Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 24th, 2020

post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 11

Hiroyoshi Nishizawa là sát thủ kỳ vỹ nhất của Không quân Nhật, đã bắn rơi 103 máy bay Úc-Hoa Kỳ và đi vào lịch sử với hỗn danh “The Demon of Rabaul”. Binh nghiệp ngắn ngủi của Nishizawa mang sự phi lý của chiến tranh: Nishizawa không tử nạn ở vị trí phi công khu trục mà ở vị trí hành khách trong một vận tải cơ cũ kỹ và chậm chạp. Trong chương 11, Sakai phác họa căn cứ Lae và khắc họa chân dung của Nishizawa, cùng với Toshio Ota, là thành viên của “Bộ 3 Quét sạch” lừng danh. The famed “Cleanup Trio”…  [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 11

Chương 11

Ðầu tháng Tư, 30 phi công trong nhóm chúng tôi, thuộc Không đoàn Ðài Nam, được thuyên chuyển đến một căn cứ mới vừa đánh chiếm ở Lae, nằm trên bờ biển phía Ðông New Guinea, chỉ cách quân cảng Úc Port Moresby 300 cây số. Ðại tá Masahisa Saito trách nhiệm căn cứ mới này.

Vào ngày 8 tháng 4-1942, với 8 phi công khác, tôi bay đến Lae. Khi bay quần trên phi trường, tôi không nhìn thấy đâu là nhà chứa phi cơ, cơ xưởng bảo trì, đài kiểm soát. Tất cả chỉ là một đường băng nhỏ bé, dơ bẩn, và giống như sàn đáp trên một chiếc hàng không mẫu hạm. Ba mặt của phi đạo bao quanh bởi dãy núi chớn chở của bán đảo Papua. Mặt thứ tư, tức mặt tôi đang tiến đến, là đại dương bao la. Hai mươi mốt phi công khác đã đến đây trước, đứng chờ chúng tôi ở cuối phi đạo. Honda và Yonekawa, hai đồng đội bên cánh của tôi ở mặt trận Java, đón tiếp nồng hậu: “Chào mừng anh đến Lae! Sakai! Căn cứ lộng lẫy nhất thế giới vui sướng tiếp nhận các anh!” Tôi nhìn cả hai, hồ nghi. Theo thói quen, họ bỡn cợt thích thú. Tôi thán phục óc hài hước của họ trong ổ chuột đầy bùn ở chốn tận cùng thế giới này. Phi đạo dài chưa đến 900 thước, chạy từ góc phải của sườn núi xuống tận mé biển. Ngay cạnh bãi biển là một phân xưởng sửa chữa nhỏ, lỗ chỗ đạn và đầy mảnh bom. Ba vận tải cơ Úc nằm bừa bãi bên trong, và dụng cụ bị phá hủy rải rác khắp nơi. Ðây là vết tích do phi cơ chúng tôi gây ra trong cuộc đổ bộ một tháng trước đây. Phi trường Lae được Úc thiết lập sát núi để không vận đồ tiếp tế và quặng vàng lấy được ở mỏ Kokoda, nằm sâu bên trong dãy Owen-Stanley. Vì không cách chi vào đến mỏ bằng đường bộ, do phải băng qua rừng núi ẩm thấp với nhiều vực sâu. Máy bay là phương tiện duy nhứt giúp tải vàng ra.

Hải cảng ở đây cũng hoang tàn không kém sân bay. Một chiếc tàu buôn 500 tấn của Úc nằm gí trong bùn, gần cầu tàu, chỉ có cột buồm ló lên khỏi mặt nước đặc sệt đục lờ lợ. Tôi nhận thấy phi trường Lae còn tồi tệ hơn phi trường Rabaul hoặc ngay cả những phi trường tiền phương ở Trung Hoa.

Tuy nhiên không có gì có thể cầm nỗi vui sướng của Trung sĩ Honda. “Tin đi, Saburo! Anh đang ở vùng đất săn tuyệt vời nhất trên trái đất! Ðừng chú ý đến rừng rậm và dáng dấp sơ sài của căn cứ. Tôi nói thực, không nơi nào bằng chốn này, giúp chúng ta ghi thêm bàn thắng vì máy bay địch ở đây rất đông!” Honda cười tươi rói. Hắn nói với giọng nghiêm trang không đùa bỡn. Honda hài lòng thực sự, hắn kể lại các hoạt động của những ngày trước khi chúng tôi đến. Vào ngày 5 tháng 4-1942, 4 chiếc Zéro cất cánh từ Lae, hộ tống 7 oanh tạc cơ Betty tấn công quân cảng Moresby và bắn rơi 2 chiến đấu cơ địch. Ðổi lại, một chiếc Zéro bị mất. Vào ngày kế đó, cùng một số Zéro đó cất cánh, nhưng lần này bắn rơi đến 5 phi cơ địch. Ngày hôm sau, 7 tháng 4, hai chiếc Zéro nghinh chiến 3 oanh tạc cơ địch trên không phận Salamaua và rượt theo bắn rơi hai chiếc. Các xạ thủ địch hạ một chiếc Zéro của chúng tôi. Quả là hào hứng!

Ðối với Honda, phi vụ là quan trọng nhứt trong cuộc sống. Kể cả phải sống trong hang chuột, miễn sao có thể bay và bắn. Chiều hôm đó, chúng tôi tập họp trong Bộ chỉ huy Phi đoàn để nghe thuyết trình. Tôi sử dụng mấy tiếng “Bộ chỉ huy” có vẻ hơi lớn lối để chỉ một căn nhà không có vách tường. Vách, màn che và mấy cánh cửa đều bằng chiếu. Căn phòng chỉ vừa đủ để nhét 30 phi công, chính giữa là chiếc bàn to lớn, đơn sơ, làm bằng cây thông. Vài cây đèn cầy và một cây đèn dầu soi sáng căn phòng. Ðiện thoại chạy bằng pin.

Sau khi nghe Ðại tá Saito thuyết trình, chúng tôi về chỗ ở. Trên đường đi, Trung sĩ Yonekawa chỉ cho tôi những cơ sở của căn cứ. Có tổng cộng 3 chiếc xe hơi, 1 chiếc Ford rỉ sét, 1 xe vận tải cũ nát và 1 xe bồn chứa xăng… Ba món đồ cổ ấy là tất cả phương tiện “nặng” của Lae. Không có lấy một nhà chứa máy bay. Cũng không có đài kiểm soát không lưu. Nỗi thất vọng sâu xa của tôi không hề làm giảm nét mặt rạng rỡ của Honda và Yonekawa. Honda vác túi ba-lô cho tôi, vừa đi vừa hát, trong lúc Yonekawa tiếp tục giảng giải: Có hai trăm thủy binh đảm trách các vị trí phòng không tọa lạc phía bên kia phi đạo. Ðó là lực lượng trú phòng cho cả nơi này, cộng thêm 200 cơ khí viên với nhân viên bảo trì và 30 phi công.

Trong suốt thời gian chúng tôi ở đây và cho đến khi Lae bị Ðồng Minh tái chiếm vào năm 1943, không một dự tính nào nhằm cải thiện tiện nghi cho chúng tôi, và cũng không có lực lượng tăng viện nào khác được đưa đến. Chỗ ở của chúng tôi và sĩ quan không khác gì nhau. Chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và một phụ tá ở chung trong một căn nhà nhỏ nối liền với cư xá sĩ quan. Trong khi căn cứ Rabaul mướn một số dân địa phương làm tạp dịch, ở căn cứ Lae không có chuyện này. Làng gần nhứt cách đây hai dặm. Không thể bắt dân làng phơi lưng dưới họng súng của phi cơ địch đến tấn công hầu như mỗi ngày.

23 hạ sĩ quan phi công cư trú trong một doanh trại rộng 6 thước và dài 10 thước. Chính giữa là một mặt phản lớn dùng làm bàn tiện ích cho mọi chuyện, từ cơm nước cho đến đọc sách và viết thơ. Chung quanh là những dãy giường từng chồng chất. Vài ngọn bạch lạp cho ánh sáng leo lét vào ban đêm. Tòa nhà xây cất theo kiểu nhà sàn nhiệt đới với sàn gỗ cao 1 thước rưỡi trên mặt đất ẩm ướt. Một cầu thang lung lay để leo lên. Phía sau là bồn trữ nước. Chúng tôi cấp tốc cưa một phuy xăng rỗng để làm buồng tắm. Như thế, ít nhất chúng tôi cũng cần kiệm theo đúng cung cách tiết chế truyền thống của quốc gia. Các hộp sắt đựng xăng trong cánh máy bay cũng giúp chúng tôi tân tạo thành tô chén và nồi niêu dã chiến. Chúng tôi hoàn toàn thiếu mọi vật dụng.

Một tà lọt phụ trách hỏa đầu quân. Một nhiệm vụ khó khăn vì phải chuẩn bị 70 suất ăn cho ba buổi sáng, trưa, chiều vào mỗi ngày. Chuyện giặt giũ thì mỗi người tự lo lấy. Cho đến những tuần lễ chót cùng khi chúng tôi ở Lae, ngay cả với cường độ không chiến khốc liệt, tất cả các phi công đều tâm niệm giặt quần áo và đồ lót của mình hàng ngày. Chúng tôi chấp nhận sinh sống dưới đáy phuy hèn mọn nhưng không ai muốn mình trở nên cáu bẩn.

Cạnh dãy phụ tùng tái chế, chúng tôi đào một hầm trú bom. Mỗi khi máy bay địch xuất hiện bất thình lình, căn hầm khiêm nhường ấy vụt chen chúc đủ hạng người chạy vội vàng từ khắp nơi, từ nhà ngủ, nhà tắm, thậm chí nhà xí để chui xuống trú ẩn!

Doanh trại chúng tôi nằm cách phi đạo 500 thước về phía Ðông và để ra sân bay, chúng tôi phải cuốc bộ hoặc chạy khi khẩn cấp. Chỉ có các phi công được chỉ định trực chiến, phải cất cánh tức thời khi có báo động là có xe đưa rước. Là chiếc Ford cũ mèm có ống pô bể kêu inh ỏi!

Cư xá sĩ quan nằm phía Ðông Bắc sân bay, cùng khoảng cách và cùng một kiểu nhà sàn không khác mấy với doanh trại chúng tôi. Tiện nghi duy nhất, so với phía hạ sĩ quan, là cấp số sĩ quan không quá mười người nên rộng rãi hơn. Riêng chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và trưởng ban quân thư thì trú trong một căn nhỏ sát bên cư xá sĩ quan.

Ðó là căn cứ Lae, tiền đồn của Hải quân Hoàng gia Nhựt. Ðiều kiện sống không có gì mỹ mãn. Thức ăn tồi tệ, công việc hàng ngày nặng nhọc và đơn điệu. Chúng tôi không có câu lạc bộ quân đội, không có bất cứ một giải trí nào khác. Ðàn bà? Ở Lae, mọi người đều hỏi: “Ðàn bà là sinh vật ra sao?”

Tuy nhiên, tinh thần của chúng tôi rất cao. Chắc chắn chúng tôi thiếu tiện nghi và vật chất, ngay cả một số tiện nghi thiết yếu nhứt, trong đời sống hàng ngày, nhưng chúng tôi không lấy đó làm phàn nàn. Chúng tôi không có một đòi hỏi riêng tư nào ngoài đòi hỏi được chiến đấu. Phi công ở Lae không giống như phi công ở những căn cứ khác. Mỗi chúng tôi đều là thành phần chọn lọc của Không lực Hải quân. Các sĩ quan của chúng tôi cũng được chọn trong số những người “chỉ thích ấn tay vào cò súng” trên một chiếc Zéro.

Vào ngày 11 tháng 4, tôi va chạm trở lại với thực tế chiến trường. Một ngày may mắn, vì tôi hạ 2 máy bay địch trong cùng một ngày. Sau gần hai tháng bắt buộc nằm lì trên mặt đất, được bay trở lại làm tôi phấn kích. Ngày hôm trước, 10 tháng 4, tôi không được sắp xếp ứng chiến nên phải ở lại mặt đất trong khi những phi công khác vui hưởng một ngày chiến đấu. Sáu chiếc Zéro hộ tống bảy oanh tạc cơ Betty bay đến Moresby, đã bắn rơi hai oanh tạc cơ địch đang cố cất cánh để rời phi trường ở đó. Cùng ngày, ba chiếc Zéro khác cũng trực chỉ Salamaua và bắn rơi một oanh tạc cơ địch, cùng gây hư hại cho nhiều chiếc khác.

Phi vụ của tôi vào ngày 11 là một phi vụ thám thính. Cùng với 8 chiến đấu cơ Zéro khác mới vừa đến Lae, chúng tôi cất cánh và bay thành nhóm theo đội hình chữ V hướng về Port Moresby. Sau đó, dãy núi Owen-Stanley sừng sững trước mặt chúng tôi, cao hơn mặt biển 4,000 thước. Mặc dù dãy núi cao chớn chở như vậy, trên đỉnh không có một đám mây nào vướng vất, và dốc thẳng đứng giống như những bức tường vĩ đại mọc đầy cây cối. Không một vết tuyết. Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bốn mươi phút sau khi cất cánh từ Lae, căn cứ Moresby đã nằm phía dưới chúng tôi. Tôi có thể nhìn thấy nhiều phi cơ đủ loại trên mặt đất. Nhân viên địch chạy tán loạn vào các hầm trú ẩn. Súng phòng không im tiếng vì dĩ nhiên chúng tôi bay quá tầm hoả lực cao xạ của đối phương. Chúng tôi có thể đạt được kết quả nếu tấn công ngay vào các phi cơ đậu trên mặt đất. Nhưng theo chỉ thị, đây chỉ là một phi vụ thám thính, ngoại trừ không chiến chúng tôi không được phép tấn kích.

Chúng tôi lướt qua Moresby và vòng ra biển San Hô sau đó quay lại lối cũ một lần nữa, lướt ngang qua căn cứ địch. Chúng tôi ngạc nhiên khi nhận thấy hình như các xạ thủ cao xạ và phi công địch không hay biết có sự hiện diện của chúng tôi, nên họ không đưa ra một kháng cự nào.

Chúng tôi lướt qua phi trường. Lần này mặt trời ập đến từ phía sau lưng. Lúc bay thật chậm, chúng tôi phát hiện bốn chiến đấu cơ P39, loại Airacobra mà tôi gặp lần đầu tiên. Bốn phi cơ này hầu như bay cách ngay phía trước chúng tôi 3 dặm, và đang tiến thẳng đến, nhưng chúng tôi không hiểu có bị phát hiện hay chưa. Tôi quăng bình xăng phụ và tăng gia tốc, với hai đồng đội bay sát cánh. Tôi lướt dọc theo phi cơ chỉ huy, báo hiệu cho Ðại úy Sasai biết sự phát hiện địch của mình và yêu cầu che cho chúng tôi tấn công. Ông nắm tay đưa về phía trước. “Tiến! Chúng tôi sẽ che cho anh.” Tuy nhiên chưa thấy động tĩnh của mấy chiếc Airacobra. May mắn cho chúng tôi, lúc ấy mặt trời chiếu thẳng vô phi cơ địch nên các phi công Mỹ không nhìn thấy chúng tôi bay đến. Phi cơ địch chia làm hai cặp, bay trước và bay sau, cách khoảng 300 thước.

Tôi để Honda bay phía sau và trên tôi, trong khi Yonekawa ít kinh nghiệm hơn bay ngay phía dưới tôi. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn cách phi cơ địch 500 thước, chếch về bên trái một chút. Chúng tôi sẵn sàng đánh trong vài giây nữa. Nếu phi công địch vẫn bị mặt trời làm cho mù loà, chúng tôi có thể hạ gục họ trước khi họ kịp nhận ra chúng tôi. Thay vì tiến sát lại và chúi xuống để tấn công, chúng tôi hạ thấp rồi xoay trở lại thật ngặt. Honda và Yonekawa theo sát tôi bên cánh.

Hai chiến đấu cơ địch bay sau chót bây giờ ở ngay trên đầu tôi, vẫn không biết có sự hiện diện của chúng tôi. Tôi nâng khoảng cách gần lại, rồi còn chừng 50 thước, tôi nghiêng thân và bấm cò đại bác, quy tất cả hoả lực vào thân phi cơ địch. Những mảnh kim khí vỡ ra, bể tan và bay túa trên không, một dòng khói và lửa kéo thành vệt dài về phía sau.

Tôi quay các họng súng về phía chiếc P39 thứ nhì. Một lần nữa, những viên đạn soi thủng thân phi cơ, nổ bên trong và xé chiếc phi cơ thành từng mảnh. Cả hai chiếc P39 cùng rớt thẳng đứng, ngay tràng đạn đầu.

Tôi lướt ra ngoài và xoay ngay lại, chuẩn bị khai hoả trực tiếp vào hai chiếc P39 dẫn đầu. Nhưng trận đánh đã kết thúc! Cả hai chiếc P39 còn lại lảo đảo chúi xuống mặt đất, kéo dài hai vệt lửa với khói dày đặc. Phi tuần Zéro theo sau tôi đã mau tay hơn tôi tưởng. Tôi nhìn thấy chiếc Zéro của Hiroyoshi Nishizawa đang lấy đà vượt lên. Chiếc Zéro  thứ hai hạ đối thủ với chỉ một viên đại bác, do Toshio Ota lái, vừa lấy lại thăng bằng sau khi lướt thẳng lên để trở lại đội hình như cũ. Nhanh nhẹn và khéo léo.

Không ngờ trận đánh chấm dứt chỉ trong vòng năm giây, với bốn chiếc Airacobra trở thành bốn mảnh vụn trên mặt đất phía dưới kia. Ðiều đáng ghi nhận là cả hai đồng đội vừa ghi điểm của tôi: Nishizawa, 23 tuổi và Ota chỉ mới 20 tuổi. Như đã nói trước đây, các phi công ở Lae đều là thành phần chọn lọc. Ðể được lựa chọn, tài năng phi hành của họ phải vượt bực. Ða số chúng tôi đều là phi công kỳ cựu. Nishizawa và Ota chỉ là những người chân ướt chân ráo, cần phải học hỏi thêm nhiều, tuy nhiên họ sớm trở thành những phi công hàng đầu của phi đoàn Lae, hạ trên nhiều mươi phi cơ địch. Chúng tôi thường bay chung với nhau, và được các phi công khác gọi là “Bộ ba quét sạch”.

Ghi chú Quân sự: 

Khu trục cơ Bell P39 Airacobra trang bị động cơ 1,200 mã lực, vận tốc tối đa 539 km/h, hỏa lực: 1 đại bác 37 ly và 4 đại liên 12 ly 7. Cao độ tối đa 9,784 m. Đường kính hoạt động: 1,111 km. 230 kg bom dưới cánh.

P39 và phiên bản cải tiến P63 Airacobra về sau trang bị cho Không đoàn Chiến thuật Bắc phần GATAC-Nord của Không quân Pháp tại Việt Nam và được sử dụng như phóng pháo cơ yểm trợ bộ binh. Tuy nhiên trọng lượng bom quá ít đã không thể ngăn các tấn công biển người của Việt Minh.

Không nên nhầm lẫn P39 Airacobra với khu trục cơ Curtiss P40 Warhawk đầu cá mập. P40 có vận tốc 585 km/h bay nhanh hơn P39 nhưng hỏa lực yếu hơn.

Ðối với tôi, Nishizawa và Ota có năng khiếu thiên bẩm. Cả hai không lái máy bay mà sống với phi cơ của họ, giống như chính thân thể của họ đã nhập một với khối kim loại, làm thành một tập hợp cơ khí vừa biết suy nghĩ. Cả hai sẽ thành những phi công tài ba lập nhiều chiến công của Nhựt Bản. Với họ, đời sống chỉ có ý nghĩa một khi có những phi vụ và mọi thứ phải phục vụ cho không chiến. Tài năng của cả hai sẽ giúp cho họ trở nên dũng mãnh ngay cả sau này khi phải đối đầu với những khu trục cơ tối tân hơn của kẻ thù, như chúng tôi sẽ chạm trán, họ vẫn đủ sức chiến thắng cho dù địch thủ đông hơn.

Hiroyoshi Nishizawa nhanh chóng trở nên Sát tinh tài giỏi nhứt, tuy hắn không có dáng vẻ anh hùng. Nhìn hắn, cảm giác đầu tiên là chừng như hắn vừa rời khỏi giường bịnh. So với dân Nhựt, chiều cao của hắn là quá khổ, 1 thước 75, nhưng hắn lại gầy đét vì chỉ cân nặng 64 ký. Ba sườn hắn lòi ra ngoài và rất thường xuyên hắn hay bị các chứng biểu bì nhiệt đới với sốt rét hành. Hầu như lúc nào gương mặt hắn cũng xanh tái. Mặc dầu được các đồng đội tôn sùng nhưng Nishizawa lại ít bạn thân. Hắn ẩn núp sau lớp vỏ kín đáo lạnh lùng gần như không cho ai xâm nhập. Hắn có thể không nói một câu nào trong nhiều ngày liền và cũng không màng đối đáp với những ai mở lời thăm hỏi, cho dù là những người sống ngay cạnh cùng bay với hắn. Chúng tôi đành chấp nhận nhìn hắn đi lững thững đơn độc, im lặng xa xăm như một kẻ chịu ruồng rẫy đang mất hút vào trong khoảng sâu tối riêng rẽ của mình, tuy ngoài đời hắn được tôn thờ như một thần tượng. Nishizawa là một phi công toàn phần, hắn chỉ sống và thở để bay bổng và cất cánh vì hai lý do: chiếm hữu lấy cảm giác vui sướng kỳ lạ khi du hành lên vương quốc của những vì sao và thỏa mãn đam mê không chiến. Ngay khi bay lên khỏi mặt đất, cá tánh lãnh đạm kỳ quặc của hắn biến đổi tức thì. Sự im lặng khép kín, xem thường đồng loại của hắn biến hóa như đêm vụt trở thành ngày. Với các phi công bay chung phi tuần, hắn trở thành “Ác quỷ”.  Trên không, những quyết định của hắn khó dự báo. Hắn trở nên một thi sĩ tài hoa, một thiên tài biết khởi động cỗ máy như một món đồ chơi; chỉ cần hắn vuốt nhẹ cần lái. Tôi chưa từng thấy một phi công nào bay lượn như Nishizawa. Nhịp điệu đáng kinh ngạc của hắn, vừa chính xác, hoàn toàn bất ngờ và vừa gây sợ hãi cho ai chiêm ngưỡng. Ðôi khi hắn thực hiện những pha lộn nhào không thể tin vào mắt. Một loài chim ưng thật sự mà không bất kỳ loài chim trời nào có thể bắt chước. Thị giác của hắn cũng thực phi thường. Trong lúc mọi chúng tôi chỉ thấy bầu trời trống rỗng, Nishizawa, với trực quan siêu phàm nhận ra những chấm đen xa tít là phi cơ địch. Trong suốt binh nghiệp Nishizawa chưa từng để bị tấn công bất ngờ lần nào. Hắn xứng với danh “Ác quỷ”. Một Satan vạn năng giữa trời mây xanh ngắt, làm cho những phi công khác, kể cả tôi, phải ao ước thèm muốn thiên bẩm của hắn.

