This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một tác giả sau khi hoàn tất tác phẩm, in thành sách xong, có lẽ việc đầu tiên ai cũng phải nghĩ đến là đem tặng tác phẩm của mình cho người khác. Đó là nói chuyện thơ văn có thể ấn hành ra số lớn, còn như trường hợp, hội hoạ, điêu khắc, việc san sẽ có lẽ khó khăn hơn vì tác phẩm chỉ có độc bản, nếu người nghệ sĩ làm nên nhiều phiên bản, thì tác phẩm không còn giá trị gì nữa. Cái dễ và cái khó của một tác phầm văn chương. khảo cứu sau khi ra đời là ở chỗ đó. Sau khi chở sách về nhà, trước khi giao cho nhà sách hay nhà phát hành, tác giả sẽ tặng sách cho những ai? Những người thân yêu trong gia đình hay những người chúng ta vẫn thường gặp gỡ mỗi ngày. Những người viết sách nên hiểu cho một chân lý muôn đời, chỉ người bỏ tiền ra mua sách mới thực sự là người đọc sách! Một nhà văn đã có lời khuyên đồng nghiệp một lời khuyên có tính cách khẳng định, đó là “chỉ tặng sách cho những ai không thể không tặng!” Nhưng những ai là người “không thể không tặng” như lời khuyên quí báu này? Ông anh rễ, cô em dâu là người gần gũi trong gia đình, đã biết rõ sinh hoạt của người viết sách, không lẽ làm lơ không tặng sách. Một người bạn cũ vẫn thường giao du, đi lại thăm hỏi, không lẽ dấu chuyện mình vừa in xong một cuốn sách, dầu đó là tác phẩm đầu tiên hay tác phầm thứ mấy mươi đi nữa. Thường thì tác già không hẹp lòng vì một cuốn sách mà ấn phí không đáng là bao nhiêu, nhưng tác giả sẽ vui hơn khi thấy người được tặng sách thích sách và sẽ bỏ thời giờ ra đọc cuốn sách này, dù sớm hay muộn. Tôi đem một cuốn sách đến tặng một người bạn thân tại sở làm của anh, ba tháng sau khi trở lại, tôi nhận ra cuốn sách vẫn nằm trang trọng, ngăn nắp trong chiếc tủ để cạnh bàn giấy, có lẽ chưa một lần có dấu tay của người bạn cũ mà tôi quý mến, lật ra những trang sách mà tôi đã viết lên những đêm khó ngủ. Tôi sẽ rất vui, khi thấy tác phẩm của mình nằm lăn lóc, góc sách quăn queo ở phòng khách của bạn, hoặc giả là ngay ở trong nhà cầu của bạn cũng chẵng sao, mà lại lả một điều tốt lành, chứng tỏ bạn đã có lần nghĩ đến tôi, vui buồn cùng tôi, trong những giờ phút “khó khăn” hay “thỏa mãn” nhất của bạn. Đó mới gọi là tri âm, tri kỷ. Có nhiều tác giả chủ trương, ngay cả anh chị em ruột trong gia đình, ông bà nhạc gia. chú bác, bạn bè thân thiết, ân nhân, nếu biết những người đó ít đọc sách, hoặc không có thì giờ đọc sách, thì cũng nhất định không tặng. Điều này nghe ra dễ nhưng khó thực hành. Tôi cũng đã tặng sách cho những người “không thể không tặng.” Chẳng hạn đó là một ông chủ báo mà tôi có thể nhờ đăng mấy dòng giới thiệu về cuốn sách, mặc dầu tôi biết ông lạnh lùng và khó tính, Tôi với ông không thân thiết, nhưng hai bên đều có biết đến nhau. Cẩn thận tôi đã đích thân đem sách dến tòa soạn, nhờ cô thư ký thân tín của ông trao lại. Hai tuần sau, tình cờ tôi gặp ông ở ngay quầy tiếp khách của tờ báo ông, Hình như ông không nhớ tôi là ai, vẫn cái mặt lạnh như tiền. Lỡ bước, tôi đành hòi một câu đáng lẽ không nên hòi:
– “Ông có nhận được cuốn sách tôi gửi cho ông không?” Mặt ông có vẻ suy tư, mơ màng, phải một lúc lâu lắm, ông mới trả lời nhát gừng: -“Hình như có!”
Một người “không thể không tặng” khác là một người bạn cũ hiện có phòng mạch ở khu Bolsa, chúng tôi không thân nhiều, nhưng dã nhiều lần lui tới trị bệnh. Mặc dầu đã thanh thỏa bằng bảo hiểm, không nợ nần gì, nhưng hôm đó nhân tiện vừa ở quán phở ra, lòng đang vui, nghĩ đến ông bạn, ghé qua tặng cuốn sách mới in xong làm quà. Khi cầm lấy cuốn sách từ tay tôi; việc đầu tiên là ông lật xem cái bìa sau, tôi tưởng ông muốn xem hình tác giả, nhưng đôi mắt ông lướt xuống phía dưới, ở chỗ có in giá tiền. Ông ngần ngừ, rồi hình như muốn sờ vào tủi sau, nhưng một điều gì đó, làm ông dừng lại. Nói thì lâu nhưng sự việc diễn ra rất nhanh cho trong mấy giây dồng hồ, thời gian ông đang tần ngần thì tôi đâ lên xe giông mất, quên cả chào ông. Nhiều người nghĩ tác giả đem sách tặng cho mình là muốn bán sách lấy tiền và dã có những thái độ thiếu tế nhị, coi thường tác giả. Cũng may con số này không nhiều. Thêm một người “không thể không tặng” là ông chủ bán bảo hiểm xe hơi cho tôi, tôi vẫn gặp ông hằng năm cũng như ông biết tôi khá nhiều. Lúc tặng sách, ông nhận sách rất lịch sự niềm nỡ, kiểu lịch sự của một “saleman,” nhưng sau đó vài tháng khi ông muốn lấy cảm tình với tôi, qua câu chuyện nhắc đến tên cuốn sách của tôi, thay vì “Nước Mỹ Lạnh Lùng” thì ông nói “Người Mỹ Lạ Lùng.” Một người “không thể không tặng” nữa là một ông nhà văn “lừng danh” cả trước lẫn sau năm 1975 tôi nghĩ tặng sách cho ông là công nhận ông là người có công với văn học và nhắn với ông, chúng tôi là những người đang cố gang mon men, nối tiếp con đường ông đã đi. Thật lòng vì quý mến ông chứ không phải để xin một lời “phán,” Cuốn sách rơi xuống giếng sâu không nghe một âm thanh phản hồi. Ông vẫn thường có thái độ “mục hạ vô nhân” như vậy. Chỉ có dứa nào dại mới xếp ông vào những người “không thệ không tặng.”
