Phong thư tình

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

  Lãnh Sơn Tự xắn đất, nằm lưng chừng núi. Cô quạnh, mái xanh rêu, trầm mặc tuồng như muốn thu mình vào đá tảng. Thị trấn Gia Hoà an ổn ngụ dưới bình nguyên. Đứng bên hai cây tùng bách thế cổng chùa mùa này sương đọng mây chùng để nhìn xuống, ngoái trông, thì toàn thể cấu trúc Gia Hoà chẳng còn nguyên dạng dưới lũng thấp. Thị lực đâm yếu đi, mờ mịt. Hoặc có nhìn thấy ẩn hiện chút gì thì lòng dâng ngờ vực: Ảo ảnh chăng? Chân bước vào chùa mà cõi hư thực sau lưng vẫn còn sân si đuổi theo, khó đoạn dứt.   Người am tường về thuật phong thuỷ vẫn chấm điểm thị trấn Gia Hoà là vùng đắt địa, quanh năm mưa thuận gió hoà, bởi chăng chùa Lãnh Sơn đã án ở đó tựa bình phong can ngăn và xua đuổi được tà khí. Gia Hoà là gì? Nếu nghĩa nó không nằm ở chữ ấm êm, mọi nhà hoà thuận?   Coi ngó chùa là vị cao tăng pháp danh Vô Lộ, nổi tiếng đức độ. Tuổi hạc đã cao nhưng người còn năng động, dáng đi nhẹ hẫng khinh khoái tuồng chẳng có gì vướng bận vào người. Dân tình dưới Gia Hoà có bàn luận cũng chưa một ai hay biết số tuổi sư mang. Bách niên? Cửu thập? Ngài đã tám mươi? Dẫu sao hình ảnh cao tăng Vô Lộ vô tình đã đánh đổ lập thuyết cổ lai hy. Xưa nay hiếm? Những bài thuyết pháp của vị sư trụ trì Lãnh Sơn Tự từng rao giảng quanh chữ vô thường. Hãy bỏ rơi ý niệm hiếm, quý. Đừng tự buộc mình vào một lằn mức lượng định nào cả. Khổng Tử khi chia từng cột mốc đời người phải thế này thế nọ thì cũng chỉ nhất thời mà lộng ngôn. Khi ta mở miệng, hãy nhớ cho, đấy là khẩu nghiệp.   Bình thường chùa Lãnh Sơn vẫn cô tịch. Tháng chỉ có hai lần là chộn rộn đón khách lai vãng thắp nhang khấn nguyện rồi gia công vào chuyện củi lửa nấu thức ăn chay hằng dọn lòng đón đợi xem sức khoẻ Vô Lộ ra sao, xếp bằng dưới chiếu nghiêng tai nghe kể những gian khó khi tì kheo một mực dầm thân vào sạn đạo để cốt tìm nguồn sáng mà khai nhãn cho chúng sanh, đổi lấy niềm đau của bản thân hòng cứu chuộc bể khổ muôn loài.   Như thế, hai mươi tám ngày còn lại của tháng, khuôn viên Lãnh Sơn vẫn chìm trôi trong tĩnh lặng. Ngoại trừ tiếng chuông gửi vào hư không, tiếng mõ của bốn người đệ tử trì chú tụng kinh, tiếng chim hót lời ẩn mật trong khóm trúc, tiếng gió đi xào xạc, tiếng lá rơi… và rồi tất thảy ngưng đọng trong vô thanh. Lãnh Sơn Tự chẳng phải là Chùa Núi Lạnh đó sao? Hãy trả lại cho nó những gì nó từng sở hữu.   Nhưng trưa hôm ấy, khác thông lệ, Vô Lộ đại sư phải tiếp khách. Hai vị đại diện cho nhà Nguyễn Trần có biệt phủ thật lớn dưới trấn Gia Hoà hình như vừa mang theo hành trang họ là cả một sự hoang mang tột cùng. Sợ hãi còn đọng ở gương mặt họ, ngay cả khi được đối mặt vị cao tăng họ vẫn chưa làm chủ được nhịp thở. Chuyện gì thì khi thuật lại hãy cố giữ tính trung thực. Các vị nên bình tâm, thời giờ ta nào có eo hẹp, ta sẵn lòng đợi chờ sự phân giãi. Vô Lộ rót nước trà, khoan thai. Tay không run, nước sóng sánh đầy ly chẳng rơi ra một giọt.   Nguyễn nhập đề: Đã ba hôm, toàn gia chúng tôi không tài nào chợp mắt. Nghĩ là chỉ có mình đại sư mới cứu giúp cho…   Vô Lộ: Hãy nói tiếp.   Trần góp lời: Dạ bẩm đại sư, tóm gọn là nhà có bóng ma hiện về.   Ngưng trong khoảnh khắc, nghe ra một cánh hoa sen rơi khẽ xuống bệ thờ. Cái rời thân ấy chừng xô đẩy quanh chỗ ngồi giữa chủ khách một hương mùi xa vắng. Có đó rồi giạt bay. Ngửi xong đâm thẫn thờ.   Hết Trần tới Nguyễn thay phiên thuật lại đầu đuôi ngọn ngành. Vô Lộ nhắm lại đôi mắt, chuẩn bị đón nghe một đoạn kinh đọc sai lạc vấp nhiều lầm lỗi.   Nguyễn Thị Vàng Son là con gái độc nhất của thương gia thành đạt Nguyễn Cát Tường trấn nhậm một thương hiệu lẫy lừng đồ sộ dưới thị trấn Gia Hoà. Sắc đẹp hiển lộ sớm, lại là người hiếu học văn hay chữ tốt. Do muốn mai này con mình được vinh hiển nên Nguyễn Cát Tường quyết định gửi Vàng Son lên kinh đô theo học một ngôi trường danh giá, có tốn kém bao nhiêu tiền của cũng vui lòng theo đuổi ước nguyện. Vàng Son nghe theo sự định đoạt của cha, chẳng hay biết cớ sự ấy là một cuộc sắp đặt ngầm ký kết với Trần đại gia. Ông này có cậu công tử cùng trang lứa, lỡ chùng lén phải lòng nét kiều diễm trên dung mạo và hình hài của Vàng Son. Tốt nghiệp xong, người đẹp sẽ về làm dâu nhà họ Trần. Nhất nhất mọi thứ đều thuận theo con đường đã vạch của hai họ, ký kết một hợp đồng gắn bó keo sơn, môn đăng hộ đối. Một lần nữa Nguyễn Thị Vàng Son xuôi tay bỏ mặc cho số phận, không biết cách chống đối. Bốn năm làm vợ chồng, Vàng Son sinh được cậu con trai và chẳng hiểu vì đâu cơ thể lá ngọc cành vàng kia đâm suy kiệt dần để dẫn tới cái chết quá bất ngờ.   Hôm động quan xong, chiều lại cả hai nhà đang ngồi mặc niệm tưởng tiếc bên bàn thờ kẻ xấu số thì đột nhiên đứa con trai bốn tuổi từ trên lầu chạy xuống, loan tin: Mẹ con đang đứng bên tủ áo quần trong phòng ngủ. Lời con trẻ thì e phải nên tin, hiếu kỳ đã hối thúc mọi người nối đuôi lên xác tín hư thực. Trong ánh tà dương len qua cửa sổ, chiếu vàng úa vào dáng đứng tần ngần của Nguyễn Thị Vàng Son đang gục đầu cúi nhìn vào ngăn tủ đựng y phục cũng như nữ trang của riêng cô. Vàng Son vẫn mặc bộ áo đầm trắng y như lúc tẩm liệm.   Quá đỗi kỳ dị, rất lấy làm sợ hãi khiến cả bọn chỉ biết ú ớ rồi thay nhau chạy xuống ngồi lại bên bàn thờ chưa ngún tắt những chân nhang. Để đánh tan nỗi sợ, người mẹ chồng của Vàng Son cố giữ giọng nói khỏi lạc: Là đàn bà, tôi hiểu phụ nữ vẫn thường yêu quý những vật tư trang, con dâu tôi có đứng đó thì chắc là nó đang quyến luyến đồ vật từng theo bên người bấy lâu. Chúng ta chỉ biết giải thích vậy thôi. Bản tính Vàng Son hiền hoà, mọi người chẳng việc gì phải sợ để rồi gây ra lời đồn đãi không mấy hay cho gia đình. Họ ngồi chụm đầu lại bàn tính, sau cùng đi tới một thuận lòng: Hãy dọn sạch cái tủ ấy, gom hết áo xống tư trang hiện vật của Vàng Son mang ra sân hoả thiêu. Đốt chúng đi, một cách gửi xuống dưới cho Vàng Son thoả lòng.   Không linh nghiệm, đêm hôm sau Vàng Son vẫn về, lặng lẽ đứng bên cái tủ trống, cúi đầu câm nín. Những suy đoán của bao người thân thích đã sai trật, điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải nhìn thấy mỗi đêm bóng dáng sầu khổ của Vàng Son đứng nguyên vị trí cũ, xiêu lạc và đau lòng chẳng thể biện minh. Chết thì bặt câm mà sống cơ hồ cũng á khẩu.   Cái phao cuối cùng để bấu víu, để dìu qua khổ nạn không gì khác hơn là nhà sư Vô Lộ. Chúng tôi đi lên Lãnh Sơn Tự, kể hết sự tình để mong đại sư gia ơn, phá lệ một lần xuống núi giải hạn. Cả Trần lẫn Nguyễn đứng lên, chắp tay vào nhau, nghiêm cẩn chờ đợi. Vô Lộ mở mắt ra. Được, nhờ nhị vị dẫn đường, đã công khó lên đây thỉnh cầu người tu hành như ta đâu lẽ từ nan chối từ. Giúp người vốn là bài học cơ bản của kẻ xuất gia.   Họ về thị trấn Gia Hoà khi bóng chiều đã rút. Đại sư Vô Lộ bước qua cánh cổng Trần gia trang vẫn lung linh cháy tỏ sụt sùi những giọt bạch lạp. Không khí của một nhà đang chịu tang vốn buồn lặng còn lưu trữ ở đó một linh hồn chưa siêu thoát vẫn kiếm cách vãng lai. Vô Lộ chắp tay trước ngực đọc thầm: A di đà Phật. Mọi người vây lấy bóng áo cà sa. Ta đã nghe chuyện, khỏi nhọc lòng kể thêm. Hãy dắt ta vào phòng kia và xin quý vị tôn trọng, chỉ để mình ta trong đó. Không một ai đường đột đi vào, nếu có thể, xin quý vị hãy kính cẩn ngồi yên dưới bàn thờ kẻ vắn số.   Vô Lộ đại sư đi vào phòng ngủ trước đây vốn của Nguyễn Thi Vàng Son. Trong hương mùi khó giải thích dồn tới khứu giác, Vô Lộ nhìn ra ngay một nữ thí chủ mình hạc xương mai đứng gục đầu bên những ngăn tủ trống. Có nhìn nhận ra ta không? Vô Lộ nói. Ta đến đây chỉ với thành ý, những mong giúp đỡ chứ chẳng mang một hậu ý nào khác. Theo ý nghĩ ta có, hẳn ngăn hộc kia còn ẩn dấu một thứ gì thật hệ trọng mà cô muốn kiếm tìm. Hãy an lòng, rằng ta sẽ khiến cô toại nguyện. Vàng Son khẽ gật đầu, thân mình lướt nhẹ sang một bên. Vô Lộ đeo chuỗi tràng hạt lại vào cổ để rảnh tay, vị cao tăng bước tới dùng mười ngón rà soát từng ngăn một. Tủ có lót giấy dán sát vào mặt gỗ. Tủ chia làm bốn ngăn, tất cả đều trống, kể cả một cái kẹp tăm, một hạt nút áo lỡ đánh rơi cũng chẳng ẩn mình trong đó. Ngăn hộc thứ ba, bàn tay rà soát của Vô Lộ bỗng khựng lại năm ngón. Dưới mặt giấy dán dường như có vật gì nổi cộm được ép bên dưới. Dùng móng tay để cạy đi mép giấy mỏng, xé nó và vật dấu bên dưới chỉ là một phong thư mỏng manh. Vô Lộ cầm vuông giấy úa màu lên. Có phải đây là vật mà cô chẳng đành lòng bỏ đi? Cô muốn tìm thấy và rồi mang theo nó? Vàng Son gật đầu, lộ vẻ mừng tủi. Vô Lộ hỏi tiếp: Cô có an lòng để ta thủ tiêu nó. Về chùa, ta sẽ thiêu huỷ, lửa tam muội sẽ đốt cháy nó. Và như vậy, ta cam kết chỉ duy mình ta biết được niềm bí mật này thôi.   Vô Lộ muốn tìm lời giải thích thêm nhưng Vàng Son đã không còn đứng ở đó. Vô Lộ chắp tay đọc tiễn một đoạn chú bằng tiếng Phạn. Căn phòng chừng như đã bớt đi cái lạnh lẽo ủ ê trước đó. Vị cao tăng đi ra, khép cửa lại. Ông bước xuống lầu để đón nhận những ánh mắt ngầm tra hỏi. Ta đi về chùa đây. Dạ thưa thầy, thầy có gặp ma không ạ? Có, đã gặp mặt. Và sau đêm này, ta xin hứa, rằng quý vị sẽ thôi gặp… ma.   Giữ đúng lời hứa cùng Nguyễn Thị Vàng Son, về tới Lãnh Sơn Tự, cao tăng Vô Lộ vào lạy trước bàn thờ Phật, đặt phong thư trước mặt, dâng hương, đọc một bài kệ ngắn trong kinh Lăng Nghiêm, gióng ba tiếng chuông rồi mang theo một cái thau nhôm bước ra sân trước. Mọi thủ tục hoàn tất chỉ cần thắp lên một ngọn lửa, nhưng nghĩ sao Vô Lộ tần ngần. Ông muốn biết lá thư kia chứa đựng những gì nhằm tạo ra sức mạnh để khiến trói buộc Vàng Son lại, không đành lòng giã từ cõi thế. Chỉ mình ta biết niềm bí mật này thôi, ông đã trấn an Vàng Son và ông đang run tay bóc vội lá thư ra đọc. Một trang thư tình đầy sân si thống khổ, đôi chữ hoen ố do hứng đọng nước mắt. Dĩ nhiên đó là hàng lệ đổ của Vàng Son, người nhận. Một cuộc tình không may và Vàng Son âm thầm chôn dấu nỗi oan khiên tận đáy hộc tủ. Ngọn lửa trong tay Vô Lộ bùng lên vồ chụp lấy, nuốt co quắp những con chữ, biến thành tro than rồi tàn lụi trong thau nhôm. A di đà Phật.   Đêm ấy Vô Lộ chẳng ngủ tròn giấc, ông ngồi dậy thắp đèn giữa canh khuya, đến giá sách lật giở từng cuốn kinh chép tay mà ông từng cậy nhờ Nguyên Tánh viết lại. Nguyên Tánh là đệ tử thứ tư của thầy Vô Lộ. Diện mạo sáng sủa hiền lương, chữ viết đẹp, nguyện xuống tóc nép thân vào chùa những mong đoạn lìa thế tục. Trì chí với kinh kệ như vậy đã bốn năm. Bốn năm? Đứa bé thấy mẹ hiện về cũng tròn bốn tuổi. Cuốn sách  có viết chữ Nguyên Tánh ngoài bìa, mở ra, những tuồng chữ nhảy múa dưới mắt thầy Vô Lộ không sai một mảy may so với lá thư tình vừa bị thiêu đốt.   Na mu A mi da butsu!  Cao tăng Vô Lộ nhắm nghiền mắt lại.  
  Phóng tác dựa trên bản tếng Anh A Dead Secret do Lafcadio Hearn (1850-1904) chuyển ngữ từ truyện cổ Nhật Bản. Cảm ơn chị ĐLK.  
Hồ Đình Nghiêm

Phố xưa nằm bệnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Hồ Đình Nghiêm
qua nét vẽ Trịnh Công Sơn

Quà thưởng Tết phát hiện ra hàng giả, anh em công nhân viên đồng loạt mang trả lại. Tôi không thích gây căng thẳng, phản đối hò hét chửi rủa các thứ, tôi ôm quà im re đón xe đi về quê. Tôi chẳng mở lớp bao bì, trong đầu tôi lơ mơ hiện hình đối tượng để chuyển giao. Quê tôi nghèo đói lạc hậu muôn niên, cho dầu là hàng nhái họ cũng lấy làm hoan hỉ xuýt xoa khi được trao tay. Ừ, mang tiếng đi xa mần ăn, người về từ phố phường rậm rật, ba ngày tết phải biết móc hầu bao lì xì thứ gì đó, ngó cho được, cho nở mặt nở mày.

Xe đò có giường nằm, tôi mua giá bèo nên ngồi cứng người ở góc ghế hẹp. Đây là chiếc ghế tự chế, phát huy sáng kiến để nhồi nhét những kẻ muốn quá giang vào giờ cuối. Đò có đắm không khi chở quá tải khách muốn qua sông? Trước giờ khởi hành tôi an tâm khi thấy cậu lơ xe đốt cả bó nhang lớn, đi quanh xe rồi cắm cái nạm khói nghi ngút ấy vào đụn đất đen nằm ngoài rìa cỏ. Hãy nên tin dị đoan, hãy nên nhìn nhận cảnh giới này có sự hiện hữu thầm lặng của những người khuất mặt. Họ là cơn gió heo may, giọt sương đọng đầu ngọn lá, cánh hoa bất chợt rụng xuống trong vườn khuya. Họ hoá thân thành những điều vụn vặt, kề cận mà bạn vô tâm chẳng nhìn nhận được. Và như thế, bạn dễ nhắm mắt ngủ giấc phiêu bồng khi xe chạy ra liên tỉnh lộ vốn luôn dằn xóc. Tôi chẳng thích nhìn ngó cảnh vật bao quanh, mỗi bận đi xa tôi thường khép đóng đôi đồng tử. Tôi xem trên đài truyền hình trực tuyến cảnh tai nạn giao thông, một chiếc xe khách kềnh càng đã đâm trực diện vào chiếc xe nhỏ có bốn chỗ ngồi. Bố mẹ ngắc ngỏi thoi thóp, hai bé gái ngồi sau thì đang sống chuyển sang từ trần. Bà con bu lại tìm cách lôi nạn nhân ra khỏi khung sắt méo mó dị dạng, có người nói: Chỉ mong sao khi xe bị đụng nát, hai cháu kia đang nhắm mắt ngủ say. Tôi có cảm tình với lời phát biểu của người nọ. Rằng như thế, hai cháu bé không phải chịu sống qua giây phút hãi hùng ập đến bất thần. Ra đi trong mộng mị hẳn sẽ êm ả hơn khi bạn đang tỉnh thức.

Tôi nhắm nghiền mắt, đóng cửa sổ tâm hồn lại. Nhắm, nhưng kỳ thực thì tôi trông rất rõ hình bóng của một người. Bạn tin không, có những nhân vật mà khi muốn thấy họ, buộc lòng bạn phải là kẻ tựa đang mớ ngủ. Người ấy bước ra khỏi cuộc đời tôi, vắng mặt vĩnh viễn một thân cận. Cô chỉ hiện ra trong những thước phim hồi ức tôi chẳng đủ khả năng làm chìm trôi, quên đi. Tôi luôn nhớ tới cô, dai dẳng. Nỗi nhớ mà mọi người đã đồng thuận vào lời giải thích: Mối tình đầu hồ dễ mấy ai quên.

Trong facebook của người bạn, hắn post hình cô ấy lên. Và đó là tấm ảnh tình cờ tôi mãi xem, không chán. Tôi chẳng mấy ưa Fb bởi đa phần người ta thích nói về mình quá. Dài lời thì đâm vô duyên, vô duyên dẫn tới những việc vụng về: Chưng ảnh món ăn mới nấu xong, chụp hình tự sướng, áo quần giày dép thậm chí cả nội y. Người ta lột trần những thứ xét ra rất riêng tư cần chôn dấu. Đi đâu, làm gì, con đau, vợ ốm đều thật thà khai báo. Ngay cả cách dụng chữ cũng thế, ai đó viết: “Chít mịa rùi, túm lợi, đời không Fb rất là chơi vơi”. Tôi không thích mó tay vào “phây”, loạng quạng lạc chân vào cảnh giới kia chỉ duy một mục đích, ngó tấm ảnh rạng rỡ nụ cười của cô. Tôi đã nhấn vào chữ Like bên dưới mà im re không ký gửi một lời bình. Cô mặc áo dài màu đỏ, đội cái vương miện ngời sáng như thể một hoa hậu vừa đăng quang. Bàn tay mang găng trắng muốt, ôm bó hoa lớn bộn, cầu kỳ. Trên đầu cô, bụi hoa giấy bò quanh bên tấm bảng có chú thích hai chữ: Tân Hôn. Nếu bạn là tôi, bạn cũng đồng ý là cô dâu kia xinh đẹp thập phần. Một vẻ đẹp tự tại, riêng lẻ. Nó chẳng cần những trợ giúp nào khác. Nói kiểu dân gian: Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Em chẳng hề là cây trúc phải nương nhờ tới cái đình làng để tôn tạo nên dung mạo bắt mắt. Cô đẹp vì cô lẻ loi, cô sẽ xấu nếu đứng dựa đầu vào vai chồng. Tôi đồ thế. Bạn tôi, đứa sở hữu tấm ảnh kia đã an ủi tôi bằng vào câu nói của người ngoại quốc: Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung cùng họ.

Chiều dâng bóng tà chập choạng mù mờ khi tôi về tới mái nhà xưa. Con Lu đã chết nên vắng tiếng sủa mừng vui mỗi bận thấy lại thằng bạn cũ lưu lạc đi mất đất. Trong tất cả những loài động vật, chó là con vật đáng yêu nhất. Lòng trung thành của nó là tấm gương mà loài người hổ thẹn chẳng dám soi mặt vào. Nó chết, do bởi đã có một hạng người nhẫn tâm “nhậu” nó. Nghe tin, lòng tôi luống những ngậm ngùi. Cái đuôi luôn vung vẫy, cái mặt ưa dụi vào người tôi, bốn chân vướng víu đi quanh. Sự quyến luyến của nó, cảm tình nó biểu lộ vẫn nằm sâu trong lòng tôi. Thực tình tôi rất bất mãn khi nghe tiếng mắng la của một người đàn ông ở sát phòng trọ: Người gì đâu kỳ cục, có chó mới thương mày! Tôi thích sự hoán đổi này hơn: Chó gì đâu kỳ lạ, có người mới thương mày! Phải la toáng lên, phải ưỡn ngực ra, bởi theo tôi hiểu, người phải hơn chó chứ! Nghịch lý tồn tại ở chỗ: Có lắm người đã thua chó.

Nhà vắng đến lạnh rợn. Chỉ có thằng cháu đang ngồi chơi trò bắn giết trên máy điện toán. Hắn chỉ nói đúng một câu: Chú về ăn Tết à? Súng tiếp tục nổ dòn, máu tiếp tục đổ và hắn xanh mái đầu vẫn lậm ước muốn trừ gian diệt bạo. Hắn từng bị ăn đạn cho nát thây. Game over. Nhưng hắn bất tử, tái lập lại một tình huống bạo động, đơn thân đương cự với cả một guồng máy toàn kẻ xấu xa. Anh Tư đi đâu hổng thấy? Tía tui lao động chưa về.

Vì neo người, sợ phí phạm khoảng trống, anh tôi đã tự thu bé lại căn nhà, ngăn phân nửa cho một gia đình từ dưới quê lên mướn. Thằng cháu tôi sống nhờ vào số tiền thu nhập hằng tháng kia. Lương lậu của người anh chỉ đủ cho ông ăn tiêu dè xẻn. Ông dơ xương vì ông ham uống hơn ham ăn. Ông làm con gà trống hết sung để gân cổ lên gáy. Vợ bỏ từ khuya, nghe nói đi tay không, giang hồ sang tận Campuchia. Mỗi khi có rượu vào, ông lè nhè duy một điệp khúc: Ăn xà lon bon tê? Ông đè đứa con ra chất vấn, mày biết tía nói gì hôn? Tiếng Miên đó mậy. Em có yêu anh không? Đù má, hỏi câu bù trất. Nếu yêu thương ai đành lòng bỏ cha con bây ở lại mà lưu lạc xứ người chuyên trị mắm bò hóc. Tính móc họng người ta sao hỏi câu dô diên dậy cha nội?

Tôi đứng trước bàn thờ nguội lạnh nhang đèn. Những khung ảnh đứng xiêu vẹo kia thảy phủ chụp một nỗi buồn xa vắng. Sắp chia có thứ lớp từ già tới trẻ. Ông bà xong tới cha mẹ, tía má xong tới anh Năm anh Bảy chị Hoa chị Hoè. Đứng chen vai thích cánh mà nhỏ tuổi nhất trong đội hình là thằng Quy, em tôi. Nó là út, lên Bình Dương lập thân, chui vào làm công nhân cho một tập đoàn người Trung quốc làm chủ xí nghiệp. Quy bị vu oan mang tội trộm cắp hàng thiết bị của công ty. Công an bắt vào đồn, viết chưa xong bản tự khai thì chết mờ ám ở trong lao. Anh Tư tôi đón nhận tử thi mang về an táng sơ sài. Đứng thắp nhang cúng vái trước mồ, anh nói: Đù má mày đừng trách tao nhen Quy. Mày đâu muốn thằng Tư rọm rơ này làm châu chấu đá xe, trứng chọi đá. Biết là khuất tất trái ngang oan ôi ông địa nhưng đù má tao đành phải để vụ việc chìm xuồng. Tao đi nhậu, mới nói ba câu đạo lý làm người liền bị chiến hữu can ngăn. Tư, địt mẹ mày đâu đủ tư cách để bàn chuyện đời. Mày trị không xong con vợ mày thì nên muối mặt mà ngồi làm thinh. Sương sương cưa ngã chai này cho trôi hết phiền não.

Tôi đốt ba cây nhang, thắp sáng hai bóng điện giả bộ làm đèn cầy đỏ quạch. Bây giờ sao người ta ưa chơi đồ giả, ưa xài hàng nhái. Ngay cả cây nhang đốt lên mũi ngửi ra mùi kỳ lạ và thoáng chốc chúng tàn lụn rất mau. Tôi ngó những khuôn mặt nửa thân thuộc nửa xa lạ mà lòng tịnh không chao gợn một nỗi buồn. Ừ, bậy thật. Chẳng rơi nước mắt thì ít ra phải cắn rức lương tâm khi nhìn rõ cái xác xơ trống vắng chiếm ngự bàn thờ. Không nước nôi, không hoa quả, không lau chùi phủi bụi, không huơ tay gạt đi tấm màng nhện giăng trên lư đồng.

Tôi hỏi đứa cháu vẫn kiêng cường bám trụ bên màn hình mỏng lét. Chiều tối rồi sao mày ham chiến đấu thế? Thế vấn đề cơm nước tính sao? Ái dà, thì đợi ổng về nghe chỉ thị, bất quá tui trụng gói mì tôm. Có sao đâu. Tôi bước ra bậc cấp trông vời bóng tối hiu quạnh. Thường thì mấy giờ ổng về? Có là tài thánh mới biết, ổng có quyền tự do đi lại mà chú, ai cấm cản? Có bữa nhậu xỉn ngủ bụi ngủ bờ đâu đó, có hôm về sớm quẳng cho tui hai chục ngàn. Mày nghỉ chơi đi, ra ngoải kiếm cái gì ăn, trả lại sự bình yên đặng cho tao ngáy một giấc. Đù má mai bảnh mắt phải ra nông trường mần ăn rồi. Thật khổ cái thân già. Ăn xà lon bon tê?

Tôi nói, mày biết chỗ nào ăn được không, dắt tao đi. Hai chú cháu đánh chén chuẩn bị tinh thần mừng năm mới tới. Hắn “save” cái trò chơi máu me bất tận, tắt máy rồi hất mặt về phía tôi. Được là sao? Ăn ngon, hơi đắt chút đỉnh hay tìm chỗ giá bèo, cơm bụi? Tôi ngó đứa cháu 13 tuổi. Hắn phổng phao, xương cốt lều khều, ngần ấy tuổi mà đứng vượt đầu tôi cả năm bảy phân. Nhà tôi ai nấy thấp người, thằng này chắc giống má nó, chị dâu tôi. Trước khi đẻ nó, lúc mà anh tôi chưa biết câu tiếng Miên kia, ảnh lại sính chữ Hán. Đù má con vợ tao thuộc diện trường túc bất chi lao. Kiểu này chắc tao phải siêng tu rượu rắn để có sức mà phục vụ người đẹp. He he he. Anh Tư cười. Đù má rượu rắn lợi hại lắm nghe mậy. Tôi làm thinh. Ngay từ trứng nước, tôi đã có sẵn một linh tính, thế nào anh cũng bị người ta ruồng rẫy bỏ bê. Anh hiền lành, tốt bụng, miệng hùm gan sứa và đàn bà họ chẳng cần những thứ đó. Họ trông cậy vào những kẻ ít nói, chăm làm, chớ rượu chè be bét, mang trách nhiệm trên vai, mang chung thuỷ trong lòng.

Trước khi đóng chặt cửa nẻo, tôi tìm giấy viết và hỏi tên quán ăn mà hai chú cháu sẽ tìm đến. Dĩ nhiên là nơi ngó xôm tụ, cả năm chỉ một lần, ngồi quán cơm bụi sao đành lòng, cho má nó khinh. Tôi cài vuông giấy nơi cửa, tôi nhắn, nếu không oải, anh Tư chạy xe ra tìm hai chú cháu tui nha.

Phố phường làm mặt lạ với tôi. Chỉ cần xa nó một năm, bụi trần gian chất chồng khiến nó ghẻ lạnh trước những hồn ma cũ. Tôi hỏi đứa cháu: Mày thấy chú có gì thay đổi không? Hắn nói mà không thèm nhìn: Ngon cơm, trắng da dài tóc, ngó biết hổng phải dân địa phương.

Đi hết con đường thắp đèn vàng xỉn thì đụng phố chính, thằng cháu hô: Tới rồi. Hắn dắt tôi đi vào một khu vực đầy khói, người ta đang nướng thịt, người ta đang chiên cá, người ta đang xào mì. Những cái chảo đen đúa luôn bị lửa táp, phừng phực. Nhà hàng gì lạ đời, phải băng qua khu nhà bếp hiểm nghèo mới nhìn ra bàn ghế. Đứa cháu giải thích, trước nằm ở trỏng, bị thần hoả hỏi thăm cho một vố, giờ mấy ổng ngán, mang ra ngoài đặng có gì dễ bề xoay xở. Tôi nói, họ mà bất cẩn sẩy tay thì thực khách vô phương chạy làng, có nước tự thiêu, để già lửa cháy khét. Làm gì ra nông nổi, vác giò chạy băng qua phòng ngủ con mẹ chủ quán là đụng đầu con đường nhỏ phía bên kia. Xời người ta nghiên cứu cả rồi. Cứ vô tư ăn nhậu đi chú.

Ngồi chưa nóng đít, lựa chưa xong món ăn thì anh Tư xẹt vô. Người mồ hôi mồ kê như lực sĩ môn điền dã chạy nước rút. Ốm nhách như cây củi, tóc tai bờm xờm như kẻ trăm công ngàn chuyện đầu tắt mặt tối không tiện chỉnh trang bộ vó. Năm cũ sắp sang trang mà ngó anh cứ muôn năm cũ, chẳng có biểu hiện chút mới dính thân, hơn cả chuyên chính vô sản.

Mày về hồi nào?

Mới xuống tới, khoảng hơn tiếng.

Chèn đét ơi, hết chỗ sao chui dô đây? Dao quán này tụi nó mài sắc lẻm, bén ngót. Mài chín tháng chém ba tháng.

Lâu năm mới có một lần, hổng sao đâu.

Người ở tỉnh thành về ưa chơi bảnh giựt le hả?

Anh Tư ngó thằng con: Cái dụ này kêu làm sao cho đúng hả Đực?

Kêu bằng: Chú đã trở lại, lợi hại hơn xưa.

Đúng vậy. Người xưa nói: Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn. Đi khỏi chốn ao tù nước đọng này nếu không khôn, chí ít cũng phải biết mánh mung kết bè lập đảng như thiên hạ.

Anh tan tầm cũng tối dữ hén?

Đù má phải chạy nước rút, Tết nhất tới rồi. Cha con nó lúc nào cũng ưa nâng bi, bày chuyện mần vượt chỉ tiêu, oải hết biết! Gì thì gì mày nên gọi cho tao chai bia để thông cần cổ, chuyện phá mồi hạ hồi phân giải từ từ nhá sau.

