Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 Jun 2026

Thường thì nhu cầu của người viết sách là để cho người khác đọc, chia xẻ những suy nghĩ, quan niệm, tình cảm của mình, với không người cùng thời thì cũng nghĩ là để cho người đời sau, mong trên đời này còn tri kỷ hiểu được mình. Như Cụ Tố Như, không mong gì người cùng thời hiểu duợc mình đã đành, mà sợ ba trăm năm sau cũng không có ai khóc cho ông. Sách đem tặng người ta mở lòng mở dạ tâm sự với người, như mình muốn nói với người, người không muốn nghe, ngoảnh mặt cũng như người được tặng sách không muốn đọc, Phải chăng người ta xem thường sách tặng, như nguyên tắc bất di bất dịch, “người mua sách mới là người đọc sách!”

Một người bạn giáo sư của chúng tôi, là người đang lảm nghề dạy học, không những phải đọc sách trong phạm vi nghề nghiệp của ông mà còn phải đọc sách để trau dồi kiến thức, kẻo sợ như ông thái sư đời Đường, Hoàng Đình Kiên: “Sĩ phu mà ba ngày không xem sách, thi soi gương mặt mũi đáng ghét. nói chuyện nhạt nhẽo khó nghe.” Vậy mà ông cũng phải thú nhận, không đủ thời giờ để đọc hết sách, lớp mua. lớp được biếu tặng, mà phần lớn là sách tiếng Việt. Ngày nay khi ông đã luống tuổi, sách tràn lan từ tủ sách ra chổ làm việc, đến phòng ngủ, phòng khách và tràn đến nhà để xe. Ông cho biểt, rồi cũng đến lúc phải dọn sạch cửa nhà.

Số sách này chắc chắn các con ông, theo ông sang Mỹ từ năm chúng 5. 10 tuổi, gọi là thế hệ 1.1/2 không buồn đọc hay không đọc được, nói gì đến lớp cháu nội, cháu ngoại sinh ra trên đất Mỹ của ông thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Nhiều lúc ông có ý định đem số sách này tặng cho các thư viện tư nhân hay của các hội đoàn, nhưng nghĩ dến việc ông phải ngồi xé từng trang sách có chữ ký tặng của bạn bè quen biết, có cuốn ngày tháng ghi mới tháng trước, có cuốn đã hơn ba mươi năm, tác giả, kẻ còn sống, người đã khuất núi, lòng ông thấy xót xa. Khi ông qua đời, chắc chắn số sách này được nằm trong những cái thùng rác màu lục mang chữ “recyele” để tái sinh thành những trang giấy in những thứ ngôn ngữ khác.

Ở Mỹ này không có tiệm bán sách cũ, cũng không có  hàng sách cũ ở Chợ trời để còn có người đi kiếm sách, mân mê từng trang sách đã ố vàng, bỏ ra mấy đồng bạc để mang cuốn sách về nhà đọc, thì vong linh những tác giả khuất núi cũng ngậm cười. Đây là thời buổi, người ta có thể bỏ ra $200.00 để mua một cái vé đại nhạc hội VIP, ăn mặc đẹp, đi làm tóc, ngồi ở hàng ghế đầu, cười những tràng cười dễ dãi, tiêu phí hết năm sáu tiếng đồng hồ để “vui buồn theo nốt nhạc nổi trôi”, hơn lả vào hiệu sách tìm mua một cuốn sách ưng ý khoảng $20.00 đem về nhà đọc. Sách tiếng Việt ở hải ngoại, thế hệ chữ nghĩa đầy mình bỏ nước ra đi từ ba, bốn mươi năm trước, cũng không buồn đọc sách, trông mong gì lớp trẻ con ngày nay, mỗi tuần học vài giờ Việt ngữ “cô sắc cổ, cò nặng cộ!” Nhưng cũ ng có những nơi khỏng có sách, những nơi có người thèm đọc mà không có sách. Đó là những em biết tiếng Việt trong những “Detention Center” (trại tạm giam) hay cả những nhà tù ở nhiều tiểu bang, thường thì các em xin sách bằng cách tìm đại một vài địa chỉ sau cuốn sách tình cờ các cm đọc được dể viết thư. Đây là việc làm mà  cộng đồng người Việt trên đất Mỹ cũng như các cơ quan tôn giáo nên nghĩ đến.

Cũng có nhiều người thèm sách như các em trong các vùng làng mạc, núi rừng xa xôi bị bỏ quên ở Việt Nam, nhưng khi mà các em phải đi chân đất đến trường, buổi ss1ng bụng đói thì sách vỡ đâu còn ý nghĩa gì nữa!

Hiện nay nhiều thư viện và đại học ở Việt Nam cũng đang cần sách và Việt Nam cũng đang xin sách. Thư viện của Đại Học Trà Vinh ngày 9/10/2011 đã tiếp nhận 15.548 quyển sách tiấng Anh do Tổ chức Foundation de la Cheneliere và Nhà xuất bản Cengage I.earning (Canada) tài trợ. Với số lượng sách lớn gồm các lĩnh vực khoa học xã hội, tự nhiên, ngoại ngữ, công nghệ … Buồn cười là trong danh sách những người mượn sách trả chậm của thư viện này, chỉ có một cuốn sách được mượn về nhà là cuốn English Grammar của một tác giả người Việt. Chế độ muốn trang điểm bằng sách chính là những kẻ đốt sách năm xưa. Theo báo cảo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội CSVN, ngày 26 tháng 6, năm 1976, sách vỡ miền Nam đã bị bọn thắng trận xếp vào hạng “văn hóa nô dịch, lai căng, đồi truy, cực kỳ phản động, những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. ” Nhà văn Nguyễn Văn Lục đã “ước tính số sách bị tiêu hủy, tịch thâu, đốt, hay bán ve chai là khoảng 180 triệu cuốn trên khắp miền Nam.” Chính những cuốn sách bị gắn nhãn “dâm ô, đồi trụy” này của miền Nam sau này dã làm giảu cho họn đầu nậu sách. Trước khí thế quần của đoàn Thanh niên Cộng Sản, tất cả những cuốn sách viết bằng Anh, Pháp, Đức ngữ đều là sách dịch, lầm lẫn hay không thì đã ra tro.

Nếu tôi có quyền tặng sách cho Việt Nam hôm nay, tôi sẽ tặng vài mươi triệu cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư và bả dịch Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh, với điều kiện bắt trẻ em Việt Nam phải học thuộc lòng trong chương trình tiểu học và hai năm đầu trung học, bỏ hẳn, một cách tuyệt đối không khoan nhượng những gì nói về Đảng về Hồ Chí Minh, may ra tương lai đất nước này mới khá lên được. Còn bạn, nếu tặng sách cho các thư viện trong nước bây giờ, bạn sẽ tặng loại sách gì? Sách “học làm người” chăng?

Mật khu

Thơ Nguyễn Bắc Sơn

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé sông Mao phá phách chơi

Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng

Còn ngại hành quân động Thái An

Cát lún bãi mìn, rừng lưới nhện

Mùa khô thiếu nước lính hoang mang

Đêm nằm ngũ võng trên đồi cát

Nghe súng rừng xa nổ cắc cù

Chợt thấy trong long minh bát ngát

Nỗi buồn sương khói của mùa Thu

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé sông Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn

Mặt trời thoáng đã ở phương Tây

Nếu ta lỡ chết vì say rượu

Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé sông Mao phá phách chơi

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn

Mặt trời thoáng đã ở phương Tây

Nếu ta lỡ chết vì say rượu

Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm

Vơ vẫn trong rừng động Thái An

Miền Bắc sương mù giăng bốn quận

Che mưa dùm những đám xương tàn.

