Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

July 9th, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 9

Sau đổ bộ lên Phi Luật Tân dồn Mac Arthur vào bán đảo Bataan, Hải quân Nhật xâm chiếm Nam-Dương (Indonesia). Thủy chiến Java là một thất trận phía Đồng Minh, với toàn bộ hạm đội Anh-Mỹ-Hòa Lan bị đánh đắm. Cánh cửa thông sang Úc mở toang. Các chiến thắng dồn dập từ Hương Cảng xuống Tân Gia Ba, Mã Lai rồi lan ra chuỗi đảo Guam, New Guina, Marshall, Solomon đều xây cất trên chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zéro và thế hệ phi công của Sakai. Chương 9 của hồi ký Samurai đậm đặc những cận ảnh không chiến như thể người đọc đang ngồi ở vị trí hoa tiêu. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 9

Chương 9

Nhiều năm sau chiến tranh, tôi có đọc quyển “Lịch Sử Những Cuộc Hành Quân của Hải quân Hoa Kỳ trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến” của Ðề đốc Samuel Eliot Morison. Ðề đốc chứng tỏ là một sử gia có tài và nghiên cứu của ông đã cung cấp một sử liệu đồ sộ. Tuy nhiên, đáng tiếc là có một đoạn lịch sử đặc biệt liên quan đến cuộc chiến trong sách này ít dựa vào căn bản của sự thật. Tôi muốn nói đến mặt trận quần đảo Ðông Nam Dương thuộc Hoà Lan, mặt trận đã mang đến chiến thắng cho chúng tôi, nhứt là việc đánh chiếm pháo đài quan trọng Java. Theo quan điểm của Morison, sự chiến thắng của chúng tôi ở mặt trận này là “do đánh lén với sức mạnh, hơn là do sự tinh tế”. Một điều đáng lưu ý trong cuộc chiến bại của các hạm đội Ðồng Minh và Hoà Lan vào tháng 2 năm 1942, là không chỉ một mình Morison mà còn nhiều sử gia tăm tiếng khác của Hoa Kỳ cũng đều bỏ qua, không đề cập tới các chi tiết của trận không chiến lớn nhất Nam-Dương trong tài liệu của họ.

Qua vai trò một hạ sĩ quan phi công, dù đã tham dự trực tiếp vào trận đánh đó, cái nhìn của tôi dĩ nhiên sẽ có nhiều giới hạn hơn cái nhìn của những sử gia “ôm đồm” cả một cuộc chiến rộng lớn trong tay. Tuy nhiên, sự góp phần cá nhân của tôi vào mặt trận tháng 2 này có thể giúp soi sáng sự tìm hiểu những chi tiết liên quan đến cuộc chiến Thái Bình Dương.

Mặt trận Java kết thúc hẳn vào ngày 25 tháng 2 với sự chiến bại của các lực lượng trên biển của Ðồng Minh trong khu vực. Yếu tố quan trọng gây ra cuộc chiến bại này là các chiến hạm của Ðồng Minh thiếu sự bao che trên không, vì trước đó, vào ngày 19 tháng 2, các đơn vị không quân của họ đều bị tiêu diệt trong một cuộc không chiến dữ dội và lớn nhất ở Surabaya, với tổng số gần 80 chiến đấu cơ của cả hai phía tham dự. Nhưng không có bài tường thuật nào của người Mỹ về cuộc chiến, mà tôi đã từng đọc qua, đề cập đến trận không chiến này. Chính chiến thắng của các khu trục cơ Zéro đã chiếm lĩnh bầu trời, chứ không phải các cuộc ném bom của các oanh tạc cơ Nhựt, mới là thành tố quyết định.

Vào ngày 4 tháng 2-1942, tôi bay đến phi trường Balikpapan với nhiều phi công khác. Ngày hôm đó, tôi thực hiện các phi vụ tuần tiễu trong khu vực. Nhiệm vụ khó khăn, vì hoạt động không quân địch đã gia tăng mạnh mẽ. Báo cáo chính thức phía Nhựt ghi nhận thêm một chiến công của tôi ngày hôm ấy.

Tuần lễ kế đó, các phi cơ thám thính của chúng tôi báo cáo rằng địch quân đã tập trung trong khu vực Surabaya một số lượng chiến đấu cơ từ 50 đến 60 chiếc, loại Curtiss P36 Mohawk, Curtiss P40 và Brewster F2A Buffalo, nhằm chống lại cuộc đổ bộ lên Java của chúng tôi.

Bộ tư lệnh tối cao Nhựt ra lệnh cho tất cả các chiến đấu cơ khả dụng, đóng tại các căn cứ trên đất liền nằm trong khu vực mặt trận, tập trung về Balikpapan vừa mới chiếm giữ. Vào buổi sáng ngày 19 tháng 2-1942, 23 chiến đấu cơ Zéro thuộc các đơn vị không quân ở Cao Hùng và Ðài Nam đều cất cánh quy tụ về Surabaya.

Ðây là cơ hội đầu tiên, theo chúng tôi đoán biết, chúng tôi sẽ đối đầu với các loại chiến đấu cơ tối tân của địch. Chúng tôi phải bay 800 cây số liền để đến căn cứ Hòa Lan, nơi kẻ thù đang chờ đợi với số phi cơ áp đảo. Không một ai trong chúng tôi trông đợi một chiến thắng dễ dàng, như đã hoàn thành ở Phi. Tất cả những dự phòng đều được chuẩn bị. Mỗi phi công có một danh sách các hải đảo có thể đáp khẩn cấp với cấp cứu của tàu Nhựt. Các phi cơ thăm dò khí tượng bay trước chúng tôi nhằm thông báo cho chúng tôi biết những thay đổi của thời tiết sẽ ảnh hưởng đến trần mây. Một máy bay thám thính dẫn đầu hợp đoàn tấn công.

Khi bay vô không phận Surabaya vào lúc 11 giờ 30, trên cao 16,000 bộ (4,900m), chúng tôi đụng đầu với khoảng 50 chiến đấu cơ Ðồng Minh, đang bay ở cao độ 10,000 bộ (3,000m) và xoay vòng trên thành phố, ngược chiều kim đồng hồ, theo đội hình hàng dọc. Như vậy, lực lượng đối phương nhiều hơn gấp đôi chúng tôi. Máy bay địch chia ra làm 3 nhóm với từng phi đội tam giác. Chúng tôi nhả bình xăng phụ và đâm xuống, ngang hàng với địch thủ. Các chiến đấu cơ Ðồng Minh phá vỡ đội hình vòng tròn và gia tăng hết tốc lực lao về phía chúng tôi. Họ sẵn sàng và nôn nóng đánh nhau, khác xa các chiến đấu cơ Hoa Kỳ mà chúng tôi đã đối đầu ở phi trường Clark vào ngày 8 tháng 12-1941.

Không đầy một phút, hai bên đã dàn xong đội hình quy củ và bước vào một trận đấu ác liệt.

Nhìn thấy một chiếc P36 đang gầm thét xông đến, tôi liền nhích cánh lộn thật mau về phía trái chờ phản ứng của đối thủ. Ngu dại thay, đối thủ vẫn duy trì hướng bay cũ. Tôi lập tức xoay sang phải thật ngặt, lấy thăng bằng, và lướt thẳng vào đuôi của chiếc P36 với tên phi công đang sửng sốt.

Liếc nhìn lại phía sau thấy trống không, tôi thâu ngắn khoảng cách giữa tôi với viên phi công địch. Hắn lộn về bên trái, nhưng với một cái nhích nhẹ ở cần điều khiển, tôi theo sát đuôi hắn. Còn cách 50 thước, tôi thổi vừa đạn đại liên vừa đạn đại bác ra. Tức khắc, cánh phải của đối thủ long ra, bay trong không khí, rồi tới cánh bên trái cũng bị xé đứt. Xoáy như chong chóng, chiếc P36 chúi xuống vỡ tan dưới mặt đất cùng với viên phi công.

Tôi đảo một vòng thật rộng để vượt lên, và trở về đội hình chính. Có ít nhất 6 phi cơ đang rơi xuống như những bó đuốc. Bóng màu ô liu của một chiếc P36 đang xoay tít hướng về phía tôi. Tôi quay lại để chặn đầu, nhưng một chiếc Zéro khác đã vượt thẳng từ dưới lên, chụp chiếc P36 bằng một tràng đại bác, rồi lách ra như chớp trong khi chiếc phi cơ Hoà Lan nổ tung. Phía bên trái một chiếc P40 theo sát đuôi một chiếc Zéro đang tháo chạy. Tôi cấp tốc xoay lại nhằm chận đứng chiến đấu cơ địch. Nhưng hành động của tôi thừa thãi, chiếc Zéro đã quất ngược mũi lên, lộn nhào về phía sau, ở trên chiếc P40 một chút, rồi đạn đại liên và đại bác nện cùng lúc. Chiếc P40 biến thành cây đuốc.

Cách đó không xa, một chiếc P40 khác loé sáng, kéo một vệt lửa dài gấp 3 lần thân phi cơ, và một chiếc P36 lảo đảo như một chiếc lá rụng trên không, viên phi công đã gục chết trên tay lái. Phía dưới tôi một phi cơ dẫn đường không võ trang của chúng tôi đang bị 3 chiến đấu cơ của Hoà Lan rượt đuổi. Viên phi công Nhựt đang cuống cuồng lẫn trốn.

Một lần nữa, tôi lại lướt đến quá chậm. Một chiếc Zéro hùng hổ bổ nhào xuống và đạn đại bác của nó phá tung bồn chứa xăng của chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan bay đầu tiên. Rồi vừa vượt lên chiếc Zéro vừa “đấm” vô bụng chiếc P36 thứ nhì, phi cơ địch đứt hẳn một bên cánh ngay khi chiếc thứ ba lộn vòng trở lại để chận đầu chiếc Zéro. Quá muộn, buồng lái của chiếc P36 này cũng ăn đạn và vỡ tan tức khắc. Chiếc Zéro lướt dọc theo phi cơ của tôi, viên phi công đưa tay vẫy vẫy và cười rạng rỡ rồi bay đi hộ tống chiếc phi cơ quan sát ra khỏi khu vực.

Một chiếc P36 tháo chạy, lướt ngang phía trên tôi. Tôi gia tăng tốc lực cấp tốc, vượt thẳng lên và ấn cò đại bác. Quá sớm! Áp lực của vòng xoáy để lấy lại thăng bằng của đối thủ đã làm lệch đường nhắm của tôi. Chiếc P36 lộn nhào nhiều vòng về phía trái và chúi thẳng xuống đất. Tôi cắt thẳng vào đường xuống của phi cơ địch và ấn cò súng. Một vệt khói màu đen kéo lê thật dài. Tôi bồi thêm hai viên đại bác 20 ly nữa, và lảng ra ngoài khi cuộn lửa đỏ bao trùm cả thân chiếc chiến đấu cơ Hoà Lan này.

Một chiếc Zéro với hai sọc xanh kẻ trên thân phi cơ lướt ngang qua cách 200 thước trước mặt tôi. Không dấu hiệu nào báo trước, chiếc Zéro nổ tung, lửa loà sáng. Trung úy Masao Asai, phi đội trưởng của chúng tôi thiệt mạng. Lúc đó tôi không hiểu lý do gây ra sự nổ tung này.

Trở lên cao độ 8,000 bộ (2,400m), tôi nhận thấy khoảng 20 chiến đấu cơ Zéro đang lượn vòng quanh trong đội hình tập họp. Một vài chiến đấu cơ Hoà Lan sống sót chỉ còn là mấy chấm đen ở xa. Trận đánh đã kết thúc, sáu phút sau khi phát khởi.

Thật kỳ lạ, với bầu trời không còn một chiếc phi cơ địch nào, các khẩu cao xạ của Hoà Lan vẫn im tiếng khi chúng tôi lượn vòng trên thành phố của họ, chờ đợi xem còn chiếc chiến đấu cơ Zéro nào truy đuổi địch trở về hay không.

Trong khi những chiến đấu cơ khác lượn vòng, tôi bay về phía trước, trên eo biển ngăn đôi Surabaya và đảo Madura… Nơi đây có một phi trường được ngụy trang cẩn thận. Tôi bay thật chậm, ghi toạ độ phi trường trên bản đồ, nằm ở mũi phía Tây Madura. Chưa ai báo cáo về phi trường bí mật này, tin tức của tôi chắc chắn sẽ được cơ quan tình báo đón nhận một cách hài lòng.

Khi bắt đầu bay lên cao để quày lại kết hợp với những chiến đấu cơ khác, tôi nhìn thấy một chiếc P36 bay phía dưới sà thấp trên thành phố. Mục tiêu ngon lành. Viên phi công địch bay nhởn nhơ, không biết tôi đang đến gần. Sự nôn nóng của tôi làm mất cơ hội chiến thắng nhanh chóng. Cách tầm súng quá xa tôi đã vội vã bóp cò. Bị động, viên phi công Hoà Lan lập tức chúi mũi xuống, gia tăng hết tốc lực để tháo chạy. Chửi thề cho sự ngu dốt của mình, tôi cũng gia tăng tốc lực rượt theo.

Khả năng bay của chiến đấu cơ P36 kém hơn loại chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi. Zéro mau lẹ hơn, nắm ưu thế về võ trang, và nhanh nhẹn khi nhào lộn hoặc vượt lên, nhưng lại rất yếu khi chúi xuống với tốc độ cao. Hơn nữa, tôi khai hoả quá sớm, cho phép chiếc P36 kéo dài khoảng cách giữa hai phi cơ đến 200 thước. Tôi không thể tiến gần thêm được. Nếu ở một độ cao hơn nữa, chiếc P36 chạy thoát dễ dàng bằng cách cứ bay chúi xuống. Nhưng lúc ấy mặt đất phía dưới đang dâng cao, bắt buộc viên phi công địch phải vượt lên. Bây giờ tôi có thể sử dụng ưu thế của chiếc Zéro.

Viên phi công Hoà Lan bay sà sát mặt đất theo hình chữ chi rất ngặt. Tôi cắt thẳng vào mỗi nét của chữ chi (giống như chữ Z), thâu hẹp khoảng cách lại. Hắn bay càng lúc càng thấp hơn, lách vào khoảng trống của cây cối và nhà cửa, vừa trốn chạy vừa hy vọng tôi bỏ cuộc vì thiếu nhiên liệu. Tôi hiểu điều này. Ðánh ván cuối cùng, tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp ngay khi căn cứ Malang hiện ra trước tầm mắt. Cách 50 thước, tôi nhắm vào buồng lái của chiếc P36 và ấn cò súng. Ðại bác hết đạn nhưng hai tràng đại liên đã xé nát viên phi công. Chiếc chiến đấu cơ nhào xuống và vỡ tan trong một ruộng lúa. Tôi là phi công cuối cùng trở về kết hợp với những chiến đấu cơ khác đang bay quần trên cao độ 13,000 bộ (4,000m) cách phía Bắc Madura 20 dặm (30km).

Chúng tôi mất Trung úy Asai và 2 phi công khác. Trở về Balikpapan, theo báo cáo của các phi công Nhựt, có tất cả 40 chiến đấu cơ địch bị bắn hạ. Tôi luôn luôn trừ đi 30% báo cáo của bất kỳ nhóm phi công nào, sau một trận không chiến dữ dội, như trận không chiến vừa rồi chẳng hạn. Bởi lẽ, trong cảnh hỗn đấu, hai hoặc ba phi công có thể cùng xạ kích một chiếc phi cơ địch, và mỗi người đều cho rằng mình bắn hạ một chiếc. Tuy nhiên, lần này con số có vẻ ít sai sự thật, vì kể từ ngày đó chúng tôi hầu như không còn đụng độ với số lượng đông đảo các chiến đấu cơ Hoà Lan nữa. Ðồng thời, phi trường bí mật ở Madura bị oanh tạc, tiêu diệt hầu hết số phi cơ P40, Buffalo và Hurricane còn lại trên mặt đất của Ðồng Minh.

Ðêm nào chúng tôi cũng đều nghe đài phát thanh của địch quân cho biết 5 hay 6 chiến đấu cơ Nhựt bị bắn hạ trong ngày. Ðiều này sai sự thật, vì nhóm chúng tôi là nhóm duy nhất bay loại phi cơ Zéro trong khu vực, và con số thiệt hại lớn nhất của chúng tôi chỉ xảy ra vào hai ngày 19 và 20 tháng 2, với 6 phi cơ và phi công bị bắn hạ.

Và ngày 25, tám chiến đấu cơ Zéro được lịnh rời khỏi Balikpapan bay đến “dọn dẹp” căn cứ không quân Malang nơi mà cơ quan tình báo tin rằng có nhiều oanh tạc cơ của Ðồng Minh. Trên đường đến Malang, chúng tôi đụng đầu với một chiếc thủy phi cơ Hoà Lan, và tôi đã tách khỏi đội hình để nhận nó xuống đại dương.

Sau khi bay quần trên phi trường khoảng 6 phút, chúng tôi nhào xuống làm thịt ba chiếc B17 đang đậu trên mặt đất. Hoả lực phòng không của địch dữ dội, xoi thủng nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi nhưng không lôi được chiếc nào xuống đất.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

July 3rd, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 8

Boeing B17 Flying Fortress là oanh tạc cơ hạng nặng của Không lực Lục quân Hoa Kỳ USAAF từ cuối thập niên 30 với phi hành đoàn 10 người, gồm hoa tiêu, cơ khí viên và các xạ thủ. Bọc thép, 4 động cơ công suất 1,200 mã lực, mang 7,800 kg bom với trần bay 10,850 m cùng đường kính hoạt động 3,219 km và vận tốc tối đa 462 cây số giờ (so với 533 km/h của chiến đấu cơ Zéro), mỗi chiếc B17 là một pháo đài bay.

Trong đội hình hợp đoàn Defensive Box, mỗi chiếc B17 võ trang 13 đại liên Browning 12 ly 7 giăng ra một tấm lưới hỏa lực đan kết trở nên vô cùng khó tấn công cho đối phương. Sakai lập chiến tích khi bắn rơi pháo đài bay B17 đầu tiên trong chiến tranh Thái Bình Dương. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 8

Chương 8

Ngày thứ hai của cuộc chiến, ngày 9 tháng 12 năm 1941, chúng tôi phải đương đầu với những trận đánh tồi tệ nhứt, những trận mưa bão. Chúng xém gây thiệt hại trầm trọng cho các đơn vị không quân của chúng tôi. Rạng sáng chúng tôi quay lại Lữ Tống. Thời tiết xấu đến mức các oanh tạc cơ Betty phải nằm lại mặt đất. Giông bão cũng quần nát Phi Luật Tân như trên đảo Ðài Loan. Ðến chiều, chúng tôi chỉ phá hủy được vài chiếc phi cơ Mỹ trên phi đạo. Trên đường về một trận mưa lớn phá vỡ đội hình của hợp đoàn khu trục. Những cú đấm của thiên lôi mạnh không thể tưởng; chưa bao giờ tôi hứng chịu sấm sét khủng khiếp như thế và ngay cả sau này cũng vậy. Từng khối mây đen cuộn lấy chúng tôi và nhấn dìm xuống sát mặt đại dương. Sau cùng chúng tôi đành phân tán thành từng phi đội nhẹ ba chiếc một và tự túc bay về Ðài Nam riêng rẽ. May mắn thay, không một phi công mất tích.

Ngày thứ ba của cuộc chiến, một ngày tôi không bao giờ quên. Ðó là ngày tôi bắn rơi oanh tạc cơ B17 đầu tiên, và cũng là pháo đài bay đầu tiên của Mỹ rớt trong phi vụ chiến đấu. Sau chiến tranh, tôi biết được viên phi công của chiếc oanh tạc cơ này là Ðại úy Colin Purdie Kelly Jr, một anh hùng của Không quân Mỹ.

Vào ngày hôm đó, 10 tháng 12 năm 1941, chúng tôi bay che cho một đoàn công-voa Nhựt chuyển quân đổ bộ lên Vigan, phía Tây Bắc Manila 400 cây số, bao gồm tuần dương hạm nhẹ Nagara 4,000 tấn và 6 khu trục hạm hộ tống 4 dương vận hạm (Sau này chúng tôi được biết người Mỹ sai lầm khi cho rằng đoàn công-voa này bao gồm thiết giáp hạm Haruna 29,000 tấn, 6 tuần dương hạm, 10 khu trục hạm và 15 đến 20 vận tải hạm).