Tôi giao cho thằng Đực toàn quyền lựa chọn món ăn. Nó ít ăn ít nói, không đù má đù cha giống tía nó và thường thì những đứa đó dễ gây sự tín nhiệm cho ai kia muốn cậy việc. Tôi sẽ nhờ nó đi dọ hỏi giùm tôi địa chỉ thường trú của người ấy. Gái mà lấy chồng, lên xe bông, ắt sẽ theo “chàng” dìa dinh. Và má hẳn không nỡ lòng để con nghe chim kêu vượn hú ở phương trời biền biệt xa xăm. Chung khu vực đặng chạy qua chạy lợi mỗi khi tối lửa tắt đèn lòng dấy lên bao nguồn cơn khó ăn khó nói chỉ biết rủ rỉ rù rì riêng cho má nghe. Chớ tại làm sao khi khổng khi không bị tắt kinh, buồn miệng ăn gì vô cũng bắt dợn ói.

Chưa gì anh Tư đã tu hết nửa chai bia. Với ai chẳng biết chứ ông anh tôi một khi có bia đổ vào người thì coi bộ đầu óc sẵn sàng phát huy chất xám. Lại nữa bia ngoại, khiến ổng rất bốc: Mày nên tranh thủ đi thăm con Xuân, tình cũ không rủ cũng đến, ba ngày tết dù gì cũng là cơ hội ngàn năm một thuở, chẳng ai nỡ lòng làm mặt lạ ra nghiêm lệnh khoan khoan đừng có xáp vô, tui là phận gái chàng là phận trai.

Anh còn nhớ Xuân sao?

Mày tưởng là mèo dấu cứt hả em, đồ vải sưa mà che mắt thánh! Chuyện gì mà tao hổng rành. Đâu phải đợi hoa mai nở mới biết xuân về hay chưa. Nói mày nghe, lóng rày con Xuân nó xuống sắc dữ thần, y như cành hoa héo. Hôm bữa thấy nó mang cái bụng thè lè, hổng biết giờ này đã đẻ đái chi chưa. Mặt xanh nhợt nhạt ì ạch di chuyển lặt lè thấy thương hết biết.

Sao tía sung chuyện tả tình tả cảnh quá mạng, làm vậy chú đâm thẫn thờ ăn nhậu mất ngon. Đường đang thông xe khi không tía mang cục gạch ra chêm ngoài lộ, khiến xui người ta phải chịu chết một cửa tử.

Mồ tổ mày, bụng tao thẳng như ruột ngựa, luôn vô tư có sao nói vậy người ơi. Đi đường mà có đứa đưa ra biển báo thì sẽ tránh cảnh ùn tắc sập hố tử thần. Thôi thì hổng nói nữa, vô cái này coi, gọi là mừng xuân sum họp.

Khác với điều thằng Đực dự phỏng, tôi ăn rất ngon miệng. Quán Khói Chiều có nhiều món đặc sản chế biến mặn mòi cực bắt khi đi chung với bia. Thằng Đực làm Bao Công mặt đen vì lai rai uống nước xá xị trong khi anh Tư đang chuyển sắc làm Quan Công mặt đỏ phừng. Quan Công phán, đù má lâu lắm tao mới có một bữa ăn ngon, mày không biết chớ tao vẫn khắc ghi câu tình huynh đệ đời đời bất diệt. Nhà mình phúc phận hẩm hiu, phải mà thằng Quy còn sống, nó kéo ghế ngồi đây thì có phải là mùa xuân đoàn viên đại thắng không? Haizz!

Bữa cơm gia đình kết thúc với chén bát muỗng đũa chỏng cọng, sạch sành sanh. Ăn không chừa cặn, chẳng để lại hiện trường một cọng rau. Ăn như hôm sau sẽ là ngày tận thế. Anh Tư chủ trương cơm thương chớ không ai thương nên tận tình vơ vét. Thêm thay mày hổng nên bỏ mứa mà mang tội với những kẻ chết đói. Đù má chỗ này chuyên trị chặt chém, chẳng vào thì thôi, vào rồi phải đớp hít cho xứng đồng tiền bát gạo. Đực, tao giao cho mày một nhiệm vụ, nội trong ba bữa phải tìm ra hang ổ nơi chứa người đẹp của chú mày. Chú mày sẽ đường bệ tới thăm, chính nhân quân tử từ phố thị trở về. Em sao rồi? Ăn xà lon bon tê?

Nữa, bắt đầu xỉn rồi hả tía. Ăn xà lách thì nhuận trường chớ mô tê nỗi gì mà lè nhè. Đực đứng lên, chỉ có nó mới đủ sức càm ràm tía nó, tôi với anh Tư cũng tựa như “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Phê bình kiểm thảo nhau thì ở cơ quan họ xúi thế chứ anh em cật ruột nên chủ trương một điều nhịn chín điều lành. Nói điều không phải sanh ra hỗn láo.

Chúng tôi cùng bước ra. Quán thôi xông khói mù cay, phố bắt đầu thưa vắng, lâu lâu có chiếc xe máy chạy vụt qua, xớn xác như bị ma rượt. Tôi đã làm thân con ma bị cuộc sống rượt đuổi ra khỏi chốn này. Tôi bị tình phụ, âu cũng nên vin vào cớ ấy mà đi xa, chạy về miền phồn hoa đô hội đặng kiếm miếng cơm manh áo đắp đổi tuổi thanh xuân không nhìn ra ánh sáng cuối đường hầm. May mà trời đãi kẻ khù khờ, chỗ tôi lao động đầu tắt mạt tối chẳng bị tư bản bóc lột, lương lậu họ trả cũng đôi phần thông thoáng. Chắt mót dè xẻn để cuối năm về quê ăn Tết có dịp mà làm hoanh. Anh Tư nói đường bệ với lại chính nhân quân tử, nghe mà thót bụng. Hổng dám đâu. Thằng Đực, con ảnh rêu rao “lợi hại hơn xưa” thì có chút đỉnh hợp tạng, đúng chỉ một chút xíu, ấy là thằng chú hắn đã giã từ những ngày đói rã họng, co quắp trong mặc cảm nghèo hèn. Người giàu có, khi phát ngôn, dễ lừa đứa nhẹ dạ. Đứa đói khổ khi nói ra lời, có chó mà nghe theo. Nữa, lại lôi chó vào cuộc. Thiệt là chó má!

Tôi trao cho anh Tư hai trăm ngàn để sắm sửa hoa quả mứt món đặng bày lên bàn thờ. Xuân làm sao đi vô đạp đất khi nhà cửa ngó lạnh tanh y như chùa bà Đanh, thấy bắt ớn. Anh bức tóc vò đầu, điệu bộ ăn năn hối cải. Bình thường ăn nói rổn rảng to điếc con ráy, giờ cầm tiền thì giọng xuống tông hát lý quạ kêu dằn vặt khoan hò: Khốn khó quá, lu bu quá, trói tay trói chân quá… còn sót chút lòng thành thì hổng biết thổ lộ cùng ai. Mày có thông cảm cho tao không? Đừng để bụng nhen. Có gì cũng nên tha ra ngoài mồ thằng Quy để cúng cho nó một trận đình đám. Đốt nguyên bó nhang cho trời sầu đất thảm.

Tôi tặng đứa cháu món quà dỏm mà cơ quan “lì xì”. Đực à, mày hổng xài thì bán nó đi nhét tiền cho ấm đít. Hẹn năm tới dìa quê ắt phải hoành tráng hơn. Hắn vui ra mặt, vậy cô Xuân, tính sao? Hổng lẽ lâu tháng chầy năm tới thăm người xưa lại đút tay vô túi nhìn đời hiu quạnh? Tôi nói, sẵn mày làm quân sư giúp tao coi. Anh Tư xía vô, việc chí tử là nên quan sát tình hình, không ấy thằng chồng nó sanh dị nghị ghen tuông thượng cẳng tay hạ cẳng chân uýnh thằng chú mày sứt đầu bể trán oan ôi ông Địa. Du Xuân mà đổ máu thì còn ra thể thống gì nữa! Ất Mùi chứ đâu phải Mậu Thân oan nghiệt năm xưa.

Thằng Đực làm con ma xó, kiếp trước chắc nó công tác ở bộ công an. Sáng đi chiều về đã có đủ bản báo cáo cụ thể, nắm vững một bộ phận không nhỏ của gia cảnh nhà người. Hắn nói: Nhưng mà làm cuộc tấn công tổng nổi dậy đột xuất thì chẳng đặng đừng, bị nhà người ta nêm cứng quan khách hàng họ phương xa về quân quần, tiếng cười nói rậm rật vang rân ra tuốt ngoài đường khoắn bụi. Hình như sẵn trớn họ tổ chức tiệc ăn đầy tháng đứa con cô Xuân. Úi chào, mình vác mặt lạ tới e sanh căng thẳng hiện trường. Tam thập lục kế ở nhà là thượng sách. Tui sẵn lòng làm du kích anh hùng vác cái thiệp mừng Xuân mang lại, nếu chú muốn thố lộ tấc lòng. Tôi cười méo mó: Thực bụng thì tao đâu có ưa ngó ra cảnh người ta hạnh phúc. Không thăm thú, không hiện diện, mà cũng không nhắn gửi tin tức gì ráo trọi. Rước phiền não là điều nên tránh.

Anh Tư đi vô đi ra như gà mắc đẻ, làm vẻ vô can mà hai lỗ tai gửi lại hiện trường: Nói thiệt nghe, sao mày nhác như con cáy. Mười hai con giáp mày hổng giống con nào trơn trọi. Đù má nam nhi chi khí, cứ tới nhìn nhau cho thoả dạ chứ dậm chân tại chỗ thậm thụt bàn ra tính vào chi cho mất linh. Chí ít nên nói trắng đôi điều cho đối tượng hiểu, anh yêu em một dạ không đổi duyên nợ hổng thành xin hẹn kiếp sau.

Tía được tài vẽ đường cho hươu chạy, tía ca vọng cổ mà sập gánh hổng có ai nghe. Anh hùng cũng tuỳ vô hoàn cảnh, liệu cơm gắp mắm là cách dụng binh của kẻ thức thời. Sáng suốt như chú là thứ tía cần học hỏi.

Ba ngày Tết trôi qua trong tẻ nhạt. Tôi vào facebook và ngó tấm ảnh cô dâu mặc áo đỏ tay ôm bó bông, hoa xấu thua người. Người ở gần kề bắt xe ôm đi khoảng hai chục phút là giáp mặt mà người cũng ngàn trùng như đời vốn bày những hố ngăn. Tôi tiêu hết những đồng bạc cuối, những đồng bạc đổ mồ hôi sôi nước mắt chắt mót tằn tiện suốt những năm dài xa xứ. Anh Tư bảnh mắt đi mần “vượt chỉ tiêu” như người ta đòi hỏi. Đưa tôi ra bến xe đò duy chỉ mình thằng Đực, học trò học bè chúng nó có thứ lịch nghỉ khác với công nhân bởi dùi mài kinh sử xem ra chẳng có gì phải khẩn trương cả. Tập đoàn lãnh đạo đất nước tuồng như học lực chỉ mới xong tiểu học, có sao đâu.

Hai chú cháu ngồi uống cà phê chờ giờ xe chuyển bánh. Hai thế hệ có riêng lối tư duy khác biệt, không khiến kẻ này đâm quyến luyến kẻ kia. Liên hệ máu mủ đôi khi chẳng sánh bằng người dưng nước lã, một vài trường hợp. Cũng tựa như chó thương người đứt ruột mà người thì luôn tìm cách hãm hại người. Nếu con chó Lu của tôi chết mà có mồ mả hẳn hoi, e tôi phải ra trước nắm đất của nó mà đánh rơi đôi ba giọt nước mắt.

Tôi leo lên xe, vẫy một bàn tay lui cho Đực. Buổi sáng trời âm u chực đợi mưa xuân. Tôi chẳng hứa hẹn xuân sau trở lại. Tự năm nảo năm nao, hình như trong tôi đã không biết tới mùa xuân. Xuân ơi, ăn xà lon bon tê.

Hồ Đình Nghiêm

Phố Gió

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

1

Thông thường, người đàn bà về nhà khoảng sáu giờ. Một vài lúc chậm trễ, sai lệch mươi mười lăm phút. Tuy thế, đó là một sự điều độ đáng yêu. Hắn không nhìn con số màu đỏ thay đổi nơi cái đồng hồ điện. Đôi khi do bởi linh tính, hắn vén màn cửa và đón nhận ngay cái vuông màu mà hắn đợi chờ: Ô cửa kính tầng năm của khu chung cư đối diện vừa sáng đèn.

Trong bóng mờ, hắn sờ đúng ngay cái ống nhòm đặt trên đầu tủ. Hắn không điều chỉnh độ gần xa, bởi ống nhòm ấy đã tuyệt hảo cho cái khoảng cách bốn mươi lăm thước. Rõ mồm một như nhìn con tem đặt dưới kính lúp, kề cận.

 Thông thường, người đàn bà ném xâu chìa khoá trên mặt bàn. Vừa cởi áo vừa tiến tới chiếc tủ lạnh đặt hơi khuất tầm nhìn. Hắn biết đó là tủ lạnh do bởi ánh sáng vừa giảm đi và người đàn bà đang cầm một lon nước ngọt khi trở ra bên máy điện thoại kiểm soát thử có ai nhắn gửi tin tức?

Người đàn bà cởi giày, móc chiếc áo ấm màu mỡ gà ở đâu đó. Hôm nay phiá trong là váy xám và áo thun đỏ. Màu xám khiến bắp chân trắng lên và phần trên, khuôn mặt người đàn bà ửng hồng tựa như vừa uống rượu xong. Hắn nhìn lui mặt bàn, lon diet pepsi còn đặt ở đó. Luôn luôn là diet pepsi. Một thứ nước giải khát mà sách vở bảo là nó không bao giờ tốt cho cơ thể bạn. Nhưng cơ thể người đàn bà? Đó là một thân hình khó tìm ra lời bình phẩm. Người ta đã đặt ra một tiêu chuẩn để lượng định và họ mạnh miệng gióng hô: Tỷ lệ vàng! Hắn không rành những con số ấy. Hắn dõi mắt theo người đàn bà vào phòng ngủ và thảng hoặc tim hắn hụt hẫng đi. Người đàn bà cởi áo xống, hờ hững đổi thay. Áo nịt ngực và quần lót thảy đều màu lục, thứ màu ve chai phơi mình dưới nắng. Hoàn toàn đó không phải là màu sắc trầm lắng ảm đạm. Nó reo vui phát quang do bởi nó có viền đăng-ten bằng lụa và nó biết đặt đúng chỗ: Che kín những nơi mà hắn háo hức muốn thấy. Một hôm đẹp trời nào đó hắn sẽ thấy tường tận, và bữa nay vẫn chưa tới ngày đó! Người đàn bà đã biến mất sau cánh cửa. Vẫn là cách lách mình đi, rất thông thường, như trăm khi. Cánh cửa đó tựa một tấm màn buông vội xuống, lúc mà vở kịch chưa thực sự chấm dứt. Tiếc!

Hắn ném cái ống nhòm xuống giường. Mở sáng đèn đặt ở bàn viết và ghi vào cuốn vở: 26 tháng 10. Áo đỏ váy xám. Vẫn sáu giờ, vẫn một mình và vẫn chẳng có gì đổi thay.

   2

27.10. Jeans xanh, sơ-mi trắng, đồ lót màu đen. Khuôn mặt lộ vẻ nhọc mệt, váng vất chút chán chường. Về nhà lúc 6.30 PM, uống cà phê thay diet pepsi. Đi nằm sớm mặc dầu ngày mai thứ bảy.

   3

Đầu đường có cái công viên. Trời trở, không mấy ai ngồi trên những băng ghế. Trơ trụi, chẳng có lấy một bức tượng làm cảnh. Cỏ xanh, nhưng hàng cây bao chắn đã phả xuống nó thứ sắc màu của chớm thu. Lá phong vàng, nhiều chiếc rời cành và khi chết đi mỗi lá có một dáng vẻ khác nhau trong động từ rơi rớt. Gió mang nó đi, rãi đều, cho buổi chiều hực sáng mà hoàng hôn nhọ mặt không đủ sức can dự tới. Đèn đường cháy lên hàng loạt và công viên như co mình lại từ chối sắc lạnh ấy đang xâm thực vào. Ở bậc thềm nhà ai đốt lên ngọn lửa trong trái bí rỗng ruột, một cái đầu quỷ sứ hiền từ với tay chân bằng rơm có mặc áo quần tử tế. Cuối tháng đã là Halloween. Phim ảnh ngoài rạp đang chiếu những tuồng tích kinh dị. Chúa Phật có lúc phải chết đi nhưng yêu ma thì luôn bất diệt. Chúng cấy lại truyền nhân và cảnh sát đã tăng cường nhân viên hành sự trong đêm lễ hội Halloween, phòng hờ bất trắc.

Hai người ngồi xuống một băng ghế. Heo may làm mặt gỗ lạnh tanh. Có chút không khí của Đà-lạt vây quanh họ, nếu đừng nhìn hình nộm nhe nanh.

– Tôi không ngờ trước đây chị ở đường Phan đình Phùng.

– Có gì đáng ngạc nhiên?

– Thấy trái đất có khi nhỏ bé đến ngờ vực. Tôi ở bên Hai bà Trưng. Hai đường đó là hai đường thẳng song song.

– Còn bây giờ? Điều tôi không thể hiểu được là tại sao bạn lại làm thế? Trước đây  bạn học ở đâu?

Hắn nhìn xuống. Hai chân người đàn bà bắt chéo nhau. Vải quần dày nhưng hắn có thể định vị đâu là chỗ có cái nốt ruồi đen nằm ẩn trốn, không sai trật.

– Tôi học trường Việt Anh.

Hắn trả lời và hắn tự nghĩ, một đứa có ăn học sẽ không bao giờ dòm trộm người khác khỏa thân?

– Tôi vẫn đọc những lá thư bạn gửi. Bạn có khiếu viết văn, tiếc một điều là thư gửi sai địa chỉ.

– Chị có phát hiện điều gì trong những lá thư ấy không?

– Tôi xem đó chỉ là trò đùa của một kẻ dư thời gian. Và nó gây cho tôi cái tâm trạng chờ đợi.

– Chị chờ chuyện gì?

– Chờ trò đùa chấm dứt. So ra tôi thích ngồi nói chuyện đối mặt như thế này hơn.

– Nhưng ít ra muốn có buổi chiều ngồi kề cận này, trước tiên phải bày biện ra những nguyên cớ.

– Tại sao bạn nhọc công như vậy?

– Có những sự thật chị không nên tìm hiểu.

– Thật không? Tôi chẳng đủ lãng mạn để tin là mình đang có một người yêu thầm.  Hãy buông tha tôi.

– Tuổi tác. Chị muốn nói tới vấn đề đó?

– Không. Tôi đang tu thân. Tôi muốn lòng được bình an. Tôi còn một cô em lành lặn ở Đà-lạt, nếu muốn tôi sẽ cho bạn địa chỉ. Và tuyệt đối đừng nghĩ đó là sự lợi dụng mong muốn bạn bảo lãnh nó qua.

– Chị không cảm thấy thiếu thốn?

– Bạn muốn nói tới điều gì đây? Đừng để sách báo ám ảnh đầu độc. Hay bạn đang  suy bụng mình ra bụng người?

Hắn nhắm mắt. Hắn thấy rõ chiếc nơ nhỏ có đính hạt cườm nằm trên chiếc quần lót. Từ đó lên lỗ rốn là phần bụng mượt mà của người đàn bà. Bao lâu rồi vùng da gợi cảm ấy thiếu vắng một bàn tay đặt lên, mơn trớn?

– Có một người để chuyện trò chẳng hạn, điều đó không cần thiết sao?

– Làm sao bạn biết được là tôi thiếu người để trò chuyện?

– Khi một kẻ dốc lòng quan tâm tới người khác, hắn sẽ biết nhiều điều về người đó.

– Bạn biết thêm điều gì về tôi?

– Một người vừa trải qua chặng đường tình không may… Hắn nói. Và hắn kê khai cái lịch trình thay đổi màu sắc trên xiêm y lụa là người đàn bà. Ra đường lúc bảy giờ sáng về nhà lúc sáu giờ tối. Và lộ trình mà người đàn bà phải đi qua để tới chỗ làm. Một vận hành buồn rầu như kim đồng hồ quay mãi miết  giữa vòng tròn đóng kín.

Người đàn bà ôm choàng hai tay vào thân mình như bị nhiễm lạnh. Hắn ngó qua, bắt gặp một khuôn mặt tựa thạch cao. Hắn cởi chiếc áo nỉ đen đang mặc ra nhưng người đàn bà từ chối một hơi ấm sẽ phủ xuống vai.

– Bạn đã thất tình lần nào chưa? Bạn hiểu gì về tình yêu?

– Tình yêu là điều mà không ai có thể hiểu được. Tại sao chị hỏi vậy?

– Bởi vì tôi muốn nhìn ra sự thành thật có ở người bạn.

– Suốt buổi nói chuyện hôm nay tôi cố không để sự thành thật vuột mất. Dối gian là điều tôi không mấy ưa, đúng hơn là tôi không thể đặt điều khi ngồi gần chị. Nếu tôi nói yêu chị thì chuyện gì sẽ diễn ra?

– Chuyện có thể xảy ra là sự minh chứng về lời nói đó.

– Chị muốn tôi chứng minh bằng cách nào? Ngắt đầu thằng hình nộm kia xuống và mang quả bí vàng ấy tới đây? Mang đặt xuống ghế mà ngọn đèn cầy bên trong vẫn không tắt?

– Đừng. Việc gì phải nhọc công thế?

– Chị nhắm mắt lại đi rồi tôi sẽ làm một việc nhẹ nhàng đằm thắm.

– Tôi đã qua khỏi cái tuổi bị đánh lừa rồi. Bạn trẻ con cũng vừa phải thôi.

Không được hôn, hắn lục tìm thuốc lá để hút cho khỏi nhạt mồm. Khi bật lửa, hắn phát hiện đôi tay đang run. Hắn không lạnh, ấm là đằng khác, nhưng lòng chao đảo để dư âm của nó tràn dâng ra những ngón.

– Tôi muốn biết cớ gì bạn theo dõi tôi còn hơn cả công an?

Hắn nén vào lồng ngực những đám khói. Uống pepsi không tốt, hút thuốc thì vô cùng độc hại. Chuyện ấy gần xa ai nấy cũng đều tỏ tường, tuy thế có những lúc người ta cần phải tìm lối vào địa ngục để dẫm chân. Để thấy là trần gian sẽ nhạt nhẽo biết bao nếu sống miết với những cấm kỵ, phục tùng những điều răn.

– Tôi quen một người đàn ông, biết tôi ở đối diện nhà chị ông ta trao cho tôi cái ống  nhòm. Đó là người đàn bà ngoại tình, ông ta nói vậy. Cậu sẽ nhìn thấy những màn hấp dẫn với chiếc ống nhòm này. Khi nào có pha gay cấn nhớ kể cho tôi nghe.

Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn sự tàn lụn mà không dập tắt bằng bàn chân đay nghiến.

– Tôi ghét những kẻ ngoại tình cho nên tôi đồng ý lời đề nghị, mặc dù nhìn trộm là một việc làm khó thứ tha.

Gió lay động trên cành khẳng khiu. Có người dắt chó đi dạo vụt ngang qua, câm lặng tựa một bóng ma, vất lại đôi hòn bi lửa nơi mắt chó ngoái đầu nhìn với thứ nhãn tuyến long lanh kỳ dị. Những chiếc lá xoắn lên rồi dạt trôi theo người và thú. Sương xuống bít đặc một tầm nhìn.

– Tôi lạnh. Người đàn bà nói khi đứng lên. Những ngọn tóc rối xô lệch đường ngôi.

Hắn cũng nhìn ra niềm rối bời trong tâm trí. Nửa nhẹ nhàng khi nói  hết và nửa khác là sự hối hận của lỡ lời.

– Quái đản! Không tưởng tượng nổi…

– Chị nói sao?

– Cái ống nhòm hiệu Canon phải không? Tôi mua nó trong một buổi đi xem trình diễn nhạc. Buồn cười! Chẳng bao giờ tôi nghĩ là nó còn có một công ích khác.

Người đàn bà bước đi, xào xạc xác lá, băng chéo công viên. Đó là đường chim bay, lối đi ngắn để chóng về nhà. Hắn sánh vai, chờn vờn sự im lặng chen giữa khoảng cách. Thay vì dừng chân trước dãy chung cư mang số chẵn, người đàn bà băng qua đường để đứng dưới mái hiên thoi thóp ngọn đèn vàng đục.

– Dẫn tôi lên thăm chỗ bạn ở. Có được không?

– Thang máy hư…

– Chẳng hề gì, mấy khi mới được vận động đôi chân?

Hắn dẫn lối. Hắn không tin là người đàn bà ngoại tình. Suốt cả tháng hắn chưa bắt gặp bóng dáng một thằng đàn ông lai vãng tới. Có điều gì không ổn nơi thái độ và lời nói của kẻ trao ống nhòm cho hắn. Một người chồng cũ hẹp bụng?

   Hắn bật đèn. Đóng cửa bằng lưng.

– Chị uống gì? Tiếc là chẳng có diet pepsi. Cà-phê nhé?

– Không, tôi không uống gì cả, bởi lẽ tôi có ý định sẽ khao đãi bạn một chầu gì đó dưới phố. Sự thành thật của bạn đáng được đền bù.

Hắn vòng tay nhìn người đàn bà đang ngó quanh quất. Căn phòng nhỏ, đồ vật chẳng có gì nhiều. Nó đúng nghĩa là một chỗ trọ, tạm dung.

– Chỉ để ngã lưng mỗi tối… Quan trọng là có được một giấc ngủ yên. Chị hiểu không.

Hắn nói, như bào chữa về cái tổ chim sơ sài thiếu thốn của hắn.

– Có chắc là được ngủ yên không?

Người đàn bà thở dài. Đi hết bề dọc căn phòng, tới vén màn án che cửa kính. Bóng tối đặc quánh buông rèm bên ngoài, khu chung cư đối diện có vài ô cửa sáng đèn, vàng ố.

– Chẳng thấy gì phải không? Tựa như ở đường Hai bà Trưng ngó sang bên Phan đình Phùng một đêm mù sương.

Người đàn bà cười với lối ví von của hắn. Như thể hắn di dân tị nạn chưa được lâu, lòng còn bề bộn trăm điều ray rức với chốn cũ. Hoặc đời sống mới dựng đứng nỗi bất an, chạm mặt nó và thấy phảng phất đâu đó niềm nuối tiếc về điều gì đã cổ xưa, đã mất mát. Đã không thể tìm lại được.

   – Đi.

Người đàn bà nói. Hắn mở rộng cửa chờ đợi. Đó là một ý kiến sáng suốt. Bởi còn cà kê dê ngỗng giữa bốn bức vách yên ả này, thì cớ sự không hay sẽ rất dễ xảy tới. Hắn ghét đối đầu với tình hình gay cấn. Và ở người đàn bà, hoàn toàn chẳng phát sinh một cử chỉ gợi mời phủ dụ nào cả.

– Bạn có xe chứ?

– Có. Nhưng cũ kỹ, cà rịch cà tang.

– Càng tốt. Tôi ghét ngồi trên những chiếc xe mới, bóng lộn.

Cà rịch cà tang chỉ là một cách nói. Máy nổ êm và hắn điều khiển xe theo đúng sự giao hẹn có nơi tấm bảng dựng bên triền cỏ: Tốc độ không được quá 40 cây số giờ. Nếu mọi tấm bảng có trong thành phố đều đồng loạt đánh số tựa thế thì hắn càng thú. Chở người đàn bà đi trong đêm, đó là hình ảnh dù nằm mơ hắn cũng không tài nào bắt gặp. Sự thật có khi hoang đường hơn cả mộng mị.

– Tôi lái xe còn chị thì chỉ đường, nhé?

– Bạn qua đây đã lâu mau?

– Gần bốn năm. Tôi chưa nhập tịch. Tôi thích nói tiếng Việt hơn là nói tiếng Pháp tiếng Anh.

– Kỳ cục! Có ai xổ tiếng tây tiếng u hồi nào đâu?

– Ý tôi muốn nói là được trò chuyện với chị thì đó là cả một hạnh phúc.

– Vẫn còn thành thật chứ?

– Vẫn. Trong hãng cứ phải chung đụng giao tiếp với bọn tây tà thiệt là không khoái khẩu.

   Xe chạy lên hướng phố. Những luồng sáng xanh đỏ lần lượt hắt lên mặt người đàn bà.

– Lâu lắm tôi mới đi chơi đêm.

  Lời nói nghe chừng như ta thán, phát ra trên cửa miệng một vị nữ tu.

– Điều gì khiến chị tự giam thân lại?

  Thay vì trả lời câu hỏi người đàn bà đưa tay chỉ đường.

   – Đi lối này. Mình xuống Saint-Laurent, đằng kia thì đường một chiều mất rồi.

Người đàn bà thay đổi ý định những hai lần. Hắn nghe theo và sau cùng như chợt nhớ điều gì người đàn bà biểu hắn dừng xe trước một quán cà-phê của Ý. Họ kiếm được một chiếc bàn nhỏ. Ánh sáng, khói thuốc, tiếng nhạc; không khí trong quán làm hắn háo hức. Những cô chạy bàn xinh đẹp, mỗi chân đi là mỗi xao động những hương mùi. Ngọt, thơm, và nó lơ lững tấp vào lòng những ý nghĩ tà đạo. Hắn nhìn người đàn bà, ở trong xe mũi hắn cũng ngửi ra một mùi hương, nhưng đó là thứ nước hoa đằm thắm nhẹ thoảng, không khiêu khích lộ liễu như bọn ma nữ vây quanh này. Người đàn bà gọi cà-phê, cho cả hai.

Hắn khuấy đường rồi nâng tách.

– Uống mừng được quen chị.

Người đàn bà nhăn mũi.

– Hãy cho tôi một điếu thuốc.

 Hắn bật lửa. Người đàn bà có chút lúng túng khi thở khói.

– Tôi sẽ hút hết ba điếu. Sau đó chúng ta ra về và chia tay.

– Một sự giao ước quá đỗi hạn hẹp! Trong bao thuốc này còn lại mười một điếu. Chúng ta phải đốt cho hết nó, đồng ý không?

– Để xem sao. Tuỳ thuộc vào nỗi buồn vui của mỗi người.

 Hắn nhìn sâu vào đôi mắt màu cà-phê của người đàn bà. Khói thuốc vấn vương làm mắt loáng ướt như chực khóc. Thế ngồi chẳng được tự nhiên, có chút hồi hộp, thấp thỏm.

– Hãy kể một chút về bạn cho tôi nghe.

– Những lá thư tôi gửi không đủ cho chị hiểu biết về tôi sao?

– Tôi đọc nó trong một tâm cảm khác với giờ này. Bởi tôi đọc mà tôi không hình dung ra người gửi. Khi bạn nhận được một lá thư nặc danh bạn sẽ thấy rõ tâm trạng bất an của bạn lúc đó.

– Nói về mình là điều không nên. Vả lại tôi chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.

– Thôi khỏi. Hãy chồm qua bàn và hôn tôi đi… Nhanh lên.

Hắn không nhìn ra sự đùa cợt trên gương mặt người đàn bà. Rất trang nghiêm. Hơi bất ngờ, nhưng hắn quyết định phải nghe theo. Không nhanh, chậm rãi là đằng khác. Hắn nhắm mắt, đặt để môi hắn trùng nhập khít khao với môi mềm son đỏ. Cơ thể hắn nhẹ, tưởng như tan biến hoà nhập vào người đàn bà. Rất lâu, hắn nghĩ vậy, một nụ hôn dài. Và hoang tưởng. Mọi tiếng động tạp nhạp trong quán không thể chui vào tai hắn. Tịch mịch và chìm lắng. Khi hắn mở mắt ra, trong tấm gương soi treo dọc sau quầy đang hứng đọng một khuôn mặt quen. Khuôn mặt ấy thoáng bàng hoàng, có phần tái đi và rồi quay đầu bỏ trốn.

– Ông ta nói với bạn ra sao? Đó là một người đàn bà ngoại tình? Giờ này ông ta đã thấy, vậy thì có gì đáng phải ngạc nhiên!

Người đàn bà đưa tay chùi vết son trên môi hắn. Hắn có cảm tưởng như bàn tay ấy đã vừa xoá bôi hết những quan hệ giữa hai người.

– Đã đến giờ về, phải không? Dù mỗi người chỉ mới đốt cháy một điếu thuốc.

Người đàn bà đặt tờ mười đồng dưới tách cà-phê.

– Đã vãn tuồng rồi phải không? Chị nhẹ người chưa khi vừa trả thù xong?