Miền Bắc sương mù giăng bốn quận

Che mưa dùm những đám xương tàn

Tuy Hòa ngày thất thủ 1/4/1975

hung-viet.org

Donry Nguyễn

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Cả một quân đoàn, binh tướng mạnh,

Lịnh truyền triệt thoái, vội lui binh.

Cao nguyên bỏ ngỏ, thì duyên hải,

Cũng khó mà mong giữ vẹn mình.

Dân bám chen chân đoàn quân rút,

Quân hứng đạn thù bảo vệ dân.

Giặc theo truy sát, tha hồ giết,

Tắm máu dân lành chịu chết oan.

Đường 7 than ôi, tràn huyết lệ,

Dấu vết kinh hoàng đẫm sử kinh.

Đến nay, cỏ lấp, mồ hoang phế,

Đóm lửa ma trơi vẫn hiện hình.

Quân đến Tuy Hoà xơ xác lắm,

Mười phần, mất bảy chỉ còn ba.

Tướng ở trên trời, quân dưới đất,

Phố phường hỗn loạn tiếng rên la.

Anh lính lạc hàng đi ngơ ngác

Súng ống tan hoang, rắn mất đầu.

Sóng vỗ khơi xa, mờ chiến hạm

Lực cùng, sức cạn, biết về đâu.

Chưa kịp đánh nhau, mà buông hết,

Áo trận, giày đinh vứt ngập đường.

Hỡi ơi, tướng giỏi, đoàn quân mạnh

Phút chốc tan hàng coi thảm thương.

Có kẻ đâm đầu lao xuống bể,

Trầm mình, tránh nỗi nhục sa cơ.

Có kẻ ngậm ngùi cam nuốt lệ

Máu chảy, trời ơi, đỏ rợn cờ.

Thôi hết, Tuy Hoà, xin vĩnh biệt,

Đường về đâu nữa để trông mong.

Ngày mai cô phụ, men bờ nước …

Lật xác người lên, nhận mặt chồng!

Thôi em, chớ có nhìn nhau nữa,

Ta hồ, còn sống cũng bằng không.

Thành bại, đâu nao lòng chiến sĩ,

Chỉ tiếc chưa đền nợ nước xong.

•

Cả một quân đoàn, binh tướng mạnh.

Lại vào tử lộ để lui binh.

Lui binh hỗn loạn, đành tan xác

Bỏ mặc lê dân, kết liễu mình.

•

Tháng tư-ngày một-Tuy Hoà-mất-

Tháp Nhạn cúi đầu, đứng lặng câm.

Có phải tai trời gieo ách nước

Mới khiến cơ đồ đổ xuống sông!

Donry Nguyễn

Tâm cảnh ngày Thu

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 31/10/2018

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Google photos

Năm nay giao mùa đến trên vùng đất Flevoland hơi trễ, giữa tháng Mười mới thấy lá trên cây ngã màu vàng. Tôi sống và lớn lên ở miền Nam nước Việt Nam. Quê tôi mùa mưa nước ngập tràn bờ, mùa nắng khô queo làm cho đất nẻ. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tôi có nghe qua nhưng dạo đó tôi hổng hình dung ra được. Sang Hoà Lan định cư nơi vùng đất Flevoland này, sau một vài năm tôi mới cảm nhận được mùa màng. Trong những năm gần đây tôi mới nhận ra, mùa thu là mùa để lộ từng bước đi của thiên nhiên, cho tôi mở rộng tầm mắt và nhìn mọi việc xảy ra trước mặt rõ ràng hơn. Tôi cảm nhận được thời gian đi chầm chậm, ánh nắng dịu dàng, gió nhè nhẹ hơi lành lạnh phả vào người man mát. Những chiếc lá vàng rơi lác đác trên dãi cỏ xanh và trên cành cây lá lao xao theo từng luồng gió phớt nhẹ. Thong thả bước trên con đường rừng quen thuộc, thỉnh thoảng vương vai một cái, hít thở bầu không khí trong lành. Bất chợt tôi nhận ra những điều rất bình thường giản dị trong đời sống mà từ lâu tôi không để tâm tới.

Đối với tôi mùa thu là thời gian tuyệt vời để hưởng thụ sự tươi sáng, vui vẻ, nhẹ nhàng trong cuộc sống. Bất cứ ai, thuộc về hạng người nào đi nữa, cho dù với cuộc sống bận rộn hay nhàn nhã gì thì cũng có thể học hỏi khôn ngoan bằng cách nhìn những hiện tượng thiên nhiên từ ánh sáng và bóng tối của mùa thu. Trong đời tôi luôn khát khao tìm kiếm và học cách đối phó với những cảm xúc khó khăn. Tôi loay hoay tìm kiếm những thứ bên ngoài, tệ hại hơn nữa còn dựa vào những thiết bị máy móc điện tử, chính những thứ này đã làm xao lãng bản thân và trì trệ tâm hồn. Một sáng cuối tuần hay trong những giờ rảnh rỗi, ngồi lướt hết trang này tới trang kia trên mạng, chat cùng lúc hai ba người, rồi day qua ôm điện thoại nói chuyện hàng giờ. Thử hỏi như vậy thì còn thời gian đâu đi dạo để nghe được tiếng gió rạt rào xuyên qua khu rừng, hoặc tiếng chim rời rạc thì thào như tâm sự trong những cành cây, nhìn được những giọt sương óng ánh trên đầu ngọn cỏ dần tan theo hơi nóng mặt trời. Tâm trí đâu để quan sát cành lá xanh trên cây đổi màu vàng cam và vài loài cây gì đó trở nên màu bầm đỏ.

Mùa thu làm cho không gian vừa vặn, ánh sáng chan hoà và có ý nhắc nhở chúng ta nên chú tâm đến mặt tối cũng như mặt sáng của cuộc đời. Cho dù những cảm xúc suy nghĩ có khó khăn, thì ánh sáng hoà bóng tối mùa thu sẽ cân bằng, hoá giải. Phần đông trong chúng ta bị những thiết bị điện tử phong toả, che chắn hết những cảm xúc tích cực, để cho những cảm xúc tiêu cực mỗi ngày một chồng chất lên, đến đỗi gây mất ăn, thiếu ngủ, tinh thần bị mù mờ, thân thể mệt mỏi và đớn đau. Phiền cho mình đã đành, còn lây phiền qua những người thân. Vậy thì tại sao ta không bỏ hết những thứ phiền toái đó để cho những cảm xúc tích cực đến với ta, cho ta được tự do ngắm sương mù hạ thấp ngang tầm ngọn cỏ và vui hưởng cảnh buổi sáng thanh bình.

