Rắn

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Khi hắn tới, Lài bận tiếp khách. Hắn ngồi ngoài cửa ngó sang đám bụi mù. Họ đang phá nốt những gì còn lại. Trong xóm đồn đãi, tương lai đống gạch đá ấy sẽ hiện lên bề thế một cái khách sạn ba sao. Công nhân xây cất đang cố sức làm vượt chỉ tiêu, hoàn thành hợp đồng trước mùa mưa. Hắn mường tượng ra một hình khối đứng án ở ngã tư. Như vậy, sự tăm tối ở đây sẽ phải tối tăm thêm. Nắng không tài nào đi sâu, liếm bóng chiều tà trên những mái tôn xiêu đổ.
Khách đi ra. Lặng câm, vội vã. Đó là một cậu thanh niên. Nếu còn cắp sách đến trường thì án chừng cậu học tới lớp 10. Hắn nhìn cái lưng con ong trẻ nhỏ ấy vừa bay khỏi một đài hoa và phát hiện bức tường vôi nham nhở bên kia còn nuối tiếc một hàng chữ ám trên thân: … sống mãi trong sự nghiệp của chúng… Chữ ở hai đầu bị rơi rụng đi. Bức tường thu ngắn dần như một ổ mì có hai miệng ăn. Tiếng động không ngớt dồn đẩy qua. Một cái chết, hay một sự hồi sinh thảy đều ồn ào giống nhau. Phá vỡ cái cũ, dựng xây cái mới thảy đều đinh tai nhức óc.

Dì Chín rót cho hắn một ly nước đun sôi để nguội.

– Ngồi chơi. Tui đi chợ.

Người đàn bà có hai thứ tóc trên đầu đội nón đi ra khỏi nhà. Chân bà tuồng như dẫm trùng lên vị trí những sãi bước của thằng con trai hồi nãy. Hắn nghĩ tới sự diệu kỳ của đồng tiền, về cái cách phiêu dạt truân chuyên của nó. Thằng con trai trao tiền cho Lài, qua tay bà dì, tới tay hàng tôm hàng cá, và cứ thế nó luân lưu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Nó bất tử, ngoại trừ nhà nước buồn tình ra sắc lệnh: Đổi bạc!

Hắn dắt xe vào nhà, khép đóng cánh cửa gỗ. Bản lề kêu lên, tiếng đau thương.

– Đến lâu chưa?

Lâu rồi, và khô dầu. Hắn nói thầm. Khi mắt quen với bóng mờ hắn nhìn thấy Lài đang cầm ở tay một cái thau nhựa đỏ, nhỏ nhắn. Cô đã tạt nước đi, hiện tại một đôi giọt nhểu thầm lặng xuống nền nhà. Bộ đồ lụa nhăn nhàu, ăn với mái tóc rối bung. Lài có một vẻ đẹp khó cắt nghĩa. Một đoá sen nở trên mặt bùn? Không. Hắn chưa từng tĩnh tâm để nhận ra vẻ đẹp rạng ngời của sen. Hoa, hắn không bao giờ bị mê hoặc, bị mềm lòng trước bất kỳ một giống hoa nào. Cái mong manh của hoa không phải là nơi tiềm ẩn vẻ đẹp. Trước tiên, nó biểu hiện ở đấy niềm bất an.

– Thằng đó nó xưng hô với Lài cách sao?

– Em đừng ngại. Anh không phải là hạng người dập liễu vùi hoa. Hắn nói thế.

– Lài mà hoang sớm có thể đẻ con bằng thằng ấy.

– Ác khẩu. Bụng dạ lúc nào cũng chứa đầy dao!

– Nó còn con nít chay. Cái mặt ấy chắc chỉ biết bú.

– Thôi đi ông thánh, nó xịn không tưởng được. Điệu đàng. Và nó có khối tiền dắt sau đít.

Lài thả chiếc thau nhựa xuống đất, đưa chân gạt nó vào dưới gầm giường. Giường trải chiếu lát, hai gối có thêu chim. Mùng buông rủ một góc, thấy hai ba miếng vải vá khác màu, trông như một cổ bài thu cất chẳng vén khéo, còn vướng mắc con chuồn con rô. Lài kéo tấm màn che đậy giang sơn đó lại. Vải màn nội hoá in hình lem nhem, xô động và đẩy đưa một mùi ngai ngái. Chăn chiếu ẩm mốc không có được thứ mùi lạ thường đó.

– Hẹn mấy giờ?

Lài hỏi khi kẹp lại mớ tóc đen, quăn, nhiều, rậm.

– Hai giờ.

– Sao chẳng nghe động tĩnh gì vậy?

– Ai biết. Trong khi chờ đợi, để anh ngả cái lưng một tẹo.

– Thôi, nằm mà làm gì? Em mới lau chùi, chiếu chưa khô.

Hắn ngó Lài. Áo lụa mỏng. Ở ngực như tuồng có dính hai hột đậu phụng, ở phiá trong. Thứ đậu phụng còn nguyên lớp lụa hồng chưa bóc.

– Có gì nhậu không? Lạt miệng quá!

– Được tài đòi hỏi. Chờ chút, nhờ dì Chín đi mua rồi. Ông đó ra sao ?

– Ngó cũng đặng.

– Cái gì đặng?

– Lài tự khám phá lấy. Như thế thích hơn.

– Thích? Thằng Dần bảo: Ngó ông ta tự nhiên em đâm nhớ tới ba em. Anh biết tuổi ông ấy không?

– Sao biết được? Hôm kia nhậu thịt rắn ông ta nói: Ai đời mà mình xơi cả bổn mạng mình.

– Xỉn chưa mà ăn nói ra chiều khó hiểu?

– Ông ấy phát ngôn: Tui không tin dị đoan. Năm nay là năm tuổi của tui, biết đâu chừng lại lấy được vợ xinh.

– Tuổi Tỵ à? Có lý nào ổng hơn Lài những hai giáp?

– Thì đã sao? Chả chưa già đâu. Đỏ da thắm thịt. Coi bộ còn sung. Nhậu lai rai mà mất ngoẻn hai vé. Lài phải chứng kiến bộ mặt dửng dưng của khứa lão khi móc ví. Mê mẩn luôn!

– Dầu gì thì đi với bọn nhỏ cũng đã hơn. Thằng chả chắc đồng trang lứa với dì Chín?

– Bậy nà. Tóc còn đen mun. Da săng, người thơm như Đường tăng.

– Anh ăn được cái giải gì mà hôm nay trở chứng đi bốc người dưng.

– Chả ăn được gì. Chẳng qua muốn Lài sa chân vào cái hủ nếp béo bở ấy thôi. Dầu sao anh cũng đóng vai anh, quyền huynh thế phụ. Mấy khi mà có kẻ chìu lòn mình, thích quá đi chứ!

– Giao xe cho thằng Dần đi đón à? Thằng quỉ sứ. Hẹn hai giờ sao kỳ vậy?

– Lui dội qua một miếng nước cho toảnh ngoảnh. Thay đổi xiêm y và nếu cần thì chơi chút dầu thơm. Làm bộ tịch con nhà lành à nghen.

– Cái gì lành, cái gì rách? Phá đời người ta rồi còn lên giọng kiểu cọ này nọ. Con nhà lành thì đéo có xài dầu thơm.

– Ừ… Đéo xài…

Lài kéo màn. Sợi dây thép căng trong góc nhún nhảy. Chiếc quần lót màu xanh láng lườm phơi trên dây bị lôi xuống. Lài chỉ có hai quần, như vậy thì em đang mặc chiếc màu đen. Tất cả đều chẳng còn mới. Lài bảo: phiá trong ai thấy mà lo. Nếu lỡ thấy thì mắt sẽ mù loà khi đó. Bởi chúng ưa vội vã lột ra để thấy cái đáng thấy. Lài nói thật chí lý, vì vậy hắn định tâm mua cho Lài một chiếc mới, màu đỏ; đôi ba bận nhất trí như thế rồi lại đành lòng lãng xao. Tiền ấy làm một hớp rượu cay thì đáng đồng tiền bát gạo hơn. Vã lại Lài không thích màu đỏ. Đứa nào có máu Việt cộng thì nó đỏ cho tới cả cái quần lót. Em nói thế, xanh dờn ác cảm, váng vất chút miệt thị. Dì Chín đội nắng trở về, khi ở phiá sau Lài bắt đầu dội xuống những gáo nước. Hắn ngó hai ba bịch ny-lông, sau cùng lôi ra được một lon bia lạnh.

– Nghe nói nhà có khách Việt kiều?

– Dạ. Ông về tìm vợ và coi bộ mết Lài.

– Biết con Lài hồi nào hay vậy?

– Trong túi áo thằng Dần lúc nào cũng thủ sẵn cái hình Lài chụp ở bãi biển Vũng tàu. Hắn ngửa cổ đổ bia vô mồm. Thấp thoáng trong đầu hắn hình những cánh bướm đang bay. Đúng hơn, áo tắm hai mảnh nhỏ xíu bó căng cơ thể Lài sũng nước. Lài thật ăn ảnh. Bắt mắt. Em như nàng tiên cá từ biển sâu lên bờ thoát y. Buồn tình, thằng Dần có thể mang tấm hình ấy ra mà thủ dâm. Em khiêu gợi tới độ người ta dễ trút bỏ muộn phiền, tuôn trào ra những mộng mị thầm kín.

– Không phải đùa, người có số cả! Chọn lựa cho lắm cũng chẳng đi tới đâu. Không hiểu con Lài nó chê cậu ở điểm nào?

Hắn làm thinh, ngó dì Chín chất đồ lên bàn có thứ lớp.

– Cơm nước chiều nay biết tính sao đây?

– Khỏi nấu nướng. Lài không cho dì hay à? Đi kéo ghế nhà hàng, đó là bổn phận của ông Việt kiều.

– Ừ, tha cho tui một bữa. Nói Lài là tui sợ đám đông, tui chuồn sớm cho mấy người tiện làm việc, chiều tui ăn cơm bụi. Khỏi thắc mắc.

Nắng chưa dịu sắc lửa bên ngoài. Người đàn bà bước đi, chân dẫm lên bóng; và trong phút giây con đường nhỏ ngập bụi nuốt rất mau cái bộ dạng le te vung vẫy ấy. Tất cả mọi cánh cửa đều đóng kín, chòm xóm coi bộ chưa một ai hay biết công việc của Lài. Hãy cầu mong thế. Hãy đợi cái khách sạn ba sao kia thành hình rồi hẳn phát hiện cũng chưa muộn. Con đĩ Lài. Hắn thật chẳng muốn nghe chữ ấy. Có lần hắn nói gần xa với Lài chuyện làm ăn lương thiện và đón nhận ở Lài một nụ cười khinh miệt. Quê hương mình đau khổ lắm ai ơi! Lài nói. Vu vơ, trống không. Một dấu chấm lửng lơ. Buồn như hết đường binh với mười ba lá bài xập xám chướng. Đằng sau những căn hộ đóng kín cửa có tiếng ca cải lương rất ngọt của một thằng bé. Chuyện tình oan trái nhiều nước mắt đã được thằng bé nhuận sắc lại, ca cẩm nghe vui tai. Lài cũng biết xuống sáu câu, thê thảm; nhưng không theo một bài bản nào cả. Đại loại như khi nhà nước đổ nhựa nâng cao mặt đường lên, Lài chửi rủa những cơn mưa tự trời xanh đổ xuống. Không có chỗ rút, mưa đọng vũng trong nhà, bởi cái nền giờ này đã chịu thiệt thòi trũng thấp so với mặt đường. Lài biết tân cổ giao duyên khi mặc cả với cái bọn làm nghề nâng cấp nền nhà. Hệt như chuyện thần thoại Sơn tinh Thủy tinh, một mình Lài phải chiến đấu theo từng độ cao của con đường ưa chơi trội. Lụt lội không chỉ tới với nhà cửa, nó còn chảy vào người làm úng nước những tấm lòng. “Anh đã từng biểu em đừng đi tắm sông tắm hồ tắm ao tắm biển, để cho mấy con cá lia thia nó rỉa mấy sợi lông..a.. à.. mày”. Hắn hồi hộp theo dõi tiếng ca vút cao. Hú hồn, thằng nhỏ chấm câu bằng một chữ thật đắt địa. Câu vọng cổ như biết diù hắn lui sau bếp, nuốt nước miếng ngó Lài lau mình lau mẩy. Đôi lông mày Lài thoáng nhíu:

– Phá mồi chi sớm vậy cha?

Mặt hắn đỏ. Chắc Lài tưởng hắn đã tợp ba bốn lon bia? Tương xứng với mái tóc, những chỗ khác cũng phồn thịnh mọc rậm rạp. Riêng lông mày thì suy một đường cong, sắc lẻm. Nếu tắm sông, hẳn cá sẽ không rỉa vào lông mày làm gì. Moi tiền của thằng giàu chứ ai lại đè kẻ nghèo mà bóc lột.

– Vẫn chưa đến à?

– Chưa. Cha con nó giờ này dám ngồi rung đùi trong quán bia ôm.

– Kỳ cục. Buổi sơ ngộ đầu tiên mà chơi vậy mất linh!

Hắn ngó hai lúm đồng tiền duyên dáng trên mông Lài:

– Để giết thì giờ ta vầy cuộc vui.

– Nghèo mà ham!

– Lâu rồi. Lài không nhớ sao? Anh đã quên bén mùi em.

– Trửng giỡn gì giờ này. Thằng chả lò dò vác mặt tới lại nghĩ bọn mình anh em mà vô luân… Chơi dầu thơm không?

– Kệ, bôi một ít cho đời lên hương.

– Thông thường người ta xức ở chỗ nào. Cổ, cườm tay hay hai bên má?

– Thằng chả ưa nhậu thịt rắn thì em cứ đè chỗ ấy mà xức.

– Sao kỳ vậy?

– Rắn có mùi nồng y chang. Không tin em thử đi tắm sông tắm hồ, rắn đánh hơi nó chui đầu vào cho xem.

– Nói nghe ghê.

Lài mở hộp giấy rút lọ nước hoa ra ngắm nghía. Dung dịch màu vàng sóng sánh như bia, nhưng chất nước ấy đắt tiền hơn bia cả vạn lần. Đó là món quà mọn của người đàn ông hơn Lài những hai mươi bốn tuổi. Ông uống rượu ngũ xà, bảo đó là thuốc cường dương. Năm thứ rắn độc chảy vào người chưa đủ, ông nói chuyến này về tôi còn mang theo thuốc Viagra. Trời! Phải biết lượng sức mình chứ. Nhìn ảnh Lài mặc đồ tắm kiểu này thì biểu ai mà cầm lòng cho đậu! Ông tuyên bố một cách nghiêm trang, ít nhiều thành khẩn trong khai báo.

Mùi thơm lan tỏa, dật dờ cả căn bếp. Lài kéo quần lên rồi cất lại chai Romance vào hộp giấy có in chữ Ralph Lauren.

– Hôm nào vơi bớt đổ tí nước trà vào rồi mang ra chợ trời là xong. Xu-chiên xì-líp coi bộ cần thiết hơn.

Lài nói trong khi mặc áo. Hắn không nhớ rõ là Lài có bao nhiêu cái nịt vú. Với hắn, có lẽ xú-chiên cũng là thứ nằm trong danh mục những loại chẳng cần thiết. Rườm rà, nhiêu khê. Lấn át vẻ đẹp thân thể của một người nữ. Hắn đưa tay tính gài hộ Lài những hạt nút áo thì có tiếng xe gắn máy vừa thắng đứng. Cả hai nhìn nhau, sau cùng Lài giả bộ ho hen: Chung cuộc thì Tào Tháo đã tới.

Hắn đến bên lu nước múc một gáo, rửa mặt, vuốt cho tóc ướt. Hôm nay hắn cần minh mẫn để bàn tính chuyện trọng đại, hắn phải diễn vai khó, nửa vui mừng nửa đau thương khi bàn giao đứa em gái cật ruột duy nhất đến tay ông… khúc ruột ngoài ngàn dặm. Khi đi lên nhà trên hắn cũng đằng hắng mấy bận cho thông cổ:

– Ủa, vậy chớ ổng đâu?

– Xảy ra sự cố.

Thằng Dần loan tin. Tóc rối bụi đường, da ăn nắng, mặt mồ hôi mồ kê.

– Mẹ kiếp. Cái gì gọi là sự cố mày? Trở ngại kỹ thuật à?

– Ừa. Ổng bận họp công ty quỉ quái gì đó. Cho qua xin lỗi nghe cưng, nói Lài tối nay qua sẽ đền tội. Chả nói vậy đó. Đứng ngoài khách sạn chờ chả muốn chết luôn.

Lài ngó chăm vô mặt thằng Dần:

– Tin được mấy phần? Cái mặt mày sao tao nghi quá!

– Quỉ thần ơi! Hết chuyện giỡn chơi rồi sao, mánh mung gì ba cái vụ này.

Dần ngồi xuống ghế. Hắn tự động khui một lon bia:

– Nhưng mà như thế này, trong khi đợi trước khách sạn, tui có làm quen được một thằng Tây ba lô.

Lài đặt tia nhìn hướng về hắn và cô tới kéo ghế ngồi gần thằng Dần.

– Chuyện lạ! Mày có áp phe gì ngon nói tao nghe.

– Nửa vé. Chị tính sao?

Hắn đứng vòng tay dõi trông tình hình. Lài rót bia ra ly, uống từ tốn. Cô liếm môi, cái nốt ruồi nằm bên khóe trở nên đen bóng.

– Bổn cũ soạn lại hả mày?

– Uả, ảnh đẹp như vậy không khoe cũng uổng. Thu cất trong túi làm gì cho nó mốc meo.

– Ngại lắm mày…

– Chị ngại gì, thằng chả nói tiếng Việt xịn lắm à nghen. Chị đâu có tốn công hoa tay múa chân.

– Mày không nhớ tuồng cải lương Củ Chi kiên cường đánh thắng giặc Mỹ sao? Tao nhớ như in trong vở đó có câu: Cái vật ấy to dài thế nào gần xa ai nấy cũng đều hay…

– Thôi mà bà chị. Họ ca ngợi khẩu B-40 đó. Chớ đừng có méo mó nghề nghiệp mà chúng cười.

– Bà tổ mày… Tây ba lô thật à?

– Thật. Mắt xanh mũi lõ đàng hoàng.

– Lông lá đầy mình à?

– Lông lá cả ổ. Nơi ngực mọc từng nạm xum xuê. Y như râu bắp. Coi ngộ lắm.

Lài nuốt nước bọt.

– Đừng tả cảnh nữa mày… Nửa vé. Năm mươi đô, nghe cũng ham. Tao đang cần tiền để nâng cấp căn nhà, chí ít cũng ngăn được cái buồng, toang hoang trống trải như vầy không chừng có ngày mà mắc phong.

– Chị mà nhất trí thì tui làm tài công. Hắn nói chiều nào cũng ra ăn nơi nhà hàng nổi.

Lài có vẻ bồn chồn. Ngồi trong nhà mà bềnh bồng như đang tọa mông trên sông nước. Sau cùng Lài đứng lên:

– Uống hết bia rồi chở tao đi.

Thằng Dần nhìn lên hắn:

– Ở nhà ngơi một giấc điệp cho khoẻ khoắn. Ngó cái mặt anh kià, y như dân choác thứ thiệt đang chờ tới cử.

– Nó nói đúng đó. Ngủ đi, tối nay có sức mà nhậu thịt chó. Thịt chó hay thịt rắn mày? Trời, thực đơn của thằng cha già kia coi bộ khó nuốt.

Hắn không nói. Hắn ngồi xuống bàn và bắt đầu phá mồi thực sự. Ai nói tiền của đĩ bỏ ra ăn không ngon miệng? Sai lầm. Hương vị tôm khô củ kiệu vẫn tanh nồng. Men bia vẫn đắng như đã từng, chẳng suy suyển. Hừ, chân lý ấy ngàn năm cứ không đổi!

Lài chẳng thưa thốt gì với hắn khi bước ra ngoài. Leo lên yên xe dream, ôm eo thằng Dần và tiếng động cơ dòn dã vất lại, khuấy động lòng đường hẹp, đâm thốc vào người hắn, ghìm chặt hắn ở bàn ghế, không động đậy trong nhất thời.

Hắn lui chỗ Lài tắm, đứng đái. Gục mặt nhìn cái vòi nước vẽ rồng vẽ rắn uốn lượn. Hắn lên giường của Lài lật chiếu, moi bao gối, kéo những hộc tủ lục soạn. Không tìm ra được một tờ giấy bạc. Bắt ghế đứng thò tay vào ống xối thăm dò, trống không. Thọc năm ngón bóp bóp sờ soạn trong hủ gạo, chẳng có. Cũng lạ, nhà như cái lỗ mũi, chẳng biết Lài thu dấu ở ngóc ngách nào? Thất bại trong việc kiểm kê tài sản, buồn tình hắn đóng cửa bỏ đi. Chiếc xe đạp quay từng vòng chậm rãi trong khi hắn động não về một đích đến. Nửa giờ sau hắn dẫn xác vào một căn nhà có nhiều tấm bià cứng trám nơi vách tôn rỉ sét. Đứa con gái nằm trên giường tre ló mặt sau tờ báo mở rộng.

– Chà lâu ngày dữ. Cứ tưởng là có lê quên lựu có trăng quên đèn. Rồng tới nhà tôm có chuyện gì không?

Hắn mang xe vào kê sát bên giường, ngồi xuống xoa tay nơi hai đầu gối.

– Chuyện gì? Thì nhớ mùi tôm nên chủ đích là tới xơi tôm đây.

– Tiền trao cháo múc.

Đứa con gái nói. Vẫn nằm yên như đang đọc dở dang một trang báo.

– Cho anh ghi sổ, mai trả cộng với tiền lời.

– Không tin. Đưa thẻ chứng minh nhân dân cho em cất.

– Xong ngay.

Đứa con gái đón nhận miếng giấy bọc nhựa. Một ảnh trắng đen đóng khung cái sọ người hốc hác bên trong.

– Của anh hay móc từ túi thằng nào mà cái mặt lạ hoắc.

– Đừng đùa. Ảnh chụp lúc anh chưa mất trinh.

Hắn moi túi quần ra một viên thuốc. Ông già Việt kiều cho hắn hôm qua, bảo là thần dược đó cưng, Hoa Đà tái thế thấy cũng sáng mắt sáng lòng. Hắn nuốt khan, chẳng cần chiêu một ngụm nước. Lý ra Lài là người đón nhận sự thử nghiệm này. Thôi, phi vụ này xin em chịu khó trải thân làm vùng oanh kích tự do.

Hắn thong thả thoát y chờ chuyển biến rạo rực trong máu. Hắn lột quần đứa con gái ra. Cô ta cũng xài thứ quần lót như Lài. Người cô cũng có hương nồng y chang. Đàn bà con gái có nhiều điểm trùng hợp (ngoài ý muốn). Rập khuôn. Trăm hoa nở cùng một thứ. Đàn ông như hắn thì sao? Chuyện đó thì hắn chẳng thể giải thích. Chắc cũng đồng phục y trang? Có sao Lài mới đi thực tế nơi người thằng Tây ba lô. Mắt xanh mũi lõ, lông lá rậm rạp, to lớn dềnh dàng, đế quốc tư bản. Chừng ấy thứ đã là khoảng cách mênh mông rồi, nói chi tới chuyện ăn độn mãi cũng nhạt mồm, mấy khi mà được dùng bữa sơn hào hải vị! Tới luôn bác tài. Phải không Lài?

Hắn dùng hai tay nâng đôi chân đứa con gái lên. Tờ báo thủy chung vẫn ở vị trí cũ. Đó là giai phẩm Xuân in bìa bốn màu lộng lẫy. Cái anh hoạ sĩ nhân dân nào chắc là có con tim bồ tát, vẽ rắn hổ mang mà từ đầu cho chí mình mẩy đều hiền từ trông như một khúc dồi nằm cuộn mình trên bàn nhậu. Hắn giật tờ báo ném xuống gối, hắn muốn nhìn mặt đứa con gái hơn. Hắn ưa theo dõi từng biểu lộ sẽ hiện lên trên dung nhan kẻ nằm dưới. Mồ hôi bắt đầu tuôn chảy trên sống lưng hắn trong khi đứa con gái tỉnh queo nằm hát vu vơ. Trong trang ruột tờ báo bị lật ngửa, hắn đọc thấy hàng chữ : Năm mới thắng lợi mới. Dưới góc là những tin tức coi bộ khó gặt hái thắng lợi: Xì ke ma túy lộng hành, trộm cắp đĩ điếm như rươi, nghèo nàn lạc hậu đứng gần chót ở bảng thống kê toàn cầu. Bán máu, đua xe gắn máy trở ngại lưu thông, bệnh Sida lan tràn đến mức báo động đỏ…

Hắn thở hổn hển với trái tim co thắt. Chiều nhuộm đen rất mau khung cửa nhỏ mở tầm nhìn tới một bãi rác vắng. Thoang thoảng ở mũi hắn mùi hôi nách của chủ hộ. Hay gió lùa hương chua từ bãi rác xô dạt về? Hắn gục xuống trên bụng trần đứa con gái. Cái lỗ rốn ấy thật sâu, thật đen. Như mộ huyệt. Tiếng đứa con gái cất cao: Đừng đùa dai cha nội. Bộ muốn chết hả? Năm mới năm me chơi vậy là triệt đời tui. Nè, lai tỉnh đi chớ. Ba hồn bảy viá đâu về…

Hồ Đình Nghiêm

Quỉ đạo

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Năm ngoái lên vùng cao, năm nay đổ xuôi về miệt biển. Năm ngoái trú ngụ vùng kinh tế mới vừa khai hoang, đêm nghe vọng tiếng hú lạ thường từ núi rừng ngân nga giữa hun hút bóng tối trùng điệp. Năm nay gửi thân vào làng chài nằm dọc theo một eo biển lặng gió. Chuyến đi thực tế thường kéo dài nguyên tháng, trước kỳ nghỉ hè. Ba mươi ngày tạm biệt phố, đời sống thu hẹp lại với sự chịu đựng những nỗi nhớ, nhớ đèn đường nhớ quán cà phê nhớ con sông đổi màu khi trôi ngang cầu. Nhớ và nhớ. Vụn vặt, lăn tăn. Đi vào đầu những thứ chẳng đáng cất giữ. Bụi bặm của kinh kỳ.