Toshio Ota ngược lại, là phản đề sống động của Nishizawa. Trẻ trung, sáng láng và vui nhộn, hắn luôn sẵn sàng tham gia các trò chơi của nhóm; bỡn cợt phá bĩnh nhưng vẫn chu đáo trợ giúp những ai cần đến hắn, trên không cũng như dưới đất. Cao to và cân nặng hơn tôi, Ota chưa nhiều kinh nghiệm trận mạc khi mới đến Lae và mặc dù sự phấn chấn với dáng dấp tương phản hẳn với Nishizawa, tài năng phi hành của Ota nhanh chóng được trọng dụng. Mỗi khi phi đoàn trưởng xuất kích, hắn luôn được chọn làm phi công bảo vệ bên cánh.

Ota không giống hình ảnh những anh hùng cổ điển. Cười đùa dễ dãi, kết bạn nhanh chóng… Hào quang của một vị thần sớm được sùng bái không đi với hắn. Tôi chắc mẩm chốn thích hợp cho hắn phải là những tửu lầu sang cả về đêm thay vì căn cứ Lae khốn khổ! Tuy nhiên, sự thân mật với các đồng đội không ngăn Ota được toàn phi đoàn nể phục, nhờ vào tài không chiến ngoại hạng của hắn. Ngay cả những phi công thô ráp như Trung sĩ Honda cũng kính trọng Ota, trong lúc Honda và Yonekawa đều cùng e dè và hay tìm cách né “Ác quỷ”.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 16th, 2020

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 10

“Flying Ace” trong tiếng Anh hay “As” trong tiếng Pháp là một thuật ngữ ám chỉ những phi công lập chiến tích bắn hạ nhiều máy bay đối phương. Tiếng Việt XHCN dịch là “phi công Ách chủ bài”. Trước 75 trong Nam, Nguyễn Nhược Nghiễm dịch là “Sát tinh”, một lối dịch uyên bác và không thô thiển.

Oanh tạc cơ Martin B26 Marauder

Làm cách nào xác định việc một phi công bắn rơi một máy bay địch? Vào thời kỳ chưa có camera, radar và satelite, chiến tích phải được chứng nhận bởi ít nhất hai phi công khác với điều kiện máy bay đối phương phải phát nổ hoặc đâm xuống biển. Trường hợp máy bay địch trúng đạn, bốc khói nhưng không rơi, không tính.

Saburo Sakai được công nhận bắn hạ chính thức 64 phi cơ Đồng Minh, đứng thứ 5 ở vị trí sát tinh oanh liệt và là phi công nhiều chiến thắng thứ nhì còn sống sót của Nhật Bản. So với Không quân Đức, thành tích của Sakai có vẻ khiêm tốn bên cạnh Erich Hartmann đã bắn hạ 352 máy bay Nga… Tuy nhiên Sakai vẫn được xem là phi công lỗi lạc, chính vì ngoại trừ 3 phi cơ Nga đầu tiên bắn hạ trên đất Trung Hoa, tất cả những chiến công còn lại của Sakai đều là những chiến đấu cơ tối tân của Anh và Hoa Kỳ. Trên bảng trận liệt, phi công Mỹ tài ba nhất là Thiếu tá Richard Bong chỉ ghi được 40 chiến thắng. Không phải vì phi công Mỹ kém tài nhưng vì tần suất phi vụ ít hơn rất nhiều so với phi công khối Trục, do Không quân Hoa Kỳ nhiều phi công và nhiều máy bay, cũng như lịch công tác luôn được cách quãng với các hoa tiêu liên tục luân chuyển nhằm giữ thể chất, sức khỏe và sự minh mẫn.

Vào thời điểm tháng 3-1942 khi nhận lệnh ra căn cứ Rabaul, Sakai đã dần trở thành một Sát tinh. Chỉ riêng trong các trận Java và Bornéo trên không trung Nam-Dương (Indonesia), Sakai đã hạ 13 máy bay Anh, Úc và Hòa Lan, thêm vào 6 máy bay Mỹ bắn rơi ở Phi Luật Tân. Thành tích này khiến anh bắt đầu được thượng cấp chú ý.

Ở vị trí tiền tuyến cực Nam của Nhật Bản, Rabaul là thủ phủ của New Britain, một đảo nằm sát New Ireland, thuộc cai quản của Úc trong khuôn khổ Khối Thịnh Vượng Chung. Chiếm Rabaul, kế hoạch của Nhật là dùng Rabaul làm trạm xuất phát đánh chiếm Lae trên đảo New Guinea, rồi từ Lae không kích Port Moresby là pháo đài cuối cùng chống giữ Úc châu.

The Royal Australian Air Force (RAAF) và The Fifth Air Force (USAAF) sẽ tung các Fighter Squadrons, Pursuit Squadrons và Bombardment Squadrons tấn công phi đoàn (*) của Sakai để bảo vệ Queensland. Những chương sắp đến, là thời gian hiển hách nhất của Sakai.. [Trần Vũ]

(*) Đơn vị gốc của Sakai là Không đoàn Đài Nam bao gồm Liên Phi đoàn Hán Khẩu, Liên Phi đoàn Đài Nam và Liên Phi đoàn Đông Dương. USAAF phân biệt Fighter Squadron là Phi đoàn Khu trục nhằm tấn công chiến đấu cơ đối phương và Pursuit Squadron là Phi đoàn Săn giặc (Interceptor) đánh chặn oanh tạc cơ địch.

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Ðầu tháng 3 năm 1942, 150 phi công của Không đoàn Ðài Nam trú đóng rải rác trong một khu vực rộng lớn ở Phi Luật Tân và Nam-Dương được tập trung về Bali, phía Ðông Java. Việc chiếm giữ toàn thể xứ Nam-Dương hình như không còn xa nữa. Một đại đội bộ binh Nhựt là lực lượng trấn đóng cả hòn đảo Bali. Nói “chiếm đóng” không mấy thích hợp vì dân bản xứ tỏ ra thân thiện với chúng tôi. Bali giống như một thiên đường với khí hậu tuyệt diệu cùng cảnh sắc tươi đẹp. Tôi chưa từng thấy một nơi nào như vậy ở Thái Bình Dương. Cây cối xanh ngắt vây lấy sân bay và chúng tôi thích thú tìm ra nhiều nguồn suối nước nóng. Thời gian này ít phi vụ nên mỗi chúng tôi tận hưởng những thú vui cá nhân cho riêng mình.

Một buổi trưa, đang trong câu lạc bộ chúng tôi bỗng nghe vang lên tiếng cánh quạt của một phi cơ lớn, có vẻ như đang đến gần phi đạo. Một phi công đang đứng sát cửa sổ, quay lại, trợn mắt la lớn: “Báo động! Oanh tạc cơ B17!” Chúng tôi liền nhào ra ngoài và bàng hoàng. Không sai chút nào. Ðúng là một pháo đài bay B17 khổng lồ đã thả bánh xe, bật liếp thắng, giảm tốc độ và bắt đầu hạ cánh. Tôi dụi mắt vì quang cảnh thực khó tin. Chiếc B17 đến từ đâu? Một khoảnh khắc sau, chiếc máy bay 4 động cơ to đùng đã chạm đất. Các bánh xe tung xốc lên với tiếng phanh rít chói tai. Cả nhóm chúng tôi đồng loạt nhảy xổ đến, cực kích động vì sắp có thể khảo sát tường tận mọi chi tiết của chiếc máy bay bất ngờ rơi vào tay.

Một tràng đại liên nổ vang khi đó, khiến chúng tôi phải nằm bẹp gí xuống đất. Ðơn vị phòng không Nhựt đang khai hỏa! Chiếc B17 chưa hoàn toàn bị bắt sống. Phi công địch đáp nhầm căn cứ và một tên đần đã cho cao xạ bắn liên thanh trước khi máy bay địch dừng hẳn. Khẩu trọng liên chưa kịp nhả hết băng đạn thì 4 động cơ đã rú lên như sấm. Phi công địch xả hết tốc lực, chiếc máy bay tăng gia tốc làm tung mù bụi rồi bất thình lình nhấc bổng lên không và biến mất trong mây.

Chúng tôi đứng như trời trồng, chua chát và choáng váng như vừa bị đấm. Ông trời vừa ban tặng cho chúng tôi một pháo đài bay mới tinh, vậy mà một tay xạ thủ đại xuẩn ngốc đã quá nóng nảy cướp đi may mắn kỳ diệu này! Nhiều kẻ nóng tính trong chúng tôi, không còn kềm chế được nữa, hét vang: “Ð.M, mấy thằng chó đẻ bắn cái gì vậy?” Sự giận dữ này là do lúc ấy tất cả các phi công chúng tôi đều xem loại pháo đài bay này là con mồi quý giá nhứt.

“Ai chó đẻ?” Một trung sĩ của cánh cao xạ bất bình, tiến ra. Viên trung sĩ gầm lên: “Chuyện gì? Ðây là phi cơ địch. Mệnh lệnh là bắn hạ máy bay địch chứ không tiếp đón bằng nghi lễ!”

Chúng tôi đã phải ngăn những đồng đội quá phẫn uất, đã muốn chém đứt đôi viên trung sĩ ngay tại chỗ. Một trung úy đội trưởng Phân đội Phòng không chạy đến. Sau khi nghe chuyện, viên trung úy cúi gập lưng xin lỗi với đầy lúng túng… Tuần lễ trôi qua, sự căng thẳng giữa phi công hải quân và binh sĩ phòng thủ gia tăng mạnh mẽ. Chúng tôi không có phi vụ chiến đấu nào trong giai đoạn này, do đó chúng tôi dễ sanh ra bực bội.

Tình trạng này bùng vỡ vào một đêm khi Trung sĩ Honda đánh nhau với hai binh sĩ bộ binh. Tôi can Honda, nhưng vô ích. Thêm nhiều binh sĩ khác ùa vào, Honda bất chấp. Vừa lúc ấy viên trung úy bộ binh hôm trước bước ra can thiệp, đuổi lính của ông ta về doanh trại. Không nói một lời nào với chúng tôi, nhưng tôi nghe ông ta chửi rủa: “Ðồ ngu, các anh ở đây là để đánh với địch quân, không phải với người cùng quê hương xứ sở. Những phi công này, mỗi người đều là một Samurai, họ không thích làm gì khác hơn là đánh nhau.”

Sáng hôm sau viên trung úy bước vô câu lạc bộ. Trái với dự đoán của chúng tôi, ông ta mỉm cười nói: “Thưa quý vị, tôi hân hạnh báo tin cho quý vị biết quân phòng ngự ở Bandung đã túm được một chiếc B17 còn nguyên vẹn, có thể bay được.” Chúng tôi ồ lên vui vẻ: Một chiếc B17 có thể bay được! Viên trung úy khoát tay: “Không may, Ðông-Kinh đã ra lịnh gởi chiếc oanh tạc cơ này về Nhựt lập tức. Tin tức này tôi chỉ nhận được ngay khi chiếc B17 cất cánh bay về quê nhà vào sáng nay.”

Tiếng càu nhàu thất vọng trổi lên khi mọi người nghe tin cuối cùng này. Viên trung úy vội vã nói: “Tuy nhiên tôi bảo đảm với quý vị là tôi sẽ cung cấp cho quý vị tin tức càng nhiều càng tốt về chiếc phi cơ bị bắt giữ này.”

Chúng tôi không chút ảo tưởng nào; sẽ không bao giờ chúng tôi còn biết tin về chiếc B17 bị bắt sống; giữa Hải quân và Lục quân, bàn tay trái không khi nào biết bàn tay mặt làm gì!

Một tuần lễ trôi qua, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất. Ngay cả không khí yên bình ở Bali cũng đè nặng lên chúng tôi. Nếu ở hoàn cảnh khác, có lẽ chúng tôi sẽ vui sướng hưởng sự nhàn rỗi này nhưng chúng tôi đến đây là để chiến đấu. Nhiều năm nay chúng tôi đâu làm gì khác hơn là học hỏi chiến tranh, tất cả những gì chúng tôi muốn là được trả về không trung.

Thế rồi một buổi sáng, một phi công chạy ùa vô chỗ ở của chúng tôi với tin giựt gân. Thật là choáng! Ðó là tin đồn, hình như chúng tôi sắp được gởi trở về Nhựt! Mọi người bắt đầu tính sổ thời gian ở hải ngoại của mình. Tôi tin, cũng như những người khác, một khi về đến quê hương thế nào tôi cũng sẽ được nghỉ phép. Tôi rời Nhựt Bản tháng 5 năm 1938, và ngoài một năm nằm điều trị các vết thương, tính ra tôi đã ở nước ngoài được 35 tháng. Khi nghĩ sẽ được gặp lại gia đình, nỗi nhớ nhà trong tôi bỗng nhiên thống thiết. Tôi dành hết thì giờ vào mỗi buổi chiều để đọc thơ của má tôi và của Fujiko. Họ viết dài dòng về buổi lễ tưng bừng ở quê hương khi Tân Gia Ba rơi vào tay Nhựt, và những buổi lễ chào mừng các chiến thắng liên tục khác của chúng tôi. Cả nước phấn khích với những cuộc chinh phục vũ bão của các lực lượng Nhựt Bản, nhứt là những thắng trận trên không. Tôi mơ ước được gặp lại Fujiko, một cô gái đẹp nhứt trong đời tôi. Với mơ tưởng, nghĩ rằng nàng sẽ trở thành vợ của mình, và tôi cảm thấy chan hòa hạnh phúc. Tin đồn biến thành sự thật. Vào ngày 12 tháng 3, Thiếu tá phi công hải quân Tadashi Nakajima từ Nhựt đến, và cho biết ông sẽ thay thế Ðại úy Eijo Shingo trong chức vụ chỉ huy trưởng phi đoàn. “Ðại úy Shingo được hoán chuyển cùng với một số phi công.” Nakajima nói, “…bây giờ tôi sẽ đọc danh sách những phi công được lịnh trở về Nhựt.”

Mọi người im phăng phắc khi ông bắt đầu đọc. Người đầu tiên không phải là tôi, như tôi đã hy vọng. Người thứ hai cũng không phải. Người thứ ba cũng không. Tôi mất hết tin tưởng khi vị thiếu tá đọc qua hơn 70 tên. Tên tôi không có. Xúc động. Tôi không biết tại sao tên tôi lại bị loại ra khỏi danh sách, trong khi tôi ở nước ngoài lâu hơn mọi người khác.

Sau đó, tôi bước đến vị chỉ huy trưởng và hỏi: “Thưa thiếu tá, tôi biết tên tôi không nằm trong số những phi công về quê hương. Xin phép thiếu tá, thiếu tá có thể cho tôi biết lý do tại sao không? Tôi không tin rằng tôi…”

Thiếu tá Nakajima khoát tay chận lời tôi, mỉm cười: “Không, anh không về xứ với những người khác. Tôi cần anh đi với tôi, Sakai. Chúng ta sẽ đến một căn cứ không quân mới, nơi tốt nhất để đương đầu với đối phương. Ðó là Rabaul, ở New Britain. Từ lâu tôi đã để ý, anh là phi công tài ba nhứt của phi đoàn này, và anh sẽ bay chung với tôi. Hãy để cho mấy người khác đi bảo vệ quê hương, còn chúng ta tấn công Úc châu.”

Câu chuyện kết thúc. Dưới hệ thống chỉ huy của hải quân, tôi không dám hó hé gì nhiều hơn với vị chỉ huy trưởng. Tôi trở về doanh trại, buồn bã, vô vọng gặp lại gia đình và Fujiko. Phải rất lâu sau này tôi mới biết chính nhờ sự ưu ái mà Thiếu tá Nakajima dành cho mình, tôi mới còn sống sót. Tất cả những người về xứ đều được thuyên chuyển đến Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm tham gia trận Midway ba tháng sau đó. Hạm đội này đã bị đối phương đánh tan vào ngày 5 tháng 6-1942. Cả 4 hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Soryu, Hiryu của chúng tôi đều bị đánh đắm. Nhựt Bản mất 248 máy bay, hầu hết những phi công rời khỏi Bali khi ấy đều thiệt mạng.

Nhiều tuần lễ kế tiếp, tôi sống trong tình trạng tinh thần tồi tệ chưa từng thấy. Tôi cảm thấy đau yếu, chán nản và tuyệt vọng. Nhiệm sở kế đó của chúng tôi, Rabaul, cách phía Ðông Bali 2,500 dặm là trên 4,000 km. Khoảng cách quá xa đối với sức bay của loại chiến đấu cơ Zéro mà tầm bay không thể quá 3,150 cây số. Thay vì di chuyển nhóm phi công chúng tôi bằng vận tải cơ hoặc thủy phi cơ, hay là bằng chiến hạm có tốc lực mau, chúng tôi đã khủng khiếp khi nhận thấy bị lùa như bầy súc vật xuống một chiếc tàu buôn nhỏ bé, cũ kỹ và suy nhược. Hơn 80 đứa chúng tôi được nhét vô chiếc tàu hôi hám, chạy khập khiễng trên mặt nước với tốc độ 12 hải lý một giờ này. “Lực lượng” bảo vệ chúng tôi chỉ đơn độc một chiếc tàu săn tiềm thủy đĩnh nhỏ bé 1,000 tấn.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy phơi lưng trước kẻ thù bằng lúc tôi ngồi trên chiếc tàu đáng sợ đó. Chúng tôi không thể hiểu nổi ý nghĩ của giới chỉ huy cao cấp trong việc này như thế nào. Chỉ cần một trái thủy lôi phóng đi từ một chiếc tiềm thủy đĩnh núp lén hoặc 1 trái bom 500 cân thả xuống từ một chiếc oanh tạc cơ, chiếc tàu mỏng manh này sẽ tan thành hàng ngàn mảnh. Một việc không thể tin, nhưng mà có vẻ thật, rằng các vị chỉ huy của chúng tôi muốn thí mạng phân nửa số phi công chiến đấu của phi đoàn Java, đặc biệt là những phi công kinh nghiệm nhứt, bằng một cuộc hải hành khủng khiếp như thế. Bất mãn và rầu rĩ, tôi đâm ra xuống tinh thần và nhuốm bịnh. Tôi nằm mẹp trên giường nhỏ dưới gầm tàu trong suốt hầu hết chuyến đi hai tuần lễ từ Bali đến Rabaul.


Ghi chú quân sự:

Oanh tạc cơ 2 máy Martin B26 hỗn danh Marauder (Kẻ Cướp).

Tránh nhầm lẫn với oanh tạc cơ Douglas B26 Invader bàn giao cho Không lực VNCH.

Phi hành đoàn 7 người

Trọng lượng 17,000 kg

2 x động cơ  1,900 mã lực 

Vận tốc tối đa: 460 km/h

Đường kính: 4,590 km

Trần bay:  6,400 m

12 đại liên 12 ly 7  *  1,800 kg bom


Cuộc hải hành đầy gian nan vất vả. Trời oi bức không thể chịu đựng nổi. Suốt cả tuần không ai khô ráo. Mồ hôi cứ đổ ra như tắm. Mọi phi công đều lâm bịnh. Sau khi vượt qua đảo Timor từng thuộc Bồ Ðào Nha, do lực lượng của chúng tôi chiếm giữ, chiếc tàu hộ tống quay trở về. Bấy giờ bịnh của tôi trở nên trầm trọng. Nhiều khi tôi cảm thấy đang hấp hối. Nhưng ngay cả sự khốn khổ tồi tệ nhứt, cũng có phần thưởng của nó. Ở bên cạnh tôi suốt chuyến đi là một đại úy trẻ tuổi, vừa được bổ nhiệm chỉ huy phi đội của tôi. Ðại úy Junichi Sasai là một trong những người nổi bật nhất mà tôi đã gặp từ trước tới nay. Xuất thân từ Hàn Lâm viện Hải quân Nhựt Bản, giữa ông ta và hạ sĩ quan hiển nhiên là có một sự ngăn cách. Theo hệ thống quân giai nghiêm ngặt của Hải quân, ngay cả khi chúng tôi hấp hối đi nữa, ông ta cũng không cần phải bước vô hầm tàu hôi hám này. Tuy nhiên Sasai lại khác hẳn. Ông không chú ý đến “lề luật bất thành văn” của Hải quân, theo đó, sĩ quan không được thân mật với thuộc cấp. Trong lúc mê sảng tôi la hét, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, hầm tàu chật hẹp xông lên mùi hôi hám khó chịu, Sasai vẫn ngồi bên cạnh giường, tận tâm chăm sóc tôi. Sự ưu ái của ông đã khiến bịnh tôi dần dần bình phục.

Cuối cùng, chiếc tàu lướt vô hải cảng Rabaul, hải cảng chánh của quần đảo New Britain. Tôi nặng nhọc lê thân xuống cầu thang, bước lên bến tàu. Tôi không tin những gì đã nhìn thấy. Nếu Bali là một thiên đường, Rabaul là một địa ngục thực sự. Chúng tôi có một phi đạo nhỏ hẹp và lấm bụi để sử dụng. Ðó là một phi đạo tồi nhứt mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào. Ngay phía sau phi đạo khốn khổ này là một ngọn núi lửa đầy doạ nạt, vươn cao 700 bộ (200m) trên bầu trời. Cứ một vài phút mặt đất lại rung chuyển và núi lửa gầm lên hồi lâu rồi phun khói dày đặc, lẫn lộn hợp chất phún thạch. Xa hơn nữa là một dãy núi màu xanh mét, trần trụi bóng cây.

Ngay khi xuống tàu, nhóm phi công di chuyển ngay đến sân bay. Trên con đường lấm bụi, chân chúng tôi ngập sâu trong đá bọt và tro than do núi lửa phun ra. Sân bay hoang phế. Bụi và tro dâng cao trong không khí. Hơi thở ngột ngạt vì khí quyển đặc quánh. Những tiếng càu nhàu đầy thất vọng khi các phi công nhận thấy nhiều chiến đấu cơ Claude, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên cổ lỗ nằm giữa bãi đậu.

Tất cả những thứ đó quá nhiều đối với tôi. Tôi phát đau trở lại và ngã quỵ xuống. Ðại úy Sasai đưa tôi vô một bịnh xá chưa hoàn tất, nằm trên một ngọn đồi, cạnh sân bay.

Tôi khám phá sáng hôm sau là Rabaul không phải là một căn cứ tiền tiêu xa xăm hoang vu như tôi đã nghĩ. Mà ngược lại, chính là một trạm trung chuyển quan trọng sẽ ở ngay trung tâm điểm của cuộc chiến phía Nam Thái Bình Dương. Rabaul cách những vị trí tiền phương của Liên quân Úc-Hoa Kỳ không xa. Chúng tôi sẽ nhanh chóng lao vào một trận chiến mới.

