồ nước là “Nhà bếp”. Nhà bếp có bốn cái lò, trên có chão to. Hằng ngày, chão thường dùng để nấu bắp, có khi nấu cả vỏ, về sau có đải vỏ, bắp mềm, dễ ăn hơn, hoặc khoai mì không lột vỏ, chặt khúc.

Sáng thì tổ trực xống bếp lấy khoai mì và chia cho tù, mỗi người một khúc, dài khoảng ngón tay trỏ. Trưa thì một chén bắp, chiều cũng “bổn cũ soạn lại”, y chang như vậy.

            Mỗi tuần một lần, trưa chủ nhật, thay vì một chén bắp thì được lưng chén cơm. Thế là “huy hoàng Xã Hội Chủ Nghĩa” lắm đấy. Muốn thêm ít cơm nữa cũng không được.

            Dĩ nhiên, bắp hay cơm, phải có “đồ ăn”. Đồ ăn là rau muống luộc, món khoái khẩu của “Dân Bắc Kỳ rau muống”, nhưng không khoái khẩu cho dân Nam Bộ, nhất là tù. Và “như mọi người đều biết”: Nước Mắm Đại Dương.

            Việt Cộng là “bậc sư” trong những cái trò lừa phỉnh. Nước Mắm Đại Dương, cũng là một trò lừa phỉnh đấy.

            Cơm hay bắp, khi nấu cũng bị cháy nhiều ít ở đáy chão.  Miếng cháy được giữ lại, cho thêm nước giếng và muối vào, nấu sôi quậy đều, có màu đen đen như nước mắm. Gọi đó là “Nước Mắm Đại Dương” hay “Nước Mắm Xã Hội Chủ Nghĩa” đều được cả, không ai phản đối loại nước mắm giả đó. Nước muối mà ai cũng gọi là Nước Mắm. Người ta chấp nhận đó là “Hiện thực XHCN” hay người ta nói mỉa?

            Kế bếp cũng là 5 longhouse, đối xứng với năm longhouse phía bên kia. Giữa các longhouse là Hội Trường. “Quí cụ văn nhân” trong ban “Thông Tin Văn Hóa” được ở riêng tại Hội Trường, khỏi phải điểm danh. Tôi không nhớ tên các vị “Thông Tin Văn Hóa” nầy.

            Trước Hội Trường có trồng hoa: Cúc vạn thọ vàng rực. Tóc tiên được cho leo theo hình những con công, con phượng, làm bằng giây kẽm gai đã lấy mắt nhọn.

            Anh Lã Trung Tâm nói mỉa: “Đ. m. Ăn khoai mì mà cũng trồng bông. Bọn nầy làm chuyện ruồi bu!”

            Trắc phụ họa vào: “Trồng vạn họ là tù còn lâu lắm!”

– “Đừng nói xui!” Tôi cản ý Trắc.

            Khi chúng tôi tới Trại Cây, trại nầy mới dựng xong 4 hay 5 longhouse ngoài. Các nhà trong đang làm. Sẽ có thêm bạn tù đấy.

            Chẳng bao lâu thì “Trại Học Tập Cải Tạo” đầy “trại viên”.

            Mỗi longhouse dài khoảng bốn hay năm chục mét. Sạp ngủ hai tầng. Tầng trên dành cho người “ưa tuổi thân”, nghĩa là mỗi ngày phải lên lên trụt xuống những mấy lần. Ai không ưa leo trèo thì nằm tầng dưới. Chỗ nằm chật ních, vì mỗi longhouse chứa 3 đội, trên dưới 120 “trại viên”. Phía trong cùng là cầu tiêu, cầu tiểu. Mỗi sáng, có toán “Vệ Sinh”, trường toán là ông Châu Tử, nguyên thiếu úy Cảnh Sát Công Lộ Saigon, chủ nhân hãng “Cà-ri Nị” ở Saigon, cùng với mấy anh trong toán vào dọn vệ sinh. Phân người thì đổ vào một cái hố phía sau trại, ngoài hàng rào. Khi nào hố đầy thì lấp đất, ủ cho hoai. Có khi chưa đủ hoai cũng được moi lên, đem bón rau, “làm giàu xã hội XHCN.”

            Khi ấy Trại Đá – tên do “trại viên” đạt ra – bên cạnh Trại Cây đang xây.

            Như tôi đã nói, Trại Đá do Xí ghiệp Xây Dựng số 1 “thi công” (danh từ Việt Cộng đấy), chậm như rùa vì vật liệu không đủ hay sao đó. Chưa xong thì Xí Nghiệp nầy rút lui, giao lại cho Trại Cải Tạo Xuân Lộc tự xây lấy.

Tôi không biết nhiều về các “tù cải tạo” trong “Đội Xây Dựng” nầy, ngoại trừ vài người mới quen như “Thẩm Phán Đoàn Cảnh Thúy” do anh Lã Trung Tâm giới thiệu. Ông Thúy ở trong toán “kiến trúc”, tức là vẽ họa đồ; còn như cầm bay, cầm búa thì có anh Trịnh Quang Hà, em trai ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tên ông Hà thì tôi có nghe, nhưng gặp mặt thì chưa. Có thể ông ta biết tôi, vì các em gái của ông như Vĩnh Thúy, Vĩnh Tâm đều là học trò của tôi cả. Hồi ấy, ca sĩ Vĩnh Trinh còn nhỏ xíu, chưa thể làm học trò của tôi được.  Ngay cả vợ ông Hà, – tôi không nhớ tên -, cũng là học trò của tôi nữa. Có lần ông Hà được thăm nuôi; chiều lại, ông mời tôi ăn chung với ông. Đồ ăn ông được tiếp tế cũng ngon lắm, với tù, lại còn ngon hơn, nên tôi thầm cám ơn. Nay nhắc lại, cũng để cám ơn một lần nữa, ông đã cho ăn bữa ăn ngon hôm đó.

            Thỉnh thoảng, tôi có gặp ông Hà, “nói chuyện Huế” cho đỡ nhớ quê. Ông Hà bị động viên, mang loon đại úy hay trung úy gì đấy, phục vụ ở Tiểu Khu Thừa Thiên. Có lần, Hà kể, hôm Thiếu tướng Kỳ tổ chức văn nghệ ở Pleiku, mời Trịnh Công Sơn lên chơi. Hà phải lấy xe jeep của ông ta chở ông Sơn ra phi trường Phú Bài để tránh Quân Cảnh. Ông Sơn đang “trốn quân dịch”.

            Trại Đá lúc đó cũng đang xây dở chừng. Khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá, nhà bếp, nhà ở cũng như bốn cái “cachot” (nhà ngục tối) phía sau cùng, hội trường chưa xong gì cả. Tới bữa, phải về lãnh đồ ăn bên nhà bếp cũ, ở Trại Cây. Chỉ có hàng rào là xây xong rồi. Hàng rào xây bằng gạch “lốc”, cao bằng rưởi đầu người, trên lại có giăng concertina khá kỹ, trốn trại cũng khó đấy!

            Tại sao xây chưa xong mà chuyển chúng tôi qua đó?

            Số người bị chuyển chỉ có hai đội. Đội 19 do Trương Đình Gòn làm đội trưởng. Và Đội 20, đội trưởng là “Thầy Đạo.”

            Về Trương Đình Gòn, nếu độc giả muốn biết thêm, xin đọc “Nụ Cười Sơn Cước” là truyện ngắn của tôi, viết vài chuyện vui về ông nầy. Còn “Thầy Đạo”, “theo chúng tôi biết” thì như sau:

            Khi còn bị giam ở Trảng Lớn – L3-T3, tôi làm tổ trưởng tổ 1, nguyên đại úy Nguyễn Đạo làm tổ trưởng tổ 2, thuộc đội 1, khối 1. Đội trưởng đội 1 là Nguyễn Văn Quí (quí mập, bụng thề lề, ở trần tay cầm cái quạt, quạt tối ngày). Trưởng khối 1 là Phan Hải. Tôi có nói về ông nầy rồi, ở bài trước.

            Hai ông bác sĩ Văn Tần, bác sĩ Trương Thìn, đều ở trại L3-T3 nầy. Khi tôi bị chuyển qua đây, hai ông bác sĩ nầy đã được tha.

            Trong thời gian bị giam ở đây, ông bác sĩ Trương Thìn (Ông nầy cũng “hà tiện”, tên không có chữ lót, chỉ Trương Thìn mà thôi) “phát triển” việc trị bệnh bằng châm cứu trong giới “học viên”.

            “Chính quyền Cách mạng” thông báo đem theo mười ngày lương thực, ai cũng tưởng là “học” chỉ có mười ngày, xong thì về, nên có đem theo thuốc men trị bệnh gì đâu!?

“Cách mạng nói “mười ngày lương thực, chớ có nói “học tập mười ngày đâu”. “Cách mạng” giải thích lẹo lưỡi như vậy, còn người miền Nam “thật dạ tin người” như cô Kiều nghe lời Sở Khanh vậy.

Nay “Cách mạng” đã giải thích rõ ràng như thế, người ta vẫn không chịu “hiểu” gì “Cách mạng” cả, cứ cho là người miền Nam bị lừa. Thật ra, “Cách mạng có lừa ai đâu!” Nói cho cùng, chính họ cũng lừa nhau đấy, nói chi tới người miền Nam. Cộng Sản mà, nói sao cho hết những trò “lừa đảo”. Ai dại thì “dính chấu” thôi!

            Không có thuốc men thì có bác sĩ Trương Thìn ra tay “phục vụ cách mạng”, dạy cho “cải tạo viên” trị bệnh bằng châm cứu, như người Tầu. Thiên hạ thấy vui, bèn ùn ùn kéo nhau đi học châm cứu. Học xong, về dạy lại người khác, “tam sao thất bổn”, châm đã không hết bệnh mà thành “châm kêu” (kêu người khác tới cứu), hay “châm khiêng” (châm xong khiêng lên trạm xá).

            Thầy Đạo không biết là học trò mấy đời của ông bác sĩ Trương Thìn, vì cứ một người dạy cho một người là “một đời”. Cứ thế mà kể dài xuống.

            Học xong, thầy Đạo cũng đi cứu đời, làm cái nghề tổ tiên gọi là “Cứu nhân độ thế”. Thầy có một hộp đựng “kim châm”, ngày ngày thầy ôm hộp đi quanh, cứu người nầy, châm người kia.

            Về tới Z30-A thì thầy bỏ nghề. Mỗi ngày phá rừng, cuốc đất, lên giồng trồng khoai lang “mệt bá thở”, lại còn phải ăn, tắm giặt, nên “hộp kim châm” nằm gọn đâu đó trong cái giỏ đựng áo quần của thầy, có lẽ thầy quên mất rồi. Lâu ngày không hành nghề, nghề thầy cũng lụt dần.

            Hai đội bị chuyển trại nói trên phần đông đều “can tội đại úy” – như ghi trong lệnh tha – Các đội còn lại bên Trại Cây loon lá thấp hơn. Vậy là rõ. Một tên đại úy trốn trại nguy hiểm hơn một anh trung sĩ trốn trại. “Cách mạng” tính kỹ lắm đấy!

            Chưa được mấy hôm thì “Đội Văn Nghệ” của bầu Trừ ở Trại A – trên đồi Phượng Vĩ – cũng bị đưa vào đây!

            Dĩ nhiên, “Đội Văn Nghệ” cũng có “vấn đề”! Không thì “Cách mạng” đưa “Đội Văn Nghệ” vô Trại Đá làm chi!

            Chẳng qua là hôm Tết vừa rồi, các tay trong “Đội Văn Nghệ” tổ chức “rước Mẹ Việt Nam đi thăm các con trong trại tù”. (Xin xem bài sau nói rõ hơn vụ mà Việt Cộng gọi là phản động nầy! “Rước mẹ Việt Nam mà gọi là “phản động”? Đúng đấy. Việt Cộng chỉ có Đảng và Bác, làm chi có cha, có mẹ mà rước!).

&

            QueenBee hay Đêm Mầu Hồng.

            Ở chung với “Đội Văn Nghệ”, có sẵn ca sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ… chúng tôi bèn tổ chức “QueenBee” hoặc “Đêm Mầu Hồng” ngay trong trại tù.

            Tối thứ Bảy, ngày mai Chủ Nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi bèn tổ chức, tuần nầy thì QueenBee, tuần tới thì “Đêm Mầu Hồng”…

            Cắt một anh tù ngồi ngay cửa sổ, anh chừng cổng ngoài. Hễ thấy công an đi tuần vào thì hô lên: “Gió lớn” để báo động. “Gió lớn là “Đại Phong” là tên các chiến dịch tấn công Cộng Sản của QĐVNCH trước 1975. Chương trình văn nghệ tạm ngưng vì “sự cố kỷ thuật” (danh từ Việt Cộng đấy!). Tay cầm “điếu thuốc ba số” (thuốc lá thơm đầu lọc, hiệu 555), với hộp quẹt, anh bạn có nhiệm vụ “xã giao”chào anh công an một tiếng. “Quen như lệ thường”, anh công an sà vào, nhận điếu thuốc, phì phèo. Thế là “sự cố giải quyết xong”, chương trình văn nghệ lại tiếp tục.

            Có khi công an còn nói: “Các anh hát bài “Những Đồi Hoa Xim” đi. Bài ấy hay nắm.” Thế là Chương, “người đẹp đái đứng” (xin lỗi độc giả một lần nữa), mở giọng ca “con nhạn trắng Gò Công”.

            “Người đẹp đái đứng” có một bài ruột, khi nào có “chương trình văn nghệ” là anh ta thỏ thẻ: “Hoàng Hôn, lá rơi bên thềm…” (1) Nghe Chương hát những câu như “nhớ nhung vì đâu! thắm đôi dòng châu, tiếc thay tại sao đành lỡ làng…” anh em chúng tôi có người xúc động không ít và cảm cho thân phận tù tội của mình. “Cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương” làm cho chúng tôi cảm thương mình là kẻ lưu đày như Bạch Cư Dị, bồi hồi nhớ lại câu thơ nói về tiếng đàn Tỳ Bà của người kỹ nữ hôm ấy trên “bến sông vắng lạnh”.

            Có lần Cụ Trần Văn Niệm (anh ruột danh thủ bóng tròn Bắc Hà Trần Văn Ứng), bảo tôi cố nhớ chép lại cho hết 88 câu thơ dịch Tỳ Bà Hành để Cụ đọc chơi.

Nhờ dạy học lâu năm, mà năm nào cũng dạy tác phẩm nầy cho học sinh; với lại năm học lớp Đệ Tứ, tôi cũng mê tác phẩm nầy nên chép lại đủ:

            “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

            Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…

 Tôi còn chép cho cụ Niệm một phần bài tựa của Bạch Cư Dị, tôi nhớ được:

            “Năm Nguyên Hòa thứ mười, ta bị biếm ra giữ chức Tư Mã ở đất Giang Châu. Mùa thu năm sau, tiễn khách ở bến sông Bồn, chợt nghe tiếng đàn tỳ bà trên bến sông vẳng lại. Nghe tiếng đàn thánh thót, ta bèn hỏi thăm mới biết người đàn bà cầm đàn gốc gác ở kinh đô Trường An. Vốn là con hát, vì nhan sắc tàn tạ mà lưu lạc đến nơi nầy… (2)

            Sở dĩ chúng tôi gọi Chương là “người đẹp đái đứng” vì anh thường ỏng ẹo như con gái, dù phải cầm cuốc cuốc đất hay cầm dao phá rừng như mọi người.

            Chương có cấp bậc “thiếu úy Cảnh Sát”, khi ra trường được đưa về làm Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã Tân Hội, quận Kiên Tân, Tỉnh Kiên Giang. Xã nầy nằm kế cận “đồng Huệ Đức” là “đồng chó ngáp” của tỉnh Long Xuyên. Ở đây, có lần, tôi ỉ i, hành quân lạc qua vùng ranh ba quận Kiên Tân, Kiên Thành và Huệ Đức, bị Trung đội Thám Báo Kiên Thành, tưởng lầm là Việt Cộng nên tấn công một trận, khiến bọn tôi chạy trối chết. (Xin xem lại “Hương Tràm Trà Tiên, cùng tác giả). Tuy nhiên, khi Chương về Kiên Tân thì tôi đã đi xuống “chỗ tận cùng của đất nước”: Hà Tiên.

Cuối năm 1974, Việt Cộng chiếm xã, Chương ở trong “chính quyền lưu vong”, trước khi làm “người dân lưu vong” ngày 30 tháng Tư/1975.

            Chương trình văn nghệ thường có thêm nhiều ca sĩ tham gia, mãi tới hơn mười giờ tối mới chấm dứt. Tôi nhớ nhất là anh bạn Ngô Quang, bạn thời niên thiếu ở thị xã Quảng Trị. Quang hát hay nên được “thính giả yêu cầu” hát nhiều bài.

            Tôi cũng là “ca sĩ của chương trình văn nghệ” đấy. “Nụ Cười Sơn Cước” là bài tôi thích nhất vì mỗi lần hát “Ai về sau dãy núi Kim Bôi” là tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê tôi, nơi có đèo Lao Bảo, có “Động Ông Đô” và có: “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc” như tôi đã kể trong “Một lần về thủ đô, thăm các vị La Hán”.

            Hát có nghĩa là gởi hồn mình về nơi cố quận, về “Saigon đẹp lắm, Saigon ơi!” hay “về thăm nơi yêu thương muôn đời” của Huế, của sông Hương núi Ngự, hay “có ai về miền Tây”, “sông sâu nước biếc”. Họ có thể giam hảm thân xác chúng tôi, nhưng không thể giam hảm tâm hồn chúng tôi được.

            Bọn tù chúng tôi cũng bướng lắm đấy, nhất là mấy “trự” trong “Đội Văn Nghệ”. Vì câu chuyện “Rước Mẹ Việt Nam” mà cả đám kéo nhau vô cachot nằm ngót một tháng, được tha ra thì chuyển trại vô đây, Việt Cộng tưởng họ “tởn” nhưng thật ra chẳng nhằm nhò gì cả. Cái gan lì, cũng như tinh thần của họ, có thua gì Hồ Chí Minh trong “Ngục Trung Nhật Ký”

“Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại.”

&

            Luật sư Trần Danh San và 12 con ma!

            “Chàng đi theo nước…”

            Mười hai con ma, cộng thêm luật sư Trần Danh San nữa là 13 con ma.

            Sau “Đội Văn Nghệ” chuyển vào Trại Đá không lâu thì tới “13 con ma” tiếng chúng tôi gọi đùa về 13 nhân vật đặc biệt nầy.

            Nửa đêm, đang ngủ thì chúng tôi nghe tiếng máy xe Molotova ầm ì vào sân, đậu ngay căn nhà phía sau. Mười ba bóng đen, lầm lủi đi vào nhà giam như những bóng ma, nên chúng tôi gọi những người tù ấy là “Mười ba con ma”.

            Sáng ra, qua “thông tin”, chúng tôi biết đấy là 13 “yếu nhân” từ Trại Đồi Phượng Vĩ chuyển vào. Người đầu tiên phải kể tên, là người nhiều người biết: Luật sư Trần Danh San.

            Không nhớ rõ năm nào, ông làm ra bản “tuyên ngôn của Hội Nhân Quyền Việt Nam”, do ông làm chủ tịch. Một bản ông giao cho Toại (?). Toại nào nhỉ? Ngô Vương Toại hay Đàm Văn Toại (3), vượt biên đem ra ngoại quốc, phổ biến trên đài BBC. Một bản ông tự tay cầm ra công trường trước Nhà Thờ Đức Bà Saigon đọc cho đồng bào nghe.

            Dĩ nhiên, công an cũng nghe, và nghe rõ nữa, nên túm ông cho vào Trại Cải Tạo như chúng tôi vậy, buộc phải “học tập cho thông suốt đường lối cách mạng”. Ông nầy học dở, chẳng thông suốt chút nào nên không còn được ở cái trại có cái tên thơ mộng “Đồi Phượng Vĩ” mà vào Trại Đá để thêm lạnh lùng đời tù.

            Luật sư Nguyễn Hữu Giao, (hay Dao), cũng là một trong số 13 con ma nầy. Trắc nói với tôi ông LS Giao là con (rơi) của vua Bảo Đại. Hồi ông còn nhỏ, khi ông Bảo Đại còn chức vị, ông Giao đi đâu cũng có một anh Tây mắt xanh mũi lõ tò tò đi theo để bảo vệ hoàng tử. Bây giờ, trong Trại Đá, dĩ nhiên, không có “anh Tây” nào theo tò tò bảo vệ hoàng tử nữa. Tướng ông Giao đẹp người, cao lớn vừa phải, tù cải tạo mà da còn trắng, tác phong nghiêm chỉnh.

            Vài ba bữa sau, chủ nhật, ông luật sư Trần Danh San qua phòng của đội tôi chơi. Ông được anh em đón tiếp tử tế, vui vẻ, và trọng vọng nữa. Người mời caphê, người mời bánh ngọt… Chúng tôi họp lại, ngồi quanh ông, để nghe ông nói chuyện về tình hình đất nước, về người Mỹ “bỏ của chạy làng”, và về chương trình ODP đang được bài cãi ở Thụy Sĩ, về một ngày về không xa lắm, v.v… và v.v… Nghe ông nói chuyện, anh em chúng tôi phấn chấn, hy vọng một ngày mai “dựng lại ngọn cờ chính nghĩa”, không chỉ cho miền Nam VN mà toàn cõi đất nước.

            Thấy tôi tham gia, không những một mà nhiều lần những buổi nói chuyện của Luật Sư Trần Danh San, anh Lã Trung Tâm, trong một bữa ăn, nói với tôi:

– “Mày ưng chi mà theo cái “đám Nhân Quyền” đó!

– “Ưng gì đâu! Nghe ông ta nói thì cũng như đọc sách vậy mà. Tôi ưa đọc sách, mấy năm nay không có sách đọc, nghe biết thêm.”

– “Hay không?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

– “Anh em tui nói thiệt. Không thể không nói họ là người gan lì, anh hùng. Nhưng đấu tranh kiểu nầy, giống như Nguyễn Thái Học vậy: “Thành nhân mà không thành công.”

            Trắc hỏi tôi:

– “Sao anh nói vậy?”

– “Muốn đấu tranh lật đổ chế độ, là phải có quần chúng. Quần chúng ông San là ai? Nói cho đầy đủ thì như thế nầy! Muốn lật đổ Cộng Sản, người Miền Nam chúng ta phải có chính nghĩa. Chính nghĩa đó là Tự Do, Dân Chủ. Chế độ VNCH, nhất là thời Đệ Nhị, rõ ràng là có Dân Chủ, Tự Do, nhưng nói sáng tỏ cho mọi người dân đều biết thì chưa có. Dân chúng, nhất là ở thôn quê, còn bị Cộng Sản tuyên truyền. Thứ đến là vũ lực. Vũ lực thì mình đã thua. Thứ ba là chính trị, tức nhân lực, là dân chúng, chính yếu là nông dân, công nhân. Chúng ta có dân chúng chưa? Dân chúng theo mình được bao nhiêu!”

– “Nói vậy thì coi như mình xây dựng lại từ đầu!” Trắc nói.

– “Không hẳn vậy. Thời cơ là quan trọng. Ví dụ cuộc Cách Mạng tháng Tám chẳng hạn. Cộng Sản lúc đó được mấy ngoe? Có sức mạnh gì đâu! Nhưng họ may mắn nắm thời cơ. Chính quyền lúc đó thì coi như… vô sự, không làm gì cả. Nhật thì vừa đầu hàng, không muốn dính dáng gì tới Đông Dương nữa. Những người vận động nông dân cướp chính quyền là thanh niên, sinh viên, học sinh, Thanh Niên Tiền Phong và cả Hướng Đạo. Thành phần nầy cũng như dân chúng không biết đảng phái gì cả, Quốc Gia, Cộng Sản gì cả, chống Pháp giành độc lập là được. “Thiên thời, địa lợi nhân hòa”: Cộng Sản may mắn có đủ cả.”

– “Làm sao lật đổ tụi nó?” Anh Lã Trung Tâm nhăn nhó.

