Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 6th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Poist by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 6th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Kỳ 13

Đại úy Junichi Sasai là cháu ruột của quả phụ Onishi, vị đô đốc đã thiết lập các phi đoàn Thần phong cảm tử Kamikaze. Ngày Nhật Bản đầu hàng, Onishi mổ bụng tự sát. Cháu dượng của Onishi là Sasai, một phi đội trưởng đầy nhân tính dưới ngòi bút của Sakai. Tháng 5-1942 tại căn cứ Lae, “bộ ba quét sạch”, The famed “Cleanup Trio” của Sakai hun đúc kinh nghiệm không chiến cho chính thượng cấp của mình là “Đại úy Phi hổ” Sasai; nói lên tinh thần đồng đội sáng ngời của Phi đoàn Lae và giải thích vì sao họ đạt nhiều chiến thắng.

Khoảng tối trong hồi ký là vào khi ấy, Sakai hoàn toàn không biết đến thảm bại của thủy chiến biển San Hô mà mục đích nhằm đánh chiếm pháo đài Port Moresby, cửa ngõ vào Úc châu, mà Sakai oanh kích hàng ngày. Do tin tức bị giấu nhẹm. Kiểm soát thông tin phía Nhật không ngăn thủy chiến biển San Hô là một thất bại chiến lược. Hàng không mẫu hạm nhẹ Shoho (Triền Phụng) bị đánh chìm, 2 hàng không mẫu hạm nặng Shokaku (Tường Hạc) và Zuikaku (Thụy Hạc) bị hư hại và phải tháo lui. Ngay cả khi hàng không mẫu hạm USS Lexington của Hoa Kỳ bị đánh đắm thì giấc mộng Úc châu của Thiên hoàng vẫn tan ra mây khói. Từ đây, việc Đồng Minh phản công tái chiếm Lae chỉ còn là thời gian. Mũi kiếm Samurai đã không thể đâm thủng Moresby. Duy nhất tài năng của các Samurai kéo dài trận chiến.

Yếu kém của Nhật Bản là không có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa Hạm đội viễn dương với các đơn vị đóng trên mặt đất, vì một tấn công phụ lực hay hộ tống của Phi đoàn Lae đã có thể đổi khác tình thế.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 13

Chương 13

Những tuần lễ sống ở Lae giúp tôi biết tôn kính giấc ngủ. Cuộc sống của chúng tôi trong căn cứ đơn điệu như một cuốn kinh: Ban ngày chúng tôi bay hay trực chiến bên cạnh phi cơ. Ban đêm, ước ao duy nhất là được chợp mắt. Khốn khổ làm sao là kẻ địch lại nghĩ khác. Vì gần như hàng đêm, máy bay địch lợi dụng bóng tối để thả từng chuỗi bom miểng và rưới từng tràn đạn lửa lên nóc doanh trại của chúng tôi.

Chúng tôi có thể nhịn ăn những món khoái khẩu hay sống chen chúc trong những túp lều ọp ẹp và ngay cả chấp nhận một phi đạo thô sơ, nhưng sẽ vượt quá sức chịu đựng nếu không cho chúng tôi ngủ. Các phi công Úc và Mỹ làm mọi thứ để bắt chúng tôi thức trắng đêm.

Tình trạng trở nên tệ hại đến mức nhiều phi công bỏ ra ngủ ngoài sân bay, trong những hố bom. Các cuộc không kích không ngừng nghỉ, những phi vụ liên tiếp và tiện nghi sa sút làm chúng tôi cáu kỉnh. Các sĩ quan đã phải làm gương sáng và khôn khéo tránh xảy ra va chạm giữa các phi công. Tôi tin rằng chính lề lối chỉ huy phi đoàn là yếu tố đáng phục nhất ở tiền đồn Lae, một ải địa đầu giữa rừng già.

Chỉ huy trưởng căn cứ, Ðại tá Masahisa Saito là một samurai đầy nhân phẩm và tiết chế. Một tư cách khác hẳn với những sĩ quan lục quân vây quanh Thủ tướng Hideki Tojo ở Ðông-Kinh. Ở bọn họ, niềm tự hào về đẳng cấp và sự tự phụ thể hiện với đầy tự mãn. Vừa trầm tĩnh, vừa có uy, Ðại tá Saito khiến cho tất cả các thuộc cấp đều muốn phụng sự. Mỗi khi máy bay địch không tập, đại tá luôn là người sau cùng vào hầm, sau khi các đồng đội của ông đã có nơi trú ẩn. Không cần nhấn mạnh là cung cách này đem đến cho ông một uy tín đáng kể! Với một phép màu khó giải thích, Ðại tá Saito đi qua hết chiến tranh không một vết trầy.

Nhưng vị sĩ quan nổi bật nhứt trong suốt binh nghiệp tôi đã gặp, chính là Ðại úy Junichi Sasai, là thượng cấp trực tiếp của tôi. Thời gian này Sasai chỉ huy phi đội khu trục sáng chói nhứt của Nhựt Bản. Dưới quyền Sasai là 4 cao thủ sát tinh lập chiến công nhiều nhứt: Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi. Tôi sẽ không nói quá khi quả quyết là tất cả những phi công thuộc quyền Sasai, đều sẵn sàng hy sinh để thế mạng cho phi đội trưởng trẻ tuổi của mình.

27 tuổi đời và còn độc thân, Sasai treo trên vách phòng của ông tấm chân dung vị anh hùng Yoshitsune, người chiến binh huyền thoại của tổ quốc. Không tuân thủ sự phân chia đẳng cấp bên trong Hải quân Hoàng gia, Sasai cũng không xem quân phục sĩ quan của mình là quan trọng hơn bất kỳ quần áo của binh sĩ nào. Chỉ là một tiểu tiết, nhưng nói lên rất nhiều đức tính của Sasai, đặc biệt trong khung cảnh của một truyền thống quân đội cứng rắn. Ngay khi vừa thuyên chuyển đến Lae, tôi đã vô cùng kinh ngạc chứng kiến những chăm sóc tận tâm và tỉ mỉ của Sasai cho sức khỏe và tình trạng của các phi công. Những quan tâm và hành động đó được ông thực hiện bất chấp giới luật của Bộ luật Ðẳng cấp Quân sự mà có lẽ là nghiêm ngặt nhứt trên thế giới. Theo giới luật này, mọi vi phạm, nếu thượng cấp cho rằng đã phạm lỗi, cấp dưới sẽ bị trừng trị thẳng tay, bằng đánh đập, thậm chí đánh chết. Ngay cả tại Lae, một căn cứ tiền tiêu giữa rừng rậm, quy định phân cấp vẫn còn hiệu lực. Không ai dám hình dung một chút vô lễ nào với sĩ quan.

Sasai, hiển nhiên nếu ông muốn, đã có thể tận dụng các đặc quyền của mình vì ông tốt nghiệp Hàn Lâm viện Hải quân danh tiếng Eta Jima, thánh đường của các học viện. Có thể các sĩ quan khác thầm trách thái độ khinh bạc của Sasai; tôi không bao giờ biết họ nghĩ gì, nhưng điều tôi kiểm chứng là Sasai thường xuyên khước từ tiện nghi của cư xá sĩ quan với vật dụng và giường chiếu tốt hơn, cũng không chật nêm cối, để xuống doanh trại của chúng tôi và chia sẻ thời gian của ông với chúng tôi trong nhiều giờ liền. Những hỏi han ân cần và chăm lo đó làm ấm lòng chúng tôi.

Từng tháng trôi qua, cường độ không chiến càng lúc càng gia tăng ác liệt trên không phận Lae. Cùng lúc việc tiếp tế sút giảm thảm hại. Và mặc dầu phi đoàn khu trục Zéro lập hết chiến tích này sang chiến tích khác, chúng tôi vẫn không thể chiếm lấy bầu trời của Ðồng Minh. Phi cơ đối phương càng lúc càng đông, phi công địch càng lúc càng xác quyết sự hung hăng của họ bằng cách nhào thẳng vào máy bay của chúng tôi, họ đang xây dựng một không lực tuyệt hảo. Khu trục cơ và oanh tạc cơ địch bay ngày đêm trên không trung, tấn kích không ngơi nghỉ các đoàn tàu của chúng tôi. Các tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ cũng đánh đắm nhiều thuyền Nhựt.

Kết quả của sự gia tăng hoạt động dồn dập của phía Ðồng Minh đã bắt buộc Bộ Chỉ Huy Nhựt Bản phải che giấu thuyền bè của mình vào ban ngày. Dĩ nhiên là các hải hành ban đêm không đủ cung ứng nhu vật liệu cùng phụ tùng cần thiết cho căn cứ Lae. Chúng tôi nhận tiếp tế càng lúc càng ít đi. Trong tình trạng bế tắc, Hải quân đành sử dụng tàu ngầm như một thứ dương vận hạm để tiếp vận. Chỉ là một phương cách tạm bợ, vì trọng tải của các tàu ngầm quá ít ỏi do chúng không được sáng chế cho công vụ chuyển vận quân lương này. Nhưng khi đói, đầu gối phải bò.

Sau cùng, chúng tôi nhận những gì tối cần thiết nhứt, đủ không chết đói và chiến đấu. Chút dư thừa được đong đếm kỹ càng cho đến hôm qua, cũng không còn nữa. Bia, Sakê và thuốc lá trở nên hiếm quý và rồi chỉ còn được ban phát như phần thưởng xứng đáng dành riêng cho những phi đội nào chiến thắng mà không hao hụt quân số!

Chúng tôi đặt cho Sasai biệt danh Ðại úy “Phi hổ”, chính vì ông luôn mang thắt lưng có khóa bạc mang hình một con hổ đang gầm. Cha của Sasai, một đại tá hải quân đã về hưu, đã cho đóng 3 dây thắt lưng với 3 mặt khóa giống nhau, một cho Sasai là con trai độc nhứt, và hai cho hai con rể là hai thiếu tá hải quân. Theo truyền thuyết xa xưa, hổ có thể rượt đuổi con mồi trên 1,800 cây số và luôn luôn trở về hang cũ. Là ý nghĩa mặt khóa bạc trên dây lưng của Sasai. Là phi công khu trục nhưng do thiếu kinh nghiệm trận mạc nên Sasai ghi ít bàn thắng trong suốt tháng 4 và đầu tháng 5. Vì vậy Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi quyết định giúp Sasai trở nên một sát tinh. Chúng tôi bỏ ra nhiều công khó truyền đạt cho Sasai những tinh diệu của chiến thuật không chiến. Trong doanh trại hạ sĩ quan, chúng tôi dành nhiều thời giờ giải thích cho Sasai những sai lầm nào nên tránh và cách thức khống chế đối phương. Sasai gặp khó khăn tự định vị qua đồng hồ trắc-viễn-kế mỗi khi cho máy bay xoáy trôn ốc lúc không chiến. Nhiều bận chúng tôi cùng thực tập chung trên không để giúp Sasai khắc phục khuyết điểm này.

Ngày 12 tháng 5-1942, Sasai có cơ hội áp dụng những lời khuyên của chúng tôi trong giao chiến.

Chúng tôi bay gần pháo đài Moresby, trong một phi vụ tuần thám thông thường. Phi đội 15 chiếc Zéro, chia làm 5 toán hình tam giác, sáp đến gần 3 chiếc Airacobra đang cách chúng tôi 1 cây số rưỡi phía tay mặt và thấp hơn chúng tôi chừng 450 thước. Ðội hình hàng dọc cách nhau 200 thước của địch khá bất thường. Tôi lướt đến gần Sasai, ra dấu cho ông tấn công. Sasai gật đầu với nụ cười. Chúng tôi theo dõi máy bay của Sasai khi ông ngoặt gắt và đâm chúi. Cú đấm đầu của Sasai hoàn hảo. Ông lao xuống chiếc Airacobra sau chót vẫn không hay biết chi hết và bắn cháy nó với vài viên đại bác nhắm kỹ; chiếc P39 gẫy làm đôi. Sasai dựng thẳng chiếc Zéro sau cú đâm bổ ngoạn mục rồi lộn vòng vượt lên trên chiếc P39 thứ nhì từ bên trái. Khó tin là phi công địch vẫn cứ tiếp tục lối bay hàng dọc không thay đổi. Từ bên trên đối thủ 500 thước, Sasai nhào xuống lần nữa, lượn sang phải và tưới đại liên lên chiếc Airacobra từ đuôi đến đàng mũi. Chiếc P39 lắc lư dao động trước khi rơi vào một vòng xoáy rối loạn và nổ tung trên mặt đất. Viên phi công hẳn trúng đạn nên không thấy nhảy dù.

Sasai lập lại chiêu thức, nhưng lần này chiếc Airacobra thứ ba đã đề phòng cẩn mật. Ngay khi phi đội trưởng của chúng tôi đảo sang phải, mũi của chiếc P39 nhấc lên cấp thời, nhưng phi công địch đã chần chừ quá lâu. Hắn chỉ vừa khởi động là Sasai đã ghim ngập thân và cánh trái của chiếc P39 hàng tràng đạn. Cánh trái đứt lìa làm máy bay địch quay như bông vụ trong lúc rơi. Tôi khá ấn tượng với chiến thắng chớp nhoáng ấy. Bay bên cạnh, Nishizawa ném cho tôi một nụ cười thích thú rách đến mang tai. Ba chiến thắng liên tiếp trong vài phút xác định Sasai là một sát tinh. Nhưng chưa là bài học duy nhứt trong ngày. Bài học tiếp theo mang tính chất khó khăn và dữ dội hơn rất nhiều. Trên đường về Lae, phi tuần của Sasai bay trước hợp đoàn của chúng tôi đến gần 3 cây số. Còn đang phấn kích với chiến tích huy hoàng vừa nãy của “Ðại úy Phi hổ” nên tôi không chú ý mấy đến khoảng cách này. Một sơ sót xém gây ra bi kịch khôn lường.

Trong lúc chúng tôi băng qua rặng núi Owen-Stanley thì một chiếc Airacobra đơn độc, từ trong một tảng mây dầy trên cao, bỗng vút ra như tên bắn và đâm thẳng xuống phi tuần dẫn đường của Sasai. Chưa bao giờ tôi thấy hối tiếc như hôm đó, là các máy bay của chúng tôi không được trang bị vô tuyến. Tôi không có cách nào báo động cho Sasai, và cho dù có xả hết tốc lực 550 cây số giờ, tôi cũng không bắt kịp chiếc P39. May mắn thay cho “Ðại úy Phi hổ”, thay vì tấn công trong lúc đâm bổ xuống trên đầu Sasai, viên phi công Mỹ lại lao xuống thấp hơn rồi mới quay ngược trở lên để bắn từ dưới bụng Sasai. Tôi chỉ còn cách 800 thước khi chiếc Airacobra hoàn tất thao tác cuối cùng. Tuyệt vọng vì bất lực, tôi nhấn cò đại bác, hy vọng tiếng nổ sẽ đánh động Sasai hoặc khiến phi công Mỹ nhận ra chúng tôi đông hơn mà bỏ cuộc. Phi công địch không đếm xỉa đến chúng tôi, nhưng Sasai nghe thấy tiếng súng của tôi, liền đảo vòng xoáy tức khắc với hai phi công bên cánh. Ðối phương hiểu ra tức thì chiếc bẫy đang ụp xuống. Ðến phiên hắn đánh vòng xoáy tìm cách bay lên cao. Nhưng tôi nắm thế thượng phong lúc này. Tôi đoán ngay khi chấm dứt vòng xoáy, kẻ địch sẽ phải chúi xuống vì tôi đã chặn đường lên của hắn. Tôi đánh vòng cung thật ngặt và lao dốc để vồ lấy khi hắn thoát ra. Nhưng hắn đã nhìn ra, hắn nhảy xổ ngay sang trái và đâm bổ hết tốc lực để tháo chạy. Nhưng rặng núi chắn ngang trước mặt làm hắn phải nhanh chóng vượt lên cao trở lại.

Một phi công thao lược tài tình, vì hắn bay sát rạt vách núi, không ngớt đảo lượn liên tục để tránh những mỏm đá vào phút cuối cùng. Tôi đuổi theo sát, thâu ngắn khoảng cách bằng cách cắt thẳng góc vào đường bay của hắn mỗi bận hắn đổi hướng. Hắn xoay chuyển liên tiếp tìm cách thoát, nhưng mỗi lần đều chạm trán một chiếc Zéro. Các đồng đội của tôi sắm vai phi công bên cánh tuyệt hảo. Chiếc Airacobra đã sập bẫy. Viên phi công Hoa Kỳ không còn cách nào khác hơn là tử chiến. Không chạy trốn, hắn nhắm bắn chúng tôi từng lúc. Tôi thu ngắn thêm khoảng cách, cho đến lúc chỉ còn cách 150 thước, tôi khai hỏa từng loạt đại liên ngắn nhưng chính xác. Cách 50 thước thì khói đen túa ra từ đầu máy và chiếc Airacobra đâm xuống vực. Ðám cháy đen nghịt.

Sau khi đáp xuống căn cứ Lae, Sasai tiến đến phi cơ của tôi, gương mặt ông biểu hiện ăn năn. Ông biết ông đã thiếu cẩn thận. Tôi giữ im lặng trong lúc các cơ khí viên trố mắt nhìn lỗ chỗ dấu đạn trên cánh máy bay của tôi. Thượng cấp của tôi ngập ngừng cám ơn. Bất thình lình ông chú ý đến các lỗ thủng chi chít như một bầy sao. Ngay lập tức, ông xem xét chúng, ông ngó đăm đăm rồi quay đi không thêm một lời.

Bất chiến tự nhiên thành!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Bất chiến tự nhiên thành!

đoàn xuân thu

Hổm rày, Kim Jong-un của Bắc Hàn và Donald Trump của Hoa Kỳ khẩu chiến (còn gọi là đấu võ mồm) với nhau một cách ác liệt. Đe dọa lẫn nhau: “Chịu chơi chơi tới cùng!”

Nên tin tức về cuộc khủng hoảng hỏa tiễn có khả năng mang đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn tràn lan trên báo chí!

Kim Jong-un hù là giữa tháng 8 nầy sẽ hoàn thành kế hoạch phóng 4 quả hỏa tiễn tầm trung vượt qua không phận ba tỉnh của Nhật Bản, đáp xuống vùng biển cách Guam khoảng 30 – 40 km trong thời gian 17 phút 14 giây.

Kế hoạch thôi! Hỏng biết lúc nào phóng hết trơn á! Cho Mỹ phập phồng chơi hè!

Nhưng không phải bắn hỏa tiển vào đất đảo, mà là vùng biển gần đảo; giống như thằng du côn mất dạy vác đá ném xuống ao bèo trước cửa nhà mình vậy mà!

Vậy mà Tổng thống Donald Trump nhẩy đong đỏng lên: Guam mà có mệnh hệ nào là chú em mầy sẽ biến mất khỏi bản đồ thế giới.

Nghe thấy ghê quá hà! Làm bà con mình phải tìm hiểu Guam ở đâu vậy cà? Xưa giờ hỏng nghe nói há?

Thì tầm chương trích cú thấy: nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Ferdinand Magellan phụng lệnh vua Tây Ban Nha, dong thuyền vòng quanh thế giới đã phát hiện ra đảo Guam năm 1521, mà thổ dân ở đó đã sống từ 6000 năm trước; nhưng Tây Ban Nha vẫn ngang nhiên tuyên bố chủ quyền năm 1565.

Rồi Tây Ban Nha và Hoa Kỳ đánh nhau cuối thế kỷ 19. Tân Ban Nha thua phải nhượng đứt Philippines và Guam cho Hoa Kỳ năm 1898.

Từ đấy, Hoa Kỳ dùng đảo Guam làm trạm tiếp tế cho tàu chiến khi vượt đại dương sang Philippines vì đường đi từ mẫu quốc qua xa quá, lính vừa mệt vừa không có chỗ xả ”xu páp”; đêm mơ thấy nàng tiên cá, nó nhẩy xuống ôm… thì thậm chí nguy!

Thế chiến thứ hai bùng nổ, quân phiệt Nhật chiếm đóng Guam từ ngày 8 tháng Chạp năm 1941 cho tới ngày 21 tháng Bảy năm 1944, suốt 31 tháng trời.

Dân Guam bị quân Nhật hành hạ, đàn ông thì bắt lao dịch, giết hại khoảng 1000 người. Phụ nữ thì phục vụ sinh lý cho lính Nhật. Tội ác chiến tranh nầy làm nhiều gia đình người Guam ly tán.

Nên ngày 21, tháng Bảy hàng năm, là Liberation Day (Ngày Giải phóng), một trong những ngày lễ lạc lớn nhứt của đảo Guam!

Hiện nay, Guam, lãnh thổ hải ngoại của Mỹ, là hải đảo nằm ở miền tây Thái Bình Dương, diện tích là 544 km², chỉ rộng bằng thành phố Chicago, cách Hawaii hơn 5.000 km về phía tây, cách Philippines và Nhật Bản hơn 2.000 km về phía đông và về phía nam.

Trong khi chỉ cách thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn khoảng 3.410 km,

khoảng 4 giờ bay, nghĩa là Guam là lãnh thổ thuộc Mỹ lại xa nhất, gần 12.000 km, cách thành phố New York tới 19 tiếng bay. Nhưng lại gần với Bắc Hàn nhất!

Chính vì vậy Guam mới bị Bắc Hàn hù… cho ăn hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân.

Guam cũng không xa lạ với hàng trăm ngàn người Việt Nam tỵ nạn CS.

Tháng Tư, năm 1975, sau khi Sài Gòn lọt vào tay quân CS Bắc Việt thì Hoa Kỳ bằng đường hàng không và hàng hải đã di tản 111.919 người Việt tỵ nạn CS tới Guam trước khi bà con mình được đi định cư ở Hoa Kỳ.

Guam cũng là nơi con tàu Việt Nam Thương Tín cập bến vào tháng Chín năm 1975 sau khi thoát khỏi Việt Nam từ tháng Tư.

Ngày 16 tháng Mười, chính con tàu này đã trở về Việt Nam, chở theo 1.546 người Việt. Sau đó họ bị VC bắt đưa đi cải tạo hết ráo. Bà con còn kẹt lại, tiếc hùi hụi. Chạy được rồi sao lại quay đầu về chi cho nó nhốt vậy hè?!

Ngày nay, đảo Guam có khoảng 200 người Mỹ gốc Việt làm ăn sinh sống, trong đó có hai bác sĩ. Có người từ California hay từ những tiểu bang khác qua Guam mở quán Karaoke hay hộp đêm để phục vụ du khách.

Có tới bảy, tám tiệm ăn do người Việt Nam làm chủ, tiệm nào cũng có phở nhưng dân địa phương khoái hẩu xực hủ tiếu, nấu theo kiểu miền Nam, mà họ gọi là “combination soup”.

Kinh tế của Guam chính yếu dựa vào du khách từ Nhật Bản, Đại Hàn và Đài Loan vì chỉ cần khoảng 4 giờ bay là du khách nườm nượp xuống sân bay quốc tế Antonio B.Won Pat. Khách sạn từ bình dân đến loại xịn đều đầy nhóc khách.

Du khách đến Guam để tắm vì bãi biển đẹp, cát trắng dài mút mắt, khí hậu nhiệt đới ấm, tắm đã lắm nha!

Để mua sắm tại nhiều trung tâm thương mại trên đảo Guam mở cửa suốt ngày đêm 24/7, bán thời trang cao cấp cho du khách với giá thấp hơn 20% so với quê nhà. Tốn tiền đi chơi, mua về bán gỡ vốn chớ!

Guam còn là một đầu não chiến lược quan trọng của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, là một hàng không mẫu hạm không bao giờ bị chìm.

Guam có nhiều căn cứ quân sự quan trọng chiến 1/4 diện tích đảo, nơi hơn 6.000 binh sĩ Mỹ trú đóng.

Từ căn cứ không quân Andersen ở Guam, mỗi lần Bắc Hàn thử hỏa tiễn tầm gần, tầm xa là Mỹ cho oanh tạc cơ chiến lược B-1B, B-2 và B-52 bay qua vùng trời Bắc Hàn để thị uy. Mà đâu thấy Bắc Hàn dám làm gì?

Từ căn cứ hải quân đóng tại Guam, Mỹ gởi tàu ngầm nguyên tử, với hàng chục hỏa tiễn Tomahawk, tầm bắn 3.100 km, đến tập trận với Nam Hàn và Nhật Bản hàng năm.

Hành động nầy làm Kim Jong-un phát ghét và đàn anh Trung Cộng phát tức!

Bắc Hàn chọn Guam là mục tiêu hàng đầu để tấn công bằng Hwasong-12, hỏa tiễn đạn đạo chiến lược tầm trung. Vì bắn tới đất Mỹ xa quá, Bắc Hàn chưa làm được.

Tình báo Mỹ nói rằng Bắc Hàn đã thu nhỏ đầu đạn hạt nhân, gắn lên hỏa tiễn đạn đạo làm dân Guam hơi bị… rét.

Một chú pha cà phê “latte”, óc tiếu lâm, dùng bột chocolate vẽ hình cột nấm bom nguyên tử lên lớp sữa của ly cà phê để hù du khách!

Chúa đảo, Thống đốc Eddie Calvo, cho biết Bình Nhưỡng từng đe dọa tấn công đảo Guam năm 2013. Nên chính phủ Mỹ đã lắp đặt hệ thống phòng thủ THAAD trên đảo để dàn chào đề phòng trường hợp hệ thống THAAD ở Nam Hàn bắn hụt! Thủ kỹ, tới hai lớp, nên bà con đừng có lo!

Rồi hỏa tiễn của Bắc Hàn dở ẹt, chỉ có 0,00001% cơ hội đánh trúng Guam.

Tuy nhiên tiên hạ thủ vi cường: “Nếu Bắc Hàn buộc Mỹ phải tiến hành đáp trả hạt nhân toàn diện, chỉ vài phút sau đợt tấn công đầu tiên của Bình Nhưỡng vào Seoul, Nhật Bản, những đồng minh của Mỹ, chớ không cần tới Guam thì Bắc Hàn sẽ thành bình địa, bị hoàn toàn xóa sổ trong vòng 15 phút!”