Sáng hôm sau nữa, tiếng còi báo động không tập lôi tôi ra khỏi giấc ngủ thiêm thiếp. Qua cửa sổ tôi nhìn thấy 12 chiếc Marauder, oanh tạc cơ hai máy B26, sà thấp trên hải cảng thả nhiều trái bom ngay xuống chiếc Komaki Maru, là chiếc tàu buôn chở chúng tôi từ Bali đến đây. Thủy thủ đoàn chạy tán loạn lên bến tàu và nhảy xuống nước. Trong một vài phút chiếc tàu bốc cháy và chìm dần. Các oanh tạc cơ mang huy hiệu của Úc Ðại Lợi, bấy giờ quay sang tấn công sân bay và các phi cơ đậu trên đó. Các oanh tạc cơ Marauder quay lại ba ngày liên tiếp, xạ kích tất cả những gì di động trên mặt đất. Các cuộc tấn công là những liều thuốc tốt nhất đối với tôi. Tôi xin bác sĩ cho tôi xuất viện ngay lập tức. Tôi muốn đặt đôi tay ngứa ngáy của mình lên cần kiểm soát của một chiếc Zéro trở lại. Vị bác sĩ cười: “Ở đây thêm vài bữa nữa, Sakai. Anh xuất viện để làm gì bây giờ? Không có một chiếc phi cơ nào còn khiển dụng cho anh bay đâu. Khi nào nhận thêm máy bay mới, tôi sẽ cho anh xuất viện.”

Bốn ngày sau, gần bình phục hẳn, tôi rời bệnh viện. Với 19 phi công khác, tôi leo lên một thủy phi cơ 4 máy vừa bay đến vào buổi sáng hôm đó. Chúng tôi sẽ sớm được bay trở lại vì chiếc thủy phi cơ này cất cánh từ hàng không mẫu hạm Kasuga (Ðại Ưng), chiếc tàu có nhiệm vụ chở 25 chiến đấu cơ Zéro mới cho phi đoàn của chúng tôi. Nhưng các cuộc không thám và oanh tạc liên tục của đối phương đã ngăn trở Kasuga chạy vô Rabaul. Chiếc tàu phải đậu ở gần đảo Buka, cách xa đây 200 dặm (370km), và cho thủy phi cơ chở chúng tôi đến đó nhận máy bay.

Hai giờ sau chúng tôi trở về Rabaul, cười đùa như bọn học trò với 25 chiến đấu cơ mới tinh, tất cả đều được võ trang và sẵn sàng lâm trận. Tuy nhiên, một phi cơ thám thính của địch quân đã nhìn thấy các chiến đấu cơ mới của chúng tôi, và nó biến mất trước khi chúng tôi kịp cất cánh.

Rabaul trở nên yên tĩnh, ngoại trừ những cơn mưa tro phún thạch không lúc nào giảm bớt của ngọn núi lửa. Nhiều tuần lễ kế đó, các chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Nhựt không ngớt được đưa đến Rabaul. Chúng tôi gom góp năng lực mới cho cuộc tấn công đang xúc tiến, nhằm chống lại Úc Ðại Lợi và hải cảng Moresby. Các kế hoạch của Nhựt Bản, như chúng tôi được nói cho biết, là đánh chiếm toàn khắp vùng Papua New Guinea. Nhưng trước tiên phải khống chế bầu trời bên trên biển Bismarck và biển Solomon.

Bánh vá Gò Công!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 7 July 2023

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bánh vá Gò Công!

Giữa đồng bằng có một khoảng đất nổi cao lên gọi là gò. Sài Gòn có Gò Vấp, trồng cây Vấp. Cách Mỹ Tho 35 cây số, Gò Công là vùng gò đất có nhiều chim công. Tui không tin kiểu cắt nghĩa tưng lên cho đẹp: gò có ‘công về ngủ’ đâu. Thế đất cao hơi cong nên gọi Gò Cong (Công) đấy thôi.

Tui nhớ chiến hữu La Quốc Tiến (1949-2004),  cùng khóa 4/72 SQTB, với bài thơ: “Tôi về Gò Công. Ngày vừa xiêu xiêu khu phố cổ / Chiều đã mốc meo mái ngói âm dương / Dây leo nở hoa ngó xuống sân đình / Tôi soi bóng thấy mặt mình oan khuất / Chợt nghi ngờ cả hồ nước trong xanh / Có phải tôi mang niềm lưu tán / Về đây cũng không giáp mặt mình! / Gò Công ơi! Chuyện cũ tích xưa ngậm mồm con hổ đá / Vẫn phục trước đền chờ ngoạm phiến trăng non.”

Tui nhớ câu ca dao ngày cũ bão lụt năm Thìn, năm 1904. “Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc / Gió nào độc bằng gió Gò Công / Thổi trận gió Ðông lạc vợ xa chồng / Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”. Người muôn năm cũ khóc đến chảy máu tuyến lệ, nước mắt có màu hồng. Vì xưa nay Miền Nam mưa thuận gió hòa mà giờ: “Gò Công xiết mấy hư hao / Trời sanh trời dưỡng biết sao mà phòng”. “Rương xe, thùng bộng, mái lơn / Thuyền chài, cối giã, chạy bôn trên đồng / Xác người, xác thú chập chồng / Sóng dồi rều dập, vun giồng lấp khe”, “Vừa đi vừa ngó các đồng / Trâu heo bò ngựa tràn đồng sình trương / Tử thi xem thấy thảm thương / Thây trôi như củi đào mương tấp vào”.

Vì người chết nhiều quá! “Rủ nhau dập xác cho liền / Gặp đâu chôn đó, chớ hề ai khiêng / Thân chết chôn rồi đã yên / Còn người sống sót gạo tiền đâu ăn?”. Rồi cơn bão làm người thương thất tán: “Gặp đây mới biết em còn. / Hồi năm bão lụt anh khóc mòn con ngươi”. Rồi ông bà mình ráng cùng nhau: “Năm Thìn rủi mắc cơn giông bão. / Dựng lại bằng xưa cũng phước trời”.

Năm 1969, tui có quen em Năm, xuất sắc trong vai tì nữ, dân xóm Cao Ðài, Gò Công. Từ Mỹ Tho tui giang hồ vặt xuống thăm. Gò Công có nhiều địa danh tên nghe hay lắm như: Ao Trường Ðua, Cầu Tây Ban Nha. Năm dắt tui vô vườn ‘sơ ri’ (cherry). Trái chín đỏ chét, thấy đẹp nhưng chua lè. Em nói chua có nhiều Vitamin C. Về nhà, Năm trổ tài làm bánh vá đãi tui ăn.Có người nói cho thêm vài nhúm giá vô bánh, nên tên bánh giá (?!). Bậy nè. Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Phải gọi là bánh vá vì nó chiên bằng cái vá (Bắc Kỳ gọi nó là cái muôi) dùng để múc canh, múc cháo.

“Từ khi em đi lấy chồng / Anh ăn bánh vá Chợ Giồng với ai?” Chợ Giồng gần ngã tư Hòa Ðồng, thị trấn Vĩnh Bình trên quốc lộ 50 thuộc Gò Công Tây. Quê ngoại em đó, Năm nói.

Bánh vá Chợ Giồng làm bằng bột gạo, bột năng, bột đậu nành, trứng gà và nước đánh cho mịn để không bị óc trâu (vón cục). Nhưn bánh là gan heo được xắt hột lựu, thịt nạc được bằm nhuyễn, tôm bạc đất phải cắt bỏ râu và rửa sạch, ướp gia vị vừa ăn, thêm giá sống làm bằng đậu xanh. Năm múc một muỗng bột tráng phần đáy của chiếc vá, sau đó cho thịt bằm, gan heo, giá sống vào giữa vá bột, rồi múc thêm một lớp bột phủ lên trên, cuối cùng cho tôm bạc đất và đậu phộng rang lên trên cùng. Nhúng chiếc vá vào chảo dầu đang sôi. Chờ cho bột tách khỏi vá, em từ từ rút chiếc vá ra khỏi chảo dầu. Chỉ còn chiếc bánh nổi lềnh bềnh trong chảo dầu sôi. Em phải để lửa nhỏ, liên tục trở bánh cho chín vàng đều hai mặt mà không bị khét. Khi bánh chín vớt ra, để lên một chiếc vỉ tre trên miệng chảo cho bánh ráo dầu.

Tui nói: “Như vậy bánh vá là chị em bạn dì với bánh cống. Em nào cũng ngon bá chấy! Miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, bánh cống ăn mình chỉ cuốn với cải xà lách, rau thơm, chấm nước mắm ớt. Miệt Mỹ Tho, bánh vá cắt ra ăn với bún như ăn bún bì vậy.

Tui hứng lên ‘dê’ sảng: “Nữa về với nhau, lỡ anh thất nghiệp, em ra Chợ Gò Công chiên bánh vá bán nuôi anh nhe. Em ‘ừa’ nghe thương hết sức!

Mới đây có một bạn văn nữ tuốt bên Houston, Texas, Huê Kỳ hít hà nói với tui là: “Dạ ngày xưa ở Ngã Tư Quốc Tế, giấc chừng ba, bốn giờ chiều có bán bánh vá ăn với rau sống, rau thơm chan nước mắm chua ngọt. Chu choa ngon lắm!

Ngã tư Quốc Tế (Đề Thám – Bùi Viện) năm 1968.

Em nói: “Trước năm 1975, ngã tư Bùi Viện và Ðề Thám là Ngã Tư Quốc Tế. Tên đặt vậy vì nơi đây có nhiều ký giả ‘lô can’ (local) và ngoại quốc tụ tập tại các quán café và nhà hàng xung quanh để tán gẫu cũng như bàn về tình hình thế sự trong nước và quốc tế.

Bùi Viện, Phố Tây, là mãi tận sau nầy khi CS vô, lúc em đã bỏ nước ra đi. Ngày ấy, Ngã Tư Quốc Tế Bùi Viện bán đồ ăn không chê được món nào. Quả em bạn văn nầy có tràn đầy tâm hồn ăn uống giống tui.

Một người em sầu mộng khác ở Sydney rầy tui: “Ở nước ngoài mà anh cứ kể món ăn Việt Nam hoài, thèm nhỏ dãi. (Dân Cần Thơ, em xài chữ lai Bắc Kỳ hai nút hơi nhiều nhe. Chớ tui nói thèm chảy nước miếng, vén lên không kịp he!). Em nói: “Tui, dân đèn Ba ngọn, bến Ninh Kiều chỉ biết lấy cải xà lách, cải bẹ xanh, (hậu hơi đăng đắng, ăn mới đã), rau thơm cuốn bánh cống rồi chấm nước mắm.

Tui nói: Hồi xưa đi học ở Sài Gòn, trưa đói bụng, một cái bánh cống cắt làm bốn ăn với bánh ướt! Còn bánh vá bán ngoài chợ Hai Mươi cuối đường Cao Thắng, Sài Gòn thì cắt ra ăn với bún.

Bánh cống, bánh vá là bánh của con nhà nghèo, dân buôn gánh, bán bưng. Bánh xèo mới trèo vô tiệm đường Ðinh Công Tráng Tân Ðịnh.

Quê người, Footscray không có tiệm nào bán hết ráo. Muốn ăn là phải nói với em yêu. Gần 30 năm biền biệt tha hương, khẩu vị đã đổi thay nhưng tình quê bánh vá Năm ơi vẫn ứa nước miếng như xưa!

Bánh cống!

Baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 26 May 2023

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bánh cống!

Nhớ Mother’s Day hồi năm ngoái! Tội nghiệp con vợ tui quanh năm suốt tháng, đầu tắt, mặt tối. Hết nấu cơm, rửa chén, giặt đồ; nên tui kêu em nghỉ một ngày để tui vào bếp. Hậu quả là tối hôm đó, em yêu phải gấp gấp xách quần chạy vào nhà thương cấp cứu.

Tui dùng chữ ‘ngộ độc’ thực phẩm. Nhưng em yêu cứ khăng khăng là em bị tui ‘hạ độc’. Tui thuốc em chết phứt cho rồi để rước về một con ngựa bà khác!

Tui nghi là tại em coi phim bộ của Tàu nhiều quá chăng? Nên em nhìn đâu cũng thấy kẻ thù? Nhìn chồng, tức là tui, đầu ấp tay gối biết bao năm cũng là thích khách muốn ám toán em truất ngôi Võ hậu. Thiệt là oan ơi ông Ðịa! Thế nên Mother’s Day năm nay, em cách chức ‘tổng khậu’ một ngày của tui. Mới lò dò xuống bếp, coi em bữa nay cho ăn cái giống gì thì em đuổi tui như đuổi tà lên nhà trên để em đổ bánh cống.

Tui hỏi em yêu có biết tại sao người ta gọi là bánh cống không? Thì em đáp lại, chỉ một câu hỏi của tui, bằng một bài diễn văn.  Em nói cống hình trụ có quai cầm, dùng để đong rượu. Có một tên tướng VC, dân Giồng Trôm, ở ngoài đồng, không có ly hột mít, phải uống rượu bằng cống; nên y có tên là Ðồng Văn Cống đó! Tui cãi: cống dùng để thoát nước qua hương lộ. Tây bố, ổng chém vè dưới cống ngoài đồng, trốn lính Lê Dương ruồng; nên ổng mới có tên là Ðồng Văn Cống.

“Hỏi anh có nhớ Bãi Xàu. Bánh xầy chiên mỡ, bánh bao thịt bằm”. Hai bàn nạo, bạn em, dân xứ dừa Bến Tre nói: miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau gọi bánh cống là bánh Xầy, bánh của người Tiều. Kêu là bánh cống vì nó đúc trong cái cống đong rượu, nước mắm, giấm sửu (xin đừng nói lái).

Ông Vương Hồng Sển có viết: “Bánh nhưn đậu xanh, chiên mỡ heo, trên mặt có kèm một con tép vàng cháy ngọt bùi, tép nhỏ thì mỗi bánh có hai con tép, bánh ấy, ở Sốc Trăng gọi “bánh xầy”, qua Châu Ðốc, Tri Tôn, gọi “bánh xà cón”: khi lên Chợ Lớn, Sài Gòn thì gọi bánh “giá” (?) (nhân giá đậu xanh) hoặc “bánh tôm khô chiên” (Ông Sển viết Sóc Trăng thành Sốc Trăng).

Theo ông Sển, Sốc Trăng là xứ tôm tép tươi còn nhảy xoi xói. Tôm tép nhiều nên giá nó rẻ. Pha một mớ cơm nguội trong lúc xay bột, thì bánh chiên mềm nhưng giòn.

Khi cắn, chiếc bánh trong miệng, nhai vừa giòn khướu vừa thơm thơm mùi tép và thơm mùi mỡ mới, khi nuốt vào khỏi cổ, bánh còn để lại một dư vị mặn mặn cay cay của chén nước mắm ớt rẻ tiền, khi bánh đã nuốt vô tới bụng tới bao tử mà chưa thấy no và còn muốn ăn nữa nhưng bánh đã thôi chiên, thì khi ấy dư vị kia thật là thần sầu quỷ khốc .

Bánh xầy không đâu ngon bằng làm tại chợ Sốc Trăng và tại chợ làng Ðại Tâm (Xoài-Cả-Nả cũ)”.

Phần tui, lúc còn đi học ở Sài Gòn, năm 1970, ở trọ nhà người ta trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản. Xế trưa bụng đói cồn cào; xe bánh ướt của chú Ba đẩy qua trước cửa, tui kêu một dĩa bánh ướt ăn để trừ cơm. Trên dĩa bánh có giá luộc, rau… cái bánh cống cắt bằng kéo, chan nước mắm ớt. Mồ hôi tươm ướt từng chưn tóc.

Nhưng miệt Mỹ Tho, Gò Công không có bánh cống đâu. Miệt đó có bánh vá. Có người nói cho thêm vài nhúm giá vô bánh, thế là có tên bánh giá (?!) Tui cho rằng nói vậy là nói tầm bậy nè. Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Ðóng vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Phải gọi là bánh vá vì nó chiên bằng cái vá để múc canh, múc cháo. “Từ khi em gái lấy chồng, Anh ăn bánh vá Chợ Giồng với ai ?” Câu hỏi đặt ra là: Chợ Giồng nó ở đâu? Và bánh vá là bánh gì?

Chợ Giồng gần ngã tư Hòa Ðồng, thị trấn Vĩnh Bình trên quốc lộ 50, thời CS thuộc huyện Gò Công Tây.

Xứ Việt Nam mình thuộc nền Văn Minh lúa nước. Tây Úc, Mỹ nền văn minh lúa mì. Mình ăn cơm nấu bằng gạo. Ăn bánh làm bằng bột gạo. Tây, Úc, Mỹ không ăn cơm  nó ăn bánh mì. Ăn bánh làm bằng bột mì.

Chợ Giồng thị trấn Vĩnh Bình – nguồn timkiemduongdi.com

Bánh vá Chợ Giồng làm bằng bột gạo, bột năng, bột đậu nành, trứng gà và nước. Ðánh cho mịn để không bị óc trâu (vón cục). Nhân bánh vá có gan heo xắt hột lựu, thịt nạc bằm nhuyễn, tôm bạc đất cắt bỏ râu. Tất cả ướp gia vị.

“Múc một muỗng bột tráng phần đáy của chiếc vá, sau đó cho thịt bằm, gan heo, giá sống vào giữa vá bột, rồi múc thêm một lớp bột phủ lên trên; cuối cùng cho tôm bạc đất và đậu phộng rang lên trên cùng. Nhúng vài chiếc vá vào chảo dầu hoặc mỡ đang sôi, chờ cho bột tách ra khỏi vá thì từ từ rút chiếc vá ra khỏi chảo dầu. Chỉ còn mấy chiếc bánh nổi lềnh bềnh trong dầu nóng. Người chiên bánh phải để lửa nhỏ, liên tục trở bánh cho chín vàng đều hai mặt để không bị khét. Khi bánh chín, vớt để lên một chiếc vỉ tre vắt ngang miệng chảo cho bánh ráo dầu. Bánh vá chợ Giồng gói trong lá chuối khô, rau thơm các loại và bịch nước mắm chua ngọt.

Kết luận: Em yêu dân Cần Thơ, bến Ninh Kiều, bánh cống. Người xưa dân Hòa Ðồng bánh vá. Em nào, tui cũng nhểu nước miếng hết trơn hè!

Quê người, tui nhớ bánh cống cuốn với cải xà lách, rau thơm chấm nước mắm nửa đêm về sáng tại đèn Ba Ngọn, bến Ninh Kiều, Cần Thơ sau năm 1975.  Nhớ những ngày đói cơm, rách áo, ăn cái gì cũng ngon.

Không đọ được với bánh xèo; vì bánh cống, bánh vá quê nghèo, buôn gánh bán bưng. Bánh xèo có tiệm đàng hoàng. Như bánh xèo Ðinh Công Tráng, Tân Ðịnh gần hẻm Cảnh sát, nhà ông Tùng Lâm.

Má tui đổ bánh xèo ngon bá chấy bù chét. Mỗi Chủ Nhựt khoảng năm 1968, Má bán bánh xèo đắt lắm (đắt là nhiều khách chớ không phải bán mắc đâu nhe) bên hông rạp hát Ðịnh Tường cuối đường Lý Thường Kiệt gặp đường Trưng Trắc Mỹ Tho để nuôi tui ăn học. Con nhớ bánh xèo! Con nhớ Má! Má ơi!

Bần và Mận

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 8 Apr 2022

post by Sơn râu 20 Nov 2023

Bần và Mận

Bần là một loại cây ngập mặn, có thể cao đến 20 thước và đường kính đến 5 tấc. Bần mọc trên các bãi bùn, thủy triều lên xuống, nước lớn nước ròng. Cây bần làm củi bán cho lò đường. Trái bần hái về cho má nấu canh chua. Rễ dùng làm nút chai, gọi là “cặc bần”.

Hồi nhỏ, tui thấy ở hai đầu cù lao Rồng, ngang thị xã Mỹ Tho bần nhiều lắm. Mấy lần đi chơi với em yêu, lúc còn mèo chuột, tui kêu em ghé xuồng vô, hái bần chín, chấm muối ớt ăn chơi. Em lè lưỡi. Cắm đầu vô, ong bần nó quánh hai đứa mình thấy mẹ.

Còn mận Trung Lương có mận hồng đào sọc, hồng đào đá (Bắc gọi là roi).

Mận Hồng Ðào trồng nhiều nhất ở miệt Ðạo Thạnh, Trung An, gần bến đò Nhà Thiếc, ngã ba Trung Lương, cách chợ Mỹ Tho chừng 5 cây số.

Mận hồng đào sọc thì trái tròn, có sọc trắng hồng chạy dài từ cuống đến đít trái mận. Rỗng ruột. Mận hồng đào đá cứng nên gọi là đá, da hồng. Cả hai loại mận này ăn đều giòn, ngọt, không chua. Lấy tay tách trái mận ra làm hai, chấm nước mắm đường có vài lát ớt sừng trâu cay cay nhai rốp rốp thì ngon bá chấy bù chét.

o O o

Tại sao ngang xương mà tui lại nhắc tới cây bần và trái mận quê mình chi vậy? Chẳng qua tui vốn thiệt tên Bần và em yêu của tui tên Mận. Tên hai vợ chồng tui dẫu có vẻ quê mùa như vậy nhưng cũng ướt đẫm dầm dề văn học lắm đó nhe.

Nhớ mùa Hè đỏ lửa, năm 1972, đi lính ra trường, tui chọn về Mỹ Tho để gần nguyên quán. Tiểu khu Ðịnh Tường kêu tui về đại đội 402 ông Ðịa (Phương Quân) biệt lập, thuộc Chi khu Sầm Giang, đóng tại xã Vĩnh Kim.

Ðại đội tui hay lội qua Hốc Ðùn, từ ngã ba Trung Lương nhìn qua sông Bảo Ðịnh để bảo vệ Quốc lộ 4.

Mà nói tới Trung Lương có thể bà con cả miền Nam mình ai cũng đều biết mận Trung Lương. Dà, em yêu của tui được tía em đặt tên là Mận là vậy đó.

Sau nầy, em thường hay càm ràm sao tía em đặt tên em là Mận? Nó quê mùa quá đỗi. Mận Hồng Ðào thì bỏ chữ mận đi, lấy Hồng Ðào đặt tên cho em. Biết đâu chừng em nổi tiếng không thua gì diễn viên Hồng Ðào bên Mỹ đâu nhe.

Tên Mận, quê mình, mà chê cái gì chớ! Như anh, nhà ở đầu cù lao Rồng, nên tía anh đặt tên Bần. Anh rất thích em tên Mận. Tại vì Mận nó ngon. Cắn nó đã chớ sao!

Mận Hồng Ðào có màu da hồng nhạt, có sọc dưa giống da em nè. Mận hình tròn, có nhiều trái bề ngang lại lớn hơn cả bề dài. Giống tướng em nè!

Ôi nhớ tình xưa, một thời dắt lính lội ngang nhà em. Sao nghe đứa nào hát ru con thiệt là mùi, như nhắn gởi với tay chuẩn úy sữa mới ra trường vầy cà?