Bên ngoài yên bình thì bên trong ta cũng được bình yên. Để thưởng thức mùa thu thể hiện bản chất tuyệt vời giống như một phụ nữ duyên dáng bước vào tuổi trung niên. Tôi rất thích đi rừng vào ban sáng với con chó nhỏ, khi vô tới rừng tôi tháo dây cho chó được tự do. Tôi thì thong thả bước chậm, nhẹ trên con đường ẩm ướt, dưới những tàn cây sương còn đẫm. Người và thú rất tự do, chó tung tăng trên bãi cỏ xanh, thỉnh thoảng lăn người trên cỏ. Tôi nhìn thân cây chuyển màu, trước kia tôi chỉ thấy lá vàng mùa thu, nhưng giờ đây tôi thấy được thân cây trở nên già dặn, trái cây cũng rụng chớ hổng phải chỉ có lá vàng rơi, một sự buông xả toàn vẹn, sự đổi thay nhẹ nhàng và sâu sắc. Thường thì chúng ta tự để mình bị vướng mắc trong cuộc sống, sự kích động trong tâm tư, tình bạn, tình yêu và người yêu… những mối quan hệ mà ta biết được từ sâu thẳm trong tâm rằng, tất cả rồi cũng chấm hết. Những ý nghĩ làm cho ta mất nhiều sức khoẻ: những thứ nhỏ nhặt như quần, áo, dép giày ta mua cho nhiều mang và mặc không hết. Những thức ăn mua dự trữ trong tủ lạnh và tủ đông mà không ăn, để dành tới khi hết hạn ta đem liệng bỏ. Những điều mà trước kia ta tưởng như rất cần, thiếu nó ta sống hổng được, ta mang nó theo suốt ngày bận rộn và ta ôm ấp nó suốt đêm trong giấc ngủ. Bây giờ hổng cần tới nữa, nó đã thật sự rơi đi cũng như những chiếc lá vàng và trái chín rụng vào cuối mùa thu. Chúng ta cũng nên tin rằng sau một thời gian biến chuyển, chỉ tồn tại lại hột giống, lá vàng và vỏ trái rụng sẽ mục nát, chúng trở thành phân ủ những hột giống suốt mùa đông, rồi những hột giống sẽ nảy mầm ra cây non, dần dà lớn lên thành cây xanh vào mùa xuân. Những muộn phiền trong ta cũng vậy, nó sẽ rơi rụng đi nhường chỗ cho những điều tốt đẹp, đem lại cho ta bình an và vui vẻ hơn. Khi ta vui vẻ và bình an thì ta có thể kiểm tra lại chính thân và tâm mình, xem ta có thể làm được những gì. Bắt đầu với những thứ nhỏ nhặt thôi như dọn dẹp nhà cửa, trồng hoa trong vườn, sắp xếp gọn gàng tủ áo quần và giày dép. Xem lại tủ lạnh và tủ đông… Làm việc một cách thong thả, thoải mái, nhẹ nhàng…

Mùa thu vui hay buồn?

Mùa thu cho ta nhiều chỗ êm đềm để thư giãn tâm hồn. Sáng, trưa, chiều và ngày với đêm, bao cảnh vật đổi thay mau chóng, làm cho tâm hồn ta trải rộng. Không một mùa nào trong năm đem đến cho ta nhiều xúc cảm tâm hồn như mùa thu. Nói ra điều này nghe như xúi mọi người nên dừng lại moi thứ, quên những nhiệm vụ lớn lao trong cuộc đời. Không phải vậy đâu, nó rất là tự nhiên như chuyện đến và đi của bốn mùa. Nếu ai đó thấy mình cũng đang tìm kiếm sự xao lãng để tránh mặt tối của thân, tâm thì hãy đi vào thiên nhiên của mùa thu. Đi với chính mình như đi với người thân, bạn bè hoặc là đi với người yêu. Có thể ban đầu ta còn bỡ ngỡ, vì ta chưa bao giờ làm điều này trước đây nên ta ngại ngùng. Tuy trông bề ngoài có vẻ cô độc, nhưng hơn lúc nào hết, ngay trong lúc này, giữa khi ánh sáng và bóng tối được cân bằng, thì trong ta hiện rõ một người nữa, con người ấy rất đáng yêu, sẽ đồng hành với ta và cho ta hổng thấy cô đơn. Điều quan trọng là nên chọn một môi trường thích hợp mà ta thấy an toàn, thoải mái và có đôi chút lãng mạn. Có người thích bãi biển cát trắng, cát vàng, có người yêu khu rừng hoặc thích công viên giữa thành phố, trong thành phố ta có thể thưởng thức một món ngon trên đường đi và những con người của mùa thu luôn luôn trầm lắng. Nếu những suy nghĩ và cảm xúc đến thì ta thong thả để cho chúng được tự do, chỉ nhìn thôi, không nói gì cả, không xét đoán gì hết, thì ta sẽ bắt gặp những cảm xúc tuyệt vời lung linh như những giọt sương mai trên ngọn cỏ hoặc sống động nhưng dịu dàng như những chiếc lá trên cành lao xao cùng luồng gió nhẹ.

Có người nào đó thấy cảnh thu sang với tâm trạng không vui, liền gào lên: “Ồ, một tín hiệu buồn bã!” Để rồi khoá mình vào sự buồn bã ấy, thì làm sao nhìn ra những vẻ đẹp lãng mạn và nên thơ trước cảnh thu về. Quả thật: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Dronten 22-10-2018

Nữ Thiếu Tá Anne Pham (gốc Việt), Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Post on 20/6/2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Thiếu tá Anne Pham, Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada (hình của linkedin.com).

Nữ Thiếu tá Anne Pham là Sĩ quan pháo binh Lục quân Canada, bà được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy phó hoả lực và hiệu quả thuộc Quân đoàn 18 nhảy dù (XVIII Airborne Corps), Lục quân Hoa Kỳ, tại Fort Liberty, North Carolina trong chương trình trao đổi Sĩ quan đối tác Liên quân/Đồng minh từ tháng 9 năm 2024. Bà thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp, và hoàn tất Văn bằng Cao học khoa học quân sự và nghiên cứu tác chiến tại Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (CGSC) ở Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2024. Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ đào tạo huấn luyện và phát triển các Sĩ quan chỉ huy, các nhà lãnh đạo cho các hoạt động đa lãnh vực (MDO) và hoạt động liên hợp toàn lãnh vực (JADO) trong môi trường tác chiến liên hợp, liên ngành, liên Chính phủ và đa Quốc gia (JIIM), thúc đẩy nghệ thuật và khoa học của binh nghiệp nhằm hỗ trợ các yêu cầu tác chiến của Lục quân.

Thiếu tá Anne Pham có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp hỏa lực Liên quân đa Quốc gia, xác định mục tiêu, truy đuổi mục tiêu và tiêu diệt mục tiêu, tối ưu hóa từ cảm biến đến pháo thủ, và xây dựng các kế hoạch tác chiến cho các năng lực mới ở cấp Quân đoàn. tập ​​trung vào việc tích hợp các hoạt động đổ bộ đường hàng không, và các công cụ hỗ trợ ra quyết định vào phương pháp nhắm mục tiêu, hiện đại hóa cách lập kế hoạch và thực hiện hỏa lực. Bà hiện làm việc trong Quân đội Hoa Kỳ, với các đối tác liên quân/đồng minh và ngành công nghệ quốc phòng để thu hẹp khoảng cách trong tác chiến.

