Đất nín đá câm

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Giống chúng ta, những người nằm không ngay ngắn dưới này hầu như đã trải qua bao phiêu dạt mới tìm ra chỗ an nghỉ sau cùng. Khác với thây ma, chúng ta vẫn còn dật dờ chân bước, dời đổi truân chuyên. Họ có địa chỉ thường trú, tôi thì không, sống tạm bợ vất vưởng đó đây, ăn nhờ ở đậu.

Trước, hẳn chú chẳng phải là người coi ngó mộ phần trong nghĩa địa?

Không, tôi là lính chế độ cũ. Tôi bị lãnh đạn vào giờ thứ hai mươi lăm. Không ai xem tôi là thương phế binh, đời tôi tàn phế tự mùa xuân u ám ấy.

Trời nắng, mới sáng sớm đã chóng oi ả, bức bối. May mà quanh đây hiện diện thưa thớt bóng lá xanh. Không biết cây tên gì, thân trắng mốc, ốm o xo bại chẳng tỏa rộng vũng im râm. Chùm lá run từng hồi, đôi ba con chim sẻ kêu chiêm chiếp chuyền cành, sửa soạn bay. Tiếng chim nghe sắc nhọn giữa những ụ đất thấp cao, kêu là kêu vậy chứ chẳng mang gửi niềm vui nỗi buồn nào cả, chỉ khuấy động chút âm thanh cho đất đai đỡ trầm mặc. Người đi trước dẫn đường chân hơi cà thọt, vành mũ rách xơ vải bạc, vai gầy, thấy xương bả vai nhô ra sau áo thun bẩn màu.

Đừng trách tôi tò mò, tuồng như cô là Việt kiều?

Dạ, có đi kèm với chữ hồi hộp không chú?

Là sao? Tôi không hiểu. Tâm cảm của người đi thăm mộ? Cô xa xứ e đã bộn tháng năm?

Dạ, mười ba tuổi lúc đi, giờ về đã gần bốn chục rồi.

Thiệt sao, trông cô đâu khoảng chỉ ba mươi.

Ba mươi tuổi tôi đã tay bồng tay bế rồi, chú tin không?

Có mang các cháu về theo?

Chúng ở lại, đường quá xa xôi và cha chúng không ưa về thăm quê. Chẳng có nhu cầu.

Gió thảng hoặc tạt ngang, hiếm muộn, mang theo mùi hoa héo tàn rữa nát. Chút khói hương lẩn khuất trộn với mùi đất vỡ. Chúng góp lại, tỏa lan chất đặc thù. Kẻ khiếm thị đui mù nếu sử dụng khứu giác sẽ hít thở rồi nhìn nhận được bàn chân đang dẫm vào lãnh địa của người chết. Và đứa sáng mắt dẫu không ngó ra xương cốt bày biện vẫn cảm nhận cái gai gai như chạm phải những oan hồn đang cút bắt giữa lối đi hẹp trồng sánh đôi những mộ phần.

Tươm tất quá, xem chừng ở đây luôn có người chăm sóc hộ.

Thì những kẻ đi viếng thăm, họ nhờ vã tôi nhổ cỏ hốt rác quét dọn. Sẵn, tôi cũng xắn tay áo cho những chỗ hương đèn tàn lạnh chẳng có ai ngó ngàng. Cô sẽ khó chịu nếu nhìn thấy nơi thì thừa mứa lễ vật nơi thì xiêu vẹo hoang vu.

Cám ơn lòng tốt của chú. Nơi xiêu vẹo hoang vu nói rõ được một điều: Những đứa liên hệ còn sống kia là những kẻ bạc lòng, bất hiếu…

Người đàn ông quay đầu. Mắt thiếu phụ đỏ, ứa ra một giọt nước , lặng lẽ, long lanh.

Hoàn cảnh. Cô nghĩ vậy sẽ thấy nguôi đi. Cũng do hoàn cảnh, tôi mới chôn đời mình chốn này. Dầu sao thì đây là thế giới an lành nhất.

Tôi nói điều không phải thì chú bỏ qua cho. Chú không sợ ma?

Cô nhìn con người tàn tạ của tôi đi. Tôi như thế này thì còn gì để sợ hãi một điều vớ vẩn nào khác! Điều khiến tôi ngán ngao là đôi khi phải chống chọi xua đuổi một bọn người, và có khi tôi đã thua cuộc.

Sợ người chứ ai lại đi sợ ma, phải không chú?

Bọn ấy là ma quỉ, yêu tinh thời đại đấy chứ. Chúng còn rất trẻ, đêm hôm tùng tam tụ tứ vào đây, đứa thì chích xì-ke, cặp thì cởi áo xống làm chuyện vợ chồng; chưa nói tới hạng người kinh khiếp hơn, mang cuốc xẻn đi đào xới những ngôi mộ mà chúng tin là có dấu chôn tư trang đồ vật qúy giá. Thời buổi này xẩy ra lắm chuyện khó tin, so ra ma hiện hồn lên, mếu máo khóc, thì ngó dễ chịu hơn.

Người đàn ông đứng lại, cong lưng để dùng tay xoa bóp ở một bắp đùi, chỗ tóp teo thương tật. Khuôn mặt cố dấu những biểu cảm.

Phạm vi này là nơi có số tuổi già nhất, có nghĩa là họ qua đời đã lâu. Hy vọng cô tìm ra người muốn tìm.

Người đàn ông cởi mũ vải vày vò trong đôi tay để mặc cho cô Việt kiều ngần ngại đi dòm mặt từng tấm bia khắc vết nông tên tuổi của những căn phần rêu bám. Cô đi loanh quanh, cô đi lòng vòng. Tóc rối trước trán, mồ hôi đổ khiến khuôn mặt ấy trông mệt mỏi. Vành môi khô, da mặt tái xanh, và thoáng chốc chỉ còn trông rõ mái tóc đen lẩn lút sau một tảng xi-măng. Im lặng, bờ vai run, dáng xiêu đổ. Nắng như xô cô xuống, làm thành bóng đen gãy gập trên ngôi mộ. Người đàn ông đọc tên chủ nhân: Nguyễn thị Nghĩa Ân. Một chủ nhân cô quạnh chẳng bà con thân sơ hôm nay đỡ tủi có người ở xa về nhìn nhận. Mạ… Cô Việt kiều chỉ thốt có một chữ. Một chữ thôi mà cây lá xao xác cựa mình. Gió ngoài đường lộ khoắn bụi thổi vô, mắt cay để rồi mắt ướt chảy trôi bụi đường.

Cô rời quê hương năm cô mười ba. Mười ba tuổi mà thuận thảo với những ảnh hình xưa cũ. Khư khư giữ lấy để sau này có điều kiện thì trải lòng chứng minh. Mấy đứa già đầu e chẳng sánh bằng. Người đàn ông nói khi trao bó hương. Như quen việc, ông thắp cháy nó đều đặn, thoáng chốc. Mạ ơi… Khói vật vã trên đầu nhang, như lòng ai đầy trắc ẩn. Người trông coi mộ phần quay lưng, bỏ người đàn bà ngồi lại với những tâm sự mà cô sẽ giải bày với kẻ khuất mặt. Âm dương luôn cách biệt, vọng ngôn sẽ trôi trên những thước đất lạnh, nhưng kỳ cục thay, người sống mãi tin tấm lòng mình sẽ được xương cốt cát bụi chứng giám. Họ an lòng với điều diệu kỳ nọ và như vậy, quanh ta vẫn còn đó những con người tử tế. Đôi lúc người ta phạm tội với tha nhân nhưng họ sẽ hoàn lương khi gục đầu thổn thức trước một mộ phần thân thuộc mong nhìn nhận chút lòng thành.

Ở chốn này thời gian hầu như ít lai vãng tới, ngày tháng năm chỉ là con số của quá khứ khắc ghi trên bia đá. Người ta chẳng quan ngại sao mới sáng đã trưa, chưa chiều đã tối mịt. Người đàn ông đôi khi cũng chẳng nhớ rõ số tuổi của mình. Điều ấy nào có gì hệ trọng? Ông chết bụi chết bờ chết dấm chết dúi thì cần quái gì một tấm bia ghi đủ ngày sinh ngày tử cầu chứng một thây ma vô danh bạc phận. Khi ông hút xong điếu thuốc thì cô Việt kiều trở ra. Áo quần bảnh bao đã nhăn nhàu, mặt hoa da phấn đã đôi phần hư hao. Cô ngó mông ra phía đường lớn, nắng gắt gao phía đó ùn đẩy với khói xe bụi mờ. Những tấm bia đứng án đã phần nào ngăn chận được thứ âm thanh vỡ bờ ngoài kia xô giạt vào. Thế giới an lành không chỉ nói riêng tới vùng đất của người chết hết múa may quay cuồng đâm thọc chém giết lẫn nhau, nó còn tượng trưng rõ là nó cách ly với thứ cảnh giới điên đầu chộn rộn bên ngoài đường ranh mong manh của cỏ dại với nhựa đường. Kẻ cắm cúi chạy xe máy có đội nón an toàn kia có thể sẽ lọt hố tử thần và đôi ba hôm sau khi hoàn tất xong mọi thủ tục kẻ ấy sẽ vào đây an nghỉ thực thụ. Gã đàn ông ngồi nhậu trong quán bia nọ đặt mắt nhìn đểu ai đó rồi ánh đao của đứa nực gà vung lên. Mang gã từ đời thường say xỉn qua bên này đường ăn nằm với dế giun xong một kiếp người vô vị.

Trước khi bước qua biên giới chia hai thế giới đối cực, cô Việt kiều dúi vào tay người đàn ông hai tờ giấy bạc 50. Tôi đi tay không vì chẳng hy vọng được nhìn ra chỗ mạ tôi nằm, xin chú mua giúp giùm tôi chút hoa quả bày ra cho đỡ lạnh lẽo. Mai mốt rồi tôi cũng trở lại viếng thăm. Người đàn ông không nói, nhìn lưng áo rịn ướt mồ hôi bước đi. Mang mỗi lúc một xa chút hương thơm kỳ lạ. Cũng là Việt kiều, nhưng cách trở về của họ đa phần chẳng giống bọn đàn ông. Họ “tử tế” vạn lần cánh mày râu và người đàn ông chợt hiểu do đâu mà cô hỏi: Việt kiều có đi kèm với hồi hộp? Hồi hộp có phải là trạng thái bất an khi ta đối mặt với một con ma?

Có được một trăm đô, thứ hiện kim lớn lao mà suốt đời dẫu mộng mị ông chẳng tài nào nắm bắt, sở hữu được. Nó làm ông rối trí, trong đầu tự dưng phân liệt ra những danh mục cần thanh thoả cần tiêu pha. Dù sao, việc trước mắt là ông gọi một chiếc xe ôm biểu chở tới chợ và ôm về những thứ hoa quả tuyển chọn. Thấy lỏng lẻo, ông ghé hàng cơm bụi mua chén cơm trắng, đĩa thịt heo quay, muỗng đũa đủ bộ sậu tinh tươm.

Ông làm sạch một chu vi quanh mộ phần mà cô Việt kiều gọi là mạ. Ông bày hết những thứ ông vừa mua sắm rồi tự mình đứng nghiêm cẩn cúi đầu trước “căn nhà xiêu vẹo”. Ông ngồi yên cho tới lúc nhang tàn. Cho tới lúc mây loãng tan về phía trời chiều. Ngày mai cô ấy sẽ trở lại, sẽ nhìn ngó để rồi nhìn nhận tiền cô trao chẳng phải rơi vào tay ác quỷ. Người ta không thể sống trong thế giới hồi hộp được, ít ra họ còn phát hiện một vài cá nhân hiền lương ẩn mặt quanh đây.

Hai ngày, ông cố lắng lòng chờ đợi cô Việt kiều xuất hiện. Ông dõi mắt ra cánh cổng sắt hoen rỉ không tài nào khép kín cổng nghĩa trang. Và nghĩa trang, tự thân nó, bất biến cái hoang vu cô quạnh ngàn đời. Những bông hoa đặt trước mồ bắt đầu tàn úa, chim chuột đã thay phiên tới dự phần đánh chén, thức ăn rơi vung vãi. Ông thu dọn vén quét. Và ông lại thắp nhang, thay chén nước mới.

Sang ngày thứ ba, cô Việt kiều xuất hiện, nhưng đớn đau thay, ảnh hình cô nằm khiêm nhường trên cột báo, trên đôi tay mãi run của người đàn ông tàn phế. Chỉ đôi ba dòng, chẳng có gì rườm lời như hầu hết những tin loan trong chuyên mục hình sự. Tóm tắc, nạn nhân Trần thị Như N. 40 tuổi. Việt kiều từ Mỹ về. Bị hiếp và giết trong khách sạn ở quận 3. Hành lý, vật dụng cá nhân bị lục lọi rơi vương vãi. Công an đang chính thức điều tra, giả định ban đầu do bị bọn tội phạm thuê ngụ phòng bên đã theo dõi và đi tới tình trạng cướp của giết người…

Người đàn ông đi khập khiểng ra trước nấm mồ của “Mạ”. Ông xé vuông báo, phần có in gương mặt kẻ xấu số rồi đốt cháy nó. Ông muốn nói một vài lời cho “Mạ” nghe nhưng bất lực. Chỉ có đôi mắt, ngỡ đã khô cạn bỗng ứa từ tốn ra đôi hàng lệ. Từ 1975 đến giờ, lần đầu những giọt nước mắt lại tìm tới ông, nhoè nhoẹt. Ông gọi thầm tên N. Giọng sũng. N ơi N ơi…

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 14Aug 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

                                                                                                           Bài 3

Theo Việt Cộng

Việc Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng, ngoài lý do chung của một số thanh niên ở vùng nầy, y có nhiều lý do riêng. Nhìn chung thì trước hết là vì sợ bị bắt “quân dịt, quân gà”. “Quân dịt quân gà” là cách nói đùa của dân địa phương. Đúng ra là sợ đi lính Quốc Gia.

            Người dân ở đây chẳng “Cộng sản Cộng siếc, Quốc da, Quốc xương” gì cả. Họ là dân “tu hiền” (Theo đạo Hòa Hảo, cờ Đà) tuy không tích cực và nhuộm nhiều màu sắc chính trị như dân Long Xuyên chính hiệu, nhưng bên nào cũng được, miễn được ở yên, lo làm ăn.

            Đi lính Quốc Gia khổ lắm, nhất là khi bị bắt đi quân dịch. Lính quân dịch gốc miền Nam, Vùng 4 thì đưa ra Trị Thiên, Nam, Ngãi ở Vùng 1 để khỏi trốn về. Lên đường ra miền Trung thì lâu lắm, vài ba năm sau, mới được về phép; nhiều khi có đi không về, có khi về trong… quan tài. Thật ra, thường thì khi tử trận, bị chôn luôn ở “ngoải”, gia đình chỉ nhận có cái giấy báo tử và “tiền tử”.

            Dù vậy, nếu có được cái bằng tú tài nhờ gia đình khá giả cho con ra học ở Rạch Giá hay Cần Thơ, Saigon… khi đi lính cũng đi sĩ quan Cộng Hòa. Sau 1975, không ít người “được cách mạng” cho đi “học tập” mút mùa Lệ Thủy.

            Có người tới tuổi cũng đăng vào nghĩa quân hay địa phương quân, phục vụ gần nhà, nhưng việc nầy hơi “rắc rối”, một là phải có “trà nước”, cũng không nhiều nhặn gì, nhưng ngặt nỗi dân quê nghèo lắm, “tay làm hàm nhai” nên “chịu thua”; hoặc có bà con làm việc ở quận, tỉnh, v.v… giúp đõ cho. Vô Nghĩa Quân thì chỉ quanh quẩn ở quận, xã. Đêm tới đồn ngủ, canh gác. Ngày thì chia vài người ở lại giữ đồn, phần đông về nhà làm ruộng, tới chiều tối lại vô đồn.

            Làm lính cỡ nầy khoẻ lắm. Sáng về nhà, chiều vô, xách theo ít đồ nhậu, chai rượu, họp nhau nhậu cho tới khuya. Đồn Vàm Rầy (Xã Đức Phương, xã của “chị” Tư Nết – Xin xem lại bài trước để biết chị Tư Nết là ai!), có nhiệm vụ giữ cầu Vàm Rầy. Chiều lại, nghĩa quân vô đồn, kéo concertina chận hai đầu cầu, không cho ai qua lại vì đã tới giờ giới nghiêm. Xong, kéo nhau ra giữa cầu cho được trăng thanh gió mát, nhậu đã đời sương gió. Riết rồi thành thói quen. Việt Cộng điều nghiên, chờ khi mấy chú nhậu đã, chúng lặn vô chân cầu, cột mìn, cho nổ. Vậy là nghĩa quân lớp chết, lớp bị thương, lớp mất tích. Có người mất tích, bị nghi là theo Việt Cộng. Mấy ngày sau, có mùi hôi thúi từ trong đám lau gần chân cầu bay ra. Người ta tìm tới xem, té ra có một chú “mất tích” chết nằm trong ấy. Sức mạnh của mìn hất anh ta từ cầu văng vào bụi lau mà không ai hay! Việc nầy xảy ra hồi mùa hè 1974.

            Ai không đăng được Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mà không muốn đi quân dịch để bị đưa ra tới “ngoải” thì lủi “vô bưng”. Ban đầu chỉ mới lủi vô nửa chừng, giữa ruộng, chưa tới bưng, chưa theo Việt Cộng. Theo Việt Cộng cũng dễ chết không thua gì đi lính Quốc Gia.

            Năm ba anh trốn quân dịch dựng một cái chòi trong đám lõi rừng chồi, rừng tràm trong ruộng. Lõi là một cái rừng nhỏ, chung quanh là lau sậy, đế, ô-rô, cóc-kèn, v.v… không quá gần ngoài kinh, ngoài lộ, vùng Quốc Gia, không quá sát rừng tràm, gần Việt Cộng. Họ sinh sống bằng nghề giăng câu, đạt lợp, bắt cá. Gia đình tiếp tế gạo muối, thuốc rê, áo quần vào, rồi lấy cá tươi hay cá khô đem về bán kiếm tiền. Hễ có Việt Cộng từ trong rừng ra tuyên truyền theo “cách mạng” thì cũng ừ hử cho qua chuyện hay hẹn lần hẹn lữa. Còn lính Quốc Gia có vô thì chúng lội tuốt vô rừng tràm.