Trong khi bay bao che ở cao độ 18,000 bộ (5,500m), tôi nhận thấy có 3 tia nước bắn lên gần đoàn công-voa. Thật ra đây là 3 cột nước do 3 trái bom gây ra, nhưng vì bay quá cao nên chúng tôi không nhìn thấy rõ. (Không chiếc tàu nào trúng bom, nhưng theo phía Mỹ thì chiếc thiết giáp hạm “tưởng tượng” bị trúng bom trực tiếp, và chìm lĩm, chỉ còn thấy khói và dầu trên mặt nước).

Mặc dù được các chiến đấu cơ Nhựt bao che kỹ lưỡng như vậy, đối phương vẫn tấn công được. Ðiều này khiến tất cả chúng tôi đều bực tức. Ngay cả bóng dáng oanh tạc cơ địch, chúng tôi vẫn không nhìn thấy. Một vài giây sau khi nhìn ngang liếc dọc, tôi thấy một chiếc B17 lẻ loi, bay cách 6,000 bộ (1,800m) bên trên chúng tôi, trực chỉ về hướng Nam. Tôi báo động cho các phi công đồng đội và đảo mắt tìm kiếm phi cơ khác của địch, vì chúng tôi chưa từng nghe nói một oanh tạc cơ lâm trận mà không có chiến đấu cơ hộ tống bao giờ. Nhưng không ngờ việc này thật sự xảy ra. Chiếc B17 này đã thực hiện phi vụ tấn công đơn độc. Chắc chắn viên phi công có thừa can đảm.

Chiến đấu cơ dẫn đầu của chúng tôi báo hiệu truy đuổi, chỉ để lại ba chiếc phía sau bao che cho đoàn tàu chuyển vận. Chớp mắt, chúng tôi đuổi kịp chiếc B17 và còn cách phi trường Clark khoảng 50 dặm (80km), chúng tôi dàn đội hình khai hoả. Ngay lúc đó, 3 chiếc Zéro khác đột nhiên xuất hiện và lướt ngang đường bay của chiếc B17. Ðây là 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng (Kaohsiung) tham dự cuộc tấn công phi trường Nichols Field vào sáng sớm này. Cả 3 cùng khai hoả, nhưng chiếc oanh tạc cơ vẫn lướt đi an toàn.

Bảy chiến đấu cơ chúng tôi nhập với 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng. Mười chiến đấu cơ khó có thể tạo ra một cuộc tấn công nhịp nhàng. Ðể tránh né hoặc bắn lầm lẫn nhau, thay vì tấn công một lượt, chúng tôi bay thành hàng dọc chiếc này khai hoả rồi vung ra ngoài để nhường cho chiếc kế tiếp. Chúng tôi sửng sốt, vì không một viên đạn đại liên hoặc đại bác nào trúng chiếc oanh tạc cơ.

Ðây là lần đầu tiên chúng tôi chạm trán một chiếc B17, và kích thước bất thường cũng như tốc độ mau lẹ lạ lùng của nó làm cho chúng tôi ước lượng sai tầm súng. May mắn, xạ thủ địch cũng tệ không kém.

Sau đó, tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trên phi trường Clark. Chắc chắn viên phi công B17 đã gọi chiến đấu cơ Mỹ giúp đỡ. Chúng tôi phải ra tay nhanh chóng. Tôi quyết định đánh cận tập từ phía sau. Tôi lướt đến trong khi các họng súng của chiếc oanh tạc cơ rực lửa nhưng không trúng tôi. Tôi lướt thêm nữa và khai hoả. Những mảnh kim khí bay tung ra từ cánh phải của chiếc B17. Tôi lạng ra và chiếc Zéro từ phía sau tôi xông tới, rót thêm một loạt đạn vô đối thủ. Tuy nhiên khi chiếc Zéro khác nối đuôi theo, thì phi cơ địch chúi mũi cố đáp xuống phi trường Clark với đôi cánh đã lệch hẳn. Tôi chúi theo sau chiếc pháo đài bay què quặt, giữ khoảng cách nhiều trăm thước, và chụp hình với chiếc máy ảnh Leica. Lúc cách mặt đất khoảng 7,000 bộ (2,000m), 3 người nhảy dù ra khỏi phi cơ, và chiếc B17 biến mất vào một đám mây. Về sau, chúng tôi nghe người Mỹ loan tin các phi công Nhựt đã bắn mấy người nhảy dù ra khỏi máy bay. Tin này chỉ có tánh cách tuyên truyền. Tôi là phi công duy nhứt bay gần chiếc oanh tạc cơ lúc đó và tôi không hề bắn ra một viên đạn nào cả. Vật duy nhứt mà tôi bấm là chiếc máy chụp hình Leica của mình. Không một phi công Nhựt nào khác nhìn thấy chiếc B17 rơi, vì vậy, “chiến công” bị phủ nhận vào thời gian đó.

Xế trưa hôm đó, trở về Ðài Loan, chúng tôi nhận thấy cánh của 2 chiến đấu cơ Zéro đầy vết đạn do các xạ thủ chiếc B17 gây ra. Và mười ba năm sau này, tôi có dịp gặp Ðại tá Frank Allen Kurtz chỉ huy Không đoàn 463 Hoa Kỳ ở Ðông Kinh, ông ta đã nói với tôi:

“Ngày Colin bị bắn rơi, tôi đang ở trên đài kiểm soát của phi trường Clark. Tôi nhìn thấy phi cơ của ông ta bay đến và anh đang bay bên phải, phía trên, trong lúc ông ta cố đáp xuống. Ba chiếc dù rơi xuyên qua mây mù, tôi thấy hình như ở cao độ 800 thước. Rồi năm cây dù nữa bung ra. Colin, dĩ nhiên, không kịp thoát khỏi phi cơ.”

Chiều tối hôm đó, tôi nhận nhiều lá thư gửi từ Nhựt Bản và một gói quà nhỏ của Fujiko. Nàng gửi cho tôi một dải lụa thêu một ngàn mũi chỉ đỏ và muốn tôi quấn quanh thắt lưng. Là tấm bùa hộ mệnh truyền thống của phụ nữ Nhựt Bản gửi cho chồng, cha, anh em ruột hay con trai, nhằm gìn giữ người thân của mình trước mũi tên hòn đạn. Lá thư của Fujiko viết: “Hôm nay, gia đình em biết tin xứ sở của chúng ta đã khai chiến với Hoa Kỳ và Anh. Gia đình em chỉ biết khẩn cầu cho chiến thắng sau cùng của tổ quốc và sinh mệnh của anh được bảo toàn. Hatsuyo-san, em họ của anh và cả em, chúng em cùng đứng ở góc phố nhiều giờ mỗi ngày, trong suốt một tuần lễ, để xin 998 phụ nữ qua đường mỗi người một mũi kim thêu cho anh, trên khăn lụa này. Chúng em hy vọng là anh sẽ chấp thuận thắt tấm lụa ấy quanh lưng anh, vì chúng em ước nguyện tấm lụa này che chắn cho anh trước lằn đạn của quân thù…”

Một cách thành thực, không nhiều phi công Nhựt tin vào phẩm hạnh của bùa hộ mệnh nhưng tôi ý thức công sức lớn lao của Fujiko và cô em họ Hatsuyo của mình đã kiên nhẫn đứng trong buốt giá nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày ở góc đường để xin cho tôi từng mũi thêu. Vì vậy tôi lập tức thực hiện ý nguyện của họ; quấn tấm lụa quanh thắt lưng mình. Cánh thư chân thành của Fujiko còn làm tôi suy nghĩ; lần đầu tiên tôi xem những phi công địch mà tôi đã bắn hạ là những con người giống mình. Cho đến khi ấy họ chỉ là những khách thể xa xôi mà tôi không màn đến. Cảm giác mình đã thờ ơ với đồng loại gây u sầu. Nhưng biết sao hơn, trong chiến tranh trên không trung cũng như trên mặt đất, phải giết để không bị giết.

Chúng tôi tiếp tục các phi xuất tấn kích từ Ðài Loan đến Phi Luật Tân trong mười ngày kế tiếp. Sau đó nhận lịnh thuyên chuyển đến căn cứ Jolo ở quần đảo Sulu, nằm giữa Mindanao và Bornéo, cách phi trường Ðài Nam 1,200 dặm (2,200km) đường chim bay. Ngày 30 tháng 12, tôi cất cánh vào lúc 9 giờ sáng với 26 chiến đấu cơ Zéro khác, bay không ngừng nghỉ đến nhiệm sở mới. Nơi đây mạng lịnh đang chờ sẵn, và chúng tôi thực hiện một phi vụ 270 dặm (500km) xa hơn về phía Nam đến Tarakan, nằm cuối bờ biển phía Ðông Bornéo. Phi vụ không xảy ra điều gì quan trọng, chúng tôi không gặp một phi cơ địch nào.

Phản công chính thức của đối phương đối với các đơn vị chúng tôi được tung ra lần đầu tiên là vào tháng Giêng. Gần nửa đêm, một oanh tạc cơ B17 đơn độc bất ngờ oanh tạc Tarakan. Một dây bom rơi xuống những doanh trại của công binh kiến tạo tại đây, sát hại hơn 100 người cùng gây bị thương cho nhiều người khác, và nhiều toà nhà sụp đổ.

Không một chiếc Zéro nào có thể cất cánh kịp thời, bởi vì phi trường Tarakan là một trong những phi trường xấu nhứt của quần đảo phía Ðông xứ Nam-Dương (Indonesia). Ngay cả trong những hoạt động ban ngày, chúng tôi phải cất cánh và đáp xuống trên phi đạo ngập bùn. Thời gian chúng tôi ở đây, hai chiếc Zéro hư hại do phi đạo gây ra.

Bị oanh tạc, chỉ huy trưởng căn cứ Tarakan phẫn nộ, ra lịnh cho tôi và trung sĩ Kuniyoshi Tanaka cất cánh để bay tuần tiễu bên trên phi trường. Tanaka từng bắn hạ 12 phi cơ địch ở Trung Hoa, và 8 chiếc khác trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Bay đêm rất nguy hiểm và khó khăn, vì trong thời gian đó chiến đấu cơ Zéro chưa được trang bị cơ phận bay đêm, cả tôi lẫn Tanaka không biết phải làm gì nếu bị tấn công trước. May cho chúng tôi, và cho căn cứ, chúng tôi không bị phá rầy trở lại.

Vào ngày 21 tháng 1-1942, một đoàn công-voa của chúng tôi rời cảng Tarakan mang quân đổ bộ lên Balikpapan ở phía Nam Bornéo cách 900 cây số. Bộ chỉ huy tối cao Hoàng gia ra lịnh cho phi đoàn chúng tôi cung cấp không yểm, nhưng chúng tôi chỉ có thể thực hiện một cuộc tuần thám trên đoàn công-voa mà thôi.

Thay vì được cung cấp một số lượng chiến đấu cơ to tát theo nhu cầu sử dụng của chúng tôi, vào những tháng đầu năm 1942, chúng tôi chỉ có trong tay không hơn 70 chiếc Zéro cho toàn thể khu vực Ðông Nam-Dương rộng lớn. Và các chiến đấu cơ còn cần phải bảo trì, sửa chữa sau mỗi 150 giờ bay, do đó chỉ còn trung bình 30 chiếc khả dụng.

Giữa tháng Giêng, oanh tạc cơ B17 bắt đầu được đưa đến căn cứ Malang của đối phương ở Java, và tung ra các cuộc tấn công sơ khởi nhắm vào lực lượng trên bộ của chúng tôi ở Phi Luật Tân và Ðông Nam-Dương. Các pháo đài bay này có đường kính hoạt động 3200 cây số làm bộ binh Nhựt điêu đứng, nhưng vì con số ít ỏi nên không thể ngăn nổi các cuộc hành quân của chúng tôi.

Vào mùa Xuân 1942 những oanh tạc cơ B17 loại mới, với các pháo tháp đại liên 12 ly 7 nòng đôi phía sau đuôi, xuất hiện trên chiến trường. Chúng tôi sớm tìm ra yếu điểm của loại phi cơ này để tấn công.

Chiều ngày 24 tháng Giêng, Tanaka trở về phi trường với hai đồng đội sau một cuộc tuần thám ở Kalikpapan. Cả ba phi công đều kiệt sức, tuy không ai bị thương. Tanaka báo cáo đã đụng độ với 8 pháo đài bay B17 vào buổi sáng và cuộc tấn công của hắn không có kết quả. Tanaka cho biết có nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của hắn trúng vào thân phi cơ địch rõ ràng, nhưng chiếc oanh tạc cơ không rơi. Hắn có vẻ chán nản: “Mấy chiếc oanh tạc cơ khốn nạn này thật khó ăn khi chúng bay theo đội hình phòng vệ.” Chúng tôi hiểu một hợp đoàn B17 mà mỗi chiếc trang bị 12 đại liên là cả một tấm lưới đạn khủng khiếp. Tanaka tiếp tục kể việc hắn đã tấn công khiến cho các oanh tạc cơ địch thả bom không chính xác xuống đoàn công-voa phía dưới. Chỉ có một chiếc tàu dầu khổng lồ trúng bom và, khi hắn rời Balikpapan để quay về, lửa vẫn còn bốc cháy dữ dội.

Ngày hôm sau, tôi lại thực hiện cuộc tuần thám ở Balikpapan với một phi cơ khác do trung sĩ Sadao Uehara lái. Cả 2 chiếc Zéro của chúng tôi là tất cả những gì còn khiển dụng mà căn cứ Tarakan có thể tung ra giúp đoàn công-voa, các chiến đấu cơ khác đều đã được cắt đặt nhiệm vụ riêng. Biết Tanaka chạm địch ở cao độ 20,000 bộ (6000m), chúng tôi bay cao hơn hắn 2,000 bộ (600m). Nhìn xuống dưới, chiếc tàu dầu trúng bom ngày hôm trước vẫn còn bốc cháy như một cây đuốc.

Khoảng 10 giờ, nhiều chấm đen nhỏ xuất hiện trên nền trời, tiến đến Java. Các chấm đen lớn mau dần cho đến khi hai nhóm phi cơ, mỗi nhóm 4 chiếc hiện ra rõ ràng. Các pháo đài bay, bay sát cánh nhau, giống như Tanaka đã mô tả ngày hôm qua. Nhóm phi cơ sau bay cao hơn nhóm dẫn đầu, và khi chúng tôi lướt đến, nhóm thứ hai bay sát vào nhau hơn, lập thành một Box phòng vệ.

Tám chiếc B17 bay ngang phía dưới tôi nửa dặm. Tôi lộn lại, với Uehara theo sát bên cánh, và chúi xuống tấn công. Ðịch vẫn còn nằm ngoài tầm súng nhưng tôi cũng quất một quả đại bác khi lướt qua. Tôi nhìn thấy những trái bom từ bụng oanh tạc cơ rơi xuống đoàn công-voa phía dưới. Tôi lộn nhào nhiều vòng, lướt thẳng lên, và nhìn thấy những cột nước tung cao. Không trái bom nào trúng mục tiêu. Bầu trời trong sáng. Tôi quày phi cơ lại, cách 500 thước bên trên nhóm oanh tạc cơ bay phía sau, và chúi xuống hết tốc lực với mọi loại súng đều khai hoả. Vô hiệu. Quanh tôi hầu như không nơi nào là không có bóng dáng phi cơ địch. Tôi chúi xuống trót lọt và bắt đầu vượt lên để chúi xuống tấn công nữa.

Chúi xuống, lộn nhiều vòng, tập trung hoả lực vào một oanh tạc cơ. Lần này tôi túm được đối thủ. Tôi thấy những viên đạn nổ bùng, những đốm đỏ và đen túa dọc theo thân phi cơ địch. Chắc chắn nó sẽ rớt ngay lập tức. Nhưng không có gì xảy ra. Không có lửa, không có khói… Chiếc B17 vẫn tiếp tục bay trong đội hình.

Tôi đảo vòng vượt lên và lộn lại tấn công hiệp thứ ba. Lần này tôi nhắm chiếc oanh tạc cơ trúng đạn của tôi khi nãy. Tôi nhìn thấy những viên đạn phát nổ và những mảnh kim khí túa ra từ cánh và thân phi cơ địch. Tôi lướt ngang qua, bung một vòng thật rộng, quày trở lại và vượt lên cao.

Chiếc B17 vẫn còn trong đội hình. Không lửa, không khói. Mỗi lần tôi chúi xuống tấn công, mọi khẩu súng của địch thủ đều khai hoả dữ dội, nhưng cũng may đội hình chặt chẽ đã giới hạn hoả lực địch rất nhiều. Chiếc Zéro của tôi nguyên vẹn. Tôi lại tấn công thêm hai lần nữa với sự hỗ trợ của Uehara, và mỗi lần chúng tôi đều nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của mình nện vào thân phi cơ địch, nhưng không thấm tháp gì hết. Vỏ chiếc B17 bọc thép!

Chúng tôi vừa hoàn tất đợt tấn công thứ sáu, tám oanh tạc cơ địch tẻ ra làm hai, một đảo qua trái, một đảo qua phải. Tôi gia tăng hết tốc lực đuổi theo nhóm có chiếc B17 bị hư hại và tụt hẳn lại phía sau ba chiếc kia. Với tốc lực tối đa, tôi lướt đến trong khoảng 50 thước, và bóp mạnh cò súng. Bao nhiêu đạn đại bác 20 ly và đại liên 7 ly 7 cuối cùng tôi đều rót hết vào đối thủ què quặt. Một bụm khói đen bốc lên, chiếc oanh tạc cơ chúi mũi xuống và biến mất trong đám mây phía dưới.

Trở về Tarakan, tôi báo cáo chi tiết phi vụ cho thượng cấp của tôi là Trung úy Singo. Các phi công khác bu quanh để nghe tôi kể lại quang cảnh của trận đụng độ và tất cả đều cho rằng tôi trở về được là một phép lạ, sau khi phải đối đầu với hoả lực tập trung của 8 pháo đài bay. Nhân viên dưới mặt đất chỉ tìm thấy ba lỗ đạn gần đầu cánh chiếc chiến đấu cơ của tôi. Hai ngày sau, một phi cơ thám thính Nhựt báo cáo có một chiếc B17 đã vỡ tan khi cố đáp xuống một hòn đảo nhỏ nằm gần Balikpapan và Surabaya.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

June 26th, 2020

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 7

Ngày 7 tháng 12-1941, Đệ Nhất Không Hạm đội Hỗn hợp của Đô đốc Nagumo tấn công Trân Châu Cảng. 5 giờ sau, Không đoàn Đài Nam của Sakai oanh kích US Clark Air Base tại Phi Luật Tân. Không đoàn Đài Nam khi ấy tăng phái cho Không Hạm đội XI của Phó Đô đốc Nishizo Tsukahara bao gồm Hải đoàn 34 Khu Trục hạm, Liên Phi đoàn Đông Dương với các Phi đoàn 21, 22, 23 trú đóng tại Tân Sơn Nhất, tăng cường 7 dương vận hạm vận chuyển 2 trung đoàn Thủy binh. Tuy nhiên Tsukahara, về sau lên đến chức Đô đốc Tư lệnh Hải vực Yokohama, đã không yêu cầu cung cấp hàng không mẫu hạm chính vì chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zéro đã có thể bay thẳng từ Đài Loan đến Phi Luật Tân. Một bất ngờ đối với US Far East Air Force. Riêng Sakai sẽ là phi công Nhật đầu tiên bắn rơi máy bay Hoa Kỳ trên đất Phi. Huyền thoại của một Sát tinh bắt đầu. 

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Ảnh Phó Đô đốc Nishio Tsukahara

Nhiều kỳ – Kỳ 7

Chương 7

Vào ngày 2 tháng 12-1941, Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara, Tư lịnh Không Hạm đội XI, lần đầu tiên gởi các phi công thám thính đến quần đảo Phi Luật Tân. Ngày 4 và 5, các phi cơ này trở lại một lần nữa để chụp hình 2 phi trường Clark Air Base và Iba Airfield cùng những nơi đồn trú quan trọng khác gần Manila, từ độ cao 20,000 bộ (6,000ma). Các không ảnh đã cho chúng tôi nhìn thấy rõ ràng tại phi trường Clark AB có 32 oanh tạc cơ B17, 3 phi cơ hạng trung và 71 phi cơ nhỏ. Theo xét đoán của Hải quân, địch có khoảng 300 máy bay quân sự đủ loại ở Lữ Tống (Luzon), là đảo chính. Sau này chúng tôi khám phá ra số phi cơ thiệt nhiều gấp đôi con số kể trên. Không phải chỉ chúng tôi độc quyền thực hiện các phi vụ do thám. Nhiều thám thính cơ Catalina PBY-5A của Hoa Kỳ cũng thỉnh thoảng được nhìn thấy trên không phận Ðài Loan. Loại thủy phi cơ hai máy này xuất hiện vào những ngày mây sà thấp, bay chậm ở độ cao 1,500 bộ (450m), nhởn nhơ chụp hình các nơi đồn trú và dãy phi cơ đậu trên mặt đất của chúng tôi. Các phi công Mỹ gây xiết bao kinh ngạc. Với những thân tàu chậm chạp và cũ kỹ, coi rất dễ ăn vậy mà chúng tôi không tóm được một chiếc Catalina nào. Mỗi lần có báo động, hàng chục phi công nhảy xổ lên không, nhưng mấy chiếc Catalina chui vô trong mây dày và biến mất tiêu. Với những không ảnh chụp ở một độ thấp như vầy, phải nói rằng người Mỹ có trong tay mọi thứ mà họ muốn biết về các đơn vị không quân Nhựt Bản.