Thiếu tá Anne Pham gia nhập và phục vụ Lực lượng Lục quân Canada (Forces armées canadiennes) tứ tháng 1 năm 2006, bà được chỉ định phục vụ các đơn vị được ghi nhận từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 11 năm 2010 bao gồm: Sĩ quan chỉ huy Đại đội yểm trợ, Trung đoàn Truyền tin 735 tại Winnipeg, Manitoba; Nhiệm vụ tiếp theo, bà là Sĩ quan phụ tá chỉ huy Phi đoàn Truyền tin 745 tại Edmonton, Alberta; Từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010, bà thụ huấn tại Trung tâm Huấn luyện tác chiến, Trường pháo binh Hoàng gia Canada tại Upper Gagetown, New Brunswick, Canada; Sau đó, bà được chỉ định làm Pháo đội trưởng, Pháo đội E, Trung đoàn 1, Pháo binh Kỵ binh Hoàng gia tại căn cứ quân sự Shilo.

Thiếu tá Anne Pham (hình của Trung sĩ Gianna Sulger ngày 13/05/2025, dvidshub.net)

Từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Đội trưởng, Đội kiểm soát tuyết lở thuộc Lực lượng đặc nhiệm Liên hợp Thái Bình Dương (PALACI) tại Rogers Pass, British Columbia, bà chỉ huy và quản lý một đội gồm 40 nhân viên, phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia về tuyết của Cục công viên Quốc gia Canada, nhằm bảo đảm an toàn cho đường cao tốc xuyên Canada và đường sắt xuyên Canada, cho phép tự do di chuyển và tránh làm gián đoạn tiến trình kinh tế. Từ tháng 3 năm 2011, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan phụ tá hành quân thuộc Trung đoàn 1 pháo binh Kỵ binh Hoàng gia Canada tại căn cứ quân sự Shilo, hỗ trợ Sĩ quan tác chiến trong việc phối hợp và đồng bộ hóa tất cả các hoạt động giữa các bộ phận và đơn vị trực thuộc. Bà chịu trách nhiệm hỗ trợ lập kế hoạch tác chiến cho đơn vị, thông tin liên lạc, soạn thảo hướng dẫn và mệnh lệnh, giám sát việc thực hiện các cuộc tập trận và điều khiển hoạt động di chuyển của đơn vị pháo binh đến tháng 3 năm 2013.

Từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan quản lý truyền tin Lực lượng Đặc nhiệm NATO, Phái bộ huấn luyện đóng góp của Canada trong Khối NATO tại Kabul, Afghanistan. Bà quản lý các hệ thống thông tin, kho lưu trữ và tài sản trong Lực lượng đặc nhiệm. Lập kế hoạch và thực hiện việc trao đổi thông tin giữa các Quốc gia Liên minh, thu thập thông tin cho Trung tâm điều hành tác chiến, Sĩ quan liên lạc an ninh căn cứ và Lực lượng phản ứng nhanh, và chỉ huy việc thu thập thông tin.

Sau nhiệm kỳ phục vụ tại Kabul, Afghanistan, Thiếu tá Anne Pham được chỉ định phục vụ tại các đơn vị: Tháng 3 năm 2014, Sĩ quan huấn luyện Pháo đội B, Trung đoàn 1 Pháo binh Kỵ binh Hoàng gia Canada tại Shilo, Manitoba, Canada; Tháng 4 năm 2015, Sĩ quan, Quan sát viên tiền tuyến, Trung đoàn 1 pháo binh kỵ binh Hoàng gia Canada tại Shilo; Tháng 8 năm 2016, Sĩ quan Kế hoạch Quản lý thông tin, Bộ Chỉ huy tác chiến liên hợp Canada tại Ottawa, Ontario.

Tháng 5 năm 2019, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Phó phòng tác chiến thông tin Liên Hiệp Quốc MINUSMA, Lực lượng đặc nhiệm BAMAKO tại Mali. Điều phối các chức năng tình báo, tác chiến và lập kế hoạch nhằm tăng cường uy tín cho Phái bộ đa chiều tích hợp của Liên Hiệp Quốc vì ổn định tại Mali, MINUSMA bằng cách sử dụng các phương diện vật lý, thông tin và nhận thức áp dụng cho địa hình con người.

Tháng 3 năm 2022, Thiếu tá Anne Pham được bổ nhiệm làm Sĩ quan chỉ huy Liên đoàn pháo binh thuộc Lực lượng hiện diện tiền tuyến tăng cường của khối NATO tại thành phố Ādaži, Latvia. Bà chịu trách nhiệm về huấn luyện, duy trì, khả năng tương tác và sẵn sàng chiến đấu của một Liên đoàn pháo binh đa Quốc gia bao gồm các khẩu đội pháo từ Canada, Tây Ban Nha, Slovenia và Montenegro.

Sau nhiệm kỳ công tác trong Khối NATO, tại Ādaži, Latvia. Tháng 8 năm 2021, Thiếu tá Anne Pham được chỉ định làm Sĩ quan phụ tá điều hành cho Tư lệnh, Liên đoàn chuyển tiếp Lực lượng vũ trang Canada tại Ottawa, Ontario, Canada; Từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023, bà làm Sĩ quan chỉ huy Pháo đội R, kiêm Sĩ quan yểm trợ hoả lực Tiểu đoàn, Trung đoàn 5 Pháo binh hạng nhẹ Canada tại Valcartier, Qc.

Từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024, Thiếu tá Anne Pham thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp Trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (CGSC) tại Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ; Và hiện nay, Chỉ huy phó hoả lực và hiệu quả thuộc Quân đoàn 18 nhảy dù (XVIII Airborne Corps), Lục quân Hoa Kỳ, tại Fort Liberty, North Carolina trong chương trình trao đổi Sĩ quan đối tác Liên quân/Đồng minh Canada và Hoa Kỳ.

Thiếu tá Anne Pham “giữa” và các Sĩ quan Quân đoàn 18 nhảy dù Lục quân Hoa Kỳ (hình của linkedin.com)

Thiếu tá Anne Pham hoàn tất các Văn bằng: Cao học khoa học quân sự và nghiên cứu tác chiến, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College), tháng 6 năm 2024; Văn bằng Cử nhân khoa học môi trường, xây dựng, Trường Đại học Manitoba; Chuyên viên nhiếp ảnh tự do (Freelance photographer); Văn bằng Sư phạm Piano căn bản của Nhạc viện Hoàng gia, The Royal Conservatory of Music, năm 2002; Đai đen huấn luyện võ thuật Thái cực đạo, Liên đoàn Taekwondo Thế giới, các hoạt động và hội võ thuật: Trụ sở Taekwondo Thế giới, Kukkiwon – Seoul, Nam Hàn, năm 2001.

Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong các đơn vị Hải, Lục và Không quân Hoàng Gia Canada không nhiều như Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ! nhưng nhiều hơn Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong Quân đội Hoàng Gia Úc, theo tài liệu sưu lục. Một số Sĩ quan cao cấp Canada gốc Việt được ghi nhận bao gồm: Đại tá Thinh Nguyen, Không quân Hoàng Gia Canada; Đại tá Thomas Nguyen, Bác sĩ quân Lục quân, Trung tá Jack P Nguyen, Chỉ huy trưởng Căn cứ Lực lượng quân sự Canada (CFB) Shilo; Nữ Trung tá Thao Nguyen, Bác sĩ Bệnh viện dã chiến 202, Lục quân trừ bị; Nữ Hải quân Trung tá Giang Nguyen, Bác sĩ quân y Hải quân Hoàng Gia Canada; HQ Thiếu tá Harrison Nguyen-Huynh, Hạm trưởng Tiềm thuỷ đĩnh HMCS Windsor, Hải quân Hoàng Gia Canada; Thiếu tá Huynh Phan, Sĩ quan phụ trách Phi đoàn 26 vận tải, và Chỉ huy phó, Trường huấn luyện tác chiến, Lữ đoàn 38 Canada (CBG); Thiếu tá Minh-Thi Vo, Sĩ quan Lục quân Canada. Và còn rất nhiều Sĩ quan gốc Việt khác đang phục vụ trong Lực lượng quân sự Canada chưa cập nhật hết được.