            Trong rừng nhiều Việt Cộng, lính tráng ít vô. Có lần lính thám báo chi khu đi rình Việt Cộng, bắn lầm. Hai người chết, còn lại bị thương, cho ghe chở ra bệnh viện Rạch Giá, còn người chết đem xác về chôn, chẳng thưa kiện ai được! Có ông hội đồng tỉnh tính làm lớn chuyện nầy để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử tới nhưng gặp ông quận trưởng cao tay ấn, vừa đánh vừa thoa nên mọi việc êm xuôi.

Ngoài lý do chung như tôi vừa nói ở trên, Nguyễn Tấn Dũng (NTD) có những lý do riêng.

Trong bài “Chị Sứ – Hòn Đất”, tôi có nói là dân địa phương đồn đãi (Sau 1975 người ta đồn càng dữ, chẳng ai cải chính). NTD cũng không dại gì cải chính rằng ông ta là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc, tức gọi Hồ Chí Minh bằng cậu.

Hồi đầu thế kỷ 20, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê, ông lưu lạc vào Nam làm thầy thuốc Bắc, hết Saigon rồi tới miền Tây, và qua đời ở Cao Lãnh. Ngôi mộ hiện còn ở Cao Lãnh, do một ông quận trưởng Quốc Gia thời Ngô Đình Diệm xây cho, cũng khang trang đẹp đẽ. Khi ở Cao Lãnh, ông Sắt có léng phéng với một người đàn bà, đáng tuổi con, đẻ ra một đứa con rơi, con gái. (Dòng họ Hồ nầy sao nhiều con rơi vậy, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội “thiệt” của ông Hồ Chí Minh?). Người con gái rơi đó là mẹ ông NTD. Cũng có người đồn NTD là con rơi của Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh?!

            Thân phụ NTD là ai?

            Có thể là một ông cán bộ người Bắc vô Nam hoạt động hồi 9 năm (1945-54). Người ta cũng đồn sau khi hiệp định Gevève ký kết, ông nầy không tập kết ra Bắc mà nằm vùng trong Nam, cũng ở Rạch Giá, bí danh là Ba Kiếm.

            Hồi tôi về Cái Sắn, lật “hồ sơ trận liệt” ra xem thì thấy Ba Kiếm là bí thư huyện Châu Thành B. Huyện Châu Thành B. của Việt Cộng là kể từ kinh Cái Sắn về hướng tây, giáp với huyện Hà Tiên. Chỗ ranh giới hai huyện nầy của Việt Cộng thì tôi không rõ, nhưng trên trục lộ 8A từ Rạch Giá – Hà Tiên thì xã Tín Đạo thuộc huyện Hà Tiên, còn gần Rạch Giá hơn như xã Sóc Soài, Sóc Sơn, xã Mỹ Lâm của Nguyễn Tấn Dũng thì thuộc huyện Châu Thành B. của Việt Cộng.

            Hồ sơ trận liệt cho biết Ba Kiếm là người gốc Bắc. Ban đầu tôi hơi ngờ, không lý Ba Kiếm là “dân di cư”. Hỏi ra thì không phải, ông nầy vào Nam hồi 9 năm. Tuy nhiên, hồ sơ trận liệt cũng không nói vợ con của Ba Kiếm là những ai.

            Dân Kiên Lương, những người từng theo Việt Minh thời chống Pháp 1945-54, ít nhiều biết tới Mười Minh.

            Mười Minh là ai?

            Mười Minh là bí danh, tên thật là là Nguyễn Tấn Thử. Thử là chuột, có lẽ ông tuổi tý, sinh năm 1924, đồng chí thân cận của Võ Văn Kiệt khi cả hai hoạt động ở miền Tây Nam bộ, từng làm chính trị viên cho bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá (tên gọi của Việt Minh) hồi trước 1954.

Mười Minh bị Tây bắn chết trước hiệp định Genève năm 1954, sau khi vợ ông ta sinh một gái rồi tới một trai. Trai đặt tên là Nguyễn Tấn Dũng.

Khi cha chết rồi, Nguyễn Tấn Dũng còn nhỏ lắm, theo mẹ về cư ngụ ở xã Mỹ Lâm.

Có người bạn thân, về quê ở Rạch Giá thăm bà con, mới qua lại Mỹ gọi điện thoại nói với tôi, biểu tôi viết lại cho rõ: Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cọng khi mới 12 hoặc 13 tuổi, nghĩa là khoảng năm 1961, 62, có ra Rạch Giá học lớp nhì, nhưng chỉ được ít lâu thì bỏ học.

Ngày 1 tháng 5, 1975, sau khi từ trong rừng ra, tiếp thu thị trấn Hà Tiên, Kiên Lương là “huyện đội”, thành lập chế độ quân quản. Vì vậy mà “Năm Dũng”, trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên mới tiếp thu bệnh viện Quân Dân y quận Kiên Lương (của ta). Nguyễn Tấn Dũng là con thứ ba, nhưng không hiểu sao hồi đó, bọn họ gọi y là “Năm Dũng” (thứ năm).

Sau khi chế độ quân quản giải tán, Ba Dũng “biên chế” về Cà Mau, chuyển qua ngành Công An. Sau khi “hòa bình”, Ba Dũng liên lạc với sáu Dân, sư phụ của thân phụ y ngày xưa. Muốn mau “thăng tiến”, Ba Dũng chuyển qua Công An, dễ cho y hơn. Nếu cứ ở ngành y, muốn thăng chức, Ba Dũng phải học thêm: từ y tá, lên y sĩ, bác sĩ… Con đường nầy, đối với Ba Dũng hơi khó đấy bởi Ba Dũng thuộc hạng học trò “đút vở bụi tre”, chơi thì giỏi, học thì dốt. Cũng nhờ chuyển ngành, học “trường đảng”, Ba Dũng mới dễ dậu bằng tiến sĩ chính trị, kinh tế, giao thông, giỏi nhất là luật, lại là “luật đi đường”.

Khi mới ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, “Năm Dũng” có mang theo một nữ y tá, cũng trong rừng ra. Hai người sống chung với nhau trong bệnh viện Quân Dân y Kiên Lương, phía ngôi nhà ngang, sát bờ kinh. Họ lấy nhau không cưới hỏi gì cả. Cô nữ y tá ấy là vợ Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.

Người làm phó cho “Năm Dũng” hồi đó là Sáu Khởi. Khi “Năm Dũng” chuyển qua ngành Công An, Sáu Khởi cũng đi theo. Cách đây mấy năm, Sáu Khởi mang “loon” trung tá Công An, làm việc ở Kiên Giang.

Khi chế độ quân quản giải tán, “Năm Dũng” bàn giao y tế lại cho Ba Trực, người Châu Đốc, trưởng phòng y tế huyện Hà Tiên.

XX

Bà Thử, mẹ Ba Dũng là “cơ sở Việt Cộng”, có nghĩa là nơi thường lui tới của mấy tay tổ Việt Cộng nên mới có chuyện Nguyễn Tấn Dũng là con ông nầy, ông kia. Đám “ruộng chéo hợp tác xã xã hội chủ nghĩa” nầy có nhiều xã viên cày chung. Thế rồi bà ấy chán cảnh cày chung, bèn lấy chồng khác, đẻ thêm mấy đứa con nữa, là em khác cha của Nguyễn Tấn Dũng. Mấy đứa nầy hiện ở thị xã Rạch Giá, nhờ có cái dù của ông anh làm thủ tướng nên chúng nó giàu có, làm chủ mấy công ty xuất khẩu hải sản.

            Mẹ là con gái rơi của Nguyễn Sinh Sắc, không chắc rõ chồng là ai mà đẻ ra NTD, là con của Mười Minh, hay con rơi của Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh hay con ông bí thư huyện Châu Thành B? Không ai biết đâu mà mò cho ra tung tích, trong khi Cộng Sản cái gì cũng bí mật nên lý lịch mấy tay Cộng Sản tối thui, không đâu ra đầu mối. Đúng là một đám hỗn độn, lộn xôn, toàn là con hoang, con nôm, con lạc dòng, con lạc vất lạc vơ. Nhìn chung, từ đám chóp bu cho tới đám hạ tầng xã ấp, như người ta thấy trong truyện “Ba Người Khác” của Tô Hoài thì rõ rồi.

            Ngay chóp bu thứ nhứt, cũng là con lạc dòng của ông Hồ Sĩ Tạo. Nguyễn Sinh Nhậm, bố ông Nguyễn Sinh Sắc, lúc Nhậm đã 70 tuổi,  được người ta gọi tới mà gã con gái cho, là một người đang có bầu – Có lẽ bụng cũng chưa lớn lắm khiến thiên hạ dễ hồ nghi. Tưởng vậy là che được mắt thiên hạ, nhưng rồi cả làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, làng ông Hồ Chí Minh, ai cũng biết ông bố ông Hồ Chí Minh là con lộn sòng. Cộng Sản chủ trương dấu kín, cái gì cũng dấu, dấu sự thực và công bố sự giả. Họ quên mất một điều, có cái sự thật nào ở đời nầy mà che dấu được thiên hạ. Một năm, hai năm, không biết; năm mười năm, người ta cũng biết, có dấu ai được đâu! (Độc giả muốn biết rõ hơn, xin xem “Quan hệ Ngô gia, Hồ gia” trong “Theo Dòng”, cùng tác giả do Văan Mới xuất bản)

            Đám đệ tử của Hồ, không ít người cũng là thứ lạc vất lạc vơ đâu đó: Trần Quốc Hoàn là thằng Cảnh du thủ du thực. Điều nầy ông Vũ Thư Hiên rõ lắm. Phùng Thế Tài cũng là một hạng như thế, điều nầy ông Việt Thường cũng rất rành. Từ một thằng du thủ du thực, dựng nó thành ông nầy, ông kia, cho nó địa vị, cho nó quyền lợi, cho nó hưởng thụ, sung sướng… thì có điều gì sai nó mà nó không làm được để bảo vệ quyền lợi của nó, phe đảng của nó. Đó chính là cách dùng người của Hồ Chí Minh, nói riêng hay Cộng Sản, nói chung vậy. Cách dùng người như vậy đều có bài bản cả.

            Đám nầy, từ Hồ Chí Minh trở xuống, người ta gọi bằng nhiều tên: Con lộn sòng, con lạc dòng, con hoang, con nôm. Có lẽ tiếng con nôm hơi lạ, tôi xin giải thích: Nôm ở đây không phải là văn chương chữ Nôm, biến dạng của chữ Nam như tôi có giải thích trong hai bài nói về “Văn Chương Chữ Nôm” và “Những Bài Thơ Nôm Đầu tiên…” mà nôm, theo thông tục, là hành động của một người đàn ông trèo lên bụng của một người đàn bà. Việc nầy phải vụng lén, không hợp lệ, không hợp pháp… của hai người không phải là vợ chồng. Vợ chồng ăn nằm với nhau như thế không thể gọi là nôm. Ở xứ tôi, tại miền quê, chữ nôm còn một nghĩa khác nữa. Ví dụ: “Bác qua nôm cho mạ tui một mụi, mai cha tui qua nôm lại.” Tiếng nôm như thế có nghĩa là qua cày giúp, bừa giúp cho một bữa (một mụi). Theo nghĩa trước thì ông Hồ Sĩ Tạo nhân lúc khuya khoắt, ai cũng ngủ say cả, cặp bậy nhau, hoặc lợi dụng chỗ vắng người, ngoài bụi tre, bờ ruộng mà nôm bậy một chị nông dân nào đó. Chị nầy có bầu, sợ mang tiếng, sợ làng bắt vạ (Hồi xưa không chồng mà chữa thì bị làng bắt vạ vì tội làm thương luân bại lý) đem gã cho ông Nguyễn Sinh Nhậm, mà sinh ra ông Nguyễn Sinh Sắc. Do đó, cái gốc chính của ông Hồ Chí Minh, là dòng dõi ông Hồ Sĩ Tạo, không dính dáng gì tới dòng họ Nguyễn Sinh cả, nên sau khi lên ngôi hoàng đế, anh học trò lớp ba trường Pháp Nam ngày xưa ở Huế nay trở lại với cái họ gốc của mình, là họ Hồ, bèn tự đặt tên cho mình là Hồ Chí Minh. Họ Hồ là họ gốc, còn tên Chí Minh là tên mượn ông Vương Chí Minh, một cán bộ Cộng Sản Tàu. (xem sách đã dẫn).

            Vậy Nguyễn Tấn Dũng con ai?

            Con ai thì không biết, nhưng rõ ràng là con nôm của Việt Cộng theo cái nghĩa ở trên. Hồi nhỏ, NTD không được ngó ngàng tới, nên phải ở với “ngụy”, học trường “ngụy”. Dưới con mắt Cộng Sản, cái “ngụy” nầy ảnh hưởng tới NTD nhiều lắm, nhưng mọi việc cho qua vì có lẽ hiện giờ ông ta có gốc lớn nào đó. Cứ “bảo lưu” cái chất “ngụy” đó trong con người NTD, mai mốt, cần thì đem ra xài chơi, kiểu như Lê Đức Thọ, nắm trong tay cái đơn “hồi chánh” với Thực Dân Pháp của Võ Nguyên Giáp, chờ khi Giáp rấp ranh ra làm tổng bí thư thì chìa cái đơn “hồi chánh” đó ra cho các “đại biểu” xem. Kết quả là Bùi Tín kẹt cứng bên Pháp, “ra đi không có ngày về”… vinh quang.

Những khi tạm yên, huyện ủy Châu Thành B. đóng tại Tà Keo, thuộc xã Mỹ Lâm, xã của Nguyễn Tấn Dũng. Hễ tình hình căng thẳng, đánh nhau dữ thì huyện ủy Châu Thành B chém vè, rút về kinh Kháng Chiến.

Nhân đây cũng xin nói thêm, Tà-Keo thuộc ranh giới ba quận của Việt Nam Cộng Hòa: Tận cùng phía nam quận Huệ Đức, thuộc Long Xuyên, chi khu nầy ít khi vói tới đây; phía cực tây quận Kiên Tân (tức phía cực nam xã Tân Hội – cũng thuộc quận Kiên Tân) và phía tây-bắc quận Kiên Thành. Chi khu Kiên Tân có cho đóng một cái đồn nghĩa quân cuối xã Tân Hội, lính tráng chỉ ngồi ngáp ruồi, chờ khi có lính làng lính lệ hay cảnh sát đi bắt quân dịt, quân gà thì bắn ba phát báo động để đào binh hay quân dịt quân gà biết mà dông tuốt vô đồng chó ngáp, chẳng ai nắm trúng giò chúng. Chỉ có quận và chi khu Kiên Thành, đóng ở quê hương của ca sĩ La Thạch Tuyền mới cho thám báo hoạt động ở đây.

Tôi có hành quân vùng ruộng ấp Tân Lập, phía nam xã Tân Hội một lần, đi lạc qua Kiên Thành, bị thám báo bên đó đánh cho một trận, may leo lên được xe cày mà chạy về kịp. Dịp đó, tôi tưởng là Việt Cộng, tụi nó dàn ra một trung đội, phía tôi chưa tới 5 ngoe, lo rút lui cho lẹ. Hóa ra, về tới nơi, mở máy PRC 25 liên lạc mới biết là thám báo chi khu Kiên Thành. Đám nầy giả cách ăn mặc và mang súng AK nên tôi tưởng lầm Việt Cộng. Trước khi chạy, chúng tôi bắn lại cũng gắt, cản đường chúng đuổi theo. May mắn chẳng ai chết, chẳng ai bị thương chớ không thì tôi đã mang hia đội mão ra chầu tòa án Quân Sự vùng 4 rồi. “Ham” đi đánh nhau với Việt Cộng, nghĩ lại thiệt là dại. Cái ham làm cho mình chết dễ như không!

            Đó là kỷ niệm thứ nhứt về quê hương Nguyễn Tấn Dũng. Còn một kỷ niệm nữa, xin kể cho vui.

            Khoảng đầu năm 1975, tình hình quân sự bấy giờ không yên như khi hiệp định Paris mới ký. Một hôm tôi đi Rạch Giá với tài xế và một anh tà lọt ngồi phía sau. Tôi thì lái xe, tài xế ngồi bên cạnh, lăm lăm khẩu AR 16, hễ thấy Việt Cộng là nổ súng ngay. Anh tà lọt thì mang một cây M-79. Mới tháng trước, tôi cũng đi Rạch Giá, về gần tới Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và Đức Phương) thì bị Việt Cộng từ bên kia kinh bắn B-40 qua. Bên tôi chỉ có 4 người: Tôi, tài xế và hai anh tà lọt ngồi phía sau. Biết B-40 bắn không tới, vả tụi nó cũng chỉ vài ba ngoe từ trong rừng ra khuấy rối chơi, nên tôi cho xe dừng lại, núp phía sau cabin xe, chỉa “Đại bác cầm tay 40 ly” gởi cho chúng nó ít quả làm quà. Trên ruộng nước, tụi nó chân thấp chân cao chạy trối chết. Bọn tôi thấy vậy càng vui, gởi tặng thêm ít quả nữa. Cũng may, chúng tôi chẳng ai có bằng thiện xạ nên tụi nó thoát chết lần đó.

            Trở lại hồi đầu, khi chạy xe ngang qua xã Mỹ Lâm tôi thấy một chiếc xe Jeep A-2 chạy ngược chiều. Xe qua rồi, tôi thoáng thấy trưởng xa mang hai sao! Tôi nói thầm: “Trời! Ông tướng nào mà gan dàn trời vậy cà? Dám đi một mình, một tài xế và một tà lọt như tôi vậy.” Vùng nầy tôi đi quen nên tôi không sợ Việt Cộng, còn ông tướng ở xa, biết xứ nầy như thế nào sao mà dám đi lang bang. Tôi hỏi tài xế: “Ông tướng nào vậy mầy?” Tài xế trả lời: “Chắc là ông Tướng Quân Khu”. Tôi giật mình. Tướng Quân Khu là ông Nguyễn Khoa Nam. Trời! Thấy ông tướng Quân Khu mà chẳng chào kính gì cả, lái xe tỉnh bơ, coi như hai bên “ngang nhau.” Ở vùng 4, trước kia là tướng Trưởng, bây giờ là tướng Nam, hai ông gan như nhau, chẳng ông nào sợ… Việt Cộng cả. Cũng hôm đó, trên đường về, ngang Mỹ Lâm, xe Jeep tôi lại hỏng máy: Dinamo không charge nên hết bình (điện). Mặt trời đã gần ngọn cây, trời tối dần, đường về còn xa, bụng tôi hơi lo! Hồi đó tôi chưa biết Nguyễn Tấn Dũng, nhưng nếu biết, lỡ Nguyễn Tấn Dũng có mò ra tới lộ, tôi cũng chỉa súng “nghinh đón” chớ không lý để Việt Cộng bắt sống sao! May có chiếc xe Dodge Thiết Giáp chạy ngang, thấy tôi là người quen, bạn đồng khóa, dòng dây kéo về, tới chỗ đóng quân còn sửa xe giùm cho.