Khi chúng tôi đến Ðài Nam để gia nhập vào Tân Hạm đội XI, chúng tôi phải trải qua một giai đoạn huấn luyện mới không ngưng nghỉ. Từ bình minh cho đến tối mù, 7 ngày một tuần, bất chấp mọi thời tiết, chúng tôi tham dự các chuyến bay huấn luyện để cải tiến các phi vụ hộ tống, phi vụ đột kích, phi vụ có đội hình đông đảo v.v.

Kế hoạch tấn công Phi Luật Tân nguyên thủy đòi hỏi phải sử dụng 3 hàng không mẫu hạm để mang chiến đấu cơ Zéro đến gần các hòn đảo của địch. Ðó là 3 hàng không mẫu hạm Ryujo (Long Phi) 11,700 tấn, Zuiho (Thụy Phụng) 13,950 tấn là một tàu tiếp tế cho tiềm thủy đĩnh được tân cải, và Taiho (Ðại Phụng) 20,000 tấn là tàu buôn cải tiến. Về mặt lý thuyết 3 hàng không mẫu hạm nhẹ này có khả năng chở đến 90 chiến đấu cơ, nhưng khả năng thực sự chỉ khoảng 50 phi cơ và con số này còn phải giảm xuống vào những ngày giông gió.

Phó Ðô đốc Tsukahara nhận thấy ba chiếc tàu này hầu như không đáp ứng các dự tính của ông. Tuy nhiên, nếu chiếc Zéro có thể bay thẳng một mạch từ Ðài Loan đến Phi và trở về không ngưng nghỉ, thì bấy giờ sẽ không cần đến hàng không mẫu hạm nữa. Nhưng các phụ tá của Tsukahara không tin một chiến đấu cơ một máy có thể thực hiện nổi nhiệm vụ có tầm xa như vậy. Clark Air Base cách căn cứ chúng tôi 450 hải lý (835km), và phi trường Nichols Field, một mục tiêu quan trọng khác gần Manila, cách 500 hải lý (930km). Ðiều đó có nghĩa là phải bay suốt từ 1,000 (1,850km) đến 1,200 dặm biển (2,200 km). Từ trước đến nay chưa có khu trục cơ nào thực hiện được những phi vụ xa như vậy bao giờ. Những cuộc thảo luận ồn ào xảy ra không dứt giữa Bộ Tham mưu Không quân… Chỉ có một cách duy nhứt để xác định vấn đề.

Từ đó về sau, chúng tôi bay ngày lẫn đêm để đo lường tầm hoạt động của chiến đấu cơ Zéro. Nếu là phi vụ đơn độc, loại khu trục Zéro có thể duy trì trên không tối đa 6 đến 7 giờ. Chúng tôi kéo dài thêm thời gian này ra từ 10 đến 12 giờ và thực hiện trong đội hình đông đúc. Riêng tôi lập thành tích trong việc hạ thấp mức tiêu thụ xăng xuống không quá 17 ga-lông (khoảng 68 lít) một giờ; trung bình các phi công giảm mức tiêu thụ xăng từ 35 ga-lông (140 lít) xuống còn 18 ga-lông (72 lít). Thông thường, một chiếc Zéro mang 182 ga-lông xăng. Ðể duy trì, ở cao độ 12,000 bộ (3,600m) chúng tôi chỉ bay với tốc lực khoảng 200 cây số giờ. Tốc lực đầy đủ bình thường của một chiếc Zéro là 500 km, và trong tình trạng khẩn cấp ngắn ngủi có thể lên đến tối đa 650 cây số giờ. Nhiều phương pháp tiết kiệm nhiên liệu có tánh cách kỹ thuật khác cũng được thực hiện.

Các phương pháp mới này đã nới rộng tầm hoạt động của chiếc Zéro một cách đáng kể. Các vị chỉ huy đã báo cáo những tin tức đầy lạc quan lên Phó Ðô đốc Tsukahara, và dẫn đến việc xoá bỏ 3 hàng không mẫu hạm nhỏ trong kế hoạch tấn công Phi Luật Tân của ông. Hai chiếc được điều về Nhựt Bản và một chiếc di chuyển đến yểm trợ cho các cuộc hành quân của chúng tôi ở Palau, phía Tây Thái Bình Dương gần quần đảo Carolina giáp ranh Nam-Dương. Do đó, Không Hạm đội XI trở thành một không hạm đội không có một tàu chiến nào cả.

Chúng tôi tò mò tìm hiểu sự chống trả sẽ gặp từ phía người Mỹ. Chúng tôi hiểu biết rất ít về các loại phi cơ và tài ba của phi công Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ phỏng đoán sẽ đối đầu với những phi công có nhiều khả năng hơn những phi công địch mà chúng tôi đã đối đầu ở Trung Hoa.

Không ai tỏ vẻ nghi ngờ về sự khôn ngoan trong việc phát động chiến tranh của Nhựt Bản. Chúng

Đệ Nhất Không Hạm đội Hỗn hợp của Đô đốc Chuichi Nagumo tấn công Trân Châu Cảng

tôi, tất cả hạ sĩ quan đã được huấn luyện để chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh. Khi được lịnh bay và đánh, chúng tôi thi hành.

Lúc hai giờ sáng ngày 8 tháng 12 năm 1941, một liên lạc viên chạy vô chỗ trú ngụ của chúng tôi ở Ðài Nam, đánh thức nhóm phi công chúng tôi dậy. Ðã đến ngày N, là ngày khai chiến theo như chúng tôi biết. Các phi công ngồi dậy lặng lẽ mặc quần áo và từng tốp nhỏ bước ra sân. Ðêm trong lành, thanh vắng với những vì sao chiếu lấp lánh khắp không trung. Yên tĩnh của đêm bị phá vỡ bởi tiếng giày trận của chúng tôi khua vang trên nền đá và tiếng nói thì thào của các phi công lúc bước ra phi đạo. Ðại úy Masahisa Saito, chỉ huy trưởng phi đoàn cho biết chúng tôi sẽ cất cánh lúc 4 giờ và ông thuyết trình về những chi tiết liên quan đến phi vụ tấn công vào phi trường Mỹ ở Phi Luật Tân. Sau đó chúng tôi chờ đợi. Binh sĩ chạy việc mang điểm tâm đến tận chỗ chúng tôi ngồi bên cạnh phi cơ nằm sẵn trên phi đạo.

Khoảng 3 giờ sáng, sương mù bắt đầu sà thấp xuống, một hiện tượng hiếm thấy trong khu vực bán nhiệt đới. Vào lúc 4 giờ, sương mù trở nên dày đặc. Không thể nào nhìn thấy hơn năm thước. Chiếc loa trên đài kiểm soát không lưu vang vang: “Cất cánh hoãn vô hạn định!” Nỗi bồn chồn của chúng tôi càng lúc càng gia tăng khi màn đêm loãng dần. Trong không khí là một dải sương mù dày của những ý nghĩ. Chúng tôi nhìn đồng hồ luôn, chửi rủa sương mù thậm tệ. Ba tiếng đồng hồ trôi qua trong tình trạng này, và sương mù đã không tan mà còn dày hơn. Bỗng nhiên loa phóng thanh lại vang tiếng: “Chú ý! Chú ý! Ðây là công bố quan trọng..” Các phi công chăm chú lắng nghe. “Vào lúc 6 giờ sáng nay, một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản đã thành công khi tung ra cuộc tấn công hủy diệt bất thần các lực lượng Mỹ trên quần đảo Hạ Uy Di.” (Do lệch múi giờ, là mùng 7 tại Pearl Harbor nhưng là sáng mùng 8 ở Ðài Loan).

Tiếng hò reo dữ dội trổi lên trong màn đêm. Các phi công nhảy múa vỗ đấm lưng nhau thùm thụp. Nỗi vui mừng không trọn vẹn. Ða số phi công chúng tôi đều chửi thề vì bị đóng đinh trên mặt đất trong khi đồng đội đang nghiền nát kẻ thù. Bay và bắn. Ðã là phương châm của phi công Nhựt.

Cuộc tấn công vừa công bố làm cho chúng tôi thêm suy nghĩ. Người Mỹ hiện thời đã báo động và cảnh giác, khó thể tin rằng họ không gom góp hết sức mạnh để chờ chúng tôi ở Phi Luật Tân. Căng thẳng gia tăng khi buổi sáng ló dạng. Sương mù đã phá hỏng kế hoạch của chúng tôi, sẽ cho phép người Mỹ tung phi cơ của họ từ Lữ Tống đến vồ số phi cơ hiện còn nằm trên mặt đất của chúng tôi ngay khi sương mù vừa tan. Chúng tôi chuẩn bị chống trả. Các xạ thủ phòng không ghìm súng, và mọi người vểnh tai ngóng tiếng oanh tạc cơ địch bay đến.

Lạ lùng thay, cuộc tấn công không xảy ra! Lúc 9 giờ sáng, sương mù bắt đầu tan và âm thanh vui mừng từ chiếc loa phóng thanh báo cho chúng tôi biết sẽ cất cánh trong vòng 1 giờ nữa. Tất cả các phi công chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đều leo lên phi cơ của mình mà không đợi nhận lịnh thêm.

Ðúng 10 giờ, đèn báo hiệu lấp loáng xuyên qua màn sương mù mong manh. Hết chiếc oanh tạc cơ này đến chiếc oanh tạc cơ khác lần lượt cất cánh. Một, hai, ba, rồi sáu chiếc đã ở trên không trung. Chiếc thứ bảy đang chạy trên phi đạo và khi cách điểm khởi hành khoảng 500 thước bỗng nhiên bộ phận hạ cánh bên phải sụm xuống. Với một tiếng rít kéo dài khủng khiếp, chiếc phi cơ trườn bụng trên đường băng, lửa bao phủ toàn thân. Trong ánh lửa chập chờn, chúng tôi nhìn thấy phi hành đoàn nhảy ra, chạy cuống cuồng khỏi chiếc phi cơ. Kế đó, một tiếng nổ dữ dội phát ra rung rinh cả phi trường. Bom chất trên phi cơ nổ tung. Không một người nào trong phi hành đoàn sống sót. Những mảnh vụn được dọn dẹp hối hả. Không đầy 15 phút sau, oanh tạc cơ kế đó được lịnh xuất phát. Ðến 10 giờ 45 phút, tất cả phi cơ đều ở trên không: 53 oanh tạc cơ Betty và 45 chiến đấu cơ Zéro. Chiến đấu cơ chia làm 2 nhóm, một nhóm hộ tống các oanh tạc cơ, một nhóm bay phía trước để nghinh chiến. Tôi chắc chắn, sau khi cuộc tấn công trì hoãn quá lâu, kẻ thù đang chờ đợi chúng tôi với tất cả sức lực của họ. Tôi bay trong đợt thứ năm và đội hình chúng tôi nâng cao lên 19,000 bộ (5,800m).

Ngay khi vượt qua mũi cực nam của đảo Ðài Loan, tôi nhìn thấy 9 oanh tạc cơ bay thẳng về phía hòn đảo. Hiển nhiên, chúng đang trên đường tấn công căn cứ của chúng tôi. Chín phi công, trong đó có tôi, trước khi cất cánh đã được lịnh chống trả bất kỳ phi cơ nào của địch phát hiện trên phi trình đến Lữ Tống, trong khi các phi công khác cứ tiếp tục bay như kế hoạch đã định.

Chúng tôi tách khỏi đội hình chính và bổ nhào xuống các oanh tạc cơ địch. Trong hai giây, tôi đã nằm trong vị trí khai hoả, và áp sát vào nhằm tỉa chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu. Sắp sửa ấn cò súng, tôi nhận ra đây là các oanh tạc cơ của Lục Quân Nhựt Bản! Tôi lắc cánh để báo hiệu cho các chiến đấu cơ khác. Tôi chửi thề. Văng tục! Không một vị nào ở Bộ Tư lệnh Lục Quân trong khu vực thèm để ý đến việc phối hợp với các phi vụ của Hải quân. Bọn ngu đần ngồi trong mấy chiếc máy bay này đang thực hiện một phi vụ huấn luyện thường lệ!

Chúng tôi kết hợp vào đội hình lúc bay qua nhóm đảo Batan, nằm giữa đường Ðài Loan và Lữ Tống. Các đảo này do quân nhảy dù Nhựt vừa chiếm đóng, nhằm để đón nhận một phi cơ nào đó của chúng tôi bắt buộc phải đáp xuống trên đường từ Phi trở về. Và rồi quần đảo Phi hiện ra trong tầm mắt, một màu xanh lá cây sậm nổi bật giữa màu xanh lơ của đại dương. Bờ biển trải dài phía dưới, ngoạn mục và hiền hoà. Không một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện trên bầu trời. Bấy giờ chúng tôi đã bỏ đảo Hải Nam lại sau lưng, và vào lúc 1 giờ 35, chúng tôi trực chỉ US Clark Air Base.

Bạn thời thơ ấu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Bạn thời thơ ấu!

Đoàn Xuân Thu

Hồi xưa bên Tàu, và cả bên Việt Nam mình, nghề thuốc là một cái nghề cao quý, chỉ để cứu nhân độ thế. Bào chế cao đơn hoàn tán chẳng qua là phục vụ cho dân; nếu có tính tiền thì cũng chẳng là bao; chỉ đủ rau cháo qua ngày mà thôi. Như nhà thơ Nguyễn Ðình Chiểu của đất Ba Tri, Bến Tre vừa làm thơ, vừa bốc thuốc để chữa bịnh cho dân nghèo. Thực dân Pháp tính mưu chuộc, cấp tiền nhưng ông khẳng khái khước từ. Còn bây giờ là khác nhe! Làm nghề thuốc là để kiếm tiền, càng nhiều càng tốt ngay cả bất lương cũng được tuốt. Mới đây nè! Bên Trung Cộng, công ty Trường Xuân dám sản xuất ra 250 ngàn liều chích ngừa dỏm, bán cho thằng Tửng với con Muối, con của chú thiếm Ba, để bỏ túi tới 90 triệu đô Mỹ.

Cái ‘y đức’ bên Tàu như vậy; nên phim Tàu ngày nay mới dám định nghĩa cái nghề thầy thuốc bên Tàu hồi xưa như vầy: Sau khi thua xiểng niểng trận Xích Bích dưới tay của quân Tôn Quyền và Lưu Bị, Tào Tháo phán rằng, “Làm tướng như làm thầy thuốc. Có thất bại mới tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm nhờ đó cuối cùng mới đưa đến thành công. Tỷ như làm thầy thuốc, thất bại nhiều lần, chữa cho người nào người nấy lăn ra chết mới tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm để trở thành thầy thuốc của nhân dân sau nầy!”

Tào Tháo phán thiệt là bá láp. Làm tướng mà đánh đâu thua đó là tướng dỡ; làm thầy thuốc mà chửa bệnh ai người đó lăn ra chết là thầy thuốc dỡ. Mà dỡ là do mình không có giỏi, phải tự đấm ngực ‘lỗi tại tui muôn phần’ mà tụi bây chết hết ráo. Đừng ngụy biện là có dỡ mới có giỏi, (chết nhiều cũng có cái hay là không còn chết nữa) nghe hổng lọt lỗ tai tui nhe!

Nên có chuyện rằng vợ Diêm Vương bị ấm đầu, sổ mũi. Thương vợ, Diêm Vương cho đòi quỷ sứ vào truyền lịnh: “Hãy lên trần thế, rước về cho ta một thầy lang thiệt giỏi để chữa bịnh cho phu nhân của ta.” Quỷ sứ cầm đinh ba bước ra, sực nhớ điều gì đó bèn quay lại: “Tâu bệ hạ thầy lang trên trần thế nhiều vô số kể; chúng thần biết rước ai đây?” “Thì các ngươi bỏ tiền ra mua tờ báo, xem mục quảng cáo, thầy lang nào chữa bá bệnh, từ tiểu đường, ung thư, cao máu đều lành bịnh hết ráo thì rước xuống đây cho ta!”“Tâu bệ hạ! Tin vào quảng cáo không được đâu, vì đa số thầy lang đó là lang băm chuyên nói láo!”

Sau một hồi chống tay lên cằm suy nghĩ, Diêm Vương phán rằng: “Ðến phòng mạch nào mà có ít oan hồn uổng tử khóc lóc đòi đền mạng thì rước thầy lang đó xuống đây ngay cho ta!”

Bọn quỷ sứ đằng vân giá vũ bay lên trần thế rước ngay được một thầy lang đem vào triều bệ kiến. “Nè thầy lang kia! Quỷ sứ báo cho ta biết là trước phòng mạch của nhà ngươi chỉ có một oan hồn uổng tử khóc lóc đòi đền mạng; con số một nầy chứng tỏ tay nghề của thầy lang thiệt là cao diệu. Vậy chẳng hay xưa giờ thầy lang đã chữa hết có tất cả bao nhiêu bệnh nhân?” “Trình với Diêm Vương số bệnh nhân xưa giờ của thần có một người.”

Ðời mà! Mỗi người một phần số khác nhau, chuyện nghề nghiệp là do ông Trời ổng phân công đó thôi. Mình có muốn cũng không được.  Như khoái viết nhăng, viết cuội trên báo, coi đó là niềm vui. Nhưng ông Trời phán đó là nghề tay trái; còn nghề tay phải, phần số tui phải làm ‘cu li’ mới có cơm mà ăn có rượu mà nhậu, nên tui đành chịu. Nhưng cũng nhờ viết báo mà một thằng bạn học cũ hồi Tiểu học Bàn Cờ, rồi Trung học Petrus Ký, giờ làm bác sĩ bên Úc nầy đây, mới tìm được ra tui sau cuộc biển dâu, trời sập năm 75 đó chớ.

Nói nào ngay hồi còn nhỏ đi học tui cũng ngưỡng mộ ngành Y, muốn mình được làm bác sĩ chích ‘đít’ mấy em… mà còn được trả tiền. Phần trộm nghe mấy người đẹp cỡ “Thanh Nga, Thanh Lan, Thanh Thúy, Thanh Tuyền” kháo nhau rằng: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Phải cỡ bác sĩ trở lên mới rớ được cọng lông chưn của mấy em; chớ ‘phèn’ như tui, đỉa mà đòi đeo chân hạc, là mấy em sẽ nói: “Thanh Kiu”! Do đó đắt mèo nhứt, gái đeo phủi không hết, là mấy thằng học Y khoa. Chưa ra trường là Bố Mẹ em đã đặt cọc cái ống chích của nó cho con gái họ xài tới mãn đời rồi hè!

Tui rất muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm không cách chi mà đua cho lại tụi nó.

Muốn làm bác sĩ là phải học Y Khoa. Mà muốn vào được trường Y thì thời Trung học phải giỏi Toán, Lý, Hóa, Vạn vật và Sinh ngữ. Nghĩa là môn nào nó cũng giỏi hết. Chính vì vậy mà hai kỳ Tú tài nó đều đậu Ưu hết ráo.

Rồi phải đậu một kỳ thi tuyển 5000 đứa, vừa trai vừa gái, mà chỉ chọn được có 200. Một mình phải đá ‘đít’ được 25 đứa khác! Rồi phải học tới 6 năm dài lê thê, dài đăng đẳng; rồi nội trú một, hai năm trong bịnh viện mới dám khoe: “Tui là đốc tờ!’

