Bắt đầu tạ ơn nước Úc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Bắt đầu tạ ơn nước Úc

Có người nói: dân Việt mình có cái ngộ: Khi có giặc ngoại xâm là đoàn kết một lòng, như Hội Nghị Diên Hồng! “Toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến. Hận thù đằng đằng nên hòa hay chiến? Quyết chiến. Quyết chiến!”

Còn đất nước không có họa xâm lăng, không có thù ngoài thì giờ tới giặc trong.

Chắc mấy ông nầy ‘huỡn’, buồn chán quá, bèn chiêu binh mãi mã, quay qua đánh lẫn nhau. Trước là đỡ cái buồn rầu; sau là để giành quyền lực làm vua một cõi.

Dân ngu khu đen có người vốn hiếu hòa, ai khoái tối ngày kiếm chuyện đánh nhau lỗ đầu sứt trán thì cứ đánh; còn tui dắt vợ tui đi lánh vô vùng đất phương Nam để ta làm lại từ đầu.

Vậy là “Tía em hừng đông đi cày bừa, má em hừng đông đi cày bừa. Tía em là một người nông dân má em cũng là người nông dân. Cùng sống trên đồng bao la”

Xin đừng cho rằng ngày xưa đó: “Ðến đây gặp vịt cũng lùa; gặp gái cũng ghẹo gặp chùa cũng tu”, là lưu dân không biết nghĩa nhơn. Mà trái lại, no ấm là nhờ Trời, Phật, Thánh, Thần phò hộ. Nên ông bà mình biểu lộ cái lòng biết ơn trời đất đó bằng cách trước sân nhà nào cũng có một bàn ông Thiên, tức là bàn thờ ông Trời.

Bàn ông Thiên cao khoảng một thước tây, trên có đặt một tấm ván hình vuông, tượng trưng cho đất, mỗi cạnh khoảng 4 tấc, đủ để một bình cắm nhang hình tròn, tượng trưng cho Trời, và ba cái chung nhỏ; vẫn còn đủ chỗ cho một dĩa trái cây.

Chập tối, ngày bàn giao cho đêm, là thời khắc linh thiêng để bà con mình thắp một cây nhang, khấn vái cầu Trời khẩn Phật cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình ai nấy đều mạnh giỏi… Ðó là một hình thức tạ ơn quanh năm suốt tháng của bà con vùng châu thổ sông Cửu Long chúng ta.

***

Bà con mình ai cũng biết: Nước Mỹ, lễ Tạ Ơn vào cuối tháng 11 và Giáng sinh vào cuối tháng Chạp là hai dịp lễ lớn.

Rồi có người cũng nói: “Christmas thì ở Việt Nam còn biết, còn Thanksgiving ở Việt Nam không biết. Việt Nam mình không có ngày này, không có ngày tạ ơn trời đất như thế này.”

Có chớ! Chẳng phải cái bàn thiên là hình thức ông bà mình tạ ơn vùng đất mới đó sao?

Người Mỹ, người Canada, khi xưa cũng là thuyền nhân, là người tỵ nạn vì bị bức hại về tôn giáo đến nỗi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún để lưu vong.

Sử chép rằng: Tháng Chín, năm 1620, tàu Mayflower gồm 121 người rời Âu Châu! Sau hai tháng vượt biển, ngày 9, tháng Mười Một, tàu Mayflower cập bến Mỹ Châu.

Sau mùa Ðông đầu tiên đó, lạnh giá đã quật ngã nhiều di dân. Trong số 102 người đến nơi bình an giờ đây chỉ còn 55 người sống sót.

Mùa Thu năm 1621, vụ mùa đầu tiên thật sung túc, đủ lương thực sống suốt mùa Ðông cho đến vụ mùa năm sau. Nên một bữa tiệc linh đình kéo dài trong ba ngày, ba đêm được tổ chức để tạ ơn Thượng Ðế (Trời) và vùng đất mới. Hơn 90 thổ dân bản địa mang đến 5 con nai để xẻ thịt làm món nhậu chung vui.

Lễ Tạ Ơn hằng năm, rơi vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ tư tháng Mười Một.

Kỳ lễ kéo dài từ thứ Năm đến hết cuối tuần, tới 4 ngày, nên cả nước Mỹ lên xe, tàu, xe lửa hoặc máy bay, dọc ngang như mắc cửi để mọi người trong gia đình gặp lại nhau, dù ở xa cả ngàn cây số cũng về. Về để cùng nhau đi Nhà Thờ tạ ơn Thiên Chúa!

Rồi cả gia đình về nhà cùng nhau ăn bữa tối. Trên bàn tiệc lễ Tạ Ơn, luôn luôn có bắp, khoai tây nghiền, các loại bánh ‘pie’, rau, thịt heo muối, ngỗng hoặc vịt quay và dĩ nhiên không thể thiếu món gà tây đút lò để nhắc lại bốn chú gà tây rừng đã có mặt trong buổi lễ Tạ Ơn đầu tiên tại nước Mỹ.

Gà tây được hân hạnh được hy sinh vì bao tử của người Mỹ; vì nó bự, mập thù lù như Mỹ, nhứt là cái bụng, nên chỉ cần một con là đủ cho cả nhà ăn cành hông, ăn tràn họng.

Tuy nhiên mấy em mình, người Việt ở Mỹ, việc nấu nướng là nghề của nàng, cực khổ mấy em cũng chịu được, nếu anh yêu ăn ngon, nhậu vui là em cũng vui hè. Nên không làm biếng như Mỹ chỉ ra siêu thị mua một con gà tây béo mập, nhét tùm lum tùm la đủ thứ vào rồi đút lò cho nó gọn …Thì mấy em ‘Mít’ mình chọn gà hay vịt thay thế gà tây. Có em, (làm chủ năm, ba cái tiệm neo tiền bạc rổn rảng), chơi luôn cả tôm hùm cho nó ‘oách’!

Mấy em quan niệm rằng cái hồn của lễ Tạ Ơn mới chánh. Còn ăn con gì, nấu món gì thì tùy khẩu vị của từng dân tộc, thấy ngon thì quất láng; chớ đâu nhứt thiết phải bo bo giữ truyền thống tiệc Tạ Ơn đầu tiên, Mỹ ăn gì thì mình phải ăn y hịt mới đặng (?!)

Chính vì quan niệm phóng khoáng như vậy mà mấy con gà tây Mỹ nó thích mấy em ‘Mít’ mình lắm đó. Gặp mấy em là nó kêu ‘cà lót, cà lót’ rượt theo, rỉa mấy cọng lông chưn… để hàm ý biết ơn.

Năm 2014, nước Mỹ nuôi tới 242 triệu con gà tây để ăn thịt trong lễ Tạ Ơn. Một cuộc thảm sát gà tây kinh hoàng cũng vì truyền thống. Nên ngày nầy còn gọi là ‘Turkey Day’!

Ôi tui thấy con gà tây nằm trần truồng, chết trên bàn tiệc lễ Tạ Ơn mà cảm thấy quá mủi lòng! Chẳng qua cái tâm cảm sướt mướt của tui chịu ảnh hưởng của Tổng thống Abraham Lincoln. Người vốn từ tâm, san sẻ bớt tội lỗi của dân Mỹ mình vì giết gà tây nhiều quá xá, năm 1864, đã dùng quyền ân xá của Tổng thống để tha chết cho một con gà Tây.

(Con gà nầy được ‘Tad’, con trai ông, nuôi làm thú cưng; để buồn buồn nghe nó kêu ‘cà lót, cà lót’ cho vui).

Rồi từ đấy, năm nào Tổng thống Mỹ cũng phóng sinh, tha chết cho một con trong buổi lễ tại Tòa Bạch Ốc.

Con gà nào may mắn sống sót, hên như trúng số Power Ball, được đưa tới vườn Bách Thú để sống tới già, rồi chết một cách tự nhiên, không phải bị cởi truồng, nằm tô hô trên bàn tiệc.

***

Lễ gì Úc cũng có nhưng lễ Tạ Ơn thì tại sao không? Thì thằng bạn Úc cắt nghĩa (đâm xuồng bể) như vầy: “Ông bà cố của tao là ‘convict’ (tội phạm) ăn cắp chỉ có chai rượu và khúc xúc xích nhậu cho vui thôi; mà bị bắt đi đày hàng ngàn dặm tới đây”.

Rồi leo lên bờ thì bị thổ dân vác boomerang rượt, phang thiếu điều lỗ đầu. Ðà điểu cả bầy rượt theo mổ lia mổ lịa; kangaroo rượt theo đá đau muốn tức thở; cá sấu chờ sẵn dưới sông, mới lui cui xuống rửa cẳng, là nó táp nghe cái ‘phập’, hổng lẹ chưn nhảy ngược lên bờ là tiêu hết cả bộ đồ lòng.

Thân phận tù đày, nước non ngàn dặm phải ra đi, đâu có ai ‘welcome’ mình đâu, (hổng thấy người tầm trú nào bén mảng tới đây là bị điệu ra đảo Nauru, giữa Thái Bình Dương mà nhốt mút chỉ cà tha đó, thì tại sao phải tạ ơn chớ?)

***

Bà con người Việt mình làm ơn không thèm nhớ nhưng chịu ơn chẳng hề quên. Là thân phận một người tỵ nạn đến nước người, giờ cũng sống được phẻ re như con bò kéo xe, (chớ còn mắc kẹt lại trong nước là tui đã chết ngắc lâu rồi).

Ai giúp tui, dù ít dù nhiều, là tui phải tạ ơn chớ! Thế nên tui mạo muội đề nghị vầy nhe: Bà con mình trên toàn thế giới từ Âu qua Mỹ rồi xề xuống Miệt dưới, Úc Châu, cũng nên bắt đầu một truyền thống tạ ơn đất nuớc cho mình và con cháu mình tạm dung, nương náu, trùng với ngày lễ Tạ Ơn của Mỹ cho nó tiện.

‘Long weekend’ nghỉ nhiều ngày, đoàn tụ gia đình, năm một lần, ăn nhậu cho tới bến, cho nó đã. Sau là gợi cho con cháu mình nhớ tại sao mình tới đây? Ðể giữ hoài cái hồn dân tộc, cái tình yêu nước, thương nòi; kẻo sắp nhỏ sau nầy lớn lên nó lạc, nó quên ráo thì thêm báo.

Bà con nào ở Footscray, gần nhà tui, đồng ý xúm làm lễ Tạ Ơn nước Úc bắt đầu từ năm nay nhe! Nếu có ăn nhậu gì xôm tụ, vui vui, nhớ hú tui một tiếng! Tui vác cái miệng tới liền!

đoàn xuân thu.

melbourne.

“Ngã Hả Cu?”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 23rd, 2023

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Đỗ Hữu Ca và biệt phủ lấn sông – nguồn authentic.vn 

Theo báo quốc doanh trong nước, tối 18 tháng Hai, năm 2023, Bộ Công an, tỉnh Quảng Ninh đã khám xét hai biệt phủ của Ðỗ Hữu Ca, thiếu tướng,  nguyên giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng.

Một tại phường Ðằng Lâm, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng. Hai tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng.

Còn nhớ năm 2019, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam có đi một bài viết: đây là một biệt phủ ‘lấn sông rộng hàng nghìn mét vuông, uy nghi, đồ sộ và tráng lệ”.

Tạp chí nầy đã bị mấy quan phạt 50 triệu đồng, tước giấy phép hoạt động 2 tháng vì thông tin ‘sai sự thật’, ‘fake news’.

Lúc đó, Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca dù đã về hưu, nhưng vẫn còn có nanh, có vuốt. Chúng mầy dám đụng tới ông là ông cắn.

Nhưng lần nầy, chúng cắn lại ông. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ đối với Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

(Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Theo bà con trong nước xầm xì là Hữu Ca nhận tiền chạy án, Chạy không xong, quỵt luôn không chịu trả tiền lại cho người ta.

Y như trong tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến: “Tiền vô túi quan là của quan”.

Ngoài ra Hữu Ca còn dính vô cái vụ trốn thuế, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ…”

Còn quyết định “khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ?” Diễn Nôm là còng Thiếu tướng Hữu Ca lại, bắt đi chăn kiến.

Bà con kháo với nhau tay dám sờ dái ngựa mà không sợ nó đá hậu một cái cho giập mật là Ðại tá Ðinh Văn Nơi, mới từ An Giang, căn cứ địa của Q (Cu, lại cu nữa!) Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân mới tháng trước lên thay cho Phúc Niểng về Quế Sơn, Quảng Nam để làm người tử tế.

Như vậy dù chỉ là lon đại tá, tớ chơi cậu luôn. Thiên lôi mà! Ai sai đâu là tao búa đó!

Nguyễn Hữu Ca tức ‘Hả Cu’ là ai vậy? Y 65 tuổi, quê tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hoa Phượng đỏ Hải Phòng. “Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Ðất, Lạc Viên” Những cái tên nghe chẳng thơ đâu. Nhưng với ta vô cùng oanh liệt. Ôi thân thiết tự hào quê hương vì có một lãnh chúa đầu gấu với bốn bằng đại học, An ninh, Luật, Báo chí và Ngoại thương.

Bà con trong nước xôn xao như vỡ chợ trên Facebook. Rồi ngay cả đài ‘Bi-Bi-Xi’ tuốt bên Anh cũng chạy “breaking news’. Lúc Ủy viên Bộ Chánh Trị, “Bí thư thành quỷ HCM” Ðinh La Thăng la làng lúc bị nhốt cũng không to hơn thế. Chẳng qua, lúc Ðỗ Hữu Ca đang làm giám đốc Công an Hải Phòng là lúc xảy ra vụ án Ðoàn Văn Vươn gây chấn động cả nước.

Bài Bình ‘Vươn’ Ðại cáo của nhà hoạt động xã hội Trương Quốc Tuấn cho biết:

“…Anh em họ Ðoàn, ngăn biển lấp đất. Mồ hôi chan mặt, máu đổ xuống đầm

Trải mười mấy năm đội đá vá trời. Nơi Cống Rộc mới tạo thành cơ nghiệp. Than ôi! Cũng do thấy tiền tài hoa mắt. Bởi nghe điều lợi lộc ù tai. Bọn cường hào ác bá phủ huyện bàn nhau. Ðem điều lợi nhử quan đầu tỉnh

…Tức nước vỡ bờ, già néo đứt dây. Bom tự tạo nổ tung, khiếp hồn quân hung bạo

Ðạn hoa cải bay vèo, bạt vía lũ cường quyền. Mất hồn hết vía, kéo nhau lui. Ðộng phách kinh tâm, tìm chỗ nấp…

Hải Phòng huy động quân đội và công an can thiệp trong vụ cưỡng chế đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn (huyện Tiên Lãng), 05/01/2012. Trong ảnh, đại tá Đỗ Hữu Ca (X) Giám đốc Công an Hải Phòng – nguồn RFI

Thấy đã yên yên, tràn quân tới. Kéo ập vào nhà, chỗ bỏ không. Giận đã cành hông, mất mày mất mặt. Bắt chó, đuổi gà, phá nhà thành bình địa mới đã nư. Vợ dại, con thơ chúng cũng chẳng từ. Bụng mang dạ chửa, dùi cui thúc vào bụng…

Trong một phút đất bằng dậy sóng. Cửa nhà cơ nghiệp bỗng tiêu tan. Gia đình, vợ con xẻ nghé tan đàn. Nỗi oan ấy vì ai mà nên nỗi? Thượng bất chánh, hạ tắc loạn mới lắm dân oan. Chính sách bậy, lãnh đạo sai mới sinh phản kháng…Tội âm mưu chống người thi hành công vụ đã quá rõ ràng. Tội cố ý giết người, đả thương sai nha khó lòng chối cãi. Khẩn trương xét xử, tức khắc thi hành. Xử một răn trăm, để dân oan từ nay hết hòng nhúc nhích!”

Viết văn xuôi là: “Năm 2009, anh em Ðoàn Văn Vươn, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị bọn cường hào ác bá cấu kết với tham quan, ô lại dồn họ vào đường cùng để cướp đất. Anh em Vươn quá uất ức đã vác mìn, súng chống lại cả trăm công an, bộ đội. Sau hơn 4 tiếng đụng độ, kết quả 4 thằng Công an và 2 tên bộ đội khuyển ưng CS đi nằm nhà thương.

Ông Ðoàn Văn Vươn và em trai Ðoàn Văn Quý bị tuyên phạt y án 5 năm tù ngày 31/7/2013 về tội Giết người và Chống người thi hành công vụ.

Chính Giám đốc Công an Ðỗ Hữu Ca là người ra lệnh, chỉ huy đàn áp và bắt nhốt dân oan Ðoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Sau đó ông ta còn ca ngợi chiến công này là một trận đánh đẹp, nên ghi vào sách. Thủ tướng ‘Ba Ếch’ thăng chức Thiếu tướng cho Ðại tá Ðỗ Hữu Ca.

Giờ thì Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu Giám đốc Công an Hải Phòng bị tạm giữ, khám xét nhà riêng, rồi bị nhốt chờ hầu Tòa. Mà mấy quan Tòa nầy trước cũng từng là bạn nhậu với tớ. Ðời đểu thế!

Dẫu làm cho tới tướng Công An cũng bị ủ tờ. Nhưng cũng có nhiều an ủi! Ðâu phải mình Ðỗ Hũu Ca? Mà còn Thiếu tướng Tiến sĩ Nguyễn Ðức Chung, tự Chung con, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thủ đô Hà Nội cũng đội chuối khô và một số tướng sao băng còn nhiều sao hơn Tướng Hữu Ca, Hả Cu nữa kìa!

Là đảng viên CS cao cấp, Thiếu tướng Hữu Ca, với bốn bằng đại học, ắt phải rành câu nói khét tiếng của Mao Chủ Tịch, người không thích đánh răng: “Cách mạng vô sản là sự trấn lột những kẻ bóc lột”

Dân nghe cái tin ruồi bu nầy, người thì nói hơi trễ; người thì nói đáng đời. Nhưng có người chiết tự cái tên Ðỗ Hữu Ca: “Ðỗ là Ngã. Hữu Ca là Hả Cu? Ngã Hả Cu? Xui thấy mẹ!

ĐXT

Chó cán xe

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Chó cán xe

Thằng Bảy lấy con Năm, dân lối xóm kêu tóm gọn: Vợ chồng Bảy Lăm. Người ngoài phương Bắc tràn vào an cư lập nghiệp đông, phong tục tập quán dần dà bị hoán đổi. Đất đai vườn tược theo đó cũng tráo trở lẳng lặng vào tay chủ mới. Vợ chồng Bẩy Nhăm chịu đời hổng thấu, theo bà con tay xách nách mang khăn gói đi vùng kinh tế mới rắn rít cọp beo khai hoang khẩn đất chó ăn đá gà ăn muối người thì chưa biết ăn chi.

Không cứ mang thân vào rừng ở là được tự do phát huy quyền làm người. Tập thể nào cũng có kẻ quyền thế đứng ra lãnh đạo, sếp sòng là anh bộ đội cụt một giò làm tài lanh khai sinh cho uyên ương thằng Bảy con Năm danh xưng mới: Giải Phóng. Con Năm nói chùng nói vụng với chồng: Mẹ rượt, tui hổng mặn tên này đâu nha tía sấp nhỏ. Thằng Bảy đầu tắt mặt tối ngó vợ mồ hôi mồ kê thỏ thẻ: Anh cũng dậy, đụng phải đứa xấu bụng ưa nói lái thành ra phỏng dái thì nghe kì thấy mẹ. Đâu còn nước nôi gì để mang lợi hạnh phúc cho em.

Vợ chồng thằng Bảy con Năm có hai mụn con. Do chịu cảnh sống bần hàn nên mãi đơm mộng ước “hy sinh đời bố củng cố đời con”, cụ thể bằng cách đặt tên thằng đầu là Sang thằng kế là Trọng. Bốn bàn tay lấm lem, bốn bàn chân bùn lầy, vợ chồng lao động tắt quạt vẫn không cải thiện được cuộc sống, nghèo lại hoàn nghèo, đói giáp vòng đói. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ai có ngờ đâu một tối hoang vu trăng thanh gió mát giữa núi rừng cô quạnh, Bảy cày bừa kiểu gì thiệt ngộ khiến cho Năm phải lặt lè mang bầu tâm sự. Tuy vào chốn sơn cùng thuỷ tận nhưng lãnh đạo cũng mang theo bên mình kế sách của miền phồn hoa đô hội, ấy là bà con nên thể hiện nếp sống văn minh, cho phép mỗi hộ được quyền đẻ ra hai nhi đồng cứu quốc thôi. Lỡ cháy kế hoạnh, nhà nước sẽ hoan hỉ giáo dục cho một hồi, hồi sau thì mang đi trục cái cục nợ đời lầm lạc nọ, vén khéo mà mất chỉ có ba mươi giây. Đồ sát sanh! Sao lại hoan hỉ mừng vui? Ấy là bởi có đường dây chuyên đi săn lùng thu mua ba cái vật máu me nọ. Bỏ nó nằm thỏm lỏm trong lu hũ, dội rượu vào ngâm ngập thân. Dùng một bộ phận không nhỏ nơi cơ thể tím tái kia mà chiên xào mặn mòi củi lửa, a hèm, nói đáng tội, đã là đại gia thì ôn nào cũng khoái nhậu thứ hàng độc ấy. Sẽ đỏ da thắm thịt, sẽ cải lão hoàn đồng, sẽ thành công trong mọi thương vụ mần ăn, trong hoặc ngoài luồng. Bất đáo trường thành phi hảo hán, bất xực nhau thai nhi phi đại gia. Khí thế vãi!

Vợ chồng Bảy Lăm chủ trương trời sanh voi sanh cỏ, bất biết thể hiện nếp sống văn minh, đi trái với qui định lề luật ác đức bất nhơn kia, khư khư ôm ấp bảo vệ giọt máu chuyên chính vô sản. Thằng Bảy ngôn: Cùi hổng sợ hủi. Đù mẹ bất quá thì viết tờ kiểm điểm nhận sai trái lần sau con xin chừa chứ có gì đâu mà phải bức xúc cho ốm người thêm. Con Năm nói dặm vô: Tui làm tui chịu, mấy người vô can xin chớ chất thêm củi lửa làm chìm xuồng. Trời đãi kẻ khù khờ hay trời hành hai đứa điếc không sợ súng? Lần lót ổ trở dạ này con Năm tái mặt máu rặn ì ạch ra cùng lần những hai thằng cu mặt mày rất đỗi bặm trợn, ré khóc vang rân xao xác bầu trời kinh tế mới. Thằng Bảy lóng cóng xoè ngón tay làm phép toán cọng, vị chi là tui có được bốn quý tử. Bốn con cu mà thuỷ chung chẳng thèm lòi ra một con bướm. Bà con lối xóm ai cũng khen con Năm can trường lẫm liệt, sinh đôi mà phẻ re như đi ra suối ỉa vất, tuyệt không hao tổn nguyên khí. Hai cái vú căng mọng sữa chảy lai láng cùng lần, đứa trái đứa phải gục mặt vào nhắm trít con mắt đề huề lim dim thụ hưởng chút chít liên hồi kỳ trận. Bảy ngó vợ, ngó con, trong đầu tự động hiện lên hai cái danh xưng: Hùng, Dũng.

Công an dân phố, tổ trưởng khu vực khi ngó vào sổ hộ khẩu của tiểu gia đình Bẩy Nhăm đều há hốc miệng: Đéo mẹ nghèo rớt mồng tơi cơm không có ăn áo không có mặc mà đòi chơi cha thiên hạ. Tên bốn thằng cu này đọc lên nghe thậm hoành tráng. Sang Trọng Hùng Dũng. Mẹ kiếp, mày chảnh quá e bà con đâm ra tâm tư!

Ngày nọ có phái đoàn y tế dưới huyện đi xe ô tô con lên chích thuốc chủng ngừa tiêu chảy sốt rét cho bà con thân thương, tới phiên con Năm bồng ẳm cả Hùng cả Dũng vạch đít cho họ phóng ống tiêm thì cô y tá hưỡn đãi tay nghề vẻ mặt bán tín bán nghi: Phải mày không Bẹn? Lạ, bao năm rồi chính Năm cũng khuấy quên cái tên gọi âu yếm nọ, sao dạt trôi chốn này có kẻ lạ hoắc lạ hươ lại nắm được thứ sơ yếu lý lịch chết người kia? Nói quanh nói co vòng vo xà bần ba chừng bảy đỗi thì cả hai nhìn nhận là bà con với nhau. Bẹn kêu Le bằng chị. Má đẻ Le là chị của má ruột Bẹn. Đầu đuôi cớ sự có bấy nhiêu, đơn giản như một với một là hai, vậy mà cuộc đời đầy tao loạn đã khiến bài toán vỡ lòng ấy rối tung lên, hơn cả một phương trình đầy ẩn số. Tay bắt mặt mừng, hàn huyên rôm rả xong tới màn sụt sịt lệ đổ đầy vơi. Người tía chết kẻ má tiêu diêu miền cực lạc, gia đình thảy tan tác thất lạc núi này sông nọ. Thì vậy, giày dép còn có số huống chi… Le là tên gọi ở nhà hồi còn con nít ranh, giờ làm y tá bước ra xã hội lao động buộc phải mang tên Tiên cho xứng tầm thời đại. Tiên choáng khi nghe mười tám xuân thì của Bẹn đã sở hữu tới bốn mặt con. Tiên bức xúc nhìn quanh, vậy chứ thằng chồng mày có đó không, sao mày lại bó thân chịu sống cảnh đời tàn trong ngõ hẹp? Bốn con, nói ra chẳng ai tin bởi người mày còn ngon cơm chán. Đời dưới kia giờ đã đổi, rậm rật bao phương án mưu sinh, chịu khó ngủ một giấc đầy ác mộng, khi tỉnh thức đã thấy nhung lụa bên gối nằm. Dù gì thì tụi mình cũng bà con cật ruột, thấy mày hệt như cái quần rách lai tao đây cũng xót dạ, nói láo cho bà vật.

Quyến luyến cho tới chiều thì phải dùng dằng chia tay. Tỉ tê tâm sự thì cũng tới hồi cạn, Tiên đành thăng theo xe cơ quan xuôi về thị thành gọi là làm xong công tác. Cô y tá thôi đeo khẩu trang, dúi vào tay Năm vuông giấy nhỏ: Hãy cùng thằng chồng đấu tranh tư tưởng, muốn đổi đời thì chẳng thể ở chốn ao tù nước đọng này, ưa đi thực tế trước để nắm tình hình thì đây là địa chỉ của tao. Về dưới, chỉnh trang bộ vó rồi tao dắt mày đi kiếm việc mần. Đã là bông hoa thì chớ để nó phải tàn héo đi, mày ngộ ra điều tao nói hôn?

Năm canh chầy thức đủ vừa năm, Năm ngủ hổng xuống với bao ảnh hình chị Tiên tiêm nhiễm. Lòng lợn cợn bao mưu toan, dập dềnh những ý tưởng phải quấy. Chưa kiếm ra hoàn cảnh thuận tiện để trút đi tâm sự nặng tợ ngàn cân đeo bám trong dạ cùng chồng, sáng nắng chiều mưa đâu dăm bữa thì tin dữ ập tới sau tiếng nổ điếng hồn, Bảy cuốc đất đụng phải trái mìn ngủ quên trong cuộc chiến thần thánh, tứ chi rụng rời máu đổ tàn canh gió lạnh, nóng sốt chuyển xuống bệnh viện cấp cứu thì giữa đàng sớm đụng mặt Các-mác mí lị Lê-nin. Bảy ơi là Bảy, chớ tội tình chi mà anh phải sớm lìa bỏ thiên đường? Anh phủi chân leo lên ngồi trên bàn thờ bắt tui một mình nuôi nấng giáo dục cả bốn đứa Sang Trọng Hùng Dũng? Điệu này không giang hồ xuống miệt dưới sầm uất chơi canh bạc đỏ đen e không xong với đời thường hằng là bể khổ.

Lãnh đạo có cử người tới túp lều tranh uỷ lạo tinh thần, cho chút đỉnh tiền động viên làm ma chay cần kiệm. Mắt Năm ráo hoảnh khi khóc than vật vã: Mẹ rượt! Mất Bảy còn Năm, bây giờ thôi phỏng dái mà phỏng toàn bộ cơ thể người ơi! Ngày xưa ông bà tổ tiên chia con ra đề huề mà định vị kẻ ở rừng người ở biển, bi chừ tui đành ký gửi thân anh cho núi rừng bao che, chịu thiệt thòi mang nguyên con cái về đồng bằng thử làm cách mệnh đời mình một phen. Mả cha đời, thiệt vô hậu, anh có linh thiêng thì phù hộ cho Năm này được lao động vinh quang. Nó không hái ra tiền quyết không về chốn hiu hắt này thăm mộ bày hương hoa cúng kiến anh.

Giống những đứa âm mưu vượt biên phản bội tổ quốc, Năm lặng lẽ ngậm tăm trốn chạy bà con láng giềng đổ thân đi chui xuống đường nhựa liên tỉnh lộ một chiều tà quạnh quẽ. Đi mạng không chỉ bận bịu tay bồng tay bế bốn con cu chưa chịu mọc đủ lông cánh đón xe đò về chốn rậm rật đèn màu phồn vinh giả tạo. Con ơi là con, nếu có ai ì xèo mặc cả mua lấy thì tao bán mẹ mày đi cho nhẹ gánh hành trang. Đồ báo đời gì đâu không á!

Dặm dài rách cả tơi lẫn nón thì ơn Đảng, Năm tìm gặp được Tiên. Mày khùng hả Bẹn? Phải biết cưa đôi chứ té giếng hay sao mà đi lo chuyện bao đồng ôm giữ cả bốn đứa? Sức vóc đâu, tài chánh đâu mà mang ra trang trải? Nước mắt lại có cớ trào ra, sụt sùi cho trôi bụi đường xứ lạ: Chị à, thằng Bảy tía sấp nhỏ ngủm củ tỉ rồi, anh hùng lao động chết không toàn thây không ghi lại di chúc. Em đành ngậm đắng nuốt cay làm ba đầu sáu tay chứ biết cách nào hơn. Phận gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, tàu còn lênh đênh thì mong nhờ chị đoái lòng ngó xuống mở lượng hải hà cho em tấp vào lánh phong ba thời gian đầu lạ nước lạ cái. Ơn vĩ đại của chị Tiên em suốt đời khắc ghi. Thôi, đừng nói nhiều mà xa nhau, đến nước này rồi phải kíp tìm phương án mà hành động. Tao là cán bộ nhà nước phải giữ phẩm giá đạo đức cách mạng, chẳng thể một sớm một chiều đi bôi bẩn lý lịch bằng cách dung nạp oa trữ mày trong căn hộ này. Tao sẽ giới thiệu mày cho bà Tám bóng, nhà bả rộng rãi lại thêm đông đảo chị em bạn gái, tha hồ cho chúng nó nựng nịu bồng bế phụ đỡ mấy thằng cu lem luốt này. Đi, đi ngay, tao dẫn mày tới trình diện Tám bóng.

Tám bóng tuổi khoảng năm bó. Chữ bóng ăn liền với tên do bởi bà có tật mạnh tay khi trét phấn bôi son lên mặt mày tứ thời bát tiết. Ấn tượng bắt mắt hơn cả phường tuồng. Bả được mấy đứa con gái đồng thanh kêu bằng má. Má Tám bóng làm chủ tập đoàn kinh doanh nghề hớt tóc thư giãn, lại nắm giữ chức lãnh đạo quán cà phê đèn mờ. Khi Tiên mang Năm tới chào hàng, Tám bóng làm bình luận viên: Nhỏ này thân thể săn chắc cứng cáp chỉ tội cái hơi đen đúa hơi nhà quê một cục, nhưng theo kinh nghiệm của má, chỉ cần chút đỉnh thời gian người nó sẽ trôi hết phèn chua đất đỏ bấy chầy ám thân. Cái đít nó, cái vú nó, cái mông nó, cũng có thể cái cửa mình nó rồi đây sẽ làm khuynh đảo bá tánh. Tắm rửa kỳ cọ cho gắt gao, má sẵn lòng cho son phấn phụ kiện đặng nâng cấp nó. Thằng Tường lé sếp đồn công an mà không phiêu diêu tới bến cùng nó thì tao đi đầu xuống đất.