Thế nên nhân viên thuế quan tại phi trường quốc tế của Guam bông đùa: “Chào mừng quý khách đến Vùng đất số không.”

(Ground Zero là vùng đất không còn gì sau khi bị dội bom nguyên tử).

Dân đảo Guam cũng tỉnh bơ. Đứa lớn đi câu cá mỗi ngày thì vẫn đi câu. Đứa nhỏ vọc cát tên bãi biển thì vẫn vọc!

Dân Guam cho rằng: Tổng thống Trump đang phóng đại mọi việc, đóng vai hiệp sĩ trừ gian để dụ khị con nít! Vì những vụ đe dọa kiểu này đã xảy ra nhiều lần rồi. Rung cây nhát khỉ! Khỉ không sợ thì làm gì nhau?

Nhân loại nầy do Thượng đế quyết định, chuyện gì xảy ra thì sẽ xảy ra thôi. Chớ không phải Kim Jong-un hay Donald Trump.

“Chúng tôi chỉ muốn hòa bình, muốn cuộc sống trên hòn đảo này tiếp tục diễn ra nhẹ nhàng như nó vốn có”.

Chín người mười ý, cũng có một em sợ quá: “Người ta bảo dân cứ bình tĩnh đi nào vì Guam đã được phòng thủ rất tốt. Nhưng thực tế là biết đâu bữa nay còn đó ngày mai mất rồi! Hu hu!”

Du khách thì cóc ngán Kim Jong-un: Chàng và nàng đi hưởng tuần trăng mật ở Guam nói “Nếu hai đứa tui chỉ có 10 phút để chạy trốn cuộc tấn công, tụi tui sẽ dành 10 phút đó xuống quán uống vài ly vĩnh biệt với mọi người”.

Dân Mỹ cười hì hì cho rằng Kim Jong-un chém gió: “Hoa Kỳ vừa lên kế hoạch tấn công vào nhu liệu điều khiển hỏa tiễn của Bắc Hàn và kết quả là hai cái computer bị ngưng chạy!”

Bắc Hàn lên kế hoạch bắn 4 hỏa tiễn tầm xa vào vùng biển gần đảo Guam. Nên nhớ gần chớ không có vào đảo Guam. Cái nầy cũng giống như thằng anh nói với em mình: “Tao đâu có đụng vô mầy. Nên mầy không được méc má! Tao đâu có dọng vô bản mặt của mầy! Sao mầy lại khóc bù lu bù loa thế kia?”

Mấy nhà hài hước Mỹ chê Trump nhát, chọc quê là: “Căng thẳng với Bắc Hàn tiếp tục leo thang; Trump đang rất lo lắng bởi vì ông ấy đang đội một cái nón an toàn trên đó có in hàng chữ: “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại!”

Còn ý tui là chiến tranh Mỹ và Bắc Hàn rất khó xảy ra trừ trường họp Kim Jong-un muốn tự sát.

Nhưng tự sát làm sao được khi Kim Jong-un muốn gì được nấy. Muốn nhậu là có sẵn rượu vài ngàn đô một chai. Muốn ăn sơn hào hải vị đều có cả. Muốn chơi biết bao nhiêu là em đẹp Bắc Hàn.

Ngu sao mà chết! Nên cái chắc là hù cho vui, cho tên mình lên báo kẻo thiên hạ quên Kim Jong-un!

Tui cho rằng Tập Cận Bình gởi cho Kim Jong-un một cuốn thiên thư dặn phải làm như vầy; như vầy. Nhưng lại đưa lộn cuốn Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Làm Kim Jong-un tưởng mình là Tề Thiên đại thánh, bứt một cọng lông ra hô biến thành con khỉ… để làm trò khỉ!

Nhưng để chắc ăn, sợ Kim Jong-un nổi cơn làm sảng, tui xin hiến kế cho Tổng thống Mỹ Donald Trump giải quyết một cách êm thắm cuộc khủng hoảng hỏa tiễn liên lục địa có mang đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn là gọi điện, đích thân mời Kim Jong-un tới Disneyland ở số 1313 Disneyland Dr, Anaheim, CA 92802, USA chơi miễn phí. Tay nầy còn con nít nên ham vui lắm!

Sau đó đãi quốc yến tại Tòa Bạch Ốc vì lãnh tụ tối cao Bắc Hàn rất khoái ăn nhậu. Hỏng thấy y mập ú như con heo đó sao?

Xong xuôi, tiễn Kim Jong-un ra tận chân cầu thang máy bay, nhớ ôm hun thắm thiết nhe!

Bảo đảm là về tới Bình Nhưởng, chỉ tối đa một tuần, là Kim Jong-un sẽ ngã lăn ra chết vì bị Trung Cộng hạ độc vì cái tội vong tình bỏ Chú Ba mà đi hú hí với Chú Sam.

Chiêu thức nầy gọi theo kiểu ông Đạo Dừa, kỹ sư hóa học Nguyễn Thành Nam, trụ trì ở cồn Phụng nằm giữa Mỹ Tho và Bến Tre năm xưa là bất chiến tự nhiên thành.

đoàn xuân thu

melbourne

Báo nói!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 15 July 2022

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Báo nói!

Theo từ điển Hán Việt cắt nghĩa: báo, động từ, là: báo cáo, báo tin, thông báo. Còn báo, danh từ, là tờ nhựt trình, nhựt báo, báo ra hằng ngày. Còn ‘vãn báo’, báo ra buổi tối.

Ngoài báo chí chuyên đăng tin xe cán chó, còn có báo ảnh. Không phải đăng hình con chó mà đăng hình mấy con đầm ở truồng. Như tạp chí Playboy. Ông nào ông nấy nhìn nước miếng nhểu tới rún, vén lên không kịp. Nên Playboy bán đắt hết biết luôn.

Ðó là hồi xưa, hồi thời báo chí Việt Nam Cộng Hòa cực thịnh kìa. Nhưng thời hoa mộng nay còn đâu? Sau 75, nhựt báo của người Việt tị nạn CS trên toàn thế giới đếm chưa hết một bàn tay. Ða phần là tuần báo.

Ðể sống sót với nghề, báo viết nó đẻ ra báo nói. Báo nói nhiều như nấm mối gặp mưa, trên mạng xã hội như: Facebook, Youtube, Twitter…

Trăm hoa đua nở như vậy nhưng tựu trung gom lại chỉ là hai loại: Báo viết và báo nói. Báo viết thì có ký giả. Báo nói thì có phát thanh viên.

Mấy em phát thanh viên trên truyền hình thanh sắc vẹn toàn, không thua gì hoa hậu. Thanh là tiếng nói dịu dàng như mật rót vào tai. Mật thì ngọt; rót vào tai cho kiến bu bắn chết Tía mình luôn. Nghe riết rồi ghiền. Khoái tiếng em hơn là tiếng the thé của bà chằn lửa ở nhà mình.

Còn sắc của em là nghiêng thùng đổ nước. Ðẹp như phát thanh viên Trà My của đài VOA vậy đó!

Nói hổng phải khoe gì với bà con, hôm Father’s Day nè có một em ‘Em Xi’ ở Little Saigon, đẹp nức nở, đẹp ná thở xin phép đọc bài về từ phụ của tui. Bụng tui tính hỏi coi em có cho tui cắc nào để bù tiền bút mực, để tui  rủng rỉnh xu hào mua rượu uống chơi hông? Thấy em đẹp quá, lại ăn nói gió đưa ngọt ngào; nên tui quên phứt!

Hổng phải tới già rồi, tui mới dại gái đâu! Mà tui dại gái từ thuở dậy thì, thuở mới lún phún râu măng hai bên mép.

o O o

Lại nhớ năm 1975, chuyện cách đây đã 47 năm. Tối 28 tháng Tư, rầu cho vận nước. Tui bắt chước người xưa ‘dục phá sầu thành tu dụng tửu’ lai rai vài xị đế với ông Thượng sĩ Trưởng ban 4 truyền tin, Chi khu Kế Sách tỉnh Ba Xuyên.

Thì đài BBC Luân Ðôn loan báo xe tăng CSBV đã bò tới chân cầu Tân Cảng trên xa lộ Biên Hòa. Và quân Dù của chúng ta đang chống trả quyết liệt. Vậy là thôi rồi Lượm ơi!

Rồi sau nầy thoát khỏi ngục tù CS bao la, vọt qua được tới Melbourne, theo thói quen xưa, tối tối từ 7 giờ tới 9 giờ đêm, tui không ôm em yêu mà tui ôm lấy cái ‘ra dô’.

Tui nghe người đẹp Ngọc Hân, Trưởng ban Việt ngữ của Ðài SBS (Special Broadcasting Service) Úc Châu Sydney thỏ thẻ.

Nhớ cái giọng lên bổng, xuống trầm, ngắt hơi đúng nhịp đàng hoàng. Nhớ cái giọng rõ ràng và khúc chiết.

Nhớ câu cú đúng văn phạm. Nhớ cách dùng chữ sáng trong. Nên nội dung bài viết nghe em đọc, nó cực kỳ dễ hiểu.

Ða số thính giả mình ở Úc là người tị nạn CS phát xuất từ Miền Nam. Nên giọng Sài Gòn của Ngọc Hân, Phượng Hoàng hay Quỳnh Liên của Ðài ABC (Australian Broadcasting Corporation) tiếng Việt nghe nó đã ơi là đã!

Mỗi lần nghe tiếng thỏ thẻ trên làn sóng phát thanh thì mấy người đẹp nầy lại dắt tui về quê cũ.

Giờ thì Ðài SBS không còn được hay như xưa nữa! Giọng Bắc Hà Nội sau 75, tiếng nầy dính với tiếng kia, õng ẹo như con lăng quăng, (ý quên con bọ gậy).

Chữ dùng thì bậy bạ. Ðôi khi quá đà thành tục tĩu. Như chữ ‘tự sướng’ chẳng hạn!

Nhớ hồi chiến tranh Việt Nam, lúc CSBV xâm lăng VNCH, bà con mình hay nghe Ðài VOA hay BBC.

Tại sao vậy? Vì bà con mình cho rằng hai cái đài nầy làm báo nói đàng hoàng, đưa tin khách quan và trung thực.

Như ông Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời năm rồi ở Mỹ, tuổi 84, đã để lại trong lòng thính giả nhiều thương tiếc các bài nói của ông.

o O o

Người ta nói ‘gừng càng già càng cay’.  Nghề báo viết, báo nói càng lâu càng hay. Người ta cũng nói ‘tre tàn măng mọc’. Nhưng tại sao gừng già không dạy cho gừng non. Tre già sao không kèm cặp mục măng cho nó thẳng? Mấy ông cứ từ từ biến đi để lớp trẻ  bơ vơ chữ nghĩa giữa chợ trời?

o O o

Mới đây nè, tui đọc được một bài  của Ðài VOA; nhưng lòng tui lại thất vọng vô cùng. VOA ngày xưa hay đến thế giờ sao lại đến nông nỗi nầy?

Bài báo viết về “Bà Phan Thị Kim Phúc, tức ‘cô bé Napalm’ trong bức ảnh nổi tiếng về vụ tấn công bom napalm ở Việt Nam vào năm 1972, hôm 4/7 đã hộ tống 236 người tị nạn cuộc chiến của Nga ở Ukraine trên chuyến bay từ Warsaw, Ba Lan, đến Canada, hãng thông tấn AP đưa tin.”

Nội động từ ‘hộ tống’ cũng đã gây ra nhiều lấn cấn về ngữ nghĩa. Theo từ điển, ‘hộ tống’ là bảo vệ và đưa một người khách ra khỏi một địa hạt. Như: “Luôn luôn có xe thiết giáp hộ tống” (Nguyễn Công Hoan). Chữ “hộ tống” thường dùng cho cho những nhân vật quan trọng cần ‘tiền hô hậu ủng’.

Còn đằng nầy họ là người Ukrainian tị nạn. Họ đang chạy trốn sự  tàn ác của quân xâm lược Putin để tìm đến Canada, một vùng đất bình yên, mà làm lại cuộc đời.

Thay vì dùng từ Hán Việt ‘hộ tống’ nghĩa tối tăm, thì mình dùng: “Bà Phan Thị Kim Phúc đến Warsaw, Ba Lan đón người tị nạn Ukraine để đưa họ tới Canada?!”

Ông hoặc bà ký giả VOA viết như vầy thì hết nói luôn:

“Tấm ảnh mang tính biểu tượng chụp do nhiếp ảnh gia Nick Út của AP cô bé Phúc lúc 9 tuổi vừa chạy vừa khóc trên đường với cơ thể trần truồng đầy thương tích vì trúng những mảnh bom đã được khắc trên chiếc máy bay của tổ chức tư nhân, phi chính phủ chở những người tị nạn đến thành phố Regina, thủ phủ của tỉnh Saskatchewan của Canada.”

Tấm ảnh được ‘khắc’ trên máy bay? Tấm ảnh được dán trên thân máy bay nghe còn có lý! Làm sao mà khắc cho được trời ạ?

Vì bà con mình ai cũng biết ‘khắc’ là dùng một vật rất cứng và bén để tạo hình, tạo chữ trên một mặt phẳng. Như khắc con dấu; khắc bài thơ vào đá.

Ai đem tấm hình mà khắc lên thân máy bay bao giờ?

Thưa bà con mình! Hồi chiến tranh Việt Nam ai cũng biết bom Napalm là bom xăng đặc. Bom xăng đặc do nhà hóa học Louis Fieser làm việc cho Cục Chiến tranh Hóa học Hoa Kỳ chế ra vào năm 1942 trong một phòng thí nghiệm bí mật tại Ðại học Harvard.

Napalm là một hỗn hợp của chất tạo keo và hóa dầu dễ bay hơi (thường là xăng hoặc nhiên liệu diesel). Xăng đặc dễ bám vào mục tiêu, cháy nhiệt độ từ 800 đến 1,200° C (1,470 đến 2,190° F).

Vậy mà ông hay bà ký ‘giả’ dám viết ‘thiệt’ là: “Cô bé Phúc lúc 9 tuổi vừa chạy vừa khóc trên đường với cơ thể trần truồng đầy thương tích vì trúng những mảnh bom ?!!”

Bom Napalm, bom xăng đặc, bom hoá học gây cháy thì có mảnh bom cái giống gì?

Viết lôm côm như thế Ðài VOA muốn ăn gì thì nói cho tui cúng.

Thưa các nhà báo nói thời lôm côm! Hãy khiêm tốn học hỏi bậc đàn anh đi trước. Viết và nói tiếng Việt khó lắm chớ hổng phải là chuyện giỡn chơi đâu!

“Cow Hug Day!”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 16th, 2023

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Con bò đang được làm lễ quy y – nguồn thuvienhoasen.org 

“Cow Hug Day!”

Tui nhớ đâu hồi tháng Sáu năm 2015, báo chí quốc doanh CS có chạy một cái tin nghe rất tếu. Lái dắt con bò đi lò mổ. Qua một ngôi chùa ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, con bò mỏi cẳng không thèm đi nữa. Sư quốc doanh trụ trì thấy vậy nghĩ kiếp trước con bò nầy có thể là người. Sư ông bèn dắt con bò vào sân chùa cho nó ăn lá so đũa rồi làm lễ để nó quy y!

Tui cứ tưởng tin chó cán xe, chuyện tiếu lâm thời CS, đọc chơi rồi bỏ. Ai dè mới đây tại Tân Ðề Li bên Ấn Ðộ cũng có câu chuyện về bò na ná như vậy. Nó làm tui phải ‘cười bò’

Bà con mình ai cũng biết đạo Hindu xuất phát từ Ấn Ðộ từ hàng ngàn năm trước. Tín đồ Hindu tin tưởng vào việc đầu thai và sự hoàn thiện phải qua nhiều đời. Có tới 80% dân Ấn Ðộ tức hơn 1.1 tỉ người theo đạo Hindu. Chính vì vậy, có người gọi Hindu là Ấn Ðộ giáo. Trong đạo Hindu, con bò cho sữa, cung cấp phân bón và chất đốt. Con bò là biểu tượng của sự giàu có, sức mạnh và tình mẫu tử. Con bò là hiện thân những phẩm chất thiêng liêng của lòng trắc ẩn, vị tha. Con bò được coi là linh thiêng, được tôn kính. Những ai tôn trọng, chăm sóc bò sẽ được may mắn và thịnh vượng.

May mắn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Ấn Ðộ Hindu! Xấu hổ thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Việt Nam; vì thường bị chúng chửi là đồ ngu như bò. Ðau đớn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Úc; vì bị làm món ‘beef steak’ ăn với ‘tomatoes, salad’ chấm muối tiêu.

Ở một xã hội văn minh, người dân muốn theo đạo nào thì theo; chánh quyền không được cấm. Tuy nhiên, tã xài cho con nít và chánh trị gia luôn có cùng một điểm chung là phải thay hoài. Vì các chánh trị gia theo chủ nghĩa dân túy mị dân hay lợi dụng sự cuồng tín để thủ lợi cho cá nhân mình.

Mấy chánh trị gia Cà ri chà láu cá nầy la làng ỏm tỏi: “Trước sự xâm lấn của văn hóa phương Tây, truyền thống của Ấn Ðộ theo thời gian gần như đang trên bờ tuyệt chủng. Thế nên, Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ đã kêu gọi người dân Ấn thay vì kỷ niệm Valentine’s Day hằng năm của Phương Tây thì nên thay bằng: “Cow Hug Day!”, ‘Ngày Ôm bò” của Ấn Ðộ.

‘Cow’ là con bò cái. ‘Bull’ là con bò mộng, bò đực. Mấy Chú Bảy Cà ri nầy chỉ dám xúi dân Ấn ôm con bò cái, con ‘cow’, thôi nhe! Không dám xúi mấy em ôm con bò đực, con ‘bull’. Vì sợ mới xáng lại tính ôm ôm coi chừng con ‘bull’ nầy nó gắn cho em mầy đôi cánh bay tuốt lên trời xanh. Bộ hổng thấy phần số của đấu sĩ bò tót Tây Ban Nha chuyên nghiệp hay sao? Họ không dám ôm bò âu yếm. Chỉ dứ dứ tấm vải đỏ. Giỡn chút chơi mà nó quạu, nó húc một phát lòi ruột; phải đi chầu ông bà, ông vải.

Có người nghĩ dân Ấn tới hơn 1 tỉ 4. Nhiều quá tất nhiên có người thông minh như: Kamala Harris, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, Rishi Sunak, Thủ tướng Vương quốc Anh, Sundar Pichai, sếp sòng Google cũng mặc sarong, ăn cà ri. Chớ đâu phải tưng tửng như chánh phủ Ấn Ðộ đâu nè?

Dẫu vậy, thính mũi hơi tiền, một công ty sữa của Ấn Ðộ đã giới thiệu ‘liệu pháp ôm ấp bò’ tại trang trại ở ngoại ô thành phố Hyderabad cách Tân Ðề Li (New Delhi) khoảng (1,538.3 km) về hướng Nam

“Theo nhu cầu của công chúng, chúng tôi đã có khoảng 100 khách hàng và hiện chúng tôi đang mong đợi nhu cầu sẽ tăng lên.” Xong, công ty nầy dụ dân Ấn bằng cách nói: “Chú Sam cũng chơi ‘ngu’ như vậy” (?!) . “Ở Mỹ, ‘liệu pháp ôm ấp bò’ đã trở thành một mốt thời thượng. Người ta phải trả tới 200 đô la để được ôm ấp và âu yếm một con bò. Ðó là một biện pháp chăm sóc sức khỏe”. Nhưng mấy chú Kangaroo của Úc lên tiếng “I can you”. Ðừng có nghe lời xúi dại đi vô ruộng ôm con bò cái vào Valentine’s Day. Vì những con bò bị ôm bất tử sẽ sợ hãi rồi trở nên hung dữ ai biết đường đâu mà rờ? Chó là thú cưng quen với việc người ta vuốt ve. Nhưng bò không phải là chó. Ôm bò coi chừng nó húc vào mông.

nguồn mithilatoday.com

Còn nhứt định muốn ôm con bò cái vào lòng nhân Ngày lễ tình nhân, các chuyên gia có bằng cấp đầy mình về hành vi của động vật khuyên: “Nên tiếp cận những con vật một cách dịu dàng từ từ, tránh đột ngột. Vì làm bất ngờ, con bò tưởng bị sách nhiễu về tình dục nó đá một cái là không còn một cái răng mà ăn cà ri bánh mì!”

Rồi một chú Bảy cà ri dê chê chánh phủ Ấn Ðộ huỡn quá nên đi làm chuyện ruồi bu, chuyện trời ơi đất hỡi. “Vài tháng trước, hàng ngàn con bò bị bịnh lở mồm long móng, xác chết nằm la liệt ngoài đường mà không có ai chăm sóc cho chúng? Giờ thì mấy ông nội con nít lại xúi đi ôm bò vào Ngày lễ Tình nhân?

Tui cũng thấy làm lạ thiệt! Nằm gác chưn lên trán, tui ráng mà tìm hiểu tại sao ngày 14 tháng 2 không ôm con vợ hoặc con bồ mà lại đi ôm con bò cái? Chắc ẩn ý của Thủ tướng Narendra Modi là muốn cho Ấn Ðộ không bị bùng nổ về dân số tạo thành nạn nhân mãn hay chăng? Ðẻ nhiều quá nuôi sao xuể?

Phản ứng lại với đề nghị vừa lạ, vừa vui nầy người xài mạng xã hội trên toàn thế giới đăng những lời chọc quê cũng vui không kém! Họ chế giễu Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ. Thiên hạ nói hành động ‘tưng tửng’ nầy là một cái quái thai của một nền chính trị dân tộc chủ nghĩa của người Hindu.

Thiết nghĩ, trước khi xúi dân, mấy chánh trị gia cà ri nị nên làm gương, ôm con bò cái trước đi. Ôm xong mà còn hàm răng để ăn bốc cà ri bánh mì thì dân Ấn mới tin. Thủ tướng Narendra Modi bị thiên hạ thọc lét nhột quá nên đã hủy bỏ “Cow Hug Day”. Thiệt là tiếc quá!

ĐXT

Dã Tượng lãnh phong

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7 May 2022

Dã Tượng lãnh phong

Kiệu gánh đi trong chiều hôm, gần tới Hải Vân quan thì tốc độ dường như có trì trệ lại. Trời xuống sắc nhanh, do địa hình chật chội lối mòn rậm cỏ nên sớm làm nhọ mặt người. Gió vi vu thổi ngang tai, chập chờn bầy đom đóm đâm quờ quạng vào ngàn lau lách, từ đó rỉ rả gửi ra tiếng dế nỉ non nghe bất tận một than van sầu tủi. Âm thanh có khi chứng thực được đôi điều mà bài hát chúng cất lên, không mỏi mệt đó, minh giải cho người nghe hay: chốn này rất đỗi quạnh vắng. Hoang vu là điều ắt có giữa chốn thâm sơn cùng cốc.

Màn che bên hông kiệu được vén mở, giọng một thiếu phụ cất lên, không dấu che chút rối lòng: Chuyện gì đã xẩy ra, sao không dưng ngừng kiệu? Treo cao là vầng trăng lưỡi liềm, mông lung đất trời làm trăng hiện hữu mà chẳng chiếu xuống cái vằng vặc thường hằng. Trăng rằm thì vành vạnh một nét đẹp hiển lộng, mà trăng khuyết tật như thế kia, trông lên, thấy người bất an. Một trong bốn kẻ khiêng kiệu nói: có người bị đá sắc cạnh làm đứt gang bàn chân. Băng bó xong sẽ chóng lên đường. Người giải thích dáng to cao, bụng thắt băng vải điều và dấu cây đao to bảng phía sau lưng. Xem chừng ngoài chức năng là phu kiệu, trung niên nuôi râu rậm rạp nọ còn quán xuyến việc giữ gìn cái an bình cho thiếu phụ ngồi kiệu kia. Nôm na là một hộ vệ, ai rắp tâm chòng ghẹo làm khó dễ người ngọc thì y sẽ án che ngay lập tức, thong thả rút đao ra rồi nói chậm rãi: trước tiên, hãy bước chân qua xác ta. Dĩ nhiên, chưa một ai có thể thực hiện được, bằng chứng là y vẫn sống còn, vẫn ồm ồm giọng nói như lệnh vỡ.

Vì trọng trách nên y gánh kiệu ở đằng trước, phía tay phải. Quan sát động tĩnh, tìm lối đi thích hợp thì chẳng thể đi sau lưng kiệu. Khi tuyển chọn phu khuân vác kiệu, trước tiên họ ngắm tới thể hình, tối thiểu cả bốn đứa phải có thứ vóc vạc tương xứng nhau. Khổ nỗi, tìm cho ra ba kẻ to cao giống y thì giang hồ đã không mọc lên được cái biệt danh Thừa Thiên Độc Báo. Thương hiệu đó cả gầm trời này chỉ mình y thủ đắc. Người ta xưng tụng y và y cũng chả thèm cải chính, rộng lòng mà khoác vào, tròng ngoài cái tên cúng cơm cha sinh mẹ đẻ đã mỗi ngày một phai nhạt đi. Một con báo cô đơn, ngoài sức vóc uy dũng e báo nọ cũng sầu muộn với cái lẻ loi. Y cô độc. Một kẻ đơn thân ắt luôn sống chung với lủi thủi, lâu ngày biến chứng thành lầm lì, ghẻ lạnh với mọi hoạt náo vây bọc. Y với thanh đao dắt lưng thảy giống nhau, ở cái im tiếng đáng gờm. Để yên vậy, đừng làm cho nó phải phát tiếng, nó xé gió rít lên thì hậu quả thật khó lường.