Rồi qua đây, nghe con cái của người Việt mình ra bác sĩ ào ào hè! Thấy nhiều như vậy đừng tưởng là dễ. Phải tốt nghiệp VCE (Tú tài) với hạng Ưu 99.95 điểm. Rồi phải đậu vào trường Y, học ròng rã 5 năm, thêm một, hai năm nội trú, thực tập ở các khoa, phòng khác nhau tại bịnh viện rồi gia nhập vào Hội đồng Y Khoa của tiểu bang mới được giấy phép hành nghề. Còn có bằng Cử nhân, muốn làm bác sĩ cũng phải học ròng rã tới 4 năm. Bác sĩ chuyên khoa còn học lâu hơn. Học phờ râu luôn, nếu có râu!

o O o

Ðang hăng tiết vịt, sùi bọt mép gây lộn với em yêu thì cái ‘I phone’ 10  của tui nó run lẩy bẩy như đang bị sốt rét, kêu ò í e. “Hello! Phải thằng ‘Ca’ không?” (‘Ca’ là cái bí danh của tui, do mấy thằng bạn quỷ sứ thời đi học nó đặt cho, đem ráp thêm vào cái tên, nói lái lại, nhằm chọc cho tui quê xệ chơi vậy mà!)

À cái thằng nầy biết cả cái tên tục của tui, cái bí mật đời tư, mà ngay cả em yêu cũng không biết thì chắc chắn nó là một trong cái đám quỷ sứ phá nhà chay thuở đó rồi. “Ờ “Ca’ đây! Ðại ca của mầy đây! Ðứa nào ở đầu dây vậy!” “Tao! Ðốc tờ Thí-ô đây! Là bạn học thời thơ ấu của mầy!” (Hồi xưa, nó tên Tèo nhưng qua đây chuyển ngữ, thêm chữ ‘h’ vào, tiếng Việt mình đọc là Theo hay Thẹo, còn tiếng Úc đọc là Thí-ô). “Chiều nay thứ Sáu, cuối tuần, 6 giờ đóng cửa phòng mạch, mầy ra gặp tao.” “Chi vậy? Tao đâu có bịnh hoạn gì mà cần đi gặp bác sĩ?” “Tao chỉ muốn mầy ra Footscray nầy đi nhậu chơi với tao thôi!”

Hai đứa kéo nhau ra nhà hàng. Bác sĩ ‘Thí-ô’ chơi sộp, kêu chai rượu đỏ Penfolds Bin 95 Grange Shiraz, đời 2013, giá tới 700 đô. Giở menu gọi vài món nhắm, toàn là sơn hào hải vị như: tôm hùm xào mì, bào ngư sốt ban thoi tho au 02dầu hào, bò Kobe Nhựt Bản nướng vỉ. (Hèn chi bà con mình hay nói nghề bác sĩ bên Úc nầy đây được chánh phủ cấp cho cái máy in tiền, tên là Medicare).

“Mầy làm bác sĩ giàu thiệt.” “Giàu có gì? Chỉ đủ ăn thôi! Nhưng hôm nay để đãi bạn thời thơ ấu, tao chơi hơi sộp… để nhát mầy!”

Cầm cái ly rượu đỏ lên tui hỏi: “Sao tay tao run quá hè?” Thì nó hỏi lại: “Bộ mầy uống nhiều lắm hả?” “Có vô miệng được giọt nào đâu. Ðổ ra ngoài hết trơn rồi!”

Ðốc tờ ‘Thí-ô’ bèn rót rượu ra chén cho tui, rồi nói: “Hồi xưa Lưu Linh hay uống rượu bằng chén, gọi là chén thù chén tạc!”

“Như vậy tay tao run là bịnh gì?” “Thì bịnh ghiền rượu chớ gì! Bịnh nầy không có chết ngay đâu. Ðừng lo. Nhưng trước sau rồi cũng chết, chết chắc! Nhưng mầy còn trẻ, mới 70, thì chết sớm làm gì? Ðể tao vẽ cho mầy một cái ‘plan’ cai rượu.”

“Ờ, mà nghe nói chữa bệnh ghiền rượu rồi hay chết vì bệnh sơ gan lắm mà?!”

“Với bác sĩ nào, tao không biết; nhưng tao chữa bệnh ghiền rượu nếu có chết là chết vì rượu chớ không có chết vì gan đâu mà mầy lo!”

đoàn xuân thu

melbourne

‘Ăn theo!’

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

‘Ăn theo!’

Đoàn Xuân Thu

Nói nào ngày bà con mình chạy qua nước Úc nầy đây trước tui cả hằng chục năm, tui mới lò dò tới nhờ ‘ăn theo’.

Ăn theo là ké; là nhờ thằng em vọt trước nó lo; bằng không, còn kẹt lại trong nước tui đã chết mấy mươi đời vương vì buồn đời mà nhậu quá trời. Em yêu của tui phán như vậy đó!

Ngày đi, thằng Hải quan VC phi trường Tân Sơn Nhứt, còn kiếm chuyện biểu tui đi xin giấy nầy giấy nọ ngoài Bến Chương Dương; mà máy bay còn chừng tiếng nữa là bay. Biết cái tỏng láu cá, vòi tiền, xưa giờ cũng thế, tui bèn móc hết trong túi ra còn 100 ngàn đồng; thôi đành cúng cho thằng cô hồn các đảng nầy nó ăn, nó dộng.

Bị bóc lột rồi lủm tới tận xương tủy vào giờ phút chót, tui thề là một đi không trở lại… (Hổng thề thời thôi; thề là tui giữ hè vì sợ lỗi thề sẽ bị trời đánh… Đời còn đẹp nên tui sợ chết bất đắc kỳ tử lắm bà con ơi!).

Tui đi Úc vì trong bụng còn giận thằng đế quốc Mỹ vô thủy vô chung. Dẫu giận nhưng nói nào ngay Đế quốc Mỹ nó hay… chế ra cái ‘Facebook’ làm bà con mình ra đi mà mang theo được tiếng nói, hình ảnh quê hương bên nhà trong ngục tù bao la; còn kẹt vài thằng bạn học phía bên kia biển.

Tụi nó cứ kêu réo, níu kéo tui về hoài hà. “Thiên hạ về Việt Nam như đi chợ; còn chú mầy sợ vợ nên lặn mất tăm đã bao năm?”

“Thôi gặp nhau trên Facebook đỡ tốn tiền; chớ về gặp mấy cái mặt mẹt của mấy thằng đã từng đe nẹt, đày ải… là tao nổi điên lên, phải vô dưỡng trí viện Biên Hòa thì lại phiền mấy đứa bây lại phải thăm nuôi!”

Thuyết phục tui về thăm lại chốn quê không được, nó bèn chọc quê, hỏi xỏ làm tui cà lăm hỏng biết trả lời sao?

“Xứ người tới mới vài ba chục năm, có người mới chỉ năm hay bảy năm mà nay ai cũng là bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng may, chủ siêu thị. Khèn khẹt tiếng Anh tiếng Mỹ  đến ‘khỉ’ còn kinh… Mà hình như không có ai làm thợ, làm cu li hết cả phải không mậy?”

“Ờ thì người Việt mình mà giỏi lắm. Đa phần là vậy hết; chỉ trừ tao với ông Cao Tần. Tao thì làm ‘gác dan’ bà con cô bác mình gọi là mấy chú ‘Bảo An’; Úc gọi là security; còn ổng: “Mai mốt anh về có thằng túm hỏi / Mầy qua bên Mỹ học được củ gì?/ Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi/ Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li…”

“À quên cũng có người làm nghề nông đó chớ. Giàu thôi hết biết. Giàu vì họ không trồng lúa ngoài ruộng mà họ trồng ‘cỏ’ trong nhà!”

Nghe tui nói vậy; nó gật gù là “Tuần tới vợ chồng tao sẽ bay qua thăm thằng con tao đang đi du học bên đó!” “Ủa thằng con mầy ở đâu mà tao không biết hè?”

“Nó đang ở trong hộp… vì nó trồng ‘cỏ’ như mầy nói đó! Nó chỉ làm tá điền chăm sóc ‘cỏ’ cho địa chủ đỏ đến từ thành phố Hoa Phượng đỏ, chuyên trồng cỏ từ Anh qua Úc sang tới Canada.

Nhưng thôi con dại cái mang. Núm ruột, mình bỏ đâu có được.

Tuần sau thấy nó vác cái mặt đưa đám, hãm tài tới nhà tui. “Ối đời ai cũng có cái số… Giày dép còn có… Mầy đừng buồn, thằng con mầy ở tù rồi cũng có ngày ra. Án ba năm, hạnh kiểm tốt là chừng hai năm Úc nó thả hè!”

“Con mầy ăn có người nấu; ngủ có người coi. Đi chơi có người theo bảo vệ; sợ con mầy bị ‘đầu gấu’ trong tù đánh bất tử!

Tốn một năm xỉu xỉu tới 5, 7 chục ngàn đô, nên chánh phủ Úc nó cho ra sớm thế thôi!”

Thôi chuyện đâu còn có đó nhậu trước cái đã… Tha hương ngộ cố tri mà! Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Làm xỉu xỉu vài ba lon là đời đã vui trở lại. Nó khen beer Úc ngon thiệt.

“Sao mầy đi quá lâu mà hổng về Việt Nam thăm lại quê hương mến yêu gì hết ráo vậy?”

“Về ăn chơi, gái gú chân dài đầu ngắn, thì tao hổng có tiền… Tao thuộc loại có đồng nào xào đồng nấy!”

“Phần năm chỉ 4 tuần phép thường niên thì thời gian đâu mà đi du hí ở nước ngoài chớ. Đâu cũng nhiêu đó, như đi Mỹ, ở thành phố thì cũng McDonald’s, KFC (Kentucky Fried Chicken) và Pizza Hut. Vô rừng, cũng suối, cũng sông, cũng biển. Úc có hết ráo thì đi Mỹ làm cái gì?”

“Còn về Việt Nam hả? Còn VC, tao về làm gì? Người ta vinh quy thì về bái tổ để khoe còn mình làm cu li thì có cái chi để khoe chớ?

Về hổng cho tiền thì sợ bà con nói: “Việt Kiều về quê mà Trùm Sò như thế thì về làm cái quái gì?!”.

Nếu tao giàu như tỉ phú ‘Barry Tèo’, bạn học cũ của mình bên Mỹ, thì cũng nên xênh xang áo gấm về làng để họ hàng… được thơm lây.”

“Ờ! Năm rồi vợ chồng Barry Tèo và thằng nhóc Tommy chừng 9, 10 tuổi từ Cali bay về có về ghé thăm tao. Vợ nó còn trẻ măng hè, mới lãnh từ Hốc Bà Tó qua được chừng 10 năm nay thôi! Tụi nó về thăm bà già vợ, nhỏ hơn nó một tuổi, bịnh dữ lắm; sắp đi bán muối!”

“Về quê vợ, Barry Tèo bị lối xóm đố kỵ: dè bỉu già mà khoái cỏ non, dân đẻ ở Trảng Bom, nên nổ.

Hồi xưa, nghèo không có đôi dép mà mang; giờ giày ‘Made in Italy’, đi đâu cũng đeo cái bao tử trước bụng, đựng giấy thông hành và tiền bạc; cứ nơm nớp sợ tụi hai ngón nó thó thì Việt Kiều sẽ thành móc bọc.

Bị cà nanh như vậy, nó chạy lên Sài Gòn ghé nhà tao ở đỡ, chờ con vợ nó trả hiếu xong xuôi, mồ yên mả đẹp cho bà già vợ nó, là cả nhà sẽ bay về Mỹ.”

“Ê nè! Thằng Barry Tèo coi đi Mỹ chỉ gần 40 năm mà nó thay đổi dữ lắm. Đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, không dám uống nước trà; nước giếng, nước mưa, thấy con lăng quăng nó nói ghê quá hè!”

“Nó đâu còn nhớ năm 78 vượt biên với tao bị bể, hai đứa bị nhốt ở Trại giam Cây Gừa tại Ấp 5, xã Thạnh Bình, huyện Giá Rai, Bạc Liêu!

Đi lao động khát phải dọng một họng nước phèn vàng sậm như nước trà quạu mà có đau bụng gì đâu hè!”
“Bây giờ là phải đi nhà hàng máy lạnh vì Sài Gòn nóng quá để ăn uống không sợ bị Tào Tháo rượt; chớ nó có biết đâu đồ ăn tẩm toàn là hóa chất!”

“À mầy nhớ thằng Lù Coi, (biệt danh do mầy đặt), học cùng lớp với mình, ba nó chạy taxi làm giao liên cho VC đó. Sau nầy nó làm lớn lắm, bên Nhà đất. Nghe thằng Barry Tèo bên Mỹ về; nó có mời đi nhà hàng đặc sản, chắc cũng để nổ với nhau thôi… Coi VC với Việt Kiều thằng nào ngon? Vậy là tao được ‘ăn theo’ tức ăn chực.”

Con vợ của thằng Barry Tèo không chịu đi!

“Bạn học cũ của anh chớ đâu phải của em?! Em đâu có đi học mà có bạn học chớ. Anh dắt thằng Tommy đi đi!”

“Bậy nè! Nó mời hai vợ chồng mình mà chỉ anh đi coi sao phải? Phần giờ nó làm quan… lớn lắm; giàu lắm mà còn nghĩ tình bạn học cũ thì nó vẫn còn chơi được!”

“Ối cái bọn ăn cắp của dân không hè hay ho gì mà khoe…”Ai đông khe” (care)!”

Dẫu nài nỉ cách mấy vợ nó cũng đâu có ‘mu’ (move). Chạy vô phòng nằm thu lu một góc. (Nghe nó năn nỉ ỉ ôi hoài thấy ghét. Vợ tao, tao đặt đâu là nó ngồi đó làm gì dám cãi hè!”)

Barry Tèo đi phó hội bàn đào với Lù Coi, tiền chắc không lại rồi. Tiền đổ mồ hôi sôi nước mắt sao bằng tiền ăn cắp?

Nhưng con vợ trẻ hơn, ăn đứt bà già trầu, vợ của Lù Coi! Đọ tiền không lại đem vợ ra đọ chơi để đở mất mặt bầu cua…bèn sai thằng Tommy chạy vô phòng kêu: “Momy! Daddy muốn Mommy ngay bây giờ”.

Một lát Tommy chạy ra nói: “Daddy! Momy đang rửa ‘he’ (hair)”. (What? Cái gì vậy cà? Té ra vợ nó đang gội đầu!)

Ối! Cái chuyện người mình ở nước ngoài nói chuyện chêm thêm tiếng Mỹ là thường! Hồi xưa, thời Tây, dân mình cũng chêm tiếng Pháp hà rầm đó thôi!

Ngay cả ông Trần Tế Xương làm thơ còn chơi tiếng Pháp nữa kìa: “Tháo nhẫn ‘ma dê’ liệng xuống sông/ Thôi thôi tôi cũng ‘mét xì’ ông.”

(‘Ma dê’ là ‘marier’, là kết hôn thì nhẫn ‘ma dê’ là nhẫn cưới. Còn ‘mét xì’ là ‘merci’ là cám ơn)

Tóm lại tiện là phang tưới xượi hốt sen hè. Xin đừng xỏ xiên, chê là đồ mất gốc, chờ dịp là ‘suỵt’ tiếng Tây để nhát người ta?

***

Ờ bữa đi ăn nhà hàng đó, thằng Lù Coi giành đi chợ. Mới đầu nó kêu nghêu xào XO. Thằng nhóc con Tommy lấy tay bốc, thấy chỉ còn vỏ nghêu; thịt nghêu đã rớt ra chìm sâu trong nước xốt. Ngẩn ngơ nhìn một lát, nó nói: “Không có ai!”

(Thiệt mấy đứa nhóc sanh ở nước ngoài nói tiếng Việt như mình làm thơ vậy!)

Món kế là cua đinh xào lăn, rồi rùa rang muối, da rắn chiên dòn, vũ nữ chân dài tức khô nhái. Mấy món mà bên Mỹ đốt đuốc tìm cũng không có!

Thâm ý là thằng Lù Coi cũng muốn khoe khoang như Thạch Sùng khoe của đấy thôi! Thằng nhóc Tommy lè lưỡi ra khiếp đảm nhìn mấy con đó; xong chỉ con Thạch Sùng đeo trên vách tường hỏi: “Có ăn con đó hay không?”

Thấy cha con Barry Tèo không đụng tới cua đinh, rùa, rắn, Lù Coi đành gọi bò ‘bít tết’ cho bạn Việt Kiều mình và gà nướng, khoai tây chiên cho thằng nhóc. Ôi nó mừng hết biết… KFC mà món ruột của nó đây mà!

Riêng Barry Tèo than thở: “Chúng mầy cứ ép ông ăn thịt hoài hè! Bên Mỹ, ông ăn mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, suốt cả mấy chục năm nay. Giờ ông chỉ thèm rau muống xào tỏi. Đậu rồng chấm chao ăn với với cơm hơi nhão. Còn nhậu thì chơi xoài thanh ca bầm với khô cá sặt, rưới chút nước mắm đường là bắt…”

“Ôi mấy thứ đó, cứ ra sau vườn, rau muống cả đống, đậu rồng nó mọc lủng lẳng treo đầy trên giàn nè… Chao thì ra quán bà Tư tiệm mua về… Hổm ghé nhà tao sao mầy không nói, tao đâu có biết; vì hổng lẽ đem mấy cái thứ heo ăn đó mà đãi Việt Kiều sao mậy?”

Hôm sau tao bùi ngùi (nhưng được chút an ủi là tiền Việt Nam xài chưa hết nó cho tao) tiễn đưa vợ chồng Barry Tèo và thằng nhóc Tommy trở về với thế giới tự do.

Ra tới phi trường, chuẩn bị bay, thằng nhóc Tommy nhảy lên hò reo tở mở:

“Thoát khỏi Việt Nam rồi! Daddy! Mommy! Hi hi!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Ân oán giang hồ

baotreonline.com

Posted on June 15th, 2023

Đoàn Xuân Thu

Ân oán giang hồ

Đoàn Xuân Thu

Chuyện rằng năm 1942, vượt ngục Ðắc Lây, Tố Hữu được dân Làng Rô ở vùng hẻo lánh trong lòng núi rừng huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam cho cơm ăn. Tố Hữu trốn được từ Kon Tum về tới Ðà Nẵng để tiếp tục theo CS.

Sau nầy, Tố Hữu ‘bốc phét’ là năm 1973, vượt dãy Trường Sơn về tới Quảng Nam muốn gặp lại những người Cơ Tu đã từng che chở, cho ‘y’ ăn uống, được cô con gái của già làng đưa qua rừng xuống núi về xuôi”.

Tố Hữu vẽ chuyện: “Khi còn sống, già làng săn voi được hai cái ngà để khi nào cán bộ trốn tù năm xưa tìm về lại làng Rô thì cho nó!”

Tố Hữu đã rinh cặp ngà voi về Hà Nội để trên giá gỗ với tượng Lenin chưng trong phòng khách của ngôi biệt thự trên phố Phan Ðình Phùng quận Ba Ðình.

(Bà con mình ai cũng biết trí tuệ tiếng Anh viết tắt là “IQ”. Intelligence không có; chỉ có Q (đọc theo Mít mình) thì mới tin dân Cà Tu giết voi lấy ngà để dành tới 3 đời: nội, cha, cháu để dâng cho Tố Hữu. Người ta tin rằng con voi nầy đã bị ai đó giết để lấy cặp ngà. Tố Hữu không trực tiếp giết voi nhưng Tố Hữu lấy cặp ngà về nhà chưng trong phòng khách. Tội đó, theo CS nó ấn định, là tội ‘tiêu thụ tài sản do phạm tội’ mà có).

Dân trong nước muốn biết bọn quan chức CS ăn cướp của dân sào huyệt của chúng ở đâu? Cứ ra quận Ba Ðình là gặp hằng hà sa số.

(Tuần rồi Thủ tướng Úc Anthony Albanese tới Hà Nội uống bia hơi cũng vì mục đích làm ăn với bọn cướp đó đa!)

Biệt thự của Tố Hữu, được đảng cấp, trước sân có ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’ như Tố Hữu từng khoe, là nơi kín cổng, cao tường được CA canh gác cẩn mật. Dân Hà Nội không ai dám lai vãng ngó nghiêng; chứ chưa nói gì tới đột nhập.

(Biệt thự nầy nghe nói mấy năm trước đám con của Tố Hữu bán cho tư bản “rẩy chết” (Chữ của nhà xuất bản Sự Thật) được tới 8 triệu đô Mỹ).

Nhưng cách đây gần 21 năm, năm 2002, ‘Vua đạo chích’ Nguyễn Tiến Công tự ‘Công ngủ’, mới 26 tuổi, đã dám cả gan đột nhập nhà ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’. “Công ngủ” chui tọt vô phòng khách trộm cặp ngà voi đã lên nước bóng hết biết. Giá trị tính bằng nhiều chục cây vàng làm cho Tố Hữu giận xanh râu, tắt đài hết đía.