Tiên được thưởng nóng nửa triệu gọi là chút đỉnh tiền trà nước cho cò và Năm được Tám bóng khai sinh cho tên mới: Hoa Nhài. Nghe lời má đi cưng, hãy lau khô nước mắt, hãy chặt lìa cái đuôi quá khứ bị kềm kẹp, quên mẹ nó đi những Bẹn những Năm những ngày xưa thân ái, giờ cưng soi gương tập cười với cuộc đời rối beng này và đời sẽ bồi thường xứng đáng cho cưng khi bọn đàn ông xiêu lòng trước một cành hoa mới khoe sắc.

Đúng như tiên liệu của bà Tám bóng, y bon với con mắt biết nhìn thời cuộc, lượng định ra một khúc quành khuất tất, tiệm mát-xa thư giãn trở nên chộn rộn từ ngày có Hoa Nhài hoá thân về đầu quân dưới trướng. Hồn thiêng thằng Bảy có chu du ngang qua, được đối diện vợ cũ nó cũng chẳng có tài thánh để minh định ấy là người từng tay ôm tay ấp một thời xa vắng. Năm giờ đã thoát xác, lộng lẫy và chảnh của vẻ đẹp đĩ thoả mang hương sắc hoa nhài. Ở với Bảy, áo quần kín bưng bó thân nghiêm túc lễ giáo, nhưng goá phụ Năm tháng ngày này y phục luôn chểnh mãng luôn kiếm cớ bày hàng. Có hàm oan không nếu bảo rằng nhờ ơn cách mạng đày Năm lên vùng kinh tế mới lao động đầu tắt mặt tối tạo điều kiện cho Năm sở hữu được một cơ thể rắn chắc, khiến những đứa ưa hái hoa đã phải trố mắt ra: Mẹ kiếp con Nhài nó văm nó múp đáo để, ông chơi bở hơi tai gần cháy bu-di mà nghe nó ngôn kiểu khinh miệt: gãi chưa đã ngứa. Mẹ, nó có bí kíp gì không mà khiến tớ đường đường một nam tử hán lại chịu cảnh sớm khóc ngoài biên ải!

Năm lu bu với cảnh sống mới nên nhạt phai dần tình mẫu tử. Nói nào ngay Năm cũng ít khi đụng mặt bốn đứa, chúng dắt díu nhau đi từ sáng sớm, đứa bán vé số đứa đi bới móc đống rác ruồi nhặng phế thải kiếm ve chai, đứa kiên trì bám trụ trước cửa mấy quán ăn xin bạc lẻ hoặc nhanh tay húp sạch chút cơm thừa canh cặn của đám thực khách, đứa lòn lách vào chợ móc túi hoặc giật ví hoặc tư trang dây chuyền đồng hồ các thứ. Chúng ăn bờ ngủ bụi và sinh hoạt của thứ xã hội ấy khiến chúng chai lỳ ra, một thứ bản năng phù hợp với quy luật cuộc sống. Chúng trổ giò và thằng Sang hiện cầm đầu một đám anh chị trấn nhậm đi bảo kê quanh địa bàn không nhỏ ở vòng đai thành phố. Cái tên Sang máu lạnh có thể khiến một đứa ngày đầu hăm he bước chân vào giang hồ phải xanh mặt máu khi nghe tiếng ong ve. Danh bất hư truyền, tiếng đồn rậm rật lọt tới tai bà Tám bóng, má cho người bắt xe ôm truy tầm đúng anh đại ca nhí đưa lời đường mật phủ dụ. Đã là người của giang hồ thì mày phải biết tôn trọng đạo nghĩa, lẽ nào mày quên công ơn của má ngày nào sao Sang? Tao không hối mày buông đao để thành Phật, tao chỉ khuyên mày nên về làm bảo vệ cho quán cà phê đèn mờ của tao. Má ruột mày, con Hoa Nhài lỡ có thằng dở hơi phá phách quá đáng thì khi trông thấy mặt mày e nó phải nhũn như con chi chi. Đôi lời tâm huyết, mày nghe có hợp lý hợp tình chăng? Sang nhổ nước dãi trước mới nhếch môi phán: Đéo mẹ bà chẳng nghe câu bụt nhà không thiêng sao? Sang này đời nào lại hạ mình đi chăm sóc đám hạ lưu đĩ điếm. Nôm na rằng thì là đờn ông này quyết không dây dưa với bọn đờn bà kia cho rách việc. Nếu đã là đờn bà thì bà nên xéo đi.

Suốt cả cuộc đời trường tồn bám trụ ở chốn này, lần đầu má mì Tám bóng nghe được một câu chẳng lọt vào lỗ tai như vậy. Xấc láo, mất dạy, du côn, đồ đầu đường xó chợ, đồ du thủ du thực, đồ ăn cháo đá bát. Bụng bà Tám bóng sôi lên, nhất là khi khổng khi không bị nó dội nước lạnh vào người làm trôi đi son phấn làm mất thể diện, làm mất mặt bầu cua. Thù này phải trả, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Mẹ mày chớ, dám cạnh khoé với Tám bóng thì con ắt sẽ học được phép xử thế, bài lễ độ của công dân giáo dục. Sách bà Tám bóng soạn ra: Bỏ hai triệu trong bao thơ, giao vào tay sát thủ biểu triệt cho được thằng Sang chưa ráo máu đầu nọ. Sát thủ cầm tiền đi sắm hung khí, đồ hàng ngoại, nhãn Trung quốc in tuồng ở Hoa Sơn luận kiếm. Người ta rêu rao ở trang mạng, bạn thổi một sợi tóc ngang qua lưỡi bén, tóc sẽ êm thắm đoạn lìa làm hai. Nếu muốn, có thể chẻ sợi tóc làm bốn. Cháy túi, sát thủ phải xin thêm tiền ở má Tám bóng để làm cuộc nhậu cùng chiến hữu cho thêm hưng phấn trước cuộc binh đao. Rề rà đợi giao hàng nóng, lại hú gọi nhau tợp rượu lấy dũng khí sơ sịa cũng mất ngoẻn non tuần, đến khi đèo nhau đi hành quân sang địa bàn bên kia thì hú hồn: Công an đã vừa vây bắt được Sang cùng đàn em với tội danh trấn lột tài sản và có nguy cơ cướp đi sanh mạng kẻ khác.

Bà Tám nghe báo cáo lộ vẻ không vui. Hai triệu là hợp đồng hồi nào mầy chém nó. Mày không xung trận thì tiền đâu, hoàn trả lại tao. Sát thủ nghe tỉnh rượu, nực cười thay, hai triệu hả, đó bà giữ cây bảo kiếm ấy đi đặng lần khác có mà xài. Con mẹ mày, tao lấy kiếm mà đào mả ông già mày à. Thiệt nực gà, sao lóng rày cứ gặp phải chuyện gì đâu không, ngó chẳng êm bụng một mảy may. Chộn rộn chui lọt vào màn nhĩ Năm, đi điều tra mới hay ra bà Tám tính xin thằng Sang tí huyết. Tình mẫu tử ngỡ vùi quên khi không lại chạy xô về làm thót tim. Năm thay đổi xiêm y lận chút bổi cụ Hồ vào thắt lưng quần lật đật đi tới khám bên quận Tư thăm Sang. Mày đi đâu đó Hoa Nhài? Vui Xuân không được quên nhiệm vụ nghe cưng. Con Bạch Tuyết án ngay cửa chêm cục gạch cản đường. Bả có hỏi nói hôm nay tao có tháng, tao không đi khách được. Tao chạy u ra nhà thuốc mua thuốc trị đau bụng rồi sẽ giỏi chân về.

Năm rất ngán đặt chân vào trụ sở công an, nói chung là bất cứ cơ quan nào khác. Đã là đầy tớ của nhân dân thì thằng nào con nào cũng hoạnh hoẹ ưa làm đày làm láo cả. Mặt mày chúng giống nhau đã đành, ngôn ngữ chúng dùng cũng một dạng không đổi, rất thuộc bài. Có một thứ chúng chẳng chịu sáng mắt sáng lòng, ấy là hiện kim, là tiền bạc, là giấy cứng. Chúng giả đui giả mù để tạo điều kiện thuận lợi cho mình mua chuộc tình cảm. Năm chìa tiền ra và xấp giấy thông hành kia giúp Năm giáp mặt được đứa con đầu. Thằng Sang với tuồng chữ gà bới vừa viết xong bản tự khai dài tới ba trang giấy vở học trò. Mồ tổ mày, coi bộ giỏi môn luận văn hén? Thằng tội phạm mặt trơ lỳ chẳng lộ buồn vui khi gặp má nó, hèn gì mà dân anh chị kêu nó bằng hỗn danh Sang máu lạnh. Đẻ ra nó lành lặn là thế, không tì vết, mà giờ đây da thịt nát nhừ cả hình xăm trổ rồng phượng cọp rắn đi kèm với bao đòn roi đánh dằn mặt vằn vện tươm máu. “Nếu biết rằng tôi đã ngồi tù, trời ơi người ấy có buồn không?”. Con xăm làm gì hai câu than thở nghe mềm lòng ấy? Nghe như cạo sửa thơ ai. Con cần chi thì nói má, má liệu cơm gắp mắm chạy đôn chạy đáo đặng cứu chuộc con. Sang này đéo cần gì cả. Nó nói nhát gừng, nó giả nhời cộc lốc. Nó ngồi sau chấn song mà chảnh như chuột sa hủ nếp. Ba mày có sống lại, ổng cũng chào thua tính cương cường mày có. Ổng bị người ta liệt vào thành phần cứng đầu khó cải tạo nhưng xem ra ổng phải gọi mày là đại ca. Hổng anh hai thì kêu bằng chú, chú hổng ưa thì đành lạy bác ạ. Bác khoẻ không? Đau khổ chi bằng mất tự do. Sao, con không có lời gì để nhắn nhe cùng má sao Sang? Bà dìa đi, giữ thân mà lo cho thằng Trọng thằng Hùng thằng Dũng. Tui biết có nhiều bà mẹ anh hùng đẻ con trong nghèo khó nhưng sau này con chăn trâu con ở đợ vẫn làm nên đại sự. Tui ưa nổi loạn làm anh hùng mà thời cơ chưa tới, nay chịu thúc thủ thì ý trời đã định. Tui làm tui chịu, bà đừng dại má con um sùm trời đất để can tội đồng loã bao che.

Mặt Năm khờ câm. Đời thuở, mình gian khổ đi thăm nuôi nó lại bị nó khi rẻ đuổi khéo đi. Con với cái, thiệt đắng cuống họng, biết vậy tao đẻ ra cái hột vịt lộn mà nhai với rau răm cho mát cái lỗ miệng! Ngọt lừ!

Chị Năm. Ai đó gọi giật giọng. Tôi đã xem lý lịch với bản tự khai của nó, toàn bộ lời lẽ tuy có biểu hiện thành khẩn nhưng lắm chỗ vấp phải đôi ba sạn sỏi làm lấn cấn, ấy là cách chị đặt tên cho bốn anh em chúng, như ngầm dự mưu phỉ báng và mang tội chống đối nhà nước. Có đúng thế không? Í qui thần tía má ơi, sao chưa gì cán bộ lại đánh phủ đầu tui kiểu đó. Tui hạng dân dã quê mùa, xin cán bộ cứ thẳng ruột ngựa nói ra hoạ may tui mới được tường tận. Này, chị giả vờ ma mãnh hay tình thật một chữ không biết cắn cho vỡ đôi? Nghe đây, đặt tên con như vậy là huý kị là phạm thượng, bởi bốn vị lãnh đạo rường cột nước nhà thảy đều mang tên y như bọn tội phạm móc bọc xì ke ma tuý giống con chị cả. Í, quỉ thần thiên địa ơi, đây đúng là chuyện giả tưởng, nếu có trùng hợp thì ngoài ý muốn của tác giả. Sao, ưa vòng vo lấp liếm chạy tội à? Dạ đâu có, tui nghe người ta lạm bàn là học sinh thời nay đều dốt đặc môn sử, huống hồ phận tui nghèo hèn đâu được vinh dự cắp sách đến trường để biết mặt ngang mặt dọc của các ngài đỉnh cao. Giá mà tui biết tên của các vị ấy thì đời nào dám xúc phạm, thà đặt tên chúng là Cầu Dừa Đủ Xoài chắc đã êm ả cuộc đời, im re đứng ngoài vòng tử sinh. Chớ dông dài nữa, vắn tắc là sẵn đây chị nên tranh thủ đi làm lại giấy khai sinh cho chúng, thằng Sang thì cho nó cái dấu hỏi, giả dụ thế, thằng Trọng thì tẩy mẹ nó đi cái dấu nặng, thằng Hùng thì đoạt cái dấu huyền, thằng Dũng thì chôm của nó cái dấu ngã. Thử đọc lên xem nào, Sảng Trong Hung Dung, nghe có phải dịu dàng hơn trước không? Nghe như tên của mấy người nước lạ. Đòi gì khác?

Năm cúi mặt dùng tay khều đất đen bám trong móng, ra tuồng bận vận dụng chất xám. Cha mẹ sanh con trời sanh tánh, sanh xong thì giao mạng cho nhà nước giáo dục chỉ đạo. Cán bộ đã nói thế thì tui nghe thế, quyết chẳng lấy đó làm điều, ngượng miệng kêu ban đầu nhưng riết rồi phải quen tai thích nghi. Quê tui thiếu khối gì bọn người phụ rẫy ơn sinh thành, đi mần cách mạng rồi tròng vào thân cái bí danh do lãnh đạo đặt để, khai tử Cu Đen Cu Vàng ngày còn thơ ngây để ưỡn ngực ra bằng tên gọi lão làng đầy thành tích anh Chín Hầm anh Sáu Tám Mậu Thân anh Tư Bãi Dâu anh Hai Khe Đá Mài… Ôi biết kể sao cho xiết!

Năm le te đi ra khỏi trụ sở có chấn song nhốt gọn thằng con tên Sang nay vướng vào lao lý tên gọi là Sảng. Ông sếp ngôi nhà đường bệ ấy nói với đám thuộc hạ: Đéo mẹ thật là con nào mẹ nấy, con Năm này mà hành nghề trong khu vực ta thì ngày một ngày hai tao còng đầu nó cho khỏi chướng tai gai mắt. Đồ thành phần ăn bám xã hội. Dạ anh Ba nói vậy là thiếu cơ sở, nó đâu có ăn bám xã hội, đồng chí Tường sếp công an quận nọ sẵn lòng làm ô dù cho nó bởi ổng lậm bùa Năm, bí danh Hoa Nhài. Xem vậy chứ nó có giá lắm, cỡ mình e không đủ sở hụi nếu muốn đi tàu nhanh cùng nó đâu. Mẹ, đời luôn là bài toán tréo cẳng ngỗng. Ông thầy thắp thuốc có cán thở khói vào mặt thằng đệ tử: Đù mẹ sao mày chẳng nói sớm, bận sau đi họp lỡ gặp anh Tường cũng khó nhìn mặt nhau. Mày nghĩ là nó có tâu lại cớ sự hôm nay với anh Tường không? Bắt buộc rồi, em để ý thấy nó bức xúc khi nghe mấy thằng con Sang Trọng Hùng Dũng bị đề nghị đổi tên. Kệ mẹ nó đi mà, chiếc áo đâu làm nên thầy tu, tên gọi muôn đời không ảnh hưởng tới số phận đứa lỡ mang, chăn trâu vẫn hoàn chăn trâu, móc túi vẫn hoàn móc túi, thất học vẫn hoàn thất học… Sang trọng mà làm gì cho má nó khinh…

Vách có mọc lỗ tai. Mày câm mồm đi. Mày đừng nói nữa, có được không? Sếp nạt thằng đàn em, nó đứng nín khe, tay mân mê chiếc nón có đính ngôi sao vàng cực hoang mang nhìn xuống đôi dép râu nhuộm đen những ngón.

Hồ Đình Nghiêm

Bang Bang

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Bang Bang

Tôi vẫn đứng chỗ ấy, không dời đổi. Đan Minh muốn tôi chờ cô ở đó và tôi nghe theo. Khá xa cánh cổng Đan Minh sẽ xuất hiện vào lúc mười giờ rưỡi tối. Kín đáo, hơi khuất lấp. Tôi tự hỏi, có phải Đan Minh muốn thế không? Bản thân, tôi cũng chẳng ưa chường mặt ngoài vũng sáng. Bóng tối giam cứng tôi lại bằng sự độ lượng của tàn lá xum xuê trên đầu, buông rủ xuống và như mọi khi nó phả cho tôi chút hơi thở mát lạnh của thứ cây bề thế có tuổi thọ già bằng những trang cổ tích.

Đan Minh làm việc trong một quán bán cà phê luôn đông khách, nếu có đứa rộng lòng đòi đưa cô về, hẳn cô không khó để tìm cách từ chối: Tôi lỡ ký hợp đồng với một gã xe ôm rồi và hầu như chưa bao giờ hắn sai hẹn cả. Hắn là cái đồng hồ chạy pile chẳng hao hụt năng lượng, hắn tựa một đại diện cho thứ công ty trách nhiệm hữu hạn phục vụ đối tượng bằng phương châm “đinh đóng cột”. Rất uy tín.

Người hành nghề chạy xe ôm và tôi, có riêng một điểm khác biệt. Tôi dấu che thân phận trong bóng tối trong khi bọn người kia thường lựa chỗ sáng mà quần tụ, mà chào đón, mà rước khách, mà chèo kéo. Họ am tường hầu hết những con đường nằm chằng chéo đè lên nhau vô tội vạ có trong thành phố bị cắt manh múm. Còn tôi, chỉ rành đường đi lối về với khu vực được khoanh vùng dài cỡ 7 km: Lộ trình từ quán cà phê đâm đầu tới nhà trọ. Thỉnh thoảng phá lệ được chạy xa hơn, Đan Minh vẽ đường và đó là những tối cô cao hứng đãi tôi đi ăn khuya. Một tô cháo gà hoặc một tô cháo cá. Đôi khi mưa đêm thầm lặng nghiêng hạt nhỏ chẳng làm kinh động một ai, chúng tôi tấp vào lề đường để ngồi bên gánh bún bò “tối lửa tắt đèn”. Mùi khói than vừa vùi vào đống tro tàn và chủ nhân, một mệ già cỡ 100 tuổi đã rộng lòng dùng vá cạo đáy nồi bán tới giọt nước cuối.

Mười giờ bốn lăm, người sau chót bước ra khỏi quán, tôi nghĩ vậy. Và tôi đã chạy tới sát bên lưng. Hơi diêm dúa, không trẻ nhỏ, người đàn bà ngó tôi với tất cả vẻ dè chừng, phòng thủ. Xin lỗi chị, tôi chờ Đan Minh đã lâu mà chẳng thấy… Nó kêu đau bụng, nó nói chắc em ngộ độc thực phẩm, nó kêu xe ôm chở qua nhà thương lúc tám rưỡi chín giờ gì đó, lâu rồi. Người đàn bà không còn điều gì để nói thêm, bước đi như cơn gió vừa thổi ngang đã lùa sạch những gợn lòng. Để lại một lượng thông tin hơi bất ngờ khiến tôi chẳng kịp trông rõ màu áo. Hình như bà mặc một chiếc váy ngắn, trên đầu gối cả gang tay và là thứ mà Đan Minh diện khi tới quán. Tôi ngồi trên yên xe, máy vẫn nổ, xăng vừa châm đổ tới nửa bình trước đây cả tiếng. Đầu óc tôi như được chạy bằng dầu cặn, cà rịch cà tang khởi động tới năm bảy phút mới đưa tới quyết định: Phóng qua nhà thương.

Thành phố chỉ có duy một bệnh viện và họ gọi là bệnh viện trung ương. Nếu đã là trung ương thì những bệnh viện “địa phương” kia nằm ở đâu? Tôi đã ba chục tuổi đầu, tôi chẳng biết cách để giữ mình nhưng nhờ trời, bệnh hoạn là thứ tôi chưa hề đối diện. Tôi sống phây phây, như cách mà Đan Minh nhận xét và hồn nhiên tới độ chẳng nhớ chính xác địa chỉ của nhà thương lớn nằm ở nơi nao. Nhà chen lấn, mọc tuỳ tiện chắp vá hai bên đường, những cánh cửa đóng kín kia, bản thân nó giữ khu biệt từng nhà thương nhỏ. Không đúng sao? Mỗi đơn vị gia cư đều tích tụ ở bên trong địa phận, lẻ tẻ những niềm đau cá biệt mà muốn sống họ phải tự băng bó lấy vết thương. Tình yêu có khi là con dao hai lưỡi, vin vào đó để tìm lạc thú, đôi khi chính nó tước đoạt hết nhựa sống của đời người. Chật vật để hiểu ra, đi tu là cách thế anh buông con dao kia xuống khỏi tay cầm. Khi xa vật làm chấn thương gây đổ máu kia anh mới mạnh miệng hô hoán: Buông đao có thể thành Phật.

Tôi là ác quỉ, rồ dại chạy giữa đêm đen, gần sang ngày mới thì chạm trán với dãy cao ốc có cắm chữ bệnh viện trung ương bằng xi-măng nhô ra trước mặt tiền lầu một. Đèn ở đó thắp sáng, phơi bày sự ghẻ lạnh như một thứ bệnh viện tâm thần. Hoặc không, nó có khả năng xua đuổi những kẻ “tâm thần” như tôi. Tôi mang xe đi gửi. Gửi xong tôi nhắm cái bảng sáng đèn nổi rõ một dấu cọng màu đỏ chót quờ quạng bước tới. Tại sao là dấu cọng mà không là dấu trừ, hoặc chia? Tôi nghĩ chỉ riêng khu hộ sinh mới có quyền treo tấm bảng kia, bởi hai vợ chồng dìu đỡ nhau tới đó, phút giây sau họ sẽ được cọng thêm một nhân mạng, em bé ra đời khóc oe oe: đời là bể khổ. Những khu vực khác đều lảng vãng bóng dáng tử thần, sẽ chia chác, sẽ khấu trừ, sẽ chiếm đoạt từ bạn những giây mơ rễ má về cái gọi là niềm vui thân thương. Làm sao cộng hưởng được với nó?

Giống như đa phần kẻ vô ra dưới chữ thập đỏ, tôi cũng mang một bộ mặt khó đăm đăm. Bơ phờ, xanh xao, hoang mang, bức bối, chẳng còn lòng dạ nào thì cũng chung một nghĩa. Tôi bước lại gần tấm bảng “Phòng cấp cứu” để hỏi một ông mặc đồng phục bệnh viện. Bằng tất cả những diễn đạt rất mạch lạc mà tôi có, tôi trình bày nguồn cơn và ước ao được nhìn thấy kẻ ngộ độc thực phẩm kia. Những thứ nghe nao lòng nọ như không chạm phải màng nhĩ của ông ta, dửng dưng, mắt không dời đổi, vẫn đặt để trên một vuông giấy kẹp trên tấm bìa cứng. Nếu tôi là Thiên Lôi đang nắm ở tay cây búa, tôi sẽ cãi lệnh trời mà giáng cho thằng chả một búa, để xem hoạt cảnh khi người ta hốt hoảng mang nạn nhân bất lịch sự kia đi sơ cứu nó như thế nào. Một ông Thiên Lôi từ ngoài đường bước vào, xô tôi sang bên, móc túi đếm tiền rồi bỏ vào phong bì đặt nó trước mặt kẻ lãnh cảm kia. Ba mươi giây sau quyền uy của Thiên Lôi mất búa được người đời nể sợ, ưu tiên giải quyết, trả lời minh bạch những gì sứ giả của Trời muốn biết. Và vị sứ giả kia luôn mồm đù mẹ, nóng nảy như anh ruột của Trương Phi.

Tôi đứng quan sát hiện trường rõ lâu, sau rốt tôi nhìn mặt một cô y tá để đặt cược sự rủi may. Tôi cuốn lại những tờ giấy bạc sau khi móc sạch túi quần, nắm lấy tay cô dáng điệu thành khẩn: Chị làm ơn giúp em, tha lỗi em, lòng em như tơ vò. Được, về điều gì hẳn thủng thẳng nói, chuyện gì vẫn còn ở đó, hổng trốn khỏi đâu. Y tá đút tay vào túi áo. Túi may to như thể tất cả những dụng cụ y khoa có thể nhét được vào đó, không cứ là xấp tiền hèn mọn, không cứ là ống nghe thăm bệnh, không cứ là cả nạm viết xanh đỏ gắn nắp ở đó, không cứ là vật đo nhiệt kế, không cứ là cây đèn pile nhỏ chút xíu, không cứ là cặp găng cao su đã qua sử dụng, không cứ là khẩu trang bèo nhèo.

Đan Minh, nữ, ba mươi lăm tuổi, đau bụng, nghi là ngộ độc thực phẩm, bắt xe ôm tới bệnh viện khoảng chín rưỡi mười giờ. Để cẩn thận tôi moi ra được từ bót đựng giấy tờ tấm ảnh chụp khuôn mặt một thiếu nữ ngó sầu mộng chỉ trỏ cho người ta nhận diện. Anh đứng yên ở đây, chớ bước qua lằn vạch đỏ kia. Tôi sẽ đi dọ hỏi, chậm lắm là nửa giờ sẽ trở lại. Đan Minh à? Cái mặt sao trông quen quá. Người y tá biến mất sau tấm màn nhựa bị cắt thành từng vạch buông rủ. Không chắc là sau nửa giờ tôi đếm được có bao nhiêu đường xẻ trên tấm màn tan nát kia. Thay vì lấn sâu qua đường sơn đỏ vạch trên nền xi-măng lầy lội sẽ bị la ó việt vị này nọ, tôi bước ra khỏi vùng cấm địa để nhập chung bầy đàn với bọn người “tang gia bối rối” để đứng hút thuốc. Trong hoàn cảnh này, trong phút giây hoang mang cùng cực này, chẳng có bằng hữu nào sẵn lòng xoa dịu hồn mình bằng khói thuốc cả. Bia rượu và thuốc lá, trời sinh chúng ra là để cứu lấy bọn người bất hạnh đấy thôi. Giống như vai trò một người mẹ, thượng đế đã phán: Tôi chẳng thể có mặt ở khắp nơi, vì thế tôi đã tạo ra hình ảnh một mẹ hiền. Đan Minh sẽ là người mẹ dịu dàng nếu cô đồng ý thuận lòng lấy tôi làm chồng, có nghĩa là một ngày nào trong tương lai, cô nói sau bao đắn đo, hãy cấy vào trong tôi một hạt giống của bạn.

Tôi ném điếu thuốc xuống đất, bệnh viện bề thế không sắm được một cái gạt tàn mặc dù họ có gắn tấm bảng: Khu vực được phép hút thuốc. Chỗ này cũng không trồng cây để chúng làm điều hoà lượng môi sinh. Nếu có cây, người ta dễ nhìn nhận cả đống thuốc lá cụt ngắn kia là hoa lá của cây rụng xuống vương vãi cho cuộc tuần hoàn hoa nở lại tàn. Tôi đi vô sát lằn sơn đỏ chờ đợi người hảo tâm. Cô y tá đẹp người đẹp nết kia đã xuất hiện. Anh có nhầm lẫn không? Trong sổ nhập viện ở phòng cấp cứu hôm nay không lưu tên Đan Minh. Không luôn cả trường hợp ngộ độc thực phẩm. Có năm trường hợp, hai tai nạn giao thông, một uống thuốc độc quyên sinh và hai do hỗn chiến đâm chém. Nạn nhân là hai nữ và ba nam.

Cô y tá có vẻ tận tuỵ khi được cậy nhờ giúp đỡ, hẳn cô rất mát tay nếu đưa mông cho cô chích thuốc. Tôi chân thành cám ơn và tôi ước ao nếu bị xe đụng, chở vào đây cô sẽ là người đè tôi ra vạch áo xem lưng. Ở đây, thời buổi này, nếu không vào ra bệnh viện, cứ phây phây như tôi thì rõ là đồ lạc hậu. Không nhập viện thế thì Đan Minh đi đâu? Từ bao giờ, cô đã mang hạ sách ra lừa dối nhau? Đi tới chỗ gửi xe thì có đứa nhận diện, gọi giật tên tôi. Tôi không may mắn để còn mẹ hiền tới lui han hỏi, tôi trơ trọi thực sự ở thành phố này, chí thú mơ mòng để tâm duy tới Đan Minh, vậy mà ngờ đâu tôi còn một ai khác nhìn nhận ra tôi để lạc giọng thét gọi. Đèn trên đầu tôi bạc nhược soi rõ một khuôn mặt khô héo, gầy ốm, tóc rối bụi đường. Hắn làm khó bộ nhớ của tôi, như thể ổ cứng một giàn computer vừa bị vi trùng thâm nhập. Thời gian làm “tin tặc” hay con người ưa sắm riêng những mặt nạ. Đù má bao lâu rồi thằng cà chớn? Mày làm gì ở đây?
Chữ cà chớn hắn nói giúp tôi nhớ lại phần nào. Chỉ có hắn mới gọi tôi là thằng cà chớn. Ủa, Chơn cà chớn, ừ, quả là lâu thật. Hắn nắm bàn tay tôi, bắt lấy và lay lay như xua đuổi mộng mị. Mồ hôi đổ trong lòng bàn tay hắn, tuy vậy da thịt kia quá đỗi lạnh tanh. Một thây người, một tử thi đều thủ đắc lấy thứ hàn khí ấy. Bàn tay của mẹ khi tôi nắm lấy phút sau cùng trước khi để cho người ta tẩm liệm cũng lạnh lẽo như vậy. Hắn đã chứng minh cho tôi thấy, lạnh cẳng hoặc lạnh tay thì không riêng người chết mới có quyền cưu mang. Người ta rất không ăn hô nói thừa khi ta thán: Sống đây mà xem như chết rồi.

Má tao vừa gánh hàng trong chợ đi ra thì bị xe điên leo lề cán phải. Họ đã chuyển bà cụ lên phòng hồi sức. Còn mày, thằng cà chớn? Tôi đang tìm cách nguỵ tạo một tình huống để đặt điều dối gạt. Tìm chưa ra nên đánh trống lãng. Tao không biết cà chớn nhằm minh hoạ ra thành phần nào, tuy vậy tao vẫn vui khi nghe mày luôn kêu tao là thằng cà chớn. Tại sao? Vì thân thiết mới gọi nhau thế, đúng không? Hắn đặt dấu hỏi. Tôi rút tay về: Tại vì hơn mười năm nay chẳng còn ai kêu tao là đồ cà chớn. Đôi khi người ta cần sống lại những ngày tháng cũ, dù đó là kỷ niệm xấu. Đù má không cà chớn thì còn chữ gì khác? Mày yêu con Thuỷ mà làm gì trong khi nó đang cảm tình sâu đậm với tao. Xôi hỏng bỏng không, mày đẩy nó ra đứng ở ngã ba đường và nó lựa chọn bước đi ở lối thong dong nhất, không ngó ngàng tới mày cũng như tuyệt tình với riêng tao. Tụi mình có ăn học chứ vào thời buổi này e mang đao kiếm ra mà nói chuyện đạo lý. Mày vào thăm ai hay mày đã thôi nhiệm vụ? Đã thôi nhiệm vụ. Vậy được, tụi mình đi kiếm chỗ ngồi nói chuyện. Mười năm rồi sao? Ừ, tao độ chừng vậy, có khi hơn. Không tới đâu, mới quá mà, đâu như tháng trước, bữa nhiếp bữa kia.