Nhớ chuyến tàu rời sân ga một sáng mưa bụi. Đường sắt song song loáng ướt dẫn vào một quang cảnh tù mù. Tàu chạy, đâm vào những hư ảo. Tiếng còi tàu cũng đâm vào lòng nghe buốt ngọt. Hành trang chẳng nhiều nhặng, một ba lô mua ở chợ trời nhét ba bộ áo quần còn lỏng lẻo, cọ màu nằm chung với gói bột cà phê và nhúm đường cát. Ba lô thì máng sau lưng, tay thì xách một cặp vẽ có bọc bao ny-lông bảo quản chứa những vuông giấy trinh nguyên. Những đứa học trò học bè kỳ dị chậm lụt tìm chỗ giữa bao đồ đoàn của con buôn giàu kinh nghiệm trên chuyến tàu chợ. Họ biết ngang đâu thì sẽ đứng lên để nhận những bao tải từ dưới đất ném vào không sai trật. Họ biết ở khúc quành nào thì sẽ dụt quang gánh xuống. Điểm dừng của họ sẽ bình an, lành lặn tuyến đường băng qua mà không bị bọn thuế vụ gây nhiễu nhương tai hoạ. Nhờ vậy mà họ còn sống thở và con cái họ luôn tô đậm chữ tảo tần, chữ công ơn sinh thành dưỡng dục. Con cái họ sẽ chảy nước mắt khi ngó lên bởi vì họ đã chảy quá nhiều mồ hôi khi cúi xuống.

Nhân nói, chị tao cực lòng lấy một thằng an ninh đường sắt nhằm thong dong những chuyến đi. Người tình mà chị bội bạc đưa ra câu hỏi, vậy thì suốt cả cuộc đời em đều trôi nổi trên những toa tàu? Em mưu sinh hay em mưu cầu hạnh phúc? Tôi nói, tuần trước tao có gặp chị ấy trong chợ trời và dường như chị chẳng muốn ngó thấy tao.

Tôi buông cái ba lô xuống khi tìm được một chỗ ngồi. Ba lô quân đội Hoa kỳ đã cũ xơ, nguyên thuỷ có in sơn đen mẫu tự US ARMY mà trước ngày dùng nó để lên đường tôi đã cạo sửa, bôi che ARMY và điền thêm ở đằng trước ba chữ A TIME FOR. Lần tậu nó vô tình tôi đứng sát người chị của Nhân. Chị đã có lần ngồi yên cho tôi vẽ chân dung và chị đã cho tôi cái khăn mù-soa có thêu tên chị bên góc. Người ta thường dị đoan kiêng cử chuyện trao khăn tay cho nhau, nhưng chị ấy và tôi thì không. Vuông khăn trắng, chất vải mềm mại, thơm tho.Tôi đùa, hãy mang giữ như bùa thiêng rồi dùng nó để lau nước mắt hôm nào chị sang sông. Chị vày vò trái tai tôi, dịu dàng, đớn đau: Không, chị không lấy chồng đâu. Chuyện xưa nhưng không cũ tới độ phải vùi quên. Hôm ấy tôi tính chào nhưng chị ấy giả lơ giả điếc. Hình như khi đã lấy chồng người ta cần thay đổi một số tư duy, đoạn tuyệt tháng ngày quá khứ? A time for us.

Lớp học chúng tôi lần lượt xuống khi tàu dừng ở một nhà ga lộng gió. Mưa đã bị giữ lại bên kia đèo nhưng địa phận này vẫn xám mây. Gió mang theo chút hơi muối mặn và trong tiếng gió lùa ngang hàng cây thưa lá nghe lao xao như thể lời thì thầm của sóng biển sớm vọng một lời chào. Đồng bọn chúng tôi gồm mười ba đứa. Mười trai ba gái. Và nếu học ngoan vẽ đẹp chúng sẽ trở thành những cán bộ thông tin văn hoá đi bất cứ đâu để phục vụ nhân dân. Vẽ làm gì? Vẽ cho ai? Khẩu quyết ấy chúng tôi đã nghe rao giảng đến độ nằm mộng cũng văng vẳng một duột chẳng sờn lòng. Giảng viên chính trị họ bảo: Đào tạo một thằng hoạ sĩ kinh phí tốn kém gấp đôi nếu so với việc xuất xưởng một thằng bác sĩ. Phải nắm lấy điều cơ bản ấy mà phục vụ cho tốt, nhớ? Trong ba mặt trận, mặt trận văn hoá tư tưởng là then chốt. Eo ôi, mùa ra trận mùa này xấu lắm!

Tranh thủ đi đái đi ẻ, cảo dược phì phà đốt khói thuốc rồi chúng ta đợi phà đi sang bên kia đầm. Thằng trưởng lớp loan báo. Mười đực rựa đứng yên tìm hơi ấm nơi đốm lửa đầu môi, riêng ba giống cái thì nháo nhào đi tìm chỗ kín giải quyết bầu tâm sự. Những thị đã điểm tâm gì để bụng dưới tức căng sinh chóng mắc tiểu thế? Nếu đường xa vạn dặm mãi lắc lư con tàu đi, họ giải quyết vấn nạn đó bằng cách nào? Chị của Nhân nói, trong mọi trường hợp thì đàn bà con gái họ giỏi chịu đựng hơn bọn đàn ông con trai, tin không? Tôi tin, tôi từng tin tôi đã tin. Mẹ tôi là một tấm gương. Tao đâu có ba đầu sáu tay gì cho cam. Bà hay than kiểu đó và lời than kia minh chứng rõ một sự cam chịu quá mức tưởng tượng. Mẹ tôi đã mất và tôi đã bơ vơ lạc loài với những đớn đau không ai chia sẻ. Là cuốn tự điển dãi dầu một sớm một chiều bị trái ngang mang đi hoả thiêu.

Đầm đục màu nước lợ, có nghĩa là nửa mặn nửa ngọt do sông giao duyên cùng biển mà tạo nên. Nghe nói tôm cua sò cá trú thân dưới dòng nước pha tạp này thịt thà thảy đều hàng độc ở cái khoản ngon nhức răng, ngọt lừ, không tanh. Mọi loài đều đặc sắc, thịt “hiền”. Có loài cá quen tung tăng biển rộng, khi ăn thịt nó có kẻ ngứa ngáy trúng độc; mà khi chúng lưu lạc vào vùng nước lợ thì biến đổi thân phận, ăn chúng vào chỉ có nước ngậm mà nghe. Nước lợ, nước hai, không chừng là am miếu lớn cho thuỷ sinh vật trú thân an tâm dưỡng tánh. Mới hôm qua anh ác đến dường ấy, ăn vào mữa mật mà hôm nay anh co mình nằm trên bếp riu riu, gắp thịt anh cho vào mồm và miếng cơm, ui chào thiệt ấm bụng cách chi! Cơm với cá như mạ với con chứ chưa nghe ai than van cơm với cá như con với mụ dì ghẻ!

Mỗi đầm phá có riêng cho nó một đặc sản, vùng thì nổi tiếng sò huyết, vùng vang danh cá mú, vùng danh trấn giang hồ cua xanh mực ống hằng hà sa số. Nhưng đầm cau có dưới mạn ghe thuyền đang trôi này nổi tiếng những vụ gieo mình tự tử. Khi người ta tìm tới cái dấu chấm đen tối ấy, đường sống người ta bị dồn vào nơi không lối thoát. Chúng tôi băng qua trên những lượng sóng. Bề mặt của nó thuỷ chung chẳng bao giờ thay đổi, quen thuộc tới độ nhàm nhán bởi sự đơn điệu nó mang. Đi hang cùng ngỏ hẹp thay đổi địa hình ra ta bà thế giới, sóng nước vẫn ngần ấy một dung mạo nhấp nhô. Cái khiến người ta bợn lòng đến thắt ruột là dưới bề mặt kia, trường lưu thuỷ ấy đang chôn dấu niềm bí mật nào?

Đi thực tế có nghĩa là anh va chạm, hoà lẫn vào cuộc sống của dân dã nơi anh nhắm tới với tư trang anh mang: Ba cùng. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Anh sẽ ghi lại, phát hoạ ra giấy đời sống, tư thế họ lao động để khi đưa vào tranh, điều cần thiết là cái thành quả mà anh vừa thâm nhập phải biểu lộ rõ, đề cao sự vinh quang do lao động mang lại. Và như thế cũng có nghĩa là anh, không khác gì hơn một đứa buộc phải bóp mép sự thật. Anh sáng tạo ra những điều khác hẳn với thực tại đớn hèn mà quần chúng đang nai lưng hứng chịu. Người ta không chấp nhận một bức tranh vẽ nên một cảnh sắc quá đỗi ám tối. Cái đấy là của bọn tư bản dẫy chết, phông màn cảnh quang của chúng ta phải tươi hồng, phải mạnh khoẻ phải rạng rỡ nụ cười tin tưởng vào tương lai sáng lạng dưới màu cờ đỏ thắm ngồn ngộn sức sống. Anh đừng gạn đục khơi trong vướng mắc ý nghĩ quàng xiên do đâu mà cái đầm mênh mang sông nước kia đã có lắm kẻ gieo mình tìm vào một lối thoát bất khả lựa chọn.

Mỗi gia đình thu nhận hai “trò” cho vào ở chung. Nhân và tôi ký gửi trong căn nhà ngói sồi trụt mái rêu phong mà gia chủ là người đàn ông thấp bé đứng ngác ngơ tranh tối tranh sáng như đối mặt với một bản cáo trạng vừa được tuyên xử lấp liếm trước toà án nhân dân. Không bàng hoàng, không buồn bã như gió cát quanh năm ở đây đã đắp lên mặt ông sự dửng dưng tựa vô cảm. Tiếng nói địa phương âm vực rất nặng, khó nghe nhưng điều ấy chẳng làm phiền ai. Tôi cám ơn ông đã chỉ chỗ ngủ tươm tất cho hai đứa. Thường thì đây là nơi tui phơi khô sắn khoai nhưng độ rày mất mùa nên bỏ trống. Muỗi chốn ni to hơn con ruồi đồng, nếu treo mùng thì sẵn cây đinh ở đây, đầu kia thì cột dây vô song cửa.

Cửa nhìn ra một vườn thưa cây, cát trắng ở đó có thể làm người ta hoa mắt trông xanh chanh chua ra cam vàng lớn ngọt. Hai cây cau cao vút với thân khẳng khiu không tạo ra bóng im và một cái giếng có người đàn bà đang ngồi vo áo quần trong cái thau nhựa chứa nước bẩn đục. Con vợ tui. Người đàn ông cho biết. Thằng con trai tui thì theo ghe đi đánh cá chiều mới về. Lạ quá, thời buổi chi mà cá tuồng cũng biết bỏ trốn. Đi cả ngày cuối buổi hắn đem về mô khoảng vài con lớn chỉ bằng ngón chân cái. Lãnh đạo họ nói rừng vàng biển bạc mà tui đời mô tin. Thằng con tui nói bao nhiêu cá lớn thì người quyền thế họ thu mua hoặc dâng lên cho lãnh đạo. Mình không có đầu óc, họ có trí não họ cần bồi dưỡng hơn mình để họ tận tuỵ lao động tìm ra phương án dụ khị cá tôm quay đầu vào vùng biển của mình.

Chữ được chữ mất nói vấp váp như bị ma đuổi nhưng tôi nghe hiểu thông suốt. Nhất là câu cuối: Buồn miệng thì nói năng lung tung rứa thôi, mấy anh đừng đi báo cáo phản ánh cho một ai hay. Con vợ tui cứ đe tui hoài mà chứng nào tật nấy. Nói bỏ lỗi chớ tui điếc mà cũng sợ súng, cái mới khổ! Ông chấm câu bằng một nụ cười, nụ cười của kẻ suốt đời đi tìm bới một niềm vui đã tuyệt mệnh, thôi hiện hữu. Nhân nói tụi mình được lọt vào đây là đúng ổ, giả thử vô đúng một căn hộ tiên tiến thì khó mà làm vịt nghe sấm được, điên đầu chứ không giỡn.

Bữa đầu mới tới lạ nước lạ cái nên cho anh em ngồi định thần, thăm thú vườn tược giao lưu cảm tình và đóng vai người thành phố văn minh biết tôn trọng đời sống riêng tư cũng như của cải bà con đã rộng lòng cho ăn nhờ ở đậu. Tôi ra giếng chào bà chủ nhà. Mấy anh là người ra răng? Bà hỏi mà không ngước mặt lên. Chỉ có hai ba cái áo vải mà dường như bà chăm chú giặt rõ lâu. Tôi thưa với bà tụi con chỉ là học trò thôi, bây giờ khác xưa, họ bắt học trò phải đi về nông thôn, đi lên vùng cao hoặc ra tới miệt biển để mở mắt để khôn vặt để làm phiền lòng những người hảo tâm khi không bị quấy rối cảnh sống. Tụi con sẽ đi ra ngoài suốt ngày, chiều mới về ăn qua loa rồi lịm người ở góc kẹt nào đó mà ngủ. Có nghĩa là tụi con cố không làm cho hai bác phải bận lòng. Nếu có việc gì nặng nhọc xin hai bác cứ sai bảo để tụi con có dịp trả ơn.

Người đàn bà chẳng nói gì, bà tạt thau nước ra sân cát. Bà vắt ráo ba chiếc áo rồi mang phơi chúng trên một sợi dây căng ngang giữa hai thân cây cau. Chiếc áo màu tím, chiếc màu xanh lá non và cuối cùng là màu “vô sắc”. Tất cả đã cũ, đã giã từ màu nguyên thuỷ, hiện tại thì chúng bị ngấm nước làm đậm chất phôi pha. Tôi dùng chữ vô sắc theo nghĩa là màu đó chưa có một tên gọi chính xác và những thứ màu có trên áo đó chưa khi nào tôi sử dụng để bệt vào tranh. Nó sống sượng quá, nó không thuộc vào màu lạnh cũng như nó cách ly với màu nóng. Nó sẽ nằm trên những tấm tranh mà dân học Mỹ thuật gọi là tranh bờ hồ do bọn ngoại đạo siêng thao tác để kiếm cơm. Xã hội này luôn nghi ngờ những thứ toàn bích, những hoàn hảo và những bức tranh đẹp, ngây thơ hồn nhiên các thứ sẽ chịu chung số phận úp mặt vào vách nghe mốc thếch xâm thực sau tấm bố bị thời gian mù loà khuynh đảo xếp xó. Tôi ngó ba chiếc áo khi không làm cho sợi dây căng bị chùng xuống. Nước rỉ rả ứa ra từ chất vải để nhỏ giọt xuống, chậm rãi, trong vắt tựa những hạt lệ thầm lặng rơi. Và mất khoảng một hai phút sau khi nhìn ngó tôi mới phát hiện ba chiếc áo kia thật nhỏ nhắn, hoàn toàn không vừa kích của người vừa giặt, rũ phơi. Rồi màu sắc chưa chín nó mang ngầm thông báo chủ nhân phải là một người trẻ tuổi. Một thiếu nữ vừa qua tuổi dậy thì chẳng hạn. Một bà già mòn chân qua sạn đạo sẽ không đời nào sở hữu những vật mang thứ màu mè tươi mươi nông nổi kia.

Nhân và tôi thường tách đám bạn học khi túa ra biển tìm kiếm một bố cục, một khung cảnh để ký hoạ. Chiếc thuyền nhỏ lật úp trên bãi, những sào tre dùng để căng trải tấm lưới, những hoa màu thích hợp với cát đang độ ra quả, sai trái bên luống nương, từng mái tranh xiêu vẹo chẳng đồng dạng giam giữ nhiều bóng tối thường là nơi bị anh em vây bủa chụp bắt hí hoáy vẽ. Chúng tôi ngồi trên một hòn đá cao nghe sóng hát miên man để định thần một dong duỗi. Hai đứa giao hẹn sẽ đi hai lối riêng sau đồi cát kia rồi gặp gỡ đằng cái vòm tối trông như một hang động có nhiều bọt sóng. Nhân rẽ trái nhắm hướng tây, tôi hướng mặt trời mọc ngó bóng mình lầm lũi biến tướng ăn đen vào cát vàng thoạt ẩm thoạt khô. Tôi không mấy thích biển, cảm giác luôn bị choáng ngộp khi đứng đối mặt. Sự trống trải nó chiếm ngự khiến tôi luôn hoang mang. Nó bắt trí óc mình phải liên tưởng về một cội nguồn của thời tiền sử, và rồi thì bỏ băng rất nhanh, vụt cái, thoáng chốc nghĩ tới ngày tận thế. Chẳng có âm thanh nào được can dự, không tạp nhạp, chỉ thuần là sóng gào ngoài xa và bên tai tiếp cận với gió ve vãn tiếng vi vu. Chân đi mất quân bình trên cát sồi sụt, không nhìn ra sinh vật, giao thoa giữa bầu trời và mặt biển là sợi chỉ đậm màu căng ngang, xanh thứ sắc màu vừa là biểu tượng của tự do vừa là vô ngôn một răn đe của thần chết.

Tôi lạc hồn đi nửa ngày chưa nhìn ra một cái gì bắt mắt. Tôi lên dốc thoi thỏi để buông thân xuống cát mịn, nửa nằm nửa ngồi bên cụm cây ngoi đầu giữa nơi chẳng được lựa chọn. Chăm sóc nó là gió cát là hơi nước của trùng dương và nó ra được hoa, những chùm màu trắng nhỏ nhít đến tội nghiệp. Tóc tôi rối trong gió nhưng nụ hoa vẫn an nhiên chẳng hề rung động. Nó hiện diện như nói với tôi những gì buồn bã nhất khi ta sống thở với lẻ loi, với một mình một bóng. Bất chợt tôi nhìn thấy một vết nhơ sẫm màu phơi trên cát trắng, nó tựa một cái dằm khó chịu đâm vào nhãn tuyến. Tôi nheo mắt, dùng cặp vẽ để đội lên đầu che bớt nắng nôi oà vỡ. Hình như là một đám rong bề thế bị lạc trôi tự lòng biển hay một con cá lạ lùng lên bờ để hoàn xác thành một mỹ nhân? Một sự thôi thúc vô hình lôi đầu tôi dậy, trao hiếu kỳ vào đôi chân để bắt tôi đổ người chạy xuống bãi. Càng thu ngắn khoảng cách cái vật ngắc ngoải do sóng liếm kia càng rõ dần hình tướng. Rõ cho tới khi phải đứng khựng lại, tim đập sai nhịp. Một thây người. Một chiếc áo bị bức hết khuy nút, một đôi vú chực bung ra, một mái tóc dài chôn rối đất cát. Một cái xác có nơi trương phình bắt đầu phân huỷ. Khuôn mặt cứng như được làm bằng chất sáp, hai mắt đục lờ tròng đứng yên ngó tôi bất động. Nó thu cất được gì vào đồng tử trước khi chết mà không chju đóng lại võng mô? Tôi rất muốn kề cận để dùng tay vuốt mắt người xấu số nhưng nỗi sợ hãi đã làm tôi cóng tay. Cuối cùng tôi quyết định dùng chiếc khăn tay của người chị Nhân trao gửi luôn xếp vuông vắn trong túi áo, lấy ra, giũ rộng rồi thu can đảm tôi lại gần phủ đắp lên mặt cô gái bạc phước.

Tôi không vẽ được gì. Chuyến đi thực tế kết thúc. Thành phố trông già nua sau một tháng đoạn lìa tưởng nhớ. Phượng đỏ nở rộ làm bầu trời thêm nung lửa, chật chội. Tôi bị đánh rớt kỳ thi cuối năm, bài làm bị phê bình và ai đó không ngớt xỉ vả tôi. Bức tranh tôi dùng toàn màu xám chủ đạo, ửng hiện chút xanh của màu trời chút trắng của bọt sóng, của chiếc khăn tay. Ba nhân vật được thu tóm: Ông bà gia chủ ở tư thế đứng và cái xác cô gái nằm trên giường tre. Tôi không muốn dài lời giải thích về “tác phẩm” ấy. Tôi đã vẽ nên nó do một thôi thúc tự mình cũng không cưỡng lại được. Ông bà cho Nhân và tôi tá túc thực sự thì họ có hai người con. Một trai một gái. Trai mưu sinh đánh cá, sớm tối kề cận chăm nom cha mẹ. Gái gửi theo ghe người bà con quyết định vượt biển đổi đời. Người cha không khóc than như bà mẹ luôn sùi sụt nước mắt nước mũi. Ông bấu víu vào vai tôi, cám ơn cậu đã phát hiện ra cháu, cám ơn cậu đã đắp mặt cho cháu. Chúng tôi là dân chài nên chúng tôi biết đã có một vài loài cá, khi sắp chết chúng dùng tàn lực để bơi về nơi chốn chúng tự giao ước để chôn thây, một thứ nghĩa địa. Trường hợp con gái bất hạnh của chúng tôi cũng thuộc dạng tương tự, nó muốn về thăm lại cố hương nhìn mặt anh nó, cha mẹ nó. Tui nói điều không phải thì xin cậu bỏ ngoài tai, đó là con gái tui chắc sẽ linh thiêng, cậu có nguyện ước gì xin bình tâm thắp cho em nó một cây nhang cúi đầu mà khấn vái.

Khi làm lễ động quan, ba chiếc áo bị bỏ quên vẫn còn phơi ngoài sân đồng loạt run lên. Chất vải bị già nắng khô quắt tựa mo cau xao động kiểu hứng gió lớn. Tôi bước ra, trời hầm hập lá cây im sững tịnh không chút heo may. Tôi nói thầm: Thôi em đi. Anh cũng yên lặng trở về thành phố. Anh sẽ vẽ cho em tấm chân dung để gia đình thờ phượng. Anh thực chẳng có nguyện ước gì cả cũng như anh chưa từng xin xỏ ai một điều, dẫu nhỏ bé.

Tôi rời trường, không đủ tư cách để làm một hoạ sĩ. Tôi đi buôn. Tôi leo lên tàu Thống Nhất xuôi Nam và định mệnh xúi tôi ngồi gần người chị Nhân. Nhan sắc người ta dễ phôi phai sau khi lấy chồng hay tại vì đang cấn thai, xuống sắc? Chúc mừng chị. Lớn thế này thì chắc đã đi siêu âm để biết trai hay gái? Chi kéo tay tôi, lôi tôi sát sao vào lòng, hơi thở nóng: Suỵt! Chớ manh động. Đẻ đái gì, thai thiết gì. Toàn cả thuốc tây không đó, thương nhau thì cởi áo cho nhau, mang hộ chị một nửa lô này nhé, êm xuôi tới bến chị sẽ hậu tạ. Đã có bồ chưa? Nhân nó bảo em bỏ học đi giang hồ à? Có thế chứ. Giờ thì chúng ta luôn nhìn thấy nhau. Một đôi khi chị nhớ em vô hạn, có tin không?

Tôi nhìn sâu vào mặt chị. Với biệt nhãn của đứa mộng làm hoạ sĩ tôi nhìn ra, không trùng lẫn, dung mạo này với cô gái chết trôi tuy hai mà một. Hèn gì bức chân dung tôi vẽ bằng màu nước đặt trên bàn thờ cô gái ai cũng tấm tắc: Cậu chỉ ngó em khi em đã là cái xác mà đã lột tả được thần sắc rạng ngời em mang khi còn trên trần đời.

Tôi không phải là hoạ sĩ. Tôi chỉ là một con buôn mà thuật ngữ lúc ấy gọi là bọn mánh mung. Mọi định nghĩa, sự quy chụp, xét cho cùng đều mang tính khiên cưỡng. Tôi cũng không rõ tôi là ai? Một con cá sông hồ bơi không ra khỏi cái đập chắn kiên cố mà người ta dùng ngăn chận với bên kia là trùng dương biển gào mặn muối. Cá không ăn muối cá ương. Tôi suốt đời không dám cãi lại mẹ cha vậy mà muôn đời tôi vẫn hư thân.

Hồ Đình Nghiêm

Phước sương

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 5 May 2022

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Trụ xi-măng chôn bên quốc lộ bị đứt lìa nửa thân, rụng mất con số đánh dấu còn bao nhiêu ki-lô-mét thì tới thành phố. Tài xế cũng như lơ xe đò biết mồm một mỗi địa danh trên từng cây số và họ sẽ thắng xe lại nếu có hành khách dặn, làm ơn cho tui xuống ở ngã ba Chuồn.

Có con đường chưa trải nhựa đâm thẳng góc với quốc lộ. Xóm Chuồn nằm cuối đường, sâu nữa đã là núi chắn với ruộng nước hiếm thấy bóng người còng lưng khai khẩn thu hoạch hoa màu. Con đường nhiều bụi đỏ khi trời nắng ráo, hôm nay thì trơn trợt lắm bùn vì đang mùa giông bão, phủ trùm tự bắc chí nam thứ sắc màu ủ dột, nặng nề. Lầy lội, ướt át, lạnh lẽo. Áo mưa sùm sụp, bộ hành đồng dạng, ai cũng tựa ai. Co ro, run rẩy, đi vật vạ quàng xiên.

