Cổ vật

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm Post on 30 Apr 2022
Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Cổ vật

Tuyết vừa tan đâu chừng non tháng, nắng vàng lên lộng lẫy khoảng mươi hôm. Xuân cựa mình trong đôi chân em bước, chiếc váy hoa xô động một hương mùi.

Đông khiến ta nguỵ trang những y phục, lâu hơn một mùa lạnh mãn nhãn thịt da em bày nuột nà. Váy chỉ cốt đậy đằng vùng chí tử, rộng lượng khúc đưới “lộ hàng” dễ xúi ai “tâm tư”. Từ đầu gối xuống ngón chân lạ lẫm, quen chộ thuở nào áo dài đồng phục hiền hơn cả ma-xơ. Da bầng quân là của con yêu bánh nậm, chớ còn em, ui, trắng quá nhìn không ra.

Ở chốn lạ em mang nguyên thành quách, dắt bên lưng hưng phế một ngai vàng. Xứ Huế nào anh thấy riêng trong mơ, có nằm chộ cũng không tin em sờ sờ ra đó. Chừ ốt dột cũng lầm lì chai mặt, đẹp trai mô nữa nước chảy qua cầu. Ôn mệ ơi nhớ ai mà đầu bạc, cam lòng đau tẳn mẳn đếm tóc sâu, một hai ba bốn năm và em, ở nhà tên bé Sáu, ai khiến xui thứ bảy mình va nhau bên lề đường. Gió ma mị xoắn vào tóc rối lạc, đổi đường ngôi hương bồ kết thổi bay rồi, mái tóc thề lúc nớ đẹp dễ sợ, đành đoạn quá em chơi kiểu một nửa con trai. Ngắn như chia tay một quá vãng, ngắn như thơ ai kia cố viết dài cũng không xong. Ngắn như đường tình nó vốn vậy, có dài chăng khi gặp lại nhau giữa tinh cầu này?

Chơ bây chừ em ở nơi mô? Dạ thưa anh em ở trong nhà. Rứa chồng con cũng qua hết cả? Ui chào anh ni răng ốt ác tra khảo kiểu lạ đời. Mất lòng trước được lòng sau, chừ già rồi việc chi phải trẽn, nhớ nhau hung noái một trận cho đã nư, lâu ngày chầy tháng ai cũng tra có hột, đất lạ lâu ni cây quýt trồng cứ chua le, bị tra khảo là hạnh phúc dứt hạng, anh mở lòng cho em mược sức mà làm hoanh. Ai biểu hồi nớ cứ ưa làm trạng, bên hàng rào dâm bụt réo tên Sáu đến náo động thiên cung, may mà lúc nãy không chào: Dạ lâu ngày thưa thím.

Mụ o dọn mồm ưa làm đày làm láo, cái mặt, coai phách tấu a rứa thê. Tha phương gặp cố tri, thẳng ruột ngựa mới nói, em làm anh nhớ nhà mới gớm. Bên kia đường sẵn có quán Ly Hương, tuy không mặn mòi nhức nách bằng Mụ Rớt nhưng anh mời em quá bộ thời chơi tô bún bò trớt. Chính cái lúc như ri miệng mình nên nương nhờ vô ớt cay để xuýt xoa bao tâm sự, mồ hôi tuôn sống lưng để chứng nghiệm phía sau mãi còn đó bể dâu. Hãy cho anh làm bộ tịch lăng xăng một bận, gặp em đây nên đèo queo bu như sam cho bỏ những ngày cơ cực đắng lòng. Thiệt bụng anh chúa ghét câu “chiều chiều ra đứng ngõ sau”, mai kia mốt nọ em lặn mất tiêu e rồi phải bổn cũ soạn lại. Ui chao có lần anh tưởng tới em mà ruột đau chín chiều, noái láo ra đường xe cán.

Nghe chảy nước mắt, anh được tài ba lơn là nhất hạng. Thời nớ mạ nói răng anh biết không? Mi mà theo trai thì đừng có mạ con chi nữa cả, hai lối đi thì chỉ lựa một thôi con nợ. Cho mi toàn quyền quyết định để sau khỏi bù lu bù loa: “Xưa kia ai cấm duyên bà, bây giờ bà già bà cấm duyên tôi”. Em vẫn nghĩ: Chùa nát nhưng có Bụt vàng, tuy rằng miếu đổ thành hoàng còn thiêng.

Sinh ra em là ba mạ em mà người thương em hung chính là anh đọ. Răng mà khi nớ ngu ngơ khù khờ ông trời chẳng độ, cái tay không biết cầm cái chân chẳng biết nắm cái miệng nỏ biết hun. Thôi, đưa tay đây anh cầm cho chắc ăn khỏi sợ thất tung giữa xứ người, băng qua đường xe tông thì cũng ngậm cười chín suối vì thác có đôi chơi xổ số trúng lô độc đắc.

Anh ni cái miệng ăn mắm ăn muối, tơ tưởng bún bò giò heo mà mần chi, liệu thần hồn chặt đứt sân si lo ăn chay trường là vừa đó ông nội.

Cái váy hoa em mặc rất ăn với người, chừng mô em diện cái mini-jupe thì lúc nớ anh tụng kinh gõ mõ cũng chưa muộn đó nợ.

Đồ quỉ sứ chi mô rứa không biết!

Kinh cong phong linh gắn sau cửa kêu tiếng trong như giọng ai cười. Tâm dợn sóng vì lâu quá chừng quá đỗi mới bắt gặp được niềm vui. Một người con gái phát âm chuẩn mực giọng nói Thần Kinh: Dạ anh chị dùng chi cuối tuần đặc biệt chúng tôi có bánh nậm bánh bèo cháo lòng bánh khoái.

Rứa thì tráng miệng có chè đậu ngự không em?

Ui chao anh hỏi cái mới ngặt, chừ em biết thắp đuốc tìm mô cho ra đây?

Chè bắp chè đậu ván đặc thì răng hè?

Dạ, thì bù trất. Sĩ tượng đều tang hoang, anh mà chiếu tướng thì có nước em đầu hàng.

Cho tui tô bún chay vì người ni nói tui cần tu tâm dưỡng tánh.

Dạ mở quán mà nấu đồ chay thì có ma mới ăn, nhiều người xơi thức mặn mà tâm lành như Bồ tát thì răng anh hè?

Thấy chưa, tui tuy khẩu xà mà tâm phật, miệng hùm mà gan sứa, nói tào lao xịt bộp cốt để che đậy vết thương lòng, vui tới lúc mô hay lúc nấy bởi sông thì bèo hợp mà trời thì mây tan. Gặp nhau đây rồi chia tay ắt phải diễn, biết cách xuôi tay xem đó là chuyện chẳng may thì coi như đã đạt đạo từ khuya.

Làng nước ơi, bún bò mà ăn kèm với rau húng quế, bưng làm chi dĩa giá sống ngó trật chìa. Có người chê tô bún ngó không thanh cảnh, chừ thêm làm chi cảnh râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Anh nói nhỏ kẻo mất lòng mất bề người mua kẻ bán, mình vào ăn chỉ cốt mượn cớ để ôn bài. Học không thuộc bao đổi thay thuở nọ, ăn nhai nuốt toàn kỷ niệm trớt quớt đắng cay.

Em nói cũng phải bởi miệng lưỡi mình chừ đã hỏng, cao lương mỹ vị ê hề dộng vô cũng mất ngon. Cứ thòm thèm của ngon vật lạ là thời còn đi học, lâu ba đời vương còn chi mô nữa mà đoái hoài.

Rứa cái vụ kia thì răng?

Vụ chi em hè, phải nói rõ kẻo mà chập chộ.

Sức lực anh độ rày có ngon cơm? Chồng em thì bày miếng mỡ mà làm mèo biếng nhác, dâng tận miệng mà bày đặc ỏng ẹo ngó lơ. Phong độ nhà ngươi đâu tá, thiếu đường nói trắng đồ cù lơ xít xụi cho đã nư!

Có lẽ một phần ăn cơm nguội hoài chàng cũng nản, phở hàng cháo chợ e chàng đổi lốt linh hoạt xung phong. Tỷ như ngồi gần em anh nghe mình trẻ nhỏ, thanh niên trai tráng chạy về thấy nhựa sống đang bóp con tim. Lý ra em phải thông bài toán dễ ẹc nớ, chữ hồi xuân không phải vô cớ người ta đặt điều. Chết cha mệ nội ba vạn cũng bỏ, đưa đầu trần chạy theo con ngựa thượng tứ đứng bóng lọng chừng.

Bún đây nấu ăn cũng được anh hí? Để chứng tỏ mình chưa già thì nên cởi bỏ tính khó khăn. Băng hăng bó hó như khỉ ăn ớt thì nên buông xả, tướng anh lăng xăng như gà mắc đẻ thì em ưa hơn. Sông Saint Laurent muôn đời không bằng dòng Hương cũ, thức ăn ngon do một phần phong thuỷ vùng miền. Người miền Nam dễ thương vì đất đai trù phú, anh để tâm chuyện bao đồng tứ tung bát giác tự làm khổ thân vì lỡ chịu làm người đất cày sỏi đá, có đúng không?

Luận chuyện địa lý với con người muôn năm không rốt ráo, đúng sai đầy rẫy ở giữa những ví von. Ở trong Nam bị tình phụ chắc họ không chín đỏ trái sầu mạnh miệng “Sức mấy mà buồn. Bỏ đi Tám”, chớ người Trung như anh thì biến cố nọ có thể ví như mùa xuân đại bại. Nói thiệt nghe gặp lại em anh mừng húm, như kiểu vượt biển tới được đất liền. Nôm na anh hồi sinh, diễn nôm anh thấy ánh sáng cuối đường hầm. Nì, anh ước chi mình được trốn sau cái bông mãi rung động trên ngực áo em. Bu hoài, gỡ không ra, đi tới mô theo luôn tới chốn nớ, áo sờn cũ áo phai nhàu cũng còn lưu dấu vết, ngoại trừ…

Ngoại trừ cái chi?

Ngoại trừ em cởi áo ra, dấm dúi đâu đó mới chịu cảnh xa mặt cách lòng.

Lâu ni anh có đụng tới thuốc thang chi không?

Không, nói cho đúng là chưa tới hồi, chưa lật trang.

Tiểu đường, cao huyết áp, tiền liệt tuyến, đau lưng mỏi chắc, gối lỏng chân run?

Chưa nghe rục rịch chi cả, ba cái thứ chết tiệt ấy còn ngủ, chưa thức giấc mè nheo. Em hỏi chi rứa, nghe như bác sĩ gia đình. Em mà làm bác sĩ anh sẽ nguyện bôi trơn tuần khám hai lần trút bỏ xiêm y cho lương y như từ mẫu săm soi lật sấp lật ngửa.

Ăn xong anh tính mần chi?

Dụ khị em đi bát phố.

Rồi răng nữa?

Mình ghé một cửa hàng thời trang nào đó để ngắm một cái váy bắt mắt chẳng hạn.

Tính móc hầu bao mua tặng em?

Không, để làm cuộc đổi chác. Em mặc chiếc áo mới còn cái đang bận trên người xin hãy trao cho anh. Về nhà anh lộng kiếng anh treo tường anh làm viện bảo tàng anh trưng bày “tội ác của Mỹ Nguỵ”. Anh thôi tơ tưởng tới thi ca: Người về ta chẳng cho về, ta nắm vạt áo ta đề câu thơ.

Ui chào, thi nhân thảy đều dại khờ, ghi lại tang chứng vật chứng rành rành như rứa đó thì làm răng dối mẹ qua cầu gió bay, chạy trời cách chi cho khỏi nắng? Xem chừng lời đề nghị của anh có vẻ hợp lý hơn, nhưng mà…

Lại nhưn với nhuỵ, lại kiếm cách lui quân lại kiếm cớ hoãn binh. Đàn bà luôn thông minh hơn đàn ông ở cái khoảng họ luôn có ngàn lẻ một phương án để chạy làng, để ra đi trong trật tự, để xuống thuyền mà nước mắt không như mưa, cười nắc nẻ là đằng khác.

Anh ngồi quây lưng với đời sống đang luân lưu trôi chảy bên ngoài cửa kính, cái gì đang đọng vô mắt anh?

Gần là ảnh chụp cầu Trường Tiền, xa là mũi tên chỉ bày đâu là nhà vệ sinh, đề huề trai bên trái gái bên phải.

Răng anh chẳng hỏi em thấy những gì bên ngoài cảnh giới hoang đường? Một trạm đợi xe buýt, một tiệm bán thuốc Tây và một mũi tên sơn đỏ có ghi chữ Hotel. Ăn xong anh có thích ngậm tăm vào đó không?

“Giờ đứng lại và bây giờ rất lạ
Phút trùng lai là ngó vội nhau và”.

Bùi Giáng vẫn có những câu thơ thần sầu như rứa đó. Chữ “ngậm tăm vào đó” của em cũng tám lạng nửa cân. Rõ chẳng hàm oan, em đã mang nguyên một Huế di dời xao động đặt để trước mặt anh. Em tựa một cổ vật nhà Nguyễn còn sót lại đợi bước sang thế kỷ mới, mới trao tay anh. Cổ vật không có giá, nó vô giá. Nó khiến anh phải nhìn nhận bao hao hụt của một thứ “hoang phế tà dương”, bao suy suyễn gấp nếp tàn phai và anh ôm nó trong đôi tay với tất cả những chân tình anh có được. Cảm động làm người ta dại khờ, người ta bấn loạn và người ấp úng: Cám ơn em Công Tằng Tôn Nữ Cố Đô.

Em băng ngang lòng đường không đợi chờ đèn xanh đèn đỏ, mắt anh chỉ thấy ngọn tỏ ngọn lu. Chiếc váy hoa rộn ràng hớn hở theo chân bước thuỷ chung xô động một hương mùi. Đó là chân đi về miền quá khứ dắt anh lộn lui một ước nguyện không thành. Em sẽ bước vào hành lang thâm u trong khách sạn, chiếc váy cởi ra nhăn nhàu những nụ hoa in sơn đủ loài này tường vi nào thược dược nào cẩm chướng…

Làm chi mà như rùa bò. Em nói. Những bậc cấp đâu nhiều, tầng một đâu cao mà sao anh đi chậm lụt như qua một chiếc cầu gãy nhịp. Địa ngục phía dưới, thiên đường thường phải bước lên. Giữa đôi chân em, trên cao, lấp ló chiếc quần lót màu xanh trong váy rộng. Đêm trăng vườn cũ nội thành đang hiện về giữa giấc trưa. Mê mệt. Rồi hai con thú tật nguyền sẽ ráng sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ. Trăng lặn khuất và người mãi ôm giữ vết rạn trong tim, ngờ vực.

Hồ Đình Nghiêm

Cỏ may

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 2 May 2022

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Cỏ may

Buổi ban sơ, tôi có lời bàn ra tán vào. Nghĩ không thuyết phục tôi mang cả mấy câu thơ cũ của Nguyễn Đức Sơn ngâm nga ca kệ cho May nghe: “…làm chi ở thế gian ni, triệu năm đừng có lo đi lấy chồng, rủi ro tay bế tay bồng, sao bằng ôm cả trời hồng đi chơi”.

Nước đổ đầu vịt, ngày đi tháng lại, sông trôi chân cầu, bèo giạt mây xa, tôi về phố cũ, dụi mắt ngó May, bụng không dưng lớn. Lúng ta lúng túng, con vịt bầu xác xơ giao hẹn, chú tuyệt đối chớ hoài nghi đặt dấu hỏi tra vấn, đợi lòng bớt giao động May sẽ nói rõ sự tình. May gọi tôi bằng chú bởi bố May là bạn tù chung nơi cải tạo. Bạn vắn số ra đi trước ngày tại ngoại, tôi dài số xuất dương ôm cả trời rách nát cù bơ cù bất chẳng biết đi đâu. Lời cuối bạn thì thào như gió nhẹ thổi lạnh lưng: Quan tâm giùm đứa con gái tao trơ trọi dại khờ.

Một đời làm lụng đầu tắt mặt tối của cha mẹ để gia tài lại cho tôi chiếc xe gắn máy chính chủ. Tôi căn dặn May rán sức ôm chặt lấy chú, trước để dằn cơn đau sau để khỏi té. Tôi rú ga chạy u tới nhà thương xớn xác chỉ thiếu còi ụ dẫn đường. Hai giờ trưa nhập viện, tới năm giờ May chuyển bụng vỡ nước ối. Khu hộ sản lắm bà mẹ non tuổi nhấp nha thấp thỏm nhăn nhó chờ vượt cạn. Tôi ngồi ở phòng cách ly đợi nghe một vuông tròn. Tiếng khóc của con người mang đầy những hệ luỵ, nhưng một vài trường hợp đôi tai kẻ liên hệ lại nuôi dưỡng một mong cầu lắng nghe. Khóc thì hẳn phải thảm sầu bàng hoàng cho cái chết, nhưng khi hài nhi mở mắt chào đời, tiếng khóc nọ hẳn sẽ khiến ai kia dấu vụng một nụ cười, một thở phào chẳng phấn khởi chút nao.

May vừa đủ tuổi trưởng thành, có quyền trưởng thành đúng theo luật pháp quy định nên không bị hoạnh hoẹ khi cán bộ y tế ngó tới cô gái nhỏ thó ngỡ chừng mười sáu nằm lã người chẳng hay biết trời cao đất dày. Ông là bố của hài nhi đấy nhỉ? Không, nó chỉ là cháu tôi. Ai là cháu? Ồ, người vừa đẻ đái xong. Vậy chồng cô ta đâu? Tôi nào biết, tôi không có quyền được biết. Hay nhỉ! Vậy ông là kẻ đứng ra lo mọi thủ tục? Sao cơ ạ? Tiền viện phí là hai triệu tám, ông chi trả cho cô ấy hay một người khác sẽ đến thanh toán? Thời hạn là bao lâu ạ? Hai mươi bốn giờ, càng sớm càng tốt để người ta liệu sắp xếp cho cô ấy một chỗ nằm dưỡng nghỉ. Hai ngày thì xuất viện, đấy là theo lẽ thường tình của quy định, cơ bản là thế.

Trán tôi tươm mồ hôi. Tôi không có thời gian để vào tóm tém đầu tóc rối bung cũng như cầm tay May vỗ về lời an ủi chia vui. Tôi phải chạy nước rút toan tính xoay trở đâu ra số tiền to đùng cỡ đấy? Vừa dợm quay bước thì có cô y tá mở cửa phòng gọi giật giọng. Đi đâu thế, bà nhà vừa đề đạt yêu cầu mong gặp ông đấy. Cô y tá mang ngộ nhận với hảo tâm dẫn tôi vào đứng sát bên giường May nằm. Chiếc giường sắt hoen rỉ chất sơn đôi ba chỗ in vệt máu khô và chiếc chiếu lát vừa kích trải cong queo với tất cả sự tàn phai úa nhàu. Một khuôn mặt tuyệt không còn hồng huyết cầu nhô lên đôi môi khô nức nẻ. Giọng nói nhỏ hụt hơi, muốn lắng nghe tôi phải cúi mặt xuống áp tai kề cận. Dưới giường tre của May, chú lật ngửa nó ra, thu dấu trong chân giường phía đầu nằm là gói ny-lông cuộn tròn. Mang tiền đó mà trang trải, đổ xăng hoặc chú bồi dưỡng chút thức ăn. Nếu mệt quá, ngủ một giấc hẳn vào với cháu sau, nhé. Tôi tính hỏi là con trai hay con gái, ai tha nó đi đâu mà không thấy nhưng May khoát tay kiểu xua đuổi. Sau tấm màn xanh bẩn có người đàn bà mãi rên la, lôi tên một vài nhân vật nam ra chửi. Lời lẽ thô tục, khó nghe và tôi chợt phát hiện chỉ mình tôi là giống đực duy nhất lạc vào cái thế giới lầy lội này.

Tôi về căn hộ tồi tàn May ngụ, đun xe vào và đóng cửa nẻo. Bóng tối chứa đọng khiến bần thần, buộc tôi phải mở sáng bóng điện nhỏ treo lơ lửng như đoạn dây thòng lọng được chế biến. Tôi ngó những đồ vật được bày biện, nhìn tấm ảnh người bạn lùi vào chỗ đứng trên cái bàn thờ chỏng chơ một đoá sen nở bung trong bình cắm khô nước. Tôi đi quanh, tẳn mẳn rờ soạn vật vạ mà không nhìn ra một đầu mối hoài nghi thủ phạm, kẻ khiến May chịu nuôi trong thân một hòn máu xa lạ. Hòn máu đã tượng hình, mai này lớn khôn nó sẽ bù trất về căn nguyên cớ sự. Van mẹ chớ đánh con mà, để con dọ hỏi ai là bố con!

Tôi lật úp chiếc giường èo uột nhẹ hẫng, moi ra được toàn bộ tài sản mà May dấu thu. Tôi run tay đếm số bạc hơn năm triệu. Hôm trước cả khu phố bên quận hai xôn xao hiếu kỳ người dân bu nhộn nhạo tin choáng, thằng con đầu tuổi mười chín với sự trợ giúp của đứa em mười bảy tuổi đã đầu độc người cha làm thợ hồ để chiếm đoạt một triệu mốt. Đồng tiền như có tẩm bùa chú vào, làm mê muội kẻ nhìn trông, xúi dục hiện tới, không cưỡng được, biến đổi thành thú tánh, giết người chẳng gớm tay. Nghĩ sao, tôi lại tìm nhang đốt thắp một cây cho bạn đỡ lạnh lẽo. Tôi nói với tấm ảnh trầy trụa đen trắng được lộng kiếng. Đừng nghi ngờ tôi điều gì. May nó đáng thương. Chẳng quen biết sâu đậm mà nó an tâm, tin vào một kẻ cùng bần như tôi. Tấm lòng nhân hậu như thế, tôi tin mai này May sẽ đón nhận những tốt lành. Tôi lận gói ny-lông đựng tiền vào trong thắt lưng, nhắm hướng bệnh viện chạy vụt dưới trời chiều nhá nhem.

Hai chú cháu đã đi tới nhà từ thiện chăm sóc trẻ mồ côi và tật nguyền. Theo lời chỉ bày đã chạy tới hướng núi, băng qua một cánh đồng lúa bỏ hoang, thôi khai khẩn và độc đạo quanh co dẫn vào một ngôi chùa quạnh quẽ vây bọc bằng những loài cây thâm niên sum suê bóng mát. Sau chùa có cất một căn nhà hình chữ nhật còn mới màu vôi, đó là nơi đón nhận, nuôi dưỡng những sơ sinh xấu số bị cha mẹ dứt tình lén lút mang đặt trước cổng chùa nhờ nương thân cửa Phật. Một sư nữ vận áo lam dắt May đi khuất sau cây đa to một cách khó hiểu. Tôi ngồi trông xe sát bên cái giếng nước bé một cách chẳng thể bé hơn. Một chú tiểu đang lấy nước để rửa rau và cái gàu nhôm luôn va vào thành giếng khi chú ấy kéo dây lên. Nếu lòng giếng rộng hơn hẳn nó không than van khi bị cọ quẹt kiểu đó. Không gian trầm lắng, buồn lặng. Có thể nhạt mồm, chú tiểu nhìn tôi, khơi chuyện. Chú ấy muốn biết, có phải là thăm con cháu đang nương náu trong chùa. Tôi nói không, một bà mẹ sinh con trong bệnh viện, ngày một ngày hai mở mắt ra thì con mình chẳng còn hiện diện nữa, một bà mẹ mìn nào đó đã bắt cóc đứa bé hai ngày tuổi thoát khỏi cổng nhà thương một cách êm thắm. Đã dọ tìm hai ba địa chỉ, chùa là niềm trông mong cuối cùng của cô gái xấu số ấy. Chú tiểu mặt không đổi sắc, chú chẳng lầm bầm A di đà Phật, chú thọc cả hai bàn tay vào thau nước khi rửa rau và chú loan tin động trời. Nếu tìm không thấy thì có nghĩa là đứa nhỏ kia đã rơi vào tay tổ chức chuyên môi giới mua bán trẻ nít. Địa bàn bọn đó rất rộng, có giao dịch làm ăn với phía Trung quốc nữa cơ. Tôi ngắm cái giếng kỳ lạ, vòng kính của nó nhỏ tới độ muốn quẳng xuống một hài nhi chưa chắc đã trót lọt êm xuôi. Hình như khi xây dựng người ta cố công làm ra vậy để ngăn ngừa nhũng vụ gieo mình tự tử hoặc muốn phi tang một chứng cớ, huỷ diệt nó chôn lấp nó. Khó khai quật đào bới.

Tôi chở May về. Cả hai không nói năng. Tôi biết kết quả kiếm tìm đã cuối đường tuyệt vọng. Xe ngang cánh đồng hoang phế, May biểu tôi dừng lại, ngồi nghỉ chân. Thấy làm phiền người ta cũng chướng nên May có mua ít thức ăn chay do chùa nấu, tiền cúng dường bỏ vào thùng phước sương tuỳ hỉ thiện tâm. Ngồi bệt xuống bờ cỏ, May bày thức ăn chứa trong hộp nhựa ra. Chú có hiểu tên May là gì không? Cái đám cỏ rậm hoang dại ngứa ngáy này có tên gọi cỏ may. Mẹ của May là một con buôn bị bọn thuế vụ truy đuổi, khi tàu Thống Nhất dừng, nhảy xuống từ một toa tàu, băng qua quốc lộ, thất thểu đi trên cánh đồng cỏ thì May từ bụng mẹ đổ nhào ra, đẻ rớt. Người con khi đó có nhiều vết xước do bị cỏ cứa đường ngang nét dọc. Mẹ đặt tên cho con để nhớ về thương tật đầu đời của mẹ lẫn con. Chú không nghĩ vậy, tôi nói. Chú vẫn tin là nghĩa ngữ kia sẽ mang lại cho May chút an lành của sự may mắn. May trao cho tôi phần ăn đã được sẻ chia. Chú thấy đời May có đáng để hưởng cái hồng phước ấy không? Cục cơm chận ngang trong cần cổ, khó nuốt xuống. Bụi xoắn theo sau một hai chiếc ô tô chạy bên kia con đê xẻ rách nỗi bình yên đọng vũng giữa cánh đồng. Và rồi tất cả sự chộn rộn kia bị dồn cục lại sát chỗ chúng tôi ngồi.

Họ bắt giữ May lôi lên một chiếc xe. Họ kéo tôi vào một chiếc xe bít bùng khác. Tôi bảo hãy để cho tôi đi trên xe máy của tôi, tới bất cứ chốn nào tôi cũng sẽ có mặt. Một người mặc sắc phục có đeo súng ngắn nói. Hãy an tâm, chúng tôi cho người xử lý bảo quản chiếc xe ấy. Hãy sáng suốt thành khẩn hợp tác cùng chúng tôi để chóng phá án.

Tôi ngồi, nằm vật vờ hoang mang trong đồn công an hai hôm, viết đúng ba bản tự khai và khoảng triệu con muỗi tha hồ dự tiệc đình đám trên da thịt tôi bất kể đêm ngày. Họ thả tôi ra, bảo ba hôm sau hãy tới mang chiếc xe về. Tại sao? Tại địa phương kia chưa có ai rỗi việc để chuyển lên đây, đừng nghi ngại, bổn phận của chúng tôi là bảo vệ tài sản của nhân dân. Tôi bước ra ngoài bức tường luôn kín cổng mà không biết được số phận của May. Tôi vào một quán nước gần đó gọi ly cà phê đá tay bưng lấy đầu trì nặng. Người thiếu nữ làm tiếp viên mang thức uống ra, cô đặt xuống bàn và tựa một bạn tâm giao, cô kéo ghế ngồi đối diện tôi, ngó tôi thương hại. Anh vừa trở ra từ chốn đó, phải không? Thấy tôi chẳng cục cựa tựa phỗng đá vô tri cô không nản lòng. Cô quen rồi, làm như khách khứa tới đây thảy đều có bộ dạng dở điên dở tỉnh kiểu ấy. Ba hồn bảy vía chưa kịp lộn lui.

Sau cùng, mức chịu đựng có giới hạn, cô xuống giọng. Đây là một thương vụ mà tôi sẽ là kẻ đối tác uy tín. Anh nghe tôi nói không? Tôi tu một hơi gần cạn dung dịch cà phê chứa trong ly. Có lẽ tôi sẽ phải gọi thêm ly nước mía, thứ ly cối. Cô nói nữa đi, tôi cần nghe thêm những lời đề nghị của cô. Người tiếp viên đứng dậy, cô lại quầy vớ lấy bao thuốc lá và đưa tay mở chiếc quạt máy. Gió làm tóc cô rối lên. Tôi nhìn dáng vẻ cô và tám phần đoan quyết cô hành nghề cà phê ôm hoặc một thứ gì tựa thế, nhận tiền rồi ỏng ẹo cởi áo xống che thân. Cô mời tôi một điếu thuốc ba số năm. Những ngón cắt cụt móng và chẳng bôi sơn màu mè. Cô sở hữu hai bàn tay của một người thư ký văn phòng giỏi việc đánh máy chữ. Bàn tay ấy có thể thích hợp với nhân viên làm ở ngân hàng đếm tiền cực nhanh, cực chính xác mà không cần lè lưỡi ra thấm ướt nước bọt trên đầu ngón tay.

Năm trăm ngàn anh phải trả sau khi mua một thông tin. Anh bằng lòng không? Tôi nhai cục nước đá rồi hít sâu hơi khói. Thuốc này có thể sản xuất ở Thái lan hoặc Singapore, từ lâu tôi chẳng rớ tới hàng xịn nên khói thuốc thơm làm chóng mệt. Thêm thay, hai ngày qua bụng tôi chưa có một hột cơm. Năm trăm? Số tiền đó đâu phải nhỏ. Tin gì mà cắt cổ thế? Cô làm nghề phục vụ viên thổi khói vào mặt tôi. Vì sao cô con gái đó bị bắt? Cô mang tội gì vào thân?