Chỗ ngồi nói chuyện không khó kiếm, đó là quán cà phê nằm sau lưng bệnh viện. Đoạn đường chẳng mấy xa, đủ để tôi biết hắn làm công nhân viên trong nhà máy cung cấp điện lực cho thành phố và những vùng phụ cận. Nơi này mất điện nơi kia sáng đèn, sự cố nọ núp bóng dưới hai chữ “bôi trơn” và thứ dầu mỡ kia cầm chân hắn lại, chẳng muốn dời đổi. Nói cách khác, người ngợm hắn trông như kẻ chết đói thiếu cơm nhưng trong túi hắn, ra đường thủ không dưới hai chục triệu. Hắn giàu có tới độ muốn rách túi quần. Thằng cà chớn như tôi chỉ cần một phần tư tiền bạc của hắn cũng đủ ấm đời muôn niên.

Hắn gọi bia cho cả hai. Hắn nói má hắn đã già, không biết có qua khỏi vụ này không. Hắn nói thằng tài xế xe điên đã bị bắt giữ, đù má phải mà tao có mặt ở hiện trường, tao nhảy vào đánh hôi thằng cà chớn kia một trận cho hả giận. Hết nửa chai bia hắn mang chuyện cô bạn học ngày cũ ra nhắc. Tao hỏi thật, thời đó mày mần ăn với con Thuỷ chưa? Tầm bậy, chỉ cầm tay chứ không được nắm chân. Người ta con nhà lành, cầm chưa đổ mồ hôi tay thì vùng vằng quay bước. Chữ yêu là chữ thậm khó nói trong khi chữ mần ăn kia thì vĩ đại cỡ như làm một cuộc cách mạng. Vậy sao? Hắn cười. Tao hôn con Thuỷ rồi, mày tin không? Hôn cho mềm môi, hôn cho tới lúc phát hiện ra mày thầm thà thậm thụt đứng góc đường, đù má thằng cà chớn, uống hết cái này coi. Đã lâu, tôi mới được uống bia. Hắn nói sức mày bao nhiêu thì cứ dung nạp, đừng lo, tao chi trả. Thật kỳ cục, thành phố lớn lao gì cho cam mà sao ra đường không đụng mặt? Tao tưởng mày chết mất đất từ khuya rồi chứ. Mày sẽ thấy thêm một điều kỳ cục khác, là mày có ưa đi thăm con Thuỷ không, tao dẫn đi.

Tôi uống qua chai bia thứ hai, người tôi bắt đầu nóng. Tôi mạng mộc, bình địa mộc, nghe nhắc tới thuỷ mường tượng ra bao điều liên hệ tới ướt át, tới sự thẩm thấu làm người giải hạn, thôi khô khan, thôi cùn mằn, thôi sỏi đá, khiến tôi bức rức. Kỳ cục. Tôi nói nhỏ mà hắn nghe được. Thuỷ sẽ ngạc nhiên vô hạn khi thấy tao dẫn xác mày tới. Than ôi, cuộc đời này là cả một sắp đặt tréo cẳng ngỗng! Nhà triết học đặt chai bia xuống bàn. Thở than là thở than vậy chứ mặt mày vẫn tỉnh khô. Dạo đó tao có mang Thuỷ lại nhà chào má tao. Mày biết sao không thằng cà chớn? Má tao gặp mặt nó phút ban đầu là đã chịu đèn con Thuỷ ngay. Bả ra chợ sắm sửa cho nó bao nhiêu là thứ nội y, bả đơn giản nghĩ một cọng một là hai, cứ đoan chắc Thuỷ sẽ là con dâu. Coi, cái lưng ong, cái eo thon cái ngực nở cái xương chậu cái dáng đi, rồi mai này nó đẻ cho má biết bao nhiêu là cháu ngoan của nội. Giờ này má tao đơn thân nằm trong bệnh viện, giờ này con Thuỷ…

Đi. Hắn quyết định. Hắn trả tiền bia. Đời vô thường. Cơ quan tao đang phát động bài trừ tham nhũng, mai hậu có thanh tra ngoài trung ương vào xem xét tình hình, đù má tao chủ trương cứ chơi cho bỏ những ngày cơ cực. Con y tá đằng chỗ bệnh viện nói nghe thấm thía, nóng ruột mà ích gì, chuyện gì cũng còn có đó. Đù má, có nhiều chuyện rất dễ bốc hơi đấy, em ạ! Đừng đóng khung bất cứ điều gì vào chân lý này nọ mà hố to. Mày theo tao, nghe thằng cà chớn.

Những ngọn đèn đường vẫn thoi thóp, tuy đã sang ngày mới nhưng bình minh còn dùng dằng ở chốn xa chưa kịp về. Mặt trời hẳn ngủ nướng, nếu mặt trời bị tai nạn giao thông, ngày ấy hẳn tận thế. Thôi biết tới má, tới cà chớn, tới đù má, tới Thuỷ, tới người tình không chân dung: Đan Minh. Tôi không dại khai cho hắn biết, so ra làm con mèo biết dấu cứt bao giờ cũng đáng hoan nghênh. Cái bi thảm của đời này là người ta biết rõ lý lịch nhau quá. Dẫm đạp vào đời tư của từng cá nhân như bước chân vào vườn hoang để tuỳ tiện bức hái hoa, dày xéo nó với thứ luận điệu của đứa thất học. Nếu có một thứ đảng cà chớn hiện hữu e sẽ dễ thở hơn, nhỉ?

Ở bãi gửi xe có tên ăn mặc rất đỗi lịch sự. Đứa thanh niên tóc chải tém mướt rượt như vừa tắm táp xong, đôi mắt có vẻ tinh tường quan sát thằng cà chớn rồi quay qua hỏi hắn, nhân viên nhà đèn: Ngày mai chắc hẳn trời đổ mưa? Chú thợ điện đáp, chẳng đắn đo: Không, ngay giông cũng chẳng có. Đứa thanh niên vung tay giữa khoảng không, tức thì dưới tàn lá rậm chôn dấu nhiều bóng tối, cánh cửa chìm lẫn trong bức tường phía sau được mở ra. Có lẽ chất xúc tác của hai chai bia đã mang tôi nhập vào cảnh giới của xứ ngàn lẻ một đêm và tôi đồ rằng hắn vừa làm Ali-baba để đọc khẩu lệnh cho hang động thức giấc mở lối. Phải tích luỹ uy lực mới đọc đúng câu chú. Phải giang hồ lắm bận mới tường ngõ đi lối về. Công nhân viên nhà đèn, chú thợ điện dắt tôi vào nơi cố tình bị mất điện. Chú quen với sự cố tối tăm nên chú xăm xăm. Mày đừng ngờ vực chuyện gì cả, cứ xuôi tay tự nhiên như nhiên thôi cà chớn ạ. Sống mà chống đỡ với bao hoang mang toan tính phòng thủ thì còn xơ múi gì cái cuộc trần ai phù du chóng sang trang này!

Song hành với một kỹ sư về ngành điện lực có lý lịch tốt, còn ẩn nấp bên hông một ông nội ưa triết lý vụn vặt. Lý ra hắn phải là đứa béo tốt đỏ da thắm thịt, cái khô quắt gầy còm hắn có do bởi cố tật mông muội ưa bàn luận chuyện đời phải quấy sáng nắng chiều mưa. Hắn ôm cả núi tiền và hắn sợ có khi đồng bạc tan chảy thành nước, trôi sông đổ biển. Hành lang không mấy dài, thắp từng ngọn bạch lạp cách khoảng, cháy với thứ đốm sáng lung linh như biết thổn thức khi bề dài thân thể bị cạn ngắn dần với lệ trắng tuôn dòng chảy xiết xuống cái chén nhỏ làm bệ cắm.

Hắn rỉ tai nhỏ to trao đổi mật khẩu một hồi với cô gái phục sức như thời tiền sử. Ăn lông ở lỗ cũng có nét đẹp ngời sáng của nó chứ không cứ ngó ra cái đe doạ bị xẻ thịt phanh thây ăn tươi nuốt sống. Này thằng cà chớn, con Thuỷ đang ở trong phòng số 5, tao để cho mày mình ên đi gặp nó đột ngột mà thú vị hơn. Ngày trước chỉ được nắm tay thôi, nghe thảm, bây giờ thì tha hồ dày xéo nhé. Đù má mày chơi sao cho ngon lành đừng để người xưa mắng mỏ: Đồ cà chớn! Hắn trao vào tay tôi chiếc chìa khoá. Rồi vỗ vai: Vô tư tới bến.

Tôi tìm cánh cửa có gắn số 5 để đút chìa khoá vào. Đút trơn tru, đút sít sao nhưng chưa vội vặn mở. Tôi tập hít thở, tôi tập điều hoà kinh mạch và tôi cố nhớ lại gương mặt xinh đẹp của Thuỷ. Cửa mở, cửa đóng trong nhẹ nhàng cẩn trọng, như sợ tiếng động dấy lên sẽ phương hại tới nỗi đau của kẻ mang bệnh yếu tim. Đèn trong phòng thắp sáng nhưng là bóng nhỏ yếu watt, tường vôi hồng và chiếc giường trải khăn trắng có mùng buông lơi một góc giường. Không một vết nhàu trên bề mặt tấm nệm dày. Tấm nệm chẳng dấy cơn chấn động khi Thuỷ rời đít đứng lên. Thuỷ chẳng có mảnh vải che thân nên ngó Thuỷ lạ, không trùng với Thuỷ phục sẵn trong trí tôi.
Tôi xê dịch chân bước, lê lại gần, đứng yên cho Thuỷ dễ bề quan sát. Một thằng cà chớn thì có bị thời gian tẩy rửa chút gì không? Nó phong trần hay nó vẫn thuần là đứa bạn học dại khờ được cầm tay mà xém chút là xuất tinh sướng ngất.

Sao đứng như phổng đá thế? Thuỷ đã lột truồng, người Thuỷ không đáng để khuấy động chút lửa lòng trong anh? Do đâu anh tìm ra Thuỷ? Cớ gì anh lựa Thuỷ mà không là mười cô kia? Họ lấy của anh bao nhiêu tiền? Sau một loạt câu hỏi Thuỷ ngồi lại xuống giường. Cúi đầu, tóc che mặt với bờ vai run. Tôi bước lại, tìm bàn tay Thuỷ ủ vào tay tôi vụng dại. Tôi cảm nhận cái giá lạnh từ đó lan nhanh vào xúc giác mình. Lạ quá, chỉ có đôi tay của Đan Minh là ấm áp, cô lớn hơn tôi 5 tuổi và có đôi lúc tôi mang ảo giác mình được bao che, hỏi han, bảo vệ, chăm sóc ân cần tựa một người có chung liên hệ huyết thống. Bây giờ sống ở đâu, đang làm việc gì và hẳn là trốn vợ đi tìm cảm giác lạ? Tôi nói, Thuỷ cứ hỏi thêm đi. Thuỷ có quyền hỏi. Đổi lại tôi chỉ xin hỏi một câu thôi. Thuỷ rút tay lại, dùng nó để bịt miệng tôi. Thuỷ hôn anh, có được không? Tôi nhắm mắt. Ban đầu là một hương mùi thoảng qua, một vị ngọt tan nhanh trên đầu lưỡi và sau cùng, hoán đổi là vị mặn của giọt nước mắt vừa len lỏi chảy xuống trên môi.

Chúng ta nhập cuộc thôi. Đừng phí uổng tiền bạc. Nếu anh ngại Thuỷ có sẵn áo mưa đề phòng. Đừng nói năng, chớ cật vấn. Không phải là tình bạn của chúng ta đã chết từ lâu rồi sao? Tôi ôm Thuỷ vào lòng. Tôi không muốn làm người dưng, tôi không ngủ với Thuỷ và như thế giữa đôi ta, tình bạn vẫn còn đó, trước sau vẫn thế. Chiếc áo tôi đẫm ướt. Tôi mạng mộc, bình địa mộc và có cần thiết không, khi để mình bị úng thuỷ? Hãy đứng yên hứng chịu bao oan trái người ta bày tỏ trong câm lặng, đó là cách thế mà một thằng cà chớn sẽ không đủ sức với tới, làm được. Tôi chẳng hiểu hết nghĩa xấu của chữ cà chớn nhưng tôi tuyệt không thích ai gọi mình bằng chữ ấy. Thuỷ có gọi tôi là cà chớn không nếu tôi chẳng đi sâu vào người cô khi có cơ hội như hôm nay?

Anh chẳng mọc lên một ham muốn nào sao? Tôi nói có, đồng thời là sự tiếc nuối. Phải mà tôi có được chiếc điện thoại thông minh tôi sẽ xin lưu giữ hình ảnh của Thuỷ vào trong máy. Thuỷ vẫn cúi mặt, cô lắc đầu. Thường thì kẻ chụp ảnh họ luôn tìm thấy cái đẹp để nắm bắt, hiện thân của Thuỷ là cả một sự xấu xa. Anh tính đi bêu rếu Thuỷ sao? Ác đến mức khó tin. Chúng tôi nói toàn cả chuyện không đầu không đuôi, vô thưởng vô phạt mất gần tiếng đồng hồ cho khớp với thời gian mà kẻ mua hoa thôi kỳ kèo chuyện hương phấn. Tôi chào Thuỷ và nghĩ là sẽ không bao giờ gặp lại cô, ngoại trừ Thuỷ cho tôi địa chỉ nơi cô ngụ. Thuỷ im re, không phản ứng cho tới lúc tôi rời phòng. Cửa đóng lại, chia lìa hai thế giới như đã từng, như vừa thoát khỏi một cơn mộng.

Khi tôi trả lại chìa khoá cho cô gái ăn lông ở lỗ hồi nãy, cô thông báo là người bạn anh vừa rời đi vì có tin nhắn má anh ấy mất trong bệnh viện, nói thế để anh khỏi mất công đợi chờ. Cô không quên chúc tôi một ngày an lành. Tôi đón nhận lời chúc như tin rằng thành ý của người ta sẽ khiến mình nguôi ngoai muộn phiền. Tôi chạy xe về lại nhà thương trong bải hoải, má hắn mới mất và trước sau tôi không phải là thằng cà chớn. Tôi muốn sự có mặt của tôi sẽ an ủi hắn ít nhiều, để hỏi xem tôi có thể giúp được gì trong lúc tang gia bối rối.

Đù má thủ tục bệnh viện này không tài nào hiểu thấu, chúng bảo tao đợi họ xét nghiệm lần cuối, ghi biên bản rồi mới vào được. Để ký nhận, để thuận lòng, để không kiện tụng, để nhận xác. Đù má tao là thằng con bất hiếu, má ngắc ngoải ở đây mà con ham ra ngoải kiếm gái. Nhưng mà tình ngay, lính mới này chơi rất đạt, rất dễ lậm để ăn quen bén mùi. Hắn bật sáng cái điện thoại di động. Tao có lén chụp ảnh em, mùi đéo chịu được. Đan Minh hiện trong màn hình, rõ mồm một. Quen nhau như lia thia quen chậu, giờ này tôi mới lần đầu ngó thấy đôi vú đẹp não nề của cô. Còn mày? Thấy Thuỷ ra sao? Người nó tuy phai nhạt hương mùi nhưng dẫu sao còn nấn ná chút tình bạn. Ngủ với con bạn học cũ, mày có hưởng được cái cảm giác lạ lùng khó ăn khó nói không?

Tôi bắt chước thằng kỹ sư điện. Đù má, tao bắn nó hai phát. Bang, bang. Em sướng em la và em khóc. Em chửi, địt mẹ anh, đồ cà chớn! Sao lừa dối nhau? Sao đành dang tay xé nát tim đau!

Hồ Đình Nghiêm

31 Tháng 4

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 31 Apr 2022

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

31 Tháng 4

Hướng Tây Bắc mây mù quần tụ trên những ngọn đồi trọc. Âm u đè nặng một vùng không nắng, cô lại cái im sững điếng người. Tĩnh lặng bị xé toạt ba chừng bảy đỗi bằng chuỗi tiếng nổ lục bục bên kia núi vọng về, cơ hồ đó là sấm sét ấm ức ho sau trần mây đục, báo hiệu một cơn giông, gần kề. Nháng lửa.

Hướng Đông gió yếu hơi chẳng tải về mùi muối mặn biển. Sóng tuồng cũng hấp hối thôi hăm hở vào bờ vỗ về. Tuy xa, nhưng muôn năm đụn cát trắng chập chùng làm biên giới kia vẫn làm đau mắt khi nhìn ra, nó tựa một tấm gương nằm ngửa mình để thu cất ánh mặt trời rồi phản quang, cay nghiệt giữa những trưa hè có gió Lào sạm mặt thổi qua. Đôi khi bất bình điều gì, dù trời yên biển lặng, cát trắng ngoài đó vẫn luôn tuồng vào rãi cái bạc màu của nó lấm lem con lộ hắc ín mỏi mòn trong hoang vu.

Hướng Nam lùi sâu hai mươi cây số là thành phố đang hoảng loạn đếm không xong bao thất thoát thiệt thòi. Bài toán trừ đơn giản nhưng kết quả vẫn là đổ vỡ chẳng tài nào nắm bắt. Thành phố đó tự hào là nơi có nhiều trường học nhất và tính đổ đồng, cứ mười cư dân thì trong đó có tới bảy người liên hệ tới chuyện sách đèn. Thống kê kia đã đổi thay khi mà phương Bắc chẳng khi nao im tiếng súng. Phương trình toán học vẽ ra chữ cung và cầu mà văn chương gọi là xếp bút nghiêng theo việc binh đao. Hiện tại tất cả trường học trong kia đều đã đóng cửa, những chiếc xe đò chạy suốt đã nêm cứng người lần lượt Nam tiến chẳng mong ngày trở lại. Quốc lộ 1 oằn thân hứng chịu cơn địa chấn bất thường, đèo cao núi cả hoảng loạn chim muông, cây cối run thân và người chạy qua mặt cắt không ra giọt máu.

Ở giai đoạn này, đường sống chỉ duy một lối: Xuôi Nam. Toàn cả đi vô mà không có đi ra. Luật lệ giao thông thôi hiện hữu, tuy vậy đoạn đường một chiều kia vẫn còn lắm kẻ điếc không sợ súng phá lệ. Họ đi ngược chiều trong đơn lẻ và đón nhận những cánh tay vẫy, những trông lui với môi cười thầm lặng, những mắt nhìn đong đầy lời tiễn biệt vô ngôn. Khăn ai đang chặm nước mắt cay bụi đường vụt dong lên, vung vẫy tựa lá cờ trắng nhỏ nhoi, yếu đuối trước cuộc chơi sớm nhìn nhận một cháy túi.

GMC được lệnh dừng lại bên ruộng lúa nức nẻ màu hoàng thổ. Đoàn xe nằm ụ để lính tráng đổ quân. Tiểu đoàn vừa làm bài toán cộng và kết quả thắt lòng tất yếu là chẳng đủ số quân. Xin hãy đừng làm bảng báo cáo tổn thất, chúng tôi đã nhặt nhạnh đã tom góp đã thu vén đã hốt bạc lẻ để chơi cho tới ván bài cuối. Chơi hết rác, chơi tapis. Hãy hiểu thế. Nhiệm vụ của chúng tôi là thế. Bởi chúng tôi sống với thứ định nghĩa chẳng giống ai: Súng là vợ, đạn là con.

Sau khi kiểm tra lại vợ con, chúng tôi ôm vợ con vào lòng để dàn trải đội hình ra. Tiểu đoàn có hơi ô hợp nhưng do quen với áo trận giày saut chúng tôi thích ứng nhanh với hoàn cảnh. Xập xám chướng thì bạn được chia 13 lá bài nhưng chúng tôi có cách “binh” với 10 lá. Trung đội trưởng nói: Liệu cơm mà gắp mắm nghe em út. Em út thưa: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! Và em út khom lưng đi hàng dọc bên hai vệ đường. Đường trống trải, đường không gió, đường nắng nôi, đường im vắng. Chó không chạy rong, gà thôi tục tác, heo chẳng ụt ịt, trâu bò cũng hoà lẫn trong dòng người tìm về đất sống phương Nam.

Những viên đạn thảy đều lên nằm chờ một kích hoả để thoát khỏi những đường kinh tuyến xoắn trong nòng. Nấc an toàn đã thôi khoá, từ vạch bán tự động được chuyển qua ngấc tự động. Con vợ M16 chưa một lần ngoại tình nhưng giờ đây em đã nhan sắc tàn tạ. Đâu lạ gì khi chính anh cũng đang đầu bù tóc rối. Tới bao giờ thì đôi ta ly dị nhau? Một đôi khi tình yêu mà sắc son thuỷ chung quá cũng đáng phàn nàn. Em ơi, có ai ăn đời ở kiếp với súng đạn đâu? Máu lửa thế có nước phá hại hạnh phúc của kẻ khác. Nhưng em ạ, trong giờ phút này đây chúng ta mong cầu một gắn bó không dời đổi. Đi qua độc đạo trước mắt chúng ta sẽ phải như hình với bóng, anh sẽ nâng niu em cho tới lúc sức tàn lực kiệt. Một trong hai, kẻ phản bội chính là anh chứ em vô can. Hãy tha thứ nếu anh sớm bỏ cuộc. Buông em ra mà lòng anh vô vàn đớn đau, xin em hiểu thấu.

Đến chiều tiểu đoàn dừng lại, trú quân vào những vị trí xét thấy vững chãi. “Ông thầy” nói: Bọn mình nằm đợi bắt tay với Thuỷ quân lục chiến ngoài kia rút vào mới nắm được tình hình. Trước mắt phải bảo đảm là trong vòng chu vi 5 cây số vuông luôn “sạch sẽ”. PRC-25 nấc lên từng hồi, rè rè tần số liên lạc kêu nhát gừng sau lưng thằng truyền tin. Thằng Một ra ngoài kia nằm trông chừng, thằng Hai ém phía này… Giọng ông thầy đục, mất vẻ quả quyết. Một tấm bạt dùng che nắng mưa và chủ nhân hiểu thấu cái tạm bợ vá víu nọ chẳng đủ ấm đầu. Mưa sẽ tạt, nắng sẽ rọi chiếu, xuyên thâu. Đành vậy, kẻ nghèo khó vẫn biết cách cầm cự với bao nỗi cơ hàn.

Chỗ thằng Một nằm là con đường đất thẳng góc quốc lộ, nó sẽ dõi mắt dòm ngó động tĩnh những gì có thể hiện ra sau luỹ tre làng bởi tiểu đoàn không muốn bị chọc nhột ở mạn sườn. Mùi đất thì ở đâu cũng giống nhau, ở cái độ ấm nó mơn man trao gởi đi kèm với mùi nồng cố hữu. Đất ở đây khác, lạnh tanh, khô nhám và thỉnh thoảng nó dấy lên cơn động kinh, run bần bật.

Tôi nhập ngũ như vậy là đúng một năm. Một thằng lính lầm bầm. Tôi chưa từng đụng trận, chưa đánh đấm cho thật đàng hoàng. Điều nó phân trần được chứng thực qua quân phục sạch nước cản tựa mới lấy ra từ kho quân nhu. Mày vợ con gì chưa? Đứa nằm bên cà khịa. Thời giờ đâu ra, eo hẹp mọi thứ. Con vợ tao vẫn rủa xả: Đồ ăn không trông nồi, ngồi không trông hướng. Đù mẹ, chả biết giờ này em ẳm con thơ trôi giạt tới đâu rồi!

Thằng thứ ba ngứa miệng: Khi lòng mình vướng bận nhiều điều e súng cũng trở ngại tác xạ. Mày nói vậy là có ý gì? Ý của tao là Bắc quân chúng luôn hơn mình ở chỗ máu lạnh. Một đứa hiếu thảo gia đình đông vui liệu có thắng được thằng bụi đời cù bơ cù bấc chăng? Câu hỏi ném ra thu về được một khoảng lặng. Họ không nói có lẽ vì bận moi thuốc lá ra mời nhau. Súng là vợ đạn là con, vậy thì rượu và thuốc lá? Chưa nghe ai định nghĩa nó, bởi bảo đó là thần dược thì chắc vấp phải sai lạc. Thôi, cứ khoanh vùng và yên trí điều này: Thuốc lá là người bạn đồng minh không bao giờ tháo chạy. Nó giúp ta lắm thứ mà đơn giản nhất, ta đỡ nhạt mồm khi hoá thân làm một con ma.

Ông như kiểu người Bắc di cư? Ừ, bố mẹ tôi vào Nam năm 54 và giấy thế vì khai sinh của tôi ghi chú sanh ở Sài Gòn. Sẵn, tôi cũng nói ra cái ý nghĩ vẫn đến trong tôi, nếu tôi bắn chết người anh ruột của mình có mặt trong toán quân đối phương, điều đó có bình thường không? Địt mẹ có gì bất bình thường ở đây đâu? Chia phe ra đánh nhau, cái kết quả duy nhất là một trong hai phải chết, nguyên tắc là vậy, diễn tiến là thế, chuyện đời nào có éo le! Ừ, nói cho ngay chúng tôi tuy là anh em cật ruột mà đâu có biết mặt mũi nhau. Thấy nón cối thấy tai bèo ắt phải nổ súng. M-16 mà ngu ngơ thì bị thằng AK-47 nó lia cho. Chết, làm sao hiểu ra “đời là gì”?

Đời không là gì cả khi tôi nằm đây. Đầu óc tôi từng gấp nếp rối nùi nhưng giờ này nó bị ủi thẳng ra, sạch lau ly như trang giấy trắng. Thảng hoặc ảnh hình một người con gái thoáng vụt qua trong trí, có vẻ diễu cợt khiến tôi hoài nghi, mình còn tơ tưởng tới cô ta sao? Người con gái đó đã phụ bạc quay lưng, tôi thi hỏng tú tài một, tôi vào quân trường và giờ này tôi làm tiểu đội trưởng. Tôi nghe ba thằng lính thuộc cấp trò chuyện, nghĩ tới một định luật mà thượng đế đã bày ra, rằng chúng ta mỗi người phải khác biệt kẻ khác, từ vóc dáng mặt mày tính tình lý trí cho tới hoàn cảnh sống, những rủi may mà chúng hứng chịu, chẳng trùng lẫn. Ngay cả khi về đích cuối, cái chết đón chào cũng đơn lẻ cá biệt, không ai giống ai. Chỉ một viên đạn bắn sẻ khi cắm vào đích, có đứa vật mình nằm úp mặt, có đứa dang tay ngửa mặt lên trời, có đứa chết ngồi, có đứa vắt thân qua giao thông hào, có đứa tự chôn mình dưới bụi cây, có đứa gào lên hai tiếng vĩnh biệt “Má ơi”. Có đứa chưa chết hẳn, nó van xin: Ông thầy có thương em thì xin bắn một phát vào tim em. Đại bàng run tay, đại bàng phẫn uất: Đù mẹ mày, rán chút xíu đi con, thằng cứu thương đang tới, mày nghe tiếng phần phật của cánh quạt trực thăng không?

Chỉ là liều thuốc an thần, giúp nhau có khi phải tìm cách dối gạt nhau. Muôn đời trực thăng không bay về phương ấy. Nhận lệnh phi trình đổi hướng, bỏ rơi những đồng đội đang kêu trời không thấu ở vùng địa đầu. Thuỷ quân lục chiến rút lui, mặt trận phía Bắc bỏ ngõ. Tiểu đoàn xớn xác. Tôi hỏi anh em, bọn bây tính sao? Đứa nào bỏ chạy xin hãy để lại súng đạn cho tao. Chẳng những đi mạng không, có đứa cẩn tắc tự trút bỏ quân phục trên đường, lộ bày cái hình nhân lành lặn từ thuở mẹ sinh ra làm người. Nhưng dưới con mắt đồng đội, thằng người đang chạy chẳng dám quay đầu kia nào khác gì một con thú tật nguyền. Nhân danh một tiểu đội trưởng, giờ đây tôi chẳng có quyền trách cứ anh em, tôi chỉ hy vọng anh em nên hành sử như cách thế của một người lính, dù cho người lính ấy đã buông súng. Anh em còn điều gì chưa hoàn thành thì cứ việc quay lưng đi lo cho xong chuyện.

Nắng nôi lẩn trốn trong mây dày nhưng bầu trời lúc ấy nóng bức. Màu xám của nó thường hằng chứa đựng những bất toàn khô kiệt. Đổ xuống tử lộ luồng gió lạ từ hướng Tây Bắc tràn về chen cài tiếng hò reo tuồng bất tận. Có ba người lính chịu ở lại bên tôi, ngạc nhiên thay một trong ba là thằng đã có vợ con.

Tao nghĩ mày nên đi vào trỏng tìm vợ con thất lạc thì đúng đắn hơn. Không, tôi quyết định ở lại. Tôi muốn chứng minh cho vợ con tôi hiểu, tôi là đứa biết ăn xem nồi ngồi xem hướng. Còn mày? Tôi hỏi đứa trẻ nhất. Nó hất mặt lên: Quân trường dạy tôi chữ huynh đệ chi binh. Đã xem nhau là anh em, em không thể bỏ anh cô đơn ở đây được. Mày có đọc truyện Tàu không? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ? Nhưng truyện Tàu cũng ghi câu, có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh.

Tôi ôm ba thằng đệ tử lạc loài. Tôi nói, đây mới đúng nghĩa của chữ huynh đệ, anh em trong nhà có khi còn muối mặt chơi nhau, bôi xoá ân tình. Bắc quân lộ diện hăm hở đi trên quốc lộ thênh thang chẳng rào cản. Chúng tôi ngồi xuống quây quần tạo thành một vòng tròn liền lạc. Một thằng chửi đù má mày. Một thằng kêu Amen. Một thằng niệm A di đà Phật. Và một thằng tôi thì thầm Vĩnh biệt. Trái lựu đạn rút chốt, mỏ vịt bung ra. Bốn đứa nhắm mắt đợi tử thần kêu tiếng trời long đất lở.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 10 Nov 2016

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

“Mút mùa Lệ Thủy”

Bài 30

Miếng thịt gà!

Trước tết năm Tân Dậu (1981), Đại úy “giặc lái” Đỗ Kim Bảng hỏi tôi:

            _ “Anh Hải có thích xem bóng đá không?”

            Tôi trả lời vừa bông đùa, vừa thiệt tình:

            _ “Tui đi coi đá banh trước khi đi học.”

            Tôi gọi “đại úy phi công” Đỗ Kim Bảng là “giặc lái” là gọi mỉa theo “danh từ Việt Cọng”. Việt Cọng gọi tất cả các phi công Mỹ hay VNCH là “giặc lái”. Thậm chí người lái xe tăng cũng là “giặc lái tàu bò”, lái tàu thủy cũng là “giặc lái”. Còn anh Đỗ Kim Bảng phi công thì trùng tên với ông Đỗ Kim Bảng, nhạc sĩ, tác giả những bài hát “Mùa Thi”, “Mưa Đêm Ngọại Ô”…

Bọn học trò Huế, ít ai không biết bài “Mùa Thi”, “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Huế là xứ “học hành thi cử” nên người ta biết tên tác giả “Mùa Thi”. Với lại, ông nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng là cậu cô bạn học của tôi, cô Nguyễn Khoa Diệu Trâm. Cô ấy là khoa khôi của Huế, đẹp “lừng lựng”.

            Thời ký có Phong Trào Thể Thao De Couroix, các đội bóng tròn, -gọi bóng tròn để phân biệt với bóng bầu dục? – sau nầy Việt Cộng gọi là bóng đá, thành lập ở nhiều nơi, ít nhất mỗi tỉnh môt đội; tỉnh lớn có tới hai ba đội, tranh giải khá sôi nổi. Hai ông anh tôi rất mê coi bóng tròn, dĩ nhiên tôi được “coi theo”, mặc dù khi ấy, tôi còn nhỏ, chưa vô học Lớp Đồng Ấu của cô Hồ, cô giáo đầu đời của tôi, tại “École Primaire de Quangtri”.

