Từ Má hồng đến Những mảnh đời tị nạn

phusaonline.free.fr

Nguyễn Mạnh Trinh PSN – 21.1.2013

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

“… Bác tiếp tế cho tụi nó những gì? 

Một cánh tay bà bỏ thòng chạm đất, mấy ngón tay quều quào gãi gãi mép bàn chân nứt nẻ. Một vài tiếng nói ngắt quãng bay ra: 

– Sữa. Cơm. Thuốc nhức đầu.

– Tụi nó gặp bác ở đâu để lấy đồ?

– Ngoài ấp. 

Im lặng. Có tiếng chim líu ríu trên cành. Chắc một đôi vành khuyên đang tập bay chuyền. Tôi hỏi tiếp: 

– Bác thích tụi nó lắm sao? 

Vuông khăn đen động đậy qua lại: 

– Không

– Sao bác giúp tụi nó?

– nó là con trai tôi…” 

Và một đoạn khác, những đối thoại chân thực mà đầy chất sống. Những chuyện không thể nghĩ tới, từ một nơi chốn đầy đe dọa chém giết. 

“… Bà già khóc nhỏ hơn lúc nãy. Cái đầu bà nằm bẹp xuống khuỷu tay đặt khòng khoèo trong lòng. 

– Sao ông Tỉnh Trưởng biết bác tiếp tế?

– Tôi nói cho ổng nghe

– Bác nói làm chi?

– Ổng hỏi. 

Tôi gắt như với một người thân thiết, trời, phải giấu chứ. Ông ấy bắt là đúng lắm….”

Những đoạn như thế có rất nhiều trong “Má Hồng”. Chỉ mô tả thôi nhưng chứa đựng bao nhiêu điều muốn nói, muốân ngỏ. Một cuộc chiến kỳ lạ. Và một đời sống cũng cực kỳ lạ lùng. Chẳng ai hiểu nổi cái mặt trái và mặt phải của chiến tranh. 

Bây giờ đọc lại những trang sách sau ba mươi năm sau, những liên tưởng mà hồi trước đã có như biến dạng đi. Thay vào đó, là những suy nghĩ khác. Chiến tranh đã chấm dứt. Những dư âm cũng dần dần mai một. Chuyên chết chóc đau thương nhiều quá đã thành nhàm chán. Nếu tính sổ, những cái chết oan khuất của hai bên lên tới cả triệu sinh linh. Có những câu hỏi. Tại ai? Vì sao? Mà nên nông nỗi… 

Đọc lại tác phẩm tái bản, tự nhiên tôi thấy lại những chân dung con người thực. Họ sống, thản nhiên, bình thường cả những cái chết và những cái sống. Trong nhân vật của “Má Hồng “không có điểm tô vẽ vời. Và chính vì thế mà qua đãi lọc của thời gian, những nhân vật ấy vẫn còn sức lôi cuốn. Đời sống một thời vẫn còn hiển hiện những nét của con người chân thực. 

Một tác phẩm khác của nhà văn Đỗ Tiến Đức viết ở hải ngoại. 

Truyện dài “Tháng tư, 1975”. Đó là một thời điểm lịch sử mở ra biết bao nhiêu là sự kiện. Chiến tranh đã hết ngoài chiến trường nhưng một cuộc chiến khác bắt đầu khốc liệt. Một mặt trận của những người tự coi là chiến thắng muốn xóa bỏ một xã hội của những người bị coi là thua trận. Mặt trận ấy, cũng có số tổn hại khá lớn. Hàng ngàn người chết trong lao ngục và hàng trăm ngàn người chết khi vượt biển Đông. Đất nước rơi vào một tình trạng kiệt quệ, đói nghèo và bị cô lập. Sau tháng năm ấy, là một thời kỳ rất là u ám của đất nước Việt Nam. Bây giờ, nhìn lại, hình như trong văn chương vẫn chưa đủ để lột tả hết thực trạng lúc ấy. Mặc dù, đã có nhiều tác phẩm viết về, nói về. 

“Tháng tư, 1975”. Cũng là nhan đề của một tác phẩm của nhà văn Đỗ Tiến Đức. Một cuốn sách khởi đầu từ những trang nhật ký của một người lính của quân lực VNCH, trung tá Phan Trần Lê, người đã trải qua những ngày thơ ấu ở miền Bắc, di cư vào Nam năm 1954 và trưởng thành ở xã hội miền Nam. Câu chuyện kể từ những hồi ức ấy có nét chung mang của những người chung thời thế hoạn nạn từ định mệnh của cơn hồng thủy. Một điều trớ trêu là người con của nhân vật Phan Trần Lê ấy lại không đủ khả năng Việt ngữ để đọc và hiểu tập nhật ký nên tác giả là người đọc và kể lại cuộc đời đầy bi kịch. 

Trong “Tháng tư, 1975”, một xã hội vỡ vụn tan tác được phác họa. Nhất là số phận thảm thương của những người bại trận. Nhân vật chính thì gia đình ly tán, cố gắng vùng vẫy tìm phương tiện để ra đi nhưng vô vọng, rồi vào tù, trải qua những cảnh đầy ải khốn khổ. Nhân vật Quỳnh Lan thì vì tình yêu mà trốn gia đình ở lại, bị cưỡng hiếp rồi đuổi khỏi ngôi nhà của gia đình, rồi khi đi vượt biển thì bị bắt, bị lột trần truồng, bị xúc phạm xác thịt đến nỗi ngất xỉu. Thế mà sau này lại trở thành vợ của một thứ trưởng bộ Công An đầy quyền uy của chế độ Cộng Sản. Những chuyện ấy, đối với mọi người có lẽ không lạ. Bởi ở xã hội Việt Nam, đã xảy ra thường hằng những chuyện như vậy. Nhưng với những người trẻ lớn lên, nhất là ở ngoài nước khó mà tưởng tượng được. Thành ra, ăn cơm mới nói chuyện cũ có phải là một phương cách để làm sống lại lịch sử. Những tội ác phải được nhắc đến, sự thực phải được tôn trọng sự chân thực. 

Như bây giờ, dù câu chuyện đã xảy ra từ hơn nửa thế kỷ mà vẫn có nhiều người cầm bút trong nước kể về, viết về phong trào cải cách ruộng đất, về vụ án Nhân Văn giai phẩm, về những oan khuất chập chùng, những khổ ải đớn đau, mà nạn nhân không phải riêng một cá nhân mà còn ảnh hưởng đến mọi người thân như kiểu “tru di tam tộc” ngày xưa nữa. 

Viết về tháng tư, 1975 trong văn học có nhiều người viết, ở trong nước. Từ những chiến tuyến, sự thật được nhìn ngắm khác nhau nên chỉ là một góc sự thật. Và diễn tả sự thật ấy theo một phương cách làm méo mó sự kiện đi. Như Bảo Ninh, viết vớisự chỉ đạo để có chân dung một người lính Bắc quân, tuy có sắt máu với đối phương nhưng khoan hòa với dân chúng. Dù tới nay, đã có nhiều chuyển biến, nhưng cái nhìn vẫn chưa đổi. Trong một tâp truyện ngắn mới nhất của Bảo Ninh “Lan man khi kẹt xe”, vẫn thái độ mỉa mai những người thua trận, và đánh bóng những người chiến thắng. Như truyện ngắn “301” chẳng hạn. Lối nhận định địch ta đã làm Bảo Ninh nhắm vào cả xã hội miền Nam thành kẻ thù. Một người đã nhìn chiến tranh với con mắt khác lề lối tuyên truyền một chút còn như thế, huống chi cả chục, cả trăm nhà văn khác đang đồng ca một dàn hợp xướng theo sự chỉ đạo của chế độ. 

Đọc Tháng tư, 1975, độc giả sẽ tìm được những sự kiện chân thực của một thời đại đầy bi kịch. Những chuyện mà sau này dẫn đến tình cảnh “cây cột đèn đường mà cũng muốn bỏ đất nước để vượt biển ra đi”. Sau tháng tư, 1975 là cơn hồng thủy cuốn trôi đi tất cả. Thân phận những người như Phan Trần Lê cũng như thế. Họ cuốn theo cơn loạn cuồng của thời thế. Cuộc đời của nhân vật này có nhiều kỳ lạ, có vợ và con ngoài Bắc trước lúc di cư rồi lại tình cờ gặp lại đứa con trong trại tù với địa vị của người tù và người quản giáo, rồi những mối tình và liên hệ xác thịt với Thanh, với Quỳnh Lan, với Yến, đều là những chuyện tình cờ ít ai tưởng tượng được. Có lẽ, trong những giây phút đặc biệt, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tình cảm cũng như xác thịt đã gây ra những hậu quả tuy bất thường nhưng lại là thường tình với những người sống trong thời thế ấy. 

Chuyện mà ai cũng biết nhưng vẫn lạ lùng trong thời đại bây giờ, những chuyện ông thành thằng, thằng lên ông, những người bất đắc dĩ đóng những vai trò ngoài ý muốn, những câu chuyện thật của những người miền Bắc vào Nam òa vỡ những điều bị chế độ tuyên truyền xuyên tạc làm thành bức màn che giấu sự thực… Tất cả những điều ấy, đã được nói, đã được viết từ nhiều người nhưng dường như chẳng đủ. Có người cho rằng những đề tài như thế đã bị bão hòa, đã thành những điều quá quen thuộc đối với độc giả và không thể nào trở thành một đề tài lớn cho văn học. Tôi phân vân về chữ “đề tài lớn”. Nếu cần phân tích không thể chỉ vài dòng chữ là đủ và những đề tài mà có người cho là đề tài có tính thời sự như thế theo thời gian sẽ bị lu mờ và đào thải. Theo tôi thì nghĩ ngược lại. Dù thời gian đã lâu, những đề tài như vậy vẫn cần thiết để nhắc lại. Để cho lớp sau, nhìn vào quá khứ thương đau với những kinh nghiệm chua xót, để có cái tâm trong trẻo hơn và tầm mắt viễn kiến hơn, cho một đất nước tốt đẹp hơn. . . 

Đọc “Tháng tư, 1975” của tác giả Đỗ Tiến Đức, tôi lại nghĩ tới những ngày tháng ấy của tôi. Dù giống như trăm ngàn người khác nhưng cũng đầy dủ bi thảm, thất vọng, hy vọng của một tấn kịch thời thế. Đọc lại những trang sách, nhớ lại những tháng ngày, tôi đã ngạc nhiên khi soi rọi lại chính cuộc đời mình và tự hỏi tại sao mình đã vượt qua được những khổ nạn như thế để có ngày hôm nay, có một nghề nghiệp để nuôi thân, có một gia đình êm ấm và một đời sống tinh thần thoải mái tự do. Tôi chạnh nghĩ tới những người, vì lý do này hay lý do khác, vẫn còn tìm đủ lý do để bào chữa cho kẻ ác, dù họ cũng bị nhiều nghiệt ngã khi sống trong nước. Qua đây, sống tự do, họ quay lưng lại cái quá khứ đen tối mà họ phải chịu, để cam tâm chạy theo những mưu đồ những thủ đoạn của bạo quyền. Họ nói trong nước đã thay đổi khác trước. Nhưng, có khác được không, cái tâm của những kẻ không từ một thủ đoạn nào để tạo thành một thời đại của lừa gạt và che dấu của chế độ độc tài toàn trị như nhà văn Solzhenytsin giải Nobel văn chương đã lớn tiếng lên án. 

Chiến tranh. Tị nạn. Vượt biển. Định cư. Hội nhập. Tất cả những đề tài ấy có lẽ sẽ là những pho sách triệu triệu trang của các tác giả, không phải với riêng người Việt Nam mà cả với những tác giả ngoại quốc khác. Bên cạnh những nét tích cực, những tấm gương cần cù, can đảm làm lại cuộc đời từ bàn tay trắng còn có những nét tiêu cực, của những bi kịch, của những hãnh tiến, của những người lợi dụng thời htế để sống cho mình và hưởng thụ cho mình. Trong đời sống có nhiều mặt tương phản ấy, tác giả Đỗ Tiến Đức vừa là người kể chuyện, vừa là người diễn tả một phần nào tâm tư của mình, đã phác họa bằng văn xuôi, bằng truyện phim, bằng thơ trong tác phẩm “những chuyện rất Việt Nam”. Có chủ đích muốn diễn tả những mảng đời, có thể là điển hình của một thời đại đầy biến động của đất nước, tác giả muốn tác phẩm của mình như một tấm gương soi để phản ánhlại một thế thời… 

Trước năm 1975, Đỗ tiến Đức viết “Má Hồng”, một tiểu thuyết có tham vọng muốn ghi chép lại để mô tả một xã hội chiến tranh, mà ở đó những người trí thức trẻ đã hoặc tự lao vào hoặc bị lôi kéo đưa đẩy vào một thời thế mà những chuyện bi đát thương tâm xảy ra thường hằng một cách lạnh lùng bình thản. Sau năm 1975, ông bị cải tạo và vượt biển sang Mỹ. Đời sống của ông và những người chung quanh đã tạo nhiều cảm hứng cho văn chương ông. Ba tuyển tập truyện ngắn: Lối Vào, Vầng Trăng Trong Mưa, Tiếng Xưa, hình như đều có chung một mục đích mô tả những nhân vật có nét biểu trưng độc đáo của những người Việt Nam lưu lạc xứ người. Mỗi khuôn dáng, đều có ẩn tàng hoặc chuyên chở theo những nỗi niềm tâm sự, mà những bất hạnh dường như nhiều hơn và che khuất hạnh phúc. 

Đến những truyện ngắn trong tuyển tập này như: Một Chuyện Rất Việt Nam, Cõi Trần, Sợi Tóc, những bi kịch dường như bất tận với các nhân vật. Từ mối tình vượt qua chiến tuyến giữa ông bác sĩ “ngụy”  và cô sĩ quan Công An trong “Một Chuyện Rất Việt Nam” đến người đàn bà thân phận long đong như Thúy Kiều của cụ Tiên Điền, đã lỡ làng với mấy đời chồng mà khi nhắm mắt lâm chung chẳng có ai là thân nhân ruột thịt đưa tiễn của truyện “Sợi tóc”. Đời sống, dù ở trong nước nghèo khổ, hay ở nước ngoài sung túc cũng đều trải dài những nỗi buồn, mà, đôi khi do chính loài người tạo ra cho nhau.

Có phải những nhân vật như thế rất gần với chúng ta? Ông bác sĩ dù vẫn còn yêu người tình cũ nhưng vẫn phải giả ngơ dưới bàn tay chỉ đạo của người vợ hiện tại- Chuyện ấy, không lạ với chúng ta, có rất nhiều những người»tương cận»với ông Nguyễn Ngọc Luận trong “Một chuyện rất Việt Nam”! Hay, những chuyện luyến ái giữa các cụ cao niên ở những trung tâm người già, có biết bao nhiêu những người giống như ông Henry Trần bệnh hoạn dâm đãng đầy dẫy trong xã hội người tị nạn chúng ta trong truyện ngắn “Sợi tóc”? Chuyện trở về du lịch hoặc sống ở Việt Nam luôn luôn vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi và tác giả đã kể chuyện một vị tướng cảnh sát thời VNCH về thăm quê hương với những chuyện bi thảm xảy ra trong cuộc hành trình ấy. Dĩ vãng, và hiện tại, là những cơn ác mộng. Trong xã hội tha hóa, con người hình như đánh mất đi những nét thiên lương và, bóng tối mầu đen đã phủ chụp lên những tầm mắt, những cảm nghĩ. Đọc “Cõi Trần”, để thấy rằng dù ở đâu, xứ người hay quê nhà, chúng ta vẫn còn rất nhiều nạn nhân chiến cuộc, dù cuộc chiến tranh ấy đã dứt hơn ba chuc năm … 

Tác giả Đỗ Tiến Đức còn là một đạo diễn phim ảnh và một người viết truyện phim chuyên nghiệp. Tác phẩm mới này có lẽ là tất cả những sở trường của ông, nên có một truyện phim” Khu chợ ở Little Saigon”. Lại là một phản ánh đời sống, vừa xác thực, lại vừa có tính thời đại. Những hoạt cảnh của một đời sống mà thực giả, đạo đức và vô đạo đức, trộn lẫn trong đời sống đã có nhiều phức tạp mà tốt xấu như trong trạng thái mù mịt không phân tỏ được. 

Cũng có vài bài thơ, mà, tác giả đã làm trong những cảnh huống đặc biệt của đời mình. Riêng tôi, bài thơ cuối cuốn sách làm tôi cảm xúc. Bài thơ Tạ Ơn Anh: 

“Bài thơ được viết vào một dịp Lễ Tạ Ơn khi một độc giả gửi tới cho Thời Luận tấm hình chụp anh phế binh lê lết xin ăn ở một tỉnh lẻ Miền nam Việt nam và cùng lúc nghe tin một hội cựu quân nhân tổ chức khiêu vũ Thanksgiving ở vũ trường thủ đô tị nạn:

Anh không còn đôi chân

Lướt trên sàn khiêu vũ

Anh không còn đôi tay

Gối đầu em giấc ngủ

Anh không còn là người

Cũng không thành con thú

Môi anh sao vẫn cười

Mắt như vì tinh tú.

Anh ngày xưa ngày xưa

Là thiên thần Mũ Đỏ

Chân anh mang giày sô

Tay lái dù trong gió?

Hay anh là nghĩa quân

Giữ làng cho dân ngủ

Hay anh là Mũ Xanh

Tuyến đầu anh trấn thủ?

Đất mẹ chưa ru anh

Cuộc chiến tàn cờ rủ

Tay chân làm phân xanh

Vài ba bông dại nở

Xưa lựu đạn dao găm

Nay chiếc lon nho nhỏ

Xưa đánh pháo diệt tăng

Nay cơm thừa nước đổ

Xưa đồng đội như rừng

Gót giày vang mặt phố

Nay xa cách muôn trùng

Một thân nơi xó chợ

Những người hai mươi năm

Thoảng như cơn mộng dữ

Còn mỗi khúc thân tàn

Vinh danh ngày tháng cũ.”

Đỗ Tiến Đức là một khuôn mặt văn chương đa diện. Dù bất cứ trong vị trí của công việc nào, làm thơ, viết văn, làm báo, đạo diễn ông vẫn là người quan tâm nhiều đến đất nước và dân tộc với cả tâm huyết của mình. Vai trò một chứng nhân lịch sử để ghi chép lại một thời đại bằng những nét phác thảo sắc nét đã khiến ông viết được những tác phẩm phản ánh được nỗi niềm của thời thế. Đọc văn ông, có lúc như nhìn thấy chính mình trong cơn lốc cuồng quay mà mọi người như chia sẻ với nhau những cảnh ngộ tưởng chỉ có trong tiểu thuyết…

Nguyễn Mạnh Trinh

Ngụ ngôn thời cộng sản

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Tháng Chạp năm 2013, Kim Chính Ân vừa mới lên ngôi lãnh đạo tối cao của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã ra lệnh cho những con chó ngao hung hãn, bị bỏ đói nhiều ngày, xé xác Jang Song-thaek, chồng của người cô ruột.

Jang Song-thaek, một thời “hét ra lửa mửa ra khói”, khuỵu đầu gối xuống, khóc lóc, van xin: “Dượng đã trung thành hết dạ, đã cúc cung phục vụ hết lòng Kim Nhựt Thành, ông nội của cháu là cha vợ của ta; rồi Kim Chính Nhựt, cha của cháu là anh vợ của ta, trong suốt bao năm. Sao cháu lại nỡ quên tình cốt nhục mà đối xử với ta tàn ác đến mức độ như vầy?”.

Kim Chính Ân chỉ cười khẩy: “Ta không bao giờ tha thứ cho những ai bất tuân mệnh lệnh của Tổng tư lệnh tối cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Nhà ngươi đã phạm tội bất trung, tội phản bội vì dòm ngó cái ghế thiên tử của ta. Nhà ngươi phải chết để diệt trừ hậu họa. Không có dượng cháu gì ở đây hết ráo!”.

Trước giờ bị đem ra pháp trường hành quyết, Jang Song-thaek tuyệt vọng cầu xin một ân huệ “Xin hãy cho ta 10 ngày trước khi ném ta vào chuồng cho lũ chó ngao xé xác”.

Kim Chính Ân suy nghĩ rất lung về điều đó. Bắt được nó rồi; thôi cho nó sống thêm mười ngày trong sợ hãi cùng cực cũng là một cách trừng phạt rất hay. Phần chưa tới 30 tuổi, còn con nít nên tò mò, coi nó làm cái gì trong mười ngày cuối cùng của cuộc đời đã từng lên voi giờ xuống chó này nên Kim Chính Ân đồng ý.

Trong 10 ngày đó, Jang Song-thaek đến gặp người giữ chó và muốn tự tay mình cho chó ăn trong 10 ngày tới. Ðược lịnh của Kim Chính Ân nên người giữ chó đồng ý. Thế là Jang Song-thaek bắt đầu chăm sóc, phục vụ những con chó ngao hung hãn nầy. Jang Song-thaek chiên beefsteak cho chúng ăn. Bắt ve cho chúng. Tắm rửa sạch sẽ bằng xà bông Dove, hong khô và chải lông đàng hoàng cho chúng.

Mười ngày mau chóng trôi qua. Kim Chính Ân ra lịnh cho toàn thể văn võ bá quan trong Bộ Chánh trị Ðảng Lao động Triều Tiên, đến chứng kiến Jang Song-thaek bị hành hình. Hành động “giết gà dọa khỉ” nầy của Kim Chính Ân nhằm răn đe những đứa nào còn coi ta là con nít “ke”, ngốc như con cóc, mà toan tính câu kết với nhau rắp tâm tạo phản.