Không mở miệng, người đàn bà câm lặng lục ví tìm hộp phấn. Mở nắp ra, chiếc gương nhỏ ở đó hắt lên mặt người đàn bà luồng sáng lạnh, soi rọi nét dửng dưng khó tả. Lạ lẫm như đã chết hết những giác quan.

   4

Sáu giờ mười lăm, người đàn bà tra chià khoá phòng. Sự yên lặng bên trong luôn chờ đợi, như thường lệ. Công tắc đèn được đụng tới, oà vỡ vùng ánh sáng bao bọc. Chùm chià khoá kéo lê tiếng động khô khi rơi xuống bàn. Lon diet pepsi cầm ở tay trái và tay phải đóng mạnh cánh cửa tủ lạnh. Uống một hơi không nghỉ, người đàn bà đứng nhìn nốt đỏ nhấp nháy phát tín hiệu nơi máy điện thoại. Tôi gọi chị để chào từ giã. Từ nay sẽ không còn ai nhìn lén chị nữa. Ba nốt ruồi trên thân thể chị và một nụ hôn, đủ để tôi mang giữ một hình bóng. Tôi chẳng giận chị chuyện gì cả, có điều mối tình của tôi đã bị tổn thương. Tôi sẽ về thăm nhà, đi trên đường Phan đình Phùng và biết đâu sẽ tìm ra một người giống chị, nếu đời sống còn đó chữ định mệnh. Tôi sẽ gửi bằng bưu điện đến chị cái ống nhòm Canon và cuốn nhật ký của tôi, xem như một kỷ niệm chẳng mấy đẹp. Mong sao tâm hồn chị được bình an…

Người đàn bà nghe cuốn băng hai lần. Tiến tới sát cửa kính nhìn sang khu chung cư đối diện. Đen đúa một màu. Đi xuống đường, băng ngang mặt lộ ngập lụt xác lá, người đàn bà bấm chuông ở thùng thư có dán chữ Nguyen không dấu. Hắn tên gì, người đàn bà cũng chẳng biết. Có lẽ hắn đi thật rồi. Năm phút. Mười lần nhấn chuông. Cửa không mở. Người đàn bà trở về nhà.  Vào phòng ngủ thay áo quần nhưng cố tình đứng ngay cửa. Nếu còn ẩn mặt bên kia hắn sẽ trông thấy. Người đàn bà cởi áo, cởi nịt vú. Ngực bên trái là một mặt phẳng nhăn nhàu. Là hậu quả một cơn bệnh, buộc lòng phải đau đớn ngó phần thịt da đoạn lià thân thể. Cắt rời nó và rồi kéo theo bao tổn thương khác. Nguồn cơn để xảy ra ly dị, để trở mặt, để mang người đàn bà về đây thu mình với cô đơn. Nếu thấy rõ sự tàn khuyết, liệu hắn còn giữ trọn một mối tình, không đổi?

Người đàn bà tắt đèn đi tới dán mặt vào ô cửa lạnh nhìn xuống đường. Hai ba đám con nít làm bộ tịch yêu ma phô bày lộ liễu niềm sung sướng nối hàng xôn xao đi xin kẹo bánh. Đêm Halloween chập chờn những bộ y phục cổ quái dị thường. Tối nay hắn lang thang vất vưởng ở chốn nào? Hắn có tham dự vào trò chơi hoá trang không? Nếu giữa canh khuya hắn gõ cửa phòng và xuất hiện dưới lốt một con yêu râu xanh thì thích biết mấy! Hãy làm thinh, xin chớ đánh rơi mặt nạ xuống; bởi như thế sẽ dễ dàng cho chúng ta nhập vai một cuộc bù đắp trọn vẹn. Đớn đau và hoan lạc cho tới sáng.

Người đàn bà ngó sững hàng cây mỏi mòn trút lá. Tay ôm buồng ngực rỗng, hư hao.

  Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 63

Phần 62

Đúng sáng ngày 25 tháng 12 năm 1978, trại tù Hàm Tân xảy ra một cuộc tổng biên chế. Những dãy nhà tù trước đây còn nhiều chỗ trống đều bị dồn cho đủ số người quy định. Người nhà này bị lôi qua nhà khác, đội nọ bị đổi qua đội kia… Thậm chí có một số được điều qua phân trại B và một số từ phân trại B lại được đưa về phân trại A. Dãy nhà 1, dãy duy nhất nằm lẻ loi, sát ngay cổng trại và không có hàng rào vây quanh, chỗ ngủ cho đám trật tự và một số hình sự thân tín của Ban Giám Thị, cũng có một số bị lôi đi và một số được đưa đến. Nói tóm đây là một cuộc cải tổ nội bộ quy mô nhất từ trước đến nay. 
Tuy nhiên, một điểm đặc biệt đáng ghi nhận là những đội thuộc khu 1 và 2 dường như không có gì thay đổi quan trọng. Chỉ một vài người bị lôi đi và một vài người khác được bổ sung vào. Căn bản là đâu vẫn nằm yên đấy! Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, bọn giám thị cho tất cả nghỉ luôn lao động buổi chiều và lên hội trường nghe giám thị trực nói chuyện. Ngược hẳn với lối nói mập mờ của bọn quân quản, bọn công an thường nói thẳng thừng với bọn tù về những diễn biến sẽ xảy ra mà chúng xét rằng cần phải có một thông báo cụ thể. Giả dụ chúng thẳng thắn gọi tù là tù, là can phạm; chúng không mập mờ gọi tù là cải tạo viên như bọn quân quản trước đây. Cũng thế, hôm nay chúng thẳng thắn tuyên bố rằng, sở dĩ chuyện biên chế lại các nhà đội là vì trại cần một số phòng cho một số đông can phạm các nơi sẽ gửi đến nay mai. Lời tuyên bố của tên giám thị trực làm cho mọi người đều thấy rằng những tin đồn từ trước đến nay quả không phải là vô căn cứ. Và Vĩnh phải công nhận cái tin Nguyễn Tú Cường cho cả tháng trước đây hoặc của Lê Quốc Việt mới hai ba ngày trước không phải là tin thất thiệt. 
Dù trải qua một ngày xáo trộn, và lỗ tai mọi người đều đã nghe đủ lời răn đe của tên giám thị trực về cái gọi là “cấm mọi tụ tập làm việc tôn giáo mê tín dị đoan…”, nhưng lễ Giáng Sinh vẫn là lễ Giáng Sinh, một cái lễ mà tinh thần của nó gần như đã vượt ra ngoài phạm vi hạn hẹp của một tôn giáo, mà đã biến thành một biểu tượng cho sự yên ổn tinh thần, sự cứu rỗi chung cho con người. Vì lẽ đó, hầu như không tên tù nào ngày hôm nay lại không để lòng hướng về lễ Giáng Sinh. 
Riêng với những anh em công giáo, ngay sau khi trở về nhà, họ đã tái liên lạc với nhau để chia công tác tổ chức Lễ Giáng Sinh dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện hiện tại. Nói chung, tất cả đều tìm cách xưng tội và dự “lễ đi”. Kẻ lo nấu nướng một vài món ăn đặc biệt để sẵn trong phòng, khi chiều xuống bị lùa vào chuồng, họ sẽ tụ tập ăn mừng lễ với nhau. 
Trong khu 2 (nhà 4 và 5) không có linh mục, nhưng bên khu 3 (nhà 6 và 7) có cha Bộ. Mặc dù ai cũng biết trong thời điểm như thế này mấy linh mục bị theo dõi sát nhất, nhưng các cha vẫn rất khôn ngoan để thực hiện được sứ mệnh linh mục của họ. Sau màn móc nối qua lại của anh Huy, một số chừng hai mươi anh em công giáo của hai nhà 4 và 5 kéo ra sau bếp nhà 5, sát dãy cầu tiêu, tản mát mỗi người một nơi nhưng ai cũng hướng về dãy hàng rào bên nhà 6. Bên ấy, cha Bộ đang đứng chờ mọi người một cách kiên nhẫn. Khi anh Huy nói xong vài điều với anh em về cách thức xưng tội tập thể, anh quay sang ra dấu cho cha Bộ biết. Bên kia hàng rào, nét mặt vị linh mục như nghiêm hẳn lại. Ông thầm thì đọc lời giải tội và để kết thúc, ông giơ tay làm một dấu Thánh Giá hướng về phía những người đứng bên này hàng rào. Sau khi được giải tội tập thể đúng như sự sắp xếp của anh Huy, anh em cứ hai người một đi tới đi lui dọc theo hàng rào. Phía bên kia cha Bộ cũng đi như thế với hai người bạn đi hai bên. Đây là lúc mọi người đang tham dự Thánh Lễ do cha Bộ cử hành phía bên kia hàng rào. Vì để tránh sự nghi ngờ của bọn trật tự và bọn giám thị, các cha “chế” ra phương pháp làm “lễ đi” như thế này. 

Rồi thì “lễ đi” cũng chấm dứt. Buổi chiều đã thực sự bắt đầu buông xuống. Việc đi lại chưa cấm hẳn nhưng trên thực tế đã bị hạn chế thật nhiều vào những lúc gần đây. Do vậy, khi đi lao động về, trừ khi có việc phải xuống bệnh xá hoặc đi lãnh cơm lãnh nước dưới bếp chính của trại, anh em chỉ lẩn quẩn trong phạm vi hàng rào của từng khu để tránh phiền phức bị trật tự nghi ngờ theo dõi hoặc bị giám thị trại chận hỏi. Vì lý do ấy, sau khi “lễ đi” chấm dứt bọn Vĩnh cũng chẳng ra sân trại làm gì. Anh em trở lại chỗ nằm lôi ra những cái gì có thể nấu ăn được đem ra sau bếp nhóm lửa nấu nướng. Để ăn mừng ngày Giáng Sinh trong tù, nếu là người đã được thăm nuôi thì sẽ có được một nồi mì, hoặc nui tương đối ngon lành với đủ gia vị như mỡ, nước mắm, hành khô, bột ngọt, tiêu ớt. Nếu tệ hơn thì có nồi bột Bích Chi quấy chung với mấy cục đường làm chè. Bằng nếu là con bà phước, hoặc lâu rồi không được thăm nuôi, người muốn ăn mừng lễ chẳng còn cách nào khác hơn là đem đổ phần khoai mì được cấp phát của mình vào nồi, xin xỏ anh em thêm một vài vắt mì khô, một chút nước mắm để có được một nồi xà bần tương đối đặc biệt hơn mọi ngày. 
Riêng đám Vĩnh vì anh mới được thăm, do đó ăn uống có vẻ xôm trò. Điểu và Dương kiếm củi, anh Huy nhóm lửa, Cường sai vặt, Ý và Vĩnh lo nấu. Chỉ mười lăm phút sau một nồi mì vĩ đại với đầy đủ gia vị thơm phức đã hoàn tất. Kèm với nồi mì còn một nồi đậu xanh nấu với đường cát… Anh Huy vội vàng lấy lon cóng múc ra một ít đem biếu những nơi cần biếu, đặc biệt là các cha ở các dãy nhà khác. Sau đó tất cả được đem vào đặt nơi chỗ nằm chờ giờ tập họp. 
Sau khi vào chuồng, trong lúc ngồi ăn với nhau, bọn Vĩnh mới có thì giờ bàn đến những thay đổi trong ngày. Đối với đội 17, điều thay đổi quan trọng nhất là việc đội trưởng Đặng Xuân Hùng đã được điều sang làm đội trưởng đội khác. Sự ra đi của Hùng đã khiến anh em thấy lời nói của Hùng quả “rất có trọng lượng” đối với Ban Giám Thị. Chính Hùng đã từng than thở: Mai mốt tôi xin đi đội khác. Ở đội này các ông bựa quá, chịu không nổi. Nấn ná mãi ở đây có ngày mang họa lây! 
Hùng đi Mai Văn Lễ được đôn lên làm đội trưởng, đồng lúc một nhân vật khác được điều đến làm đội phó. Người đội phó mới này hiện tại chưa ai biết rõ anh ta là gì, thuộc thành phần nào và tính tình ra sao. Chỉ thấy từ chiều đến giờ anh xuất hiện như một người đã khá lớn tuổi, quãng 48 hoặc 49; vóc người cao lớn, dáng đi hơi gù với một nét mặt thật trầm tĩnh… 
Trong lúc ăn anh Huy nhìn về phía người đội phó mới (anh ta đang lặng lẽ trải chiếu trên chỗ anh nằm) hỏi bâng quơ. 
– Thằng cha ấy chắc to tuổi hơn tôi. Không biết cỡ nào mà lại được đem vào đội này làm đội phó!? 
Không ai phụ họa, anh Huy lại tiếp. Tên gì không biết? 
Cường với bản tính thích chứng tỏ biết hết mọi chuyện, vừa múc mì ra bát vừa trả lời. 
– Thứ dữ đó. Chả tên Thuận. Trước từng là đội trưởng đội 20. Không biết vì lý do gì mất chức một thời gian. Hôm nay lại được điều về đây làm đội phó. 
Vĩnh chỉ lắng nghe nhưng không góp ý kiến. Ăn uống xong như mọi người, Vĩnh sắp xếp lại chỗ nằm có một chút thay đổi của mình. Số phận đưa đẩy, ông Trương Hồng điên điên khùng khùng lại một lần nữa đưa đến nằm sát bên Vĩnh. Thấy Vĩnh, hắn chỉ liếc xéo một cái rồi thôi, rồi quay trở lại với bức vách trên đầu chỗ nằm như một người đang ngồi thiền. 

Vĩnh nằm nhìn qua cửa sổ có chấn song sắt. Cũng như đêm hôm qua, đêm nay bọn công an gác đêm bồng súng đi tới đi lui và thỉnh thoảng nhìn vào phòng qua các cửa sổ như để quan sát một cái gì. Thực ra chúng chỉ có mục đích khám phá và ngăn chặn kịp thời những ai chúng nghi ngờ đang ngồi tụ tập “làm những việc tôn giáo mê tín dị đoan”. 
Nơi cửa sổ gần dãy cầu tiêu cuối phòng chợt có một tiếng hét từ ngoài hắt vào. 
– Này anh kia! Làm cái gì đấy? Làm việc mê tín hả? 
Tiếng một người từ bên trong trả lời. 
– Tôi có làm gì đâu! Tôi đang bắt rệp mà! 
Giọng bên ngoài hơi hách dịch hơn một chút nữa. 
– Bắt rệp ngồi xích ra ngoài. Cấm ngồi quay mặt vào vách như vậy nghe chưa! 
Sau câu ra lệnh ấy trong phòng không còn ai nghe thấy gì thêm nữa. Có lẽ tên công an gác đêm đã bỏ đi chỗ khác. 
Vĩnh ngồi bật dậy và bắt đầu lôi chăn mùng mền ra. Một ngày bận rộn khiến Vĩnh và hình như nhiều người khác nữa đã quên phéng đi một công tác quan trọng không thể không hoàn tất trước khi đi ngủ. Công tác bắt rệp. 
Vào quãng nửa đêm cả trại thình lình thức giấc vì những tiếng động ngoài sân, tiếp theo là tiếng súng nổ ròn rã vang lên khắp nơi. Bọn tù đều chồm tới những khung cửa sổ nhìn ra ngoài. Đang lúc ấy cửa nhà 5 bật mở. Bọn công an súng ống ập vào và bắt tất cả hạ mùng. Kế nữa những người nằm tầng trên phải xuống hết tầng dưới cho một cuộc điểm danh bất thường. 
Xưa kia chuyện báo động nửa khuya ở Trảng Lớn hay An Dưỡng là chuyện thường. Tuy nhiên từ ngày về đây, đây là lần đầu tiên xảy ra việc này khiến ai cũng thầm thắc mắc. Chuyện gì đây? Trốn trại chăng? Nhưng trốn bằng cách nào khi ở đây đêm đến đều bị nhốt kín trong phòng như thế này? 
Vài phút sau, tù nhà 5 đều ngã ngửa vì quả thực có trốn trại, và cho thấy riêng nhà 5 đã có ba người trốn, một người của đội 45, hai người của đội 13. Bọn giám thị sau khi biết chắc nhà 5 biến mất ba người, chúng cho lệnh các đội trưởng trong nhà đi cùng với chúng tìm xem những người trốn trại đã thoát ra ngoài bằng cách nào. Sau cùng, chúng khám phá ra một khung cửa sổ có những song sắt bị cưa đứt. 
Khi bọn giám thị lui gót và trật tự khóa cửa phòng lại như cũ, hầu như cả nhà không còn ai ngủ được. Đám vượt ngục đều là anh em gốc Hòa Hảo, từng được chuyển từ miền Tây lên sau đợt Vĩnh không quá tuần lễ. Thường ngày họ đều là những người lao động rất hăng, ít tỏ lộ những hành vi chống đối và rất đoàn kết với nhau. Không ai ngờ đúng vào nửa đêm ngày 25 rạng ngày 26 của tháng Tây lịch cuối cùng năm 78, họ hè nhau trốn một lượt đến năm người như thế, và nhất là trốn được một cách êm ru. 
Tuy không nói ra nhưng ai cũng thầm lo cho thân phận những người trốn trại. Dân vốn gốc ở đây mà nhiều anh còn thất bại, huống chi họ là dân miền Tây, phong thổ địa dư nơi đây đều lạ, làm sao mưu sinh thoát hiểm cho nổi! 
Qua cơn lục soát tìm kiếm, điểm danh báo cáo… cả trại lại chìm dần vào sự yên lặng của đêm tối. Quãng ba giờ sáng, một lần nữa Vĩnh và nhiều người đều giật mình thức giấc; lần thức giấc này hoàn toàn không vì những tiếng súng nổ, không vì những tiếng chân chạy mà vì những tiếng huỳnh huỵch vang lên từ phía cổng trại, bò vào tới giữa sân trại và lần lượt tiếng huỳnh huỵch ấy lết tới phía bệnh xá cuối trại. Vĩnh nhìn ra sân qua chấn song sắt. Dù đã quá quen với cái cảnh này, Vĩnh vẫn không khỏi không xúc động. Ngoài sân, một chuỗi năm người bị trói vào nhau như một lũ tù dây, đang lê lết bò trên sân trại. Đi theo họ là một bầy công an súng ống đầy đủ. Xa xa còn có vài anh chàng trật tự đi theo. Riêng bọn công an quả như một bầy chó dữ đang ùa theo cắn xé năm người bị trói. Đoàn người ấy cuối cùng biến mất nơi góc bệnh xá và dãy nhà số 11. 

Trong phòng ai cũng bần thần cả người. Thế là bị bắt rồi! Những tiếng thầm thì cứ liên tục nổi lên. Vĩnh không bàn thảo với ai. Anh cứ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Thình lình một cái đầu đen thui xuất hiện phía bên ngoài, la lớn vào trong khiến Vĩnh giật bắn mình. 
– Xầm xì gì đấy? Ngủ đi không ông tấn cho cả đám một trận bây giờ! 
Mặc tên công an từ ngoài đe dọa, bên trong anh em vẫn xầm xì bàn tán đến hiện tượng vừa xảy ra. Tên công an cáu quá, hét. Các đội trưởng đội phó đâu? Bắt tất cả đi ngủ xem nào! 
– Thôi đi ngủ đi. Mấy người ấy chắc chắn bị nhốt cachot hết rồi. Cachot ở đây muỗi và chuột ghê gớm lắm… 
Một tiếng nói thầm bên tai Vĩnh làm Vĩnh giật mình ngoái lại. Hóa ra đội phó Nguyễn Văn Thuận đã chồm tới chỗ Vĩnh tự lúc nào để ngó qua cửa sổ chỗ anh nằm. Vĩnh nhún vai không biết trả lời ra sao. Dưới ngọn đèn điện nhợt nhạt, Vĩnh cố bắt thêm đôi ba chục con rệp nữa mới mắc màn và chui vào ngủ trở lại. 
Tuy nhiên chẳng cách gì Vĩnh ngủ trở lại được. Những biến cố xảy ra trong ngày Giáng Sinh nơi đây, thực ra chả mới lạ gì, thế mà nó vẫn có một ảnh hưởng trầm trọng đến suy nghĩ của Vĩnh. Vĩnh nằm cố nhớ lại những câu thơ, những đoạn nhạc đã viết ra trong đầu. Lẩm nhẩm một lúc Vĩnh lại thấy phát buồn cười. Ta đang cố làm một việc tuyệt vọng. Thơ nhạc sẽ làm được gì ích lợi trong hoàn cảnh này? Ấy là chưa kể… Bỗng nhiên Vĩnh nhớ đến cặp mắt của tân đội trưởng Mai Văn Lễ khi chiều, lúc hắn ngó anh và Ý quàng vai nhau đi tới đi lui ngoài hàng rào để tham dự cuộc “lễ đi” do cha Bộ làm bên kia hàng rào nhà 6 và 7. Rõ ràng đôi mắt ấy là một đôi mắt theo dõi kín đáo. Và nếu không chủ quan, Vĩnh có thể khẳng định gần đây Lễ đã chiếu những ánh mắt tương tự như thế vào đám ăn cơm chung của Vĩnh rất nhiều lần! Nếu như Vĩnh không “có tật” thì cũng chẳng lấy gì đáng để giật mình, đàng này, Vĩnh tự biết mình có một tật rất nặng, ấy là tật đêm hôm tí toáy làm thơ và viết nhạc trong mùng. Chuyện này những người bạn thân của anh đều rõ và có lên tiếng khuyên can, tuy nhiên, nếu không viết ra để sau đó học thuộc lòng vào bụng, thì chắc chắc Vĩnh sẽ quên hết và không cách gì nhớ nổi. Thế nên dù biết rằng nằm viết ra giấy là điều cực kỳ nguy hiểm nhưng Vĩnh không có cách nào khác hơn. 
Dù sao sự cảnh giác của Vĩnh rất cao. Những tháng ngày qua anh thủ thật kỹ, không bao giờ để một dấu tích chữ nghĩa nào trong đồ đạc đầu giường cả. Viết được cái gì ra, Vĩnh cố học thuộc lòng ngay và thủ tiêu vào hầm cầu trước khi ngày rạng. Đã hơn một lần trong lúc đi lao động, đồ đạc của Vĩnh đã bị giám thị và trật tự lôi xuống khám xét. Ở đây, việc khám xét nhiều khi không cần áp dụng đồng loạt như ở dưới chế độ quân quản. Nếu một người bị ăng ten báo cáo lên trật tự hoặc giám thị trại về một việc đáng nghi ngờ nào đó, trong lúc người ấy đi lao động, ở nhà chúng tự động lôi hết đồ đạc xuống “kiểm nghiệm”. Sơ hở để lộ một chứng tích của “tư tưởng phản động” chết tươi như chơi! 
Hết chuyện thơ chuyện nhạc, chuyện lo âu về đôi mắt của đội trưởng Lễ, Vĩnh lại nhớ đến những tin đồn mà vốn đã nhiều phen anh tích cực muốn loại bỏ nó ra khỏi đầu óc. Những đêm khó ngủ trí óc sẽ là miếng mồi ngon cho móng vuốt của sự hồi tưởng! 
Theo tin đồn, tình hình đất nước coi mòi rất lộn xộn. Những chuyện đánh đấm hoặc căng thẳng giữa những vùng biên giới với các nước láng giềng chắc chắn đã là sự thật trăm phần trăm. Thốt nhiên Vĩnh thấy thật hoảng hốt khi tưởng tượng tới cái cảnh một ngày nào Việt Nam tràn ngập hình ảnh “đoàn quân Tàu ô đi, sao mà ốm thế!”. Dù chưa hình dung ra sự nguy hại trong việc xung đột giữa bố con chúng nó lần này ra sao, Vĩnh vẫn linh tính thấy rằng mối bang giao giữa hai nước đã thật sự cáo chung. Tự biết mình không phải là một chính trị gia, Vĩnh không lường được (và cũng chẳng có hơi sức đâu mà lường) đến những hậu quả lâu dài sau này; mà, cũng như đa số những người đang nằm trong vòng rào trại tập trung cải tạo, Vĩnh phải ưu tư nhiều đến số phận của ngay chính mình. Điều giản dị trước mắt để ai cũng có thể thấy, rằng nếu không có chiến tranh Việt-Miên hay Hoa-Việt sẽ xảy ra, thì số phận của bọn Rau Răm Ở Lại này tương đối còn có nhiều hy vọng sống còn; bằng ngược lại, Việt Nam một lần nữa rơi vào cơn lốc của máu lửa, kể cả thế giới Tự Do, ai còn có thì giờ đâu mà nhìn ra một cọng rơm trôi dạt giữa giòng nước lũ! 

Bỗng dưng Vĩnh lại muốn trỗi dậy để viết một cái gì; đúng hơn, Vĩnh chợt tha thiết thèm được cầm bút viết trên giấy một cái gì. Cảm giác này không khác lắm một người ghiền nặng thèm một hơi thuốc vào lúc nửa đêm trời trở lạnh. Không có thì cũng không chết nhưng chắc chắn nó sẽ ray rứt, sẽ trăn trở và khó mà ru được giấc ngủ. 
… Trời đất ơi ăn khoai mì nóng quá! 
Từ giải phóng vô đây… ăn khoai mì dài dài… 
Một tiếng hát cất lớn trong đêm thâu làm Vĩnh giật mình, nhưng anh cũng nhận ra được đó là giọng Nguyễn Công Danh. Danh là tay thường hòa nhạc với đám Hòa, Tuyến. Hắn gầy như con mắm, tính tình cũng ngang như cua. Theo Danh khai báo, hắn từng là chuẩn úy BĐQ, đào ngũ và nghiện ma túy. Hàng ngày đi lao động, buồn miệng hắn lại rú lên mấy câu hát nhại theo bài Miền Đông Đất Đỏ. Giọng hát khởi sự rú lớn rồi nhừa nhựa tan dần như một người hết hơi khiến Vĩnh biết rằng Danh đã hát câu hát ấy trong cơn mơ. 
Một cơn gió thật lạnh vào lúc rạng sáng thổi qua cửa sổ. Vĩnh co người lại trong chăn. Thốt nhiên anh tiếc một giấc ngủ ghê gớm. Đêm trường thế là đã sắp hết. Một ngày Giáng Sinh buồn thảm và có khá nhiều biến chuyển đáng nhớ đã qua đi. Nhật ký tù của Vĩnh có thêm một trang gửi vào trong tiềm thức. Hình ảnh của một ngày lao động sắp đến lại đầy tràn trong tâm trí Vĩnh với nỗi buồn thảm và xót xa. Bỗng dưng, một ý nghĩ pha trộn giữa sung sướng mặc cảm tội lỗi nảy ra trong đầu Vĩnh, ấy là Vĩnh thấy mình, ít ra sáng mai đây, vẫn còn được “đỡ khổ” (!) hơn năm anh bạn đạo Hòa Hảo vừa trốn trại thất bại đêm qua. Họ đang ra sao và sẽ ra sao? Hình phạt phải chăng vẫn như thông thường? Có nghĩa là vào trước giờ tập họp đi lao động buổi sáng, trước 1.600 tù ngồi xếp hàng theo từng đội hình trên sân chờ điểm danh xuất trại đi lao động, bọn trật tự sẽ khênh ra trước sân cái bục thuyết trình để trên hội trường. Tên giám thị trực sẽ xuất hiện với một bản án trên tay. Hắn sẽ tuyên đọc bản án trước mọi người với nội dung như sau. 

LỆNH BẮT GIAM. 
Vào lúc… giờ ngày… tháng… năm…, các can phạm Nguyễn Văn X, Lê Văn Y… hiện ở tại tổ… đội… nhà… đã can tội trốn trại với ý đồ phản động đen tối. 
Chiếu nghị quyết của Ban Giám Thị trại cải huấn Hàm Tân, nay tuyên bố: 
Các can phạm X và Y sẽ bị: 
– Giam hầm tối hai tháng. 
– Cấm thăm viếng sáu tháng. 
– Cùm hai chân. 
– Hạ khẩu phần ăn còn chín cân mỗi tháng. 
Ngoài ra, hình phạt trên có thể tăng giảm tùy mức độ ăn năn hay ngoan cố không chịu hối cải của các can phạm. 
Ban Trật Tự trại chiếu thi hành lệnh này kể từ ngày ký. 
Thay mặt Ban Giám Thị 
Trại cải huấn Hàm Tân 
Cán bộ giám thị trực. 
Ký tên. 

Tiếng kẻng báo thức cho Vĩnh biết đã tới giờ anh phải tranh thủ hạ mùng mền thực mau, để có thì giờ bắt giết thêm được mớ rệp nào hay mớ rệp đó!

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 62

Phần 61

Những ngày cuối năm Tây lịch 1978, không khí trại Hàm Tân nhộn nhịp hẳn lên. Hầu như mọi tin tức về sự căng thẳng quân sự vùng biên giới Việt-Hoa và Việt-Miên bọn tù đều nắm vững hết. Giai đoạn này, nếu bình tâm mà xét, có lẽ là một giai đoạn bi hài nhất trong suốt quá trình lịch sử mấy ngàn năm của Việt Nam. Không bi hài sao được, khi mà hầu như cả nước, vì hận thù một chủ nghĩa và một bọn người đồng chủng có chính sách cai trị bạo tàn, đều cùng mong có một thế lực nào khác, dù thế lực ấy là bọn Tàu có mối thù nghìn đời với dân tộc, kéo đến đập tan cái bọn đồng chủng tàn bạo vô nhân kia đi, rồi sau đó ra sao thì ra, cùng chết hết một lượt cũng được! 
Trong cái không khí ấy, Vĩnh và mấy người bạn thân cận lần lượt được gia đình lên thăm. 
Ở đây chuyện thăm viếng khác nhiều với chuyện thăm viếng dưới chế độ quân quản. Thằng quân quản phải nói rằng nó hơi “văn nghệ”, do đó chuyện thăm viếng của tù nó tổ chức tùy hứng, trồi sụt rất là bất thường! Có khi thì ba tháng được thăm một lần, có khi buồn buồn nó để đến năm tháng mới cho viết thư về nhà báo tin được phép lên thăm. Dưới chế độ công an, việc thăm viếng được quy định rõ ràng trong nội quy: “Bất cứ phạm nhân nào không vi phạm nội quy đều được trại cho phép gia đình lên thăm và tiếp tế nhu yếu phẩm thuốc men cần thiết mỗi hai tháng một lần”. Dù sao, do cái mỗi hai tháng một lần ấy, bọn tù ở trại Hàm Tân đã mất dần đi cái cảm trạng sung sướng được gia đình lên thăm và tiếp tế. Trừ những anh nhà giàu, còn những anh nhà nghèo sau đôi ba lần thăm, tự nhận xét thấy bao quà mỗi ngày mỗi teo nhỏ lại và vợ con cha mẹ mặt mũi lần thăm thứ ba xanh hơn lần thứ hai, lần thứ tư nhợt nhạt hơn lần thứ ba… thì bắt đầu thấy việc thăm viếng của gia đình không còn vui nữa. Anh cải tạo có gốc quân nhân công chức bắt đầu tìm cách can khéo sự thăm viếng quá đều đặn của gia đình! 
Dù sao đối với Vĩnh đây là lần thăm đầu ở Hàm Tân, do đó Vĩnh vẫn được hưởng nguyên vẹn cái cảm trạng sung sướng. Thêm nữa, tính Vĩnh thích quan sát và ghi nhận, vì vậy lần thăm đầu có thêm một lý do cho anh nôn nóng tận tình. 
Như tất cả mọi gia đình khác, khi nhận được thư báo thăm, gia đình Vĩnh phải chạy đủ mọi loại giấy tờ ở địa phương; từ giấy phép đi đường, giấy phép xin miễn thuế những món quà đem theo, giấy phép thăm nuôi phạm nhân… Nói tóm chỉ nội vụ giấy phép thôi, gia đình đã phải bỏ hết công ăn việc làm chạy tới chạy lui cả tuần lễ. Sau khi có giấy phép lại phải chạy khắp bà con lối xóm hỏi đường hỏi xá, và khi vấn đề đường xá xe cộ đã nắm vững, gia đình bắt đầu một chuyến đi thăm bằng một buổi sáng tinh sương. Rồi thì qua nhiều nẻo đường đất nước, thường thường người nhà từ Sài Gòn lên tới khu thăm viếng của trại Hàm Tân vào lúc giữa trưa. 
Tuy nhiên, để vào được tới khu thăm không phải là chuyện dễ ăn. Từ đường nhựa, nơi xe đò thả xuống, thân nhân phải thi nhau gồng gánh những bao quà nặng nề (nếu nghèo phải hà tiện tiền bạc, không thuê những trẻ em gánh thuê ngồi đầy ngoài quốc lộ), vào tới khu thăm. Từ ngoài ngã ba quốc lộ vào tới khu thăm cũng xa hơn một cây số. Hơn một cây số ấy không phải là không vất vả với con đường đất mưa ướt trơn trượt. Nhưng rồi có cực nhọc mấy, cuối cùng người đi thăm và quà cáp cồng kềnh đều vào tới khu thăm cả. Sau những màn khai báo, trình khám… người đi thăm được vào ngồi nơi phòng đợi. Một anh trật tự có nhiệm vụ nhận danh sách từ tên công an trực khu thăm đem về trại để thông báo kịp thời tới người có tên thăm nuôi. Công việc này anh chàng trong ban trật tự chỉ phải làm hai lần trong một ngày, lần thứ nhất vào lúc bảy giờ sáng, lần thứ hai vào lúc một giờ trưa. Nói tóm danh sách những người được thăm phải được đưa vào trình giám thị trực trại trước giờ tập trung đi lao động. Do điểm này, nếu người nhà đến được khu thăm vào trước mười hai giờ trưa, thì có rất nhiều hy vọng được gặp thân nhân sau hai giờ trưa và trở về Sài Gòn kịp trong ngày. Còn nếu đến khu thăm nuôi mười hai giờ trưa, cầm bằng người đi thăm phải ngủ lại ngoài khu thăm để chờ các đợt thăm sáng ngày hôm sau. Nhưng việc phải ngủ lại đêm ngoài khu thăm không chỉ xảy ra cho những bà con ở các tỉnh xa đi thăm mà ngay người ở Sài Gòn cũng vẫn bị kẹt ngủ lại cả đêm là chuyện thường. 