Cám ơn Trời Phật!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 11 Aug 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Bài 2

Từ Xã Mỹ Lâm đến Dinh Điền Cái Sắn

Sau khi có bằng tiểu học, lúc tuổi khoảng 14, 15 tuổi, Nguyễn Tấn Dũng thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng, sau khi Bến Tre Đồng Khởi năm 1960. Theo như Tố Hữu nói thì “Hỡi người chị của Bến Tre, Cửu Long Đồng Khởi bốn bề đó chăng!?” (Nước Non Ngàn Dặm – thơ Tố Hữu)

Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.

            Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), lần thứ hai (1960-75) và lần thứ ba (1979-89), bao giờ xứ chùa Tháp cũng đóng một vai trò quan trọng. Chiến trường thì xảy ra bên phía Việt Nam, còn hậu cần thì nằm ở Kampuchia. Không tấn công vào hậu cần, chiến tranh khó chấm dứt. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa âm mưu đảo chánh Sihanouk hay quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua Miên hồi tháng 3 năm 1970.

            Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, người và vũ khí từ Kampuchia chuyển qua tiếp tế cho quân Cộng Sản ở miền Tây Nam Bộ. Con đường tiếp vận của Việt Minh (danh xưng hồi đó) từ Miên xuyên qua mật khu Trà Tiên, vượt qua đoạn đường phía bắc thị xã Rạch Giá và thẳng về U-Minh.

            Vì vùng nầy đất thấp, tới mùa nước nổi, nước tràn lên khắp mọi chỗ, ngoại trừ vùng Thất Sơn (Việt Cộng gọi là Bảy Núi). Ai đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam trong quyển “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” thì biết hiện tượng nầy. Người ta chỉ có thể dùng thuyền, ghe di chuyển. Tới khi nước rút, di chuyển theo kinh rạch là tiện lợi nhứt. Vì vậy, hồi đó, Việt Minh cho đào một con kinh nhỏ dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên – Rạch Giá. Kinh nầy được đặt tên là kinh Kháng Chiến vì nó được đào trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau nầy, trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, con đường di chuyển nầy của Việt Cộng được gọi là đường giây 1C. Đường giây 1C từ Miên, qua mật khu Trà Tiên, vượt qua LTL 8A ở cây số 15 bắc thị  xã Rạch Giá, thuộc xã Mông Thọ, (Cách thị xã Rạch Giá 15Km) và đi thẳng về Chương Thiện -U Minh.

            Tại sao vượt qua ở Cây Số 15 mà không qua chỗ Dinh Điền Cái Sắn như trong cuộc chiến tranh trước. Dễ hiểu thôi. Dân Dinh Điền Cái Sắn là dân Bắc di cư 1954. Việt Cộng đút đầu vào đó là coi như đút đầu vào rọ.

            Hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vì vùng Dinh Điền Cái Sắn chưa có nên việc vượt qua LTL 8A rất dễ dàng. Đại tướng Trần Thiện Khiêm khi đó còn mang “loon” trung úy, chỉ huy một đơn vị Quân Đội Quốc Gia đóng ở Mông Thọ, có thể đêm đêm nghe tiếng bộ đội Việt Minh vượt qua LTL 8A ở đoạn Cái Sắn mà không dám động tỉnh (1). Đoạn nầy, có cụ già Nam Bộ kể cho tôi nghe: “Tụi nó di chuyển qua lại như đi chợ.”

            Vùng Cái Sắn ngày xưa là vùng ruộng của mấy ông chủ điền, ruộng cò bay thẳng cánh hay còn gọi là “Đồng Chó Ngáp”, cũng là chỗ nầy. Kể từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn (Còn gọi là Thạnh Đông) dài 12Km. Từ kinh Thạnh Đông tới kinh Thạnh Tây cũng dài 12Km. Có con chó nào chạy một mạch từ kinh Núi Sập tới kinh Thạnh Tây dài 24Km mà không ngáp mới thật là chó hay?!

            Vùng nầy đất thấp, chỉ làm lúa sạ. Mỗi năm, mùa hè, sau khi gặt xong, đồng bỏ hoang. Khi chuẩn bị làm ruộng mùa tới thì người ta đốt đồng. Dân địa phương cũng gọi là “Mùa đốt đồng”. Cứ sau trưa một chút, chờ có gió mạnh, người ta giăng một cái lưới phía dưới gió, rồi đi ngược lên phía trên gió, cầm một cây đuốc mà đốt những gốc rạ, bụi cây khô. Buổi chiều, gió thổi mạnh, lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, rùa, rắn, chồn, cáo, cần đước, ba ba, tranh nhau chạy trốn. Chúng chạy về hướng cuối gió, chui vào lưới mà nằm, chờ người ta tới nắm cổ lôi đi bán hay làm thịt nhậu chơi.

Vùng nầy dân ưa nhậu thịt rắn. Nếu độc giả tới thăm họ, gặp người quí khách, họ sẽ mời quí độc giả nhậu thịt rắn. Con rắn – thường là loại rắn độc mới bổ -, được làm thịt, móc ruột, luộc chín, chặt khúc, sắp từng khúc quanh cái dĩa bàn to, tưởng như con rắn đang nằm ngủ. Ai có gan thì cầm đũa gắp ra ăn. Tôi thì chịu vì tôi là chúa sợ rắn. Ngoài thịt rắn, còn có một nồi cháo rắn, “ăn dằn bụng” trước khi tan hàng. Phải được người dân quí lắm, họ mới mời mình nhậu thịt rắn. Khoảng thập niên cuối 60 đầu 70, một con gà giò giá chỉ vài trăm bạc, còn một con rắn giá 2 ngàn. Mời nhậu thịt gà, có phải rẻ hơn không!

            Đốt đồng xong, người ta bắt đầu cày. Lần đầu thì gọi là cày lật, nghĩa là cày sao cho đất lật úp, cỏ xuống dưới, đất lên trên. Cỏ sẽ bị thúi mà chết, thành ra phân hữu cơ. Lần sau thì cày cho đất nhỏ ra, chờ nước lên – khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch – đem lúa ra sạ. Lúa lên, nước lên. Gần tết, nước rút xuống, lúa cũng bắt đầu chín. Khi nước rút hết thì người ta lo gặt. Lúa gặt xong đem sắp vòng tròn cho xe máy cày chạy quanh cán lên cho hột rời ra. Lúa chất thành đống cao như ngọn đồi, dân địa phương gọi là “cà tang” lúa. Có lẽ “cà tang” là tiếng Miên. Hôm qua đi ngang, thấy đồng trống không, nay thấy có ngọn đồi hiện ra xa xa. Đó là “cà-tang” lúa.

Bên phía Dinh Điền Cái Sắn thì Việt Cộng không dám, còn bên phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, bọn kinh tài đêm khuya thường mò ra thu thuế nông nghiệp. Bọn nó thâu thuế “ác lắm”, nghĩa là thuế cao lắm nên dân chúng ghét. Nhờ đó mà phe Quốc Gia biết chúng xuất hiện ở đâu để “phục kích lấy tiền nhậu chơi”. Hễ tới mùa lúa thì bọn nó thu thuế nông nghiệp, mùa cày thì chúng nó thu thuế máy cày, cũng “ác” như thu thuế nông nghiệp. Tới mùa chúng nó đi thu thuế, “phe ta” đi săn giặc nên tôi gọi giặc ở đây là “Giặc Mùa.” Chuyện nầy cũng sẽ nói thêm về sau.

Hồi xưa, người ta cày bằng trâu, chủ điền nuôi hàng trăm con trâu mới đủ cày. Như ông chủ Ry, bố vợ ông Trần Thiện Khiêm nuôi những hai trăm con trâu. Đó cũng là đề tài truyện “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam nay đã được quay thành phim. Thời Ngô Đình Diệm phải nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân cày. Sau nầy thì cày bằng máy. Máy cày John Deer, Somecar, v.v… rất được dân chúng ưa chuộng.

            Tôi không rành cách tính diện tích ruộng ở đây. Người ta tính theo công: Công tầm cắt và công tầm điền khác nhau. Năm nào trúng, mỗi công được khoảng trên dưới 35 giạ là cao. Có năm trên 40 chục giạ là trúng lắm.

            Việt Minh nổi lên bắt giết, bỏ tù (rồi cũng chết trong tù luôn) các ông chủ điền. Hầu hết chủ điền chạy trốn lên Rạch Giá, Cần Thơ hay Saigon. Việt Minh gọi là “theo Tây”. Không theo Tây cũng không được, bị Việt Minh giết sao?! Ruộng của họ sau nầy, thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bị truất hữu để lập Dinh Điền Cái Sắn. Tôi cũng có gặp vài người là con cháu của mấy ông chủ điền ngày trước. Nói chung, họ đã sa cơ và nghèo túng, tuy vẫn còn mang cái tên Tây như Bôn, gốc là Paul; Răng, gốc là Jean. Bố vợ ông Trần Thiện Khiêm, dân chúng gọi là ông chủ Ri, vì tên Tây là Henry, con trai lớn ông nầy, tên là Hai Re vì tên Tây là André hay Robert? Và chị Tư Nết, chính hiệu con nai vàng là Annette, đích thị là bà Trần Thiệm Khiêm. Chuyện gia đình nầy sẽ kể thêm ở phần sau, cũng là chuyện vui mà thôi! Cũng có người tên họ cũng hay, nửa Nôm nửa Hán như anh bạn Trần Thông Đến của tôi, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn trước 1945. Anh nầy thường hay trốn làm việc để “đi mây về gió” nên ai hỏi tới thì tôi nói đùa là Trần Không Đến.

            Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai nổ ra thì Dinh Điền Cái Sắn đã thành lập xong, kéo dài từ ngã Ba Lộ Tẻ Long Xuyên tới Kinh Tư gần xã Mông Thọ. Việt Cộng không thể vượt qua LTL 8A dễ dàng. Cây số 15 là điểm duy nhất, Việt Cộng cố sống cố chết để vượt qua LTL ở đây.

            Cách Cây Số 15 cở 10 Km, về phía  tây là ấp Tà Keo. Gọi là ấp nhưng thật ra đó là một vùng rừng tràm nước mênh mông. Ấp Tà Keo là cứ điểm quan trọng để Việt Cộng xuất phát vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Khi quân Cộng Sản từ Miên vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, đi về phía đông để về U-Minh, tới ấp Tà Keo thì chúng phải dừng quân, chờ trời tối, tình hình thuận tiện mới vượt qua LTL 8A ở cây số 15.

Hạ tầng cơ sở Việt Cộng ở Tà Keo giữ nhiệm vụ giao liên, an ninh để bộ đội vượt lộ. Bên cạnh LTL là kinh Cái Sắn. Họ phải vượt qua kinh rồi mới vượt qua lộ, cố tránh khỏi bị quốc gia phục kích. Thường phe Quốc Gia phục kích bên bờ kinh hay bên lộ, chờ Việt Cộng vượt qua là nổ súng. Tình hình chỗ nầy rất căng. Phía Quốc Gia hoạt động rất ráo riết để cố ngăn chận không cho Việt Cộng đi qua. Phía Việt Cộng thì cố sống cố chết vượt qua cho được.

            Cuối năm 1974, đầu 1975, khi tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, ông rất chú trọng nơi nầy, ra lệnh cho các lực lượng địa phương như Quận, Tỉnh và cả Khu phải hết sức ngăn chận Việt Cộng qua lộ. Trước khi có lệnh tướng Nam, tôi từng dẫn vài chục lính phục kích Việt Cộng ở đây nhưng lại đụng nhằm cở một trung đoàn quân Việt Cộng qua lộ, đành phải ôm súng nằm im mà run. Bọn chúng đông như thế, nổ súng, bọn chúng tới đạp lên đầu mình cũng đủ chết, nói chi tới chuyện đánh nhau. Chuyện nầy hồi sau xin kể tiếp.

            Trở lại chuyện ấp Tà Keo. Ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm. Việt Cộng cố giữ Tà Keo. Muốn giữ Tà Keo phải mở rộng hoạt động toàn xã Mỹ Lâm. Đó là lý do tại sao xã Mỹ Lâm có nhiều Việt Cộng và NTD thoát ly theo Việt Cộng sau khi học xong bậc tiểu học.

(1) Xã Mông Thọ thuộc tiểu khu Rạch Giá (Secteur de Rachgia là nói theo Tây). Trung úy Trần Thiện Khiêm vào ra tiểu khu nầy và quen chị Tư Nết, con ông chủ Ry, trước 1945 là điền chủ nay là chủ câu lạc bộ. Dân Rạch Giá nói rằng đó là giây nhợ để sau nầy ông trung úy Quân Đội Quốc Gia cưới chị Tư Nết. Phần sau sẽ xin nói thêm về ông chủ Ry.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 10 Aug 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 24 Nov 2023

Bài 1

Xã Mỹ Lâm

Nói thiệt tình, về cá nhân, lúc ban đầu, tôi không ghét mà cũng không có cảm tình chút gì với ông Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhưng bởi vì từ khi ông ta mới lên làm thủ tướng, lại được một số nhà báo, chính trị gia ở Mỹ có tiếng khen ông ta nên nhân dịp nầy tôi lại muốn viết đôi điều về xứ sở của ông, nơi ông ta sinh ra, lớn lên rồi làm… Việt Cộng.

Chuyện tôi viết, nói cho cùng, cũng là chuyện tầm phào Miền Tây Nam Bộ, chuyện “Hương Rừng Cà Mau” thời chiến tranh. Nhiều người biết “Hương Rừng Cà Mau” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, là chuyện miền Tây Nam Bộ hồi xưa, khi người Việt mới tới vùng nầy lập xóm lập làng, cho tới “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” là chuyện thời Tây thuộc.

Chuyện tôi viết hôm nay là chuyện thời chiến tranh, chuyện xảy ra từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, chuyện đánh Tây giành độc lập hồi 9 năm (1945-54), hay là chuyện “Chống Mỹ Cứu Nước” mà thực ra chỉ là chuyện “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, “nồi da xáo thịt” giữa người Việt hai miền Nam-Bắc mà thôi.

            Trong truyện “phong thần Hòn Đất” của “nhà văn Cộng Sản Anh Đức”, tôi có nói qua về lý lịch thuở nhỏ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay xin nói lại đôi điều, sau khi hỏi thăm hỏi vài người bạn thân từng sinh trưởng hay phục vụ cho chính quyền Quốc Gia ở Rạch Giá, Kiên Giang trước 1975.

            Ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi “tổng thống Lê Lai cứu chúa” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng, ở Hà Tiên, lực lượng quân sự và chính trị Cộng Sản ở địa phương cũng chưa dám xuất đầu lộ diện ra tiếp thu chính quyền Quốc Gia.

Từ trong rừng tràm “mật khu Trà Tiên”, họ chỉ tiến ra mấy chỗ vắng vẻ, trên Liên Tỉnh Lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên. (Liên Tỉnh Lộ 8A (LTL 8A) bắt đầu từ “Ngã Ba Lộ Tẻ” trên LTL 9 và LTL 27, đường Cần Thơ – Châu Đốc, tới mãi tận Hà Tiên). Họ đóng quân chờ trên trục lộ, không chặn xe đò bắt lính đem bắn tại chỗ như trước kia, không nổ một tiếng súng. Mãi tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng năm, trung tá Thảo, quận trưởng Hà Tiên thì rút vô rừng, thế chỗ Việt Cộng ẩn núp trước kia, còn thiếu tá Sầm Long, Quận trưởng Kiên Lương, nhờ “thân hào nhân sĩ” vào núi Hòn Chông, “mời” Việt Cộng ra bàn giao chính quyền theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh. Khi ấy họ mới ra tới quân lỵ Kiên Lương. Địa điểm nầy, Việt Cộng gọi là “Thị Trấn Kiên Lương” là một thị trấn quan trọng vì là nơi tọa lạc của “Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương”, có hai lò đốt đá vôi thành clinker trước khi xà lan chở về Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên Thủ Đức, trên xa lộ Saigon – Biên Hòa, xay thành bột và vô bao.

            Bấy giờ ông Nguyễn Tấn Dũng ở trong rừng mới mò ra với các đồng chí, đồng đội của ông ta. Chức vụ NTD lúc đó là “Truởng Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, cấp bậc “Thiếu tướng một sao một gạch đít”. Đó là nói đùa theo cách của mấy anh bộ đội chớ “Một sao một gạch đít” thì chỉ mới thiếu úy mà thôi.

Khi ở trong rừng mới ra, Dũng mặc một bộ đồ xanh bộ đội, mũ tai bèo. Mũ tai bèo là “Bộ đội địa phương” hoặc du kích, “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” mới đội nón cối. Nói như thế là theo nhận xét của dân chúng địa phương. Hễ khi nào dân chúng vô rừng đốn tràm mà thấy Việt Cộng đội mũ tai bèo thì biết đó là “Xã Đội”, “Huyện Đội”, cao hơn là “Tỉnh Đội”; còn thấy “Đội nón cối” thì về báo cáo với chính quyền Quốc Gia rằng Việt Cộng ngoài Bắc mới vô, từ Cămpuchia mới qua – Việc nầy sẽ kể sau, để quí độc giả biết thêm.

            Ngoài bộ đồ xanh và mũ tai bèo, NTD không mang “loon lá” gì cả. Năm sau, 1976, “thống nhứt” lực lượng võ trang, Việt Cộng trong Nam mới đội nón cối và mang “loon lá” giống như bộ đội miền Bắc xâm nhập. Bấy giờ NTD mang “quân hàm” là “Một sao gạch đít”, tức thiếu úy như nói ở trên.

Mấy người bạn tôi nhận xét rằng ở “Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, ông NTD lúc đó cũng chưa hẵn là “nhân vật quan trọng”. Huyện Đội Hà Tiên từ trong rừng ra tiếp thu hai địa điểm: Thị xã Hà Tiên và thị trấn Kiên Lương.