&

            Đỗ Kim Bảng nói với tôi:

            _ “Tôi là huấn luyện viên bóng đá cho tụi Công An, muốn đi chơi, anh theo tui làm “phụ tá.”

            Bỗng nhiên, tôi trở thành “Phụ tá Huấn luyện viên.” Buồn cười chưa?!

            Cứ chiều chủ nhật, Bảng và tôi ra cổng: “Báo cáo cán bộ, chúng tôi đi tập huấn.” Thế là tên Công An gác cổng cho đi, chẳng cần ai đón đưa gì cả. Việc nầy, Bảng làm đã quen mấy tuần nay, tụi nó không nghi ngờ trốn trại gì!

            Phía ngoài cái sân lớn của trại là sân bóng đá. Sân nầy cũng do tù cải tạo san bằng, đổ đất, dựng “gôn”… Sân hơi nhỏ. Tết nầy, bốn đội bóng của ba trại Z-30A, Z-30B, Z30-C và Z30-Đ tranh giải với nhau. Đội Z-30A tập dượt kịch liệt, cố đoạt cúp bóng đá năm nầy, là năm tranh giải lần thứ nhất.

            Trong khi Bảng tập dượt cho mười mấy tên Công An, cũng phân loại tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ, chiến thuật… thì tôi ngồi chơi, nhìn trời nhìn đất. Thoát ra khỏi bốn bức tường đá nhà tù, được ngồi “nghe trời nổi gió nhớ quanh quanh”, thật ra là nhớ nhà, cũng sướng thật.

            Phía sau lưng tôi là một dãy nhà ngang, nhà của cán bộ ở với gia đình. Gian đầu tiên là của một trung úy Công An người miền Nam, trước 1975 có ra Bắc, sau đó về Nam, làm giám thị trại giam ở đây. Nhà nầy chúng tôi “quen” bởi vì mấy tuần nay, chúng tôi làm cỏ bắp phía “Nhà Thăm Nuôi”; mỗi chiều, trước khi ra về, quản giáo Bộ, ngày nào cũng biểu anh bạn tù Trần Tử Có, đốn một cây chuối, trồng chung quanh nhà thăm nuôi, khiêng về nhà cho anh trung úy cán bộ nầy. Vợ anh ta, cũng người Nam, có nuôi heo. Chuối cây, trộn với rau, cám… làm thực phẩm cho heo. Heo ăn mau lớn và mập.

            Nhân dịp đó, anh em tù chúng tôi cũng xin “quản giáo” đốn một cây cuối, lột vỏ, xắt lát nhỏ, trộn ăn thêm trong bữa ăn chiều. Được ít hôm, có người bị cảm sốt. Nguyễn Tấn Trí nói:

            _ “Mấy ông ăn chuối nên bị sốt đấy. Chuối nầy độc”.

            Bữa đó, Trần Tử Có cũng bị cảm sốt nên Huỳnh Hà Đông nói đùa:

            _ “Ăn chuối cây bị cảm sốt là đúng rồi. Trần Tử Có không ăn, chỉ vác chuối, cũng bị sốt nữa, huống chi ăn.”

            Câu nói đùa của ông Đông làm ai nấy đều cười.

            Có lần Trần Tử Có vác chuối về, đứng nói chuyện, bèn hỏi người vợ anh Công An:

            _ “Sao chị không nuôi gà mà ăn, nuôi heo để bán chớ ăn sao hết?”

            Chị ấy trả lời:

            _ “Ăn cái con mẹ gì. Tui chặt dao hơi mạnh, tụi nó xoi mói, dòm qua vách, coi thử mình có ăn gà vịt gì không? Cái bọn gì kỳ cục.”

            _ “Xử dụng “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” chớ gì?” Có nói.

            Ấy đấy! Ở với Cộng Sản, làm thịt con gà cũng bị dòm ngó, phê bình phí phạm “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa.

            Mồng hai Tết, hôm tranh giải, tôi cũng đi theo Đỗ kim Bảng, ra xem bọn chúng đá với nhau.

            Bây giờ hai đội Z30-A tranh với đội Z30-Đ30-Đ để vào vòng trong, cũng là vòng chung kết giữa đội thắng trận nầy, sau đó sẽ đấu với đội thắng Z30-B với Z30-C. Trận nầy, coi như bán kết, nên hai bên đấu với nhau cũng căng, không thiếu trò chơi xấu và ma mảnh. Cầu thủ hai đội phần nhiều là người Bắc.

Người Nam vô Công An khá hạn chế, toàn trại tôi chỉ có vài ba ngoe gì đó, người mới vô thì mang loon trung sĩ, những người Nam khác, là sĩ quan, phần đông gốc từ du kích hay Bộ Đội Địa Phương chuyển qua. Xử dụng những thành phần này, gốc địa phương, mục đúch của chính quyền là “nắm dân cho dễ”, theo dõi và phát hiện thành phần chế độ cũ, dễ bị tình nghi “phản cách mạng”.

            Trọng tài là người Nam, dân Biên Hòa, có thể do “Sở Thể Dục Thể Thao Đồng Nai” cắt cử đến. Trọng tài đến từ hôm qua, được trại Z30-A tiếp đãi chu đáo.

Trận đấu đang diễn ra, phần thắng đang nghiêng về đội Z30-A. Trọng tài vừa thổi phạt vài cầu thủ đội Z30-Đ chơi xấu. Theo tâm lý thì bên thua thường “nóng mặt chơi xấu” nên bị trọng tài bắt phạt là việc thường tình. Tuy nhiên, phía sau tôi, một đám đàn ông có, đàn bà, con nít cũng có có tiếng phê bình, bằng giọng Bắc:

            _ “Trọng tài tối qua ăn thịt gà rồi!”

            Nhìn lui, tôi đoán chừng họ từ Xuyên Mộc tới, đi theo để “cổ vũ cho đội nhà”. Họ ở xa mới tới sáng nay, sao có thể biết tối qua trọng tài được khoản đải món thịt gà? Có lẽ họ nghi ngờ vì trọng tài được trại Z30-A đón tiếp tối qua, và trong bữa cơm tiếp đải có món thịt gà. Đó chỉ là phỏng đoán, phỏng đoán có ăn thịt gà.

Tôi nhớ lại câu chuyện anh bạn Trần Tử Có khiêng chuối cho nhà cán bộ nuôi heo. Gà vịt quí đến vậy sao? Miếng thịt gà có thể làm cho trọng tài không còn công tâm nữa sao, làm cho trọng tài bênh vực đội cho ăn thịt gà hay sao, Xã Hội Chủ Nghĩa là vậy đó sao, “miếng ăn là miếng tồi tàn” như ông bà chúng ta nói hay sao? Hèn chi cán bộ Đạt có lần kể lại cho anh em chúng tôi nghe: “Mỗi năm xã làm heo hai lần: Ngày hai tháng chín và ngày Tết, thịt làm xong chia theo hộ khẩu, mỗi nhà được một miếng nhỏ bằng nắm tay, kể cả xương.

            Còn suốt năm thì sao?

Không hy vọng gì thấy miếng thịt heo, nói chi thịt bò hay thịt trâu. Trâu bò là “sức kéo” của hợp tác xã, dùng để kéo cày, kéo xe. Không có trâu bò thì xã viên kéo bò thay trâu. Lỡ tay để trâu bò chết, xã viên phải kéo cày thay trâu giống như thời Thực Dân, “địa chủ bóc lột”, tá điền kéo cày thay trâu cho chủ như trong tiểu thuyết viết về nông dân Việt Nam như trong “Nhà Quê” của Ngọc Giao hay “Nhà Nghèo” của Tô Hoài, “Con Trâu” của Trần Tiêu.

            Những ý tưởng chợt đến, từ lời “bình phẩm” của khán giả làm cho tôi không muốn xem cuộc tranh tài nữa. Tôi bỏ đi ra phía ngoài, ngồi xuống một thân cây ngang đường, nhìn ra phía “Nhà Thăm Nuôi” để nhớ vợ nhớ con. Tết nầy, không biết vợ tôi, các con tôi có “bánh chưng xanh” để ăn không; không hy vọng có thịt mỡ, dưa hành. Hơn năm năm “giải phóng” rồi có cái gì lớn hơn không, “xây dựng bằng năm bằng mười” như Hồ Chí Minh nói, hay hí hửng, vui mừng nghe tin Hợp Tắc Xã hạ một con heo, chia nhau mỗi người một miếng thịt heo “to bằng nắm tay, kể cả xương”.

&

Ca sĩ Thu Nở, Thu Cúc… của nhạc sĩ Chuột!

            Hôm trước Tết, bọn tù chúng tôi, gom chung cả mấy trại trong cũng như ngoài, đi nghe ca nhạc tại hội trường mới xây xong. Hôm ấy, có nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí đến nói chuyện về “âm nhạc cách mạng” và các nữ ca sĩ của ông trình bày những sang tác mới của ông.

            Cô Thu Nở hát bài “Em đi nhà trẻ”: “Mùa xuân ai đi hái hoa, còn em, em đi nhà trẻ.” Bài hát hay đấy, cô giáo đầy tình thương trẻ em. Và “Ra vườn hoa em chơi, Em muốn hái một bông hoa đẹp, Nhưng cô bảo em đừng có hái, Bông hoa nầy là của chung.” Ngay từ bé, trẻ em đã được dạy cho cái ý thức “bảo vệ của công”. Xa hơn cái “ý thức bảo vệ của công”, chính là cái ý thức tài sản “Cộng Sản”, là dạy cho trẻ em cái ý thức Cộng Sản khi chúng còn trẻ thơ.

            Sau đêm xem văn nghệ hôm ấy, anh bạn tù Trần Phú Trắc nói với tôi: “Cái tục của người Việt mình ngày xuân là đi hái lộc, làm hại cây cối. Cộng Sản thì theo lời Hồ Chí Minh “ngày tết trồng cây”. Phải nhận rằng cái ý đó hay chớ anh.”

Tôi không nói gì, có nghĩa là “đồng ý với bạn”, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ tới cái tính cách “tuyên truyền” trong mỗi lời nói hay hành động của người Cọng Sản. Sự tuyên truyền làm sai lạc cái ý nghĩa đứng đắn của sự việc, che dấu cái xấu xa thủ đoạn trong mỗi lời nói hay công việc của họ.

            Hôm văn nghệ, Nguyễn Văn Tí cũng “lên án” những sáng tác của ông trước 1945, nhất là bài “Dư Âm”.

Ngay khi còn trẻ, tôi đã không thích bài “”Dư Âm”. Đó là một bài hát “sặc mùi tư sản”, cái hình ảnh “dáng em đang ôm đàn” cũng như câu thơ “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa…” làm cho tôi chẳng ưa thích chút nào. Trong xã hội nông nghiệp như Việt Nam chúng ta, những hình ảnh nói trên, mang tính chất cô Kiều “trướng rủ màn che” xa lạ với hình ảnh “Người con gái Việt Nam da vàng, đi trong đêm ầm tiếng súng”. Tôi yêu mến những người dân gian lao đau khổ đó hơn, họ… “Việt Nam” hơn.

            (Sau nầy, thời kỳ đổi mới, Nguyễn Văn Tí lại quay 180 độ, ca ngợi bài “Dư Âm”. Ngưòi Cộng Sản bây giờ giàu có, cơm ngon áo ấm, “thừa cơm rửng mỡ” nên họ học đòi những cái thói “rởm đời” của giai cấp tiểu tư sản đó chăng?)

&

Ngộ cố tri

            Khi cô đào cải lương Hồng Nga vừa nhảy “tuýt” vừa hát nhạc rock trên sân khấu thì đám tù cải tạo gần ngàn người ngồi ở dưới la hét om sòm, vỗ tay hoan hô. Sự náo động bắt đầu.

            Thấy “khan giả tù” “nhiệt liệt hoan nghinh” (Việt Cộng hay lạm dụng mấy chữ nầy đấy), cô đào Hồng Nga lắc đít càng dữ, múa tay đá chân càng tợn, không kém gì cô Mai Lệ Huyền ngày trước. Vài anh tù cải tạo ngồi ở hàng đầu, bước ra chỗ trống trước khán đài nhảy, nhót lung tung khiến ai nấy cùng vui. Ngay cả mấy “chú Công An” có nhiệm vụ cầm súng canh gác đám tù phía ngoài  rìa “sân đá banh” (danh từ Việt Cộng là “bóng đá”) cũng “chỏng mõ” nhìn lên sân khấu, toét miệng mà cười.

            Quả thật đây là trường hợp “ngộ cố tri”. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” thuộc chế độ cũ, mà cô đào cải lương Hồng Nga cũng là một nghệ sĩ nổi tiếng từ trước tháng Tư/ 75. Thành ra hai bên cùng là “cũ” hết. Kẻ thì “tù trong”, người “tù ngoài”, khác gì nhau! Ba mươi tháng Tư là “Cuộc đời gian lao từ đây” như câu hát bọn tù L3-T-3 chúng tôi đổi lời từ bài hát “Nguồn Tin Vui” của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Duy Trác vậy.

            Tuy nhiên, Việt Cộng không hời hợt trong công việc “cách mạng triệt để” của chúng. Qua hiện tượng vừa nói, chúng hiểu ngay rằng giữa cô đào hát và đám “tù cải tạo” cùng là “cá mè” với nhau cả đấy, cùng có tình cảm và tư tưởng “chống phá cách mạng”. Nếu có một dịp nào đó, có cơ hội thì đám nầy “không tha cho cách mạng” đâu!

            Coi cải lương xong, về tới phòng, trong khi đang sửa soạn chỗ ngủ, anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:

            _ “Mày thấy bữa nay vui không?”

            _ “Không phải vui mà hay!” Tôi trả lời. Rồi tôi đọc tiếp câu Kiều: “Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngạm đắng nuốt cay thế nào!” Tôi nói tiếp, “cũng như Giang Châu Tư Mã trên bến Tầm Dương vậy. Cái hay là ở đây không có nước mắt, không có “Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.”

            Sau khi yên chỗ nằm, anh Tâm nói:

            _ “Tao tưởng “con” Lệ Thủy hát tuồng Dương Vân Nga chớ! Chắc nó sợ tụi Tầu cho lảnh đạn như Thanh Nga chớ gì?”

            _ “Chống Tầu là qua rồi anh. Trong khi bọn lính tráng “xung phong tiến lên”, thì bọn chính trị “nhẩm xà” với nhau rồi. Tui nhớ có lần đài BBC loan tin hồi đầu mùa hè năm 1972, ở phía Tây phi trường Đông-Hà, trong khi Tăng 54 của Liên Xô, lần đầu tiên đụng độ với Tăng M-49 của Mỹ giao lại cho Quân Đội VNCH, thì thằng Kissinger nâng rượu Vodka chúc sức khỏe thằng Gromyko ở Mốt-Cu. Chính phủ Cộng Sản Hà Nội đâu cần “tuyên vận” dân chúng chống Tầu nữa. Dù có muốn đóng vai Thái Hậu Dương Vân Nga, Lệ Thủy vẫn phải hát cuồng khác cho “đúng đường lối chính sách của đảng”.

            _ “Mấy năm trước, khi thấy hát tuồng Dương Vân Nga, tụi nó chưởi “con mẹ thái hậu” nầy dữ, cho là lăng loàn trắc nết, lấy ngai vàng của con mà “giao cho trai.” Mày thấy sao? Mày dạy lịch sử Việt Nam phải không?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Tui dạy từ “Hậu Lê” trở về sau. Tui không dạy “Tiền Lê”. Tui không rành lắm, nhưng nếu như nói về trước nạn Tầu xâm lăng, binh quyền ở trong tay thằng con nít không hay bằng giao binh quyền cho một tướng tài, “Thập đạo Tướng quân”. Có thể nhờ việc trao quyền đó mà bọn Tầu xin hòa, khỏi ôm đầu máu chạy về Tầu. Tù bọn mình nhìn vấn đề theo “cảm tính”, hễ cái gì không đỏ mà hơi hườm hườm thì ghét luôn.” Tôi trả lời.

            Ngọc “xùi” nằm phía bên kia, nảy giờ lắng tai nghe mà tôi không hay, bèn hỏi:

            _ “Mệ” Hải! Tụi nó nói thằng cha trung tá Thích mê Lệ Thủy. “Mệ” biết không?”

            _ “Tao nghe lâu rồi. Tụi Công An nó cũng nói chớ riêng gì bọn mình. Dễ hiểu lắm! Năm kia, khi còn trên đồi Phượng Vĩ, y cũng mời đoàn Lệ Thủy về hát, năm nay lại mời nữa. Còn như chuyện làm heo gà đãi nghệ sĩ với Lệ Thủy thì chắc tụi Công An trông thấy, rồi “phát triển” câu chuyện “tai vách mạch rừng”.

            _ “Hơi đâu mà nghe thiên hạ đồn, với lại bọn Việt Cộng chúng nó “đấu tranh” dữ lắm. Tranh ăn mà!”Anh Tâm kết luận.

            Ngọc “xùi” tiết lộ:

            _ “Nghe nói thằng chồng Lệ Thủy là thiếu úy, cải tạo về sớm. Vợ đi hát đâu, nó cũng tò tò đi theo. Bộ muốn giữ con vợ chắc?”

            _ “Giữ gì nỗi mày. Con ngựa mà đã “ngựa phi đường xa” thì chịu thôi.” Tôi quay qua anh Tâm: “Này anh Tâm, anh có nghĩ như tui không? Người đàn ông ngoại tình thì mười ông chỉ làm tan nát gia đình có vài ông,  “anh mê vợ bé bỏ bè con thơ”. Bồ bịch, chơi bời gì thì gì rồi cũng về lo cho vợ con. Đàn bà khi đã ngoại tình, thì mười nhà tan nát cả mười. Đàn bà mê trai hay lang chạ là ghê lắm, tán tậm lương tâm, con đẻ ra còn không thương, nói chi thằng chồng.”

            _ “Do đâu mày nghĩ vậy?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Lịch sử chớ đâu! Cleopâtre tranh ngôi với em, tình nghĩa chị em cũng không còn. Cézar chết rồi cặp với Antoine. Từ Hy Thái Hậu cũng vậy. Cả bà Nhu cũng chẳng thua chi. Tham vọng quyền lực của người đàn bà ghê gớm lắm. Đàn ông “Qui khứ lai từ” còn dễ chớ đàn bà thì không!”

            _ “Mày nói có lý!” Anh Tâm đồng ý với tôi.

            _ “Dương Vân Nga cũng vậy?” Ngọc “xùi” hỏi.

            _ “Dương Vân Nga khác chớ! Chết chồng thì lấy chồng khác, bả đâu có ngoại tình. Những người khắt khe phê phán bà cái việc lấy ngai vàng của con mà giao cho tình nhân, chấm dứt triều đại nhà Đinh, khởi nghiệp nhà Tiền Lê. Với tình hình “giặc ngoài xâm lăng”, “toàn dân (không) hớn hở” mà lo sợ thì cũng khó phê phán bà.”

            _ “Vậy bà không có tội?” Ngọc “xùi” lại hỏi. Anh ta lại nói tiếp: “Mệ” mà nói không có tội, tụi nó chưởi “mệ” cho coi. Coi chừng tụi nó cho rằng “mệ theo đuôi Việt Cộng.”

            _ “Kệ cha tụi nó.” Tôi lại nói chuyện với anh Tâm: “Hồi anh em tui khôn lớn, bắt đầu có bồ bịch, mạ tui thường dặn: “Trai tân gái góa thì chơi, Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Thất đức lắm.

            _ “Mày có nhớ mày kể hồi mày ở Trảng Lớn, Kim Cương gởi thư lên cho chồng, bảo rằng thằng chồng nó sắp về, vì “Anh Trường Chinh” đã hứa rồi. Mày nghĩ gì về cái chuyện “Anh Trường Chinh”?

            _ “Sự hưởng thụ của giai cấp thống trị anh à! Xưa mấy ông Tướng hay có bồ nhí, bồ trẻ, ca sĩ… Bây giờ cũng rứa thôi. Cái “mốt” (mode) nó vậy mà!”

            _ “Mấy ông tướng xông pha trận mạc mà mầy. Biết sống chết lúc nào mà không hưởng chút cháo.” Anh Tâm nói.

            _ “Anh nói làm tui nhớ một chuyện trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Tolstoy.” Tôi nói: “ Napoleon thua chạy, rút về Pháp. Bọn tướng trẻ quân Nga, đòi đuổi theo giết cho sạch quân Pháp. Ông Kutuzốp (Kutusov) thì cứ thoang thả: “Được rồi! Được rồi, để cho bọn nó chạy.” Xong, ông lại hú hí với con bồ trẻ.

            _ “Khác chớ mày! Chuyện mầy kể là chuyện mấy ông tướng. Còn như Trường Chinh, hay tướng tá bây giờ, đánh chác gì mà đòi hưởng thụ?”

            _ “Đúng rồi!” Tôi nói, rồi đọc:

“Giai nhân tự cổ như danh tướng,

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”

            Bỗng tôi nghe ai đó phía giữa phòng nói với tới:

            _ “Thơ với thẩn, ngủ đi, mai còn đi “lao động là vinh quang. Cuốc đất, ăn khoai mì là văn hóa vô sản. Thơ văn là văn hóa tư sản. Bỏ đi Tám.”

            Quả thật là đời bấy giờ: “Sách vở ích gì cho buổi ấy!” như Nguyễn Khuyến nói vậy. Xã hội nước ta đã bao lần đổi thay đến tận gốc rễ./

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted 18 Dec 2015

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

 Tết tù – “Chào mừng Mẹ Việt Nam”

Bài 29

Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây… Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam Con của Mẹ đều một giống da vàng Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn

(Nguyễn Ánh 9)

Tết năm Canh thân, năm1980, đội văn nghệ Trại A ở trên đồi Phượng Vĩ, “chơi” một đòn ngoạn mục.

Để chuẩn bị “vui chơi ba ngày Xuân”, trại cải tạo Z-30A thành lập một “Đội Văn Nghệ” để đi trình diễn ở các phân trại, giúp vui cho “tù cải tạo.” Lúc nầy tài tử hề Khả Năng chưa về Trại Đá. Sau khi về Trại Đá được một thời gian ngắn, anh được chuyển qua “Trại Cây” để tham gia Đội Văn Nghệ.

Trước đó, soạn giả Yên Lang đang ở “Trại A” (đồi Phượng vĩ). Đội trưởng văn nghệ, nôm na gọi là ông bầu, là “Bầu Trừ”, tên thực là Nguyễn Văn Trừ. Ông nầy là con trai ông Nguyễn Phú Hải, đốc phủ sứ, từng làm Đô Trưởng Saigon Chợ Lớn thời “Ngô Tổng Thống muôn năm.”

Trước tết mấy hôm, “Đội Văn Nghệ diễn ở hai nơi: Trại A cũ  (trên đồi Phượng Vĩ) và Trại B (Trại Cây) xong về đón giao thừa, “ăn tết”.

Việt Cộng làm nhiều trò mâu thuẫn, kỳ cục. Lao động mỗi ngày 8 tiếng. Ít khi được đi làm khổ sai mỗi tuần 5 ngày mà thường là 6 ngày, – đi lao động luôn cả ngày thứ bảy là thường -. Tệ hơn nữa, năm 1980, Phạm Tuân “lên” không gian, để “mừng thắng lợi” việc nầy, chủ nhựt chúng tôi cũng đi lao động luôn. Như vậy, lao động mỗi tuần “chỉ có” 7 ngày mà thôi.

Xin kể lại một chút:

Tôi không nhớ rõ thời gian nào, nhưng suốt mấy tuần liền, chúng tôi phải đi lao động một tuần 7 ngày thay vì 6 ngày như thời gian trước, để “Mừng đồng chí Phạm Tuân lên không gian thắng lợi”, đem “bèo hoa dâu” lên nghiên cứu về sự phát triển của nó trong vũ trụ! Nghe “quê” dữ!!!

“Lao đông là vinh quang” suốt 7 ngày một tuần, không có ngày nào được ở nhà để giặt quần áo, nên anh em chúng tôi than cũng dữ và chưởi Phạm Tuân cũng không ít. Do thân nhân lên thăm nuôi, chúng tôi biết thêm một số chuyện tiếu lâm của đồng bào miền Nam về chuyến bay của Phạm Tuân. (1)

Thế rồi bỗng một hôm, bên hông tường lớn, vách hội trường đang xây, có môt bức tranh bằng than đen, vẽ một anh chàng khổng lồ cưỡi xe đạp, ngồi phía sau là một thằng bé con. Thằng bé con được ghi chú là Phạm Tuân, còn anh chàng khổng lồ ngồi phía trước đạp xe, được ghi chú là “Go-Rơ-Bát-Xì-Cô”, (theo cách viết của báo chí “cách mạng”, tên thực của y là Viktor Gorbatco), tức là người lái phi thuyền Soyuz 37.

Hai ông trật tự Phạm Văn Tài và Dương Tấn Hải được lệnh chùi sạch bức hình đó và lấy vôi quét lại, xóa mất hình vẽ.

Lao động trong trại tù cải tạo gian khổ như thế nào, ai ai cũng biết, xin khỏi nói thêm để khỏi dông dài, nhưng ăn thì ngày nào cũng giống ngày nào: Sáng, một củ khoai lang, trưa một khúc khoai mì, chiều một chén khoai mì lát.

Xin nói thêm về việc ăn khoai mì lát một chút. Khoai mì chúng tôi ăn là khoai mì do chúng tôi trồng, nhổ về, ăn không kịp thì xắt lát, phơi khô, cho vào kho ăn dần. Khoai mì chấm với “nước mắm đại dương”, đảng và nhà nước chỉ tốn có chút muối mà thôi. Nếu tính chuyện lời lỗ, thì Việt Cộng chẳng lỗ bao giờ mà lời “quá cha bọn địa chủ bóc lột”!

Cũng vì ăn khoai mì nhiều quá, Bùi Xuân Tiếm, quê ở Bình Định, khác đội nhưng ở chung nhà với đội tôi, mỗi tối, ngồi ở tầng trên, anh ta nhại câu hát “Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi” thành:

“Tổ quốc ơi! ăn khoai mì mãi mãi.

Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài.” (2)

Bùi Xuân Tiếm có lần bị cán bộ gọi “làm việc” vì những câu anh hay nói nhại, nói đùa, khi anh đọc báo Tin Sáng của Ngô Công Đức, mà lại đọc rất to:

“Bây giờ là thời kỳ “hiện đại hóa” (anh đọc là quá – theo giọng Nam, mặc dù anh là dân Bình Định). Nhà nước ta chủ trương “Cơ giới quá” (hóa), “Điện khí quá (hoá)”. Rồi anh nói một hơi “Đói quá (hóa), khổ hóa (quá), chán hóa (quá), nản hóa (quá).

Cả phòng, nghe nói nhại, cười rần rần. Công An đi tuần bên ngoài chú ý, ghi tên anh ta.

Ăn uống như vậy nhưng ở cổng trại, trước hội trường, Công An bắt trồng hoa. Thế nên ai cũng than: “Đói thấy mẹ còn xem hoa nỗi gì?”

Bây giờ tới tết, mỗi người một “miếng thịt heo ruồi tha”, cơm lưng chén (không phải lưng bát. Bát to hơn chén) mà còn xem văn nghệ. Người ta lại nói cái câu như cũ: “Đói thấy mẹ còn xem văn nghệ nỗi gì.”

Đêm giao thừa, ở Trại A, từ một gian rồi hai gian, ba gian… tù cải tạo đồng loạt hát, mà hát rất to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…”

Công An đi tuần ngoài hè, không nói một lời.

Sáng mồng một, sau khi “mở chuồng”, tù cải tạo rửa mặt ăn sáng xong thì từ “Đội Văn Nghệ”, một toán hơn mười người đi ra, có biểu ngữ giương cao: “hoan nghênh Mẹ Việt Nam thăm tù cải tạo”, có một “anh chàng”, tên Chương, ăn mặc giả trang một bà mẹ già quê mùa, nghèo khổ, áo tứ thân đi thăm tù. Mẹ đi có kèn, có “Nhạc Sĩ Tù Ca “Dục què” (3) cầm đàn đi theo Mẹ tấu nhạc, có Võ Phước Thọ đi đầu dẫn đường, có Nguyễn Văn Huề (4) đi kèm hộ tống. Vậy là Mẹ đi từ lán (longhouse) nầy qua lán khác.

Mẹ đứng trên cao, chúc tết các con mạnh khỏe, khỏi ốm đau, hãy mạnh dạn tin tưởng vào lý tưởng của mình, chúc “các con” mau trở về với gia đình, v.v…

Vậy là “các con” (tù cải tạo) hoan hô Mẹ, và giống như tối qua, lúc giao thừa, tất cả cùng hát to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…” Hết bài hát đó thì tới “Việt Nam quê hương ngạo nghễ…” của Nguyễn Đức Quang.

Cảnh tượng rất cảm động, thậm chí có anh em vừa hát vừa khóc.

Công An chỉ đóng cổng lớn. Quản giáo, vệ binh không ai vào trại. Biết rằng chúng nó đang nằm im để chực “vồ” lại, nhưng xem ra “tù cải tạo” chẳng ai sợ. Có người, khi biết như thế, lên gân: “Chơi rồi! Chơi luôn!”

Hai ngày sau, bọn cai tù, đứng đầu là tên cáo già trung tá Công An Việt Cộng Trịnh Văn Thích, 25 năm kinh nghiệm coi tù, bắt đầu phản công.

Trước tiên, chúng gọi “Bầu Trừ” lên điều tra, giữ lại luôn, không cho về. Thứ đến là Chương, người đóng vai Mẹ Việt Nam, rồi tới phiên Thọ, người dẫn đường, nhạc sĩ “Dục què”, Người thổi kèn, anh đánh trống, người chơi Guitar, lần lượt vô cát-xô.

Sau 3 ngày Tết, đi lao động trở lại.

Buổi sáng, như thường lệ, sau khi nghe kẻng, mấy chục đội tơi nón ra ngồi sắp hàng ở cái sân lớn, chờ gọi tên từng đội.

Công An gọi tên đội thứ nhứt. Đội rục rịch đứng dậy, thì Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Nhảy Dù, “can tội Phục Quốc” đứng lên hô hào:

– “Anh em không nên đi lao động hôm nay. Yêu cầu ban giám thị trại giải quyết trường hợp các anh em trong “Đội Văn Nghệ”, hiện bị giam ở cát-xô. Cho họ về, chúng ta mới đi lao động.”

Mọi người vỗ tay hoan hô!

Nhưng Trịnh Văn Thích quỷ quyệt hơn. Một mặt y cho vệ binh dàn ra ở cổng trại, đạn lên nòng, khủng bố tinh thần. Mặt khác, y ra lệnh cho quản giáo tới từng đội để đe dọa, khuyến khích, đi lao động.

Quản giáo đội nào làm việc với đội trưởng đội đó. Mặt khác, Trịnh Văn Thích xuất hiện ngay cổng, hứa (cuội) to lên rằng:

“Những anh em đang bị giam ở cát-xô không có tội gì hết. Chẳng qua, vì mấy ngày tết, việc điều tra chưa kết thúc nên tạm giữ ở cát-xô vậy thôi. Nội sáng nay, trong khi “anh em đi lao động, ở nhà, chúng tôi sẽ xét lại từng cá nhân và sẽ cho về.”

Xong xuôi, y cho lệnh cán bộ trực trại gọi từng đội đi lao động. Thêm sự đôn đốc của quản giáo, từng đội đứng lên đi ra cổng.

Cuối cùng, chỉ còn một mình Huề đứng chơ vơ giữa sân.

Bấy giờ Trịnh Văn Thích cho một toán Công An vào vây quanh Huề, vật anh ta xuống, còng tay dẫn đi.