Mặt khác, tuy những thủ tục trên đã hoàn tất êm xuôi nhưng chưa chắc gì phút cuối đã được gặp thân nhân, tỷ như Ban Giám Thị thông báo ra khu thăm nuôi rằng, trong hai tháng qua, phạm nhân A đã vi phạm nội quy nên Ban Giám Thị đã quyết định cấm thăm kỳ này… 
Trong lần thăm đầu, dù sao Vĩnh đã được suôn sẻ mọi bề, điều ấy có nghĩa là Vĩnh đã được ra gặp thân nhân vào lúc hai rưỡi trưa ngày 22 tháng 12 năm 1978. Quang cảnh khu thăm nơi đây cũng chẳng khác mấy với quang cảnh khu thăm của An Dưỡng và Suối Máu. Cũng từng đó thủ tục tập họp, báo cáo nhân số, giở nón chào kính… Trong phòng thăm, hai bên người thăm lẫn người được thăm, đều phải ngồi vào một dãy bàn có mặt bàn rộng đến độ vói tay hết sức cũng chẳng chạm được tay nhau. Đã thế, đôi bên còn phải ngồi thăm hỏi nhau trước đôi mắt cú vọ của tên cán bộ trực. Hai mươi phút thăm qua cái vèo. Người về nước mắt đầm đìa, người quay trở lại trại tù lòng cũng nặng như những bao tải quà kéo lê trên đất! 
Lúc trưa tập họp ra khu thăm mọi người đi đều có hàng có lớp, bây giờ trở về, dù bực mình tới đâu, tên công an đi theo cũng không làm cách nào khác hơn được. Kẻ thì đi trước, người đi sau; kẻ ngồi lại thở dốc bên những bao quà đồ sộ, người gánh chạy nhanh đến độ tên công an chỉ sợ hắn chạy luôn vào khu rừng khoai mì chập chùng hai bên đường… Kỳ thăm này Vĩnh được khá nhiều đồ tiếp tế. Một bao tải đầy mì vắt và bánh mì khô. Bao tải kia đựng đủ thứ đồ khô. Đã vậy, Vĩnh còn phải kéo thêm một cái làn có đủ loại chai lọ đựng mắm đựng tương, đựng chao đựng mỡ… Với từng đó quà, sức gì Vĩnh gánh nổi! Thế nên quang gánh đem theo Vĩnh đều cho người khác mượn. Anh áp dụng chiến thuật kéo lê từng chặng. Cứ kéo bao số một chừng hai mươi thước anh lại trở lại kéo bao số hai. Hết hai bao lại kéo tới cái làn. Với lối kéo này rất dễ làm cho thằng công an đi theo lộn tiết lên đầu, nhưng không kéo như thế làm sao giải quyết được vấn đề? Sau mấy lần cự nự, cuối cùng tên công an bỏ mặc Vĩnh trên đường. Nó quầy quả đi theo những người phía trước – những người ấy có kẻ đã bỏ Vĩnh xa đến mấy trăm thước. 
Vừa đi vừa kéo, Vĩnh vừa cố gắng quan sát hai bên đường. Anh thấy vườn khoai mì ở đây mênh mông bát ngát không thua gì vườn khoai mì trên trại An Dưỡng. Nếu mình lẩn vào đây, Vĩnh chợt nghĩ, thì liệu chúng nó có tìm ra mình không? Thế rồi Vĩnh lại nghĩ tiếp. Nhưng lẩn vào đây rồi mình sẽ làm được gì nữa? Liệu sức mình ngày nay sống nổi không nếu trải qua một đêm ngủ bờ ngủ bụi dưới gió núi mưa bưng? Một người bạn tù già kéo bao quà của ông ta vào lề đường ngồi thở dốc tưởng như một người sắp hết hơi. Vĩnh chợt thấy đau nhói trong tim óc. Ta hơn gì người bạn già kia!? Vài chục cân quà kéo không muốn nổi còn nói chi đến chuyện nghìn dặm ra đi! 

Đoạn đường từ khu thăm vào đến trại quãng một cây số. Lết lê trên quãng đường non tiếng đồng hồ, rốt cuộc Vĩnh cũng về hội trường – nơi phải bày ra mọi thứ cho cuộc khám xét tỉ mỉ – với đôi ba tay già lão bệnh hoạn khác. 
Như mọi người, Vĩnh bày tất cả mọi thứ lên những hàng băng ghế để cho trật tự có cán bộ đi theo đến khám. Ngoài gạo là đồ “quốc cấm” và đã bị chận giữ ngay ngoài khu thăm, kỳ dư hầu như tù được nhận tất cả. Chỉ có một món duy nhất tù trại Hàm Tân luôn luôn thấp thỏm sợ mất là món cà phê. Dù rằng nội quy không có mục cấm đoán món cà phê, nhưng trên thực tế cà phê thường bị cán bộ tịch thu. Đúng ra, gần đây việc tịch thu hoặc không tịch thu cà phê được cán bộ thả nổi; điều ấy có nghĩa là tùy lượng cà phê tích trữ dùng cho các cán bộ giám thị còn nhiều hay ít. Nếu lượng cà phê của chúng đã vơi, chúng sẽ ra lệnh cho bọn trật tự khám xét quà cáp nơi hội trường thẳng tay tịch thu với lý do cà phê là nguồn gốc của mọi sự tụ tập, bàn tán chuyện phản động và trốn trại. Khi nào lượng cà phê tịch thu đã đủ dùng, chúng lại cho tù được phép nhận. 
Số Vĩnh hơi xui. Hôm nay nhằm ngày các quan giám thị cần cà phê nên một cân cà phê của Vĩnh được cách mạng chiếu cố và quốc hữu hóa tại chỗ! Sự mệt nhọc quá đáng khiến Vĩnh không còn bụng dạ đâu để mà tiếc của. Anh thu đồ thật nhanh vào bao bị và khởi sự kéo từng bao một về phòng. 
Giờ lao động trại vắng tanh. Bước vào nhà, Vĩnh chỉ thấy một hai tay ốm bệnh nằm nghỉ. Dù sao họ không quên lên tiếng thăm hỏi Vĩnh một cách thân mật hơn ngày thường, và kết thúc mấy câu hỏi thăm bâng quơ là câu: Có bi nào xiện xiện làm một bi chơi? 
Rồi như mọi người được thăm, Vĩnh lần lượt mở tất cả mọi thứ đồ ăn thức uống bày ra sạp. Đồ khô bỏ vào một bao. Tất cả những đồ ăn đã nấu chín đều bỏ vào nồi hoặc chia ra một ít phần nhỏ để sẵn sàng đem biếu một số bạn bè lúc họ đi lao động về. Ngoài đám bạn ở cùng tổ cùng đội ăn chung với nhau, Vĩnh còn một số bạn bè khác không thể không nhớ đến. Người đầu tiên phải nhớ là Vũ Duy Báu, cựu phó quận hành chánh hiện ở bên nhà 4. Anh là người đã giúp đỡ và chia xẻ cho Vĩnh thật nhiều thứ kể cả một tình bạn chân thành… Lại còn mấy việc rắc rối khác nữa Vĩnh cũng phải lo toan, giả dụ những món đồ của anh Khoan do gia đình anh ta nhờ gia đình Vĩnh chuyển vào. Anh ở mãi nhà 11 gần ban y tế. Chuyển được cho anh mấy đòn bánh tét và ký tôm khô này cũng ná thở! 
Sửa soạn đâu vào đó xong, Vĩnh vòng ra sau dãy nhà nhóm bếp và hâm lại tất cả những món ăn để sửa soạn một bữa ăn linh đình chung với các bạn lúc họ đi lao động về. Khi việc nấu nướng đã xong, Vĩnh khoan khoái trở về chỗ nằm hút thuốc vặt và trò chuyện với mấy người cũng vừa được thăm như anh chiều hôm nay. 
Nhà 5 hôm nay có hai người nữa được thăm. Luật sư Lê Quốc Việt và bác sỹ Anh. Hai ông này đều giới trí thức khoa bảng nhưng tính tình khác nhau một trời một vực. 
Ông Anh trước kia là thiếu tá y sỹ. Ông ở Hàm Tân trước bọn Vĩnh. Hơn nửa năm trước, ông đã mất đi cái công việc nhàn nhã là làm y sỹ chữa bệnh cho tù nơi đây để trở về đội đi lao động chân tay như mọi người. Lần thăm hôm nay là lần thăm “ân xá” của ông sau hơn nửa năm ông bị cấm thăm. Chuyện cấm thăm của bác sỹ Anh không vì ông trốn trại, cũng chẳng vì ông vi phạm nội quy; ông bị cấm thăm vì ông đã bợp tai cô con gái cưng của ông ngoài khu thăm và nhất định từ chối không chấp nhận ông con rể cách mạng. Số là, chả hiểu ở nhà bàn khôn tính dại ra sao, cô con gái rượu của ông đã đồng ý lấy một anh thượng úy Việt cộng để noi cái gương nàng Kiều bán mình chuộc cha. Một ngày đẹp trời, cô con gái dẫn chồng lên thăm bố. Sau màn giới thiệu, ông bố trợn trắng con mắt ngó ông thượng úy của tân chế độ mắt trắng môi thâm đang ngồi cạnh con gái mình. Ông bố vội vàng đứng lên, tiện tay nựng nhẹ vào má cô con gái chí hiếu một cái tát nổ đom đóm và lễ phép nói. 
– Từ đây xin bà thượng úy đừng gọi tôi là bố! 
Cái tát lịch sử ấy đã đem bác sỹ Anh trở lại trại tức thì. Sau màn “đấu lý” với Ban Giám Thị, ông Anh được đưa vào nằm cachot để tâm sự với chuột, gián, muỗi, cùm và đói khát một thời gian. Sau đó, thành tích tẩy chay con rể cách mạng của ông được đọc trước trại với biện pháp xử lý của cách mạng là cấm thăm một thời gian. 

Riêng ông luật sư Việt trẻ trung hơn ông bác sỹ Anh nhưng tính tình thì rất kỹ. Dù anh Huy và Ý ghét cay ghét đắng ông, nhưng Vĩnh vẫn coi ông như một người bạn. Ông cũng tỏ ra thích Vĩnh và hay lân la đến chỗ Vĩnh nằm hút ké điếu thuốc và kiếm chuyện tán gẫu. Dù gì, nói chuyện với ông luật sư Việt, Vĩnh vẫn cảm thấy mình học hỏi được một số điều nơi ông, đặc biệt về phương diện luật pháp, ấy là chưa nói tới việc Vĩnh còn được nghe ông kể về những nhân vật tăm tiếng trong giới luật ông từng tiếp xúc sau 30 tháng Tư. Chẳng hạn việc luật sư Trần Văn Tuyên đã không chịu ra đi mà ở lại vì lý do nào; bà luật sư Đại bị xỉ vả trong cư xá sỹ quan Chí Hòa ra sao; trí thức Sài Gòn đã phải tham dự những cuộc biểu tình hô hoán ủng hộ chế độ ra sao sau ngày mất đất mà trong đó ông ta có tham dự… Luật sư Việt đã gửi hết những chuyện này vào trí nhớ của Vĩnh với một kết luận (và luôn luôn như thế!): Trước họng súng tất cả là bầy cừu! 
Những lúc nghe luật sư Việt nói thế, Vĩnh lại đùa. 
– Nếu vì lý do gì bầy cừu có súng, ông có sẵn sàng cầm súng để khỏi phải làm cừu nữa không? 
Ông Việt nói tỉnh khô. 
– Ông đã đọc Mario Puzzo chưa nhỉ? Nhân vật Don Corleone trong The Godfather đã nói với con trai thế nào về khả năng của một luật sư nhỉ? -… con đừng quên, với cái cặp dưới nách, một thằng luật sư nó có thể đánh cướp một món hàng mà dù con có cả một tiểu đoàn trang bị súng ống ngập tới răng chưa hẳn đã làm nổi… Nói tới đây luật sư Việt lại cười cười. Trong công cuộc cướp lại Tự Do, chả nhẽ ông chỉ muốn tôi cầm một khẩu súng như mọi người lính khác trong cùng một tiểu đoàn? 
Biết có nói gì đi nữa cũng khó mà cãi lại một… thầy cãi, do đó Vĩnh cũng chỉ cười cười với ông ta và đó cũng chính là lý do ông luật sư Việt không thể nói chuyện với ai khác ngoài Vĩnh! Tệ hơn, khi ông kẹt hạt muối cục đường, ông Việt cũng không thể chạy đâu ra ngoại trừ nơi Vĩnh. Sở dĩ như vậy vì ông Việt là người trước sau như một, trung thành tuyệt đối với khẩu hiệu Tâm Tam Vô y như một số mấy ông tá già ở trại Suối Máu: Vô chung chạ, vô mời mọc và vô chia xẻ! Điều ấy có nghĩa là “tới bữa xoay đầu vào vách ngồi nhai một mình”, và cũng có nghĩa là “những món gia đình cung cấp cho ta, ta có quyền hưởng đủ 101 phần trăm!”. 
Một khi những người vừa được thăm xúm lại hút thuốc và trò chuyện, thì câu chuyện dứt khoát sẽ xoay quanh những tin tức mà cá nhân đã thu thập được. Mỗi người một tin, nhưng nguồn tin phong phú nhất dù sao vẫn xuất phát từ ông luật sư Việt. Theo ông Việt, tình hình biên giới Hoa-Việt rất căng thẳng. Riêng bọn Pon-pot thường xuyên vượt biên giới tấn công vào các khu kinh tế mới và nhiều lúc đã ra tay tàn sát không chừa cả chó mèo. Dân chúng trước đây bị đày đi kinh tế mới, giờ lũ lượt kéo nhau về Sài Gòn và nằm la liệt trên các lề đường. Cũng có những lời bàn tán của dân Sài Gòn, theo đó thế nào Hà Nội cũng phải đổ quân sang chiếm đóng Miên nếu muốn vãn hồi được tình hình biên giới. Từ sự kiện này, người ta đã nghi ngờ rằng các vụ tàn sát người Việt Nam nơi các vùng kinh tế mới biên giới chưa chắc gì đã do bọn đồ tể Pon-Pot gây ra, mà tác giả lại rất có thể là chính bọn cán binh CSVN, mục đích tạo ra một cái cớ để sửa soạn dư luận cho một cuộc tiến chiếm Miên. 

Hết chuyện chiến sự, ông Việt lại xoay sang chuyện tù. Ông nói gia đình ông cho biết tù Chí Hòa mấy lúc gần đây được di chuyển đi rất nhiều. Ngày nào cũng có dăm ba chuyến Molotova chở tù ra khỏi khám lớn và đi về nhiều phương hướng khác nhau. Trại Hàm Tân rất có thể trong tương lai rất ngắn sẽ tiếp nhận một số tù nữa. Riêng cái tin này thì Vĩnh đã nghe Nguyễn Tú Cường nói từ lâu, đến nay vẫn chưa thấy gì lạ. 
Trong lúc mấy người ngồi nói chuyện thì ngoài sân anh em tù lao động đã bắt đầu trở về. Vuông sân trống và rộng mênh mông mỗi lúc mỗi đông người từ ngoài kéo vào. Vĩnh vội vàng xách cái bao cát bên trong để hai đòn bánh tét, nửa ký tôm khô, mấy viên thuốc cảm và một cây kem đánh răng của anh Khoan lên. Vĩnh cẩn thận bước qua cửa, ngó trước ngó sau để phòng trật tự rồi chuồn ra ngoài sân. Vĩnh đứng canh chừng đội 51 mới vào tới cổng trại. Vĩnh bám sát tức thì, nhưng khi đội về tới sát hàng rào phòng 11, Vĩnh mới xáp lại được gần anh Khoan và trao cái bao cát cho anh ta. 
Khi trở về phòng thì anh em đã chia cơm chia canh xong. Rồi thì giờ điểm danh đến, tù lại hàng hai lần lượt chui vào chuồng. Cửa khóa. Trong cái phòng chật ních và đầy mùi ẩm mốc, mùi mồ hôi, mùi phân người bốc lên; lờ mờ dưới ánh điện vàng cạch yếu ớt, bọn tù ở tất cả các nơi bắt đầu ngồi nhai khẩu phần của mình. 
Đến ngày hôm nay thì Vĩnh đã có thể khẳng định rằng khẩu phần ở trại Hàm Tân tệ nhất so với các trại mà Vĩnh đã đi qua. Nơi đây chỉ chiều thứ Bảy được phát mỗi người hai chén bo bo, còn được gọi là Cao Lương theo mỹ từ cộng sản. Những ngày khác khẩu phần duy nhất là mỗi bữa tù được phát một chén đầy khoai mì lát nấu nhừ. Khoai mì này là loại khoai già, được xắt cả vỏ và phơi khô lâu ngày. Vì để cả vỏ, và lại được phơi khô, do đó khi nấu lên khoai mì mang một màu tím than quắt queo như đống cứt chó bị dầm mưa dãi nắng nhiều ngày với một mùi vị vừa hôi mốc vừa nhầm nhậm đắng như có lộn một hai vị thuốc Bắc. Được phát kèm với bát khoai mì ân huệ của bác và đảng ấy là ít cọng rau muống, hoặc một tí bí ngô, hoặc một tí củ cải kho nước muối. Tất cả sự dinh dưỡng của chế độ lao tù nơi đây chỉ có thế và có thế! 
Người không được thăm nuôi hay chưa được thăm nuôi, hoặc giả không có bạn bè được thăm, ngày này qua ngày khác chỉ được nhai từng đó thứ và nuốt vào bụng từng đó thứ. Riêng đám Vĩnh chiều nay phải khác hơn nhiều! Bữa tiệc bày ra chiếm hết ba bốn chỗ nằm. Vì theo đúng truyền thống của đội 17 gần đây, ai được thăm đều có nghĩa vụ chia xẻ, ít nhất đối với những anh em trong cùng tổ. Do đó cả tổ không ai từ chối mỗi khi có dịp đụng chén đụng đũa này. Đó là màn ăn mặn. Màn thứ hai luôn luôn phải là màn trà nước (có tí bánh kẹo càng tốt) và thuốc lá thuốc lào. Màn này được mở rộng rãi hơn để đón tiếp cả những người sơ nhất nằm quanh chỗ mình. Tuy nhiên khi tới màn này thì Vĩnh buộc phải rút về chỗ nằm để mặc anh em muốn làm gì thì làm. Một phần để tránh bị chửi bới (bọn Vĩnh hiện đang nằm tầng trên) nếu nhỡ có người sơ sẩy đổ nước điếu xuống tầng dưới; một phần Vĩnh muốn tránh chuyện bị cật vấn những tin tức mà chính anh cũng chẳng biết hơn ai. Nhưng dù cho có về chỗ nằm, cuối cùng anh Huy cũng mò tới nằm bên cạnh. Vĩnh sửa soạn tinh thần để trả lời những câu “phỏng vấn” của anh, nhưng ngược với dự đoán của Vĩnh, anh Huy không hỏi gì về những tin tức bên ngoài xã hội cả. Anh chỉ nói nhỏ với Vĩnh một chuyện. 

– Khi chiều đi lao động, quản giáo gọi tôi vào nhà lô làm việc. Hắn hỏi lung tung. Từ chuyện đám Hòa Danh Tuyến hòa nhạc vàng mỗi đêm, đến việc Dũng và Thương vẫn ăn cơm chung với nhau, tuy nhiên điều làm tôi lưu ý nhất là nó hỏi về ông. Nó nói nghe anh em bảo ông giỏi nhạc lắm mà tại sao không hề thấy ông đàn địch ca hát với đám Hòa Danh Tuyến bao giờ. Nó còn hỏi có phải ông là sỹ quan chiến tranh chính trị không? 
– Vậy anh trả lời sao? 
– Tôi chỉ nói mỗi một điều. Một người ho lao như anh Vĩnh, lại không có cả khu cách ly mà nằm nghỉ ngơi mà vẫn phải đi lao động như mọi người thì chẳng còn thơ nhạc nào quyến rũ được anh ấy nữa cả. Riêng việc anh ấy có phải là sỹ quan CTCT hay không thì tôi hoàn toàn không biết. Đó là sự thật! 
Vĩnh không khỏi không nghĩ ngợi. Anh nằm nhớ lại những lần quản giáo Phú kêu anh vào nhà lô nói chuyện sách báo, rồi có lần ban giám thị trại kêu anh lên văn phòng làm việc cũng hỏi những câu chuyện bâng quơ như thế về một vài người khác. Tụi nó tính cái chuyện khỉ gì đây? Vĩnh tự hỏi và chưa nghĩ ra câu giải đáp. 
Giọng anh Huy lại nổi lên. Mấy ngày nay tôi thấy đám me-xừ Hòa và Tuyến bắt đầu không ăn cơm với nhau nữa. Mấy cu cậu cũng đều đã lần lượt bị giám thị kêu làm việc… 
Tự dưng Vĩnh buột miệng. 
– Coi chừng bị ly gián đấy! 
Anh Huy gật đầu liền. 
– Đúng! Mục đích tôi nói chuyện với ông là để báo cho ông biết mà bình tĩnh. Dù ngày mai nó kêu ông lên để hỏi về tôi, hoặc ngày mốt nó kêu Điểu lên để hỏi về Ý… 
Vĩnh ngồi lên sửa soạn một điếu thuốc. Anh nhìn anh Huy và cương quyết. 
– Tụi mình tan sòng thế nào được. Thôi làm bi thuốc cái đã! 
Vừa lúc ấy một tiếng hét vang lên từ phía dưới. Tiếp theo là một lon nước hắt ngược lên trên. Vĩnh nhìn sang chỗ luật sư Việt nằm cách anh bốn người. Việt bị ướt hết chăn mùng mền vì lon nước ở dưới hắt lên. Tuy nhiên, hình như anh ta không bận tâm lắm chuyện bị hắt nước. Việt đang lúng túng với một mớ lon cóng ngay đầu chỗ nằm của ông ta. Người bên dưới đã thò đầu lên. Vĩnh nhận ra ông Mão VNTT. Ông thò đầu lên với nét mặt thật tức giận. Ông chửi đổng. 
– Mẹ tiên sư có thì đổ vào họng hết đi. Nước mắm nước muối sao đổ lên đầu người ta!? 
Ai chứ ông Mão và ông Việt cãi nhau thì cả phòng này đã chán nghe rồi. Một anh già và một anh xồn xồn quanh năm cãi nhau vì những chuyện thật trẻ con. Đã có lần hai vị suýt tí nữa thì thượng cẳng chân hạ cẳng tay nhau. Hôm nay, chả hiểu dấm dúi san qua xẻ lại thế nào, ông luật sư Việt ở tầng trên đánh đổ nước mắm xuống đầu ông Mão ở tầng dưới. Khu Vĩnh nằm mọi người đều hồi hộp chờ nghe hai ông đấu lý với nhau. Nhưng có lẽ còn quá bận bịu với mấy lọ nước mắm và mấy keo chao đựng mỡ, ông Việt cứ lờ đi trước những lời xỉa xói của ông Mão. Vĩnh nằm nghĩ ngợi vẩn vơ, thỉnh thoảng nhìn về phía ông Việt và không khỏi buồn cười lúc thấy ông ta quẹt tay trên sạp gỗ rồi đưa ngón tay lên miệng mút. Có lẽ một giọt nước mắm nào đó vừa rơi xuống sạp. Bỗng dưng Vĩnh sực nhớ hồi chiều lúc anh đem thức ăn ra sau bếp hâm lại. Ông Việt cũng đem hâm vài món của ông. Trong lúc hâm thức ăn, thỉnh thoảng ông lại cầm lên một keo chao đựng mỡ, múc ra một thìa nhỏ, đảo mắt ngó quanh một vòng rồi húp một cái chụt. Thấy ông húp những thìa mỡ sống ngon lành làm Vĩnh đã thầm bái phục trong lòng. Giờ thấy ông lại quẹt một giọt nước mắm rơi trên sạp và đưa lên miệng mút, Vĩnh đã hiểu ra nguyên do vì đâu anh Huy và Ý lại ghét ông thậm tệ đến thế!




Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 61

Phần 60

Mỗi đội đều có một cái kho nhỏ chứa cuốc leng xẻng nằm ngay phía sau khu đan tre. Mỗi sáng sau khi rời cổng trại, những đội làm nhiệm vụ đào xới hoặc đắp đường đắp đê phải đến kho nhận đồ nghề, cũng như chiều về tổ trực đều phải kiểm kê và đem nộp về kho cho đầy đủ. Mọi hư hỏng phải báo cáo để được đội sáng chế và bảo quản dụng cụ sản xuất sửa chữa kịp thời. Nhưng gần đây, những “dụng cụ sản xuất” cứ từ từ không cánh mà bay. Đội 17 có 40 người lao động mà dần dần chỉ còn độ nửa số người được trang bị cuốc xẻng. Công tác do đó ngày mỗi chậm lại đến độ Ban Giám Thị trại phải lưu ý. Bọn quản giáo các đội chả hiểu vì cớ gì, dù được đội trưởng báo cáo rất thường xuyên nhưng chúng vẫn lờ đi, coi như sự thất thoát nằm ngoài trách nhiệm của chúng. 
Riêng bọn tù các đội càng thấy vui khi sự thất thoát đồ nghề ngày càng nhiều. Không cuốc xẻng để hai tay được nghỉ ngơi một cách hợp pháp không sướng hơn hay sao? Suốt ngày, vừa dựa dẫm cho qua chuyện vừa nghe anh Huy nhai nhải hát một bài ca cách mạng bằng lời ca mới. “Cây cuốc cong thì cầu mong cây cuốc gãy. Cây cuốc gãy thì ta thảy nó vô lò…” mà đâm vui. Hơn thế, vì đói lại rảnh rang, anh Huy khởi sự bắt chước nhiều anh em khác lùng bắt cắc kè, kỳ nhông, cào cào, châu chấu nướng ăn tại chỗ. Dù cũng đói lê lết như các bạn nhưng Vĩnh vẫn không cách gì ăn được những thứ ấy. Cứ nhìn hình ảnh Dũng nhảy dù ngồi ăn rắn thằn thằn Vĩnh đã muốn phát lợm. Hắn chụp được một con thằn lằn có chửa ném ngay vào đống lửa. Con rắn sau vài cái giẫy giụa bắt đầu bốc mùi khét và như nở lớn ra. Dũng vội cầm lên. Hắn phành bụng con rắn và ghé mồm vào mút cái chụt. Cả một bộ đồ lòng lẫn cái thai rắn chui luôn vào bụng Dũng. Ăn xong bộ đồ lòng, Dũng ngả người tựa lưng vào một thế đất cao, chậm rãi lột da và ăn luôn phần thịt rắn còn lại vốn đã cháy nham nhở. Bên cạnh đấy anh Huy và những ông bạn phàm ăn khác ngồi nhai rau ráu những con cào cào nướng cháy. Gần đây, cũng có lúc Nguyễn Tú Cường len lỏi ra chỗ mấy thân buông đổ nát gần ao cạnh tranh với Tầm – kẻ giờ đây cả đội đều ghét bởi cái tật để quản giáo chửi hoài chuyện đi kiếm ăn linh tinh – để tìm nấm. Cũng có chiều Cường đem về cả túi nấm và đem luộc. Tuy nhiên mớ nấm ấy chỉ có Cường, anh Huy và Dương ăn với nhau. Vĩnh, Điểu và Ý tuyệt nhiên không đụng đũa. Hình ảnh những anh chàng chết vì nấm độc, ngũ khếu đều xuất huyết, nằm la hét cào cấu và giẫy giụa cho đến chết, không cách gì phai mờ được trong óc Vĩnh. 
Thế nên, dù hiện nay thiếu đồ nghề lao động, Vĩnh vẫn không thể nào có được những giờ phút “thần tiên” như anh Huy hay như vài người bạn khác. Vĩnh đứng làm việc cầm chừng, hoặc chạy xe cải tiến, hoặc đứng nghe Lợi nghe Tuyến kể chuyện, hoặc suy nghĩ nhớ nhung vẩn vơ. Tất cả những hình ảnh của ngày qua một lần nữa trôi qua óc Vĩnh, nhiều cái thật rõ nét, nhiều cái lại mập mờ như những tấm phim hư… Tại sao mình không tìm cách mua chuộc bọn công an quản giáo nhỉ? Trại này, như Đặng Xuân Hùng tiết lộ, trước đây đã có hai lần tù móc ngoặc và mua chuộc được cán bộ quản giáo. Bọn quản giáo đã cung cấp đồng phục công an cho tù, rồi dẫn tù đi đường tắt trốn khỏi trại; sau đó, hai tên quản giáo cũng đào ngũ luôn. Chuyện này đã gây chấn động lớn trong giới công an đến độ tên thượng tá Đào Lưỡng, kẻ chỉ huy tổng quát các trại tù Chí Hòa, Suối Máu, Hàm Tân và Tống Lê Chân (sau này coi luôn một số trại ngoài miền Trung) phải cho nhân viên thân tín xuống điều tra nhưng không hề tìm ra manh mối. Ban Giám Thị trại hầu như đều bị phạt dây chuyền vì đã không quản lý tốt lẫn nhau, nhất là để cho hai tên đồng bọn đào ngũ đem theo cả súng cá nhân… Nhung mua chuộc chúng bằng cách nào? Vàng ư? Đào đâu ra vàng?