Một quán bán thức ăn mọc trơ trọi giữa hương lộ. Vách lá mái lá và xiêu vẹo giữa gió mưa. Một sự tạm bợ không thể làm khác hơn, tuy vậy nó là nơi dừng chân cho đám con buôn đi đường dài tạt vào nghỉ lấy sức. Ăn dằn bụng thứ gì đó hợp túi tiền, lui sau tìm chỗ khuất lấp để xổ bớt cái óc ách mãi dằn xóc trong bụng căng nước tiểu, rửa sơ cái mặt cho lại thần hồn và rồi buồn miệng nói với chủ quán biết bao nhiêu chuyện ruồi bu. Vô tình, vai trò dì Chuồn, danh xưng của bà chủ quán, gần giống một cấp lãnh đạo về thông tin văn hoá. Ngồi thu lu một chỗ mà tường tận mọi lẽ đương vận chuyển bên ngoài luỹ tre làng. Ai giết ai, ai cướp ai, ai hối lộ, ai biển thủ, ai tạt a-xít, ai nhập viện, ai táng gia bại sản, ai lừa đảo, ai nhập kho… dì Chuồn thảy đều nắm vững thứ tin tức từ thành đến tỉnh. Dì Chuồn sẽ trở thành kẻ lạc hậu nếu mưa gió tiêu điều xe đò chạy suốt chẳng chịu thả khách dừng chân trong quán. Tắt nghẽn nguồn thông tin, bó gối ngồi ngáp ruồi chờ ngày mai trời lại sáng.

Trời chưa sáng, chập choạng dù ban trưa thì có đứa dẫn xác tới. Bà chủ quán la lên:

– Chứ lâu ni mi trốn biệt đi mô?

– Gì mà phải trốn? Tui ở trên chùa, không biết hả?

– Ủa, chớ làm chi trên nớ?

– Buồn đời đi tu, ai cấm cản?

– Đạt đạo chưa đó? Đi khất thực hay răng mà khi không vác mặt về thăm chòm xóm cũ? Xa lánh bụi trần lâu quá mà, ngó một hồi tao mới nhận ra.

– Mần ăn buôn bán khấm khá không? Dì thì với tui muôn đời vẫn không đổi.

– Mi hoàn tục rồi a, chứ áo xống nhà tu để mô mà không tròng vô thân.

– Chiếc áo không làm nên thầy tu, dì chẳng hay sao? Múc cho tui tô bún.

– Tao không bán thức ăn chay, chỉ chuyên trị bún bò giò heo, e chẳng hợp khẩu vị mi.

– Tui đâu phải đứa dốt mặt chữ, tấm bảng to đùng còn ghi giá là ba chục ngàn. Đừng khinh rẻ là tui không có tiền. Đây, năm chục ngàn, trả luôn cả tiền cà phê thuốc lá. Được chưa?

– Ui chao, thằng ni ngon cơm hè. Có mi mở hàng thì trên cả tuyệt vời. Rứa pháp danh mi là chi? Kêu là chú tiểu e không đặng mô hỉ?

– Cha mạ đặt tên Trung thì cứ rứa mà kêu, thắc mắc chi cho rắc rối cuộc đời!

– Không ưa chú tiểu thì tao gọi chú trung, mà ngã mặn xong xuôi thì lên chức chú đại, có khó chi hè!

– Răng chưa múc bún ra tô?

– Thì phải đợi củi lửa réo sôi đã chớ. Để tao pha cà phê trước. Thủng thẳng, đi mô mà vội.

– Nhà tui vẫn bình an?

– Mấy năm rồi? Răng mi bạc tình thức nớ. Ba mạ mi cùng chị em mi khăn gói xuôi Nam đã lâu hung, còn có ai nơi mà thăm hỏi!

– Xảy ra sự cố chi?

– Nhà đất bán được giá thì họ tống khứ làm cuộc đổi đời. Họ chẳng đến chùa thông báo uỷ lạo cho mi chút tiền lận lưng hay răng?

– Chùa nằm địa phương khác, xa khuất, lắc léo khó tìm. Và chuyện tôi cạo đầu không chắc họ đã nghe tin.

– Bún đây, quen biết nên tao bỏ nhiều thịt cho mi. Đây là chén nước mắm ớt nếu thấy lạt miệng. Mô Phật, tao có bị mang tiếng ác đức bất nhân không mi? Ngay cả bếp núc củi lửa cũng vô hậu, phải ngó thấy đồng tiền mới chịu phừng phực cháy to.

Dì Chuồn ngó xấp tiền vừa bó cột lại bằng sợi giây thun. Tay thằng Trung run khi nhét cất lại vào ruột tượng. Hắn gầm đầu xuống khi nói:

– Mang tiếng thì có chi mà sợ. Người ta ở ác cả đời mà họ cứ tỉnh bơ, vô tư gây tội. Ui chao, bún ngon dễ sợ mà sao quán vắng tựa chùa bà Đanh!

– Nghe nói cầu đường hư hỏng ngập nước vì thuỷ điện chi đó. Quốc lộ gián đoạn, xe cộ nằm ì, ông đi qua bà đi lại là hồi mô thiên tai mưa bão chịu rút lui kia. Trời xấu thế này dễ làm cuồng chân, ăn xong mi tính đi mô?

– Nạp năng lượng cho sung thì tui qua làng bên thăm người quen. Tình hình chốn này ra sao?

– Sao là sao?

– Mấy ông phường ông xã ông công an ông trưởng ban ông khu vực…

– Thì vẫn vô ra cũng thằng cha khi nãy. Họ bám trụ, họ tham quyền cố vị, họ vẫn còn sống nhăn. Nghiệt! Họ mà tổ chức liên hoan tiệc tùng thì tao phải sứt mẻ một nạm tiền. Họ nói, phàm ở đời phải biết qua biết lại dì ơi.

– Thôi, tui đi. Muốn bắt xe ôm chắc phải trở lui quốc lộ?

– Mi không tính đi vô núi thăm mộ ông bà tổ tiên hay răng? Đi thì tao tự nguyện dẫn đường sắm sửa lễ vật nhang đèn hoa quả các thứ.

– Trời, nghe phát oải. Sống sót mới tới thăm hỏi này nọ chứ đã ngậm cười nơi chín suối thì biết nói năng chi, mất thì giờ với ba cái linh hồn tượng đá.

– Mồ tổ mi. Phát ngôn linh tinh kiểu nớ thì chùa chiền nào mà dung thứ cái xác phàm ô uế kia.

Thằng con trai gửi lại tràng cười hền hệt rồi quay lưng. Áo mưa màu vàng sùm sụp xa dần trên lối đi lầy lội. Dì Chuồn ngó theo, bà moi điện thoại di động ra ghi hình rồi tiện tay bả gọi số đã lưu vào bộ nhớ máy thông minh.
Đừng nói dì Chuồn chỉ biết nấu bún bò mặn mà ngon nhức nách thơm điếc mũi, ngay cả những ngón tay quen động dao thớt nọ cũng tường lãnh vực công nghệ thông tin. Dì sử dụng máy móc hiện đại chả kém bất kỳ một thằng ranh con nào mãi chơi game bạo lực ở những tụ điểm cà phê net.

Ra đường Trung vẫy một chiếc xe ôm. Thằng cha già rồi, run lẩy bẩy mà còn hành thân kiếm cơm dưới mưa to gió lớn, đã thế còn bày đặt nói thách dễ sợ. Hét giá kiểu ấy ngay Tây ba lô cũng phát hoảng. Ổng ngửa mặt dòm trời nại lý do. Không thấy sao, thời tiết kiểu này anh nên thông cảm, xăng thì leo ngất ngưỡng cực choáng, vào đó rồi thì tui phải vác xe không chạy ra mình ên. Vắn tắt thì hy sinh đèo chở anh đi gấp đôi đoạn đường đã quy định. Khổ thế!

Đành phải ngồi trên yên trơn láng của con ngựa hom hem ho khục khặc xăng pha dầu hay sao đó. Khói phun đen, khách ôm eo lão xe thồ rành bài bản xuống sáu câu. Thời buổi này ai không biết ca cải lương mới là chuyện lạ. Đại gia thì chỉ biết chơi nhạc rap, lời xưa rồi diễm: Ăn hột mít địt tầm phào, ra ngoài rào địt cái ộn, lên côi độn địt cái rầm, chui xuống hầm địt cái tút.

Xe chạy quàng xiên một đỗi thì dừng trước căn nhà vôi xanh mét lợp mái tôn. Nước chảy thành dòng tựa màn lệ mà cánh cửa đóng kín là con mắt đương nhắm trít bỏ mặc tiếng sụt sùi luôn nấc cục ngoài hàng hiên. Thanh thoả tiền bạc, ngó số nhà, xe quày quả phun khói, đâu vào đó rồi thằng con trai mới đưa tay gõ cửa, từ thong thả tới nôn nóng. Hắn dõi trông con lộ vắng, màu hắc ín đen láng co cụm từng vũng bùn loang lổ trông như con trăn lớn làm biếng nằm phơi thân.

Và cửa mở. Và vũng đen đằng sau trồi ra một nhân diện kháu ó như giấc ngủ vừa bị quấy rầy, lôi đầu dậy. Thoắt cái là tỉnh thức, là linh hoạt dự phần, là bối rối một niềm vui khó che đậy.

– Đồ quỉ sứ gì đâu không á! Bắt người ta nằm cô quạnh đợi trong lạnh lẽo. Có dễ tìm không?

Tấm áo mưa màu vàng lẻn vội sau cánh cửa. Cửa đóng, chập choạng nguồn sáng yếu của cây đèn dầu thắp tù mù sụt sùi tim bấc đứng trên bàn thờ nguội lạnh khói nhang. Những khung ảnh người được thờ cúng đồng loạt xây mặt trông tới vị khách đường đột. Họ thảy có chung một chuẩn dạng: tắc tiếng, ngó ơ hờ, mở mắt mà mù câm.

Áo che mưa cởi sột soạt. Đứa con gái chủ nhà giật vội, máng trên một cây đinh nhô ra sau cửa gỗ. Vắng lặng, chớ ba mạ em mô? Ba chở mạ ôm mấy con gà ra chợ bán. Mới đi độ nửa giờ e tiếng nữa mới trở về. Họ biết anh tới thăm hay sao? Biết, em có thông báo. Họ sẽ mời anh ăn cơm tối, chiêu đãi anh gọi là hậu tạ.

Đứa con gái tính mở sáng ngọn đèn nê-ông nhưng khách cản ngăn. Khách mặn cái nhạt nhoà tựa thế bởi nguồn sáng điện đóm sẽ kệch cỡm thô lậu khi chiếu xuống một hừng hực khát khao. Giải hạn trước tiên là môi hôn ngấu nghiến, khi lửa của song phương bốc cao nực nội thì cả nam lẫn nữ chẳng hẹn mà đồng loạt trút bỏ y phục vướng víu trong tiếng thở bấn loạn. Họ quấn lẹo vào nhau và nhắm mắt nhảy bản luân vũ dặt dìu tới chiếc giường tre ọp ẹp. Họ quên giông bão, họ chẳng màng thế sự nhích gần mỗi sát na. Và cánh cửa lớn bị mở toạt, khủng khiếp hơn một nhát chém chia hai thân thể, chết điếng.

Ba mạ cô gái từ luồng sáng gắt gao bên ngoài trời lạnh run rẩy bước qua ngạch cửa, sau lưng là bốn năm ông công an lẫn dân phòng bảo vệ lỉnh kỉnh đồ đoàn nêm chật gian nhà trống. Đột ngột quá, không nảy ra phản xạ quơ đại một thứ gì để che thân. Sững sờ. Trụy tim.

Một người công an đọc lệnh bắt tội phạm Trung có hỗn danh Cu Rô xóm Chuồn khi ngọn đèn giữa nhà bật sáng, soi tỏ. Lời lẽ đanh thép, bắt đúng người đúng tội, chí công vô tư. Đứa con gái bưng mặt khóc khi nghe rõ từng chữ từng lời. Cu Rô giả dạng khoát áo tu hành từng đào trộm cổ vật nơi đền đài miếu mạo, từng đục khoét ăn cắp tiền trong thùng phước sương để đi hành lạc ở những địa bàn khác. Mùa lụt vừa qua, tình cờ cứu được cô Trần thị Cơ, hiện có mặt ở đây, khỏi chết đuối, đã lợi dụng sự ngây thơ của trẻ vị thành niên, đương sự đã nhiều lần giở trò đồi bại giao cấu mà cớ sự hôm nay là tang chứng vật chứng. Chúng tôi đã giăng bủa lưới, mất công sức cả tháng trời mới bắt được đối tượng quỉ quyệt này. Thành quả có được bữa nay phải nên ghi công dì Chuồn lập quán bán bún để nghe ngóng tin tức thu thập dữ liệu làm tai mắt bảo vệ cho địa bàn chúng ta sớm phát hiện những thành phần băng đảng xã hội đen.

Mưa quất xuống thân Cu Rô xóm Chuồn hàng triệu đòn roi. Nhân viên công lực trói ké tội phạm dẫn ra đường cấp kỳ chẳng có thời giờ cho hắn mặc áo mưa vàng che bớt cái xấu xa phơi bày lủng lẳng.

Mưa mang cả sự ướt át dội đẫm vào tuốt trong nhà. Đứa con gái thút thít tính nói điều cực lòng cho mạ nghe: Nếu con lỡ có thai thì biết mần răng hả mạ! Cơ, mười lăm tuổi lau vội nước mắt hoen mờ để trông rõ sự vật. Nằm mộng cũng không tưởng được, cái ruột tượng nằm dưới giường tre lòi ra cả xấp tiền hoành tráng. Cơ giả bộ nằm vật mình xuống giường than khóc số phận, thò một tay thu vội gói tiền dưới gối. Khả năng tính toán của đứa học cấp một trung học phổ thông đưa ra con số dễ gây choáng, chí ít thì ta đang sở hữu không dưới hai chục triệu đồng. Mẹ rượt, ta sẽ gội bỏ chất quê mùa mãi ám thân. Cơ này sẽ lên phố thị, ăn chơi không sợ mưa rơi. Cùi chẳng sợ hủi. Cơ lầm bầm. Vô vàn cám ơn anh Cu Rô giải phóng Cơ này thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu.

Đứa con gái thu tay vào hạ thể giữa hai chân. Sao bọn khốn kiếp ấy không chịu dùng dằng trễ nải chậm chân cho khoảng mười lăm hai chục phút? Mưa rơi, mưa rơi. Mưa ngoài trời và mưa rớt hột lấp đầy cửa tử. Sướng dàn trời.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh
Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 66

Phần 65 Vào đầu tháng Năm đội 17 được chuyển công tác, một công tác mới thật nặng nề và cực khổ, ấy là công tác khênh đá từ chân núi bên kia bờ suối về công trường xây cất nhà ăn ở cho ban chỉ huy trại. 
Cứ hai người một, người trước người sau khênh một cái ki trên chất một trọng lượng đá xanh nặng không dưới bảy tám chục ký. 
Vĩnh và anh Huy bắt cặp đi với nhau. Đoạn đường dài hơn hai cây số dưới trời nắng cháy da cháy thịt, hai người lầm lũi nối gót những người khác băng qua những địa thế khác nhau, vượt qua con suối, vượt qua vuông sân lát gạch, đổ đá thành đống nơi công trường đang xây cất dở dang. Mỗi ngày, chuyển đá theo lối con thoi, Vĩnh tính thầm mỗi người phải khênh nặng một đoạn đường tổng cộng hai mươi cây số và chuyển được trên hai tạ đá xanh. Công việc này quả quá nặng so với hai bát ngô “Vỏ Nguyên Giáp”, khẩu phần hàng ngày của mỗi người. Do công việc quá nặng, ngay đội trưởng Mai Văn Lễ, vừa trẻ vừa khỏe vừa to con đến thế mà cũng xọp hẳn người xuống. 
Vĩnh thì khỏi nói. Anh chỉ còn da bọc xương. Hàng ngày nín thở lấy hết sức đi dưới sức trì nặng nề của ki đá, Vĩnh cố hướng đầu óc mình đến một cái gì có màu xanh của hy vọng. Nhưng rồi không thể! Những cơn khát cháy cổ làm Vĩnh muốn lả người đi. Anh Huy cũng chẳng hơn gì. Mới mấy tháng trước anh còn là một người trung niên khỏe mạnh, giờ trông hóm hém như một ông già. Thế nhưng có lẽ anh Huy không mệt mỏi bằng Vĩnh. Anh có hai thói quen trong lúc lao động nặng. Có khi anh lầm lỳ như một hòn đá, vừa đi vừa lẩm bẩm như đang đọc kinh cầu nguyện; bằng không, anh hớn hở nói lên những ước ao của mình. Những khi Vĩnh muốn ngất đi vì mệt, muốn vứt mẹ nó ki đá xuống và ngồi bệt bên vệ đường cho nó khỏe, thì anh Huy vẫn hăng hái cất bước, miệng huyên thuyên nói. 
– Ông biết giờ này tôi ước ao điều gì nhất không? 
-…..! 
– Tôi ước ao một chai 33 ướp thật lạnh. Tôi sẽ cầm thật chặt nó trong tay để nghe hơi lạnh chuyền dần lên tới xương bả vai. Sau đó, tôi mở nút và ngửa cổ đổ nó vào họng. Đổ một hơi không ngừng nghỉ… 
Mặc anh Huy lẩm bẩm vừa đi vừa cầu nguyện hoặc vừa đi vừa ước ao chai bia, Vĩnh vẫn cố gắng đeo theo những hình ảnh nẩy ra trong đầu. Hình ảnh sau cùng đã kết nên một ý nhạc mới. Vĩnh dặn lòng sẽ viết một bài nhạc, hoặc ít ra một bài thơ ghi nhận về cơn khát ghê gớm trong thời gian khuân đá cho công trường xây cất ở trại tù Hàm Tân này… 
Quản giáo Phú có lẽ cũng thông cảm phần nào cho nổi cực khổ của bọn tù dưới tay. Hắn có vẻ tương đối thả nổi cho đội 17 trong giờ nghỉ giải lao được lâu hơn các đội khác dăm bảy phút. Những khi ngồi lẩn khuất trong đám đông, dưới bóng mát của một cái nhà lô, Vĩnh hay ngó ra ngoài khu xây cất. Đám tù được sử dụng vào nghề mộc, nghề hồ coi vậy chứ không lấy gì làm khỏe. Họ leo trèo, họ trộn hồ, họ chuyển gạch, họ xây, họ cưa, họ xẻ… họ cũng vất vả trăm đường dưới sự đốc công của bọn giám thị trại. 
Ý bỗng vỗ vai Vĩnh và chỉ ra đám người đang trộn hồ, nói. 
– Me xừ mập mập kia kìa, ông thấy không? Nghe nói hình như hắn là con trai ông Lương Trọng Tường đấy. Là đại úy. 
Vĩnh mệt mỏi. 
– Ông Lương Trọng Tường cũng chết chứ nói gì đến con trai ông Lương Trọng Tường! 
Ý moi trên lỗ tai xuống một bi thuốc, chia cho Vĩnh một nửa, nói. 

– Ai chả biết thế, nhưng nghe thằng Thương nó bảo tay ấy rành vùng này lắm. Tôi tính lân la hỏi thăm xem sao. 
Vĩnh hoàn toàn không có ý kiến gì về vụ này. Anh xoay ngang kiếm cái điếu hút nhờ bi thuốc của Ý vừa trao cho. Hút xong Vĩnh lại ngồi nhìn quanh quất với một cái đầu trống rỗng không ngờ. 
Anh chợt nghe lõm được một câu chuyện thật lý thú do đám người đội hình sự cùng hành nghề khiêng đá như đội 17, đang kể cho nhau nghe. Một giọng nói. 
-… nhưng chỉ có vậy mà đập nguyên cái chai xì dầu lên đầu nó thì hơi nặng. Nằm cachot kỳ này cầu cả tháng… 
Một giọng khác. 
– Thế cũng đáng. Thằng ấy cà chớn lắm, chuyên môn chọc ghẹo người khác. Thằng Hùng tính lại cọc! 
Thì ra câu chuyện mấy người ấy kể cho nhau nghe như thế này. Bên nhà 1, nơi ngủ nghê của đám Trật Tự và một số hình sự, chiều hôm qua đã xảy ra một vụ đánh lộn giữa hai người chơi rất thân với nhau. Việc đánh nhau được mô tả là nặng vì có đổ máu. Nguyên do cũng vì một sự đùa giỡn không đúng chỗ của một người. Hai người ban nãy, một người có gia đình còn một người “con bà phước”. Nhưng dù điều kiện sống có khác nhau, họ vẫn chơi thân với nhau. Anh có gia đình thường nhận được thư nhà, và mỗi lần mở thư đọc, thằng bạn hay đùa giỡn của anh lại xà đến chọc ghẹo. 
– Thư con vợ già hả? Có gì dâm dâm đọc nghe chơi mày! 
Chiều hôm qua người có gia đình lại nhận được thư. Anh chui vào chỗ nằm mở thư ra đọc. Đọc một lúc mặt anh tái lại, kế đó ngồi thừ ra như một xác chết. Người bạn của anh ta, như mọi lần, lại xà đến chọc ghẹo bằng câu nói quen thuộc. 
– Thư con vợ già hả? Có gì dâm dâm đọc nghe chơi mày! 
Lần này thì câu chọc ghẹo thân mật ấy được trả lời bằng một cái chai xì dầu phang thẳng cánh lên đầu. Anh bạn chọc ghẹo lăn đùng chết giấc! Còn người đánh thì bị trật tự lôi lên giám thị, sau đó bị tống cổ vào cachot tức thì. 
Tai nạn xảy ra thực ra là một cái vận không may cho cả hai người từng chơi thân với nhau. Anh chọc ghẹo bạn nào biết rằng bạn mình hôm nay đâu phải đang đọc những lá thư của vợ hay của mèo, mà anh ta đang đọc thư Mẹ; ác hơn, trong lá thư ấy mẹ anh lại báo tin cho anh biết rằng, con vợ anh ở nhà nó đã mua để dành cho anh cùng một lượt đến mấy cái sừng tê giác! 
Giờ giải lao chấm dứt, các đội trưởng nhanh chóng đứng lên và thúc anh em trở lại lao động. Vĩnh lại cầm ki lên và bước theo anh Huy sau khi nhấp nhấp thêm một miếng nước. Đi bên cạnh Vĩnh và anh Huy lúc này là ông đội phó Nguyễn Văn Thuận. Ông Thuân đi cặp với Hòa “nhảy dù” vì hai người có chiều cao tương đương nhau. Lúc này ông tương đối không còn bị anh em cô lập nữa. Dĩ vãng ông đã làm gì ở trại này không còn ai để ý tới. Trước mắt, ông đang là một người mệt mỏi, mệt cả thể xác và tinh thần, điều ấy đủ để Vĩnh xích lại gần ông và chuyện trò thân mật. Và có lẽ, nếu không chủ quan, Vĩnh có thể nói rằng cả đội 17 chỉ có Vĩnh là người mà ông Thuận tỏ ra “quý” cũng như sẵn sàng đưa chuyện văn chương chữ nghĩa ra luận với nhau trong những lúc nhàn rỗi, hoặc ngay cả những lúc lao động để hy vọng làm ngắn lại khoảng thời gian dài cực nhọc. Đây cũng là dịp cho Vĩnh tìm hiểu thêm về nhân vật này, về cả những điều thường ngày ông ghi ghi chép chép. Ông mong sau này, khi mà điều kiện cho phép, ông sẽ lại soạn sách giáo khoa, nhưng là một bộ sách giáo khoa được viết bằng một ý thức mới, làm sao để tạo ra những thế hệ nhiều thiên tài hơn nhân tài và nô tài. Ông cũng nói với Vĩnh, theo ông, tài trên đời có ba hạng. Hạng nhất là thiên tài, gồm những người có óc sáng tạo, có đảm lược và khí phách, thí dụ những nhà giải phóng đích thực, những văn nhân thi sỹ đích thực, các khoa học gia, các nhà kinh tế chính trị; hạng nhì là nhân tài, chẳng hạn thành phần sinh ra chỉ để đi làm thầy giáo cô giáo, làm ông quan tòa, ông bác sỹ; hạng thấp nhất theo ông là hạng nô tài, loại cũng có học cao hiểu rộng nhưng tài chỉ đến đi làm cố vấn, thầy dùi cho thiên hạ, hoặc cũng có quyền cao chức trọng nhưng tài chỉ đi làm tay sai cho ngoại bang (Loại này thì cả hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến tranh gọi là Quốc-Cộng vừa qua có quá nhiều!). 