Khi Jang Song-thaek bị ném vào chuồng chó, tất cả đều run lẩy bẩy, lấy tay bịt mắt lại, không dám nhìn cảnh tượng kinh hoàng  sắp sửa diễn ra trước mắt. Nhưng tất cả mọi người đều ngạc nhiên thiếu điều té ghế khi thấy những con chó ngao hung dữ, xô đến tử tội vẫy đuôi mừng rỡ; thậm chí còn liếm cả vào mặt của Jang Song-thaek.

“Chuyện gì đã xảy ra với những con chó hung ác của ta?”, Kim Chính Ân gầm gừ. Jang Song-thaek nói: “Ta phục vụ những con chó ngao hung dữ này chỉ trong 10 ngày và chúng không quên được sự phục vụ của ta. Ta đã phục vụ gia đình ông trong suốt 50 năm; vậy mà mới lên ngôi cửu ngũ, ngồi chưa ấm đít, ông đã quên tất cả điều đó”.

Căm tức vì bị Jang Song-thaek chơi khăm, chửi xỏ mình cư xử còn thua con chó nên Kim Chính Ân truyền lịnh thay thế những con chó ngao hung hãn nầy bằng một bầy cá sấu!

Bảo Huân

o O o

Còn nhớ giữa thế kỷ hai mươi, thời trang để ria rộ lên giữa những tay độc tài uống máu người thay nước lã. Phát xít Ðức có Hitler ria mũi, Cộng sản Liên Xô thì có Stalin ria mép.

Ngoài cái vụ ria mép vảnh lên rất được các nhà độc tài ưa thích, Các nhà độc tài đều chia nhau cái bịnh “bách hại cuồng” từ thời Tào Tháo trong Tam quốc chí! Cái bịnh nhìn đâu cũng thấy kẻ thù rắp tâm chống đối, phản bội, mưu toan ám hại mình nên có chuyện rằng: Một tay mật vụ Liên Xô đang đi ngang qua Quảng trường Ðỏ thì nghe: “Ðả đảo tên bạo chúa và bộ ria ngu ngốc của hắn ta!”. Ngay lập tức, tay mật vụ còng tay và dẫn giải ông vừa hô đả đảo nầy đến chỗ Stalin để biện minh cho rõ hơn những gì ông ta đã la lối.

Stalin giận dữ hỏi:“Tại sao chú mầy lại dám hô: Ðả đảo tên bạo chúa và bộ ria ngu ngốc của hắn ta?”

“Thưa đồng chí Stalin, lãnh tụ tối cao kính yêu! Tui đang đả đảo Hitler đấy ạ!”.

Ðược xưng tụng là lãnh tụ tối cao kính yêu, Stalin lấy làm khoan khoái lắm bèn: “Ðồng chí dân ngu khu đen Nga nầy đã đả đảo đúng người, đúng chỗ” nên ra lịnh tháo còng thả cho nó đi.

Tay mật vụ tuân lịnh và cũng định đi ra nhưng Stalin chặn lại nói: “Ðồng chí nói cho tôi biết, khi nghe người dân Nga đả đảo tên bạo chúa có bộ ria ngu ngốc thì trong đầu đồng chí nghĩ tới thằng nào?”.

Sau đó hình như tay mật vụ nầy bị Stalin ra lịnh đem vô Sở Thú Moscow cho bầy cá sấu làm bữa ăn chiều!

o O o

Vậy mà Tổng thống Nga Vladimir Putin vẫn còn hoài vọng một quá khứ kinh hoàng của nước Nga Xô Viết thời chiến tranh Lạnh, cho dù chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một chủ nghĩa phong kiến hôn quân vô đạo trá hình mà thôi.

Nhưng người Nga, một dân tộc lầm than do chủ nghĩa Cộng sản gây ra trong suốt thế kỷ 20, chịu nhiều đau thương nhứt, không có một ngày biết được thế nào là tự do, từ lúc sanh ra cho tới chết. Vì vậy, Alexei Navalny, chỉ mới 44 tuổi, tố cáo: “Ðảng Liên hiệp Nga của Putin là đảng của bọn đầu trộm đuôi cướp”. (Stalin cũng từng là một tên cướp, chuyên bắt cóc người đòi tiền chuộc để kinh tài cho đảng Cộng sản Liên Xô).

Alexei Navalny & Vladimir Putin

Chống lại Vladimir Putin là từ chết tới bị thương. Trước khi lên máy bay từ Tomsk trở về Moscow, Alexei Navalny chỉ uống một tách trà nóng (có chất độc ức chế thần kinh Novichok).  Alexei Navalny phải nằm nhà thương của nước Ðức suốt 32 ngày. Ðức và các quốc gia dân chủ phương Tây yêu cầu Nga trả lời coi Vladimir Putin có đứng đằng sau vụ nầy hay không? Thì đệ tử của Putin nói: “Alexei Navalny làm việc cho cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ CIA”. Cái câu nầy nghe rất quen quen!

Vì bất cứ ai đứng lên phản đối, bất đồng về chánh kiến thì Putin ra lịnh: “Thịt nó cho ta!” nên bây giờ các nước phương Tây không còn coi Nga là một quốc gia tự do, dân chủ nữa.

Vậy mới có chuyện rằng, “Bộ trưởng Ngoại giao Nga đến gặp Tổng thống Vladimir Putin với vẻ mặt lo lắng nói rằng, ông muốn từ chức. “Tại sao?”, Putin hỏi. “Dạ thưa Tổng thống! Tôi thấy mình không còn khả năng quán xuyến những công việc đúng theo kế hoạch đã đề ra; vì những bất tiện của việc chênh lệch múi giờ trên thế giới nầy!”

Tôi bay đến một thành phố khác, gọi điện về nhà thăm thì “em yêu” của tôi đã ngủ say. Lần cuối, tôi đánh thức Tổng thống vào lúc 4 giờ sáng; nhưng tôi lại nghĩ thời điểm đó là 4 giờ chiều.

Tôi gọi cho Angela Merkel, Thủ tướng Ðức, để chúc mừng sinh nhựt của bà ấy thì bà ấy nói với tôi rằng bà ấy đã ăn mừng sinh nhựt của mình vào ngày hôm qua rồi.

Tôi gọi cho Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc muôn năm, để chúc mừng năm mới: “Tân Xuân Vạn Hạnh” thì ông ấy nói ngày mai mới là năm mới!

“Chà, đây chỉ là những bất tiện nho nhỏ thôi! Nhằm nhè gì?”, Putin nói: “Ông có nhớ chiếc máy bay Polish Air Force Tu-154 chở Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski và vợ rơi lúc nào không? Tôi đã đánh điện cho nhân dân Ba Lan để chia buồn, trong lúc đó máy bay vẫn còn chưa cất cánh!”.

Đoàn Xuân Thu

Ngủ đò?!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người tuổi trẻ, phải xa quê, đi vào một cuộc chiến mà không biết ngày mai sống chết ra sao nên: “Mai ta đụng trận ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi. Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui!”

Với tui, thơ ai viết sao tui để vậy. Tui không dám sửa một chữ nhứt một. Là nhà thơ nổi tiếng, tui đoán chọn một chữ cho thật đắt, đôi khi ổng phải trằn trọc suốt mấy đêm liền.

Nhưng anh bạn trẻ của tui, cũng có máu văn nghệ, tánh hơi ngang tàng nên dám phán rằng: “Mai ta đụng trận ta còn sống” nên thay bằng chữ ‘Lỡ mai’ hay hơn nhiều. Lỡ mai là có chút ân hận! Sao bạn lính của mình chết để riêng mình còn sống?

Chú em nho nhỏ nầy năm nay chưa tới sáu mươi, chưa ăn đáo tuế. Chiến tranh vệ quốc của miền Nam chống lại bọn CS Bắc Việt xâm lược, chú em chưa tới 18 tuổi, tuổi lính. Trong bữa nhậu tân niên, chú nghe bậc đàn anh, tức là tui, đã từng đi lính, từng lội ra tới Vùng Một Chiến Thuật, nên hỏi: “Anh có ngủ đò sông Hương ngoài Huế không? Em nghe thiên hạ xầm xì là ‘đã quá đã’! Sao ‘đã quá đã’ vậy anh Hai?”

Nghe chú em hỏi vậy, tui bèn tự ên dàn ý, sắp xếp ý tứ thứ tự lớp lang cho hợp lý rồi tui cũng tự ên trả lời cho thằng em nắm rõ cái sự tình. Cho chú em nắm được cái chuyện nó ‘đã ơi là đã’, ra làm sao để nó thèm nhểu nước miếng chơi.

Ngủ đò’ hay ‘ngủ giả đò’? ‘Ngủ đò thiệt là đêm trăng thanh, gió mát, mơ màng giấc điệp, ke chảy đầy mồm. Nhưng tay nào ngây thơ lắm mới xuống đò sông Hương mà ngủ thiệt! Còn sự thực trần truồng nhong nhỏng là cha nào bước xuống đò sông Hương đều cố ý ngủ giả đò hết ráo. Ðó là chuyện trần tục giữa giống cái và giống đực, giữa ‘female’ và ‘male’.

Ðời mà có những chuyện tế nhị nếu nói trần trắng trợn ra, nó mất hay cái tiếng Huế của quê mình. Thế là ngủ đò sông Hương có hai tiếng lóng rất hay là: ‘Ngủ chay’ và ‘ngủ mặn’?

Hồi còn đi lính, tiền lính tính liền, có đồng nào xào đồng nấy; vì tui còn độc thân tại chỗ, chưa vợ con gì. Nhưng giờ cắt nghĩa cho chú em nầy nghe, tui sợ con vợ tui nó nổi ghen (sảng) lên, làm ẩu (như Thị Quờn đốt chồng hồi năm nẳm ở Sài Gòn) làm tiêu tùng bộ đồ giữa của tui hết ráo là báo.

Nên tui giả bộ là con nai vàng ngơ ngác, đạp lên lá vàng khô, cắt nghĩa đen chuyện ‘ngủ chay’ là: Dọc theo dòng Hương giang, phía dưới cầu Trường Tiền có một bến đò ‘dã chiến’. Nơi đây luôn có vài chục chiếc đò nhỏ đậu rải rác ngày cũng như đêm để rước khách nhàn du.

Khách có thể là bạn văn nghệ, bạn thơ, bạn nhậu xuống để đàn hát, ngắm trăng và ngâm thơ. Bởi Huế là đất thơ, đất của những tao nhân mặc khách; xưa giờ cũng vậy! Lên đò xong, khách có thể đặt mua một vài thức uống (thường là rượu) và vài món nhắm. Chủ sẽ đưa đò ra khỏi bờ và thả dọc theo dòng Hương giang nước lững lờ, nhẹ nhàng trôi xuôi ra hướng biển. Thời gian trên thuyền có thể một, vài giờ hoặc cả ngày, đêm tùy hai bên thoả thuận.

Ðó là ngủ chay! Còn ngủ mặn (đoạn nầy tui nói nhỏ chỉ đủ cho chú nó nghe) là đem một ngã ba sung sướng của riêng mình hoặc của chủ đò tiến cử (dắt mối) xuống đò sông Hương.

Khách, một đôi nam nữ, có thể là Từ Hải râu hùm, hàm én, mày ngài và Thuý Kiều dày dày đúc sẵn một toà thiên nhiên xuống để đánh cờ người, để pháo nổ đùng ra ‘chiếu’!

Tui hồi đó hổng có làm cái vụ nầy rồi nhưng tui biết. Có những chuyện mình chưa hề làm mình cũng biết đó thôi. Ðứa nào, ‘bà’ chưa khảo mà chú mầy thày lay, lẹ miệng, huỵch toẹt khai ra hết ráo là ngu lắm đó!

Tranh Bảo Huân

Mấy anh mình (khoảng 70 đổ lên) xưa đi lính, ‘tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày, áo đường xa không ấm gió phương xa, nghìn đêm vắng nhà’ ra Quảng Trị, Vùng Một, đánh nhau với bọn CS Bắc Việt, lúc về Huế, thằng lớn dưỡng quân, ‘thằng nhỏ’ lại hành quân, khoái ‘công đồn đả viện’ đều biết tỏng cái vụ nầy!

Tiền nhiều (vì trong rừng cả tháng) thì ‘ngủ đò’ nguyên đêm. Tiền ít vì lỡ đánh bài thua hết ráo thì ‘lắc đò’ chút chút, làm tài tử màn bạc Ðại Hàn: Choi Song Dong (‘Chơi Xong Dông’)

Tóm lại, ngủ đò hay lắc đò trên ‘Sông Hương’ nghĩa là: xuống đò mà ngủ với mấy chị em ta, ‘o’ gái Huế! He he!

o O o

Ông Bùi Giáng, người Duy Xuyên, Quảng Nam, hồi sanh tiền ra Huế, từng phán rằng: “Dạ thưa phố Huế bây giờ! Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”. Nghĩa là Huế xưa sao giờ vậy chớ không có cái vụ thương hải biến vi tang điền gì ráo trọi. Rồi gần đây, tui nghe mấy cha xứ Huế trở về rồi trở qua nói nhỏ vô lỗ tai tui trong bàn nhậu là nó còn tưng bừng gấp trăm lần xưa nữa. Mấy giả nổ bốp trời thiên là đã về để ‘ôm Huế vào lòng sẻ chia đắng cay gian khổ mặn nồng’ Rồi bay lại qua đây, khoe khoang thành tích. Thiệt là cái miệng nó hại cái thân. Con vợ nhà của mấy chả chắc chắn trăm phần trăm sẽ ‘tra hỏi’, rồi đôi khi ghen quá mất khôn sẽ tăng cường độ lên là ‘tra khảo’. “Về Huế, anh có đi ngủ đò, lắc đò không vậy?” Nếu có, thì cái chắc ông anh mình bị con sư tử Hà Ðông nó bẻ giò (giữa) về cái tội ngủ đò!

Xin thành kính phân ưu, thành thật chia buồn với ông anh mình đã già mà còn khoái chuyện trăng hoa! Tức khoái ngắm ‘Hoa’ (danh từ riêng nên viết hoa) dưới trăng bàng bạc dải sông Hương.

o O o

Huế là đất thần kinh, là cố đô, đẹp và thơ. Huế có hai câu lục bát hồi xưa mà tới khi CS chiếm được cố đô vẫn còn chính xác như một lời sấm tiên tri: ‘Sông Hương nước chảy lờ đờ, Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua!’ Vua đây là Hồ Xuân Mãn, Ủy viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế.

Chuyện rằng: Một hôm, Hồ Xuân Mãn cùng một số đệ tử vào một nhà hàng ở ven đô. Một tiếp viên trẻ, đon đả mở bia cho các ‘quan’. Cầm lòng không đậu trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình, Hồ Xuân Mãn ghì đầu cô ta rồi hôn đánh chụt một cái vào má. Cô tiếp viên xứ Huế đã đáp trả ngay lập tức. Một cái tát như trời giáng vào mặt của ‘vua’! Cái tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như sóng thần xuất hiện!

Ðó là chuyện xảy ra vào năm 2005 và năm 2010 Hồ Xuân Mãn được đảng CS phong cho làm ‘Anh hùng lực lượng vũ trang’. Cả đống chuyện ruồi bu, bê bối, ăn chơi dơ dáy không chỉ bọn CS ở thành ủy Huế mới có. Mà nó có đều trời từ khi CS chiếm được Miền Nam.

Tui nhớ nhà thơ Thảo Am (1881 – 1968) ở Huế hồi xưa với hai vần thơ bất hủ: ‘Núi Ngự không cây, cu ngủ đất. Sông Hương vắng khách, đĩ kêu trời”

Hồi chiến tranh ác liệt, sống nay chết mai, vùng đất nào có lính tráng, là những chàng trai trẻ đang ‘sung’, giã nhà đeo bức chiến bào, đi qua đều có cái vụ ‘ăn bánh trả tiền’ chớ không riêng cái đất Thần Kinh mới có ngã ba sung sướng đâu nhe!”

Xin bà con xứ Huế đừng cho tui là cái thằng cà chớn! Sao tui dám nói xấu Huế mộng mơ, Huế xứ thơ bằng chuyện trần tục, ‘ẹc ẹc’ dơ đến thế? Nghe phát ớn!

Bà con xứ Huế tình cờ đọc bài nầy, nếu hiểu lầm tui như vậy rồi ‘sạt xà bông’ vô mồm tui đắng nghét cho nó sạch, cho tui tởn tới già không dám viết bậy bạ về Huế của em thì tội nghiệp cho tui lắm lắm! Xin: Kính báo và kính cáo!

ĐXT

Nhị trùng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Quán cà phê nằm bên hông chợ. Người đàn bà ngồi ở góc khuất, chưa gọi thức uống thì gã đến. Và gã đã không nhìn lầm đối tượng. Ngạc nhiên chỉ một thoáng, thay vì xác tín, người đàn bà hỏi: Có khó tìm không? Gã nhún vai: Với ai chẳng biết, riêng tôi, chuyện nhỏ.

Người đàn bà quan sát khi gã kéo ghế ngồi xuống, đối diện. Bàn nhỏ, ghế nhựa lùn tịt khiến gã trông dềnh dàng. Da rám nắng, tóc chẳng nhiều, cặp mắt nhỏ nhưng đôi tai to lớn. Tai của Phật khi không lại đi gắn vào một nhân diện ngó không mấy cảm tình, trông thô lậu. Gã như người hành nghề chạy xe ôm, hợp lý hơn là một thám tử tư. Nhưng đã là thám tử, với bộ vó ấy e dễ trà trộn, khó phát hiện, lẫn vào đám đông mà chẳng cần nguỵ trang, sau đó thì không khó để bắt được tay day được cánh, nói có sách mách có chứng.

Thành phố này có không dưới một tá thám tử. Bà bạn hàng trong chợ, trông coi cái sạp bán vải đã giới thiệu riêng gã, chẳng quên đi lời phi lộ: Thằng chả rất giỏi, nhanh tay lẹ mắt, làm ăn vén khéo, kinh nghiệm đầy mình… Tựu trung toàn những lời có cánh. Được người từng kinh qua truyền đạt chỉ bày cũng an tâm, nhưng trước khi giao việc cậy nhờ, người đàn bà thử đưa ra một trắc nghiệm: Chỗ hẹn gặp nằm trong hóc xó lại kiệm lời chẳng cho biết phương danh cũng như dấu vết dị hình ám vào mặt. Vậy mà gã đến, đúng hẹn, đúng nơi chốn, đúng thân chủ. Có thể mượn đỡ chữ dùng của chợ búa để phán: Linh như cái miễu! Như vậy, phút ban sơ đã nghe ra thiện cảm lân la.

Gã cũng nói đúng số tiền thù lao y như bà bạn đã bật mí trước, không buồn thêm bớt xu hào nào sất dù giá cả thị trường đang sồi trụt lao đao, nào là tiền điện vụt thăng, nào là xăng nhớt phi vọt, tái mặt máu khi châm đổ đầy bình xe gắn máy có phân khối lớn. Trước sau vẫn vậy, như đinh đóng cột, tựa hồ ở nhà gã có xây bàn thờ tổ để lập thệ và một lời thề nguyền thì chớ nên xoá bôi, thánh vật. Chịu thiệt thòi chút đỉnh cũng là cách đầu tư chữ uy tín vào cái môn bài khác thường. Nhưng, đó là xét theo cơ bản, ít nhiêu khê thì hô vậy, chứ gặp tình huống nan giải cỡ như bỏ công đi điều tra một hồn oan thì phải hét giá khác. Và nghe người ta đồn, chuyện càng khuất tất ly kỳ gã càng lý thú động não hòng moi nó ra ánh sáng. Gã lập luận, dưới bầu trời này chẳng có thứ gì trốn được ánh mặt trời. Hơi văn hoa, hơi thiếu biện chứng, nhưng làm an lòng không ít kẻ rối lòng nhờ gã đi điều tra giúp. Gã yêu nghề, đã không đi thì thôi, đi phải tới cuối đường mới hả, xé rào leo tường chui lỗ chó gã chẳng từ nan khi muốn phanh phui bao thế sự mờ ám của những đứa nhắm chốn đoạn trường mà lén lút dẫm chân.

Sao, chẳng hay chị đang đối mặt với vấn nạn gì nào? Gã đổi thế ngồi. Người đàn bà ngó vào bếp tối của quán nước, phục vụ viên nào vừa đánh rơi một cái ly thuỷ tinh xuống nền xi-măng. Cũng chả có gì nghiêm trọng, số là chồng tôi lóng rày có biểu hiện khác lạ, cơm nước uể oải, tinh thần hay bỏ đi hoang, ít tập trung, linh tính mách cho tôi hay ổng đang có mèo, một con bồ nhí nào đấy. Tôi hiểu. Gã ngắt lời. Chị uống gì? Tiện thể gọi giúp tôi một cốc cà phê đen. Gã hơi nghiêng người khi moi từ túi quần ra cuốn sổ nhỏ, có cây viết được ràng buộc ở đó bởi đôi ba sợi dây thun xanh đỏ. Người đàn bà không có giấy viết, nhưng cũng xài dây thun xanh đỏ, chỉ để cột túm một lọn tóc. Trời nóng, mồ hôi rịn ứa làm ướt tóc mai. Tuổi khoảng năm mươi nhưng nhan sắc chưa có biểu hiện của tàn phai, của xuống cấp. Một người đẹp, có thể nói vậy, hơi sầu muộn và nhan sắc ấy buộc phải tự ái, nóng mặt muốn trông rõ hình dáng con yêu bánh nậm nghiêng thùng đổ nước cỡ nào khiến cha già dịch kia đâm lậm nhớ đến độ biếng ăn nhác chơi. Chớ bàn việc đại sự, ngay cả tầm thường là nuôi một con chim, khi khổng khi không nó vụt bay mất ngoài tầm tay nghĩ cũng giận chứ! Để cho con sáo sổ lồng bay đi. Lỗi ấy nào phải tại tôi!