Tên quản giáo hiện thời của đội 17 không còn là tên Thường nữa. Thằng ấy đã đi phép về Bắc và nghe nói sẽ đi luôn đến đơn vị mới. Quản giáo hiện thời của đội 17 là một anh chàng mập mạp tên là Phú. Hầu như cả buổi lao động Phú ngồi lỳ trong nhà lo đọc chưởng. Tay này phải nói là một tay mê đọc sách. Bọn Vĩnh không hiểu trình độ văn hóa của hắn tới đâu, nhưng thấy hắn mê đọc sách đến độ lơi là cả việc kiểm soát tù lao động, cũng thấy có cảm tình với hắn. Không hiểu hắn có đọc tiểu sử tù hay không, bỗng một ngày quản giáo Phú gọi Vĩnh vào nhà lô hỏi han chuyện trên trời dưới đất, sau cùng hỏi đến chuyện sách báo miền Nam. Thấy Phú ăn nói tương đối biết điều, Vĩnh bấm bụng đi một tràng tuyên truyền. Phú ngồi nghe say mê ra mặt. Hồi lâu, Phú hỏi. 
– Vậy tủ sách cá nhân của anh chắc cũng phải trăm quyển? 
Vĩnh cười. 
– Nói thật với cán bộ, sách của tôi trước khi cách mạng cho phường đội vào tận nhà tịch thu, ít ra cũng phải ngàn quyển, đủ loại. 
– Tịch thu hết? 
– Vâng, tịch thu hết! 
Quản giáo Phú có vẻ tiếc rẻ. Sau cùng, hắn thở dài và an ủi Vĩnh một câu. 
– Thôi anh cũng cứ lấy làm vui đi. Số sách ấy chẳng mất đâu. Để nhân dân làm chủ tập thể cũng tốt thôi… 
Chẳng hiểu sao Vĩnh không cầm lòng được, anh nói toạc ra luôn. 
– Cán bộ không biết đấy thôi! Nếu mà được nhân dân làm chủ tôi đã chẳng lấy làm tiếc; đàng này, đám thanh niên thiếu nữ ở phường đội đưa mấy xe ba gác đến tận nhà tôi, tự động gỡ hết các sách trên kệ xuống và vứt vào một đống như cái núi giữa nhà. Sách rách bươm hết. Sau đó họ hốt từng đống quăng lên xe ba gác như quăng đồ rác rưới. Đi dọc đường đồng bào trong xóm chạy theo xin xỏ. Họ quăng đại cho mỗi người ít cuốn để xe đỡ nặng. Tôi biết chắc đồng bào khu tôi ở chẳng ai tiếc gì những quyển sách ấy mà giữ gìn. Buổi giao thời thiếu củi lửa, họ xin mà nhóm bếp đấy thôi! 
Từ đó, quản giáo Phú càng tỏ ra có cảm tình đặc biệt với Vĩnh. Hắn hay gọi Vĩnh đến nói chuyện cho qua những giờ lao động. Quả tình trong thâm tâm, Vĩnh rất ngại phải ngồi nói chuyện tay đôi với bất cứ thằng cộng sản nào trong hoàn cảnh này. Trong lao tù, phải nói rằng không có gì dễ gây ngộ nhận cho anh em bằng việc cứ thường xuyên phải tiếp xúc với cai tù. Chẳng hiểu có lần nào Vĩnh tỏ một thái độ khó chịu hay không, mà Phú có lần nói. 
– Tôi thấy anh là người yếu nhất đội. Lại đang ho ra máu. Ban y tế nơi đây lại không có chỗ nằm cho người bệnh lao… Thôi thì ráng khắc phục vậy. Nói rồi Phú tươi cười. Để giúp đỡ riêng anh, tôi cho phép anh lao động tùy sức… Khỏe thì làm, yếu thì nghỉ. 
Thế rồi chả hiểu sao, sau một lúc suy nghĩ, Phú nhìn Vĩnh, tiếp. Tôi hiểu các anh bất mãn nhiều với chế độ! Nhưng tôi cũng nói để anh nghe, những điều họ đang làm hiện nay là đang phá nát giấc mơ của bác (!?). Tôi bảo thật đấy. Giai đoạn này đúng ra cách mạng đâu có cần chuyên chính triệt để như thế này nữa!… 
Dù có kinh ngạc trước lời tâm sự ngang xương của thằng cộng sản, Vĩnh cần thấy thương ngược cho tên quản giáo. Số nó u tối thì đến chết vẫn u tối! Đến ngày nay nó vẫn tưởng bác Hồ của nó ghê gớm lắm, nhân đạo lắm, tài ba lắm! Nó đâu có biết rằng già Hồ mà còn sống, chưa chắc gì đất nước này đã có trại tù Hàm Tân mà là cái nghĩa địa Hàm Tân không chừng! 
Từ buổi đó, Phú cũng không kêu Vĩnh nói chuyện khơi khơi nữa. 
Đang thơ thẩn cuốc đất và nhớ lại những ngày qua, Vĩnh bỗng giật mình vì một tiếng gọi lớn từ con đường chạy giữa những lũy tre và giòng suối. 
– Anh Hà Thúc Sinh! 
Vĩnh ngó ra con đường. Anh nhận ra người gọi mình là Tân Dân. Dân đang đứng thở dốc bên một gánh rau rất nặng. Bên cạnh Dân còn có một người bạn nữa cũng đứng thở dốc như Dân. 

Vĩnh bước vài bước tới gần hàng rào tre, nói nhỏ. 
– Làm gì đứng đây? 
Dân vui vẻ. 
– Sang khu A gánh rau về cho bếp bên đó anh! Anh khỏe không! 
Vĩnh gật đầu. 
Tân Dân mới biên chế sang khu B chừng ba tuần nay. Trước Dân ở cùng nhà với Vĩnh. Dân chơi thân với Thương và Dũng. Thực ra, hồi mới dời vào nhà 5 chính Dân là người nhận ra Vĩnh. Rồi nhờ đôi ba câu chuyện. Dân kể lại một cách nồng nhiệt sau đó, Vĩnh mới biết rằng đã có lần anh và Dân gặp nhau nơi cái quán cà phê cơm tấm đối diện với tòa soạn báo Sóng Thần… Bẵng đi tám chín năm sau, Vĩnh và Dân lại gặp nhau trong tù. Dân vẫn trẻ và… lùn như xưa, duy có gầy đi thật nhiều. Quả tình Vĩnh không đi sâu lắm vào đời từ của Dân trong thời gian hai người ở cùng nhà, nhưng qua lời kể, Vĩnh biết sơ qua tiểu sử của Dân có vợ một con và nhà cửa ở Vũng Tàu. Dân bị bắt theo diện phục quốc, từng bị giam ở Chí Hòa trước khi chuyển về đây. Dù sao đám ba tay trẻ ăn chung với nhau là Thương, Dũng và Dân là một cái gì đáng lưu ý cho mọi người. Ba người đều trầm tĩnh và ít nói trước tuổi. Ngồi ăn cơm với nhau và ít khi thấy họ mở miệng cười đùa hay chuyện trò thân mật như những đám khác. Ngoài Dũng và Thương đã có thành tích trốn trại, còn Dân thì chưa thử lửa lần nào. Tuy nhiên, Vĩnh đoán biết thế nào cũng có ngày Dân vượt ngục. Điều ước ao thầm của Vĩnh là đừng bao giờ Dân vượt ngục theo cái kiểu điên rồ mà Dân từng hỏi ý Vĩnh trong một lần tắm dưới suối. Liệu lúc mình tắm lên, tụi nó đang sơ hở, mình có thể phóng chạy vào bìa rừng đàng kia không anh? Nghe Dân hỏi Vĩnh tưởng hắn đùa. Anh ước lượng khoảng cách từ rừng buông tới bờ suối, đáp. Đạn AK nhất định nhanh hơn đôi chân cậu! 
Nghe Vĩnh nói, Tân Dân bỗng đăm chiêu và nói một câu thật nghiêm chỉnh. 
– Sẽ có lần tôi thử xem cái nào nhanh hơn cái nào… 
Sau đó Dân được chuyển sang phân khu B. Thỉnh thoảng có lúc nằm nhớ tới Dân, nhớ tới tính tình của hắn và lời hắn nói, Vĩnh không khỏi e ngại sẽ có ngày Dân chạy đua thử với độ nhanh của đạn AK như hắn từng nói… 
Giờ lại gặp Dân chỗ này. Hai người nhìn nhau chẳng biết nói gì hơn. Dân và người bạn gánh rau đã ngồi bệt xuống lề đường. Hình như họ chờ những người bạn khác từ phía sau. Vĩnh hỏi. 
– Lấy rau từ đội nào vậy? 
– Rau đội văn nghệ đó anh! 
– Có gặp anh Nhật Bằng không? 
Sở dĩ Vĩnh hỏi thế vì Vĩnh biết đội trưởng đội văn nghệ kiêm canh tác rau xanh là nhạc sỹ Nhật Bằng. Hồi mới về đây, Vĩnh có gặp anh ta một hai lần nhưng lâu nay không có dịp gặp lại. Vĩnh cũng biết Nhật Bằng không ở tù theo diện trình diện cải tạo (dù anh là sỹ quan cấp úy làm việc lâu năm cho đài phát thanh của cục tâm lý chiến). Chẳng rõ vì lý do gì, theo lời anh kể, bọn công an thành đã Sài Gòn xuống tận Biên Hòa bắt anh tại nhà. Về trại Hàm Tân, bọn giám thị đưa anh vào đội văn nghệ và anh giữ chức đội trưởng đội này, dưới tay có một ông tiến sỹ âm nhạc từng tốt nghiệp tại Nga, đã trốn qua tây phương và chiêu hồi VNCH từ giữa thập niên 60. 

Dân đã chui qua bụi tre, ngồi tụt vào một thế đất thấp ngay trước mặt Vĩnh. Hắn nói. 
– Ngồi đại đây nói chuyện anh. Lâu nay có tin gì lạ không? Thằng Thương thằng Dũng có lao động gần đây không? 
Vĩnh chỉ tay về phía những người tù đang đẩy xe cải tiến, nói. 
– Hai thằng khỉ nó đang chạy xe cải tiến đầu ấy. Bên phân khu B lúc này ra sao? 
– Cũng vậy thôi anh. Đang trong tình trạng dựng thêm nhiều dãy nhà ở nữa. Cũng tốt thôi! Nhưng nổi lửa đốt nó được thì tốt hơn! 
Ngay lúc ấy Vĩnh phải chấm dứt câu chuyện. Đội phó Mai Văn Lễ đã tiến lại gần Vĩnh. Hắn nói khẽ. 
– Vệ binh nhìn anh từ nãy đến giờ. Anh coi chừng họ cùm anh vì tội liên hệ linh tinh đấy. 
Nghe một người lên tiếng báo động, Dân vội vàng chui qua hàng rào ra đường và thúc người bạn đồng hành quang gánh lên vai. Hắn chỉ giơ cao cái nón lá rách bươm lên ngoắc chào Vĩnh rồi cùng người bạn gánh gánh rau bỏ đi. Theo lời yêu cầu khéo của đội phó, Vĩnh quay trở lại chỗ có đông anh em đang cuốc xới những thế đất cao quá đầu người. 
Nhưng rồi Vĩnh chẳng cuốc thêm được mấy lát nữa thì kẻng tập họp đã nổi lên. Khắp nơi, như những xác chết vùng sống dậy, bọn tù đều nhanh chóng thu đồ nghề và kéo đến vị trí tập họp. Một ngày kết thúc đem đến niềm vui khó tả cho bọn tù khổ sai vô hạn định như bọn Vĩnh. Cũng như mọi ngày, trừ khi có một hiện tượng vi phạm nội quy trong lao động quá rõ ràng đến độ quản giáo Phú không thể tránh khỏi chuyện lên lớp, đội 17 thường là đội được dẫn ra suối tắm trước nhất. Quả thực niềm vui nơi đây chỉ xảy ra khi một ngày sắp tàn. Vùng vẫy dưới suối mươi mười lăm phút, cái mệt nhọc tích tụ trong ngày như trôi hết theo giòng nước. Rồi kế đó trở về trại, nhận phần ăn, có gì thì xúm lại nấu nướng với nhau một chút trước khi bị dồn hết vào chuồng. Đêm đến, chỗ đàn địch, chỗ cờ tướng, chỗ domino, chỗ kể chuyện kiếm hiệp… 
Vĩnh đứng tắm dưới suối và như mọi ngày, anh ngó quang cảnh với mọi biến chuyển đang xảy ra chung quanh. Dù đã bao lần cố gắng, chả hiểu sao Vĩnh không tài nào tham dự hay chia xẻ được tí niềm vui vào một cuối ngày của anh em. Lòng Vĩnh cứ trơ ra như đá. Có lúc anh Huy, với bản tính hay đùa giỡn, lặn từ xa đến nắm chân Vĩnh kéo mạnh đến hụt hơi uống nước, Vĩnh vẫn không thể nào bắt được cái đà đùa giỡn với các bạn. Nghĩ tới lúc về phòng, ngồi nhai bo bo với những cọng rau muống già cỗi Vĩnh còn buồn hơn và thốt phát rùng mình. Những cọng rau muống! Thật kinh khủng! Vĩnh chợt nhớ tới những buổi sáng, đám tù trực lấy phân nhào đến các dãy cầu tiêu giành giật từng thùng phân để đổ vào thùng của tổ mình. Những thùng phân ấy đầy ắp những hạt bo bo to gần bằng hạt ngô, vẫn căng mọng, vẫn óng ánh màu vàng, an toàn trong lớp mày dày như nylon dù nó đã trải qua một quá trình tiêu hóa trong bụng dạ con người. 
Những thùng phân bo bo ấy được cung cấp cho các đội rau xanh lấy bón ao rau; nói bón cho đẹp đẽ, thực ra các đội rau xanh đem rải lền khên xuống các ao rau và dù mưa nắng dập vùi cả tuần, hạt bo bo vẫn chưa có dấu hiệu nào tiêu tán. Khi cơn mưa làm cho các ao rau muống dâng nước lên, các hạt bo bo nổi lềnh bềnh và bám vào lá, vào thân cây rau muống. 
Mỗi ngày, đội rau xanh thu hoạch rau muống từ các ao rau về cung cấp cho đội anh nuôi. Với không quá năm người được cắt cử việc nhặt, rửa và luộc rau để cung cấp cho 1.600 khẩu phần; có ba đầu sáu tay năm người ấy cũng không thể nào chấp hành công tác một cách vệ sinh đầy đủ được. Từ chỗ thiếu vệ sinh vì phải làm thật nhanh cho kịp giờ ấy, mỗi chiều, khi tổ trực xuống bếp nhận khẩu phần về phát lại cho anh em, Vĩnh và các bạn ngồi trong bóng chiều nhá nhem lọt qua chấn song của phòng giam khóa kín, chậm rãi nhai chén bo bo với những cọng rau muống cũng dính những hạt bo bo như thế; tuy nhiên Vĩnh thừa biết những hạt bo bo ấy đã từng bị trải qua nhiều lần tiêu hóa! 

Dù sao chuyện ăn chưa đáng buồn bằng chuyện ngủ nơi đây! Trảng Lớn và An Dưỡng dù sao còn được nằm trên nền xi măng của “Mỹ ngụy” để lại! Suối Máu dù có phải trở về với truyền thống dân tộc kiểu Hồ Chí Minh, nghĩa là nằm đất, nhưng cuộc đời coi vậy mà đỡ thê thảm. Ngày nay sống dưới chế độ văn minh văn hóa kiểu công an, cuộc đời bọn tù bước vào một bước ngoặt vĩ đại, ấy là ban đêm không chỉ phải đánh vật với cơn buồn, mà còn phải đánh vật với ba kẻ thù khác nữa: Muỗi, chuột và rệp! 
Muỗi thì tương đối trị được khi bọn tù có mùng. Chuột cũng trị được khi cả phòng không thiếu người thèm thịt. Riêng rệp thì chịu thua! Chịu thua hoàn toàn! Rệp đã, trên thực tế, biến thành cơn ác mộng của bọn tù trại Hàm Tân! 
Nơi đây nằm sạp hai tầng. Sạp được làm bằng gỗ giác (tức lớp gỗ vỏ được đội mộc của trại thải ra). Vì lâu ngày, gỗ giác thấm mồ hôi của tù, cộng với không khí ẩm thấp của rừng buông, gỗ giác bắt đầu sinh rệp. Đã nhiều chủ nhật, bọn tù tự phát động phong trào diệt rệp, bằng cách nấu nước sôi đem đổ vào những kẽ ván. Bọn giám thị trại cũng có lần cung cấp cho tù một ít bột DDT để dùng vào công tác diệt rệp; tuy nhiên, sau những lần dội nước sôi hoặc rắc bột DDT, không hiểu có phải làm như thế là tăng thêm độ nóng cần thiết cho hàng tỉ cái trứng rệp nở ra hay không, mà rệp trong các phòng sinh sản còn dữ dội hơn trước thập phần. Trước giờ ngủ, một trăm hai mươi người của mỗi dãy phòng đều giở chăn chiếu mùng mền ra bắt rệp. Suốt ngày đi lao động, phòng yên lặng và rệp tha hồ rúc vào những chăn những chiếu nằm mai phục sẵn. Khi bọn tù mở ra, rệp bị giết hàng loạt. Có đêm, chỉ nội một cái màn, Vĩnh bắt và giết chừng bốn mươi con rệp. Sáng ngủ dậy, vừa mở mắt ra, trên đỉnh màn rệp đã bám đen như rải đậu. Có khác chăng là những con rệp buổi sáng to hơn, đen hơn vì trong bụng chúng đều đã có chứa một lượng máu người! 
Rệp! Nỗi sợ rùng mình, cơn ác mộng khôn nguôi của tù trại Hàm Tân, một thứ kẻ thù lỳ lợn, dai dẳng và hút máu mủ con người bạo tàn không thua gì kẻ thù cộng sản. Có thể nói rệp là một thứ ký sinh trùng có nhiều điểm giống cộng sản nhất, và người ta chỉ thực sự diệt được nó khi có can đảm đốt hết, đốt sạch tất cả để rồi sẽ chấp nhận làm lại tất cả. 
Với hai cái ăn và ngủ nơi đây cũng làm cho người ta thấy cuộc đời “kém vui” rồi, đùa giỡn tươi cười thế nào được nữa!? 
Tắm xong, Vĩnh leo lên bờ mặc quần áo và ngồi đợi anh em. Đội trưởng Hùng bỗng xà tới chỗ Vĩnh ngồi, kể lể đôi ba câu chuyện. Anh ta lôi cái điếu cầy đặt bên hông ra và bật lửa kéo một điếu. Vĩnh cũng kéo ké một hơi. Hùng lùng bùng than thở mấy chuyện xảy ra trong đội, nào là Lê Văn Tầm mất tư cách quá, nào là đám Hòa Danh Tuyến lúc này đêm nào cũng hòa tấu nhạc vàng, nào là trong nay mai Hùng có thể sẽ được sang đội khác để được sinh hoạt hợp với tuổi tác của anh ta hơn… Trong những câu chuyện kể lan man của Hùng, có một câu chuyện Vĩnh lưu ý nhất. Khi trưa, Ban Giám Thị trại có bắt giữ mấy người dân từ ngoài quốc lộ mò vào đào xới ăn cắp khoai mì. Tệ hại hơn, những cuốc xẻng mấy người dân này sử dụng đều được nhận diện là cuốc xẻng của trại từng bị đánh cắp. Nghe nói qua lời khai của những người bị bắt, có một số cán bộ trại bị liên lụy vì chính họ đã ăn cắp dụng cụ sản xuất của trại, bán rẻ cho nhân dân bên ngoài lấy tiền bỏ túi…




Bên kia đèo Bá Thở

Hoàng Khởi Phong

Post by Sơn râu 15 Jan 2024

Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Bốn mươi năm làm người ấy quả tình là anh đã làm được nhiều việc cho mình và cho người.

Anh ta tên là Chiêu. Vào lính từ năm mới mười hai tuổi, nghe như chuyện giễu, nhưng mà thật bởi vì anh ta là một Thiếu Sinh Quân. Năm 1969 khi quỳ xuống trong một ngày lễ mãn khóa ở Vũ Đình Trường Thủ Đức anh là một Sinh Viên Sĩ Quan mười chín tuổi. Khi đứng lên đã là một Tân Sĩ Quan, mặt búng ra..sữa. Thế mà anh đã có bảy, tám năm ở lính, trong khi các bạn đồng khóa chỉ mới thâm niên quân vụ đâu có chín tháng và đâu có đôi khi có thêm mười ngày lẽ, một thời gian khiêm tốn cỡ thời gian anh khai bệnh và..bị phạt. Đã từng có một ông nhà văn viết tiểu sử của mình là hoạt động kháng chiến chống Pháp vào năm sáu tuổi. Sáu tuổi mà đã ý thức được..kháng chiến.. thì đúng thật là..thần đồng kháng chiến. Còn anh, anh đâu có tự xưng là thiên tài…quân sự thì hiển nhiên không một ai có cớ để phiền lòng.

Chiêu khác người ta đủ điều. Là sĩ quan hiện dịch nhưng được đào tạo bởi một quân trường chuyên huấn luyện các sĩ quan trừ bị, mà ngược ngạo thay sổ quân bạ đã có tới bảy tám năm, trung bình cứ mỗi năm mười ngày phạt là đã thấy chiếm bằng nửa giai đoạn một huấn luyện của các tân sĩ quan trong quân trường Thủ Đức này. Cái chất lính đã ám vào tận trong xương, trong tủy nên anh đã chọn Thủ Đức để có thể ra trường sớm hơn, chứ đáng lý ra sau khi là một Thiếu Sinh Quân đậu Tú Tài, chổ của anh phải tới là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Anh tâm sự là đã ngán ngẩm quân trường tới cổ. Anh muốn bay nhảy sớm hơn, rộng cẳng sớm hơn. Cốt của anh là hiện dịch, đằng nào cũng là Sĩ Quan thì Thủ Đức cũng thế mà Đà Lạt cũng vậy. Đó là chưa kể anh sẽ là Thiếu Úy trước các bạn cùng lớp gần một năm, vì đi Đà Lạt phải thụ huấn thêm hai năm trong khi anh chỉ phải học bốn tháng giai đoạn hai của trường Thủ Đức là đã trở thành một Chuẩn Úy, một năm sau cũng đã Thiếu Úy như thông lệ. Đó là chưa kể đến những chiến công sẽ có trong một con người mà cái chất lính nó đã ăn vào tới tận trong xương, trong tủy.

“Đã là lính từ thời niên thiếu. Ngày ra trường chẳng lẽ chọn…Quân Bưu”. Chiêu cùng một người bạn cũng là Thiếu Sinh Quân tên là Minh Lai đã khởi đầu binh nghiệp với một con cọp bay nơi tay áo, mủ đỏ ở trên đầu. Sau khi mãn khóa ở quân trường Thủ Đức cả hai đi huấn luyện về Biệt Kích ở Long Thành. Cả hai học thêm khóa 172 Nhảy Dù tại trung tâm huấn luyện của binh chủng này. Trung tâm này khi đó do Thiếu Tá Nguyễn Văn Vinh, một cựu Thiếu Sinh Quân từ thời Pháp làm Chỉ Huy Trưởng.

Cho tới nay nhiều người ngoài quân đội vẫn còn lầm lẫn giữa chúng tôi: Nha Kỹ Thuật, Phòng 7 và Lực Lượng Đặc Biệt. Đó là ba cơ quan khác nhau, nhiệm vụ khác nhau. Nha Kỹ Thật chúng tôi mà dân chúng thường gọi là Biệt Kích Lôi Hổ có hai Sở là Sở Bắc và Sở Nam. Sở Bắc gồm toàn những người chuyên nhảy và hoạt động tình báo trong lãnh thổ Bắc Việt. Tôi thuộc Sở Nam chuyện trị miền Nam cùng những nước trong lãnh thổ Đông Dương. Đối với Mỹ chúng tôi là MACSOG mà nhiệm vụ chính là “Undergrounds Activities Rescue và Strategic Technical Directorate” (Nha Kỹ Thật) nghe thì có vẽ như là lành, nghịch ngợm với máy và móc. Trông vậy mà không phải vậy. Nếu anh nhới tới vụ Biệt Kích Mỹ nhảy dù vào một trại giam ở Sơn Tây thì đó là một trong những kiệt tác của Sở Bắc.

Mài nanh dũa vuốt đã xong cả hai chú cọp nhỏ được thả về rừng xanh. Cọp thì phải thả về rừng, để ở thành phố thì lâu dần sẽ trở thành cọp giấy. Cả hai cùng trực chỉ Kontum. Đơn vị đầu đời của cả hai là B15. Chiêu kể cho tôi nghe:

2

…Lúc đó chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã bắt đầu. Chúng tôi là những sĩ quan nhẩy toán. Trước khi chiến tranh được thực sự chuyển hẳn lên trên vai những người lính Việt Nam thì trại B15 có tất cả 48 toán nhẩy. Những toán nhẩy này điều động do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, lãnh lương Mỹ, doanh trại Mỹ, cái gì cũng Mỹ. Những toán này lấy tên là tên của những tiểu bang Mỹ. Toán của tôi mang tên là Hawaii, toán của Minh là Nevada. Và rồi quân Mỹ bắt đầu triệt thối. Để có thể phủi tay dần dần, trong mười toán đầu tiên hoạt động dưới sự chỉ huy hỗn lợp của cả Mỹ lẫn Việt đó có cả hai toán của chúng tôi. Toán Hawaii của tôi giờ đây có thêm một cái tên Việt là Hỏa Lôi, trong khi toán Nevada của Minh là Hoàng Lôi.

Trong năm đầu tiên mới ra trường đó cả hai nhẩy hai chuyến đầu tại chiến trường Hạ Lào, có lẽ là gần Tchépone. Hai thằng, mỗi thằng một toán, tiến về một hướng và cùng may mắn trở về được chổ hẹn với trực thăng. Cứ mỗi lần nhẩy toán mà còn sống trở về, trong túi có tiền nhiều thì những ngưới lính đặc biệt chúng tôi còn biết gì hơn là xà vào quán rượu, chui vào nhà chứa kiếm gái. Riêng tôi không hạp cả hai khoản này…do đó tôi vẫn học…thêm. Tôi vẫn lấy “cua” của Luật đem theo lên trại. Không đi hành quân thì ở nhà đọc sách. Tất nhiên cũng có vào làng Phương Hòa, Phương Nghĩa dê mấy cô nổi tiếng trong hai làng công giáo này. Nhưng ai đã có một thời gian ở Kontum thì biết hai làng này, gọi là làng, song đường xá rộng rãi, nhà cửa khang trang. Phần lớn là nhà ngói cây mít, mít ở đâu mà nhiều thế. Và đặc biệt là con gái thì khá đẹp. Tôi đâu có phải là thánh, tôi không thích uống rượu, không thích nhà thổ, nhưng cái khoản phụ nữ đó…ai mà không thích?

Lần nhẩy toán thứ ba, toán của Minh và tôi lại lên cùng một chiếc trực thăng, nhắm hướng Hạ Lào trực chỉ. Trên không ảnh hành quân, thì khu vực bao la, bát ngát, bạt ngàn, man dã là rừng này chỉ có một chổ khả dĩ có thể dùng làm bãi đáp. Đó là một ngọn đồi thấp, tương đối trống trải, chỉ thuần có cỏ lau cao, chen kẻ với những bụi cây rừng thấp.

Trực thăng xà xuống thấp, thấp hơn nữa. Chúng tôi đáp xuống ngon lành, chiếc trực thăng lại bốc lên cao, cao hơn nữa. Tôi và Minh chưa kịp bắt tay từ giã, nói lời chúc lành nhau như hai lần nhẩy trước thì phèng la ở đâu nổi lên ầm ầm, kẻng báo động vang rền đồi núi. Thế là chúng tôi mạnh ai nấy chạy theo hướng đã định sẳn cho mình. Chúng tôi bị truy kích ngay lập tức, những tiếng gọi nhau, hò hét ơi ới trong buổi chiều có nắng vàng rực rỡ phủ xuống ven rừng. Họ cũng đâu có nhiều lính, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi đã nhẩy xuống ngay đầu một đơn vị của họ mới đóng quân cũng không lâu, vì trên trực thăng nhìn xuống chúng tôi đâu có thấy một dấu hiệu nào của nhà cửa, doanh trại. Cái thằng chó đẻ nào đánh kẻng báo động mới quái ác làm sao. Nó mà đánh sớm hai, ba phút, biết là bị động thì chúng tôi đã đeo theo trực thăng mà về nghỉ khỏe. Giờ đây lo chạy lấy cái mạng không biết có nổi hay không?

Tôi dẫn mấy người lính chạy thục mạng vào rừng, chúng tôi trốn thật kỷ trong một khu cỏ lau chi chít đến độ tôi nghe họ quát tháo chỉ cách chúng tôi độ hai chục thước. Họ túa ra làm nhiều toán, súng có lắp lưỡi lê, đâm chĩa lung tung, có một lần họ đâm ngay vào chổ tôi, gần đến độ mũi lưỡi lê cách mũi tôi không đầy một thước. Tôi ngồi im bất động, bởi nếu tôi bắn tôi đã không còn mạng mà về. Lúc đó mặt trời sắp lặn, trong rừng lau ánh sáng bớt hẳn đi. Tôi nghe thấy họ nói với nhau cho vài người trở về mang chó tới. Tôi nghĩ thầm trong đầu thế là bỏ mẹ, thế là phải đụng, không thể nín nhịn được nữa.

Từ lúc đó cho tới khi bóng tối thực sự bao phủ núi rừng bọn họ và tôi chơi đuổi bắt, chúng tôi chạm súng cả chục lần trong khoảng một thời gian không đầy hai tiếng đồng hồ. Không có lần nào đáng gọi là giao tranh, chỉ vài tiếng súng bất ngờ, một người ngã vật xuống, kẻ bị bắn nằm thẳng cẳng, kẻ mới bóp cò lập tức bò đi chổ khác. Qua một vài lần bắn như thế tôi nghiệm được một điều là mỗi lần họ bị chết một người thì họ hung dữ hơn. Thấy mạng của đồng đội mình nằm xuống thì bất cứ một người lính thật sự của phe nào cũng âm ỉ một ý nghĩ trả thù. Nhưng nếu người bị bắn chỉ bị thương, thì tiếng rên la, kêu gào trong buổi chiều chạng vạng nghe mới ghê rợn làm sao. Nó làm cho những kẻ săn đuổi và những kẻ bị săn đuổi đều đứng tim lại vì sợ. Lại nửa phải lo cấp cứu bạn, phải dìu nhau đi do đó cuộc truy kích phải bớt đi tính chất bạo tàn. Từ khi phát giác ra điều này tôi chỉ nhắm bắn họ từ háng trở xuống. Tôi còn được có ba người lính theo sát, tôi dặn họ những điều tôi mới phát giác. Cứ bắn dưới rốn, thằng nào xui thì trúng chim, hên thì trúng đùi. Chẳng phải vì tôi nhân đạo gì, chúng tôi chỉ tính sao cho có lợi cho cái mạng của chúng tôi mà thôi.

Đêm ập xuống, mấy thầy trò chui được vào một cái hang. Bọn người săn đuổi tụi tôi cũng trở về chỗ nghỉ ngơi của họ. Tình cờ gặp nhau nơi rừng hoang xứ người, bắn giết nhau như thế đã đủ cho hôm nay, mai lại làm tiếp. Chúng tôi và bọn họ có cả một không gian rộng lớn để săn đuổi còn thời gian bây giờ thì đang ở trong tay họ, đi đâu mà rộn, hãy về ngủ đi các bạn ta, mai này chơi tiếp trò cút bắt, mèo vờn chuột.

Đêm đó trong hang, tôi nghe tiếng súng nổ nhiều đợt ở hướng của Minh bạn tôi. Múc độ súng nổ cho tôi biết Minh bị đụng liên tục. Suốt đêm tôi nghe có lúc súng nổ dồn dập, có lúc súng nghe thưa hơn, nó cho tôi biết ở phía Minh đúng là giao tranh chớ không phải cút bắt như chổ tôi. Tôi nghĩ tới người bạn mười năm đèn sách này, nghĩ tới những lần nhẩy tường đi chơi đêm ở trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu khi chúng tôi mới bắt đầu lớn, nghĩ tới lúc vừa thoát khỏi tình trạng thiếu niên, trong nhà tắm công cộng của trường, chúng tôi bắt đầu khám phá một cách thích thú những sợi râu mọc ở chổ bất ngờ. Vũng Tầu là chổ phong cảnh đẹp, nhiều lính đồng minh, nhiều snack-bar, nhiều nhà chứa. Nên vì đó mà nhiều bạn tôi mười sáu, mười bảy tuổi đã hiểu thế nào là trai hai ba lần “lậu” mới nên con người.

Tảng sáng hôm đo tôi lôi cổ mấy tên lính còn lại. Giờ này người anh em bên kia còn đường an giấc nồng, còn chờ gì mà không kiếm đường dọt. Phương hướng mất hết, đồ đạc, máy móc chẳng còn. Chúng tôi lê lết trong rừng gần một tháng trời, nên nhớ đây là rừng của nước người ta, chớ không phải rừng trong nước mình. Cũng có đụng độ lẻ tẻ và sau cùng mò được về đơn vị còn một thầy, một trò. Đơn vị đã báo cáo… mất tích. Trong thời gian nằm dưỡng thương tôi vẫn hy vọng thằng bạn thưở thiếu thời sẽ cũng mò về được. Nhưng không, không bao giờ Minh Lai bạn tôi về nữa. Bạn tôi đã nằm xuống đâu đó trong rừng hoang xứ Lào.

3.

Năm 1972, tuy người Mỹ đã rút về gần hết, nhưng thật ra họ vẫn còn nhiều hoạt động có tính cách tình báo. Họ vẫn còn một số Lực Lượng Đặc Biệt đi với chúng tôi hay là hiện diện bất ngờ nơi các trại Lực Lượng Đặc Biệt. Kỳ đó Cộng sản tràn qua một trại, đa số quân trú phòng đều tử trận. Có một số thoát được ra ngoài và toán của tôi lãnh nhiệm vụ đi nhảy tiếp cứu, nghề của chúng tôi mà. Chúng tôi đi rescue một toán Mỹ. Khi tôi bắt được liên lạc với họ và dẫn họ ra tới chổ chờ trực thăng thì địch quân truy nã tới. Súng nổ mù trời đất. Bốn người Mỹ mà chúng tôi có bổn phận đi đón chẳng may tử trận hết. Làm sao mà mang xác họ về được. Trước mắt phải lo cho cái mạng của chính mình, trở  về bằng mọi giá cái đã.