Đào Dung sơn trang đã mời y, trao nhiều ngân lượng để đảm bảo chuyến đi suông sẻ. Thừa Thiên Độc Báo ưng thuận khi ngó ra khuôn mặt thiếu phụ. Một rương báu vật nhờ chuyển tải thì nên tính toan, chứ gánh thứ mình hạc xương mai kia qua bao đèo cao suối cả thì chối từ là điều thấp trí của bọn phàm phu tục tử. Người xuất thân từ Đào Dung sơn trang nên mỗi di động đều chờn vờn quanh quẩn một hương mùi dễ làm mê hoặc. Không đợi mùa xuân, hoa anh đào vẫn nở rộ cả khoảng sân, sáng ngời một góc trời khi thiếu phụ di hài bước chân vào kiệu. Phần việc của y chẳng thể nhiễu sự đâm lời gạn hỏi, thành ra y không hề biết xuất xứ “món hàng” mà y chịu trách nhiệm phải thồ đi. Phu nhân của trang chủ? Ngọc nữ của nhị vị gầy dựng sơn trang? Tịnh khẩu như bình là cái mà người nhờ cậy luôn yên bụng. Khi người ta tìm đối tượng để trao việc, một trong những điều tâm đắc là kẻ nọ chẳng phải phường lắm chuyện, tra cái này khảo cái nọ, gặng hỏi lý do, bép xép mồm miệng ăn nói linh tinh dễ gây rách việc. Tóm tắc, Thừa Thiên Độc Báo chính là kẻ độc nhất vô nhị gây được cho Đào Dung trang chủ cái sự cố ăn ngon ngủ yên, khoanh tay ngồi đợi tin vui từ chốn xa gửi về.

Kiệu nhấc lên, chuẩn bị đi hết dặm trường giữa khuya lạnh. Ba canh giờ nữa sẽ tới trấn Dã Tượng, rượu thịt ê hề ở tửu điếm đang đón đợi, các bằng hữu hãy cố sức. Thừa Thiên Độc Báo tuyên bố, y muốn gieo chút sức mạnh cho ba gã kia. Đi đường xa, có người vẽ ra một đích tới sung túc ấm lòng dường ấy há chẳng phải là điều đáng tuyên dương sao? Tiếc thay y là đứa quen ngậm miệng, phát ngôn những lúc cần, chỉ có thế.

Qua khỏi một rẻo núi, đường hẹp đang đi đụng ngay con lộ lớn vắt thân xẻ ngang. Lớn, do bởi cây cối đều bị đốn phạt, khai quang, khoảng khoát tầm nhìn. Có vẻ là đường huyết mạch nối liền liên tỉnh lộ nên đất đá bằng phẳng, giã từ cái mấp mô chông chênh của mọi lối mòn thưa dấu chân người. Ở đây gió lộng, chập chờn những ánh đuốc soi tỏ khi gần khi xa. Các người có thể tạm nghỉ chân nếu bắt gặp hàng quán, ta quả áy náy khi ngồi êm mà nghe hơi thở nặng nhọc của các vị. Thiếu phụ nói vọng ra. Dẫu sao người bị thương ở bàn chân cũng nên tìm nơi băng bó lại.

Hàng quán chưa thấy đâu, từ đàng xa đã có một toán người chạy vội lại. Kẻ dẫn đầu đứng án lối, dường như muốn cản đường. Xin hỏi có đúng là kiệu phát xuất từ Đào Dung sơn trang? Thừa Thiên Độc Báo quét tia nhìn chẳng mấy thiện cảm, xem chừng y là người đủ tư cách để lên giọng: Phải thì sao mà không phải thì sao? Y ra dấu để cùng lúc bốn đứa nghiêng vai hạ chiếc kiệu xuống. Y muốn rãnh tay để có thể đối phó với bất trắc. Nếu đúng thì bọn tại hạ có lời thỉnh cầu. Vùng đất này cũng tựa như bản địa, bọn tại hạ sẽ thay huynh đảm nhiệm việc đưa người ở đoạn cuối. Kẻ ấy nói, vừa ngó Thừa Thiên Độc Báo vừa đảo mắt tới kiệu. Màn vẫn buông che nhưng tấm vải kia không đậy được xuất xứ, ấy là một cánh hoa đào thêu chỉ trắng trên nền vải đen trông rất sống động. Phù hiệu kia trong chu vi trăm dặm ai cũng tường, chỉ có mù mới không nhìn ra nhãn hiệu cầu chứng của Đào Dung sơn trang. Thừa Thiên Độc Báo nhẩm đếm đám người án lối, bộ dạng chúng xớn xác như quen làm chuyện vụng trộm, bất chính. Y dõng dạc: Lời đề nghị của các hạ nghe ra chẳng thuận nhĩ. Tại hạ có trách nhiệm phải mang người tới đích mới được quyền quay gót, đón đường cách này thì e là lối hành xử của thảo khấu?

Người kia phát ra tràng cười: Thế nào là thảo khấu? Giang hồ giờ này còn ai là hạng chính nhân quân tử? Muốn thành sự phải mang hạ sách ra thôi. Quan đầu tỉnh đã giao việc cho bọn ta, ấy là mang vị cô nương kia kíp về chốn công đường, mọi cản trở sẽ bị san bằng. Những hung khí đều lộ diện sau câu nói, lăm le đe dọa siết vòng, nhắm duy đối tượng to cao mà thu ngắn cự ly. Thừa Thiên Độc Báo ngắm trùng vây cất tiếng hồ đồ: Đã là người của quan phủ sao lại ăn vận tựa phường hắc bạch. Giấy má đâu, lệnh lạc đâu, minh bạch trình ra thì ta sẽ xuôi tay cho êm vấn nạn. Làm căng quá thì tình hình sẽ chẳng được cải thiện mảy may.

Đánh. Kẻ kia chỉ hô một tiếng, tựa hồ chỉ có động thủ mới giải quyết thôi, nói năng vừa dài dòng vừa lôi thôi vừa không hợp nhẽ. Cả vú mà lấp miệng em, xưa nay là cách làm của kẻ thế lực. Thừa Thiên Độc Báo rút đao ra, tạo lập được một nhãn hiệu dán vào thân điều ấy chẳng phải một sớm một chiều mà có được. Đao pháp của y, bản tính của y chứng thực chuyện đó không hề là lời đồn thổi. Muốn y phải buông đao e phải huy động thêm người. Cuộc thảm sát đi ngoài dự liệu do bởi người ta đã hiểu sai về Thừa Thiên Độc Báo. Hoặc chỉ mình Đào Dung trang chủ là có biệt nhãn nhìn người. Binh khí loảng xoảng rơi rụng dần, bọn người kia đành ôm thương tật mà tìm đường chạy lui, chạy trong hoảng loạn như vùng tỉnh thức từ một mê muội chiêm bao.

Cánh hoa thêu lay động, màn kiệu vén mở, những ngón tay nuột nà trắng muốt nắm giữ vải đen. Sao rồi, các hạ có bị thương tích không? Giọng nói xem ra chẳng dấu đi chút quan hoài lo âu. Người Thừa Thiên Độc Báo có vây máu, nhưng máu nọ chẳng phải của y. Và nếu bị đao kiếm vô tình làm cho trầy vi tróc vảy, y cũng an lòng khi nghe được câu hỏi ân cần kia. Suốt đời bôn ba, y chưa hề tiếp cận một nữ nhân. Lại nữa người ngọc có vai vế kia tỏ ra dịu dàng quá làm y đón nhận một cảm giác mới lạ. Rung động. Tình hình này tựa như lỡ bứt dây làm động rừng, bọn chúng không dễ buông tha, sẽ tìm thêm vây cánh. Ta thật ái ngại cho mệnh hệ của các hạ. Hay là chúng ta phá hủy kiệu đi, chúng ta cải trang biến đổi thân phận để mong thoát khỏi mắt cú vọ. Tạm thời chỉ còn có phương cách ấy thôi. Tiếng nói nhẹ trỗi, hương hoa lây lất rời thoát chỗ ngồi.

Cung kính không bằng phụng mạng, đứa ít nói như Thừa Thiên Độc Báo cũng phải thốt ra đôi câu. Y ôm vai những phu kiệu nói lời từ giã, hãy gánh kiệu không trở về tìm vực thẳm mà thủ tiêu, các vị không nên dấn sâu vào hiểm nguy, để ta đóng vai nông dân đi cùng cô nương này tới nơi tới chốn. Xin bảo trọng. Nghe như cởi tấc lòng, ba gã phu đoản trí không hẹn mà cùng hộc tốc quay gót như thể nhớ nhà quắt quay. Áp tải một xe đầy ắp ngân lượng hóa ra còn an toàn hơn thồ tải một bóng dáng nữ nhân. Nhi nữ thường tình, ai đã thốt nên câu ấy? Một cô con gái đẹp, thủy chung luôn còn đó cái gieo rắc bao nhiễu sự, gây tai ương chết người. Mang hạnh phúc tới cho tha nhân và cũng có khi chính họ cướp đi mạng sống của đứa ưa lân la kề cận.

Với thuật hóa trang có đẳng cấp của Đào Dung ngọc nữ, hai người nhìn nhau không dấu che được nụ cười. Cái dữ tợn của một con báo trở thành ngây ngô hiền lành như cừu thuần thục bầy đàn, trong khi vẻ diễm lệ đài các làm nức lòng kia lại biến dạng nên đứa mục đồng ngơ ngáo lạc chân giữa phố thị. Cả hai tìm được một quán ăn dựng bên triền lộ kiếm thức dằn bụng. Họ ngồi vào chỗ sáng đèn nhất bởi họ hiểu tâm lý kẻ trốn chạy thường lẫn trốn vào bóng tối và họ có thể đánh lừa bọn chuyên đi lùng sục “tội phạm”. Có tật thì giật mình. Tìm nơi lộ liễu mà an tọa thì cũng là cách thấu cáy, đánh cuộc với rủi may. Y gọi một món ăn cay nồng ướp tẩm thật nhiều hương liệu bởi y mong mùi vị kia sẽ ngát tỏa, che chắn bớt cái hương hoa đằm thắm từ người vị cô nương mãi dịu dàng tỏa lan. Không thể dằn lòng y đưa ra nghi vấn: Đào Dung sơn trang có gây sức mẻ tị hiềm cho một thế lực nào không? Sao đêm hôm chúng đón đường rắp tâm vây bắt người? Ta cũng tự hỏi thầm như thế mà chưa được rõ rệt một đáp án. Thú thật chuyến xuất ngoại này ta muốn đến dự tang lễ thân phụ của một người bạn. Đan Kinh tiên sinh chuyên viết sách đạo đức, trước dạy chữ ở Quốc tử giám, nghỉ hưu chẳng lâu thì bị đột tử, cái chết ám muội ấy làm giang hồ dấy lên lời đồn do cương trực khí khái nên triều đình buộc phải khử trừ đi. Cây ngay chẳng sợ gió mà gió lúc này thì đang hung bạo thổi gây thiên tai. Ta nghe phong thanh người quyền lực ra chỉ thị, rằng đám tang phải cử hành trong kín tiếng, ít kẻ phúng điếu. Lại nữa bạn ta cũng đang gặp rắc rối, bị quy chụp có liên hệ linh tinh với thành phần bất hảo ở ngoại biên. Quy ra, chúng cũng xem ta là đồng bọn, bạn của kẻ thù thì chẳng khác gì phường cứng đầu nguy hiểm cần tập trung giáo dục cải tạo. Chẳng biết ta luận việc có đúng không?

Đang ăn, có kẻ bộ tịch như quá chén đi quàng xiên lại gần, tay cầm cốc rượu mà tự động kéo ghế ngồi xuống chung bàn. Đường đột này xin bỏ qua cho, trước tiên ta xin được ngỏ lời khen thủ thuật biến đổi dung mạo của Đào Dung ngọc nữ, ta cũng ngợi ca sự can trường của Thừa Thiên Độc Báo. Ấy, chớ hoảng hốt, ngoại hiệu của tại hạ là Tam Nhãn hiệu đính, suốt cuộc lữ vẫn khinh khoái mong kết giao bằng hữu với kẻ hiền tài. Tại hạ có nhấp rượu qua chút đỉnh nhưng luôn sáng suốt khi phát ngôn. Nào, tại hạ có luồng thông tin này chẳng hay nhị vị có hứng thú để nghe? Trung niên tóc dài dáng vẻ bụi bặm kia tợp hết cốc rượu rồi úp miệng cốc xuống mặt bàn. Nguồn tin mật có thể đánh đổi được nhiều ngân lượng nhưng tại hạ trời sanh vốn là kẻ chẳng hám tiền. Một vò rượu mang ra trao đổi, có đặng chăng? Trung niên ngửa mặt lên: “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi say với ai?”* Than van, mặt ra chiều u ẩn giam nhiều tâm sự. Thần sắc nọ luôn đi cùng với kẻ rượu uống mềm môi nhưng say khước là điều bất khả.

Khi hành tích đã bị lộ, đứa phát hiện chẳng những không la toáng tiếng tri hô mà còn chậm rãi bán mua một lượng thông tin với giá cực rẻ. Khi chân tướng đã phơi bày mà còn được gạ nghe một mật báo thì nguồn tin kia hẳn phải thuộc loại chí tử, liên hệ tới nỗi an nguy. Một vò rượu, so ra chỉ cốt làm người ta tạm rời xa sự ưu phiền, lúy túy quên thực tại nhiều ung nhọt; trong mọi tình huống, rượu chẳng bao giờ đắt đỏ cả. Dĩ nhiên Thừa Thiên Độc Báo thay mặt Đào Dung ngọc nữ mà thò tay vào túi áo moi ra bốn đỉnh bạc, nhẹ nhàng đặt xuống bàn. Chỉ cử động, y muôn đời là đứa tịnh khẩu như bình. Làm thinh là bí quyết của sự trường tồn, sắp cao vị thế hơn hạng người quen uốn cong lưng chìu lòn nhẫn nhục. Xưa nay Thừa Thiên Độc Báo chưa hề biết cong lưng. Y không nói, y dành thời gian để suy gẫm cân nhắc trước mỗi một khai đao. Hiện tại, y ngậm miệng vòng tay chờ đón hung tin. Điềm xấu chẳng gõ cửa số mạng, y đoán vậy, và quả có đúng. Tam Nhãn hiệu đính nhặt bốn đỉnh bạc, mặt chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Táng Địa là tên gọi của một đại gia có thế lực, hắn vừa gióng tiếng là nuôi mộng được ngủ với Đào Dung ngọc nữ một đêm, ai mang sắc nước thuyền quyên tới trao vào tay hắn kẻ ấy tức khắc làm chủ được mươi lạng vàng. Tam Nhãn hiệu đính đứng lên: Rượu, e lúc này cô nương nên say cùng tại hạ, để hiểu rõ về lang sói và cái bất hạnh trớ trêu của người mang vẻ đẹp khó lường nơi tấm thân lụa là trời đã độ trì gia ơn.

Vì có hóa trang nên thần sắc Đào Dung ngọc nữ không thể hiển lộ, tuy vậy Thừa Thiên Độc Báo nhìn ra đôi bàn tay nọ cứ mãi run lên. Ngọc nữ khan tiếng: Đã đến nước này thì rõ là họa vô đơn chí, chắc các hạ nên rời đi mau, chẳng việc gì vô cớ gông ngoài đường lại tròng vào cổ. Thấy nguy nan mà lẫn trốn, đưa người chưa tới cuối đường mà đào tẩu thì chẳng phải cách làm của tại hạ. Xem ra cô nương đã xem thường Độc Báo này rồi! Ngọc Nữ đổi thế ngồi, cố giữ bình tĩnh. Chúng ta đên đổi cách xưng hô để che mắt thiên hạ, lại nữa con người của huynh khiến muội phải thật lòng mang ơn. Nếu đường đi thông suốt, chúng ta thắp nhang lạy tạ trời đất một phen, tắm giũ sạch bụi đường mà kết giao huynh muội, hoặc thứ tình nào đó vượt ngoài sự hiểu thông tục. Huynh bằng lòng nhé, bởi số phần đã khiến muội gặp được huynh, không có Độc Báo đi cùng, an nguy của Ngọc nữ này khác gì cá nằm trên thớt.

Họ trả tiền rời quán. Đi suốt đêm là chuyện không nên, lành ít dữ nhiều, ta tìm lữ điếm mướn phòng trú ngụ qua đêm, có thuận không? Dĩ nhiên là y nghe theo vì đấy cũng là ý nghĩ vừa thoáng hiện trong trí y nhưng y chưa tìm được lời đề nghị nghe thỏa đáng. Sương xuống nhiều và gió đi hoang đàng giữa con lộ trống. Trong gió cuốn, vẳng từ xa lại gần tiếng vó câu hối thúc phi nhanh. Bốn kỵ mã ghì cương kềm giữ tốc độ khi nhát thấy bóng người. Họ cho ngựa thủng thẳng đi quanh, tuồng muốn nhận diện lão nông dân ôm bọc hành trang đứng cúi đầu. Một kẻ thì chú mục quang tới người thấp bé còn lại, tia nhìn như muốn lột trần bóc vỏ. Cả bốn cùng xuống ngựa, soi mói.
Hừ, xét thể hình thì khó ai có được dáng dấp giống như Thừa Thiên Độc Báo. Và nếu ta có thốt lời không phải thì nhị vị bỏ qua cho, ấy là ta vắng đàn bà con gái đã lâu nên mũi ta rất bén nhạy ghiền nhớ. Đào Dung ngọc nữ, cô giỏi hóa trang nhưng cô quên dầm thân trong bùn đất để triệt tiêu hương mùi. Thừa Thiên Độc Báo, lý ra ngươi nên dùng đao chặt ngắn bớt đôi chân. Ngoại hình nhà ngươi đã tố cáo rõ, vứt bỏ dáng điệu nhà quê vụng về kia đi. Không ngờ đại trượng phu một sớm một chiều phải nghe theo xúi dục để đóng vai kẻ thấp hèn, ngươi há chẳng đau lòng sao?

Bốn tên sau khi đã xác định được mục tiêu, dàn ngay thế trận đông tây nam bắc vây hai con mồi lại. Tên nắm trường kiếm nói: Việc này không liên quan đến Thừa Thiên Độc Báo, ngươi chớ nên phí sức nấn ná hiện trường, bọn ta có lệnh chỉ riêng thỉnh Đào Dung ngọc nữ thôi, quyết không làm cành vàng lá ngọc rụng đi một cọng tóc.

Lầm lì là bản chất của con người mang hỗn danh Thừa Thiên Độc Báo, y lẳng lặng vứt bỏ bọc vải thu dấu con đao làm nên thân phận y. Mười năm nay y sống còn, tạo dựng riêng một tiếng tăm cũng thảy nhờ vào cây đao. Cũng có thể bảo, nếu đao đoạn lìa khỏi tay, giang hồ sẽ chôn luôn một tên tuổi, có không ít phường ám muội xem đó là một tin vui, một ăn ngon ngủ yên khi kẻ chuyên hành sử theo công đạo một hôm nào nhắm mắt xuôi tay. Ngày ấy ắt hẳn chưa phải là hôm nay, ngoại trừ… ngoại trừ bốn sát thủ kia võ công thuộc loại thượng thừa. Y từ tốn cởi hết những thứ dùng để hóa trang, y chậm rãi bước, mang vóc vạc lực lưỡng án che cho người đồng hành. Xin an tâm, huynh còn thở thì trái tim ấy còn thắt thỏm đập cho nỗi an nguy của muội. Y nói, riêng cho Ngọc nữ nghe. Người nghe ra, mềm lòng chìm đắm trong ý thức, quả người ấy đã vì ta mà xả thân. Than ôi, sinh ra ta là cha mẹ ta mà người nguyện chết cho ta chính là huynh vậy!

Đao chĩa mũi xuống đất, thân người và tứ chi thảy đều buông thả như tĩnh tâm xem thường mọi hung hiểm. Bản chất của người nắm vũ khí, quan trọng trước tiên là phải biết kềm giữ mình, thắng được những tạp niệm dồn lên tự bản thân mới mong khắc chế được những loạn đả từ đối phương. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng cũng đồng dạng một phương án. Thừa Thiên Độc Báo đứng chôn chân, trầm mặc tựa một cây tùng bình lặng trước gió chướng. Một họa sĩ khởi nghiệp bao giờ cũng ham hố nhúng cọ vào lắm màu, tham lam bày biện nhiều vật thể đến chật cứng tấm tranh; sự thành danh đến khi họ đã nghiệm ra vẻ đẹp thường chỉ cô đọng vào cái đơn giản, những nét không liền lạc và dung dị nằm trong chiều kích bát ngát buông rời của một thứ gì thoạt nhìn như chưa hoàn tất. Tương truyền một người vẽ cọp sợ chẳng dám điểm nhãn khi hoàn tất vì ngại cọp sẽ phóng ra khỏi bức tranh e cũng nằm trong cái đạo lý ấy. Thừa Thiên Độc Báo sử dụng đao pháp của y cũng thuần nghiêng về sự giản đơn, điều hòa hơi thở và tiết kiệm một hoành đao, chẳng phí sức. Y không muốn giết người, do vậy đường đao đi thường nằm ngoài dự tưởng của đối phương. Chiến thắng, nếu tạm gọi vậy, thì y luôn thu đao trước sự ngỡ ngàng gần như bàng hoàng chết điếng của địch thủ.

Nhưng tất thảy chỉ là giáo điều, lâm trận thì thực thể lại bày ra nhiều khúc mắc mà xét đơn sơ chính là nguyên tắc của cán cân sai lệch. Một chọi bốn mà cả bốn mang nặng tà tâm, hiểm độc trùng vây mỗi một vung tay là sát khí ràn rụa những mong kết liễu mạng người. Cả bốn quen vui với máu đổ, cả bốn xem cái nhăn nhó của nạn nhân luôn mang đến niềm vui cho chính mình. Đời khi đó là bể máu, chứ chưa thuần khiết đời là bể khổ. Chủ nhân trao ngân lượng cho ta mà sứ mạng không thành thì chữ khổ chính là phút cúi đầu hối hận ấy.

Hơi thở bắt đầu rối loạn, Thừa Thiên Độc Báo biết cuộc diện hôm nay không trùng lẫn với những giao tranh có từ trước, bởi ngoài chống đỡ cái liên thủ tấn công của bốn kẻ khát máu, y còn để mắt đèo bồng tới mệnh hệ một nữ nhân tay yếu chân mềm đứng với nỗi xiêu lạc hồn phách. Có thể xem, một mình mà y phải gánh đỡ, chống chọi những năm nhân mạng. Năm chứ không phải bốn. Đường đao đi hơi sai lạc và sát na kia ập tới chóng vánh. Máu đã đổ, đường kiếm ngọt tới độ y không nhận ra nỗi đau phát xuất từ vùng da thịt nào. Bên kia, ba kẻ cũng chống gươm mà thắt thỏm chuẩn bị hồn về chín suối. Tai y đón nghe một âm thanh vừa bùng vỡ, tiếng kêu than trầm thống của đứa em gái chưa kịp kết nghĩa. Ngọc nữ chạy tới ôm vai y mà lay liên hồi kỳ trận. Đừng nhắm mắt, hãy mở to mắt ra… Đừng ngừng nhịp tim, chớ thoi thóp… Y đón nhận một giọt lệ nóng vừa vỡ ra trên mặt y. Liếm láp, y còn nhận biết cái vị mặn muôn đời của nước mắt người thân. Sức cùng lực kiệt, y muốn nhấc tay để vén mái tóc dài rối kia nhưng tấm thân nghe lạnh tựa đóng băng. Ngọc nữ tìm tay y, chẳng phải muốn siết chặt lần cuối mà dụng ý chỉ mong cầm lên được thanh đao dầy nặng. Thanh đao nọ chỉ chuyên tìm kẻ giảo hoạt mà xử nếu nó còn nằm trong tay y, tiếc thay có khi, vào lúc cuối đời, y ngó ra đao ấy đã xuyên vào bụng Ngọc nữ. Bằng cái gượng sức cực kỳ khó khăn Ngọc nữ bặm môi dùng hai tay ngoáy sâu khơi rộng cho máu mình dễ thoát trào. Hoàn toàn, Đào Dung ngọc nữ chẳng muốn thân thể lành lặn để rơi nhục vào tay đại gia háo sắc cưỡng đoạt.

Ngọc nữ đổ mình xuống thi thể Thừa Thiên Độc Báo, máu hòa máu âm dương hòa quyện trôi xuống suối vàng. Trấn Dã Tượng khuya ấy trời nổi gió, sao giăng mờ mịt. Người đời sau truyền tụng, vào tiết lập xuân, đêm hôm thanh vắng, cửa nẻo khóa chặt, dân cư trong vùng mãi nghe tiếng cười của hai giọng nam nữ đuổi bắt nhau trên những chùm lá cây luôn rung động.
Tiếng cười nghe không rợn da nổi hột ám chướng ma quái, người dân an nhiên vùi sâu giấc mộng vì họ tin, tiếng cười nọ biểu tượng cho cái hân hoan của một chiến thắng. Dân tùy hỉ quyên góp tiền nong để lập dựng miễu thờ. Họ thuật chuyện: Ngày xưa có vị anh hùng chuyên trừ khử bọn cường hào ác bá do chính quyền mông muội nuôi dưỡng. Yêu muộn một người nữ quyên sinh cốt giữ sự thanh bạch và muôn đời, tiếng cười là chứng tích của một đấu tranh đã thành đạt.

Họ thêm thắt: Đời xưa là tấm gương mà con cháu đời nay luôn phải soi mặt để hổ thẹn tự gẫm, cớ sao mỗi lúc chúng ta lại càng tụt hậu, thua kém, oan khiên?

Hồ Đình Nghiêm
8.3. Lạc điệu ngày Phụ nữ quốc tế.

Dạ hành

Hồ Đình Nghiêm

Dạ hành

Hồ Đình Nghiêm

Qua khỏi ruộng bắp xác xơ chen lấn cùng lau sậy run rẩy là khoảng trống mở rộng, thoáng ngợp mặt sông. Nước mấp mé bờ, đen thẩm, hứng đọng những nguồn sáng từ thôn ổ bên kia bờ hắt lại, mặt xao động, để những tia lửa kia dật dờ lướt trôi, vụn vỡ. Trong gió hiếm, ngắt rời từng lúc mùi tanh của rong rêu lá mục thoảng qua. Trong thinh không có tiếng ai hát nhát gừng, vọng khuất bên miếu hoang gần cây đa già tuổi. Rã rời, ai oán, như tâm sự chỉ ký gửi riêng cho trời nước gió mây. Thê thiết! Chiều đã chết, đêm đã tới, nhưng hấp hối chút tịch dương để trông ra hình thù một con đò chòng chành mái đẩy. Từ xa lại gần. Kẻ chèo đò ốm, bóng đen còm cỏi cong lưng khắc họa hình dáng một lão trượng. Tuyệt không một âm thanh, như tịch lặng là thứ thường chiếm ngự cõi miền này.