Một người, dù cao lớn như Huề, đói ăn đã mấy năm, làm sao chống lại mấy tên Công An lực lưỡng.

Những đứa con yêu của Mẹ Việt Nam nằm dài trong cát-xô, vừa tối, vừa lạnh, vừa đói, không biết bao giờ mới được thả ra…

Sau đó ít lâu, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” ở chung cùng phòng với đội chúng tôi.

hoànglonghải

(1) Phạm Tuân là phi công, phi hành gia của Việt Cộng. Ông là người Việt Nam đầu tiên bay lên vũ trụ vào năm 1980, trong chương trình có tên là Intercosmos của Liên Xô. Phạm Tuân được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Theo trung úy Việt Cộng Trần Đức Ước, (trại L3-T3 Long Giao) thì Phạm Tuân là người bắn hạ B-52 “rụng như sung”, nhờ Phạm Tuân biết cách phục kích, cho máy bay “đậu trên mây” chờ B-52 của Mỹ bay tới thì xông ra phục kích.

(2) Tù cải tạo chúng tôi trồng khoai mì, một ít được phát ăn liền, củ khoai còn tươi. Phần còn lại, xắt lát, ăn dần. Vì cất giữ chưa lâu, lát khoai mì còn trắng.

(3) Nhạc sĩ Nguyễn Tăng Dục, (Dục què) trước 1975 thuộc ban quân nhạc Hải quân VNCH, bị bắt về “tội Phục Quốc”, vào cát-xô bị đánh què một chân vì đã vào tù còn sáng tác nhiều bài “Tù Ca”. Bị què, Dục phải một tay cầm đàn, một tay cần gậy, trông rất tội nghiệp.

Sau khi đi tù cải tạo về, anh đến thăm tôi khi tôi trốn ở đường Trương Minh Giảng. Nhà anh ở Thủ Thiêm, rất khó tìm nên sau lần gặp đó, chúng tôi mất liên lạc. Anh thuộc “thành phần Phục Quốc” không được định cư ở Mỹ theo cái gọi là HO dù anh ở tù gần 5 năm.

(4) Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Sư Đoàn Dù, bị bắt vì “can tội Phục Quốc”, cũng không được định cư Mỹ như Dục. Cách đây mấy năm, anh Trần Phú Trắc ở Nam Cali đứng ra quyên góp “bạn tù” cũ, kẻ ít người nhiều để giúp Huề. Sau khi được tha ra khỏi tù, Huề bị bệnh bại liệt toàn thân. Không rõ bây giờ anh còn sống hay đã qua đời.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 6 Dec 2015

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Một ngày Chủ Nhật “Vui chơi, tắm giặt, nghe đài”

Bài 28

Tuy khỏi lao động, cuốc đất, trồng bắp, trồng mì, ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, nhưng chúng tôi chỉ “vui chơi” vào buổi sáng mà thôi.

            Buổi chiều… dù khi trời mây âm u hay bóng chiều êm ả, nắng phai dần, có khi tưởng như những ánh nắng vàng trong “Hai buổi chiều vàng” của Nhất Linh, cũng làm cho lòng kẻ tha phương buồn nhớ cố hương. Huống chi bọn chúng tôi, xa nhà đã năm, bảy năm; tù tội cũng đã năm, bảy năm; xa vắng cha mẹ, vợ con cũng đã năm, bảy năm.

Ai không nhớ con đường làng, hàng phố cũ, những con hẽm quanh co tưởng như bất tận của Saigon, hay “con đường quê” nơi làng cũ, nhớ bến đò đìu hiu, nhớ con đò máy xành xạch chạy qua con kinh vắng lặng, hay bóng chiếc thuyền lênh đênh ngoài cửa biển. Tất cả là những nỗi nhớ khôn cùng, đè nặng lên tâm hồn người tù cải tạo. Nỗi buồn nhớ cha mẹ, vợ con, người thân… không phải là những bâng khuâng nhẹ nhàng của tuổi thanh xuân khi mới biết yêu.

            Có khi người tù nhìn lên ngọn núi Chứa Chan. Núi đụng tới mây, mây đụng tới trời mà nỗi buồn, nỗi nhớ của người tù lên cao vun vút, cao hơn cả những ngọn mây, hơn cả khung trời xanh thẳm trên đầu núi, và ai cũng như ai, cũng ngậm ngùi, chua xót nghĩ tới ngày về.

Biết bao giờ mới được tha về?!

            Tôi nằm bên nầy võng, anh Tâm nằm bên kia. Hai đầu võng nối vào nhau ở cái cột xi măng ngoài hàng hiên. Hai cái võng hơi chéo nhau, tôi có thể thấy mặt anh Tâm. Anh Tâm nằm bên kia cũng thấy tôi được, nhưng suốt một thời gian lâu, anh và tôi không ai nói với nhau một lời nào cả. Có lẽ anh em chúng tôi cùng một tâm trạng:

Nhớ nhà.

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đây không phải khói của Thôi Hiệu, không có “Hoàng Hạc Lâu”, đây không có Huy Cận, chỉ có những bức tường cao, làm sao nhìn “giang thượng” để thấy “yên ba”; dù không thấy “khói hoàng hôn”, không thấy gì, chúng tôi cũng thấy nhớ nhà.

            Nỗi nhớ nhà như một viên đá tảng, đè nặng lên tâm hồn mỗi người, khiến tôi nhớ một câu trong “Pensée d’ Automne” của Anatole France: “Tôi không muốn nói gì cả! Tôi chỉ có một ý nghĩ. Thế nào cũng phải lên đường.” Không phải lên đường để ra đi mà lên đường để trở về. Trở về với gia đình.

            Tôi nhìn qua anh Tâm. Mắt anh vẫn mở, nhìn hững hờ đâu đó lên trời cao, và anh cũng chẳng nói với tôi một lời. Khuôn mặt buồn, thờ thẫn và im lặng của anh làm tôi nhớ tới bài thơ của ông Bùi Khánh Đản.

            Trong một số báo “Bách Khoa” nào đó, xuất bản sau khi chế độ Nhà Ngô bị lật nhào, ông Bùi Khánh Đản kể lại câu chuyện, rằng trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa ra tòa, xử về tội chống chế độ vì ông có “dính líu” trong vụ đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại Tá (cấp bậc lúc đó) Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù thất bại.

            Khi đến thăm ông Bùi Khánh Đản, ngoài câu chào xã giao thông thường, ông Nguyễn Tường Tam không nói với chủ nhà một lời. Hai người ngồi đối diện, trầm ngâm. Được một lúc, Nhất Linh đứng dậy, chào người bạn rồi ra về.

            Nhất Linh đi đã lâu, ông Bùi Khánh Đản vẫn không dứt dòng suy nghĩ về người bạn thơ, về hoàn cảnh chính trị khó khăn bấy giờ Nhất Linh đang gánh chịu.

            Buồn và thương bạn, ông Bùi Khánh Đản làm bài thơ “Thiếu Một Lời” nói về lần thăm viếng hôm ấy:

                        “Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi,

                        Anh đã quên không nói một lời.

                        Tám hướng dần buông vào tịch mịch,

                        Hai lòng vẫn nghĩ chốn xa xôi.

                        Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện,

                        Tai lắng thời gian thánh thót rơi.

                        Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

                        Vì anh chỉ thiếu một lời thôi.

&

            Một lúc sau, anh Trần Phú Trắc đến, ngồi xuống thềm, kế bên võng tôi. Anh nói:

            _ “Bọn trẻ nó làm vầy là vô tình giết ông Điệp đó anh à!”

            Tôi hỏi:

            _ “Ông Điệp mới ra “cát-xô” tối qua?”

            _ “Ông ta đấy!” Trắc trả lời.

            Ông Điệp là người nổi tiếng của trại tôi. Nếu Việt Cộng hay ca ngợi “kiên cường”, “bất khuất” thì đó chính là ông Điệp, một người chống Cộng “kiên cường, bất khuất” chớ không phải đó là người Cộng Sản.

            Trước 1975, ông chưa nhập ngũ. Tôi không rõ lý do. Sau tháng Tư năm đó, ông dính líu vào một tổ chức “Phục Quốc” hay “Công giáo chống Cộng”, tôi không rõ lắm, bị bắt. Sau thời gian giam ở Biên Hòa, ông bị đưa về đây, để “sản xuất, lao động”, để giác ngộ chủ nghĩa Cộng Sản, để thấy “lao động là vinh quang.”

            Vậy nhưng không mấy khi ông đi lao động, bởi vì thời gian ông “nằm ở cát-xô” chiếm gần hết thời gian ông ở tù. Đầu tiên, ông có tín ngưỡng rất mạnh. Hình như, tôi nói là hình như vì tôi không rõ và cũng không tò mò chuyện nầy, gia đình ông thuộc một họ đạo ở Hố Nai, có nghề “điêu khắc truyền thống” thường khắc hay nặn tượng Chúa, Mẹ cho nhà thờ, cho các gia đình theo đạo Thiên Chúa trong giáo xứ. Do đó, mới vào tù, ông kiếm một ít gốc củi tốt, cứng, sắm một con dao nhỏ, khắc tượng để đeo hoặc biếu tặng anh em chung trại. Phần đông họ là những thanh niên còn trẻ: “Phục Quốc”.

            Việc làm đó, có hai kết quả. Nhiều người khen ngợi anh, không chỉ vì cái tài khắc tượng đẹp, nhanh, và vì anh có tín ngưỡng mạnh mẽ.

            Thứ hai, bọn Công An theo dõi anh chặt chẽ hơn, tịch thu tượng, dụng cụ anh dùng khắc tượng, giam anh vào “cát-xô”, buộc anh làm cam đoan không tái phạm. Nhưng không bao giờ anh chịu làm theo mệnh lệnh  của chúng, nên anh “nằm cát-xô” dài dài. Được thả ra khỏi “cát-xô”, anh lại “tái phạm”, lại vô “cát xô”. Cứ cái vòng luẩn quẩn ấy diễn ra, kéo lại hoài, làm anh trở thành “khách không mời mà đến” thường xuyên các gian nhà ngói đỏ ở phía sau “Trại Đá”.

            Tối qua, anh mới được tha ra khỏi “cát-xô”. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” tôn vinh anh như một thần tượng sống. Vừa thấy anh vào cổng, bọn họ ùa ra “Hoan hô anh Điệp”, chạy đến ông, bắt tay, nắm áo. Ông vừa về phòng, đã có người mời ông đi tắm, nước đã múc sẳn trong thùng, người lo nấu mì, người lo pha trà ông uống. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” xúm lại quanh ông, chúc, mừng hỏi thăm, ca ngợi ông là người dũng cảm, kiên trì, bất khuất, coi bọn Công An chẳng ra cái thá gì, v.v… và v.v…

            Trắc nói:

            _ “Làm như thế là chúng đẩy ông đi tới, mà ông không lùi lại được, đưa ông cao lên mà ông không xuống được. Với bọn Cộng Sản nầy, làm như thế là nguy cho ông ta lắm.

            _ “Leo lưng cọp khó mà xuống”. Tôi góp ý.

            _ “Xuống làm sao?! Xuống là mất đi cái tiếng dũng cảm, người hùng, người số một…” Trắc nói.

            _ “Vậy là bọn Công An lại cho vô “cát-xô” như rước kia.” Tôi nói.

            _ “Vô hoài cũng có ngày không còn ra được nữa.” Trắc kết luận.

            _ “Có ai khuyên đám trẻ nầy được không?” Tôi hỏi.

            Anh Tâm nói:

            -Bộ người ta muốn bị chụp mũ là “ăng-ten”, muốn bị chưởi là thằng hèn? Mày không nhớ vụ ông Huy sao?”

            Ông Đào Quang Huy là giáo sư nổi tiếng giỏi ở trường Luật Saigon. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh chọn Giáo Sư Vũ Văn Mậu làm “thủ tướng ba ngày”, ông Huy được ông Mẫu mời làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông Huy nhận lời nhưng chưa nhậm chức thì… “đứt phim”.

Ông không bị Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo”, nhưng chúng có âm mưu bỏ tù ông. Chúng cho người giả danh Phục Quốc, đến mời ông tham gia. Ban đầu, ông nghi, ngờ từ chối. Tên cò mồi lui tới nhà ông nhiều lần, năn nỉ, khích tướng ông hèn nhát, nên ông bèn “nổi máu anh hùng”, tình nguyện tham gia. Chúng mời ông đi họp và đưa ông thẳng vô… Chí Hòa.

Sau khi “điều tra”, bọn Công An đưa ông trại Giá Rây “học tập lao động”, cuốc đất, trồng khoai “làm giàu đất nước”. “Lao động thực tế” ích lợi hơn mớ sách vở kinh tế mà ông đã học bên Tây nhiều.

            Về trại Gia Rây, vì “tội Phục Quốc”, ông được “biên chế” chung với đám Phục Quốc, phần nhiều là những thanh niên trên dưới hai mươi tuổi, còn đầy nhiệt huyết với Dân Tộc, Đất Nước.

            Tuy nhiên, họ không hiểu ông. Một hôm họp đội, kiểm điểm lao động, ông bị quản giáo phê phán là “chây lười”. Ông phản bác một cách mai mỉa: “Tôi không may mắn nên được sinh ra trong một gia đình giàu có và trí thức ở Hà Nội trước năm 1954, thành ra cha mẹ tôi không cho tôi làm việc gì nặng nhọc, để có thể hiểu giá trị “lao động là vinh quang”.

            Nghe ông phát biểu như thế, đám thanh niên bồng bột chê ông là người nói xấu cha mẹ, bất hiếu, v.v… và v.v…

            Từng nghe tiếng ông, nghe câu chuyện đó do Trắc kể lại, một hôm, chủ nhật, tôi nhờ anh Nguyễn Đình Niệm, quê ở Quảng Bình, cùng quê với Ngô Văn Vinh là học trò của một người bạn tôi. Qua Vinh, tôi quen anh Niệm, anh Niệm lại thân thiết với Giáo Sư Đào Quang Huy. Anh Niệm gọi tôi tới chơi, cùng uống cà-phê với giáo sư Đào Quang Huy. Hai người nầy, cùng là trí thức với nhau cả. Anh Niệm hoc khóa 2 Võ Khoa Thủ Đức, giải ngũ khi còn là trung úy, qua Nhựt làm gì anh không nói rõ, nhưng có vợ Nhựt, sau làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon, không di tản hồi tháng Tư / 75 và đi ở tù. Tôi là người thường học thêm Anh Văn ở anh vì anh giỏi cả hai sinh ngữ, anh và Pháp. Qua cuộc thăm viếng ấy, tôi tin là tôi hiểu Giáo Sư Đào Quang Huy hơn đám trẻ.

            (Ghi chú: Trở lại chuyện ông Điệp, vì cái vòng quay như tôi nói trên kia, sau khi tôi ra tù được vài năm thì nghe tin ông qua đời. Một buổi sáng, trật tự mở “cát-xô” đem thức ăn và nước uống vào cho ông thì xác ông đã lạnh tanh, không biết ông qua đời vào lúc nào.)

&

            Một lát sau, Ngọc “thiến” tới. Trắc hỏi Ngọc:

            _ “Ông ở Huế, “ông” có biết nhiều chuyện Huế như “mệ” Hải không?”

            _ “Tui thì chịu,” Ngọc nói. “Chuyện đâu trên trời dưới đất, ông kể từ ngày nầy qua ngày khác không hết. Nghe cũng vui!”

            _ “Vui gì? Tao đang muốn nghe nó kể tiếp chuyện ông cha Luận cho tao nghe. Ông đi tu, không biết có bồ không? Có không mầy! Hải?”

            Tôi nói trống lãnh sang chuyện khác:

            _ “Huế nhiều chuyện lắm. Chuyện mấy ông vua trong cung. Chịu chơi, đa tình nhất là ông Thành Thái. Ông Phan Văn Giáo cũng bắt chước, chơi bời không thua gì vua. Chuyện ông Nguyễn Cao Thăng là một quái kiệt không những Huế mà cả Saigon cũng giật mình. Một mình ông xoay chuyển việc chính trị như trở bàn tay. Ông nầy chết sớm chớ không nếu còn thì Saigon chắc có thêm nhiều chuyện vui! Ông Thăng là “dân Quảng Trị tui”. Cha Luận là dân Hà Tịnh. Cậu Cẩn là gốc Quảng Bình. Thủ Hiến Phan Văn Giáo gốc Khánh Hòa. Mấy ông nầy đến Huế “quậy” dữ lắm, chuyện kể sao cho hết.

            _ “Mày kể chuyện cha Luận trước đi.” Anh Tâm bảo.

            _ “Cha Luận là cha nuôi của Như Hà, rất có thế lực vì một, ông là linh mục, hai là giáo sư, ba là viện trưởng Viện Đại Học Huế, bốn là thân cận với gia đình họ Ngô, dài dài lắm chuyện…”

            “Ông có công lớn với việc thành lập Viện Đại Học Huế, khó nhứt là việc mời giáo sư. Hồi đó, người Việt Nam tốt nghiệp đại học bằng cấp cao đâu có nhiều, mỗi năm, ông phải đi một vòng Âu – Mỹ để mời giáo sư, xin các viện đại học Âu – Mỹ giúp đỡ. Khi mở Y Khoa, một số bác sĩ Đức qua dạy ở Viện Đại Học là nhờ ông. Ông “Gun” (Wulff) là bác sĩ đầu tiên đến dạy ở Y Khoa Huế. Ông nầy cùng một số giáo sư, sinh viên là cái “kẹt” của Cha Luận đấy. Mặc dù có sự cam kết giúp đỡ giữa hai nước Đức và VNCH, nhưng về tình riêng, giữa Cha Luận với những người nầy khá sâu đậm. Sau vụ Đài Phát Thanh, ông bác sĩ cùng một số giáo sư, sinh viên đứng về phía Phật Giáo, chống lại chính quyền, Cha Luận kẹt cứng. Ông bác sĩ bị đuổi về Đức, một số giáo sư và sinh viên bị bắt bỏ tù. Cha Luận đứng giữa, một bên là những người đầy tình nghĩa với Cha, họ đến với Viện Đại Học, một phần cũng vì Cha; bên phía kia là ông Ngô Đình Thục, – một người không “thuận thảo” gì với Cha -, đã “hạ quyết tâm” triệt hạ đám Phật Giáo “phản loạn” Huế, dám chống lại Ngô Triều…”

            Có kẻng gọi lảnh cơm…

            Tôi cười nói:

            _ “Thôi đi lấy cơm mà “vô chuồng”, “chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ”

để lại tuần sau…”

            Anh Tâm nói:

            _ “Tao đang muốn nghe chuyện Huế của mày.”

            Tôi cười nói giả lả với anh bằng hai câu thơ đầu trong bài “Uống Rượu Tiêu Sầu” của Cao Bá Quát:

                        “Thế sự thăng tram quân mạc vấn,

                        Yên Ba thâm xứ hữu ngư châu…”

            Anh Tâm bèn hỏi:

            _ “Nguyễn Công Trứ phải không?”

            _ “Cao Bá Quát đó.” Ngọc “thiến” trả lời.

            Anh Tâm nói thật tình:

            _ “Tao đi lính mới học thêm thi tú tài, tụi bây sướng hơn, học sinh nên học được kỹ.”

            _ “Tui không được như “rứa” đâu ông ơi! Tui “dân Quảng Trị”, mồ côi cha, con nhà nghèo, lang bạt ở Huế mấy năm trời, vừa kiếm cơm ăn vừa học, khi làm “rề-xếp-tơ” (précepteur), khi ăn cơm tháng rẻ tiền, không như anh nghĩ đâu!”

            Trắc cười:

            _ “Chương trình chiếu phim hôm nay đến đây chấm dứt, hẹn khán thính giả tuần sau.”

            _ “Tuần sau không bao giờ tới, lỡ mai “mệ” Hải được tha về thì sao? Thôi lo lãnh bắp đi. Chiều nầy ăn bắp.” Ngọc “sùi” cười nói.

            Tôi nghe anh Tâm chưởi thề “đ. m.” một tiếng như hồi sáng, khi chúng tôi mới họp mặt nhau.

            Tôi nghĩ chắc không phải anh Tâm chưởi tôi!”

Phụ lục

TRỞ LẠI VIỆT NAM
Hồi ký BS. ERICH WULFF – Minh Nguyện (Việt dịch)

Lời người dịch : Đây là bài thứ tư được trích dịch từ quyển hồi ký tiếng Đức Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, từ trang 211 đến 214, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã được mời trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.

Bài thứ tư này nói về chuyến trở lại Việt Nam vào tháng 4/1964 của tác giả sau khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ và được tiếp đón trọng thể tại Sài gòn và Huế. 

Trong suốt chuyến bay từ Paris về Sài gòn tôi chỉ biết nằm ngủ. Hai chỗ ngồi bên cạnh tôi bị bỏ trống. Khi máy bay dừng lại tại New Delhi tôi thấy bước vào một hành khách là một vị tăng sĩ tròn trịa, khoảng 50 tuổi vận áo vàng ; khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe hình như vị ấy thì thầm vài chữ tiếng Việt. Lúc ăn sáng tại một quán ăn ở phi trường Bangkok tôi đến ngồi bên vị ấy và gợi chuyện. Vị ấy đúng là một người Việt và đã sống 12 năm vừa qua tại Ấn độ. ‘Nếu vậy, chắc Thầy là Thượng tọa Thích Minh Châu’. Vị ấy cười. ‘Còn ông, chắc ông là Bác sĩ Wulff phải không?’. Vị ấy đã nhìn thấy sổ Thông hành Đức của tôi khi tôi trình giấy tờ cho cảnh sát phi trường, do dó đã suy luận ra như thế.

Bức thư của tôi viết vào tháng 5/ 1963 đã đến tay Thầy (1) và Thầy đã báo động liền đến Tổ chức Phật giáo Thế giới. Sau đó Thầy cũng đã đọc được một vài bài báo khác của tôi. Thời gian còn lại trên chuyến bay về lại Sài gòn quá ngắn ngủi để tôi có thể kể lại cho Thầy nghe hết những gì tôi đã chứng kiến tại Việt Nam trong những năm vừa qua. Vì đã xa quê hương hơn 12 năm nên Thầy cũng khó hình dung được tình hình hiện nay như thế nào. Thầy đã hỏi tôi về tình hình, về dư luận, về những tàn phá của cuộc chiến tranh, về sức khoẻ của người anh ruột đang làm Chủ sự tại Tòa Viện trưởng Viện Đại học Huế. Thầy tỏ vẻ thông cảm với những câu trả lời chưa được hoàn hảo lắm của tôi. Thầy Minh Châu là một con người trầm tĩnh, sâu sắc ; phong cách thoải mái và đượm nhiều hóm hĩnh của Thầy rõ ràng chứng tỏ Thầy không phải là một nhà tu khổ hạnh hay là một người xách động chính trị. Nhưng Thầy là một người quan sát tinh tường, đã đi thăm nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng như đã ghé qua Trung hoa lục địa. Với những kinh nghiệm giao thiệp quốc tế như thế của Thầy, điều rất còn thiếu sót nơi các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, hẳn sẽ giúp Thầy làm nhịp cầu đối với bên ngoài. Thầy nói cho tôi biết rằng trước hết Thầy muốn xem tình hình tại quê nhà như thế nào. Thầy cũng không biết sẽ ở lại hay lại ra đi. Nhưng khi về lại Sài gòn, Thầy đã nhận lãnh nhiều vinh dự và công tác đến nỗi không còn nghĩ đến chuyện rời xa khỏi nước. Thầy đã được bổ nhiệm vào chức vụ Viện trưởng của Đại học Phật giáo Vạn Hạnh vừa mới được thành lập.

Khi máy bay hạ cánh tại Sài gòn, tôi thấy sân bay đông nghịt cả người. Một ban quân nhạc đứng dàn chào; phía dưới cầu thang máy bay tôi thấy đã có mặt các người bạn Hoàn, Tuân (2) và thầy Trí Quang cùng các vị lãnh đạo Phật giáo khác. Thời tiết nóng bức dữ dội, tôi lại mặc bộ đồ veston và cầm áo choàng vì không còn chỗ để trong vali và để tránh quá kí. Khi bước ra máy bay, tôi lại cầm tay hộ thùng đồ to tướng của thầy Minh Châu, nên trông tôi có vẻ nực cười. Một viên đại tá giơ tay chào và xin tôi giao giấy phiếu lãnh hành lý và giành lấy thùng đồ to tướng ra khỏi tay tôi, trước khi tôi giải thích được rằng thùng đó không thuộc về của tôi. Sau đó tôi mới có thể chào hỏi bạn bè. Tôi phải bắt tay lia lịa bên phải và bên trái của tôi. Các bạn Fritz và Miên (3) không ra đến được sân bay. Khi chúng tôi được đưa ra khỏi Phòng khách đặc biệt, tôi chợt thấy họ đứng bên cạnh xe Con Cóc 2 CV lọc cọc của Miên. Tôi muốn đi về nhà cùng với xe của họ, nhưng thầy Trí Quang nhất định mời tôi vào ngồi trong một chiếc xe Mercedes được mướn để đưa về nhà Lý, người anh của Tuân để dự một bửa tiệc tại đó.

Những ngày tiếp theo là những buổi tiếp tân và chiêu đãi liên miên. Các chùa mời những bửa ăn chay thịnh soạn, còn các người bạn Hoàn và Oánh, Miên và Quát (4) thì mời những bửa cơm tối thân mật. Những lúc rổi rãnh tôi đều qua biệt thự của Tuân, nhỏ hơn ngôi nhà của họ ở Huế nhưng lúc nào cũng đầy ập cả người giống như một chỗ cắm trại camping vào lúc cao điểm. Bà con và bạn bè từ Huế vào đều tá túc tại đây, Tuân và người vợ Phương nhiều lúc cũng không có một căn phòng dành riêng cho mình. Quát vẫn ở tại ngôi nhà cũ đẹp đẽ, vì không muốn dọn vào một tòa nhà của chính phủ với nhiều điều phiền toái. Riêng Oánh và Hoàn thì dọn vào những toà lâu đài với vườn hoa rộng lớn như công viên, có những bức tường cao bao bọc chung quanh. Đó nguyên là các tòa nhà của những nhân viên cao cấp của thực dân Pháp trước đây để lại. Bà vợ của Hoàn, trước đây làm nghề y tá tại Paris, nay đeo đầy hột xoàng, đang tìm cách vô vọng thế vào vai trò của một Đệ Nhất Phu nhân của bà Nhu trước đây. Người chồng không lấy làm gì vui vẻ cho lắm, nhưng không dám nói gì.

Trong những ngày đầu tiên sau khi trở lại Việt Nam tôi không có thì giờ cho những buổi đàm luận nghiêm chỉnh. Tôi vừa mới hoàn tất những buổi gặp mặt cần thiết thì quý Thầy Trí Quang và Minh Châu muốn đi cùng tôi ra Huế. Tuân cho rằng một chuyến đi chung như vậy có lợi về mặt chính trị. Tại phi trường Phú Bài các sinh viên và các đồng nghiệp người Đức đã chờ đón tôi. Nhưng mà họ không có cơ hội để chào đón tôi một cách đàng hoàng. Hàng ngàn Phật tử đã chiếm lấy sân bay, hoan nghênh nhiệt liệt quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi, và vẫy lá cờ năm màu của Phật giáo quốc tế trên tay. Chúng tôi tiến vào thành phố trên những chiếc xe mui trần, đoạn đường dài 13 cây số đi qua những phong cảnh quen thuộc đang sang xuân vào lúc hoàng hôn đã làm biến mất đi dần những biên giới không gian như trong một bức tranh Tàu. Tại mỗi thôn xóm đi qua đều có các đoàn thanh niên phật tử hân hoan đứng chào trước những căn nhà trang hoàng đầy hoa và cờ. Đoàn xe đi vào Huế, chạy dọc dòng sông Hương, đi ngang qua cư xá của chúng tôi và dừng lại tại chùa Từ Đàm, trung tâm tranh đấu chống chế độ Diệm và là nơi khỏi đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo 30 năm trước đây. Các em thiếu nhi phật tử đứng tập hợp bên cạnh các thiếu nữ áo dài tím nhạt và các thanh niên trong đồng phục của Gia đình phật tử. Đứng trên tầng cấp của chùa, quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi nói những lời phát biểu ngắn (5).

Trong lúc đứng trên khán đài tôi cảm nhận được niềm hân hoan phấn khởi của quần chúng. Ở nơi đây tôi có cảm giác rất mạnh mẻ nhiều hơn so với Sài gòn về nồng độ biểu dương bề ngoài, vì thực tại chợt đến như một giấc mơ. Đó là một sự hoà nhịp giữa những tình cảm nồng cháy trộn lẫn với tâm trạng hãnh diện của những người chiến thắng trở về lại nơi chốn mà trước đây người ta đã gieo sợ hãi và đã trục xuất tôi đi. Nhưng trên đường trở về lại căn phòng, tôi đâm ra suy nghĩ về sự say men chiến thắng của các giới Phật tử. Điều này làm cho tôi liên tưởng đến những gì đã xẩy ra trước đây do người Thiên chúa giáo gây ra, những điều mà tôi không đồng tình và chống đối. Tuy nhiên sau khi chịu nạn kỳ thị trong 10 năm vừa qua, nay có lẻ đám đông quần chúng cần một biểu thị tự chứng tỏ sức mạnh. Một sự biểu dương lực lượng hẳn nên được chấp nhận. Nhưng điều này sẽ kéo dài bao lâu ? Tôi mong mỏi rằng sự say men chiến thắng và biểu dương quyền lực mới giành được này của các Phật tử không làm mờ đi những nhiệm vụ quan trọng hơn đang đợi chờ họ.

BS WULFF 
Minh Nguyện (dịch Việt, tháng 5/2004)

Ghi chú của người dịch : 

(1) Bác sĩ Wulff đã biên thư cho Thầy Minh Châu kèm theo lá thư của Thầy Trí Quang báo động về vụ đàn áp tại đài Phát Thanh Huế đêm 8/5/63. Xin xem bài thứ nhất phổ biến trên các trang nhà : http://www.quangduc.net/phatdan/86bsiwulff.html  http://thuvienhoasen.org/qd-tuongniem-12.htm 

(2) Lúc này các người bạn của tác giả đang tham gia chính quyền : Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn, bộ trưởng giáo dục Bùi Tường Huân (Xin xem ghi chú 1 của bài thứ nhất ghi lại trên đây).

(3) tức Đại sứ Bùi Diễm, Fritz là Tuỳ viên văn hóa toà Đại sứ Hoa kỳ.

(4) tức Thủ tướng Phan huy Quát, và Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh sau này.

(5) Xin xem hình ảnh và bài viết của BS Wulff nhân kỷ niệm 40 năm nhìn lại Pháp nạn 1963 : http://khuongviet.com/PD63/Kyuc_Wulff.htm

  Chúng tôi đem về anh em mỗi người một phần cơm. Thấy chén cơm lưng lẻo, anh Tâm nói:

            _ “Có chút xíu vầy mà ăn cái chi! Làm sao cho no đây trời!”

            Ngọc “xùi” nói:

            _ “Nấu thêm một ít mà ăn!”

            Chiếu nhanh nhẩu:

            _ “Chờ tui nấu thêm. Lâu lâu nên “bồi dưỡng” cái xác phàm một chút cho có lòng nhân đạo.”

            Anh Tâm hỏi:

            _ “Mày có gạo không?”

            _ “Đừng lo! Tui mới thăm nuôi. Gạo dưới tui bây giờ ăn không hết. Công An không cho đem ra khỏi tỉnh. Tui nấu bốn “loon” nghe! Đủ không!”

            Ngọc “xùi” cười:

            _ “Bốn “loon”! Quá đã! Quá đã!”