Nguồn: linkedin.com; dvidshub.net; cbc.ca/news.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Tôi về đến nhà người em, vào lúc nửa đêm.

Em tôi ngạc nhiên: “Ủa? Sao anh trở lại?”

Tôi mệt mỏi: “Có đi đâu mà trở lại?”

“Tối hôm qua, bà thiếu tá đến trao thư, và thông báo anh đã lên ghe bình yên. Em coi thư, đúng là mật mã và chữ viết của anh. Em trao vàng cho bà rồi.”

Tôi sực tỉnh, giậm chân kêu trời không thấu. Biết gặp phải lưu manh cướp cạn, năm lần bảy lượt tôi đến nhà bà thiếu tá, đòi lại sáu cây vàng. Nhưng bà luôn luôn đi vắng.

Một hôm, tình cờ gặp bà trên phố. Tôi lớn tiếng đòi bà phải trả lại vàng.

Bà bảo: “Vàng đã chia năm xẻ bảy rồi. Không thể gom lại được. Ông chờ gọi đi chuyến sau. Tôi khuyên ông đừng nên làm rùm beng. Công an biết được, nó còng đầu cả lũ.”

Tôi về, thuật cho vợ nghe trường hợp gặp bà thiếu tá.

Vợ nóng mặt: “Tố cáo bả và đồng bọn.”

Tôi giải thích: “Tố cáo bả và đồng bọn lường gạt, thuộc tội hình sự, chỉ bị tù vài tháng. Còn mình vượt biên, bị khép tội phản quốc, thuộc tội chính trị. Tội chính trị ở tù nhẹ lắm cũng vài năm.”

Vợ uất hận, gầm lên: “Tức chết… đi!”

Tôi nói: “Tức cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ mất vàng, còn lao đầu vô tù?”

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jun 2026

Bài học về “tự ái dân tộc” vỡ lòng đầu tiên mà tôi đã đọc được thời niên thiếu, là câu chuyện “Lòng yêu nước của em bé thành Padoue” trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng” do nhà giáo Hà Mai Anh dịch thuật.

Em bé người Ý trong câu chuyện là một em bé nghèo bị bán cho một gánh xiếc, lưu lạc sang đến Tây Ban Nha, đã được tòa Lãnh Sự Ý tại đây gửi trên con tàu biển để trở lại quê hương. Trong chuyến đi, em đã chịu ơn nhiều du khách ngoại quốc đã giúp đỡ cho em tiền bạc, nhưng trong câu chuyện của họ, khi những người này, đã từng có những chuyển đu lịch đến Ý, bắt đầu phê phán những điều xấu xa của nước Ý, thì cậu bẻ này nổi giận, ném trả tất cả đồng tiền dã nhận được từ những người khách lên bàn của họ đang ngổi và hét lớn:

“Cầm lại tiền của các người. Ta không thèm nhận của bố thí của những kẻ đã lăng mạ nước ta!”

Vậy thì đứa nào đã phê phán, chê bai nước ta, chớ nhận viện trợ của chúng!

Thông thường chúng ta thích nhận lời khen, nhưng lời chê thì khó lọt tai. Ông Khổng Tử cũng từng nói  “Trung ngộn nghịch nhĩ.” Dân gian Việt Nam thì công nhận: “Sự thật mất lòng!” Ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, bổng dưng mang hoạ vì đã dám dụng đến Việt Nam khi ông viết: Dù phồn thịnh lên, thì ẩm thực ở Việt Nam vẫn khác thường!” Sau chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông cho rằng: “Chẳng cần ở Việt Nam lâu bạn cũng có thể nhận thấy một điều bất thường. Bạn không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy sóc leo trèo trên cây hay chuột chui rúc trong các đống rác. Không thấy chó ở ngoài đường”. Ông Loel Brinkley đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc. chim chóc và chuột bọ. “Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngac nhiên khi biết: chúng bị ăn thịt cả rồi,” Nhận xét của Loel Brinkley gây công phẩn trên các diễn đàn mạng. Nhiều người chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc”. Lản sóng phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí, Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai.. “

Nhìn chung, Joel Brinkley nhận xét khá vội vã khi cho rằng người Việt có thói quen ăn thịt nên họ hung bạo hơn các dân tộc láng giềng chủ yếu ăn cơm. Nên biết rằng qua nhiều năm chiến tranh, người Việt, nhất là dân miền Bắc, suốt năm không có một miếng thịt mỡ bỏ miệng, chủ yếu là khoai, sắn, ngô … Dân Thái Lan chủ yếu ít sát sanh, ăn chay, chó hoang chạy đầy đường, nhưng cực kỳ tàn bạo qua các hành động hải tặc trong thời gian người Việt phải ra đi lánh nạn Cộng Sản. Dân Mễ Tây Cơ ăn bắp nhưng dám chặt đầu địch thủ, móc xác người trên cầu như treo động vật trong lò mỗ. Câu nói của ổng chỉ đúng khi áp dụng vào động vật, hung dữ như cọp, beo là giống ăn thịt, hiển lành như dê, thỏ, trâu bò là loài ăn cỏ. Các tổ chức bảo vệ dộng vật hoạt động ở Việt Nam như ông Jake Brunner cho rằng: “Việt Nam không ghê sợ như nêu trong bài báo”.

Nhưng nghĩ cho cùng, loel Brinkley có những nhận xét “độc lập” của riêng ông và những nhận xét này hẳn có phần đúng. Bà Naomi Doak của tổ chức bảo vệ động vật Traffic thì có câu bảo chữa khá đễu:

-Việt Nam còn nhiều chim chứ, nhưng chúng ở trong lồng; cũng có nhiều chó nhưng chúng là vật nuôi.”

Cứ vào các sân chùa ở Việt Nam, thấy chim nhốt trong lòng, nhưng nhận xét nhốt chim để ăn thịt là sai. Đạo Phật khuyến khích việc phóng sanh, nên nhiều người mua các lồng chim này đem đi thả, nhưng một số người khác, lại bắt những con chim này, đem bán trở lại. Càng có nhiều người mua chim phóng sanh, thì càng có nhiều người bắt chim đem đi bán. Nói về chó: Việt Nam ăn thịt chó, chắc không bằng người Đại Hàn. Nhưng Đại Hàn không có nghề di bắt chó của người khác, không có cảnh người bắt chó bị giết một cách dã man, vô luật lệ. Không có người thèm ăn thịt chó, sao lại có cảnh con người giết nhau vì chó. Có lẽ khoai sắn lâu ngày, nên bay giờ con người thèm ăn, bò heo là chuyện thường. Điều đáng chú ý mà báo chí trong nước cũng không ngớt lời bàn tán, là con người hiện nay quả chú ý đến miếng ăn, nên luôn đi tìm của ngon vật lạ, nào mễn, nào nhím, nào cheo, nào rùa, nào rắn, nào trăn, nào nai, nào beo, nào trút.. Ăn để tỏ ra mình là nhiều tiền của, là đại gia, thích tìm cái lạ. Người nghèo ít tiền thì ăn châu chấu, dế. ve, cóc, nhái, nhộng, sâu … Ăn tiết canh heo.