“Ầu ơ… bánh canh trắng, cọng vắn cọng dài.

Bánh tằm xe, cọng dài cọng vắn

Xứ Mỹ Tho gạo trắng nước trong

Gái Mỹ Tho tuy dang nắng.

(Mà) má vẫn hồng như điểm phấn tô son.

Anh ơi, muốn chơi hoa thì kiếm gái Sài Gòn.

Còn (như) muốn tìm người vợ hiền dâu thảo

Thì anh hãy xuống miệt vườn Trung Lương…”

Ngó vô nhà thấy có một đứa còn kẹp tóc, ngồi đưa võng ru con. Thằng “tà lọt” bỏ nhỏ: “Ông Thầy, con Mận ru em nó đó. Không phải ru con đâu. Nó chưa chồng. Em tính xáp vô mà nó chê em dốt. Tía Mận làm hương sư, là thầy giáo làng đó. Con gái khoái quan chê lính. Chắc nó chịu đèn ông Thầy rồi. Ủi tới đi ông Thầy. Chắc ăn như ăn Mận. Em de ra nhường cho ông Thầy ủi vô. Hu hu! Ðể em dắt ông Thầy đi mua mận. Xong, ông Thầy kiếm cớ ngồi đàm đạo, tụi em rút ra ngoài canh chừng Việt Cộng”.

Nghe xúi bậy, tui cũng khoái; bèn y như kế mà làm.

Em Mận hái cho thằng đệ tử của tui một giỏ mận đầy nhóc; nó vác ra vườn ngồi chung với mấy đứa khác, ăn mận chấm nước mắm đường có giằm ớt hiểm. Miệng nhai nghe rốp rốp.

Còn trong nhà, tui và em Mận đàm luận chuyện văn chương. Hi hi! Mới quen, tình lính tính liền… đâu có tiện hè.

Tui mới ướm em vầy:

“Chim buồn tình, chim bay về núi.

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông.

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng.

Dạo miền sơn cước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em”

Thưa bà con, con trai yêu bằng con mắt. Con gái yêu bằng cái lỗ tai. Em Mận cũng không là ngoại lệ. Nghe tui tán có kinh có kệ… nên em có vẻ chịu đèn.

Nên Mận “nổ” lại rằng:

“Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng.

Người thương em vô số, nhưng chỉ một lòng với anh”

Tình đang nồng thắm được vài tháng thì sập tiệm. Lúc đó tui đang đóng đồn ở xã Hữu Ðạo, quận Long Ðịnh. Ðại đội tui hổng chịu đầu hàng (vì hồi đó tới giờ chưa làm bao giờ nên hổng biết). Cho dù Dương Văn Minh đã lên Ðài phát thanh Sài Gòn kêu buông súng để bàn giao. Buông súng nó bắn mình sao? Tụi du kích địa phương nói đại đội của tui ngoan cố. Nên lính thì nó thả hết cho về; còn có hai thằng sĩ quan là tui với một tay chuẩn úy đàn anh làm đại đội trưởng, tụi nó dắt tuốt vô trong bưng nhốt để cải tạo. Ba tháng sau mới thả tui về lại Mỹ Tho.

Tui buồn như dế kêu vì thua tụi nó. Tủi thân phận mình, tui hổng muốn gặp lại người nào nữa kể cả Mận. Xưa mình là quan. Giờ là tù mới về.

Thì nhận được thơ Mận viết vầy:

“Cúc mọc dưới sông sông kêu rằng cúc thủy.

Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa.

Gởi thơ thăm hết mọi nhà.

Trước thăm phụ mẫu sau là thăm anh”

Tui vẫn còn biết Mận tưởng tới tình tui; nhưng nghĩ phận mình giờ trụi lủi, tương lai không còn gì nữa; nên tui tính gài số de. Vì ủi tới người ta, nhứt là tía má em không chịu gả thì tội nghiệp cho mặt mũi tía má tui!

Giờ thời thế đã đổi thay, ông xuống làm thằng; thằng lại lên ông. Nên tui thoái thác là:

“Sông kia bên lở bên bồi.

Một con cá lội mấy người buông câu”

Nhưng em vẫn ngoan cố tình ta:

“Phượng hoàng đậu nhánh vông nem

Phải dè năm ngoái (anh) cưới em cho rồi”

Nhưng giờ cũng chưa có muộn nếu Bần muốn. Cứ dắt tía má Bần xuống nói một tiếng cho phải lễ. Phần còn lại để Mận lo. Thôi thì Mận không tham phú phụ bần… thì Bần sẽ lấn tới vậy.

Ngày coi mắt, bà con chòm xóm của Mận đông như ruồi. Trong đó có một thằng Hai Mít (hồi trước trốn lính) giờ được làm chủ tịch Hội nông dân Xã, ra vẻ hương chức, hội tề của cách mạng.

Chắc thằng Hai Mít nầy cũng thèm ăn Mận của tui, nên nó cà khịa với tui rằng: “Nghe nói chuẩn úy Bần là người có ăn học. Tui là nông dân, làm ruộng nên ít học (làm ruộng, đâu phải ai cũng ít học đâu. Tại thằng Hai Mít nầy nó làm biếng học). Tui, tức thằng Hai Mít xin ra câu đối như vầy:

“Sóng vỗ c… bần run bây bẩy”

Ý thằng Hai Mít muốn cười cái tên Bần của tui, lúc phải tuân lịnh Dương Văn Minh đầu hàng mà sợ đến run bây bẩy.

Hai Mít cố tình làm nhục tui, làm nhục sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước mặt Mận và bà con quyến thuộc của em đó mà.

Tui giận xanh râu luôn, bèn đối chan chát lại rằng:

“Sóng vỗ c… bần run bây bẩy

Gió đưa d… mít giẫy tê tê”

Bà con cô bác ai nấy cũng tấm tắc khen hay. Làm thằng Hai Mít quê quá, mặt xám lại rồi chuyển sang xanh chành như đít nhái vì sợ chữ của tui.

Chưa kịp làm đám cưới thì tía má tui kiếm được đường dây vượt biên. Tui hẹn Mận ra bến nước rồi cả hai xuống “taxi” ra thuyền lớn, dông luôn.

Bốn mươi lăm năm tình lận đận cùng Mận (Trung Lương)! Tháng Tư đen lại về. “Lạc loài cách bến xa sông. Gió Thu hiu hắt chạnh lòng cố hương”. Tui nhớ tới câu đối ngày xưa, ngồi phè, nhâm nhi ly rượu whiskey, tui cười khè khè! Ai bảo là những chữ dùng nghe không được thanh tao là không có tánh văn chương đâu nè?

Đoàn Xuân Thu

Con mèo rụng lông

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Con mèo rụng lông

Hồ Đình Nghiêm

Anh Tị bé người, da ngăm đen dáng linh hoạt. Hói tóc, mặt xương xẩu. Anh luôn khạc nhổ, dù chỉ tí nước dãi, như thể mang tật ngứa cổ, phun tùy tiện. Anh Tị người Huế, dùng nhiều từ lạ. Khi nói chuyện mắt anh thường láo liên. Một đôi mắt lớn, tuồng như thu nhận được lắm điều, nhìn xa trông rộng; bởi có vẻ chuyện gì anh cũng tường, đừng hòng che dấu. Anh hay dọa tôi: Mi chớ lấy vải sưa mà che mắt thánh. Tôi luôn thành thật, đối với riêng anh. Anh vẫn thường trả tiền cà phê cho tôi. Và quán nước tăm tối ấy là nơi chúng tôi phung phí thời gian cho những chuyện không đâu. Một ngày nào đó tôi sẽ khoản đãi anh một chầu xôm tụ. Trạng cóc! Anh chận lời. Và anh nhổ xuống đất chút nước miếng. Tôi gãi đầu: Lúc nào anh cũng bao, thấy nhột. Con mèo rụng sợi lông. Anh nói thêm cho rõ nghĩa: Chuyện nhỏ! Anh đưa tay sờ nắn túi quần tôi: Học trò như mi tiền bạc mô có mấy hột. Một lát, anh thu cất những ngón tay đi lạc rồi đưa ra câu hỏi, mặt nghiêm trọng, hai mắt như lồi ra: Mi biết mùi vị đàn bà chưa? Tôi moi bọc áo, lôi ra được điếu thuốc cong queo. Chưa. Tôi thổi khói xuống mặt bàn. Tao sẽ dắt mi đi phá trinh. Cái gì? Ngủ với gái đó, chưa nghe qua hả mi?

Ở tuổi mười bảy (không cách gì bẻ gãy sừng trâu), tôi thành đàn ông với sự trợ giúp của Sen. Nó ở dưới quê lên phụ việc nấu nướng chợ búa cho gia đình anh Tị. Anh biểu, hai đứa bây “mần ăn” sau bếp để tao canh chừng cửa nẻo cho. Sen, mi đừng sợ, ẻ ba bại. Đau trước sướng sau. Sen hơn tôi hai tuổi nhưng cũng khờ khạo chuyện ấy, chẳng biết gì. Đáy quần sút chỉ một đoạn, nó moi thành lổ thủng tối om, chỉ thế thôi; không lột áo cởi quần. Người kín bưng, đâu là vú đâu là lông, tôi chẳng thấy gì sất. Sen nhắm mắt, nói: Bỏ vô đi. Phút đầu đời của tôi thiệt vất vả, ì ạch, chả ra làm sao cả. Thằng nhỏ khóc, giường tre kêu cót két và Sen thì nghiến chặt hai hàm răng. Không rên la, chẳng vui thú, mọi biểu tỏ bị trói chặt, chỉ có đôi lông mày thì luôn nhăn nhíu. Anh Tị nhổ nước miếng. Tụi bây làm ăn như cứt, giây phút qúy giá nhứt mà không biết cách thụ hưởng. Thiệt là tức!

Tôi mắc nợ anh Tị nhiều thứ. Có hôm, anh tới quán cà phê với chiếc xe đạp, anh nói nhỏ: Tao cho mi đó, thích không? Tôi ngó chiếc xe, đắm đuối hơn khi ngó vô mặt anh. Và có lẽ ngay cả lúc Sen trần như nhộng, vẻ đẹp ướt át kia trông chẳng sướng con mắt bằng chiếc xe bụi bặm đang dựng chống ngoài sân. Anh khạc nhổ: Tụi mình phải nên thay đổi địa điểm, tau mới tìm ra một quán cà phê khác, hơi xa, vì rứa cho nên mi lấy chiếc xe ni mà đạp tới. Có ưa không? Răng cứ ngồi làm thinh làm tịnh rứa mi? Tôi đang phân vân, nợ anh nhiều quá làm sao trả đủ? Ẻ ba bại! Anh nói. Lạ! Hào phóng cũng chừng mực nào đó thôi. Anh giàu sang gì cho cam mà luôn xẳng xái: Con mèo rụng sợi lông! Mèo thì bí mật dấu cứt, riêng anh lại luôn bép xép công khai chuyện ỉa, mà phải tới ba đống mới chịu. Nghĩ không ra! Thôi được, để mi bớt nặng bụng, ngày mai tao nhờ mi chở con Sen đi chợ giúp tao. Có vui vẻ không?

Tôi vui vẻ chở Sen đi. Sen không đẹp, nhưng biết đâu nếu đổi đời, khi người ta trút bỏ chất quê mùa ám trên thân đi có thể nhan sắc sẽ lộ diện khi ấy. Sẽ trắng trẻo hơn, sẽ thơm tho hơn. Chúng tôi đã “mần ăn”, chẳng biết Sen nghĩ gì nhưng cá nhân tôi thì luôn rạo rực thèm muốn Sen. Hiểu ở một nghĩa hạn hẹp nhất, chúng tôi cũng tựa như vợ chồng. Chồng thắng xe trước lối vào chợ đợi vợ xách giỏ nhựa lòn lách giữa lối đi chen chúc bạn hàng. Trong giỏ có đựng gói giấy báo cột ràng vuông vức như thể Sen đi giao hàng, vì thế đợi không lâu Sen đã trở lui, hơi lấn cấn hơi không được tự nhiên. Sen giống như sơ ý đã bị bọn móc túi lấy sạch tiền bạc, mặt căng thẳng và đôi tay run. Sen leo lên yên sau, nói gấp gáp: Chạy. Kỳ cục, tôi chưa thấy có ai đi chợ kiểu như Sen, tay xách giỏ khi đến, đến chớp nhoáng rồi trở lại mạng không. Anh Tị sẽ quở: Chợ búa kiểu chi lạ rứa bây! Chớ nghêu sò ốc hên trốn đi mô?

Về nhà? Tôi hỏi. Sen nói không, một tay đưa ra ôm bụng tôi. Anh Tị có thuê một chỗ kín đáo, tụi mình về đó mần ăn, anh Tị nói rứa. Và Sen đưa địa chỉ. Chỗ ấy khá xa, ngoại ô vắng tẻ, hình như điện nước cũng chưa kịp lai vãng tới. Nhà tranh và đèn dầu, sắn khoai và ruộng nước. Đường đất và bụi đỏ. Nói chung là hiện hữu một nỗi quạnh vắng, lặng như tờ. Yên ả đến nỗi tôi nghe được một tiếng nổ từ thành phố vừa gửi về. Tôi hỏi Sen có nghe chi không? Sen nói chả nghe. Thắp đèn lên không? Đừng thắp. Và Sen thoát y. Rõ ràng cơ thể ấy là căn nhà ngói, chẳng chối cãi được. Mà dẫu là nhà tranh thì đã sao? Việc chi phải dè bỉu “đêm hôm nhà ngói cũng như nhà tranh”? Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Vú Sen vun đầy nhưng nghe được tiếng đập trái tim vọng dội qua bao chướng ngại sung mãn. Cởi đồ ra. Sen phát mệnh lệnh. Ngủ nghê xong, thức giấc lúc sáu giờ chiều sẽ có người mang cơm nước tới, sướng chưa?

Khi tôi thức giấc, trên bàn đã có sẵn nồi niêu ngự trị với cơm canh còn tỏa khói. Sướng chi lạ! Tôi nói mà Sen không nghe. Sen đang gầm đầu đọc một vuông giấy nhỏ bên ánh đèn dầu mù mờ, cô vội thu đi khi tôi bước lại bàn. Ăn kẻo nguội. Sen nói, xới cơm gắp cá so đũa cho tôi. Sen nhai uể oải, chẳng thiết tha miếng ăn, nhai nuốt cho có. Như cả mần cả ăn đều chẳng thỏa thuê, mất sướng. Mắt nhìn mông lung rồi gát đũa ngó vào mặt tôi. Thương tui không? Sen hỏi. Tôi muốn ho cho văng cái xương cá vướng ngang cuống họng. Nếu thực bụng thì tổ chức sẽ đứng ra tác hợp cho chúng ta. Tôi nuốt cục cơm, húp muỗng canh, cái xương mới chịu trôi xuống. Tổ chức? Là cái quỉ gì? Lần đầu tôi nghe tới. Sao không là anh Tị? Sao không là chạy u về hỏi ý kiến Mẹ tôi, người suốt đời buôn thúng bán bưng cặm cụi nuôi thằng Cu ăn học như người ta. Mười bảy tuổi hắn đủ tư cách làm chồng không? Nhà nghèo, khi không rước về đứa con dâu chuyên trị ở đợ thì lối xóm có dị nghị? Tổ chức, nó là cái gì mà quyền hành tự tung tự tác thế? Thôi ăn đi, ăn cho xong rồi chở Sen về lại thành phố.

Thu dưới góc giường là cái bao bố. Sen mò tay lôi nó ra, trong đó như sẵn chứa đống giấy tờ quen thuộc mà Sen chẳng cần mở ra kiểm chứng. Sen ôm nó vào lòng và cô sẽ rãi những tờ giấy chứa trong đó xuống khi tôi chở cô đi qua những đoạn đường chôn ngập bóng tối. Giống như Sen bị cưỡng bức về làm dâu chốn lạ và suốt lộ trình băng qua cô đã ngầm để lại những tín hiệu. Làm gì vậy? Ồ, chỉ là giấy vàng bạc để tưởng nhớ những người vừa mới mất. Lạ quá, tôi có hơi hồ nghi. Ai chết thế? Sao không đốt nó như người ta vẫn làm? Cho đứa bạc phước kia có chút bổi lận lưng xuống dưới mà trang trải mua sắm. Anh Tị vắng mặt ba bữa. Sen nói. Ba bữa đó chớ lại đằng nhà, nghe chưa?

Mẹ tôi ốm đột ngột, kêu xích lô chở qua nhà thương, bên đó xét nghiệm rồi đề nghị: Hãy mang bà cụ vào bệnh viện trung ương, trong ấy đủ đầy dụng cụ y khoa hơn. Tai ương bất ngờ, tôi xa anh Tị và Sen chẳng thể nói lời tạm biệt. Mẹ tôi moi sạch gia tài hai lượng vàng nhiều năm chắt mót để mang ra chống đỡ bệnh hoạn. Tôi theo “nước trong nguồn chảy ra” ngày một ngày hai thì hồng thủy ập tới. Con ơi, điệu ni biết ngày nào trở lại chốn xưa! Chộn rộn, lo âu, mặt cắt không ra giọt máu và đời sống phát minh ra từ mới: Tháng Tư đen. Bác sĩ chạy, y tá trốn, người dân vào hôi của băng bông thuốc thang kim chỉ dao kéo. Rồi người dân cũng tìm đường vượt biển, rồi từ ngữ tiếng Anh phát sanh hai chữ: Boat people. Hai mẹ con bơ vơ, chuyên chính vô sản thứ thiệt. Người sao bóc lột người quá lắm! Chết vào thời điểm ni thì cực quá con hè! Mẹ tôi than và vì thương con, bà gượng chống chọi, không đành để thằng Cu vất vưỡng giữa cõi trần oan nghiệt. Bà dì thương hại, níu kéo một thời gian nhưng sau rốt mẹ tôi quyết định lộn lui. Bà đưa lý do kỳ cục: Chết ngoài đó gần bà con thân sơ cho được mồ yên mả đẹp.

Anh Tị gặng hỏi rứa mi đi mô lâu ni? Mất tiêu làm tao tưởng bị ôn mệ bắt. Tôi thành thật khai báo mọi chuyện, tôi muôn đời là tấm vải sưa mặc dầu anh Tị đã chẳng còn mắt thánh. Mắt anh đục, lờ đờ như mắt cá ương. Chừ đã khác xưa, anh nói. Tao hỏi thật, thuở nớ mi có biết chút chi về tao và con Sen không? Tôi trố mắt ra, hình như anh đã bỏ được tật khạc nhổ, làm đúng chủ trương con người mới xã hội mới mình vì mọi người. Mi không biết, dĩ nhiên, bởi nếu mi am tường thì cơ sở đã bị bứng đi.

Lâu lắc chi cho cam, giờ ni anh Tị như rắn đang lột vỏ thay da. Anh đội nón cối anh mang dép râu, mắt lồi thêm ra bụng lớn hơn trước. Rứa chừ mi lao động việc chi? Tôi đi bưng cà phê chùi quét dọn dẹp cho quán cà phê Sao Vàng. Ừ, chớ xao lãng, lao động là cái quý nhất, nên lên án khắt khe bọn chây lười. Tao làm bên thành ủy, việc cơ quan bộn bề như núi, có chi gặp nhau sau, tao giúp mi phấn đấu vượt qua bao gian khó buổi đầu, động viên tinh thần khỏi chao đảo giữa bao tàn dư chúng còn cài lại. Anh cho tôi điếu thuốc có cán rồi rồ ga chiếc gắn máy chạy vụt đi. Ở quán cà phê kia tôi nghe bao điều khó tin về một cán bộ Tị có bí danh anh Ba Tỉ. Gặp anh tôi á khẩu chẳng dám hó hé căn nguyên tai vách mạch rừng. Chuyện tàn dư mà địch còn cài lại thì vô số kể, mấy hôm trước họ đã trói ké một thằng làm ở Ty thông tin văn hóa vì tội đi kẻ khẩu hiệu chẳng chịu tính toán bề dài bức tường để hụt mất chữ cuối. Thiếu một chữ và tù thì không rõ phải gỡ bao nhiêu cuốn lịch. “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng”. Chấm hết. Tường vôi chẳng dài để viết nốt chữ sau cùng, một chữ “ta” oan nghiệt!

Tuy mang tên Sao Vàng le lói, quán cà phê nọ cũng chịu cảnh thu môn bài đóng cửa dẹp tiệm. Tội danh quy kết: Lén lút mở nhạc vàng đồi trụy. Tịch thu toàn bộ loa máy băng hệ thống âm thanh nổi các thứ linh tinh. Mất việc, đời xô tôi về làm công nhân hãng chế biến mì sợi. Tôi không duy tâm nhưng luôn bị dấu hỏi số phần dằn vặt. Tìm chẳng ra đáp án cho một phận người bầm dập, bù trất câu hỏi quen nghe: Trứng có trước hay con gà có trước? Nhức đầu chớ chẳng chơi, cái ấy thuộc về phạm trù duy vật biện chứng; không đơn giản như phép tính 5 cọng 5 bằng 11 hồi nhỏ cô bắt thu cất hai bàn tay vào túi quần. Ăn hột vịt mà cô không giải thích do đâu cái kết quả kia là chẳng đúng! Công ty chế biến mì sợi liên doanh nọ chứa chấp công nhân đa phần là đàn bà con gái. Con gái đàn bà thì giàu có vô vàn những chuyện lạ, lại thêm nữ giới thường rộng lòng chia sớt hơn cánh mày râu mặt mày luôn kháu ó rầu máu như khỉ ăn ớt. Chẳng rôm rả nhưng miên man lê thê hết chương tới hồi, hết hồi lại… kẻng đã báo giờ ngày mai kể tiếp. Thịt không kịp liền da, miệng mồm hơi bị vô tư chẳng tự kiểm duyệt: Trứng rụng, có tháng, tắt kinh, ngứa cửa mình, thằng chả khóc ngoài biên ải, huyết trắng, chất nhờn âm đạo, xuyên tâm liên, đéo mẹ bị nó không chịu mang bao cao su, tiểu đường, lá đu đủ phơi khô đem đun nước uống, nghệ đập dập bôi vô, mụn trứng cá, dạ lần đầu dạ nôn ọe chuyện nhỏ dạ được bốn tháng rồi dạ ai cũng nói con trai cái bụng ngó nhọn hoắc… Chuyện xôm tụ đi được cả cây số thì vấp vào khúc quanh. Trước, nghe cho vui tai, chẳng để tâm. Nay, nghe háo hức, dậy tò mò. Họ đang nhắc tới nhân vật hiện giữ chức phó chủ tịch hội phụ nữ: Trần thị Sen. Người kẻ mày người thêm râu người dè bỉu người đằng hắng người ho khan, nhưng thảy những đường ngang nét dọc ấy đã minh họa ra chân dung một Sen chẳng nhầm lẫn. Và… Và cuối cùng tôi lại gặp Sen.