Đò cập bến, đầu mũi có vẽ hai con mắt mở trừng tả hữu. Mắt người, thú vật hay thần thánh? Chỉ biết đó là mắt, một con mắt lớn với nét vẽ vụng. Con mắt chẳng bao giờ nhắm lại kia thoáng rung lên khi đò ủi ngọt vào lùm cây bụi cỏ. Sột soạt những vết cứa vào gỗ và dập dồn tràn dâng tiếng nước chao sóng khuấy động, mũi đò đã phơi lên bờ.

Tôi muốn sang sông. Ông có phải là kẻ đưa người quá giang? Hãy bước lên đò, chính là lão đây. Đò không mui, bắt hai thanh gỗ dài như thể cho khách ngồi. Phía sau có đặt bếp lửa, củi cháy gần tàn đốm lửa mọn và bên trên đặt để một cái ấm đen đủi lọ nồi. Mùi củi lửa bao giờ cũng làm ấm lòng, ít ra nó chứng thực được một sự sống. Kẻ đói sẽ sắp được húp tí cháo, đứa khát sẽ được ngụm nước nóng, nước chè nước vối nước trà hoặc cà phê bít tất. Củi lửa nguội lạnh luôn tượng trưng điều bất thường. Biết thế, nhưng nỗi cô quạnh đang phủ chụp quanh đây trông chẳng bình thường chút nào. Người quá giang buột phải mở miệng: Sao tiêu điều thế này? Sao chúng sinh chẳng có một ai? Lão lái đò vấn điếu thuốc to một cách kỳ cục, lè lưỡi liếm, cắm vào môi rồi thò tay nhặt lên một que củi vấn vương khói xanh. Bặp, bặp, má hóp cho tới hồi nhìn ra một hòn than đỏ trước mũi. Lão nhổ nước giãi xuống mặt sông: In tuồng anh từ chốn xa về? Bên làng kia đang có một đám cưới lớn, loan báo rậm rật sửa soạn cả tuần nay, bá tánh lần lượt quần tụ chung vui, vậy thì tịch liêu chốn này là điều ắt phải có.

Bao giờ thì chúng ta qua sông? Lão già hắng giọng khi nghe người khách đi đò hỏi. Hút thuốc là cách ngồi trông chờ khách, chỉ hai ta thì có lãng phí không? Đêm hôm, tui thực không muốn ai kia chậm chân phải chịu thúc thủ bên bờ để than vãn qua sông lụy đò. Có thêm bạn đồng hành không khiến anh vui sao?

Người thanh niên ôm chặt cái túi vải vào lòng như dấu che sự bồn chồn, đưa mắt dọ tìm vào khoảng tối bưng mong nhìn ra một nhân dạng. Hai ba càng tốt, điều ấy khiến lão già nầy sớm quày quả quay mũi đò trực chỉ cái miễu hoang giữa lằn ranh đang gần trở thành ảo giác hư thực. Mặt sông dật dờ hứng nhiều khói tỏa, cũng có thể chính nó sản sinh ra thứ sương mù trì trệ kia. Thuốc mà ông lái đò hút rất hôi, như thể ông đã bức hái kỳ hoa dị thảo để vấn đốt. Ém khói vào lồng ngực chẳng phải cái độc tố của sợi thuốc vàng như con người hằng cảnh tỉnh đe nẹt. Ông ném thứ hôi hám kia đi khi nhát thấy một đôi nam nữ lần lượt dạng chân leo lên đò. Họ ăn mặc lụa là, điệu đàng dù tay xách dép tay túm ống quần. Rõ ràng ra đường họ có chăm chút chỉnh chu y phục, dù về quê, dù tăm tối vùng miền chưa có ánh điện thắp. Bắp chân trần người thiếu nữ trắng toát giữa bóng đêm, dễ khêu gợi lũ muỗi khát máu, cũng có thể làm chúng phải hoảng lên vì nó quá trắng, trắng đến hoa mắt rối bời mục tiêu. Khi yên vị trên băng gỗ cô mới buông hai ống quần sợ lấm lem xuống. Dưới lườn đò đọng vũng chút nước, sóng sánh phản chiếu một phần dáng vẻ đài cát của vị khách ái ngại chuyện nước nôi. Cô nói với cậu thanh niên đồng hành: Mạng anh là trường lưu thủy phải không? Em thì thiên thượng hỏa. Em thực không thích thú chuyện quá giang. Đứa con trai cười hền hệch, đưa tay nắm lấy những ngón suông có chuốc sơn đỏ, điệu bộ cưng chìu tình nhân: Ậy, em nói sao a chứ. Em sợ nước à? Vậy tại sao đôi ta mãi như loài sam xoắn xít. Nước hiền lắm em à. Anh thì rất ngán lửa em ạ. Chọc cho lửa bốc lên thì có làm Thủy tinh cũng chẳng đủ nước mà tưới, hạ hỏa.

Hai đứa cười, ôm eo bẹo má xem thường kẻ bàng quan. Đò rục rịch chao đảo rời bến. Lỏm bỏm tiếng nước bị khoắng, nghe được mũi đò xẻ rách dòng sông và tiếng thở nặng nhọc của ông già lèo lái. Vợ đâu con đâu em đâu cháu đâu, sao không ai phụ đỡ thân già một tay? Sao thời buổi này lại mọc lên một chân dung hệt như trong truyện cổ tích. Một thứ bóng thầm lặng trút đổ xuống sông bao điều khuất tất. Để cam chịu lắng nghe bao nỗi niềm của những kẻ do hoàn cảnh phải nương nhờ đò mà quá giang, nối lại bến bờ cách trở. Nhỡ như có đứa kề dao vào cổ hối thúc phải nhanh tay chèo thì sức cùng lực cạn kia e chẳng thực thi đúng với yêu sách bất nhân. Mẹ kiếp thân già mà chả chịu lượng sức, dục tốc bất đạt thì chẳng phải là thứ phương ngữ đúng đắn để mang ra lên giọng phân bua. Chết! Uy hiếp một ông cụ hom hem để mau lẹ mang người về chốn cũ e là một hạ sách. Dúi vào tay một nạm tiền đút lót thì cải thiện chút đỉnh tình hình, nhưng thủy chung vận tốc con đò cổ lỗ cũng chỉ đi nhanh ngần ấy giới hạn bởi đơn độc một mái đẩy.

Anh coi chừng đánh rơi phong bì. Cô thiếu nữ ngó tình nhân. Mặt sông thoáng rộng không làm vơi thứ hương mùi mãi ám vào thân cô Thứ hương chắt lọc từ ngàn loài hoa biến thành tinh dầu cô đọng. Cô xức làm đêm tối mang thêm chút mộng mị, làm sững im một khoảng không và như khiến con đò nặng nề trôi chậm lại. Em an tâm, mà ngộ nhỡ phải đi mạng không, cái đứa làm chú rể kia cũng rạng rỡ chẳng lấy làm điều khi ngó thấy mặt anh. Quan trọng vậy á? À há, mai sau chúng ta thành hôn nó cũng có quyền đi tay không để đáp lễ. Liên hệ của bọn anh không thể lung lay do cớ sự đồng tiền can dự, gây rối. Nhưng mà… Anh hiểu, ý em muốn nói tới thủ tục? Ừ, mình chẳng phải hạng khố rách áo ôm, phải tỏ ra chút gì ngó cho đặng, khác phường túi áo giá cơm. Đường bệ, sòng phẳng là thứ em luôn coi trọng. Em nói cũng hạp bụng anh! Làm việc thì chớ nên đẻ ra tiếng ong ve. Mà này, bạn em nói cuộc tình họ có điều gì không phải, lấn cấn. Tại sao họ không trình làng ngày trọng đại ở chốn phồn hoa đô hội mà kín tiếng tổ chức nơi sơn cùng thủy tận này? Thứ nhất, vì hạnh phúc dài lâu họ thành tâm lắng nghe lời thầy bói, thứ hai làng quê bên sông có nội ngoại ông bà tổ tiên của thằng rể, nó chơi vậy thì ai nở lòng trách cứ. Chưa kể hội hè đình đám tiêu pha siêu khủng ở thôn xóm thì so ra chẳng thấm vào đâu nếu mần rình rang ở thành thị. Nó đầu tư chất xám luận chuyện hơn thua so bì dữ lắm đó em.

Cô thiếu nữ hướng mặt về đích tới mông lung, tứ bề vắng tẻ dợn sóng, cô gióng tiếng: Ông à, được nửa đường chưa? Người lái đò chậm lụt đáp trả: Cơ khổ, qua sông mới được một phần ba, nước có khi cũng tráo trở chảy ngược, biết làm sao hơn! Chỉ có mình ông lao động chuyện này thôi? Chúng cháu chả thấy một con đò nào khác lai vãng! Cô ạ, cả thảy chúng tôi có được sáu chiếc, người ta đã bỏ tiền thuê bao năm con đò kia rồi, nếu tôi còn sung, nếu đò tôi có mui tử tế thì không khéo thằng già này cũng xung công vào chuyện rước dâu đưa khách tiệc tùng đình đám kia từ khuya! Nói cô bỏ lỗi, tôi cũng chẳng ham muốn hợp đồng béo bở kia, tôi quan ngại tới những kẻ sớm tối đầu bù tóc rối có công chuyện phải giao lưu bên kia sông. Trưng dụng hết thứ phương tiện này thì cũng tội cho họ quá. Cũng tựa như ai kia nỡ lạnh lùng giật sập cây cầu cắt đứt giao thông. Ông có biết gia đình phía đàng trai không? Chút chút, họ thuộc thành phần mới phất sau này, từ nghèo chuyển đổi sang giàu tợ như ngủ qua một giấc chiêm bao nên họ mạnh bạo vung tiền ăn chơi không sợ mưa rơi. Tui chẳng thích chữ đại gia, chẳng qua bôn ba không bằng thời vận, thế thôi. Ôi! Số kiếp…

Cụ nói đúng đấy, ngay cả chó cũng có số phần định đoạt. Sao có con tắt thở nằm trên bàn nhậu, sao có con ghẻ lỡ đầy mình chạy rong bạ đâu sủa đấy, sao lại có con được ăn sung mặc sướng nhà cao cửa rộng luôn được chủ nhân ôm ấp vào lòng, lại khai sinh tên Tây mà gọi cho chúng lé mắt. Heo cũng thế, sao có con ủn ỉn rúc đầu vào cám dơ dáy bẩn thỉu mang bệnh lở mồm long móng, sao có con sạch sẽ uy dũng tối ngày được dắt đi cứ đè heo cái mà lắc lia lắc lịa?

Thằng tình nhân ho khan: Em liên hệ hơi bị linh tinh rồi đấy, hơi bị duy tâm.
Anh nói sao? Hãy chỉ cho em xem một thằng người duy vật còn tại thế xem nào. Muốn tìm xác con em chết trong chiến tranh người ta phải đi chầu chực sự giúp đỡ của những nhà ngoại cảm. Công an muốn phá án phải mua hương đèn nhờ mấy cô mụ lên đồng. Xây dựng cơ quan nhà nước phải đi tìm thầy phong thủy định hướng. Hừ, duy vật với vô thần? Nhờ anh tí! Cho em xin!

Thằng bồ ngồi rụt cổ, moi điếu thuốc thơm của đế quốc châm lửa thở khói, bộ mặt ra chiều tư lự tính toan. Thấp thoáng, chòng chành, hiện rõ dần hình thù cái miếu đứng xiêu đổ giam chặt bóng tối. Miễu ấy thờ gì hả cụ? Ồ, thời tui còn bé nghe bô lão trong làng họ truyền miệng một sự tích. Hằng năm dân trong làng xã sẽ bị chịu cảnh lụt lội đọa đày nếu chẳng kíp mang ra bờ một trinh nữ nằm trần truồng vào đêm ba mươi để hiến dâng cho thần thánh. Miễu ấy lập ra để thờ phượng mười hai vị trinh nữ mất tích, xem như anh hùng dùng thiện hóa giải điều ác, mang thanh bình lại cho thôn ấp. Sao giờ này hoang lạnh bỏ trống chẳng thờ phượng? Dân làng lỏng lẻo thường không có gì bỏ vào bụng, đâu dư thừa gì cho cam mà đem dâng cúng? Xem chừng cô cũng tin dị đoan thần thánh ma quỷ? Cụ nói lạ, cháu không tin thần linh thì biết trông mong vào ai? Sống đời bạc ác vô cảm trấn lột ta phải biết nương nhờ vào thứ gì đó, dẫu vô hình, dẫu hoang tưởng cụ ạ!

Ông lái đò cười tiếng mệt, sau rốt thì thở hắt ra. Đò đã tới bến hoang vu. Ông gát mái chèo, ông ngữa bàn tay: Tui thì chỉ biết tin vào có mỗi thứ này thôi, xin các anh chị mỗi người hai mươi lăm ngàn. Tiền bạc có mang lại hạnh phúc không? Thú thật tui chưa thấy có câu ranh ngôn nào dở hơn. Mẹ kiếp bọn có học chuyên rửng mỡ ngoa ngôn phách tấu!

Khách sang sông kẻ trước người sau lần lượt đặt chân lên bờ cát ẩm. Ông già cúi mặt đếm tiền nhét đống giấy bề thế vào ruột tượng cột thắt lưng quần, nói với: Hầu như thảy đều đi dự tiệc cưới, vậy có thông đường tới nơi chung vui? Cứ theo độc đạo ấy mà giỏi chân, sẽ gặp ngã ba, quẹo trái, từ đấy người ta đã trang hoàng đèn lồng màu đỏ có chữ song hỷ thắp nến cắm cách khoảng dưới bóng cây dẫn tới cái rạp lộ thiên. Mù thì nghe chộn rộn tiếng cười nói hòa quyện nhạc nhiếc cũng tường tụ điểm. Nhác chơi thì nhàn du mất hơn nửa tiếng, khẩn trương thì hai chục phút là ngốn xong đoạn đường sắp có hoa rơi vung vãi dọn lối. Thì thế, độc nhất vô nhị, chơi cho làng trên xóm dưới biết mặt, nhớ đời. Đời đã thay, mấy khi mà nắm bắt được, thụ hưởng.

Đôi nam nữ thuộc loại nhác chơi nên cùng nắm tay thủng thẳng từ từ chả có gì phải gấp rút. Đứa thanh niên ít tâm sự khi ngồi đò thì ôm bọc vải khẩn trương đi như chạy, như thực thi phương châm “ăn cỗ đi trước lội nước thì theo sau”. Đi như bị mười hai trinh nữ từ miếu hoang hiện hồn rượt đuổi đánh cắp chút thơ ngây của một đứa đồng nam chưa bể tiếng. Hắn tới hiện trường với khuôn mặt tái mét. Tái do bởi máu phải rút về bồi dưỡng con tim đang đập mệt. Tái như sắc diện của đứa bất lương rối trí tìm cho ra một giải pháp tốt để xoay trở trước vấn nạn luôn căng. Trời đãi kẻ khù khờ, loay hoay sao hắn lọt vào được một mái nhà tranh, tìm gặp đúng người muốn nhìn mặt.
Mồ hôi chảy thành dòng, đôi chân bắt đầu tạo phản ứng: run rẩy. Người ấy bình thường đẹp dịu dàng, giờ này trát phấn kẻ mày bôi môi làm mặt hoa phải biến dạng. Đôi lông mày lá liễu thoáng cau lại, vầng trán hiện lên những nếp nhăn và đôi mắt loáng ướt tròn xoe hình viên đạn. Một thoáng liếc ngang nhìn dọc, ánh mắt sắc như dao, rồi đường đi của thanh kiếm bén vụt đứng kề sát cổ. Hắn sững ngó người ngọc vận xiêm y toàn cả màu đỏ. Đỏ thắm tựa son bôi môi. Môi trái tim bắt đầu rạn nứt: Sao anh tìm được tới chốn này? Anh đến để làm gì? Anh có đọc lá thư tuyệt mệnh tôi gửi không? Anh lọt vào đây có nghĩa là anh đang gieo một hậu vận khó lường, một tai ương sắp bùng vỡ. Cho cá nhân tôi, cho riêng anh. Anh mãi hoài là kẻ chẳng tự lượng sức, anh muôn đời là đứa u mê…

Thằng thanh niên đứng chẳng vọng động, trong lúc này hắn muốn biến thân thành một đích cắm để hứng chịu muôn vàn lời trách cứ đang thành tên bay đạn lạc. Mắt hắn không nháy khi đối diện, nhìn cô dâu. Gần, với tay là sờ mó được cái ụ đất nhô ra từ bộ ngực đang thổn thức. Ngó vậy mà hổng phải vậy. Xa, xa quá em ạ. Nhấp nhô như hai hoang đảo nằm kín đáo ngoài trùng khơi. Con sóng nào đã đánh vào mạng bình địa mộc của anh để xô giạt mỗi lúc một xa em. Mồ hôi có giọt ứa chảy quẩn quanh trên rèm mi cay rồi chính nó làm cảnh vật có phần nhòe đi. Thời gian có khi như đứng lại, nhưng những bước chân xào xạc sau bức phên tre chứng thực một cách biện chứng: Thời giờ như tên bay! Thằng thanh niên mở bọc vải ra, nắm ở tay bộ bà ba màu đen. Hãy chạy trốn cùng anh, mặc nó vào người và chúng ta đi tìm vùng đất khác tái tạo từ buổi ban sơ. Đừng có nằm mộng, tôi đã suy tính hơn thiệt, ở chung với thằng nghệ sĩ như anh thì chỉ có nước từ chết tới bị thương… Tôi sẵn lòng đón nghe từ anh tiếng chửi rủa đồ tham phú phụ bần và ngược lại, sẵn gương soi đây tôi cho anh nhìn chăm vào mặt mình lần cuối, anh có gì ngoài thứ lòng rung cảm không đáng trước những thứ đau thương tràn bờ. Anh yếu đuối và anh tự xây ngục tù cho mình bằng những xúc cảm vu vơ. Anh nên trốn chạy đi trước khi câu chuyện bị đổ bể. Công an đang nhậu say, bản thân nó đã kinh khiếp thì khi có rượu vào anh cũng hình dung được sự tàn độc của loài cọp beo rắn rít.

Dưới đáy bọc vải là cái hộp gỗ vuông, thằng thanh niên lấy ra trao cho kẻ “đối diện bất tương phùng”. Quà cưới, chúc em thành toại đi êm trên sạn đạo mà em đã vạch lối. Cô dâu cầm lấy, không nhìn ngó, đặt xuống bàn trang điểm. Tôi thầm hứa, nếu sinh con trai tôi sẽ mang tên anh ra để đặt cho nó, điều đó có nghĩa là tôi còn nhớ tới anh. Nếu là con gái tôi sẽ tra cứu từ điển, tìm ra chữ gì tựa như sinh bất phùng thời. Chúng ta bắt đầu yêu nhau từ đêm rằm ngày tháng cũ, vậy thì cứ cách ba tháng, vào đêm tròn trăng, chúng ta tự tìm cách để nhìn lại nhau. Anh bằng lòng không?

Có một mụ già bước vào hai tay cầm khay phủ chụp lụa đỏ. Mụ há miệng chực thốt tiếng la. Trai đơn gái chiếc, gian phu dâm phụ, ăn cơm trước kẻng hoặc chữ nghĩa rắc rối nào khác sẽ tuôn nghe bất lợi, lùng bùng lỗ tai. Thằng thanh niên bối rối, nhưng hắn biết cách ém nhẹm tiếng hô hoán mặc dù trời sinh hắn luôn bất lực trước tình huống khó xử. Thưa bác, tôi là em cô dâu, bác cũng có thể xem tôi như đứa làm tóc, như đứa nắm danh sách người được mời phía đàng gái. Nếu bán tín bán nghi, bác hãy coi tôi như thằng phụ bếp tới hỏi cô dâu có bao nhiêu người ăn mặn kẻ ăn chay. Mà không chừng tôi phụ trách hệ thống âm thanh, chuyên chọn nhạc thích hợp cho đám cưới. Mình nên chơi nhạc rock, hay rap hay chỉ tinh ròng bolero mùi mẫn tình tự quê hương… Anh là ai tui đéo biết, anh xéo cho ngay kẻo tui hát bài chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Mẹ rượt, đi dự đám cưới mà người hôi như cú.

Bằng động thái của kẻ ám muội, thằng thanh niên lặng lẽ cúi mặt di dời khỏi mái nhà tranh (không có hai trái tim vàng, nghe phản động). Hắn ngó mặt đất sủi bụi dưới chân lết trì nặng. Đất chòng chành, đất mất sức hút. Miệng đắng, hắn chưa từng hớp được một giọt rượu vu quy, một giọt trà, một giọt nước lã. Trong bọc vải hắn cưu mang còn chứa cất một con dao. Khi cụ bị hành trang, hắn đã ngần ngừ giây lát để sau cùng buồn tay thảy con dao bén chưa hề sử dụng vào túi. Hắn thực sự không phải là hạng người ưa mân mê kim loại, hắn muôn đời vẫn sợ cảnh máu rơi. Hắn sợ cái chết, kể cả cảnh người phụ hắn bắt tay tử thần, kể cả chính hắn phủi chân về miền cực lạc. Chẳng có gì rồ dại bằng đâm người ta, rồi tự kết liễu đời mình. Tiếc thay sự cố nọ thì luôn diễn ra thường hằng trên mảnh đất hắn chôn chân, dưới bầu trời ngột ngạt hắn hít thở.

Hắn lần ra được con đường cô quạnh dẫn tới bến đò. Hắn vẫn là kẻ dạ hành lẻ bóng đêm thâu. Bên miếu hoang, hắn thầm thì chắp tay khấn nguyện, khi đã đau đầu gối, hắn thôi quỳ, gục mặt vào dòng sông nước đen. Gia đình hắn, tất thảy người thân yêu đều nương nhờ con nước để trôi thân ra biển rộng. Họ đến bờ tự do an lành, tái lập cuộc sống mới đúng như tiêu đề viết cẩn trọng trên đơn từ nhà nước chốn đây “Độc lập- Tự do- Hạnh phúc”. Trong tình thâm máu thịt ruột rà, họ có hình dung ra cảnh sống tuột trôi vất vưởng của hắn không? Hắn ném cái bọc vải ra dòng sông luôn cựa mình luân lưu, bộ bà ba đen luôn ủ kín mùi da thịt thơm ngọt của tình nhân chìm trôi từ tốn. Và con dao trủy thủ. Hề, Kinh Kha thời nay đã thay đổi tư duy, qua sông vượt biên quá cảnh như đi chợ. Hề, bạo chúa thì nhiều mà mình ên Kinh Kha thì nghe rất oải. Hề, Kinh Kha buông đao xuống có thành Phật chăng?

Lão lái đò trờ tới trong lặng lẽ. Chứ anh vừa vung tay thủy táng vật gì đó?
Hắn leo lên đò làm khó ông già: Có phải tất cả rồi cũng sẽ nguôi ngoai lui về vùng kỷ niệm? Anh nói sao? Khuya rồi, chắc tui không chèo qua bến bờ kia đâu. Muốn ngủ nhờ trên đò, tui lấy anh mười ngàn tượng trưng. Hắn moi tiền ra đếm. Uống một cốc nước đang đun trên bếp thì cả thảy là bao nhiêu?
Ấy chết, chẳng phải là anh đi dự tiệc cưới sao? Chóng tàn thế?

Hắn vật mình xuống sàn đò. Trên cao là trời đêm, không một vì sao lẻ loi hiện hữu. Tất thảy tối đen, thăm thẳm, mê muội, u minh, mực xạ, hủ nút, địa ngục. Hắn nằm, đợi chén cháo lú trao từ tay kẻ chèo sang vùng địa táng.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 13 Sep 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Rối loạn đường tiêu hóa!

Bài 27

(hồi ức về một người bạn tù vong niên)

Ông già Minh tuy còn khỏe mạnh nhưng vì ông là người lớn tuổi nhất đội nên được quản giáo phân công ở nhà lo dọn dẹp phòng ốc, quét nhà, hốt rác…

Ông khỏi đi phá rừng, cuốc đất ngoài bãi. Lợi dụng ở nhà có chút thì giờ rộng rãi, già Bình may giúp cái áo lá, cái quần xà lỏn cho người nầy, người khác, để được anh em trả công bằng cái kẹo, cái bánh mà “bồi dưỡng”.

Về khoản may vá thì ai ai cũng công nhận ông là người  khéo tay, mũi chỉ ông ta may đã nhỏ lại đều, áo quần ông cắt vừa vặn, sít sao. Với ba cái túi vải đạn M-16, ông cắt may thành cái áo “may ô”. Bốn cái túi loại đó thì ông may được cái quần xà lỏn. Áo quần ông ta mặc, dù “tự biên tự diễn” bao giờ trông cũng đẹp mắt, sạch sẽ…

Dù được ở nhà, lâu lâu ông cũng phải lên bệnh xá khai đau bệnh nầy, bệnh khác. Mục đích của ông là ngoài cái già, ông còn thêm lý do bệnh để khỏi đi lao động ở ngoài, lỡ có ai moi móc, khiếu nại, v.v… Có thể đó là cái “tẩy” của người khôn nhưng nói như ông thánh Khổng thì “khôn chết, dại chết, biết sống”.

Ở đây thì khôn cũng bị người ta ghét, dại bị người ta chê mà dù có “biết”, không làm gì ai, không đụng tới ai thì vẫn cứ ngắc ngoải như thường…

Tối thứ bảy, họp đội kiểm điểm, Trần Văn Diệm  tố già Minh có thuốc thừa đem cho Diệm khi anh ta bệnh. Điều đó chứng tỏ già Minh có thuốc mà không uống, tức là không bệnh; không bệnh mà khai bệnh, tức là trốn tránh lao động, chưa thấy được “Lao động là vinh quang”, chưa “giác ngộ”, “học tập cải tạo chưa tiến bộ” như thế thì còn lâu “cách mạng” mới cứu xét cho trở về sum họp với gia đình…

Khiếp thật!