            Quê Chiếu ở Cần Đước. Cần Đước, Cần Giuộc là hai nơi sản xuất gạo của Long An. “Ngăn sông cấm chợ” thì Saigon không có gạo, mặc dù Long An kế cận Saigon.

            Anh Tâm hỏi Chiếu:

            _ “Gạo không lên được Saigon à? Qua khỏi cầu ông Thìn là tới bót Ký Thu Ôn rồi mà gạo không đi được?”

            _ “Vợ tui nói, tụi Công An Kinh Tế xét dữ lắm. Đem cho tui ba chục lon gạo, có giấy đi thăm nuôi mà cũng bị tụi nó bắt, năn nỉ thiếu đường lọi lưỡi.” Chiếu kể.

            Bỗng anh Tâm hỏi tôi:

            _ “Hải! Mầy có học kinh tế không?”

            _ “Có chớ. Tui học với bà Trai ở Huế.”

            _ “Tao thấy có một nguyên tắc, mà Cộng Sản làm chuyện lạ đời. Mậu dịch càng lớn càng rộng, kinh tế mới phát triển. Nước nầy nước kia còn phải vậy, huống chi trong một nước.” Anh Tâm nói. Anh đang học luật thì “đứt phim” (tức ngày 30 tháng Tư)

            _ “Anh không nhớ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng tuyên bố à?” Tôi nói. Trong “Hội nghị các nước không liên kết” họp ở Ấn Độ sau 1975, ông Đồng tuyên bố hách một câu: “Phát triển đất nước, phải dựa vào sức mình là chính”. Hội nghị vỗ tay hoan hô. Hoan hô thiệt hay hoan hô giả, ai mà biết, nhưng phát triển kinh tế mà “dựa vào sức mình” thì nước người ta đi hia bảy dặm, còn mình đi bộ phía sau. Lê Duẫn thì bảo: “Tỉnh nào có người chết đói là tỉnh ủy ấy phải chịu trách nhiệm” nên nơi nào sản xuất thực phẩm thì giữ lấy mà ăn. Tỉnh nào lo tỉnh đó thì kinh tế phát triển sao được!? Không có cái “học huyết kinh tế” nào mà u mê kỳ lạ đến như vậy. Vậy mà y còn nói, chỉ sau một vài “kế hoạch năm năm” thì nhà nào cũng có TV, tủ lạnh. Có bằng cách nào, tui không hiểu được. Lúa làm ra không bán được thì nông dân trồng lúa làm chi, ruộng bỏ hoang. Hàng công nghiệp làm ra không bán được thì sản xuất làm chi, hãng xưởng đóng cửa. Cái chết rõ ràng như dzậy mà tụi nó không thấy được là sao?”

            Chiếu đi nấu cơm rồi. Ngọc “xùi” lo luộc rau. Y hỏi anh Tâm:

            _ “Tui luộc hết mớ rau lặt hồi sáng nghe không, anh Tâm.”

            Anh Tâm bảo:

            _ “Mày luộc hết đi.”

            Rồi anh đi vô nhà. Một lúc sau, anh cầm ra ba con khô nục, nói với Ngọc “xùi”:

            _ “Luộc rau xong mầy nướng luôn, chút nữa ăn với nước mắm!” Xong anh dặn:

            _ “Mày nhớ luộc rau bỏ vào chút muối. Đừng đậy nắp.”

            Tôi nói:

            _ “Thằng đó “xuất sắc trong vi tỳ nữ”. Anh đừng lo.”

            Một lát sau chúng tôi bày cơm rau ra giữa thềm nhà, quay quần ngồi ăn. Tôi nói:

            _ “Bữa nay mình ngon dữ. Một bữa thịnh soạn.”

            Bỗng anh Tâm nói to:

            _ “Ngọc “xùi” cho muối nhiều quá, nước canh mất ngon.”

            Tôi nói đùa: “Nó học nghề “Chú Ba-Tô” mà anh!”

            “Chú Ba Tô” là tên gọi đùa ông cựu đại úy Cảnh Sát Trần Thanh Tuấn, nguyên Chủ Sự Phòng Công Xa Bộ Tư Lệnh CSQG. Hồi còn học ở Cao Thắng, đóng kịch, chú thường đóng vai hề Charlo, nên bạn bè gọi đùa là “chú Ba Tô”. Cái tên ấy đi theo anh ta mấy chục năm nay.

            Một hôm, thấy tôi nấu chè, chú bảo:

            _ “Này Hải! Mầy nấu chè nhớ bỏ vô ít muối, cho “lại đường”, mới ngọt.”

            Xong, tôi mời chú một chén.

Mấy hôm sau chú nấu chè mời lại tôi. Tôi đùa:

            _ “Chú bỏ ba muỗng muối một muỗng đường phải không? Mặn quá! Chú ướp muối chớ nấu chè chi?”

            Mấy anh em chung quanh nghe tôi nói đùa đều cười. Từ đó mới có câu chuyện Chú Ba Tô nấu chè bỏ muối nhiều vì muối rẻ hơn đường.

            Chưa hết màn “đãi ngộ” cái xác phàm ngày chủ nhật. Sau khi cơm nước xong, chúng tôi còn bày trò uống “Cà-phê Ban Ma Thuột”.

            Nói “Càphê Ban Ma Thuột” là nói thật, chính hiệu.

            Khi còn ở “trại trong” – tức Trại B rồi Trại A, tôi thường ăn chung với Ngô Văn Tăng, cụ Trần Văn Niệm và Phan Thành Long. Long lo việc nấu nướng vì tôi thì lớn tuổi, ông Tăng và cụ Niệm đã già. Long tận tình lo cho “cụ Niệm già” hơn ai hết.

            Cụ Niệm vui tánh! Những bữa ăn với “Cụ Niệm”, nhất là vào những ngày nghỉ, tôi được nghe không ít những chuyện vui do cụ kể. Nhìn mặt cụ đã thấy vui, nói chi chuyện cụ kể. Cụ để râu như Hồ Chí Minh. Mắt cụ to, nhưng trông hiền, không sắc và dữ như mắt ông Hồ. Bình thường mắt cụ đã to, như mắt “Con nai vàng ngơ ngác” xứ Ban Ma Thuột. Khi vui, cụ cười, mắt híp lại, trông thật hay! Ngồi chơi ngoài hiên nhà, gió thổi mơn man, râu cụ bay trông rất hay.

            Có lần, tôi nói đùa:

            _ “Cụ chừa râu như “già Rô” – tiếng lóng anh em chúng tôi gọi đùa Hồ Chí Minh – “tụi nó ghét, chờ cụ ngủ say, chúng nó cắt râu cụ có ngày.”

            Cụ nói:

            _ “Tao đâu muốn bắt chước ai. Đây là cái tục của ông bà, tao làm theo. Chừa râu như vầy, tao là người Việt Nam, “già Rô” thì chưa hẳn là người Việt Nam. Ổng là “Quốc tế Vô Sản” rồi, “ngụy trang” đấy, Việt Nam gì nữa!”

            Rồi cụ kể:

            _ “Hồi trẻ, tao ghét chừa râu lắm. Già, tao lại bày đặt. Đàn ông chừa râu, làm đàn bà có người ưa, người ghét.”

Ông Ngô Văn Tăng góp ý:

_ “Ông Diệm không râu, không có ông tướng nào dám chừa râu. Ông Diệm chết rồi, mấy ông tướng đua nhau chừa râu! Báo chí hỏi, mấy ông trả lời không ra!”

_ “Tự vì báo chí hỏi mấy ông tướng.” Tôi nói. “Tui thì tui hỏi ngay mấy bà tướng, bà Khánh, bà Kỳ… Mấy bả cho biết lý do ngay, lý do rất rõ ràng!”

Cụ Niệm cười:

_ “Mày nói móc. Ai không biết mấy bà ưa “Nhứt lưỡi, nhì râu, tam đầu, tứ củ”. Bài bản nầy có từ Đường Minh Hoàng với Dương Quí Phi bên Tầu. Đường Minh Hoàng thì già. Dương Quí Phi vừa trẻ vừa sexy.”

Nghe cụ Niệm nói, tôi hỏi:

_ “Hồi trẻ, chắc cụ cũng bay bướm lắm?”

_ “Còn hỏi! Tao bây giờ già, người ta còn ưa nhìn, huống gì còn trẻ. Hồi đó tao làm Cảnh Sát ở Hải Phòng, người làng ở Thái Bình lên, muốn ở lại hay trễ xe, cứ tới nhà tao ở lại, khỏi ở khách sạn, tốn tiền.”

_ “Hồi đó cụ chưa có vợ?” Tôi hỏi.

_ “Vợ con đâu! Tao thuê nhà ở một mình, cũng để người làng lên Hải Phòng có nơi trú chân!” Cụ Niệm nói.

Tôi vừa nói vừa cười:

_ “Cụ mà không léng phéng với cô nào, tui không làm người!”

Cụ Niệm cười:

_ “Được cái là tao không léng phéng cô bà nào có chồng rồi. “Trai tân, gái góa thì chơi. Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Tội lỗi lắm, thất đức.”

_ “Cụ chộp được mấy cô?” Tôi hỏi.

Bỗng cụ nói khác đi:

_ “Này, “ông” biết không? Tụi nó còn con gái mà nhiều đứa mất trinh. Hồi xưa mà vậy, làm sao có chồng!”

_ “Thời Việt Minh cụ ơi! “Giải phóng phụ nữ” mà. Đi họp hành, vô đoàn thể, vô du kích, canh ngày, gác đêm, tụi nó chơi “tét mẹ cái ong bầu”, con nào mà còn trinh!” Tôi nói.

_ “Tao sợ hai điều. Một là con gái còn trinh. Mình thì chơi bời, làm nó mất trinh mà không cưới nó thì tội cho nó. Còn con nào mất trinh rồi, lỡ nó có bầu, phải cưới thì “chết cha tao!” Nói xong, cụ Niệm cười hề hề.

_ “Có vợ rồi, cụ còn léng phéng với cô nào nữa không?” Tôi hỏi.

_ “Cái tánh “dê” cũng không chừa, chỉ ít lại thôi.” Cụ nói, thật thà.

Cụ Niệm kể rất nhiều chuyện bay bướm của cụ như thế cho bọn tôi nghe. Bao giờ cụ cũng kết luận bằng câu:

_ “Tôi nghiệp. Tao làm khổ bà ấy nhiều lắm!”

Bà ấy, tức là vợ của cụ chớ ai!

Cụ cũng hay kể chuyện về đứa con trai út của cụ, Thằng ấy tên Bảo.

_ “Nó thương tao lắm! Tao đi làm về trễ, bao giờ nó cũng chờ tao về, “Ăn với ba!” Khi nào không “ăn với ba” được thì nó cũng ngồi trước mặt tao, khi tao ăn. Nó vừa nhìn tao, vừa lượm những hột cơm rơi trên bàn, bỏ mồm nhai. Vừa nhai vừa hát câu: “Giết người đi…”, “Giết người đi…” Bực mình, tao nói: “Ăn gì dơ! Bộ chết đói hả?”

_ “Me có để đói bao giờ! Ăn cho vui mồm.” Nó trả lời!

Tao lại hỏi:

_ “Cái gì mà “Giết người đi…” Giết người là sướng lắm hả? Không nên giết ai hết, giết người là có tội.”

_ “Giết là giết người trong mộng. Chỉ là trong mộng thôi bố à! Phạm Duy còn bảo: “Giết người đi thì ta ở với ai?!”

_ “Câu ấy hay đấy!” Tao bảo nó.

Kể xong, cụ Niệm nói:

_ “Tao thương thằng út lắm.”

Bỗng cụ hỏi:

_ “Mày biết ông anh tao không?”

_ “Ông nào?” Tôi hỏi.

_ “Trần Văn Ứng.” Cụ trả lời.

_ “Tui có nghe tên một ông Trần Văn Ứng, danh thủ bóng tròn đất Bắc Hà. Phải ông nầy không?” Tôi hỏi.

_ “Chính hiệu con nai vàng.” Cụ Niệm cười.

Một lúc, cụ kể:

_ “Hôm tranh giải vô địch ở sân Hàng Đẫy, Nha Công An Bắc Việt cho xe về Hải Phòng đón tao lên xem đấy. Mấy chã thật là điệu đời.” Cụ khen.

_ “Dân Hà Nội mà ông! Có vậy mới là đất văn vật, ở với nhau chí tình.” Tôi tán thán.

&

Ba bốn tháng Cụ Niệm mới được thăm nuôi một lần. Gia đình cụ ở tận Ba Ma Thuột. Cậu con trai út của cụ bao giờ cũng đi theo mẹ. Và thường thì cụ được một gói “Càphê Ban Ma Thuột” chính hiệu. Thế nào, ngày chủ nhật kế đó, bọn tôi cũng được cụ đải cho một chầu càphê. Dĩ nhiên, lời đồn thiên hạ không sai. Thứ càphê nầy là càphê số một trần gian.

Một lần đang uống càphê với nhau, tôi hỏi cụ:

_ “Thứ nầy có phải là “càphê cứt chồn” không?”

_ “Đâu phải!” Cụ trả lời. “Càphê cứt chồn” ngon hơn nhiều.” Cụ trả lời.

_ “Nó có giống như “trảm mã trà” không?” Tôi lại hỏi.

_ “Khác chứ. “Trảm mã trà” là lá trà non tẩm với dịch vị trong bao tử con ngựa. “Càphê cứt chồn” không phải vì cứt chồn ngấm vào càphê mà ngon. Cứt thấm vào thì hôi chứ ngon mẹ gì!” Cụ Niệm nói.

_ “Vậy nó ngon vì sao?” Tôi lại hỏi.

_ “Cứt chồn khô hay tươi đều hôi. Người ta đi lượm hột cà phê lẫn trong cứt chồn, đem về rửa thật sạch, phơi khô để hết mùi hôi. Còn như hột càphê nó kén lắm. Hột phải chín đủ, càphê mới ngon. Con chồn nó ăn hột càphê, hột chín. Nó chỉ tiêu thụ cái vỏ lụa. Còn hột cà phê cứng, nó ỉa ra ngoài. Khi ăn, chồn chỉ ăn những hột đã chín đỏ, là lúc hột càphê đạt tới cái độ chín nhất, ngon nhất. Càphê mình thường uống, là cà phê hột già, xanh đậm chứ chưa chín hẳn. Tới đó người ta phải hái rồi, không chờ cho nó chín đỏ được, càphê rụng mất.”

_ “Cụ uống càphê cứt chồn” lần nào chưa?” Tôi hỏi.

_ “Thiếu gì lần. Khi tao làm “xếp pô-lít”, tới mùa, thằng Tây chủ đồn điền biếu nửa kí-lô “càphê cứt chồn”. Nửa ký thôi nhé, không có nhiều đâu. Mỗi người được biếu nửa ký, phải là người đang cầm quyền mới được chủ nó biếu cho. Tới mùa, mỗi sáng, mấy đứa con gái Thượng được lệnh chủ đi tìm hột càphê trong cứt chồn. Ngoài số biếu, còn lại thằng chủ đem về Tây.” Cụ Niệm giải thích.

_ “Đem về cho ai bển?” Tôi tò mò hỏi.

_ “Gia đình bạn bè nó. Vợ con nó ở bên đó, đâu có qua bên nầy. Mỗi năm nó về thăm nhà một lần, với lại đem tiền về.”

_ “Tiền gì?” Tôi lại hỏi.

_ “Tiền nó kinh doanh làm ăn. Phải qua hối đoái nó mới đem tiền về được.” Cụ Niệm nói.

_ “Nhiều không?” Tôi lại tò mò.

_ “Bạc triệu. Đổi ra đô-la hoặc Franc. Đem tiền Việt Nam về bên đó không xài được.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ nghĩ có cách nào mà đem tiền về Tây được! Khó lắm. Ông bạn tui, có con du học bên Đức, được đổi tiền, cũng đủ giàu.” Tôi nêu ý kiến.

_ “Tao biết! Có cách hay lắm. Hỏi được thì mày hỏi ông Ngô Đình Thục với ông Huỳnh Văn Lang, đệ tử ông Thục nên được làm Viện trưởng Viện Hối Đoái đấy.”

Tới đó thì tôi chịu thua, đành làm thinh, nói lãng sang chuyện khác:

_ “Càphê vợ tui bới cho không ngon. Đông nó có bảo càphê Saigon bây giờ phần nhiều là càphê Long Khánh, hơi chua. Tụi nó pha với cơm dừa rang cháy xay nhỏ với hột cau, đắng, khó uống, có khi pha với bột bắp nữa.” Tôi nói, một hơi.

Cụ Niệm cười cười:

_ “Mày biết pha hột cau để làm gì không?”

_ “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!” Nói xong, tôi và cụ Niệm cùng cười.

Một lúc, cụ nói:

_ “Mày biết không?”

_ “Có chuyện gì hay?” Tôi hỏi.

_ “Không hay thì tao không nói với một đứa tò mò như mày. Nghề trồng càphê nầy giàu lắm. Có đứa chết đấy. Ghê lắm.” Cụ Niệm nói.

_ “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Càphê và Máu” đây?” Tôi cười hỏi.

_ “Tao điều tra môt vụ cướp càphê, rợn người luôn.” Cụ Niệm nói.

Tôi lại đùa:

_ “Cướp tiền cướp bạc, ai lại cướp càphê.”

_ “Để tao kể cho nghe. Tới mùa, càphê hái rồi, mấy thằng chủ Tây chất đầy trong kho. Đám lính chi khu, tổ chức đem một chiếc xe Dodge vô cướp càphê. Bọn nó phá cửa kho, chất đầy xe, rồi dọt lẹ. Ban đêm chủ Tây không dám đuổi theo. Bữa đó, phe ta gặp ngay tụi Cộng. Hai bên nổ súng. Việt Cộng rút chạy. Phe ta chết một trung sĩ. Tụi nó lén chôn trong rừng, không dám báo cáo. Vậy rồi việc cũng vở lở ra. Quân Cảnh Tư Pháp với tao điều tra, bắt giam mấy thằng. Tụi nó khai thiệt. Hôm đi lấy xác thằng trung sĩ, mới đào lên, trúng đôi giày “bốt-đờ-xô”. Đứa con gái hơn mười tuổi biết ngay là bố nó. Nó khóc nức nở: “Bố ới! Bố ơi!” Nghe con bé khóc, tao xúc động muốn vở tim ra luôn, tao tưởng như có ai bóp tim tao lại. Tao chảy nước mắt. Làm ăn cái gì mà tội nghiệp vậy hả trời. Bây giờ kể lại, tao còn lạnh mình.”

_ “Việt Cộng cũng đi cướp càphê!” Tôi hỏi.

_ “Tụi nó đi thu thuế, chớ không phải cướp càphê. “Tao ngộ chiến” mà.”

_ “Tự thằng chủ nó không đóng đủ hay chưa kịp đóng. Bọn kinh tài Việt Cộng là kinh lắm. “Tiền và Máu” là tụi nó đấy.” Tôi nói.

_ “Mày cũng rành dữ.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ biết không?” Tôi nói. “Tui ở Rạch Giá, ai làm ruộng trong vùng sâu mà không đóng thuế cho Việt Cộng là tui cùi luôn. Làm rừng, làm gỗ cũng vậy thôi.”

_ “Mày biết TrungTá Thứ quận trưởng Ph. A. không? Chả đi cải tạo mới hơn một năm mà được tha về rồi.” Cụ Niệm nói.

_ “Tui có gặp ông ta với vợ ông ở Saigon một lần, ở nhà ông xếp tui. Giàu lắm, vừa làm quận trưởng, vừa có đồn điền càphê. Cái ghế quận trưởng của ổng bắt vít kỹ lắm.” Tôi nói.

_ “Mày nghĩ tại sao chả về sớm vậy?” Cụ Niệm hỏi.

_ “Sĩ quan Cảnh Sát mà không biết chuyện đó sao được! Đóng thuế, kinh tài Việt Cộng, tiếp tế thuốc men, vợ chạy chọt khi vô tù… Biết bao nhiêu lý do! Cháy nhà ra mặt chuột. Trung tá Thứ mặt chuột, không phải mặt người.”

_ “Mày thì thôi!” Cụ Niệm vừa mắng tôi vừa cười.

Có lần, cụ Niệm hỏi tôi:

_ “Mày biết “Vương Quốc Sedang không?”

_ “Biết chút chút.” Tôi nói. “Lâu lắm, khi còn nhỏ, tui đọc một bài trên báo Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, nói về một ông Tây làm vua ở xứ mọi nào đó trên Cao Nguyên. Ông Tây nầy sao lại có tên là Marie? Marie là tên đàn bà chớ!”

_ “Mấy thằng Tây chủ đồn điền càphê cũng là vua một xứ đấy. Nó không xưng vua mà thôi, chứ sống như vua.” Cụ Niệm nói.

_ “Cụ nói sao? Tui không hiểu.”

_ “Việc điều hành thu hoạch, buôn bán có người của nó lo hết. Nó chỉ việc hưởng thụ, hú hí với con vợ mọi, có thêm mấy con hầu, như vua vậy!” Cụ Niệm giải thích.

_ “Tây qua làm vua ở xứ ta, sướng nhỉ. Nhưng nó có vợ bên Tây mà?” Tôi nói.

_ “Bên Tây là vợ chính thức. Vợ bên nầy nó cưới theo tục lệ xứ Thượng, hạ trâu heo ra ăn nhậu là xong, không cần giấy tờ. Con vợ nó sexy lắm. Thỉnh thoảng, con nầy nó bỏ tiền ra, mua một vài con nhỏ Thượng còn con gái đem về cho chồng nó chơi. Xong, nó cho về hay ở lại hầu hạ.” Cụ Niệm kể.

_ “Có tiền mua tiên cũng được, huống gì mấy con nhỏ mọi.” Tôi tiếp lời.

_ “Trong đồn điền của nó, chính quyền ít khi đụng vô. Có chuyện gì, chúng nó giàn xếp với nhau hết, không có thưa kiện, không làm phiền mình.”

_ “Vậy chớ nó làm chi cũng được hay sao? Tụi nó có buôn bán ma túy thuốc phiện như ở Quảng Đức, Phước Long hay không?” Tôi lại hỏi.

(Sở dĩ tôi hỏi câu đó là vì có mấy sĩ quan trong số “Vườn Đào” chuyển lên, kể cho tôi nghe, khi họ phục vụ ở Phước Long, cứ vài tuần một lần, có một chiếc máy bay loại Cessna từ Lào qua, bay thấp xuống, thả một vài kiện hàng trong rừng cao su. Tỉnh trưởng cho xe Dodge ra nhặt lấy, đem về dinh tỉnh trưởng, bỏ vô tủ lạnh hư, cột kỹ cho trực thăng chở về trụ sở Quốc Tế Quân Viện ở đường Trần Quốc Toản, Quận 10, nói là đem tủ lạnh đi sửa. Hàng từ đó, chuyển đi đâu, họ không biết. Người ta nghi là đó là bạch phiến từ Tam Giác Vàng. Việc buôn lậu nầy có liên hệ với Tây ở bên Lào, và cả chính quyền Miền Nam nữa đấy, kể cả đường dây của ông Tuyến, ông Nhu và tướng Quang sau nầy. Tôi có kể lại cho cụ Niệm nghe).

_ “Không biết được đâu. Nếu có thì ở cấp trên với nhau, mình là tép riu, đoán chừng vậy thôi. Nhưng về tình báo, làm Cảnh Sát, tao cũng có nghi!” Cụ Niệm nói.

_ “Nghi sao?” Tôi hỏi.

_ “Mày nghĩ xem. Xịa với “đơ-dèm buy-rô” có quan hệ gì với nhau không mà các đồn điền càphê của Tây, mình thường “đứng ngoài ngó vô”.

Trước khi mất Ban Ma Thuột, Sư Đoàn 10 của Việt Cộng biến mất tăm. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn tìm không ra. Tao cũng có đọc công điện hỏi việc mất dấu Sư Đoàn 10 nầy. Thế rồi đêm 10 tháng 3, Việt Cộng tấn công vào thị xã Ban Ma Thuột mà mình không biết trước, không phòng bị gì cả. Nếu tụi nó ém quân trong rừng, trong các buôn Thuợng, mình biết chứ. Nó ém quân ở đâu mà mình không biết. Đùng một cái, nó tấn công ào ào vô thị xã.”

            _ “Cụ nghi nó ém quân trong các đồn điền càphê?” Tôi hỏi.

            _ “Trước kia thì tao không thấy, nhưng trận mất Ban Ma Thuột thì tao nghi lắm. Hốt cú chót mà, chơi đòn bất ngờ, mình nghi gì được?” Cụ Niệm nói, vẻ cay đắng.”

            _ “Cụ nói tui mới nhớ. Nguyễn Quảng Thành cùng đội với tui đây nè. Anh chàng nầy khóa 22 Võ Bị với “Hùng móm”, em út anh em tui. Thành “thuộc một lẻ một”, phụ trách tình báo ở phía Tây Ban Ma Thuột. Y kể không phát hiện ra Việt Cộng ém quân ở đó trước khi tụi nó đánh vô thị xã. Thành có tình báo ở đó sang tuốt bên Lào luôn mà, không lý anh ta không biết gì. Anh ta cũng nghi như cụ mà không dám chắc thì “đứt phim”. Tôi nói lại ý của Thành gù. (Thành gù là tiếng lóng chúng tôi gọi Nguyễn Quảng Thành, anh bị gù lưng như Quasimodo).

            _ “Không sai đâu mày!” Cụ Niệm xác định.

            _ “Tui không biết khi cụ Diệm đuổi Tây về nước năm 1955, có giao ước chi về cơ sở kinh tế của Tây không mà nhiều nơi mình không dám “rớ” tới. Tức thiệt.” Tôi nói.

            _ “Mình là nước nhược tiểu, kẹt nhiều thứ mày à.” Cụ Niệm góp ý.

            _ “Đâu có phải chỉ có tụi Mỹ mới “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tụi Pháp thương chi miền Nam…” Tôi góp ý.

            Hôm chuyển trại, cụ Niệm, ông Tăng và tôi thì ra “trại ngoài”, Long thì qua “Trại Cây”. Thành ra, khi ra ngoài nầy, không ai lo việc nấu nướng cho ông già. Ông vừa già, vừa yếu, lụm cụm, lò bệ, củi lửa không có, thành ra, tuy có được tiếp tế nhưng ông không tự nấu ăn được. Trong khi đó, ông Âu Văn Minh, cũng già yếu, lại không được ai thăm nuôi cả. Hai ông già, một người có lương thực, một người không, đành chịu chết đói cả, kéo nhau ra nằm ngoài Vườn Xoài, nghĩa địa tù.

            Trước khi cụ qua đời, tôi có đến thăm. Cụ lục trong bao đựng đồ ăn gói “càphê Ban Ma Thuột.” Cụ bảo: “Tao không còn uống được nữa. Mày lấy mà dùng.”

            Nhờ đó mà bữa nay tôi có “càphê Ban Ma Thuột” uống với bạn bè.

&

            Uống càphê gần xong thì Ngọc “xùi” đi đâu đó về, dẫn theo Nghiêu và Lịch. Ngọc pha càphê cho hai người. Lịch thì uống một ly nhỏ, còn Nghiêu thì không uống.

            Anh Tâm, nói giọng Nam, thay vì gọi là Nghiêu thì anh gọi tên Nghêu. Nghêu nói: “Tui là Nghiêu, không phả Nghiêu.”

Tôi giải thích: “Nghiêu là vua Nghiêu, vua Thuấn. Còn Nghêu là Nghêu Sò Óc Hến (tên vở kịch Việt Cộng đang diễn ở trên TV). Nghiêu là thời thiên hạ thái bình, no ấm. Còn Nghêu Sò Ốc Hến chỉ ăn được thôi.” Rồi tôi đọc câu ca dao:

                        Ở đời Nghiêu Thuấn khổ thay!

                        Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.

                        Ở đời Kiệt Trụ sướng sao,

                        Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.

            Nghe xong, anh Tâm cười:

            _ “Mày lại nói móc lò.”

            Tôi cải chính:

            _ “Không phải tui. Không phải tui mấy ông ơi!” Ca dao đó.”

            Anh Tâm hỏi đùa:

            _ “Vậy thì thằng nầy tên là Nghiêu hay Nghêu?”

            _ “Nó mà Nghiêu gì? “Chính danh thủ phạm” là Nghêu!” Tôi cười.

            Lịch nói:

            _ “Anh nói móc thằng nầy coi chừng. Anh không thấy tui sao?”

            _ “Nó mà Nghiêu, thì nó không cuốc vào đầu ông như vậy. Mà lạ. Gia đình nó đạo dòng, sao không đặt tên Phao Lồ, hay Mác Tin, Phan xi cô mà lại Nghiêu Thuấn.” Tôi thắc mắc.

            _ “Ba tôi giỏi chữ Nho lắm đó. Rành Nho nên ông mới đặt tên tui là Nghiêu, theo gương Nghiêu Thuấn.” Nghiêu giải thích.

            Tôi nói đùa:

            _ “Vậy là “Con gà Tây Ba Lê” thành “Vịt Bắc Kinh” rồi.

            Thấy không khí không vui, hai ngưòi đỏ đi.

            Anh Tâm nói:

            _ “Mày thấy không? Choảng nhau một trận mà bây giờ cũng đi chơi với nhau được! Hay thật.”

            Cách nay khoảng hai tháng, một hôm đội tôi đi cuốc đất sau đồi Phượng Vĩ. Chúng tôi đang dàn hàng ngang, để cuốc đất tới dần phía trước thì bỗng Nghiêu đang đứng bên cạnh Lịch, quay ngang cây cuốc, cuốc vào đầu Lịch một cái thật mạnh. Nhờ Lịch đội cái mũ vải rộng vành do anh tự may bằng vải mui xe GMC, nên lưỡi cuốc chỉ làm Lịch rách da, chảy máu. Anh không bị bất tỉnh. Đội Trưởng Đông xin quản giáo Hoành cho Lịch về trạm xá. Tôi không nhớ bữa đó ai dìu Lịch về.

            Về tới sân, chúng tôi thấy Lịch đang cầm nồi và củi “nấu nướng linh tinh”, (như lời cán bộ thường mắng chúng tôi). Thấy vậy, Đỗ Trọng Khiêm nói đùa:

            _ “Tao cứ dòm trên mái nhà, bị thằng Nghiêu cuốc cho một lát, tao nghi mầy leo lên mái nhà ngồi chơi!”

&

            Sau khi Nghiêu và Lịch đi rồi, anh Tâm nói:

            _ “Thằng Nghiêu to như voi, thằng Lịch như con chuột. Nó kẹp cổ thằng Lịch cũng chết, cần chi dùng cây cuốc?”

            _ “Thằng “đô” con ít khi tự tin. Thằng nhỏ con tự ty nên khi nào cũng muốn gồ ghề lên cho người ta sợ. Anh không thấy thằng Lịch miệng lưỡi nó ghê lắm. Nhiều thằng “ngán” nó. Thằng Nghiêu phải “cầu viện” tới cái cuốc cho có tự tin.” Tôi giải thích.

            Anh Tâm hỏi:

            _ “Chuyện chi mà hai đứa đụng độ dữ vậy?”

            _ “Việc tôn giáo gì đó. Hai đứa ý kiến mâu thuẫn rồi đã kích nhau. Thằng Nghiêu thua cái miệng thằng Lịch, tức quá, phang cho một cuốc.”

Tôi giải thích.

            _ “Gì mà ghê vậy!” Anh Tâm nói.

            _ “Anh không thấy trường hợp nhà Ngô a?” Tôi nói. “Người Huế đón “Ngô Chí Sĩ” đông như vậy mà đến khi xảy ra “đàn áp tôn giáo”, người ta lại hoan hô Quân Đội lật đổ ông Diệm. Gì chứ về tôn giáo phải cẩn thận.” Tôi nói.

            _ “Việt Cộng tụi nó cẩn thận gì đâu! Nó triệt hạ luôn, “làm gì được nhau?” Anh Tâm nhận xét.