Tôi vùi xác họ tại chổ, sau khi đã đánh dấu thật kỹ địa điểm để sau này tới mang…các bạn ta về. Chúng tôi đã từng được huấn luyện kỹ lưỡng về việc này., kể cả việc có thể kiểm chứng xác người, xương người để dung cho công tác của chúng tôi. Ngay lúc đó tôi cũng không ngờ là nhiều năm sau tôi sẽ quay trở lại, thu hài cốt những người này. Lúc đó ngay trong khi đang vùi xác tôi có nhớ là tôi thầm hứa với vong linh mấy người anh em này là tôi sẽ đem họ về với gia đình họ. Nào ngờ mấy bố đó linh thiệt. Tôi sẽ trở lại việc này sau.

Trước sau tôi nhảy ba mươi ba chuyến. Ba mươi ba chuyến đều nhảy ở đồng đất nước người, khi thì Lào, khi thì Miên. Cũng có đôi lần nhảy xuất phát từ Thái Lan, nhưng chưa hề nhảy ra Bắc lần nào. Tính cho đến ngày cuối của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tôi mới hai mươi lăm tuổi đầu, mười ba, mười bốn năm lính. Sáu năm Sĩ Quan, hai lần nằm bệnh viện. Tôi cũng chẳng bao giờ để ý đến huy chương. Nguyên con người tôi còn sống mà về đã là một cái huy chương sáu mươi lăm ký, mang mấy cái chiến thương bội tinh đó làm gì chỉ tổ cho bạn hữu nó cười. Giễu nhất là hai lần tôi bị báo cáo đào ngũ, mà thật ra trong lúc bị báo cáo đó tôi đang hoặc là năm nhà thương, hoặc là đang bị người anh em bên kia quần cho tơi tả. Do hai lần báo cáo đào ngũ này cái sổ quân bạ sĩ quan của tôi nó…sạch như chùi, và vì vậy tôi đứng luôn ở cấp bậc thiếu úy hơn năm năm. Cho tới ngày “ò e, rô be đánh đu, tặc giăng nhảy dù, dô rô bắn súng …”

Cho tới khi sổ quân bạ của toàn thể Quân Lực miền Nam phải thiêu hủy vào cái năm 75 đó, trong lòng tôi luôn tri ân những người bạn thiết của chúng tôi. Trước tiên phải kể là những người mũ xanh Mỹ, nhiều người trong bọn họ đã không còn sống trên cõi đời này. Kế đó là vài phi đoàn trực thăng H34 chuyên đưa chúng tôi đi bằng “cửa trước” và rước về bằng “cửa sau”. Đó là Phi đoàn Thần Phong Long Mã mà những ngươi anh em lã lướt gốc Không Quân còn gọi bằng một cái tên Mỹ là King Bee 219. Những người anh em này nhiều khi đi đón chúng tôi và trở về không. Nhưng nếu phải trở về không thì các phi công đó đã làm hết sức những điều họ có thể làm. Chúng tôi ghi nhận tình chiến hữu lặng lẽ, nơi những người bạn đã nhiều lần bất thần trong rừng xanh  núi đỏ , chợt ở trên mây nhào xuống cõng chúng tôi về.

4

Trên bản đồ quân sự cũng như trên bản đồ của Nha Địa Dư không bao giờ có địa danh “Đèo Bá Thở”. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn. Chúng tôi là nhà binh, thứ dữ. Năm 75 lại không bỏ của chạy lấy người nên bị vồ trọn gói. Lính thì thứ dữ như vậy nhưng khi bị bắt ở tù thì lại hiền khô. Chứ không hiền thì làm gì được ai. Khi còn là “Lôi Hổ” thì chưa ăn thua gì huống hồ bây giờ bị “Hổ Lôi” đi một mạch từ trong Nam ra ngoài Bắc thì hiền khô là vừa. Nói nào ngay mấy người anh em lôi được “hổ” đi vẫn còn nghĩ tôi là thứ dữ nên mới mang một cậu thiếu úy mới có hai bốn hai lăm tuổi ra ngoài đó nơi mà giá chót cũng là ba bông mai trên cổ áo mới có “tư cách” định cư.

Khi chúng tôi đặt cho ngọn đồi cái tên là “Đèo Bá Thở” thì thật tình chúng tôi không biết dân địa phương gọi nó là là “Đèo Bò Rống”. Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng sang bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu đồi toàn thị là tre, nứa, giang …Nghĩ cũng buồn cười, xưa cũng mấy thằng lặn lội trong rừng, nay cũng mấy cậu trong rừng lội, lặn. Chỉ khác một điều là xưa vai vác súng. Nay “Đẵn tre vác nứa trên ngàn, ngày ngày lao động tối dồn tự phê. Miệng ăn măng trúc, măng mai, hữu thân hữu khổ lấy ai bạn cùng…”

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã xập, người chủ nhà lấy vài than tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất, tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng là nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam. Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi “bá thở”. Chúng tôi nghe có tiếng lục đục trong cái chòi bỏ hoang và phát giác được một bà cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày. Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp . Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù “Ngụy” nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây khi về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều , chúng tôi để hai người ở lại sửa, còn tám người vào rừng đốn tr echo đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt gtranh về để dậm lại những chổ quá mục nát. Căn nhà sửa xong có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi.

Bà nói với tụi tôi: “Mấy cậu ở tù mãi rồi cũng có ngày về. Còn con lão thì không về được nữa rồi”. Tụi tôi ai nấy đều cảm được bà già nói gì nên đều tôn trọng nổi đau của bà già bằng cách im lặng. Bà già lại nói tiếp: “Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì chiến tranh đã hết lâu rồi , nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả đâu vào đâu”.

Tôi không hiểu các bạn tôi nghĩ gì, nhưng riêng tôi trong đêm ấy tôi mất ngủ. Làm như tôi mắc một cái tội nào đó không diễn tả được. Trong tù tôi được nghe xì xầm là trại tôi dang ở trước kia giam một số tù binh Mỹ. Dấu vết của họ còn hiện lờ mờ đâu đó trên những vách nhà, trong phòng tắm. Đằng sau trại tôi, trên một ngọn đồi kế cận chỉ cách một khoảng không đầy một cây số, tôi nghe được còn một trại khác, ngầm ở dưới đất … và hình như họ vẫn còn giam giữ những tù binh…da trắng. Tôi là một tay biệt kích có thể gọi là ngoại hạng. Tôi đã quan sát rất kỹ và rất nhiều lần. Tôi biết chắc sau ngọn đồi có doanh trại ngầm, nhưng tôi không biết là tù binh Mỹ còn hay không?? Tôi nghĩ nếu có những người tù Mỹ này thì tội nghiệp họ biết bao. Họ ở đâu đến đây. Năm chục ngàn đã chết. Hàng ngàn  người bị bắt và giam giữ như là súc vật. Hết chiến tranh rồi mà vẫn còn những kẻ đang chờ chết lần hồi. Tôi tự thề là nếu Chúa cho tôi trở về, thì một trong những việc đầu tiên là tôi sẽ trở về vùng Kontum, kiếm lại xác của bốn người Mỹ tôi đã vùi từ năm 72 và nếu như tôi có những dấu hiệu nào của những người Mỹ mất tích, bị cầm tù thì tôi sẽ tìm đủ mọi cách để thông báo cho gia đình họ, cho người Mỹ…

Khi vào tù tôi còn trẻ lắm, mới ngoài hai mươi. Lại nửa binh nghiệp của tôi là được dạy dỗ, huấn luyện để được tồn sinh trong mọi trường hợp. Lạc trong rừng cả tháng còn mò về được, thì ở tù chỉ là bị câu thúc than thể mà thôi. Sức mấy mà những cực nhọc đó có thể quật được tôi ngã quỵ. Tất nhiên ngoài sức khỏe trời cho, ngoài sự huấn luyện để rèn cho thể xác, tôi cũng phải biết điều một chút để giữ cho được cái mạng của mình. Trong tù tôi đã vuốt mắt cho vài người đồng cảnh.

Đau lòng nhất là tôi đã vuốt mắt cho một niên trưởng của tôi. Ông cũng là một Thiếu Sinh Quân, lại là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong lúc tôi đã theo học. Ông chính là Trung Tá Nguyễn Văn Vinh. Về cái chết của Trung Tá Vinh có một điều tôi nhớ mãi. Khi tôi đi thực tập Nhảy Dù ông cao to, nặng tới bảy chục ký. Hôm đi chôn ông chỉ còn thuần da với xương, trông như những cái xác ở trại tập trung Do Thái, ông chỉ còn nặng một nửa là cùng. Tôi là người vuốt mắt cho ông và hứa nhất định khi về sẽ đem được lời trăn trối của ông tới gia đình ông. Chúng tôi không có cả vài tấm ván để đóng cho người đàn anh đúng nghĩa này một cái quan tài. Thôi thì hãy tạm bằng lòng với cái chiếu mà đàn em kiếm được. Sống đã chẳng làm gì được cho nhau.

Cái giá mà tôi một tên Sĩ Quan “Lôi Hổ” nhảy toán phải trả coi bộ khá bộn. Cỡ cấp bậc của tôi mà là bộ binh thì nhiều lắm hai năm là cùng, mà sẽ không bao giờ biết đến Yên Bái là gì, Bắc Kỳ là gì. Khi đi lính tôi chơi bạo với người anh em nên khi vào tù người anh em chơi bạo với tôi, thế là có vay có trả. Có điều tôi phải trả lời nặng quá, những bảy năm tù.

Ở tù người ta học được nhiều điều, trước tiên là cái lối sống tập thể. Lối sống tập thể trong quân trường khác. Ở tù khác, anh phải có bạn. Nhưng coi chừng anh chết vì bạn. Anh chết vì chọn lầm bạn cũng có. Anh chết vì bạn thương anh quá cũng có, hay anh thương bạn quá cũng có. Anh cũng phải học cách cho và nhận. Có những cái không cho được thì đồng thời đó cũng là những cái không nhận được. Người nche61t vì ích kỷ quá thì nhiều chứ hiếm ai chết vì rộng rãi quá ở trong tù. Những bài học này chẳng ai dạy được cho ai, phải tự học lấy, kinh nghiệm lấy. Có những bài học trả bằng sinh mạng, còn những bài học trả bằng kiểm thảo, biệt giam, cùm chân thì chẳng qua là thực đơn hằng ngày. Cũng giống như hồi đi học ở thủ Đức thực đơn có bốn món chính là bò, gà, cá, heo. Thay vì đi và đếm bước một, hai, ba bốn tôi nghe rõ ràng có nhiều anh em đếm bò gà cá heo.  Bây giờ chúng tôi chẳng qua là cá năm trên thớt. Làm sao mà ra tới biển được đây.

Nói nào ngay tôi khá thất vọng khi nhìn thấy nhiều vị đàn anh. Nhưng nghĩ cho kỹ thì tôi lại tha thứ cho họ.  Ngay cả những người quản giáo đã từng chà đạp lên tôi, đã từng đem sự ngu dốt của họ đùa trên đầu, gtre6n cổ và trên sinh mạng tôi mà tôi còn tha thứ được thì huống hồ gì mấy ông đàn anh đã già, đã cỗi, đã cùn và mỗi ngày mỗi gần đất hơn, xa trời hơn thì có gì đáng kể. Vả lại ở đời mình cũng chả nên phán xét ai, vì ai sẽ phán xét mình đây?

Tôi chú tâm vào để Sống, tự đặt cho mình một mức độ đạo đức tối thiểu là sẽ sống nhưng không phải tìm sống trong cái Chết của người khác. Kỳ dư tôi chẳng chú trọng tới những lỗi lầm của ai và cũng tránh không để cho những lỗi của mình nếu có ảnh hưởng tới người khác. Nói với anh thì dễ, nhưng trong khi ở tù thì những điều đó khó vô vàn…

5

Rút cục có Chúa thật anh à. Tôi được thả ra và lại còn trở về được thì hiển nhiên phép lạ đã có. Phép lạ không phải đến với mình tôi. Có những người ngày mới vô trại tôi tưởng chừng chịu đựng được vài con trăng là cùng thế mà cái lòng ham sống làm con người sống dai vô cùng. Tất nhiên cũng đã chết bộn, nhưng ngôi mộ vùi nông thiếu gì nơi các trại tập trung học tập. Nhưng mà con người ta mau quên lắm anh ạ, có nhiều người bây giờ ngồi đây hay nói về thành tích của trong lúc ở tù. Tôi nghĩ nếu họ chịu khó nghĩ cho thật kỹ chắc họ sẽ nhớ hơn và ít nói hơn về những điều họ đã trãi qua.

Tôi thì không dễ gì quên được những điều tôi đã hứa, nhất là với những người đã chết. Tôi được trả về với đời sống bình thường 1982. Thoắt một cái mà đã nhảy một cú vọt qua gần bảy năm trong tù, gần bảy năm sống mà như không sống. Tôi làm quen lại với đời sống thường khá khó khăn. Còn gì không khó, khi mình đi là một xã hội khác, khi trở về mọi chuyện như một mớ chỉ bòng bong. Đừng nói gì đâu xa, ngay một cái khoản ngôn ngữ nó cũng làm tôi muốn điên. Tất nhiên ở trong tù không phải là chúng tôi câm, chúng tôi có nói đấy chứ, nhưng tiết kiệm đến mức tối đa. Nội chỉ có làm quen với những ngôn ngữ mới này mà tôi đã muốn rụ ng lưỡi. Thế thì còn làm ăn gì được nữa. Thế thì còn làm sao mà đi mang mấy ông bạn bá vơ nằm giữa rừng về.

Khi tôi bắt lại được nhịp sống thật sự, có nghĩa là không bị ai nhòm ngó, mà ngay cả chính mình không còn bỡ ngỡ, lạ lùng với xã hội bên ngoài thì cũng đã là năm 1986. Năm đó khắp miền Nam người ta túa đi tìm…xương Mỹ. Dân nước mình sao mà cơ khổ, hết đi mua con Mỹ lai, lại đi lùng xương Mỹ chết.

Nước gì mà ai cũng muốn bỏ mà đi, vượt biên không đắm tàu thì gặp hải tặc, đến được nơi có khi còn bị tống xuất ra ngoài khơi lại. Đi đượng bộ thì gặp Khmer đỏ. Thế mà người ta cũng đâu có sợ, người ta bỏ đi hà rầm, suốt một miền biển từ Bắc chí Nam và dọc biên giới Miên Việt ngày nào mà không có người bị bắt. Những năm tôi mới đi tù về phố xá sao mà tiêu điều. Cả một cái xã hội vật vờ như những bóng ma. Người ta ai cũng lặng lẽ tìm đủ mọi cách để bỏ mà đi. Tôi nhủ thầm đã đến lúc đi … cõng mấy bộ xương khô về. Tôi nhắc lại với anh là tôi không cần mấy bộ xương khô này mới đi được. Tôi đã có đủ hồ sơ ODP cũng có, HO cũng có. Mà nó thật với anh nếu cần con lai tôi cũng xoay được. Tôi là lính biệt kích chứ không phải là …thầy tu. Tôi làm việc này vì tôi đã hai lần thề với lòng mình, với Chúa. Lần thứ nhất chính là lúc vùi nông thể xác họ ở trong rừng. Lần thứ hai chính là lúc ở tù khi đi chôn xác trung tá Vinh. Tôi đã phát thệ lần thứ hai là nếu về được thì sẽ mang lời trối trăn của người niên trưởng không may mắn này về tới vợ con ông, cũng như sẽ thông tin tức cho mấy người Mỹ tù binh hay tử trận mà tôi biết.

Đặt chân lại xuống cái đất Kontum sau hơn mười năm vật đổi sao dời nó mới buồn làm sao. Mỗi một góc phố, mỗi một con đường đều làm cho tôi thổn thức. Tôi vào ngủ ở nhà người quen, tôi dành trọn một buổi chiều đứng trên cầu Dakpla, ngắm dòng nước vòng ngược lại phía núi. Tôi soi bóng tôi xuống dòng nước, tôi bồi hồi ngẫm lại đời mình. Tôi nghĩ tới việc tôi đang làm. Nhiều khi tôi nghĩ tôi hơi khùng. Nhưng tuyệt nhiên trong lòng tôi không một lúc nào tôi nghĩ đến chuyện bỏ  về, trái lại như có một sức mạnh vô hình nào đó thúc tôi tới trước.

Cõng được mấy bộ xương khô của mấy ông thần nước mặn này về đến nhà tôi cũng là thiên nan vạn nan, đủ để viết một quyển truyện phiêu lưu đường rừng. Nói để anh biết giả dụ như bố tôi có chết thì cũng quàn ở nhà năm ngày, ba bữa là cùng. Mấy bộ xương này mang về thì người của Bộ Nội Vụ Cộng sản họ không chịu tiếp nhận, họ nói tôi mang về chờ người Mỹ tới giảo nghiệm. Tôi dấu vợ tôi bó làm mấy bó để trên căn gác xếp tại nhà. Người chết thì dẫu sao cũng không làm phiền tôi lắm, nhưng người sống thì đến là phiền hà. Lớp thì người của bộ nội vụ, lớp thì công an phường và buồn cười nhất là mấy người có hài cốt Mỹ nghe tiếng tôi là một tay chuyên môn về …xương người chết nên tới triệu thỉnh tôi hà rầm. Họ nhờ tôi khám nghiệm hộ, những lóng xương của người, của cả thú nữa. Mắt tôi đã nhìn, đã khám, đã xem cả trăm bộ xương. Cái nào thật tôi nói là thật, cái nào giả tôi nói là để đó tôi coi lại, tôi không phải là muốn lừa bịp gì ai bởi vì tôi coi hộ miễn phí. Tôi chỉ không muốn làm người ta tắt hy vọng ngay lập tức mà thôi.

Tôi đã ra tận Bộ Nội Vụ ở Hà Nội để yêu cầu họ giải quyết cho mấy bộ xương tôi giữ làm …mả tổ ở nhà. Cái lối làm việc của Cộng sản nó lạ lắm. Nó hù dọa phủ đầu mọi người khi đến trước mặt những cơ quan công quyền , nhưng nếu anh đổ bựa ra không sợ. Có điều anh phải có lý lẽ cứng thì người cán bộ lại nhũn như con chi chi, cái giọng thớ lợ, giả lã trông mới tởm làm sao. Kêu đến tận bộ, gặp gỡ tới thứ bự, chỉ nhận được những con ma nhà họ Hứa. Cái gì chứ ma thì tôi có sẵn ở nhà, có điều Hứa là tôi Hứa chú không phải mấy con ma đó Hứa.

Mấy bộ xương cứ im lìm nằm trong gác xép, đến độ người chết cũng phải…sốt ruột. Nhà tôi càng lúc càng lạnh lẽo, không khí lúc nào cũng nhuốm màu tử khí. Có lần vợ tôi nói là thấy một người…Mỹ ngồi ở trên gác xép, thò chân xuống. Tôi nghe xong mà lạnh gáy. Ở với người chết như thế gần ba năm trời mới thấy có mấy ông ở Hà Nội vào tiếp thu và từ đó thì là công việc của những toán chuyên đi tìm MIA của Mỹ với Cộng sản Hà Nội. Hồi đó tôi ăn nói cũng ngang ngược với họ lắm là bởi vì làm cái gì tôi cũng gởi giấy tờ sang cho người Mỹ ở bên này, cũng như cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan. Cái số chết thì đã chết như Minh lai bạn tôi , chứ không nhảy được ba mươi ba chuyến. Cái số chết thì đã năm xuống đâu đó ở Yên Bái chứ không phải đợi đến bây giờ. Tôi theo dõi hồ sơ của vụ này kỹ lắm, mãi cho tới giữa năm 90, tôi gần đi Mỹ mà cũng chưa giải quyết ổn thỏa. Hiện nay tôi vẫn tiếp tục theo dõi nội vụ, nhưng cái kết quả thì tuyệt vô âm tín, chẳng hiểu cái công mò mẫm trong rừng của tôi đã được Cộng sản trao trả cho các thân nhân người chết hay chưa? Hay là họ vẫn giữ lại lâu lâu thò ra một bộ…xương khô để đổi lấy một vài điều kiện nào đó trên lãnh vực chính trị.

Tôi đặt chân lên nước Mỹ này vào năm 1991. Tôi được Fort Bragg bảo trợ. Ngày đặt chân tới Mỹ, cả gia đình tôi được đón tiếp khá nồng nhiệt. Một tờ báo lớn nhất ở địa phương đó viết một bài dài thòng về tôi, về những việc làm của tôi. Họ đã mở rộng vòng tay than ái đón tôi một cách khá muộn màng. Tiểu bang North Carolina đó mới lạnh làm sao, tôi phải về nơi nào đó có nắng ấm, có đông đảo người đồng hương. Tôi bỏ về California sau một thời gian ngắn và bắt đầu làm lại một cuộc sống mới ở nơi có nhiều đồng hương mà cũng không ít bực mình này.

Anh hỏi tôi mơ ước gì hả? Tôi muốn nhiều thứ lắm, có điều tôi là lính…Biệt Kích, tôi hiểu được một điều không phải như là những câu danh ngôn hồi nhỏ tôi tọng nó vào cái đầu óc bé tí của tôi. Cái câu “muốn là có thể”dịch từ cái câu “vouloir c’est pouvoir”nó mới giễu làm sao. Muốn hả, thì phải làm cho cái điều mình muốn nhòe người ra mà có khi chưa chắc đã đi đến đâu, ở đời chẳng có điều gì dễ cả. Nhất là anh định mưu đồ một việc gì đó cho đám đông. Nói ra có người lại cho tôi là khùng. Mà có lẽ là tôi hơi khùng thật. Tôi là lính thứ thiệt, Biệt Kích chứ không phải là Nhân Dân Tự Vệ (Tôi đã nhiều lần tự nhủ, đừng nói tới vụ Biệt Kích này nữa). Tôi đã mục kích nhiều cái chết dấp dúi trong xó rừng. Tôi cứ bị ám ảnh mãi về Minh lai, người bạn Thiếu Sinh Quân thời niên thiếu của tôi. Anh đã ở lại đâu đó trong rừng xanh, núi đỏ của xứ Hạ Lào. Anh hiện còn đang cách quê nhà một con sông Cửu Long mênh mông bát ngát… Khoảng cách thì đâu có xa xôi gì, nhưng lòng người thì đã nguội như một đống tro tàn. Lòng người thì rộng như một đại dương không bờ bến. Trên cõi đời này ngoài tôi ra, có ai còn nhớ tới Minh lai???

Nếu như có thể được tôi sẽ đi tìm lại những người mất tích trong chiến tranh vừa qua. Nhiều lắm anh ạ, người chết ở đồng bằng, trong thành phố đã nhiều, nhưng mà cái con đường mòn Hồ Chí Minh đó nó đâu có ở ven đô, nó ở tuốt luốt trong rừng. Bọn Biệt Kích chúng tôi mà nhằm nhò gì. Tôi đã từng gọi máy bay B52 để chỉ định mục tiêu cho họ đánh, ít khi nào tôi gọi khi phát hiện một tiểu đoàn, cỡ trung đoàn trở lên không à. Mình đánh nhau đã đủ rồi, nên có một tổ chức nào đó đi nhặt xương những người đã chết cho đất nước trở về làm một cái mộ chung anh ạ. Cái mộ này theo tôi nghĩ thì đúng là phải to bằng một trái núi, cái câu “Đống xương vô định đã cao bằng đầu”cao bằng đầu mà nhằm nhò gì. Cao bằng đầu thì phải rộng bằng sân banh Cộng Hòa mới đủ chỗ.

Cái thế kỷ 20 đã sắp hết, tôi nghĩ là bước sang thế kỷ 21 con người Việt Nam nói chung nên có một cái nhìn khác hơn. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, suốt ngày chỉ Biệt Kích) bởi vì thế giới cũng khác hơn quá nhiều. Tôi cũng có đi tham dự vài buổi sinh hoạt có tính cách chính trị ở đây. Cái nhìn chung của tôi mà giờ này còn chống Cộng cái kiểu thập niên 40, 50. 60,70…đó thì không khá được. Tôi cũng chẳng hiểu cái kiểu chống Cộng sắp tới của thế kỷ tới nó như thế nào. Nhưng mà phải khác, cứ bổn cũ soạn lại đó thì mình chỉ làm chơi thôi chứ không phải là làm thiệt.

Tôi khoái làm thiệt. Tôi không còn trẻ, nhưng chưa đến nổi già, mới có ngoài bốn bó, còn trẻ chán để làm việc, nhưng việc phải ra việc. Vào việc là phải xăn tay áo bắt tay vào, chứ không phải đứng đó mà hò người khác làm và tưởng là mình đang…làm thì không có tôi. Tôi nói thiệt điều này với anh nghe khá tức cười là tôi có vẽ mê…xương người. Nếu như hôm nay bà vợ tôi có đôi lúc như là người bị ma ám thì đó là lỗi của tôi, vì tôi đã quá chậm chạp trong khi đưa xác các bạn tôi về. Tôi nhớ tới những bài văn tế chiến sĩ trận vong trong văn học của chúng ta, những bài văn đó dường như khá nhiều. Tôi có đọc Tam Quốc, cái cảnh Khổng Minh tế những oan hồn đã chết trong khi đi đánh Mạch Hoạch đó nó mới u buồn làm sao. Hầu như trong mọi trận đánh , mọi cuộc chiến mỗi khi xong người ta đều làm những bổn phận với người nằm xuống. Hoàn cảnh chúng ta thật khó mà có thể làm được điều gì cho những người còn sống, đừng nói tới những người chết. Nhưng dù sao đó cũng là một nỗi ám ảnh lớn trong tôi. Thôi thì ai làm được điều gì lớn thì cứ làm, tôi nghĩ đến những điều nhỏ thôi. Tôi học thì chẳng bằng ai, duy có một tấm lòng thì làm được cái gì hay cái đấy.

Ở nơi đây sướng thì có sướng nhưng mà buồn quá, cảnh thì đẹp, người thì đông. Cảnh thì chẳng ăn nhậu gì đến tôi, còn người thì mới ngán ngẩm làm sao. Tôi nói người đồng hương đó chứ không phải nói người Mỹ. Họ dù sao cũng khác máu tanh lòng, nhưng người mình với nhau nhiều khi cũng tanh lòng đáo để.

Nói một điều gì chót hả. Tôi mong rằng tôi đã không làm anh mất thì giờ với những…bộ xương của tôi. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, lại Biệt Kích) có sao nói vậy văn hoa mà làm gì. Tình hình này thì sớm muộn gì tôi cũng về lại. Để làm gì hả. Tôi là một con cọp đã từng “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”nhưng không vì thế mà tôi đòi giết hết những người Cộng sản, mà nói thật anh nghe anh có sứ để giết họ không? Đừng có đại ngôn. Nói nhỏ, làm nhỏ và làm tới nơi tới chốn. Muốn về thì nên sửa soạn cho ngày về và nhất định là phải biết mình về để làm gì? Mình đang đứng ở đâu? Đừng có mơ mơ màng màng. Tôi biết rất rõ tôi sẽ về để làm gì? Tôi là một con cọp đã toan về già, cũng sắp sửa đến ngày rụng răng rồi. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi thì bề gì mình cũng là cọp. Chẳng lẽ lại thua mấy con cáo cụp đuôi sao. Tôi sẽ về để chết trên vùng đất đã sinh ra, giản dị thế thôi. Tới ngày đó anh có về với tôi không?

À mà này anh, trái đất quả là có nhỏ. Tôi sang tới Mỹ, trời đất mênh mông vô tận như thế này đi đâu mà tìm vợ con ông Trung Tá Vinh. Tôi gặp lại một trự Pilot trực thăng. Cái tay Như này ngày xưa đối với chúng tôi cũng có tình chiến hữu. Hắn đưa rước tụi tôi, sống chết với tụi tôi nên vì đó mà thân. Chẳng cứ riêng gì Như, mà các phi công khác cũng vậy, nhiều anh em tụi tôi hiện nay còn sống trên đời này là nhờ cái tình giữa những người lính thứ thiệt. Chuyện qua chuyện lại thì vợ của Như bây giờ chính là con ông Vinh. Thế là tôi đã hứa với vài người chết, tôi đã hoàn tất chẳng thiếu một ai, chua làm xong mấy điều mình đã tự nhủ thầm này nó cứ tức anh ách. Giờ thì tạm xoa tay được rồi.

6

Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Người lính Biệt Kích tên là Chiêu đó quà là đã làm được nhiều việc cho mình và cho người trong suốt hơn bốn chục năm có mặt với đời.

Kể chuyện Quảng Trị, Thầy cũ: “Ông Ngân”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Jun 2017 

Postr by Sơn râu 14 Jan 2024

(Trích trong “Xóm cũ”, hồi ký)

hoànglonghải

Tôi là thằng học trò “mất dạy”.

Điều đó tôi nói thật. Cả trường (niên khóa 1951- 52 / niên khóa đầu tiên và 1952-53, niên khóa thứ hai của trường Trung Học Quảng Trị), bọn học trò gọi ông Lê Đình Ngân một cách kính cẩn là “Thầy Ngân” hoặc, đàng hoàng hơn “Thầy Lê Đình Ngân” thì tôi, – và một vài thằng “mất dạy” như tôi nữa, như Nguyễn Tri Châu, Hồ Diện, sau nầy thêm vô tiếng đệm nữa là Hồ Xuân Diện, Hồ Trọng Toàn…cũng gọi trổng “Ông Ngân” như tôi.

Không riêng gì ông Ngân đâu. Các thầy khác cũng bị “bọn tôi” gọi trổng như thế. Chẳng hạn: Ông Bích, ông Hùng, ông Phụ, ông Khánh đều “bị” chúng tôi gọi như thế cả. Ngoại trừ ông Nguyễn Văn Hải, hiệu trưởng đầu tiên, thì gọi là ông Tham Hải, tiếng gọi chung của mọi người. Ông Hồ Duy Tình gọi là Ông Hội Tình (Hội viên hội đồng thành phố bầu năm 1952 hay 53?). Ông nầy là thủy quỹ của trường, cũng chỉ một niên khóa đầu tiên mà thôi.

Những thằng gọi trổng tên thầy như tôi, xét cho kỹ, đều là “dân thành phố cả”. Bọn nhà quê, bọn Đông Hà, bọn Diên Sanh lễ phép hơn. Chúng nó gọi “thầy” đàng hoàng.

Tôi còn “được” bạn bè gọi bằng một cái biệt danh khác nữa: “Thằng lãng tử”. Bọn chúng gọi đúng đấy. Từ trước năm tản cư (1945), tôi mới 6 tuổi, đã đi khắp thành phố Quảng Trị rồi: Ga, Long Hưng, Văn Thánh (bạn có biết ở đâu không? Bên Nhan Biều đấy), Ái Tử, An Đôn, Qui Thiện, Trí Bưu, Cổ Thành, Nại Cửu, Cửa Việt, Cửa Tùng… tôi đi khắp rồi.

Còn trong chiến tranh?

Chợ Cạn, Đồng Bào, Liên (hay Linh?) Chiểu, Gia Đẳng, An Cư, Hiền Lương, Chợ huyện, Chợ Phủ, Huỳnh Công, Hạ Cờ, Thủy Bạn, Cát Sơn, An Mỹ, Lệ Môn, Trấm (xã Phong An), “chiến khu” Ba Lòng… tôi cũng đi khắp.

Trước 1954 – năm tôi bỏ xứ mà đi – tôi cũng đã lang thang tới “Cây đa bến cộ” ở làng Diên Trường, Bến Đá (cầu Trường Sanh), Vân Trình, Mỹ Chánh… Những năm tôi với Hường, vợ tôi sau nầy, “bắt bồ” với nhau thì “hai đứa” đi chơi càng dữ: Không phải La Vang đâu! Xa hơn nữa: Nhà thờ Phước Môn, “đồi thông hai mộ”: Mộ ông Nguyễn Hữu Bài và vợ ông, xa hơn nhà thờ Phước Môn một chút xíu nữa, gần chân núi Trường Sơn rồi qua Tân Lệ, Như Lệ…

&

Niên khóa đầu tiên (1951-52), trường Trung học Tư Thục Quảng Trị (gọi như thế mới đúng tên trường), có 3 thầy chính:

-Ông Thái Mộng Hùng, mới đậu tú tài 2, ban gì không biết, con thầy Trợ Liên (Thái Tăng Liên, bạn với “cậu” (cha tôi đấy, gọi bằng cậu, con khó nuôi), quê ở Cam Lộ. Ông Hùng dạy: Việt Văn (rất buồn ngủ), vạn vật (buồn ngủ hơn).

-Ông Lê Bích, mới đậu tú tài 2, ban toán. Anh ông Lê Bích là ông Lê Oanh, công chức Bưu Điện Quảng Trị, huynh trưởng gia đình Phật tử Quảng Thiện, gia đình Phạt tử duy nhất ở thị xã Quảng Trị (ngoài ra còn có gia đình Phật tử thứ 2 của anh Nguyễn Quang Toản ở Đông Hà, tên là gì tôi không biết). Ông Tư Đồ Minh muốn thành lập một gia đình nữa ở Diên Sanh, nơi ông sinh sống, nhưng Diên Sanh lúc đó dân chúng ít quá, không đủ “nhân số” để tập họp thành một gia đình. Qua năm sau mới có.