Chỉ một việc khai bệnh giả thôi mà có cả chục cái mũ chụp lên đầu. Phen nầy chắc già Minh “mục trại” luôn.

Người miền Nam “phù suy không phù thịnh”; có thể có người ít ưa già Minh nhưng không ai bất nhẫn như Diệm.

Mình đau, người ta cho mình thuốc, nhưng kèm một lời cám ơn là một lời tố cáo. Người ta chê Diệm ngu hơn là cho Diệm xấu tính; ngu ở cái chỗ “quá tin cách mạng”. Có người mỉa Diệm: “Tự giác là tự sát nghe em!”

            Có hôm, người ta hỏi đùa già Minh: “Anh tuổi giáp tý, ông Thiệu cũng tuổi giáp tý. Tại sao ông Thiệu làm ổng thống, còn anh thì đi ở tù?” Tội nghiệp, già Minh lúng túng trả lời không ra. Ông ta cho rằng tại khác giờ sinh, khác ngày sinh, tại ông ta không có chân mạng đế vương, v.v…

            Về lý lịch, ông ta dấu khá kĩ. Với Long, người có tuổi kém ông ta một giáp và Long cũng lớn hơn số đông anh em khác khoảng chừng đó tuổi, thường chuyện trò với ông mà thôi. Hai người cũng từng là giáo sư chế độ cũ trước khi họ nhập ngũ.

Có lần Long nói với anh em: “Trước 1945, ông ta là sinh viên trường luật Hà Nội đấy!” Có người tin Long nhưng cũng có người vì không ưa già Minh nên xuyên tạc lời Long: “Luật gì? Luật đi đường.” Có đứa nói tục: “Đường lụ đấy.” Có đứa lại nói: “Ông ta luật sư thật đấy. Không thấy khi phát biểu, ông ta nói dốc dữ lắm.”

            Già Minh nói với Long hồi kháng chiến chống Pháp, ông cùng với bố ông, cả hai cùng tham gia.

Hồi đó, ông ta phục vụ ở Liên Khu 3, trong ban phát thanh của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến. Long rất thích nghe ông ta kể lại những kỷ niệm thời kháng chiến đó. Ông từng có dịp gặp Trần Chánh Thành khi ông Thành làm Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Liên Việt, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản, nhằm “thu gom”, kiểm soát những sinh viên Hà Nội theo Việt Minh mà không theo Việt Cộng. Già Minh có cảm tình với ông Thành, khen ông Thành giỏi hơn nhiều cán bộ Cộng Sản cao cấp khác. Chỉ vì hai chữ Cộng Sản mà ông Thành bị họ gạt ra ngoài.

            Hỏi già Minh về ông việc phát thanh, già Minh cười: “Có gì đâu mà phát thanh! Bên quân sự cho biết có đánh nhau ở đâu đó thì bên phát thanh cứ thế mà tán dốc lên. Tây bị cháy một xe thì tán lên thành chín, mười xe. Tây chết một thì nói một trăm. Còn phe ta thì bao giờ cũng chỉ có một câu “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự.”

Long cười: “có khi khỏi rút.” Già Minh thật thà hỏi: “Sao lại khỏi rút?” Có người cười: “Chết mẹ hết, còn ai nữa mà rút.” Già Minh cười: “Các cậu đùa thâm thật!”

            Theo kháng chiến được vài năm, già Minh về thành. Hỏi lý do, già Minh nói: “Về để đi làm, kiếm tiền giúp mẹ, nuôi em!” Thế sao bố già Minh lại không về? Đúng ra, việc nuôi con là việc của bố ông ấy, đâu phải bổn phận già Minh.

Có điều bí ẩn gì chăng?

Té ra, bố già Minh trước 1945 là thợ in giỏi, nay ông ấy đang làm ở chỗ in bạc cho Cộng Sản. Bọn chúng canh kĩ lắm, ông ấy không về được.

            Sau khi về thành theo Pháp, già Minh vẫn còn liên lạc với cha. Có lần ông kể cho Long nghe: “Mình nói thật với Long một điều. Năm 1954, sau khi hiệp định Genève ký rồi, bố mình nhắn mình lên chiến khu để ông thăm. Ông ấy đang ở Việt Bắc, kế cận chỗ làm việc của Hồ Chí Minh. Ông bố dặn già Minh một điều: “Phải tìm mọi cách đưa gia đình vào Nam. Cha con từ đó bỏ nhau. Bố mình không bỏ kháng chiến được, cũng giống như mình không thể sống chung với Cộng Sản được. Cha con còn như thế, làm gì có hòa hợp hòa giải mà mong.”

            Bỏ kháng chiến về thành, già Minh dạy học ở một trường trung học tư, làm thêm “giáo tại gia” tại nhà một thương gia giàu có. Cũng nhờ nghề dạy tư nầy mà già Minh cưới vợ.

Mỗi lần ông tới dạy cho mấy đứa em thì cô chị ra mở cửa. Cô ta vòng tay, cúi đầu chào: “Lạy bác ạ!” Vậy mà ông ta xin cưới con nhỏ “Lạy bác ạ” ấy và được ông thương gia thuận cho. Có lẽ thời kỳ ấy cái “mác” giáo sư cũng có giá lắm. Đây là thời kỳ đầu chiến tranh, “sao” chưa lên, “mai” chưa nở thì dân khoa bảng còn chút giá trị. Thần tượng thầy giáo lúc bấy giờ chưa sụp đổ.

            Với cái “hào quang” đó, già Minh di cư vào Nam và thất nghiệp. Ông ta phải chạy đôn chạy đáo mới xin được một chân dạy tư ở Saigon, sống tạm đủ. Đến đầu năm 1960, khi có lệnh tổng động viên, già Minh vào Cảnh Sát.

            Từ đó, cuộc đời ông lên voi xuống chó những mấy lần, không còn những bình thản trước cuộc thế như khi ông làm giáo sư.

Năm 1965, tình hình miền Trung hết sức rối loạn sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết. Già Minh được bổ nhậm làm trưởng ty cảnh sát ở một tỉnh ngoài đó.

Ông không chạy chọt, ông không xin xỏ. Chuyện đi làm trưởng ty, với ông, tưởng như chuyện “trên trời rơi xuống” vậy. Mới vào ngành được 5 năm, từ một nhân viên, cấp trên bằng vào tư cách và khả năng, chọn ông ra ngoài ấy.

Cầm sự vụ lệnh, già Minh đâm lo. Trách nhiệm với chính phủ, với đồng bào, với ngành ông phục vụ, lại ở một tỉnh miền Trung vào một thời kỳ hết sức xáo trộn, già Minh lo nhiều hơn vui.

Từ cổng Tổng nha Cảnh sát đi ra, gặp hai người bạn từng làm trưởng ty ngoài ấy, thời ông Ngô Đình Diệm, già Minh mời họ đi uống càphê và hỏi han kinh nghiệm.

Hai người bạn ấy nói với già Minh, Tổng nha chỉ là nơi ký giấy tờ, còn đằng sau nó là ai, già Minh phải biết chứ!

Đây là cơ quan an ninh cấp quốc gia mà. Ông Diệm làm tổng thống mà không cần biết cái bóng sau lưng ông là ai nên ông phải chết.

Từ nhận xét đó, khi ra miền Trung, già Minh tránh né các “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” mọc lên ở nhiều tỉnh ngoài ấy. Nhờ vậy, ông không bị họ bắt nhốt vào khám lớn như  ông tỉnh trưởng của ông. Nhưng cũng vì sự xáo trộn ấy mà ông rớt chức trưởng ty. Ông lên cao nguyên làm trưởng ty một thời gian ngắn nữa, rồi ông về Tổng nha giữ một chức vụ bình thường.

Làm trưởng ty thì ông có xe hơi, có tài xế, có “tà-lọt”, có bồi bếp, và tùy theo lương tâm mỗi người, người ta có chút ít “tư lợi”. Vợ ông đi chợ, đi phố, con ông đi học, có xe đưa rước. Bữa ăn ngon hơn, tuy không cao lương mỹ vị. Mọi người trong gia đình ai ai cũng ăn mặc đẹp hơn, sang hơn.

Với ông, những cái đó không quan trọng. Không có xe hơi đi làm thì ông đi xe Honda. Ông muốn sống bằng đồng lương của ông để ông khỏi phải lo bị điều tra, bị hạch hỏi. Đi xe Honda, không có tài xế, khỏi phải lưu tâm tài xế chờ đợi. Để ai chờ đợi, ông thấy phiền.

Ông muốn “Qui khứ lai từ” cho nó nhẹ.

Việc ông sống âm thầm nhiều năm trong trại cải tạo chứng minh tấm lòng đó của ông. Mỗi năm, vài lần, cô em gái ông nhà ở gần cầu Chà Và lên thăm. Gói quà nhỏ teo, ông cầm ở tay lặng lẽ vào trại, mở xem rồi gói cất, mặt không buồn không vui. Hình như ông quí cái tình gởi kèm theo gói quà, nó làm ông cảm động. Có ai hỏi thăm, ông nói nhỏ: “Em gái mình nghèo, con đông, tội nghiệp nó.”

Ông không than vãn đói rách như bao nhiêu người khác. Những lần thăm nuôi như thế, có thể làm cho ông nhớ vợ, nhớ con nhiều hơn. Bây giờ thì họ xa lắm, bên kia nửa vòng địa cầu, cách một đại dương mênh mông và không chắc chi ông còn gặp họ nữa. Biết bao nhiêu nhớ thương xoáy động trong tâm hồn một người tù già như già Minh.

            Tôi nghiệp già Minh!

Ông cũng là người như mọi người, cũng xương da. Cái thân xác nó cũng đòi hỏi được ăn no, được bồi bổ theo lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nó đòi hỏi chất thịt, chất cá, cục muối, cục đường vậy chứ! Nhưng những thứ “bồi dưỡng” ấy, ít khi ông được có, được ăn. Ngay cả những thức ăn thường ngày như bắp, khoai mì do trại phát cũng thiếu, cũng ít, nên ông cũng không mấy khi được no.

Anh em trong đội, khi được thăm nuôi, phần thực phẩm trại phát, hôm đó, họ không ăn, họ bỏ đi. Ông xin cái đó để ăn thêm cho no. Ông xin cái người ta bỏ đi, không xin cái người ta cất giữ.

Rồi càng ngày cuộc sống bên ngoài càng khó khăn, thân nhân thăm nuôi ít đi, thì cái anh em bỏ ra cũng ít đi, ông đành ăn đói.

Cái đói của ông đâu phải vài ba bữa, đôi ba ngày. Nó kéo dài lê thê từ ngày nầy sang ngày khác, từ tuần nầy sang tuần nọ, từ tháng nầy qua tháng kia, tiếp nối năm hằng năm. Già Minh ở trại năm sáu năm nay, cái đói cứ triền miên như thế.

            Vậy mà cũng hay; ông âm thầm chịu đựng, không vì đói mà ông sinh ra tật nầy tật khác, không nịnh hót, không xin xỏ, không chạy chọt để xin làm nhà bếp, giữ nhà kho, hay một công việc nào đó khỏe hơn, no hơn. Ông vẫn cứ cái công việc giúp anh em như cũ: Vá giùm cho người nầy cái áo, cái quần, lên lai quần, đơm hột nút để được anh em trả công chút ít, bằng cục đường, củ khoai…

            Vậy mà tội nghiệp!

Chẳng ai chơi với ông, chẳng ai chuyện trò với ông. Chỉ có Long được ông ta tâm sự, chuyện trò một đôi lần. Điều đó cũng dễ hiểu. So với tuổi tác giữa ông và anh em trong đội, ông hơn họ những hai mươi năm. Hai thế hệ, xa nhau quá. So với tuổi, Long thuộc thế hệ ở giữa, không kém tuổi ông nhiều quá, và cũng không hơn tuổi số đông anh em nhiều quá. Thành ra Long như là người đứng giữa, là nhịp cầu giữa hai thế hệ xa nhau. Long có thể hiểu ông nhưng số đông anh em không thể thông cảm được.

Tuy nhiên, chuyện trò với Long thì có mà ăn uống với Long thì ông tránh mặt. Ông sợ, nhận của ai mà không thể trả lại thì ông tránh. Điều đó giữ cho ông được sự kính trọng.

            Trong trại cải tạo có nhiều cái phức tạp, mâu thuẫn. Người ta ganh ghét đố kỵ nhau không kém gì ở ngoài đời, có khi còn tệ hơn nữa.

Ở ngoài đời, có ghét ai, thương ai thì lâu lâu mới gặp. Ở trong trại, sáng ra, mới mở mắt đã thấy “đối tượng” rồi. Thương nhiều khi trở thành ghét, và nhiều khi đã ghét lại càng ghét hơn.

Vì đói nên người ta ghét nhau vì ăn. Người được thăm nuôi ít ghét người được thăm nuôi nhiều. Người ở đội cuốc đất ghét người ở đội trồng rau, vì người trồng rau có rau “cải thiện”. Người đội trồng rau thì ghét người đội cấp dưỡng vì cấp dưỡng nhiều khi ăn cắp được đồ ăn, mỉa nhau bằng câu “Giàu nhà kho, no nhà bếp”.

Già Minh ở ngoài đám “trần tục” đó, tránh không ghét ai, đố kỵ ai. Ông thuộc hạng nhất theo đúng nghĩa của nó: Ít được thăm nuôi nhất, sống âm thầm, cô đơn nhất; so với anh em, ông có chức vụ cao nhất và có vợ đẹp nhất.

            Một dịp nào đó, em gái ông lên thăm, mang cho ông mấy tấm ảnh con ông chụp ở Mỹ, mới gởi về. Đứa nào cũng mập mạnh béo tốt. Có lẽ chúng học hành đàng hoàng vì đứa nào cũng mặc áo thụng, đội mũ vuông, thứ trang phục mặc khi tốt nghiệp cấp ba hay đại học. Con trai thì giống già Minh, quắc thước. Con gái thì đẹp, giống mẹ! Già Minh cầm mấy bức hình đi khoe với anh em: “Con mình đây! Hình con mình ở Mỹ mới gởi về đây!” Tiếng nói của già Minh thường thì nhẹ, hơi nhỏ, bây giờ lại đượm vẻ thân yêu, trìu mến khi nói về các con.

Chỉ có hình con, không có hình vợ ông. Chẳng ai hỏi. Người ta tế nhị, ai chẳng biết ông bị vợ bỏ đã lâu! Bà ấy đã có chồng khác thì gởi hình cho ông làm gì. Vậy mà có điều lạ! Chẳng ai tỏ ý thương già Minh bị vợ bỏ trước ngày “sập tiệm” những mấy năm.

Bà ấy bỏ ông đi lấy một kẻ quyền cao chức trọng hơn ông. Nặng định kiến, người ta trở thành bất công với ông. Ông ta bị cướp vợ, nói trắng ra là một kẻ quyền thế chế độ cũ cướp vợ ông.

Ngày nay, bọn cán bộ ngoài Bắc vào cướp vợ của người miền Nam. Cũng nói trắng ra, dựa vào quyền lực chính trị hoặc quyền lực của đồng tiền cũng vậy thôi. Anh em chung đội chưởi rủa bọn ngày nay cướp vợ người, vợ bạn bè của họ. Thế tại sao họ không nguyền rủa kẻ cướp vợ già Minh. Có gì khác nhau giữa những người cướp vợ người khác, dù bọn đó thuộc chế độ cũ hay chế độ mới. Dù ở chế độ nào, cướp vợ người khác là hành động man rợ của loài dã thú đội lốt người, dù người đó là Tào Tháo trong truyện Tam Quốc.

            Bây giờ không ít bà bỏ chồng đi lấy chồng khác, lại lấy cán bộ mới đau lòng. Trước kia, người ta lấy chồng là lấy ông sĩ quan, ông giám đốc, ông trưởng ty… lương cao, bỗng hậu, có kẻ hầu người hạ, có lính tráng, có xe Jeep gắn hai ba cần câu.

Bây giờ là “thằng tù”. Có ai gọi là “ông tù” không nhỉ? Bỏ cái loon ra rồi, vô tù là coi như hai bàn tay trắng. May mắn, có người vợ chung thủy thì người đàn bà lặn lội nuôi chồng trong tù, còn khổ hơn cả “Con cò lặn lội bờ sông…”

Cũng có người “Anh đường anh, tôi đường tôi”. Người ta trách móc phê phán người đàn bà bạc bẽo ngày nay, thế vợ già Minh bỏ chồng đi lấy một ông lớn thì sao? Ghét Việt Cộng nên người ta phê phán người đàn bà ngày nay. Nhưng có thể nào vì “bênh phe ta” mà không phê phán ông quan, ông tướng… chế độ cũ. Than ôi: “Giặc giã triền miên, nhân tâm ly tán…” Có phải đó là chân lý muôn đời của loài người còn mang tâm dã thú?

            Người đời nay mất vợ vì bọn có quyền, có tiền; người ngày trước mất vợ cũng vì những lý do tương tự.

Tội nghiệp cho già Minh, nỗi đau của ông lớn lắm! Ông đau khổ cho ông mà cũng đau khổ cho con ông nữa. Sáu đứa con về với mẹ, rồi lên đường ra xứ người. Bỗng dưng, chúng trở thành những đứa bé không cha.

Với cõi lòng buồn bã, ông thường lang thang, chân ông bước đi mà ông không biết chân mình nằm ở đâu, tưởng như người ông lướt trên mặt đất vậy. Ông tưởng như ông không còn là người nữa. Ông biết ông không làm gì được nữa rồi. Những thứ vợ ông cần, ông không có, không thể nào có được.

Tiền bạc, may ra ông có thể trúng số. Nhưng quyền cao chức trọng, cái đó phải có thời gian gầy dựng, phải trúng bè trúng đảng, trúng phe trúng nhóm. Giả tỉ như bây giờ ông có “lon lá” này nọ, chưa chắc ông có thể đứng về phe nầy nhóm kia. Cái đó không thể có ông. Ông không thể lập bè lập nhóm với ai được. Như việc ông đi trưởng ty vậy. Người ta thấy ông có khả năng mà cho ông đi chứ ông không xum xoe che dù, cho lọng cho ai để có thể có một chỗ ngồi ngon.

Sau khi ông mất chức trưởng ty, mấy lần bà vào sở ông làm, khi năn nỉ, khi đay nghiến, khi hậm hực, buộc ông phải ký giấy ly dị. Ban đầu thì ông còn năn nỉ, ông chần chừ, rồi ông hẹn lần hẹn lữa. Cuối cùng thì ông phải chìu bà. Suốt đời ông ta chìu bà, cái gì cũng nghe bà, chìu bà, kể cả việc chìu bà mà ký giấy ly dị cho bà đi lấy chồng khác.

Chiếc xe đã chuẩn bị sẵn sàng, hành lý đã chất lên xe, cột buộc đâu đó rồi, tài xế, chủ xe đã ngồi trên xe, chỉ chờ ông đưa chìa khóa “công tắc” là xe nổ máy lên đường.

Ông không còn ngăn cản được nữa, không năn nỉ gì được nữa, không thể nhắc nhở một chút tình cảm nào, kỷ niệm nào để mong cho người ta hồi tâm suy nghĩ. Ông vẫn cứ trì hoãn, cho đến một ngày ông thúc thủ đầu hàng. Và lúc đó thì ông chỉ còn đứng lại một bên đường, nhìn theo bánh xe lạnh lùng quay tít. Và đám bụi đường cuộn lên mù mịt. Đứng đó, ông chỉ còn ngửi bụi mà thôi. Đám bụi đó đâu phải là “hồng trần”. Xe đó, đâu có gập ghềnh như xe Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Chuy. Chiếc xe hơi bóng loáng, đẹp đẽ, chạy trên đường êm như ru; nhưng lòng ông thì sóng gió tơi bời, bão táp ầm ĩ, sấm chớp long trời lỡ đất.

Già Minh, đúng là con người hèn nhát. Ông không có bản lĩnh, mạo hiểm, liều mạng chấp nhận cuộc đời này như một trường đấu tranh ưu thắng liệt bại. Ông đã phủ phục, đã cam chịu, đã đầu hàng. Ông là một võ sĩ hạng bét, thấy đối thủ của mình to con quá, vai u thịt bắp quá mà sợ. Chưa lên võ đài, trọng tài chưa thổi còi, người ta chẳng thấy ông đâu nữa. Ngay cả đối với vợ, ông cũng vậy. Bao giờ ông cũng dành cho bà cái thế chủ động, quyết định mọi việc trong nhà. Sự thụ động đó đã đưa lại kết quả ngày hôm nay.

            Ngày đám cưới – tổ chức tại nhà hàng lớn nhứt Saigon – Bao nhiêu tai to mặt lớn đều có hết, kể cả những nhân vật số 1, số 2 của miền Nam máu lửa nầy. –  Người ta tới chứng kiến việc một người đàn ông giàu có, quyền thế, “cưới” bà vợ của một người đàn ông nghèo hèn.

Ông cho thế là không tình không nghĩa, là cuộc sống của bầy thú hoang theo luật rừng xanh. Con “vật đực” mạnh nhất giành lấy những gì nó muốn; và con “vật cái” ngoan ngoãn phục tùng con “vật đực” mạnh nhất ấy để được sự thụ hưởng, che chở.  Đó là xã hội của bản năng, không phải là xã hội của lý trí, chưa đạt tới tính chất “Người”.

Cô ca sĩ hát bài “Em chỉ yêu anh binh nhì” nhưng chỉ chịu làm đám cưới với ông sĩ quan. Đằng sau cái mà người ta gọi là danh giá, là quyền thế, là giàu có, hiện ra trần truồng một sự thật đáng buồn, đáng ghê sợ: Giống cái tìm sự hưởng thụ và che chở ở giống đực. Đó là bản năng sinh tồn, sự bảo toàn nòi giống, như con ngựa cái đến lúc động cởn, nó sẽ bỏ chạy thật nhanh, chỉ có anh ngựa đực nào chạy nhanh nhất mới  được chọn làm “người hôn phối”.

Đó không phải tình yêu. Người ta chọn một ông chồng giàu, một người có thế lực quyền hành, một người trong tay có binh hùng tướng mạnh, dù cho “làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé” thì đó là tình yêu chăng? Già Minh không tin điều ấy. Không có tình yêu thì không có bình đẳng. Đó chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau. Người “mạnh” thì muốn có kẻ “nô lệ” để nó phục vụ mình, người “yếu” thì chịu làm nô lệ để được đền bù lại bằng cái mình ham muốn.

            Với già Minh, ông ta yêu vợ thật sự, yêu ghê gớm. Vì vậy, ông vô cùng đau khổ khi mất vợ. Ông gởi xe ở nhà hàng Eden rồi ra ngồi nơi bậc thềm Hạ Viện cũ, để nhìn qua nhà hàng lớn, nơi vợ ông ta và người khác đang làm đám cưới. Phải chi ông còn trẻ một chút, để tâm hồn còn nóng bỏng một chút mà huởng cái “thú dau thương”, để nhìn “em” lên xe hoa về nhà chồng, nhìn xác pháo hồng mà nhớ kỷ niệm xưa.

Trớ trêu hơn, ông đã gần năm chục, tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Ông đau khổ, ông nhớ thương, ông tiếc nuối, oán hờn. Nói chung, ruột gan, phèo phổi ông rối oạn lung tung. Chỉ có một điều ông tự hào; ông cúi sát mặt, nói với người bạn trẻ: “Long biết không, bà ấy mặc áo cưới bằng nhung đỏ, không dám mặc nhung trắng.” Rồi ông cười, nói tiếp: “Sáu con rồi, còn gì mà mặc áo trắng!” Giọng nói ông đượm vẻ buồn và tự hào rằng ông là người đến trước.

            Ông còn thương vợ ông lắm. Ông chỉ trách vợ một điều, buộc ông ký giấy ly dị. Nói xấu vợ thì không, không bao giờ ông nói xấu vợ. Tuy nhiên, đối với gia đình nhà vợ, ông chẳng có chút lòng kính trọng, những người ông gọi họ là bọn con buôn.

&

            Kể từ khi chuyển ra trại C, gần đồi Phượng Vĩ cũ – già Minh không cần khai bệnh nữa rồi, bởi vì lúc nầy ông bệnh thật, bệnh dữ lắm! Hình như ba năm nay, người em gái của ông không lên thăm ông nữa. Ban đầu, ông còn trông ngóng. Cứ mỗi lần người coi thăm nuôi bươn bả đi vào trại để gọi tên những người được thăm thì ông còn hướng mắt nhìn người ấy, có khi ông còn bước tới gần người ấy để nghe cho rõ có tên ông hay không.

Rồi dần dần, vẻ trông chờ đó không còn nơi ông nữa. Ông thất vọng, rồi ông tuyệt vọng, tuyệt vọng thật sự.

Tội nghiệp, đời ông nhiều nỗi tuyệt vọng quá! Ba năm nay ông không được thăm nuôi mà đời tù của ông thì dài những gấp đội: Sáu năm. Sáu năm đói khát. Sức thanh niên còn chưa chịu nỗi huống gì một người đã được anh em gọi là già.

Ban đầu, ông chỉ bệnh lai rai, đi muốn té, ngồi không vững. Những người ở chung phòng với ông thì thầm với nhau: “Ông ta không bệnh gì đâu! Ông ta đói quá đấy! Đói quá là yếu đi. Vậy rồi ông nằm liệt giường, liệt chiếu.

“Bác sĩ” Hảo xuống tận nơi xem bệnh cho ông, quyết định đưa ông vào bệnh xá và ông qua đời ở đó vì bệnh “Rối loạn đường tiêu hóa.” Phải chi lúc đó có kẻ từ tâm, đến thăm nuôi hay chia sẻ đồ ăn cho ông mỗi ngày thì ông có thể qua được.

            Già Minh chết rồi, qua lời anh em bàn tán, Long lại thường nhắc tới câu ca dao “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

Ai đang xây chùa, ai đang xây nhà thờ, có ai nghĩ tới những người như già Minh, lúc nầy đây, ngay giờ phút nầy đây đang đói ăn, đang thèm chén cơm, con cá, miếng rau trong trại tù Cộng Sản.