Điện thoại thì thế nào? Có cuộc gọi nào bất thường không? Người đàn bà ngó xuống cuốn sổ mà gã vừa mở ra, lật giở tìm trang chưa gạch xoá bôi bẩn. Giấy tái sinh vàng hơn cả màu nắng liếm bậc cửa. Chuông không đổ, tuyệt đối êm ru bà rù. Đợi ổng ngủ, tôi thử dọ tìm trong điện thoại di động một con số khả nghi, ngay cả tin nhắn cũng chả có. Tôi trằn trọc canh khuya, nghĩ thằng chả chùi miệng quá sạch sau khi ăn vụng. Dạo gần đây ổng có tâm sự với chị điều gì không? Đại loại như công ăn việc làm, giả dụ như một dự tính sắp tới phải hoàn thành, hoặc lên kế hoạch về một cuộc đi chơi xa? Không, tôi đã nói rồi, ổng trở chứng đâm lãnh cảm đâm ít nói, chẳng lại thần hồn như một kẻ mộng du; hay dính bùa của chằn ăn trăn quấn? Ra đường thì sao? Chị có để ý là ổng đâm chải chuốt, xức dầu thơm tóc chải tém chẳng hạn. Hổng có đâu, y phục lùi xùi chẳng chưng diện đúng với bề ngoài một anh công chức hạng trung.

Thuỷ chung gã vẫn nghịch cây viết trên những ngón mà chưa ghi xuống sổ một dấu hỏi, một ngôi sao, một hoa thị, một “code name”. Gã ngớ sực là thân chủ chưa gọi cà phê đãi đằng mình. Phải cà phê phải thuốc lá mới làm đầu câu chuyện chứ, như muốn nổ máy thì ta phải châm xăng vô bình, phải làm bu-gi xẹt ra lửa. Gã đưa tay làm hiệu với con bé vừa bị chủ mắng tội sơ ý làm vỡ ly tách. Cưng mang cho chú cốc cà phê đen. Chị uống gì nào? Chị nên biết là con người khi bất an, thường do bởi cơ thể bị thiếu nước. Khi uống thuốc cũng vậy, bác sĩ luôn khuyên hãy nhớ ực cho nhiều vào. Một đôi khi nước lạnh là thứ cực tốt cho sức khoẻ. Người đàn bà nói: Vậy sao? Vào đây rồi chả nhẽ lại xin cốc nước lạnh. Này, cho cô nước dừa tươi nguyên chất, nhé.

Phải vậy chứ. Vào quán người ta, rậm rật kéo ghế để mượn địa bàn mần ăn kẻ khác mà chúi mũi chuyện riêng tư ơ hờ việc bôi trơn là cái khó dung tha. Ngồi lâu tí nữa không khéo mà chủ sẽ động dao động thớt để cảnh tỉnh nhắc chừng thì quê mặt cả đám. Thức uống được mang ra, nhanh như thể người ta đợi người ta chờ bấy lâu, nghe tiền hô là hậu ủng tức thời, theo đúng phương châm: Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Nước dừa nguyên chất thì bảo đảm rồi, chua hay ngọt là tuỳ vô cây dừa nó cắm chân xuống vùng đất nào, chủ quán không nhúng tay vô, không có ý kiến. Nhưng cà phê, công tâm mà nói, tuy cà phê bụi, cà phê vỉa hè, cà phê hông chợ mà uống cũng đặng lắm, chẳng mạnh tay pha phách linh tinh gọi là quyền phát huy sáng tạo. Gã nói với người ngồi cùng bàn: Một đôi chỗ tôi từng uống một thứ nước đen gọi là cà phê, mẹ rượt, sao người mình ưa hiếp đáp chữ cà phê của bọn đế quốc đến thế. Bóc lột tới độ Tây ba-lô kêu là cà phê đặc sản Việt-nam.

Sinh hoạt của ảnh ra sao, chuyên cần đi về đúng giờ, mẫu mực? Đời nào, được vậy thì chúng ta đã không có buổi gặp gỡ này. Thường thì ổng về khuya lắc khuya lơ. Ngửi chẳng nghe mùi bia mà cứ bảo là anh em trong cơ quan kéo nhau đi nhậu, mình từ chối thiệt không phải phép sanh đố kỵ hổng lấy được cảm tình rồi chúng bạn chê cười: Cha này sợ dzợ thí mẹ. Vợ chồng ăn ở với nhau suốt đời trong khi anh em thì bèo bọt nay ở mà mốt dông, đường đời trăm vạn nẻo trên họ bố trí đi xa thì phải cắn răng hát bản tạ từ, còn trông rõ mặt nhau thì cứ vui cho trọn đêm nay. Và tôi làm phép cọng sơ khởi cũng đã hơn ngàn lẻ một đêm, một hai giờ sáng ảnh mới rón rén trở về. Nực gà quá mà, chơi vậy biểu sao không sinh nghi. Buổi sơ ngộ chẳng gây ấn tượng, nhạt nhoà thuần là một vụ gần như đi bắt ghen. Làm cái đuôi để về báo cáo cụ thể ngày giờ vụ việc những gì đối tượng đi giao lưu tình cảm bên ngoài. Mang máy ảnh để chụp lén làm tang chứng vật chứng về trình “bà chủ”. Bả có thuê xã hội đen đánh dằn mặt hai đứa ưa ăn chả ăn nem thì tớ cóc biết. Tớ ghét bạo lực, đao kiếm với cường toan là thứ chả ăn nhậu gì với công việc tớ. So ra thứ nghiệp vụ này hơn hẳn bọn công an, bởi dù sao giang hồ cũng đã từng bình phẩm: Thằng ấy tuy là thám tử nhưng mà nó tốt!

Dĩ nhiên người trả tiền nước là chị đàn bà “bất hạnh” kia. Chỉ cũng móc hầu bao ra ứng nước nửa triệu cho “anh” có đó mà cơm hàng cháo chợ dầm mưa dãi nắng để chóng hoàn thành nhiệm vụ. Người đàn bà trao cho gã tấm hình người từng ôm ấp nay bạc tình theo giỡn gió vờn hoa. Chăn ấm nệm êm không nằm lại dại khờ ra ngồi rình bên bụi môn. Anh nhớ chụp hình con “Nguyệt Nga” cho tôi ngó mặt ngang mặt dọc của nó, xem điện nước nó thừa mứa phồn vinh giả tạo tới cỡ nào. Và bả chấm câu: Thôi, vạn sự thảy đều trông cậy vào anh. Tôi mong làm cho ra lẽ thì từ nay mới ngủ say một giấc không mộng mị. Gã thám tử nhét cuốn sổ kẹp tấm ảnh “kẻ không may” vào túi quần nằm sau đít, gã chẳng hứa hẹn điều gì cả ngoại trừ một nhắc nhớ: Đúng tuần sau tụi mình gặp lại, ngay cái quán “thị tại môn tiền náo” này. Chị về nhà bằng cách gì? Có ngại không nếu để tôi thồ đi. Khỏi, cám ơn anh.

Và họ lặng lẽ chia tay.

Biết chồng thích ăn phở, người đàn bà dành trọn nửa ngày để ninh hầm theo phương thức mà internet họ chỉ bày. Người đứng biểu diễn có thu hình trong thước phim dài nửa tiếng kia nói thứ giọng Bắc 9 nút, nghe êm ái, dịu dàng, có cảm tình và đâm tin tưởng, đó phải là thứ phở gia truyền dẫu chịu di cư năm 54. Năm với bốn là chín. Chín nút, tự thân con số ấy đã tượng trưng cho một thứ gì gần với hoàn hảo. Hào phóng cho thêm một điểm hoá ra lại hại nó: Bù!

Nồi nước lèo thơm ngào ngạt mang chồng đi qua bất ngờ tới ngạc nhiên. Ngờ vực không chôn được lòng, miệng buộc phải thốt thành lời: Lóng rày anh để ý thấy em có nhiều đổi thay, anh chùng vụng quan sát và anh tự tìm đáp số, dường như đàn bà khi mãn kinh đều phải trải qua chút trắc trở của biến đổi tâm sinh lý. Hôm nay tự em vào bếp bắt tay ông Táo, mồ hôi mồ kê thấy thương hết biết. Nhà có khách hả em? Sao không dưng em lại “chân cứng đá mềm” thế kia?

Chồng cũng muốn tìm cách làm cho đá mềm nên vào đứng cạnh vợ chờ được sai bảo, tỉ như thái hành cắt chanh trụng giá lặt húng quế cho bánh phở vào bát… Muốn ăn phải lăn vào bếp, hầu như đã quá lâu đôi ta bỏ quên phút giây kề cận đáng yêu này, nhỉ? Vợ ngó chồng, muốn soi cho tận những tì vết ẩn dấu. Hai hôm nữa thôi, sẽ gặp tay thám tử và sẽ đón nghe sự thật. Khao đãi chồng bữa ăn trái khuấy này cũng là một phép thử trong khi giải một phương trình rắc rối hơn cả lãnh vực toán học.

Em không có khách để mời, anh thì khác, sao anh không thử gọi ai đó đến ăn chung? Em quyết chẳng lấy đó làm điều, rất hoan hỉ để nhìn mặt. Chồng nhìn cái tạp dề mà vợ cột ngang bụng, ở đó có may cái túi lớn với hình vẽ một con mèo mắt lim dim như tận hưởng sự thư giãn gần trùng với biếng nhác. Bạn anh toàn cả một bọn người ăn to nói lớn, là thành phần mà ngay cả giàu lòng từ bi như Quan Âm cũng phải cau mày khi đối mặt. Làm sao anh có thể mang chúng về để phá hỏng cái phút giây cần sự riêng tư mà ta đang có? Vợ liếc xéo: Sao hôm nay anh đâm nhiều lời và thái độ của anh khiến em phải nghi ngờ tới cái cay của gừng cái mặn của muối. Em tính là khi cùng nhau so đũa xơi phở tại gia, em sẽ hỏi anh một vài thứ, làm bạch hoá những ám muội mãi ám trong trí em.

Người chồng cười lớn, sang sảng. Đã quá lâu, căn bếp này vắng ngắt một tiếng động. Một giọng cười oà vỡ, biểu tượng niềm hạnh phúc, nhưng giờ đây nó khiến người đàn bà phải ngưng công việc, vòng tay đứng với kinh ngạc, trân trối nhìn chồng, hoang đường như một trang cổ tích. Chồng bỏ miệng vài cọng giá sống: Thật là chí lớn gặp nhau, anh cũng dự định sẽ mời em đi ăn ở nhà hàng nào đó một bữa thật đình đám. Để nói cho em hay cái đứa em hằng chê bai lưng dài vai rộng này đã vừa lập nên kỳ tích. Sao, anh vừa được đề bạt lên chức trưởng phòng à? Sai lầm, đi làm việc chỉ là một thứ xem như bị ép buộc, chẳng hứng thú khi mình phải chung đụng với một bọn không ngang tầm với mình. Anh có nghề tay trái, em tin không? Anh câm lặng vì muốn gây bất ngờ cho em ở phút cuối. Và đây là phút cuối, trùng hợp thay, em bỏ công đi chợ, vào bếp nấu phở để thế một cuộc liên hoan ăn mừng thành quả. Sao rồi, người ta thôi bỏ bùa anh rồi à? Đạo sĩ nào đã giúp anh, phương danh của ông ấy? Nói để em sắm lễ vật hậu tạ.

Người chồng tiến lại gần vợ, vừa đi anh ta vừa moi sau túi quần ra cuốn sổ tay, cong góc, trầy trụa như thể bị săm soi lật giở nhiều lần. Một cây viết chì cụt ngắn và sợi dây thun ràng chặt lấy. Chồng nói: Tuy không chuyên, ban đầu là vì cả nể người bạn giúp vợ chồng chúng nó đoàn viên. Từ sau vụ ấy anh mát tay, nhập cuộc thêm ba vụ khác thảy đều thuận lợi. Họ trả tiền thù lao khá bộn và vô tình, tất cả đều phong anh chức vị: Thám tử tư. Em ngạc nhiên không? Hãy thứ tha những đêm anh về muộn mà không phân trần, anh tập cách hành sử bí mật y như một đứa thám tử ít nói, chỉ dùng đầu óc, chẳng minh bạch như mèo dấu cứt. Bạn bè anh có đứa rất bái phục, mới hôm qua linh tính báo cho anh biết mình bị theo dõi. Bằng động thái học được trên phim ảnh chuyên đề điệp viên, anh đã chận đầu nó. Xin lỗi anh, em trông nhầm người. Gã ấy nói, nó sở hữu được hai cái tai rất tốt, nhìn là ưa véo cho bằng thích.

Sao khi không em lại chảy nước mắt ra thế kia? Không sao đâu anh ạ, anh thử thái mỏng củ hành tây thì mắt anh cũng đổ lệ vậy. Người đàn bà nói, với tay trì kéo chồng lại, sát sao, ôm lấy và khóc thầm trên vai người thám tử nghiệp dư. Tuy ảnh là thám tử nhưng ảnh rất tốt. Sóng gió giang hồ bên ngoài đã ngôn thế!

Nhị vị Hương quán

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Từ trái: Hồ Đình Nghiêm và Luân Hán

Quán Nhị Vị Hương nằm trên đường Côte des Neiges, đông khách hơn quán Ngũ Vị Hương ở phố Beaubien. Năm gia vị, nhiều hương liệu đâm thất bại; trong khi chỉ cần hai vị, đơn sơ ít pha phách chế biến, thực đơn lại mặn mòi, đuổi khách đi không hết.

Lý lịch sơ sài của ông bà chủ quán: Chồng, anh Tư, người Đà Nẵng. Vợ, chị Tám, người Huế. Vợ đứng bếp. Chồng gồng mình lo từ hạ tầng cơ sở lên đến thượng tầng kiến trúc. Cả anh lẫn chị tánh tình vui vẻ, xởi lởi với khách Việt. Tám cộng Tư ra mười hai, nhiều quá, tới một tá lận. Bọn tui giản lược bớt, một cộng một bằng hai. Đặt tên quán là nhị vị do bởi cái cô đọng ấy. Gừng cay muối mặn, phải không bà xã? Anh Tư từng trải lòng.

Quán có món “đưa cay” mà ai cũng thích gọi: Tôm rang muối tiêu hành nước mắm tỏi. Chúng tôi từng thử qua nhiều chỗ, sau chốt lại ở Nhị Vị làm nơi hẹn hò gặp gỡ. Anh Tư chị Tám gần như đã thuộc khẩu vị của từng cá nhân trong số chín người chúng tôi. Ông ăn chả bà ăn nem thì đâu có gì để bàn cãi, đằng này tới chín cái mồm, chín vùng chiến thuật khác nhau hội tụ thì muốn dẹp yên e chỉ có mỗi Nhị Vị Hương Quán mới đủ hoả hầu. Một lần nữa, chị Tám, vô tình làm thơm thảo tài nghệ nấu ăn của một người nữ chánh quán Huế. Tuy vậy khi thử dùng món bún bò, mọi người xuýt xoa thì chị Tám chẳng ưỡn ngực ra: Dạ xin thưa thiệt với mấy anh, món ni do chính tay anh Tư làm từ a tới z. Em không noái láo mô tề! Em không cướp công trạng của ông dôn em.

Anh Tư, như bao người đàn ông khác, khi được vợ khen, hai mắt ảnh nhắm trít. Lúc đó thực khách nhặng xị cỡ chúng tôi tha hồ làm tình làm tội ông chủ quán: Cho thêm nước đá nghen. Trời, ớt trái nhiêu đó đâu đủ anh. Không ăn giá sống đâu, trụng nước sôi giùm. Ông này chả ăn nước mắm, anh cho ổng chén xì dầu. Ừ, tàu vị yểu, có Maggi thì tốt hơn… Quay như vụ. Quay mà không chóng mặt đã đành, còn biểu lộ cái sướng khi được quay, thấy thương hết biết.

Nhị Vị Hương Quán có đăng cái quảng cáo nhỏ trong tờ tuần báo ở địa phương. Thi thoảng báo ấy là nơi gửi gấm chút tâm sự của anh em chúng tôi, vì vậy cả anh Tư lẫn chị Tám vẫn “tranh thủ” ghé mắt đọc qua mỗi bận quán vắng. Bài có đăng ảnh, ảnh có khi chụp ở trong “bổn tiệm” thành thử anh Tư chị Tám rất mết bọn tôi. Ngoài tâm đắc chuyện thơ văn lại chẳng ngờ được quán ta là nơi dừng chân của mấy “ông nội” kia, do vậy khi nghe đòi hỏi thứ này thức nọ buộc đôi vợ chồng hèn tui cung kính không bằng phụng mạng. Trước cửa quán có đóng khung một bài báo do anh chàng phóng viên Tây tà địa phương ca ngợi hết mực món ngon vật lạ của Nhị Vị Hương và cái ông Rắc ông Răng nào đó đã rộng lòng chấm điểm tới 4 sao. Chị Tám tâm sự: Phải mời nó ăn lia chia, phải trả nhuận bút hẳn hòi mới có được trang nhật báo màu mè nớ chớ giỡn chơi chi nơi. Lạ, chúng nó cứ đè mấy món dở mà khen cố xá. Bún bò ngon dàng trời, ăn nhức răng lại chẳng dám thử. Được cái tụi nó dễ tính lắm nghe, đa số đều ưa xơi Sà Bì Chưởng. Í, ngộ hén, là thức gì mà nghe tợ môn kung-fu dị anh Tư? Anh chồng đứng sau lưng vợ, hai mắt lại biết cười: Là cơm sườn bì chả đó. Wow, hay à nghen, không ấy anh thử diết dăn mần thơ đi. Chị Tám vội khiên cái bình phong tới: Mấy bác cứ vẽ đường cho hươu chạy, chúng cháu hổng dám mô, kính nhi viễn chi. Động dao động thớt mới có tiền vô tiền ra chứ múa bút thì xưa nay chúng cháu chưa nghe ai thành đạt cả. Nghề gì kỳ cục!

Bữa đó xem chừng món ăn nào mang ra cũng thấy nhạt mồm. Lời thật thường mất lòng. Chị Tám tuy vô tư mà vô số tội. Nhậu đang bắt, đang phừng phừng khí thế khi không bị bả dội một thau nước lạnh. Thiệt là chẳng biết kính trên nhường dưới, không đẳng cấp chút nào! Dễ chia tay quán vắng quá. Sao kinh doanh nhà hàng mà chẳng biết câu “khách là thượng đế”. Mấy vị thượng đế đó thuộc dạng đặc sản ít đụng hàng, bởi nữ nhân muốn đẹp tới cỡ nào họ cũng dư sức vẽ rắn thêm chân. Chương một đề cao thằng đẹp trai con nhà giàu học giỏi, qua chương hai buồn tình biểu nó chết là nó chết, rất mực quyền uy. Thật là bức xúc nếu thượng đế ra đường mà trong túi không có đô-la để chêm. Gió hiu hiu chẳng màng nhưng lỡ gặp cuồng phong hổng chừng nó thổi bay thượng đế. “Trên trời có một vì sao, dưới đất có mỗi mình tao anh hùng”. Câu này quá sức lạc hậu. Hiu hiu tự đắc dễ bắt đi cải tạo. “Thương tôi chỉ ngọn núi cao, hiểu tôi riêng có vì sao cuối trời”. Câu này dễ chấp nhận, làm ra sau thời gian vừa trải qua cải tạo? Có chút lễ độ.

Một hôm lợi dụng vợ lui cui sau bếp, anh Tư cầm chai bia đi quanh bàn đòi cụng chai. Bọn thượng đế chúng tôi ai nấy tửu lượng đều kém. Ba say đã chai, tuy vậy cũng chẳng nề hà chuyện tới bến. Lạ hén, cha chủ quán hổm rày in tuồng có mang tâm sự, đột biến tâm tư. Cà kê dê ngỗng một hồi luỹ mới nhập đề: Thú thật với các bác, giá như mà trong số các bác có cảm tình với bọn cháu để vui lòng viết một bài về cái quán Nhị Vị Hương này thì… Thiệt khéo ăn khéo nói, cắt ngang xương cũng có cái ưu điểm của nó. Đi không hết đường đôi khi lại tốt hơn chạm đích. Dễ thôi. Một bác nói. Vui thôi mà! Một bác khác bổ sung. Hai bác đã xong phần thân bài, anh Tư còn đợi gì mà không viết nốt phần kết luận? Chưa ra đầu ra đũa thì cái phong linh bắt sau cửa kêu tiếng vui tai. Khách vô làm anh Tư vui xuân không quên nhiệm vụ. Đặt chai bia xuống bàn, cầm tấm thực đơn lên, đang lề mề thoắt cái lanh lợi trở lại. Phục vụ là nghề của chàng.

Mấy bác ngồi đăm chiêu, tợp lắm chất lỏng có nồng độ cao làm ai nấy thảy biến dạng thành Quan Công, mặt đỏ au như tôm cua luộc chín. Cả đời chưa biết nắm Thanh Long đao chưa cỡi Xích Thố nhưng vốn là bạn cật ruột với Mao Tôn Cương, bèn có lời bàn: Hổng biết thằng cha Tư có chơi đẹp không, chứ ai sức đâu bỏ công viết chùa cho nó. Đôi khi ta phải nên lộ hàng cho nó hay là văn chương tuyệt đối chẳng rẻ như bèo đâu nhớ. Bỏ đi tám, chớ ngộ nhận rằng bọn ta chảnh! Có thực mới vực được đạo, câu vỡ lòng ấy nhà ngươi nên khắc ghi.