            _ “Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Nó phải triệt tiêu các tôn giáo khác. “Cách mạng triệt để” mà! Anh thấy cái nhà thờ phía con đường đi Võ Đắt Võ Xu không? Từ hồi chuyển ra trại nầy, tôi không nghe tiếng chuông nhà thờ. Nhiều bữa cuốc đất trên ngọn đồi nhỏ phía sau “Đồi Phượng Vĩ”, không khi nào tôi thấy bóng người ở đó. Nhà thờ vắng hoe.” Tôi bày tỏ ý kiến.

            _ “Buồn há?” Anh Tâm nói.

            Tôi nói nho nhỏ, theo câu hát “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Văn Bình:

                        Cỏ hoang chân giáo đường,

                        Chúa buồn trên thánh giá…

            _ “Còn chùa thì sao?” anh Tâm hỏi.

            _ “Chùa cũng vậy thôi!” Tôi nói. “Nhưng chùa bỏ hoang lâu hơn, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh biết không?”

            _ “Chuyện gì?” anh Tâm hỏi.

            Tôi đọc:

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Cốt Phật còn đây chuỗi Phật đâu?
Réo rắt cành thông thay kệ đọc
Lập loè bóng đóm thế đèn treo
Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chán đêm suông đứng dãi dầu
Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt
Bên thềm khắc khoải tiếng quyên kêu.

            “Bàn thơ nầy của Hàn Mặc Tử. Hồi tôi còn đi dạy, dạy về Hàn Mặc Tử cho học sinh, tôi dạy nhiều bài thơ của ông nầy. Trước đó thì không sao? Sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế, ông hiệu trưởng trường tôi nhắc khéo tôi đừng dạy bài nầy nữa. Chắc ông bị bọn Công An nắn huyệt. Thời Diệm Nhu bọn ấy cũng nhạy bén đấy!”

            Một lúc sau, tôi nói:

            _ “Thằng Nghiêu nầy có tướng giết người!”

            _ “Mày biết coi tướng?” Anh Tâm hỏi tôi. Tôi trả lời:

            _ “Biết đâu! Trịnh Xuân Chính nói đấy.”

            _ “Nói sao?”

            _ “Thằng nầy,” tôi ngập ngừng, “có hai bàn tay to quá khổ. Tướng giết người đấy.” Rồi tôi nói tiếp:

            _ “Việc ông Chính nói làm tôi nhớ một câu chuyện. Năm 1974, khi tôi còn ở Hà Tiên, có hai cô con gái Tàu lai, nhà ở Hòn Chông, khi hai chị em nó lăn tay làm căn cước, thấy hai bàn tay, tôi hết sức kinh ngạc. Hai bàn tay to quá chừng. Tôi nói với thiếu úy trưởng cuộc Cảnh Sát: “Mặt đẹp như dzầy, thấy hai bàn tay mà khiếp.” Nay nghe ông Chính nói vậy, tôi tìm ra một điều.”

            _ “Điều gì?” Anh Tâm tò mò hỏi tôi.

            _ “Anh biết”, tôi nói, “Biển Đông với Vịnh Thái Lan là “đất thánh” của bọn cướp biển hồi các thế kỷ trước, phần nhiều là dân Hải Nàm. Về già, giải nghệ, bọn nó đâu có về quê mà theo Mạc Cửu kêu gọi, lập nghiệp ở vùng Hà Tiên – Rạch Giá. Hai cô con gái tôi nói là “hậu duệ” đám cướp biển ấy đấy. Cướp biển nào mà không giết người.”

            _ “Mày nói có gì làm chứng?” Anh Tâm hỏi khắc tôi.

            _ “Làm chứng? Anh làm như tôi là nhà nhân chủng học. Nếu anh có đọc Sơn Nam, “Kho vàng hòn Tre”, anh đồng ý với tui đấy. Cài gene trong cơ thể, chắc truyền lâu được nhiều đời chớ.”

            Ngồi chơi một lúc, Ngọc “thiến” hỏi tôi:

            _ “Tui cũng lớn lên ở Huế, sao tôi không thấy người Huế đi đón ông Ngô Đình Thục?”

            _ “Có chớ! Dân Phú Cam đón ông, cũng không đông lắm, chỉ ngoại trừ bọn “theo gió phất cờ”. Trả lời xong cho Ngọc, tôi nói:

            _ “Anh Tâm nầy!”

            _ “Gì?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Có một người, người Huế ngưỡng mộ lắm, muốn hoan hô lắm, nhưng ông ấy tui không thấy đến Huế bao giờ!”

            _ “Ai dzậy?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Ông Nguyễn Tường Tam.” Tôi nói.

            _ “Năm ông ở trên Đà-Lạt về, dân Saigon không ai đi đón ông, nói chi tới Huế.” Anh Tâm trả lời tôi.

            _ “Huế khác Saigon chớ!” Tôi phản bác.

            _ “Khác làm sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            _ “Từ trước 45 trở về sau, có bao nhiêu thế hệ ngưỡng mộ ông Nhất Linh. Người Huế, phần đông, biết đọc biết viết, biết đọc tiểu thuyết là người ta đọc Nhất Linh, Khái Hưng, ngưỡng mộ hai ông nầy. Thế hệ tôi thì khỏi nói, vừa học Nhất Linh, vừa ngưỡng mộ “nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam”. Áo blouson da, ngậm ông dzố, trông sao mà ngon lành vậy không biết. “Thần tượng cách mạng” của bọn tui đấy. Thằng Nguyễn Tường Thiết, ra học ở Huế, được người ta thương, cũng là nhờ cái hào quang của bố nó đấy. Còn như thế hệ sau tôi, vì cái chương trình 12 tháng 8 của Bộ Giáo Dục, học sinh phải học kỹ Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn, thì tụi học sinh chịu ảnh hưởng văn chương nhóm nầy là không thể tránh được. Thi tú tài 1 dễ dính đề thi Tự Lực Văn Đoàn.” Tôi giải thích.

            _ “Mày nói chương trình 12 tháng 8 là chương trình gì?” Anh Tâm hỏi tôi.

            _ “Là chương trình cải cách, đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị. Có mục đích chính trị đó.” Tôi nói.

            _ “Mục đích gì?” Anh Tâm lại hỏi.

            _ “Lấy “văn hóa tư sản chống văn hóa vô sản”. Ngoài Bắc tụi đó dạy văn hóa vô sản thì trong Nam phải làm ngược lại. Đó là một trong những guyên tắc căn bản chống Cộng. Nhưng cái đó thì “gậy ông đập lưng ông.”

            _ “Mày nói ông Diệm chớ gì?” Anh Tâm nói.

            _ “Phải rồi. Cho học trò học Nhất Linh mà lại đưa Nguyễn Tường Tam ra tòa vì tội phản loạn. Ông Nhu, ông Diệm không tiên liệu được tương lai. Vậy mà ông Diệm còn nói một câu rất bậy.

            _ “Nói sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.

            _ “Nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự vẫn, ông Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có gì mà phải tự tử.” Vậy là ông Diệm nghĩ ông Tam sợ chết. Nghe câu nói của ông Diệm, cụ Lâm Toại, một ông giáo sư có tiếng ở Huế, nói với các giáo sư dạy cùng trường, một câu, giống như câu Tào Tháo nói với quan huyện Trần Cung vậy: “con chim sẻ không thể nào hiểu được con chim đại bàng.”

            Một lúc sau, tôi lại nói:

            _ “Ông Diệm còn nói bậy một câu nữa.”

            _ “Câu gì nữa?” Anh Tâm lại hỏi.

            –“Nếu tôi chết hãy trả thù cho tôi.” Tôi nói.

            _ “Câu ấy thì bậy quá. Tao cũng không ưa.” Anh Tâm góp ý.

            _ “Người Huế lại không hơn. Anh không thấy Huế chùa chiền tùm lum sao! Dù gì thì người Huế cũng từng nghe “Lấy oán báo oán, oán chồng chất; Lấy ân báo oán, oán tiêu tan.” Nghĩ lại thì ông ta cũng là người theo đạo Thiên Chúa.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

 Post by Trần Vũ

August 20th, 2020

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 15

Trong Summer of 42, Jennifer O’Neill say đắm mối tình cấm với thiếu niên Gary Grimes trên đảo Nantucket êm đềm nắng…

The summer smiles the summer knows

And un-ashamed, she sheds her clothes

The summer smoothes the restless sky

And lovingly she warms the sand on which you lie

The summer knows the summer’s wise

She sees the doubts within your eyes

And so, she takes here summertime

Tell the moon to wait and the sun to linger…

Mùa Hè 42 đến với Sakai khác hẳn, vẫn là những trận không chiến ác liệt bên trên New Guinea. Đời sống của Sakai thâu vào việc nhào lộn trên không, bay và bắn. Chương hồi ký cho thấy thêm khía cạnh khác: Nhật Bản cứng rắn trong việc tưởng thưởng binh sĩ; và các phi công Samurai không mang dù vì khinh thường cái chết. “The Death is lighter than a feather” …

Mặt tổ chức, Không lực Nhật phân chia làm Không Hạm đội (Air Fleet), Không đoàn (Wing), Liên Phi đoàn (Group), Phi đoàn (Squadron), Phi đội (Flight), Phi tuần (Section) và Phi vụ (Mission)…

Song, xuyên qua hồi ký của Sakai, tuy 1 phi đoàn Nhật lên đến 80 máy bay, người đọc hiếm khi thấy Phi đoàn Lae thực hiện các phi vụ đông hơn 20 chiếc Zéro. Lý do: ¼ phải bảo trì, ¼ sửa chữa vì hư hại sau đụng độ, ¼ huấn luyện và phòng vệ căn cứ, chỉ còn lại ¼ tham gia tấn công. Quá ít máy bay là nguyên nhân bầu trời chuyển dần sang tay Đồng Minh.

Vào cuối tháng 5, mùa Hè 42 hãy còn rực rỡ xanh lơ với Sakai vừa bắn rơi 4 chiến đấu cơ Hoa Kỳ trong cùng một ngày. Thời khắc huy hoàng sớm ngắn ngủi, vì tin thất trận Midway ập xuống như một trừng phạt.

Lúc này Sakai đã thăng từ Nito-heiso là Trung sĩ Nhất lên Itto-heiso là Thượng sĩ. Chỉ sau 6 tháng tham gia Thế chiến. Một kỷ lục trong Không Hải đoàn Nhật Bản (Naval Aviation) cứng nhắc và ngạch trật. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 15

Chương 15 

Trước đó, vào ngày 20 tháng 5-1942, chúng tôi đối đầu với đối phương trong một trận không chiến cao nhứt lịch sử khi chỉ huy trưởng phi đoàn hướng dẫn 15 chiến đấu cơ từ Lae bay đến Moresby ở cao độ 30,000 bộ (9,200m) trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng tôi duy trì cao độ này để lấy yếu tố bất ngờ, và chúng tôi cũng đã bất ngờ khi đụng đầu với một đội hình địch quân cũng bay cùng một cao độ như chúng tôi.

Tôi đã hồ nghi khả năng chiến đấu của phi cơ Zéro ở cao độ này. Riêng tôi có thể đạt đến cao độ 37,720 bộ (11,500m) với chiếc Zéro, nhưng phải mang mặt nạ dưỡng khí và áo ấm. Ở cao độ đó, cần điều khiển của phi cơ rất nặng nề và không thể nhích độ cao lên một tấc nào được nữa. Bởi vậy chiến đấu với một chiếc Zéro ở độ cao 30,000 bộ hình như không được khôn ngoan cho lắm.

Có 10 chiến đấu cơ địch, loại P39 kiểu mới. Tôi dẫn đầu cuộc tấn công và xáp chiến tức khắc. 14 chiếc Zéro khác đối đầu với nhóm phi cơ còn lại. Cần kiểm soát nặng nề và chậm chạp trong không khí loãng, hình như mọi cử động của tôi đều trì trệ. Lồng ngực của tôi như muốn rạn nứt và mặt nạ dưỡng khí tuột ra khỏi càm tôi. Dường như khi một người đã tập trung tất cả sức mạnh vào một hành động quyết định, ngay cả khi ngộp thở vì thiếu dưỡng khí cũng không thể nào ngăn nổi hành động của hắn. Giữa lúc tôi như bất tỉnh, tôi cảm thấy tay tôi vẫn nắm chặt cần lái và giữ cho phi cơ chúi xuống trong vòng xoáy trôn ốc. Khi đầu óc tôi đã tỉnh táo và nhìn rõ trở lại, phi cơ đã xuống dưới 20,000 bộ (6,000m). Tôi xoay mình tức khắc, vì phi cơ địch vẫn bám sát theo sau và đang chuẩn bị hoả lực.

Nhưng phi công địch cũng gặp rắc rối. Có lẽ hắn xoay theo tôi quá ngặt hay có thể hắn cũng mất dưỡng khí như tôi, cho nên ở cùng cao độ 20,000 bộ nhưng phi cơ của hắn xoáy theo hình trôn ốc chầm chậm. Không bỏ lỡ dịp may, tôi xông tới ngay khi chiếc P39 có vẻ lấy lại thăng bằng, cánh hơi ngước lên với các họng súng rực lửa hướng về phía tôi. Tôi lảng ra nhanh như chớp, bấy giờ chiếc P39 đang ở bên trên về phía bên phải, tôi ấn cò đại bác. Một viên 20 ly cắt đứt phi cơ địch ra làm hai. Ngoài tôi ra, chỉ có Ota bắn hạ được một chiếc P39 khác vào ngày hôm đó.

Hôm sau, đầu tiên tôi hạ một chiến đấu cơ địch mà không cần bắn một phát súng nào, trong một trận không chiến căng thẳng cực độ. Khác hơn lần trước, lần này ngày 26 tháng 5, chúng tôi đụng nhau ở một cao độ rất thấp, là sát trên ngọn cây. Một nhóm 16 chiếc Zéro chạm trán một đội hình đối phương kỳ lạ. 4 oanh tạc cơ B17 bay trong đội hình hàng dọc với khoảng 20 chiến đấu cơ P39 chia thành từng nhóm nhỏ hai hoặc ba chiếc bao xung quanh các pháo đài bay này. Chúng tôi ở phía dưới đối phương và tấn công bằng cách vượt thẳng đứng lên mà họ không hay biết. Tôi đốt ngay một chiếc P39, và bầu trời như nổ tung trong một trận hỗn chiến.

Hầu hết chiến đấu cơ địch đều thối lui và lảng xa các chiến đấu cơ của chúng tôi. Tôi bám sát đuôi của một chiếc P39 đang chúi xuống khu rừng. Viên phi công tỏ ra sợ hãi, hắn bay có vẻ như quét trên ngọn cây và giống như cắt cỏ khi hắn xoay thân, vượt lên, chúi xuống với tôi đeo dính sau đuôi. Mỗi lần hắn vượt lên, xoay ngang hoặc lăn tròn, tôi cắt thẳng vào thân phi cơ của hắn. Tôi thụt ngay một viên đại bác khi chiếc Airacobra lảng ra bằng cách lăn tròn về phía trái. Phi công Mỹ chúi xuống ngay và lao về phía đầy cây cối, xung quanh toàn là dốc đá cao chớn chở.

Trước khi tôi nhận biết sự nguy hiểm, tôi đã lọt vô một hẻm núi, đeo dính một bên đuôi của chiếc P39. Không có thời giờ để tập trung hoả lực, tất cả những gì mà tôi có thể làm là tránh né các mỏm đá gie ra, san sát và khít khao trong đường tơ kẽ tóc. Hiểm nguy chết người khiến tôi quên hẳn mục đích chánh của mình. Mồ hôi đổ ra như tắm. Tiếng động cơ máy bay vang vang từ hai vách núi như sấm động.

Bỗng nhiên phía trước, một gộp đá treo lơ lửng án mất lối đi của chúng tôi. Lập tức viên phi công địch dựng đứng mũi phi cơ để vượt lên, nhưng quá muộn. Cánh chạm vào đá, chiếc phi cơ lộn nhào, và một tiếng nổ khủng khiếp vang lên phía dưới hố sâu. Tôi kéo hết cần điều khiển về phía sau với tất cả sức lực của đôi tay và giữ thật chặt. Cần kiểm soát rung rần rật. Chiếc Zéro quất ngược đầu lên thật dữ đội, và chỉ trong vòng một cái nháy mắt nhưng dài dằng dặc, chiếc phi cơ lướt lên khỏi gộp đá, có thể nói là chỉ trong gang tấc.

Tôi mất vài phút mới lấy lại bình tĩnh. Mệt lả vừa đưa tay vuốt mồ hôi đổ tháo như tắm trên mặt, tôi gia tăng tốc lực và vượt lên cao từ từ. Ðó là chiến thắng thứ 37 của tôi, mặc dù tôi không đích thân tiêu diệt chiếc phi cơ này, nhưng trận không chiến vừa qua là một trong những trận không chiến tổn sức nhất trong đời tôi.

Sau đó, tôi được biết Nishizawa và Ota cũng lâm vào tình trạng chiến đấu không khác gì tôi. Họ rượt đuổi 2 chiếc P39 xuống một triền núi và hầu như lâm hiểm trong lúc vượt lên khi hai đối thủ phía trước của họ vỡ tan. Ðêm đó, doanh trại của chúng tôi ồn ào nỗi vui qua những biến cố trong ngày.

Suốt tuần lễ cuối cùng của tháng 5, Phi đoàn Lae tung hết sức mạnh càn quét khu vực Moresby, và trong vòng ba ngày của cuộc không chiến dữ dội, chúng tôi đã thâu đạt được những thành quả không thể tưởng tượng được. Qua chiều hướng này, Moresby được xét đoán đã đến lúc nhận lãnh một cú đấm dứt khoát. Vào ngày 1 tháng 6, 18 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul, hộ tống bởi 30 chiếc Zéro của Lae và 11 chiếc khác của Rabaul, cố gắng san bằng pháo đài huyết mạch của địch quân lần cuối. Chúng tôi đã tin tưởng một cách chắc chắn rằng Ðồng Minh không thể đưa ra một sự chống đối mạnh mẽ sau các trận đánh liên tục. Chúng tôi đã sai lầm! 20 chiến đấu cơ địch đã gầm thét xông vào lực lượng to lớn của Nhựt. Một lần nữa, một trận đánh “xáp lá cà” xảy ra. 7 phi cơ địch rớt trong lửa đỏ, một chiếc do súng của tôi gây ra. Nhưng đối phương đã đạt mục đích: phân tán lực lượng oanh tạc cơ của chúng tôi và bẻ gãy sự chính xác của cuộc không tập.

Trên đường trở về Lae, một oanh tạc cơ của chúng tôi rớt khỏi đội hình, bay lạng quạng trong không khí. Tôi và năm chiến đấu cơ khác phải bay tụt lại để bao che. Chiếc oanh tạc cơ lê thân chậm chạp. Những lỗ đạn đại bác lỗ chỗ trên cánh và thân phi cơ, coi không khác nào một cái rây. Chiếc phi cơ vẫn còn bay được, là một phép lạ.
Phi công trưởng và phụ nằm dài trên ghế trong những vũng máu. Tôi không thể nhìn thấy bốn người khác thuộc phi hành đoàn. Chỉ có chuyên viên cơ khí vật lộn với cần điều khiển, cố giữ cho phi cơ thăng bằng. Hiển nhiên hắn không bị thương, còn những người khác có thể đã chết hoặc bị thương nặng.

Bằng mọi cách, chuyên viên cơ khí đã đưa được chiếc phi cơ lảo đảo như người say rượu về tới phi trường Lae. Hắn đã làm được một việc đáng nể phục. Rõ ràng hắn bay với kiến thức học lóm. Việc này đã đành là khó khăn đối với những người chưa được huấn luyện lái phi cơ, nhưng còn khó khăn hơn nữa khi lái một chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng. Lúc ấy chiếc oanh tạc cơ đã tiến vào không phận Lae và anh cơ khí viên không còn biết phải làm gì thêm nữa. Hắn có thể giữ cho phi cơ bay, nhưng đáp xuống là cả một vấn đề.

Chiếc phi cơ què quặt đảo chầm chậm trên phi trường hết vòng này đến vòng khác, và anh cơ khí viên ngắm nghía phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Không có cách nào khác để giúp đỡ con người bồn chồn này. Chúng tôi bay sát hơn và cố chỉ cách cho hắn đáp xuống, nhưng một khi hắn rời tay khỏi cần điều khiển, chiếc phi cơ chao đi chao lại một cách nguy hiểm. Dần dần hắn giảm được tốc độ và bắt đầu hạ thấp xuống. Chiếc phi cơ bay vòng ra ngoài biển, và hạ thấp quá mau khi xoay lại để hướng đến phi đạo. Tôi nín thở. Chiếc phi cơ xốc dữ dội và bắt đầu rơi tuồn tuột. Nó sẽ tan tành trong nháy mắt.

Một phép lạ xảy ra! Viên phi công gượng ngồi dậy, gương mặt trắng bệch lốm đốm máu. Hắn tựa một cách nặng nhọc vào vai của anh cơ khí viên. Chỉ một giây sinh tử, hắn ấn nút bộ phận đáp bật ra, phi cơ lấy lại tốc lực và bánh xe chạm trên mặt phi đạo. Trong nháy mắt, nó va vào hai chiếc Zéro đang đậu vỡ tan, rồi bật nhào nửa vòng và đứt làm hai đoạn.

Chúng tôi đáp lập tức sau đó, cán trên các mảnh vụn nhưng lạ lùng là không có chiếc phi cơ nào bốc cháy. Phi công chánh của chiếc oanh tạc cơ chỉ gượng đứng dậy được một phút rồi ngã ra bất tỉnh. Phi công phụ tử thương. Cơ khí viên bị thương trầm trọng ở giò, phải khiêng ra bằng cáng. Tất cả nhân viên khác thuộc phi hành đoàn đều mang thương tích nặng.

Nhát chổi chiến đấu cơ vẫn tiếp tục quét, và suốt hai ngày kế tiếp chúng tôi bắn rơi thêm ba chiến đấu cơ địch. Nhưng không một người nào ở Lae biết được các chiến thắng liên tục của chúng tôi trái ngược một trời một vực với cuộc chiến bại đầy bi thảm của một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản to lớn ở Midway vào ngày 5 tháng 6. Ðông-Kinh tuyên bố Hạm đội Hỗn hợp Ðặc nhiệm của chúng tôi đạt được chiến thắng quan trọng. Bộ Tư Lịnh Hoàng Gia đã giảm thiểu sự mất mát của chúng tôi xuống một mức độ vô nghĩa. Tuy nhiên, lần đầu tiên chúng tôi hồ nghi sự chính xác của các tin tức. Lý do dễ hiểu là chúng tôi biết Midway bị địch quân đổ bộ và chiếm đóng. Nếu hạm đội của chúng tôi rút lui mà không đẩy bật được cuộc chiếm đóng đó, không cần nhìn thấy cũng biết những gì đã xảy ra.
Sau này chúng tôi mới được biết bốn trong số các hàng không mẫu hạm mạnh nhứt và lớn nhứt của chúng tôi, đã làm nên chiến thắng Trân Châu Cảng, cùng với 248 phi cơ và hầu hết phi công cũng như hàng mấy ngàn thủy thủ, đã bị chôn vùi xuống đáy biển.

Từ ngày 5 đến 15 tháng 5, một sự yên tĩnh kỳ lạ trên mặt trận New Guinea. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi một cuộc không kích duy nhất ở Lae vào ngày 9. Ðiểm thắng của tôi ghi thêm hai oanh tạc cơ B26 Marauder.
Vào ngày 16 tháng 5, cuộc chiến trên không bùng nổ dữ dội trở lại. Ðó là một ngày chiến đấu cơ của chúng tôi làm chủ chiến trường, khi 21 chiếc Zéro vồ ba nhóm phi cơ lơ đãng của địch quân. Chúng tôi đụng với nhóm 12 chiến đấu cơ đầu tiên của địch bằng cách bổ nhào xuống một lượt, phá tan đội ngũ của địch quân. Tôi bắn rơi một chiếc, và năm phi công khác mỗi người ghi một điểm. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại chúi mũi chạy thoát.

Trở lên cao độ cũ, chúng tôi nhào ra khỏi ánh mặt trời đâm thẳng vô nhóm 12 chiến đấu cơ thứ hai. Với cách đánh bất thần được lặp lại này, chúng tôi hạ thêm ba chiến đấu cơ địch. Tôi lại ghi thêm một điểm. Ðợt phi cơ thứ ba, gồm khoảng 10 chiếc lướt đến ngay khi chúng tôi vừa dọn dẹp xong nhóm thứ hai. Chúng tôi chia ra làm hai nhóm, một nhóm 11 chiếc Zero vượt lên cao để đánh xuống, một nhóm gồm 10 chiếc vẫn giữ độ cao như cũ. Các đội hình toả rộng trên khắp bầu trời Moresby. Phi cơ địch là loại P39 mới, bay mau lẹ hơn loại cũ nhiều. Tôi nhảy vô một đối thủ, và hắn đã làm cho tôi ngạc nhiên qua lối vung thật lẹ ra khỏi hướng bay mỗi lần tôi khai hoả. Chúng tôi rượt đuổi nhau vòng quanh. Viên phi công của chiếc Airacobra này vừa chạy vừa xoay tít, lộn nhào, vượt lên, chúi xuống, xoắn vòng, rớt theo hình trôn ốc, và nhiều cách khác. Tài nghệ của hắn tuyệt luân. Với một chiếc phi cơ tốt hơn, đáng lẽ hắn đã lấy mạng tôi từ lâu, nhưng tôi không để hắn hở tay. Tôi cứ đeo dính cách phía sau đuôi hắn không đầy 20 thước. Cuối cùng tôi lăn về phía trái một vòng, tung ra hai viên đại bác tầm ngắn, và chiếc P39 biến thành cây đuốc.

Ðó là chiến thắng thứ ba trong ngày. Chiến thắng thứ tư hầu như tiếp ngay sau đó và dễ dàng một cách đáng buồn cười. Một chiếc P39 xẹt đến trước mặt tôi và chỉ lo chú ý đến một chiếc Zéro khác đang truy đuổi ráo riết phía sau. Chờ cho chiếc phi cơ đến đúng tầm súng, tôi rót ngay 200 viên đại liên vô mũi. Nó lộn nhào như chớp để tránh né. Tôi bồi thêm loạt đại liên thứ hai vô bụng. Nó vẫn chưa chịu rớt. Một loạt đại liên thứ ba chụp trúng buồng lái của chiếc phi cơ đang còn lộn nhào. Kiếng che gió vỡ tan, và tôi thấy viên phi công gục về phía trước. Chiếc P39 xoay tít như chong chóng, và nổ tan trong khu rừng phía dưới.

Hạ bốn chiến đấu cơ địch trong một ngày. Ðó là thành tích của riêng tôi, đóng góp vào thành tích chiến thắng vĩ đại nhứt chỉ trong vòng một ngày hoạt động của Phi đoàn Lae, với tổng số 19 chiến đấu cơ địch bị tiêu diệt thực sự.
Chiến thắng như vậy vẫn chưa đủ. 10 oanh tạc cơ B26 lại mò đến căn cứ của chúng tôi. Ðịch đã chọn giờ xấu, vì 19 chiếc Zéro đã rời khỏi mặt đất trước khi chúng đến. Chúng tôi không hạ được chiếc nào, nhưng gây hư hại hầu hết và phá hỏng kế hoạch oanh tạc của địch quân. Trên đường truy đuổi, chúng tôi đụng đầu với 10 chiếc P39. Hiển nhiên 10 phi cơ này đáp lại lời kêu cứu của các oanh tạc cơ. Chúng tôi đốt một chiếc.

Căn cứ Lae tưng bừng với chiến thắng đêm đó. Tất cả các phi công được phát thuốc hút thả giàn. Chuyên viên cơ khí bu quanh chúng tôi để chia sẻ niềm vui. Chúng tôi còn được tin sẽ có 5 ngày phép ở Rabaul. Tin này khiến tôi khoan khoái hơn hết.

Không những tôi quá mệt mỏi sau những ngày chiến đấu liên miên, nhưng các chuyên viên cơ khí muốn có thời giờ để sửa chữa chiếc Zéro của tôi. Họ gọi tôi ra để chỉ cho coi nhiều lỗ đạn trên cánh và trên thân phi cơ, và tôi đã thót ruột khi nhìn thấy những lỗ đạn chạm thành một hàng phía sau phòng lái, cách đầu tôi không đầy hai phân.

Hồi năm 1942, không có một phi công nào của Nhựt bận áo giáp, và phi cơ cũng không được chế tạo với những chỗ bọc thép để chống đạn như phi cơ của Hoa Kỳ. Nếu đối phương sớm khám phá điều này, chỉ cần một viên đại liên 50 bắn vô thùng chứa xăng, chiếc Zéro làm bằng hợp kim nhôm sẽ biến thành ngọn đuốc lập tức. Tuy biết như vậy, trong thời gian này không có một phi công nào của chúng tôi mang dù khi bay. Vấn đề này Tây Phương đã diễn dịch sai lầm khi cho rằng cấp lãnh đạo Nhựt đã coi rẻ mạng sống của chúng tôi, rằng tất cả các phi công Nhựt bị vắt chanh bỏ vỏ và bị coi như những món đồ vật hơn là con người. Diễn dịch quá nhiều tưởng tượng. Tất cả các phi công chúng tôi đều được phát một cây dù khi bay, còn dùng hay không là quyết định riêng của chúng tôi, không có bộ chỉ huy nào ra lịnh không xài dù. Thực ra, chúng tôi được giới chỉ huy cao cấp thúc giục, tuy nhiên không ra lịnh hẳn hoi là phải mang dù khi chiến đấu, tuy cũng có những vị chỉ huy bắt buộc. Gặp trường hợp sau, phi công đem theo dù nhưng chỉ để trong phòng lái hoặc dùng làm nệm lót để ngồi.

Mục đích khiến chúng tôi không mang dù là nhằm tránh vướng víu tay chân. Vả lại đa số các trận không chiến của chúng tôi đều xảy ra trên đất địch, nếu có nhảy dù xuống an toàn thì cũng sẽ bị bắt giữ. Trong các điều luật của quân đội và trong các điều tâm niệm của võ sĩ đạo, không có giòng nào ghi hai chữ “Tù binh” hết. “Không làm tù binh”. Một kẻ ra trận hoặc là chết hoặc là trở về. Không có phi công chiến đấu nào gọi là can đảm mà lại để cho địch quân bắt giữ bao giờ. Việc này hoàn toàn không được nghĩ đến. Tuy nhiên, quả thật là khó chịu vô cùng khi nhìn thấy một hàng lỗ đạn chỉ cách đầu mình có mấy phân.

Ðêm đó tôi được Bộ Tư Lịnh Hải quân xác nhận con số bốn nạn nhân trong ngày của tôi. Ðây không phải là trường hợp duy nhất của Hải quân Hoàng gia. Tôi biết có nhiều phi công hải quân khác đã lập được thành tích này hoặc nhiều hơn nữa. Tính đến hiện tại, tổng số phi cơ bị tôi hạ là 43 chiếc.

Nishizawa sẽ trở thành phi công đại tài nhất với tổng số 103 phi cơ địch bị bắn rơi, và thành tích tột cùng của hắn lập được vào ngày 5 tháng 8 ở Guadalcanal là khi hắn hạ một lúc sáu chiến đấu cơ của Hải quân Hoa Kỳ, còn Trung sĩ Kenji Okabe hạ một lúc bốn chiếc F4F Wildcat, TBF Avenger và SBD Dauntless qua một loạt trận không chiến trong cùng ngày ở Rabaul. Okabe đã đáp xuống ba lần để lấy nhiên liệu và đạn dược trong suốt cuộc chiến đấu của ngày hôm đó, lập được thành tích vô song này.