Tôi dụi điếu thuốc trong cái gạt tàn móp méo. Tôi trả tiền cho cô sau, đồng ý nhé. Được thôi. Anh uống gì thêm? Khỏi, người tôi chỉ khát khô lượng thông tin. Cần nghe mà không cần uống. Trước khi sinh, cô ta đi khám bác sĩ và làm siêu âm. Lúc đó thai đã lớn và đó là đứa bé trai. Cô sao lại kết quả siêu âm rồi ký vào bảng hợp đồng thoả thuận mua bán với đôi vợ chồng nhiều tiền của nào đấy. Giá năm triệu với điều kiện đứa bé chẳng bị dị tật ngoại hình. Cô hết nhiệm vụ sau đó, đôi vợ chồng kia sẽ có cách vào ẳm đứa bé đi. Nếu xem là nhiệm vụ thì việc cô cần làm là tri hô lên rồi khóc than vật vã các thứ. Sao nữa? Hết. Những thứ cắc cớ khác là phần việc của công an, ban chuyên án phụ trách chống tội phạm. Cha đứa bé? Cô biết chuyện đó không? Đồn công an quận một còn giữ đơn khai một cô gái tên May, 18 tuổi bị cướp đoạt tài sản và cưỡng hiếp vào năm ngoái. Cô có mô tả nhân dạng ngoại hình khuôn mặt tên cướp, công an nhập cuộc nhưng chẳng có kết quả.

Năm trăm ngàn, tôi sẽ mang lại cho cô vào chiều mai, ngay chỗ ngồi này. Người bán tin tức nhoẻn miệng cười. Không gấp, thực ra thì số tiền anh cần phải đóng lên tới một triệu. Và để anh có thời gian, tôi hẹn gặp anh vào ba hôm sau. Cái gì? Anh không tính lấy lại chiếc xe gắn máy ấy sao? Nhà cửa bé tẻo teo mà hy sinh chăm giữ hộ anh khối tài sản ấy bộ chẳng đáng công sao?

Tôi trôi tuột chân đi chẳng cưỡng chống về lại chỗ May ngụ. Tôi lật chiếc giường tre chỏng chơ lên lần nữa, tôi thử kiểm kê tài sản của May tới đổ mồ hôi sôi nước mắt mà chả thu hoạch được gì. Tôi đốt lò nấu nước trụng gói mì tôm, trước khi ăn tôi thắp cho người bạn cây nhang chẳng có mùi thơm. Và tâm sự. May hoàn toàn không là may mắn. May chỉ là giống cỏ hèn mọn mọc hoang thôi ông ạ. May đã chống đối cuộc sống này bằng những phương cách tôi thực sự không hiểu. Dẫu sao thì tôi cũng cố sức xoay xở để dọ hỏi chỗ người ta nhốt May, nhìn mặt May cầm tay May hỏi han May cốt để chứng minh, vào hoàn cảnh nào thì tôi cũng sẽ là người đứng ngay sau lưng May. Thầm lặng, kín tiếng. Giúp được gì không? Tôi chẳng rõ, bởi tôi cũng tựa một loài cỏ không tên lỡ mọc trên cánh đồng hoang dại bát ngát này.

Hồ Đình Nghiêm

Hồi ký tù cải tạo

Vết Nám (Bài chót)

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 May 2016 

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Vết Nám (Bài chót)

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 May 2016 

Bài 35

Sau 7 năm tù cải tao, tôi được tha. Từ trại tù Xuân Lộc, tôi về thẳng Saigon, địa chỉ của tôi trước khi “đóng tiền đi ở tù” (1). Tuy nhiên, nhà cũ của gia đình tôi ở đường Trương Minh Giảng không còn.

Nhà ấy đã bị tịch thu trong đợt “đánh tư sản” của Việt Cộng hồi năm 1978. Vợ tôi “tha” các con về ở Cư Xá Thanh Đa, sang lại căn nhà của một sĩ quan chế độ cũ, sau khi, giống như “mèo tha con”, vợ tôi đem con đi lang thang sống tạm vài nơi ở Saigon.

            Từ bến xe, tôi đi xe ôm về nhà. Xuống xe ngay trước chợ Thanh Đa, nhìn quanh, tôi nghĩ thầm: “Chỗ nầy không thể để cho các con của mình ở được.” Tôi có một kinh nghiệm sống khi còn đi học, đi dạy: Những chỗ chợ búa, không nên để cho trẻ con ở. Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện “Mạnh mẫu dời nhà” trong cuốn sách “Cổ Học Tinh Hoa.”

            Khi tôi lên tới cầu thang chót của lô cư xá gia đình tôi đang ở, đứa con gái thứ tư, đang ngồi học thêu với một người quen trong căn hộ ở ngay đầu cầu thang, thấy tôi, con bé chạy ra hành lang, la to “Ba về! Ba về!” Rồi nó nắm tay tôi dẫn về nhà, cách đó mấy căn. Đứa con gái giành lấy cái bao nylon trên tay tôi.

Tôi về tay không. Tất cả những cái được gọi là “hành trang” người tù, tôi để lại cho bạn tù. Đó là những bộ “quần áo lao động”, là những cái áo, cái quần treillis vá chằng vá đụp nhiều lớp vì dùng đã quá lâu, quá cũ, rách, mòn nhiều chỗ. Một ít thức ăn chưa dùng hết do vợ tôi thăm nuôi tiếp tế cho… Tôi chỉ đem về một cái “gô”, là tiếng gọi tắt tiếng “Guigoz”, loại hộp nhôm đựng sữa bột của hãng nầy. Tôi có những mấy cái “gô” còn mới, trắng sáng nhưng tôi để lại cho các bạn dùng. Tôi chỉ đem về cái “gô” dùng lâu nhứt, đen hùi vì khói và móp méo. Tôi muốn giữ nó để làm kỷ niệm mấy năm tù.

            Khi ghé lại sang xe ở bến xe Tam Hiệp, tôi mua một bịch chôm chôm, đem về làm quà cho vợ và các con, như thói quen của tôi trước khi ở tù, mỗi khi tôi đi xa về.

            Các con gái của tôi có mặt đủ ở nhà. Khi cửa mở và tôi bước vô, các con tôi reo lên mừng rỡ: “Ba về! Ba về!” Rồi chúng xúm nhau lại, ôm chầm lấy tôi. Tôi đưa tay xoa đầu các con, từ đứa nhỏ nhất trước, sau tới các đứa lớn.

Tôi cảm động, mừng được tha khỏi trại tù, muốn khóc, nhưng cố nín. Khóc trước mặt các con là điều không nên, mặc dù, trong trại tù, nhiều đêm tôi khóc thầm vì thương – vì thương hơn vì nhớ – các con và vợ.

            Tôi ngồi xuống ghế, sau khi đi lên mấy bậc cầu thang cao, thấy đau ở mắt cá chân. Đứa con gái ban nãy, lấy cái dĩa lớn, lôi chùm chôm chôm ra khỏi bao nylon, bỏ vào dĩa, đặt lên bàn. Tôi bảo các con ăn, nhưng chẳng đứa nào ăn. Chúng nói: “Chờ má về!”

            Mặc dù hôm nay là ngày học, nhưng khi tôi về tới nhà thì đã quá giờ tan trường, các con đã về đủ, chỉ còn cậu con trai duy nhứt, đi chơi đâu đó, chưa về. Nghĩ tới đứa con trai ấy, tôi thấy buồn buồn. Riêng về các đứa gái, tôi lại thấy vui vui vì đứa nào cũng học giỏi. Đứa lớn nhứt đang học năm cuối ở đại học sư phạm, thay vì học y khoa như đã ghi trong đơn xin thi, vì lý lịch số 13 (2). Đứa kế, đang học lớp cuối cấp 3, từ kinh nghiệm của chị, nó đang xin mẹ cho vượt biên để được vào đại học ở Hoa Kỳ.

            Đứa con út, con gái, tới đứng sát bên chân tôi. Tôi giang tay ôm nó vào lòng. Khi tôi đi tù, đứa út ấy mới 3 tuổi, chưa đi học. Bây giờ nó 10 tuổi, đang học lớp 5, lớp cuối cấp 1.

            Bỗng đứa con thứ hai nói:

            – “Ba quên rồi ba?”

            – “Ba quên gì?” Tôi hỏi con.

            Con bé cười rúc rích, trước khi trả lời:

            – “Con út ba nó đang chờ ba chê thúi đó.”

            Tôi “à” lên một tiếng, xin lỗi và cười vui:

            – “Thôi chết rồi! Ba ở tù lâu quá, ba quên mất rồi.”

            Khi chế độ cũ còn, tôi đang làm việc. Mỗi chiều đi làm về, thay áo quần xong, tôi ngồi vào ghế salon uống nước, tay vòng ôm đứa con út đứng bên cạnh. Tính tôi hay đùa. Sau khi hôn con xong, tôi đưa tay giả bộ bốc vào đít nó một cái, đưa lên mũi ngửi, cười nói: “Đít thúi quá!” Vợ con xúm lại cười. Tôi nói đùa: “Thúi nhưng ba thích. Ba thích ngửi cái đít thúi nầy!” Tất cả các con phá lên cười. Có đứa còn nói đùa “Ba dơ quá! Ba dơ quá!”

            Cái trò đùa “Ba dơ quá” diễn ra mỗi chiều như vậy, sau khi tôi đi làm về. Con bé út nghĩ rằng qua cái trò bốc thúi đó, nó được ba cưng. Nếu như có một hôm nào đó, chưa kịp “bốc đít” đứa con út thì nó cứ xẩn vẩn bên cạnh, chờ tôi diễn trò. Những lúc đó, tôi lại đùa, vừa bốc đít nó mấy cái, vừa xin lỗi, vừa nói: “Đít thúi quá. Thúi quá! Ba thương cái đít thúi nầy quá!”

            Bây giờ, đứa con út lại đứng bên cạnh. Tôi không để ý đứa con út của tôi đang nhớ và muốn diễn lại cái trò cũ, nhưng đứa con gái thứ hai, tinh ý, nhớ chuyện cũ và nhắc tôi.

Tôi sực nhớ, bốc vào cái đít nó, lại nói to “Đít thúi quá! Ba thương quá!” Nhưng tôi chợt thấy cái trò diễn ấy có phần nhạt đi. Đứa con út đã lớn, và tôi thấy cái gì cũng hơi lạ lẫm, ngay cả với con. Chúng đã lớn cả rồi, và tôi thấy băn khoăn, nghĩ tới tương lai. Trước kia, tôi ít khi nghĩ xa, nghĩ tới tương lai. Tương lai của tôi có gì phải lo, phải suy nghĩ. Tôi sống bình thường như mỗi ngày, ăn, ngủ, làm việc chăm chỉ, cần cù và lãnh lương …

            Khi chưa lập gia đình, tôi thường lo lắng cho tương lai. Kể từ khi có vợ, có con, tôi lo làm việc, việc nội trợ có vợ đảm đang. Mỗi ngày, tôi có cơm ăn ngon, có áo quần sạch, ủi thẳng để mặc, cuộc sống êm đềm, có chi phải lo. Vả lại, từ khi đọc câu thơ của Trần Dần

“Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người,

Người vẫn kinh hoàng trước tương lai”

thì tôi cho rằng, sống trong chế độ đó, người ta mới phải “kinh hoàng trước tương lại.” Câu nói của bà Jacky Kennedy cũng ảnh hưởng tới cách suy nghĩ của tôi “Đừng đầu độc mình bằng tương lai của mình.” Theo tôi nghĩ, đó là một câu nói “chống Cộng” nhưng với bản thân tôi, trong chế độ cũ, tôi thấy cuộc đời nó như thế, có gì phải bận tâm.

            Một lúc sau, đứa con lớn nói: “Cuối cùng rồi ba cũng về.”

            Tuy hiểu ý con, nhưng tôi cũng hỏi: “Nếu ba không về thì sao?”

            – “Không ai hại mình được cả, nếu trời không muốn.”

            Tôi lại hỏi: “Cách mạng” cũng vậy, phải không?”

            Con gái tôi nói: “Nếu “Cach mạng” làm được như họ muốn thì gần hai mươi triệu người miền Nam nầy chẳng ai sống được cả, có riêng gì những người như ba.”

            Tránh không muốn nói đến chuyện chính trị với con, tôi đi tắm rồi ăn cơm. Tôi nói với con gái lớn: “Ba ăn một ít cho đỡ đói thôi, chờ má về rồi ăn chung.”

            Đứa lớn nói:

            – “Má về trễ lắm ba! Ba chờ được không?”

            Tôi nói: “Chờ được chớ! Má đi xa lắm à?”

            – “Ngày nào má cũng đi, xa lắm, má xuống tận Cần Giuộc mua gạo rồi về theo ngã cầu Ông Thìn hay qua ngã Phú Lâm. Nhiều ngày Công An bắt dữ lắm, má đi tắt qua ngã Tầm Vu, Rạch Kiến, qua bến đò trên con rạch nhỏ đầu nguồn sông Bình Giao mà về Saigon, vất vả lắm.”

            Tôi ngồi thừ ra. Vậy mà vợ tôi dấu tôi. Khi thăm nuôi, vợ tôi nói chỉ là ra tới Phú Lâm mua gạo rồi chở về bán ở Saigon.

Từ Phú Lâm về Saigon, chưa dài bằng một phần ba con đường từ Cần Giuộc về. Những con đường vợ tôi lén Công An đi buôn gạo, tôi đã từng đi qua. Ngã cầu Ông Thìn thì phải đi qua bót Cảnh Sát Ký Thu Ôn, cửa ngõ Saigon ở quận 6. Qua Phú Lâm là đi trên quốc lộ 4. Ngay cả Tầm Vu, một khu vực nằm giữa Quốc Lộ 4 và cầu Ông Thìn trên liên tỉnh lộ 5A,  tôi cũng đã từng đến rồi. Trong chiến tranh, Tầm Vu là nơi chiến cuộc xảy ra không ít lần, có những trận rất lớn. Tôi từng tham dự vài trận đánh ở đó.

Một lần, một đơn vị lớn Việt Cộng chưa kịp rút về mật khu Ba Thu, bị vây ở Tầm Vu. Việt Cộng phản công dữ, đơn vị của tôi phải xin pháo binh của chi khu Bình Chánh yểm trợ tối đa, lại chi viện thêm 4 khẩu pháo của pháo binh Sư Đoàn 7 nữa, rồi xin thêm hai phi tuần oanh kích vị trí địch trong rừng dừa nước. Dù sao thì hồi đó tôi cũng không gian khổ như vợ tôi bây giờ. Di chuyển tới trận địa, tôi đi bằng xe hơi quân đội. Chỉ khi vô mục tiêu, tôi mới phải lội bộ với lính. Đường liên tỉnh 5A hay Quốc lộ 4 là đường nhựa. Ở Tầm Vu, toàn đường rải đá, chưa có khúc nào có nhựa, gập ghềnh, khó đi. Vậy mà vợ tôi ngày nào cũng đạp xe đạp trên con đường đó để trốn Công An. Mỗi ngày, mỗi năm 365 ngày, có lẽ chỉ trừ vài hôm Tết ta, cũng gần năm, bảy năm trời đằng đẵng như vậy, từ Thanh Đa đạp xe đi và về, xe đạp của cô ấy phải nuốt một đoạn đường dài hơn 50Km, chở theo ba bốn chục ký gạo trên đường về để kiếm chút tiền lời nuôi con ăn học, và nuôi chồng ở trong tù. Nhìn lại một quá trình nặng nhọc như vậy, hỏi ai không khỏi kinh hoàng. Đúng vậy đấy, đúng là một chế độ “kinh hoàng trước tương lai.”

            Mãi đến khi trời chiều bên ngoài cửa sổ xuống đã lâu, nhìn mầu trời thẩm đen dần dần, tôi thấy lo cho vợ, thì các con tôi nghe tiếng guốc gỏ nhẹ ngoài hành lang. Biết mẹ đang về, chúng bèn kéo tôi vào buồng, khép cửa lại để gây cho mẹ sự ngạc nhiên chơi.

Tôi ngồi trong buồng, nhìn qua khe cửa. Tôi thấy vợ vào nhà. Vợ tôi, nón lá cầm tay, áo bà ba mầu xanh sẫm, hình như ướt đẫm mồ hôi ở nách áo, quần đen, guốc cao, trông có vẻ mệt, phờ phạc. Thấy cơm còn để nguyên trên bàn, vợ tôi hỏi:

            – “Răng mấy đứa con chưa ăn, chờ má chi! Ăn sớm lo học bài.”

            Thấy chùm chôm chôm trên dĩa, cô ấy bèn hỏi:

            – “Chôm chôm ai mua? Ai mua ri?”

            Các con, đã dặn nhau, không đứa nào trả lời, nhìn mẹ cười. Như có linh tính, vợ tôi hỏi:

            – “Ba về? Ba về phải không?”

            Rồi vợ tôi nhìn vào phòng, qua khe cửa thấy tôi trong đó, liền chạy a vào, la to: “Ba về! Ba về.” Tiếng la như một sự mừng rỡ, thảng thốt mà thốt ra, chứ mấy đứa con, đứa nào cũng biết “Ba về” rồi, vợ tôi gọi to với ai!

Cô ấy, nhanh như một cơn gió, xô cửa chạy vào phòng. Thấy tôi ngồi ở mép giường, vợ tôi ôm chầm lấy chồng, nói như đứt hơi: “Anh về, anh về rồi.” Rồi đè ngữa tôi xuống giường, nằm chồng lên người tôi. Vợ tôi tiếp tục nói, mỗi lúc giọng càng nhỏ lại, lã đi vì hồi hộp, sung sướng: “Anh về! … Anh… về…rồi!” Rồi hôn vào mặt tôi tới tấp. Tôi có cảm giác rất rõ, những giọt nước mắt của vợ chảy tràn trụa trên má tôi!

&

            Ngày hôm sau, mừng chồng về, cô ấy ở nhà, nói với tôi:

            – “Ở nhà một bữa với anh cho vui. Nghỉ một ngày cũng chưa chết ai!”

            Các con đi học cả, nhà chỉ còn hai vợ chồng. Tôi nằm nghiêng bên vợ, ôm ngang lưng. Tôi đưa tay sờ từ bụng lên ngực, rồi mặt vợ, tôi nói:

            – “So với các con, em ít khác đi. Các con đứa nào cũng lớn mau quá, còn em thì lúc nào cũng vẫn cứ như Gina Lollobrigida.”

            – “Làm gì?! Già thì xồ xề đi chớ! Nịnh vợ nữa!” Vợ tôi vừa cười vừa nói.

            – “Nịnh đâu! Thiệt mà! Em nhớ hồi đó anh cứ ví em với Gina hay Sophia Loren. Vòng ngực, vòng eo, tưởng như làm nổ mắt mấy thằng chạy theo em!”

            – “Nhưng có ai được em đâu! Chỉ có anh không bị nổ con ngươi?”

            – “Tại vì, tại vì… anh có… mắt thần! Hồi ấy “Anh theo Ngọ về” muốn gãy cả hai chân. Tiếc hồi đó em không chụp hình để treo chơi.” Tôi nói.

            – “Mắc cỡ chết! Ai mà ở truồng cho người ta chụp hình.”

            – “Vậy mà hồi đó, anh bạn họa sĩ Quách Văn Tuyền, cùng khóa Thủ Đức, thấy em lên thăm anh, khen em đẹp, rồi hẹn với anh ra trường, sẽ về nhà mình vẽ cho em một bức khỏa thân. Tiếc thiệt!”

            – “Tiếc chuyện chi?” Cô ấy hỏi.

            Tôi nói:

            – “Anh bạn đó, vì bằng tú tài của anh ấy là bằng Tầu, không được bộ Giáo Dục xác nhận tương đương với bằng Việt Nam, buộc anh ta phải đi hạ sĩ quan nên anh đào ngũ. Anh ta nói anh trốn về Saigon, hẹn gặp anh ở nhà ca sĩ Thanh Thúy. Ra trường, anh không có dịp tìm anh ta ở chỗ đó. Nếu gặp được, nay em có bức tranh đẹp rồi.”

            – “Kỳ chết!” Vợ tôi trả lời.

            – “Kỳ gì! Em nhớ ở quê, cả thị xã Quảng Trị, có ai không nói em đẹp như tài tử ciné.”

            Một lúc, tôi nói:

            – “Cho anh nhìn thân hình em lại chút đi, nhớ quá!”

            – “Kỳ chết! Ban ngày ban mặt mà anh!”

            – “Nếu ban đêm như tối qua thì thấy chi mà coi. Coi ban ngày mới đã con mắt chớ!”

            Nói xong, tôi ngồi bật dậy, từ từ kéo lưng quần vợ xuống. Tôi nhìn vào âm hộ vợ, kéo chân vợ giang ra, và tôi sững sờ khi thấy một vết nám đen ở phía dưới cái ấy của vợ. Tôi nghĩ ngay đến những đoạn đường dài vợ tôi đạp xe đạp mỗi ngày. Rõ ràng vết nám nầy là kết quả của những ngày, những tháng, những năm dài đạp xe đạp trên những con đường gian nan, khổ cực của vợ tôi.

            Dù tôi không giàu, nhưng trong những tháng năm vợ chồng sống bên nhau, có bao giờ cô ấy phải khổ như thế đâu, đạp xe đạp nhiều như thế đâu.

Hồi mới cưới, đầu thập niên 60, tôi có chiếc xe Vélo, đi đâu cũng hai vợ chồng đi với nhau, tôi đèo vợ sau xe. Rồi tôi sắm xe Vespa, xe Honda, rồi tới chiếc xe hơi Mazda 1200, cô ấy bán xe hơi sau khi Việt Cộng chiếm Saigon.

Vậy mà bây giờ, cái vết nám…là chứng tích nỗi gian khổ của vợ. Tôi xúc động mãnh liệt vì cái vết nám chứng tích đó, vết nám chứng tích sự đày đọa của một chế độ hà khắc đối với người dân của nó. Sự hà khắc đó đã đem đối xử với bất cứ hạng người nào, giàu nghèo sang hèn thì cái chế đó cũng cần phả đánh đổ nó đi, không bao giờ người dân lương thiện chấp nhận một chế độ hà khắc với dân, không để cho nó được tồn tại một ngày một giờ nào. Người dân phải sống trong một chế độ phục vụ dân chúng, đem lại hạnh phúc chứ!

Rồi tôi gục trán vào chỗ u trên âm hộ vợ. Tôi cảm nhận rất rõ những sợi lông mềm cọ vào trán tôi: Thương vợ quá… Và những ngày dài gian khổ, những đoạn đường dài, đá sỏi, gập ghềnh, khúc khuỷu cô ấy phải đạp xe đi qua suốt những mùa mưa nắng, những ngày nóng, ngày lạnh của khí hậu miền Nam. Không ngày nào cô ấy không đạp xe đi. Không đạp xe đi lấy gì nuôi đàn con nhỏ, nuôi chồng trong tù.

            Tôi có cảm tưởng như mình có thể khóc được, khóc ngay tại chỗ, nhưng cố nín. Khóc là xấu hổ, là hèn. Nhưng nếu thương vợ quá mà khóc, nước mắt tôi sẽ rơi ngay xuống chỗ đó. Vợ tôi sẽ hiểu. Tôi không muốn để vợ thấy nỗi xúc cảm mãnh liệt của tôi trong lúc nầy, tôi cố nín.

            Một lúc, cô ấy hỏi:

            – “Cái gì vậy anh?”

            Lợi dụng lúc đó, tôi cởi phăng cái áo may-ô ra, kéo lên phía đầu. Trong một tích tắc rất nhanh, lợi dụng việc cởi áo, tôi đưa áo quẹt nhanh vào hai mắt, lau nhanh, nếu như có giọt nước mắt nào nơi đó. Rồi tôi quay người nằm chồm lên người vợ.

Có lẽ lúc đó vợ tôi đang nhắm mắt nên không thấy gì. Với lòng thương vợ dào dạt và nỗi uất hận đang dâng tràn lên, tôi vội vàng vòng hai tay ôm lưng vợ thật chặt, xiết mạnh, trước khi có những hành động nối tiếp khác của một người chồng.

hoànglonghải

            (1) Câu nói các tù cải tạo thường nói mỉa về mình

            (2) Những học sinh có cha mẹ đi tù cải tạo, đều bị xếp loại lý lịch số 13, không được vào học các ngành “quan trọng” (theo sự phân loại của chế độ) như Y Khoa hay Kỹ Sư. Các học sinh nầy bị chuyển qua học các ngành khác ít “quan trọng” hơn, dù khi thi vào có được điểm cao.

Hồi ký tù cải tạo

Đất Khách…

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 9 May 2016 

Tha hương ngộ cố tri!

Bài 34

Đất Khách…

Tha hương ngộ cố tri!

(Cửu hạn phùng cam vũ Tha hương ngộ cố tri Động phòng hoa chúc dạ Kim bảng quải danh thì)

Thế rồi có những kẻ “đi chui”, – như tôi chẳng hạn -, cũng không ít người lên máy bay, rời quê hương đến định cư ở xứ người. Phần nhiều các bạn tù cũ của tôi đều ở Nam Cali, chỉ riêng tôi và “Kim nhí”, – Kim nhỏ con, gốc chú Ba Chợ Lớn – để phân biệt với “Kim voi” – Kim “đô” con, quê ở Bình Dương -, thì nhà cách nhà tôi không xa. Nguyễn Quảng Thành, thường gọi là “thành gù”, Hoàng Hữu Chung và Đào Sơn Bá, định cư ở Boston.  Cách một giờ lái xe, kể từ nơi tôi ở.

“Kim voi” đã qua đời sau khi được tha không bao lâu. “Kim nhí” khi qua tới Mỹ thì cậu con trai lớn phải vô bệnh viện tâm thần. Đúng là “Phúc bất trùng lai”. Quảng Thành thì người vợ cũ, cũng là học trò cũ của anh, khi anh còn dạy học ở Sông Cầu, thì giương buồm cho “thuyền ra cửa biển” mất rồi. Anh cưới một bà đã lớn tuổi, cho “êm một tuổi già”! Thế cũng xong duyên phận cho một người tù khi được tha thì tóc đã nhiều muối hơn tiêu ???!!!

Trắc thì buồn hơn.

Vợ anh ra đi ngày đó, đem theo hai con gái. Hai cô con gái lớn lên, học hành và thành công ở Mỹ, có một cô làm chuyên viên trong Bạch Ốc, nhưng không đoái hoài gì tới bên nội, dù bố là cháu của tông tông. Cái “hào quang” thời chế độ đã lịm tắt rồi, khơi lên làm chi đống tro tàn!? Bọn trẻ thế hệ thứ hai, lớn lên ở quê người, không muốn nhìn lại dĩ vãng nữa hay chăng, quên hay cố quên cái gốc của mình đi hay chăng?

Trước khi rời Việt Nam, Trắc có một cô vợ mới: Hạnh, khá đẹp, mặt mày phúc hậu. Hạnh là chị cả, sau lưng những mấy đứa em, tất cả đều mồ côi cha mẹ. Em sống dựa vào lưng chị. Trong hoàn cảnh đó, qua tới nơi, Hạnh “giã từ anh yêu” để lấy một chú Ba giàu có.

Nghe chuyện, tôi hỏi Trắc. Trắc nói:

_ “Tại tui anh à! Tại tui à! Hạnh phải lo cho em, không bỏ các em được mà tui thì không có khả năng. Nhờ bỏ tui mà Hạnh lần lượt bảo lãnh cho các em qua Mỹ hết. Thằng Tàu chồng nó nhiều tiền, muốn chi chẳng được. Hạnh thương các em lắm! Chị em nó mồ côi cả cha lẫn mẹ! Tội lắm!”

Nghe Trắc nói, tôi chỉ thở dài. Yêu nhau, thương nhau, thông cảm nhau và tha thứ, hy sinh cho nhau. Đâu có phải ai cũng nghĩ và làm được như Trắc.

Thế rồi tôi tìm về Cali, là đi tìm thăm các bạn cũ. Mấy bạn tù họp nhau lại, rủ tôi đi uống cà phê, và tới thăm… Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Những người từng chịu nhiều gian khổ trong cuộc chiến vừa qua, những từng người từng đổ mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu hay một phần thân thể, cho công cuộc chiến đấu Bảo Vệ Tự Do cho Miền Nam và cho Thế Giới Tự Do, khi đến Cali, khó mà không tìm đến nơi nầy để tìm lại… chính mình.

Thế rồi chúng tôi kéo nhau về nhà người anh vợ tôi. Nhà tôi nấu sẵn một nồi bún bò lớn, “bún bò Huế” thật sự, có sả ớt, có thịt bò xào, giò heo và có cả… ruốc Huế. Một nồi bún bò chính hiệu con nai.

Đang ăn, tôi hỏi Dương Tiến Đông:

_ “Qua đây rồi mà ông còn “chồng chúa vợ tôi” phải không? Liệu hồn vợ nó đuổi ra khỏi cửa.”

Trắc cười:

_ “Liệu hồn gì nữa! Không những vợ nó mà cả con cái cũng đứng về phía mẹ. Bây giờ thì ra gầm cầu.”

Đông, đúng là “ông Khouảng Nôm” hay tự ái, cải chính:

_ “Sức mấy.” Rồi Đông quay qua tôi:

_ “Anh thấy không! Chủ nhật nào đi bán chợ trời về, tui cũng gọi anh nói chuyện chơi!”

– “Trên đường về nhớ đầy” chớ gì! Thui thủi một mình trên đường về, “ông”gọi tui để làm cục kê cho “ông”! “Cho vơi đi niềm nhớ”. Mà ông nhớ cái gì?” Tôi hỏi.

_ “Cái gì cũng nhớ hết. Thuở học trò, hồi đi lính, khi ở tù… Cuộc đời nơi đất khách có nhiều cái nhớ: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”

Tuy gọi là buồn, nhưng nói xong, Đông lại nhìn tôi cười.