Ðồng chí nhà thơ Tố Hữu chôm cặp ngà của voi rừng Làng Rô. 48 năm rồi, bà con mình trong nước thừa biết lũ quan chức CS lớn thì ăn cướp; vừa và nhỏ thì đi ăn cắp. Còn dân sống trong chế độ CS muốn có của ăn, của để thì chỉ còn đường đi ăn trộm bọn quan chức như Vua đạo chích Công (ngủ) làm phi vụ đấy thôi. Chớ dân ngu khu đen, trên răng dưới dế, có gì đâu mà trộm chớ?

‘Vua đạo chích, nhà thơ Nguyễn Tiến Công lúc bị Tố Hữu thưa lính bắt, cũng tức chuyện sinh tình, lòng thơ lai láng bồi hồi, phun ra một bài chọc quê Tố Hữu như vầy:

“Cụ xưa nổi tiếng nhờ thơ.
Tôi nay nổi tiếng là nhờ ngà voi.
Ngà voi cụ để khách coi.
Tôi đây mượn tạm, cụ nhờ đòi ngay.

Ðòi được bởi số cụ may.
Còn tôi ‘bóc lịch’ tính ngày xa quê.
Tù lâu rồi có ngày về.
Ngà còn để thế lại bê ra đường.

Lần này tù bởi coi thường.
Lần sau cẩn thận xóa đường vân tay.
Ðược ngà đắt, rẻ bán ngay.
Ðiều tra hỏi đến cãi ngay thì… huề!

Nói nào ngay không một ai tin một thằng đạo chích, ăn trộm ngà voi, lại làm được những câu lục bát gieo vần không ép vận như thế? Người ta tin văn nô CS căm ghét Tố Hữu ân oán giang hồ với bố nó thời Nhân Văn Giai Phẩm nên nó thêm thắt lâm li làm thơ chửi xéo Tố Hữu mà thôi.

Mất cặp ngà voi, việc tìm lại như mò kim đáy bể nhưng may quá tìm lại được. Tìm được của tưởng chừng như đã mất, Tố Hữu mừng quá; nên chỉ 3 tháng sau, ‘y’ hạc nội mây ngàn, ‘bờ lông rông’ vô vạc dầu đang sôi ùng ục dưới chín tầng địa ngục vào ngày mùng 9, tháng Chạp, năm 2002.

Nói cho nó công bằng: Không có nhà thơ nào được bồi bút nâng bi nhiều như Tố Hữu.

Hồi xưa, Tết đến tất cả các báo Xuân đều phải đăng thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu. Báo nào cũng phải đăng một bài ấy.

Bài của Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên chỉ được đăng một báo. Giá bát phở ba hào (cắc). Nhuận bút từ 12 đến 15 đồng, bằng 4, 5 chục bát phở.

(Ðừng chê ít nhe! Ở hải ngoại bây giờ, thơ văn gì cũng đăng ‘chùa’ hết ráo.  Có tờ thơm thảo trả tới 50 đô. Một tô phở giá 15 đô. Như vậy tác giả ăn được hai tô phở rưỡi)

Nhuận bút của Tố Hữu thì gấp 40 lần. 500 đồng cộng một cành đào và một cặp gà trống thiến. Nói một cách ‘trần trắng trợn’: Ðây không phải là nhuận bút mà là tiền ‘cúng cụ’, tiền hối lộ, tiền đút lót.

Nên: “Bầm ơi có rét không bầm. Von ga con cưỡi; gà hầm con ăn”.

Sự thực thơ Tố Hữu bị nhiều người chê là dở như hạch. Hồi còn trên chiến khu Việt Bắc, một lần Tố Hữu định đọc thơ cho Văn Cao nghe, nhưng ông nhạc sĩ gạt đi: “Thơ cậu như ca dao, hò vè có gì mà đọc?”.

Rồi trong ‘Nhân văn Giai phẩm’ có một nhà thơ, ỷ mình có đi bộ đội, viết bài phê bình: “Thơ Tố Hữu như cốc siro pha loãng”.

Bị chê như tát nước vào mặt nên rất dễ hiểu khi nắm giữ được quyền lực, Tố Hữu là một hung thần, một đao phủ thủ về văn nghệ cho bọn dám dè bỉu thơ ta phải lên bờ xuống ruộng.

Rồi năm 1975, CSBV chiếm được Miền Nam, Tố Hữu nhảy qua điều hành kinh tế (kinh đến thế!). Tố Hữu khiến cả nước ăn độn thấy bà tiên tổ.

Tố Hữu mất chức. “Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát. Trông về Việt Bắc tít mù mây. Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt. Máu ở chiến trường, hoa ở đây”.

Gây quá nhiều ân oán giang hồ; dù chết đã hơn 20 năm, Tố Hữu vẫn còn bị thiên hạ chửi dài dài.

Con ma nhà họ Tây

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Con ma nhà họ Tây

Hồ Đình Nghiêm

Tôi dốt tiếng Trung, chả hiểu câu “Bất đáo trường thành phi hảo hán”. Tôi đi loanh quanh giữa phố Bắc kinh mù mờ sương bụi giăng, không mấy hứng thú. Sau đôi ba ngày nhác ở, quyết định phiêu lưu tới những vùng quê thấy có quảng cáo rằng Lý Bạch từng mần thơ ở đó, thành ấy ngày xưa Tào Tháo từng vào trấn an bá tánh, nọ là chốn Hồng Lâu Mộng, kia là đất sản sinh ra những kẻ muốn tu luyện võ học cốt chịu nhục hình để trau dồi bộ Tịch Tà Kiếm Phổ. Nghe đồn bọn thái giám “thằng” nào cũng võ nghệ đầy mình, âm dương thiệt khó phân minh, chiêu thức biến hoá khôn lường.

Lang thang giữa phố hẹp, nhìn ra một cửa hàng khua chiêng đánh trống rậm rật thu hút bà con: Chụp hình kỷ niệm giá bèo, bạn ưa ăn vận thứ y phục gì cũng có. Quan Công, Triệu Tử Long, Võ Tòng hoặc Lệnh Hồ Xung. Tuỳ nhân vật bạn sẽ được trao tay cân đai áo mão râu ria rậm rạp cùng thứ vũ khí mà các đấng đại hiệp ấy từng sử dụng, xong thì đứng tạo dáng theo chỉ bày mà hậu cảnh là tấm màn vải có vẽ cảnh rừng cây hoang dã chốn sơn cùng thuỷ tận. Làm nhớ có khi tôi từng cải trang nhập vai hoàng thượng anh minh ngay chính trên quê hương mình, vất trăm đô để mặc long bào, thuyền trôi trên dòng Hương mà thiếu cung tần mỹ nữ để mình rồng biểu dương sức mạnh sau khi uống qua thang thuốc Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử. Hỏi người điều khiển chương trình, nghe em ấy thỏ thẻ: Cái ông vua ni thiệt ngẳng nghịch, hàng nhái thôi mà, răng sung chuyện đòi hỏi, ưa chơi ba cái trò bức xúc đồi truỵ ấy thì chết em, chịu đời chi thấu!

Làm hảo hán nào khó gì, hơi đâu nhọc sức mò lên được Vạn Lý trường thành, địa điểm mà bọn Tầu luôn vỗ ngực: Phi thuyền bay ra khỏi tầng khí quyển, dòm lui trái đất chỉ thấy mỗi cái bức tường hoành tráng cô quạnh đó thôi. Hảo hán, chữ ấy tuồng đã trôi mất sau bao dâu bể. Quân tử cũng một dạng mà bằng hữu cũng thế. Thời nay tình người xem chừng đã nhạt phai, biết tìm đâu ra người tri kỷ? Thật khó như lên thăm chị Hằng vậy! Tôi từng kinh qua vụ hàng nhái ở cố đô Huế nên giờ đây tôi khôn lanh chẳng ưa đóng vai Võ Tòng đả hổ. Một con cọp giấy nằm phủ phục dưới chân. Hình tượng cọp chừng cũng luôn thay đổi qua mắt người quyền lực. Mao Trạch Đông gọi đế quốc Mỹ là con cọp giấy và rồi khi nghe bề tôi nhắc nhở chuyện vệ sinh miệng lưỡi, Mao chủ tịch phán: Cọp đời nào biết đánh răng, khéo vẽ chuyện!

Tôi chẳng thích ngao du Trung Quốc, nhưng Juliet được người bà con làm ở công ty du lịch nào đó mua được hai vé khuyến mãi giá cực rẻ nên cô muốn tôi làm bạn đồng hành. Bản cô nương thích đi giang hồ, các hạ hãy vì ta mà xuống núi một phen. Vì lưu lạc sang xứ cắc chú ba Tầu nên tôi tạm thông ngôn ra vậy chứ Juliet nói tiếng Pháp. Cô bảo: Je t’aime, tôi nói đại bên tai Tiểu Long Nữ tóc vàng: Ngộ ái nị. Không rõ bà Quỳnh Dao ở Đài Loan có bắt lỗi tôi không?

Dung dăng dung dẻ tới một góc chợ khói dâng trên chảo món mì xào dòn, vịt kêu quang quát nhặng xị trong lồng tre, có bà ngồi bán chè lục tào xá thơm mùi dầu chuối và ở một khoảng đất trống có vị cô nương cỡ tuổi thập tam đang phô diễn bài Vịnh Xuân Quyền. Xuống trung bình tấn, chân rộng bằng vai, hít hơi sâu bụng teo ngực nở, tay thu nắm đấm ở bên eo, mắt nhìn thẳng chẳng màng chè cháo vịt mì vây khốn. Xoạc cẳng ra, chắc bước hình chữ chi rồi thi triển liên hoàn cước liền lạc. Tay hoa dạng vung vẫy, một duỗi một co, đánh vào khoảng không năm sáu quyền từ thấp lên cao. Nội lực nghe được qua gió thổi vào tay áo, phần phật. 36 chiêu thức linh hoạt hớp hồn trong một phút. Lác đác có tiếng vỗ tay đồng thời xuất hiện một đại trượng phu mình trần đi quanh nói nhăng cuội xi lô xi la kiểu sơn đông mãi võ. Vị cô nương tuổi trẻ tài cao cầm nón đi thu nhân dân tệ, tiền trao cháo múc. Hoá ra họ bán thuốc trị sán lãi cùng vài viên thuốc tể ngăn ngừa bệnh tiêu chảy. Khá đắt hàng, thập bát bang võ nghệ đi lại trên giang hồ thảy có ghé mua, chừng tâm đắc, chừng uy tín. Vị cô nương kia thấy hai đứa hắc bạch chúng tôi vòng tay đứng ngó vẻ bàng quan nên ra bộ phật lòng, mắt sắc như dao ném ra nghe lạnh giữa khoảng cách. Nếu tôi giỏi tiếng phổ thông tôi đã xuất chiêu: Mua làm gì thứ ấy, chẳng dấu cô nương bản thân tại hạ đã bị Tào Tháo rượt đêm qua, năm canh chầy đại tiện vừa đủ năm canh. Nôm na là ngộ độc thực phẩm. Cô nương chắc chưa từng hạ sơn, ngoài lãnh thổ này giang hồ đang đổ huyết lệ vì hàng xuất khẩu có đóng triện “made in china”. Tại hạ là duỵt-nàm dành, tiền nhân có vị dõng dạc: Ta với người không đội trời chung. Hôm nay ta lâm vào thế chẳng đặng đừng, hộ tống vị cô nương da trắng này đi xem như cỡi ngựa thưởng hoa, ta quyết thỏng tay vào chợ. Nếu đụng mặt ở cố hương, Hà Tĩnh hoặc Bình Dương ta quyết cùng cô nương tỉ thí một phen để làm rõ công đạo giữa chánh, tà. Bài quyền cô nương vừa thi triển tuy huê dạng nhưng tại hạ nhìn thấy lấm tấm giọt mồ hôi đổ ra trên dung mạo. Chừng nào giữ được hơi thở điều hoà, chừng ấy mới mong đánh ngã ta, lấy thịt đè người nằm trên thân ta. Cảnh báo cô nương lần cuối, ta không luyện kiếm pháp Tịch Tà bàng môn tả đạo, liệu thần hồn súng ống đạn dược ta còn nguyên si.

Juliet kéo lôi tôi đi chừng như không muốn tôi nghía gái vị thành niên có mắt phượng mày ngài như đa số môn đệ phái Nga My. Bọn này dễ nể thật, mỗi vùng đều có lập ra một bang phái dựng môn bài biểu dương uy lực, chưa kể 26 động 42 hải đảo xa xăm luôn ngứa tay ưa động thủ, hèn gì đứa nào đứa nấy đều mang mộng bành trướng. Trước khi đổ quân chính thức, chúng âm thầm đầu độc bằng phim ảnh, bằng tiểu thuyết, bằng hàng hoá tẩm độc, bằng lương thực đầy hoá chất. Bộ chính trị ở trung ương có không dưới 100 mưu sĩ thuộc dạng Từ Thứ, Khổng Minh. Chúng lập đàn thắp nhang vái lạy tứ phương, lâm râm đọc khẩu quyết đổi mây gọi gió và chúng tự đắc thế thiên hành đạo. Xưa không nói gì, nay chư hầu phương Nam cũng phải dâng lễ vật triều cống đảo này đất nọ. Trái vải Lệ Chi là thổ sản phương Nam nay mọc tràn đìa ở phương Bắc, xuất khẩu đại trà là một bằng chứng. Dân tộc Ý nổi tiếng món spaghetti, vừa ưỡn ngực đã bị anh Tầu mắng: Tiểu lị, ngày đó chúng mày qua xứ tao đã lén đánh cắp công thức chế biến mì sợi mà giờ đây bày đặt lên mặt làm đày làm láo. Cảo xồ a lị! Ở Việt Nam chưa sản sinh ra vị anh hùng nào dám lật tẩy sự giảo hoạt của “anh bạn” láng giềng trên cao quen trèo đầu cỡi cổ.

Đi thăm thú cả ngày đến rục cẳng, chiều về chúng tôi trình hộ chiếu để thuê một cái nhà nghỉ hoang sơ tạm trú qua đêm. Tiền nào của đó là câu nói rất thuyết phục, do bản tính cần kiệm dè xẻn ăn trông nồi ngồi xem hướng nên cả hai phải làm quen với mọi thiếu thốn tiện nghi. Thắt lưng buộc bụng nên nhà nghỉ không có máy sưởi, nước ấm tắm hạn chế và chăn nệm thảy mong manh. Chiếc giường gỗ có từ thời Từ Hy thái hậu nên long sàng có rệp, mùng vá không kỹ nên có đôi con muỗi đi hoang “mẵn cuối khíu chọ”. Trở mình thì đón nghe bản giao hưởng của chân mộng sườn tre chiếu lát cùng hoà tấu cung bậc như kẻ nghiến răng trong giấc ngủ. Tuy vậy trắng con mắt không lâu đã riu riu đi vào cơn mê thiếp.

Hình như Juliet vừa nói bonne nuit, ngủ đi anh mộng bình thường, Tuy nhắm mắt tôi lại thấy rõ Juliet ngồi dậy, thoát y. Da cô trắng màu sữa trong mùng tối, mái tóc dâng đầy hương hoa thêm khó định thần. Bàn tay Juliet đang tập món diệu thủ thư sinh, cởi hết áo quần nhàu nát tôi ra rồi năm ngón đổi món “cầm nã thủ”. Mân mê, vuốt ve, trững giỡn; đợi tôi vận đủ 12 thành công lực cô mới thôi nắm lấy chuôi Ỷ thiên kiếm kia. Lăng ba vi bộ thoắt cái đã vận khí đan điền leo nằm trên người thằng đồng tử đang bị cách không đả huyệt. Tôi nhớ hôm qua trở chứng tôi đòi hỏi cô ân cần trao thân nhưng cô khoá miệng tôi bằng một môi hôn và sau đó tuyên bố lý do đình chiến bằng bài hát “Máu nhuộm bãi Thượng Hải”. Vậy thì hôm nay tuyệt tình cốc nọ đã qua mùa hạn, thôi nghi kỵ để dốc lòng thi triển Uyên ương kiếm pháp. Giường có rên la cũng mặc, hồng vệ binh có dòm lén qua khe cũng thây kệ, đạo sĩ thúi phái Võ Đang có vây khốn ngoài sương lạnh cũng chấp nốt. Môi hở thì răng lạnh, tình huynh muội chúng ta quyết bền vững bồi đắp cho nhau suốt năm canh. Bọn mãi võ sơn đông không bán thuốc cường dương, tôi chẳng gặp Hoa Đà xin thỉnh viagra, nhưng chẳng hiểu ăn cái giải gì mà nội lực quả có thâm hậu khiến Juliet rên la quá chừng quá đổi. Juliet bào chữa, trên đường dẫn tới cực lạc cốc em buộc phải đọc khẩu quyết cuốn cửu âm chân kinh đó chớ. Ui, anh ơi, trái chuối vàng bé nhỏ của em ơi, đời có bao lăm mà hững hờ, có chịu chết bỏ bể bỏ cùng em không nè… Giường có gây đau lưng, gối có mỏi chân có mòn nhưng nhúc nhích thế này không sướng bề ngang cũng khoái bề dọc, anh nhỉ!

Vầng dương chớm mọc qua song, thức giấc vì tiếng gà gáy eo óc trong thôn xóm lục đục có đôi kẻ vác cuốc ra đồng. Ở xa gửi về nhát gừng từng tiếng xe máy chạy hục hặc trên đường hắc ín trải đi liên tỉnh. Lạ lùng thay áo quần chúng tôi vẫn còn nguyên trên người và rõ ràng là tuy chung giường nhưng mền ai nấy đắp. Bon jour! Juliet chào tiếng đầu ngày. Tôi ngó ra vẻ an nhiên của một người vừa qua giấc ngủ đầy đong đủ trên dung nhan Juliet. Nếu làm tình, cô thức giấc bằng động thái lười biếng của một con mèo ghét săn chuột. Và con chuột của tôi vẫn ấm êm trong quần chưa rụng một sợi lông. Tôi dấu không nói cho Juliet biết là đêm qua tôi bị ma đè, chân tay tôi đang rã rời và tôi như một cao thủ bị phế hết võ công.

Chúng tôi sắp cạn tiền, thôi đi hoang để đón xe chạy về Bắc Kinh. Gần bến xe có một lão trượng căng tấm bạt phai màu gió sương hành nghề coi bói. Ông đang uống nước trà nóng liền vội đặt tách xuống khi nhát thấy tôi. Ông vẫy tay, chỉ chiếc ghế thấp và với thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ ông thông báo là âm khí hiện đầy trên mặt tôi. Có thể cậu trọ qua đêm ở chốn có hồ ly tinh nằm tu luyện. Nửa khuya chúng hoá thân thành mỹ nữ để hút hết dương khí của cậu. Theo truyền thuyết chúng sẽ đắc đạo chừng nào ăn nằm với 1001 đứa thanh niên trai tráng. Ông ra giá là 20 đô la, chỉ nhận tiền Mỹ, khi trao cho tôi hai lá bùa vàng có viết ngoằng nghèo hàng cổ tự. Một dán sau lưng trước khi ngủ, một đắp trên trán và tạm thời quên vụ gối chăn với vị cô nương này trong vòng hai tuần. Tuân thủ đúng quy trình thì sẽ xua được tà ma ám chướng.

Juliet là người luôn tin dị đoan, hơn nữa cô phát hiện mặt tôi quả có xanh xao hốc hác thật nên vội chìa ra tờ 20 đô-la cho lão già chuyên trừ quỷ ám. Cô nói, em ngỡ là vì anh đi bụi không quen nên chóng ốm, ai mà ngờ. Con ma nó ra sao anh? Có đẹp không? Có điện nước đầy đủ giống em không? Tôi nói: Ma nào? Hôm qua chính em vặt anh tơi bời hoa lá, không nhớ sao? Juliet mở ví tìm chiếc gương soi: Mặt em có xanh xao vỏ vàng không anh? Eo ôi, nghe chết khiếp!

Vì chết khiếp nên cả hai đổi vé về xứ sớm hơn một tuần như dự liệu. Trước khi đợi lên máy bay tôi vào google xem lại địa phận nơi chúng tôi ngủ qua đêm. Chẳng có gì đặc biệt, chỉ hiện dòng chữ cuối: Nơi này là nơi tác giả Liêu Trai Chí Dị từng miệt mài chong đèn viết thành tác phẩm ấy. Mẹ rượt! Biết vậy leo lên Vạn Lý trường thành để tham quan cho biết núi rộng sông dài. Khi đã mang thân hảo hán thì ông xem yêu tinh ma quỷ chỉ là hàng cỏ rác. Chuyện nhỏ!