Từ đó tội mội thấy mình dại vì nghe lời nhà văn “chỉ tặng sách cho những ai không thể không tặng!” hay là ẩn ý của nhà văn này là đem sách về tặng vợ, người chia xẻ ngọt bùi với mình trong suốt cả một đời người, người mà tất cả những nhà văn trên thế gian này chắc phải đồng ý là “không thể không tặng.” Vậy mà lúc hí hửng, mang đứa con đầu lòng đang quấn trong tấm khăn lông, ở nhà hộ sinh mới ra, thi cái người “không thể không tặng” này nói một câu nghe nghe cụt cả hứng: “Lại in sách! Anh chỉ lo chuyện tào lao, nhớ dọn đống sách trong nhà xe, cho con nó đem xe vào, kẻo buổi sáng trời lạnh đưa thằng nhỏ đi học tội nghiệp!
Kính thưa Quý Thính Giả, vị thế cao quý của Nước Mỹ hôm nay là kết quả của một quá trình tranh đấu, chiến đấu của nhiều Dân Tộc thuộc Liên Bang Mỹ với nhân tố quyết định là do Tập Thể Quân Lực Hoa Kỳ. Cũng thế, Quốc Gia VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 với những Người Lính hiến thân nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Mời ông PNN, một Người Lính trình bày về Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 đã xẩy ra một lần nơi Miền Nam với tập thể Quân Lực VNCH, và so sánh hôm nay qua tình hình chính trị-quân của Nước Mỹ với Người Lính Liên Bang Hoa Kỳ. Kính chào ông Pnn.
#1- KN: Nhằm để quý KTG hôm nay hình dung đủ và đúng tình hình chính trị – quân sự của Miền Nam trước lần hình thành nên Ngày Quân Lực, 19/6/1965 – Mời ông trình bày về tình hình tổng quát chính trị-quân sự nơi Miền Nam trước, vì KNS qua nhiều buổi với nhiều vị khách thuộc nhiều thế hệ, nhìều thành phần đồng thuận về một điều: Tình thế chính trị luôn là yếu tố quyết định về tình hình quân sự của tất cả lịch sử của mọi quốc gia. Miền Nam, VNCH năm 1965 không ra khỏi định luật nầy. Xin mời ông
#1-PNN: Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 là thời điểm Quân Lực VNCH chính thức nhận nhiệm vụ Bảo Quốc –An Dân cho đến kết thúc 30 Tháng 4,1975. Trước tiên, cần nhắc lại một biến cố chính trị quan trọng đã xẩy ra trong Mùa Hè, Tháng Sáu, 1965 nơi Miền Nam.
Gần hai năm sau 1/11/1963, lần lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tập đoàn tướng lãnh miền Nam đã chỉ lo tranh giành, củng cố quyền lực, không lưu tâm đến nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ nước. Nắm lấy cơ hội, giới cs miền Bắc đã huy động các sư đoàn chính quy vào Nam nhằm thôn tính trọn miền Nam trong thời điểm 1964, 1965. Từ tình hình nguy nan nầy, chính phủ Mỹ, Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson (có nhiều lý do chính trị-ngoại giao chiến lược toàn cầu khác) đã quyết định thực hiện chiến lược “Mở rộng Chiến Tranh VN từ sự kiện Vinh Bắc Bộ, Tháng 8/1964”, dội bom B8a1c Việt, đưa các đơn vị tác chiến bộ Mỹ vào Nam VN, trước tiên tại Đà Nẵng, 3/1965. Sự kiện nầy song hành cùng những biến động chính trị tại miền Nam trong na8m1964, 1964 chứng tỏ các chính phủ dân sự của Thủ Tướng Trần Văn Hương, Phan Huy Quát KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH QUÂN SỰ NGUY NGẬP ĐANG DẦN XẨY RA. (1964-1956)
#2- KN: Nam VN là chiến trường khắc nghiệt nhất mà quân đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng hãnh diện của họ. Đối lại, phía cộng sản bao gồm CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam là những yếu tố chính trong chiến cuộc mà QLVNCH phải trực tiếp đương cự từ 20/12/1960, ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng MN đến 30/4/1975 kết thúc chiến dịch HCM. Mời ông nói về tình hình diễn tiến quân sự của phía cộng sản đưa tới thời điểm 1965. Một thời điểm cụ thể đã bùng nổ chiến cuộc cao nhất nơi Miền Nam?
#2- PNN: Nói câu #2. Không phải: 1/Quan niệm điểm thông tục của phía Mỹ/VN War của Lyne Novick, Ken Burns (chỉ từ 3/1965); 2/Phía CSVN: Lần thành lập MTGPMN (20/12/1960. Nhưng thực tế lich sử cho thấy là từ Hội Nghị Liễu Châu (3-5/5/1954) trước lần ký kết chia đôi chia đôi đất nước, 20/7/1964. Cụ thể hơn là nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay. Cụ thể hơn cả, các chính phủ dân sự (Thủ Tướng TVHương, PHQuát, NVLộc) quả tình không đủ khả năng chỉ huy, điều hành, ứng phó với hỗn loạn chính trị-nguy cơ quân sự trong những năm 1964, 1965, 1966, 1968, 1972… Và Quân Lực Cộng Hòa sau biến động Miền Trung 1966, những lần giữ nước thành công trong Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972, đã phải chịu tình thế bó tay thất trận chung lần tuẩn nạn với Dân Tộc tại thời điểm 30 Tháng 4, 1975. Nhưng đây không phải do sai lầm, yếu kém của quân lực ấy mà tình thế năm 1975 đã vượt khỏi trách nhiệm, khả năng, tinh thần và vật chất của QLVNCH. Nhưng đấy không là chủ đề của cuộc nói chuyện hôm nay.
#3- KN: Thưa Qúy KTG, lịch sử thế giới có những ngẫu nhiên rất cảm khích là: Nếu Mùa Hè 1965, 1972 ở Miền Nam đã có Ngày Quân Lực 19/6/1965; và những cảnh tượng hùng vĩ với Người Lính VNCH nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Thì cuộc đổ bộ của Liên Quân Anh-Mỹ-Gia Nã Đại lên bờ biển Normandy nước Pháp trong Ngày 6 Tháng 6, 1944 là một xác chứng rất đáng kính phục về lần hy sinh lớn lao của Người Lính/Chủ yếu là Người Lính Mỹ – Thế nên, Ngày Memorial Day vừa qua, 25/5/2026 đã là một Ngày Trọng Đại của Lịch Sử Nước Mỹ. Mời ông nói về ngẫu nhiên lịch sử nầy.