Có bữa mát trời ông địa, chị Tám giỏi chân từ nhà bếp mang ra một món gỏi thật hoành tráng, ngó xôm tụ cỡ tiểu đội đủ quân số mới tiêu thụ hết. Dạ cái ni nằm ngoài chương trình, mời các bác xơi lấy thảo. Ui, sự cố nào đã xúi thế? Kỷ niệm mười năm thành hôn của hai ông bà? Hay sinh nhật quán được năm tuổi? Anh Tư tay bưng chồng chén tới làm đồng minh không hề tháo chạy, lần này thì hai mắt đương sự mở lớn: Dạ chẳng giấu gì, mụ vợ tui mới bảo lãnh được cô em gái từ cố đô sang. Quán phải cần trợ thủ mà cái o ni thì rất đảm đang quyết xắn tay áo giúp sức. Trước khi qua đây o nớ bỏ tiền đi tầm sư học đạo trau dồi tay nghề, món gỏi này do o đích thân nhào nặn ra, không mặn miệng không ăn tiền.

Trong mấy bác hiện diện có bác bà con với Trương Phi, tính nóng như lửa: Người đẹp đâu rồi, sao chưa khoan thai di dời gót ngọc vén màn lộ diện? Dạ em nó đang đốt lò thử nghiệm một món lẫu đặc sản Sài Gòn Gia Định, gia công xong hẳn bước ra chào cũng chưa muộn. Nói nghe được a! Vậy thì hổng chừng mai này quán sẽ đổi tên thành Bát Vị hoặc Thập Lục Vị? Ăn riết bún phở cháo nghe cũng oải. Sà bì chưởng xét ra cũng xoàng.

Khi không mà đâm chộn rộn. Thì bởi vậy, sống mà được hoán đổi không khí chuyện ấy hẳn cần kíp. Nhưng nói nào ngay, giả anh Tư chị Tám bảo lãnh một cậu em trai thì e tình hình có khác. Kệ mẹ nó chứ, để nó lao động trong bếp chứ quen biết chi mà ra chào hỏi. Đừng mua hàng Trung quốc, chớ bỏ hoá chất trong thức ăn là quý lắm rồi. Mình người Việt với nhau sao nỡ xuống tay chơi khăm thắt họng! Lịch sự vòng tay thưa gửi, đôi lúc ta phải giả bộ quên thứ văn hoá lề mề ấy đi. Chớ học thói bún chửi, phở quát, cháo mắng thì đã độc lập tự do hạnh phúc lắm rồi, chẳng mong chi hơn. Lạ cho cách hành xử của bọn quân sư, giá mà ngày đó nó dắt ngài Obama đi xơi bún chửi xem thử con mẹ ấy có động thái nào trước người đàn ông quyền lực nhất thế giới. Hay bọn quân sư đã tường mười mươi, sợ mất mặt bầu cua: Chả xách đít tới ăn thì bà đây đéo cần, cha ông chúng mày từng bị đất nước này đánh cho rách bươm cái quần đấy. Mẹ! Đế quốc mí thực dân, đồ láo lếu! Đồ cọp giấy! Đồ ăn vụng chẳng biết chùi mồm! Đồ mặt người mà dạ thú! Đồ…

Dạ thưa các bác ạ! Ui, con cái nhà ai mà đẹp người đẹp nết rứa bây! Cả bàn không hẹn mà cùng ngồi ngây người ra. Tấm màn nhựa in biểu tượng ba miền Chùa Một Cột Chùa Thiên Mụ Chợ Bến Thành treo ngăn ở nhà bếp mãi còn rung động dù o con gái đã đứng dậm chân chốn đây. Áng chừng hai chục, tóc dài, da bầng quân, mắt lá răm, núng đồng tiền và giọng Huế chưa từng pha tạp, còn trinh nguyên, nghĩa là chữ nào cũng thêm dấu nặng. Dạ mậy bạc cọ khoẹ khộng. Oan cho cô ta quá. Thường khi mấy bác có tới chín người, hình như bữa ni không đụ số. Răng, món gỏi con chào hàng có ngon nhức nách không?

Không ai vọng động. Quen nhìn chị Tám rồi, nhàm khuôn trăng đầy đặn ấy rồi nên chi thiệt bất ngờ khi ngó ra cái nét ngài nở nang kia. Giả thử có bán gỏi chửi e rằng hàng quán ấy cũng có lắm đứa bỏ quên cây đàn. Đụ chi được, bị có hai người tới không được, một thì con đau, một thì vợ càm ràm. Hai bác nớ tuần sau sẽ tới nếu biết có o con gái mới ở Huế qua. Rứa thì o tên chi hè? Chị em mà răng hai người mặt mũi không giống nhau? Dạ, cháu tên Chín. Ui, đậm chất phèn chua nước mặn quá, sang tới đây rồi đặt cái tên khác nghe cho oách chớ tội tình chi. Bậy nà, người ta chín nút, số đẹp vậy đòi chi hơn. Đi casino mà dụ cô Chín này theo thì chắc mẫm. Đụng đâu thắng đó. Đánh nhỏ thắng nhỏ đánh vừa vừa thắng vừa vừa đánh lớn thắng lớn.

Có người không mặn chuyện bình loạn, thích phá mồi, tấm tắc gật gù: Gỏi ngon thiệt! Cô Chín mát tay ghê! Cô gái cười chúm chím, má lúm hào sảng hai đồng tiền rõ to: Dạ, bác nói răng lạ rứa, chỉ có bác sĩ mới mát tay thôi chứ tay ai cũng nóng cả. Hề hề, nói cũng có lý, đôi bàn tay kia mà nhờ cạo gió thì khỏi cần xức dầu. Người chị của Chín, chị Tám tới chữa cháy: Em ạ, mấy bác đây họ vui tính lắm, họ toàn là chiếc sĩ trên mặt trận văn hoá cả đấy, thơ văn đầy mình, em nhớ giữ mồm giữ miệng kẻo bị ngộ nhận hàm oan. Mấy bác cũng rứa, có chi không phải thì châm chước bỏ qua cho.

Lời bình của chị chủ quán thật hàm hồ, đầy sai lạc. Thứ nhất là mấy bác đây hổng có vui tánh lắm đâu nhá. Thứ nhì, đừng áp đặt rằng các bác là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, nghe kinh! Chỉ riêng mấy bác mới hiểu lòng nhau, vui được phút nào hay phút đó bởi mấy bác thảy đều tri thiên mệnh, thảy nghi bất hoặc, thảy cổ lai hy. Và nói cho rốt ráo thì mọi thứ thảy là phù vân. Lần hồi cứ hao hụt dần chuyện tùng tam tụ tứ. Gầy cuộc vui mà sanh ra ngộ nhận thì còn nước nôi gì, vì vậy những cuộc gặp gỡ cứ không đụ mặt, cứ mai một dần. Bây chừ có ai hỏi quán Nhị Vị Hương mần ăn có khấm khá chăng cũng chả biết đường mà lần. Cô Chín có chấm được vị khách nào mãi bỏ công rù quến để so lại đôi đũa cho ngay thì cũng bù trất. Tuần báo vẫn còn sống tuy vậy mấy vị thượng đế nọ đã nhác chơi không thèm xắn tay viết đôi hàng “lăng-xê” Nhị Vị Hương Quán. Người ngoại cuộc có thể phát sanh dị nghị, vụng nghi ngờ mấy “cha nội” kia đang giận lẫy cuộc đời bạc bẽo với văn chương giã từ vũ khí. Nghĩ vậy cũng hàm oan, tiểu đội nọ vẫn còn đó một vài người sung mãn, thường hằng ghẹo gió giỡn trăng. Chữ viết ra không nhất thiết phải mượn không khí của quán Nhị Vị. Ồn ào quá, tốn kém quá, nhọc sức quá. Thảng hoặc có tiện đường, sau khi đi chợ, sau khi đi khám bệnh thì tìm quán cà phê mà nhăng cuội đôi điều. Ừ, mỗi thời mỗi giai đoạn. Gian đoạn ưa bù khú ở tiệm ăn cũ đã lật trang, đánh dấu một thời “Phách Lối”:

Với những nội dung đàng hoàng
tôi nghiêm chỉnh viết chững chàng thành thơ
khi bày những chuyện bá vơ
tôi thường phóng bút hồ đồ thành thi

thi, thơ khác nhau những chi?
không cần tìm hiểu, điều ni rầy rà
người đời quen gọi thi ca
chẳng mấy ai gọi thơ ca bao giờ

làm thơ là nuôi ước mơ
thành thi sĩ viết dật dờ thi ca
vậy là tôi đã vậy là.

Thơ thi trên là của anh Luân Hoán, người cùng kẻ hèn này luôn sát cánh trong những buổi phá mồi bởi tửu lượng chẳng giống ai. Luôn sát cánh vì chung khẩu vị khi ăn nhậu, kén cá chọn canh. Ai sao chẳng biết nhưng chúng tôi thích quán Nhị Vị Hương giản dị vì chủ nhân là anh Tư người Đà Nẵng mà chị Tám người Huế, chúng tôi đồ rằng ấy là một kết hợp vẹn toàn. Chúng tôi có mua vé số xổ hàng tuần để mơ màng với ước mơ chuyện lạ sẽ xẩy tới. Sẽ mua lại quán Nhị Vị Hương, sẽ giữ o Chín làm đầu bếp và như thế chúng tôi tạo dựng ra được một địa chỉ khác lạ làm trạm nghỉ chân cho các văn nghệ sĩ phương xa bốc đồng đi thăm thú phố lạnh. Ngồi mát mà ăn bát vàng là ước mơ hoang đường, bất khả!

Hiện thực, giấc mộng khác nhau những gì? Không cần tìm hiểu điều ni rầy rà. Chín nút bây giờ ra sao? Chú ơi cho cháu yên thân làm giàu. Hồi nào cháu lấy được chồng, quán tên Tam Vị mời chú ghé thăm. Ôi, viết về một cuộc tình thì dễ mà ca ngợi một quán ăn thì thậm khó vậy! Dễ đi tới dật dờ thi ca. Mà thi ca thì tự thuở nào tới giờ hổng có hưởng được đồng bạc nhuận bút. Trần thân thay!

Hồ Đình Nghiêm

Dư dục vô ngôn

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Là học trò lớn lên ở miền Nam, tôi nghĩ chắc các bạn biết đến đoạn văn ngắn của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…”
Thanh Tịnh sinh năm 1911 tại xóm Gia Lạc ven sông Hương, học tiểu học ở trường Đông Ba, trung học ở trường Pellerin, Huế. 1945 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. 1957 tham gia thành lập Hội Nhà Văn VN. Trước khi nghỉ hưu mang quân hàm Đại tá QĐND. Mất năm 1988 tại Hà Nội nhưng mộ phần lại đặt tại núi Thiên Thai, phía tây thành phố Huế.
Sở dĩ ghi lại vắn tắt những cột mốc trong tiểu sử của Thanh Tịnh bởi tôi đồ chừng tác giả truyện ngắn “Tôi đi học” (viết năm 1941) nổi tiếng kia đã gắn bó với Huế, không ít thì nhiều. Huế, nơi sản sinh ra những đứa con lưu lạc, từng cảm thán và từng được lắm kẻ đồng tình: Là nơi đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương.
Chạy giặc đầu năm 1975, vô tới Sài Gòn, tưởng êm, hoá ra giọt dầu loang bắt lửa, nuốt chửng toàn bộ. Tuy chẳng bị phỏng tới lột da tôi cũng dấu che tơi tả lộn lui Huế để hoang mang ghi danh học tiếp và 1976 tôi chính thức được đối diện với Thanh Tịnh do ông Trần Hoàn, tác giả bản nhạc “Sơn nữ ca” đang giữ chức trưởng ty Thông tin tỉnh Bình Trị Thiên dàn xếp một buổi tâm tình với sinh viên con em nguỵ quân nguỵ quyền ở Huế. Có lẽ vì là nhạc sĩ nên Trần Hoàn đã chọn địa điểm là trường Quốc gia Âm nhạc làm buổi “giao lưu”, đốc thúc bọn học Mỹ thuật láng giềng xếp hàng tề chỉnh xé rào qua tham dự. Thời điểm đó nếu bạn đi xem chiếu bóng mà bỏ về nửa chừng ắt bạn sẽ đối mặt với một kết thúc không có hậu. Nhưng tình ngay diễn giả là Thanh Tịnh thì nghe thế, anh em chúng tôi thực bụng cũng hồ hởi phấn khởi lắm. Trần Hoàn thì quê quán ở Hải Lăng ngoài Quảng Trị, không kể tới; nhưng Thanh Tịnh rõ là Huế mềnh, lắng nghe xem giọng nói “chàng” đã hao mòn phai nhạt nước sông Hương bao phân sau tháng ngày dài đầu tắt mặt tối phía bên kia vĩ tuyến 17 trời mãi bàng bạc những đám mây trì nặng trôi trên bầu trời hẹp bất kể xuân hạ thu đông.
Có những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ mà khi lỡ mang cảm tình với họ, bạn chớ nên gặp mặt. Hình bóng tốt đẹp nằm trong tâm tưởng bạn chóng sụp đổ ở phút “vô duyên đối diện bất tương phùng”. Trước mặt tôi là một ông Thanh Tịnh dáng dấp thường thường bậc trung, hơi đen đúa hơi cốt cách nông dân, hơi ngần ngại… thứ tác phong chẳng phải người ở phía thắng cuộc. Kể chuyện nhạt nhẽo, ấp a ấp úng. Ông luôn ngó trước trông sau và chừng như sự thành thật của phút tâm tình đã không cách gì thể hiện được. Thanh Tịnh áo rộng thênh bỏ ngoài quần dài ngang mắt cá, mang dép Bình Trị Thiên và như tất cả các cán bộ khác, ngôn ngữ của họ đều khoác một thứ “đồng phục” y trang nhau. Cuối bài nói chuyện về “đời sống văn hoá cao ở ngoài ta” là phần hội thảo, giải đáp thắc mắc. Tôi đã rất muốn dong tay: Thưa bác, rứa thì ngoài nớ trong giờ dạy văn họ có mang một đoạn trong bài “Tôi đi học” ra giảng cho học trò như ở miền Nam không? Lại muốn thực lòng ngợi ca đó là một áng văn đẹp khó mờ phai trong lòng mấy em học trò mãi hồn nhiên chẳng biết chuyện đấu tranh giai cấp với xung phong diệt thù. Nghĩ bụng là thế nhưng cứ ngồi im re đầu óc trì nặng chứa lắm mây vân cẩu. Chuyện không có gì để ầm ĩ. Phật nói mọi khổ đau đều do miệng lưỡi phát sinh ra. Tôi cúi đầu, xin chay tịnh vá mồm để tránh phong ba.
Kể lại chuyện xưa chẳng mang hậu ý gì, ngoài gợi nhớ đoản văn kia dễ làm đầu cầu cho một hình ảnh thấy sang bắt quàng làm họ: Hằng năm cứ vào tháng Tư, đầu mùa xuân mà lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại nhức nhối những kỷ niệm hoang mang của đứa phải bỏ trốn quê hương. Huế là nơi đi để nhớ mà ở thì chẳng rõ có êm không… Tháng Tư, ôm đồm mà nói vậy chứ thực chất một đứa xứ Huế bị “lá rụng” từ hồi tháng Ba lận. Đám mây bàng bạc cứ dồn cục trên đầu đến cả tháng trời mới chịu tan đàn sẩy nghé bao phù vân. Ngày tựu trường mẹ nắm lấy tay tôi dắt đi học, hình ảnh an lành đó biết tìm đâu thấy khi cả mẹ lẫn con đã bỏ của chạy lấy người, hoang mang nhìn mưa-rơi-trên-mầu-cờ-đỏ.
Trước 75, trong 12 ống của hộp màu nước, dành cho chủ đề của từng bài vẽ dường như chúng tôi biết cách dung hoà chúng. Nhưng khi “quê hương thống nhất”, màu đỏ trở thành khan hiếm do bởi chúng phục vụ cho tất cả mọi đề tài, đặc biệt là tranh cổ động. Đỏ: màu phát quang rất mạnh, đứng xa cũng thấy. Quan trọng hơn, đỏ là màu cách mạng, màu chiến thắng, đạp đổ các thứ. Hoạ sĩ Cuba, hoạ sĩ Bắc Hàn, hoạ sĩ Trung Quốc và hoạ sĩ đàn em Việt Nam thảy đều mê mệt màu đỏ. Hỏi một ông đang ngồi ngáp vặt: Sao không chịu lao động? Mặt nhăn nhó khổ sở: Chẳng có màu đỏ, lấy gì vẽ?
Hằng năm cứ vào tháng Tư, lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại hoang mang thắt ruột khi nhớ về những tháng ngày chịu sống ngộp thở trong sắc màu đỏ. Để mong nguôi ngoai ít nhiều, có đứa “nhân thân xấu” đã kể chuyện tiếu lâm: Một ông Tây ba-lô băng qua đường khi đèn xanh vừa bật sáng. Hậu quả dính thương tật tới 75%. Bác sĩ ở bệnh viện giải thích: Khổ quá, bác đến từ hành tinh nào thế? Đèn xanh tại sao không chịu đứng lại đợi đèn đỏ? Màu đỏ là màu chiến thắng, nhắc bác hãy xông pha tiến lên bất chấp nguy nan, nhớ? Tây ba-lô hoá ra cũng chán thằng lạc hậu, nhỉ! May mà chưa bị gọi là thái tử, nôm na: chết không toàn thây.
Có đứa rảnh rỗi sinh nông nỗi làm tài khôn: Đố chúng mày vì sao thành hôn, vu quy, song hỷ nói chung là đám cưới người ta đều trang hoàng toàn sắc đỏ? Vì họ coi trọng giọt máu trinh tiết của cô dâu chảy ra ở đêm động phòng. Đơn giản vậy mà nghĩ không ra. Cái đứa mau miệng ấy, nghe đâu bị rụng răng vì bị ba thằng bặm trợn vây đánh hội đồng trong đồn công an. Người bạn tôi thuật chuyện khi tại ngoại sau bảy đêm (khoái lạc) ăn nằm sau chấn song. Bạn tôi vào tù vì bạn láu táu không chịu tính bề dài của bức tường làm khi viết sơn khẩu hiệu bị thiếu mất một chữ “ta” nằm cuối câu: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng.
Bảy ngày trong lao hắn ngộ chuyện: Tiếng nước ta thật quá nguy hiểm, thiếu hoặc thừa, có dấu hoặc mất dấu sắc huyền hỏi ngã nặng, chữ đang hiền lành bỗng trở nên hung ác ngay. Con dao hai lưỡi mày ạ, người ta chưa gắp lửa bỏ tay thì mày đã bị lưỡi thép cứa đứt rồi. Để minh hoạ thêm dưới câu nói hắn kể là ông anh hắn giờ này vẫn chưa học tập cải tạo xong, trước đây ông ta có viết văn. Mà văn ông ấy cũng mềm như hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều…
Lá rụng? Chữ này tuồng như bà con với qua đời, với nghỉ chơi, với khuất núi, với chu du miền cực lạc? Ai sao chẳng biết, chứ riêng tôi nghĩ trước năm 1975 mặc dù đang lâm vào cảnh chiến tranh nhưng đón nghe tin người chết không nhiều như giờ đây. Ngoài thân bằng quyến thuộc đến anh em bạn bè cứ người này phủi chân xong đến người khác leo lên ngồi trên bàn thờ. Có phải hệ luỵ đến từ cơn buồn đau mất nước? Mỗi năm đến tháng Tư lá ngoài đường rụng nhiều và người tôi quen biết lần lượt vác mạng qua đèo đi vào chốn cát bụi.
Tháng Tư, do vậy trăm người cười thì có vạn người khóc. Đau thương bao giờ cũng vượt mặt, đụng trần so với nụ cười. Chuyện diễn ra hằng ngày kiểu như đọc thấy ở mục tìm bạn câu khẩu quyết: Buồn nhiều hơn vui, ai đồng cảnh ngộ xin thư về… Qua ngày đoạn tháng còn vậy huống hồ là niềm đau nhức của tháng Tư, vốn vô bờ, vốn còn mới bao vết đoạn trường cũ. Tháng này, trên các diễn đàn văn chương đọc thấy bao thơ văn của “những người đồng cảnh ngộ”. Đọc lấy và xin hãy nhìn thấy mình còn may hơn những phần số bất hạnh chẳng thể bày tỏ khác.
Lời Phật: Bốn chín năm truyền đạo, ta không nói câu nào.
Khổng Tử ngôn: Dư dục vô ngôn. Thiên hà ngôn tai. Không muốn thuyết giảng (bởi ngay cả) Trời có nói gì đâu.
Nhưng hằng năm cứ vào tháng Tư, đành vượt khuôn phép để gửi chút “tâm tư” theo chiếc lá rụng ngoài đường. Mây bay chốn này muôn năm bàng bạc và lòng tôi bất chợt hoang mang tuổi nghỉ hưu. Không thanh, chẳng tịnh.

Hồ Đình Nghiêm.