Thường trong lúc đi khuân đá, nghe ông Thuận luận về cuộc đời, một phần nào Vĩnh cũng thấy quên đi gánh nặng trên tay và đường dài dưới chân. Nhưng anh Huy thì khác. Rõ ràng đến hôm nay anh vẫn có vẻ thủ thế tối đa với ông Thuận. Đặc biệt hôm nay, để trả lời cho một câu mỉa mai xa xôi của anh Huy dành cho ông, ông Thuận đã luận rằng: Các ông có biết luật Cái Bang không nhỉ? Một tên ăn mày một khi được bầu lên hàng trưởng lão, để hợp thức hóa, hắn phải đi qua một hàng ăn mày dàn chào bằng đờm dãi nhổ trên người… Nói tới đây ông Thuận nhìn anh Huy, tiếp. Ông Huy cũng đồng ý với tôi sau 30 tháng Tư, nội thành phần bị đi học tập cải tạo thôi, xét rộng rãi ra chỉ quãng năm mươi phần trăm đáng sống và đáng hy vọng… sau này thôi, ông đồng ý không? Anh Huy chỉ cười cười mà không trả lời. Ông Thuận tiếp. Ông không trả lời nhưng tôi biết một phần nào ông cũng nghĩ như thế. Cái số lượng thối nát và đê tiện lớn lắm, có cách triệt tiêu đi được tôi cũng không ngần ngại gì mà không triệt tiêu… 
Nghe ông Thuận luận, Vĩnh lại nhớ có lần ông đã nói với riêng Vĩnh. Biến cố 30 tháng Tư chưa hẳn là không may cho tiền đồ đất nước. Nhờ biến cố này, cái lớp vỏ lở lói của miền Nam đã tự nhiên được hớt quăng bỏ sang Anh sang Pháp sang Mỹ. Tôi không dám nói một trăm thằng di tản bỏ chạy đều là hạng tồi tệ cả. Nhưng rồi ông xem, Anh Pháp Mỹ vân vân sẽ khốn nạn với bọn đó. Chúng nó sẽ đem cái lối sống giành giựt, quấy hôi bôi nhọ, đạp lên nhau mà sống, nham nhở bẩn thỉu, bè phái sang các nước đó và sống như thế cho đến ngày chúng nó chui xuống mồ. Nhưng thôi kệ chúng nó. Các nước tự do đã đón cái lớp vỏ lở lói ấy thì ráng mà chịu. Nhưng chúng ta, những người ở lại, chúng ta bắt đầu phải có cái nhìn đúng đắn về cái khối quốc gia của mình. Liệu những thằng ở lại có đáng sống hết không? Có đáng tin cẩn cho một công cuộc trọng đại ở tương lai không? Riêng tôi nghĩ là không. Vậy thì muốn làm đại sự phải có sự thanh lọc hàng ngũ ngay từ khởi thủy. Nói thì nói vậy. Người như ông như tôi làm sao cầm dao giết người được. Nhưng có thằng nào nó làm giùm công việc ấy tôi cũng chẳng từ… 
Quả thực nghe ông Thuân lý luận Vĩnh thấy cũng hay, nhưng không khỏi không lạnh mình. Anh nghĩ là buồn quá, phẫn quá ông nói chơi cho vui thôi. Riêng anh Huy chỉ cười khẩy. Hố sâu giữa hai người đã sâu lại càng sâu thêm. Rồi thì để tránh chuyện hai anh già có thể đôi co, Vĩnh đẩy mạnh cái ki thúc anh Huy nhanh chân vượt qua mặt mấy cặp đi phía trước. 

Ông Thuận bỗng trở thành một vết hằn trong trí nhớ Vĩnh. Ông ta là một nhà giáo? Hay một nhà chính trị? Hay một tay có tài quỷ biện? Hình như ông là tất cả những thứ đó. Ông cũng còn là người từng nói nhiều cho Vĩnh nghe về nhóm Duy Dân, về cả nhóm Hàn Thuyên của cụ Nguyễn Đức Quỳnh… Dù sao, Vĩnh biết chắc một điều, Vĩnh chưa rút ra được một ưu điểm nổi bật nào nơi ông Thuận để mà học hỏi. Ông ta tỏ ra quý Vĩnh, Vĩnh quý lại… 
Khi chuyến khuân đá lần thứ tư trong ngày sắp về tới đích, có nghĩa là đám Vĩnh sắp sửa vượt qua cây cầu bắc ngang con suối, thì có nhiều loạt đạn từ sâu trong rừng buông vẳng ra. Tiếng đạn xa lắm, tuồng như được bắn mãi bên vùng phân trại A. Cả bọn hơi ngơ ngác tí đỉnh về loạt đạn nổ, nhưng rồi ít phút sau đó, tất cả lại trở về với thực tế, lầm lũi đi hết đoạn đường khổ nạn. 
Giọng một người lên tiếng vu vơ. 
– Mấy giờ rồi không biết? 
Không ai trả lời. Vĩnh nhìn mặt trời và ước lượng giờ này cũng phải ba giờ chiều. Còn lâu mới hết một ngày lao lực. 
Khi đội 17 đổ loạt đá lần thứ tư vào nơi quy định thì bỗng nhiên quản giáo Phú cho nghỉ. Đội trưởng Lễ và đội phó Thuận nhận lệnh dẫn anh em ra ngồi dọc theo bên hông xưởng mộc có nhiều bóng mát. Một lúc sau nữa, Vĩnh và các bạn nhận thấy rằng không riêng đội 17 mà tất cả các đội khênh đá đều được lệnh nghỉ. Không cần biết vì sao được nghỉ, bọn Vĩnh tìm cách chạy vào xưởng mộc xin xỏ những thanh củi vụn và ngồi bó lại từng bó. Đời tù chứ củi vẫn cần như thường. Chiều về ai cũng phải tranh thủ nấu nướng tí đỉnh, thiếu củi là cả một vấn đề. Trung lúc đang thi nhau lượm lặt củi vụn của trại mộc thì quản giáo Phú lại xuất hiện. Hắn ngó đồng hồ tay, ngẫm nghĩ tí chút rồi bảo đội trưởng Lễ cho tập họp. Đội 17 tập họp thật nhanh, vì ai cũng biết quản giáo Phú có nhiều cái cao hứng bất ngờ. Nhiều lúc vui vui chuyện gì, tù vừa lao động được hai tiếng hắn đã cho tập họp và dẫn đi tắm. Sau khi tập họp, mọi người biết rằng hôm nay quản giáo Phú lại cũng cao hứng và sẽ dẫn cả đội đi tắm thật xa, không phải thượng nguồn mà xuống mãi hạ nguồn, nghĩa là dưới cả khu canh tác rau xanh, nơi có những vực sâu và nước đầy quanh năm. Trên con đường đi xuống hạ nguồn con suối, trước nhiều cặp mắt thèm thuồng của anh em các đội khác, đội 17 bước những bước thật nhanh và thật vui. Ai cũng có cảm giác sung sướng là hôm nay sẽ được tắm một trận thả giàn, bù cho những ngày “tắm búng” vừa qua dưới mấy vũng nước bùn nơi chân cầu. 
Đoàn người đi theo con đường dọc bờ suối. Những cây tre được cắm từ mùa mưa vừa rồi, dùng để ngăn cách khu trại đang ở với khu công trường xây cất giờ đã xanh um và khó mà chui lọt qua được. Nhìn những lớp hàng rào thiên nhiên này, Vĩnh mới nhận ra cái lợi hại của lối phòng thủ mà Việt Cộng áp dụng. Thực chẳng có loại hàng rào thép gai nào bền vũng cho bằng những lớp tre gai kia! 
Vượt qua khu nhà tù đang xây cất là tới khu ao rau bát ngát, nơi mà đội đã tham dự và đổ bao công sức để hoàn thành từ dạo mới đến. Đây đó những gốc buông bị đốn ngã đã mục rữa dưới nắng mưa. Những lớp nấm lâu ngày không ai thu nhặt mọc trắng theo những bẹ buông. Vĩnh bỗng nhìn quanh tìm Lê Văn Tầm. 
Vượt qua khu ao là tới khu rau xanh. Nơi đây có đến ba đội phụ trách. Rau xanh đủ loại mọc xanh ngát một vùng. Nhưng tù làm gì được ăn những thứ rau tươi ngon ấy! 

Khi xuống gần hạ nguồn con suối. Vĩnh đã nhận ra khu nghĩa trang bên kia bìa rừng với những ụ đất nằm ngổn ngang chẳng ai biết được đó là những phần mộ hay gò mối. Rồi thì cái guồng nước bằng gỗ do tù thiết lập để dẫn nước lên khu canh tác đã hiện ra. Không khí nơi đây bỗng mát hẳn. Tiếng nước suối ồ ồ chảy làm ai cũng thấy khoan khoái. Những bước chân như bước nhanh hơn. Khi đội tiến đến chỗ nước sâu nhất, quản giáo Phú cho phép dừng chân để sửa soạn tắm. 
Giòng suối hạ nguồn bỗng ầm ầm như có địa chấn. Lũ tù trần truồng thay nhau nhào lặn và vẫy vùng cho thỏa những ngày qua. Hôm nay thì Vĩnh phải vui chung với cái vui của mọi người. Nhưng rồi chỉ một lát, có nhiều người bỏ ngay cái vui tắm rửa khi họ phát hiện ra trên bờ suối có những bụi Càng Cua hấp dẫn. Một số đông tức khắc bỏ con suối và bò lên hái rau. Nơi đây rất gần bìa rừng. Dù thông cảm cách mấy, quản giáo Phú và hai công an vệ binh đi theo vẫn phải cảnh giác tối đa. Thấy có nhiều người leo lên bờ suối bên kia hái rau, quản giáo Phú kêu đội trưởng Lễ ra lệnh cho họ phải quay trở lại. Nhưng lệnh thì lệnh, chỉ một lát sau đó bọn tù ốm đói lại bò lên bờ suối và chạy tứ tán tìm hái rau với hy vọng chiều về sẽ có một bữa rau sống thật đạt chất lượng. 
Vì bệnh phổi, Vĩnh không chịu được cái lạnh buổi chiều ngâm mình lâu dưới suối. Anh lên bờ sớm nhất và mặc quần áo tìm chỗ có nắng ngồi… run. Dãy núi, nơi bắn đá và là nguồn cung cấp đá cho công trường xây cất của trại như nhìn thấy ngay trước mặt. Câu thơ nhen nhúm trong đầu từ trưa lại nổi lên trong trí nhớ Vĩnh. Anh nhẩm lại cho thuộc lòng. 
… Gánh đá đôi vai người 
Ngày đi rồi ngày tới 
Chất mãi cho thêm dầy 
Ngục thất nhốt ta thôi… 
Buổi tắm suối khá đặc biệt chấm dứt khi những đội canh tác đã thấp thoáng tập họp đội hình trên con đường đất ngoằn ngoèo chạy dọc bờ suối. Đội 17 được lệnh lên bờ sửa soạn tập họp điểm danh. Như mọi ngày, đội trưởng Lễ nhanh chóng mặc quần áo trước nhiều người và quay lại kêu gọi anh em. 
Người sau cùng đã đứng vào hàng. Lễ bắt đầu đi dọc đội hình hàng hai và đếm. Quản giáo Phú chậm chạp và lơ đãng thả bước trên con đường đất hướng về phía trại. Hai tên vệ binh cũng lơ đãng đứng ôm súng nhìn trời nhìn đất. Đội trưởng Lễ đếm một lần từ hàng đầu đến hàng cuối. Đếm thêm lần nữa. Anh nhăn mặt, ngó dáo dác rồi lại đếm thêm một lần nữa. Đội phó Thuận nhận ra sớm nhất nét mặt hơi đổi khác của đội trưởng Lễ. Ông lên tiếng hỏi. 
– Gì thế? 
Lễ vẫn yên lặng và bắt đầu đi dọc đội hình đếm lần thứ năm. Sự bình tĩnh của Lễ biến ngay sau khi anh đã kiên nhẫn đếm hết lần thứ năm. Anh thốt kêu lên như một người thình lình bị bắn trúng một phát đạn vào bả vai. 
– Chết mẹ rồi! 
Cả đội bắt đầu tin rằng đã có một kẻ chơi trò Bướm Vượt Ngục. Chẳng hiểu sao Vĩnh ngó ngang dọc tìm ngay Ý và Huy. Anh thở phào, một cái thở phào khó định nghĩa. Mấy người bạn của anh vẫn còn nguyên cả đấy và họ cũng đang ngó dáo dác như anh. 
Đội trưởng Lễ thốt quay xuống bờ suối, hỏi lớn. Còn ai dưới đó không? Lên điểm danh ngay! 
Đến lúc này thì mọi người đều đã tự tìm ra được người vắng mặt là ai. Đó là Dũng, Dũng nhỏ, Dũng hình sự và là bạn của Thương của Tân Dân. 
Đội trưởng Lễ cũng mau chóng tin rằng Dũng đã trốn trại. Anh vừa chạy lui về hướng quản giáo Phú, miệng vừa gọi inh ỏi. 
– Dũng! Dũng! Tập họp! Tập họp! 

Quản giáo Phú và hai tên vệ binh đã nghe biết tự sự. Chúng phóng tới phía đội 17 hỏi nhanh vài tiếng với mọi người rồi phóng chạy hết xuống suối. Được nửa đường, nghĩ sao quản giáo Phú lại chạy lui về phía đội trưởng Lễ, hỏi lớn. 
– Khi nãy có thấy nó tắm không? 
Lễ vội đáp. 
– Báo cáo cán bộ có. Chính tôi thấy anh ấy nhặt rau càng cua nữa. Không biết có chết đuối không!? 
Hai tên công an vệ binh vác súng chạy dọc bờ suối để lùng bắt kẻ mà chúng tin rằng đã trốn trại. Riêng Phú đã lấy lại bình tĩnh. Hắn thở dài. 
– Chết đuối cái gì! Trốn mất rồi chứ chết đuối cái gì! Quản lý nhau mà như thế kỳ này cấm cả đội tắm một tháng cho biết tay! 
Nói rồi Phú rút K.54 bên hông bắn lên trời ba phát. Bắn xong, Phú gọi lớn về phía hai tên vệ binh. Đồng chí Tịnh đồng chí Phẩm ơi! Thôi dẫn đội về. Để các đồng chí an ninh hiện trường làm việc của họ! 
Rồi thì đội 17 được lệnh cất bước trở về trại. Trong hàng, đủ thứ giả thiết được đặt ra để thầm thì với nhau. Vĩnh liếc nhìn Thương. Nó vẫn bơ đi như không có chuyện gì xảy ra. Vĩnh thầm phục thằng nhỏ can đảm. Chả bù cho Vĩnh. Hồi Dương Ý Huy trốn ở An Dưỡng, anh mất bình tĩnh rõ ràng. Vĩnh bỗng thấy ngượng cho sự hèn nhát của chính mình. Rồi Vĩnh lại nghĩ tới Dũng. Nó trốn đi đâu? Bằng cách nào? Sao nó liều thế? Chả ai thấy Dũng sửa soạn một cái gì! Không đem theo thực phẩm, quần áo, thuốc men làm sao băng rừng nổi? Thằng ấy quá tam ba bận, thế nào lần này nó cũng thoát! 
Vĩnh cố gắng không tham dự những lời bàn chung quanh. Anh chỉ cầu sao cho Dũng nó thoát. Nó là một trong những thằng nhỏ dễ thương nhất mà Vĩnh từng gặp trong tù. Lại can đảm nữa. Đảo mắt một vòng về hậu cảnh rừng rú của trại Hàm Tân trước khi đội hình bắt vào con đường mòn để xuyên qua những gian nhà tranh, nơi làm việc của các đội đan tre, Vĩnh vẫn không tránh khỏi cái linh tính kỳ cục, theo đó kỳ này Dũng vẫn chưa thoát được! 
Những tiếng súng vang lên trong bìa rừng. Chẳng riêng Vĩnh mà chắc nhiều người khác đều cảm thấy như cơn đau tim thình lình bộc phát. Buổi chiều đổ xuống thật nhanh. Những tiếng súng vẫn nổ nhưng thưa thớt dần. 
Vĩnh và các bạn về tới cổng trại và lại ngồi nối vào những hàng người đã ngồi từ trước, chờ điểm danh cho nhập trại. Những tiếng thăm hỏi của các đội khác đều hướng cả vào đội 17. Thốt nhiên tim Vĩnh như ngừng đập hẳn khi một người nói với một người khác. 
– Vậy là hôm nay phân trại A và phân trại B đều có thằng tếch. Thằng bên phân trại B bị bắn chết rồi. Không rõ thằng bên này có may mắn hơn không!? 
Một giọng khác. 
– Nghe nói thằng nào cũng thứ dữ cả. Thằng bên kia nghe đâu từng là phóng viên của một tờ báo lớn ở Sài Gòn thủa trước…







Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 65

Phần 64 Cái Tết thứ tư trong tù cộng sản đã qua đi thật nhanh. Những cơn mưa lũ theo đó cũng thưa dần và mất hẳn. Cảnh bì bõm lao động dưới mưa, hoặc trước giờ về được vùng vẫy dưới con suối cuồn cuồn chảy không còn nữa. Sự nhàn hạ của những đội rau xanh mấy tháng qua chỉ cần chăm bón tí đỉnh, không cần nghĩ tới việc gánh nước tưới rau mà rau vẫn xanh tốt, đã chấm dứt hoàn toàn. 
Mùa nắng đến, mà cao điểm vẫn luôn luôn là tháng Tư, bọn tù bắt đầu lè lưỡi cả đám! Nước suối gần như khô cạn, chỉ còn lại những vũng nước tù lớn nhỏ không đều và biến thành vũng bùn tức thì khi có một người nào đó nhảy xuống. Những vũng nước như thế bị lũ tù khai thác triệt để. Tinh sương đội anh nuôi đã phải dậy sớm ra suối quẩy nước về cho công tác nấu ăn. Trong ngày, các đội rau xanh nằm xa hạ lưu con suối (chỗ có nhiều nước) phải ghé quẩy nước lên tưới rau. Chiều về cả ngàn tù nhảy xuống gạn từng lon guigoz lấy cái rửa mặt và rửa chân tay. 
Với điều kiện thiếu nước dùng như thế; trại Hàm Tân liên tiếp tháng vừa qua còn phải nhận thêm gần 500 tù từ các nơi đổ về. Họ gồm nhiều loại và từ nhiều nơi khác nhau. Loại đầu tiên là các phục quốc quân mà một trong những lãnh tụ từng bị sa cơ thất thế ở Rừng Lá trước đây, bị đem về nhốt Chí Hòa và giờ được chuyển tiếp về Hàm Tân là cha Nguyện, một linh mục 31 tuổi. Loại thứ hai gồm thêm một loạt các viên chức hành chánh và các vị chức sắc của giáo hội Hòa Hảo từ miền Tây chuyển lên. Loại thứ ba gồm hình sự và tù vượt biên bị bắt trở lại. Loại thứ tư là thành phần tư sản mại bản. Ông vua kẽm gai tức tỉ phú Hoàng Kim Quy, ông Khai Trí… bị chuyển về Hàm Tân cũng vào đợt này. Ngoài ra, trong số mới lên còn có một số tù trại Suối Máu. Vĩnh đã nhận ra một người bạn là anh thợ rèn Mai Mạnh Liêu. 
Hiện tại, phân trại A Hàm Tân với tổng số tù lên tới 2.000 được chia thành 50 đội. Tất cả những dãy nhà trống trước đây giờ đã chật hết. 
Riêng về công tác lao động hiện nay phân trại A có những công tác chính như sau: 
1. Tiếp tục công trình xây dựng những dãy nhà tù đang dang dở. 
2. Xây thêm hệ thống nhà ăn nhà ở cho cán bộ trại. 
3. Tiếp tục khai quang sâu về hướng Tây Bắc của trại để lấy diện tích trồng lạc (đậu phọng). 
Ba công tác chính này, theo như một buổi lên lớp để quán triệt tầm quan trọng của nó, tên giám thị trưởng trại đã tiết lộ rằng “đây là những công tác được trên quy hoạch và khoán cho trại ta phải thực hiện xong trong vòng 12 tháng. Những báo cáo thành quả sẽ được chính đồng chí Đào Lưỡng kiểm tra từng quý một…”. 
Vì bị trên đốc thúc, bọn giám thị và quản giáo trại Hàm Tân đã tích cực sử dụng một số lượng tù tối đa cho ba công tác xây dựng và sản xuất nói trên. Trại Hàm Tân hiện nay đang biến thành một nông trường và công trường tập thể có lẽ “nhộn nhịp” nhất nước. 
Đội 17 hiện đang nằm trong thành phần các đội làm khổ dịch bên nông trường trồng lạc. Đạo quân khổ dịch này gồm mười hai đội. Chín đội phụ trách việc khai quang lên luống và ba đội còn lại lo việc tách, phơi và gieo lạc. Để cho công bình, mấy công tác này được các đội xoay vòng. Tuần trước đội 17 đã lên luống, tuần này, do vòng xoay, được làm công tác tách, phơi và gieo tương đối nhàn hạ. 

Từ sáng sớm, ngay khi rời cổng trại, các đội tách lạc đã tiến sang những dãy kho hậu cần trại. Họ khênh những bao lạc giống còn cả vỏ ra những vị trí quy định ngồi tách. Để tránh việc ăn vụng làm thất thoát “của cải vật chất xã hội chủ nghĩa”, những đội tách lạc được chia làm thành từng tổ và cứ vài tổ lại có một công an vệ binh đi tới đi lui kiểm soát. Khi số lượng lạc đã đủ chỉ tiêu, tổ tách lạc đem đổ ra sân gạch phía sau bộ chỉ huy phơi. Nắng tháng Tư chỉ cần hai nắng là hột lạc đã quắt queo và đủ điều kiện cho vào kho trở lại, chờ những luống mới được khai quang và được cán bộ kiểm tra chấp nhận đủ điều kiện để gieo trồng. 
Vĩnh thăng trầm chung với các bạn trong những chuỗi ngày trồng lạc này. Càng ngày Vĩnh càng hiểu tại sao hơn hai mươi năm miệng tuyên truyền inh ỏi, tay dí súng vào lưng người, bọn lãnh tụ miền Bắc vẫn không tài nào lôi được một nửa đất nước phía trên ra khỏi cảnh cơ hàn. 

Chỉ nội cái việc tổ bóc lạc nơi mà Vĩnh làm việc sáng nay thôi, cũng đã cho thấy mỗi người có khả năng đẻ ra nhiều cách đánh cắp hoặc ăn vụng lạc giống của “nhà nước cộng sản”!. Điển hình là anh Huy, người bạn già thân mến của Vĩnh. Anh Huy không bao giờ chủ trương đánh cắp để đem lạc về trại. Điều này nguy hiểm vì trước khi về được tới phòng, mọi người phải trải qua ít ra cũng ba lần khám xét. Anh chủ trương ăn tại chỗ, ăn càng nhiều càng tốt vì theo anh “lạc là thực phẩm tốt nhất trần gian vì nó gồm đủ cả ba chất đạm béo và đường!”. 
Có lần Vĩnh khẽ đùa anh. 
– Người ta bảo ăn lạc sống nhiều sẽ bị hôi nách! 
Anh cười bảo nhỏ vào tai Vĩnh. 
– Cả thế giới này cộng sản đã làm hôi nách gần phân nửa. Hôi nách thêm một người nữa không chết ai! 
Nói rồi anh lại tiếp tục bóc lạc với đôi mắt luôn luôn nhìn ngang liếc dọc. Vì cả tổ mười người chẳng ai mà không tìm cách ăn vụng, do đó chẳng ai thèm để ý tới ai. Họ bóc lạc rồi ném hột vào cái rá để kế bên. Anh Huy cũng làm như vậy. Nhưng khi cảm thấy an toàn, anh Huy thò tay xuống rá lạc bốc lên một nắm cho vào mồm.
Đó mới là ăn lạc tại chỗ. Nhiều người khác lại có những cách đem lạc về trại mới tài. Trong lúc bọn công an sơ hở, họ dồn lạc vào một cái bao nylon đem theo. Vào giờ giải lao, họ sẽ đem ra giấu một nơi đã được hẹn hò trước với một người bạn lao động ở một “bộ môn” khác, thí dụ lao động trong đội mộc chẳng hạn. Anh bạn này dĩ nhiên khi về trại sẽ không bị khám xét như những người đang công tác trong những đội trồng lạc. Khi “tan sở”, anh bạn đi qua chỗ hẹn sẽ hiên ngang bê nó về nhà mà không một giám thị nào khám phá ra được. Lối trộm lạc này có lẽ là cách làm tiêu hao lớn nhất đối với kho lạc giống của bọn giám thị trại. 
Từ ngày làm công tác trồng lạc đến nay, không thiếu anh bị bắt quả tang, bị đánh gãy răng, trào máu họng tại chỗ, cũng có anh nằm cachot cả tháng vì tội danh phá hoại sản xuất; nhưng dù thế nào, việc thất thoạt lạc giống vẫn không tài nào tránh khỏi. Số lượng lạc giống mỗi ngày bị tống vào và được tích trữ trong những cái bụng đói meo không phải là nhỏ. Nói tóm, từ khi hạt lạc còn nằm trong vỏ cho đến khi được đem ra gieo, số lượng lạc bị tù ăn sống nuốt tươi có thể lên tới hai phần mười, chưa kể khi tồn kho, một số lượng lớn khác bị ngay các cán bộ hậu cần đánh cắp đem bán ra ngoài cho dân chúng quanh vùng dùng làm hạt giống cho riêng họ. 
Về phía anh em lên luống gieo hạt cũng thế. Họ có trăm phương ngàn kế để nếu không ăn cắp được lạc thì cũng có cách phá hoại; miễn sao vốn của chúng xuất ra phải tốn gấp năm gấp bảy dự tính họ mới hả dạ! 
Hiện nay, những đội gieo hạt đã bắt đầu chịu thua trong việc ăn lạc. Bọn cán bộ trại, để bảo quản hạt giống, đã được trung ương chỉ thị cho ngâm lạc vào dầu hôi trước khi phát ra cho tù khai thác trồng tỉa. Để trả đũa, bọn tù chỉ còn cách phá hoại bằng việc quăng hạt giống xuống suối hoặc “lạm gieo”, có nghĩa là mỗi lỗ đáng ra chỉ bỏ hai tới ba hạt giống, họ bốc cả nắm quăng xuống và lấp đất lại. 
Hành động dại dột này chiều nay đã khiến một đội trồng lạc dính búa nặng nề. Một tên cán bộ có lẽ từ trung ương xuống thanh tra, đã bới và lôi lên một mớ lạc giống từ một lỗ trên luống. Hắn đưa mớ lạc ra trước mặt mấy tên giám thị gộc của trại. Tai họa thế là ầm ầm xảy ra cho cùng một lúc mười hai đội trồng lạc. Tất cả được lệnh tập họp tức khắc. Rồi chuyện gì đến phải đến. Nguyên một tổ dính líu đến mấy cái luống có những lỗ lạm gieo bị kết tội phá hoại sản xuất, bị dẫn giải về thẳng khu cachot. Số còn lại bị lên lớp tại chỗ bài học thế nào là cần kiệm liêm chính và thế nào là mình vì mọi người mọi người vì mình. 
Để kết thúc bài học, tên cán bộ nói. 