#3- PNN: Nói câu #3 VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 tại những nơi xa lạ không mấy ai biết bỗng chốc vang dội trong lòng Người Miền Nam yêu nước từ trước, sau 1975. Nước Mỹ với Ngày Memorial Day nhằm tưởng niệm những chiến binh thuộc Quân Lực Hoa Kỳ đã hy sinhtrong cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandi nước Pháp ngày 6/6/1944 là đỉnh cao nhất của lần hy sinh tận hiến. Chiến dịch Overlord là mật danh của một chiến dịch quân sự quy mô lớn của quân đội Đồng Minh/chủ yếu là quân lực Mỹ tại miền Bắc nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là chiến dịch tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trong lịch sử, với sự góp mặt của hơn 1.200 máy bay, hơn 5.000 tàu chiến các loại và gần 160.000 binh lính Đồng Minh tham gia đổ bộ trong ngày đầu tiên, tức ngày 6 tháng 6 năm 1944, Từ ngày 6 tháng 6 tới ngày 21 tháng 8 năm 1944, quân đội Đồng Minh đã đưa tổng cộng 2.052.299 binh sĩ vào miền bắc nước Pháp. Riêng thương vong của Mỹ là 124.394 người, trong đó có 20.668 binh sĩ tử trận
#4- KN: KN xin kết thúc buổi nói chuyện hôm nay với một giả thuyết (rất có thể) nếu đã xẩy ra: Ấy là: 41/Nếu không có lần QL/VNCH nhận lãnh trách nhiệm tại Ngày Quân Lực 19/6/1975 và thất bại lần giữ nước trong Mùa Hè 1972 thì điều gì sẽ xẩy ra cho VN/Nam VN? Và 42/ Nếu Quân Đội Đồng Minh/Chủ yếu là Quân Lực Mỹ thất bại trong lần đổ bộ lên bờ biển Normandi trong Chiến Dịch Over Lord thì Châu Âu và thế giới sẽ ra sao từ 1944, 1945 kia?
#4- PNN: Nói câu #4. Trả lời hai giả thuyết #41 và #42. Lịch sử sẽ phải được viết lại một cách trung trực, khách quan. Và bổn phận, khả năng của những Thế Hệ Thứ Nhất, Thứ Hai… của CĐ Người Việt, của Nước Mỹ và CĐ Thế giới hôm nay phải là nhân tố quyết định thế nào cho Hiện Tại và Tương Lai toàn thế giới. Giả thuyết nầy sở dĩ được nêu ra để thấy mỗi thế hệ, mỗi dân tộc luôn phải có bổ phận kính trọng PHẦN HY SINH CỦA NGƯỜI LÍNH cho dù thuộc quốc gia, chế độ nào.
KN cám ơn Quý KTG theo dõi câu chuyện. Kính cám ơn Người Lính Pnn.
Anh tài xế tắc xi đón tôi trước phi trường Vigo vào lúc xế chiều và đưa tôi về khách sạn. Sau khi đưa căn cước cho cô ngồi sau quày tiếp khách xác nhận, cô đưa tôi thẻ khoá và số phòng của tầng một. Anh tài xế tắc xi coi như xong nhiện vụ, anh day qua vui vẻ bắt tay giã từ và hẹn tám giờ sáng ngày mai anh tới chở tôi xuống tàu. Tôi lên phòng tắm rửa, thay áo quần xong, rồi đi xuống, định đi ra phố. Vừa ra khỏi thang máy liền gặp một anh nhân viên khách sạn đứng trước cửa, chào tôi và lịch sự đưa hai tay, khom người ra dấu mời tôi vô phòng ăn. Đã quen với cảnh ăn búp phê, ngủ khách sạn, tôi cũng không lạ gì mấy cái khách sạn do công ty đài thọ, nếu không tự bỏ tiền túi ra thì khó mà chọn được thức ăn cho vừa miệng, biết vậy nên tôi chẳng cần hỏi họ có đặt phần ăn cho tôi không. Nhưng thấy anh nhân viên vui vẻ cười chào, tôi bèn quẹo vô xem thử, chỗ để thức ăn cũng chỉ mấy món bánh mì, bơ, mứt trái cây, đồ uống có trà, cà phê và nước trái cây. Tôi đi rảo một vòng rồi dừng lại máy pha cà phê, bỏ tiền vô bấm lấy một tách cà phê đứng uống và móc túi lấy điện thoại, nhìn đồng hồ, mới hơn bốn giờ chiều, cũng còn sớm. Tôi uống cạn tách cà phê, để tách lên bàn rồi bước ra đường.
Tôi đứng trước cửa khách sạn, mở điện thoại bấm xem bản đồ, thấy một con đường chỉ đi thẳng tới trung tâm gần hơn con đường dọc bờ sông. Tôi lưỡng lự một chút rồi quyết định men theo con đường dọc bờ sông, tuy đường hơi xa nhưng tôi thích cảnh bờ sông vì sông lúc nào cũng đẹp và ít ồn ào hơn trên đường phố, nhứt là những dòng sông nằm dưới chân núi.
Tôi có thói quen hễ mỗi lần tới một địa danh nào, thời gian rảnh tôi dành hết cho ngoài đường, đối với tôi thời gian lang thang ngoài trời là bác sĩ chữa lành mọi bịnh tật, hơn nữa đi bộ giữa thế giới tự do và không gian mở rộng cũng là bậc thầy tuyệt vời nhất về tinh thần, nó cho ta có thời gian để suy ngẫm về cuộc sống, sắp xếp lại nội tâm cho hoà hợp với cảnh đẹp hào phóng của thiên nhiên. Ở trên tàu tụi nhỏ không hiểu được ý nghĩ của tôi, chúng cho tôi là ông già hà tiện. Nhiều lần mấy đứa ngồi trong tắc xi, thấy tôi đi bộ bên đường, chúng kêu tắc xi dừng lại rồi hai đứa nhào xuống xốc nách rinh tôi nhét vô xe, muốn cho tôi đi tắc xi mà giống như cảnh sát bắt tội phạm vậy. Phần đông người trẻ ngày nay xem chuyện đi bộ là một cực hình, chúng làm việc với màn ảnh vi tính, chuyện gì cũng muốn cho mau xong. Còn đi thì như chạy và ngại con đường, đoạn đường đi bộ chừng mười lăm, hai mươi phút đối với chúng cũng đã dài lắm rồi, phải gọi tắc xi mới được.
Vigo là một thị xã ven biển thuộc vương quốc Tây Ban Nha và nằm day mặt ra Đại Tây Dương. Vào mùa thu trời chiều lành lạnh, tôi bận chiếc áo lót bên trong áo sơ mi và khoác chiếc áo len bên ngoài cho phù hợp với khí hậu miệt này. Tôi đi bên bờ sông có nhiều cây xanh và bông hoa nhiều màu sắc, dưới dòng sông tàu bè xuôi ngược, bên trên là dãy núi đồi thâm thấp. Trong khuôn viên, những cây cổ thụ buông tàn lá xanh um và cùng dãy phố đứng sừng sững day mặt ra bờ sông, nơi có bến cảng cho những du thuyền từ bốn phương tới đậu. Trong không khí man mác và cái ánh nắng hanh vàng như tô điểm sắc màu cho buổi chiều thêm phần rực rỡ.