tiết canh vịt là chuyện xưa, nay phải uống máu rắn, ăn tim rắn. Rượu thì phải rượu rắn, ruợu rết, rượu bào thai

Trong một bải tạp ghi trước đây tôi đã có ghi lại chuyện ông Juson Picard, một người Mỹ kể chuyện, sau một thời gian du lịch ở Việt nam về, đã thú nhận vì tò mò, đã có lần anh “chén” thịt chó. Lúc đó bà mẹ đang ngồi chơi với con chó tên KC, cả hai đều nhìn ông với vẽ khiếp sợ. Sau đó bà mẹ Picard đã bảo ông với giọng cương quyết: “Jason, con lại dây xin lỗi KC đi!”. Ông giáo sư Stanford, Joel Brinkley là người Mỹ, ông có quyền dị ứng với thói quen ăn thịt chó của người Việt, sao lại trách ông. Ông Joel Brinkley nhận xét rằng “Quỹ động vật hoang dã xếp Việt Nam vào dạng quốc gia gây hại cho thiên nhiên hoang dã nhất thế giới!” có lẽ chẳng mấy sai, nếu biết rằng dân Việt nam đang truy lùng các động vật hiếm để cung cấp cho các quán nhậu, cho các đại gia và viên chức chính quyền đãi đằng, giao tiếp, mọi người đều thích chơi trội và thích của lạ. Trong khi nhiều vị “yêu nước chân chính” lên án, nhục mạ ông Joel Brinkley, thi chính báo Lao Động trong nước số xuất bàn ngày 30/8/2012 đã ghi nhận một sự thật:

-Trong những năm gần dây. Việt Nam nổi lên là điểm tập kết, chuyển tiếp và tiêu thụ động vật hoang dã trái phép của châu Á. Thực trạng trên đã làm cho sự đa dạng sinh học bị đe dọa, một số loai dộng vật quý hiếm đang đối diện với nguy cơ bị tuyệt chủng. Hơn 147 loài dộng vật hoang dã ở trên cạn, 40 loại côn trùng, 90 loại bướm và hàng trăm loại thực vật khác đang bị khai thác và buôn bán ở Việt Nam. Đặc biệt, có ít nhất 37 loại dộng vật hoang dã đang trên đà bị lận diệt. Hiện tại ở Việt Nam có 74 loại thú, 26 loại chim bị suy giảm mạnh về số lượng do thói quen săn bắt động vật để làm thức ăn, làm cảnh và thuốc chữa bệnh, Ngoài ra, do thu lợi từ việc buôn bán động vật nên nhiều người dân săn bắt theo kiểu tận diệt, tận thu để bán cho các nhà hảng hoặc bản sang Trung Quốc. Theo đánh giá mới đây của Tổ chức Theo dõi tình trạng buôn bán động vật hoang dã quốc tế (TRAFFC), Quỹ Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (WWli) thì Việt Nam được liệt vào danh sách một trong những quốc gia có số lượng tội phạm buôn bán động vật hoang dã lớn nhất: là quốc gia tiêu thụ sừng tê giác nhiều nhất thế giới, điểm nóng về buôn bán và sử dụng mật gấu, buôn bán ngà voi. Việt Nam

cũng là quốc gia nhận thẻ đỏ trong việc bảo tồn tê giác, hổ.” (hết trích)

Trên đây là những điều không phải là dân du lịch, người qua đường hay bọn thù nghịch với Việt Nam “bươi

móc” mà chính báo đảng tự thú nhận. Phản ứng quá đà với nhận xét của Joel Brinkley là “tự ái dân tộc” không phai chổ. Nhiều người đã chê giáo sư dốt, đòi Stanford cách chức ông, bắt ông xin lỗi, hay rút bài của ông xuống, y như Việt Nam đã hành xử với đảng viên của họ, Họ còn kết tội ông là “kỳ thị chúng tộc,” “nên ra

khỏi ngành giáo dục.” Giá mà ông ca tụng dân Việt Nam hạnh phúc đứng vào hạng ba thế giới, dẫn đầu cả Mỹ, Canada. Úc … thì người Việt dã công kênh ông lên và gọi ông là “người bạn tốt.”

Nhà văn Edmondo De Amicis dạy trẻ con phải có tự ái dân tộc, nhưng không có chỗ nào dạy con người ta phải biết hổ thẹn vì những xấu xa của đất nước mình. Yêu tổ quốc, căm giận, biều tình lên án bọn xâm lăng đất nước mình, mà bị chính quyền, đàn áp, bỏ tủ, đất nước ấy có đáng hổ thẹn không? Đòi hỏi quyền làm người, nói lên sự thật, là hành động chống phá tổ quốc, sự thật ấy có đáng xấu hổ không. Phải biết hổ thẹn vì những khiếm khuyết của đất nước mình, biết sửa sai may ra tương lai đất nước mới khá lên được.

Nhà tư tưởng Tuân Tử có nói: “Người chê ta mà chê phài là thầy ta. Người khen ta mà khen phải là bạn ta. Những kẻ vuốt ve nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy!”

Mà này giáo sư Joel Brinkley, ông nên đừng bao giờ trở lại Việt Nam nửa, không khéo có ngày ông lại bị kết vào tội “lực lượng thù nghịch, tuyên truyền chống phá nhà nước” thì khó mà chống đỡ!

Đưa bạn về

Thơ Đinh Tường

Hoàng Kao phổ nhạc

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Mày bỏ cuộc chơi sao sớm quá

Khi mà mái tóc vẫn còn xanh

Chiến trường khốc liệt đầy bom pháo

Để lại mày đây dạ trắng đầy

Rừng sâu đạn giặc cày tơi tả

Kiếm tạm làm đòn một khúc cây

Cột chặt chân tay treo lủng lẵng

Gánh đi lúc lắc tội thân mày

Sống chết lính dù không bỏ bạn

Bông băng chẳng đủ biết làm sao

Từng giòng máu đỏ còn rịn rịn

Thấm ướt nhung y đẫm chiến bào

Nếu có phóng viên nào chụp được

Hình này đăng báo cũng đành thôi

Sa trường ai biết đời trai trẻ

Lính chiến ra đi bất phản hồi

Đất nước còn mịt mù khói lửa

Mày đi rồi sẽ tới phiên tao

Bây giờ đạn dược không đầy đủ

Chỉ đành cầm giá chớ cách nào!

Ráng chút nửa thôi về với mẹ

Ngày xưa mày khóc mẹ ru hơi

Bây giờ mẹ khóc đời con trẻ

Ôm xác con mà nước mắt rơi

Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông

Bao nhiêu năm rồi chưa ráo lệ

Khóc bao tử sĩ chết oai hùng

Hãy yên nghĩ, bạn của tôi

Chúng tôi sẽ đưa anh về nhà

Về với người mẹ đang mong con

Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông.

Tạ lỗi với Kontum

hung-viet.org

Donry Nguyễn

19/9/ 2025

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Tháng ba trấn thủ đồi Eo Gió,

Đại bác chỉa nòng hướng Ngô Trang.