Về lại Canada hơn hai tuần, nghĩa là lúc tôi đã thôi dán bùa trừ yêu theo như lời đạo sĩ kia nói, Juliet bước từ phòng vệ sinh đem ra một cái que nhựa khoe tôi: Em mang thai rồi anh ạ, cái dấu hiện trong ô này đảm bảo về điều ấy. Cô hôn tôi, lòng có nghe xúc động không? Tôi nhìn vào mắt cô: Nói cho anh rõ, tối đó em có hiếp dâm anh không? Đừng đặt điều, em ngủ như chết nào có biết gì, nếu thức, con ma kia đâu dám hiện ra ăn nằm trắng trợn lộ liễu với người em thương. Nó phải biết nể nang em chứ, đúng không?

Rồi đây con chúng tôi sẽ chào đời, chưa biết mặt ngang mặt dọc ra sao. Dĩ nhiên nó là công dân Canada nhưng dù sao thì nó cũng thuộc dạng made in china. Nó hiện hữu do sự tác thành của bố mẹ trong chuyến đi bụi về nơi đầy rẫy cả bọn tà ma ngoại đạo. Và biết đâu chừng đêm đó đã có đứa đệ tử của Trư Bát Giới, một con yêu tinh đàn ông hiện hình thành nho sinh gieo máu lửa cho Juliet, “bành trướng” bắt cô ta phải bụng mang dạ chửa. Tôi mồi lửa đốt cháy hai lá bùa. Đêm nay tôi sẽ làm hảo hán, đàng hoàng yêu Juliet đường đường chính chính, để trắc nghiệm xem mình có sống lại nguyên cảm giác như cái tối không trăng sao rất đỗi u minh chốn nọ chăng?

Hồ Đình Nghiêm

Cỏ trên đất lạnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by7 Sơn râu 19 Nov 2023

Cỏ trên đất lạnh

Hồ Đình Nghiêm

Jean thích ăn chả giò, tôi tính bữa nào mời ông tô bún bò. Tôi không biết dịch sang tiếng Pháp chữ tâm hồn ăn uống, thức ăn Việt hình như thứ gì ông cũng muốn thử qua, có vẻ hợp khẩu vị, khen rối rít.

Tạng người Jean nhỏ thó, ngó không ra Tây. Đứng thấp thua tôi, nhưng hơn ở chỗ ông sở hữu một cơ thể ngó rắn rỏi. Tôi chẳng mặn bơ sữa vậy mà “phát tướng”. Hợp phong thổ, cây trồng đúng đất mầu mỡ, cứ nghĩ vậy. Jean phát biểu, rồi thêm: Tại toa ít vận động chăng?

Jean độ sáu chục, là hạng tuổi chưa được nghỉ hưu, cứ như con gà sớm tối vòng vo sân trước vườn sau. Làm concierge cho chung cư kề cận nơi tôi mướn, khoảng cách là vuông sân mà cỏ ở đó rất chóng mọc cao. Hoặc nó chưa mấy phồn thịnh thì đã nghe tiếng máy cắt cỏ dày xéo gầm thét tới lui. Jean ưa vận động mà hình như ông rất chuộng việc cày bừa trên khoảng sân nọ. Xét ra, đó là thứ công việc ồn ào bắt mọi người phải chú ý. Những ai muốn tu tâm dưỡng tánh ngồi diện bích với thế kiết già hẳn sẽ lầm bầm nguyền rủa thằng cha chuyên viên âm thanh say sưa gây nhiễu loạn kia. Tôi đồ rằng ông muốn kêu gọi tôi bằng cách thức ấy, chứ đứng quét lá rụng hoặc cầm vòi phun nước lai láng hai hàng hoa thì có vẻ tịch lặng, chả ai hay biết.

Jean ngụ trong căn apt. nhỏ nhất của chung cư, có gắn số 1 nơi cánh cửa gỗ sơn xám. Ông nói, moa không việc gì phải trả tiền mướn thuê, lão chủ bảo cứ ở vậy mà quán xuyến trông nom, làm ổn những vấn nạn khi chúng sinh trong toà nhà cũ kỹ này gặp phải. Moa không có nhu cầu gì để ép buộc thức khuya dậy sớm ra ngoài tranh sống, đời mình va chạm đã nhiều đến độ trầy trụa xác thân, thôi thì cứ an phận thủ thường ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Tôi có cảm tình với thứ triết lý sống nọ, kinh qua sáu mươi mùa lá rụng ta cũng nên thu vén bớt sân si mà liệu cơm gắp mắm, chắp tay sau đít nhàn cư vi có việc. Cả đống việc chứ chẳng đùa, giết chuột trừ gián trét lại vôi thay ổ khoá, siết cứng vòi nước nơi bồn rửa chén mãi nhỏ giọt tỉnh táo suốt canh trường. Tôi lại chẳng tường khi dịch chữ lu bu thượng vàng hạ cám ra tiếng tây tiếng u.

Jean luôn bận quần jeans bạc phơ nơi hai đầu gối, nếu cần ông thắt nịt có cái túi da chứa cơ man nào là kềm búa tuốt-nơ-vít thước cuộn băng keo dao kéo lủng củng lảng cảng như lính mang quân trang quân dụng. Dáng đi thong thả gần như lãng đãng kiểu thi nhân, thoạt trông là vậy nhưng thoắt cái ông có thể biết môn khinh công, chợt biến chợt hiện. Một đứa có da thịt đường bệ như tôi không dễ học ma thuật phân thân cách đó.

Tôi chẳng tò mò để riết róng dóng hỏi vợ toa đâu? Mãi quen mắt nhìn ông cu ki một mình, và ngạc nhiên thay, dường như cái lẻ bóng kia không mảy may gây phương hại gì sất để khiến Jean phải lộ diện vẻ sầu thảm. Có vợ một bên lưng, không chắc điều đó khiến người ta “thản nhiên” như Jean được. Đôi khi, qua Jean, tôi thoáng nhớ tới cha mình, cái cách ông sống thầm lặng sau khi mẹ tôi vắn số bỏ cuộc chơi. Jean có con trai không? Nó ở đâu giờ này? Có những dấu hỏi vụt đến vụt đi trong đầu, tôi chẳng ưa làm đứa mỗi khi nói ra đều khiến người nghe phải bận lòng sanh căng thẳng. Tôi là thằng người tị nạn, hơn ai hết, thằng người đó không ưa bị ai dồn hỏi linh tinh. Tôi là căn hộ trống trải nên chuột và gián chả mấy ưa ghé vào sục sạo. Một kẻ bình thường, hầu như kẻ ấy phải ghét những vị khách không mời cứ siêng vào ra.

Trưa hôm ấy, cắt cỏ xong, Jean bắt ghế ngồi ở bao lơn hẹp té mơ màng cùng khói thuốc. Máy và dây nhợ lòng thòng còn nằm giữa vuông cỏ trọc. Mắt ông không nhìn xuống thành quả lao động mà ngó mông ra đường, đôi mắt vô hồn và lần đầu, tôi nhìn ra dung mạo ông váng vất phủ một nỗi buồn lặng. Tôi mang bia và mấy cuốn chả giò gói trong giấy nhôm băng qua biên giới. Trời đẹp, đúng không? Tôi hỏi. Jean sửa lại dáng ngồi. Thì cũng vậy. Moa đã không nghĩ ra một việc làm gì khác. Như thông lệ, ngồi thu nhỏ người ở đây, một cách thầm lặng, vô tội vạ. Tranquillement, chữ Jean ưa dùng.

Ông mở ra chiếc ghế xếp dựng trong góc và tôi nghĩ chỉ có tôi là đứa duy nhất đặt đít vào đó, nói cách khác, ông sắm nó để dành riêng cho tôi. Có mang cả bia nữa à? Rất rất tốt. Ông dùng hai lần chữ rất. Ba tôi không hút thuốc không rượu bia, sống khắc khổ và qua đời trong đạm bạc. Ba tôi cũng giỏi tiếng Pháp vì có thời ông làm việc với Tây, ở Kho Bạc. Hình như dạo đó chữ ngân hàng chưa được phổ thông, đôi khi họ nói: Ra ngân khố lĩnh tiền. Hai ngày trước , thứ năm lãnh lương, tôi đã tới nhà băng đổi ngân phiếu, tôi ghé chợ mua bia và tôm thịt để về làm chả giò. Tôi không quen ai ở thành phố này, tôi giống Ba tôi, giống Jean, tranquillement. Cái yên ả kia có vẻ như đi ngược với quan điểm sống của dân tị nạn. Đa phần họ quần quật chí thú kiếm tiền, họ kèn cựa, đành hanh và xét đoán kẻ khác qua bề ngoài, qua xe cộ và nhà cửa. Lạy Chúa, nhờ trời tôi chẳng liên hệ, dính dáng tới bọn người đó.

Jean khởi sự ăn, có vẻ để tâm khi nhai nuốt cuốn chả giò. Ngon, có thể do bởi chính tay toa làm, hàng quán thì họ trộn lắm thứ vào đó nên không thơm bằng. Jean nhìn tôi, đôi môi thôi khô. Moa có thể hỏi một câu? Cớ sao toa có được cái tử tế đến nhường ấy? Có thể gần ông tôi muốn học hỏi một đôi điều, giao tiếp giúp tôi giỏi tiếng Pháp chẳng hạn. Chỉ vậy thôi sao? Qua đó tôi còn học cách đối phó với đời sống khi quanh mình chẳng có ai. Jean chà hai bàn tay vào chiếc quần sờn bạc. Nắng bắt đầu lấn chiếm vào chỗ ngồi nhưng cái vết cắt sắc sảo đó tuyệt không làm hai chân phải nóng rát bắt chúng tôi xê dịch. Người ta khuyến cáo rằng trong nắng có tia hồng ngoại cực tím dễ gây ung thư da và người ta vẫn mình trần nằm phơi la liệt trên những vùng cỏ chan hoà sắc lửa mặt trời. Bất động như xác những con cá bị biển cả xô giạt vào nằm phơi bụng trên bờ bãi.

Khi một người đàn bà tìm ra được lý do để phụ rẫy mình, toa sẽ chống đối kháng cự bằng phương thức gì? Moa nói với vợ rằng, hy vọng anh chẳng gây lầm lỗi, mong cho em có được cuộc sống tốt đẹp ở chỗ mới. Đã hơn ba năm. Hôm qua đứa con gái moa có gọi điện thoại, mẹ đang nằm trong bệnh viện, thăm hay không là quyền của bố, nếu quyết định xong thì con lại chở đi. Dứt câu, Jean ngửa cổ tu hết chai bia. Gương mặt chưa tìm bắt chút tươi tỉnh. Jean nhón mông để moi từ túi quần ra cái ví da. Marie, vợ moa. Đây là Juliette, con gái. Nếu đó là ảnh mới nhất mà Jean thu cất, thì cũng đã hơn ba năm trôi qua rồi, không chắc họ còn giữ được nụ cười tươi như trong hình chụp. Sát phòng tôi có tên người Ý mướn, nó mua chiếc xe đúng ba năm và nó than phiền băng tuyết chốn này đã khiến cho chiếc xe biến dạng tới độ đáng ngờ. Con người chẳng thể hơn sắt thép được nhất là con người có một gia cảnh chẳng mấy vui. Vào nằm viện là một minh chứng xác thực cho lối so sánh kia.

Qua một đêm, hẳn ông đã có quyết định? Tôi hỏi Jean. Moa vẫn chưa gọi phone cho con Juliette. Nán đôi ba hôm thì thấm gì trong khi moa chờ đợi trong câm lặng gần bốn mùa tuyết đổ. Ừ, thì chung cuộc cũng phải đi thăm hỏi nhau thôi. Phải kiểu cách mua một bó hoa cầm tay, phải thay đổi một bộ áo quần cho ra vẻ tươm tất và có thể sẽ nói ra những điều không thật lòng. Xét cho cùng thì đâu có vui thú gì? Ông phải nên hiểu tâm lý của người nằm trên giường bệnh, họ luôn mong cầu một sự vấn an. Jean vung tay như thể xua đuổi một con ruồi mãi chờn vờn trước mặt. Hôm nào moa đổ bệnh toa có vào thăm không? Nếu có xin đừng mua hoa mà tốn tiền, một chục cuốn chả giò ăn chùng vụng thì hạnh phúc biết chừng nào mà kể! Tôi nói tôi hứa mặc dù bệnh viện là khung cảnh quy tụ toàn cả sắc xám và không hẳn ông già sáu chục tuổi thì phải vào đó trước một đứa trung niên. Gió hiu hiu lùa nhẹ, mùi cỏ ẩm vừa bị xén gây nhột trong mũi. Tôi hắt hơi: Mai chủ nhật, thay vì tới nhà thờ ông nên vào thăm bả đi Jean ạ. Đã là đàn ông, tôi nghĩ ai cũng có lối sử sự như vậy cả. Sự có mặt của ông phút giây đó nặng ký hơn ngàn lời nói ra. Hiểu ý tôi không? Jean chẳng ư hử, ông đang ngốn cuộn chả giò cuối cùng.

Juliette có đứa con ngoài giá thú với một thằng thợ mỏ khai quật dầu hoả ở tận Calgary. Thằng nhóc năm tuổi ấy không nhớ mặt bố đẻ, từ miền tây tạt về cố thổ của mẹ và gọi Jean bằng ông ngoại. Tôi hiểu loáng thoáng vậy, qua những thăm hỏi họ dành cho nhau. Jean hỏi cha mày đâu? Dĩ nhiên đứa nhóc tì bỏ ngoài tai. Năm tuổi thôi mà, nếu 15 thì hoạ may tìm được câu trả lời: Tui đéo biết! Juliette ngó tôi, ảnh có chút công chuyện lát mới quay lại đón. Rắc rối ở chỗ là Juliette neo thuyền sang bến mới và tên đàn ông mà thằng nhóc năm tuổi mặt khờ câm kia âu yếm gọi bằng papa lại là người da màu. Không như cột nhà cháy, nâu chứ đen thui thì tui đã hổng ham. Juliette trần tình với bố. Jean có vẻ là người thủ cựu, mặt lộ trầm tư, một lát ông thả giọng trầm, đôi khi e vàng hơn hẳn đen nâu các thứ. Là sao? Tôi không hiểu. Là rắc rối cuộc đời đã khiến moa chẳng có cơ duyên gặp mặt toa sớm.

Tôi ngó chùng vụng Juliette, cô không thay đổi mấy so với tấm ảnh nằm trong ví Jean, có nghĩa là hiển hiện ở đấy một dung mạo hơi ngổ ngáo, hơi khuôn trăng đầy đặn, hơi chịu nhiều nếp nhăn. Sum họp này đã chịu đánh đổi với ba năm lừng lững trôi qua. Mất ngoẻn chừng đó tháng ngày hẳn nó sẽ tàn phá không chừa một ai. Nó làm cho con nít biết lật sấp ngửa, biết ê a rồi thoắt cái biết đi biết chạy, biết theo mẹ về nhìn nhận ông bà. Thằng nhỏ coi mòi sống cô đơn đã quen nên chẳng ưa chộn rộn, nó cứ bấu chặt chân cẳng mẹ rồi trương mắt ra ngó Jean xong thì đảo qua dòm chừng thằng da vàng mũi tẹt. Tôi cũng hổng mặn cảnh tùng tam tụ ngũ, đứng xớ rớ ở hiện trường vì Jean gọi qua, ông loan báo tin vui “bả” đã bình phục, đã xuất viện và cái giang sơn bé nhỏ này mai hậu sẽ chứa năm bảy người tới quây quần làm bữa tiệc đoàn viên lá rụng về cội. Như thế này nhé, moa nói điều không phải thì toa bỏ qua cho, làm giúp moa khoảng trăm cuốn chả giò, bao nhiêu tiền moa gửi lại sau, có ô kê không nè? Đâu có sao đâu, nói trước bốn tám tiếng để tôi sắm sửa các thứ. Có cần moa gọi con Juliette sang phụ một tay không? Cho nó mở rộng tầm nhìn, học cách làm món ăn khoái khẩu kia. Tôi làm thinh, kịp lúc tiếng chuông điện thoại hối thúc dóng tiếng inh ỏi vang rân cả căn phòng khiến mọi người cùng ngoái cổ, “chuông gọi hồn ai” đã cứu chuộc tôi, kéo tôi ra khỏi những tính toan, đẩy tôi xuống vuông cỏ, đi nhanh về chỗ trọ.

Bữa tiệc gia đình dự trù đầm ấm đã không diễn ra. Cha ruột của đứa nhỏ 5 tuổi từ chốn xa tìm về đúng chỗ tỏ ăn năn lầm lạc một hai đòi nối lại sợi dây phu thê đứt đoạn. Vụng dại, nóng nảy khiến hắn xô xát với người tình da nâu của vợ cũ, cả hai chửi thề cùng thương tích trầy trụa dẫn đến sự can thiệp của cảnh sát. Jean cho hay, chưa khi nào moa thấy lòng ghen tuông của con người nó kỳ cục và khôi hài đến mức đó. Còn con Juliette, lý ra phải tỏ có chút bản lãnh thay vì ngậm hột thị ôm đứa bé mặt xanh như búp xà-lách. Cứng người như phổng đá, tựa hồ đang tự tìm lấy quyết định, đứa nào mạnh đứa ấy sẽ đi trọn đường tình với tui, chẳng lý lẽ phải trái chi cho ốm người.

Nắng lung linh trên tàn lá thưa, nắng vẫn chưa vào liếm chân. Gió có mang theo chút gai lạnh như thể Bắc cực đang vào mùa tan vỡ băng sơn. Nó thổi về để ai kia nghiệm ra cái hữu hạn của mùa hè và chỉ đôi ba tháng hâm nóng thôi, người ta lại co quắp chịu đựng bao cơ hàn đổ ập xuống. Tôi nhìn con đường khuất bóng xe, đôi ba bộ hành đội nắng mờ nhân dáng ở xa như họ đang cút bắt những ảo ảnh. Vợ ông thì sao? Tôi hỏi. Bả vẫn dật dờ, chưa lại sức và từ khi xuất viện đến giờ bả chẳng nói với moa lời nào cả. Trong muôn một, đàn bà vẫn tượng trưng cho một thứ gì thật khó hiểu. Ở apt. số 7 có vấn đề gọi moa lên chỉnh sửa nhưng moa bảo: Dẹp, đi đâu mà vội, hãy cho tao tìm lại chút quân bình cái đã. Ông đã lấy lại quân bình được chưa? Thức ăn cay ông xơi có đặng không? Jean ngó chăm tôi, hồ nghi đọng chật trong hai tròng. Tròng mắt bắt đầu mất vẻ tinh anh, như ba tôi ngày ấy, như bất kỳ một người đàn ông từng đi qua cuộc đời này với cái bóng tối luôn đeo cứng bên hông, song hành cùng vạn điều chẳng giải thích được. Niềm vui hiếm muộn, điều đó dần dà làm chất xúc tác để phủ bọc đồng tử một lớp màn đục. Có người đã gọi, ấy là bụi trần. Qua bụi trần, năm xưa mắt ba tôi mãi dõi tìm đứa cháu nội ở bến tàu với loạn thị sự hỗn mang. Tàu xô sóng trôi giạt khỏi bờ vất ba tôi ở lại trong cô thân cùng cực, ông không tài nào ngờ được đứa cháu đã có một chỗ ngồi bó thân trên tàu, cũng như gia đình nó chẳng tưởng được ông nội vẫn lạc hồn bước xiêu giữa thành phố sắp thay đổi chủ. Lòng ông là bãi bờ khi nước rút đi, khô kiệt một tuổi già hoang lạnh. Một cách thầm lặng, chữ Jean ưa dùng, có thể áp đặt toàn bộ lên người ba tôi. Thời điểm kia tôi hẳn còn non dại, tôi khờ khạo không biết ngoài ba tôi ra đã có ức triệu những bức rời đớn đau khác. So ra gia cảnh của Jean không nên gọi đó là niềm bất hạnh, ông dư sức qua cầu để dọn lòng tìm gặp lại cái trầm ngâm cố hữu. Tranquillement, tĩnh lặng đến yên hàn vô sự.

Nếu không ngán nồng cay tôi sẽ mời ông tô bún bò. Soup buộc phải cay vì đã là truyền thống thì chẳng thể gia giảm pha chế hoán đổi cho mất linh, mất tính cách, mất hương mùi, mất địa phương. Nó tuy xa nhà nhưng nó vẫn ủ nồng phong thuỷ chốn xưa. Jean rùn vai, cay cỡ nào moa cũng nên thử qua, bất quá chỉ toát mồ hôi chảy nước mắt thôi chứ thấm béo gì. Đã lâu moa chưa biết khóc, toa có tài cán thì cứ làm cho moa đổ lệ một phen. Rất rất tốt.