Đi giữa khu phố thoai thoải dốc lên, dốc xuống và chung quanh bao bọc những ngọn đồi thấp làm cho tôi có cảm giác như đi trong những phố núi trên vùng Cao Nguyên ở Việt Nam. Có lẽ hôm nay tôi nhớ về miền cao, vì hồi sáng khi sắp lên đường, tôi có nhận tin của người bạn trẻ ở Tây Nguyên, cậu ta nhắn vài dòng và mấy câu thơ:
“Tặng anh mấy câu thơ hoa dã quỳ, anh đọc lên cho nhớ nước, nhớ non chơi:
Em là hoàng hậu Tây Nguyên
bông dã quỳ
mà anh yêu tha thiết
em rung rinh đong đưa trong sương lạnh
sao vẫn ấm nồng trong trái tim anh
Cậu ta viết tiếp:
Tây Nguyên-Việt Nam mình giờ là mùa cà phê chín và hoa dã quỳ nở rộ rồi đó anh. Anh đi nhiều và thấy nhiều cảnh lạ, nhưng chắc không nơi nào đẹp bằng quê hương mình phải không anh?”
Không hiểu sao những ngày đầu lang bạt, tôi chỉ có cái radio bằng bàn tay, mang tiếng loại radio bắt được các đài trên thế giới nhưng thật ra là tùy vùng, tùy lúc, những lúc tàu ra khơi thì không nghe được gì hết. Ngày hai mươi bốn giờ, nếu đi bên vùng Châu Á, thì nghe được vài giờ của mấy đài nước ngoài phát tiếng Việt, còn qua Phi Châu hay Nam Mỹ, có khi cả năm chẳng nghe, chẳng biết gì về tin tức quê nhà. Ấy vậy mà trong lòng tôi lại luôn canh cánh nhớ về quê hương sông nước, biển đảo, đồng bằng cho tới núi non Đại Ngàn của miền cao nước Việt, dạo đó tôi thấy quê hương tôi nơi nào cũng đẹp, không nơi nào trên trái đất này sánh bằng và nỗi nhớ, niềm thương triền miên làm tôi mất ngủ. Còn bây giờ thì tin tức, ca nhạc, thơ văn đều ở trong điện thoại thông minh, nằm gọn trong lòng bàn tay, muốn biết bất cứ thứ gì thì chỉ cần mở ra bấm, quẹt vài cái là nghe và đọc được hết những chuyện gì đã xảy ra trên vũ trụ hành tinh này. Nhứt là qua những người bạn trẻ mà tôi biết rất nhiều chuyện đất nước Việt Nam, từ chuyện trộm cắp, cho vay nặng lãi, giết người cướp của, hiếp dâm, buôn người cho tới chuyện quốc gia đại sự, chuyện ngàn đời trên nước Việt Nam với những tham quan hại người cướp của và cũng tự họ thanh toán lẫn nhau. Chuyện nhỏ, chuyện to, chuyện phóng đại, chuyện tào lao, chuyện nào cũng có trên mạng nhưng sao tôi có cảm giác nó xa lạ, hổng dính líu gì tới tôi hết. Có lẽ tuổi tác tôi đã cao, mà cũng có lẽ vì cả đời tôi nghe và chứng khiến sự dối trá của thế nhân quá nhiều nên tâm thức tôi không cho phép tôi suy nghĩ lung tung. Tôi để dành thời gian cho trí óc được nghỉ ngơi, nghỉ ngơi chớ hổng phải nghĩ ngợi. Chiều nay nhờ người bạn trẻ, cậu ấy là một nhà thơ, gợi lại tâm trí tôi về miền đất Tây Nguyên nơi thiên nhiên phong phú có phố núi, có hoa dã quỳ màu vàng giống như hoa hướng dương, mỗi năm vào mùa đông ở Việt Nam, tức là đầu mùa thu Âu Châu, khắp vùng Cao Nguyên hoa dã quỳ vàng rực.
Tôi bèn đi tới một băng đá trong khuôn viên, ngồi xuống. Sau khi hơi thở đều hoà, tôi moi óc, lục lạo coi trong đó có còn nhớ thêm được chút gì về miền Tây Nguyên nữa không. Lần theo tin nhắn của nhà thơ và tình cờ ngồi ở giữa phố núi quê người, tôi nhớ lại được nơi miền cao quê hương tôi bây giờ là mùa cà phê chín đỏ, theo nhà thơ trẻ là gia đình cậu ta cùng nhiều gia đình khác, còn được cái may mắn của những người trồng cà phê, tuy không khá giả nhưng còn có thu hoạch mỗi mùa. Cũng ở Tây Nguyên có một xã nhờ trồng tiêu mà giàu có, trước đó không lâu, cả xã nhà cửa bình thường, phải nói là xập xệ, bỗng chốc biệt thự mọc lên như nấm mọc sau mưa, nên người ta đặt cho đó là xã Tỷ Phú Hồ Tiêu. Được đâu vài năm những vườn tiêu bị bịnh và chết sạch, cả xã lâm cảnh nợ nần bủa vây đành phải bỏ nhà, bỏ đất, lìa quê, trốn nợ làm người tha phương cầu thực. Bây giờ vườn tiêu chỉ còn những trụ cột dành cho giây tiêu leo bằng xi măng trơ trọi trong đám cỏ dại và nhiều ngôi biệt thự không có người ở, nằm lạnh lẽo giữa những cây cối um tùm trông như những toà lâu đài hoang trong truyện cổ tích. Xã Tỷ Phú Hồ Tiêu bây giờ có thể gọi là xã Tiêu Điều cũng được.