Tuy nhiên, hầu như tất cả những phi công đạt được chiến công trên đều bị thiệt mạng không lâu sau đó trong lúc chiến đấu. Có hai trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp của chính tôi và Nishizawa. Nhưng mỉa mai thay, Nishizawa lại bị thiệt mạng vào tháng 9 năm 1944 trên không phận Cebu ở Phi Luật Tân, mà không bắn được phát súng tự vệ nào. Nhiều chiến đấu cơ H6F Hellcat đã túm được hắn trong một vận tải cơ không hộ tống và không võ trang. Chiếc vận tải cơ bị bắn cháy và chấm dứt cuộc đời của viên phi công vĩ đại nhất của Nhựt Bản một cách tăm tối.

Ðêm đó tôi được lịnh trình diện Chỉ huy trưởng căn cứ, một việc hiếm xảy ra. Trong văn phòng của Ðại tá Saito, tôi thấy có mặt Ðại úy Sasai và Chỉ huy trưởng Phi đoàn, Trung tá Nakajima. Cả hai vị sĩ quan cấp tá đều có vẻ buồn bã.

Ðại tá Saito nói: “Tôi muốn báo cho anh biết tin này và tôi làm như vậy là lời yêu cầu của Trung tá Nakajima. Ðây là một việc không mấy gì vui vẻ đối với tôi. Hồi đầu tháng này, tôi có yêu cầu Tổng Hành Dinh Ðông-Kinh ân thưởng cho Ðại úy Sasai về tài ba chỉ huy phi đội trong chiến đấu. Ðồng thời tôi cũng yêu cầu Ðông-Kinh công khai thừa nhận các thành quả phi thường mà anh, Sakai, đã đạt được trên mặt trận. Những thành quả này, theo chúng tôi biết, đã khiến anh trở thành phi công hàng đầu của toàn thể phi công Hải quân Hoàng gia. Tuy nhiên, những lời yêu cầu này đã bị bác bỏ. Ðông-Kinh nhận thấy không thích hợp cho việc phá bỏ tiền lệ. Lịch sử chúng ta chưa bao giờ có một vị anh hùng nào còn sống bao giờ,” Saito gằn giọng, “và hiển nhiên Ðông-Kinh không muốn có sự thay đổi nào trong thời gian này. Họ đã từ chối,” ông nói thêm với giọng buồn bã “ngay cả ân thưởng một huy chương hoặc thăng cấp cho các anh cũng không.”

Ông kết luận: “Tôi không muốn tiết lộ các chi tiết này cho các anh, e rằng các anh sẽ bàn tán này nọ về hành động của Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Nhưng có điều quan trọng không kém đối với tôi là tôi muốn cả hai anh biết rằng tôi, trong tư cách thượng cấp của các anh, tôi hoàn toàn công nhận lòng nhiệt thành và sự cố gắng không lúc nào ngưng nghỉ của các anh.”

Trung tá Nakajima lên tiếng: “Truyền thống của Hải quân là chỉ ân thưởng huân chương hoặc thăng cấp tại mặt trận cho người đã chết, chúng tôi không biết là đúng hoặc sai. Dĩ nhiên truyền thống này thật là bất lợi cho các anh trong hoàn cảnh này. Tôi cảm thấy cần phải nói cho các anh biết rằng Ðại tá Saito cũng đã yêu cầu thăng một cấp cho Ðại úy Sasai, và thăng cấp Thiếu úy cho Thượng sĩ Sakai.”

Sasai đáp rằng: “Tôi không biết cách nào để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với sự ưu ái của cấp trên. Tuy nhiên, tôi cần phải nói thêm rằng cả tôi lẫn Sakai không ai bất mãn trước sự quyết định của Ðông-Kinh. Tôi không thấy có lý do nào để chúng tôi bất mãn. Theo thiển ý của tôi, và tôi chắc Sakai cũng vậy, những thành quả và những chiến thắng trên không của chúng tôi không phải là một mình chúng tôi có thể đạt được. Nếu không có những phi công bên cánh đã bao che cho chúng tôi, nếu không có sự tận tâm của các nhân viên dưới mặt đất, chúng tôi sẽ không thể làm gì được cả. Tôi hài lòng về công tác có tính cách đồng đội của chúng tôi, và tôi không cảm thấy sự ân thưởng hoặc thăng cấp cá nhân là cần thiết, mặc dù những gì mà nhị vị đã làm khiến cho chúng tôi rất lấy làm vinh dự.”

Sasai đã nói lên tất cả những gì tôi muốn nói, và tôi chỉ biết gật đầu đồng ý.

Chính sách không tuyên dương công trạng cá nhân của Hải quân vẫn được giữ triệt để cho đến cuối cuộc chiến. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1945 có một sự phá lệ đặc biệt trong chính sách này khi Ðô đốc Soemu Toyoda, Tư Lịnh Hạm Ðội Hỗn Hợp, thốt lên lời khen ngợi các chiến công phi thường của Trung sĩ Shoichi Sugita và tôi, bấy giờ là một thiếu úy. Nhưng lúc ấy sự khen ngợi này đã trở thành vô nghĩa. Những phi công vĩ đại của Hải quân như Nishizawa, Ota, Sasai và nhiều người khác, đã không còn nữa.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 14th, 2020

 Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 21 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 14

Danh tướng Jean de Lattre de Tassigny khi sang Việt Nam, tuyên bố: “Je tiens à appliquer ici ma devise: NE PAS SUBIR! (Tôi nhất quyết áp dụng ở đây phương châm của chính mình: KHÔNG CHỊU ĐỰNG!)” Hiểu ngầm, không chấp nhận cho Võ Nguyên Giáp thao túng chiến trường, kể từ đây, phản đòn quyết liệt, mắt đổi mắt, răng đổi răng. Chiến thắng Vĩnh Yên của Jean de Lattre là phương châm ấy.

Thủ tướng Winston Churchill cũng lừng danh với tuyên ngôn: “We Shall Never Surrender! Never and never!”. Chúng ta không bao giờ đầu hàng! Không bao giờ! Một ý chí đanh thép ở vào thời điểm tàn quân Anh vừa bị đánh bật ra khỏi Dunkerque. Còn Hoa Kỳ? Ngày 18 tháng 4-1942 đi vào lịch sử Hoa Kỳ như niềm hãnh diện tuyệt đối của ý chí chống cự. Kháng cự và trả đũa! Ngay cả khi Thái Bình Dương đã trở thành biển hồ của Nhật Bản. Ngay cả khi các tân binh Yankee phải đối đầu với dàn võ sĩ đạo tinh tuyền Samurai. 5 tháng sau Trân Châu Cảng, Trung tá James Harold Doolittle cùng với 16 oanh tạc cơ B25 Mitchell cất cánh từ hàng không mẫu hạm Hornet thi hành sứ mạng đấm trả Đông-Kinh. Doolittle đi vào huyền thoại với thành ngữ “Do Little but Does Too Much!”

Mục đích của sứ mạng Doolittle là gây chấn động tinh thần dân chúng Nhật: Thiên hoàng không thể hộ mạng thường dân. Không Hải đoàn kiêu hãnh của Thủy sư Đô đốc Yamamoto không đủ sức bảo vệ Bản-Châu. America is back! Thần chết đã đến!

Những điều trên, thể hiện bộc bạch đầy thổn thức trong các lá thư của hôn thê Fujiko và cô em họ khả ái Hatsuyo viết cho Sakai đồn trú tại căn cứ Lae. Trong tâm khảm, các phi công Nhật hiểu: Gió đã đổi chiều. Có phải chính vì vậy mà các sát tinh Hiroyoshi Nishizawa, Toshio Ota, những đồng ngũ của Sakai và cả chính Sakai quyết định trình diễn điệu múa của tử thần ngay bên trên pháo đài Port Moresby của Úc châu? Với tất cả khinh mạn cùng lẫm liệt của đường kiếm Samurai sáng quắc trên không trung? Có thể trách cứ vô ý thức, nhưng Lae cách Đông-Kinh 4,500 cây số là một thế giới tách biệt, chỉ có sắt thép và bom đạn; trong bối cảnh ấy điệu vũ tử thần của “Bộ ba quét sạch”, The famed Cleanup Trio, là biểu hiện nghệ thuật của chiến binh. Nhìn từ khía cạnh này, màn vũ bằng chiến đấu cơ Mitsubishi Zéro là một nét độc đáo. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 14

Chương 14

Thời gian từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 5-1942, Phi đoàn Lae của chúng tôi không thiệt mất một chiếc Zéro nào trong những lần đụng độ với địch quân. Nhờ biết người biết ta, và nhờ vào đội hình chiến thuật hữu hiệu nhứt, chúng tôi đã tìm được lợi thế và thâu hoạch một loạt chiến thắng đơn phương.

Vào ngày 13 tháng 5, phi cơ của tôi bị hư hỏng máy móc nên bắt buộc phải ở lại. Việc này đã cho tôi dịp may nhận được mấy lá thơ vào buổi sáng, do tiềm thủy đĩnh mang đến mỗi tháng một lần. Má tôi viết rằng các anh tôi đã nhập ngũ. Một người tình nguyện vô trường phi công hải quân nhưng không được nhận, vì gặp phải những đòi hỏi quá nghiệt ngã. Thay vào đó, anh tôi đầu quân vào căn cứ hải quân Sasebo làm thủy thủ. Người anh khác của tôi xin vô Lục quân và đã lên đường sang Trung Hoa. Anh sẽ không bao giờ trở về nhà. Mãi lâu sau chúng tôi mới biết, là anh được thuyên chuyển sang Miến Ðiện và thiệt mạng ở đó trong lúc thi hành nhiệm vụ.

Nhưng dĩ nhiên, bức thơ mà tôi chờ đợi nôn nóng hơn hết là lá thơ của Fujiko. Nàng viết nhiều về sự đổi thay to tát ở quê hương, và tôi đã ngạc nhiên với cái tin hiện nàng đang làm việc trong một cơ sở biến cải thành cơ xưởng quân cụ của người chú. Nàng viết:

“Hiện tại, không ai được ăn không ngồi rồi cả. Thủ tướng đã tuyên bố như vậy. Ông ta nói rằng ngay cả phụ nữ nếu họ ở nhà mà không đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, họ sẽ bị gọi nhập ngũ và gởi vô bất kỳ phân xưởng nào xét thấy cần thiết. Do đó, để giữ em gần với gia đình, chú em đã mướn em làm việc cho ông.”

Cô em họ Hatsuyo xinh xắn của tôi có những tin tức còn đáng lo âu hơn nữa. Nàng viết rằng thân phụ của nàng đã được thuyên chuyển từ Shikoku về Ðông Kinh. Trở về thủ đô được vài ngày, nàng đã chứng kiến tận mắt các oanh tạc cơ B25 của Hoa Kỳ dội bom. Ðó là ngày 18 tháng 4.

“Em biết rằng anh đang đứng trước đầu sóng gió,” Hatsuyo viết, “và những thành quả mà anh đạt được trong việc chống quân thù khiến cho tất cả chúng em, những người sống ở hậu phương, cảm thấy vô cùng yên lòng. Nhưng Ðông Kinh và nhiều thành phố khác bị oanh tạc đã làm thay đổi thái độ của dân chúng hướng về cuộc chiến. Bây giờ mọi việc đã đều đổi khác, những trái bom đã rơi xuống đây, trên quê hương chúng ta. Bây giờ em phải cố gắng làm việc nhiều hơn để yểm trợ cho anh và những phi công khác, những người cách xa Nhựt Bản ngàn trùng.”

Hatsuyo vẫn đi học, nhưng trọn buổi chiều và vài giờ vào buổi tối nàng phải làm việc trong các phân xưởng sản xuất quân trang với các cô gái cùng trang lứa. Hai anh tôi đi lính, Fujiko và Hatsuyo làm việc trong các cơ xưởng chế thuốc đạn… tất cả đều lạ lùng.

Hatsuyo không mô tả chi tiết cuộc oanh tạc của đối phương, tuy nhiên cùng ngày đó chúng tôi đã nhận được tin tức. Ðương nhiên chính phủ đã phủ nhận những thiệt hại nặng nề. Nhưng tất cả các phi công ở Lae đều biết mức độ tàn phá của oanh tạc cơ địch. Họ đủ sức nghiền nát quê hương chúng tôi, cho dù có thể bị trả đũa sau đó. Lúc tôi đang còn đọc thơ, Chuẩn úy Wataru Handa bước vô yêu cầu tôi cho mượn Trung sĩ Honda, phi công bên cánh của tôi để thực hiện một phi vụ ở hải cảng Moresby. Chuẩn úy Handa mới đến Lae, mặc dù chưa chiến đấu ở Thái Bình Dương, nhưng là một trong những phi công nổi tiếng của Nhựt Bản ở chiến trường Trung Hoa, với 15 phi cơ địch bị hạ. Sau khi trở về từ Hoa Lục, hắn trở thành huấn luyện viên phi hành ở trường phi công Tsuchiura. Tôi không hề có một thắc mắc nào trong việc để cho Honda bay với hắn.

Tuy nhiên, Honda từ chối. Anh ta ấp úng: “Tôi không đi thì tốt hơn, Saburo. Từ trước đến nay tôi chỉ bay chung với anh, và bây giờ tôi không muốn thay đổi.”

Tôi chận ngay: “Ồ! Anh đừng có nói điên! Handa là một phi công tài giỏi hơn tôi nhiều, và cũng bay lâu hơn tôi, anh cứ đi!”

Trưa hôm đó, Honda cất cánh với 5 chiến đấu cơ Zéro khác cho một phi vụ quan sát trên không phận Moresby.

Sự miễn cưỡng của Honda khiến tôi lo lắng và tôi đã tháo mồ hôi hột trong lúc chờ đợi anh ta trở về. Hai giờ sau, năm chiếc Zéro đáp xuống: phi cơ dẫn đầu của Chuẩn úy Handa và bốn người khác. Phi cơ của Honda không thấy!

Tôi chạy ùa ra phi đạo và leo lên cánh chiếc Zéro của Handa ngay trước khi cánh quạt ngừng quay. “Honda đâu?” Tôi hỏi lớn, “Anh ta đâu? Việc gì đã xảy ra cho anh ta?” Handa nhìn tôi, mặt mày khổ não. “Anh ta đâu?” tôi hét. “Việc gì xảy ra?”

Handa leo ra khỏi phòng lái. Ðứng trên mặt đất, hắn nắm lấy tay tôi, khom mình xuống, và cố gắng lắm mới nói được. Tiếng nói của hắn run run. “Tôi… tôi rất ân hận Saburo. Honda, anh ta… anh ta đã thiệt mạng. Việc này lỗi tại tôi.”

Tôi ngơ ngẩn! Tôi không tin được! Honda không thể chết! Anh ta là một phi công bên cánh tài ba hơn bất kỳ một phi công nào mà tôi đã từng bay chung.

Chuẩn úy Handa vừa đi vừa nhìn xuống mặt đất, rồi bước vô Bộ chỉ huy. Tôi đi theo hắn không thốt được lời nào.

“Chúng tôi ở trên phi trường Moresby” vừa đi Handa vừa nói, giọng nhỏ. “Chúng tôi bắt đầu lượn vòng ở cao độ 7,000 bộ. Không thấy phi cơ địch nào trên bầu trời, nên tôi nhìn những phi cơ đậu trên mặt đất. Ðó là lỗi của tôi, tất cả đều là lỗi của tôi. Chiến đấu cơ địch xuất hiện mà tôi không thấy. Ðó là những chiếc P39 Airacobra. Tôi không biết bao nhiêu. Chúng chúi xuống mau đến nỗi tôi không kịp trở tay. Chúng tôi chỉ biết sự hiện diện của phi cơ địch khi súng đã nổ. Tôi lộn ngay một vòng, phi công bên cánh khác của tôi cũng làm như tôi. Khi tôi đảo quành lại, tôi thấy phi cơ của Honda bao trùm trong lửa đỏ. Hắn bị hoả lực chéo của mấy chiếc P39 cùng một lúc.”

Tôi đứng lại nhìn hắn trừng trừng. Handa bước đi luôn. Hắn sẽ không bao giờ phục hồi sau cú đấm vừa nhận lãnh. Mặc dù hắn là một “Sát tinh” ở Trung Hoa nhưng hiển nhiên hiện thời hắn đã mất hẳn sự nhạy bén trên không trung.

Hắn chưa từng đối đầu với chiến đấu cơ Hoa Kỳ bao giờ. Dù sao đi nữa, Handa cũng cảm thấy hổ thẹn khi hắn để cho phi công bay bên cánh bị thiệt mạng. Những ngày ở Lae hắn xanh xao vàng vọt. Cuối cùng, hắn mắc bệnh lao và được gởi trả về xứ. Nhiều năm sau, tôi nhận được một bức thơ của bà vợ Handa. Bà ta viết: “Nhà tôi qua đời ngày hôm qua sau chứng bệnh dai dẳng. Tôi viết thơ này thể theo lời yêu cầu của nhà tôi, nói lên lời tạ tội thay cho anh ấy. Nhà tôi không bao giờ hồi phục phong độ sau sự mất mát ở Lae. Lời cuối cùng nhà tôi thốt lên khi chết: “Suốt đời tôi, tôi đã chiến đấu dũng cảm, nhưng không thể nào quên được khi tôi để mất người của Sakai.”

Khi chết, Trung sĩ Honda chỉ mới 20 tuổi. Anh ta là một con người dũng mãnh trên mặt đất cũng như trên không trung. Honda được thương mến nhứt trong phi đội của Sasai. Tôi rất hãnh diện có một phi công bên cánh kiêu hùng như anh ta. Suốt hôm Honda chết, tôi giống như sống trong sương mù. Tôi đi lang thang quanh căn cứ. Tôi không lưu tâm đến đòi hỏi phải phục thù cho phi công thiệt mạng của phi đoàn, theo như những người còn lại đề nghị. Nhưng đến ngày 17 tôi thay đổi ý kiến. Ðối với tôi, thành công lớn nhứt trong khi chiến đấu của tôi là không bao giờ để mất đồng ngũ bên cánh. Tôi đã làm trái ý muốn của Honda, để hắn bay với người khác, và hắn đã chết. Ngày hôm sau, 14 tháng 5, tôi nhận Hạ sĩ Hatori thay thế cho Honda. Vào ngày 15 tháng 5, mưa đổ như thác lũ, có nghĩa là một ngày nghỉ của tất cả các phi công. Nhưng trước bình minh ngày 16, nhiều oanh tạc cơ B25 Mitchell bay sà thấp trên ngọn cây lướt đến đào nát phi đạo và thổi bay nhiều cơ xưởng bảo trì.

Bước sang ngày thứ hai chúng tôi vẫn chôn chân trên mặt đất, bỏ cả một ngày để chỉ làm công việc dọn dẹp và lấp hố bom trên phi đạo. Sau đó, chúng tôi vô ngồi trong doanh trại, nhiều phi công ngủ gà ngủ gật, một số khác thảo luận về nhịp độ tấn công gia tăng của địch quân.

Ngày trôi qua chậm chạp, và đêm đó Nishizawa, Ota và tôi đi đến phòng truyền tin để nghe giờ âm nhạc do đài phát thanh Úc Ðại Lợi phát ra hàng đêm.

Nishizawa thình lình lên tiếng: “Hãy nghe điệu nhạc này. Nó có phải là Ðiệu Vũ của Tử Thần không?”

Chúng tôi gật đầu. Nishizawa bỗng nhiên lộ vẻ hào hứng. “Ðiệu nhạc này làm tôi nảy ra một ý kiến. Các bạn biết phi vụ không kích Moresby vào ngày mai? Tại sao chúng ta không biểu diễn “Ðiệu Vũ của Tử Thần” của chúng ta để đối phương xem chơi?”

Ota hỏi: “Anh nói cái quái gì vậy? Tôi thấy anh giống như thằng khùng!”

Nishizawa cãi: “Tôi nói thật. Sau khi không kích xong, trên đường bay về hãy quay lại Moresby, chỉ ba chúng ta thôi, để biểu diễn một màn nhào lộn ngay trên đường băng của đối phương để chọc giận họ chơi.”

“Có vẻ thú vị đó,” Ota nói, “nhưng còn chỉ huy trưởng? Ông thầy có cho chúng ta chơi suôn sẻ không?”

Nishizawa cười: “Ai dại đi xin phép? Khi đề nghị trò chơi này tôi phải biết cách chớ.”

Chúng tôi trở lại doanh trại, và cả ba to nhỏ bàn tán kế hoạch hành động ngày mai. Dù cho chỉ có ba chúng tôi xuất hiện trên không phận Moresby nhưng chúng tôi không sợ. Cả ba chúng tôi đã bắn rơi tổng cộng gần 70 phi cơ địch rồi: tôi 27 chiếc, Nishizawa 20 chiếc và Ota 18 chiếc.

Ngày hôm sau, chúng tôi quét Moresby với sức mạnh tối đa: 18 chiến đấu cơ Zéro, với Thiếu tá Tadashi Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, đích thân hướng dẫn. Nishizawa và tôi bay hai bên cánh của ông. Cuộc không kích là một thất bại. Trên phi trường địch không có bóng một phi cơ nào. Nhưng câu chuyện trên trời cao thì khác. Nhiều chiến đấu cơ địch, trong đội hình ba chiếc, ùa đến tấn công chúng tôi. Chúng tôi xoay lại và đánh dàn mặt với nhóm đầu tiên. Cuộc hỗn đấu xảy ra, sáu chiếc P39 trong đó có hai chiếc là nạn nhân của tôi rớt cháy rực như cây đuốc. Nhiều chiến đấu cơ Zéro tách rời khỏi trận không chiến chúi xuống bắn phá phi trường. Hai chiếc bị đạn phòng không, què quặt và đâm vô sườn núi Owen-Stanley trên đường trở về.

Ngay sau trận không chiến, chúng tôi trở lại đội hình, và trên đường về tôi ra dấu cho Thiếu tá Nakajima biết tôi phải truy đuổi một phi cơ địch. Ông vẫy tay, và tôi bổ nhào ngay xuống với hai phi công bên cánh: Ota và Nishizawa.

Sau một vài phút chúng tôi trở lại Moresby, bay vòng trên phi trường ở độ cao 12,000 bộ, khoảng 3,600 m. Súng phòng không im tiếng và không có chiến đấu cơ nào xuất hiện. Cả ba chúng tôi bay trong đội hình chỉ cách nhau vài thước. Chúng tôi lộn nhào ba vòng. Nhìn quanh để tìm kiếm phi cơ địch lần cuối cùng, tôi chúi mũi xuống để lấy tốc độ với Nishizawa và Ota đeo dính hai bên. Tôi kéo ngược cần điều khiển theo hình vòng cung và lộn ngược lại phía sau. Hai chiếc Zéro kia cũng làm y như tôi, rồi lấy thăng bằng và vừa lăn tròn vừa bay vòng quanh.

Hơn hai lần, chúng tôi vượt lên, bay vòng quanh, chúi xuống và lại lộn ngược trở lên bằng cách lăn tròn. Không một khẩu cao xạ nào bắn lên từ mặt đất, và bầu trời không có bóng dáng bất kỳ chiến đấu cơ nào của địch.

Sau khi biểu diễn lần thứ ba, Nishizawa khoái chí và muốn biểu diễn lại một lần nữa. Tôi xoay sang trái, thấy Ota cười và gật đầu đồng ý. Tôi không thể từ chối. Chúng tôi chúi xuống chỉ cách phi trường địch 6,000 bộ là chỉ còn 1,800 thước là chạm mặt đất và lăn tròn ba vòng xoáy ốc lên không trung rồi đảo quanh thật nhịp nhàng trong đội hình hẹp trước khi buông thả chơi vơi cho rơi xoắn xuống gần chạm đất rồi đột ngột dựng thẳng đứng lên trở lại. Cánh sát cánh. Vẫn không có tiếng súng nào bắn lên. Giống như chúng tôi đang bay bên trên chính phi trường của mình. Bên dưới, đông đúc khán giả đang ngó lên chiêm ngưỡng chúng tôi chăm chú.

Chúng tôi trở về Lae hai mươi phút sau khi các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống. Chúng tôi im thin thít. Ngay sau đó chúng tôi ngồi chụm đầu lại bàn tán thì thầm, cười đùa thỏa thích. Tuy nhiên, sự bí mật của chúng tôi sớm bị khám phá. Quá chín giờ đêm đó, một liên lạc viên chạy vô phòng ngủ cho biết Ðại úy Sasai muốn được “diện kiến” các “vũ công” chúng tôi tức khắc. Chúng tôi nhìn nhau lo lắng. Hành vi của chúng tôi có thể nhận lãnh hình phạt nặng nề.

Ngay sau khi chúng tôi bước vô văn phòng, Ðại úy Sasai nói lớn: “Hãy coi đây, các anh là bọn hoang đàng!” Mặt ông đỏ gay, trong khi tay phất qua phất lại trước mắt chúng tôi một lá thơ viết bằng tiếng Anh… “Các anh có biết tôi nhận được cái này từ đâu không?” Ông hét lớn, “Không biết? Ðể tôi nói cho nghe, vì các anh là mấy tên ngu ngốc. Bức thơ này vừa được một chiếc phi cơ địch thả xuống sân bay cách đây vài phút!”

Ðại úy Sasai vốn trầm tĩnh nhưng mà lúc đó gương mặt ông đầy cáu bực. “Các anh là phi công hay phường tuồng sân khấu? Tôi chỉ huy phi công hay đào hát?”, rồi ông cất cao giọng, “để tôi đọc cho các anh nghe”.

“Thơ viết:

“Gởi Chỉ Huy trưởng Căn cứ Lae: chúng tôi sẽ nhớ mãi ba tên phi công đã thăm viếng chúng tôi ngày hôm nay. Tất cả chúng tôi đều khoái mấy cú lộn nhào của họ trên phi trường của chúng tôi. Ðó là một màn trình diễn rất tới. Chúng tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu ba tên phi công này trở lại thăm viếng chúng tôi một lần nữa, mỗi tên nên quấn một khăn quàng màu xanh quanh cổ để làm hiệu. Chúng tôi rất buồn đã không đón tiếp họ chu đáo, nhưng hy vọng lần sau họ sẽ được tất cả chúng tôi tiếp đón nồng nhiệt hơn.”

Cả ba chúng tôi cố giữ lắm mới khỏi cười nôn sặc sụa. Bức thơ được ký bởi một nhóm phi công chiến đấu cơ Úc. Sau đó Ðại úy Sasai bắt chúng tôi đứng như trời trồng để phạt hành vi ngu ngốc của chúng tôi. Ðặc biệt, chúng tôi được lịnh không bao giờ thực hiện màn trình diễn nhảy múa nào thêm nữa trên các phi trường địch.

Ðó là một sự đối đãi tốt của thượng cấp, vì Ðại úy Sasai đã bao che cho chúng tôi bằng cách giấu nhẹm lá thơ không trình lên Thiếu tá Nakajima và Ðại tá Saito. Riêng chúng tôi hả dạ với “Ðiệu vũ của tử thần” ở Moresby của mình.

Tuy nhiên, đêm hôm đó không ai trong bọn chúng tôi biết rằng ngày hôm sau chúng tôi sẽ được xem một “Ðiệu vũ của Tử thần” thực sự diễn ra, chưa từng thấy trong các vở kịch từng diễn trên không. Bảy chiến đấu cơ Zéro thuộc phi đoàn của chúng tôi hộ tống tám oanh tạc cơ Betty không tập Moresby. Chúng tôi chưa tiến đến phi trường địch thì đã bị 18 chiến đấu cơ địch nhào xuống từ mọi hướng. Ðây là một trận đánh phòng vệ mà tôi chưa gặp bao giờ. Chúng tôi bị áp lực đến nỗi khó xoay trở trong việc bảo vệ cho 8 oanh tạc cơ. Mặc dù tôi đã đẩy bật nhiều chiến đấu cơ địch ra khỏi các oanh tạc cơ, nhưng không thể bắn rơi một chiếc nào. Ba chiến đấu cơ địch bị đồng bạn tôi bắn hạ. Trong khi đó, các oanh tạc cơ thả bom không mấy chính xác rồi bay lảng nhanh ra để quay về.

Tôi nhìn thấy một chiếc P39 lướt thẳng đến nhóm oanh tạc cơ với một tốc độ khủng khiếp, nhưng tôi đành bó tay. Chiếc P39 nhả một loạt đạn vào chiếc oanh tạc cơ bay cuối cùng, rồi lộn nhào và chúi xuống, vượt hẳn tầm súng của chúng tôi. Chiếc oanh tạc cơ tuôn một vệt lửa, sau đó bốc cháy dữ dội, chúi mũi xuống thật mau. Nó mất độ cao nhanh chóng và hình như mất hẳn sự kiểm soát.

Thình lình, vẫn bốc cháy dữ dội, mũi chiếc oanh tạc cơ khẽ ngước lên và bắt đầu vượt lên cao. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc phi cơ bắt đầu lăn tròn, cách “biểu diễn” này khó thực hiện đối với một chiếc Betty. Nó vẫn tiếp tục lướt lên và vẫn lăn tròn cho đến khi biến thành một trái cầu lửa.

Lửa rớt từng bựng. Ngay cả khi chiếc phi cơ sắp sửa chúi mũi xuống thì một tiếng nổ dữ dội làm rung rinh cả phi cơ của tôi, chiếc oanh tạc cơ biến thành những mảnh vụn rơi lả tả. Trong ba tháng Năm, Sáu và Bảy, hầu như các trận không chiến xảy ra liên miên. Cho đến sau chiến tranh, tôi mới biết Phi đoàn Lae của chúng tôi đã đạt được nhiều thành quả nhứt so với những hoạt động của các đơn vị không quân chiến đấu Nhựt Bản khác. Ngay cả Rabaul là một căn cứ lớn, cũng không sánh bằng Lae.

Vào ngày 23 tháng 5, bảy chiến đấu cơ Zéro chận đánh năm oanh tạc cơ B25 Mitchell trên không phận Lae và chôn một chiếc xuống biển, cách phía Nam Salamaua 30 dặm. Ngày hôm sau, 6 oanh tạc cơ địch quay trở lại Lae. Không may cho các oanh tạc cơ này, mạng lưới báo động từ xa của Lae phát hiện ra chúng, và 11 chiếc Zéro cất cánh đốt cháy và bắn rơi 5 chiếc, đồng thời gây què quặt cho chiếc thứ sáu. Tôi bay cả hai phi vụ nghinh chiến này và trong hồ sơ của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đã ghi vô điểm thắng của tôi thêm ba oanh tạc cơ nữa vào hai ngày này.

Nhịp độ của các cuộc tấn công gia tăng vào những ngày cuối tháng Năm. Lần đầu tiên, vào ngày 25 tháng 5, bốn pháo đài bay B17 bay tới tấn công Lae với 20 chiến đấu cơ hộ tống. 16 chiếc Zéro nhào ra chận đầu lực lượng này trên đỉnh dãy núi Owen-Stanley. Năm chiến đấu cơ địch bị hạ, nhưng các pháo đài bay thoát thân an toàn. Ba ngày sau, năm oanh tạc cơ B26 Marauder quay trở lại Lae. Tôi ghi một điểm nữa. Và vào ngày 9 tháng 6-1942, tôi gởi thêm hai chiếc B26 xuống đại dương.

Ngày giờ hình như không còn phân chia rõ rệt nữa. Ðời sống trở thành một chuỗi bất tuyệt của những cuộc càn quét trên không, của những phi vụ hộ tống oanh tạc cơ đến Moresby, của những cuộc chạy đua cất cánh để tiếp đón kịp thời các đối thủ đến viếng thăm. Ðồng Minh hình như có một nguồn tiếp tế phi cơ với một nguồn nhân lực vô tận. Tuần nào họ cũng chịu đựng sự thiệt hại nặng nề hơn chúng tôi, tuy vậy phi cơ của họ vẫn đến ném bom đều đều.