Có lẽ qua ông anh nên ông Bích mới ra dạy ở Quảng Trị. Ông Bích dạy toán (đệ Lục) và Anh văn (dùng sách “Anglaise Vivant” blue. Ông Bích đọc tiếng Anh nghe rất rõ múi ruốc Huế nấu bún bò. Học trò ông, Hoàng thị Lệ Khanh, dân Đông Hà, đọc tiếng Anh còn pha thêm một chút “con hến luộc” của làng Điếu Ngao.

-Ông Lê Quít, người thứ ba. Có lẽ ông Lê Quít mới đậu trung học, cỡ như Brevet Elementaire, nguyên là hiệu trưởng trường Tiểu Học Đông Hà. Ông dạy Toán và Pháp Văn.

Các thầy dạy phụ:

Ông Phan Minh Phụ, công chức tòa án Quảng Trị, dạy Pháp Văn Đệ Lục. Ở lớp nầy có hai học trò con của ông là Phan thị Thu Thủy, xấu đẹp tôi không nhớ, có lẽ cũng có thước tấc, như ông bố vậy. “Đàn chị” mà! Để ý làm gì (?!), mất công; và em của Thủy là Phan Minh Ân.

Ông Nguyễn Vọng, cán bộ ty Thông Tin, dạy Hán Văn. Ông nầy có “tâm hồn văn nghệ” lắm. Ông viết lại câu chuyện ngắn “Bóp thì bóp” (1), đem vô lớp đọc cho học trò nghe. Chỉ có tôi thích mà thôi. Mấy đứa kia “vô tri bất mộ”, “đàn gãy tai trâu” biết gì! Ông Vọng đi kháng chiến, có lẽ bị Việt Cộng “biên chế” vì gốc “tạch tạch sè”, đuổi hay ông bỏ về? Ông dáng người cao, ốm, đeo kính trắng, già nhất trong số các thầy.

-Ông Lê Khắc Khánh, dòng Lê Khắc ở Huế, phía ông bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ông Khánh dạy nhạc, vợ ông đẹp lắm, là con gái “ông Xạ Đồng”, chị ông Lê Huân.

-Hiệu trưởng là ông “Tham Hải”. Ông nầy chưa có bằng tú tài, chỉ là Agent technique, sau nầy gọi là cán sự, ngành Công Chánh. Ông gốc Huế, hồi nầy ra Quảng Trị làm thầu xây cất cho lính Tây – xây đồn bót hay doanh trại –

-Ông Hội Tình, “nhân vật quan trọng” vì ông thu học phí, trả lương thầy (dạy giờ – dạy giờ nào, ăn giờ nấy). Ông Hội Tình nguyên là thầy giáo làng, ở làng Hội Yên, phủ Hải Lăng. Mới đây, ông Nguyễn Hữu Tuấn ở Boston cho tôi biết ông Hội Tình không phải quê ở Hội Yên mà ở một làng gần đó. Hội Yên có nhà thờ lớn, ông thường đi nhà thờ nầy.

Chiến tranh bùng nổ, ông Hội Tình sợ Việt Minh, Việt Minh thường cầm mã tấu đi tìm những người có đạo, nên ông trốn ra thị xã, núp bóng Tây cho yên thân. Ông làm nghề “xanh xít đít đui” (cho vay 5 (cinq) trả thành 6 (six), vay 10 (dix) trả thành 12 (douize). Thỉnh thoảng, ông đứng ra tổ chức hội chợ “cứu trợ” cái gì đó như bây giờ chùa với nhà thờ tổ chức tùm lum vậy đó.

Ông Hội Tình thuộc hàng ngũ “hễ thấy hơi tiền thì mê” nên cùng ông Tham Hải, vận động thêm một số “thân hào nhân sĩ”, đặc biệt là cụ Tôn Thất Dương Thanh, trưởng ty Tiểu Học Vụ, đứng ra mở trường trung học cho học sinh nghèo ở thị xã Quảng Trị và vùng chung quanh…

Tôi cám ơn trường nầy vô vàn.

Năm đó, 1951, tôi đậu tiểu học. Nếu “các cụ” không mở trường trung học thì tôi học ở đâu? Không lý chui vô vùng Việt Minh mà học như Lê Hữu Thăng. Ai không có tiền vô học trung học ở Huế, như tôi chẳng hạn, thì học nghề: Sửa xe đạp, thợ giày, thợ hớt tóc, thợ may… có thể. Nếu không học trung học, tôi dã thành thợ nề (thợ hồ); lỡ như Việt Cộng bắt đi “xây lăng bác Hồ” thì bỏ mẹ!!!!!

Cũng may, năm đó, ông Phạm Đình Ái, theo kháng chiến, dù đã được ông Hồ Chí Minh thưởng “Kháng chiến bội tinh” cùng với ông Trần Đại Nghĩa, chế ra vũ khí cho Việt Minh (SKZ và Bangalore) đang ở Thanh Hóa thì trốn về, làm giám đốc nha Học Chanh Trung Việt. Ông lo mở mang giáo dục nên việc thành lập trường Trung Học Quảng Trị được dễ dàng.

Mấy cụ “thân hào nhân sĩ” phần đông “đi chùa”, bỗng dưng thấy hai ông “đi nhà thờ” Tham Hải và Hội Tình, nắm thủ quỹ trường Trung Học, thu học phí, vô lý quá, không có lợi chi cho bọn học trò nghèo cả, bèn xin chính phủ cho quốc hữu hóa trường nầy. Năm sau, bọn học trò khỏi đóng học phí, khỏe quá.

Người đúng ra vận động, vô Huế xin ông giám đốc Phạm Đình Ái cứu xét “công lập hóa” ngôi trường là cụ trợ Đãi, tên đầy đủ là Phan Quang Đãi – thân phụ anh Phan Quang Nam và anh bạn học Phan Quang Dinh và “cô nường” Phan thị Ngọc Tĩnh – vô ra Huế nhiều lần, mới thành việc. Bọn học trò năm ấy, bắt đầu khỏi đóng học phí thì nhờ ơn nhiều nhất là cụ Đãi. “Tụi bây” phải biết nhớ ơn.

Niên khóa sau, mấy thầy rời khỏi trường:

Ông Lê Bích ra Hà Nội học kiến trúc sư. Ông Thái mộng Hùng, ông Lê Quít bị động viên, đi sĩ quan Thủ Đưc. Ông Quít không có mạng “làm quan võ”, đi lính gần hai chục năm mà lon lá chỉ tới đại úy hay thiếu tá gì đó. Khi ông là sĩ quan, có người còn mang lon trung sĩ, nhờ ông thi giùm cho đi học sĩ quan, sau lên tới đại tá. Gặp bạn cũ, chắc ông Quít chào mỏi tay luôn. Vậy mà bạn cũ đành lơ!

Vậy là thiếu thầy!

Niên khóa 1952 – 53, tôi học Đệ Lục. Bấy giờ ông Lê Đình Ngân, thường gọi là ông Phán Ngân, hình như làm việc ở phòng (hay ty?) Tài Chánh của Tỉnh Đường, và ông Lê Đình Trình, thường gọi là ông Phán Trình, làm Tòa Án, sang làm giáo sư phụ, dạy học trò. Mấy năm sau thì ông Trình thôi dạy, còn ông Ngân thì xin chuyển hẳn sang làm giáo sư trung học.

Cũng năm ấy, hai vợ chồng ông Tôn Thất Dương Kỳ – bà Khuê, tôi không nhớ họ, ở chiến khu về, được bổ dụng làm giáo sư. Năm sau nữa có ông Nhơn và cô Bích. Bấy giờ thì tôi đã trốn nhà “lưu lạc giang hồ” mất rồi.

Cũng năm tôi học Đệ Lục, ông Ngân dạy Việt Văn, mấy năm sau, ông chuyên dạy Pháp văn.

Tôi là học trò “ba lơi khơi”, xuất hiện đầu phố cuối chợ nhiều hơn ở trường.

Ôi! Đời học trò đáng yêu biết bao nhiêu:

                        “Làm học trò nhưng không sách cầm tay

                        Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ!

                        …

                        “Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp

                        Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa!

                        Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa,

                        Hồn lơ đảng mộng ra ngoài cửa lớp!

Thơ Đinh Hùng đấy! “Thần tượng học trò” của tôi đấy!

Thứ hai nữa, tôi ham đọc sách – truyện thì đúng hơn – cho nên “Phòng Thông Tin Hoa Kỳ” – ở nhà Vạn An, bên hông chợ Quảng Trị, đường Trưng Trắc, và Thư viện tỉnh Quảng Trị, ở nhà ông Cửu Trình – Lê Văn Trình, ở góc chợ Quảng Trị, phía bờ sông, cuối dãy phố Diệp Đức Ký là nơi tôi xuất hiện nhiều hơn, không ngày nào là không có mặt tôi. Ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, báo nhiều hơn sách, ở Thư Viện, chỉ có sách mà không có báo. Bao nhiêu sách ở đây, tôi “ngốn” hết, không chừa cuốn nào.

Người coi thư viện là bác Trình – cũng tên Lê Đình Trình – là người rất “ưu ái” tôi; nói dại, không thua gì bố Dương Khai Tuệ với Mao Trạch Đông. Tiếc rằng bác Trình không gã con gái cho tôi như bố Dương Khai Tuệ gã bà nầy cho ông Mao làm vợ. Hơn nữa, tôi không biết bác Trình có con gái hay không! Nếu có chăng, con bác còn nhỏ xíu!

Tụi bạn tôi, mượn sách thường trả trễ. Chúng nó có đọc đâu mà trả sớm. Còn tôi, ham đọc sách nên “ngốn” nhanh lắm. Mượn bữa trước, bữa sau trả. Bác Trình tưởng tôi không đọc, có lần hỏi thử tôi, tôi trả lời vanh vách sách nói gì. Trúng phóc, được bác Trình khen. Nhờ vậy, tôi mượn sách dễ dàng.

Khi đọc báo ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, có mấy tờ báo tôi thích lắm, kể theo thứ tự:

Thứ nhất là báo “Đời Mới” của ông Trần Văn Ân, thứ hai là báo ảnh “Thế Giới Tự Do” của cơ quan Thông Tin của Hoa Kỳ. Tuy gọi là báo ảnh nhưng có nhiều bài viết hay: Những bài về địa lý thế giới, lịch sử Hoa Kỳ, khoa học (nói về năng lượng nguyên tử), nói về “đại nông canh tác” của miền Nam nước Mỹ. Thứ ba là nhật báo “Ánh Sáng” của ông Hoàng Hồ. Trong báo nầy, có câu chuyện phiêu lưu “Bên hào Vạn Lý” của ông Lê Minh Hoàng Thái Sơn hấp dẫn lắm. Về sau mới biết người ta tố giác ông Lê Minh Hoàng Thái Sơn chỉ ở Saigon. Ông chẳng đi đâu cả, chưa qua tới Hồngkông, nói chi tới Vạn Lý Trường Thành ở miền Bắc xa xôi của nước Tầu rộng mênh mông. Ông nằm bên bàn đèn mà tưởng tượng ra những câu chuyện ly kỳ gay cấn ở Vạn Lý Trường Thành để câu độc giả, trong đó có tôi, tôi mê truyện của ông muốn chết.

Trên báo “Đời Mới”, tôi thường chép lại những bài thơ hay. Trong đó, tôi còn nhớ bài “Kẻ Ở” của Quang Dũng:

            Kẻ ở

 Quang Dũng
Mai chị về em gửi gì không?
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngã
Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng
Sao rơi đáy nước vương chân ngựa
Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng.

            Chú thích:
Bài thơ này có chút nghi vấn về nguồn gốc. Bài thơ được coi là của Quang Dũng vì nó xuất hiện trong một cuốn sổ tay của ông. Tuy nhiên, Quang Dũng chưa bao giờ nhận đó là tác phẩm của mình cả. Xét cho cùng, tứ thơ, phong cách và nhạc điệu của bài thơ cũng rất… Quang Dũng.

            Quang Dũng đang theo Việt Minh, là “cán bộ Việt Minh”, nhưng báo chí vùng Quốc Gia vẫn đăng thơ của ông như thường, coi như “không có gì xảy ra”. Người Quốc gia không “chật bụng” như người Cộng Sản.

&

Thế rồi một hôm tôi gặp “ông Ngân” ở thư viện. Ông cũng đi mượn sách như tôi.

Gặp thầy, chào thầy xong, tôi đang tính đường “rút lui (sao cho được) “hoàn toàn vô sự” thì ông Ngân hỏi tôi.

_ “Năm ngoái trò bị thi lên lớp?”

Tôi “dạ”!

_ “Có lẽ trò kém về các môn khác, không kém về Việt văn?”

“Biết trả lời sao?”

Năm ngoái, môn nào tôi chẳng dốt, riêng chi Việt Văn, môn do ông Thái Mộng Hùng dạy, chán chết. Ông Hùng dạy dở ẹt. Dạy bài “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam, một nhà văn trong “Tự Lực Văn Đoàn”, có khuynh hướng xã hội, mà ông chẳng giảng một chút gì về sự kỳ thị của người dân của làng đối với kẻ “ngụ cư”, chẳng có một chút lòng thương những người nghèo khổ như tác giả mô tả trong bài. Đúng ra, ông thầy phải giảng về nội dung đó chứ! Tại sao ông chẳng nói một chút gì hết. Dạy bài “Làng Từ Lâm” trong “Người Quay Tơ”, tiểu thuyết đầu tay của Nhất Linh, ông biểu Võ Tử Cầu đọc. Trong bài có câu: “Tôi đến một nơi gọi là Từ Lâm, xa xa toàn là núi, ngọn nọ ngọn kia không dứt”. Tôi xúi Cầu đọc “không dứt” thành “nhúc nhích”. Cả lớp ai cũng cười, núi mà nhúc nhích? Ông cũng cười, chẳng la rầy gì cả. Năm 1954, Cầu tập kết ra Bắc, năm 1975, về tiếp thu Saigon là “kỷ sư Việt Cộng” đấy!

Tôi không trả lời được!

Ông Ngân cũng chẳng nói gì cả.

Hôm sau vô lớp, khi phát bài luận văn, ông Ngân đọc bài tôi viết cho cả lớp nghe, khen “nức nở” tôi viết văn hay. Tôi khoái lắm. Từ đó về sau, tất cả những bài luận văn của tôi, bài nào ông cũng khen hay, không những ông chỉ đọc ở lớp tôi, ông còn đọc ở các lớp khác nữa. Do đó, tôi “nổi tiếng” toàn trường, rằng “một thằng học trò ham chơi, mất dạy” lại viết văn hay. Năm sau, tôi lại học băng, vô Huế, tôi học nhảy từ Đệ Lục, lên Đệ Tứ, thi đậu Trung Học. Bọn học trò không “ngưỡng mộ” tôi làm sao được nhỉ?

Ông Ngân là một nhà văn có truyện ngắn xuất bản trước năm 1945. Một hôm, ông đem cuốn truyện cũ của ông vô lớp đọc cho chúng tôi nghe một bài viết in trong đó.

Truyện nhan đề là “Phong Lan”, kể rằng có một cô gái đẹp đứng bán hàng ở một cửa tiệm. Nhiều người “ngắm nghé” cô ta. Dĩ nhiên, trong đó có ông Ngân và các bạn ông. Một hôm, bọn họ giả tình cờ gặp nhau trước của hàng người đẹp. Mỗi người “nổ” một vài câu, để cho người đẹp lưu ý. Cuối cùng, chẳng anh chàng nào được người đẹp “ban” cho một nụ cười hay một cái “liếc mắt đưa tình” nào cả. Có lẽ ông “vô duyên” và truyện ông viết cũng “vô duyên”.

Tuy nhiên, tôi vẫn ngưỡng mộ thầy giáo tôi như thường vì ông là thầy tôi.

Thật ra, văn ông hay đấy. Trong cuốn sách “tập đọc” bậc tiểu học, tôi không nhớ tên, người soạn sách có trích lại một đoạn trong một truyện ngắn của ông, mô tả cảnh một buổi trưa hè ở thôn quê, để làm bài giảng văn cho học sinh.

Có phải vì “cua” gái ở thành phố bị “vô duyên” như tôi kể ở trên mà ông Ngân trở về quê “lấy vợ nhà quê”.

Vợ ông – gọi một cách kính cẩn là “cô”, – là một cô gái quê “trăm phần trăm”. Cô không xấu, nhưng chắc là “quê lắm”. Chị Diệu Minh – hiện ở Canada – vợ ông anh bà con Phan Văn Luân của tôi, kể: “Chú ấy cưới vợ về mới bắt đầu dạy a, b, c… cho thím”. Chị Diệu Minh là con thầy Lê Đình Khởi, thầy giáo lớp Nhì của tôi, là anh em chú bác ông Ngân.

Có lần ông Ngân nói giữa lớp, với bọn học trò chúng tôi: “Nên lấy vợ nhà quê. Con gái nhà quê thật thà, chất phát hơn con gái thành phố”. Ấy là nhận xét của người thời đó. Bây giờ thì “chắc chi”. Con gái nhà quê còn “quá cha” con gái thành phố. Con gái thị trấn Đông Hà không “quá cha” con gái thị xã Quảng Trị hay sao?

Nghe lời thầy, ông bạn chí cốt Lương Thúc Trình của tôi, sau mấy lần thất vọng vì tình, bèn hát bài “đường về quê” để cưới một cô thợ may làng Phước Tích – tục gọi là làng “đôộc đôọc”, làm đồ gốm bằng đất sét nung – quê nội của anh.

Đang làm giáo sư trường Trần Cao Vân ở Tam Kỳ, Quảng Tín, anh bị gọi động viên, ra trường làm sĩ quan Chính Huấn tại trường Thiết Giáp ở Thủ Đức. Có một khóa sĩ quan Thiết Giáp nào đó, khi ra trường, tổ chức “liên hoan nhảy đầm”, có mời “ông thầy” của họ, tức anh bạn tôi tham dự.

Đang nhảy đầm lã lướt với một em “ca-ve” nào đó, thì vợ Trình tới ngay nơi họp mặt. Đứng phía ngoài sàn nhảy, vợ Trình gọi chồng ra và “tiện tay” tát cho Trình một cái bốp trước bàn dân thiên hạ. Tát chồng xong, vợ Trình bảo: “Về”. Anh chàng “râu quặp” lặng lẽ theo vợ ra về.

Năm tôi học khóa Thiết Giáp, bấy giờ Trình là huấn luyện viên của tôi. Khi mãn khóa, bọn khóa sinh chúng tôi cũng tổ chức “liên hoan nhảy đầm”. Tôi biểu Trình ra nhảy đầm chơi. Anh bạn ngồi im re. Anh bạn tôi nhớ lời Ông Ngân hay nhớ cái tát của vợ và cay đắng nhận ra rằng ông thầy của chúng tôi nói sai.

Ông Ngân là người rất biết thưởng thức văn chương.

Năm dạy chúng tôi, ông chỉ trích một bài trong sách “giảng Văn” của Nguyễn Xuân Hiếu và Đào Mộng Chu. Bài “Nhành lúa mới”: “Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa, vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài, vắng bóng người nông phu cần mẫn.

            . . . . . . .

            Qua một đêm ngủ đổ, hôm sau tôi trở dậy lên đường, tôi thấy cánh đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lượt trở về đây, đến những bàn tay mền mại cấy từng hàng mạ trên cánh đồng rộng mênh mông, trong khi bom đạn vẫn cứ tơi bời trên các làng mạc tiêu điều…

            . . . . . . .

            Nhành lúa mới vẫn cứ vươn lên, tượng trung cho sức sống: Sức sống của một dân tộc.

Trong “văn chương Việt Nam thời tiền chiến”, người ta thấy có bốn người viết tùy bút hay nhất. Đó là Nguyễn Tuân với “Vang Bóng Một Thời”, với Đoàn Văn Cừ, tác giả những bài thơ “Hội Tết”, “Chợ Tết”. Hai tác giả kế sau, ông Ngân trích dạy cho chúng tôi mỗi người một bài.

Đó là Tô Hoài, với một bài trích trong “Xóm giếng ngày xưa”:

Ngõ thăm thẳm xuyên vào ruột hai hàng tre, tre mọc liền sát khích gốc, ở trên, cành và lá giao nhau, che con đường đất mịn, lối mòn đi giữa đôi bờ tre cũ.

            . . . . .

            Ngoài kia, lượn một con sông xinh.

            Dòng nước về mùa hè trong và mát, liếm vào bờ cỏ chảy lừ đừ. Con sông bé bỏng đựng bóng bờ tre theo đường ngõ xóm rồi vòng ngoèo sang phía khác. Đến đằng kia, sông lại ló hình nhưng đã xa đi rồi, con sông vui vẻ.

            Nó đem nước giởn vào những cánh đồng xa lạ khác, để cái ngõ tre ngơ ngác đứng lại một bên bờ. Con đường xóm thì ngẩn ngơ bò vào trong ngõ, qua một vòm cổng gạch cỏ và rêu xanh ngun ngút.

Mọt tác giả khác nữa: Lưu Nghi. Bài “Mùa sao” ông Ngân trích giảng cho chúng tôi, ông trích trong tạp chí Phổ Thông, xuất bản ở Hà Nội năm 1951, của nhóm ông Vũ Quốc Thúc, không phải tạp chí Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, xuất bản sau năm 1955 ở Saigon.

“Đêm đêm trời lặng gió lành, nằm ngữa mặt nhìn ngàn sao, lòng ngưòi êm dịu một cách kỳ lạ. Nằm sát mặt đất mà tưởng như đứng đỉnh núi cao, nhìn ra đại hải.

            Những chấm thuyền li ti xê dịch dọc ngang, cái xê dịch chỉ thoáng nhẹ như chút hoài nghi, mắt người không thấy được, nhưng long người lâng lâng say một cuộc cuộc viễn hành. Trong tư duy dấy lên những bụi đường và chừ đây, dừng chân nằm lặng bên bờ hồ mát ngọt.

            Lậu rồi, những giọt mồ hôi nhỏ trên đường đời. Những giọt mồ hôi nối dài đánh dấu bước đi, chập chững từ nơi mẹ, bỡ ngỡ bước vào đời và bâng khuâng về huyệt mả.

            Mỗi người đi về huyệt mả đều mang một chuỗi hột sao, kết tinh từ nơi mẹ, bằng những giọt nước mắt nhỏ trên lòng bàn tay và chấm dứt bằng những giọt nước mắt nhỏ trên ván quan tài.

            Giũa lúc thoát thai và giờ quá vãng, đời người đếm biết bao nhiêu giọt mồ hôi và nước mắt. Mồ hôi và nước mắt biểu hiệu cho lao khổ và thương đau, nhưng cũng biểu hiệu cho sức sống.

            Con người không đổ mồ hôi trong đời mình là con người bằng gỗ. Chất gỗ mất lần nhựa sống, tan rã lần vì mục nát. Người đó có cũng như không!

Năm 1965, tôi đi chấm thi Trung Học ở trường Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi, lại gặp ông Ngân cùng làm giám khảo ở đó. Thầy và học trò cũ gặp nhau, tạm trú trong một phòng học do ông hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước chuẩn bị cho các giám khảo ở xa tới.

Lại một chuyện buồn cười xảy ra.

Chủ tịch hội đồng thi là ông Nguyễn Đình Phiên, tú tài ân khoa (2), giáo sư trường Nguyễn Tri Phương, cùng ở lại một phòng với chúng tôi. Sáng thức dậy xong, ông Phiên được một vài ông sĩ quan cấp tá, đang phục vụ ở bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2, cùng đóng ở thị xã Quảng Ngãi, là học trò cũ của ông, mời ông đi ăn sáng.

Khi ăn xong trở về, cũng đã gần tới giờ thi, nhưng đề thi – do bộ giáo dục làm sẵn giao cho chủ tịch hội đồng thi chịu trách nhiệm – để ở đâu, ông Phiên không nhớ.

Hoảng hốt, ông Phiên hỏi quanh chúng tôi có ai biết ông bỏ “bộ đề thi” ở đâu không. Vốn tính cẩn thận, ông Phiên giấu kỹ, sợ “lộ đề thi”, làm sao chúng tôi biết ông để ở đâu. Ông chạy qua bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, hỏi thăm mấy người cùng ăn sáng, có ai thấy đề thi ông để ở đâu không? Không ai thấy. Hỏi ở quán Anh Vũ, nơi ông vừa ăn xong, cũng không ai thấy.

Thấy ông Phiên lo lắng, hốt hoảng… Ông Ngân, cũng đang đứng chung trước lớp học làm phòng ngủ cho giám khảo, từ tốn nói với ông Phiên:

_ “Anh bình tĩnh một chút, nhớ lại coi. Sáng nay, anh lấy đề thi ra khỏi va li của anh lúc nào, rồi sau đó, anh làm gì…”

Ông Phiên nghe lời ông Ngân, trầm ngâm. Một lúc sau, ông Phiên, như nhớ lại được, hốt hoảng la to: “Thôi! chết tôi rồi!” Rồi ông vội vàng chạy ra nhà cầu tiêu.

Té ra, sáng nay, khi thức dậy, ông lấy bộ đề thi ra, bỏ vào túi áo pajama, xong ra nhà cầu. Nhà cầu kiểu cũ, ngồi kiểu “nước lụt”. Sợ đề thi rớt xuống cầu tiêu, ông Phiên bèn lấy bộ đề thi ra, nhét lên mái tôn nhà cầu, gần ngang trên đầu ông. Giải xong “bầu tâm sự”, ông khoan khoái trở về phòng, thay áo quần đi ăn sáng, quên mất bộ đề thi nhét trên mái nhà.

Sau khi chạy vội ra nhà cầu, ông Phiên mừng rỡ thấy bộ đề thi còn ở đó. Ông vội vàng đem vào, phát đề cho các phòng thi, vừa lúc trống đánh giờ thi bắt đầu.

Chúng tôi thì cười ông Phiên ngớ ngẩn. Ông Ngân thì tỉnh bơ, coi như không có gì xảy ra.

Đó là lần cuối cùng, tôi gặp thầy cũ.

Ông vẫn như ngày xưa: Y phục là bộ “vét-can” màu gạch nhạt. Túi trên gắn cây bút máy. Hai túi dưới trống không. Tóc hớt ngắn, chân mang giày “xăng-đan” và… cái “túi rết”, thường gọi là cái “bị rết”, loại của lính, có giây máng vào vai.

Và cái gì đặc biệt nữa, các bạn học trò của ông Ngân có nhớ không?

Ông đi khập khiểng. Hai chân không đều nhau! Ông bị tật ở chân. Nếu ông ở lính, bọn “lính tráng chúng tôi” gọi đùa là “một người lính chấm phét”.

Mấy chục năm rồi, hơn nửa thế kỷ. Đối với ông Ngân, tôi vẫn còn là đứa học trò “mất dạy”, mặc dù, ông là người, như các bạn học nói, đã phát hiện ra “tài năng” của tôi, và bao giờ tôi cũng cảm ơn và kính mến thầy.

Mùa hè 2017.

Massachusetts

(1)-Vùng núi Trường Sơn, phía tây Quảng Trị, có môt loài chim đặc biệt. Khi đêm xuống, con chim mái bay quanh rừng, cất tiếng kêu nghe giống như “bóp thì bóp”. Truyện cổ tích kể rằng, xưa có hai chị em đi vô rừng. Đứa em thấy vú chị, bèn đòi bóp. Người chị không cho, còn dọa về sẽ mách bố mẹ. Đứa em sợ quá, bèn trốn vô rừng. Chị thương em, đi tìm, tha thứ gọi em “bóp thì bóp”. Rồi cả hai chị em lạc mất, không tìm được đường về, hóa thành một loài chim.

Khi con chim mái ngưng kêu thì trời vừa sáng.

(2)-Thời Chính phủ Trần Trọng Kim, giáo sư Hoàng Xuân Hãn làm

bộ trưởng giáo dục, áp dụng chương trình mới, dùng tiếng Việt làm

chuyển ngữ. Vì vậy, năm đó, Tú Tài 1 và Tú Tài 2 được thi chung

một khóa. Dân chúng thường gọi là “Tú tài ân khoa”

Hàn Mặc Tử, những nỗi uất hận!

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 26 Jul 2016 

Post by Sơn râu 14 Jan 2024

            Trong số các thi sĩ tiền chiến, có quan hệ với Huế nhiều nhất là Hàn Mạc Tử, mặc dù, trong “Bàn Thành Tứ Hữu”, (bốn thi hữu ở thành Đồ Bàn – tên cũ của Bình Định), gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan (tác giả bài thơ nổi tiếng “Bến Mi-Lăng”) thì không người nào sinh sống ở Huế lâu dài. Xuân Diệu, người mà nhiều người lầm tưởng có sinh hoạt ở Huế lâu dài nhất thì lại không phải. Ông quê ở Hà Tĩnh lớn lên ở Qui Nhơn. Người học hành ở Huế lâu năm, sau nầy lại tham gia trong “phái đoàn 3 người Việt Minh” đến Huế để nhận ấn kiếm vua Bảo Đai thoái vị, chính là Huy Cận.

            Hàn Mặc Tử, tên là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, nhưng lớn lên ở Qui Nhơn, chỉ học ở Huế một thời gian ngắn tại trường Pellerin, sau nầy có tên là trường Bình Linh, là người, theo người ta tưởng, có quan hệ với Huế lâu dài, chỉ là người có thơ viết về Huế mà thôi.

            Thật vậy, bài thơ “Đây Thôn Vĩ” làm cho người ta tưởng lầm như thế:

                        Đây thôn Vĩ

                        Sao anh không về chơi thôn Vĩ,

                        Nhìn nắng hang cau nắng mới lên.

                        Vườn ai mát quá xanh như ngọc,

                        Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

                        Gió theo lối gió mây đường mây,

            Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.

                        Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

                        Có chở trăng về kịp tối nay?

                        Mơ khách đường xa, khách dường xa,

                        Áo em trắng quá nhìn không ra

                        Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.

                        Ai biết tình ai có đậm đà.

            Bài thơ nầy từng được phổ nhạc. Có người cho rằng toàn bài thơ không hay, nhưng theo tôi, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử có mấy câu hay lắm. Tự nhiên, trong thơ ông, đột khởi vài câu, vài ý thơ thật hay, nâng cao giá trị toàn bài thơ.

Chẳng hạn như, trong bài thơ nói trên, đột nhiên tác giả hỏi:

“Thuyền ai đậu bến song trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là ý thơ rất mới và rất lạ. Trong thơ ông, và cả văn của ông nữa, có nhiều trăng. “Chơi giữa mùa trăng” là một thí dụ. Trong bài thơ nói trên thì có “sông trăng”, và… “bến trăng”. Dĩ nhiên, sông đã trăng thì bến cũng có trăng. Và thuyền thì “chở trăng”. Trong thi ca, trước nay, không ai nói “thuyền chở trăng”. Cũng lạ đấy, sông thì lớn, thuyền trên sông thì nhỏ. Thuyền nào chở hết trăng về “đổ” trên sông cho ông?

            Trong ánh trăng sáng vằng vặc và lung linh đó, Hàn Mặc Tử  viết:“Áo em trắng quá nhìn không ra” là phải. Phải là cái áo màu thì người ta mới dễ thấy. Áo tím chẳng hạn. Đàn bà con gái Huế, có hai mầu áo rất “thịnh”. Áo trắng cho học trò, những cô còn trẻ, và áo tím (tím Huế – “tím than”, tím của Tử Cấm Thành) cho người đã có gia đình hay lớn tuổi hơn.

            Đó là những ý hay trong bài thơ nầy.

            Ông có một bài thơ khác nói về Huế nữa, đúng hơn là về một cô gái Huế, một người có thực chứ không tưởng tượng; Cô Hoàng Thi K.C., sau nầy là giáo sư nữ công Trường Đồng Khánh. Năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tôi nhập cũ, không biết cô còn dạy ở đó nữa hay không?!

Vội vàng chi lắm!
Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây
Chầm chậm cho mình giữ chút đây
Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã
Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay
Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi
Chỉ một lòng son muốn giải bày
Này nhạn! Ta còn quên chút nữa
Con tim non nớt tặng nàng đây.

            Ai ở Gia Hội vậy?

            Là cô Hoàng Thị K.C. hay Thương Thương?!

                        Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương

                        Má đỏ au lên đẹp lạ thường.

Bàn tay mềm mại nên duyên quá

Tà áo lung linh dàu tợ sương!