Chờ giặc xung phong là trực xạ

Giữa cảnh trùng vây núi bạt ngàn.

Hào sâu còn cả Liên đoàn 6

Lính Biệt động quân áo cọp rằn.

Lăm lăm phòng tuyến chờ lâm trận

Quyết một phen này với Bắc phương.

Bỗng có lệnh truyền quân triệt thoái

Xếp càng, móc súng, đạn lên xe …

Pháo binh cản hậu đi sau chót

Nhắm hướng Pleiku kéo rốc về.

Lui quân, lòng lính không vui được,

Chưa đánh, thu binh chí khí hèn.

Anh bạn nhìn quanh cay tròng mắt …

Tay vàng khói thuốc, biệt biên cương!

Biên cương từng thấm bao xương máu,

Những lớp trai hùng giữ núi sông.

Sá gì sống chết mà vương vấn,

Như uống vừa xong chén rượu nồng.

Xe qua lắt lẻo quanh đồi núi,

Khói quyện buôn làng đen mắt nai.

Cô em gái Thượng coi buồn lắm …

Tựa vách nhà sàn khóc vẫy tay.

-“Mày nói Quân Dân tình Cá Nước

Bây giờ chẳng lẽ mày hết thương?

Cái bụng tao buồn không muốn hỏi,

Ai sẽ vì dân giữ ruộng vườn?”

-Thưa em, chớ trách đau lòng lính,

Mệnh lệnh, quân nhân phải chấp hành.

Ra đi mang cả tình Kinh-Thượng

Hẹn ngày trở lại hết đao binh.

***

Nửa thế kỷ qua, đời xô mãi …

Người lính năm xưa nghĩ thẹn thùng

Làm thân chiến bại mang tù tội

Ngậm hờn nuốt nghẹn bỏ Kon-Tum!

Người em bản Thượng nay còn, mất?

Trận địa năm xưa hoá phố phường.

Ta ở phương trời xin nhận lỗi …

Cúi đầu tạ tội với quê hương!

-California April 2024.
Donry Nguyễn

Tâm bệnh

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 Jun 2026

Tôi lên căn-tin uống cà phê chớ không có ý gọi điện thoại nhưng vì thấy hộp điện thoại treo bên vách được lau chùi bóng loáng, mới toan bèn gắn thẻ vô quay về nhà nói chuyện với vợ, con chơi. Nhưng Thanh không có ở nhà, sẵn tay bấm số thăm gia đình người bạn. Bên kia đầu dây, vợ anh bạn bắt điện thoại, nghe tiếng tôi, chị reo lên:

– Tấn hả, chừng nào dìa?

– Tuần sau chị.

Không đợi tôi hỏi thăm sức khoẻ gia đình, như nguồn thác đổ, chị sổ một tràng:

– Anh dìa lần nầy ở nhà luôn đi, tội nghiệp con Thanh, hôm trước mẹ con chở nhau lên tui nè, qua hồi nói chuyện, tui thấy hình như nó bị stress hơi nặng, anh mà đi hoài có ngày nó bị điên mất.

– Ừa, muốn làm gì thì cũng từ từ chớ chị.

– Từ từ gì, tại anh hổng biết tánh nó, hơn nữa anh đi hoài đâu thấy được nỗi cơ cực khi đàn bà có con nhỏ. Như tui đây nè, mới có một đứa vậy mà vợ chồng thay phiên nhau lo còn hổng xuể huống hồ chi con Thanh,  mình ên nó mà ôm tới hai đứa.

Trong lúc chị ngưng lấy hơi, tôi lái câu chuyện bằng cách hỏi thăm sức khoẻ gia đình chị. Như con tàu xuôi dòng gặp chướng ngại vật, chị trả lời qua loa ngắn gọn rồi lái lại câu chuyện. Một hai chị thuyết phục tôi phải bỏ việc làm về nhà sống với vợ con. Theo chị thì ra nước ngoài rồi không mần cũng có ăn, đi tàu làm chi xa nhà xa cửa bỏ vợ bỏ con. Chị nói tràng giang đại hải, tôi hổng muốn nghe cũng không được. Cúp máy ngang sợ mất lịch sự, đành phải cầm chặt ống nghe nghe chị dạy bảo, tới khi điện thoại báo thẻ sắp hết, chị còn ráng thòng thêm một câu:

– Về bờ sống tiện tặn cũng được mà, anh coi trong nghĩa địa có ai vì bị thất nghiệp đói chết đâu.

Điện thoại cúp, hết sạch tấm thẻ mười đồng, gát ống nghe, tôi ngơ ngẩn nhìn ra ngoài. Hải cảng Delta Rotterdam mới khánh thành vài năm gần đây. Kè đá, cần trục, xe vận tải tất cả đều mới toan, trên sân bến không một cọng rác và trong giờ làm việc mà lưa thưa bóng người. Giàn cần trục di chuyển đều đều câu từng container để lên chiếc xe không người lái cũng không gây một tiếng động. Những chiếc xe giống như những con bọ khổng lồ cõng trên lưng vừa vặn một container nặng ba ngàn ký, lần lượt bò ngay hàng thẳng lối lên sân rộng và dừng lại cho cần cẩu móc xếp ngay ngắn vô các ô đã vạch sẵn trên một khoảng sân. Tôi đương ở trong thế giới máy móc mới mẻ mà trước đây chỉ thấy trong những phim khoa học giả tưởng. Cho nên khi nghe giọng điệu của chị ‘nó’ gợi lại trong tôi nỗi nhớ nhung về những chốn xa xôi nào ấy. Ngay bây giờ, trên đất nước tôi, biết bao nhiêu người đàn ông đi làm ăn xa, bỏ vợ lại nhà ôm con chờ đợi, mau thì hàng tháng, lâu thì hàng năm, bảy năm. Mỗi bận chồng ra đi vợ ở nhà vừa hy vọng vừa nơm nớp âu lo. Hy vọng ngày anh về sẽ được vinh hoa phú quí. Lo ngày trở về anh chỉ còn hai bàn tay trắng và anh có phải là chồng mình nữa hay không. Cực khổ biết bao nhưng vẫn ôm con kiên tâm chờ đợi.

Chị đuơng sống trên một quốc gia giàu có, thừa mứa thức ăn nêm chị không biết nhiều nơi trên trái đất nầy cũng có hàng vạn người thất nghiệp, đói chết nằm phơi xương trắng rừng. Ở Việt Nam cũng có năm bị thiếu ăn người chết nằm la liệt trên đường, chết đói làm gì được chôn trong nghĩa địa, chị cũng khéo nói thiệt. Phải xa lạ gì cho cam, hơn hai mươi năm trước tôi với gia đình chị vượt biển trên một chiêc nghe nhỏ xíu, sau mấy ngày đêm vất vã với  tụi hải tặc, tôi chứng kiến chị nằm phơi trên bãi biển với thân thể bèo nhèo, áo quần rách nát gần như trần trụi, lúc đó không có những người từ tâm trên thế giới góp phần giúp đỡ chắc chắn chị cũng bỏ thây bên hải đảo hoang vu. Người ta cho chị qua đây định cư vì lòng nhân đạo chớ có phải mời chị qua tiệc tùng gì đâu mà ngồi không ăn khơi khơi còn nói ra những lời bất nhân bất nghĩa. Sống trên một đất nước tuy giàu có nhưng người đông việc làm ít, nạn thất nghiệp nhà nước coi như trận giặc, có một việc làm đàng hoàng để khỏi sanh “giặc” là lương thiện lắm rồi, tôi đâu dám đòi hỏi gì hơn.