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Bài 57

Phần 56

Bọn khung bệnh xá và K.4 chào mừng lễ quốc khánh 2 tháng 9 năm 1978 của chúng bằng một cái chết thê thảm của một vệ binh. Buổi chiều trước ngày lễ, chả hiểu chúng bị thanh tra thế nào, thằng thủ trưởng sai hai thằng vệ binh dẫn mấy con heo nuôi lậu giấu nơi cái connex nằm bên ngoài hàng rào. Chẳng hiểu ma đưa lối quỷ dẫn đường ra sao, một thằng đạp trúng ngay quả lựu đạn gài của bọn an ninh vòng đai trại. Ôi thôi! Cỏ cây hoa lá bỗng một thoáng nhuộm đầy máu me Việt cộng lẫn máu heo lậu. Tiếng nổ vang lên vào lúc bọn Vĩnh đang chờ chích thuốc trên phòng khám bệnh. Tất cả bỗng ngừng tay và ùa về phía hàng rào sau K.30, nơi gần nhất chỗ phát ra tiếng nổ. Lúc ấy quả bọn tù bệnh và bọn thợ mộc chưa ai rõ là chuyện gì, chỉ khi từ hàng rào bò vào một thằng máu me cùng mình, mọi người mới biết là lũ cháu ngoan bác Hồ có thằng lâm nạn. 
Kẻ bị thương chỉ bò được qua hàng rào, đến trước cái connex chỗ chúng từng giam và đánh chết người tù tên Hiền của K.4 trước đây, tên Việt cộng con hết bò nổi và xỉu tại trận. Có một điều lạ, và có lẽ lạ nhất đối với bọn tù, ấy là cách chỗ nổ không quá năm mươi thước, một đám vệ binh đang dợt bóng chuyền với nhau, dù đã biết rằng hiện đang có một hai đồng chí của chúng lâm nạn, nhưng tuyệt nhiên không thằng nào nghĩ tới chuyện tiếp cứu. Chúng chỉ ngừng tay ngó về hướng tiếng nổ phát ra, rồi như đã đoán được rằng có một hai thằng bạn nữa vừa rơi vào tình trạng sinh Bắc tử Nam, chúng lại thản nhiên quay trở về với quả bóng, với vuông sân và với tiếng cười đùa ồn ào đến độ không ai có thể ngờ được! 
Phải một lúc sau đó mới có một thằng quản giáo từ văn phòng khung K.4 hộc tốc chạy ra quan sát chỗ nổ. Quan sát xong hắn quay lại hét mấy thằng vệ binh tiếp cứu, nhưng rõ ràng bọn chúng đã tỏ lộ thái độ cháy nhà hàng xóm bình chân như vại. Rốt cuộc tên quản giáo phải đâm bổ vào khu bệnh xá của tù. Kế đó, dưới sự hướng dẫn của tên quản giáo, bác sỹ Thiết cùng mấy anh bạn tù khỏe mạnh bên khối mộc xách băng ca chạy ra tiếp cứu. Tên bị xây xát nhẹ được khênh lên khu bệnh xá của cai tù, còn tên bị thương nặng được khênh ngay vào phòng nhận bệnh của bệnh xá tù để được các ông bác sỹ “ngụy” cấp cứu. Tên này được nhận diện ngay tức khắc. Nó là “môn đệ” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông. Quả lựu đạn nổ làm bay mất một bàn tay trái, gẫy chân phải và ngực bụng bị soi thủng nhiều lỗ. Sau khi băng bó và chích đến năm bảy mũi thuốc một lúc, tên vệ binh từ từ tỉnh dậy. Bọn Vĩnh đứng quẩn quanh tò mò quan sát. Anh Đông đã được thông báo, được Nông Hải Sơn cõng lên phòng nhận bệnh và được đặt ngồi ngay đầu tấm phản cho nạn nhân nằm. Tên vệ binh từ từ mở mắt. Không một nét đau đớn hay lo sợ được nhìn thấy trong đôi mắt nó, mà lạ lùng thay, Vĩnh và các bạn đều nhìn thấy trong đôi mắt ấy một nét buồn ghê gớm. Trên khuôn mặt nhợt nhạt mất máu, vẻ quái quỷ và hung tợn thường ngày đã biến mất, nhường vào đó một nét chịu đựng lạ thường được phơi bày không che giấu một người Việt Nam không may muôn thủa! 
Ông Khái cúi xuống hỏi khẽ nạn nhân một điều gì đó. Vĩnh đứng gần cái TV của bệnh xá và lắng nghe lời bàn nho nhỏ của ông Nam và ông Cường. 
– Chịu! Vô phương! 
Ngay lúc ấy Vĩnh ngó thấy hai hàng nước mắt lăn trên khuôn mặt xanh yếu của anh Nguyễn Văn Đông. Anh giơ tay quẹt thật nhanh. Lòng Vĩnh tự nhiên ngổn ngang nhiều ý nghĩ… 
Nạn nhân chợt mở to mắt ngó mấy người đứng gần. Nó thều thào mấy câu mà suốt đời, không hẳn chỉ riêng Vĩnh nhưng nhất định với tất cả những người đã hiện diện nơi đây vào thời điểm này, đều không thể nào quên được. 
– Em… cám ơn các anh… Em ân hận quá… Em đã không nghe lời dặn dò của… mẹ… em… khinh suất nên em chết. Các anh là những người tốt… Em biết… Tốt lắm… Các anh biết thương em muốn cứu… em. Em biết các anh không xấu… Nói tới đây nạn nhân ngước nhìn nhạc sỹ Đông, thều thào tiếp. Thầy ơi… em chết rồi… cầu Trời phù… 

Sức nạn nhân chỉ đến đó thôi. Nó quẹo đầu sang một bên để vĩnh biệt tất cả. Cái ý nghĩ ngổn ngang lúc nãy về giọt nước mắt của anh Đông chợt tan biến hoàn toàn trong lòng Vĩnh, vì ngay lúc ấy, chính Vĩnh cũng cảm thấy ngậm ngùi khôn tả; và nếu như không bước nhanh ra ngoài, ai biết đâu chính Vĩnh cũng có thể… 
Từ lúc ấy cho đến tối, Vĩnh không sao xua đuổi được nỗi thương xót hướng về người quá cố. Chẳng vì những lời nói tử tế sau cùng của người quá cố dành cho bọn Vĩnh, nhưng vì Vĩnh đã một lần nữa thấy rõ rằng thằng nhỏ ấy, vâng, nó chỉ là một thằng nhỏ đáng tuổi em út anh, còn có một con người nguyên vẹn trong lòng. Con người dấu kín trong nó vẫn biết điều ơn nghĩa, vẫn biết tình thầy trò, biết ham học hỏi… Nhưng nó đã bất hạnh. Nó sinh ra và chưa một lần có dịp được sống bằng con người thật của nó. Vĩnh nghẹn ngào với ý nghĩ không biết đến bao giờ anh và các bạn mới có đủ điều kiện, đủ phương tiện để cứu những thế hệ lầm than vô cùng đang thương xót ấy ra khỏi cái guồng máy cộng sản phi nhân, tăm tối và bạo tàn kia!? 
Một tuần kế tiếp, theo sau cái chết của tên vệ binh, một hiện tượng khác lại xảy ra làm lũ tù bệnh, đám bác sỹ “ngụy” lẫn khối mộc đều kinh ngạc, và có lẽ còn kinh ngạc hơn buổi nhìn thấy bọn vệ binh chơi bóng chuyền cứ lờ tịt đi chuyện cấp cứu một đồng chí đang lâm nạn; sự kinh ngạc ấy là, tên trung úy chính trị viên của K.4 đi cùng quản giáo của khối mộc, xuống tận khối mộc và kêu khối trưởng ra giao ban đột xuất. Sau khi giao ban, khối trưởng quay vào nhà và chọn mấy anh chàng khéo tay nhất khối hội ý. 
– Theo ước vọng của người quá cố được các anh vệ binh kể lại, rằng người quá cố đã nhiều lần ước ao có được một cây đàn guitar. Nay ban chỉ huy và ban quản giáo K.4 kiêm bệnh xá và K.30 chỉ thị khối mộc phải thực hiện gấp trong hai ngày một cây đàn guitar. Cây đàn ấy sẽ được đốt cúng trên phần mộ của người quá cố! Sau cái biến cố giấu heo lậu khiến một vệ binh chết, rồi đưa đến chuyện cán bộ Đảng công khai chơi trò “duy tâm” kiểu “ngụy”, bọn tù bệnh xôn xao nghe ngóng những biến chuyển xảy ra nơi các trại từ K.1 đến K.5. Đầu tiên một số lớn anh em từ Katum được chuyển về và hầu hết được dồn vào K.4; kế đó một số khác từng được đưa đi lao động ở Trảng Bom cũng được triệu hồi về lại các K. 
Riêng bên bệnh xá, đùng một cái ông bác sỹ Các được thả (?) cùng lượt với ông già Lợi tê liệt và anh chàng Chiêu bị thương nơi bộ phận sinh dục. Tin từ K.5 đưa qua cho Vĩnh biết Kim xã xệ, người bạn đồng quân chủng với Vĩnh cũng đã được thả với mấy người khác. Chuyện có một số người được thả lại một lần nữa được bọn quản giáo các K đồng loạt dùng làm lợi khí tuyên truyền và mở những đợt thi đua làm sạch làm đẹp nơi ăn chốn ở. Thối nhất là việc chúng dùng hệ thống loa được gắn trên tất cả các K, để tường thuật những kết quả của bọn vệ binh đang lập các thành tích (bọn tù không đoán nổi là loại thành tích gì!) để được tham dự một cuộc chạy đua tưởng tượng. Cuộc đua này có tên là Cuộc Đua Về Thủ Đô Thăm Lăng Bác. Ban đêm đã khó ngủ, lại cứ phải nằm nghe “đồng chí A tổ Quyết Thắng của T3 ngày qua đã đạt thành tích 250 điểm, tính ra cây số là 25, vị chi từ ngày khởi hành đồng chí chỉ còn cách thủ đô dấu yêu 460 cây số!”. Hoặc giả “đồng chí B tổ Tiến Nhanh ngày qua đã lập kỷ lục mới 360 điểm, tính ra cây số là 36, đồng chí B rất có thể sẽ bắt kịp đồng chí C, người đang dẫn đầu hiện nay trên đoạn đường Nghệ Tĩnh – Thanh Hóa.”…

Bọn tù rầu rĩ than thở với nhau. 
– Xã hội này từ ăn, mặc, yêu đương đến cả vấn đề du lịch cũng đều xảy ra trong tưởng tượng cả! 
Nhưng rồi những chuyện bực mình ấm ớ về đêm như vậy không có lý do để tồn tại. Bọn tù khắp nơi hầu như dồn hết thì giờ vào việc tụm năm tụm ba bàn tán những tin tức mà những anh em từ Katum đưa đến. Theo những anh em này cho biết, sở dĩ họ bị lôi đi khỏi vùng biên giới Việt-Miên vì chiến tranh giữa hai nước “anh em ruột thịt xã hội chủ nghĩa” đã bắt đầu khởi sự. Từ biến cố này, bọn tù “ngụy” tha hồ suy luận và bắt đầu mơ ước trở lại. 
Một buổi sáng trung tuần tháng Chín, Vĩnh thình lình được kêu lên ban chỉ huy bệnh xá và K.30. Trước khi rời cổng bệnh xá, Chung Văn Nhỏ chúc mừng vài câu và bác sỹ Châu nháy mắt nói nhỏ. 
– Bệnh xá đề nghị cho anh coi như hiệu quả rồi đấy. Nhớ trước khi họ khám, ráng kín đáo lén ra chỗ vắng nhảy cò cò cho tôi năm mươi cái nghe chưa? 
Vĩnh đi theo thằng vệ binh dẫn đường. Ít phút sau anh đã được đưa vào ngồi trong một gian nhà tranh nhỏ phía sau ban chỉ huy. Gian nhà tranh trống cả bốn phía vách. Ngồi nơi đây Vĩnh có thể nhìn xéo ra khu nghĩa địa, nơi chôn rất nhiều anh em tù của Suối Máu trong hơn ba năm qua. Anh cũng có thể nhìn thấy một đoạn đường rày xe hỏa chạy trên một thế đất cao, thấp thoáng qua một khu rừng lau lách. Những ngọn gió đưa tới gian nhà tranh mùi phân, mùi nước tiểu, mùi những luống rau ngò rau răm, mùi hôi của lợn và chó, mùi tanh tanh của những xâu đuôi kỳ nhông chưa khô hẳn móc phơi trên một hàng rào thép gai gần đó, mùi ẩm mốc của những nền nhà đắp đất… Vĩnh ngồi xuống một cái ghế đẩu, tự lắng nghe những câu hỏi đang nẩy ra trong đầu. Quang cảnh này bỗng một lần nữa nhắc Vĩnh nhớ đến hồi ở Trảng Lớn, được cách mạng ưu ái mời vào một gian nhà tranh để hỏi tội về cái hồ sơ man khai tí đỉnh. Nhưng dù sao cái gian nhà ấy kín đáo hơn, và câu chuyện lại xảy ra vào lúc tối trời. Quang cảnh này có lẽ giống hồi ở An Dưỡng. Lúc ấy Vĩnh cũng từ phòng cách ly của bệnh xá được thằng an ninh trại 4 lôi lên một căn nhà trống tương tự căn nhà này bợp tai đá đít về tội… xì ke (!), theo đúng như lời báo cáo của ông bạn đồng thân phận Phạm An Toàn. Tệ hơn hồi Trảng Lớn, thằng an ninh còn tặng vào mồm Vĩnh một báng súng và phải gửi lại nơi ấy một cái răng nanh làm kỷ niệm suốt đời. 
Vĩnh cố lắc đầu xua đuổi những trận đòn ấy ra khỏi đầu óc. Anh tự nhủ: Không! Mình đang được ra trình diện hội đồng y khoa của tụi nó mà! 
Rồi thì “hội đồng y khoa” sau cùng cũng xuất hiện. Chúng cũng gồm ba thằng. Ba thằng này đều lạ mặt với Vĩnh cả. Thực ra, từ hồi nằm bệnh xá, Vĩnh chưa hề biết mặt thằng quản giáo của bệnh xá là thằng nào. Mang máng một lần, trong lúc ngồi trên phòng khám bệnh đợi chích thuốc, một thằng mang quân hàm chuẩn úy bước vào nói chuyện với mấy ông bác sỹ “ngụy”. Không hiểu vì chuyện gì, một lúc sau hắn hồn nhiên hỏi bác sỹ Cường. 

– Này anh Cường! Trong các anh ở đây đã có anh nào có cấp bằng tiểu học chưa nhỉ? 
Nghe hỏi, không riêng ông Cường mà các ông khác đều nghệt mặt ra. Sau cùng, ông Cường đánh trống lảng bằng cách quay lại bọn tù bệnh, hỏi khơi khơi. 
– Này mấy anh! Anh quản giáo hỏi mấy anh ở đây đã có ai có bằng tiểu học chưa?… 
Lần ấy là lần duy nhất Vĩnh thoáng nhìn thấy khuôn mặt đần độn của thằng quản giáo. Từ đó về sau, anh không có dịp nào gặp lại nên quên mất. Bây giờ ngồi nhìn ba thằng Việt cộng trước mặt, quả Vĩnh không biết chúng là cái gì. Bác sỹ? Quản giáo? 
Thế nhưng chỉ vài phút sau Vĩnh không thể không than thầm trong bụng. Câu nói của cổ nhân quả đúng tuyệt đối. Họa vô đơn chí! Ba thằng trước mặt Vĩnh chẳng phải là bác sỹ, cũng chẳng phải quản giáo; chúng là bọn cán bộ an ninh từ “trên” xuống làm việc! 
Sau khi giáo đầu phần mục đích yêu cầu, một thằng nhập đề ngay. 
– Mấy ngày nay anh đã thấy rõ chính sách khoan hồng trước sau như một của cách mạng thể hiện cụ thể ở trại ta, và trước mắt ở ngay bệnh xá. Anh Các, rồi mấy anh gì nữa nhỉ? À anh Chiêu này, rồi cái anh tê liệt nữa; mấy anh ấy do sự thành khẩn khai báo, thành khẩn ăn năn xám hối những tội lỗi đã phạm với đảng với nhân dân, đã tích cực phấn đấu học tập lao động cải tạo tốt, đã được cách mạng cho về đoàn tụ gia đình, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ Quốc. Riêng anh, đáng lý anh cũng được cách mạng chiếu cố lần vừa qua đấy! Nhưng vì trong hồ sơ còn vài điểm lấn cấn chưa thông suốt, nên Trên quyết định sẽ cho về đoàn tụ ngay sau khi anh khắc phục mọi khó khăn, thành khẩn khai báo lại một lần cuối bản tự khai của anh. 
Tên cán bộ an ninh nói tới đây ngó đăm vào Vĩnh, hỏi tiếp. Sao? Yêu cầu của cách mạng như thế anh thấy thế nào? 
Vĩnh cố bình tĩnh. 
– Vâng, có gì thì tôi đã khai hết từ lâu rồi. Nếu cách mạng muốn tôi khai lại tôi sẵn sàng ngay. 
Tên an ninh ngồi giữa bỗng chen vào. 
– Ba năm qua anh đã làm 14 bản tự khai. Chúng tôi biết đọc mà. Thế nên cách mạng biết các bản tự khai của anh có nhiều ưu điểm là khá giống nhau và cự li sai biệt không xa nhau lắm. Nói chung chung là tốt. Thế nhưng sau lần làm việc của ban an ninh trại L4T3, bản tự khai của anh vẫn khuyết một điểm quan trọng chưa được bồi dưỡng. Vậy thì là hôm nay, Cách mạng gọi anh lên đây để yêu cầu anh khai chi tiết về những cơ sở văn hóa đồi trụy và phản động của ngụy mà anh từng cộng tác hoặc được biết tới. Nói rõ nhiệm vụ, chức năng và lợi nhuận mà anh từng được hưởng khi cộng tác với các cơ sở văn hóa ấy. Anh đã viết bao nhiêu bài báo đả kích bôi nhọ cách mạng? Đã viết và in bao nhiêu sách? Loại gì? Số quyển lưu hành? Nộp lưu chiếu ở đâu? Ngày tháng nào? Nhất là… 
Nói tới đây hắn lại ngó đăm đăm vào mặt Vĩnh, rồi giở giọng ve vãn tiếp. Nhất là khai báo thành khẩn bọn cầm đầu các ổ tuyên truyền phản động, tay sai bọn CIA gài lại hoạt động chống phá cách mạng. 

Rồi thì bọn chúng bỏ đi, để lại Vĩnh với mấy tờ giấy và bút mực. Một lần nữa, Vĩnh phải khai bổ túc vài điểm về “văn hóa đồi trụy” cho các bản tự khai trước đó. Dĩ nhiên bản bổ túc của Vĩnh chẳng có gì nhiều hơn một số sách của anh đã viết hoặc dịch từng được xuất bản dưới chế độ cũ. Bản bổ túc, sau cùng được nộp vào lúc các trại sắp phát cơm trưa. Tên an ninh tiếp nhận bản tự khai với một chút nhíu mày nhưng thật may mắn, hắn cho Vĩnh trở về bệnh xá mà không đòi hỏi thêm một cái gì nữa. 
Với sự buồn bực trong lòng, Vĩnh trở lại bệnh xá trước sự thăm hỏi của các bác sỹ và các bạn. 
Ông Châu hý hửng. 
– Theo đúng bài bản đấy chứ! 
Vĩnh ngao ngán. 
– Ông thầy muốn nói bài bản gì? 
– Thì phải nhảy cò cò chừng năm mươi cái! 
Vĩnh bỏ ra khỏi phòng khám bệnh, nói khẽ. 
– Tôi đã ra hội đồng an ninh chứ không phải hội đồng y khoa, bác sỹ ạ! 
Khi về phòng, Vĩnh thấy thêm một bệnh nhân vừa được khênh từ K.5 sang. Hai người khênh võng còn ngồi dựa lưng vào vách tôn của dãy cách ly nghỉ mệt. Một người chợt thấy Vĩnh chợt reo lên. 
– Vĩnh! 
Vĩnh nhận ngay ra người gọi mình là Phạm Ngọc Đông, hải quân trung úy từng ở đội 19 hay 20 bên K.5. Đông tính tình hiền lành, mặt rỗ hoa, vóc dáng cao lớn khỏe mạnh. Vĩnh không chơi thân với Đông nhưng Đông lại chơi thân với Kim. Thỉnh thoảng gặp nhau nói dăm ba câu chuyện về thời thế rồi thôi. Thình lình gặp nơi đây, Đông thuật lại vài chuyện cho Vĩnh nghe về tình hình chung bên K.5. Đông cũng xác quyết với Vĩnh là gia đình Kim đã chạy hết mười lượng vàng mới cứu được Kim ra khỏi vòng rào trại cải tạo kỳ rồi. Cũng trong lúc trò chuyện tay đôi, Đông cho Vĩnh biết một kế hoạch rất mơ hồ, theo đó có một số anh em trẻ đang ngấm ngầm liên kết với nhau làm cuộc nổi loạn lớn trong tương lai ngay tại trại Suối Máu này. Đông cũng hỏi Vĩnh có quen ai thân bên K.30 không? Nghe Đông nói những chuyện mơ hồ như vậy, quả tình Vĩnh cũng chỉ nghe để mà nghe. Anh lắc đầu và nói rằng không quen ai quá thân bên K.30 cả, trừ một người tên Nông Hải Sơn, nhưng hắn là một nhà tử vi và rất tin vào tướng số. Chắc chắn Sơn sẽ không bao giờ cãi số để bạo loạn một khi hắn đã từng khẳng định rằng số hắn còn lâm vòng lao lý lâu dài. Buồn vui, khóc cười, nhục nhằn, cơ cực nơi trại tù Suối Máu bỗng kết thúc thật bất ngờ hai ngày sau khi Vĩnh bị an ninh gọi lên bổ túc bản tự khai. Ngày 18 tháng 9 năm 1978, cả bệnh xá chỉ có một người ho lao ra máu là Phạm Vĩnh được lệnh thu đồ đạc thật nhanh vào bao bị. Tất cả những gì rườm rà như lon cóng, đàn địch… phải bỏ lại hết. 
– Về! 
– Mày được về rồi Vĩnh ơi! 
– Mừng cho cậu! 
– Ráng giữ sức khỏe. Khi nào rảnh biên thư vào thăm anh em nhé! 
– Tây đi! Đừng dại dột mò vào đây nữa! 
Mười ba tháng ở Suối Máu. Và nơi đây, nơi cái bệnh xá có ba dãy nhà tôn và một dãy nhà bếp, có cái giếng nước giữa sân, có cái cầu tiêu dòi bò trắng đất… Vĩnh đã sống đến tám tháng trời. Ra đi thình lình thế này, quả Vĩnh xúc động không cầm được nước mắt. Những người bạn tốt bụng bên khối mộc; những ông bác sỹ tuổi đời lẫn tuổi lính đều vào bậc niên trưởng tận tình chăm sóc anh em trong cơn đau yếu; những người bạn lê lết bên khu thường bệnh; những người bạn sống cũng như chết rồi bên khu cách ly…; tất cả như những vết mực tàu hảo hạng xâm đậm nét ngay trong trái tim yêu thương của Vĩnh. Về ư? Chưa biết nhưng mong như thế quá sức. Nhưng dù về hay gì gì đi nữa, những con người và cái bệnh xá Suối Máu này sẽ suốt đời không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm Vĩnh.