– “So lại với cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Nguyễn Thái Học. Họ có lý tưởng cao cả, có lực lượng nhưng còn yếu, có quần chúng nhưng không đông. Thời cơ chưa tới. Họ chỉ có cái hoài bảo của Thanh Niên tiểu tư sản, nên cuộc khởi nghĩa của họ rất tiểu tư sản. “Không thành công thì thành nhân”. Câu nầy rất là “trí thức tiểu tư sản”. Ngày ông Nguyễn Thái Học bị lên đoạn đầu đài, cô Bắc về làng Thổ Tang, mua tấm khăn sô quấn lên đầu để tang cho chồng, lạy cha mẹ chồng, rồi ra quán nước gần làng, uống bát nước chè xanh, xong đứng lên hướng về làng chồng, rút súng tự tử. Câu chuyện vừa bi thảm mà vừa lãng mạn. Khi tôi còn nhỏ, học lớp Nhì, tôi có đọc truyện nầy. “Chàng đi theo nước, thiếp theo chàng” của Tủ Sách Bạn Trẻ Tân Việt. Dù còn trẻ con, tôi chảy nước mắt khi đọc tới đoạn cuối như tôi kể ở trên.”

– “Theo anh thì anh nghĩ ông San như thế nào?” Trắc hỏi.

– “Tôi nghe tên ông San nầy từ lâu lắm. Tôi học luật 1 khi bà Trai làm Khoa Trưởng, ông Bùi Tường Huân dạy kinh tế. Ông San học sau tôi vài ba năm gì đó, khi tôi đã thôi học. Bây giờ thì biết rõ hơn. Ảnh hưởng anh hùng của “Khởi nghĩa Yên Báy” và Dũng của Nhất Linh, cũng như Nhất Linh đối với ông không nhẹ. Nguyễn Thái Học, Dũng hay ông Nhất Linh, làm cách mạng theo với cung cách của một trí thức tiểu tư sản, có kết quả giống nhau.”

– “Căng nhỉ!” Trắc nói.

– “Căng chớ sao không! Sau ngày 30 tháng Tư ít lâu, tôi gặp người anh cả của ông anh rể tôi, tập kết về. Ông ấy không ưa Cộng Sản vì ông là cháu Đại Tướng Khiêm. Khi ông Khiêm làm lớn trong Nam, ông bị tụi nó đì dữ lắm. Ông nói thẳng với anh em chúng tôi:

– “Không hy vọng gì lật được họ đâu. Ba mươi năm chiến đấu, hy sinh xương máu hàng triệu người mới có được quyền lợi như bây giờ. Họ không nhả ra đâu! Không bao giờ nhả.”

– “Hình như ông già vợ ông San cũng không đồng ý với cách đấu tranh của ông ta.” Trắc nói.

– “Trắc nói ông Luật Sư Vũ Đăng Dung?” Tôi nói tiếp. “Ông nầy “cãi vui lắm”. Tui có đi coi ông cãi một lần ở tòa Thượng Thẩm Huế, rất hùng hồn, giống như bạn ông là Luật Sư Nguyễn Toại, dạy Pháp Chế Sử cho chúng tôi vậy! Cha con ông San cùng ở tù với nhau trại nầy.”

– “Mày coi vụ gì?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

– “Vụ ông Trần Điền. Khi làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị, ông Trần Điền dính vô “Vụ Ba Lòng”, bị ông Diệm đưa ra tòa, tội phản quốc. Hai người cãi cho ông Trần Điền là ông Luật Sư Lê Trọng Quát và ông Luật Sư Vũ Đăng Dung. Ông Quát có dạy thêm ở Quốc Học, nhiều đứa thích ông lắm. Tui thì không. Xạo không! Khi ông cãi cho ông Trần Điền, ông đem cái tượng Chúa Giê Su ra trước tòa. Ông nói: “Thân chủ tôi là một người theo đạo Thiên Chúa” – Ông Quát cầm tượng lên, chỉ vào tượng. – “Một người theo đạo Thiên Chúa như thân chủ tôi là một người tin Chúa, tin Chúa thì không thể là người phản quốc được.” Nói vậy là lẹo lưỡi đó. Mấy người có Đạo mà theo Tây, như Huyện Sĩ thì yêu nước cái gì! Ông Quát muốn lợi dụng cái tâm lý ông Diệm là người có Đạo nhưng yêu nước để chạy tôi cho ông Trần Điền. Ông Vũ Đăng Dung cãi “vui hơn”.

– “Vui là sao?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

– “Hôm đó Cụ Lê Khắc Hy ngồi Chánh Án. Khi ông Vũ Đăng Dung nói câu của Đặng Trần Thường “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai…” thì ông Chánh Án rung chuông biểu ông Dung im, không được nói câu đó.” (4)

– “Sợ đụng chạm Tổng Thống Ngô Đình Diệm chớ gì!” Trắc nói.

– “Được làm vua, thua làm giặc ông ơi!” Tôi cười phụ họa với Trắc. “Bây giờ mình thua Việt Cộng thì mình là giặc, tụi nó là vua. Đời mà!”

            Khoảng nửa tháng sau, tôi thấy vài anh em được ông San “phong chức”: Võ Phước Thọ, trung úy Cảnh Sát, được làm “Trưởng Ban An Ninh.” Trắc nói với tôi: “Tôi có đề nghị với ông San để anh làm Trưởng Ban Tuyên Huấn.”

Tôi hỏi Trắc:

– “Đây là ý của ông San hay đề nghị của ông?”

– “Tui đề nghị!” Trắc nói. “Ông San không biết gì về anh đâu!”

– “Cái nầy là kẹt… tui. Nếu ông San biểu, tui từ chối liền. Dễ thôi. Nhưng nếu ông đề nghị, lỡ ông San “ừ” thì tui khó từ chối. Không lý mấy ông tham gia, tui lại đứng ngoài. Tui sợ mấy ông cho tui hèn nhát. Anh em với nhau cả mà, khó xử lắm.”

            Mấy ngày sau, cũng nửa đêm, xe Molotova lại vào. Mười ba con ma lầm lũi ra xe. Sáng ra thì biết chắc họ đã bị chuyển đi hồi đêm rồi. Hình như ra Phú Yên, Trại A-30.

            Năm 1977, Trắc được tha, ông San cũng được tha, Võ Phước Thọ cũng được tha luôn, nhưng chưa được bao lâu thì Thọ mang bệnh, qua đời, có lẽ do “hậu bệnh” những lần bị Công An đánh đập quá tay khi Thọ bị giam mấy lần ở Cachot.

Tôi được tha trước đó 5 năm.

            Gặp tôi, Trắc nhắc lại Hội Nhân Quyền của ông San. Tôi nói: “Ở trong tù, một thân một mình, dễ hơn. Bây giờ, về với vợ con, không dễ gì hoạt động đâu.”

            Trắc vừa bán được căn nhà, lo mở tiệm bán càphê kiếm sống qua ngày, cũng không thấy nói gì thêm.

            Nam 1989, tôi vượt biên tới Bidong, lại nghe tin ông San, ông cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cũng vượt biên, được tàu biển cứu. Ở Mỹ, tôi vẫn thường liên lạc với Trắc ở Nam Cali, nhưng không nghe Trắc nói gì tới Luật Sư Trần Danh San và Hội Nhân Quyền nữa cả.

            Già rồi, ai cũng đuối sức cả rồi!

            hoànglonghải

(1)- “Tiếng Xưa” Dương Thiệu Tước.

(2)- “Tỳ Bà Hành” nguyên tác của Bạch Cư Dị, người Tầu. Bản dịch chữ Nôm của Phan Huy Vịnh. Có người nói bản chữ Nôm hay hơn bản chữ Hán.

(3)-Ngô Vương Toại, sinh viên Văn Khoa, bị Việt Cộng bắn vào bụng tại sân khấu đem tổ chức Tết năm Mậu Thân, thoát chết. Đoàn Văn Toại, cũng là sinh viên Đại học Saigon. Khi tôi còn ở trại tỵ nạn (1989, 90….) thì nghe tin ông Toại bị người Việt hải ngoại đánh khiến ông bị thương. Vài người tưởng lầm ông Toại nầy với Ngô Vương Toại. Tôi không tin ông Ngô Vương Toại bị đánh, vì tôi biết ông Ngô Vương Toại khi ông còn trẻ, học trò của tôi.

Trước đó mấy năm, khi còn trong tù cải tạo, tôi nghe tin ông Nguyễn Công Hoan, dân biểu chế độ cũ, mà cũng là dân biểu của Dziệt Cộng, vượt biên.

Mới đây, tôi biết ông Hoan vượt biên cùng ông Trần Văn Sơn, tức Trần Bình Nam, dân biểu thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đối lập, “khối Ấn Quang”. Chuyến vượt biên chỉ có 2 người, một ghe. Tôi không rõ họ đến đảo hay được tàu nào vớt.

Khi tôi mới tới định cư ở Mỹ, nghe nói Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi Houston và Cali để vận động nhưng bị phản đối dữ dội. Nhiều lý do, nhưng không nói ở đây làm chi cho dông dài.

Sau đó, có “một người Mỹ” (CIA?), khuyên các ông như Nguyễn Văn Ng. đến gặp một nhân vật bí mật, ở LA, để có thể giúp cho.

Đám ông Ng. đến LA, tới một khách sạn hạng sang, gặp hai người đang ở chung một phòng: Ông Đoàn Văn Tọai và ông Hoan.

Nhìn chung, đây là đám gì? Giống hay khác với Đỗ Ngọc Yến chụp hình có Nguyễn Tấn Dũng.

(4)-Ngô Thời Nhiệm (Nhậm) và Đặng Trần Thường là bạn học. Ngô Thời Nhiệm theo Nhà Tây Sơn. Đặng Trần Thường trốn vào nam theo Nguyễn Ánh. Sau khi Nguyễn Ánh toàn thắng lên ngôi vua, giao cho Đặng Trần Thường xử tội các sĩ phu Bắc Hà theo Nhà Tây Sơn.

Trước mặt Ngô Thời Nhiệm là kẻ bại trận, Đặng Trần Thường nói, vẻ tự cao:

– “Ta ra cho người một câu đối. Đối được ta tha.”

Ngô Thời Nhiệm trả lời “vâng”.

Đặng Trần Thường ra câu:

– “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai!”

Ngô Thời Nhiệm đối lại:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”

Mặc dù Ngô Thời Nhiệm đối được, nhưng vì mối thù cũ, Ngô Thời Nhiệm từng chê Đặng Trần Thường học dốt, nên Thường sai đánh chết Nhiệm trước Văn Miếu Hà Nội.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 19th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Soo7n râu 18 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 6

Nhiều phi cơ in bóng lên nền trời Thế chiến. Như khu trục cơ Messerschmitt Bf-109 hay Focke-Wulf FW-190 của Không quân Luftwaffe Đức, Spitfire của Hoàng gia Anh hoặc P-47 Thunderbolt và Lockheed P-38 Lightning của US Air Force. Phía Nhật Bản, Mitsubishi A6M Zéro đi vào lịch sử ở vị trí một chiến đấu cơ tinh hảo cho đến khi thành vỏ tàu cho những phi vụ cảm tử. Thần phong Kamikaze là định mệnh oan khiên của máy bay Zéro. Tuy nhiên vào năm 1941, chiếc Zéro tỏa sáng ưu điểm: rất nhẹ 1680 kg, khá nhanh 533 km/h và đặc biệt tầm bay 3150 km vượt xa các khu trục cơ khác thời ấy. Máy bay Zéro sẽ giúp Sakai trở thành sát tinh của Không quân Đồng Minh.  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 6

Chương 6

Với tâm trạng đen tối, tôi quay về căn cứ Omura thuộc thủ phủ Nagasaki. Cuộc không kích tàn phá phi trường Hán Khẩu làm mất đi một số đồng đội, cái chết của Mikiko, và các vết thương của tôi, tất cả khiến tôi rủn chí. Hơn nữa, mặc dù căn cứ gần sát bên nhà, tôi không được phép về thăm gia đình cho đến khi các vết thương của mình hoàn toàn lành lặn.

Trước tiên tôi đến gặp vị Chỉ huy trưởng căn cứ  với tất cả sự e dè. Khi tôi được chỉ định về phục vụ tại căn cứ này vào năm trước đây, thái độ khinh bỉ không thiện cảm của ông đối với tất cả các phi công mới ra trường thật đáng buồn. Thái độ ấy làm tôi lo âu. Nhưng tôi đã kinh ngạc xiết bao khi vị chỉ huy mỉm cười rạng rỡ lúc tôi đứng nghiêm trước bàn giấy của ông. Ông nhìn tôi trong giây lát, ngắm nhìn bộ quân phục, mặt mày, và đôi mắt của tôi đang nhìn thẳng về phía trước. Dần dà tôi hiểu thái độ hiện thời của ông. Tin tức về việc tôi đơn độc chống lại 12 phóng pháo cơ địch, mặc dù kết quả không rõ ràng đã bay trước bước chân tôi trở về Nhựt Bản. Thái độ khinh thường trước đây của ông đã chuyển hướng, vị chỉ huy báo cho tôi biết, tôi có thể nghỉ ngơi nhàn nhã ở Omura và trong thời gian này tôi sẽ khỏi phải thi hành một công tác nào cả. Việc này thật đáng kinh ngạc. Những tay lính mới chưa hề được đối xử như thế bao giờ.

Xuống phòng ăn, tôi biết các phi vụ ở Trung Hoa của tôi, với việc hạ 1 chiến đấu cơ và tấn công 12 phóng pháo cơ địch, được thêm mắm giặm muối rất nhiều khiến tôi trở thành một vị anh hùng nho nhỏ đối với các phi công ở đây. Họ bao lấy tôi, nôn nóng nghe câu chuyện không chiến trên lục địa Trung Hoa.

Suốt một tuần lễ, tôi ăn ngủ thoả thích và nhìn các phi công khác thực tập các phi vụ huấn luyện của họ. Sau đó, tôi nhận được lá thơ của cô gái tôi chưa từng quen biết tên là Fujiko Niori. Nàng viết: “Tôi là chị của Mikiko, và tôi muốn nhân cơ hội này để chân thành cảm ơn bức thơ của anh đã gởi cho má tôi, cùng những lời lẽ tử tế và lưu tâm mà anh đã dành cho em gái của tôi. Bức thơ của anh là một tia nắng ấm chiếu rọi vào nỗi tuyệt vọng đang trùm lấp gia đình tôi sau cái chết của Mikiko. Tất cả chúng tôi đều than van rằng Mikiko đã rời bỏ chúng tôi trong lúc nó đang hạnh phúc nhất, tôi không hổ thẹn để nói với anh như vậy. Tôi phải thú nhận, trước khi nhận thơ của anh, tôi luôn mang cảm tưởng rằng tất cả các phi công chiến đấu chỉ thích đánh nhau, họ thiếu tình cảm và sự xúc động. Dĩ nhiên, bức thơ của anh đã làm tôi thay đổi ý kiến. Tôi thành thật ước muốn được kết bạn với anh, nếu anh cho phép, nhứt là nhân danh em gái của tôi. Nỗi vui mừng của tôi sẽ trọn vẹn nếu anh phúc đáp bức thơ này.” Trong phong bì kèm theo một tấm hình của Fujiko. Cô gái 18 tuổi này còn đẹp hơn cô em nàng. Tôi lập tức viết thơ trả lời. Nói cho nàng biết tôi chỉ bị thương nhẹ ở Trung Hoa và hiện thời đã trở về Nhựt để chữa trị cho lành hẳn. Tôi nói với nàng theo lời các bác sĩ cho biết, tôi sẽ sớm được bay trở lại và, ngay khi bình phục, tôi hy vọng sẽ gặp mặt nàng.

Bức thơ thứ nhì Fujiko kể cho tôi nghe nhiều về đời sống của nàng và những việc xảy ra hàng ngày trong thành phố Tokushima trên đảo Shikoku. Tháng kế đó, ít việc ở căn cứ, nên tôi bỏ nhiều thì giờ viết thơ cho Fujiko và đọc đi đọc lại những bức thơ nàng đã gởi cho tôi.

Vào tháng 11 năm 1939, tôi nhận được 24 giờ phép đầu tiên trong năm. Với các vết thương đã hoàn toàn bình phục, tôi nôn nóng trở về nhà. Từ Omura về nhà tôi không quá 1 giờ xe lửa. Mùa gặt đã qua rồi, đồng ruộng quạnh hiu khi mùa Ðông đến, nhưng quang cảnh này không làm tôi chú ý mấy. So với quang cảnh lục địa Trung Hoa đầy buồn chán, tỉnh nhà của tôi không khác nào một vườn hoa và khi xe lửa hướng về ngôi làng, tôi ngắm nhìn dãy núi Kyushu vươn cao trên bầu trời, với màu xanh thẳm của những cánh rừng dày bịt, những dòng suối sáng lóng lánh dưới ánh nắng ban trưa. Khi bước xuống con đường dẫn vô ngôi nhà nhỏ bé, cũ kỹ, tôi không còn tin vào đôi mắt của mình nữa. Một đám đông đang tụ họp trong sân, đứng tràn ra ngoài đường, cùng cất tiếng chào mừng tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy má tôi cùng đi với xã trưởng và nhiều viên chức khác trong làng bước ra đón tôi. Vị xã trưởng cất cao giọng: “Mừng anh trở về, Saburo, vị anh hùng của ngôi làng nghèo khó của chúng ta!”. Tôi bẽn lẽn, tôi chưa bao giờ mơ tưởng sự việc như vầy có thể xảy ra. Tôi ấp úng mãi mới nói cho vị xã trưởng biết tôi không có gì gọi là anh hùng cả, tôi chỉ là một hạ sĩ quan bắn rơi được 1 chiến đấu cơ duy nhứt của địch. Ông ta ngắt lời: “Tánh khiêm nhường rất tốt, nhưng tất cả chúng tôi đều biết anh đoạt được cái đồng hồ bằng bạc của Thiên hoàng ở trường phi công hải quân, và điều này có nghĩa là anh được chọn làm phi công nhiều hứa hẹn nhứt của đất nước chúng ta!” Tôi lặng yên. Những hình ảnh của 5 năm về trước chiếu rọi lại trong trí tôi, lúc tôi bước xuống cùng con đường này, với tâm trạng của một kẻ gây tủi nhục cho gia đình làng xã, với những bạn bè hồi còn để chỏm quay mặt ngượng ngùng. Nếu những người này biết tôi đã vụng về, hầu như chết sững trong buồng lái phi cơ khi đụng trận lần đầu tiên ra sao, hoặc nếu họ biết hành vi của tôi khiến cho vị đại úy phi đoàn trưởng phẫn nộ đến nỗi tức nghẹn không thốt ra lời như thế nào..! Và hiện thời… những tiếp đón long trọng này! Thật là quá mức!

Sau đó, một con heo to tướng được quay ngay trong sân. Hàng đống thức ăn, rượu sakê và rượu nếp. Tôi vẫn còn đứng ngơ ngác trước quang cảnh đón tiếp không ngờ này cho đến khi má tôi gọi lại bên cạnh khẽ nói: “Tất cả mọi người đều tốt với con. Các thức ăn này do họ góp lại để mừng ngày trở về của con. Ðừng nhăn mày nhíu mặt nữa. Hãy vui lên.” Mọi người đều muốn nghe đủ chuyện ở Trung Hoa, và thường ngắt lời tôi để hỏi rõ nhiều chi tiết liên quan đến trận không chiến, và việc tôi đã tấn công nhóm phóng pháo cơ địch ra sao. Ai ai cũng tỏ vẻ kính nể. Ðôi mắt má tôi sáng long lanh, trong niềm hãnh diện. Ba anh chị tôi, mặc quần áo mới, ngồi mỉm cười, mặt mày rạng rỡ! Khi thực khách ra về, tôi sớm tìm hiểu và biết gia đình tôi vẫn nghèo khổ, như lúc tôi bước chân vô hải quân. Má tôi trấn an tôi, cho biết cả làng giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều và khó kiếm ra hàng xóm tử tế bằng.

Trong thời gian ở Trung Hoa, tôi đã gởi hơn phân nửa tiền lương về nhà, vì tiền bạc bên ấy không tiêu dùng nhiều. Tôi không bao giờ uống rượu và, quả thật tôi không giao du với bất cứ cô gái nào. “Saburo,” má tôi tiếp, “cả nhà cám ơn con đã gởi đều đặn hết số lương của con về. Nhưng hiện thời má không muốn con gởi nữa. Con phải để dành mà tiêu dùng, đã đến lúc con phải nghĩ đến con, và bắt đầu dành dụm để một ngày nào đó còn lập gia đình.” Tôi phản đối mạnh mẽ. Tôi có dành dụm chút ít tiền, nhưng không hề dự định gì vào những năm sắp tới. Nhưng bỗng nhiên tôi nhớ đến Fujiko. Tôi hiểu rõ, nếu tôi vẫn ở trong làng này thay vì gia nhập hải quân để trở thành một phi công, gia thế của nàng sẽ không cho phép nàng giao du với tôi.

Trở về Omura, vị Chỉ huy trưởng trả lại nghiệp bay cho tôi, và tôi bắt đầu thực hiện một loạt phi vụ tập luyện để lấy lại phong độ. Ðầu tuần lễ thứ hai của tháng Giêng năm 1940, tôi nhìn thấy tên tôi trên bảng thông cáo. Theo đó, tôi được chọn với nhiều phi công khác để bay biểu diễn trên thành phố kỹ nghệ rộng lớn Osaka vào ngày 11 tháng 1 năm 1940, ngày quốc khánh của chúng tôi.

Tôi vội vã gởi thơ cho Fujiko, báo cho nàng biết chuyến đi của tôi. Trong thơ phúc đáp, nàng hỏi tôi sẽ ở đâu tại Osaka, vì “ba má và tôi muốn gặp anh tại Osaka vào ngày này.” Cả gia đình này đều có mặt! Quả thật đó là một danh dự đối với tôi. Muốn đi, gia đình nàng phải mất trọn một ngày từ Tokushima xuyên qua biển Nhựt Bản để đến Osaka.

Phi vụ biểu diễn không có gì khó khăn. Quá trưa hôm đó, sau khi phi vụ hoàn tất, chúng tôi vô ngụ trong một khách sạn ở Osaka. Khi tôi đang cạo râu và thay bộ quân phục mới, một trong những hạ sĩ quan chạy ùa vô phòng hả họng rống lên:

“Phi công Sakai! Mau lên! Vị hôn thê của anh đang chờ gặp anh dưới lầu!”

Mọi người cười ồ. Tôi đỏ mặt và vội vã đi ra ngoài.

Fujiko đang bối rối. Tôi ngừng lại trên thang lầu và nhìn nàng. Trong chiếc Kimono khép nép xinh xắn, Fujiko cùng với cha mẹ đứng chờ tôi ngoài hành lang. Tôi khom mình chào họ.

Ðêm đó tôi được gia đình Fujiko mời ăn cơm tại một trong những nhà hàng danh tiếng nhất ở Osaka. Tôi chưa bao giờ đặt chân vô một nhà hàng như vậy trước đây. Song thân của Fujiko thật phi thường đối với tôi. Cả hai đã làm mọi cách để tạo cho tôi sự thoải mái. Nhưng tôi không tránh khỏi ké né, vì hiển nhiên tôi nghĩ mình đang bị xăm xoi, ngắm nghía như một chàng rể tương lai của họ. Ðiều làm tôi rụt rè hơn nữa khi tôi biết được gia đình Niori là một trong những gia đình tiếng tăm nhứt ở Nhựt Bản, xuất thân từ một giòng họ Samurai xuất sắc trong xứ, và thân phụ của Fujiko hiện thời là giáo sư đại học, một địa vị đầy danh vọng thời ấy. Trong bữa ăn, tôi đã từ chối ly sakê do ông Niori tự tay rót cho tôi. Ông cười và thúc giục tôi uống mãi, cuối cùng tôi phải nói cho ông biết tôi không uống rượu, vì tôi là một phi công chiến đấu. Câu đáp của tôi rõ ràng đã làm cho cả gia đình nàng hài lòng. Ðêm hết quá mau và những lời từ giã được trao đổi, tuy nhiên lời cầu hôn của tôi chưa thốt ra. Trở về Omura, tôi vùi đầu trong công việc huấn luyện bổ túc từ sáng sớm cho đến tối mịt. Mùa Xuân lướt qua rồi mùa Hạ đến và đi. Tôi vẫn ở Omura, vẫn miệt mài với chương trình huấn luyện. Những gì làm cho tinh thần tôi phấn chấn chính là những bức thơ đều đặn của Fujiko. Những bức thơ dâng niềm hy vọng và mộng mơ trong tôi. Nhưng tôi trở nên nôn nao. Nhiều bức thơ tôi nhận được từ mấy người bạn phi công vẫn còn bay ở Trung Hoa kể lại những chiến công mà họ đã gặt hái được từ tuần này qua tuần khác. Hầu hết mấy người bạn này đều đã hạ trên 10 phi cơ địch, gây thất điên bát đảo cho kẻ thù trên không phận Trung Hoa. Tin lành sau cùng cũng đến, tôi được lịnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) ở Ðài Loan.