Tôi đứng lên rời băng đá và đi tiếp lên con đường hướng về trung tâm. Nhưng trong đầu tôi lởn vởn câu hỏi của người bạn trẻ: “Không nơi nào đẹp bằng quê hương mình phải không anh?” Trước kia nghe câu này tôi liền hô “Yes” hoặc “Right”. Nhưng sau khi về thăm quê hương chứng kiến sự đổi thay không còn dấu vết thì những ý nghĩ thường tình đã biến mất trong tâm trí tôi luôn. Tôi lưỡng lự, chưa biết trả lời sao, nếu tôi trả lời thẳng e rằng nhà thơ hiểu lầm rồi cho tôi là một tên mất gốc, bội nghĩa vong ân. Trong lúc tôi còn vu vơ suy nghĩ để tìm câu trả lời, thì chợt thấy trong một hẻm nhỏ có mái che bằng kiếng và nhiều người ngồi ăn uống bên những chiếc bàn xếp đặt cạnh nhau trên đường. Tò mò tôi men vô xem, thì ra những hàng ăn treo bảng hiệu furanchos bằng tấm bản gỗ, hai bên trước cửa nhà hàng bàn ghế lấn ra lề đường chỉ chừa lại lối đi hẹp. Ở Tây Ban Nha thường có những ngôi nhà mang tên furanchos, nơi đây bán thức ăn truyền thống của gia đình tự chế biến và rượu nho cũng tự ủ để gia đình uống, họ uống không hết mới đem ra bán lại, nối tiếp nhau đời này qua đời khác cả mấy trăm năm, riết rồi thành tập quán, về sau nó nổi tiếng được bảo tồn và được công nhận văn hoá ẩm thực để phổ biến cho khách du lịch đến nước này. Dọc theo lối đi có vài chiếc bàn dành cho những người đàn bà bán hàu, những con hàu tươi sống được các bà cạo rửa sạch sẽ và tách ra để trưng bày trên dĩa trông hấp dẫn vô cùng. Những gian bán hàu trông riêng lẻ, nhưng thật ra họ có liên hệ với các nhà hàng, khách mua một dĩa hàu có thể ngồi vào bàn tại một trong những nhà hàng nào cũng được. Trong nhà hàng bán rượu tự ủ và những món ăn khác truyền thống khác. Bây giờ mới đầu mùa thu, khách du lịch còn rất đông, nghe họ nói tiếng Anh, tôi ngờ rằng những thực khách ngồi trong đây, họ đến từ những chiếc thuyền buồm đậu dưới bến sông kia. Số thực khách ngồi trong dãy quán hơi đông nhưng không ồn ào và không chật chội lắm, trông mấy chị bán hàu cũng thảnh thơi. Tôi nhìn giá những dĩa hàu mỗi dĩa tám con, con nhỏ giá mười tám euro, con lớn hai mươi lăm euro. Tuy Vigo nổi tiếng hàu tươi và ngon nhất, không biết có “ngon nhất” như quảng cáo không, nhưng nhìn dĩa hàu tươi, sống được tách ra trong và trắng kèm theo trái chanh chẻ đôi để trong dĩa thấy hấp dẫn lắm, nhìn là muốn ăn ngay. Có lẽ thực khách ăn hàu để khai vị với rượu trắng chơi thôi, thường thì bàn nào tôi cũng thấy ngoài đồ biển ra cũng có các món thịt, cá, tôm, cua lẫn lộn trên bàn.
Tôi nhìn đồng hồ đã hơn sáu giờ chiều, vậy là ăn chiều được rồi. Tôi trờ tới một chiếc bàn trống trước một nhà hàng ngồi xuống chiếc ghế. Anh phục vụ đem menu ra đưa tôi và hỏi tôi uống gì.Tôi nói anh chờ tôi xem menu trước. Anh ta gật đầu đồng ý và đi trở vô trong làm gì đó. Tôi mở menu ra xem, phải nói là ở Tây Ban Nha đồ biển rất phong phú, mỗi vùng biển có vài loài tôm, cá khác nhau. Nhà hàng hải sản nơi đây họ chế biến đồ biển trông bắt mắt và lại rất ngon, nói theo ngôn ngữ bình dân của người miền Tây Nam Việt là:
– Ngon bá chấy!
Từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương, nếu muốn biết vùng biển đó có loại hải sản nào thì chỉ cần gọi một dĩa mariscada. Trước khi ăn, ví von một chút cho vui, ngồi nhìn dĩa mariscada ta tha hồ mà tưởng tượng ra hải sản ở nơi đó có những loài gì và có thể hình dung dưới biển có các loài thủy tộc như tôm thẻ, tôm hùm, mực nang, mực ống và loài cá nhiều màu sắc đang bơi lội hoặc những loại nghiêu, sò, ốc, hến, chem chép trầm mình phía dưới lòng đất, cát của đáy biển cạn và sâu. Thực đơn đầy đủ giá từ năm chục tới một trăm euro, nhưng bụng tôi không đủ đói để tiêu thụ hết. Cuối cùng tôi chọn mấy món đơn lẻ, chiều rồi tôi không dám ăn hàu vì cái bụng tôi không được tốt lắm, bạch tuộc và tôm thẻ luộc cũng khá hấp dẫn nhưng tôi không thể ăn hết một lần ba bốn món. Tôi gọi anh bồi bàn lại và chọn món mực nhỏ chiên dòn (chipirones) ăn kèm bánh mì và một ly rượu nho trắng. Bao nhiêu đó cũng đủ cho tôi lấp đầy bao tử buổi chiều nay và thưởng thức được hương vị của miệt biển Vigo này.
Tôi có thói quen, hễ mỗi tới một nơi lạ, tôi thích tìm hiểu thức ăn nơi đó hơn. Ngoại trừ đi chung với bạn bè, kêu một mâm mariscada ra cho họ ăn, riêng tôi thì nhấm nháp rượu và để ý tới hương vị của từng món hơn là chuyện ăn nhiều hoặc ăn cho đã. Ngồi vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn người ta ăn uống cũng thấy hay hay. Bỗng trong đầu tôi nảy ra câu trả lời cho cậu nhà thơ trẻ bên quê nhà. Tôi bèn móc điện thoại ra và bấm trả lời câu hỏi của người bạn thơ: “Cũng như sự biến đổi trong tự nhiên ta có thể đem ra so sánh với mùa xuân xuất hiện hoa, bướm, cỏ cây, chim muông tất cả với sắc màu tươi trẻ, tới mùa hè vui tươi hớn hở, mùa thu thì buồn vui tùy cảnh ngộ và cuối cùng tất cả tàn lụi theo mùa đông. Mùa đông chim bay xa tìm nắng ấm và bướm đã chết, lá hoa cây cỏ tiêu điều. Hoa dã quỳ ở quê hương ta vậy, vào cuối đông trên quê hương ta, nó sẽ tàn phai rồi đầu mùa đông năm sau nó sẽ trở lại. Cái quê hương mà ta đã thấy nó cũng như mọi vật trên đời, nó cứ xoay vần, thay đổi và biến mất theo thời gian. Nhưng con người không chấp nhận sự thay đổi nên lòng luôn bất an và tâm thức không bao giờ được yên nghỉ. Có khi nào cậu nghĩ trong lòng mỗi con người chúng ta còn có một quê hương rất thanh bình, nơi có nhiều hoa thơn cỏ lạ và đẹp vô cùng. Có thể nói rằng trên trái đất này không còn có một quê hương nào khác đẹp hơn.”
Ngồi trong nhà cầu, tôi ám thị và gọi mãi vàng ơi vàng ơi, trong niềm đau nhức.
“Ra chưa anh?” Vợ hỏi vọng vào.
Tôi nói: “Chưa thấy gì.”
“Ngồi ráng thêm chút nữa coi sao.”
“Ráng vô ích. Cho anh liều thuốc xổ thôi.” Tôi đi ra ngoài.
Vợ nhìn mặt: “Mấy hôm nay, trông anh hốc hác nhiều. Uống thuốc xổ cũng tội, nhưng không còn cách gì khác.”