Anh Minh thân mến,

            Mấy tháng trước khi anh qua đời, một sáng chủ nhựt, tôi, anh và anh Phí Ích Bành treo võng nằm chơi ở hội trường. Phí Ích Bành và tôi khẳng định với anh rằng Cộng Sản sẽ sụp đổ.

Anh hỏi bao lâu?

Tôi nói rằng cứ những cái mốc trong lịch sử Việt Nam và thế giới hiện đại, người ta phải tính bằng chục năm: 1945, Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt; 1955, người Mỹ thay chân người Pháp ở Việt Nam; 1965, Mỹ đổ quân trực tiếp tham chiến; 1975, người Mỹ cuốn cờ ra đi. Như vậy, ít ra, năm 1985, Cộng Sản mới chuyển mình, mười năm sau mới thay đổi, và sau năm hai ngàn mới thấy những biến chuyển trọng đại. Anh lên tiếng than: “Dài quá! Sức mình không chờ nỗi.” Rồi anh thở dài. Tội nghiệp cho anh. Anh biết cái chết không còn xa với anh nữa. Con ngựa ký đã gối mỏi chân chồn trên con đường thiên lý.

Anh Minh thân mến,

Thế hệ chúng ta gánh chịu quá nhiều đau khổ, phải không anh? Lịch sử đất nước chúng ta chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến tương tàn dai dẳng như cuộc chiến vừa qua: Những ba mươi năm!

Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, chỉ mấy năm là giành được độc lập. Lê Lợi chỉ có “Mười năm bình định giặc Minh”. Lâu dài như “Nam Bắc phân tranh” giữa Trịnh Nguyễn thì đánh nhau cũng chỉ có 7 trận hai bên bờ sông Gianh. Cũng chưa đầy hai mươi năm, Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn, “thống nhất sơn hà.”

Cuộc chiến tranh của thời đại chúng ta là ngu muội nhất. Với sự hỗ trợ từ bên ngoài, vũ khí từ bên ngoài, chúng ta đánh nhau trối chết, giết nhau rất tận tình mà dân tộc chúng ta thì chẳng có lợi gì trong đó cả.

Chúng ta có lý tưởng đấy chứ, sao lại không?

Chúng ta chiến đấu cho Tự Do, nhưng khi cần thì cái gọi là “Thế giới Tự Do” bán đứng chúng ta cho Cộng Sản.

Chúng ta, dân tộc chúng ta gánh chịu nhiều gian lao, nhiều hy sinh để nhân loại thắng Cộng Sản. Đớn đau chính là chỗ đó vậy. Anh đã chết! Nhưng tôi vẫn cứ hỏi anh một điều, từ 1945 đến giờ, gia đình Việt Nam nào không có người chết, nghĩa là người “hy sinh” trong chiến tranh, hoặc sau chiến tranh như anh. Gia đình nào cũng có bàn thờ, thờ một “người lính” đã được “Tổ Quốc Ghi Ơn”.

Gia đình tôi cũng vậy đó anh. Mẹ tôi sinh bốn người con trai. Anh cả tôi bị giết vì chống Pháp, em út tôi, hy sinh trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi nó dẫn lính về đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi cổ thành Quảng Trị, giành lại quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của anh em chúng tôi.

Chúng ta đã hy sinh cho đời, cho dân tộc quá nhiều. Mồ hôi, nước mắt, xương máu và cả tính mạng. Đời cho ta cái gì? Tù tội như tôi hay nằm xuống lòng đất như anh?

Một hôm đi cuốc đất ngang vườn xoài – Nghĩa địa tù, nơi anh nằm lại đó! Tôi ngoái cổ vào cố tìm mộ anh mà không thấy.

Thật ra, thì có nghĩa lý gì đâu một nấm mồ hoang, một nắm xương tàn. Nhưng khi nhìn vào nghĩa trang ấy, tôi thấy lòng tôi thương anh lắm! Mà khóc cho anh thì tôi không còn khóc được nữa. Ngay cả những người bạn tù, khi liệm anh vào hòm, khi khiêng anh đem đi chôn, họ cũng thương anh lắm. Nhưng họ cũng như tôi, khóc cho anh thì họ cũng không thể khóc được. Biết đâu trong số họ, trong số những người tù Cộng Sản, họ cũng mong ước được như anh.

Nằm im trong mấy tấm ván gỗ tạp, thế là khỏe! Khỏe thật sự! Thế là không còn nhớ, không còn thương; cả oán trách, thù hận cũng không!

Anh biết quá rõ cuộc đời nầy là hư ảo, bởi vì đời anh, anh đã qua biết bao nhiêu rối loạn. Thời kháng chiến chống Pháp, không chịu nỗi Việt Minh, bỏ mà về. Đó không phải là sự rối loạn đầu tiên trong đời anh sao?! Năm 1954, di cư vào miền Nam hàng triệu người, đó là sự rối loạn của dân tộc nhưng cũng có anh trong đó. Lại vì sự “Rối loạn miền Trung” như báo chí hồi ấy gọi, anh mất chức trưởng ty. Sự mất chức nầy, anh tiến mà thoái cũng được, nhưng vợ anh thì không. Vợ anh không lùi được. Ngày vợ anh lấy chồng khác, lòng anh “rối loạn” tơi bời. Ba mươi tháng Tư, “rối loạn” cả miền Nam.

Đời anh quá nhiều rối loạn, và anh chết vì sự rối loạn đó, mỗi lúc chết một ít, chứ anh đâu có phải chỉ vì một sự “Rối loạn đường tiêu hóa” để ra người thiên cổ như “bác sĩ” Hảo nói đâu!

Anh Minh thân mến,

Chung trại tù với anh sáu năm, tôi buồn cho anh, thương anh và phục anh nhiều lắm. Thành ra cái chết của anh cứ ám ảnh tôi hoài. Tôi định viết về cuộc đời của anh, ít ra, cũng thời gian chúng ta gặp nhau trong trại tù Cộng Sản. Để làm chi vậy? Tôi có bổn phận hay hứa hẹn gì với anh đâu! Nhưng tôi cứ nghĩ rằng nếu tôi viết được những gì về anh, lòng tôi sẽ nhẹ nhõm lắm, bớt đi những nỗi nhớ, nỗi thương, nỗi tiếc…

Với lại, may ra các con anh ở đâu đấy, chúng nó sẽ đọc bài tôi viết về anh. Chúng sẽ tự hào chứ anh! Có một người cha giữ được tiết tháo của mình, sự trong sạch và đứng đắn của mình, lòng tự trọng và không quì xuống trước mặt kẻ thù cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay trong trại tù Cộng Sản, là điều đáng quí và tự hào lắm.

Hồi còn ở Việt nam, có những buổi chiều buồn, tôi ra ngồi ở  bờ sông Thanh Đa, nhìn ra sông Saigon lững lờ chảy xuôi mà tiếc rằng cuộc đời chúng ta đã không được êm đềm như vậy.

Cuộc đời những thanh niên thuộc thế hệ chúng ta bao giờ cũng cuồn cuộn như thác lũ. Tiếng bom, tiếng đại bác, tiếng súng trường, súng liên thanh, tiếng máy bay, xe tăng gầm thét, bao giờ cũng đánh thức chúng ta dậy, gọi ta đi…

Và chúng ta đã trải qua những đoạn đường binh lửa, thật dài.

Dù tôi không trở lại chiến trường cũ, dù tôi không còn đi ngang nghĩa địa Vườn Xoài, nơi anh còn nằm đó, nhưng trí tôi không bao giờ nguôi được những hình ảnh của cuộc chiến đấu ngày trước với những nỗi băn khoăn, nhớ thương như trong mấy câu thơ Chinh Phụ Ngâm:

                        “Dấu binh lửa nước non như cũ,

                        Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

                        Phận trai già ruỗi chiến trường,

                        Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về”    

Ôi! Ban Siêu! Nhà ngươi sung sướng hơn ta nhiều lắm!

Bảy mươi tuổi, nhà ngươi đi đánh giặc trở về, và từ đó, ngươi được sống một đời êm ấm. Còn ta? Ta giã từ vũ khí khi ta mới bốn mươi tuổi đầu, bước vào vòng tù tội tính bằng con số “chục” năm và bạn ta thì không bao giờ về, không bao giờ về nữa.

Anh Minh thân mến,

Từ nơi bờ sông Saigon đó, tôi viết được một ít về anh. Tiếc thay, bọn Cộng Sản đã đến nhà kiếm tôi, khiến tôi phải bỏ bản thảo mà chạy lấy thân.

Nay ở trên bờ biển đảo Bidong nầy, vẫn một nỗi ray rứt như ngày trước, không một chút nguôi ngoai, không bớt đi một chút nào, tôi lại viết về anh. Tôi biết chắc chẳng có đứa nào dám đến tịch thu bản thảo của tôi một lần thứ hai nữa./

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long hải

Posted on 14 Aug 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Tiên “rái cá”

Bài 26

Sau khì bị bắt, giải về trại cũ, TRịnh X. Ch. vào cát-xô ngay.

Phía sau “Trại Đá”, trại mới xây bằng gạch “lốc” rất kiên cố, là bốn “biệt thự” ngói đỏ. Chúng tôi gọi đùa là “biệt thự”, thực ra đó là bốn ngôi nhà lợp ngói đỏ. Mỗi nhà chia làm bốn phòng có bốn cửa riêng. Mỗi phòng là mỗi cát-xô để giam tù “bị kỷ luật”, như ai trốn trại, có hành động, tư tưởng hay tuyên truyền “chống phá cách mạng”, v.v… và, v.v…

Mỗi phòng có một sạp gỗ để nằm, một cây sắt dài và to gần bằng cán cuốc, một đầu ở phía ngoài vách nhà, thọc qua bức tường đi tuốt vào một phòng nhỏ ở phía trong. Đầu trong có ổ khóa to, ở trong cái phòng ấy.

Chân người bị “cát xô” bao giờ cũng bị cùm, bằng một cái cùm chữ U, lòn qua thanh sắt ấy.  Bọn Công An đi tuần, đứng phía ngoài cửa, cầm đầu thanh sắt, thọc tới, kéo lui vài cái, làm cho thanh sắt chuyển động và xiết vào chân người tù, đau lắm. Người tù la lên. Thế là chúng yên tâm. Tù còn trong phòng, chưa trốn đi đâu. Mỗi phiên đi tuần cách nhau khoảng một giờ đồng hồ. Cứ đầu phiên, đi qua mỗi phòng, chúng cầm thanh sắt kéo lui kéo tới như vậy để canh chừng người tù.

Dù người tù muốn ngủ cũng không ngủ được, coi như bị đánh thức từng giờ một. Có người nói đùa: “Đi tù cải tạo, phải vô “cát-xô” một lần cho thấm “mùi tù”. Tố Hữu, Lê Duẫn dù có bị Tây bỏ tù, cũng chưa bao giờ thấm cái “mùi tù” như thế nầy.”

Có người sợ cái “mùi tù” ấy, nhưng cũng có người coi như pha, vào ra “cát-xô” như cơm bữa, như Võ Phước Thọ chẳng hạn (Võ Phước Thọ ra tù cùng một lần với tôi, năm 1982, được ít tháng thì bị hậu bệnh mà qua đời. Hậu bệnh là vì trong tù anh ấy bị Công An đánh nhiều lần, rất tàn bạo!)

Hỏi Thọ về chuyện “Khách không mời mà đến cát-xô”, anh ta chỉ cười, nói nhỏ: “Nhằm nhò gì. Riết rồi người ta cũng lì đòn!”

Ngày đầu tiên vào “cát-xô”, đến chiều mới được “trật tự” (1XXXXX) đem “cơm” chiều tới. Gọi là cơm nhưng thật ra đó là chén bắp nguyên hột (nguyên vỏ), hay chén khoai mì, thêm một chút nước muối. Vậy thôi!

Khi trật tự đem “cơm” vào, tên Công An giữ chìa khóa phải vào mở cửa cát-xô, chờ khi giao “cơm” xong thì đóng cửa lại.

Tuy nhiên, đối với những người vào cát-xô ngày đầu tiên, dù có vào ra nhiều lần như Thọ, thì bao giờ cũng bị đánh một trận tơi bời!

Sau khi anh chàng trật tự giao cơm xong ra về, tên Công An giữ chìa khóa còn đứng lại đó, cửa cát-xô còn mở thì ba bốn tên Công An cùng vào, “chơi hội đồng”.

Chúng bắt người tù đứng thẳng lên, tay bị còng, chân bị cùm. Thế là bốn tên đứng bốn góc, thi nhau đấm thật mạnh vào mặt, vào bụng người tù một cách “anh hùng” và “vinh quang” như đảng hô hào.

Tên Công An bên phía nầy đánh cho người tù té qua phía bên kia. Tên Công An phía bên kia đánh người tù té qua phía nọ. Người tù gượng đứng lên thì bị chúng đánh cho gục xuống. Bị gục xuống thì tụi Công An đá vào người tù bắt đứng lên để tụi nó đánh tiếp.

Người tù không có cách gì để chống đỡ hay né tránh được. Cuối cùng, không còn sức chịu đựng được nữa, người tù té gục xuống sàn, nằm im, ngất xỉu, bất động. Bấy giờ mấy tên Công An mới kéo nhau ra về, nói cười hớn hở, hả hê như vừa thắng một trận lớn, “đem vinh quang về cho đảng”.

Người tù thì nằm lại đó, tay chân mình mẩy người tù đau đớn, ê ẩm, không nhúc nhích gì được, rên rỉ suốt đêm.

Chén thức ăn để lại đó, không đậy che gì cả, mặc cho dán, ruồi bu, đậu đen thui.

Ở trại Z-30A những tên ưa đánh tù nhứt là “cán bộ” Lở, Chinh, Tuyên, Lâm (trực trại), Viễn (trực trại), Nhâm (mắt trắng môi thâm), Khoái (dáng người giống “đại tướng anh hùng thước mốt”. Trong các tên nầy, Lở là tên tàn bạo nhứt, ít khi vắng mặt trong những lần đánh tù như thế.

Cấp trên của chúng có biết việc đánh tù của chúng không?

Biết chứ!

Nhưng những cấp trên của bọn chúng như thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục”, trung úy Lê Ngọc (2), đại úy Mai Văn Lớn, đại úy Hoàng Nhân, và cả trung tá Trịnh Văn Thích, trại trưởng nữa đều làm ngơ. Chúng muốn “dằn mặt” người tù đấy. Đó là “chính sách” của bọn chúng!

Sau trận “đòn hội chợ”, Trịnh X. Ch. nằm liệt ba ngày không nhúc nhích, tưởng như đã chết. Anh ta nhỏ con, dáng bộ thư sinh, yếu ốm, lại bị suyễn, “trói gà không chặt”, cả đời chỉ biết có sách vở thì làm sao chịu nỗi trận đòn hôm đầu tiên vào cát-xô.

Cũng may, ngày thứ ba, thêm một người được giam chung với anh. Ban đầu, Trịnh X. Ch. hơi nghi, hỏi thẳng:

– “Chúng nó đưa anh vào đây để theo dõi tôi phải không?”

Người ấy, còn trẻ lắm, mới trên 20 tuổi, nói với anh, giọng cũng gay gắt:

– “Lạy Chúa tôi! Anh nghĩ tôi là cái gì mà hỏi như thế? Tôi chẳng thèm nói chuyện với anh đâu. Ở đời, chuyện gì rồi ai cũng biết. Tôi có làm tay sai cho chúng nó, cũng có ngày anh sẽ biết!”

Thế là hai người găng nhau, chẳng ai nói với ai lời gì nữa. Đêm, Trịnh X. Ch. đau khắp mình mẫy, hễ trở mình là rên.

Người tù trẻ, tên Tiên, hỏi Trịnh X. Ch., giọng ân cần:

-“Anh đau ở đâu, để em xoa nhẹ nhẹ lên, không có dầu

nhưng cũng đỡ lắm.”

Trịnh X. Ch. nằm im, để cho người tù trẻ giúp mình.

Qua ngày hôm sau, hai người tù cát-xô bắt đầu chuyện trò.

Tiên nói:

– “Đời tù mà anh. Mình phải tìm cái gì để quên đi, an ủi nhau.”

Trịnh X. Ch. trả lời:

– “Anh nói được câu ấy cũng là hay lắm đấy. Không tự mình làm cho mình nguôi ngoai thì đời tù hay đời thường chỉ thêm buồn mà thôi.”

Bỗng Tiên hát nho nhỏ “Tìm quên đi! Thôi còn cay đắng làm gì?” Rồi Tiên nói tiếp: “Đâu có chỉ quên chuyện tình yêu mà thôi. Đời lính, đời tù, có nhiều cái không những chỉ tha thứ mà còn phải quên.”

Trịnh X. Ch. hỏi, giọng nhẹ nhàng hơn:

– “Anh có ở lính?”

– “Có chứ anh. Em tình nguyện vào lính khi chưa đủ mười tám tuổi.”

&

Mấy năm đầu khi mới lập trại Z-30A, doanh trại quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũ trên “đồi Phượng Vĩ”, – cái tên nghe thơ văn thật, đúng là dân tiểu tư sản đi đánh giặc vô sản -, được dùng làm nơi giam tù, gọi là Trại A.

Trại nằm trên đồi cao, thiếu nước. Vì vậy, mỗi chiều, khi các đội đi lao động, trên đường về thì quản giáo và bọn cán bộ Công An bảo vệ cho toàn đội ghé lại một cái ao nước hay vũng nước nào đó, bên cạnh đường về, để tắm rửa.

Thường ngày, đội của Tiên được phép ghé lại một cái ao nhỏ, bằng nửa cái sân bóng chuyền, tắm táp, rửa ráy.

Quản giáo và tên Công An bảo vệ ngồi trên khúc cây gần đó, chuyện trò với nhau, chờ tù tắm xong thì về.

Việc ấy xảy ra đều đặn như thế hằng ngày, thành thói quen.

Cựu đại úy Hùng, Biệt Động Quân cùng với Tiên lặng lẽ đi lại phía sau hai tên Công An, – như đã nghiên cứu và bàn định từ trước -, Hùng cầm một cục đá lớn đánh vào đầu quản giáo. Tên nầy gục xuống. Hùng cướp ngay cây súng ru-lô đeo bên hông quản giáo. Tiên thì cướp súng tên Công An bảo vệ. Hai bên đang giằng co thì Hùng cầm cây súng ru-lô trong tay, bắn vào tên Công An. Tên nầy chết liền tại chỗ.

Việc xảy ra nhanh như cắt, không thua gì trong ciné. Ngoại trừ Tiên và Hùng bàn bạc với nhau, cả đội không ai biết trước, chưng hửng, có người chưa kịp biết chuyện gì xảy ra thì Hùng đã hô to:

-“Anh em! Ai muốn trốn trại theo tôi.”

Nói xong, anh chạy về hướng núi Chứa Chan. Tiên và một số tù nữa chạy theo, tất cả 19 người. Những người khác, cũng khoảng hơn 2 chục ở lại, cam chịu tiếp tục số phận người tù.

Lúc ấy, có một đội tù khác cũng trên đường về, cách đó không xa, chưa biết chuyện gì nhưng thấy một số người chạy về hướng núi, bọn Công An đội ấy biết có “sự biến” xảy ra, bèn bắn súng báo động.

Bọn Công An trên đồi Phượng Vĩ, nghe súng báo động bèn cầm súng chạy xuống đồi, đuổi theo đám người đang chạy lúp xúp về hướng núi Chứa Chan.

Công An vừa chạy vừa la to “Đứng lại! Đứng lại!” và bắn thẳng vào đám tù đang chạy trốn phía trước. May mắn, đạn chẳng trúng ai! Đám tù trốn vẫn cứ chạy.

Tiên nghĩ: Tới được chân núi là an toàn. Tới đó, cây rừng rậm rạp, chúng nó không dám đuổi theo.

Bỗng có một người không chạy nữa. Anh ta đứng lại, hai tay đưa lên trời, la to “Tôi đầu hang! Tôi đầu hang!”

Nghe tiếng, Tiên quay lại. Thì ra đó là một chú ba Chợ Lớn. Anh nầy bị tù vì tội vượt biên. Tiên chưởi thầm “Thằng mập. Ăn cho nhiều vào, động sự mới biết mấy thằng mập chẳng làm được gì!”

Đoán biết bọn Công An sẽ loay hoay với “thằng mập”, Tiên la to, khuyến khích anh em: “Gắng lên! Gắng lên, sắp tới núi rồi.”

Trong khi đang chạy, cựu đại úy Hùng đổi cây súng cho Tiên. Nắm cây CKC trong tay, Hùng nói: “Chạy tiếp đi.” Rồi anh ta đứng lại, nằm sát mặt đất, sau một thân cây gãy. Hùng mở cơ bẫm, lên đạn, kê súng lên thân cây, nhắm.

Tên Công an chạy đầu trong nhóm có lẽ là một cán bộ chỉ huy. Nó không mang súng dài, trong tay chỉ có cây ru-lô. Vừa chạy nó vừa la “Đứng lại”, cây súng vung vẫy. Đúng lúc ấy thì Hùng bóp cò.

Sau tiếng nổ, Hùng không còn thấy tên Công An đang chạy trên đường mòn ở đâu nữa. Nó đã lăn xuống bên cạnh, nằm im. Bọn chạy sau, đứa nằm xuống tránh đạn, đứa xúm quanh tên bị bắn.

Hùng vùng dậy thật nhanh, chạy theo đám trốn tù.

Mười tám người còn lại chạy tới núi, cố leo lên sườn núi cao và dốc. Đúng như Tiên nghĩ, bọn Công An dừng lại phía dưới, không dám đuổi theo. Chúng nó sợ bọn Tiên phục kích. Bọn Tiên có hai cây súng.

Đó là lần thứ nhất Tiên trốn trại!

&

Cha của Tiên tử trận khi anh ta mới 6 tuổi. Mẹ Tiên một thân một mình nuôi bốn đứa con. Tiên thứ Tư, đứa út là con gái.

Quê Tiên ở Cà Mau. Nếu không có chiến tranh, mẹ Tiên với các con cũng có thể sống ở quê được. Vì là một xóm đạo, chống Cộng rất căng nên ấp của Tiên bị tấn công những mấy bận, hết nhà nầy tới nhà khác bị đốt, bị quăng lựu đạn phá nát. Không ở được, mẹ Tiên đem các con lên sống ở Nhà Bè. Tiên bỏ học.

Sinh ra ở vùng sông nước, về Nhà Bè, cũng là vùng sông nước; nhà nghèo, Tiên không đi học nữa. Mười lăm tuổi, Tiên theo các đàn anh “hành hiệp” trên sông Lòng Tào.

Nhờ bơi giỏi, lặn sâu và xa, như một con rái cá, lần hồi Tiên được đàn anh giao nhiều công việc quan trọng.

Không một chiếc tầu buôn nào đi vào sông Lòng Tào mà Tiên không quăng giây leo lên được. Không có một ổ khóa nào trên Tầu, dù khóa ngoại mà Tiên không mở được. Đám của Tiên chỉ ăn cắp hàng trên tàu, không làm ăn cướp.

Sự tài tình của Tiên và các “đồng nghiệp” không dễ khiến cả đám bị bắt khi đang ăn hàng. Nếu xui, có bị phát giác ngay tại trận, cách thoát thân hay nhất là nhảy xuống sông, lặn một mạch. Thủy thủ tầu hàng ngoại quốc chẳng đưa súng bắn theo bao giờ, cũng không đuổi theo bao giờ.

Thế rồi năm 17 tuổi, chán cảnh sông nước nầy, Tiên đi lính. Cha của Tiên đã vì nước hy sinh nên Tiên không thấy e ngại hay sợ hãi trong việc nhập ngũ.

Tiên vào Thủy Quân Lục Chiến, đơn vị ở miền Trung, chưa đánh trận nào đã “di tản”. Về tới Saigon, đơn vị tan rã, Tiên về Nhà Bè tìm mẹ, kiếm sống.

Sau 30 tháng Tư, Tiên gặp giới giang hồ cũ, lại tụ tập nhau, tiếp tục cuộc sống cũ như trước khi đăng lính, tuy tầu hàng bây giờ số lượng ít hơn, Tiên vẫn sống được. Rồi Tiên cặp với một cô gái sống như vợ chồng.

Một hôm, Tiên gặp một cô nữ quân nhân chế độ cũ, sau khi “tan hàng” về sống cùng xóm. Cô ta nói với Tiên:

– “Người ta đang tập trung trong Rừng Sát, sao không vô đó góp sức với anh em?”

Thế là Tiên tìm vô Rừng Sát. Gặp một số anh em đang ẩn núp trong đó. Ban đầu, họ tuyên truyền nghe ngon lắm, nói là tướng Kỳ từ Mỹ về chỉ huy, đem theo vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực, tái lập quân đội.

Sống với họ cả tháng trời, Tiên chẳng thấy gì hết. Súng thì lượm súng cũ mà xài. Ai kiếm được súng gì xài súng đó. Đạn dược không có, lương thực không có. Lội sình lội suối, áo quần càng ngày càng rách nát.

Bọn Bộ Đội thì lùng sục. Nhóm của Tiên, chưa tới 10 người không dám chống lại, một là vì quân số ít, hai là không dám bắn, sợ hết đạn. Lần hồi, không thấy gì, trong cảnh tuyệt vọng, anh em bỏ ra về. Ai vô trước, về trước; ai vô sau về sau. Tiên cũng về.

Sau khi bỏ nhà đi hơn một tháng, Tiên trở về thì vợ Tiên đã cặp với một tên cán bộ. Biết Tiên vô Rừng Sát, tên cán bộ báo cáo với Công An ngay chiều hôm Tiên mới về.

Chưa làm được gì mà ở tù, lãng xẹt, Tiên tự giận mình.

Sau khi Công An điều tra, giam mấy tháng ở khám Chí Hòa, Tiên được chuyển về trại Z-30A trên đồi Phượng Vĩ, chung đội với đại úy Hùng. Hai người nghiên cứu thực hiện chuyến trốn trại làm chấn động tất cả anh em ở khu trại nầy, gồm cả ba phân trại A, B, C.