Từ Trung Hoa trở về nước đúng 1 năm, và bây giờ tôi lại được gần gũi với cuộc chiến. Hiện thời Cao Hùng trở thành căn cứ không quân hải ngoại chánh yếu của Nhựt Bản, và sự thuyên chuyển này có nghĩa là tôi sẽ lâm trận ngay sau đó.

Trước khi lên đường tôi đi mua ngay một vật mà tôi đã ao ước suốt năm nay. Ðó là chiếc máy chụp hình hiệu Leica, thấu kính 2.0 Sonar, lúc đó được xem là máy chụp hình tốt nhất thế giới. Giá chiếc máy này hơn 3 tháng lương, và tôi đã vét hết số tiền dành dụm. Các chiến đấu cơ của chúng tôi không được trang bị loại máy chụp hình tự động như máy bay Mỹ, và chiếc máy Leica thích hợp để chụp không ảnh từ phòng lái.

Ðến Cao Hùng, tôi sững sốt tột cùng. Trên phi đạo, tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ loại mới, xa lạ, khác hẳn loại 96 Claude. Ðây là loại chiến đấu cơ Zéro Mitsubishi A6M vừa chế tạo, trơn bóng và tối tân. Chiếc máy bay đã gây cho tôi sự thích thú chưa từng thấy. Phòng lái của loại phi cơ này có nắp che, động cơ cực mạnh và bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân. Thay vì chỉ có 2 khẩu đại liên hạng nhẹ như loại 96 Claude, loại chiến đấu cơ Zéro được trang bị đến 2 đại liên 7 ly 7 và 2 đại bác tự động 20 ly.

Chưa hết. Vận tốc và tầm hoạt động của chiếc Zéro gần gấp đôi chiếc Claude. Các cơ phận điều khiển tuyệt hảo, chỉ cần ấn nhẹ cần là lập tức động cơ phản ứng tức thì. Ðộ nhạy của chiếc Zéro vượt lên trên tất cả các loại máy bay tôi từng lái. Chiếc Zéro đáp ứng giấc mơ của mọi phi công, làm chúng tôi thêm nôn nóng thử nghiệm nó trong không chiến.

Chúng tôi mang ra thử lần đầu tiên trong cuộc xâm chiếm Ðông Dương thuộc Pháp. Nhiệm vụ là bao che cho các đơn vị lục quân đánh chiếm những vị trí then chốt trên mặt đất. Ðiều này có nghĩa là phải bay không ngừng nghỉ suốt 800 hải lý (1,482 km) từ Cao Hùng đến đảo Hải Nam. Ðó là một khoảng cách không thể nuốt trôi đối với các loại chiến đấu cơ trước đây, nhứt là phi trình phần lớn trên mặt đại dương. So với Claude tầm ngắn, chiếc Zéro như một kỳ quan đối với chúng tôi.

Tuy nhiên, khi tiến vô Ðông Dương chúng tôi không gặp một sự chống đối nào ngoại trừ một vài cuộc đụng độ nhỏ sát biên giới, gây ra bởi một số đơn vị Pháp không kịp thông báo. Cuộc xâm chiếm xúc tiến một cách “hoà dịu” sau thoả hiệp với chính quyền Bảo hộ, tránh được sự lan rộng của chiến tranh.

Tôi vẫn chưa nếm mùi chiến đấu với loại khu trục cơ Zéro cho đến khi được bổ nhiệm trở lại ở Liên Phi đoàn Hán Khẩu vào tháng 5-1941. Tôi nhận thấy phi công địch mất hẳn tinh thần chiến đấu. Sự hùng hổ của phi công Nga-Sô trong trận không chiến đầu tiên của tôi không còn nhìn thấy ở đối phương nữa. Các phi công địch tìm mọi cách để tránh né chúng tôi, và họ chỉ chấp nhận đụng độ khi nào chiếm được ưu thế, lao từ trên mây xuống đánh úp chúng tôi. Thái độ co đầu rụt cổ này bắt buộc chúng tôi càng lúc càng tiến sâu vô nội địa, dồn họ vào thế phải chấp nhận đánh nhau.

Tôi được chỉ định một nhiệm vụ như vậy vào ngày 11 tháng 8 năm 1941, với mục đích ép buộc đối phương lâm trận. Ðó là một phi vụ 1,500 km bay không ngừng nghỉ từ Nghi Xương (Ichang) tỉnh Hồ Bắc đến Thành Ðô (Chengtu) tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan).

Khu vực này quen thuộc, phía trên Nghi Xương, bấy giờ nằm trong tay địch quân, mà tôi đã từng đối đầu với 12 phóng pháo cơ Nga-Sô trước đây. Trong phi vụ xâm nhập này, chúng tôi có thêm nhiệm vụ hộ tống 7 oanh tạc cơ loại Mitsubishi G4M hai máy, phía Mỹ gọi là Betty. Quá nửa đêm, các oanh tạc cơ cất cánh từ Hán Khẩu và được chúng tôi hộ tống đến Nghi Xương. Sau đó, chúng tôi tiếp tục hướng đến phi trường Thành Quan (Wenkiang). Chúng tôi ở trên mục tiêu trước bình minh và bay quần chầm chậm chờ ngày lên hẳn. Chúng tôi nhìn chiếc Zéro dẫn đầu, nghiêng cánh và chúi xuống. Ðó là ám hiệu khai hoả. Từng chiếc một, chúng tôi túa xuống phi trường địch, nơi tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ Nga-Sô chạy trên phi đạo, chuẩn bị cất cánh. Nhân viên dưới đất chạy túa mọi nơi, hướng đến hầm trú ẩn. Tôi sà thật thấp, lướt đến phía sau một chiến đấu cơ Polikarpov I-16 của địch vừa cất đầu lên khỏi mặt đất. Ðó là một mục tiêu ngon ăn, và chỉ một viên đại bác tầm ngắn đã biến chiếc phi cơ thành cây đuốc. Tôi xẹt ngang qua phi đạo, đảo sang phải thật ngặt và vượt thẳng lên để quành lại kiếm ăn nữa. Súng phòng không địch vây tôi mọi mặt, nhưng tốc lực của chiếc Zéro mau không thể tưởng, khiến xạ thủ địch bó tay. Nhiều chiếc Zéro khác bổ nhào xuống, cày nát sân bay. Một số chiến đấu cơ Nga phát hoả hoặc vỡ tan. Tôi lại đâm đầu xuống để chụp một chiếc phi cơ khác trong tầm ngắm. Một viên đại bác thứ hai, rồi là trái cầu lửa hình nấm phồng lên. Không còn gì để xạ kích nữa. Cuộc tấn công của chúng tôi đã dọn sạch phi cơ địch trên phi đạo, không một chiếc nào ngốc đầu lên nổi. Ða số bốc cháy hoặc nổ tung. Trở lên cao 7000 bộ (2100m), chúng tôi nhận thấy nhiều nhà chứa phi cơ và các cơ sở bao trùm trong lửa đỏ. Nhiệm vụ trơn tru từ đầu đến cuối. Chúng tôi thất vọng vì thiếu màn đánh nhau trên không, nên tiếp tục đảo vòng, hy vọng các cột khói sẽ lôi cuốn phi cơ địch từ nơi khác.

Thình lình 3 chiếc Zéro tách khỏi đội hình và chúi xuống. Xa xa phía dưới, tôi nhìn thấy một phi cơ cánh đôi sơn màu sáng chói đang bay sà sát mặt đất. Trong nháy mắt 3 chiến đấu cơ Nhựt nhảy xổ vào phi cơ địch, tung ra hàng loạt đạn đại liên và đại bác nhưng không có kết quả, vì viên phi công địch lộn nhào tránh né tài tình. Cả 3 chiến đấu cơ Nhựt bay vượt qua chiếc phi cơ cánh đôi. Bây giờ đến lượt tôi. Tôi chúi xuống và tìm cách cho phi cơ địch vào tầm súng, tôi siết cò. Phi cơ địch đảo thật ngặt về phía trái và thoát khỏi. Một chiếc Zéro khác nhập cuộc, và cả 5 chúng tôi hùa nhau đuổi bắt chiếc phi cơ quỷ quái đó. Tài tránh né của phi công địch quả đáng bực thầy. Chiếc phi cơ cánh đôi như hồn ma bóng quế. Nó lộn nhào, rơi xuống theo hình trôn ốc, xoáy vượt lên cao và xoay ngang xoay dọc tài tình đến nỗi khó thể tin vào mắt. Chúng tôi không thể nào nhắm chiếc phi cơ ấy một cách chính xác.

Sau đó, bất ngờ chúng tôi bay đến gần đỉnh của một ngọn đồi thấp phía Tây Thành Ðô. Viên phi công địch thay vì tránh né, đã bay vượt lên ngọn đồi, và khi vượt lên hắn xoay vòng chậm chạp. Ðó là một lỗi lầm chết người mà không phi công nào dám để mắc phải. Bụng hắn loé sáng trước mắt tôi, và những viên đạn đại bác của tôi xé rách, xuyên thấu tận buồng lái. Ðang lúc chiếc phi cơ cánh đôi rơi xuống như một chiếc chong chóng thì một chiến đấu cơ Zéro khác bồi thêm một loạt đạn vô ích vào thân xác chết. Nó chạm vô sườn đồi và nổ tung.

Tôi ghi hai điểm, và đây là chiến thắng đầu tiên với chiếc Zéro.

Ðó là phi vụ chiến đấu cuối cùng của chúng tôi ở mặt trận Trung Hoa. Không lâu sau đó chúng tôi nới tầm hoạt động lên Vận Thành (Yungcheung), là một thị trấn nhỏ ở mãi tận sông Hoàng Hà. Suốt nhiều tuần lễ, các phi vụ tuần thám của chúng tôi thất bại trong việc khám phá ra phi cơ địch. Ðầu tháng chín, các phi công phải trở về Hán Khẩu, nơi phó đô đốc Eikichi Katagiri, tư lịnh Không Hải đoàn Nhựt (1) ở Trung Hoa, bất ngờ xuất hiện. Vị phó đô đốc cho biết tất cả chúng tôi sẽ thuyên chuyển về Ðài Loan, ở đó chúng tôi sẽ lĩnh một sứ mạng quan trọng nhứt. Ông không tiết lộ nhưng tất cả chúng tôi đều biết rõ Nhựt Bản sắp khai chiến với các cường quốc phương Tây.

Giữa tháng chín, chúng tôi quay về Ðài Loan. Sau đó, toàn thể 150 phi công chiến đấu cơ với con số phi công oanh tạc cơ tương đương di chuyển từ Cao Hùng đến Ðài Nam để gia nhập Tân Không đoàn Ðài Nam (Tainan).

Cuộc chiến Thái Bình Dương trên đà bùng nổ.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 12th, 2020
post by Sơn râu 18 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 5

Cánh thư đầu tiên của Hatsuyo viết cho Sakai không là thư tình mà nhằm mai mối cô bạn xinh nhất lớp cho Sakai. Một tình cảm cao thượng nói lên sự trìu mến và kính phục của Hatsuyo dành cho người anh họ của mình. Có thể trong thâm tâm Hatsuyo biết hôn nhân cùng huyết thống tuy không cấm chính thức nhưng thường bị dị nghị nên tránh nghĩ đến, hoặc tình yêu sẽ đến chậm rãi hơn khi cả hai cùng ý thức rất gắn bó… Những trang hồi ký viết từ một phía, phía Sakai, không cho thấy rõ tình cảm nảy nở trong tâm tư Hatsuyo khi nào, vì tất cả chìm dưới trận bom của oanh tạc cơ Nga Sô Ilyushin. 

Ngày 3 tháng 10-1939 đi vào lịch sử chiến tranh Trung-Nhật khi Thượng úy Kulichenko chỉ huy phi đội 12 chiếc Ilyushin DB-3 của Chí Nguyện đoàn Sô-Viết ném bom căn cứ Hán Khẩu. Phía Nhật là một bất ngờ, vì cho đến khi ấy đường kính của phóng pháo cơ SB Tupolev ANT-40 không cho phép bay xa. Chi tiết bất ngờ trên, nhìn thấy rất rõ trong hồi ký của Sakai, vì Sakai vẫn tin các oanh tạc cơ Nga hôm ấy là SB Tupolev do chung kích thước với cùng hình dáng hai động cơ. Trong thực tế, từ cuối Hè 1939, 2 phi đội Ilyushin DB-3 đã âm thầm vận chuyển qua cảng Hải Phòng với đồng ý của toàn quyền Catroux và tiền nhiệm Jules Brévié. Là lý do vì sao Nhật Bản quyết chiếm Đông Dương ngay sau đó, để ngăn đường tiếp vận cho quân Tưởng.

So với phóng pháo cơ SB Tupolev ANT-40 chỉ mang được 800 kg bom với tầm xa khứ hồi 2300 km, oanh tạc cơ Ilyushin DB-3 mang 2500 kg bom và đường kính hoạt động 3800 km có thể xuất phát từ Tứ Xuyên tấn công Hán Khẩu cách 1500 km, là một bước ngoặt không kích. Cũng là lần đầu Không lực Nhật Bản thiệt hại nặng trên đất Trung Hoa, tuy không ngăn Lục quân Nhật chiếm Vũ Hán ngay sau đó. Thượng úy Kulichenko bị bắn hạ và tử thương hôm sau khi quay lại oanh kích Hán Khẩu lần nữa. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 5

Chương 5

Vào thời gian này chúng tôi không thể truy ra quốc tịch các phi công lái loại chiến đấu cơ do Nga Sô chế tạo. Có nhiều lý do để tin rằng có một số “phi công chí nguyện Nga” lái phi cơ vượt biên giới để giúp đỡ Trung Hoa, nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc nhận dạng xác phi công Nga bên cạnh các phi cơ địch bị bắn hạ. Hải quân Nhật tin tưởng mạnh mẽ rằng có một nhóm phi công “Lê dương” đã gia nhập không lực Trung Hoa. Nhóm phi công này đủ quốc tịch, lái nhiều loại phi cơ khác nhau, vì chúng tôi đụng đầu không chỉ với phi cơ Nga mà còn phi cơ Mỹ, Anh, Pháp và của vài quốc gia khác. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng các phi công Trung Hoa Dân Quốc cũng lái những phi cơ này. Có lần một phi cơ do Hoa Kỳ chế tạo rơi gần Thượng Hải, binh sĩ của chúng tôi vội vã tiến đến nơi và mang về xác của một phi công Mỹ. Giấy tờ trong xác chết đã cho biết như vậy. Tài nghệ nghèo nàn đáng chán nản của tôi được khỏa lấp bởi việc tôi hạ được chiến đấu cơ Nga Sô Polikarpov I-16. Ngay ngày hôm sau, tôi kẻ ngay một ngôi sao xanh dương trên thân chiếc Claude mà tôi đã lái, như vậy có tất cả 6 ngôi sao. Các phi công Nhật, nhứt là các phi công mới ra trường như tôi, không thực hiện các phi vụ với cùng một phi cơ, bởi lẽ không đủ số. Cứ mỗi khi đến lượt bay, chúng tôi nhảy đại lên chiếc nào có thể sử dụng được. Ðiều này lại hỗ trợ cho các phi công thiếu kinh nghiệm, bởi lẽ phi công địch mỗi khi thấy hàng tá ngôi sao xanh, hoặc nhiều hơn nữa kẻ trên thân phi cơ của chúng tôi, hắn sẽ nể mặt ngay! Mỗi ngôi sao xanh dương là một phi cơ địch bị hạ. Cuộc chiến ở Trung Hoa là một cuộc chiến không thể tin được. Nó không bao giờ được xem là một “cuộc chiến” giữa các lực lượng của chúng tôi. Ðó chỉ là một biến cố Hoa – Nhật. Tôi phỏng đoán lúc người Mỹ tung quân vào Triều Tiên, trong khi Quốc hội của họ không tuyên chiến chánh thức, đó chỉ là một “hành động chính trị” , như chính phủ Nhật đã cảm thấy nhiều năm trước khi xảy ra cuộc xung đột hiện thời. Chúng tôi không tuyên chiến, vì vậy cuộc xung đột chỉ là một “biến cố” đối với chúng tôi. Ngay khi tình thế cho phép, chúng tôi dựng lên một chính phủ bù nhìn dưới sự lãnh đạo của Uông Tinh Vệ, công khai chống đối với Quốc Dân Ðảng của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Tuy nhiên, viễn ảnh ngại nhất của cuộc chiến là sự xung đột ác liệt trong xứ giữa các lực lượng Tưởng và Cộng Sản Mao. Cộng Sản Trung Hoa lợi dụng mọi cơ hội chận đánh lực lượng Trung Hoa Quốc Gia khi bị quân chúng tôi đẩy lui.

Các lực lượng trên bộ và trên không của Nhật Bản ở Trung Hoa thường phải đối đầu với chiến thuật biển người. Hàng nhiều đạo quân với cả triệu binh sĩ Tàu cố gắng tràn ngập chúng tôi. Tuy cán cân quân số chênh lệch hẳn nhưng người Trung Hoa hiếm khi nắm được ưu thế, bởi vì binh sĩ của họ huấn luyện kém cỏi và trang bị nghèo nàn. Hết loạt này đến loạt khác, địch quân ùa đến các đơn vị võ trang hữu hiệu của chúng tôi, nhưng chỉ để bị đánh bật ra và rước lấy những thương vong trầm trọng. Ngay cả sự yểm trợ như thác lũ của Ðồng Minh trên phương diện tiếp tế xuyên qua Miến Ðiện, Mông Cổ, Mãn Châu, vẫn không giúp được quân của họ Tưởng hay quân Cộng sản Mao trên chân quân của chúng tôi. Các nguồn tiếp tế này tỏ ra hữu hiệu trong việc giúp họ Tưởng chạy vắt giò về Trùng Khánh, hơn là giúp ông ta tập trung một cuộc phản công xứng hợp nhằm chống lại chúng tôi. Ðúng là một cuộc chiến chỉ có một bên đánh, và tình trạng này kéo dài cho đến khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh vào tháng 8 năm 1945.

Tuy nhiên, Nhật không có ý định chinh phục, hoặc không thể chinh phục cả khối người Trung Hoa khổng lồ, và chiếm lấy lãnh thổ bao la này. Thay vào đó, lực lượng của chúng tôi chỉ chiếm lấy những thành phố then chốt tại khu vực chiến lược, cắt đứt hệ thống giao thông của địch quân và góp các sắc thuế của nhiều nông dân Trung Hoa nằm trong thẩm quyền của các lực lượng chiếm đóng Nhật Bản mà thôi. Nhưng bên ngoài các thành phố quan yếu có thành lũy bao quanh, tử thần luôn luôn chờ đợi các đơn vị Nhật Bản. Du kích của họ Tưởng, cũng như của Cộng Sản Mao, phục kích sẵn hết để chờ tiêu diệt các nhóm quân Nhật rơi vào tròng. Có nhiều viên chức Trung Hoa trong các thành phố chiếm đóng làm việc với chúng tôi. Tuy nhiên, bên ngoài họ ton hót và hợp tác rất chặt chẽ nhưng bên trong họ lại tiếp xúc với du kích quân hoạt động ở các vùng quê và miền núi. Nhiều khi các cuộc tiếp xúc như vậy lại được duy trì với sự chấp nhận của các vị chỉ huy Nhật Bản nhằm gây thuận lợi cho nhiều vấn đề cai trị trong các thành phố chiếm đóng.

Quả thật đây là một cuộc chiến kỳ lạ. Nhiều lần thực hiện các phi vụ yểm trợ bộ binh, quang cảnh phía dưới đã làm cho tôi kinh ngạc. Tôi thấy các nông dân Trung Hoa cắm cúi làm ruộng, không để ý đến các trận đánh xáp lá cà hoặc khai hoả vào nhau giữa quân Hoa – Nhật cách đó không đầy 2 cây số. Nhiều lần tôi cũng bay sà trên đường phố của các thị trấn có tường lũy xung quanh đang bị chúng tôi bao vây và pháo kích. Những dãy hiệu buôn dọc theo đường phố vẫn hoạt động, mua bán như thường lệ, mặc dù máu của quân phòng thủ Trung Hoa vung vãi trên mặt đường.
Tuy nhiên, nhiệm vụ ở Trung Hoa không có gì gay go, nếu không nói là đáng chán, đối với các đơn vị không quân Nhật. Hiển nhiên, ưu thế trên không nghiêng hẳn về phía chúng tôi. 16 tháng sau khi tôi đến Cửu Giang (Kiukiang), lực lượng bộ binh của chúng tôi tiến sâu vô lãnh thổ địch quân, đánh chiếm Hán Khẩu (Hankou) dễ dàng và chúng tôi dời đến phi trường ở đây. Lúc bấy giờ báo chí có loan tải vụ tôi hạ được chiếc chiến đấu cơ I-16 của Nga Sô. Má tôi có gởi cho tôi một bức thơ với lời lẽ tràn đầy hãnh diện. Ðiều làm tôi thích thú nhứt là bức thư của Hatsuyo Hirokawa, con gái của chú tôi, hiện thời đã 16 tuổi. Nàng viết cho tôi: “Ba em vừa được bổ nhiệm vào chức Giám đốc Chánh sở Bưu điện ở Shikoku. Em đang theo học trường nữ trung học Tokushima, và anh có thể tưởng tượng được không, là đã có sự thay đổi lớn lao nhường nào giữa Ðông Kinh với Shikoku. Bức thơ hôm trước của anh đã khiến em cực sung sướng và xúc động, và đã làm cho tất cả các bạn em trong lớp đều thích thú. Mỗi ngày tụi em đều chúi mũi trên báo để dò thêm tin tức của anh. Chúng em không muốn bỏ sót tin tức nào về chiến công của anh ở Trung Hoa. Bỗng nhiên, Saburo, em muốn giới thiệu với anh cô bạn thân nhứt của em ở Tokushima, tên là Mikiko Niori. Mikiko đẹp nhứt lớp của em, và cũng học giỏi “số dách”. Ba cô ta dạy học ở đại học Kobe. Trong số mấy cô được em cho coi qua thơ của anh, Mikiko tỏ vẻ thích anh nhứt. Nàng năn nỉ em giới thiệu anh cho nàng đó!”

Thơ có gởi kèm bức hình chụp chung của Hatsuyo và một lá thơ của cô gái mà tôi chưa từng gặp mặt. Cô ta đẹp, đúng như lời Hatsuyo đã nói, và những lời cô ta mô tả về thành phố và gia đình cô ta khiến tôi khoái chí.
Mấy bức thơ gây phấn chấn tinh thần của tôi vô cùng, làm tôi không ngớt ca hát. Tôi nhớ rõ cái ngày vui sướng tột độ ấy, ngày 3 tháng 10 năm 1939, tôi vừa đọc thơ vừa lau chùi mấy khẩu đại liên trên chiếc chiến đấu cơ của mình. Mọi người ở phi trường được nghỉ xả hơi. Còn gì đáng lo? Chúng tôi hầu như đã quét sạch bọn phi công quốc tế và Trung Hoa trong mỗi cuộc đụng độ.

Nhưng không khí an ổn thình lình bị phá vỡ. Còi báo động trên đài kiểm soát hụ vang. Ngay lúc đó, một loạt tiếng gầm thét lướt đến và mặt đất rung chuyển với những làn sóng bom đinh tai nhức óc. Có ai đó thét lớn một cách không cần thiết: “Không kích!”. Không có thời giờ để chạy vô hầm trú ẩn. Tiếng bom nổ kéo thành dây như tiếng sấm liên tục. Khói bốc cao trên phi đạo. Tôi nghe cả tiếng miểng bom lướt vèo vèo qua không khí. Nhiều phi công khác cùng với tôi chạy ra khỏi xưởng cơ khí để chui vô hầm trú ẩn. Tôi bò dưới đất để tránh miểng bom, và sau đó chúi đầu vô giữa 2 bồn chứa nước vĩ đại. Tôi cũng khá mau chân. Một kho súng gần đó nổ tung lên, bao trùm lửa và mấy trái bom như những cây gậy chọc trên mặt đất, nện vào 2 mang tai tôi, và vít tung lên hàng bụm đất vĩ đại. Bom bỗng nhiên dứt tiếng, tôi ngóc đầu dậy để nhìn những gì xảy ra. Tai tôi tràn ngập tiếng la hét, rên rỉ. Những người nằm xung quanh tôi đều bị thương trầm trọng, và khi tôi bắt đầu bò đến 1 phi công nằm gần nhất, tôi nghe ở bắp đùi và mông tôi đau nhói như dao cắt. Tôi đưa tay rờ và cảm thấy máu thấm ướt qua quần. Ðau đớn quá đỗi, nhưng cũng may vết thương không sâu. Ðầu óc choáng váng, tôi gượng đứng dậy và chạy ngược về sân bay. Tôi vừa chạy vừa ngước nhìn lên bầu trời, tôi thấy 12 oanh tạc cơ bay trong đội hình, đảo một vòng thật rộng ở độ cao ít nhất 20,000 bộ. Ðó là loại phóng pháo cơ SB Tupolev ANT-40 hai máy do Nga Sô chế tạo, oanh tạc cơ chánh của không lực Trung Hoa. Hiệu quả vượt bực của cuộc tấn cống bất thần này không thể phủ nhận được. Cho đến khi bom từ phi cơ rơi xuống và nổ tung mọi người mới biết.