_ “Buồn! Rồi “ông” trách ai?” Tôi hỏi.

_ “Tôi chẳng trách ai cả anh à! Trách là trách mình trước. Thiếu gì người qua đây rồi trách người nọ, trách người kia… làm mất nước; trách ông Thiệu, trách cụ Hương, cụ Huyền, trách ông Dương Văn Minh, trách ông linh mục chống tham nhũng mà thực ra là làm cho miền Nam mau thua Việt Cọng, trách ông Trí Quang là “Cộng Sản nằm vùng”, thay vì “thích đủ thứ” thì quay ra “trách đủ thứ.”

_ “Ông” nói làm tui nhớ câu Đại Tướng Viên nói với Nam Dao: “Ba mươi năm qua rồi, ngồi đây mà đổ tội cho ai!?” Ông tướng mà khi chạy khỏi nước, lại chỉ đem theo có cuốn kinh Phật. Đúng là “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng”. Chê trách người khác để cho mình sáng lên cũng là tâm lý đó “ông”! Bây giờ, ở bên nầy, nhiều tay “nổ” dễ sợ luôn.”

_ “Cũng có thể nói như Tướng Viên là tinh thần chủ bại. Nhưng anh thấy không, những “anh” tác chiến, đánh hết trận nầy qua trận khác, hành quân “Mút mùa Lệ Thủy” thì qua đây im re. Nhiều tay khác, khi ra trường, cố chạy cho được “đơn vị không tác chiến” thì bây giờ dùng toàn pháo đại không?” Đông nói.

_ “Trước kia “ông” ở đơn vị tác chiến?” Tôi hỏi.

_ “Tui ở Khối Chiến Tranh Chính Trị của tiểu khu.” Đông trả lời.

_ “Hồi ấy, vô tù, nhiều anh khai làm “chiến tranh chính trị” cho nhẹ tội. Đâu có bóp cò. Bóp cò mới nặng tội hơn chớ!” Tôi nói.

_ “Người ta gọi là “đánh giặc miệng” anh à! “Lấy mồm mép đỡ chân tay”. Tục ngữ nói vậy. Vô tù cứ nghĩ “Đánh giặc miệng đỡ… bóp cò.” Tội nhẹ hơn nhiều. Ai ngờ Việt Cộng nó nghĩ theo cách của nó. Đánh giặc miệng là công việc của chính trị viên, của chính ủy. Mấy tay nầy quyền hạn hơn cả thủ trưởng. Việt Cộng ưu tiên cho đi “thăm lăng bác” mấy anh Chiến Tranh Chính Trị”.

_ “Cũng nhiều tay ngon lành! Học “Đại Học Chiến Tranh Chính Trị” ra nhưng khi về đơn vị lại xin đi tác chiến. Mấy chả ghét ngồi cạo giấy!” Tôi nói.

_ “Mặt trận chính trị thường quan trọng hơn tiếng súng ngoài trận địa. Mình hồi ấy cứ nghĩ tại tụi Mỹ cúp viện trợ nên thiếu súng đạn mới thua Việt Cộng. Có đủ súng đạn chơi tay đôi như không! Chắc gì ai ăn ai!” Đông góp ý.

_ “Trận địa chiến, Việt Cộng đánh không lại. Cứ coi lại “Bình Long Anh Dũng”, “Kontum Kiêu Hùng”… thì biết ngay. Mình có thua đâu! Nhưng chiến tranh kéo dài thì mình thua. Việt Cộng thì phát triển du kích chiến, mà mình thì không nắm được dân.” Tôi nói.

Trắc hỏi:

_ “Anh nói sao?”

_ “Chiến Tranh Nhân Dân” mà “ông”. Tự người dân phải cầm vũ khí chống kẻ thù. Attila nói: “Vó ngựa quân ta đi đến đâu, cỏ ở đấy không mọc được nữa.” nhưng qua tới Việt Nam thì thua, thua vì ở Việt Nam toàn dân đánh giặc, không riêng gì quan binh triều đình.”

_ “Tình hình miền Nam trước 75 thì khác?” Đông hỏi.

_ “Cách chiến đấu của Quân Đội Việt Nam mang “dấu tích” chiến tranh Pháp Việt. Đóng đồn, giữ đất… bỏ dân; không có dân, không thắng được giặc, nặng tính chất “lãnh thổ”, “giữ đất, giữ đường”. Tôi nói. “Thật ra, theo tui nghĩ, người ta cần có một cuộc cách mạng về quân sự, về chiến lược. Bỏ mục đích giữ đất bằng cách đóng đồn “bót”, “đồn” là ở trong dân chúng, trong dân quê, mỗi xã, mỗi ấp là một đồn.”

_ “Đó là kinh nghiệm của anh!” Trắc hỏi. “Sao tui thấy nó giống “Áp Chiến Lược” quá!”

_ “Vừa là kinh nghiệm bản thân, vừa là điều đọc trong sách vở.” Tôi nói. “Trên lý thuyết, “Ấp Chiến Lược” là hay lắm, nhưng mới chỉ thực hiện có phần đầu mà thôi, là phần lùa dân vô trong vòng kẽm gai, coi như vô trại tập trung. Còn việc xây dựng về giáo dục, y tế, xã hội… chưa làm được gì hết thì nhà Ngô tan hàng. Làm được thì coi như “tát nước bắt cá”. Cái của ông Nhu, không mới lạ gì đâu. Trong “Con Đường Sáng”, Hoàng Đạo đã vẽ ra con đường đó rồi. Với lại, như tui thấy trong “Con đường buồn thiu”, Bernard Falls, nói về mấy viên chức xã ấp. Khi Tây tới, mấy chả đi theo Tây về làng, tập họp dân chúng, nói “trên trời dưới đất” gì đó. Tới tối thì mấy chả vô đồn ngủ, sợ Việt Cộng về, bỏ mặc dân chúng, không ai bảo vệ. Tụi cán bộ nằm vùng lại mò ra, trong bưng mò ra hay hầm bí mật chui lên, tuyên truyền, dụ dỗ, phỉnh gạt, đe dọa… dân chúng. Dân chúng không muốn theo Việt Cộng có được không? Chúng nó chặt đầu cắm lên cọc tre, người dân ai mà chẳng sợ.”

_ “Vậy là dân theo chúng nó hết?” Đông than thở.

_ “Cái thế của mình, kẹt lắm. Một mặt thì Việt Cộng tuyên truyền chống ngoại xâm, giành độc lập. Thằng Tây thì mắt xanh mũi lõ, thằng Mỹ cũng mắt xanh mũi lõ, thằng nào chẳng là “ngoại xâm”. Kể từ thời mấy ông cố đạo “mắt xanh mũi lõ”, dẫn Tây qua xâm lăng nước ta, người Việt Nam đã nghĩ như vậy rồi. Tụi Tây phương đứng ngay sau lưng mình thì mình tuyên truyền “độc lập” làm sao được? Còn cán bộ của mình thì như khi tui về Gò Công, một người bạn tôi đưa ra một thí dụ: Anh cán bộ của mình, cảnh sát hay lính làng lính lệ, dừng xe Honda ngay trước cổng nhà ông Ba, ông Bảy nào đó, gọi vô: “Bữa nay có chi nhậu không?” Người dân thì sợ, nhà có “quân dịch quân gà” hay buôn bán gì đó, vội đáp ngay: “Dạ có! Dạ có nhậu, chờ một chút, tui bày bàn ra.” Việt Cộng thì khác, nửa đêm tụi nó trong bưng mới ra tới, gõ cửa nhà ông Nam, ông Bảy, hỏi thăm: “Năm nay mùa màng có được không? Cảnh Sát, cán bộ, lính làng lính lệ có quậy phá gì không? v.v…” Người dân quê thiệt thà, nghe hỏi vậy là mát lòng lắm, không nghe Việt Cộng sao được?! Làm sao có cán bộ về tận xã ấp, ăn ở với dân, làm nhà, sửa chuồng heo, làm vườn cho dân… Đêm ngủ lại đó, trong nhà dân. Cộng Sản nào mà ngóc lên được. Nắm được dân là chúng nó thua.” Tôi nói.

_ “Ông Thiệu cũng chủ trương dân chúng tự vệ đó chớ.” Trắc nói. “Ông bảo phải phát súng cho dân. Một chính phủ không dám phát súng cho dân là một chính phủ không phải của dân. Anh thấy không? Xã ấp nào cũng có “Nhân Dân Tự Vệ”.

_ “Năm 1973, Nhân Dân Tự Vệ xã Sóc Sơn ở Rạch Giá thắng một trận vẻ vang lắm! Cái đó nhờ dân chúng là dĩ nhiên, nhưng cũng phải nói, nhiều tay xã trưởng ngon lành lắm. Ỏ Kiên Giang nhiều tay xã trưởng dẫn Nhân Dân Tự Vệ đi kích Việt Cộng. Bọn nó dính chấu là cái chắc. Địa phương của người ta mà, rành rẻ địa thế là đánh giặc tiện lắm. Có xã trưởng thường đi ngủ ấp, không ngủ tại xã. Tui nói “ngủ ấp”  là nói theo nghĩa đen, mấy chả đừng nghĩ bậy cho người ta nghe!” Tôi kể.

Một lúc, tôi nói tiếp:

_ “Nhân Dân Tự Vệ xã Sóc Sơn hầu hết là người Miên. Tối lại, họ tập trung về xã, bảo vệ trụ sở xã, chứ không hoạt động ngay tại ấp, thành ra họ cũng không phải là người bảo vệ dân. Họ cũng sợ chớ! Lỡ Việt Cộng tấn công, không ai yểm trợ họ. Họ “đơn thương độc mã” chống giặc. Chống du kích thì họ chống được, nhưng nếu Việt Cộng tấn công bằng lực lượng Huyện Đội hay Tỉnh Đội thì họ thua. Ấp nào Nhân Dân Tự Vệ hoạt động hữu hiệu là Việt Cộng điều một lực lượng lớn, mạnh, tới tấn công ngay. Dân chúng không tự bảo vệ mình được. Hễ Việt Cộng chiếm được vùng quê, thì thị trấn, thị xã bị cô lập. Càng ngày Việt Cộng càng mạnh thêm.”

_ “Cái nầy là “lấy nông thôn bao vây thành thị” chớ gì!” Ở Thủ Đức mình có học mà.” Đông nói.

_ “Học thì học vậy, nhưng khi ra trường, ngoài việc hành quân, đóng đồn, “tìm và Diệt”… tôi đâu có thấy chiến lược nào để chống “nông thôn bao vây thành thị”. Coi như sách vở đã học đem cất kỹ vô tủ. Bernard Falls biết rõ chiến lược nầy. Ông ta được coi là chuyên viên về “Du kích chiến” của Mỹ, ông làm cố vấn cho Bộ Quốc Phòng và các tướng lãnh Mỹ.” Chiểu nhận xét.

_ “Có một điều tui hết sức làm lạ! Bundy, giám đốc Xịa, qua Saigon làm phó đại sứ, đặc trách chương trình “Bình Định Nông Thôn”, đang có kết quả thì Mỹ bỏ ngang.” Tôi nói.

_ “Cán bộ “Bình Định Nông Thôn” thì làm được cái gì?” Đông nói, có vẻ thiếu tin tưởng.

            _ “Ông về nông thôn thì biết ngay. Việt Cộng sợ đám “cán bộ Xây Dựng Nông Thôn” nầy lắm. Giết được là giết ngay không thương tiếc. Cái cung cách làm việc của họ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân thì tên Việt Cộng nào mà nằm vùng được?!” Cái trường cán bộ của Đại Tá Bé đào tạo được nhiều cán bộ xã ấp, giữ được nông thôn. Tiếc là cái chương trình nầy không kéo dài. Sợ ông Bé gây được tín nhiệm trong dân chúng, ông Thiệu vội dẹp ngay Trung Tâm Chí Linh, mở trường “Cách Mạng Hành Chánh”.

            _ “Tui có cảm tưởng như anh khoái nông thôn lắm. Bộ gái nông thôn đẹp hơn con gái thành thị hả?” Đông nói đùa.

            _ “Ông biết trong Nam nầy con gái đâu đẹp nhứt không? Đẹp nhứt là gái Long Xuyên, vùng nước ngọt. Trắng nhứt là gái Kiến Hòa, tụi nó ở trong dừa, ít làm ruộng. Con nào con đó trắng bóc, như trứng gà; không biết cái ngao có trắng không? Kiên Giang thì mấy con nhỏ “đầu gà đít vịt” khỏi chê. Tầu lai Miên tụi nó đẹp lắm.” Tôi nói.

            _ “Anh biết những nơi vua Gia Long bỏ cung nữ mà “tẩu quốc” chớ, con gái cũng nổi tiếng mà.” Trắc hỏi tôi.

            _ “Một là Thới Bình, ở Chương Thiện, hai là Nha Mân, Sadec. Hai nơi nầy, bị Nguyễn Huệ đuổi riết, Nguyễn Ánh chỉ kịp “dông” có một mình, bỏ lại bầu đoàn thê tử”. Tôi giải thích.

            _ “Đẹp lắm phải không?” Đông hỏi.

            Trắc chọc quê Đông:

            _ “Hễ nghe có con gái đẹp là mầy nhào dzô!”

            _ “Nhào vô mà chết. Con gái Nha Mân thì tui không rõ. Tui chỉ đi qua. Con gái Thới Bình thì tui biết rõ hơn. Tui hành quân ở đó năm, bảy ngày là thường. Mặt thì đẹp mà tay thì bị phung.” Tôi giải thích.

            _ “Phung là cùi hả?” Trắc hỏi.

            _ “Gì nữa! Tụi nó hai che hai bàn tay, không cho mình thấy bị cùi. Có “lời nguyền” đó. Anh nào dính vô rồi quất ngựa truy phong là coi như đời tàn. “Tài sản” của vua chúa mà, có yểm bùa. Vô là dính ngay.” Tôi nói.

            _ “Cha nầy nói dốc không. Để tui về Thới Bình một lần, coi thử ông Gia Long làm chi tui.” Đông nói cứng, như tính tình của Đông thường vậy.

            Một lúc, tôi hỏi:

            _ “Mấy “ông” sang đây, có ai về Việt Nam chưa?

            _ “Về thì có về. Về rồi thì buồn nhiều hơn vui. Bà con lần hồi cũng xa đi. Ai rảnh rổi đâu mà nhớ cố hương như mình. Không còn cái tâm trạng “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” (1) như Nguyễn Bính nữa. Tất cả đều cuốn hút. Nghèo thì lo cơm gạo, giàu thì lo kiếm thêm tiền. Bằng cách nào cũng được, miễn có ăn, có tiền. Không còn lương tâm. “Lương tâm đem chặt ra hầm, Chồng chan vợ húp khen thầm là ngon.” Chiểu nói có vẻ chán nản.

            Tôi xác quyết:

            _ “Văn hóa vô sản mà ông. Người ta gọi là “Văn hóa Chí Phèo” đấy. Có điều người Cộng Sản muốn độc quyền chính trị nên họ đẩy dân chúng vào hoàn cảnh, ngoài “cơm áo gạo tiền” ra, người dân không còn thì giờ nghĩ đến chuyện khác nữa.”

            Trắc góp ý:

            _ “Ở bên Mỹ nầy, việc cai trị cũng từ bọn “chuyên nghiệp chính trị” vậy. Ai không có cái “chuyên nghiệp” ấy làm sao ứng cử, đắc cử. Mỹ cũng cần phải có những cuộc cách mạng về chính trị vậy. Hiến pháp thì giữ, nhưng bọn làm chính trị cần thay đổi.”

            _ “Tui đồng ý với ông đấy!” Tôi góp ý.

            Đông lại hỏi:

            _ “Việt Cộng tống bọn mình đi HO, để rộng đường cho chúng nó tự tung tự tác chớ gì?’

            _ “Từ ý nghĩa của ông, tui thấy cần đặt lại vấn đề con cái cán bộ du học ở Mỹ.” Tôi nói.

            _ “Anh muốn đuổi tụi nó về!” Trắc hỏi.

            _ “Đâu phải! Đào tạo chuyên viên là điều đất nước cần để phát triển. Ai lại muốn đất nước mình chậm tiến! Mai mốt bọn chúng trở về phục vụ đất nước.” Tôi trả lời.

            _ “Tụi nó vừa hồng vừa chuyên anh ơi! Trông mong gì!” Đông nói với giọng không vui.

            _ “Với Cộng Sản, đất nước là phải khép kín. “Ông” không nghĩ khi tiếp xúc với xã hội Tây phương, tụi nó không “giác ngộ” hay sao? Phản tuyên truyền! Khi bị phản tuyên truyền chúng nó sẽ chống lại chế độ.”

            _ “Cũng có đứa thôi! Vì quyền lợi, chúng nó sẽ như nhau hết!” Trắc nói.

            _ “Đó là điều đáng buồn. Dưới thời Tây đô hộ mà còn đỡ. Tháng 8 năm 45, cách mạng bùng nổ khắp nơi. Rồi Nam Bộ Kháng Chiến, Kháng chiến giành độc lập. Đó là tinh thần của giới thanh niên cuối thời Pháp thuộc. Bây giờ, không tìm đâu ra cái tinh thần đấu tranh và hy sinh đó. Thanh niên bây giờ bị chính quyền xô đẩy vô con đường hưởng thụ, ăn chơi, làm gì còn những người có lý tưởng, có chí khí. Thanh niên như thế thì khi nào chế độ Cộng Sản mới sụp đổ; còn lâu lắm. Chính sách cai trị độc thiệt.” Tôi than thở.

            _ “Bọn nó qua du học rồi tìm cách ở lại hết. Chán chưa!” Đông nói.

            _ “Cha mẹ bọn nó dạy đó. Ở lại đây để hưởng thụ tài sản đã đánh cắp, đã cướp được ở Việt Nam.” Tôi góp ý.

            _ “Kỳ thiệt! Đúng là Cộng Sản Bắc Việt! Từ ngoài kia, vô giành đất nước của người Miền Nam, đuổi người Nam đi để mặc sức tung hoành. Rồi bây giờ lại muốn bỏ mà đi nữa, để đất nước lại cho ai? Chúng nó đuổi mình đi rồi chúng nó đi theo.” Trắc thắc mắc.

            _ “Bà Bùi Bích Hà, bả kể. Năm bà tới Công An để làm giấy tờ đi Mỹ, tên Công An nói: “Chị đi đâu! Hai mươi năm nữa tôi gặp chị bên ấy.”  Tôi kể lại câu chuyện nghe trên đài VNCR.

            _ “Nó huênh hoang đấy. Hai mươi năm nữa Mỹ sẽ thua Cộng Sản. Nó qua Mỹ để cai trị dân Mỹ chớ gì? Hoang tưởng.” Đông nói vẻ tức giận.

            _ “Cai hay không cai không cần biết. Ở Mỹ, già như bọn mình làm chi mà giàu. Còn tụi nó đi Mỹ, mang theo hàng chục, hàng trăm triệu đô, không sướng hơn mình hay sao?” Trắc giải thích.

            _ “Dĩ nhiên! Họ không cần ai hết. Họ chỉ cần họ. Sợ Tầu, họ lo dọt trước, mặc cha nhân dân. “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi.” Đông nói giọng chán nản.

            _ “Người Việt ở hải ngoại nên giang tay đón tụi du học sinh, giúp nó học hành, làm sao cho tụi thấy cái gì là dân chủ, là tự do thật sự, làm sao cho tụi nó “hồi chánh”. Vai trò của tụi nó trong việc lật đổ chế độ là quan trọng lắm đấy. Đứa nào học xong, trang bị “hành trang” cho nó, khuyến khích nó trở về với đất nước, với đồng bào, đem cái sở học của mình và lý tưởng tự do dân chủ phục vụ dân tộc.” Tôi góp ý.

            _ “Khó lắm anh. Đời bây giờ mà nói như anh là đi đường ngược chiều rồi anh ơi!” Đông nói với vẻ bi quan.

            Nghe Đông nói, ai không thở dài.

            Một lúc sau, tôi lại nói tiếp:

            _ “Cộng Sản bây giờ, nếu ai có chút lòng yêu nước, thương dân thì kẹt lắm.”

            _ “Kẹt là sao?” Trắc hỏi.

            _ “Những thằng tính đường “hốt hụi dông luôn” thì không kể. Còn những người thương dân, vì dân, thì khó xoay xở lắm. Chống Tầu, không dễ đâu. Giết Lương Minh, Liễu Thăng xong rồi, Lê Lợi phải giảng hòa, cho đúc “đại thân kim nhân” để thế mạng hai thằng tướng cướp. Vua Quang Trung phải cho Phạm Công Trị làm giả vua mà qua Tầu để cho yên mặt Bắc, chờ khi nước ta giàu mạnh rồi, vua sẽ đòi lại đất Lưỡng Quảng. Bây giờ bọn Hà Nội có cương với Tàu được không? Cương cũng kẹt, không cương lại kẹt hơn; làm sao mà “giải tội” với lịch sử. Dựa vào Mỹ mà chống Tầu thì cũng phải lựa thế Mỹ. Cái gương Việt Nam Cộng Hòa bị Mỹ phủi tay còn sờ sờ ra đó, đâu dễ quên được.” Tôi giải thích.

            _ “Vậy theo ý anh thì sao?” Đông nôn nóng hỏi.

            _ “Tui nhớ khoảng năm 1961, ông thầy tui, giám đốc nha học chánh, được đi một vòng “du hành quan sát” nước Mỹ. Về tới nơi, ông ta nói với chúng tôi: “Tổng thống Mỹ chỉ là tham mưu trưởng, đâu phải tư lệnh.” Tôi hơi sáng mắt ra, chỉ hơi sáng thôi! Từ đó về sau, tôi suy nghĩ câu nói nầy hoài: Tham Mưu Trưởng. Vây Tư Lệnh là ai? Là những người ở phía sau Bạch Ốc, là đám “đại xì thẩu” ở Mahattan phải không? Đám nầy phần đông là dân Do Thái. Đám tài phiệt nầy làm đủ chuyện trên đời, miễn tiền sinh lợi thì thôi: Buôn bán chiến tranh, buôn bán vũ khí, đầu tư các mỏ dầu khắp thế giới và buôn tiền… Năm 1975, khi Saigon sắp mất, Kissinger đang ở Ai Cập, bàn chuyện hòa bình giữa Sadat với Rabin. Phải ổn định Trung Đông để buôn dầu; bỏ cho Miền Nam chết vì cắt viện trợ, thiếu tiền mua súng đạn. Bây giờ Mỹ có trở lại Đông Nam Á, phải nắm áo Mỹ để chống Tầu. Nhưng thật ra, Mỹ Tầu có chống nhau thực sự không, hay chúng “bài ba con” với nhau? “Chủ nghĩa Nước Lớn” mà. Tầu, Nhật, Ấn Độ, Mỹ… là nước lớn. Châu Âu phải kết hợp thành “Cộng Đồng Châu Âu” để thành nước lớn. Chia nhỏ ra là chết sớm. Nhược tiểu như nước mình bao giờ cũng kẹt. Phải vươn thành nước lớn thì bọn tài phiệt mới nễ mặt, như Đại Hàn vậy.” Tôi nói.

            _ “Đại Hàn bây giờ cũng muốn bắt tay với Tầu. Tình hình thế giới bây giờ nó phải vậy.” Trắc đồng ý với tôi.

            _ “Tui có ý nghĩ nầy, nói ra chắc thiên hạ cho tui là thằng khùng?” tôi nói.

            _ “Khùng sao? Sống với anh trong trại tù, đôi khi tôi cũng thấy anh khùng rồi. Đợi chi thiên hạ nói.” Đông vừa cười vừa nói.

            _ “Không! Ý tui là như thế nầy! Mình là nhược tiểu. Hiệp định Paris là thằng Mỹ muốn bỏ mình. Tại sao hồi đó mình không bỏ thằng Mỹ mà cầu cứu thằng Tầu?” Tôi nói.

            _ “Chết anh à! Không được đâu! Anh thấy cái gương anh em ông Diệm không? Chết thảm trong xe M-113.” Trắc nói.

            _ “Nói không dám thì tui nghĩ tông tông Thiệu không dám. Cứ ngơm ngớp sợ đảo chánh thì ông Thiệu không dám làm là đúng. Tui có quen một người, môt ông trung tá, cũng “dân Quảng Trị” tui. Ông từng làm việc trong Phủ tổng Thống, có lần ông nói oang oang: “Tui ở Sư Đoàn 1. Tui biết ông Tổng Thống rõ lắm, khi ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn. Mỹ nói chi, ông nghe nấy!” Tôi nói.

            Một lúc sau tui nói tiếp:

            _ “Sợ Mỹ, bộ không ai dám làm như cụ Phan Bội Châu sao? Tây cai trị rồi, cụ Phan còn qua Nhật xin cầu viện. Bộ Tây bắt được, không chém đầu cụ Phan sao?

            _ “Tui cũng nghĩ như anh.” Đông góp ý. “Bùi Viện lệnh ở đâu, mà cũng qua Mỹ xin Mỹ giúp đánh Tây. Miền Nam mình, thiếu một “Lê Lai cứu chúa”, đành chịu chết chìm.

            _ “Thằng Tầu không muốn Bắc Việt hay một Đông Dương mạnh lên đâu. Gây mâu thuẫn, giữ sự tồn tại hai miền Nam Bắc là làm cho Việt Nam yếu đi. Âm Mưu nầy khá rõ đấy. Hồi hội Nghị Genève 1954, trước mặt Phạm Văn Đồng, Chu Ân Lai chuyện trò với ông Ngô Đình Luyện, hình như có mời ông Luyện qua Tầu. Trước 1975, có người Tầu từ Lục Địa qua Đài Bắc, gặp ông Nguyễn Văn Kiểu, chắc là không phải “”để làm quen” đâu. Có chuyện gì đó mà “xù”luôn.” Tôi kể.

            _ “Bắt tay với thằng Tầu để làm chi?” Trắc hỏi.

            _ “Bắt thằng có tóc, ai bắt trọc đầu. Bắc Việt xâm lăng miền Nam là vì quyền lợi Nga Tầu. Tầu cũng sợ thằng Nga nắm được Hà Nội nên muốn giữ Miền Nam được tồn tại. Phải không?”

            _ “Thôi bỏ đi Tám! Chuyện cũ qua rồi. Nhắc lại có ích gì. Bọn mình già rồi, có “Mài kiếm dưới trăng” (2) thì cũng đem cất mà thôi.” Đông muốn kết thúc.

            _ “Thế giới bây giờ như Đông Châu Liệt Quốc bên Tầu hồi xưa. Thằng Tầu mà nó mạnh lên, làm Tần Thủy Hoàng thì Mỹ cũng xong đời. nói chi Việt Nam./

hoànglonghải

  • Xóm Ngự Viên

Lâu nay có một người du khách
Gió bụi mang về xóm Ngự Viên
Giậu đổ dây leo suồng sã quá
Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng

Buồn thu rơi nhẹ đôi tờ lá
Xóm vắng rêu xanh những lối hè
Khách du lần giở trang hoài cổ
Mơ lại thời xưa xóm Ngự Viên.

Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển
Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?
Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng Phấn
Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên

Cung tần mỹ nữ ngời son phấn
Theo gót nhà vua nở gót sen
Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm
Cung nữ đa tình vua thiếu niên

Một đôi công chúa đều hay chữ
Hoàng hậu nhu mì không biết ghen.

Đất rộng can chi mà đổi chác
Thời bình đâu dụng chước hòa Phiên

Mẫu đơn nở đỏ nhà vua nhớ
Câu chuyện: “Hô lai bất thượng thuyền”

Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển
Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?

Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên
Mười năm vay mượn vào kinh sử
Đã giả xong rồi nợ bút nghiên

Quan Trạng tân khoa tàn tiệc yến
Đi xem hoa nở mấy hôm liền
Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó
Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên

Thắp hương tôn nữ xin trời phật
“Phù hộ cho con được phỉ nguyền”.

Lòng Trạng lâng lâng màu phú quí
Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên

Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy?
Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nhìn.

Trạng bắt sai rồi, lầu rủ sáo
Có người đêm ấy khóc giăng lên

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc
Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền?

Khách du buồn mối buồn sông núi
Núi lở sông bồi cảnh biến thiên

Ngự viên ngày trước không còn nữa
Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên

Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng!
Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên

Tôn nữ ngồi đan từng chiếc áo
Dân thường qua lại lối đi quen.

Nhà cửa xúm nhau thành một xóm
Cay nồng hơi thuốc lẫn hơi men

Mụ vợ bắc nam người tứ xứ
Anh chồng tay trắng lẫn tay đen
Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa
Khúc “Hậu đình hoa” hát tự nhiên.

Nhọc nhằn tiếng cú trong thanh vắng
Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn…

Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.

Cảm hoài   – Đặng Dung

Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Bản dịch của Phan Kế Bính

Việc đời bối rối tuổi già vay,

Trời đất vô cùng một cuộc say.

Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.

Vai khiêng trái đất mong phò chúa,

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày

Hồi ký tù cải tạo

Người về…

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 3 May 2016

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Người về…

Bài 33

Mẹ có hay chăng con về,

Chiều nay thời gian đứng im để nghe…”

Người Về/ Phạm Duy

            Võ Phước Thọ được tha ra khỏi trại cải tạo, chưa được một năm thì qua đời! Anh em bạn tù cũ nghĩ rằng, khi còn trong tù, Thọ tham gia “Hội Nhân Quyền Việt Nam” của luật sư Trần Danh San, vô ra “cát xô” nhiều lần, “như cơm bữa”. Mỗi lần bị nhốt như thế, Thọ đều bị Công An “đánh hội đồng”, khiến Thọ bị “bệnh hậu”, gan ruột bị hư. Cái chết của Thọ là do những trận đòn tàn ác của Việt Cộng.