– Không phải trên không biết tới những bản năng thấp kém của con người, ấy là làm mà không được hưởng thì không làm, hoặc làm nhưng với tinh thần phá hoại. Tôi nói để các anh nghe, các anh nhìn vấn đề phát triển đất nước như thế là nhìn chưa xa hơn lỗ mũi. Tại sao các anh không nghĩ rằng nếu ta tích cực gieo trồng và thu hoạch tốt vụ lạc năm nay, ta có thể đổi được lạc lấy gạo từ các vùng khác, và bữa ăn của chính các anh sẽ được cải thiện? Các anh mà trồng lạc với tinh thần như vậy sẽ cả đời ăn sắn cùng ngô thôi! 
Bài học cũ rích ấy bị nhai đi nhai lại cả tiếng đồng hồ. Vĩnh lẳng lặng đứng ngó trời ngó đất. Bên kia bờ suối, cách nông trường lạc không quá hai trăm thước là nông trường bắp. Những đội thu hoạch bắp đang được nghỉ giải lao. Họ nằm ngồi ngổn ngang khắp mọi nơi. Đây đó những cái bếp kê bằng dăm ba hòn đá dùng nấu nước cho tù lao động uống, nhả những cụm khói nhạt lên bầu trời hực lửa tháng Tư. Vĩnh không muốn để ý tới trời tới đất, mà chỉ để ý đến đám bạn tù bên đó. Họ thật sung sướng. Giờ nghỉ ngơi, người nào cũng cầm trên tay cả bó thân bắp tươi và rúc đầu vào bếp nướng. Vĩnh từng có lần được đi thu hoạch bắp tươi như vậy. Dẫu rằng không được ăn bắp tươi nhưng những thân cây bắp thì tự do. Sau khi thu hoạch hết bắp và khuân ra nơi quy định cho hậu cần, bọn tù được tự do thu hoạch thân cây bắp. Đem những thân cây này nướng trên ngọn lửa rồi ngồi nhai với nhau thú vị vô cùng. Phải nói nó thơm và ngọt không thua gì món mía hấp của người miền Nam hay bán ngoài phố vào những đêm Sài Gòn lạnh. Giờ đây những người bạn bên đó đang được hưởng cái thú nhai thân cây bắp nướng, trong lúc Vĩnh và các bạn bên này bờ suối đang bành lỗ tai nghe chửi. Ngay lúc ấy một ý nghĩ khôi hài không rõ rệt nẩy ra trong đầu Vĩnh và nếu không cầm giữ kịp thời, chắc Vĩnh đã phát cười to tiếng… 
Bài học đạo đức cách mạng chấm dứt cùng với những tiếng kẻng tập trung điểm danh vang lên từ các gian nhà lô. Một số đội đã bị cấm tắm. Và suối cũng làm gì có nước mà tắm! Riêng đội 17 được quản giáo Phú lầm lỳ dẫn theo con đường nhỏ chạy bên hông trại mộc lên thượng nguồn con suối. Anh em thấy vậy ai cũng mừng. Giờ này, quả chỉ đi lên thượng nguồn hoặc mò xuống hạ nguồn may ra mới có tí nước trong để mà tắm. Nhưng ít khi nào quản giáo Phú dẫn lên tới đó trừ những ngày hắn thấy vui vui chuyện gì trong lòng. Vừa bị tổ trác cả đám, chả nhẽ quản giáo Phú lại thấy vui? Nhưng rõ ràng hắn đang dẫn đội 17 lên thượng nguồn con suối… 
Trên con đường từ suối trở về địa điểm tập trung điểm danh trước khi nhập trại, Vĩnh may mắn hết sức gặp lại được người bạn cũ từ Suối Máu lên. Mấy ngày nay Vĩnh biết anh ta đã được chuyển lên đây nhưng chưa làm sao có dịp trò chuyện. Người bạn này là Mai Mạnh Liêu. Hiện Liêu đang nằm trong đội 48, đội có nhiều anh em cũng mới được chuyển từ miền Tây lên. 
Gặp nhau cả hai đều mừng hú. Trong đời tù Hàm Tân, chỉ có một thời gian và địa điểm chỗ điểm danh nhập trại sau một ngày lao động là giúp bọn tù được liên hệ với nhau dễ nhất. Dẫu rằng bọn Trật Tự thường chạy tới chạy lui kiểm soát, nhưng cũng khó mà bắt được. Lúc đội 48 và đội 17 cùng đến địa điểm tập họp và anh em đã kiếm chỗ ngồi nghỉ chân, Vĩnh nháy Liêu lết sang ngồi cạnh nhau gần những đống gạch to tướng, xếp phía trước dãy nhà ngủ của mấy ả công an. 
Liêu gặp Vĩnh cũng mừng lắm. Vẫn vóc dáng to lớn trẻ trung, vẫn mái tóc bạc hơi sớm, hắn đập vai Vĩnh cười cười. 

– Mừng quá! Thế là mày chưa chết! 
Vĩnh nhìn quanh một vòng, hỏi vào vấn đề ngay. 
– Từ Suối Máu lên hả? Đông không? 
– Có khoảng ba mươi thằng đợt này thôi. 
– Anh em dưới đó ra sao? 
Liêu nhăn mặt, khoa tay. 
– Chuyện dài chuyện dài. Sẽ nói hết cho mày nghe sau. 
Nói đoạn Liêu nhìn quanh. Quang cảnh nơi đây có lẽ còn lạ mặt lắm với hắn. Vĩnh lại hỏi. 
– Chắc lạ lắm hả? Đến đây là nếm mùi công an nhân dân rồi… 
Liêu không nhìn Vĩnh mà nhìn vào dãy nhà tranh gần ngay đống gạch, nơi có vài đồng chí gái công an đi ra đi vào. Vĩnh giải thích. Mấy con đượi ấy là nữ công an cán bộ cả đấy. Lạ lắm hả? 
Liêu lắc đầu. 
– Lạ gì! Mày tưởng Suối Máu còn quân quản à? Cũng đổi sang chế độ công an từ tháng Mười năm rồi. 
Một lô những đội hình khác lại nối đuôi nhau từ phía suối tiến về địa điểm tập họp. Hầu hết những người ấy Vĩnh đều đã nhẵn mặt vì ngày nào cũng thấy nhau nơi địa điểm này. Kìa cái đội 18 toàn những tay già, thế nào cũng tiến đến chiếm chỗ ngồi cạnh hàng rào để có nơi tựa lưng. Vĩnh nhận ra một lô khuôn mặt cả cũ lẫn mới. Từ ông Lê Sáng Vovinam, ông nhà báo già Lam Giang, ông bác sỹ “cầu Thị Nghè”… đến những người mới tới nhưng thiên hạ biết đến ngay vì tiếng tăm ngày cũ của họ, chẳng hạn ông Khai Trí, nhất là ông cựu tỉ phú Hoàng Kim Quy. Ông Khai Trí tóc và bộ râu quai nón của ông đã bạc phơ. Ông Hoàng Kim Quy đi lao động luôn luôn đem theo cái bình nhựa loại bốn lít đựng nước uống. Trên cái bình không hiểu ông kiếm đâu ra tí sơn, đã kẻ nguyệch ngoạc một hàng chữ: Hoàng Kim Quy, 78 tuổi… 
Sau đội 18 là đội 23 lâm sản. Cái đội này luôn luôn dẫn đầu bằng một anh chàng có chiều cao vượt hẳn mọi người một cái đầu. Và trên đường về, mỗi người luôn luôn có vài cái măng đeo ngang hông hoặc vắt ngang vai. Thường thường đi sau là đội canh tác có ông nhạc sỹ Nhật Bằng làm đội trưởng. Đội nay gánh gồng nhiều nhất. Thường họ gánh thẳng về trại những cái thùng chứa phân để lấy phân cho ngày kế tiếp. Chẳng ai nói ra nhưng Vĩnh và các bạn thừa biết trong những cái thùng đựng phân ấy thế nào cũng có kẻ giấu một quả bầu, một quả bí hoặc vài quả đậu bắp… Điều này hơi dơ bẩn một tí nhưng nó là một cách duy nhất để thoát qua được sự kiểm soát của Ban Trật Tự hoặc giám thị trực… 
Liêu ngồi nhìn quang cảnh này mà không nói một câu gì. 
Vĩnh đành hỏi. 
– Lạ lắm hả? 
– Lạ gì! Đâu thì cũng thế. Có điều ở đây tao thấy nhiều nhân vật nổi tiếng quá. 
– Mày thương họ? 
Liêu cười. 

– Thương mẹ gì! Có điều tao thấy ở đây có nhiều điều kiện để giúp người ta dễ trở thành một triết nhân. Như hiện tại tao đang nằm giữa hai người, người bên phải tao là triệu phú kiêm chủ phòng trà Đêm Màu Hồng, kiêm dân biểu Trần Quý Phong; người bên trái tao là một thằng hình sự loại đâm cha chém chú. Thế nhưng tao chỉ có thể xin được mấy hạt muối từ thằng hình sự! 
Vĩnh thấy giờ điểm danh nhập trại đã bắt đầu cho những đội hình đứng phía bên trên, anh vội vàng đứng lên và cắt lời bạn. 
– Mày đã được viết thư về gia đình chưa? 
– Rồi. Có thể cuối tháng này tao được thăm. 
– Tao muốn hỏi mày nhiều chuyện về bạn bè ở Suối Máu lắm… Mày hiện làm công tác gì? 
– Công tác gì là sao? 
– Thì lao động ấy mà. 
– À! Tao đang đập đá. Đội tao đập đá cung cấp cho công trường xây nhà tù. 
Ngẫm nghĩ tí chút rồi Liêu đứng lên. Trước khi chạy nhanh về đội hình của hắn, hắn nói nhỏ. 
– Mày có biết vụ Suối Máu nổi loạn không? Bạn bè mình bị bắt tùm lum hết. Giờ sống chết chưa biết ra sao. Để có dịp tao kể cho mày nghe. 
Nói rồi Liêu đứng lên chạy về phía đội 48 của hắn. Vĩnh cũng đứng lên trở về với đội 17. Cái tin vừa rồi của Liêu làm Vĩnh ngầy ngật cả người. Thốt nhiên anh nhớ tới một góc nhà thuộc dãy cách ly trên bệnh xá Suối Máu, nhớ tới khuôn mặt của một người bị rỗ hoa, khuôn mặt của Phạm Ngọc Đông, một người bạn Hải quân từng hỏi Vĩnh nơi bệnh xá rằng ở đây ông có quen thân với ai không? Bên K.30 như thế nào? Làm loạn nổi không?… 
Những đội đầu tiên đã hàng hai bước vào cổng trại. Vĩnh từ từ tiến theo mọi người. Anh nghe thấy đủ thứ chuyện bàn tán. Thật lạ, chiều nào cũng thế, cứ đang ngồi với nhau chờ điểm danh nhập trại thì mọi người hầu như đều thừ ra như những xác chết, hoặc có chuyện trò cũng chỉ có tính chất riêng lẻ và lặng lẽ giữa hai ba người với nhau; nhưng cứ hễ bắt đầu điểm danh cho nhập trại, thì y như rằng cả ngàn cái miệng bắt đầu nhao nhao lên bàn đủ thứ chuyện với nhau. Họ làm như đây là những giây phút cuối còn nói được, vì khi bước qua cánh cổng kia không khác nào như người Do Thái bị đẩy vào phòng hơi ngạt; nơi đấy chỉ còn một tí thần trí quằn quại để đón lấy cái chết thầm câm, ngoài ra chẳng còn hơi sức đâu thị phi chuyện trần gian nữa! Trong những câu chuyện ấy, có những chuyện nói về tai họa của các đội trồng lạc trưa nay, có những chuyện về con suối cạn khô, có những lời than thở của kẻ đau răng không cách nào chữa trị, có những câu nguyền rủa bọn y tế làm khó làm dễ nhau… 
Rồi thì đội 17 cũng lần lượt hai người một tiến vào cổng trại. Như các đội trồng lạc khác, đội 17 tiến hẳn sang cánh trái của sân trại và dừng lại so hàng chờ Trật Tự đến khám. Tất cả các lon gô đem theo uống nước đều bị mở nắp để sẵn dưới chân, áo mưa cũng bỏ nằm dưới đất. Vĩnh làm theo anh em như cái máy. Anh nhìn ra giữa sân, nơi ấy, ông trưởng ban trật tự Nguyễn Quốc Hùng đang đứng bất động như một bức tượng. Hai tay ông để ra sau đít và quan sát từng người tiến vào cổng trại. Thỉnh thoảng ông chỉ một anh tù, nạt. 
– Gài cúc áo lại! 
Hoặc. 
– Tại sao lúc bước qua cổng không bỏ nón chào cán bộ? 
Đội 17 đã được khám xét xong. Dĩ nhiên chẳng có ai bị phiền hà gì. Lạc giống có lấy thì cũng đã được cất yên trong bao tử, có đâu để cho Trật Tự khám xét lấy lại được! 
Trên đường về phòng, Nguyễn Tú Cường reo khẽ bên tai Vĩnh và anh Huy như báo một tin chiến thắng. 
– Tụi nó thua tôi rồi. Chúng ta sẽ có ít nhất một ký lạc sống để đâm với muối ăn khoai. 
Nói đoạn Cường phóng chạy nhanh về phía nhà 2. Có lẽ hắn đã móc ngoặc được một tay nào đó làm bên đội mộc, và áp dụng chiến thuật “đem con bỏ chợ”, tức ăn cắp lạc giống bỏ vào nơi bí mật có hẹn hò trước. Người đội khác đi qua sẽ lấy đem về.






Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 64

Phần 63

Đầu tháng Giêng năm 1979, trại Hàm Tân trải qua một cuộc học tập và thảo luận về việc “thủ đô Nam Vang được giải phóng khỏi tay bọn đồ tể Pon-Pot và Ieng-Xary”. Trong lần học tập này, Ban Giám Thị trại cũng hân hoan loan báo.
– Việt Nam và Kampuchea là hai nước anh em xã hội chủ nghĩa, vì thế chúng ta không bao giờ được phép để hai nước phải rơi vào tình trạng môi hở răng lạnh. Nhờ đảng, nhờ nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nhờ nhân dân Việt Nam tích cực giúp đỡ, ngày nay nước Kampuchea anh em đã thực sự thoát khỏi bàn tay diệt chủng của bọn đồ tể phản bội Pon-Pot và Ieng-Xary, được hưởng hòa bình tự do no ấm và hạnh phúc thực sự. Cũng như nước ta khi mới giải phóng, nước Kampuchea anh em hiện gặp một số khó khăn mà cơ bản là những khó khăn về kinh tế. Do vậy, trong tình thân ruột thịt thắm thiết, tình láng giềng tối lửa tắt đèn, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã quyết định thắt lưng buộc bụng để có cái chi viện trợ giúp nước anh em trong cơn khó khăn. Hạt gạo hạt muối bây giờ ta lại phải cắn làm ba làm tư… Ban Giám Thị trại nêu rõ vấn đề để các anh em phạm nhân đừng lấy làm thắc mắc khi khẩu phần tinh bột của trại ta từ nay sẽ có giảm sút chút ít!… 
Tin nhân dân Kampuchea được “thực sự độc lập tự do, ấm no hạnh phúc” bỗng nhiên mờ hẳn đi trước tin khẩu phần tù bị cắt giảm khi ngày Tết ngày nhất vừa tới nơi. Những lời bàn Mao Tôn Cương tha hồ có dịp nổi lên. Và những lời bàn ấy còn nổi lên dữ dội hơn khi vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung cộng tiến quân cấp quân đoàn đánh vào các tỉnh biên giới dưới chiêu bài “dạy cho CSVN một bài học”. 
Bạch thư tố giác “chính sách bá quyền Trung Quốc và chủ nghĩa Sô-vanh của bọn phản động và phản bội” được Hà Nội ấn hành và tuyên truyền rùm beng đến tận cái xó xỉnh tù Hàm Tân này. Bọn tù một lần nữa được lôi lên hội trường để nghe cán bộ đảng khởi sự tố khổ người anh em Trung quốc vĩ đại, đồng thời cũng là bố nuôi của chúng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh ăn cướp miền Nam tự do. 
Trong văn chương bình dân Việt Nam có nhiều kiểu chửi thật tuyệt vời, từ chuyện chửi gà chửi qué đến chuyện chửi chó chửi mèo; nhưng có lẽ đây là câu chuyện chửi nghe sướng nhất mà cả nước lần đầu được nghe, ấy là chuyện thằng con Hà Nội chửi bố Trung Quốc. Thôi thì hết xẩy! Thế giới tự do bỗng dưng không tốn một xu teng mà có ngày được cả một tập tài liệu đầy đủ nhất về những cái lươn lẹo, đểu cáng, những cái bất lương, bịp bợm, lưu manh… đã xảy ra trong suốt quá trình cuộc giao du của bọn anh em ruột thịt nhà cộng sản. 
Bọn tù, mới đầu nghe cha con chúng nó đánh nhau, rồi chửi nhau, rồi công khai vạch áo cho người xem lưng thì cũng lấy làm khoái. Tuy nhiên nghe riết, nghe cả tuần lễ bắt đầu đâm nhợn. Khi tụi nó khen nhau mình cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà khen để tránh tội phản động. Khi tụi nó chửi nhau mình cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà chửi kẻo mang tội Việt gian! 
Nhưng cuộc chửi bới dù có dài đến đâu cũng có lúc phải chấm dứt. Lần lên lớp sau cùng, tên tổng giám thị trại kết luận. 
– Đất nước ta mấy mươi năm chịu đựng gian khổ, vừa thoát ra khỏi sự thống trị bạo tàn của bè lũ Mỹ ngụy, cả nước đang như một con bệnh vừa phục hồi và khởi sự bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trên cả hai miền Nam Bắc, thì bọn phong kiến nghìn đời, bọn phản bội chủ nghĩa xã hội, tức bọn bành trướng Bắc Kinh, đã chạy theo lợi nhuận được đế quốc Mỹ chia chác, trở mặt xua quân đánh phá và xâm chiếm lãnh thổ biên giới miền Bắc nước ta. Tội ác của chúng đã phạm với nhân dân ta như lá trên rừng, như nước biển Đông. Mặc dù chúng đã bị quân dân ta quyết liệt đánh đuổi và đã dành lại từng tấc đất quê hương, nhưng thiệt hại chúng để lại đã không phải là nhỏ. 

Bọn tù bên dưới đều ngồi phỗng ra nghe cán bộ đảng tả oán. Rồi thì, cũng như lần trước, gần 1.600 tù đều hoảng hốt ra mặt với câu kết luận. Trọng tâm tái thiết và cấp dưỡng hiện nay của chính phủ ta là các cơ sở vật chất bị hư hoại, cũng như đồng bào sống ở các tỉnh biên giới bị bọn bành trướng Bắc Kinh tiến công khiến mất mùa đói kém. Để tích cực đóng góp vào chiến dịch lá lành đùm lá rách của nhà nước đưa ra trong giai đoạn hiện tại, trại ta sẽ nhất trí giảm khẩu phần ăn của mỗi người xuống thêm một chút nữa… 
Rốt cuộc, xét cho cùng, số phận tù đúng là “khóc cười theo vận nước nổi trôi”. Nhà nước cười mình cũng bị thắt ruột mà nhà nước khóc mình cũng bị buộc bụng. 
Bọn tù ai cũng than thở. Mới đầu năm đến nay chưa quá hai tháng mà nhà nước đã cười và khóc hai lần, chả hiểu hết quý đầu nhà nước còn phải cười khóc mấy phen nữa!? 
Khi vãn tuồng trời lại đổ mưa tầm tã. Có người đội mưa chạy về phòng, cũng có người tà tà ngồi lại với nhau trong hội trường đợi mưa tạnh. Bên cạnh những cái điếu cày, anh em kẻ thầm thì bàn tán, người cao giọng nói xa nói xôi. Thụy kỳ chung, mọi người từ trẻ đến già, ai cũng lấy làm khôi hài cho chuyện bố con nhà cộng sản Tàu Việt đánh nhau. 
Ông Đại móm, người từng giữ chức phó quản đốc trại cải huấn Đà Lạt, thường có lối Kiều lẩy thật duyên dáng trong những lúc đấu láo với bọn trẻ, xà tới hút nhờ điếu thuốc. Sau khi ngửa cổ nhả một hơi khói no nê, ông đảo mắt quan sát một vòng; lúc biết chắc chẳng có tay trật tự hay giám thị nào, ông mới cười khẩy đọc luôn một câu thơ. 
Từ trong gian khổ bước ra, 
Vươn vai một cái rồi ta… đi vào! 
Cả bọn chả hiểu câu thơ ấy ông lượm được ở đâu, hay trong lúc ngồi nghe cán bộ đảng tả oán, ông đã cao hứng sáng tác ra; nhưng trong hoàn cảnh này, bỗng dưng được nghe một ông già chịu chơi đọc một câu thơ mỉa mai chế độ có tầm đại pháo ấy ai cũng thích thú. 
Một anh chàng trẻ tuổi cười lên tiếng. 
– Khẩu phần bớt nữa chỉ ông Đại mừng! 
Ông già Đại lại nhe hai hàm răng toàn lợi của ông ra cho mọi người thưởng lãm, rồi ông cười đáp. 
– Đúng đấy. Các cậu còn trẻ cái gì cũng nhai được. Thằng già này dẫu được cách mạng nuôi ăn rất đầy đủ sơn hào hải vị, gan trời trứng trâu, nhưng chắc có ngày chầu ông bà vì bệnh chết đói! 
Nghe ông Đại than thở Vĩnh mới sực nhớ ra cái thảm cảnh gần đây của những ông già yếu răng hoặc đã rụng gần hết răng như ông Đại. Thực ra gọi là thảm cảnh cũng không lấy gì làm quá đáng. Từ đầu năm đến nay, chẳng những tù bị giảm khẩu phần tinh bột (còn độ 300 grs mỗi ngày!), mà ngay loại tinh bột cũng bị thay đổi. Trước kia tinh bột chính trại Hàm Tân cấp phát cho tù là khoai mì lát. Và dù ai cũng biết thứ thực phẩm này không ngon lành bổ béo gì, mà còn có thể có mầm mống nguy hại cho đường tiêu hóa, vì nó còn cả vỏ; nhưng trên phương diện nhét cho đầy bụng, thì món khoai mì lát hầm tương đối già trẻ còn có thể tiếp thu được một cách dễ dàng như nhau. Gần đây, món thực phẩm này chỉ còn được cấp phát vào bữa trưa, còn bữa chiều cấp phát ngô (bắp). 
Người bạn khi nãy nói đùa rằng khẩu phần càng sút giảm càng làm ông Đại mừng cũng có lý do của anh ta. Ngô, món thực phẩm mới là một món ăn rùng rợn! Bọn tù đều kinh ngạc không hiểu nổi nguồn gốc của những hạt ngô to như đốt ngón tay, cứng như sỏi, mày của nó dai và dày như thứ nylon tốt từ đâu mà ra. Nga? Tiệp Khắc? Ba Lan?… Không ai biết được! Chỉ biết khi những bao ngô được nhận từ kho hậu cần về, anh em trong đội anh nuôi vội vàng đổ hết vào những dãy thùng phuy đặt sau bếp. Họ đổ vôi và nước vào ngâm suốt đêm. Sức nóng hầm của vôi sống có thể làm rục xương một con bò nhưng đã chịu thua trước những hạt ngô của phe xã hội chủ nghĩa! Lúc khẩu phần ngô được phát đến tay bọn tù, nó không phải là những hạt ngô bung mềm mại, mà vẫn cứng như đá và lỳ lợm nằm ngủ trong lớp mày dày như áo giáp. Vì những hạt ngô bung như thế, ngoài bọn trẻ dám ngồi nhẫn nha nhai… cả đêm cho hết khẩu phần, kỳ dư các cụ cỡ ông Đại thì đành phải đầu hàng vô điều kiện. Vô điều kiện! 