Sen nói giống anh Ba Tỉ: Tháng ngày qua lặn đi mô? Họ chết sông ba ngày thì trồi đầu lên bên này biệt tích một lèo như thể vượt biển! Dễ làm bảng kiểm điểm quá. Sen hỏi nghề nghiệp. Tôi khai: Công nhân chế biến mì sợi. Sen khen giỏi giỏi, lao động cho thật tốt rồi Sen giúp kiếm cho việc làm đỡ cơ cực hơn. Lý lịch trong sạch thế kia, chế độ ta ưu việt luôn biết nhìn người. Tôi nói phải phải, anh Tị cũng đã nói đúng đúng, mi khéo mần ăn. Chữ mần ăn tôi lên giọng có hơi to. Và Sen đi guốc trong bụng tôi, và Sen truyền đạt: Giờ này khác trước, nhớ ngó trước trông sau, nhớ dán băng nơi miệng kẻo môi hở răng lạnh. Mần ăn… Chao ôi! May mà hồi trước chẳng bị mang thai, nếu không đã cản trở con đường kách mệnh! Sen kể chi ly: Bao nhiêu lần đặt chất nổ giết hại dân lành trong chợ, rãi truyền đơn, mang thuốc Tây cho cơ sở chuyển lên Trường-sơn, xử kín một vài tên có nợ máu phản bội mặt trận… rồi kết luận công sức ấy thành tựu do bởi sự hợp tác “liên doanh” cùng tôi đến thắng lợi cuối cùng.

Anh Tị chán lắm, Sen nói, không chừng mà ảnh bị khai trừ khỏi đảng. Người yếu đuối, không giữ vững lập trường, gia đình bên vợ khinh miệt, ai đời mà giờ này có khi họ rống to: Việt cọng đâu ra ăn cơm! Vợ chồng sai quan điểm uốn nắn nhau rồi vợ nổi doá úp nguyên tô canh lên đầu chồng. Hội phụ nữ chỉ bênh vực và đứng về phe phái yếu bị bắt nạt. Đằng này khác, mình muốn nhảy ra giúp anh Tị mà biết vin vào lý do chi? Chuyện nội bộ, chồng không cải tạo được vợ mà chồng nhẫn nhục chịu đựng như thế ắt anh Tị có dụng tâm. Gặp Sen, mặt anh tái xanh: Ẻ ba bại. Cục cứt họ. Đồ ba de, chơi không được. Không biết anh chửi vợ con hay giận lẫy cuộc đời.

Đợi trời nhá nhem Sen dắt tôi về căn hộ hẹp té do cơ quan bố trí phân chia. Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Để coi, cách mạng đã thành công xem mần ăn có khấm khá hơn xưa, cái hồi mà cứ lấm lét thầm thà thậm thụt mất sướng. Tôi ngó giang sơn màu mỡ gấm vóc rừng vàng biển bạc đang ngửa thân đợi chờ để dốc lòng làm thằng giặc xâm lược tiền pháo hậu xung. Vị phó chủ tịch hội phụ nữ như hoa thiếu nước lâu ngày, ướt chút nào tươi mươi chút ấy. Cánh mở ra, hưng phấn nhụy đài run rẩy thân cành. Tưới cho tới giọt cuối mà hoa cũng vùng vằng đòi ơn mưa móc. Chịu thôi, cơm độn khoai, bột mì làm chuẩn thì chẳng thể đánh kiểu chính quy. Làm thằng du kích thò mặt bắn tiả một phát phải lo thu súng mà trốn vào địa đạo, ấy là chiến thuật vậy. Binh pháp gọi đấy là lùi một bước mà tiến hai bước, trường kỳ kháng chiến thắng lợi ắt về ta.

Sen ngồi dậy lau mình lau mẩy lau nách lau tay rồi trườn thân vói lấy con dao gọt táo cắt cam bồi dưỡng cho đồng chí đang nằm thở lại sức. Quan hệ tụi mình hơi bất chính, chắc phải rán đợi thời gian chín mùi mới công khai sự việc. Sen phát biểu. Nhìn qua động thái cắt bổ trái cam, tôi biết con dao Sen cầm hẳn cực bén. Dao hoa lên, vung vẫy theo từng lời ăn tiếng nói. Từ giờ trở đi, tuy bất chính nhưng chúng ta cũng tợ vợ chồng, chớ có lén phén đi ăn phở chùng vụng. Liệu thần hồn có ngày tui cắt chim.

Tôi nằm co quắp trên giường làm bộ sợ hãi. Tôi nhớ anh Tị, định phán: Con mèo rụng sợi lông, nhưng nghĩ lại tối nghĩa. Tôi vuốt xoa tấm lưng trần của Sen: Ê ba bại! Vất dao đi, đút cho tui thêm chén cơm, đây chả thèm phở. Trời, làm chồng vị phó chủ tịch hội phụ nữ ngu sao còn dòm hoa thưởng nguyệt, được voi đòi… hai bà Trưng. Tui là mèo mà Sen là cục mỡ của kẻ hèn này. Tôi ôm Sen, Sen cười thích thú. Tôi sờ soạn thăm dò, Sen hít hà điệu bộ thành khẩn. Sen nhắm mắt tôi mó tìm công tắc đèn. Trong bóng tối tôi đọc thầm khẩu quyết: Ẻ ba bại, ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh!

Hồ Đình Nghiêm

Con ma nhà họ Thích

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Con ma nhà họ Thích

Hồ Đình Nghiêm

Đạm Hạnh gửi thân vào chùa đã hơn mười mùa lũ lụt. Thập niên quét lá ngoài sân, lau chùi vệ sinh ở chánh điện, rót nước dâng hương và canh giữ thùng phước sương nghiêm ngặt, nói chung là làm việc lặt vặt, linh tinh, nhàn nhã. Đêm về, lui hậu liêu gõ mõ tụng kinh qua loa rồi lăn đùng ra chiếu ngủ say. Mười năm trời vô tư vô số tội chưa thông ngộ ra một điều gì cả, lòng hoài nghi và không hiểu cớ sao kinh sách lại có câu “Ta không vào địa ngục thì ai vào?” Thiên đường, địa ngục, ngoài kia bá tánh vẫn kêu trời. Hai cảnh giới đối cực kia sao mãi nhập nhằng, kẻ nói này người nói nọ. Ông nói “đất nước này đáng sống nhất hành tinh”. Bà la “địa ngục đấy, chết đi mày”!

Ngang trang lứa với Đạm Hạnh có ba chú tiểu khác. Ba chú này tiếng là xuất gia nhưng lòng luôn mang sự ganh tị, về cách chia việc bất công, không đồng đều của sư trụ trì. Bao việc khó đều chỉ định ba đứa ta đổ mồ hôi ra, riêng “thằng” Đạm Hạnh dường như được ưu đãi, nuông chìu, bảo ban giao toàn cả việc nhẹ. Ăn cũng nhiều, ngủ cũng nhiều mà hắn coi mòi “chây lười lao động”. Chùa chưa từng bày cảnh phê bình kiểm thảo, mang thói hư tật xấu của hắn để phản ảnh lên trên thì sợ sư thầy quát “ác khẩu, ngậm máu phun người, khẩu nghiệp”. Ba chú đồng lòng đi tới kết luận: Kệ mẹ nó!

Thế nhưng, một ngày kia sư trụ trì Thích Thương Thiện đã gọi Đạm Hạnh tới giao việc, mà không chừng là việc khó. Ba chú tiểu thấy thế, đang gánh nước, đang nhặt rau, đang chổng mông thổi lửa bèn dừng công việc, ngửa mặt lên vuông trời đầy bụi ô nhiễm mà cất giọng thống khoái: Có vậy chứ, sai nó “xuống núi” một lần cho biết thế nào là lễ độ.

Đạm Hạnh rót nước trà sen đặc sản Huế dâng lên sư thầy, xong lui ngồi xếp bằng trên vuông gối nhỏ đợi nghe chỉ thị:

– Nhìn con, tâm ta xao động đâm nhớ tới một người. Mô Phật!

Nhập đề mông lung, sai lạc xong mới vào tới thân bài. Bàn tay thôi lần tràng hạt, mắt đảo quanh không gian vắng lặng chẳng bóng người:

– Con xuống phố thị tìm người trao hai lá thư. Ta có ghi tên ở ngoài và có đánh số 1, 2. Tìm số một trước, xong đâu đó rồi mới lần tới số hai. Đời vô thường, sự vật đổi thay, nhưng trời sinh mình có lỗ miệng để hỏi han, rồi con sẽ hoàn thành trọng trách ta giao phó. Trong chùa này, chỉ có mình con là ta còn tin cậy thôi. Thư đây, thu cất chỗ kín đáo, coi chừng bị đánh rơi. Mình là người tu hành, ra đường con đừng mang dép, cứ thế mà chân cứng đá mềm. Đi sớm về sớm.

Đạm Hạnh bước qua cổng chùa để hoà nhập vào chốn bụi trần. Thiện tai! Người đâu mà đông quá thể? Dương gian này người chết sao chóng đầu thai. Cứ một chôn xuống đất thì hai, ba lại mở mắt khóc oe oe trong “xưởng đẻ”. Thiện tai! Luật bù trừ coi bộ mất linh nghiệm ở cõi đời này. Đạm Hạnh ngang qua một quán nhậu thịt chó, khói mờ dồn ra mùi thơm nghe quặn ruột. Có đứa ngồi rung đùi trên ghế quen ăn tục nói phét: Ngó vậy đó chớ đừng khi dễ nha, nó đâu có đi khất thực hồi nào, bây giờ chúng toàn ở trong mát mà ăn bát vàng, hổng chừng mà tay thu trong áo nâu sòng lại đang nắm cái di động siêu mỏng chớ đâu xài thứ điện thoại cùi bắp như bọn mình.

Tìm đúng ông số 1, Đạm Hạnh trao ra lá thư. Vợ ông ấy dòm chừng chú em gia đình Phật tử, ngửi ra chuyện không hay. Thư ai vậy anh? Có chuyện gì không anh? Thì đó, lần trước bà đi xin bùa xin xăm xin sao giải hạn lung tung beng thứ, giờ bị người ta đòi nợ. Chú em có mang theo túi xách gì không? Trời ơi, tám chục triệu đâu phải nhỏ chú em. Ôm giữ vén khéo không thì an nguy tới tánh mạng, nó phóng xe tới giựt rồi kéo lê chú em cho đến lúc tìm về cực lạc luôn đó. Ngán hăm? Đạm Hạnh chắp tay: Xin cám ơn từ tâm ạ. Xin bái biệt ạ! Bà nữ thí chủ từng quỳ lạy cho mòn gối ở chùa la lên: Ủa, ngài trụ trì không viết sẵn cái biên nhận hả? Vậy mai này lỡ có gì… Ông số một vịn vai bà vợ: Em khéo lo, người ta tu hành ăn chay niệm Phật, người ta sếp sòng một ngôi chùa đình đám khách thập phương lai vãng, chẳng có lý gì lại… Đã nhớ mặt tui chưa? Tui nhớ mặt chú rồi đó. Về thưa bẩm thầy là mọi thứ đều ô kê. Coi chừng xe đụng.

Đạm Hạnh lại tiếp tục cuộc hành hương tìm về chủ nhân phong thư số 2. Hỏi người này người nọ, ai cũng nói “xa mút chỉ cà tha” đó cưng. Đành phải leo lên xe ôm. Ông già ốm dơ xương hỏi: Về chùa nào? Trong chu vi ba chục cây số vuông chùa chi tui cũng rành đường đi nước bước để lèo lái tới, chùa nào khuất xa thì tui hổng thồ chú đâu nha. Đạm Hạnh nói: Đi với Phật mặc áo cà sa, nhưng chẳng lẽ tui mặc áo lam là chỉ vô chùa thôi sao? Bác xe ôm cười hề hề: Tóc chú cạo láng bóng như thế thì chẳng lẽ tìm tới tiệm hớt tóc thư giãn nó lo cho từ a tới z. Mẹ, nói mới nhớ, nghèo khó luôn bó cái khôn, bó luôn cả cái sướng. Hổng chừng mò ra Đà Nẵng, thành phố đáng sống nhất nước mà đăng ký cái hộ khẩu. Chú người tu hành vậy có tin tới chuyện luân hồi? Kiếp sau tui sẽ làm đờn bà ba vòng đủ tiêu chuẩn, chỉ có thế mới thôi ca bài “đời là bể khổ”.

Chừng cháy rụi một cây nhang, xe đã tấp vô “mái tranh nghèo không người sửa sang” khu vườn thiếu đủ thứ. Bác xe ôm nói: Tui đâu có rành chuyện chặt chém, hô giá đó vì tui là người tử tế, mặc dù tui biết bây giờ người của chùa ai nấy đều giàu sụ.

Người đón nhận lá thư số hai là phụ nữ. Bà mở lá thư ra đọc, khuôn mặt luôn thay đổi. Cảm xúc biểu lộ qua cau mày, nhíu vầng trán, mũi nở to. Bà đọc như kiểu người ta đang niệm kinh, lớn tiếng khi đến đoạn: Em tạm cầm lấy tám chục triệu này nhằm trả công em đã không lên chùa làm tình làm tội. Lần tới anh sẽ biểu thằng cu Đạm mang thêm, dùng tiền đô của Mỹ cho gọn nhẹ. Nước mắt bà chảy ra, bà ấp lá thư vào ngực, mắt ngó không nháy tới “con chim xanh” vừa trao thư, vừa làm cánh nhạn là đà, tung cánh chim về nhìn sơ qua tổ ấm. Con. Bà chỉ thốt được một tiếng, cổ nghẹn nói chẳng ra lời. Đạm Hạnh nhìn người đàn bà bất hạnh, linh cảm có điềm bất lành. Con muốn ở với má hay tiếp tục lui lại chùa với ổng? Má là má ruột của con đây Đạm à. Trước, má cũng đi tu, ni cô này bị ác tăng cưỡng hiếp nên sức mọn cô thế đành hoàn tục tìm nơi vắng để sửa mình. Má sanh ra con, nuôi tới ba năm chịu đời không thấu liền cho con uống thuốc ngủ, viết lá thư nhét trong túi áo, đêm hôm thanh vắng mang con đặt trước cổng chùa, ơn đền oán trả…

Đạm Hạnh ném gói tiền xuống đất, quay đầu ù té chạy như bị ma đuổi. Chú không nhẫm thầm A di đà Phật mà chú nghiến răng trèo trẹo: Địt mẹ, tao về cạy thùng phước sương, tao vơ vét sạch tiền mấy đứa nhẹ dạ cúng dường cho vào ba lô, tao đi giang hồ xuyên Việt trả thù đời. Tao ăn cắp cái đồng hồ giá trăm cây vàng của “ông già dê”, tao trộm luôn cái di động iPone X của ổng. Đừng trách tui nha, hoà thượng Thích Thương Thiện.

Ngôi chùa bề thế đó rồi. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa vàng liềm vàng treo một hàng phất phơ cùng gió chướng. Mẹ rượt, hổng biết tía tôi lên chức trụ trì thì cần bao nhiêu tuổi đảng? Ma giáo thật!

Hồ Đình Nghiêm
Halloween, 2019

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 5 August 2015

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Cơm Tù

Bài 24

Cây Cải trời

Ở “tù Việt Cộng” mà nói “Cơm Tù” là trật lất, bởi vì Việt Cộng có nuôi tù bằng cơm bao giờ đâu! Cũng không thể gọi Việt Cộng nuôi tù. Chính là tù nuôi tù. Tù trồng khoai mì (sắn) nuôi tù; tù trồng rau nuôi tù… và nuôi cả Việt Cộng nữa.

                Việt Cộng vô ơn và tham lam. Không những bọn chúng không nhớ ơn tù trồng tỉa nuôi chúng, mà chúng còn giành lấy cái ngon, cái tốt. Cái dở, cái siu thúi, hư mốc thì đem cho tù ăn.

                Trong trại tù, con chi ăn được là người tù ăn, rau trái chi ăn được là người tù ăn, dù cái ấy là người tù nuôi trồng hay thú hoang, cây lá mọc hoang.

                Có một thứ cải không ăn được, không ai dám ăn!

                Đó là cây chi?

                Khi tôi còn ở “Đội Mộc”, đội mộc gồm nhiều tù nhân gốc miền sông nước Cửu Long, nói nôm na là gốc “người nhà quê” nên so với dân thành phố như chúng tôi, lớn lên quanh quẩn trên những con phố, đại lộ, biết gì về rau trái mọc trong vườn, trong đồng, nên một hôm tôi ra khoảng sân trống giữa đội mộc và xưởng cưa, hái mấy cây cải, định đem về luộc ăn chơi. Nói thật lòng, không phải “ăn chơi”, mà “ăn no”, “độn” thêm rau vào bụng cho no, như mẹ tôi thường nói theo câu tục ngữ, “Đói ăn rau, đau uống thuốc”.

                Thấy tôi cầm mấy cây cải trong tay, cựu Đại úy Nguyễn Tấn Trí, ông nầy gốc là lính của ông Năm Lửa, nói:

                – “Cây “cải trời”, không ăn được đâu!

                Ông Trịnh Xuân Chính, đúng là “chuyên viên hạng hai” của Văn phòng Phụ Tá Ngoại Vụ Tổng Thống, chẳng biết mô tê gì cây lá miền quê, “cải” lại, đúng “lý thuyết”:

                – “Đã gọi là cải sao không ăn được?

                Ông Trí thực tế hơn:

                – “Không ai ăn được nên không ăn được.”

                Tôi cũng mù tịt về hoa lá “vùng nước nổi” bèn hỏi:

                – “Cây nầy là cây cải chi?”

                – “Cây cải trời.” Ông Trí nói lại.

                Ông Cựu Đại úy Lương Văn Lịch, nhìn vấn đề theo “lăng kính chính trị”, cười nói:

                – “Mấy cha nầy cãi nhau vô ích. Cây “cải trời” là “cây Cộng Sản”. Chỉ có Việt Cộng mới cãi lại Trời. Mấy ông ăn vô là thành Việt Cộng. Bộ ưng thành Việt Cộng lắm hả?”

                Tù mà thành Việt Cộng thì mau được tha. Ai cũng muốn được tha, nhưng không ai muốn thành Việt Cộng. “Đời là thế đấy!”

                Tôi đem mấy cây cải bỏ vô đống mạt cưa, vừa cười vừa nói:

                – “Cho nó vô mạt cưa. “Mạt cưa mướp đắng gặp nhau là xứng đôi.” Đấy là tôi nói theo ý một câu Kiều. (Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng. Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề)

Nấm Chỉ

                Tôi và anh Lã Trung Tâm đang ngồi ăn chiều. Trời cuối hè, cái nóng bớt đi, mấy hôm nay buổi tối có mưa lai rai. Trời âm u và có nhiều sương. Dù trời thế nào, cũng lo ăn cho mau xong, còn rửa chén bát và tập họp “vào chuồng”, tức là Công an điểm danh, cho vào phòng và đóng cửa lại.

                Bỗng anh Tâm nói:

                – “Tụi thằng Đông thiệt ghê! Không biết nấm chi mà nó dám ăn!

                Tôi nói đùa:

                – “Nấm chỉ đó anh!”

                Anh Lã Trung Tâm nôn nóng:

                – “Răng” mi biết nấm chỉ. Nấm đó ăn được?” (Ăn chung với tôi, anh thường bắt chước tôi dùng: mô tê, răng rứa để chọc quê tôi.).

                – “Tui nghe Ngọc Xùi nói. Không biết ai nói với nó là nấm chỉ.” Tôi trả lời.

                – “Tao chưa nghe ai nói cái thứ nấm chỉ nầy bao giờ. Nấm mối, nấm rơm, nấm Đông-Cô… Làm chi có cái thứ nấm chỉ mà ăn được.”

                Tôi cười:

                – “Anh đúng là “ông già ham vui” mà chẳng biết gì cả. Bọn nó nói, ăn xong, cả bọn thằng Đông kéo nhau lên Trạm Xá xin thuốc. Bác sĩ Đôn hỏi đau chi? Bọn nó chỉ vô họng. “Á khẩu” hết rồi, không nói được, nên đưa tay chỉ vào họng. Không gọi là “nấm chỉ” thì gọi là chi?

                – “Mày!… “đâm hông không?”

                – “Không phải tui. “Không phải tui mấy ông ơi! Người ta mới cho tiền để tui cưới vợ. Tụi nó nói, không phải tui nói ông Tâm ơi!”

                (“Không phải tui mấy ông ơi.” là câu chúng tôi thường nói nhại theo Nguyễn Văn Trỗi, hôm y bị đem xử bắn.)

Sự việc là, hôm ấy phá rừng về, Dương Tiến Đông và một đám khoảng bốn năm người, mỗi người ôm một cái mũ hay nón đựng đầy nấm. Bọn họ kéo nhau ra hồ nước rửa sạch nấm, nhóm lửa để luộc, lấy muối ớt làm nước chấm. Sau đó, mấy chả đem ra ăn, hì hà hì hụp khen ngon.

Có người hỏi:

– “Biết nấm có ăn được không, mấy ông ăn với nhau.”

– “Được chớ! Được chớ. Ngon lắm!” Đông nói.

– “Sao ông biết ăn được?” Có người hỏi.

– “Hễ nai ăn được là mình ăn được!” Đông trả lời.

– “Làm sao ông thấy nai đang ăn?”

– “Có dấu chân nai. Chỗ nấm có nhiều dấu chân nai.” Đông trả lời.

– “Thôi đi! Để chúng nó ăn. Ông hỏi khắc hoài, nổi sùng, nó cự cho bây giờ.”

Thế là họ bỏ đi.

Đêm hôm đó, không thấy ai rên la gì. Ai nấy ngủ ngon.

Đúng là trời không hại người ngay bao giờ!

Thuốc Suyễn

Nhiều người từng bị suyễn khi còn nhỏ, như ông Trịnh Xuân Chính chẳng hạn.

Tới năm mười tuổi, ông Chính hết bệnh suyễn. Người ta bảo là khi đã lớn hơn chút ít, nhờ ăn uống đầy đủ, nên người ta không còn bị suyễn.

Tới khi vô trại tù, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chất kháng sinh yếu đi, bệnh suyễn lại tái phát.

Mỗi lần Chính lên cơn suyễn, trông tôi nghiệp lắm. Ngồi tựa lưng vào tường, lót hai ba cái gối, người anh gục xuống, tóc rủ rượi, mắt nhắm nghiền, thở khò khè, như có ai lấy tay chận ở cổ họng anh, không cho anh ta thở.

Huỳnh Hà Đông ngồi trước mặt Chính, chờ Chính biểu gì làm nấy. Chính đưa tay chỉ phía trái, Đông không hiểu Chính muốn gì nên chưa kịp làm chi thì Chính đã nạt: “Bơm. Bơm!” Đông hiểu là lấy ống thuốc bơm để thở. Đông vội choài người tới phía đó, tay chụp ống bơm, mở nắp đưa ngay cho Chính. Chính trợn mắt nhìn Đông, tuồng như chê Đông chậm chạp.