            Trước 1975, Võ Phước Thọ, thiếu úy Cảnh Sát Quốc Gia, ngành Đặc Biệt, phục vụ ở Kontum. Theo lệnh Tổng Thống, anh theo đơn vị di tản về Pleiku, và thoát chết mấy lần trên Quốc Lộ 7.

Tôi không rõ vợ con Thọ như thế nào, ngoài một lần, Thọ rút ví cho tôi xem một bức hình một cô gái còn trẻ lắm, khá đẹp, nói: “Vợ em!” Thọ không nói gì thêm, nên tôi không rõ, vợ Thọ hiện ở hải ngoại, hay qua đời; còn như ở Saigon thì không, vì Thọ không được ai thăm nuôi, kể từ khi Thọ vào tù. Thọ kém tôi khoảng mười tuổi.

            Khi ở “Trại Đá”, gặp luật sư Trần Danh San, Thọ rất ngưỡng mộ ông luật sư nầy, tích cực tham gia “Hội Nhân Quyền VN” của ông San, và được ông San cử giữ chức “an ninh” nội bộ, mục đích là theo dõi mấy tên “ăng-ten” sợ chúng theo dõi công việc của “Hội” và lén lút báo cáo cho Công An. Cũng may, chưa thấy ông San bị ai báo cáo gì. Công An có theo dõi ông, cũng vì những hoạt động của ông từ ngày ông bị bắt ở bùng binh trước Nhà Thờ Đức Bà Saigon.

            Một người “tù già”, cùng trại tù với tôi, hơn tôi cỡ năm bảy tuổi gì đó, thương Thọ. Sau khi cả hai người ra tù, ông “tù già” gã con gái cho ông “tù trẻ” – trẻ là nói theo nghĩa tương đối – Anh em bạn tù nói với nhau là Thọ mới cưới vợ, nhưng không ai được mời “ăn đám cưới” cả.

Thọ thì nghèo đã đành, mà gia đình ông “tù già” có lẽ cũng không khá hơn. Thọ đã lớn tuổi – mười năm tù không những lớn tuổi mà già hẳn đi. Cô con gái con ông “tù già”, vì gia biến, chắc cũng lỡ thời. Có lẽ vì vậy mà họ làm đám cưới đơn giản cho nó xong, đáng thương hơn cả cô gái trong “Mầu tím Hoa Sim” của Hữu Loan nữa: “Nàng không đòi may áo cưới”. Thời Việt Cộng “ngăn sông cấm chợ”, may cái áo cuới đã không dễ gì, huống chi đám tiệc, nên các bạn tù cũ không ai được mời “ăn đám cưới” cũng dễ hiểu thôi!

            Tưởng cưới vợ cho nó xong, bớt “lông bông”, có nơi ăn nơi ở, có người để yêu thương, đầm ấm, ai ngờ số phận Thọ đau đớn đến như vậy. Lấy nhau chưa được bao ngày thì Thọ ra người thiên cổ. Cô gái đã mang cái “dấu ấn gái già” nay mang thêm một “dấu ấn” khác nữa trong đời: góa chồng.

&

            Sau hôm tôi gặp Nguyễn Tăng Dục, “nhạc sĩ tù ca”, què một chân, Dục cho tôi địa chỉ của Trắc, cho biết Trắc “mới về”.

Lại nghe bao nhiêu chuyện buồn của Trắc, cũng là một “Người về”. Tôi cũng được Trắc báo tin Thọ qua đời.

&

            Trước ba mươi tháng Tư, Trắc cho vợ con “di tản” trước. Anh ở lại, chờ mẹ: Mẹ anh đã chạy vô Saigon rồi, trước khi Phan Rang mất vào tay giặc. Nhưng rồi bà nghe lời vợ đại tá Tự, Trần Văn Tự, (con trai nhà Cách Mạng Đệ Tứ Quốc Tế Trần Văn Thạch, bị Trần Văn Giàu thủ tiêu năm 1945), trở lại Phan Rang. Bà Tự thì “đi tìm chồng” vì ông đại tá Tỉnh Trưởng còn ở ngoài ấy, không “di tản chiến thuật”, còn bà mẹ Trắc thì “quyến luyến” mồ mả ông bà, quê cha đất tổ. Vậy là cả hai bà kẹt ngoài ấy, khi Việt Cộng chiếm Phan Rang.

            Trắc không theo vợ con “di tản”. Anh ở lại chờ mẹ. Sau Ba mươi tháng Tư, Trắc “đóng tiền đi ở tù” như anh em chúng tôi vậy.

            Khi Trắc được tha về thì nhà không còn. Ngôi nhà lầu một tầng, sát đường Hồng Thập Tự, trong khu vực trại gia binh Mạc-Ti-Nho, bị Việt Cộng chiếm mất.

            Trắc về, không ở nhà mẹ vợ được, mặc dù, khi Trắc “đắc thời”, cả gia đình vợ nhờ Trắc không ít. Sau lưng nhà vợ, Trắc có một ngôi nhà nhỏ nữa, về sau, anh ta bán để lấy vốn tìm kế sinh nhai.

            Ở tù về ít lâu, Trắc về Tri Thủy thăm mộ mẹ! Bà cụ chết trước khi Trắc được tha khoảng hơn 5 năm, chôn ở quê. Đám ma của mẹ do bà chị và ông anh rể của Trắc đứng ra lo liệu hết. Trắc chỉ được báo tin khi bà chị Trắc vào thăm em: “Mẹ qua đời rồi! Chị lo hết cho mẹ.” Trắc chỉ biết khóc thầm, những tưởng không di tản để gần mẹ. Trắc thương mẹ lắm, vì mẹ Trắc góa bụa khi bà còn trẻ, ở vây nuôi con.  Không “di tản” để được sống gần mẹ, chăm sóc cho mẹ, ai ngờ khi Trắc ra tù, đành ngậm ngùi mà hát câu “Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời” khi nghĩ đến mẹ. Trắc kể: “Ngồi bên mộ mẹ, tui nhớ câu hát của Trần Văn Trạch: “Má ơi! Má ơi! Con dzề đây Má ơi!” mà chảy nước mắt.”

            Trước hôm Trắc về Phan Rang, ghé tôi nói: “Anh cho tui mượn hai chỉ vàng. Đi Phan Rang về tui trả lại anh. Ai ngờ anh ta đi biền biệt gần nửa năm không thấy mặt. Hỏi em gái cô Tú Trinh, cô ta chỉ nhà. Tới thăm, tôi thấy Trắc nằm liệt.

            Hỏi ra, Trắc kể:

            _ “Về làng thăm mộ xong, hỏi thăm bạn bè cũ, phần đông tụi nó lên vùng phía Tây Phan Rang, đứa làm rẩy, đứa chăn nuôi. Tôi tìm lên chơi với tụi nó. Anh biết không, thấy tụi nó nuôi ngựa, tui làm “cao-bồi” phi ngựa chơi. Ba bốn đứa phi ngựa phóng qua phía dưới một cành cây, đu lên cành, cho ngựa chạy không. Tôi cũng phi như tụi nó. Tôi phóng lên nắm cành cây, bỗng vuột tay, rơi xuống. Ngày hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi mới biết tôi nằm ở bệnh viện Phan Rang. Anh chàng bác sĩ Việt Cộng điều trị cho tui, cũng điệu đời. Biết tôi là cháu “Tông Tông”, anh ta cho xe đưa tôi vô Chợ Rẫy, nằm hết một tháng cũng chưa lành hẳn.”

            Vậy là coi như tôi “bay” mất hai chỉ vàng, chỉ biết “cười trừ” với vợ.

            Trắc nhờ một người bạn cũ đòi lại căn nhà lầu phía ngoài đường Hồng Thập Tự. Người bạn đó hiện là giám đốc sở Thông Tin Văn Hóa Thành phố. Cảm tình với người bạn cũ ăn ở hết tình với bạn, người bạn ấy giúp Trắc lấy lại căn nhà, bởi vì trước khi nhập ngũ, Trắc sinh hoạt trong Tổng Hội Sinh Viên Học Sinh Saigon.

Bấy giờ ông Nguyễn Văn K., anh của Tông Tông, làm Tổng giám đốc Tổng nha Thanh niên, cậu mà cũng là cha nuôi của Trắc, nên Trắc thường đến xin giúp đỡ phương tiện để sinh viên, học sinh thực hiện các công tác cứu lụt miền Trung, miền Tây, các vụ hỏa hoạn, nạn nhân chiến cuộc, v.v… Trắc thường hoàn tất tốt đẹp công việc, được các bạn cảm mến, trong đó có Trung, Việt Cộng nằm vùng, bí thư chi bộ học sinh sinh viên Saigon. Khi người bạn nầy bị bắt giam ở Chí Hòa, vì tình bạn học cũ, vì cùng sinh hoạt chung trong các công tác cứu trợ, Trắc vào thăm bạn ngay trong khám. Nhờ cái “chí tình” đó, không vụ lợi, không mưu đồ chính trị, mà Trắc được giúp đỡ đòi lại được nhà.

            Kể xong câu chuyện, chợt nhớ bạn tù cũ, Trắc nói:

            _ “Thằng Đông có vô! Nó đi buôn đường dài Saigon – Đà Nẵng. Hễ vô tới đây là rủ nhậu. Để khi nào tui rủ anh tới nhậu cho vui”.

            Dương Tiến Đông là người tôi khó quên: Năng động, lanh lợi, hoạt bát và có “máu buôn bán”, như tôi kể chuyện “buôn bán” của anh ở mấy bài trước. Đông thuộc dòng dõi “Dương Hiển Tiến”, một trong “ngũ phụng tề phi” của xứ Quảng. Bố anh ta làm thầu khoán  xây cất, giàu có. Năm “cụ Ngô” mới về nước làm thủ tướng, thăm Đà Nẵng, tòa Đô Thị Đà Nẵng phải mượn xe hơi của bố ông, chiếc xe sang và đẹp nhất Đà Nẵng thời ấy, để “đón Ngô Thủ Tướng.”

Bố anh “di tản”qua Mỹ trước khi mất Saigon với cô vợ trẻ, để lại vợ lớn và hầu hết con cái. Điều “trái cẳng ngỗng” hơn nữa, chị gái của Đông là vợ “nhà thơ” Phan Duy Nhân, tức tên Việt Cộng nằm vùng Phan Chánh Dinh, con trai ông già kéo “ghi” ở ga xe lửa Đà Nẵng. Đông nói: “Thằng cha ấy” theo Việt Cộng vì mặc cảm con nhà bần hàn.”

&

            Gặp nhau, Đông vừa vui vừa buồn. Anh ta vẫn nhớ tôi, vẫn mong gặp lại tôi, vừa buồn vì cái chết của Võ Phước Thọ.

            Hôm Đông từ Đà Nẵng vô Saigon, Trắc xuống tìm tôi. Dĩ nhiên, Đông tổ chức một buổi nhậu tại ngôi nhà sắp bán của Trắc.

            Tôi hỏi:

            _ “Này! “Ông” Trắc, có ngại gì Công An khu vực không?”

            _ “Không! Trắc trả lời. Thằng nầy cũng tham ăn lắm, tui kẹp cổ nó từ lúc mới về được ít lâu.”

            Trong khi tôi và Trắc ngồi chờ thì Đông giao hàng, xong, mua đồ nhậu. Tôi báo cho Trắc một vài tin buồn:

Anh Lã Trung Tâm, chúng tôi thường gọi đùa là “ông già ham vui”, được tha sau tôi mấy tháng, về, vợ còn giữ cho cái xe Vespa standard cũ, chạy long vòng chơi hằng ngày, chẳng lo no đói gì cả. Một bữa đi nhậu về, say, nằm ngủ, sáng hôm sau đi luôn. Một số anh em bạn tù cũ, có đến đưa đám. Coi vậy mà đời ông nầy thật… khỏe.

            Lê Quang Dung, cũng được tha sau tôi ít lâu. Về nhà, tình trạng khá bi đát. Hai đứa con trai, gởi về quê cho bà nội nuôi giúp. Hai vợ chồng không nuôi nỗi con. Khi tôi trốn ở căn phòng nhỏ gần “Cổng xe lửa số 6”, nhờ Dục cho địa chỉ, anh ta đến thăm. Hôm sau, Dung đem lại cho tôi mười cây thuốc lá Hoa Mai giả, nhờ “tiêu thụ” giùm. Tôi không từ chối được, phải nhận, rồi đưa cho người em gái tôi ở Cư Xá Thanh Đa, nhờ bán giúp cho Dung. Nhờ quen mấy người “buôn đường dài” Saigon – Sóc Trăng, mười cây thuốc Hoa Mai “đi” dễ dàng, tôi đem tiền lại cho Dung. Tháng sau, Nguyễn Phước Tần báo cho tôi Dung qua đời rồi. Một hôm, đói quá, Dung xỉu ngay gần cầu Khánh Hội, được người quen đưa về nhà. Đêm đó, Dung “đi” trên tay vợ.

            Ngọc “xùi”, người thường than với tôi thằng chủ tịch phường thường tỏ ý cua kéo vợ anh ta. Chủ tịch phường nói: “Chồng mày không về được đâu! Mày còn trẻ, lấy chồng đi.” Có nghĩa là lấy y, làm vợ bé.

Ngọc “xùi” ngây thơ cứ hỏi tôi: “Mệ Hải, đúng ra nó phải khuyên vợ tôi tin tưởng vào cách mạng, có ngày khoan hồng cho tôi về. Tại sao y lại nói thế.” Tôi cười cười: “Nó khuyên vợ mầy chờ chồng, để khi mầy được tha, hai vợ chồng hợp sức “chống phá cách mạng” à? Tụi nó phải đập nát gia đình những “thằng ngụy” như bọn mình ra. Bọn mình được tha ra là “cùi”, gia đình tan nát, thì làm sao mà chống phá cách mạng” được? Thằng phường trưởng đó thi hành đúng “đường lối chính sách” của đảng nó đó. Đừng suy nghĩ chuyện ấy vô ích.

            Sau 7 năm, Ngọc “xùi” được tha rồi không nghe tin tức gì anh ta cả, không biết bây giờ “gia đạo” như thế nào!

            Trong khi chờ Đông về, Trắc pha cà phê cho cả hai chúng tôi. Tôi hỏi:

            _ “Ông có dự trù vượt biên không?”

            -Thiệt xui! Anh à. Chắc là cái số tui không xa xứ được.Tụi bạn nó tổ chức, tui chỉ góp chút đỉnh. Trên đường ra “con cá lớn”, chiếc “tắc ráng” đưa tui đi bị hỏng máy. Thằng chạy tàu đò lui cui sửa làm sao mà cái vít lửa rơi xuống nước. Làm sao tìm lại được? Vậy là đành trở lui. Xui thiệt! Rồi tui làm hồ sơ gởi lén qua Bangkok. Thế nào cũng được đi.”

            _ “Đi đấy! “Ông” tin tưởng đi. “Giết không được, tha làm phước”. Đó là châm ngôn của kẻ ác.

            _ “Anh nghĩ số được đi có đông không? Loon lá như bọn mình có đi được không, hay phải “quan to súng dài” mới được.

            _ “Mỹ là đầu sỏ “thế giới tự do”, chơi trò “đem con bỏ chợ” như Ba mươi tháng Tư thì chơi với ai. Riết rồi ai cũng sợ Mỹ bỏ rơi, ghét Mỹ. Nay họ phải làm một cái gì để gây niềm tin nơi người dân ở các nước khác. Nhờ đó, có thể có một số được đi, chỉ một số thôi.”

            _ “Sao chỉ một số?” Trắc hỏi.

            _ “Liệu Mỹ có nuôi hết mấy trăm ngàn người như bọn mình không? Qua tới bên đó bọn mình già hết, đâu có đi cày, làm bồi bếp… cho tụi Mỹ được, chỉ nuôi báo cô. Họ sẽ không cho đi nhiều.

            _ “Anh tìm đâu ra mà nói như vậy?”

            _ “Ông tính coi. Việt Cộng thì yêu cầu ai tù hai năm trở lên thì cho đi. Mỹ thì đòi phải năm năm tù mới được. Đang cù cưa, có thể chọn một con số ở giữa: ba năm hay bốn năm.”

            _ “Nếu hai năm thì đông lắm, Mỹ sợ cái gánh nặng quá! Còn Việt Cộng đòi hai năm là ý gì?”

            _ “Không giết được thì cho đi cho khuất mắt. Đi chỗ khác chơi để cho “người ta” làm “cách mạng”.

            _ “Vậy thì “tình dân tộc nghĩa đồng bào” là cái gì?”

            _ “Là cái để tuyên truyền. Chủ trương “đấu tranh giái cấp” thì làm sao có tình nghĩa. Có tình nghĩa là không đấu tranh được, nhất là khi chủ trương “cách mạng triệt để”. “Triệt để” cũng có nghĩa là “cạn tào ráo máng đó “ông”.

            Trắc nói:

            _ “Chí Phèo thì chỉ có hận thù. Mà cũng buồn cười anh biết không? Trước khi tù cải tạo, bọn mình biết gì về chính trị. Bây giờ thì ông nào cũng rành, “giảng bài” rang rảng như giáo sư đại học.”

            _ “Cộng sản họ cũng nói nhà tù là trường đại học mà. Đời tù đẩy bọn mình vô cái thế phải “học tập chính trị”.

            Bỗng Trắc nói qua chuyện khác:

            _ “Anh biết thằng Thịnh không?”

            _ “Nó đi “thăm lăng bác” hồi năm 1976 kia mà! Về chưa?”

            _ “Về rồi. Tui mới gặp nó cách đây mấy tuần. Nó gọi bà Hồ Điệp bằng cô đó anh!”

            _ “Bà Hồ Điệp chương trình Tao Đàn của Đinh Hùng phải không? Bà nầy ngâm thơ hay lắm.”

            _ “Thằng Thịnh nói bà cô nó vượt biên, mất tích đâu ngoài biển. Bà ngâm thơ hay mà đẹp nữa.”

            Tôi thấy lòng bùi ngùi. Một người đẹp, tài hoa như thế mà bỏ xác ngoài biển khơi, làm mồi cho cá! Mộc lúc sau, tôi buột miệng đọc câu thơ của Mạc Đĩnh Chi: “Vân Tán -Tuyết Tiêu – Hoa Tàn – Nguyệt Khuyết”. (1)

hoànglonghải

(1)-Khi cụ Trạng Mạc Đĩnh Chi đang đi sứ bên Tầu, thì có một công chúa nhà Nguyên chết, cụ Trạng được chọn thay mặt cho sứ các nước, đọc văn tế.

Bộ Lễ của Tàu trao cho cụ Trạng một tờ giấy chỉ có 4 chữ Nhất.

Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đọc ngay:

Thiên trường nhất đóa vân

Không trung nhất điểm tuyết

Lãng uyển nhất chi hoa

Quảng hoà nhất phiến nguyệt

Y, vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết

Nghĩa:

Một đóa mây trên trời,

Một giọt tuyết trong không trung,

Một cành hoa trong vườn thượng uyển,

Một mảnh trăng trong cung quảng hàn.

Than ôi: Mây tan, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết.

Hồi ký tù cải tạo

Ngày Về…

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted 31 Apr 2016

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Ngày Về…

Bài 32

Ngày trở về

Anh bước lê, trên quãng đường đê…

Tôi được “tha ra khỏi trại cải tạo” (câu ghi trong lệnh tha) ngày 2 tháng 7 năm 1982.  Tính từng ngày là 7 năm 8 ngày, nhưng vì năm 1976, 1980 là năm nhuận, nên phải cộng thêm 2 ngày. Do đó, tính ra là tôi ở “Tù Cải Tạo” đúng 7 năm 10 ngày. Tôi tính kỹ, không phải để “hận thù” như người Cộng Sản chủ trương hận thù, mà chỉ là, như người xưa nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.

            Lệnh tha ghi mấy câu buồn cười: gọi là “Học Tập Cải Tạo”, nhưng có câu: “tha ra khỏi Trại Cải Tạo”. Ghi như vậy là mâu thuẫn. Đã là “tha” thì còn “học tập” gì nữa! Tha là tha khỏi trại giam, trại tập trung, chớ ai lại tha ra khỏi… trường học bao giờ!

            Nhớ hồi tôi mới về Trại Suối Máu, năm 1976, nghe bạn tù cải tạo kể lại, khi bị đưa vô trại nầy để “học tập”. Linh mục Phan Phát Hườn, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo, nêu thắc mắc với “ông chỉ huy” ở trại (theo tôi biết tên là Phán, trung tá Bộ Đội Việt Cộng), rằng “đã gọi là “học tập” thì phải có “Ngày Khai giảng”, “Ngày Bế giảng” của khóa học, chớ sao lại không có qui định thời gian nào cả. Vậy đây là Trại Tù giam cứu hay Trường học Tập Cải Tạo?”

            Dĩ nhiên là mấy tay bộ đội ở đó phải ngọng luôn dù chúng có ngây thơ tin rằng đây chỉ là học tập, cải tạo, hay đây chính là trại tù!

Đây là cái bẫy do Cộng Sản giăng ra để “hốt trọn ổ” số “ngụy quân, ngụy quyền” của miền Nam. Cái bẫy nầy, có thể bọn to đầu như Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt ở trong Nam biết cả đấy. Có biết và dù không đồng ý đi nữa, thì cũng không làm gì được với đám Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở ngoài Bắc… còn như đám tép riu, cỡ như trung tá Phán, chỉ huy Trại Suối Máu,  thì giống như những người mù sờ voi, “sờ thấy sao thì hay vậy”.

            Điều buồn cười thứ hai là câu: “Can tội: Đại úy” vì cấp bậc của tôi trong chế độ cũ là “Đại úy”. Có người thì ghi Can tội: Trung úy, thiếu úy hay trung sĩ… Cấp bậc là một cái tội? Buồn cười chưa? Họ không nghĩ ra được một cái tội gì khác mà ghi hay sao? Hay tôi không có tội gì cả nên họ phải ghi “can tội đại úy”, ghi cho ghi vậy hay sao?

            Trương Đình Gòn, Đội trưởng Đội 19 là đội cũ của tôi nói: “Ghi gì kệ mẹ nó. Về cái đã.”

            Nhìn các bạn tù, biết cấp bậc và chức vụ của họ, người ta đoán chừng Cộng Sản VN có qui định hạn tù cho chúng tôi cả đấy, nhưng họ không nói ra, mục đích là để “tung hỏa mù”.

            Năm kia, năm ngoái, có mấy đợt tha: Tết (cũng là dịp “Thành lập đảng 3 tháng 2), giữa năm hay “Ba ngày nễ nớn” (Ba ngày lễ lớn – gọi là nễ nớn là chúng tôi có ý ghẹo mấy tên Công An, Bộ Đội nói ngọng, ngày 2 tháng 9 với ngày gì nữa, tôi cũng quên mất rồi, nhớ làm gì ngày lễ ấy), một số thiếu úy, trung úy đã được tha. Hồi đầu năm, nhân dịp Tết, cũng có một số cấp úy được tha.

            Như vậy, có thể đoán chừng rằng: Hạn tù của cấp thiếu úy, trung úy là 5 năm.

            Bây giờ, bảy năm – như tôi là 7 năm 10 ngày – là tới hạn tù của “bò tam” (tức đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa). Lượt tha nầy có Trương Đình Gòn, như tôi nói, cấp bậc là đại úy, Lê Quang Dung, và một số bạn tù nữa, cũng “can tội đại úy” cả.

            Dĩ nhiên cũng có trường hợp đặc biệt: Anh bạn Trần Phú Trắc, – đúng ra là là bạn với Hùng Móm, em tôi -, cũng đại úy, cũng Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia cấp quận, mãi tới 5 năm sau mới “được tha”, chỉ vì Trắc là cháu Tông Tông”. (Tông Tông là tiếng chúng tôi gọi đùa cái chức của Tổng Thống Thiệu đấy).

Dĩ nhiên, trại trưởng cũng có thể đề nghị giữ lại vài người, với lý do đặc biệt nào đó, chẳng hạn những “ông” khách không mời mà đến (thường xuyên) của cát-xô, tức là “mấy thằng ông nội” chống Cộng thường xuyên, thường trực, chống triền miên, chống mệt (mà không) nghỉ.”  như “ông Nguyễn Cẩm” thằng bạn nối khố của tôi, từ năm học lớp ba cho đến khi thành niên, hoặc có “thành tích trốn trại” như “ông” Nguyễn Lô. Hai “ông” nầy là “dân Quảng Trị tui” đấy.

&

            Sau tết, tôi đang ở Trại Ngoài, có khi gọi là Trại C, trại mới xây ở dưới chân đồi Phượng Vĩ, thì bỗng nhiên, một mình tôi bị chuyển vô Trại Cây, hay Trại B, là trại tôi đã ở khi tôi mới từ Trại Suối Máu bị chuyển về đây.

            Bất thần bị chuyển trại một mình, tôi buồn hơn lo. Tại trại cũ nầy, tôi có nhiều bạn, già hơn tôi cũng có, như cụ Niệm, như Ngô Văn Tăng, như anh Nguyễn Đình Niệm, như Giáo Sư Đào Quang Huy, trẻ tuổi hơn tôi thì vô số kể, đếm không xuể, cũ cũng nhiều mà mới “đi thăm Lăng Bác về” (câu thường gọi đùa mấy ông bị đày ra Bắc) mới về, cũng không thiếu chi. Cũng có một vài người tôi “quan hệ”, bị anh em can tôi, biểu đừng. Chẳng hạn trường hợp anh Trần Ngọc Nam.

Anh Trần Ngọc Nam, người trông như Tây lai, nguyên là Việt kiều ở Miên trốn về. Sống sót ở Miên sau vụ “cáp duồn” của Lon Nol, nhưng tới khi Khmer Đỏ cai trị, anh đem vợ con lên ghe chạy trốn, xuyên dòng Cửu Long mà về Việt Nam. Gia đình anh có nhiều người bị Khmer Đỏ giết. Anh hận xứ Chùa Tháp, hứa với lòng là không bao giờ trở về cái xứ man rợ đó nữa, mặc dù, như anh ta kể, hồi nhỏ, anh là bạn học của mấy ông hoàng, con của ông Hoàng Si-Ha-Núc, như Ranariddh. Có lần được anh bà Hoàng Monique cho theo ông hoàng con vào cung điện hoàng gia chơi.

            Tôi tin anh chàng Nam nầy bởi vì, đây là lần đầu tiên tôi nghe tới “tên cúng cơm” ông hoàng con nầy, cũng như Nam bảo rằng Bà Hoàng Monique là người Việt lai Tây – chuyện nầy ngày trước tôi có biết – và bà không được tấn phong hoàng hậu, việc nầy tôi mới nghe Nam nói.

            Tôi là người tò mò nên ưa nghe mấy chuyện đó cho vui, nhưng tôi “quan hệ” với anh ta là vì có lần anh bị bệnh trĩ, đi cầu máu ra nhiều quá. Nghe người ta nói tôi cũng bị bệnh trĩ, và nhà tôi có “tiếp tế” cho tôi mấy chai thuốc ta, cầm máu hay lắm, nên anh ta đến xin. Tôi cho anh ta thuốc ngay tức thì. Sau đó, anh ta lại mấy lần đem rau muống đến cho tôi. Người ta bình phẩm gì về Nam, tôi không nhớ, tôi chỉ nhớ đến những gì anh ta đối xử với tôi, nhất là khi tôi mang “khăn gói” chuyển trại, anh ta đến giúp tôi và khóc khi tôi mang vác đồ theo “cán bộ” đi ra khỏi trại. Tôi khó quên những giọt nước mắt của anh ta lúc đó.

            Trên đường đi vô trại trong, tôi cố giữ lòng bình thản, tự an ủi rằng đâu cũng là tù. Đã là tù thì kén chọn làm chi, và đếm xem thử xem tôi đã đi đủ “Chín tầng địa ngục” chưa! Chưa đủ “chín tầng” thì khoan nghĩ tới ngày về.

            Thật ra, bọn Công An chuyển tôi vô trại trong có lẽ vì họ sợ tôi trốn trại.

Trung Úy Đoan, là “cán bộ thường trực”, thường gặp tôi để nhờ tôi đóng sách. Sau đó, trung úy Đoan, vì là bộ đội chuyển ngành nên có mâu thuẫn với mấy tên trung sĩ Công An chính gốc – lớn lên thì vô Công An chớ không vô bộ đội trước như trung úy Đoan. Anh chàng thiếu úy Lại Xuân Hùng là Công An thành phố bì “đì” nên phải lên chỗ “rừng rú” nầy. Rừng rú là chữ của anh ta đấy. Mỗi lần Hùng gom thư của “trại viên”, thường là một bao lớn, Hùng biểu tôi khỏi đi lao động, ở nhà mang bao thư lớn theo anh ta ra Bưu Điện Gia Rây, rồi anh ta bảo “Anh đi ăn hủ tiếu đi. Tôi chờ.”

            Một hôm, tôi đang ngồi ăn hủ tiếu, Lại Xuân Hùng đứng chờ bên kia đường. Hai tên trung sĩ Công An của trại tôi, một tên là Khoái, tên kia là Nhâm vào quán. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi, hỏi tôi một cách khó chịu sao tôi lại ngồi ở đây. Tôi nói là tôi đi bỏ thư với Lại Xuân Hùng.

            Hôm đó hai tên nầy bị mấy thanh niên ở Gia Rây chọc quê. Vừa vào quán, thấy hai tên Công An, một anh gọi chủ quán:

_ “Cho tôi một cái nồi ngồi các cốc!”

            Anh thanh niên thứ hai tiếp theo:

_ “Cho tôi tô phở thịt chó.”

            Lại tới anh thứ ba:

_ “Cho tôi tô nước rửa chén!”

            Hai tên Công An vội bỏ ra khỏi quán. Có lẽ hai tên ấy “quê” với tôi đấy. Trước mặt tù thì hung hăng, phách lối; trước dân thì ngậm câm, sợ bị dân đánh cho! Tên Công An Khoái thì lùn, ác, hay bắt bẻ tù như mấy ông lý trưởng, chánh tổng trong các làng quê Việt Nam, thường được mô tả trong các tiểu thuyết của Tô Hoài, Ngọc Giao… Còn tên Nhâm thì hai môi tím thâm. Tướng nầy là tướng ác vô cùng!