 

Phút cuối cùng nhất, có một điều hơi phiền xảy ra cho Vĩnh. Cái túi thực phẩm khô do gia đình tiếp tế cho anh, vì bị ướt một góc, anh đem móc phơi trên hàng rào giữa khu cách ly và K.4, quay đi quay lại đã biến mất. Tiếc một điều là trong đó có cả một ít giấy tờ lẫn hình ảnh vợ con anh. 
Rồi thì Vĩnh được hướng dẫn trở về K.5. Khi xách đồ ra khỏi dãy cách ly, Vĩnh đi thật nhanh để thoát cặp mắt rươm rướm của Chung Văn Nhỏ. Vĩnh thoáng thấy hình như bên K.4 cũng có vài người đã sắp sẵn đồ đạc và ngồi đợi một cái gì ngay nơi cổng trại, kế hàng rào chỗ Vĩnh vừa mất túi thực phẩm khô. Họ cũng được thả như mình chăng? Vĩnh tự hỏi. 
K.5 lại hiện ra trước mắt Vĩnh. Ba cái Molotova đã đậu sẵn nơi vuông sân cát trước bộ chỉ huy tự bao giờ. Vĩnh mệt mỏi băng qua cổng trại rồi tiến về phía hội trường, nơi xưa kia Vĩnh từng quét dọn mỗi ngày với Huy, Ý, Dương. Khi bước vào hội trường, anh thấy trong đó đã có sẵn cả trăm người xếp hàng tư ngay ngắn. Dưới chân họ cũng có những túi quần áo gọn gàng như của Vĩnh. Vĩnh nhận ngay ra trong số người ấy có cả Huy, Ý, Dương và cả Điểu. Anh thầm nghĩ trong bụng thôi thế là đủ bộ rồi! Bạn bè cũ đưa những ánh mắt nửa thăm hỏi, nửa chào đón. 
Ngoài sân, một vài người đang lồng lên chưa biết giải quyết ra sao với những bầy gà không thể rượt bắt lại của họ. Đây là những con gà, họ từng nuôi những tháng ngày qua, giờ đã sinh con đẻ cái tùm lum…
Vào quãng chín giờ sáng, một tên quản giáo từ khung K.5 xuống đọc nội quy quy định một số điểm mà những người sắp ra đi phải nghiêm chỉnh chấp hành. Bản nội quy cho mọi người biết chắc rằng, có một trại mới nào đó ở một nơi nào đó, đang chờ họ đến để tiếp tục phát huy niềm tin tuyệt đối vào chính sách khoan hồng cải tạo của cách mạng vẫn luôn luôn trước sau như một!









Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Bài 56

Phần 55

Trời tháng Tư tháng Năm là cao điểm nóng ở Biên Hòa. Cho dù trại bệnh được nằm sạp gỗ và sống trong một môi trường không đến nỗi chen chúc nhau như ở các K, hoặc hỏa ngục trần gian như trong các dãy connex, nhưng quãng mười giờ sáng, sau khi các bác sỹ khám bệnh là bọn tù bệnh đã lục đục kéo nhau ra giếng tắm. Bên ngoài bờ giếng có một cái chảo sứt quai thật lớn của nhà bếp thải ra dùng để chứa nước tắm cho tù bệnh. Theo đúng nội quy của bệnh xá, các đấng bác sỹ “ngụy” còn kiêm cả nhiệm vụ kéo nước cho tù bệnh tắm; tuy nhiên, ở bệnh xá mấy tháng, Vĩnh chỉ thấy ông bác sỹ Khái, bác sỹ Châu hoặc bác sỹ Nam chăm làm việc này để phục dịch lũ tù bệnh (có thể ba vị này đã vào tuổi năm mươi cả, cái tuổi tương đối bớt tự ái vặt và nhẫn nhịn?), còn mấy ông bác sỹ trẻ thì hiếm khi các ông ấy chấp hành đúng nội quy quy định về việc này. 
Riêng bọn tù bệnh, mỗi lần ra giếng tắm, chính bọn cách ly như Vĩnh lại là bọn không cần phải làm phiền tới ai cả; điều ấy có nghĩa là tự đi ra giếng, tự kéo nước lên và tự tắm rửa lấy được. Thế nhưng bên dãy thường bệnh thì khác. Đúng như ông bác sỹ Các (một ông bác sỹ làm biếng nhất trong những ông bác sỹ!) nói, họ là “cái rắc rối của cuộc đời!”. Mà quả vậy! Không rắc rối sao được một khi Chiêu muốn tắm? Chao ôi! Cả chục ông bác sỹ phải khuân anh ta ra giếng, người cởi đồ, người tháo băng, người múc nước, người kỳ lưng, người rửa đít… Đến ngay nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông cũng đã là một cái rắc rối khá to rồi. Anh Đông đi đứng không được. Mấy ông bác sỹ lại phải chạy qua khối mộc nhờ một tay to con tốt bụng cõng hộ anh ra bờ giếng. Chỉ cần thế thôi vì khi ra tới bờ giếng rồi, anh vẫn có thể bò ngang bò dọc để múc nước từ cái chảo ra tắm gội lấy một mình. 
Mỗi lần theo các bạn ra giếng tắm giải nhiệt, Vĩnh hay tò mò ngồi ngắm cái hoạt cảnh bi hài đang xảy diễn ra chung quanh. Trong lúc anh Đông ngồi tê liệt một chỗ, đôi mắt nhiu nhíu dưới ánh nắng chan hòa, tay vòng ra sau lưng kỳ lớp da xám xịt vì những dấu sẹo ghẻ còn lưu lại từ một mùa “ghẻ cả nước” năm nào; thì anh chàng Mẫn của K.30, một cựu trung sỹ ANQĐ, người tự xưng là Lã Phi Khanh, dịch giả bộ kiếm hiệp Lệnh Xé Xác (chẳng biết thực hư?) thao thao bất tuyệt về ngón Di Ảnh Kỳ Hình của một nhân vật chưởng mà anh từng dịch, về những giai nhân tuyệt sắc trong truyện Tàu anh đọc (dù lúc còn sống, ông cụ Hòa đã quả quyết với Vĩnh “Lã Phi Khanh tôi chưa gặp bao giờ nên không biết xừ ấy có thực là Lã Phi Khanh không, duy có điều tôi thử va vài lần, thì tôi biết chắc va dốt đặc, không biết một chữ Tàu nào cả!). Hoặc giả cũng ngoài bờ giếng, Vĩnh có thể vừa tắm vừa ngó mấy anh nuôi bếp K.30 nhồi bột ngay cạnh dãy cầu tiêu đầy ruồi và dòi bọ trắng mặt đất. Những con gà của tù nuôi đứng mổ ăn từng con dòi mập ú ấy. Chênh chếch về phía đầu hồi dãy thường bệnh, anh chàng Mẫn (trùng tên với Mẫn “Lã Phi Khanh” K.30), một tù nhân thuộc diện tệ đoan xã hội (bị bắt vì hút thuốc phiện) được chuyển từ trại Bùi Gia Mập về, bị bệnh trĩ đến độ có thể nói không còn thuốc nào chữa nổi! Anh ta, mỗi lần rời khỏi cái cầu tiêu đầy ruồi và dòi bọ nằm cạnh bếp K.30, phải bò trên đất mới về được tới cửa phòng. Về tới đó, anh còn phải ngồi xổm cả nửa tiếng đồng hồ, chờ cho khúc trực tràng sa ra ngoài, đỏ lòm những máu mủ và phồng to như một cái bong bóng lợn, từ từ teo lại và rút vào bên trong, lúc ấy anh mới đứng lên, xanh lét và run rẩy lết về chỗ nằm! 
Cũng từ chỗ bờ giếng này, Vĩnh có thể nhìn qua lớp kẽm gai sét rỉ sau dãy cầu tiêu và thấy rất rõ sinh hoạt của một góc K.3. Cũng những luống cải tưới phân tươi đầy ruồi, cũng dãy cầu tiêu xây bằng gạch đỏ còn sót lại từ chế độ cũ, cũng những dãy nhà tôn nóng bức và ẩm thấp làm nơi ăn chốn ở cho tù, cũng một hai vuông sân bóng chuyền nhưng tù chẳng bao giờ có bóng mà chơi, cũng những hình nhân vất vưởng ốm đói, cũng những thằng quản giáo mặt mũi lầm lì và đần độn lâu lâu quẩn qua quẩn lại nơi khu bếp tập thể như muốn ăn trộm một cái gì… 

Mấy ngày nay, ngoài những hoạt cảnh quen thuộc trên, Vĩnh và các bạn còn phát hiện ra bên K.3 có thêm một hiện tượng mới. Từ trong một dãy nhà trống (có thể là hội trường của K.3), lâu lâu lại vang lên những câu chửi rủa thật rùng rợn. Nhiều khi những câu chửi ấy “xúc phạm một cách nghiêm trọng” đến cả “bác Hồ kính yêu” nữa. 
– Ối trời ơi! Tao đã nói tao tên là Hồ Công Min. Tao không phải là Hồ Chí Minh. Thằng Hồ Chí Minh nó chết thúi bỏ trong cái A Tăng Tì ngoài Ba Đình ấy. Còn tao là Hồ Công Min! Hồ Công Min!… 
Sau những câu chửi rủa thường có tiếng vật lộn, tiếng ú ớ của một người bị nhét giẻ vào miệng. Cũng có khi vang lên những tiếng huỳnh huỵch của người bị đánh bằng báng súng vào lưng hoặc bị đá vào bụng. 
Một buổi trưa, sau những câu chửi rủa la hét như mọi ngày, Vĩnh và những người bên trại bệnh đều nhìn thấy một người trần truồng thoát chạy ra khỏi dãy nhà trống một đầu hồi bên K.3. Người ở truồng ấy chạy thục mạng về phía những luống rau cải xanh nằm gần hàng rào ngăn đôi trại bệnh và K.3. Đầu tóc bờm xờm, thân thể dơ dáy, mặt mày lem luốc, bụng có vẻ bị bệnh chướng; đại thể anh ta là một người đang trong tình trạng điên loạn. Anh chạy như bay đến mấy luống cải, cúi xuống nhổ luôn hai bụi cải và cho lên miệng nhai rau ráu. Vừa nhai anh vừa ngửa mặt cười và nói những điều thật vô nghĩa. Vừa lúc ấy năm bảy người khác, cũng đều là tù cải tạo K.3, ùa chạy đến bên anh và miệng la làng với nhau. 
– Giật mấy cây cải ra! Trời ơi đừng để nó ăn! Cứt không à! 
Thế rồi mấy người đó đồng hè nhau nhảy vào vật người cởi truồng xuống đất, giật phăng đi mấy cây cải dính đầy phân người khỏi tay anh. Anh vùng vẫy, chửi rủa, la hét. Nhưng rồi cuối cùng anh đành thúc thủ trước sức mạnh của năm sáu người bạn. Anh bị khênh trở lại dãy nhà… 
Hiện tượng Hồ Công Min chỉ đôi ba ngày sau đó bọn tù bệnh và anh em bên K.30 đã hiểu hết tự sự: Người điên Hồ Công Min được trói khênh sang bệnh xá vào đúng một buổi trưa nóng như lửa đốt. Min được trói thật chặt, trói bằng dây thừng to bằng nửa cổ tay. Hai vệ binh hướng dẫn cả chục tay tù cải tạo áp giải anh sang bệnh xá. Ông bác sỹ Châu ra nhận bệnh với dáng điệu thật e ngại. Thực ra mấy ông bác sỹ ở đây đã có nhiều kinh nghiệm về những người bị bệnh điên được chuyển qua bệnh xá. Biện pháp này quá vô ích và khôi hài không khác nào hành động đánh bùn sang ao! Một mặt bệnh xá không chữa được bệnh điên, không có cả phương tiện tối thiểu để kềm chế người điên khi cần thiết; mặt khác chỉ gây phiền hà và nguy hiểm cho những tù bệnh vừa đói thuốc lẫn đói ăn nơi đây! 
Nhưng lệnh nhận bệnh thì vẫn cứ phải vui vẻ mà nhận. 
Trời tháng Tư tháng Năm bệnh xá vốn đã nóng như một cái lò bánh mì, thêm Hồ Công Min thì lò bánh mì ấy đã muốn biến thành một lò thuốc nổ. 
Vĩnh đã từng gặp một số người điên trong tù kể từ thời Trảng Lớn lên tới đây. Anh chàng Thân của khối 4 L4T3, một người điên nhưng phát ngôn không điên tí nào lúc anh từ chối làm bản tự khai: “Tao không khai vì tao chẳng có tội với thằng đếch nào cả!”. Anh chàng Trương Hồng từ trại An Dưỡng, một người điên củ mỉ cù mì, luôn luôn bảo đảm ngày công lao động và đạt chỉ tiêu trong mọi công tác khổ dịch; chỉ tội mỗi khi rảnh rỗi, anh lại ngồi tỉ mỉ vẽ máy bay tàu thủy với niềm hy vọng là chính những máy bay tàu thủy ấy sẽ có ngày chở anh thoát khỏi nơi đây. Anh chàng Mẫn của trại An Dưỡng, kẻ tự xưng mình là tân giáo chủ Tôn Giáo Liên Hiệp Thế Giới, bị đánh đập cùm kẹp rồi bị tha luôn ra ngoài Bắc. Anh chàng Phạm Xuân Đồng của K.5, một người điên mà nếu xét trên một vài thành quả, anh còn tài hơn chán vạn người không điên, ấy là đã ba lần trốn trại mò về nhà thăm mẹ và lần nào cũng thành công. Bây giờ Vĩnh biết thêm một người điên mới, người điên Hồ Công Min, một cựu đại đức tuyên úy Phật Giáo của QLVNCH. 
Bệnh xá có ba dãy nhà. Người điên không thể được vinh dự nằm chung dãy với các bác sỹ, dù là bác sỹ có cùng gia phả “tù ngụy”. Người điên lại càng không nên đặt nằm trong dãy thường bệnh gồm toàn những người tê liệt, bại xụi không thể đi đứng dễ dàng. Giải pháp hay nhất vẫn là tống cổ anh chàng điên vào nằm chung với bọn cách ly là yên chuyện. Một phần khu cách ly rộng rãi, phần khác bọn Vĩnh dù ho lao nhưng hai chân vẫn chạy được khi cần thiết. Có lẽ mấy ông bác sỹ tù đã nghĩ như thế cho nên họ đưa Hồ Công Min vào nằm chung phòng với Vĩnh và Nhỏ. 

Vĩnh không có một tí kiến thức nào về phương pháp trị liệu, ngay cả cách đối xử với người điên, nhất là khi họ lên cơn. Hiện nay Vĩnh chỉ biết ông bác sỹ Thiết đã chích chào mừng người điên một mũi thuốc, mà theo ông ta, một con trâu chỉ cần hai phần ba lượng thuốc này cũng đủ ngủ dập ngủ vùi. Ống thuốc khá to. Ngay khi mũi kim được rút ra khỏi đùi, bắp đùi người điên đã nổi ngay lên một múi thịt to tướng. Lúc chích thuốc Min đang lên cơn nên có lẽ anh ta không thấy đau. Sau khi mũi thuốc được rút ra, năm bảy anh bạn bên khối mộc xúm lại đè nghiến Min xuống và trói gô anh vào tấm sạp gỗ. Min gào la, chửi rủa, nhổ đờm nhổ bọt. 
– Tao là Hồ Công Min. Tao không phải là thằng Hồ Chí Minh. 
Nghe chửi, một trong hai thằng vệ binh đứng ngoài cửa phòng chợt nhảy vào. Nó giơ cao báng súng và đập lia lịa vào mặt vào ngực Min. Mấy ông bác sỹ và bọn tù bệnh ai cũng thấy đau nhói trong tim trong óc nhưng đành bó tay. Thằng vệ binh vừa dọng bằng súng vào mặt vào cổ người điên, vừa chửi. 
– ĐM. thằng bố láo! Giả điên chửi nhảm phải không? ĐM. đánh chết cha thằng hỗn láo! 
Bác sỹ Châu nhanh trí vội làm mặt giận, hét mấy anh em bên khối mộc. 
– Anh Đào, anh Sơn! Mấy anh kia nữa. Nhảy vào nhét giẻ vào mồm nó đừng cho nó nói bậy nữa! 
Mấy anh tù đứng ngoài như hiểu ý. Họ nhảy ngay vào và phủ lấy người Hồ Công Min. Tên vệ binh thấy vậy ngừng tay đánh. Nó nhảy ra ngoài vài bước, đứng hằn học nhìn và miệng không ngớt chửi rủa. 
Một lúc sau miệng Min đã được nhét giẻ. Giờ đây chỉ còn đôi mắt, đôi mắt đỏ như lửa và lạ lùng thay, nó dịu hẳn xuống khi hai thằng vệ binh đã quay gót bỏ đi. 
Những ngày kế tiếp, lãnh đủ với người điên Hồ Công Min dĩ nhiên là Vĩnh và Nhỏ. Khi Min tỉnh, hai người phải thay phiên nhau dỗ ngon dỗ ngọt để đút cho anh từng miếng bo bo hoặc bột luộc xắt nhỏ. Lúc anh lên cơn, cả hai chỉ có nước ù té chạy báo động. Khủng khiếp nhất là lúc Min lên cơn vào lúc nửa đêm, khi hai người ngủ say. Có lần Min nhảy qua đấm Chung Văn Nhỏ túi bụi, miệng chửi ầm ĩ. 
– Thằng Hồ già! Thằng Hồ già! Tao trả y bát ăn thua đủ với mày! 
Hoặc. 
– Thằng Hồ già! Thằng Hồ già! Cho mày sa A Tăng Tì… 
Những lúc như thế Vĩnh và Nhỏ tung chăn chiếu chạy ùa ra ngoài sân. Được cái Min không bao giờ đuổi theo. Khi thấy hai người đã bỏ chạy là anh tự động ngồi xuống một góc nhà, miệng lâm râm tụng những chuỗi Phạn ngữ thật lạ tai. Tuy nhiên, sự nổi điên của anh thường không nặng lắm và không kéo dài. Nếu có nặng chăng, theo sự quan sát và nhận định chung của hầu hết mọi người trong bệnh xá, là khi anh thoáng nhìn thấy một cái nón cối, dù cái nón cối ấy do tù hay cai tù đội, đều làm anh nổi điên đến độ hung tợn. Mắt anh đỏ lên như hai hòn máu và lao tới như chỉ để bẻ cổ kẻ đang đội cái nón cối ấy. 
Khi sự phá phách về đêm của Hồ Công Min chợt tăng lên, cao điểm là anh đã đánh Vĩnh, chụp lấy lon muối mè của Vĩnh để đầu giường ăn ngấu ăn nghiến; thì một biện pháp cần có cho Hồ Công Min được các bác sỹ nghiêm trọng đặt ra: Thương thì thương nhưng vẫn phải tìm cách cùm Min lại! 