Ða số 200 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Hải quân và Lục quân Nhật đậu san sát dọc theo phi đạo Hán Khẩu đang bốc cháy. Những bựng lửa vĩ đại túa ra từ các bồn chứa xăng nổ tung, biến thành những cột khói trên không. Xăng từ các phi cơ chưa cháy đang thoát ra ngoài qua các lỗ hổng do miểng bom xoi thủng. Lửa bén xăng cháy lan từ phi cơ này sang phi cơ khác. Các oanh tạc cơ nổ bùng như dây pháo và các chiến đấu cơ lóe sáng như diêm quẹt. Tôi chạy quanh dãy phi cơ đang bốc cháy như điên cuồng cố tìm xem còn chiếc nào nguyên vẹn hay không. Một vài chiếc chiến đấu cơ nằm riêng rẽ thoát khỏi cuộc hủy diệt. Tôi leo lên buồng lái của một chiếc, rồ máy và cất cánh tức khắc ngay sau khi ra phi đạo.


Ghi chú Quân sự:

Phóng pháo cơ Nga Sô SB Tupolev ANT-40 biệt danh “Katiousha”

Chiều dài: 12.57 m (41 ft 2¾ in)

Sải cánh: 20.33 m (66 ft 8 in)

Chiều cao: 3.60 m (11 ft 9¾ in)

Diện tích cánh: 56.7 m2 (610.3 ft2)

Trọng lượng: 4,768 kg (10,512 lb)

Trọng lượng cất cánh tối đa: 7,880 kg (17,370 lb)

2 Động cơ 960 mã lực, 716 kW

Vận tốc: 450 km/h

Đường kính: 2,300 km

Trần bay: 9,300 m (30,510 ft)

4 đại liên 7 ly 62 

6 bom 50 kg trong khoang và 2 bom 250 kg dưới cánh

Oanh tạc cơ Nga Sô Ilyushin DB-3

Chiều dài: 14.22 m (46 ft 8 in)

Sải cánh: 21.44 m (70 ft 4 in)

Chiều cao: 4.19 m (13 ft 9 in)

Diện tích cánh: 65.6 m2 (706 sq ft)

Trọng lượng: 5,030 kg (11,089 lb)

Trọng lượng cất cánh tối đa: 9,450 kg (20,834 lb)

2 Động cơ 950 mã lực, 709 kW

Vận tốc: 439 km/h 

Đường kính: 3,800 km

Trần bay: 9,600 m (31,500 ft)

3 đại liên 7 ly 62, 1 đại bác 20 ly 

2,500 kg bom 

Các oanh tạc cơ địch tăng thêm độ cao khi chiếc chiến đấu cơ Claude nhanh nhẹn hơn của tôi đuổi theo ráo riết. 20 phút sau khi cất cánh, hầu như tôi bắt kịp đối phương. Một mình trên không, nhưng tôi không để ý đến điều này. Tôi cũng biết rằng chiến đấu cơ của tôi trang bị yếu, sự đe dọa không đủ trầm trọng đối với 12 oanh tạc cơ địch. Phía dưới tôi là thành phố Nghi Xương (Ichang Shi) nằm cạnh bờ sông Dương Tử, vẫn còn nằm trong tay quân phòng ngự Trung Hoa. Bị bắn hạ ở đây, cho dù thoát chết khi rơi xuống, nhưng không thể nào thoát chết trong tay binh sĩ của họ Tưởng. Nhưng tôi phải tấn công, không thể trì hoãn.

Tôi bay sát đến từ phía sau và ở phía dưới dãy phi cơ địch đang lướt đi. Súng địch khai hoả, nhưng không trúng tôi. Tôi tiến sát hơn nữa, và tập trung hỏa lực vào chiếc oanh tạc cơ bên trái. Khi bay lảng ra và vượt lên trên tôi nhìn thấy khói từ phi cơ địch túa ra. Chiếc oanh tạc cơ rơi khỏi đội hình, bắt đầu mất hướng khi tôi đảo lại và sắp bổ nhào xuống vồ thêm một cú ân huệ. Nhưng tôi bỏ dở lợi thế. Ngay khi đẩy cần điều khiển, tôi nhớ lại Nghi Xương nằm cách phía Tây Hán Khẩu ít nhất là 150 dặm. Nếu tôi truy đuổi chiếc oanh tạc cơ què quặt thêm nữa, tôi sẽ không đủ xăng để quay về căn cứ, và như vậy nghĩa là tôi bắt buộc đáp xuống đất địch. Sự liều lĩnh chống lại một nhóm địch quân vượt trội khác hẳn với sự liều mạng. Tiếp tục tấn công là tự sát, hành động này không thể gọi là can đảm. Tôi quay về căn cứ. Dĩ nhiên tôi không biết chiếc oanh tạc cơ địch có về đến phi trường của nó được hay không. Trở lại Hán Khẩu, sự hủy diệt chỉ do 12 chiếc oanh tạc cơ địch gây ra khủng khiếp không thể tưởng. Hầu hết phi cơ của chúng tôi tan tành. Vị chỉ huy trưởng căn cứ mất cánh tay trái, nhiều sĩ quan cũng như phi công và nhân viên bảo trì lớp chết lớp què quặt. Tôi đã quên mấy vết thương của tôi, nhiệt độ của cuộc truy đuổi và sự căng thẳng của trận chiến làm cho cơn đau tạm thời biến mất. Leo xuống và rời khỏi phi cơ một vài bước, tôi ngã quỵ trên phi đạo.

Các vết thương lành lặn một cách chậm chạp. Một tuần lễ sau, trong khi vẫn còn nằm trong bệnh viện, tôi nhận được thơ của Hatsuyo, với những tin tức còn tàn phá hơn cuộc oanh tạc vừa qua. Hatsuyo viết: “Em rất buồn khổ khi phải viết thơ này, nó chứa đựng một tin tràn ngập đớn đau cho anh. Mikiko, người bạn thân thiết nhất của em, chết thình lình trong một tai nạn lưu thông vào ngày 3 tháng 10. Em không biết nói gì với anh nữa, Saburo. Em rối loạn và đau đớn. Em tức giận Thượng đế. Tại sao, tại sao một người toàn vẹn như Mikiko lại phải chết tức tưởi lúc mới 16 tuổi, trong hoàn toàn ngây thơ vô tội? Em đã tự oán ghét mình khi báo tin này cho anh, một trong những phi công đang chiến đấu cho quê hương. Nhưng không còn ai khác để em kể lể ngoài anh…”.

Bức thơ của Hatsuyo còn kèm theo mấy giòng do má của Mikiko viết: “Con Mikiko bất hạnh ngày ngày thường nói về anh với gia đình chúng tôi. Sau khi gởi thơ cho anh, nó nôn nóng trông chờ phúc đáp. Nhưng thơ của anh chỉ đến vào ngày cử hành tang lễ của nó. Ôi! nếu nó được đọc thơ của anh trước thì vui vẻ biết bao! Tại sao đấng toàn năng mang nó đi sớm như vậy? Tôi không hiểu nổi. Tôi đã kêu gào nhiều ngày. Tôi muốn anh biết rằng bức thơ của anh đã được đặt trong áo quan của con gái tôi, và bức thơ sẽ theo nó về trời. Xin anh nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của chồng tôi, và của chính tôi về những giòng chữ mà anh đã viết cho con tôi. Hiện tại, chúng tôi cầu nguyện linh hồn của Mikiko sẽ che chở anh trên không trung, trước lằn tên mũi đạn của quân thù.”

Ðầu óc tôi trống rỗng. Tôi choáng váng và hụt hẫng. Nhiều giờ, sau khi nằm trên giường, tôi viết một bức thơ dài cho má của Mikiko để chia buồn với bà. Trong thơ tôi gởi kèm một số tiền để góp vào việc xây mộ cho nàng, hành động này theo đúng với tập tục của tổ tiên chúng tôi. Trải qua nhiều ngày, lòng nhớ quê hương của tôi trổi lên mạnh mẽ, tôi mong muốn gặp lại gia đình, má tôi và các anh chị tôi. Niềm mong ước này chờ đợi không mấy lâu. Hai ngày sau tôi nhận được lịnh thuyên chuyển, chỉ thị tôi trình diện Không đoàn Omura, căn cứ không quân gần nhà tôi nhứt. Viên đại úy phòng nhân viên, mặt mày lạnh lùng với hai gò má cứng như đục trong đá, cảnh cáo: “Vì lý do an ninh, khi về Nhật anh không được kể với ai về thảm họa vừa xảy ra. Anh hiểu chớ?.”

“Dạ, thưa đại úy vì lý do an ninh, tôi sẽ không kể lại với ai về thảm hoạ vừa xảy ra.”

Tôi đáp rồi chào và bước ra sân bay, leo lên một vận tải cơ sẽ mang tôi về quê nhà.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 6th, 2020

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 4

Trước Thế chiến xảy ra mâu thuẫn ý thức hệ kỳ lạ: Cộng sản Nga loại Cộng sản Mao và giúp Quốc Dân đảng Trung Hoa. Ít nhất cho đến khi Stalin ký hiệp ước cùng chia chác Ba Lan với Hitler mới ngưng viện trợ Tưởng Giới Thạch. Từ 1937 đến 1939, xuyên qua Hải Phòng, trong mục đích ngăn Nhật Bản thống lĩnh Bắc Á, Nga Sô chuyển cho Trung Hoa Dân Quốc 985 phi cơ, 82 chiến xa T-26, 1,317 cổ pháo, 1,550 xe vận tải, 30 xe cần trục, 14,000 đại liên, 164 triệu viên đạn, 2 triệu đạn đại bác và 80,000 quả bom… Cùng dàn tướng lĩnh sẽ vang danh về sau: Pavel Rybalko, Vasily Kazakov, Vasily Chuikov và Andrey Vlasov. Nếu việc Chuikov sẽ trở nên anh hùng Stalingrad hay Vlasov đầu hàng Đức rồi thành lập Mặt trận Quốc gia Nga Thống nhất chống Cộng sản vài năm sau không mang nhiều ý nghĩa đối với quân Tưởng, thì ngay lúc ấy, Chí Nguyện đoàn Phi công Sô-Viết với các khu trục cơ Polikarpov và phóng pháo cơ Tupolev đã cứu vãn tình thế đến gần thảm bại. Chương hồi ký của Sakai ghi lại trận không chiến đầu tiên của anh với những phi công Nga này.

Ít lâu sau, khi Chí Nguyện đoàn Nga rút khỏi Trung Hoa, phi đoàn lừng danh Phi Hổ The Flying Tigers với The 1st American Volunteer Group cùng với 75 chiến đấu cơ P-40 Curtiss của tướng Lee Chennault sẽ sang thay thế, nhưng khi ấy, Sakai đã quay về Đài Loan chuẩn bị tấn công US Clark Air Base tại Phi Luật Tân. Độc giả tuần san Trẻ chỉ còn đúng 2 kỳ báo “yên bình”, trước khi Thế chiến mở màn.

Chừng như những ai mến mộ Sakai đều cảm mến đức tính rất chân thật của anh. Không ngại viết ra những khiếm khuyết của mình. Không chiến Hán Khẩu mang sự thành thật ấy.  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 4

Chương 4

Hai mươi lăm khóa sinh của khóa 38 Hạ sĩ quan, trong đó có tôi, tốt nghiệp vào cuối năm 1937. Tôi được chọn làm khóa sinh ưu tú nhứt trong năm để nhận một chiếc đồng hồ bằng bạc, tặng phẩm của Thiên Hoàng.

Nhóm hai mươi lăm người chúng tôi là số còn lại trong 70 khóa sinh nguyên thủy tuyển chọn trong số 1,500 dự tranh trên toàn quốc. Chúng tôi đã trải qua một thời gian huấn luyện gắt gao và đôi khi quá đáng. Tuy nhiên, trước khi nhận nhiệm vụ ở Trung Hoa, nơi chiến tranh phát động vào tháng 7 năm 1937, chúng tôi được huấn luyện bổ túc. Mặc dù chúng tôi trải qua nhiều cuộc huấn luyện như vậy, nhiều người thuộc nhóm chúng tôi đã bị phi công địch bắn hạ, không kịp gặt hái một chiến thắng nào. Ngay cả tôi, với khả năng bay có hạng, tôi vẫn thấy cái chết trước mắt trong trận không chiến đầu tiên, nếu đối thủ của tôi tấn công mạnh thêm chút nữa. Quả thật, tôi đã quá vụng về trong trận không chiến đầu tiên này, không hỗ trợ nổi các phi công đồng đội. Tôi sống sót là do sự thiếu khéo léo của đối thủ.

Ðối với tôi, không chiến luôn luôn là một việc làm hóc búa, một nhiệm vụ quá gay go, với sự căng thẳng gần như không chịu đựng nổi. Ngay cả sau khi tôi đã vượt qua cuộc chiến đấu đầu tiên, và ngay cả sau khi nhiều phi cơ địch trở thành nạn nhân của tôi, mỗi lần chấm dứt một cuộc không chiến dữ dội trên không là mình mẩy tôi ướt đẫm mồ hôi. Luôn luôn có “cơ hội” để vấp phải một sai lầm nhỏ nhặt, điều này có nghĩa là sẽ biến thành bó đuốc. Xuyên qua tất cả hình thức diễn tập: đảo vòng tròn, đảo thật ngắn, lộn nửa vòng, lộn nhiều vòng, xoáy hình trôn ốc, bổ chúi xuống, bay vượt lên, rơi như chiếc lá, và nhiều hình thức khác nữa, chỉ sơ hở một đường tơ kẽ tóc là đi đời ngay. Hai mươi lăm bạn đồng khóa của tôi, cuối cùng chỉ một mình tôi sống sót. Cuộc chiến trên không kéo dài và đầy gian nan, do đó những ưu thế vào những ngày đầu của chúng tôi chìm dần vào cơn ác mộng. Trong cơn ác mộng đó, chúng tôi đã vật lộn một cách vô vọng với một dòng thủy triều đối nghịch càng lúc càng cuồng bạo.

Suốt thập niên 1930, hải quân Nhật huấn luyện trung bình 100 phi công mỗi năm. Nhưng chương trình huấn luyện khắc nghiệt đã loại bỏ gần hết, để cuối cùng trong vòng 10 năm chỉ khoảng hơn 100 phi công tốt nghiệp. Nếu hải quân được dành thêm ngân khoản huấn luyện và nếu hải quân giảm bớt thái độ cố chấp trong việc chọn lựa khóa sinh, tôi tin rằng con đường chúng tôi đi trong kỳ Ðệ Nhị Thế Chiến sẽ bớt chông gai. Chắc chắn kết quả của cuộc chiến không thể cải biến, nhưng những cú đấm chết người mà các đơn vị không quân của chúng tôi nhận lãnh trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến sẽ nhẹ bớt đi phần nào. Chỉ sau khi cuộc chiến Thái Bình Dương bắt đầu, và những phi công đầy đủ kinh nghiệm hao mòn đến mức độ nguy ngập cần phải được thay thế ồ ạt, hải quân mới từ bỏ chính sách huấn luyện vô lý của mình. Nhưng lúc đó đã quá muộn rồi. Tài năng của các phi công tốt nghiệp trong những năm chiến tranh rất đáng nghi ngờ. Tôi biết chắc rằng 45 bạn đồng khóa với tôi đã bị loại khỏi Tsuchiura trước đây, còn tài cán gấp mấy lần những phi công đã hoàn tất huấn luyện trong thời chiến.
Sau khi tốt nghiệp, tôi được chỉ định đến nhiều không đoàn để thực tập. Thoạt đầu tôi được gởi đến căn cứ Không Quân của Hải Quân ở Oita và Omura ở miền Bắc đảo Kyushu. Cả hai căn cứ này là nơi đáp tạm của những phi vụ từ các phi trường ở đất liền, cũng như từ các hàng không mẫu hạm. Chứng kiến tài năng lão luyện của các phi công trên hàng không mẫu hạm đã khiến tôi hơi xao xuyến, nhứt là những cú bổ nhào của họ, khéo léo không thể tưởng tượng. Tôi ngờ vực khả năng của mình, ngay cả nhiều năm sau.

Ghi chú Quân sự:

Khu trục cơ Mitsubishi A5M4 type 96 biệt danh Claude (Mụ Tài-pán):

Bánh xe cố định, cockpit không có kính chắn.

Chiều dài: 7.6 m (24 ft 10 in)

Sải cánh: 11.0 m (36 ft 1 in)

Chiều cao: 3.3 m (10 ft 9 in)

Diện tích cánh: 17.8 m2 (191,6 ft2)

Trọng lượng: 1,263 kg

Trọng lượng cất cánh tối đa: 1,822 kg

Động cơ: 9-xy lanh, công suất 785 mã lực (585 kW)

Vận tốc: 435 km/h (270 mph)

Đường kính: 1,400 km 

Trần bay: 9,800 m (32.150 ft)

Trang bị 2 đại liên 7 ly 7 với 2 bom 30 kg

Xét về tính chất thì phi cơ Mitsubishi A5M4 không bằng Polikarpov I-16, nhưng vào thời kỳ này các phi công Nhật được huấn luyện kỹ hơn phi công Đồng Minh nên các trận không chiến đều là chiến thắng của quân đội Thiên hoàng.

Khu trục cơ Polikarpov I-16 biệt danh Ishak (Lừa) hoặc Mosca (Muỗi):

Bánh xe thâu vào bên trong cánh, cockpit không có kính chắn.

Chiều dài: 6.13 m (20 ft 1 in)

Sải cánh: 9 m (29 ft 6 in)

Chiều cao: 3.25 m (10 ft 8 in)

Diện tích cánh: 14.5 m2 (156,1 ft2)

Trọng lượng: 1,490 kg (3,285 lb)

Trọng lượng cất cánh tối đa: 2,095 kg (4,619 lb)

Động cơ: 9 xy-lanh, công suất 1,100 mã lực, 820 kW

Vận tốc: 525 km/h (326 mph)

Đường kính: 700 km

Trần bay: 9,700 m (31,825 ft)

Trang bị 4 đại liên 7 ly 62 và 500 kg bom

Năm 1937 Nga Sô gửi 75 phi cơ I-16 với phi công sang Trung Hoa giúp Tưởng Giới Thạch nhằm ngăn sức bành trướng của Nhật tại Bắc Á.


Ðáp xuống hàng không mẫu hạm đối với tôi khó khăn vô cùng. Suốt một tháng ròng rã tập luyện, tôi mới hết gặp rắc rối, nhưng sau công cuộc tập luyện này, tôi chưa từng cất cánh hoặc hạ cánh xuống một hàng không mẫu hạm nào trong lúc chiến đấu bao giờ. Tất cả những phi vụ chiến đấu của tôi đều thực hiện ở các phi trường trên đất liền. Tiếp theo sau 3 tháng thực tập liên tục trên đất liền và hàng không mẫu hạm, tôi được lệnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) trên đảo Ðài Loan, bấy giờ thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Nhịp độ của đời sống hải quân đã đổi khác. Cuộc chiến ở Trung Hoa đến hồi ác liệt, các phòng tuyến lan rộng. Thêm phi công chiến đấu cho cuộc chiến đó, ngay cả những phi công tay mơ như chúng tôi bỗng nhiên trở thành nhu cầu thúc bách.
Từ Ðài Loan, tôi được thuyên chuyển lên Cửu Giang (Kiukiang) ở miền Ðông Nam Trung Hoa, cách Vũ Hán 200 cây số và vào tháng 5 năm 1938, tôi nếm mùi chiến đấu lần đầu tiên. Vị chỉ huy trưởng Liên Phi đoàn ở Cửu Giang rất ghét sử dụng bọn phi công mới ra trường vào các phi vụ chánh yếu, ông ta cảm thấy sự thiếu kinh nghiệm của họ sẽ làm mất mặt bọn phi công kỳ cựu đang bay ở Trung Hoa. Do đó, tôi chỉ được cắt đặt thực hiện các phi vụ thấp kém: yểm trợ các cuộc hành quân của Lục Quân. Các phi vụ không có gì nguy hiểm, bộ binh đã đè bẹp tất cả những cuộc chống đối của địch quân trên mặt đất, còn chống đối trên không hầu như hoàn toàn không có. Nhiều tuần lễ trôi qua, chỉ lãnh các nhiệm vụ yểm trợ, tôi cảm thấy bực bội. Hăng hái, nhiệt tâm và kiêu hãnh trong tư cách một trung sĩ phi công hải quân, tôi quyết định thử tài với địch quân một phen. Vào ngày 21 tháng 5, tôi hớn hở khi dò thấy tên mình nằm trong danh sách 15 phi công chiến đấu được chọn thực hiện một phi vụ tuần tiễu chánh thức ở Hán Khẩu (Hankou) vào ngày hôm sau. Chuyến đi này đầy “hứa hẹn”, vì Hán Khẩu là căn cứ không quân chánh của Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.

 Lính Trung Hoa Dân Quốc trong Thế chiến II

Vào năm 1938, loại chiến đấu cơ Zéro chưa được mang ra sử dụng trên các mặt trận. Chúng tôi bay loại chiến đấu cơ Mitsubishi A5M 96, Ðồng Minh đặt tên là Claude, tốc độ chậm, tầm hoạt động giới hạn, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên.

Sáng ngày 22 tháng 5-1938, 15 chiến đấu cơ của chúng tôi rời khỏi Cửu Giang, từng nhóm 5 chiếc trong đội hình chữ V, nhìn rất ngoạn mục. Chín mươi phút bay từ phía Ðông Bắc của căn cứ chúng tôi đến Hán Khẩu giống như một phi vụ huấn luyện nhàn nhã. Không có chiếc phi cơ nào của địch xuất hiện tấn công chúng tôi, cũng không có một khẩu phòng không nào thăm hỏi chúng tôi. Dường như khó thể tin rằng có một cuộc chiến đang diễn ra ác liệt ở bên dưới. Từ 10,000 bộ trên cao, phi trường Hán Khẩu đánh lừa chúng tôi một cách tuyệt hảo. Tiệp một màu cỏ thẫm xanh lục chiếu lấp loáng dưới ánh mặt trời buổi sớm. Căn cứ không quân quan trọng của địch quân như một sân gôn vĩ đại được chăm sóc cẩn thận. Nhưng các chiến đấu cơ địch không phải để sử dụng một cách giản dị vào môn thể thao này. Tôi nhìn thấy 3 chấm nhỏ lướt như bay trên cỏ. Ðó là 3 chiến đấu cơ địch.

Thế rồi chúng vượt lên cùng một độ cao với chúng tôi trong chớp mắt, to lớn, đen đúa và mạnh mẽ. Không một dấu hiệu cảnh báo nào, và trước sự kinh ngạc của tôi, một trong 3 chiến đấu cơ địch tách ra khỏi đội hình và đâm thẳng vô phi cơ của tôi với một tốc độ khủng khiếp. Những gì tôi sắp xếp để đối phó với cuộc không chiến đầu tiên của mình đều biến mất. Tôi cảm thấy các thớ thịt của tôi xoắn lại, và mặc dù tình trạng lúc đó không lấy gì làm vui vẻ, tôi lại thấy toàn thân run lên với nỗi kích thích lẫn xúc động, khi thấy phi cơ địch đã “chọn” tôi làm mục tiêu.