Do những sự việc như vậy, mà tôi bị chuyển trại bất thình lình bởi vì cứ cái cách tôi “quan hệ” với trung úy Đoan và Lại Xuân Hùng như thế, tôi trốn trại rất dễ. Cũng có thể vì tụi nó “kênh” nhau mà “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan”.

            Thật ra, cũng khó chết oan. Vô trại trong, tôi bị “biên chế” vào một đội hầu hết là “dân đi thăm Lăng Bác” về, phần đông trẻ hơn tôi. Dần dần, tôi quen anh Trần Minh Hải, tức nhà thơ Cao Châu. Ông nầy đã tới Mỹ rồi, lại theo “Việt Nam Thương Tín” mà về, bị bắt đi tù, bị đưa ra Bắc, bị đưa về trại trong. Đêm đêm, chúng tôi nằm bên cạnh nhau, để “nói chuyện thơ” với nhau cho đời tù bớt… cô đơn. Trần Minh Hải lớn hơn tôi cỡ năm, ba tuổi.

            Trần Minh Hải, nguyên là thiếu tá QĐVNCH, không rõ đơn vị nào. Anh đắc cử làm xã trưởng xã Phan Thiết. Xã nầy lớn và giàu có, xã trưởng có xe hơi (xe của xã) để đi công tác.

Phan Thiết nguyên là thị xã, có một thời gian, thị trưởng là ông Phạm Ngọc Thìn. Bà Thìn là Huỳnh Khanh, nữ tài tử đầu tiên trong cuốn phim “Cánh Đồng Ma” của ông Đàm Quang Thiện, cũng là cuốn phim truyện đầu tiên của Việt Nam. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên, dân “Quảng Trị tui”, là con rễ ông bà Thìn. Hoàng Nguyên bị lật xe, tử nạn năm1973, khi còn phục vụ trong QĐVNCH.

            Trần Minh Hải nói với tôi anh biết câu chuyện tình nầy của Hoàng Nguyên. Hoàng Nguyên cũng bị dằn vặt không ít về chuyện tình của anh với cọ con gái “Chúa đảo Côn Sơn” khi anh ấy bị tù côn đảo. Hải cũng nói rằng Phan Thiết là “quê hương” của văn nghệ miền Nam, ý anh ta là có nhiều ca sĩ, nhạc sĩ xuất thân ở xứ nầy như Nhật Trường, Anh Khoa, Thanh Thúy…

Khi làm xã trưởng, Trần Minh Hải có xây một cây cầu tại thị xã, phía biển, “Để – như  anh nói – cho bọn trai gái hẹn hò nhau ra đó chơi”. Anh đặt tên cầu là “Đoạn Tình Kiều”, nhưng anh chưa thấy ai thất tình mà nhảy xuống cầu tự tử, như cô Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường vậy.

            Tối thứ Bảy, đội trưởng, nguyên là một thiếu tá Cảnh Sát, ngành Đặc Biệt, thường tổ chức hát nhạc vàng chơi. Họ kêu tôi hát, tôi từ chối. Trần Minh Hải bảo tôi:

_ “Đột nhiên anh tới đội nầy, tụi nó nghi là Công An gài anh vào để theo dõi tụi nó. Anh nên tham gia với tụi nó đi.” Tôi nghe lời.

            Tôi chưởi thề:

_ “Đ.m. Anh Cảnh Sát Đặc Biệt nào mà không đa nghi thì nên giải nghệ cho xong.”

            Có lần Cao Châu nói về Xuân Diệu, bảo rằng Xuân Diệu làm tình hay. Tôi phản bác:

_ “Sau 1954, ở miền Nam, nhiều tay làm thơ tình hay hơn Xuân Diệu nhiều. Xuân Diệu chỉ là “bắt chước.”

_ “Bắt chước sao?” Trần Minh Hải hỏi.

_ “Anh thấy đó. “Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine…” là bắt chước thơ Tây. Hồi đi dạy, tôi giảng cho học trò bài thơ “Đây Mùa Thu Tới”, có câu “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” là tôi chê dữ lắm. Cái đó là bản chất tiểu tư sản, giống như Nguyễn Văn Tý “Mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ” vậy. Sau nầy, Nguyên Sa làm thơ tình cũng hay, cũng chịu ảnh hưởng thơ Tây. Ông ta có mấy câu “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc”, cũng là tiểu tư sản, nhưng là cái tiểu tư sản học trò, không phải là của bọn thống trị xã hội, nghe cũng không tệ!”

_ “Vậy anh cho ông nào làm thơ tình hay?” Anh Hải lại hỏi.

_ “Vũ Hoàng Chương. Vũ Hoàng Chương sau 1954 thôi. Thơ tiền chiến có vẻ “show up” hơn là thơ từ trong trái tim mà ra. “Trước đây mười chín năm, Tôi vừa hai mươi tuổi, Em cũng vừa trăng rằm”… Nhưng trước 1945, ông có hai câu thơ hay lắm!”

_ “Hai câu gì?” Hải hỏi tôi.

            Tôi đọc:

                                    Em ơi lửa tắt bình không rượu,

                                    Đời vắng em rồi vui với ai?!

_ “Thì cũng tiểu tư sản vậy?” Anh Hải nói.

_ “Nhưng mà tiểu tư sản học trò. Học trò thì dễ thương! “Hỡi núi Nùng xưa với linh hồn Bách Thảo, Còn nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay. Làm học trò nhưng không sách cầm tay, Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ.” Đinh Hùng đấy! Tôi cũng một thời lang thang như vậy. Bọn bạn học của tôi thường gọi tôi là “thằng lãng tử”, “Bánh xe quay nhanh, Chiếc thân xe rung rinh…” ! Tui dân Quảng Trị, vĩ tuyến 17 mà Ba Mươi tháng Tư, tui đang ở Hà Tiên. “Bánh Xe Lãng Tử” của tôi đi xa nhất Việt Nam Cộng Hòa chớ gì?!… Phải không?”

            Trần Minh Hải nói:

_ “Anh có định kiến với giai cấp tiểu tư sản, phải không?”

_ “Không quái gì! Quả đúng như rứa! Cộng Sản nhận định về giai cấp tiểu tư sản không sai đâu. Anh cứ coi “Ngọc châu chấu”, so với “Tứ Cộng Sản” trong “Dòng Sông Thanh Thủy” của Nhất Linh thì thấy hai giai cấp đó khác nhau như thế nào! Hai giai cấp nầy mà đấu nhau thì tiểu tư sản thua là cái chắc. “Các anh trồng những dòng hoa đại lộ, những dòng hoa cổ lỗ, những dòng hoa đau khổ quá đi thôi”. Ngồi ở thành phố mà thương vay khóc mướn cho người dân đồng quê chân lấm tay bùn, thì làm sao thắng được Cộng Sản. Phải “Về Đồng Quê” như những bài hát đầu thời kháng chiến của Phạm Duy, của Phạm Đình Chương, về với nông dân như Đỗ Tấn nói vậy, phải “Đứng giữa đồng nâu, giữa những người cuốc bẫm cày sâu”, để  mà thấy: “Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra” thì mới thắng Cộng Sản được.”

_ “Vậy anh cho tiểu tư sản không được việc gì?” Trần Minh Hải phản lại nhận xét của tôi.

_ “Đâu phải vậy! nông dân vô sản biết gì mà tranh đấu! Chính tiểu tư sản mới có trình độ để nhận biết mình bị bóc lột, dân tộc mình bị bóc lột, bị nô lệ mới đấu tranh chớ! Anh nhớ lại “Cách Mạng Tháng Tám” mà coi. Tiểu tư sản cả đấy! Biểu tình ở Hà Nội, cướp chính quyền, Nam Bộ Kháng Chiến… là do ở tiểu tư sản cả! Chính họ hướng dẫn cho vô sản đi theo. Vô sản chỉ là cái đuôi của tiểu tư sản. Vô sản biết gì!”

_ “Nhưng Cộng Sản là vô sản!” Anh Hải nói.

_ “Cộng sản chỉ loại bọn tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ kháng chiến, khi họ có đủ cán bộ xuất thân từ vô sản. Không có giai cấp tiểu tư sản thì không có Cộng Sản. Chính giai cấp tiểu tư sản đã “đẻ” ra các đảng Cộng Sản trên khắp thế giới. Anh cứ đọc lại lịch sử Cộng Sản là thấy ngay thôi!”

_ “Tôi thấy anh phức tạp đấy.” Anh Hải kết luận.

            Thế rồi tôi được tha về trước, xa Trần Minh Hải, cũng nhớ anh ta nhiều đấy!

&

            Sáng Thứ Sáu,ngày 2 tháng 7 năm 1982, sau khi “điểm tâm” bằng một khoanh  khoai mì và một chén nước lạnh do đảng Cộng Sản của “Chú Duẫn” ban cho, hầu như toàn trại, ngoại trừ mấy ông già gần đất xa trời với mấy ông người bệnh, tất cả tập trung tại sân trại, ngồi theo từng đội để được gọi đi “lao động là vinh quang”, chuẩn bị cầm cuốc đi cuốc đất trồng khoai mì, “xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”…

            Đang ngồi tập trung giữa sân thì thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục” đi vào, tay y cầm một tập giấy. Mọi người “ồ” lên. Như cảnh từng diễn ra trước kia, hôm nay có người được tha.

            Thượng sĩ Thắng tới sát mấy đội ngồi giữa sân, nói gì đó, tôi không nghe rõ vì anh em tù nói chuyện ồn ào. Tuy nhiên, tới khi y bắt đầu đọc tên thì mọi người đều im lặng. Tên tôi được đọc sau khoảng chừng mười tên đọc trước. Sau tên tôi, thượng sĩ Thắng đọc vài ba tên gi đó nữa thì chấm dứt. Anh em lại xôn xao.

            Nghe tên xong, tôi đứng lên đi vô láng. Phan Thành Long, bạn tù, thuộc “đội cấp dưỡng”, tức nhà bếp, đi theo tôi. Tôi giao hết thức ăn khô được vợ tôi tiếp tế cho Long, cả mấy bộ đồ lao động, rách như xơ mướp, vá chùm, vá đụp. Có một số thư từ vợ tôi gởi, sợ Công An buộc phải đốt, không đem về được, tôi cũng giao cho Long, dặn hễ có đi chợ Gia Rây thì giao cho chị H. bán hàng ở chợ ấy. Về nhà xong, ít lâu sau, tôi sẽ lên lấy. Đây là những vật kỷ niệm gia đình, tôi không bỏ được. Xong, tôi thay “bộ đồ vía”, thứ quần áo đẹp mặc vô để gặp gia đình khi được thăm nuôi, đeo kiếng, đội mũ, chờ cán bộ dẫn ra Văn Phòng Trại làm thủ tục ra về.

            Một lúc sau, “cán bộ Lâm”, “cán bộ trực trại” vô gọi chúng tôi tập trung ra văn phòng.

            Lệnh tha đã được trại trưởng Trịnh Văn Thích ký sẵn. Nhận lệnh tha xong, mỗi người được cấp ba chục đồng lộ phí. Xong, anh em chúng tôi kéo nhau  ra ga xe lửa Gia Rai, ở đó, có xe Lam, đi ra Ngã Ba Ông Đồn, đón xe đò mà về Saigon.

            Anh bạn Trương Đình Gòn không về Saigon. Mẹ và vợ con anh, trước 30 tháng Tư, từ Huế chạy vô Saigon, nhưng không ở Saigon được, vì không có hộ khẩu. Mẹ anh dẫn con dâu và các cháu nội về Long Khánh kiếm đất trồng màu, sinh sống qua ngày. Một vài người bạn khác thì quay trở ra miền Trung, quê quán họ ngoài đó: Đà Nẵng, Nha Trang, Tam Kỳ.

&

Tôi về tới bến xe Ngã Ba Tam Hiệp thì phải sang qua xe nhỏ về Bến Xe Miền Đông. Từ đó, tôi đi xe ôm về nhà.

Mấy năm tôi vắng nhà, vợ tôi với các con dời chỗ ở mấy lần. Khi tôi ra đi thì gia đình tôi ở Xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng cũ. Sau vụ “đánh tư sản”, gia đình tôi về Lô 6- Cư Xá Thanh Đa, được ít lâu thì lại dời về 120 Nguyễn Công Trứ, Saigon. Cuối cùng dọn về 313 Lô A, cũng Cư Xá Thanh Đa.

Khi về Xứ Bùi Phát, tôi đã nghĩ rằng không nên để con ở nơi nầy. Khu vực nầy hơi phức tạp, có thể có ảnh  hưởng đến việc học hành và tính tình con cái. Tôi từng dạy cho học trò của tôi bài “Mạnh mẫu dời nhà” nên tôi bị ảnh hưởng về câu chuyện ấy. Bây giờ, khi tôi xuống xe ôm, nhìn lên hàng chữ “Lô A”, lô nầy nằm kế chợ Thanh Đa, tôi lại nghĩ rằng, chỗ nầy không phải là nơi tôi để cho con tôi ở. Chắc là phải dời nhà đi. Tuy nhiên, cuộc sống người dân Việt Nam hồi bấy giờ đâu như ai nghĩ. Đời sống của tất cả mọi người, không những khó khăn mà còn nghiệt ngã, ác nghiệt hay khắc nghiệt… tiếng nào cũng hợp cả. Cái ăn, cái mặc do chính quyền kiểm soát, ban phát, từng loon gạo, từng bó rau thì câu chuyện “Mạnh mẫu dời nhà” chỉ là chuyện cổ tích, thậm chí có thể coi như chuyện “thần thoại”.

Việc chạy trốn đi khỏi xã hội ấy, về chính trị, và hơn nữa, về kinh tế, là việc ai ai cũng nghĩ đến, hy vọng hoặc dấn thân vào đó. Càng dấn thân, càng bị phỉnh gạt, lừa đão, và… tù tội. Người ta chỉ khác nhau có một điều: đầu hàng trước số phận hay tiếp tục phấn đấu để tìm, không phải cho mình, mà cho con cái mình một tương lai.

Thế rồi tôi tìm đường ra đi. Vả lại, bấy giờ, những người từng tham gia Hội Nhân Quyền lại mon men gặp nhau trở lại, có người lại bị Công An bắt, có người chết trong tù… khiến tôi cũng “lạnh giò”. Việc ra đi lại thêm động cơ thúc đẩy. Cũng vài ba lần vượt biên, và cũng như mọi người, công việc bị thất bại, và cũng như mọi người, bị gạt, bị lừa là điều mọi người thường phải gánh chịu.

Có lần Công An lại đến nhà tìm, khiến tôi không dám về nhà. Nhà chị em tôi, tôi cũng không dám tới. Chắc chắn Công An sẽ lần theo những đường giây máu mũ ấy mà tìm. Tôi trốn trên một căn phòng nhỏ ở trên tầng cuối cùng ngôi nhà ba tầng. Nhà của một người bạn gái, quen thân với nhà tôi. Phải là họ gồng mình lắm mới dám chứa chấp một tên tù Cải tạo mới được tha, lại can tội “tổ chức vượt biên”.

Một hôm, người bạn cũ thời niên thiếu, anh Lương Thúc Trình, cựu đại úy Thiết Giáp, cựu giáo sư trường Trung Học Trần Cao Vân ở Quảng Tín, tình cờ gặp vợ tôi. Biết tôi trốn ở đó, Trình đến thăm. Chờ khi trời sắp tối, Trình kéo tôi xuống ngồi uống càphê ở một cái quán cóc bên lề đường Trương Minh Giảng cũ.

Trình trốn cải tạo, bỏ xứ đem vợ con đến ở Trà Cổ, là Hố Nai 4, làm nghề nhảy tầu, tức là mua vài chục ký sắn khô từ Hố Nai, đem về bán ở Saigon, kiếm đủ ít tiên,

Con đường tôi đã đi và may mắn thành công, sau không ít lần thất bại.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Nov 2016

Post on 23 Nov 2023 by Sơn râu

Cũng khó mà quên được…

Bài 31

Người nách thước kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi

Khi tôi từ chỗ bùng binh chợ Bến Thành băng qua đường, hướng về phía “Quỹ Tiết Kiệm” – “Con Gà Ấp Trứng Vàng” cũ – thì thấy một ông già băng qua đường Phạm Hồng Thái, cũng vừa tới chỗ tôi định tới. Thấy ông, thấy cái dáng quen thuộc của ông, tôi gọi thầm trong trí “Ông Già Nho”. Rồi tôi bươn bả đi tới gặp ông để chào hỏi.

Kể từ khi tôi gặp ông lần đầu tiên cho tới giờ, tính ra đã mười mấy năm. Mười mấy năm rồi! Nhanh thật! Tôi còn nhớ rõ như in hôm gặp ông lần đầu tiên ở trường Taberd.

 Ông còn quắc thước, mạnh bạo, mập mạp, da dẻ hồng hào tuy tóc ông đã bạc. Đầu tóc đẹp như kiểu tài tử ciné Đoàn Châu Mậu nhưng gọn và trông sạch sẽ hơn.

Đêm ấy là đêm 24 tháng 6 năm 1975. Theo lệnh của Ban Quân Quản Thành Phố Saigon, chúng tôi tập trung đi “học tập cải tạo” mười ngày, trình diện tại trường Taberd nầy: Địa điểm dành cho các quân nhân biệt phái.

Ông Năm Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện, còn bọn chúng tôi phần đông là quân nhân biệt phái theo các bộ, phủ. Lần đầu tiên gặp nhau, ai nấy đều lạ lẫm nhau.

Với ông Năm Nho, người già nhất đám, chúng tôi nhường ông vài ưu tiên: Cái bàn thầy giáo để ông ngủ, mời ông ăn bánh kẹo chúng tôi mang theo hoặc mua lén bánh mì và mời ông cùng ăn. Những ngày ở đây, tuy chính quyền có cho cơm ăn nhưng không đủ thiếu vào đâu cả.

Tối đó, ông Năm Nho không chịu ngủ trên bàn thầy giáo. Cái bàn cao, ông sợ té. Ông xuống nằm với chúng tôi trên cái bục gỗ trước bảng đen lớp học. Một số đông ngủ trên băng ghế học trò hay trên nền xi-măng.

Trước giờ ngủ, chúng tôi ngồi quanh ông nghe ông kể chuyện.

Vì ông làm Trưởng phòng Công xa ở Hạ Nghị viện, nơi cung cấp xe cộ cho các ông dân biểu đi đây đi đó, nên chúng tôi tò mò hỏi về các ông dân biểu. Ông dân biểu nào “di tản chiến thuật” trước thiên hạ, ông nào ôm khăn gói mang của cải vàng bạc dọt lẹ trước đồng bào, ông nào tự tử và ông nào ba thành phần, chờ một cái ghế ngon lành trong chính phủ “hòa hợp hòa giải”… Dĩ nhiên, không thiếu những “Chuyện tình “nàng kiều lá đổ” với “Anh Châu ơi!” hay bà tự  xưng là “Ba thành phần có bầu trong khám Chí Hòa  khi chồng vào thăm”.(1) Bấy giờ thì “cháy nhà ra mặt chuột”! Không hẳn trong anh em chúng tôi không có tiếng chưởi tục cùng với nhiều tiếng thở dài.

Cộng Sản nhìn vấn đề rất khác chúng ta.

Chúng cho rằng “biệt phái” có nghĩa là thành phần tình báo biệt phái qua các phủ bộ để theo dõi, kềm kẹp những người ở phủ bộ đó. Khác với miền Nam, người được biệt phái vì có khả năng chuyên môn. Ai cũng là “tài nguyên quốc gia” hết và đều gọi bị động viên đi lính cho bộ Quốc Phòng. Vì nhu cầu, nhiều người từ quân đội được biệt phái về cơ quan cũ. Chẳng hạn bác sĩ, sau khi bị trưng tập có thể trở về lại bộ Y Tế, bệnh viện; kỹ sư thì về bộ Công Chánh, giáo sư, giáo viên thì về bộ Giáo Dục.

Cái “kẹt” của ông già Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện. Cộng Sản có thể nghĩ rằng ông Năm Nho qua Hạ Nghị Viện đâu có phải để lo xe cộ cho dân biểu khi họ cần. Đó chỉ là bề ngoài, bên trong là theo dõi các dân biểu, nhất là những dân biểu thiên Cộng, thiên tả, ba thành phần, v.v… Biết đâu, ông ta lại chẳng đã có tên trong sổ đen trong mật khu rồi.

Khi trình diện, chúng tôi chưa nghĩ ra điều đó. Ai lại có thể có nghĩ ra một chuyện động trời như thế. Nhưng vào trại được một thời gian ngắn, làm xong bản tự khai, bị cán bộ kêu lên “làm việc”, điều tra, “hành tỏi” đủ điều thì bấy giờ mới sáng mắt ra. Văn Vĩ còn chạy xe ôm nữa là.

Các người khác có thể lấy bằng cấp chuyên môn chứng minh chuyện biệt phái được. Ông già Nho chứng minh ra sao?!

Ông nói rằng ông Chủ Tịch Hạ Viện rút ông về vì là bà con. Cộng Sản làm sao tin được. Vã lại, khai có liên hệ đến mấy ông lớn, ông già Nho càng thêm sợ liên lụy. Chức càng lớn thì “nợ máu với nhân dân” càng nhiều. Khai liên hệ càng thêm nguy hiểm. Có thể ông già Năm sợ như thế.

Chỉ một năm sau mà thôi, sau khi mỗi người phân tán mỗi trại rồi gặp nhau ở trại Suối Máu, Biên Hòa, thấy lại ông Năm tôi mừng thiệt nhưng tôi thấy lo cho ông lắm. Ông xuống lắm, xuống lắm rồi, không chắc ông qua khỏi cái “đại hạn” nầy.

Nước da hồng hào của ông bây giờ xám ngoét như da người chết. Má hóp lại làm cho cái miệng hô ra. Hai con mắt chui sâu vào hai cái hố, lờ đờ như mắt con bò già. Đầu tóc bạc đẹp và gọn hồi trước bây giờ bờm xờm như ổ quạ. Râu! Nhất là râu: sợi bạc, sợi đen lẫn lộn, lổm chổm; sợi thẳng, sợi vênh như cái bàn chải đánh răng cũ bị quăn vì bỏ vào nồi nước sôi. Da mặt, da tay nhăn nhúm trông như mớ giẻ rách đùn lại.

Ông không còn đi đứng nhặm lẹ như hồi mới gặp ông lần đầu tiên nữa. Ông lụm cụm, khó nhọc khi đứng ngồi, khi đi lại. Tay ông run run chống chiếc gậy tre. Đã có cái gậy mà ông đi cũng không muốn nỗi. Mỗi khi đi nhà xí, ông phải lọng cọng chống gậy đi ngang trước nhà tôi ở. Thấy ông, tôi chợt nghĩ dại: “Có ngày ông ngã ngoài cái cầu tiêu cao đó”.

Thôi hết! Cuộc đời ông có thể chấm hết ở đây, trong trại cải tạo nầy. Ngày đi thì có mà ngày về thì không! Ông già rồi, ốm yếu như thế, làm sao qua khỏi. Người ta trẻ trung cũng còn bỏ xác đâu đó, huống chi ông! Chỉ một năm trong trại, ông già đi hơn mười năm.

Thế mà không!

Cái bản năng sinh tồn Tạo Hóa ban cho con người thật là kỳ diệu!

Ông ta đi cùng với tôi thêm ba trại cải tạo nữa. Ông ta không chết như tôi đã lo. Cuối cùng, ông “được tha ra khỏi trại cải tạo” (như lệnh tha đã ghi), trước tôi một năm, vì can tội “Đại-úy” (Giấy tha cũng ghi như vậy).

&

Tôi đi thẳng tới trước mặt ông Năm, nắm tay ông, chào hỏi:

– “Bác Năm, khỏe không?”

Ông ta dừng lại, nheo nheo mắt nhìn tôi tới nửa phút, nhận ra người cũ, mừng rở:

– “Ủa! Anh Sáu! Trời! Về hồi nào?”

Tôi cười:

– “Về gần ba năm nay rồi. Nhiều khi muốn lên thăm bác mà không có dịp đi trên ấy!” – Ông Năm Nho ở Biên Hòa. Trước khi về, ông ấy có cho tôi địa chỉ – “Không ngờ hôm nay gặp bác ở đây, mừng lắm.”

Ông Năm nhìn tôi, mặt hơi nghiêm lại, nói:

– “Hôm nay tôi về thăm thằng con trai tôi. Nó ở bên Tây về được nửa năm nay chớ ít khi tôi đi Saigon lắm. Lâu ngày, gặp anh em, thiệt là mừng. Nhiều khi nhớ anh em lắm”.

Nói chuyện một chút, khi tôi dợm đi thì ông Năm bảo:

– “Có bận gì không? Lại tôi chơi. Gần đây thôi. Con tôi nó mới chuộc lại căn nhà của nó. Mình nói chuyện chơi”.

Tôi cũng chẳng có việc gì gấp. Tôi thất nghiệp ba năm nay, từ hồi cải tạo về tới giờ nên đi theo ông Năm.

&

Nhà con trai ông Năm chẳng có ai, ngoại trừ ông ta và tôi. Đây là căn nhà cũ của con ông trước 1975. Hồi đó, anh ta làm việc cho một công ty người Pháp tại Việt Nam. Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, anh ta đem vợ con vượt biên khoảng cuối thập niên 1970, rồi định cư ở Pháp. Nay công ty cũ của anh ta làm việc chuẩn bị trở lại Việt Nam đầu tư, nên anh ta cùng với ông giám đốc cũ về Saigon để làm việc trở lại. Khi anh ta vượt biên, căn nhà cũ bị chính quyền tịch thu, nay thì, theo ông Năm, con trai ông đã “chuộc” lại nhà.

Sao gọi là “chuộc”?

Có bán, cầm, thế mới gọi là chuộc! Đây là họ tịch thu, nay trả lại. Sao gọi là “chuộc”? Tôi hỏi ông Năm những ý như thế.

Ông Năm cười:

– “Tôi sinh trưởng ở trong Nam nầy, từ nhỏ chí lớn, chưa bao giờ thấy luật pháp nó kỳ cục như đời bây giờ. Người ta có nói đời bây giờ không có luật lệ gì cả cũng được. Mạnh ai nấy làm quyền. Ai có quyền nấy! Lớn có quyền lớn, nhỏ có quyền nhỏ. Ai cũng có quyền, ai cũng làm chủ. Hễ có chức thì có quyền. Bản chất, tôi nói là bản chất người Việt mình có c1ái tính nô lệ”.

Tôi ngạc nhiên nỏi:

– “Việc đòi nhà có chi liên hệ đến Tây, Tàu mà bác Năm nói tới chuyện làm nô lệ”.

Ông Năm giải thích. Ông ta đã già mà giọng nói vẫn còn sôi nổi:

– “Chớ sao không? Tôi hỏi anh có ai vì lý, vì luật mà đòi được nhà không?  Con tôi lấy được nhà là nhờ Tây, không phải do người Việt mình hiểu mà thông cảm, mà giúp đỡ nhau, giải quyết theo luật lệ, có lý có tình. Tại sao người Việt mình không nói với nhau, không thể nói trên cái… (ông ta ngập ngừng tìm chữ)… cái chỗ công bằng, bình đẳng và tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền lợi của nhau. Kể từ hồi Cộng Sản vô tới giờ, luật lệ là do ai có súng trong tay. Luật lệ là của người có quyền lực, là để bảo vệ quyền lợi của người có quyền lực. Họ nhân danh “cách mạng”, nhân danh nhân dân rồi muốn lấy cái gì của ai thì lấy. Cứ có cái tiếng “cách mạng” là được rồi. “cách mạng” yêu cầu cái nầy. “cách mạng” yêu cầu cái kia. Cái nhà anh đang ở, cái xe anh đang đi. Nếu “cách mạng” yêu cầu thì anh phải giao nhà, giao xe mà không có một sự đáp ứng nào cho hợp tình, hợp lý. Nếu anh không chịu! “cách mạng” sẽ hỏi anh một câu: “Do đâu mà anh có nhà. Do đâu mà anh có xe?”. “Tay sai đế quốc”, “bám gót thực dân”, “bóc lột nhân dân”, v.v… mới có nhà, có xe. Hỏi thế có nghĩa là anh sẽ bị tịch thu nhà, tịch thu xe. Không chừng còn phải đi cải tạo nữa để từ bỏ những tư tưởng ăn bám, bóc lột. Chi bằng họ đòi gì, mình giao nấy, may ra còn có giữ được cái mạng sống. Thế nhưng, chính họ mới là bóc lột, ăn bám. Chính họ là người có tinh thần nô lệ, chịu làm tay sai. Điều nầy, trong trại, anh em mình bàn bạc nhau đã nhiều, anh biết rồi chớ gì?”

Tôi cười nói:

– “Điều đó, mấy năm bác Năm ở chung trại với tôi, biết hết rồi. Cái mà Cộng sản “cải tạo” chúng ta đều có kết quả ngược hết. Tôi muốn biết chuyện cái nhà nầy tại sao lại dính tới chuyện tinh thần nô lệ?”

– “À!” – Ông Năm cười nói tiếp. – “Có gì đâu! Có lệnh trung ương trả nhà cho những ai ở ngoại quốc về phục vụ tại Việt Nam, nên con tôi xin nhà lại. Nhưng luật thì có luật mà cho lại không cho. Con tôi phải nói với thằng chủ Tây của nó. Thằng chủ Tây can thiệp thẳng với Trung ương. Trung ương cần Tây, sợ mất lòng Tây. Trung ương đang “bắt giò” Tây nên OK liền. Nhưng đến khi lấy nhà thì phải chuộc.”

– “Nó bắt chuộc thì nó sợ gì Tây?” Tôi nói.