Buổi tối, trong gian phòng rộng lớn. Mọi người ngồi dựa lưng vào vách tường, tán gẫu đủ thứ chuyện. Qua câu chuyện, tôi biết có một chị, sáng mai sẽ về Việt Nam thăm gia đình. Những món quà chị sắm cho chồng con, đặc biệt có chiếc quần Jean sờn gối. Chị nói, chồng chị sẽ rất thích chiếc quần này, dân chơi đúng điệu chỉ mặc quần Jean bạc màu sờn rách. Chị ngồi dựa lưng vào lòng anh chồng hờ. Anh cũng âu yếm vòng tay ôm khít lấy chị. Họ tận dụng những giờ phút còn gần gũi bên nhau. Tất cả những người khác coi thế là tự nhiên, nhưng vợ tôi ngượng.
“Kỳ!” Vợ nói nhỏ.
Tôi bảo: “Kệ người ta.”
Đến giờ ngủ, những tấm màn vải được kéo ra, ngăn làm nhiều phòng nhỏ sát chân tường. Còn lại khoảng trống giữa phòng, tôi trải tấm chiếu cho vợ chồng tôi và đứa con.
Đèn tắt, nhưng phòng còn có ánh sáng do ngọn đèn đường hắt vào. Chung quanh chỗ tôi nằm, từng cặp nói chuyện thầm thì, cười khúc khích. Một hồi sau, nổi lên những tiếng động dâm dật. Họ không cần khẽ khàng, dè chừng ai nữa. Cặp nào cũng như nhau, coi đó là điều tự nhiên. Mục đích gán ghép vợ chồng tạm bợ của họ, cũng chỉ vì chuyện ấy mà thôi. Chúng tôi bị bao vây bởi những âm thanh đầy kích thích.
Tôi cố dỗ giấc, và lãng quên. Nhưng cái lỗ tai bây giờ quá thính. Tôi nghe rõ cả hơi thở dồn dập của họ, sát bên. Trong đầu tôi hiện ra hình ảnh và động tác…
Con tôi, sau những ngày vất vả, buông mình xuống là ngủ khì. Vợ tôi nằm lặng, không biết thức hay ngủ? Tôi khẽ trở mình, đưa tay khều thử.
Vợ hất tay: “Đừng.”
“Ngủ chưa?”
“Hứ!”
Tôi cười thầm. Vợ tôi đang chú ý cái âm thanh gợi dục này, còn hơn tôi nữa.
Sau một chặp đầu hôm, mọi người đi vào giấc ngủ. Tôi vẫn trăn trở lo lắng buồn rầu cho một ngày mai. Nửa khuya, tôi nghe có sự cựa quậy nơi vị trí của người đàn bà sắp về Việt Nam. Tiếng động dâm dật lại nổi lên. Anh chị cố vớt vát thêm thú vui dục lạc, bù lại những ngày sắp xa nhau. Về thăm chồng lần này, nếu chị mang thai, đứa bé ra đời, dĩ nhiên chồng chị chịu trách nhiệm. Nhưng nó là con ai, chỉ có chị biết mà thôi. Khi tiết trinh là điều xa xỉ, loạn dâm là chuyện bình thường thì loài người đồng hóa với súc sinh. Sáng ra, tôi nói với vợ ý nghĩ này.
Vợ nguýt dài: “Khéo lo chuyện tầm phào.”
Tôi cười cười: “Đêm rồi ngủ ngon không?”
“Đừng hỏi bá láp. Ông ham lắm!”
“Ham gì?”
“Chuyện đó.”
“Chuyện đó, ai không ham? Em cũng vậy.”
“Không có tôi đâu. Đừng nói chuyện đó nữa. Bây giờ, ông vào nhà cầu rặn chiếc khâu cho tôi. Nếu nó ra, tôi khỏi tốn tiền mua thuốc xổ.”
Trong hồi ký “Đời” của Hồ Ngọc Nhuận, tác giả có nói đến gia thế, tổ tiên ông gốc dòng Hồ Đắc ở Huế, lưu lạc vào tới ấp Tân Hội Tây, Tiền Giang đã bảy đời nay. Ông cho biết chuyện nhà, “cái sợ lớn nhất của cha” trong câu nói của ông cụ nói với ông:
-“Đời cha sợ nhất là mất con! Có ba cách mất: một là con theo gánh hát, hai là theo cộng sản ba là theo Công giáo!” (Chương [- trang 8 -xb 2010)
Theo gánh hát thì chắc nếu có, cũng là chuyện đàn đúm thuở nhỏ; chơi với các thứ linh mục thân cộng như Nguyễn Ngọc Lan. Chân Tín, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cẩn, Huỳnh Công Minh, Trần Thế Luân … chưa phải là theo Công giáo vì tiểu sử không nói ông đã rữa tội chưa; chỉ có chuyện rõ ràng Hồ Ngoc Nhuận đúng là đứa con đại bất hiếu là bất chấp lời cha mà đi theo cộng sản. Trước năm 1975, Hồ Ngọc Nhuận là dân biểu “đối lập” thời VNCH, Giám đốc Chính Trị báo Tin Sáng của Ngô Công Đức, toà soạn cũng là nơi lui tới của Việt Cộng. Hồ Ngọc Nhuận thú nhận: “Tôi chỉ thiếu đi vô khu như anh Nguyễn Ngọc Lan hay anh Châu Tâm Luán mà thôi. Hay chính xác hơn là vô hy … ” (trang/7.) Sau 1975, Hồ Ngọc Nhuận là cộng sản thứ thiệt: Ủy viên Ủy ban TUMT Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch UBMT Tổ Quốc Việt Nam TP Hồ Chi Minh.
Sau khi hy vọng “phá xiềng” để theo Lê Hiếu Đằng, trong bài viết mới đây “Đàng hoàng hơn!” ông Nhuận lên
án cộng sản không tiếc lời, chỉ tiếc là quá muộn màng, sau một thời gian dài, tạm thời giả định là 38 năm, từ khi ông theo cộng sản.
– Ông cho rằng cộng sản không có luật pháp (… đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo ở đây tự vẽ ra Hiến pháp, ngồi xổm trên luật pháp,- những bản án đã được định sẳn)
– Ông cũng nói cộng sản không có tự do báo chí: “Như về háo chí, miệng thì nói tự do báo chí, luật thì viết báo chí tự do, nhưng đốt đuốc cũng không tìm đâu ra một tờ báo tư nhân, mà toàn là báo của các ban ngành đoàn thể của Đáng và Nhà nước, từ trung ương đến các địa phương.”
– Ông tố cộng sản cho lập hội theo hiến pháp, nhưng dù là Hội Đá Banh. Hội Nuôi Chim, hay mỉa mai hơn là Hội Người Mù “cũng phải do một đảng viên Cộng sản đứng đầu làm hội trưởng.”