Vĩnh hút xong mấy điếu thuốc đứng lên nhìn ra trời mưa. Kết thúc một chuỗi ngày nhồi sọ chính trị bằng một chiều mưa lòng bỗng lạnh và trống khôn cùng! Đời sống tuyệt mù khốn quẫn, thụ động và chán chường. Thốt nhiên Vĩnh lại nhớ đến những dặn lòng, những tính toán, những an ủi chính mình từ những ngày đầu tiên đi tù: Ta sẽ trở thành một phóng viên chiến trường hậu chiến! Và cho tới nay Vĩnh đã “làm phóng viên” được gần 45 tháng. Bốn mươi lăm tháng số phận của cả triệu tù nhân như những hòn đá rơi xuống vực sâu, âm u, biền biệt và có cơ mất tích luôn… 
Người ra đi thì biệt vô âm tín, người ở lại thì tù tội chung thân. Thốt nhiên một câu thơ của Lưu Vân trôi qua đầu làm Vĩnh cóng lạnh. 
… Có những người không sinh ra cùng một ngày, 
Mà chết cùng một giờ… 
Chả nhẽ số phận giống nòi Việt Nam thê thảm đến thế sao? 
Vĩnh lại xà vào những đám đông kiếm thêm bi thuốc. Hội trường lúc này đã vơi thêm nhiều người. Những tiểu ban chuyên môn đã bắt đầu làm việc trở lại nơi những dãy bàn cuối hội trường. Vĩnh để ý thấy nhà thơ Ninh Chữ, trưởng ban kiêm luôn nhân viên duy nhất của Ban Thống Kê đang ngồi ghi ghi chép chép trên một đống hồ sơ. Nơi căn phòng bên cánh trái sân khấu, dịch giả kiêm thầy đồ Nguyễn Quốc Hùng, đương kim trưởng ban Ban Trật Tự trại Hàm Tân cũng đang ngồi duyệt xét một đống giấy tờ trên mặt bàn… 
Cơn mưa bây giờ đã ngớt. Mới bốn giờ chiều mà trời đã âm u tối. Vĩnh phóng chạy thật nhanh ra ngoài sân. Anh men theo hàng hiên hội trường, rồi men theo hàng hiên bếp trại. Gặp một đôi người quen mặt đứng trong bếp nhìn ra. Ông trung tá Sâm – người giờ đây đã phải đi nạng vì chân trái của ông đã hoàn toàn bại xụi – thấy Vĩnh kêu ơi ới. Vĩnh trả lời cho qua chuyện và hứa sẽ cho ông một ít mỡ rồi phóng băng qua vuông sân chạy về nhà. 
Vừa chui vào chỗ nằm Vĩnh đã nhận ngay ra vẻ xôn xao nơi một số anh em. Anh Huy xà tới bên Vĩnh, nói ngay. 
– Cha Bộ bị bắt rồi! 
Vĩnh nhìn anh, hỏi lại. 
– Bị bắt là sao? 
– Nằm cachot rồi! 
Quả thực lòng Vĩnh không xúc động lắm khi nghe tin cha Bộ bị tụi nó tống vào cachot. Nhưng anh Huy thì khác. Anh có lẽ là người ở vào thế hệ cuối cùng của những người công giáo Việt Nam xem cha là Chúa. Đụng tới cha là đụng tới Chúa. Cái tinh thần này một phần đã tạo thành cá tính đặc thù của những người công giáo Việt Nam, đặc biệt ở những người công giáo di cư năm 1954. 
Tuy thế Vĩnh vẫn hỏi để biết cho rõ chuyện. 
– Mà sao vậy? Khi nãy tôi mới gặp ngài ngồi trên hội trường mà!? 
– Thì vậy. Nhưng sau khi tan hàng về phòng, Trật Tự đem lệnh Giám Thị xuống còng dẫn nhốt cachot rồi. 
Câu chuyện được anh Huy tiếp tục kể, theo đó Vĩnh được biết rằng cha Bộ bị nhốt cachot vì ngài đã hơi quá lạc quan trước viễn tượng sụp đổ của Hà Nội. Trong lúc đi lao động, ngài đã công khai tuyên bố với anh em cùng đội rằng, 30 tháng Tư tới đây ngài sẽ về dâng lễ tạ ơn chung cho mọi người tại nhà thờ Bình Triệu. Khổ cho ngài, đội trưởng Minh của ngài, một con chiên ngoan đạo và nghe nói hình như cũng từng một thời ở chủng viện, một chức sắc kỳ cựu của trại, có cái đầu sói bóng lộng, đã vì chức năng đội trưởng mà báo cáo câu nói phản động của vị linh mục lên Ban Giám Thị. 

Cha Bộ, liên tiếp mấy ngày qua đã nghỉ lao động và được gọi lên trình diện giám thị trực để trả lời về những câu thẩm cung của cách mạng. Hôm nay cha mới bị cùm vào khu biệt giam do bởi câu xác nhận của cha: Chính tôi đã nói câu ấy! 
Vĩnh ngồi lắng nghe anh Huy kể tự sự. Sau cùng anh hằn học kết luận. 
– Tôi không ngờ thằng Minh nó lại Judah như thế! Đến cha mà nó cũng… 
Rồi thì trước khi bỏ đi, anh nói câu cuối. Chúng nó khám đồ của cha lấy mất hộp đựng Mình Thánh Chúa rồi. Tuần trước tôi mới chuyển cho cha gần một trăm bánh thánh. Cha giữ giờ mất cả. Khổ quá! 
Vĩnh mệt mỏi ngả người xuống sạp gỗ. Vào giờ này anh em đã bắt đầu sửa soạn nồi niêu và những thực phẩm cho việc nấu nướng ban chiều. Những người “nghèo” thì nằm khoèo chờ khẩu phần ngô bung xã hội chủ nghĩa hiện đã có cái tên mới là ngô “Vỏ Nguyên Giáp”, tức ngô còn nguyên lớp mày cứng như cái áo giáp bọc ngoài. 
Chiều nay Vĩnh chẳng lý gì tới chuyện bếp núc. Tất cả giao khoán cho đám Ý, Huy và Điểu lo. Anh nằm nghĩ ngợi với một cái đầu trống rỗng. Hình ảnh ông luật sư Lê Quốc Việt vẫn như mọi chiều xuất hiện trong tầm nhìn của Vĩnh. Ông đang rón rén chiết ra khỏi keo chao tí mỡ, rón rén múc ra khỏi lọ tí mắm ruốc, rón rén moi ra khỏi bao vắt mì rồi rón rén bưng nồi chạy ra sau bếp với mấy thanh củi nhỏ kẹp nơi nách. Hoặc hình ảnh của đội trưởng Lễ. Trong lúc ngồi sắp xếp những cái cần cho một cuộc nấu nướng, đôi mắt hắn vẫn đảo nhanh chung quanh như sợ có kẻ thình lình đánh vào gáy mình… Cũng nằm nơi đây, trong bóng chiều nhá nhem đang đổ xuống khung cửa sổ còn ướt nước mưa, có lúc Vĩnh nghe thấy những bước chân chạy rầm rập phía ngoài, những tiếng la hét báo động. 
– Mưa nữa! 
– Chạy! 
– Coi chừng đổ cái nồi! 
– Kéo mớ củi vào! Kéo mớ củi vào! Ướt hết! 
Đó là những tiếng la hét của những người đang tranh thủ thời gian còn lại của buổi chiều để nấu một nồi mì, một nồi nui hay bất cứ cái gì mà họ có thể nấu được, để nhét cho đầy bụng trong bữa ăn tối. Cũng có lúc đầu óc Vĩnh lại trôi dạt về phía hội trường, lại nghe rõ mồn một tiếng tố khổ “người anh em ruột thịt Trung quốc” của tên tổng giám thị. Cũng có lúc Vĩnh nhìn sang phía đối diện với cái đầu tỉnh táo hơn. Anh thấy ông đội phó Thuận, người mà ngày nay Vĩnh đã biết rõ hơn về tiểu sử, rằng ông có bút hiệu Châu Sơn khi soạn sách giáo khoa Việt văn và bút hiệu Thái Vị Thủy khi cao hứng làm thơ. Quả thật ở với nhau một thời gian rồi, ấy thế mà Vĩnh chưa có dịp nào trò chuyện với ông đội phó cả. Ông xuất hiện trong đội 17 này như một người thật cô đơn. Hàng ngày ông lao động vừa phải, hình như pha chút mệt mỏi; từ ngày ông về đây, phải thú nhận ông chưa hề làm một điều gì phật lòng anh em cả. Thế nhưng ông vẫn cô đơn và anh em vẫn chưa ai bắt chuyện tâm tình với ông. Có lẽ đây là sự công hiệu của những cái tin do những người cũ nơi đây bắn qua: Coi chừng, tổ sư bồ đề đấy! 
Vĩnh nằm nhìn ông Thuận. Quả trong lòng Vĩnh không hề có tí ác cảm nào với ông. Rất có thể Vĩnh chưa bị đứt tay nên chưa thấy xót? Nhưng Vĩnh biết chắc chắn một điều, đối với ông đội phó ít khi nấu nướng linh tinh, không chơi thân với ai, rất chịu khó đọc sách cách mạng và rất năng ghi chép những gì hay đọc được trong sách, Vĩnh chả hề có một cảm giác e ngại nào. Chưa tiện dịp để mà bắt chuyện với nhau đấy thôi. 
Nhớ tháng trước, lúc trại còn cho mượn sách đọc, trưa nào đi lao động về ông Thuận cũng xếp hàng đứng chờ người kéo xe chở sách đi qua để mượn cho bằng được vài cuốn. Đội 17 hình như chỉ có ba người thường mượn sách đọc. Người thứ nhất là ông Thuận. Người thứ hai là anh Huy. Người thứ ba là người điên Trương Hồng. Cũng có đôi lần Vĩnh tự nhủ, muốn đánh cộng sản phải hiểu rõ cộng sản về cả hai mặt tri và hành của chúng. Sống dưới nách chúng tức nghiễm nhiên được hấp thụ kiến thức về sự hành của chúng; còn muốn biết chúng tri cái gì thì không gì bằng siêng đọc sách của chúng viết. Biết thế, nhưng trưa đi lao động về, phải nối đuôi nhau xếp hàng dưới trời nắng, chờ cái xe cải tiến chở đầy sách đi tới trước hàng rào nơi khu mình ở, để ghi tên mượn được quyển sách, vài ba lần khiến Vĩnh phát mệt và đâm chán. Chỉ có ba vị trên của đội 17 là trung thành với việc đọc sách mà thôi. Gần đây, việc xếp hàng mượn sách đã chấm dứt, vì ban giám thị trại đã thông báo rằng: cách mạng cho các anh mượn sách đọc nhằm bồi dưỡng tinh thần các anh về mặt tư tưởng của xã hội mới; nhưng qua theo dõi và nghiên cứu, Ban Giám Thị thấy rằng hầu như những người năng mượn sách không đọc với tinh thần học hỏi, mà đã đọc với tinh thần bới lông tìm vết, tìm những cái sơ hở của các tác giả cách mạng để đặt điều xuyên tạc công kích… 

Từ ngày cách mạng hoảng hốt cấm không cho tù đọc cả sách do chính cách mạng viết ra, ông Thuận càng năng ghi chép hơn nữa. Đã nhiều lần Vĩnh dặn lòng sẽ bắt tay anh già xồn xồn này xem anh ta nghiên cứu gì về Mác-Lê mà ghê thế!? 
Rồi thì buổi chiều đã thật sự ập xuống. Mưa đã tạnh hẳn. Ngoài sân trại, những người trực lãnh phần ăn cho các đội từ bếp chạy về với những thau ngô vàng au. Bóng những chiếc áo vàng của bọn giám thị có trật tự đi theo đã chập chờn đó đây. Chúng kiểm soát ngoài khu bếp, hò hét vài ba anh tù nấu nướng sai chỗ quy định, hoặc chận hỏi một người mà chúng tình nghi đang tìm cách liên hệ linh tinh với một người khác nhà khác đội ngoài sân. 
Tiếng kẻng tắt lửa và tập họp điểm danh đã vang lên. Nồi mì to tướng của đám Vĩnh đã được anh Huy khệ nệ khuân vào đặt ngay chỗ nằm của anh. Vĩnh ngó sang khu nhà 2 và 3. Bên đó họ điểm danh xong và từng cặp từng cặp đang nối đuôi nhau lặng lẽ chui vào chuồng trước nhiều cặp mắt cú vọ của bọn cai tù và trật tự. Một tiếng la lớn ngay ngoài cửa nhà 5 cất lên. Vĩnh nhận ra khuôn mặt quen thuộc của anh chàng trật tự. Anh phóng vào phòng, du người lên tầng trên xem có ai còn nằm nướng hay không, miệng hét inh ỏi. 
– Ra hết! Ra hết! Ốm đau gì cũng phải ra điểm danh hết! 
Câu hét quen thuộc ấy nghe đã nhàm nhưng chẳng ai mà không tuân theo. Vĩnh rời khỏi bục nằm và nối đuôi anh em ra ngoài vuông sân bên hông phòng…




Người đi tiên phong

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 Nov 2016 

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Tôi và V. ngồi ở ban-công lầu hai khách sạn Sông Thương trên đường Đào Duy Anh, nhìn xuống đường. Giờ nầy, con đường hơi vắng, không xe cô ồn ào như trong giờ cao điểm.

Chỉ xuống một bóng người ngồi bên kia đường, V. nói với tôi:

_ “Đó! Danh ca của anh đó!”

Tôi nhớ đã mấy lần tôi nghe tiếng hát đó, từ phía dưới đường vẳng lại, trong khi tôi còn ngủ mơ màng. Nghe nhạc, mà nghe trong giấc ngủ mơ màng, là điều tôi từng thích, khi còn trẻ.

Hồi ấy, không có phương tiện âm thanh dồi dào như bây giờ. Nhà nào có radio điện đã là khó. Khu vực ngoại ô tôi ở hồi ấy chưa có điện, radio transistor chưa ra đời, thành ra, mỗi buổi sáng, khi tôi còn ngủ mơ màng, nghe tiếng hát, chính là tiếng hát cô em gái tôi. Em tôi thường dậy sớm, đang làm một công việc gì đó, quét nhà hay dọn dẹp mùng mền, vừa làm vừa hát – con nhỏ thích hát – dù hay hay dở, giọng hát trẻ bao giờ nghe cũng dễ nghe. Đầu thập niên 1950, bài hát chưa có nhiều, quanh đi quẩn lại, cũng chỉ những bài quen thuộc. “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt”, hoặc là “Người ơi! Nhớ chăng, mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong” hay “Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối”…

Nhà tôi ở là nhà từ đường. Bát nhang trên bàn thờ nhiều hơn người trong nhà, nên trong cái vắng lặng của buổi sớm mai, trong cái lành lạnh của hơi nước sông Thạch Hãn kế bên nhà bay lên, trong cái âm u của hồn ma bóng quế đang lấp ló đâu đó sau những bức rèm trước bàn thờ, tôi cảm nhận cái hay của âm nhạc một cách dễ dàng, trong cơn ngủ muộn, vừa thấm đậm vừa buồn, như ăn sâu vào tuổi niên thiếu của tôi.

Tôi có mê nhạc cũng không có gì lạ cả. Ấy là chưa kể, cái tính mê ca hát, từ nơi mẹ tôi ảnh hưởng đến tôi – mẹ tôi thường ca Huế, nghêu ngao mỗi khi mẹ tôi rảnh rổi – ấy là chưa kể ông cậu họ tôi, là một người nổi tiếng vui thú cầm ca trên sông Hương ở đất Thần kinh.

Một lúc sau, tôi nói với V.:

_ “Con nhỏ hát hay lắm đó!”

Quả thật, cái bóng nhỏ nhoi ngồi bên kia đường là một con nhỏ, một con nhỏ mù bẩm sinh. Nó ngồi bên kia đường, sau một cái thùng gỗ, có thể là cái võ bằng gỗ đựng bia chai. Trên cái thùng gỗ là những tấm vé số được chưng bày theo hàng lối ngang dọc đẹp mắt. Phía sau nó là một cây đàn “ghita” thùng, dựng vào bờ tường rào ngôi nhà phía trong.

Đầu nó đội cái nón lá hơi cũ, chưa đến nỗi rách bươm như người ta thường thấy ở mấy người ăn mày. Trên mình là chiếc áo sơ mi tay lững, màu xanh biển, quần đen, có lẽ quần ta.

Một lúc, tôi nói với V.:

_ “Em chê anh nói sai à? Nó hát như một danh ca.”

_ “Không! Em không nói vậy. Cả khu nầy, ai cũng khen nó hát hay, hay lắm.” V. trả lời.

_ “Làm ca sĩ, người ta cần có một là giọng, hai là hơi và ba là gì, em biết không?”

_ “Ba là cái hồn trong câu hát. Hát mà vô hồn thì ai nghe!”

_ “Hồn là sự xúc cảm của người hát, có hồn mới có truyền cảm. Có người hát tự nhiên mà có hồn, có xúc cảm, như Sĩ Phú chẳng hạn, phải không?” Tôi hỏi V.

_ “Còn anh nghĩ Khánh Ly, Lệ Thu thì sao?”

_ “Hồi trước, báo chí Saigon nhận xét, Khánh Ly “hát từ nơi miệng”, Lệ Thu thì hát từ trong bụng”. Vậy mà người nào hát cũng hay.”

_ “Khánh Ly chỉ hay khi hát Trịnh Công Sơn.” V. nói.

_ “Có lần tổng thống Thiệu cũng nói vậy. Nhạc Trịnh Công Sơn mà lên là nhờ Khánh Ly.”

_ “Tổng thống mà cũng mê nhạc dữ!” V. nói.

_ “Cả miền Nam, riêng gì ổng. Trước 1975, cả miền Nam ai cũng mê nhạc, nhạc lính, nhạc tình, nhạc Bolero.”

_ “Con nhỏ nầy nó hát Bolero hay lắm. Anh có để ý không?” V. hỏi.

_ “Hôm qua nó hát mấy bài của “vua Bolero”: “Trên bốn vùng chiến thuật”, “Kẻ ở miền xa”, “Đò Chiều” làm anh nhớ hồi còn ở lính. “Áo nhà binh thương lính, lính thương quê”. Không biết Trúc Phương có ở lính không mà ông viết hay vậy, đúng tâm trạng người lính.”

_ “Hôm ông qua đời, báo chí ở đây mai mỉa ông “đi chuyến “Đò Chiều”. Hận thù chi mà lâu dữ.” V. nhắc lại chuyện cũ.

_ “Người ta dạy như vậy mà. Còn chế độ thì còn hận thù. Hận thù không còn thì chế độ cũng “đi đoong”. Họ không mai mỉa người nhạc sĩ chống lại chế độ sao được, dù chống bằng âm nhạc.” Tôi nói.

_ “Bằng tình thương mới là nguy hiểm.” Tôi nói thêm.

_ “Trước thì vậy! Bây giờ hát tùm lum. Đài nào, văn nghệ nào, không có nhạc vàng, ai mà nghe.” V. nhận xét.

_ “Có hai điều cần nói: “Nhạc vàng là nhạc của dân miền Nam, nói chung. Phần đông, ai cũng thích nhạc vàng, ai cũng hát nhạc vàng, ngoại trừ số người già, người ở quê thích cải lương. Nhạc vàng, cải lương, tính giai cấp tiểu tư sản cũng như nhau, ngoại trừ một số nhỏ, bần nông, cố nông mới không ưa thứ văn nghệ nầy. Người Bắc vô Nam, sau 1975, ban đầu thì tuyên truyền, vì bản chất nông dân vô sản, chê nhạc vàng, chê quần ống loe, coi như “ngon lành” lắm, nhưng rồi càng ngày càng khá lên, giàu lên, càng mở rộng nhãn quan xã hội, hoặc có khi “thừa cơm rửng mỡ”, “phú quí sinh lễ nghĩa”, đâm ra thích nhạc vàng. Không nghe nhạc vàng là còn “quê Bắc Kỳ” đó, phải không? Bây giờ mà không nghe nhạc vàng thì nghe gì? Không lý nghe “Như có bác Hồ…”

Nghe câu chót, tôi và V. cùng cười.

_ “Ca sĩ hải ngoại bây giờ về nước hát nhiều lắm!” V. nói

_ “Về là phải!” Tôi tán thành.

_ “Anh nói nghe lạ! Không phải bên Mỹ người ta chống dữ lắm?”

_ “Chống chớ! Anh thì không?” Tôi nói.

_ “Anh nói kỳ! Không lý đầu hàng?” V. nói.

-Vấn đề nầy có hai mặt: Một là về kiếm ăn, là “đầu hàng”. Hát trong nước, “cachet” cao hơn. Hai là về với tinh thần…” Tôi nói.

_ “Tinh thần gì?” V. hỏi.

_ “Em nhớ vụ “Nhân Văn” ngoài Bắc hồi trước không? Mấy chả kéo nhau đi ở tù hết, nhưng cái dư âm của nó đến bây giờ chưa dứt. Họ đúng là những người “Nay ở trong thơ nên có thép” như Hồ Chí Minh nói vậy. Nhưng thép đó lại đâm vào chế độ Hà Nội.

_ “Còn bây giờ?” V. hỏi

_ “Với những người về nước kiếm ăn hay những người trong nước ra với “nghị quyết 36” thì không nói. Còn những ai cho rằng tiếng hát của mình có thép thì anh hoan hô.”

_ “Tiếng hát có thép là sao?” V. hỏi.

–“Việt Nam tôi đâu?” không phải là thép sao? “Hãy đứng lên” không phải là thép sao? Thép trong nước và thép hải ngoại đứng chung một giới tuyến thì thành cái gì? Chế độ không sợ sao?” Tôi giải thích.

_ “Anh nói vậy thì em hiểu! Nhưng khó lắm.” V. nói

_ “Không những khó mà phải trường kỳ, cam đảm, không biết sợ. Thời “Nhân văn” khó hơn bây giờ, dễ sợ hơn bây giờ, như ông Nguyễn Hữu Đang là cái gương đấy. Có người sẽ như họ, can đảm hơn họ, không “biết hèn” như Nguyễn Tuân. Theo đó thì ca sĩ, nghệ sĩ là người tiên phong vậy!” Tôi nói.

_ “Võ khí của họ là tiếng hát. Họ hát gì?” V. hỏi.

_ “Họ hát như Việt Khang vậy. Nếu chưa hát được như Việt Khang thì họ hát “Bạch Đằng Giang”, “Bóng cờ lau” thậm chí cả “Dòng Sông Hát”, những bài ca lịch sử,  hoặc có bài mới soạn, khi phổ biến tràn lan, nhà cầm quyền với hiểu, mới cấm, cũng đã trễ. Hy vọng đến một lúc nào đó, không chỉ ca sĩ hát mà thanh niên cũng hát, ca đoàn cũng hát, công nhân cũng hát, nông dân cũng hát thì chính quyền có cấm cũng không cấm được nữa, không kiểm soát nổi. “Đồng thanh tương ứng” mà.

_ “Anh hơi lạc quan phải không?” V. hỏi.

_ “Cũng có thể, nhưng một lúc nào đó, hy vọng không xa, nó sẽ tới. Sự sụp đổ của một chế độ, phong kiến, đế chế, quân chủ, độc tài… là từ trong lòng chế độ ấy, không phải từ bên ngoài…”

***

Bỗng tôi hỏi V.

_ “Con nhỏ nầy hát toàn nhạc vàng, phải không?

_ “Không thì ai mà nghe! Người ta nghe đông lắm, nhất là khi nó hát Bolero.”

_ “Công An không bắt?” Tôi hỏi.

_ “Công An cũng nghe, bắt gì!” V. trả lời.

_ “Cũng là một “vai trò” đấy. Chế độ đành bất lực, càng ngày càng bất lực.” Tôi lên tiếng.

_ “Cứ cái đà Bolero nầy, nó sẽ “khuấy động” cả miền Nam cho mà coi, không chừng cả miền Bắc nữa, chế độ sẽ không yên với cái thép Bolero nầy đâu!” Tôi giải thích.

_ “Sao vây? V. hỏi.

_ “Em biết không? Bolero là âm nhạc của miền Nam, nó phát triển sâu rộng – vừa sâu vừa rộng – khắp cả miền Nam, bất phân già trẻ, đàn ông, đàn bà, thành thị thôn quê. Điệu nhạc du dương, êm đềm, nhẹ nhàng ấy sẽ là một vũ khí mạnh mẽ, chế độ không làm gì được đấy. “Nhu thắng cương” là vậy.” Tôi nói.

_ “Anh nghĩ “Nước chảy đá mòn.” Mà sao điệu Bolero phổ biến như vậy anh?” V. hỏi.

_ “Công của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đó.” Tôi giải thích.

_ “Anh nói em không hiểu. Em không nghĩ cụ Diệm là người ưa âm nhạc mới. Âm nhạc cải cách.” V. nói.

_ “Đúng đấy! Thởi ông làm tổng thống, ổng cấm “Tư đổ tường.” Tôi nói.

_ “Tứ đổ tường là gì?” V. lại hỏi.

_ “Em không hiểu là phải, lúc ấy, “Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời” mà.” Tôi cười nhìn V. và nói.

_ “Thôi đừng giởn nữa. Anh giải thích đi. Em muốn biết đây.” Vừa cười, V. vừa cằn nhằn.

_ “Như thế nầy. Tổng thống là cụ đồ Nho, đạo đức Nho phong dữ lắm nên ra lệnh cấm “hút xách, cờ bạc, đĩ điếm, rượu chè. Bốn thứ là “tứ”. Nhảy đầm cũng bị cấm, trai gái ôm nhau mà nhảy là gai mắt cụ, phạm “thuần phong mỹ tục” nên cụ cấm.” Tôi giải thích.

_ “Nhạc Bolero cũng là nhạc nhảy đầm?’ V. hỏi.

_ “Em từng nhảy đầm mà hỏi trật lất. Valse, tango, blue mới nhảy đầm. Khi vũ trường bị cấm, âm nhạc bèn “xuống đường”. Nhạc “xuống đường” đâu có thể là nhạc vũ trường. Với lại thời bấy giờ hòa bình, giáo dục, âm nhạc, nghệ thuật, văn học đều phát triển thì nhạc ở nơi công cộng phải là Bolero chớ! Bolero là âm nhạc của đường phố”.

Một lúc sau, tôi nói tiếp:

_ “Nhạc cổ điển thì mạnh ở châu Âu, nhạc nhảy đầm nơi công chúng đông đảo, giữa trời nắng chang chang, là âm nhạc của Nam Mỹ. Người Mỹ họ gọi những bữa ăn ngoài trời, thường nướng thịt bò, khoai Tây là “cook out”. “Cúc ao” là vừa ăn, vừa nhảy đầm giữa trời. Cảnh nầy anh chỉ đọc trong sách với nghe nói. Thấy thì thấy trong phim “Giant”, có diễn cảnh đó.

_ “Rồi mình bắt chước?” V. hỏi.

_ “Nhạc Tây phương thì nhạc sĩ mình bắt chước. Nhưng nhạc sĩ miền Nam hồi xưa khéo lắm. Họ dùng điệu Bolero của Nam Mỹ, nhưng người “Mếc-xì-cô” họ hát nhanh, mình chơi chậm lại, chậm là vì tâm hồn người Việt mình. Người Tây phương thì sôi nổi, cuồng nhiệt; người Việt mình thì trầm lắng, êm đềm, nhẹ nhàng, dễ diễn tả tâm hồn người Việt. Thiệt tài tình.”

***

Tôi nói:

_ “Anh hỏi hơi tò mò một chút. Con nhỏ “danh ca” có cha mẹ không. Chồng nó đâu?”

_ “Cha mẹ mất ở Kinh Tế Mới. Người ta đưa nó về Trường Mù khi nó mới năm, bảy tuổi gì đó.” V. giải thích.

_ “Rồi có chồng?” Tôi hỏi.