Khối mộc được nhờ để thực hiện một cái cùm, kiểu cùm có đế gỗ. Và chỉ một ngày sau đó, Hồ Công Min hoàn toàn bó chân ngồi một chỗ. Khi anh tỉnh táo thì hoặc Vĩnh, hoặc Nhỏ, hoặc Nông Hải Sơn dụ dỗ đút cho ăn. Khi anh ỉa đái thì lấy nước tắm gội tại chỗ. Khi anh lên cơn điên cứ mặc anh vật vã với cái cùm dưới chân. Khi anh chửi “bác kính yêu” thì đành đè anh nằm xuống, âu yếm nhét tí giẻ vào miệng anh để cái thân đau ốm ấy đỡ phải quằn quại dưới những cái đấm, cái đá vô nhân của quân thù! 
Khi cả trại bệnh rỉ tai nhau về những tin đồn xảy ra bên ngoài xã hội, chẳng hạn ông cha Thanh “người hùng chống Thiệu” đã bị cách mạng hỏi thăm sức khỏe tống cổ vào Chí Hòa; hoặc dân Kiến Hòa “đất thép thành đồng” của cách mạng từ Tết đến giờ đã nhiều lần nổi loạn, đặc biệt nghe đâu đã có một hai trại tù được anh em ta mò về giải thoát, lần đầu vào cuối tháng 2 và lần vừa qua vào đầu tháng 5… thì dãy cách ly lại được rước thêm một vị điên mới. 
Người điên thứ hai này được đem qua từ K.1. Ông này tuổi đã 50. Tên ông là Ái, người Huế, cựu giáo sư Pháp văn, và khi lên cơn ông nói tiếng Pháp thật lưu loát. Tuy nhiên ông Ái là một người điên hiền. Đúng ra ông là một người ngớ ngẩn hơn là điên. Khi lên cơn ông không gào la phá phách. Ông chỉ huyên thuyên nói tiếng Pháp, tuyệt nhiên không ăn uống và luôn miệng van xin “được xử bắn”. Đặc biệt mỗi khi ông nhác thấy một thằng bộ đội hay quản giáo nào đi qua, ông đều chạy lại níu kéo và nói thật lễ độ bằng tiếng Pháp, đại ý. 
– Thưa anh quản giáo, tôi van nài anh hãy xử bắn tôi ngay lúc này, tại đây. Xin đừng muộn hơn dù chỉ một giây phút, vì như thế tôi chịu không nổi, tôi sẽ… chết mất! 
Thoạt đầu lũ vệ binh quản giáo điên máu đánh ông trận nào trận nấy gần chết. Chúng nghi ngờ ông giả điên để chọc ghẹo chúng. Lâu dần chúng phải công nhận ông là người mất trí từng cơn, và tống ông sang bệnh xá. 
Hai thằng ho lao từ đây phải luân phiên phục dịch cơm nước và tắm rửa cho hai người điên. Vĩnh và Nhỏ hóm hém lại càng hóm hém hơn. Mấy ông bác sỹ nhà ta chỉ lo mỗi việc lụi thuốc ngủ vào đùi họ mỗi khi họ lên cơn điên, còn ngoài ra khoán cả cho Vĩnh, Nhỏ và đôi ba người bạn tốt bụng bên K.30. 
Khi ông Ái bớt điên và được lệnh xuất viện, Vĩnh đã tình nguyện đi theo mấy người bạn bên khối mộc hộ tống ông về tận K.1. Sở dĩ Vĩnh muốn có dịp đi qua K.1 là để ghé thăm một người bạn văn nằm bên đó. Lúc đưa ông về tới trại trời đã tối mịt. Vừa dẫn ông vượt qua cổng Vĩnh đã dặn dò mấy bạn đi cùng hãy đưa ông về phòng và cố đợi Vĩnh một chút nơi cái vườn hoa giữa sân trại. Nói rồi, Vĩnh chạy ngang dọc hỏi thăm anh em về người bạn văn mà anh biết rõ anh ta đang ở trại này. Đi quẩn quanh một lúc, Vĩnh bước vào một dãy trại. Bên trong bạn tù nằm ngổn ngang. Dưới ánh đèn điện tù mù, Vĩnh cúi xuống hỏi đại một người nằm ngay đầu dãy nhà. 
– Anh ơi, cho hỏi thăm tí. Anh Đinh Tiến Luyện nằm chỗ nào anh? 
Người nằm ở đầu nhà chỉ tay vào một người đang nằm võng khoảng giữa gian nhà. Vĩnh nhanh chân tiến lại. 
– Ông Luyện hả? 
– Ừa! 
– Hà Thúc Sinh đây! 
Người nằm võng vội ngồi bật dậy. Tay bắt mặt mừng và hỏi thăm nhau mới được dăm ba câu Vĩnh đã phải vội cáo từ. Anh cho Luyện biết anh nằm bên bệnh xá, khi nào có dịp qua đó, nhớ ghé khu cách ly trò chuyện với nhau. 
Trong gần ba năm tù, Luyện là người bạn văn thứ tư Vĩnh được gặp. 
Ngày tháng trôi qua, người điên còn lại là Hồ Công Min cũng được xuất viện. Đại đức Hồ Công Min xuất viện chẳng vì khỏi bệnh, mà vì bọn y sỹ Việt cộng chỉ huy bệnh xá nhất định trả về K.3 với lý do bệnh xá không phải là nhà thương điên, và nhất là không có phương tiện để chữa trị cũng như giam giữ người điên. 
Từ đó, những trưa nắng ra bờ giếng tắm, bọn Vĩnh thỉnh thoảng lại được nghe thấy những câu chửi quen thuộc vang lên nơi dãy nhà trống một đầu hồi “Tao là Hồ Công Min. Tao không phải là thằng Hồ Chí Minh…”, tiếp theo đó thế nào cũng có những tiếng huỳnh huỵch đi kèm và những tiếng chửi thề tục tĩu của bọn vệ binh K.3. 

Rồi cũng có lúc, y như được xem chiếu lại một cuộn phim, Vĩnh và anh em bên trại bệnh lại thấy Min phóng chạy ra khỏi dãy nhà, trần truồng, dơ bẩn, miệng hò hét như một kẻ đang bị một bầy chó dữ rượt đuổi. Anh chạy lại phía mấy luống rau, nhổ đại vài cụm và cho lên miệng nhai ngấu nghiến. Tuy nhiên càng về sau, Vĩnh càng thấy Min mất dần đi vóc dáng của một con người. Anh xanh mướt, mắt thụt sâu và mất thần. Dễ sợ nhất là cái bụng của anh, cái bụng ngày một chướng to trông như một cái trống, nằm nặng nề trên một cặp chân khẳng khiu như hai ống sậy. Vẻ chạy nhảy của anh cũng không còn mạnh và hùng hổ như trước. Anh yếu ớt, xiêu vẹo và số lượng người rượt đuổi theo anh không còn đông như xưa! Thường chỉ một hai tên tù bạn rượt theo đã đủ sức vật anh xuống, nhét giẻ vào miệng để tránh cho anh chửi bậy bạ, hoặc lôi ngược anh trở về phòng một cách dễ dàng. Con người ấy quả thực đã cận kề mộ huyệt! 
Riêng Vĩnh vẫn tiếp tục được nằm bệnh xá. Công tác hàng ngày hiện giờ là đút cơm cho một ông bạn già. Ông này đã hoàn toàn tê liệt kể từ ngày được khênh từ K.4 sang. Ông đã bị một người bí mật đánh một thanh củi vào đầu khiến bán thân bất toại vì cái tội, theo như anh em bên K.4 cho biết, làm ăng ten cho giặc. 
Vì cú đánh quá mạnh khiến ông bất tỉnh nhân sự liên tiếp mười ngày trời. Khi tỉnh dậy, ông chỉ có thể bập bẹ nói như một người đã bị cứng mất ba phần tư lưỡi. Những lúc đút cơm cho ông ăn, Vĩnh thấy thương xót ông kinh khủng. Nhưng những lúc ông mê sảng và ngọng nghịu nói những câu như “báo cáo anh… chúng nó… đêm nào cũng… tụ… họp dưới… bếp… tôi nghĩ chúng… nó là CIA…” thì Vĩnh chỉ muốn để mặc cho lão già bẩn thỉu ấy chết phứt cho xong! Thế nhưng để cho một người “chết phứt” coi vậy mà không phải dễ. Vĩnh và Nhỏ vẫn ngày đút cơm cho ông ăn, thay quần rửa đít cho ông lúc ông làm bậy trên giường và đêm đến lại phải nghe những lời báo cáo bẩn thỉu của ông thốt lên trong cơn mê ngủ. 
Sau đợt thăm tháng Bảy, Vĩnh khỏe hẳn nhờ gia đình tiếp tế thuốc men khá đầy đủ. Những ngày kế tiếp Vĩnh được gặp Hóa, rồi gặp Tiến nơi bệnh xá. Mấy anh chàng này nghe tin Vĩnh đóng đô lâu dài bên bệnh xá nên hễ có dịp đưa người bệnh qua là họ luôn luôn tình nguyện. Anh em gặp nhau hàn huyên và không quên chia sớt cho nhau những món quà gia đình đem vào. 
Thế nhưng bước vào tháng Tám, cái êm ả đôi lúc cô đơn nơi bệnh xá bỗng bị khuấy động hẳn lên với những cái tin, theo đó ở các K đều xảy ra những cuộc trốn trại có cả thành công lẫn thất bại. Nội cái đám đi xúc than đá bên K.3 cũng đã có hai người trốn thoát. Họ là những người thường được bọn quản giáo tín nhiệm đem theo xe hậu cần ra Biên Hòa xúc than đá về cung cấp cho toàn trại Suối Máu (Thời gian này trại Suối Máu được dùng than đá thay củi). Nhân lúc bọn vệ binh bất cẩn, họ nhảy khỏi xe và lẩn vào chỗ đông dân cư khu chợ Biên Hòa. Hai người thoát. Người thứ ba vô phúc trốn ngay vào nhà một thằng công an khu vực và bị bắt giao lại cho bọn vệ binh trại. 

Tuy nhiên, một câu chuyện vượt ngục ngoạn mục hơn có lẽ là câu chuyện vượt ngục của một anh bạn đại úy cảnh sát bên K.1. Nghe phong thanh anh ta là con trai của một chủ tiệm đàn lớn đường Cao Thắng trước kia. Sự vượt ngục của anh đã thành công nhờ ở sự tiếp tay của gia đình. Anh đã bắt liên lạc và hẹn hò với người em ruột, vào mỗi buổi sáng, đem xe gắn máy Honda quần tới quần lui trên con đường chạy trước trại Suối Máu. Thế rồi vào một buổi sáng may mắn, anh được dẫn ra lao động trên vùng đất bên kia con đường nhựa. Người em đã nhận ra người anh và lướt xe qua hớt gọn người anh đi trước bao cặp mắt ngỡ ngàng không kịp phản ứng của bọn vệ binh. 
Kế nữa là câu chuyện vượt ngục tập thể bằng đường xe hỏa. Một số tù K.4 đi lao động gần đường sắt. Do kinh nghiệm, mỗi lần có chuyến xe lửa chạy qua, dân ngồi trên mui xe lửa thường ném gạch, đá và những đồ dơ bẩn xuống phía những chiếc áo xanh bộ đội lúc họ phát hiện ra bọn này đứng gần đường xe hỏa; vì thế mỗi khi đưa tù đi lao động quanh khu vực này, bọn quản giáo và vệ binh thường đứng cách xa đường xe hỏa một khoảng cách xa đủ bảo đảm an toàn. Dựa vào điểm này, một ngày kia một số anh em lao động K.4 đã tập thể bỏ cuốc bỏ xẻng, phóng nhảy theo đoàn xe hỏa Thống Nhất trước sự ngơ ngác và hoàn toàn bó tay của bọn cai tù… 
Cũng vì những cuộc vượt ngục liên tiếp xảy ra, bọn y sỹ Việt cộng và quản giáo trại bệnh duyệt xét lại tất cả các bệnh án của tù bệnh. Chúng đuổi về trại một số anh em bên khu thường bệnh. Vĩnh không bị đuổi về trại, ngược lại, theo như lời rỉ tai của bác sỹ Khái, anh và Nhỏ sẽ được ra hội đồng y khoa nay mai. Nghe được tin này, Vĩnh không khỏi không vui trong bụng. Và rồi cùng với Nhỏ, Vĩnh vật một con gà nuôi mấy tháng qua của Nhỏ nấu cháo đãi cả trại bệnh. Khi nồi cháo gà được bưng để trên một tấm sạp trước sự chứng kiến của mấy ông bác sỹ và mấy người bạn thân thiết, Vĩnh mở vung ra. Từ già tới trẻ, từ trên xuống dưới, đồng loạt đặt bát của mình quanh nồi cháo với đôi mắt thèm thuồng. Mùi gà bay quyện trong không khí thơm lừng. Vĩnh thọc hai cái thìa lớn banh thây con gà trong nồi cháo để một phần nước béo trong con gà được hòa vào với nồi cháo. Ngay lúc ấy, một vài điểm trắng to hơn hạt gạo bỗng từ trong con gà nổi phều lên trên mặt nồi cháo. Chưa ai nhìn thấy nhưng Vĩnh đã nhận ra ngay. Đó là những con dòi, những con dòi ngoài cầu tiêu mà không con gà nào nuôi trong trại tù không biết tới. Vĩnh đang lúng túng thì thêm một số nữa nổi lên. Ông Thiết là người thứ hai khám phá ra. Ông la lớn. 
– Ối trời ơi hai thằng cha này làm gà bộ bỏ sót bộ đồ lòng hả. Sao dòi không vậy này? 
Tiếp theo đó là tiếng cự nự, cằn nhằn của mọi người nổi lên. Người bị quy trách nhiều nhất là Chung Văn Nhỏ vì Nhỏ làm bộ đồ lòng, đã quên không mổ phao câu lại còn để nguyên cái bầu diều quăng vào nồi cháo. Thế nhưng, không quá năm phút sau đó, nồi cháo vẫn hết sạch, hết không còn một tí gì…






Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Bài 55

Phần 54

Đúng mười ngày trước cái Tết thứ ba trong tù thì Vĩnh lại kiếm ra chuyện để được đi bệnh xá. Việc đi bệnh xá vì chứng ho lao ra máu của Vĩnh xảy ra vào lúc toàn trại Suối Máu, đặc biệt K.5, đang nháo nhào lên vì mấy sự kiện đặc biệt. 
1. Tù được phát đồ sọc đúng như tin đồn. 
2. Chừng hai chục người từ Bắc được đem vào và được để ngủ tạm trên hội trường K.5 một đêm. 
3. Một trung tá nghe nói là người từng xin rời Mỹ trở về Việt Nam bằng tàu Thương Tín, bị giam ở Chí Hòa và hiện được chuyển vào K.5 nằm chung với các đàn anh ở đội 20. 
Buổi chiều trước khi rời cổng K.5, trong lúc đợi ông Triển về phòng sửa soạn vài thứ cần thiết để dẫn Vĩnh tới bệnh xá, Vĩnh may mắn hết sức được trò chuyện đôi câu với những anh em được chuyển từ Bắc vào. Đang loay hoay buộc lại túi quần áo trước cửa hội trường (vì có người mới đến tạm chiếm ngụ, những người cũ bị cấm chỉ bén mảng vào trong hội trường và hai bên không được liên hệ qua lại với nhau) thì một anh bạn tù bên trong hội trường bước ra, chỉ vào mấy người cũ đang kéo nước ngoài bờ giếng, hỏi Vĩnh. 
– Sao ở đây trông mấy ông “hèn” quá vậy? 
Vĩnh chới với trước câu nói báng bổ của người anh em. Chưa kịp trả lời thì người anh em đã tiếp luôn. Ngoài Bắc tụi tôi tối kỵ đội cái “bô đi ỉa” kia lên đầu. Thà rằng đội nắng đội mưa đi lao động… 
Dù chới với nhưng Vĩnh không khỏi không thích thú trước lối nói thẳng thừng và ví von lạ tai của người anh em mới từ Bắc vào. Chính Vĩnh cũng nhiều lần thấy gai mắt trước cái cảnh mấy anh già bần tiện, từ buổi bọn hậu cần thảy xuống các đội một lô nón cối rách cũ của lũ bộ đội phế thải, đã chia chác giành giật bắt thăm để có được một cái nón cối rách đội trên đầu. Bản chất cái nón cối nào có xấu! Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, suốt ngày đội xùm xụp cái nón cối phế thải của kẻ thù trên đầu, trông nó tệ hại và khó coi làm sao ấy! Những người anh em ngoài Bắc mới được đưa vào, quả tình chưa rõ họ thuộc thành phần nào, nhưng với lối nói bộc trực của họ, Vĩnh có cảm tình tức thì. 
Nghĩ ngợi tí chút, Vĩnh đáp. 
– Đồng ý là hèn! Ở đây chúng tôi đều hèn cả anh ạ. Có hèn mới tự động dẫn xác đi nộp cho cách mạng! À còn các anh sao vậy? Sao lại được chuyển vào Nam vậy? 
Một người khác cũng từ trong hội trường bước ra, trả lời thay người bạn của anh ta bằng một câu ngắn ngủi. 
– Tụi này thằng nào cũng trên mười năm cả. Chúng nó hết gạo nuôi nên thả! 
Cuộc trò chuyện chưa đâu vào đâu thì ông bác sỹ Triển đã xuất hiện trước cửa hội trường. Ông lên tiếng giục Vĩnh. 
– Đi thôi! Liên hệ linh tinh coi chừng làm cả tôi mang vạ vịt bây giờ! 

Những người mới đến nghe thấy ông bác sỹ Triển nói đều bỉu môi bỏ vào trong. Vĩnh mệt mỏi vác túi quần áo của mình lên vai, lầm lũi bước theo ông Triển sau khi lặng lẽ giơ tay chào mọi người. 
Trên con đường từ K.5 lên bệnh xá, Vĩnh vừa đi vừa nhìn ngắm bộ quần áo sọc mà ông Triển vừa “diện” lên người. Bộ quần áo có hai màu xanh trắng, may theo kiểu bà ba, sọc chạy theo chiều dọc và chiều ngang của sọc to gần gang tay. Áo không có khuy nhưng có dây buộc. Trước mắt Vĩnh, quả thực bộ quần áo đã không hề làm cho ông Triển lạ lẫm hơn tí nào. Ông vẫn là ông Triển của mọi ngày: Chậm rãi, đẹp lão, sạch sẽ, hơi khó tính với anh em và rất lễ độ với những vệ binh gác cổng. 
Vĩnh chợt lên tiếng hỏi. 
– Cái ông về bằng tàu Thương Tín được đưa vào nằm ở phòng bác sỹ hả bác sỹ? 
Ông Triển vẫn lầm lũi tiến bước. Ông đáp khẽ. 
– Ừ. 
– Cấp bậc gì vậy? 
– Thiếu tá. 
– Nghe nói là trung tá mà? 
– Lão trung tá còn nhốt ở Chí Hòa. Họ đưa về đây một thiếu tá và nghe nói hai ba anh cấp úy nữa. Đám cấp úy hình như đưa sang K.1 hay K.2 gì đó. 
– Sao họ về làm gì bác sỹ nhỉ? 
Ông Triển đã trở lại với sự yên lặng cố hữu của ông. Ông không trả lời câu hỏi của Vĩnh nữa. Lúc hai người đi tới chỗ ngã rẽ ở góc K.3, một sự việc xảy ra làm ông Triển chùn bước đứng sát vào lề đường. Vĩnh dừng lại theo ông. Trên đường, xế trước cổng K.3 hai người tù đã trọng tuổi đang đứng nghiêm bên cạnh một thùng phân rất lớn có quang có gánh đầy đủ để lắng nghe một thằng vệ binh chửi rủa. Cái cảnh này gần đây không còn lạ gì với tù cải tạo Suối Máu. Chửi không mà ăn thua gì! Ở K.5 chúng còn bắt quỳ ôm cột đèn nữa ấy chứ! Thấy ông Triển tự dưng đứng dạt vào một bên đường, Vĩnh thầm thì. 
– Đi cho rồi bác sỹ. Chả nhẽ đứng lại để thưởng thức thêm cái cảnh này sao? 
Ông bác sỹ Triển không trả lời. Thốt nhiên Vĩnh giật mình vì một câu chửi lạ tai của thằng vệ binh vừa cất lên. 
– Mày, thằng già này này. Từ lâu rồi tao đã chú ý đến cái lông mày rậm rạp của mày. Nội cái lông mày thôi trông cũng đã muốn đánh rồi! 
Vĩnh nhìn người bị chửi. Ông ta chừng năm mươi lăm tuổi, râu tóc đã bạc nhiều. Vĩnh chú ý nhìn kỹ và nhận ra ông có một bộ lông mày lưỡi mác rất rậm. Không hiểu ông trả lời ra sao mà thình lình thằng vệ binh xốc lại đập luôn một báng súng vào mặt ông. Đến lúc này ông Triển có vẻ đã hết e dè. Ông quàng bước tiến lên. Vĩnh vội vã đi theo. Lúc bước qua gần chỗ thằng vệ binh đứng, dù nó không hề để ý tới, ông Triển vẫn lột thật nhanh cái nón xuống khỏi đầu. 
Vào tới bệnh xá thì giờ phát cơm chiều đã chấm dứt. Những cái bếp con từ mấy dãy phòng bệnh nhả qua cửa sổ những sợi khói mỏng manh. Nơi hàng rào bên hông dãy cách ly, chỗ tiếp giáp với K.30 tức khối mộc, Vĩnh nhận ra mấy người bạn cũ, trong số có cả Nông Hải Sơn, đang lúi húi nấu nướng. Vĩnh được dẫn thẳng vào phòng nhận bệnh. Giờ này mấy ông bác sỹ cũng đang mỗi người một phần ăn, ngồi trên giường của họ, mặt quay vào vách nhàn nhã nhai khẩu phần của mình. Thấy ông Triển và Vĩnh, bác sỹ Châu nhanh nhẹn bỏ đũa đứng lên. Ông nhìn ông Triển, hỏi.
– Khỏe không anh Triển? 
Ông Triển uể oải. 