Một lúc, cơn suyễn nhẹ bớt, Chính thở được, nhẹ nhàng. Đông đỡ Chính nằm xuống, lấy gối lót đầu, lấy cái quạt giấy quạt nhẹ cho Chính.

Chính dần dần đi vào giấc ngủ êm.

Bấy giờ Đông mới trụt xuống tầng dưới, lấy nước uống. Anh Chung Văn Nghiêm vội đưa cho Đông chén trà nóng. Anh Nghiêm nói:

– “Nước nhì đó! Ngon lắm.”

Trà Đỗ Hữu chính hiệu, nước thứ hai mới thật là ngon.

Hớp một hớp trà xong, Đông cười:

– “Ổng làm tui khiếp luôn. Không nói được, ông đưa tay chỉ. Tui biết cái gì mà lấy. Chưa kịp, ổng nạt cho một tiếng.” Nói xong, Đông cười hề hề.

Khi chúng tôi bị chuyển ra trại ngoài, trại mới xây bên chân “Đồi Phượng Vĩ” thì tình trạng thăm nuôi đã tệ lắm. Ở tù đã hơn năm năm rồi, lâu quá, gia đình cũng đuối sức. Thức ăn đã ít đi nhiều mà thuốc men lại thiếu lắm, có thứ thuốc không có. Gia đình dù có tiền cũng tìm mua chưa hẳn đã có, chưa nói là thuốc Tây thì “bán dưới đất mà giá thì trên Trời.”

Trong hoàn cảnh đó, cái ăn đã “tự biên tự diễn”, đào trộm củ khoai củ sắn, nắm lá nắm rau, mà thuốc thì tự tìm lấy nơi đồng hoang cỏ dại.

Sau Đồi Phượng Vĩ có con suối ngầm.

Có lẽ nước mưa thấm vào ngọn đồi, chảy ra thành một con suối phía sau đồi. Nước suối từ chân đồi chảy ra, khi nhiều khi ít, tùy theo “hai mùa mưa nắng”, nhưng dòng suối ngầm, nước không bao giờ dứt.

Nhờ có nước, hai bên bờ suối, rau sam mọc nhanh và rậm. Đó là món “cải thiện” trời cho của anh em tù chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng xuống suối hái rau. Hôm trước mới cắt rau, hôm sau rau đã mọc xanh đầy. Món rau “cải thiện” của chúng tôi không bao giờ cạn kiệt.

Những ngày nắng hạn, suối nầy cũng là nơi tập trung của các loài ếch nhái, chồn cáo. Chồn cáo thì chúng tôi chưa bắt được, nhưng ếch nhái, cũng có người “vồ được”, chặt đầu, lột da, nướng ăn với muối hay chiên xào với rau, nếu anh nào có chút mỡ, tiêu, hành.

Cũng lắm khi có mấy chú rắn tìm về đây. Rắng cần nước hay vì nơi nầy có ếch nhái? Điều đó không quan trọng! Quan trọng là rắn độc hay không độc, hễ bị chúng tôi phát hiện thì “mày chạy đằng nào!” như lời Đông nói, mỗi khi anh ta bắt được rắn. Có lần anh ta bắt một lần được những hai con. Không hiểu căn cớ vì sao, Đông phát hiện hai con rắn, con nầy nuốt con kia, nửa chừng hai con rắn nằm lại đó, chờ Đông đến bắt lột vỏ, nướng ăn.

Mỗi khi bắt được một con rắn, như một thông lệ, sau khi đâp đầu rắn, lột da, người ta kêu:

– “Trắc đâu! Trắc đâu!”

Con rắn vừa bị lột vỏ, bộ lòng hiện ra, tái tim còn đập. Người ta moi ngay cái mật rắn, đưa cho Trắc. Trắc cầm cái mật rắn, ngữa cổ, bỏ vào miệng, nuốt đánh ực môt cái. Xong, Trắc đưa tay vuốt ngực, nói: “Khỏe quá! Khỏe quá!”

Khỏe gì đâu! Mật rắn đâu phải là thuốc tiên. Trắc bị suyễn, nghe ai nói đâu đó, bảo rằng nuốt mật rắn thì hết ngay. Vì vậy, một khi bắt được một con rắn, anh em thường lấy cái mật mà cho Trắc. Nhờ vậy, Trắc ít bị lên cơn suyễn như trước kia. Đó là món thuốc suyễn kỳ diệu!

Có lẽ ông Hoa Đà tái thế mà giúp Trắc đó chăng?!

Tên Trộm Bầu

                Đội Rau Xanh có một khoảnh đất phía sau trại, từ hàng rào dài tới bìa rừng – Chỗ nầy ông Cựu Thiếu Úy Châu Tử, Đội trưởng Đội Vệ Sinh, có cái hầm phân người. Đội Vệ Sinh đổ phân xuống đó hằng ngày, chờ khi phân đã “hoai”, có khi chưa kịp “hoai” cũng moi lên, đem bón vào ruộng rau, cho rau mau xanh, mà làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa.”

                Mấy chú Miên Đội Rau Xanh thường “phát huy sáng kiến”. Thường mỗi “đội viên” có một khoảnh đất nhỏ cho riêng mình. Sau khi hoàn tất công việc của đội, họ lo cho khoảnh đất riêng. Họ nhờ gia đình đem lên cho ít hột giống để họ tự trồng thuốc lá mà hút, xà lách, đậu bắp mà ăn. Gia đình khỏi “tiếp tế”. Họ làm giàn trồng một ít bí, bầu…

                Sau mùa xuân, cây trái ra hoa xong, bầu bí bắt đầu có trái, trông ngon mắt.

                Buổi tối, đội viên về trại. Sáng hôm sau trở ra, họ bị mất một ít trái bầu, trái bí. Có hai thành phần thủ phạm trộm bầu bí: Một là mấy cán bộ Công An có gia đình, hái đem về nhà. Hai là mấy chú “dộc” từ trong rừng ra.

                “Dộc” là một loài “hầu”, con cháu ông Tề. Ông Tề lông vàng, vì ông Tề sinh trưởng ở Châu Á, còn mấy chú “dộc”, có nguồn gốc “Châu Phi đen”.

                Một hôm, mấy chú Miên làm bẫy sập bắt được một chú “dộc” đem về trại. Nó bị trói vào cột nhà. Mặt mũi nó là khỉ, nhưng chân tay dài như một đứa con nít hai ba tuổi thiếu ăn. Thấy người tới, con “dộc” sợ hãi nhìn mọi người, nước mát chảy xuống hai dòng theo khóe mắt. Ai cũng thấy tội nghiệp cho nó.

                Trong hoàn cảnh ăn uống đầy đủ, chưa hẳn người ta tha mạng cho nó, huống chi trong cảnh tù. Thịt con “dộc” dù có dai, không thơm, dù thấy nó tội nghiêp. Giết nó rồi, lông đen cạo sạch, da trắng ra, nó nằm dài trên mặt đất như một đứa con nít. Thịt con “dộc” được xào nấu, luộc, kho để mấy chú Miên chén một bữa ngon lành.

Thịt là nhục

                Khi ở Trại Suối Máu, nhờ gia đình thăm nuôi, có người nuôi gà, nuôi vịt. Nhờ vậy nên người ta không còn ăn những con ốc trơi, ốc ma bắt được ngoài hàng rào.

                Khi chuyển trại đợt đầu, – sau nầy mới biết là đi Phước Long – tham gia cái gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế” là chương trình do Võ Nguyên Giáp đề ra – những tù cải tạo ra đi đều được đem theo gà vịt sống đang nuôi. Đợt hai, – sau nầy biết là bị đày ra Bắc – tù không được đem bất cứ cái gì theo, ngoài cái Bộ Đội ra lệnh là “bồng gọn nhẹ”. Thế mà anh bạn Huỳnh Văn Khánh của tôi cố đem theo con vịt anh đang nuôi. Khánh dấu con vịt sống vào cái bị bàng, nhét vô ba-lô. Có lẽ con vịt chết ngộp khi mới xuống tầu ở Tân Cảng.

                Trước khi chúng tôi chuyển trại về Xuân Lộc, Bùi Xuân Toàn với Đào Sơn Bá làm thịt một con mèo Toàn đang nuôi. Không biết do đâu Toàn có con mèo con để nuôi, nay mèo đã lớn, làm thịt được rồi.

                Có người nói:

                – “Đừng ăn thịt mèo. Mèo xui lắm.”

                – “Xui gì mà xui. Dị đoan. Thịt mèo ngon lắm.”

Giết mèo xong, Toàn và Bá đem mèo ra giếng cạo lông, mổ bụng, làm thịt. Sau đó, họ đốt lửa nấu thịt mèo.

Bá nói:

– “Thịt mèo ngon thiệt, còn hơn thịt bê.”

Có người nói mỉa:

– “Mèo mà cũng đem làm thịt ăn.”

Tôi nói:

– “Con chó có nghĩa với chủ. Chủ cũng làm thịt chó của mình mà ăn, nói chi mèo.”

Có người lại cười:

– “Thịt là nhục. Ăn miếng thịt thì không nhục!”

Ấy là người ta “chơi chữ” đấy.

Con Bơ

                Con kiến dương hình dạng như con bọ hung, chỉ khác là hai cái sừng nhọn hơn, hình dạng như sừng nai. Hôm đội tôi được lệnh dọn đất phía sau Đồi Phượng Vĩ, để lấy thêm đất trồng, phải bứng mấy cái gốc cây bị đốn đã lâu ngày. Gốc và rễ mục đi một phần.

                Khi chặt một cái rễ lớn, rễ toác ra, Đông phát hiện trong rễ có một con sùng, trắng và to hơn ngón tay cái một chút. Cầm con sùng trong tay, Đông nói:

                – “Con sùng. Mình có nhiều mỡ, trông như bơ.”

                Nói thế rồi Đông thổi cho bay một chút đất còn dính trên mình con sùng, bỏ vào miệng nhai, tấm tắt khen:

                – “Béo! Béo lắm. Mỡ nó như bơ.”

                Trắc nói:

                – “Sùng chớ bơ gì. Con sùng mà cũng ăn.”

                – “Mày ăn mật rắn trị bệnh. Tao ăn con bơ cần chất béo. Có gì đâu!”

                Tôi nói:

                – “Nó con trùng của con bọ hung đấy! Ai lại ăn bọ hung.”

                – “Đâu phải bọ hung. Anh “xuyên tạc” không. Nó là con sùng của con kiến dương.”

                Tôi nói đùa, qua câu đối của Cống Quỳnh ngày xưa:

                – “Trời sinh ông Tú Cát, Đất nứt con bọ hung.”

                Ngọc xùi nói:

                – “Mai mốt “mệ Hải” moi trong đống phân bò bắt con bọ hung cho thằng Đông coi.”

                Tôi cười:

                – “Ai hơi đâu mà làm, chọc Đông chơi!”

                Mấy ngày sau, trong khi bứng gốc cây, hễ gặp con sùng nào là người ta gọi to: “Đông ơi! Con bơ của ông đây.” Đông vội chạy tới, nắm con sùng, bỏ vào miệng ăn ngon lành, còn bảo: “Con bơ béo quá!”

“Con chó khóc đứng khóc ngồi,” (ca dao)

                Khi đội chúng tôi lãnh phần đất canh tác phía sau Đồi Phượng Vĩ, Dương Tiến Đông làm Đội trưởng. Cán bộ Hoành làm quản giáo.

                Đông là người lanh lợi, giỏi buôn bán. Nhờ cái tài ấy, anh ta “xỏ mũi” dắt quản giáo và Công An như chuyện đùa.

                Mỗi sáng, khi ra tới bãi, nhóm lửa, nấu nước. Nước trong thùng vừa sôi là anh Nghiêm bỏ một gói trà Đỗ Hữu vào “gô”. Đông bưng tới cái chòi cao cho vệ binh, móc trong túi ra một gói thuốc lá Phúc Khánh, cái hộp quẹt “gas”. Anh ta nói, “Mời cán bộ.” Xong, anh ta “đi buôn”. Trong khi đó toàn đội chúng tôi, kẻ đi mài cuốc, người cuốc đất, “lu lơ” cho hết giờ.

                Đông lận trong mình, khi thì một, khi thì hai bộ quần áo mới do trại cấp phát, đem ra mấy cái quán của xóm nhà dân, nằm bên cạnh con lộ từ Giá Rai đi Võ Đắt – Võ Xu để bán cho dân.

                Nhiều anh em tù không mặc đồ tù do trại phát, mỗi năm một hay hai lần. Đó là những bộ đồ màu xanh lam, may theo kiểu nông dân thường mặc, sợi vải to và xấu, chưa mặc sợi chỉ đã bung, đường may chưa mặc đã đứt. Họ nhờ Đông đem bán, mua một ít thực phẩm để ăn thêm. Họ vẫn mặc những bộ treilly cũ, sờn rách, vá chằng vá đụp.  Dù sao thì những bộ quần áo ấy cũng bền hơn thứ trại cấp phát nhiều.

                Bán quần áo xong, Đông mua “hàng” về bán lại cho anh em trong trại: Vài nãi chuối, vài trái đu đủ, gói thuốc lá, chai dầu gió trị bệnh, con cá lóc, v.v… Đông kiếm ít lời, lại mua trà và thuốc lá “chiêu đãi” cán bộ. Nhờ Đông biết xoay xở, nên anh em chúng tôi lao động tà tà qua ngày. Quản giáo cũng như cán bộ vệ binh, chẳng theo dõi, đốc thúc chúng tôi cuốc đất, làm cỏ gì nhiều!

                Cái tiếng “có trà và thuốc” của đội tôi làm cho nhiều vệ binh biết tới, nên có hôm, mới ra tới bãi chưa lâu, đã có tên vệ binh hạch hỏi, “Trà lá đâu?!”

                Điều đó làm cho anh em chúng tôi thấy một điều. Té ra Việt Cộng đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột”, “cường hào ác bá” thì chúng lại có những cái tư tưởng, hành động như cường hào, bóc lột và hách dịch không khác chi giai cấp mà chúng đã đánh đổ. Lịch sử xã hội chỉ là con đường vòng.

                Thế rồi một hôm Đông phổ biến tin tức: “Ai muốn mua thịt chó thì đóng tiền!” Có người mua một ký, có người hai ký, có người nửa ký, v.v…

                Số là hôm rồi, Đông rủ quản giáo Hoành “đi nhậu chơi”. Hai người đi tuốt vô một xóm Thượng. Đông gạ một người Thượng bán cho Đông một con chó. Người Thượng ấy đồng ý. Vì vậy, khi về trại, Đông phổ biến việc mua thịt chó.

                Thu tiền đâu đó xong rồi, hôm sau, Đông rủ thêm một bạn tù nữa, tôi không nhớ là ai, cùng quản giáo Hoành đi mua chó, làm thịt, nấu một món nhậu cho cả mấy người nhậu chơi, trước khi về lại bãi lao động, rồi đem thịt chó về giao cho “bạn hàng.”

                Chiều hôm đó, Đông rủ tôi và anh Lã Trung Tâm cùng ăn thịt chó với Đông. Anh Tâm từ chối. Tôi cũng không ăn. Sợ mất lòng, tôi nói: “Tui ngại lắm! Nhà tôi có con chó, ai cũng thương. Hôm con chó bị người ta bắt, thằng Hùng (móm) em tôi nó khóc đó. Mẹ tôi phải đi chuộc về!”

                Đông nói:

                – “Con chó như có linh tính. Khi tôi ra bắt nó, tui thấy nước mắt nó chảy ra. Nó khóc. Tui không muốn bắt. Thằng Thượng bắt, trói chân lại, giao cho tui.”

                Đông còn làm một chuyện “động trời” nữa.

                Tuần sau, anh ta rủ một vệ binh đi chơi với anh, rồi hai người nhậu “ngoắt cần câu”. Tới giờ hết lao động, Đông và anh vệ binh cũng chưa về. Quản giáo Hoành nói:

                – “Thôi! Cứ về đi, tôi báo cáo hai người có công tác.”

                Mãi đến tối, Đông mới về, mặt mày đỏ gay, còn hơi rượu, rồi chui vào giường ngủ mất.

                Hôm sau, Đông nói với tôi:

                – “Thằng vệ binh say quá, tôi phải dìu nó. Nó gởi cây súng cho trưởng ấp, về tay không. Bữa nay nó mới đi lấy về.”

                Đội tôi, cứ cái đà cuốc đất tà tà như vậy mà kéo dài, đến khi mưa tới, lô đất cuốc chưa được một nửa, làm sao gieo hột bắp. Đông xúi quản giáo Hoành cho đốt hết cỏ dại, cây dại; xong, xoi lỗ gieo hột như người Thượng, chẳng cần phải cuốc. Được nửa tháng bắp đã mọc, nhưng èo uột. Kiểu nầy thì tới khi thu hoạch, chắc là mất mùa to, chẳng được hột bắp nào. Cũng may, sau đó, trời hạn hán, cả tháng không có giọt mưa nào. Không riêng gì đất của đội tôi mà toàn trại, bắp cháy hết! Tới đó thì coi như “huề cả làng.”

                Được ít lâu, quản giáo Hoành được chọn đi học y sĩ. Cán bộ Nhâm thay thế. Thằng nầy nổi tiếng ác. Hai cái môi bao giờ cũng tím dắt. Đó là tướng người ác.

                Nó cấm hết mọi chuyện buôn bán, “cải thiện linh tinh”, đến nỗi rau đắng bên bờ suối cũng không được hái. Anh Nghiêm hái trộm một nắm nhỏ, thấy được, y bắt anh Nghiêm phải đem đổ, không cho đem về.

                Tới thời kỳ gay go đó thì sau tết khoảng hai tháng, một mình tôi được lệnh chuyển vô Trại Cây. Có lẽ bọn Công An nghi tôi trốn trại, đưa vô Trại Cây cho chắc ăn.

                Tôi khỏi trốn trại. Vô Trại Cây được hai tháng thì tôi “được tha ra khỏi trại cải tạo”, xong một đời tù gian khổ kéo dài 7 năm 10 ngày.

                Những chuyện tôi kể trên chỉ là những chuyện “cải thiện linh tinh”, bởi vì bản năng sinh tồn là một ý chí kỳ diệu mà Tạo Hóa ban cho con người ta.

                Bất cứ trong hoàn cảnh nào, để sống còn, người ta, phần đông là người tù, tìm dủ cách để sống, kiếm thêm rau trái để ăn, tìm cây lá để trị bệnh… Thay thế “xuyên tâm liên” do trại phát, chúng tôi trồng “cây sống đời” để làm thuốc. Lá cây nầy có chất trụ sinh.

                Còn như “cơm tù”, khi tới mùa thì được ăn bắp, khi hết mùa thì ăn khoai mì lát. Khoai hay bắp thì được ăn với rau muống luộc chắm nước muối, tên thường gọi là “nước mắm đại dương”.

                Khi tù còn được Bộ Đội quản lý, từ giữa năm 1975 đến giữa năm 1977, dù không được ăn no, nhưng chúng tôi còn được ăn cơm, ít được thăm nuôi. Khoảng đầu năm 1977, không được phát gạo, chúng tôi được ăn bột mì, – thứ bột để làm bánh mì.

Không làm được bánh mì, chúng tôi làm bánh bao. Nguyễn Thụy Hiền nói đùa: “Tui là đàn ông, cũng được phát mỗi ngày một “cặp bánh bao”.

                Khi được chuyển qua cho Công An “quản lý”, bọn nầy có kinh nghiệm coi tù, tàn ác và thủ đoạn vô cùng.

Không được ăn cơm, có lúc chúng cho ăn bo bo. Thằng Trung úy Ngọc, trại phó Trại Cây (B), “lên lớp” chúng tôi: “Các anh đừng chê bo bo. Trung Quốc gọi bo bo là cao lương; các anh được ăn cao lương đấy”. Ý của y là muốn nói tới “Cao lương mỹ vị” là đồ ăn của vua chúa đấy. Miệng lưỡi Cộng Sản ghê gớm chưa!? Dĩ nhiên bọn chúng ăn cơm, không ăn bo bo bao giờ.

                Khi bị Công An quản lý, lệnh cho thăm nuôi hàng tháng. Người tù sống còn được, phần nhiều cũng là nhờ gia đình thăm nuôi. Gia đình đem cho gạo, cá khô, thịt khô, nước mắm… ăn dần dần chờ kỳ thăm nuôi sau.

                Đối với Công An, dù người tù nào có công, cũng không được “thưởng” gì thêm, dù chén cơm hoặc miếng thịt. Tuy nhiên, chúng dùng ngay cái thức ăn của gia đình đem cho người tù để khống chế người tù.

                Hễ ai “học tập tốt, lao động tốt” mới được thăm nuôi. Còn như ai “chống đối”, “ngoan cố” “âm mưu trốn trại” thì chúng cúp thăm nuôi. Gia đình lên tới trại, phải mang quà mà trở về, không được gặp người thân mà cũng không được gởi quà lại.

Dùng thực phẩm của gia đình người tù, để “trừng trị” người tù, đó không phải là một thủ đoạn đê hèn hay sao?!

                Hôm tôi ở trại mới bên cạnh Đồi Phượng Vĩ, có một đám tù từ Bắc được đưa về. Tôi gặp một số người quen: Cựu Trung Tá Trương Như Xin của Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng trước kia và anh Cao Văn Thanh, Cao học Hành Chánh, em một người bạn gái cùng lớp niên khóa 1954-55.

Anh Xin bị sưng phù hai chân, tôi nhờ “Bác sĩ Hảo” trưởng Trạm Xá chăm sóc giùm. Còn Cao Văn Thanh, một bữa tôi rủ anh ăn chung với tôi. Tôi và Thanh bày khoai mì ra. Thanh nói:

                – “Khoai mì nầy ngon quá, lát khoai còn trắng.”

– “Ngoài đó cũng ăn khoai mì?” Tôi hỏi.

– “Muôn năm!” Thanh nói. “Suốt cả mấy năm tui ở ngoài Bắc, chỉ ăn khoai mì đen, lát khoai mì đã thâm đen, mốc, có khi bị mục không ăn được.”

                Tôi nghĩ thầm: Khoai mì mà ngon gì. Và nghĩ tới những người bi đày ra Bắc như Thanh, bao nhiêu năm trời bị đày ra ngoài đó, họ chỉ có được một thứ khoai mì đen.

&

                Nói “Cơm Tù” chỉ là một cách nói thông thường. Người tù Cải Tạo không mấy khi được ăn cơm, ngoại trừ Tết hay khi có “Ba ngày nễ nớn” – cán bộ thường nói ngọng như thế – thì được lưng chén cơm, ăn chưa đủ tráng cái miệng thèm cơm.

                Có lần Phan Hải nói:

                – “Hồi trước, ăn uống đâu có như ri. Cơm gạo trắng mà ăn đủ, ăn no, không bao giờ đói!”

                – “Còn thức ăn?” Tôi hỏi.