_ “Thằng chồng nó cũng con mồ côi, quê đâu ở miền Tây. Cả hai đều mê âm nhạc. Khi thằng chồng cùng bạn bè tới biểu diễn ở trường mù, anh chị phải lòng nhau. Con nhỏ bỏ trường đi theo. Hồi đó hai đứa có cái xe “loa”. Con vợ đẩy xe, chồng bán vé số dọc đường phố. Được một năm, thằng chồng bỏ vợ theo một ban nhạc, đi biểu diễn ở các tụ điểm. Mê âm nhạc hơn mê vợ.”

_ “Không đem vợ đi theo?” Tôi hỏi.

_ “Chưa kịp đem theo thì chồng vô tù.” V. nói.

_ “Vô tù? Vụ gì?” Tôi nôn nóng hỏi.

_ “Vụ gì nữa, cũng dùng âm nhac để phản kháng, như Việt Khang vậy” V. giải thích.

Một lúc, V. kể tiếp:

_ “Mất chồng. Con nhỏ về đây, bán vé số sống qua ngày.”

_ “Tôi nghiệp chưa? Tôi than.

_ “Ban đầu mới tội. Lợi dụng con nhỏ mù, người ta ăn gian nó. Mất tiền, ngày nào cũng khóc. Bây giờ thì hết rồi.” V. nói.

_ “Người ta không còn ăn gian nó nữa?” Tôi hỏi.

_ “Sức mấy! Saigon bây giờ là “thành phố bác” mà anh! Nhờ nó biết “sờ” tiền. Nó “sờ” tiền hay lắm! Cầm tờ giấy bạc, nó “sờ sờ” là biết tờ giấy giá bao nhiêu. Người ta không còn ăn gian nó được nữa. Tài không? “Sờ” tờ giấy mà nó biết. Sao vậy anh?” V. hỏi.

_ “Tạo hóa em à! Tạo hóa nhiệm mầu. Mất giác quan nầy, trời cho phát triển cái giác quan khác. Bên Mỹ, thằng mù casĩ Bocelli hát hay kinh khủng. Mất thị giác, âm thanh, xúc giác trở thành nhạy bén, “sờ” là biết đồng tiền. Trời cho cả đó!” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi hỏi:

_ “Em hay cho tiền nó không?”

_ “Cho hoài. Thương lắm anh à! Số phận con người sao mà nghiệt ngã vậy! V. nói.

  1. lại hỏi tôi:

            _ “Anh nghĩ, hai đứa nầy có bỏ nhau không?”

            _ “Em nghĩ sao?” Tôi hỏi ngược lại.

            _ “Em thì không! Linh tính cho em thấy hai đứa nầy không bỏ nhau!” V. giải thích.

            _ “Anh cũng nghĩ vậy. Anh căn cứ cái bản chất của nó. Hai đứa cùng đam mê âm nhạc mà đến với nhau. Theo Tây phương thì “Yêu không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn về môt hướng.” Hai đứa nhìn nhau thì bỏ nhau dễ lắm, còn nhìn về một hướng thì họ sẽ nắm tay nhau mà đi, đi tiếp”.

            _ “Câu nói đó là của một nhà văn Pháp anh à!” V. góp ý.

            _ “Đúng đó” – Tôi nói – của Exupery, ông nầy viết hay lắm. Nhưng Việt Nam mình viết hay hơn, tình cảm hơn.”

            _ “Ai?” V. đột ngột hỏi.

            Tôi không trả lời ngay câu hỏi, đọc bốn câu thơ:

                        “Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa

                        Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau!

                        Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,

                        Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau!

_ “Anh làm?” V. hỏi tôi.

_ “Sức mấy. Thi bá đó em!” Tôi cười trả lời.

_ “Vũ Hoàng Chương?” V. hỏi.

_ “Có lẽ ông ấy làm bài thơ nầy sau tháng Tư, Bảy lăm. Không những bi quan mà còn tuyệt vọng. Em nghĩ “ba kiếp lang thang” là cái gì không?” Tôi hỏi.

  1. giải thích:

_ “Quá khứ, hiện tại, tương lai. Ba kiếp chụm làm một, có phải sau ngày đó, người miền Nam không còn quá khứ, không có tương lai, còn hiện tại thì trơ cứng lại. Phải không?”

_ “Mai mốt em thế anh làm giáo sư Việt Văn được rồi đó.”

_ “Ai cho anh dạy học mà mơ! Bỏ đi Tám.” V. chọc quê tôi.

Tôi nói:

_ “Bây giờ tình hình khác hồi đó. Người ta bản lĩnh hơn, ít sợ hơn, dũng mãnh hơn. Bi quan cũng không, nói chi tuyệt vọng như Vũ Hoàng Chương. Con nhỏ mù sẽ mở mắt ra, đón thằng chồng trong tù về…”

  1. nói:

_ “Nhưng số phận vẫn còn nghiệt ngã. Mù bẩm sinh. Cho nó ra đời mà bắt nó mù. Tôi nghiệp cho nó.”

_ “Em nói tội nghiệp là nói theo nhà Phật. Cái nghiệp của kiếp trước là cái mù của kiếp nầy. Ai tin thì tin, anh không tin. Nhân quả thì có, nhưng cho đó là cái nghiệp của kiếp trước thì tin sao đươc? Đó là sự tình cờ của Tạo hóa. Đời không có số phận, chỉ có hazard. Tự mình tìm tới đó chớ. “Cứ tìm những chốn đoạn trường mà đi” Cái đoạn trường của Kiều là do cô tìm tới mà thôi.” Tôi nói.

_ “Vậy cái mù của con nhỏ do đâu mà ra?” V. lại hỏi tôi.

_ “Do đâu à? Do ông Trời, do Hóa Nhi, do Trẻ Tạo, do Lão Tặc Thiên, do “Chết đuối người trên cạn mà chơi.”

_ “Ông trời độc ác?” V, cười hỏi tôi.

Tôi không góp chuyện nữa, lại đọc mấy câu thơ của Huy Cận:

            Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

            Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

            Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

            Đã sinh ra thân thể của con người.

ThanksGiving 2016

hoànglonghải

Mẹ Việt Nam!

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 May 2018 

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Trước 1945, – rõ ra là trước khi Cộng Sản nắm chính quyền ở nước ta, – hồi đó cũng đã biết khôn, tôi không thấy có việc ca ngợi “Mẹ Việt Nam” như sau nầy, phía vùng Cộng Sản cũng như vùng Quốc Gia.

Bấy giờ, chỉ có “Lễ Hai Bà Trưng”, nhưng mà do Tây xúi người Việt Nam thực hành.

Chuyện khá buồn cười phải không?

Sau khi Tây đầu hàng Đức ở bên Tây (1940), thì Tây bên xứ Đông Dương nầy thấy lạnh giò. Sợ người “dân An Nam” lợi dụng cơ hội nầy nổi lên chống Tây, Tây bèn lập mưu đổi hướng kẻ thù. Thay vì kẻ thù là Tây cướp nước ta, Tây bèn “vẽ” lại lịch sử nước ta “chống Tầu”. Thay vì kẻ thù là “ông Tây mắt xanh mũi lõ’, thì Tây làm nhiều việc tuyên truyền, nhiều nhất là “bích chương” dán ở các trường học, vẽ lại câu chuyện “Hai Bà Trưng chống Tô Định”, “Lê Lợi chống quân Minh”, “Sông Bạch Đằng” với Ngô Quyền phá quân Nam Hán, giết Hoàng Thao, Hưng Đạo đại phá quân Mông Cổ… Kẻ thù là “chú Ba tóc bỏ đuôi chuột”.

Các bài ca lịch sử của Hoàng Quí, Hoàng Giác xuất hiện trong thời gian nầy, nhiều nhất là được hát trong các đoàn Hướng Đạo.

Tôi không thấy tranh truyện Quang Trung phá quân Thanh vì ông Bảo Đại (nhà Nguyễn, dòng dõi vua Gia Long) còn ngồi trên ngai vàng hay chăng? Ca ngợi ông Quang Trung sợ “đụng chạm” với ông Nguyễn Ánh?). Ấy là chưa nói tới chuyện thể thao như đá bóng, đua xe đạp vòng Đông Dương của De Couroix, v.v…

&

Khi chiến tranh Việt Pháp (1956-54) bùng nổ, trong vùng Việt Minh xuất hiện nhiều câu chuyện ca ngợi “Mẹ Việt Nam”, “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng”. Nhiều hoạt động như thế được căn cứ trên sự thực, cụ thể như câu chuyện “Bà Mẹ Gio Linh” ở một bài hát của Phạm Duy. Có nhiều chuyện có tính tổng quát, hình ảnh chung của người Mẹ Việt Nam như bài hát “Bà Mẹ Quê”, cũng của Phạm Duy. Dĩ nhiên trong “vùng Việt Minh” mà Việt Minh gọi là “vùng Tự Do” có nhiều câu chuyện ảo về Bà Mẹ Việt Nam, chuyện bịa, giống như chuyện Lê Văn Tám (Đuốc Sống) do Trần Huy Liệu bày đặt ra.

Việt Cộng bịa nhiều chuyện cũng hay, nghe bùi tai, cảm động, nhiều chuyện bịa trắng trợn, nhưng các “Bà Mẹ Quê” chất phát, thật thà, thường dễ bị Việt Cộng lừa.

Những chuyện bịa, tuyên truyền thường có tính cách lợi dụng, xúi bậy người dân quê Việt Nam, hy sinh cho “cách mạng” qua những việc như các Mẹ chăm sóc cơm nước cho bộ đội, tiếp tế cho cán bộ, làm giao liên, v.v…

Sự việc không thật lòng, chỉ nhằm lợi dụng các bà mẹ nhẹ dạ, thương người, thương con cháu… chỉ tạo nên những điều đau lòng.

Còn thực tế thì sao? Sẽ nói ở đoạn sau!

Chính quyền miền Nam cũng tuyên truyền, tổ chức, hoan nghênh, ca ngợi, tưởng nhớ có khác ít nhiều với Việt Cộng. Người quốc gia không nặng tuyên truyền mà thực tâm hơn, thậm chí có những tác phẩm văn, thơ, kịch nhạc ca ngợi Mẹ một cách chân thành. Lòng yêu kính người Mẹ của người nghệ sĩ miền Nam bắt nguồn từ trong lòng hiếu thảo, thương yêu cha mẹ từ trong truyền thống văn hóa của dân tộc, từ những văn nghệ sĩ chân chính chớ không phải từ bộ Thông Tin, Dân Vận Chiêu Hồi, cơ quan Tâm Lý Chiến hay từ Ban Dân Vận Trung ương như Việt Cộng…

Năm 1949, khi ông cả của tôi bị Tây bắt bỏ tù vì tội “làm Việt Minh, chống Tây”, – lúc đó, tôi mới 12 tuổi -, theo Mẹ tôi đi thăm nuôi ông anh đang ở trong tù, có khi đi ngang qua “càphê Lạc Sơn” trước chợ Đông Ba (Huế), tôi từng nghe trên loa của tiệm càphê nầy phát bài “Bà Tư bán hàng có bốn người con” của Lê Thương. Trần Văn Trạch hát diểu rất “vô duyên” thành “Bà Tư bán hàng có bốn người…yêu” và bài “Con chim hòa bình đang đau nặng, Ngày và đêm (có người hát “Mẹ Việt Nam”) càng thêm lo lắng”. Có lẽ đó là lần đầu tiên tôi nghe hát mấy tiếng “Mẹ Việt Nam”…

Được viết ra từ những tâm hồn chân thật, người miền Nam xúc động thật sự về những tác phẩm ca ngợi Mẹ như “Lòng Mẹ” của Y Vân, “Huyền thoại Mẹ” của Trịnh Công Sơn, “Lá thư gửi Mẹ” của Nguyễn Hiền, “Lối về đất Mẹ” của Duy Khánh, “Mẹ Việt Nam ơi” Nguyễn Ánh 9, tất cả không dưới 10 bài… Về thơ ca ngợi Mẹ thì nhiều vô số, không kể hết được.

Năm 1980, bọn tù cải tạo chúng tôi xa gia đình đã 5 năm, nỗi nhớ gia đình và thương mẹ chống chất cũng đã lên cao vời vợi. Chiến sự biên giới Việt Trung năm trước đó, tạo nên nhiều nỗi khắc khoải thương nhà nhớ nước lại càng cao hơn. Do đó, tết âm lịch năm đó, – Canh Thân 1980-, Đội Văn Nghệ của Trại tù Z30A (của “bầu Trừ” trên đồi Phượng Vĩ (Long Khánh) tổ chức “Mẹ Việt Nam đi thăm các con còn trong trại tù Cộng Sản”.

Sáng mồng một Tết, được “nghỉ lao động”, sau khi “ăn sáng” xong, Mẹ Việt Nam (do thiếu úy Chương đóng vai), cùng các nhạc sĩ, ca sĩ và “các con yêu của Mẹ” rước Mẹ đi từng nhà trong trại tù để thăm các con. Đám rước có kèn trống rộn ràng, có hát đồng ca (“Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu), có fan đi theo hoan hô, hô khẩu hiệu…

Dĩ nhiên, mấy ngày sau, bọn Công An đàn áp dữ dội. Sau khi một số đông vô nằm “cachot”, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” sát trong rừng sâu vì sợ các anh em trong đội trốn trại.

Đối với những người tù cải tạo Z30A, khó quên biến cố ấy!

Trong chiến tranh, dù phía bên nầy hay bên kia, sự hy sinh của người Mẹ thật to lớn, nói bằng lời không hết được. Bây giờ, phía chiến thắng dựng tượng đài cho “người Mẹ chiến thắng”, còn “người Mẹ phe thua trận” thì sao? Âm thầm ngồi bên bếp tro mà nhớ con: đứa còn trong tù, đứa lưu lạc quê người, đứa làm “dân biểu” (Dân biểu đạp xe tới đâu thì đưa người ta tới đó), đưa làm rừng nơi núi cao rừng thẳm, đứa làm ruộng ở kinh cùng rạch chẹt???!!!

&

Mẹ tôi chính là Mẹ Việt Nam, không được ai ca ngợi – Mà tôi cũng không cầu ai ca ngợi. Nói vậy là thật lòng đấy!

Khi tôi đi tù thì mẹ tôi đã già, 72 tuổi. Khi tôi ra tù thì Mẹ tôi qua đời đã 5 năm. Mẹ tôi không đủ sức để mà sống, chờ tôi về.

Khi tôi về, tôi mới biết Mẹ tôi đã qua đời. Vợ tôi, và các anh chị tôi giấu kín, không muốn cho tôi biết cái tin đau lòng ấy.

Không cần “tiểu thuyết hóa”, Mẹ tôi là một người đàn bà Việt Nam từng gánh chịu nhiều đau khổ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nước… Tôi xin kể cho quí độc giả nghe:

Năm 1946, theo “lệnh Việt Minh toàn dân kháng chiến”, “tiêu thổ kháng chiến”, Mẹ tôi đem 8 người con, 4 trai, 4 gái, chạy “tản cư” theo lệnh chính quyền hồi đó. Chị cả tôi bấy giờ mới 18 tuổi, chưa có chồng. Cha tôi không theo gia đình, ông đi theo “cơ quan”.

Gia đình tôi tản cư 3 năm. Mẹ tôi gánh chịu 3 cái tang lớn.

-Năm 1947, người chị cả, vì bệnh mà qua đời, an táng ở ngọn đồi cát thuộc làng An Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

-Năm 1948, vì bệnh, thân phụ tôi qua đời ở “Bơơng”, gần chiến khu Ba Lòng, huyện Hương Hóa (tên cũ), tỉnh Quảng Trị.

-Năm 1949, anh cả tôi, chủ trương tờ báo “Ý Dân” ở Huế, bị Tây với “Việt Gian” thủ tiêu, không tìm được thi thể, không biết chết ngày nào, chôn ở đâu, khi ông mới 21 tuổi!!!

Ông nầy là “anh cả”. “Hùng móm” là em út. “Hùng móm” Đại đội trưởng 112 Dù, hy sinh ở chiến trường Quảng Trị ngày 14 tháng 7 năm 1972.

Trong 4 người con trai của Mẹ tôi, có hai người “hy sinh vì Tổ Quốc”: Một người hy sinh cho phía bên kia (Việt Minh); một người hy sinh cho phía bên nầy (Việt Nam Cộng Hòa). Phía bên kia: “chống Pháp giành độc lập”, Mẹ tôi hy sinh một người con trai. Phía bên nầy: “chống Cộng Sản bảo vệ Tự Do cho miền Nam”. Mẹ tôi cũng “đóng góp” một người con trai.

Khi tôi còn nhỏ, tôi vẫn nhớ và không bao giờ quên được nỗi đau khổ của Mẹ Tôi, khi biết tin anh cả tôi bị Tây giết, cũng như những nỗi đau khổ của Mẹ tôi trong đám ma “Hùng móm”.

Khi ba tôi qua đời, Mẹ tôi cũng có khóc, nhưng không khóc nhiều. Khi các con của Mẹ tôi qua đời, Mẹ tôi khóc dữ. Có một lần, ở Huế, tôi đưa Mẹ tôi đi bác sĩ khám mắt. Mẹ tôi nói: “Hết đứa nầy, qua đứa kia chết, “Mạ” (tiếng Huế) khóc không hết nước mắt, mắt “Mạ” kém đi, nhìn cái chi cũng không rõ. Không chắc bác sĩ chữa được.”

Tôi làm thinh, thấy thương Mẹ!

Đó là chưa kể những nỗi đau khổ, cực nhọc của Mẹ tôi vì tôi, nhất là sau khi tôi nhập ngũ. Đời lính dài chỉ có 7 năm mà tôi đi rất xa: Cần Thơ, Long Xuyên, Hà Tiên trong khi quê tôi ở tuốt ngoài kia: Quảng Trị. Bất cứ ở gần ở xa, Mẹ tôi cũng tìm đến thăm con.

Mẹ tôi là “Mẹ Thật”, có hình dáng, quê mùa, già nua, cười khi gặp tôi, đau khổ và khóc thầm khi nhớ các con của Bà, đứa còn sống cũng như đứa đã chết. Nói thật lòng, tôi không thương kính được “Mẹ Ảo”, – người Mẹ tôi chỉ nghe nói, qua tranh vẽ, qua hình tượng, bằng đất, bằng gỗ hay bằng ngọc, bằng bạc, vàng… được người trần tục ca ngợi bằng những lời tuyên tuyền, huyền hoặc, thời trang, thời thượng. Đó là “Mẹ Maria” hay “Mẹ Phật Bà” hay “Mẹ Thanh Hải”. Nói vậy thôi! Nói nhiều “mất lòng” người đời.

Có lẽ người ta không vui khi thấy có người “ít thương” người mẹ sinh ra ta vì một lý do nào đó, chẳng hạn như cho rằng “mẹ ích kỷ”, “mẹ ta không thương ta”, mẹ làm điều gì đó xấu xa, mang tiếng cho ta, v.v… Nói chung là một người mẹ không tốt. Mẹ tốt thì thương mà mẹ xấu thì không thương hay sao? Cách đây ít lâu, – khi đó tôi cũng vừa góa vợ -, trong một buổi “họp mặt” gì đó, một người đàn ông cũng vừa góa vợ than vản: “Tôi thương vợ tôi lắm, vợ tôi tốt lắm”. Tôi thấy buồn cười. Anh ta thương vợ vì vợ anh ta tốt với anh ta lắm. Nếu vợ không tốt với anh thì anh không khóc vợ hay sao? Đâu có phải vậy. Khi đã là vợ hay chồng mình thì tốt xấu gì cũng thương. Sống với nhau, có con cái, gian khổ sung sướng có nhau, chia ngọt xẻ bùi thì thương nhau, nghĩa vợ chồng, “tào khang chi thê”. Tôi nghĩ rằng anh chàng nầy không có chiều sâu, dễ “tục huyền”. Quả đúng vậy thật, ít lâu sau nghe người ta nói anh ta về Việt Nam “bê” một cô vợ trẻ, bằng tuổi con anh, đem qua Mỹ! Tình đời!

Tình yêu mẹ, cũng giống như tình yêu quê hương vậy. Yêu quê hương vì yêu, thế thôi, đâu có phải vì quê hương đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, sang hay hèn. “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, không vì một lý do nào cả. Người dân Quảng Trị khi đã đi xa, bỗng thấy nhớ nhà vì “có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy, vui vì nồi cơm ngô đầy…”. Không đủ gạo, cơm phải “độn” với ngô mà mấy đứa trẻ cũng vui thế sao! Vậy mà đố ai quên được!!!

Mấy câu nầy trích trong bài hát “Que nghèo” do Phạm Duy sáng tác năm 1948, khi ông còn theo Việt Minh, “công tác” ở vùng biển phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

&

Năm 1959, tôi là sinh viên của giáo sư Lê Hữu Mục về môn Văn Học Sử ở năm Dự bị ở Đại Học Văn Khoa, Huế. Lúc ấy, ông cũng phụ trách tờ Mùa Lúa Mới rồi tuần báo Rạng Đông ở Huế. Tôi đang làm “mầm non văn nghệ” viết cho hai tờ báo của “ông thầy”.

Tôi thường “ghé tòa soạn” gặp các văn nghệ sĩ (đàn anh), trong đó có anh Lê Hòa Mộng. Nhà thơ mà! Tên tuổi phải có “môt chút mộng mơ” cho ra nhà thơ chớ. Anh ấy, nguyên là “nhà thơ quân đội”, ngâm thơ (trên đài quân đội) rất hay, tình thoảng có thơ, có văn đăng báo ở Saigon, ở Huế. Trước kia, anh ta có “đi theo Việt Minh mấy năm”, rồi bỏ kháng chiến mà về, gia nhập Quân Đội Quốc Gia. Năm 1955, 56, Quân Đội Quốc Gia được chỉnh đốn lại để “trở thành “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa”. Anh ấy “bị giải ngũ” vì có dính dấp tới “đảng phái”.

Anh đem vợ con về ở với Mẹ, phía sau nhà tôi. Anh thường sang chơi với tôi.

Mọt hôm, tôi vừa ăn cơm, xong, Mẹ tôi nói:

_ “Bựa nay, con đừng “bạn bè chi” vớ anh “Hòa Mộng” đó nữa nghe chưa!

Hơi ngạc nhiên, tôi hỏi:

_ “Răng Mạ?”

_ “Cả xóm nầy người ta chưởi anh em nhà nớ ghê lắm. Anh em chưởi nhau. Mạ nó rầy. Nó nói: “Mạ thương chi tui. Cha mạ ăn nằm với nhau, nghĩ tới cái chuyện sướng, chớ có nghĩ tới chuyện đẻ tui ra mô mà nói thương con.” Rồi Mẹ tôi mắng tiếp: “Cái thứ “vô đầu vô vị (vĩ) mới coi cha mạ như rứa.”

Tôi cười, không trả lời, nhưng từ đó về sau, tôi vâng lời Mẹ.

Tôi biết đây là “lý luận” của chủ nghĩa Mác. Ở Đại Học Huế, chương trình Văn khoa không dạy tôi đề tài nầy. Sách triết “Chủ nghĩa Các Mác” của giáo sư Trần Văn Toàn cũng không bàn tới đề tài nầy, nhưng sách nói về Mác hay phê phán chủ nghĩa Mác, người ta nói không ít.

Chủ nghĩa khoa học phát triển – Việt Cộng thì rất mê khoa học, kế hoạch, chương trình gì cũng chủ trương phải “khoa học”.

Sau khi bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa cải tổ chương trình giáo dục ngày 12 tháng 8 năm 1958, cũng chủ trương “Nhân Bản, Dân Tộc, Khai Phóng”, trong một buổi họp ở tòa sạn báo “Rạng Đông”, giáo sư Lê Hữu Mục trả lời một biên tập viên nào đó, giải thích về hai chữ “khai phóng”, có nghĩa là mở ra: Mở ra khỏi cách học từ chương khoa cử như thời kỳ cũ, trước 1945; và phóng là hướng tới, đi tới một phương hướng học hành mới, có tính cách khoa học và thực tiễn để thích hợp với thời kỳ mới về sự tiến bộ của nhân loại. Chế độ Cộng Sản thì tin tưởng tuyệt đối vào khoa học, chế độ Việt Nam Cộng Hòa dùng khoa học như một phương tiện để đi tới, không sùng bái như Cộng Sản.

Trong tình trạng đó, một người từng theo Việt Minh như nhà thơ Hòa Mộng, dù có là đảng viên hay không, thì sự tiêm nhiễm về lý luận “duy vật biện chứng”, dù có tin tưởng chủ nghĩa Mác hay không, thì cũng phải “tư duy” theo cách của Mác để được tiếng là người tiến bộ, vui lòng cấp trên, phần tử trung thành để được “vô đảng”, “lên chức lên quyền”… cũng không có gì lạ! Điều đáng buồn, những người Cộng Sản hay “theo đuôi Cộng Sản” đã bỏ vào sọt rác văn hóa dân tộc, phỉ nhổ nó, cho nó là “phong kiến phản động”, lạc hậu…

Dĩ nhiên, tôi nghe lời Mẹ. Mẹ là lương tâm, Mẹ là dạy dỗ tôi, theo ý nghĩa đó, Mẹ là người bảo vệ văn hóa dân tộc, theo phương cách “bình dân” nhất, bằng những lời ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích… Mẹ tôi thường răn con bằng những lời ca dao, tục ngữ như tất cả các bậc phụ huynh trong xã hội ta, từ mấy ngàn năm trước.

Những câu chuyện “chưởi cha mắng mẹ” như thế nầy, đâu có phải chỉ xảy ra nơi nhà thơ Hòa Mộng tôi quen biết. Trong “Cải Cách Ruộng Đất”, ông Nguyễn Ngọc Trìu từng mắng mẹ: “Bà không phải là mẹ tôi, bà là con mẹ địa chủ “bóc lột nhân dân”, “tàn ác với nhân dân”… Sau đó, mẹ ông ta qua đời vì bị đấu tố, và vì lời nói của con, làm cho bà đau khổ. Khi mẹ đi xuống thì đời ông Trìu đi lên: Phó thủ tướng. Đảng “trả công” cho ông ta đấy.