– Cũng nhàng nhàng vậy thôi. Nói đoạn ông chỉ vào Vĩnh. Bàn giao các ông cái “trung tâm y tế toàn khoa” này đây! 
Tổ bác sỹ “ngụy” ở đây đã quá rành về Vĩnh. Duy lần này có lẽ có một điều họ không hề biết, ấy là Vĩnh đã thực sự… ho ra máu! Hôm nay bác sỹ Châu trực, thành thử ông đứng lên đưa thẳng Vĩnh xuống khu cách ly như đưa một bệnh nhân đã quá quen thuộc. Vĩnh đặt đồ đạc vào đúng cái giường nằm lần trước. Cả khu cách ly giờ chỉ còn lại mình Chung Văn Nhỏ. Thấy Vĩnh Nhỏ mừng ra mặt. Anh cuống quýt lên tiếng bên cạnh Vĩnh. 
– Nằm đây nè! Nằm gần đây cho vui nè. Chỗ đó mưa tạt dữ lắm! 
Vĩnh chưa kịp trả lời Nhỏ thì ông Châu đã dặn dò. 
– Bệnh anh tôi biết rồi. Kỳ này cho nằm mịt mù. Bây giờ nhập băng với tên Nhỏ ăn uống cái gì đi. Tôi ăn cơm xong sẽ đo máu cặp mạch xem sao. 
Chỉ nói thế rồi bác sỹ Châu lui gót. Dù đã được Nhỏ khuyến cáo chỗ nằm bị mưa hắt nhưng Vĩnh vẫn không đổi ý. Nằm ngay mé cửa dù gì vẫn thoáng hơn. Chui sâu vào phía trong ngộp chịu không nổi. 
Vĩnh nhìn sang cái giường trống ngay bên cạnh. Đó là nơi ông cụ Nguyễn Thụy Hòa đã nằm trước kia. Ông Hòa đã chết hôm 17 tháng 12 vừa rồi. Vĩnh đã được nghe anh em kể lại cái chết đau thương của ông. Lúc chết đầu ông rụng không còn sợi tóc và thân thể chỉ là một bộ xương khô. Trước khi chết, ông được biên thư về nhắn người lên thăm. Tuy nhiên vì viết không đúng với nội quy quy định, tên quản giáo trại bệnh kiểm duyệt và xuống hoạch họe ông, ông chửi lại và đêm đó ông mất… 
Chiếc giường trống bên cạnh như nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm Vĩnh có với ông cụ Hòa trong lần nằm viện kỳ trước. 
Chung Văn Nhỏ chợt lên tiếng thúc hối. 
– Tui đang nấu mì đây. Lại đây. Lại đây sửa soạn tụi mình đá một bữa mì đánh dấu ngày hội ngộ. Nằm một mình buồn thúi ruột ông ơi! 
Ngày hôm sau, sau khi chẩn bệnh, bác sỹ Châu cho biết phổi Vĩnh lần này đã bết bát thực sự. Không cẩn thận sẽ là một Nguyễn Thụy Hòa thứ hai. Ông khuyến cáo trong lần thăm tới, phải cầu cứu gia đình cung cấp ngay thuốc chữa lao bằng không nguy to. 
Đôi ba ngày kế tiếp, khi Vĩnh đã một lần nữa hòa mình được vào nếp sống nơi bệnh xá, thì không khí đón Tết đã thấy phảng phất khắp nơi. Thực ra ở trại Suối Máu không có cái cảnh đón Tết như ở Trảng Lớn và An Dưỡng; không có văn nghệ văn gừng, không múa lân múa võ nhưng không khí đón Tết vẫn thừa hớn hở: Ở đây tù sẽ được thân nhân vào thăm và tiếp tế trước dịp Xuân về. Việc viết thư thông báo cho gia đình vào thăm đã hoàn tất mấy ngày qua. Vĩnh sang bệnh xá và được viết thư báo gia đình lên thăm theo diện bệnh nhân. Ở diện này, người được thăm có rất nhiều hy vọng được gặp gia đình lâu hơn chút đỉnh. 
Khi đã viết thư thông báo gia đình xong, Vĩnh lại lân la đi thăm các bạn cũ. Ông Nguyễn Bảo Tụng đã xuất viện tự bao giờ. Những người cũ bên khu thường bệnh chỉ còn anh Nguyễn Văn Đông và anh chàng đại úy quân cảnh tên Chiêu. Riêng Chiêu lúc này bệnh đã nặng lắm. Anh ta suốt ngày cởi truồng và đắp ngang mình một mảnh bao cát che ruồi. Mùi hôi thối từ bộ phận sinh dục của anh ta coi mòi còn nặng mùi hơn mấy tháng trước thật nhiều. Chiêu cứ nằm trên võng suốt ngày và chẳng thèm trò chuyện với ai một lời. Dù sao bên cạnh Chiêu lúc này đã có thêm vài người bạn mới. Họ đều là những người nằm chờ chết vì chứng bệnh ghẻ mủ đã tới hồi lở lói toàn thân… 

Riêng anh Đông lúc này khép mình dạy nhạc lý căn bản cho mấy thằng bộ đội. Một buổi chiều, Vĩnh nói với anh. 
– Anh Đông à, anh đau ốm lê lết thế kia còn nhận dạy nhạc cho tụi nó làm gì? Để sức mà nghỉ ngơi! 
Anh Đông mệt nhọc chống tay ngồi lên trên tấm sạp gỗ của anh, lắc đầu nhè nhẹ. 
– Phải dạy chúng nó chúng nó mới biết được giá trị của chúng ta chứ… 
Vĩnh hết ý kiến trước lập luận của anh Đông, một lập luận trước sau chỉ đem đến cho anh sự mệt mỏi cùng cực. Dù quan điểm khác nhau tí chút về vụ dạy nhạc cho mấy thằng vệ binh, tình cảm giữa anh Đông và Vĩnh vẫn duy trì thật tốt. Miếng ngon miếng ngọt chẳng quên nhau. Khi vui vui, anh còn lục thư nhà ra cho Vĩnh đọc. Trong những lá thư ấy, anh khoe có cả thư của một cô ca sỹ học trò của anh, cô ca sỹ Giao Linh. 
Trước Tết năm ngày thì ngoài khu thăm nuôi đã có những đợt thân nhân đầu tiên vào thăm. Theo lịch trình thăm viếng dành cho các K, bệnh xá mãi 28 Tết mới bắt đầu được thăm và thăm riêng, thăm lâu – Đó là lời nhấn mạnh một cách cực kỳ vui mừng trước đám tù bệnh của đại tá bác sỹ Nguyễn Khái, xếp sòng tổ y sỹ “ngụy” của bệnh xá Suối Máu. 
Trong thời gian chờ thăm, cũng như các K khác, bác sỹ Cường, hậu cần trại bệnh, bắt đầu bận bịu với những công tác đi nhận thực phẩm cấp phát đặc biệt cho tù bệnh hưởng trong ba ngày Tết. Như bao giờ, trại bệnh không thể cáng đáng được việc nấu ăn, thế nên gà heo rau tươi đều được giao khoán cho bếp K.30 lo giùm. 
Trước hôm thăm hai ngày, vào buổi chiều, trong lúc ngồi đánh cờ tướng với Chung Văn Nhỏ bên hiên nhà, chỗ nhìn ra con lộ đi lại của K.4, Vĩnh và Nhỏ chợt thấy bốn tên vệ binh lôi một người tù phía ban chỉ huy K.4 đến dãy connex nằm sát hàng rào đối diện với dãy cách ly. Người bị lôi trên đường trông gày guộc xanh xao chứng tỏ đã bị đánh đập rất nhiều. Bốn tên vệ binh lôi anh ta đến trước một connex, mở khóa cánh cửa sắt nặng nề rồi quăng anh vào trong. Trước khi cánh cửa sắt được khóa lại, một tên cất giọng hằn học. 
– ĐM. mày cố tình phá hoại sản xuất phải không? Tụi tao sẽ quại mày đến trào thịt lợn ra ngoài mới thôi… 
Chửi xong mấy thằng vệ binh kéo nhau đi. 
Vĩnh và Nhỏ vội đứng lên. Vĩnh tính chạy một vòng báo động với anh em, nhưng nhìn sang phía khối mộc, anh đã thấy một số anh em đứng nấp sau những bụi Dâm Bụt rậm rạp theo dõi cùng sự kiện bên ngoài đường tự lúc nào. 
Khi màn ảnh TV trên dãy nhà nhận bệnh được bật lên thì nơi cái connex bên ngoài hàng rào có nhiều tiếng huỳnh huỵch vang lên. Bọn tù bệnh tò mò nhưng không dám ra gần hàng rào khi đêm đã xuống. Tất cả chỉ ngồi trong nhà lắng nghe. Lâu lâu trong connex lại vọng ra ít câu chửi thề tục tĩu và tuyệt nhiên không ai nghe thấy một tiếng rên la nào. 
-… đánh cho mày chừa…. Mày giết lợn của tổ chức phải không?… ĐM… ai đạo diễn?… 
Cứ thế, những lời chửi rủa vang lên rồi tiếp theo đó là những tiếng huỳnh huỵch của chân đá, của báng súng đánh vào một thân xác người. 
Bọn tù bên trong ai cũng thấy xốn xang vì biết chắc có một người bạn đang bị kẻ thù đánh hội đồng trong cái connex ngoài kia. Kinh khủng hơn là ai cũng đoán được người bị đánh hiện đang bị nhét giẻ vào mồm. Đây là lối tra khảo tàn bạo bậc nhất của cộng sản. Ăn đòn mà thở ra được khó chết. Nhưng ăn đòn trong lúc miệng bị nhét giẻ sẽ ứ hơi và chết như chơi. 
Nông Hải Sơn từ K.30 lần sang chỗ Vĩnh và Nhỏ ngủ. Sơn thầm thì. 
– Mấy ông biết chuyện gì chưa? 
-…..!? 

– Khi nãy tôi liên lạc được với bên K.4, bên đó cho biết người bị nhốt là một đại úy tên Hiền. Anh ta gốc K.4 và bị giải giao từ Trảng Bom về… 
Qua câu chuyện Sơn kể, Vĩnh và Nhỏ còn được biết chi tiết tại sao Hiền bị tra khảo dữ dội như vậy. Số là, Hiền được bọn bộ đội giao nhiệm vụ chăm sóc đâu non chục con heo cho chi nhánh K.4 trên Trảng Bom. Sau một thời gian heo được nuôi mập mạp thì chúng khởi sự chết. Nay chết một con, vài ba ngày sau chết thêm một con, rồi vài ba ngày sau nữa… cho đến lúc bầy heo chỉ còn lại hai con. Phân trại 4 trên Trảng Bom nhờ đó được ăn thịt heo đều đều. Đùng một cái có một thằng ăng ten chó đẻ đi mách bọn hậu cần trại, rằng thì là Hiền giết heo để cả trại có thịt ăn; giết bằng cách vài ngày lại bỏ vào lỗ tai một con heo mấy hạt đậu xanh. Heo vốn rất yếu, lắc lư đầu một lúc bị trật xương cổ là hết thuốc chữa. Hiền, do đó đã bị bọn an ninh Trảng Bom cùm và đánh đập tra khảo mấy ngày liền; sau được hoàn trả về cho bọn an ninh K.4 Suối Máu tiếp tục tra khảo. Hiện tại cuộc tra khảo đang diễn ra trong cái connex bên ngoài hàng rào. Bên trong Vĩnh và các bạn đang còn nghe rõ mồm một những tiếng chửi rủa và đánh đập Hiền của bọn an ninh. 
Ba người gồm Sơn, Vĩnh và Nhỏ ngồi yên lặng lắng nghe. Một lúc sau có vài ánh đèn pin loáng thoáng ngoài phía connex. Tiếp theo có mấy tiếng cằn nhằn và chửi tục nho nhỏ giống như mấy thằng bộ đội đang gấu ó nhau chuyện gì. Rồi thì cửa connex được đóng lại. Chúng bỏ đi. Khu connex được hoàn toàn trả về với bóng tối, với những tiếng côn trùng rả rích khởi sự một điệu buồn về đêm… 
Sáng ngày kế tiếp, trong lúc trại bệnh và khối mộc thình lình bị trải qua một cuộc kiểm nghiệm đồ đạc cá nhân, thì nơi cái connex nằm bên lề đường đi lại của K.4 lại diễn ra một trò lạ mới. 
Quãng tám giờ sáng, trong lúc vừa thu đồ trải ra ngoài sân cho bọn bộ đội và quản giáo khám xét, bọn Vĩnh vẫn chú mục theo dõi những sự việc xảy diễn ra nơi khu connex. Cánh cửa connex đã được bật mở. Vì connex nằm chếch về phía ban chỉ huy K.4, nên những người đứng trong sân trại bệnh không thể nhìn thấy những gì đang xảy ra bên trong connex, tuy nhiên, có một điều chắc chắn ai cũng nhìn thấy là bọn cán binh cộng sản đang chụp ảnh rất nhiều góc cạnh từ trong ra tới ngoài connex. Tại sao lại có màn chụp hình chụp ảnh? Bọn tù trong sân trại bệnh đều ngạc nhiên tự hỏi. Ngó mấy thằng an ninh K.4 làm việc rất gấp, cộng với những lời thì thầm to nhỏ của bọn chúng, không nói ra nhưng bọn Vĩnh đều đoán biết hẳn phải có một cái gì khá hệ trọng đã xảy ra… 
Một lúc sau đó, bên kia cái hàng rào đơn ngăn cách trại bệnh và K.4, chỗ gần cổng ra vào, Vĩnh và các bạn thấy một người ngồi ủ rũ dưới đất. Hình như anh ta đang cố gắng nuốt vào ngực một tiếng khóc đứt ruột. Chưa ai đoán ra chuyện gì thì một cái băng ca được hai thằng bộ đội khênh vào bên trong connex, một lát chiếc băng ca được khênh ra, bên trên có một người nằm và tấm vải bẩn thỉu màu cứt ngựa đắp trên mặt anh ta cho mọi người biết anh đã chết. Đến lúc này anh chàng ngồi nơi cổng ra vào của K.4 hình như không còn cầm được tiếng khóc nữa, anh ta bỗng rống lên như một đứa trẻ, đầu gục vào hàng rào thép gai. Bọn Vĩnh lắng nghe được những tiếng kể lể đứt ruột của anh như sau. 
-… cách mạng ơi… xin cho tôi được nhìn mặt anh tôi lần cuối cách mạng ơi… anh ơi! Làm gì mà chết khổ vậy anh ơi… ai cũng ăn heo mà chỉ mình anh chết thôi anh ơi… 
Khi người chết được đưa đi và người than khóc bên K.4 bị vệ binh chĩa súng đuổi vào bên trong, thì bọn tù bệnh đã được khám đồ xong. Vĩnh và Nhỏ lần lượt thu vén đồ đạc mang trở về phòng. Trước vuông sân bên dãy phòng thường bệnh, Vĩnh thấy anh Nguyễn Văn Đông đang bò lên trên đất thu nhặt từng cái lon cái cóng. Lúc này bệnh sưng khớp của anh đã quá nặng, nặng đến độ anh không thể đứng, không thể đi mà chỉ có thể chậm rãi bò từng chút trên mặt đất. 

Bọn cán bộ khám xong đồ đạc của bệnh nhân thì khởi sự khám đến đồ đạc của các ông bác sỹ “ngụy”. Ông Khái, ông Cường, ông Thiết, ông Các… đều đang sửa soạn bày “chợ trời” ngoài sân để đợi quản giáo tới khám. Tuy nhiên bọn chúng cũng chẳng ngu gì. Trong lúc mấy ông bác sỹ đang lúi húi thu vén đồ đạc trong phòng khuân ra sân, thì tên quản giáo đã ập vào khám tại chỗ. Người mang họa đầu tiên và duy nhất là ông bác sỹ Châu! 
Ông Châu đã hàm oan một chuyện mà không thể đính chính với bọn cai tù, ấy là chúng khám trong sắc của ông và tìm ra một số tiền 250 đồng bạc mới. Số tiền này thực ra đối với giới danh vọng giàu có như ông Châu chẳng là bao, nhưng đối với một cán binh cộng sản thì đó là cả một gia tài lớn. Muốn có số tiền đó chúng phải dành dụm trong nhiều năm họa may mới có thể có được. Khi khám thấy số tiền khổng lồ (!) này, chúng đã lôi bác sỹ Châu ra hạch hỏi. Vì sợ liên lụy cho gia đình, ông Châu đã không dám nói thật ra rằng đó là số tiền vợ con ông đã dấm dúi cho ông trong mấy lần thăm trước. Ông sợ nếu khai thật, vợ con ông có thể rắc rối với địa phương, vì chúng sẽ đặt dấu hỏi ở đâu ra mà lắm thế!? Thế rồi chả hiểu nói quẩn nói quanh như thế nào, bọn quản giáo quy ông vào tội “lợi dụng cách mạng ưu đãi cho lên bệnh xá hành nghề chữa bệnh cho các cải tạo viên, đã trổ máu gian tham ngày cũ, ăn thù lao trái phép và nhận hối lộ của các cải tạo viên giả ốm bệnh trốn học tập lao động cải tạo!”. 
Ông Châu bị mạt sát thậm tệ rồi bị làm tự kiểm. Số tiền 250 đồng của ông rốt cuộc được khung… sung công!

Lần thăm nuôi đã qua để cái Tết thứ ba trong tù kéo đến. Ăn Tết ở bệnh xá hình như không vui nhộn bằng ăn Tết ở K. Câu chuyện xảy ra vào sáng mùng một Tết bên K.5 Vĩnh đã được Nguyễn Đình Tạc tường thuật đầy đủ, lúc hắn và một người nữa khênh một bệnh nhân lên bệnh xá trong một trường hợp cấp cứu. 
Gặp nhau, Tạc khoe rằng trong lần thăm nuôi vừa rồi, anh đã được cô em gái từ Bắc lặn lội vào thăm. Dù sao điều này cũng đáng vui cho riêng Tạc. Năm 1954, ông cụ Tạc dẫn thằng con trai duy nhất vào Nam tìm tự do. Bà cụ tiếc vườn tiếc ruộng không đi, chấp nhận ở lại với đứa con gái nhỏ. Hơn hai mươi năm sau, theo như Tạc sung sướng diễn tả, quả thực “máu đâu ruồi bâu đấy!”. 
Sau khi nhấp chút rượu thuốc Vĩnh trao cho (gia đình Vĩnh vào thăm đã tiếp cho Vĩnh một chai rượu thuốc ngụy trang trong một chai nước mắm!), Tạc mới kể tới mấy câu chuyện ly kỳ xảy ra bên K.5. 
Khởi đầu là chuyện tên an ninh gác khu thăm viếng bị em vợ Bùi Vịnh vác guốc bổ vào đầu vì hắn lợi dụng khám đồ khám luôn người ngợm cô em thế nào đó. Chỉ tội cho Vịnh, đã bị cấm thăm còn bị khung kêu lên chửi bới một trận, rằng thì là… không biết dạy dỗ thân nhân! Hết chuyện Bùi Vịnh lại đến chuyện mấy bà đi thăm nuôi dàn cảnh bợp tai cán bộ nhà nước ngay trên xe đò về tội “rờ ngực gái già giữa thanh thiên bạch nhật”… Tuy nhiên câu chuyện xảy ra đúng sáng mùng một Tết bên K.5 mới đáng nhớ và đáng đi vào văn chương truyền khẩu dân gian. 
Tạc kể. 
-… mãi đến chín giờ sáng một thằng vệ binh vào kiểm soát hội trường mới khám phá ra. Trên bàn thờ thủ cấp Hồ Chí Minh, không biết tự bao giờ, đã được một nhân vật vô danh đặt một chén sắn trộn bo bo và dán một câu đối như sau. 
Mừng xuân đảng nuốt tròn sông núi, 
Cúng bác tôi nhường nửa chén khoai. 

Tệ hại hơn, nơi cằm Hồ Chí Minh dính đầy đờm dãi và được gắn lưa thưa ít cọng râu làm toàn bằng lông bậy bạ lấy ra từ nơi kín đáo của con người! 
Dĩ nhiên thằng vệ binh nhảy cỡn lên như gà mắc đẻ. Nó phóng chạy về ban chỉ huy báo động ầm ĩ. Rồi thì kế đó chuyện gì đến phải đến. Sáng mùng một Tết con Dê, tức cái Tết thứ ba trong tù, tù cải tạo K.5 trại Suối Máu bị tập trung lên hội trường để nghe tên trưởng trại chửi bới thê thảm. Tuy nhiên càng bị chửi bọn tù càng khoái, vì chính nhờ sự chửi bới này, một vấn đề mà lẽ thường thì phải giấu nhẹm đi thì lại được công khai hóa trước hơn bảy trăm người vốn chẳng lấy gì làm “kính yêu bác” cho lắm. 
Tên trưởng trại đã nói. Bác kính yêu là một người mà đến ngay kẻ thù cũng phải hết lòng kính trọng, ấy thế mà đêm hôm qua, lợi dụng lúc mọi người chờ đón giao thừa, một kẻ cực kỳ phản động trong trại ta đã dám làm thơ văn nhục mạ bác, lại còn dán cả lông d… lên cằm bác! 
Thế là, sáng mùng một Tết cả K.5 coi như được lì xì một trận cười miễn phí no nê. 
Qua Tạc, Vĩnh còn được biết hai chục anh em đã được đem từ Bắc vào toàn thành phần tù binh. Có những người đã bị giam từ 1960 vì bị bắt trong những cuộc nhảy toán thực hiện từ thời đệ nhất cộng hòa. Họ là những người rất can trường và cứng đầu. Đám này đã được chuyển đi và nghe nói họ được đưa về căn cứ Sóng Thần làm thủ tục cho về đoàn tụ với gia đình.







Hát ngao trên tuyết 

Cao Tần

Post by Sơn râu 12 Jan 2024

Khoác áo lông xù giả làm tráng sĩ 
Lên dòng sông đá bước nghênh ngang 
Cây gậy trúc trông sặc mùi vũ khí 
Múa tưng bừng vào thinh không giá băng 

Khoái thay đời ta một đời quái đản 
Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư 
Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản 
Một đời quê hương khét mùi súng đạn 
Một đời xót xa bằng hữu lao tù 

Khoái thay chân ta những chân phiêu bạt 
Đi dọc quê hương, đi vòng địa cầu 
Đi thênh thang thở đồi cao gió mát 
Đi ngất ngây thương lúa vàng, hương cau 
Đi hội trùng phùng, đi chia tan tác 
Đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau 
Đi sỏi đá mềm, bếp hồng trước mặt 
Đi bùng bão biển, quê hương phía sau 
Những bước thú hoang lạc rừng đất lạ 
Những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu 

Sông không đầu đuôi sông màu đá cục 
Dưới trên lẫn lộn, trời đất mang mang 
Ta ngửa cổ làm thằng khùng Bắc Cực 
Một mình cười cùng thinh không giá băng 

Khoái thay hồn ta một hồn dị thường 
Khi bốc lên: núi lưng trời cũng thấp 
Khi bi ai: thân cỏ mọn bên đường 

Sông dài! Sông dài! Ta đi chẳng hết 
Thân trượng phu, hừ, mục trong áo cơm? 
Núi cao! Núi cao! Ta về không đến 
Chí trượng phu, hừ, chôn trong giá băng? 

Tháng 2-78