Huyện Hà Tiên của Việt Cộng thuộc tỉnh Long Châu Hà. Việt Cộng lúc đó trốn trong “mật khu Trà Tiên” của rừng Trà Tiên, thuộc Quận Hà Tiên của VNCH, có “lãnh thổ” gì đâu. Mật Khu nầy gần ba tỉnh của ta là Châu Đốc, Long Xuyên và quận Hà Tiên nên chúng nó gom 3 tỉnh ủy các tỉnh vừa nói trên làm một cho dễ hoạt động, nên mới dựng nên “tỉnh” Long Châu Hà.

Huyện Ủy Hà Tiên từ trong rừng ra không dám đóng ở Hà Tiên vì huyện lỵ nầy sát biên giới Việt Miên, sợ quân Khmer Đỏ bên kia biên giới bất thần tấn công qua, có vắt giò lên cổ chạy cũng không kịp, nên “huyện ủy Hà Tiên” đóng ở Kiên Lương, xa biên giới gần 20km, đêm ngủ đỡ lạnh lưng. Ở thị xã Hà Tiên chỉ có ủy ban nhân dân và chi ủy xã Mỹ Đức mà thôi.

Ở thị trấn Kiên Lương có Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, dân chúng thường gọi là Hai Tiếu, gốc gác là trưởng ấp (Quốc Gia) Ngã Ba, xã An Bình, quận Kiên Lương, thoát ly theo Việt Cộng hồi trước tết Mậu Thân, nay là bí thư xã An Bình, ra tiếp thu xã. Nay có thêm “Huyện ủy Hà Tiên” về đóng chung. Nguyễn Văn Ngộ, tự Hai Ngộ, xã đội trưởng Ba Hòn thì ra tiếp thu xã Dương Hòa (Ba Hòn), xã nầy ở phía biển của thị trấn Kiên Lương. Hai Ngộ trước kia là trung đội trưởng nghĩa quân, thoát ly theo Việt Cộng vì chống lại ông quận trưởng Kiên Lương hồi đó, thiếu tá N. bắt trung đội trưởng “đóng hụi chết”. Hai Ngộ bị thương ở chân trái. Nhìn dấu chân in trên ruộng, người ta có thể biết tối hôm qua y có về hoạt động nơi đó hay không!

Nguyễn Tấn Dũng, “trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên”, cùng huyện ủy, từ trong rừng Trà Tiên, ra đóng ở thị trấn Kiên Lương.

“Công trạng” của Nguyễn Tấn Dũng khi vừa mới ra tiếp thu bệnh viện Quân Dân Y và Chi y tế Kiên Lương là như thế nầy: Thời VNCH, khi dân chúng tới Bệnh viện khám bệnh và nhận thuốc, tất cả đều “free”, nghĩa là chẳng phải trả đồng xu teng nào cả, dù thuốc mắc hay rẻ, “hiếm quí” (danh từ Việt Cọng đấy -tg) hay không. Xin nói thêm, cán sự y tế, y tá chế độ cũ còn được “lưu dung”, tiếp tục làm việc dưới sự kiểm soát của Trưởng ban Dũng.

Được mấy tháng, Dũng ra lệnh khám bệnh thì miễn phí, nhưng thuốc thì phải trả tiền. Dũng xem xét từng loại thuốc và định giá cho bệnh nhân phải trả. Nhân viên cũ ở bệnh viện, ai ai “cũng có tội với cách mạng” cả nên im thin thít, chẳng ai dám lên tiếng, “sợ được đưa đi học tập”. Học tập cải tạo là đi tù đấy, dân chúng biết rõ quá. Bấy giờ chỉ có dân chúng ấp Lung Lớn, có người từng tiếp tế cho Việt Cộng, như thuốc rê, bột ngọt, càphê. Ngay cả NTDũng cũng được họ tiếp tế cho đấy – có tiếp tế mới được đốn tràm, tát cá đìa – xem phần sau sẽ rõ hơn – ỷ mình “có công với cách mạng”, nên năm bảy người rủ nhau đến bệnh viện “phản ứng”. Trong số nầy có ông già bố cô Nguyễn Thị Vinh, “cựu can phạm” – từng bị đi tù Côn Đảo vì tội làm giao liên cho Việt Cộng – Tất cả đều bị Nguyễn Tấn Dũng gọi Công An huyện tới, cho đi cải tạo cả. Bố cô Nguyễn Thị Vinh đi cải tạo, không về. Ông chết trong trại.

            Như vậy, gốc gác ông NTD là bên ngành Y, học Y ở Cục Rờ (R) hay có ra Hà Nội? Ai biết? Chưa được một năm, NTD thuyên chuyển về tỉnh ủy Cà Mau, chuyển qua ngành Công An và đời NTD lên hương từ đó.

            Nguyễn Tấn Dũng quê ở xã Mỹ Lâm. Xã Mỹ Lâm nằm kế cận phía tây thị xã Rạch Giá, trên Liên Tỉnh Lộ (LTL) 8A Rạch Giá – Hà Tiên, thuộc quận Kiên Thành. Quận lỵ Kiên Thành đóng ở Rạch Sỏi, cũng trên LTL 8A nhưng ở phía bắc thị xã. Từ Rạch Sỏi muốn đi Mỹ Lâm, theo trục lộ thì phải đi qua thị xã. Có thể tuởng tượng như Rạch Sỏi ở góc vuông mà cạnh kia là thị xã Rạch Giá vậy.

Cũng xin nói thêm một chút về ông Tư La và ca sĩ nổi danh La Thạch Tuyền ở Saigon một chút. Mấy năm nay ở Saigon thiên hạ bỗng bàn tán xôn xao về ca sĩ La Thạch Tuyền, không phải vì hát hay mà vì cái tên La Thạch Tuyền khá hay. Anh ca sĩ nầy chẳng có bà con gì với La Thoại Tân cả. Anh ta quê ở Rạch Sỏi. Nói theo danh từ Hán – Việt thì Rạch là con suối, là Tuyền (Như nữ danh ca Thanh Tuyền vậy); Sỏi là một loại Đá, tức là Thạch. Còn La là bởi anh ta con ông Tư La. Ông nầy có cái tật xấu, “rượu vào lời ra” nên khi uống ruộng xong, ông ta hay la lối om sòm. Vì cái tật say rượu hay la nên chòm xóm gọi là ông Tư La (Ông thứ Tư). Nói tóm lại, ca sĩ La Thạch Tuyền là con ông Tư La ở Rạch Sỏi. Nếu giới thiệu anh ta là con ông Tư La ở Rạch Sỏi, chắc người ta cười bể bụng. Nhưng nếu giới thiệu đây là ca sĩ La Thạch Tuyền, thính giả sẽ vổ tay hoan hô.

Ai nói tiếng Việt không hay?! Từ con ông Tư La ở Rạch Sỏi mà biến thành La Thạch Tuyền là hay lắm! Cũng ý đó nên ông tổng thống Ngô Đình Diệm bảo rằng một nước có bốn ngàn năm văn hiến như nước ta không thể có những cái tên nôm na như Rạch Giá mà phải đổi lại là Kiên Giang; không thể Giồng Riềng mà phải là Kiên Bình; không thể là Bù-Đốp mà phải là Bố Đức! Cũng từ đó mà quận Rạch Sỏi được có cái tên văn vẽ là Kiên Thành.

Trở lại chuyên quê hương ông Nguyễn Tấn Dũng thì cái tên Mỹ Lâm, thuộc quận Kiên Thành cũng là văn vẻ lắm, giàu có và xã nầy cũng nổi tiếng có nhiều… Việt Cộng.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, tuổi Kỷ Sửu, – cùng tuổi âm lịch với Hitler, Napoléon. Ông ta sinh ra trong vùng kháng chiến ở Thới Bình Cà Mau.

Độc giả có biết không? Thới Bình là “đất thiêng” trên vùng ranh giới tỉnh Kiên giang và tỉnh Chương Thiện (tên cũ, nay không còn) đấy. Khi “Gia Long tẩu quốc”, cấp bách quá vì quân của Nguyễn Huệ đuổi rát tới nơi, tính mạng của Nguyễn Ánh cũng khó an toàn, nói chi tới bầu đoàn thê tử, mỹ nữ của ông ta. “Đám người đẹp” của Nguyễn Ánh bị bỏ lại ở Thới Bình. Hai mươi năm sau, Nguyễn Ánh trở về Việt Nam rồi lên làm vua, ông cho tuyển cung phi mỹ nữ mới, ít ra thì cũng trẻ hơn đám “gái già” mà nhà vua bỏ lại ở Thới bình hồi ấy, nay cũng đã già, còn gì “ngon lành” mà rước về Huế xài lại.

“Đám gái già” ở lại Thới Bình, có người lấy chồng, có lẽ cũng là những người phá đất làm ruộng, đặt lợp, đặt trúm bắt cua bát còng ở đó. Cũng có thể là binh lính cũ của Nguyễn Ánh, phần đông là dân Quảng Nam (tên cũ xứ Đằng Trong), không kịp theo vua mà chạy sang Xiêm La hồi ấy, hay đám dân Bình Định từng theo vua Quang Trung, nay sợ “vua Gia Long trả thù” nên trốn vào đây. Họ ở chung với nhau, dân quảng Nam, Bình Định cùng đám gái già của Nguyễn Ánh mà “hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Có điều lạ!

Đám gái già nầy, và con cháu của họ về sau, con gái người nào cũng đẹp, nhưng lại bị bịnh cùi. Họ thường kéo tay áo dài xuống để che hai bàn tay cùi. Người ta đồn Nguyễn Ánh, trước khi “tẩu quốc” đã kịp cho “yểm bùa” để không ai có thể  đụng tới các người đẹp của ông. Có điều tàn nhẫn hơn, sau khi lên làm vua, Gia Long đã “quên” họ và cũng “quên” giải bùa cho đám gái già nầy luôn.

Thới Bình là xã hẻo lánh, Việt Cọng thường ẩn núp ở đây. Mấy ông bạn tôi, có người phục vụ ở Thiết Đoàn 9/ Kỵ Binh, có người ở trong các đơn vị quân đội thuộc tiểu khu An Xuyên (tên Cà Mâu cũ), đơn vị thám báo sư đoàn, nếu có hành quân ngang qua Thới bình, thấy gái đẹp cũng “kính nhi viễn chi”. Họ sợ cái bịnh cùi của mấy cô gái ở đây.

Nguyễn Tấn Dũng sinh ra ở vùng nầy. May sao, y không bị lây bịnh phung.

Khoảng năm 1950, 51, gia đình ông về cư ngụ ở xã Mỹ Lâm. Ông ở với mẹ và cha, có người bảo rằng không phải cha đẻ của ông mà là “bố dượng” – nói theo người Bắc; hay cha ghẻ, nói theo người Nam. Ông cắp sách đi học ở trường Sơ Cấp xã thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Mặc dù dưới thời ông Ngô Đình Diệm, nền giáo dục đã phát triển, nhưng ở cấp xã cũng chỉ mở tới trường Sơ Cấp mà thôi. Trường Sơ Cấp chỉ có ba năm đầu của bậc tiểu học, tức chỉ có lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. Trước kia thì gọi là lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba. Kể ngược kể xuôi bằng cách nào thì cũng chỉ tới lớp Ba là hết. Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ mới học có lớp Ba?

            Không!

Một trong mấy người bạn của tôi ở Kiên Lương, từng làm việc với ông Nguyễn Tấn Dũng khi ông ta từ trong rừng tràm Trà Tiên ra tiếp thu bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương, nói với tôi rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã học hết bậc tiểu học Việt Nam Cộng Hòa. Người bạn tôi nhấn mạnh chữ Việt Nam Cộng Hòa vì việc học của Việt Nam Cộng Hòa và của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) khác nhau xa lắm. Khác như thế nào thì không thể nói ở đây, không có thì giờ! Xin để có dịp tôi sẽ nói lại.

Xã Mỹ Lâm ở sát cạnh thị xã Rạch Giá, nhà nào khá giả, muốn cho con cái học tiếp thì cứ ghi tên học lên lớp Nhì, lớp Nhứt ở trường tiểu học thị xã. Thị xã Rạch Giá có rất nhiều trường, nhất là ở bậc tiểu học, trường công, trường tư và có cả trường Tàu. Ông Nguyễn Tấn Dũng được gia đình cho ra học hết bậc tiểu học ở Rạch Giá. Nếu vậy thì nhà ông Nguyễn Tấn Dũng không có nghèo đâu, không phải bần nông, cố nông là “thành phần cơ bản” của chế độ!

            Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.

            Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối, xin phân giải từ từ.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

October 2nd, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 21

Trong chương quay về quê hương với đầy thương tích, Sakai hé lộ tình cảm của mình đối với Hatsuyo, là cô em họ cùng huyết thống. Cha của Hatsuyo là chú ruột của Sakai.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 21

Chương 19

Sakai đáp xuống Rabaul sau khi bị thương, tháng 8-1942  

Tôi hồi tỉnh, ngước nhìn bầu trời. Thân thể tôi hình như đong đưa. Tôi xoay lại, nhận ra Sasai và Nakajima. Hai sĩ quan đã leo lên cánh phi cơ và đang khiêng tôi xuống. Tiếng nói lớn của Nishizawa vang lên giữa những thì thầm của đám đông tụ họp. “Mau, kêu một chiếc xe!”, hắn nạt nộ mấy tên chạy việc. “Mau lên! Chạy đến phòng hành quân, gọi điện cho y sĩ trưởng. Mau lên, mấy thằng chó đẻ này!”.
Tôi chưa thể vô bịnh viện ngay được. Tôi phải phúc trình với đại tá Saito trước khi làm bất cứ cái gì khác. Chúng tôi phải luôn luôn trình diện Bộ Chỉ Huy sau công tác. Những chi tiết báo cáo hoạt động trong ngày xoay chuyển trong đầu óc của tôi.

Tôi giơ tay mặt lên, ra dấu cho Sasai và Nakajima đặt tôi xuống. Tôi thì thào: “Tôi phải báo cáo. Ðể tôi đi đến Bộ Chỉ Huy.” Nakajima nạt tôi: “Cần mẹ gì, việc đó thủng thẳng cũng được. Chúng tôi sẽ nói là đưa anh vô bịnh viện.”

Tôi khăng khăng và la lớn rằng tôi phải viết báo cáo. Nishizawa bước đến, và với Ota một bên, cả hai dìu tôi vô Bộ Chỉ Huy. Nishizawa càu nhàu luôn miệng: “Nát ngướu như xác chết mà còn báo cáo!”. Tôi nhớ lại, tôi đã đứng một cách khó khăn trước mặt Ðại tá Saito, với đôi mắt của ông đang nhìn tôi bán tín bán nghi. Tôi suy nghĩ để nói, nhưng mọi vật bắt đầu nhuộm đen trở lại. Bỗng nhiên tôi muốn đi ngủ. Phải ngủ! Tôi đang làm gì ở đây? Rồi tất cả là một màu đen thẫm.

Nishizawa và Ota lôi tôi ra xe (họ kể lại sau đó) đang đậu ở bên ngoài Bộ Chỉ Huy. Nishizawa nhảy lên xe lái như giông như gió đến bịnh viện. Sasai và Ota ngồi vịn tôi ở băng sau. Vị y sĩ trưởng đang chờ tôi trong phòng cấp cứu. Ông cắt bộ quân phục đã te tua của tôi ra và bắt đầu may ngay các vết thương cho tôi. Qua giấc ngủ, tôi cảm thấy đau đớn từng chập mỗi khi vết dao cắt vào da đầu của tôi. (Ông đã cất hai miểng đạn đại liên 50 để đưa cho tôi coi sau đó). Tôi cảm giác có một con dao sắc bén nạo trên xương sọ của mình.

Tôi tỉnh hẳn hầu như ngay khi cuộc giải phẫu vừa xong. Tôi nhìn lên khi viên bác sĩ cúi xuống. Ðôi mắt của tôi! Tôi nhớ lại đôi mắt của tôi. Thình lình những nỗi sợ hãi phủ chụp lấy tôi. “Mắt của tôi!” Tôi la lớn, “Mắt của tôi ra sao, bác sĩ ?”

“Anh bị thương trầm trọng”, ông ta đáp. “Ở đây tôi không thể nào chữa trị được.” Ông nhìn ngay tôi và tiếp. “Phải gởi anh về Nhựt Bản để một chuyên viên nhãn khoa chữa trị cho anh.” Một cảm giác bi thương tràn ngập hồn tôi. Tôi lo sợ con mắt phải của tôi. Phía phải này tôi không thể nhìn thấy gì cả. Ý nghĩ đui mù làm tôi khủng khiếp. Ðời một phi công chiến đấu kể như tàn rồi. Tôi phải bay; tôi phải lái chiến đấu cơ trở lại!

Bốn ngày trôi qua trì trệ trong bịnh viện với những lần vải băng quấn khắp thân thể tôi. Bác sĩ lấy ra bốn mảnh kim khí ghim trong thịt cũng như nhiều miếng sắt trên đôi má của tôi. Ðến ngày thứ tư tôi cảm thấy chân và tay trái cử động được chút ít. Vết thương ở cánh tay mặt và ở đầu thối rữa, do khí hậu quá ẩm thấp của miền nhiệt đới, và mắt phải tôi vẫn còn mù.

Trong lúc đó, những nhát chổi chiến đấu cơ và các cuộc không tập của oanh tạc cơ dập xuống Guadalcanal không ngừng nghỉ. Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng gầm thét của phi cơ cất cánh và hạ cánh xuống phi đạo. Rabaul có nhiều khách viếng thăm mỗi ngày, những chiếc pháo đài bay. Chúng bay đến tấn công hai phi trường ở đây từ trên cao độ. Mỗi lần oanh tạc cơ địch xuất hiện, tôi và các bịnh nhân khác đều được mang xuống hầm trú ẩn.

Mỗi đêm Ðại úy Sasai và Trung tá Nakajima đều đến thăm tôi. Họ đồng ý rằng tôi nên trở về Nhựt. Theo họ, chỉ có khí hậu điều hoà ở quê hương và một chuyên viên nhãn khoa tài ba mới có thể chữa lành mắt của tôi. Tôi từ chối trở về xứ. Tôi nhấn mạnh rằng bệnh tình của tôi có thể chữa trị ngay ở Rabaul, và tôi có thể bay trở lại trong vòng một vài tuần. Tôi cáu kỉnh vô lý và trở nên hung dữ.