Tôi vẽ ra một giới hạn và tôi nói không lâu đâu, cuối tuần mình sẽ ăn chung nếu điện thoại nhà ông chẳng rộn ràng lên tiếng. Chỉ rỗi hai ngày thứ bảy chủ nhật và tương lai thì luôn rình rập những cái không ngờ. Nếu chuông điện thoại ré thì chỉ có con Juliette nghịch tay, nếu nó giải quyết ổn thoả mọi thứ đâu ra đó thì toa có sẵn lòng cho nó ghé mông để khóc theo? Tôi làm thinh, tôi chẳng biết hoán chuyển cụm chữ “nói trước bước không rời” ra tiếng Pháp. Jean phải nên hiểu là thời gian vận hành luôn không êm, chúng ta đã tuân theo luật chơi của nó, ít nhất một lần, nhớ không? Bữa tiệc có trăm cuốn chả giò chiên dòn đã “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, đã chẳng vẹn toàn ra cơm ra cháo.

Chúng tôi ngồi yên, như thể mặc niệm hối tiếc một cái gì vừa vụt qua, không nắm bắt được. Nắng vẫn vàng, cỏ vẫn xanh. Bao lâu rồi Jean đã nhác chơi? Không phát hiện ra sao? Cỏ mọc cao có thể chôn vùi mắt cá chân. Cỏ thì ở đâu cũng hệt nhau, tôi từng nằm ngủ mê trên đồi cỏ phương ấy, đất mát lạnh và tấm bia khắc tên ba tôi đã ngăn che tia lửa mặt trời đâm thẳng mặt. Lâu lắm rồi, lâu như thể tuần trước hoặc tháng kia. Đâu, mới có ba chục năm chứ mấy! Rồi tháng nọ năm nào Jean cũng thực sự xuôi tay, tôi đoan quyết một chuyện sẽ diễn ra trước phân lìa, là Jean sẽ ăn được món cơm Âm phủ do chính tay tôi nấu. Không rủ rê Juliette nhập mâm. Ăn đi Jean, ăn một cách thầm lặng. Cơm thương chứ chả có ai thương!

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 18 June 2015 

Post by Sơn râu 19 Nov 2023

Thợ Mộc

Bài 21

Ai ơi chớ lấy thợ cưa

Cưa qua cưa lại, dái đưa lòng thòng.

(ca dao)

Ai nói thợ mộc không phải là thợ cưa?

Thợ mộc cũng phải cưa gỗ chứ!

Đặt tấm gỗ trên cái đòn, để cho cái đầu hơi chếch ra phía ngoài, cầm cái cưa dài, xẻ dọc tấm gỗ; có khi là một thanh gỗ thì “đưa” thế nào được.

Câu ca dao trên là nhằm nói tới những người xẻ gỗ súc. Súc gỗ to vài dài, được chống nghiêng, đầu cao đầu thấp. Hai người thợ mộc, cầm cái “cưa cá mập”, người đầu cao, người đầu thấp, cưa qua cưa lại, thế mới đúng với câu ca dao.

Đội cưa của tôi không có cưa cá mập, nhưng có cái cưa dĩa. Buổi sáng thì tôi tà tà, chuẩn bị để cưa gỗ, có khi phải mài dĩa cưa; buổi chiều, máy điện chạy mới có việc.

Tôi và một người bạn tù nữa, đẩy những thanh gỗ dài, xẻ nhỏ theo kích thước, xong giao cho các bạn tù khác, cắt ngắn, đóng khuôn ngói. Đúng ra là đóng khuôn để lò gạch phơi ngói, trước khi đem nung.

Mô-tơ thì yếu, dĩa cưa mòn nhiều, người đẩy, người kéo phải dùng hết sức, mạt cưa bay lên mù mịt, văng vào đầu, vào mặt, vào mắt, có khi không kịp lau vì còn phải lo đẩy thanh gỗ đi tới, rất mệt, nên khi cưa máy, trong tình cảnh như thế, đâu có biết có cái gì “đưa long thòng” hay không!

Chỉ tiêu là ba ngàn cái khuôn như thế, do trại tù Xuân Lộc ký hợp đồng với lò ngói nào đó, ở Hố Nai.

Nhưng tôi cũng phải nói tại sao tôi lại phải làm cái công việc thợ cưa nầy.

Sau khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá mấy tháng, và cũng sau khi “mười ba con ba” bị chuyển ra trại A-30 ở Phú Yên rồi, thì khoảng mấy chục “học viên” (danh từ Dziệt Cộng đấy), hầu hết là cấp bậc đại úy, từ trại Vườn Đào, ở Cai Lậy, bị chuyển lên Trại Đá ở cùng chúng tôi, nhưng khác nhà, khác đội.

Trại Vườn Đào là tên một trại tù cải tạo nào đó ở Cai Lậy, chớ không phải là nơi kết nghĩa của ba ông Lưu Quan Trương. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn trân trọng hai chữ Vườn Đào, tuồng như nó nhắc nhở chúng tôi về “tình kết nghĩa” của những người tù cải tạo vậy.

&

Việc chuyển tù cải tạo, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, cho người ta thấy cái lúng túng của Việt Cộng Hà Nội.

Sau khi chiếm miền Nam, Võ Nguyễn Giáp đưa ra kế hoạch gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế”. Nói thì nghe kêu vậy, chớ cái gọi là kế hoạch nầy cũ rích, nước ta đã có từ mấy trăm năm trước.

Chỉ một ví dụ thôi, độc giả thấy ngay.

Khi đánh nhau với quân nhà Minh, Lê Lợi cần nhiều quân. Đến khi quân nhà Minh thua rồi, hai nước giao hảo bình thường, đoán chừng mấy chú Ba “cạch”, không dám dòm ngó đến nước ta nữa, thì vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) phải giảm quân. Phần thì cho binh lính về quê, nay gọi là “giải ngũ”, làm ruộng, phần thì đi “dinh điền”, tức là đi khai phá đất đai làm nông nghiệp. Giữ binh lính ở dinh điền cũng là phòng khi, nếu nhà Minh trở mặt, làm bậy thì vua Lê có binh lính ngay.

Xưa, gọi việc ấy là “tiến vi binh, thối vi nông.”

Vua Lê thì có viễn kiến, nhìn thấy một tương lai thanh bình xa, còn Võ Nguyên Giáp thì chẳng có viễn kiến gì hết, chỉ mấy năm là coi như xong, viễn kiến thành “cận thị”.

Mới chiếm được miền Nam chưa bao lâu thì Khmer Đỏ đánh phá ở các tỉnh giáp biên với Miên, khiến Cộng Sản Hà Nội, cuối năm 1978, cho quân sang xâm lăng Miên. Cũng vì vậy nên “lính Tầu Ô” của anh Tầu lùn họ Đặng đánh dọc biên giới sáu tỉnh phía Bắc.

Lính tráng phải ra chiến trường chớ “làm kinh tế” gì nữa. “Viễn kiến” của Võ Nguyên Giáp kéo dài chưa tới ba năm.

Bên cạnh đó, Cộng Sản Hà Nội cũng lo “giữ tù cải tạo” cho kỹ, lỡ như để cho Tầu Cộng “chộp” được, thì đám tù cải tạo nầy sẽ là cán bộ, cấp chỉ huy; còn binh lính thì trong dân chúng chẳng thiếu chi, chẳng bao lâu Tầu Cộng thành lập được một đội quân chống Cộng ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Lo xa như thế, các trại tù cải tạo trên biên giới phải dẹp cho sớm, đưa tù cải tạo về Trung Du, Thanh Hóa, Nghệ An…

Ấy là ở ngoài Bắc, còn trong Nam thì Việt Cộng cũng lo chuyển trại tù, gom lại mà giữ cho kỹ.

Mấy năm trước Việt Cộng đem tù cải tạo trại Vườn Đào, đi làm ruộng, đi phá rừng ở Rạch Giá, Trà Tiên. Khi Khmer Đỏ đánh vào Hà Tiên, Dziệt Cộng sợ, đem đám tù nầy về Cai Lậy, đưa vô trại Vườn Đào, xa biên giới. Cũng chưa yên tâm, bây giờ thì Dziệt Cộng cho vô Trại Đá cho chắc chuyện.

Trước 1975, phần đông cái tù cải tạo Vườn Đào, phục vụ ở Quân Khu IV, các Tiểu Khu Phong Dinh hoặc Sadec, đông nhất là thuộc Tiểu Khu Kiến Hòa.

Không phải định kiến, nhưng xét ra, đám Vườn Đào và anh em chúng tôi, gốc Saigon, có khác nhau đấy. “Dân Saigon” thì “phản động” hơn, “nói năng linh tinh” hơn, “bướng” hơn, còn đám Vườn Đào thì “hiền” hơn.

Chính bọn Công An cũng thấy như vậy đấy! Bởi vì:

Hôm có tin phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm trại, bọn Công An cho “diễn trò học tập cải tạo” như thế nầy:

Sáng hôm đó, kẻng gọi đi lao động trễ một giờ đồng hồ!

Có chuyện chi đây?

Té ra Dziệt Cộng đem chúng tôi đi giấu, đem tuốt vô trong bìa rừng. Tới bìa rừng thôi, đem tuốt vô rừng chúng tôi dễ trốn nên bọn chúng sợ.

Làm như thế, Phái Đoàn LHQ không gặp chúng tôi được vì sợ như lỡ như Phái Đoàn Liên Hợp Quốc gặp được, chúng tôi sẽ tố cáo tùm lum. Việc nầy, độc giả coi trong bài sau sẽ biết rõ hơn.

Còn lại chỉ một đội, không đem đi giấu. Đó là Đội Vườn Đào. Tên đội nầy là do chúng tôi đặt ra.

Sáng hôm đó, “cải tạo viên” (danh từ Việt Cộng đấy!) đội Vườn Đào, được lệnh ăn mặc sạch sẽ, đẹp đẽ, tức là “diện vô” mấy bộ “trei-di” do anh em cất kỹ. Dziệt Cộng phát cho mỗi người một cuốn tập (vở), bút chì. Chờ khi chúng tôi xuất trại rồi, các bạn đó mới tập trung lên lớp, tức là đưa vào một phòng phía ngoài ngôi nhà giam, có bàn ghế. Chờ khi Phái Đoàn Liên Hợp Quốc tới thì “diễn trò học tập” cho Phái Đoàn LHQ coi chơi.

Dĩ nhiên, đây là trò lừa bịp của Dziệt Cộng.

Dziệt Cộng cũng chọn đám Vườn Đào diễn trò vì chúng nó nghĩ đám nầy “hiền”, không phản phé!

&

Khoảng một hay hai tháng sau, mặc dù Dziệt Cộng cho rằng họ “hiền” nhưng chúng cũng không thể không nghi họ trốn trại, nên khi cần một “đội Thợ Mộc”, nguyên cả đội nầy được chọn làm công việc đó, việc đóng khuôn phơi ngói, như tôi đã trình bày ở trên.

Dương Tiến Đông, Lương Văn Lịch, Trịnh Xuân Chính và tôi bị “tình nghi trốn trại”, nên “biên chế” qua Đội Mộc.

Hôm ôm khăn gói qua đội mới, anh Trịnh Xuân Chính, người có “thành tích trốn trại”, nói: “Mẹ! tụi nó sợ bọn mình trốn trại nên chuyển qua đây.” Trịnh Xuân Chính nói câu ấy, ý cho là Đội Mộc nằm sát bên hông trại, đâu có đi xa vào rẫy để tù có thể trốn được. Đông góp ý: “Đ. má! Đâu cũng tù. Qua Đội Mộc cho vui.”

Qua Đội Mộc vui thiệt!

Anh Chính tìm được nhiều cái mắt rễ cây gõ đỏ, gọi là nu. Nu thường cứng lắm. Vậy mà anh ta mày mò, đục, khoan, gọt… thành một cái ống vố, còn đẹp hơn cái “Dunhill thứ thiệt” mà tôi đang dùng.

Thấy cái Dunhill của tôi “thâm niên công vụ”, anh lấy cái ống vố của anh mới làm, đưa cho tôi nói: “Cho cậu! Mình làm cái khác!” Cho tôi! Chứng tỏ anh là người tốt bụng, nhưng xem ra, “ông học trò cử nhân văn chương Pháp” nầy coi việc làm ống vố của anh như một thú tiêu khiển mà không chừng quên hết mấy ông Tây mắt xanh mũi lõ làm thơ viết văn trong văn chương Pháp, bởi vì một lần tôi nói với anh rằng Saint-John Perse được giải Nobel mà anh ta cứ cười tôi nói bậy.

Ngày nào anh ta cũng mày mò làm ống vố, chăm lắm. “Quản giáo” Lăng của đội tôi, thấy anh làm ống vố đẹp, bèn xin anh một cái, có lẽ đợi dịp về thăm nhà, đem về cho ông bố.

Chính từ chối lời xin của cán bộ Lăng, nói riêng với chúng tôi: “Mắc gì mình phải cho cái thằng Dziệt Cộng chó ấy. Còn khuya!”

Ít lâu sau, cán bộ Lăng “đột xuất” được về thăm nhà. Bố anh ta té xuống giếng mà chết. Lăng than: “Giếng đào nhưng không xây được thành giếng, không mua được vật liệu.” Nửa khuya, bố anh ta đi tiểu tiện, không thấy  đường nên té xuống đấy.

Chúng tôi nói chuyện đó với nhau, Lương Văn Lịch mỉa mai: “Xã hội chủ nghĩa tiến bộ ghê! Giếng đào không cần xây thành, xuống giếng nằm chết cho mát!”

&

Trong thời gian tôi ở đội mộc, trường hợp anh Chung Văn Nghiêm thật đáng thương: Anh không được thăm nuôi như trước.

Anh Nghiêm là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 2 Trâu Điên. “Tan hàng” rồi, anh đem vợ con về quê ở Cai Lậy, rồi “trình diện học tập cải tạo” dưới đó, thuộc nhóm “Vườn Đào”, chuyển lên ở chung với chúng tôi.

Trước đó, dù gia đình anh ở Cai Lậy, cũng xa, nhưng vợ anh lên thăm đều lắm, mỗi tháng hay hai tháng một lần.

Thế rồi một hôm bà cô già lên thăm, thay cho vợ anh. Bà cô thì già, đường đi thì xa, gói quà nhỏ teo. Bà cô già không biết mua cái gì để đi thăm cháu. Bà cứ tưởng tù bây giờ cũng như tù ngày xưa, đâu có đói bao giờ!

Chuyện là vợ anh dẫn các con đi vượt biên, bị bắt cả đám, không sót ai lớn nhỏ, ngay tại địa phương.

Bọn cán bộ địa phương nghĩ rằng anh là đại úy, nên vợ anh có tư trang, của cải nhiều. Khi vợ anh bị bắt, lại không có vàng bạc gì cả. Bọn chúng cho rằng vợ anh còn cất dấu của đâu đó, chưa khai ra thì chưa cho về. Chúng nó muốn “khảo của” đấy.

Thời đại của Thúy Kiều sống lại ở gia đình anh Nghiêm: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh.” Ruồi đang tìm đường, tìm mật.  Vì vậy, giam gần cả năm rồi, mặc dù vợ con anh chỉ là đàn bà con nít, chúng cũng không tha mống nào, làm anh Nghiêm kẹt, không ai đi thăm nuôi.

Đúng là:

                        Lạ gì một thói sai nha

                 Làm cho khốc hại chảng qua vì tiền.

Thế rồi, bỗng dưng trong đội xảy ra chuyện mất cắp. Ai thăm nuôi cũng bị mất, thực phẩm còn y, nhưng gói… trà thì không cánh mà bay! Tôi cũng bị như mất trà như mọi người vậy. Chỉ mất trà. Thế thôi!

“Anh hùng thước mốt” (danh hiệu do người trong đội đặt cho) Nguyễn Văn Bộ, người cùng đội, là người láu lỉnh. Một hôm, thấy anh Nghiêm xin nghỉ bệnh, Bộ cũng xin nghỉ theo. Anh ta giả bệnh nằm đắp mền kín đầu, nhưng lắng tai, hé mắt ra khỏi mền để… rình. Anh Nghiêm bị Bộ bắt tại trận, đang ăn cắp trà. Chỉ ăn cắp trà.

Tối hôm ấy, Đội Mộc họp “kiểm thảo”, theo cách sinh hoạt đội của Dziệt Cộng vậy, bàn về việc anh Nghiêm ăn cắp trà. Ai cũng thấy buồn cười!

Hai bên phòng là hai dãy sập hai tầng làm chỗ nằm cho tù. Anh Nghiêm bị kêu ra đứng giữa. Trông anh ta thật tội nghiệp: Già, râu rễ tre lởm chởm, đen, ốm, sợ sệt… Ông đại úy đại đội trưởng của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thủy Quân Lục Chiến, vang danh một thời trong chiến sử Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, nay đứng trước anh em cùng bạn tù với nhau, sao mà hiền vậy?

Anh ở trần vì trong phòng nóng như cái lò, quần xà lỏn: Hai ống chân nhỏ như hai khúc tre già, đen đúa, lắc lư nhè nhẹ vì run trong hai ống quần xà lỏn bạc mầu, vá chùm vá đụp. Anh lập cập nói:

– “Thưa các anh em. Tui có lấy đồ ăn, tôm khô, cá khô gì của anh em đâu! Vợ tôi lâu ngày không lên thăm, tui chỉ thèm trà. Tui hứa từ nay tui có thèm thì tui nhịn, không đụng tới trà của anh em nữa!”

Anh em ai cũng cười. Vậy mà Dương Tiến Đông cũng chưa chịu. Anh còn muốn bày trò “Con nhà võ” của anh. Anh đi tới đi lui, đưa tay đấm vào vách tường rầm rầm mấy cái, nói: “Tui đủ sức chơi anh, nếu anh không chịu chừa.” Nói xong, anh ta lại đấm vào vách mấy cái nữa.

Biết tính Đông, tôi đùa:

– “Thôi! Đủ rồi! Mai tôi không cho dầu bóp tay đau đâu!”

Trịnh Xuân Chính ngồi bên tôi, cũng nói:

– “Thằng quỉ! Dở trò hoài.

Sau đó, không ai còn bị mất trà hay cái gì khác!

Thế nhưng cái tật thèm trà của anh Nghiêm vẫn không hết. Công việc của anh là nấu nước sôi cho toàn đội khi đi lao động ngoài bãi. Nhờ đó, anh thường lén dấu, đem về mấy cục than đen. Tối tối, anh bỏ than vào cái lò nhỏ làm bằng lon thiếc “Sữa SMA”, để nấu nước sôi trong loon Guigoz.

Khi nước sôi, anh la to: “Nước sôi rồi.” Ý của anh là nhắc ai có trà thì lấy nước sôi của anh mà pha. Nhờ đó, anh kiếm được chén trà do anh em mời mà uống cho đỡ thèm.

Đôi khi anh la to “nước sôi” nhưng không ai pha trà cả. Loon nước cứ sôi hoài. Anh lại la to lên một lần nữa, như cố ý nhắc: “Nước sôi lắm rồi nè!”

Cũng chẳng ai pha trà. Thấy tội nghiệp cho anh, đôi khi tôi phải lấy trà ra pha, để tôi và anh có chút trà uống chơi! Đời tù, cũng có những điều vừa tội nghiệp vừa buồn cười!

            Tối thứ bảy, không ai ngủ sớm được. Ngày mai, chủ nhựt, khỏi đi lao động, anh em gặp nhau kể chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện vui cười, đôi khi là những dòng tâm sự không thiếu nước mắt. Thường là chuyện tình ngang trái, dang dở.

            Huỳnh Hà Đông là người vui tính trong đội. Tối nào, có nước trà, anh em mời Đông tới, để anh ta kể chuyện vui.

            Có lần anh ta kể chuyện vui bằng thơ. Người chồng ở lính, nhận thư vợ gởi cho, thư kể chuyện ở nhà các con bị bệnh:

                        Vài lời nhắn gởi bố cái Lôn

                        Cái Lôn đã bớt, cái Lồ… lại sưng

                        Đêm đêm trằn trọc trên giường

                        Nghĩ đi nghĩ lại mà thương thằng Buồi.

            Người chồng viết thư trả lời:

                        Vài hàng nhắn gởi mẹ cái Lôn

                        Ở nhà chăm sóc cái Lồ… cho tôi

                        Chờ khi giấy phép xong rồi,

                        Thì tôi sẽ dẫn thằng Buồi về thăm.

Lôn hay Lồ… hay Buồi là tên “xấu háy”, tục xưa thường đặt tên xấu cho con để “khỏi bị ma bắt.”