Sau này tôi vẫn nghĩ là mình đã hành động đần độn trong những giây phút quyết định này. Tuy nhiên tôi nhấn mạnh rằng các phản ứng trí não của chúng tôi ở độ cao 10,000 bộ, tức là 3,000 thước, sau 90 phút bay không có mặt nạ dưỡng khí, không còn chính xác bằng lúc chúng tôi ở mặt đất. Không khí loãng, dưỡng khí ít đã ảnh hưởng nhiều đến trí não. Hơn nữa, buồng lái lộ thiên, tiếng động nghe đinh tai nhức óc, cũng như những luồng gió lạnh cóng thổi tạt vô kiếng che gió, và không lúc nào bỏ lơi các cần kiểm soát được. Tôi xoay đầu nhìn mọi hướng một cách lo âu để xem còn bị đối thủ nào tấn công nữa hay không, cùng lúc tay chân tôi hoạt động liên tục trên cần điều khiển, bàn đạp bẻ lái, bàn đạp ga tốc độ, và các dụng cụ khác. Tóm lại, tôi hoàn toàn rối loạn.

Những thói quen trong thời gian huấn luyện lần lượt được áp dụng. Lời dặn của tất cả các bậc đàn anh: “Luôn luôn đeo dính đuôi phi cơ cầm đầu trong đội hình chữ V của anh”. Tôi mò mẫm một tay cột những sợi dây đai của chiếc mặt nạ dưỡng khí (cung cấp dưỡng khí trong vòng hai giờ và chúng tôi chỉ sử dụng mặt nạ khi lâm trận hoặc bay ở độ cao trên 10,000 bộ), nâng tốc độ lên tối đa. Tất cả các thùng chứa xăng phụ của các phi cơ Nhật khác đều đã được thả ra. Tôi quên khuấy điều này. Tay tôi run run đưa ra ấn nút. Bình chứa xăng của tôi rơi xuống. Tôi hoàn toàn bối rối. Tất cả những điều tôi làm đều vụng về, hầu như quên mất hết các quy luật không chiến căn bản. Tôi không nhìn thấy các diễn biến ở 2 bên hoặc phía sau tôi. Phi cơ địch cũng biến mất trước mắt tôi. Tôi chỉ thấy cái đuôi của chiếc phi cơ đầu nhóm mình. Tôi cứ đảo phi cơ tôi theo, và cuối cùng tôi bay bên cạnh phi cơ dẫn đầu. Tôi lấy lại bình tĩnh, tay chân không sờ soạng trong buồng lái một cách vụng về nữa. Hít một hơi thở thật dài, tôi liếc nhìn thật mau về bên trái. Hai chiến đấu cơ địch bóng loáng đang bay thẳng vô phi cơ của tôi. Ðó là 2 chiếc Polikarpov I-16do Nga Sô chế tạo, với bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân phi cơ. Loại I-16 nhanh nhẹn hơn và bay mau hơn loại chiến đấu cơ Claude của chúng tôi nhiều. Tôi lại ngần ngừ, tay lơ lửng trong không khí, không biết làm gì bây giờ. Thay vì đảo cánh sang một phía hoặc vượt thẳng lên cao, tôi vẫn tiếp tục bay như trước. Nhưng bất ngờ, khi cái chết của tôi đã ở trước mắt, hai chiến đấu cơ địch vượt lên và bay mất. Cả đời tôi chưa hề biết đến sự may mắn nào huyền diệu hơn sự may mắn này. Nhưng không có gì gọi là khó hiểu. Ðoán trước tôi sẽ là “gà chết” trong trận không chiến đầu tiên này, người cầm đầu phi vụ chỉ định một trong những phi công kỳ cựu bay theo phía sau để bảo vệ phi cơ tôi. Khi thấy tôi lâm nguy, viên phi công này lách ra như chớp và chĩa mũi thẳng vào hai chiến đấu cơ địch, phá vỡ ngay ý định tấn công của chúng.

Tôi vẫn bay như đui mù, không biết ngay cả việc tôi đã xê dịch vị trí và đặt phi cơ của tôi cách 500m phía sau một trong những phi cơ địch. Tôi đang “mơ mộng”… Cuối cùng tôi bừng tỉnh và phóng về phía trước. Chiếc phi cơ địch, trước mắt tôi, đã nằm trong tử điểm. Tôi ấn cò súng. Không một tiếng nổ nào nghe thấy. Tôi ấn cò súng liên hồi, miệng không ngớt nguyền rủa hai khẩu đại liên. Cuối cùng tôi mới nhận ra tôi quên mở khóa an toàn của mấy khẩu súng trước khi chạm địch. Viên hạ sĩ quan Nhật bay bên trái thấy tôi sờ soạng một cách vụng về trong buồng lái, hắn không còn kiên nhẫn được nữa đã lướt về phía trước, và khai hỏa vào chiếc chiến đấu cơ địch đang tháo chạy. Ðạn không trúng, chiếc I-16 đảo về phía phải chỉ cách tầm súng của tôi 200m. Lần này tôi đã sẵn sàng, tôi ấn tay vào cò súng. Những viên đạn bay ra thành hình vòng cung, nhưng hoang phí. Tôi lại để mất một cơ hội bằng vàng khác.
Nếu tôi tiến gần hơn, tôi sẽ hạ đối thủ dễ dàng. Tôi gia tăng hết tốc lực. Viên phi công địch lộn nhào nhiều vòng và rớt xoáy xuống theo hình trôn ốc, tránh thoát hết tất cả những viên đạn tôi vừa bắn ra. Sau đó, phi cơ địch cố xoay lại để nghinh chiến. Ðó là một lối bay nghèo nàn đáng kinh ngạc. Hiển nhiên hắn không có dịp may. Một trong những chiếc Claude đang quần trên cao bổ chúi xuống. Viên phi công địch cố chạy thoát một lần nữa thay vì cố tiêu diệt tôi. Tuy nhiên, hắn không làm được việc này. Bây giờ hắn chỉ cách trước mặt tôi có 150m, và tôi rót ngay một tràng đạn vô đầu máy chiếc phi cơ. Một luồng khói túa ra ở mũi và chiếc phi cơ chúi thẳng xuống mặt đất. Cho đến khi nó biến thành mảnh vụn trong chiếc nấm khói phía dưới, tôi mới biết các khẩu đại liên của tôi không còn một viên đạn nào. Mọi phi công chiến đấu đều phải cố duy trì một số đạn cho lượt về, nhằm chống đỡ các chiến đấu cơ tuần thám của đối phương. Tôi đã bắn xả láng!

Tôi nhìn quanh một cách đầy lo âu, và tim tôi đập thình thịch trước khi chùng xuống. Không còn một chiếc phi cơ nào khác quanh tôi. Tôi đã lạc bầy. Chiến thắng của tôi đáng buồn cười, nó đã được các đồng đội dâng lên đến tận miệng tôi trên một chiếc dĩa bằng bạc. Những hành động quờ quạng vừa qua làm tôi xấu hổ, và mắt tôi dần dần bao phủ trong màn lệ. Chắc chắn tôi đã khóc cho đến khi, đảo mắt một lần nữa, tôi nhìn thấy 14 chiếc Claude đang bay vòng tròn chầm chậm trong đội hình, kiên nhẫn chờ đợi tôi lấy lại “tinh thần” và kết hợp với họ.
Trở lại sân bay Cửu Giang, tôi kiệt sức khi leo ra khỏi buồng lái. Viên chỉ huy phi vụ hùng hổ chạy lại phi cơ tôi, mặt mày đỏ gấc vì phẫn nộ: “Sakai! Mọi việc…” ông ta giận dữ: “Anh là một thằng ngu, Sakai! Anh sống được cũng lạ! Cả đời tôi chưa bao giờ thấy một lối bay vụng về và buồn cười như vậy! Anh…” Ông ta không thể nói tiếp được nữa vì tức giận đến nghẹn. Tôi cúi gằm mặt, buồn rầu và hối hận. Tôi muốn ông ta đấm đá tôi cho hả cơn tức. Nhưng viên đại úy phi đội trưởng không làm vậy mà ban cho tôi sự sỉ nhục tệ hại nhứt: không thêm một lời, ông quay phắt lưng và bỏ đi.

Bài học Kangaroo

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Bài học Kangaroo

Đoàn Xuân Thu

Ðại dịch suốt 18 tháng nay đã và đang làm thay đổi không riêng gì nước Úc mà cả toàn thế giới. Thay đổi đủ thứ. Rõ ràng dễ thấy nhứt là cách hành xử lúc ra đường.

Mới bước ra cửa, gặp vợ của thằng cha hàng xóm người Úc, tui xáp tới định ôm. Tính má tựa vai kề, biểu lộ tình thương mến thương như mọi khi. Nhưng em lắc đầu nguầy nguậy nói: No way.

Gặp thằng chả, tui tính đưa tay ra bắt. (dẫu là Mít đặc, nhưng sống ở xứ Úc văn minh, mình phải “cọp dê”; cái gì cũng giả bộ quên tiếng Việt rồi nên chỉ OK! OK!). Ai dè nó khuỳnh tay lại. Tui né qua một bên vì sợ nó giựt cùi chỏ vô cái bản mặt của mình vì nghi tui tính ôm con vợ nó. Ai dè nó khuỳnh tay lại, chạm vào cùi chỏ của tui để thay cho cái bắt tay ngày cũ.

Rồi hồi xưa, vô ngân hàng mà đeo khẩu trang như Ninja Nhựt Bổn là bị chúng kêu lính còng đầu; vì nghĩ mình đi ăn cướp. Bây giờ, vô ngân hàng mà không đeo khẩu trang cũng bị chúng kêu lính bắt; vì tội cố tình phát tán biến thể Delta của con COVID-19 cho quần chúng nhân dân.

Thú thiệt với bà con, tui khờ câm hè, đâu biết đeo khẩu trang ra làm sao cho đúng cách. Nên tui đi hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông chỉ tui là: “Cái gì có lỗ thì che lại! Ở nhà với vợ, nhớ che luôn hai cái lỗ tai; kẻo bị nhức đầu”.

o O o

Ðó là chuyện giao tiếp ngoài xã hội. Còn chuyện đi làm không nhứt thiết phải vô sở như xưa nữa, nếu có thể làm việc ở nhà. Giờ cao điểm vắng hoe, con đường xưa anh đi không còn nhộn nhịp. Không phải dậy sớm, vội đi làm kẻo trễ.

Vợ bữa nào cũng cho ăn bacon và trứng rán. Thiệt là chán vì ngán! Lại làm tui nhớ bàn tay u nu, ú núc của con nhỏ Úc gốc Ý mắt xanh, mỏ đỏ và mũi lõ. Nhớ cái mặt tàn nhang của em cười chúm chím pha cho tui ly cappuccino ngạt ngào hương cà phê Brazil trong sương sớm.

o O o

Hiện giờ có hơn phân nửa dân Úc, 12 triệu người ở NSW và VIC và South Australia bị giới nghiêm, bị bế quan toả cảng, bị nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Tiểu bang NSW bị nặng nhứt! Cả trăm ca nhiễm mỗi ngày. Nhứt là vùng Tây Nam Sydney như: Fairfield, Bankstown… nơi có đông bà con người Việt mình sinh sống.

So với các tiểu bang khác, Victoria cũng có nhiều cái nhứt. Số ngày dân bị cô lập, bị nhốt dài nhứt. Một năm rưỡi bị dịch vật là bị nhốt tới nửa năm. Số người chết nhiều nhứt, tới 820 trong số 935 người Úc. Và một ông Thủ hiến đổ thừa cho thiên hạ cũng nhiều nhứt.

Mông-xừ Daniel Andrews, Thủ hiến tiểu bang Victoria, đổ thừa bà đầm Gladys Berejiklian, Thủ hiến tiểu bang New South Wales, chậm lụt như con rùa lật ngửa. Dịch bùng lên ở vùng ngoại ô phía Ðông Sydney mà mãi tới 9 ngày sau, bả mới chịu ra lịnh cô lập. Hành động lề mề, chậm trễ nầy làm dịch lây lan tới Victoria.

Ngay cả một ông ở vùng quê Mildura, tiểu bang Victoria tới sân vận động MCG trong thủ phủ Melbourne xem trận đấu bóng bầu dục kiểu Úc giữa hai đội Carlton và Geelong rồi trở về nhà. Kết quả xét nghiệm của ông là dương tính. Vậy là cả một vùng quê nháo nhào đi xếp hàng chờ xét nghiệm coi có bị thằng chả lây hay không?

Hậu quả là tiểu bang Victoria bị đóng cửa lần thứ 5, kể từ khi đại dịch Coronavirus bắt đầu từ năm ngoái. Dân Victoria cực kỳ thất vọng khi bị đẩy trở lại tình trạng cô lập, chưa đầy một tháng, sau đợt cô lập suốt hai tuần gần đây nhứt!

Cảnh sát Victoria phải đến ga Flinders Street, trung tâm thành phố, lúc 7 giờ tối khi một đám đông giận dữ, cầm biểu ngữ có ghi những hàng chữ như: “Một đại dịch không cần quảng cáo. Vũ khí là một ống chích! Hãy đuổi cổ Thủ hiến Dan Andrews cho về vườn chăn vịt!”.

Họ vừa đi, vừa đốt pháo sáng, la lối om sòm tiến về Tòa nhà Quốc hội. La làng cho đỡ tức vậy thôi chớ cũng phải về nhà trước giờ giới nghiêm vì Thủ hiến Daniel Andrews loan báo là: “Quý vị sẽ bị nhốt bắt đầu từ 11 giờ 59 phút đêm nay cho tới hết ngày 27 tháng 7”.

o O o

Người thì ì ì đi biểu tình phản đối chánh phủ tiểu bang làm công việc mần ăn trì trệ khiến cho mình mậu lúi. Nhưng cũng có ông, 39 tuổi, không lo ăn mà lo yêu.

Từ Brisbane, ông bay qua Tây Úc định thăm một em (ngoài luồng) cho vơi nỗi nhớ thương thời đại dịch. Ai dè ổng bị nhốt. Ông bèn lấy ra trải giường tết làm dây. Từ lầu bốn, ông tuột tòn ten khỏi khách sạn cách ly nhưng bị lính bắt lại.

Dẫu xét nghiệm âm tính; nhưng phú lít tiểu bang Tây Úc vẫn đưa đi gặp ông Tòa. Ông Tòa phán: “Áp giải nó ra máy bay, đuổi nó về với con vợ nó ở tiểu bang nắng ấm Sunshine State, Queensland trong 48 giờ sắp tới cho ta”.

o O o

Tiểu bang Victoria bị cô lập như vậy mới thấy cái tình của người Úc với nhau trong cơn hoạn nạn. Nhà hàng Maria’s Pasta vùng Fitzroy North thăm nuôi cho ai đang bị nhốt: mì Ý, nước sauce và nước soup không tính cắc nào. Chỉ cần xách lại cái tô.

Chơi ngon vậy mà có một cha xấu miệng nói: “Bị nhốt thêm vài tuần nữa thì mấy thứ này sẽ quá date phải bỏ nên nó mới cho”. (Còn cái công nấu của người ta đâu cha nội?).

Rồi thằng chả bĩu môi chê cái nhà hàng Úc gốc Ý nầy không dám chơi sộp như đám quan chức CS trong nước. Tàu cao tốc, phi cơ Boeing 787, tụi nó dám dẹp ghế ngồi hết ráo. Lấy chỗ để chở rau, chở củ, khoai lang, khoai mì, khoai môn, khoai mỡ, khoai từ vô Sài Gòn cho dân đang bị cô lập vì đại dịch ăn độn thay cơm.

“Nói thiệt, nói chơi, hay nói xỏ vậy cha nội? Dân Sài Gòn gần 9 triệu. Mấy chiếc tàu, mấy chiếc máy bay nầy chở được bao nhiêu ký? Rồi tiền xăng dầu gấp mấy lần tiền mua tại chỗ. Chỉ có thằng khùng mới làm ngu như thế!”.

o O o

Nói nào ngay, lúc con Corona virus từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu tràn ra, thì Úc đã đóng cửa ngay biên giới quốc tế nghe cái rầm! Cùng lúc, Úc lập một hệ thống kiểm tra và truy tìm nguồn lây COVID-19 một cách hiệu quả. Số người Úc chết vì COVID-19 so với các nước khác ít hơn nhiều. Ðó là một thành công khiến nhiều nước khác phải ganh tị. Tuy nhiên giờ đây con biến thể Delta (Ðeo-ta) lây lan dữ quá, cứ “đeo ta” hoài. Làm kiểu cũ không còn ăn nữa!

Tham gia vào dàn đồng ca của giới truyền thông quốc tế chỉ trích Thủ tướng Úc Scott Morrison về cách đối phó với COVID-19, tờ Financial Times của Anh đã thẳng thừng bác bỏ lời khẳng định khét tiếng của Morrison rằng việc khai triển vaccine không phải là một cuộc “chạy đua”. Nói vậy là sai!

Tờ Financial Times cho rằng phương pháp phòng dịch bằng pháo đài không thể thành công nếu không có chương trình chích ngừa hiệu quả.

Bài báo so sánh Morrison với Boris Johnson, Thủ tướng Anh. Với khoảng 50% dân được chích ngừa đầy đủ, nước Anh đã dỡ bỏ gần như tất cả các hạn chế vào ngày 19 tháng 7.

Trong khi dân Úc: 25,693,059 người, chỉ chích ngừa đầy đủ: 2,669,571 chiếm 10.39%. Hậu quả là các thủ phủ tiểu bang như Sydney, Melbourne, Adelaide đang bị hoàn toàn cô lập khiến toàn thế giới phải sửng sốt.

Tờ báo hàng đầu của Pháp Le Monde đánh giá các biện pháp cô lập của Úc đang áp dụng là “hà khắc”. CNN thẳng thừng đặt câu hỏi: “Úc có thể tiếp tục làm như thế này trong bao lâu nữa?”.

o O o

Con Kangaroo được chọn làm quốc huy biểu tượng cho nước Úc vì nó không biết đi lui. Nó chỉ biết nhảy tới về phía trước. Năm ngoái, Úc kiểm soát được, không cho dịch bùng phát. Nhưng đất nước Kangaroo nầy lại ngủ gục trên vòng nguyệt quế. Nó không nhảy về phía trước như mong đợi; mà lại nhảy vòng vòng. Rồi lạc luôn không tìm được lối ra.

Australia đã “phung phí” chiến thắng ban đầu của mình trước virus. Ðất nước Kangaroo từ một mô hình cho thế giới noi theo thì giờ đây lại là một lời cảnh báo u ám cho các quốc gia khác biết để né!

Bài học Helmut Kohl!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Helmut Kohl, cựu Thủ tướng Ðức, đã qua đời tại nhà riêng ở quê nhà Ludwigshafen, thành phố cảng trên sông Rhine, Ðức quốc, lúc 9.15 phút, sáng thứ Sáu, ngày 16, tháng Sáu, năm 2017, thọ 87 tuổi.

Helmut Joseph Michael Kohl chào đời ngày mùng 3, tháng Tư, năm 1930.

Thân phụ ông là Hans Kohl, từng tham gia Ðệ nhứt Thế chiến.

Khi Hitler xâm lăng Poland vào năm 1939, Hans Kohl tái ngũ và chỉ trở về nhà khi Ðức thua trận năm 1945.

Lên 15 tuổi, Helmut Kohl phải gia nhập Ðoàn Thanh niên Hitler cũng như các bạn cùng trang lứa, vì không có chọn lựa nào khác hơn.

Lúc đó, Ludwigshafen bị quân Ðồng Minh dội bom liên tục hầu như mỗi ngày, Helmut Kohl được giao nhiệm vụ là đào bới trong đổ nát, trong tro bụi để tìm xác chết của đồng bào mình.

Mùa xuân năm 1945, sống sót sau một trận bom ác liệt ở Berchtesgaden, nơi ông đang làm nhiệm vụ tiếp đạn cho pháo đội phòng không, Helmut Kohl quyết định cuộc chiến đối với mình đã chấm dứt.

Vẫn còn mặc đồng phục của đoàn Thanh niên Hitler, Helmut Kohl cùng vài người bạn, tránh những đường quốc lộ nơi quân xa Mỹ đang tràn tới, chỉ dám men theo đường xe lửa, lội bộ về quê nhà cách đó hơn 250 dặm.

Ngày mùng 7, tháng Năm, 1945, Ðức quốc xã đầu hàng, cả nhóm bị lọt vào tay dân công người Ba Lan và bị họ đánh cho một trận ra trò. Cuối cùng, đầu tháng Sáu, ông về tới quê nhà.

Sau nầy, Helmut Kohl phát biểu: “Mình may mắn vì sanh ra đời muộn. Bằng không chắc cũng phải gia nhập vào quân đội Phát xít Hitler.”

Helmut Kohl quay lại trường, học luật tại Frankfurt, rồi chuyển sang Heidelberg học về Lịch sử và Khoa học Chính trị.

Năm 1960, ông cưới Hannelore Renner, người ông đã quen biết từ năm 1948, và họ có hai con trai.

(Vào ngày mùng 5, tháng Bảy, năm 2001, Hannelore, 68 tuổi, tự tử bằng thuốc ngủ sau nhiều năm bị một căn bệnh hiếm gặp, phải chịu nhiều đau đớn vì dị ứng với ánh sáng mặt trời. Bác sĩ cho rằng đó là di chứng tâm thần sau nhiều năm chịu đựng chiến tranh)

Helmut Kohl cao tới 1m 93, nặng hơn 136 kí lô! Hình dạng phốp pháp có lẽ vì ông rất mê đồ ăn nấu theo kiểu Ý, tự gọi mình là ‘an elephant in a china shop’ (một con voi trong tiệm bán đồ sành sứ).

Ðối thủ chánh trị chọc quê gọi ông là quả lê, theo một phim hoạt hình vẽ ông có cái đầu như một quả lê. Hoặc ngạo cái tên Kohl, tiếng Ðức, có nghĩa là bắp cải.

***

Con đường chánh trị của ông cũng thăng trầm như cuộc đời riêng của chính mình.

Gia nhập đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (Christian Democratic Union) khi chỉ mới 17 tuổi, học đại học về Luật Lịch sử và chánh trị.

Nghĩa là một chánh trị gia có bằng cấp chuyên nghiệp đàng hoàng! Chớ không phải tay ngang, tay mơ như Donald Trump.

Trong cuộc bầu cử liên bang tháng 3, năm 1983, Kohl thắng lớn trở thành Thủ tướng Ðức.

Sự chế nhạo của công chúng giảm xuống khi con đường chính trị của Kohl bắt đầu đi lên: một nhân vật quan trọng của cuộc thống nhất nước Ðức, một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của Liên Âu.

Ngày 22, tháng Chín, năm 1984, Kohl gặp Tổng thống Pháp François Mitterrand tại bãi chiến trường Verdun xưa – nơi quân Pháp giành chiến thắng trước quân Ðức trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất để cùng tưởng niệm những người chết trong cả hai cuộc Thế Chiến.

Bức ảnh, cái bắt tay dài nhiều phút giữa hai người đã trở thành một biểu tượng quan trọng của sự hòa giải giữa Ðức và Pháp. Cùng nhau, họ đã đặt nền tảng cho Liên Âu.

Năm 1987, Erich Honecker, lãnh tụ CS Ðông Ðức lần đầu tiên tới Tây Ðức, để xin hàng tỉ đô la viện trợ vì nền kinh tế Ðông Ðức đang trên bờ sập tiệm…

Kohl và Gorbachev gặp nhau lần đầu ở Moscow vào tháng Mười, năm 1988, khi thế giới CS sau bức màn sắt dưới sự kềm kẹp của Liên Xô đã bắt đầu rạn nứt do phong trào Công đoàn Ðoàn kết tại Ba Lan gây ra.

Tháng 2 năm 1990, Helmut Kohl, tới Liên Xô, gặp Mikhail Gorbachev để đoan chắc rằng Nga sẽ không đưa Hồng quân với xe tăng đến đàn áp nhân dân Ðông Ðức khi quá trình thống nhất nước Ðức diễn ra như đã từng làm tại Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968.

Helmut Kohl đã nói với Mikhail Gorbachev rằng: “Chúng ta không trực tiếp đánh nhau nhưng vẫn còn nhìn nhau bằng con mắt thù hận! Bao nhiêu đó cũng đủ cảm thấy được nỗi kinh hoàng. Thế nên, hãy cùng nhau mang cả hai nước tiến về một nền văn minh hơn nữa.”

Mùa hè năm 1989, hàng chục ngàn người đào thoát khỏi Ðông Ðức qua ngả Hungary và Tiệp Khắc để tới Tây Ðức.

Erich Honecker bị truất phế! Ðêm mùng 9, tháng Mười Một, bức tường Bá Linh sụp đổ. Nước Ðức thống nhứt sau 45 năm bị chia cắt.

***

Tuy nhiên, nước Ðức thống nhứt nầy không làm nước Anh vui… vì sợ.