                – “Mỗi tuần 7 ngày, ba ngày ăn thịt, bốn ngày ăn cá. Có khi đại diện tù chê cá ươn, không nhận, nhà thầu phải cung cấp ngay cá hộp, cho kịp bữa. Họ quậy đó, làm gì có cá ươn!”

                Phan Hải là Cựu Trung úy, làm việc ở Toà Đô Chánh, đặc trách coi sóc đời sống tù Chí Hòa.

                Nguyên năm 1954, anh ở lại miền Nam với ông Bác. Anh lớn lên, được đi học, rồi bị gọi Động viên, nhập học Trường Sĩ quan Thủ Đức.

                Cha mẹ anh “tập kết” ra Bắc. Ông thân là ông Phan Mạch, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhứt của chính phủ Bắc Việt. Bác là Phan Mỹ, Chủ Nhiệm Văn Phòng của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Bác cả là nhà văn Phan Khôi. Đây là dòng họ “Phan Điện Bàn”, thường người ta gọi là “Phan Cộng Sản” để phân biệt với họ “Phan Quế Sơn”, như giáo sư Phan Khoang, nhà văn Phan Du, thường gọi là “Phan Việt Quốc”.

                Không biết khi Phan Hải được tha, kể chuyện “cơm tù” cho cha mẹ nghe, cha mẹ anh sẽ nghĩ như thế nào. Họ thấy “tội nghiệp” cho con họ. Còn những người cùng tù như Phan Hải thì sao, họ có thấy “tội nghiệp” không, hay nghĩ đơn giản như bọn cán bộ Cộng Sản thường nói: “Bây giờ thì lo ăn no mặc ấm, mai kia thì các anh được ăn ngon mặc đẹp.”

                Thực tế, bây giờ ăn “chưa no”, làm chi mai sau có “ăn ngon?”

                Đây chỉ là cái bánh vẽ.

                Cái “bánh vẽ” trông thiệt là ngon lành, nhưng không ai bao giờ rớ tới được. “Thiên đường Cộng Sản” là vậy đấy!!!

                Câu chuyện nầy làm tôi nhớ tới bài thơ của “ông Phán Hoan” (Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị, tức nhà thơ Cộng Sản Chế Lan Viên, trước 1945 làm thông phán cho Tây)

Bánh vẽ

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

(8-1991)

Mass, tháng 8 /2015

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 16 July 2015 

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Ngày Tết được tha

Bài 23

Những nấm mồ của người tù cải tạo (Suối Ô Mai)
Nguồn ảnh: On the Net

Trẻ Tạo hóa đành hanh quá ngán

Chết đuối người trên cạn mà chơi!

(Cung Oán Ngâm Khúc)

Mấy hôm nay, trong trại anh em tù nhân bàn tán xôn xao vì sắp tới tết ta. Tết đến, hoặc “Ba ngày nễ nớn”, thế nào cũng có một số người được “tha ra khỏi trại cải tạo”.

Thời gian cải tạo, nhìn chung toàn bộ số người trong trại, ai ai cũng tròm trèm 5 năm rồi. Có lẽ đó cũng là một cái mốc án tù nào đấy để hy vọng được về.

Người ta chỉ đoán vậy thôi chứ tù ở đây chẳng ai có án, chỉ là “tập trung cải tạo”, “lao động tốt, học tập tốt” thì được tha. “Cách mạng” nói như thế là cách nói lững lơ, chẳng ai biết thế nào là tốt; cứ không trốn trại, “an tâm học tập cải tạo”, còn lao động tốt là cuốc đất làm rẫy hết mình, không “chây lười lao động”, còn ngày về thì có “cách mạng lo”. Toàn là những mỹ từ, hay nói cho đúng hơn là bánh vẽ, cứ thế mà chờ.

Hễ tới các dịp lễ tết, “ba ngày nễ nớn” – tiếng thường nhại theo cán bộ Bắc kỳ – người ta lại hy vọng được tha. Cấp bậc càng nhỏ, trung sĩ, thượng sĩ, thiếu úy v.v… thì hy vọng nhiều hơn trung úy, đại úy.

Nghĩ tới ngày về, Tăng đâm lo. Về đâu hè?!

Tăng vào “rờ sẹc” (recherche) hồi 18 tuổi, hồi đó là làm mật thám cho Tây, hay còn gọi là “Công An Liên Bang” mà “xếp xòng” là Cò Xuân (Sau nầy là tướng Mai Hữu Xuân của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa).

Trình diện ông ta xong, nhận cây súng, Tăng lận vào lưng quần, phủ cái áo “sơ mi” cụt tay ra ngoài, cố làm sao cho nó hơi cộm một chút để “giựt le” chơi. Tăng cũng bắt chước “đàn anh”, vào quán vịt quay ở Chợ Cũ (đường Hàm Nghi), cố vói tay chỉ con vịt treo cao để lòi cây súng dắt bên hông, cho chú Ba thấy, chú sợ: “Cái lày ngộ piếu ông thày, ngộ không tình tiền).

Tăng nhởn nhơ sống, cưới vợ, bồ bịch, ly dị, rồi lại cưới, rồi ly dị, khi Tăng đã 40 tuổi, cưới vợ lần thứ ba, cô dâu chỉ mới 20. Đúng là “Khi anh hai mươi, em mới sinh ra đời…” Từ “rờ sẹc”, sau gọi là Công An, rồi Cảnh Sát Công An… Bao nhiêu lần đổi tên đổi họ như thế, cuối cùng, trước khi Cọng Sản chiếm miền Nam, Tăng mang “loon” thiếu úy, nhân viên Phòng Tư Pháp một quận Cảnh Sát ở Saigon và sau ngày 30 tháng tư, trình diện, đóng tiền đi ở tù theo lệnh của “cách mạng”.

Khi Tăng vào trại cải tạo rồi, cửa nhà tan nát. Vợ Tăng lấy một “ông cán bộ”, vai vế lắm, con gái Tăng cũng đi lấy chồng xa. Hai đứa con trai của hai bà vợ trước, nghe người ta nói là đã vượt biên cùng gia đình – tức là mẹ, bố ghẻ và con cái của họ. – Nói là nghe nói, bởi vì từ khi ly dị với các bà ấy, Tăng chẳng bao giờ thăm hỏi mẹ con họ, chẳng bao giờ gởi cho chút tiền bạc cấp dưỡng…

Đời Tăng, kể từ khi lớn lên, đi làm, chẳng bao giờ khổ. Vật giá Saigon hồi xưa rẻ lắm, đồng lương của Tăng dư xài. Khi vật giá lên, lương cũng lên. Khi mọi thứ leo thang quá, thì nhờ lâu năm, “sống lâu ra lão làng”, nhờ kinh nghiệm trong ngành, Tăng qua làm phòng Tư Pháp, làm nhân viên thôi, nhưng nhân viên mới thật là khỏe. “Đương đơn”, ở đất Saigon này, từ hồi dân di cư vào đông, kinh tế phát triển nhiều, thì bao giờ cũng rất quen việc, trên dưới đâu đó ơn nghĩa đàng hoàng.

Đùng một cái, Tăng đi ở tù, mọi sự sụp đổ hết. Bây giờ Tăng mới thấm thía câu nói của ông Thiệu: “Đất nước mất, mất tất cả”. Ngày trước, nghe câu đó, Tăng cho là “ổng” chỉ hù thiên hạ. Mấy chả nói chính trị, hơi đâu mà nghe, cái việc “mất đất nước”, dễ không, làm sao có được!

Dĩ nhiên Tăng đau khổ. Hai năm đầu trong trại cải tạo, Tăng ở chung với mấy ông “Đại úy Tuyên úy”. Từ lâu, Tăng chẳng gần gủi với tôn giáo nên chẳng ưa gì mấy ông tuyên úy. Tăng cho rằng “mấy chả đi tu còn ưa đeo loon”. Vậy thôi. Chùa, nhà thờ, Tăng có lai vãng, nhất là thời gian mấy năm “mấy ông tu hành làm chính trị” cũng chỉ vì công tác thượng cấp giao phó. Điều tra mấy ông tu hành này khi họ bị bắt, cũng như điều tra đám sinh viên biểu tình, Tăng thấy phiền, chẳng có “xơ múi” gì mà mấy chã thì ăn nói ngang phè, chướng tai. Thường thì Tăng tránh né, để thượng cấp giao cho người khác.

Bây giờ, sống chung với mấy ông tuyên úy, nghe mấy ông nói chuyện đạo, Tăng cũng thấy hay hay, nhất là sau khi “cửa nhà tan nát”. Dù Tăng chẳng hiểu sâu sắc gì về kinh kệ, Tăng cũng thấm nhuần đôi chút “sắc sắc không không”. Tăng thấy đời Tăng thôi thế cũng đủ rồi, chẳng mong gì thêm.

Thật ra, Tăng hiểu có muốn thêm cũng chẳng được. Thời của mình, thế là qua rồi, bây giờ là thời của người ta. Người ta từ ngoài kia vô đây, cầm súng mấy chục năm rồi, tốn hao biết bao nhiêu xương máu, hàng triệu người “hy sinh”, nay mới có được chừng ấy, sức mấy mà người ta chịu nhả miếng ăn ra mà hòng tranh giành với họ. Cộng Sản, quanh thế giới, từ ngày họ có mặt đến giờ, chỉ có tiến mà không có lùi. Chịu thua đi cho xong. Với lại, kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề, Tăng thấy rõ, ai có quyền là người đó hơn. Quyền là cây súng trong tay. Ngày hôm trước, chưa vô “rờ sẹc”, chẳng ai coi Tăng là cái gì. Vậy mà ngày hôm sau, nhận việc rồi, cây súng dắt vào lưng quần, thấy chỗ thắt lưng của Tăng cồm cộm, người ta đâm ra sợ Tăng. Đời là vậy đó. Tự do, Dân chủ là cái quái quỉ gì đâu, giả hiệu cả! Với lại, cuộc sống trong Nam dễ dãi quá, cuộc sống Saigon cũng dễ dãi quá, đời Tăng cũng không có gì sóng gió, tới tháng thì lãnh lương, tới năm thì người ta “đè cổ ra” mà móc “loon”, Tăng chẳng chạy chọt, xin xỏ. Thậm chí việc vợ con, ưng thì lấy, chán vợ thì có bồ, vợ rầy rà thì ly dị cho khỏe. Cuộc đời cứ thế mà trôi đi, chẳng có gì vướng bận cả.. .

Bây giờ vào tù, Tăng mới thấy cái trăm ngàn khó khăn hiện ra, nhưng mà đời, như ông tuyên úy nói “sắc sắc không không”. Cái có rồi sẽ mất, cái mất rồi sẽ có. Tăng, như mấy ông tuyên úy nhận xét khi Tăng tâm sự chuyện nhà với họ, đã có một đời nhởn nhơ sung sướng trong khi đất nước chịu cuộc chiến tranh người Bắc, người Nam, anh em tương tàn 30 năm, bao nhiêu người chết chóc khốn khổ. Nay Tăng có chết, cũng là thường tình. Không trả trước thì trả sau. Vay trả trả vay. Mấy ông tu hành nói vậy mà hay!

Mới tháng trước đây, Trần Hứa Sơ, chung đội với Tăng, sáng sớm xuống nhà bếp xin nước sôi, buồn tình đâm đầu vào lò củi đang cháy rần rần, may người ta thấy kịp, kéo ra, đưa xuống trạm xá, cấp cứu, thành ra chỉ cháy mấy mảng tóc, chỗ cháy thành sẹo, không có tóc. Cái đầu trông như con chó vá. Ngu thiệt! Vợ bỏ đi vượt biên với bồ – bồ cũng là bạn thân của Sơ – thì cho chúng nó đi một duộc với nhau – quân “lừa thầy phản bạn” – quân “trốn chúa lộn chồng” – có gì mà tiếc để đến nổi phải đâm đầu vào lửa, mang cái đầu chó vá. Ngu thiệt là ngu! Tăng rủa thầm. Năm ngoái, cũng thằng Luyện, nghe tín vợ bỏ, đang làm đội mộc, lấy đinh đóng vào đầu. Anh em người ta khiêng ngay vào trạm xá cứu chữa, cũng tai qua nạn khỏi.

Ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù, là đời thường, là Tự do, Hạnh phúc… Người ta nghĩ thế. Và một điều gì đó xảy ra, bất như ý, có nghĩa là làm cho người ta cho rằng hạnh phúc đó không còn nữa, tự do đó không còn nữa, thì người ta đâm ra tuyệt vọng, rồi tự tử.

Tăng thì chẳng có ý niệm gì xa xôi hơn thế, nhưng Tăng cho rằng, ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù kia, Tăng chẳng có gì cả. Hạnh phúc đã không mà tự do cũng không. Hạnh phúc, như Tăng thấy trong đời y, căn bản là tiền, cũng như “Mác” nói, kinh tế là hạ tầng cơ sở vậy thôi. Còn tự do, không có tiền thì chỉ có tự tử hay “tự do làm nô lệ” cho người ta. Tiền, Tăng nghĩ là y đã hết thời. Hết cây súng trong tay là hết tiền. Ngoài cái nghề y đã làm mấy chục năm, từ hồi còn trẻ, tháng tháng lãnh lương, lâu lâu có tư lợi, Tăng chẳng quen với bất cứ một nghề nào khác. Huống chi Tăng đã già, sức khỏe không còn. Thằng Chiêu, thằng Ngọ, thằng Nẫm… bao nhiêu thằng ở chung trại với Tăng, được tha hồi năm ngoái, năm kia, chỉ làm cho “đội ngũ dân biểu” (1) càng thêm đông mà thôi, chẳng anh nào làm nghề gì khác, có muốn làm cũng không làm được.

Gia đình tan nát, vợ không còn, con không còn, cha mẹ không còn, không còn ai hết, hạnh phúc, tự do cũng không còn. Vậy thì Tăng về làm gì?! Nghĩ tới ngày về, Tăng băn khoăn, lo lắng: Về? Về đâu? Về với ai? Ở nhà ai?

Nếu một ngày kia, “cách mạng khoan hồng”, cho Tăng thoát khỏi “tù trong” ra “tù ngoài” thì Tăng nhận cái lệnh tha để làm gì. Ra “tù ngoài”, có nghĩa là Tăng phải tự lo lấy cái ăn, cái mặc mà Tăng thì đã quen với cuộc sống chính phủ lo cho Tăng hết rồi. Chưa bao giờ Tăng tính toán, lời lỗ mà thành ra tiền. Tăng không quen buôn bán bao giờ. Tăng chỉ quen tháng tháng lãnh lương. Bây giờ, nếu ra ‘tù ngoài” mọi thứ phải tự lo cho mình, Tăng thấy nhiều khó khăn.

Hơn thế nữa, Tăng không nhà không cửa không vợ không con, không bà con bạn bè, nhất là bạn bè, Tăng thấy cô đơn. Dù sao ở đây cũng có bạn, người thân kẻ sơ, chuyện trò với nhau. Về Saigon, đông mấy triệu dân, cả tháng, chưa chắc gặp được ai quen để chuyện trò.

Về? Về đâu? Nhà đâu? Ở với ai? Không lý Tăng chui sống ở gầm cầu. Ở đó, toàn là ăn mày và đám tội phạm, những thứ trước kia mỗi khi Tăng gọi lên điều tra, thường run rẩy, sợ hãi trước mặt Tăng.

Tăng về ở chung với họ sao?! Vậy thì về làm gì?! Tăng lo, nhưng để bụng, không nói với ai. Nếu “cách mạng” cho về mà không về, thế nào tụi nó cũng cười cho thúi đầu.

Thế rồi Tăng có lệnh tha thiệt.

Chiều hôm qua, đi lao động về, anh em đã xôn xao lắm. Mấy người quen với cán bộ, được họ tiết lộ cho biết tên vài người đã có danh sách về. Tăng lại lo hơn. Chẳng ai để ý đến Tăng. Tăng không phải là “đối tượng” để anh em theo dõi kỳ này có tên Tăng hay không. Tăng cũng chẳng nhờ cậy ai hỏi thăm giùm có tên hay không. Tăng sợ chuyện đó xảy ra cho Tăng thì Tăng còn hỏi thăm hỏi lom làm gì.

Sáng nay, kẻng đánh tập trung ngoài sân trại để gọi đi lao động như thường lệ thì thượng sĩ Thắng, cán bộ giáo dục cầm xấp giấy vào, xăm xăm đi thẳng vào chỗ phía trước mặt các đội tập trung. Thấy thế, anh em ồ lên một tiếng, biết là có lệnh tha, rồi chuyện vãn, gọi nhau ơi ới, xôn xao. Tăng ngồi im.

Khi “cán bộ” Thắng gọi tới tên Tăng, y uể oải đứng lên, buồn rầu quay gót vào “láng”, treo “gô” (2) vào cột giường, lên chỗ nằm, nằm im, bất động.

Sau khi các đội đi hết rồi, cán bộ Lâm vào từng “láng” gọi các người được tha tập trung ngoài sân để được đưa lên văn phòng “ban” lập thủ tục ra về. Tăng vẫn nằm im.

Thấy Tăng, cán bộ Lâm gọi:

– “Anh Tăng, sao còn “lằm” đó, thay áo quần nhanh “nên” ra “nàm” việc với “ban.”

Tăng ngập ngừng:

– “Thưa… thưa cán bộ, tui… tui không muốn về, cán bộ cho tui ở lại đây.”

Cán bộ Lâm chưng hững:

– “Anh “lói” gì kỳ thế. “Cách mạng” khoan hồng, cho anh về, sum họp với gia đình. Thế “nà xung xướng nắm”, tại sao anh không về?!”

– “Thưa cán bộ, tui còn ai nữa mà về. Gia đình tui chẳng còn ai nữa hết. Vợ tui đi lấy chồng, con tui đi lấy chồng, chẳng còn ai, chẳng còn nhà cửa chi hết, biết về đâu mà về.” – Tăng cố gắng nói một hơi cho hết ý muốn nói.

“Cán bộ” Lâm xẳng giọng:

– “Đó “nà” chuyện của anh. Bây giờ “cách mạng khoan hồng” cho anh về “nà” anh phải về. Anh không thể cải “nệnh” cách mạng được.”

– “Tui không cải lệnh. Nhưng mà “cách mạng khoan hồng” cho tui về thì “cách mạng” cũng nên xét hoàn cảnh tui mà “khoan hồng” cho tui ở lại. Đó là tình thiệt. Tui còn ai đâu mà về.”

– “Thôi, không “lói” “nôi” thôi. Tôi bận việc, đưa mấy anh kia “nên ban”. Anh không về sẽ có biện pháp.” – “Cán bộ” Lâm giận dữ.

– “Biện pháp gì?” – Tăng cũng nổi sùng – “Ở tù thì tui cũng đang ở tù đây rồi, chỉ chờ có đem bắn mà thôi. Bắn tui, càng khỏe, tui ưng chết quách cho rồi, cho xong nợ đời. Ở tù đây cũng chỉ là “tha tội chết, bắt tội sống thôi.” (3)

Nghe Tăng nói liều, mấy ông già quét phòng cũng phì cười!

Mười phút sau, hai ba cán bộ cùng vào, đi ngay lại chỗ Tăng. Tăng ngồi dậy. Cán bộ Thắng vẻ quan trọng:

– “Thế “lào”? “Cách mạng khoan hồng” cho anh, anh từ chối hả? Anh không tuân “nệnh” “cách mạng” hả?”

– “Thưa cán bộ – Tăng từ tốn nói – “Tui không từ chối, tui không chống lệnh. Chẳng qua hoàn cảnh gia đình tui, sau khi tui đi cải tạo, đổi khác rồi, vợ tui lấy chồng rồi, con tui lấy chồng rồi, nhà cửa không còn, tui biết về đâu? Dzậy nên tui xin ở lại đây để… “phục vụ cách mạng”.

Cán bộ Thắng xẳng giọng:

– “Chẳng ai cần anh. Các anh “nà” người phản “cách mạng”, ở tù, “lay” được tha, thế “nà” khoan hồng “nắm” rồi đấy, không thì có mà “dũ tù”, biết không? Thế mà con ngoan cố, chống “nệnh”. Anh phải ra “ban” ngay, nhận giấy tờ mà về.”

Tăng cố nhịn. Một lúc lâu, y nói:

– “Tui có theo “cách mạng” hồi nào đâu mà nói tui “phản cách mạng”? Tui đã nói rồi, tui không về được, tui không có chỗ mà về, vợ tui lấy chồng rồi, chồng bả là cán bộ làm lớn. Tui về sao được? Tui về, ông “cán bộ” sợ tui giành vợ lui, ông bỏ tù tui. Vậy tui đừng về là hơn.” – Tăng cố lý luận.

– “Anh “lói” bậy. – Cán bộ Thắng nói – Ngày trước, anh có tiền, anh có quyền, anh ép buộc người ta “nấy” anh. Từ chối anh cũng không được. “Lay” nhờ “cách mạng”, phụ “lữ” được giải phóng, thế “nà” tốt. Còn “cán bộ” “lào” mà “nấy” vợ anh, bỏ tù anh được. Tù anh “nà” chỉ có “cách mạng” mà thôi.”

– “Cán bộ” là “cách mạng”, “cách mạng” là “cán bộ” chớ còn ai vô đây. Tui hỏi, cán bộ vô đây, nói chuyện với tui, nhắm bộ không phải “cán bộ là cách mạng” sao?”

Cán bộ Thắng thấy yếu thế, làm bộ giận dữ:

– “Tôi không muốn anh “lói” nhiều. Yêu cầu anh về. “Lếu” anh không tuân “nệnh”, chúng tôi có biện pháp.”

Xong, họ đi ra.

Trưa hôm đó, cả trại lại xôn xao về việc Tăng không chịu về. Thôi thì người ta bàn tán lung tung. Tăng ít khi chuyện trò với ai nên chẳng ai biết rõ hoàn cảnh của y để “tham mưu”. Có điều, chuyển về trại này thế là gần 4 năm, chẳng bao giờ Tăng được gọi thăm nuôi. Tăng an phận với cái y có: Khoai, sắn, bobo, chủ nhật được chén cơm, lâu lâu gặp “ba ngày lễ lớn”, “quốc khánh”, Tết ta, có thêm chút thịt “ruồi tha” – Tăng âm thầm “cải thiện”: Nắm rau muống mọc hoang bên hồ, nắm rau trai dưới suối, v.v… mỗi khi có dịp. Với Tăng, Tăng hy vọng ngày nào đó, Tăng xuống đội “cấp dưỡng”. “Giàu nhà kho, no nhà bếp”. Ở đó suốt đời cũng chẳng sao.

Chiều hôm đó, khi các đội lại đi lao động, cán bộ lại xuống làm việc với Tăng. Tử tế với Tăng thì Tăng tử tế, hung dữ với Tăng thì Tăng hung dữ lại. Mấy ông già quét phòng thấy vậy, cười với nhau:

– “Dân Nam bộ mà, dân Saigon mà. “Chơi” thì “chơi” với. Chọc thằng chả nổi nóng, chả chưởi thề tùm lum, làm gì được nhau! Không lý không về mà cho vô cát-xô?