Giọng ông Năm vẫn sôi nổi:

– “Tại sao không?! Trả nhà là do chánh sách. Chánh sách do đâu mà có. Đâu có phải họ thấy việc trả nhà là hợp tình, hợp lý. Họ thấy công khó người ta, mồ hôi nước mắt người ta mà trả lại cho người ta. Trả nhà, có nghĩa là nuốt không trôi nên phải trả. Trả cái nầy để được cái khác lớn hơn. Không bao giờ có sự hợp lý, công bằng, có tình cảm hay thông cảm trong việc nầy cả. Cũng giống như hồi ba mươi tháng Tư không có “tắm máu”. Chẳng qua “Giết không được tha làm phúc” chớ chẳng có chi là “khoan hồng nhân đạo”. Không giết thì cho đi cải tạo, là giết lần giết mòn con người ta, có tha về thì cũng là “xương bậu nát, thì da bậu mòn.” (2) Vậy mà mình cũng không chết! Hay chưa?”

Nói xong, ông Năm cười hề hề!

Trong khi đó, tôi đọc một câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc” cho ông Năm nghe:

“Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?!

Một lúc, ông Năm lại tiếp:

– “Anh xem có kỳ không? Phải chờ Tây nó can thiệp họ mới trả nhà cho con tôi. Có phải vậy là sợ Tây, là tinh thần nô lệ không? Hồi trước mình có sợ Tây sợ Mỹ gì đâu?! Láng cháng có thằng bị mình “quýnh” bỏ mẹ luôn. Cộng Sản có dám đụng tới “đại ca” của họ không?”. Ông Năm nói tiếp: “Nói thiệt, con tôi không muốn nhờ Tây. Nó muốn người mình nói chuyện với nhau, hay hơn. Nhưng con tôi nói thì ai nghe. Ai them nghe?! Vậy nó mới kêu Tây đòi nhà cho nó. Thành ra, anh xem “tình dân tộc, nghĩa đồng bào” cái con mẹ gì đâu, “hòa hợp hòa giải” mẹ gì đâu?!”

– “Còn chuộc?” Tôi hỏi.

– “Thì mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy quyền. “Rừng nào cọp nấy”. Trung ương biểu trả nhưng địa phương thấy cái nhà ngon quá, trả thì tiếc, bèn bày ra cớ nầy cớ kia để trì hoãn, làm khó. Con tôi phải “ló” tiền ra mới lấy được nhà. “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong”. Anh thấy có đúng không?”

Nói xong, ông nhìn tôi. Cả hai chúng tôi đều cười.

Một chốc ông Năm nói:

– “Thôi! Mời mời! Ham nói chuyện để lâu mất ngon.”

Con trai ông Năm phải đi Hà-Nội gấp với chủ Tây, chỉ kịp mua cho ông Năm con vịt quay và mấy ổ bánh mì. Nước uống có sẵn trong tủ lạnh.

Ăn xong miếng thịt, ông Năm lại hỏi:

– “Anh nghĩ thằng cha coi nhà đất ở Saigon hồi nầy có giàu không?”

Tôi ngừng ăn, nói: “Ông Năm nói sao, tôi chưa hiểu.”

Ông Năm giải thích:

– “Hễ mà hòa bình, xây dựng nhiều thì nhà cửa, đất đai lên giá. Ở cái đất Saigon nầy, xưa giờ, giá nhà đất bao giờ cũng lên. Tôi thấy chỉ mấy tháng gần ba mươi tháng Tư, người ta lo bán nhà mà chạy lấy thân nên nhà cửa mới xuống. Nhưng nó chỉ như cơn lốc. Cộng Sản ngất ngư, ngoại quốc tới, Việt kiều về thì giá nhà đất lại lên. Ai nắm trong tay nhà đất Saigon thì người ấy giàu. Triệu phú, tỉ phú dễ như trở bàn tay. Chỉ có sau đó thì lộn xộn lắm, người ta tranh giành nhau. Tài sản của người ta, nhà nước cướp bóc trắng trợn đâu có được.”

Một lúc sau tôi nói:

– “Như bác Năm nói thì sau nầy, khi Cộng Sản sụp đổ rồi thì việc tranh tụng nhà đất rắc rối lắm. Người ta đòi nhà, đòi đất mà nhà nước, cán bộ thì bán hết rồi, lấy chi trả?”

– “Làm gì được ông nhà nước, làm gì được ông cán bộ. Dù chế độ có sụp đổ thì người ta cũng cao chạy xa bay… ”

Bỗng ông Năm chợt hỏi tôi:

– “Anh biết vụ “đánh tư sản” chớ?”

– “Thì cũng như bác vậy. Mình ở trong tù. Chỉ nghe nói lại.” Tôi trả lời.

– “Đúng là anh em mình ở trong trại, không biết gì. Ngoài nầy, nghe nói mần dữ lắm, nhứt là ở miệt Chợ-Lớn. Tới những mười lăm, mười sáu chú Ba tự tử vì bị cướp tài sản một cách trắng trợn, có luật pháp nhà nước Cộng sản yễm trợ.” Ông Năm nói.

– “Việc nầy tôi có nghe nói. Mấy anh chị tôi là nạn nhân. Giống y như trong Kiều.” Tôi nói.

– “Giống y như trong Kiều là giống làm sao?” Ông Năm hỏi.

Tôi không trả lời ông mà đọc một hơi mấy câu Kiều:

“Hàn huyên chưa kịp dãi dề

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao

Người nách thước kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi

Già giang một lão một trai

Một giây vô lại buộc hai thâm tình

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời giọt liễu tan tành gối mai

Đồ tuế nhuyễn, của riêng tây

Sạch-sành-sanh vét cho đầy túi tham.”

Ông Năm cười đắc ý, nói:

– “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”. Bộ ông Nguyễn Du là tiên tri hay sao mà ông tả y chang vậy, không sai một chút nào như người ta kể lại.”

– “Không phải đâu bác Năm. Chuyện cô Kiều cả ngàn năm trước, chuyện ông Nguyễn Du cả mấy trăm năm trước với đời bây giờ cũng rứa thôi, có khác chi nhau. Nghe nói ở bên Tây, bên Mỹ, dân chủ mới không có chuyện cướp bóc, lộng quyền. Chưa dân chủ là còn có kẻ cai trị, kẻ bị trị.

Kẻ cai trị thì cướp bóc kẻ bị trị, cướp bóc có luật pháp hay cướp bóc không có luật pháp cũng là cướp bóc cả thôi.” Tôi nói.

Ông Năm than thở:

– “Thiệt đời bây giờ chẳng còn “nhứt điểm lương tâm”. Người ta ăn ở tàn tệ quá!”

Tôi nói:

– “Khi đã không có lương tâm thì người có học, người không có học đều như nhau. Đậu ông nghè, ông cống ra làm phụ mẫu chi dân mà chỉ có lòng tham thì cũng giống như anh hoạn heo.”

Ông Năm cau mặt hỏi tôi:

– “Bộ hoạn heo thiệt không?”

– “Tôi nói với ông Năm một điều rất khẳng định. Không có cái chi dấu ai được hết. Trước sau người ta cũng biết. Đời xưa còn “Ở đây tai vách mạch rừng” nữa là. Đó là không nói như người xưa “lương tâm mình biết”.

Ông Năm băn khoăn nói:

– “Hoạn heo thì biết chi mà cai trị đất nước. Cộng Sản họ dùng những người gì đâu không! Tội nghiệp cho dân mình thiệt!”

– “Không biết thì học. Vừa làm vừa học, khắc biết. Hồ Chí Minh nói vậy mà. Chỉ khổ cho dân bị đem ra làm vật thí nghiệm.”

Một lúc, ông Năm nói, giọng hơi trầm xuống:

– “Ở bên Âu Mỹ, người ta đi làm tổng thống, thủ tướng là mưu cầu cái danh, không phải mong cái lợi. Chết để cái tiếng là ông tổng thống giỏi, thủ tướng giỏi. Bên xứ mình, ra cầm quyền cốt là để tìm cái lợi trước tiên. Thành ra, hễ có quyền thì có tham nhũng, hối lộ… Dân mình không ngóc đầu lên được là vì người mình như vậy. Nói dân chủ, tự do bên xứ mình khó lắm.”

Tôi hỏi:

– “Ông Năm có nghĩ rằng cũng vì cái lợi mà người ta phản bội, dối trá, lật lọng, v.v… ”

– “Đương nhiên!” Ông Năm nói. “Anh không thấy theo Tàu rồi chưởi Tàu. Chưởi Tây rồi lại theo Tây. Chưởi Mỹ rồi ôm chân Mỹ. Cái đó nhục nhã lắm. Không những nhục nhã cho họ mà còn nhục nhã cho dân mình. Người Nhật đầu hàng Đồng minh. Cho vậy là nhục nhã. Nhưng chính họ cũng nhờ Mỹ mà lên hàng cường quốc kinh tế, họ có làm chi nhục nhã như người Việt mình đâu!”

Tôi góp ý:

– “Người Cộng Sản họ thực tế lắm! Chính Hồ Chí Minh cũng nói với cán bộ “Có thực mới vực được đạo”. Có thể vì vậy mà họ chấp nhận những cái xấu. Xấu không quan trọng. Bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ bền vững mới là quan trọng. Dù như thế nào thì sau nầy, bản thân họ, con cái họ cũng sướng. Chỉ tội cho người mình. Hồi xưa thì cũng tham nhũng lắm, nhưng cũng nhiều người rất trong sạch. “Đứt phim” rồi, biết bao nhiêu người đói khổ. Như mấy ông tướng, tá, sĩ quan “Vị Quốc Vong Thân”. Con cái họ bây giờ chắc khổ cực lắm!”

– “Cái đó là sự vô ơn của đồng bào mình. Những ai hy sinh, ai còn sống nhưng tật nguyền, vợ con họ tội nghiệp hết sức. Tôi thường nghĩ những người dám tử ở trận tiền là người có khí phách. Họ có cái tiếng mà không có miếng nên bây giờ vợ con khổ”.

Tôi hỏi:

– “Tôi nhớ ông Năm có kể chuyện ông Ngoại của ông Năm ngày xưa là chủ điền. Cháu ngoại ông chủ điền ruộng cò bay thẳng cánh. Vậy mà khi vào trại cải tạo, hột cơm không có mà ăn. Phi lý thiệt.”

Nghe vậy, ông Năm kể chuyện cũ:

– “Ông ngoại tôi, hồi tôi còn nhỏ, hay rầy tôi dữ lắm.  Nhà chủ điền, lúa đầy sân, bạc đầy nhà. Vậy mà khi tôi biết khôn, ăn xong, còn dính hột cơm trong chén là bị rầy. Ông tôi gọi hột cơm là hột ngọc trời cho, phải biết quý trọng, không được phí phạm”.

Tôi góp ý:

– “Văn hóa người Việt mình là vậy đó. Không được phí phạm, phải biết quý trọng công khó người khác, quý trọng công lao người nhà nông, quý trọng ơn nghĩa, thủy chung. Ông bà mình ngày xưa hay vậy mà sao bây giờ người ta để mất cả. Chiến tranh nầy, “cách mạng” nầy, “cách mạng xã hội chủ nghĩa” nầy, “cách mạng Văn hóa” nầy, đều đem lại những kết quả đảo ngược. Chắc rồi văn hóa tiêu ma hết ông Năm ạ”.

Ông Năm lại kể:

– “Hồi tôi lớn, mỗi năm đi học về, – Trước tôi học ở Saigon, sau ra “du học” ở Hà-Nội, – cách sống cởi mở hơn. Xong vụ mùa, tôi lên Saigon kêu gánh hát về hát cho tá điền của ông ngoại tôi coi chơi. Năm nào trúng mùa, hát cả tuần lễ mới dứt. Thấy tôi biết thương tá điền, ông bà ngoại tôi vui lắm. Hai ông bà thường nói: “Mình giàu có cũng là nhờ họ” cho nên ông bà ngoại tôi không để cho tá điền đói rách bao giờ, sợ người ta chê là thất đức.”

Tôi hỏi:

– “Trong trại, mình không có cơm ăn, bác Năm có nghĩ là do nhơn quả không. Tự mình gây ra cái nhơn ác.”

Ông Năm suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:

– “Có chớ anh! Tôi kiểm điểm lại đời tôi, ông bà cha mẹ tôi, có ai làm điều chi thất đức mà giờ nầy tôi khổ làm vậy? Già rồi không có chén cơm mà ăn. Quả thật tôi thấy ông bà ngoại tôi nhơn đức lắm. Giống như người dân trong Nam nầy vậy, ông bà thường nghĩ tới chuyện tu hiền, không phải chỉ nói miệng mà cốt ở việc làm. Người bình dân cứ nghĩ ăn chay là tu, có chuyện gì xuống tóc là tu. Ông ngoại tôi biết vậy là không đúng. Tu là tu ở cái ý của mình trước, cái tâm của mình trước, cái miệng của mình trước và làm việc gì giúp đỡ cho ai hoạn nạn, nghèo khó. Căn bản là ở chỗ đó chớ. Đó là cái gương cho ba má tôi, cho bản thân tôi. Tôi nghĩ cái gian khổ bây giờ không phải là tự mình anh à! Đó là cái nạn nước. Mấy chục năm nay, từ sau hồi Tây – Nhựt đánh nhau tới giờ, đúng là dân mình mắc nạn”.

Ngưng một chút, ông Năm lại nói tiếp:

– “Tôi nghĩ như ở trong Nam nầy, đó là cái vựa lúa của cả nước. Mấy năm hòa bình còn dư thừa xuất khẩu, vậy mà bây giờ người dân không có chén cơm ăn. Cái nầy đâu phải lỗi một người dân mà lỗi ở chế độ. Cái nạn nước tạo ra cái chế độ ấy”.

Thấy tôi ham ngồi nghe, nảy giờ ngưng ăn, ông Năm lại nói:

– “Thôi, mời, mời. Ăn chút đi”. Rồi ông gắp một miếng thịt bỏ vào chén cho tôi, nói: “Miếng ức nầy ngon.”

Tôi nói:

– “Hồi nầy trông ông Năm khỏe lắm. Rán sống với con cháu”.

Ông ta cười:

– “Cũng nhờ con! Hồi còn ở bên Tây, nó gởi tiền về nuôi. Về thì nó đem tiền về cho. Tôi chỉ có hai vợ chồng, sống dư giả… ”

Tôi lại hỏi:

– “Anh ấy vô dân Tây chưa?”

– “Vô, vô rồi.” Trả lời tôi, ông Năm cười. “Không tin mấy thằng Việt Cộng nầy được. Vô dân Tây, lỡ có gì kẹt, Tây nó can thiệp. Dân của Tây mà. Tụi Cộng Sản có nhiều cái chủ quan lắm. Nó đẩy người ta vào cái thế phải chống lại nó.”

Tôi ngồi nói chuyện với ông Năm, nhắc chuyện cũ hồi còn trong trại cải tạo, nhắc tới người nầy người nọ. Có người ra khỏi trại đã lo vượt biên, đi lọt hay lại vào tù, v.v… Chúng tôi nói lu bu rất nhiều chuyện. Dù sao, ngồi nhắc lại chuyện cũ, buồn vui lẫn lộn.

Hồi về trại Xuân Lộc, trong đội của tôi, ông Năm Nho và ông Âu Văn Minh là hai người già nhất đội. Cả hai được liệt vào thành phần lao động nhẹ, nghĩa là khỏi ra ngoài rừng phá rừng lấy đất, khỏi ra bãi cuốc đất trồng sắn, trồng khoai như mọi người trong đội. Hai ông được ở nhà lo việc quét nhà, quét sân, v.v…

Năm 1979, khi Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt-Trung, đội của tôi bị bọn cán bộ theo dõi gắt gao hơn những đội khác vì trong đội có nhiều thành phần “an ninh, tình báo”. Chúng thay quản giáo. Thằng cán bộ mới nầy tên là Lở, không phải là “Lỡ Chuyến Đò” hay “Lỡ Bước Sang Ngang” gì đâu, mà chính là lở đất, lở đá hay lở ghẻ, lở mụt gì đó. Nó chưa tới hai mươi tuổi, theo chân “bác” vào Nam không phải để “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” gì cả mà vì thấy người ta đi Nam về, ai cũng có cái đài, cái đổng, cái đa (3) nên ham mà vào Công an. Nó tưởng vào “Thành phố Bác” kiếm chác, ai ngờ bị “trên” đưa vào nơi khỉ ho cò gáy nầy, trông coi mấy thằng tù rách rưới, ăn mặc người không ra người, ngợm không ra ngợm, nên y đâm chán. Chán thì y hành hạ tù cho đỡ chán. Hành hạ tù là chánh sách của “đảng” cho mấy thằng tù khỏi được tha về mà quậy phá “cách mạng”.

Đội tôi bây giờ không được cho đi xa vào gần bìa rừng, sợ chúng tôi trốn. Công việc hằng ngày chỉ quanh quẩn kế hàng rào trong, đặc biệt là công việc đào hầm phân người mới hoai, đem phơi khô để các đội khác tới lấy đem bón rau muống, làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Trong khi chúng tôi lội xuống hầm moi phân lên phơi thì thằng cán bộ Lở bắt hai ông già ngồi đập nhỏ những cục phân phơi vài ba nắng đã khô. Cục phân khô phải đập cho nhỏ ra để bón vào gốc rau cho khỏi… hao cứt! Cục cứt cũng phải tiết kiệm!!!???

Một hôm, đến kiểm soát việc làm của hai ông già, thằng cán bộ Lở bảo ông Năm:

– “Anh kia (Bọn Cộng Sản lớn bé, già trẻ gì chúng đều gọi bằng anh, chị hết. Ai cũng là “Cháu ngoan Bác Hồ” nên mọi người đều ngang nhau), tại sao anh cầm cái cây mà đập phân?”

– “Thưa cán bộ, tôi phải lấy cái cây nầy…”

Tên cán bộ Lở lớn tiếng:

– “Không được. Anh không được dùng cái cây. Anh phải lấy tay mà bóp cho nát ra”.

Nghe thế, ông Năm lúng túng nói:

– “Thưa cán bộ, tôi lấy cái cây nầy… ”

Ông Năm nói chưa dứt câu thì thằng cán bộ Lở xông tới, với một thái độ thật hung dữ, nó giật phắt cái cây trên tay ông Năm mà quẳng ra xa. Vừa làm miệng nó vừa la lối:

– “Không được dùng cái cây. Anh nghe rõ chưa. Tôi không cho phép anh dùng cái cây”.

Ông Năm chần chừ, ông sợ dơ, ông sợ bệnh. Phân người thiếu gì vi trùng. Trong trại có biết bao nhiêu người bệnh, nhiều bệnh rất nguy hiểm, ngặt nghèo. Phân của họ đổ cả vào hầm phân.

Thấy thái độ ông Năm, thằng cán bộ Lở bèn xấn tới, tay vung lên, hăm dọa:

– “Tôi ra “nệnh” cho anh. Anh có chấp hành không thì bảo? Hay để tôi “xử ný” bây giờ. Vừa nói, tay kia của nó chụp vào cây súng lục đeo bên hông.

Thấy nó hung dữ quá, ông Năm sợ. Ông từ từ đưa tay ra nắm cục phân khô, trong khi nơi mắt ông hai dòng nước mắt tuôn ra.

Thằng cán bộ Lở thấy ông Năm khóc, quay mặt đi và cười sung sướng, đểu cáng.

&

Câu chuyện ấy và cái cười của thằng cán bộ Lở làm xôn xao anh em trong trại mấy hôm liền. Dĩ nhiên, ai cũng thấy rõ cái lưu manh, đểu cáng của đám người tự xưng “cách mạng”, “giải phóng”.

Trong khi nói chuyện với ông Năm, tôi nhắc tới thằng cán bộ mà tôi gọi là “thằng mất dạy” ấy. Rồi tôi hỏi ông một cách thẳng thắn:

– “Người miền Nam như bác Năm, vốn dĩ tính tình hiền hòa, chất phác. Nhưng liệu bác Năm có quên được câu chuyện đó hay không?”

Ông Năm không trả lời liền câu hỏi của tôi. Ông nhìn tôi một lúc rồi nhìn ly nước đang cầm trên tay, chậm rãi nói:

– “Gia đình tôi mấy đời thờ Phật, cũng muốn lấy ân báo oán chớ không muốn lấy oán báo oán làm chi. Chắc rồi mai đây, thế nào thằng Cộng sản Hà Nội nó cũng kêu gọi “hòa hợp hòa giải”. Tôi không biết những người mà cha mẹ, anh em họ bị Cộng Sản giết, họ có “hòa giải” được không! Chớ còn riêng tôi, cái chuyện thằng “cán bộ” bắt tôi ngồi bóp cứt khô để mà cười mai mỉa, tôi đau lòng lắm anh à! Ông bà cha mẹ ăn ở bất nhơn thất đức, con cái mới phải đi xúc cứt như vậy. Vì vậy, nhiều khi tôi muốn quên nhưng “Cũng khó mà quên được”.

hoànglonghải

(1)  Giám thị khám Chí Hòa cho biết bà Ngô B. Th. Khi bị giam ở khám nầy xin được khám thai sau khi chồng vào thăm.

(2) Ví dầu tình bậu muốn thôi

      Bậu gieo tiếng ác cho rồi bậu ra

      Bậu ra cho khỏi tay choa

      Thì xương bậu nát, thì da bậu mòn

(Ca dao)

(3) Đài: Radio; Đổng: Đồng hồ; Đa: Xe Honda

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Trần Vũ

September 10th, 2020

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 18

Ký ức dân Việt ghi lại hình ảnh dã man nhưng vô cùng kỷ luật của lính Nhật. Trên đường phố Sàigòn năm 1944-1945 là những người lính của Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai. Sư đoàn mang danh hiệu “Anh Dũng”, Isamu-Heidan 勇兵団. Sư đoàn thâm niên nhất của Lục quân Đế quốc Nhật, từ 1871 vang danh trên các chiến trường Cao Ly, Mãn Châu, Cáp-Nhĩ-Tân (Harbin), Phụng Thiên (Mukden) trước khi làm tổng trừ bị cho đạo quân Quan-Đông (Kwangtung Army). Vì sao những người lính thiện chiến nhất, có khả năng nhịn đói nhiều ngày mà vẫn điền kinh nhiều mươi cây số không mệt mỏi, mang hỗn danh Daini-shidan 爱你实弹, “Ưa đạn thật”, lại đứng gác ở ngã ba Hai Bà Trưng-Trần Quang Khải-Yên Đỗ, ở góc đường Hàm Nghi, công trường Quách Thị Trang hay Ngã Sáu Phù Đổng Thiên Vương? Ngay cả khi tên đường khi ấy là tên Tây, vẫn là một bí mật. Division Sendai! Kiêu Dũng! Phụng sự Thiên Hoàng! …ra gác chợ Phú Nhuận.

Vì đã xảy ra Guadalcanal. Tháng 8-1942 Thủy sư Đô đốc Chester Nimitz tổng phản công. Giành lại quần đảo Solomon rồi từ đây với các sân bay tân tạo tái chiếm Santa Isabel, Boungainville Island, New Ireland, New Britain với thủ phủ Rabaul là trung tâm hành quân Nam Thái Bình Dương của Nhật Bản, trước khi vươn lên Saipan, Iwojima, Okinawa, là chiến lược “Nhảy Cóc”, Leapfrogging hay còn gọi “Nhảy đảo”, Island hopping, từ đảo này sang đảo khác mà không nhất thiết phải hành quân đất liền từ Miến Điện sang Đông Dương sang Trung Hoa… Guadalcanal là đảo lớn nhất của chuỗi đảo Solomon. Chiếm Guadalcanal là cắt đường tiến xuống cực Nam cùng lúc uy hiếp cạnh sườn của quân Nhật trên bán đảo Papua New Guinea, nơi Sakai đồn trú, đang muốn xuống Úc châu. Một lưỡi dao đâm ba sườn!

Thay thế Phó Đô đốc Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, Phó Đô đốc Kusaka phản ứng tức khắc. Tung Phi đoàn Lae của Sakai oanh kích hạm đội đổ bộ Hoa Kỳ của Đề đốc Kelly Turner. Kusaka quân viện Sư đoàn Sendai lên Guadalcanal với tiêu lệnh: “Dìm lính Mỹ xuống biển!” Trung đoàn 4 của Trung tá Kiyonao Ichiki quyết chiếm phi trường Henderson. Trận đánh mũi Tenaru đi vào lịch sử: Các sĩ quan Nhật tuốt trần kiếm với bộ binh tuốt sáng lưỡi lê xung phong bất chấp hoả lực của Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Tenaru! Banzai! Là chiến tích của The first US Marine Division. Trung tá Ichiki để lại 800 xác và bắn vào miệng tự sát. Guadalcanal là trận chiến kéo dài 5 tháng với riêng Sư đoàn Sendai thiệt hại 7,000 tử thương mà không hất được lính Mỹ xuống biển, khiến bị Bộ Tổng Tham mưu Nhật khinh miệt và phải sang Đông Dương gác cầu Thị Nghè, Sàigòn.

Là dưới đất. Còn trên mây, Guadalcanal sẽ là không chiến nguy hiểm nhất binh nghiệp Sakai. Lần đầu tiên đối mặt các phi công Hải quân Hoa Kỳ trên các máy bay F4F Wildcat, SBD Dauntless và Grumman TBF Avenger, Sakai vẫn lập chiến công nhưng lần đầu tiên anh bị bắn trọng thương với cockpit vỡ nát, ghim hai mảnh đạn đại liên trong đầu và một mắt thui chột. Là chương XVIII và các tuần sắp đến. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 18

Chương 18

Ngày 3 tháng 8-1942, Rabaul gọi về hầu hết những phi công được chỉ định đến Lae trước đây. Việc thuyên chuyển này khiến chúng tôi hân hoan, vì nó hứa hẹn thoát khỏi các phi vụ tuần tiễu ở Buna và thoát khỏi cảnh bị oanh tạc hàng đêm. Chúng tôi không mang theo vật dụng gì, vì tin rằng sẽ sớm trở về. Chúng tôi sai lầm, bốn ngày đầu tiên ở Rabaul, chúng tôi phải thực hiện những phi vụ càn quét ở Rabi, phía Bắc Fiji. Màn lưới chiến đấu cơ đã được đối phương thiết lập nhanh chóng trên hòn đảo này, có thể so sánh với căn cứ Moresby.

Ngày 8 tháng 8, sau khi nhận lịnh tuần thám của Bộ Chỉ Huy, chúng tôi bước ngang qua phi đạo để tiến đến các chiến đấu cơ của chúng tôi. Lúc hầu hết 18 phi công đều ngồi trong phòng lái, nhiều liên lạc viên chạy ra la lớn rằng phi vụ bị bãi bỏ. Chúng tôi lập tức trở lại Bộ Chỉ Huy. Nơi đây đang lên cơn sốt. Liên lạc viên đưa tin chạy tới chạy lui. Các sĩ quan lướt qua chúng tôi với vẻ mặt đầy khẩn cấp. Trung tá Nakajima, cầm đầu phi vụ hôm nay, bước ra khỏi văn phòng của Phó Ðô đốc Kusaka, nói lớn với chúng tôi với vẻ tức tối: “Phi vụ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi nơi khác.” Ông chỉ một nhân viên đưa tin: “Anh, lấy cho tôi một bản đồ coi, mau lên!”.

Ông trải bản đồ lên một cái bàn rộng và bắt đầu vạch một đường thẳng với một chiếc compas. Ông cúi gằm trên bản đồ, không mảy may lưu ý đến bọn phi công chúng tôi. Tôi hỏi Ðại úy Sasai xem ông có biết việc gì xảy ra không. Sasai hỏi Nakajima và chỉ nhận mấy câu càu nhàu, rồi vị chỉ huy trưởng phi đoàn ba chân bốn cẳng vô văn phòng của Ðô đốc. Vài phút sau ông trở ra, và ra dấu cho các phi công tụ họp quanh ông. Những tiếng nói của ông không khác nào một trái bom: “Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng nay, một lực lượng địch vô cùng mạnh mẽ bắt đầu đổ bộ lên Lunga, ở cuối bãi phía Nam của đảo Guadalcanal. Theo các báo cáo sơ khởi của chúng ta, quân Mỹ đã ném lên hòn đảo này một khối lượng người và trang bị khủng khiếp. Cùng lúc, họ cũng mở ra các cuộc tấn công ở Tulagi, trên đảo Florida. Tất cả thủy phi cơ của chúng ta tiêu hết không còn một chiếc. Khi Ðô đốc tư lịnh thảo xong kế hoạch, chúng ta sẽ cất cánh lập tức hướng đến Guadalcanal để tấn công các lực lượng địch trên bãi biển.”

Liên lạc viên phát bản đồ cho mỗi phi công. Chúng tôi xem xét và nghiên cứu hòn đảo còn xa lạ đó, nhưng bỗng nhiên trở nên quan trọng này. Nhiều người bàn tán: “Ở đâu lại hiện ra hòn đảo trời đánh này?” Một phi công nổi nóng la lên: “Ai đã từng nghe đến tên của một nơi chó chết như vậy chưa?”

Chúng tôi tính khoảng cách từ Rabaul đến Guadalcanal. Không tin nổi. Xa đến 1,040 cây số! Chúng tôi sẽ phải bay đi tấn công các đầu cầu đổ bộ của địch quân và trở về với khoảng cách đó. Khoảng cách chưa từng nghe nói đến. Ðiều này nghĩa là đường bay khứ hồi dài hơn 2,000 km, đó là không kể trường hợp gặp bão hoặc đụng độ giữa đường.

Như vậy cũng đủ để mọi suy luận ngưng lại. Chúng tôi lặng yên để nghe vị chỉ huy trưởng đưa ra lịnh mới. Vừa lúc ấy một liên lạc viên chạy ùa vô văn phòng Phó Ðô đốc Kusaka rồi trở ra với những báo cáo mới đưa về từ mặt trận. Chúng tôi nghe một binh sĩ đưa tin nói với Nakajima rằng tất cả liên lạc với Tulagi đều bị cắt đứt, và quân phòng ngự ở đó đã hy sinh đến người cuối cùng.