Thủ tướng Anh Margaret Thatcher nói:  “Twice we defeated the Germans! Now they’re back again.” “Chúng ta đã đánh bại người Ðức tới hai lần! Và bây giờ họ đang trở lại.”

Còn đối nội, trong khối CS Ðông Âu, ai cũng nghĩ rằng Ðông Ðức có nền kinh tế mạnh nhứt nhưng sau đó mới vỡ lẽ ra là nó đang bên bờ của sự khánh tận.

Hai năm sau thống nhứt, tới 4.7 triệu dân Ðông Ðức thất nghiệp.

Helmut Kohl kêu gọi đồng bào mình, lá lành đùm lá rách, hãy thắt lưng buộc bụng để giúp dân Ðông Ðức.

Dân Tây Ðức thì than phiền chánh phủ đã chi quá nhiều để giúp dân Ðông Ðức, làm thâm thủng ngân sách tới 400 tỉ Mỹ kim.

Còn dân Ðông Ðức càm ràm, chê giúp ít quá, nên tổ chức biểu tình ở Halle, ném trứng phản đối, gọi ông là kẻ dối trá. Helmut Kohl giơ nắm đấm ra, sừng sộ cự lại trước khi được cận vệ kéo ra.

Năm 1998, sau 16 năm cầm quyền, lâu chỉ thua Otto von Bismarck, hào quang vây quanh Kohl phần lớn đã tắt do tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Helmut Kohl đã bị Gerhard Schröder, đảng Dân Chủ Xã Hội (Social Democrats) với khẩu hiệu là: sau 16 năm giờ đã tới lúc thay đổi, đánh bại.

Nội bộ đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo cũng muốn ông nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn.

Một lãnh tụ dẫn dắt đảng từ thành công rồi đi đến thất bại là phải về vườn thôi!

Luật chơi là vậy! Ngồi lì cũng không có được!

***

Nhưng bây giờ, nhận hung tin Helmut Kohl từ trần, Liên Âu treo cờ rũ ở Brussels.

Thủ tướng Ðức, Angela Merkel, bằng một giọng xúc động “Nước Ðức đã mất đi một người con ưu tú.”

Tổng thống Pháp, Emmanuel Macron, Thủ tướng Anh, Theresa May ca ngợi Helmut Kohl là một con người khổng lồ của lịch sử Châu Âu; người cha đã sản sinh ra nước Ðức tân tiến ngày nay!”

Ngay cả Donald Trump, Tổng thống Mỹ, cũng phải nói: “Kohl là bạn, là đồng minh của Mỹ. Thế giới được hưởng lợi vì viễn kiến và nỗ lực của ông ấy!”

Bà con đọc báo mạng nghe tin Helmut Kohl qua đời đều tỏ lòng thương tiếc.

“Thắng cuộc chiến tranh lạnh do công của Reagan, Bush, Thatcher… và Kohl. Nhưng nước Ðức thống nhứt là do Kohl”.

May mắn thay cho người Ðức, có lãnh tụ như Kohl mang nhân dân đến cùng nhau.

Bài học từ Helmut Kohl là: khi Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt, bàn cờ địa chánh trị, Ðức, Triều Tiên và Việt Nam bị các siêu cường giữa hai khối Tự Do và CS chia cắt. Các nước nhỏ, nhược tiểu, đành thúc thủ.

Nước Ðức có lãnh tụ, được dân tự do bầu lên, thương nước thương nòi nên họ không xua quân đi giết hại chính đồng bào của mình.

Helmut Kohl đã thống nhứt nước Ðức trong hòa bình… Ðó là bài học mà đất nước đang còn bị chia cắt là Triều Tiên cần phải học.

Riêng Việt Nam, CS Bắc Việt nhứt định thống nhứt miền Nam bằng võ lực, trong máu lửa. Hậu quả tàn khốc là làm cả triệu người dân hai miền bị giết chết.

Thống nhứt về lãnh thổ nhưng lòng người ly tán. Vậy mà cứ đánh trống thổi kèn hoài hè!

đoàn xuân thu.

melbourne

Bậc thầy về xào nấu!

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Bậc thầy về xào nấu!

Đoàn Xuân Thu.

Bác sĩ Nhãn khoa Lý Văn Lượng làm việc ở Bệnh viện Trung tâm thành phố Vũ Hán chữa trị một bệnh nhân bị tăng nhãn áp. Bệnh nhân cũng bị sốt nên được Bác sĩ Lý cho đi làm xét nghiệm. Kết quả cho thấy bệnh nhân bị nhiễm trùng phổi. Tất cả các chỉ số khác rất giống với những gì mà Bác sĩ Lý đã biết về ‘coronavirus’ vốn đã gây ra bệnh viêm phổi cấp ‘SARS’.

Bác sĩ Lý Văn Lượng sau đó đã gởi tin nhắn trên ‘WeChat’ cho 150 đồng nghiệp, trong đó có những người là bạn học cũ ở trường Y Khoa, nhằm cảnh báo về một căn bệnh nhiễm trùng phổi bí ẩn.

Sau nầy, trả lời giới truyển thông trong và ngoài nước, Bác sĩ Lý Văn Lượng cho biết là:

“Kèm theo tin nhắn là một kết quả xét nghiệm; vì tôi muốn nhắc nhở các bạn học của tôi, những người làm việc ngay trên tuyến đầu chống dịch bệnh phải biết mà tự bảo vệ mình. Vì tôi lo ngại rằng sẽ có một đợt dịch bệnh mới sẽ bùng phát”

“Tôi cũng nhấn mạnh rằng tin nhắn không nên lan truyền ra ngoài nhóm, bởi tôi có thể gặp rắc rối với chánh quyền; vì ngay thời điểm đó Thành ủy Vũ Hán đang họp đảng bộ bầu bán cho nhiệm ký 5 năm tới mà số người tham dự lên tới 40 ngàn đảng viên, một thời điểm rất ‘nhạy cảm về chánh trị”

“Thật đáng sợ! ‘SARS’ đang trở lại à?” một người nhận tin nhắn đã hỏi, khi nhắc đến đại dịch viêm phổi ‘SARS’ khởi phát ở Trung Quốc năm 2003 khiến khoảng 800 người thiệt mạng.

“Dịch này không phải ‘SARS’, nó do một chủng ‘coronavirus’ mới gây ra và lây truyền từ người sang người rất rõ ràng; vì cùng ngày nữ bệnh nhân nầy bị sốt, các thân nhân trong gia đình của bệnh nhân cũng bị sốt.”

“Chúng tôi đã báo cáo trường hợp nguy hiểm nầy đến Ban Giám đốc Bệnh viện và mời các bác sĩ cao cấp khác đến kiểm tra rồi cho bệnh nhân này đi kiểm dịch. Việc nhiễm trùng của bệnh nhân nầy lan rộng đã khiến 7 người phải bị cách ly tại khoa cấp cứu.

“Tôi nhấn mạnh rằng đó là một loại ‘coronavirus’ mới cần phải được xác dịnh.

“Sau khi tin nhắn lan truyền, Sở Y tế Thành phố Vũ Hán đã triệu tập tôi và 7 người khác đến một cuộc họp và yêu cầu giải thích lý do tại sao chúng tôi lại chia sẻ thông tin nầy?”

“Ba ngày sau, cả bọn 8 người đều bị Công an thành phố Vũ Hán mời lên làm việc. Họ bắt chúng tôi phải thừa nhận là đã phao tin đồn thất thiệt và phải cam kết không được tái phạm nữa.”

“Tôi không cho đó là tin đồn; vì kết quả xét nghiệm đã xác nhận rõ ràng rằng đó là chủng loại ‘coronavirus’ mới. Tôi chỉ muốn các bạn học cũ nên cẩn thận kẻo bị lây nhiễm từ bệnh nhân nhưng cũng đừng hoang mang hoảng sợ.”

Tất cả đều đã trễ, cơn đại dịch nầy sau đó lây lan khắp thành phố Vũ Hán 11 triệu cư dân, rồi lan ra toàn quốc và trên toàn cầu. Số người chết mỗi ngày một nhiều hơn. Số người bị lây nhiễm lên tới hàng chục ngàn. Hàng chục thành phố bị cô lập, nội bất xuất ngoại bất nhập. Dân Trung quốc lên cơn hoảng hốt! Công dân nước ngoài thì được chánh phủ của họ khẩn cấp gởi phi cơ đến để di tản họ về nước.

Rồi Bác sĩ Lý Văn Lượng và thân nhân trong gia đình gồm cha, mẹ và vợ con đều bị nhiễm loại ‘coronavirus’ mới phải nhập viện để điều trị. Trên giường bệnh, nằm trong khoa cấp cứu vì Bác sĩ Lý là người bị bệnh trầm trọng hơn hết. Khi được giới truyền thông trong và ngoài nước hỏi Bác sĩ Lý có cần được giải oan hay không?

Bác sĩ Lý nói:

“Có giải oan hay không? Không quan trọng. Công lý nằm trong trái tim của mọi người. Điều quan trọng là mọi người phải biết sự thật. Nếu các quan chức cho tiết lộ thông tin về dịch bệnh sớm hơn, tôi nghĩ tình hình ít tệ hại hơn rất nhiều. Họ cần phải minh bạch và cởi mở hơn!”

***

Tòa án Nhân dân Tối cao tại Bắc kinh đã khiển trách nặng nề Sở Công an thành phố Vũ Hán về hành động bịt miệng, ngăn chặn lời cảnh báo về dịch bệnh của Bác sĩ Lý Văn Lượng.

Bí thư Thành ủy Vũ Hán Mã Quốc Cường và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Chu Tiên Vượng nhận lỗi và sẵn sàng từ chức.

Bác sĩ Lý Văn Lượng, dù e ngại, không muốn; nhưng cuối cùng cũng phải đụng tới Trùm băng đảng Mafia của thành phố Vũ Hán; rồi ngay cả những tay chóp bu tại Trung Nam Hải ở Bắc Kinh khi công khai đòi hỏi về quyền được thông tin; quyền được tự do ngôn luận.

Hành động đòi hỏi rất chánh đáng và quả cảm trong chế độ CS toàn trị là không yên thân rồi.

Quả nhiên, ngày mùng 6, tháng Hai năm 2020, Bác sĩ Lý Văn Lượng từ trần khi tuổi đời còn quá trẻ, chỉ mới vừa 34 tuổi, bỏ lại cha mẹ già, vợ dại đang mang thai và đứa con thơ chỉ mới lên 5 tuổi.

***

Bác sĩ Lý Văn Lượng, lần đầu tiên được tuyên bố là đã chết, sau đó còn sống nhưng nguy kịch và cuối cùng, lại chết, chết tới hai lần. Các thông báo mâu thuẫn, trống đánh xuôi; kèn thổi ngược nầy đã chứng tỏ sự hoảng hốt của bè lũ CS chóp bu đang cầm quyền ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.

Sự thực là tim Bác sĩ Lý đã ngừng đập vào lúc 9 giờ 30 phút, tối thứ Năm, ngày mùng 6, tháng Hai, năm 2020 trong tiếng khóc lóc tiếc thương của những đồng nghiệp đang đứng trước cửa cách ly của phòng cấp cứu Bệnh viện Trung tâm thành phố Vũ Hán.

Vậy mà mãi tới 3 giờ 48 phút, rạng sáng ngày thứ Sáu, cố ý chờ cho dân Trung Quốc đi ngủ gần hết, Bệnh viện Trung tâm Vũ Hán mới thông báo trên ‘Weibo’ rằng: “Bs Lý đã chết vào lúc 2 giờ 58 giờ sáng”.

(Ghi rõ giờ và ngay cả từng phút để nhằm mục đích lập lờ đánh lận con đen rằng đây không phải là tin đã được xào nấu lại)

Cả hằng triệu lượt người Trung Quốc phẫn nộ, phản ứng liền lập tức trên trang mạng Weibo:

“Các ông nghĩ rằng tất cả chúng tôi đã đi ngủ ư? Không. Chúng tôi không đi ngủ! Chúng tôi muốn tự do thông tin và ngôn luận”

***

Nhân Dân Nhựt báo, tiếng nói chánh thức của Đảng CS Trung Quốc, tát nước theo mưa, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu rằng cái chết của Bác sĩ Lý Văn Lượng đã gây ra “nỗi đau cho cả nước”.

Để xoa dịu sự căm phẩn của người dân Trung Quốc, Bắc Kinh đã cử người về Vũ Hán để điều tra hậu tử cái chết của Bác sĩ Lý Văn Lượng.

Với lý do là thiệt mạng trong lúc công tác, chánh quyền CS thành phố Vũ Hán đã đem vài trăm ngàn nhân dân dân tệ, khoảng hơn 100 ngàn đô la Mỹ để bồi thường cho gia đình bác sĩ Lý, kể cả tiền chi phí an táng để nhằm xoa dịu sự phẫn nộ đang dâng cao của người dân Trung Quốc.

Đau buồn thay Bác sĩ Lý là một nhân vật chánh trong một bi kịch mà chính ông lại bị nhiễm ‘coronavirus’, bị thiệt mạng; sau khi cố gắng cảnh báo cho những người khác phòng tránh dịch bệnh.

***

Người Trung quốc xưa giờ rất giỏi về nghề xào nấu thức ăn, vang danh thế giới. Chánh quyền Cộng sản Trung quốc ngày nay còn hay còn giỏi hơn nữa trong nghề xào nấu tin tức.

Tin tức nào có lợi cho chế độ thì loan ra; không có thì ‘chế’ ra. Còn tin tức nào không có lợi cho chế độ thì ém nhẹm đi. Bằng ém nhẹm không được thì đem đi xào nấu.

Nên Cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu có nói một câu, không những đúng cho CS Việt Nam mà cho cả CS Trung Quốc là:

“Đừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Có một ngày gọi là St – Valentin

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Có một ngày gọi là St – Valentin

Hồ Đình Nghiêm

Anh thường ra ngồi ngoài quán, hầu như mỗi ngày, chẳng thay đổi địa điểm. Cà phê ở đó ngon, sự tĩnh lặng, ánh sáng vừa phải, trang trí đẹp, thoáng; và sau hết, ít có những cặp mắt tọc mạch ngầm dọ hỏi mấy đứa lỡ nấn ná câu giờ như anh. Cái mà anh không thích là lắm khi anh chợt nhìn ra, sợ hãi về nỗi cô đơn luôn vây khổn anh. Anh tính bỏ thói quen chẳng lành mạnh ấy đi thì một hôm bất chợt anh phát hiện có người con gái. Cô ngồi góc khuất, cũng lẻ loi một mình. Cô là khách quen, anh đoán thế, qua điệu bộ có vẻ thân thiện của đứa pha cà phê.

Chẳng hiểu do đâu anh tự đánh cuộc, cô ấy là người Việt. Nào có gì đặc thù để võ đoán đó là một người đồng hương? Có thể hồ đồ để nương nhờ vô hai chữ: Linh tính. Anh là người nhạy cảm. Và thông thường, nhạy cảm nó làm mình liêu xiêu ít nhiều nếu giác quan bù trất, trông chim hóa bướm. Để kiểm chứng anh làm mặt dày mày dạn tới gần làm quen. Có người bày: Đẹp trai không bằng chai mặt. Ừ, thì đôi khi cũng nên ca cải lương cho vấn đề được tới. Hiệu nghiệm, cô vui vẻ cho anh ngồi ghế đối diện. Chẳng sai, cô người Việt, in tuồng sinh ở Đà-nẵng, giọng khó nghe ra lúc ban sơ nhưng thánh thót rót vào tai khi đã có trớn, nhăng cuội toàn chuyện nắng mưa, nhưng vui thú. Cô có đôi mắt to, chút phiền muộn đọng chiếu. Trên vách treo bức tranh in lại chân dung thiếu nữ của Modigliani. Đôi mắt đó, nhãn quang này e thập phần chẳng sai biệt mảy may. Anh kiếm ra cớ để gợi chuyện và cô xì một tiếng. Chữ “xì” chẳng nói rõ điều gì. Chê bai? Phủ nhận? Hay ngụ ý: Xưa rồi Diễm, trăm người đều nói với ta có ngần ấy điều, chả mới lạ. Ngoài cửa sổ linh hồn ấy ra ta chẳng còn gì nổi bật ư?

Anh đi mua thêm một tách cà phê sau khi hỏi thứ mà cô đang uống. Mời. Anh nói. Cô bảo: Eo ôi, nhiều quá, dung nạp gắt, sợ táo bón. Một nửa thôi. OK? Cô sớt chia, đổ vào cái tách men có in vệt son môi còn ướt. Màu đỏ lấm lem nọ làm cho men sứ trắng trở nên nhạt nhòa. Anh thích sự vấy bẩn kia, tưởng tượng ra cái rít rát của nó dán chặt vào mồm miệng luôn khô khát của mình…

Chưa bao giờ anh thấy thời gian trôi mau như vậy mỗi khi được chuyện trò cùng cô. Binh pháp có câu: Dục tốc bất đạt. Mà ngay cả cẩm nang dành cho đầu bếp cũng thế. Lửa riu riu, vớt bọt cho tới hồi nước trong, đậy nắp lại. Đi đâu mà vội? Anh biết, nên anh dằn lòng chẳng nói ra cảm xúc đang réo sôi, chực trào. Khi xét thấy thời cơ đã đến, hoàn cảnh thuận lợi, có nghĩa là sau khi đã “cúng” cho quán nước đó trên dưới 500 đô, mòn nhẵn chỗ ngồi, anh bắt đầu nhập đề. Thằng cha đầu bếp đang chuẩn bị mở nắp, xem xương thịt đã nhừ chưa, cần gia giảm bột ngọt mì chính? Anh bóng gió một câu, cô như không nghe rõ. Cô ngó ra đường: Hình như ông chẳng có một người bạn nào cả? Có chứ, có chứ. Nó bận bịu vợ con, lại thêm Tết đến nó lu bu chuyện cúng kiếng. Hồi hôm tao tắm táp sạch sẽ, cả mụ vợ cũng thế, đợi giao thừa tao liền đốt cho mụ cái pháo tống, la bai bải. Cái gì? Ồ, nó trêu ngươi, nó dem thèm tôi vậy mà. Có biết đốt pháo tống là gì không? Cô có vẻ nản, mặt cúi xuống, như thể đang ngó cái đầu gối. Cô không thích ỡm ờ, cô chẳng ưa đoán già đoán non, cô ghét nói xiên nói xẹo. Ưa gì thì nói rõ cho bà con nhờ, cha nội!

Cô gọi anh bằng ông, xưng tui. Cô trên ba mươi, đã từng làm vợ thằng đàn ông may mắn nào đó. Cô ra ngồi ngoài quán vì đang độc thân tại chỗ, có thể cô mượn khung cảnh ấy để làm vơi chút sật sừ hư hao sau đổ vỡ. Đường tình cô đi hơi ngắn, chẳng êm ả từng cây số, như thể leo lên tới đỉnh đèo Hải-vân thì chết máy, vì nguyên cớ gì thì anh không tiện hỏi. Anh rất mong là cô vất bỏ mọi thứ trên đèo heo hút lạnh để đón xe lui lại nơi xuất phát và anh là đứa lái xe ôm định mệnh kia. Cô hỏi tuổi anh. Năm mươi, anh man khai, cố giảm thiểu đôi ba năm cho đỡ già nua. Anh tin là cô chẳng phát hiện điều gian dối, và nếu biết sự thật thì có gì để phiền hà ở sự chênh lệch tuổi tác kia? Phải mà vợ chồng thì họa may “gôm”, cho nói lại, bởi như vậy trông chẳng xứng đôi vừa lứa, ngó lệch lạc, mất sướng. Già chết trước, dĩ nhiên, già xanh cỏ vất trẻ hồng nhan làm góa phụ mình ên, kể cũng nản. Ngay tình, hơn hai mươi năm là hố sâu cách biệt ấy, không chắc đứa tra có hột như anh lại khôn nẻ vỏ bằng cô. Cô thông minh, nhiều giác quan, nhiều linh tính, cô có thể đọc ra những âm mưu vừa chớm nẩy mầm trong trí anh, điều đó khiến anh đâm ngu ngơ vụng dại như thằng con trai mặt đang nổi mụn giọng đang bể tiếng. Lúng túng là trạng thái quen thuộc luôn đứng án giữa anh và cô. Như xăng pha nước làm máy nổ thậm thụt chạy cà rịch cà tang qua bao đèo cao núi lớn mãi bày biện.

Đầu năm, cô nói: Ông chưa lì xì cho tui! Chết chửa, anh than thầm. Hơn ba mươi năm lưu lạc, chưa ai lì xì cho anh cái gì cả, chính điều này làm anh quên thứ tục lệ oái ăm kia. Anh cố nhớ lại những ngày tết xưa rich và anh đồ rằng e lớn tuổi thì phải luôn lì xì cho đám hậu bối. Sao cô không làm một cuộc cách mạng nhỉ? Cô hào phóng đảo ngược lề thói hủ lậu kia để đường bệ lì xì anh bất kể một thứ bé tẻo teo làm bằng cớ mấy tháng quen nhau. Anh khổ sở tìm kế hoãn binh, cực lòng đánh trống lãng; và anh hứa có ngay có ngay, tới liền tới liền. Ngay và liền, có liền ngay được quy ra bằng đơn vị tuần. Mất bảy ngày đêm kiên cường bám trụ chiến đấu cùng laptop anh hoàn thành một truyện ngắn gửi đăng báo mạng nóng sốt làm quà mừng tuổi cô.

Hồi âm, trong email cô viết: “Tui hổng ưa món lì xì đó. Chữ nghĩa ông hoang dàn trời thiệt không hợp tạng tui. Sẵn, tui cũng bộc lộ, tui ngán X, PG-13 thì OK.” Tắt máy, buồn câm, giận lẫy cuộc đời anh chui vào giường nằm trùm chăn phủ đầu ngộp thở. Cảm giác như bị chìm xuống đáy, đắm đuối và trên mặt sông rộng mọi thứ vẫn tuần tự diễn trôi, lãnh cảm. Anh là đứa lái xe ôm và thắng xe đang hỏng, xe đổ đèo rợn cảm, muốn cảnh vật ngừng trôi chỉ có nước đâm đầu vào núi hoặc lòn lách nhắm hướng suối khe. Anh ngủ với ác mộng trong ba bữa tết căm lạnh. Anh câm lặng, tự đánh cuộc: Cô sẽ viết một cái email khác?

Khi buổi chiều giũ áo, bóng tối được đẩy lui bằng hai dãy đèn vàng đồng loạt mở bừng những con mắt. Con đường rộng ra, nhợt nhạt một chắn lối chẳng rõ mặt. Vẫn là nỗi bất an quen thuộc, rình rập khi anh dẫm bước trên lối đi nhiều giá băng. Gió táp vào mặt, rát bỏng và sau đó là cái tái tê chai lì, cộm cứng, mất phản ứng. Từng căn chung cư vuông vắn nhạt nhòe màu gạch không phủ sơn, trồi ra thụt vào để giữ lấy sự ghẻ lạnh cố hữu. Đồng dạng ở bề mặt, nhưng hoạt cảnh sẽ thay đổi trong từng căn hộ. Có thể nó nhốt sinh khí đầm ấm của một gia đình đang quây quần bên mâm cơm, có thể kẻ độc thân đang trụng mì ăn liền ở căn đối diện đầy quạnh quẽ, có thể hai đứa trẻ đang ngồi chơi game trước TV ở tầng dưới. Và có thể, trên tầng ba, người đàn bà ngồi trước computer gửi đi những tin nhắn: Làm sao tui có thể nói hết? Ông tới tui khoảng 7 giờ, dị đi hén.

Bảy giờ, cửa mở, anh ngó thấy một bán diện. Chỉ nửa khuôn mặt, chẳng biểu lộ toàn phần sự cảm xúc. Có thể nửa kia đang vui, cũng có thể phần khuất che đang mang chút phiền muộn. Cửa không rộng mở như rụt rè luôn chiến thắng một hân hoan, như hàng xóm rình rập và gặp gỡ này là hành động của kẻ phạm pháp. Anh từng có khi hành nghề đi giao Pizza, thường thì người đặt hàng vui vẻ mở rộng cánh cửa, mở toang hoác, thậm chí họ cả tin để quay lưng vào lấy tiền mặc tình anh có thể đứng quan sát những đồ vật bày biện tùy thích. Anh có thể cầm dao đâm ai đó, nếu muốn. Anh có thể lấy đi bất cứ thứ gì, nếu ưng. Bất cẩn hoặc đề phòng cảnh tỉnh đều vô nghĩa đối với phường bạc ác bởi cánh cửa đã mở ra. Anh lách người vào và anh phát hiện cái phong phanh có trên y phục của gia chủ. Áo xống ấy tựa một cánh cửa chỉ khép hờ hững, quên khóa. Anh đóng cửa bằng lưng, lẳng lặng khom mình cởi giày. Trên tấm thảm nhỏ kề cận có đôi dép để sẵn, dép đàn ông, anh mang nó với câu nói từ cuốn phim nào chợt hiện: Tôi không ngại mang giày cũ đâu! Là sao? Là cũ người nhưng mới ta? Sao tình yêu lại mang giày dép vào trong? Dẫm lui dẫm tới. Có chà đạp không? Thật bậy bạ!