&

– “Em muốn khùng lên khi lên tới đỉnh núi Chứa Chan.”

– “Sao vậy?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Anh thấy ngọn núi nhỏ vậy mà suốt ba ngày quanh quẩn trên đỉnh núi, tìm không được lối ra. Ngày thứ ba, chui ra khỏi rừng, tưởng là xuống phía sườn bên kia thì lại là phía sườn bên nầy. Khu trại tù hiện ngay trước mặt. Lại leo ngược lên, vòng qua đồi bên kia, xác định bằng con đường xe lửa đi sát chân núi rồi theo phía đó mà xuống núi.

– “Ông có biết người ta gọi núi Chứa Chan là cái gì không? Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Không!” Tiên trả lời.

– “Nó giống như tình cảnh của ông vậy. “Chứa chan! Chán chưa?” Hoặc là “Chứa Chan, Chan Chứa”. “Chan chứa, Chưa Chán.”

“Tiên cười:

– “Chưa Chán cái mẹ gì! Ba ngày chưa ra khỏi núi. Núi không có cây ăn trái, tre thì nhiều, nhưng măng tre có ăn sống được đâu. Ăn măng sống, xót ruột lắm.”

“Một lúc, Tiên kể tiếp:

-“Tới chân núi rồi, cả bọn bàn nhau tìm đường về. Anh em chia làm hai nhóm nhỏ. Một nhóm băng rừng đi về hướng Đông Nam, ngã Bình Giả. Nghe nói ở đó có một nhóm Phục Quốc đang hoạt động. Nhóm ít hơn, cặp theo đường xe lửa tìm về Saigon. Em đi theo nhóm nầy.”

“Đại úy Hùng không theo ai hết, ông ở lại một mình, không rõ ông có ý định gì. Ít lâu sau, ông bị bắt lại và đã bị xử bắn rồi.

“Đi được ba hôm thì tới một cái rẫy. Ba bốn ngày nay, không có lương thực, đói lắm rồi, bèn vào rẫy, đào củ mì, đốt lửa nướng, ăn đỡ đói.

“Đang ngồi ăn thì có ông chủ rẫy đi tới. Ông ta dựng xe Honda phía ngoài, đi vào rẫy. Tụi em cũng bị bất thình lình, không trốn kịp. Ban đầu, ông ta tưởng lầm là dân chúng đói quá đi trộm mì mà thôi. Tuy nhiên, khi thấy đông người, ông ta sinh nghi. Ông ta tính chạy ra xe Honda lấy súng thì em đã phóng ra trước, chụp cây AK của ông ta rồi. Em nói to:

– “Đưa tay lên, tôi bắn.”

“Ông ta quỳ xuống, lạy lục, xin tha mạng. Có lẽ ông ta đoán chừng bọn em là một nhóm Phục Quốc. Ông ta khai là cán bộ, vô bưng mấy năm, nay về địa phương, phá đất làm rẫy, không hoạt động gì cho “cách mạng” nữa cả. Vì là cán bộ cũ nên được cấp súng để tối tối chỉ huy bọn dân phòng.

“Em không giết ông ta nhưng xả xì cả hai vỏ xe, đề phòng ông ta chạy xe đi báo với đồng bọn.

“Xong, cả đám tiếp tục đi về phía Nam. Trên đường đi, đứa nào tách riêng ra được thì tách, tìm đường về nhà. Sau ba ngày nữa, về tới Biên Hòa, chỉ còn mình em. Em lại tìm về nhà.

&

“Nhóm về Bình Giả, gặp Phục Quốc, hợp chung lại thành một. Vừa lúc tụi Việt Cộng huy động một hay hai đơn vị gì đó vây bắt, tấn công, đánh một trận lớn. Nghe nói chẳng người nào sống sót.

Vừa là vụ Bình Giả, vừa là vụ trốn trại có giết người, tụi Công An lùng bắt dữ lắm. Không dám về Nhà Bè, ở Saigon em nhắn tin về nhà, mẹ em biểu đừng về. Nhà đang bị Công An theo dõi. Em bèn vô Bình Đông, tạm làm phu khuân vác gạo, chưa được mấy hôm thì tụi Công An vào tận kho, còng tay em dẫn đi.

&

Sau mấy hôm giam chung với Trịnh X. Ch., Tiên bị chuyển qua phòng bên cạnh sau khi phòng nầy đã hoàn chỉnh các “trang bị” dành cho cát-xô. Các “biệt thự” nầy được xử dụng hơi sớm, xây đã xong nhưng phía trong, “nội thất” chưa hoàn tất thì đã có “khách” đến rồi. Tuy nhiên, với Tiên, bọn Công An không “chủ quan” được. Chúng chờ phòng bên cạnh có đủ cùm, khóa, v.v… thì Tiên mới được chuyển qua.

Mặc dù việc chuyển phòng thường đột ngột, không biết trước, nhưng trước hôm chuyển đi, Tiên nói với Trịnh X. Ch.:

– “Thế nào em cũng trốn trại.”

– “Cùm như thế nầy, làm sao trốn được.”

– “Ầy! dễ ợt!” Tiên nói. “Em thủ được cọng kẽm rồi. Khóa nầy em mở như không.”

– “Khóa nầy là khóa Chợ Lớn, phải không?” Trịnh X. Ch. hỏi.

– “Nhìn qua, biết ngay. Khóa ngoại trên tầu chở hàng, em còn mở được.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng thép?” Trịnh X. Ch. hỏi, hồ nghi.

– “Hình như trời cho cái năng khiếu anh à. Tụi em hồi đó cũng ngạc nhiên tài mở khóa của em. Em thọc cọng kẽm vào, chút xíu là xong.” Tiên giải thích, tự nhiên, không có vẻ tự hào chút nào.

– “Tiên có cọng kẽm rồi?” Nghĩa hỏi. “Ổ khóa nằm phía trong buồng nhỏ, làm sao mở?”

– “Để em nói cho nghe. Em lần vào sát vách trong, chồm người ra cửa phòng nhỏ, ngoái người vào, vói tay vào trong. Vói tay vào tới ổ khóa là được.” Tiên giải thích.

– “Lỡ khi Công an khóa cửa phòng nhỏ?” Nghĩa hỏi.

– “Thì mình mở phòng đó trước, mở khóa phòng trong sau.” Tiên nói.

– “Chỉ với một cọng kẻm?

– “Có rồi, dấu kỹ lắm. Chuẩn bị xong, anh với em cùng dông?”

Trịnh X. Ch. nín thinh, không trả lời Tiên.

Tiên bị chuyển phòng được ba hôm thì một đêm quá khuya, Tiên mở cùm cho anh ta xong, để thanh sắt nằm đúng vị trí cũ, leo lên trần nhà. – Trần nhà lúc nầy chưa đóng ván xong. Sau vụ Tiên trốn, chúng đóng ván kỹ và đổ mạt cưa lên trên thật dày. – Theo trần nhà, Tiên leo xuống phòng Trịnh X. Ch., rủ anh trốn.

Trịnh X. Ch. không đi. Anh không có nơi ẩn náu tại Saigon.

Nói hoài không được, Tiên lại leo lên mái, dở ngói chui ra ngoài rồi leo hàng rào đi mất.

Sáng, cán bộ Chinh đến mở cửa cho tù đi đổ cầu.

Khi cửa phòng Tiên mở ra, Chinh chưng hửng. Cát-xô trống hốc, không có ai cả. Chinh nhìn lên mái ngói: Một lỗ hổng vừa một người chui lọt. Chinh thổi còi báo động. Công An tập trung truy kích nhưng không biết truy kích hướng nào.

Từ cát-xô mà trốn đi được, ai cũng phục Tiên tài tình.  Đó là sự việc xảy ra đầu tiên ở trại Z-30A khiến Công

An cũng ngạc nhiên, phục tài người tù trốn trại.

Nhưng rồi Tiên lại bị bắt lần nữa. Lần nầy không ai được gần Tiên để nghe anh kể chuyện trốn trại và bị bắt như thế nào.

Và bọn Công An xúm nhau đánh đập Tiên không chỉ một lần như trước kia mà nhiều lần, đánh nhiều ngày, đánh một cách tàn bạo, dữ dằn, “vinh quang”, lại bỏ đói anh nhiều ngày.

Mãi đến mấy hôm sau, khi “trật tự” đem cơm vào cho Tiên, thấy Tiên nằm bất động. Gọi tên, anh không ừ hử gì cả. “Trật tự” cầm tay Tiên lay thử. Tay lạnh ngắt.

Tiên đã chết từ hồi nào!

hoànglonghải

(1) “Trật tự”, cũng là tù nhưng bọn Công An cho đứng ra làm tay sai, như tiếng “cặp rằn” ngày truớc vậy. Làm trật tự được Việt Cộng cho vài “ưu đãi” nhưng bị anh em tù chưởi cũng không ít.

(2) Người Bắc, vào Nam hoạt động khoảng thập niên 1960, nằm vùng ở Saigon, chạy xe ba gác chợ Cầu Muối, có đủ giấy căn cước và giấy tờ hợp lệ quân dịch. Sau 30 tháng Tư 1975, y mang loon trung úy Công An.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 August 2015 

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

 “Sắc bất ba đào…”

Bài 25

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(Nguyễn Giản Thanh)

Trịnh X. Ch., sau 3 tháng nằm “cát-xô” (cachot) (1), được tha ra, “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy) về đội của tôi, tức là đội cũ của anh.

Vì anh về đội tôi chưa lâu thì trốn trại, nên anh em trong đội, ít người biết anh, ngay cả tôi cũng vậy! Tuy vậy, nghe mới ra khỏi cát-xô, anh em ai cũng mừng. Mừng, vì “bạn tù” được ra khỏi “cát-xô”, mừng vì anh là người “nổi tiếng” trong việc trốn trại vừa qua.

Trốn trại như anh, thật là “quái kiệt”. “Quái kiệt” là biệt danh, Trần Phú Trắc tặng cho anh, sau khi anh trốn trại.

Trịnh X. Ch. cùng ở trại Suối Máu với chúng tôi. Trại nầy do “bộ đội quản lý”. Anh được đưa đi lao động ở Trảng Táo. Đi Trảng Táo là được coi như thành phần nhẹ “nợ máu với nhân dân”. Chúng tôi, “nặng tội” hơn, thay vì đi Trảng Táo thì bị bàn giao cho Công An, đưa về trại Xuân Lộc, Z-30A của bộ Nội Vụ.

Được hơn một năm, trại Trảng Táo giải tán. Tù ở đây, một số được tha. Số còn lại như Trịnh X. Ch, chưa “tha ra khỏi trại cải tạo” được thì đưa về trại Xuân Lộc. Anh em cũ lại gặp nhau.

Về được vài tuần lễ, Trịnh X.Ch. trốn trại.

Anh ta “điều nghiên” (cũng danh từ VC đấy) kỹ lắm. Đêm nào anh cũng cố thức thật khuya để canh giờ bọn Công An đi tuần bên ngoài. Cứ khoảng một tiếng, chúng đi rảo một vòng, rất đều đặn.

Muốn trốn, anh phải ra khỏi nhà giam ngay sau vòng đi rảo của tụi nó. Một giờ sau, khi đi rảo vòng kế tiếp, nếu chúng có phát hiện nơi anh mở vách chui ra, thì anh cũng đã đi xa rồi.

Anh cạy tấm ván ngay chỗ ngồi đi cầu, chỗ không ngờ nhất, đề phòng, hễ bất thường có ai đi vào nhà cầu vào lúc khuya, họ cũng tưởng anh đi cầu như họ.

Thứ hai, là việc leo qua hàng rào cây. Anh đã chuẩn bị một sợi giây thừng. Anh lén giấu sợi giây thừng trọng túi xách của anh. Khi chui ra khỏi nhà, anh mang sợi giây theo, tới sát hàng rào, Trịnh X. Ch. làm “tặc giăng” đu giây” – như chúng tôi gọi đùa. Anh quăng sợi giây thừng lên đầu hàng rào cây, rồi nắm giây leo lên, leo qua đầu hàng rào cao, nhảy xuống phía ngoài, lủi vào ruộng bắp, mất dạng.

Toán Công an đi phục kích ở ngoài, theo anh biết, chỉ phục kích phía bìa rừng xa. Anh không đi vào phía đó. Anh đi thẳng ra Ngã Ba Ông Đồn, ở đó, có bà Lệ Khanh, người quen của anh, giúp anh về Saigon trót lọt.

Buổi sáng, cán bộ trực trại vào mở cửa từng nhà giam, gọi tù ra sân kiểm tra nhân số. Đếm đi đếm lại, cứ thấy thiếu một người. Cán bộ sai đội trưởng vào xét lại trong nhà giam, không còn ai cả. Cán bộ đích thân vào xét, cũng chẳng thấy ai. Lại sắp hàng, lại đếm, lại thiếu mất một người. Cán bộ ra lệnh cho đội trưởng kiểm tra đội mình. Bấy giờ Trương Đình Gòn, đội trưởng đội 19 là đội của tôi, mới phát hiện thiếu mất Trịnh X. Ch. Vào nhà giam xét chỗ nằm của Nghĩa, chăn màn chưa xếp. Kiểm soát nhà cầu mới thấy một tấm ván bị cạy ra, một người chui lọt.

Trương Đình Gòn đi ra sân, tới bên chỗ đội đang sắp hàng, cười cười: “Dông rồi! Dông đâu hồi khuya rồi.”

Nghe Gòn nói, anh em ai cũng thấy vui. Thế là chấm dứt một đời tù.

Vốn tính hay đùa, Gòn nói to: “Anh em có ai biết Trịnh X. Ch. trốn hồi hôm không?”

“Hỏi bù trớt không!” Có người nói. Ai mà biết. Ai biết mà nói. Trần Phú Trắc đứng sau tôi nói đùa, nhỏ, sợ cán bộ nghe: “Có anh nào dân nước “Đại Ngu” thì báo cáo đi!”

Sở dĩ trong trại có danh từ “nước Đại Ngu” là tự tôi. Hôm họp đội, Trần Văn D. tố cáo “ông già Minh” khai bệnh giả để khỏi đi lao động, tôi gọi đùa D, là dân “nước Đại Ngu”.

Sau khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, ông đặt tên nước là “Đại Ngu” vì gốc Hồ Quý Ly là người nước Ngu bên Tầu. Tôi dùng chữ Ngu là để ám chỉ mấy người dại dột cứ nghe cán bộ xúi mà “đấu tranh để học tập tiến bộ”.

Hôm ấy, đội trưởng và hai người nằm hai bên Nghĩa được lệnh ở nhà để làm kiểm điểm. Ba người đó đều vui vì khỏi đi cuốc đất. Có người nói đùa với Gòn: “Ông biết nó trốn trại, còn giả bộ.” Gòn cười: “Biết thì tao theo nó rồi, giờ nầy đâu còn đây!” Rồi Gòn cười hề hề!

&

Khi Trịnh X.Ch. còn ở trại Trảng Táo, việc đi lại tương đối dễ, bộ đội không cấm ngặt, anh thường ra Ngã Ba Ông Đồn, ghé quán bà Lệ Khanh uống cà phê chơi. Hoặc anh có đi Biên Hòa hay Saigon, trên đường đi về, anh cũng ghé lại quán đó.

Trịnh X, Ch. là người Bắc, dân Hà Thành, con nhà dòng giống, cháu ông Trịnh Xuân Ngạn, Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Anh hơi nhỏ con, kiến thức sâu rộng, tài hoa, ăn nói hay, đậu cử nhân văn chương Pháp, tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Pháp văn, nhưng bỏ dạy, làm việc ở nhiều cơ quan thông tấn ở Saigon, ở Việt Tấn Xã, làm chuyên viên ở bộ Giáo Dục. Công việc cuối cùng của anh là chuyên viên bậc 2 ở “Văn Phòng Phụ Tá Ngoại Vụ” của “Tông tông”, (tông tông là tiếng lóng chúng tôi thường gọi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, bọn cán bộ không phát hiện được, mà cũng là tiếng thân mật, yêu kính của chúng tôi đối với ổng). Anh hơi kiêu ngạo.

Trước 30 tháng Tư ít hôm, khi “xếp” của anh, Ông Nguyễn Phú Đức, chuẩn bị di tản, Trịnh X. Ch. hỏi “xếp”:

– “Ông phụ tá đi rồi, còn anh em chúng tôi thì sao?”

Ông ta trả lời:

– “Những người như các anh, còn trẻ, nên ở lại để giúp nước.”

Nghe lời ông “phụ tá tông tông”, anh cho vợ con đi Pháp. Vợ anh là đầm Tây chính cống, quốc tịch Pháp. Vợ con anh lên Air France đi Paris, còn anh “ở lại giúp nước”, như lời ông phụ tá dặn dò.

Anh lầm, mà ông phụ tá tông tông, “xếp” của anh cũng lầm nốt. Anh thuộc “dạng chuyên”, không phải “dạng hồng”. Cộng Sản không cần “chuyên”, chỉ cần “hồng”. Vì vậy, có “chuyên” mà không có “hồng” thì vô tù.

Có lẽ bà Lệ Khanh biết và khâm phục cuộc đời anh như thế, nên sẵn sàng giúp anh trốn trại. Đêm trốn trại đó, anh ra tới nhà bà. Đã chuẩn bị sẵn, bà trao cho anh một số giấy tờ giả, khác tên, khác họ, và đón một chuyến xe đò quen, gởi anh về Saigon.

Trịnh X. Ch. không dám về nhà mình, tuy mẹ anh còn sống. Anh rất muốn về thăm mẹ. Anh cũng chẳng nương nhờ sinh sống ở nhà ai, sợ họ bị liên lụy. Hàng ngày anh lang thang ở Chợ Lớn, tránh Saigon là nơi anh nghĩ có người biết mặt, biết tên anh. Tối tối, anh thường chui vào nhà ga Saigon, kiếm một góc kẹt nào đó, ngủ qua đêm.

Saigon bấy giờ người ta ngủ đường ngủ chợ không thiếu gì, phần nhiều là những gia đình bị “đánh tư sản”: bị lấy mất nhà, hoặc đã đi Kinh Tế Mới nhưng không thể ở đó được nữa, liều về Saigon. Nhà cũ không còn, họ ăn đường ở chợ, sống lây lất được này nào hay ngày đó. Họ từng là những người giàu có, nệm ấm chăn êm, có người ở, có kẻ hầu. Họ từng là người lao động chân tay, buôn bưng bán gánh, một đời đã từng khổ cực, nay lại càng khổ cực hơn nữa. Trịnh X. Ch. có một cảm tưởng chung về họ: Những người ở cuối tầng địa ngục. Trong đó, có Trịnh X. Ch. sống lẫn lộn với họ.

Anh sống lang thang ở Saigon được một thời gian, bà Lệ Khanh cho một nguời liên lạc với anh, người ấy dẫn anh xuống Ngọc Hà, một làng nhỏ bên bờ sông Đồng Tranh, chờ chuyến vượt biên.

Nhà anh ở tạm tại Ngọc Hà là nhà một người Tầu. Hôm trước, có đám vượt biên bị bể, “khách hàng” chạy tán loạn cả. Ngày sau đó, Công an lục soát từng nhà, Trịnh X. Ch. bị giữ. Chúng nghi ngờ giấy chứng minh của anh là giấy giả.

Xui cho Trịnh X. Ch. là, Xuân Lộc, nơi anh trốn trại thuộc tỉnh Đồng Nai, đã có lệnh tầm nã anh. Nơi Trịnh X. Ch. bị bắt, ấp Ngọc Hà, cũng thuộc Đồng Nai. Công An đối chiếu giấy tờ, nghi ngờ nhưng không khai thác được gì vì anh một mực không khai tên thật, dù bị Công An điều tra gắt gao, thậm chí đánh đập, giam riêng, bỏ đói. Trịnh X. Ch. không nhận tên mình, trốn trại Xuân Lộc, và cứ theo tên giả mà khai, khai về Ngọc Hà kiếm đất trồng màu. Cuộc điều tra kéo dài hơn một tháng, “bất phân thắng bại”.

Một hôm, chúng dẫn anh lên văn phòng, cởi còng, cho ngồi chờ thì tên H. xuất hiện ngoài cửa. H. chỉ đi ngang, nhìn Trịnh X. Ch. rất lâu rồi đi luôn.

Sau đó, tên trung sĩ Công An thường điều tra Trịnh X. Ch., gọi anh vào, hỏi:

– “Thế “lào”! Anh chịu khai thật chưa?”

Trịnh X. Ch. nói, giọng bình tĩnh:

– “Vâng! Tôi là Trịnh X. Ch.!”

Chỉ cần nghe chừng đó, tên Công An ngữa người ra lưng ghế, cười ha hả, chiến thắng!

&

Hôm đó chủ nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi ngồi vây quanh Trịnh X. Ch. Nghe anh kể chuyện. Nghe đến đó, hai ba người cùng hỏi:

– “H. là thằng nào?”

– “H. là thằng nào?”

Trịnh X. Ch. nói:

– “Bọn Bắc kỳ 75 nầy ghê lắm, khôn ngoan, mưu mẹo, xảo quyệt, thủ đoạn… Tên điều tra tôi là một thằng trung sĩ, nhưng so với một thiếu úy Cảnh Sát miền Nam trước đây, nó khôn hơn, gian manh hơn, thủ đoạn hơn nhiều lắm. Dân Nam Bộ khó chơi lại dân Bắc Kỳ!”

Nghe nói thế, chúng tôi cười: Trịnh X. Ch. cũng là dân Bắc Kỳ, hay nói đúng hơn là “Dân Hà Nội thanh lịch”.

&

Bà Khanh, tên gọi thường là Lệ Khanh, đẹp, sắc sảo, dân Saigon, cựu học sinh Gia Long, “Em gái hậu phương” của một ông thiếu tá Biệt Động Quân đã có vợ. Bà có với ông nầy một con gái.

Khi ông thiếu tá tử trận, bà Lệ Khanh trôi giạt về Long Giao, làm chủ một bar Mỹ ở đó. Khi quân Mỹ rút về nước, bà về mở tiệm ăn ở Long Khánh. Sau 30 tháng Tư, bà lại trôi về Ngã Ba Ông Đồn.

Tên Năm Thái, phó trưởng trại cải tạo Xuân Lộc, nguyên là “Bộ đội Quân Giải phóng Miền Nam”, thường vào ra tán tỉnh. Bà lợi dụng tên nầy, thầu cung cấp muối, nước mắm và bột ngọt cho trại cải tạo khi tên nầy chưa bị Trịnh Văn Thích, trại trưởng, “đá” văng ra khỏi trại, lột lon, đuổi về quê.

Dân Nam Kỳ làm sao chơi lại dân Bắc Kỳ, mặc dù cả hai đều là Việt Cộng.

Tham vọng của Trịnh Văn Thích là chỗ ngồi của Mười Vân, giám đốc Công An Đồng Nai. Tại Biên Hòa, bấy giờ, phe Nam Kỳ hay gốc Nam Kỳ tập kết còn mạnh, còn đông. Thích, dân Bắc Kỳ, biết chưa làm gì được. Nhưng để Năm Thái bên cạnh, khác gì “nuôi ong tay áo”. Việc để Năm Thái cho bà Lệ Khanh thầu vài thứ vặt vảnh ở trại, chỉ là cái bẫy của tên cáo già Trịnh Văn Thích, có quá trình 25 năm kinh nghiệm làm “quản lý trại giam”.

Trong quá trình đó, Trịnh Văn Thích, dùng người chồng hờ của bà Lệ Khanh, tên H., làm mật báo viên cho trại của y, theo dõi sinh hoạt của Năm Thái với bà Lệ Khanh, theo dõi những người tới lui quan hệ với bà Lệ Khanh và cả việc theo dõi thân nhân những người đi thăm tù cải tạo. Để câu tên H., Trịnh Văn Thích cho y độc quyền chạy xe lam, đón khách từ chợ Gia Rây vào Nhà Thăm Nuôi của trại.

Chừng đó sự việc, đủ cho Trịnh X. Ch. biết mặt và canh chừng H. như bà Lệ Khanh dặn dò và dĩ nhiên, tên H. không lạ gì mặt Trịnh X. Ch..

Khi ngồi trong văn phòng, thấy tên H. đi ngang phía ngoài, nhìn mặt Trịnh X. Ch., anh biết Công An nghi ngờ anh là ai và cho H. tới nhìn mặt.

  1. Ch. vừa nói vừa cười:

– “Moa” biết cái trò cút bắt giữa “moa” và Công An tới đó phải chấm dứt. Nếu không thì tụi nó đánh… bỏ mẹ.”

Nghe câu ấy, ai nấy đều cười.

Có người nói:

– “Tài giỏi như ông, khôn ngoan, mưu lược như ông, dại gái thì cũng bằng không.”

Trịnh X. Ch. bèn đứng dậy, bỏ đi. Có lẽ anh ta giận người nói câu nói đó nhưng anh ta nhịn.