– Ông viết quốc hội chỉ là ổ đảng: có “thiên la địa võng” để chém bất cứ ai không là người của Đảng, không do Đảng cắt cử, để Đảng tha hồ một mình một chợ ở Quốc hội. “
Ông cũng than phiền cái mặt trận mà ông cúc cung tận tuy từ bao nhiệu năm nay, không có thực quyền (:)
Theo luật bầu cử thì Mặt trận Tổ Quốc của ông có quyền chọn người trước khi đưa ra cho cử tri bầu cử, nhưng nay ông Hồ Ngọc Nhuận, Ủy Viên Mặt Trận Trung Ương này lại tố cáo chính tổ chức của ông: “100% thường trực lãnh đạo, từ cấp trên đến cấp dưới là đảng viên Cộng sản.
Kèm bên là một Đảng Đoàn Mặt Trận. Kèm trên là một Ban Dân Vận Mặt Trận. Rồi Đảng ủy Khối, Đảng ủy cơ quan … cho tới Đảng ủy thành. Đảng ủy tỉnh, Đảng ủy trung ương … ” Mặt khác nhiệm vụ ghê gớm nhất của Mặt Trận là “giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán hộ, công chức nhà mước:”, mà ông đã thú nhận “cũng không ai thấy tổ chức: Mặt trận giám sát được gì từ mấy chuc năm nay, “Nghĩa là cái tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam chỉ là cái vậi trang trí cho đảng, như con công, con phụng người ta vẽ trước cổng chủa, hoàn toàn không có thực quyền. Nhưng không lẽ đến nay gần nữa đời người ông mới
thấy ra! Ông thú nhận là từ năm 1975 ông đã là thành viên của MTTQ, vậy 38 năm nay, ông “nín thở qua sông,” “ngậm miệng ăn tiền” hay là giả mù, giả điếc!
Chuyện tự do báo chí, vào tháng 8-1975, khi tờ Tin Sảng của ông và Ngô Công Đức và Đứng Dậy của LM.
Chân Tín và Nguyễn Ngọe Lan được Trần Bạch Đằng. Trưởng ban Tuyên huấn Miền cho sống lại, thi cũng không ai trách các ông, những người không hiểu gì về cộng sản, ngỡ là mình có công trạng được CS tin dùng. Nhưng không lẽ, sau đó đến năm 1981, những tờ báo này bị đóng cửa với lý do đã “hoàn thành nhiệm vụ,” như ý Lê Đức Thọ: “dù có công, tồn tại là sai lầm “hữu khuynh” nên dep bỏ!” các ông lại chưa chịu mở mắt hay sao? Công đó là công gì? Công phá nát VNCII. “Nhiệm vụ” đã hoàn thành là nhiệm vụ gì?
Phải chăng là nhiệm vụ lót đường hay nhiệm vụ của những tên hề trong gánh hát mua vui cho khán giả trong khi chờ màn chính khai diễn? Cả cái tổ hợp sơn mài Lam Sơn của nhân viên Tin sáng cũng bị bóp mũi.
Tuần trăng mật kéo dài như vậy cũng đã quá lâu rồi. Cái ngày mà “Trung Ưong Đàng và Chính Phủ dành chiêu dãi các đoàn đại biểu miền Nam” như Lê Hiếu Đằng đã kể lại trên Tin Sáng: ” … Những cái hôn thắm thiết, những bàn tay siết chặt tưởng chừng như không muốn rời ra, những tràng cười thoải mái, cởi mở … Tất cả tạo nên một bầu không khi thắm đượm tình nghĩa đồng hào, đồng chí. Đúng như Bác Tôn đã nói:”Đây là cuộc Bắc Nam sum họp một nhà cảm động và đông đủ nhất.” Nhưng một trong những điều đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc là hình ảnh các linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín. Nguyễn Huy Lịch ngồi bên đồng chí Lê Duẫn, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thủy nói cười vui vẽ và cùng nhau nâng cốc mừng thắng lợi: hình ảnh của giáo st Lý Chánh Trung, người trí thức “tìm về dân tộc,” miệng vẫn ngậm tẩu, thú vị đứng nghe anh Xuân Thủy đọc thơ; hình ành của một Kim Cương mà phong cách vẫn rất là “Sàigòn” ngồi nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về vở kịch “Lá Sầu Riêng” của mình; hình ảnh một Hồ Ngọc Nhuận nhà báo xông xáo chạy đi chay lại để chụp những tấm hình “ăn ý” nhất cho những số báo Tin Sáng tới … “
Vậy mà bây giờ, câu kết luận của Hồ Ngọc Nhuận là: “Ở đấy, trông ra ngoài, từ trên xuống dưới, trên mọi
lãnh vực, là “nói một đường làm một nẽo. ” Câu nói này hình như ong dân biểu phản chiến, thân Cộng cũng đã nghe quen quen hồi còn ngồi ở Brodard hay La Pagode Saigon rồi! LM. Nguyễn Ngọc Lan của tạp chí Đối Diện (1970) “đồng chí” với Hồ Ngọc Nhuận là cây bút với các bài viết thiên Cộng rõ rệt. Từ năm 1966, Nguyễn Ngọc Lan đã chọn dứng hẳn về phía MTGP, viết lách và hành động dưới sự chỉ đạo từ mật khu và sau Tết Mậu Thân 1968, đã bí mật ra “bưng” để ra mắt và nhận lệnh của Trần Bạch Đằng. Chính Phạm Hùng, Bí thư Trung Ưong Cục miền Nam đã chỉ thị cán bộ CS phái bảo vệ cho Nguyễn Ngọc Lan vì ông linh mục “thờ ma cộng sản” này thường “đi lại bằng một chiếc xe gắn máy cũ kỹ, rất dễ bị ám hại.” (Trần Bạch Dằng.)
Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan, việtbáo.vn). Không ngờ nổi lo của Phạm Hùng đã trở thành sự thật.