Ba tháng trên tàu, tuần nào tôi cũng điện thoại đôi ba lần về thăm vợ thăm con. Thỉnh thoảng tàu về Rotterdam Thanh cũng có chở con xuống thăm. Mới hôm kia điện thoại về mẹ con cười, nói vui vẻ và bàn tính năm nay sẽ qua Tây Ban Nha nghỉ hè. Tôi có nghe thấy triệu chứng tâm thần nào đâu. Chẳng lẽ đương không nổi khùng bất tử. Hơn nữa Thanh gặp chuyện rắc rối hoặc tinh thần bất ổn thì điện thoại nói với tôi, có đâu chạy xe cả giờ đồng hồ lên nhà chị than thở. Nhà ở cách nhau cả trăm cây số, xuân, thu nhị kỳ mới gặp nhau, ăn một bữa, nói chuyện vài câu. Hiểu được gì mà chị dám quả quyết hiểu vợ tôi còn hơn tôi nữa.

Muốn bấm số gọi về nhà nhưng thẻ không còn. Hôm nay nắng đẹp, mới hơn mười giờ sáng, có lẽ Thanh vừa dẫn con đi chơi đâu đó. Tôi lững thững bước ra khỏi căn tin trong không khí đầu mùa hè ấm áp.

– Papa kìa.. papa kìa.. papa kìa….

Tôi day lại, ngạc nhiên thấy đứa con gái đầu lòng giọng đớt đát vừa kêu Papa vừa a tầm phù chạy tới, con nhỏ mới hơn năm tuổi mà lanh quá chừng, miệng mồm tía lia. Tôi cúi xuống đưa tay đón bồng nó lên. Thanh tay bồng đứa nhỏ, tay xách giỏ đồ đi tới, miệng toe toét vừa cười vừa nói:

– Anh thấy em tìm đường giỏi không?

– Ai chớ vợ anh là số một rồi.

Đứa con gái thứ hai thấy tôi nó chồm qua đòi papa, tôi vói tay ẵm nó luôn và cùng Thanh đi xuống tàu. Mấy thủy thủ thấy gia đình tôi lục đục kéo xuống, có người chồm ra boong vẫy tay chào và hô lớn:

– Mày là thằng không tốt, vợ xuống thăm mà không cho biết.

Tôi nói:

– Tình cờ ông à.

Risal thủy thủ người In đô chạy lên đón lấy giỏ đồ bắt tay chào và hỏi thăm sức khoẻ. Thanh nói với nó:

– Hồi nãy tao có ghé tiệm Tàu mua cho tụi bây bịch ớt và mớ rau muống, định mua thêm mì gói nhưng tao xách hổng hết.

– Cám ơn chị, bao nhiêu đó cũng đủ tụi tui ăn tiệc lớn rồi.

Ban đêm trên tàu chỉ có tiếng rè rè của máy phát điện. Hai đứa con tôi nằm cạnh bên, bắt tôi gãi lưng cho chúng. Sau một hồi rờ mặt, móc mũi, móc mắt tôi đã rồi hai đứa mới chịu ngủ. Tôi nhìn hai đứa nhỏ ngủ ngon, con nít hồn nhiên, vô tư lúc nào cũng hiện trên gương mặt. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, tôi sống trong một xóm lưới nghèo ven biển lúc đó tôi cũng rất vô tư,  lòng dạ thẳng như ruột ngựa. Ngôn ngữ của dân đánh cá dùng trao đổi, tâm tình hoặc khuyên bảo thậm chí họ chửi bới nhau cũng rất hồn nhiên chớ đâu đến đổi khó nghe. Ra nước ngoài sống trong xã hội văn minh lòng dạ con người ta sanh ra phức tạp và giọng nói trở nên cay cú khó nghe hơn. Vì vậy tôi không muốn sống trên đất liền, chung chạ với đồng hương phiền phức lắm. Tôi kê gối, đắp mền cho hai đứa con, day qua hỏi vợ:

– Vừa rồi em có lên nhà chị ba Lắm phải hông?

– Đâu có.

– Ủa.

– Sao anh?

– Vậy ai bị stress?

– Anh nói ai stress gì?

 Không muốn khui ra ba cái chuyện tào lao làm cho tổ ấm chúng tôi chộn rộn. Tôi bèn nói lảng sang chuyện khác.

– Anh nói với em tuần tới anh dìa, sao em còn chạy lên làm chi cho mất công.

– Mấy bữa nay con Lệ nói nhớ anh, hôm nay thấy trời nắng đẹp, biết tàu anh vô nhưng hổng biết giờ tàu chạy, em mới điện lên công ty hỏi. Họ nói tàu anh đậu lại đây mai mới chạy, em xin họ số bến cảng rồi sửa soạn đem con xuống cho nó chơi với anh. Người ta nhớ xuống thăm mà cũng cằn nhằn.

– Anh sợ em cực chớ cằn nhằn em đâu.

– Hồi nhỏ em theo má thăm ba cải tạo lên xe, xuống đò, đi ngày đi đêm nhịn đói, nhịn khát cực khổ trăm bề. Ở đây lên xe hơi nỗ máy chạy có hơn giờ đồng hồ gặp anh sướng thấy mồ, cực khổ gì đâu.

Tôi lòn tay qua ôm và áp mặt vợ sát vô ngực mình. Cả hai yên lặng nằm nghe hơi thở của hai đứa con. Tội nghiệp, tôi làm ăn xa nhà, để một mình vợ ôm con xoay sở giữa cuộc đời đầy náo động. Mỗi khi gặp đồng hương Thanh phải chịu trận lắng nghe những lời dạy bảo, thậm chí có người khuyên Thanh nên bỏ tôi đi cho rảnh cái nợ đời. May mắn cho chúng tôi, đã sống với nhau ngót mười lăm năm cơm lành canh ngọt, bơ sữa chan hoà. Được như vậy đúng ra tôi phải tin tưởng vợ con lắm chớ, nhưng không hiểu sao ôm cái hạnh phúc trong tay mà lòng tôi cứ ngai ngái lo cho những ngày sắp tới.

– Anh, anh.

– Gì em?

– Em thấy anh kỳ kỳ sao ấy?

Nghe giọng Thanh lo lắng, tôi giựt mình hối hận cho những suy tư vớ vẩn. Tôi xoa xoa lưng vợ và nói lời tâm sự:

– Anh đương nghĩ trong một xả hội quá an bình làm con người ta sanh ra nhiều chứng tâm thần, riết rồi anh cũng hổng biết ai bịnh ai không.

Giọng Thanh hờn trách:

– Em dẫn con xuống thăm anh, anh hổng lo mà anh lo chuyện đâu đâu không à, suy nghĩ bậy bạ có ngày anh bịnh chớ ai.

Tôi giựt mình vỗ tay nhè nhẹ lên lưng vợ:

– Em nói đúng, vợ anh lúc nào cũng đúng.

– Xạo nữa đi.

– Ý chết ! Chút nữa anh quên mất.

– Quên gì anh?

– Lo chuyện hiện tại, lo cho em…

– !!!

Nguyễn Lê Hồng Hưng