Khó có thể giải thích sự ngần ngừ của tôi không muốn rời khỏi địa ngục Rabaul. Tôi chỉ ý thức rằng vào lúc này, tôi đang bị bao vây bởi viễn ảnh bi thảm: cuộc đời phi công của tôi chấm dứt. Cũng có vấn đề thể diện. Tôi cảm thấy bao lâu tôi còn ở Rabaul, tôi vẫn còn thể diện. Ngay cả nếu tôi không bay lại được, tôi cũng có thể giúp đỡ những phi công mới vô nghề. Tôi có thể khuyên họ tránh những sai lầm có thể đưa đến cái chết của họ. Tất cả những lý do đó trộn lẫn thành một. Chuyến trở về Nhựt Bản của tôi có nghĩa là tôi sẽ nhận lãnh sự phán xét cuối cùng bởi một chuyên viên nhãn khoa, và tôi sợ phát điên lên khi phải nghe sự thật.

Vấn đề này kết thúc vào sáng ngày 11 tháng 8, khi Ðại tá Saito, chỉ huy trưởng căn cứ Lae, bước đến cạnh giường tôi. Sự tử tế mà ông dành cho tôi đã hết mức, và cũng ngang bằng với sự cứng rắn của ông bây giờ. “Tôi thông cảm với anh, Sakai”, ông nói, “nhưng tôi đã đắn đo suy xét. Anh sẽ được gởi về Nhựt, và vô bịnh viện hải quân Yokosuka. Ðây là lịnh của tôi. Anh sẽ đáp vận tải cơ đi vào ngày mai. Vị bác sĩ ở đây đã cho tôi biết bịnh tình của anh chỉ hy vọng vào các bác sĩ ở Yokosuka mà thôi.”

Ông mỉm cười với tôi. “Chuyến trở về quê hương của anh sẽ khiến cho chúng tôi yên lòng nhiều hơn anh nữa. Tất cả chúng tôi đều biết anh sẽ được săn sóc thuốc men cẩn thận ở Nhựt.” Ông ta đứng dậy nhìn tôi giây lát rồi nghiêng mình xuống, đặt tay lên vai tôi. “Ðối với tất cả chúng tôi, anh đã làm được một việc phi thường, Saburo,” ông dịu dàng nói. “Tất cả những ai đã từng biết anh, từng được bay chung và chiến đấu với anh, đều hãnh diện vì anh. Khi các vết thương của anh lành lặn, hãy trở lại đây với chúng tôi.” Thế rồi ông bước ra ngoài.

Ðêm đó  Sasai đến thăm tôi. Ông có vẻ mệt mỏi sau phi vụ trong ngày ở Guadalcanal. Tôi cho ông biết tôi được lệnh về xứ ngày mai. Giây lát sau, tất cả các bạn thân của tôi đều tụ họp trong phòng, bày ra một buổi tiệc chia tay nhỏ. Không ai ca hát, không ai nói chuyện ồn ào hoặc đùa giỡn. Chúng tôi chuyện trò to nhỏ, hầu hết nhắc về quê hương.

Nhưng người Mỹ có ý định khác hơn đối với buổi tụ họp nho nhỏ của chúng tôi. Sự yên tĩnh của một đôi giờ chấm dứt đột ngột với những bước chân dồn dập chạy vô các hầm trú ẩn. Tôi được một số phi công khiêng ra khỏi bịnh viện. Tôi nghiến răng xấu hổ và đắng cay với sự bất lực của mình. Ðây chính là những phi công mà tôi từng cầm đầu khi chiến đấu, và bây giờ họ khiêng tôi đi, giống như một đứa trẻ mù loà, què quặt! Tôi muốn la hét và giựt hết những lần băng quấn quanh thân thể mình. Nhưng tất cả những gì mà tôi có thể làm là nằm bất động với đôi mắt nhắm nghiền.

Sáng sớm hôm sau, tôi lê thân chầm chậm ra cầu tàu, một chiếc ca-nô đang chờ để đưa tôi ra một chiếc thuỷ phi cơ bỏ neo trên mặt nước.

Sasai siết chặt tay tôi. “Tôi sẽ nhớ anh, Saburo. Anh không bao giờ biết được lòng tôi đối với anh.”
Hai giòng lệ chảy dài xuống đôi má tôi, tôi không thể nào cầm được. Tôi xúc động và chỉ có thể nắm chặt lấy tay Sasai.

Sasai rút tay lại, tháo vội dây nịt đang đeo và trao nó cho tôi. Tôi nhìn “Con Cọp Gầm” khắc sắc sảo trên cái khoá. “Saburo, sợi dây nịt này của ba tôi tặng. Một sợi cho tôi, một sợi cho anh rể tôi. Anh rể tôi đã chết. Tôi không mấy tin vào sự linh ứng của con cọp bằng bạc này, nhưng tôi muốn anh giữ và mang nó. Tôi hy vọng nó sẽ giúp anh trở lại đây với chúng tôi.”

Tôi từ chối, nhưng vô ích. Sasai bỏ sợi dây nịt vô túi của tôi, rồi nắm lấy tay tôi. “Tôi sẽ gặp anh trở lại, Saburo. Ðừng nói lời từ biệt! chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, tôi hy vọng.”

Saburo Sakai và Đại úy Sasai tại căn cứ Rabaul tháng 8-1942

Ông dìu tôi xuống ca-nô. Một phút sau nó lướt sóng hướng đến chiếc thuỷ phi cơ đang chờ đợi. Nishizawa, Ota, Yonekawa, Hatori, Trung tá Nakajima và tất cả đồng đội khác của tôi vẫy tay trên cầu tàu. Họ la lớn dặn tôi sớm trở lại để bay với họ. Cầu tàu vang vang những tiếng gọi tên tôi “Saburo”, “Saburo”… Giây lát sau, hình ảnh họ mờ mờ. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một vài thước với con mắt trái. Tôi cố gắng đứng thật thẳng trên ca-nô, giơ tay mặt lên, lúc bóng hình của mọi người mờ nhòa. Thế rồi tôi la thật lớn, và khóc như một đứa trẻ.

Trong chiếc thủy phi cơ có một vài hành khách khác. Một binh sĩ phục dịch được cắt đặt để săn sóc tôi trong chuyến đi, và nhiều thông tín viên chiến tranh. Chúng tôi ngừng lại ở Truk và Saipan để tái tiếp nhận nhiên liệu. Tôi rời xa mảnh đất quê hương đã lâu. Tình trạng hiện thời của nước Nhựt như thế nào, tôi không mảy may lưu tâm đến. Nhưng, tôi đã xúc động khi đặt chân lên Yokohama, một xúc động bất ngờ. Chiều ngày thứ Bảy, chúng tôi đáp xuống hải phận Yokohama. Không muốn trình diện bịnh viện vào đêm đó, tôi đi bộ vô thành phố để đón xe taxi đến nhà chú tôi ở phía Tây Tokyo.

Dân chúng ở đây tuyệt đối không biết đến những gì thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Tôi như từ cung trăng rớt xuống giữa đám đông rộn rịp, giữa ánh đèn sáng trưng. Tôi không thể nào tin được những âm thanh lọt vô tai tôi, âm thanh của muôn ngàn tiếng cười, tiếng nói vô tư lự. Có phải thật là họ không biết những gì xảy ra ở Tây Nam Thái Bình Dương không?

Trên khắp đường phố, mỗi bản tin tức của đài phát thanh đều kèm theo nhạc khúc vang vang “Bước tiến của chiến hạm”, loan đi chi tiết các chiến thắng lừng lẫy của những trận hải chiến quanh quần đảo Solomon. Tôi không nghe gì khác hơn là danh sách những tàu chiến Mỹ bị tiêu diệt, hàng nhiều trăm phi cơ địch bị bắn rơi.

Những đám người mặc quần áo mùa Hè màu sặc sỡ dừng lại bên ngoài mấy cửa tiệm, hoặc đứng ở các góc phố để lắng nghe đài phát thanh huênh hoang. Mỗi lần xướng ngôn viên đề cập đến một chiến bại quan trọng của địch quân, tiếng reo hò nổi lên vang dội khắp phố. Quốc gia say sưa trên những chiến thắng lừa dối. Khó thể tin rằng có một cuộc chiến tranh hủy diệt đang diễn ra. Trong các cửa tiệm, tôi thấy có một số hàng hoá được phân chia theo khẩu phần, nhưng các nhu yếu phẩm có thể nói là phong phú.

Tôi muốn rời xa thành phố này tức khắc. Mọi thứ ở Lae và Rabaul hình như không thật. Có thể nào hai thế giới cách biệt này hiện hữu cùng một lúc không? Máu lửa, chết chóc và nỗi hoan hỉ dành cho những chiến thắng tưởng tượng chỉ cách nhau mấy giờ bay ngắn ngủi?

Tôi kêu một chiếc taxi và cho địa chỉ của chú tôi. Xe chạy ngang qua Yokohama và vô thành phố Ðông Kinh. Vài phút sau, một cảnh sát viên chận xe lại và cúi nhìn xuyên qua kiếng. Bộ quân phục của tôi lỗ chỗ vết máu và vết thương vẫn còn quấn băng. Hắn hỏi: “Anh làm sao vậy?”

“Tôi vừa ở mặt trận về,” tôi đáp một cách chua chát.

Hắn kêu lên: “Anh bị thương ở mặt trận! Mặt trận nào? Sao lại bị thương?”

“Tôi là phi công,” Tôi hắng giọng. “Ở Guadalcanal. Tôi bị đạn trong lúc chiến đấu.”

“Guadalcanal!” Ðôi mắt của viên cảnh sát trẻ bừng sáng. “Hôm nay tôi có nghe một số tin ở đó. Tôi biết rằng chỉ ngày hôm qua đây, chúng ta đã nghiền nát hết bọn Mỹ. Ðài phát thanh cho biết hải quân của chúng ta đánh chìm 5 tuần dương hạm, 10 quân vận hạm và mười khu trục hạm. Chắc chắn cảnh đó ngoạn mục lắm!”

Bao nhiêu đó quá lắm rồi! “Tôi rất tiếc, thưa Trung sĩ,” tôi nói mau. “Tôi phải đi gấp.” Tôi thét tên tài xế.

“Chạy đi! Tức khắc!”.

Nhiều năm rồi, tôi lại mới bước vô nhà của chú tôi. Ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi. Tôi đứng bên lề đường nhiều phút, nhìn ngôi nhà, ánh đèn vàng và nghe những âm thanh quen thuộc. Một cảm giác yên bình kỳ lạ bao trùm lấy tôi. Quá khứ thức dậy trong tôi, và tôi đã mở cánh cửa giống như tôi đã mở lúc còn nhỏ. Tôi cũng sử dụng những tiếng nói tôi thường la lên khi bước vô nhà, “Cháu đây! Cháu về nhà rồi đây!”, “Hatsuyo, em đâu rồi?”

“Ai đó?” tiếng hỏi có vẻ giựt mình vọng lên từ nhà bếp. Tôi mỉm cười. Tiếng hỏi của thím tôi.

“Cháu đây!” Tôi đáp.

Yên lặng giây lát. “Cháu đây! Saburo đây!”. Tôi nói lớn một cách vui vẻ.

Tiếng hỏi đầy sửng sốt của chú tôi vang dội khắp nhà:

“Cái gì đó?” Rồi cả nhà chạy ùa ra hành lang.

Họ nhìn tôi trừng trừng cả một phút. Chú thím tôi, hai cô em họ Hatsuyo và Michio của tôi, không ai thốt nên lời, đứng im sững, miệng mở tròn trong nỗi kinh ngạc. Ðôi mắt Hatsuyo ngập thảng thốt. Tôi bình thản nhìn những người trước mặt khi đôi mắt của họ di chuyển xuống bộ quân phục và những lần vải băng hoen máu của tôi.

Chú tôi thì thào: “Có phải cháu thật không, Saburo? Ðây là Saburo, đây không phải là một hồn ma?” Ông chồm về phía trước, như sợ tôi tan biến.

“Không! Không phải là hồn ma”. Tôi đáp “Cháu thật đây mà. Cháu về nhà đây!”.

Thật giống như chết đi sống lại. Những trận đánh, chết chóc, thương tích, ấn tay vào cò súng, lộn nhào liên hồi để tránh né chiến đấu cơ địch truy đuổi, chui rúc vô những hầm trú ẩn ngập bùn… tất cả không còn nữa, tất cả đã trở thành không thật, xa lắm rồi. Một thế giới âm u, giống như hồn ma mà chú tôi đã tưởng, không còn treo lơ lửng trên đầu tôi nữa. Ðể tôi được ngồi trong căn nhà này một lần nữa, để lại trò chuyện với chú thím tôi, để lại nhìn thấy Hatsuyo và Michio, để thoải mái. Ðể biết nơi đây sẽ không có những trái bom đêm nay, không còn âm thanh gầm thét của oanh tạc cơ Marauder và Mitchell, không còn những tiếng nổ, những mảnh kim khí, những viên đạn chọc thủng vô tận phòng ngủ… mà chỉ có đường nét dịu dàng của Hatsuyo, với cử chỉ mềm mại lễ phép. Hatsuyo hết còn là cô nữ sinh như trong ký ức của tôi mà đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành cực xinh đẹp. Tôi nhìn Hatsuyo với đầy ngạc nhiên. Michio cũng vậy, đã bắt đầu dậy thì. Nhưng tôi không ngớt ngắm Hatsuyo. Tôi cứ lắc lắc đầu trong hạnh phúc đầy kinh ngạc. Hầu như đã ba năm rồi, tôi mới trải qua một đêm yên ấm với gia đình này. Ðó là đêm đầu tiên trong nhiều năm, tôi mới được ngủ thẳng một giấc. Ngay cả mấy vết thương cũng không quấy rầy tôi.

Sáng hôm sau trước gương mặt âu lo của Hatsuyo, tôi đáp xe lửa đến Yokosuka. Ðời sống hàng ngày của dân chúng trong thành phố này hình như còn rộn rịp hơn cả thành phố Yokohama vào ban đêm. Những người qua đường, nhứt là các thiếu phụ và thiếu nữ, liếc mắt nhìn tôi, khẽ nhăn mặt và nhìn đi nơi khác. Tôi là một tên dơ bẩn, bê bết máu mủ, và phải, đó là sự thật, tôi là một hình ảnh đầy ghê tởm với đồng bào của tôi. Tôi bị ghét bỏ.

Samurai! – Saburo Sakai

baotreonline.com

Trần Vũ

September 25th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Samurai! – Saburo Sakai

Kỳ 20

Mang thương tích thui chột và liệt một bên vì trúng đạn vào đầu nhưng Sakai vẫn cắn răng vượt 1,040 cây số đem máy bay về căn cứ. Hơn một chiến công, một phi thường. 40 năm sau, Sakai sang California và gặp xạ thủ súng máy Harold L. Jones trên pháo tháp chiếc Avenger đã bắn mình trọng thương. Jones cho Sakai biết chiếc máy bay của Thiếu úy Robert C. Shaw mà Jones là xạ thủ, đã bị Sakai bắn thủng 232 lỗ nhưng đáp được xuống mẫu hạm USS Enterprise. Jones kể lại: “Khi chiếc Zéro lao đến, cả 8 xạ thủ trên 8 chiếc Avenger cùng khai hỏa ở khoảng cách 150m. Sakai cũng bắn vào chúng tôi cùng lúc. Khi còn cách 30m buồng lái của chiếc Zéro nổ tung, tôi nhìn thấy rõ gương mặt đẫm máu của Sakai trước khi chiếc Zéro lao thẳng xuống biển.” [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 20

Chương 18 (tiếp theo)

Dần dần tôi cảm biết những gì đang xảy ra. Chiếc Zéro lao về phía Ðông giống như một hòn đá. Tôi cố mở mắt ra và nhìn quanh, thấy màu sáng chói hực của lửa. Tôi nghĩ rằng chiếc phi cơ đang bốc cháy. Nhưng tôi không nghe một mùi khói. Tôi vẫn choáng váng.

Tôi nháy mắt nhiều lần. Sao lại như vậy? Mọi vật đều màu đỏ hết! Tôi đưa tay sờ soạng. Cần lái! Tôi nắm lấy nó. Vẫn không thấy gì hết. Tôi kéo cần lái về phía sau. Nhẹ nhàng. Chiếc phi cơ bắt đầu gượng lại sức chúi xuống, lấy lại thăng bằng và vượt lên. Áp lực của gió giảm bớt, không còn quật mạnh vô mặt tôi nữa. Một ý nghĩ đầy kinh hãi bao trùm lấy tôi. Là tôi có thể bị mù! Tôi hết còn cơ hội trở về Rabaul!

Tôi hành động theo quán tính. Ðưa tay trái về phía trước để nắm lấy cần gia tốc. Nhưng tay tôi bất động. Tôi cố co mấy ngón tay lại. Không có một cảm giác nào cả. Ðúng là nó đã liệt hẳn. Tôi nhấn hai chân lên bàn đạp bẻ lái. Chỉ có chân mặt của tôi còn cử động và chiếc Zéro lạng qua một bên khi bàn đạp bị ấn xuống. Chân trái của tôi tê liệt. Tôi nghiến răng cố gắng cử động lại một lần nữa. Vô ích.

Nguyên thân bên trái của tôi hình như đã bị liệt. Trong nhiều phút tôi cố nhúc nhích chân và tay trái, nhưng không thể nào cử động. Tôi không nghe đau đớn. Thật khó hiểu.

Ðôi má tôi ướt đẫm. Tôi đang khóc. Hai hàng lệ chảy xuống. Khối nặng trĩu trong tròng mắt tôi bắt đầu trôi đi. Nước mắt đã lau sạch máu đọng trong mắt tôi. Tai vẫn còn điếc câm, nhưng mắt có thể nhìn thấy tuy chỉ một chút ít, nhưng màu đỏ đã loãng dần. Ánh sáng mặt trời chiếu rọi vô phòng lái cho phép tôi nhìn thấy lờ mờ những dụng cụ bằng kim khí. Dần dần tôi nhìn thấy những đồng hồ hình tròn, nhưng không thể nhìn thấy chi tiết. Tôi xoay đầu và nhìn ra ngoài buồng lái. Những khối màu đen vĩ đại lướt qua dưới cánh phi cơ với tốc độ khủng khiếp.