            Liêm, anh chàng gầy cao, mặt dài, miệng móm mém như Laurel, cũng đóng góp mấy vần thơ:

Giặc gì giặc đánh lúc canh ba,

Tướng sĩ xông vào phá lũy tra.

Một tướng xông vào nơi hang ổ,

Nhị viên còn đứng ngoại giang hà

Quân ta đối địch cùng quân nó

Nước nó giao hòa với nước ta

Xong trận, lui binh lau khí giái

Mạnh ai nấy thở, hít hì hà.

“Khí giái” là nói theo người xưa, bây giờ là “khí giới”. Giái (có khi là dái), còn nghĩa khác nữa.

            Lê Quang Dung chỉ có một câu chuyện vui. Ấy là chuyện ông Độc Phủ Đại, có cậu con trai trên là Bôn Lành (Paul Lành), cô con gái lớn là Mary Thu Cúc, cô con gái thứ là Josephine Thu Đạm. Dung kể tới đó thì ai nấy đều cười nên câu chuyện vui không có đoạn kết.

            Chuyện tình là chuyện của Trắc với Rolette, chuyện của Báu với “xơ” Kim Chi.

            Đâu phải chỉ có một mình Phạm Thái mới có chuyện tình ngang trái với Trương Quỳnh Như. Trong tù, không ít người tù cải tạo có những chuyện tình đau như thế, đau hơn thế. Dù sao, Phạm Thái, dù có đau đớn như thế nào đi nữa, ông cũng không bị nhà Tây Sơn bỏ tù như anh em chúng tôi. “Tù cải tạo”, tù không có án, làm sao có được chút an bình để bớt lo lắng cho người yêu còn ở ngoài?

Báu phục vụ ở Qui Nhơn. Khi Qui Nhơn sắp di tản, anh phải theo đơn vị, bỏ “xơ” Kim Chi lại, một “bà xơ” bỏ chiếc áo tu hành, yêu Báu “như điên như khùng” mấy năm nay, không cách nào Báu gỡ ra được. Tại sao không gỡ ra được. Trái tim có những lý lẽ của nó, có trời mới hiểu. Khi Dziệt Cộng tấn công vào Qui Nhơn, Báu và đơn vị kẹt trên đèo Cả, “xơ” Kim Chi ở lại Qui Nhơn với cái bụng… bầu.

            Thế rồi Báu vô trại cải tạo, không kịp đi tìm “xơ” Kim Chi để biết cô ta ở đâu, “xơ” sống một mình với cái bụng bầu hay có cha mẹ bên cạnh?

Báu không rõ “xơ” có biết đường tìm về Pleiku với bố mẹ hay không? Khi “xơ” Kim Chi về tới vùng đất đỏ ấy, chắc không còn chi là “Em Pleiku má đỏ môi hồng!”

            Gần tới 30 tháng Tư, Trắc chuẩn bị cho mẹ và vợ con di tản trước. Thế rồi mẹ Trắc, vì “mồ mả ông bà” bèn về Tri Thủy (Phan Rang) thăm mộ một lần chót, và kẹt lại ngoài ấy. Trưa 30 tháng Tư, Trắc không biết chọn con đường nào? Chờ mẹ từ Phan Rang vào hay xuống tầu đi với vợ con và bỏ mẹ lại một mình?

            Trong khi đó thì Rolette, người yêu của Trắc, hy vọng bố ở miền Bắc sẽ về, và cô ta: “Em sẽ được làm vợ của anh” vì vợ Trắc đã xuống tầu ra khơi.

Khi Trắc vào trại cải tạo, anh chỉ nhận được những tin đau lòng. Mẹ anh ở lại quê nhà. Vợ anh lưu lạc nơi đất khách quê người với hai đứa con dại. Bố của Rolette về Nam nhưng cấm cô ta quan hệ với “thằng sĩ quan ngụy nay đời đã xuống tận bùn đen”, như lời ông ta nói. Ông bố bắt con gái phá thai, đem gã cho một anh cán bộ được “chi viện cho miền Nam” hiện đang “công tác ở Kontum”. Kontum, địa danh ấy, trong đời người lính Dù, Trắc từng hành quân ở đó. Trắc quen với núi rừng, nhưng Trắc đau lòng khi biết Rolette đang cố làm quen với khung cảnh núi non trùng điệp ấy.

Khi ở Trại Đá, tôi chọn một chỗ nằm ngay cửa sổ, bên phải là Trắc, bên trái là Báu. Những đêm sáng trăng, trăng chảy lai láng nhiều hơn trăng của Hàn Mặc Tử, nhưng không đem trăng bán cho ai được. Trăng đời thường bán đã không ai mua huống chi trăng tù. Hàn Mặc Tử vì không bán được trăng nên đành chịu chết đói trong cảnh nghèo. Vậy thì chắc chắn không ai mua trăng tù bao giờ!

            Trăng ngoài kia sáng lắm. Trăng rừng. Trăng đồng quê. Trăng trên sông Hương, sông Hậu. Trăng trên bãi biển Vũng Tầu. Chúng tôi nằm dưới trăng, khi trăng lòn qua song sắt để đến với người tù thì tâm hồn người tù cũng bị trăng kéo ra ngoài kia, đưa hồn người tù vượt qua núi cao sông rộng để về đến quê nhà.

Người tù nằm trong song sắt. Hồn người tù ở ngoài song sắt. Hồn người tù theo trăng du lịch ngoài xa, nên người tù không sao ngủ được. Và nỗi nhớ, lai láng như trăng, mềm mại như trăng, êm ái như trăng, làm choáng ngợp tâm hồn kẻ ở trong tù.

            Và cứ thế, những đêm trăng, người tù thả hồn mình đi theo trăng, tới một phương trời vô định nào đó, không cần biết làm chi. Biết để làm gì khi hồn người tù vượt ra ngoài song sắt.

            Trong ánh trăng huyền diệu đó, người tù nghĩ đến một ngày về, mơ một ngày về nhưng biết đến bao giờ…

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 10 Jun 2015 

Post by6 Sơn râu 19 Nov 2023

“Ngàn năm bia miệng”

Bài 20

Sau vụ “Mười ba con ma”, một hôm Công An “biên chế” về “Trại Đá” khoảng hai chục người Thượng, hình như họ bị bắt trong một vụ Fulro (1) nổi loạn.

Toán người Thượng nầy bị sống biệt lập, cái gì cũng biệt lập. Họ ở riêng một nhà giam. Mỗi nhà thường giam ít nhất sáu chục người thì nhà họ chỉ có hai chục người của họ với nhau. Tập trung ở sân trại đi lao động cũng bị Công An bắt ngồi riêng môt góc. Sau khi tất cả các đội bị gọi đi lao động cả rồi mới tới phiên họ đi. Ngày nghỉ, họ bị giam trong sân riêng nhà của họ, không được xuống bếp xin nước hay nấu nướng gì. Vả lại, không thấy ai trong bọn họ được thăm nuôi, lấy gì mà nấu nướng. Có lẽ gia đình họ nghèo lắm!

            Tối lại, sau khi điểm danh xong, họ vào nhà, cửa đóng lại. Phía ngoài cửa gài một cây “song hồng” vừa to vừa nặng, người ở phía trong không sao mở ra được.

            Vậy rồi một buổi sáng, khi cán bộ trực trại đến mở cửa điểm danh thì cửa đã mở sẵn rồi. Nhìn vào trong, chẳng còn “anh Thượng” nào cả. Hình như mấy “anh Thượng” đã “thượng lộ” vào lúc nửa khuya, hai chục người đi hết, chẳng còn ma nào ở lại.

Hai chục người cùng trốn một lần mà không bị lộ. Sao họ tài thế!?

Chưa bao lâu thì có hai người, không nhớ đội nào, thuộc gian nhà gần nhà bếp. Do gia đình thăm nuôi, họ được một cái cưa sắt dài bằng ngón tay. Họ cưa song sắt ở cửa sổ trong phòng đựng đồ, không phải chỉ trong một đêm mà kiên trì nhiều đêm. Cho đến một đêm nào đó thì xong. Thế rồi, họ bẻ cong song sắt, chui ra.

Biết phía ngoài trại có bọn tuần tiểu nên họ nằm chờ ở cái balcon sau cửa hội trường đang xây dở chừng, chờ khi trời gần sáng, toán Công An phục kích ở ngoài rút về, họ mới quăng giây leo qua hàng rào xây bằng gạch lốc, phía trên có rào kẽm gai, đi thẳng vào rừng.

Sáng ra, cán bộ trực trại vào điểm danh, thấy thiếu người, thấy cây song cửa sắt bị bẻ cong, họ mới biết có hai người trốn trại. Khi đó cũng đã trễ, hai người trốn trại đã đi xa lắm rồi.

&

Một hôm, chúng tôi cuốc đất gần ranh giới Trại A cũ. Tuy không thấy nhau rõ, nhưng cũng thấy bóng người xa xa đang cuốc đất bên ấy. Bỗng nhiên, chúng tôi nghe phía bên ấy có tiếng người la, có bóng người chạy sang phía xóm nhà “Kinh Tế Mới.” Rồi nhiều tiếng súng nổ, bóng người chạy ngã xuống. Chắc là trốn trại, bị bắn. Quả thật y như vậy.

Quản giáo Hoành biểu chúng tôi tập họp cuốc và người lại, ngồi quanh bếp lửa, vừa ăn khoai mì vừa chín xong, vừa uống nước. Chúng tôi không nói cười như lệ thường. Cũng theo lệ thường, mỗi khi ra tới rẫy, “Khiêm nấu bếp” mang tới cho vệ binh một “gô” – (“loon” Guygoz) nước trà, cho bọn chúng uống chơi, xong, có thêm một “học viên cải tạo” khác nữa, do Đội Trưởng Đông chọn, đi tới khu trồng mì gần đó, đào một thùng đầy, đem ra suối rửa, lột vỏ, nấu chín.

“Trò” nầy là do Đội Trưởng Dương Tiến Đông bày ra, nhằm “mua chuộc cán bộ”, để chúng tôi cuốc đất tà tà, khỏi nặng nhọc. Tiền mua trà, đôi khi thêm vài cái kẹo nữa, là do “ông Đội Trưởng” của chúng tôi “mua bán linh tinh” với xóm dân ở đầu xóm, trên con đường từ Ga Giá Rai đi Vỏ Đắt, Vỏ Xu.

Anh em chúng tôi khoái cái trò nầy của Dương Tiến Đông lắm. Vừa ít mệt, lại có khoai mì ăn đều đều mỗi ngày.

Hôm nay, chúng tôi vừa sà xuống ăn khoai mì – dĩ nhiên phải có một dĩa “dành riêng cho cán bộ” – thì quản giáo Hoành nói: “Ăn xong về, có lệnh về sớm.”

Có lẽ do vụ trốn trại, có người bị bắn chết, sợ chúng tôi giao động nên cho về sớm đấy. Do được về sớm, nên “Ngọc xùi” vui vẻ nói: “Bữa nay vui quá!”

Anh Lã Trung Tâm nói: “Có người chết mà vui gì! Cái thằng vô tâm nầy!”

Từ lời nói của anh Tâm, nhiều người chê “Ngọc Xùi”, khiến anh ta ra ngồi một góc, mặt buồn hiu.

Thấy vậy, tôi nói với anh Lã Trung Tâm: “Kệ nó anh à. Nó còn trẻ quá, anh rầy nó làm chi!”

Bỗng anh Tâm quay qua cự nự tôi:

– “Mày cũng vậy! Cứ vui đùa hoài.”

Tôi cải lại:

“Chủ nghĩa lạc quan” mà anh. Ở tù Dziệt Cộng nên tìm cái vui mà sống. Rầu rĩ chỉ mau chết thôi. Thiên hạ đặt tên cho anh là “Ông già ham vui” mà anh cự nự tui. Buồn cười không!”

Khi tôi bị chuyển ra Trại C, gặp quản giáo Hoành, đội tôi “dễ thở” hơn, tôi sẽ kể sau.

Hồi còn đi học, giấy mực còn hiếm, nhiều khi tôi xin được giấy pelure do vài người quen ở các công sở cho, đem về đóng sách chơi, hoặc là để chép nhạc, hoặc để làm “Lưu bút ngày xanh” (nghe “mari-sến” dữ), hoặc chép những bài thơ của các thi sĩ thời tiền chiến vì ít ai còn giữ cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân. Chúng tôi thường gọi đùa những học sinh chép thơ là “thi sĩ chép”.

            Tình cờ, quản giáo Hoành biết tôi biết đóng sách, bèn đưa giấy nhờ tôi đóng cho y một cuốn. Đóng một cuốn, tôi được nghỉ lao động ba ngày. Rồi từ Hoành, các tên Công An cũng nhờ tôi đóng sách giùm. Hoành lại cho tôi nghỉ ở nhà đóng sách. Nhờ vậy mà tôi nghỉ ở nhà dài dài.

            Hôm nào ở nhà thì buổi sáng, sau khi tôi chờ bác Hoàng Xưởng “lao động nhẹ” xong, – “lao động nhẹ” là việc làm của mấy ông già, khỏi đi đốn rừng, cuốc đất, ở nhà lo quét nhà, quét sân – tôi và bác Xưởng nấu nước sôi “pha trà uống chơi”.

Bác Hoàng Xưởng là người tôi mang ơn hồi Tết Mậu Thân ở Huế, tôi dắt vợ con “chạy giặc” đến tá túc tại nhà bác ở đường Hàng Me – Huế. Bác ít được thăm nuôi. Nhà có hai con gái và một anh con trai. Anh con trai nầy và hai anh chàng rể đều được “cách mạng đi học tập” hết nên bác gái ở nhà cũng đói meo, nói chi bác trai ở trong tù. Bốn cái cột trụ của gia đình đều tù hết, nên nhà bác Xưởng chỉ còn “hai mái tranh nghèo.” Hai cô con gái bác, tốt nghiệp “Sư phạm Qui Nhơn” đều bỏ nghề ra “bán chợ trời”. Cộng Sản đâu cần cái chất xám của người miền Nam, “hồng hơn chuyên” mà!

            Vậy mà bác Xưởng ít thèm ăn, chỉ thèm uống trà. Sáng nào thấy tôi ở nhà là bác hẹn: “Xong ngay, tôi gặp thầy!” Con trai bác – anh Hoàng Công Lập – là học trò cũ của của tôi, bác gọi thay con.

            Uống trà với bác Xưởng, đã đời rồi, đến khi trà chỉ ra nước trong, tôi mới nhẩn nha lấy giấy, kim chỉ và dao ra đóng sách. Bác Xương ngồi xem.

            Bác ấy nói:

– “Thầy có cái “nghề” nầy cũng đỡ, mà tôi cũng được uống trà chung!”

            Một hôm, đóng xong một cuốn, có bìa làm bằng vải, ngoài bìa có “hoa lá cành”, bác Xưởng nói:

– “Ở trang đầu, sao thầy không cho nó vài câu thơ?”

            Tôi hỏi:

– “Thơ gì bây giờ?”

            Bác Xưởng đọc:

                        “Nhật mộ hương quan hà xứ thị…”

            Tôi đọc tiếp: “Yên ba giang thượng…”

            Rồi tôi lại nói:

– “Bọn nầy biết mà gì về “Cổ Văn”. “Đàn gãy tai trâu”, không như bọn học trò trong Nam hồi trước. Với bọn “Bắc kỳ bảy lăm” là”: Tôi đọc đùa:

                        Cái đài, cái đổng, cái đa,

                 Có ba cái ấy đời ta huy hoàng.

                        Ấy là theo đảng vinh quang,

                 Ấy là theo dấu còn đàng “bác đi.”

            “Bác đi là “bi đát” bác ơi!

            Nghe xong, bác Xưởng và tôi cùng cười.

            Một lúc sau, tôi nói: “Có lẽ tôi cho thằng Hoành vài câu, ở cuốn tôi đóng cho nó. Nó vừa nhờ tôi đóng thêm một cuốn nữa.”

                        Ngồi đây tôi nhớ quê nhà,

                 Nhớ con bướm trắng la đà cuối thôn!

            Hôm đưa cho Hoành câu nầy, tôi nói:

– “Anh có con bạn học hồi nhỏ phải không? “Con bướm trắng” là ý nói con nhỏ đó đấy!”

            Hoành xuýt xoa cám ơn, nói với tôi: “Cô ấy chờ tôi không được, vừa đi lấy chồng, lấy thằng cán bộ huyện.”

            Tôi nói khích:

– “Nó là cán bộ huyện, to hơn anh nên bắt mất “bồ” của anh chớ gì! Đời mà!

            Một hôm, Hoành hỏi đội trưởng Dương Tiến Đông: “Đội anh người nào khéo tay làm bia ximăng được. Phải biết trang trí hoa văn nhé.”

            Dương Tiến Đông nghĩ ngay đến tôi, không phải vì tôi khéo tay mà khéo “bắt chuyện” nên hôm đó tôi được ở nhà, chờ quản giáo Hoành xuống.

            Trước khi đi lao động, Đông dặn tôi:

            – “Anh ở nhà, thằng Hoành xuống gọi anh đi làm bia. Nhớ tìm hiểu coi thằng nào chết, vì sao chết. Hình như tụi nó bị đám người Thượng trốn trại phục kích.”

            Đông nói y như rằng. Tôi được gọi lên khu nhà kho, lãnh ximăng rồi đi kiếm cát và sắt để đúc một tấm bia.

Quản giáo Hoành dẫn tôi đi loanh quanh kiếm vật liệu, rồi tôi lợi dụng việc làm bia để “hỏi thăm”: “Anh nào chết mà còn trẻ, tội nhiệp quá!” Hoành vô tình kể tuốt tuột. Người chết cùng quê với Hoành (nên anh ta đứng ra coi việc dựng bia cho đồng hương. Anh không làm thì chẳng ai làm, như anh ta nói).

Ngay sau khi mấy người Thượng trốn trại, Công An cho một tiểu đội, lên xe hơi lên ngã Định Quán, chận đường về của đám Fulro.

Đám nầy cũng khôn không vừa gì, lại có tài đi rừng của “người rừng”. Đoán chừng Công An sẽ đuổi theo, chận đường về, nên họ phục kích ở con đường dốc nhỏ và hẹp, đi xuống một con suối cạn, giựt được cây súng của tên Công An lẹt đẹt đi sau cùng, dùng súng đó bắn chết một tên Công An khác. Cả tiểu đội Công An hoảng sợ chạy tán loạn. Đám người Thượng kéo nhau đi sâu vào rừng.

Ngày hôm sau, được tăng cường thêm một trung đội nữa, bọn chúng mới dám tiến lên lại chỗ bị phục kích hôm trước, đem xác người chết về. Số người Thượng thì đã mất dấu, vừa khó tìm mà đám Công An cũng vừa lạnh giò.

Tôi vừa làm bia, vừa vẽ hoa văn, viết tên người chết cho đẹp để làm vui lòng Hoành mà khai thác câu chuyện. Dĩ nhiên, chiều hôm đó, câu chuyện được phát thanh bằng “đài mồm” cho anh em trong trại cùng nghe cho vui. Có người chết mà lại có người vui, nghĩ đời cũng buồn cười!

Anh Lã Trung Tâm cự nự tôi:

– “Cái tượng chiến sĩ trước Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa nghe nói bị “tụi nó” giựt sập xuống rồi, còn mày thì đi làm bia cho bọn chúng. Mày ngon dữ há?”

Tôi chống chế bằng cách nói đùa:

– “Tui làm “nhiệm vụ tình báo” mà anh!”

– “Mày tình báo mẹ gì! Nói dốc dữ không?!” Anh Lã Trung Tâm cự nư tiếp.

Tôi kể chuyện bọn Công An bị phục kích và bị bắn chết cho anh Tâm nghe, anh mới chịu im. Một lúc anh nói:

– “Bia gì mà bia! Bia miệng thì sao? Hả?”

Tôi đọc hai câu ca dao:

            “Trăm năm bia đá thì mòn

     Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”

Rồi tôi nói tiếp:

– “Ở đời ai cũng sợ bia miệng cả!”

Anh Lã Trung Tâm lại mai mỉa:

– “Bọn nầy, Trời chúng còn chưa sợ, sá gì “bia miệng” mầy ơi!”

– “Vậy thì sá gì cái bia ximăng mà anh cự nự tui!” Tôi cố biện minh việc mình làm.

hoànglonghải

(1)-FULRO (viết tắt từ Front Uni de Lutte des Races Opprimées, có khi viết là: Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées), trong tiếng Pháp, có nghĩa Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc Tộc bị áp bức) là một tổ chức chính trị, quân sự do một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thành lập năm 1964 để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975