Nghe tin, mặt Sasai tái đi. Tôi phải hỏi năm lần bảy lượt xem có phải ông đau ốm hay không. Cuối cùng nhìn đăm đăm về phía trước, Sasai thì thầm: “Anh rể tôi chiến đấu ở Tulagi.” Nếu Tulagi bị địch quân chiếm đóng, anh rể của Ðại úy Sasai, Thiếu tá Yoshiro Tashiro không thể nào sống sót được. Ông ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. (Cái chết của Thiếu tá Tashiro được xác nhận sau đó).

Trung tá Nakajima ban lịnh: “Các anh sắp thực hiện một phi vụ chiến đấu dài nhất trong lịch sử.”, ông thông báo cho chúng tôi. “Ðừng trông chờ may mắn nào ngày hôm nay. Hãy hành động đúng theo lịnh đưa ra và quan trọng nhứt, đừng bay một cách liều mạng và phí phạm xăng nhớt của các anh. Phi công nào hết xăng trên đường từ Guadalcanal quay về, phải đáp xuống đảo Buka. Lực lượng Nhựt trên đảo này đã được chỉ thị phải theo dõi các phi cơ của chúng ta. Hiện tại, để bay đến Guadalcanal và trở về Buka có nghĩa là chúng ta sẽ thực hiện một không trình khứ hồi dài bằng không trình từ Ðài Loan đến phi trường Clark ở Phi Luật Tân trước đây. Tôi chắc chắn chúng ta có thể bay suốt khoảng cách này mà không gặp rắc rối. Nhưng sẽ có những chuyện bất ngờ, do đó tôi lặp lại lời cảnh cáo: Ðừng phí phạm nhiên liệu!”

Tại Ðông-Kinh sau chiến tranh, Trung tá Nakajima có nói với tôi rằng Phó Ðô đốc Jinichi Kusaka thay thế
Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, muốn ông đưa hết chiến đấu cơ khả dụng ở Rabaul đến Guadalcanal vào ngày 7 tháng Tám. Nakajima phản đối, ông cho rằng chỉ nên mang theo mười hai phi công tài ba nhứt bên cánh của ông mà thôi. Bởi lẽ ông phỏng đoán phải mất ít nhứt phân nửa số phi công trong nhiệm vụ quá xa như vậy. Hai người thảo luận giằng   co cho đến khi đạt được sự đồng ý với con số 18 chiến đấu cơ.

Ngay khi nhận lịnh, các phi công chia ra thành từng tổ ba người. Tôi nói với Yonekawa và Hatori, hai phi công bên cánh của tôi: “Các anh sẽ đụng phi công Hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên trong ngày hôm nay. Họ nắm hẳn ưu thế do khoảng cách mà chúng ta phải bay. Hai anh phải luôn luôn cẩn trọng trong mọi chuyển động của mình. Tốt hơn hết là các anh đừng bao giờ rời xa khỏi tôi. Mặc kệ những gì xảy ra, bất kể diễn biến xung quanh chúng ta như thế nào, cứ bám chặt lấy phi cơ của tôi được chừng nào hay chừng nấy. Hãy nhớ, đừng có bay ra xa.”

Chúng tôi chạy ra phi cơ và chờ phi đạo trống. 27 oanh tạc cơ Betty cất cánh trước chúng tôi. Trung tá Nakajima đứng trên phòng lái của ông ngoắc tay. Lúc 8 giờ 30 sáng, tất cả chiến đấu cơ đều ở trên không. Nhân viên bảo trì và các phi công ở lại xếp hàng hai bên phi đạo vẫy nón chào và chúc chúng tôi may mắn.

Thời tiết đẹp, nhứt là ở Rabaul. Ngay cả núi lửa cũng im tiếng. Nó ngưng phun phún thạch từ tháng Bảy, và chỉ còn nhả ra một giòng khói mỏng lả ngọn về phía Tây.

Chúng tôi giữ vị trí hộ tống phía sau nhóm oanh tạc cơ. Tôi đã ngạc nhiên khi biết mấy chiếc Betty này mang bom thay vì thủy lôi, vũ khí thông thường để tấn công tàu chiến. Ðiều này khiến tôi lo lắng. Tôi biết rõ là vô cùng khó khăn khi phải tấn công các mục tiêu di chuyển trên mặt biển từ trên cao độ. Hồi ở Buna, mặc dù các oanh tạc cơ B17 địch có tiếng là oanh tạc chính xác, nhưng chúng đã phí hầu hết số lượng bom thả xuống các tàu chiến Nhựt.


Ghi chú Quân sự

Khu trục cơ Grumman F4F Wildcat

hỗn danh “Mèo Hoang”

Dài: 8.8 m, Cao: 2.8 m, Cánh: 11.6 m

Trọng lượng võ trang: 3,610 kg

Động cơ 1,200 mã lực

Tốc độ tối đa: 515 km/g

Đường kính: 1,240 km

Trần bay: 12,000 m

4 đại liên 12 ly 7, 2 bom 45 kg

Tuy bay chậm hơn chiếc Zéro và gia tốc vượt lên thấp hơn (9.9m/s so với 15.7 m/s), F4F Wildcat bọc thép dầy với thùng xăng hàn kín có khả năng chịu đạn gây kinh ngạc cho phi công Nhật.


Chúng tôi gia tăng cao độ lên 3,900 thước rồi bay về phía Ðông đến đảo Buka. Ðây là hòn đảo xinh đẹp đặc biệt, cách Rabaul khoảng 60 dặm. Màu xanh tươi sáng, và giống như hình móng ngựa, hòn đảo san hô này có cái tên ghi trên bản đồ là Ðảo Xanh. Tôi không bao giờ nghĩ rằng quang cảnh đầy màu sắc và hấp dẫn phía dưới sẽ cứu mạng tôi sau này.

Trên không phận Buka, đội hình hợp đoàn xoay về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây đảo Bougainville. Mặt trời chiếu xuyên qua mây. Sự oi bức khiến tôi khát nước, và đây cũng là hiện tượng mà chúng tôi thỉnh thoảng cảm thấy khi tiến vô đất địch. Tôi lấy một chai sô-đa trong hộp thức ăn và, không suy nghĩ, tôi mở nút. Tôi quên khuấy độ cao. Ngay khi nút chai vừa bật, nước sô-đa vọt lên dữ dội, áp lực thoát ra trong không khí hiếm hoi. Trong nhiều giây, nước sô-đa bao phủ hết mọi thứ trước mắt tôi. Chất đường trong nước có ga khô lại trên kiếng đeo mắt khiến tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi chửi toang cho sự ngu đần của mình. Mất hết 40 phút tôi mới lau sạch hết mọi thứ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lố bịch hơn. May thay các huấn luyện viên của trường phi hành Tsuchiura không nhìn thấy! Cũng may là các đồng ngũ và cả Ðại úy Sasai không nhìn thấy… nếu không họ sẽ cười nhạo đến tối. Tôi tự hứa sẽ không kể với ai chuyện này, trừ ra với Hatsuyo. Chắc là Hatsuyo sẽ cười khúc khích. Cô em họ của tôi đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ khả ái và kỳ lạ là tôi hay nhớ đến Hatsuyo tuy vẫn nhận thư của Fujiko đều đặn. Tôi sẽ không kể chuyện sô-đa với Fujiko vì cần giữ thể diện, nhưng với Hatsuyo, chung huyết thống, tôi thấy gần gũi. Tôi lau kiếng như một bà nội trợ lau bếp, cho đến lúc tôi có thể nhìn thấy mọi hướng, chúng tôi đã bên trên đảo Vella Lavella, nằm giữa đường Rabaul và Guadalcanal.

Bay ngang New Georgia, chúng tôi gia tăng độ cao và lướt qua Russell trên 6,000 thước. Cách năm mươi dặm trước mặt chúng tôi, Guadalcanal hiện ra lờ mờ trên mặt nước. Ngay cả ở khoảng cách xa này, chúng tôi cũng nhìn thấy ánh lửa vàng hực nổi bật lên nền trời xanh bên trên hòn đảo đang tranh chấp. Hiển nhiên các trận đụng độ đã xảy ra giữa những chiến đấu cơ Nhựt đến từ các căn cứ khác Rabaul với phi cơ bao che của địch quân. Tôi nhìn xuống bờ biển phía Bắc Guadalcanal. Trong eo biển nằm giữa Guadalcanal và

Florida, hàng mấy trăm vệt trắng chạy ngang dọc trên mặt nước, là tàu chiến của địch. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều chiến hạm và dương vận hạm cùng một lúc như vầy.

Ðây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc hành quân không-thủy-bộ hỗn hợp của Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân to tát không thể nào tin nổi. Có ít nhứt 70 chiến hạm đang tiến vào các bãi biển, hàng chục khu trục hạm bao quanh, và nhiều chiến hạm ẩn hiện phía chân trời, khoảng cách quá xa khó có thể phân biệt hoặc đếm được.

Lúc ấy các oanh tạc cơ Betty chầm chậm vung rộng ra để thả bom. Ngay phía trên các phi cơ này là những đám mây nhỏ treo lơ lửng ở cao độ 4,000 m. Phía bên phải và ở trên cao, mặt trời chói loà xoá nhoà mọi thứ trước mắt. Tôi cảm thấy bất an, vì chúng tôi không thể nào nhìn thấy được chiến đấu cơ Mỹ nhào xuống từ góc đó. Ðiều lo sợ của tôi đã sớm thành sự thật. Không một dấu hiệu nào báo trước, 6 máy bay địch thình lình nhô ra khỏi ánh sáng loé mắt. Chỉ cần liếc qua, tôi thấy ngay những phi cơ này to lớn hơn mọi loại chiến đấu cơ Mỹ mà chúng tôi thường chạm trán. Tất cả đều sơn màu ô liu, chỉ phía dưới cánh là sơn màu trắng. Ðó là loại chiến đấu cơ Wildcat, Grumman F4F lần đầu tiên tôi đụng độ.

Mấy chiếc Wildcat, không biết có sự hiện diện của các chiến đấu cơ Zéro, chúi xuống tấn công các oanh tạc cơ Nhựt. Nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi xông tới, và một số khai hoả ngoài tầm, hy vọng xua đuổi phi cơ địch. 6 chiếc Wildcat cùng lộn nhào tức thì và chúi xuống biến mất. Phía trên mặt nước cạnh đảo Savo, các oanh tạc cơ bắt đầu thả bom xuống nhóm chuyển vận hạm to lớn của địch quân. Tôi nhìn theo hướng bom rớt. Những cột nước dâng cao khỏi mặt biển, nhưng chiến hạm địch vẫn lướt tới, không hề rối loạn.

Hiển nhiên, cố gắng thả bom cho trúng các chiến hạm đang chạy từ độ cao 6,000 thước là một việc làm ngu dại. Tôi không thể nào hiểu được tại sao không sử dụng thủy lôi đã từng chứng tỏ sự hữu hiệu trong quá khứ. (Ngày hôm sau các oanh tạc cơ này quày lại, lần này mang theo thủy lôi để tấn công ở cao độ thấp. Nhưng bấy giờ thì đã trễ. Chiến đấu cơ địch đông như kiến bu quanh và nhiều chiếc Betty bị nhận đầu xuống biển trước khi tiến đến gần mục tiêu…) Sau khi trút hết bom, các oanh tạc cơ hai máy lạng qua trái và gia tăng tốc lực để trở về Rabaul. Chúng tôi hộ tống các oanh tạc cơ qua khỏi đảo Russell, ra ngoài tầm hoạt động của máy bay địch, và quày lại Guadalcanal. Lúc ấy khoảng 1 giờ 30 chiều. Chúng tôi lướt qua Lunga, tất cả 18 chiếc Zéro đều chuẩn bị lâm trận. Một lần nữa, trong ánh mặt trời chói chang gây mù loà, mấy chiếc Wildcat nhào xuống nhóm phi cơ của chúng tôi. Tôi là phi công duy nhứt phát hiện cuộc tấn công và lập tức, tôi chĩa mũi chiếc phi cơ của tôi thẳng đứng lên với những chiếc Zéro khác tiếp sau. Mấy chiếc Wildcat lại phân tán và chúi xuống theo nhiều hướng khác nhau. Chiến thuật lẩn tránh của đối phương không có vẻ rối loạn, và lối lẩn tránh này khá lạ. Có vẻ như phi công Mỹ không có ý định quyết chiến hoặc đang muốn dụ chúng tôi vào bẫy.

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Trần Vũ

3rd September 2020

Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 17

Tháng 7-1942 Sư đoàn 55 Biên Trấn Nhật Bản của Thiếu tướng Tomitaro Horii đổ bộ lên Buna, bên này bán đảo Papua New Guinea, với sứ mạng vượt 160 cây số rừng già để tiến xuống phía nam đánh chiếm pháo đài Moresby, phá cửa ngõ cuối cùng vào Úc châu.

Một nhiệm vụ bất khả, ngay cả đối với Sư đoàn 55 danh hiệu So-heidan, chuyên tác chiến ngoại biên, là đơn vị đã chiếm Guam, bắt sống Thống đốc George Johnson McMillin và đánh bại Lục quân Anh tại Miến Điện trong năm 1941.

Bất khả, vì Đồng Minh dàn Sư đoàn 32 Bộ binh Mũi Tên Đỏ, “The US Red Arrow Division” với các Lữ đoàn Thép, The Iron Brigades và Sư đoàn 7 Dã chiến Úc-Đại-Lợi là sư đoàn đã tử thủ tại Tobruk, đẩy lui Quân đoàn Châu phi của Rommel. Các cựu quân nhân VNCH tham dự Hạ Lào 1971 đều biết: chiến tranh miền núi bất lợi cho phía tấn công. Các sĩ quan VNCH từng kiểm chứng quân đội Úc tác chiến rất giỏi trong rừng rậm. Không ngẫu nhiên, vì bắt nguồn từ truyền thống trận Buna. Phía Úc tăng cường thêm 3,000 binh sĩ thổ dân của các Chiến đoàn Dân Sự Vụ Chiến đấu và chi đoàn chiến xa nhẹ M3 Stuart. Thống tướng McArthur có ưu thế đánh trên đất nhà với hải cảng Darwin làm trạm trung chuyển tiếp tế, và hậu phương Queensland ngay phía sau Port Moresby.

Ít hơn 1/2 quân số, tiếp vận yếu kém, không pháo binh nặng, không cơ giới, không hải pháo vì đã tiến sâu vào rừng rậm, lính Nhật kiệt sức khi còn cách Moresby 32 cây số. Không phải cách 1 dặm như Sakai viết, đây chỉ là những toán viễn thám mà thôi, các Trung đoàn 112 và 144 Bộ binh của Sư đoàn 55 Biên Trấn hãy còn cách Moresby bằng khoảng cách từ Biên Hòa vào Sàigòn. Đuối sức, Thiếu tướng Tomitaro Horii tháo lui rồi tử trận. Vinh thăng Trung tướng. Vẫn là một thất bại.

Quận lỵ Buna chỉ cách căn cứ Lae 268 cây số đường chim bay và cách Port Moresby 304 cây số, nên phi đoàn của Sakai nhận lệnh không yểm cho Thiếu tướng Tomitaro. Lần đầu tiên các phi công Samurai chạm trán với phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless là máy bay oanh kích đâm bổ đánh chìm nhiều chiến hạm Nhật nhất trong Thế chiến. Cũng lần đầu tiên xuất hiện chiến đấu cơ Grumman F4F Wildcat của US Navy. Cả hai kiểu máy bay trên, tuy bay chậm hơn Mitsubishi Zéro, khiến Sakai và các đồng đội anh khinh dễ, nhưng vỏ thép dầy với thùng xăng hàn kín giúp tăng sức chịu đạn, sẽ thành đối thủ lỳ lợm. 

Chương kế tiếp, Đô đốc Nimitz tư lệnh Pacific Fleet tổng phản công tái chiếm quần đảo Solomon. Những trang sử oanh liệt của Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, hậu cứ Camp Pendleton, viết trên bãi cát Guadacanal. Những trang sử tiếp theo, ra ngoài hồi ký Samurai, của The First US Marine Division sẽ viết trên đất Chu Lai -Trung phần Việt-Nam- vào tháng 3-1966.

 [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 17

Chương 17

Chúng tôi bước qua giai đoạn mới của cuộc chiến vào ngày 21 tháng Bảy, khi một sư đoàn bộ binh Nhựt đổ bộ lên Buna, cách phía nam Lae 268 cây số. Bộ binh lập tức mở đường xuyên qua rừng già dầy bịt trên đảo để tiến đến hải cảng Moresby. Nhìn trên bản đồ, cuộc điều binh không mấy gì khó khăn. Buna giống như một hòn đá được quăng ra từ Moresby để nối liền eo biển giữa nó và bán đảo Papua. Nhưng tình trạng các hòn đảo rừng rậm trên bản đồ hoàn toàn khác biệt với tình trạng nghiệt ngã phía dưới những tàn cây kín như bưng. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sai lầm khủng khiếp và chết người. Trước khi cuộc hành quân này chấm dứt, Nhựt Bản phải chịu đựng một trong những tai họa bi đát và nhục nhã nhất.

Rặng núi Owen Stanley có lẽ còn cao hơn rặng núi đáng sợ Alpes. Nếu chỉ mô tả rừng rậm dầy bịt trên sườn núi không thôi thì e quá dễ dãi. Dưới đời sống của cây cối còn nhiều sự tàn bạo không thể tưởng tượng nổi. Nếu không có những ao đầm, những bãi lầy dưới chân thì cũng phải là những tảng đá bén như dao cạo, những cái dốc thẳng đứng. Ðó là không nói đến các loại sên vắt, khí hậu nóng bức đến nghẹt thở, và những chứng bệnh chết người không thể tìm ra nguyên nhân.

Vượt qua băng tuyết trên rặng Alpes có lẽ còn dễ dàng hơn vượt qua rừng rậm của dãy núi Owen-Stanley. Ðơn vị nào lọt ngay vô một bãi lầy thì kể như tiêu luôn. Khí hậu vừa nóng bức vừa ẩm thấp khiến cho các sây sát hoặc vết thương lở loét thêm. Từ mọi lỗ chân lông mồ hôi tươm ra cho đến khi nước trong người khô cạn. Ðồ trang bị hư hại, quần áo rách tả tơi, đôi chân bị cắt nát bấy bởi đá, gai góc và lá cây sắc nhọn như dao.

Trong nhiều tháng ròng rã, lực lượng bộ binh của chúng tôi đã xung đột với một kẻ thù tồi tệ nhứt mà họ chưa từng đối diện bao giờ. Một kẻ thù không có súng ống, không đặt mìn bẫy, nhưng đã lần lượt nuốt trọn hàng ngàn binh sĩ Nhựt. Nhiều đơn vị cũng lập được chiến công siêu phàm, tìm đường lần mò đến gần mục tiêu chỉ định, pháo đài Moresby, trong vòng một dặm. Nhưng các đơn vị này đều bị tiêu diệt, đa số chết đói vì loay hoay trong rừng rậm không tìm được lối thoát.

(*) Thất trận Buna của Nhật Bản thêm dễ hiểu nếu nhìn vào phóng đồ hành quân Lam Sơn 719: Từ Khe Sanh đến Tchéphone chỉ cách 65 cây số đường rừng mà 3 sư đoàn thiện chiến nhất của VNCH, với không yểm hùng hậu của Hoa Kỳ, chạm đích là bị đánh bật. 160 cây số rừng già từ Buna xuống Moresby là Đường đi không đến.   

Cuộc tấn công trên bộ là một cựa quậy tuyệt vọng. Trước kia Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã sắp xếp một cuộc tấn công Moresby quy mô, cả hai mặt đường biển và đường bộ. Nhưng kế hoạch này đã bị bãi bỏ vào ngày 7 tháng 5, khi hai hàng không mẫu hạm Nhựt đụng độ với hai hàng không mẫu hạm của địch trên biển San Hô. Ðây là trận hải chiến đầu tiên mà tàu cả hai phía không bắn một phát súng nào. Mỗi lực lượng chỉ sử dụng phi cơ oanh tạc lẫn nhau. Chúng tôi thắng trận này, nhưng địch quân đạt được mục đích của họ: cuộc tấn công thủy bộ như dự tính đã bị bãi bỏ.

Với cuộc đổ bộ của bộ binh ở Buna, Tổng Hành Dinh Rabaul ra lịnh cho chúng tôi đình chỉ các cuộc tấn công Moresby, và tất cả các phi cơ quay sang không yểm cho cuộc đổ bộ. Cuộc đổ bộ Buna, mà sự thất bại đã nhìn thấy ngay khi nó được phát động, chỉ là một phần trong một cuộc hành quân rộng lớn hơn. Sự thất bại này không chỉ do rừng rậm gây ra, nhưng còn do sự thiếu hiểu biết về các vấn đề tiếp vận của giới chức chỉ huy. Sự yếu kém này, phối hợp với những chuyển động vượt trội của đối phương, một thảm họa đã cầm chắc trong tay.

Cùng lúc với cuộc đổ bộ ở Buna, một đơn vị xung kích đã nhảy lên mũi cực Ðông của đảo New Guinea. Làm việc ngày đêm, đơn vị này thiết lập được một phi trường mới bên ngoài rừng rậm ở Rabi, với ý định đổ tiếp liệu cho binh sĩ di chuyển từ đầu cầu Buna xuyên qua New Guinea. Thật lạ lùng, địch quân không dội bom lúc công việc thiết lập phi trường này còn dở dang, nhưng họ ghi nhận đầy đủ bằng không ảnh do phi cơ thám thính chụp. Tuy nhiên, khi binh sĩ của chúng tôi vừa hoàn tất nhiệm vụ, lực lượng địch đánh úp bất ngờ, và vét trọn đơn vị phòng giữ của chúng tôi. Ðó là một cú đánh đẹp mắt, Nhựt Bản thiết lập phi trường để cho phi cơ của Hoa Kỳ và Úc Ðại Lợi sử dụng.

Nhưng đối phương không hài lòng với phi trường của Nhựt khá đơn sơ này. Công binh của họ thiết lập những phi đạo mới trong khu rừng với một tốc độ tiến hành đáng kinh ngạc. Oanh tạc cơ hạng trung và chiến đấu cơ của họ đáp trên các phi đạo mới này, ngay khi còn đang dở dang. Và các cuộc không tập càng lúc càng gia tăng khối lượng phi cơ và bom. Không đêm nào mà không có những chiếc B25 Mitchell và B26 Marauder xuất hiện.

Trong ngày, Phi đoàn Lae phải cắt đặt thế nào để luôn luôn có 6 đến 9 chiến đấu cơ Zéro hoạt động trên không phận Buna, đồng thời phải duy trì một lực lượng bảo vệ phi trường. Nhiệm vụ bao che Buna quá sức chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn tìm cách ngăn chặn các cuộc không kích quy mô của đối phương nhằm tiêu diệt các đầu cầu đã thiết lập.

Ngày 22 tháng 7, trong một phi vụ bao che gồm 6 chiến đấu cơ Zéro, tôi bắn hạ thêm hai phi cơ địch, nâng tổng số nạn nhân của tôi lên 49.

Một vài tuần kế đó, chúng tôi vẫn giữ nhiệm vụ bao che khu vực bãi biển Buna, nhưng vào hạ tuần tháng Bảy chúng tôi phải đương đầu với một giai đoạn mới đầy xa lạ của cuộc chiến. Lịnh đưa xuống từ Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Ðại tá Saito chỉ thị mọi phi công phải mang dù trong khi chiến đấu. Tôi có một cảm giác kỳ lạ với cây dù phía sau lưng và những sợi dây buộc quanh thân. Tôi chưa bao giờ bay với tình trạng gò bó như vậy trước đây.

Một lịnh khác đã làm chúng tôi ngơ ngác không khác gì lịnh mang dù. Ðại tá Saito ban xuống, từ nay trở về sau không có chiến đấu cơ nào được vượt qua rặng núi Owen-Stanley, và lịnh này không giải thích lý do.

Chỉ có một dịp duy nhứt, vào ngày 26 tháng 7, đã khiến tôi thấy lại hải cảng Moresby. Chúng tôi nghinh chiến 5 oanh tạc cơ Marauder trên không phận Buna, tôi bắn hạ hai chiếc rồi cùng với Sasai và Endo truy đuổi những chiếc còn lại. Chúng tôi vượt quá bên kia rặng núi, trái với lịnh đưa ra. Ðó là lần cuối cùng chúng tôi bay trên căn cứ của địch quân. Tình thế chúng tôi thay đổi nhanh chóng. Vào cuối tuần lễ đầu tiên của tháng Tám, chúng tôi bắt đầu đối diện với những tình trạng mà chúng tôi chưa bao giờ biết đến trước đây. Người Mỹ đã phát động một cuộc đổ bộ quy mô lên đảo Guadalcanal.

Ngày 29 tháng Bảy, Ðại úy Joji Yamashita quay về Lae, sau một phi vụ tuần thám ở Buna, với một tin tức gây xôn xao cả căn cứ. Lần đầu tiên các phi cơ của ông bị phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ tấn công. Trước giờ chúng tôi chỉ đụng với Không quân của Lục quân Hoa Kỳ là USAAF. Lần này là US NAVY.

Ðại úy Yamashita đã báo cáo với Ðại tá Saito và Trung tá Nakajima rằng 9 chiếc Zéro của ông đã chạm trán với một lực lượng hỗn hợp bao gồm các loại chiến đấu cơ Grumman F4F Wildcat và oanh tạc cơ Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ, được hướng dẫn đến Buna bởi các chiến đấu cơ P-39 Airacobra. Theo xét đoán của ông lực lượng này phát xuất từ Rabi. Ðây là lần đầu tiên các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện trong khu vực chiến đấu của chúng tôi.

Tin tức về một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đã di chuyển vô hải phận New Guinea là một điềm dữ, và các sĩ quan tham mưu của chúng tôi có vẻ xao xuyến. Nếu người Mỹ đưa được hàng không mẫu hạm vô hải phận này để phóng ra các cuộc tấn công vào Lae, Buna và Rabaul thì chiến thắng của họ ở Midway kể như có thật và đồng thời phủ nhận những mất mát quan trọng của họ trong trận đánh ở biển San Hô. Trước đó, Ðông-Kinh đã công bố rằng hạm đội của chúng tôi đã tiêu diệt hết hàng không mẫu hạm địch trong các cuộc đụng độ ở biển San Hô và Midway, nếu sự thật đúng như vậy, tại sao lại có một hàng không mẫu hạm trong vùng lân cận của chúng tôi? Chúng tôi bắt đầu nghi ngờ những công bố chiến thắng mà Ðông-Kinh luôn luôn lặp đi lặp lại.

Tuy nhiên, đa số phi công chiến đấu ở Lae đã ghi nhận tin tức với một thái độ khác biệt hoàn toàn. Ðêm đó, chúng tôi đã đặt nhiều câu hỏi với các phi công của Ðại úy Yamashita. Có bao nhiêu phi cơ của Hải quân Mỹ? Loại chiến đấu cơ F4F Wildcat có tốt hơn loại chiến đấu cơ P-39 Airacobra và Curtiss P40 Warhawk không? Các phi công US Navy tài giỏi bậc nào?

Những câu giải đáp của họ đã làm chúng tôi bền chí. Phi đội của Yamashita đã hạ 3 phóng pháo cơ Dauntless, 5 chiến đấu cơ Wildcat và 1 chiếc P-39 mà không mất một chiếc Zéro nào. Do đó những gì có thể xảy ra ở Midway, ở biển San Hô hoặc bất cứ nơi nào khác không còn quan trọng đối với chúng tôi nữa.

Chúng tôi chỉ cần biết trong bốn tháng liên tiếp vừa qua chúng tôi luôn luôn chiến thắng, và các phi cơ của Hải quân Hoa Kỳ xuất hiện chẳng qua là giúp cơ hội cho chúng tôi chiến thắng nữa.

Ba ngày liền các phi cơ mới của địch không thấy xuất hiện ở Buna. Vào ngày 30 tháng Bảy, chín pháo đài bay B17 tấn công khu vực đầu cầu đổ bộ, và cuộc tấn công xem như đã đạt hiệu quả. Chín chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ bắn rơi được 1 pháo đài bay địch. Tôi đã gặt hái được chiến thắng này khi tôi đụng đầu với chiếc B17 trên mũi Nelson, với tất cả hoả lực tập trung vào mũi của nó. Chắc chắn viên phi công chính và phụ đều thiệt mạng, vì chiếc phi cơ khổng lồ đâm chúi xuống biển. Ðó là một trong những trận đánh khó khăn nhứt của tôi, vì tôi trở về Lae với nhiều vết thương ở cánh tay phải do đạn địch gây ra. Tôi chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, và các chuyên viên cơ khí phải làm việc suốt đêm để vá lại hàng chục lỗ đạn ở thân và cánh chiếc phi cơ của tôi.