Những khối màu đen chắc chắn là chiến hạm địch. Ðiều này có nghĩa là tôi chỉ cách mặt nước khoảng 300 bộ, dưới 100 thước. Thế rồi tai tôi vang lên những âm thanh lùng bùng. Thoạt đầu là tiếng máy phi cơ kế đến là tiếng súng. Các chiến hạm đang khai hoả vào tôi! Chiếc Zéro chao lắc lư giữa những lằn chớp loé của đạn cao xạ phát nổ. Lạ lùng thay, tôi không hề có một phản ứng nào. Tôi bất động, không tìm cách né tránh. Tiếng súng rơi lại phía sau. Tôi không còn nhìn thấy những khối màu đen trên mặt nước nữa. Tôi đã ra khỏi tầm súng. Nhiều phút trôi qua, tôi vẫn ngồi bất động trong phòng lái với muôn ngàn ý nghĩ lẫn lộn. Tôi lại muốn thiếp ngủ. Trong cơn ngầy ngật, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào bay trở về Rabaul, và ngay cả Buka gần hơn Rabaul. Một thoáng, ý nghĩ đâm thẳng xuống biển với hết tốc lực đã lôi cuốn tôi, như một cách giải quyết nỗi tuyệt vọng của mình. Tôi trở nên ngu muội. Tôi cố mở mắt ra. Tôi nguyền rủa mình: Chết như vầy không phải! Nếu phải chết, tôi nghĩ, tôi phải chết cho ra hồn. Tôi đâu phải là một tay mơ chưa từng biết chiến đấu là gì? Tư tưởng của tôi chợt ẩn chợt hiện, tôi biết rằng bao lâu mà tôi còn kiểm soát chiếc phi cơ, bao lâu mà tôi còn có thể bay, tôi sẽ làm mọi cách lôi theo một hai kẻ thù trước khi chết. Chiến đấu cơ địch ở đâu? Tôi chửi rủa và la hét: Ðến đây? Tôi đây! Ðến đánh với tôi!…

Trải qua nhiều phút, tôi thịnh nộ như một tên điên trong phòng lái. Dần dần tôi bình tĩnh trở lại và ý thức hành động đáng buồn cười của mình… Tôi bắt đầu nghĩ đến những may mắn vô song đã khiến tôi sống sót cho đến bây giờ. Tôi đã gặp nhiều hiểm nguy trước đây, nhưng chưa lần nào hiểm nguy hơn lần này. Những viên đạn chỉ cách đầu tôi mấy phân, và gây cho tôi nhiều vết sướt, nhưng không trầm trọng mấy. Tôi có may mắn, tại sao tôi quăng nó đi? Và bỗng nhiên tôi muốn sống, tôi muốn quay trở về Rabaul.
Việc có ý thức đầu tiên của tôi là xem xét các thương tích. Tay trái tôi vẫn tê liệt, tôi đưa tay mặt lên rờ đầu một cách e dè như sợ những gì sẽ tìm thấy. Mấy ngón tay rờ nón phi công, cảm thấy nhớp nháp. Tôi biết đó là máu. Rồi tôi gặp một lỗ thủng trên nón, tôi thọc nhè nhẹ một ngón tay vô. Ðể coi bao sâu? Có vật cưng cứng chạm vô ngón tay tôi. Tôi sợ hãi chấp nhận sự thật. Ngón tay tôi lọt hẳn vô bên trong chiếc nón! Vật cứng đó không gì khác hơn là xương sọ của tôi do đạn phá ra. Có lẽ là hộp sọ bể. Ý nghĩ này làm tôi lặng người. Viên đạn có thể chui vô trong óc, nhưng chắc chắn không sâu. Tôi nhớ lại những gì đã từng học hỏi về thương tích trong lúc chiến đấu. Tôi không cảm thấy đau đớn, nhưng có lẽ vết thương đã làm tê liệt phần thân thể bên trái của tôi. Những ý nghĩ này đến chầm chậm. Làm sao có thể ngồi trong phòng lái chiếc phi cơ hư hại, nửa phần đui mù, nửa phần tê liệt, thọc mấy ngón tay qua lỗ hủng trên đầu của mình và tìm hiểu sự việc xảy ra một cách sáng suốt? Tôi ý thức những gì đã xảy ra, tôi cảm được chất máu nhớp nháp và lỗ hủng trên đầu của tôi, nhưng không ý thức sự nghiêm trọng thật sự của vết thương. Tôi biết tôi bị thương, chỉ có vậy thôi.

Tôi lại di chuyển mấy ngón tay trên mặt tôi. Nó sưng phù lên, nhiều vết sướt, và cũng có máu. Chiếc Zéro tiếp tục bay đều. Ðầu óc tôi dần dần sáng suốt thêm. Cử động của tôi chính xác hơn. Tôi hít một hơi thở thật mạnh. Không có mùi dầu khét, như vậy là cả máy lẫn thùng xăng không bị trúng đạn. Sự nhận biết này là nỗi vui mừng lớn nhất trong đời tôi. Với thùng xăng còn nguyên vẹn và máy móc không hư hại, chiếc phi cơ có thể nuốt hết khoảng không trình còn lại. Gió luồng vô chỗ thủng trên sọ vẫn còn rỉ máu. Tôi có thể bất tỉnh trở lại vì mất máu.

Bỗng nhiên đau đớn bao trùm lấy tôi. Mắt phải của tôi bắt đầu mờ dần khi cơn đau gia tăng kịch liệt. Tôi đưa tay dụi mắt. Cơn đau đến không chịu đựng nổi. Tôi lại dụi mắt. Tôi mù rồi!

Tất cả phi công Nhựt đều mang theo trong túi bốn mảnh băng vải hình tam giác. Tôi lôi ra một mảnh và phun nước miếng lên đó. Miệng tôi khô khốc và cảm thấy khát nước kinh khủng. Tôi đưa mảnh băng lên miệng để nhai cho đến khi một góc của nó trở thành ẩm ướt. Chồm về phía trước để tránh gió, tôi lau mắt với góc băng ướt. Có hiệu quả, tôi nhìn thấy chút ít. Một vài giây sau, khi tôi ngồi ngay ngắn trở lại, đầu tôi lại đau dữ dội, như có một chiếc búa gõ lên sọ. Tôi đắp ngay mảnh băng vô lỗ hủng trên đầu, nhưng khi tôi vừa lấy tay ra, gió thổi mảnh băng bay mất ra ngoài cửa kiếng bể.

Thất vọng tột cùng! Làm cách nào tôi có thể cột mảnh băng quanh đầu? Tôi phải cầm máu lại. Tay trái tôi tê liệt, tôi chỉ có thể sử dụng tay mặt để giữ mảnh băng, nhưng tay này phải giữ cần điều khiển. Tôi kéo mảnh băng thứ hai để đắp, nó lại bay mất khi tôi vừa lấy tay ra. Mảnh thứ ba và bốn cũng vậy. Tôi phải làm gì đây? Tôi hầu như rối loạn. Cơn đau gia tăng dữ dội hơn.

Tôi còn một chiếc khăn quàng bằng lụa quấn quanh cổ. Tôi tháo ra và đè một chéo dưới đùi bên mặt để gió khỏi cuốn đi. Sau đó tôi rút con dao bỏ túi dùng răng kéo lưỡi dao ra. Tôi cắn chặt một chéo của khăn quàng và cắt một đoạn, nhưng bị gió cuốn bay mất lập tức. Tôi không biết làm sao. Tuyệt vọng. Tôi cuống cuồng tìm giải pháp. Chỉ còn một đoạn khăn quàng.

Tôi khom người về phía trước để tránh gió, và bắt đầu nhét đoạn khăn vô bên trong chiếc nón phi hành ngay chỗ vết thương. Thành công. Tôi ngồi thẳng dậy và đưa chiếc phi cơ vượt lên. Cơn đau dịu xuống nhanh chóng. Máu ngưng chảy. Nhưng cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi xô đuổi cách mấy cũng không được. Hơn một lần tôi chợp mắt, cằm gục xuống ngực. Tôi lắc lắc đầu, hy vọng cơn đau sẽ làm tôi tỉnh táo. Chiếc phi cơ đâm đầu xuống mấy lần. Cơn buồn ngủ vẫn không xua đuổi được khiến tôi nổi giận. Tôi đưa tay tát vào má thật mạnh nhiều lần. Tôi không thể tiếp tục lối này mãi được. Tôi sớm cảm chất máu mằn mặn. Má tôi sưng phù thêm, không khác nào ngậm một trái banh trong miệng. Nhưng không có cách nào khác hơn, tôi tiếp tục tát vào má nữa. Có lẽ thức ăn sẽ thắng cơn buồn ngủ. Tôi lôi hộp thức ăn ra và nhét bánh mặn đầy miệng. Tôi lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết. Tôi nhét thêm thức ăn vô miệng nữa, nhai thật kỹ trước khi nuốt.

Lát sau, tôi nôn mửa dữ dội làm chiếc phi cơ mất kiểm soát khi tôi vặn vẹo thân thể trong cơn nôn. Thức ăn tung toé đầy trên chân tôi và trên tấm bửng dụng cụ. Ngay cả sự khổ sở mới này vẫn không xua đuổi nổi cơn buồn ngủ ùa đến. Tôi lại tát má liên hồi cho đến khi không còn cảm giác nào nữa. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đưa tay đập lên đầu, nhưng cũng vô ích. Tôi muốn ngủ! Ồ! Hãy cứ ngủ đi, quên mọi chuyện…
Chiếc phi cơ chao qua chao lại, bay xiên xẹo. Tôi cố giữ cần lái một mực, không biết rằng nhiều khi tay tôi rớt xuống bên trái hoặc bên phải khiến cho phi cơ xoay vòng dữ dội. Tôi sẵn sàng bỏ cuộc. Tôi biết không thể giữ mãi tình trạng này mãi mãi. Nhưng tôi nguyện với lòng sẽ không chết như một tên hèn nhát, bằng cách chúi xuống biển, ít ra tôi phải chết như một Samurai. Cái chết của tôi phải lôi theo nhiều kẻ thù.

Một chiến hạm. Tôi cần một chiến hạm địch để lao xuống. Thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng tràn ngập, tôi quay chiếc Zéro hướng về Guadalcanal. Nhiều phút sau đó tôi tỉnh táo trở lại. Không còn buồn ngủ nữa. Không còn đau đớn nữa. Tôi hiểu hành động của mình. Nhưng tại sao lại chết bây giờ, nếu tôi có thể bay đến Buka hoặc ngay cả Rabaul? Tôi lại quay hướng chiếc Zéro và bay về phía Bắc. Một vài phút sau đó tôi lại muốn thiếp ngủ. Trí óc tôi u mê. Thế giới quanh tôi mù mịt. Tôi lại quày phi cơ, hướng về Guadalcanal. Quày đi quày lại năm lần như vậy. Tôi bắt đầu la khan nhiều lần. “Hãy thức tỉnh!”. Dần dần cơn buồn ngủ biến mất. Tôi nhắm hướng Rabaul. Hiển nhiên là nếu cứ bay về phía Bắc thì không gì bảo đảm tôi sẽ về tới căn cứ. Nhưng tôi không định nổi vị trí. Tôi chỉ biết nhắm hướng Rabaul một cách tổng quát. Tôi biết tôi ở phía Bắc Guadalcanal, nhưng không biết khoảng cách bao xa. Tôi nhìn xuống biển, nhưng không tìm ra một hòn đảo nào trong chuỗi đảo trải dài đến Rabaul. Chỉ chân mặt của tôi còn đạp bàn đạp điều khiển bánh lái được, như vậy chiếc phi cơ có thể đã xoay về phía Ðông của quần đảo Solomon.

Tôi rút tấm hải đồ dưới ghế ngồi. Nó vấy đầy máu. Tôi nhìn hồi lâu, chà tấm hải đồ lên quần để tẩy mấy vết máu, nhưng vô ích. Tôi cố định vị trí bằng cách nhìn mặt trời nhưng vô ích. Cả ba mươi phút trôi qua vẫn không có một hòn đảo nào xuất hiện. Có cái gì không ổn? Tôi hiện ở đâu? Bầu trời trong sáng hoàn toàn và đại dương trải dài vô tận.

Một hòn đảo! Cuối cùng, một hòn đảo, ngay trước mặt tôi. Nó ở mãi phía chân trời, nổi lờ mờ trên mặt nước. Phấn kích, tôi cười khan. Bây giờ, mọi việc yên rồi, tôi có thể định vị trí và chắc chắn tôi đang hướng về Rabaul. Tôi bay và tiếp tục bay, bồn chồn dõi mắt tìm kiếm bờ biển.

Hòn đảo biến mất. Nó đâu rồi? Tôi không nằm mơ chớ? “Hòn đảo” đang trôi qua bên phải tôi, đó là một đám mây sà thấp!

Tôi cố gắng xem lại la bàn. Tôi không thể nào đọc được những con số. Tôi cúi mọp về phía trước, mũi hầu như chạm vô mặt kiếng la bàn. Cuối cùng tôi đọc được. Tôi đang bay ở hướng 330 độ. Gần hai tiếng đồng hồ tôi không nhìn thấy hòn đảo nào cũng phải. Chiếc Zéro đang tiến ra trung tâm Thái Bình Dương! Soát lại hải đồ, tôi biết vị trí của tôi cách phía Ðông Bắc quần đảo Solomon 60 dặm. Chỉ phỏng đoán, nhưng đó là điều tốt nhất mà tôi có thể làm. Tôi xoay chiếc phi cơ về phía trái 90 độ và hướng đến một nơi mà tôi hy vọng là đảo New Ireland, nằm phía Ðông Bắc New Britain và Rabaul.

Những lượn sóng buồn ngủ lại phủ chụp lấy tôi. Nhiều lần làm tôi hoảng hốt giữ thăng bằng khi chiếc phi cơ đảo cánh hoặc lộn ngược. Tôi bay chập choạng xuyên qua bầu trời, lâu lâu cúi về phía trước xem la bàn, điều chỉnh hướng bay cho đến khi tôi chắc chắn phi cơ đang tiến đến New Ireland.

Nhưng bỗng nhiên cơn đau trên đầu gia tăng khiến tôi không còn buồn ngủ nữa. Rồi thình lình tôi tỉnh táo hẳn. Không một dấu hiệu báo trước, chiếc phi cơ tắt máy. Tôi biết bình xăng chánh đã cạn. Tôi còn một bình xăng phụ, nhưng phải mất một thời gian ngắn để chuyển qua. Khi mở nút chuyển tiếp xăng phải làm nhanh chóng và chính xác. Thông thường, công việc này tôi sử dụng tay trái và không có gì khó khăn. Nhưng hiện thời tay trái tôi đã liệt hẳn. Tôi phải sử dụng tay mặt, nhưng với qua phía bên kia phòng lái không tới.

Chiếc Zéro tắt máy rớt xuống biển chầm chậm và êm ái. Tôi cố gắng hết sức cuối cùng mở được.

Xăng không chảy qua ống, vì ống quá lâu nên đã thoát hết không khí. Tôi vội vã sử dụng bơm tay, dự trù cho trường hợp bất ngờ. Hiệu quả tức khắc. Với một tiếng rồ nhẹ, máy chạy trở lại và chiếc Zéro lướt êm về phía trước. Không phí một giây nào, tôi trở lên cao độ 500 thước.

Phi cơ bay chầm chậm. Tôi chỉ còn trong tay không đầy hai giờ nhiên liệu để đáp xuống hòn đảo do Nhựt chiếm đóng. Không đầy hai giờ, tôi sẽ sống hoặc chết.

Một giờ trôi qua… Trước mắt tôi vẫn chỉ là biển cả bao la và bầu trời xanh thăm thẳm. Thình lình tôi thấy một vật gì nổi trên mặt nước. Một hòn đảo! Lần này không lầm nữa, không phải là một đám mây trước mắt. Nhứt định là một hòn đảo. Hòn đảo Xanh, hòn đảo san hô có hình móng ngựa mà tôi đã để ý trên đường bay đến Guadalcanal sáng nay. Tôi soát lại bản đồ. Hy vọng tràn trề… Tôi chỉ cách Rabaul 110 km!

Sáu chục hải lý. Thông thường chỉ là một cái nhảy ngắn. Nhưng tình trạng hiện thời đầy bất thường và đang tồi tệ thêm. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay trong vòng 40 phút. Chiếc Zéro lại bị hư hại trầm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến tốc lực. Tôi bị thương nặng, tê liệt một nửa thân, mắt bên mặt mù hẳn và mắt trái nhìn thấy không rõ lắm. Tôi đã kiệt sức, và tôi phải tận dụng hết năng lực để giữ chiếc phi cơ thăng bằng.

Một hòn đảo khác, ngay trước mắt tôi. Ðây là đảo New Ireland, và phía xa xa là rặng núi cao 2,400 bộ. Vượt qua phía bên kia rặng núi đó, tôi có thể về tới Rabaul.

Tôi đã đâu mặt với hàng loạt chướng ngại vật phía trước khi tiến vô căn cứ nhà. Những đám mây dầy đặc tụ quanh các đỉnh núi, và đột ngột một cơn mưa bão thật dữ dội trút xuống. Dường như khó có thể vượt qua nổi. Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, nửa đui nửa sáng, và trong một chiến đấu cơ hư hại trầm trọng, làm sao tôi có thể vượt qua một cơn mưa bão, nguy hiểm tột cùng ngay cả dưới những tình trạng bình thường?

Tôi đành bay vòng. Kim đồng hồ chỉ mực xăng của tôi càng lúc càng hạ thấp. Tôi chỉ còn vài mươi phút trên không. Tôi bặm môi và quay về hướng Nam. Chiếc phi cơ bay chầm chậm xuống eo biển George nằm giữa Rabaul và New Ireland. Hai vệt trắng xoá lướt trên mặt nước phía dưới cánh tôi. Tôi thấy hai chiến hạm Nhựt, có vẻ là hai tuần dương hạm hạng nặng, đang xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Guadalcanal.
Tôi hầu như ứa nước mắt khi nhìn thấy hai chiến hạm. Tôi muốn chúi phi cơ xuống biển, một trong hai tuần dương hạm có thể cứu tôi. Hy vọng tràn ngập trong tôi. Rabaul lúc ấy hình như cách xa hàng triệu cây số. Tôi quần mấy lần trên hai chiến hạm, sẵn sàng đáp xuống mặt nước.

Tôi không thể thực hiện ý định của mình. Hai tuần dương hạm đang trên đường đến Guadalcanal để chiến đấu. Nếu chúng ngừng lại để vớt tôi lên, việc này không chắc lắm, nhiệm vụ thúc bách của chúng sẽ trì trệ. Không thể đáp xuống biển. (Nhiều tuần lễ sau này tôi mới biết đó là hai tuần dương hạm Aoba và Kinugasa, mỗi chiếc 9,000 tấn đang hướng đến Guadalcanal với tốc lực hơn 33 hải lý một giờ. Cùng với nhiều chiến hạm khác, Aoba và Kinugasa tấn công đoàn công-voa của Ðồng Minh ở Luga, đánh chìm bốn tuần dương hạm cùng gây hư hại cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm khác của địch quân).