Cũng trong “Cải Cách Ruộng Đất”, “đội Cải Cách” ở làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thấy một ông già quần ống sớ, áo gấm, dép hạ, đi ngang họ. Họ hỏi: “Ông già kia, ông là ai?”

Ông già trả lời:

_ “Tao ấy à? Tao là bố thằng Khu đây.”

“Đội” (cải cách ruộng đất) là người từ nơi khác đến, đâu biết ông già là ông Đặng Xuân Viện, là bố Đặng Xuân Khu, (tức “đồng chí Trường Chinh”).

Phải chi ông Viện nói “tao là bố thằng Trường Chinh”, may ra có đứa còn biết; còn như ông ta nói “Tao là bố thằng Khu” thì bọn chúng đâu biết “thằng Khu” là thằng nào. Chúng bèn trói “bố thằng Khu” lại, đem ra đấu tố “tên địa chủ ăn trắng mặc trơn”.

Trường Chinh có biết bố bị đấu tố thì cũng làm ngơ. Ông đang lo cho “sự nghiệp của đảng”.

Dưới nhãn quan của những người “sự nghiệp” là trên hết, cha hay Mẹ của chính họ hay Mẹ Việt Nam! Đâu có nghĩa lý gì, chỉ là “mượn danh Mẹ”, giống như câu tục ngữ “thờ bụt ăn oản” mà thôi!

Quan điểm “tận tín khoa học” của Cộng Sản kinh khủng thật! Người xưa dạy “Tận tín thư bất như vô thư” (Hoàn toàn tin vào sách không bằng không có sách thì hơn).

Khoa học cũng vậy. Nó có hai mặt: Nâng cao đời sống của con người, nhưng nhiều khi ngược lại. “Tận tín khoa học” nên cho rằng cha mẹ “ăn nằm” với nhau vì ham khoái lạc chớ đâu phải muốn sinh ra con cái. Niềm tin đó đã tạo ra anh nhà thơ Hòa Mộng nửa mùa, là con tằm ăn dâu nhả ra dâu, và một đảng Cọng Sản “đấu tố” cha mẹ như đấu tố một con vật bốn chân.

Những người từng ở Bắc Bộ phủ trước kia, và bây giờ, đều thế cả, phải không?

hoànglonghải

Nhà thơ, nhà văn ăn Tết!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bà con mình nhận xét rất xác đáng là: “Nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo cộng lại thành nhà nghèo”. Quả có vậy!

(Sở dĩ có ông nhà giáo chen vô mấy nhà nầy vì nhà văn, nhà thơ, nhà báo thường là nghề tay trái; còn nghề tay mặt cũng đi bán chữ là nhà giáo đó thôi.)

Nhân dịp xuân về, chúng ta thử đốt lò hương cũ, tìm lại bóng hình xưa để xem mấy ‘nhà’ nầy hồi xưa ăn Tết ra làm sao?

Trước hết là nhà thơ Trần Tế Xương!

Ông sanh ngày mùng 5, tháng Chín, năm 1870. Còn gọi là Tú Xương vì ông thi Tú tài 9 lần mới đậu… thi Cử nhân tới 5 lần đều rớt cả nên không được làm quan.

(Thời nào cũng vậy thực dân Pháp hay CS… làm quan mới có đường tương chao mà chấm mút chớ!)

Nhà thơ Tú Xương bất đắc chí, hay tức cảnh sinh tình làm thơ, nhứt vào dịp xuân về, Tết đến. Mà bài nào cũng chua với chát.

Nhưng cái may mắn nhứt trong đời nhà thơ (không phải ai cũng có được kể cả tui) là có một người vợ “Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng!”

Bù lại là lòng biết ơn vợ, nhà thơ làm xong một bài dán trên gốc cột: “Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?” “Thưa rằng hay thật là hay!”

Rồi ông cười khè khè tiếp ngay: “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài?!”

Người vợ cũng là một độc giả hiểu thơ Tú Xương đâu thua gì nhận xét của Tản Đà, nhà thơ nổi tiếng ‘ngông’ của giao thời cũ mới: “Trong những thi sĩ tiền bối, tôi khâm phục nhất Tú Xương”.

Rồi Nguyễn Khuyến, lớn hơn Tú Xương tới 35 tuổi, nhưng lại mất sau ông 2 năm, khi nghe tin nhà thơ từ giã cõi đời vào ngày thứ Ba, ngày 29, tháng Giêng, năm 1907, nhằm ngày 16, tháng Chạp, năm Bính Ngọ, nghĩa là còn 2 tuần nữa tới Tết ta, chỉ mới 37 tuổi, cảm thán rằng: “Kìa ai chín suối Xương không nát. Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”

Thơ Tú Xương thâm trầm, ý nhị, hay là khỏi phải bàn cãi rồi! Như trong bài thơ “Năm mới”: “Khéo báo nhau rằng mới với me. Bảo nhau rằng cũ, chẳng ai nghe. Khăn là bác nọ to tầy rế. Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành, sư cô lọng. Xu hào rủng rỉnh, Mán ngồi xe. Phong lưu rất mực ba ngày tết. Kiết cú như ta cũng rượu chè”.

Nhà thơ xứ Bắc nầy nghèo kiết xác, mà nói kiểu trong Nam là nghèo mạt rệp; nên Tú Xương chua chát rằng tiền mình cũng có nhưng chưa lĩnh, rượu cúc đã ‘ó đơ’ (order) rồi mà hàng rượu làm biếng chưa ‘delivery’.

Rồi trà rồi bánh mứt đủ cả…

Nhưng kết luận là thôi đành để Tết khác hẳng ăn.

“Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo. Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy. Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh đường sắp gói e mồm chảy. Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành Tết khác. Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo”.

***

Nhưng tại sao những nhà thơ nước ta ông nào cũng nghèo hết ráo? Vì thơ bán có ai mua đâu mà có tiền! Tản Đà làm thơ còn tính đem lên bán cho ông Trời nữa là.

Đó là một lẽ nhưng lẽ thứ hai là có đồng nào mấy ông nhà thơ xào đồng nấy. Có nhiều xài nhiều; có ít xài ít. Xài cho mình rồi chia cho bạn văn, bạn thơ của mình nữa.

Giai thoại ghi lại là: Tết Giáp Tuất 1934, tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn làm xong số Tết; thợ thầy, nhà văn, nhà thơ, cộng tác thường xuyên, có tên trong Ban Biên Tập, được lãnh thêm một tháng lương thứ 13.

A lê hấp! Tản Đà đã xài sạch sành sanh, xài sạch bách! Hình như để tiền trong túi bị tiền cắn làm cho ngứa ngáy sao đó.

(Tui cũng vậy! Em yêu của tui thừa biết tâm tính các nhà văn, nhà thơ, nên có chút đỉnh tiền nhuận bút là em yêu tình nguyện giữ hết hè.)

Tết đến nơi, không còn một cắc, nên Tản Đà hỏi mượn tiền, ông Chủ báo Diệp Văn Kỳ cũng thông cảm, bèn lì xì cho tiên sinh thêm 5 đồng.

Tản Đà ra Bưu Điện gởi cho ông Ngô Tất Tố, là bạn văn (chắc cũng nghèo mạt như ông) 3 đồng ăn Tết.

Rủ bạn thơ Tùng Lâm mướn xe ‘xịn’ chạy vòng vòng Sài gòn chơi cho nó oách hết 1 đồng. Còn 1 đồng, lấy 2 cắc mua rượu khề khà trước. Còn 8 cắc, nhờ Tùng Lâm đi mua một hũ rượu Mai Quế Lộ và một con gà mái tơ luộc làm mồi nhắm cho ba bữa Tết.

Trên đường về, qua một sòng bầu cua, thấy một đám đánh lộn, Tùng Lâm đứng lại xem. Mã tà ùa tới, còi tu huýt inh ỏi, cả bọn lên xe cây về bót trong đó có nhà thơ Tùng Lâm.

Sáng hôm sau, mùng Một, ông Cò thương tình Tết nhứt, nên ra lịnh thả cả bọn ra.

Mã tà vào thấy nhà thơ Tùng Lâm còn quá xỉn, nằm ì ra đất, bên cạnh mớ xương gà và cái hũ rượu cạn queo.

Về đến nhà thì Tản Đà đêm qua chờ hoài hổng thấy bạn về, nên ‘quất’ hết 2 cắc rượu đế, xỉn ngủ mê man tàng tịch, giờ chưa dậy.

Tùng Lâm ứng khẩu 4 câu thơ để biện minh cái lỗi không phải của mình: “Cao hứng vì yêu bác Tản Đà. Một chai Quế Lộ, một con gà. Suốt đêm trừ tịch nằm trong bót. Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra!”

Nhắc đến Tản Đà là chúng ta lại nhớ tới Nguyễn Vỹ. Ông nầy nhiều nhà lắm. Nào là nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo… Có lúc nghèo mạt và cũng có lúc giàu sụ.

Nghèo là lúc Nguyễn Vỹ làm báo ở Hà Nội. Tết đến không một xu dính túi, bèn viết thơ mượn ông Nhất Linh cũng 5 đồng bạc. Cho dù hai người chỉ nghe tiếng nhưng chưa biết nhau lắm. Cái ngạc nhiên là ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam cũng gởi cho.

Ông Tản Đà gởi cho ông Ngô Tất Tố 3 đồng thì Nguyễn Vỹ cũng cho nhà văn Trương Tửu 3 đồng để ăn Tết.

Sau nầy vô Sài gòn làm ăn khấm khá, Nguyễn Vỹ có trả 5 đồng lại cho nhà văn Nhất Linh. Ông Nguyễn Tường Tam lại chơi ngon, dắt Nguyễn Vỹ đi nhậu hết để kỷ niệm một giai thoại.

Vậy là các nhà thơ, nhà văn của chúng ta đều nghèo đói như nhau cả; nhưng có chút đỉnh là chia sẻ với bạn văn nghệ của mình, lá rách đùm lá nát.

Nguyễn Vỹ chuyên làm báo và chuyên đi ở tù. Tù thời thực dân Pháp đến phát xít Nhựt. Mãi đến sau khi vào Nam, ra tạp chí bán nguyệt san Phổ thông rất ăn khách, xuất bản hàng tuần lên tới 25 ngàn ấn bản. Rồi tuần báo Bông Lúa, Tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm bán rất chạy… nên ông Nguyễn Vỹ ‘thoát nghèo’, tiền bạc rủng rỉnh, cư xử hào phóng với bạn văn chương; có lẽ vì nhớ thuở xưa thân sơ thất sở mới bắt đầu vào nghề viết báo giống mình hay chăng?

Nguyễn Vỹ viết đủ thể loại từ thơ tới văn và biên khảo. Nhưng bài thơ “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác.

“…Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác. Mà vẫn coi tiền như cỏ rác. Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang. Rủ nhau chè chén nói huênh hoang. Xáo lộn văn chương với chả cá. Chửi Ðông, chửi Tây, chửi tất cả. Rồi ngủ một đêm mộng với mê. Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!

…Bây giờ thời thế vẫn thấy khó. Nhà văn An-nam khổ như chó! Mỗi lần cầm bút viết văn chương. Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương. Rồi nhìn chúng mình hì hục viết. Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết!…”

Sau khi tuần báo Phụ nữ Hà Nội đăng bài thơ, Nguyễn Vỹ thuật lại là: “Một buổi chiều, tôi đến chơi ở tòa báo, ngõ Hội Vũ, bỗng thi sĩ Tản Đà từ ngoài bước vào. Một chiếc khăn đóng đã mòn viền, đáng lẽ đội trên đầu ông lại đeo tòn ten trong cánh tay. Vẫn chiếc áo lương thâm cũ giống chiếc áo mà tôi đã thấy ông mặc năm năm trước. Ông hỏi: “Có ông Nguyễn Vỹ ở tòa báo không?” Cô bạn thơ ký Tòa soạn liền cười, chỉ tôi: “Thưa cụ, Nguyễn Vỹ đây ạ!”

Ông ngạc nhiên ngó tôi: (chắc còn nhóc quá) “Ông muốn đi chơi với tôi không? Ông có rảnh không?”“Dạ thưa cụ, cháu rảnh ạ!”

Ông đưa tôi đến nhà ở ấp Thái Hà. Ông lấy chai rượu ra và hai cái cốc, bảo một chú bé chạy đi mua hai gói lạc rang (đậu phộng) để làm mồi nhắm.

“Tôi thích bài thơ ‘Gởi Trương Tửu’ của ông, nên mời ông uống rượu. Trương Tửu là ai? Ông ấy biết uống rượu không?”“Dạ, tên anh ấy là Trương Tửu, thì cụ khỏi hỏi!” “Hôm nào ông rủ ông ấy đến uống rượu với tôi!”

“Nhưng tôi giận ông lắm vì sao ông lại bảo: Nhà văn An Nam khổ như chó? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn ư?”

“Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn?”

Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu, rồi rót luôn một ly nữa. Xong, ông nói, không ngó tôi: “Ông làm tôi buồn cười!” Rồi ông rưng rưng nước mắt!

(Thiệt đúng: Cười là tiếng khóc khô không lệ!)

***

Còn nhà thơ nhà văn nhà báo hải ngoại nầy sống ra sao ăn Tết ra sao? Thiệt tình tui không biết.

Lẽ thứ nhứt là viết văn, viết báo với tui chỉ là một thú vui. Trong cái làng văn nghệ đầy dẫy cây đa, cây đề tui chỉ là một thằng hề… vô danh tiểu tốt, đứng sớ rớ ngoài cửa nhìn vô, hóng chuyện nghe các nhà văn… ăn nói lung tung… xèng (?!)

Hai là cũng học câu: Có công mài sắt có ngày nên sắt… nên tui tính kiếm sống bằng ngòi bút, chỉ mong rau cháo qua ngày thôi; chớ hỏng dám đòi khô lân, chả phụng, rượu Hennessy gì đâu. Vậy mà có lần tui ngu ngơ, tâm sự ‘vặt’ với một em Chủ bút bên Canada rằng: “Qua tới Úc mấy chục năm rồi, cày suốt, oải quá. Giờ đến tuổi về hưu, tui tính nghỉ để có nhiều thời giờ rảnh rỗi hơn, đọc và viết chơi. Sau đó có thêm tiền nhuận bút kha khá để bù vào cái lương hưu còm cõi của mình!”

Nhưng người em văn nghệ (đất lạnh tình nồng) phán một câu thiệt là chánh xác; nhưng nghe đau lòng hết sức như đọc bài thơ “Gởi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ vậy! Em phán rằng: “Ở hải ngoại nầy đây, đâu có ai sống được bằng ngòi bút của mình đâu chú?!” Nghe xong tui muốn bắt chước ông Tản Đà (mà đập đầu vào gối) khóc hu hu!

Đó đó bà con nào thắc mắc hỏi ở hải ngoại nhà thơ, nhà văn ăn Tết ra sao? Câu trả lời của tui là: “Dà hổng dám ăn đâu!”

Vậy mà thằng bạn nhậu, kiêm độc giả của tui, lại phán một câu rất ư ‘cà chớn’ rằng: “Viết một bài chỉ có 2000 chữ, nhuận bút tới 50 đô Úc, bằng bà con mình trong nước bán vé số suốt một tuần. Vậy mà cứ than thở hoài hè.

Các nhà thơ nhà văn các ông là bọn: “Được voi đòi Hai Bà Trưng!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhà thơ siêu nịnh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bà con mình khoái coi hát bội hay cải lương Hồ Quảng đều thấy kép hát đóng vai chánh là trung, vai tà là nịnh.

Và theo Cử Trị: “Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc. Ðứa nịnh râu hoe mấy sợi còi”. Nên kép vai trung hoặc nịnh đều hóa trang giống hịt theo hai câu thơ đó.

Nịnh không chỉ có trong tuồng hát đâu nhe mà chốn quan trường nó đông như ruồi mùa Hạ vậy!

Chính sử nước ta ghi rằng: “Vua Trần Dụ Tông đam mê tửu sắc, tính tình nông cạn, khoái bợ đỡ, tâng bốc. Trong triều chính, nịnh thần cấu kết nhau hoành hành. Bên ngoài, dân tình đói khổ. Giặc giã nổi lên cướp bóc.

Nhà giáo Chu Văn An (1292-1370) tính tình cương nghị, thẳng thắn, không cầu lợi lộc, dâng Thất trảm sớ, đòi chém đầu 7 kẻ nịnh thần. Vua Dụ Tông phớt lờ. “Ðâu được nè. Ðem chém hết ráo thì còn ai ru ta bằng những lời nịnh nọt chớ?”

Can Vua không được, Chu Văn An từ quan về quê dạy học. Như vậy trung chỉ có một Chu Văn An mà nịnh tới 7 đứa lận!

o O o

Ðó là nịnh trong chế độ phong kiến, còn trong thể chế dân chủ cũng có nịnh luôn nhe bạn! Chuyện rằng: “Một chánh trị gia và một bác sĩ với một kỹ sư cùng leo lên đỉnh Everest, biên giới giữa Nepal và Tây Tạng, cao nhất trên Trái đất. Ðó là một cuộc leo núi rất nguy hiểm, đầy vất vả và gian nan! Họ phải dừng lại nhiều lần, phải dùng dây để kéo nhau lên dọc theo sườn núi.

Ðược nửa chừng, sợi dây bắt đầu tưa ra sắp đứt!

Ông bác sĩ nói: “Chúng ta nên chờ toán cứu cấp đến giúp!” Tuy nhiên không ai tin rằng họ sẽ đến kịp vào lúc nguy cấp nầy.

Ông kỹ sư nhanh chóng tính toán sức nặng của mọi người, sức chịu tải của sợi dây; rồi đưa ra giải pháp: “Một trong số chúng ta phải buông tay! Nếu không, tất cả chúng ta đều chết hết!” Không ai muốn buông. Mọi người khư khư dùng cả hai tay mà bám rịt lấy, giữ chặt sợi dây.

Cuối cùng ông chánh trị gia thở dài nói: “Các đồng chí là tài nguyên vô cùng hữu dụng, tài nguyên vô cùng quý giá cho đất nước của chúng ta. Một bác sĩ có thể cứu sống rất nhiều người. Một kỹ sư có thể sáng tạo ra nhiều thứ để giúp ích cho đồng bào thân yêu của chúng ta! Còn tôi? Tôi chỉ là một chính trị gia vô dụng! Tôi có làm bất cứ việc gì hữu dụng cho đồng bào, cho đất nước của chúng ta đâu? Không có gì cả! Tôi chỉ biết nói, nói và ‘nịnh’ mà thôi.”

Rồi ông chánh trị gia lại thở dài, vẻ mặt rất chân thành. Bài diễn văn ngắn gọn nhưng xuất sắc, rất hay! Thế là mọi người bắt đầu vỗ tay hoan hô!

Vậy là trừ ông chánh trị gia ra tất cả đều chết cha hết ráo. Nhưng tại sao trong tình thế nguy nàn mà chỉ có mình ông chánh trị gia còn sống sót để còn tiếp tục ăn nhậu, chơi bời gái gú bằng tiền thuế của dân? Tại vì ổng biết nghệ thuật ‘nịnh’ dân.

Trong chế độ tự do, qua lá phiếu, dân sẽ quyết định cho ổng ngồi nữa hay đi chỗ khác chơi. Hổng nịnh để xí gạt dân, kiếm phiếu bầu là chỉ còn nước đi móc bọc.

Rồi khi được dân bầu lên, có chức, có quyền, có tiền để ban phát, cha nào cùng khoái chí tử lời nịnh nọt của đàn em phe ta. Vì đời, cuối cùng, chỉ là hai chữ lợi danh. Tiền ai hổng khoái? Còn danh thì khoái quá đi chớ, cho dù là danh hão! Vì “Gian thanh nhập nhĩ nịnh nhân tâm” (Tiếng gian tà vào tai làm mê hoặc lòng người).

Nhưng dân ngu khu đen Tây dẫu trong sở có ra sức nịnh nọt thằng đốc công thì cũng không có lợi lộc gì. Nên khi thấy đứa khác nịnh dơ là nó chửi: ‘kiss someone’s ass’ (hun đít) hay ‘lick someone’s boots” (liếm giày)… Ta thì có: nịnh bợ, nịnh hót, nịnh nọt, tà nịnh, gian nịnh, xu nịnh. nịnh thần. Chữ ‘nịnh’ của Tây để chửi coi bộ ít hơn Ta nhiều!

Tranh Bảo Huân

o O o

Nhớ những năm 1960s, mỗi khi rạp hát Ðịnh Tường đường Trưng Trắc, Mỹ Tho quảng cáo phim Tàu Hong Kong với minh tinh màn bạc: Lâm Ðại (Linda Lin) hay Lý Lệ Hoa (Teresa Li) là bà con ùn ùn kéo nhau đi xem chớp bóng.

‘Minh tinh’ là ‘sao sáng’ đấy ạ! Hai Á Xẩm nầy vừa hát hay, múa giỏi mà còn rất đẹp làm mấy anh mình nhìn nhểu nước miếng ròng ròng vén lên không có kịp.

Rồi tiếng Việt ngày một tiến bộ. Hồi xưa ‘minh tinh’ chỉ ngôi sao màn bạc, là đàn bà, con gái đóng phim mà thôi. Sau nầy đàn ông, con trai chơi bóng rổ, bóng chày, bóng bầu dục, đánh ‘tơ nít’, đá banh mà hay đều  được xưng tụng là ‘sao’ ráo trọi!

Tuyệt đỉnh công phu, đá banh hay quá xá là hay, ngàn năm có một như Lionel Messi của đội Barcelona phải gọi là siêu sao (superstar).

o O o

Trong chế độ CS VN cũng có một người tài giỏi không thua gì Lionel Messi là nhà thơ Tố Hữu (1920- 2002). Cái khác giữa hai người là: Messi dùng đôi chân thì Tố Hữu dùng hai đầu gối. Thì ra trong chế độ độc tài cộng sản vai nịnh còn hơn chế độ phong kiến rất nhiều!

Tố Hữu nịnh Bác, Ðảng thuộc bậc thượng thừa nên được dân Việt xếp vào hàng ‘Super nịnh’ (Siêu nịnh).

Tại sao Tố Hữu phải nịnh? Không nịnh làm sao mà có ăn; vì thực ra Tố Hữu chẳng có tài cán gì. Thời hoàng kim của Tố Hữu là từ năm 1980 đến năm 1986. Tố Hữu là Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) phụ trách về Kinh tế. Với quốc sách ngăn sông cấm chợ, Tố Hữu làm dân sắp chết đói tới nơi. Cả nước phải nuốt nhục, bị gậy ăn mày toàn thế giới.

Còn về tài làm thơ? Nghe nói hồi trên chiến khu Việt Bắc, một lần Tố Hữu định đọc cho Văn Cao nghe thơ của mình. Nhưng Văn Cao thẳng thừng đóng hai cái lỗ tai lại: “Thơ cậu như hò vè có gì đâu mà đọc”

Chắc hận người dám sỉ nhục ‘ai da’ nên Tố Hữu ngày nhổ râu, đêm bứt tóc làm thơ nịnh từ Karl Marx, Vladimir Lenin (Người đứng đó, Lenin), Stalin (Ðời đời nhớ Ông), Mao Trạch Ðông. (Ðường sang nước bạn) Tố Hữu nịnh cả Fidel Castro (Từ Cuba), râu xồm ăn chuối trên TV mà mấy anh mình tưởng được xem phim ‘sex’!

Siêu nịnh Tố Hữu

Nhờ xuất sắc nịnh toàn mấy tay đồ tể nầy nên Tố Hũu leo ngày càng cao trên nấc thang quyền lực. Có quyền lực trong tay, Tố Hữu rắp tâm trả thù làm ai cũng rét!

Rét nên các nhà phê bình văn học Miền Bắc chỉ dám chê lén là: “thơ Tố Hữu là thơ thời sự, thơ phải đạo, là một cốc ‘siro’ pha loãng! Là “Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt. Máu ở chiến trường, hoa ở đây!”

Nhà lộng gió là ngôi biệt thự có ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’ số 76 đường Phan Ðình Phùng, Hà Nội.

Rồi một nhà thơ xứ Bắc không dám xưng danh, trong đói rét lầm than, đã chọc quê Tố Hữu bằng hai câu lục bát: “Bầm ơi có rét không bầm? ‘Volga’ con cưỡi; gà hầm con ăn!”.

o O o

Tuy nhiên cũng có kẻ nịnh nọt Tố Hữu để kiếm chút cháo. Chuyện rằng: Tết đến tất cả các báo, báo nào cũng đăng thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu.

Một bài thơ lúc đó nhuận bút từ 8 đến 10 đồng ở báo Trung ương. Cỡ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên có thể từ 12 đến 15 đồng. Giá bát phở là 3 hào thì một bài thơ cũng cỡ vài ba chục bát. Nhưng nhuận bút cho Tố Hữu, báo nào cũng trả, dù chỉ đăng một bài giống hệt nhau, 500 đồng cộng một cành đào và một cặp gà trống thiến.

Chính vì ăn trên ngồi trốc trên đầu, trên cổ thiên hạ như thế nên khi Liên Xô tan rã (1991), Tố Hữu đòi tự vận “Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung. Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát”.

Anh bạn tui, bút hiệu là ‘Google’, chuyên phê bình văn học nói: “Tớ rất nể vợ chồng nhà thơ Tố Hữu. Dẫu đều là Mít ‘đặc’ hết mà đẻ ra con ‘Nga’. Còn đứa bé nếu không mũi lõ mắt xanh mà vẫn da vàng mũi tẹt thì tớ vẫn nể. Ðúng là một thần đồng về ngoại ngữ vì: “Tiếng gọi đầu đời con gọi ‘Xít Ta Lin”.

Hi hi!