Vào ngày 2 tháng Tám, hình ảnh của những chiếc phi cơ mới của Hải quân Hoa Kỳ biến mất trong đầu óc tôi. Khi ngày sắp hết, lúc bay quần trên Buna ở cao độ 12,000 bộ, chúng tôi phát hiện 5 chấm nhỏ li ti nổi bật trong mây, cách đầu cầu đổ bộ nhiều dặm. Hình như là những chiếc pháo đài bay và ở cùng một cao độ với chúng tôi. Tôi bay dọc theo phi cơ của Sasai và ra dấu những oanh tạc cơ đang đến. Ông gật đầu và chúng tôi cùng báo hiệu cho các phi công khác. Chúng tôi vẫn giữ đội hình, bay vòng quanh chầm chậm cho đến khi tiếng máy của năm oanh tạc cơ nghe thấy rõ ràng. Sasai giơ tay lên, lắc cánh phi cơ ra lệnh phá vỡ đội hình chữ V của chúng tôi và tấn công trực diện theo hàng dọc. Chúng tôi quăng các bình xăng phụ. 9 Zéro chống với 5 B17 và hầu hết chín chúng tôi đều là những phi công hàng đầu của Nhựt về số điểm chiến thắng. Sasai cầm đầu cuộc tấn công. Ota bay cách 500 thước phía sau ông, tiếp theo là Endo. Tôi ở vị trí thứ tư, cũng cách 500 thước, với hai phi công bên cánh là Yonekawa và Hatori ở phía sau đuôi, tức ở vị trí thứ năm và sáu. Nishizawa ở vị trí thứ bảy, kế đó là Takatsuka và cuối cùng là trung sĩ Yashio Sueyoshi. Chín chiến đấu cơ trải dài ra 400 thước và trên đó là những phi công tài giỏi nhứt Nhựt Bản.

Các pháo đài bay khép chặt đội hình khi chúng tôi áp sát. Phi cơ Sasai hạ xuống phía dưới chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu rồi vượt lên và từ từ lăn tròn để nhắm “dưới cằm” của phi cơ địch. Giây thứ hai sau khi ông khai hoả và vượt lên, vừa vượt vừa bắn, từ các oanh tạc cơ, những dòng khói ria ra, nhưng đó là khói của các khẩu đại liên 50. Ðội hình của địch vẫn không thay đổi.

Thế rồi Ota lướt đến hành động giống như Sasai. Tôi nhìn thấy những tia đạn từ phi cơ của hắn trúng vào chiếc B17 dẫn đầu, và hắn lướt thẳng lên. Một tiếng nổ dữ dội rung chuyển mọi phi cơ xung quanh và bầu trời như bao phủ trong làn khói. Chiếc oanh tạc cơ không còn nhìn thấy nữa. Nó biến mất, tan ra thành muôn ngàn mảnh vụn do bom chất đầy trong phi cơ phát nổ. Ðó là một đòn sát thủ ngoạn mục nhứt trên không mà tôi được nhìn thấy từ trước đến nay. Tôi vui mừng khi nhìn thấy phi cơ của Ota vọt lên khỏi màn khói.

Lúc đó Endo cũng nhập cuộc, nhưng vô hiệu vì bị hoả lực chéo dữ dội của các oanh tạc cơ ngăn chặn. Bây giờ tới phiên tôi. Tôi kéo cần điều khiển nhè nhẹ về phía sau, chiếc pháo đài bay thứ ba lướt tới phía tôi chầm chậm. Gần hơn nữa và gần hơn nữa, tôi ấn cò súng. Không có tiếng nổ. Ðồ ngu. Tôi quên mở khoá an toàn, một sai lầm mà ngay cả những phi công mới biết bay chập choạng cũng không để mắc phải…! Tôi lộn nhào thật dữ dội để tránh chiếc B17 đang lướt đến chỉ còn cách tôi có 20 thước.

Tôi bị hoả lực bắn chéo của các xạ thủ địch. Chiếc Zéro lảo đảo khi những viên đại liên chọc vô thân, và tôi cảm thấy bị xốc khi nghe tiếng đạn xoi vô chất kim khí. Hiện thời tôi bối rối hẳn, và chiếc phi cơ phơi bụng lên trên. Tôi gạt cần điều khiển thật mạnh sang trái, chiếc Zéro lộn nhào thật dữ dội.

Ðại liên địch vẫn xẹt ngang tứ phía. Tôi lướt qua, nhưng không phải là không bị hư hại. Tôi chửi thề sự ngu dốt của mình, nhưng có chửi thì cũng đã quá muộn. Tôi hạ xuống phía dưới đội hình của đối phương, và vọt cấp tốc về phía các oanh tạc cơ để đánh nữa.

Nishizawa đang quất một cú đẹp mắt, hắn vừa xoay tròn chầm chậm vừa vượt lên, lăn tròn một vòng như chớp khi khoảng cách giữa hắn và phi cơ địch thâu hẹp lại, rồi rót một loạt đại bác vô thùng xăng bên cánh của đối phương. Tức khắc, lửa túa ra, lan thật mau, và trong một vài giây chiếc pháo đài bay biến thành một cuộn lửa khổng lồ.

Lửa hực theo chiều gió dọc theo thân chiếc B17 đang trôi đi tuồn tuột, rồi mũi cắm xuống đất. Lúc ấy Sasai đã quay trở lại chụp hoả lực lên một chiếc oanh tạc cơ  khác từ mũi đến đàng đuôi ở khoảng cách chỉ khoảng 150 thước. Thân chiếc phi cơ lãnh đạn lộn nhào về phải, mất kiểm soát. Tôi thấy lửa thò ra từ trong thân chiếc phi cơ, lan tới phòng lái và tháp súng thứ hai. Lửa dữ dội hơn trong vòng hai phút và một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên, đánh dấu sự hủy diệt của chiếc B17 thứ ba.

Tôi vượt lên theo hình thắt nút dây, căng mắt dõi theo hai chiếc oanh tạc cơ còn lại, chúng đang rẽ về hai hướng khác nhau. Một chiếc đang hướng đến một mỏm núi chởn chơ, một chiếc quay ra biển. Tôi đang theo hướng chiếc đang bay ra biển gần nhứt. Chiếc B17 chao đảo liên hồi khi tôi cố chụp lên buồng lái và bên cánh của nó bằng những loạt đạn tầm dài. Ðại bác 20 ly của tôi hộc lên từng loạt.

Có điều lạ là chiếc phi cơ không chịu buông sức nặng trong mình ra. Nó vẫn trốn chạy với những trái bom mang theo. Tôi chúi xuống để lấy đà rồi lại vượt lên từ phía dưới chiếc oanh tạc cơ và khép khoảng cách vào phía cánh trái của nó. Chiếc B17 lớn hơn, lớn hơn nữa trong mắt tôi. To dần cho đến khi gần sát. Tôi vồ ngược lên, và đưa mắt nhìn những viên đạn chọc thủng cánh trái của nó. Thế giới như đổ sụp. Một màn ánh sáng gay gắt hừng hực tràn ngập bầu trời khiến tôi thấy tối tăm mặt mũi. Có một bàn tay khổng lồ tóm lấy chiếc Zéro và lắc qua lắc lại thật dữ tợn. Tai tôi điếc câm và tôi nghe mùi máu ứa ra từ trong mũi. Pháo đài bay thứ tư đã ra đi vĩnh viễn. Mỗi chiếc đều bị hủy diệt với chính những trái bom mang bên trong. Hiện thời chỉ còn lại một chiếc đang chạy về phía dãy núi. Tám chiếc Zéro ùa theo, giương nanh múa vuốt như lũ chó săn bu quanh một con heo rừng. Tuy nhiên mấy chiếc Zéro khó bắt kịp chiếc B17, vì lẽ nó đã thả hết bom để gia tăng tốc lực. Hướng bay của nó cắt ngang qua mũi của tôi, tôi nhận thấy đó là một dịp may để ngăn chặn trước khi nó tiến sâu vô đất liền.

Ngay khi gia tốc lên hết tối đa, lướt về phía trước, tôi phát hiện ba chiếc Airacobra ào xuống từ phía Ðông và tiến sát vào tám chiến đấu cơ Zéro đang truy địch. Ba chiếc P-39 bắt đầu vượt lên, định chụp mấy chiếc Zéro lơ đãng. Tôi xoay một vòng thật rộng, cũng với ý định chụp trước ba chiếc P-39 “lơ đãng” này.

Ngay khi chiếc P-39 đầu tiên vừa đặt chiếc Zéro bay cuối vào vòng ngắm thì tôi chúi xuống thật nhẹ nhàng. Chắc viên phi công địch sẽ không bao giờ biết được những gì đã xảy ra, vì ngay lập tức một loạt đạn đại bác và đại liên của tôi đã nghiền nát thân phi cơ địch ra từng mảnh, một cái cánh bay ngang qua thân chiếc Zéro của tôi. Tiếng súng tôi đã báo động cho tám chiến đấu cơ Zéro và lập tức hai chiếc Zéro xoay thân và chúi xuống theo hình trôn ốc và rớt ngay xuống hai chiếc P-39 kia, diễn tiến chỉ trong vòng một giây. Tôi ghi nhận đó là hai phi công vô địch Nishizawa và Ota. Mỗi người chỉ thổi một quả đại bác, và hai chiếc Airacobra biến thành hai cây đuốc rớt xuống.

Nhưng nhiệm vụ trên không vẫn chưa chấm dứt, chiếc oanh tạc cơ còn sống sót đã bỏ đất liền để quay ra biển. Tốc lực của nó có vẻ sút giảm, và với máy móc đã hư hỏng, việc chiếc oanh tạc cơ này bị chúng tôi kéo xuống đất chỉ là vấn đề thời gian.

Trở về Lae, khi chúng tôi cho các chuyên viên cơ khí biết đã tiêu diệt được 5 pháo đài bay, họ nhảy nhót vui mừng. Năm pháo đài bay B17 và ba Airacobra, một ngày làm ăn khá khiển!

Samurai! – Saburo Sakai

Miyamoto Musashi

Post by Trần Vũ

August 26th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Post by Sơn râu 22 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 16

Ngay từ 1940 The British Royal Air Force (RAF) và The German Air Force (Luftwaffe) đã sáng chế ra Radar nhằm phát hiện máy bay đối phương. Phía Hoa Kỳ thử nghiệm thành công radar CXAM trên Thiết giáp hạm USS New York vào cuối 1938. Ngược lại Nhật Bản hoàn toàn tụt hậu trong lĩnh vực này. Cho đến lúc bại trận, radar Nhật vẫn thô sơ. Chính vì thiếu hệ thống Mắt Thần mà căn cứ Lae của Sakai thường xuyên bị tập kích bất ngờ.

 [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 16

Chương 16

Trong suốt tháng Sáu, chúng tôi chạm trán với một số lượng chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đối phương đông đảo chưa từng thấy. Chúng tôi được thông báo rằng đối phương đang gầy dựng lại một sức mạnh không lực quan trọng trong khu vực, và rằng từ đây chúng tôi phải dốc toàn lực cho những nhát chổi quét sạch bầu trời của chúng tôi. Ðiều này có nghĩa là chúng tôi phải tận dụng tất cả chiến đấu cơ Zéro hiện có trong tay. Ðối phương đã thiết lập thêm nhiều phi trường bên ngoài những cánh rừng trùng điệp trên khắp khu vực Port Moresby.

Các cuộc oanh tạc của chúng tôi cũng gia tăng đều đặn về số lượng, và các chiến đấu cơ địch đối đầu với chúng tôi cũng quyết tâm hơn. Vào ngày 17 tháng 6-1942, 12 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 18 oanh tạc cơ Betty, bay đến dội bom hải cảng Moresby, đã đánh bật bảy chiến đấu cơ nghinh chiến của địch quân. Cuộc oanh tạc này đã gây cho khu vực bến tàu Moresby hư hại nặng và đánh chìm một chiếc tàu chở hàng 8,000 tấn đang buông neo trong cảng. Khu trục cơ Mỹ tấn công máy bay chúng tôi trong suốt phi trình từ Moresby về mũi Ward Hunt, nhưng không gây thiệt hại. Ngày hôm sau, 9 oanh tạc cơ Betty và 9 chiến đấu cơ Zéro khác không tập Kido, nằm gần vịnh Rescar, một căn cứ mới của địch quân ở phía Bắc Moresby. 10 chiến đấu cơ địch đụng độ với 18 phi cơ Nhật, chúng tôi hạ hai chiếc mà không bị tổn thất nào.

Vào ngày 24 tháng Sáu, tôi trở về Lae sau khi nghỉ phép ở Rabaul, và cất cánh sáng hôm sau, nằm trong một lực lượng gồm 21 chiến đấu cơ tấn công Moresby. Tôi hạ được một trong số 11 chiến đấu cơ địch nghinh chiến. Sáng kế đó, Rabaul gởi 17 oanh tạc cơ trở lại Moresby với 11 chiến đấu cơ hộ tống. 12 chiến đấu cơ địch lên nghinh chiến và chúng tôi hạ thêm hai chiếc. Những thiệt hại liên tiếp của Ðồng Minh không ngăn họ tái võ trang Moresby.

Ðó là cuộc tấn công cuối cùng của tháng Sáu. Ngày hôm sau, mưa trút ồ ạt xuống khu vực Papua New Guinea. Mưa không chỉ trói chân chúng tôi mà còn trói chân cả Ðồng Minh. Mây che kín bầu trời hầu như suốt mỗi buổi trưa, và ban đêm cuồng phong quét ngang khu vực thật dữ dội. Chúng tôi yên lòng nhắm mắt tới sáng.

Tháng Bảy thời tiết bỗng thay đổi bất ngờ. Ngày thì mưa gió nhưng ban đêm bầu trời lại sáng dạ quang. Oanh tạc cơ địch bay đến hàng đàn hầu như mỗi đêm và trút bom xuống không ngừng nghỉ. Chúng tôi bó tay. Ngay cho dù phi đạo đủ rộng, thích hợp cho các hoạt động đêm, khả năng dạ chiến của chiến đấu cơ Zéro rất đáng nghi ngờ. Do đó, chúng tôi vẫn ở trên mặt đất, chui vô hầm trú ẩn và chửi rủa bọn Mỹ.

Bình minh ngày 2 tháng Bảy, chúng tôi đối đầu với một cuộc oanh tạc quy mô. Tiếng còi báo động rú lên, đánh thức giấc ngủ về sáng của chúng tôi. Chúng tôi gấp gáp mặc đồ bay và chạy túa ra phi đạo. Nhưng không ai chạy tới phi cơ được vì tiếng động cơ máy bay địch đã gầm thét trên đầu. Các phi công hối hả chạy vô hầm trú ẩn gần nhất.
Chúng tôi có thể nhìn thấy các oanh tạc cơ địch nổi bật trên nền trời đầy sao. Ðó là loại B25 Mitchell và B26 Marauder bay không cao hơn 600 bộ. Là chưa đến 200 thước

Sau khi thả hết bom, các oanh tạc cơ sà thấp trên ngọn cây bắn phá phi đạo và tất cả các cơ sở nằm trong tầm mắt. Ðạn địch rải lên phi đạo giống như mưa đá. Lúc lộp bộp cuốc đất lúc rôm rốp như ném liệng một chùm gạch đá. Cày xới tứ tung. Chỗ tôi nấp không an toàn, tôi bỏ chạy vào vị trí đặt súng. Tôi đẩy một xạ thủ ra khỏi súng máy và nói với hắn để tôi thay thế. Hắn đeo dính khẩu súng, và từ chối bỏ vị trí. Tôi không để mất thì giờ, đạp hắn một đạp ra khỏi chỗ ngồi. Hắn đứng dậy chửi rủa om sòm, nhưng một phi công khác đã chạy vô phía sau tôi nắm cổ xô hắn ra ngoài và lượm các băng đạn lên. Trọng liên Shiki kiểu 92 không tiếp đạn bằng dây mà từng thanh sắt nhồi 30 viên. Tôi nạp đạn. Ðợt xạ kích thứ hai của 6 chiếc Marauder đang lướt đến, tôi kéo cơ bẩm và ghìm súng chờ đợi. Một chiếc Marauder bay ngang trên đầu, tôi ria một tràng đạn từ mũi đến đuôi, nhưng không trúng. Chiếc oanh tạc cơ B26 quành lại, chúi ngay xuống vị trí đặt súng cao xạ, xạ thủ trước mũi của nó đáp trả hoả lực của tôi. Ðạn đại liên từ mũi chiếc B26 cày vạch tung tóe mặt đất. Ðây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi trên mặt đất với một chiếc phi cơ tiến thẳng đến trước mặt. Hình ảnh những trái bom xoáy xuống và nổ bùng trên vị trí đặt súng khiến tôi kinh hoảng. Tôi vụt bỏ chạy như giông như gió đến hầm trú ẩn xây bằng bao cát phía sau. Một vài giây ngồi trong đó, tôi cảm thấy như một tên hèn nhát ngù ngờ và vô lý. Chiếc oanh tạc cơ gầm thét trên đầu, lướt qua nhưng không thả bom. Tôi tự rủa thầm và quay lại khẩu súng mà tôi vừa bỏ chạy. Dần dần tôi lấy lại bình tĩnh và quyết không làm thỏ đế nữa.
Mấy chiếc oanh tạc cơ quày lại, tiếng cánh quạt vang vang như sấm động, cách mặt đất chỉ 150 bộ, tròm trèm 45 thước, các họng súng rực lửa. Tôi rót lên một tràng trọng liên nhắm chiếc phi cơ bay sau. Tôi rót liên thanh cho đến hết đạn. Một giòng khói túa ra, nhưng chiếc phi cơ này vẫn bay như thường và rồi biến mất vào chân trời

Ngày lên hẳn, sau một giờ dội bom và bắn phá, các oanh tạc cơ địch ra đi an toàn. Không một chiếc nào bị hạ cho dù các khẩu cao xạ của chúng tôi bắn hết đạn. Bọn phi công chúng tôi mất tinh thần đến nỗi loạt bom cuối cùng vừa dứt mà không ai dám chạy ra phi cơ cất cánh truy đuổi, như chúng tôi thường làm trước đây.

Hầu hết cơ sở của căn cứ đều bốc cháy. Phi đạo đầy dẫy mảnh sắt vụn, phi cơ không thể cất cánh được dù có cố gắng cách mấy đi nữa. Một việc khó thể tin, nhưng có thật, là 20 chiến đấu cơ Zéro đang đậu cạnh phi đạo hầu như an toàn, chỉ bị đạn và mảnh bom khoét lỗ. Chúng tôi tập trung vô bộ chỉ huy để nhận lịnh, trong lúc 200 binh sĩ công binh dọn dẹp khẩn cấp phi đạo. Hải quân Thiếu úy Mitsuo Sonitsu, vừa mới thuyên chuyển về Lae, giận dữ la hét, thề sẽ đâm thẳng vào oanh tạc cơ B26 bằng máy bay của hắn, ngay chuyến sau. Chúng tôi không chú ý lắm đến cơn thịnh nộ của hắn. Thình lình nhiều liên lạc viên chạy vô Bộ Chỉ Huy cho biết một cuộc tấn công nữa sắp xảy ra. “Hơn 100 phi cơ địch đang bay tới căn cứ!” Một trăm phi cơ! Một con số khó thể tin nổi! Cả trăm phi cơ, một con số khổng lồ. Chúng tôi chưa từng nghe nói đến một cuộc tấn công nào dữ dội như vậy. Các sĩ quan tham mưu có vẻ xao xuyến và ra lịnh cho mọi phi cơ cất cánh tức khắc. Chúng tôi chạy túa ra các chiến đấu cơ Zéro, rồ máy chạy ra phi đạo lúc ấy vừa mới dọn dẹp xong, rồi chờ đợi trong vị thế sẵn sàng. Sau đó, chúng tôi được báo cáo: “Một trăm chiến đấu cơ địch biến thành một trăm con cào cào”… Mọi người đều cười ồ.

Chúng tôi ăn trưa quanh Bộ Chỉ Huy, vẫn trong tư thế sẵn sàng cất cánh. Lúc chúng tôi còn đang nhai, các liên lạc viên chạy vô cho biết Salamaua báo cáo có 6 pháo đài bay B17 trên đường hướng đến căn cứ chúng tôi. Không ai phí một giây nào. Chúng tôi bỏ ăn, chạy như bay ra phi cơ. Căn cứ Salamaua chỉ cách Lae mấy phút bay. Các phi công khác đã cho phi cơ rồ máy ra phi đạo trong khi tôi vẫn nguyền rủa và loay hoay bên chiếc Zéro bất động của mình. Cố gắng cách mấy động cơ cũng không chạy. Tôi rồ máy đủ cách, cánh quạt vẫn không quay. Tôi leo xuống phi cơ, thiểu não, vì các chiến đấu cơ khác đã ở trên không rồi.

Tôi chạy băng ngang qua phi đạo hướng đến các hầm trú ẩn. Trung tá Nakajima từ một miệng hầm đưa tay vẫy gọi tôi rối rít và tiếng rít của một trái bom, hú ran giống như một lưỡi dao khổng lồ bửa xuống. Chém phạt với hết sức mạnh. Gió hất tôi bổ chúi vô hầm, đè trên lưng nhiều người nằm sẵn trong đó. Tức khắc, thế giới nổ tung. Tôi cảm thấy một áp lực cực mạnh chụp từ mọi phía đè thúc lên thân thể mình; một áp lực khủng khiếp đè gí lấy cơ thể và ghị tôi xuống sát đất, rồi tất cả biến thành màu đen. Tôi không thấy, không nghe gì nữa, như tôi đã rời xa hẳn thế giới quanh mình. Tôi cố cử động chân tay nhưng vô ích, tôi đã đông cứng. Có thể nhiều giây hoặc nhiều phút, tôi nghe tiếng gọi văng vẳng của Trung tá Nakajima. “Sakai! Sakai!”… Tôi cố gào lên để la “Tôi đây..” Tôi nghĩ rằng tôi la lớn lắm, nhưng lạ thay tôi không nghe thấy tiếng kêu của chính mình. Mũi miệng tôi cứng đờ. Có một cái gì chèn nặng lên trên ngực, lên thực quản và chặn ngang cằm. Tôi vùng mà chân tay không nhúc nhích. Giống tôi không có tay, không có chân. Không có cả thân mình. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lại văng vẳng: “Hắn bị chôn vùi rồi! Tìm kiếm đi! Ðào lên mau!” Trung tá Nakajima có giọng nói bình thường sang sảng mà lúc này nghe xa xôi.

Bị chôn? Dĩ nhiên! Tôi nằm dưới đá và cát. Tôi cố gắng mở mắt. Tối đen. Cơn sợ hãi ùa đến. Tiếng nói của Trung tá Nakajima lần này lớn hơn: “Gặp cái gì đào cái nấy! Mau lên! Dùng cây khượi lên! Cả tay và móng nếu các anh không có vật gì để đào! Mau lên!”.

Ghi chú quân sự:

Trọng liên Shiki 92 Heavy Machine Gun

Nặng 55 kg chưa tính chân.

Đạn 7 ly 7, vận tốc 732m/s.

Nhịp bắn 450 viên/phút.

Tầm xa tối đa 4500 m.

Tầm xa hiệu quả 800 m.

Trong hình là phiên bản bộ binh.

Oanh tạc cơ hạng trung North American B25 Mitchell

Phi hành đoàn 6 nhân viên và hoa tiêu.

Chiều dài 16 m. Chiều cao 4.8 m. Sải cánh 20.6 m.

Trọng lượng tối đa 19,000 kg.

2 X động cơ 1,850 mã lực (2 x 1380 kw).

Vận tốc tối đa 442 km/h.

Bán kính khứ hồi 2,170 km (tầm xa 4,300 km).

Võ trang 12 đại liên 12 ly 7 và 2,700 kg bom.

Oanh tạc cơ hạng trung Martin B26 Marauder

Xem chi tiết kỹ thuật trong chương X đã đăng.


Rồi những âm thanh lao xao vang lên, tiếng xẻng đào trong cát. Tiếng xúc, tôi chờ, cố gắng không cựa quậy. Cuối cùng một bàn tay phẩy phẩy đất trên mặt tôi, rồi cát trên mũi tôi vẹt ra. Ánh sáng bỗng nhiên tràn ngập. Ùa đến như có cả chục chiếc đèn pha rinh tới trước mắt. Tôi khạc nhổ trong lúc chói mắt. Nhiều bàn tay nhấc tôi lên. Không phải một mình tôi mà ít ra cũng hàng chục người nữa bị chôn vùi lúc trái bom nổ. Nhưng không có một ai bị thương. Bộ Chỉ Huy tan nát. Mái sập và hầu hết số phi cơ còn đậu trên phi đạo trở thành những đống sắt vụn, thùng chứa xăng của nhiều chiếc đang bốc cháy. Khói đen bốc phừng phừng. Một hố bom toang hoác sát cạnh như chứng tích của một may mắn là Bộ Chỉ Huy không bị đánh trúng bằng một cú “direct”.

Gần một giờ sau, các chiến đấu cơ đã cất cánh trở về căn cứ. Bọn phi công tiu nghỉu. Sáu pháo đài bay Hoa Kỳ đều bay thoát.

Chúng tôi phải bỏ ra hai ngày để sửa sang căn cứ Lae sau cuộc tấn công ngày 2 tháng 7. Và ngày 4, chúng tôi sẵn sàng mở trận phục thù trên phi trường Moresby. Hãy còn là ngày 3 do lệch múi giờ phía Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi tin rất phù hợp cho chúng tôi tham dự Lễ Ðộc lập Hoa Kỳ với pháo bông bắn thẳng từ họng đại bác của chúng tôi.

21 chiến đấu cơ Zéro gặp một ủy ban chào đón bao gồm 20 chiến đấu cơ địch trên không phận Moresby. Chúng tôi ra tay trong lúc chủ nhân vẫn còn tiếp khách bằng cách chúi xuống. Chín chiến đấu cơ địch chánh thức bị hạ, và còn thêm ba chiếc nữa què quặt.

Trên đường quay về, còn cách Lae nhiều dặm tôi đã nghe mùi khói phảng phất trong gió. Khi nhìn thấy căn cứ, chúng tôi mới biết khói đó bốc lên từ các cơ sở nằm cạnh phi đạo đang bốc cháy. Những cột lửa dâng cao, toả khói đen nghịt trên khắp khu rừng và bãi biển. Trong lúc chúng tôi vắng mặt, nhiều oanh tạc cơ địch bâu đến oanh tạc những kho chứa dầu.

Khi chúng tôi còn đang lượn vòng để đáp xuống, bảy chiếc B26 Marauder gầm thét trên cánh rừng phía dưới. Khi chúng tôi phát hiện, các oanh tạc cơ địch đã đến phi trường và những trái bom được thả xuống làm tung đất cát lên không. Lúc chúng tôi chúi xuống để truy đuổi địch, nhiều chiếc Zéro khác đã rời khỏi phi đạo, và chúng tôi bắt đầu một cuộc rượt đuổi 7 oanh tạc cơ địch như điên cuồng. Nhiều lần chúng tôi suýt đụng nhau trên không, chỉ tránh khỏi trong vòng gang tấc.

Một chiếc Zéro khác vừa cất cánh từ Lae bay bứt ra khỏi nhóm chánh, vượt qua mặt các oanh tạc cơ địch và vung trở trong một vòng xoay 180 độ rồi đâm thẳng góc vào chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu, có vẻ như muốn tự sát. Viên phi công không bắn một phát súng nào, chiếc phi cơ lướt đến như một cái bóng, với một tốc độ gần 600 cây số giờ, rồi lách phía dưới chong chóng bên phải của chiếc Marauder, bay dọc theo thân và hơi nghiêng cánh một chút. Chiếc cánh như lưỡi dao cạo của chiếc Zéro tiện đứt lìa bánh lái của chiếc Marauder. Chiếc Zéro vẫn tiếp tục bay thẳng và lướt lên cao, có vẻ như không bị tổn hại, nhưng sau đó chiếc phi cơ bắt đầu một loạt lộn nhào chầm chậm, dần dần mất cao độ và chúi xuống biển hết tốc lực. Chính là Thiếu úy Mitsuo Sonitsu. Vài giây sau đó, chiếc B26 mất đuôi xiên vẹo và lộn nhào liên hồi, phơi bụng lên trên và chúi xuống nước với một tiếng nổ đinh tai nhức óc. Lập tức, sáu chiến đấu cơ Zéro xông tới rót đạn đại bác và đại liên như mưa rào vào thân cánh các oanh tạc cơ Hoa Kỳ còn lại, chôn ngay một chiếc nữa xuống biển. Năm oanh tạc cơ khác chạy thoát.

Chúng tôi lại đánh Moresby vào ngày 6 tháng Bảy, với 15 chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty. Chúng tôi dứt điểm 3 chiến đấu cơ địch nữa.

Từ ngày 7 đến ngày 10 tháng Bảy, tới phiên đối phương đánh chúng tôi. Ba đêm liên tiếp, chúng tôi co rút như lũ chuột trong các hầm trú ẩn. Lae trở thành một cơn ác mộng của tiếng bom rền rền hàng loạt từ đầu sân bay đến cuối sân bay, những bựng khói và lửa, của những căn nhà đổ vỡ, của hàng ngàn mảnh bom bay tua tủa. Chắc chắn, đối phương dự định nghiền nát Lae ra như cám. Tuy nhiên họ không bao giờ đạt được mục đích này, chúng tôi vẫn còn chiến đấu cơ khả dụng để bay.

Ngày 11 tháng Bảy, chúng tôi vét hết lực lượng oanh tạc cơ để đánh Moresby một lần nữa. Mười hai chiến đấu cơ Zéro hộ tống 21 oanh tạc cơ Betty cất cánh từ Rabaul. Trên đường đi, Ðại úy Sasai phát hiện sáu chiếc B17 trực chỉ đến phi trường của chúng tôi. Ông tách ra khỏi nhóm hộ tống cùng với năm chiến đấu cơ khác, trong đó có tôi, Nishizawa và Ota. Chúng tôi gây hư hại cho ba pháo đài bay B17, nhưng không hạ được chiếc nào. Trái lại, một chiếc Zéro bị bắn cháy và các chiến đấu cơ khác kể cả tôi lãnh nhiều vết đạn.

Với chỉ sáu chiến đấu cơ hộ tống, đội hình của các oanh tạc cơ của chúng tôi bị chiến đấu cơ địch phá rối lúc đến mục tiêu, vì vậy bom thả không chính xác, gây thiệt hại cho địch không bao nhiêu. Việc này khiến cho Sasai bị khiển trách nặng nề. Thật sự Ðại úy Sasai đã vi phạm quy luật căn bản của chiến đấu cơ khi hộ tống: không bao giờ rời bỏ việc phòng vệ các oanh tạc cơ.