Một lần nữa, tôi quay về hướng Rabaul. Ðồng hồ chỉ mực độ xăng cho thấy chỉ còn hai mươi phút bay nữa mà thôi. Tuy nhiên nếu không tiến về Rabaul được, tôi có thể đáp trên bãi biển. Thế rồi hòn núi lửa quen thuộc hiện ra ở chân trời. Ðã đến nơi rồi, Rabaul đã nằm trong tầm mắt.

Tôi phải đáp xuống. Việc này thật khó khăn vô cùng, với một nửa thân thể hoàn toàn tê liệt của tôi. Tôi cố đảo quanh phi trường, do dự, không biết làm gì. Tôi không biết rằng tôi đã bị báo cáo mất tích, tôi cũng không biết rằng tất cả các phi cơ khác đã đáp xuống hai giờ trước đó, ngoại trừ hai chiếc bị hạ ở Guadalcanal. Sau này Ðại úy Sasai nói với tôi ông không tin hai mắt của mình khi nhận ra chiếc Zéro của tôi xuyên qua ống dòm. Ông la tên tôi thật lớn, và tất cả các phi công khác túa ra khắp nơi trên phi đạo.

Lúc này tất cả những gì tôi nhìn thấy được là phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Tôi quyết định đáp xuống mặt nước cạnh bờ biển. Chiếc Zéro xuống chầm chậm. Tám trăm bộ, bảy, bốn rồi một trăm bộ, tôi chỉ còn cách mặt nước năm mươi bộ. Là 15 thước. Tôi lại thay đổi ý kiến. Cảnh máy bay vỡ tan trên biển và cái đầu bị thương của tôi đập về phía trước, là hình ảnh đáng sợ. Tôi khó mà sống sót được.

Tôi vượt lên và quày lại phi đạo ở cao độ 500 m. Lần này hoặc là tôi đáp xuống hoặc là không bao giờ nữa.  Chiếc Zéro hạ chầm chậm khi tôi đẩy cần điều khiển về phía trước. Tôi thả bánh xe. Tốc lực chiếc phi cơ giảm xuống. Tôi nhìn những dãy chiến đấu cơ xếp dài hai bên phi đạo đang xô chạy về phía tôi. Tôi phải tránh đụng các phi cơ đó. Tôi vượt trở lên, vì nhận thấy tôi đã xuống lệch quá xa về phía trái.
Sau khi quần đến lần thứ tư, tôi cố đáp xuống một lần nữa. Dù cho xăng còn rất ít trong bình, chiếc phi cơ vẫn có thể nổ nếu nó va chạm. Hàng dừa trồng ở đầu phi trường lờ mờ trước mắt tôi. Tôi lướt phía trên và cố điều chỉnh độ cao của tôi bằng những ngọn dừa này. Bây giờ… tôi đã ở trên phi đạo. Một cái xóc thật mạnh khi bánh xe chạm mặt đất. Tôi kéo ngược cần điều khiển và ghì chặt với tất cả sức mạnh để giữ cho chiếc phi cơ khỏi chạy xiên vẹo. Chiếc Zéro lao bánh và ngừng lại gần Bộ Chỉ Huy. Tôi cố mỉm cười, một làn sóng đen thẫm phủ chụp lên tôi.

Tôi cảm thấy như bị rớt chìm xuống đáy một hố sâu vô tận. Mọi vật hình như đều xoay tít dữ dội. Tôi nghe những tiếng thét gọi tên tôi vang lên xa xa. “Sakai! Sakai!” Tôi rủa thầm. Tại sao họ không giữ im lặng? Tôi muốn thiếp ngủ.

Màu đen biến mất. Tôi mở mắt ra nhìn thấy nhiều khuôn mặt bao quanh. Tôi đang nằm mơ, hay tôi đã thật sự trở về Rabaul? Tôi không biết. Mọi thứ đều không thật. Tất cả đều là mộng mị. Tôi chắc vậy. Những gì tôi đang thấy không thể là sự thật. Mọi thứ lại tan thành những lượn sóng màu đen sẫm trộn với những tiếng la lớn.

Tôi cố gượng dậy. Tôi bám vào buồng lái và cố đứng lên. Ðây là “Rabaul”. Cuối cùng, không phải là mộng mị. Thế rồi tôi ngã quỵ xuống hẳn. Không còn sức lực. Những cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng tôi ra khỏi phi cơ.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

September 18th, 2020

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!

Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.

Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.

Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.

Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.

Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.

Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.

Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.

Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.

Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi. Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…

Ghi chú Quân sự

Phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless

Phi hành đoàn: 2

Dài: 10.08 m, Cao: 4.14 m

Trọng tải: 4,853 kg

1 động cơ 1,200 mã lực

Vận tốc tối đa: 410.38 km/h

Đường kính: 1,243 km

Trần bay: 7,780 m

2 đại liên 12 ly 7

2 đại liên 7 ly 62

1,020 kg bom

Phóng pháo cơ Grumman TBF Avenger  

Phi hành đoàn: 3 (phi công, hoa tiêu phóng ngư lôi kiêm xạ thủ súng máy bụng và xạ thủ pháo tháp đại liên)

Dài: 12.48 m, Cao: 4.7 m

Trọng tải: 8,115 kg

1 động cơ 1,900 mã lực

Tốc độ tối đa: 444 km/h

Đường kính: 1,610 km

Trần bay: 9,170 m

1 đại liên 7 ly 62 trước mũi

2 đại liên 12 ly 7 trên cánh

1 pháo tháp nòng đôi 12 ly 7

1 đại liên 7 ly 62 dưới bụng

1 thủy lôi hoặc 900 kg bom

Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)

Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.

Cà khịa Lý tiểu thơ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 28 Oct 2023

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Cà khịa Lý tiểu thơ

Bệnh viện Nhân Dân Gia Định vốn là Bệnh viện Nguyễn Văn Học. Trần Văn Học có công vẽ bản đồ tỉnh Gia Định, vua ban cho họ Nguyễn. Mộ của ông Nguyễn Văn Học đối diện nhà thương và Trường Vẽ, sát bên Ty Thanh Niên Tỉnh Gia Định. Năm 1980, CS giải toả nghĩa địa, chúng đào mộ ông Nguyễn Văn Học lên để kiếm vàng bạc nhưng không có!

Cách đây 15 năm, năm 2008, nhà biên khảo Sơn Nam phải đi nằm Bệnh viện Nhân Dân Gia Định vì tuổi già sức yếu, tuột huyết áp, bị suy thận, suy tim. Vào ngày 13 tháng Tám, lúc gần 13 giờ trưa, ông Sơn Nam bị đột quỵ và qua đời. Có người nói thích đọc Sơn Nam nhưng ghét ông Sơn Nam theo VC, tui tự hỏi: “Nếu ông Sơn Nam là CS nòi từ trước năm 1975, ắt nhiều công trạng thì sao ông không được đi nằm Bệnh viện Thống Nhất có tiêu chuẩn cao, được chữa bịnh bằng tiền thuế của dân lại phải đi nằm Bệnh viện Nhân Dân Gia Định vốn là nhà thương thí?” Ông Sơn Nam chết không được chôn ở Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố mà phải nằm trên đất Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương do tư nhân cúng?

Dẫu biết rằng sanh ký tử quy, sống gởi thác về; dẫu biết rằng sống tới 82 tuổi cũng là thọ; nhưng cái chết của nhà biên khảo Sơn Nam cũng gây nhiều xúc động với các bạn văn của ông. Một trong số đó là nhà văn Lý Lan.

Lý tiểu thơ quê mẹ ở Lái Thiêu Thủ Dầu Một, quê cha ở Triều Dương, Sán Đầu, Quảng Đông, Trung Quốc. Lý tiểu thơ học trường Gia Long của phe ta; Đại học Sư phạm của phe nó, học M.A. Đại học Wake Forest của đế quốc Mỹ. Năm 1997, Lý tiểu thơ “quy mã”.

Nhà văn Lý Lan

Mới đây ‘hữu duyên thiên lý ăn tương hột. Vô duyên đối diện thấy thương liền’, tui đọc được bài ghi chép của Lý tiểu thơ “Theo cô Út về rừng” đăng trên báo Tuổi Trẻ của Thành đoàn CS ngày 18 tháng 10 năm 2008.

Có vài đoạn ‘bợ đít’ CS như vầy: “Cô Út trong truyện ‘Cô Út về rừng’quê ở Bình Thủy, Cần Thơ, đi làm dâu ở xứ Cạnh Đền. Tình cảm chủ đạo trong truyện là nỗi lo lắng, thương quý và cảm phục của người nơi đất cựu (người cha) đối với những người tiên phong nơi đất mới (con gái, rể và láng giềng của con).

Cô Út không phát biểu gì trong truyện, nhưng tác giả cố ý tiết lộ những chi tiết này: cô đi học ở Sài Gòn, nơi cô gặp người chồng tương lai, yêu nhau, cưới nhau, đưa nhau đi lập nghiệp ở xứ rừng ven biển tây, một nơi “kinh tế mới” vào khoảng 1939-1940.”

(Những năm 1930, gia đình đông con bị nạn tế phân ruộng đất. Muốn kiếm sống, có người phải bỏ xứ vô đất rừng còn hoang vu để khẩn hoang lập ấp. Cô Út lấy chồng là phải xuất giá tòng phu như tập tục xưa giờ của ông bà mình chớ đi lập nghiệp nơi kinh tế mới cái giống gì? Kinh tế mới là do CS bày ra, đày người ta vô thâm sơn cùng cốc để cướp nhà của người ta.)

Lý tiểu thơ viết: “Cùng với một số nhân vật nữ khác, hơi ít trong sáng tác của nhà văn Sơn Nam, như cô Bảy đưa đò, con Lài, cô Hoàng Mai, hay thím Tư, cô Út đại diện cho một lớp phụ nữ Việt có mặt từ buổi ban đầu nơi biên giới mới của đất nước, có cá tính, có bản lĩnh, làm cây đước trụ lại khi cây giá bị sóng mạnh đánh gió to thổi lúc lắc đòng đưa. Họ chỉ không có vinh quang trong thành tích ông cha mở nước của các sử gia. Những nhân vật này chưa hề có nguyên mẫu trong văn học VN trước đó.

Nhưng Sơn Nam không ồn ào, cả trong những sáng tạo có tính cách mạng (?). Ông chỉ trân trọng đem những con người bình thường ngoài đời nhẹ nhàng đặt vào tác phẩm và để họ sống trong đó bình thường. (Sic)

Cô Út ‘đơn giản’ như ‘đang giỡn’ lấy chồng xứ muỗi, trời mới sụp tối là phải chui vô mùng mà đàm đạo với chồng. Đứa mới thôi nôi; đứa lôi đầy tháng. Cô Út không có rảnh về thăm làm cha mẹ nhớ thương. Nhưng Lý tiểu thơ tán quá xa, đem Cô Út đội lên đầu là cách mạng, là anh hùng rập khuôn theo công thức của CSBV

Rồi Lý tiểu thơ lôi đầu Nguyễn Quang Sáng, Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố vô để kể chuyện ông Sơn Nam ở dơ! Viết chi vậy? Bộ bài viết nào muốn báo CS đăng là phải có vài đoạn cúng cụ hay sao?

Nguyễn Quang Sáng kể: “Cuối thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tôi với Sơn Nam đi công tác chung, có ghé qua nhà ổng. Tôi biết ông này, ở dơ mấy ngày không tắm, nhưng chèo ghe về gần tới nhà thì ổng tắm rửa sạch sẽ, lại còn đánh răng nữa. Tới nhà thấy vợ con Sơn Nam ra đón mà tôi giật mình. Trời đất ơi, Sơn Nam xấu gì đâu mà sao có vợ đẹp vô cùng?!”

Rồi cũng có nhà báo CS sáng tác ra cái giai thoại ba xạo là: “Thân mẫu của nhà văn Sơn Nam lặn lội lên Sài Gòn coi thằng Tám nó sống chết ra sao?” Lý Lan lần theo cái giai thoại nầy rồi mò trật cho Con Chín đưa đò, cô Út về rừng là trong dòng tộc của ông Sơn Nam đi cẳng không vào tác phẩm Hương rừng Cà Mau. Chớ dân quê Miền Tây thấy một người nào đó chưa vợ chưa chồng thì gọi là thằng Tám, con Chín bờ đò.

Cậu Tám Lũy em ruột của má tui trước khi đi Thanh niên Cộng Hoà Phong trào Nhân Vị của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu năm 1960 bị VC phục kích giết chết ở Lộ Dừa làng Trung An rất có óc hài hước. Có lần cẩu nói với tui là cẩu tính kêu ông Ngoại tui đi hỏi cưới con Chín Bờ đò Nhà Thiếc cho cẩu. Cẩu hỏi mầy (lúc đó tui mới 10 tuổi) có biết con Chín bờ đò không? Tui nói không? Cẩu cười hè hè cắt nghĩa Con Chín bờ đò tức con chó bờ đình!

Thưa bấy lâu nay tui hằng ái mộ Lý tiểu thơ tài sắc vẹn toàn. Tài là viết hay. Sắc là lai Tàu nên đẹp: chữ bây giờ gọi là ‘fan’ cứng. Nhưng qua bài viết Lý tiểu thơ tán hươu tán vượn theo CS riết rồi hết biết đường ra làm tui hết cuồng rồi.

ĐXT

Bò Bía

baotreonline 3 Feb 2023

Đoàn Xuân Thu

February 3rd, 2023

Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Bò Bía

Bà con mình ai cũng biết: cuộc sống lứa đôi không bao giờ toàn bích. Mít hay bắt chước Mỹ, bắt chước Úc ăn mừng 30, 40, 50 năm dìu nhau chống gậy đi hết cuộc đời ô trọc (lóc) nầy chẳng qua là hai vợ chồng ăn mừng sự tha thứ, độ lượng cho nhau. Vợ tha thứ cho sự ngu ngốc của chồng. Chồng bỏ qua thái độ quá đáng của vợ! Tiền bạc không làm cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn; chỉ tánh tình và sự chung thủy mới đóng vai trò quyết định. Tại sao hôn nhân cần sự chung thủy? Nếu không có sự thủy chung, em yêu sẽ ‘thuốc’ mình chết!

Như chuyện của thiên hạ trong thời buổi hỗn mang chiến tranh, chuyện tình của tui cũng ghềnh thác lắm. Chiếc thuyền tình của tui cuối cùng rồi cũng lật chìm theo vận nước nổi trôi.

Chẳng qua em yêu của tui có má Việt, ba Tiều. Là xẩm lai, nên em đẹp não nùng. Hồi còn con gái, có một tay bác sĩ và tui cùng đeo đuổi theo em. Tay bác sĩ ve vãn em bằng một đóa hoa hồng! Tui cho em một trái táo. Em không hiểu nên hỏi: “Tại sao lại là trái táo?” Tui trả lời: “Vì chữ có câu rằng: “An apple a day keeps the doctor away”. Mỗi ngày em có một trái táo thì bác sĩ đi chỗ khác chơi!”.

Em thấy tui miệng lưỡi nên em kết tui để học thêm tiếng Việt. Còn tui kết em để tìm hiểu thêm về người Hoa. Chớ tui thấy ông Vương Hồng Sển, ông Sơn Nam dạy tui về quê tui chưa đủ. Kinh nghiệm cho tui biết là học trên giường là lẹ nhứt.

Em yêu dạy tui: Chợ Lớn nơi em yêu khóc oe oe chào đời có: ngũ bang: người Quảng Ðông, người Triều Châu, người Hải Nam, người Phúc Kiến, người Hẹ. Và em nói quê của anh yêu Lục tỉnh Nam Kỳ gồm: Người Quảng ở nhiều nhất là tại ba tỉnh Miền Ðông: Biên Hoà, Gia Ðịnh, Ðịnh Tường. Người Tiều ở ba tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Mới quen sơ sơ chưa hun em được cái nào thì mùa Hè đỏ lửa CSBV tấn công. Ðang cà nhỏng tại giảng đường năm thứ hai, ngày 10 tháng 8 năm 1972, tui vô tiểu đoàn 2, khóa 4/72/SQTB. Tới ngày 19, tháng Năm, năm 1973 gắn trên vai chiếc lon chuẩn úy trước khi giã biệt kinh kỳ trên đường ra mặt trận tui về Chợ Lớn tìm em. 

Em yêu mặc xường xám yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu, em dắt tui đi ăn bò bía.

Bò bía là món ăn chơi của Triều Châu gọi là bạc bỉnh, bánh mỏng, đọc kiểu mình là bò bía.

Em yêu dắt tui đến góc đường Lê Lợi và Pasteur. Có lúc em ăn gỏi bò cay thấu trời. Có lúc em ăn phá lấu lòng gà, lòng heo hay lòng vịt, lưỡi heo, dồi, mề, gan…

Tui nghĩ thầm trong bụng mình lấy á xẩm nầy ăn hàng nhiều quá mạt là cái chắc. Hình như em đọc được cái đầu của tui hay sao nên em trấn an tui là em biết cách làm bò bía cho anh nhậu với beer 33.

Ăn xong, em cứ hít hà hoài nên tui đưa em xề qua Viễn Ðông xe nước mía ép với trái tắc gần xịt kế bên.

Ðó chỉ là kỷ niệm. Sau tháng Tư 75, sập tiệm, CS bắt tui đi tù cải tạo. Ðược thả về, tui tự ái không tìm em. Nhưng em lại tìm tui. Em vẫn đợi anh về; dù có mưa tràn trề ngập hết nhà em. Ngày hội ngộ tương phùng Ngưu Lang và Chức Nữ cũng vào tháng Bảy mưa ngâu. Em yêu trổ tài làm bò bía đãi chàng thiếu úy sa cơ thất thế ở tù CS về.

Tui chui vô bếp với em. Bò bía ngon bá chấy bù chét hay không là do tương để chấm. Em làm tương ớt trộn đậu phộng giã nhỏ, phi cho thơm bằng dầu ăn cùng hành khô băm nhỏ.

Em kêu tui chiên hột vịt kiểu ‘Omelette’ thật mỏng. Em luộc lạp xưởng, tôm khô ngâm nước ấm cho mềm. Rau xà lách, rau thơm, cà rốt, củ sắn, su hào rửa sạch, gọt vỏ xắt sợi, tỏi bằm, đậu phộng rang bóc vỏ đâm giã nhuyễn, tương đen cuộn lại với bánh tráng.