Tình trạng kéo dài được ba hôm. Tới buổi sáng ngày thứ ba, cán bộ Thắng dẫn theo mấy cán bộ bảo vệ xuống, ban đầu, ôn tồn với Tăng:

– “Nguyện vọng anh, “ban” đã trình về bộ “Lội vụ 2”. Trên không bằng “nòng” cho anh ở “nại”. Yêu cầu anh chuẩn bị về. Các anh kia, người ta về hết rồi.”

– “Họ về kệ họ, ai có hoàn cảnh nấy, mắc mớ chi tui. Họ còn vợ còn con, họ không “hy sinh”, còn tui, tui không còn ai, tui “hy sinh” được. Tui ở lại đây ngày nào là tui “phục vụ cách mạng” ngày nấy. Tui lao động mà, tui có “ngồi mát ăn bát vàng” đâu?”

– “Nhưng “cách mạng” không cần anh. “Cách mạng” biểu anh về, anh phải về, tức “nà” “phục vụ cách mạng” đấy.” Thượng sĩ Thắng cố nén tức.

– Cán bộ nói mắc cười không. Tui về, tui “phục vụ” tui chưa xong, có đâu “phục vụ cách mạng” được?” – Tăng cố cải.

– “Anh không được ngoan cố. Thượng sĩ Thắng gằn giọng. Anh phải rời khỏi trại ngay.”

Nói xong, Thượng sĩ Thắng ra hiệu cho hai cán bộ bảo vệ. Hai người này đứng hai bên, xóc nách Tăng kéo đi. Ban đầu Tăng cố trì lại, nhưng hai cán bộ bảo vệ xiết cánh tay Tăng đau quá, Tăng nổi sùng, la to:

– “Đ. mẹ, làm gì dzữ dzậy?! Cứ thủng thẳng để tui đi, tay tui gần muốn lọi ra rồi nè!”

Một cán bộ bảo vệ nói gần như nạt Tăng:

– “Chửi thề hả? Vào “cát-xô” đấy.”

Tăng cũng chẳng sợ:

– “Vào thì vào, tui đâu có ngán. Giờ cán bộ muốn tui về hay muốn tui ở lại? Cán bộ muốn tống tui đi cho nhanh. Tui biết quá mà!”

Nói rồi, Tăng thờ thẩn đi giữa hai tên công an. Thượng sĩ Thắng gọi người giữ phòng lục đồ đạc của Tăng, xách theo.

&

Tăng ôm cái bị bàng đựng quần áo ra chợ Gia Rây, với 30 đồng được trại phát, Tăng lên xe lam ra ngã ba ông Đồn. Tăng đứng tần ngần ở đó, tay cầm hơn 20 đồng còn lại, không biết đi hướng nào. Còn mấy ngày nữa là Tết rồi. Ngày thường còn chưa biết sống đâu, nói chi Tết.

Y nhìn dọc theo quốc lộ, ra hướng Bắc, bỗng trong trí y hiện ra lờ mờ tấm ảnh mà y từng được coi nhiều lần trong trại cải tạo: Hình lăng “bác Hồ vĩ đại” có cờ đỏ cắm trên nóc cao. Tăng thở dài, nhìn về hướng Nam, y thấy xa xa, có trụ sở xã hay gì đó, cũng có cây cờ đỏ đang bay lất phất. Tăng sực nhớ “đất nước thống nhất” đã mấy năm nay rồi, cờ xanh đỏ “mặt trận” ngày y đi “cải tạo” bị vứt vào thùng rác rồi, chỉ còn cờ đỏ sao vàng thôi.

Tăng bỗng nghe sau lưng y, phía chân núi Chứa Chan, tiếng còi tàu xe lửa hú lên dằng dặc một hồi dài. “Hay mình nằm dài trên đường xe lửa, xe chạy qua cái ào, thế là xong”, Tăng nhủ thầm. “Nhưng biết đâu tới khi tàu sắp chạy qua thì mình lại hốt hoảng nhảy ra khỏi đường rầy”. Ý nghĩ đó làm Tăng buồn cười mà y cũng không thể cười được./

Cuối thu Đinh Sửu.

hoànglonghải

Ghi chú:

(1) Đội ngũ dân biểu: Tiếng gọi đùa những người đạp xe xích lô, người “dân biểu” đạp đi đâu thì đi đó.

(2) “Gô”: hộp đựng sữa Guigoz bằng nhôm, không sét, xài bền, “cải tạo” thường dùng để nấu, đựng thức ăn.

(3) Câu “cải tạo” mỉa mai mỗi khi nghe Cộng Sản nói “khoan hồng”.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 29 June 2015 

Post by7 Sơn râu 20 Nov 2023

Con heo đau tim

Bài 22

Giữa mùa hè năm 1980, “Trại Đá” gần đầy tù cải tạo. Ngoài số tù bên Trại B chuyển qua còn có một số ở trại “Vườn Đào” lên và một số ở Phước Long về.

Trong số Phước Long có danh hề “Khá Nặng”. Sở dĩ gọi là Khá Nặng vì câu nói đùa của anh ấy.

Hôm đó chủ nhật, được nghỉ lao động. Chúng tôi đang “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” thì được lệnh ai nhà nào về nhà nấy, cổng mỗi nhà đều bị khóa lại. Tù chỉ được quanh quẩn trong sân hay ở trong nhà.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì có đám tù mới tới, hỏi ra thì họ từ Phước Long về.

Năm 1977, có một đám trung úy, thiếu úy, từ các trại Suối Máu, An Dưỡng, Hóc Môn, v.v… do quân đội Cộng Sản quản lý đưa đi lao động ở Phước Long, làm “nhiệm vụ kinh tế”. Sau đó, một số ít được tha. Số còn lại, giao cho Công An rồi họ được đưa về đây.

Khi đám tù rách rưới như ăn mày, lếch thếch mang vác đồ đạc đi qua cái sân lớn để vào các dãy nhà phía sau. Chúng tôi đứng sát cổng nhà để coi và tìm người quen.

Vài người nhận ra nhau, gọi kêu ơi ới. Bỗng Khả Năng xuất hiện. Sau năm năm tù, trông anh ốm đi nhiều, dù chưa bằng Phi Thoàn, cũng là danh hề thường đóng chung với anh. Thấy anh, chúng tôi mừng rỡ gọi to: “Khả Năng! Khả Năng!” Đang vác một cái xắc ma-re đựng “tư trang” khá nặng, anh cũng dừng lại, quay về phía chúng tôi, giướng mắt nhìn, nói đùa:

            – “Khá nặng rồi mấy anh ơi! Không còn Khả Năng nữa mà khá nặng!” (1)

            Ý anh muốn nói ở tù như vậy cũng đã lâu, là án tù “khá nặng”. Nghe anh nói đùa với giọng thảm, chúng tôi cùng cười!

            Miền Nam hồi trước có nhiều danh hề: Thanh Việt, Thanh Hoài, Phi Thoàn, Khả Năng, v.v…

            Khả Năng và Phi Thoàn “trong hạn tuổi quân dịch” nên phải nhập ngũ. Đến 30 tháng Tư, Phi Thoàn chỉ mới được “loon” thượng sĩ, thuộc hàng hạ sĩ quan, khỏi bị “tập trung cải tạo”. Khả Năng “loon” chuẩn úy nên “phải đóng tiền đi ở tù.”

            Ít lâu sau, Khả Năng bị “biên chế” qua trại Cây, gia nhập đội Văn Nghệ của bầu Trừ (Nguyễn Văn Trừ). Nhân dịp lễ lạc gì đó, đội Văn Nghệ tập tuồng cải lương để trình diễn. Trong khi tập, Lâm, tên Công An (thường gọi “cán bộ Lâm”), trực trại, tự dưng vào làm đạo diễn, buộc diễn viên phải làm như vầy, như kia. Người đóng vai chú bộ đội thì vênh mặt lên, hùng dũng, kiêu hùng. Người đóng vai “tên lính ngụy” thị hèn nhát, sợ hãi, run rẩy… Khả Năng bực mình cự lại tên cán bộ. Tên nầy hăm dọa nhốt anh vào cát-xô. Chỉ hăm dọa thôi, sau đó, không thấy chuyện gì xảy ra cho “anh hề”, anh được “bình an vô sự”..

Thanh Việt và Khả Năng

&

            Cũng mùa hè năm đó, chúng tôi được tin có phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm.

Trước đó, khi chúng tôi mới qua trại A, đã có phái đoàn Cộng Sản ngoại quốc đến. Hôm đó cũng là ngày chủ nhật, đang nghỉ ở nhà thì chúng tôi được lệnh vào hết trong nhà, khóa cửa lại, không cho ai đứng ngoài sân. Cổng mỗi nhà cũng khóa lại.

Võ Phước Thọ nhanh trí, đoán biết là có phái đoàn ngoại quốc tới, trong khi cán bộ chưa kịp khóa cổng thì anh ta phóng ngay ra khỏi cổng, viết ngay trên đường đất mấy chữ “S.O.S”. Một lúc thì có khoảng năm hay sáu người đi chậm chậm ngang cổng từng nhà. Tới cổng nhà chúng tôi bị giam, – chúng tôi rình trong nhà – nhờ chúng tôi leo lên cao, nhìn ra ngoài theo mấy cái cửa thông gió.

Trong phái đoàn có hai ba bà đầm mắt xanh mũi lõ, có lẽ là người Nga hay Đông Âu và một anh chàng Nhật, còn trẻ, da vàng mũi tẹt, khá lùn, và nói xí xô xí xào tiếng Nhật, tiếng Anh với vài người khác trong đoàn. Anh chàng nầy thấy mấy chữ S.O.S do Võ Phước Thọ vẽ trên đất bèn gọi mấy người kia tới xem, đưa máy hình lên chụp, xong bọn họ đi ra cổng lớn. Sau đó, thì chúng tôi được “thả chuồng” – ra khỏi nhà, được ra sân, chuyện trò –

Khoảng nửa tiếng sau, trung tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng, vào đứng ngay cổng, nói chõ vào, giận dữ:

            – “Cái gì mà phải vẽ dấu hiệu cấp cứu! Anh nào vẽ? Anh nào vẽ?”

            Y không đi một mình, có một Công An khác đi theo, hông đeo súng nhỏ, có lẽ để bảo vệ y.

Trung tá Thích cũng chỉ đứng ngay cổng nói chõ vào chớ không dám vào trong sân. Y coi tù đã mấy chục năm, kinh nghiệm lắm. Vào sâu, lỡ tù trùm mền đánh cho thì sao?! Sau đó Công An quản giáo có điều tra tìm người viết mấy chữ S.O.S. nhưng công cốc.

&

            Bây giờ thì trại đông hơn trước nhiều. Lần nầy đến thăm là phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Mấy hôm trước thân nhân lên thăm, báo cho biết là phái đoàn Liên Hợp Quốc đang thăm mấy trại ngoài bắc, ngoài trung, nên chúng tôi đoán chừng vậy.

Sáng hôm đó bỗng kẻng gọi tập trung đi làm trễ.

            Quá bảy giờ mà chưa nghe đánh kẻng như thường lệ. Vậy là anh em tù xôn xao. Người ta nói to với nhau, có vẻ mừng: “Liên Hiệp Quốc tới! Liên Hiệp Quốc tới!” Trong tâm trạng tuyệt vọng, như đang bị trôi giữa dòng nước lũ, vớ nhằm cộng rều cũng tưởng như vớ được tấm ván. Không rõ phái đoàn của “ông già bất lực Liên Hợp Quốc” có làm nên trò trống gì không, mà người ta cũng hy vọng vậy.

Chín giờ kẻng đánh, các đội tập trung ở sân lớn chờ gọi đi. Bỗng có một đội trong đám Vườn Đào được gọi vào nhà, biểu chờ lệnh. Thế rồi các đội khác bị gọi đi, ra khỏi trại. Có điều lạ, cán bộ không gọi đội trưởng cho người đi nhận cuốc để cuốc đất như thường lệ.

Thông thường mỗi đội chỉ có hai – có khi chỉ một – vệ binh cầm súng đi theo – “Để bảo vệ các anh vì sợ đồng bào căm thù Mỹ Ngụy mà đánh các anh!” Cán bộ giải thích vậy! –

Bữa nay, mỗi đội có tới ba hoặc bốn vệ binh đi theo “bảo vệ cải tạo viên” – Việt Cộng bao giờ nói nghe cũng tình nghĩa dữ lắm! – Tất cả các đội đều được dẫn đi ngược vào phía sau trại, sát bìa rừng. Vào đó, chúng tôi được ngồi chơi, không lao động, lao cải gì hết! – Trưa, mỗi đội cử ba người – hai người về nhà bếp nhận bắp, một người gánh nước uống cho bữa trưa.

Khoảng ba giờ chiều, được về trại nghỉ! Đúng là một hôm “vui chơi” khỏe khoắn, khỏi cuốc đất, lại còn được về sớm – thông thường thì năm giờ chiều mới về.

Về tới trại thì được “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”! Bữa nay khỏi lao động vì Công An dẫn tù đi trốn phái đoàn Liên Hợp Quốc, sợ phái đoàn gặp tù, “mấy anh phát biểu linh tinh, không có lợi cho cách mạng.” Cán bộ lại giải thích vậy.

            Cuối cùng thì phái đoàn Liên Hợp Quốc chưa lên thăm trại được!

            Bấy giờ anh em mới rõ thêm nhiều điều vui. Đội “Vườn Đào” được ở nhà là để “làm cảnh”.

Những anh em đó được lệnh ở nhà thay áo quần sạch sẽ, lành lặn, tập họp đi lên “lớp học tập”. Lớp là căn phòng đầu hồi, có đặt hai dãy bàn, phủ khăn, chưng mỗi bàn hai bình bông. “Ăn khoai mì mà chưng bông!”

Mấy ông vườn đào chia nhau ngồi trên những cái băng gỗ hai bên bàn. Ngồi chờ lâu quá, chẳng ma nào tới, “học viên” buồn ngủ, ngáp vặt, nói tục, và kháo chuyện bậy: “Ăn khoai mì mà cũng bày đặt bình hoa!” hoặc “Học xong 10 bài từ đời nảo đời nào mà chưa mãn khóa.” v.v… Xong rồi, được về sớm, lại “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, một ngày khỏe re!

Nhà bếp, nằm bên cạnh cổng vào, hôm đó được lệnh nấu cơm trắng thay vì khoai mì hay bắp hột. Nhưng vì phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên nên cơm ấy được lệnh mang ra cho cán bộ “ăn giùm” để tỏ rõ lòng “cao thượng, không coi trọng” miếng ăn của Dziệt Cộng! Còn tù cải tạo thì vẫn bổn cũ hằng ngày, soạn đi soạn lại: Một bữa khoai mì lát, một bữa bắp hột!

            Cũng nhắm mục đích cho buổi trình diễn thêm phần hấp dẫn, một con heo được dắt từ khu chăn nuôi ra. Con heo được cột trước mái hiên nhà bếp, chờ tin phái đoàn Liên Hợp Quốc chắc chắn sẽ lên thì mới làm thịt heo!

Phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên, heo lại được dẫn về chuồng: “Cho (heo) sống lại một ngày” nữa, như tên một tác phẩm của Dương Hà. (Cho tôi sống lại một ngày)

            Tối đó, đám tù cải tạo tập trung từng nhóm, uống nước trà, bàn bạc lung tung, tham mưu đủ hạng. Có người cho rằng đám “Vườn Đào”, người Miền Nam, hiền hòa hơn, không phát biểu lung tung, bạt mạng như đám Saigon nên được ở lại “làm kiểng cho cách mạng”.

Con heo thì sau một ngày chờ chết mà chưa chết, sợ quá nên hiện đang đau… bệnh tim, phải đưa đi cấp cứu. Chỉ có một con heo mà đủ lời bàn của… Mao Tôn Cương. Tới 10 giờ tối, điện tắt, đi ngủ.

            Vậy mà nhiều người đoán đúng!

            Sáng hôm sau, bảy giờ sáng, chưa có kẻng tập trung, có nghĩa lại chờ phái đoàn Liên Hợp Quốc lên, lại được đem đi giấu, thêm một ngày nữa khỏi lao động, vào rừng “vui chơi”, tụ nhau lại mà nói đùa, chiều về sớm, “tắm giặt, nghe đài”. Ai nấy cười nói vui mừng xôn xao.

Hôm đó, cuối cùng phái đoàn Liên Hợp Quốc lại cũng chưa lên. Trên đường về, bữa nay vui hơn hôm qua vì tù cải tạo được nghỉ lao động, ngày mai lại cũng chuẩn bị đón phái đoàn Liên Hợp Quốc nữa, khỏi cuốc đất thêm một ngày nữa. Tổng cộng là được ba ngày.

Trên đường vào trại, khi đội của tôi đi ngang nhà bếp, lại nhằm lúc một anh tù cải tạo đội cấp dưỡng (nhà bếp) đang dắt heo trả về lại chuồng. Lê Văn Y nghịch, tiện chân, đá vào mông con heo một cái; heo kêu “éc”. Trần Nguyên Bình, đi bên cạnh, nói:

            – “Đá nó tội mày!”

            – “Tội chi nữa! Bữa nay không chết, mai cũng chết!”

            Lương văn Lịch cười, nói to:

            – “Hai ngày nay nó sợ quá, đau tim nặng lắm rồi! Không chừng đêm nay “qua đời”!

            – “Nó có qua đời mày cũng chẳng được gì đâu. Bất quá miếng thịt bằng ngón tay út.” Y nói.

            Bỗng Nguyễn Quang Ngọc la to lên:

            – “Con heo đau bệnh tim anh em ơi! “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ, không phải tui mấy ông ơi!”

            Cả đám cười ồ! Có người cười hô hố vì câu nhại đó!

Nguyên là hồi còn ở Trại Cây (trại B), một hôm cán bộ dẫn đi xem phim Nguyễn Văn Trỗi, ra về, có một anh “tù cải tạo” nguyên trước làm giám thị ở khám Chí Hòa, kể lại rằng hôm bắn Nguyễn Văn Trỗi, anh ta có đi theo:

            “Nó đâu có anh hùng như trong phim. Biết dẫn đi bắn, nó vừa đi vừa khóc: “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ. Người ta cho tui tiền để tui cưới vợ mấy ông ơi!”

Chuyện nầy anh em chuyền tai nhau trong trại, nhiều người biết. Từ đó có nhiều người thường nhại câu “Không phải tui mấy ông ơi!” để cười chơi mỗi khi bị cán bộ bắt vì ăn cắp củ khoai mì hay trái bắp dấu trong lưng quần.

            Ngày mai là ngày thứ ba, thế nào phái đoàn Liên Hợp Quốc cũng lên.

Chiều hôm đó, vài ba anh em trong Hội Nhân Quyền của luật sư Trần Danh San bí mật họp nhau bàn chuyện ngày mai làm thế nào có người ra gặp phái đoàn Liên Hợp Quốc, đưa thư khiếu nại. Nội dung thư chỉ nói mấy điều quan trọng:

Một là, đây không phải là trại học tập cải tạo. Học tập thì phải có ngày khai giảng, mãn khóa, còn ở đây học đã lâu, đã năm năm nhưng không biết bao giờ mãn khóa, cho về.

Thứ hai, xác nhận đây là trại tù khổ sai Cộng Sản. Tù thì cũng phải đưa ra tòa, phải có án, hết án phải được tha về.

Thứ ba, đây là những tù binh chiến tranh, binh lính, viên chức chế độ Saigon cũ. Tù binh thì phải được đối xử theo Công ước Genève.

            Tôi không nhớ ai là người viết tiếng Anh bức thư nầy, nhưng người chép ra giấy là họa sĩ Hải. Anh nầy được tha sau đó có mấy tháng và được đi Pháp cùng gia đình.

Dương Tiến Đông được anh em trong nhóm Nhân Quyền chọn ra gặp phái đoàn. Dương Tiến Đông cũng tình nguyện đảm nhận công việc nầy.

Đông tính nóng, hiếu động và gan lì.

Anh em họp nhau bàn với Đông là khi tới gần phái đoàn Liên Hợp Quốc, cứ tự động xông tới. Thằng cán bộ đi theo sẽ không dám bắn. “Tụi nó không dám bắn người ngay trước mặt phái đoàn Liên Hợp Quốc”. Anh em dặn Đông: “Rán mà chịu! Phái đoàn Liên Hợp Quốc về rồi thì chúng nhốt mày vào “cát-xô” và chơi một đòn hội chợ bầm mình.”

Bọn cán bộ ở đây có thói quen trả thù tù cải tạo, khi có anh em nào bị nhốt vào “cát xô” thì chiều hôm đó, khi “trật tự” đem cơm ra cho người bị nhốt, bọn nó ba bốn đứa đánh đòn hội chợ trong khi người tù cải tạo còn mang còng ở tay và chân còn bị cùm vào thanh sắt ngang trên sàn, không có cách gì chống đỡ được.

            Trưa hôm sau, khi còn đang ở trong bìa rừng thì Đông giả bộ đau bụng, xin về trại lấy thuốc uống. Cán bộ quản giáo không cho về. Đông giả bộ xin đi cầu nhiều lần. Anh ta nói với cán bộ: “Tui bị tiêu chảy đi re re! Kiểu nầy thì chẳng mấy lúc người khô nước mà chết! Tui mà chết là cán bộ mang tiếng ác. Anh em họ cũng khiếu nại cán bộ cho xem.”

Dọa cán bộ xong, anh ta giả bộ nằm rên hừ hừ, than vãn đau quá! Mãi tới quá trưa, thấy anh ta đau, không chịu ăn trưa, cán bộ quản giáo mới cho một vệ binh cầm súng đi theo, cho Đông về trại trước. Gần tới trại, anh ta đi thật nhanh. Đông người cao, chân dài, đi lẹ, anh vệ binh phải lết giò mới theo kịp.

Khi vừa tới góc bờ thành bên tay phải quặt ra phía trước, Đông vừa thấy phái đoàn Liên Hợp Quốc đang lên xe. Khoảng đường còn khá xa, Đông muốn chạy cho nhanh nhưng anh vệ binh chạy theo gọi lại, mở cơ bẩm cho đạn lên nòng kêu rắc rắc. Đông vẫn cứ đi nhanh.

Khi Đông vừa tới cổng trại thì đoàn xe phái đoàn Liên Hợp Quốc rời khỏi sân văn phòng trại. Đông tiếc hùi hụi, về nhà nằm, anh ta không ngớt chưởi thề: “Thằng quản giáo Chinh cho tao về trễ. Sớm hơn cỡ năm phút là tao đưa được lá thư cho Liên hiệp Quốc rồi. Đ. má! Mất một dịp bằng vàng!”

hoànglonghải

(1)-Nghe nói sau khi được tha, khoảng năm 1982, danh hề Khả Năng vượt biên bằng đường bộ, bị bắn chết. Không rõ phe nào giết ông!