30 năm sau, ngày 4 tháng 5- 1998, Cựu Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan (1) và LM. Chân Tin đã bị “kẻ lạ” đạp vào xe Honda, trên đường đi đám tang một người phản tỉnh khác vừa từ trần là Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn) nhưng lần này khong phải do công an VNCH mà do “ngưu đầu mã diện” của chế độ mới. Theo tờ Tin Nhà số 34, Tháng 7, 1998, Pháp, trang 20, thì “Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan bị bất tỉnh ngay tại chỗ, mất nhiều máu, đưa vào bệnh viện khâu năm mũi ở đầu và bị nứt xương vai. Chụp scanner thấy trong đầu có máu bầm …. Chân Tín bị xây xát”. Một khi đã phản tỉnh và lên tiếng phê phán chống lại đảng Cộng Sản, I.M. Chân Tín và GS. Nguyễn Ngọc Lan phải chấp nhận đòn thù. Vì ba tập Nhật Ký, ngày 05.8.1990, Công An tới khám xét nhà của Nguyễn Ngọc Lan và tuyên lệnh quản thúc ông 3 năm tại gia vì “vi phạm luật pháp, xâm phạm đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”. Vì ba “Bài Giảng Sám Hối,” LM. Chân Tín bị trục xuất khỏi thành phố, biệt xứ tại Cần Thạnh, một họ đạo nhỏ ở huyện Duyên Hải. Đặc biệt nghiêm trọng là việc GS. Nguyễn Ngọc Lan và LM. Chân Tín bị mưu sát ngay trên đường phố Sái Gòn như đã thuật ở trên. (Về Nhân Vật
Nguyễn Ngọc Lan – Bạch Diện Thư Sinh.) Sau khi Lê Hiếu Đằng đòi lập đảng “đối lập” và Hồ Ngọc Nhuận liên tiếp trong ba bài viết, lên tiếng ủng hộ chuyện này cũng như đã không tiếc lời lên án đảng Cộng Sản, nhiều nguồn dư luận cho rằng hai nhân vật này hiện đang là “cò mồi,” được chỉ thị của đảng cầm quyền, “lập
đảng để cứu đảng.” Nhưng nếu đây chỉ là thái dộ của kẻ đi lầm đường biết dừng chân lại, nhìn lại vũng bùn, máu mình đã lội qua và nếu đảng còn mang não trạng là sợ có những “tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài” thì số phận những kẻ phản tỉnh phải được xử lý như những chuyện đã xảy ra trong bất cứ một chế độ cộng sản độc tài nào, ở Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn cho đến Việt Nam.
Một lúc nào đó, ông Hồ Ngợc Nhuận phải nhớ lại “lời cha dặn” là một trong ba cách mất con là con đi theo cộng sản. Ông là đứa con bất hiếu, đã phản bội đồng bào, phản bội tổ quốc, nhưng nếu là một người biết phản tỉnh, xin ông “bảo trọng,” và nhớ khi ra đường đừng dùng xe gắn máy, và cũng đừng đi xe ôm để vô tình có thể làm oan mạng người tữ tế!
(*) Đồi Gió 169 là cao điểm chiến thuật của mặt trận An Lộc. Đồi Gió đã bị chiếm trước khi trận chiến An Lộc mùa hè đỏ lửa 1972 bùng nổ. Trung Đoàn 48 Sư đoàn 18 được tăng phái cho mặt trận An Lộc mà Tư Lệnh chiến trường là Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 3 Nguyễn Phúc Sông Hương thuộc Trung Đoàn 48 được chỉ định tái chiếm ngọn đồi này.
Nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương (trái) và nhà văn Trần Kiêm Đoàn.
Chúng tôi ở lại Nha Trang, nơi nhà người em trong sự lo âu hồi hộp.
Em tôi trấn an: “Anh yên tâm. Láng giềng của em đều có gốc gác thuộc thành phần chế độ cũ. Toàn là phe ta cả.”
Tôi bị bà thiếu tá “phe ta”, nữ giáo sư trường Đồng Khánh chơi cho một vố đau như bò đá. Bây giờ, nghe nói “phe ta”, tự nhiên tôi có ác cảm. Thiên hạ đua nhau bợ đít “cách mạng”, theo thời xu thế. Gió thổi cỏ rạp. Tiểu nhân cúi đầu. Loại người mang tâm địa hèn mạt sẵn sàng bán đứng “phe ta”, đổi lấy một chút quyền lợi nhỏ nhoi nào đó. Những năm trong tù, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. “Phe ta” lẻ tẻ vài anh trở mặt. Họ như những con dòi cựa quậy ngoi lên trong nỗi khốn cùng của anh em. Nịnh nọt dựa hơi “cách mạng”. Hành hạ chà đạp “phe ta” không thương tiếc. Họ lấy sự vùi dập người khác làm sự sống còn của mình. Những khuôn mặt bẩn thỉu lem luốc đó, ra khỏi tù, tôi còn gặp lại họ ngoài đời. Họ giỏi luồn lách, và mau chóng thích nghi với chế độ mới. Làm người, nhưng họ mang bản năng của loài tắc kè, đổi màu da theo cảnh sắc.
Những người láng giềng của em tôi lịch sự và tử tế. Họ tỏ ra thân thiện với tôi như đã cảm thông nhau từ lâu lắm. Tôi nghi ngờ, nên cố giấu thân phận mình. Nhưng con mắt của “phe ta” rất tinh đời. Họ biết tất cả.
Một buổi tối. Bất ngờ công an ập vào nhà, lục soát và xét giấy tờ của tôi.
Công an hỏi: “Anh đến đây làm gì?”
Tôi nói: “Tìm việc làm.”
“Sao không làm việc ở quê anh?”
“Quê tôi không có việc gì cho tôi cả.”
“Anh đi, không có phép của chính quyền địa phương. Anh ở, cũng không thông báo cho chúng tôi biết. Tại sao?”
“Tôi tạm trú, chờ tìm được việc, sẽ xin phép các anh cho ở đây. Nếu không tìm được việc, tôi về quê cũ”
“Láo. Chúng tôi biết anh đang tìm đường vượt biên. Cho anh thời hạn một tuần chuẩn bị rời Nha Trang. Hàng ngày, anh phải lên phường trình diện với chúng tôi, cho đến ngày đi khỏi.”
Trong số những công an xét hỏi, có một gã còn trẻ. Gã này đang theo đuổi tán tỉnh cháu gái tôi. Khi công an ra cửa, gã cố ý đi chậm lại đàng sau, nói nhỏ với cháu tôi.
“Người ta tố chú vượt biên, nhưng không tìm ra bằng chứng. Chú đang bị theo dõi.”
“Người ta” mà gã công an nói, là ai đây? Điểm trúng vào tử huyệt của ta, là người hiểu ta. “Kẻ thù ngồi sau lưng bệ hạ đấy!” Trên đường bôn tẩu, An Dương Vương được rùa thần báo như thế.
Bị tống xuất khỏi Nha Trang, tôi về Sài Gòn tìm đến những bà con thân thuộc. Tất cả đều thờ ơ lạnh nhạt. Trong khánh tận nỗi đời, nhìn rõ mặt trắng đen. Nhắc câu thân tình ân nghĩa cũ, dễ làm người ta khó chịu như coi tên hề diễu dở. Không bám víu vào đâu được, tôi như con chim run sợ trước cơn giông thời cuộc. Thấy công an như thấy bóng hung thần. Sứ giả của chế độ mới, đến đâu là gieo rắc điềm dữ đến đấy. Trong lao đao hốt hoảng, tôi chạy trốn theo đường dây vượt biên lên Kampuchia. Và tại đây, tôi sa vào bẫy của thằng Nu. Sa bẫy thêm lần này, chúng tôi thành trắng tay.
Chỉ còn hy vọng vào chiếc khâu vàng, nhưng không biết nó còn trong bụng, hay đã lọt đi đàng nào?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.