Em nói bà cố em bên Triều Châu, cuốn với bánh tráng làm bằng bột mì. Còn bên mình cuộn với bánh tráng làm bằng bột gạo.Thế nên nhờ em dạy tui rành món bò bía sáu câu.

Nhưng chuyện vợ con là phần số mấy ông ơi. Nhà em bị Ðỗ Mười hoạn lợn từ ngoài Bắc vào đánh tư sản mại bản dài dài từ năm 1976. Bề của em tức ba em thấy không thế nào sống nổi nữa nên quyết định bỏ hết nhà cửa, xuống thuyền vượt biên, vượt biển. Ngày gần đi, em tìm gặp tui để vĩnh biệt. Em khóc bụp hai con mắt. Tui không khóc được. Ðôi môi chỉ giựt giựt. Cả tháng em yêu đi, tui như phát điên. Chỉ mong đêm về, ôm cái radio transistor bắt đài BBC để hy vọng coi có tin tàu buôn nào vớt được thuyền vượt biển. Cả trăm ngàn thuyền nhân chết trên Biển Ðông. Những đồng bào xấu số đó có em yêu của tui hay không? Tui không biết. Tui chỉ biết là tui mất dấu em từ độ ấy.

Sau nầy lang bạt qua Úc, tui không còn yêu ai được nữa, tui ở vậy. Mỗi lần nhớ tình em năm cũ, tui đi chợ mua đồ về làm bò bía, nhậu với beer để nhớ tới cái thời yêu dấu đó.

Ba chục năm, vết thương rỉ máu xưa đã liền sẹo. Tui đang đi vào buổi chiều bóng xế của đời mình thì tình cờ qua Facebook, tui quen được một em xuất sắc trong vai tì nữ. Tui mời em từ Sydney bay xuống Melbourne để mật đàm. Ðêm em tới, trên bàn ăn, tui đốt đèn cầy cho thêm phần lãng mạn giữa chàng và nàng trong tuổi đời bóng xế hoàng hôn trời sắp tắt.

Tui đãi em món bò bía. Em vừa ăn vừa uống beer. Em khen nức nở: “Bò bía cuốn chắc, nhưn không rớt ra ngoài. Cuốn nào như cuốn nấy giống hịt như hai điếu thuốc Pall Mall, như hai em sanh đôi.”

Xong em hỏi tui mua ở đâu mà ngon quá vậy? Tui hểnh mũi nói: “Anh làm đó”. Nghe nói vậy, đang ngồi nhậu, em chợt đứng dậy chạy mất dép tuôn luôn ra cửa.

Sau nầy nghe em nói: “Chạy là phải!” Thằng chả nấu ăn ngon như vậy ngu sao mà nhào vô làm vợ thằng chả ai mà hầu thằng chả cho nổi?

ĐXT

Cương thổ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 5 may 2022
Post by Sơn râu 23 Nov 2023

Cương thổ

Đàlạt nostalgia
sơn dầu trên giấy
đinhcường

Sau đám tang Mẹ, mình lên Đà Lạt do sự bàn tính và bố trí của các anh chị.

Máy bay DC-3 của Air Viet Nam bay với tất cả sự dằn xóc nó có được. Thời tiết không xấu, trời xanh và nắng vàng. Con chim sắt trồi lên trụt xuống, bềnh bồng trên những đám mây, có vẻ như đùa nghịch. Mấy cây kẹo cứng nằm chung đụng với đôi ba cục bông gòn nhét lỗ tai có trên khay mà cô tiếp viên hàng không đưa tới cùng với nụ cười miễn cưỡng. Eo xèo và nghèo nàn. Đà Lạt bên dưới thì sao? Sẽ xoa tay chào đón trao tặng niềm vui hay ghẻ lạnh làm mặt lạ?

Phi trường Liên Khương nằm xa thành phố, chẳng giống Đà Nẵng, nơi chốn mình vừa tạ từ. Đường dốc, cây cối rậm rật reo hò bên suối khe và vực sâu lùi dần. Bóng mát in mặt nhựa có khi loà sáng màu nắng chan, cắt khúc. Tuy đang hè nhưng cảm nhận được thứ gì tựa gió mơn trớn chút sắt se buốt lạnh. Chưa hạp phong thổ hay tại vì cái miếng vải đen hình bình hành mãi rung động nơi ngực áo. Hành khách trên xe nếu hiếu kỳ có thể nhìn nhận đứa con trai ngồi co quắp mặt xanh như tàu lá kia đang dong duổi với thứ hành trang xếp chật thương đau. Chỉ một miếng vải đen, nhỏ xíu, lặng câm, vô tri giác; nhưng ngoại trừ những kẻ bị khuyết tật nơi đôi mắt, ai nấy nếu ngó thấy đều tường tận rằng nó biểu tượng về một điều gì bạc phước. Và thằng người nhỏ nhít ngồi góc kẹt ấy đại diện cho những ai đang thiếu hụt tình thương yêu.

Trước đây, Đà Lạt chẳng cho mình một khái niệm nào cả, về nó. Chỉ biết địa danh nọ còn có danh xưng Hoàng triều cương thổ, nằm vùng cao và thi thoảng nghe trong quán cà phê “dưới thấp” một bài hát không mấy gây xúc động: Ai lên xứ hoa đào, dừng chân… Giờ đây thì mặt đối mặt, Đà Lạt đón chào mình bằng dung mạo của một cô công chúa đã thức giấc tự rừng sâu, bước ra với hương lá ẩm, với hoa vàng, với so vai sương đổ đầy lũng mờ. Công chúa? Ừ, do bởi mình nhìn ra một vẻ đẹp mà Đà Lạt sở hữu. Thứ dung mạo thanh cao dịu dàng đầy nữ tính. Tựa chốn cố đô, nhưng Huế già cỗi hơn, mang nhan sắc một goá phụ đầy u uẩn. Huế chủ động chọn những gam màu trắng, xám, tím, đen; còn Đà Lạt tự trang trí lấy nó bằng tất cả những sắc màu còn lại trong 12 cung bậc đi từ lạnh tới nóng. Người ta đã bỏ công tìm tòi tính tình con người qua ý thích về màu sắc có nơi đồ vật họ lựa chọn và nếu thế, Đà Lạt sẽ luôn có những khúc hoan ca. Buồn, chỉ là chút gợn nhẹ ẩn mình theo khói sương. Một thoáng lay động chứ không níu kéo chân đi tựa Huế.

Mình sẽ hàm hồ thêm gì khác trong khi thực chất mình chỉ là đứa con trai vừa mất Mẹ và lần đầu chính thức xa nhà với tuổi đời non dại. Lên đây giũ bỏ phiền hà, cao nguyên trôi tuột ta bà chốn xưa. Đi là tự nguyện sang trang, những tờ giấy mỏng màu tang úa vàng. Đồi Cù thông đứng thấp cao, nằm trên cỏ lạnh mây bao che giùm.

Anh mình là giáo viên, vợ dạy cùng trường. Hai người vừa có với nhau một cô con gái chỉ hai tháng tuổi vung tay đạp chân oe oe cất tiếng chào ông chú ngác ngơ trôi dạt vào “túp lều lí tưởng” ăn nhờ ở đậu. Nhà thuê trên đường Hai Bà Trưng, lớn hơn lỗ mũi chút xíu. Đơn sơ, thanh bần và lạnh lẽo là chuyện hiển nhiên. Thời nào giáo viên cũng gắng gượng đắp vào thân thứ sĩ diện của kẻ lỡ bán cháo phổi. Giấy rách phải giữ lấy lề. Một kẻ sĩ bằng lòng với hoàn cảnh khó khăn, dẫu trong túi không có tiền chiếc mũ trên đầu anh phải đội cho ngay ngắn. Thì cuộc đời này vẫn hằng ca tụng đạo đức, tuy vậy mình vẫn ái ngại, e sớm chiều thứ đạo đức ấy sẽ chóng lung lay. Một mâm cơm nhiều thịt cá chắc hẳn đẻ ra lắm tiếng cười, chuyện trò rôm rả. Hoạt cảnh ấm áp kia khó hiện hữu giữa tương rau, giữa chay tịnh. Gầm mặt nhai mà tự vỗ về: Ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn. Uống ca nước lạnh để độ lượng tin, thứ giải khát nọ rất tốt cho sức khoẻ. Trà, cà phê, bia, rượu mà làm gì cho sinh sự nhỉ!

Mẹ mình mất, mình đã ra vườn sau cô quạnh bưng mặt khóc triền miên nhưng tuyệt chẳng có một bà tiên nào xuất hiện như truyện cổ tích hoang đường. Ta hiểu lòng con đang thủng một lỗ trống lớn, con ước xin điều gì hòng có thể lấp đầy? Nói đi, rồi ta sẽ ban cho con tròn đầy như ý một nguyện cầu.

Mình chẳng mong cầu lên Đà Lạt sống tha phương, nhưng vẫn cám ơn anh chị mình đã tạo cơ hội “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Mình có khôn hơn chút chi, hay vẫn khù khờ ông trời độ. H. cô bạn học đã mạnh dạn nắm tay mình dắt qua những thổ ngơi kỳ thú mà người ta đặt cho tên gọi: Tình yêu. Lần đầu, H. đã chứng nghiệm cho mình hay về một cơn đau rất đỗi dịu dàng khi bạn tiếp cận bên người nữ. Họ sẽ lấy của bạn nhiều thứ, kể cả lòng bạn đang nặng trĩu nỗi nhớ nhà. Họ sẽ trao cho bạn những viên thuốc an thần, và thường thì bạn sẽ uống quá liều lượng. Bạn mất ngủ, chập chờn hình ảnh người nữ ấy hiện lên, những thái độ, cách nói cười, ánh mắt, dáng đi… Bạn thừ người ra và bạn hiểu, cơ thể bạn đang đón nhận, từ tốn, một lưỡi gươm đâm vào, êm ái, dằn vặt. Ôm giữ nó, đừng rút ra, trong muôn một, đó cũng là phương cách chứng thực, bạn đã trưởng thành.

H. ở bên đường Phan Đình Phùng. H. nói, trong toán học vẫn định nghĩa hai đường song song sẽ không bao giờ gặp nhau. H. biết mình ở đường Hai Bà Trưng và mình luôn tìm cách chứng minh với phương cách của đứa dốt toán, hai đường song song có khi chỉ là một, do bởi đã có điều vô lý chen cài ở giữa khiến nó phải tách làm đôi. Đường song song là một mệnh đề của định mệnh, giải thông định mệnh thì tự khắc nó thôi chia hai, một và chỉ một mà thôi. Đường rầy xe hoả đôi khi vẫn có một tụ điểm, một giao thoa, một chồng chéo, H. thấy không?

Giao thoa giữa lứa đôi vụng dại là quán chè trôi nước trên dốc Minh Mạng, trước rạp Ngọc Lan ăn chung một (và chỉ một mà thôi) trái bắp nướng. Đừng bẻ đôi thân nó, hãy cắn tiếp theo những vết răng mà H. vừa tước đoạt mấy hạt trân châu ra khỏi cùi bắp. Chao ôi, kiếm đâu ra hương vị ngọt sắc tựa thế. Bắp nướng hẳn không tựu thành chất đường hữu cơ nguyên trạng mà lệ thuộc toàn phần nhờ vào nước miếng của em. Hai đứa chẳng dám hôn nhau làm trò người lớn, hãy cứ trẻ thơ nhấm nháp hương vị mà người ấy cố tình để lại, rớt rơi. Nhai, liếm, cắn cho tới cuối cái sạch sành sanh. Thằng con trai đút cái cùi bắp còn hâm hấp nóng vào túi quần, nó không muốn người bạn gái hiểu giùm đó là kỷ vật một tối trở trời đi so vai bên nhau giữa một Đà-lạt bắt đầu trao cho nó những huyễn mộng.

Mình luôn tin, ngoại cảnh, khí hậu, thổ ngơi, môi trường, vùng đất chôn chân sẽ tác động mãnh liệt vào những trang viết, những bài thơ của quý vị văn thi sĩ. Đất cằn cỗi, xứ nhiệt đới sẽ cho ta đọc thấy sự chuyển tải khô khốc, giọng sật sừ, bẳn gắt. Và cao nguyên, và Đà-lạt. Ắt hẳn người ta sẽ viết xuống những gì đằm thắm, những dằn vặt đáng yêu. Nó khiến mình mềm lòng bởi đã có người đi ngợi ca về một nỗi đau thay vì nguyền rủa nó.

Chỉ là bạn, như bất kỳ một người bạn khác. H. cho hay. Trong khi mình lỡ chủ quan xem H. là người nữ đầu tiên (một và chỉ một mà thôi) bước nhẹ vào trái tim đa cảm của mình; không đủ mạnh dạn để nói: Người Yêu. Bạn, chữ ấy có khi cũng đáng trách, dùng không đúng chỗ. Hai đứa từng đi xem phim trước Giáng Sinh đôi ba hôm, một phim thuộc dạng hài hước. Chỉ biết vậy vì trong rạp nghe mọi người cười ồ. H. cũng cười, chăm chú theo dõi. Mình chẳng có lòng dạ để xem, mình loay hoay trong lòng ghế chật với những tính toan: Làm sao choàng cánh tay qua bờ vai H? Cơ hội nào để nắm tay H. lên, hôn vào cái mượt mà ấm nóng kia? Sao từ người H. luôn toả hương? Chưa khi nao được ngồi sát bên nhau như thế này, hãy chứng thực cái mê mẩn bằng động thái nào? Người mình bần thần suốt buổi. H. hồn nhiên quá, để trọn tinh thần vào thước phim vốn là sản phẩm của tưởng tượng nhiều quá. H. bỏ quên ngoại cảnh, sao em chẳng quay mặt sang ngó ta, chỉ một phút giây. Sao em chẳng đưa ra lời bình phẩm: Phim vui quá, anh nhỉ? Và rồi dựa đầu vào khối hình nhân mãi đè nén cái tức nước vỡ bờ.

Trời rét ngọt trên lối đi bộ về nhà, đi-như-đi-với-bất-kỳ-người-bạn-nào-khác. Có nghĩa là không nắm tay chẳng rờ chân, đi mà để cho gió lọt vào giữa dễ cảm mạo thương hàn rồi đổ hô tại bệnh tương tư. Đến cánh cổng có trồng hàng rào là những cột gỗ sơn trắng phân định lãnh cung, H. mới ngó mình: Thôi chết rồi! Sao lại ăn mặc phong phanh kiểu ấy? H. cởi chiếc áo len đang mặc và nói như mẹ thương con: Muốn chết hả? Tròng vào ngay đi. H. dậm chân chờ thằng người ngây dại mặc áo ngự hàn xong mới quay đầu đi vào nhà. Những viên sỏi dưới chân vặn mình nghe buồn bã.

Khuya ấy mình không ngủ xuống, cảm giác như nằm giữa một thảo cầm viên mênh mông trồng nhiều kì hoa dị thảo. Mình ôm siết chiếc áo quá đỗi thơm tho kia, vùi mặt vào những sợi len mịn màng. H. để quên ở đó đôi sợi tóc vương. Mình nhặt lấy, thử ngậm nhưng nó tuyệt không phải là liều thuốc an thần. Trằn trọc, vật vã. Thay đổi dáng nằm, thằn lằn chắc lưỡi và rồi tiếng gà gáy sáng.

Mình quen với H. chưa trọn năm, bắt đầu biết những sở thích của H., khám phá những mơ mộng về cuộc đời mà H. rắp tâm thực thi thì… cái định nghĩa về hai đường thẳng song song thực sự diễn ra. Toán học thì khô khan, sự thật thì trần trụi và con người buộc phải cúi đầu tuân thủ lẽ phải. Không ai có thể làm khác đi, chẳng có một chứng minh thuyết phục làm đảo ngược vấn nạn.

H. đón nhận đại tang. Ba H. qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo và sau tang lễ, H. theo mẹ xuống Sài-gòn sinh sống. Họ quyết định nhanh, dễ dàng vì họ có sẵn gian hàng bán vải ở đường Tạ Thu Thâu sau lưng chợ Bến Thành. Rất buồn rầu, nhưng đó là do bởi H. không còn cha, chứ không phải vì diễn tuồng xa cách thằng bạn trai luôn cô quạnh. Mình nói, một cách cương quyết: Mình sẽ đi theo H. Mình bỏ học, mình sẽ kiếm việc làm ở chốn thành đô… H. buông dấu chấm: Và rồi sẽ bị bắt lính, vào Quang Trung, ra Đồng Đế. Muôn đời, cái việc học chữ vẫn hơn. Đừng làm nhiều người thất vọng vì một phút bốc đồng của mình.

Tuy “tang gia bối rối có điều gì sơ suất xin niệm tình tha thứ” nhưng H. đã chủ động ôm lấy mình và hôn vào đôi môi đã tập tành hút thuốc. Qua khoảng cách của “hai đường tàu” mình nghe ra tiếng dội của trái tim đập hoang mang thì thùng. Của mình hay của H?

H. sẽ viết thư thăm, kể chuyện nơi xứ lạ. Đó là lời sau cùng H. nói cho riêng mình. Ngực H. rung động. Mình đưa bàn tay run rẩy lên sờ. Làm gì vậy? Không nhúch nhích, đứng yên, nhưng nạt nộ. Mình tháo gỡ cái miếng vải đen tinh khôi ghim ở đó để điền thế cái biểu tượng niềm bất hạnh mà mình hứng chịu ở năm trước. Chỉ cũ và mới, kích cỡ thì giống nhau. Bên mất cha bên mất mẹ, hãy trao đổi để khi trông xuống còn nhìn nhớ khuôn mặt của kẻ tại thế. Mình đeo, nói dại miệng, để tang tình đầu.

Rồi H. đi, biền biệt không viết thư về như lỡ hứa. Việc học mình từ đó cứ mãi trầm trà trầm trật. Lang thang khu chợ Hoà Bình, qua cầu ông Đạo, lạc hồn lên tới nhà ga, vòng vo mãi tận vùng Thái Phiên những lũng đồi trồng xanh mướt hoa màu rau quả. Xe Honda 49 phân khối bỏng khét máy than van. Đà-lạt chẳng còn gì thơ mộng nữa.

Năm sau mình trở về Huế, người thân trong gia đình phát hiện đứa con út dại khờ kia sao thay đổi rách nát trầm kha tựa một kẻ vô gia cư. Họ chẳng biết điều hệ trọng, hắn đang sống thở với con tim tật nguyền.

Hồ Đình Nghiêm