Gia chủ đi vào bếp pha cho anh cốc cà phê chẳng màng hỏi han. Giam giữa bốn bức tường là nỗi lặng yên đang dấy lên một bồi hồi. Bồi hồi ngay cả tiếng ly tách va chạm, tiếng muỗng khuấy động và tiếng dép lê. Cà phê này tui mua ở quán ấy, thứ mà ông vẫn uống. Khói tỏa trên dung dịch đen, sóng sánh khi tách cà phê đặt xuống bàn. Cô kéo ghế, ngồi đi. Mặt bàn nhỏ, hai ghế đứng chầu hai bên, trên bàn cái laptop vẫn hoạt động. Như thể khi anh tới cô vẫn đang cắm cúi vào màn hình. Có gì lạ không? Anh hỏi rồi ngồi vào chỗ cô vừa định sẵn. Chị tui tên Đoan Trang, năm mươi hai tuổi, đang sống ở Quảng-ngãi, có cửa hàng thời trang. Bây giờ bên đó là bảy giờ sáng, tui có nói trước rồi, thích nói chuyện trực tiếp không, tui mở skype. Ông muốn tui đổi cách xưng hô? Tui sẽ gọi ông là anh, ông anh rể, ô-kê? Xem như năm mới tui lì xì ông một tin vui.

Cà phê đắng, muôn đời là thế. Anh uống không hết bởi nghẹn cứng một vật cản, thêm đường thêm mật thêm sữa cũng hoài công. Anh nuốt nước bọt, anh không ngờ cô là nhà soạn kịch và cô viết ra một kịch bản đậm chất khôi hài đen. Chị tui thích đọc truyện ông, nhất là những đoạn ông ưa dặm muối thêm mắm cho giường chiếu chăn gối lệch lạc nát nhàu. Cũng tội, bả vắng đàn ông đã lâu. Ông biết không? Tui hẹn ông tới hôm nay vì đây là ngày lễ tình yêu. Rất ấn tượng cho hai người.

Vậy sao? Anh ngạc nhiên. Chúng ta có nên đi tìm một quán ăn không? Ừ, ngày cho tình yêu, ấn tượng thật. Năm hai tuổi, ông chê già? Phải dòm mặt trước rồi hẳn quyết định. Chị tui để dành được mười ngàn đô, sẽ trao vào tay người mang chị ấy sang đây.

Anh bước lại cửa, mang giày. Tròng vào thân mũ mão khăn quàng áo ngự hàn. Cô vẫn ngồi yên trên ghế, mặt chẳng biểu lộ điều gì. Có khi cô từng là ngọn lửa giúp anh ấm người, có khi cô hiện thân là tảng băng sừng sững làm ngay cả chim chóc cũng biết vội bay lánh xa sự khắc nghiệt của lạnh lẽo, dễ đổ bệnh. Hơn ba mươi năm anh chưa được ai lì xì, hơn ba mươi năm anh khuấy quên một tờ lịch in đỏ ngày St- Valentine.

Anh tự mở cửa, tự đóng lại. Bước ra đường, gió tạt vào mặt anh buốt đau vết cắt lạnh thường hằng. Đường không ai, trống vắng. Đèn vẫn thắp đỏ và đèn chiếu dưới chân anh một bóng đen kẻ đồng hành, thoạt gầy thoạt béo thoạt ngắn thoạt dài, và cả hai đi trong câm nín, co ro.

Hồ Đình Nghiêm

Chim hót

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

Chim hót

Hồ Đình Nghiêm

– Bạn thích đọc truyện dài, ngắn?

– Tuỳ thuộc vào cái dở hoặc hay. Nhưng nói nào ngay dạo này tôi lười lắm.

– Đương hưu non mà, biết làm gì cho hết ngày? Thổi lửa nấu cơm vẫn tốt hơn là trụng mì ăn liền chớ?

– Tuổi này tự dưng mắt mờ, tay yếu, chân run, làm gì cũng chẳng ra đầu ra đuôi. Không làm bà xã hài lòng, đêm hôm nghe bả ngầy ngà cho tới sáng.

– Chữ ngầy ngà đồng nghĩa với rầy la, thấy không tới, không thơ mộng cho bằng ba chữ “nghe chim hót”.

– Ừ, thương người thì nên hoán đổi. Chim quyên ăn trái nhãn lồng, chích choè cao giọng đèo bồng ngũ cung. Chào mào sợ ná dây thun, riêng con chim sẻ mình thu nhỏ dần.

– Coi mòi bạn thích đọc thơ?

– Ừa, bị ít chữ, ngó mát con mắt hơn. Thơ như giọt cà phê ứa ra từ phin lọc.

– Có nghĩa là sao? Nước mắm nhĩ rỉ rả chớ hổng phải nước chấm công nghệ tràn lan ngập mặt? Nhiều quá thì sanh đổ đốn đổ hư, lắm hoá chất?

– Na ná là thế, nên tinh ròng, nên trì chí, dục tốc bất đạt. Bột cà phê hoà tan uống nhạt bỏ mẹ.

– Lời phân giải này bạn chôm từ chim sau khi nghe chim hót?

– Sao biết hay thế? Chim bảo: Ông nên chịu khó tập yoga hoặc tập bài “suối nguồn tươi trẻ” hoặc xuống trung bình tấn vận khí vào huyệt đan điền mà vung tay. Chăm làm thế thì khi trả bài ắt sẽ có đôi phần tiến bộ thoát cảnh đêm dài lắm mộng.

– Ờ, nhưng mà chúng ta đặt câu có sai văn phạm, vì bấy chầy khi nói tới chim người ta vẫn xem nó là giống đực, khổ nỗi bướm thì chẳng biết hót, ngao sò hến thì không mở miệng. Chim với cu cũng một nghĩa như nhau.

– Bạn thích thơ hai-cu không?

– A, một câu hỏi đáng đặt ra. Thích, nhưng thú thật có nhiều bài tôi chưa đủ sức lĩnh hội cái cô đọng thâm sâu nọ; và tôi chợt nghĩ, cớ sao họ dùng chữ hà tiện quá, dài hơn chút e dễ “làm bà xã hài lòng”?

– Thế còn một cu?

– Thôi đi ông tướng, cho em nhờ tí. Tại hạ xuống núi đã lâu chưa hề gặp qua độc cô cầu bại. Đứa luyện thành Tịch Tà kiếm phổ thì có nghe danh, nghe đồn hắn sang Thái Lan tìm cách phế hết võ công để tháp lại báu vật của đời.

– Vì hai cu mà tôi liên tưởng rách việc ra thế, nói một cú ắt đúng hơn?

– Thơ một cú? Căng nhỉ?

– Tôi lấy làm tâm đắc chưởng pháp của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn. Phải dày công thâm hậu mới tung được một chưởng “Rán đốc phách”, như sau:

em cứ phóc lên lưng anh cõng đi chơi
bề gì
thằng gù cũng đã ở nhà thờ đức bà.

Giản lược tối đa, đưa ra hình tượng nhiều thâm ý. Khi cõng ai thì lưng anh cong xuống, và thờ đức bà… Khà khà, thấu tình đạt lý. Suối nguồn tươi trẻ mà làm gì cho má nó khi. Chim nên hiểu, gừng càng già càng cay, chớ hót vội. Chữ “bề gì” cũng là tuyệt cú.

– Tôi học vẽ, tôi nghiệm ra những hoạ sĩ có bản lãnh, họ thường tìm cách bôi xoá đi những vật thể, họ muốn giản lượt đường nét, họ bày những khoảng trống và họ ký tên vào bức tranh trông có vẻ bất toàn nọ. Không một lời giải thích khi treo lên, kẻ thưởng ngoạn là đứa tự tìm ra vẻ đẹp, tính cân bằng đọng ở sự chênh vênh gợi mời kia.

– Điều này bạn phải nương nhờ vào một sự đồng cảm của tha nhân, một tâm hồn đồng điệu. Tôi e là thời buổi máy móc này đã khiến con người xơ cứng những cảm xúc, họ sống hối hả trong thực dụng. Nôm na họ thích xơi mì ăn liền. Cách họ nghiện facebook là một chứng minh.

Câu chuyện ngưng lại ở đó. Ban đêm chim hót giọng khác, ban ngày có vẻ uốn lưỡi nỉ non dịu dàng một cung bậc:

– Chạy ra chợ Maxi’s đi anh, họ đang xeo lắm thứ. Gà nông trại hẳn hoi, nhổ lông làm sạch tươm tất một con chỉ có 6.99. Giấy vệ sinh 16 cuộn chỉ có 5.99. Dầu ăn olive extra virgin chai 1 lít giá có 8.99. Gạo thơm Thái Lan bao 8 kí xeo còn có 10 đô… Chiều nay anh ở lại dùng cơm với tụi này chứ?

– Dạ, cảm ơn chị. Lần khác vậy, bị tôi có hẹn thằng bạn ở quán phở 75 rồi.

– 75 hay 79? Mỡ màng không à, bột ngọt mì chính không à. Cholesterol cả tỉ, mất tiền thêm lo. Lạ, đàn ông sao giống nhau quá, cứ mãi thèm phở !

Khách xỏ chân vào đôi giày đặt ở bậu cửa. Mùa tuyết tan nên chim về đậu trên cành trụi lá chưa đơm nụ hoa. Cây sống qua mùa đông dài là đã mang phúc phận đời cây thầm lặng hên nhờ rủi chịu. Chim đang hót, thấy người xô cửa ra sân nên chim bay đi. Tiếng chim của chính con chim hót ra bao giờ cũng khiến người nghe tâm thân an lạc.

– Chào chị tôi về ạ.

– Phải. Chào anh. Ra hối tiệm phở kẻo người ta đợi người ta mong.

Máy nổ hậm hực khiến chiếc xe Mazda hai cửa đời 2008 run như thằn lằn đứt đuôi. Trời xám ngoét như trời muốn cảm hàn. 75 hay 79? Ừ nhỉ, tại sao không có một tiệm phở mang thương hiệu khác, do một chị nhà thơ đứng ra làm chủ? Một anh nhà văn đứng bếp chất xương vào nồi canh me củi lửa vớt bọt các thứ? Bước vào hàng quán ấy thì ha hồ mà nói chuyện văn chương thả giàn, cợt nhã những thứ trần tục bà nấu ông khen ngon. Tuyệt đối chỉ có hành trần ngò gai giá sống chanh ớt. Bát đũa cọ nhau xì xà xì xụp. Và quan trọng hơn hẳn, tuyệt không nghe ra một tiếng chim kêu.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 7 May 2015

Post by Sơn râu 18 Nov 2023

 “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở”

Bài 18

Tháng 2 năm 1979, Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt Trung. Ngay khi nghe tin Trung Cộng sắp đánh, toàn thể tù trại cải tạo Z-30A, Xuân Lộc rất xôn xao. Ai ai cũng “vui mừng”. Có người nói mỉa “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở!”

Người ta nhìn vấn đề theo lăng kính chủ quan: Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta.

Anh em hỏi nhau: Có thể như thế được không? Hễ nghe Đặng Tiểu Bình chưởi Hà Nội một câu gì đó, có người khoái chí. Có người nói Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Buổi trưa ăn cơm Hà Nội, buổi tối ăn cơm Saigon.” Ý Đặng muốn nói Trung Cộng có khả năng chiếm trọn Việt Nam trong một thời gian rất ngắn! Có người dại dột, – dĩ nhiên cũng có mấy chú Ba Chợ Lớn đang ở tù chung ở đây -, mong Trung Cộng đánh tới Saigon.

Việc nầy là không xong, sai lầm.

“Tàu phù” đô hộ Việt Nam đã kinh, đến như Tàu Cộng mà đô hộ thì coi như tàn đời, tàn “dân tộc”, kể cả mấy anh Ba trong Chợ Lớn cũng tàn theo mây khói vậy thôi! Nếu Trung Cộng cai trị Việt Nam, mấy chú Ba cũng chẳng được “xơ múi” gì đâu! Cộng Sản chẳng tin ai bao giờ! Chúng còn chưa tin nhau, làm sao tin mình được!? Tất cả chỉ vì lợi, và lợi dụng người khác.

            Một hôm, ăn chiều xong, chờ giờ “vào chuồng”  – tôi uống nước trà với Trần Phú Trắc và “Ông già ham vui” (Anh Lã Trung Tâm). Trắc nói:

            – “Tui chỉ muốn Trung Cộng đánh một trận, nhưng chỉ tới biên giới thôi. Đánh xuống nữa thì khổ dân mình.”

            “Ông già ham vui” nói:

            – “Thằng Đặng Tiểu Bình nói cho Việt Nam một bài học nhưng có “giới hạn không gian, thời gian”. Sao nó nói thế?”

            Tôi nói:

            – “Mỹ qua giúp miền Nam chống Cộng, tụi Cộng Sản la làng “Đế Quốc Mỹ xâm lược”, khiến Mỹ cũng ngại. Đời bây giờ không dễ gì một nước lớn đem quân đánh một nước nhỏ. Tụi Tàu biết rõ sau lưng nó, bên kia Hắc Long Giang, bốn mươi sư đoàn Liên Xô đang chực sẵn. Hễ Tàu đánh Việt Nam xuống sâu chút nữa, xa biên giới Việt Trung thì Liên Xô cho quân qua sông. Sợ bị cắn vào lưng một phát, đau tận mạng nên Đặng Tiểu Bình phải trấn an Liên Xô, tuyên bố vậy.”

            “Ông già ham vui” nói:

            – “Đ. mẹ nó. Cho tụi nó đánh nhau loạn xạ ngầu cho vui!”

            Tôi cười:

“Ghét Cộng Sản Hà Nội thì mình nói vậy chớ đụng thằng Tàu là mệt lắm. Tình hình bây giờ cũng giống như đời Hồ Quí Ly, bị quân Minh đánh. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” là chết cả đám. Bọn mình cũng tiêu luôn. Staline đày bọn phản động qua Tây Bá Lợi Á. Bọn Hà Nội đày bọn mình ra Việt Bắc. Tàu mà chiếm cả nước thì bọn mình bị đày qua tận sa mạc Tân Cương. Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương, vua quan đời Hậu Trần đều “bỏ mạng sa tràng” bên Tầu.”

Trắc nói:

            – “Ông” nầy hồi trước dạy sử nên lúc nào cũng ví von. Anh kể đầu đuôi cho anh Tâm nghe đi.”

            Anh Lã Trung Tâm, dân Saigon, từ nhỏ học trường Tây, học sử Tây thì nhiều mà ít học sử ta thì ít nên Trắc mới nhắc tôi như vậy.

Tôi kể:

            – “Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần. Tôi không nhớ rõ năm, khoảng 1406 hay 1407 gì đó. Bọn nhà Minh đem quân qua đánh, mượn tiếng “phù Trần, diệt Hồ”. Người mình ghét họ Hồ, tin bọn Tàu nên không tích cực với việc cùng với nhà Hồ chống Trương Phụ, mặc dù cha con Hồ Quý Ly là những người tài giỏi. Hồ Quý Ly là người đầu tiên cho in tiền giấy, Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng là người tìm ra nhiều cách đánh Tầu rất hay, lại là người chế ra súng thần công. Sau nầy, khi qua Tầu, nhờ có tài nên ông nầy đuợc Tầu cho làm quan to.

            -“Vậy tại sao thua Tầu?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            -“Hồ Quý Ly gốc là người nước Ngu bên Tầu, nên ông đổi tên nước ta là “Đại Ngu”. Ngu dữ lắm – tôi và Trắc cũng như anh Lã Trung Tâm đều cười – Bởi lòng người còn nhớ là Trần – Nhà Trần cai trị nước ta đã hai trăm năm, ba lần đánh bại bọn Mông Cổ, công lớn lắm, nên dân chúng không theo Hồ Quý Ly. Lòng dân không theo thì đánh chác cái chi?!” Tôi nói.

“Đến khi Hồ Quí Ly thua rồi thì bọn Tàu giả nói tìm không ra con cháu nhà Trần nên chúng phải đặt quan cai trị. Lúc đó, dân mình có làm “Văn Vĩ chạy xe ôm” (1) thì cũng trễ rồi. May mà có Lê Lợi.” Tôi kể tiếp.

            – “Nếu bọn Tầu đánh tới, thế nào Việt Cộng cũng có biện pháp đối với anh em mình.” Anh Lã Trung Tâm phỏng đoán.

            Trắc góp ý:

            – “Bọn chúng đề phòng mình chứ!”

            – “Trắc nói đúng đấy! Chúng nó sợ mình nhiều thứ: trốn trại, đấu tranh, biểu tình, phản đối không đi lao động, nổi loạn, vân vân…” Tôi nói.

            – “Làm được chi!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Mình thiếu đủ thứ: thiếu đoàn kết, thiếu lãnh đạo, thiếu kế hoạch…”

            – “Tù là quần chúng. Ai sẽ “người lãnh đạo”, “chỉ huy” để đấu tranh? Phải có cán bộ chứ! Vấn đề cán bộ là quan trọng. Thiếu cán bộ không làm được việc. Tâm lý bọn tù chúng mình phức tạp lắm. Làm thì không làm, sợ, nhưng ai làm thì phê phán, chê trách, mai mỉa nên không làm được gì!” Trắc nói, vẻ chán nản.

            – “Tui có đọc mấy tài liệu Cộng Sản phê phán giai cấp tiểu tư sản. Chúng nó nhận xét về chúng ta không sai.” Tôi nói.

            – “Phê phán như thế nào?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Háo danh, tranh giành địa vị, ngại khó, ngại khổ, hoạt đầu, vân vân…” Tôi nói.

            – “Mày thấy tụi nó nói đúng không?” Lã Trung Tâm hỏi tôi.

            – “Đúng chớ! Nhưng nó chỉ nhìn mặt xấu, không nhìn mặt tốt. Thành ra cách nói của chúng có ác ý, xuyên tạc, thiếu sót.” Tôi trả lời.

            Trắc nói:

            – “Tui thấy giai cấp tiểu tư sản có nhiều cái hay lắm: Tinh thần trách nhiệm, hy sinh, vị tha, có tài lãnh đạo. Không có họ, những cuộc cách mạng không có người lãnh đạo.”

            Tôi góp ý:

            – “Trắc nói đúng đấy. Giai cấp tư sản, tiểu tư sản mới có đủ trình độ để ý thức về quyền lợi giai cấp, ý thức về bị bóc lột, bị cai trị, bị nô lệ. “Vô sản” cũng là “vô học”. Không có học làm sao ý thức, nhận biết về quyền lợi, về độc lập mà đấu tranh? Tất cả các cuộc cách mạng gọi là vô sản ở Nga, ở Đông Âu, ở Tầu, cả ở nước ta… đều do giai cấp tiểu tử sản lãnh đạo cả.”

            – “Vậy tụi vô sản làm cái chi?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Theo đuôi! Trí thức, tư sản, tiểu tư sản “giác ngộ” cho giai cấp vô sản và chúng theo đuôi, chịu sự lãnh đạo.” Tôi nói.

            – “Mày nói sai!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Tụi lãnh đạo ngoài bắc bây giờ là vô sản cả.”

            – “Cái hay của Cộng Sản là ở chỗ đó.” Tôi nói. “Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Minh đều là tiểu tư sản cả. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng…, có thằng nào là vô sản, “tam đại bần nông, tứ đại khố rách” đâu! Tuy nhiên, trong thời gian chống Pháp, Việt Minh đào tạo một lớp cán bộ mới, xuất thân từ vô sản. Có cán bộ mới, Cộng Sản dần dần loại bỏ thành phần tiểu tư sản, trung nông trong hàng ngũ Việt Minh. “Biên chế”, “Cải cách ruộng đất” là thực hiện chính sách loại trừ đó. Họ không sai lầm trong “Cải cách ruộng đất” đâu. Có bài bản cả.”

Giai cấp vô sản ai cho ăn thì theo!

Khoảng trước hiệp định Genève 1954, ở quê tôi, tôi thấy những người đi lính Commando, Partisan… cho Tây, phần đông là những người vô sản, sinh trưởng ở thôn quê, ít học… và cũng không phải là người theo đạo Thiên Chúa. Không ít người theo đạo Thiên Chúa đi lính Tây vì muốn chống Việt Minh. Vậy thì họ đi lính Tây để làm gì? Lý do tôn giáo? Ý thức giai cấp? Bị Việt Minh đàn áp? Không! Chỉ vì một lý do đơn giản: Tiền. Có tiền để ăn chơi, đĩ điếm, cờ bạc. Vậy thôi! Nhìn vào trường hợp họ, người ta có thể thấy lý thuyết Cộng Sản sai!

Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:

-“Có chắc Tầu đánh không?”

-“Chắc chớ!” Tôi nói. “Chiều hôm qua, tôi đọc một bài báo ở tờ “Saigon Giải Phóng” dán ngoài hội trường. Bài báo trích lại lời của bình luận từ một tờ báo Tầu Cộng: “Nhân dân Trung Quốc, không ngại hy sinh, không ngại khó nhọc, nhịn ăn, nhịn mặc, để giúp đỡ cho Việt Nam…” Nói như thế thì còn gì để nói nữa!”

-“Nghĩa là đánh?” Trắc hỏi.

-“Nói như thế là để “biện minh” cho viêc sắp làm chớ gì!” anh Lã Trung Tâm góp ý.

-“Anh nói đúng đấy! Biện minh cho việc sắp đánh bọn Hà Nội!” Tôi nói. “Tôi không hiểu tại sao tờ “Saigon Giải Phóng” lại trích đăng câu nói nầy, chỉ có lợi cho Tầu!” Tôi lại tiếp lời.

&

            Câu chuyện Trung Cộng sắp đánh làm cho nhiều anh em thấy vui, hớn hở. Có anh em nói: “Đánh thấy mẹ nó đi!”

            Một chủ nhật, trước ngày Bắc Kinh đem quân đánh Cộng Sản Hà Nội hôm 17 tháng 2 năm 1979, bọn chúng tôi bị gọi lên hội trường trại B để nghe trung tá Việt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng Z-30A nói về việc “Trung Quốc đang chuẩn bị đánh ta” – câu của Thích – Theo y nói, là y vừa đi Hà Nội về, gặp các “anh lãnh đạo ở Hà Nội” nói như thế. Không phải Thích “nổ” đâu. Khoảng các năm 1945-46, Trịnh Văn Thích là cận vệ của Hồ Chí Minh. Nhờ đó, y quen biết một số “to đầu” ở Hà Nội bây giờ. Ông ta cũng có 25 năm làm “tù trưởng” – Tiếng chúng tôi gọi đùa, ám chỉ người nào đứng đầu trại tù.

            Nói ba hoa, lung tung một lúc, đại ý là “Trung quốc muốn đánh Việt Nam” (Cộng Sản) nhưng còn “sợ ông Liên Xô nên chưa dám”. Trịnh Văn Thích phê phán việc thay đổi lập trường của Trung Cộng là theo Mỹ, “bám đuôi Mỹ”, phản bội chủ nghĩa Cộng Sản, v.v… Xong, Trịnh văn Thích “chứng minh” sự thay đổi đó bằng bốn câu thơ của Tố Hữu.

Tố Hữu đi Mascơva, trên đường về, ghé Bắc Kinh. Trước thái độ tiếp đón lạnh nhạt của Tầu Cộng, Tố Hữu làm bài thơ, trong đó có mấy câu. Trịnh Văn Thích chỉ đọc mấy câu thơ nầy, hay y chỉ nhớ có chừng đó?

            “Tình bạn ngày nay đã khác xưa,

            Rằng e sớm nắng lại chiều mưa

            Chợ trời thật giả đâu chân lý

            Hàng hóa lương tâm vẫn thiếu thừa…”

            Trong một phút nào đó ở cuối buổi “lên lớp”, Thích bỗng nổi đóa, gọi Trung Cộng là “Ba Tầu”, “Ba Chệt”… làm ai nấy đều cười.