            Hoàng Thị K.C, là em gái thi sĩ Hoàng Diệp, một bạn thơ của Hàn Mặc Tử. Hoàng Diệp giới thiệu em mình cho nhà thơ bị bệnh phung. Đó cũng chỉ một cách an ủi mà thôi bởi vì bấy giờ bệnh của Hàn Mặc Tử đã nặng rồi, đâu còn hy vọng gì sống còn vì cái bệnh nan y ấy mà nói chuyện yêu đương, vợ chồng…

            Người thứ hai là Thương Thương, tên thật là Quỳnh Tiên, con ông Trần Thanh Đạt, anh trai Trần Thanh Mại và Trần Thanh Địch. Hình như Hàn Mặc Tử có gặp Thương Thương một lần, khi nhà thơ từ Saigon ra Huế. Khi ấy Thương Thương mới 12 tuổi. Khi “cô em đã lớn”, biết đến thơ văn và tình yêu, ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa, thì nhà thơ sắp nhập vô trại cùi Qui Hòa. Tình cảnh cũng như cô Hoàng Thị K.C. vậy thôi!

            Dù vậy, Hàn Mặc Tử vẫ yêu và hy vọng:

                        Em là Trần Thương Thương

                        Anh là Hàn Mặc Tử.

Không phải cách âm dương

Còn có khi hội ngộ”.

            Hai người, Quách Tấn và Trần Thanh Mại, đều có giữ nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử, khi ông Hàn viết xong gửi cho hai người ấy. Vì vậy, sau khi Hàn Mặc Tử qua đời, có sự tranh chấp về tác quyền thơ của Hàn Mặc Tử. Không rõ việc thưa kiện được thua như thế nào, nhưng những bài thơ Hàn Mặc Tử gởi cho Quách Tấn, ông ta vẫn giữ. Đến khi Tây lại xâm lăng nước ta một lần nữa, sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ hai, thì các bài thơ của Hàn Mặc Tử do Quách Tấn giữ đều bị cháy cả, vì nhà ông ở Nha Trang, bị Tây đốt cháy rụi. Ông Quách Tấn vẫn tự cho mình có lỗi với nhà thơ bạn ông và với văn học, vì ông đã không bảo tồn được những di cảo của Hàn.

            Với Hoàng Thị K.C. cũng như với Thương Thương và Mai Đình, Hàn Mặc Tử thường tỏ tình yêu thương và không oán trách gì. Nhưng với Mộng Cầm thì khác.

            Bài thơ sau đây, Hàn Mặc Tử bày tỏ lòng cám với Mai Đình, sau khi Mai Đình bỏ Saigon, ra Qui Hòa, sống với nhà thơ trong cái chòi tranh bên bờ biển, để chăm sóc cho ông:

                        Thắm thiết
Cười cho lắm cho dầm dề nước mắt
Chết ruột gan mà ngoài mặt như không.
Anh nhìn Mai chua xót cả tấm lòng
Không biết nói làm sao cho da diết!

Trắng như tinh và rất nên thanh bạch
Cốt cách đều rất mực đồng trinh
Mai của anh, chiều phong vận xinh xinh.
Say một nửa và thơm một nửa.

Bay chới với điệu quỳnh dao hương múa
Mê cầm trăng trong một tối xa hoa.
Nâng âm thanh trên những ngón tay ngà
Giây phút ấy rượu say, trời lảo đảo.
Thêm nóng mặt, ân tình thôi gượng gạo
Sững lòng đi trong một tối tân hôn.
Đây Mai Đình, tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt,
Nàng! Ôm nàng! Hai tay ta ghì chặt
Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!
Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật.
Ôi khoái trá thấm dần vô thể chất
Hồn trong sương, ảnh hưởng đến mê tơi!
Quý như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế.
Tình rất nặng và nghĩa đầy lượng bể,
Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
Bao não nùng sầu hậ n trong mêly
Anh thấy rõ rằng anh đang trơ trọi.
Em xa quá, biết làm sao nhắn với?
Anh đưa lòng cho tới huyệt lòng em!
Mai! Ôi Mai, là em vẫn còn nguyên,
Hay đã chết như tình anh đã chết?

Tuy Hàn Mặc Tử nói như thế, nhưng ông ta không yêu Mai Đình bằng yêu Mộng Cầm. Vì vậy, Mai Đình mới viết bài thơ sau đây, để “phân bì” (tình yêu) với Mộng Cầm:

Phân bì Mộng Cầm

Mộng Cầm hỡi! Nàng là tiên rớt xuống
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay! Sung sướng biết bao vàn
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
Tôi là kẻ thiếu nhiều và thiếu mãi
Đã ra người hành khất bấy lâu nay
Mà người đời toàn ban vị đắng cay

            Theo ông Nguyễn Quảng Thành, hiện cư ngụ ở Boston, người gọi Mai Đình bằng cô, thì  Mai Đình, trước tình yêu Hàn Mặc Tử dành cho Mộng Càm còn rất say đắm, nên cảm thấy “chán”, không muốn ở với Hàn Mặc Tử nữa, bỏ về nhà ở Khánh Hội (Saigon cũ).

            Nếu độc giả đọc bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” sẽ thấy Mộng Cầm là người Hàn Mặc Tử yêu nhất, và cũng oán hận nhiều nhất:

Phan Thiết! Phan Thiết!

Nhớ khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Dao Ly đến trời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chận đường
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi
Ta mê man như tới chốn Phượng Trì
Ở mãi đấy không về Thiên cung nữa.

Nhưng phép lạ có một vì tiên nữ
Hao hao như nường nguyệt cõi Đào Nguyên
Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên
Và van lạy xin cô nường kết ngãi
Mỉa mai thay cho phượng hoàng si dại
Là ta đây đương ở kiếp muôn chim
Trở lại trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả
Ta trở nên như ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa rất phong vận: Người Thơ
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta la thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ¤ng Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư.

Qua thơ của ông Hàn, người ta thấy ông có bốn người ông yêu, và ai nữa thì tôi khng biết. Ông yêu người ta, còn người ta có yêu lại ông ta hay không thì không chắc. Bốn người yêu đó, kể theo thứ tự thời gian, có thể là: Mộng Cầm, trước nhất; Ba người sau là: Mai Đình, Hoàng Thị K.C. và Thương Thương thì không biết chắc ai trước ai sau.

Hàn Mặc Tử yêu Mộng Cầm khi ông cò ở Saigon, rồi đi chơi với Mộng Cầm ở “Lầu ông Hoàng”. “Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang.” (Xem phụ lục 1).

Mộng Cầm là dân Phan Thiết, một nhà thơ nữ, yêu Hàn Mặc Tử, ban đầu chỉ qua thơ văn. Người ta thường nói “Địa linh nhân kiệt”. Nếu kể về mặt nghệ thuật, Phan Thiết cũng là nơi nhân kiệt đấy. Xứ nầy “sản xuất” nhiều nghệ sĩ: Nhật Trường (TTT), Anh Khoa, Thanh Thúy (hình như bà nầy gốc Huế), đều là “Dân Phan Thiết” cả đấy. Thậm chí, nhà thơ Huyền Chi, tác giả bài thơ “Thuyền Viễn Xứ”, Phạm Duy phổ nhạc, gốc Bắc, sau nầy cũng định cư ở Phan Thiết. Bà Huỳnh Khanh, nữ diễn viên điện ảnh đầu tiên của làng phim ảnh Việt Nam, vợ của ông Phạm Ngọc Thìn, có thời làm Thị Trưởng Phan Thiết, là ông bà nhạc gia của nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Thiếu Tá Trần Minh Hải, nguyên xã trưởng xã phát triển Phan Thiết, là thi sĩ Cao Châu, bạn tù của tôi ở trại Xuân Lộc, chính là người cho xây “Đoạn Tình Kiều” ở thị xã nầy.

Hàn Mặc Tử tự ví mình như Lý Bạch, một “trích tiên” vậy. Khi xưa Hàn cũng ở trên Thiên Đình, rồi vì môt lý đo nào đó, ông bị đọa xuống trần gian, làm một nhà thơ, như Lý Bạch vậy. Và rồi ông ta yêu Mộng Cầm, như Lý Bạch với Dương quí Phi? Hai người du ngoạn ở “Lầu Ông Hoàng”, một đêm trăng nào đó. Xong rồi, ông bị bệnh phung.

Khoảng năm 1957, nhân dịp ngày sinh hay ngày tử gì đó của Hàn, “Hội Văn hóa Thành phố Huế, tổ chức lễ “tưởng niệm nhà thơ”. Dĩ nhiên có nhiều người lên diễn thuyết, trong số đó, có hai người bạn cũ của ông Hàn là thi sĩ Quách Tấn với thi sĩ Hoàng Diệp.

Quách Tấn kể:

Không để cho Hàn ở chung trong nhà được, sợ truyền nhiễm, gia đình nhà thơ dựng cho ông môt căn chòi bên bờ biển Qui Hòa, cách Qui Nhơn không xa, để ông ở riêng. Khi Quách Tấn đến thăm Hàn tại căn chòi lá nói trên, Hàn Mặc Tử đọc (hay diễn ngâm?) bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” cho Quách Tấn nghe. Đến đoạn cuối: “Ôi trời ơi là Phan Thiết! Phan Thiết! Mi là nơi ta sầu hận…” thì giọng ông Hàn như nghẹn đi vì uất hận! Cái uất nghẹn đó cho người ta thấy Hàn Mặc Tử hận Mộng Cầm như thế nào!

Người ta cũng kể, Hàn Mặc Tử, sau đêm “đi chơi” ở Lầu Ông Hoàng với Mộng Cầm về thì mắc bệnh phung.

Tại sao?

Ông chú họ tôi, một người trong nhóm “theo cụ Ngô” khi cụ còn “lê gót nơi quê người” (theo lời ca đầu tiên của Nguyễn Hiền trong bài hát “Suy tôn Ngô Tổng Thống”), là một nhân vật không lạ gì trong giới văn học Huế, có lần đang ăn cơm, ông nói với chúng tôi (chúng tôi là kể thêm Huỳnh Hữu Tuệ và Huỳnh Hữu Ủy): Tụi bây có bồ đừng chơi bời tầm bậy. Trên mồ trên mả người ta dễ bị phung!”

Có phải đó là trường hợp Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm. Quách Tấn kể: Đêm họ đi chơi “Lầu Ông Hoàng”,  trên đường về thị gặp mưa. Cơn mưa biển lớn lắm. Hai người vào núp trong một nhà mồ ở trong nghĩa địa. Rồi việc gì xảy ra nên Hàn Mặc Tử bị bệnh phung, như lời ông chú họ tôi nói ở trên, cũng là theo quan điểm y học dân gian của người Việt ta?!

            Bị mắc bệnh phung, và thêm lý do gì nữa mà Mộng Cầm phụ tình ông Hàn, khiến ông phải uất hận. Hay vì sướng thì sướng chung, mà bệnh thì riêng một mình ông Hàn gánh chịu?! Việc nầy, y học dân gian không chứng minh bằng khoa học được, nên đành chịu vậy!

            Trong bài thơ “Lang Thang”, Hàn Mặc Tử viết:

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

            Hai chữ “khỏi đói” trong bài thơ là viết theo nghĩa đen. Bấy giờ, ở trong cái chòi tranh nói trên, Hàn Mặc Tử đói thật, nghĩa là thiếu ăn hay không có cái ăn. Thi sĩ thì không giàu. Giàu khó làm thi sĩ. Dĩ nhiên, không nghe ai nói Hàn Mặc Tử giàu. Gia đình Hàn Mặc Tử có thể thuộc hàng khá giả chứ không giàu. Vả lại, khi ông Hàn bị bệnh phung thì ông bố cũng đã qua đời. Vì vậy, theo lời kể của Quách Tấn, khi ông đang làm “công chức” ở Đà Lạt, thường gởi tiền về giúp đỡ nhà thơ bị bệnh phung. Căn chòi của Hàn Mặc Tử ở bờ biển Qui Hòa, bị mưa gió làm thủng nát nhiều chỗ, không sửa sang được, ông Hàn kiếm mấy tấm bìa chèn vô.

            Cứ tình hình như thế, “Đói là mối hận thứ hai” trong đời của một nhà thơ thiên tài.

            “Hồn tôi đây thiên hạ bỏ đìu hiu” là một câu thơ trong bài “Trình Bày” của Huy Cận, nhưng mỗi khi đọc câu thơ nầy, hay khi giảng về “Thơ mới” trong những năm tôi còn cầm cục phấn đứng trước bảng đen, tôi thường lẫn lộn giữa Huy Cận và Hàn Mặc Tử về nỗi cô đơn của các nhà thơ, và cả Hàn Mặc Tử nữa, trước sự hững hờ của thiên hạ với các nhà thơ thiên tài. Xưa thì phải kể Trần Tử Ngang với “thiên địa chi du du”, hoặc “Lau lách đìu hiu” của Bạch Cư Dị trên bến Tầm Dương.

            Hình như sự “Cô Liêu” của Hàn Mặc Tử kinh khiếp hơn:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

            Chữ “ai” ở đây cứ như là ma vậy! Một mình trên bãi biển Qui Hòa, không có “ai” với ông Hàn cả. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát làm cho ông tưởng như tiếng chân ai đang đi vậy! Và ông lại tưởng tượng như có “ai” đó, một người nào đó ở bên cạnh ông, một người mà ông đã từng yêu, Mộng Cầm hay Mai Đình? Rồi cũng chẳng có ai cả! Người đó không nói, không đọc thơ mà chỉ “ngậm cứng thơ đầy miệng”. Hàn Mặc Tử lẫn lộn giữa người và ma hay chăng?!

Tất cả những điều đó, tạo nên những ý tưởng kinh hoàng trong trí ông. Tư tưởng, hay cảm tưởng đó chính là sự cô liêu của hoàn cảnh ông đang sống, cô đơn trên bãi biển, và cả một nỗi cô liêu trong cuộc đời.

            Có lần tôi tranh cãi với một người bạn đồng nghiệp về chữ “Vũng” hay “Bãi” trong câu “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. “Bãi” nói về chiều rộng, như bãi cát chẳng hạn. “Vũng” nói về chiều sâu. Ngồi một mình bên bờ biển, về chiều rộng (horizontal), có thể Hàn Mặc Tử đã thấy rõ, nhưng ông thấy nỗi cô liêu ấy, không chỉ ở chiều rộng mà cả ở cả chiều cao (vertical).  Thành thử, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử cảm nhận nỗi cô liêu của ông ở cả hai chiều: Chiều rộng và chiều cao. Nỗi cô liêu ở cả hai chiều như thế khiến Hàn Mặc Tử phải than “Chao ôi ghê quá, ôi ghê quá!”

            Nỗi cô liêu của ông là “cũ vạn đời” có nghĩa là không có gì mới đâu! Trần Tư Ngang, Bạch Cư Dị ngày xưa đã thế, và Huy Cận hay Hàn Mặc Tử người đời nay vẫn thế!

            Thi sĩ là người mơ mộng. Do đó, hơn ai hết, họ là những người thường lẫn lộn  giữa mộng và thực. Thực là đời thực, mộng là những gì chỉ ở trong tâm tưởng mà thôi.

            Xưa có anh tiều phu, một hôm vào rừng lấy củi. Tình cờ anh hạ được một con nai. Anh tự bảo, phải đi đốn củi đã, giấu con nai ở đây, chờ khi chiều tới, trên đường về, sẽ đem nai về luôn. Đến khi chiều về, anh quên mất con nai. Đêm nằm bên vợ, anh mới sực nhớ đã bỏ quên con nai trong rừng. Hôm sau, khi vào rừng, không thấy con nai đâu cả, anh ta cứ nghĩ nằm mơ, không phải thực anh đã hạ một con nai. Hôm sau nữa, lại vào rừng, tình cờ lại tìm thấy con nai, anh lại cho là thực.

            Con người cứ lẫn lộn giữa thực và mộng, giữ mộng và thực, quả thực anh thợ rừng không phải là thi sĩ, mà tâm hồn là một t âm hồn thi sĩ, như Hàn Mặc Tử vậy.

            “Làm sao giết người trong mộng?” Người ta hiểu “người trong mộng” đó là Mộng Cầm. Mộng Cầm là con người thực, là con người đã phụ rẩy Han Mặc Tử. Nếu Hàn Mặc Tử không phải là thi sĩ, một người “thực tế” như người Âu Mỹ, thì anh ta đã ra tòa rồi, khi muốn “giết người” (trong mộng). Tuy gọi là (Mộng) Cầm, nhưng Mộng Cầm là người thực, có phải là “người trong mộng đâu!”

            Cứ lẫn lộn giữa mộng và thực thì người ta không được cái gì cả. Không được người tình nên “hận tình”. Đói, không có ăn, hận người đời đã bỏ quên mình. Và hận “Cô liêu” (trên bãi biển), là mối hận ngàn đời của thi nhân. Huy Cận đã từng than như vậy: “Chiều ơi hãy xuống thăm ta với, Thiên hạ lìa xa đời trống không!”

            Ba mối hận, một đời người ngắn ngủi (1), quá đủ cho một thiên tài.

hoànglonghải

(viết để tặng Nguyễn Thị Vân, mới gặp lại sau 45 năm xa cách, chúng ta đâu còn thấy cô liêu nữa, và cũng chẳng hận ai!)

(Phụ lục 1)

Vào năm 1911, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhận thấy phong cảnh tại những ngọn đồi xung quanh Phan Thiết rất hữu tình, nên ông đã mua lại mảnh đất rộng 536m2, cách Tháp Po Sah Inư 100 m về hướng nam đê xây dựng biệt thự.

Tòa biệt thự được khởi công xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 với quy mô 13 phòng rộng cùng nhiều tiện nghi phụ trợ, như máy phát điện đặt dưới tầng hầm, bể chứa nước có thể dùng đủ cả năm. Khi xây xong, biệt thự được xem là công trình hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Tên gọi Lầu Ông Hoàng xuất phát từ cách gọi dân dã của người dân về sự sang trọng của vị công tước người Pháp cư ngụ ở đây. Lầu Ông Hoàng có một vị trí đẹp, cao 105 m so với mặt nước biển, cách trung tâm Thành phố Phan Thiết 7 km nằm trên khu vực đồi Bài Nài.

Tháng 7 năm 1917, Công tước De Montpensier bán lại biệt thự cho một chủ khách sạn người Pháp tên là Prasetts. Sau này, vua Bảo Đại mới mua lại nó. Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam năm 1945, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt để canh giữ toàn vùng Phan Thiết. Lầu Ông Hoàng trở thành nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Kể từ đó trở đi, Lầu ông Hoàng không còn được ai chăm nom và dần trở nên xuống cấp, hoang phế.

(Theo Wiki)

(1)-Hàn Mặc Tử qua đời ở bệnh viện phung Qui Hòa ngày 11 tháng 11 năm 1940, khi ông mới 28 tuổi)

(Phụ lục 2):

            Trong buổi “Tưởng niệm Hàn Mặc Tử” do Hội Văn hóa thành phố Huế tổ chức năm 1957 như tôi nói ở trên, có nhiều diễn giả lên nói chuyện thơ của Hàn Mặc Tử. Hội nầy do linh mục Cao Văn Luận làm chủ tịch. Các vị diễn giả, ngoài Quách Tấn và Hoàng Diệp, còn có Giáo sư Lê Hữu Mục (thầy giáo của tôi) và ông Võ Long Tê. Hai ông nầy lên diễn đàn giới thiệu bài thơ “Ave Maria” của Hàn. “Maria linh hồn tôi ớn lạnh, Run như run thần tử thấy long nhan.”

            Hai ông giáo sư nầy ca ngợi cái gì hay trong bài thơ nầy tôi không nhớ, nhưng các ông ấy đã dẫn dắt rằng đạo Thiên Chúa là đạo của mọi người. Con người, cuối cùng, như Hàn chẳng hạn, cũng phải về với Chúa Giê-Su.

            Sau khi đi nghe diễn thuyết về, ông chú họ, như tôi nói ở trên hỏi chuyện tôi đi nghe cái gì người ta nói trong buổi diễn thuyết ấy. Tôi kể lại hết những gì tôi đã nghe, nhưng sau khi nói về hai diễn giả Lê Hữu Mục và Võ long Tê. (Ông Tê lúc đó là giáo sư Pháp Văn của Huỳnh Hữu Tuệ ở trường Nguyễn Tri Phương), ông chú tôi bảo: Mấy ông nầy chỉ lợi dụng cái chết của người ta để truyền đạo, bắt giò Cậu Cẩn! Tôi không nghĩ rằng ông chú tôi nói sai.

Trước đây ít lâu, trong một buổi họp đảng Cần Lao của Chi bộ Thành phố Huế, có người đề nghị ông chú tôi bổ đi làm quận trưởng, một quận nào đó, nhưng ông phải “rửa tội” mới được cái chức đó.

            Kể chuyện được đề cử làm quận trưởng xong, ông chú tôi nói: “Tao theo cụ Ngô là để chống Tây. Tây “mắt xong mũi lõ”. Chúa Giê Su cũng như thế, tao thờ Chúa Giê Su sao được.”

            Tình hình chính trị hồi bấy giờ là như thế, phía đạo Thiên Chúa dựa vào thế lực anh em nhà Ngô để bành trướng đạo của họ, như trước kia, họ từng dựa vào thế lực của Thực dân Pháp vậy.

            Hôm đó, tôi có nhắc lại một câu thơ trong bài “Ave Maria” để hỏi ông chú tôi: “Ave Maria mà lại viết “Chiếu rọi khắp ba ngàn thế giới.” Ba ngàn thế giới là tư tưởng của đạo Phật, sao nó lại xuất hiện ở đây.

            Té ra, dù có thờ lại Chúa Giê Su thì tâm hồn Hàn Mặc Tử vẫn là tâm hồn của một người Việt Nam. Một người Việt Nam thì có văn hóa Việt Nam, mà trong văn hóa Việt Nam, mang nặng dấu vết của Phật giáo không phải là ít vậy. Khi người Việt Nam nói một câu gì đó, một câu tục ngữ chảng hạn, nhiều khi người ta không biết rằng mình đã nói một câu mang tính cách giáo lý nhà Phật.

Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh,
Hơn hết u buồn của nước mây,
Của những tình duyên thương lỡ dở,
Của lời rên siết gió heo may.

Cho ta nhận lấy không đềm đáp,
Ơn trọng thiên liêng xuống bởi trời,
Bằng tiếng kêu gài say chếnh choáng,
Bằng tim, bằng phổi nóng như sôi.

Và sóng buồn dâng ngập cả hồn,
Lan tràn đến bến mộng tân hôn.
Khóe cười nức nở nơi đầu miệng,
Là nghĩa, trời ơi, nghĩa héo hon.

Cô liêu

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông, chảy láng lai
Buồm trắng phất phơ như cuốnglá
Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.

Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không khí bạt vi lô.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi ?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi ?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

Lang thang
Lãng tử ơi! mi là tiên hành khất,
May không chết lạnh trước lầu mỹ nhân.
Ta đi tìm mộng tầm xuân,
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây.
Rượu nắng uống vào thì say.
Áo ta rách rưới trời không vá,
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
Không ai chết cả sao lòng buồn như tang?
Cho tôi mua trọn hàm răng.
Hàm răng ngà ngọc, hàm răng đa tình,
Một chắc ta lại với mình.
Có ai vô đó mà mình hồ ngươi?
Lãng tử ơi, mi là tiên hành khất,
Nay không hộc máu chết rồi còn đâu?

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

(Xuân Như Ý)

Ra đời Hàn Mặc Tử
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi, trên hết cả anh hoa
Xuân ra đời
Điềm ngọc ấm như ngà
Thơ có tuổi và chiêm bao có tích
Và tâm tư có một điều rất thích
Không nói ra vì sợ bớt say sưa
– Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua
Mùa xuân tới mà không ai biết cả.
Biển hồn ta
Máu tim ta tuôn ra làm bể cả
Mà sóng lòng rồn rập như mây trôi
Sóng lòng ta tràn lan ngoài xứ lạ
Dâng cao lên, cao tột tới trên trời.
Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa với lượn sóng triền miên
Khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng. Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện
Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện
Để nhìn xem sắc mặt với làn da.
Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại!
Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta
Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta.

 
Hồn là ai
Hồn là ai là ai? Tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Cả thiên đường trần gian và địa ngục
Hồn là ai? Là ai! Tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay
Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc


Nhớ Trường Xuyên
Trường Xuyên ơi! Trường Xuyên ơi!
Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời
Mây nước bao la tình lẳng lặng
Gió sương mờ mịt nhớ chơi vơi
Tương tư mộng thấy năm canh mộng
Luyến ái trời vương bốn phía trời
Đây nhớ đây thương mình tệ quá
Có ai khắng khít lại quên ai.

“Gió Nam non…”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 Dec 2015 

Post by6 Sơn râu 14 Jan 2024

“Gió Nam non thổi lòn hang cóc…”

Tôi yêu Quảng Trị của tôi vì tôi sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, dù ở đó cảnh sắc có đẹp hay không.

Dù không đẹp, nhưng vì nó là nơi tôi chôn nhau cắt rốn, nơi tôi lớn lên cùng với gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con xóm làng, học hành vui chơi cùng bạn bè, thì không đẹp, quê hương tôi cũng cứ đẹp vô ngần. Tôi yêu quê hương tôi là tôi yêu cảnh sắc nơi ấy, tôi yêu người dân ở nơi ấy, không cần biết ai giàu ai nghèo, ai bần cùng, ai sang trọng. “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nói vậy đấy!

Người dân quê tôi càng nghèo, tôi càng thấy yêu họ hơn, mà Quảng Trị tôi thì nghèo nhất trong các tỉnh nghèo của miền Trung. Miền Trung nghèo vì miền Trung chỉ là cái đòn gánh, oằn lên vai chị, vai mẹ, như câu tục ngữ “đòn gánh đằn vai”. Hai đầu Nam Bắc mới giàu, hai đầu là hai thúng gạo: “Gạo Nam, gạo Bắc, ấy đòn miền Trung”. Phạm Duy viết như thế.

Miền Trung nghèo vì “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh, nước mặn đồng chua, quê hương tôi đất cày lên sỏi đá”. Đất ấy chỉ có thể trồng khoai sắn. Dọc miền Trung, tỉnh nào cũng nhiều khoai sắn, ăn khoai sắn thay cơm. “Bên nồi khoai mới luộc, ngát thơm vườn ngâu thưa…” Phan Lạc Tuyên viết như thế khi theo Quân Đội Quốc Gia “tiếp thu” Bình Định năm 1954.

Phạm Đình Chương cũng viết giống như thế về Thừa Thiên: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”.

Quảng Trị có khá hơn không? Về Quảng Trị, Phạm Duy cũng viết trong “Quê Nghèo”: “Đàn trẻ vui vì nồi cơm ngô đầy”. Cơm độn với ngô (bắp). Vậy mà bọn trẻ thấy vui vì được ăn no.

Phạm Duy, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn khác, chưa ai thấy hết cái nghèo của Quảng Trị của tui đâu! Quảng Trị nghèo lắm, nghèo hơn ăn ngô, ăn khoai, ăn sắn nhiều.

            Hồi còn nhỏ, tôi đã từng nghe cầu hò (văn chương bình dân):

                        Gió Nam non thổi lòn “hang cóc”,

                        Phận em ngheo nên mồng đóc em khô”

            Sách địa lý gọi là Gió Lào, dân địa phương gọi là gió Nam. Đó là hiện tượng gió Foehn (“phơn”, gốc từ Fơn, tiếng Đức) ở miền Trung Việt Nam. Theo địa lý địa cầu, nói chung, nhiều châu lục, có hiện tượng gió Foehn.

Khi ngọn gió được hình thành, vượt qua những vùng núi cao, làm gió tăng tốc và mất hết hơi nước, nên trở nên khô và nóng, có khi rất nóng, gây nên nạn cháy rừng. Nhờ có gió Foehn vượt qua dãy núi Alpes nên vùng Trung Âu về mùa đông được ấm hơn. Ở Mỹ và Canada, gió Foehn vượt qua vùng Rocky Mountains, có tên là gió Chinook.

Vùng Đông Nam Á, theo sách địa lý của frère Jerôme Lê Văn Ba, và vài giáo sư dạy ở Khải Định, (tên trước 1957), gió Foehn phát xuất từ vịnh Thái Lan, thổi dọc theo sườn phía Tây dãy Trường Sơn. Càng lên hướng Đông-Bắc, gió càng mạnh và khô vì cây rừng Trường Sơn lấy hết nước.

Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn thấp xuống, nên gió quay ngược lại theo hướng Đông-Nam, thổi suốt một vùng, từ phía bắc Thừa Thiên ra tới Thanh -Nghệ-Tĩnh.

Sách địa lý thường gọi là gió Lào vì gió từ Lào thổi xuống Việt Nam. Dân địa phương gọi là gió Nam, có lẽ người ta biết gió thổi từ vùng vịnh Thái Lan ở phía Nam mà lên.

Gió Nam, như đã nói, khô và nóng. Các vùng Thanh Nghệ, lá chuối bị khô cháy vì hơi nóng của gió. Theo kinh nghiệm của tôi khi còn nhỏ ở Quảng Trị, gió Nam thổi từ nửa đêm cho tới trưa hôm sau. Gió Nam thổi mạnh, nên buổi tối, trước khi đi ngủ, mùng đã chằn kín dưới chiếu, vẫn bị gió thổi tốc lên. Mùa gió bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 9 (Dương Lịch), mạnh nhất là vào khoảng tháng 7 tháng 8, khiến nhiệt độ nhiều khi lên đến trên 40 độ C. Cây cỏ đều khô cháy hết. Do đó, ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “Nắng tháng 8, nám trái bưởi”.  Sau khi gió Nam dứt thổi, mùa thu tới và sau đó là Mùa Gió Bấc, tức “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” như câu tiên đoán thời tiết trên đài Saigon trước kia).

Vì từ đèo Lao Bảo trở ra, dãy Trường Sơn thấp xuống, gió quặt về phía Việt Nam, nên ngay ở đây, gió thổi mạnh lắm, ngang qua đèo. Dân địa phương gọi địa điểm gió vượt qua núi là Khe Gió hay Cửa Gió. Gần địa điểm nầy, có động Ông Đô là căn cứ của Quân Đội Bắc Việt Nam trên đường di chuyển xuống miền Nam, trên đường Trường Sơn. Các đơn vị tác chiến ở vùng nầy thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, các tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 37 của Quân Đội miền Nam, từng tham chiến ở Làng Vei và trận Khe Sanh cùng với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 1968, không lạ gì với động Ông Đô.

Kế Lang Vei có hai bản làng của người Thượng (người Vân Kiều hay người Stiêng? Tôi không biết chắc). Hai bản đó tên là Bản Hoong và Bản Cóc. Đây là những làng du canh du cư, dân chúng rất nghèo.

Theo tôi nghĩ, câu ca dao tôi trích dẫn ở trên, nói là “Gió Nam non thổi lòn hang Cóc…” là không đúng. Nếu nói tới Cửa Gió, Khe Gió thì có lẽ câu ca dao nói tới tên hai bản làng dân tộc thiểu số ở vùng nầy, có nghĩa là “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc”, là gió từ Lào thổi qua bản Hoong và bản Cóc rồi từ đó thổi về Quảng Trị.

Tôi không tin có hang nào gọi là hang cóc. Hang cóc thì nhỏ, làm sao có gió thổi qua?

Người xưa không mặc đồ lót, nhứt là các “nụ cười sơn cước”. Vậy thì có cái gì giữ “cái ấy” cho gió Nam khỏi làm cho khô. Cây lá còn phải khô nữa là!

Nhưng trời ơi! Có cái xứ nào trên đời nầy nghèo đến nỗi làm cho khô cái ấy. Mà đó là  vì “Phận nghèo” (Phận em nghèo nên…” Nghèo ăn khoai ăn sắn, ăn độn ngô khoai, có đâu mà nghèo đến cái độ phải khô cái ấy như vầy như ở quê tôi hỡi trời???!!!

Nói phận nghèo là nói tại Trời. Không phải vì biếng nhác, ham chơi bời, cờ bạc, phá phách mà nghèo. Nghèo là tại Trời, “Trời làm cơn lụt mỗi năm” hay “trời làm gió thổi mỗi năm”. Thật vậy, dân Quảng Trị tôi không làm biếng, không ham chơi, không cờ bạc, chẳng qua vì Trời sinh tôi ra ở đấy, số phận tôi ở đấy, số phận đồng hương, đồng bào tôi ở đấy, khiến cô sơn nữ than phận nghèo nên “cái ấy” phải khô….

Để kết thúc, và để rõ hơn cái ý nghĩa tôi trình bày, xin nhắc lại câu ca dao một cách trọn vẹn và trung thực:

                        Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc,

                        Phận em nghèo nên mồng đóc em khô!”

hoànglonghải

(trích lại trong “Một lần về Thủ Đô,

Thăm các vị La Hán”)