Dĩ nhiên, sau khi Trịnh X. Ch. nhận tội trốn trại, bà Lệ Khanh cũng bị bắt, bỏ lại hai đứa con còn nhỏ, không cha không mẹ.

hoànglonghải

(1) Cachot: nhà tối, ngục tối. Tiếng Pháp.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 30th, 2020

Post by Sơn râu 20 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

July 30th, 2020

Kỳ 12

Sau 4 tháng chinh phục Châu Á, Hải quân hoàng gia Nhật áp sát Châu Úc. Chính từ lúc này, mũi tấn công cực Nam của Nhật Bản yếu dần. Nguyên nhân: quá ít máy bay và phi công. Trong khu tam giác rộng lớn Rabaul-Lae-Port Moresby, phía Nhật chỉ có 3 phi đoàn Rabaul, Lae và Salamaua, bao gộp tối đa 250 chiến đấu cơ Zéro với một cấp số oanh tạc cơ tương đương. Phía Đồng Minh khác hẳn. The Royal Australian Air Force (RAAF) và The Fifth Air Force (USAAF) đã huy động 11 Liên đoàn (Group) bao gồm 12 phi đoàn khu trục săn giặc và 21 phi đoàn oanh tạc cơ, tổng số trên 2000 máy bay, không tính các phi đoàn vận tải, quan sát và không ảnh… Danh sách tham chiến tại mặt trận Darwin-Port Moresby-Queensland từ tháng 3 đến tháng 11-1942 nói lên ưu thế số đông của Úc và Hoa Kỳ:     

Liên đoàn 7 Khu Trục [7th Fighter Group]

Liên đoàn 8 Săn Giặc [8th Pursuit Group]

Liên đoàn 35 Săn Giặc [35th Pursuit Group]

Liên đoàn 49 Khu Trục [49th Fighter Group]

Liên đoàn 3 Oanh tạc [3rd Bombardment Group B25]

Liên đoàn 7 Oanh tạc [7th Bombardment Group B17]

Liên đoàn 19 Oanh tạc [19th Bombardment Group B17]

Liên đoàn 22 Oanh tạc [19th Bombardment Group B26]

Liên đoàn 27 Oanh tạc [27th Bombardment Group A24]

Liên đoàn 38 Oanh tạc [38th Bombardment Group B25]

Liên đoàn 43 Oanh tạc [43rd Bombardment Group B17]

Tuy đông hơn nhưng Không lực Đồng Minh đã chưa thể áp đảo Phi đoàn Lae của Sakai là đơn vị lập nhiều chiến tích nhất trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Nhờ vào khả năng thiện nghệ của các phi công Samurai và sự tinh hảo của chiến đấu cơ Zéro vượt trội so với các phi cơ P39 Airacobra và P40 Warhawk của Hoa Kỳ thời kỳ này. Tuy vậy, người đọc vẫn nhìn thấy qua hồi ký của Sakai, là chiến thắng đang dần ra khỏi tầm tay Nhật Bản một khi Đồng Minh có thể trả đũa bằng các cường kích liên tục. Phi vụ không kích Port Moresby của Sakai cũng làm người đọc liên tưởng đến một cảnh trong phim Australia với nữ tài tử Nicole Kidman khi máy bay Nhật ném bom hải cảng Darwin. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 12

Chương 12

Ðồng Minh rót người và vật liệu vào pháo đài của họ ở hải cảng Moresby không ngừng nghỉ. Và Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhựt thúc giục chúng tôi đánh mạnh hơn, đánh nhiều hơn vào các phi trường, các chỗ trú quân, và các cơ sở trên hải cảng càng lúc càng mọc lên như nấm của địch quân.

Vào ngày 17 tháng 4-1942, tôi thực hiện một phi vụ hộ tống đầu tiên của mình trên đất địch. 13 chiến đấu cơ Zéro, thay vì 6 hoặc 7 chiếc như trước đây, bao che cho các oanh tạc cơ Betty. Chính vì các báo cáo thám thính cho biết địch đang tăng cường ngày một nhiều, nên chúng tôi chờ đợi một chống trả quyết liệt.

Một phi công trong bán phi đội của tôi gây lo lắng. Yoshio Miyazaki tiêu chảy nhiều ngày liền và gầy đi nhiều. Tôi thấy hắn không đủ sức phi hành nhưng mặc tôi can ngăn, hắn nhất quyết rời mặt đất. Tôi lo lắng là với cơn sốt, Miyazaki sẽ không thể giữ đội hình mà nhiệm vụ hộ tống bắt buộc bay zích-zắc hình chữ chi chung quanh hợp đoàn Betty. Lúc đến gần Moresby, những e ngại của tôi biến mất. Miyazaki giữ vị trí hoàn hảo.

Với 7 chiến đấu cơ được cắt đặt bay sát cánh các oanh tạc cơ ở cao độ 16,000 bộ (4,900m), và với nhóm 6 chiến đấu cơ của tôi bay thấp hơn 1,500 bộ (450m), chúng tôi vượt qua dãy núi Owen-Stanley. Moresby hiện ra trong tầm mắt. Thình lình 7 chiến đấu cơ bay chung nhóm các oanh tạc cơ phía trên túa ra, lập thành màn lưới bao che, xoay tròn phía trên các oanh tạc cơ Betty. Nhiều chiến đấu cơ P40 của địch chúi xuống từ một độ cao hơn để tấn công các oanh tạc cơ của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng bị phát hiện quá sớm, và vòng xoay của 7 chiếc Zéro nứt ra, đánh bật cú đấm của địch quân đang giáng xuống. 7 chiếc Zéro trở về vị trí cũ.

Ngay lập tức, súng cao xạ từ mặt đất bắn lên, tạo ra những đốm đỏ và đen như nở hoa. May mắn là quá thấp. Bán phi đội của tôi lập tức phân tán và lộn nhào thật mau để tránh né một vòng rào hoả lực cao xạ thứ hai nổ phía trên. Ngay khi chúng tôi trở lại đội hình, các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ hộ tống gia tăng tốc lực tối đa để vượt lên cao nữa. Nếu vẫn duy trì đường bay cũ thì loạt cao xạ thứ ba sẽ bắn trúng.

Các oanh tạc cơ của chúng tôi đang bên trên phi trường Moresby và đảo chầm chậm để thả bom. Bây giờ mặt trời chiếu từ phía sau chúng tôi, và các chiến đấu cơ địch lại đang lướt đến. Tôi đảo lại, kéo cần lái gần như thẳng đứng, chĩa thẳng vào mũi dùi tấn công của đối phương. Năm đồng đội thuộc nhóm của tôi cũng đeo dính một bên. Nhưng chúng tôi không có cơ hội để khai hoả, các chiến đấu cơ địch lảng ra và phân tán. Chúng tôi quay trở lại vị trí hộ tống, nhưng chỉ có 2 chiếc Zéro theo tôi. Chiếc của Miyazaki và hai chiếc khác đã chui xuống phía dưới các oanh tạc cơ.

Tôi không có thời giờ để lo lắng cho 3 chiếc phi cơ đó. Cao xạ địch đang cố gắng điều chỉnh tầm bắn, và một loạt đạn nữa đã nổ cách phía dưới các oanh tạc cơ đang dội bom 1,500 bộ. Tuy nhiên, tất cả đều đã vượt qua, bụng đã trống rỗng, các oanh tạc cơ gia tăng tốc lực, giữa những tiếng nổ rền vang liên tục của súng cao xạ, và đảo về phía trái. Miyazaki đang bay cách phía dưới các oanh tạc cơ 1,500 bộ. Không có vô tuyến, tôi không thể nào gọi hắn trở lại vị trí, và chúng tôi không dám rời các oanh tạc cơ.

Chúng tôi bỏ Moresby và súng phòng không địch lại phía sau. Tôi thở ra nhẹ nhõm. Quá sớm! Khoảng một dặm phía trên chúng tôi, một chiếc P40 chúi xuống với tốc lực khủng khiếp. Nó xuống nhanh đến nỗi tôi không kịp nháy mắt. Giống như một tia chớp soi thẳng vào các oanh tạc cơ, cách tôi sáu trăm thước.

Tôi không hiểu làm cách nào mà chiếc P40 này lọt qua khỏi khoảng trống chỉ một vài thước giữa hai oanh tạc cơ thứ ba và thứ tư. Chuyện khó thể tin nổi, nhưng đã xảy ra. Với những họng súng rực lửa, sau khi lọt qua nhóm oanh tạc cơ xong, chiếc P40 rót tất cả đạn vào chiếc phi cơ của Miyazaki. Tức khắc, chiếc Zéro biến thành ngọn đuốc. Và vẫn với tốc lực khủng khiếp, chiếc P40 biến mất phía dưới chúng tôi. Phi cơ của Miyazaki rơi xuống chầm chậm, rồi lửa loé sáng và một tiếng nổ xé nát ra. Chúng tôi không nhìn thấy một mảnh kim khí nào rơi xuống. Mọi việc xảy ra trong vòng ba bốn giây. Chúng tôi vẫn tiếp tục bay. Ðến Buna, các chiến đấu cơ chúng tôi tách ra, chấm dứt vai trò hộ tống và quay về Lae.

Cái chết của Miyazaki là một bài học đau đớn cho tất cả chúng tôi. Trong những ngày đầu của cuộc chiến tôi vẫn khăng khăng cho rằng sự khéo léo cá nhân của các phi công Nhựt là ưu thế có tánh cách quyết định trước phi công đối phương. Công cuộc huấn luyện của chúng tôi, dĩ nhiên là trước chiến tranh, tỉ mỉ hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Ðối với chúng tôi, bay có nghĩa là mọi thứ, chúng tôi không tiếc bất kỳ nỗ lực nào nhằm học hỏi thấu đáo mọi phương diện về không chiến. Tuy nhiên, qua nhiều cuộc không chiến của Ðệ Nhị Thế Chiến, khéo léo cá nhân chưa đủ bảo đảm sự tồn tại mãi mãi, ngoại trừ các cuộc không chiến tay đôi. Thất bại to tát nhứt trong các cuộc không chiến của chúng tôi là do chúng tôi thiếu tinh thần đồng đội. Một tinh thần mà người Mỹ đã phát triển không ngừng trong suốt cuộc chiến.

Sau cái chết của Miyazaki, bảy oanh tạc cơ B26 Marauder tấn công Lae. May mắn thay, chúng tôi được báo trước và 9 chiến đấu cơ Zéro được tung lên không, đón các oanh tạc cơ địch chỉ ở cao độ 1,500 bộ. Trận quần thảo giữa phi công chúng tôi với bảy chiếc Marauder kéo dài một tiếng đồng hồ đầy gian nan vất vả. Cuối cùng chỉ một oanh tạc cơ địch bị bắn rơi và một chiếc bỏ chạy với thương tích. Ðó là trận không chiến vụng về nhứt, chưa từng thấy trong đời tôi. Chín chiếc Zéro thiếu tổ chức. Thay vì liền tay tấn công một hoặc hai phi cơ địch, và sử dụng hoả lực của số đông để cắt bảy chiếc B26 ra từng phần, các phi công của chúng tôi áp hết vào để đánh. Không có chiếc phi cơ nào của chúng tôi đụng chạm hoặc bắn hạ lẫn nhau cũng là một điều đáng lấy làm lạ.

Khi đáp xuống, cơn giận của tôi bùng nổ. Tôi nhảy ra khỏi phòng lái, hấp tấp bước đến các phi công đã tụ hợp trên mặt đất. Tôi chửi sự ngu ngốc của họ, vạch ra từng điểm sai lầm của mọi người và nhấn mạnh rằng chỉ có phép lạ mới khiến họ sống sót được. Từ đó trở về sau, mỗi đêm chúng tôi đều hội họp để chỉnh đốn lại tinh thần đồng đội của chúng tôi. Vào ngày 23 tháng 4, Nishizawa, Ota và tôi thực hiện một phi vụ thám sát Kairuku, một căn cứ mới của đối phương ở phía Bắc Moresby. Mặc dù chỉ được lịnh thám thính, chúng tôi cũng đã bắn cháy nhiều vận tải cơ địch trên phi đạo.

Báo cáo của chúng tôi đưa đến một cuộc tấn công với 15 phi cơ vào ngày hôm sau. Chúng tôi sà xuống 6 chiếc oanh tạc cơ B26, 15 chiến đấu cơ P40 và 1 chiếc P39. Con số hủy diệt chính xác của chúng tôi là hai oanh tạc cơ và sáu chiếc P40. Sau trận không chiến đơn phương, chúng tôi thẳng đường đến Moresby, bắn phá và đốt cháy một thủy phi cơ Catalina đang buông neo. Ngày hôm sau, chúng tôi trở lại Moresby. Mặc dù thiệt hại nặng nề vào ngày hôm trước, địch quân vẫn đề kháng dữ dội. 7 chiến đấu cơ P40 thách thức 15 chiến đấu cơ của chúng tôi. Trước khi cuộc không chiến dữ dội thực sự kết thúc, 6 chiến đấu cơ địch đã chúi về phía Ðông trong lửa đỏ. Chúng tôi bảo toàn lực lượng, và sau khi bầu trời được dọn sạch, chúng tôi bắt đầu xạ kích Moresby và Kairuku, đốt cháy 5 chiếc B26 và 2 chiếc P40 nữa.

Hiển nhiên cố gắng của tôi trong việc cải thiện tinh thần đồng đội khi chiến đấu đã đạt được hiệu quả. Tuy nhiên, tôi phải chịu thiệt thòi, vì sau hai trận đánh liên tiếp, các phi công khác đều ghi nhiều điểm trong khi tôi trở về với hai tay trắng. Và trận không chiến kế tiếp vào ngày 26 cũng vậy, tôi không hạ được một phi cơ nào, mặc dù có ba trong số bảy chiếc P40 bị bắn rơi. Ngày 29 tháng 4 là sinh nhật của Thiên hoàng Hirohito. Vị chỉ huy trưởng của chúng tôi tổ chức một buổi lễ khiêm tốn để mừng ngày đặc biệt này. Mấy anh lính biết nấu nướng đều tiếp tay làm bếp và tận dụng tất cả đồ tiếp tế để chuẩn bị một bữa ăn sáng ngon lành. Vài ngày trước đó, Ðồng Minh không hề đưa ra bất kỳ nỗ lực nào nhằm tấn công Lae. Sự yên tĩnh này, cộng thêm với cảm giác thoải mái của chúng tôi hiện tại, làm chúng tôi lơ là nhiệm vụ.

Khi chúng tôi chấm dứt ăn sáng vào lúc 7 giờ sáng, tiếng thét của lính canh gác vang lên: “Phi cơ địch!” Lập tức, một âm thanh hỗn loạn bùng vỡ, phá tan sự yên tĩnh của buổi sáng. Thùng, trống, mõ và tù và nổi lên inh ỏi, hệ thống báo hiệu không kích của chúng tôi.

Chúng tôi chạy ra phi đạo quá muộn. Những trái bom đã rơi xuống và đang nổ. Chúng tôi ngước mắt lên nhìn thấy mấy ông bạn cũ của chúng tôi, những chiếc oanh tạc cơ B17. Ba chiếc tất cả, bay ở độ cao 20,000 bộ (6,000m). Chỉ một vài trái bom được thả xuống, nhưng với sự chính xác tôi chưa từng mục kích bao giờ. Năm chiến đấu cơ Zéro nằm trên sân bay đang bao trùm trong lửa đỏ. Bốn chiếc khác hư hại nặng nề do mảnh bom gây ra. Riêng sáu chiếc ứng chiến chỉ còn năm chiếc bay được.

Ota và một phi công khác là hai người đầu tiên chạy ra phi cơ. Trong hai giây, họ cho phi cơ hoạt động và chạy ra phi đạo. Nhóm còn lại của chúng tôi bây giờ mới băng ra phi cơ, nhưng có cất cánh cũng đã trễ. Ba pháo đài bay B17 và hai chiến đấu cơ Zéro đã biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi. Thời gian trôi qua chậm chạp, chúng tôi chửi rủa mấy chiếc oanh tạc cơ không tiếc lời và nôn nóng chờ đợi Ota trở về. Một giờ sau, một chiếc Zéro đáp xuống. Ðó là Endo. Hắn giải thích: “Chúng tôi đánh ngay khi vượt lên. Tôi quần thảo dữ dội với một chiếc oanh tạc cơ. Ota vồ một chiếc và vẫn còn khai hoả khi tôi hết đạn. Do đó, tôi phải trở về.”

Một giờ nữa trôi qua, Ota vẫn chưa thấy về. Chúng tôi lo âu. Ota, bạn của tất cả chúng tôi, hiện thời đơn độc quần thảo với ít nhất hai chiếc oanh tạc cơ có võ trang mạnh mẽ. Endo trở nên bồn chồn, và càu nhàu về việc phải rời bỏ Ota vì hết đạn.Mười lăm phút nữa trôi qua, thế rồi Ðại tá Saito thò đầu vô bộ chỉ huy và vui vẻ nói lớn: “Ê! Hắn an toàn! Ota vừa gọi từ Salamaua. Hắn hạ được một pháo đài bay. Hắn phải đáp xuống để lấy xăng và sẽ trở về ngay.”

Tin tức phấn chấn! Nhưng công việc vẫn chưa xong. Sáu phi công, bao gồm Nishizawa và tôi, được chọn để trở lại Moresby “mừng ngày sinh nhật của Thiên Hoàng”. Chúng tôi cảm thấy phi vụ với 16 chiếc Zéro có lẽ tốt hơn, nhưng hiện thời chỉ có 6 chiếc của chúng tôi còn trong tình trạng khiển dụng. Chắc chắn đối phương đã đoán được một trận phục thù cuộc oanh tạc vừa qua của chúng tôi. Ðể tránh chui đầu vô hoả lực phòng không đang chờ đợi, chúng tôi vượt qua đỉnh rặng núi Owen-Stanley ở cao độ 16,000 bộ (4,900m). Và rồi thay vì tiếp tục hướng đến Moresby ở cao độ này, chúng tôi chúi xuống thật thấp, bay theo đội hình tam giác căng rộng. Sau đó chúng tôi vượt lên thật cao rồi chúi thẳng xuống căn cứ địch. Không một ai đoán nổi chúng tôi tấn công theo lối mới này.

Hàng chục nhân viên bảo trì địch đang quay quần bên những chiếc oanh tạc cơ và khu trục cơ, hình như đều sẵn sàng cất cánh. Chúng giống như những con vịt nằm phơi lưng. Chúng tôi quét đại liên và nện đại bác xuống sân bay. Tôi có thể nhìn thấy nhiều người ngước nhìn lên với dáng vẻ đầy kinh ngạc, như không tin nổi vào đôi mắt của họ.
Nhát chổi đầu tiên có hiệu quả. Không một họng súng nào kịp khai hoả. Ở cuối đường bay, với các pháo đội phòng không vẫn im lặng trong sự sửng sốt, chúng tôi quay lại thật gấp và tức khắc bổ nhào xuống làm ăn nữa. Quang cảnh dưới mắt thật tuyệt diệu. Ba chiến đấu cơ và một oanh tạc cơ đang bốc cháy dữ dội. Lần này chúng tôi quét đạn lên một dãy phi cơ khác, xếp thành một hàng dài gọn ghẽ ngay ngắn. Bốn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch trúng đạn, tuy nhiên không cháy. Người trên sân bay bây giờ chạy hỗn loạn, và có hơn một chục xác nằm bất động vì lãnh đạn của chúng tôi. Chúng tôi “làm ăn” ba lần tất cả và sau đó dông tuốt. Khi đã bay xa rồi, chúng tôi mới nghe khẩu cao xạ đầu tiên lên tiếng.

Nhưng vào lúc 5 giờ 30 sáng hôm sau, đối phương trả lễ chúng tôi bằng một cuộc viếng thăm của ba chiếc B26 Marauder, bay đến mau và thấp, không cao hơn 600 bộ. Mặt đất như vỡ tung khi ba oanh tạc cơ B26 trút bom xuống ngay phi đạo. Lúc khói đã tan, chúng tôi nhìn thấy năm trong số các chiến đấu cơ ứng chiến của chúng tôi lướt lên không trung. Tuy nhiên, khi năm chiến đấu cơ này vừa cất cánh được, các oanh tạc cơ đã quay lại và trút bom một lần nữa. Tiếng nổ vang dội trước khi các chiến đấu cơ Nhựt có thể tiến sát đến các oanh tạc cơ. Nhưng đối phương đã kịp thời kiếu từ, biến mất vào ánh bình minh đang lên. Chuyến kiếm ăn khá khiển: một chiếc Zéro bốc cháy và một chiếc khác vỡ tan. Bốn chiến đấu cơ Zéro và một oanh tạc cơ Betty khác lỗ chỗ dấu đạn và miểng bom.
Trong nhiều ngày kế tiếp, nhịp độ của trận chiến trên không gia tăng dữ dội. Mười hai chiếc P39 Airacobra thực hiện một cuộc viếng thăm Lae thật đẹp mắt, với chín oanh tạc cơ Betty của chúng tôi hư hại nặng nề. Chúng tôi nhảy lên vồ khi đối thủ rút lui, và kéo 2 chiếc P39 xuống đất mà không thiệt mất một chiếc Zéro nào. Nhưng một lần nữa cả tôi lẫn Nishizawa đều đáp xuống với hai tay không. Nỗi rầu rĩ của tôi được khuây khoả vào ngày hôm sau, khi chín phi công chúng tôi trở lại Moresby. Chín chiếc P39 chờ sẵn chúng tôi trên không phận phi trường địch. Một mình tôi hạ cả ba chiếc trong vòng 15 giây. Sáu chiếc khác bỏ chạy mau đến nỗi các chiến đấu cơ khác của chúng tôi không sao chụp kịp.

Trở về phi trường Lae, các chuyên viên cơ khí của tôi đã kinh ngạc khi nhận thấy tôi chỉ bắn có 610 viên đạn trong trận không chiến ngày hôm đó. Trung bình mỗi phi cơ địch nhận hơn hai trăm viên.

Ngày hôm sau, 2 tháng 5, chúng tôi quày trở lại Moresby nữa, với một lực lượng gồm tám chiếc Zéro. Lần này, mười ba chiến đấu cơ P39 và P40 bay chầm chậm ở cao độ 18,000 bộ (5,500m) chờ đón chúng tôi. Nishizawa phát hiện địch đầu tiên và khai hoả. Trước khi phi cơ địch nhìn thấy chúng tôi và lộn nhào để tránh né, bảy chiếc đã rơi xuống như cây đuốc. Trong ngày này, chúng tôi “bỏ túi” đến tám chiếc P39 và P40. Riêng tôi hạ được hai chiếc và Nishizawa được ba chiếc.

Vào ngày 7 tháng 5, sau nhiều ngày ngơi nghỉ, bốn phi công được lịnh thực hiện phi vụ thám thính ở Moresby. Mỗi người chúng tôi đều la lớn một cách vui vẻ khi nhận ra đồng đội của mình trong phi vụ này. Cả bốn chúng tôi đều là các phi công có cơ điểm cao nhứt phi đoàn. Tôi đã hạ được 22 phi cơ địch, Nishizawa 13, Ota 11 và Takatsuka 9. Tôi hy vọng hôm nay làm ăn lớn. Khi chúng tôi lượn vòng trên không phận Moresby, Nishizawa lắc cánh báo hiệu và chỉ hướng mười chiến đấu cơ địch trong đội hình hàng dọc, từ ngoài biển đang lướt đến chúng tôi, cao hơn nhóm phi cơ chúng tôi khoảng 2,000 bộ (600m). Nishizawa và Ota lập thành mũi dùi, với Takatsuka và tôi bay ngay phía sau, thấp hơn chút ít. Bốn chiếc P40 địch liền tách rời khỏi đội hình và bổ nhào xuống.

Tức khắc, bốn chiến đấu cơ Zéro bật mũi lên gần như thẳng góc thay vì lộn nhào để né tránh và phân tán như phi công địch hy vọng. Chiếc P40 đầu tiên vội vã vượt lên trong một vòng xoáy trôn ốc, cố thoát khỏi cái bẫy do chính nó giăng ra. Bụng phi cơ địch sáng loáng trước mắt tôi. Nhanh như chớp, tôi thảy ngay một dây đại bác. Cánh chiếc P40 đứt lìa. Tôi lấy lại thăng bằng và nhìn thấy mỗi chiếc Zéro đánh bật một chiếc P40 ra. Tất cả đều biến thành cây đuốc. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại đang ở trên chúng tôi. Chúng tôi phân tán qua phải và trái, vượt lên bằng những vòng xoáy trôn ốc, và lấy thăng bằng theo hình vòng cung, đồng thời các khẩu đại bác đều hoạt động.

Thân ba chiếc P40 tan rã bốc cháy. Ba chiếc còn lại cắm mũi chạy luôn.

Vào ngày 8 và 9 tháng 5-1942, tôi tiêu diệt thêm hai chiến đấu cơ địch nữa, một chiếc P39 và một chiếc P40 qua những nhát chổi liên tiếp trên không phận Moresby. Vào ngày 10, tôi lại bắn rơi một chiếc P39 với thành tích tiêu thụ đạn ít nhất, chỉ bốn quả đại bác 20 ly, trong một phi vụ trên biển San Hô với Honda và Yonekawa.

Hôm ấy, sau 15 phút tuần thám, chúng tôi bắt gặp một chiếc Airacobra độc hành, bay chậm, cách 1,000 thước phía trên chúng tôi. Viên phi công có vẻ như đang ngủ mơ; cứ tiếp tục phi trình thẳng tắp không đếm xỉa gì đến chúng tôi đang tiến đến gần. Tôi vượt lên từ bên dưới bụng hắn, ở vị trí không cho phép hắn nhìn thấy. Honda và Yonekawa bọc thấp hơn nữa, phía bên dưới tôi 200 thước.

Khó tin vô cùng là chiếc P39 cứ tà tà cho chúng tôi áp gần. Viên phi công địch không chút nghi hoặc chung quanh. Tôi chỉ còn cách 20 thước, cơ hội quá tuyệt, tôi chụp lấy chiếc máy ảnh Leica mua trong kỳ nghỉ phép và bấm nhiều tấm. Rồi tôi nhìn đồng hồ: 242 cây số giờ. Tôi ghi nhanh con số như vận tốc phi hành của chiếc P39. Ðội hình kỳ quặc của ba chiếc Zéro với một chiếc Airacobra kéo dài một lúc. Honda và Yonekawa sẵn sàng khai hỏa ngay khi viên phi công Mỹ nhận ra sự có mặt của tôi và tìm cách thoát thân bằng cách đâm bổ. Vươn lên khẽ khàng, tôi lạng nhẹ sang phải. Tôi có thể trông thấy rõ ràng gương mặt viên phi công Mỹ. Không bao giờ tôi hiểu vì sao hắn đã không quan sát chung quanh. Tôi ngắm nghía gã to con đội mũ lưỡi trai trắng nhiều giây, rồi định vị mình phía sau hắn, hơi cao hơn chút ít. Tôi nhắm kỹ lưỡng và ấn nhẹ lên cò súng. Hai khẩu đại bác ho khan, hộc ra bốn viên 20 ly. Hai viên phá nát cánh phải của chiếc P39 và hai viên trúng chính giữa thân. Chiếc Airacobra gẫy đôi, rơi tòm như chong chóng xoay trong một điệu múa điên trước khi rã ra từng mảnh. Không thấy viên phi công nhảy dù.