            Kết quả buổi “lên lớp” đó là những ngày sau, mỗi chiều, đi lao động về, sau khi “cán bộ trực trại” kiểm tra nhân số và soát xét chúng tôi xem thử có trộm cắp bắp trái gì ở ngoài bãi lao động xong thì chúng tôi vào cổng. Qua khỏi cổng, Công An không còn nghe rõ, chúng tôi hè nhau la to, vui vẻ: “Tới rồi! Tới rồi!” Có người đùa “Tới rồi bác tài ơi”. Có người la rõ hơn: “Tới rồi bộ chính trị ơi!” hoặc “Tới rồi Dziệt Cộng ơi!” Tới rồi có nghĩa là Trung Cộng đánh tới rồi.

&

Cũng trong thời gian đó, một hôm đội chúng tôi được chọn ra 5 người, xuống cát từ trên một chiếc xe Molotova đổ xuống sân, gần nơi một ngôi nhà đang xây. Quản giáo Tuyên nói: “Làm xong, các anh được về.” Có nghĩa là chúng tôi sẽ được về sớm nên làm cũng chăm.”

Người canh giữ chúng tôi là quản giáo Tuyên. Anh nầy là tay khá côn đồ, nóng tính. Khi còn làm quản giáo đội của tôi, có lần anh em chúng tôi phản ứng lệnh của y, y rút súng đòi bắn. Chúng tôi khiếu nại với trại. Sau đó, y chuyển qua làm cán bộ trực trại. Hôm ấy, vì vợ y mới từ ngoài bắc vào thăm, y được giao một công việc nhẹ hơn là canh chừng 5 người chúng tôi xuống cát khỏi xe Molotova. Y cứ ở trong buồng với vợ, lâu lâu chạy ra xem chừng chúng tôi xong, lại chui vào phòng. Nhờ thế, chúng tôi vừa làm vừa chơi, chẳng có ai theo dõi, “khiển trách khiển nồi” gì cả.

            Toán chúng tôi gồm Nguyễn Ngọc, Trần Nguyên Bình, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung (đội phó) và tôi chơi thân với nhau, hay chuyện trò, hay đùa giỡn. Nhân cái vui đó, thấy Tuyên vừa đưa vợ ra khỏi phòng đi đâu đó, tôi nói đùa với Bình, theo cách làm một câu thơ mới:

            “Em từ sơ tán chạy vào đây…”

            Vừa xong câu đó thì mấy anh em đang xúc cát cười nói: “Tới đi bác tài, tới đi…” có nghĩa là làm cho xong bài thơ. Ngọc cũng đùa: “Tới đi!” Nghe Ngọc xúi, thấy vui, tôi đọc tiếp, đọc bừa, nghe cho xuôi tai thì thôi vì vốn dĩ, tôi không biết làm thơ:

                        “Nói nhỏ anh nghe một chuyện nầy:

                        Trung Quốc xem chừng đánh dữ lắm.

                        Đảng ta chắc chắn sẽ tan ngay.

                        Dân Nam rất căm thù Việt Cộng,

                        Nhắc anh sớm liệu mà xa bay!”

            Nghe xong, mấy anh bạn cùng ngừng xúc cát, cười ha hả. Có người nhắc lại câu 2, câu 3. Bình nói đùa với tôi:

– “Trước giờ, anh đặt thơ chống Cộng biết bao nhiêu lần. Tui là Việt Cộng, tui đánh giá anh là tên đại phản động, đem bắn là vừa.”

            Tôi cũng cười:

            – “Bậy nà. Mầy nói to, tụi nó nghe là chết tao!”

            Chuyện “Trung Quốc sắp sửa đánh ta” xem ra là đề tài mỗi ngày.

            Chủ nhật kế đó, chúng tôi được ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (câu cán bộ thường nói với chúng tôi). Anh Lã Trung Tâm gọi Trắc ra hội trường ngồi chơi, lại gọi tôi ra theo. Hôm ấy, có thêm Nguyễn Ngọc, chúng tôi gọi đùa là “Ngọc thiến” vì trước kia, anh ngừa thai bằng cách cắt ống dẫn tinh.

Vừa chúm chụm lại uống trà, anh Lã Trung Tâm lại hỏi tôi:

            – “Mày nghĩ Trung Cộng có đánh không?”

            – “Đánh chớ sao không?” Tôi nói. “Để tui lấy cái nầy mấy ông coi.”

            Nói xong, tôi đi tới tấm bảng thông tin. Ở đó có dán bài báo của tờ Saigon Giải như tôi nói ở trên. Tôi lén gỡ bài báo đó, đem lại cho anh em đọc.

            Lã Trung Tâm nói:

            – “Kể công thì nhằm nhò gì?”

            Trắc giải thích:

            – “Không phải như dzầy đâu. Ý nó muốn kể công, la làng, để hễ nó có đánh thì thiên hạ người ta cho rằng nó phải, không trách cứ gì nó. Đánh là vì Dziệt Cộng nó phản phúc. Nói năng cách nầy bình dân dễ hiểu quá! Nó đã kể lễ như vậy là nó sẽ đánh đó.”

            – “Hà Nội có dám đánh lại không?” Nguyễn Ngọc hỏi.

            – “Đánh chớ sao không? Đánh nhưng cầu hòa.” Tôi nói.

            – “Cầu hòa là sao?” Lã Trung Tâm hỏi, tỏ ý không tin.

            Trắc nói:

            – “Tui nghĩ anh Hải nói phải. Không thể không đánh lại nhưng lo cầu hòa. Cầu hòa là vì tình thế nước lớn, nước nhỏ, chớ chưa chắc vì sợ. Có Liên-Xô mà!”

– “Trắc nói đúng!” Tôi góp ý. “Chẳng hạn như khi “Lê Lợi đại thắng quân Minh” rồi, cũng phải cho người sang Tầu cầu hòa, ba năm đi sứ một lần, mỗi lần sang sứ Tầu, phải làm hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” đem cống, coi như thế mạng Liễu Thăng, Vương Minh.”

            – “Vương Minh là phó tướng của Liễu Thăng. Đúng không?” Ngọc hỏi.

            Lã Trung Tâm lại hỏi:

            – “Triều cống là chịu nó cai trị?”

            – “Không phải.” Tôi nói. “Triều cống chỉ là một phương cách ngoại giao hồi xưa. Nước nó, nó cai trị dân nó. Nước mình, mình cai trị dân mình. Còn như bị đô hộ là nó cai trị mình hoặc mình cai trị dân mình theo lệnh của nó. Nếu mình có tự chủ, nó ra lệnh, mình không nghe thì làm gì được nhau? Hễ đánh mình thì mình đánh lại. Có khi nó chưa đánh mình thì mình ra tay trước, như Lý Thường Kiệt đem quân đánh châu Ung, châu Khiêm thời nhà Lý vậy. Trên thực tế, nó là nước lớn, mình là nước nhỏ, nên thay vì nó triều cống mình, mình phải triều cống nó, để khỏi bị nó ỷ thế nước lớn, nay dọa nạt, mai hăm he, mình phải lo canh giữ biên giới chặt chẽ, hao tốn, khó khăn, gian khổ lắm. Theo tôi nghĩ, để tránh đụng chạm, chung quanh nước lớn, thường có những vùng gọi là “quốc gia đệm”, như trong hội nghị Yalta chẳng hạn.”

            Anh Lã Trung Tâm biểu tôi:

            “Mày kể lại hội nghị đó nghe đi. Tao cũng có học nhưng quên gần hết.”

            – “Tui khoái đọc lịch sử, lại dạy môn sử ký, không đọc không được, không nhớ không được. Nhưng tui đi lính từ Mậu Thân, quên đi nhiều, nhớ đại khái thôi.”

Ngọc nói:

            – “Nói mấy cái đại khái anh nhớ đi.”

            – “Hồi đó tui có đọc cuốn “Yalta, ou la partage du monde” (2) và mấy bài báo của Từ Trì trên Bách Khoa (3). Lúc đó, biết chắc phe Trục sắp đầu hàng, các nước lớn họp nhau lại, bàn chuyện “hậu chiến”. Có 5 nước lớn là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Tầu, nhưng hội nghị nầy không có Pháp với Tầu, Mỹ Nga chơi đểu, lén gặp tay đôi bàn chuyện chia nhau thế giới.” Tôi kể lại.

            – “Chia như thế nào?” Ngọc hỏi.

            – “Chia như chia bánh ga-tô vậy. Miếng nầy là Đông Âu, gần Nga, “rừng nào cọp nấy” chia phần cho Nga. Miếng nầy, châu Á, thị trường mênh mông thiên địa, chia cho chú lái buôn áo đuôi tôm, mũ sọc dưa.” Tôi vừa giải thích, vừa đùa.

            – “Vậy Việt Nam, hồi đó ông Hồ Chí Minh có kêu gọi tổng thống Mỹ?” Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Hồ Chí Minh là anh điếm, mà điếm làng, chỉ ăn trên đầu mấy anh quốc gia của mình thôi. Còn như OSS, (4) CIA, chúng nó biết tỏng Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Quốc tế. Giúp Hồ Chí Minh rồi để Liên Xô hưởng sao? “Cầm cặ… chó đái” sao? Anh điếm làng Hồ Chí Minh qua mặt quốc tế sao được! Thật ra vì Roosevelt chết sớm, dân mình cũng xui.” Tôi nói.

            – “Roosevelt làm gì?” Lã Trung Tâm lại hỏi tôi.

– “Trước khi chết, Roosevelt đã có chính sách “Ủy trị cho Đông Dương” (5). Nhưng khi ông ta chết thì chính sách nầy cũng chết theo. Tụi Cộng Sản Nga mạnh lên, gây ra chiến tranh lạnh. Tổng thống Truman chơi không lại, bèn kéo Pháp về phe Mỹ, cùng chống Cộng. Vậy là Mỹ viện trợ cho Pháp trở lại Đông Dương thay vì ngăn Pháp trở lại như “ủy trị” của Roosevelt. Người ta nói, về Đông Dương, chính sách Mỹ mâu thuẫn là vì lẽ đó.” Tôi giải thích.

            – “Mày vẽ bùa mà đeo chớ đọc đâu ra ba cái chuyện trên trời dưới đất nầy?” Lã Trung Tâm hỏi, vẻ không thoải mái.

            Vốn rất mến ông “Nam bộ tánh nóng Ba Cụt Năm Lửa” nầy, tôi không tự ái, mà còn dẫn chứng thêm:

– “Tui nói thiệt anh, chứng chỉ sử ở đại học chẳng nói chi ba cái chuyện nầy cả, nhưng nếu anh muốn, khi nào về, anh có thể đọc cuốn “Sự quan trọng Đông Dương trước mặt Đông Nam Á” của ông cha Nguyễn Phương thì sẽ thấy phần nào điều tôi nói ở trong sách đó. Anh giỏi Pháp văn, chán chi tài liệu, anh đọc loại Livre de poche. Loại nầy tui có đọc mấy cuốn về Napoleon, về Nato, Seato, về chiến tranh thế giới thứ hai. Tui chưa đọc cuốn nào nói về Đông Dương hồi đó. Anh có thể đọc cuốn Street Without Joy của Bernard Falls (6), tìm trong mấy cuốn của ông nầy, nhiều cái hay lắm!”

Trắc trấn an anh Tâm:

– “Ông” nầy đọc nhiều và chả nhớ dữ lắm, chắc không sai đâu!”

– “Tui kể anh nghe một chuyện nầy anh không ngờ.” Tôi nói tiếp. “Ông bà mình từ xưa thường hay kích thích cái tinh thần nhỏ mà thắng lớn, óc nhỏ mà khôn hơn thằng to đầu, yếu mà thắng mạnh. Cái nầy thấy rõ lắm.”

– “Mày đưa ra ví dụ đi, nói mơ hồ hoài.” Anh Lã Trung Tâm cằn nhằn tôi.

– “Như tục ngữ có câu “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn” chẳng hạn. “Thằng Tầu to đầu” chắc gì khôn hơn “thằng nhỏ dái Việt Nam”. Trong văn chương Việt Nam có nhiều chuyện như vầy, vui lắm.”

– “Chưa tới giờ ăn đâu, anh Hải kể vài chuyện nghe chơi là vừa.” Ngọc đề nghị.

– “Trong lịch sử”, Tôi nói: “ai cũng biết việc Lý Thường Kiệt đánh Tầu, ca dao nói là “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng là chấu ngã, ai dè xe nghiêng”. Chuyện mấy ông trạng Tầu và trạng ta đấu trí là vui nhất.”

Bây giờ anh Tâm thấy vui, nói đùa:

– “Tiếp đi bác tài.”

– “Ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ bên Tầu, đang giữa tiệc, ông thấy một bức tranh thêu có hình con chim sẻ đậu trên cành trúc. Tưởng là chim thật, ông bước tới đưa tay bắt. Ai nấy đều cuời. Ông lanh trí chụp bức tranh xé mất, rồi tâu với vua Tầu: “Chim sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, cây trúc là quân tử. Tiểu nhân ở trên quân tử sao được nên thần phải xé đi.” Thấy ông ta thông minh quá, vua Tầu cũng phong cho ông làm trạng nguyên nước Tầu nên sử gọi là “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Một chuyện nữa nghe! Chuyện nầy ông Doãn Quốc Sĩ chép lại trong cuốn “Trạng Đi Sứ” của ông. Trạng mấy nước gặp nhau bên Tầu. Vua Tầu cho dựng một cái chòi cao, trên có cắm lọng, treo cờ. Khi các sứ lên hết trên chòi, vua Tầu bèn ra lệnh cất cái thang, ai muốn xuống cách nào thì xuống. Các sứ Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ loay hoay chưa tìm ra cách xuống thì trạng Việt Nam đã gỡ lọng ôm mà nhảy xuống, như người ta nhảy dù. Bọn Tầu phục lăn, sứ An nam thông minh, lanh lợi.”

– “Binh chủng Dù nên chọn ông nầy làm thánh tổ chớ sao chọn ông Michae. Ai biết ông Michae là ông nào đâu!” Trắc góp ý.

– “Tao cũng không rõ, hình như đâu trong thần thoại Hy Lạp.” Lã Trung Tâm nói.

– “Còn chuyện chi nữa không?” Ngọc nôn nóng hỏi, có lẽ anh ta sợ sắp tới giờ phát cơm. Hôm nay, chủ nhựt, tuần một lần, mỗi người được lưng chén cơm.

– “Còn nhiều lắm” Tôi nói, “Sứ Tầu sang ta, đi thuyền qua sông, y địt một cái bủm, còn ngạo mạn nói “Sấm động Nam vang.” Trạng An Nam bèn lên đứng ở mũi ghe, bắt cặc đái xuống sông, đối lại ngay “Vũ quá Bắc hải.”

– “Anh nhớ chuyện chọi trâu không?” Trắc nói. “Trạng mình dẫn ra con nghé, giam đói đã mấy hôm, nhè dái trâu, tưởng là cái vú trâu Tầu mà đớp. Trâu Tầu nhột quá, bỏ chạy mất!”

– “Mục đích tổ tiên mình là muốn dạy con cháu, đừng thấy thằng Tầu nước lớn, dân đông mà sợ. Cứ đoàn kết mà đánh nhầu vào. Từ khi thoát khỏi Bắc thuộc tới giờ, cả ngàn năm, thằng Tầu đánh ta mấy lần, có bao giờ ta thua đâu. Mắc chi mà sợ. Ấy đấy, những chuyện vui ấy vừa văn học vừa là luân lý đấy, đừng sợ kẻ mạnh. Quan trọng là phải đoàn kết. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” như đời Hồ Quí Ly là bị Tầu đô hộ ngay.” Tôi nói.

Trắc nói với tôi:

– “Anh lặp lại câu Lỗ Tấn nói cho anh Tâm nghe đi.”

Tôi nói ngay: “Lỗ Tấn là đại văn hào của Tầu, nhận xét về người Tầu của ông, ông ta nói: “Tàn bạo như sư tử, xảo quyệt như hồ ly, nhát gan như thỏ đế.” Tui chỉ sợ đạo quân thứ 5 thôi.

– “Đúng đấy!” Trắc nói. “Người Tầu ở xứ mình khá đông, như trong Chợ Lớn chẳng hạn. Nếu họ dựng cờ theo Tầu thì mình mệt.”

Tôi nói:

– “Đất lành chim đậu. Người Tầu trung thành với nơi cho họ no ấm. Người Tầu Singapor, người Tầu Đài Loan không bao giờ muốn lệ thuộc mẫu quốc của họ. Người Tầu ở Việt Nam cũng vậy, họ trung thành với đất nước nầy. Nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lý gốc từ bên Tầu qua Việt Nam có mấy đời mà có theo Tầu đâu. Tầu Mạc Cửu có đem đất Hà Tiên mà dâng cho Bắc Kinh đâu. Cả đám quan to nhà Nguyễn như Lý Văn Phức, Ngụy Khắc Đản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản đều Minh Hương, gốc Tầu cả, có ai không trung thành với nước Việt Nam?”

Rồi tôi quay qua chỉ anh Lã Trung Tâm nói: “Còn cái ông họ Lã nầy, cháu ông Lã Bố đời Tam Quốc. Ông Lã nầy cũng lo “hí Điêu Thuyền Việt Nam”, có chịu theo Tầu đâu!”

Lã Trung Tâm đỏ mặt, cũng nói đùa:

– “Mày họ Hoàng, cũng gốc Tầu như tao, bày đặt láu cá! Mày là cháu của Hoàng Cái đấy.”

Thế rồi kẻng nhà bếp đánh lên mấy tiếng, chúng tôi giải tán về nhận phần cơm trưa, sau một buổi sáng bàn chuyện “chính chị chính em”.

Việc Trung Cộng đánh có hậu quả lâu dài. Có thể thấy rõ điều đó trong một số hoạt động của anh em tù như tìm cách gởi thư cho phái đoàn Liên Hợp Quốc, tết đón Mẹ Việt Nam, văn nghệ “tự biên tự diễn” và trốn trại dài dài…

Sau khi Trung Cộng đánh ở biên giới, một hôm đang phá rừng thì nghe mấy loạt súng nổ dồn dập. Quản giáo Chinh và công an bảo vệ đề phòng, biểu chúng tôi tập họp ở bìa rừng, chờ. Chiều hôm đó bỗng nghe tin một anh nào đó ở Trại A đang lao động cách chỗ chúng tôi không xa lắm, đang cuốc đất thì tiện tay cuốc vào đầu quản giáo đang đứng cạnh một phát. Nhờ cái nón cối nên tên Công an không bị thương nặng. Anh tù cải tạo bỏ chạy. Công An đuổi theo bắn mấy loạt súng, anh ta gục tại chỗ.

            Cũng một thời gian ngắn sau, lại có một ông nguyên xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Anh ta bàn bạc cùng một người trong đội là người Thượng. Đang lao động, hai người trốn đi lúc nào Công An không hay. Đến khi thấy hai bóng người xa xa, đang đi vào rừng, Công An mới biết tù trốn. Chúng đuổi theo nhưng không sao đuổi kịp. Không rõ ông Quốc Gia Hành Chánh được anh người Thượng dạy cho cách đi rừng như thế nào mà cả hai người đi như bay, Công An rán hết sức chạy theo nhưng rồi cuối cùng cũng phải đứng ngó, bắn theo thì đạn chẳng tới. Anh em chúng tôi bỏ cuốc đứng nhìn cảnh tượng đó mà cười sung sướng, mừng cho người thoát vòng tù tội.

Chưa được mấy chốc thì Công an nạt nộ biểu tập trung ra về. Đội trưởng Trương Đình Gòn nói đùa: “Anh em “bài cào” tập trung về đi!” Công An thì không biết gì, nhưng anh em chúng tôi thì cười vì câu đùa của Gòn: “Thua me gỡ bài cào” Thua hai người trốn trại, Công An bèn có thái độ hung dữ với chúng tôi, đúng như câu tục ngữ đã nói.

hoànglonghải

(1)-“Văn Vĩ chạy xe ôm là câu nói đùa của dân Saigon sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Dưới chế độ mới, không còn ai mơ hồ gì với Cộng Sản cả. Ai cũng “sáng mắt ra”, đến nỗi như nhạc sĩ vĩ cầm cổ nhạc như Văn Vĩ bị mù cũng “chạy xe ôm”, có nghĩa là Văn Vĩ cũng sáng mắt vì Cộng Sản, vì nếu không “sáng mắt ra”, làm sao ông có thể “chạy xe ôm” được?!

 (2)-“Yalta ou la partage du monde” tác giả là Arthur Conte.  Hội nghị xảy ra hồi đầu tháng 2 năm 1945, tại Yalta, một thành phố nghỉ mát của Liên Xô ở Hắc Hải. Hai nước, sau nầy là hội viên Hội Đồng Thường Trực Bảo An không có mặt là Pháp và Tầu. Staline chơi điếm. Lợi dụng lúc nầy Roosevelt đau yếu nặng (ba tháng sau thì qua đời), nên ông ta và Roosevelt thường họp mật, riêng rẻ mà không cho Churchill biết, chia chác nhau thế giới. Theo Từ Trì trên Bách Khoa thì Staline chọn 3 lâu đài cho ba lãnh tụ ở. Lâu đài Staline và Roosevelt ở gần nhau, lâu đài Churchill ở nằm riêng ra, thành ra khi hai tay đầu sỏ Nga Mỹ lén lút gặp nhau, phái đoàn Churchill không biết được. Roosevelt giao vùng Đông Âu cho Liên Xô. Ngược lại, Liên xô không can thiệp những hoạt động của Mỹ ở châu Á. Vì thái độ nầy của Mỹ, ông Churchill có tuyên bố, sau nầy, nếu có đến Nữu Ước, không bao giờ ông nhìn vào tượng Nữ Thần Tự Do ở cảng nầy.

(3) Bán nguyệt san nổi tiếng ở miền Nam trước 1975, số đầu tiên xuất bản khoảng 1956, hình như đến 30 tháng tư- 1975 mới ngừng xuất bản. Ban đầu do ông Huỳnh Văn Lang chủ trương, Khoảng năm Mậu thân, ông Lang giao lại cho ông Lê Ngộ Châu.

(4) Office of Strategic Services (OSS) Cơ quan tình báo Mỹ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai, có hoạt động ở Việt Bắc và giúp đỡ cho Việt Minh, tiền thân của Xịa.

(5) Chính sách Ủy trị (trusteeship) là chính sách của tổng thống Mỹ Roosevelt về Đông Dương. Theo chính sách nầy, sau khi chiến tranh Thế giới thú 2 chấm dứt, Pháp không được trở lại Đông Dương. Các nước Đông Dương sẽ được cai trị bằng một Hội Đồng Ủy Trị gồm có đại diện 3 nước Đông Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan, Trung Hoa và Mỹ. Dĩ nhiên, Mỹ là chủ tịch hội đồng nầy. Theo chủ trương nầy, sau thời gian 5 năm các nước Đông Dương sẽ được độc lập.

(6) Bernard Falls: sinh năm 1926, chết năm 1967 ở Việt Nam, gần cầu Phò trạch, Thừa Thiên, nơi ông ta đặt tên là “Con đường buồn thiu” (Street without joy). Ông sinh ở Áo, theo gia đình qua Pháp sinh sống từ khi còn thơ ấu. Khi Đức Quốc xã cai trị Pháp, ông theo phong trào kháng chiến chống Đức.

Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, ông qua học ở Mỹ, tốt nghiệp đại học và làm giáo sư ở viện đại học Howard.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), ông qua Đông Dương làm phóng viên chiến trường, từng gặp và phỏng vấn các nhân vật lãnh đạo Pháp ở Đông Dương, Quốc gia Việt Nam và Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Minh.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1965-75), ông lại qua Đông Dương làm phóng viên một lần nữa, và tử nạn khi ông đi theo một đoàn quân Mỹ từ Phú Bài ra giới tuyến. Ông chết ngay trên chiếc xe GMC khi xe bị mìn. Cái máy tape recorder ông mang ở ngực vẫn còn chạy nên ghi cả tiếng mìn nổ ấy. Vợ ông, bà Dorothy Falls, đang mang bầu, từ Mỹ mang cái bụng bầu sang Việt Nam đón xác chồng về.

Câu hát của Trịnh Công Sơn “Một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm, người chết hai lần chính là địa điểm xe của Bernard Falls bị mìn.

Ông nổi tiếng là một nhà báo, một sử gia giỏi, và là một “chuyên viên” về Đông Dương, có ảnh hưởng lớn đến các nhà chiến lược Mỹ, hoạch định chính sách Hoa Kỳ cho Đông Dương.